text
stringlengths 82
354k
|
|---|
Tụ cầu khuẩn (tiếng Anh: "Staphylococcus" có nguồn từ tiếng Hy Lạp "staphyle" nghĩa là chùm nho) là các cầu khuẩn Gram dương không tạo nha bào có đường kính khoảng 1 μm, không di động và sắp xếp theo mọi hướng và thường tạo thành cụm (tụ) trông giống như chùm nho.
Có thể nói tụ cầu khuẩn là một trong những vi khuẩn nổi tiếng nhất: được các nhà vi khuẩn học nổi tiếng quan tâm nghiên cứu, tỉ lệ gây bệnh rất cao, có khả năng gây nhiều bệnh nặng cũng như đề kháng kháng sinh rất mạnh. Các nhà vi khuẩn học lừng danh như Robert Koch (1878) và Louis Pasteur (1880) đều rất quan tâm nghiên cứu tụ cầu khuẩn ngay từ thời kỳ đầu của lịch sử ngành vi sinh vật học. Ngày 9 tháng 4 năm 1880, bác sĩ người Scotland Alexander Ogston đã trình bày tại hội nghị lần thứ 9 Hội Phẫu thuật Đức một báo cáo khoa học trong đó ông sử dụng khái niệm tụ cầu khuẩn ("staphylococcus") và trình bày tương đối đầy đủ vai trò của vi khuẩn này trong các bệnh lý sinh mủ trong lâm sàng.
Trên phương diện gây bệnh, tụ cầu khuẩn được chia thành hai nhóm chính: tụ cầu có men coagulase và tụ cầu không có men coagulase.
Tụ cầu có men coagulase
Nhờ men coagulase này mà trên môi trường nuôi cấy có máu, vi khuẩn tạo nên các khuẩn lạc màu vàng. Do vậy vi khuẩn này còn gọi là tụ cầu vàng. Các vi khuẩn quan trọng của nhóm này là:
Tụ cầu không có men coagulase
Do không có men coagulase nên trên môi trường nuôi cấy không có máu, khuẩn lạc có màu trắng ngà. Trên lâm sàng thường gọi các vi khuẩn này là tụ cầu trắng. Các vi khuẩn nhóm này có thể kể:
Tụ cầu khuẩn mọc dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy ở nhiệt độ 37 °C. Màu đặc trưng của các khuẩn lạc là màu trắng như sứ hoặc màu trắng ngà. Khả năng tan máu của vi khuẩn được nuôi cấy cung cấp gợi ý quan trọng về tính chất của vi khuẩn này.
Tụ cầu khuẩn có men coagulase (tụ cầu vàng).
Năm 1926, Julius von Daranyi là người đầu tiên phát hiện mối tương quan giữa sự hiện diện của hoạt động men coagulase huyết tương của vi khuẩn với khả năng gây bệnh của nó. Tuy nhiên mãi đến năm 1948, phát hiện này mới được chấp nhận rộng rãi.
Đặc tính và các yếu tố độc lực.
Trên lâm sàng việc phân biệt các chủng tụ cầu có khả năng gây bệnh và không gây bệnh thường dựa vào sự hiện diện của men Coagulase. Men này gắn với prothrombin trong huyết tương và hoạt hóa quá trình sinh fibrin từ tiền chất fibrinogen. Enzyme này cùng với yếu tố kết cụm ("clumping factor"), một enzyme vách vi khuẩn, giúp tụ cầu vàng tạo kết tủa fibrin trên bề mặt của nó. Tính chất này là yếu tố bệnh sinh cực kỳ quan trọng và yếu tố cũng đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán.
Tụ cầu vàng còn sản xuất nhiều yếu tố độc lực khác có liên quan đến cấu tạo của vách vi khuẩn.
Các yếu tố độc lực ngoại bào.
Ngoài coagulase và yếu tố kết cụm, tụ cầu còn sản xuất một số men quan trọng góp phần tạo nên độc lực mạnh mẽ của chủng vi khuẩn này.
Vai trò của tụ cầu vàng trong lâm sàng.
Tụ cầu có men coagulase gây nên rất nhiều bệnh lý khác nhau. Có thể chia các bệnh này theo khả năng xâm nhập hay sinh độc tố của tụ cầu:
A. Bệnh do tụ cầu xâm nhập
Các bệnh nhiễm trùng khu trú tại da và niêm mạc: những bệnh nhiễm trùng da và các phần phụ thuộc (chủ yếu là các chân lông và tuyến mồ hôi) tạo thành bệnh cảnh áp xe kinh điển của tụ cầu. Các tụ cầu khuẩn có khả năng tạo fibrin do đó tạo được một vách fibrin bao bọc ổ áp xe. Các ổ nhiễm trùng này có thể chỉ nhỏ như đầu đinh ghim (bệnh viêm nang lông) hoặc kích thước như quả táo trong áp xe cơ. Các vùng da có lông rậm bao phủ, tụ cầu thường là nguyên nhân gây nên các mụn đầu đanh. Tổn thương tại chỗ có thể nhẹ nhàng nhưng nó cũng là một mối nguy cơ phát tán vi khuẩn đến những cơ quan xa hơn. Mủ của các ổ áp xe do tụ cầu vàng thường có màu vàng, đặc và không hôi.
Nhiễm trùng các cơ quan sâu: nhiễm trùng các cơ quan bên trong cơ thể có thể do đường nội sinh: từ một ổ nhiễm viêm nhiễm ngoại vi, vi khuẩn theo đường máu và bạch huyết đến các cơ quan khác. Nhiễm trùng cũng có thể do nguyên nhân ngoại sinh: vi khuẩn đi từ môi trường vào cơ thể thông qua vết rách da sau chấn thương hoặc trong quá trình phẫu thuật. Các bệnh lý điển hình trong nhóm này có thể kể: viêm xương tủy xương, nhiễm trùng huyết, viêm tắc tĩnh mạch xoang hang, viêm nội tâm mạc, viêm màng não mủ…
B. Thể trung gian
Viêm da bọng nước (bong da sơ sinh, hội chứng bong da do tụ cầu) thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Tác nhân gây bệnh là các chủng tụ cầu sản xuất độc tố Exofoliatine. Ngay sau triệu chứng sốt và đỏ da, bệnh được đặc trưng bằng dấu hiệu bong lớp biểu bì đồng thời hình thành bọng nước trên diện rộng. Bệnh thường diễn tiến lành tính. Mặc dù trên da hình thành nhiều bọng nước lớn nhưng ít khi đưa đến tình trạng rối loạn nước và điện giải. Lớp da non mới được hình thành khá nhanh. Tương tự với bệnh lý này là Hội chứng Lyell do tụ cầu và Chốc truyền nhiễm.
Hội chứng sốc nhiễm độc: thường gặp ở phụ nữ trẻ trong kỳ kinh nguyệt có dùng băng thấm hút mạnh. Chính do khả năng thấm hút tốt này mà băng có thời gian sử dụng lâu hơn. Một số loại bông thấm này có khả năng gắn với các ion magnesium do đó làm giảm lượng ion này trong âm đạo. Khoảng 20% phụ nữ có mang tụ cầu ở đường âm đạo. Do lượng ion magnesium giảm xuống, vi khuẩn này tăng cường sản xuất các ngoại độc tố gây sốc. Bệnh cảnh lâm sàng của hội chứng sốc nhiễm độc gồm đột ngột sốt cao, cảm giác mệt mỏi, tiêu chảy toàn nước, nhức đầu, đau cơ, nổi ban ngoài da và một hoặc nhiều dấu hiệu của sốc. Hội chứng này có tỉ lệ tử vong khá cao.
Hội chứng Thukydides: là thể đặc biệt của hội chứng sốc nhiễm độc. Hội chứng này có thể gặp ở thanh thiếu niên cả hai giới, thường gặp do bội nhiễm tụ cầu sau khi bị cúm. Tỉ lệ tử vong của hội chứng này rất cao (trên 50%). Biểu hiện lâm sàng về mặt hô hấp và tiêu hóa rất giống với bệnh dịch hạch do Thurykodides mô tả ở Athen và năm 430 trước công nguyên.
C. Bệnh do độc tố
Ngộ độc thực phẩm là bệnh điển hình nhất do độc tố ruột bền với nhiệt của tụ cầu. Sau khi ăn các thức ăn nguội hoặc kể cả các thức ăn nhiễm tụ cầu đã được nấu chín. Có thể phân thành hai thể:
"Viêm dạ dày ruột": nguyên nhân do ăn phải các thức ăn nhiễm độc tố tụ cầu. Bệnh thường xảy ra trong thời gian ngắn với triệu chứng nôn mửa dữ dội, tiêu chảy phân tóe nước, không sốt. Bệnh thường lành nhanh chóng và không cần điều trị kháng sinh.
"Viêm ruột non-đại tràng": nguyên nhân do thức ăn nhiễm một lượng lớn vi khuẩn tụ cầu (105 vi khuẩn/g thức ăn) hoặc do vi khuẩn tăng sinh trong lòng ruột (có đến 2-30% số người mang vi khuẩn này trong ruột). Triệu chứng bệnh lý ở đường tiêu hóa như đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy kéo dài hơn và cần phải điều trị kháng sinh.
Ngộ độc thực phẩm do tụ cầu khuẩn vàng ("Staphylococcus aureus") ở Việt Nam thường gặp trong các tiệc cưới. Vì phải chuẩn bị cho nhiều thực khách (bình quân khoảng 200 người) nên thức ăn cần phải được nấu trước và để qua đêm. Tụ cầu khuẩn nhiễm từ môi trường hoặc từ người chế biến sẽ sinh sôi rất nhanh trong các thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng thích hợp (thường gặp nhất là các món sốt trứng, thịt nguội), và sinh ra độc tố đường ruột. Độc tố này rất bền với nhiệt, do đó trước khi ăn có đun lại cho sôi cũng không huỷ được độc tố. Khi ăn phải thức ăn có nhiễm độc tố đường ruột, chỉ sau 30 phút đến 1 giờ là các triệu chứng nôn mửa, tiêu chảy đã xảy ra.
Dịch tễ học và phòng bệnh.
Tụ cầu khuẩn thường chịu đựng tốt các thay đổi của môi trường như khô hạn, ánh nắng, nhiệt độ, thay đổi pH và độ mặn. Nhân viên y tế là những người có tỉ lệ mang vi khuẩn cực kỳ cao. Các biện pháp như mang mũ hoặc khăn trùm đầu, mạng che mặt hoặc khẩu trang và rửa tay thường xuyên là biện pháp phòng lây truyền vi khuẩn hữu hiệu nhất trong bệnh viện đặc biệt là trong các đơn vị hồi sức. Những biện pháp này cũng được áp dụng cho những người làm việc trong các bếp ăn tập thể hoặc trong các xưởng chế biến thực phẩm.
Tỷ lệ người mang vi khuẩn tụ cầu vàng trên da hoặc niêm mạc vào khoảng từ 10 đến 90%. Các khu vực cư trú thường gặp của tụ cầu vàng là tiền đình mũi, tóc, nách và nếp hậu môn. Đây là nguồn lây chéo trong các đơn vị hồi sức, đặc biệt là ở các bệnh nhân suy giảm miễn dịch như đái tháo đường, bệnh nhân AIDS hoặc xơ gan. Chủng vi khuẩn nguy hiểm trong các khu vực này là tụ cầu vàng đề kháng với methicillin.
Tụ cầu không có men coagulase.
Tụ cầu không có men coagulase là thành phần của hệ vi khuẩn bình thường của da và niêm mạc. Đại diện quan trọng nhất của nhóm này là "Staph. epidermidis".
Trong một thời gian rất dài, các nhà vi khuẩn học đã xem vi khuẩn này không có tính gây bệnh. Tuy nhiên ngày nay người ta biết rõ rằng các tụ cầu khuẩn không có men coagulase, đặc biệt là "Staph. epidermidis" là nguyên nhân thường gặp sau phẫu thuật chấn thương chỉnh hình và cũng là nguyên nhân của nhiễm trùng bệnh viện. Các vi khuẩn này có khả năng tạo nên một lớp màng nhầy và dưới lớp màng nhầy nầy, vi khuẩn phát triển tạo thành các khuẩn lạc nhỏ bám vào các catheter bằng chất dẻo. Lớp nhầy này cũng bảo vệ vi khuẩn không bị tấn công bởi các tế bào có thẩm quyền miễn dịch của cơ thể và không bị tác động bởi kháng sinh.
"Staphylococcus saprophyticus" là nguyên nhân gây nhiễm trùng tiết niệu thường gặp ở phụ nữ trẻ vì vi khuẩn này có khả năng bám dính vào tế bào biểu bì đường tiết niệu và sản xuất men urease.
Điều trị nhiễm trùng do các vi tụ cầu không có men coagulase thường khó khăn vì vi khuẩn này thường đa đề kháng kháng sinh. Một nguyên nhân khác nữa là việc xác định chính xác tác nhân nào trong nhóm vi khuẩn này gây bệnh để điều trị đặc hiệu rất khó vì chúng thường hiện diện trên da và niêm mạc.
|
Châu Thành là một từ được sử dụng khá nhiều làm địa danh ở miền Nam Việt Nam. Trong lịch sử, danh xưng "là một tên chung để gọi “lị sở” hay là “thủ phủ” của tỉnh. Sau biến thành tên riêng của cả loạt “lị sở” hay là “thủ phủ” của nhiều tỉnh ở Nam Kỳ". Ngày nay, địa danh này vẫn còn được sử dụng khá nhiều ở miền Nam Việt Nam, với 11 huyện và 4 thị trấn.
Tài liệu chữ Hán.
Trong các tài liệu chữ Hán, từ "châu thành" được ghi bằng nhiều cách như "州城", "珠城", "周城". Trừ chữ "thành" 城 có nghĩa thống nhất là "thành lũy", thì chữ "châu" lại có nhiều cách ghi nghĩa khác nhau:
Tài liệu Quốc ngữ.
Các tài liệu Quốc ngữ định nghĩa từ "châu thành" như sau:
Trong văn hóa dân gian Nam Bộ.
Theo các nhà nghiên cứu, trong văn học dân gian ở Nam Bộ có khá nhiều câu sử dụng từ “châu thành”, mặc dù trong văn bản được viết hoa, nhưng “châu thành” ở đây được dùng như là một danh từ chung, chỉ nơi phố xá đông đúc, văn minh:
"Bước xuống bắc Mỹ Tho thấy sóng xô, nước đẩy
"Bước lên bờ Rạch Miễu thấy nước chảy, cây xanh
"Anh biết chắc nơi đây là đất Châu Thành
"Sao tìm hoài không thấy trong đám bộ hành bóng em.
"Đất châu thành nam thanh nữ tú,
"Trong vườn thú đủ các thứ chim.
"Đất châu thành anh ở
"Xứ Cần Thơ nọ em về
"Nước ròng bỏ bãi bày gành
"Bậu đem duyên đi bán, đất châu thành đều hay.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Lợi, thì từ “châu thành” xuất hiện muộn nhất vào năm 1859, khi Pháp đánh chiếm Gia Định, suy từ câu ca dao:
"Giặc Lang-sa đánh tới Châu Thành,
"Dù ai ngăn qua đón lại, dạ cũng không đành bỏ em.
Cung theo ông Nguyễn Thanh Lợi, từ "Châu Thành" xuất hiện với tư cách là một địa danh hành chính cấp hạt tham biện (arondissemnent) hay cấp quận về sau này, suy theo 2 câu ca dao sau:
"Đất Châu Thành anh ở,
"Xứ Cần Thơ em trở lộn về.
"Chiếc tàu Nam Vang đầu đen mũi đỏ,
"Ống khói đỏ đề chữ: Châu Thành.
Lịch sử một địa danh.
Trong các tài liệu sử chính thống của triều Nguyễn như Gia Định thành thông chí và Đại Nam nhất thống chí đều không ghi lại địa danh nào là Châu Thành ở vùng đất mới. Thậm chí Đại Nam nhất thống chí dù chép rất chi tiết lỵ sở của Tỉnh thành, Phủ trị, huyện trị, nhưng không có địa danh Châu Thành nào.
Từ lúc kiểm soát được tỉnh Gia Định (1862) cho đến khi chiếm được toàn bộ Nam Kỳ (1867), thực dân Pháp vẫn tạm thời duy trì cách phân chia địa giới hành chánh cũ của triều Nguyễn một thời gian. Thời gian này, người Pháp gọi "département" thay cho phủ, gọi "arrondissement" thay cho huyện ở những vùng họ chiếm được. Tuy nhiên, do tình trạng thiếu hụt nhân sự, người Pháp không duy trì bộ máy hành chính ở cấp tỉnh và cấp phủ, mà cố duy trì bộ máy hành chính cũ ở cấp huyện, với sự hợp tác của các quan lại cũ đã đầu hàng, dưới sự giám sát của các Thanh tra bản xứ vụ (inspecteur des affaires indigènes) người Pháp. Mỗi thanh tra phải kiêm quản việc giám sát của nhiều huyện hợp lại thành địa bàn của hạt thanh tra (inspection). Các hạt thanh tra đặt trực tiếp dưới quyền lãnh đạo của Soái phủ Nam Kỳ. Toàn cõi Nam Kỳ bấy giờ có 27 hạt thanh tra như thế.
Mãi đến sau khi chiếm được Nam Kỳ lục tỉnh, năm 1867, thực dân Pháp bãi bỏ một phần phân cấp hành chính của nhà Nguyễn. Cấp phủ hoàn toàn bị bãi bỏ. Các hạt thanh tra được đặt tên lại, hầu hết theo tục danh bằng tên Nôm của địa danh thôn xã nơi đặt lỵ sở hạt thanh tra. Các hạt của Nam Kỳ bấy giờ bao gồm:
Theo Nghị định ngày 7 tháng 6 năm 1871, chính quyền thuộc địa thay tên gọi hạt thanh tra "inspection" bằng địa hạt "arrondissement". Người đứng đầu địa hạt được gọi là Chánh tham biện ("administrateur"). Toàn cõi Nam Kỳ được thu gọn còn 19 hạt:
Mặc dù vẫn duy trì tên gọi của các tỉnh tương tự như thời Nguyễn, nhưng tên tỉnh không còn bất kỳ một ý nghĩa hành chính đặc biệt nào. Cấp huyện cũng bị bãi bỏ hoàn toàn.
Nơi đặt lỵ sở của các địa hạt được gọi là "chef-lieu" (thủ phủ), cùng tên với tên địa hạt, dân gian gọi là "châu thành". Vì vậy để phân biệt với tên hạt, dân gian thường đặt thêm từ "châu thành" trước tên hạt để phân biệt, lâu dần thành tên thông dụng.
Thực dân Pháp vẫn tiếp tục quá trình cải tổ phân cấp hành chính ở Nam Kỳ theo khuôn mẫu tại chính quốc. Nghị định ngày 16 tháng 1 năm 1899, đổi tên hạt thành tỉnh (province), và từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, toàn cõi Nam Kỳ chia thành 20 tỉnh như sau:
Ngoài ra còn có 3 thành phố độc lập là Sài Gòn, Chợ Lớn và Cap Saint Jacques (Vũng Tàu).
Danh xưng người đứng đầu cũng thay đổi, từ Chánh tham biện đổi thành Chủ tỉnh ("chef de la province"), Tòa tham biện gọi là Tòa bố.
Đến đầu thập niên 1900, thực dân Pháp phân chia hành chính tỉnh thành các quận ("circonscription") hoặc đại lý hành chánh (délégation) dưới quyền chủ quận hay phái viên hành chánh; quận chia ra tổng (canton), đứng đầu là cai tổng (chef de canton). Tổng chia thành xã. Hệ thống hành chính cũ của nhà Nguyễn bị xoá bỏ hoàn toàn trên cõi Nam Kỳ.
Bắt đầu từ năm 1912, danh xưng Châu Thành bắt đầu chính thức được đặt cho đơn vị hành chính cấp quận ở Nam Kỳ với sự thành lập của quận Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho. Tính đến năm 1944, khi quận Châu Thành, tỉnh Tân Bình được thành lập, trong 21 tỉnh trên toàn cõi Nam kỳ, trừ 4 tỉnh Gò Công, Gia Định, Chợ Lớn và Bạc Liêu, các tỉnh còn lại đều thành lập quận Châu Thành trên cơ sở thủ phủ của các địa hạt xưa. Từ đó, danh từ Châu Thành được dùng để đặt cho nhiều địa danh chính thức cho đến tận ngày nay ở miền Nam Việt Nam.
Các đơn vị hành chính hiện hữu.
Ngày nay, từ Châu Thành vẫn còn được sử dụng cho 11 huyện và 4 thị trấn ở Nam Bộ, gồm có:
Các thị trấn huyện lỵ của một số huyện mang tên Châu Thành:
|
Sơn Tây (thị xã)
Sơn Tây là một thị xã thuộc thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Thị xã Sơn Tây nằm ở phía tây bắc thành phố Hà Nội, là cửa ngõ phía tây của thủ đô, cách trung tâm thành phố Hà Nội 45 km về phía tây theo quốc lộ 32, có vị trí địa lý:
Sơn Tây là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội của cả vùng; có nhiều đường giao thông thủy, bộ nối với trung tâm Thủ đô Hà Nội; các vùng Đồng bằng sông Hồng với Tây Bắc Bộ như: Sông Hồng, sông Tích, Quốc lộ 32, Quốc lộ 21A, Tỉnh lộ 414, 413. Tính đến năm 2018, thị xã Sơn Tây có tổng diện tích tự nhiên là 113,5 km², dân số khoảng 230.577 người, được chia làm 15 đơn vị hành chính gồm 9 phường và 6 xã có 53 cơ quan, doanh nghiệp, bệnh viện, trường học và 30 đơn vị quân đội trên địa bàn.
Theo thư tịch cổ thì tên Sơn Tây xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1469, đó là trấn sở Sơn Tây đóng ở xã La Phẩm, huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai (nay thuộc, Tản Hồng, Ba Vì, Hà Nội), thời đó gọi là Sơn Tây Thừa Tuyên. Đến thời Lê Cảnh Hưng do bị ngập lụt, nước làm lở thành, trấn sở được dời về xã Mông Phụ, huyện Phúc Lộc, phủ Quảng Oai (nay thuộc xã Đường Lâm).
Theo Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu thì: "Năm Minh Mệnh thứ 12 (1832), chia hạt gọi là tỉnh Sơn Tây. (Đặt chức Sơn Hưng Tuyên Tổng đốc, cai trị các hạt Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang; tỉnh lỵ trước ở xã Cam Giá (làng Mía) huyện Phúc Thọ, năm Minh Mệnh thứ 3 dời đến xã Thuần Nghệ, huyện Minh Nghĩa (nay (tức năm 1890) là huyện Tòng Thiện))."
Phần đất thị xã Sơn Tây ngày nay vào đầu thế kỷ 19 tương ứng thuộc đất các tổng Cam Giá Thịnh (các làng xã: Cam Giá Thịnh (tức Cam Thịnh hay Yên Thịnh), Yên Mỹ, Cam Tuyền (Cam Lâm), Đông Sàng, Mông Phụ, Giáp Đoài Thượng (Đoài Giáp), Phú Nhi (Phú Nhi, Phú Mai, Phú Hậu), Tân Hội (Hà Tân)..), tổng Phù Sa (làng Phù Sa, Tiền Huân, Thiều Xuâ)... của huyện Phúc Lộc (Phúc Thọ) phủ Quảng Oai và tổng Thanh Vị (các làng xã: Sơn Lộc, Vị Thủy, Thanh Vi, Tây Vị, Nghĩa Đảm (Nghĩa Phủ), Vân Gia, Thanh Trì, Kính Mỗ (Ái Mỗ), Khê Trai, Đạm Trai (Mai Trai), Thuần Nghệ... của huyện Minh Nghĩa phủ Quảng Oai; các làng xã Sơn Đông, Triều Đông (Cổ Đông)... tổng Tường Phiêu huyện Thạch Thất phủ Quốc Oai. Năm 1831, Minh Mạng cải cách hành chính, giải thể Bắc Thành, đổi các trấn thành tỉnh, trấn Sơn Tây đổi thành tỉnh Sơn Tây. Thành trấn Sơn Tây cũ trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Sơn Tây.
Năm 1883 thực dân Pháp chiếm thành Hà Nội lần thứ 2, ép triều đình Huế ký hiệp ước Quý Mùi (Harmand) vào ngày 25 tháng 8 năm 1883. Kháng lệnh triệt binh của triều đình, Bố Chính Sơn Tây Nguyễn Văn Giáp vẫn cầm quân anh dũng giữ thành. Giặc Pháp huy động quân tổng lực tầu chiến từ Sông Hồng, nhiều đại bác quyết chiếm thành Sơn Tây. Để bảo toàn lực lượng, quân ta rút ra ngoài thành (ngày 16 tháng 12 năm 1883) tập hợp và phát triển lực lượng thành cuộc khởi nghĩa Tây Bắc anh dũng, rộng khắp do Nguyễn Quang Bích và Nguyễn Văn Giáp lãnh đạo kéo dài nhiều năm sau. Từ đó thành Sơn Tây lọt vào tay thực dân Pháp. Sau khi ổn định chính quyền cai trị tại Việt Nam, năm 1884, thực dân Pháp thành lập thị xã Sơn Tây để làm thủ phủ của tỉnh Sơn Tây mới với các ranh giới phía tây, phía bắc và phía đông của tỉnh Sơn Tây là sông Đà, sông Hồng và sông Đáy.
Đầu thế kỷ 20 (khoảng năm 1924), phần đất thị xã Sơn Tây ngày nay thuộc các tổng Cam Giá Thịnh (các xã Cam Giá Thịnh, Cam Lâm, Đoài Giáp, Đông Sàng, Mông Phụ, Phú Nhi, Yên Thịnh) và Phù Sa (các xã Phù Sa, Thiều Xuân, Tiền Huân) của huyện Phúc Thọ, các tổng Thanh Vị (các xã Ái Mỗ, Bảo vệ, Yên Vệ, Đạm Trai, Mai Trai, Nghĩa Phủ, Thuần Nghệ, Thanh Trì, Thanh Vị, Tây Vị, Vị Thủy, Sơn Lộc), Nhân Lý (xã Xuân Khanh), Tường Phiêu (Sơn Đông, Sơn Trung..) của huyện Tùng Thiện, (Phúc Thọ và Tùng Thiện là các huyện của phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây Bắc Kỳ thuộc Pháp).
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, thị xã Sơn Tây là tỉnh lỵ của tỉnh Sơn Tây. Ngày 21 tháng 4 năm 1965 tỉnh Sơn Tây nhập với tỉnh Hà Đông thành tỉnh Hà Tây. Thị xã Sơn Tây từ đó không còn vai trò tỉnh lỵ, mà thay vào đó là thị xã Hà Đông.
Ngày 16 tháng 10 năm 1972, chuyển xã Trung Hưng thuộc huyện Ba Vì và thôn Yên Thịnh II thuộc xã Đường Lâm (sáp nhập vào xã Viên Sơn) về thị xã Sơn Tây quản lý.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, thị xã Sơn Tây trực thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, gồm 3 phường: Lê Lợi, Ngô Quyền, Quang Trung và 2 xã: Trung Hưng, Viên Sơn.
Ngày 29 tháng 12 năm 1978, thị xã Sơn Tây trực thuộc thành phố Hà Nội.
Ngày 2 tháng 6 năm 1982, chuyển 7 xã Thanh Mỹ, Kim Sơn, Xuân Sơn, Trung Sơn Trầm, Đường Lâm, Sơn Đông, Cổ Đông thuộc huyện Ba Vì về thị xã Sơn Tây quản lý.
Ngày 14 tháng 3 năm 1984, thành lập 2 phường Sơn Lộc (tách ra từ xã Trung Hưng và xã Trung Sơn Trầm) và Xuân Khanh (tách ra từ xã Xuân Sơn và xã Thanh Mỹ).
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, thị xã Sơn Tây lại trở về tỉnh Hà Tây.
Ngày 9 tháng 11 năm 2000, thành lập phường Phú Thịnh trên cơ sở một phần diện tích và dân số của xã Viên Sơn.
Ngày 30 tháng 5 năm 2006, thị xã Sơn Tây được công nhận là đô thị loại III.
Ngày 2 tháng 8 năm 2007, thành lập thành phố Sơn Tây thuộc tỉnh Hà Tây.
Ngày 1 tháng 3 năm 2008, chuyển 3 xã Trung Hưng, Trung Sơn Trầm và Viên Sơn thành 3 phường có tên tương ứng. Thành phố Sơn Tây có 9 phường: Lê Lợi, Ngô Quyền, Phú Thịnh, Quang Trung, Sơn Lộc, Trung Hưng, Trung Sơn Trầm, Viên Sơn, Xuân Khanh và 6 xã: Cổ Đông, Đường Lâm, Kim Sơn, Sơn Đông, Thanh Mỹ, Xuân Sơn.
Ngày 1 tháng 8 năm 2008, cùng với toàn bộ tỉnh Hà Tây, thành phố Sơn Tây được nhập về thủ đô Hà Nội.
Ngày 8 tháng 5 năm 2009, Chính phủ ra nghị quyết chuyển thành phố Sơn Tây thành thị xã Sơn Tây trực thuộc thành phố Hà Nội.
Thị xã Sơn Tây gồm có 15 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 9 phường: Lê Lợi, Ngô Quyền, Phú Thịnh, Quang Trung, Sơn Lộc, Trung Hưng, Trung Sơn Trầm, Viên Sơn, Xuân Khanh và 6 xã: Cổ Đông, Đường Lâm, Kim Sơn, Sơn Đông, Thanh Mỹ, Xuân Sơn.
Trong danh sách dưới đây, có một số đường phố có tên trùng với các đường phố của các quận nội thành khác do trước đây các đường phố này thuộc địa phận tỉnh Hà Tây cũ.
Bánh tẻ Phú Nhi: Chiếc bánh tẻ nho nhỏ, thon thon, nhân thịt nạc, mộc nhĩ, ăn không biết ngán.
Gà Mía: "Đặc sản tiến vua" Có vẻ đẹp phảng phất như con công, thường được tả là "đầu công, mình cốc, cánh trai, ngắn quản, dài đùi, diều vịt, mã lĩnh"… chính là những chú gà Mía – một giống gà quý giá được người Đường Lâm dày công chăm bẵm và bảo tồn nguồn gen đến tận ngày nay.
Làng nghề truyền thống.
Gạch đá ong: có vẻ đẹp tự nhiên và tiện ích cũng khá đặc biệt. Nhà xây tường gạch đá ong thì không khí trong nhà sẽ rất mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông. Màu vàng nâu sậm của gạch đá ong dễ gợi tới vẻ đẹp thâm trầm mà ấm áp của đời sống tinh thần vùng trung du Bắc Bộ. Gạch này chịu lực tốt. Nhìn những ngôi nhà ở vùng Thạch Thất tường được xây bằng gạch đá ong, trần nhà bê tông, thấy được sự chắc chắn, vững vàng. Dấu tích chịu lực công phá còn thấy ở nhiều bức tường gạch đá ong Thạch Thất, Sài Sơn là những vết đạn từ thời chống Pháp lỗ chỗ trên tường, không xuyên được và không phá vỡ được bức tường tưởng chừng như rất thô sơ đó. Điều đặc biệt là tường gạch đá ong được xây không phải bằng vôi vữa, xi măng mà gắn mạch bằng đất màu hoặc đất trộn trấu nhào kĩ. Ấy thế mà sự liên kết lại vô cùng chắc chắn, không thua kém gạch nung xây bằng vữa ba - ta hoặc vữa xi - cát.
Thị xã Sơn Tây là nơi có nhiều trường đại học và cao đẳng, đặc biệt là các trường quân sự. Vì vậy, Sơn Tây còn được gọi là "Thủ đô của lính".
Hiện nay, trên địa bàn thị xã Sơn Tây đã và đang hình thành một số khu đô thị cao cấp như: Khu đô thị HUD - Sơn Tây (giữa 3 phường Trung Hưng, Quang Trung và Sơn Lộc), khu đô thị Phú Thịnh (phường Phú Thịnh), khu đô thị Mai Trai - Nghĩa Phủ (phường Trung Hưng), khu đô thị Đồi Dền (phường Trung Sơn Trầm), khu đô thị Green City - Thuần Nghệ (giữa 2 phường Quang Trung và Viên Sơn), khu đô thị Thiên Mã (Xã Sơn Đông)...
Các tuyến xe buýt đi qua và đi từ địa bàn thị xã Sơn Tây: 20A (Cầu Giấy - Bến xe Sơn Tây), 20B (Nhổn - Võng Xuyên - Bến xe Sơn Tây), 67 (Bến xe Phùng - Bến xe Sơn Tây), 74 (Bến xe Mỹ Đình - Xuân Khanh), 89 (Bến xe Yên Nghĩa - Bến xe Sơn Tây), 92 (Nhổn - Phú Sơn (Ba Vì)), 107 (Kim Mã - Làng văn hóa du lịch các dân tộc VN), 110 (Bến xe Sơn Tây - Đá Chông), 111 (Bến xe Sơn Tây - Bất Bạt), 157 (Bến xe Mỹ Đình - Bến xe Sơn Tây).
Sơn Tây có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử - văn hóa nổi tiếng như: Hồ Đồng Mô, thành cổ Sơn Tây, làng Việt cổ đá ong Đường Lâm, Chùa Mía, lễ hội đền Và...
Nổi tiếng với sự tích Sơn Tinh - Thủy Tinh.
Với tỉnh Tây Ninh: Sông Tây Ninh là "tình kết nghĩa" giữa đồng bào miền Bắc với đồng bào miền Nam trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Sông Tây Ninh là con sông đào, chảy qua đồng đất một số xã ở huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây và Hà Tây cũ, nay là ngoại thành Hà Nội. Ngày ấy mỗi tỉnh ở miền Bắc đăng tên kết nghĩa với một hoặc hai tỉnh ở miền Nam. Cả nước ta thành từng cặp tỉnh thành kết nghĩa như: Sơn Tây - Tây Ninh, Hà Đông - Cần Thơ, Hà Nội - Huế - Sài Gòn, Hải Phòng - Đà Nẵng, Thái Nguyên - Nha Trang…
|
Duy Trác (sinh năm 1932) tên thật Khuất Duy Trác, là một ca sĩ nổi tiếng, thành danh ở Sài Gòn từ những năm trước 1975. Duy Trác được xem là một trong những giọng ca nam lớn nhất của tân nhạc Việt Nam.
Duy Trác quê ở Sơn Tây, xuất thân trong một gia đình Nho giáo truyền thống. Nghề nghiệp chính của ông là luật sư, theo một vài tài liệu thì ông còn là thẩm phán. Ngoài ra ông còn tham gia viết báo và cũng là một dịch giả. Duy Trác bắt đầu đi hát từ những năm còn là sinh viên, khoảnh cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960 nhờ sự giới thiệu của ca sĩ Quách Đàm với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Tuy giọng ca của ông được rất nhiều người mến mộ, nhưng trước 1975 ở Sài Gòn, Duy Trác gần như không bao giờ trình diễn ở phòng trà hay các chương trình nhạc hội. Ông chỉ hát trên đài phát thanh và thu âm cho các hãng băng đĩa, vì vậy nhà văn Duyên Anh đã đặt cho ông biệt danh "chàng ca sĩ cấm cung". Duy Trác cũng có sáng tác một vài bài hát như "Tiếng hát đêm Noel", "Sài Gòn chỉ vui khi các anh về"...
Sau 1975, Duy Trác bị bắt đi học tập cải tạo nhiều năm tới 1981 vì là một sĩ quan trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, ngoài ra ông còn bị dính líu đến tổ chức "Biệt kích Văn hóa" và bị giam lại từ năm 1984 đến năm 1988. Năm 1992 ông rời Việt Nam định cư tại Houston, Hoa Kỳ theo diện HO. Tại đây ông có tham gia trình diễn ở một vài chường trình ca nhạc và phát hành hai CD riêng "Còn tiếng hát gửi người" và "Giã từ". Trong CD "Giã từ" ông đã nói lời từ biệt với âm nhạc. Từ đó Duy Trác không còn hát và hiện nay ông hợp tác với đài phát thanh VOVN - Tiếng nói Việt Nam tại Houston phụ trách một vài chương trình. ref {Tiếng hát Đại hồ cầm , báo Thời xưa, ngày 06/09/2021, tác giả Man Nhi } /ref
ref { Báo Chuyện xưa, tác giả Đông Kha } /ref
Băng nhạc và CD Duy Trác.
Thúy Nga Productions phát hành tại Hoa Kỳ năm 1993
Diễm xưa Productions phát hành tại Hoa Kỳ năm 1995
. Các CD khác sau 1975 có Duy Trác hát:
1. CD Đưa Người Về Phương Đông - Tình Ca Phạm Anh Dũng phát hành năm 1993 tại Hoa Kỳ
Gọi Mùa Thu Mơ (nhạc và lời Phạm Anh Dũng)
Tôi Xa Người (thơ Du Tử Lê, nhạc Phạm Anh Dũng)
Đưa Người Về Phương Đông (thơ Cung Vũ, nhạc Phạm Anh Dũng)
2. CD Có Những Niềm Riêng - Tình Ca Lê Tín Hương phát hành tại Hoa Kỳ năm 1994
Còn Biết Về Đâu (nhạc và lời Lê Tín Hương)
Như Cánh Chim Trời (nhạc và lời Lê Tín Hương)
Trả Lại Cho Đời (nhạc và lời Lê Tín Hương)
|
Văn minh lúa nước
Văn minh lúa nước là một dạng văn minh nông nghiệp, xuất hiện cách đây khoảng 13.000 năm tại châu Á, mà theo các nhà khoa học thì có thể là từ vùng sông Dương Tử, sau đó lan xuống Đông Nam Á. Nền văn minh này đã đạt đến trình độ đủ cao về các kỹ thuật canh tác lúa nước, thủy lợi, phát triển các công cụ và vật nuôi chuyên dụng; đảm bảo sự thặng dư thực phẩm phục vụ cho một xã hội đông dân và thúc đẩy các yếu tố khác của một nền văn minh ra đời. Chính sự phát triển của văn minh lúa nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của những nền văn hoá đương thời như Văn hóa Hà Mỗ Độ (ven sông Dương Tử - Trung Quốc ngày nay), Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Hòa Bình (đồng bằng miền Bắc Việt Nam ngày nay) , chính nền văn minh lúa nước là chiếc nôi để hình thành cộng đồng cư dân có lối sống định cư định canh và các giá trị văn hoá phi vật thể kèm theo, đó chính là văn hóa làng xã.
Trước đây, các nhà khoa học như A.G. Haudricourt Louis Hedin (1944), E. Werth (1954), H. Wissmann (1957), Carl Sauer (1952), Jacques Barrau (1965, 1974), Soldheim (1969), Chester Gorman (1970)... đã lập luận và đưa ra những giả thuyết cho rằng vùng Đông Nam Á là nơi khai sinh nền nông nghiệp đa dạng sớm nhất của thế giới. Theo họ, từ Đông Nam Á, nghề trồng lúa được du nhập vào Trung Quốc, rồi lan sang Nhật Bản, Hàn Quốc, những nơi mà cư dân chỉ quen với nghề trồng lúa mạch.
Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây lại xác định quê hương của lúa nước là vùng đồng bằng sông Dương Tử (Trung Quốc). Dựa trên bằng chứng di truyền học, khảo cổ và ngôn ngữ, các nhà khoa học xác định rằng lúa được thuần hóa lần đầu tiên ở lưu vực sông Dương Tử ở Trung Quốc Dựa trên việc nghiên cứu các gen của cây lúa nước, chỉ số quan trọng khi nghiên cứu quá trình thuần hóa ngũ cốc, Vaughan (năm 2008) xác định tất cả các giống lúa nước ngày nay đều có tổ tiên là một giống lúa nước cổ Điều này được hỗ trợ bởi một nghiên cứu di truyền vào năm 2011 cho thấy rằng tất cả các dạng lúa nước châu Á, gồm cả indica (lúa Ấn Độ) và japonica (lúa Nhật Bản), đều phát sinh từ một sự kiện thuần hóa duy nhất đã xảy ra cách đây khoảng 13.500 đến 8.200 năm ở Trung Quốc, từ giống lúa hoang Oryza rufipogon.
Vết tích bữa cơm tiền sử nấu với gạo từ lúa mọc hoang xưa nhất thế giới, niên đại 13.000 năm trước, được một nhóm khảo cổ Mỹ-Trung Hoa tìm thấy trong hang Diaotonghuan phía nam sông Trường Giang (bắc tỉnh Giang Tây). Cư dân sống trong vùng này đã biết thử nghiệm các giống lúa và cách trồng trong thời gian dài tiếp theo đó. Điều này đă được nhóm khảo cổ chứng minh qua sự tăng độ lớn phytolith của lúa (phần thực vật hoá thạch, tồn tại nhờ giàu chất silica) lắng trong những lớp trầm tích theo thời gian. Tin này đã được đăng trên tạp chí khoa học "Science" vào năm 1998. Các nhà khoa học nghiên cứu về phytoliths (thạch thể lúa) này đã chứng minh rằng từ 9.000 năm trước, dân cư ở vùng đó đã ăn nhiều lúa nước trồng hơn là lúa hoang. Nhóm cư dân bản địa này cũng bắt đầu làm đồ gốm thô xốp bằng đất trộn trấu. Kinh nghiệm về trồng lúa tích tụ tại đấy trong mấy ngàn năm đã đưa đến nghề trồng lúa trong toàn vùng nam sông Dương Tử. Di tích xưa thứ hai, 9.000 năm trước, là Pengtou, gần hồ Động Đình phía nam sông Dương Tử. Hơn bốn mươi chỗ có di tích lúa cổ hàng ngàn năm đă được tìm thấy ở vùng nam Trường Giang. Gần cửa biển nam Trường Giang, di tích Văn hóa Hà Mỗ Độ cho thấy văn minh lúa nước trong vùng lên đến trình độ rất cao vào khoảng 7.000 năm trước, sớm hơn cả di tích làng trồng kê Bán Pha xưa nhất ở phía Bắc Trung Quốc.
Văn hóa Hà Mỗ Độ (5000 TCN - 4500 TCN) đã có những ngôi làng với vài trăm người sống trên nhà sàn trong vùng đầm lầy ở cửa sông Tiền Đường. Dân Hà Mỗ Độ đã trồng lúa nước, ăn cơm, để lại lớp rơm và trấu dày 25–50 cm, có nơi dày đến cả mét, trên diện tích 400 mét vuông. Có thể đó là lớp rác để lại trên sân đập lúa. Di chỉ thực vật củ ấu, củ năng, táo và di cốt động vật hoang hươu, trâu, tê giác, cọp, voi, cá sấ, hoàn toàn thích hợp với việc canh tác lúa nước. Sau văn hoá Hà Mỗ Độ, hàng loạt văn hoá lúa nước khác đã sinh ra dọc lưu vực sông Trường Giang khoảng 4.000 - 5.000 năm trước, như Lương Chử, Mã Gia Banh, Quinshanyang, Khuất Gia Lĩnh, Đào Tự, Songze, Dadunze.
Năm 2007, di chỉ thành phố cổ diện tích hơn 2,9 km2, niên đại hơn 5.000 năm đã được tìm thấy trong vùng lõi của di tích văn hóa Lương Chử (3.300 - 2.300 TCN). Dấu vết kho lương thực chứa được khoảng 15 tấn gạo. Từ vị trí, sự bố trí và đặc điểm cấu trúc của thành cổ được phát hiện, các chuyên gia tin rằng có những cung điện dành cho giới quý tộc. Năm 2017, các nhà khảo cổ học lại phát hiện một hệ thống thủy lợi có niên đại tới 5.100 năm, quy mô khổng lồ và cổ xưa nhất trên thế giới tính đến thời điểm hiện nay. Công trình dẫn nước quy mô 5.100 tuổi thậm chí còn lâu đời hơn cả phát hiện hệ thống thủy lợi 4.900 năm trước đây của Văn minh Lưỡng Hà. Đây là công trình thủy lợi khổng lồ, có diện tích hơn 300.000 m2, được xây đắp nhân tạo của hoàng thổ dày tới 10,2 mét. Những cư dân cổ đại được cho là đã di dời khoảng 3,3 triệu mét khối đất để xây nên công trình này. Đây là một hệ thống thủy lợi rất phức tạp, gồm nhiều đập nước cao, đập nước thấp, mương, rạch, hào lớn và đê điều để ngăn ngừa lũ lụt, dự trữ nước để tưới tiêu mùa màng trong những đợt hạn hán. Kỹ thuật và quy mô rộng lớn của nó vào loại hiếm trên thế giới.
Từ lưu vực sông Trường Giang, lúa nước dần dần được đưa về phía bắc, tới những người nông dân trồng kê ở nền văn hóa Đại Vấn Khẩu, thông qua tiếp xúc mua bán - trao đổi với văn hóa Long Sơn, văn hóa Mã Gia Banh, văn hóa Hà Mỗ Độ. Vào khoảng 4.000 đến 3.800 trước Công nguyên, chúng là một loại cây trồng phụ thường xuyên trong các nền văn hóa Trung - Tạng ở miền bắc Trung Quốc. Nó không thay thế được kê, phần lớn là do điều kiện môi trường khác nhau ở miền bắc Trung Quốc, nhưng nó được trồng cùng với kê ở ranh giới phía nam của các vùng trồng kê. Ngược lại, cây kê cũng được đưa vào các vùng trồng lúa.
Các cuộc khảo cổ gần đây đã chứng minh sự tồn tại của con người trên lãnh thổ Việt Nam từ thời Đồ đá cũ. Vào thời kỳ Đồ đá mới, các nền văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn đã chứng tỏ sự xuất hiện của nông nghiệp và chăn nuôi, có thể là cả nghệ thuật trồng lúa nước.
Các nhà khảo cổ tìm thấy trong lớp đất bên dưới khu khảo cổ thuộc Văn hóa Hòa Bình những hạt thóc hóa thạch khoảng 9.260-7.620 năm trước. Nhưng theo nhiều nhà khảo cổ, cũng như đa số di tích, di vật về văn minh lúa nước tìm thấy ở Thái Lan, khi định tuổi lại thì thấy những hạt thóc này có niên đại muộn hơn nhiều so với tuổi ước tính ban đầu, chỉ vào khoảng 4.000 năm trước. Một nghiên cứu đa ngành sử dụng phân tích trình tự bộ gen cây lúa nước chỉ ra rằng lúa nước đã được lan truyền vào Đông Nam Á từ miền nam Trung Quốc, sau một sự kiện nguội lạnh toàn cầu (sự kiện 4,2k) xảy ra khoảng 4.200 năm trước Sự kiện này đã gây ra biến đổi khí hậu ở miền nam Trung Quốc, rất có thể đã khiến mất mùa và buộc cư dân trồng lúa nước ở đây phải di cư tới các vùng khác, bao gồm Đông Nam Á, và khi di cư thì họ cũng mang theo kỹ thuật trồng lúa nước.
Văn hoá Phùng Nguyên và văn hóa Đông Sơn (có niên đại khoảng 4.000 năm) ở miền Bắc Việt Nam ngày nay có những điểm gần giống với nền Văn hoá Hà Mỗ Độ tồn tại ở sông Dương Tử cách đây 7.000 năm trước. Cư dân vùng nam Trung Hoa lúc ấy có lẽ gần với cư dân Bắc Việt Nam về mặt chủng tộc và văn hoá hơn cư dân miền bắc Trung Hoa. Khuôn mặt đắp từ sọ người trong văn hóa Hà Mỗ Độ trưng bày ở Viện Bảo tàng Hà Mỗ Độ cho thấy họ giống người thuộc chủng Nam Mongoloid, tức là gần với chủng người Việt Nam từ thời Đông Sơn về sau.
Điều kiện đồng bằng sông Hồng là nơi rất thích hợp cho lúa hoang và sau này là lúa nước trồng. Người Việt trong cộng đồng chủng Nam Mongoloid là một bộ phận của văn minh lúa nước.
Trong di chỉ khảo cổ cho ta một bộ sưu tập các lưỡi cày bằng đồng phong phú, vào giữa và cuối thời kỳ Đông Sơn đã xuất hiện khá nhiều đồ sắt và đồ đồng đã chuyển sang các loại vật dụng trang trí và tinh xảo hơn.
Ở giai đoạn đầu, Văn hóa Phùng Nguyên, công cụ bằng đá còn chiếm ưu thế, nền kinh tế còn mang tính chất nguyên thủy. Sang đến giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun và nhất là Đông Sơn, nhiều loại hình công cụ bằng đồng ra đời và ngày càng phong phú như lưỡi cuốc, lưỡi cày, lưỡi thuổng, xẻng, lưỡi rìu, , đó là lưỡi cày hình tam giác có họng tra cán to khoẻ được phân bố ở dọc sông Thao; lưỡi cày cánh bầu dục, hình thoi được phân bố ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, lưỡi cày hình thoi được phân bố tập trung ở vùng sông Mã, lưỡi cày hình xẻng vai ngang phân bố ở vùng làng Vạc. Cuốc bao gồm lưỡi cuốc có lỗ tra cán, cuốc hình tam giác, cuốc có vai, cuốc chữ U, cuốc hình quạt, , rìu tứ diện lưỡi xoè, rìu hình lưỡi xéo, hình bàn chân, rìu lưỡi lệch. Ngoài ra còn có lưỡi liềm đồng, công cụ lao động bằng sắt. Sự tiến bộ của công cụ sản xuất đã thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển, đạt đến một trình độ khá cao. Nền kinh tế bao gồm nhiều ngành, nghề, trong đó nông nghiệp trồng lúa nước chiếm địa vị chủ đạo, phổ biến rộng rãi khắp lãnh thổ từ trung du đến đồng bằng, ven biển.
Với việc chế tạo ra lưỡi cày và nông nghiệp dùng cày đã thay thế cho nền nông nghiệp dùng cuốc, đánh dấu bước phát triển mới, mạnh mẽ trong nền kinh tế thời Hùng Vương. Với việc ra đời nhiều loại hình công cụ sản xuất bằng đồng còn chứng tỏ bước tiến về kỹ thuật canh tác của cư dân bấy giờ. Nông nghiệp dùng cày là nguồn cung cấp lương thực chính nuôi sống xã hội, trở thành cơ sở chủ yếu của mọi hoạt động khác.
Những di cốt trâu, bò nhà, tìm thấy trong cùng một di tích văn hóa Đông Sơn, hình bò khắc hoạ trên mặt trống đồng chứng tỏ cư dân thời Hùng Vương đã sử dụng trâu, bò làm sức kéo trong nông nghiệp. Những dấu tích thóc, gạo, những công cụ gặt hái tìm thấy ở các di chỉ thuộc văn hóa Đông Sơn. Di tích thóc, gạo tìm thấy ở làng Vạc gồm 2 nồi gốm trong đó có nhiều hạt thóc, vỏ trấu tìm thấy trong thạp đồng. Các công cụ gặt hái có liềm, dao gặt, nhíp. Nhiều thư tịch cổ cũng ghi chép về sự hiện diện của nghề nông trồng lúa nước thời Hùng Vương như các sách Di vật chí của Dương Phù thời Đông Hán, Thủy Kinh Chú của Lịch Đạo Nguyên, thời Bắc Nguỵ, Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn,
Yếu tố nước trong việc trồng lúa nước là điều kiện bắt buộc để hình thành văn minh lúa nước. Có lẽ người nguyên thủy lúc đầu phát hiện ra sự khác nhau về năng suất của lúa nương, một loại lúa mọc trên các triền đất khô ẩm và lúa nước mọc ở khu vực ngập nước của lưu vực các con sông lớn là hoàn toàn khác nhau. Cây lúa nước chỉ có thể phát triển tốt khi sống ở những khu vực khí hậu phù hợp như các vùng nhiệt đới, và đặc biệt tốt, năng suất cao khi hàng năm các con sông lớn như sông Hồng, sông Mã... mang theo một lượng phù sa mới, bồi đắp hàng năm vào các mùa nước lũ.
Nhưng nước để trồng lúa phải đủ và cũng vừa để cây lúa sinh trưởng. Việc đảm bảo đủ nước và không thừa, để làm ngập úng đã buộc các cư dân trồng lúa nước phải làm thủy lợi - cân bằng lượng nước cần thiết.
Thủy lợi tự nhiên và đơn giản nhất là đắp bờ ruộng và dẫn nước theo các con kênh vào ruộng và khống chế lượng nước bằng độ cao của lối thoát nước. "Con kênh" lớn nhất của cư dân trồng lúa nước chính là hệ thống đê điều hai bên sông lớn để khống chế nước tràn vào ruộng và mùa lũ lụt hàng năm.
Trong một cuốn sách năm 1952, Sauer viết như sau: "Về cái nôi của nền nông nghiệp đầu tiên, tôi xin thưa rằng ở Đông Nam Á. Nơi này quy tụ đầy đủ những điều kiện khác nhau cần thiết về vật lý thể chất, hóa học hữu cơ, khí hậu ôn hòa với cả hai vụ gió mùa, với chu kỳ mùa mưa ẩm ướt và mùa khô tạnh ráo, sông nước tiện cho viêc đánh cá, đất này là trung tâm điểm giao thương cả đường biển lẫn đường bộ của Cựu thế giới. Không có nơi nào mà vị trí lại thích hợp và có đủ yếu tố cung cấp cho sự phát triển nền văn minh hỗn hợp giữa nông và ngư nghiệp tốt hơn nữa. Tôi sẽ chứng minh rằng ở trong vùng đất này, ngay từ khi khởi thủy, nông nghiệp đã gắn chặt với ngư nghiệp; rằng ở đây người ta gia súc hóa loài vật trước hết và đúng nghĩa, phải là trung tâm chính của thế giới về kỹ thuật trồng cây và cải biến thảo mộc để gia tăng rau trái. Tôi chấp nhận tiên đề quen thuộc là loài người học hỏi cách trồng cây trước khi biết làm mùa với cách gieo hạt giống".
Một số nhà khoa học khác không công nhận Đông Nam Á là trung tâm phát sinh nông nghiệp lúa nước mà chỉ xếp hạng nó vào trung tâm thứ yếu. Một số khá đông các nhà nghiên cứu khác cho rằng Nam Trung Hoa là trung tâm chính yếu phát sinh trồng lúa nước song song với các trung tâm khác ở Trung Đông và Ấn Độ. Các phân tích di truyền học gần đây đã xác nhận cây lúa nước được trồng đầu tiên ở vùng ven sông Trường Giang (miền nam Trung Quốc hiện nay).
Vì địa thế và khí hậu, cũng như chủng tộc, miền châu thổ sông Hồng có nguồn gốc gần với các nền văn minh thời tiền sử ở Nam Trung Hoa. Việc có liên hệ về văn hóa, buôn bán, di cư... với khoảng cách vài trăm km trong một thời kỳ dài vài ngàn năm là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
Đến nay, vẫn còn có nhiều sự bất đồng trong giới khoa học về các trung tâm sơ khởi nông nghiệp. Tuy vậy, các Ông Burkill và Sauer đều rất tự tin; họ đưa ra các chứng cớ rằng Á Đông chính là nguồn gốc của các thứ khoai, củ. Sau đó theo đường hàng hải, khoai Á Đông được phân tán đi các đảo ngoài Thái Bình Dương, châu Phi và châu Mỹ.
|
Chất rắn dạng vật chất khác chất lỏng (các trạng thái khác là chất lỏng, chất khí và plasma). So với các trạng thái vật chất kia, các phân tử trong chất rắn sắp xếp chặt chẽ với nhau và chứa ít động năng nhất. Vật rắn được đặc trưng bởi độ cứng và khả năng chống lại lực tác dụng lên bề mặt (theo phương vuông góc hoặc phương tiếp tuyến). Những đặc tính này phụ thuộc vào tính chất của các nguyên tử cấu tạo nên chất rắn, cấu trúc sắp xếp, và lực liên kết giữa các nguyên tử đó. Chất rắn không chảy được như chất lỏng để có hình dạng như vật chứa của nó, cũng không nở ra để lấp đầy toàn bộ thể tích sẵn có như chất khí. Chất rắn không thể bị nén với áp suất nhỏ trong khi chất khí có thể nén được với áp suất nhỏ bởi vì các phân tử trong chất khí được chuyển động tự do.
Chất rắn thường được chia thành ba dạng cơ bản — tinh thể, vô định hình, và giả tinh thể. Tinh thể có cấu trúc nguyên tử được sắp xếp trật tự đều đặn và có tính lặp lại tuần hoàn. Hầu hết tất cả các kim loại và các khoáng chất như muối ăn (natri chloride) đều có cấu trúc tinh thể. Chất rắn vô định hình là vật chất mà các nguyên tử và phân tử đều không được sắp xếp theo một mạng không gian nhất định. Thủy tinh, nhựa, và gel là những loại chất rắn vô định hình. Chất rắn giả tinh thể (hay còn được gọi "tựa tinh thể", "quasi-crystal") có những cấu trúc đối xứng mới được khám phá, trong đó sự lặp lại của các nguyên tử không được tuần hoàn ở mỗi đoạn nhất định. Cấu trúc tựa tinh thể thường gặp ở các hợp kim của nhôm khi kết hợp với các kim loại khác như sắt, cobalt, hoặc nickel.
Ngành vật lý liên quan đến chất rắn được gọi là vật lý chất rắn, và là nhánh chính của vật lý vật chất ngưng tụ (bao gồm cả chất lỏng). Ngành khoa học vật liệu chủ yếu quan tâm đến các tính chất vật lý và hóa học của chất rắn. Ngành hóa học chất rắn đặc biệt quan tâm đến việc tổng hợp các vật liệu mới, cũng như khoa học xác định và thành phần hóa học.
Cấu trúc vi mô.
Các nguyên tử, phân tử hoặc ion tạo nên chất rắn có thể được sắp xếp một cách tuần hoàn đều đặn hoặc không đều. Vật liệu có các thành phần được sắp xếp theo một mô hình đều đặn, tuần hoàn được gọi là tinh thể. Trong một số trường hợp, trật tự sắp xếp đều đặn có thể kéo dài liên tục, không bị gián đoạn trên quy mô lớn, ví dụ như kim cương, trong đó mỗi viên kim cương là một đơn tinh thể. Các vật thể rắn đủ lớn để có thể nhìn thấy và cầm nắm được hiếm khi được cấu tạo từ một đơn tinh thể, mà thay vào đó được làm từ một số lượng lớn các đơn tinh thể, được gọi là đa tinh thể. Hầu hết tất cả các kim loại thông thường và vật liệu gốm là những đa tinh thể.
Một số vật liệu khác có cấu trúc nguyên tử không sắp xếp đều đặn trong một giới hạn dài của mạng không gian. Những vật chất này được gọi là chất rắn vô định hình; ví dụ bao gồm polystyrene, polycacbonat, và thủy tinh.
Cấu trúc của chất rắn (tinh thể hay vô định hình) phụ thuộc vào bản chất của liên kết hóa học, quá trình cơ nhiệt, và điều kiện hình thành chúng. Quá trình làm lạnh nhanh nhằm giữ dung dịch rắn ở trạng thái vô định hình và ngăn cản việc tạo mầm tinh thể; kết quả tạo ra chất rắn vô định hình. Quá trình làm nguội chậm hay ủ nguội sẽ tạo ra cấu trúc tinh thể.
Nhiều vật thể thông thường như nước đá hoặc một đồng xu có thành phần hóa học đồng nhất trong toàn bộ cấu trúc vật thể. Trong khi đó, một số vật liệu khác lại cấu thành từ nhiều chất khác nhau trong cấu trúc vật thể. Ví dụ, đá là một cấu trúc tổng hợp của nhiều loại chất khoáng và mineraloid khác nhau với thành phần hóa học khác nhau. Các loại vật liệu xơ sợi thực vật như gỗ, , vật liệu composite được tạo ra từ nhiều vật liệu khác nhau nhằm đạt được những đặc tính mong muốn.
Sự khác nhau về liên kết giữa các nguyên tử trong cấu trúc sẽ tạo ra những loại chất rắn khác nhau. Bốn loại liên kết nguyên tử thường gặp trong các tinh thể rắn: liên kết kim loại, liên kết ion, liên kết cộng hóa trị, và liên kết phân tử (lực van der Waals). Ví dụ, tinh thể natri chloride (muối ăn thông thường) được tạo thành từ hai ion, natri và clo, được giữ với nhau bằng liên kết ion. Trong liên kết kim loại, các electron hóa trị được di chuyển tự do giữa các nguyên tử kim loại, giúp kim loại và hợp kim của chúng có độ dẫn điện và dẫn nhiệt cao. Trong cấu trúc kim cương hoặc silicon, các nguyên tử chia sẻ electron và hình thành liên kết cộng hóa trị. Các tinh thể có liên kết cộng hóa trị có đặc tính cứng, một số loại có tính giòn. Lực Van der Waals, hình thành do sự dao động lưỡng cực của điện tích, là lực liên kết yếu, trong phạm vi gần (dưới 1nanomet), giúp liên kết các tinh thể dạng tấm trong cấu trúc graphit hoặc các tấm silicat trong cấu trúc khoáng pyrophyllite. Do lực van der Waals là lực liên kết yếu, nên tinh thể có lực van der Waals sẽ có độ cứng thấp, nhiệt độ sôi và nhiệt độ nóng chảy thấp. Loại liên kết khác nhau sẽ làm cho tính chất của các loại chất rắn khác nhau.
Các kim loại thường là chất dẫn điện mạnh và dẫn nhiệt tốt. Phần lớn các nguyên tố trong bảng tuần hoàn, những nguyên tố nằm bên trái đường chéo vẽ từ bo đến poloni, là kim loại. Hỗn hợp của hai hoặc nhiều nguyên tố trong đó thành phần chính là kim loại được gọi là hợp kim.
Con người đã sử dụng kim loại, như đồng, bạc, hoặc chì, cho nhiều mục đích khác nhau từ thời tiền sử. Độ bền và độ tin cậy của kim loại đã dẫn đến việc chúng được sử dụng rộng rãi trong xây dựng các tòa nhà và các cấu trúc khác, cũng như trong hầu hết các phương tiện giao thông, nhiều thiết bị và dụng cụ, đường ống, biển báo đường bộ và đường sắt. Sắt và nhôm là hai kim loại kết cấu được sử dụng phổ biến nhất. Đồng thời, chúng cũng là những kim loại phong phú nhất trong vỏ Trái Đất. Sắt được sử dụng phổ biến nhất ở dạng hợp kim là thép. Do chứa tới 2,1% cacbon, nên thép cứng hơn nhiều so với sắt nguyên chất.
Vì kim loại là chất dẫn điện tốt, nên chúng có giá trị ứng dụng cao trong các thiết bị điện và để truyền tải điện đi xa với năng lượng hao phí thấp. Do đó, hệ thống lưới điện sử dụng cáp kim loại để phân phối điện. Ví dụ, hệ thống điện gia đình sử dụng dây điện bằng đồng vì đặc tính dẫn điện tốt và dễ gia công. Nhờ có tính dẫn nhiệt cao, kim loại được ứng dụng để sản xuất dụng cụ nấu nướng.
Việc nghiên cứu các nguyên tố kim loại và hợp kim của chúng chiếm một phần đáng kể trong các lĩnh vực hóa học chất rắn, vật lý, khoa học vật liệu và kỹ thuật.
Các ion kim loại, mang điện tích dương, được liên kết với nhau bằng tập hợp mật độ cao của những electron tự do; lực liên kết này được gọi là liên kết kim loại. Trong cấu trúc kim loại, các nguyên tử dễ dàng mất electron ngoài cùng (electron hóa trị), tạo thành ion dương. Các electron tự do di chuyển trên toàn bộ mạng không gian của chất rắn. Các ion kim loại được liên kết với nhau bằng tương tác tĩnh điện giữa các ion và đám mây electron. Nhờ vào số lượng lớn các electron tự do trong cấu trúc, nên kim loại có tính dẫn điện và dẫn nhiệt tốt. Các electron tự do cũng ngăn cản ánh sáng khả kiến, làm cho kim loại sáng bóng, phản chiếu ánh sáng, và rực rỡ.
Những mô hình hiện đại mô tả tính chất kim loại ghi nhận tác động của ion dương (ở trung tâm nguyên tử) lên electron tự do. Do hầu hết các kim loại đều có cấu trúc tinh thể, nên những ion này thường được sắp xếp thành mạng không gian lặp lại tuần hoàn. Về mặt toán học, điện thế của những ion dương trung tâm này có thể tính được bằng các mô hình toán học khác nhau, đơn giản nhất là mô hình electron gần như tự do.
Khoáng chất là chất rắn có trong tự nhiên được hình thành thông qua các quá trình địa chất khác nhau dưới áp suất cao. Khoáng chất có thành phần cấu tạo đa dạng, từ các nguyên tố và muối đơn giản đến các hợp chất silicat rất phức tạp với hàng ngàn dạng hình thể. Ngược lại, một mẫu đá là một tập hợp ngẫu nhiên của các khoáng chất và/hoặc mineraloid, và không có thành phần hóa học cụ thể. Phần lớn các loại đá trong vỏ Trái Đất có chứa thạch anh (tinh thể SiO2), felspat, mica, clorit, cao lanh, calcit, créatinine, olivin, augit, hornblend, magnetit, hematit, limonit và một số khoáng chất khác. Một số khoáng chất như thạch anh, mica hoặc fenspat phổ biến, trong khi những khoáng chất khác chỉ được tìm thấy ở một số địa điểm trên toàn thế giới. Nhóm khoáng chất lớn nhất cho đến nay là silicat (hầu hết các loại đá có thành phần chứa ≥95% silicat), được cấu tạo phần lớn từ silic và oxy, với sự bổ sung của các ion nhôm, magiê, sắt, calci và các kim loại khác.
Gốm sứ là những vật liệu vô cơ cấu tạo gồm những nguyên tố kim loại và phi kim liên kết hóa học với nhau. Chúng có thể tồn tại ở dạng tinh thể, phi tinh thể, hoặc hỗn hợp của cả hai dạng. Gốm sứ có độ cứng cao, độ bền nhiệt tốt, độ dẫn nhiệt và hệ số giãn nở vì nhiệt thấp. Ngoài ra, gốm sứ là vật liệu trơ về mặt hóa học, có khả năng chịu được sự ăn mòn hóa học xảy ra trong môi trường axit hoặc kiềm (xút ăn da). Gốm sứ thường có thể chịu được nhiệt độ cao từ 1000 đến 1600 °C (1800 đến 3000 °F). Các trường hợp ngoại lệ bao gồm các vật liệu vô cơ không phải oxit, chẳng hạn như nitrit, borid và cacbit.
Thành phần nguyên liệu thô để sản xuất gốm sứ truyền thống bao gồm khoáng sét như kaolinit, silica, và felspat. Đất sét, chiếm phần lớn trong thành phần cấu tạo của gốm sứ, có công thức với lượng nhỏ tạp chất. Silica () có nhiệt độ nóng chảy cao nên giúp gốm sứ có tính chịu nhiệt tốt. Felspat () có nhiệt độ nóng chảy thấp, giúp kết dính các cấu tử chịu nhiệt lại với nhau. Các loại gốm sứ được phát triển gần đây hơn có chứa thêm nhôm oxit (alumin), carbide silic, và carbide wolfram trong thành phần cấu tạo. Carbide silic và carbide wolfram được đánh giá cao về khả năng chống mài mòn và do đó được sử dụng trong các ứng dụng như tấm mài mòn của thiết bị nghiền trong hoạt động khai thác.
Hầu hết các vật liệu gốm, chẳng hạn như alumin và các hợp chất của nó, được hình thành từ bột mịn, tạo ra một vi cấu trúc đa tinh thể hạt mịn chứa đầy các trung tâm tán xạ ánh sáng tương đương với bước sóng của ánh sáng khả kiến. Do đó, chúng thường là những vật liệu không trong suốt, trái ngược với những vật liệu trong suốt. Tuy nhiên, công nghệ kích thước nano gần đây (ví dụ như sol-gel) đã có thể sản xuất gốm sứ trong suốt đa tinh thể như alumin trong suốt và các hợp chất alumin cho các ứng dụng như laser công suất cao. Gốm sứ cao cấp cũng được sử dụng trong các ngành công nghiệp y học, điện, và điện tử.
Kỹ thuật gốm là khoa học và công nghệ tạo ra các vật liệu, bộ phận và thiết bị bằng gốm ở trạng thái rắn. Điều này được thực hiện bằng phương pháp phản ứng kết tủa từ các dung dịch hóa học dưới tác dụng của nhiệt, hoặc ở nhiệt độ thấp. Thuật ngữ này bao gồm quá trình tinh chế nguyên liệu thô, nghiên cứu và sản xuất các hợp chất hóa học có liên quan, sự hình thành các cấu tử, và việc nghiên cứu cấu trúc, thành phần cấu tạo, và tính chất của chúng.
Về mặt cơ học, vật liệu gốm có tính giòn, cứng, chịu nén mạnh và chịu lực kéo và cắt yếu. Vật liệu giòn có thể thể hiện độ bền kéo đáng kể bằng cách chịu tải trọng tĩnh. Độ bền cho biết vật liệu có thể hấp thụ bao nhiêu năng lượng trước khi hỏng hóc cơ học, trong khi độ bền đứt gãy ("fracture toughness") (ký hiệu là KIc) mô tả khả năng của vật liệu với các sai hỏng mạng tinh thể vốn có nhằm chống lại sự đứt gãy thông qua sự phát triển và lan truyền vết nứt. Nếu một vật liệu có giá trị độ bền đứt gãy lớn, các nguyên tắc cơ bản của lĩnh vực cơ học đứt gãy cho thấy rằng nó rất có thể sẽ trải qua quá trình đứt gãy dẻo. Gãy giòn là tính chất đặc trưng của hầu hết các vật liệu gốm và gốm thủy tinh thường biểu hiện các giá trị KIc thấp (và không nhất quán).
Ví dụ về các ứng dụng của gốm sứ, độ cứng cực cao của zirconia được sử dụng trong sản xuất lưỡi dao, cũng như các dụng cụ cắt công nghiệp khác. Những loại vật liệu gốm sứ như nhôm oxit (), bo carbide (), và silic carbide () đã được sử dụng trong áo chống đạn để có thể chịu được lực đạn của súng trường cỡ lớn. Silic nitride () được sử dụng trong các ổ bi sứ, nhờ vào đặc tính độ cứng cao giúp chúng chống mài mòn hiệu quả. Gốm sứ cũng có khả năng chống hóa chất và có thể được sử dụng trong môi trường ẩm ướt, nơi các ổ trục thép sẽ dễ bị ăn mòn do oxy hóa.
Một ví dụ khác về các ứng dụng gốm, vào đầu những năm 1980, Toyota đã nghiên cứu sản xuất động cơ đốt trong gốm đoạn nhiệt với buồng đốt làm bằng gốm. Động cơ gốm không yêu cầu hệ thống làm mát do đó cho phép giảm trọng lượng đáng kể và đạt hiệu suất nhiên liệu cao hơn. Trong một động cơ kim loại thông thường, phần lớn năng lượng thải ra từ nhiên liệu phải được tiêu tán dưới dạng nhiệt thải để ngăn chặn sự nóng chảy của các bộ phận kim loại. Gốm sứ cũng đang được nghiên cứu nhằm ứng dụng trong động cơ tuabin khí (Ceramic gas turbine – CGT). Động cơ tuabin làm bằng gốm sứ sử dụng trong máy bay có thể hoạt động hiệu quả hơn, giúp máy bay tầm hoạt động và khả năng chịu tải lớn hơn đối với một lượng nhiên liệu nhất định. Tuy nhiên, những động cơ như vậy không được sản xuất vì việc sản xuất các bộ phận bằng gốm với độ chính xác và độ bền cao là rất khó và tốn kém. Các phương pháp xử lý thường dẫn đến sự phân bố rộng rãi của các sai hỏng mạng tinh thể cực nhỏ, thường đóng vai trò bất lợi trong quá trình thiêu kết, dẫn đến sự gia tăng các vết nứt và cuối cùng là hỏng hóc cơ học.
Vật liệu gốm thủy tinh có nhiều đặc tính giống với cả thủy tinh (vô định hình) và gốm kết tinh (tinh thể). Chúng được tạo thành dưới dạng thủy tinh, và sau đó được kết tinh một phần bằng cách xử lý nhiệt, tạo ra cả pha vô định hình và pha tinh thể để các hạt tinh thể được phân bố đều trên nền pha vô định hình.
Gốm thủy tinh được sử dụng để làm dụng cụ nấu ăn (ban đầu được biết đến với tên thương hiệu Pyroceram và Vision của hãng CorningWare) và mặt bếp do có hệ số truyền nhiệt cao, tính chịu nhiệt tốt, không dẫn điện, và trong suốt. Hệ số giãn nở nhiệt âm của pha gốm kết tinh có thể cân bằng với hệ số dương của pha thủy tinh. Tại một điểm kết tinh nhất định (khoảng 70% thể tích cấu trúc là pha tinh thể) gốm thủy tinh có hiệu hệ số giãn nở nhiệt gần bằng không.
Gốm thủy tinh có những ưu điểm như tính bền trong điều kiện nhiệt độ thay đổi nhanh, ổn định về mặt hóa học, dễ gia công cơ khí, và chịu mài mòn tốt. Gốm thủy tinh cũng có thể xuất hiện ngoài tự nhiên khi sét đánh vào các hạt tinh thể (ví dụ như thạch anh) có trong cát biển. Trong trường hợp này, nhiệt độ cực cao và tức thời của tia sét (khoảng 2.500 °C) làm nóng chảy tinh thể, tạo ra cấu trúc rỗng và phân nhánh được gọi là fulgurite.
Chất rắn hữu cơ.
Hóa học hữu cơ nghiên cứu cấu trúc, tính chất, thành phần, phản ứng và điều chế bằng cách tổng hợp (hoặc các phương tiện khác) các hợp chất hóa học của cacbon và hydro, có thể chứa bất kỳ nguyên tố nào khác như nitơ, oxy và các halogen: flo, clo, brom và iod. Một số hợp chất hữu cơ cũng có thể chứa các nguyên tố phosphor hoặc lưu huỳnh. Ví dụ về chất rắn hữu cơ bao gồm gỗ, sáp parafin, naphthalene và nhiều loại polyme và chất dẻo.
Gỗ là một vật liệu hữu cơ tự nhiên chủ yếu bao gồm các sợi xenlulo được phân bố đều trong nền lignin. Về tính chất cơ học, sợi trong gỗ có độ bền đứt cao và nền ma trận lignin (vốn là những polymer hữu cơ phức tạp) giúp gỗ chịu nén tốt. Vì vậy, gỗ là một vật liệu xây dựng quan trọng kể từ khi con người bắt đầu xây dựng nơi ở và đóng tàu thuyền. Gỗ được sử dụng cho công việc xây dựng thường được gọi là "gỗ xẻ" hoặc "gỗ mộc". Trong xây dựng, gỗ không chỉ là vật liệu kết cấu mà còn được dùng để tạo khuôn để đổ bê tông.
Vật liệu làm từ gỗ cũng được sử dụng rộng rãi để đóng gói (ví dụ như bìa cứng) và giấy, cả hai đều được tạo ra từ bột giấy. Quá trình sản xuất bột giấy theo phương pháp hóa học sử dụng sự kết hợp của nhiệt độ cao và hóa chất kiềm (kraft) hoặc axit (sulfit) để phá vỡ các liên kết hóa học của lignin trước khi đốt cháy.
Polyme là nhóm những hợp chất cao phân tử được tạo thành từ những đơn vị cấu trúc được lặp đi lặp lại, liên kết với nhau bằng liên kết cộng hóa trị, hình thành một phân tử dạng mạch dài. Nếu polyme chỉ gồm một loại đơn vị cấu trúc tạo nên, thì sẽ được gọi là polyme đồng thể ("homopolymer"); nếu có từ hai loại polyme khác nhau cùng tham gia cấu tạo nên phân tử polyme, thì sẽ được gọi là polyme đồng trùng hợp ("copolymer"). Một trong những sản phẩm polyme đơn giản nhất là polyetylen được hình thành từ quá trình polyme hóa những phân tử etylen. Hai nhóm polyme chính tồn tại: những polyme được sản xuất nhân tạo được gọi là polyme công nghiệp hoặc polyme tổng hợp (chất dẻo) và những loại có nguồn gốc tự nhiên là polyme sinh học.
Những đơn vị cấu trúc lặp lại này được gọi là monome. Các monome có thể có nhiều nhóm thế hoặc các nhóm chức khác nhau, có thể ảnh hưởng đến những tính chất hóa học của các hợp chất hữu cơ, chẳng hạn như tính hòa tan và tính hoạt hóa, cũng như những tính chất vật lý, như độ cứng, tỷ trọng, độ bền cơ học hoặc độ bền kéo, khả năng chống mài mòn, tính chịu nhiệt, độ trong suốt, màu sắc, , những khác biệt này cho phép polyme có khả năng áp dụng cấu trúc hoạt động sinh học ưu tiên hơn những cấu trúc khác (xem phần tự lắp ráp).
Con người đã sử dụng polyme hữu cơ tự nhiên trong nhiều thế kỷ dưới dạng sáp và shellac, được xếp vào loại polyme nhiệt dẻo. Một loại polyme thực vật có tên là cellulose cung cấp độ bền kéo cho sợi tự nhiên và dây thừng. Vào đầu thế kỷ 19, cao su tự nhiên, một loại polyme hữu cơ tự nhiên, đã được sử dụng rộng rãi. Polyme là nguyên liệu thô (dưới dạng nhựa dẻo – "resin") được sử dụng để tạo ra chất dẻo. Nhựa ("plastics") là sản phẩm cuối cùng, được tạo ra sau khi một hoặc nhiều polyme hoặc chất phụ gia được thêm vào resin trong quá trình chế biến, sau đó được định hình thành dạng cuối cùng. Các loại polyme đã có từ lâu và đang được sử dụng rộng rãi hiện nay, bao gồm polyetylen gốc cacbon, polypropylen, polyvinyl chloride, polystyren, nylon, polyeste, acrylic, polyurethane và polycarbonat, và silicon gốc silicon. Nhựa thường được phân loại là nhựa "hàng hóa", "đặc thù" và "kỹ thuật".
Composite là loại vật liệu đa pha, với các pha khác nhau về mặt hóa học và phân cách nhau bằng ranh giới pha, được tạo ra nhờ quá trình kết hợp nhân tạo từ những vật liệu khác nhau nhằm tạo ra những đặc tính mà từng vật liệu thành phần không có được. Một chất chỉ được gọi là vật liệu composite khi thỏa mãn được ba điều kiện. Thứ nhất, vật liệu phải được sản xuất nhân tạo (do vậy, các loại vật liệu tự nhiên như gỗ không được xem là vật liệu composite). Thứ hai, vật liệu cấu tạo từ nhiều pha có tính chất vật lý và hóa học khác nhau, các pha phân bố đều đặn, phân cách nhau bằng ranh giới pha. Thứ ba, vật liệu composite phải có tính chất khác biệt với tính chất của từng loại cấu tử tạo thành riêng rẽ. Hai loại vật liệu chính của composite là vật liệu nền ("matrix") và vật liệu cốt ("fiber"). Ngoài ra, trong quá trình sản xuất, composite còn được thêm vào chất liên kết, chất bao phủ, và chất độn. Vật liệu nền có nhiệm vụ gắn kết và phân bố cốt, đồng thời truyền lực tác động bên ngoài đến vật liệu cốt. Dựa theo loại vật liệu nền, có thể phân loại composite thành ba nhóm: composite nền chất dẻo (polyme) – PMC, composite nền kim loại – MMC, và composite nền ceramic – CMC.
Vật liệu composite được ứng dụng rất đa dạng, từ những vật liệu kết cấu như bê tông cốt thép, đến gạch cách nhiệt vốn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống bảo vệ nhiệt tàu con thoi của NASA; loại gạch này được sử dụng để bảo vệ bề mặt của tàu con thoi khỏi sức nóng gây ra do bầu khí quyển trong hành trình bay về Trái Đất. Một ví dụ của loại vật liệu cách nhiệt này là Cacbon gia cường–Cacbon (RCC), có thể chịu được nhiệt độ lên đến 1510°C (2750°F), giúp bảo vệ nắp mũi và các cạnh đầu của cánh tàu con thoi. RCC là vật liệu composite cấu tạo gồm nhiều lớp vải rayon than chì và được tẩm nhựa phenolic. Sau khi lưu hóa ở nhiệt độ cao trong lò sấy, những tấm RCC được nhiệt phân để chuyển nhựa thành carbon, được ngâm tẩm với cồn furfural trong buồng chân không, và sau đó được nhiệt phân để chuyển từ cồn furfural thành cacbon. Để cung cấp khả năng chống oxy hóa giúp RCC có thể tái sử dụng, các lớp bên ngoài RCC được chuyển thành carbide silic.
Những vật dụng gia dụng làm bằng vật liệu composite bao gồm vỏ nhựa của TV, điện thoại di động, (ABS) trong đó đá phấn calci cacbonat, bột talc, sợi thủy tinh hoặc sợi cacbon đã được thêm vào để tăng cường độ bền, khối lượng, hoặc tính phân tán tĩnh điện. Những chất bổ trợ này thường được gọi là sợi gia cường hoặc chất phân tán, tùy thuộc vào mục đích sử dụng của chúng.
Do đó, vật liệu nền bao quanh và hỗ trợ các vật liệu gia cường (vật liệu cốt) bằng cách duy trì vị trí tương đối của chúng. Vật liệu gia cường bổ sung các tính chất cơ học và vật lý đặc biệt của chúng nhằm giúp tăng cường các đặc tính của vật liệu nền. Sự kết hợp tương hỗ này tạo ra các thuộc tính vật liệu không có sẵn từ các vật liệu cấu thành riêng lẻ, đồng thời, sự đa dạng của vật liệu nền và vật liệu tăng cường giúp những nhà thiết kế sản phẩm có thể chọn ra công thức phối trộn tối ưu.
Chất bán dẫn là vật liệu có giá trị điện trở suất (và độ dẫn điện) nằm giữa giá trị điện trở suất của chất dẫn điện kim loại và chất cách điện phi kim loại. Chúng có thể được tìm thấy trong bảng tuần hoàn di chuyển theo đường chéo xuống từ nguyên tố Bo. Những nguyên tố bên trái là vật liệu dẫn điện (kim loại) còn những nguyên tố bên phải là chất cách điện.
Những thiết bị làm từ vật liệu bán dẫn là nền tảng của ngành điện tử hiện đại, bao gồm radio, máy tính, điện thoại, , pin mặt trời, điod và mạch tích hợp. Tấm quang điện mặt trời là thiết bị bán dẫn lớn, trực tiếp biến đổi ánh sáng thành năng lượng điện.
Trong một vật dẫn điện kim loại, dòng điện được mang theo bởi dòng di chuyển electron, nhưng trong chất bán dẫn, dòng điện có thể được di chuyển bởi các electron hoặc bởi các "lỗ trống" tích điện dương trong cấu trúc dải điện tử của vật liệu. Các vật liệu bán dẫn phổ biến bao gồm silic, germani và gali arsenua.
Nhiều chất rắn truyền thống thể hiện các đặc tính khác nhau khi chúng được co lại ở kích thước nanomet. Ví dụ, các hạt nano của vàng và silicon (trạng thái bình thường là màu xám) có màu đỏ; các hạt nano vàng nóng chảy ở nhiệt độ thấp hơn nhiều (khoảng 300°C trong kích cỡ 2,5nm) so với vàng ở dạng tấm (1064°C); và các sợi nano kim loại bền hơn nhiều so với chính kim loại đó ở dạng khối. Diện tích bề mặt của các hạt nano rất lớn, giúp chúng được quan tâm nghiên cứu để sản xuất một số ứng dụng nhất định trong lĩnh vực năng lượng. Ví dụ, kim loại bạch kim có thể được dùng làm chất xúc tác nhiên liệu ô tô hoặc pin nhiên liệu màng trao đổi proton (PEM). Ngoài ra, các oxit gốm (hoặc gốm kim loại) của lanthan, xeri, mangan và niken hiện đang được phát triển như pin nhiên liệu oxit rắn (SOFC). Các hạt nano lithi, lithi-titanat và tantali đang được ứng dụng trong pin Li-ion. Các hạt nano silicon đã được chứng minh là có thể mở rộng đáng kể dung lượng lưu trữ của pin Li-ion trong chu kỳ giãn nở–co lại. Các sợi nano silicon có thể hoạt động tuần hoàn mà không bị suy giảm và có tiềm năng sử dụng trong pin với thời gian lưu trữ được mở rộng đáng kể. Các hạt nano silic cũng đang được sử dụng trong các pin năng lượng mặt trời dạng mới. Sự kết bám màng mỏng của các chấm lượng tử silicon trên nền silicon đa tinh thể của tế bào quang điện (năng lượng mặt trời) làm tăng sản lượng điện áp lên tới 60% bằng cách phát huỳnh quang của ánh sáng tới trước khi tiếp nhận. Ở đây một lần nữa, diện tích bề mặt của các hạt nano (và màng mỏng) đóng một vai trò quan trọng trong việc tối đa hóa lượng bức xạ được hấp thụ.
Vật liệu sinh học.
Nhiều vật liệu tự nhiên (hoặc sinh học) là vật liệu tổng hợp phức tạp với các đặc tính cơ học đáng chú ý. Những cấu trúc phức tạp này, đã hình thành từ hàng trăm triệu năm tiến hóa, là nguồn cảm hứng cho các nhà khoa học vật liệu trong việc thiết kế các vật liệu mới. Các đặc điểm xác định của chúng bao gồm cấu trúc phân cấp, tính đa chức năng và khả năng tự phục hồi. Tính tự tổ chức cũng là một đặc điểm cơ bản của nhiều vật liệu sinh học và cách thức mà các cấu trúc được lắp ráp từ cấp độ phân tử trở lên. Do đó, tự sắp xếp ("self-assembly") đang nổi lên như một chiến lược mới trong tổng hợp hóa học của vật liệu sinh học hiệu suất cao.
Tính chất vật lý.
Tính chất vật lý của các nguyên tố và hợp chất cung cấp thông tin về thành phần hóa học bao gồm mùi, màu sắc, thể tích, tỷ trọng (khối lượng trên một đơn vị thể tích), điểm nóng chảy, điểm sôi, nhiệt dung, hình thể và hình dạng vật lý ở nhiệt độ phòng (rắn, lỏng hoặc khí; tinh thể lập phương, tam giác, ), độ cứng, độ xốp, chỉ số khúc xạ và nhiều tính chất khác. Phần này thảo luận về một số tính chất vật lý của vật liệu ở trạng thái rắn.
Tính chất cơ học.
Tính chất cơ học của vật liệu mô tả các đặc điểm như độ bền và khả năng chống biến dạng của chúng. Ví dụ, dầm thép được sử dụng trong xây dựng vì độ bền cao của chúng, có nghĩa là chúng không bị gãy hoặc uốn cong đáng kể dưới tải trọng.
Các tính chất cơ học bao gồm độ đàn hồi và độ dẻo, độ bền kéo, độ bền nén, độ bền cắt, độ bền đứt gãy, độ dẻo (những vật liệu giòn có độ dẻo thấp) và độ cứng lõm. Cơ học chất rắn là môn kỹ thuật nghiên cứu về hoạt động của vật chất rắn dưới các tác động bên ngoài như ngoại lực và sự thay đổi nhiệt độ.
Chất rắn không thể hiện tính chảy ở cấu trúc vĩ mô như chất lỏng. Bất kỳ mức độ nào khác với hình dạng ban đầu của nó được gọi là sự biến dạng. Tỷ lệ của sự biến dạng so với kích thước ban đầu được gọi là biến dạng. Nếu ứng suất tác dụng đủ thấp, hầu như tất cả các vật liệu rắn đều hoạt động theo cách mà biến dạng tỷ lệ thuận với ứng suất (định luật Hooke). Hệ số tỷ trọng được gọi là môđun đàn hồi hay môđun Young. Vùng biến dạng này được gọi là vùng đàn hồi tuyến tính. Ba mô hình có thể mô tả cách một vật rắn phản ứng với một ứng suất:
Nhiều vật liệu trở nên yếu hơn ở nhiệt độ cao. Vật liệu giữ được độ bền ở nhiệt độ cao được gọi là vật liệu chịu lửa; những loại vật liệu này được ứng dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Ví dụ, gốm thủy tinh được sử dụng làm mặt bếp, vì có những đặc tính cơ học tốt và bền nhiệt trong điều kiện nhiệt độ thay đổi nhanh và liên tục lên đến 1000 °C. Trong ngành hàng không vũ trụ, các vật liệu hiệu suất cao được sử dụng trong thiết kế ngoại thất của máy bay và tàu vũ trụ phải có khả năng chống sốc nhiệt cao. Do đó, sợi tổng hợp được làm từ các polyme hữu cơ và các vật liệu composite – composite nền polyme, gốm, hoặc nền kim loại – và các polyme sợi gia cường hiện đang được thiết kế với mục đích này.
Các nguyên tử hoặc phân tử chất rắn có vị trí nhất định trong mạng không gian, được sắp xếp theo trật tự nhất định trong không gian ba chiều, và có thể dao động xung quanh vị trí của chúng. Lý thuyết động học của chất rắn dựa trên lý thuyết quang phổ của dao động mạng tinh thể trong mạng lưới tinh thể hoặc thủy tinh. Chuyển động này xảy ra ở cấp độ nguyên tử, do đó không thể quan sát hoặc phát hiện được nếu không có thiết bị chuyên dụng cao, chẳng hạn như thiết bị được sử dụng trong quang phổ.
Tính chất nhiệt của chất rắn bao gồm tính dẫn nhiệt, là tính chất của vật liệu biểu thị khả năng dẫn nhiệt. Chất rắn cũng có nhiệt dung riêng, là khả năng tích trữ năng lượng của vật liệu dưới dạng nhiệt (hay dao động mạng tinh thể nhiệt).
Những tính chất điện của chất rắn bao gồm độ dẫn điện, điện trở, trở kháng và điện dung. Chất dẫn điện như kim loại và hợp kim có tính chất đối lập với những vật liệu cách điện như thủy tinh và gốm sứ. Chất bán dẫn có tính chất trung gian giữa hai loại vật liệu này. Đối với kim loại, sự dẫn điện được tạo ra do các electron, còn trong chất bán dẫn, cả electron và lỗ trống đều góp phần tạo ra dòng điện. Ngoài ra, trong vật dẫn ion, những ion cũng hỗ trợ tạo ra dòng điện.
Nhiều vật liệu cũng thể hiện tính siêu dẫn ở nhiệt độ thấp; chúng bao gồm các nguyên tố kim loại như thiếc và nhôm, các hợp kim kim loại khác nhau, một số chất bán dẫn được pha tạp chất nhiều và một số vật liệu gốm nhất định. Điện trở suất của hầu hết các vật dẫn điện kim loại thường giảm dần khi nhiệt độ hạ xuống, nhưng điểm giới hạn vẫn không quá thấp. Tuy nhiên, trong chất siêu dẫn, điện trở đột ngột giảm xuống bằng không khi vật liệu được làm lạnh dưới nhiệt độ tới hạn của nó. Dòng điện chạy trong một vòng dây siêu dẫn có thể tồn tại vô thời hạn mà không cần nguồn điện.
Chất điện môi, hay chất cách điện, là vật liệu có khả năng chống lại dòng điện chạy qua. Một chất điện môi, chẳng hạn như chất dẻo, có xu hướng tập trung điện trường đặt vào trong chính nó, đặc tính này được sử dụng trong tụ điện. Tụ điện là một thiết bị điện có thể lưu trữ năng lượng trong điện trường giữa một cặp vật dẫn đặt cách nhau gần nhau (gọi là "bản"). Khi đặt hiệu điện thế vào tụ điện, các điện tích có độ lớn bằng nhau, nhưng có điện cực trái dấu, tích tụ trên mỗi bản tụ. Tụ điện được sử dụng trong các mạch điện như thiết bị lưu trữ năng lượng, cũng như trong các bộ lọc điện tử để phân biệt giữa tín hiệu tần số cao và tần số thấp.
Tính chất cơ điện.
Áp điện là khả năng của một số vật liệu (ở dạng tinh thể hoặc ceramic) sinh ra dòng điện và điện áp khi chịu tác dụng lực cơ học. Ngược lại, khi có hiệu điện thế đặt vào hai đầu tinh thể áp điện, chúng sẽ thay đổi hình dạng. Các vật liệu polyme như cao su, len, tóc, xơ gỗ và lụa thường hoạt động như những "electret" (một loại vật liệu điện môi). Ví dụ, polyme polyvinylidene fluoride (nhựa PVDF) phản hồi áp điện lớn hơn nhiều lần so với vật liệu áp điện truyền thống như thạch anh (SiO2 tinh thể). Độ biến dạng (khoảng 0,1%) có lợi cho các ứng dụng kỹ thuật hữu ích như nguồn điện cao thế, loa phóng thanh, tia laser, cũng như các cảm biến hoặc đầu dò hóa học, sinh học và quang học.
Tính chất quang học.
Vật liệu có thể truyền ánh sáng (ví dụ như thủy tinh) hoặc phản xạ ánh sáng (ví dụ như kim loại). Ánh sáng có thể truyền xuyên qua vật liệu ở một số bước sóng trong khi bị chặn lại ở một số bước sóng khác. Ví dụ, kính cửa sổ trong suốt đối với ánh sáng nhìn thấy, nhưng lại ngăn sự truyền ánh sáng của tia cực tím. Đặc tính này được sử dụng cho các bộ lọc quang học hấp thu chọn lọc dựa trên bước sóng của ánh sáng tới.
Tùy vào mục đích, vật liệu rắn cần có cả tính chất quang học và cơ lý. Ví dụ, các cảm biến trên tên lửa di chuyển hồng ngoại ("tầm nhiệt") được bảo vệ bằng một lớp vật liệu bọc bên ngoài trong suốt đối với bức xạ hồng ngoại. Vật liệu hiện nay được lựa chọn cho các mái vòm tên lửa dẫn đường hồng ngoại tốc độ cao là saphir đơn tinh thể. Saphir có khả năng truyền ánh sáng trong phạm vi hồng ngoại trung bình (300nm–5µm), nhưng bắt đầu giảm ở bước sóng lớn hơn xấp xỉ 4,5 µm ở nhiệt độ phòng. Mặc dù độ bền của saphir tốt hơn so với các vật liệu vòm hồng ngoại tầm trung khác ở nhiệt độ phòng, nhưng nó lại yếu đi ở nhiệt độ trên 600 °C.
Truyền sóng bước sóng ánh sáng dẫn hướng liên quan đến sợi quang học và khả năng truyền đồng thời và có mức thất thoát cường độ thấp của một số loại thủy tinh nhất định, một dải tần số (ống dẫn sóng quang học dạng phức) với ít xảy ra hiện tượng nhiễu giữa chúng. Ống dẫn sóng quang được sử dụng làm thành phần trong mạch quang tích hợp hoặc làm phương tiện truyền dẫn trong hệ thống thông tin quang học.
Pin mặt trời hay tế bào quang điện ("PV cell") là một thiết bị chuyển đổi năng lượng ánh sáng thành năng lượng điện. Về cơ bản, thiết bị chỉ cần thực hiện hai chức năng: tạo ảnh của hạt mang điện (electron và lỗ trống) trong vật liệu hấp thụ ánh sáng, và tách các hạt mang điện tới một tiếp điểm dẫn điện sẽ truyền điện (nói một cách đơn giản là mang electron tắt qua một kim loại tiếp xúc với một mạch ngoài). Sự chuyển đổi này được gọi là hiệu ứng quang điện và lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến pin mặt trời được gọi là quang điện.
Pin mặt trời có nhiều ứng dụng. Từ lâu, chúng đã được sử dụng trong các trường hợp không có nguồn điện từ lưới điện, chẳng hạn như trong hệ thống điện ở vùng sâu vùng xa, vệ tinh quay quanh Trái Đất và tàu thăm dò không gian, máy tính cầm tay, đồng hồ đeo tay, điện thoại vô tuyến từ xa và các ứng dụng bơm nước. Gần đây hơn, chúng bắt đầu được sử dụng trong các cụm mô-đun năng lượng mặt trời (bảng quang điện) được kết nối với lưới điện thông qua một bộ biến tần, không hoạt động như một nguồn cung cấp duy nhất mà là một nguồn điện bổ sung.
Tất cả các tế bào năng lượng mặt trời đều cần một vật liệu hấp thụ ánh sáng có trong cấu trúc tế bào để hấp thụ các photon và tạo ra các điện tử thông qua hiệu ứng quang điện. Các vật liệu được sử dụng trong pin mặt trời có xu hướng có đặc tính là hấp thụ ưu tiên các bước sóng của ánh sáng mặt trời truyền đến bề mặt Trái Đất. Một số pin mặt trời cũng được tối ưu hóa để hấp thụ ánh sáng bên ngoài bầu khí quyển của Trái Đất.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Phạm Thị Mai Hương (8 tháng 12 năm 1941 – 29 tháng 11 năm 2020) là một ca sĩ nhạc tiền chiến trước năm 1975, đồng thời bà cũng được biết đến là cháu ruột của nữ danh ca Thái Thanh.
Cuộc đời và sự nghiệp.
Phạm Thị Mai Hương, sinh ngày 8 tháng 12 năm 1941 tại Đà Nẵng, cha bà là Phạm Đình Sĩ và mẹ là nữ kịch sĩ Kiều Hạnh. Bà được biết đến là cháu ruột của nữ ca sĩ Thái Thanh, do cha bà là anh trai của Thái Hằng, Thái Thanh, Phạm Đình Chương, Hoài T, nên những người em của bà sau này, bao gồm Bạch Tuyết và Phạm Lạng Sơn đều lần lượt sinh ra tại Đà Nẵng và Lạng Sơn.
Cuối năm 1951, từ Hà Nội, cả gia đình Mai Hương đều chuyển vào Sài Gòn sinh sống. Mai Hương học tại trường đạo Thánh Linh tư thục, sau đó chuyển về học tại trường Nguyễn Bá Tòng. Tuy học ở trường đạo Thiên Chúa, nhưng Mai Hương không theo bất kỳ một tôn giáo nào. Được sự khuyến khích của cô ruột là Thái Thanh, Mai Hương tham gia cuộc thi tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Pháp Á tổ chức. Trên sân khấu, bà hát bài "Chú cuội" của Phạm Duy và "Xuân và tuổi trẻ" của La Hối.
Sau cuộc thi, bà được đưa về ban Thiếu sinh nhi đồng của nữ ca sĩ Minh Trang, sau này do nữ kịch sĩ Kiều Hạnh tiếp quản và trở thành ban Tuổi Xanh. Đến khi bà 15 - 16 tuổi, bà chuyển sang hát trên Đài phát thanh Sài Gòn, hát cho ban nhạc của Võ Đức Tuyết, Hoàng Lang, với các ca sĩ như Anh Ngọc, Kim Tước, Châu Hà, Nhật Bằ"Đường chiều sơn cước", "Đường chiều", "Một bài ca", "Lá thư miền Trung", "Nửa đêm ngoài phố", "Tình đầu"...đã dần xuất hiện hình ảnh của cô trên tờ nhạc. Bà thường ít khi đi hát tại vũ trường vì bà muốn tập trung vào tinh thần tác phẩm. Trong thời gian này, bà có học violin với thầy Nhiên, đàn tranh với Nguyễn Hữu Ba và hợp xướng với Hải Linh. Đến năm 1970, bà ký hợp đồng đi hát tại phòng trà Tự Do. Tuy nhiên, bà chỉ hát được vài năm thì phòng trà bị bom làm cho nổ sập.
Ngày 22 tháng 4 năm 1975, bà cùng chồng con di tản lên máy bay sang Hoa Kỳ định cư. Bà cùng với ca sĩ Quỳnh Giao, Kim Tước thành lập lại ban Tiếng Tơ Đồng và cho ra mắt một băng nhạc. Về sau, gia đình bà sinh sống tại Nam California, làm nhân viên ngân hàng cho đến khi nghỉ hưu vào năm 2000.
Năm 1985, cô nghe tin mẹ là nữ kịch sĩ Kiều Hạnh qua đời tại Việt Nam. Bà không thể về Việt Nam, nên chỉ có thể hát bài "Thuyền viễn xứ" trên đài phát thanh hải ngoại.
Bà qua đời vào ngày 29 tháng 11 năm 2020 tại Hoa Kỳ do tuổi cao sức yếu.
Bà kết hôn với ông Trương Dục vào năm 1961 và có 4 người con, tất cả đều không theo nghiệp của cha mẹ.
|
Lê Thánh Tông (hay Lê Thánh Tôn, chữ Hán: 黎聖宗 25 tháng 8 năm 1442 – 3 tháng 3 năm 1497) là vị Hoàng đế thứ tư trên danh nghĩa và thứ năm trên thực tế của vương triều Lê Sơ trong lịch sử Việt Nam (Lê Nghi Dân tạo phản cướp ngôi nên các sử gia thời đó không công nhận là hoàng đế chính thống), trị vì từ năm 1460 đến khi băng hà vào năm 1497, là vị vua tại vị lâu nhất thời Lê Sơ và lâu thứ hai thời Hậu Lê [sau Lê Hiển Tông với 46 năm (1740 - 1786)]. Thời kỳ của ông đã đánh dấu sự hưng thịnh của triều Hậu Lê nói riêng và chế độ quân chủ Việt Nam nói chung với tên gọi Hồng Đức thịnh trị (洪德盛治).
Trong 37 năm trị quốc, Lê Thánh Tông đã ban bố nhiều chính sách nhằm hoàn thiện bộ máy quan chế, hành chính, kinh tế, giáo dục – khoa cử, luật pháp và áp dụng Tân Nho giáo vào việc trị an, khiến Đại Việt trở thành một quốc gia ổn định và văn minh. Ông xây dựng một hệ thống quan liêu đồ sộ từ trung ương tới địa phương,chia đất nước làm 13 thừa tuyên, nghiên cứu hình thế núi sông và tạo ra bản đồ Hồng Đức. Ông rất chú trọng tới việc tiến cử, cất nhắc quan lại tài năng, liêm khiết và nghiêm khắc bài trừ tham nhũng, biếng nhác, phóng đãng và vô đạo đức trong giới quan chức. Tuy nhiên, ông không thể diệt trừ triệt để vì bản chất cồng kềnh và lương ít của bộ máy quan liêu do ông lập ra.
Lê Thánh Tông cũng rất chú trọng phát triển giáo dục và văn hóa, qua việc mở rộng quy chế các khoa thi. Ông đặt lệ 3 năm mở 1 khoa thi lớn, cho dựng văn bia ghi tên những người thi đỗ ở Văn Miếu. Thời ông mở 12 kỳ thi lớn, lấy đỗ hơn 500 người và được sĩ phu Phan Huy Chú thời Nguyễn nhận xét: "Khoa cử các đời, thịnh nhất là đời Hồng Đức". Bản thân nhà vua cũng là người ưa chuộng học vấn, thích ngâm thơ, nghiên cứu và luận bàn kinh sử Nho gia. Ước tính ông có hàng ngàn sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm, trong đó thơ chữ Hán ngày nay còn hơn 350 bài.
Với kinh tế, Lê Thánh Tông hết mực chăm lo nông nghiệp và khuyến khích dân mở chợ để đẩy mạnh trao đổi hàng hóa trong nước. Tuy nhiên, về ngoại thương, ông thực hiện chính sách ức chế gắt gao gây kìm hãm sự phát triển kinh tế của Đại Việt. Nhà vua còn chú trọng cải tổ, huấn luyện quân đội, trực tiếp chỉ huy các cuộc bành trướng về phía Nam và Tây, cụ thể là xâm chiếm Chiêm Thành năm 1471, Lão Qua và Bồn Man năm 1479. Các cuộc chinh phạt đều thắng lợi, sáp nhập một lãnh thổ rộng lớn từ Quảng Nam đến Bình Định - cột mốc lớn trong quá trình Nam tiến của người Việt. Lê Thánh Tông giữ vững vùng đất mới chiếm bất chấp áp lực từ nhà Minh đòi ông trả đất cho Chiêm Thành. Ông cũng cứng rắn ngăn chặn các cuộc lấn chiếm biên giới của thổ quan và người dân tộc thiểu số miền núi bên nhà Minh.
Các thành tựu về nội trị và đối ngoại của Lê Thánh Tông đưa Đại Việt trở thành một cường quốc tại Đông Nam Á. "Đại Việt sử ký toàn thư" có lời bình của sử quan Nho thần đời sau về ông: "Vua lập chế độ văn vật khả quan, mở mang đất đai, thực là anh hùng tài lược, Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không hơn được". Tuy nhiên, người đương thời và các sử gia đời Lê - Nguyễn phê phán ông xây nhiều công trình, cung điện vượt quá quy mô xưa, quá trọng văn chương phù phiếm, đối xử tệ bạc với anh em, bắt chước lối tổ chức nhà nước của nhà Minh, và "nhiều phi tần quá, nên mắc bệnh nặng" dẫn đến cái chết ở tuổi 55.
Thân thế và niên thiếu.
Lê Thánh Tông có tên húy là Lê Tư Thành, là con trai út của Lê Thái Tông, mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao, người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa. "Đại Việt sử ký toàn thư" miêu tả ông: ""Thiên tư tuyệt đẹp, thần sắc khác thường, vẻ người tuấn tú, nhân hậu, rạng rỡ, nghiêm trang, thực là bậc thông minh xứng đáng làm vua, bậc trí dũng đủ để giữ nước"."
Ngày 27/7 âm lịch năm Nhâm Tuất (1442), Lê Thái Tông băng hà. Thái tử Lê Bang Cơ, con của Thần phi Nguyễn Thị Anh, anh trai khác mẹ mới 1 tuổi của Tư Thành lên ngôi thuận theo di chiếu, tức Lê Nhân Tông, Thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính. Năm 1445, Tư Thành được phong tước Bình Nguyên vương, vào ở kinh sư, học cùng các vương khác tại Kinh diên. Các quan Kinh diên thấy Tư Thành dáng điệu đường hoàng, trí tuệ hơn người, cho là bậc khác thường. Ông sống kín đáo, không lộ vẻ anh minh ra ngoài, vui với sách vở thánh hiền, ưa điều thiện, thích người hiền, chăm chỉ không biết mệt mỏi, nên được Thái hậu yêu mến như con đẻ, và được Nhân Tông coi như người em hiếm có.
Lên ngôi Hoàng đế.
Ngày 3/10 âm lịch năm Kỷ Mão (1459), Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân, con trai cả của Lê Thái Tông tạo phản, ám sát Nhân Tông và Thái hậu rồi tự lập làm Hoàng đế, đặt niên hiệu Thiên Hưng. Lê Tư Thành được cải tước hiệu thành Gia vương.Nghi Dân sau khi lên ngôi thì tin dùng nịnh thần, sát hại bề tôi cũ và thay đổi pháp chế nên không được lòng mọi người. Các trọng thần gồm Lê Ngang, Lê Ê, Lê Thụ, Đỗ Bí muốn binh biến nhưng bị bại lộ, tất cả đều bị giết.
Năm 1460, các huân hựu đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm, Lê Yên, Lê Giải, Lê Nhân Thuận, Lê Nhân Khoái, Lê Vĩnh Trường, Trịnh Đạc, Trịnh Văn Sái, Nguyễn Đức Trung, Nguyễn Yê, Nguyễn Xí, Đinh Liệt đến Nghị sự đường tại cửa Sùng Vũ, sai đóng các cửa, đem cấm binh dẹp nội loạn, cùng các đại thần kéo vào bức tử Lê Nghi Dân, rồi bàn nhau rằng:
Ngày 18 tháng 6 âm lịch năm Canh Thìn (1460), Lê Tư Thành lên ngôi Hoàng đế tại điện Tường Quang, cải niên hiệu Quang Thuận, xưng hiệu Thiên Nam Động chủ, Đạo Am chủ nhân, Tao Đàn nguyên súy, dùng tên Lê Hạo trong văn bản ngoại giao với nhà Minh. Vừa lên ngôi, ông đại xá thiên hạ, xử tử tướng cai quản cấm binh Lê Đắc Ninh vì tiếp tay cho Nghi Dân tạo phản, truy phong Nội quan Đào Biểu (tử tiết cùng Nhân Tông trong đêm đảo chính) tước một tư và ban 5 mẫu ruộng công để cúng tế. Sau đó ông phát tang cho Lê Nhân Tông, rước bài vị vào Thái miếu, thụy hiệu là "Tuyên Hoàng đế," Thái hậu Nguyễn Thị Anh được đặt thụy "Tuyên Từ Hoàng thái hậu". Theo "Đại Việt Sử ký Toàn thư", trước đó trời đã lâu không mưa, nhưng ngay sau khi rước bài vị Nhân Tông vào Thái miếu, đêm hôm sau liền có mưa lớn.
Tháng 7 âm lịch năm Canh Thìn (1460), Lê Thánh Tông muốn đảm bảo an ninh nội cung, đề phòng tái diễn vụ ám sát Nhân Tông, ban lệnh cho quan lại Nội mật viện cùng các cung nhân: "Từ nay về sau, nếu thấy chiếu chỉ và các việc cung thì không được lén lút tiết lộ cho người ngoài và con thân thích".
Ngày 1/10 âm lịch, Thánh Tông ban tước cho các đại thần tham gia lật đổ Lê Nghi Dân: Nguyễn Xí tước Quỳ quận công, Đinh Liệt tước Lân quận công, Lê Niệm tước Thái phó, Lê Thọ Vực tước Tả Đô đốc tham nghị triều chính chưởng Điện tiền ty; Nguyễn Lỗi tước Đại Đô đốc Chưởng Hình bộ, Lê Khang tước Văn Chấn hầu. Ngày 11/10 ban ruộng đất: Nguyễn Xí và Đinh Liệt nhận 350 mẫu, Lê Lăng nhận 300 mẫu, Lê Niệm nhận 200 mẫu, Lê Nhân Thuận nhận 150 mẫu, Nguyễn Sư Hồi, Lê Nhân Khoái, Lê Thọ Vực và Nguyễn Kế Sài nhận 130 mẫu. "Đại Việt Sử ký Toàn thư" có lời bàn về những việc làm của Thánh Tông sau khi lên ngôi:
Tuy nhiên, với những người đảo chính thất bại như Lê Ê, Lê Thụ, Đỗ Bí, Lê Ngang thì Thánh Tông không chấp thuận truy phong tiết liệt theo đề nghị của Nguyễn Xí, ngược lại còn coi họ như tội thần:
"Đã xem hết tờ tâu, thấy xin cho bọn Lê Ê, Lê Thụ, Đỗ Bí, Lê Ngang theo lệ công thần đã mất, nhưng khoảng năm Diên Ninh, Đỗ Bí, Lê Ê chức cao nhất hàng tể thần; Lê Ngang, Lê Thụ cầm cấm quân, đáng lẽ phải dẹp yên giặc loạn, chuyển nguy thành an, thế mà chỉ biết sắp gà vào nồi mà để cá kình lọt ra ngoài lưới. Đến sau mưu việc không kín, phải phơi thây bên đường. Đó lại thêm một tội khác, sao được để cùng với những công thần đã mất?"
Trước đây, triều đình phải chứng kiến xung đột giữa công thần Lam Sơn với nhau, cũng như giữa công thần Lam Sơn với tầng lớp quan lại Nho học mới. Khi Thánh Tông lên ngôi, phe tướng lĩnh Lam Sơn đã suy yếu. Dù vậy, Nguyễn Xí, công thần Lam Sơn và là người đưa Thánh Tông lên ngôi, vẫn có sức ảnh hưởng lớn trong triều đình đến khi mất. Thánh Tông cần trông cậy vào Nguyễn Xí để giữ ngai vị mới đạt được. Tháng 3/1462, con trai Nguyễn Xí là Nguyễn Sư Hồi làm một bài thơ nặc danh với ý định vu cáo các đại thần Lê Niệm, Nguyễn Lỗi, Trịnh Văn Sái và Lê Thọ Vực làm phản rồi vứt ra đường. Nhưng bài thơ chưa kịp lưu truyền thì bị bại lộ. Cả bốn đại thần đều xin trị tội Sư Hồi, nhưng Thánh Tông phải bênh vực cho ông ta, với lý do đây chỉ là hiềm khích cá nhân, và bài thơ cũng không có ý tạo phản hay phạm thượng. Tháng 8/1462, Thánh Tông xử tử Lê Lăng, thuộc phe đối lập Nguyễn Xí, vì từng có ý lập Lê Khắc Xương, anh trai thứ của Thánh Tông lên ngôi. Tuy nhiên, sau khi Nguyễn Xí qua đời, Thánh Tông thắt chặt kỷ cương quân đội và không có ưu ái ngoại lệ, khiến giới tướng lĩnh chịu vào khuôn phép hơn. Cùng lúc đó, tầng lớp văn quan được tuyển qua khoa cử ngày càng lớn mạnh, tạo nên chỗ dựa mới cho hoàng đế trong việc trị quốc. Để các sĩ phu vốn tự phụ vào chữ nghĩa của bản thân phải kính nể và phục tùng mình, Thánh Tông đã cho thấy sự am hiểu sâu sắc của mình với Nho học.
Lê Khắc Xương, anh trai duy nhất còn sống của Thánh Tông giữ tước Cung vương trong 14 năm đầu triều. Đến tháng 6 âm lịch năm Bính Thân (1476), ông ta bị khép vào tội âm mưu tạo phản và bị bắt giam. Ngày 6/8 âm lịch năm đó thì lâm bệnh mất. Trong bộ "Đại Việt sử ký toàn thư", sử quan Đại Việt đời Lê Trung hưng phê phán Thánh Tông "tình nghĩa anh em thiếu hẳn lòng nhân ái".
Đời Lê Thánh Tông dùng hai niên hiệu, đầu tiên là Quang Thuận (1460–1469), sau đổi là Hồng Đức (1470–1497).
Cai trị Đại Việt.
Quan chế – hành chính.
Đầu thời Lê Sơ, quan chế triều đình theo thời Trần – Hồ, đứng đầu là Tả, Hữu Tướng quốc Bình chương quân quốc trọng sự, dưới là Lễ bộ, Lại bộ, Nội các, Trung thư, Hoàng môn, ba sở Môn hạ, Hành khiển ở năm đạo để quản lý quân dân ngoài kinh. Năm 1459, Lê Nghi Dân đặt thêm bốn bộ Binh, Hộ, Hình, Công cùng sáu khoa Trung thư, Hải, Đông, Tây, Nam, Bắc. Sau khi lên ngôi, Lê Thánh Tông ban hành những chính sách mới để hoàn thiện bộ máy quan chế – hành chính Đại Việt.
Tháng 10 âm lịch năm Nhâm Ngọ (1462), Thánh Tông cho các quan văn, võ từ 65 tuổi và các thư lại, giám sinh từ 60 tuổi được đệ đơn xin trí sĩ (nghỉ hưu) với Lại bộ.Ông còn bãi bỏ đặc cách cho phép cha con được thế tập chức tước với các gia đình có công từ thời Lê Thái Tổ. Tháng 12 âm lịch năm Giáp Thân (1464), vua ra chỉ dụ:
Tháng 3 âm lịch năm Ất Dậu (1465), Thánh Tông bỏ sáu bộ, đặt sáu viện, do Thượng thư và Tả, Hữu Thị lang đứng đầu mỗi viện. Theo "Lịch triều hiến chương loại chí", sáu viện này gồm Nghi lễ, Khâm hình, Ty bình, 3 viện còn lại không rõ tên. Các khoa Trung thư, Hải, Đông, Nam, Tây, Bắc lần lượt được tổ chức lại thành Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công; Đô sự cấp trung đứng đầu mỗi khoa, có Cấp sự trung trợ thủ,có nhiệm vụ giám sát công việc của sáu viện tương ứng và báo cáo trực tiếp với hoàng đế. Vua cũng đổi cơ quan Hành khiển năm đạo thành các ty Tuyên chính, mỗi ty gồm các Tuyên chính sứ, Tham chính, Tham nghị và Chủ sự (theo thứ tự từ cao xuống thấp).
Tháng 4 âm lịch năm Bính Tuất (1466), Thánh Tông lại đổi sáu viện thành sáu bộ như trước năm 1465, do Thượng thư và Tả Hữu Thị lang cai quản mỗi bộ. Dưới các chức này, Thánh Tông đặt chức Lang trung, Viên ngoại lang, Tư vụ. Thánh Tông cũng lập ra sáu tự để phụ việc cho sáu bộ; sáu tự gồm Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự, Hồng lô tự, Thượng bảo tự. Mỗi tự do các quan Tự khanh, Thiếu khanh, Tự thừa phụ trách. Trong sáu tự, Đại lý tự bổ trợ cho Hình bộ, bốn tự Thượng bảo tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Hồng lô tự phụ việc Lễ bộ. Đối với Thái bộc tự, không rõ cơ quan này bổ trợ cho bộ nào, nhưng sử gia K. W. Taylor phỏng đoán rằng Thái bộc tự ít ra đã phải cộng tác với Binh bộ, Hộ bộ và Lễ bộ.
Tháng 6 âm lịch năm Bính Tuất (1466), Lê Thánh Tông ban quy chế về màu áo các quan văn võ: quan từ nhất phẩm đến tam phẩm phải mặc áo hồng; quan tứ phẩm và ngũ phẩm thì mặc áo màu lục; các viên chức còn lại đều mặc áo xanh.
Năm 1467, Lễ bộ Thượng thư Phạm Công Nghị tâu với Thánh Tông xin bỏ lệ ban họ vua cho công thần, bởi vì: "Cái sai của việc ban tên họ có quan hệ rất lớn. Vì người làm tôi mà cùng họ với vua thì bất kính, người làm con mà quên mất gốc thì bất hiếu. Làm sao có kẻ bất kính bất hiếu mà làm nên việc được? Nên sửa bỏ lệ ấy đi. Tất cả bề tôi đã được ban cho họ nhà vua đều cho đổi lại theo họ cũ của ông cha để cho tông phái nhà vua được phân minh, cội gốc các họ được rõ ràng". Thánh Tông y theo.
Mùa thu năm Tân Mão (1471), sau khi chinh phục Chiêm Thành, vua Thánh Tông ban bố Hoàng triều quan chế, khẳng định rằng: "Đất đai bờ cõi ngày nay so với trước kia khác nhau nhiều lắm, không thể không thân hành nắm quyền chế tác, làm trọn đạo biến thông", cho nên phải thay đổi, mở rộng bộ máy quan lại, hành chính. Theo đó nhà vua bỏ các chức Tướng quốc, Bình chương và Bộc xạ; đặt Thái sư, Thái úy, Thái phó, Thái bảo, Thiếu sư, Thiếu úy, Thiếu phó, Thiếu bảo làm các chức quan đầu triều, coi cả văn lẫn võ. Dưới các chức này, ban văn trong triều có các cơ quan sáu bộ, sáu tự, sáu khoa, Ngự sử đài, Hàn lâm viện, Đông các, Quốc tử giám, Quốc sử viện, Phủ doãn, Cung sư phủ, Tư thiên giám, Thái y viện, Bí thư giám, Trung thư giám, Hoa văn giá, phủ, huyện, châu có các nha môn, các quan Khuyến nông, Hà đê; bên võ có các cơ quan: năm phủ, hai vệ, bốn vệ Hiệu lực, bốn vệ Thần võ (tiền, hậu, tả, hữu), sáu vệ Điện tiền, bốn vệ Tuần tượng, bốn vệ Mã nhà, chăm sóc voi, ngựa; ngoài ra còn có các vệ, sở, đô ty, giang hải tuần kiể; theo sử gia Đào Duy Anh, tổng sổ quan văn, võ phục vụ dưới thời Thánh Tông có đến 5370 người, gồm 2755 quan triều đình và 2645 quan địa phương. Sử gia Tạ Chí Đại Trường viết trong sách "Sơ thảo: Bài sử khác cho Việt Nam" về bộ máy hành chính thời Lê Thánh Tông:
Tổ chức chi li như thế khiến phát sinh nhiều chức quan – nói như ngày nay là “hệ thống thư lại cồng kềnh”, nhưng chính quyền cũng tính đến việc không phải tổn phí nhiều vì “trước kia quan ít, tước to” nay thì “quan nhiều mà lương ít, trật thấp”. Chi tiết thứ bậc cũng được xác định từ trong hoàng tộc, triều đình ra đến các địa phương từ lớn tới nhỏ với các danh xưng rành rẽ. Về mặt quyền lợi thực tế thì rõ ràng có sự cách biệt rất lớn giữa tầng lớp vương hầu và quan lại – tất nhiên chưa kể đến dân chúng bên dưới. Ấy thế mà triều đình cũng đã thoáng thấy tình trạng “quan viên quá nhiều, tiêu phí lộc kho” nên có lệnh chọn thải bớt người (1481) để đỡ gánh nặng cho nhà nước.
Lê Thánh Tông cũng đề cao ý kiến của các quan; nhiều sáng tạo về hành chính của ông có xuất phát từ sự gợi ý của quan lại. Ông đã ra nhiều chỉ dụ yêu cầu triều thần phải trung thực và thẳng thắn khi trình bày quan điểm với hoàng đế, không được nói nước đôi, hai nghĩa. Ông còn đặt phép tắc về việc bàn luận của quan viên: khi có thánh chỉ xuống, thì theo thứ tự, Lục khoa và Ngự sử đài bàn bạc trước, sau đó đến Lục bộ, Lục tự rồi tới lượt công, hầu, bá, đô đốc năm phủ. Các quan đều phải trình bày rõ ý kiến của mình, không được giữ im lặng, trốn tránh hoặc a dua theo người khác. Quan nào vi phạm luật lệ này, sẽ bị ngự sử trách hỏi rồi tâu lên vua.
Theo sử gia Mỹ John K. Whitmore, mục đích của Lê Thánh Tông là giảm sự chi phối từ các đại thần võ tướng đã phò tá Lê Thái Tổ dấy nghĩa chống Minh, và thay họ bằng đội ngũ quan liêu được tuyển chọn qua các kỳ thi Nho học. Sử Việt chép tháng 12 âm lịch năm Đinh Hợi (1467), ông đặt ra ấn "Thiên Nam Hoàng đế chi bảo", thể hiện ý muốn của ông coi Đại Việt là một "Thiên triều phía Nam" độc lập, có đầy đủ những gì "Thiên triều phía Bắc" (nhà Minh - Trung Quốc) có, và có sức mạnh chính trị, văn hiến không thua kém Bắc quốc. Khi ban hành "Hoàng triều quan chế" năm 1471, Hoàng đế cũng bày tỏ thái độ cứng rắn, không khoan nhượng đối với những con cháu hay quan lại nào chống đối, hủy bỏ các cải cách mô hình nhà nước của mình:
"Kể từ nay, kẻ nào là con cháu ta, phải biết rằng ban hành quy chế này là điều bất đắc dĩ, một khi phép tắc đã định ra, phải kính cẩn duy trì và thực hiện, không được cậy mình là thông minh, rồi đem so với triều trước mà sửa đổi lại, làm đảo lộn mọi điển chương chế độ, để mắc tội bất hiếu. Kẻ nào là bề tôi cũng kính cẩn giữ phép thường, mãi mãi giúp đỡ vua các ngươi, để kế tục công liệt của người xưa, để vĩnh viễn không còn lầm lỗi. Kẻ nào dám dẫn bừa quy chế cũ mà bàn càn một quan nào, thay đổi một chức nào, chính là kẻ bề tôi gian nghịch, làm loạn phép nước, phải xử tử vứt xác ra chợ không thương xót; còn gia thuộc nó phải đày đi nơi xa để tỏ rõ tội kẻ làm tôi bất trung; ngõ hầu muôn đời sau này hiểu được ý nghĩa sâu xa của việc sáng lập điển chương chế độ."
Trên tinh thần này, năm 1485, Lê Thánh Tông xử tử Thái tử Thiếu bảo Ngự sử đài Đô ngự sử Trần Phong vì ông này phê phán nhà vua áp dụng quan chế triều Minh, và khi làm kinh diên cho Nhân Tông thì ""yêu quý Lệ Đức [Lê Nghi Dân], rất khinh miệt ta [Thánh Tông]"." Theo Taylor, lời chỉ trích Lê Thánh Tông được gán cho Trần Phong chỉ mang tính nông cạn, có thể bộc lộ sự hoài niệm về các triều đại bất ổn của Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông. Trước đó, Trần Phong đã nhiều lần bị Thánh Tông quở trách rất gay gắt, như lần dụ Nguyễn Như Đổ vào tháng 9 âm lịch năm 1468: "Ta xem Trần Phong ngoài mặt thì kêu căng, trong bụng thì xu nịnh, nói năng khinh suất. Đến như xiểm nịnh kẻ quyền quý thì lật đật như con lanh già giẫm yếm xéo đuôi; liếm trôn trĩ của Đức Trung, hút mủ nhọt cho Nguyễn Yên, đó là kế sở trường để nên quan to của Phong đấy".
Tháng 3 âm lịch năm Quý Sửu (1493), vua Lê Thánh Tông đặt lệ về thứ tự đứng chầu của đình thần: đối với các quan cùng phẩm, thì người lớn tuổi và làm việc lâu năm đứng trước, người trẻ và làm việc chưa lâu đứng sau. Với các chức quan cai quản thì: "người phẩm thấp mà chức cao, như tam phẩm làm Đô đốc thì đứng vào ban nhị phẩm; thất, bát phẩm làm Lang trung thì đứng vào ban lục phẩm. Nếu phẩm cao mà chức thấp, như nhị phẩm làm Vệ quan thì đứng vào ban tam phẩm; tứ, ngũ phẩm làm Viên ngoại lang thì đứng vào ban lục phẩm; còn lại cứ theo thế mà suy ra".
Lê Thánh Tông nổi tiếng là vị hoàng đế quản lý quan lại hết sức chặt chẽ. Hàng ngày ông đều hội kiến với các tướng lĩnh cao cấp nhất của mình. Ngoài ra, sau mỗi buổi thiết triều, ông thường gặp riêng các quan đứng đầu Lục bộ và Ngũ phủ để bàn bạc. Hoàng đế cũng dõi theo sát sao hành xử của hàng ngàn viên quan lớn nhỏ trong triều đình. Ngay từ khi mới lên ngôi, ông đã tạo ra một cảm giác kết nối sâu sắc giữa mình với các đại thần qua việc khen ngợi hoặc sỉ vả từng cá nhân, mỗi lời khen chê của ông đều thể hiện ông nắm rõ tiểu sử và sự nghiệp của họ. Có lần hoàng đế ban mứt trái cây cho các đại thần để bày tỏ sự cảm kích đồng thời cổ vũ họ làm việc chăm hơn nữa. Ông cũng ban hành hàng loạt sắc lệnh, cảnh báo và nghiêm cấm các quan văn võ không được tham ô, hối lộ, gian dối, biếng nhác, trễ nãi, bóc lột sức quân và dân để vỗ béo bản thân, thu thuế chậm chạp, không hoàn tất công việc đúng kỳ hạn, sống phóng đãng, chìm đắm tửu sắc, thông dâm với vợ người, gia đạo không nghiêm, cưới người đàn bà ở nơi mình trấn nhậm, mặc triều phục không đúng quy chế, lễ lạc quá đà, nhổ trầu, vứt bã trầu lung tung trong sân điệ"không biết tâu lên trước, chỉ ngồi nhìn tai họa của dân". Ngay cả khi Nguyễn Xí cùng con là Nguyễn Sư Hồi nhận 80 lạng bạc do Ngô Tây hối lộ, Thánh Tông sai Tư lễ giám Nguyễn Áng đến bắt cha con Nguyễn Xí phải nộp lại 80 lạng bạc đó. Trong một trường hợp khác, tháng 12 âm lịch năm Đinh Hợi (1467), nhà vua mở khoa thi Hoành từ bắt 30 quan chức phải thi. Khâm hình viện Lang trung Vũ Hữu và Viên ngoại lang Nguyễn Đình Khoa cáo bệnh không dự thi. Lê Thánh Tông thấy lạ, dò hỏi thì biết hai người này chỉ ưa ăn hối lộ. Nhà vua chế giễu Vũ Hữu trong lời dụ thể hiện sự nghiêm khắc pha lẫn hài hước của ông:
"Việc hình án phức tạp khó khăn, có ba điều vất vả: Một là suốt ngày cặm cụi vất vả, khổ sở. Hai là xử án không đúng, chịu tội làm sai. Ba là án tụng chất đống, khó lòng xét xử tường tận. Có ba điều vất vả ấy dẫu người không bệnh cũng đến phát ốm, huống chi là có bệnh".
Mặt khác Thánh Tông cũng tỏ ra rộng rãi trong việc cho phép các quan bị xử phạt, giáng chức hay cách chức có cơ hội lần hai để chuộc lại lỗi lầm. Cuối năm 1468, viên nội thần Nguyễn Thư bị cáo buộc tham ô, Thánh Tông cho rằng tội đáng phải xử tử nhưng ông vẫn tha để cho cơ hội sửa mình. Sự quản lý nghiêm ngặt từ hoàng đế đã khiến bá quan phải cẩn thận với hành vi của mình. Trong sách "Việt Nam sử lược", sử gia Trần Trọng Kim viết: "Ngài [Lê Thánh Tông] lại lập ra quan chế và lễ-nghi. Các quan văn võ có phần ruộng đất, lại được tiền tuế bổng. Nhưng ai mà làm điều gì nhũng-lạm thì đều phải nghiêm trị". Bên cạnh đó, sử gia Tạ Chí Đại Trường ghi nhận rằng Lê Thánh Tông đã không thể diệt trừ triệt để tệ tham ô. Quy chế "đặt quan đều là lương ít trật thấp" theo "Hoàng triều quan chế" do chính ông ban bố đã khiến cho quan viên rất nghèo, nhận lương không đủ cho sinh hoạt; quan thanh liêm như Nguyễn Trực, làm việc tại Viện Hàn lâm thời Thánh Tông, đến lúc mất chỉ có vài sào ruộng của vợ. Điều này khiến cho các quan phải xoay xở để trục lợi, tệ tham ô vẫn cứ tồn tại và phát tác mạnh hơn trong các triều vua sau.
Lê Thánh Tông cũng rất quan tâm cất nhắc người giỏi, giáng chức người bất tài, tham ô. Bên cạnh các khoa thi 3 năm 1 lần, ông áp dụng chế độ "tiến cử" và "bảo cử" để chiêu mộ quan viên tài đức. "Tiến cử" là nhiệm vụ bắt buộc của mọi viên quan từ tam phẩm trở lên; họ phải tìm người tài trong dân gian và giới thiệu cho vua. "Bảo cử" là lựa những quan lại có tài đức và kinh nghiệm để cho làm các chức vụ quan trọng trong triều đình hoặc địa phương. Thánh Tông đã nhiều lần dụ các bộ triều đình, 3 ty Đô, Thừa, Hiến các xứ rằng "người nào liêm khiết sẽ được xét các quan lại trong bộ thuộc của mình, người nào liêm khiết hay tham ô, chuyên cần hay lười biếng, cùng các quan Nho học dạy dỗ nhân tài, hằng năm có người được sung cống sĩ hay không, nhiều hay ít, đều ghi tên tâu lên để định việc thăng hay giáng", hay "các quan cai quản quân dân trong kinh ngoài trấn, trong đó có người liêm khiết, cũng có kẻ tham nhũng, nếu không phân biệt nêu lên thì khuyên răn thế nào được? Trong thi Đô đốc năm phủ, ngoài thì đường quan ba ty Đô, Thừa, Hiến, các quan hãy công bằng mà bảo cử các quan vệ, phủ, huyện, châu trong ngoài, người nào liêm khiết, người nào tham nhũng đều phải khai rõ sự thực, hẹn trong 3 tháng kể từ ngày sắc chỉ đưa tới, làm bản tâu lên, giao cho Ngự sử đài xét lại mà thi hành khu xử để tỏ rõ cách khuyên răn và để nới sức cho quân dân". Khi được các đại thần giới thiệu người có thể bổ dụng, nhà vua đích thân xem xét, chắt lọc cẩn thận rồi mới chọn ra người xứng đáng trong số các ứng cử viên. Ông còn dụ các quan ở Lục bộ, Lục khoa và Ngự sử đài nếu giới thiệu đúng người thì sẽ được thưởng, còn mà sai người thì bị phạt tiền. Đại Việt Sử ký Toàn thư kể lại tháng 12 âm lịch năm 1467, Lễ bộ Tả Thị lang Lương Như Hộc giới thiệu Trần Quý Huyên. Lê Thánh Tông chê Trần Quý Huyên không đủ tài, bắt Lương Như Hộc giam vào ngục và thu hồi văn bằng của Quý Huyên. Ngoài ra, Thánh Tông yêu cầu quan viên tại chức phải giữ chức vụ của mình đủ lâu để nhà vua có thể đánh giá phẩm hạnh của họ, rồi mới được thuyên chuyển sang chức khác. Triều đình cứ 3 năm phải xét duyệt quan lại 1 lần, những viên chức được giao việc xét duyệt mà không hoàn thành đúng kỳ hạn đều bị phạt tiền. Đối với các quan trấn nhậm ở vùng núi xa xôi, nhà vua cho phép họ được về đồng bằng nhận chức mới sau 6 năm nếu họ làm tốt công việc. Nếu làm không tốt thì phải ở lại. Tuy nhiên, quan lại coi giữ những vùng biên giới nhạy cảm thường phải đổi việc chỉ sau một thời gian ngắn để tránh họ ở lâu quên mất cảnh giác.
Quy định về tước hiệu.
Tháng 9 âm lịch năm Tân Mão (1471), Lê Thánh Tông ban bố quy định về việc phong tước cho tôn thất, quan lại: hoàng tử hoặc con cả của hoàng tử được lãnh tước Vương, đối với hoàng tử (tức thân vương) thì lấy chữ trong tên phủ mà đặt hiệu (chẳng hạn như Kiến Hưng vương lấy từ tên của phủ Kiến Hưng), với con trưởng của hoàng tử (tức tự thân vương) thì dùng tên huyện làm hiệu (chẳng hạn như Hải Lăng vương lấy từ tên của huyện Hải Lăng). Các con thứ của Hoàng thái tử và thân vương thì được giữ tước Công, dùng mỹ tự (từ hoa mỹ) làm tên hiệu, chẳng hạn Triệu Khang công. Con trưởng của tự thân vương hoặc tôn thất có tước Công thì được trao tước Hầu, cũng dùng mỹ tự làm tên hiệu, ví dụ như Vĩnh Kiến hầu. Ngoài ra còn có tước Bá được dành cho Hoàng thái tôn, các con thứ của tôn thất có tước Công, con trưởng của thân công chúa; tước Tử được đặt tương đương với chánh nhất phẩm, dành cho con thứ của thân công chúa, con trưởng của tôn thất mang tước Hầu, tước Bá; tước Nam tương đương với tòng nhất phẩm, dành cho con trưởng của thân công chúa được truy tặng, con thứ của tôn thất mang tước Hầu, tước Bá, cả ba tước này đều lấy tên hiệu theo mỹ tự (tỷ như Tĩnh Cung bá, Kiến Xương tử, Quảng Trạch ).
Lê Thánh Tông còn đặt lệ cho các công thần được phong tước quốc công, quận công, hầu, bá. Những người không có đức độ, công lao rõ ràng đối với triều đại, thì không được xem như công thần và không được phong các tước đó. Đối với người mang tước quốc công, quận công thì lấy một chữ trong tên phủ, huyện để đặt hiệu (chẳng hạn Tĩnh quốc công Lê Niệm, Phủ quốc công Lê Thọ Vực); với người mang tước hầu, tước bá thì lấy cả hai chữ trong tên xã để đặt hiệu (ví dụ tước Nam Xương hầu đặt theo tên xã Nam Xương, tước Diên Hà bá đặt theo tên xã Diên Hà).
Lê Thánh Tông cũng ban hành rất nhiều chính sách về việc đặt cấp bậc cho quan, tướng có đại công, được mô tả chi tiết trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (quyển XVII - Quan chức chí (V) - Tước ấm và đường xuất thân khác nhau). Đại Việt Sử ký Toàn thư chép đại lược rằng:
""Về cấp bậc của người có công lao thì bên văn từ Thượng trụ quốc đến Tu thận thiếu doãn gồm 5 phẩm, đều có chánh, tòng. Bên võ từ Thượng trụ quốc đến Thiết kỵ úy gồm 5 phẩm cũng có chánh, tòng. Tản quan bên văn, từ chánh nhất phẩm, sơ thụ Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, cho đến chánh cửu phẩm sơ thụ Tướng sĩ thứ lang, gồm 9 phẩm, đều có chánh, tòng. Tản quan bên võ từ chánh nhất phẩm sơ thụ Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân đến tòng lục phẩm, sơ thụ Quả cảm tướng quân gồm 6 phẩm, đều có chánh, tòng. Nội quan tản từ Thị trung lệnh chánh tam phẩm đến Phó lịch sứ tòng cửu phẩm gồm 7 bậc, cũng có chánh, phó. Về thông tư thỉ thượng trật 24 tư đến hạ liệt 1 tư gồm 19 bậc. Về công thần được vinh phong thì từ chữ "suy trung" đến chữ "tuyên lực", gồm 24 chữ. Đại để các quan văn võ có công thì ban đầu được phong từ 2 chữ đến 8 chữ. Người nào đáng được phong chữ nào thì tới lúc đó sẽ đặc xét gia phong.""
Sử gia Phan Huy Chú đã ca ngợi các chính sách phân chia cấp tước của Lê Thánh Tông:
Sự phân biệt về tước cấp, từ thời Hồng Đức đã quy định từng hạng rõ ràng. Trong những bậc tản quan, thông tư, vinh phong, đều có phép sẵn, các đời noi theo không thay đổi. Đó là thể lệ phong tước bái quan, trong hơn 300 năm nhà Lê vẫn theo như thế, nên nay chép cả ra đây.
Phân chia hành chính.
Đời vua Lê Thái Tổ, Đại Việt được chia làm 5 đạo, các đơn vị hành chính dưới đạo là phủ, lộ, trấn, châu, huyện, xã. Quan cai trị đạo là Hành khiển, Tuyên phủ chánh phó sứ; cai trị phủ là Tri phủ; cai trị lộ là An phủ sứ; cai trị trấn là Trấn phủ sứ; cai trị huyện là Chuyển vận sứ, Tuần sát sứ; cai trị xã là Xã quan. Đến thời Lê Thánh Tông, năm 1466, nhà vua chia nước thành 13 đạo thừa tuyên và Trung đô phủ, lại đặt các ty Đô, Thừa để cai quản. Thánh Tông đổi lộ thành phủ, trấn thành châu, đổi chức An phủ thành Tri phủ, Trấn phủ thành Đồng tri phủ, Chuyển vận sứ thành Tri huyện, Tuần sát sứ thành Huyện thừa, Xã quan thành Xã trưởng.
Năm Kỷ Sửu (1469), Lê Thánh Tông đổi phủ Trung đô làm phủ Phụng Thiên, quản lĩnh 2 huyện Quảng Đức, Thọ Xương.
Năm Tân Mão (1471), sau khi chinh phục Chiêm Thành, Lê Thánh Tông lập đạo thừa tuyên Quảng Nam, nâng số thừa tuyên của Đại Việt lên 13. Ông còn lập thêm ty Hiến, chia nhau cùng các ty Đô, Thừa cai quản thừa tuyên. Ty Đô do chánh phó Đô tổng binh đứng đầu, nắm việc quân sự; ty Thừa do Thừa chính chánh phó sứ đứng đầu, nắm việc hành chính; còn ty Hiến do Hiến sát chánh phó sứ đứng đầu, coi việc luật pháp. 13 thừa tuyên thời Lê Thánh Tông (năm 1490 đổi làm xứ) bao gồm:
Tháng 6 âm lịch năm Đinh Hợi (1467), vua Lê Thánh Tông dụ các thừa tuyên xem xét, tìm hiểu địa thế núi, sông và các sự tích trong địa phương mình, để vẽ địa đồ nơi đó, rồi trình lên cho Hộ bộ tổng hợp thành bản đồ hoàn chỉnh của Đại Việt. Ngày 5 tháng 4 âm lịch năm Canh Tuất (1490) (tức ngày 24 tháng 4 dương lịch), bộ bản đồ Đại Việt được hoàn tất, gọi là bản đồ Hồng Đức ("Hồng Đức bản đồ sách",). Bản đồ ghi nhận nước Việt có 13 thừa tuyên, 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6851 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguồn, 30 trường.
Tháng 9 âm lịch năm Tân Mão (1471), Lê Thánh Tông đặt chức Giám sát ngự sử 13 đạo chuyên làm nhiệm vụ giám sát công việc của quan lại các đạo, ngăn không cho họ nhũng lạm.
Trong suốt thời kỳ trị vì của mình, Lê Thánh Tông xây đắp nhiều cung điện trong và ngoài hoàng thành Thăng Long. Tháng 3 âm lịch năm Ất Dậu (1465), ông hạ lệnh xây mới điện Kính Thiên; không lâu sau đó, vào tháng 8 âm lịch ông cho dựng điện Cần Đức. Tháng 11 âm lịch năm này, việc xây dựng 2 điện hoàn tất, Thánh Tông xuống chiếu đại xá thiên hạ.
Ngày 15 tháng 8 âm lịch năm Đinh Hợi (1467), Lê Thánh Tông cho dựng lan can bằng đá ở điện Kính Thiên và lập một điện nhỏ trên sân Giảng Võ.
Cuối năm 1467, theo "Đại Việt sử ký toàn thư", Thánh Tông nhận nhiều tờ tâu nói mất mùa, giá gạo tăng mạnh, nên ra lệnh hoãn xây cung thành. Tuy nhiên, sử sách không ghi rõ tên gọi của cung thành này.
Năm Đinh Dậu (1477), Lê Thánh Tông cho củng cố, mở rộng thành Đại La.
Năm Tân Sửu (1481), Lê Thánh Tông cho đào hồ Hải Trì ở kinh sư. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư: "Hồ này quanh co đến 100 dặm". Hồ bao quanh điện Thúy Ngọc, bên cạnh hồ nhà vua cho lập điện Giảng Võ làm nơi huấn luyện cho tượng binh.
Tháng 10 âm lịch năm Giáp Thìn (1484), Lê Thánh Tông đặt quy định về việc kiến thiết hành điện ngoài hoàng thành, được Đại Việt Sử ký Toàn thư dẫn lại: "Hành điện gồm 5 gian, 2 chái, nhà bếp mỗi dãy 3 gian, một đài Quan canh ở giữa, cao 5 thước, rộng 40 thước, làm một khu đàn Tiên nông cao 7 thước, rộng 36 thước, 4 mặt đắp tường đất, cùng đi cửa đi ngựa vào". Các hành điện đều được bố trí ở xã Hồng Mai, huyện Thanh Đàm. Không lâu sau, ông kiến lập điện Đại Thành cùng nhà đông vu, tây vu, điện Canh phục ở Văn Miếu.
Tháng 11 âm lịch năm Canh Tuất (1490), Lê Thánh Tông muốn đề phòng bị ám sát giống Lê Nhân Tông trước đây, nên đắp rộng hoàng thành thêm 8 dặm. Công việc mở rộng kéo dài 8 năm thì xong. Thánh Tông còn lập thêm điện Danh Bảo và trùng tu vườn Thượng Uyển, trong vườn có hươu và nhiều loại thú khác.
Tháng 10 âm lịch năm Tân Hợi (1491), Lê Thánh Tông sai thợ dựng cái đình ở mé ngoài cửa Đại Hưng (cửa Nam thành Thăng Long), gọi là Quảng Văn đình (广聞亭), làm nơi treo các pháp lệnh trị dân. Bài ký "Quảng Văn đình" do văn thần Bùi Xương Trạch soạn năm 1493 mô tả địa điểm và diện mạo của đình: "ở mé ngoài của Đại Hưng (cửa Nam thành Thăng Long), lầu phượng cao ngất phía trước, thành rồng bao quanh ở ngoài, ngòi nước và đường dân vệ ở quanh tả hữ, đục chạm đơn giản, dù thấp mà không xấu, dù đẹp mà không xa hoa, quy mô đúng mực".
Ngoài ra bộ Đại Việt Sử ký Toàn thư còn kể Lê Thánh Tông đã dựng các điện Tử Hà, Bảo Quang, Kim Loan, Bảo Văn ở Đông Kinh và tẩm điện Lam Sơn ở Tây Kinh. Cũng sách này chép lại lời sử gia Nho thần đời Lê trung hưng phê phán Lê Thánh Tông xây dựng "công trình thổ mộc vượt quá quy mô xưa", làm hao tốn sức dân và tiền của nhà nước.
Bên cạnh những cải cách sâu rộng về hành chính, Lê Thánh Tông cũng tỏ ra là một nhà quân sự có tài, đã ban bố rất nhiều chính sách nhằm củng cố, mở rộng sức mạnh quân đội Đại Việt. Ngay sau khi lên ngôi, vào tháng 7 âm lịch năm 1460, ông chỉ thị cho các tổng quản, chỉ huy các vệ quân năm đạo và quân các phủ, trấn:
Khoảng năm 1465-1470, Lê Thánh Tông ban hành chính sách tuyển quân: cứ 3 năm một lần làm lại hộ khẩu gọi là "tiểu điển", 6 năm một lần gọi là "đại điển". Cứ 6 năm 1 lần, các Xã trưởng mang sổ hộ khẩu của mình tới Đông Kinh chiếu vào viết lại trong chính thư của triều đình về số dân hiện tại trong xã. Cũng định kỳ 6 năm một lần, triều đình cử một số nội thần và quan văn, võ về địa phương dựng lập trường tuyển, sau đó duyệt tân binh. Trừ các hàng chức sắc, quan lại, các dân đinh từ 18 tuổi trở lên đều phải đăng ký vào hộ tịch và được chia làm các bậc: tráng hạng, quân hạng, dân hạng, lão hạng, cố hạng, cùng hạng. Khi cần điều động, sẽ đưa tráng đinh làm lính, dâng tráng sung vào hạng quân ở nhà làm ruộng. Khi nào thải người già yếu, thì chiếu theo thứ tự lấy bổ sung vào. Lệ tuyển dân đinh vào làm lính như sau: nhà có 3 dân đinh thì 1 người vào hạng lính tráng, 1 người vào hạng quân, 1 người vào hạng dân; nhà có bốn người thì bổ 2 người hạng dân; nhà từ 5 đinh trở lên thì 2 người bổ hạng lính, 1 người bổ hạng quân ứng vụ. Sử gia hiện đại Tạ Chí Đại Trường có nhận xét về cách tuyển quân này:
Trước đây Lê Thái Tổ đã chia quân đội (ngoài cấm quân) làm năm vệ quân: Bắc đạo, Nam đạo, Đông đạo, Tây đạo và Hải Tây đạo, trấn giữ năm đạo hành chính trong nước. Sang thời Thánh Tông, năm 1466 nhà vua đổi vệ quân năm đạo thành quân năm phủ, bao gồm: Bắc quân phủ đóng ở mạn Kinh Bắc, Lạng Sơn; Trung quân phủ cai quản vùng Thanh Hóa-Nghệ An; Đông quân phủ cai quản vùng Hải Dương, Yên Bang; Tây quân phủ cai quản vùng Tam Giang, Hưng Hóa; Nam quân phủ cai quản các vùng Sơn Nam, Thuận Hóa, Quảng Nam. Riêng mạn Thái Nguyên, Tuyên Quang có quân Phụng trực trấn thủ. Mỗi quân có phủ đô đốc chỉ huy; chức quan cao nhất trong phủ này là Tả Hữu Đô đốc. Biên chế mỗi quân có 6 vệ, mỗi vệ có 5-6 sở, mỗi sở có 20 đội, mỗi đội gồm 20 người. Sử gia Trần Trọng Kim ước tính cả năm phủ đô đốc cộng lại là 6-7 vạn quân. Cùng năm 1466, Lê Thánh Tông lần lượt đổi tên các chức chánh ngũ trưởng, phó ngũ trưởng, đội sử thành tổng kỳ, tiểu tổng kỳ, quân lại.
Đối với cấm quân, năm 1470, Lê Thánh Tông lập các vệ quân Kim ngô, Cẩm y. Vệ Kim ngô được hợp thành từ 2 ty Tráng sĩ, Thần tý; vệ Cẩm y được hợp thành từ 2 ty Binh mã, Nghi vệ. Nhà vua còn lập thêm bốn vệ Hiệu lực, bốn vệ Thần vũ (đều được chia làm tiền, hậu, tả, hữu), 6 vệ Điện tiền (gồm vệ quân Vũ lâm, Tuyên trung, Thiên uy, Thủy quân, Thần sách, Ứng thiên), 4 vệ Tuần tượng cùng 4 vệ Mã nhàn. Năm 1490, Lê Thánh Tông mở rộng biên chế các vệ Kim ngô, Cẩm y, Thần vũ, Điện tiền; từ đây vệ Cẩm y có tới 20 ty, vệ Kim ngô có tới 100 ty.
Nho sĩ thời Nguyễn Phan Huy Chú đã nhận xét về cách tổ chức quân đội thời Lê Thánh Tông:
Cuối năm 1465, Lê Thánh Tông đặt ra phép tập trận đồ quân thủy bộ. Đối với thủy quân, ông ban các trận đồ: Trung hư, Thường sơn xà, Mãn thiên tinh, Nhạn hàng, Liên châu, Ngư đội, Tam tài, Thất môn, Yển nguyệt, cùng 32 điều quân lệnh về thủy trận. Bộ quân thì có các trận đồ: Trương cơ, Tương kích, Cơ binh, và 32 điều quân lệnh về tượng trận, 27 điều quân lệnh về mã trận, 42 điều về bộ trận dành cho quân Kinh vệ (về sau, tháng 3 âm lịch năm 1484, ông còn ban bố điều lệnh Hồng Đức quân vụ, gồm 27 điều). Mùa xuân năm 1467, Thánh Tông đi tuần nhiều nơi, tổ chức nhiều đợt diễn tập lớn cho quân đội: ngày 20 tháng 2 âm lịch, thủy quân tập trận đồ Trung hư trên sông Lỗ, ngày 23 tập trận đồ Tam tài, Nhất môn trên sông Vĩ, ngày 26 lại tập trận đồ Ngư đội, Nhạn hàng trên sông An Cha, tập trận đồ Thường sơn trên ngã ba sông Bạch Hạc. Kỷ luật tập trận rất nghiêm ngặt: trong cuộc diễn tập trên sông Vĩ ngày 23, Thánh Tông đã bắt trói Tây quân Đô đốc Lê Thiệt và thuộc hạ vì bất tuân lệnh vua (về sau được tha).
Cũng trong tháng 2 âm lịch năm 1467, Lê Thánh Tông bãi chức hai Trấn điện phó tướng quân Lê Hán Đình và Nguyễn Đức. Hán Đình trước làm Chuyển vận, có hành vi tham nhũng nên sợ dân hặc tội, phải cáo bệnh xin nghỉ. Sau Hán Đình cùng Thái chúc thừa Nguyễn Đức được Chỉ huy sứ Đào Bảo tiến cử với vua, nói hai người này thạo binh pháp. Lê Hán Đình và Nguyễn Đức dâng Thánh Tông các trận đồ Trung hư, Mãn thiên tinh và Thường sơn xà... Thánh Tông hài lòng, phong cả hai làm Trấn điện phó tướng quân và sai quân 5 phủ tập theo trận đồ do hai người đề xuất. Quân sĩ tập 2-3 lần nhưng không đạt hiệu quả. Thánh Tông lại cho hai người ra dạy, nhưng vẫn không được. Cuối cùng Thánh Tông tức giận, phạt đánh bằng trượng rồi sa thải cả hai.
Lê Thánh Tông còn đặt lệ tổ chức thi võ 3 năm 1 lần ở kinh sư; những người mang tước công, hầu, bá, tử, nam và mọi quan võ trong triều, ngoài địa phương đều phải dự thi. Các quan, tướng thi đạt đều được phong thưởng, người thi không đạt phải bị xử phạt. Thể lệ thi được ghi lại trong Đại Việt Sử ký Toàn thư: "Mỗi người thi bắn cung tên 5 phát, ném thủ tiễn 4 chiếc, đấu mộc 1 tao. Trúng được từ 8 đến 10 là thượng cấp; từ 6 đến 7 là trung cấp, từ 4 đến 5 là hạ cấp; đều được thưởng theo thứ bậc khác nhau. Nếu trúng từ 2 đến 3 thì không được thưởng cũng không bị phạt; trúng từ 1 đến không trúng thì phải phạt tiền cũng theo thứ bậc khác nhau".
Theo một số sử gia hiện đại (trong đó có Sun Laichen - người Trung Quốc), thì vũ khí quân sự dưới thời Lê Thánh Tông đã có những tiến bộ vượt bậc, do vốn có các kỹ thuật và sáng chế cùng kĩ năng chế tạo vũ khí cực kì tinh xảo của Đại Việt thời nhà Hồ về vũ khí tầm xa như hỏa thương, hỏa hổ, súng thần cô, có thể vượt xa so với vũ khí châu Âu cùng thời về sát thương và chất lượng.
Lê Thánh Tông rất chú ý đến việc tích trữ lương thảo ở các vùng biên cương để sử dụng cho quân lương khi cần thiết. Một nghệ thuật làm lương khô thời Lê Thánh Tông được sử sách ghi lại là một kỹ thuật đặc biệt của Đại Việt, đó là đồ (hấp) thóc chín và sấy khô. Loại lương khô này có thể cất giữ vài năm không bị mất phẩm chất và rất tiện cho việc vận chuyển và sử dụng trong chiến tranh, đặc biệt là dùng cho quân đội viễn chinh.
Dưới thời vua Lê Thánh Tông, nước Đại Việt tương đối yên ổn. Có vài lần ông phải điều binh đánh Bồn Man, Lão Qua quấy rối phía Tây (1460, 1467, 1469), "giặc cổ" xâm phạm trấn An Bang - Quảng Ninh (1467), quân của Sầm Tổ Đức, Lý Lân nước Minh (1467), quân người dân tộc thiểu số miền núi ("Sơn Man") từ châu Bằng Tường bên Minh quấy nhiễu phía Bắc (1473, 1474), nhưng chỉ khi chinh phục Chiêm Thành (1471) và Bồn Man, Lão Qua (1478-80) mới dùng đến đại quân. Các chính sách quân sự của Thánh Tông đã góp phần củng cố nền cai trị của triều Lê, và đưa Đại Việt trở thành cường quốc ở bán đảo Trung-Ấn.
Lê Thánh Tông còn đặc biệt quan tâm các chính sách nhằm phát triển kinh tế như: sửa đổi luật thuế khóa, điền địa, khuyến khích nông nghiệp, mở đồn điền, kêu gọi người phiêu tán về quê,đặt ra luật quân điền chia đều ruộng đất cho mọi người. Về thuế má, Lê Thánh Tông quy định người già từ 60 tuổi trở lên và "hoàng đinh" (thanh thiếu niên) dưới 18 tuổi, cùng những người tàn tật và những người thuộc về tráng (hạng tòng quân) đều được miễn thuế đinh; còn lại mỗi nhân đinh phải nộp thuế đồng niên là 8 tiền. Sang thời Lê Hiến Tông, thuế đinh tăng lên, nhưng tựu chung vẫn thấp hơn mức thời Trần-Hồ. Lê Thánh Tông còn định lệ thuế đất, thuế ruộng và thuế đất bãi trồng dâu. Cả ba thứ đất này đều được chia làm 3 hạng, dựa theo số mẫu mà đóng thuế.
Đễ nắm bắt nhân khẩu, Lê Thánh Tông quy định 6 năm 1 lần, các quan phủ huyện phải dẫn các xã trưởng tới Kinh sư để khai báo số hộ khẩu xã mình.
Lê Thánh Tông rất chú trọng nông nghiệp. Ngay từ khi mới lên ngôi, tháng 3 âm lịch năm 1461, ông đã ra sắc chỉ cho các quan, huyện, lộ, trấn, xã nhằm tối đa hóa sản xuất: "Từ nay về sau, trong việc làm ruộng, phải khuyến khích quân dân đều chăm nghề nghiệp sinh nhai, để đủ ăn mặc, không được bỏ gốc theo ngọn, hoặc kiếm chuyện buôn bán, làm trò du thủ du thực. Người nào có ruộng đất mà không chăm cày cấy, thì quan cai trị bắt trình trị tội". Ông còn lập các chức quan Hà đê, Khuyến nông để dễ chăm lo việc nông trang. Ông còn ra lệnh cho Hộ bộ và các quan địa phương báo cho ông biết nơi nào có đất hoang, rồi ông dụ phủ huyện đôn đốc dân đi khai hoang, mở ruộng. Năm 1466, theo lời tâu của Tuyên chính sứ Tây đạo Trần Phong, Lê Thánh Tông tuyên bố các văn tự cầm bán ruộng đất từ thời Trần, Hồ và thời thuộc Minh hết hiệu lực và không được chuộc lại, nhưng nếu từ sau năm 1428 thì cho phép chuộc lại. Ông cũng đặt ra những quy định về quyền tư hữu ruộng đất, nghiêm trị những người cưỡng đoạt, lấn chiếm ruộng của người khác, hoặc chặt cây và tre trong ruộng của người khác. Theo sử gia Mỹ K. W. Taylor, triều đình Lê Thánh Tông quan tâm đến đời sống làng xã hơn bất kỳ một triều vua nào trước. Điều này xuất phát từ sự gia tăng số lượng quan chức ở làng xã và từ cách cai trị sâu sát của hoàng đế.
Dưới thời Lê Thánh Tông, dân số Đại Việt tăng trưởng mạnh mẽ. Như lời nhà vua khẳng định trong một lệnh chỉ năm 1477: "Sinh dân các huyện, châu, xã ở các xứ trong nước mỗi ngày một đô" Sử gia Li Tana ước tính Đại Việt có 1.861.750 dân cư năm 1417, nhưng đến năm 1490 con số đã tăng lên 4.372.500. Để đáp ứng nhu cầu lương thực của một lượng dân số lớn như thế, triều đình phải đẩy mạnh khai khẩn những vùng đất hoang. Do vậy năm 1481, Lê Thánh Tông cho lập 42 sở đồn điền trong cả nước, chia thành 3 bậc thượng, trung, hạ, với nguyện vọng "dùng hết tiềm lực của nghề nông, mở rộng nguồn trích trữ cho nhà nước".
Bên cạnh đó, thời Thánh Tông trị vì có một số lần hạn hán, đói kém xảy ra (1467, 1468, 1473, 1476, 1489-1490, 1492), ông đều giải quyết mạnh mẽ. Chẳng hạn như năm 1467 có sâu cắn lúa, nhà vua cử Lễ bộ Thượng thư, Lại bộ Thượng thư và các đạo sĩ đi tế thần linh để diệt trừ sâu lúa. Ông còn giảm tô ruộng và thuế nhân đinh sau khi nghe Hộ bộ tâu là mùa màng kém. Tháng 9 âm lịch năm này, một cơn bão hoành hành ở phủ ven biển là Nam Sách, Giáp Sơn, Thái Bình, Kiến Xương, làm nước biển dâng cao, đê điều tan vỡ, ruộng lúa bị ngập và nhiều người chết đói. Thánh Tông lập tức ban lệnh ngừng xây dựng cung thất, lại cho quân sĩ vùng ven biển hoãn thao luyện để dồn sức khôi phục các đê ven biển và giảm thiểu thiệt hại của bão. Đồng thời ông sai Giám sát Đinh Nhân Phủ, Thiều Duy Tinh chia nhau đi đôn đốc việc xây lại đê điều. Cùng thời gian này, giá gạo ở kinh đô tăng vọt, nhà vua thấy giá gạo ở Nghệ An rẻ hơn nên sai quan thừa tuyên Nghệ An vận chuyển gạo về kinh sư. Hoặc như trong năm 1489-90 có đại hạn, Thánh Tông ban bố lệnh đại xá gồm 45 điều, rồi truyền Hàn lâm viện cùng các Khoa, Đài, Cẩm y vệ hiệu uý chia nhau đến các phủ huyện, phát thóc công để cứu đói cho dân. Sử cũ còn ghi năm 1496, thấy trời không mưa, Thánh Tông tự mình cầu đảo, cuối cùng trời có mưa. Chính sách nông nghiệp của Lê Thánh Tông đã khiến cho việc canh nông trôi chảy, như các quan Lễ bộ từng mô tả: "thời tiết thuận hòa, mùa màng bội thu, dân chúng yên vui, muôn vật dồi dào".
Các ngành nghề thủ công nghiệp và xây dựng ngay từ đầu thời Lê Thánh Tông đã phát triển mạnh mẽ và "đã vượt lên trên mức độ của thời Trần mạt" (theo lời sử gia Đào Duy Anh). Nghề in và làm giấy ở Đại Việt đạt một trình độ cao của thế giới thời bấy giờ. Số lượng sách in thời này khá đồ sộ. Đặc biệt nhất thời kỳ này là thành tựu trong công nghệ chế tạo vũ khí và đồ sắt chiếm ưu thế. Đồ gốm, sứ thời Lê sơ phát triển đạt được độ tinh xảo và hoa văn đẹp. Trong bộ Việt sử tiêu án, danh sĩ đời Lê Trung hưng Ngô Thì Sĩ có ca ngợi vua quan thời Hồng Đức vì ưu tiên dùng hàng quốc nội, không lệ thuộc vào đồ dùng Trung Hoa:
Các nghề thủ công như: dệt lụa, ươm tơ, dệt vải, nghề mộc, nghề chạm, nghề đúc đồng cũng phát triển. Đế đô Đông Kinh 36 phố phường sầm uất, nhộn nhịp tồn tại phát triển đến tận ngày nay. Phường Yên Thái làm giấy, Phường Nghi Tàm dệt vải lụa, Phường Hà Tân nung vôi, Phường Hàng Đào nhuộm điều, Phường Ngũ Xá đúc đồng, Phường gạch và gốm sứ Bát Tràng và nhiều phường khác nữa.
Về thương mại, hoạt động nội thương thời Lê Thánh Tông chủ yếu là hình thức trao đổi sản phẩm giữa các địa phương. Nhờ hệ thống đường sá được xây dựng và đường sông được khơi đào, việc lưu thông hàng hoá giữa các địa phương khá thuận lợi. Đông Kinh là trung tâm buôn bán lớn nhất và sầm uất nhất. Do có ưu thế về vị trí, những người buôn bán muốn đến Đông Kinh bằng đường bộ hay đường sông đều thuận tiện. Ngoài Đông Kinh và một vài thị trấn là trung tâm buôn bán, hầu hết là các chợ nằm ở các địa phương. Mỗi xã có một chợ hoặc một vài xã lân cận có một chợ chung. Chợ họp hàng ngày hoặc theo những ngày nhất định trong tháng gọi là ngày phiên chợ. Họp chợ là dịp để những người trong địa phương và các lái buôn từ xa tới buôn bán trao đổi sản phẩm - chủ yếu là trao đổi giữa nông phẩm và sản phẩm thủ công. Để tạo thuận tiện cho việc mua bán Lê Thánh Tông đã từng khuyến dụ các quan rằng:
Do dân cư ngày càng đông đúc và nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng lớn, năm 1477, Lê Thánh Tông ra quy định về việc chia chợ. Theo đó, các quan phủ, huyện, châu phải xem xét thực trạng, nếu việc chia chợ là thuận tiện cho việc buôn bán của dân thì làm bản tâu lên xin phép triều đình. Luật Hồng Đức có quy định cấm những hành động sách nhiễu và thu thuế quá cao đối với các chợ. Điều 186 chương "Vi chế" ghi:
"Những người coi chợ trong kinh thành mà sách nhiễu tiền lều chợ thì xử tội xung, đánh 50 roi, biếm 1 tư; lấy thuế chợ quá nặng biếm 2 tư, mất chức coi chợ và bồi thường tiền gấp đôi trả cho dân, tiền phạt trả cho người cáo giác. Nếu lấy thuế chợ không đúng luật thì đánh 80 trượng và dẫn đi rao trong chợ 3 ngày."
Bên cạnh đó, đối với ngoại thương Lê Thánh Tông thực hiện chính sách ức chế nghiêm ngặt. Trên cửa khẩu dọc biên giới miền duyên hải, triều đình lập cơ quan kiểm soát ngoại thương rất khắt khe. Những nhà buôn ngoại quốc đến Đại Việt buôn bán chỉ được ra vào hạn chế tại một số địa điểm quy định, chủ yếu là Vân Đồn (Quảng Ninh). Tại các cửa biển có các quan Sát hải sứ kiểm soát tàu bè, các An phủ ty và Đề Bạc ty kiểm soát buôn bán và đi lại. Nhân dân và quan lại vùng duyên hải tự ý mua hàng hoá của người nước ngoài hoặc đón tiếp các thuyền buôn thì sẽ bị nghiêm trị, phạt tiền rất nặng, từ 50 quan đến 200 quan.
Theo sách "Lịch sử Việt Nam" tập 3 (2007) của Viện Sử học Việt Nam, chính sách này có một phần lý do xuất phát từ nhu cầu tự vệ để ngăn ngừa do thám của ngoại bang và mặt khác do tư tưởng trọng nông, muốn gắn chặt người dân với đồng ruộng, không cho người dân rời đồng ruộng và quê hương đi buôn bán. Còn sử gia Tạ Chí Đại Trường trong sách "Sơ thảo: Bài sử khác cho Việt Nam" (2009) thì liên hệ chính sách này với nguồn gốc miền núi của hoàng triều Lê cũng như việc tôn sùng Nho giáo vào thời Lê Thánh Tông:
Dù rằng ngày nay có người cố tìm dấu vết thương nghiệp trong đời Lê sơ nhưng rõ ràng là ngoài các chứng cớ thành lập chợ búa, đã không thấy những hoạt động ngoại thương ảnh hưởng đến triều đại mà lại còn thêm các hành động hạn chế ngay từ trên triều đình. Các quan sứ đi Bắc gồng gánh buôn bán lúc về bị bêu xấu công , ngăn cấm không được “bỏ gốc theo ngọn, kiếm chuyện buôn bán làm trò du thủ du thực” khiến nhà nước không thể kiểm soát người được. Có thể đó là do lối nhìn hẹp hòi từ nguồn gốc rừng núi của tập họp Lê và phe nhóm quen lối trao đổi hàng hoá ở khu vực nhỏ, thấy tức tối trước món lợi lộc liên quốc gia của đám sứ thần vốn là người trung châu (họ Trần nhiều rõ rệt) đưa về. Và biện minh cho thái độ phủ nhận đó lại là mớ tư tưởng nho gia chống đối việc “bỏ gốc (nông) theo ngọn (thương)” như đã thấy trên. Đồng thời cũng là do sự thần phục Minh đã ảnh hưởng đến tình trạng co rút của đất nước trong lúc các tập đoàn phương Tây chưa bén mảng đến vùng đất này. Thế là cuộc sống vẫn gói trọn trong vòng nông nghiệp và buôn bán nhỏ mà dấu hiệu xây cất chợ lại là một minh chứng.
Sự ngăn cấm khắt khe của Lê Thánh Tông và triều đình Hậu Lê khiến ngoại thương phát triển rất kém. Thuyền buôn các nước vào thưa thớt, các chợ miền biên như Kỳ Lừa (Lạng Sơn), Móng Cái, Vạn Ninh, Vân Đồn (An Bang)… suy giảm dần. Năm 1467, thuyền buôn Xiêm La đến Vân Đồn dâng biểu bằng vàng lá và hiến sản vật quý để xin thông thương nhưng bị Lê Thánh Tông khước từ. Chính sách đó cản trở sự phát triển kinh tế hàng hóa, làm cho quá trình tách rời thủ công nghiệp ra khỏi nông nghiệp và quá trình phát triển của các đô thị rất khó khăn.
Sau khi đánh bại quân Minh, vua Lê Thái Tổ đã bắt đầu soạn thảo luật pháp. Đến năm 1483, vua Thánh Tông sai các đình thần sửa đổi, biên soạn lại các điều luật cũ, làm thành bộ Quốc triều Hình luật (còn gọi là Luật Hồng Đức). Bộ luật gồm 6 quyển, 722 điều, và được sử dụng suốt từ thời Hồng Đức đến hết thế kỷ XVIII. Trong việc biên soạn bộ luật này, triều đình có tham khảo các bộ luật nhà Đường, nhà Minh bên Trung Quốc. Tuy nhiên, bộ luật của Lê Thánh Tông chứa đựng những sáng tạo đáng kể khiến nó gần gũi hơn với các đặc điểm xã hội, tôn giáo của Đại Việt. Trong số 722 điều của Quốc triều Hình luật, có đến 342 điều hoàn toàn không tương ứng với các điều luật của Trung Quốc. Trong các điều luật còn lại thì 200 điều chịu ảnh hưởng một mức độ nào đó luật nhà Đường, chỉ có 14 điều mô phỏng trực tiếp từ luật nhà Minh. Với bộ luật này, Đại Việt đã hình thành một nhà nước pháp quyền sơ khởi và thuộc loại sớm trên thế giới.
Bộ luật Hồng Đức thời Lê có nội dung cơ bản như sau:
Đánh giá về một khía cạnh trong bộ luật Hồng Đức, sử gia Hàn Quốc Yu Insun viết: "luật về quyền thừa kế gia tài và chế độ hương hỏa ở bộ Luật nhà Lê là đặc thù cho xã hội Việt Nam. Theo quy định, 1/20 tài sản thờ cúng tổ tiên, phần còn lại chia đều cho các con, bất kể trai, gái (17; 93-94)".
Lê Thánh Tông là người thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đã ban hành. Một lần, ông đã thu lại quyền chỉ huy của Tổng quân Đô đốc Lê Thiệt vì con trai Lê Thiệt là Bá Đạt phóng ngựa trên đường phố giữa ban ngày và dung túng gia nô đánh người. Lê Thánh Tông thường bảo với các quan rằng:
Bên cạnh đó, việc dùng luật dưới thời Lê Thánh Tông trở nên khắc nghiệt hơn so với các triều trước. Thời Lê Nhân Tông, năm 1448 chỉ có 42 người bị xử tử. Đến đời Thánh Tông, riêng năm 1467 đã có 323 người bị hành quyết. Thánh Tông còn đặt ra hình phạt cứng rắn đối với người không tuân theo quy chế để tang cha mẹ và chồng. Thêm vào đó, ông ép những người nước Đông Nam Á mà ông coi là "man di" sống trong lãnh thổ Đại Việt phải đổi tên và nếp sống cho giống với người Việt.
Lê Thánh Tông đã lập nhà Tế sinh để chữa bệnh giúp dân. Ông còn quy định, ở địa phương nào có dịch bệnh xảy ra, các quan nơi này được phép trích tiền thuế để mua thuốc trị bệnh cho dân.
Cùng với việc xây dựng thiết chế mới, Lê Thánh Tông rất chú trọng việc mở mang giáo dục, bồi dưỡng nhân tài, nhằm xây dựng và mở rộng một đội ngũ quan lại gốc bình dân thấm nhuần kinh điển Nho học, đồng thời hạn chế sự ảnh hưởng của tầng lớp quý tộc, võ tướng trong triều. Triều đình thời ông có Hàn lâm viện, Đông các viện, Quốc sử viện, Quốc Tử Giám, nhà Thái học là những cơ quan chuyên phụ trách văn hóa – giáo dục trong nước.
Tháng 3 âm lịch năm 1467, vua Thánh Tông thấy học sinh Quốc Tử Giám đa số học Kinh Thi, Kinh Thư, ít chịu học Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu, nên ông đặt chức Ngũ kinh bác sĩ, mỗi người hiểu biết chuyên về một kinh để giảng dạy ở Quốc Tử Giám. Ngoài ra, ông còn đặt chức Giáo tập bác sĩ ở các vệ quân, và chức Huấn đạo chuyên dạy Nho học ở các phủ.
Tháng 10 âm lịch năm 1484, Lê Thánh Tông cho sửa sang, mở rộng Văn Miếu-Quốc Tử Giám; chi tiết được ghi lại trong "Đại Việt Sử ký Toàn thư": "[Vua] làm điện Đại Thành ở Văn Miếu cùng nhà đông vu, tây vu, điện Canh phục, kho chứa ván in và đồ tế lễ, nhà Minh luân, giảng đường đông tây, nhà bia đông tây, phòng học của sinh viên ba xá, và các cửa, xung quanh xây tường bao". Ông còn ra lệnh cho các phủ hàng năm phải làm lễ tế ở Văn miếu của địa phương mình vào các ngày thượng tuần tháng 2, tháng 8 (âm lịch).
Lê Thánh Tông còn ban hành rất nhiều cải cách nhằm phát triển chế độ khoa cử tuyển quan kiểu Nho giáo. Tháng 4 âm lịch năm 1462, Lê Thánh Tông đặt lệ bảo kết thi Hương, quy định rằng: Người muốn dự thi, dù là bình dân hay quân lính, đều phải đi khai tên và căn cước ở đạo của mình trong thượng tuần tháng 8 (âm lịch) năm 1462. Sau đó, quan coi đạo sẽ cùng xã trưởng làm giấy cam kết về đạo đức của người ứng thí, ai được cam kết là có đức độ, trong sạch thì mới được vào thi. Những người "bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, loạn luân, điêu toa" thì học rộng, giỏi văn chương đến mấy cũng không được đi thi. Đối với người làm nghề xướng ca, người từng tham gia, thông đồng với các nhóm phản loạn và ngoại bang thì bản thân họ và con cháu đều bị cấm thi. Ai được dự thi thì phải nộp giấy thông thân cước, ghi chính xác nơi ở (phủ, huyện, xã), tuổi tác, lý lịch của cha mẹ và của bản thân, tên quyển kinh mà mình chuyên học. Thể lệ thi Hương gồm các bước:
Sau khoa thi này, các thí sinh thi đỗ phải được lập thành danh sách, đệ trình cho Lễ bộ, đến trung tuần tháng 1 năm tới sẽ cho thi Hội.
Theo Lê Quý Đôn – một đại thần, nhà trí thức đời Lê Trung hưng – ghi nhận trong "Kiến văn tiểu lục", người nào đỗ 3 trong 4 kỳ thi Hương thì gọi là Sinh đồ, đến khoa thi Hương sau phải vào thi lại; còn người đỗ cả bốn kỳ được gọi là Hương cống, được phép vào thi Hội. Riêng người đã làm quan thì có không đỗ Hương cống cũng vẫn được dự thi Hội.
Theo "Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục", trước thời Lê Thánh Tông, nhà nước chưa quy định cụ thể về thời gian thi Hội, chỉ cho thi Hội khoảng 5–6 năm 1 lần. Đến năm 1463, vua Thánh Tông đặt lệ 3 năm mở 1 khoa thi, chọn các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu thi Hương, các năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất thi Hội. Tháng 2 âm lịch năm này, ông mở khoa thi Hội, có đến hơn 4400 người dự thi, trong đó hơn 40 người trúng tiến sĩ. Ngày 16 tháng 12 âm lịch, nhà vua cho thi Đình để xếp loại các tiến sĩ, ông tự ra đề văn sách hỏi về đạo trị nước của đế vương. Các tiến sĩ từ Lương Thế Vinh trở xuống được đỗ cập đệ và xuất thân theo các thứ bậc khác nhau.
Năm 1466, Lê Thánh Tông mở khoa thi Hội thứ hai, đây được xem là khoa đầu tiên làm đúng theo quy chế 3 năm lần thi. Khoa này có 1100 người dự thi, 27 người trúng cách. Ngày 12 tháng 3 âm lịch, nhà vua tổ chức thi Đình. Ông đích thân đến cửa điện Kính Thiên, ra đề văn sách về "đế vương trị thiên hạ", lấy đỗ 8 đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (đứng đầu là Dương Châu) và 19 đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân (đứng đầu là Nguyễn Nhân Thiếp), không lấy tiến sĩ cập đệ (tam khôi). Cũng từ khoa thi 1466 bắt đầu có lệ: "Ngày 26 làm lễ xướng danh, ban cho ân mệnh. Quan Lễ bộ rước bảng vàng ra treo ngoài cửa Đông Hoa để tỏ sự vinh quang, lại ban cho áo mũ, yến tiệc. Mồng 3 tháng 3 nhuận, các Tiến sĩ được vinh quy" (trích Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận thứ 7 - 1466).
Theo Lê Quý Đôn, thời Quang Thuận đã đặt thể lệ: người đậu cả bốn kỳ thi Hội thì được phong Tiến sĩ, người chỉ đậu 3 kỳ thì được nhận các chức thuộc lại, tá nhị, giáo chức ở các nha môn, người thi không đậu thì cho làm tăng quảng sinh ở Quốc Tử Giám. Các tiến sĩ sẽ được bổ vào các chức quan chính chức ở huyện, chỉ khi thiếu tiến sĩ thì mới dùng đến người đậu 3 kỳ thi. Đến năm Hồng Đức, Thánh Tông còn ban lệ cho phép con cháu quan lại thi Hội chỉ đỗ 1-3 kỳ được học Quốc Tử Giám. Họ được chia làm 3 hạng giám sinh: thượng xá sinh, trung xá sinh, hạ xá sinh, mỗi hạng 100 người. Thượng xá sinh gồm những người đã đỗ 3 kỳ thi Hội, mỗi tháng nhận 1 quan tiền do triều đình chu cấp; trung xá sinh gồm những người đỗ 2 kỳ, được chu cấp 9 quan tiền mỗi tháng; hạ xá sinh gồm những người đỗ 1 kỳ, nhận 9 tiền mỗi tháng. Học xong họ sẽ được nhận làm các chức như tri huyện, giáo thụ, bạn độc, trưởng sử. Lê Quý Đôn nhận định: "Đấy là đãi ngộ nhà gia thế hơn nhà bạch đinh, có ý nghĩa đời cổ cho việc bồi dưỡng và tiến thân tất phải ở nhà quốc học".
Theo "Đại Việt sử ký toàn thư", năm 1472, Lê Thánh Tông đặt lại các bước thi Hội như sau:
Cũng trong khoa thi năm này, ông bắt đầu phân loại rõ địa vị của các tiến sĩ: với hạng Đệ Nhất giáp, người đầu bảng (Trạng nguyên) được phong hàm chánh lục phẩm, 8 tư; người đứng thứ hai (Bảng nhãn) được phong tòng lục phẩm, 7 tư; người đứng thứ ba (Thám hoa) được phong chánh thất phẩm, 6 tư. Cả ba người đều mang danh hiệu Tiến sĩ cập đệ. Người đỗ hạng Đệ Nhị giáp được phong tòng thất phẩm, 5 tư, gọi là Tiến sĩ xuất thân; hạng Đệ Tam giáp được phong chánh bát phẩm, 4 tư, gọi là Đồng tiến sĩ xuất thân. Các tiến sĩ nếu nhận chức trong Hàn lâm viện thì được thăng lên 1 cấp, còn nếu làm Tri huyện hoặc Giám sát ngự sử thì không đổi phẩm hàm.
Theo mô tả trong "Kiến văn tiểu lục", các khoa thi năm 1466, 1469 chỉ lấy tiến sĩ xuất thân, không lấy tiến sĩ cập đệ. Đến khoa thi năm 1472 mới có đủ 3 tiến sĩ cập đệ và các tiến sĩ xuất thân mang thứ bậc khác nhau. Việc này trở thành lệ cho đến thời Lê Cung Hoàng.
Trước đây, năm 1442, Lê Thái Tông đã ra lệnh dựng bia ghi tên tiến sĩ, nhưng chưa thực hiện được. Đến tháng 8 âm lịch năm 1484, Lê Thánh Tông nghe lời tâu của Lễ bộ Thượng thư Quách Đình Bảo mới sai Công bộ dựng bia Tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám ghi lại họ tên, thứ bậc của những người đỗ tiến sĩ trong các khoa thi 1442 (thời Lê Thái Tông), 1448 (thời Lê Nhân Tông), 1463, 1466, 1472, 1475, 1478, 1481, 1484 (thời Thánh Tông). Việc biên soạn văn bia do Hàn lâm viện thừa chỉ Đông các đại thần học sĩ Thân Nhân Trung, Hàn lâm viện thị độc Đông các hiệu thư Đào Cử, Đàm Văn Lễ, Ngô Luân, Hàn lâm viện thị thư kiêm Tú lâm cục tư huấn Nguyễn Đôn Hậu, Hàn lâm viện thị thư kiêm Sùng văn quán Tú lâm cục tư huấn Lương Thế Vinh, Đông các hiệu thư Lê Tuấn Ngạn, Hàn lâm viện thị độc kiêm Tú lâm cục tư huấn Nguyễn Xung Xác cùng một số sĩ phu khác đảm trách. Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư có chép bài văn bia của Đỗ Nhuận:
""Sự nghiệp trị nước lớn lao của Đế vương, không gì cần kíp hơn nhân tài, điển chương chế độ đầy đủ của nhà nước, tất phải chờ ở bậc hậu thánh. Là bởi trị nước mà không lấy nhân tài làm gốc, chế tác mà không dựa vào thánh nhân đời sau thì đều chỉ là cẩu thả tạm bợ mà thôi, sao có thể đạt tới chính trị phong hóa phồn vinh, văn vật điển chương đầy đủ?"
"Kể từ Thái Tổ bắt đầu sửa sang việc học vào kỷ nguyên Thuận Thiên, Thái Tông mở khoa thi đầu vào năm Đại Bảo thứ 3, Nhân Tông chọn người hiền, dùng bậc giới, kính cẩn tôn theo phép cũ. Đến như việc dựng (có sách chép là "phụ") bia ở nhà Thái học thì vẫn để đó chưa làm; văn vật đầy đủ, như còn chờ bậc hậu thánh."
"Nay Thánh thượng như trời mở trung hưng, tự mình gánh vác đạo lớn, việc tôn sùng Nho giáo càng thành khẩn chăm lo. Huống chi nhân tài đã được các tiên thánh nuôi dạy từ lâu, hơn nữa lại nhờ công sức mười năm nâng vực. Trước đây 6 năm một lần thi lớn, nay thì châm chước theo chế độ nhà Chu đã định là 3 năm. Trước kia lấy đỗ đều không quá hai ba chục người, nay thi rộng xét thực tài, không lo nhiều quá."
"Cho nên tôn trọng biểu dương, đức ý rất hậu, ân vinh thứ bậc. tiết mục tận tường, vẹn toàn, rực rỡ, vượt cả xưa nay. Cho nên bia đá khắc tên, vẫn ghi việc thực, đặt ở cửa hiền, tưởng lệ kẻ sĩ, công việc làm của nhà vua tốt đẹp nhường nào."
"Thế thì triều Lê ta văn minh đầy đủ, khoa mục mở mang, mở nguồn từ thời Thuận Thiên, bắt đầu từ năm Đại Bảo, thịnh hành từ đời Thái Hòa, mà thịnh nhất vào đời Hồng Đức vậy. Nếu như không phải do Thánh thượng làm tròn trách nhiệm bậc thầy, thân hành nắm giữ quyền hành chế tác, thì sao có thể thực hiện cái chí của người trước chưa thực hiện được, hoàn thành sự nghiệp mà người trước chưa hoàn thành"."
Các đời vua sau này tiếp tục bổ sung thêm các tấm bia vinh danh mới.
Trước năm 1486, quan viên tại chức mà chưa thi Hương đều được dự thi Hội. Đến tháng 6 âm lịch năm này, Lê Thánh Tông nghe theo lời tâu của Hàn lâm viện thị thư Lương Thế Vinh, nên ra lệnh: viên quan nào chưa đỗ thi Hương mà muốn thi Hội, nếu là quan Kinh sư thì phải thi ở phủ Phụng Thiên, nếu là quan địa phương thì phải thi ở ty Thừa ở thừa tuyên của mình. Thể lệ thi tương tự như thi Hương; ai đỗ kỳ thi này thì mới được quyền thi Hội.
Theo thông lệ, thi Đình được dùng để phân loại những người đỗ thi Hội, nên không đánh trượt người nào. Tuy nhiên, trong khoa thi năm 1496, vua Thánh Tông triệu các sĩ tử vào sân điện Kim Loan để ông đích thân xem mặt, rồi đánh trượt 11 người.
Tổng cộng từ năm 1463 đến 1496, Lê Thánh Tông đã mở 12 khoa thi lớn, lấy đỗ tổng cộng 9 Trạng nguyên và 501 tiến sĩ. Sử gia Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí (phần "Khoa mục chí") khen ngợi chính sách khoa bảng của ông:
Lê Quý Đôn cũng ca ngợi khoa bảng thời Hồng Đức đã chọn được nhiều nhân tài giúp nước. Tuy nhiên họ Lê còn chỉ ra một số mặt trái của nó:
Tạ Chí Đại Trường thì nhìn nhận:
Con đường khoa cử mở ra hướng đi đến danh vọng, quyền lực cho một số người không có căn bản thần thế gia đình, có thể không giàu lắm. Người lạc quan thời nay thì tán tụng tinh thần “dân chủ” trong cách chọn lựa nhân tài đó nhưng Lê Quý Đôn đã từng phê phán lối học dành cho thi cử làm lấn át tinh thần thực học cần thiết cho việc quản lí đất nước. Ảnh hưởng lâu dài đến ngày nay là lối văn trau chuốt đệm thêm một chút dáng vẻ “trí thức” đó đã thành một ý thức kiêu hãnh ngầm cho một lớp người đem ra phục vụ những người cầm quyền vốn không cần nhiều đến kiến thức cho lắm.
Ngoài việc tổ chức các khoa thi lớn, Lê Thánh Tông cũng đặt lệ: trước mỗi kỳ kiểm tra dân đinh, hai ty Thừa, Hiến của các thừa tuyên phải tổ chức thi khảo học trò, ai thi đỗ thì khỏi đi lính. Nhà vua rất nghiêm khắc trong việc bài trừ gian lận thi cử: năm 1485, thấy năm trước có hàng vạn học trò thi đỗ, ông nghĩ là có gian lận, nên ra lệnh bắt số người này thi lại. Ông còn quy định rõ rằng "đến khi phúc hạch lại, nếu còn có người nào không làm được bài để quyển giấy trắng, hoặc người nào làm bài không thành văn lý, thì viên quan đề điệu và giám thí niêm phong quyển lại tâu hặc về triều đình. Nếu xét thấy xứ nào có từ một người đến bốn, năm người phạm trường quy như thế, thì viên quan thừa chính và hiến sát xứ ấy sẽ phải luận vào tội biếm chức hoặc bãi chức, còn bản thân người phạm tội trường quy ấy sẽ phải tội đồ".
Chính sách văn hóa.
Lê Thánh Tông trị vì Đại Việt 38 năm và dưới thời ông Nho học trở nên chiếm ưu thế, ông đã cho ra lệnh soạn nhiều tác phẩm có giá trị văn hóa, xã hội. Các bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám được bắt đầu dựng vào thời đại của ông không chỉ có ý nghĩa về lĩnh vực giáo dục, mà chúng thực sự là các công trình văn hóa nghệ thuật đặc sắc, lưu lại tới ngày nay trở thành di sản văn hóa thế giới.
Việc biên soạn lịch sử được Lê Thánh Tông ý thức hơn hết, với tư cách là những công cụ để nối liền đạo thống; khôi phục xây dựng kho tư liệu sử liệu dân tộc sau giai đoạn bị triệt tiêu văn hóa, sách vở thời thuộc Minh. Nhà vua kén chọn sử quan rất cẩn thận; thời bấy giờ có nhóm sử quan Lê Nghĩa được ca ngợi vì chép sử rất ngay thẳng, Thánh Tông có lần muốn xem quốc sử nhưng Lê Nghĩa không cho xem. Một sử quan có vai trò nổi bật khác vào thời Hồng Đức là Triều liệt đại phu kiêm Quốc Tử Giám Tư nghiệp kiêm Sử quan tu soạn Ngô Sĩ Liên. Chính Ngô Sĩ Liên là người vào tháng 1 âm lịch năm 1479 đã được Lê Thánh Tông giao việc biên soạn một bộ quốc sử mới mang tên "Đại Việt sử ký toàn thư", gồm 15 quyển, chép từ thời Hồng Bàng đến khi Lê Thái Tổ đánh đuổi người Minh về nước năm 1428. Bộ sách này còn tồn tại tới ngày nay và là một tư liệu sơ cấp không thể thiếu cho việc nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thời trung đại. Theo Lê Quý Đôn, Lê Thánh Tông còn sai Ngô Sĩ Liên chép sử về 3 triều vua đầu của nhà Lê (Thái Tổ, Thái Tông và Nhân Tông nhà Lê) gọi là "Tam triều bản kỷ". Ngoài ra, Thánh Tông đã nhiều lần ra chiếu sưu tầm tư liệu, sách vở và dã sử trong dân gian.
Vào năm 1483 Lê Thánh Tông chủ biên bộ sách Thiên Nam dư hạ tập, sai các văn thần như Đỗ Nhuận, Nguyễn Trực biên soạn. Sách được biên soạn theo loại sách hội yếu, thông điển, gồm 100 quyển ghi chép đầy đủ các chế độ, luật lệ, văn thư, điển lệ, các giấy tờ văn thư hành chính (như chiếu, dụ, cáo, sắ). Hiện nay, bộ sách thất lạc gần hết, chỉ còn lại 10 tập chép tay viết về các mảng quan chế, điều luật, bản đồ, sớ văn; Thơ, văn, điển lệ, điều luật, chinh chiến, quan chức, thiên văn, địa lý, lịch sử… của nhà Lê, từ Lê Thánh Tông trở về trước. Cụ thể như sau:
1. Điều luật và Quan chế.
2. Bình thi văn.
3. Liệt truyện, Tạp thức.
5. Thi tập; Đối liên.
7. Thi tiền tập; Chinh Tây kỉ hành; Minh Lương cẩm tú và Quỳnh Uyển cửu ca.
8. Chinh Chiêm Thành sự vụ; Chinh Tây kỉ hành.
9. Điển lệ; Phú tập.
10. Thiên hạ bản đồ; Quan chế.
Sáng tác văn thơ.
Lê Thánh Tông là một nhà thơ và phê bình văn học, vừa sáng tác văn thơ, vừa nghiên cứu, phê bình. Năm 1495, ông sáng lập ra Hội Tao đàn, xưng làm Tao đàn Nguyên soái, xướng họa thơ ca cùng Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận và nhiều quần thần khác, tổng cộng 28 người. Hội Tao đàn ra đời đánh dấu bước phát triển cao về văn chương đương thời. Thơ văn của ông chứa đựng tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sâu sắc. Ông sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị như: "Quỳnh Uyển cửu ca, Châu cơ thắng thưởng, Chinh tây kỉ hành, Minh lương cẩm tú, Văn minh cổ xúy, Cổ tâm bách vị(bằng chữ Hán), Hồng Đức quốc âm thi tập (bằng chữ Nôm)."
Những trước tác của Hội Tao đàn được ghi chép bằng chữ Hán trong bộ sách:
Số lượng tác phẩm thi văn chữ Hán của Lê Thánh Tông thực tế có thể còn nhiều hơn, nhưng còn lại đến nay chỉ có khoảng 350 bài.
Ngoài thơ chữ Hán, Lê Thánh Tông còn có khá nhiều thơ Nôm, tập trung chủ yếu trong Hồng Đức quốc âm thi tập. Hiện vẫn chưa có con số thống kê chính xác các bài thơ Nôm của ông. Nhưng bài văn Nôm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn có thể coi là bài văn biền ngẫu có giá trị bậc nhất của thế kỷ XV. Trong đó, không chỉ ghi chép thơ văn, mà còn ghi chép về lý luận phê bình văn học, về lịch sử, kinh tế, quan chế, địa lý
Lê Thánh Tông là người dẫn đầu phong trào mới này, cả về nghệ thuật thể hiện, cả về tư tưởng triết học. Thánh Tông di thảo là dấu mốc quan trọng ghi nhận bước trưởng thành của truyện ký Đại Việt viết bằng chữ Hán, ra đời trước cả tập "Truyền kỳ mạn lục" của Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI).
Lê Thánh Tông khuyến khích các quan lại và tự mình tích cực sử dụng chữ Nôm như một sự tự tôn và tự cường. Trong một bài thơ Nôm, Lê Thánh Tông tự trình bày về mình:
"Trống dời canh còn đọc sách,"
"Chiêng xế bóng chửa thôi chầu."
Truy phong một số công thần.
Vào thời kỳ khởi nghĩa chống Minh (1418-1428), Lê Thái Tổ đã được nhiều tướng lĩnh, văn thần giúp sức trong việc giành lại độc lập cho Đại Việt. Tuy nhiên, từ khi nhà Lê thành lập, một số công thần khai quốc như Phạm Văn Xảo, Lê Sát, Lê Ngân, Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục, Nguyễn Trã, vua Lê Nhân Tông (1443–1459) đã khẳng định lại công lao sự nghiệp của Nguyễn Trãi: "Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thái Tổ dẹp yên giặc loạn, giúp đức Thái Tông sửa sang thái bình. Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi, các danh tướng của bản triều không ai sánh bằng". Nhưng Lê Nhân Tông vẫn chưa minh oan cho Nguyễn Trãi.
Năm 1464, Lê Thánh Tông đã chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi. Ông ca ngợi Nguyễn Trãi là "Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo", truy tặng tước Tán Trù bá, ban cho con là Anh Vũ chức huyện quan. Năm 1467, Lê Thánh Tông ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi. Việc làm này có thể đã góp phần bảo tồn một phần quan trọng các di sản văn hóa mà Nguyễn Trãi đã để lại.
Lê Thánh Tông như đã "tạc bia" cho Nguyễn Trãi bằng câu thơ:
"Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo"
"Tâm hồn Ức Trai sáng tựa sao Khuê"
hay là: "Văn chương Ức Trai lòng soi sáng"
Nhiều người hiểu sai khi dịch nghĩa "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo" là "Lòng Ức Trai sáng tựa sao khuê", dịch chính xác phải là "văn chương Ức Trai lòng soi sáng", với ý ca ngợi văn chương chứ không phải nhân cách Nguyễn Trãi.
Nguyên văn bài thơ:
Cao Đế anh hùng cái thế danh,
Văn Hoàng trí dũng phủ doanh thành.
Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo,
Vũ Mục hung trung liệt giáp binh.
Thập Trịnh đệ huynh liên quý hiển,
Nhị Thân phụ tử bội ân vinh.
Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự,
Bát bách Cơ Chu lạc trị bình.
"Đức Cao Đế là bậc anh hùng đệ nhất thiên hạ,"
"Đức Văn Hoàng trí dũng kế thừa cơ nghiệp."
"Văn chương Ức Trai soi sáng lòng,"
"Binh giáp Vũ Mục chứa đầy bụng."
"Mười anh em họ Trịnh tất thảy đều vẻ vang phú quý,"
"Hai cha con họ Thân (Thân Nhân Trung và Thân Nhân Tín) đều hưởng ân vinh lớn."
"Cháu hiếu là Hồng Đức (tức Lê Thánh Tông) nay kế thừa nghiệp lớn,"
"Vui hưởng thái bình như nhà Chu tám trăm năm."
Trên thực tế, Lê Thánh Tông truy tặng Nguyễn Trãi tước Tán Trù bá, vẫn thấp hơn tước phong của Nguyễn Trãi khi còn sống là Quan phục hầu (do vua Lê Thái Tổ phong năm 1428). Đến năm 1512, vua Lê Tương Dực mới gia phong Nguyễn Trãi tước Tế Văn hầu.
Lê Thánh Tông còn khôi phục danh dự cho nhiều công thần khai quốc khác, ví dụ năm 1484 truy tặng Phạm Văn Xảo (bị giết năm 1431) làm Thái bảo Thắng quận công, Lê Sát (bị giết năm 1437) làm Thái bảo Cảnh quốc công, Lê Ngân (bị giết năm 1437) làm Thái phó Hoằng quốc công, Trịnh Khắc Phục (bị giết năm 1451) làm Thái bảo Ngọc quận công, và Trịnh Khả (bị giết năm 1451) làm Thiếu phó Liệt quốc công. Theo sách "Đại Việt thông sử" của Lê Quý Đôn, Trịnh Khả lúc sinh thời đã từng cứu nguy cho mẹ của Thánh Tông, nên nhà vua biệt đãi con cháu ông này hơn các bề tôi khác. Lê Quý Đôn trong tác phẩm khác là "Kiến văn tiểu lục" cũng ghi nhận: "Trịnh Khả... có 10 người con, đều giữ chức tướng văn, tướng võ, danh vọng lừng lẫy một thời đấy là việc hiếm có xưa nay". Bài thơ trên của Thánh Tông khen "mười anh em họ Trịnh tất thảy đều vẻ vang phú quý" là nhắc đến 10 vị này.
Xã hội, tôn giáo.
Dưới triều Lê Thánh Tông, nền văn hóa Tam giáo đồng nguyên của Đại Việt trước thế kỷ 15 đã hoàn toàn bị thay thế bằng sự lên ngôi của Tân Nho giáo (Tống Nho), đặc biệt trong khu vực triều đình và giới sĩ phu. Do sự thúc đẩy từ những cải cách chính trị, hành chính, khoa cử... của Lê Thánh Tông, văn hóa Tân Nho giáo đã nở rộ trên khắp châu thổ Bắc Bộ, không chỉ ở các vùng đất phía đông châu thổ như Hải Dương, mà còn lan tới Kinh Bắc và các miền đất khác ở trung tâm và phía tây châu thổ, nơi từng là một trung tâm lớn của đạo Phật. Phật giáo và Đạo giáo bị đẩy lui xuống sinh hoạt ở các làng xã. Chỉ một năm sau khi lên ngôi, tháng 7 âm lịch năm 1461, Lê Thánh Tông xuống chiếu cho các xứ, phủ, lộ cấm dân làm mới những chùa Phật, quán Đạo không có ngạch cũ. Đến tháng 12 âm lịch năm 1463, ông lại ra sắc chỉ: "Những người bói toán, đạo thích ở trong nước từ nay về sau không được trò chuyện trao đổi với người trong cung và hậu đình", cấm các thầy bói, đồng cốt, thiền sư, đạo sĩ cả nước không được liên lạc giao tiếp với người trong cung đình. Chưa hết, tháng 3 âm lịch năm 1470, ông ra lệnh cấm người không phải là tăng sĩ Phật giáo được cạo đầu. Ngoài ra, ông và người kế vị là Lê Hiến Tông rất hay trích dẫn Tứ thư, Ngũ kinh của Nho giáo khi ra chiếu chỉ và khi nói chuyện với quan lại. Năm 1479 Lê Thánh Tông sai sử thần Ngô Sĩ Liên biên soạn bộ "Đại Việt Sử ký Toàn thư". Khi chép tới việc vua Hồ Quý Ly (cai trị 1400-1401) ngờ vực Khổng Tử và các triết gia mở nền Tân Nho giáo như Chu Hi và Trình Hạo, Ngô Sĩ Liên có những lời chỉ trích Hồ Quý Ly thể hiện rõ quan điểm chính thức của triều đình Lê Thánh Tông rằng Khổng Tử là người vĩ đại nhất từ trước tới nay, cũng như vai trò độc tôn không thể chối cãi của Tân Nho giáo:
"Đạo của tiên thánh nếu không có Khổng Tử thì không ai phát huy được; hậu thánh sinh ra, nếu không có Khổng Tử thì không còn ai làm khuôn phép nữa. Từ khi có sinh dân đến nay, chưa có ai nổi tiếng hơn Khổng Tử, thế mà Quý Ly lại dám khinh suất bàn về ngài thì thực là không biết lượng sức mình."
"Chu tử sinh ở cuối thời Tống, nối sau các tiên nho Hán Đường đã chú giải 6 kinh, mới ngược dòng tìm nguồn, hiểu được ý của thánh nhân, sách kinh, rõ được đạo thánh nhân ở lời giải, hết sức nghiền nghĩ, thấu lẽ vào lòng, nói ra rõ ràng, chỉ dẫn xa rộng, gọi là tập đại thành của chủ Nho mà làm khuôn mẫu cho hậu học. Huống chi lại còn có "Trình tử" xướng ở trước, mà "Chu tử" bổ sung những chỗ chưa đủ ở sau, thì nghĩa đã tinh lắm. Người sau chỉ mở cho rộng thêm, chuốt cho bóng thêm, có thế mà thôi, sao lại được chê cãi."
Sử gia hiện đại Trần Quốc Vượng đã phê phán chính sách đề cao Nho giáo của Lê Thánh Tông: "Tinh thần khai phóng, cởi mở, “quốc gia mở nước tự có pháp độ riêng…” của nhà Lý, nhà Trần đã biến mất. Chỉ còn lại sự độc quyền tư tưởng Nho-Tống để độc quyền quân chủ. Thế lưỡng phân văn hóa giữa cung đình/dân gian dần dà sâu sắc"; và: "Phải công nhận triều Lê mê tín Tống Nho đến thế là cùng".
Bên cạnh đó, nhà vua không hẳn là hoàn toàn không tin vào các nền tâm linh ngoài Nho giáo. Ông đã sử dụng các đạo sĩ để cúng tế thần linh khi có sâu lúa phá hoại mùa màng. Ông còn bảo các quan phải cúng tế mọi thần linh trong nước vào những lúc hạn hán, bão lũ, bệnh dị
Tháng 10 âm lịch năm 1465, Lê Thánh Tông ra chỉ nghiêm cấm những người hát chèo chế giễu cha mẹ và quan trưởng.
Tháng 1 âm lịch năm 1470, Lê Thánh Tông đặt lệ: con cái để tang cha mẹ, vợ để tang chồng bắt buộc phải trong vòng 3 năm. Người nào không làm theo là "trái lễ", "phạm pháp". Nội dung sắc chỉ được tóm lược trong Toàn thư như sau:
"Con để tang cha mẹ, vợ để tang chồng phải theo quy chế chung là 3 năm, không được theo ý riêng tự tiện làm trái lễ, phạm pháp. Con để tang cha mẹ mà vợ cả, vợ lẽ có chửa thì bắt tội đi đày. Vợ để tang chồng mà dâm loạn bừa bãi, hoặc chưa hết tang đã bỏ áo trở, mặc áo thường, hoặc nhận lễ hỏi của người khác, hay đi lấy chồng khác đều phải tội chết cả. Nếu đương có tang, ra ngoài thấy đám trò vui mà cứ mê mải xem không tránh, thì xử tội đi đày. Nếu kẻ nào tham của, hiếu sắc mà lấy vợ cả vợ lẽ của kẻ đại ác phản nghịch, cùng là người Man thông dâm với vợ cả vợ lẽ của anh em đã chết rồi, cùng những kẻ làm quan lại mà nhận hối lộ thì tùy tội nặng nhẹ mà xử tội".
Đoạn ngăn cấm "người Man" tư thông với vợ lớn vợ bé của anh em quá cố cho thấy Lê Thánh Tông muốn áp đặt lễ giáo lên các dân tộc thiểu số, ông cho cả tục lệ thông thường của họ là trái ngược luân thường đạo lý.
Năm 1474, Lê Thánh Tông ban lệnh khuyến khích lòng trung thành tuyệt đối của dân chúng với hoàng đế:
Lê Thánh Tông cũng nghiêm cấm phụ nữ phá thai. Sử Việt kể năm 1484 nhà vua có lệnh: ""Loại đàn bà tàn nhẫn, vì muốn ít con cái để giữ lấy nhiều của, hoặc ngại việc sinh đẻ, muốn tránh khó nhọc, thấy mìmh có thai, dùng kế cho sẩy thai, thương tổn tính mệnh, làm hại luân thường, cùng là những kẻ phá thai cho người khác, đều phải tra xét, trị tội theo luật phá, mà mọi người đều biết, cùng là người chồng không biết răn cấm, đều trị tội theo luật pháp"."
Theo "Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục" và "Việt Nam sử lược", vào đầu thời Lê Thánh Tông trong nhân gian tồn tại nhiều tục lệ cổ hủ, lạc hậu. Những gia đình có tang, cứ nhân tiết Trung nguyên lại sửa soạn đàn chay, phần nhiều có cả rượu để mời khách khứa. Nhân đó họ bày đủ thứ các trò tạp kỹ, hò hát, chơi bời, lấy tiếng là báo hiếu nhưng thực ra là để tụ họp ăn chơi. đối với việc hôn nhân thì nhà trai làm lễ đính hôn rồi phải chờ 3-4 năm nữa mới được đón dâu về. Vua Thánh Tông đã xuống chiếu cấm những nhà có tang tổ chức tiệc tùng, hát xướng, cấm người dân hội họp chè chén vào những ngày không phải lễ giỗ, lễ tế, cưới hỏi, đám tang, ân mệnh, ăn mừ: "Khi lấy vợ, trước hết phải nhờ mối lái đi lại bàn định, rồi sau mới định lễ cầu thân; lễ cầu thân xong, rồi mới bàn việc dẫn cưới; dẫn cưới xong, rồi mới chọn ngày lễ đón dâu. Ngày hôm sau, [con dâu] chào cha mẹ chồng, ngày thứ ba đến làm lễ ở nhà thờ, phải theo đúng trình tự các nghi thức tiết văn đã ban xuống mà thi hành, không được như trước, nhà trai đã dẫn lễ cưới rồi còn để qua 3,4 năm sau mới cho đón dâu" (chỉ dụ ban hành ngày 23 tháng 12 âm lịch năm 1478). Ông còn ban bố 24 điều giáo huấn cho người dân sống có văn minh, cư xử với nhau hợp đạo lý.
Mở rộng Đại Việt.
Chinh phạt phương Nam.
Sau thắng lợi của chiến dịch phạt Chiêm (1446), Tuyên Từ Hoàng thái hậu phế truất quốc vương Chiêm Bí Cai, lập Ma Ha Quý Lai làm vua chư hầu. Năm 1449, Quý Lai bị em là Quý Do soán ngôi. Sau đó Quý Do lại bị Bàn La Trà Duyệt, người ở Thị Nại giết và đoạt ngôi. Trà Duyệt chết, truyền ngôi cho em là Trà Toàn (Pau Kubah). "Đại Việt Sử ký Toàn thư" mô tả: "Trà Toàn là đứa hung bạo làm càn, dối thần ngược dân, người Chiêm mưu phản, Toàn cũng không nghĩ chi đến, lại còn ngạo mạn kiêu căng, không sửa lễ tiến cống, lăng nhục sứ thần của triều đình, quấy nhiễu dân biên giới".
Năm 1469, quân Chiêm Thành vượt biển sang đánh phá châu Hóa. Năm 1470, Trà Toàn sai sứ thần sang cầu viện đế quốc Minh, thân hành đem 10 vạn quân thủy, bộ cùng voi ngựa đến đánh úp Hóa Châu. Tướng trấn thủ Hóa Châu là Phạm Văn Hiển cự địch không lại, phải đóng cửa thành chống giữ, cho người phi ngựa đem văn thư cáo cấp về Đông Kinh. Vua Thánh Tông lập tức ra lệnh bổ sung quân lính, trưng thu lương thực, dụ Thừa tuyên sứ phủ Thiên Trường: "Dẹp loạn thì trước hết phải dùng võ, quân mạnh vốn là ở đủ lương ăn. Lệnh tới nơi, bọn ngươi phải trưng thu ở các hạng quân sắc, lại viên, sinh đồ mỗi người 15 ống gạo, hạng hoàng đình và người già mỗi người 12 ống, bắt người bị trưng thu lại phải đồ lên thành gạo chín, không được để chậm ngày giờ, đem nộp lên sứ ty. Quan hạt đó đựng làm nhà kho, kiểm nghiệm thu vào rồi làm bản tâu lên. Kẻ nào trốn chạy thì xử tội chém đầu".
Tháng 10 năm 1470, Lê Thánh Tông sai Nguyễn Đình Mỹ và Quách Đình Bảo đem việc Chiêm Thành đánh úp biên giới sang thông báo với Đại Minh.
Lê Thánh Tông quyết định đem 26 vạn quân chinh phạt Chiêm Thành. Ông soạn chiếu thư đánh Chiêm để kể tội Trà Toàn, công bố cho dân chúng trong nước biết một cách công khai và rõ ràng về lý do xuất quân. Ngày 6 tháng 11 âm lịch (28 tháng 11 dương lịch) năm 1470, ông lệnh cho thái sư Lân quận công Đinh Liệt, Thái bảo Kỳ quận công Lê Niệm đem 10 vạn quân xuất phát đi trước. 10 ngày sau nhà vua thân hành đốc xuất 15 vạn thủy quân xuôi vào đất Chiêm Thành. Giữa tháng 12 âm lịch năm 1470, đại quân vào bản thổ Chiêm Thành. Lê Thánh Tông sai người vẽ lại bản đồ nước Chiêm, và dặn quân binh phải tập luyện khẩn trương hơn nữa. Ông còn biên soạn sách "Bình Chiêm Sách", viết về 10 lẽ tất thắng và 3 việc đáng lo, sau đó sai Chỉ huy Nguyễn Thế Mỹ dịch ra chữ Nôm rồi ban phát cho tướng sĩ.
Ngày 5 tháng 2 âm lịch năm 1471, quốc vương Trà Toàn sai Thi Nại cùng 6 viên tướng mang 5.000 quân và voi chiến áp sát ngự doanh. Hôm sau Thánh Tông sai Tả du kích tướng quân Lê Hi Cát, Hoàng Nhân Thiêm và Tiền phong tướng quân Lê Thế, Trịnh Văn Sái đem hơn 500 chiếc thuyền và 3 vạn lính vượt biển, lẻn vào cửa biển Sa Kỳ lập dinh lũy, hầu chặn đường về của quân Chiêm. Ông còn bí mật sai viên tướng giữ quân bộ là Nguyễn Đức Trung đem quân lẻn đi vào chân núi mai phục.
Ngày 7 tháng 2 âm lịch, Lê Thánh Tông thân đem hơn 1000 chiếc thuyền và hàng trăm ngàn quân ra hai cửa biển Tân Áp và Cựu Tọa dựng cờ thiên tử vừa đánh trống vừa hò reo tiến thẳng về đằng trước mặt. Quân Chiêm vỡ trận, phải cắm đầu chạy về Đồ Bàn. Đến núi Mạc Nô, quân Chiêm bị cánh quân của Lê Hi Cát đón đánh. Người Chiêm lại bị đánh tan, phải chạy rẽ ngang trèo qua chân núi cao, xác người, ngựa và đồ quân bỏ lại đầy núi đầy đường. Các tướng Lê Niệm và Ngô Hồng tung quân ra đánh, chém chết một đại tướng và thu nhiều chiến lợi phẩm.
Sau những thắng lợi bước đầu, Lê Thánh Tông thúc quân đánh Mễ Cần, tiêu diệt hơn 300 quân Chiêm, bắt 60 người. Đến ngày 28 tháng 2 âm lịch, quân Đại Việt tiến sát và bao vây kinh thành Đồ Bàn. Ngày 1 tháng 3 âm lịch, Đồ Bàn thất thủ. Theo "Đại Việt sử ký toàn thư", hơn 3 vạn người Chiêm bị bắt, 4 vạn lính Chiêm Thành đã tử trận. Cánh quân Thuận Hóa bắt được Trà Toàn dâng lên vua Thánh Tông; "Đại Việt Sử Ký Toàn Thư" chép rằng:
""Quân Thuận Hóa bắt sống được Trà Toàn dẫn đến trước mặt vua. Trà Toàn cúi đầu quỳ xuống. Vua hỏi qua người phiên dịch rằng:"
"-"Ngươi là chúa nước Chiêm phải không?"."
"Toàn trả lời: "Vâng"."
"Vua hỏi: "Có biết ta là vua không?"."
"Toàn trả lời: "Tôi nhìn thấy phong thái, đã biết là thánh thượng rồi"."
"Vua hỏi: "Ngươi có mấy con rồi"."
"Trả lời: "Tôi có hơn 10 đứa con"."
"Đỗ Hoàn nói: "Hắn đã kêu van xin làm thần tử, xin bệ hạ tha cho khỏi chết"."
"Vua nói với Toàn:"
"Trong đám gươm giáo, ta sợ ngươi bị hại, nay may mà còn sống đến đây, ta thực yên lòng"."
"Bèn sai đưa Trà Toàn ra ngoài ty Trấn điện làm nhà nhỏ cho ở đấy. Các quan dẫn Toàn ra hơi gấp. Vua bảo:"
""Đưa đi thong thả thôi, người ta là vua của một nước, sao lại bức nhau đến như vậy?"."
"Ngày mồng 2, vua thấy đã phá được thành Chà Bàn, liền xuống chiếu đem quân về."
"Vua thấy thuyền Trà Toàn đi chật hẹp, không chức được hết vợ cả, vợ lẽ hắn, sai cho chọn hai người cùng đi. Còn những người khác, khi về đến kinh sư, sẽ trả lại cả. Vợ của Trà Toàn là con gái Bí Cai, cùng với cháu gái đều là vợ của Bàn La Trà Duyệt là anh Toàn. Thế mà Trà Toàn thông dâm cả.""
Ngày 8 tháng 4 âm lịch, khi đại quân về tới Nghệ An, Trà Toàn do lo sợ nên sinh bệnh chết. Thánh Tông sai chặt đầu xác Trà Toàn, phần thi thể còn lại bị đốt quăng xuống sông. Mang đầu Trà Toàn chở trên thuyền, trước thuyền có cắm lá cờ trắng ghi dòng chữ: ": "Đầu của tên đầu sỏ tội ác Trà Toàn nước Chiêm Thành"". Ngày 22 tháng 4 âm lịch, Thánh Tông đem đầu Trà Toàn và tai bị cắt của quân Chiêm Thành tử trận làm lễ cáo thắng trận ở Lam Kinh.
Sau khi Đồ Bàn bị hạ, bộ tướng của Trà Toàn là Bô Trì Trì chạy về đất Phan Lung, chiếm giữ 1/5 lãnh thổ Chiêm Thành, rồi cử sứ sang cống và xin thần phục Đại Việt. Theo Việt Nam sử lược, vua Thánh Tông muốn làm cho Chiêm Thành suy nhược vĩnh viễn, mới chia đất Chiêm ra làm 3 nước, phong 3 vua: 1 nước là Chiêm Thành, 1 nước nữa là Hóa Anh và 1 nước khác nữa là Nam Phan. Lãnh thổ miền bắc Chiêm Thành (từ đèo Hải Vân tới bắc Phú Yên ngày nay) được sáp nhập vào Đại Việt, lập thành thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa. Thánh Tông dùng viên hàng tướng Chiêm Thành là Ba Thái làm Đồng tri châu Thái Chiêm, Ba Thủy làm Thiêm tri châu, lại sai Đỗ Tử Quy làm Đồng tri châu tri Thái Chiêm quân dân sự, Lê Ỷ Đà làm Cổ Lũy châu tri châu
tri quân dân; tất cả họ đều được lệnh chém trước tâu sau với những người Chiêm không khuất phục.
Ngay sau khi thu phục Quảng Nam, Lê Thánh Tông lập tức tiến hành bình định vùng đất mới. Tháng 6 âm lịch năm 1471, hoàng đế đặt chức án sát sứ ở 12 thừa tuyên và 3 ty ở Quảng Nam để cai quản. Cùng với vùng biên viễn phía bắc, Quảng Nam được xem là nơi biên địa nguy hiểm, là nơi giao việc khó khăn. Tháng 9 âm lịch năm 1471, hoàng đế ban bố sắc chỉ rằng con trai, con gái, cháu ruột, cháu gọi bằng chú bác của các thể loại tù tội (cụ thể như "những người nguyên nô tỳ của nhà nước, những quan lại ngụy, thổ quan chống đối mà ra thành đầu hàng, những kẻ cha là người Ngô mẹ là người Việt, bọn gian ác phản nghịch, và người Ai Lao, Cẩu Hiểm, Chiêm Thành hết thảy là nô tỳ của nhà nước, đã bổ đi làm các loại công việc mà phải tội") phải tới Châu Lâm viện khai tên để được đưa vào định cư ở Quảng Nam. Tháng 11 âm lịch năm 1471, ông lại răn đe các quan thừa tuyên, phủ, huyện ở vùng đồng bằng sông Hồng phải yêu nuôi dân chúng, nghiêm trị cường hào, chấn hưng phong tục, khuyến khích nông nghiệp, đê điều, nếu lười nhác sẽ bị vệ sỹ vệ Cẩm y đến điều tra, rồi bị bãi chức và bắt sung quân ở Quảng Nam. Những người Chiêm ở lại Quảng Nam thì đều phải Việt hóa tên họ; theo một sắc chỉ vào tháng 9 âm lịch năm 1472, họ chỉ được để tên dài ba chữ. Đến ngày 22 tháng 4 âm lịch năm 1474, lại có sắc chỉ rằng tù nhân bị tội lưu phải sung làm quân các vệ Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhân ở Quảng Nam.
Theo "Đại Việt Sử ký Toàn thư", sau chiến dịch của Lê Thánh Tông, Đại Việt thanh thế lừng lẫy, nhiều phiên bang phía tây "đều lật đật kẻ trước người sau tranh nhau đến cống". Lão Qua phải cho sứ sang chầu. Ngoài ra, thổ quan phủ Trấn Ninh là Cầm Công cử đầu mục tới triều cống; thổ quan châu Thuận Bình là Đạo Nhị cùng em là Đạo Đồng và 100 thuộc hạ tiến cống năm con voi; tri châu động Du Phác là Đạo Lự cũng tiến cống gà voi và thổ sản. Tuy nhiên, bộ "Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục" do Quốc sử quán Đại Nam biên soạn thời Nguyễn Dực Tông chỉ ra rằng sử thần đời Lê Thánh Tông nói vậy là khoa trương, vì thực ra có những nước như Lão Qua đã đưa sứ đến từ trước khi Đồ Bàn thất thủ, nên không phải vì Đại Việt thắng Chiêm Thành mà các phiên sợ phải đến cống.
Sau khi Trà Toàn bị bắt, em là Trà Toại trốn vào núi, sai người sang cầu cứu Đại Minh và xin phong vương. Tháng 11 âm lịch năm 1471, Lê Thánh Tông sai Lê Niệm đem 3 vạn quân vào đánh, Trà Toại bị bắt giải về kinh. Về sau, vua Minh là Hiến Tông sai sứ sang bảo Lê Thánh Tông phải trả đất Thừa tuyên Quảng Nam cho Chiêm Thành, nhưng ông nhất quyết không chịu. Sau các cuộc chinh phạt thời Hồng Đức, phần còn lại của vương quốc Chiêm Thành (từ phía bắc Phú Yên trở vào) tồn tại trong nhiều thế kỷ sau, nhưng rất yếu và mất dần về tay các vua chúa Nguyễn của Đại Việt/Đại Nam về sau.
Trong bộ chính sử "Minh thực lục" của Trung Quốc có chép lại một quốc thư của Lê Thánh Tông gửi vua Minh năm 1478, có đoạn: "Thủ lĩnh Chămpa Bo-long-a-ma trước đây giao hảo với đất nước của chúng thần. Vào năm thứ 11 thời Thành Hóa (1475-1476), hắn thu nhận lực lượng hải thuyền của nước Lưu Cầu bị gió đánh dạt tới đó, sai họ xâm chiếm và cướp bóc. Họ đã bị lính sơn phòng của chúng thần đánh bại". Văn kiện này cho thấy xung đột giữa người Việt với người Chiêm tiếp tục dai dẳng sau năm 1471. Khi có thuyền đi biển từ nước Lưu Cầu bị trôi dạt vào đất Chiêm, người Chiêm đã sử dụng số người Lưu Cầu này làm lính đánh thuê sang đánh Đại Việt và bị quân biên phòng Đại Việt đánh tan. Trong "Đại Việt Sử ký Toàn thư" phần bản kỷ "Thánh Tông Thuần Hoàng đế" không có chỗ nào nói Đại Việt đánh nhau với Lưu Cầu, nhưng sau phần chép về sự sụp đổ của triều Lê sơ (1527) lại có đoạn khen ngợi võ công của Thánh Tông: "Trà Toàn chịu bắt, Lão Qua tan vỡ, nước Lưu Cầu xe thây, giặc Cầm Công chạy chết, bốn rợ thần phục, tám cõi hướng ". Chi tiết "nước Lưu Cầu xe thây" có thể nhắc đến sự việc quân đánh thuê Lưu Cầu của Chiêm Thành bị Đại Việt đánh bại năm 1476.
Chinh phạt hướng Tây.
Ở phía Tây, quan hệ giữa Đại Việt với Lão Qua (Lào, sử Việt còn viết là Ai Lao) đã căng thẳng từ đầu triều Lê. Khi Lê Thái Tổ dấy nghĩa ở Lam Sơn, Lão Qua đã đưa 3 vạn quân và 100 thớt voi sang phối hợp với quân Minh đánh úp. Năm 1441, Lão Qua lại giúp thổ tù châu Thuận Mỗi là Nghiễm nổi dậy chống Lê Thái Tông. Đến đời Lê Thánh Tông, tháng 2 âm lịch năm 1467, quân Lão Qua sang quấy nhiễu biên giới Tây Bắc; cấu kết với viên phụ đạo châu Thuận (nguyên là mán Ngưu Hống) là Cầm Đồng chiếm động Cự Lộng. Lê Thánh Tông sai Tổng binh Khuất Đả làm đốc tướng mang hơn 1.000 quân, cùng Đồng Tổng binh Nguyễn Động và Tán lý quân vụ Nghiêm Nhân Thọ họp với quân đồn trú trấn Gia Hưng lên đánh, thắng được quân Lão Qua, bắt Cầm Đồng đem về kinh sư. Vua Thánh Tông định giết Cầm Đồng, nhưng Thái sư Đinh Liệt can gián: "Nếu Cầm Đồng quả thực lòng phục tội, xin đến đầu hàng, thì nên cho hắn được khỏi tội chết, để khuyến khích người sau này; nếu vì bức bách mà sau mới xin quy phục để mong khỏi chết, thì giết đi cũng là phải". Hoàng đế bèn sai giam Cầm Đồng vô ngục. "Đại Việt Sử ký Toàn thư" ghi nhận: "Trong chiến dịch này, cả đi lẫn về chỉ có 18 ngày, hành quân tới đâu, hàng ngũ nghiêm chỉnh, đến gà chó cũng không bị kinh động".
Tháng 3 âm lịch năm 1467, thổ binh phủ An Tây do Hiệu úy Hoàng Liễu chỉ huy lại đánh nhau với Lão Qua ở Khâu Lạo. Quốc sử Đại Việt kể là quân Lão Qua thiệt hại 3000 người. Sau thất bại này, bộ lạc Ai Lao suy yếu. Tháng 10 âm lịch năm 1467, có nhóm người Ai Lao đến xin nội thuộc Đại Việt. Lê Thánh Tông nhìn nhận "bọn ấy là người mê muội, bụng dạ không nhất định" nên khước từ, không nhận.
Năm 1471, khi Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành, nước Lão Qua có cử sứ sang chầu ở Đông Kinh, nhưng chẳng bao lâu sau tình hình lại căng thẳng.
Xứ Bồn Man (Mường Bồn; (vùng thuộc Khăm Muộn, Hà Tĩnh, Quảng Bình ngày nay) nguyên là phiên thuộc của Ai Lao, đến khi Lê Thái Tổ dựng nước mới sang cống nạp cho Đại Việt. Năm 1448, thời Lê Nhân Tông, Bồn Man cống voi và xin nội thuộc, được triều đình đổi làm châu Quy Hợp (thuộc Nghệ An). Tuy nhiên, ngay từ năm Quang Thuận thứ nhất (1460), tháng 12 âm lịch năm đó đã thấy có lệnh cho Thái phó Lê Liệt, Thái phó Lê Lựu, Thái bảo Lê Lăng đem quân chia đường đánh tù trưởng họ Cầm của Bồn Man. Tháng 3 âm lịch năm Quang Thuận thứ 10 (1469), sử lại chép nhà vua ra Bình Than, rồi dẫn binh đánh Bồn Man. Tới năm 1478, tù trưởng Bồn Man là Cầm Công lại làm phản, ngầm xin sự trợ giúp của Lão Qua. Lão Qua điều binh quấy nhiễu châu Quy Hợp của Đại Việt.
Tháng 8 âm lịch năm 1479, Lê Thánh Tông xuống chiếu chinh phạt Lão Qua, Bồn Man, lời chiếu có đoạn: "nước Lão Qua kia, giáp giới cõi tây. Đương khi Thánh Tổ dẹp giặc Ngô cuồng bạo, đã nhòm sơ hở đánh úp quân ta, đến lúc Thần Vũ giết tên Nghiễm hung tàn, lại giúp kẻ gian dấy binh đánh chiế, sang quấy phủ An Tây, nhả nọc còn độc hơn loài ong bọ... Sứ của nó sang thông, thì ta hậu đãi cho về, quan của ta giao thiệp, nó lại bắt giữ bỏ ngụ, tự cầm lưỡi búa vàng chỉ huy. Đánh dẹp đất man, trói bắt bọn giặc mà đời trước không trói bắt được; kế tục ông cha, làm xong công việc mà người xưa chưa thể làm xong. Để cơ đồ lâu dài đến muôn đời được mở mang; để sĩ nhục to lớn của trăm vua được rửa sạch". Ông sai các tướng cấp cao chỉ huy 5 đạo quân, huy động quân số lên đến 18 vạn (quân thường trực nhà Lê chỉ có 10 vạn), chia làm 5 đường tiến vào Lão Qua và Bồn Man:
Cuộc chiến diễn ra ác liệt tại các mặt trận, quân Đại Việt thế mạnh hơn đã tiến sâu đánh lui, tiêu diệt; bắt sống nhiều cánh quân tướng lĩnh của Lão Qua. Vua Lão Qua là Xaiyna Chakhaphat đem gia quyến chạy khỏi thủ đô Luang Prabang. Lê Thánh Tông tiến quân vào Luang Prabang, lấy đây làm bàn đạp để tiến sang phía Tây tiếp tục truy kích quân Lão Qua. Quân Đại Việt tiếp tục đuổi quân Lão Qua tới sông Kim Sa giáp với Miến Điện. Quân Đại Việt thắng lợi hoàn toàn.
Tháng 11 âm lịch năm 1479, tin thắng trận của cánh quân phía Bắc tới, Thánh Tông đại giá trở về. Tuy nhiên, các cánh quân đánh Bồn Man có lẽ chưa thành công khi thư báo thắng trận của Lê Thọ Vực bị chặn mất. Lê Thánh Tông liền sai Phó đoán sự vệ Cẩm y Trần Bảo, Hữu tuần tiễu Phó tướng quân Nguyễn Cảnh Thanh mang sắc chỉ cho Lê Thọ Vực khi đó đang đóng tại vùng đất chiếm được ở Sa Quan, châu Niệm Tống Trung (ngã ba sông thượng du Lão Qua). Tháng 12 âm lịch năm 1479 nhà vua về tới Đông Kinh. Không lâu sau ông lại đi đánh Bồn Man, sai Kỳ quận công Lê Niệm đeo ấn tướng quân dẫn 30 vạn quân vào Bồn Man. Quân đội Đại Việt vượt qua được cửa ải, đốt phá các thành trì kháng cự, thiêu hủy kho tàng. Cầm Công bỏ chạy rồi chết. Dân Bồn Man khi đó đa phần bị chết đói, 9 vạn hộ chỉ còn 2.000 người bèn đầu hàng. Nhà vua bèn cho Cầm Đông (họ hàng của Cầm Công) làm "Tuyên úy đại sứ" để thu phục, đặt lại quan cai trị như trước. Từ đây Bồn Man hoàn toàn thuộc về Đại Việt. Tháng 1 âm lịch năm 1480, đại giá nhà vua từ Bồn Man về Đông Kinh.
Theo "Đại Việt sử ký toàn thư", ngày 27 tháng 8 âm lịch năm 1480, sau khi chiến dịch Ai Lao, Bồn Man đã hoàn thành, Đại Minh có đưa sắc văn sang trách Lê Thánh Tông, đại lược là: ""Gần đây, được các quan trấn thủ và tổng binh Vân Nam, tâu rằng Quốc vương An Nam vô cớ điều động binh mã đánh giết ở đất Lão Qua đến nay vẫn chưa lui quân, lại định đánh nước Bát Bách Tức Phụ". Lê Thánh Tông sai Tư lễ giám ấy cho đình thần xem và bàn cách trả lời. Thái úy Sùng quận công Lê Thọ Vực tâu vua nên đáp là: "Hiện nay có 13 người ở thành Đông Quan chạy trốn sang biên giới nước Lão Qua, nên sai bọn đầu mục Nguyễn Báo đến địa giới để đòi lại, chỉ bắt được xe buôn bán chở về, không liên quan gì đến việc đánh Lão Qua và việc muốn đánh Bát Bách Tức Phụ cả. Điều ấy là nói bịa". Thánh Tông nghe theo, sai soạn tờ tâu rồi cho Nguyễn Văn Chất đem sang Minh.
Bộ "Minh sử" của Trung Quốc, phần "An Nam truyện" có chép vào mùa đông năm 1479, vua Lê đích thân đem 9 vạn quân xâm chiếm Lão Qua, ông đánh bại được quân Lão Qua, giết chết 3-4 người con của viên thủ lĩnh Đèo Bản Nha Lan Chưởng, chỉ có người con thứ 4 là Phạ Nhã Trại chạy sang nước Bát Bá (tức Lan Na, miền bắc Thái Lan ngày nay) thoát nạn. Vua Lê lại chấn chỉnh quân ngũ, sửa sang lương thảo, ban sắc lệnh ép nước Xa Lý (sau đổi thành Tây Song Bản Nạp, trung tâm đặt ở Cảnh Hồng) thần phục và bắt quân Xa Lý đi đánh Bát Bá. Quân Đại Việt và quân Xa Lý đánh Bát Bá không thắng lợi, bị thiệt hại khoảng 3000 người, lại bị quân Bát Bá chặn đường về và đánh úp, gây tổn thất đến hơn vạn người. Vua Lê lui quân về nước. Minh Hiến Tông sai ty Bố chính tỉnh Quảng Tây làm tờ hịch trách vua Lê xâm phạm nước nhỏ nhưng vua Lê đáp là chưa từng xâm lược Lão Qua và không biết Bát Bá là nước nào. Vua Minh thấy lời vua Lê "trí trá", nhưng cũng không làm to chuyện.
Quan hệ với Đại Minh.
Đại Việt nằm ở phía nam Trung Quốc, tuy tự chủ, có chế độ riêng nhưng vì là nước nhỏ nên phải xưng thần với các triều đại Trung Quốc. Triều Lê cai trị Đại Việt cùng thời với nhà Minh ở phương Bắc. Hễ có vua Lê chết, vua mới lên ngôi thì phải cử sứ giả sang báo tang vua cũ và xin hoàng đế Đại Minh sắc phong vua mới làm "An Nam Quốc vương". Lê Thánh Tông cũng không ngoại lệ. Tháng 10 âm lịch năm 1460, khoảng 4 tháng sau khi lên ngôi, ông sai Nguyễn Nhật Thăng, Phan Duy Trinh, Nguyễn Tự sang Đại Minh dâng biểu cầu phong. Tháng 2 âm lịch năm 1462, vua Minh sai Hành nhân ty hành nhân Lưu Triệt dẫn sứ bộ sang tế Lê Nhân Tông. Tháng 9 âm lịch năm 1462, vua Minh lại sai Hàn lâm học sĩ Tiền Phổ, Lễ bộ Cấp sự trung Vương Dự đem chiếu thư sang sắc phong Lê Thánh Tông làm "An Nam Quốc vương". Nhận được sắc phong, tháng 11 âm lịch năm này, Thánh Tông lệnh cho Bùi Hựu, Đào Nhược Dung sang Minh dâng biểu tạ ơn.
Mặc dù thần phục Đại Minh trên danh nghĩa, ở trong nước Lê Thánh Tông luôn khẳng định vị thế của mình như một Hoàng đế, một Thiên tử thống trị đế quốc phương Nam, không thua kém các hoàng đế phương Bắc. Trong "Đại Việt Sử ký Toàn thư" có chép lời Lê Thánh Tông khiển trách Ngô Sĩ Liên, Nghiên Nhân Thọ vì đã coi Đại Việt là nước chư hầu của Trung Quốc: "Ta mới coi chính sự, sửa mới đức độ, tuân theo điển cũ của thánh tổ thần tông, nên mới tế giao vào đầu mùa xuân. Các ngươi lại bảo tổ tông tế giao cũng không đáng theo! Các ngươi bảo nước ta đời xưa là hàng phiên bang, thế là các ngươi theo đạo chết, mang lòng không vua. Vả lại, khi Lệ Đức hầu cướp ngôi, Ngô Sĩ Liên chẳng vì hắn trổ tài phong hiến đó sao? Ưu đãi trọng lắm! Nhân Thọ không vì hắn trù hoạch nơi màn trướng đó ư? Ngôi chức cao lắm! Nay Lệ Đức hầu mất nước về tay ta, các ngươi không biết vì ăn lộc mà chết theo hắn lại đi thờ ta. Nếu không nói ra, trong lòng các ngươi không tự hổ thẹn mà chết ư? Thực là bọn gian thần bán nước!" Chi tiết này còn cho thấy vua Lê Thánh Tông đã làm lễ tế Giao. Từ thời cổ đại, tế Giao có nghĩa là tế Trời, là nghi lễ chỉ dành riêng cho Thiên tử. Trong "Sử ký Tư Mã Thiên", khi chép đến việc vua nước Tần (chư hầu nhà Chu) là Tần Tương Công đắp đền thờ Thượng đế, sử gia Trung Quốc cổ Tư Mã Thiên đã nhận định: "Thiên tử mới được tế trời, chư hầu chỉ được tế danh sơn, đại xuyên, rõ ràng đã có ý muốn tiếm quyền đế vị rồi". Do đó, việc Lê Thánh Tông cử hành lễ tế Giao đã khẳng định vị thế ngang hàng của Đại Việt đối với Trung Quốc.
Năm 1467, Lê Thánh Tông cho khắc ấn "Thiên Nam Hoàng đế chi bảo", thể hiện ý muốn coi Đại Việt như một "Thiên triều phía Nam", văn minh không kém Thiên triều phía Bắc.
Lê Thánh Tông cũng rất mực cẩn thận phòng bị biên giới phía Bắc. Ông rất quan tâm khuyến khích các quan biên giới cảnh giác với các âm mưu xâm nhập và xử lý kịp thời các sự việc lãnh thổ với bên ngoài. Trong "Đại Việt sử ký toàn thư" có nhắc đến việc nhà vua ra sắc chỉ cấm người vùng biên giới giao thiệp với người nước ngoài, và cấm gia nô người Ngô (số người Minh tự nguyện xin được ở lại sau khi bị bắt làm tù binh trong cuộc khởi nghĩa của Lê Thái Tổ trước đây) của quân, dân ở các lộ, huyện, phủ Trung Đô được phép giao thiệp, thông đồng với sứ Minh.
Ngày 16 tháng 2 âm lịch năm 1467, quan trấn phủ An Bang (Quảng Ninh ngày nay) báo có thuyền chở lương của người Minh trôi dạt vào đây. Lê Thánh Tông bắt giữ nhóm người Minh này, ông nói với Thái sư Đinh Liệt và Thái bảo Nguyễn Lỗi rằng: "Mới rồi, trẫm bảo bắt giữ người chở lương của nước Minh là vì có thể họ bày ra kế gì đó để lừa ta. Ta muốn ngăn ngừa mưu kế của họ. Đó là việc quyền nghi nhất thời, chứ không phải đạo thường làm đâu". Nguyễn Lỗi muốn thả người Minh vì sợ họ có cớ để giật dây xung đột biên giới, nhưng hoàng đế không nghe theo, bèn giữ người Minh không cho về.
Thời kỳ Lê Thánh Tông có đôi lần thổ quan nước Minh đem quân xâm lấn biên giới. Sử Việt kể tháng 3 âm lịch năm 1467, thổ phủ Trấn An (Quảng Tây) là Sầm Tổ Đức viện cớ đuổi bắt "giặc Sầm Vọng", đem 1000 quân vào các châu Thông Nông, Bảo Lạc (nay thuộc Cao Bằng) của Đại Việt}, bắt người và trâu bò. Sầm Tổ Đức gửi thư cho vua Lê, thư viết: "Các thôn Man Ly, Man Nhung vốn trước giả dối quy phụ Trấn An, rồi cướp bắt người và sức vật, cúi xin thánh thượng gia ơn sai phái đại quân đi đánh các thôn Man Nhung và Man Ly, và xin trừng trị hai châu Thông Nông, Bảo Lạc, đuổi bọn phạm nhân Sầm Vọng về yên nghiệp". Lê Thánh Tông xét thấy lời Sầm Tổ Đức trong thư là không đúng sự thật, bèn sai trung thư soạn công văn đến Ty Bố chính Quảng Tây đòi lại người và súc vật. Nhà vua còn sai Bắc đạo Giám sát ngự sử Phan Tông Tiến đến phủ Bắc Bình khám xét, bắt các trấn thủ là Lê Lục, Nguyễn Lượng đem về kinh sư vì canh giữ biên giới không cẩn mật. Theo "Minh thực lục", một thời gian sau, quân Đại Việt đã đánh Sầm Tổ Đức chạy về nước.
Tháng 5 âm lịch năm 1467, Sầm Tổ Đức lại sai Tông Thiệu xâm lấn ải Tỏa Thoát, cướp hoa màu súc vật. Lê Thánh Tông ra lệnh cho bá quan bàn cách dối phó. Thái sư Đinh Liệt tâu là "nên giữ kỹ bờ cõi, không nên gây hấn khích nơi biên giới, nếu thấy nó đến, chỉ chống giữ thôi". Đến đây sử cũ không nhắc thêm về việc này.
Tháng 10 âm lịch năm 1467, thổ quan châu An Bình (Đại Minh) là Lý Lân lại mang 8000 quân, 300 ngựa đánh lấn châu Hạ Lang, bị quân Đại Việt đánh bại phải chạy về Minh. Lê Thánh Tông sai các quan trấn thủ Thái Nguyên là Đào Viện, Lê Bát Đạt bèn gửi thư chất vấn việc xâm lấn.
Tháng 12 âm lịch năm 1472, Lê Thánh Tông nhận được tờ tâu của trấn An Bang, báo rằng quan quân Đại Minh từ Quảng Tây kéo sang biên giới với số lượng lớn. Hoàng đế bèn sắc dụ Thái bảo Kiến Dương bá Lê Cảnh Huy phải hỏa tốc sai người đi thăm dò, nếu thấy bất an thì gửi công văn mau chóng cho các xứ tập hợp quân sĩ phòng bị mặt Bắc.
Lời của vua Lê Thánh Tông từng nói với các quan coi biên giới năm 1473 đã được ghi rõ trong "Đại Việt sử ký toàn thư", thể hiện quyết tâm giữ vững toàn vẹn lãnh thổ Đại Việt trước mọi sự lấn chiếm của người phương Bắc:
Ông thường bảo với triều thần:
Ngày 25 tháng 6 âm lịch năm 1480, Tổng binh đồng tri Bắc Bình là Trần Ao lấy cớ người Minh lấn đất, bèn sai Liệt hiệu Đào Phu Hoán đem 600 quân vượt cửa ải Thông Quang xâm nhập xứ Ban Động của Minh. Đào Phu Hoán cho quân trồng tre gỗ làm giậu ngăn để chia lại ranh giới. Thổ tụ Minh là La Truyền đưa quân tới đánh, đốt phá giậu tre gỗ, Đào Phu Hoán lui quân về. Trần Ao tâu việc này lên triều đình. Lê Thánh Tông hỏi ý các đại thần, Thái bảo Kỳ quận công Lê Niệm tâu: "Nay nếu dựng lại đóng rào, tất họ lại phá đi, không có ích gì. Nên sai quan đến khám, nếu quả là đất của ta xen vào trong đất của họ và bị họ xâm chiếm thì vẽ địa đồ cho rõ ràng, tâu đúng sự thực, rồi làm tờ tư sẵn đợi lệnh. Năm này sai sứ sẽ giao cho bồi thần mang đi trình với đô ty tỉnh Quảng Tây, biện bạch phải trái, rồi sau hãy dựng rào". "Đại Việt Sử ký Toàn thư" chép là nhà vua nghe theo, rồi không thấy đề cập gì thêm.
Nhìn chung, thời bấy giờ Đại Việt thực lực hùng mạnh, nên Đại Minh dù có dòm ngó cũng không dám làm gì. Khi Lê Thánh Tông đem đại quân vào Chiêm Thành (1471), Lão Qua và Bồn Man (1478–1480), Minh Hiến Tông đều gửi thư trách vua Lê "hiếp kẻ yếu, gây hấn lớn", nhưng sau cùng cũng không động binh hỏi tội. Lê Thánh Tông còn khuếch trương thanh thế của Đại Việt trong mắt người Minh qua việc ông đòi hỏi quan lại soạn thảo văn thư bang giao phải rất cẩn thận và tinh tế. Theo sách "Đại Việt Sử ký Toàn thư": ""Về giấy tờ bang giao, vua trước hết sai quan Hàn lâm viện soạn thảo, rồi trao xuống cho Đông các xem, sau lại đưa cho triều thần xem. Nếu có ý gì khác, thì cho sửa lại". Vì thế, người Minh sau khi xem các văn thư Đại Việt phải ngưỡng mộ, khen gợi Đại Việt lắm nhân tài. Quan hệ giữa hai nước diễn ra hòa bình trong suốt triều đại Lê Thánh Tông.
Ngày 17 tháng 11 âm lịch năm Bính Thìn (1496), niên hiệu Hồng Đức thứ 27, Lê Thánh Tông bắt đầu không khỏe; trong một thời gian sau đó ông vẫn xét đoán việc chính sự. Đến ngày 29 tháng 1 âm lịch (2 tháng 3 dương lịch) năm Đinh Tỵ (1497), bệnh của ông bất ngờ trở nặng. Nhà vua ngồi tựa ghế ngọc, chỉ định Hoàng thái tử Lê Tranh kế nghiệp. Giờ Thìn ngày hôm sau, 30 tháng 1 âm lịch (3 tháng 3 dương lịch), Lê Thánh Tông băng hà ở điện Bảo Quang, hưởng dương 55 tuổi. Trước khi mất, ông có để lại một bài thơ tự thuật:
Ngũ thập niên hoa thất xích khu,
Cương trường như thiết khước thành nhu.
Phong xuy song ngoại hoàng hoa tạ,
Lộ ấp đình tiền lục liễu cù.
Bích hán vọng cùng vân diểu diểu,
Hoàng lương mộng tỉnh dạ du du.
Bồng Lai sơn thượng âm dung đoạn,
Băng ngọc u hồn nhập mộng vô.
"Năm chục hoa niên bảy thước thân,"
"Lòng như sắt cứng bỗng mềm dần."
"Gió lay khô héo hoa bên cửa,"
"Sương dãi gầy mòn liễu trước sân."
"Trời biếc xa trông, mây thăm thẳm,"
"Kê vàng tỉnh giấc đối bâng khuâng."
"Khuất lời cách mặt, non Bồng vắng,"
"Băng ngọc du hồn nhập mộng chăng?"
(Bản dịch của Nhà Xuất bản Khoa học - Xã hội (1993))
Sử quan Vũ Quỳnh thời Lê Tương Dực có hé lộ nguyên nhân cái chết của Lê Thánh Tông: nhà vua quan hệ nhiều phi tần nên bệnh nặng. Quý phi Nguyễn Hằng (Trường Lạc Hoàng hậu), con gái của đại thần Nguyễn Đức Trung bị giam ở cung khác, đến khi nhà vua ốm nặng mới được đến hầu bệnh, bèn ngầm giấu thuốc độc vào tay, xoa lên những chỗ loét của ông. Do vậy, bệnh Thánh Tông càng nặng thêm.
Trong bài "Sách và triều đại" in trong sách "Sử Việt, đọc vài quyển", sử gia hiện đại Tạ Chí Đại Trường phủ nhận việc Trường Lạc Hoàng hậu đầu độc chết Lê Thánh Tông, bởi vì nếu vậy thì Nguyễn Đức Trung cùng gia đình đã bị xử chết để không còn nhà Nguyễn sau này. Tuy nhiên, việc Vũ Quỳnh "đoán mò" Trường Lạc Hoàng hậu đầu độc Thánh Tông cũng nói lên tình trạng ghen tuông trong cung cấm. Ngoài ra, Tạ Chí Đại Trường đưa ra kiến giải riêng về cái chết của Lê Thánh Tông:
""Vua bị thương không phải vì chinh chiến. Đánh Chiêm Thành khải hoàn, vua thấy có mẹ, con đón rước, "thay áo, lên thuyền rồi về hành điện", lành lặn. Mùa đông, tháng 11 âm lịch (1496), "vua không khoẻ", còn gượng làm thơ khoe rằng "Dù Lí (Bạch), Đỗ (Phủ), Âu (Dương Tu), Tô (Đông Pha) sống lại vị tất đã làm nổi, chỉ có Ta làm được". Thế mà chỉ hơn hai tháng sau, vua ốm nặng một ngày rồi băng, "gươm thần, ấn thần đều biến mất", chỉ còn lại bài thơ và mối hoài nghi người sau không dám nói. Thái tử lên ngôi, cho biết vua cha bị bệnh phong thũng. "Phong thũng" theo cách hiểu thông thường, và của cả y sinh ngày xưa, là chỉ hiện trạng bệnh lở lói, cùi hủi. Vua không bị chiến thương như đã nói, mà sử quan lại có lời mào đầu là vua mắc bệnh nặng "vì nhiều phi tần quá", vậy thì Thánh Tông đã mắc "bệnh xã hội". Vua bị lở lói ở chỗ đó, hay khắp mình mẩy vì giang mai ở thời kì cuối?""
"Cổ Ai Cập đã biết đến bệnh giang mai. Trung Quốc chậm hơn, mãi đến thế kỉ VII, VIII mới bắt đầu biết vài căn "bệnh xã hội" là do giao hợp mà ra. Đầu thế kỉ XVI, y học Minh nhận ra bệnh giang mai và cảnh giác dân chúng về việc giao hợp với gái làng chơi (Reay Tannahill, tr. 193). Y giới Tây phương trước khi biết đến loại kháng sinh, đã chữa bệnh giang mai bằng hợp chất arsenic, y giới Đông phương cũng chữa bằng thạch tín (arsenic). Thái y viện đời Lê đã dùng vị mã tiền có thạch tín chữa cho Thánh Tông chăng? Vì thế mới có ghi nhận Trường Lạc Hoàng hậu bôi "thuốc độc" (thạch tín) cho vua?"
"Vấn đề đặt ra là Thánh Tông mắc bệnh (có thể là) giang mai từ đâu? Ông vua không cần đi ra ngoài dân gian tìm thú vui, mà bắt con gái vào cung cho mình hưởng. Mĩ nữ các quan chọn cho vua hẳn phải lành lặn, "tinh khiết". Có một nguồn cung cấp gái phức tạp hơn: các tù binh, và hẳn chắc chắn hiện diện nhiều, là tù binh Chà, nhưng trong biến động nước mất nhà tan, sao khỏi có người sa sẩy trong buông thả? - và vẫn còn sắc đẹp cho ông vua chú ý tới. Người đẹp lại là tác nhân thu hút bệnh nhiều hơn người xấu. Lớp tù binh Chàm 1471 hai năm sau khi Thánh Tông mất (1497) còn được thấy "thân vương" Lê ưa chuộng thì trong thời gian còn sống, sao không có người lọt vào mắt xanh ông vua? Thời gian từ sau 1471 đến khi ông mất là đủ dài cho sự ủ bệnh và phát triển đến độ "lở lói" cuối cùng, đưa ông vua sáng giá nhất Đại Việt về nơi yên nghỉ."
"Căn bệnh của ông vua thời thịnh trị có tác động gì đến sự tàn tạ sau đó? Tất nhiên không có cách nào tìm chứng cớ ở sử quan. Chúng ta chỉ biết rằng ông sống khá lâu nên con ông (Hiến Tông) lên ngôi khá muộn, và sau đời ông này thì có dấu hiệu lệch lạc tính dục trong dòng họ...""
Ngày 2 tháng 3 âm lịch năm 1497, Hoàng thái tử cùng triều đình bàn định để tang 3 năm. Ngày 6 tháng 2 âm lịch năm 1497, các đại thần gồm Thái bảo Bình Lương hầu Lê Chí, Binh bộ Thượng thư Định Công bá Trịnh Công Đán, Tây quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Sung Khê bá Lê Vĩnh đến điện Hoằng Văn đón Hoàng thái tử lên ngôi, tức là Hoàng đế Lê Hiến Tông. Ngày 24 tháng 12 âm lịch năm 1497, Hiến Tông dâng vua cha miếu hiệu là Thánh Tông, thụy hiệu là "Sùng Thiên Quảng Vận Cao Minh Quang Chính Chí Đức Đại Công Thánh Văn Thần Vũ Đạt Hiếu Thuần Hoàng Đế", đời sau gọi là Thánh Tông Thuần Hoàng đế hay Lê Thuần Hoàng, Lê Thuần Hoàng Đế, Lê Thuần Đế, Thuần Hoàng, Thuần Đế.
Ngày 8 tháng 3 âm lịch năm 1497, quan tài Lê Thánh Tông được rước về Lam Kinh. Ngày 28 tháng 3 âm lịch năm này, ông được mai táng vào Chiêu Lăng, bên tả Vĩnh Lăng của Lê Thái Tổ. Vua Hiến Tông nghe lời Lễ quan, sai Đông các Đại học sĩ kiêm Quốc tử giám Tế tửu Thân Nhân Trung, Lễ bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sĩ Đàm Văn Lễ, Đông các Đại học sĩ Lưu Hưng Hiếu soạn văn bia kể sự nghiệp của Thánh Tông tại Chiêu Lăng.
Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" có chép lại bình luận của một số sử thần đời Lê về Lê Thánh Tông, đa phần nhận xét rất tích cực:
Tuy nhiên, cũng sách "Đại Việt sử ký toàn thư" ở cuối bản kỷ về Thánh Tông có thuật lại lời tự phê bình của nhà vua:
Đương thời, Lê Thánh Tông từng bị Thiếu bảo Ngự sử đài Đô ngự sử Trần Phong phê phán vì "đặt quan hiệu của nhà Minh mà làm trái thông chế của quốc triều". Lời phê bình này có lẽ là một trong những nguyên nhân dẫn tới việc nhà vua xử chết Trần Phong năm 1485. Một viên quan khác, Quốc tử giám Tế tửu kiêm Văn minh điện Đại học sĩ Nguyễn Bá Ký từng chê trách Thánh Tông vì làm văn "không chú ý kinh, sử, lại chuộng lối học phù hoa, vô dụng". Trước lời phê phán này, nhà vua đã hồi đáp:
""Trẫm vừa xem hết tờ sớ, ngươi bảo là trẫm không chú ý kinh, sử, lại chuộng lối học phù hoa, vô dụng, chỉ ngụ ý ở ngoài mây khói. Nếu ta ưa chuộng văn hoa, không lấy gốc kinh, sử, thì còn sách nào nữa? Ta tự xét mình, xét lời ngươi nói, thì trong bốn chữ "phù hoa vô dụng" kia, thực đã gồm cả lòng trung rồi, thế mà ta lại làm văn mà biện lại, thì ta thực có lỗi. Lúc ấy, ngươi đã kịp thời can ngăn, chẳng vì thế mà giữ ý"."
Hà Nhậm Đại, sĩ phu đời Mạc làm quan đến chức Lễ bộ Thượng thư, có bài thơ vịnh "Thánh Tông Thuần Hoàng đế", vừa khen vừa chê trách:
Thánh Tông Thuần Hoàng đế
Nhật thướng thiên trung hoàng đạo khai,
Đế vương sự nghiệp hiện hùng tài.
Bình sinh học vấn chân cao mại,
Nữ tử yên tri thị họa thai.
Vầng dương lên giữa trời mở đường Hoàng đạo,
Sự nghiệp đế vương biểu hiện tài năng hùng mạnh.
Bình sinh học vấn thật là cao siêu,
Nào hay đứa con gái gây nên cái mầm mống tai họa!
"Giữa trời hoàng đạo chói vầng dương,"
"Xuất hiện hùng tài bậc đế vương."
"Học vấn bình sinh cao rộng thế,"
"Nào hay nhi nữ nghén tai ương!"
Trong bộ "Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục" biên soạn đời Nguyễn Dực Tông (Tự Đức, trị vì 1847–1883), sử quan Đại Nam có lời phê khi chép đoạn Thánh Tông giết Lê Lăng:
Sử thần thời Nguyễn cũng chỉ trích việc Lê Thánh Tông xưng làm Tao đàn Nguyên soái, lập ra Tao Đàn nhị thập bát tú và đặt tên một tập thơ là "Quỳnh Uyển cửu ca":
Sử gia thời Pháp thuộc Trần Trọng Kim thì đánh giá trong cuốn "Việt Nam sử lược" (1919) rằng:
Sử gia Hoa Kỳ thế kỷ XXI Keith Weller Taylor nhận định trong sách "A History of the Vietnamese" (Lịch sử người Việt Nam):
Vệ Quốc Công chúa
An Nam Công chúa
Đà Quốc Công chúa
Thao Quốc công chúa
Lê Nghi Dân (1439 - 1460), thời Lê Thái Tông được lập làm Thái tử, sau bị phế làm Lạng Sơn vương. Năm 1459 lập mưu tạo phản, giết Lê Nhân Tông để cướp ngôi. Được 1 năm thì bị các đại thần bức tử.
Lê Khắc Xương (1440 - 1476), thời Lê Thái Tông được phong tước Tân Bình vương, sau khi Lê Nghi Dân lên ngôi thì được cải thành Cung vương. Năm 1476 bị Lê Thánh Tông khép vào tội phản nghịch và bị tống giam, không lâu sau thì qua đời.
Lê Bang Cơ (1441 - 1459), thời Lê Thái Tông được lập làm Thái tử thay cho Lê Nghi Dân. Kế vị khi mới 1 tuổi, tức Lê Nhân Tông, ở ngôi được 17 năm (1442 - 1459). Bị Lê Nghi Dân ám sát để cướp ngôi. Sau này được Lê Thánh Tông truy tôn thụy hiệu là "Nhân Tông Tuyên Hoàng đế".
Lê Thánh Tông còn có 14 hoàng tử và 20 công chúa. Trong đó một số hoàng nữ chưa kịp thụ phong thì đã qua đời quá sớm.
Trong văn hóa đại chúng.
Hình ảnh công cộng.
Ở Việt Nam có những con đường và trường học mang nguyên gốc miếu hiệu ông là Lê Thánh Tông. Đặc biệt, tên ông được đặt cho ngôi trường THPT chuyên thứ 2 của tỉnh Quảng Nam. Trong khi đó, ở các tỉnh miền Trung và miền Nam lại viết là Lê Thánh Tôn do theo lệ xưa kỵ húy chữ Tông trong tên vua Thiệu Trị (Nguyễn Phúc Miên Tông).
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Lệ Thu (tên khai sinh: Bùi Thị Oanh, tên thánh: Cecilia, 16 tháng 7 năm 1943 − 15 tháng 1 năm 2021), là một nữ ca sĩ Việt Nam, một trong những giọng ca nổi tiếng của nền tân nhạc Việt Nam. Tiếng hát của Lệ Thu tuy không gắn với một nhạc sĩ nào, nhưng bà là người trình bày rất thành công nhiều ca khúc của Phạm Duy, Cung Tiến, Đoàn Chuẩn, Trịnh Công Sơn, Phạm Đình Chương, Trường S–1975 khác. Trước 1975, giọng hát Lệ Thu còn được gọi là "Giọng hát vàng mười" hoặc "Giọng ca vàng ròng".
Tiểu sử và sự nghiệp.
Lệ Thu nguyên danh là Bùi Thị Oanh, thánh danh Cecilia, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1943 tại Hải Phòng, sau này bà và mẹ bà di cư từ Hải Phòng lên Hà Đông sinh sống, còn bố bà vẫn ở lại Hải Phòng. Bố bà là người Hải Phòng, vốn là một chức việc nhỏ của làng Đông Xá (nay là xã Đoàn Xá), huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Mẹ bà cũng là người Hải Phòng và là vợ lẽ. Bố bà là quan nhỏ trước Cách mạng tháng tám. Bố mẹ Lệ Thu sinh được tám người con nhưng bảy người con đầu đều qua đời vào năm lên ba tuổi, vì thế Lệ Thu là người con duy nhất còn lại trong gia đình. Mẹ bà là người vợ thứ hai; vì những khó khăn do người vợ cả gây cho nên năm 1953 Lệ Thu cùng mẹ vào Nam Kỳ sinh sống.
Năm 1959, trong khi đang theo học bậc trung học Pháp tại trường Les Lauriers (Tân Định, Quận 1), trong một lần đến phòng trà Bồng Lai nghe nhạc, do sự khuyến khích của bạn bè, Lệ Thu bước lên sân khấu trình bày nhạc phẩm "Dang dở". Ngay sau đó, ông chủ phòng trà đã mời Lệ Thu ký giao kèo biểu diễn. Cũng từ đó bà lấy nghệ danh Lệ Thu. Trong một cuộc phỏng vấn, bà cho biết: "Tôi lấy tên Lệ Thu vì tôi giấu gia đình. Thật ra tên đó nó không có trong tiềm thức của tôi nhưng tự nhiên nó bật ra, tôi không hiểu từ đâu". Sau khi nhận lời cộng tác với phòng trà Bồng Lai, Lệ Thu vẫn tiếp tục đi học nhưng một thời gian sau bà quyết định nghỉ học để theo đuổi con đường ca hát.
Theo sau Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh Phát và kế đó là vũ trường Tự Do vào năm 1962. Thời kỳ đó Lệ Thu thường trình bày những nhạc phẩm lời tiếng Pháp và tiếng Anh, nổi bật nhất là các bản như "La Vie en rose, La mer, A Certain Smile, Love Is a Many-Splendored Thing"... Cũng thời gian đó Lệ Thu thành hôn với một người tên Sơn vốn đi học ở Pháp về.
Lệ Thu dần nổi tiếng và trở thành một ca sĩ quan trọng của các vũ trường lớn ở Sài Gòn. Trong những năm 1968 đến 1971, tiếng hát Lệ Thu là một trong những yếu tố đưa khách đến với các vũ trường Queen Bee, Tự Do và Ritz. Năm 1968, Lệ Thu về cộng tác với chương trình Jo Marcel tại vũ trường Queen Bee. Ngoài việc đi hát hàng đêm bà còn ký giao kèo thu thanh băng nhạc cho Jo Marcel, khởi đầu cho một thời kỳ vàng son nhất trong cuộc đời đi hát. Đến giữa năm 1969, Lệ Thu cùng với chương trình Jo Marcel dời về vũ trường Ritz trên đường Trần Hưng Đạo. Năm 1970, Lệ Thu trở lại với vũ trường Tự Do cho đến khi vũ trường này bị đánh bom hơn một năm sau.
Lệ Thu tham gia các chương trình ca nhạc trên các đài phát thanh Sài Gòn, Quân đội và Mẹ Việt Nam, đồng thời thu âm cho nhiều băng nhạc. Cùng với Khánh Ly, Thanh Thúy (ca sĩ sinh 1943), Thái Thanh, Lệ Thu là một trong những ca sĩ nổi tiếng nhất của Sài Gòn cho tới trước sự kiện 30 tháng 4 năm 1975. Sau cuộc hôn nhân đầu đổ vỡ, Lệ Thu kết hôn với ký giả Hồng Dương nhưng hai người chia tay sau khi có một con gái tên Thu Uyển.
Trong sự kiện tháng 4 năm 1975, Lệ Thu quyết định ở lại Việt Nam vì còn mẹ, dù ngày 28 tháng 4 bà đã tới phi trường, bước chân đến máy bay nhưng rồi quay về. Lệ Thu gia nhập đoàn kịch Kim Cương để đi trình diễn. Thời gian đó Lệ Thu hát những ca khúc nhạc mới và cũng có những thành công như bài "Hà Nội niềm tin và hy vọng" của Phan Nhân. Khoảng năm 1978, Lệ Thu có mở một hàng cà phê mang tên con gái út là Thu Uyển trên đường Phan Tôn, Tân Định với sự cộng tác của Thanh Lan và nhạc sĩ Lê Văn Thiện.
Tháng 11 năm 1979, Lệ Thu cùng con gái út vượt biển đến Pulau Bidong, Malaysia, sau đó sang Hoa Kỳ vào giữa năm 1980. Hai năm sau hai người con gái lớn của Lệ Thu cũng vượt biên và đoàn tụ với Lệ Thu tại miền Nam California.
Tại Hoa Kỳ, Lệ Thu tiếp tục đi hát, tái ngộ với khán giả trong một buổi trình diễn đặc biệt do nhạc sĩ Nam Lộc tổ chức tại Beverly Hills. Sau đó bà cộng tác cùng các vũ trường như Tự Do, Làng Văn và Maxim's. Năm 1981, Lệ Thu thực hiện băng nhạc đầu tiên của mình ở hải ngoại mang tên "Hát trên đường tử sinh". Tiếp theo là những băng "Thu hát cho người" gồm nhiều ca khúc đã gắn liền với tên tuổi của bà.
Sau khi con cái trưởng thành và lập gia đình, Lệ Thu sống một mình ở thành phố Fountain Valley, California. Ngày 22 tháng 6 năm 2007, Lệ Thu tham gia chương trình đêm nhạc Trịnh "Rơi lệ ru người" theo ý tưởng của cháu gái Trịnh Công Sơn là Tib Hoàng, cùng với các ca sĩ Việt Nam như Hồng Nhung, Mỹ Linh, Quang Dũng, Cẩm Vân, Thu Minh, Nguyên Thảo và đạo diễn Phạm Hoàng Nam. Ngày 26 tháng 6 năm 2009, Lệ Thu trở lại thăm Houston sau 3 năm và cùng giọng ngâm Bạch Hạc tổ chức đêm nhạc thính phòng theo yêu cầu của khán thính giả ái mộ tại địa phương. Tại Việt Nam, Hãng phim Phương Nam có phát hành một số CD tiếng hát Lệ Thu.
Ngày 30 tháng 12 năm 2020, Lệ Thu nhập viện cấp cứu vì COVID-19. Đến 19h ngày 15 tháng 1 năm 2021 (giờ California, Hoa Kỳ), bà qua đời.
Trần Thị Cẩm Tú - con gái đầu của danh ca Lệ Thu qua đời hôm 22/3 sau thời gian chống chọi với ung thư. Gia đình cho biết vào cuối năm 2020, bệnh bà trở nặng, bác sĩ nhận định thời gian sống không còn dài. Hưởng thọ 62 tuổi.
Băng nhạc, CD Lệ Thu.
Cùng các ca sĩ khác:
|
Hát ru là những bài hát nhẹ nhàng giúp trẻ em ngủ. Phần lớn các câu trong bài hát ru con lấy từ ca dao, đồng dao, hay trích từ các loại thơ hoặc hò dân gian được truyền miệng từ bà xuống mẹ, thế hệ trước sang thế hệ sau. Do đó, những bài hát này rất đa dạng, mang tính chất địa phương, gần như mỗi gia đình có một cách hát riêng biệt.
Trong hát ru thường chỉ chú ý đến lời (ca từ) còn giai điệu (nhạc lý) thì mỗi bà mẹ có một giọng "trữ tình" riêng nhưng vẫn gây ấn tượng sâu sắc trong suốt cả cuộc đời người con.
Tiếng động và giọng nói quen thuộc.
Thai nhi trong tử cung bắt đầu nghe được tiếng động và giọng của mẹ từ tháng thứ 4 (mặc dù hệ thống tai–nghe hoàn thành vào tháng thứ 6). Theo nhiều nghiên cứu khoa học, mặc dù thai nhi nằm trong nước ối và được bao bọc bởi nhiều lớp cơ, màng, có thể nghe được tiếng động, tiếng nhạc, nhịp nhanh chậm, tông độ cao thấp,
Tiếng động có khả năng thay đổi nhịp tim của thai nhi. Chỉ qua 5 giây, tiếng động kích thích có thể làm thay đổi nhịp tim kéo dài 1 tiếng đồng hồ. Nhiều tiếng nhạc làm thay đổi chuyển hóa. Trong một cuộc khảo cứu, khi trẻ sinh thiếu tháng được cho nghe bài nhạc "Lullabye" của Brahms 5 phút, 6 lần mỗi ngày rõ ràng có lớn nhanh hơn những trẻ tương tự.
Nhịp điệu của bài hát đem lại cảm giác "an toàn" có thể vì làm nhớ lại nhịp điệu tim đập nghe được từ những ngày tháng còn trong lòng mẹ. Giọng nói, tiếng ru của mẹ bên tai cho trẻ biết đang được người bảo bọc.
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy ru bằng những nguyên âm không thành câu ("humming") dễ làm trẻ ngủ hơn là hát thành bài có câu cú rõ rệt.
Dưới góc độ khoa học thì hát ru là những kích thích rất có lợi không những với sự phát triển ngôn ngữ, tâm lý, sinh lý mà còn cả phát triển thể chất nữa. Đó là sự kích thích tiền đình và nhiều người đã xác nhận rằng những trẻ hằng ngày được kích thích bằng hát ru (khoảng 10 phút) thì phản xạ vận động tốt hơn nhiều so với trẻ không được nghe hát ru (theo nghiên cứu của Đại học Ohio)
Ru con Việt Nam.
"Con cò mày đi ăn đêm "
"Đậu phải cành mềm Lộn cổ xuống ao "
"Ông ơi, ông vớt tôi nao "
"Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng "
"Có xáo thì xáo nước trong "
"Đừng xáo nước đục Đau lòng cò "
"Cái ngủ mày ngủ cho ngoan"
"Để mẹ đi cấy đồng xa trưa về"
"Bắt được con trắm con trê"
"Thòng cổ mang về cho cái ngủ ăn"
"Cái ngủ ăn không hết để dành đến tết mùng ba"
"Mèo già ăn vụng, mèo ốm phải đòn"
"Mèo con phải vạ, con quạ chết trôi"
"Con ruồi đứt cánh, đòn gánh có mấu"
"Củ ấu có sừng, châu chấu có chân"
"Bồ quân có rễ, cây nghệ có hoa"
"Cây cà có trái"
"Con gái có chồng, đàn ông có vợ"
"kẻ chợ buôn bè"
"cây tre có lá, con cá có vây"
"Ông thầy có sách, thợ gạch có dao"
"Thợ cào có búa, xay lúa có giàn"
"Việc làng có mỡ, ăn cỗ có phần"
"cái ngủ mày ngủ cho lâu à…ơi…à…ơi"
"Bạn hàng trước ngõ"
"Cây hương bên tàu"
"nhỏ nhụy thơm xa"
"(Chớ) anh có đi mô lâu"
"cũng nhớ ghé vô thăm chén ngọc ve ngà"
"dù gần cũng nghĩa"
"dù xa cũng tì"
"Ta chào lại bạn có nghĩa có nhơn"
"May mô may quyển lại gặp đờn"
"Quyển kêu thánh thót còn tiếng đờn thì ngâm nga"
"Nhắn em về nói với mẹ cha"
"Dọn đàng quét ngõ tháng ba dâu về"
"Dâu về không lẽ về không?"
"Ngựa Ô đi trước ngựa Hồng theo sau"
"Ngựa Ô đi tới vạt cau"
"Ngựa Hồng thủng thỉnh đi sau vạt chè..."
"Cầu ván đóng đinh"
"Cầu treo lắc lẻo"
"Gập ghềnh khó qua"
"Khó qua mẹ dắt con "
"Con đi trường học"
"Mẹ đi trường đờ"
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Johannes Brahms (7 tháng 5 năm 1833 tại Hamburg – 3 tháng 4 năm 1897 tại Viên) là một nhà soạn nhạc, nghệ sĩ dương cầm và chỉ huy dàn nhạc người Đức. Các tác phẩm của ông được xếp vào chủ nghĩa lãng mạn ("romanticism").
Sinh ra trong một gia đình theo đạo Luther tại Hamburg, Brahms sống phần lớn cuộc đời sự nghiệp tại Viên, Áo. Danh tiếng và ảnh hưởng của Brahms lúc sinh thời đã được công nhận; theo sau bình luận của nhà chỉ huy thế kỉ XIX Hans von Bülow, ông thường được nhóm chung với Johann Sebastian Bach và Ludwig van Beethoven thành "Ba B".
Brahms sáng tác cho piano, nhạc thính phòng, dàn nhạc giao hưởng, giọng hát và hợp xướng. Là một nghệ sĩ dương cầm điêu luyện, ông thực hiện các buổi diễn ra mắt nhiều tác phẩm của chính mình, ông cũng đã từng làm việc với một số nghệ sĩ hàng đầu vào thời bấy giờ, kể cả với nghệ sĩ dương cầm Clara Schumann và nghệ sĩ vĩ cầm Joseph Joachim. Nhiều tác phẩm của ông trở thành trụ cột trong vốn tiết mục biểu diễn. Brahms là một người kiên quyết theo chủ nghĩa cầu toàn, cho nên ông đã tự hủy và không công bố rất nhiều tác phẩm của mình.
Các sáng tác của Brahms bao hàm cả những chất liệu truyền thống lẫn sáng tạo. Âm nhạc của ông có cấu trúc và kỹ thuật bắt nguồn vững chắc từ các bậc thầy Baroque và Cổ điển. Âm nhạc của Johannes Brahms, với vẻ đẹp hình thức hoàn hảo và sự dung dị sâu sắc của tâm hồn. Ông là người tiếp nối các truyền thống hiện thực cổ điển và "làm giàu" chúng bằng những thành tựu của chủ nghĩa lãng mạn Đức. Âm nhạc của Johannes Brahms vừa đầy chất triết học trữ tình đặc trưng của Bach vừa mang những hình tượng âm nhạc hoành tráng và bạo liệt theo tinh thần Beethoven, nhưng cũng đậm nỗi lo âu về số phận của con người hiện đại.
Brahms sinh ngày 7/5/1833 tại thành phố cảng Hamburg, miền bắc nước Đức, là con thứ trong gia đình một nhạc sĩ nghèo, dòng dõi thị dân. Cha của ông là Johann Jakob Brahms (1806–72) di dân từ Dithmarschen đến Hamburg, kiếm sống bằng nghề chơi nhạc, ông có thể chơi nhiều nhạc cụ khác nhau, nhưng chủ yếu là thổi kèn cor, chơi contrabass. Chính Brahms nói về thời thơ ấu của mình: "Chẳng có mấy ai sống khổ như tôi".
Johann Jakob Brahms đã cho con trai mình đi học nhạc lần đầu tiên. Brahms học piano từ 7 tuổi với Otto Friedrich Willibald Cossel. Do đói nghèo của gia đình, cậu bé Brahms phải chơi nhạc ở các sàn nhảy và nhà thổ xung quanh là các thủy thủ say rượu và gái mại dâm thường vuốt ve cậu. Các nhà viết tiểu sử hiện đại đã nhấn mạnh thời kỳ này là nguyên nhân làm cho Brahms không có khả năng 'để có một mối quan hệ hôn nhân thành công, quan điểm của ông về phụ nữ bị biến dạng bởi những trải nghiệm trong quá khứ của mình'. Gần đây, các học giả nghiên cứu về Brahms là Styra Avins và Kurt Hoffman cho rằng những nhận xét này là sai lầm.
Trong một thời gian, Brahms cũng học thêm cello. Sau khi những bài học piano đầu tiên với Otto Cossel, Brahms tiếp tục học piano với Eduard Marxsen, một người đã từng học ở Viên với Ignaz von Seyfried (một học sinh của Mozart) và Carl Maria von Bocklet (một người bạn thân của Schubert). Chàng trai Brahms đã biểu diễn một vài buổi hòa nhạc công cộng ở Hamburg, nhưng chẳng gây được tiếng tăm gì cho đến khi ông thực hiện một tour diễn ở tuổi 19.
Hội ngộ với Joachim và Liszt.
Vào tháng 4 và tháng 5 năm 1853, Brahms rời bỏ Hamburg đi lưu diễn khắp đất nước cùng nghệ sĩ violin – nhà cách mạng người Hungary – Eduard Reményi và qua đó có dịp gặp Franz Liszt, Peter Cornelius, Joachim Raff tại Weimar, và Joseph Joachim tại Hannover. Lúc này Liszt đã sừng sững như một tượng đài âm nhạc thế giới, nhưng chỉ mới vài ngày Brahms đã ngộ ra rằng giữa ông và nhà soạn nhạc vĩ đại người Hungary không thể có "điểm tiếp xúc" nào cả. Khát vọng nghệ thuật của Liszt vì một thứ âm nhạc có chương trình trong đó nội dung và hình thức được xác định bằng hình tượng văn học quá xa lạ với Brahms. Theo nhiều nhân chứng cho cuộc tao ngộ giữa Brahms với Liszt (lúc đó Liszt trình diễn "khúc keczô" (Scherzo), op.4 của Brahms), trong khi Brahms lại không toàn tâm toàn ý để trình bày bản "sonata" của Liszt (Brahms đã ngủ thiếp đi khi đang thực hiện buổi diễn), điều này làm cho Reméyi cảm thấy bị xúc phạm và họ chia tay ngay sau đó. Brahms sau đó bào chữa cho mình, nói rằng ông không thể chống đỡ cơn buồn ngủ sau khi bị kiệt sức do di chuyển.
Joachim đã gửi một thư giới thiệu Brahms cho Robert Schumann, và sau đó Brahms đã bắt tàu đến Düsseldorf. Tại đây, Brahms gặp Robert Schumann và cuộc gặp này tạo ra bước ngoặt lớn trong cuộc đời của ông. Tuy đang bị bệnh tâm thần hành hạ nhưng nhà soạn nhạc người Đức nổi tiếng Schumann đã phải sửng sốt trước tài năng độc đáo của chàng nhạc sĩ vô danh 20 tuổi, nên vào ngày 28 tháng 10 năm 1853 Schumann đã viết bài báo cuối cùng của mình (sau 10 năm gác bút) với nhan đề "Neue Bahnen" (Con đường mới) trên tạp chí âm nhạc "Neue Zeitschrift für Musik" do ông sáng lập. Hai mươi năm trước đó, Schumann là người đầu tiên viết về Chopin và bây giờ ông là người đầu tiên viết về Brahms. Ông gọi Brahms là "bậc thầy biểu đạt hoàn hảo tâm hồn thời đại". Bài báo của Schumann khiến cho những người hâm mộ ông (như nhạc trưởng dàn nhạc Philharmonic và một nhà xuất bản âm nhạc tại Hamburg) rất ấn tượng với tài năng trẻ Brahms, nhưng một số người khác vẫn còn hoài nghi. Điều này làm Brahms càng thêm khắt khe với chính những tác phẩm của ông. Ông viết cho Schumann, "người thầy vĩ đại" vào tháng 11 năm 1853, "lời khen của thầy về tôi làm cho công chúng đã có những kỳ vọng mà tôi không biết làm cách nào để thỏa mãn họ..."
Trong thời gian ở Düsseldorf, Brahms cùng với Schumann và học trò của ông là Albert Dietrich soạn bản sonata để dành tặng cho nghệ sĩ vĩ cầm Joseph Joachim; bản sonata được biết dưới cái tên "F–A–E Sonata" (, tự do nhưng cô độc). Vợ của Schumann, nhà soạn nhạc và nghệ sĩ dương cầm Clara, viết trong nhật ký của mình về chuyến thăm đầu tiên của ông rằng Brahms "là một trong những người từ trên trời do Đấng Toàn năng gửi xuống-Anh ấy cho chúng tôi nghe các bản sonata, scherzos , tất cả đều cho thấy trí tưởng tượng dồi dào, độ sâu của cảm giác, với một trình độ điêu luyệ, với điều kiện anh ta phải tìm thấy một lĩnh vực phù hợp với thiên tài của mình trước khi đặt bút viết nốt nhạc đầu tiên cho dàn nhạc."
Sau khi Schumann tự tử bất thành và bị đưa vào viện điều dưỡng tâm thần ở gần Bonn vào tháng 2 năm 1854, Clara trở nên "tuyệt vọng" khi đang chờ sinh đứa con thứ tám của Schumanns. Brahms vội vã tới Düsseldorf. Ông và/hoặc Joachim, Dietrich, và Julius Otto Grimm đã đến thăm Clara thường xuyên trong tháng 3 năm 1854, làm bà khuây khỏa khỏi bi kịch của ông chồng Robert bằng cách chơi nhạc cùng hoặc cho Clara nghe. Clara đã viết trong nhật ký của bà rằng "Brahms tử tế luôn luôn cho thấy mình là một người bạn đồng cảm nhất. Anh ta không nói nhiều, nhưng người ta có thể nhìn thấy trong mắt B, anh ấy rất tử tế khi tranh thủ mọi cơ hội cổ vũ tôi bằng bất cứ điều gì liên quan đến âm nhạc. Sự hy sinh của một chàng trai trẻ như vậy tôi không thể không nhận ra, một sự hy sinh chắc chắn là bất cứ ai ở gần tôi bây giờ đều thấy rõ".
Sau đó, để giúp Clara và các con của bà, Brahms đến ở tại căn hộ ngay trên nhà Schumann trong một căn nhà ba tầng, tạm thời đẩy sự nghiệp âm nhạc của mình sang một bên. Clara đã không được phép đến thăm Robert cho đến hai ngày trước khi ông qua đời. Còn Brahms có thể đến thăm ông nhiều lần và trở thành người trung gian liên lạc. Gia đình Schumanns có một quản gia, "Bertha" tại Düsseldorf, sau đó là Elisabeth Werner tại Berlin. Ngoài ra còn có một đầu bếp thuê, ở Berlin, tên là "Josephine". Khi con gái lớn nhất của nhà Schumanns, Marie, sinh năm 1841, đến tuổi trưởng thành, cô đã tiếp quản công việc quản gia và nội trợ trong nhà. Clara thường đi lưu diễn một vài tháng liên tục, hoặc đôi khi nghỉ hè chữa bệnh, và trong ba năm 1854-1856 Brahms cũng đi lưu diễn, để lại việc nhà cho toàn bộ gia nhân. Clara đánh giá rất cao hỗ trợ tinh thần âm nhạc của Brahms.
Trong một buổi biểu diễn ở Leipzig vào tháng 10 năm 1854, Clara chơi phần Andante và Scherzo của Sonata cung Fa thứ của Brahms, "lần đầu tiên âm nhạc của Brahms đã được chơi trước công chúng".
Brahms và Clara đã có một mối quan hệ rất chặt chẽ và lâu dài nhưng không bình thường. Họ đã có tình cảm tuyệt vời với nhau, nhưng cũng tôn trọng lẫn nhau. Năm 1887 Brahms nhắc nhở Clara tất cả các thư từ giữa ông và Clara nên đem hủy đi. Trên thực tế Clara giữ khá nhiều thư Brahms đã gửi cho bà. Marie đã khuyên can bà không hủy nhiều thư Brahms đã gửi lại. Cuối cùng, các bức thư giữa Clara và Brahms đã được công bố tại Đức. Một trong số các bức thư đầu tiên của Brahms gửi cho Clara cho thấy tình yêu sâu sắc của Brahms với Clara. Thư từ Clara gửi Brahms, trừ một bức thư, cho thấy cảm tình của Clara bắt đầu muộn hơn, từ năm 1858. Các bức thư, một số đoạn trích chọn lọc, và nhật ký của Clara đã được dịch sang tiếng Anh. Bức thư trích đoạn và được dịch sớm nhất của Brahms gửi cho Clara có ngày tháng 10 năm 1854. Hans Gál cảnh báo rằng các thư từ được phổ biến ra công chúng có thể "đã trải qua kiểm duyệt trước của Clara".
Brahms cảm thấy xung đột mạnh mẽ giữa tình cảm với Clara và sự tôn trọng dành cho bà và Robert, điều này làm ông có lúc đã nghĩ đến tự tử. Không lâu sau khi Robert qua đời, Brahms đã quyết định ông phải ra khỏi gia đình Schumann. Ông đã ra đi theo một cách khá cộc cằn, để lại cảm giác bị tổn thương cho Clara. Tuy nhiên, Brahms và Clara vẫn giữ mối quan hệ qua thư từ. Ông đã cùng nghỉ hè với Clara và một số người con của bà. Năm 1862, Clara đã mua một ngôi nhà ở Lichtental, sau đó kể từ năm 1909 mua tiếp nhà ở Baden-Baden, và sống ở đó với gia đình còn lại của mình từ năm 1863 đến năm 1873. Về phần Brahms, từ năm 1865 tới năm 1874 đã dành một số thời gian nghỉ hè sống trong một căn hộ gần đó trong một ngôi nhà mà bây giờ là một bảo tàng Brahms ("Brahmshaus"). Trong những năm sau đó, Brahms xuất hiện tại nhà Clara như là một ông chú họ của Eugenie Schumann. Clara và Brahms đi một chuyến lưu diễn cùng nhau trong tháng 11 và tháng 12 năm 1868 tại Viên, sau đó vào đầu năm 1869 tới Anh và Hà Lan; tour du lịch kết thúc vào tháng 4 năm 1869. Sau khi Clara chuyển từ Lichtental đến Berlin vào năm 1873, hai người gặp nhau ít thường xuyên hơn, vì Brahms đã có nhà tại Viên từ năm 1863.
Clara lớn hơn Brahms 14 tuổi. Trong một bức thư cho bà ngày 24 tháng 5 năm 1856, hai năm rưỡi sau khi gặp Clara, và sau hai năm cùng nhau, Brahms đã viết rằng ông tiếp tục gọi Clara theo đại từ nhân xưng lịch sự của Đức "Sie" thay vì sử dụng các đại từ nhân xưng với người thân "Du" Clara đồng ý rằng họ gọi nhau là "Du"; bà viết trong nhật ký của mình: "Tôi không thể từ chối, vì thực sự tôi yêu cậu ấy như yêu con trai mình." Brahms đã viết trong bức thư đề ngày 31 tháng 5:
"Tôi ước gì có thể viết thư cho em là dịu dàng như tôi yêu em, và làm nhiều điều tốt đẹp cho em, như em muốn. Em vô cùng thân thiết với tôi đến nỗi tôi khó có thể thể hiện tình cảm đó. Tôi muốn gọi em là em yêu và rất nhiều những cái tên gần gũi khác, mà vẫn không bao giờ đủ".
Phần còn lại của bức thư, và các bức thư sau đó, có nội dung về âm nhạc và các nhạc sĩ, cập nhật về các chuyến đi và trải nghiệm của hai người. Brahms coi trọng các ý kiến có giá trị của Clara với tư cách một nhà soạn nhạc. "Không có tác phẩm nào của Brahms mà không có sự góp ý của Clara. Bà là cố vấn trung thành tận tụy của ông." Trong một bức thư gửi cho Joachim vào năm 1859, ba năm sau cái chết của Robert, Brahms đã viết về Clara:
"Tôi tin rằng tôi tôn trọng và ngưỡng mộ cô ấy nhiều như tình cảm tôi dành cho cô ấy và bị cô ấy bỏ bùa. Thường thì tôi buộc phải kiềm chế bản thân mình, chỉ lặng lẽ ôm Clara và thậm chí tôi không biết, cái ôm đó rất tự nhiên và Clara sẽ không coi nó là ý xấu."
Brahms không kết hôn với bất cứ ai, mặc dù sau đó ông vẫn có những cảm xúc cháy bỏng với nhiều phụ nữ khác, kể cả việc dự tính tiến đến đính hôn với Agathe von Siebold ở Göttingen vào năm 1859, tuy nhiên tất cả mối quan hệ này đều nhanh chóng tan vỡ. Dường như Brahms đã không kín đáo về mối quan hệ này, và điều đó đã khiến ông gặp rắc rối với bạn bè. Sau khi lễ đính hôn bị hủy, Brahms đã viết cho Agathe:. "Anh yêu em! Anh phải gặp lại em lần nữa, nhưng anh không có khả năng chịu sự ràng buộc. Hãy viết thư cho anh và nói liệu anh có thể trở lại để ôm em trong vòng tay, hôn em, và cho em biết rằng anh yêu em biết bao." Nhưng họ không bao giờ gặp nhau lần nào nữa.
Sau cái chết của Schumann tại viện điều dưỡng vào năm 1856, Brahms lui tới giữa Hamburg để xây dựng và tổ chức một dàn đồng ca nữ, và công quốc Detmold để dạy nhạc và làm nhạc trưởng. Ông là nghệ sĩ solo tại buổi ra mắt "Concerto số 1 cho piano" của mình vào năm 1859.
Năm 1862, Brahms sang sống tại Viên, khi ấy được coi là thủ đô âm nhạc của thế giới. Năm 1863 ông được bổ nhiệm làm chỉ huy ca đoàn Viên (). Mặc dù ông từ chức ngay trong năm sau đó và nghĩ đến chuyện chuyển đi thành phố khác, Brahms ngày càng gắn liền với Viên và Từ 1872-1875, Brahms là giám đốc của hội "Gesellschaft der Musikfreunde" ở Viên; kể từ sau đó ông không nhận thêm chức danh nào nữa. Ông từ chối nhận bằng tiến sĩ âm nhạc danh dự của trường Đại học Cambridge năm 1877, nhưng lại chấp nhận bằng tiến sĩ của trường Đại học Breslau năm 1879. Ông sáng tác Academic Festival Overture như một lời cảm ơn trường này.
Ở Viên, Brahms trở thành chủ tướng của những người "chống lại" Liszt và Wagner trong cái gọi là cuộc chiến giữa hai trường phái "Leipzig" và "Weimar". Thậm chí cả Hans Von Bulow, học trò lỗi lạc của Liszt và là bạn của Wagner, cũng nhảy sang phe Brahms. Bulow gọi Bản Giao hưởng số 1 của Brahms (viết năm 1876) là "bản giao hưởng thứ 10 của Beethoven". Đó là một lời nói hơi thậm xưng, nhưng nó thể hiện quan điểm của giới âm nhạc nửa cuối thế kỷ 19: tên tuổi Brahms được đặt cạnh tên của Beethoven và Bach - thần tượng của ông. Cuối đời Brahms đã nói một câu nổi tiếng: "Có 2 sự kiện lớn nhất đời tôi – đó là sự thống nhất nước Đức và việc xuất bản tuyển tập tác phẩm của Bach".
10 năm ở Viên là thời kỳ sáng tạo của Brahms đạt tới đỉnh cao huy hoàng. Trừ opera và âm nhạc theo chương trình, ông đã viết đến 380 tác phẩm thanh nhạc, 3 sonata, 5 biến tấu, 5 ballad, 3 , 3 sonata cho violin, 2 sonata cho cello và nhiều tác phẩm Tam tấu, Tứ tấu, Ngũ tấ(A-moll), Quintet cho piano (F-moll), Sonata số 3 cho violin, concerto số 2 cho piano (B-dur) - một "giao hưởng" 4 chương độc đáo có phần solo của piano. Đặc biệt với các tác phẩm giao hưởng, Brahms trở thành một trong những nhân vật lỗi lạc nhất của lịch sử âm nhạc thế giới thế kỷ 19. Giữa lúc hệ thống tư duy giao hưởng lãng mạn tưng bừng lên ngôi, ông đã đẩy tới sự hoàn chỉnh những nguyên tắc của chủ nghĩa cổ điển trong các thể tài giao hưởng. Đây chính là sự độc đáo và cống hiến lịch sử của Brahms. Thế nhưng, không giống những hậu bối của Felix Mendelssohn máy móc rập khuôn các quy luật cấu trúc và hình thức xưa cũ, Brahms sử dụng các thủ pháp giao hưởng cổ điển một cách sáng tạo để thể hiện một thế giới hình tượng lãng mạn, những tình cảm hiện đại, chất thơ, chất phóng túng của âm nhạc. Đương thời một nhà phê bình đã nói "Brahms cảm nhận bằng đầu và tư duy bằng trái tim".
Những năm nổi tiếng.
Buổi ra mắt bản hợp xướng lớn nhất của ông "A German Requiem" tại Bremen năm 1868 đã khẳng định danh tiếng của Brahms ở khắp Châu Âu, và khiến nhiều người chấp nhận rằng ông đã chinh phục được Beethoven và các bản giao hưởng. Điều này cho ông thêm tự tin để hoàn tất một số công trình mà ông đã vật lộn trong nhiều năm, chẳng hạn như cantana "Rinaldo", tứ tấu dành cho đàn dây đầu tiên, tứ tấu thứ 3 dành cho piano, và bản giao hưởng đầu tiên. Ba bản giao hưởng khác sau đó hoàn tất vào năm 1877, 1883, và 1885.
Bốn bản giao hưởng của Brahms đưa ông đến những đỉnh cao nhất của âm nhạc giao hưởng thời kỳ sau Beethoven. Giao hưởng số 4 (E-moll) kể về các khúc ngoặt bi thương của cuộc sinh tồn đầy kịch tính và tinh thần bất khuất, thuộc số những tác phẩm độc đáo và hoàn mỹ nhất của Brahms. Bản Concerto cho violin (D-dur) là một trong những concerto hay nhất thế giới viết cho violin. Brahms nói: "Sáng tác đẹp như Mozart thì chúng ta chịu, nhưng ít nhất phải cố viết được tinh khiết như ông". Vấn đề không chỉ liên quan về kỹ thuật mà còn liên quan đến cả vẻ đẹp thẩm mỹ nội dung âm nhạc Mozart. Nhạc của Brahms phức tạp, xung động hơn nhạc của Mozart, như thời đại ông với thời đại của Mozart. Nhưng Brahms theo đuổi tín điều này, vì toàn bộ hoạt động sáng tạo của ông được đặc trưng khát vọng vươn tới những lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp.
Năm 1889, Brahms được trở thành công dân danh dự của Hamburg và cho đến tận năm 1948 thì ông người gốc Hamburg duy nhất được nhận vinh dự này.
Năm 1890, ở 57 tuổi Brahms đã quyết định ngừng sáng tác. Tuy nhiên, khi những ý nhạc bật ra, ông không thể thực hiện được quyết định của mình, và trong những năm trước khi qua đời ông đã sáng tác thêm một số kiệt tác được ghi nhận. Sự ngưỡng mộ của ông đối với Richard Mühlfeld, một nghệ sĩ clarinet ở dàn nhạc Meiningen, đã gợi ý cho ông sáng tác các tam tấu clarinet, Op. 114, tứ tấu clarinet, Op. 115 (1891), và bản sonata số 2 cho clarinet, Op. 120 (1894). Ông cũng viết "Vier ernste Gesänge", Op. 121 (1896), và "Eleven Chorale Preludes" dành cho organ, Op. 122 (1896).
Sau khi hoàn thành tác phẩm Op.121, Brahms đã bị bệnh ung thư (theo nhiều nguồn khác nhau thì là ung thư gan hoặc tuyến tụy). Bệnh dần trở nặng và ông qua đời vào ngày 03 tháng 4 năm 1897, thọ 63 tuổi. Brahms được chôn trong "Zentralfriedhof" (nghĩa trang trung tâm) ở Viên.
Cuối năm 1897, sau khi Brahms vừa mất, nhà soạn nhạc người Anh Hubert Parry đã viết một bản giao hưởng ngắn "Elegy for Brahms" (tiếng Việt: "Bi khúc dành cho Brahms") để tưởng nhớ đến ông. Đối với Parry thì Brahms mãi mãi là nghệ sĩ vĩ đại nhất. Tuy nhiên bản giao hưởng này lại không được trình diễn vào lúc Parry còn sống, lần đầu tiên nó được trình diễn trước công chúng là vào năm 1918 trong 1 chương trình tưởng niệm cho chính Parry.
Âm nhạc của Brahms.
Brahms đã soạn một số công trình lớn cho dàn nhạc giao hưởng, bao gồm hai bản mộ khúc (serenade), bốn bản giao hưởng (symphony), bản concerto dành cho đàn piano số 2 (số 1 là viết trên cung Rê thứ, số 2 là viết trên cung Si giáng trưởng), một concerto cho đàn violon, một concerto đôi dành cho đàn violin và cello, và hai concerto overture: "Academic Festival Overture" và "Tragic Overture".
"Ein deutsches Requiem, nach Worten der heiligen Schrift, op. 45" (bản cầu siêu bằng tiếng Đức, ca từ trích từ Thánh kinh) là bản hợp xướng lớn của ông, tuy nhiên lời ca trong đó không phải được lấy trong nghi thức thánh lễ "Missa pro defunctis" (lễ cầu siêu), mà ông trích từ cuốn kinh thánh tiếng Đức do Martin Luther dịch. Công trình này được viết trong 3 giai đoạn chính của cuộc đời Brahms. Phiên bản đầu tiên của phần 2 được sáng tác vào năm 1854, không lâu sau lần tự tử hụt của Schumann, phần sáng tác này sau đó được Brahms sử dụng để viết concerto đầu tiên của ông dành cho đàn piano. Phần lớn bản Requiem này được ông viết sau cái chết của mẹ ông vào năm 1865. Phần 5 được bổ sung sau khi công bố chính thức vào năm 1868, tác phẩm được xuất bản vào năm 1869.
Johann Brahms chủ yếu sử dụng đàn piano của Đức và Viên. Trong những năm đầu tiên của mình, ông chơi trên một cây đàn piano của một công ty ở Hamburg, Baumgarten Heins. Năm 1856, Clara Schumann tặng ông một cây đàn piano Graf. Brahms đã sử dụng nó cho công việc của mình cho đến năm 1873. Sau đó, ông tặng nó cho ; ngày nay nó được trưng bày trong ở Viên. Sau đó, vào năm 1864, ông viết thư cho Clara Schumann về sự quan tâm của ông đối với Streicher. Năm 1873, ông nhận được cây đàn piano Streicher op.6713 và giữ nó trong nhà cho đến khi ông qua đời. Ông viết cho Clara: “Ở đó [trên chiếc Streicher] tôi luôn biết chính xác những gì tôi viết và tại sao tôi viết theo cách này hay cách khác”.
Vào những năm 1880 trong các buổi biểu diễn trước công chúng của mình, Brahms chủ yếu chơi trên một chiếc đàn piano Bösendorfer. Trong các buổi hòa nhạc Bonn của mình, ông đã chơi đàn Steinweg Nachfolgern năm 1880 và đàn Blüthner năm 1883. Brahms cũng sử dụng đàn piano Bechstein trong một số buổi hòa nhạc của mình: Wurzburg và Cologne năm 1872, và Amsterdam năm 1881.
|
Nhóm Tổng Hội Sinh Viên
Tổng Hội Sinh viên là một nhóm nhạc thời kỳ tiền chiến, được thành lập bởi nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Cùng với nhóm Đồng Vọng, Tổng Hội Sinh viên mở ra dòng nhạc hùng trong tân nhạc Việt Nam. Nhưng so với Đồng Vọng thì Tổng Hội Sinh viên manh tính chính trị nhiều hơn.
Tổng Hội Sinh viên được khởi đầu trong nhóm sinh viên ở Hà Nội trong đó sinh viên miền Nam tỏ ra nhiều khả năng văn nghệ. Tổng Hội Sinh viên chú trọng đặc biệt đến việc dùng Tân nhạc trong việc đấu tranh chính trị chống Pháp và Nhật.
Trong một bài viết về thời tiền chiến trong Tân nhạc, nhạc sĩ Lê Thương đã cho rằng: ""...Từ 1943 đến 1945 thì Tổng Hội Sinh Viên đã chế ngự phong trào Tân nhạc và gây những ảnh hưởng sâu đậm chưa từng có".
Phạm Duy viết: "Vào lúc Tân nhạc Việt Nam có thêm xu hướng mới, trong hai nhóm chủ trương nhạc hùng thì nhóm Tổng Hội Sinh Viên có nhiều tính chất chính trị hơn nhóm Đồng Vọng".
Cũng theo nhạc sĩ Phạm Duy thì khi đó bên cạnh Lưu Hữu Phước có những người mà về sau trở thành những chính trị gia như Mai Văn Bộ, Nguyễn Thành Nguyên, Huỳnh Văn Tiể
Lưu Hữu Phước cùng với nhóm sinh viên trong Tổng Hội đã tung ra nhiều ca khúc giá trị khơi dậy lòng yêu nước trong dân chúng, đặc biệt là những học sinh, sinh viên. Những ca khúc đó thường lấy đề tài lịch sử ca ngợi những chiến công, những anh hùng dân tộc, đặc biệt phải kể đến những bản nhạc của Lưu Hữu Phước. Nhiều ca khúc như "Tiếng gọi sinh viên, Hồn tử sĩ, Bạch Đằng giang, Ải Chi Lăng, Hội nghị Diên Hồng, Hờn Sông Gianh"... đã để lại dấu ấn trong lịch sử tân nhạc Việt Nam.
|
Luật việt vị (bóng đá)
Luật việt vị () là luật XI trong Luật bóng đá (Laws of the Game) được soạn thảo và công bố bởi FIFA, liên quan đến việc hạn chế khả năng giành lợi thế của cầu thủ đội tấn công bằng việc đợi bóng trong trường hợp ở giữa cầu thủ này và khung thành chỉ có thủ môn hoặc người hậu vệ cuối cùng của bên đối phương. Luật này nhằm đảm bảo chơi đẹp và liên tục, thúc đẩy sự phát triển kiểu thế chiến thuật cũng như đa dạng lối chơi trong bóng đá. Luật việt vị là một trong những luật khá khó giải thích và khó thực thi đúng đắn của trò chơi bóng đá.
Từ "việt vị" (Chữ Hán: 越位) với "việt" nghĩa là vượt qua (hay dùng trong "ưu việt"), "vị" nghĩa là vị trí. Một số người nói ngọng hay đọc sai thành "liệt vị". Trong 1 trận đấu, lỗi "việt vị" có thể có 2 cách để phát hiện:
Vị trí việt vị.
Một cầu thủ bị coi là đứng ở vị trí việt vị khi 4 điều kiện sau đồng thời thỏa mãn:
Cầu thủ đứng ở vị trí việt vị coi là phạm luật việt vị và chỉ bị xử phạt nếu ở thời điểm đồng đội chuyền bóng hoặc chạm bóng, theo nhận định của trọng tài, cầu thủ đó tham gia vào đường bóng đó một cách tích cực như:
Cầu thủ đứng ở vị trí việt vị không bị phạt nếu nhận bóng trực tiếp từ:
Phạt những vi phạm.
Khi cầu thủ vi phạm bất kỳ lỗi việt vị nào, trọng tài đều cho đội đối phương hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi xảy ra lỗi.
|
Hòn vọng phu (định hướng)
Hòn vọng phu có thể chỉ:
*Hòn vọng phu hay hòn Tô Thị ở Đồng Đăng, Lạng Sơn. Gắn liền với sự tích truyền miệng về Nàng Tô Thị, kể về một người đàn bà chờ chồng hóa thành đá. Ca dao Việt Nam có câu:
"Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa"
"Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh"
Tuy nhiên, hòn Vọng Phu nổi tiếng ở Đồng Đăng đã bị vỡ nát vào năm 1991. Sau này, một tượng bằng xi măng được đưa lên thay thế.
*Hòn vọng phu trên đỉnh núi Bà, Bình Định, Việt Nam
*Hòn vọng phu trên đỉnh núi M'drak, Đắk Lắk
*Hòn vọng phu trên đỉnh núi Nhồi, Thanh Hoá
*Hòn vọng phu bên bờ khe Giai, bản Cơ Lêc, Nghệ An. Ca dao Việt Nam có câu:
"Ngước mắt nhìn sang"
"Đá vọng phu ôm con trán ướt"
"Mắt đăm đăm nhìn nước sông G"
*Hòn vọng phu gắn liền với sự tích nàng Mạnh Khương tại Hà Bắc, Trung Quốc.
*Hòn vọng phu ở Huyện Diệp, Hà Nam, Trung Quốc.
*Hòn vọng phu ở Hồng Công.
Trang này liệt kê những bài viết liên quan đến tiêu đề .
|
Tiền chiến (trước thời kỳ chiến tranh) là một giai đoạn trong lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ 20 đến cuộc chiến Việt-Pháp năm 1946. Trong giai đoạn này, xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi. Và sau đó, cuộc chiến tranh Việt-Pháp là bước ngoặt tiếp theo gây nên một thay đổi lớn với lịch sử Việt Nam và do đó, cuộc sống người dân và văn học nghệ thuật đều bị ảnh hưởng. Nó trở thành một điểm mốc rõ rệt để phân chia khi nhìn lại lịch sử thi ca, văn học, âm nhạ
Về mặt chiết tự, "tiền" có nghĩa là trước, "chiến" ở đây chỉ cuộc chiến tranh Việt–Pháp từ năm 1945 đến năm 1954. Khái niệm "tiền chiến" thường được dùng nhiều nhất khi nói về âm nhạc: nhạc tiền chiến. Tiền chiến cũng được dùng để nói như thi nhân tiền chiến, văn học tiền chiến.
Đầu thế kỷ 20, sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam cùng với chủ nghĩa tư bản và văn hóa phương Tây đã gây ra những xáo trộn lớn trong xã hội. Đặc biệt sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Pháp đẩy mạnh việc khai thác thuộc địa. Việt Nam hình thành một giai cấp mới, giai cấp tư sản. Tầng lớp trên của xã hội này có lối sinh hoạt thành thị mới theo văn minh phương Tây với những phương tiện sinh hoạt mới và hiện đại: Họ đi ô tô, ở nhà lầu, dùng quạt điện, mặc áo vét đi giày bít, đi nghe hòa nhạc và xem
Văn hóa phương Tây với điện ảnh, các ca khúc Pháp, Mỹ, văn học lãng mạn Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc tới giới trí thức trẻ Việt Nam. Được học ở các trường Pháp như Quốc học Huế, Trường Bưởi, Petrus Ký rồi Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dươ, yêu thích văn hóa Pháp. Họ nghe nhạc phương Tây, không thích đàn tranh, đàn bầu, đàn nhị mà tập chơi mandoline, ghi-ta và hơn nữa là violon, piano.
Nhiều giá trị bền vững của Nho học bị giới trẻ coi thường, thậm chí còn mang ra chỉ trích.
Tiền chiến là thời kỳ đánh dấu bằng những sự thay đổi lớn trong văn học Việt Nam. Những cuốn tiểu thuyết đầu tiên được hình thành và nhanh chóng được yêu thích. Ở miền Nam cuối thế kỷ 19 đã có "Truyện thầy Lazaro Phiền" của Nguyễn Trọng Quản, tiếp đó đầu thế kỷ 20 xuất hiện "Hoàng Tố Oanh hàm oan" (1910) của Trần Chánh Chiếu, "Ai làm được" (1922) của Hồ Biểu Chá, năm 1925 Hoàng Ngọc Phách với tiểu thuyết "Tố Tâm" kể về mối tình Đạm Thủy, Tố Tâm đã gây sóng gió trong giới học sinh, sinh viên thành thị.
Đầu thập niên 1930, Tự Lực văn đoàn được Nhất Linh cùng Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu, Trần Tiêu thành lập và trở thành đại diện tiêu biểu cho văn học lãng mạn Việt Nam với các tiểu thuyết "Hồn bướm mơ tiên", "Đời mưa gió", "Nửa chừng xuân", "Đoạn tuyệt", "Bướm trắng"... Đây cũng là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của văn học hiện thực phê phán với "Số đỏ", "Giông tố" của Vũ Trọng Phụng; "Chí Phèo", "Sống mòn", "Lão Hạc" của Nam Cao, "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố...
Ở lĩnh vực thi ca, các nhà thơ trẻ nhận ra vần luật, niêm luật của Nho gia đã quá gò bó trong việc thể hiện cảm xúc, tình cảm của mình. Thơ mới xuất hiện chấp dứt sự thống lĩnh của thơ Đường. Ảnh hưởng bởi những Rimbaud, Verlaine, Baudelaire, các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính đã làm nên cuộc cách mạng trong thi ca Việt Nam.
Cũng giống như Thơ mới, Tân nhạc với ảnh hưởng mạnh mẽ của âm nhạc châu Âu đã xuất hiện. Từ yêu thích các ca khúc nước ngoài, những thanh niên yêu nhạc tập chơi guitare, violon và cùng nhau bắt đầu sáng tác. Từ những "bài ta theo điệu tây" của các nghệ sĩ cải lương Tư Chơi, Bảy Nhiê, Văn Chung, Dương Thiệu Tước, Lê Yên bắt đầu viết các ca khúc theo phong cách mới.
Những cuộc biểu diễn và thuyết trình của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên vào năm 1938 ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định đã đánh dấu sư ra đời của Tân nhạc. các bài hát mới này nhanh chóng phổ biến và được giới trẻ ái mộ đón nhận. Những nhạc sĩ tài năng đã để lại dấu ấn của mình với các ca khúc như "Trương Chi", "Thiên Thai" của Văn Cao; "Con thuyền không bến", "Giọt mưa thu" của Đặng Thế Phong; "Hòn vọng phu" của Lê Thương. Dòng nhạc tiền chiến này còn tiếp tục sau 1945 và cả sau 1954 ở miền Nam.
Theo chân những người Pháp, điện ảnh sớm du nhập vào Việt Nam ngay từ cuối thế kỷ 19. Từ đầu thế kỷ 20, nhiều rạp chiếu phim được xây dựng. Điện ảnh trở thành một món giải trí của người dân, nhưng chỉ tập trung chủ yếu ở thành thị và hầu hết là các bộ phim châu Âu. Năm 1923, xuất hiện bộ phim Việt Nam đầu tiên "Kim Vân Kiều" do người Pháp thực hiện với các diễn viên Việt Nam. Năm 1925, ông Nguyễn Lan Hương, chủ tiệm ảnh Hương Ký ở Hà Nội thực hiện những bộ phim đầu tiên.
Cuối năm 1937, An Nam Nghệ sĩ đoàn, một tập hợp các thanh niên yêu điện ảnh ở Hà Nội đã hợp tác với Hồng Kông thực hiện những bộ phim nói đầu tiên của Việt Nam là "Cánh đồng ma" và "Trận phong ba". Ở Sài Gòn, Hãng phim châu Á cũng sản xuất "Trọn với tình", hãng Việt Nam Phim có "Một buổi chiều trên sông Cửu Long".
Với đặc thù riêng đòi hỏi tài chính, công nghệ và kỹ thuật, nền điện ảnh Việt Nam thời kỳ tiền chiến không giành được những thành công như Tân nhạc và Thơ mới. Khái niệm điện ảnh tiền chiến cũng không tồn tại.
"Antebellum" trong tiếng La Tinh cũng có nghĩa là "trước chiến tranh". Trong lịch sử Hoa Kỳ, từ "Antebellum" thường được dùng để chỉ giai đoạn phân chia Nam-Bắc dẫn tới cuộc nội chiến ở nước này vào năm 1861. Từ này có thể được bắt đầu từ đạo luật Kansas-Nebraska năm 1854 dẫn tới việc hình thành hai tiểu bang Kansas và Nebraska trong lãnh thổ Hoa Kỳ khi đó. Cũng có thể nó xuất hiện sớm hơn vào năm 1812.
|
Trống đồng Đông Sơn
Trống đồng Đông Sơn là một loại trống đồng tiêu biểu cho Văn hóa Đông Sơn (thế kỷ 7 TCN - thế kỷ 6 CN) của người Việt cổ. Những chiếc trống này với quy mô đồ sộ, hình dáng cân đối, hài hoà đã thể hiện một trình độ rất cao về kỹ năng và nghệ thuật, đặc biệt là những hoa văn phong phú được khắc họa, miêu tả chân thật đời sống sinh hoạt của con người thời kỳ dựng nước mà người ta vẫn cho là chìm trong đám mây mù của truyền thuyết Việt Nam. Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã lưu giữ một số lớn trống đồng Đông Sơn. Cho đến nay, theo các số liệu đã tạo thành bộ sưu tập trống đồng lớn nhất thế giới. Ngôi sao nhiều cánh ở giữa mặt trống tượng trưng cho thần Mặt Trời vì người dân Văn Lang quan niệm về một vị thần có liên quan đến Mặt Trời.
Công dụng trống đồng.
Nhìn chung chức năng chủ yếu của trống đồng vẫn là chức năng của một nhạc khí. Đánh vào vành 1-3 được nốt Si giáng; ở vành 4-5 được nốt Mi và Fa; ở vành 7 cũng được nốt Si giáng. Từ vành 9 trở ra lại trở lại nốt Mi (theo kết quả ghi âm của Cao Xuân Hạo)
Trống Đồng còn tượng trưng cho quyền lực của các vị thủ lĩnh ngày xưa. Các vị vua thưởng cho các tù trưởng người dân tộc những chiếc trống đồng. Điều đó thể hiện uy quyền của nhà nước đối với các vùng tự trị, tự do tương đối. Theo Hậu Hán thư (後漢書 - một cuốn chính sử của Trung Quốc), Mã Viện, tướng nhà Hán đã dập tắt cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng vào khoảng năm 40-43, đã thu và nấu chảy trống đồng của các thủ lĩnh địa phương. Điều đó cũng cho thấy ý nghĩa chính trị của trống đồng Đông Sơn những ngày này.
Tên gọi theo phân loại.
Trong năm 1902, nhà nghiên cứu F. Heger đã xuất bản tập sách "Những trống kim khí ở Đông Nam Á" đã chủ trương chia trống đồng thành bốn loại chính, gọi tắt là HI, HII, HIII và HIV, theo thứ tự từ cổ nhất đến gần đây nhất. ("Xem bài chính Hệ thống phân loại trống"). Trống đồng Đông Sơn của Việt Nam được xếp vào loại HI.
Trống đồng Đông Sơn được phân loại theo sự phân bố của những hình khắc và hoa văn trên trống:
Gồm 6 trống: Ngọc Lũ , Hoàng Hạ, Sông Đà, Khai Hóa, Bản Thôm và Quảng Xương.
Gồm 8 trống: Miếu Môn, Vũ Bị, Đồi Ro, Làng Vạc I, Làng Vạc II, Pha Long, Phú Xuyên và Quảng Trị.
Nhóm này chiếm số lượng nhiều nhất, gồm 26 trống: Duy Tiên, Yên Tập, Ngọc Lũ II, Phú Duy, Núi Gôi, Việt Khê, Làng Vạc III, Làng Vạc IV, Định Công I, Định Công II, Định Công III, Cửu Cao, Mật Sơn, Thiết Cương, Phương Tú, Pắc Tà, Giải Tất, Bình Phủ, Hà Nội, Hoằng Vinh, Vĩnh Ninh, Đông Sơn I, Đông Sơn II, Đông Sơn III, Đông Sơn IV, Đào Thịnh, Phú Khánh
Gồm 11 trống: Hữu Chung, Đông Hiếu, Đa Bút, Phú Phương I, Phú Phương II, Nông Cống, Thôn Bùi, Chợ Bờ, Đắc Glao, Thôn Mống, Hàng Bún.
Ngoài ra còn có nhiều trống minh khí có kích thước nhỏ, trên trống lại có rất ít hoa văn trang trí nên không được đưa vào hệ thống phân loại trên.
Tháng 8 năm 2004, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã tổ chức kỷ niệm 80 năm văn hóa Đông Sơn xuất lộ với nhiều hoạt động trưng bày hiện vật, trong đó có việc trưng bày các loại trống đồng Đông Sơn.
Danh sách trống đồng Đông Sơn.
"Xem bài chính Danh sách một số trống đồng Đông Sơn nổi tiếng"
Văn hóa, xã hội Lạc Việt theo hình thức trống.
Kinh tế và văn hoá vật chất.
Trống đồng Đông Sơn là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp phát triển. Việc phát hiện ra những lưỡi cày đồng và những hình bò được khắc trên thân trống chứng tỏ thời kỳ này đã biết sử dụng sức kéo động vật vào canh tác nông nghiệp. Ngoài ra, các nghề đánh cá, săn bắn, chăn nuôi gia súc và sản xuất thủ công cũng phát triển trong thời kỳ này.
Phần lớn những nơi phát hiện có trống phân bố dọc theo triền những con sông lớn ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Trống có thể đã được phân phối bằng đường thủy.
Ngoài ra, trong xã hội Lạc Việt có tồn tại sự bất bình đẳng về tài sản. Điều này được phản ánh rõ ràng trong sự phân bố những hiện vật tuỳ táng ở các ngôi mộ người giàu và người nghèo thuộc thời đại đồ đồng.
Quần áo được tả trên trống có các loại như: áo hai vạt ngắn, áo hai vạt dài, váy, khố...Họ đội nhiều loại mũ, tết các kiểu tóc khác nhau.
Dựa theo những hình khắc trên trống đồng cho thấy có hai loại hình kiến trúc là nhà sàn mái cong và nhà sàn mái tròn. Nhà có 2 cột chống ở phía đầu nhà, hai đầu và ở giữa có kê thang để lên sàn. Nhà mái tròn thường có một người (hoặc không có người) đứng giữa cửa, hai bên của có chắn phên. Nhà mái tròn có thể liên quan đến tín ngưỡng và tạm gọi là "nhà thờ". Còn những ngôi nhà có mái cong như hình thuyền lại có nhiều người có thể liên hệ rằng đó là "nhà ở". Hai góc mái có những đường hồi hoa văn trang trí. Có thể nói nhà sàn là loại hình kiến trúc chủ yếu của người Lạc Việt.
Có tượng hình chó trên mặt trống nhỏ Đông Sơn, tượng cóc trên mặt các trống nhóm C. Hình tượng còn rất sơ lược nhưng nếu so sánh với thời đại hậu kỳ đồ đá mới có nghệ thuật vẫn chỉ là dạng hoa văn minh họa, thì chúng ta mới thấy bước tiến bộ về mặt nghệ thuật cũng như về kỹ thuật điêu khắc ở thời đại đồ đồng.
Trên trống đồng, những người múa thường được phục trang bằng những bộ quần áo như: mũ lông chim cao hoặc mặt nạ, tay đôi khi cầm vũ khí. Mỗi tốp người múa thường có từ 3,4 hoặc 6 đến 7 người. Trong tốp này có người thổi tù và, còn những người còn lại biểu diễn theo một động tác thống nhất, chuyển động từ trái sang phải, người sau nối tiếp người trước một quãng đều đặn, tất cả diễu hành vòng quanh ngôi sao (mặt trời).
Theo hình khắc trên trống đồng cho thấy có hai loại nhạc khí được sử dụng bấy giờ là trống. Có hai cách sử dụng trống:
Nghệ thuật tạo hình.
Nghệ thuật trống đồng khá độc đáo, đặc trưng bởi kỹ thuật khắc chạm trên khuôn tạo ra những hình ảnh khắc chìm chủ yếu trên mặt trống, còn trên thân trống thì là hình khắc hơi nổi. Nghệ nhân đã xây dựng hình ảnh trong những bố cục tròn trên mặt trống và ô chữ nhật trên thân trống, bên trong loại bố cục này thì hình ảnh được sắp xếp rất cân đối. Hình ảnh con người luôn được diễn tả theo tư thế động: múa, giã gạo, đánh trống, bơi chả, tất cả người, động vật đều diễu hành quanh ngôi sao giữa mặt trống. Đặc biệt, phần tạo hình ở đây hơi giống kiểu tạo hình Ai Cập. Ví dụ: tốp người múa trên mặt trống có ngực hướng thẳng về phía khán giả, chân và đầu theo lối nhìn nghiêng. Còn trong hình chim bay thì thân cánh và đuôi được tả theo hình nhìn từ trên xuống, còn đầu thì theo lối nhìn nghiêng.
Trống đồng Đông Sơn với xã hội Vua Hùng Vương.
Những trống đồng Đông Sơn đầu tiên đã xuất hiện vào những thế kỷ 6 TCN và thế kỷ 7 TCN trên địa bàn miền Bắc Việt Nam ngày nay, thuộc thời kỳ Hùng Vương. Nhưng lịch sử về thời đại các vua Hùng còn đang được giới sử học tranh luận chưa ngã ngũ vì chưa tìm được "dấu ấn" của vua Hùng. Những hình khắc trên trống đồng Đông Sơn giờ đây có thể nói lên phần nào xã hội thời bấy giờ.
Theo "truyền thuyết trăm trứng" và "Đẻ đất đẻ nước", 50 người con về đồng bằng trở thành tổ tiên người Việt, 47 người di cư lên miền núi trở thành tổ tiên các dân tộc miền núi, còn lại 3 người từ những trứng nở đầu tiên tên là Tá Cần, Tá Kài và cô nàng Kịt, ba người sống chung với : 9 trai và 9 gái. Họ trở thành lang và chia nhau đi coi các bản mường. Con số 18 khá quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước người Lạc Việt, giống như số 60 của người Babylon ở Lưỡng Hà hay số 20 của người Maya cổ.
Nghiên cứu số lượng chim trên các vành chim bay (chim vật tổ của người Lạc Việt) chúng ta nhận thấy phần lớn mỗi vành đều có 18 chim. Điều đặc biệt là trên mặt trống đồng Sông Đà, người nghệ nhân do lúc đầu sơ ý đã chia nhầm thành 17 cung bằng nhau, khi khắc đến hình chim thứ 16 thì chỉ còn một đoạn, do đó đã phải cố khắc hai con chim vào vành cuối này cho đủ số lượng là 18 con. Có thể nghĩ rằng con số 18 đời Hùng Vương là 18 dòng họ đầu tiên, kết hợp với nhau trong liên minh bộ lạc Văn Lang.
|
Mộ Đức là một huyện đồng bằng nằm ở phía đông nam tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam.
Mộ Đức là huyện đồng bằng trọng điểm lúa của tỉnh Quảng Ngãi. Có Quốc lộ 1, Quốc lộ 24 và đường sắt Thống Nhất chạy qua. Nghề chính xưa nay vẫn là nghề nông, công thương nghiệp truyền thống có một số làng nghề đáng chú ý và ngày nay đang được đẩy mạnh. Mộ Đức là quê hương của nhà chính trị, nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng.
Huyện Mộ Đức nằm ở phía đông tỉnh Quảng Ngãi, có vị trí địa lý:
Địa bàn huyện tựa như một hình tam giác, nhọn hẹp ở phía bắc, phình rộng ở phía nam. Diện tích tự nhiên của huyện là 212,23 km², dân số là 144.230 người, mật độ dân số đạt 680 người/km².
Cư dân huyện Mộ Đức chủ yếu là người Kinh, năm 2005 chỉ có 36 người Hrê sống ở phía tây xã Đức Phú. Xưa kia có một số người Hoa đến buôn bán, sinh sống ở Lạc Phố. Cư dân chủ yếu sống bằng nghề nông, kết hợp với đánh cá, làm nghề thủ công, buôn bán.
Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Quảng Ngãi – Hoài Nhơn đi qua đang được xây dựng.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ ở huyện có biên độ dao động thấp, quanh giá trị trung bình hàng năm là 27,5độ C. Thời tiết luôn biến đổi bất thường, làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân.
Về tự nhiên, huyện Mộ Đức là dải đồng bằng ven biển, có núi cao ở phía tây như núi Lớn (Đại Sơn), núi Giàng, có các đồi sót ở rải rác trong huyện như núi Long Phụng, núi Điệp, núi Vom, núi Văn Bân, núi Ông Đọ, núi Thụ, núi Long Hồi. Chạy dọc ở phía bắc có sông Vệ (làm ranh giới với huyện Tư Nghĩa), từ sông Vệ có có chi lưu là sông Thoa chảy theo hướng đông nam, qua vùng trung tâm huyện. Từ tây sang đông, Mộ Đức có 4 kiểu địa hình, lần lượt là: vùng cao, vùng trung bình, vùng thấp, doi cát ven biển.
Bờ biển Mộ Đức dài 32 km, nhưng là bãi ngang, chỉ có cửa Lở mở lấp hằng năm.
Đồng bằng Mộ Đức khá màu mỡ, thích hợp với cây lúa nước và nhiều giống cây trồng khác, tuy nhiên một số vùng hay bị úng ngập, nhất là dọc phía đông Quốc lộ 1. Đất gò đồi ở Mộ Đức có nhiều đá ong, có đất cao lanh, ở Tú Sơn, Thạch Trụ có suối khoáng.
Huyện Mộ Đức có 13 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Mộ Đức (huyện lỵ) và 12 xã: Đức Chánh, Đức Hiệp, Đức Hòa, Đức Lân, Đức Lợi, Đức Minh, Đức Nhuận, Đức Phong, Đức Phú, Đức Tân, Đức Thắng, Đức Thạnh; chia thành 69 thôn và tổ dân phố.
Đời nhà Hồ, Mộ Đức có tên là huyện Khê Cẩm thuộc châu Nghĩa, một trong bốn châu của lộ Thăng Hoa (tức Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay). Đời Lê, Mộ Đức có tên là huyện Mộ Hoa bao gồm rẻo đất từ nam sông Vệ đến hết đèo Bình Đê (giáp giới với tỉnh Bình Định ngày nay).
Đời Lê, huyện Mộ Hoa có 53 xã, thôn. Đến đời Nguyễn, năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), vì kỵ huý, huyện Mộ Hoa phải đổi lại là Mộ Đức, tuy địa giới vẫn như trước, nhưng có đến 6 tổng với 175 xã thôn. Sáu tổng ở Mộ Đức là Quy Đức, Cảm Đức, Triêm Đức, Ca Đức, Lại Đức, Tri Đức.
Từ cuối thế kỷ XIX (dưới thời Pháp thuộc), các tổng, xã phía nam tách lập châu rồi huyện Đức Phổ, các xã phía bắc - tây bắc nhập vào huyện Nghĩa Hành.
Năm 1932, huyện Mộ Đức đổi là phủ Mộ Đức.
Sau năm 1945, huyện Mộ Đức mang tên là huyện Nguyễn Bá Loan (tên một chí sĩ yêu nước trong phong trào Cần vương, Duy tân), sau đó lấy lại tên cũ, các tổng được bãi bỏ, các xã cũ hợp lại thành xã mới lớn hơn và trực thuộc huyện.
Sau nhiều lần điều chỉnh, huyện Mộ Đức có 11 xã: Đức Nhuận, Đức Thắng, Đức Chánh, Đức Hiệp, Đức Minh, Đức Thạnh, Đức Tân, Đức Hòa, Đức Phú, Đức Phong, Đức Lân.
Trong thời kỳ chính quyền Sài Gòn kiểm soát, huyện Mộ Đức đổi tên là quận Mộ Đức, kể từ giữa 1958, đổi tên các xã và thành lập xã mới, vẫn giữ chữ "Đức" ở đầu: xã Đức Nhuận đổi là xã Đức Quang; xã Đức Thắng chia thành hai xã Đức Phụng và Đức Hải; xã Đức Chánh đổi là xã Đức Hoài; xã Đức Hiệp đổi là xã Đức Thọ; xã Đức Minh đổi là xã Đức Lương; xã Đức Thạnh đổi là xã Đức Phước; xã Đức Tân đổi là xã Đức Vinh; xã Đức Hòa đổi là xã Đức Thạch; xã Đức Phú đổi là xã Đức Sơn; xã Đức Phong đổi là xã Đức Thuận; xã Đức Lân đổi là xã Đức Mỹ.
Phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng vẫn gọi theo tên xã có từ thời kháng chiến chống Pháp. Riêng xã Đức Hải do chính quyền Sài Gòn thành lập, từ ngày 11 tháng 3 năm 1966, đặt tên là xã Đức Lợi.
Sau năm 1975, huyện Mộ Đức thuộc tỉnh Nghĩa Bình, gồm 12 xã: Đức Chánh, Đức Hiệp, Đức Hòa, Đức Lân, Đức Lợi, Đức Minh, Đức Nhuận, Đức Phong, Đức Phú, Đức Tân (trung tâm huyện), Đức Thắng và Đức Thạnh.
Ngày 12 tháng 3 năm 1987, thành lập thị trấn Đồng Cát (thị trấn huyện lỵ huyện Mộ Đức) trên cơ sở tách thôn 2 (trừ xóm Cây Gạo), thôn 4 (trừ xóm Chùa), thôn 5 và thôn 6 (xã Đức Tân).
Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Quảng Ngãi được tái lập từ tỉnh Nghĩa Bình, huyện Mộ Đức thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 1 tháng 10 năm 1992, chuyển thôn 4 thuộc thị trấn Đồng Cát về lại xã Đức Tân quản lý (trừ sân vận động và 1,8 ha vùng Gò Giàng), đồng thời sáp nhập 17 ha đất ruộng phía đông bắc cầu Bà Trà, 214 ha đất màu vùng Đá Bàn phía tây kênh nam sông Vệ và diện tích vùng núi lớn (lấy ranh giới là đường phân thủy từ đỉnh Lỗ Tây xuống phía nam hồ Đá Bàn) thuộc xã Đức Tân vào thị trấn Đồng Cát (sau khi điều chỉnh địa giới hành chính) và đổi tên thành thị trấn Mộ Đức.
Huyện Mộ Đức có 1 thị trấn và 12 xã như hiện nay.
Về kinh tế, Mộ Đức là huyện trọng điểm lúa của tỉnh Quảng Ngãi. Nghề nông từ xưa đến nay vẫn là ngành sản xuất chính, một nguồn sống quan trọng của nhân dân trong huyện, trong khi tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao và góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế, cải biến cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng tiến bộ.
Nông lâm ngư nghiệp:Tính đến năm 2005, trong số trên 144.500 người dân của Mộ Đức, có đến trên 113.000 người sống bằng nghề nông, lâm và ngư nghiệp (chủ yếu là nghề nông) với gần 55.500 lao động (so với 12.500 lao động trong các nghề khác), chiếm khoảng 5/6 tổng số lao động của toàn huyện. Trừ xã Đức Lợi chủ yếu sống bằng ngư nghiệp, các xã khác hầu hết dân số đều sống bằng nghề nông. Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản là 397,803 tỉ đồng (giá trị hiện hành 2005), trong đó nông nghiệp chiếm đến 309,399 tỉ đồng (trồng trọt 229,029 tỉ đồng, chăn nuôi 69,162 tỉ đồng), các dịch vụ nông nghiệp trên 11,208 tỉ đồng, lâm nghiệp trên 5,554 tỉ đồng, thủy sản gần 82,850 tỉ đồng.
Ngành chăn nuôi được chú ý phát triển, trong đó chủ yếu là chăn nuôi gia súc, gia cầm như trâu, bò, heo, gà, vịt, dê...
|
Ba Tơ là một huyện miền núi nằm ở phía tây nam tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam.
Huyện Ba Tơ nằm ở phía tây nam của tỉnh Quảng Ngãi, có vị trí địa lý:
Diện tích tự nhiên của huyện là 113.669,52 ha, lớn nhất trong các đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Quảng Ngãi và chiếm hơn 1/5 diện tích toàn tỉnh. Dân số của huyện năm 2008 là 49.766 người, chủ yếu gồm các dân tộc: Kinh và H're.
Huyện Ba Tơ có 19 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 1 thị trấn và 18 xã:
Sau năm 1975, huyện Ba Tơ thuộc tỉnh Nghĩa Bình, gồm 14 xã: Ba Bích, Ba Dung, Ba Trung, Ba Điền, Ba Dinh, Ba Đình, Ba Động, Ba Lế, Ba Nam, Ba Ngạc, Ba Tiêu, Ba Trang, Ba Vinh, Ba Xa.
Ngày 12 tháng 3 năm 1987:
Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Quảng Ngãi được tái lập từ tỉnh Nghĩa Bình, huyện Ba Tơ thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 26 tháng 12 năm 1990:
Ngày 1 tháng 8 năm 1993:
Ngày 23 tháng 6 năm 1999, thành lập xã Ba Khâm trên cơ sở 5.150 ha diện tích tự nhiên và 1.247 nhân khẩu của xã Ba Trang.
Ngày 10 tháng 3 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 20/2003/NĐ-CP. Theo đó, điều chỉnh 1.019 ha diện tích tự nhiên của xã Phổ Phong thuộc huyện Đức Phổ về xã Ba Liên thuộc huyện Ba Tơ quản lý.
Sau khi điều chỉnh, xã Ba Liên thuộc có 4.112 ha diện tích tự nhiên và 935 người. Huyện Ba Tơ có 113.254 ha diện tích tự nhiên và 46.449 người.
Ngày 23 tháng 12 năm 2008, thành lập xã Ba Giang trên cơ sở điều chỉnh 5.419,82 ha diện tích tự nhiên và 1.521 nhân khẩu của xã Ba Dinh.
Ngày 1 tháng 2 năm 2020, giải thể xã Ba Chùa, địa bàn sáp nhập vào thị trấn Ba Tơ và xã Ba Dinh.
Huyện Ba Tơ có 1 thị trấn và 18 xã như hiện nay.
Cơ cấu kinh tế huyện Ba Tơ được xác định gồm: nông - lâm nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ. Năm 2004, nông, lâm nghiệp chiếm 71,9%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 13,3%, thương mại - dịch vụ chiếm 14,8%; tổng giá trị sản xuất năm 2004 là 159 tỷ đồng. Năm 2005, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp 125,700 tỷ đồng, trong khi giá trị sản xuất công nghiệp là 16,161 tỷ đồng.
Huyện nổi tiếng về đội du kích Ba Tơ và cuộc khởi nghĩa Ba Tơ. Di tích cuộc khởi nghĩa Ba Tơ đã được Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam xếp hạng. Bảo tàng Ba Tơ trưng bày những hiện vật liên quan đến cuộc khởi nghĩa. Huyện còn có làng dệt thổ cẩm nổi tiếng (làng Teng). Từ đây có quốc lộ 24A đi Tây Nguyên, Lào và Campuchia.
Ba Trang là xã nơi bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã hy sinh.
Hồ Núi Ngang là công viên giải trí của địa phương, là nơi đăng cai lễ hội đua thuyền truyền thống tỉnh Quảng Ngãi vào năm 2006.
Tên của huyện được đặt cho một cây cầu, một con đường và một khu dân cư tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
|
Lý Sơn là một huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam.
Trước đây, Lý Sơn được gọi là Cù lao Ré, theo cách lý giải của dân gian là “cù lao có nhiều cây Ré”. Hòn đảo là vết tích còn lại của một núi lửa với 5 miệng, được hình thành cách đây khoảng 25-30 triệu năm. 5 ngọn núi là nguồn giữ các mạch nước ngầm chính cung cấp nguồn nước cho toàn bộ người dân trên đảo.
Huyện Lý Sơn là huyện đảo được tách ra từ huyện Bình Sơn của tỉnh Quảng Ngãi theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam năm 1992 và trở thành huyện đảo tiền tiêu từ khi đó. Nói về huyện đảo này, nhân dân địa phương có ca dao thủy trình:
"Trực nhìn ngó thấy Bàn Than"
"Ba hòn lao Ré nằm ngang Sa Kỳ."
Huyện đảo nằm về phía đông bắc tỉnh Quảng Ngãi, cách đất liền 15 hải lý.
Diện tích của huyện Lý Sơn là 10,39 km², dân số năm 2019 là 22.174 người, mật độ dân số đạt 2.134 người/km². Gồm 2 đảo: đảo Lớn (Lý Sơn, hoặc gọi cù lao Ré), đảo Bé (cù lao Bờ Bãi) ở phía bắc đảo Lớn và hòn Mù Cu ở phía đông của đảo Lớn.
Vào cuối kỷ Neogen (là một kỷ địa chất của đại Tân Sinh) đầu đệ Tứ, cách ngày nay khoảng 25 - 30 triệu năm, đảo Lý Sơn được hình thành di sự kiến tạo địa chấn với sự phun trào nham thạch của núi lửa. Hiện nay trên đảo có 5 hòn núi đều là chứng tích của núi lửa đã phun trào. Sự phun trào và tắt đi của núi lửa đã tạo nên những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú trên đảo. Chúng còn trải trên bề mặt đảo ở phía nam một lớp đất bazan màu mỡ thích hợp cho nhiều loại cây trồng, đồng thời còn tạo nên những rạn đá ngầm là điều kiện tốt cho các loài thủy tộc sinh sống.
Các dấu vết khảo cổ từ thời văn hóa Sa Huỳnh có từ sớm hơn 200 năm trước công nguyên đã được tìm thấy trên đảo.
Vào nửa đầu thế kỷ 17, Chúa Nguyễn tổ chức Hải đội Hoàng Sa lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ra quần đảo Hoàng Sa thâu lượm hàng hóa, khí cụ trên các tàu mắc cạn và đánh bắt hải sản quý hiếm mang về dâng nộp.
Danh sách các cai đội, suất đội thủy quân nhà Nguyễn được cử đi thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa:
Trong chiến tranh Việt Nam, Lý Sơn là địa điểm mà Hải quân Hoa Kỳ đặt trạm ra đa để quan sát hoạt động của tàu thuyền dọc theo bờ biển Việt Nam. Ngày nay các trạm radar, như trạm rađa tầm xa N50, của Hải quân Việt Nam vẫn hoạt động trên đảo này.
Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Quảng Ngãi được tái lập từ tỉnh Nghĩa Bình, huyện Bình Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 1 tháng 1 năm 1993, thành lập huyện đảo Lý Sơn theo Quyết định số 337-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng trên cơ sở tách 2 xã Lý Hải và Lý Vĩnh thuộc huyện Bình Sơn.
Ngày 1 tháng 12 năm 2003:
Cuối năm 2019, huyện Lý Sơn có 3 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã: An Bình, An Vĩnh và An Hải.
Ngày 10 tháng 1 năm 2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 867/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Quảng Ngãi (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 2 năm 2020). Theo đó, giải thể toàn bộ 3 xã An Bình, An Vĩnh và An Hải để thực hiện chính quyền một cấp trên địa bàn huyện Lý Sơn.
Trước đây, huyện Lý Sơn được chia làm 3 xã: An Vĩnh, An Hải, An Bình.
Hiện nay, huyện Lý Sơn không phân chia thành các đơn vị hành chính cấp xã, thay vào đó chính quyền cấp huyện trực tiếp quản lý về mọi mặt.
Kinh tế - xã hội.
Người dân trên đảo sống nhờ vào đánh bắt hải sản và trồng tỏi. Tuy nhiên, việc khai thác cát ven bờ biển để trồng tỏi và hành đã gây ra những thiệt hại không nhỏ do hiện tượng xâm thực.
Từ tháng 9/2014 ở Lý Sơn đã được kéo cáp ngầm vượt biển cung cấp điện lưới quốc gia cho hai đảo là An Vĩnh và An Hải (đảo Lớn) góp phần nâng cao đời sống của bà con trên đảo, kèm theo các dịch vụ nhà hàng khách sạn, ăn uống phát triển theo, huyện đảo đang hướng tới là một đảo du lịch trong tương lai.
Ngày 22/01/2016, Công ty Điện lực Quảng Ngãi đã chính thức cấp điện cho 116 hộ dân trên đảo An Bình (đảo Bé)
Dự án Khu đô thị thương mại dịch vụ The Sea Eyes.
Dự án do Công ty CP phát triển Lý Sơn, được thành lập từ ngày 5.12.2018, xin chủ trương đầu tư chỉ 5 ngày sau khi hoạt động và lập tức được ông Trần Ngọc Căng - Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi ký “thẩm định, trình phê duyệt dự án”. Trong tổng diện tích 54,65ha, Dự án này đều nằm trên thềm lục địa - vũng nước cạn ở phía nam đảo Lý Sơn, kéo dài 2,5 km; phần diện tích còn lại cũng rất sát mép biển.
Với quy mô và vị trí như vậy, người dân lo sợ dự án sẽ bồi lấp, tàn phá một diện tích khá lớn (gần bằng diện tích dự án) thềm lục địa mà ở đó là rạn san hô, rong, cỏ biển nằm trong Khu vực phục hồi và tiếp giáp Khu vực bảo vệ nghiệm ngặt của Khu bảo tồn biển Lý Sơn đang được triển khai nhiều năm trước đó. Nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia về địa chất, bảo tồn biển cũng bày tỏ thêm quan ngại nếu dự án được triển khai sẽ ảnh hưởng đến diện mạo địa chất của đảo Lý Sơn.
Tỉnh Quảng Ngãi đã khai trương tuyến du lịch "biển đảo Lý Sơn" vào ngày 28 tháng 4 năm 2007. Du khách từ thành phố Quảng Ngãi đi theo quốc lộ 24B về cảng Sa Kỳ, sau đó ra đảo bằng tàu cao tốc và thuê xe máy để đến các di tích trên đảo. Khi lưu trú trên đảo, du khách sẽ được thưởng thức các món hải sản và các đặc sản gỏi tỏi, gỏi cá cơm, rong biển trộn (rau cum cúm), cháo nhum (cầu gai)...
Từ đảo lớn khách du lịch lại có thể đi cano sang đảo bé để tắm và bơi tại bãi dừa. Nước biển tại đây trong và sóng lặng.
Trên đảo có bốn di tích quốc gia: đình làng An Vĩnh (di tích liên quan đến hải đội Hoàng Sa bên trên), đình làng An Hải, Âm linh tự (nơi thờ cúng oan hồn, cô hồn và phối thờ tử sĩ Hoàng Sa - Trường Sa), Chùa Hang. Các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh cũng đã được tìm thấy trên đảo, như suối Chình, xóm Ốc và đặc biệt là các dấu vết của văn hóa Chăm Pa. Và 24 chùa, am.
Ngày 13 tháng 7 năm 2007, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã ra quyết định công nhận Tuyến du lịch biển đảo Lý Sơn gồm các điểm du lịch tại huyện Lý Sơn theo các tuyến: Chùa Hang, Đình làng An Hải, Chùa Đục, Miệng núi Lửa, di tích lịch sử Hải đội Hoàng Sa - Trường Sa, Âm linh tự và một số nhà cổ tại huyện Lý Sơn.
Huyện đảo được mệnh danh là "Vương quốc tỏi" vì sản phẩm tỏi có hương vị đặc biệt. Các hàm lượng chất có trong tỏi luôn cao hơn tỏi được trồng ở những nơi khác.
|
Lục Vân Tiên (chữ Nôm: 蓼雲仙) là một tác phẩm truyện thơ Nôm của Nguyễn Đình Chiểu, được sáng tác theo thể lục bát vào đầu những năm 50 của thế kỷ 19. Đây là một trong những sáng tác có vị trí cao của văn học Việt Nam. Bản chữ Quốc ngữ lần đầu tiên được in chung với bản dịch tiếng Pháp của Abel des Michels với tiêu đề "Lục Vân Tiên ca diễn: les poèmes de l'Annam" xuất bản năm 1883 tại Paris.
"Truyện Lục Vân Tiên" (mà người miền Nam thường gọi là "thơ Lục Vân Tiên") là một cuốn tiểu thuyết về luân lý, cốt bàn đạo làm người với quan niệm "văn dĩ tải đạo". Tác giả muốn đem gương người xưa mà khuyên người ta về cương thường – đạo nghĩa.
"Truyện Lục Vân Tiên" được viết bằng thể lục bát. Vì được in nhiều lần nên có nhiều văn bản khác nhau, có khi thêm bớt cả nghìn câu thơ. Theo văn bản thường dùng hiện nay, truyện có 2082 câu thơ lục bát, kết cấu theo lối chương hồi.
Tóm tắt nội dung.
Lục Vân Tiên quê ở huyện Đông Thành, khôi ngô tuấn tú, tài kiêm văn võ. Nghe tin triều đình mở khoa thi, Vân Tiên từ giã thầy xuống núi đua tài. Trên đường về nhà thăm cha mẹ, gặp bọn cướp Phong Lai đang hoành hành, chàng đã một mình đánh tan bọn cướp, cứu được Kiều Nguyệt Nga. Cảm ân đức ấy, Nguyệt Nga tự nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên và tự tay vẽ một bức hình chàng giữ luôn bên mình. Còn Vân Tiên tiếp tục cuộc hành trình, gặp và kết bạn với Hớn Minh, một sĩ tử khác.
Sau khi về nhà thăm cha mẹ, Vân Tiên cùng tiểu đồng lên đường đi thi, ghé thăm Võ Công, người đã hứa gả con gái là Võ Thể Loan cho chàng. Từ đây, Vân Tiên có thêm người bạn đồng hành là Vương Tử Trực, tới kinh đô lại gặp Trịnh Hâm, Bùi Kiệm. Thấy Vân Tiên tài cao, Trịnh Hâm và Bùi Kiệm sinh lòng đố kị, ghen ghét. Lúc sắp vào trường thi, Vân Tiên nhận được tin mẹ mất, liền bỏ thi trở về quê chịu tang. Dọc đường về, Vân Tiên đau mắt nặng rồi bị mù cả hai mắt, lại bị Trịnh Hâm lừa đẩy xuống sông. Nhờ giao long dìu đỡ đưa vào bãi, Vân Tiên được gia đình ông ngư cứu mạng. Sau đó, chàng lại bị cha con Võ Công hãm hại đem bỏ vào hang núi Thương Tòng. Được Du thần và ông Tiều cứu ra, Vân Tiên may mắn gặp lại Hớn Minh (vì trừng trị cậu công tử con quan ỷ thế làm càn mà Hớn Minh phải bỏ thi, sống lẩn tránh trong rừng). Hớn Minh đón Vân Tiên về an dưỡng bệnh. Khoa thi năm ấy Tử Trực đỗ thủ khoa, trở lại nhà họ Võ hỏi thăm tin tức Vân Tiên. Võ Công ngỏ ý muốn gả Thể Loan, bị Tử Trực cự tuyệt và mắng thẳng vào mặt, Võ Công hổ thẹn ốm chết.
Nghe tin Lục Vân Tiên đã chết, Kiều Nguyệt Nga thề sẽ thủ tiết suốt đời. Thái sư đương triều hỏi nàng cho con trai không được, đem lòng thù oán, tâu vua bắt Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua. Thuyền đi tới biên giới, nàng mang theo bức hình Vân Tiên nhảy xuống sông tự tử. Phật Bà Quan Âm đưa nàng dạt vào vườn hoa nhà họ Bùi. Bùi Công nhận nàng làm con nuôi, nhưng Bùi Kiệm lại một hai đòi lấy nàng làm vợ. Nguyệt Nga phải trốn khỏi nhà họ Bùi, vào rừng, nương tựa một bà lão dệt vải.
Lục Vân Tiên ở với Hớn Minh, được tiên cho thuốc, mắt lại sáng, liền trở về nhà thăm cha, viếng mộ mẹ, thăm cha của Kiều Nguyệt Nga. Đến khoa thi, chàng đỗ Trạng nguyên và được nhà vua cử đi dẹp giặc Ô Qua. Hớn Minh được tiến cử làm phó tướng. Đánh tan giặc, Vân Tiên một mình lạc trong rừng, đến nhà bà lão hỏi thăm đường và gặp lại Nguyệt Nga. Chàng về triều tâu hết sự tình, kẻ gian ác bị trừng trị, người nhân nghĩa được đền đáp, Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga sum vầy hạnh phúc.
Tư tưởng chủ đạo.
Mục đích chính của Nguyễn Đình Chiểu khi viết tác phẩm "Lục Vân Tiên" là để truyền dạy đạo lý làm người:
Đạo lý đó có thể thâu tóm ở mấy điểm sau:
"Lục Vân Tiên" là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Đình Chiểu, truyện thơ Nôm mang tính chất là truyện để kể nhiều hơn là truyện để đọc và để xem. Truyện có kết cấu ước lệ gần như đã thành khuôn mẫu. Tác phẩm khắc họa thành công những phẩm chất đẹp đẽ của hai nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga.
Đương thời, truyện "Lục Vân Tiên" đã chịu ảnh hưởng và có ảnh hưởng trở lại khá lớn đến tính cách hồn hậu của người dân Nam Kỳ. Một số tôn giáo đặc trưng ở Nam Kỳ cũng được xem là chịu ảnh hưởng một phần của phong cách Lục Vân Tiên như Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Đạo Ông Trần. Hiện nay, ngay phía sau khu chính điện (nơi Ông Trần thường ngồi giảng đạo) vẫn còn lưu giữ bộ ảnh (chữ Nôm) truyện Lục Vân Tiên (trước vẽ trên lụa, sau được vẽ trên kính).
Cho đến bây giờ, truyện "Lục Vân Tiên" vẫn giữ được vị trí của nó trong nền văn học Việt Nam. Với ngôn ngữ bình dân gần gũi nên mọi tầng lớp trong xã hội đều nhớ thuộc lòng có khi cả bài thơ. Ảnh hưởng của nó còn lan rộng ra cả toàn quốc, được lưu truyền dưới hình thức sinh hoạt văn hóa như "kể thơ", "nói thơ Vân Tiên", "hát Vân Tiên" ở Nam Kỳ và Nam Trung Kỳ.
Năm 1957, Tống Ngọc Hạp đã đạo diễn và sản xuất phim điện ảnh "Lục Vân Tiên" với hoa hậu Thùy Trang (Công Thị Nghĩa) trong vai Kiều Nguyệt Nga. Đây là phim màu đầu tiên của điện ảnh Việt Nam.
Năm 2004, "Lục Vân Tiên" đã được đạo diễn Phương Điền dựng thành phim truyền hình "Lục Vân Tiên" với sự tham gia của Chi Bảo vai Lục Vân Tiên, Hồng Ánh vai Kiều Nguyệt Nga, Trương Ngọc Ánh vai Võ Thể Loan, Mỹ Uyên vai Kim Liên, Kim Thư vai Hoài Như, Nguyên Vũ vai Vương Tử Trực, Quyền Linh vai Hớn Minh, Cao Minh Đạt vai Trịnh Hâm, Phước Sang vai Bùi Kiệm, Long Hải vai Lục ông, Ánh Hoa vai Lục bà, Quang Minh vai Bùi Công, Nguyễn Hậu vai Võ Công, Kim Tín vai Võ Bà, NSƯT Trần Minh Ngọc vai Kiều Công, Thân Thúy Hà vai Ngọc Điệp, Hoàng Nhân vai Cốt Đột, Phương Điền vai Phong Lai, Bảo Trung vai Vua nước Việt.
Năm 2017, Sân khấu kịch Idecaf đã cho ra mắt vở nhạc kịch Tiên Nga do NSƯT Thành Lộc biên soạn.
|
Đức Phổ là một thị xã ven biển nằm ở phía nam tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam.
Thị xã Đức Phổ nằm ở phía đông nam tỉnh Quảng Ngãi, cách thành phố Quảng Ngãi 48 km về phía nam, có vị trí địa lý:
Thị xã Đức Phổ có diện tích 372,76 km², dân số năm 2019 là 150.927 người, mật độ dân số đạt 405 người/km².
Đức Phổ đã trở thành một cái tên quen thuộc với nhiều người; là nơi công tác, chiến đấu, hy sinh của liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm qua cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm và đặc biệt là nền văn hóa Sa Huỳnh đã trở thành một thuật ngữ của ngành khảo cổ học. Đức Phổ còn là quê hương của Nguyễn Nghiêm, Trần Đức Lươ
Điều kiện tự nhiên.
Địa hình thị xã Đức Phổ khá phức tạp, đa dạng, bị chia cắt mạnh, núi và đồng bằng xen kẽ, một số nhánh núi của dãy Trường Sơn chạy ra tận bờ biển. Có 3 dạng địa hình:
Trên địa bàn thị xã Đức Phổ rải rác có các đồi núi như: núi Dâu, núi Cửa, một phần núi Lớn (núi Dầu Rái), núi Giàng, núi Bé, núi Xương Rồng, núi Chóp Vung, núi Nga, núi Mồ Côi, núi Diêm, núi Giàng Thượng, núi Giàng Hạ, núi Sầu Đâu, núi Khỉ, núi Chà Phun, núi Là
Sông lớn nhất là sông Trà Câu, số còn lại chỉ là sông suối nhỏ bắt nguồn từ huyện Ba Tơ chảy về với đặc điểm chung là diện tích lưu vực hẹp, sông nhỏ, lòng dốc.
Vùng dốc dọc sông Trà Câu, trên địa phận các xã Phổ Phong, Phổ Thuận, Phổ Văn, Phổ An, Phổ Quang có đồng bằng tương đối rộng, là vùng trọng điểm sản xuất lúa của Đức Phổ. Vùng đất nam sông Trà Câu đến núi Dâu và từ núi Dâu đến đèo Bình Đê chỉ có đồng bằng nhỏ hẹp, bị chia cắt, không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Đức Phổ có bờ biển dài trên 40 km, có 2 cửa biển Mỹ Á và Sa Huỳnh, là đầu mối giao thông đường thủy và là tụ điểm của nghề cá, đánh bắt và nuôi trồng hải sản.
Ở dọc ven biển phía đông nam Đức Phổ có hai đầm lớn là đầm Lâm Bình và đầm An Khê. Đây cũng là hai đầm đáng kể nhất trong toàn tỉnh Quảng Ngãi. Đầm An Khê xưa còn gọi là đầm Cẩm Khê hay Phú Khê, nổi tiếng có nhiều cá (cá Phú Khê - ngạn ngữ).
Đức Phổ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa mưa nắng rõ rệt, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8. Có 2 mùa gió chính là gió mùa đông với hướng gió thịnh hành là tây bắc đến bắc và gió mùa hạ với hướng gió chính là đông đến đông nam. Tốc độ gió trung bình 2 – 4 m/s, nhiệt độ trung bình trong năm là 25,8 °C. Lượng mưa cả năm đạt 1.915mm. Trên biển trung bình hằng năm có 135 ngày gió mạnh (cấp 6 trở lên) gây ảnh hưởng đến thời gian đi biển của ngư dân, nhất là vào các tháng từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau.
Địa bàn Đức Phổ nằm trong huyện Khê Cẩm đời nhà Hồ, Mộ Hoa đời nhà Lê và Mộ Đức đời nhà Nguyễn. Năm 1890, vua Thành Thái cho cắt những xã "Thượng bạn" thuộc huyện Mộ Đức, đặt ra châu Đức Phổ trực thuộc nha Sơn phòng Nghĩa Định. Năm 1899 cắt 3 tổng Cảm Đức, Trí Đức, Triêu Đức gồm 79 xã, thôn thuộc tổng Quy Đức huyện Mộ Đức, sáp nhập vào Đức Phổ, đổi châu làm huyện trực thuộc tỉnh. Huyện Đức Phổ có 3 tổng: Phổ Cẩm, Phổ Tri, Phổ Văn, gồm 78 xã, thôn.
Huyện Đức Phổ đổi tên thành huyện Nguyễn Nghiêm, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn đổi lại là Đức Phổ. Các tổng cũng có sự đổi tên: tổng Phổ Cảm đổi là tổng Trần Kha, tổng Phổ Tri đổi là tổng Huỳnh Lầu, tổng Phổ Vân đổi là tổng Phan Bằng (tên các nhà yêu nước địa phương). Nhưng cũng chỉ sau một thời gian ngắn thì quay lại tên cũ và xóa bỏ luôn cấp tổng. Đức Phổ được hoạch định lại đơn vị hành chính với 13 xã đều lấy chữ Phổ làm đầu: Phổ Phong, Phổ Thuận, Phổ Văn, Phổ Quang, Phổ An, Phổ Nhơn, Phổ Ninh, Phổ Hòa, Phổ Minh, Phổ Vinh, Phổ Khánh, Phổ Cường, Phổ Thạnh. Dưới xã là các thôn. Các thôn thường lấy lại tên làng xã cũ.
Kể từ Hiệp định Genève 1954, sau khi tiếp quản đến năm 1958, chính quyền Sài Gòn thành lập quận Đức Phổ, đổi tên gọi các xã, đặt hai xã mới, tổng cộng có 15 xã, vẫn lấy chữ Phổ ở đầu, nhưng đổi tên chữ sau:
Chính quyền cách mạng vẫn gọi là huyện Đức Phổ và các tên xã như cũ. Riêng 2 xã Phổ Hiệp, Phổ Châu do chính quyền Sài Gòn tách lập vẫn được dùng và cũng được gọi là Phổ Hiệp, Phổ Châu.
Sau 30 tháng 4 năm 1975, huyện Đức Phổ thuộc tỉnh Nghĩa Bình vẫn giữ nguyên địa giới hành chính với 12 xã như thời Pháp thuộc, bao gồm: Phổ An Quang, Phổ Cường, Phổ Hòa, Phổ Khánh, Phổ Minh, Phổ Nhơn, Phổ Ninh, Phổ Phong, Phổ Thạnh, Phổ Thuận, Phổ Văn và Phổ Vinh.
Ngày 24 tháng 3 năm 1979, chia xã Phổ An Quang thành 2 xã: Phổ An và Phổ Quang.
Ngày 12 tháng 3 năm 1987, thành lập thị trấn Đức Phổ (thị trấn huyện lỵ huyện Đức Phổ) trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích và dân số của 3 xã: Phổ Hòa, Phổ Minh và Phổ Ninh.
Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Quảng Ngãi được tái lập từ tỉnh Nghĩa Bình, huyện Đức Phổ thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 23 tháng 6 năm 1999, thành lập xã Phổ Châu trên cơ sở 1.985 ha diện tích tự nhiên và 4.675 nhân khẩu của xã Phổ Thạnh.
Ngày 10 tháng 3 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 20/NĐ-CP. Theo đó, điều chỉnh 1.019 ha diện tích tự nhiên của xã Phổ Phong thuộc huyện Đức Phổ về xã Ba Liên thuộc huyện Ba Tơ quản lý.
Sau khi điều chỉnh, xã Phổ Phong còn lại 5.407 ha diện tích tự nhiên và 9.177 người, huyện Đức Phổ còn lại 37.167 ha diện tích tự nhiên và 147.427 người.
Ngày 2 tháng 2 năm 2016, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 99/QĐ-BXD về việc công nhận thị trấn Đức Phổ mở rộng (gồm thị trấn Đức Phổ và 6 xã) đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV.
Ngày 28 tháng 12 năm 2018, Bộ xây dựng quyết định công nhận toàn huyện Đức Phổ (gồm thị trấn Đức Phổ và 14 xã thuộc huyện Đức Phổ) là đô thị loại IV.
Cuối năm 2019, huyện Đức Phổ có 15 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, gồm thị trấn Đức Phổ (huyện lỵ) và 14 xã: Phổ An, Phổ Châu, Phổ Cường, Phổ Hòa, Phổ Khánh, Phổ Minh, Phổ Nhơn, Phổ Ninh, Phổ Phong, Phổ Quang, Phổ Thạnh, Phổ Thuận, Phổ Văn, Phổ Vinh.
Ngày 10 tháng 1 năm 2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 867/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Quảng Ngãi (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 2 năm 2020). Theo đó:
Sau khi thành lập, thị xã Đức Phổ có 8 phường và 7 xã như hiện nay.
Thị xã Đức Phổ có 15 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 8 phường: Nguyễn Nghiêm, Phổ Hòa, Phổ Minh, Phổ Ninh, Phổ Quang, Phổ Thạnh, Phổ Văn, Phổ Vinh và 7 xã: Phổ An, Phổ Châu, Phổ Cường, Phổ Khánh, Phổ Nhơn, Phổ Phong, Phổ Thuận.
Đức Phổ xuất phát từ kinh tế nông ngư lạc hậu, song có điều kiện tự nhiên và xã hội để phát triển kinh tế khá toàn diện. Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá nhanh, nhưng nông, lâm, ngư nghiệp (chủ yếu là nông nghiệp) vẫn chiếm tỷ trọng khá cao. Các ngành kinh tế cơ bản như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ngày càng phát triển, nhưng vẫn chưa chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế Đức Phổ dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ, giảm tỷ trọng nông - ngư - lâm nghiệp. Tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp từ 58,3% năm 2000, năm 2004 giảm còn 52,4%, đến năm 2015 giảm còn 10.9%. Ngành thương mại - dịch vụ từ 20,7% năm 2000 lên 25,7% năm 2004, đến 2015 đạt 39,6%. Ngành công nghiệp - xây dựng từ 20,8% năm 2000 tăng lên 25,7% năm 2004, đến 2015 đạt 49,5%.
Đến năm 2005, nông - lâm - ngư nghiệp vẫn là lĩnh vực kinh tế quan trọng nhất của Đức Phổ, tổng giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản là 975.579 triệu đồng, trong đó thủy sản chiếm đến 370.667 triệu đồng, kế đến là nông nghiệp 247.034 triệu đồng, lâm nghiệp 11.442 triệu đồng. Xét về lao động thì toàn huyện Đức Phổ năm 2005 có 81.460 người, trong đó lao động ở ngành nông lâm nghiệp là 56.261 người, ở ngành thủy sản là 8.538 người, công nghiệp và xây dựng là 7.191 người, dịch vụ là 9.470 người.
Đến năm 2015, tổng giá trị sản xuất toàn huyện đạt 7356,9 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7 % so với năm 2014.Trong đó:
- Nông lâm thủy sản đạt 803,4 tỷ đồng (chiếm 10,9%)
- Thương mại dịch vụ đạt 2.915 tỷ đồng (chiếm 39,6%)
Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 50 triệu đồng/ người, tăng 25% so với năm 2014.
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên ở Đức Phổ không thuận lợi như một số huyện khác trong tỉnh Quảng Ngãi cho sản xuất nông nghiệp, nhất là về độ phì nhiêu của đất đai và vấn đề nguồn nước tưới. Trước năm 1945, nghề nông ở Đức Phổ có phương thức sản xuất lạc hậu, ruộng đất phần lớn tập trung trong tay địa chủ phong kiến. Nghề nông trong thời kỳ này mang nặng tính chất tự cấp, tự túc. Theo Quảng Ngãi tỉnh chí (Nam Phong tạp chí, 1933) của Nguyễn Bá Trác và các tác giả thì ở thời điểm này Đức Phổ có 13.244 mẫu 8 sào điền, 3.856 mẫu 9 sào thổ, trong đó có đất lúa 10.084 mẫu (3.630,24ha), thu hoạch hằng năm được 6.280 tấn lúa trong tổng số 44.070 tấn của toàn tỉnh. Năm 1932, Đức Phổ có 600 mẫu đất mía, 600 mẫu đất trồng khoai sắn. Toàn huyện có 21 đập, tưới cho tổng diện tích khoảng 4.970 mẫu, lớn nhất là đập Vực Tre ở xã An Ninh tưới cho khoảng 500 mẫu, đập Liên Chiểu (ở Kim Giao), đập Làng (ở Diên Trường), đập Đồng Nghê (ở Nho Lâm và Hiển Văn), đập Đồng Đồ (ở Hòa Thịnh, Đông Ôn), đập Lâm Bình (ở Hiển Tây, Thanh Hiếu) mỗi đập tưới 400 mẫu.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nông dân được chia ruộng đất, nghề nông đã có những chuyển đổi mới. Nông dân trồng lúa và các loại cây lương thực khác, bên cạnh đó còn trồng bông, dệt vải, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Trong kháng chiến chống Mỹ, về cơ bản nghề nông ở Đức Phổ vẫn phát triển như trước kia. Riêng về thủy lợi có những bước thay đổi về tưới tiêu, nhờ có các loại máy bơm thay cho việc tưới thủ công trước đây. Đồng ruộng cũng phần nào có máy móc thay cho sức kéo trâu, bò. Nhờ những thay đổi đó mà năng suất lúa và hoa màu có sự gia tăng nhất định.
Nông nghiệp Đức Phổ từ 1975 - 2005 phát triển trong điều kiện đất nước hòa bình thống nhất. Ruộng đất được chia đều cho nông dân đã thúc đẩy sản xuất phát triển. Từ 1975 - 1985 hình thành các hợp tác xã nông nghiệp, ruộng đất được đưa vào hợp tác để sản xuất chung, nhưng do cách tổ chức chưa phù hợp nên nông nghiệp không phát triển, đời sống của nông dân còn thấp và gặp nhiều khó khăn. Năm 1981 khi cơ chế "khoán 100" ra đời, sau đó là "khoán 10" được thực hiện, ruộng đất được giao khoán cho nông dân thì nông nghiệp đã có bước phát triển, đời sống của người nông dân được nâng cao rõ rệt. Hiện nay, nông nghiệp ở Đức Phổ phát triển khá toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa. Ngành chăn nuôi được đẩy mạnh. Hệ thống tưới tiêu như hồ Liệt Sơn, hồ Núi N, mở rộng, hệ thống kênh mương nội đồng Thạch Nham được xây dựng và ngày càng hoàn thiện nhằm đảm bảo diện tích tưới tiêu chủ động cho việc phát triển sản xuất và vật nuôi, cây trồng trên địa bàn huyện.
Tính ở thời điểm năm 2005, sản lượng lương thực có hạt của Đức Phổ đạt 52.412 tấn (trong đó hầu hết là lúa), bình quân lương thực đầu người đạt 342 kg/người/năm(6). Về cây công nghiệp, mía có diện tích 1.512,5ha, sản lượng đạt 73.351 tấn, cây mì có diện tích 1.282ha, năng suất đạt 197,1 tạ/ha, sản lượng 25.265 tấn. Cây đậu phụng có diện tích gieo trồng là 306ha, năng suất bình quân 13,9 tạ/ha, sản lượng 426 tấn.
Trong chăn nuôi, năm 2005 Đức Phổ có đàn trâu 1.234 con, đàn bò 29.469 con, lợn 58.817 con. Trâu nuôi nhiều nhất ở xã Phổ Cường (635 con), các xã Phổ Văn, Phổ Thuận, Phổ Phong (đều trên 100 con); bò nuôi nhiều ở các xã Phổ Khánh (3.578 con), Phổ Phong (2.850 con), Phổ Thuận (2.765 con); lợn nuôi nhiều nhất ở các xã Phổ Ninh (6.700 con), Phổ Văn (6.530 con), Phổ Khánh (6.460 con), Phổ Thạnh (5.570 con).
Xa xưa ở Đức Phổ phát triển một cách tự nhiên. Rừng có diện tích khá lớn, động thực vật, lâm sản khá phong phú. Những sản phẩm của rừng phần lớn phục vụ nhu cầu sinh hoạt của con người. Trong kháng chiến chống Mỹ, rừng bị tàn phá nhiều, động thực vật cũng còn lại rất ít. Ngày nay, lâm nghiệp được chú trọng và ngày càng phát triển tốc độ trồng rừng, như phủ xanh đất trống đồi núi trọc được đẩy mạnh, đặc biệt là rừng phòng hộ ven biển và các dự án trồng rừng đã và đang được triển khai có kế hoạch. Năm 2003, diện tích rừng phòng hộ của Đức Phổ tại 4 xã là 1.839ha. Diện tích rừng trồng mới là 300ha. Dự án trồng rừng KFW6 đang được triển khai. Năm 2004, trồng 856ha, chăm sóc rừng 800ha, trong đó có 100ha rừng phòng hộ. Sản lượng gỗ rừng trồng khai thác cả năm là 25.200m3, độ che phủ rừng là 21%. Tính đến năm 2005, trồng rừng 500ha, chăm sóc rừng 1.459ha, khoanh nuôi rừng tái sinh 2.246ha.
Đức Phổ có bờ biển khá dài và có hai cửa biển, thuận lợi cho ngư nghiệp phát triển. Ngư nghiệp xưa nay được xem là một thế mạnh của thị xã. Từ xưa, nghề cá luôn đóng một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế của nhân dân Đức Phổ. Từ sau năm 1975, ngư nghiệp Đức Phổ đã được phát triển hơn trước, trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của ngành thủy sản Quảng Ngãi nói chung. Bên cạnh việc đánh bắt và chế biến hải sản, ngư nghiệp còn có thêm một số nghề mới như: nuôi trồng thủy sản, nuôi tôm trên cát, nuôi cá nước ngọt trên các hồ nước. Năm 2003, toàn huyện có 690 tàu đánh cá, sản lượng khai thác là 31.545 tấn cá, tôm, cua, hải sản khác, diện tích nuôi trồng thủy sản là 75ha, sản lượng nuôi trồng là 431,7 tấn. Năm 2004, sản lượng thủy sản khai thác là 36.300 tấn; năm 2005 tăng lên 42.000 tấn, trong đó xã Phổ Thạnh chiếm 26.463 tấn, xã Phổ Quang 5.071 tấn, còn lại là các xã Phổ Vinh, Phổ Châu, Phổ An. Năm 2005, Đức Phổ có số tàu đánh cá 1.050 chiếc với tổng công suất là 87.195CV, trong đó xã Phổ Thạnh cao tuyệt đối với 671 chiếc có tổng công suất 66.308CV, xã Phổ Quang có 195 chiếc với tổng công suất 8.824CV, còn lại 4 xã khác (Phổ An, Phổ Khánh, Phổ Châu, Phổ Vinh) số tàu đều dưới 100 chiếc và tổng công suất đều dưới 700CV. Ngành nuôi trồng thủy sản ở Đức Phổ cũng nổi trội trong toàn tỉnh Quảng Ngãi. Diện tích nuôi trồng thủy sản 304,3ha, trong đó diện tích nuôi tôm là 94,3ha (diện tích nuôi tôm trên cát 46,6ha, gấp 2,3 lần năm 2003). Sản lượng thủy sản nuôi trồng là 515 tấn, trong đó tôm 410 tấn. Việc nuôi cá lồng ở các hồ, đầm ở các xã có hiệu quả. Năm 2005, ngành nuôi trồng thủy sản vẫn tiếp tục phát triển, với diện tích 381ha, sản lượng 1.181 tấn hải sản, chủ yếu là tôm. Các xã nuôi thủy sản mạnh nhất là Phổ Quang (diện tích 60,2ha tôm, sản lượng 489,4 tấn), Phổ Khánh 91,7ha (có 31,7ha tôm, sản lượng 280,7 tấn), Phổ Vinh, Phổ An, Phổ Minh, Phổ Hòa, Phổ Thạnh(8). Thủy sản là một ngành kinh tế mũi nhọn của Đức Phổ. Đức Phổ luôn đứng đầu về sản lượng thủy sản so với các huyện khác, có số tàu thuyền cao nhất. Trong tổng giá trị sản xuất thủy sản năm 2005, thì đánh bắt vẫn chiếm tỷ lệ vượt trội so với nuôi trồng (285,455 tỷ đồng so với 85,092 tỷ đồng), mặc dù ngành nuôi trồng thủy sản cũng khá phát triển.
Sa Huỳnh là nơi sản xuất muối lớn nhất ở Quảng Ngãi. Năm 1932 có 7.000 tấn muối được xuất cảng ra nước ngoài và nhiều nơi trong nước. Hiện nay, Đức Phổ có 100ha ruộng muối, có khả năng sản xuất từ 10 - 15 nghìn tấn trong năm. Song do chưa tìm được thị trường tiêu thụ, giá cả không ổn định, quy trình làm muối bị đánh giá không đảm bảo chất lượng nên sản lượng muối sản xuất chỉ dừng ở mức 7.500 tấn (2004), 8.000 tấn (2005). Diêm dân làm muối ở Sa Huỳnh gặp rất nhiều khó khăn và đứng trước nguy cơ bỏ làm muối vì giá muối rất thấp (Năm 2016, 1 kg muối giá 200 đồng).
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
Đức Phổ có nhiều cụm công nghiệp, làng nghề, như làng muối Sa Huỳnh,khu công nghiệp Phổ Phong, cụm công nghiệp Sa Huỳnh, cụm công nghiệp Đồng Làng. Nghề thủ công cổ truyền đã có từ xưa ở Đức Phổ như: nghề dệt ở Thạch Bi (Sa Huỳnh); nghề gốm ở Thanh Hiếu, Chỉ Trung; nghề mộc, nghề đan võng ở Hội An, Mỹ Thuận; nghề bạc bịt tháp, chén khay đĩa ở Chỉ Trung. Ở vùng biển có các nghề: làm cá khô, tôm khô, mực khô, nước mắm, đan lưới, đánh nhợ ở Sa Huỳnh. Ngoài ra còn có các nghề như: nghề nấu đường thủ công, nghề làm bún, làm bánh tráng. Ngày nay có nhiều nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp như: sản xuất vật liệu xây dựng, gạch ngói, đá chẻ, đá hoa, đóng và sửa chữa tàu thuyền. Tiểu thủ công nghiệp phát triển các làng nghề: làm chổi đót ở Phổ Phong, Phổ Thuận, Phổ Văn; làm gốm ở Phổ Khánh. Ở xã Phổ Phong đã hình thành khu công nghiệp. Tại Phổ Phong có nhà máy đường có công suất trên 1.000 tấn/ngày, nhà máy gạch ngói Phổ Phong sản xuất 14 triệu viên/năm(đã ngừng hoạt động do thua lỗ).
Năm 2004, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của Đức Phổ đạt 225,076 tỷ đồng, trong đó khu vực ngoài quốc doanh đạt 128,752 tỷ đồng, tàu thuyền đóng mới 30 chiếc, sản lượng muối ráo đạt 7.500 tấn, sản xuất đá xây dựng đạt 74.600m3, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện 97%. Năm 2005, giá trị sản lượng công nghiệp tăng lên 302,670 tỷ đồng, trong đó khu vực kinh tế ngoài nhà nước chiếm 192,623 tỷ đồng. Sản xuất công nghiệp cá thể có 2.209 cơ sở với 5.820 lao động.
Mục tiêu từ năm 2006 - 2010, Đức Phổ sẽ ưu tiên xây dựng 3 vùng kinh tế động lực: phát triển trung tâm thị trấn Đức Phổ lên đô thị loại IV để thành lập thị xã Đức Phổ, xây dựng vùng kinh tế văn hóa Sa Huỳnh và khu công nghiệp Phổ Phong, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của Đức Phổ nói riêng, của tỉnh Quảng Ngãi nói chung.
Thương mại - dịch vụ.
Việc buôn bán xưa ở Đức Phổ thường diễn ra ở các chợ, như chợ Trà Câu, chợ Cây Chay, chợ Bàu Cối, chợ Giếng Thí, chợ Sa Huỳnh. Việc mua bán lúc bấy giờ mang tính tự cấp, tự túc trong một khu vực, ít mang yếu tố buôn bán chuyên nghiệp. Cũng có một số người đi buôn núi, lên giao lưu trao đổi hàng hóa với bà con người Hrê trên nguồn Ba Tơ và một số người sắm ghe bầu đi buôn vào Nam, ra Bắc.
Thương mại ngày nay phát triển nhờ hệ thống các chợ xã, có ba trung tâm thương mại của huyện là thị trấn Đức Phổ, thị tứ Sa Huỳnh (ở phía nam) và thị tứ Trà Câu (ở phía Bắc).
Năm 2004, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ của Đức Phổ đạt 487,6 tỷ đồng, năm 2005 là 580,25 tỷ đồng. Toàn huyện có 4.452 cơ sở kinh doanh thương mại, dịch vụ (trong đó có 2.492 cơ sở bán lẻ) với 5.172 lao động. Một đề án phát triển thương mại - dịch vụ - du lịch sẽ được thực hiện trong thời gian đến, giúp dịch vụ du lịch phát triển đúng hướng và phát huy được tiềm năng, đạt hiệu quả cao nhất trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
Địa bàn thị xã Đức Phổ từng có lớp cư dân cổ là chủ nhân của nền Văn hóa Sa Huỳnh (niên đại cách nay 2.500 - 3.000 năm). Lớp cư dân này sống ở ven biển bằng nghề chài lưới và một số ít làm ruộng. Tiếp theo cư dân Văn hóa Sa Huỳnh, thị xã Đức Phổ còn có cư dân Chămpa, lớp cư dân này tiếp tục sống ở ven biển và cụm lại theo từng xóm nhỏ. Một số nơi trong thị xã ngày nay còn rải rác một số mộ của người Chăm xưa và dấu tích còn lại duy nhất của người Chăm trên mảnh đất này là bi ký Chăm ở khu phố Thạnh Đức 1, phường Phổ Thạnh.
Cư dân Việt định cư trên địa bàn thị xã Đức Phổ từ khá sớm (thế kỷ XV - XVI). Họ sống chủ yếu bằng nghề nông, ngư nghiệp, diêm nghiệp, buôn bán, mang đặc trưng của văn hóa vùng ven.
Thị xã Đức Phổ có dân số, mật độ dân số trung bình so với các huyện đồng bằng của tỉnh Quảng Ngãi. Tính đến năm 2005, số dân, mật độ dân số các xã, phường như sau:
Thống kê cho thấy có sự chênh lệnh khá lớn về dân số, mật độ dân số trên địa bàn thị xã, do sự chi phối của địa hình, điều kiện tự nhiên hơn là do nghề nghiệp.
Về dân số, đông dân nhất là các phường Phổ Thạnh, Phổ Ninh và các xã Phổ Cường, Phổ Khánh, Phổ Thuận, Phổ An.
Về mật độ dân số, ngoài phường Nguyễn Nghiêm tập trung cao về mật độ, thì phường Phổ Văn và xã Phổ Thuận thuộc hạng cao nhất nhưng lại là các xã, phường sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Các xã, phường có dân số sống bằng ngư nghiệp là chính, như: Phổ Thạnh, Phổ Quang, Phổ Vinh, Phổ An tuy mật độ dân số có cao nhưng không cao nhất như thường thấy, bởi trên địa bàn phần nhiều là đồi núi, dân số sống tập trung theo từng khu vực nhỏ. Các xã Phổ Phong, Phổ Nhơn và phường Phổ Hòa có mật độ dân số khá thấp cũng vì đất đai trồng trọt ít và đồi núi chiếm phần lớn diện tích tự nhiên.
Thị xã Đức Phổ có đường Thiên Lý Bắc - Nam, sau này là Quốc lộ 1 chạy qua, dọc theo chiều dài của thị xã; có Quốc lộ 24 nối từ Quốc lộ 1 lên tỉnh Kon Tum chạy qua thị xã ở khu vực xã Phổ Phong; đường sắt Bắc - Nam song song với Quốc lộ 1. Xưa kia, các phương tiện giao thông đường thủy có sông Trà Câu thông thương miền xuôi với miền ngược, tuy nhiên hiện nay vì lòng sông cạn nên khá hạn chế. Có hai cửa biển Mỹ Á và Sa Huỳnh là đấu mối giao thông đường thủy quan trọng, đồng thời là tụ điểm của nghề cá.
Hiện nay, thị xã Đức Phổ đang thực hiện bêtông hóa giao thông nông thôn. Năm 2004, cơ bản hoàn thành thi công 18 tuyến đường ở các xã với tổng chiều dài 17,9 km. Đường huyện đã nhựa cứng được 51,6 km, đường xã được nhựa cứng hóa 33,06 km. Về kiên cố hóa kênh mương, năm 2004 xây dựng 6 tuyến kênh với chiều dài 6,231 km, góp phần phục vụ cho việc phát triển sản xuất của nhân dân thị xã.
Trước năm 1975, điện chỉ có ở các cơ quan chính quyền địch, quận lỵ hoặc các tụ điểm dân cư dọc Quốc lộ 1, dùng máy phát điện nhỏ. Sau 1975, mạng lưới điện được kéo về huyện. Đến nay tại các xã, thôn, xóm 97% số hộ đã được dùng điện cho sinh hoạt và sản xuất.
Về liên lạc, thời phong kiến đến thời Pháp thuộc, việc thông tin liên lạc chủ yếu bằng ngựa trạm và có các dịch trạm. Ở Đức Phổ có trạm Nghĩa Quán (ở xã Quán Sứ), trạm có một tá dịch coi sóc và 1 lính trạm chuyên chuyển công văn, thư từ trong địa phương huyện. Nhìn chung thông tin liên lạc thời kỳ này chuyên phục vụ cho việc công, phổ biến trong nhân dân vẫn là dùng thư tay hay nhắn miệng cho người ở xa. Chính vì vậy, thông tin liên lạc thời kỳ này chưa có tác dụng đối với kinh tế - xã hội. Trải qua thời kháng chiến, thời chính quyền Sài Gòn, đến ngày nay, cùng với tốc độ phát triển khoa học công nghệ toàn cầu, ngành thông tin liên lạc đã phát triển nhanh chóng với kỹ thuật công nghệ tiên tiến, hiện đại. Hiện nay bưu điện huyện có 1 bưu cục trung tâm, 2 bưu cục cấp III, có 12 điểm bưu điện văn hóa xã, 3 đại lý đa dịch vụ và hơn 70 đại lý điện thoại được phân bố tại các vùng nông thôn. Tính đến năm 2005, số máy điện thoại cố định trên mạng đã có 10.296 máy, số máy điện thoại di động 1.230 máy. Tổng doanh thu của Bưu cục Đức Phổ là 2.150 triệu đồng (phần lớn là thu từ dịch vụ điện chính). Các dịch vụ bưu chính viễn thông đa dạng và tiện ích của mạng internet đã đáp ứng ngày càng cao nhu cầu sử dụng của cán bộ và nhân dân địa phương, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí và thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Quảng Ngãi - Bình Định đang được xây dựng đi qua.
Thị xã Đức Phổ có những thắng cảnh đẹp như: Bãi biển Sa Huỳnh (cũng chính là nơi đầu tiên tìm ra các dấu tích mộ chum của nền văn hóa Sa Huỳnh), bia đá khắc chữ Phạn (làng Thạch Bi) và nơi được biết đến nhiều hơn cả là thắng cảnh Châu Me với những ghềnh đá và bờ biển thoai thoải, nước trong xanh.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Mất ngủ ("insomnia") hay khó ngủ ("sleeping dificulties") là một chứng bệnh gây ảnh hưởng đến đời sống của nhiều người. Khó ngủ có nhiều dạng, khó đi vào giấc ngủ, ngủ không yên giấc, dậy sớm không ngủ lại được, hoặc tỉnh dậy nhiều lần trong khi ngủ, mỗi lần dài hơn 30 phút.
Tỉ lệ mất ngủ có thể từ 4% cho tới 48%. Khoảng 33% dân số bị một trong nhiều triệu chứng của mất ngủ, 15% bị ngầy ngật trong ban ngày, 18% không thoả mãn với giấc ngủ. 30% bệnh mất ngủ có liên hệ bệnh tâm thần.
Nữ giới bị mất ngủ nhiều hơn nam giới, nhất là ở tuổi gần mãn kinh. Nguyên nhân có lẽ do những bệnh liên quan hơn là do thiếu hocmon. Càng lớn tuổi nguy cơ mất ngủ càng cao.
Yếu tố gây mất ngủ tức thời.
Một thay đổi cấp tính nào đó sẽ tạo mất ngủ: lo nghĩ (tiền bạc, gia đình, tình yêu, nghề nghiệp), chỗ ở ồn ào, lệch múi giờ ) - nếu thay đổi này chỉ trong thời gian ngắn, chứng mất ngủ có thể sẽ không thành kinh niên.
Chứng mất ngủ ở trẻ em.
Đi vào giấc ngủ là một động tác sinh lý tự nhiên của cơ thể nhưng lúc còn sơ sinh cần được rèn luyện. Trẻ phải học cách cảm nhận một số dấu hiệu làm ngủ tự nhiên và tập ngủ theo những dấu hiệu ấy.
Khi cha mẹ chăm lo vỗ về quá độ sẽ làm trẻ bị mất khả năng ngủ tự nhiên và trẻ sẽ chỉ ngủ khi có những "dấu hiệu" đặc biệt do cha mẹ làm ra như hát ru, đu đưa, vỗ về.
Một số nghiên cứu gần đây về giấc ngủ của trẻ sơ sinh cho thấy trẻ sẽ ngủ ngon hơn nếu cha mẹ không đu đưa hay vỗ về.
Theo Tập San Y Học Úc (MJA 2005; 182:215-18), nếu cha mẹ tuân theo chỉ dẫn trong một tiết giảng dạy về phương pháp ru con, trẻ sơ sinh ngủ thêm được 80 phút mỗi ngày. Cha mẹ không nên động chạm đến trẻ khi gần ngủ và khi trẻ khóc, cha mẹ cố gắng cứ để cho khóc trong khoảng ít nhất là 5 phút.
Gần một nửa số cha mẹ than phiền về tình trạng con mình ngủ không ngon làm quấy giấc ngủ cả nhà, có thể đem đến bệnh trầm cảm sau khi sanh cho người mẹ, tan vỡ hạnh phúc gia đình và những vụ đối xử tệ hại với con cái
|
"Bài này nói về các pháo thành cổ ở Nga. Các nghĩa khác, xem Kremli (định hướng).
Kremli (Nga: , ) là một từ trong tiếng Nga để chỉ "pháo đài", "thành lũy" hay "lâu đài" và dùng để chỉ bất kỳ một tổ hợp trung tâm pháo đài hóa lớn nào tại Nga thời kỳ phong kiến. Từ này thông thường hay được dùng để chỉ tới điện Kremli tại Moskva - là kremli được nhiều người biết đến nhất hoặc dùng để chỉ chính quyền đóng tại đây. Tên gọi "Kremli" đôi khi cũng bị nhầm lẫn là nhà thờ thánh Basil do hình dáng đặc biệt của nó, mặc dù nó không phải là một phần của điện Kremli tại Moskva.
|
Tiệt quyền đạo (截拳道, tên Anh hoá: Jeet Kune Do) là một môn võ thuật chiến đấu chú trọng đến hiệu quả và thực tế, được sáng lập bởi diễn viên - võ sư nổi tiếng Lý Tiểu Long.
Lý Tiểu Long kết hợp các môn võ Trung Hoa (như Vịnh Xuân Quyền), các môn võ thuật từ nhiều quốc gia phương Đông (như Karate, Judo, T)và các môn thể thao phương Tây (như Quyền Anh, thể dục thể hì) và quan trọng hơn bộ tấn và cách di chuyển của Tiệt quyền đạo được lấy từ môn Đấu kiếm của phương Tây
Tên của môn võ này chữ Hán là 截拳道 (Tiệt quyền đạo). "Tiệt" có nghĩa là "cắt đứt" hay "một đoạn". Ý nghĩa này theo Lý Tiểu Long là vì môn võ khi đánh cắt đứt đường quyền của đối thủ, trước khi đối thủ có thì giờ phản ứng. Tuy nhiên, nhiều người dịch lầm là Triệt quyền đạo, với ý tưởng là "triệt tiêu" địch thủ. Tên này trở nên phổ thông ở Việt Nam, mặc dù không đúng ý nghĩa của người sáng lập là Lý Tiểu Long.
Những nguyên tắc sau đây là những ý tưởng được Lý Tiểu Long biên soạn trong cuốn sách "Jeet Kune Do" của ông. Lý Tiểu Long xem đây là những nguyên tắc chiến đấu phổ quát và tự nhiên, rất dễ hiểu.
"Nước vô cùng linh hoạt, trong suốt và có thể nhìn xuyên thấu, nhưng đôi khi có thể che khuất tầm nhìn."
"Nước có thể tách thành hai dòng, bỏ qua vật cản và hợp thành một dòng ở phía bên kia."
"Nước đủ nhẹ để làm sạch. Nhưng nó cũng rất mạnh, có thể đánh sập núi và cây cối."
Lý Tiểu Long tin rằng cú đấm thẳng là phần quan trọng nhất của Jeet Kune Do, là xương sống cơ bản nhất, và một cú đấm thẳng hiệu quả là nền tảng của mọi thứ. Nếu không, mọi thứ khác chỉ là lời nói suông. Những cú đấm thẳng tập trung vào tốc độ và độ chính xác, không phải sức mạnh.
Lý Tiểu Long cảm thấy rằng một cuộc tấn công nhanh chóng và bất ngờ là tốt nhất, tránh bất kỳ hành động cảnh báo nào đối với đối thủ.
Đơn giản hóa đề cập đến khoảng cách ngắn nhất giữa hai điểm - một đường thẳng. Lý Tiểu Long tin rằng không nên lãng phí thêm thời gian và các hành động trong chiến đấu. Bất kể sử dụng kỹ năng hành động nào, đòn tấn công trực diện nhất có thể được thực hiện với "khoảng cách ngắn nhất giữa hai điểm ".
|
Kremli Kazan (tiếng Nga: Казанский Кремль; tiếng Tatar: "kirmän") là một pháo thành chính yếu trong lịch sử Tatarstan, nằm tại thành phố Kazan, được xây dựng theo lệnh của Ivan Bạo chúa trên tàn tích lâu đài cũ của các Hãn Kazan. Nó được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 2000.
Các di tích chính trong Kremli này là nhà thờ Blagoveshchenskii 5 vòm và 6 cột (1561-62), được cho là do Postnik Yakovlev bán huyền thoại xây dựng, và tháp nghiêng huyền bí là tháp Söyembikä, theo truyền thuyết được đặt tên theo hoàng hậu cuối cùng của Kazan được coi là những phong cảnh đẹp đáng chú ý nhất của thành phố này. Ganh đua với tháp này về địa vị của kiến trúc đáng chú ý nhất là tháp Spasskaya. Tháp này nằm ở phía nam của Kremli và là lối vào chính của Kremli. Lưu ý rằng chỉ những xe có giấy phép đặc biệt mới được vào trong Kremli, nhưng đi bộ thì không bị cấm.
Cũng đáng chú ý là các tháp và các tường thành màu trắng tuyết, được dựng lên trong các thế kỷ 16 và 17 nhưng sau đó đã được tái thiết. Nhà thờ Qol-Şärif được xây dựng bên trong pháo đài này; các phần còn lại của tu viện Đấng cứu thế (nhà thờ nguy nga của nó xây vào thế kỷ 16 đã bị những người Bolshevik phá hủy); và "tòa nhà thủ hiến" (1843-1853), do Konstantin Ton thiết kế, hiện nay là cung tổng thống Tatarstan. Cung điện này được cho là nằm trên khu vực của cung điện cũ của các hãn vương. Nằm giữa cung Tổng thống và tháp Söyembikä là cung điện Nhà thờ được xây trên nền của nhà thờ Hồi giáo thời Trung cổ.
Phần tường phía bắc của Kremli có một tháp có lối ra vào khác - tháp Tainitskaya (Bí mật), có tên gọi như thế do nó được dùng để đi tới các giếng cung cấp nước bí mật. Tháp này cũng cho người đi bộ ra vào Kremli, nhưng xe cộ thì bị cấm.
Các sự kiện gần đây.
Lễ khai trương nhà thờ Hồi giáo lớn nhất tại châu Âu, nhà thờ Qol-Şärif, đã diễn ra tại Kazan ngày 24 tháng 6 năm 2005. Khoảng 17.000 người đã có mặt tại buổi lễ. Các đại biểu từ 40 quốc gia cũng đã tham dự sự kiện này. Nhà thờ này được xây dựng lại trên khu vực mà nhà thờ Hồi giáo chính của Hãn quốc Kazan đã từng tồn tại cho đến thế kỷ 17. Phát biểu tại buổi lễ, tổng thống Tatarstan Mintimer Shaeymiev nói rằng "Nhà thờ Qol-Şärif là biểu tượng mới của Kazan và T"
Sắc lệnh khôi phục nhà thờ Hồi giáo Qol-Şärif năm 1995 cũng đưa ra yêu cầu phục hồi nhà thờ Blagoveshchenskii trong Kremli Kazan which had been taken away from Orthodox Christians sau Cách mạng tháng Mười Nga. Vào ngày 21 tháng 7 năm 2005 trong lễ hội biểu tượng linh thiêng Theotokos của Kazan với sự có mặt của khoảng 10.000 tín đồ, Giáo chủ Alexius II và Mintimer Shaeymiev đã đặt bản sao linh thiêng nhất của biểu tượng đã mất một thời gian dài, đã được Giáo hoàng John Paul II trả lại cho Nga trước khi ông chết, tại nhà thờ Blagoveshchenskii mới khôi phục.
Năm 2005 giai đoạn đầu tiên của Metro Kazan cũng đưa vào trạm Kremlyovskaya nằm ngay bên phải Kremli.
Kremli Kazan - Di sản thế giới
|
Phong trào Du ca Việt Nam
Phong trào Du ca Việt Nam do nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và Ban Trầm Ca thành lập vào năm 1966 tại miền Nam Việt Nam. Du ca là một đoàn thể hoạt động về văn hóa và văn nghệ phục vụ cộng đồng, xuất hiện cùng lúc với phong trào làm công tác xã hội của sinh viên, học sinh.
Từ Ban Trầm Ca đến Phong trào Du Ca.
Sự ra đời của Phong trào Du ca gắn liền với phong trào hoạt động xã hội của thanh niên, sinh viên, học sinh miền Nam – bùng lên mạnh mẽ tại miền Nam vào giữa thập niên 1960. Cao điểm của phong trào hoạt động xã hội là “Chương trình Công tác Hè 1965” – một dự án lớn liên kết nhiều hội đoàn thanh niên và nhiều viện đại học lớn tại miền Nam lúc đó.
Mùa hè năm 1965, Nguyễn Đức Quang và một số bạn đồng môn (là cựu học sinh trường Trung học Trần Hưng Đạo – Đà Lạt) đã tham gia “Chương trình Công tác Hè năm 1965” và gặp gỡ nhiều nhà hoạt động thanh niên của vùng Sài-gòn – Gia định. Sau kỳ nghỉ hè này, một ban nhạc sinh viên đã bắt đầu hình thành gồm có năm người: Nguyễn Đức Quang, Trần Trọng Thào, Hoàng Kim Châu, Nguyễn Quốc Văn và Hoàng Thái Lĩnh. Ban nhạc sinh viên này xuất hiện lần đầu tiên tại giảng đường Spellman (Viện Đại học Đà Lạt) vào hai đêm 19 và 20 tháng 12 năm 1965 cùng với nhạc sĩ Phạm Duy và ca sĩ Phương Oanh. Kể từ đó, Phương Oanh gia nhập ban nhạc – chính thức có tên là Ban Trầm Ca. Trong năm 1966, ban nhạc này đã cùng nhạc sĩ Phạm Duy lưu diễn nhiều nơi tại miền Nam Việt Nam.
Cũng trong năm 1966, được sự hỗ trợ của một số huynh trưởng hoạt động thanh niên, Ban Trầm Ca đã tổ chức 8 khóa Thanh ca – Tác Động nhằm đào tạo hạt nhân để phát triển phong trào. Cuối năm 1966, Phong trào Du ca Việt Nam được chính thức thành lập như "một tổ chức thanh niên tự nguyện" với mục đích giáo dục thế hệ trẻ thông qua các hoạt động văn nghệ và sinh hoạt cộng đồng. Đinh Gia Lập – một hướng đạo sinh, cựu học sinh Trường Trần Hưng Đạo, cũng là một thành viên của Ban Trầm Ca mặc dù không tham gia trình diễn, đã trở thành Chủ tịch lâm thời của Phong trào Du Ca.
Phong trào Du Ca được thành lập với tôn chỉ: "Dùng tiếng hát chung của cộng đồng để tô điểm cho nền văn nghệ dân tộc một màu xanh đầy hy vọng, đưa mỗi người đến gần nhau hơn để cùng lo xây đắp một quê hương tươi sáng".
Chủ tịch phong trào từ 1967 là dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ và đến năm 1972 được thay thế bởi Đỗ Ngọc Yến, mà sau này là người sáng lập nhật báo Người Việt tại California. Trưởng xướng Du ca do nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang điều hành, đến năm 1972 được thay thế bởi Ngô Mạnh Thu tức nhạc sĩ Trần Tú. Phong trào được bộ Quốc gia Giáo dục và Thanh niên Việt Nam Cộng Hòa công nhận chính thức và cấp giấy phép hoạt động trên toàn quốc kể từ ngày 24 tháng 1 năm 1969.
Thành phần nhạc sĩ.
Du ca quy tụ khá nhiều các nhạc sĩ tên tuổi, cũng như nhiều nhạc sĩ trẻ xuất phát từ phong trào: Nguyễn Đức Quang, Phạm Duy, Ngô Mạnh Thu, Trầm Tử Thiêng, Anh Việt Thu,Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Hữu Nghĩa, Giang Châu, Trần Đình Quân, Lý Văn Chương, Lê Quang Dũng, Nguyễn Văn Phiên, Võ Thị Xuân Đào, Fa Thăng,
Nhạc tính và nội dung.
Du ca ra đời đúng lúc mọi người đang đòi hỏi một nền văn nghệ sống động, thức tỉnh và mới lạ. Những loại nhạc mà phong trào Du ca thường sử dụng là Thanh niên ca, Thiếu nhi ca, Sinh hoạt ca, Nhận thức ca, Sử ca, Dân ca, những bài hát ca ngợi tình yêu con người và thân phận quê hương. Nhiều bài hát của Du ca đã trở nên quen thuộc như "Việt Nam, Việt Nam" của Phạm Duy, "Việt Nam quê hương ngạo nghễ" của Nguyễn Đức Quang, "Nằm Vắt Tay Lên Trán" " Cho Nhau " của Nguyễn Quyết Thắng, "Anh sẽ về" của Nguyễn Hữu Nghĩa, thơ Khê Kinh Kha, "Xin chọn nơi này làm quê hương" của Nguyễn Đức Quang, " Hãy Đến Với Chúng Tôi "" Đứa Học Trò Trở Về " và " Lặng Im " của Nguyễn Quyết Thắng.
Những ca khúc trong phong trào du ca có mục đích kêu gọi thanh niên hãy tự hào, tin tưởng và hy vọng nơi tương lai. Trước năm 1975, phong trào Du ca có tác dụng sâu mạnh đối với giới trẻ qua các đoàn, toán ca như Con Sáo Huế, Du ca Áo Nâu, Du ca Lòng mẹ, Du ca Trùng Dương, Du ca Vàm Cỏ Tây, Du ca Vàm Cỏ Đông, Hồ Gươm, Sông Hậu, Du ca Vượt Sóng, Ca Đoàn Trùng Dương, Du ca Giao Chỉ, Du ca Đà Nẵng, Du ca Kiên Giang, Biên Hòa, Toán Du ca Mùa Xuân, Du ca Phù Sa, Đồng Vọ, trong trường học, ngoài sân cỏ, trên sân khấu, trong các đoàn thể bạn, Hướng đạo, CPS, hay Thanh sinh công, cùng Gia đình Phật tử.
Du ca cũng đã phát hành một số tuyển tập nhạc như: "Tuyển tập Du ca 1, Du ca 2, Du ca 3, Những bài ca khai phá, Ta đi trên dòng lịch sử, Những điều trông thấy, Hát Từ Tim- Hát Bằng Hơi Thở, Những khuôn mặt Du ca, Hát cho những người sống sót, Anh hùng ca, Sinh hoạt ca".
Các ấn phẩm của phong trào Du ca Việt Nam:
Tuyển tập nhạc do Du Ca Trung ương phát hành.
- Trầm Ca (in roneo)
- Tuyển tập 1
- Hát cho mùa xuân đi tới (Tuyển tập 2)
- Ta đi trên dòng lịch sử (Tuyển tập 3)
- Những bài ca khai phá (in roneo)
- Nghi thức ca
- Sinh hoạt ca
- Anh hùng ca
Tuyển Tập do Du Ca địa phương phát hành.
- Ruồi Và Kên kên
- 12 nhạc sĩ Du Ca
- Hát cho người sống sót trở về
- Hát Từ Tim-Hát Bằng Hơi Thở
- Tuyển tập 4- ấn hành tháng 3.1975
- Băng nhạc Du Ca Việt Nam 1 (Những điều trông thấy)
- Băng nhạc Tuổi Trẻ Chúng Tôi (đoàn Du Ca Nam Cali thực hiện năm 1982)
- Đồng Vọng là tờ nội san của Phong trào Du Ca Việt Nam (PTDCVN)
- Giai Phẩm (đoàn Du Ca Canada thực hiện)
Hiện nay, Phong Trào Du Ca ở hải ngoại tuy ít hơn xưa nhưng vẫn còn hoạt động như, các toán: Du Ca Về Nguồn Toronto Canada, Du Ca Đồng Vọng Canada, Du Ca Hamilton Canada, Du Ca Úc Châu, Du Ca Mùa Xuân Nam Cali, Du Ca San José Bắc Cali, Du Ca Hòa Lan, Du Ca Paris, Du Ca Paloma…
|
Suzdal (tiếng Nga: Суздаль) là một thị trấn (từ năm 1778) tại Nga, trung tâm hành chính của huyện Suzdal tỉnh Vladimir, nằm trên bờ sông Kamenka, một sông nhánh của sông Nerli cách thành phố Vladimir khoảng 26 km.
Ghi chép đầu tiên trong bộ luật Novgorod viết rằng "Năm 6507 (tức năm 999 theo Công lịch) tôi, tu sĩ Isaakii, đã trở thành tu sĩ tại Suzdal, tại nhà thờ Sv. Aleksandr Armyanin…"
Trong Tiểu thuyết những năm tạm bợ đã nhắc tới thị trấn này vào năm 1024 dưới tên gọi Suzhdal.
Tên gọi của thị trấn thường được diễn giải như là "đất sét", làm từ đất sét.
Đầu thế kỷ 12 dưới thời đại Yuri Dolgoruki nó là trung tâm của công quốc Rostov-Suzdal.
Năm 1157 Andrei Bogolyubskii chuyển thủ đô tới Vladimir và công quốc được gọi là công quốc Vladimir-Suzdal.
Từ giữa thế kỷ 13 nó là thủ đô của công quốc Suzdal độc lập.
Đầu thế kỷ 14 nó là thủ đô của công quốc Suzdal-Nizhegorod.
Năm 1392 Suzdal trở thành một phần của Đại công quốc Moskva.
Trong thế kỷ 16 tại Suzdal diễn ra việc xây dựng các tu viện. Người ta mở rộng các tu viện cũ và xây dựng các tu viện mới. Tới cuối thế kỷ 16 ở đây có 11 tu viện, (hiện nay giữ được 5 tổ hợp tu viện). Suzdal trở thành một trong số các trung tâm tôn giáo tại Nga.
Từ giữa thế kỷ 17 là thời kỳ tăng trưởng kinh tế.
Từ năm 1796 nó là thị trấn trung tâm huyện của tỉnh Vladimir thời Sa hoàng (guberniya).
Từ nửa sau của thế kỷ 19 thì Suzdal trở thành một thị trấn hẻo lánh cấp tỉnh.
Suzdal -thị trấn được bảo tồn, nằm trong Vòng vàng Nga (Zolotoye koltso), trong khu bảo tồn các viện bảo tàng kiến trúc, nghệ thuật và lịch sử Vladimir-Suzdal.
Các công trình kiến trúc cổ.
Trong thời kỳ Liên Xô thì Suzdal có địa vị là thành phố-viện bảo tàng, tổ chức quốc tế UNESCO đã trao cho thị trấn này địa vị "Di sản thế giới".
Suzdal còn giữ được một lượng lớn các công trình kiến thiết cổ, bao gồm:
|
Bình Sơn là một huyện đồng bằng ven biển, nằm ở cửa ngõ phía bắc của tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam.
Huyện Bình Sơn nằm ở phía bắc của tỉnh Quảng Ngãi, có vị trí địa lý:
Huyện Bình Sơn có diện tích tự nhiên là 426,78 km² và dân số là 182.150 người.
Địa hình của huyện khá phức tạp, có cả vùng đồng bằng, bán bình nguyên và núi cao. Đường bờ biển cắt xẻ tạo thành nhiều vũng vịnh.
Huyện Bình Sơn có 22 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Châu Ổ (huyện lỵ) và 21 xã: Bình An, Bình Chánh, Bình Châu, Bình Chương, Bình Đông, Bình Dương, Bình Hải, Bình Hiệp, Bình Hòa, Bình Khương, Bình Long, Bình Minh, Bình Mỹ, Bình Nguyên, Bình Phước, Bình Tân Phú, Bình Thanh, Bình Thạnh, Bình Thuận, Bình Trị, Bình Trung.
Sau năm 1975, huyện Bình Sơn thuộc tỉnh Nghĩa Bình, gồm 24 xã: Bình Chánh, Bình Châu, Bình Chương, Bình Đông, Bình Dương, Bình Hải, Bình Hiệp, Bình Hòa, Bình Khương, Bình Long, Bình Minh, Bình Mỹ, Bình Nguyên, Bình Phú, Bình Phước, Bình Tân, Bình Thanh, Bình Thạnh, Bình Thới, Bình Thuận, Bình Trị, Bình Trung, Bình Vĩnh và Bình Yến.
Ngày 23 tháng 10 năm 1978, thành lập xã Bình An tại vùng kinh tế mới.
Ngày 13 tháng 3 năm 1979, sáp nhập hai xã Bình Vĩnh và Bình Yến thành xã Lý Sơn.
Ngày 22 tháng 3 năm 1984, đổi tên xã Bình Vĩnh thành xã Lý Vĩnh, đổi tên xã Bình Yến thành xã Lý Hải.
Ngày 19 tháng 2 năm 1986, thành lập thị trấn Châu Ổ (thị trấn huyện lỵ huyện Bình Sơn) trên cơ sở sáp nhập:
Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Quảng Ngãi được tái lập từ tỉnh Nghĩa Bình, huyện Bình Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Ngày 1 tháng 1 năm 1993, tách 2 xã Lý Hải và Lý Vĩnh để thành lập huyện đảo Lý Sơn.
Ngày 4 tháng 6 năm 1998, chia xã Bình Thanh thành 2 xã: Bình Thanh Đông và Bình Thanh Tây.
Ngày 1 tháng 2 năm 2020:
Huyện Bình Sơn có 1 thị trấn và 21 xã như hiện nay.
Kinh tế của huyện chủ yếu thuần nông. Tuy nhiên, qua khảo sát các vũng, vịnh tại Việt Nam của Đoàn công tác Chính phủ Việt Nam năm 1992 thì vịnh Dung Quất cùng vịnh Chân Mây (tỉnh Thừa Thiên Huế) có ưu thế hơn trong việc xây dựng cảng nước sâu, khả năng tiếp nhận được tàu 100.000 tấn.
Năm 1995, nguyên Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt ký quyết định xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam, tại vịnh Việt Thanh nằm tại xã Bình Trị, huyện Bình Sơn. Sau gần 10 năm xây dựng, năm 2003, phía Việt Nam đã bàn với đối tác Nga để Việt Nam tự đầu tư (do cơ chế liên doanh 50:50 trước đây làm chậm trễ tiến độ xây dựng công trình). Năm 2005, Việt Nam chọn đối tác Technip (Pháp) cùng các nhà thầu phụ (Nhật Bản, Hà Lan, Ý và Tây Ban Nha) để xây nhà máy.
Đã có hơn 100 dự án đầu tư vào khu kinh tế Dung Quất với tổng số vốn xấp xỉ 5,1 tỷ USD, trong đó có 2 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài có số vốn lớn: Nhà máy luyện thép lò cao của Đài Loan (1,5 tỷ USD) và một dự án đầu tư của nhà đầu tư Hàn Quốc (200 triệu USD). Từ vị trí là tỉnh thu hút trực tiếp đầu tư nước ngoài xếp thứ 37 cả nước, Quảng Ngãi đã vươn lên thành tỉnh có vốn đầu tư FDI xếp thứ 11 cả nước và trở thành một trong năm tỉnh thu hút FDI cao nhất cả nước năm 2006.
Trên địa bàn huyện Bình Sơn hiện đang xây dựng khu đô thị mới Vạn Tường với đầy đủ các tiện ích như: bưu điện, trường dạy nghề, bệnh viện quốc tế, khu chuyên gia, khu du lịch sinh thái Thiên Đàn (hay còn gọi là khu du lịch sinh thái Bốn mùa)... Đối với ngành công nghiệp tại đây, tỉnh xây dựng hệ thống giao thông, điện, nước đến từng hàng rào nhà máy với chính sách ưu đãi.
Tháng 6 năm 2006, tại đây đã khởi công xây dựng tuyến đường nhánh đường Hồ Chí Minh nối khu kinh tế Dung Quất và thị trấn Trà My (huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam). Đây là tuyến huyết mạch nối Dung Quất với vùng đông bắc Campuchia và Lào.
Đây cũng là địa phương có tuyến đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi đi qua.
Hệ thống cảng biển.
Trên địa bàn huyện Bình Sơn có 2 cảng biển, gồm:
Huyện có nhiều bãi tắm đẹp như: Khe Hai (xã Bình Thạnh); Lệ Thủy (biển bậc thang), Dung Quất (xã Bình Thuận), Ba Làng An (xã Bình Châu). Huyện còn có di tích cấp quốc gia về vụ thảm sát Bình Hòa (do lính Hàn Quốc gây ra năm 1966 làm 430 người dân bị thiệt mạng). Tại xã Bình Hải (Vạn Tường) hiện có nhà bảo tàng Chiến thắng Vạn Tường (chiến thắng chiến lược chiến tranh cục bộ, cuộc hành quân "ánh sáng sao", của quân đội Hoa Kỳ ngày 18 tháng 8 năm 1965).
|
Nikolai Ivanovich Lobachevsky (tiếng Nga: Никола́й Ива́нович Лобаче́вский)(1 tháng 12 năm 1792 – 12 tháng 2 năm 1856) là một nhà toán học Nga, người đã có công rất lớn trong việc xây dựng hình học phi Euclide, một bước phát triển mới thoát ra khỏi hình học cổ điển, tạo cơ sở toán học cho lý thuyết tương đối rộng sau này. William Kingdon Clifford đã gọi ông là "Copernicus của hình học" vì tính chất cách mạng của hình học do Lobachevsky phát minh.
Lobachevsky sinh tại Nizhny Novgorod, Nga. Bố là Ivan Maksimovich Lobachevsky, thư ký của một văn phòng luật, mẹ là Praskovia Alexandrovna Lobachevskaya. Bố mẹ ông đều là người gốc Ba Lan. Cha ông mất năm 1800, sau đó, mẹ ông rời đến Kazan. Tại đó, ông theo học trường Kazan Gymnasium, tốt nghiệp năm 1807 và sau đó là trường Đại học Kazan. Tại đây, ông được tiếp xúc với Martin Bartels (1769–1833), thầy cũ và bạn của Carl Friedrich Gauss. Năm 1811, ông được chứng chỉ vật lý và toán học của trường ĐHTH Kazan. Năm 1814, ông bắt đầu công tác giảng dạy và năm 1822 (năm ông trở thành tiến sĩ), chính thức trở thành giảng viên trường ĐHTH Kazan (ở đây ông giảng dạy toán học, vật lý và thiên văn học). Năm 1818, ông được mời làm viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Kazan. Ông làm việc cho nhiều cơ quan nhà nước và năm 1827 ông trở thành hiệu trưởng của trường.
Nhà toán học Gauss đã mời ông làm viện sĩ nước ngoài Viện Hàn lâm Khoa học Gottingen.
Về đời riêng, ông lấy Varvara Alexivna Moisieva năm 1832 và có với bà bảy người con.
Ông về hưu (hay có thể bị bãi nhiệm) năm 1846, và từ đó sức khỏe của ông giảm một cách nhanh chóng. Cuối cùng, ông bị mù vĩnh viễn, phải đọc cho người khác chép quyển PANGE "OMETRRIE" nổi tiếng trong lịch sử hình học thế giới.
Ông là người theo chủ nghĩa vô thần.
|
Sơn Tịnh là một huyện đồng bằng thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam.
Sơn Tịnh là một huyện đồng bằng nằm ở phía bắc tỉnh Quảng Ngãi, có vị trí địa lý:
Vào năm 2005, huyện có diện tích 343,57 km², dân số là 194.738 người, mật độ dân số đạt 566 người/km². Hiện nay, huyện có diện tích 243,1 km², dân số năm 2019 là 95.843 người.
Huyện có diện tích 243,86 km², dân số năm 2020 là 96.020 người, mật độ dân số đạt 394 người/km².
Điều kiện tự nhiên.
Hình thể huyện Sơn Tịnh có bề ngang (theo chiều nam – bắc) hẹp. Trước đây huyện có bề dài (theo chiều đông – tây) trải rộng từ chân dãy Trường Sơn giáp đến biển Đông; tuy nhiên sau khi điều chỉnh địa giới hành chính sáp nhập một phần vào thành phố Quảng Ngãi thì huyện không còn giáp biển. Về giao thông, trên địa bàn huyện có Quốc lộ 1 và đường sắt Bắc – Nam chạy qua ở giữa huyện.
Sơn Tịnh là một dải đất dài bên tả ngạn sông Trà Khúc, địa hình khá đa dạng, dốc dần từ tây xuống đông, chia thành bốn vùng: vùng bán sơn địa phía tây, vùng đất cát phía tây bắc, vùng châu thổ dọc sông Trà Khúc, vùng đầm phá, cửa sông, động cát ven biển. Mỗi vùng có đặc điểm thổ nhưỡng khác nhau.
Núi đồi: Sơn Tịnh có nhiều núi cao thấp khác nhau và những dãy đồi lượn sóng, úp bát khắp trong huyện từ tây xuống đông: núi Dầu, núi Tròn, núi Cà Ty, núi Thiên Ấn cao trên dưới 100m; núi Nhàn, núi Khỉ (còn gọi là núi Bìn Nin hoặc núi Chợ), núi Sứa, núi Long Đầu, núi Ngang, núi Đất, núi Hầm, núi Voi, núi Thiên Mã cao trên dưới 70m; đồi Tranh (Quang Thạnh), đồi Mã Tổ, Gò Đồn, Gò Mạ, Rừng Dê, Rừng X
Sông, suối: Dọc phía nam huyện có sông Trà Khúc chảy từ tây sang đông, độ dài ở địa hạt Sơn Tịnh gần 40 km, đến xã Tịnh Khê sông đổ ra cửa Cổ Lũy. Trà Khúc là con đường thủy quan trọng giao lưu kinh tế - văn hóa từ vùng biển lên nguồn và ngược lại; là nguồn nước quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.
Phía tây Sơn Tịnh còn có sông Giang, bắt nguồn từ vùng nam huyện Trà Bồng chảy qua xã Tịnh Giang rồi hợp nước vào sông Trà Khúc. Phía đông Sơn Tịnh có sông Diêm Điền (ở Tịnh Hòa), sông Kinh (ở Tịnh Khê).
Suối từ hướng tây bắc chảy về hướng đông nam khá nhiều, tính từ tây xuống đông có các suối Bàng Lăng, Tam Hân, Bến Ngói, Bến Bè, Bà Mẹo, Bà Tá... Xưa kia các suối khá nhiều nước, người đi đường mùa hè phải lội qua, mùa mưa phải đi đò. Nay hầu hết các suối đều cạn nước, đường qua suối đều có cầu.
Biển và bờ biển: Sơn Tịnh có bờ biển dài 12 km, nằm giữa hai cửa biển Sa Kỳ, Cổ Lũy, nhờ đó có thể mở rộng giao lưu hàng hóa bằng đường biển đi các nơi và cũng là điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nghề đánh bắt hải sản, hình thành các cánh đồng muối ở Xuân An (Tịnh Hòa). Những đầm ngập mặn ở ven biển tạo điều kiện thuận lợi cho cư dân ở đây nuôi trồng thủy hải sản xuất khẩu. Các bãi biển đẹp như Mỹ Khê, An Kỳ, An Vĩnh, gắn với di tích Sơn Mỹ đã và đang thu hút khách du lịch đến tham quan, nghỉ ngơi.
Đồng bằng: Ở vùng châu thổ tả ngạn sông Trà Khúc, nhờ được phù sa bồi đắp nên đất đai màu mỡ, phì nhiêu, tạo nên những cánh đồng lúa, mía, ngô, dâu tằm, rau quả với sản lượng cao, phục vụ nhu cầu đời sống của nhân dân và sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Ở các vùng khác, đất đai ít thuận lợi hơn cho sản xuất nông nghiệp.
Sơn Tịnh nằm trong vùng nhiệt đới, gió mùa; mỗi năm có hai mùa mưa, nắng rõ rệt. Mùa mưa từ tháng chín âm lịch đến tháng 1 năm sau, mùa nắng từ tháng hai đến tháng tám.
Trong tổng diện tích tự nhiên 34.357,4ha của huyện Sơn Tịnh, tính ở thời điểm năm 2005, đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy hải sản có 24.400,8ha (71%); đất chuyên dùng có 3.148,7ha (9,2%); đất khu dân cư 1.662,3ha (4,8%); đất phi nông nghiệp 2.809,9ha (8,2%); đất chưa sử dụng 2.335,7ha (6,7%).
Rừng núi và đất đồi Sơn Tịnh trước kia có nhiều cây bằng lăng, bìn nin (loại gỗ quý nhóm I), có nhiều động vật. Ở vùng đất cát tây bắc huyện có cây chổi, được nhân dân khai thác lá, cành chế biến ra dầu chổi (giống như dầu khuynh diệp). Ngày nay, các loại cây trên hầu như không còn. Từ sau ngày giải phóng đến nay, Sơn Tịnh trồng mới hàng ngàn hécta rừng, nhiều nhất là dương liễu ở ven biển, cây điều, bạch đàn ở vùng gò đồi; đồng thời khoanh nuôi, tái sinh, chăm sóc hàng ngàn hécta rừng cũ.
Núi rừng, sông suối Sơn Tịnh là nơi nhân dân khai thác được nhiều đá, cát, sỏi phục vụ cho xây dựng cơ bản. Năm 2004 và 2005, toàn huyện khai thác được trên 39.000m3 gỗ, 319.000 ster củi, 400 ngàn cây tre, 2,8 triệu lá dừa nước.
Dưới lòng đất ở phía tây bắc huyện có mỏ graphit Hưng Nhượng (ở Tịnh Đông) với trữ lượng khoảng trên 40 triệu tấn, có quặng bauxit, silamít, quặng sắt, cao lanh ở Tịnh Hiệp, Tịnh Giang, Tịnh Trà, có đá vôi ở Tịnh Khê...
Dưới biển có nhiều loại hải sản quý.
Về dân cư: Qua một số hiện vật khảo cổ, người ta biết xưa kia ở địa hạt huyện Sơn Tịnh từng có các cộng đồng cư dân cổ, chủ nhân của thời kỳ đồ đá cũ tại khu vực Gò Trá (nay thuộc xã Tịnh Thọ), chủ nhân của nền văn hóa Tiền Sa Huỳnh ở Núi Sứa (nay thuộc xã Tịnh Ấn Tây). Tiếp sau là cư dân Chăm sống rải rác ở nhiều nơi.
Người Việt ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã chuyển cư đến vùng đất Sơn Tịnh từ cuối thế kỷ XV, sinh cơ lập nghiệp, mở đất, dựng làng. Một số người Hoa từ thời phong kiến đã sang buôn bán, sinh sống, về sau hòa nhập với cộng đồng người Việt, gọi là người Việt gốc Hoa, tập trung nhiều nhất ở Ba Gia (nay thuộc xã Tịnh Bắc), Đồng Ké (nay thuộc xã Tịnh Giang). Ở các xã cực tây của huyện có một số ít người thuộc dân tộc Hrê sinh sống. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, có một số ít người thuộc các dân tộc thiểu số ở miền Bắc theo gia đình về sống ở Sơn Tịnh.
Đến năm 2005, dân số Sơn Tịnh có 194.738 người, trong đó có 194.725 người Việt, 13 người dân tộc Hrê sống ở xã Tịnh Giang cực tây huyện(3).
Huyện Sơn Tịnh có 11 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 11 xã: Tịnh Bắc, Tịnh Bình, Tịnh Đông, Tịnh Giang, Tịnh Hà (huyện lỵ), Tịnh Hiệp, Tịnh Minh, Tịnh Phong, Tịnh Sơn, Tịnh Thọ, Tịnh Trà với 58 thôn.
Thời nhà Hồ, vùng đất Sơn Tịnh ngày nay nằm trong huyện Trì Bình thuộc, châu Tư, lộ Thăng Hoa. Từ thời nhà Lê, huyện Trì Bình đổi tên thành huyện Bình Dương, rồi Bình Sơn.
Năm 1890, các làng, xã, ấp phía nam huyện Bình Sơn được tách ra để lập thành châu Sơn Tịnh thuộc Sơn phòng Nghĩa Định. "Năm thứ 11 đời vua Thành Thái (1899), cải làm huyện, trích 18 xã thôn tổng Bình Thượng huyện Bình Sơn và 8 xã thôn tổng Bình Trung nhập làm tổng Tịnh Thượng; lại trích 25 xã thôn tổng Bình Trung và 3 xã thôn tổng Bình Hạ nhập làm tổng Tịnh Trung thuộc về huyện này.". Thời vua Bảo Đại, tổng Bình Châu nhập về huyện Sơn Tịnh và đổi tên là tổng Tịnh Châu. Năm 1932, huyện Sơn Tịnh thăng làm phủ Sơn Tịnh, bấy giờ gồm 4 tổng: Tịnh Thượng, Tịnh Trung, Tịnh Hòa, Tịnh Châu, với 72 làng, xã, thôn, ấp, vạn, trại.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, phủ Sơn Tịnh được chính quyền Việt Minh đổ tên thành phủ Trương Quang Trọng, đặt theo tên của Bí thư Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội tỉnh Quảng Ngãi. Đến tháng 6 năm 1946, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đổi phủ Trương Quang Trọng thành huyện Sơn Tịnh, hợp nhất các làng xã nhỏ thành 12 xã lớn, lấy chữ Tịnh đứng đầu: Tịnh Giang, Tịnh Hiệp, Tịnh Thọ, Tịnh Minh, Tịnh Bình, Tịnh Sơn, Tịnh Hà, Tịnh Phong, Tịnh Ấn, Tịnh Thành, Tịnh Khê, Tịnh Hòa.
Trong những năm sau đó, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhiều lần thay đổi hành chính các xã thuộc Sơn Tịnh như. Đến năm 1954, huyện Sơn Tịnh còn 19 xã.
Sau năm 1955, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi huyện Sơn Tịnh thành quận Sơn Tịnh, đổi tên các xã, lấy chữ Sơn làm đầu như: xã Tịnh Giang đổi là xã Sơn Tây; xã Tịnh Đông đổi là xã Sơn Đông; xã Tịnh Hiệp đổi là xã Sơn Phương; xã Tịnh Trà đổi là xã Sơn Trà; xã Tịnh Bắc đổi là xã Sơn Bắc; xã Tịnh Minh đổi là xã Sơn Nam; xã Tịnh Sơn đổi là xã Sơn Lộc; xã Tịnh Bình đổi là xã Sơn Châu; xã Tịnh Thọ đổi là xã Sơn Kim; xã Tịnh Phong đổi là xã Sơn Hương; xã Tịnh Hà đổi là xã Sơn Trung; xã Tịnh Ấn đổi là xã Sơn Long; xã Tịnh An đổi là xã Sơn Phú; xã Tịnh Châu đổi là xã Sơn Thành; xã Tịnh Thiện đổi là xã Sơn Hòa; xã Tịnh Long đổi là xã Sơn Hội; xã Tịnh Hòa đổi là xã Sơn Quang; xã Tịnh Khê đổi là xã Sơn Mỹ; xã Tịnh Kỳ đổi là xã Sơn Hải.
Phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vẫn sử dụng phân cấp hành chính của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, vào các giai đoạn 1961 - 1965 và 1970 - 1975, các xã phía đông Quốc lộ 1 của huyện Sơn Tịnh và các xã phía đông huyện Bình Sơn được tổ chức thành huyện Đông Sơn.
Sau năm 1975, huyện Sơn Tịnh thuộc tỉnh Nghĩa Bình, gồm 19 xã: Tịnh An, Tịnh Ấn, Tịnh Bắc, Tịnh Bình, Tịnh Châu, Tịnh Đông, Tịnh Giang, Tịnh Hà, Tịnh Hiệp, Tịnh Hòa, Tịnh Khê, Tịnh Kỳ, Tịnh Long, Tịnh Minh, Tịnh Phong, Tịnh Sơn, Tịnh Thiện, Tịnh Thọ và Tịnh Trà.
Ngày 12 tháng 3 năm 1987, chia xã Tịnh Ấn thành 3 đơn vị hành chính: xã Tịnh Ấn Đông, xã Tịnh Ấn Tây và thị trấn Sơn Tịnh.
Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Quảng Ngãi được tái lập từ tỉnh Nghĩa Bình, huyện Sơn Tịnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
Cuối năm 2012, huyện Sơn Tịnh có thị trấn Sơn Tịnh và 20 xã: Tịnh An, Tịnh Ấn Đông, Tịnh Ấn Tây, Tịnh Bắc, Tịnh Bình, Tịnh Châu, Tịnh Đông, Tịnh Giang, Tịnh Hà, Tịnh Hiệp, Tịnh Hòa, Tịnh Khê, Tịnh Kỳ, Tịnh Long, Tịnh Minh, Tịnh Phong, Tịnh Sơn, Tịnh Thiện, Tịnh Thọ, Tịnh Trà.
Ngày 12 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 123/NQ-CP. Theo đó, chuyển toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Sơn Tịnh và 9 xã Tịnh Ấn Tây, Tịnh Ấn Đông, Tịnh An, Tịnh Long, Tịnh Châu, Tịnh Thiện, Tịnh Khê, Tịnh Hòa, Tịnh Kỳ về thành phố Quảng Ngãi quản lý.
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, huyện Sơn Tịnh còn lại 24.341,31 ha diện tích tự nhiên và 95.597 người với 11 xã trực thuộc. Huyện lỵ dời về xã Tịnh Hà.
Kinh tế - xã hội.
Cơ sở giáo dục.
Đến năm 2020, trên địa bàn huyện có 35 trường trong đó có 33 trường công lập và 2 trường tư thục. Mầm non có 7/11 trường đạt chuẩn quốc gia về giáo dục; tiểu học có 11/11 trường đạt chuẩn; trung học cơ sở có 11/11 trường đạt chuẩn; trung học phổ thông có 1 trường đạt chuẩn.
Huyện có tuyến quốc lộ 24B đi cảng Sa Kỳ. Có quốc lộ 1, đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi và đường sắt Bắc Nam đi ngang qua huyện.
|
Chopin (tiếng Việt đọc như /sô-pen/ theo tiếng Ba Lan, hoặc đọc như /sô-panh/ theo tiếng Pháp, , ,) có tên khai sinh bằng tiếng Ba Lan là Fryderyk Franciszek Szopen (]) (sinh ngày 1 tháng 3 năm 1810 – mất ngày 17 tháng 10 năm 1849) là nhà soạn nhạc và nghệ sĩ dương cầm người Ba Lan của thời kỳ âm nhạc Lãng mạn. Ông nổi tiếng toàn thế giới như một trong những người đi tiên phong của thời kỳ này "với chất thơ thiên tài đi cùng với kỹ thuật không một ai đương thời có thể sánh bằng"
Chopin sinh ra tại Żelazowa Wola, Công quốc Warszawa, và lớn lên chủ yếu ở thành phố Warsaw, sau này trở thành một phần của Vương quốc Lập hiến Ba Lan vào năm 1815. Chopin sớm nổi tiếng là thần đồng, và ông được đào tạo âm nhạc và văn hóa xuất sắc trước khi rời khỏi Ba Lan vào năm 20 tuổi, chỉ vài tuần trước cuộc Khởi nghĩa tháng Mười một. Chuyển tới Paris vào năm 21 tuổi, ông chỉ công diễn hơn 30 buổi — trong 18 năm— chủ yếu trong không khí thân mật của các cuộc họp mặt nghệ sĩ. Ông cũng kiếm sống bằng việc bán các sáng tác và dạy học, công việc mà ông được nhiều người yêu cầu. Ông cũng kết thân với nhạc sĩ người Hungary Franz Liszt và là thần tượng của nhiều nghệ sĩ đương thời, có thể kể tới Robert Schumann.
Năm 1835, ông nhập quốc tịch Pháp. Sau khi đính hôn bất thành với Maria Wodzińska trong 2 năm 1836 và 1837, ông duy trì mối quan hệ nhiều trắc trở với nữ văn hào Pháp Amantine Dupin (nổi tiếng với bút danh George Sand). Chuyến đi thăm ngắn ngủi và khổ sở tại Majorca ở Tây Ban Nha cùng Sand trong các năm 1838–1839 chính là một trong những giai đoạn sung sức nhất trong sự nghiệp sáng tác của Chopin. Những năm cuối đời, Jane Stirling trở thành người bảo trợ của ông và đưa ông tới thăm Scotland vào năm 1848. Suốt hầu hết cuộc đời mình, sức khỏe của Chopin không được ổn định. Ông qua đời ở Paris vào tháng 10 năm 1849 ở tuổi 39, với nhiều khả năng là do biến chứng của bệnh viêm màng ngoài tim (pericarditis) do bệnh lao phổi, vì nơi ông làm việc đông người và nhiều khói bụi.
Theo thống kê gần đây và chi tiết hơn cả, Chopin đã sáng tác 244 nhạc phẩm, chưa kể nhiều tác phẩm (ôput) gồm nhiều bản nhạc độc lập (xem Danh sách tác phẩm của Chopin theo ôput). Tất cả các sáng tác của ông đều có dương cầm, trong đó hầu hết viết cho độc tấu (piano solo), mặc dù ông cũng đã viết hai concerto cho đàn piano, một vài tác phẩm nhạc thính phòng, và 19 bài hát có lời bằng tiếng Ba Lan. Phong cách piano của ông là bí truyền, các sáng tác của ông thường đòi hỏi về mặt kỹ thuật và mở rộng giới hạn của nhạc cụ: những màn trình diễn của ông đã được ghi nhận về sắc thái và độ nhạy. Chopin đã phát minh ra khái niệm về nhạc ballade. Tác phẩm piano chính của ông cũng bao gồm các bản mazurka, waltz, nocturne, polonaise, étude, impromptu, scherzo, prelude và sonata, một số được xuất bản chỉ sau khi ông qua đời. Những nguồn có ảnh hưởng đến phong cách sáng tác của ông là dân ca Ba Lan, nhạc cổ điển truyền thống của J. S. Bach, Mozart, và Schubert, và bầu không khí của các cuộc họp mặt nghệ sĩ ở Paris mà ông là khách thường xuyên. Những đổi mới của ông về phong cách, hòa âm, và hình thức âm nhạc, và sự kết hợp âm nhạc với chủ nghĩa dân tộc của ông, đã có ảnh hưởng trong suốt và sau giai đoạn hậu Lãng mạn.
Âm nhạc của Chopin, với danh tiếng của ông như là một trong những siêu sao đầu tiên của âm nhạc, với các mối liên hệ (gián tiếp) với các cuộc biến động chính trị, kèm cuộc sống tình cảm hỗn loạn thường xuyên, và cái chết sớm của Chopin đã khiến ông trở thành biểu tượng hàng đầu của thời đại lãng mạn. Tác phẩm của ông vẫn còn phổ biến cho đến ngày nay, và ông là chủ đề của nhiều bộ phim và tiểu sử với các mức độ trung thực lịch sử khác nhau.
Ông sinh ngày 1 tháng 3 năm 1810 tại làng Żelazowa Wola (Ba Lan) (cách phía đông Warsaw 46 km) dưới tên Fryderyk Franciszek Chopin; bố là Mikołaj Chopin, một nhạc sĩ gốc Pháp, mẹ là Tekla Justyna Krzyzanowska, một người Ba Lan.
Cha của Fryderyk, Nicolas Chopin, là một người Pháp từ Lorraine, đã di cư sang Ba Lan năm 1787 ở tuổi mười sáu. Nicolas dạy kèm cho trẻ em của tầng lớp quý tộc Ba Lan, và vào năm 1806 kết hôn với Justyna Krzyżanowska, một người họ hàng nghèo của Skarbeks, một trong những gia đình quý tộc mà ông đã từng tới dạy. Fryderyk đã chịu phép báp têm vào Chủ nhật Phục sinh, ngày 23 tháng 4 năm 1810, trong cùng một nhà thờ nơi cha mẹ ông kết hôn, ở Brochów. Người cha đỡ đầu mười tám tuổi của ông, người mà ông được đặt tên theo, là Fryderyk Skarbek, một học trò của Nicolas Chopin. Fryderyk là con thứ hai của vợ chồng này và là con trai duy nhất; ông có một người chị, Ludwika (1807–1855), và hai em gái, Izabela (1811–1881) và Emilia (1812–1827). Nicolas luôn hướng về quê hương mới của mình, và luôn sử dụng tiếng Ba Lan trong gia đình.
Vào tháng 10 năm 1810, sáu tháng sau khi Fryderyk ra đời, gia đình chuyển đến Warsaw, nơi Nicolas có việc giảng dạy tiếng Pháp tại Warsaw Lyceum, khi đó ở trong Lâu đài Saxon. Fryderyk sống với gia đình của mình trong nền lâu đài. Người cha chơi sáo và violin; người mẹ chơi piano và dạy môn này cho những đứa trẻ trong nhà nội trú, cũng là nơi nhà Chopin ở. Chopin có vóc người mảnh khảnh, ngay cả trong thời thơ ấu ông dễ bị ốm.
Tài năng của Chopin thể hiện từ rất sớm, và được so sánh với thần đồng âm nhạc Mozart. Khi mới 7 tuổi, Chopin đã là tác giả của hai bản polonaise cung Sol thứ và Si giáng trưởng. Ông cũng tham gia một số buổi hòa nhạc từ thiện. Những buổi học piano chuyên nghiệp của ông bắt đầu từ năm 1816 đến năm 1822, khi mà tài năng của cậu bé đã vượt qua cả người thầy Wojciech Zywny của mình. Sự phát triển tài năng của Chopin được theo dõi bởi Wilhelm Würfel, giáo sư, nghệ sĩ piano danh tiếng tại Nhạc viện Warszawa, người đã cho cậu một số lời khuyên có giá trị trong biểu diễn đàn piano và organ.
Từ năm 1823 đến năm 1826, Chopin học tại Warsawa Lyceum, nơi bố cậu là một trong những người giảng dạy. Cậu bé đã dành những kì nghỉ ở những căn nhà của gia đình những người bạn học ở nhiều nơi trên khắp đất nước. Nhà soạn nhạc trẻ tuổi đã nghe và ghi lại những bài hát dân ca, tham gia vào những đám cưới của những người nông dân và những lễ hội đồng quê, đồng thời chơi một thứ nhạc cụ dân gian giống như cây đàn contrabass. Và tất cả những hoạt động này đã được cậu bé miêu tả trong những lá thư của mình. Chopin đã trở nên gắn bó với âm nhạc dân gian của vùng đồng bằng Ba Lan, với sự thanh khiết, đặc sắc, giàu tính giai điệu và âm hưởng dân vũ. Khi sáng tác những bản mazurka đầu tiên và một số bản khác sau này, Chopin đã dựa vào nguồn cảm hứng được ông lưu giữ đến cuối đời.
Mùa thu năm 1826, Chopin bắt đầu học lý thuyết âm nhạc và sáng tác âm nhạc tại trường trung học phổ thông về âm nhạc tại Warszawa, một bộ phận của Nhạc viện Warsawa và Đại học Warsawa. Tuy nhiên, Chopin đã không theo học lớp piano. Nhận thấy tài năng xuất chúng của Chopin, Józef Elsner - nhà soạn nhạc và hiệu trưởng của trường - đã cho phép Chopin tập trung vào piano nhưng vẫn buộc ông học các môn lý thuyết. Chopin vốn có khả năng trời phú về sáng tác âm nhạc, đã học được ở trường sự kỉ luật và chính xác trong kết cấu tác phẩm, cũng như hiểu được ý nghĩa và logic của từng nốt nhạc. Đây là thời gian ra đời của những tác phẩm có tầm cỡ đầu tiên của Chopin, ví dụ như bản "Sonata cung Đô thứ", những khúc biến tấu opus số 2 dựa trên một chủ đề trong vở "Don Giovanni" của Mozart, bản "Rondo á la Krakowiak op. 14" và bản tam tấu cung Sol thứ, opus 8 cho piano, violin và cello. Chopin kết thúc quá trình học tập của mình tại trường phổ thông vào năm 1829 và sau 3 năm học tại trường, Elsner đã viết trong một bản báo cáo: "Chopin, Fryderyk, học sinh năm thứ 3, một tài năng lớn, thiên tài âm nhạc".
Khi trở về Warszawa, Chopin cống hiến cho sự nghiệp sáng tác và đã viết một số tác phẩm, trong đó có hai bản concerto cho piano và dàn nhạc cung Fa thứ và Mi thứ. Bản Concerto số 1 đã được gợi cảm hứng rất lớn từ cảm xúc của nhà soạn nhạc đối với Konstancja Gladkowska, sinh viên thanh nhạc tại nhạc viện. Đây cũng là thời kì Chopin cho ra đời những bản nocturne, étude, waltz, mazurka đầu tiên. Trong những tháng cuối cùng trước ngày Chopin dự định ra nước ngoài sinh sống, Chopin đã có một số buổi biểu diễn trước công chúng, chủ yếu là ở Nhà hát quốc gia Warsawa, nơi hai bản concerto lần đầu tiên được biểu diễn. Vào ngày 11 tháng 10 năm 1830, ông đã có một buổi hòa nhạc chia tay tại Nhà hát quốc gia Warsawa, trong đó ông đã biểu diễn bản concerto cung Mi thứ, và K. Gladkowska đảm nhiệm vai trò ca sĩ. Ngày 2 tháng 11, cùng với người bạn Tytus Woyciechowski, Chopin đã đến nước Áo, với dự định đi tiếp sang Ý.
Mùa thu năm 1831, ông đến Paris. Ở Paris, ông chọn nghề chơi và dạy đàn cùng lúc soạn nhạc, ông lấy tên tiếng Pháp là Frédéric-François Chopin. Cả cuộc đời, sức khoẻ ông không được tốt. Ông có mối quan hệ gần gũi nhưng đầy trắc trở với nhà văn Pháp George Sand trong suốt 10 năm trước khi ông qua đời do lao phổi ngày 17 tháng 10 năm 1849 tại Paris, thọ 39 tuổi.
Khi Ba Lan bị phát xít Đức xâm chiếm vào năm 1939, những người yêu nước tìm cách cất giấu trái tim của Chopin để không bị lọt vào bàn tay nhơ nhuốc của chúng. Mùa thu năm 1949, trái tim được bí mật mang về Ba Lan, trong một chiếc hộp gỗ sồi. Ngày nay trái tim được đặt sau một phiến đá hoa cương tại nhà thờ Holy Cross, Warszawa.
Cái chết và tang lễ.
Tháng Sáu năm 1849, Ludwika, chị gái của ông đến Paris cùng với chồng và con gái. Và vào tháng Chín,ông dời đến căn hộ ở Place Vendôme 12 nhờ vào sự giúp đỡ và khoản vay từ Jame Stirling (bạn của ông). Đến sau ngày 15 tháng Mười, tình trạng sức khỏe của ông trở nên ngày một tồi tệ. Các bạn của ông đến thăm và quyết định ở lại với ông.
Nằm trên giường bệnh, ông nhờ các bạn của ông chơi nhạc cho ông. Ông yêu cầu mọi người hãy để xác của ông được thông thoáng (vì ông sợ mình bị chôn) và đưa trái tim của ông về Warszawa. Ông để lại những ghi chú còn dang dở (Projet de méthode) cho Alkan hoàn thành nó. Vào nửa đêm 17, bác sĩ nghiêng đầu hỏi ông có đau lắm không, Chopin thì thào trả lời: "Không lâu nữa đâu". Còn vài phút nữa là đến hai giờ sáng, ông âm thầm ra đi. Bên giường bệnh lúc đó có chị gái ông, công chúa Marcelina Czartoryska, Solange con gái của Sand và Thomas Albrecht.
Phong cách âm nhạc.
Tất cả các sáng tác của Chopin đều dành cho đàn piano. Hầu hết chúng đều là tác phẩm độc tấu, ngoài ra còn có hai concerto cho piano, vài hòa nhạc và vài sáng tác theo âm hưởng nhạc Ba Lan truyền thống. Phong cách âm nhạc và trình diễn của ông đòi hỏi tính cá nhân và kỹ thuật điêu luyện, và những buổi trình diễn của ông vẫn luôn được nhớ tới bởi sự đa dạng và tinh tế. Ông cũng là người khai sáng ra khái niệm ballad hòa tấu trong nhạc cổ điển. Các tác phẩm của Chopin bao gồm nhiều thể loại, từ mazurka, waltz, nocturne, polonaise, étude, impromptu, cho tới scherzo, prelude và sonata, trong đó nhiều tác phẩm được công bố sau khi ông qua đời. Giai điệu của Chopin mang nhiều âm hưởng từ âm nhạc Ba Lan, cũng như từ J. S. Bach, Mozart hay Schubert, ngoài ra cả không khí ở thành phố Paris nơi ông gắn bó. Những cách tân của ông trong hình thức, hòa âm, biến tấu cùng với những hoạt động gắn liền với chủ nghĩa dân tộc đã ảnh hưởng rất lớn tới thời kỳ âm nhạc Lãng mạn.
Âm nhạc của Chopin, đi cùng với hình ảnh của một trong những nghệ sĩ lừng danh nhất thế giới, những mối quan tâm tới chính trị, tình yêu và cái chết của ông đã đưa ông trở thành biểu tượng lớn của thời kỳ âm nhạc Lãng mạn. Các tác phẩm của ông vẫn tiếp tục được hâm mộ cho tới ngày nay và là chủ đề cho rất nhiều phim, sách, ảnh và tiểu sử dưới nhiều góc độ lịch sử khác nhau.
Hơn 230 tác phẩm của Chopin còn được lưu giữ cho đến ngày nay; một số tác phẩm từ thời thơ ấu đã bị mất.
Ngày 30 tháng 1 năm 2018, Viện Fryderyk Chopin thông báo tổ chức này sẽ đưa toàn bộ sưu tập (gần 40.000 kỷ vật của Chopin, nằm trong bộ sưu tập Di sản thế giới của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc) của Frédéric François Chopin lên Internet và đến năm 2020 và công chúng có thể truy cập miễn phí. Thêm nữa, bất cứ ai cũng có thể tải các bản thu âm từ các cuộc thi piano Chopin toàn cầu do Viện tổ chức ngoài việc nghiên cứu và quảng bá tác phẩm của nhà soạn nhạc trên khắp thế giới. Người truy cập không chỉ có thể tìm kiếm và tải các bản nhạc hoặc trích đoạn mà còn có được các phân tích đa dạng về nhịp điệu, hòa âm, giai điệu và nhiều khía cạnh khác của âm nhạc.
Sự nghiệp sáng tác.
Ngoài ra còn nhiều Waltz khác bị thất lạc
Những khúc biến tấu.
Op. 2 (cho piano và dàn nhạc)
Các nhạc phẩm cho piano và dàn nhạc.
Những khúc biến tấu cung Si giáng trưởng Op. 2 trên chủ điểm La ci darem la mano từ vở opera Don Juan của Mozart.
Khi sống ở Warsaw, Chopin đã sáng tác và chơi trên đàn piano Buchholtz. Sau đó, khi chuyển đến Paris, Chopin đã mua một nhạc cụ từ Pleyel. Ông đánh giá những cây đàn piano của Pleyel là “non plus ultra” (không có gì cao hơn thế!). Liszt kết bạn với Chopin ở Paris và mô tả âm thanh của Chopin trên Pleyel là "cuộc hôn nhân của pha lê và nước". Trong ngôi nhà ở London của Chopin, ông có ba cây đàn piano mà ông đề cập đến trong các bức thư của mình: “ Tôi có một phòng khách lớn với ba cây đàn piano, một Pleyel, một Broadwood và một Erard.
|
Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh là một bảo tàng ở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, lạc tại số 65 Lý Tự Trọng, thuộc Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, trên một khu đất rộng gần 2 ha, giới hạn bởi các con đường Lý Tự Trọng, Pasteur, Lê Thánh Tôn và Nam Kỳ Khởi Nghĩa.
Khởi đầu, tòa nhà Bảo tàng được khởi công xây dựng vào năm 1885 và hoàn thành năm 1890 theo thiết kế của kiến trúc sư người Pháp Alfred Foulhoux với mục đích sử dụng làm Bảo tàng Thương mại để trưng bày sản phẩm Nam Kỳ. Tuy nhiên, ngay sau khi xây xong, tòa nhà lại được Phó Toàn quyền Đông Dương Henri Éloi Danel (1850 - 1898) dùng làm tư dinh. Về sau, tòa nhà được sử dụng hẳn làm dinh Phó Toàn quyền Đông Dương hay còn gọi là dinh Phó soái (trước năm 1911). Sau ông Danel, các vị Phó Toàn quyền người Pháp thay nhau tiếp tục làm chủ Dinh. Từ năm 1892 đến năm 1911, đã có thêm tất cả 14 vị Phó Toàn Quyền khác (trong số 14 vị này có một số vị đảm nhiệm chức vụ này 2 hay 3 lần) cư ngụ trong Dinh.
Thời chiến tranh thế giới thứ hai.
Từ năm 1912, chính phủ Pháp bỏ chức vụ Phó Toàn Quyền Đông Dương và thay bằng chức vụ Phó Thống Đốc Nam Kỳ, do đó dinh được đổi tên thành Dinh Phó Thống đốc Nam Kỳ. Từ 1912 cho đến ngày ngày 9 tháng 3 năm 1945 (khi quân Nhật đảo chánh, lật đổ chính quyền Pháp) đã có thêm tất cả 16 vị Thống Đốc Nam Kỳ sống và làm việc trong Dinh.
Năm 1945, dinh Thống đốc nhiều lần đổi chủ. Sau khi quân Nhật tiến hành đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9 tháng 3, Thống đốc người Pháp Ernest Thimothée Hoeffel bị bắt; Thống đốc người Nhật là Yoshio Minoda sử dụng tòa nhà làm dinh thự. Dinh được đổi tên thành "Dinh Khâm sai Nam Kỳ".
Ngày 14 tháng 8, người Nhật giao lại dinh thự cho chính quyền Trần Trọng Kim của Đế quốc Việt Nam để làm dinh Khâm sai Đại thần Nam Bộ Nguyễn Văn Sâm.
Đến ngày 25 tháng 8, Việt Minh giành được chính quyền, bắt giam Khâm sai Nguyễn Văn Sâm và Đổng lý văn phòng phủ khâm sai Hồ Văn Ngà tại dinh khâm sai. Sau đó, dinh trở thành trụ sở Ủy ban Hành chánh Lâm thời Nam bộ, gọi tắt là Lâm ủy Nam Bộ, rồi của Ủy ban Nhân dân Nam Bộ.
Ngày 10 tháng 9, Trung tá B. W Roe (phái bộ quân sự Anh) chiếm dinh làm trụ sở Phái bộ Đồng minh, buộc Ủy ban Nhân dân Nam Bộ phải dời về dinh Đốc lý.
Đến ngày 5 tháng 10, dinh được tướng Leclerc dùng làm Phủ Cao ủy Cộng hòa Pháp tạm thời. Sau khi Cao ủy Cộng hòa Pháp tại Đông Dương là Đô đốc Georges Thierry d'Argenlieu chọn dinh Norodom làm Phủ Cao ủy, thì dinh lại trở thành nơi làm việc của tướng Leclerc, nhưng lần này với danh nghĩa chính thức là trụ sở của Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Việt Nam.
Nam Kỳ Quốc và Quốc gia Việt Nam.
Sau khi tái chiếm Đông Dương, ngày 23 tháng 5 năm 1947, chính quyền Pháp đã bàn giao dinh cho Thủ tướng Lê Văn Hoạch để làm trụ sở chính phủ Nam kỳ quốc. Ngày 2 tháng 6 năm 1948, chính phủ lâm thời Quốc gia Việt Nam được thành lập và dinh được sau đó chuyển thành dinh Tổng trấn (sau đổi thành Thủ hiến) Nam phần dưới quyền sử dụng của Thủ hiến Trần Văn Hữu.
Tại đây, ngày 9 tháng 1 năm 1950, đã nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hơn 6000 học sinh-sinh viên và giáo viên các trường, yêu cầu thả ngay những học sinh, sinh viên bị bắt vô cớ trước đó. Lúc 13 giờ chiều ngày hôm đó, chính quyền của thủ hiến Trần Văn Hữu đã huy động một lực lượng lớn cảnh sát để đàn áp, bắt giữ 150 người, đánh 30 người trọng thương tại chỗ, học sinh trường Petrus Ký là Trần Văn Ơn đã bị trúng đạn tử thương. Sự kiện này đã dẫn đến đám tang Trần Văn Ơn ngày 12 tháng 1 năm 1950, có đến 25.000 tham gia.
Dinh Gia Long thời Việt Nam Cộng hòa.
Sau Hiệp định Genève, tổng thống Ngô Đình Diệm về Sài Gòn nhận chức thủ tướng. Vì dinh Norodom còn do Cao ủy Pháp là tướng Paul Ely đang sử dụng, nên dinh trở thành dinh Thủ tướng tạm thời từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 7 tháng 9 năm 1954. Dinh được Quốc trưởng Bảo Đại đặt cho tên mới là Dinh Gia Long. Con đường La Grandìere trước mặt cũng được đổi tên thành đường Gia Long.
Sau cuộc trưng cầu dân ý phế truất Bảo Đại năm 1955, tổng thống Ngô Đình Diệm dùng tòa nhà này làm dinh Quốc khách. Ngày 27 tháng 2 năm 1962, dinh Độc Lập bị ném bom, gia đình tổng thống Ngô Đình Diệm dời phủ tổng thống sang đây và ở đây cho đến ngày bị đảo chính lật đổ vào tháng 11 năm 1963.
Trong thời gian 1964–1965, dinh được dùng làm dinh Quốc phó. Ngày 31 tháng 10 năm 1966, khi dinh Độc Lập mới được xây lại xong, tòa nhà này được dùng làm trụ sở của Tối cao Pháp viện Việt Nam Cộng hòa cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Sau 1975, tòa nhà tạm thời không dùng cho mục đích cụ thể nào. Ngày 12 tháng 8 năm 1978, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định sử dụng tòa nhà này làm Bảo tàng Cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 13 tháng 12 năm 1999 thì đổi tên thành Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh như hiện nay.
Tổng diện tích của kiến trúc bao gồm một tòa nhà rộng hơn 1.700 m² gồm hai tầng của tòa nhà chính và tòa nhà ngang thiết kế theo phong cách cổ điển - phục hưng, kết hợp Âu - Á: mặt tiền của tầng lầu mang đường nét Tây phương, nhưng phần mái lại mang dáng dấp Á Đông. Bao quang khu nhà là một khuôn viên vườn hoa có hình dạng như một hình thang bao quanh bởi bốn con đường đã kể trên.
Do mục đích ban đầu của tòa nhà là Bảo tàng Thương mại trưng bày những sản vật trong nước, vì thế ở hai bên cửa chính có 2 cột trụ trang trí bằng hai tượng nữ thần Thương nghiệp và Công nghiệp. Ngay phần chóp trên mái tam giác ở mặt phía trước được trang trí bằng một tượng đầu người nghiêm trang. Hai bên trang trí bằng các họa tiết đắp nổi như cành dương liễu, tràng hoa lá bao xung quanh, rắn khoanh tròn, hình tượng con gà tượng trưng cho ban ngày và chim cú tượng trưng cho ban đêm ở hai góc, một vòng hào quang phía sau đầu tượng.
Nhiều họa tiết khác đắp nổi trên mái là sự kết hợp giữa các biểu tượng thần thoại Hi Lạp và hình tượng cây cỏ và thú vật vùng nhiệt đới như họa tiết thằn lằn và chim cao cẳng chuyển động bằng cách uống cong hoặc xòe cánh.
Năm 1943, Thống đốc Nam Kỳ Ernest Thimothée Hoeffel lại cho phá bỏ hai tượng nữ thần tại cửa chính của dinh để xây dựng một mái hiên.
Ngày 27 tháng 2 năm 1962, Dinh Độc Lập bị lực lượng đảo chính ném bom, Tổng thống Ngô Đình Diệm dời về dinh Gia Long và cho xây dựng hầm bí mật trong dinh.
Theo hồ sơ lưu trữ, hầm được xây dựng từ tháng 5 tháng 1962 đến tháng 10 năm 1963 thì xong, với tổng kinh phí 12.514.114 đồng lúc bấy giờ, và theo bản thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.
Nội dung trưng bày gồm 9 phần cố định.
Phòng Thiên nhiên và Khảo cổ.
Giới thiệu vị trí địa lý, địa chất, khoáng sản, địa hình, khí hậu, động, thực vật, hệ thống sông ngòi, đời sống của cư dân cổ cách đây 3000 – 2000 năm với những công cụ lao động: rìu đá, cuốc đá, trang sức, đồ minh khí, hình thức mai táng tìm được ở các di tích khảo cổ Bến Đò, di tích Gò Sao, Rỏng Bàng, Gò Cát, Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt, Giồng Am, các di tích trong nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh.
Phòng Địa lý và Hành chính Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh.
Với sưu tập bản đồ, biểu đồ, hình ảnh, hiện vật phòng trưng bày khái quát quá trình hình thành và phát triển của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh về mặt địa lý, hành chính. Từ một đô thị được quy hoạch cho 50.000 dân đến hiện nay thành phố có trên 6 triệu dân. Các bản đồ cổ lập nên từ các thế kỷ trước, cho thấy mạng sông rạch là yếu tố cơ bản của cấu trúc thành phố. Hiện nay, hệ thống sông rạch ấy được thay thế bằng những đại lộ (đường Hàm Nghi, đường Nguyễn Huệ…).
Phòng Thương cảng, Thương mại và Dịch vụ.
Với hơn 527 hiện vật, 36 ảnh và 10 bản đồ, phòng trưng bày giới thiệu khái quát về vai trò trung tâm kinh tế của Sài Gòn đối với khu vực phía Nam nói riêng và cả nước nói chung qua các vấn đề: Hệ thống cảng Sài Gòn, chợ Bến Thành và những chợ xưa, cửa hàng chạp phô của người Hoa xưa, các hiện vật đo lường xưa nay, hệ thống giao thông: với các bến xe, ga tàu hỏa, sân
Phòng Công nghiệp và Tiểu thủ Công nghiệp.
Giới thiệu một số nghề thủ công truyền thống và đôi nét về công nghiệp tại Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Với gần 300 hiện vật, hình ảnh trưng bày về các nghề gốm, nghề đúc đồng, nghề kim hoàn, nghề dệt, nghề chạm khắc gỗ... Một số cơ sở công nghiệp đầu tiên của thành phố những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các khu công nghiệp tập trung giai đoạn 1954 - 1975, các khu công nghệ cao hiện
Phòng Văn hóa Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh.
Giới thiệu phong tục, tín ngưỡng, nghệ thuật và giáo dục của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh. Phòng trưng bày mô tả đám cưới truyền thống của bốn nhóm dân tộc Việt, Chăm, Hoa và Khmer, tục ăn trầu, tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Thành hoàng, thờ Thổ Địa - thần Tài, sưu tập nhạc cụ, trang phục, đạo cụ và hình ảnh của một số vở cải lương nổi tiếng của sân khấu cải lương, nghệ thuật sân khấu truyền thống của dân tộc Khmer, đặc biệt phòng trưng bày còn giới thiệu các tư liệu về nền giáo dục ở Sài Gòn – nơi truyền bá chữ quốc ngữ và báo chí được xuất bản đầu tiên tại Việt Nam.
Phòng Đấu tranh cách mạng 1930 - 1954.
Nêu bậc các phong trào đấu tranh chính trị từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, với nhiều tấm gương hy sinh. Ngoài ra, phòng còn trưng bày tái hiện phần nào quang cảnh ngày độc lập tại quảng trường Norodom – Sài Gòn ngày 2 tháng 9 năm 1945 và cuộc kháng chiến 9 năm.
Phòng Đấu tranh cách mạng 1954 - 1975.
Trưng bày các vấn đề: Hội nghị Genève về việc chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương ngày 21 tháng 7 năm 1954, Phong trào Đồng khởi năm 1960, Địa đạo Củ Chi, sự ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 20 tháng 12 năm 1960, Sự kiện Tết Mậu Thân (1968), Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập ngày 6 tháng 6 năm 1969, Hội nghị Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973, Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975), Phong trào đấu tranh của các nước trên thế ủng hộ nhân dân Việt Nam.
Phòng Kỷ vật kháng chiến.
Trưng bày những hiện vật, di vật đồng hành với cuộc sống và chiến đấu của các cán bộ, chiến sĩ và liệt sĩ trong 30 năm kháng chiến, bao gồm các nhóm hiện vật: Di vật của liệt sĩ trinh sát Trung đoàn Gia Định, hiện vật của Văn công tiền tuyến, trang bị cá nhân của các chiến sĩ Trường Sơn, máy ảnh, máy quay phim của phóng viên chiến trường, kỷ vật trong tù của các chiến sĩ cách mạng, mô hình bếp Hoàng Cầm, ký họa kháng chiế
Phòng Tiền Việt Nam.
Giới thiệu 1.086 hiện vật bao gồm sưu tập tiền kim loại, tiền giấy, tiền thưởng qua các thời kỳ lịch sử ở Việt Nam. Ngoài ra, ở đây còn có hình ảnh các công đoạn đúc tiền thời phong kiến, một số văn tự liên quan đến tiề
Ngoài 9 phần trưng bày cố định vừa kể sơ lược ở trên, ở Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh còn có các phòng trưng bày chuyên đề, và ở bên ngoài tòa nhà còn khu trưng bày một số loại máy bay, xe và vũ khí,
|
Giang mai ("syphilis") là một bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc qua tiếp xúc. Nó do xoắn khuẩn "Treponema pallidum" ("xoắn khuẩn giang mai") gây ra. Đường lây truyền của bệnh giang mai phần lớn là qua đường tình dục, mặc dù có những ca bệnh giang mai lây qua tiếp xúc hoặc sử dụng chung đồ dùng với người bệnh, hoặc do bẩm sinh (lây truyền từ mẹ sang con trong tử cung hoặc khi sinh).
Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh giang mai rất nhiều, do đó trước khi phương pháp xét nghiệm huyết thanh học ra đời thì việc chẩn đoán chính xác bệnh giang mai rất khó khăn bởi vì nó thường bị nhầm lẫn với các bệnh khác, đặc biệt là trong giai đoạn 3.
Giang mai trước kia là bệnh không chữa được nên người ta rất khiếp sợ nó, nhưng ngày nay có thể điều trị được bằng thuốc kháng sinh như penicillin. Nếu không chữa trị, bệnh giang mai có thể gây biến chứng cho tim, động mạch chủ, não, mắt, và xương, trong một số trường hợp có thể gây tử vong.
Bệnh giang mai phát triển theo bốn giai đoạn chính: giai đoạn 1, giai đoạn 2, giai đoạn ủ bệnh và giai đoạn 3.
Đây là giai đoạn rất quan trọng để phát hiện và điều trị kịp thời. Khoảng 3-90 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh (trung bình 21 ngày), sẽ xuất hiện tổn thương da ở các điểm tiếp xúc. Vết loét xuất hiện ở những nơi tiếp xúc với xoắn khuẩn giang mai, thường là ở bộ phận sinh dục như: môi lớn, môi bé, âm đạo, cổ tử cung, quy đầu, dương vật hoặc trực tràng. Tổn thương này, được gọi là săng giang mai, là một dạng viêm loét, có đặc điểm nông, hình tròn hay bầu dục kích thước 0.3 đến 3 cm, bờ nhẵn, màu đỏ, không ngứa, không đau, không có mủ; đáy vết loét thâm nhiễm cứng và kèm theo nổi hạch hai bên vùng bẹn, cứng và cũng không đau. Các triệu chứng trên có thể tự biến đi sau 3 đến 6 tuần lễ kể cả không điều trị nên nhiều người tưởng lầm là khỏi bệnh nhưng thực sự là vi khuẩn lúc đó đã vào máu, bệnh vẫn tiếp tục phát triển với những biểu hiện khác.
Giai đoạn 2 xảy ra từ 4 đến 10 tuần sau giai đoạn 1. Giai đoạn này có rất nhiều biểu hiện khác nhau, ví dụ như: nốt ban đối xứng, màu hồng như hoa đào (đào ban) không ngứa trên toàn thân hoặc tứ chi bao gồm cả lòng bàn tay, bàn chân , hình ảnh đào ban màu đỏ hồng hoặc hồng tím như cánh hoa đào, ấn vào thì mất, không nổi cao trên mặt da, không bong vảy và tự mất đi. Thường khu trú hai bên mạng sườn, ngực, bụng, chi trên. Đào ban xuất hiện dần trong vòng 1 đến 2 tuần, tồn tại không thay đổi trong vòng 1 -3 tuần sau đó nhạt màu dần rồi mất đi.
Hoặc bệnh có thể làm xuất hiện các mảng sẩn, nốt phỏng nước, vết loét ở da và niêm mạc. Mảng sẩn, sẩn các loại, có nhiều kích thước khác nhau, như bằng hạt đỗ, đinh gim, hoặc sẩn hình liken, ranh giới rõ ràng màu đỏ như quả dâu, không liên kết với nhau, thường hay bong vảy và có viền da ở xung quanh sẩn, nếu các sẩn có liên kết với nhau sẽ tạo thành các mảng, hay sẩn mảng, các sản ở kẽ da do bị cọ xát nhiều có thể bị trợt ra, chảy nước, trong nước này có chứa rất nhiều xoắn khuẩn nên rất dễ lây khi tiếp xúc với những bệnh nhân này. Sẩn mủ ít gặp hơn đào ban và các loại sẩn trên, chủ yếu ở những người nghiện rượu, trông giống như viêm da mủ nông và sâu. Tại các khu vực ẩm ướt của cơ thể (thường là âm hộ hoặc bìu), phát ban trở nên bằng phẳng, rộng, màu trắng, hoặc các thương tổn giống như mụn cóc.
Các triệu chứng khác thường gặp ở giai đoạn này bao gồm sốt, đau họng, mệt mỏi, sụt cân, đau đầu, nổi hạch. Một số trường hợp hiếm gặp có thể kèm theo viêm gan, thận, viêm khớp, viêm màng xương, viêm dây thần kinh thị giác, viêm màng bồ đào, và viêm giác mạc kẽ.
Các triệu chứng này thường tự biến mất sau 3-6 tuần.
Giai đoạn tiềm ẩn.
Giang mai tiềm ẩn được xác định khi có bằng chứng huyết thanh của bệnh nhưng không có dấu hiệu hoặc triệu chứng của bệnh. Giai đoạn này chia làm hai loại: thời gian tiềm ẩn dưới 1 năm sau giai đoạn 2 (sớm) và thời gian tiềm ẩn kéo dài hơn 1 năm sau giai đoạn 2 (muộn). Giang mai tiềm ẩn sớm có thể tái phát các triệu chứng bệnh, giang mai tiềm ẩn muộn không có triệu chứng và không lây bằng giang mai tiềm ẩn sớm.
Giang mai giai đoạn 3 có thể xảy ra khoảng 3-15 năm sau những triệu chứng của giai đoạn 1 và được chia thành ba hình thức khác nhau: giang mai thần kinh (6,5%), giang mai tim mạch (10%) và củ giang mai (15%). Những người bị bệnh giang mai giai đoạn này không lây bệnh.
Tuy là bệnh nguy hiểm nhưng bệnh giang mai nếu được điều trị bằng những loại thuốc đặc trị thì tỷ lệ khỏi bệnh là khá cao, miễn là phải được phát hiện sớm và điều trị đúng chỉ dẫn của thầy thuốc.
Lựa chọn đầu tiên cho việc điều trị các bệnh giang mai không biến chứng là một liều duy nhất penicillin G tiêm bắp. Doxycycline và tetracycline cũng là sự lựa chọn thay thế, tuy nhiên không thể sử dụng ở phụ nữ mang thai. Ceftriaxone có thể có hiệu quả tương tự như điều trị bằng penicillin.
Giai đoạn biến chứng.
Do penicillin G ít xâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương cho nên đối với những bệnh nhân giang mai thần kinh nên được tiêm penicillin liều cao vào tĩnh mạch tối thiểu là 10 ngày. Nếu bị dị ứng với penicilline thì có thể được sử dụng cetriaxone thay thế. Điều trị tại thời điểm này sẽ hạn chế sự tiến triển hơn nữa của bệnh, nhưng không thể cải thiện các thiệt hại do bệnh đã gây ra.
Một trong những tác dụng phụ của điều trị là phản ứng Jarisch-Herxheimer. Phản ứng phụ thường bắt đầu trong vòng một giờ sau khi tiêm thuốc và kéo dài trong 24 giờ với các triệu chứng sốt, đau cơ, nhức đầu, và nhịp tim nhanh.
Hiện nay vẫn chưa vác xin chủng ngừa có hiệu quả cho công tác phòng chống. Không nên quan hệ tình dục hay tiếp xúc vật lý trực tiếp với một người bị bệnh để tránh lây truyền bệnh giang mai, có thể sử dụng bao cao su đúng cách, tuy nhiên vẫn có thể không hoàn toàn an toàn. Giang mai không lây qua nhà vệ sinh, các hoạt động hàng ngày, bồn tắm, hay dụng cụ ăn uống hoặc quần áo.
Tính đến năm 2018, chưa có loại vắc xin nào có hiệu quả phòng chống căn bệnh này. Một số vắc-xin dựa trên protein treponemal đã làm giảm sự phát triển tổn thương ở các thí nghiệm với động vật, nhưng nghiên cứu vẫn đang tiếp tục.
Quan hệ tình dục.
Sử dụng bao cao su làm giảm khả năng lây truyền khi quan hệ tình dục, nhưng nó không thể loại bỏ hoàn toàn nguy cơ lây bệnh. Theo Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh (CDC) tại các tiểu bang Hoa Kỳ, "sử dụng đúng cách và phù hợp bao cao su latex có thể làm giảm nguy cơ lây bệnh giang mai chỉ khi vùng da bị nhiễm bệnh hoặc bộ phận phơi nhiễm tiềm ẩn được bảo vệ". Tuy nhiên, những vùng có giang mai nằm bên ngoài khu vực được bao phủ bởi bao cao su latex vẫn có thể cho phép lây truyền bệnh, vì vậy cần thận trọng ngay cả khi sử dụng bao cao su
Kiêng tiếp xúc tình dục với người bị bệnh có hiệu quả cao trong việc giảm lây truyền bệnh giang mai. CDC tuyên bố rằng "Cách chắc chắn nhất để tránh lây truyền các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả bệnh giang mai, là kiêng quan hệ tình dục hoặc quan hệ chung thủy một vợ một chồng lâu dài với bạn đời đã được xét nghiệm và được biết chắc là không bị nhiễm bệnh".
Giang mai bẩm sinh.
Bệnh giang mai bẩm sinh ở trẻ sơ sinh có thể được ngăn ngừa bằng cách sàng lọc các bà mẹ trong thời kỳ đầu mang thai và điều trị cho những thai phụ bị nhiễm bệnh Dịch vụ dự phòng Hoa Kỳ (USPSTF) khuyến cáo rằng nên sàng lọc phổ quát cho tất cả phụ nữ có thai, trong khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo tất cả phụ nữ nên được xét nghiệm ở lần khám thai đầu tiên của họ và một lần nữa trong ba tháng cuối thai kỳ. Nếu họ dương tính, bạn tình của họ cũng nên được điều trị.
Bệnh giang mai bẩm sinh vẫn còn phổ biến ở các nước đang phát triển, do nhiều phụ nữ không được khám thai hoặc không được khám sàng lọc giang mai. Nó vẫn thỉnh thoảng xảy ra ở các nước phát triển, nếu những người có nhiều khả năng mắc bệnh giang mai ít được chăm sóc trong thời kỳ mang thai. Một số biện pháp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận xét nghiệm có vẻ hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh giang mai bẩm sinh ở các nước có thu nhập thấp đến trung bình. Xét nghiệm tại nơi chăm sóc để phát hiện bệnh giang mai có vẻ là đáng tin cậy mặc dù cần có thêm nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của nó và cải thiện kết quả ở bà mẹ và trẻ sơ sinh.
Trung tâm kiểm soát dịch bệnh (CDC) Mỹ khuyến cáo rằng những người đàn ông có quan hệ tình dục đồng tính luyến ái nên được kiểm tra ít nhất hàng năm. USPSTF cũng khuyến nghị sàng lọc những người có nguy cơ cao.
Bệnh giang mai là một bệnh phải khai báo ở nhiều quốc gia, bao gồm Canada, và Liên minh châu Âu, và Mỹ. Điều này có nghĩa là các cơ sở y tế chăm sóc sức khỏe được yêu cầu thông báo danh tính người mắc bệnh cho cơ quan y tế công cộng, sau đó lý tưởng nhất là cơ quan này sẽ thông báo cho các đối tác tình dục của người đó. Bác sĩ cũng có thể khuyến khích bệnh nhân bảo bạn tình đi khám. Một số chiến lược đã được tạo ra để cải thiện việc theo dõi kiểm tra STI, bao gồm email và tin nhắn văn bản nhắc nhở về các cuộc hẹn khám bệnh.
12 triệu người nhiễm giang mai vào năm 1999 với hơn 90% trường hợp ở các nước đang phát triển. Nó ảnh hưởng từ 700.000 và 1.600.000 thai phụ mỗi năm dẫn đến sẩy thai tự nhiên, thai chết lưu, và giang mai bẩm sinh. Trong vùng Sahara ở châu Phi, giang mai góp phần làm tử vong khoảng 20% trẻ sơ sinh.
Trong thế giới phát triển, các ca nhiễm bệnh giang mai đã suy giảm cho đến năm 1980 và 1990 do sử dụng rộng rãi các thuốc kháng sinh. Từ năm 2000, tỷ lệ giang mai đã gia tăng tại Mỹ, Anh, Australia và châu Âu chủ yếu ở nam giới quan hệ tình dục với nam giới (đồng tính luyến ái) do thực hành tình dục không an toàn.
Tại Hoa Kỳ, nhân viên y tế báo cáo khoảng 32.000 người mắc bệnh giang mai trong năm 2002, phần lớn ở tuổi 20–39. Cao nhất ở nữ tuổi 20–24 và nam tuổi 35–39. Năm 2001 có 492 trẻ sơ sinh bị cha mẹ truyền bệnh giang mai, năm 2002 số này tụt xuống một chút – 412.
Nguồn gốc của bệnh giang mai không được xác định chính xác. Có ba lý thuyết đã được đề xuất. Các sử gia và nhà nhân loại học cho rằng giang mai đã xuất hiện ở những người dân bản địa của châu Mỹ trước khi người châu Âu đến vùng đất này. Tuy nhiên, vấn đề các chủng giang mai đã xuất hiện hàng thiên niên kỷ trên toàn thế giới hay là bệnh chỉ có ở châu Mỹ trong thời kỳ tiền Columbus vẫn được đem ra tranh luận.
Crosby viết, "Không phải là không thể nào mà các sinh vật xoắn khuẩn đến từ châu Mỹ vào những năm , hoa liễu và không hoa liễu, và bệnh ghẻ cóc." Tuy nhiên, Crosby xem xét có nhiều khả năng có một loài vi khuẩn cổ rất dễ lây đã di chuyển cùng với tổ tiên của con người trên toàn cầu qua eo biển Bering hàng nghìn năm trước mà không chết. Ông đưa ra giả thuyết rằng "các điều kiện sinh thái khác nhau cho ra các loại xoắn khuẩn khác nhau và theo thời gian những vi khuẩn có mối quan hệ chặt chẽ nhưng lại gây ra các bệnh khác nhau."
Nguồn gốc của bệnh giang mai đang bị tranh cãi. Bệnh giang mai đã có mặt ở châu Mỹ trước khi người châu Âu tới đây, và nó có thể đã được mang từ châu Mỹ sang châu Âu bởi các thủy thủ đoàn trở về từ chuyến đi của Christopher Columbus đến châu Mỹ, hoặc nó có thể đã tồn tại ở châu Âu từ trước đó nhưng không được công nhận cho đến khi Columbus trở về không lâu. Đây lần lượt là các giả thuyết "Colombian" và "tiền Colombia". Giả thuyết Colombia được hỗ trợ tốt hơn bằng những bằng chứng và những phát hiện từ phân tích gien phát sinh loài gợi ý rằng trên thực tế, đó là một căn bệnh phát sinh từ châu Mỹ.
Các ghi chép đầu tiên về sự bùng phát bệnh giang mai ở châu Âu xảy ra vào năm 1494 hoặc 1495 tại Naples, Ý, trong cuộc xâm lược của Pháp (Chiến tranh Ý 1494–98). Vì nó được cho là do quân đội Pháp lây lan, nên ban đầu nó được người dân Naples gọi là "căn bệnh của người Pháp". Năm 1530, cái tên "syphilis" - "bệnh giang mai" (tên một nhân vật) lần đầu tiên được bác sĩ và nhà thơ người Ý Girolamo Fracastoro sử dụng làm tiêu đề cho bài thơ tiếng Latinh của ông mô tả sự tàn phá của căn bệnh này ở Ý. Nó còn được gọi là "Great Pox".
Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19, bệnh giang mai là một trong những gánh nặng sức khỏe cộng đồng lớn nhất về tỷ lệ hiện mắc, các triệu chứng và khuyết tật:208–209 mặc dù các hồ sơ về tỷ lệ mắc thực sự của nó thường không được lưu giữ vì tình trạng ghê sợ các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong những thế kỷ đó.:208–209 Theo một nghiên cứu năm 2020, hơn 20% cá nhân trong độ tuổi 15–34 vào cuối thế kỷ 18 ở London đã từng được điều trị bệnh giang mai. Vào thời điểm đó, tác nhân gây bệnh vẫn chưa được biết nhưng ai cũng biết rằng nó lây lan qua đường tình dục và cũng thường từ mẹ sang con. Mối liên hệ của nó với tình dục, đặc biệt là ngoại tình và mại dâm, khiến nó trở thành đối tượng của sự sợ hãi và ghê tởm và là một điều cấm kỵ. Mức độ bệnh tật và tử vong của nó trong những thế kỷ đó phản ánh rằng thời đó y khoa không có sự hiểu biết đầy đủ về cơ chế bệnh sinh của nó và không có phương pháp điều trị thực sự hiệu quả. Sự nguy hiểm của nó không phải do bệnh trở nặng hoặc tử vong sớm trong quá trình của bệnh, mà là do tác động khủng khiếp của nó nhiều thập kỷ sau khi nhiễm bệnh, khi nó tiến triển thành bệnh giang mai thần kinh với các nốt sần ở lưng. Thời đó, các hợp chất và phân lập từ thủy ngân thường được sử dụng trong các phương pháp điều trị, thường gây hậu quả còn nặng hơn chính căn bệnh.
Vi khuẩn gây bệnh, Treponema pallidum, được xác định lần đầu tiên bởi Fritz Schaudinn và Erich Hoffmann, vào năm 1905. Phương pháp điều trị hiệu quả đầu tiên đối với bệnh giang mai là arsphenamine, được phát hiện bởi Sahachiro Hata vào năm 1909, trong một cuộc khảo sát hàng trăm hợp chất arsenic hữu cơ mới được tổng hợp do Paul Ehrlich dẫn đầu. Nó được sản xuất và bán trên thị trường từ năm 1910 với tên thương mại là Salvarsan bởi Hoechst AG. Đây là hợp chất organoarsenic đầu tiên sử dụng trong trị liệu hóa học hiện đại.
Trong suốt thế kỷ 20, khi cả vi sinh vật học và dược học đã phát triển vượt bậc, bệnh giang mai, giống như nhiều bệnh truyền nhiễm khác, trở thành một gánh nặng có thể kiểm soát được hơn là một bí ẩn đáng sợ, ít nhất là ở các nước phát triển với những người có đủ khả năng chi trả để được chẩn đoán kịp thời và điều trị. Penicillin được phát hiện vào năm 1928, và hiệu quả của việc điều trị bằng penicillin đã được xác nhận trong các thử nghiệm vào năm 1943, tại thời điểm đó nó trở thành phương pháp điều trị chính.
Nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng, bao gồm Franz Schubert, Arthur Schopenhauer, Édouard Manet, Charles Baudelaire, và Guy de Maupassant được tin là đã mắc bệnh này. Friedrich Nietzsche từ lâu được cho là đã phát điên do bệnh giang mai giai đoạn ba, nhưng chẩn đoán đó gần đây đã bị nghi ngờ.
Trong nghệ thuật và văn học.
Các mô tả sớm nhất được biết đến của một người mắc bệnh giang mai là "Syphilitic Man" của Albrecht Dürer, một bản khắc gỗ cho là mô tả một Landsknecht, một lính đánh thuê người Bắc Âu Huyền thoại về "femme fatale" hay "phụ nữ đầu độc" của thế kỷ 19 được cho là một phần bắt nguồn từ sự tàn phá của bệnh giang mai, với những ví dụ kinh điển trong văn học bao gồm "La Belle Dame sans Merci" của John Keats.
Nghệ sĩ Stradanus đã làm một bản in có tên "Chuẩn bị và sử dụng Guayaco để điều trị bệnh giang mai", mô tả cảnh một người đàn ông giàu có được điều trị bệnh giang mai bằng loại cây nhiệt đới guaiacum vào khoảng năm 1590.
Thí nghiệm Tuskegee và Guatemala.
"Nghiên cứu Tuskegee về bệnh giang mai không được điều trị ở nam giới da đen" là một nghiên cứu lâm sàng khét tiếng, phi đạo đức và phân biệt chủng tộc được thực hiện từ năm 1932 đến năm 1972 bởi Dịch vụ Y tế Công cộng Hoa Kỳ. Trong khi mục đích của nghiên cứu này là quan sát sự tiến triển tự nhiên của bệnh giang mai không được điều trị; những người đàn ông Mỹ gốc Phi trong cuộc thí nghiệm bị chính phủ Hoa Kỳ nói dối là họ đang được điều trị miễn phí chứng "máu xấu".
Dịch vụ Y tế Công cộng Hoa Kỳ bắt đầu thực hiện nghiên cứu này vào năm 1932 với sự hợp tác của Đại học Tuskegee, một trường cao đẳng dành cho người da đen ở Alabama. Các nhà nghiên cứu đã thu nhận 600 người Mỹ gốc Phi nghèo từ hạt Macon, bang Alabama vào nghiên cứu. Trong số những người đàn ông này, 399 người đã mắc bệnh giang mai trước khi nghiên cứu bắt đầu, và 201 không mắc bệnh. Chăm sóc y tế, bữa ăn nóng và bảo hiểm mai táng miễn phí đã được trao cho những người tham gia. Những người đàn ông được cho biết rằng nghiên cứu sẽ kéo dài sáu tháng, nhưng cuối cùng nó vẫn tiếp tục trong 40 năm. Không ai trong số những người đàn ông bị nhiễm bệnh được thông báo rằng họ mắc bệnh và không ai được điều trị bằng penicillin ngay cả sau khi thuốc kháng sinh đã được chứng minh là có thể điều trị thành công bệnh giang mai. Theo Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh, những người đàn ông được cho biết họ đang được điều trị vì "máu xấu" - một thuật ngữ để chỉ thiếu máu hoặc bệnh giang mai - là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở nam giới người Mỹ gốc Phi.
Nghiên cứu kéo dài 40 năm đã trở thành một ví dụ điển hình về sự kém y đức vì các nhà nghiên cứu đã cố tình từ chối điều trị người bệnh bằng penicillin và vì các đối tượng đã hiểu sai về mục đích của nghiên cứu. Tiết lộ vào năm 1972 về những thất bại của nghiên cứu này bởi một người tố giác, Peter Buxtun, đã dẫn đến những thay đổi lớn trong luật pháp và quy định của Hoa Kỳ về việc bảo vệ những người tham gia nghiên cứu lâm sàng. Giờ đây, các nghiên cứu yêu cầu sự đồng ý dựa trên việc hiểu rõ nghiên cứu, thông tin chẩn đoán và báo cáo chính xác kết quả xét nghiệm.
Các thí nghiệm tương tự đã được thực hiện ở Guatemala từ năm 1946 đến năm 1948. Nó được thực hiện dưới thời chính quyền của Tổng thống Mỹ Harry S. Truman và Tổng thống Guatemala Juan José Arévalo với sự hợp tác của một số bộ và quan chức y tế Guatemala. Các bác sĩ đã lây nhiễm bệnh cho binh lính, gái mại dâm, tù nhân và bệnh nhân tâm thần mắc bệnh giang mai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác mà không có sự đồng ý của đối tượng và điều trị hầu hết các đối tượng bằng thuốc kháng sinh. Thí nghiệm khiến ít nhất 83 người chết. Vào tháng 10 năm 2010, Mỹ đã chính thức xin lỗi Guatemala vì những vi phạm đạo đức đã diễn ra. Ngoại trưởng Hillary Clinton và Bộ trưởng Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Kathleen Sebelius tuyên bố "Mặc dù những sự kiện này đã xảy ra hơn 64 năm trước, nhưng chúng tôi rất phẫn nộ vì nghiên cứu đáng trách như vậy có thể đã xảy ra dưới chiêu bài y tế công cộng. Chúng tôi vô cùng lấy làm tiếc vì điều đó đã xảy ra, và chúng tôi xin lỗi tất cả những cá nhân đã bị ảnh hưởng bởi các hoạt động nghiên cứu ghê tởm như vậy." Các thí nghiệm được dẫn dắt bởi bác sĩ John Charles Cutler, người cũng tham gia vào giai đoạn cuối của thí nghiệm bệnh giang mai Tuskegee
Lần đầu tiên nó được người Pháp gọi là "grande verole" hay "bệnh đậu lớn", để phân biệt nó với bệnh đậu mùa bởi vì trong giai đoạn đầu của bệnh, các ban nước lớn phát ra tương tự như bệnh đậu mùa. Các tên lịch sử khác bao gồm "button scurvy", sibbens, frenga và dichuchwa, trong số những tên khác.
Vì nó là một căn bệnh đáng hổ thẹn, căn bệnh này đã được gọi ở một số quốc gia bằng việc gán tên của quốc gia láng giềng có nhiều xung đột với họ. Người Anh, Đức và Ý gọi nó là "bệnh Pháp", trong khi người Pháp gọi nó là "bệnh Neapolitan". Người Hà Lan gọi nó là "bệnh Tây Ban Nha" trong Cuộc nổi dậy của Hà Lan chống lại Tây Ban Nha. Đối với người Thổ Nhĩ Kỳ, nó được gọi là "căn bệnh Cơ đốc giáo" hay "bệnh Frank" (frengi), trong khi ở Ấn Độ, người theo đạo Hindu và đạo Hồi đặt tên căn bệnh này theo tên nhau. Người Nga gọi nó là "căn bệnh của người Ba Lan", người Tahiti gọi nó là "bệnh của người Anh". Những cái tên "quốc gia" là do bệnh thường được lây lan bởi các thủy thủ nước ngoài và các binh sĩ do họ thường xuyên quan hệ tình dục với gái mại dâm ở địa phương.
Tên tiếng Anh của "giang mai" là "Syphilis" được đặt ra bởi một bác sĩ kiêm nhà thơ người Ý: Girolamo Fracastoro trong sử thi bằng tiếng Latinh viết vào năm 1530 của ông, có tiêu đề "Syphilis sive gallicus" (Giang mai hay các bệnh của người Pháp). Các nhân vật chính của bài thơ là một người chăn cừu tên là Syphilus (có lẽ là một lỗi chính tả biến thể của Sipylus, một nhân vật trong Metamorphoses của Ovid). Syphilus được biết đến như là người đầu tiên bị mắc bệnh này, do thần Apollo trừng phạt vì các thách thức của Syphilus. Từ nhân vật này đã bắt nguồn một cái tên cho căn bệnh giang mai.
|
Bệnh lậu mủ (hay "lậu") là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục hàng đầu trên thế giới, do vi khuẩn Gram âm "Neisseria gonorrhoeae" gây ra.
Bệnh lậu có thể lan truyền từ người này qua người khác thông qua đường miệng, bộ phận sinh dục hoặc hậu môn. Nam giới có 20% khả năng mắc bệnh trong 1 lần giao hợp với nữ giới mắc bệnh. Phụ nữ có khoảng 60–80% khả năng mắc bệnh trong 1 lần giao hợp với nam giới mắc bệnh. Tỉ lệ lây bệnh cao hơn đối với quan hệ tình dục đồng giới nam. Người mẹ mắc bệnh trong khi mang thai có thể lây truyền qua con. Bệnh không lây truyền nếu chỉ đơn thuần sử dụng chung phòng tắm hoặc phòng vệ sinh mà không tiếp xúc với bệnh phẩm.
Viêm niệu đạo do lậu có thời gian ủ bệnh từ 3 đến 5 ngày. Đa số nam giới bị bệnh lậu mủ thường có triệu chứng ra mủ nhiều, màu vàng hoặc vàng xanh, tại niệu đạo, kèm theo đái buốt, đái dắt. Nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến lậu mạn tính với các biến chứng thường gặp như viêm mào tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, có thể dẫn tới trạng vô sinh.
Biểu hiện bệnh cấp tính ở nữ có những triệu chứng như đái buốt, mủ chảy ra từ trong niệu đạo, cổ tử cung, màu nâu, vàng hoặc xanh, số lượng nhiều, có mùi hôi. Nhưng vì 50-80% trường hợp bệnh lậu ở nữ không có triệu chứng hoặc triệu chứng không rõ ràng, bệnh nhân nữ hay lậu mạn tính viêm vùng chậu, bị các biến chứng như viêm ống dẫn trứng đến vô sinh và mang thai ngoài tử cung. Phụ nữ đang có thai bị lậu không được điều trị có thể bị sẩy thai và gây lậu mắt trẻ sơ sinh.
Khởi bệnh cấp tính, rầm rộ, đái buốt dữ dội kèm theo có nhiều mủ do đó người bệnh thường đi khám ngay. Thời gian ủ bệnh ngắn (khoảng 2-6 ngày). Dịch niệu đạo số lượng nhiều, nhiều mủ vàng đặc hoặc vàng xanh.
Phương pháp xét nghiệm: nhuộm Gram thấy song cầu khuẩn Gram âm nằm trong tế bao bạch cầu đa nhân, lậu mạn tính vi khuẩn nằm cả trong và ngoài tế bào bạch cầu đa nhân.
Phương pháp điều trị thông thường hiện nay là sử dụng thuốc ceftriaxone (Rocephin) do tình trạng vi khuẩn kháng thuốc xảy ra với các loại thuốc khác. Ceftriaxone sử dụng kết hợp với azithromycin hoặc doxycycline. Một số loại khuẩn lậu đã bắt đầu có biểu hiện kháng lại phương pháp điều trị này, khiến cho việc chữa bệnh lậu càng ngày càng khó khăn hơn.
Điều trị lậu không biến chứng
"- Ceftriaxone (rocephin) 250 mg tiêm bắp liều duy nhất."
"- Spectinomycin (trobicin) 2g liều duy nhất."
"- Cefotaxime 1g tiêm bắp liều duy nhất."
Phối hợp với một trong các loại thuốc sau để điều trị đồng thời nhiễm Chlamydia trachomatis, rất thường gặp cùng với bệnh lậu.
"- Doxycyclin 100 mg uống 2viên/ ngày x 7 ngày"
"- Tetraxyclin 500 mg uống 4 viên/ ngày x 7 ngày"
"- Erythromycin 500 mg, uống 4 viên/ ngày x 7 ngày"
"- Azithromycin (zithromax) 500 mg, uống 2 viên liều duy nhất"
"(Không dùng doxycyclin và tetracyclin cho phụ nữ có thai và cho con bú, và trẻ dưới 7 tuổi)"
Tổ chức Y tế thế giới WHO ước lượng có khoảng 62 triệu ca mắc bệnh lậu mỗi năm trên toàn thế giới Tại thời điểm năm 2010, mỗi năm có khoảng 900 ca tử vong bệnh lậu gây ra (khoảng 1,100 vào năm 1990).
Năm 2005 ở Anh có khoảng 196 trên 100,000 nam giới trong độ tuổi 20-24 và 133 trong 100,000 nữ giới từ 16-19 tuổi được chẩn đoán mắc bệnh.
Năm 2013, ở Mĩ ước chừng có khoảng hơn 820,000 ca mắc bệnh mới mỗi năm, trong đó chỉ có chưa đến một nửa trong số ca mắc bệnh được báo cáo. Năm 2011 thống kê được 321,849 ca.
Nhờ áp dụng chương trình kiểm soát lậu quốc gia từ giữa thập kỉ 70 tại Hoa Kỳ, tỉ lệ mắc bệnh xuống rõ từ 1975 đến 1997 sau đó tăng nhẹ vào năm 1998 và lại giảm xuống từ năm 1999. Vào năm 2004, tỉ lệ mắc bệnh là 113.5 trên 100,000 người.
Tại Hoa Kỳ, lậu xếp hạng 2 trong số các bệnh lây truyền qua đường tình dục. trong số bệnh nhân, người Mĩ gốc Phi chiếm đến 69% tổng số ca vào năm 2010."
|
Krai (tiếng Nga: край; chuyển tự: "krai" hay "kray") là một thuật ngữ trong tiếng Nga. Do các nghĩa cơ bản của nó là "cạnh", "mép", "rìa", "biên", "bờ", "đầu", "ngọn", "chỗ cuối", "miệng" v.v, nên trong việc phân chia đơn vị hành chính tại Nga người ta dùng nó cho các đơn vị cấp tỉnh nằm tại các khu vực nói chung là gần biên giới. Trong ngữ cảnh này nó được sử dụng để chỉ một trong chín đơn vị hành chính cấp tỉnh tại Nga.
Do thiếu từ đồng nghĩa tương đương trong tiếng Việt để biểu thị, thuật ngữ này thường được dịch là "vùng", "vùng lãnh thổ", "tỉnh" hay "khu", mặc dù trên thực tế nó thực sự tương đương với nghĩa "(một phần của) đất nước".
Các krai, oblast (tỉnh) và các nước cộng hòa có địa vị pháp lý ngang nhau trong phạm vi Liên bang Nga. Một số krai còn lớn hơn cả một số quốc gia tại châu Âu.
Các krai cũng được phân chia thành các đơn vị hành chính cấp huyện là "raion".
Hiện nay, trong thành phần Liên bang Nga có 9 krai (vùng) là:
|
Alkyl là các gốc hydrocarbon tương ứng với các alkan. Nhóm nguyên tử còn lại sau khi lấy bớt 1 nguyên tử H từ phân tử alkan, có công thức CnH2n+1, được gọi là nhóm alkyl. Tên của nhóm alkyl không phân nhánh lấy từ tên của alkan tương ứng đổi đuôi an thành đuôi yl
Công thức tổng quát.
CnH2n+1 - trong đó n là một số tự nhiên = 1.
Bỏ đuôi -an trong tên của alkan và thay bằng -yl
Cách gọi tên đồng phân.
Chọn mạch dài nhất chứa liên kết tự do. Đánh số thứ tự. Gọi tên
Vị trí nhánh + tên nhánh + vị trí liên kết tự do + yl.
Một số hợp chất alkyl.
|
Sikhote-Alin (còn được viết là Sikhotae-Alin, (, ], , )), hay Nội Hưng An (內興安), là một dãy núi nằm tại Primorsky và Khabarovsk, Liên bang Nga, kéo dài khoảng 900 km về phía đông bắc của hải cảng Vladivostok trên bờ Thái Bình Dương. Chiều rộng chỗ lớn nhất đạt tới 250 km. Các đỉnh cao nhất là Tordoki Yani (2.077 mét), Ko (2.003 mét) và Anik (1.933 mét).
Khu vực miền núi này được tạo ra do các nếp uốn thời kỳ Đại Trung sinh trong Vành đai nếp uốn Thái Bình Dương ở Viễn Đông Nga, là đường phân thủy lưu vực sông Amur, biển Nhật Bản và vịnh Tatar. Cấu tạo địa hình của khu vực là các lớp trầm tích sa thạch-phiến thạch với nhiều đứt gãy, là điều kiện để tồn tại các mỏ vàng, thiếc và nhiều kim loại khác. Trong các lòng chảo kiến tạo tại khu vực Sikhote-Alin có các mỏ than đá và than nâu. Trong khu vực giáp núi là các cao nguyên bazan. Ở phía nam và phía đông Sikhote-Alin là sơn hệ với các vách núi dốc đứng có độ cao vừa phải, ở phía tây là nhiều thung lũng và lòng chảo chạy dọc theo dãy núi.
Thảm thực vật của Sikhote-Alin khá đa dạng: ở phía nam và phần trung tâm của khu vực miền núi này tới độ cao khoảng 500 m là các cánh rừng lá kim-lá bản rộng với sự chiếm ưu thế của các loài thực vật Mãn Châu, ở phần phía bắc là các rừng lá kim với vân sam (chi "Picea") và linh sam (chi "Abies"). Trên các độ cao lớn hơn thì có thể thấy các đài nguyên núi cao.
Sikhote-Alin là một trong những khu vực ôn đới lạ thường nhất trên thế giới. Các loài động vật đặc trưng của rừng taiga miền bắc như tuần lộc và gấu nâu cùng sinh sống với các loài nhiệt đới như hổ Amur, báo Amur và gấu ngựa. Một lượng lớn động vật hoang dã trong khu vực Sikhote-Alin và Lazo đã được thành lập năm 1935 sự bảo vệ để bảo tồn các loài động vật hoang dã đặc trưng của khu vực.
Di sản thế giới.
Năm 2001, UNESCO đã đưa Trung Sikhote-Alin vào danh sách Di sản thế giới, với tầm quan trọng của nó đối với sự tồn tại của các loài đang nguy cấp như Vịt cát Trung Hoa, cú ăn cá Blakiston và hổ Amur. Tổng diện tích của nó là , trong đó vùng lõi là Khu bảo tồn thiên nhiên Sikhote-Alin có diện tích . Năm 2018, di sản mở rộng thêm thung lũng sông Bikin thuộc Vườn quốc gia Bikin.
Trong các năm từ 1910 - 1930, Sikhote-Alin đã được Vladimir Arsenyev (1872 - 1930) nghiên cứu khá kỹ lưỡng. Ông đã miêu tả các cuộc thám hiểm của mình trong một số cuốn sách, đáng chú ý là cuốn "Dersu Uzala" (1923), vào năm 1975 đã được Akira Kurosawa chuyển thể thành phim đoạt giải Oscar.
|
Xuất tinh sớm xảy ra khi một người đàn ông đạt cực khoái và xuất tinh trong vài chục giây sau khi bắt đầu hoạt động tình dục và với kích thích dương vật tối thiểu. Nó còn được gọi là "xuất tinh nhanh", hoặc ẩn dụ "chưa đi đến chợ đã hết tiền". Không có giới hạn thống nhất định nghĩa "quá sớm", nhưng sự đồng thuận của các chuyên gia tại Hiệp hội Y học Tình dục Quốc tế đã xác nhận định nghĩa khoảng một phút sau khi dương vật thâm nhập. Phân loại bệnh tật quốc tế (ICD-10) áp dụng thời hạn 15 giây kể từ khi bắt đầu quan hệ tình dục.
Mặc dù nam giới bị xuất tinh sớm mô tả rằng họ ít kiểm soát được việc xuất tinh hơn, nhưng không rõ điều đó có đúng không và nhiều hoặc hầu hết nam giới trung bình cũng báo cáo rằng họ ước mình có thể kéo dài hơn. Thời gian trễ xuất tinh điển hình của nam giới là khoảng 4–8 phút. Tình trạng ngược lại là xuất tinh chậm.
Những người đàn ông bị xuất tinh sớm thường cho biết họ gặp khó khăn về tình cảm và mối quan hệ, và một số tránh theo đuổi các mối quan hệ tình dục vì xấu hổ liên quan đến xuất tinh sớm. So với nam giới, phụ nữ coi xuất tinh sớm không phải là quá nặng nề, nhưng một số nghiên cứu cho thấy tình trạng này cũng khiến bạn tình nữ bị căng thẳng.
Nguyên nhân của xuất tinh sớm là không rõ ràng. Nhiều giả thuyết đã được đưa ra, bao gồm xuất tinh sớm là kết quả của việc thủ dâm nhanh chóng ở tuổi vị thành niên để tránh bị bắt quả tang, lo lắng về hiệu suất, tính hung hăng thụ động hoặc quan hệ tình dục quá ít; nhưng có rất ít bằng chứng hỗ trợ bất kỳ lý thuyết nào trong số này.
Một số cơ chế sinh lý đã được giả thuyết góp phần gây ra xuất tinh sớm, bao gồm các thụ thể serotonin, một khuynh hướng di truyền, tăng độ nhạy cảm của dương vật và dẫn truyền thần kinh không điển hình.
Nhân paragigantocellularis của não đã được xác định là có liên quan đến việc kiểm soát xuất tinh. Các nhà khoa học từ lâu đã nghi ngờ có mối liên hệ di truyền với một số dạng xuất tinh sớm. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã không có kết quả trong việc phân lập gen chịu trách nhiệm về xuất tinh sớm suốt đời. Các nhà nghiên cứu khác đã lưu ý rằng những người đàn ông bị xuất tinh sớm có phản ứng thần kinh nhanh hơn ở các cơ vùng chậu.
Xuất tinh sớm có thể do viêm tuyến tiền liệt hoặc do tác dụng phụ của thuốc.
Quá trình vật lý của quá trình xuất tinh đòi hỏi hai hành động: phát ra và tống xuất. Sự phát xạ là giai đoạn đầu tiên. Trong đó có sự lắng đọng của chất lỏng từ ống dẫn tinh, túi tinh và tuyến tiền liệt vào sau niệu đạo. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn đẩy ra: bàng quang sẽ đóng cổ, sau đó là sự co thắt nhịp nhàng của niệu đạo bởi cơ vùng chậu-đáy chậu và cơ hành xốp và sự giãn ra không liên tục của các cơ thắt ngoài niệu đạo.
Các tế bào thần kinh vận động giao cảm kiểm soát giai đoạn phát xạ của phản xạ xuất tinh, và giai đoạn xuất tinh được thực hiện bởi các tế bào thần kinh vận động soma và tự động. Các tế bào thần kinh vận động này nằm trong tủy sống ngực và tủy sống và được kích hoạt một cách phối hợp khi đầu vào cảm giác đủ để đạt đến ngưỡng phóng tinh đã đi vào hệ thần kinh trung ương.
Thời gian xuất tinh.
Báo cáo Kinsey năm 1948 nêu ra rằng 3/4 đàn ông xuất tinh trong vòng hai phút sau khi thâm nhập vào âm đạo trong hơn một nửa số lần quan hệ tình dục.
Các bằng chứng hiện tại ủng hộ thời gian trễ xuất tinh trong âm đạo (IELT, viết tắt từ "intravaginal ejaculation latency time") trung bình là sáu phút rưỡi ở những người từ 18 đến 30 tuổi. Nếu phân vị IELT dưới 2,5% được coi là chứng rối loạn, thì xuất tinh sớm có thể tương đương với thời gian IELT dưới khoảng hai phút. Tuy nhiên, có thể có những nam giới vốn có IELTs thấp bất thường, thấy hài lòng với kết quả của họ nên đã không tường trình lại về việc thiếu kiểm soát. Tương tự, những người có thời gian trễ xuất tinh cao hơn có thể được coi là xuất tinh sớm, chịu các tác dụng phụ bất lợi thường liên quan đến xuất tinh sớm, và thậm chí có lợi khi điều trị.
Theo tiêu chí dựa trên bằng chứng do Hiệp hội Y học Tình dục Quốc tế đưa ra vào năm 2014, xuất tinh sớm là một vấn đề y khoa vì không phải là kết quả của bệnh tâm thần không liên quan đến tình dục, một vấn đề trong một mối quan hệ nhất định hoặc do thuốc gây ra bởi người xuất tinh xung quanh một phút sau khi thâm nhập và trước khi người đó muốn xuất tinh, xảy ra trong thời gian dài hơn 6 tháng và xảy ra hầu như mọi lúc, khiến người bệnh lo âu. Những yếu tố này được xác định bằng cách nói chuyện với người đó, chứ không thông qua xét nghiệm chẩn đoán nào.
ICD-10 2007 đã định nghĩa xuất tinh sớm là xuất tinh mà không có sự kiểm soát và trong vòng khoảng 15 giây.
Một số phương pháp điều trị đã được thử nghiệm để điều trị xuất tinh sớm. Phương pháp điều trị kết hợp giữa dùng thuốc và không dùng thuốc thường là phương pháp hiệu quả nhất.
Nhiều nam giới cố gắng tự điều trị xuất tinh sớm bằng cách cố gắng đánh lạc hướng bản thân, chẳng hạn như cố gắng tập trung sự chú ý của họ khỏi kích thích tình dục. Có rất ít bằng chứng cho thấy nó có hiệu quả và nó có xu hướng làm giảm sự thỏa mãn tình dục của cả hai đối tác. Các phương pháp tự điều trị khác bao gồm đẩy chậm hơn, rút dương vật ra ngoài, xuất tinh có chủ đích trước khi quan hệ tình dục và sử dụng nhiều hơn một bao cao su. Không nên sử dụng nhiều hơn một bao cao su vì ma sát thường xuyên sẽ dẫn đến rách bao cao su. Một số người đàn ông báo cáo những điều này là hữu ích.
Đến thế kỷ 21, hầu hết nam giới bị xuất tinh sớm đều có thể tự chữa khỏi, tự mình hoặc nhờ bạn tình, sử dụng các nguồn tự lực, và chỉ những người có vấn đề nghiêm trọng bất thường mới phải tham khảo ý kiến của các nhà trị liệu tình dục, họ đã chữa khỏi từ 75 đến 80%.
Lý thuyết của Freud cho rằng xuất tinh nhanh là một triệu chứng của chứng loạn thần kinh tiềm ẩn. Nó nói rằng người đàn ông có thù địch vô thức đối với phụ nữ, vì vậy anh ta xuất tinh nhanh chóng, điều này khiến anh ta thỏa mãn nhưng lại khiến người tình của anh ta thất vọng, vì phụ nữ khó có thể đạt được cực khoái nhanh chóng. Những người theo thuyết Freud cho rằng xuất tinh sớm có thể được chữa khỏi bằng phương pháp phân tâm học. Nhưng ngay cả những năm phân tích tâm lý cũng chẳng có mấy thành tựu trong việc chữa xuất tinh sớm.
Không có bằng chứng cho thấy đàn ông bị xuất tinh sớm có thái độ thù địch bất thường với phụ nữ.
Liệu pháp tình dục.
Một số kỹ thuật đã được phát triển và áp dụng bởi các nhà trị liệu tình dục, bao gồm các bài tập Kegel (để tăng cường cơ sàn chậu) và "kỹ thuật stop-start" của Masters và Johnson (để giải mẫn cảm cho phản ứng của đàn ông) và "kỹ thuật bóp" (để giảm bớt kích thích).:27
Để điều trị xuất tinh sớm, Masters và Johnson đã phát triển "kỹ thuật bóp", dựa trên kỹ thuật Semans do Tiến sĩ James Semans phát triển năm 1956. Nam giới được hướng dẫn chú ý đến mô hình kích thích của họ và học cách nhận biết cảm giác của họ ngay trước khi "điểm không thể trở lại", thời điểm sắp xuất tinh và không thể tránh khỏi. Cảm nhận được nó, họ phải ra hiệu cho bạn tình của mình, người này sẽ ép đầu dương vật vào giữa ngón cái và ngón trỏ, ức chế phản xạ xuất tinh và cho phép người đàn ông kéo dài hơn.
Kỹ thuật bóp có hiệu quả, nhưng nhiều cặp vợ chồng thấy nó quá rườm rà. Từ những năm 1970 đến những năm 1990, các nhà trị liệu tình dục đã cải tiến phương pháp tiếp cận của Masters và Johnson, phần lớn từ bỏ kỹ thuật bóp và tập trung vào một kỹ thuật đơn giản và hiệu quả hơn được gọi là kỹ thuật "stop-start". Trong suốt quá trình giao hợp, khi người đàn ông cảm nhận được mình sắp đạt đến cao trào, cả hai đối tác sẽ ngừng di chuyển và đứng yên cho đến khi cảm giác xuất tinh của người đàn ông giảm dần, lúc đó họ có thể lại tiếp tục giao hợp.
Những kỹ thuật này dường như có hiệu quả với khoảng một nửa số người, trong thời gian ngắn các nghiên cứu đã được thực hiện vào năm 2017.:27
Thuốc làm tăng tín hiệu serotonin trong não làm chậm quá trình xuất tinh và đã được sử dụng thành công để điều trị xuất tinh sớm. Chúng bao gồm các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI), chẳng hạn như paroxetine hoặc dapoxetine, và clomipramine. Chậm xuất tinh thường bắt đầu trong vòng một tuần kể từ khi bắt đầu dùng thuốc. Các phương pháp điều trị làm tăng thời gian chậm xuất tinh lên gấp 6–20 lần so với trước khi dùng thuốc. Nam giới thường cho biết họ hài lòng với việc điều trị bằng thuốc, và nhiều người đã ngừng điều trị trong vòng một năm. Tuy nhiên, SSRIs có thể gây ra nhiều loại rối loạn chức năng tình dục khác nhau như không đạt cực khoái, rối loạn cương dương và giảm ham muốn tình dục.
Dapoxetine là một SSRI tác dụng ngắn có vẻ hoạt động khi được sử dụng khi cần thiết cho xuất tinh sớm. Nó thường được dung nạp tốt. Tramadol, một loại thuốc giảm đau uống không điển hình, dường như có hiệu quả.
Cũng có thể sử dụng các loại thuốc bôi ngoài da giải mẫn cảm như lidocain bôi vào đầu và thân dương vật. Chúng được sử dụng "khi cần thiết", 10–15 phút trước khi sinh hoạt tình dục và có ít tác dụng phụ toàn thân tiềm ẩn hơn so với thuốc viên. Đôi khi người nam không thích dùng thuốc bôi do làm giảm cảm giác ở dương vật cũng như cho bạn tình (do thuốc sẽ chuyển qua bạn tình).
Phương pháp điều trị phẫu thuật.
Hai phẫu thuật khác nhau có sẵn để điều trị vĩnh viễn xuất tinh sớm: "cắt dây thần kinh sau lưng có chọn lọc (SDN)" và "nâng quy đầu dương vật" bằng gel hyaluronan. Cả hai phương pháp điều trị đều được phát triển ở Hàn Quốc và khá phổ biến ở quốc gia này, với 72,9% bác sĩ tiết niệu Hàn Quốc coi SDN là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả. Các nghiên cứu sơ bộ đã gợi ý rằng cả hai đều tương đối an toàn và hiệu quả, nhưng do thiếu các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, với sự theo dõi lâu dài, Hiệp hội Y học Tình dục Quốc tế đã không thể xác nhận cắt có chọn lọc SDN và tăng quy đầu dương vật như là những lựa chọn để điều trị. Vai trò của phẫu thuật trong việc kiểm soát xuất tinh sớm sẽ vẫn chưa rõ ràng cho đến khi các nghiên cứu sâu hơn được hoàn thành.
Xuất tinh sớm là một rối loạn chức năng tình dục phổ biến ở nam giới; tuy nhiên, do sự thay đổi về thời gian cần thiết để xuất tinh và thời gian quan hệ tình dục mong muốn của bạn tình, khó có thể xác định tỷ lệ xuất tinh sớm chính xác phổ biến. Trong các cuộc khảo sát "Tình dục ở Mỹ" (1999 và 2008), các nhà nghiên cứu của Đại học Chicago phát hiện ra rằng từ tuổi vị thành niên đến 59 tuổi, khoảng 30% nam giới cho biết đã trải qua xuất tinh sớm ít nhất một lần trong 12 tháng trước đó, trong khi khoảng 10% cho biết có rối loạn cương dương (ED). Mặc dù rối loạn cương dương là vấn đề tình dục phổ biến nhất của nam giới sau 60 tuổi và theo một số ước tính, còn có thể phổ biến hơn xuất tinh sớm nói chung xuất tinh sớm vẫn là một vấn đề hệ trọng mà theo khảo sát, ảnh hưởng đến 28% nam giới ở độ tuổi 65–74, và 22% nam giới ở độ tuổi 75–85. Các nghiên cứu khác báo cáo tỷ lệ phổ biến xuất tinh sớm từ 3% đến 41% nam giới trên 18 tuổi, nhưng phần lớn ước tính tỷ lệ hiện mắc từ 20 đến 30% — khiến xuất tinh sớm trở thành một vấn đề tình dục rất phổ biến.
Có một quan niệm sai lầm phổ biến rằng đàn ông trẻ tuổi dễ bị xuất tinh sớm hơn và tần suất của nó giảm dần theo tuổi tác. Tuy nhiên, các nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh đã chỉ ra rằng tỷ lệ xuất tinh sớm là không đổi giữa các nhóm tuổi.
Động vật có vú đực xuất tinh một cách nhanh chóng trong khi giao hợp, khiến một số nhà sinh vật học đã suy đoán rằng xuất tinh nhanh đã phát triển thành cấu trúc gen của nam giới để tăng cơ hội của họ có thể phát tán gen của mình.
Các vấn đề về kiểm soát xuất tinh đã được ghi nhận trong hơn 1.500 năm. "Kamasutra", cuốn sổ tay về tình dục của Ấn Độ vào thế kỷ thứ 4 TCN, tuyên bố: "Phụ nữ yêu người đàn ông có năng lượng tình dục kéo dài lâu, nhưng họ lại bực bội với người đàn ông có năng lượng tình dục kết thúc nhanh chóng vì anh ta dừng lại trước khi họ đạt đến cao trào."#đổi
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Waldinger tóm tắt các quan điểm chuyên môn từ đầu thế kỷ XX trong cuốn sách của mình.
Nhà nghiên cứu tình dục Alfred Kinsey không coi xuất tinh nhanh là một vấn đề, mà xem nó như một dấu hiệu của "sức sống nam tính" mà không phải lúc nào cũng có thể chữa khỏi. Niềm tin rằng nó nên được coi là một căn bệnh hơn là một biến thể bình thường cũng đã bị tranh cãi bởi một số nhà nghiên cứu hiện đại.
|
Vô sinh ("infertility") là tình trạng sinh vật không thể sinh sản theo cách tự nhiên. Ở loài người, vô sinh được định nghĩa là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống, quan hệ tình dục trung bình 2-3 lần/tuần, không sử dụng bất kỳ biện pháp tránh thai nào mà người vợ vẫn không có thai. Có thể hiểu vô sinh là hiện tượng mất hay thiếu khả năng sinh sản, nó xảy ra trong khoảng 10-15% các cặp nam nữ muốn có con.
Một cặp vợ chồng gọi là vô sinh nguyên phát nếu trong quá khứ họ chưa có thai lần nào. Nhưng nếu trong quá khứ họ đã có ít nhất một lần mang thai, sẩy thai hoặc phá thai, rồi quá thời hạn một năm sau đó muốn có thai mà vẫn không có thai trở lại thì gọi là vô sinh thứ phát.
Vô sinh có thể là nguyên phát với người vợ hay với người chồng hay với cả chồng và vợ. Tương tự như vậy, vô sinh có thể là thứ phát đối với người chồng và người vợ hoặc với cả hai.
Vô sinh nguyên phát còn được gọi là Vô sinh I và vô sinh thứ phát còn được gọi là vô sinh II
Theo Hội Y học Sinh sản Hoa Kỳ, khoảng 6,1 triệu người Mỹ bị vô sinh, một phần ba là do yếu tố ở nữ, một phần ba là ở nam và còn lại là do cả hai nam và nữ hoặc do những yếu tố không rõ.
Tại Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho biết, tỉ lệ vô sinh ở Việt Nam đáng báo động là 8% dân số.
Nguyên nhân của vô sinh vô cùng phức tạp. Việc chẩn đoán nguyên nhân đòi hỏi một quá trình thăm khá tỉ mỉ, kết hợp với những xét nghiệm thăm dò phong phú, chính xác. Với vô sinh nguyên phát cần chú ý đến noãn và tinh trùng. Vời vô sinh thứ phát, cần chú ý đến tắc nghẽn vòi trứng.
Ngoài ra những yếu tố sau đây có thể làm thai khó đậu hoặc dễ hư thai:
Xem hỗ trợ sinh sản.
Tuổi người nữ càng cao (nhất là trên 37) thì càng khó tạo thai và càng khó giữ thai cho đến ngày sinh.
|
Phá Kursh hay vịnh Kursh (tiếng Litva: "Kuršių marios"; tiếng Nga: "Kуршский залив"; tiếng Đức: "Kurisches Haff") được tách ra khỏi biển Baltic bởi mũi đất Kursh, thuộc chủ quyền của Litva và Nga. Sông Neman chảy vào phá Kursh. Ở đầu phía bắc của mũi đất có một hành lang (eo biển) thông ra biển mà cảng Klaipėda của Litva nằm tại đó. Đầu phía nam của mũi đất taọ thành một phần của phần đất tách ra khỏi lãnh thổ chính thuộc Nga là Kaliningrad. Các khu vực đất đai ven phá Kush là một phần của vùng đất tổ tiên của người Kurši và người Pruss.
Diện tích mặt nước của phá được phân chia giữa Litva và tỉnh Kaliningrad (Nga). Phần lớn mặt nước (1,3 nghìn km² trong số 1,6 nghìn km²) thuộc về Nga. Dung tích của phá khoảng 6,2 km³.
Có nhiều con sông chảy vào phá, lớn nhất là sông Neman. Tổng lưu lượng nước chảy vào khoảng 25,1 km³, trong đó riêng sông Neman là 21,0 km³. Mỗi năm phá này nhận được khoảng 1,0 km³ nước mưa, còn bay hơi mất khoảng 0,5 km³. Như thế mỗi năm lượng nước mà phá này nhận được gấp khoảng 4 lần dung tích của nó. Vì thế nước trong phá nhạt và mực nước trong phá luôn cao hơn mực nước biển trung bình khoảng 12–15 cm. Lượng nước dư thừa thông qua eo biển để đổ vào biển Baltic.
Phá này rất giàu thủy sản như cá, tại đây người ta đánh bắt cá vền ("Abramis brama"), cá vược châu Âu ("Sander lucioperca"), cũng như các loài cá nước ngọt điển hình khác: cá dầy ("Ritilus ritilus"), cá dưa chuột, cá pecca châu Âu ("Perca fluviatilis"), cá dày ("Acerina cernua").
Các bờ của phá này (ngoại trừ mũi đất Kursh) là các vùng đất thấp, tại khu vực huyện Slav thì bờ phá nằm thấp hơn mực nước trong phá và người ta phải đắp đê để ngăn nước.
|
Cương cứng hay cường dương (tiếng lóng: cửng, nứng cặc, chào cờ) thông thường được dùng để chỉ trạng thái dương vật được kích thích tình dục và trở nên cứng lại, dựng đứng lên và nở to ra để sẵn sàng cho việc giao hợp. Tuy nhiên, không chỉ ở phái nam mới có sự cương cứng, phái nữ thể hiện rõ sự cương cứng ở núm vú và ở âm vật.
Cơ chế vật lý.
Sở dĩ dương vật cương cứng lên được là nhờ trung khu thần kinh điều khiển cho máu dồn xuống, lấp đầy các thể hang trong dương vật. Khi dương vật cương cứng, chiều dài và thể tích của nó có thể tăng gấp vài lần.
Nếu dương vật bị kích thích một thời gian mà vẫn không thể đạt được trạng thái cương cứng, thì đó là hiện tượng rối loạn cương dương (liệt dương). Hầu hết các trường hợp này là do vấn đề về tâm lý, một số do sức khỏe. Phương pháp điều trị chủ yếu là tâm lý, ngoài ra có thể dùng thêm một số thuốc kích dục như Viagra.
Bảng sau đây cho thấy độ phổ biến về góc mà dương vật cương cứng tạo với bụng khi người đó đang đứng. 0° là khi dương vật nằm sát, song song thành bụng và chĩa thẳng lên trời. 90° là khi dương vật vuông góc với thành bụng và chĩa thẳng về phía trước còn 180° là khi nó chĩa xuống chân. Phổ biến nhất là chĩa về phía trước và hướng lên trên.
|
Xuất tinh hay phóng tinh là sự xuất ra tinh dịch từ cơ quan sinh dục nam và thường kèm theo cực khoái. Nó thường là giai đoạn cuối cùng và là mục đích tự nhiên của kích thích tình dục (quan hệ tình dục, thủ dâ) và là một phần cơ bản của thụ tinh tự nhiên. Trong những trường hợp hiếm hoi, xuất tinh là do bệnh ở tuyến tiền liệt. Xuất tinh cũng xảy ra một cách tự động khi đang ngủ và được gọi là mộng tinh. Mỗi lần xuất tinh có tới 200-300 triệu tinh trùng. Anejaculation là tình trạng không thể xuất tinh được. Tinh trùng được sản xuất từ tinh hoàn. Tinh trùng thường được sản xuất lần đầu vào tuổi dậy thì. Khi phóng tinh tinh trùng từ túi tinh được hòa với dịch từ tuyến tiền liệt tiết ra thành tinh dịch và theo niệu đạo ra ngoài.
Một tiền thân thông thường của xuất tinh là hưng phấn tình dục của nam giới, dẫn đến sự cương cứng của dương vật, mặc dù không phải mọi kích thích hay cương cứng đều dẫn đến xuất tinh. Kích thích tình dục dương vật trong khi thủ dâm hoặc hoạt động tình dục qua đường âm đạo, hậu môn, miệng hoặc không xâm nhập có thể cung cấp các kích thích cần thiết cho một người đàn ông để đạt được cực khoái và xuất tinh. Liên quan đến thời gian trễ xuất tinh trong âm đạo, nam giới thường đạt cực khoái 5-7 phút sau khi bắt đầu giao hợp, có tính đến ham muốn của họ và của bạn tình, nhưng 10 phút cũng là thời gian trễ xuất tinh phổ biến. Một kích thích kéo dài hoặc thông qua màn dạo đầu (hôn, vuốt ve và kích thích trực tiếp các vùng kích thích tình dục trước khi thâm nhập trong khi giao hợp) hoặc vuốt ve (trong khi thủ dâm) dẫn đến kích thích đủ mức và cơ thể sản xuất chất lỏng xuất tinh trước. Mặc dù sự hiện diện của tinh trùng trong chất lỏng xuất tinh trước được cho là rất hiếm, nhưng tinh trùng từ lần xuất tinh sớm hơn, vẫn còn trong niệu đạo, có thể được trộn vào chất lỏng xuất tinh trước và thường có thể có mặt khi xuất tinh sớm.
Xuất tinh sớm là khi xuất tinh sớm xảy ra trước thời gian mong muốn. Nếu một người đàn ông không thể xuất tinh kịp thời sau khi kích thích tình dục kéo dài, mặc dù anh ta muốn làm như vậy, nó được gọi là xuất tinh chậm hoặc anorgasmia. Một cực khoái không đi kèm với xuất tinh được gọi là cực khoái khô.
Khi một người đàn ông đã đạt được một mức độ kích thích đủ mức, cực khoái và xuất tinh bắt đầu. Tại thời điểm đó, dưới sự kiểm soát của hệ thần kinh giao cảm, tinh dịch chứa tinh trùng được tạo ra. Tinh dịch được đẩy ra qua niệu đạo với các cơn co thắt nhịp nhàng. Những cơn co thắt nhịp nhàng này là một phần của cực khoái ở người nam. Chúng được tạo ra bởi các cơ "tubospongiosus" và "pubococcygeus" dưới sự kiểm soát của một phản xạ cột sống ở cấp độ của các dây thần kinh cột sống S2-4 thông qua dây thần kinh "pudendal". Cực khoái của nam giới điển hình kéo dài trong vài giây.
Sau khi bắt đầu cực khoái, các xung tinh dịch bắt đầu chảy ra từ niệu đạo, đạt đến mức độ phóng tinh cực đại và sau đó giảm dần tuần tự. Cực khoái điển hình bao gồm 10 đến 15 cơn co thắt, mặc dù người đàn ông khó có thể ý thức được điều đó. Một khi cơn co thắt đầu tiên đã diễn ra, xuất tinh sẽ tiếp tục hoàn thành như một quá trình không tự nguyện. Ở giai đoạn này, xuất tinh không thể dừng lại. Tốc độ co bóp giảm dần trong quá trình cực khoái. Các cơn co thắt ban đầu xảy ra trong khoảng thời gian trung bình là 0,6 giây với mức tăng 0,1 giây mỗi lần co. Các cơn co thắt của hầu hết đàn ông tiến hành theo nhịp đều đặn trong suốt thời gian đạt cực khoái. Nhiều người đàn ông cũng trải qua các cơn co thắt bất thường bổ sung khi kết thúc cực khoái.
Xuất tinh thường bắt đầu trong cơn co thắt cực khoái thứ nhất hoặc thứ hai. Đối với hầu hết nam giới, lần phóng tinh dịch đầu tiên xảy ra trong lần co thắt thứ hai, trong khi lần thứ hai thường là lần xuất tinh lớn nhất từ 40% trở lên trong tổng lượng tinh dịch. Sau đỉnh này, lượng tinh dịch dương vật xuất ra giảm dần khi các cơn co thắt bắt đầu giảm dần cường độ. Các cơn co thắt cơ của cực khoái có thể tiếp tục sau khi xuất tinh mà không xuất hiện thêm tinh dịch. Một nghiên cứu mẫu nhỏ trên bảy người đàn ông cho thấy trung bình 7 lần xuất tinh dịch theo sau là có thêm trung bình 10 cơn co thắt mà không có tinh dịch xuất ra. Nghiên cứu này cũng tìm thấy mối tương quan cao giữa số lượng tinh dịch và tổng khối lượng xuất tinh, tức là, khối lượng tinh dịch lớn hơn do các lần xuất tinh bổ sung thay vì các lần xuất có lượng tinh dịch lớn hơn.
Alfred Kinsey đã đo khoảng cách xuất tinh, trong "vài trăm" đàn ông. Trong ba phần tư nam giới được thử nghiệm, xuất tinh "được đẩy với lực rất nhỏ đến nỗi chất lỏng không được mang quá một khoảng cách hơn một phút so với đầu dương vật". Trái ngược với những đối tượng thử nghiệm đó, Kinsey lưu ý "Ở những con đực khác, tinh dịch có thể bị đẩy từ một vài inch đến một hoặc hai feet, hoặc thậm chí xa đến năm hoặc sáu và (hiếm khi) tám feet". Masters và Johnson báo cáo khoảng cách xuất tinh không lớn hơn 30 đến 60 cm. Trong chuỗi các cơn co thắt kèm theo xuất tinh, tinh dịch được đẩy ra khỏi niệu đạo với tốc độ 500 cm/s, tương đương gần 18 km/h.
Nhiều người đàn ông trải qua giai đoạn nghỉ ngay sau khi đạt cực khoái, trong thời gian đó họ không thể đạt được sự cương cứng khác, và một khoảng thời gian dài hơn một lần nữa trước khi họ có khả năng đạt được một lần xuất tinh khác. Trong thời gian này, một người đàn ông cảm thấy một cảm giác thư giãn sâu và dễ chịu, thường cảm thấy ở háng và đùi. Thời gian của thời gian nghỉ này thay đổi đáng kể, ngay cả đối với một cá nhân nhất định. Tuổi tác ảnh hưởng đến thời gian phục hồi, với những người đàn ông trẻ tuổi thường phục hồi nhanh hơn những người đàn ông lớn tuổi, mặc dù điều này không phải lúc nào cũng đúng.
Trong khi một số nam giới có thể có thời gian nghỉ từ 15 phút trở lên, một số nam giới có thể trải nghiệm hưng phấn tình dục ngay sau khi xuất tinh. Một thời gian phục hồi ngắn có thể cho phép các đối tác tiếp tục quan hệ tình dục tương đối không bị gián đoạn do xuất tinh. Một số nam giới có thể có trải nghiệm dương vật của họ trở nên quá nhạy cảm với kích thích sau khi xuất tinh, điều này có thể làm cho kích thích tình dục trở nên khó chịu ngay cả khi họ có thể bị kích thích tình dục.
Có những người đàn ông có thể đạt được nhiều cực khoái, có hoặc không có trình tự xuất tinh và thời gian nghỉ điển hình. Một số người đàn ông báo cáo không chú ý đến thời gian nghỉ này hoặc có thể duy trì sự cương cứng bằng cách "duy trì hoạt động tình dục với sự cương cứng hoàn toàn cho đến khi họ vượt qua thời gian nghỉ để đạt cực khoái khi họ có được cực khoái lần thứ hai hoặc thứ ba".
Lượng tinh dịch sẽ bị đẩy ra trong quá trình xuất tinh sẽ khác nhau giữa các nam giới và có thể chứa từ 0,1 đến 10 ml (để tiện so sánh, lưu ý rằng một muỗng cà phê là 5 ml và một muỗng canh là 15 ml). Lượng tinh dịch của người trưởng thành bị ảnh hưởng bởi thời gian đã trôi qua kể từ lần xuất tinh trước đó; khối lượng tinh dịch lớn hơn được nhìn thấy với thời gian kiêng khem lớn hơn. Thời gian kích thích dẫn đến xuất tinh có thể ảnh hưởng đến lượng tinh dịch xuất ra. Lượng tinh dịch thấp bất thường được gọi là hyposepermia. Một trong những nguyên nhân cơ bản có thể gây ra thể tích thấp hoặc thiếu hoàn toàn tinh dịch là tắc nghẽn ống dẫn tinh. Lượng tinh dịch thường giảm theo độ tuổi.
Số lượng tinh trùng trong một lần xuất tinh cũng rất khác nhau, tùy thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cả thời gian kể từ lần xuất tinh cuối cùng, tuổi, mức độ căng thẳng, và lượng testosterone. Thời gian kích thích tình dục dài hơn ngay trước khi xuất tinh có thể dẫn đến số lượng tinh trùng cao hơn. Số lượng tinh trùng thấp bất thường, không giống như lượng tinh dịch thấp, được gọi là "oligospermia", và sự vắng mặt của bất kỳ tinh trùng nào từ tinh dịch được gọi là "azoospermia".
Tư liệu liên quan tới
|
Mũi đất Kursh (tiếng Litva: "Kuršių nerija", tiếng Nga: "Куршская коса", tiếng Đức: "Kurische Nehrung") là một dải đất cát hẹp dài 98 km, uốn cong, tạo thành một bán đảo bao gồm các cồn cát chia tách phá Kursh ra khỏi biển Baltic. Phần phía nam của nó nằm trong tỉnh Kaliningrad của Nga và phía bắc của nó ở nằm ở phía tây nam Litva. Đây là một Di sản thế giới chung của cả hai quốc gia này được UNESCO công nhận từ năm 2000.
Mũi đất Kursh kéo dài từ bán đảo Samland ở phía nam tới đỉnh phía bắc của nó giáp với một eo biển nhỏ, vượt qua nó sang bờ bên kia là thành phố cảng Klaipėda của Litva. Phần phía bắc của mũi đất dài 52 km thuộc về Litva, phần còn lại thuộc về Nga (một phần của tỉnh Kaliningrad). Bề rộng của mũi đất dao động từ ít nhất là 400 m tại Nga (gần làng Lesnoye) tới cực đại là 3.800 m tại Litva (phía bắc thị trấn Nida).
Theo thần thoại của người Balt, mũi đất Kursh đã được tạo thành bởi một thiếu nữ mạnh khỏe tên là Neringa, là người đã đùa chơi trên bờ biển. Cô gái này còn xuất hiện trong nhiều thần thoại khác (trong một số thần thoại thì đây là một người phụ nữ trẻ khỏe, tương tự như người phụ nữ trong phiên bản Hy Lạp của thần Heracles).
Mũi đất Kursh được hình thành vào khoảng 5.000 năm trước. Vào khoảng những năm từ 800 tới 1016, nó là nơi của Kaup, trung tâm thương mại chính của những người ngoại đạo mà hiện nay vẫn chưa được khai quật. Các hiệp sĩ Đức đã đến khu vực này vào thế kỷ 13, xây dựng các lâu đài của họ tại Memel (1252), Neuhausen (1283) và tại Rossitten (1372).
Vào thế kỷ 16, một giai đoạn mới trong sự hình thành các cồn cát lại bắt đầu. Sự phá hủy rừng tại khu vực này do chăn thả quá mức, khai thác gỗ kiệt quệ cũng như do việc đóng tàu bè để vây hãm Königsberg vào năm 1757 đã làm cho các cồn cát thống trị trên mũi đất và chôn vùi các làng mạc. Nhận thức được vấn đề này, chính quyền Đông Phổ đã hỗ trợ cho các cố gắng nhằm tái trồng rừng và khôi phục thảm thực vật, bắt đầu từ năm 1825. Nhờ các cố gắng này mà hiện nay phần lớn mũi đất đã được rừng che phủ. Hàng thế kỷ trước thì mũi đất Kursh đã là nơi sinh sống của người người Kursii, với một thiểu số đáng kể người Đức ở phía nam và một thiểu số đáng kể người Litva ở phía bắc. Số lượng người Kursii cuối cùng đã suy giảm mạnh do sự đồng hóa và nhiều nguyên nhân khác và gần như không còn tồn tại trong giai đoạn hiện nay. Cho đến thế kỷ 20, phần lớn dân tại đây sống bằng nghề đánh cá.
Sau khi Liên Xô tan rã thì ngành du lịch đã phát triển; nhiều người Đức, chủ yếu là hậu duệ của những người đã sống trong khu vực, chọn mũi đất Kursh (đặc biệt là Nida, do không cần visa đối với người Đức tại Litva) như là điểm đến của họ trong dịp nghỉ.
Giai đoạn 2002-2005 những người hoạt động môi trường ở cả tỉnh Kaliningrad và Litva đều phản đối kế hoạch khai thác giếng dầu D6 của Lukoil, nằm trong vùng lãnh hải của Nga, cách mũi đất Kursh 22,5 km (xem website của các nhà hoạt động môi trường Nga , website của các nhà hoạt động môi trường Litva về giếng dầu này) do khả năng gây tổn hại nặng nề cho môi trường và du lịch (nguồn thu nhập chủ yếu trong khu vực) trong trường hợp rò rỉ dầu. Các lo ngại này không nhận được sự ủng hộ từ chính quyền Nga, nhưng nhận được sự ủng hộ của chính quyền Litva, do giếng dầu này chỉ cách biên giới vùng lãnh hải của Litva khoảng 4 km và do dòng hải lưu thịnh hành là theo hướng bắc nên các khu vực bờ biển của Litva có thể sẽ nhận được phần lớn thiệt hại trong trường hợp rò rỉ. Tuy nhiên, sự chống đối việc khai thác giếng dầu D6 này nhận được rất ít sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế và các cơ sở vật chất đầu tiên của giàn khoan dầu đã được lắp đặt năm 2005.
Trạng thái hiện tại.
Mũi đất Kursh là nơi có các cồn cát chuyển động cao nhất tại châu Âu. Độ cao trung bình của chúng là 35 m, nhưng một số có thể cao tới 60 m.
Thị trấn lớn nhất tại đây là Nida ở Litva, một nơi nghỉ mát nổi tiếng, chủ yếu đón tiếp du khách đến từ Litva và Đức. Bờ biển phía bắc của mũi đất là một khu vực của các bãi tắm. Các phần thuộc Nga và Litva đều là các vườn quốc gia.
Các khu dân cư tại mũi đất Kursh (từ bắc xuống nam) là:
Phần thuộc Nga nằm trong Zelenogradsk của tỉnh Kaliningrad, còn phần thuộc Litva được chia cho hai thành phố là Klaipėda và Neringa.
Có một con đường duy nhất nối toàn bộ mũi đất. Phần thuộc Nga dẫn tới Zelenogradsk, còn phần thuộc Litva dẫn tới Smiltynė. Mũi đất này không nối liền với phần đại lục của Litva. Để đi lại từ mũi đất sang bên kia, người ta dùng phà nối liền Smiltynė với thành phố cảng Klaipėda.
Kể từ năm 2000, mũi đất Kursh nằm trong danh sách di sản thế giới của UNESCO theo tiêu chuẩn văn hóa "V" ("một ví dụ điển hình về sự định cư truyền thống của con người, sử dụng đất, hay sử dụng biển là tiêu biểu cho nền văn hóa [...], hay sự tác động của con người đối với môi trường đặc biệt là khi nó trở thành dễ tổn thương dưới ảnh hưởng của các thay đổi không đảo ngược được"). Đây là trường hợp đầu tiên được đưa vào trong danh sách mà thuộc về đồng thời hai quốc gia.
72% diện tích hiện được rừng che phủ,trong đó có khoảng 600 loài cây thân gỗ, cây bụi và cây thân thảo. Hệ động vật trên cạn có khoảng 296 loài động vật có xương sống như nai anxét ("Alces alces"), hoẵng (chi "Capreolus"), lợn rừng ("Sus scrofa"), cáo (chi "Vulpes")
Mũi đất Kursh còn được gọi là "cầu chim". Theo hành trình này là con đường di cư cổ xưa của khoảng 150 loài chim từ các khu vực Bắc Âu tới Nam Âu và Bắc Phi. Trên mũi đất có một trong những trạm nghiên cứu về chim đầu tiên trên thế giới hiện còn hoạt động.
Tại đây có các bãi tắm cho phép du khách tắm nước ngọt trong phá Kursh cũng như trong nước mặn của biển Baltic. Nhờ có điều kiện khí hậu thích hợp nên việc nghỉ ngơi tại mũi đất này có thể diễn ra từ tháng 5 tới tháng 11.
Các e ngại về môi trường.
Có nhiều e ngại về vấn đề môi trường liên quan đến mũi đất Kursh.
Do tầm quan trọng của du lịch và nghề cá đối với nền kinh tế trong khu vực, sự ô nhiễm biển cả và khu vực bờ biển có thể là một thảm họa đối với khu vực cả về mặt kinh tế lẫn sự duy nhất của thiên nhiên. Việc khai thác dầu tại giếng dầu D6 từ năm 2005 đã làm tăng thêm e ngại về khả năng ô nhiễm môi trường.
Một e ngại khác là sự gia tăng của du lịch có thể sẽ tiêu hủy môi trường tự nhiên hấp dẫn này. Vì lý do này, nhiều biện pháp đã được đề ra, như cấm du khách đi lại tại một số khu vực nhất định.
Các thảm họa tự nhiên cũng nguy hiểm hơn nhiều tại mũi đất Kursh so với bất kỳ đâu tại Litva hay tại tỉnh Kaliningrad. Các trận bão có xu hướng mạnh hơn ở đây do đó cây cối có tầm quan trọng trong việc ngăn chặn xói mòn đất. Các vụ cháy rừng xảy ra trong mùa hè cũng là mối nguy hiểm đối với thiên nhiên.
|
Hệ sinh dục nữ
Hệ sinh dục nữ hay bộ phận sinh dục nữ là một hệ thống sinh lý trong cơ thể nữ giới với nhiều chức năng phức tạp: giao hợp, tiếp nhận tinh trùng, thụ tinh, cấy thai, nuôi thai và sinh con. Các cơ quan chính trong bộ phận sinh dục phụ nữ nằm trong phần dưới cùng của bụng xuống đến đáy chậu, dưới ruột, trước hậu môn. Khác với cơ quan sinh dục bên ngoài ở nam phô bày rõ rệt, những cơ quan sinh dục bên ngoài ở nữ thường nằm khuất phía dưới, được che kín bởi lông hạ bộ và khi đứng thẳng, bởi phần trên của hai đùi.
Môi âm hộ gồm có hai môi lớn (Hình 2 -5) ở ngoài và hai môi nhỏ (Hình 2 - 6) nằm phía trong. Môi lớn và môi nhỏ có tác dụng che chắn bảo vệ toàn bộ phần trong của hệ sinh sản, có hình dạng như các đôi môi.
Vùng da bên ngoài của môi lớn và môi nhỏ có màu tương tự như màu da của người nữ, còn phần bên trong có thể có màu hồng, hoặc màu xám, màu nâ, bọc lên phía trên của âm vật.
Âm hộ, hay còn gọi là cửa mình, nằm bên phía trong thành môi nhỏ, phía dưới lỗ niệu đạo và phía trên hậu môn, là cửa dẫn vào âm đạo.
Âm vật là một khối mô cứng dài khoảng 1,5 cm, nằm ở giữa và phía trên của âm hộ, đầu âm vật được che một phần bởi nơi hai môi nhỏ hợp lại. Âm vật là cơ quan nhạy cảm nhất trong cơ thể con người (cùng hạng với dương vật ở nam và lưỡi), nơi đây tập trung nhiều (khoảng 8000) đầu dây thần kinh có chức năng mang lại khoái cảm tình dục. Âm vật được mô tả theo y học đầu tiên bởi một nhà khảo cứu cơ thể người Ý năm 1559.
Hình 2 - 7
Còn gọi là cửa niệu đạo, là chỗ thoát của nước tiểu từ bàng quang (Hình 2 - 1) qua ống dẫn tiểu ra ngoài. Lỗ này nằm ngay trên cửa âm đạo, và chừng 2 cm dưới âm vật. Ống dẫn tiểu dài khoảng 4 cm, nằm dọc theo bên trong tường của âm đạo.
Hình 2 - 8; Hình 3 -1
Là một bộ phận hình ống dài nối từ cửa mình bên ngoài vào tử cung bên trong. Các mô cơ thành âm đạo có tính đàn hồi cao. Âm đạo đón nhận dương vật khi giao hợp. Âm đạo và cổ tử cung có khả năng giãn ra lớn gấp nhiều lần, giúp thai nhi ra khỏi người mẹ khi sanh nở.
Một màng mỏng nằm trong âm đạo cách cửa âm đạo khoảng 1–2 cm. Màng thường sẽ bị rách ở lần giao hợp đầu tiên. Khi màng trinh bị rách có thể chảy một vài giọt máu, hoặc chỉ có chút chất tiết hơi hồng. Một số bạn gái (khoảng 0,5%) khi sinh ra đã không có màng này hoặc nó đàn hồi đến mức tiếp tục tồn tại cho đến lần sinh con đầu tiên.
Màng trinh thật ra là một phần dư sót lại trong thời kỳ thai nhi phát triển. Do đó, có một số bé gái khi sinh ra đã không có màng trinh, trong khi ở một số phụ nữ màng trinh dày và che kín âm đạo gây trở ngại khi giao hợp và có triệu chứng không có kinh. Vì văn hóa xưa nay coi trọng vấn đề giữ trinh tiết nên màng trinh được nhiều chú ý.
Cổ tử cung (uterine cervix): Là phần sau của tử cung và nơi nối tiếp của âm đạo với tử cung. Cổ tử cung có thành dày và rất chắc với một lỗ mở rất nhỏ (không rộng hơn một cọng rạ). Tuy nhiên, khi phụ sản sinh em bé, cổ tử cung sẽ mở đủ rộng để em bé "chui qua" trong hầu hết các trường hợp.
Hình 2 - 2; Hình 3 -2
Tử cung là một bọc cấu tạo bởi một lớp cơ trơn rất dày, nằm phía dưới bụng, trên bàng quang. Khi chưa có thai, tử cung hình trái lê, kích thước khoảng 8 x 5 x 3 cm. Cổ tử cung (Hình 3 - 5) nằm phía dưới, dẫn ra âm đạo (1). Phía trên ở hai bên tử cung là hai ống dẫn trứng (3) nối ra hai buồng trứng (4). Tử cung là nơi thai nảy nở và phát triển cho tới lúc sinh.
Những bệnh và bất thường liên hệ đến tử cung và cổ tử cung:
Ống dẫn trứng (hay vòi trứng)- fallopian tubes nối tử cung với buồng trứng (mối bên có một ống dẫn trứng) và được treo bởi dây chằng tử cung buồng trứng. Ống dẫn trứng có chiều dài khoảng 10 cm và nhỏ hơn sợi mỳ. Nó thực hiện hai nhiệm vụ:
Mỗi bên tử cung có một buồng trứng (Hình 2, 3 - 4), hình bầu dục, tròn nhỏ hơn tinh hoàn ở nam, màu trắng đục, nằm gần những dây tua ở cuối ống dẫn trứng. Trong thời kỳ phôi thai, hai buồng trứng có khoảng 6 triệu bọc trứng non, khi sinh còn lại 1 triệu và chỉ còn 40.000 khi tới tuổi dậy thì. Khi dậy thì, dưới tác dụng của hormone sinh sản, trứng theo chu kỳ phát triển, chín và rụng. Trong cả đời người nữ, chỉ có 400 trứng hoàn thành chu kỳ và rụng, những trứng khác thường teo nhỏ rồi tan biến.
Ngoài ra, buồng trứng còn có chức năng tạo ra các hormone điều hòa sinh lý.
Những bệnh chứng liện hệ đến buồng trứng:
commentIrha1412 đã đổi thành : đổi cách gọi/comment
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Lưu Hữu Phước (12 tháng 9 năm 1921 – 8 tháng 6 năm 1989) là một nhạc sĩ người Việt Nam. Ông là tác giả của những bài hát có tầm ảnh hưởng thời Chiến tranh Việt Nam.
Ông là giáo sư, viện sĩ, nhà lý luận âm nhạc; nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hóa của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; nguyên Đại biểu Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thời trẻ và bước đầu của sự nghiệp.
Lưu Hữu Phước sinh ngày 12 tháng 9 năm 1921 tại quận Ô Môn, tỉnh Cần Thơ (nay thuộc thành phố Cần Thơ). Thuở nhỏ ông được cha cho học đàn kìm, về sau có chơi cả mandolin, guitar và tự học lý thuyết âm nhạc.
Khoảng cuối thập niên 1930, Lưu Hữu Phước lên Sài Gòn học tại trường Petrus Ký. Trong thời gian này, ông kết thân với Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, làm thành bộ 3 Huỳnh - Mai - Lưu, thành lập Câu lạc bộ Học sinh (Scholar Club) ở trường trung học Petrus Ký... là đầu mối hội tụ những học sinh, sinh viên yêu nước. Cũng trong thời gian này, ông sáng tác bài hát "La Marche des Étudiants" vào cuối năm 1939, và cùng Mai Văn Bộ đặt lời tiếng Pháp để làm bài hát chính thức của Câu lạc bộ.
Sau khi đỗ tú tài, Lưu Hữu Phước ra Hà Nội học trường Y - Dược, thuộc Viện Đại học Đông Dương (1940-1944). Thời này, do ảnh hưởng của phong trào Mặt trận Bình dân ở Pháp nên phong trào đấu tranh chính trị của sinh viên Đông Dương rất mạnh mẽ. Lưu Hữu Phước nhanh chóng trở thành một trong những thủ lĩnh của phong trào, và có dịp tiếp xúc với một số thành viên của Việt Minh. Trong những đợt tổ chức các hoạt động về nguồn của sinh viên, Lưu Hữu Phước đã sáng tác được nhiều ca khúc nổi tiếng, như: "Non sông gấm vóc", "Bạch Đằng Giang", "Ải Chi Lăng", "Hát giang trường hận" (sau đổi tên là "Hồn tử sĩ"), "Hờn sông Gianh", "Người xưa đâu tá" và "Hội nghị Diên Hồng" nhằm hun đúc tinh thần dân tộc cho thanh niên.
Nhân cuộc hành hương về Đền Hùng nhân ngày Giỗ Tổ Hùng Vương năm 1942, nhằm thức tỉnh sinh viên từ bỏ mộng học giỏi đỗ cao để làm quan cho thực dân Pháp, đồng lòng quyết tâm trau dồi ý thức cứu dân, cứu nước, sẵn sàng tiến lên "đáp lời sông núi" khi Tổ quốc cần, Lưu Hữu Phước đã sửa phần lời Việt của bài "La Marche des Étudiants" thành bài "Thanh niên hành khúc", biểu diễn dưới chân núi Nghĩa Lĩnh do một dàn hợp xướng mấy chục người trình diễn.
Ngày 21 tháng 3 năm 1943, vở ca kịch "Tục lụy" của ông được trình diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Cái tên Lưu Hữu Phước trở nên nổi tiếng trong giới thanh niên Việt Nam thời bấy giờ.
Lưu Hữu Phước còn có những bút danh khác: Huỳnh Minh Siêng, Long Hưng, Anh Lưu, Hồng Chí.
Năm 1944, Lưu Hữu Phước được Mặt trận Việt Minh giao nhiệm vụ vào Nam tham gia vận động cách mạng cùng với lúc nổ ra phong trào của đông đảo sinh viên ba miền Nam - Trung - Bắc rủ nhau bỏ học để trực tiếp tham gia hoạt động cách mạng. Nhóm Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ và Đặng Ngọc Tốt trong một đêm đã tập trung soạn ba bài hát: "Xếp bút nghiên", "Mau về Nam" và "Gieo ánh sáng" để kịp thời cổ vũ cho phong trào này, còn được gọi là phong trào Xếp bút nghiên, rầm rộ kéo dài đến mãi tận ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cùng với sự ra đời của bài ca "Khúc khải hoàn" của ông.
Tham gia công tác văn nghệ.
Sau khi Pháp gây hấn ở Nam Bộ, Lưu Hữu Phước tham gia công tác tuyên truyền với chức vụ Giám đốc phòng xuất bản Nam Bộ trong một thời gian ngắn. Tháng 5 năm 1946, Lưu Hữu Phước được điều động ra Hà Nội, nhận nhiệm vụ thành lập Trung ương Nhạc viện (thành lập tháng 9 năm 1946), sau đó ông cùng tập thể Hội Văn hoá Cứu quốc tản cư đi kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc. Ông được giao nhiệm vụ thành lập đội Thiếu nhi tuyên truyền xung phong, sau được đổi tên là Đoàn nhạc kịch Thiếu nhi kháng chiến thuộc Trung ương Nhạc viện. Đoàn đã lần lượt trình diễn một số vở ca kịch do ông sáng tác như "Con thỏ ngọc", "Diệt sói lang", "Phá mưu bù nhìn", "Hai chàng lưng gù" và "Hái hoa dâng Bác" (nhân kỷ niệm 60 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh, về sau được Thái Ly chuyển soạn thành vở vũ kịch "Chúc thọ Bác Hồ" vào năm 1960, vở vũ kịch đầu tiên của Việt Nam. Năm 1950, ông được giao nhiệm vụ thành lập Trường Thiếu nhi Nghệ thuật và được cử làm Giám đốc.
Trong chiến tranh Đông Dương, ông là tác giả của nhiều tác phẩm âm nhạc như "Ca ngợi Hồ Chủ tịch", "Khúc khải hoàn", "Đông Nam Á châu đại hợp xướng", "Tuổi hai mươi", "Thiếu nhi thế giới liên hoan", "Nông dân vươn mình", "Hăngri Máctanh (Henri Martin)", "Em yêu chị Rây-mông", "Cả cuộc đời về ta"...
Trong chiến tranh Việt Nam, từ năm 1954 đến 1965, Lưu Hữu Phước tập kết ra Bắc, làm Trưởng ban Nghiên cứu Nhạc-Vũ thuộc Vụ Nghệ thuật, Bộ Văn hoá, sau đó làm Vụ trưởng Vụ Âm nhạc và Múa, ngoài ra còn được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Ban Thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Ông cũng có công tổ chức sưu tầm dân ca và đã cho ra đời công trình nghiên cứu quan họ. Ông còn góp công thành lập Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam), Trường Múa, Trường Sân khấu Điện ảnh, Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng Nhạc Vũ Kịch Việt Nam.
Tháng 2 năm 1965, Lưu Hữu Phước được cử vào Nam, giữ chức Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng, sau đó Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hóa của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Trong giai đoạn này, ông đã sáng tác các bài hát như "Dưới cờ Đảng vẻ vang", "Tình Bác sáng đời ta", "Bài hát Giải phóng quân", "Giờ hành động", "Hành khúc giải phóng", "Xuống đường", "Tiến về Sài Gòn", đặc biệt là "Giải phóng miền Nam" – bài hát chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Sau năm 1975, ông trở về làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Âm nhạc (1978-1989), được phong học hàm Giáo sư và Viện sĩ thông tấn của Viện Hàn lâm Nghệ thuật CHDC Đức, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Âm nhạc Quốc gia, Thành viên Hội đồng Âm nhạc Quốc tế, ngoài ra còn là Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam..
Ông mất ngày 8 tháng 6 năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Sự nghiệp âm nhạc.
Lưu Hữu Phước được xem là một trong những nhạc sĩ đầu đàn, một tài năng lớn của nền âm nhạc Việt Nam hiện đại, đại diện cho phái âm nhạc Nam Bộ trong thời điểm khởi đầu của nền tân nhạc. Ông là một tên tuổi lớn trong nền âm nhạc cách mạng Việt Nam, một danh nhân văn hóa Việt Nam; là một trong những người đầu tiên sử dụng rất thành công thể loại hành khúc – một thể loại từ âm nhạc phương Tây. Ông đã trở thành tác giả của những "chính ca" xuất sắc, có tầm tư tưởng lớn, giá trị nghệ thuật rất cao và có giá trị lịch sử. Ông là tác giả Quốc ca của cả hai chính thể đối lập nhau là Việt Nam Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Những bài chính ca tiêu biểu của ông gồm:
Ngoài thể "chính ca", Lưu Hữu Phước viết ca khúc trữ tình cũng rất thành công. Có lẽ do những yêu cầu của xã hội, của thời cuộc lúc đó mà ông đã phát huy sở trường nhiều ở thể "chính ca", ít sáng tác bài ca trữ tình. Lưu Hữu Phước còn sáng tác cho thiếu nhi rất nhiều bài hát có giá trị lớn, nổi tiếng một thời, đến nay vẫn là chuẩn mực cho thể loại ca khúc thiếu nhi: "Thiếu nhi thế giới liên hoan", "Reo vang bình minh"...
Danh hiệu, tôn vinh.
Với những đóng góp của Lưu Hữu Phước vào nền âm nhạc Việt Nam, ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương, trong đó có Huân chương Độc lập hạng nhất (1987), giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 (1996)
|
Chiến tranh toàn diện
Chiến tranh toàn diện hay còn gọi là chiến tranh tổng lực. Khác với các cuộc chiến tranh trước đó (Chiến tranh Bảy Năm, Chiến tranh Napoleon, Đại chiến Bắc Âu, ) thì cục diện chiến tranh không còn được quyết định bởi các trận đánh hay chiến dịch mà quy mô của nó được mở rộng ra, cả về phạm vi và tính chất ác liệt. Nó đánh dấu cho một bước phát triển của nghệ thuật chiến tranh.
Chiến tranh được giải quyết bằng hàng loạt các hoạt động quân sự, ngoại giao, tình báo, kinh tế, phạm vi hoạt động quân sự khổng lồ có tầm ảnh hưởng lớn đến cả trong nước lẫn khu vực, các cuộc chiến được tiến hành cả trên bộ, trên biển, và trên không. Hai bên bóp nghẹt nhau về kinh tế và quân sự, đó thật sự là một sự thử thách về tinh thần cho cả hai bên và bên nào có thể đứng vững trước những thử thách đó sẽ là người chiến thắng.
Thay đổi trong chiến tranh tổng lực so với các cuộc chiến tranh khác có thể kể đến như: chiến trường được mở rộng có khi một phòng tuyến có thể dài hàng trăm kilomét, mức độ ác liệt, thương vong cực cao. Bộ binh xuất hiện trong trận đánh với đội hình tản mát không còn thành những khối quân lớn như trước kia, đồng thời xuất hiện các khí tài quân sự mới như xe tăng, máy bay, súng má, hay chiến dịch quy mô lớn không khoan nhượng của 2 bên vào những vị trí then chốt của nhau (các trung tâm quân sự, hay công nghiệp, các thành phố lớn,) hoặc chỉ đơn giản đập tan hay làm tiêu hao quân đội đối phương, mà mục đích cuối cùng là bẻ gãy tinh thần của đối phương để chiến thắng.
Quan điểm tiến hành chiến tranh toàn diện còn được hiểu là sự kết hợp chặt chẽ giữa các mặt trận. Mặt trận nào cũng có vị trí quan trọng trong mặt trận quân sự, nhưng chiến thắng trên chiến trường vẫn là yếu tố quyết định.
|
Chiến dịch Barbarossa (), còn được gọi là Cuộc xâm lược của Đức vào Liên Xô là mật danh của chiến dịch xâm lược Liên Xô do Quân đội Đức Quốc xã tiến hành trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Với tên ban đầu là "kế hoạch Otto" và được đích thân Adolf Hitler đổi thành "Barbarossa" theo biệt hiệu của vị Hoàng đế La Mã Thần thánh Friedrich I ở thế kỷ XII vào ngày 18 tháng 12 năm 1940, chiến dịch có mục tiêu nhanh chóng chiếm đóng phần lãnh thổ phía Tây đường ranh giới nối liền giữa hai thành phố Arkhangelsk và Astrakhan (thường gọi là tuyến A-A) của Liên Xô, được mở màn vào sáng Chủ nhật ngày 22 tháng 6 năm 1941 trên toàn bộ tuyến biên giới phía Tây của Liên Xô và thực tế kết thúc vào cuối năm 1941 trước cửa ngõ Moskva.
Trong toàn chiến dịch, mặc dù Quân đội Đức Quốc xã đã giành được một số chiến thắng vang dội ở cấp độ chiến thuật, chiếm được phân nửa lãnh thổ thuộc châu Âu của Liên Xô trong đó có một số vùng kinh tế quan trọng, nhưng không hoàn thành mục tiêu mà kế hoạch đề ra. Kể từ sau khi đợt tấn công Moskva bị bẻ gãy vào tháng 1 năm 1942, Quân đội Đức Quốc xã không còn đủ sức tổ chức một đợt tổng tấn công nào khác trên toàn bộ mặt trận, khiến chiến lược đánh nhanh thắng nhanh trước mùa đông 1941-1942 của Hitler hoàn toàn thất bại.
Thất bại về mặt chiến lược của chiến dịch Barbarossa là một bước ngoặt quan trọng, buộc Hitler phải tham gia vào một cuộc chiến tranh tổng lực mà nước Đức Quốc xã và đồng minh phe Trục kém thế tương quan về năng lực sản xuất công nghiệp và khả năng tổng động viên so với Liên Xô và phe Đồng minh, dẫn tới sự suy yếu rồi thất bại hoàn toàn trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Về mặt lịch sử, thì chiến dịch Barbarossa được ghi nhận là chiến dịch quân sự có quy mô lớn nhất về quân số tham chiến và cũng là chiến dịch đẫm máu nhất với con số thương vong lớn chưa từng có trong lịch sử thế giới.
Bối cảnh trước chiến dịch.
Từ năm 1933, sau khi Adolf Hitler lên cầm quyền và tái quân sự hóa nước Đức, chính sách nhất quán của Liên Xô là thiết lập một nền an ninh chung tại châu Âu, duy trì vào bảo vệ những điều khoản của Hiệp ước Versailles năm 1919. Chính sách này đã được thể hiện qua việc Liên Xô kiên trì đàm phán với các nước Tây Âu về một hiệp ước an ninh chung nhưng lại gặp phải thái độ nghi ngờ từ phía các đồng minh trong tương lai. Theo nhà sử học Henry Peyner: "Bằng Hiệp ước Munich năm 1938, họ đã thừa nhận việc Đức thôn tính Áo, bỏ mặc Tiệp Khắc cho Đức xâm chiếm và mở cửa cho Đức tấn công sang phía Đông".
Mặc dù đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế - quốc phòng nhưng trang bị vật chất dành cho chiến tranh của Liên Xô vào năm 1941 vẫn thua kém về số lượng so với nước Đức. Các biện pháp tổ chức lại quân đội và thực tập tác chiến theo chiến tranh hiện đại vẫn còn đang trong giai đoạn triển khai. Xét về từng khía cạnh thì mặc dù đã có ý thức và những hành động thiết thực để bảo vệ đất nước nhưng trên cách nhìn tổng thể, Liên Xô vẫn chưa hoàn toàn được chuẩn bị tốt để đón nhận một cuộc chiến tranh tổng lực. Cuộc tấn công bất ngờ ngày 22 tháng 6 năm 1941 của quân đội Đức đã làm bộc lộ toàn diện những điểm yếu của Liên Xô trong chiến lược phòng thủ quốc gia và nó chỉ được sửa chữa triệt để sau những ngày tháng thất bại trên các mặt trận.
Năm 1939, với thuyết "Không gian sinh tồn" ("Lebensraum") do Hitler khởi xướng, phe Trục (Đức, Ý, Nhật) đã có thỏa thuận chia nhau các phần lãnh thổ trên toàn cầu. Đến giữa năm 1941, nước Đức Quốc xã cùng với đồng minh là nước Ý dưới chế độ phát xít Mussolini đã thôn tính hầu hết phần phía Tây lục địa châu Âu (trừ Thụy Sĩ, Thụy Điển) và Tây Ban Nha dưới chế độ độc tài Francisco Franco là một đồng minh thân cận của Hitler.
Bắt đầu từ nước Áo năm 1937, Tiệp Khắc năm 1938, nước Đức tấn công Ba Lan tháng 9 năm 1939, chính thức mở màn Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Ngày 9 tháng 4 năm 1940, Đức tấn công Na Uy và Đan Mạch. Ngày 10 tháng 5, Đức tiếp tục chuyển sang tấn công Bỉ, Hà Lan, Luxembourg và liên quân Pháp-Anh trên lãnh thổ Pháp. Chỉ trong vòng 6 tuần, nước Pháp của Thống chế Philippe Pétain phải ký văn kiện đầu hàng tại rừng Compiègne. Cùng lúc đó, nước Đức cũng chiếm xong Đan Mạch, Na Uy, khống chế Biển Bắc và Biển Baltic. Từ ngày 7 tháng 9 năm 1940, Không quân Đức Quốc xã (Luftwaffe) mở đầu kế hoạch Kế hoạch Sư tử biển tấn công nước Anh và Hải quân Hoàng gia Anh nhằm dọn đường cho quân Đức đổ bộ. Ngày 14 tháng 11 năm 1941, trung tâm công nghiệp Coventry của Anh bị ném bom hủy diệt. Ngày 6 tháng 4 năm 1941, Đức Quốc xã tấn công Nam Tư và Hy Lạp, buộc Nam Tư đầu hàng ngày 18 tháng 4 và Hy Lạp đầu hàng ngày 27 tháng 4. Ngay sau đó, nhiếp chính vương Hungary Miklós Horthy, thủ tướng Romania Ion Antonescu và vua Bulgaria Boris III cũng tuyên bố đặt đất nước mình dưới sự bảo hộ của Đế chế thứ ba.
Trong các chiến dịch ở thời gian này, Quân đội Đức Quốc xã nhanh chóng giành những thắng lợi vang dội bằng phương thức "Chiến tranh chớp nhoáng" (Blitzkrieg), trong đó các mũi thọc sâu tốc độ cao của lực lượng thiết giáp hùng hậu được hỗ trợ của Không quân ở mật độ áp đảo. Với sự tự tin cao độ, Adolf Hitler và các nhà hoạch định quân sự của nước Đức Quốc xã cho rằng đã đến lúc chĩa mũi Blitzkrieg vào Liên Xô để kết thúc cuộc chiến.
Ý đồ tấn công Liên Xô của nước Đức Quốc xã.
Vào mùa hè năm 1940, khi Đức bắt đầu gặp phải cuộc khủng hoảng về nguồn nguyên liệu dành cho công nghiệp và khả năng về một cuộc xung đột với Liên Xô tại khu vực Balkan đang đến gần, một cuộc tấn công xâm lược Liên Xô gần như là giải pháp duy nhất đối với Hitler. Trong khi chưa có một kế hoạch cụ thể nào được lập ra, tháng 6 năm 1940, Hitler nói với một trong những tướng lãnh của ông rằng những chiến thắng ở Tây Âu "cuối cùng đã khiến ông ta rảnh tay để lo cho kế hoạch quan trọng thật sự của mình: cuộc quyết đấu một mất một còn với những người Bolshevik". Mặc dù các tướng lĩnh của Hitler cố khuyên ông rằng chiếm đóng miền Tây nước Nga sẽ rút cạn sinh lực nhiều hơn là giảm nhẹ gánh nặng cho nền kinh tế Đức vào thời điểm hiện tại, nhưng vị quốc trưởng Đức lại đề cập đến những lợi ích có được khi đánh bại Liên Xô:
Kế hoạch Barbarossa hình thành trong tình hình chính trị - ngoại giao tại châu Âu có nhiều diễn biến phức tạp. Ngày 29 tháng 9 năm 1938, nước Đức Quốc xã ký kết với Ý, Anh và Pháp Hiệp ước München và kết quả của nó là nước Đức đã thôn tính Tiệp Khắc. Ngày 20 tháng 8 năm 1939, cuộc đàm phán tay ba gồm Liên Xô, Anh, Pháp đã kết thúc thất bại "do một quyết định được coi là dại dột về chính trị của Ba Lan" và thái độ thiếu hợp tác của phía Anh. Thất bại lớn nhất trong cuộc đàm phán tay ba tại Moskva là đã không lập được khối liên minh quân sự giữa ba cường quốc này để bảo đảm cho chính sách an ninh chung châu Âu. Nhằm tránh một cuộc đối đầu Xô-Đức, ngày 23 tháng 8 năm 1939, Liên Xô đã ký kết với nước Đức Quốc xã Hiệp ước không xâm phạm Xô-Đức kèm theo một nghị định thư bí mật về phân chia vùng ảnh hưởng của hai bên ở Đông Âu. Ngày 1 tháng 9 năm 1939, nước Đức Quốc xã đã tấn công Ba Lan và chiếm 2/3 lãnh thổ phía Tây nước này sau 10 ngày. Liên Xô cũng đưa quân đội vào vùng Đông Ba Lan để thu hồi lại vùng lãnh thổ phía Tây của Đế quốc Nga trước đây, vốn bị mất vào tay Ba Lan từ thập niên 1920. Ngày 23 tháng 11 năm 1939, chỉ ba tháng sau khi ký hiệp ước không xâm lược với Liên Xô, Hitler tuyên bố:
Như vậy ý định tấn công Liên Xô đã được Hitler ấp ủ từ năm 1939. Đức chưa tiến hành ngay vì họ muốn đánh bại 2 đối thủ là Pháp và Anh để giải quyết mặt trận phía Tây, sau đó mới dồn toàn lực tấn công Liên Xô.
Binh lực các bên.
Quân đội Đức Quốc xã và các nước phụ thuộc Đức.
Bộ máy công nghiệp quân sự khổng lồ của nước Đức đến năm 1940 đã cho sản lượng tăng 76% so với năm 1939 và gấp 2,2 lần năm 1938. Năm 1940, nước Đức sản xuất được hơn 19 triệu tấn thép, 14 triệu tấn gang, 63 tỷ KWh điện. Nền công nghiệp và quân đội này cần một khối lượng dầu hoả khổng lồ nhưng nước Đức và các vùng Đức chiếm đóng đều không có nhiều dầu hoả. Ba trung tâm sản xuất dầu lửa lớn nhất nằm dọc lưu vực sông Danube (phía Nam thành phố Viên, đồng bằng Hungary và vùng phụ cận Ploesti của România) chỉ cung cấp sản lượng không quá 2 triệu thùng mỗi năm. Đến năm 1940 quân đội Đức (không kể đồng minh của Đức) đã có 214 sư đoàn trong đó có 21 sư đoàn xe tăng, 14 sư đoàn cơ giới, tổng cộng 7,2 triệu quân (trong đó có hơn 5 triệu quân thường trực và 2 triệu quân dự bị). Lục quân Đức được trang bị tốt với các loại tiểu liên Mauser và MP-38/40 dần dần thay thế súng trường bắn phát một.
Theo Grigori Doberin thì tính đến ngày 21 tháng 6 năm 1941, Quân đội phát xít Đức và đồng minh phe Trục (gồm Phần Lan, Ý, Hungary, Romania, Croatia, Slovakia và quân Tây Ban Nha của Franco) bao gồm 190 sư đoàn trong đó có 152 sư đoàn Đức, 38 sư đoàn các nước đồng minh với tổng quân số 5,3 triệu người, tập trung dọc theo hơn 2.900 km biên giới (1800 dặm) từ bờ biển Baltic phía Bắc đến bờ biển Đen phía nam. Một số lượng khổng lồ phương tiện chiến tranh được triển khai gồm có:
Để thực hiện kế hoạch Barbarossa, nước Đức đã huy động 3/4 quân đội Đức cùng với quân đội nhiều nước đồng minh với Đức tại châu Âu, chỉ để lại 1/4 quân số và phương tiện tại Tây Âu và Bắc Phi.
Quân đội Liên Xô.
Trước ngày 22 tháng 6 năm 1941, nền công nghiệp quốc phòng Liên Xô đã có sự phát triển mạnh sau kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1936-1940). Năm 1940, Liên Xô sản xuất được gần 18 triệu tấn thép, 15 triệu tấn gang, 48 tỷ KWh điện. Mặc dù Liên Xô liên tục tăng cường trang bị cho quân đội nhưng đến sát trước "cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại", trang bị của quân đội Liên Xô vẫn thua kém quân đội Đức cả về số lượng về chất lượng vũ khí, khí tài, trang bị quân sự.
Do yêu cầu của chiến tranh, công nghiệp quốc phòng của Liên Xô có bước phát triển lớn. Tới năm 1938, so với đầu những năm 1930, sản xuất xe tăng Liên Xô đã tăng hơn gấp 3. Kể từ 1-1-1939 tới 22-6-1941, Hồng quân đã được trang bị hơn 7.000 xe tăng và nếu chỉ tính riêng năm 1941 thì Hồng quân đã được cung cấp gần 5.500 xe, 29.637 pháo dã chiến, 52.407 súng cối. Tổng số pháo và súng cối tính cả đại bác trên xe tăng là 92.578. Theo tướng Zhukov thì về mặt số lượng và chất lượng, các súng cối của Liên Xô đã vượt khá xa các súng cối Đức.
Năm 1939, Liên Xô cho xây thêm 9 nhà máy sản xuất máy bay và 7 nhà máy sản xuất động cơ, ngoài ra còn có 7 nhà máy khác chuyển sang chế tạo sản phẩm cho máy bay. Cuối năm 1940, công nghiệp sản xuất máy bay Liên Xô đã tăng lên 70%. Tướng Zhukov khẳng định rằng chỉ sau một năm đến một năm rưỡi, Không quân Liên Xô đã được nâng cấp bằng các loại máy bay mới có sức chiến đấu rất mạnh mẽ. Tuy nhiên số lượng máy bay kiểu mới chưa được chế tạo đủ nhiều, nên khoảng 75 - 80% tổng số máy bay Liên Xô vẫn là những loại cũ sản xuất từ trước năm 1937, các máy bay đời cũ này bị thua những loại máy bay kiểu mới của Đức về các chỉ tiêu kỹ thuật. Còn nếu xét về tổ chức chiến thuật và trình độ phi công, Không quân Đức đã có sẵn 3 năm chinh chiến khắp châu Âu nên rất dày dặn kinh nghiệm chiến đấu, còn phi công Liên Xô thì phần lớn chưa qua thực chiến hoặc chưa hoàn thành xong khoá huấn luyện khi chiến tranh nổ ra.
Đến giữa năm 1941, Quân đội Liên Xô có tổng quân số khoảng 5 triệu người. Trong đó, 3,2 triệu quân bố trí trên phần lãnh thổ châu Âu của Liên Xô chịu trách nhiệm phòng thủ 3.375 km đường biên giới. Chỉ có hơn 800.000 quân bố trí tại Viễn Đông để đối phó với Nhật Bản, 500.000 quân bố trí ở các nước cộng hòa vùng Trung Á, 500.000 quân bố trí tại Kuban và Kavkaz. Lực lượng này được biên chế và trang bị như sau:
Lực lượng hải quân Liên Xô sát chiến tranh có gần 600 tàu chiến, 211 tàu ngầm, hơn 1.000 pháo phòng thủ bờ biển với trên 2.500 máy bay. Gần 270 tàu các loại được đóng vào sát cuối năm 1940. Nhiều căn cứ hải quân mới được xây dựng trong khi các khu vực ở vùng Baltic, Biển Đen và biển Bắc cực được Hồng quân củng cố thêm.
Phương án tác chiến.
Ngày 21 tháng 7 năm 1940, Adolf Hitler giao cho Bộ Tổng chỉ huy lục quân Đức soạn thảo "Kế hoạch Otto". Tại Chỉ thị số 21 của Bộ Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang của Đế chế (Reich) ngày 18 tháng 12 năm 1940 và Chỉ thị về việc tập trung và triển khai có tính chiến lược các lực lượng quân đội ngày 31 tháng 1 năm 1941 đã chỉ ra những phương án cuối cùng được duyệt của kế hoạch này, đồng thời, thông báo lệnh của Quốc trưởng đổi tên thành "Kế hoạch Barbarossa". Kế hoạch này dự định khởi sự ngày 15 tháng 6 năm 1941, tấn công và đánh chiếm Liên Xô (chủ yếu là phần lãnh thổ thuộc châu Âu) trong một thời gian ngắn ngay trước khi kết thúc chiến tranh với Anh. Ý đồ chiến lược của kế hoạch này là dùng ba đòn vu hồi liên tiếp chia cắt chính diện mặt trận Xô-Đức; hợp vây các lực lượng chủ yếu của quân Nga trên các vùng Pribaltic, Belorussia, Ukraina và miền Tây nước Nga (vùng phụ cận Smolensk). Trọng tâm tác chiến là sử dụng các tập đoàn quân xe tăng tiến hành những đòn đột kích sâu ở phía Bắc và phía Nam khu vực đầm lầy Pripiat (khu tiếp giáp giữa Belorussia và Ukraina), tiêu diệt những cách quân đã bị chia cắt trước khi tiến chiếm Moskva, Leningrad, vùng công nghiệp Donbass cũng như vùng đồng bằng trung và hạ lưu sông Volga.
Để có thể giành được một chiến thắng chớp nhoáng, quân Đức buộc phải nhanh chóng hủy diệt Hồng quân Liên Xô trong những chuỗi tấn công và hợp vây trên. Vì vậy mục tiêu chính yếu trước mắt của kế hoạch Barbarossa chính là Hồng quân Liên Xô và sau đó mới là đánh chiếm những vùng đất đai quan trọng hay đạt được những thắng lợi về chính trị. Bản thân Hitler đã nói: so với việc tiêu diệt Hồng quân thì "đánh chiếm Mạc Tư Khoa không thật sự quá quan trọng". Chỉ thị số 21 đã nêu rõ ý định của Hitler như sau:
Phương án tác chiến ban đầu của "Kế hoạch Otto" tháng 12 năm 1940 là dùng các đòn đột kích liên tiếp của nhiều thê đội xe tăng - thiết giáp mạnh (4 tập đoàn quân xe tăng), sử dụng chiến thuật "luân xa chiến", mở đường tấn công một mạch từ Brest qua Minsk (cách Brest gần 350 km)) và Smolensk (cách Minsk hơn 380 km) đến Moskva (cách Smolensk chừng 400 km) theo lối đánh "gạt đối phương ra để tiến"; nhanh chóng đánh tan cơ quan lãnh đạo tối cao của Nhà nước và quân đội Liên Xô tại Moskva và kết thúc sớm chiến tranh trong vòng vài tuần lễ. Đến ngày 3 tháng 2 năm 1941, nhận thấy phương án này khá phiêu lưu do kéo dài tuyến mặt trận hai bên sườn và các đường tiếp tế cũng phải kéo dài, rất dễ bị Quân đội Liên Xô công kích và chia cắt từ hai phía Bắc và Nam (như đã xảy ra với quân đội của Napoleon năm 1812), các tướng lĩnh Đức Quốc xã đưa ra phương án cuối cùng, chia quân đội Đức ở mặt trận phía Đông thành ba cụm tập đoàn quân, tấn công trên ba hướng chiến lược:
Cụm tập đoàn quân Bắc.
Cụm tập đoàn quân phụ trách hướng tấn công vào Tây Bắc Liên Xô, do Thống chế Wilhelm Ritter von Leeb chỉ huy. Trên chính diện từ phía Bắc Goldapa đến Klaipeda trên bờ biển Baltic, cụm quân này được giao nhiệm vụ mở hai mũi vu hồi bằng đường bộ và đường biển, hợp vây các đơn vị thuộc Quân khu Pribaltic của Quân đội Liên Xô, tấn công dọc theo bờ biển Baltic hướng về Leningrad, bao vây và đánh chiếm thành phố này cùng với các cảng trên biển Baltic, bao gồm Tallinn và Kronstadt. Cụm tập đoàn quân này gồm 29 sư đoàn, được biên chế vào các đơn vị:
Phối hợp với cụm tập đoàn quân này có Tập đoàn quân sơn cước 20 (còn gọi là tập đoàn quân Lapland), bảy sư đoàn bộ binh Phần Lan tấn công từ phía Bắc eo đất Karelia, phân hạm đội Đông Baltic của Hải quân Đức từ phía biển và Tập đoàn quân không quân 3 yểm hộ từ trên không.
Cụm tập đoàn quân Trung tâm.
Đây là cụm quân chủ lực, có binh lực, hỏa lực và phương tiện mạnh nhất trong ba cụm tập đoàn quân Đức Quốc xã trong chiến dịch (hai trong số 4 tập đoàn quân thiết giáp của Đức - tập đoàn quân số 2 và số 3 - nằm trong cụm quân này. Cụm này do Thống chế Fedor von Bock chỉ huy. Trên chính diện từ Goldapa đến thành phố Włodawy, Cụm tập đoàn quân Trung tâm có nhiệm vụ mở ba đòn vu hồi liên tiếp của hai tập đoàn quân xe tăng và một quân đoàn xe tăng độc lập, hợp điểm lần lượt tại Białystok, Minsk, Smolensk và cuối cùng là Moskva. Các tập đoàn quân bộ binh tiến theo xe tăng có nhiệm vụ bao vây, tiêu diệt các đơn vị chủ lực của Quân đội Liên Xô ở phía Tây sông Neman, phía tây sông Berezina (tức miền Tây Belarus) và cuối cùng là vùng phụ cận Moskva tại Rzhev - Vyazma.
Cụm tập đoàn quân này gồm 50 sư đoàn (trong đó có 15 sư đoàn xe tăng), được biên chế vào các đơn vị:
Cụm tập đoàn quân Trung tâm được các tập đoàn quân không quân 2 và 6 yểm hộ từ trên không.
Cụm tập đoàn quân Nam.
Đây cũng là một cụm quân rất mạnh của Quân đội Đức Quốc xã do Thống chế Gerd von Rundstedt chỉ huy, gồm 46 sư đoàn (trong đó có 9 sư đoàn xe tăng). Chính diện tấn công từ Lublin đến cửa sông Danube trên bờ Biển Đen được chia làm hai hướng. Hướng đánh từ Tây sang Đông ở miền Bắc Ukraina qua Shepetivka - Kiev gồm có 34 sư đoàn (trong đó có 7 sư đoàn xe tăng, hai sư đoàn cơ giới) mục tiêu hợp vây Quân đội Liên Xô được hoạch định là Kiev. Hướng đánh từ phía Tây xuống Đông Nam Ukraina qua Tarnopol - Odessa có 11 sư đoàn (trong đó có hai sư đoàn xe tăng và 1 sư đoàn cơ giới), hợp vây quân đội Liên Xô ở bán đảo Krym. Biên chế của cụm quân này gồm có:
Các đơn vị này được sự yểm hộ từ trên không của tập đoàn quân không quân 4 của tướng Wolfram Freiherr von Richthofen.
Lực lượng dự bị chiến dịch.
Ngoài 153 sư đoàn có mặt ở tuyến đầu, Quân đội Đức Quốc xã cùng chuẩn bị một lực lượng dự bị tuyến hai để phát huy chiến quả hoặc tiếp quản những vùng đất đã chiếm được sau khi các lực lượng tuyến một đẩy mặt trận lên phía trước. Tổng số lực lượng này có 24 sư đoàn, gồm có:
Quân đội Liên Xô.
Toàn bộ Quân đội Liên Xô tại phần lãnh thổ châu Âu của họ được bố trí trên 10 quân khu:
Các quân khu biên giới phía Tây.
Trên toàn tuyến mặt trận, binh lực được bố trí thành hai thê đội phòng thủ. Thê đội một gồm 48 sư đoàn bố trí cách biên giới quốc gia từ 10 đến 50 km, trong đó bộ binh bố trí phía trước, xe tăng, cơ giới, pháo binh bố trí xa hơn. Chủ lực các quân khu tổng cộng 101 sư đoàn bố trí ở tuyến hai cách đường biên giới quốc gia từ 80 đến 300 km. Hai bên sườn quân khu Leningrad, sườn phải Quân khu Pribaltic và sườn trái Quân khu Odessa có hải quân tuần duyên và pháo bờ biển bảo vệ. Ngoài ra, còn có trên 200 đồn biên phòng thuộc Bộ Dân ủy Nội vụ, quân số mỗi đồn tương đương một trung đội bố trí ngay trên đường biên giới.
Quân khu Đặc biệt Tây có bộ tư lệnh đóng ở thành phố Bialystok và có các tập đoàn quân số 3 của tướng V. I. Kuznetsov, số 4 của tướng A. A. Korobkov, số 10 của thiếu tướng A. N. Chernikov và quân đoàn 13.
Từ giữa năm 1940, Bộ Quốc phòng Liên Xô đã giao cho Bộ Tổng tham mưu mà trực tiếp là tổ kế hoạch tác chiến lần lượt do nguyên soái B. M. Shaposhnikov, đại tướng K. A. Meretskov và trung tướng N. F. Vatutin phụ trách xây dựng kế hoạch phòng thủ biên giới quốc gia. Sau ba bốn lần được đưa ra Hội đồng Quốc phòng Liên Xô để bàn thảo và chỉnh sửa; đến tháng 4 năm 1941, bản Kế hoạch được đích thân Stalin phê chuẩn và chính thức mang mật danh "KOVO-41".
Nội dung kế hoạch gồm 4 điểm cơ bản cần thực hiện:
Theo kế hoạch này, hướng tấn công được coi là nguy hiểm nhất của quân đội Đức Quốc xã vào Liên Xô là hướng Tây Nam (Quân khu đặc biệt Kiev và Quân khu Odessa). Stalin hoàn toàn đồng ý với nhận định này. Kế hoạch "KOVO-41" được chia ra theo các nhiệm vụ cụ thể của từng quân khu và lần lượt được gửi kèm theo các Chỉ thị số UN/584814 và UN/584815 ngày 8 tháng 4 năm 1941 của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Liên Xô đến các Quân khu để hướng các hoạt động triển khai kế hoạch này. Các chỉ thị yêu cầu:
Cho đến khi có chỉ thị đặc biệt các khu phòng thủ giữ nguyên trạng thái cũ. Khi chiến tranh nổ ra, cần tiến hành các biện pháp:
Cũng trong khuôn khổ "KOVO-41", ngày 13 tháng 5, Bộ Tổng tham mưu Liên Xô điều động 28 sư đoàn từ các quân khu ở sâu trong nội địa ra phía Tây: Tập đoàn quân 22 từ quân khu Ural đến Velikiye Luki để tăng cường cho phía Tây Bắc, tập đoàn quân 21 từ quân khu Privolga đến Gomel để tăng cường cho phía Tây, tập đoàn quân 19 từ Bắc Kavkaz đến Belaya Tserkov và tập đoàn quân 16 từ Zabaikal đến Shepetivka để tăng cường cho phía Tây Nam, quân đoàn bộ binh nhẹ 25 từ Kharkov đến Tây Dvina.
Bốn điểm mấu chốt của "KOVO-41" mãi đến sáng ngày 22 tháng 6 mới có quyết định thi hành và được diễn giải bằng một bức điện khá dài và không rõ nghĩa trong khi hàng trăm sư đoàn Đức đã vượt biên giới và hàng nghìn máy bay Đức đã trút bom xuống lãnh thổ Liên Xô. Khi các Phòng tác chiến của các Quân khu biên giới mở các phong bì tuyệt mật chứa kế hoạch "KOVO-41" thì Quân đội Đức Quốc xã đã bắt đầu tấn công được hơn 3 giờ đồng hồ. Theo nguyên soái I. Kh. Bagramian (khi đó là Đại tá, Trưởng phòng tác chiến Quân khu đặc biệt Kiev), chỉ cần Bộ Tổng tham mưu phát một bức điện ngắn với nội dung "KOVO-41 có hiệu lực" là đủ.
Diễn biến quốc tế trước chiến dịch.
Thái độ của Hoa Kỳ và Anh.
Trong khi Hoa Kỳ tạm giữ thái độ của "người ngoài cuộc" giống như giai đoạn mở đầu Chiến tranh thế giới thứ nhất thì Anh lại "chơi cả hai con bài" Đức và Liên Xô. Một mặt, chính phủ Anh do Neville Chamberlain và sau này là Winston Churchill đứng đầu ra sức đẩy Liên Xô và Đức đối đầu nhau, cung cấp tin giả cho người Đức về mối đe dọa quân sự của Liên Xô cũng như cung cấp tin thật cho Liên Xô về mối đe dọa của Đức. Hệ thống thông tin báo chí của Anh và sau này là cả Hoa Kỳ đều thường xuyên đăng những tin tức về cuộc chuyển quân của các hai bên đến vùng biên giới mà hãng TASS của Liên Xô đã nhiều lần lên tiếng bác bỏ.
Sau chuyến công cán đặc biệt của Rudolf Hess, phó thủ lĩnh Đảng Quốc xã sang Anh tháng 5, tháng 6 năm 1940 và bị phía Anh bắt bỏ tù cho tới khi chết năm 1987, đại sứ Đức tại Luân Đôn báo cáo về nước những chính sách có chiều hướng xây dựng trong giới cầm quyền Anh. Cũng tại thời điểm đó, từ Moskva, đại sứ Đức tại Liên Xô Schulenburg lại báo cáo với Berlin rằng: Chính phủ Liên Xô, trong tình hình quốc tế hiện nay mà họ coi là nghiêm trọng, vẫn tìm cách tránh cuộc xung đột với Đức. Đến tháng 4 năm 1941, chính phủ Anh đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động thúc đẩy nước Đức gây hấn với Liên Xô. Trung tâm cơ quan MI6 đặt tại New York đã chuyển đến Đại sứ quán Đức ở Hoa Kỳ tin tức về việc người Nga có kế hoạch hoạt động quân sự mạnh ngay sau khi nước Đức bị lôi kéo vào cuộc chiến với Anh.
Trong khi đó, Thủ tướng Anh Winston Churchill lại thông báo cho Stalin rằng cuộc khởi nghĩa của Serbia do người Anh giúp đỡ tháng 3 năm 1941 đã làm cho quân Đức không thể điều động thêm ba sư đoàn xe tăng từ đây sang Nam Ba Lan. Tất cả những điều đó đều nhằm một mục tiêu, hướng nước Đức Quốc xã mở rộng sự bành trướng của nó sang phía Đông. Chính phủ Anh rất có lợi nếu Đức phạm sai lầm về điểm này. Điều đó có nghĩa là nước Anh sẽ có nhiều hy vọng được cứu thoát.
Khi quân Đức bắt đầu xâm lược Liên Xô, các nước Anh - Mỹ đều tuyên bố ủng hộ nhà nước Liên Xô. Thủ tướng Anh Winston Churchill cam đoan rằng Anh quốc sẽ không chấp nhận hòa bình với Đức để giúp Stalin thì đáp trả lại, Stalin lại cử người đi Berlin để cầu hòa, đề xuất cắt cho Đức Quốc xã các nước vùng Baltic, Bessarabia và thậm chí cả một phần Ukraina để đổi lấy hòa bình. Liên Xô còn tuyên bố cuộc tấn công của Đức là một cuộc "tấn công hòa bình".
Các nước đồng minh phe Trục.
Tại Châu Âu, chỉ có Ý đã tham gia hiệp ước phân chia thế giới và Tây Ban Nha dưới chế độ độc tài Franco được coi là đồng minh thực sự của Đức Quốc xã; các nước châu Âu khác không phải là đồng minh của Đức theo đúng nghĩa của từ này, mà đúng ra thì đó là những nước chư hầu. Bởi từ năm 1938 đến 1940, nước Đức đã dùng sức mạnh quân sự khổng lồ của mình để đặt các nước này dưới sự cai trị của mình. Ngoại trừ Thụy Sĩ và Thụy Điển là hai nước trung lập và nước Anh đang chiến đấu chống lại máy bay Đức; Quân đội Đức có mặt gần như khắp châu Âu, từ Pháp đến Ba Lan, từ Na Uy, Đan Mạch đến Hy Lạp, Nam Tư.
Trong số các đồng minh của nước Đức, có năm "đồng minh" tích cực nhất đã gửi quân đội của mình tham gia đội quân xâm lược của Đức Quốc xã chống Liên Xô là Ý, Hungary và România, nhưng mỗi nước đều có một lý do địa-chính trị riêng với những lời hứa chia phần khác nhau từ Đức:
Điều quan trọng nhất là nước Đức đã huy động được nguồn nhân lực và kinh tế rất lớn vào cuộc chiến chống Liên Xô, nắm toàn bộ các kho vũ khí, dự trữ kim loại, các nguyên liệu chiến lược, huy động gần như toàn bộ bộ máy công nghiệp quân sự của Tây Âu vào cuộc chiến.
Tại Phương Đông, Nhật Bản tuy ký hiệp ước phe Trục nhưng có thái độ khác trong việc đối xử với Liên Xô vì dù sao, Nhật Bản cũng đã chiếm được những vùng giàu có ở Trung Quốc, Đông Dương và đang nhằm vào Miến Điện cùng các quốc đảo ven bờ châu Á. Vùng Siberia của Nga tuy hẫp dẫn thật nhưng chưa phải là cấp thiết. Sau các thất bại quân sự tại vùng Khalkhyl Gol và hồ Khasan, chính phủ của Thủ tướng Konoe đã đi đến kết luận: Chưa đến lúc xé bỏ hiệp ước trung lập thân thiện với Liên Xô. Họ chờ đợi sự suy yếu của Liên Xô trong cuộc chiến Xô - Đức nay mai. Họ muốn bày tỏ với nước Đức rằng: "Chúng ta là đồng minh, nhưng ngoại trừ việc chống Liên Xô". Song phải đến khi Quân đội Đức chỉ còn cách Moskva trên dưới 20 km, tin tức về việc Nhật Bản "không vào cuộc" mới được Richard Sorge khẳng định và báo về Moskva.
Chiến dịch nghi binh của Đức Quốc xã.
Tuy đã chuẩn bị lên kế hoạch tấn công Liên Xô nhưng Đức Quốc xã vẫn chơi trò "bắt cá hai tay". Ngoài hiệp ước liên minh phe Trục ký với Nhật Bản và Ý năm 1938 phân chia vùng chiếm đóng trên thế giới kể cả Hoa Kỳ, Volthard - cố vấn của Hermann Göring - vẫn có cuộc đàm phán với Bộ trưởng thương mại Anh Hudson về việc phân chia ba khu vực hoạt động kinh tế chủ yếu của hai nước gồm hệ thống thuộc địa Anh, Nga và Trung Quốc. Ngay sau khi ký kết với Ý và Nhật Hiệp ước chống quốc tế cộng sản ngày 27 tháng 9 năm 1940, Ngoại trưởng Đức Von Ribbentrop vẫn mời đoàn ngoại giao Liên Xô do V. M. Molotov dẫn đầu sang thăm Đức. Tại cuộc đàm phán ngày 12 tháng 11 năm 1940, Ribbentrop đề nghị Liên Xô cùng với Đức, Ý, Nhật phân chia thế giới. Tất nhiên, đề nghị này bị phái đoàn Liên Xô bác bỏ thẳng thừng.
Ngày 3 tháng 2 năm 1941, Hitler ra "Chỉ thị đặc biệt về việc đánh lạc hướng đối phương". Trong đó, các cơ quan tình báo và phản gián Đức được giao nhiệm vụ tung ra những tin đồn về việc quân Đức chuẩn bị chiến dịch đổ bộ lên các đảo của nước Anh với hai kế hoạch có mật danh "Đinh ba" ("Harpune") và "Cá mập" ("Haifisch"). Để cho mọi việc diễn ra "như thật", Hitler còn làm trò nổi nóng và doạ xử bắn tại chỗ hai sĩ quan Đức đã để lộ tin tức về kế hoạch "Sư tử biển". Các quân đoàn đổ bộ (chỉ có bộ khung) được thành lập, nhiều nhân viên phiên dịch tiếng Anh được điều đến các đơn vị quân đội Đức đóng trên bờ biển Manche của Pháp. Bộ máy tuyên truyền của nước Đức Quốc xã do Joseph Goebbels cầm đầu liên tục tung ra những thông tin về việc Đức giả tập trung quân ở biên giới Liên Xô để nghi binh, thực chất là tấn công Anh; những thông tin về khả năng quân Đức sẽ viễn chinh sang Ấn Độ. Tất cả động thái đó đều nhằm đánh lạc hướng bộ máy tình báo của Liên Xô, che giấu ý đồ thật sự của "Kế hoạch Barbarossa".
Vượt lên trên tất cả những màn kịch ngoại giao, những tấm mạng nhện bùng nhùng các tin tức đồn đại thật có, giả có và cả giả lẫn thật cũng có, ngày 15 tháng 6 năm 1941, cơ quan GPU của Liên Xô nhận được tin tức của điệp viên Nga gốc Đức Richard Sorge từ Tokyo, Nhật Bản: "Chiến tranh sẽ bắt đầu ngày 22 tháng 6". Sau đó sáu ngày, Richard Sorge gửi tiếp một tin nữa để xác nhận: "Cuộc tiến công sẽ được thực hiện trên toàn mặt trận lúc rạng sáng ngày 22 tháng 6". Cùng thời điểm này, một tùy viên lục quân Liên Xô tại Berlin cũng gửi báo cáo về Moskva khẳng định: "Chiến sự chống Liên Xô sẽ khởi sự trong khoảng từ 15 tháng 5 đến 15 tháng 6 năm 1941". Nhưng người đứng đầu cơ quan tình báo GRU F. I. Golikov đã không nhận thức được ý nghĩa thực sự của những thông tin quý giá này. Và cả Stalin cũng đã xử lý chậm chạp do nghi ngờ tính xác thực của các thông tin đó với niềm tin thái quá vào các nỗ lực ngoại giao để tránh một cuộc chiến tranh. Ngay cả đô đốc Tư lệnh hải quân Liên Xô N. G. Kuznetsov khi nhận được báo cáo ngày 6 tháng 5 của Tùy viên hải quân Liên Xô tại Berlin về việc quân Đức có thể khởi chiến vào 14 tháng 5 cũng coi đó chỉ là tin giả do phía Đức tung ra để thăm dò phản ứng của Liên Xô.
Diễn biến chiến dịch.
Chiều tối 21 tháng 6 năm 1941, vài người dân Ba Lan đã liều mạng bơi qua sông Bug Tây gặp những lính biên phòng Liên Xô ở đồn số 9 và đồn số 17 Cờ Đỏ để báo cáo về việc Quân Đức chuẩn bị tiến công vào sáng sớm ngày 22. Tin tức này phù hợp với tin tình báo do trinh sát ngoại biên của các đồn biên phòng miền Tây báo cáo về việc quân Đức tập trung vô số xe tăng, pháo binh và bộ binh sát đường biên giới. Cùng thời điểm trên, một thượng sĩ Đức thuộc trung đoàn 222, sư đoàn bộ binh 73 chạy sang Liên Xô tại khu vực Tây Vladimir - Volynski thuộc Quân khu đặc biệt Kiev quả quyết rằng quân Đức sẽ tấn công vào 4 giờ sáng 22 tháng 6. Nhiều đơn vị biên phòng và quân đồn trú sát biên giới của các quân khu phía Tây Liên Xô đều qua bộ tư lệnh của mình liên tiếp gửi về Moskva những tin tức tương tự. Bộ trưởng dân ủy quốc phòng S. K. Timoshenko, Tổng tham mưu trưởng Zhukov và Cục trưởng cục tác chiến N. F. Vatutin thống nhất đề nghị khởi động khẩn cấp Kế hoạch "KOVO-41". Nhưng thay vì đưa quân đội Liên Xô vào tình trạng sẵn sàng chiến đấu ngay tức khắc và tuyên bố tình trạng chiến tranh, Stalin và tập thể Hội đồng Quốc phòng Liên Xô lại nghi ngờ đó là tin tình báo giả để khiêu khích, nên quyết định chỉ tiến hành những biện pháp hạn chế, chủ yếu có tính đề phòng với tinh thần: "không được rơi vào âm mưu khiêu khích có thể gây ra những rắc rối lớn". Ngoài những biện pháp đề phòng, bức điện hỏa tốc lúc 2 giờ 30 phút sáng 22 tháng 6 được truyền đến các quân khu biên giới phía Tây còn quy định: "Không có lệnh đặc biệt, không được tiến hành bất kỳ biện pháp nào khác". Lúc 3 giờ 30 phút, Đức Quốc xã tấn công lãnh thổ Liên Xô. Cuộc chiến tranh vệ quốc của Liên Xô chính thức mở màn.
Mở màn chiến dịch, Không quân Đức Quốc xã ("Luftwaffe") tấn công các sân bay và các mục tiêu quân sự bên trong lãnh thổ Liên Xô từ ven biển Barents đến ven bờ Biển Đen. Trong vòng vài giờ sau đó, 152 sư đoàn gồm hơn 3,2 triệu quân Đức, cộng thêm 38 sư đoàn quân các nước chư hầu, dẫn đầu bởi các sư đoàn thiết giáp ồ ạt vượt biên giới, bắt đầu chiến dịch quân sự theo đường lối chiến tranh chớp nhoáng (blitzkrieg) lớn nhất trong lịch sử nhắm vào mục tiêu đánh bại Hồng quân và xoá sổ Liên Xô trong vòng 2-3 tháng.
Theo kế hoạch, chiến dịch được tiến hành bởi ba mũi. Mũi thứ nhất của Cụm tập đoàn quân Bắc gồm 26 sư đoàn, trong đó có 3 sư đoàn thiết giáp và 2 sư đoàn cơ giới hóa, tấn công qua các nước Cộng hòa vùng Baltic vào Bắc Nga, hướng tới Leningrad. Mũi thứ hai của Cụm tập đoàn quân Trung tâm gồm 49 sư đoàn, trong đó có 9 sư đoàn thiết giáp và 6 sư đoàn cơ giới hóa, tấn công Smolensk sau đó qua Belarus tới Moskva. Mũi thứ ba của Cụm tập đoàn quân Nam gồm 41 sư đoàn, trong đó có 5 sư đoàn thiết giáp và 4 sư đoàn bộ binh cơ giới hóa, tấn công vào vùng đông dân trù phú Ukraina, chiếm Kiev sau đó triển khai xuống phía Nam, tới sông Volga và vùng dầu hỏa Caucasus.
Ở giai đoạn đầu của chiến dịch, Hồng quân Liên Xô hoàn toàn bị bất ngờ và không kịp phản ứng. Chỉ trong 3 ngày đầu, gần 4.000 máy bay bị phá hủy khi đang đậu trên sân bay, các đồn biên phòng nhanh chóng bị tràn ngập. Ở phía Bắc, tập đoàn quân thiết giáp số 4 của Đức xuyên qua giữa 2 quân đoàn Hồng quân, sau đó bao vây và tiêu diệt 2 quân đoàn này. Ở mặt trận trung tâm, tập đoàn quân thiết giáp số 2 vượt sông Tây Bug ở phía Nam, tập đoàn quân thiết giáp số 2 đột phá qua khe giữa 2 phương diện quân Hồng quân ở sông Neman, vận động thành hai gọng kềm thọc sâu hợp điểm tại Minsk, khiến 32 sư đoàn Hồng quân bị bao vây trong túi và sau đó bị tiêu diệt. Đến ngày 9 tháng 7, quân Đức liên tục đánh bại quân đội Liên Xô trên lãnh thổ phía Tây, lãnh thổ Litva và Latvia và hầu khắp lãnh thổ Belarus cũng như miền Tây Ukraina. Ngày 29 tháng 6 năm 1941, Minsk rơi vào tay quân Đức. Pskov rơi vào tay quân Đức ngày 9 tháng 7 năm 1941. Ngày 10 tháng 7 năm 1941, quân Đức đột kích Leningrad rồi tiền hành bao vây.
Ở giai đoạn hai, trên mặt trận trung tâm, tập đoàn quân thiết giáp số 2 của Đức vượt sông Dniepr vận động bao vây Smolensk từ phía Nam, tập đoàn quân thiết giáp số 3 tiến công Smolensk từ phía Bắc. Sau khi hợp điểm thành công, hai gọng kềm phong tỏa 3 tập đoàn quân Hồng quân trong túi, bắt sống 18 vạn tù binh. Chiếm xong Smolensk vào ngày 10 tháng 9 năm 1941, tập đoàn quân thiết giáp số 2 được lệnh quay về phía Nam, phối hợp với cụm tập đoàn quân Nam đánh về phía Bắc thành hai gọng kềm bao vây Kiep, tiêu diệt hoặc bắt giữ 43 sư đoàn Hồng quân với tổng số 60 vạn người cùng với nhiều vũ khí nặng. Đến ngày 1 tháng 9, quân Đức đã đánh bại Hồng Quân ở miền Đông Belarus, Estonia và vùng giáp ranh với Nga, gần như toàn bộ Ukraina. Đến cuối tháng 10, phần còn lại của Ukraina trừ Krym thất thủ. Uman bị chiếm ngày 10 tháng 8 năm 1941. Kiev, Riga thất thủ ngày 30 tháng 9 năm 1941. Ngày 16 tháng 10 năm 1941, Odessa thất thủ. Kharkov, trung tâm công nghiệp lớn thứ hai ở Ukraina rơi vào tay quân Đức ngày 24 tháng 10 năm 1941 nhưng Liên Xô đã kịp sơ tán các nhà máy, kỹ sư và công nhân về phía đông.
Bước vào giai đoạn ba, các tập đoàn quân đoàn thiết giáp Đức lặp lại bài bản tấn công bằng hai gọng kềm thắng lợi thêm một lần nữa ở Vyazma, bao vây 4 tập đoàn quân Hồng quân trong túi, tiêu diệt hoặc bắt sống gần 60 vạn người, nâng tổng số Hồng quân bị tổn thất lên xấp xỉ 3 triệu. Nhưng đây cũng là dấu chấm hết cho những thắng lợi của quân Đức trong chiến dịch Barbarossa khi sau đó Hồng quân phản công thành công ở trận Moskva, tiêu diệt hoặc đánh thiệt hại nặng 50 sư đoàn Đức. Ở phía nam, Liên Xô cũng phản công thắng lợi trong trận Rostov, ở phía bắc thì Leningrad vẫn kiên trì cố thủ. Quân Đức thất bại trong mục tiêu đánh nhanh thắng nhanh, biến mặt trận phía Đông thành một cuộc chiến tranh tiêu hao tổng lực.
Mặt trận Belorussia và vùng Pribaltic.
Tại mặt trận Belorussia.
Tại hướng Belorussia, Tổng hành dinh quân đội Đức tập trung lực lượng mạnh nhất của chiến dịch gồm 29 sư đoàn trên đất Ba Lan và 21 sư đoàn ở Đông Phổ, trong đó có 15 sư đoàn xe tăng. Hai mũi tiến công vu hồi sâu ở hai hướng Bắc và Nam thành phố Brest - Litovsk. Cánh quân phía Bắc do Tập đoàn quân xe tăng 3 của tướng Hermann Hoth dẫn đầu có tập đoàn quân 9 tiến theo sau mở mũi đột kích từ Belostok (Bialystok) vượt qua Lida và Molodechno (maladzyechna) đến Borisov (Barysaw). Tại phía cực Bắc của hướng này, tập đoàn quân 2 có quân đoàn xe tăng 8 dẫn đầu phát triển tấn công đến Vilnius. Cánh quân phía Nam có Tập đoàn quân xe tăng 2 của tướng Heinz Guderian dẫn đầu và tập đoàn quân 4 tiến theo sau đột kích từ Nam Brest qua Kobryn, Baranovichi, Slutsk, Pukhavichy (Puchavicy) đến Berezina (Byerazino). Ngay trong ngày 22 tháng 6, Bộ chỉ huy tối cao Liên Xô hầu như bị đứt liên lạc hoàn toàn với Quân khu đặc biệt miền Tây. Chỉ biết được không quân của Quân khu bị thiệt hại rất lớn. Trinh sát đường không chỉ nắm được tình hình chung nhất là quân Đức đã đột nhập lãnh thổ với chiều sâu từ 15 đến 20 km.
Cũng ngay trong ngày đầu chiến tranh, nhiều sư đoàn và quân đoàn thuộc Quân khu đặc biệt Miền Tây (từ ngày 23 tháng 6 đổi tên là Phương diện quân Tây) đã độc lập tác chiến với quân Đức. Thông tin liên lạc bị đứt làm cho việc chỉ huy chung không thể thực hiện được. Ngay cả khi liên lạc được nối lại, đại tướng D. G. Pavlov, tư lệnh Phương diện quân cũng thường có những quyết định không còn phù hợp với tình hình. Kết quả là ngày 25 tháng 6, các tập đoàn quân 3 của trung tướng V. I. Kuznesov và tập đoàn quân 4 của thiếu tướng A. A. Korobkov ngay cả khi được tăng cường quân đoàn cơ giới 14 vẫn rút lui vô tổ chức khỏi Grodno và Brest. Hành động đó đã đẩy đồng đội của họ là tập đoàn quân 10 do thiếu tướng K. D. Golubev chỉ huy vào tình trạng bị nửa hợp vây tại khu phòng thủ Ossoved (osowiec Twierdza) trên bờ sông Narew. Phó tư lệnh phương diện quân Tây, Trung tướng I. V. Boldin đã sử dụng quân đoàn kỵ binh 6, các quân đoàn cơ giới 6 và 11 tổ chức phản kích từ Sokolka vào sườn trái của tập đoàn quân xe tăng 3 Đức. Mặc dù cuộc phá vây không thành công nhưng đòn phản kích này đã buộc tập đoàn quân xe tăng 3 Đức phải phân chia lực lượng để "nhổ cái dằm" Sokolka - Ossoved. Tại Slonim, một bộ phận lớn Quân đoàn cơ giới 6 Liên Xô được trang bị các loại xe tăng cũ BT-7, T-26 và T-28 đã bị tập đoàn quân xe tăng 2 Đức bao vây tại đây. Quân đoàn phải bỏ lại hầu hết xe tăng sau khi đã sử dụng đến những viên đạn, những giọt dầu cuối cùng và chiến đấu như bộ binh để mở đường máu rút lui. Tư lệnh quân đoàn cơ giới 6, tướng M.G. Khaskilevik và tư lệnh quân đoàn kỵ binh 6, tướng I.S. Nikitin tử trận.
Ngày 26 tháng 6, quân đoàn cơ giới 39 thuộc tập đoàn quân xe tăng 3 (Đức) đã tiếp cận khu phòng thủ Minsk và chạm súng với Quân đoàn khinh binh 5 (Liên Xô) do tướng V. D. Yushenko chỉ huy. Bộ tư lệnh Phương diện quân Tây lấy từ lực lượng dự bị của họ Quân đoàn khinh binh 2 do tướng A. N. Yermakov chỉ huy (chỉ có hai sư đoàn 100 và 161), tăng cường cho khu phòng thủ. Đêm 26 tháng 6, quân đoàn cơ giới 47 thuộc tập đoàn quân xe tăng 2 Đức cũng tấn công Minsk từ phía Nam. Minsk đứt liên lạc với Moskva từ rạng sáng 26 tháng 6. Bộ Tổng tư lệnh tối cao Quân đội Liên Xô triệu tập đại tướng Zhukov đang chỉ đạo mặt trận Tây Nam về Moskva để tìm biện pháp khôi phục tình hình mặt trận miền Tây.
Trong hai ngày 27 và 28 tháng 6, do vẫn không có tin tức gì về đại tướng D. G. Pavlov; bằng tất cả các kênh liên lạc có thể có, Zhukov đã lập tức nắm tình hình và chỉ đạo tướng V.Ye. Klimovskikh, tham mưu trưởng Phương diện quân Tây tập hợp tất cả các lực lượng còn lại để chặn đường hợp vây của hai cánh quân xe tăng Đức đang tiến đến hợp điểm tại Borisov. Song, tất cả đã quá muộn, chiều tối 28 tháng 6, tập đoàn quân xe tăng 2 Đức đã chiếm thành phố Minsk.
Ngày 27 tháng 6, Bộ Tổng tham mưu Quân đội Liên Xô đề nghị thành lập Phương diện quân Dự bị gồm các tập đoàn quân 13, 19, 20, 21, 22 và bố trí nó ở Đông Belorussia trên tuyến Bắc Dvina, Polotsk, Vitebsk, Orsa, Mogilev và Mozyr; điều động các tập đoàn quân 24 và 28 bố trí phía sau Phương diện quân này tại tuyến Selizharovo, Smolensk, Roslavl, Gomel. Nguyên soái Liên Xô S. M. Budionny được đề nghị chỉ định làm tư lệnh phương diện quân. Stalin chuẩn y ngay tức khắc đề nghị này. Ngày 30 tháng 6, Stalin ra lệnh triệu tập về Moskva đại tướng D.G. Pavlov, tư lệnh; thiếu tướng, V.Ye. Klimovskikh tham mưu trưởng, thiếu tướng Klish (?), tư lệnh pháo binh, thiếu tướng A.T. Grigoryev, chủ nhiệm thông tin Phương diện quân miền Tây. Họ đều bị cách chức ngay lập tức và bị đưa ra xét xử tại tòa án binh sau đó ít ngày. Nguyên soái Liên Xô S. K. Timoshenko được cử làm tư lệnh Phương diện quân Tây, Phó tư lệnh: trung tướng A. I. Yeryomenko. Phương diện quân Dự bị chuyển thuộc toàn bộ sáu tập đoàn quân cho Phương diện quân Tây, lùi về giữ tuyến Selizharovo, Smolensk, Roslavl, Gomel để cơ cấu lại với hai tập đoàn quân 24 và 28 vừa được chuyển thuộc cùng ba tập đoàn quân đang trong quá trình tập hợp từ lực lượng dự bị động viên. Trong chiến dịch ở Minsk, không tính 93.000 binh sĩ chết và bị thương, 324.000 quân Liên Xô đã bị quân Đức bắt giữ cùng 2.300 xe tăng, thiết giáp bị phá hỏng hay loại khỏi vòng chiến.
Tại hướng Pribaltic, Cụm tập đoàn quân Bắc của thống chế Wilhelm Ritter von Leeb nắm trong tay 29 sư đoàn triển khai tấn công dọc theo bờ biển và khép chặt sườn phải với Cụm tập đoàn quân Trung tâm tại tuyến Vilnius - Pskov. Ngày 26 tháng 6, Tập đoàn quân 8 của Liên Xô (bao gồm 5 sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn tăng, 1 sư đoàn cơ giới hóa, 3 trung đoàn pháo binh và 1 lữ đoàn pháo chống tăng) bị đứt liên lạc, bị thiệt hại nặng và phải lùi về Riga trên chính diện bị đẩy sâu vào đến 100 km thuộc Quân khu Pribaltic. Tập đoàn quân 11 (gồm 8 sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn tăng với 640 xe tăng, 1 sư đoàn cơ giới hóa, 1 trung đoàn xe mô tô, và 1 trung đoàn pháo binh) bị đẩy lùi về Polotsk. Bộ Tổng tham mưu Quân đội Liên Xô điều Quân đoàn cơ giới 21 từ Quân khu Moskva đi ứng cứu cho hướng này trong khi mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với Quân đội Liên Xô lại không phải ở đây mà là ở khu vực phụ cận Minsk (tại đây, ba tập đoàn quân 3, 4 và 10 của Quân đội Liên Xô đang có nguy cơ bị hợp vây).
Sau khi Quân khu Pribaltic chuyển đổi thành Phương diện quân Tây Bắc, các tập đoàn quân 8 và 11 (Liên Xô) đã thoát khỏi vòng vây nhưng do không có chỉ huy (tham mưu trưởng, tướng P. S. Klyonov bị cơ quan phản gián quân sự NKVD bắt, không rõ số phận của tư lệnh F. I. Kuznessov và chính ủy P. A. Dibrova), các tập đoàn quân này đã tản mát trên nhiều hướng và hầu như tan rã. Đại bản doanh quân đội Liên Xô đã cử trung tướng N. F. Vatutin làm tham mưu trưởng phương diện quân này; đồng thời điều Quân đoàn cơ giới 21 của tướng D. D. Lelyushenko tiến ra chặn quân Đức tại Daugapinsk. Quân đoàn này chỉ chặn được quân đoàn xe tăng 56 của Đức trong một tuần rồi buộc phải lui về dải phòng ngự của Tập đoàn quân 27 do thiếu tướng N. E. Berzarin chỉ huy. Thừa thắng, tập đoàn quân xe tăng 4 (Đức) của tướng Erich Höpner tiếp tục ép tập đoàn quân 27 (Liên Xô) phải lùi và đánh chiếm thành phố Pskov. Đến ngày 30 tháng 7, Phương diện quân Tây Bắc (Liên Xô) đã để mất hầu như toàn bộ vùng Pribaltic với các trung tâm quan trọng như: Vilnius, Lida, Riga, Pskov, Luga. Quân số còn lại của tập đoàn quân 8 (Liên Xô) bị vây tại Tallinn và đến ngày 28 tháng 8 phải bỏ Tallinn, rút lui theo đường biển về Leningrad..
Kết thúc cuộc hội chiến biên giới Xô-Đức tại Belorussia và các nước cộng hòa vùng Baltic, Quân đội Đức Quốc xã đã chiếm đóng toàn bộ khu vực này.
Hội chiến biên giới tại Ukraina.
Chiến cuộc tại miền Tây Ukraina bắt đầu bằng đòn đột kích của tập đoàn quân xe tăng 1 và tập đoàn quân 6 (Đức) vào dải phòng ngự của các tập đoàn quân 5 (Liên Xô) ở khu vực Liuboml, Vladimir - Volynski, Ustyluh và dải phòng ngự của tập đoàn quân 6 (Liên Xô). Ngay từ sáng sớm, tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) đã chiếm được thị trấn biên giới Parkhash và bốn điểm dân cư khác. Cũng ngay từ 5 giờ sáng 22 tháng 6, không quân của Quân khu đặc biệt Kiev đã mất 180 máy bay chiến đấu, phần lớn bị không quân Đức ném bom phá hủy ngay tại sân bay. Mặc dù Bộ Quốc phòng Liên Xô chỉ thị cho không quân của quân khu phải dùng máy bay tập kích vào lãnh thổ Ba Lan - Đức sâu từ 100 đến 150 km nhưng chỉ có những tốp nhỏ máy bay Liên Xô vượt qua được hàng rào máy bay tiêm kích của Đức chi viện cho bộ binh mặt đất. Quân khu không còn đủ máy bay để oanh kích hậu phương quân Đức. Chiều tối 22 tháng 6, Stalin yêu cầu đại tướng Zhukov tới ngay Kiev để chỉ đạo mặt trận Tây Nam và đổi tên Quân khu này thành Phương diện quân Tây Nam.
Sáng 23 tháng 6, tập đoàn quân 6 (Đức) mở rộng khu vực đột phá đến Sokal, Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) tấn công địa đoạn tiếp giáp giữa hai tập đoàn quân 5 và 6 (Liên Xô) ở Rava - Russkaya và Peremyshliany. Trong tác chiến mặt đất, điển tiếp giáp giữa các đơn vị luôn là chỗ hiểm yếu nhất. Tại thê đội một, quân Đức có 10 sư đoàn bộ binh, 4 sư đoàn xe tăng. Ngay phía sau là thê đội hai với 2 sư đoàn bộ binh, 4 sư đoàn cơ giới và 1 sư đoàn xe tăng được thống chế Walther von Reichenau sử dụng để phát huy chiến quả. Tại cánh Nam, tập đoàn quân 17 của tướng Carl-Heinrich von Stülpnagel hướng đòn tấn công vào Tomashuv (Tomashivtsi) và Tarnopol (Ternopil) với ý đồ khép vòng vây quanh hai tập đoàn quân Liên Xô trên vùng sát biên giới.
Ngày 24 tháng 5, Phương diện quân Tây Nam điều các quân đoàn cơ giới 9 và 19 để phản kích vào Kovel và Dubno với ý định chia cắt phía sau tập đoàn quân 6 (Đức). Quân đoàn cơ giới 22 do tướng Konstantin Konstantinovich Rokossovsky chỉ huy sẽ đảm bảo hậu cần cho các đơn vị này. Cũng trong ngày 24 tháng 6, Quân đoàn cơ giới 8 của tướng D. I. Riabyshev phản công trên hướng Berestechko, Quân đoàn cơ giới 15 của tướng I. I. Karpezo cũng tấn công vào Radekhov, đánh tan sư đoàn bộ binh 57 ở sườn phải Quân đoàn cơ giới 58 (Đức). Thống chế Walther von Reichenau phải tung Quân đoàn 44 từ lực lượng dự bị để giải nguy cho Quân đoàn 58; đồng thời đưa Quân đoàn cơ giới 14 (cũng lấy từ lực lượng dự bị) tăng cường cho hướng Rava - Russkaya; điều quân đoàn 55 tăng cường cho cánh quân tấn công Dubno. Toàn bộ 30 xe tăng KV của Liên Xô tại khu vực phòng thủ Kovel - Dubno đều thiếu đạn chống tăng. Zhukov đã lệnh cho tướng M. I Potapov, tư lệnh Tập đoàn quân 5 (Liên Xô) cung cấp cho họ loại đạn phá bê tông 09-30г để diệt xe tăng Đức. Đến ngày 27 tháng 6, tập đoàn quân xe tăng 1 và tập đoàn quân 6 (Đức) đã chịu những thiệt hại đáng kể và vẫn chưa tiến qua được khu vực hành lang biên giới rộng 50 km.
Ngày 28 tháng 6, tướng Paul Kleist điều sư đoàn xe tăng 11 của tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) bất ngờ đột kích chiếm Dubno. Trong khi Bộ tư lệnh Phương diện quân Tây Nam phán đoán rằng, cánh quân này sẽ tiến xuống phía Nam để hợp vây tập đoàn quân 6 (Liên Xô) thì trên thực tế, cánh quân xe tăng này tiếp tục vượt qua Ostroh và lao về Kiev. Trên hướng này, tập đoàn quân 16 lại đang lên tàu chuyển quân đi tăng cường cho Phương diện quân Tây. Vì lợi ích chung, tướng M. F. Lukin, tư lệnh tập đoàn quân đã ra lệnh cho hai sư đoàn xuống tàu, quay về phòng thủ Shepetivka và yêu cầu Ủy viên hội đồng quân sự Phương diện quân Tây Nam N. X. Khrushov báo cáo về Moskva xin giữ lại các đơn vị còn lại của tập đoàn quân 16. Cuộc phản kích dự kiến có sự tham gia của các quân đoàn cơ giới 8, 9, 15 và 19 nhưng trên thực tế, chỉ có quân đoàn cơ giới 8 và 15 thực hiện. Mũi đột kích đơn độc của Quân đoàn cơ giới 8 (Liên Xô) hướng về Dubno đã bị Quân đoàn xe tăng 40 (Đức) hợp vây tại khu vực Brody và bị tổn thất nặng. Trên chính diện của Phương diện quân Tây Nam xuất hiện một lỗ hổng lớn ở Đông Nam Dubno. Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) đã lợi dụng lỗ hổng này lao về phía Kiev. Không chịu đựng được thất bại, Chính ủy quân đoàn N. N. Vashughin, Ủy viên hội đồng quân sự Phương diện quân Tây Nam đã tự sát.
Ngày 1 tháng 7, quân đoàn bộ binh 15 (Liên Xô) bỏ Kovel rút về Prokhod trước nguy cơ bị hợp vây. Để thu hẹp chính diện mặt trận do quân số thương vong nhiều, Bộ tư lệnh phương diện quân Tây Nam cũng lui binh về tuyến sông Ikhva, Zbytyn, Kremenets, Zloshev, Bobrka, Slavuta và mở đợt phản kích vào hướng Tsuman, Stavok (Tây bắc Rovno) để lấp lỗ hổng giữa hai tập đoàn quân 5 và 6. Kết quả phản công không như ý muốn của Bộ tư lệnh phương diện quân Tây Nam. Ngày 7 tháng 7, thống chế Reichenau tập trung lực lượng về phía Nam Novograd - Volynsky, đánh chiếm Berdichev, ngày 9 tháng 7 chiếm Jitomir. Một lỗ hổng còn lớn hơn lỗ hổng tại vùng Dubno lại xuất hiện làm cho các tập đoàn quân 6, 12, 26 của Liên Xô có nguy cơ bị hợp vây. Từ ngay 9 đến ngày 16 tháng 7, Phương diện quân Tây Nam đã tổ chức tập kích liên tục vào các cánh quân Đức, rút được phần lớn lực lượng của ba tập đoàn quân nói trên về củng cố phòng thủ Kiev. Trận hội chiến trên vùng biên giới Ukraina kết thúc. Tuyến mặt trận tại Phương diện quân Tây Nam hình thành một mũi nhô về phía quân Đức trên địa đoạn Kremenchuk, Kiev, Korosten, Kremenets, Pripyat.
Cuộc phòng thủ tại Pháo đài Brest.
Là thành phố địa đầu miền Tây Belorussia, thành phố Brest - Litovsk đã chứng kiến lễ ký kết hiệp định đình chiến Nga - Ba Lan, kết thúc cuộc chiến tranh giữa hai nước năm 1920. Ngày 22 tháng 6 năm 1941, Pháo đài Brest trở thành một trong những địa điểm đầu tiên bị Quân đội Đức Quốc xã tấn công. Sau chiến tranh, Pháo đài Brest trở thành một trong những biểu tượng cho lòng dũng cảm của Quân đội và nhân dân Liên Xô trong cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại. Nằm giữa ngã ba sông Mukhavets hợp lưu với sông Bug Tây, từ thế kỷ thứ XVIII, pháo đài Brest là vị trí có ý nghĩa địa quân sự quan trọng, được các kỹ sư quân sự Nga thời kỳ Sa hoàng thiết kế và tổ chức xây dựng như một tòa thành đồ sộ gồm pháo đài chính và 5 đồn binh phụ thuộc, trở thành căn cứ phòng thủ quân sự tiền tiêu trọng yếu ở phía Tây Đế quốc Nga. Trong thời đại công nghiệp quân sự phát triển cao với xuất hiện đại bác nòng rãnh, xe tăng, máy bay, Pháo đài Brest dần mất đi sức mạnh của nó. Tuy nhiên, vào năm 1940, Quân đội Liên Xô vẫn coi đây là một trong các cứ điểm phòng ngự kiên cố và quan trọng trên tuyến biên giới với Ba Lan.
xxxxnhỏ|trái|200px|Thiếu tá Pyotr Mikhailovish Gavrilov, một trong năm sĩ quan chỉ huy cuộc phòng thủ pháo đài Brest]]
Nhiệm vụ phòng thủ pháo đài và toàn bộ dải phòng ngự phụ cận được giao cho sư đoàn bộ binh 18 (Sư đoàn Orion) và sư đoàn bộ binh 42 đều thuộc Tập đoàn quân 4 (Quân khu đặc biệt miền Tây). Đầu mùa hè năm năm 1941, các sư đoàn này đang tham gia cuộc diễn tập quân sự thường niên ở các vùng đồng cỏ và các khu rừng phụ cận thành phố Brest nên trong pháo đài chỉ còn chưa đầy hai trung đoàn bộ binh, trong đó, nòng cốt là trung đoàn 44, sư đoàn 42 do Thiếu tá Pyotr Mikhailovish Gavrilov và Chính ủy trung đoàn Efim Moiseyevish Fomin chỉ huy. Ngoài ra, trong khu vực pháo đài còn có các đồn biên phòng số 9 do trung úy Andrei Kijevatov chỉ huy và đồn biên phòng số 17 Cờ đỏ do thiếu tá A. P. Kuznesov chỉ huy; tổng quân số hai đồn khoảng một đại đội. Để tấn công khu vực này, thống chế Günther von Kluge, tư lệnh tập đoàn quân 4 Đức đã bố trí tại khu vực đối diện với Pháo đài Brest quân đoàn bộ binh 17 do tướng Schroth chỉ huy. Trong đó, sư đoàn 45 tấn công chính diện, các sư đoàn 31 vu hồi phía Bắc pháo đài vào thành phố Brest, sư đoàn 34 tấn công vu hồi phía Nam pháo đài.
3 giờ 15 phút sáng 22 tháng 6 năm 1941, Pháo binh Đức Quốc xã trút xuống pháo đài những loạt đạn đầu tiên của trận pháo kích kéo dài hơn nửa giờ. 4 giờ 15 phút, bộ binh và xe tăng Đức tấn công pháo đài từ ba hướng: Bắc, Tây Bắc và Tây Nam. Sau gần một giờ hoảng loạn, Quân đội Liên Xô trong pháo đài đã tập hợp dưới sự chỉ huy của thiếu tá Gavrilov và đại úy Ivan Nikolaevish Zhubashev. Ít phút sau, Chính ủy Fomin cũng tham gia Ban chỉ huy. Họ đã ra bản "Mệnh lệnh số 1", phân công các vị trí phòng thủ trong pháo đài. Từ ngày 22 đến 28 tháng 6, Quân đội Liên Xô còn lại trong pháo đài đã mở nhiều cuộc phản kích, ba lần đánh lui quân Đức ra khỏi pháo đài. Các khu vực nhà chỉ huy, doanh trại công binh, lũy phía Đông, Đồn Đông, cổng Brest, cổng Kholm, cổng Terepolsky, cổng Bắc đều biến thành các hỏa điểm của quân đội Liên Xô. Lính Đức phải dùng cả đến hơi ngạt, súng phun lửa, bom cháy và tháo nước vào các đường hầm để dìm chết đối phương, dùng thuốc nổ đánh sập các căn nhà kiên cố nhưng vẫn không bẻ gãy được sức kháng cự của họ. Ban chỉ huy lực lượng phòng thủ pháo đài dự định tổ chức phá vây vào đêm 27 tháng 6 nhưng không thành công và bị thiệt hại lớn về người. Ngày 29 tháng 6, Không quân Đức oanh tạc cấp tập xuống pháo đài bằng nhiều loại bom phá hạng nặng. Song, quân đội Liên Xô đồn trú trong pháo đài còn sống sót vẫn tiếp tục chiến đấu đơn độc, không có tiếp tế, không có pháo binh và không quân yểm hộ. Lúc đó, hậu phương Liên Xô vẫn chưa hề biết đến họ.
Ngày 30 tháng 6, quân Đức dùng thuốc nổ phá sập tòa nhà chính, nơi đóng Sở chỉ huy phòng thủ pháo đài. Chính ủy Fomin bị bắt và bị quân Đức sát hại ngay tức khắc do lời tố giác của một kẻ phản bội. Thiếu tá Gavrilov bị bắt làm tù binh và được giải phóng khỏi trại Hammensburg tháng 4 năm 1945. Đại úy Zhubachev cũng bị bắt và bị chết trong tù năm 1944. Một số sĩ quan chỉ huy và hơn 20 binh sĩ Liên Xô, trong đó có thượng úy Semenenko, trung úy Vinogradov đã mở đường máu thoát vây, tham gia đội du kích của A. F. Fedotov đang hoạt động trong khu rừng Beloveja và tiếp tục chiến đấu.
Mặc dù Ban chỉ huy phòng thủ pháo đài đã mất nhưng những người còn lại vẫn không đầu hàng. Những người lính Liên Xô cuối cùng trước khi ngã xuống tại khu doanh trại phía Tây đã dùng lưỡi lê khắc lên tường nhà lời trăng trối:
Đến ngày 25 tháng 7, hiệu thính viên K. I Korshakov thuộc sư đoàn bộ binh 262 thuộc Phương diện quân Tây Nam đóng tại Staraya - Russa đã tình cờ nhận được bức điện cuối cùng được phát không mã từ Pháo đài Brest:
Cuộc phòng thủ ở pháo đài Brest sau này đã tạo cảm hứng cho nhà văn Boris Vasiliev viết tiểu thuyết nổi tiếng "Tên anh không có trong danh sách" (В списках не значился, 1974), tác phẩm này đã khắc họa hình ảnh những người lính Liên Xô tử thủ cuối cùng tại đây sau khi pháo đài đã rơi vào tay quân đội Đức.
Kết thúc trận hội chiến tại Belorussia, Quân đội Liên Xô tại Phương diện quân miền Tây bị tổn thất đặc biệt lớn với quân số bị chết, bị bắt, bị thương lên đến 420.000 người. Tuy nhiên, tinh thần chiến đấu của Quân đội Liên Xô làm cho các tướng lĩnh Đức phải kinh ngạc. Tướng Hermann Hoth, tư lệnh Tập đoàn quân xe tăng 3 (Đức) ghi nhận: "Quân địch bị đẩy lùi khỏi biên giới nhưng chẳng bao lâu đã chấn chỉnh lại và chuyển sang phản công. Các thiết giáp của họ chặn đánh làm cho quân Đức không tiến lên được". Ngày 3-7-1941, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Liên Xô tối cao Liên Xô, Chính phủ Liên Xô ra lời kêu gọi nhân dân toàn Liên Xô đứng lên chống quân phát xít Đức xâm lược. Lời kêu gọi được truyền đi trên tất cả các làn sóng của Đài phát thanh Moskva.
Mặc dù Quân đội Đức quốc xã cũng bị thương vong 389.924 người (vượt qua tổng số thương vong trong các cuộc chiến với Pháp, Ba Lan, Na Uy, Đan Mạch, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Hy Lạp, Nam Tư); nhưng đến ngày 5 tháng 7 năm 1941, tại mặt trận này, Quân đội Đức Quốc xã vẫn tạo được ưu thế 1,8 lần về quân số, 1,5 lần về xe tăng hạng nặng và hạng trung, 3,2 lần về máy bay chiến đấu, 1,2 lần về pháo và súng cối. Vẫn tin tưởng vào "Kế hoạch Barbarossa" do những thắng lợi vừa đạt được và cho rằng người Nga sẽ không thể giữ vững được vì không còn dự trữ, ngày 10 tháng 7, Thống chế Fedor von Bock mở chiến dịch tấn công Smolensk với mục tiêu mở con đường ngắn nhất để vào Moskva.
Với ý định kết thúc sớm chiến tranh, Hitler lệnh cho thống chế Walther von Brauchitsch lấy quân của Cụm tập đoàn quân Bắc tăng cường cho Cụm tập đoàn quân Trung tâm. Ngoài hai tập đoàn quân xe tăng 2 và 4, hai tập đoàn quân binh chủng hợp thành 4 và 9, Bộ Tư lệnh Cụm tập đoàn quân Trung tâm của Đức còn được bổ sung thêm Tập đoàn quân xe tăng 4 điều từ hướng Leningrad xuống và quân đoàn xe tăng 8 từ lực lượng dự bị vào chiến dịch này thay cho quân đoàn cơ giới 26 của tập đoàn quân 2 được tạm thời điều sang Cụm tập đoàn quân Nam. Quân đội Liên Xô phòng thủ trên hướng Smolensk gồm tập đoàn quân 22 của trung tướng F. A. Ershakov, tập đoàn quân 19 của trung tướng I. X. Konev, tập đoàn quân 20 của trung tướng P. A. Kurotkin, tập đoàn quân 13 của trung tướng F. N. Remezov, tập đoàn quân 16 (thiếu) của tướng M. F. Lukin. Quân Đức vẫn dùng chiến thuật quen thuộc sử dụng các binh đoàn xe tăng đột kích từ hai bên sườn để chia cắt và hợp vậy chủ lực cơ bản đối phương tại vùng gần mặt trận. Tập đoàn quân xe tăng 2 từ vùng Sklou đánh vu hồi vào Smolensk từ hướng Tây Nam. Riêng quân đoàn cơ giới 24 tại Bykhov được tách ra để phát triển tấn công sâu hơn theo hướng Krichev và Yelnya. Tập đoàn quân xe tăng 3 phối hợp với các quân đoàn bộ binh 5 và 6 (tập đoàn quân 9) vu hồi hướng Tây Bắc. Tập đoàn quân 4 và quân đoàn bộ binh 7 (tập đoàn quân 9) hoạt động tại chính diện tấn công.
Từ ngày 10 đến ngày 14 tháng 7, Tập đoàn quân xe tăng 3 (Đức) đã đột phá qua Polotsk, Vitebsk và phía Bắc Mogilev, buộc cánh phải của Phương diện quân Tây phải lùi về Nevel. Tập đoàn quân xe tăng 3 trong đó sư đoàn xe tăng "Reich" ("Đế chế") đã hợp vây toàn bộ tập đoàn quân 13 (Liên Xô) tại Mogilev và vùng phụ cận nhưng đã phải để lại tại đây hai quân đoàn cơ giới 24 và 46 do tập đoàn quân 13 (Liên Xô) liên tục đột kích phá vây. Tập đoàn quân 21 (Liên Xô) vượt sông Dnepr, tái chiếm Rogachev và Zhlobin, tiếp tục tiến lên phía Bắc đến Bobruisk, đánh vào sau lưng tập đoàn quân xe tăng 2, mở vây cho tập đoàn quân 13. Quân Đức chỉ chiếm lại được Rogachev và Zhlobin sau 23 ngày giao chiến với tổn thất gần 30.000 sĩ quan và binh sĩ. Tám sư đoàn Đức vẫn bị giam chân tại Bobruisk cho đến kết thúc chiến dịch. Mặc dù các tập đoàn quân 19, 20, và 22 đã liên tục phản đột kích trên chính diện và sườn phía Bắc nhưng đến ngày 16 tháng 7, xe tăng Đức đã đột nhập vào Smolensk. Các tập đoàn quân 16 và 20 (Liên Xô) đã bị bao vây tại đây.
Để lấp lỗ hổng phòng ngự trên hướng này, ngoài tập đoàn quân 24 đã có, Bộ Tổng tư lệnh tối cao lập tức điều động cho Phương diện quân Dự bị các tập đoàn quân 28, 29, 30, 31 và bố trí nó dọc theo tuyến Staraya - Russa, Ostashkov, Belyi, Yelnya và Bryansk để chặn các ngả đường vào Moskva. Phương diện quân Tây được tăng cường 20 sư đoàn bộ binh (tương đương 2 tập đoàn quân) với nhiệm vụ khôi phục lại tình hình vùng Smolensk. Để giữ hướng Gomel, Bộ Tổng tư lệnh Liên Xô cũng đã thành lập Phương diện quân Trung tâm gồm tập đoàn quân 4 (mới tái lập) và các tập đoàn quân 13, 21 tách ra từ Phương diện quân Tây. Từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 7, tập đoàn quân 28 xuất phát tấn công từ Roslavl, các tập đoàn quân 24 và 30 tấn công từ Belyi và Yartsevo; đồng thời, các tập đoàn quân 16 và 20 cũng từ Smolensk đánh ra. Ngày 26 tháng 7, tập đoàn quân 30 của trung tướng K. K. Rokossovsky đã đón gặp các tập đoàn quân 16 và 20 từ Smolensk phá vây vượt ra. Riêng tập đoàn quân 28 của trung tướng V. Ya. Kashalov bị vây tại khu vực phía Tây Roslavl, bị 9 sư đoàn bộ binh và một quân đoàn cơ giới Đức bao vây, tiêu diệt. Trung tướng V. Ya. Kashalov tử trận. Ngày 28 tháng 7, quân đoàn cơ giới 46 (Đức) tiếp tục tiến chiếm bàn đạp Yelnya nhưng đã bị Tập đoàn quân 24 (Liên Xô) chặn đứng.
Trong chiến dịch này, hai bên đều chịu những tổn thất rất lớn và đều không đạt được mục tiêu cuối cùng. Quân Đức thực sự "mất máu" trong trận này với hơn 250.000 quân thương vong, hơn 500 xe tăng, xe thiết giáp bị mất. Số thương vong của Quân đội Liên Xô còn lớn hơn thế nhưng ít nhất họ cũng đã phá vỡ ý đồ tiến chiếm Moskva trong hành tiến của Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức). Sau trận này, các sư đoàn của Cụm tập đoàn quân Trung tâm đã không còn phục hồi được sức mạnh của họ sau những đòn phản công của Quân đội Liên Xô. Sức mạnh của quân đội Đức đã bị bẻ gãy. Tuy nhiên, Quân đội Liên Xô cũng có thêm 700.000 thương vong (trong đó hơn 300.000 sĩ quan và binh sĩ bị bắt làm tù binh) cùng khoảng 3.000 xe tăng, thiết giáp và các phương tiện cơ giới khác bị quân Đức phá hủy hoặc tịch thu.
Cuộc tấn công và đánh chiếm Kiev.
Do kết quả của các trận hội chiến trên biên giới Liên Xô tại Ukraina bất lợi cho Phương diên quân Tây Nam, ngày 30 tháng 6 năm 1941, Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô cho phép Phương diện quân đến ngày 9 tháng 7 được rút lui về tuyến Korosten, Novograd - Volynskiy, Shepetivka, Staro Konstantinovka, Proskurovka. Ngày 1 tháng 7, Bộ Tổng tư lệnh tối cao đã lấy một phần biên chế của tập đoàn quân 26 để thành lập tập đoàn quân 18 và bố trí nó vào chỗ đứt đoạn giữa Phương diện quân Nam và Phương diện quân Tây Nam trên khu vực Kamenets Podolski. Tuy nhiên, tập đoàn quân xe tăng 1 và tập đoàn quân 6 (Đức) đã đi trước các đơn vị Liên Xô. Ngày 7 tháng 7, Berdichev thất thủ, ngày hôm sau, Zitomir cũng bị quân đoàn cơ giới 3 Đức đánh chiếm. Tư lệnh phương diện quân Tây Nam Kirponnos chỉ còn trong tay quân đoàn bộ binh 6 để lấp cửa mở, không còn pháo binh chi viện. Để tăng cường binh lực bảo vệ Kiev, Bộ Tổng tham mưu Quân đội Liên Xô đã lấy phải từ lực lượng dự trữ chiến lược Quân đoàn đổ bộ đường không số 2 ném vào mặt trận Tây Nam.
Đến ngày 1 tháng 7, thống chế Walther von Brauchitsch điều tập đoàn quân xe tăng 2 tiến xuống phía Nam để "thanh toán" chủ lực Phương diện quân Tây Nam của Liên Xô trước khi tiến hành trận công kích Moskva. Tình hình của Phương diện quân Tây Nam trở nên phức tạp. Trong các ngày từ 17 đến 22 tháng 7, Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) của tướng Paul Kleist tiếp tục khoan sâu lỗ thủng ở vùng Uman, đẩy cánh Bắc và cánh Nam của Phương diện quân Tây Nam ngày càng tách rời nhau. Ngày 28 tháng 7, thiếu tướng V. I. Tupikov được cử làm tham mưu trưởng Phương diện quân Tây Nam thay trung tướng M. A. Purkaev được rút về Bộ Tổng tham mưu. Trong thời gian từ 22 đến 28 tháng 7, Cụm tập đoàn quân Nam của quân đội Đức đã tập trung hơn 20 sư đoàn quanh các cửa ngõ vào Kiev. Ngày 29 tháng 7, tại cuộc gặp giữa Stalin, Zhukov, L. D. Mekhlick trong phòng làm việc của Stalin, khi nghe đề nghị của Zhukov rút thêm quân từ Viễn Đông về phòng thủ Moskva và phải bỏ Kiev vì không đủ lực lượng; Stalin đã chê trách Zhukov là hồ đồ, đã cho Zhukov thôi chức Tổng tham mưu trưởng, (Nguyên soái B. M. Shaposhnikov thay) và điều ông đi Phương diện quân Dự bị để tổ chức trận phản công tại Yelnya.
Mặc dù kìm chân được Tập đoàn quân 6 và quân đoàn xe tăng 48 của tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) ở khu vực Korosten - Kiev nhưng tại cánh Nam, ngày 2 tháng 8, tập đoàn quân 17 và chủ lực tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) đã hợp vây các tập đoàn quân 6 và 12 của Quân đội Liên Xô tại Uman. Vì những thiếu hụt về binh lực, Bộ tư lệnh Phương diện quân Nam đề nghị cho rút về tuyến sông Ingrun. Tuy nhiên, Stalin không đồng ý rút nhanh và yêu cầu phải phòng thủ Odessa đến hết khả năng. Trong khi Phương diện quân Tây Nam chưa giải vây được cho hai tập đoàn quân 6 và 12 tại vùng Uman thì ngày 8 tháng 8, tập đoàn quân 2 và tập đoàn quân xe tăng 2 (Đức) mở cuộc tấn công xuống Gomel, Chernigov, Roslavl và Starodub, đẩy lùi Phương diện quân Trung tâm (Liên Xô) sâu đến hơn 100 km. Để cứu vãn tình hình ở khu vực này. Ngày 8 tháng 8, Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh Liên Xô đã thành lập Phương diện quân Bryansk gồm hai tập đoàn quân 13 và 50 do tướng A. I. Yeriomenko chỉ huy nhưng do lực lượng quá mỏng (chỉ có 7 sư đoàn bộ binh) Phương diện quân này cùng với Phương diện quân Trung tâm cũng không khôi phục được tình hình mà còn bị đẩy lùi sâu thêm về hướng Đông, làm cho tuyến mặt trận của Phương diện quân Tây Nam vốn đã dài trên 800 km nay lại kéo dài thêm hơn 100 km nữa.
Ngày 4 tháng 8, thống chế Walther von Reichenau tập trung bộ binh, xe tăng, cơ giới và gần như toàn bộ tập đoàn quân không quân 4 vào một chính diện hẹp và mở cuộc đột kích khu phòng thủ Kiev từ các hướng Tây và Tây Nam. Mặc dù Phương diện quân Tây Nam được tăng cường thêm hai tập đoàn quân 38 (chỉ có 5 sư đoàn) và lữ đoàn đổ bộ đường không số 5 nhưng phải rải quân trên chính diện hơn 350 km quanh Kiev nên tại đoạn đột phá, quân Đức vẫn chiếm ưu thế. Từ ngày 4 đến ngày 8 tháng 8, hơn 30 trận kịch chiến đã diễn ra quanh Kiev với thiệt hại rất lớn cho cả hai bên. Ngày 9 tháng 8, quân đoàn 6 cơ giới (Đức) đã đột phá đến Myshalovka và Sovki. Phương diện quân Tây Nam không còn lực lượng dự bị cho hướng này. Ngày 16 tháng 8, Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô đồng ý với đề nghị của nguyên soái Semeon Budyonny, Tổng tư lệnh hướng Tây Nam cho rút tập đoàn quân 5 sang tả ngạn sông Dnepr. Việc này giúp cho Phương diện quân thu hẹp chính diện mặt trận để rút ra tám sư đoàn dự bị để sử dụng cho khu phòng thủ Kiev; nhưng cũng làm cho tập đoàn quân 6 (Đức) được "rảnh tay" ở phía Bắc và điều các đơn vị ở hướng này đến cửa ngõ Kiev. Phát hiện quân đội Liên Xô rút quân, ngày 22 tháng 8, sư đoàn xe tăng 11 (Đức) đã đánh chiếm cây cầu Okuninovo và một số bến vượt trên đường rút quân của Tập đoàn quân 5 (Liên Xô). Quân đoàn 27 (Tập đoàn quân 5) có nguy cơ bị bao vây bên hữu ngạn sông Dnepr. Vượt qua cây cầu này, sư đoàn xe tăng 11 (Đức) lao nhanh về Kiev; buộc bộ tư lệnh Phương diện quân Tây Nam phải cho phá sập toàn bộ các cầu trên sông Dnepr và Desna. Ngày 24 tháng 8, cầu Okuninovo bị không quân Liên Xô phá sập sau khi Quân đoàn 27 đã rút hết sang tả ngạn Dnepr.
Cuối tháng 8 năm 1941, ngoài bàn đạp Okuninovo, Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) đã chuẩn bị một cuộc tấn công lớn từ phía Nam Kiev đến Dnepropetrovsk do tập đoàn quân 17 và tập đoàn quân xe tăng 1 thực hiện. Tại hướng Bắc, mặc dù được chuyển giao hai tập đoàn quân 21 và 40 nhưng Phương diện quân Bryansk vẫn không cản được đường tiến xuống phía Nam của Tập đoàn quân xe tăng 2 (Đức). Trên hướng Konotop, Chernigov, sườn phía Bắc của Tập đoàn quân 5 (Liên Xô) bị hở. Mãi đến ngày 6 tháng 9, Bộ tổng tư lệnh tối cao Liên Xô mới chuyển tập đoàn quân 21 cho Phương diện quân Tây Nam thì tình hình cánh Bắc của phương diện quân này đã cực kỳ nghiêm trọng. Tập đoàn quân 5 (Liên Xô) đã nằm giữa hai gọng kìm của sư đoàn xe tăng 11 và tập đoàn quân xe tăng 2 (Đức), ở vào thế không còn đường rút. Ngày 10 tháng 9, sư đoàn xe tăng 3, tập đoàn quân xe tăng 2 (Đức) sau khi vượt qua Baturin và Konotop đã lao đến Romny, phía sau Kiev. Ngày 12 tháng 9, tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) đột kích vào Oster (???) - Kremenchuk, chia cắt chính diện cánh Nam của Phương diện quân Tây Nam và tiến nhanh lên Romny để hội quân với Tập đoàn quân xe tăng 2 (Đức). Ba tập đoàn quân 5, 26, 37 và một phần các tập đoàn quân 21 và 38 của Phương diện quân Tây Nam đã bị hợp vây với tuyến mặt trận không còn liên tục.
Đến tận ngày 15 tháng 9, khi hai tập đoàn quân xe tăng và ba tập đoàn quân dã chiến Đức đã khép vòng vây quanh ba tập đoàn quân Liên Xô ở phía Đông Kiev nhưng Stalin vẫn coi nhẹ nguy cơ chủ lực Phương diện quân Tây Nam bị vây cũng như không xem xét nghiêm chỉnh đề nghị rút quân của Tổng tư lệnh hướng Tây Nam và Bộ tư lệnh Phương diện quân. Ông đánh giá quá cao ý nghĩa của các cuộc tấn công hạn chế của Phương diện quân Tây, Phương diện quân Dự bị và Phương diện quân Bryansk vào sườn trái của tập đoàn quân xe tăng 2, đặc biệt là quá tin vào lời cam kết của tư lệnh Phương diện quân Bryansk, tướng Yeriomenko, rằng cuộc tấn công của Phương diện quân Bryansk sẽ giúp phá được vòng vây; do vậy Stalin đã để lỡ cơ hội rút quân của chủ lực Phương diện quân Tây Nam. Chỉ đến ngày 17 tháng 9, khi tình hình mặt trận Tây Nam đã rõ ràng không thể cứu vãn được. Stalin mới đồng ý cho rút quân nhưng đã quá muộn. Trong các trận chiến đấu phá vây từ 17 đến 19 tháng 9, chỉ có 1/4 lực lượng của Phương diện quân Tây Nam thoát vây. Tư lệnh phương diện quân, tướng M. P. Kirponosh, tham mưu trưởng phương diện quân, tướng P. I. Tupikov và ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân M. A. Burmistenko tử trận.
Ngày 20 tháng 9, Nguyên soái Semeon Timoshenko được chỉ định làm Tư lệnh Phương diện quân Tây Nam đã thu thập các đơn vị còn lại và bố trí phòng thủ trên tuyến Belopolye, Lebedyn, Krasnograd, Novomoskovsk. Cùng với hai bộ tư lệnh hướng Tây Bắc và Tây, Bộ tổng tư lệnh hướng Tây Nam bị giải thể. Cuộc phòng thủ Kiev kết thúc với kết quả không như mong muốn của các nhà quân sự Liên Xô. Quân đội Đức Quốc xã đã chiếm trọn phần nửa phía Tây Ukraina. Khoảng 100.000 quân nhân Liên Xô đã chết hoặc bị thương, và 560.000 người bị bắt làm tù binh. Thiệt hại của quân Đức thấp hơn nhiều, khoảng 128.000 quân Đức chết hoặc bị thương trong chiến dịch này.
Trận phản kích Yelnya.
Yelnya là một thị trấn nhỏ nằm ở phía Tây thành phố Spas Demensk, phía Tây Nam Dorogobuzh. Sau chiến dịch Smolensk, tập đoàn quân xe tăng 4 của Đức đã chiếm thị trấn này và dự định dùng nó làm bàn đạp tấn công Moskva từ hướng Tây Nam. Ngay sau khi được cử làm Tư lệnh Phương diện quân Dự bị (thực chất đã trở thành Phương diện quân chính thức phòng ngự bên cánh trái Phương diện quân Tây); Zhukov đã ra ngay mặt trận để thị sát tình hình. Ông kết luận rằng Tập đoàn quân 24 (trong biên chế chỉ có ba sư đoàn bộ binh), không đủ sức phản kích vào cụm quân Đức đóng tại đây và cần phải tăng viện cho họ thêm hai sư đoàn nữa. Phía trước tập đoàn quân 24 là sư đoàn xe tăng 10 và sư đoàn xe tăng SS "Größ-Deuschland" đều thuộc Tập đoàn quân xe tăng 4 mới được điều từ hướng Leningrad đến trong Chiến dịch Smolensk.
Ngày 20 tháng 8, Tập đoàn quân 24 (Liên Xô) mở cuộc phản kích vào "mỏm" Yelnya cùng toàn bộ số máy bay và pháo của Phương diện quân Dự bị. Lần đầu tiên, tên lửa đất đối đất tầm ngắn Katyusha của quân đội Liên Xô được đem ra sử dụng. Tại Ushakovo, trung tâm phòng ngự của sư đoàn xe tăng 10 (Đức) đã bị hàng trăm quả đạn Katyusha san bằng. Đến ngày 6 tháng 9, các sư đoàn 19, 100, 107 của tập đoàn quân 24 và hai sư đoàn được tăng cường đã đánh bật hai sư đoàn xe tăng Đức ra khỏi vùng Yelnya, 45.000 quân Đức chết và bị thương. Tuy nhiên, Tập đoàn quân 24 không hợp vây được hai sư đoàn xe tăng Đức vì thiếu xe tăng. Tập đoàn quân xe tăng 4 (Đức) đã rút được phần lớn các phương tiện cơ giới khỏi Yelnya.
Mặc dù diễn ra trong thời gian ngắn, chỉ nhằm thanh toán một cứ điểm bàn đạp của Quân đội Đức chuẩn bị cho cuộc tấn công Moskva với quy mô cấp tập đoàn quân nhưng toàn bộ trận phản kích Yelnya cho thấy trình độ tổ chức tấn công của Quân đội Liên Xô đã được cải thiện. Trận đánh này cũng đem lại nhiều kinh nghiệm về việc tập trung hỏa lực pháo binh cường tập với mật độ cao để phá vỡ tuyến phòng ngự có tổ chức của đối phương, tạo cửa mở và yểm hộ bộ binh tấn công. Trong năm 1941 đen tối đối với Quân đội Liên Xô, thắng lợi nhỏ ở Yelnya đã có một ý nghĩa tinh thần to lớn.
Sau trận Yelnya, đại tướng Zhukov được cử đến Leningrad làm tư lệnh phương diện quân này, nguyên soái S. K. Timoshenko được cử là tư lệnh Phương diện quân Tây Nam (tái lập), trung tướng I. S. Koniev được cử làm tư lệnh phương diện quân Tây, nguyên soái S. M. Budyonny thay Zhukov làm tư lệnh phương diện quân dự bị.
Cuộc phòng thủ Odessa.
Sau khi chiến tranh nổ ra, Quân khu Odessa ban đầu được chuyển thành Tập đoàn quân độc lập số 9, sau đó đổi thành Cụm quân duyên hải. Từ ngày 30 tháng 6, Bộ tư lệnh Phương diện quân Nam được thành lập. Trung tướng Ya. T. Terevishenko làm tư lệnh Phương diện quân. Đây là Phương diện quân có biên chế ít nhất trong số 8 phương diện quân Liên Xô thời kỳ đầu chiến tranh. Nó gồm 13 sư đoàn bộ binh nhẹ, 3 sư đoàn kỵ binh, 2 sư đoàn cơ giới, phòng thủ trên 320 km chính diện trên tuyến biên giới với Slovakia, Hungary và Romania. Trong kế hoạch Barbarossa, đây là hướng thứ yếu của Cụm tập đoàn quân Nam (Đức). Thống chế Gerd von Rundstedt chỉ điều động cho hướng này tập đoàn quân 11 (thiếu). Để bổ sung cho hướng này, từ ngày 1 tháng 7 năm 1941, Gerd von Rundstedt đã điều động thêm tập đoàn quân 4 Romania, quân đoàn bộ binh 9 Ý tham chiến.
Trong tuần lễ đầu tiên của cuộc chiến tranh Xô-Đức, mặt trận miền Nam tương đối yên tĩnh. Cụm tập đoàn quân Nam của Đức dồn toàn bộ chủ lực về hướng Kiev. Đến ngày 1 tháng 7, tập đoàn quân 4 Romania đã vượt biên giới tấn công về hướng Odessa. Ngày 18 tháng 7, tập đoàn quân xe tăng 1 và tập đoàn quân 11 Đức đã cắt rời hai tập đoàn quân 6 và 12 thuộc Phương diện quân Tây Nam và bao vây phần lớn các đơn vị của hai tập đoàn quân này tại Uman. Tướng I. N. Muzytshenko, tư lệnh tập đoàn quân 6 và tướng P. G. Ponedelin, tư lệnh tập đoàn quân 12 bị bắt làm tù binh tại Uman. Bộ tổng tư lệnh Liên Xô phải gấp rút thành lập thêm tập đoàn quân 18 để lấp vào lỗ trống trên mặt trận, tái lập hai tập đoàn quân 6 do tướng R.I Malinovsky và 12 do tướng Koroteev chỉ huy; khôi phục lại tuyến phòng ngự phía Nam Ukraina. Đến ngày 25 tháng 8 năm 1941, hai tập đoàn quân 11 (Đức) và 4 (Romania) đã tiến đến bờ Đông sông Dnepr và cửa ngõ bán đảo Krym; đánh chiếm Kirovograd, Krivoi Rog, Nikolayev và Kherson; ngày 5 tháng 8, quân Đức bao vây thành phố cảng Odessa.
Tham gia phòng thủ Odessa ban đầu có phân hạm tuần duyên do Hạm trưởng bậc nhất Georgiy Safronov chỉ huy, hai lữ đoàn hải quân đánh bộ 33 và 60 của Hạm đội biển Đen dưới quyền chỉ huy của các trung tá D. I. Surov, B. V. Kudriavshev và cụm quân Duyên hải gồm ba sư đoàn bộ binh Liên Xô dưới quyền chỉ huy của tướng I. E. Petrov và tham mưu trưởng, đại tá N. I. Krylov. Tổng quân số có 34.500 người và 240 khẩu pháo, cối. Kế hoạch phòng thủ Odessa của phương diện quân Nam đã được đại tướng Zhukov bổ sung. Bao vây và tấn công Odessa ban đầu có quân đoàn bộ binh 72 (Đức) và tập đoàn quân 4 (Romania) do tướng Dumitrescu chỉ huy. Đến tháng 10, Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) điều thêm đến khu vực Odessa quân đoàn 9 thuộc tập đoàn quân 8 (Italia). Các đơn vị này có tổng quân số 340.233 người.
Cuộc phòng thủ Odessa bắt đầu ngày 5 tháng 8 năm 1941 khi Phương diện quân Nam của Liên Xô rút khỏi vùng ven biển phía Tây Nam vì không còn đủ lực lượng để phản kích. Quân đội Liên Xô và người dân Odessa đã chiến đấu liên tục trong hơn hai tháng, thực hiện việc phòng thủ khu vực Odessa đến người cuối cùng. Từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 8, không quân và pháo binh Đức mở cuộc nhiều trận oanh tạc và bắn phá thành phố. Ngày 13 tháng 8, tập đoàn quân 4 Romania bắt đầu đột kích dọc bờ biển vào thành phố từ phía Tây Nam nhưng đều bị các lữ đoàn hải quân đánh bộ 33 và 60 (Liên Xô) đánh bật trở lại. Ngày 14 tháng 9, sau khi đã bao vây và loại khỏi vòng chiến đấu phần lớn binh lực của hai tập đoàn quân 6 và 12 (Liên Xô) tại vùng Uman, quân đoàn cơ giới 50 (Đức) được điều về khu vực Odessa. Ngày 15 tháng 8, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Liên Xô điều phân hạm đội 157 do Hạm trưởng bậc nhất D. I. Tomilin với 12.600 quân từ khu phòng thủ Novorossisk cơ động đường biển đến tăng viện cho cụm quân Duyên hải, phòng thủ phía Bắc Odessa. Đến ngày 24 tháng 9, nhiều trận đánh ác liệt đã nổ ra tại các khu vực Tshabanky, Staroiy và Novo Dofinovky. Ngày 30 tháng 9, tuyến phòng thủ thành phố bị xe tăng Đức chọc thủng nhưng cuộc phòng thủ vẫn tiếp tục trong các ổ đề kháng được bố trí khắp khu vực nội đô. Ngày 16 tháng 10, do tập đoàn quân 11 (Đức) đã đột nhập bán đảo Krym và tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) đã chiếm Taganrog; Phương diện quân Nam quyết định rút các lực lượng còn lại tại Odessa theo đường biển về phòng thủ Sevastopol. Cuộc phòng thủ Odessa chấm dứt.
Trong kế hoạch Barbarossa, Leningrad là một trong ba mục tiêu chiến lược. So với hai mục tiêu còn lại (Moskva và Kiev), đây là hướng mà Quân đội Liên Xô có ít binh lực hơn. Adolf Hitler tuyên bố: "Phải xóa thành phố này khỏi bản đồ thế giới, phải phá hủy nó bằng các cỡ đại bác và không quân tầm xa".
Sau khi đánh tan Phương diện quân Pribaltic, chiếm Tallinn, buộc số quân còn lại và Bộ chỉ huy Phương diện quân này phải rút về Leningrad bằng đường biển; ngày 19 tháng 8 năm 1941, Cụm tập đoàn quân Bắc của thống chế Wilhelm von Leeb đã tạo được ưu thế 3/1 tại mặt trận này và mở cuộc tổng công kích tiến đến Leningrad. Từ ngày 22 đến 24 ngày tháng 8, Phương diện quân Bắc được thành lập và mở cuộc phản công tại vùng Novgorod. Quân đoàn xe tăng 56 (Đức) bị thiệt hại nặng. Lỗ thủng đột phá do cuộc phản công này tạo ra sâu đến 60 km buộc Thống chế Wilhelm von Leeb phải ném vào đây hai sư đoàn cơ giới để bảo vệ hậu cứ của Cụm tập đoàn quân Bắc và đẩy lùi Quân đội Liên Xô về tuyến xuất phát. Đầu tháng 9, tập đoàn quân 18 đã chiếm vùng Narva, cửa ngõ phía Tây Leningrad. Ngày 4 tháng 9, cứ điểm Shlisselburg thất thủ, tập đoàn quân 16 và tập đoàn quân xe tăng 4 (Đức) đã chiếm khu vực bờ Nam Hồ Ladoga; bao vây Leningrad từ hướng Nam và Đông Nam. Ở phía Bắc, quân đoàn Phần Lan tấn công vào eo đất Karelia, phối hợp với quân Đức bao vây Leningrad từ hướng Bắc. Trên hướng Tây Leningrad, mỏm đất Oranienbaum vẫn do Hải quân đánh bộ Hạm đội Baltic (Liên Xô) đóng giữ (còn được gọi là "Cụm chiến dịch ven biển"), trở thành mối đe dọa thường xuyên đối sườn trái của tập đoàn quân 18 (Đức). Leningrad chỉ còn có thể liên lạc với hậu phương Liên Xô qua mặt hồ Ladoga. Cuộc phòng thủ 900 ngày của Quân đội và nhân dân Liên Xô tại Leningrad bắt đầu.
Ngày 5 tháng 9, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Quân đội Liên Xô đã chia Phương diện quân Bắc thành hai Phương diện quân: Leningrad và Karelia. Ban đầu, nguyên soái K. E. Vorosilov được cử làm tư lệnh Phương diện quân, tướng M. M. Popov làm tham mưu trưởng. Đến ngày 10 tháng 9, K. E. Vorosilov xin từ chức. Stalin bổ nhiệm đại tướng Zhukov làm tư lệnh Phương diện quân Leningrad, trung tướng M. X. Khozin được cử làm tham mưu trưởng. Bộ Tư lệnh Phương diện quân đã tiến hành ngay ba biện pháp phòng thủ trong tình hình quân số, vũ khi, đạn dược và lương thực bắt đầu thiếu hụt:
Từ ngày 15 đến ngày 30 tháng 9, tướng Georg von Küchler, tư lệnh Tập đoàn quân 18 (Đức) đã tổ chức ba trận công kích vào Leningrad trên tuyến Urisk, Pulkovo, Kolpino và Pushkin, phối hợp với quân dù đổ bộ xuống Petergof nhưng đều bị chặn đứng. Hạm đội Baltic đã ngăn chặn có hiệu quả các chiến hạm và tàu ngầm Đức trên vịnh Phần Lan. Đầu tháng 10, Tập đoàn quân 18 (Đức) phải ngừng các cuộc công kích đường bộ và mở chiến dịch phá hoại thành phố bằng không quân và pháo binh. Ngày 8 tháng 10, đại tướng Zhukov lại được chỉ định làm tư lệnh Phương diện quân Tây để tổ chức phòng thủ Moskva. Các tướng I. I. Fediuninsky và M. X. Khozin lần lượt được cử làm tư lệnh Phương diện quân Leningrad.
Từ ngày 16 tháng 10 đến ngày 8 tháng 11, Tập đoàn quân 16 (Đức) tấn công đánh chiếm Tikhvin, tiến sát thành phố Volkhov, cắt đứt đường sắt Moskva - Leningrad và chỉ bị chặn lại trước tuyến phòng ngự của tập đoàn quân 4 và tập đoàn quân độc lập 7 do đại tướng K. A. Mereskov chỉ huy. Tháng 11 năm 1941, do dự trữ lương thực đã cạn và việc tiếp tế qua hồ Ladoga bị gián đoạn, nạn đói bắt đầu xuất hiện tại Leningrad. Khẩu phần bánh mỳ hàng ngày của quân nhân trên tuyến 1 giảm xuống còn 400 gam, công nhân được nhận 250 gam, người sống nương nhờ và trẻ em chỉ có 125 gam. Người ta đã phải dùng đến cân tiểu ly để phân phát lương thực và thực phẩm. Thành phố thiếu chất đốt trầm trọng trong khi mùa đông vùng cực Bắc đã bắt đầu. Tuy nhiên, Leningrad vẫn không đầu hàng.
Mặc dù bị cô lập trên bộ nhưng đến mùa đông năm 1941, Liên Xô đã thiết lập con đường sống ("Доро́га жи́зни") - một tuyến tiếp tế sử dụng mặt băng trên hồ Ladoga - nhằm đưa lương thực, đạn dược, nhiên liệ, khi mặt hồ Ladoga tan băng, tuyến tiếp thế này bị hạn chế tác dụng.
Ngày 17 tháng 12 năm 1941, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô thành lập Phương diện quân Volkhov gồm các tập đoàn quân 4. 26, 52, 59 do đại tướng K. A. Mereskov chỉ huy. Phương diện quân mới được giao nhiệm vụ phối hợp với Phương diện quân Leningrad tấn công cánh quân Shlisselburg của tập đoàn quân 16 (Đức), giải tỏa cho Leningrad. Từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1942, các phương diện quân này tiến hành chiến dịch Lyuban nhưng do Phương diện quân Leningrad đã suy yếu trong phòng thủ, không thể hợp điểm với mũi tấn công của tập đoàn quân xung kích 2 (nguyên là tập đoàn quân 26). Tập đoàn quân này bị quân Đức bao vây và tư lệnh tập đoàn quân, tướng Vlasov đã đầu hàng và chấp nhận làm việc cho quân đội Đức. Thành phố Leningrad vẫn nằm trong vòng vây đến ngày 18 tháng 1 năm 1943, khi Phương diện quân Leningrad và Phương diện quân Volkhov tiến hành chiến dịch Iskra (Tia Chớp), đánh chiếm dải đất hẹp Shlisselburg - Sinyavino ở bờ Nam hồ Ladoga, phá vỡ vòng phong tỏa Leningrad.
Chiến dịch phản công Rostov.
Phát huy ưu thế áp đảo về binh lực, tháng 9 năm 1941, Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) phát triển tấn công về phía Đông, buộc các Phương diện quân Tây Nam và Nam của Quân đội Liên Xô phải hai lần rút quân về phía bên kia sông Oskol. Cuối tháng 9, các tập đoàn quân dã chiến 6, 11, 17 và tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) đã tiến đến tuyến Krasnohrad, Zaporozhe, Melitopol. Sau khi đánh chiếm Odessa, tập đoàn quân xe tăng 1 và tập đoàn quân dã chiến 17 lao về hướng Rostov-na-Donu. Tập đoàn quân 11 hướng đòn tấn công vào bán đảo Krym, buộc các tập đoàn quân 44 và 51 Liên Xô phải rút sang bán đảo Taman. Căn cứ hải quân Liên Xô tại Sevastopol bị bao vây.
Đến tháng 11 năm 1941, sức tấn công của Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) bị suy giảm do tuyến hậu cần kéo dài và liên tục bị các đội du kích Liên Xô đánh phá trong hậu tuyến và mặt trận bị trải rộng ra trên 600 km. Tuy phải rút lui nhưng các Phương diện quân Tây Nam và Nam của Liên Xô vẫn tổ chức các cuộc phản đột kích vào bên sườn các cánh quân xe tăng và cơ giới Đức, buộc Cụm tập đoàn quân Nam của Đức phải phân tán lực lượng dàn đều trên các hướng có nguy cơ bị tập kích và bảo đảm các tuyến giao thông. Ngày 4 tháng 11, Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) vượt qua Taganrog đột nhập đến cửa ngõ Rostov-na-Donu, đẩy lùi chính diện của tập đoàn quân 12 về Barvenkovo, của tập đoàn quân 18 về bên kia sông Miush. Ngày 21 tháng 11, quân Đức đánh bật tập đoàn quân 9 của Phương diện quân Nam khỏi Rostov và chiếm thành phố.
Sau khi để tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) "nghỉ lại" vài ngày, các Phương diện quân Nam và Tây Nam mở cuộc phản công vào ngày 23 tháng 11. Để bao vây đạo quân xe tăng của tướng Kleist, tập đoàn quân 37 (Liên Xô) hướng đòn tấn công về phía Taganrog nhằm cô lập tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức). Tập đoàn quân 9 áp sát tuyến sông Tuzlov đến Kamenny Brod. Mặc dù đánh thiệt hại nặng sư đoàn cơ giới SS "Viking", các sư đoàn xe tăng 1 và 16 nhưng Quân đội Liên Xô không thực hiện được ý định hợp vây Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) do không còn lực lượng dự bị. Ngày 29 tháng 11, tướng Kleist rút các đơn vị còn lại của tập đoàn quân xe tăng 1 khỏi Rostov về phía bên kia sông Miush. Thành phố Rostov được giải phóng lần thứ nhất sau một tuần bị đánh chiếm.
Chiến dịch phòng ngự-phản công Moskva.
Sau khi bao vây Leningrad và làm suy yếu nghiêm trọng các Phương diện quân Bryansk, Tây Nam và Nam của Liên Xô, ngày 3 tháng 10 năm 1941, Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) bắt đầu triển khai tấn công Moskva trên hướng Oryol - Tula. Ngày 5 tháng 10, tuyến phòng ngự chủ yếu của Phương diện quân Dự bị (Liên Xô) bị chọc thủng tại Yukhnov. Bộ tư lệnh Cụm tập đoàn quân Trung tâm nắm trong tay các tập đoàn quân dã chiến 2, 4, 9; các tập đoàn xe tăng 2, 3, 4 (mới được điều từ Cụm tập đoàn quân Bắc đến) tiến hành chiến dịch tổng công kích vào Moskva, thực hiện kế hoạch "Typhoon" (Bão táp) do đích thân Adolf Hitler phê chuẩn. Trong Chỉ thị số 35 của mình, Hitler nói: "Phải bao vây Moskva sao cho không một tên lính Nga, không một người dân - dù là đàn ông, đàn bà hay trẻ con- có thể ra khỏi thành phố. Mọi mưu toan tẩu thoát đều phải đàn áp bằng vũ lực."
Chỉ trong tuần lễ đầu tiên, với ưu thế vượt trội cả về quân số và trang bị, lại được nắm thế chủ động, quân Đức đã hoàn tất 2 trận vây hãm lớn tại Bryansk và Vyazma, tạo một lỗ hổng lớn trước thủ đô Liên Xô nhưng do những trận mưa mùa thu khiến đà tiến của Đức bị chậm lại. Thống kê sau 2 tuần, quân Đức đã tiêu diệt hoặc bắt được 650.000 binh sĩ Liên Xô, phá hủy 5.000 pháo và 1.200 xe tăng và thiết giáp của quân đội Liên Xô.
Đầu tháng 11 năm 1941, sau khi chọc thủ phòng tuyến của Phương diện quân Tây tại tuyến Dukhovshchina - Sychyovka - Volokolamsk; của Phương diện quân Dự bị tại tuyến Roslavl - Yukhnov - Maloyaroslavets; của Phương diện quân Bryansk tại tuyến Shostka - Mtsensk - Plavsk - Dedilovo, sáu tập đoàn quân Đức đã áp sát Moskva từ các hướng Tây, Tây Bắc, Tây Nam. Tại kênh đào Yakhroma, lính Đức đã có thể nhìn thấy những tòa tháp của nhà thờ Ivan Velikii trong khu vực điện Kremly qua ống nhòm. Nhưng đây là vị trí gần Moskva nhất mà quân đội Đức Quốc xã có thể tiến đến được. Ngày 7 tháng 11, tại Quảng trường Đỏ diễn ra cuộc duyệt binh lịch sử. Trong cuộc duyệt binh này, lãnh tụ Liên Xô Stalin đã đọc nhật lệnh kêu gọi quân đội và nhân dân bảo vệ Thủ đô. Các đơn vị bộ binh, xe tăng, pháo binh Liên Xô sau khi diễu binh qua Lăng Lenin đã thẳng tiến ra mặt trận. Đà tiến công của quân đội Đức Quốc xã đã bị quân đội Liên Xô chặn đứng.
Đầu tháng 12 năm 1941, một số đơn vị Đức lâm vào thế "chết đứng" do thiết giáp không thể vận hành dưới cái lạnh khủng khiếp. Những lực lượng tiên phong không được chuẩn bị cho mùa Đông và cũng không có dự trữ. Ngày 4 tháng 12, tập đoàn quân xe tăng 2 của Guderian phải dừng lại khi nhiệt độ là -35 độ, hôm sau nhiệt độ xuống thêm 2 độ nữa và xe tăng hầu như bất động trong khi quân đội Liên Xô liên tục phản kích hai bên sườn và uy hiếp phía sau cánh quân này từ hướng Tula.
Từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 5 tháng 12 năm 1941, Cụm tập đoàn quân Trung tâm của Đức đã chịu những thiệt hại rất nặng nề tại Mặt trận Moskva, không còn đủ sức tấn công và phải chuyển sang phòng ngự nhưng không kịp. Ngày 5 tháng 12, các Phương diện quân Tây Bắc (cánh Nam), Kalinin (mới thành lập), Tây, Bryansk, Tây Nam (cánh bắc) của Liên Xô đồng loạt phản công từ Ostashkov, qua Klin, Naro-Fominsk, Tula đến Efremov và Yelets. Bộ Tổng tư lệnh quân đội Đức Quốc xã hoàn toàn không ngờ lại có chuyện như vậy. Các tập đoàn quân dã chiến 4, 9, các tập đoàn quân xe tăng 2, 3 của Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) bị thiệt hại nặng và bị đánh bật khỏi Moskva, có nơi đến hơn 250 km. Chiến dịch "Bão táp" của quân đội Đức nhằm đánh chiếm Moskva bằng một trận hợp vây đã phá sản, kéo theo sự phá sản của toàn bộ Kế hoạch Barbarossa.
Chiến dịch phản công Yelets - Khomutovo.
Chiến dịch phản công Yelets - Khomutovo do Phương diện quân Tây Nam tiến hành là một phần của cuộc Tổng phản công mùa Đông 1941-1942 của Quân đội Liên Xô. Mặc dù đang ở thế phòng ngự và quyền chủ động tấn công vẫn ở trong tay quân đội Đức Quốc xã nhưng để phối hợp với chiến dịch phản công tại khu vực Moskva, Phương diện quân Tây Nam vẫn được giao nhiệm vụ sử dụng cánh Bắc của mình để mở cuộc tấn công vào thành phố Yelets và phát triển tuyến sông Zusha, che chở sườn trái cho Phương diện quân Bryansk đang chuẩn bị tấn công từ Efremov đến Novosil. Khi giao nhiệm vụ, Tổng tư lệnh tối cao Stalin nói rõ: "Phương diện quân Tây Nam phải hành động bằng lực lượng hiện có của mình. Các lực lượng dự bị, đặc biệt là xe tăng của Đại bản doanh hiện đang tập trung cho hướng chiến lược Moskva". Mặc dù nguyên soái S. K. Timoshenko phàn nàn: "Không có xe tăng thì làm được trò trò trống gì ?" nhưng ông vẫn chỉ thị cho Bộ tham mưu Phương diện quân Tây Nam triển khai chiến dịch trong điều kiện không có xe tăng và chỉ có 245 khẩu pháo. Trong khi đó, các quân đoàn bộ binh 34 và 55 thuộc Tập đoàn quân 2 (Đức) đang đóng trong khu vực tam giác Yelets - Khomutovo - Livny có trong tay 470 khẩu pháo và 50 xe tăng.
Ngày 6 tháng 12 năm 1941, Cụm cơ động thuộc Tập đoàn quân 40 của tướng F. I. Kostenko gồm gần 20.000 quân, được sự yểm hộ của 206 khẩu pháo và súng cối, xuất phát từ Terbuny, phía Tây Bắc Voronezh, chia làm hai mũi bắt đầu xuất phát. Mũi tấn công thứ nhất đánh vào phía Tây Nam Yelets. Mũi tấn công thứ hai đánh dọc sông Zusha qua Livny và phát triển đến Khomutovo. Cùng thời điểm, Cụm xung kích thuộc Tập đoàn quân 13 của tướng K. S. Moskalenko cũng xuất phát từ thượng nguồn sông Đông đánh vào phía Tây Bắc Yelets và hướng cánh trắc vệ bên phải về phía sông Zusha. Cả hai cánh quân đều hướng đến các điểm gặp nhau tại phía Tây Yelets và Khomutovo. Ngày 16 tháng 12, Sư đoàn bộ binh 95 (Đức) bị lọt vào vòng vây tại Yelets. Tập đoàn quân 2 (Đức) tung Quân đoàn bộ binh 34 ra đối phó, lập tuyến phòng thủ trên sông Sosna và án ngữ con đường sắt từ Yelets đi Oryol nhưng đã muộn. Ngày 7 tháng 1 năm 1942, hai cụm xung kích của các Tập đoàn quân 40 và 13 đã gặp nhau tại Khomutovo và đến lượt Quân đoàn bộ binh 34 (Đức) bị hợp vây. Cánh trái của Tập đoàn quân 40 cũng hành động tích cực, khiến cho Tập đoàn quân 2 (Đức) không thể rút Quân đoàn bộ binh 55 khỏi cụm cứ điểm Shchigry để ứng cứu cho Quân đoàn bộ binh 34. Ngày 20 tháng 1 năm 1942, các Tập đoàn quân 40 (Phương diện quân Tây Nam) và 13 (Phương diện quân Bryansk) đã tiêu diệt phần lớn Quân đoàn bộ binh 34 (Đức), đưa chiến tuyến đến sống Zusha, đánh chiếm đầu mối giao thông đường thủy Novosil và đầu mối giao thông đường sắt Verkhovye. Thanh toán được cụm cứ điểm trong khu tứ giác Yelets - Efremov - Khomutovo - Livny, Quân đội Liên Xô đã khép chặt sườn phải của Phương diện quân Tây Nam và sườn trái của Phương diện quân Bryansk đẩy chiến tuyến về phía Tây từ 50 đến 100 km.
Kết quả chiến dịch.
Hình thế chiến trường.
Sau cuộc tổng tấn công mùa Đông 1941-1942 của Quân đội Liên Xô mà đặc biệt là ba trận phản công lớn tại Moskva, Spad Demiansk (Demyansk) và Rostov, kế hoạch Barbarossa đã hoàn toàn sụp đổ, chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của quân đội Đức Quốc xã bị phá sản. Mặt trận Xô-Đức tương đối ổn định trong mấy tháng. Do chưa chuyển kịp lực lượng dự bị từ Đức sang và từ các nước bị chiếm đóng ở Tây Âu đến nên trên các hướng chiến lược chủ yếu, quân Đức đã mất quyền chủ động chiến lược và phải chuyển sang phòng ngự theo Chỉ thị số 39 ngày 3 tháng 1 năm 1942 của Hitler. Mặc dù Quân đội Liên Xô đã đẩy quân Đức lùi lại các vị trí gần giống như trước khi diễn ra chiến dịch phòng ngự Moskva nhưng cũng đã sử dụng hết những lực lượng dự bị được xây dựng từ tháng 9 năm 1941 đến tháng tháng 1 năm 1942. Các nhà máy công nghiệp vừa sơ tán sang vùng Ural và Tây Siberi mới hoạt động trở lại nên chưa thể cung cấp nhiều súng đạn, xe tăng, đại bác, máy bay và các phương tiện quân sự khác cho mặt trận. Do đó, Quân đội Liên Xô cũng phải chuyển sang phòng ngự; đồng thời tiến hành một số trận phản công có quy mô vừa và nhỏ.
Tranh thủ thời gian chiến sự tạm lắng xuống, Bộ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô đã khẩn trương xây dựng các đơn vị xe tăng và không quân có quy mô quân đoàn, tập đoàn quân và tổ chức thêm nhiều tập đoàn quân binh chủng hợp thành. Quy mô các đơn vị chống tăng được nâng từ cấp lữ đoàn lên cấp sư đoàn để tổ chức những trận đánh tiêu diệt xe tăng lớn. Sau ba tháng chuyển sang phòng ngự tích cực, Quân đội Liên Xô đã có quân số lên đến 5.534.500 người, 4.959 xe tăng (gồm hơn 1.500 chiếc T-34 và KV kiểu mới), 40.798 pháo và súng cối. Tám tập đoàn quân không quân được thành lập với 2.480 máy bay chiến đấu, hầu hết là máy bay kiểu mới. Việc huấn luyện chiến đấu diễn ra liên tục ở cả hậu phương và ngay sát mặt trận.
Tuy Kế hoạch Barbarossa bị đổ vỡ hoàn toàn nhưng giới cầm quyền Đức Quốc xã vẫn còn nhiều tiềm năng lớn. Việc các nước đồng minh Anh, Mỹ không mở mặt trận thứ hai theo như thỏa thuận ngày 1 tháng 1 năm 1942 tại Washington đã làm cho Tổng hành dinh quân đội Đức Quốc xã tự do điều động hơn 50 sư đoàn từ nước Đức, từ Pháp, Bỉ, Hà Lan và Đông Âu sang chiến trường Xô-Đức; chỉ để lại ở Tây Âu, Nam Âu, Bắc Phi và nước Đức không quá 20% quân số. Đến tháng 5 năm 1942, trên mặt trận Xô-Đức kéo dài từ biển Barents đến biển Đen, Quân đội Đức Quốc xã đã khôi phục lại được ưu thế về quân số và phương tiện gồm 217 sư đoàn, 20 lữ đoàn với 6,2 triệu quân. Trong đó, 178 sư đoàn, 8 lữ đoàn và 4 tập đoàn quân không quân người Đức; 81 vạn quân thuộc các nước đồng minh của Đức. Về vũ khí, phương tiện, đạo quân khổng lồ này vẫn có 3.230 xe tăng, gần 57.000 khẩu pháo và súng cối, hơn 3.400 máy bay chiến đấu. Dựa vào ưu thế về quân số, pháo và máy bay, Bộ Tổng tư lệnh quân đội Đức Quốc xã vạch kế hoạch mới để tiếp tục tấn công Liên Xô với mật danh Kế hoạch Xanh, sử dụng 102 sư đoàn tấn công trên vùng thảo nguyên miền Nam Liên Xô, bổ đôi mặt trận Xô Đức, cắt đứt và đánh chiếm các mỏ dầu ở Baku, đánh chiếm vựa lúa mỳ ở hạ lưu sông Volga và vùng Kuban. Đây là nỗ lực chiến lược quân sự cuối cùng của nước Đức Quốc xã với mục tiêu làm cho Nhà nước Liên Xô vừa thất bại về quân sự, vừa suy yếu nghiêm trọng về tiềm lực kinh tế, tiến tới tiêu diệt Liên Xô.
Với ưu thế về binh lực và tạo được bất ngờ về chiến dịch, chiến thuật, quân đội Đức Quốc xã đã gây ra cho quân đội Liên Xô những thiệt hại ban đầu hết sức to lớn. Hàng chục vạn quân nhân Liên Xô tử trận hoặc bị bắt làm tù binh. Riêng trong ba ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh, các quân khu biên giới đã mất gần 1.200 máy bay, trong đó có 900 chiếc bị không quân Đức ném bom phá hủy trên các sân bay, 300 chiếc khác bị bắn rơi trong các trận không chiến; không quân Liên Xô chỉ bắn rơi hơn 200 chiếc máy bay Đức trong tuần đầu của cuộc chiến.
Mặc dù thu được những chiến thắng ban đầu vô cùng to lớn tại mặt trận phía đông, nhưng trong cuộc chiến một mất một còn với Liên Xô, quân đội Đức Quốc xã đã gặp phải một đối thủ kiên cường. Qua cơn choáng váng ban đầu Quân đội Liên Xô kháng cự ngày càng có tổ chức và ý chí ngày càng tăng. Ngay từ những ngày đầu của chiến dịch tại Pháo đài Brest cho đến các trận đánh ở sâu trong nội địa Liên Xô, các đơn vị Liên Xô thường chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, không nao núng khi chiến đấu trong vòng vây và liên tục phản kích, làm suy giảm đáng kể sức tiến công vũ bão của quân đội Đức. Mặc dù bị tổn thất lớn về quân số và phương tiện nhưng Nhà nước và người dân Liên Xô đã thành công trong việc động viên toàn diện để thành lập các đơn vị mới và đưa vào cuộc chiến. Các nỗ lực phòng ngự kiên cường của Quân đội Liên Xô tại Odessa, Sevastopol, Leningrad và đặc biệt tại Kiev đã giam chân một bộ phận rất lớn quân đội Đức. Nhờ đó Liên Xô đã tranh thủ được thời gian, đưa lên phía trước những lực lượng dự bị mới để phản kích ngày một mạnh hơn; và cuối cùng đã tổ chức thành công Chiến dịch phòng thủ-phản công tại Moskva. Chiến tranh du kích ("chiến tranh đường ray") sau lưng quân chiếm đóng cũng được phát động để phá hoại hậu cần, tiếp tế ngay tại hậu tuyến của quân đội Đức. Những nỗ lực đó tuy đã phải trả giá bằng các tổn thất vô cùng to lớn nhưng chặn được đà tấn công, góp phần làm phá sản cuộc chiến tranh đánh nhanh thắng nhanh của Đức. Trong ba mục tiêu lớn cuối cùng của Kế hoạch Barbarossa, nước Đức Quốc xã chỉ đạt được một mục tiêu: đánh chiếm Kiev. Mục tiêu lớn nhất là chiếm Moskva và tiêu diệt Nhà nước Liên Xô hoàn toàn không thực hiện được. Tại cánh Bắc, quân Đức cũng phải dừng bước trước cửa ngõ Leningrad. Thế cân bằng chiến lược Xô-Đức đã được tạo lập, dù chỉ tồn tại trong 4 tháng.
Về Đức Quốc xã.
Theo nhận định của tướng Zhukov thì ngoài những ưu thế về quân số, vũ khí, phương tiện chiến tranh thì những thắng lợi ban đầu hết sức to lớn của quân đội Đức trên lãnh thổ Liên Xô trước hết là do sức chiến đấu của binh lính và sĩ quan Đức ở tất cả các quân binh chủng do được huấn luyện chuyên môn tốt và trui rèn qua trận mạc đều đạt trình độ tác chiến cao, đặc biệt là thiết giáp và không quân. Binh lính Đức trên chiến trường thực sự chuyên nghiệp, thành thạo nghiệp vụ, kiên trì, tự tin và có kỷ luật. Các cơ quan tham mưu các cấp của Quân đội Đức đều được huấn luyện tốt về phương pháp tổ chức chiến đấu từ các trận đánh nhỏ đến các chiến dịch lớn theo phương thức chiến tranh hiện đại. Quân đội Đức đã hiện đại hóa các phương tiện thông tin liên lạc bằng vô tuyến điện, trang bị đầy đủ cho các cơ quan chỉ huy, tham mưu các cấp nên đã tổ chức chiến đấu hiệp đồng tốt giữa xe tăng và bộ binh, giữa không quân và lục quân. Cơ quan chỉ huy cấp chiến lược của quân đội Đức Quốc xã cũng làm việc rất khoa học và bài bản. Việc vạch kế hoạch tổ chức các đòn tấn công phủ đầu trên các hướng chiến lược đều được làm rất tỷ mỷ, chi tiết. Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Đức Quốc xã cũng chọn được những tư lệnh binh chủng, tư lệnh tập đoàn quân dày dạn kinh nghiệm tổ chức chiến đấu. Trong nhiều trường hợp, họ đã xác định đúng phương hướng tấn công, thành phần các quân binh chủng tham gia, nắm được những địa đoạn mỏng yếu trong các tuyến phòng ngự của đối phương để giáng đòn đột kích mạnh vào đó. Ngoài ra, uy tín chính trị của Hitler cũng góp phần nâng cao tinh thần chiến đấu cho các quân nhân Đức Quốc xã. Hầu hết sĩ quan và binh sĩ (trừ một số nhỏ thống chế, tướng lĩnh có cách nhìn tỉnh táo hơn) đều tin rằng mình là dân tộc thượng đẳng, đều cho rằng có thể dễ dàng đánh bại Liên Xô một cách nhanh chóng như những lời tuyên bố, hứa hẹn của Hitler và Goebbels.
Cũng theo nhận định của tướng Zhukov thì đối lập với những điểm mạnh nói trên, giới cầm quyền Đức Quốc xã lại mắc phải chính những sai lầm chiến lược chính trị-quân sự do thiển cận và chủ quan khinh thường đối phương. Cho dù huy động một lực lượng quân sự lớn nhất trong khả năng của chính họ và các nước đồng minh, quân đội Đức Quốc xã vẫn không thể đủ lực lượng để đồng thời tấn công chiến lược trên ba hướng chủ yếu. Càng vào sâu trong nội địa Liên Xô, tuyến mặt trận ngày càng mở rộng, mật độ binh lực và phương tiện ngày càng mỏng đi. Vấp phải sức chống cự ngày càng tăng lên của quân đội Liên Xô, mật độ binh lực và phương tiện này ngày càng mỏng yếu hơn nữa khiến cho đến cuối chiến dịch, khả năng đột kích của các binh đoàn xe tăng, sức mạnh chính của quân đội Đức Quốc xã gần như bị triệt tiêu. Không phải các thống chế Đức không nhận ra điều này và họ đã chọn Moskva để "đánh canh bạc cuối cùng". Mặc dù đã đổ vào đây đến 34% quân số và 68% xe tăng của toàn bộ mặt trận Xô-Đức nhưng quân đội Đức vẫn không đủ lực lượng để hoàn thành đến cùng chiến dịch "Typhoon" và buộc phải rút lui sau những thiệt hại nặng nề do chiến thuật chống tăng tổng hợp của Quân đội Liên Xô.
Theo Stemenko thì một sai lầm quan trọng khác của Quân đội Đức là tính cứng nhắc trong điều hành tác chiến. Khi mọi cuộc tấn công diễn ra suôn sẻ, quân đội Đức hành động rất bài bản với tính kế hoạch có độ chính xác rất cao và điều đó đem lại sức mạnh cho họ. Tuy nhiên, đến khi tình hình chiến trường có những đột biến, cục thế xoay chuyển ngoài những dự kiến thì Bộ Tổng tư lệnh và các tướng lĩnh Đức lại trở thành "tù binh" của chính họ với thói quen khuôn mẫu, bị trói buộc vào những lý thuyết quân sự vốn có trong khi tình hình đòi hỏi phải có những thay đổi linh hoạt. Heinz Guderian là một trong số hiếm hoi các tướng lĩnh Đức Quốc xã có tư duy mềm dẻo, linh hoạt nhưng lại bị Hitler ghét bỏ vì "bất tuân thượng lệnh", tự ý chuyển sang phòng ngự và lui quân. Kết quả là khi bị mất quyền chủ động chiến lược, nhiều tướng lĩnh Đức chậm hoặc không thích nghi với các điều kiện mới, ít chịu cải tổ bộ máy cũng như chậm tìm ra giải pháp khắc phục các khó khăn khi kế hoạch đã định ra có những mâu thuẫn lớn với các tình huống thực tế.
Một trong các điểm yếu nữa về chiến thuật quân sự của Quân đội Đức khiến họ không thể áp dụng đầy đủ học thuyết đánh nhanh thắng nhanh tại chiến trường Xô-Đức mặc dù trước đó, học thuyết này đã được kiểm nghiệm và được đánh giá là đạt hiệu quả cao tại các chiến trường Tây Âu và Đông Âu năm 1940-1941. Đó là việc bao vây các đơn vị quân đội Liên Xô tại các lòng chảo lớn không khỏi tạo nên một thế trận kéo dài của các binh đoàn xe tăng. Các binh đoàn cơ động này không chỉ phải chiến đấu chống lại đối phương phản kích tại vòng vây bên trong mà còn phải chống lại cả những đòn tấn công giải vây từ bên ngoài. Buộc phải tác chiến trên cả hai mặt trận, sức cơ động đột kích của các đơn vị xe tăng Đức suy giảm đáng kể. Chính Hitler cũng cho rằng chiến thuật này đòi hỏi quá nhiều binh lực nhưng kết quả đạt được lại khá hạn chế.
Đối với Liên Xô, sai lầm lớn nhất là việc dự báo thời điểm quân đội Đức phát động chiến tranh và để cho quân đội và nhân dân của mình hoàn toàn bị bất ngờ trước cuộc tấn công tổng lực của Quân đội Đức Quốc xã ngày 22 tháng 6. Ban lãnh đạo Liên Xô cùng với người đứng đầu nhà nước Liên Xô là Stalin đã cho rằng nước Đức phải cần thêm một thời gian chuẩn bị. Mặc dù nhiều biện pháp ngoại giao đã được áp dụng, kể cả các biện pháp "nín nhịn" tránh khiêu khích với Đức, tìm cách ký hiệp ước liên minh quân sự với Anh và Pháp cũng đã được thi hành; thậm chí những người đề nghị những biện pháp đặt quân đội vào tình trạng báo động cao còn bị coi là "gieo rắc hoang mang" nhưng chiến tranh vẫn diễn ra sớm hơn dự định. Hơn nữa, Stalin cũng đánh giá quá cao khả năng dùng biện pháp ngoại giao để đẩy lùi thời điểm xảy ra chiến tranh. Đến khi cuộc chiến thực sự sắp nổ ra, với cương vị là người đứng đầu Nhà nước, ông cũng không có được một quyết định quan trọng làm cho đất nước thích ứng ngay với tình trạng chiến tranh, đã chậm trễ trong việc đặt quân đội vào tư thế sẵn sàng chiến đấu. Ngay cả những nhà chính trị và quân sự Liên Xô cũng coi đây là một trong những khuyết điểm hết sức nghiêm trọng về chính trị của ông. Góp phần vào các sai lầm ấy là báo cáo kết luận không rõ ràng, thiếu quyết đoán và thậm chí là "xuôi chiều" theo ý Stalin của ngành tình báo quân sự do tướng F. I. Golikov đứng đầu. Mặc dù nắm trong tay nhiều tin tức xác định thời điểm quân Đức sẽ tấn công là trung tuần tháng 6 năm 1941 nhưng trong Báo cáo ngày 14 tháng 5, F. I. Golikov vẫn cho rằng: "thời gian Đức bắt đầu hành động chống Liên Xô có khả năng chính xác nhất là sau khi đánh bại Anh hoặc ký với Anh một hòa ước có lợi" và "tin đồn và những về cuộc chiến chống Liên Xô sẽ xảy ra cần được coi như tin đánh lừa do các cơ quan tình báo Anh và thậm chí cả Đức tung ra".
Sai lầm chiến lược thứ hai là việc bố trí quân đội trên toàn tuyến phòng ngự bị lệch về phía Nam. Do Stalin cho rằng Quân đội Đức trước hết phải chiếm lấy miền Ukraina trù phú rồi mới có thể tiến đánh vào trung tâm Liên Xô nên đã lệnh cho Bộ Tổng tham mưu bố trí tại đây 45 sư đoàn bộ binh, 20 sư đoàn xe tăng, 10 sư đoàn cơ giới, 5 sư đoàn kỵ binh, chiếm khoảng 1/2 số tổng binh lực của Liên Xô tại tuyến 1 và tuyến 2 vùng biên giới phía Tây. Tại quân khu đặc biệt miền Tây và quân khu Pribaltic chỉ bố trí 49 sư đoàn bộ binh, 16 sư đoàn xe tăng, 8 sư đoàn cơ giới. Hai quân khu phải hứng chịu những đòn đột kích rất mạnh của 79 sư đoàn Đức (trong đó có 24 sư đoàn xe tăng). Do thua kém về binh lực và phương tiện, thua kém về chất lượng khí tài và thế bố trí, hai phương diện quân miền Tây và Tây Bắc đã bị vỡ trận một cách nhanh chóng. Do bị chia cắt bởi khu đầm lầy Pripiat ở phía Nam Belarus, việc điều động binh lực của phương diện quân Tây Nam để tăng viện cho Phương diện quân Tây không thể thực hiện nhanh chóng. Tới khi tập đoàn quân 16 của tướng M. F. Lukin và hai quân đoàn cơ giới 9 và 22 rút từ Phương diện quân Tây Nam đến được với phương diện quân Tây thì chiến sự đã ở trước cửa ngõ Smolensk. Theo đại tướng Zhukov, đây là một trong số những nguyên nhân làm cho Liên Xô thất bại trong thời kỳ đầu của cuộc chiến.
Sai lầm chiến lược thứ ba của Liên Xô là việc chậm rút các lực lượng chủ yếu của các phương diện quân Tây và Tây Nam ra khỏi các gọng kìm xe tăng của quân đội Đức. Trong các trận đánh từ phía Tây Minsk hồi tháng 6 đến các trận đánh trên tả ngạn sông Berezina hồi tháng 7, Phương diện quân Tây đã hai lần bị hợp vây và cả hai lần đều bị tổn thất rất nặng nề. Cộng vào sai lầm đó là sai lầm lớn cũng thuộc về Stalin khi vào đầu tháng 9 năm 1941, ông không cho phép rút các lực lượng cơ bản của Phương diện quân Tây Nam về tả ngạn sông Dnepr. Ông cũng không đủ can đảm để bỏ Kiev mặc dù đã được Bộ Tổng tham mưu xác định Phương diện quân Tây Nam có nguy cơ bị hợp vây bởi hai cánh quân Đức từ Konotop đánh xuống, từ Kremenchuk đánh lên và khuyến nghị ông nên cho rút quân. Thậm chí, ngay cả khi tham mưu trưởng Phương diện quân Tây Nam, thiếu tướng V. I. Tupikov gửi báo cáo số 15614 ngày 17 tháng 9 đề nghị rút quân ngay với dự báo: "Chỉ vài ngày nữa thôi, sẽ bắt đầu cái tai họa mà đồng chí đã hiểu" thì Stalin lại cho rằng đó là một báo cáo hoảng loạn và yêu cầu Phương diện quân phải thực hiện đến cùng nghĩa vụ của mình. Kết quả là 5 tập đoàn quân Liên Xô đã bị bao vây, tiêu diệt hoặc bị bắt và chỉ có không quá 1/4 quân số thoát vây.
Một sai lầm nữa cũng có tính chiến lược quân sự là sai lầm của Bộ Tổng tư lệnh tối cao cùng nguyên soái S. M. Budionny và trung tướng I. S. Koniev trong giai đoạn đầu của cuộc phòng thủ Moskva. Việc bố trí hai phương diện quân gần như nhập làm một trên tuyến phòng thủ phía Tây Moskva đã gây ra những rối loạn trong điều hành tác chiến, chỉ huy cấp trên không nắm được các đơn vị cấp dưới khi lâm trận. Đến khi quân Đức mở cuộc tấn công, các đơn vị này bị dồn vào khu vực Rzhev - Vyazma và nhanh chóng bị vây. Cơ quan quân báo của hai Phương diện quân này cũng không xác định được hướng tấn công chính của quân đội Đức để điều động binh lực và phương tiện đến đẩy lui đối phương, bịt các cửa đột phá do xe tăng Đức tạo ra. Sai lầm này chỉ được sửa chữa khi Zhukov từ Leningrad quay về nắm lại Phương diện quân Tây hợp nhất và trở thành tư lệnh phòng thủ Moskva trên thực tế.
Thất bại của Liên Xô trong giai đoạn đầu của chiến dịch còn có những nguyên nhân về tổ chức và con người. Việc đề bạt một loạt sĩ quan trẻ chưa qua trận mạc lên giữ các chức vụ cao đã làm giảm sức chiến đấu của quân đội, trước hết là do kinh nghiệm chỉ huy tác chiến còn quá mỏng. Ngay trước chiến tranh, khi tiến hành các biện pháp tổ chức lại quân đội, Bộ Tổng tham mưu quân đội Liên Xô đã phát hiện thấy sự thiếu hụt trầm trọng các cán bộ chỉ huy giỏi, có nhiều kinh nghiệm và đội ngũ chuyên gia tham mưu tác chiến binh chủng hợp thành. Ở các đơn vị, đội ngũ sĩ quan, hạ sĩ quan xe tăng, pháo binh, phi công và nhân viên kỹ thuật hàng không có tay nghề cao, chuyên môn giỏi cũng có số lượng rất ít. Trong khi chiến tranh đã cận kề thì người ta lại dự tính đến cuối năm 1941 mới khắc phục hết những thiếu sót này.
Cố gắng lớn nhất của Liên Xô vào giai đoạn cuối cùng của chiến dịch là đã chặn được đà tiến công của các cánh quân xe tăng Đức trước cửa ngõ Moskva bằng những lực lượng dự bị đủ mạnh và chiến thuật hợp lý. Các chỉ huy Quân đội Liên Xô đã biết rút quân đúng thời điểm trước các mũi đột kích bằng cơ giới của quân Đức để rồi dùng chính những lực lượng này tập kích vào hai bên sườn những đạo quân cơ giới của đối phương. Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô không chỉ xây dựng kịp thời các tập đoàn quân dự bị mà còn biết giữ gìn các đơn vị này. Họ không còn đưa những đơn vị lẻ tẻ ra mặt trận mà tập trung lực lượng và phương tiện thành những khối quân cơ động đột kích mạnh, đánh thẳng vào những đoạn tiếp giáp hiểm yếu giữa các đơn vị Đức Quốc xã. Chiến thuật cơ bản này về sau được phổ biến và trở thành giáo khoa kinh điển của Quân đội Liên Xô và nhiều nước khác. Một chiến thuật khác cũng được sáng tạo và áp dụng là "chiến thuật chống tăng tổng hợp". Không giống như giai đoạn đầu chiến dịch, các đơn vị xe tăng Liên Xô trong phòng thủ đã tránh những trận đấu tăng khi yếu thế và chọn cách đánh phối hợp chặt chẽ với pháo chống tăng, các tổ xung kích cảm tử diệt tăng và các bãi mìn được bố trí có trọng điểm. Do đó, các tập đoàn quân xe tăng Đức bị thiệt hại rất nặng trước các trận địa này. Phá huỷ thật nhiều xe tăng, xe bọc thép cũng có nghĩa là bẻ gãy mũi nhọn đột kích của các binh đoàn cơ giới Đức và cũng có nghĩa là đánh quỵ "xương sống" của chủ lực lục quân Đức.
Thành công của Liên Xô vào giai đoạn cuối của chiến dịch đã tạm thời tước được quyền chủ động chiến lược từ tay quân đội Đức Quốc xã. Mặc dù giữ việc Moskva có tầm quan trọng chiến lược, mất Moskva sẽ cực kỳ thất lợi và tai hại về chính trị - quân sự cho họ; mặc dù quyết tâm giữ Moskva của Zhukov cũng như quân đội Liên Xô rất cao nhưng Bộ Tổng tư lệnh Liên Xô vẫn chuẩn bị cho tình huống xấu nhất một cách tuyệt đối bí mật. Bộ Tổng tư lệnh Liên Xô đã hiểu được ý tưởng của Cố nguyên soái M. I. Kutuzov hồi năm 1812. Khi đó, Kutuzov đã đặt câu hỏi với Hoàng đế Nga là Aleksandr I về việc "nên đánh một trận cuối cùng rồi để mất cả quân đội lẫn Moskva hay giữ lấy quân đội để chiếm lại Moskva". Và Aleksandr I đã nghe theo vị nguyên soái già: giữ lấy quân đội. Cùng với việc kịp thời tổ chức lại các tập đoàn quân 5, 16, 43, 49 với phần đông quân số lấy từ lực lượng dự bị động viên; Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô đã bố trí một thê đội chiến lược lớn phía Đông Moskva trên tuyến Vytegra - Rybinsk - Gorky - Saratov - Stalingrad - Astrakhan theo Nghị quyết ngày 5 tháng 10 của Hội đồng Quốc phòng Nhà nước. Tại tuyến này đã thành lập cấp tốc 10 tập đoàn quân dự bị. Hầu như cả Liên Xô đã tập trung chăm lo cho quân đội của mình để chặn đứng quân đội Đức Quốc xã tại bất kỳ nơi nào có thể chặn được. Trong thời gian Moskva bị uy hiếp nghiêm trọng; để đảm bảo công tác chỉ huy trong tình huống xấu nhất, Bộ Tổng tham mưu Quân đội Liên Xô cũng được chia làm hai, một phần sơ tán về Saratov (căn cứ chỉ huy chiến lược dự bị). Nhóm tiền phương gồm 10 người ở lại Moskva. Hội đồng Quốc phòng Nhà nước Liên Xô cũng cho sơ tán một phần các cơ quan Đảng, Chính phủ; các đoàn ngoại giao, các cơ sở công nghiệp quốc phòng lớn, các cơ quan văn hoá, khoa học khỏi Thủ đô về phía Đông. Tuy nhiên, trường hợp xấu nhất đã không xảy ra. Đến tháng 2 năm 1942, khi quân Đức bại trận trước cửa ngõ Moskva và phải rút lui; các cơ quan đã sơ tán lại lần lượt trở lại Moskva.
Ảnh hưởng quốc tế sau chiến dịch.
Chiến thắng của Quân đội Liên Xô làm phá sản Kế hoạch Barbarossa có ảnh hưởng lớn đến mức làm rung động ngay cả những tướng lĩnh lão luyện của quân đội Đức Quốc xã và về sau này, nhiều người vẫn còn nhắc đến nó như một bài học sâu sắc. Được hỏi tại Tòa án Quốc tế Nuremberg rằng khi nào thì người Đức nhận ra sự thất bại của Kế hoạch Barbarossa, cựu Thống chế Wilhelm Keitel, Tổng tham mưu trưởng quân đội Đức Quốc xã trả lời ngay bằng một từ ngắn gọn: "Moskva". Tướng Tippelskirch đã phải thừa nhận: "Kết quả và quy mô chiến dịch phản công của Hồng quân lớn tới mức khiến chúng tôi bàng hoàng sửng sốt, và điều đó gần như là một thảm họa đối với nước Đức".
Những thất bại ở Moskva, ở Tikhvin, ở Rostov làm cho Adolf Hitler nổi điên. Ngày 30 tháng 11, ông ta chỉ thị cho Thống chế Gerd von Rundstedt phải ra lệnh cấm Tập đoàn quân xe tăng 1 rút lui. Một tuần sau, khi nhận được câu trả lời là không thể thực hiện lệnh đó, Hitler lập tức bay đến Sở chỉ huy Cụm tập đoàn quân Nam ở Poltava (Ukraina). Tại đây, những lời buộc tội của Hitler đối với Rundstedt về thất bại của quân Đức tại Rostov đã bị viên thống chế lão luyện này phản bác. Rundstedt cho rằng người ra lệnh thực hiện chiến dịch này phải chịu trách nhiệm về thất bại của nó. Nói cách khác, đó chính là Führer. Hitler nhảy bổ vào Rundstedt và giật chiếc huân chương chữ thập hiệp sĩ của viên thống chế ra khỏi cổ áo. Ngày 11 tháng 2, Hitler ký lệnh phế truất chức vụ Tổng tư lệnh lục quân Đức của thống chế Walther von Brauchitsch đồng thời tự phong cho mình chức vụ này. Ngoài ra, tư lệnh cụm Tập đoàn quân Trung tâm, thống chế Fedor von Bock; tư lệnh tập đoàn quân xe tăng 2, tướng Heinz Wilhelm Guderian; tư lệnh tập đoàn quân 17, tướng Carl-Heinrich von Stülpnagel cùng hàng chục tướng khác cũng bị Führer cách chức. Thống chế Günther von Kluge được chỉ định thay thống chế Fedor von Bock làm tư lệnh cụm Tập đoàn quân Trung tâm.
Sự kiện Quân đội Liên Xô đánh bại Quân đội Đức Quốc xã trước cửa ngõ Moskva, đánh dấu chấm hết cho Kế hoạch Barbarossa đã làm cho tình hình quốc tế có những thay đổi lớn. Không chờ đến khi Quân đội Đức bị đánh đuổi về phía Tây thêm hàng trăm km nữa; ngày 1 tháng 1 năm 1942, tuyên bố của 26 nước Liên minh chống phát xít đã được ký kết tại Washington. Sự hình thành liên minh này của các dân tộc có ý nghĩa toàn cầu rất to lớn. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, những quốc gia có chế độ chính trị khác nhau, thậm chí đối lập nhau đã liên minh với nhau nhằm một nhiệm vụ có tính thời đại lớn lao là cứu loài người khỏi hiểm họa phát xít. Đối với Nhật Bản, sự thất bại của Chiến dịch Barbarossa đã khẳng định những tin tức mà điệp viên Liên Xô Richard Sorge báo về Moskva là chính xác. Nhật Bản không bao giờ đặt lại vấn đề tấn công vùng Siberi của Liên Xô nữa. Nguy cơ Liên Xô phải tiến hành chiến tranh trên hai mặt trận đã bị đẩy lùi.
Sự thất bại của Kế hoạch Barbarossa trên chiến trường đã củng cố niềm tin đối với hai đồng minh lớn của Liên Xô là Anh và Mỹ. Thủ tướng Anh Winston Churchill thừa nhận: "Sự nghiệp của người Nga đang chiến đấu bảo vệ tổ quốc của họ cũng là sự nghiệp của những con người tự do và những dân tộc tự do trên toàn thế giới". Sau trận Moskva, nhân loại tiến bộ hiểu rằng, việc đánh bại nước Đức phát xít không phải là không có khả năng thực tế.
|
Bài lịch sử Iraq gồm một khái quát chung từ thời tiền sử cho tới hiện tại ở vùng hiện nay là đất nước Iraq tại vùng đất Lưỡng Hà. Xem thêm Biên niên sử phương đông cổ đại, Lịch sử Trung Đông, và Lịch sử Lưỡng Hà.
Người Neanderthal đã sống ở Iraq từ khoảng 60.000 năm trước; Những di tích còn lại của người Neanderthal đã được tìm thấy tại hang Shanidar.
Trong đa số thời gian lịch sử, vùng đất hiện là Iraq hiện đại hầu như tương đương với vùng Lưỡng Hà. Đồng bằng Lưỡng Hà nằm giữa hai con sông Tigris và Euphrates (trong tiếng Ả Rập, là Dijla và Furat), là một phần của Vùng đất màu mỡ hình trăng lưỡi liềm. Nhiều triều đại và đế chế đã cai trị vùng Lưỡng Hà như Sumer, Akkad, Assyria và Babylon.
Nền văn hóa Sumer đã phát triển rực rỡ tại Lưỡng Hà từ khoảng năm 3000 TCN. Cuộc sống văn minh xuất hiện tại Sumer được định hình bởi hai yếu tố đối lập: sự bất thường của hai con sông Tigris và Euphrates, vào bất kỳ lúc nào cũng có thể gây ra những trận lũ lụt lớn quét sạch toàn bộ dân cư, và sự màu mỡ đặc biệt của hai vùng châu thổ, do phù sa lắng đọng hàng thế kỷ của hai con sông mang lại.
Cuối cùng, người Sumer phải chiến đấu với các dân tộc khác. Một số cuộc chiến tranh đầu tiên là với người Elam sống ở vùng hiện nay là phía tây Iran. Từ đó vùng biên giới này luôn xảy ra các cuộc xung đột; đó có lẽ là vùng biên giới hay xảy ra chiến tranh nhất trên thế giới. Sự thống trị của người Sumer bị người Akkadian, di cư tới từ Bán đảo Ả Rập đe doạ. Người Akkadian là dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Semit, họ sử dụng một thứ ngôn ngữ có nguồn gốc từ những hệ ngôn ngữ được gọi là các ngôn ngữ Semit.
Năm 2340 TCN, vị lãnh đạo vĩ đại của người Akkadian là Sargon chinh phục Sumer và lập ra Đế chế Akkadian bao phủ hầu như toàn bộ các thành bang của người Sumer và kéo dài đến tận Li Băng. Sargon đặt thủ đô của đế chế tại thành phố Akkad, và đây chính là cơ sở nguồn gốc tên của dân tộc ông.
Đế chế đầy tham vọng của Sargon chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn trong lịch sử lâu dài của Lưỡng Hà. Năm 2125 TCN, thành phố Ur của người Sumer ở phía nam Lưỡng Hà nổi dậy kháng chiến, đế chế Akkadian sụp đổ trước sự hồi sinh của các thành bang Sumer.
Những nền văn minh hậu Sumer.
Sau sự sụp đổ của nền văn minh Sumer, năm 1700 TCN người dân ở đó lại được tái thống nhất bởi Vua Hammurabi xứ Babylon (1792-1750 TCN), đất nước lại hồi sinh và phát triển với cái tên Babylonia. Vùng cai trị của Babylonia gồm những diện tích to lớn bao phủ hầu hết châu thổ sông Tigris-Euphrates từ Sumer và Vịnh Péc xích. Ông mở rộng đế chế của mình lên phía bắc qua châu thổ sông Tigris và Euphrates và về phía tây tới bờ Biển Địa Trung Hải. Sau khi củng cố lại quyền lực trung ương tại Babylon, ông dành tâm sức vào việc bảo vệ các biên giới và nuôi dưỡng sự thịnh vượng bên trong của Đế chế. Dù sao, triều đại của Hammurabi cũng được coi là Triều đại đầu tiên của Babylon, cai trị trong khoảng 200 năm, đến tận năm 1530 TCN. Ở thời này, Babylonia bước vào một giai đoạn phát triển đặc biệt rực rỡ và hòa bình.
Tuy nhiên, sau khi Hammurabi qua đời, một bộ tộc được gọi là Kassites bắt đầu tấn công Babylonia ngay từ khi con trai của Hammurabi bắt đầu cai trị đế chế. Trong nhiều thế kỷ, Babylonia bị những người Kassites làm cho suy yếu. Cuối cùng, khoảng năm 1530 TCN (một số nguồn cho rằng năm 1570 hay 1595 TCN), Triều đại Kassite được lập ra ở Babylonia.
Mitanni, một văn hóa khác, trong thời gian ấy cũng xây dựng lên đế chế mạnh mẽ của riêng mình. Họ chỉ chiếm được vai trò quan trọng trong thời gian ngắn—họ từng rất mạnh, nhưng chỉ trong vòng khoảng 150 năm. Dù vậy, Mitanni là một trong những đế chế chính ở vùng này trong giai đoạn lịch sử đó, và họ hầu như kiểm soát toàn bộ và chinh phục được người Assyria (những người sống ở phía đông Mitanni và phía tây bắc Kassite Babylonia). Vào thế kỉ thứ 15 TCN, quốc gia này phải đối chọi với những cuộc chinh phạt của quân đội Ai Cập.
Sau khi người Assyrian thoát được ách đô hộ của Mitanni, họ trở thành quyền lực tiếp theo ở vùng Lưỡng Hà. Sau khi đánh bại và sáp nhập Mitanni, người Assyrian, thách thức Babylonia. Họ làm Babylonia trở nên suy yếu tới mức Triều đại Kassite đánh mất quyền lực; người Assyrian hiển nhiên chiếm quyền kiểm soát Babylonia, tới khi các cuộc nổi dậy lại hạ bệ họ và lập ra một triều đại mới, được gọi là Triều đại thứ hai của Isin. Nebuchadrezzar I (Nabu-kudurri-usur; kh. 1119 TCN-kh. 1098 TCN) là vị vua nổi tiếng nhất của triều đại này.
Nebuchadnezzar đã chứng tỏ ông là một người cai trị tốt, và cuối cùng tấn công Assyria.
Cuối cùng, trong những năm 800s TCN, một trong những bộ tộc mạnh nhất bên ngoài Babylon, người Chaldea (từ Latin là Chaldaeus, Hy Lạp là Khaldaios, Assyri là Kaldu), chiếm ưu thế. Người Chaldea lên nắm quyền lực ở Babylonia và bằng cách ấy, dường như tăng cường sự ổn định và sức mạnh cho Babylonia. Họ dẹp yên nhiều cuộc nổi loạn và những kẻ tấn công từ bên ngoài. Ảnh hưởng của người Chaldea mạnh tới mức, trong giai đoạn này Babylonia bắt đầu được gọi là Chaldea.
Năm 626 TCN, Chaldea giúp Nabo-Polassar lên nắm quyền ở Babylonia. Lúc ấy Assyria đang phải chịu nhiều sức ép từ phía một bộ tộc Iran, người Medes (từ Media). Nabo-Polassar liên minh Babylonia với người Medes. Assyria không thể chịu thêm áp lực này, và vào năm 612 TCN, Nineveh, thủ đô của Assyria, sụp đổ. Toàn bộ thành phố, từng một thời là thủ đô của đế chế vĩ đại, bị đốt cháy và cướp bóc.
Nebuchadrezzar II xứ Babylon.
Sau đó, Nebuchadrezzar II (con trai của Nabopolassar) thừa kế đế chế Babylonia. Ông thu thập thêm được một ít lãnh thổ cho Babylonia và xây dựng lại Babylon, vẫn là thủ đô của Babylonia.
Trong thế kỷ thứ 6 TCN (586 TCN), Nebuchadrezzar II chinh phục Judea (Judah), phá huỷ Jerusalem; Đền Solomon cũng bị phá huỷ; Nebuchadrezzar II mang đi khoảng 15.000 tù nhân và trục xuất hầu hết dân cư ở đó tới Babylonia. Nebuchadrezzar (604-562 TCN) được cho là người đã xây dựng nên Vườn treo Babylon huyền thoại, một trong Bảy kỳ quan thế giới.
Sự thống trị của Ba Tư; 550 TCN tới 652 SCN.
Nhiều kẻ xâm lược đã chinh phục vùng đất này sau khi Nebuchadrezzar chết, gồm Cyrus đại đế năm 539 TCN và Alexander đại đế năm 331 TCN, ông đã chết ở đây năm 323 TCN. Babylon suy tàn sau khi Seleucia tại Tigris, thủ đô mới của Đế chế Seleucid được thành lập. Trong thế kỷ thứ 6 TCN, nó trở thành một phần của Đế chế Ba Tư, sau đó bị Alexander đại đế chinh phục và tiếp tục nằm dưới quyền cai trị của Hy Lạp dưới triều Seleucid trong gần hai thế kỷ. Sau đó, một bộ lạc vùng Trung Á thuộc dân tộc Iran tên là Parthi sáp nhập vùng này, tiếp sau nó lại bị người Sassanid Ba Tư cai quản đến tận thế kỷ thứ 7, Khi người Ả Rập Hồi giáo chiếm đóng.
Năm 600, Iraq là một tỉnh của Đế chế Iran được gọi là tỉnh khvarvaran, Iraq đã thuộc tỉnh này từ thời Cyrus đại đế. Hệ thống tưới tiêu nông nghiệp chằng chịt của vùng hạ Tigris và Euphrates và tiền nộp cống của các dân tộc như Diyala và Karun là nguồn tài nguyên cơ bản của triều đại Sassanid.
Thuật ngữ "Iraq" trong tiếng Ả Rập, là một từ có nguồn gốc ở từ "Ērāk" trong tiếng Ba Tư có nghĩa là "hạ Iran" lúc ấy vẫn chưa được sử dụng; vào giữa thế kỷ thứ 6, Đế chế Iran đang ở triều đại Sassanid và được hoàng đế Khosrow I chia ra thành bốn vùng, trong đó vùng phía tây được gọi là "Khvārvarān", gồm đa phần Iraq hiện nay và lại được chia tiếp thành các tỉnh nhỏ hơn như "Mishān", "Asuristān", "Ādiābene" và Hạ Media. Thuật ngữ Iraq được sử dụng rộng rãi trong tiếng Ả Rập thời trung cổ để chỉ vùng trung tâm và phía nam nước cộng hòa ngay nay về mặt địa lý chứ không phải là thuật ngữ chính trị, không hề vẽ ra các biên giới chính xác.
Vùng Iraq ngày nay phí bắc Tikrit ở thời Hồi giáo được gọi là Al-Jazirah, có nghĩa là "Hòn Đảo" và để chỉ "hòn đảo" nằm giữa sông Tigris và Euphrates. Về phía nam và tây là xa mạc Ả Rập, nơi sinh sống của phần lớn các bộ lạc Ả Rập, những người thỉnh thoảng lại công nhận quyền chúa tể của các vị Hoàng đế Sasanian.
Tới năm 602 biên giới xa mạc của Iran đã được các vị vua Al-Hirah xứ Lakhmid coi giữ, những vị vua này là người Ả Rập nhưng cai trị một quốc gia ở vùng đệm. Cùng năm đó Shahanshah (hoàng đế Ba Tư) Khosrow II Aparviz vội vàng hủy bỏ vương quốc Lakhmid khiến cho biên giới đất nước bị bỏ ngỏ trước những bộ lạc du mục ưa chiến tranh. Xa hơn về phía bắc, quận phía tây giáp với biên giới Đế chế Byzantine. Biên giới này dù nhiều dù ít vẫn được Syria và Iraq coi là biên giới hiện đại của mình và tiếp tục chạy xa về phía bắc tới Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay, để Nisibis (Nusaybin hiện đại) làm pháo đài bảo vệ biên giới Sasanian trong khi người Byzantines chiếm Dara và Amida (Diyarbakir hiện nay) ở gần đó.
Khác biệt dân tộc và tôn giáo.
Dân cư ở đó rất đa dạng. Quý tộc và quan lại hành chính người Ba Tư thuộc tầng lớp trên, nhưng đa phần dân cư là những người Ba Tư thuộc tầng lớp giữa những người theo Đạo thờ lửa và phần còn lại là những người nông dân nói tiếng Aramaic. Có một số ít người Tāzis (Ả Rập), đa số họ sống bằng chăn nuôi gia súc dọc theo các biên giới phía tây của những vùng định cư, nhưng một số là dân thành thị, đặc biệt tại Hireh (al-Hira). Ngoài ra, còn có một nhóm khác là người Kurds, họ sống dọc theo các đồi thấp dưới chân núi Zagros, và đáng ngạc nhiên là cả một số lượng khá lớn người Hy Lạp, đa số là các tù binh đã bị bắt giữ trong nhiều chiến dịch quân sự của người Sasania vào bên trong Byzantine Syria.
Sự khác biệt chủng tộc được thể hiện bởi tính đa tôn giáo. Tôn giáo quốc gia của Sassanid, Đạo thờ lửa, bị người Iran ngăn cấm. Phần còn lại của dân cư, đặc biệt ở phía bắc đất nước, có thể là người theo Thiên chúa giáo. Các tôn giáo đó bị chia rẽ sâu sắc vì những khác biệt về học thuyết của Monophysites, so với nhà thờ Jacobite của Syria, và Nestorians.
Nestorians, ban đầu cải đạo từ Đạo thờ lửa, Mani giáo và Mazdakism, là tôn giáo phát triển rộng nhất và được các vị Hoàng đế Sasanian cho phép hành đạo bởi vì tôn giáo này chống lại Thiên chúa giáo của Đế chế Roma, Thiên chúa giáo coi Nestorians là dị giáo. Nhiều người Iran theo Nestorians bị trục xuất tới các tỉnh phía nam, nằm ở nam Vịnh Péc xích, như Mishmāhig (Bahrain và UAE hiện nay), Garrhae (bờ biển Vịnh Péc xích của Ả Rập Saudi hiện nay). Monophysites bị nghi ngại nhiều hơn và thỉnh thoảng bị ngược đãi, nhưng cả hai tôn giáo vẫn giữ được một hệ thống cấp bậc của mình và Nestorians có một trung tâm tri thức quan trọng tại Nisibis. Vùng bao quanh thành phố Babylon cổ lúc ấy có một lượng lớn dân cư là người Do Thái, họ vừa là con cháu của những người đã bị trục xuất từ thời Kinh Cựu Ước vừa là những người địa phương cải đạo. Hơn nữa, ở phần phía nam đất nước có nhiều người Babylon không theo đạo nào cả, cũng như người Mandaeans và Gnostics.
Đầu thế kỷ thứ 7, sự ổn định và thịnh vương của xã hội đa văn hoá này bị đe doạ từ hiểm hoạ xâm lăng bên ngoài. Năm 602 Khosrow II Aparviz tung ra cuộc tấn công lớn cuối cùng của người Iran vào Đế chế Byzantine. Lúc đầu ông giành thắng lợi; Syria và Ai Cập sụp đổ, và chính Constantinopolis cũng bị đe doạ. Sau này gió đã đổi chiều, năm 627-628 người Byzantines, dưới sự lãnh đạo của Heraclius, chiếm tỉnh Khvārvarān và cướp bóc thủ đô đế chế tại Tyspawn (Ctesiphon). Những kẻ xâm lược không ở lại, nhưng Khosrow đã bị mất uy tín, bị phế truất và bị hành quyết.
Tiếp theo là giai đoạn chiến tranh giữa các vị tướng và các thành viên gia đình hoàng gia khiến đất nước không thuộc quyền lãnh đạo rõ ràng của một phe phái nào cả. Sự hỗn loạn cũng đe doạ tới hệ thống tưới tiêu, và có lẽ ở thời điểm này nhiều vùng rộng lớn phía nam đất nước đã biến trở lại thành đầm lầy, như trước kia. Những kẻ chinh phục Hồi giáo đầu tiên đã tiếp xúc với đế chế chính tại vùng đất bị tàn phá này.
Cuộc chinh phục của người Ả Rập và giai đoạn đầu thời kỳ Hồi giáo.
Cuộc xung đột có tổ chức đầu tiên giữa những bộ tộc người Bedouin Ả Rập và các lực lượng Iran dường như đã diễn ra năm 634, khi người Ả Rập bị đánh bại trong Trận đánh của cây cầu (Battle of the Bridge). Một lực lượng với khoảng 5000 người Hồi giáo dưới sự chỉ huy của Abū `Ubayd ath-Thaqafī, bị quân Iran đánh tan. Khoảng năm 636, một lực lượng Hồi giáo Ả Rập lớn hơn dưới sự chỉ huy của Sa`d ibn Abī Waqqās đánh bại quân đội Iran tại Trận al-Qādisiyyah và tiến tới cướp bóc thủ đô Đế chế Iran là Ctesiphon. Tới cuối năm 638, người Hồi giáo đã chinh phục hầu như toàn bộ các tỉnh phía tây Iran (Iraq hiện nay), và vị Hoàng đế Sassanid cuối cùng, Yazdegerd III, đã phải bỏ chạy tới vùng trung tâm sau đó tới phía bắc Iran, nơi ông bị giết năm 651.
Cuộc chinh phục của người Hồi giáo dẫn tới cuộc di cư ồ ạt của người Ả Rập từ phía đông Ả Rập và Mazun (Oman) tới Khvarvārān. Những kẻ mới đến đó không sống phân tán ra khắp nước mà họ lập ra hai thành phố đồn trú mới tại al-Kūfah, gần Babylon cổ đại, và tại Basrah ở phía nam.
Ý định của họ là người Hồi giáo phải là một cộng đồng chiến binh tách biệt và gia đình họ sẽ sống nhờ vào tiền thuế do dân địa phương cúng nộp. Ở phía bắc miền Đông bắc Iran, Mosul bắt đầu nổi lên trở thành thành phố quan trọng nhất và là cơ sở căn bản của một địa điểm đồn trú Hồi giáo, nơi trú ngụ của một vị thống đốc Hồi giáo. Ngoài những tầng lớp trên người Iran và những thầy tu Đạo thờ lửa, là những người không chịu cải sang Hồi giáo và do đó đã mất mạng sống cũng như tài sản, đa số người Iran trở thành người Hồi giáo và được cho phép giữ lại tài sản của mình.
Khvarvārān, lúc ấy trở thành một tỉnh Hồi giáo, được gọi là `Irāq.
Cuộc chinh phục của Thổ Nhĩ Kỳ.
Ở thời gian cuối thế kỷ 14 và đầu thế kỷ 15, người Black Sheep Turkmen cai trị vùng hiện nay là Iraq. Năm 1466, người White Sheep Turkmen đánh bại Black Sheep và chiếm quyền kiểm soát. Sau đó, đa phần Iraq trở thành một vùng thuộc Đế chế Safavid đã nổi lên ở Iran từ năm 1501.
Trong thế kỷ 16 Iraq trở thành một phần của Đế chế Ottoman, dù Đế chế Safavid tạm thời thu hồi loại được phần lớn đất đai Iraq trong nửa đầu thế kỷ 17.
Lịch sử hiện đại.
Thời cai trị của Ottoman trên toàn bộ lãnh thổ Iraq kéo dài tới tận Chiến tranh thế giới thứ nhất khi Ottoman đứng về phía Đức và Liên minh trung tâm. Các lực lượng Anh xâm chiếm nước này và thua một trận lớn trước quân đội Thổ Nhĩ Kỳ trong cuộc Phong toả Kut (1915–16). Các lực lượng Anh được tái lập lại và Chiếm Baghdad năm 1917. Một thỏa hiệp đình chiến được ký năm 1918.
Iraq được người Pháp và Anh tách ra khỏi Đế chế Ottoman theo Hiệp ước Sykes-Picot. Ngày 11 tháng 11 1920 nó trở thành một quốc gia thuộc Liên đoàn các quốc gia ủy trị dưới quyền kiểm soát của Anh với cái tên "Quốc gia Iraq".
Chính phủ Anh sắp đặt khung chính trị và thể chế cho chính phủ Iraq. Anh Quốc áp đặt một chế độ quân chủ Hāshimite lên Iraq và xác định các biên giới lãnh thổ của Iraq mà không cần biết đến nguyện vọng của các dân tộc và các nhóm tôn giáo khác nhau trong nước, đặc biệt là người Kurd ở phía bắc. Anh Quốc phải đàn áp một cuộc nổi dậy lớn chống lại các chính sách của họ giữa nổ ra năm 1920 và 1922. Trong thời của cuộc nổi dậy này, người Anh đã dùng khí độc và các cuộc tấn công không quân vào các làng Iraq .
Trong giai đoạn ủy trị và tiếp sau đó, người Anh ủng hộ quyền lãnh đạo truyền thống của người Sunni (như bộ lạc "shaykh"s) chứ không phải cho phong trào quốc gia đang phát triển ở thành thị. Đạo luật giải quyết đất đai trao cho bộ lạc shaykhs quyền đăng ký các vùng đất chung của bộ lạc dưới tên riêng của họ. Quy định giải quyết tranh chấp bộ lạc trao cho họ những quyền pháp lý, trong khi Luật về quyền của nông dân và Đạo luật trách nhiệm năm 1933 hạn chế rất nhiều quyền của người nông dân, cấm họ được rời bỏ đất đai trừ khi đã thanh toán sòng phẳng toàn bộ nợ nần với chủ đất. Năm 1941, người Anh lại viện đến sức mạnh quân sự khi những quyền lợi của họ bị đe dọa sau Cuộc đảo chính của Rashīd `Alī al-Gaylānī. Cuộc đảo chính này dẫn tới một Cuộc xâm chiếm Iraq của người Anh sử dụng các lực lượng Quân đội Anh Ấn và quân Lê dương Ả Rập từ Jordan.
Emir Faisal, nhà lãnh đạo cuộc nổi dậy của người Ả Rập chống lại vị vua Hồi giáo Ottoman trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, và là thành viên dòng dõi Sunni Hashimite từ Mecca, đã trở thành vị vua đầu tiên của quốc gia mới. Ông chiếm được ngôi một phần nhờ ảnh hưởng của T.E. Lawrence. Mặc dù chế độ quân chủ được hợp pháp hóa và được tuyên bố làm Vua bởi một cuộc trưng cầu dân ý năm 1921, nền độc lập thực sự chỉ bắt đầu khi chế độ ủy trị của người Anh chính thức kết thúc 1932.
Năm 1927, những giếng dầu vĩ đại được phát hiện gần Kirkuk mang lại sự cải thiện kinh tế. Những quyền khai thác được trao cho Công ty dầu mỏ Iraq, mặc dù có tên như vậy, nó là một công ty dầu của Anh.
Vua Faisal I được con trai là Ghazi nối ngôi vào tháng 12 năm 1933. Giai đoạn cai trị của Ghazi kéo dài năm năm rưỡi. Ông tuyên bố chủ quyền của Iraq đối với Kuwait. Vốn là một người ưa tốc độ, nhà vua đã lái xe lao vào một cái cột đèn và chết ngày 3 tháng 4 năm 1939. Con trai ông Faisal tiếp tục kế vị ngai vàng.
Vua Faisal II (1935 – 1958) là con trai duy nhất của Vua Ghazi I và Nữ hoàng `Aliyah. Vị vua mới mới chỉ bốn tuổi khi vua cha qua đời. Chú ông là 'Abd al-Ilah trở thành người nhiếp chính (tháng 4 năm 1939 – tháng 5 năm 1953).
Năm 1945, Iraq gia nhập Liên hiệp quốc và trở thành thành viên sáng lập của Liên đoàn Ả Rập. Cùng lúc đó, lãnh đạo người Kurd là Mustafā Barzānī tổ chức một cuộc nổi loạn chống lại chính phủ trung ương ở Baghdad. Sau khi cuộc nổi loạn thất bại, Barzānī và những người trung thành chạy trốn tới Liên bang xô viết.
Năm 1948, và năm nước Ả Rập khác tiến hành một cuộc chiến tranh chống lại nhà nước mới thành lập là Israel. Cuộc chiến tranh kéo dài đến tận tháng 5 năm 1949 khi một thỏa thuận ngừng bắn được ký kết, nhưng Iraq không tham gia vào đó. Chi phí cho cuộc chiến gây ảnh hưởng xấu tới kinh tế Iraq. Chính phủ phải chi 40% ngân sách cho quân đội và cho những người tị nạn Palestin. Những khoản thu từ dầu khí của chính phủ bị giảm một nửa khi đường ống dẫn dầu tới Haifa bị cắt. Cuộc chiến và việc treo cổ nhiều thương gia Do Thái dẫn tới sự ra đi của hầu hết cộng đồng người Do Thái tại Iraq. Người Do Thái đã sống ở Lưỡng Hà trong ít nhất 2.500 năm.
Iraq ký hiệp ước Baghdad năm 1956. Hiệp ước này liên minh Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Pakistan, Hoa Kỳ và Anh Quốc. trụ sở hiệp ước đặt tại Baghdad. Khối hiệp ước gây ra một sự thách thức trực tiếp tới tổng thống Ai Cập Gamal Abdal Nasser. Để trả đũa, Nasser tung ra một chiến dịch tuyên truyền phản bác tính hợp pháp của chế độ quân chủ tại Iraq.
Tháng 2, 1958, Vua Hussein của Jordan và `Abd al-Ilāh đề xuất một liên hiệp các chế độ quân chủ Hāshimite để chống lại liên hiện mới được thành lập giữa Ai Cập và Syri. Thủ tướng Nuri as-Said muốn rằng Kuwait phải là một phần của liên hiệp Ả Rập-Hāshimite đó. Shaykh `Abd-Allāh as-Salīm, người cai trị Kuwait được mời tới Baghdad để đàm phán về tương lai Kuwait. Chính sách này khiến chính phủ Iraq rơi vào cuộc xung đột trực tiếp với Anh, vốn không muốn trao lại độc lập cho Kuwait. Lúc ấy, chế độ quân chủ Iraq hoàn toàn bị cô lập. Nuri as-Said chỉ có thể giải quyết sự bất mãn ngày càng dâng cao bằng cách đàn áp chính trị.
Xem thêm Danh sách các vị vua Iraq.
Được Nasser xúi giục, các sĩ quan thuộc Đội quân số mười chín được gọi là "Các sĩ quan tự do", dưới sự lãnh đạo của thiếu tướng Abdul-Karim Qassem (được gọi là "az-Zaīm", 'nhà lãnh đạo') và Đại tá Abdul Salam Arif lật đổ chế độ quân chủ Hashimite ngày 14 tháng 7 năm 1958. Vua Faisal II và `Abd al-Ilāh bị hành quyết trong vườn Cung điện ar-Rihāb. Xác họ (và xác nhiều người khác là thành viên gia đình hoàng gia) được đem ra trưng bày trước công chúng. Nuri as-Said chỉ trốn được một ngày, sau khi cố gắng cải trang thành một phụ nữ che mặt để tẩu thoát không thành, ông bị bắt và bị xử bắn.
Chính phủ mới tuyên bố Iraq là một nước cộng hoà và từ chối sáng kiến thành lập liên hiệp với Jordan. Các hoạt động của Iraq với tư cách là một thành viên thuộc Hiệp ước Baghdād bị ngừng lại.
Khi Qāsim tự cô lập mình khỏi `Abd an-Nāsir, ông phải đối mặt với sự phản đối ngày càng tăng từ phía các sĩ quan ủng hộ Ai Cập trong quân đội Iraq. `Arif, người muốn có những quan hệ gần gũi hơn với Ai Cập, đã bị tước bỏ chức vụ sau một phiên tòa và bị tống vào tù.
Khi đơn vị đồn trú ở Mosul nổi dậy chống lại các chính sách của Qāsim, ông đã cho phép lãnh đạo người Kurd là Barzānī về nước để giúp tiêu diệt những kẻ nổi loạn ủng hộ Nāsir.
Năm 1961, Kuwait giành lại độc lập từ tay người Anh và Iraq tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Kuwait. Anh Quốc phản ứng mạnh mẽ với tuyên bố đó của Iraq và gửi quân đội tới Kuwait nhằm ngăn chặn Iraq. Qāsim buộc phải rút lui và vào tháng 12, 1963, Iraq công nhận chủ quyền của Kuwait.
Một giai đoạn khá bất ổn diễn ra sau đó. Qāsim bị ám sát tháng 2, 1963, khi Đảng Ba'ath chiếm quyền lực dưới sự lãnh đạo của Tướng Ahmed Hasan al-Bakr (thủ tướng) và Đại tá Abdul Salam Arif (tổng thống). Chín tháng sau `Abd as-Salam Muhammad `Arif lãnh đạo một cuộc đảo chính thành công chống lại chính phủ của đảng Ba`th government. Ngày 13 tháng 4 năm 1966, Tổng thống Abdul Salam Arif chết trong một vụ rơi máy bay trực thăng và được em trai là Tướng Abdul Rahman Arif kế nhiệm. Sau cuộc Chiến tranh sáu ngày năm 1967, Đảng Ba'ath đã cảm thấy đủ sức mạnh để tái chiếm quyền (17 tháng 7 năm 1968). Ahmad Hasan al-Bakr trở thành tổng thống và chủ tịch Hội đồng chỉ huy cách mạng (RCC).
Barzānī và người Kurds vốn đã bắt đầu nổi dậy từ năm 1961 và tới năm 1969 vẫn gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng. Tổng thư ký đảng Ba`th Saddam Hussein được trao trách nhiệm tìm ra một giải pháp. Rõ ràng rằng không thể đánh bại được người Kurd bằng các phương tiện quân sự và vào năm 1970 một thỏa thuận chính trị được phe nổi dậy và chính phủ Iraq ký kết.
Kinh tế Iraq phục hồi nhanh chóng sau cuộc cách mạng năm 1968. Anh em nhà Arif đã chi tiêu tới gần 90% ngân sách quốc gia cho quân đội nhưng chính phủ Ba'ath đặt ưu tiên cho nông nghiệp và công nghiệp. Độc quyền khai thác của Công ty dầu khí Iraq của Anh bị phá vỡ khi một hợp đồng mới được ký kết với ERAP, một công ty dầu khí Pháp. Sau này IPC được quốc hữu hoá. Nhờ các chính sách đó, Iraq trải qua một thời kỳ phát triển kinh tế nhanh chóng.
Trong thập kỷ 1970, những tranh chấp biên giới với Iran và Kuwait gây ra nhiều vấn đề. Việc Kuwait từ chối cho phép Iraq xây dựng một cảng tại vùng châu thổ Shatt al-Arab càng làm Iraq tin rằng những quyền lực bảo thủ trong vùng đang tìm cách nắm quyền kiểm soát Vịnh Péc xích. Việc Iran chiếm nhiều hòn đảo tại Eo biển Hormuz không làm thay đổi những lo ngại của Iraq. Những tranh chấp lãnh thổ giữa Iraq và Iran được giải quyết tạm thời với việc ký kết Hiệp định Algiers ngày 6 tháng 3 năm 1975.
Năm 1972 một đoàn đại biểu Iraq tới thăm Moskva. Cùng năm đó các quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ cũng được nối lại. Các quan hệ với Jordan và Syria cũng rất tốt. Quân đội Iraq đóng quân ở cả hai nước đó. Trong Cuộc chiến tháng 10 năm 1973, các sư đoàn Iraq đã chiến đấu với các lực lượng Israel.
Nhìn lại, thập kỷ 1970 có thể coi là một thời điểm phát triển cao của Iraq trong lịch sử hiện đại. Một tầng lớp kỹ trị mới, trẻ và sáng suốt điều hành đất nước và kinh tế phát triển nhanh mang lại sự thịnh vượng và ổn định. Nhiều nước Ả Rập coi Iraq là một ví dụ về phát triển. Tuy nhiên, những thập kỷ sau lại không được như vậy.
Thời Saddam Tháng 7, 1979, Bakr từ chức, Saddam Hussein người được ông lựa chọn để kế thừa quyền lực đã thâu tóm cả chức Tổng thống và Chủ tịch Hội đồng chỉ huy cách mạng. Trên thực tế Saddam Hussein đã là người lãnh đạo đất nước từ vài nằm trước khi chính thức nắm quyền..
Những tranh chấp lãnh thổ với Iran đã dẫn tới cuộc chiến tranh dài tám năm, "Chiến tranh Iran-Iraq" (1980 – 1988 không phân thắng bại gây tổn hại lớn cho cả hai bên, cuộc chiến này thường đươợcgọi là "Qādisiyyat-Saddām". Iraq tuyên bố chiến thắng năm 1988 nhưng trên thực tế đã phải lui quân về biên giới trước chiến tranh ("status quo ante bellum"). Cuộc chiến khiến cho Iraq có được một tổ chức quân sự lớn nhất trong vùng Vịnh Péc xích nhưng đi kèm theo nó là những khoản nợ lớn và cuộc nổi dậy của những người Kurd ở vùng núi phía bắc. Theo điều được khẳng định, chính phủ, đã đàn áp cuộc nổi dậy này bằng cách sử dụng vũ khí hóa học chống lại dân thường.
Một cuộc tấn công trên diện rộng bằng vũ khí hóa học vào thành phố Halabja vào tháng 3 năm 1988 trong cuộc chiến Iran-Iraq thường được cho là do chế độ Saddam gây ra, dù việc ai là người chịu trách nhiệm về vụ này vẫn còn đang bị tranh cãi. (Saddam giữ mình không bị liên lụy vào vụ này.) Dù hầu hết những quan điểm về vụ này đều coi chính quyền Iraq là bên có trách nhiệm liên quan tới vụ tấn công hơi độc (chống lại Iran), và sự kiện này đã trở thành hình tượng khi miêu tả sự tàn bạo của Saddam. Những ước tính về thương vong vào khoảng từ vài trăm cho đến ít nhất 7.000 người. Chính phủ Iraq tiếp tục được ủng hộ rộng rãi từ cộng đồng quốc tế gồm cả nhiều nước phương tây, Liên Xô, và Trung Quốc, và họ tiếp tục gửi vũ khí tới cho Iraq để chiến đấu với Iran. Quả thực, những chuyến tàu từ Mỹ (dù với số lượng nhỏ) đã tăng sau sự kiện đó, và Anh Quốc đã trao cấp 400 triệu bảng tín dụng thương mại cho Iraq chỉ mười ngày sau khi lên án vụ thảm sát .
Cuối thập kỷ 1970, Iraq mua một lò phản ứng hạt nhân của pháp, đặt tên là Osirak hay Tammuz 1. Việc xây dựng bắt đầu từ năm 1979. Năm 1980 lò phản ứng bị hư hại nhẹ sau một cuộc tấn công của không quân Iran, năm 1981, trước khi lò phản ứng được hoàn thành, nó bị không quân Israel phá hủy (xem Chiến dịch Opera), đẩy lùi chương trình hạt nhân của Iraq lại một khoảng thời gian lớn.
Xâm chiếm Kuwait và Chiến tranh vùng Vịnh.
Một tranh chấp lãnh thổ trong thời gian dài đã dẫn tới việc Iraq xâm chiếm Kuwait năm 1990. Iraq buộc tội Kuwait xâm phạm biên giới Iraq để bảo vệ các nguồn tài nguyên dầu mỏ, và yêu cầu huỷ bỏ việc trả nợ của họ. Những cuộc thương lượng trực tiếp nhanh chóng thất bại. Saddam Hussein có một cuộc gặp khẩn với April Glaspie, Đại sứ Hoa Kỳ tại Iraq, ngày 25 tháng 7 năm 1990, bộc lộ những lo ngại của mình nhưng vẫn thể hiện ý muốn tiếp tục đàm phán. April Glaspie thông báo cho Saddām rằng Hoa Kỳ không quan tâm tới những tranh chấp biên giới giữa Iraq và Kuwait.
Những nhà hoà giải Ả Rập thuyết phục Iraq và Kuwait thương lượng với nhau tại Jiddah, Ả Rập Saudi, ngày 1 tháng 8 năm 1990, nhưng lần gặp gỡ đó chỉ để hai phía đưa ra những lời buộc tội lẫn nhau. Một cuộc gặp thứ hai được lên kế hoạch tại Baghdad, nhưng Iraq đã xâm chiếm Kuwait ngay ngày hôm sau. Quân đội Iraq tràn sang lãnh thổ Kuwait ngay sau nửa đêm ngày 2 tháng 8 năm 1990. Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc và Liên đoàn Ả Rập ngay lập tức lên án vụ xâm lược của Iraq. Bốn ngày sau, Hội đồng Bảo an áp đặt một lệnh cấm vận kinh tế lên Iraq, cấm hầu như toàn bộ hoạt động thương mại với nước này.
Iraq đáp trả sự trừng phạt bằng cách sáp nhập Kuwait làm "tỉnh thứ 19" của Iraq ngày 8 tháng 8, khiến gia đình Sabah đang phải chạy trốn ở nước ngoài yêu cầu cộng đồng quốc tế phải có biện pháp mạnh hơn nữa. Trong những tháng tiếp sau, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đã đưa ra một loạt những giải pháp nhằm lên án sự xâm chiếm Kuwait của Iraq và áp đặt trừng phạt kinh tế toàn bộ chống lại Iraq. Các nước khác sau đó đã ủng hộ "Chiến dịch lá chắn sa mạc". Tháng 11 năm 1990, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết 678, cho phép các nước thành viên sử dụng mọi biện pháp cần thiết, kể cả hành động quân sự chống lại các lực lượng Iraq đang chiếm đóng Kuwait, và yêu cầu Iraq phải rút toàn bộ quân đội ra khỏi Kuwait trước ngày 15 tháng 1 năm 1991.
Khi Saddam Hussen không tuân theo yêu cầu đó, Chiến tranh vùng Vịnh (Chiến dịch "Bão táp sa mạc") bắt đầu vào ngày 17 tháng 1 năm 1991 (3 giờ sáng theo giờ Iraq), với đội quân liên minh 28 nước, dẫn đầu là Hoa Kỳ tung ra những cuộc ném bom vào Baghdad. Cuộc chiến tranh gây ra thảm hoạ cho Iraq chỉ kéo dài sáu tuần, một trăm bốn mươi nghìn tấn vũ khí đã được đem ra sử dụng tại Iraq, tương đương với bảy quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima. Có lẽ khoảng 100.000 lính Iraq và hàng chục ngàn dân thường đã thiệt mạng.
Các cuộc ném bom của quân đồng minh đã phá huỷ đường sá, cầu cống, nhà máy, và các cơ sở khai thác dầu (tiêu diện hệ thống lọc và phân phối dầu quốc gia) và cắt đứt dịch vụ điện, điện thoại và nước sạch. Các trung tâm hội nghị và mua sắm và các vùng dân cư cũng bị thiệt hại. Hàng trăm người Iraq đã bị giết hại trong cuộc tấn công vào kho bom Al-Amiriyah. Bệnh dịch lan tràn qua nước ô nhiễm vì nước sạch và các cơ sở xử lý nước không thể hoạt động khi không có điện.
Hoa Kỳ tuyên bố ngừng bắn ngày 28 tháng 2 năm 1991. Tổng thư ký Liên hiệp quốc Javier Pérez de Cuéllar đã gặp Saddam Hussein để bàn thảo về thời gian biểu rút quân khỏi Kuwait. Iraq đồng ý với các điều kiện của Liên hiệp quốc để đạt tới thoả thuận ngừng bắn vĩnh viễn vào tháng 4 năm 1991, và phải chịu các điều kiện khắt khe, buộc phải liệt kê và phá huỷ mọi kho dự trữ vũ khí.
Iraq dưới sự trừng phạt của Liên hiệp quốc.
"Xem thêm: Sự trừng phạt Iraq"
Ngày 6 tháng 8, 1990, sau khi Iraq xâm chiếm Kuwait, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết 661 áp đặt trừng phạt kinh tế lên Iraq, chuẩn bị cấm vận kinh tế toàn diện, chỉ trừ cung cấp y tế, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác của con người, những biện pháp này được Ủy ban trừng phạt của Hội đồng Bảo an đưa ra. Sau khi kết thúc chiến tranh và sau khi quân Iraq rút khỏi Kuwait, các biện pháp trừng phạt này được ràng buộc với việc giải trừ Các vũ khí huỷ diệt hàng loạt theo Nghị quyết 687 của Liên hiệp quốc.
Hoa Kỳ cho rằng cần thiết phải ngăn chặn cuộc thảm sát người Ả Rập (Marsh Arabs) ở phía nam và người Kurd ở phía bắc Iraq nên đã đặt ra một "vùng cấm bay" từ phía bắc vĩ tuyến 36 và phía nam vĩ tuyến 32. Chính quyền Clinton cho rằng những nhân viên chìm của Iraq đã cố gắng thực hiện cái gọi là ám sát cựu Tổng thống George H. W. Bush vì thế việc trả đũa quân sự ngày 27 tháng 6 năm 1993 là thoả đáng. Trụ sở tình báo Iraq tại Baghdad bị tấn công bằng các Tên lửa hành trình Tomahawk.
Trong thời cấm vận của Liên hiệp quốc, những chống đối từ bên trong và bên ngoài đối với chính phủ của đảng Ba'ath rất yếu ớt và bị chia rẽ. Tháng 5, 1995, Saddam sa thải người anh em một nửa dòng máu (khác cha hay khác mẹ), là Wathban, đang giữ chức Bộ trưởng nội vụ và tháng 7 giáng cấp Bộ trưởng quốc phòng, Ali Hassan al-Majid. Những thay đổi nhân sự đó là kết quả của việc hai con trai Saddām Hussein là Uday Hussein và Qusay Hussein tiến lên nắm quyền. Họ chính thức nắm quyền phó tổng thống từ tháng 5 năm 1995. Tháng 8, Thiếu tướng Husayn Kāmil Hasan al-Majīd, Bộ trưởng công nghiệp quân sự và là một chính khách đồng minh với Saddam, đào thoát sang Jordan, cùng vợ (một trong những con gái của Saddam) và anh trai của mình, Saddam, người cũng lấy một con gái khác của vị tổng thống; cả hai kêu gọi lật đổ chính phủ Iraq. Sau vài tuần ở Jordan, và nhận được lời hứa hẹn đảm Bảo an toàn, hai anh em quay trở lại Iraq và bị sát hại.
Cuối thập kỷ 1990, Liên hiệp quốc muốn giải toả bớt trừng phạt áp dụng với Iraq vì những hậu quả nặng nề của nó với dân thường Iraq. Theo đánh giá của Liên hiệp quốc, khoảng 500.000 tới 1.2 triệu trẻ em đã chết trong những năm cấm vận. Hoa Kỳ đã sử dụng quyền phủ quyết của mình tại Hội đồng Bảo an để ngăn cản việc dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt vì không thể kiểm chứng được việc giải giáp vũ khí của Iraq. Tuy nhiên, một chương trình đổi dầu lấy lương thực được lập ra năm 1996 để giảm bớt những hậu quả của lệnh trừng phạt.
Sự hợp tác của Iraq với các đội thanh sát vũ khí của Liên hiệp quốc đã nhiều lần bị đặt câu hỏi trong thập kỷ 1990. Trưởng phái đoàn thanh tra UNSCOM Richard Butler rút đội thanh sát của mình khỏi Iraq vào tháng 11 năm 1998 vì sự hợp tác không đầy đủ của Iraq. Đội thanh sát này đã quay trở lại vào tháng 12.. Butler đã chuẩn bị một bản báo cáo trước Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc sau đó, trong bản báo cáo ấy ông bày tỏ sự không hài lòng về mức độ hợp tác . Cùng tháng đó, tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton cho phép tấn công không quân vào các mục tiêu chính phủ và quân sự. Các cuộc tấn công không quân vào các cơ sở quân sự và những địa điểm được cho là cất giấu các vũ khí huỷ diệt hàng loạt tiếp tục đến tận năm 2002.
Cuộc xâm chiếm Iraq năm 2003.
Sau các cuộc tấn công khủng bố do nhóm khủng bố của triệu phú Ả Rập Saudi Osama bin Laden vào New York và Washington ở Hoa Kỳ năm 2001, chính sách đối ngoại của Mỹ bắt đầu chuyển hướng sang lật đổ chính phủ của đảng Ba'ath ở Iraq như là một phần của Cuộc chiến chống khủng bố trên toàn cầu. Các cố vấn bảo thủ ở Washington từ nhiều năm đã hối thúc một sự thay đổi chế độ ở Baghdad, nhưng tới tận khi thông qua Luật tự do 1998, chính sách chính thức của Mỹ mới là buộc Iraq phải tuân theo những trừng phạt của Liên hiệp quốc. Hơn nữa, những chính sách không chính thức của Hoa Kỳ, gồm nỗ lực đảo chính được CIA hậu thuẫn, nhằm lật đổ Saddam Hussein khỏi vị trí quyền lực. Việc George W. Bush được bầu làm tổng thống khiến cho nhiều chính khách cứng rắn được bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng trong việc lập chính sách tại chính phủ mới. Sau những cuộc tấn công khủng bố, việc thay đổi chế độ ở Iraq đã trở thành chính sách chính thức.
Hoa Kỳ hối thúc Liên hiệp quốc đưa ra hành động quân sự chống lại Saddam. Tổng thống Mỹ George Bush cho rằng Saddām đã liên tục vi phạm vào Nghị quyết số 16 của Hội đồng Bảo an. Chính phủ Iraq phủ nhận những lời buộc tội của Mỹ. Một đội thanh sát Liên hiệp quốc do chính trị gia Thuỵ Điển Hans Blix dẫn đầu được chấp nhận vào Iraq, báo cáo cuối cùng của họ cho rằng khả năng sản xuất "các vũ khí huỷ diệt hàng loạt" của Iraq không khác biệt nhiều so với năm 1992 khi nước này phá huỷ những kho vũ khí của họ theo những điều quy định của thoả thuận ngừng bắn với các lực lượng Liên hiệp quốc, nhưng không thể xác định chính xác khả năng Saddam vẫn sở hữu Vũ khí huỷ diệt hàng loạt. Hoa Kỳ và Anh Quốc buộc tội Iraq vẫn tàng trữ Vũ khí và phản đối yêu cầu cần thêm thời gian của đội thanh sát vũ khí để điều tra thêm về vụ việc. Nghị quyết 1441 được Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc nhất trí thông qua ngày 8 tháng 11 năm 2002, trao cho Iraq "một cơ hội cuối cùng để thực hiện những yêu cầu giải giáp" từng được các Nghị quyết của Liên hiệp quốc nhiều lần đặt ra, đe doạ "những hậu quả nghiêm trọng" nếu những yêu cầu trên không được thoả mãn. Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc không đưa ra một nghị quyết cho phép sử dụng vũ lực chống lại Iraq.
Tháng 3, 2003 Hoa Kỳ và Anh Quốc, với sự hỗ trợ quân sự từ nhiều nước khác xâm chiếm Iraq và lật đổ chế độ độc tài của Saddam Hussein.
Liên minh chiếm đóng Iraq.
Năm 2003, sau cuộc giải phóng của Mỹ và Anh, Iraq bị các lực lượng đồng minh chiếm đóng. Ngày 23 tháng 5 năm 2003, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc nhất trí thông qua một nghị quyết dỡ bỏ trừng phạt kinh tế chống Iraq.
Khi đất nước đang phải gắng sức xây dựng lại sau 3 năm chiến tranh và hàng thập kỷ trừng phạt quốc tế, nó lại bị tàn phá bởi tình trạng bạo lực giữa các nhóm nổi dậy Iraq đang ngày càng lớn mạnh và những lực lượng chiếm đóng. Saddām Hussain, biến mất từ tháng 4 đã bị bắt vào ngày 13 tháng 12 năm 2003.
Chính quyền lâm thời ban đầu của Mỹ do ông Jay Garner đứng đầu đã được thay thế vào tháng 5 năm 2003 bởi ông L. Paul Bremer, tới lượt ông này lại được John Negroponte thay thế ngày 19 tháng 4 năm 2004, Negroponte rời Iraq năm 2005. Negroponte là người đứng đầu chính phủ lâm thời cuối cùng của Mỹ tại Iraq.
Chủ nghĩa khủng bố xuất hiện và trở thành một mối đe doạ đối với người dân Iraq ngay sau khi cuộc xâm chiếm năm 2003 diễn ra. Al Qaeda hiện đã có mặt tại nước này, dưới hình thức nhiều nhóm khủng bố do Abu Musab Al Zarqawi lãnh đạo. Nhiều chiến binh nước ngoài và những thành viên cũ của đảng Ba'ath cũng gia nhập vào lực lượng nổi dậy, mục tiêu chính của họ là tấn công các lực lượng Mỹ và những người Iraq hợp tác với Mỹ. Vùng hoạt động mạnh nhất của các nhóm nổi dậy là Tam giác Sunni, một vùng có đa số dân người Hồi giáo Sunni ở phía bắc Baghdad.
"Main article": Iraq thời hậu Saddam Hussein
Sự rút quân của liên minh.
Vài ngày sau những vụ tấn công ngày 11 tháng 3 năm 2004 vào Madrid, chính phủ trước chiến tranh tại Tây Ban Nha sụp đổ. Cuộc chiến bị dân chúng phản đối mạnh mẽ và chính phủ Xã hội lên nắm quyền với cam kết rút quân đội khỏi Iraq. Tiếp sau đó, nhiều quốc gia khác từng tham gia vào Liên minh tự nguyện bắt đầu xem lại vai trò của mình. Hà Lan từ chối đề nghị của Hoa Kỳ giữ quân ở lại Iraq sau ngày 30 tháng 6. Hàn Quốc vẫn giữ quân đội ở lại.
Ngay sau những quyết định rút quân vào mùa xuân năm 2004, Cộng hoà Dominica, Honduras, Guatemala, Kazakhstan, Singapore, Thái Lan, Bồ Đào Nha, Philippines, Bulgari, Nicaragua và Ý cũng rút quân hay đưa ra kế hoạch rút quân. Các nước khác (như Australia, Đan Mạch và Ba Lan) tiếp tục giữ quân đồn trú tại Iraq.
Ngày 28 tháng 6 năm 2004, thời gian chiếm đóng chính thức chấm dứt khi liên minh do Mỹ đứng đầu chuyển giao quyền lực cho chính phủ lâm thời do Thủ tướng Iyad Allawi lãnh đạo. ngày 16 tháng 7 năm 2004, Philippines rút toàn bộ quân đội khỏi Iraq để thoả mãn những yêu cầu của những kẻ khủng bố đang bắt giữ một công dân Philippine là Angelo de la Cruz làm con tin. Nhiều nước khác cũng đã thông báo những kế hoạch rút quân hay cho rằng họ sẽ xem xét về một kế hoạch như vậy nếu Liên hiệp quốc thông qua một nghị quyết trao thêm chủ quyền cho Iraq.
Chính phủ Iraq đã chính thức yêu cầu sự giúp đỡ (ít nhất) từ phía quân đội Mỹ cho tới khi có sự thay đổi khác.
Ngày 30 tháng 1 năm 2005, Cuộc bầu cử quốc hội Iraq đã diễn ra. "Xem:" Bầu cử cơ quan lập pháp Iraq, tháng 1 năm 2005.
|
Khối lượng riêng (tiếng Anh: Density), còn được gọi là mật độ khối lượng, là một đặc tính về mật độ khối lượng trên một đơn vị thể tích của vật chất đó, là đại lượng đo bằng thương số giữa khối lượng (m) của một vật làm bằng chất ấy (nguyên chất) và thể tích (V) của vật.
Công thức formula_1 (D là khối lượng riêng, đơn vị formula_2; m là khối lượng, đợn vị formula_3; V là thể tích, đơn vị formula_4)
Cụ thể khối lượng riêng tại một vị trí trong vật được tính bằng khối lượng của một thể tích vô cùng nhỏ nằm tại vị trí đó, chia cho thể tích vô cùng nhỏ này. Nếu chất đó có thêm đặc tính là đồng chất thì khối lượng riêng tại mọi vị trí là như nhau và bằng khối lượng riêng trung bình.
Trong hệ đo lường quốc tế, khối lượng riêng có đơn vị là kilôgam trên mét khối (kg/m³). Một số đơn vị khác hay gặp là gam trên xentimét khối (g/cm³).
Khi biết được khối lượng riêng của một vật, ta có thể biết vật được cấu tạo bằng chất gì bằng cách đối chiếu với bảng khối lượng riêng của các chất đã được tính trước.
Khối lượng riêng trung bình.
Khối lượng riêng trung bình của một vật thể được tính bằng khối lượng, "m", của nó chia cho thể tích, "V", của nó, và thường được ký hiệu là "ρ" (đọc là "rô"; tiếng Anh: rho):
Tỷ khối, tỷ trọng.
Theo quy ước, tỷ lệ giữa mật độ hoặc khối lượng riêng của một chất nào đó so với mật độ hoặc khối lượng riêng của nước ở 4°C thì được gọi là tỷ khối hoặc tỷ trọng của chất đó.
Trong thực hành, nhiều phép đo khối lượng riêng được thực hiện bằng việc so sánh với nước; hơn nữa khối lượng riêng của nước xấp xỉ bằng 1000kg/mét khối, một con số dễ sử dụng trong chuyển đổi sang hệ đo lường quốc tế.
Ví dụ: tỷ khối của dầu là 0,8, của nhôm là 2,
Khối lượng riêng của chất lỏng có thể được đo bằng phù kế.
|
Tu viện Pherapontov (tiếng Nga: "Ферапонтов монастырь"), nằm tại khu vực tỉnh Vologda của Nga, được coi là một trong các ví dụ điển hình nhất của nghệ thuật Nga thời Trung cổ, một lý do để UNESCO đưa tu viện này vào danh sách các di sản thế giới vào năm 2000.
Tu viện nằm trên lãnh thổ huyện Kirillov tỉnh Vologda (Nga). Nằm trong tu viện là Viện bảo tàng bích họa Dionisii, một chi nhánh của Khu bảo tồn-bảo tàng nghệ thuật và kiến trúc lịch sử Kirillo-Belozer (KBIAKhMZ), trên cơ sở sắc lệnh của tổng thống Nga năm 1997 về "Bản tổng hợp quốc gia các di sản văn hóa có giá trị đặc biệt của Liên bang Nga"..
Tu viện này nằm ở vị trí khoảng 20 km từ thị trấn Kirillov về hướng đông bắc và khoảng 120 km từ thành phố Vologda về hướng tây bắc. Tu viện được xây dựng trên sườn đồi giữa hai hồ là hồ Borodaevskoe và hồ Paskoe, được nối với nhau bằng con suối nhỏ có tên gọi là Paska. Bản thân làng Pherapontovo lại nằm chủ yếu ở phía đối diện với tu viện bên kia bờ suối. Tu viện này nổi bật trong vùng, một phần là nhờ kích thước của nó cũng như là nhờ kiểu dáng kiến trúc hài hòa của nó.
Giá trị lịch sử của tu viện Pherapontov, dựa trên thời kỳ mở rộng ảnh hưởng chính trị của Đại công quốc Moskva, xác định vai trò của nó trong các thời điểm quan trọng của thời kỳ thành lập nhà nước Nga trung ương tập quyền và liên hệ chặt chẽ với các sự kiện lịch sử cơ bản, đã diễn ra tại Moskva trong thế kỷ 15-17.
Tu viện này được Pherapont sáng lập năm 1398 tại khu vực miền bắc Nga khi đó còn rất thưa thớt dân cư, về phía đông của tu viện Kirillo-Belozer (được đặt tên theo vị mục sư ban đầu của tu viện này là Kirill của Beloozero). Danh tiếng của tu viện này bắt đầu được loang rộng dưới thời môn đồ của Kirill là Martinian, là người sau này trở thành tu viện trưởng của Tu viện Troitse-Sergiyeva vào năm 1447.
Thậm chí cả sau khi Martinian mất thì tu viện của ông vẫn giữ được sự bảo vệ và đặc ân từ phía các thành viên trong gia đình Ivan III. Công trình xây dựng cổ nhất là nhà thờ Thánh đản Đức mẹ đồng trinh (1490) được những người thợ Rostov xây bằng gạch. Nhà thờ này là tốt nhất trong số 3 nhà thờ được xây dựng trong thập niên 1490 tại miền bắc Nga. Tất cả các bức tường bên trong nhà thờ được tô điểm bằng các bích họa vô giá của họa sĩ lớn người Nga thời trung cổ là Dionisii.
Trong thập niên 1530, tu viện bổ sung thêm kho tàng, nhà ăn và nhà thờ Truyền tin duy nhất với lầu chuông được dựng lên. Vào thời gian này, tu viện nhận được những đặc ân do Ivan Hung Đế ban cho. Tu viện Pherapontov đã từng là chủ đất giàu có nhất tại khu vực Belozerya. Đầu thế kỷ 17 thuộc về tu viện này có một số xã, khoảng 60 thôn, 100 mảnh đất trống và trên 300 nông dân. Tự bản thân Sa hoàng cũng thường xuyên đến tu viện này như một tín đồ hành hương.
Trong Thời kỳ Loạn lạc tu viện bị những người Ba Lan và Litva cướp phá. Trong thời kỳ phục hồi tu viện này thì các công trình xây dựng cuối cùng - nhà thờ thánh Martinian một chóp mái (1641), và nhà thờ tháp hai chóp mái (1650) cũng như tháp chuông (1680) - đã được bổ sung cho tổ hợp các công trình của tu viện. Đồng hồ trên lầu chuông (1638) được cho là cổ nhất tại Nga.
Khi tu viện dần dần mất đi tầm quan trọng tôn giáo của mình thì nó trở thành nơi để lưu đày một số mục sư, chẳng hạn Giáo trưởng Nikon. Năm 1798 tu viện Pherapontov bị bãi bỏ theo sắc lệnh của Hội đồng thánh giáo với sự chuẩn y của Hoàng đế Pavel. Vào thế kỷ 19, trong giai đoạn thoái trào, lãnh thổ bị co hẹp lại của tu viện đã được rào lại bằng tường đá.
Năm 1904 tu viện này lại được phục hồi như là tu viện nữ, sau đó lại bị những người Bolshevik đóng của một lần nữa vào năm 1924.
Từ năm 1975 đã bắt đầu sự hình thành của một viện bảo tàng hiện đại, chuyển nó thành một trung tâm nghiên cứu-khoa học và khai sáng, phổ biến các kiến thức về các công trình kiến thiết độc nhất vô nhị của quần thể tu viện Pherapontov thông qua các dạng khác nhau của các công việc bảo tàng. Viện bảo tàng này tạo thành một phần của khu bảo tồn quốc gia "Bắc Nga" kể từ năm 1991.
Được thành lập vào năm 1398 bởi Pherapont, người bạn và cộng sự của Kirill Belozerskii, tu viện Pherapontov đã có khoảng 400 năm là một trong các trung tâm tôn giáo-văn hóa có ảnh hưởng tại khu vực Belozer. Nhờ các hoạt động của người học trò của Kirill là Martinian Belozerskii, trong những năm 1447 − 1455 là tu viện trưởng của tu viện Troitse-Sergieva, tu viện Pherapontov đã đạt được sự nổi tiếng lớn. Cùng với tu viện Kirillo-Belozer nó đã trở thành khu vực truyền thống để lễ bái và hiến tặng của nhiều nhân vật trong giới quý tộc thượng lưu phong kiến Nga (như Andrrei và Mikhail Mozhaiskii, Vasilii III, Ivan IV và nhiều người khác), mà dưới các bức tường thế kỷ 15-16 của nó đã xuất hiện nhiều mục sư có đẳng cấp của nhà thờ Nga, như tổng Giám mục Rostov và Yaroslavl Ioasaph (Obolenskii), Giám mục Permi và Vologda Philophei, Giám mục Suzdal Pherapont, là những người đã tích cực tham gia vào các hoạt động trong nước. Cùng thời gian đó nhiều nhà hoạt động tôn giáo lớn cũng đã bị đày tới đây, do họ đấu tranh cho quyền lực của giáo hội trong quyền lực nhà nước, chẳng hạn đại giáo chủ Spiridon-Savva, giáo trưởng Nikon. Tại đây những người viết sách như Martinian, Spiridon, Philophei, Paisii, Matphei, Ephosin, cũng như họa sĩ Dionisii đã làm việc tại đây.
Thế kỷ 16 là giai đoạn phồn thịnh của tu viện. Về điều này có thể chứng minh qua các chứng chỉ còn lưu giữ được về sự trao tặng và quyên góp của tầng lớp quý tộc cũng như chính quyền, mà trên cả là của Ivan Hung Đế. Đến tu viện để cầu nguyện có Vasilii III và Elena Glinskaya, Ivan IV. Sách ghi chép các món tiền gửi đến tu viện, bắt đầu từ năm 1534, còn liệt kê tên tuổi của các công tước như Staritskii, Kubenskii, Lykovyi, Belskii, Shuiskii, Vorotynskii, Godunovyi, Sheremetevyi , Rostov, Vologda, Beloozero, Novgorod.
Kiến trúc, hội họa.
Có giá trị đặc biệt đối với nền văn hóa Nga và thế giới là nhà thờ Thánh đản Đức mẹ đồng trinh. Theo văn bản ghi chép trên cửa phía bắc thì nó đã được Dionisii và các con trai của ông tô vẽ từ ngày 6 tháng 8 tới ngày 8 tháng 9 năm 1502. Nó là bích họa duy nhất còn bảo tồn, là đại diện xuất sắc cho trường phái vẽ tượng thánh Moskva, của một họa sĩ lớn trong thế kỷ 15-16.
Sau khi các bích họa thế kỷ 12 — 15 tại các nhà thờ Spas trên Neroeditsa, Bolotovo, Kovalevo, Skovorodka, Novgorod bị quân đội Đức quốc xã phá hủy trong những năm Đại chiến thế giới lần thứ hai thì bích họa của Dionisii trở thành duy nhất có giá trị trong số các bích họa của nước Nga cổ đại.
Diện tích bích họa của nhà thờ là 600 m². Nó là chứng tích duy nhất khẳng định nghệ thuật vẽ bích họa của người Nga. Cá tính trên bích họa của Dionisii thể hiện trong sự hài hòa về màu sắc không trộn lẫn với những người khác cũng như sự hài hòa của cốt truyện trong sự kết hợp với sự phân đoạn kiến trúc của nhà thờ. Sự liên quan mật thiết giữa các cốt truyện (thánh ca Đức mẹ đồng trinh, Hội đồng giáo hội, Ngày phán quyết v.v) và các bố cục riêng rẽ cả bên trong lẫn bên ngoài nhà thờ, sự đa dạng trong kết hợp màu sắc cũng như những triết lý đã xác định giá trị của bích họa trên trần nhà thờ Thánh đản Đức mẹ đồng trinh.
Tu viện Pherapontov với các bích họa của Dionisii là mô hình hiếm còn bảo tồn và là độc nhất về kiểu dáng của quần thể tu viện miền bắc Nga giai đoạn thế kỷ 15-17, thể hiện rõ các nét đặc biệt điển hình của kiến trúc thời kỳ hình thành nhà nước Nga trung ương tập quyền. Nó cũng là một ví dụ điển hình về sự thống nhất hài hòa với phong cảnh tự nhiên xung quanh, trên thực tế gần như không bị thay đổi kể từ thế kỷ 17, nhấn mạnh đẳng cấp tôn giáo đặc biệt của giới tăng lữ miền bắc Nga, cùng lúc đó minh chứng cho các nét đặc biệt trong nếp sống của người nông dân miền bắc Nga.
Các tòa nhà của tu viện là duy nhất tại miền bắc Nga, đã giữ gìn được tất cả các nét đặc biệt của sự trang trí và nội thất. Quần thể kiến trúc tu viện - duy nhất được giữ gìn nguyên vẹn tại Nga từ đầu thế kỷ 16 là ví dụ về sự tương hỗ của kiến trúc và hội họa, tạo thành một kiệt tác của thời kỳ đó.
|
Nghĩa Đàn là một huyện thuộc tỉnh Nghệ An, Việt Nam.
Vị trí địa lý.
Nghĩa Đàn là một huyện miền núi, nằm trong vùng sinh thái phía tây bắc tỉnh Nghệ An có tọa độ 19o13' - 19o33' vĩ độ Bắc, 105o18' - 105o35' kinh độ Đông, cách thành phố Vinh 95 km về phía tây bắc, có vị trí địa lý:
Thị xã Thái Hòa gần như nằm trọn trong lòng huyện.
Huyện Nghĩa Đàn có vị trí kinh tế, chính trị, an ninh - quốc phòng quan trọng, được coi là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Tây Bắc tỉnh Nghệ An; có quốc lộ 48 và đường Hồ Chí Minh đi qua, thuận lợi cho việc phát triển, giao thương và hội nhập kinh tế.
Nghĩa Đàn là huyện có điều kiện địa hình khá thuận lợi so với các huyện trung du, miền núi trong tỉnh. Đồi núi không quá cao, chủ yếu là thấp và thoải dần; bao quanh huyện từ phía Tây sang phía Bắc, phía Đông và Đông Nam là những dãy núi tương đối cao. Một số đỉnh có độ cao từ 300 - 400m như: Dãy Chuột Bạch, dãy Bồ Bố, dãy Cột Cờ...
Khu vực phía Tây Nam và phần lớn các xã trong huyện là đồi thoải. Xen kẽ giữa các đồi núi thoải là những thung lũng có độ cao trung bình từ 50 - 70m so với mực nước biển.
Địa hình toàn huyện được phân bố như sau:
Ngoài ra, do đặc điểm kiến tạo của địa hình, Nghĩa Đàn có những vùng đất tương đối bằng phẳng, có quy mô diện tích lớn, đồi núi thấp là điều kiện thuận lợi để phát triển nông lâm nghiệp phong phú.
Nghĩa Đàn có những đặc điểm chung của khí hậu Bắc Trung Bộ: nhiệt đới ẩm gió mùa; đồng thời có thêm những đặc điểm riêng của khu vực trung du đồi núi. Hàng năm, có 2 mùa rõ rệt, mùa hè khô nóng và mùa đông lạnh giá. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 °C. Nhiệt độ nóng nhất là 41,6 °C. Nhiệt độ thấp nhất 15 °C.
[null Lượng mưa trung bình năm là 1.694mm, phân bố không đồng đều trong năm. Mưa tập trung vào các tháng 8, 9 và 10 gây úng lụt ở các vùng thấp dọc sông Hiếu; mùa khô lượng mưa không đáng kể do đó hạn hán kéo dài, có năm tới 2 đến 3 tháng.
Ngoài ra, gió Phơn Tây Nam, bão, lốc, sương muối cũng gây tác hại lớn cho quá trình sản xuất nông nghiệp của huyện.
Dân số năm 2022 là 144.736 người. 7,9% dân số theo đạo Thiên Chúa.
Huyện Nghĩa Đàn có 23 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Nghĩa Đàn (huyện lỵ) và 22 xã: Nghĩa An, Nghĩa Bình, Nghĩa Đức, Nghĩa Hiếu, Nghĩa Hội, Nghĩa Hồng, Nghĩa Hưng, Nghĩa Khánh, Nghĩa Lạc, Nghĩa Lâm, Nghĩa Long, Nghĩa Lộc, Nghĩa Lợi, Nghĩa Mai, Nghĩa Minh, Nghĩa Phú, Nghĩa Sơn, Nghĩa Thành, Nghĩa Thịnh, Nghĩa Thọ, Nghĩa Trung, Nghĩa Yên.
Vùng đất Phủ Quỳ (Nghĩa Đàn) đã có hàng ngàn năm lịch sử có cư dân sinh sống và ngày càng phát triển. Nếu như cách đây 3.000 năm, Nghĩa Đàn là nơi quần tụ của người Việt cổ sáng tạo nên nền văn hóa Đông Sơn, hoặc xa hơn nữa trên vài vạn năm người Việt cổ ở Nghĩa Đàn đã có nền văn hóa thời kỳ hậu đồ đá cổ. Từ khu di chỉ khảo cổ làng Vạc - Khu di chỉ khảo cổ học về văn hóa Đông Sơn có giá trị nhất khu vực Đông Nam Á hiện nay, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở đây những chiếc nồi, những bức tượng, trống đồ, cuộc sống trù phú, ấm no và đời sống tinh thần phong phú. Văn hóa Nghĩa Đàn từ lâu đã là sự tích hợp của nhiều "dòng văn hóa", trong đó ảnh hưởng lớn là các dòng văn hóa bản địa của người Thổ, người Thái; dòng văn hóa người Kinh di dân đến đây từ cuộc khai thác thuộc địa, xây dựng đồn điền của thực dân Pháp và gần đây là các phong trào di dân làm kinh tế mới.
Từ năm 179 trước công nguyên, Nghĩa Đàn nằm giữa quận Cửu Chân, đến năm 111 trước công nguyên, Nghĩa Đàn thuộc huyện Hàm Hoan, quận Cửu Chân. Thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, Nghĩa Đàn thuộc quận Cửu Đức ra đời từ việc tách một phần của quận Cửu Chân; Nghĩa Đàn vẫn thuộc huyện Hàm Hoan, một trong 6 huyện của quận Cửu Đức. Năm 679, nhà Đường chia Nghệ Tĩnh 2 vùng Diễn Châu và Hoan Châu. Nghĩa Đàn thuộc phần lãnh thổ Diễn Châu. Dưới thời Tiền Lê (980-1009), Lê Hoàn chia đất nước thành lộ, phủ, châu, Nghĩa Đàn vẫn thuộc lộ Diễn Châu và đến năm 1396, Lý Thái Tổ đổi lộ thành phủ, Nghĩa Đàn vẫn thuộc phủ Diễn Châu. Năm 1397, Hồ Quý Ly cho đổi phủ Diễn Châu thành trấn Vọng Giang rồi sau thành trấn Linh Nguyên. Tới thời kỳ thuộc Minh có lúc Nghĩa Đàn được cắt ra để sáp nhập với phủ Thanh Hóa. Kháng chiến quân Minh thắng lợi, Lê Lợi lên làm vua, chia đất nước thành 5 đạo, phủ Diễn Châu và phủ Nghệ An thuộc đạo Hải Tây. Năm 1466, Lê Nhân Tông đưa Quỳ Châu (trong đó có Nghĩa Đàn) trở về thừa tuyên Nghệ An, phủ Giang Châu được đặt ngang với phủ Diễn Châu. Năm 1469, Lê Thánh Tông cho vạch lại bản đồ cả nước. Nghĩa Đàn phần lớn thuộc đất Quỳnh Lưu, phần còn lại thuộc huyện Đông Thành, Thúy Vân (thuộc Quỳ Châu và Diễn Châu). Dưới thời Minh Mạng 12 (1831), Nghĩa Đàn thuộc đất Diễn Châu. Nếu tính từ năm Minh Mạng thứ 21 (1840) thì huyện Nghĩa Đàn được thành lập đã là 171 năm khi tổ chức hành chính Nghệ An được sắp xếp lại và lập thêm một số huyện. Phủ Quỳ Châu vốn trước có 2 huyện là Trung Sơn (Quế Phong) và Thúy Vân (gồm phần lớn đất Quỳ Châu và Quỳ Hợp hiện nay). Nhưng nếu tính từ năm có tên là Nghĩa Đàn xuất hiện trong bộ máy nhà nước đến nay là 126 năm, khi vua Đồng Khánh vì húy kỵ nên cho đổi Nghĩa Đường thành Nghĩa Đàn. Nghĩa Đàn có tên từ đó.
Trên chính vùng đất này ngày 22 tháng 10 năm 1907, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định củng cố lại vùng Quỳ Châu – Nghĩa Đàn, đặt tại Nghĩa Hưng một sở đại diện của chính quyền cấp tỉnh đến ngày 1 tháng 9 năm 1908 thì gọi là trạm Nghĩa Hưng. Ngày 3 tháng 3 năm 1930, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định, nâng trạm Nghĩa Hưng lên thành Sở đại lý Phủ Quỳ với trách nhiệm và quyền hạn lớn hơn trước. Với mục tiêu của những "nhà khai hóa" là củng cố bộ máy thống trị tăng cường đàn áp để chiếm cứ đất đai lập đồn điền; khai thác triệt để nguồn lợi từ vùng Phủ Quỳ giàu có. Huyện Nghĩa Đàn lúc này có 6 tổng (Cự Lâm, Thái Thịnh, Nghĩa Hưng, Thanh Khê, Hạ Sưu, Lâm La) với 58 xã thôn, có con dấu riêng. Huyện đường đặt tại Tân Hiếu (xã Nghĩa Quang ngày nay). Cơ cấu hành chính tồn tại cho đến ngày Cách mạng tháng 8 năm 1945. Sau năm 1945, bỏ cấp phủ, gọi chung là huyện. Huyện Nghĩa Đàn khi đó gồm có 36 xã: Giai Xuân, Nghĩa An, Nghĩa Bình, Nghĩa Đồng, Nghĩa Đức, Nghĩa Dũng, Nghĩa Hòa, Nghĩa Hoàn, Nghĩa Hội, Nghĩa Hợp, Nghĩa Hưng, Nghĩa Khánh, Nghĩa Lạc, Nghĩa Lâm, Nghĩa Liên, Nghĩa Lộc, Nghĩa Lợi, Nghĩa Long, Nghĩa Mai, Nghĩa Minh, Nghĩa Mỹ, Nghĩa Phúc, Nghĩa Quang, Nghĩa Sơn, Nghĩa Thái, Nghĩa Thắng, Nghĩa Thịnh, Nghĩa Thọ, Nghĩa Thuận, Nghĩa Tiến, Nghĩa Trung, Nghĩa Xuân, Nghĩa Yên, Tam Hợp, Tân Hợp, Tiên Đồng.
Tháng 10 năm 1930, tại hang Rú Ấm, xã Thọ Lộc (nay thuộc xã Nghĩa Đức), một sự kiệ̣n chính trị quan trọng đã xảy ra, chi bộ Đảng đầu tiên của Nghĩa Đàn được thành lập. Đây là một trong những chi bộ Đảng được thành lập đầu tiên ở các huyện miền núi Nghệ An, sau đó nhiều chi bộ Đảng mới được thành lập. Tháng 4 năm 1931, hội nghị hợp nhất giữa các chi bộ Đảng được tổ chức tại làng Lụi xã Nghĩa Mỹ. Sự kiện này được xem như là sự ra đời của Đảng bộ Nghĩa Đàn. Trong suốt 15 năm, Đảng bộ đã nhiều lần phải tổ chức lại nhưng luôn đóng vai trò lãnh đạo và đã giành được chính quyền về tay nhân dân vào ngày 22 tháng 8 năm 1945. Từ sau cách mạng tháng Tám 1945, cùng với cả nước, Nghĩa Đàn bước vào công cuộc "vừa kháng chiến, vừa kiến quốc". Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cả miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nghĩa Đàn là hậu phương lớn cùng tiền tuyến miền Nam đánh Mỹ. Các nông trường 1/5, nông trường 19/5, Đông Hiếu, Tây Hiếu, Cờ Đỏ... được thành lập trở thành mô hình sản xuất tiên tiến mới của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Ngày 10 tháng 12 năm 1961, nhân dân Nghĩa Đàn vinh dự được đón Bác Hồ lên thăm, trong cuộc nói chuyện với cán bộ và công nhân Nông trường Đông Hiếu, Bác đã căn dặn: "Các nông trường có nhiệm vụ đoàn kết và tìm cách giúp đỡ đồng bào địa phương. Những kỹ thuật của nông trường tiến bộ hơn, vì vậy, đồng bào địa phương cần đoàn kết với nông trường, xây dựng hợp tác xã cho tốt, đời sống xã viên ngày càng ấm no, thế là chủ nghĩa xã hội".
Danh xưng Nghĩa Đàn Đã trải qua 126 năm và đã nhiều lần thay đổi về địa giới hành chính.
Tháng 5 năm 1963, Hội đồng Chính phủ ban hành quyết định số 52-CP tách 10 xã của huyện Nghĩa Đàn (gồm các xã: Nghĩa Bình, Nghĩa Đồng, Nghĩa Hợp, Nghĩa Dũng, Nghĩa Thái, Nghĩa Hoàn, Giai Xuân, Nghĩa Phúc, Tân Hợp, Tiên Đồng) để thành lập huyện Tân Kỳ và 3 xã: Tam Hợp, Nghĩa Xuân, Nghĩa Sơn để thành lập huyện Quỳ Hợp.
Ngày 16 tháng 7 năm 1965, Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 251-NV thành lập thị trấn Nông trường 19-5 thuộc huyện Nghĩa Đàn.
Lúc này Nghĩa Đàn có 24 xã, thị trấn bao gồm: Nghĩa An, Nghĩa Đức, Nghĩa Hòa, Nghĩa Hội, Nghĩa Hưng, Nghĩa Khánh, Nghĩa Lạc, Nghĩa Lâm, Nghĩa Liên, Nghĩa Lộc, Nghĩa Lợi, Nghĩa Long, Nghĩa Mai, Nghĩa Minh, Nghĩa Mỹ, Nghĩa Quang, Nghĩa Thắng, Nghĩa Thịnh, Nghĩa Thọ, Nghĩa Thuận, Nghĩa Tiến, Nghĩa Trung, Nghĩa Yên và thị trấn Thái Hòa (1965).
Ngày 25 tháng 11 năm 1995, Chính phủ ban hành Nghị định 83/NĐ-CP thành lập thêm 8 xã mới: Nghĩa Hồng, Nghĩa Sơn, Nghĩa Bình, Nghĩa Phú, Nghĩa Hiếu, Nghĩa Tân, Đông Hiếu, Tây Hiếu trên cơ sở 5 thị trấn nông trường quốc doanh là: 1-5, 19-5, Cờ Đỏ, Đông Hiếu, Tây Hiếu, đưa tổng số xã ở Nghĩa Đàn lên 32 xã, thị.
Cuối năm 2006, huyện Nghĩa Đàn có 32 đơn vị hành chính gồm thị trấn Thái Hòa và 31 xã: Đông Hiếu, Nghĩa An, Nghĩa Bình, Nghĩa Đức, Nghĩa Hiếu, Nghĩa Hòa, Nghĩa Hội, Nghĩa Hồng, Nghĩa Hưng, Nghĩa Khánh, Nghĩa Lạc, Nghĩa Lâm, Nghĩa Liên, Nghĩa Lộc, Nghĩa Lợi, Nghĩa Long, Nghĩa Mai, Nghĩa Minh, Nghĩa Mỹ, Nghĩa Phú, Nghĩa Quang, Nghĩa Sơn, Nghĩa Tân, Nghĩa Thắng, Nghĩa Thịnh, Nghĩa Thọ, Nghĩa Thuận, Nghĩa Tiến, Nghĩa Trung, Nghĩa Yên, Tây Hiếu.
Ngày 15 tháng 11 năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 164/2007/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính chia tách Nghĩa Đàn thành 2 đơn vị hành chính cấp huyện: các xã Nghĩa Hòa, Nghĩa Quang, Nghĩa Thuận, Nghĩa Mỹ, Nghĩa Tiến, Đông Hiếu, Tây Hiếu và thị trấn Thái Hòa thuộc về địa giới hành chính của thị xã Thái Hòa. Các cơ quan trong hệ thống chính trị của thị xã Thái Hòa kế thừa toàn bộ cơ sở vật chất, trụ sở của huyện Nghĩa Đàn cũ. Huyện Nghĩa Đàn mới chuyển trung tâm huyện lỵ về xã Nghĩa Bình mà trước đây là nông trường 1/5.
Ngày 11 tháng 10 năm 2011, thành lập thị trấn Nghĩa Đàn thuộc huyện Nghĩa Đàn trên cơ sở điều chỉnh 455,7 ha diện tích tự nhiên và 3.007 nhân khẩu của xã Nghĩa Bình, 345,5 ha diện tích tự nhiên và 1.763 nhân khẩu của xã Nghĩa Trung, 51,4 ha diện tích tự nhiên và 267 nhân khẩu của xã Nghĩa Hội.
Ngày 1 tháng 1 năm 2020, sáp nhập 3 xã: Nghĩa Tân, Nghĩa Thắng, Nghĩa Liên thành xã Nghĩa Thành.
Huyện Nghĩa Đàn có 1 thị trấn và 22 xã như hiện nay.
Các nguồn tài nguyên.
Tổng diện tích tự nhiên huyện Nghĩa Đàn là 61.754,55ha theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng Nghệ An. Trong đó:
Trên địa bàn huyện có các loại đất chính sau:
Toàn huyện có 18.205,10ha diện tích rừng, trong đó: rừng tự nhiên 9.205,10ha, rừng trồng 9.000ha. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 25,40%. Rừng trồng chủ yếu là keo, tràm; có khả năng phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái.
Tài nguyên khoáng sản.
Tài nguyên khoáng sản ở Nghĩa Đàn có các loại sau:
- Đá bọt Bazan (làm nguyên liệu phụ gia cho xi măng và xay nghiền đá Puzơlan) phân bố ở các xã Nghĩa Mai, Nghĩa Sơn, Nghĩa Lâ
- Mỏ sét ở Nghĩa An, Nghĩa Liên, Nghĩa Lộc, Nghĩa Hồng trữ lượng ít, chỉ khoảng trên 1 triệu m³.
- Mỏ đá vôi ở Nghĩa Tân, Nghĩa Hiếu trữ lượng khoảng 45 triệu m³.
- Mỏ đá xây dựng ở Nghĩa Tân, Nghĩa Hiếu, Nghĩa Trung, Nghĩa Đứ
- Vàng sa khoáng ở sông Hiếu.
- Mỏ than ở Nghĩa Thịnh.
Các loại khoáng sản trên đều chưa được khảo sát chất lượng, trữ lượng cụ thể và thực tế khai thác chưa đáng kể.
Tài nguyên nước, thủy văn.
Nguồn nước mặt: Nghĩa Đàn nằm trong lưu vực sông Hiếu, là nhánh sông lớn nhất của hệ thống sông Cả, bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào, qua các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp về Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, gặp sông Cả tại Cây Chanh (huyện Anh Sơn). Sông Hiếu có chiều dài 217 km, đoạn chạy qua Nghĩa Đàn dài 30,10 km (từ ngã ba Dinh đến Khe Đá). Tổng diện tích lưu vực 5.340 km².
Ngoài sông Hiếu, Nghĩa Đàn có 48 sông suối lớn nhỏ, trong đó có năm nhánh chính:] Sông Sào dài 34 km, Khe Cái dài 23 km, Khe Hang dài 23 km, Khe Diên dài 16 km, Khe Đá dài 17 km.
Nguồn nước ngầm: Mạch nước ngầm của Nghĩa Đàn tương đối sâu và có nhiều tạp chất của khoáng vật. Khả năng khai thác nguồn nước ngầm phục vụ các ngành sản xuất là rất khó khăn.
Tài nguyên nhân văn.
Nghĩa Đàn là huyện trung du miền núi nằm về phía Bắc tỉnh Nghệ An. Nơi đây là cái nôi của người Việt cổ, với di chỉ khảo cổ học Làng Vạc, những chiếc trống đồng biểu tượng rực rỡ của nền văn hóa Đông Sơn từ thuở các Vua Hùng dựng nước; là nơi gặp gỡ, hội tụ những nét văn hóa đặc sắc của vùng đất Phủ Quỳ.
Nghĩa Đàn có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái gắn với phát triển nông nghiệp, nổi bật như cánh đồng hoa hướng dương của Công ty CP thực phẩm sữa TH, mỗi năm diện tích trồng hoa hướng dương lên tới 50ha, thu hút hàng nghìn du khách về tham quan. Ngoài ra, có những điểm du lịch thu hút nhiều du khách khi đến với Nghĩa Đàn: Thung lũng hoa Phủ Quỳ (Nghĩa Long), Khu sinh thái Hòn Mát (Nghĩa Lộc), Suối cá Khe Tọ (Nghĩa Trung), thác Đá Nhảy (Nghĩa Lạc)...
Ngoài ra, còn có các sản phẩm và làng nghề truyền thống từ hàng trăm năm như: làng nghề chổi đót Hòa Hội (Nghĩa Hội), làng nghề ép mía chế biến đường làng Găng (Nghĩa Hưng) vừa góp phần phong phú trong sinh hoạt vừa nâng cao thu nhập cho người dân.
Một số loại cây trồng.
Với ưu thế về thổ nhưỡng, đất đai của vùng đất Phủ Quỳ; trong những năm gần đây, diện tích trồng cam huyện Nghĩa Đàn có xu hướng tăng; cụ thể năm 2010 diện tích là 320 ha (diện tích kinh doanh 203 ha), năm 2015 là 507,17 ha (diện tích kinh doanh 314,67 ha). Năng suất bình quân đạt 150,98 tạ/ha, sản lượng 4.751 tấn. Cam chủ yếu tập trung ở các vùng Nông trường Cờ Đỏ, Nghĩa Hồng, Nghĩa Sơn, Nghĩa Lâm, Nghĩa Hiế
Trên địa bàn đã xây dựng cánh đồng lớn cho cây cam ở các xã như Nghĩa Phú, Nghĩa Minh, Nghĩa Bình, Nghĩa Thọ với quy mô từ 3 - 6 ha, giống cam được sử dụng chủ yếu là cam Xã Đoài.
Tổng diện tích trồng bơ trên địa bàn huyện Nghĩa Đàn khoảng 35ha, tập trung ở các xã Nghĩa Phú, Nghĩa Bình với các giống bơ bản địa được trồng từ hơn 20 năm trước và một số loại giống bơ mới có nguồn gốc từ nước ngoài.
Sản phẩm Bơ trồng tại Nghĩa Đàn có chất lượng không thua kém bơ Daklak và hiện nay đã xây dựng nhãn hiệu tập thể "Bơ Nghĩa Đàn" và thương hiệu "Bơ Phủ Quỳ"
Cây quýt PQ được người dân xã Nghĩa Hồng, Nghĩa Long huyện Nghĩa Đàn lựa chọn đưa vào sản xuất.
Ổi Nghĩa Đàn bước đầu đã tạo dựng được thương hiệu và đã xây dựng thương hiệu "Ổi Nghĩa Đàn".
Sản xuất rau xanh cơ bản được tiêu dùng trên địa bàn và bán ra các địa phương khác với các sản phẩm chính như: bí xanh, bầu đỏ, dưa hấu, dưa chuộ, Nghĩa Thắng, Nghĩa Phú...
Là nhóm cây trồng phong phú về chủng loại; nhờ được quan tâm đầu tư sản xuất, thu nhập từ nghề trồng rau thực phẩm tương đối ổn định và cao hơn nhiều loại cây trồng khác; góp phần nâng cao giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Hiện nay, dự án rau sạch FVF theo tiêu chuẩn VietGAP và Organic của Công ty CP sản xuất và cung ứng rau quả Quốc tế được thực hiện tại xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Đàn với diện tích hơn 100 ha được trồng trong nhà kính và trên cánh mở. Với quy trình chăm sóc tốt, kiểm soát phân bón chặt chẽ, chất lượng được quản lý nghiêm ngặt cùng nguồn nước sạch và nguồn dinh dưỡng thuần khiết giúp rau củ quả phát triển tự nhiên; đảm bảo cung ứng ra thị trường các sản phẩm sạch và an toàn.
Ngoài ra, trên địa bàn đã thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên vùng đất cao cưỡng để trồng bí xanh ở xã Nghĩa Lộc, Nghĩa Hội; đậu tương, lạc ở xã Nghĩa Lộc, Nghĩa Trung nhằm tăng năng suất trên đơn vị diện tích và hạn chế sâu bệnh phát triển.
|
Bộ binh cơ giới hóa
"Xem nghĩa khác của từ Bộ binh"
"Đừng nhầm lẫn với Bộ binh cơ giới"
Bộ binh cơ giới hóa (hay Mechanized infantry) là các đơn vị bộ binh được trang bị xe bọc thép chở quân (APC) hoặc xe chiến đấu bộ binh (IFV) để hành quân và chiến đấu.
Theo định nghĩa của Quân đội Hoa Kỳ, bộ binh cơ giới hóa được phân biệt với Bộ binh cơ giới ở chỗ các phương tiện của nó cung cấp một mức độ bảo vệ và hỏa lực mạnh để sử dụng trong chiến đấu, trong khi bộ binh cơ giới chỉ được trang bị xe bánh lốp với mục đích vận chuyển. Hầu hết các APC và IFV đều có bánh xích hoặc là phương tiện dẫn động bốn bánh (6 × 6 hoặc 8 × 8) để di chuyển trên mặt đất gồ ghề. Một số quốc gia phân biệt giữa bộ binh được cơ giới hóa và lực lượng thiết giáp, chỉ định lực lượng do APC vận chuyển là cơ giới hóa và lực lượng trong IFV là thiết giáp.
So với bộ binh cơ động xe tải "hạng nhẹ", bộ binh cơ giới hóa có thể duy trì tốc độ di chuyển chiến thuật nhanh chóng và còn có thể trang bị Xe chiến đấu bộ binh có hỏa lực toàn diện hơn. Lực lượng này đòi hỏi nhiều vật tư chiến đấu hơn (đạn dược và đặc biệt là nhiên liệu) và vật tư vũ khí (linh kiện xe dự phòng), và một tỷ lệ nhân lực tương đối lớn hơn được yêu cầu để vận hành và bảo dưỡng phương tiện. Ví dụ, hầu hết các Xe bọc thép chở quân có một thể chở bảy hoặc tám lính bộ binh nhưng có kíp lái gồm hai người. Hầu hết các Xe chiến đấu bộ binh chỉ mang theo sáu hoặc bảy bộ binh nhưng yêu cầu một kíp lái gồm ba người. Để hoạt động hiệu quả trên chiến trường, các đơn vị cơ giới hóa cũng đòi hỏi nhiều thợ máy, với các phương tiện và thiết bị bảo dưỡng và phục hồi chuyên dụng.
Một số bộ binh cơ giới hóa đầu tiên là các đội xung kích của Đức được trang bị trên xe tăng A7V trong Thế chiến thứ nhất. Những chiếc xe này cực kỳ lớn để cho phép chúng chở các đội xung kích lớn và thường xuyên chở bộ binh trên xe cùng với kíp lái vốn đã đông đảo của chúng đã được huấn luyện như lính xung kích. Tất cả các xe tăng A7V trang bị súng máy đều mang theo hai khẩu súng phun lửa nhỏ để sử dụng. Xe tăng A7V thường chở một sĩ quan thứ hai để chỉ huy đội xung kích.
Trong Trận chiến St. Quentin, những chiếc A7V đã được hộ tống bởi 20 lính ném bom tấn công từ Tiểu đoàn xung kích Rohr, nhưng không thể xác định được họ đang hoạt động như những người xuống xe hay đang đi bộ cùng xe tăng. Trong trận chiến, các đội xe tăng được cho là đã xuống xe và tấn công các vị trí của đối phương bằng lựu đạn và súng phun lửa nhiều lần.
Một ví dụ khác về việc sử dụng phương pháp chiến đấu như vậy là Trận chiến đầu tiên của Villers-Bretonneux, trong đó những chiếc A7V sẽ trấn áp quân phòng thủ bằng súng máy và các đội xung kích sẽ xuống xe và tấn công họ bằng lựu đạn.
Vào cuối Thế chiến thứ nhất, tất cả các đội quân tham gia đều phải đối mặt với vấn đề duy trì đà tấn công. Xe tăng, pháo binh hay hành quân đều có thể được sử dụng để xuyên thủng hàng phòng ngự của đối phương, nhưng hầu như tất cả các cuộc tấn công vào năm 1918 đều phải dừng lại sau vài ngày. Bộ binh sau nhanh chóng trở nên kiệt quệ, và pháo binh, vật tư và lực lượng mới không thể được đưa tới chiến trường đủ nhanh để duy trì sức ép lên kẻ địch đang tập hợp lại.
Mọi người đều thừa nhận rằng kỵ binh quá yếu để được sử dụng trên hầu hết các chiến trường châu Âu, nhưng nhiều đội quân vẫn tiếp tục triển khai chúng. Bộ binh cơ giới có thể duy trì sự di chuyển nhanh chóng, nhưng những chiếc xe tải của họ yêu cầu phải có mạng lưới đường tốt hoặc địa hình mở vững chắc, chẳng hạn như sa mạc. Chúng không thể đi qua một chiến trường bị che khuất bởi miệng núi lửa, dây thép gai và chiến hào. Xe bánh xích hoặc xe dẫn động tất cả các bánh là giải pháp.
Sau chiến tranh, sự phát triển của các lực lượng cơ giới hóa phần lớn là lý thuyết trong một thời gian, nhưng nhiều quốc gia đã bắt đầu tái vũ trang vào những năm 1930. Quân đội Anh đã thành lập một cơ giới quân thực nghiệm vào năm 1927, nhưng nó thất bại trong việc theo đuổi phòng tuyến vì các ràng buộc ngân sách và nhu cầu trước khi đơn vị đồn trú biên giới của Đế quốc Anh.
Mặc dù một số người ủng hộ chiến tranh cơ động, chẳng hạn như JFC Fuller, chủ trương xây dựng "hạm đội xe tăng", những người khác, chẳng hạn như Heinz Guderian ở Đức, Adna R. Chaffee Jr. ở Hoa Kỳ, và Mikhail Tukhachevsky ở Liên Xô, công nhận những đơn vị xe tăng đó yêu cầu sự hỗ trợ chặt chẽ của bộ binh cùng các vũ khí khác và cũng cần có những vũ khí hỗ trợ đó để duy trì tốc độ tương tự như xe tăng.
Khi Đức hiện đại hóa quân đội vào những năm 1930, họ được trang bị một số đơn vị bộ binh ở mới là các sư đoàn "Panzer" cùng với xe bán bánh xích Sd.Kfz. 251, có thể theo kịp xe tăng trên hầu hết các địa hình. Quân đội Pháp cũng thành lập lực lượng"cơ giới hóa hạng nhẹ" ("Legere mécanisée"), trong đó một số các đơn vị bộ binh sở hữu các xe bọc thép chở quân. Cùng với việc cơ giới hóa các đơn vị bộ binh và hỗ trợ khác, điều này đã mang lại cho cả hai đội quân các đội hình vũ khí tổng hợp có tính cơ động cao. Học thuyết của Đức là sử dụng chúng để khai thác các mũi đột phá trong các cuộc tấn công "Blitzkrieg", trong khi người Pháp dự tính chúng được sử dụng để thay đổi nhanh chóng lực lượng dự bị trong một trận chiến phòng thủ.
Chiến tranh thế giới thứ hai.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, hầu hết các quân đội chủ lực đều tích hợp xe tăng hoặc pháo tự hành với bộ binh cơ giới, cũng như các vũ khí hỗ trợ khác, chẳng hạn như pháo binh và công binh, làm đơn vị vũ khí kết hợp.
Đội hình thiết giáp của Đồng minh bao gồm một yếu tố bộ binh cơ giới hóa để phối hợp vũ khí đồng đội. Ví dụ, các sư đoàn thiết giáp của Mỹ có sự cân bằng của ba tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn gồm xe tăng, bộ binh thiết giáp và pháo tự hành. Bộ binh thiết giáp Hoa Kỳ được trang bị đầy đủ các xe thiết giáp M2 và M3. Trong quân đội Anh và Khối thịnh vượng chung, "lữ đoàn thiết giáp Loại A", được thiết kế cho các hoạt động độc lập hoặc thành lập một bộ phận của sư đoàn thiết giáp, có một tiểu đoàn "bộ binh cơ giới" được bố trí với xe Bren Carriers hoặc muộn hơn là các xe bán bánh xích trong chương trình lend-lease. Các lữ đoàn "Loại B" không có thành phần bộ binh cơ giới và bao gồm các đội hình bộ binh.
Quân đội Canada và sau đó quân đội Anh, sử dụng các phương tiện khác như xe thiết giáp chở quânKangaroo, thường là cho các hoạt động cụ thể chứ không phải là để tạo hình bộ binh cơ giới vĩnh viễn. Chiến dịch đầu tiên như vậy là Chiến dịch Totalize trong Trận Normandy, không đạt được mục tiêu cuối cùng nhưng cho thấy rằng bộ binh cơ giới hóa có thể chịu ít thương vong hơn nhiều so với binh lính chạy bộ trong các chiến dịch cố định.
Quân đội Đức, đã đưa bộ binh cơ giới vào các "sư đoàn Panzer" của mình, sau đó đặt tên cho chúng là các đơn vị "Panzergrenadier". Vào giữa cuộc chiến, chúng đã bao gồm toàn bộ các sư đoàn bộ binh được cơ giới hóa và đặt tên là các sư đoàn Panzergrenadier.
Do nền kinh tế Đức không thể sản xuất đủ số lượng xe bọc thé chở quân bán bánh xích của mình, nên chỉ một phần tư hoặc một phần ba bộ binh trong các sư đoàn Panzer hoặc Panzergrenadier được cơ giới hóa, ngoại trừ một số đội hình được ưu tiên. Số còn lại được di chuyển bằng xe tải. Tuy nhiên, hầu hết các đơn vị trinh sát của Đức trong các đội hình như vậy cũng chủ yếu là bộ binh được cơ giới hóa và có thể đảm nhiệm các nhiệm vụ bộ binh khi cần thiết. Các nước đồng minh thường được sử dụng xe jeep, xe bọc thép, xe tăng hạng nhẹ cho trinh sát.
Hồng quân Liên Xô bắt đầu chiến tranh trong khi vẫn còn trong quá trình tổ chức lại thiết giáp và cơ giới hóa, hầu hết trong số đó đã bị phá hủy trong những tháng đầu tiên của cuộc xâm lược Liên Xô. Khoảng một năm sau, Liên Xô đã tái tạo các đơn vị bộ binh cơ giới quy mô sư đoàn, gọi là quân đoàn cơ giới hóa, thường bao gồm một lữ đoàn xe tăng và ba lữ đoàn bộ binh cơ giới, với vũ khí hỗ trợ cơ giới. Chúng thường được sử dụng trong giai đoạn tiến công, như một phần của khái niệm tác chiến chiều sâu của Liên Xô trước chiến tranh.
Quân đội Liên Xô cũng tạo ra một số nhóm kỵ binh cơ giới bao gồm đội hình hỗn hợp xe tăng, bộ binh cơ giới và kỵ binh. Chúng cũng được sử dụng trong các giai đoạn phản công và truy kích quân địch. Bộ binh cơ giới của Hồng quân thường được chở trên xe tăng hoặc xe tải, chỉ có một số xe bọc thép chở quân bán bánh xích thuộc chương trình Lend-lease.
Quân đội New Zealand cũng thành lập bộ phận gần giống với quân đoàn cơ giới Liên Xô, mà chiến đấu trong chiến dịch Ý, nhưng chúng có ít cơ hội cho các hoạt động chiến đấu cơ động cho đến gần cuối của cuộc chiến.
Quân đội Rumani thành lập lực lượng hỗn hợp các loại xe. Số lượng này lên tới 126 chiếc Renault UE Chenillette do Pháp thiết kế, được sản xuất trong nước bằng giấy phép, 34 chiếc máy kéo bọc thép của Liên Xô bị thu giữ và tân trang lại, 27 chiếc bán tải bọc thép loại Sd.Kfz. 250 và Sd.Kfz. 251 của Đức do Đức sản xuất, hơn 200 xe tải Tatra, Praga và Skoda của Tiệp Khắc (xe tải Tatra là mẫu xe được chế tạo đặc biệt cho Quân đội Romania) cũng như 300 xe dã chiến Horch 901 4x4 của Đức. Các xe bán bánh xích Sd.Kfz. 8 và Sd.Kfz. 9 cũng được mua lại, cũng như 9 xe loại Sd.Kfz. 10 và máy kéo 100 RSO / 01. Người Romania cũng sản xuất 5 nguyên mẫu của máy kéo pháo T-1.
Trong thời kỳ hậu chiến, những năm đầu của Chiến tranh Lạnh, Quân đội Liên Xô và NATO đã phát triển hơn nữa các thiết bị và học thuyết cho bộ binh cơ giới. Ngoại trừ đội hình đường không, Hồng quân đã cơ giới hóa tất cả các đội hình bộ binh của mình. Ban đầu, những chiếc APC có bánh lốp, như BTR-152 được sử dụng, một số chiếc không được bảo vệ phía trên nóc và do đó dễ bị pháo kích. Nó vẫn mang lại cho Quân đội Liên Xô sự linh hoạt hơn về mặt chiến lược do có diện tích đất lớn và đường biên giới dài của Liên Xô và các đồng minh trong Hiệp ước Warsaw.
Lục quân Hoa Kỳ đã thiết lập cấu hình cơ bản của APC với M75 và M59 trước khi áp dụng M113 nhẹ hơn, có thể được chở bằng Lockheed C-130 Hercules và các máy bay vận tải khác. Phương tiện này mang lại cho bộ binh khả năng cơ động tương tự như xe tăng nhưng với lớp giáp bảo vệ kém hiệu quả hơn nhiều (nó vẫn có lớp bảo vệ hạt nhân, sinh học và hóa học).
Trong Chiến tranh Việt Nam, M113 thường được trang bị thêm vũ khí và được sử dụng như một phương tiện chiến đấu bộ binh đặc nhiệm. Những cuộc hành quân ban đầu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa sử dụng phương tiện này cho thấy rằng quân đội khi lên xe có hiệu quả hơn nhiều so với khi xuống xe. Học thuyết của Mỹ sau đó đã nhấn mạnh các chiến thuật gắn kết. Người Mỹ cuối cùng đã triển khai một lữ đoàn cơ giới hóa và mười tiểu đoàn cơ giới hóa đến Việt Nam.
Quan trọng hơn nữa đối với những phát triển trong tương lai là BMP-1 của Liên Xô, là xe chiến đấu bộ binh thực sự đầu tiên. Sự ra đời của nó đã thúc đẩy sự phát triển của các phương tiện tương tự trong quân đội phương Tây, chẳng hạn như Marder của Tây Đức và M2 Bradley của Mỹ. Không giống như APC, chỉ nhằm mục đích vận chuyển bộ binh từ nơi này sang nơi khác dưới lớp giáp, IFV sở hữu hỏa lực mạnh có thể hỗ trợ bộ binh trong cuộc tấn công hoặc phòng thủ. Nhiều IFV cũng được trang bị lỗ bắn để bộ binh của họ có thể bắn vũ khí từ bên trong, nhưng nhìn chung chúng không thành công và đã bị loại khỏi IFV hiện đại.
Cách tổ chức của Liên Xô đã dẫn đến các chiến thuật khác nhau giữa các loại bộ binh cơ giới hóa "hạng nhẹ" và "hạng nặng". Trong Quân đội Liên Xô, sư đoàn "súng trường cơ giới" hạng nhất từ những năm 1970 trở đi thường có hai trung đoàn được trang bị xe thiết giáp chở quân BTR-60 có bánh lốp và một trung đoàn với xe chiến đấu bộ binh BMP-1 bánh xích. Các trung đoàn "hạng nhẹ" dự định thực hiện các cuộc tấn công bị giảm xuống vào sườn của sư đoàn, và trung đoàn "hạng nặng" được trang bị BMP vẫn được bố trí và hỗ trợ trung đoàn xe tăng của sư đoàn trên trục tiến quân chính. Cả hai loại trung đoàn bộ binh vẫn được gọi chính thức là đơn vị "súng trường cơ giới".
Một hướng phát triển trong Lực lượng vũ trang Liên Xô từ những năm 1980 là việc cung cấp các xe chiến đấu bộ binh chuyên dụng cho Lực lượng lính dù Nga. Loại đầu tiên trong số đó là BMD-1, có hỏa lực tương đương BMP-1 nhưng được mang vào hoặc thậm chí nhảy dù từ máy bay vận tải tiêu chuẩn của Liên Xô. Điều đó khiến các đội hình đổ bộ đường không trở thành bộ binh cơ giới với cái giá phải trả là giảm sức mạnh của "lưỡi lê", vì BMD chỉ có thể mang theo ba hoặc nhiều nhất bốn lính dù cùng với kíp lái ba người của nó. Chúng đã được sử dụng trong vai trò đó trong cuộc chiến tranh Afghanistan của Liên Xô vào năm 1979.
Hiện tại, hầu hết các đơn vị bộ binh từ các nước công nghiệp phát triển đều được cung cấp một số loại phương tiện vận tải cơ giới. Các đơn vị bộ binh được trang bị xe chiến đấu bộ binh thay vì các phương tiện nhẹ hơn thường được chỉ định là "hạng nặng", cho thấy sức mạnh chiến đấu cao hơn nhưng cũng đòi hỏi chi phí vận chuyển tầm xa cao hơn. Trong giai đoạn đầu Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, Quân đội Hoa Kỳ lo ngại về sự thiếu cơ động, khả năng bảo vệ và hỏa lực được cung cấp bởi các đội hình triển khai nhanh (tức là trên không) hiện có; và cả về sự chậm chạp trong việc triển khai các đơn vị thiết giáp chính quy. Kinh nghiệm đã khiến Quân đội Hoa Kỳ thành lập các lữ đoàn chiến đấu dựa trên xe chiến đấu bộ binh bánh lốp Stryker.
Trong Quân đội Anh, các đơn vị "hạng nặng" được trang bị xe chiến đấu bộ binh Warrior được mô tả là "bộ binh bọc thép", và các đơn vị với xe bọc thép chở quân Bulldog là "bộ binh cơ giới hóa". Quy ước này đang trở nên phổ biến; chẳng hạn, Quân đội Pháp có các đơn vị " "motorisées" " được trang bị các xe VAB bánh lốp và các đơn vị " "mécanisées" " (bọc thép) với AMX-10P bánh xích.
Các yêu cầu về vận tải và hậu cần khác đã khiến nhiều quân đội áp dụng các APC có bánh xe khi lượng APC bánh xích hiện có của họ yêu cầu thay thế. Một ví dụ là Quân đội Canada, đã sử dụng xe chiến đấu bánh lốp LAV III trong chiến đấu ở Afghanistan. Quân đội Ý, Tây Ban Nha và Thụy Điển đang áp dụng (và xuất khẩu) các IFV bánh xích mới được sản xuất nội địa. Đặc biệt, xe chiến đấu bộ binh CV90 của Thụy Điển đã được một số quân đội sử dụng.
Một xu hướng gần đây được thấy trong Lực lượng Phòng vệ Israel và Lực lượng Vũ trang Liên bang Nga là phát triển và giới thiệu các APC được bọc thép đặc biệt tốt (HAPC), chẳng hạn như IDF Achzarit, được chuyển đổi từ các xe tăng chiến đấu chủ lực đã lỗi thời (chẳng hạn như T-55 của Liên Xô). Những phương tiện như vậy thường là những phương tiện viễn chinh, và việc thiếu không gian ngăn cản việc trang bị IFV cùng với một bộ phận hoặc đội hình bộ binh. Trong Quân đội Nga, những phương tiện như vậy được sử dụng để chiến đấu trong các khu vực đô thị, nơi nguy cơ từ vũ khí chống tăng bộ binh tầm ngắn, chẳng hạn như RPG-7, là cao nhất, sau khi các đơn vị xe tăng và bộ binh cơ giới của Nga chịu tổn thất nặng nề khi giao tranh với quân Chechnya tại Grozny trong Chiến tranh Chechnya lần thứ nhất năm 1995.
Nhiều APC và IFV hiện đang được phát triển nhằm mục đích triển khai nhanh chóng bằng máy bay. Các công nghệ mới hứa hẹn giảm trọng lượng, chẳng hạn như hệ thống truyền động điện, có thể sẽ được tích hợp. Tuy nhiên, đối mặt với mối đe dọa tương tự ở Iraq sau cuộc xâm lược đã khiến Nga chuyển đổi xe tăng sang APC, quân đội chiếm đóng nhận thấy cần phải trang bị thêm giáp cho các APC và IFV hiện có, điều này làm tăng thêm kích thước và trọng lượng tổng thể. Một số thiết kế mới nhất (chẳng hạn như Puma của Đức) nhằm cho phép một phương tiện đơn giản, hạng nhẹ, có thể vận chuyển bằng đường không, được trang bị trên thực địa với khả năng bảo vệ bổ sung, do đó đảm bảo cả tính linh hoạt chiến lược và khả năng sống sót.
|
Hãng phim Phước Sang
Hãng phim Phước Sang là công ty truyền thông giải trí có trụ sở tại Việt Nam do danh hài Lưu Phước Sang sáng lập và làm giám đốc.
Năm 1990, sau khi tốt nghiệp trường Sân khấu Điện ảnh TP HCM, nam diễn viên trẻ Lưu Phước Sang bàn với anh hai là đạo diễn Lưu Huỳnh lập một tổ hợp chế tác phim truyện video thương mại để lập nghiệp. Một phần vì thời điểm này chưa có đạo luật cho phép tư nhân tự lập cơ sở kinh doanh truyền thông giải trí, cho nên nhà nước chỉ tạm thời làm ngơ cho vài cá nhân thuê cơ sở vật chất của các hãng phim để tự chế tác sản phẩm điện ảnh thương mại.
Thời điểm này, Phước Sang chỉ mới gây chú ý trong hàng khán giả với vai Thắng Khờ trong phim "Vị đắng tình yêu", vai diễn tuy rất nhỏ nhưng lại gây ấn tượng khắp ba miền không thua gì nhân vật chính của Lê Công Tuấn Anh. Tuy nhiên anh em Lưu Huỳnh và Lưu Phước Sang lại nức tiếng trong giới văn nghệ sĩ là những "ông bầu mát tay", vì cứ diễn viên trẻ nào đóng kịch hay phim với họ đều lập tức nổi tiếng.
Bấy giờ là giai đoạn rất thịnh hành những phim mì ăn liền, vì chỉ cần kinh phí thấp và chút năng lực diễn xuất là phim đã có lời. Anh em họ Lưu thành lập Nhóm Điện ảnh Hài kịch Ca nhạc Phước Sang hay còn gọi Trung tâm Giải trí Phước Sang. Họ xúc tiến thuê máy và khâu hậu kì ở các hãng phim lớn, sau đó mời bạn học như Hùng Minh, Cát Phượng, Việt Anh, Hữu Nghĩa, Hồng Vân, Hồng Đào, Bảo Chung, Trung Dân, Hoàng Sơn, Kiều O, vì không những tiết kiệm kinh phí mà còn giúp những bạn trẻ mới ra trường có cơ hội phát huy năng lực diễn xuất.
Cho đến năm 2000, khi đã đủ lưng vốn, đạo diễn Phước Sang xin cấp phép thành lập Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hãng phim Phước Sang hay gọi tắt Phuocsang Film, và kể từ đó đến hết thập 2000 gần như thống trị dòng phim điện ảnh Việt với những phim hài hành động vô cùng ấn tượng.
Bộ phim "Khi đàn ông có bầu" dựa trên một kịch phẩm rất ăn khách trên sân khấu Sài Gòn 5B Võ Văn Tần của đạo diễn Phước Sang, mà tất cả diễn viên đều thân thiết với ông bầu Phước Sang nên đồng lòng nhận cachet tượng trưng là 0 đồng. Thế nhưng phim cán mốc doanh thu 13 tỉ chỉ trong chưa đầy 1 tháng, tức là lời gấp 13 lần kinh phí.
Sau thành công vượt mong đợi, đạo diễn Phước Sang cho ra hàng loạt phim điện ảnh ca nhạc hài hành động với đầu tư nhân lực vật lực ngày càng lớn, nội dung hướng đến cái cười phi lí nhưng đẫm nước mắt. Mà đỉnh cao là "Võ lâm truyền kỳ" với đại cảnh huy động đàn trâu hàng trăm con trên cao nguyên Lâm Viên. Hãng vẫn giữ mạch tuyển trạch từ giai đoạn trước là chỉ chọn diễn viên không quá nổi tiếng, thậm chí giao vai chính cho những ca sĩ hoặc diễn viên vô danh, chưa cả biết diễn xuất. Thế nhưng phim vẫn ăn khách nhờ lối diễn xuất tỉ mỉ, trọng biểu cảm.
Tuy nhiên bên cạnh những thành công nhất định, Hãng cũng bị chê tơi bời trên mặt báo. Điển hình là phim "Hồn Trương Ba da hàng thịt" bị coi là tấu hài lố lăng, quá nhiều tình tiết khiên cưỡng. Phim đạt doanh thu quá thấp so với vốn bỏ ra, nên phải đắp chiếu chỉ sau vài tuần công bố.
Sau một số sự cố liên quan đến gia đình và cả công việc kinh doanh không thuận lợi, giám đốc Lưu Phước Sang quyết định thu gọn lại quy mô công ty. Thời kì này hãng không sản xuất phim nữa mà chuyển hướng quay video sự kiện giải trí, đám cưới, và đầu tư kinh doanh nhà hàng, khách sạn.
Chỉ có một số phim điện ảnh mà Hãng Phước Sang được nêu bảng hiệu, nhưng thực ra chỉ là góp vốn đầu tư chứ không trực tiếp sản xuất như trước nữa.
Trước tình hình điện ảnh Việt Nam tiến bộ vượt bậc về nhân lực và kĩ thuật, ban giám đốc Hãng Phước Sang bắt đầu chú tâm trở lại với phim trường.
Vào năm 2021, Hãng công bố dự án phần 2 "" hợp tác với Công ty CJ và Silver Moonlight Entertainment.
|
Cầu vượt Ngã Tư Sở
Cầu vượt Ngã Tư Sở là một cầu vượt ở Ngã Tư Sở, Hà Nội, Việt Nam.
Cầu chạy theo hướng từ Hà Nội đi Hà Tây. Nó được thiết kế để giảm ách tắc cho hướng đi từ đường Láng đến đường Trường Chinh. Khu vực Ngã Tư Sở, với mật độ giao thông thuộc loại lớn nhất Hà Nội, trong thời gian từ thập kỷ 1990 đến trước khi cầu được xây dựng luôn là nơi xảy ra tắc đường.
Cầu vượt Ngã Tư Sở là một cầu dây văng một mặt phẳng và là loại đầu tiên như vậy được xây tại Hà Nội. Nó có trụ thấp với kết cấu dầm bản Extradosed liên tục bê tông dự ứng lực từng phần. Cầu có chiều dài là 237 m và chiều rộng là 17,5 m; với 8 trụ, 2 mố, 9 nhịp và 2 đường dẫn. Các móng cọc khoan nhồi có đường kính 1.000 mm.
Toàn bộ công trình xây dựng không chỉ bao gồm cầu vượt Ngã Tư Sở mà còn có hầm bộ hành, tuy nen kỹ thuật, hệ thống chiếu sáng, tín hiệu giao thông, cấp thoát nước, cây xanh, 4 khu vệ sinh tại 4 cửa hầm đường bộ. Tất cả nằm trên nút giao thông Ngã Tư Sở có diện tích 7,8 ha.
Cầu được thi công bởi nhà thầu là liên doanh Tổng công ty Xây dựng Vinaconex (Việt Nam) và Công ty Sumitomo (Nhật Bản). Thời gian thi công dự kiến trước khi xây là khoảng 16 tháng. Viện Cầu và Kết cấu Nhật Bản (JBSI) đã làm tư vấn giám sát công trình này.
Chi phí tổng cộng cho công trình là 1.139,6 tỷ đồng, với nguồn tiền từ vốn ODA của Nhật Bản và vốn của chính phủ Việt Nam; trong đó chi phí xây lắp là 224 tỷ đồng, chi phí giải phóng mặt bằng là 748 tỷ đồng, và 167,1 tỷ đồng là các chi phí khác.
Dự án đã phải giải tỏa 1.100 hộ dân, với 1.000 hộ trong số đó cần tái định cư. Các nơi tái định cư là 104 căn hộ ở làng quốc tế Thăng Long, 264 hộ ở khu đền Lừ, 286 căn hộ ở khu Đại Kim và 480 căn ở khu Nam Trung Yên.
Từ đầu năm 2004, kế hoạch giải phóng mặt bằng để xây dựng cầu vượt Ngã Tư Sở đã được lập. Thông báo số 47/TB-UB của phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, Lê Quý Đôn, ghi: "Việc giải phóng mặt bằng nút giao thông Ngã tư Sở, Ngã tư Vọng, ủy ban nhân dân TP yêu cầu phải cơ bản hoàn thành xong trước ngày 30/6/2004. Yêu cầu Ban quản lý dự án trọng điểm, ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân, ủy ban nhân dân quận Đống Đa khẩn trương, kiên quyết thực hiện".
Tuy nhiên sau thời hạn 30 tháng 6 năm 2004, vẫn còn nhiều hộ dân chưa được giải tỏa do không chấp nhận giá đền bù hoặc muốn đo lại đất. Giá đất đền bù cao nhất đã được trả là 23,5 triệu đồng/m2.
Ngày 28 tháng 12 năm 2004, quận Thanh Xuân tổ chức cưỡng chế giải phóng mặt bằng. Đến ngày 4 tháng 1 năm 2005, các hộ dân chưa di chuyển khỏi khu vực giải phóng mặt bằng thuộc địa phận quận Đống Đa cũng đã bị cưỡng chế.
Ngày 30 tháng 4 năm 2005, cầu đã được khởi công.
Vào giữa tháng 2 năm 2006, kỹ sư Lương Đình Chiến, vốn là giám sát viên kỹ thuật của công trình được Viện Cầu và Kết cấu Nhật Bản (JBSI) thuê từ Tổng công ty Tư vấn thiết kế giao thông vận tải (TEDI), đã bị nhận các cuộc điện thoại dọa giết nếu giám sát kỹ công trình. Nguyễn Mạnh Hà, kẻ gọi điện, đã bị bắt và khai báo thực hiện các cuộc gọi điện theo yêu cầu của Nguyễn Văn Hương, nhân viên Công ty cổ phần Xây dựng số 5 (Vinaconex 5), một nhà thầu phụ tại dự án. Ngay sau đó Nguyễn Văn Hương đã bị bắt và khai nhận thực hiện việc dọa nạt do không muốn công việc của mình bị giám sát chặt chẽ.
Ngày 19 tháng 5 năm 2006, việc thông xe kỹ thuật đã được tiến hành.
|
Chiến dịch Dynamo, hay còn gọi là Di tản Dunkirk, là một trong những chiến dịch quan trọng nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai, diễn ra từ ngày 26 tháng 5 đến 4 tháng 6 năm 1940 tại Dunkirk (Pháp). Chiến dịch bắt đầu khi một số lượng lớn quân Anh, Pháp và Bỉ bị chia cắt và bị bao vây bởi quân Đức. Chiến dịch nhằm sơ tán quân đội Anh và các nước đồng minh khác.
Thủ tướng Anh Winston Churchill là người đưa ra lệnh này nhằm giải cứu quân đội viễn chinh Anh, gồm toàn bộ quân đội trong thời bình khỏi kết quả bị xóa sổ bởi quân Đức. Nếu chiến dịch này không thực hiện kịp thời thì nước Anh, một nước không còn quân đội đồng nghĩa với việc kết thúc sự tự do ở châu Âu.
Trong bài phát biểu tại Hạ viện Anh, Thủ tướng Anh Winston Churchill gọi đây là "thảm họa quân sự khổng lồ", ông nói rằng "toàn bộ cội rễ, cốt lõi và đầu não của Quân đội Anh đã bị mắc kẹt tại Dunkirk, hầu như bị giết hoặc bị bắt. Trong bài phát biểu "Chúng ta sẽ chiến đấu trên bãi biển" vào ngày 4 tháng 6, ông đã ca ngợi việc giải cứu họ như là một "phép lạ của giải thoát".
Quân đội Đức bao vây toàn bộ thành phố, con đường giải cứu các binh lính bị bao vây chỉ có thể là từ bờ biển. Quân Anh sử dụng tất cả các phương tiện trong tay, ngay cả xuồng, tàu đánh cá nhỏ... cũng được sử dụng. Hạm đội giải cứu này phải thực hiện một sứ mệnh khó khăn, được yểm trợ bởi lực lượng Hải quân Hoàng gia Anh, và các toán đi trước dọn mìn và thủy lôi, tiến về Dunkirk. Bản thân các tàu cứu hộ cũng là những mục tiêu của quân Đức.
Vào ngày đầu tiên chỉ có 7.669 binh sĩ các nước Đồng Minh được sơ tán, nhưng đến cuối ngày thứ tám, 338.226 người (khoảng 218.000 lính Anh, 120.000 lính Pháp và Bỉ) trong số họ đã được cứu thoát bởi một hạm đội được tập hợp nhanh chóng với hơn 800 tàu thuyền. Cho đến khi kết thúc chiến dịch, có tất cả khoảng 68.000 quân viễn chinh Anh bị thiệt mạng và bắt làm tù binh. Tuy thiệt của quân Anh là không nhỏ, nhưng khí tài và quân trang có thể sản xuất lại, giải cứu được quân lính mới chính là kỳ tích ở Dunkirk. Chính những binh sĩ sống sót đó sau này sẽ là hạt nhân của lực lượng đánh bại Đức.
|
Hãng phim Hoạt hình Việt Nam
Hãng phim Hoạt hình Việt Nam (tên đầy đủ là Công ty Cổ phần Hãng phim Hoạt hình Việt Nam) là tên gọi hãng phim hoạt hình có quy mô lớn nhất và lịch sử lâu đời nhất ở Việt Nam.
Hình thành và phát triển.
- Xưởng phim Hoạt họa và búp bê Việt Nambr- Xưởng phim hoạt hình Việt Nambr- Hãng phim hoạt hình Việt Nam
- Tên đầy đủ tiếng Việt: Công ty Cổ phần Hãng phim Hoạt hình Việt Nam.
- Tên rút gọn bằng Tiếng Việt: Hãng phim Hoạt hình Việt Nam.
- Tên giao dịch Quốc tế: VIETNAM ANIMATION JOINT STOCK COMPANY
Công ty Cổ phần Hãng phim Hoạt hình Việt Nam - gọi tắt là Hãng phim hoạt hình Việt Nam thành lập ngày 9/11/1957.
Bộ phim nhựa đen trắng đầu tiên "Đáng đời thằng Cáo" ra mắt khán giả năm 1960 đã đánh dấu sự ra đời của Điện ảnh Hoạt hình Việt Nam non trẻ đầy hứa hẹn.
Từ một cơ sở nhỏ bé trên đường Hoàng Hoa Thám trong ngày đầu thành lập, đến nay, Hãng đã có một cơ sở khang trang tại số 7 Trần Phú với trường quay, phòng chiếu phim, phòng thu thanh, các trang thiết bị hiện đại, chuyên dụng phục vụ cho việc sản xuất phim. Bên cạnh đó, Hãng còn qui tụ được đội ngũ sáng tác đông đảo gồm các đạo diễn, họa sĩ, biên kịch… được đào tạo ở trong và ngoài nước.
Những năm gần đây, phim của Hãng sản xuất ngày càng nâng cao về số lượng và chất lượng. Những bộ phim của Hãng được đánh giá cao trong các kỳ liên hoan phim Quốc gia và Quốc tế.
Các thể loại phim Hãng đang sản xuất: phim 2D, phim 3D, cắt giấy vi tính,…
Suốt chặng đường hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Hãng phim Hoạt hình Việt Nam ngày càng trưởng thành và phát triển, trở thành một Hãng sản xuất phim hoạt hình hàng đầu của Việt Nam và khu vực.
- Hãng phim hoạt hình Việt Nam đã được Đảng và nhà nước tặng thưởng:
+ Huân chương kháng chiến Hạng III năm 1973.
+ Huân chương Lao động Hạng II năm 1989.
+ Huân chương Lao động Hạng I năm 1999
- Số lượng phim sản xuất: 345 phim.
+ Phim hoạt hình "Mèo Con" - Giải Bồ nông bạc LHP Mamaia (Rumani) 1966. Bằng khen tại LHP Phrăngphuốc 1967.
+ "Chuyện ông Gióng" - Giải Bồ câu vàng LHP Lai xich (CHDC Đức) 1971 - Bằng khen tại LHP Matxcova 1971
+ "Bài ca trên vách núi" - Bằng khen tại LHP Mamaia (Rumani) 1968.
+ "Cô bé và lọ hoa" - Bằng khen tại LHP Matxcova 1973
+"Ông Trạng thả diều" - Bằng khen tại LHP Matxcova 1981
+ "Ai cũng phải sợ" - Bằng khen tại LHP Matxcova 1983
+ "Sự tích Đảo Bà" - Giải nhì LHP Điện ảnh Du lịch Thể thao Quốc tế 2010
+ "Những chú cá lạc đàn" - Giải Khuyến khích LHP Điện ảnh Du lịch Thể thao Quốc tế 2010
+ Liên hoan phim Việt Nam: 14 Bông sen vàng
37 Bông sen bạc.
+ Giải thưởng của Hội Điện ảnh: 72 Cánh diều Vàng, Bạc và các giải thưởng khác.
2. Ngô Mạnh Lân
3. Phạm Minh Trí
4. Nguyễn Hà Bắc
5. Nguyễn Thị Phương Hoa
2. Lê Minh Hiền
4. Nguyễn Thị Nghiêm Dung
5. Nguyễn Thị Hằng
6. Nguyễn Bảo Quang
7. Phan Thị Hà
9. Đinh Trang Nguyên
10. Nguyễn Nhân Lập
11. Trần Trọng Bình
Ngành nghề kinh doanh:
- Sản xuất kinh doanh phim hoạt hình
- Sản xuất phim truyện thiếu nhi;
- Phát hành phim hoạt hình và phim truyện thiếu nhi trong nước và ngoài nước;
- Sản xuất các sản phẩm đi kèm theo phim như: quần áo, túi, các con giống của nhân vật trong phim;
- Sản xuất phim truyền thông, quảng cáo;
- Xuất bản truyện tranh từ nội dung phim;
- Tổ chức và cung cấp các dịch vụ sản xuất phim như: Trường quay, làm kỹ xảo điện ảnh, thu thanh, làm phụ đề, dựng phim;
- Cung cấp dịch vụ và tổ chức các sự kiện về văn hoá như: hội thảo, hội họp
Rạp Thánh Gióng là rạp chiếu phim hoạt hình đầu tiên của Việt Nam tại trụ sở Hãng phim Hoạt hình Việt Nam, số 7 – Trần Phú – Ba Đình - Hà Nội. Rạp gồm 2 phòng chiếu, phòng 1 có 150 chỗ, phòng 2 có 75 chỗ. Rạp khai trương tháng 1 năm 2014.
Năm 2017, doanh thu của hãng là 22,5 tỷ VNĐ.
|
Đại học Giao thông Đường bộ Moskva
MADI là tên viết tắt kiểu chuyển tự của cụm từ МАДИ trong tiếng Nga của trường Đại học giao thông Giao thông Đường bộ Mátxcơva. Năm 2010 được đổi tên thành Московский Автомобильно-Дорожный Государственный технический университет (МАДИ), hay Trường Tổng hợp Kỹ thuật Quốc gia về Cầu đường Mátxcơva. Trước đây trường có tên tiếng Nga Московский Автомобильно-Дорожный институт (Государственный технический университет), cả xưa và nay trường đều lấy tên viết tắt là МАДИ. MADI là một trong những trường đại học lớn nhất, có uy tín đào tạo về chuyên ngành ô tô, cầu, đường, sân bay, máy và thiết bị làm đường của Nga.
Hiện tại có hai cơ sở tại hai thành phố là Makhachkala và Cheboksary.
|
Jimmy Donal "Jimbo" Wales (IPA: ˈdoʊnəl ˈweɪlz; sinh 7 tháng 8 năm 1966) là nhà sáng lập và Chủ tịch Quỹ Hỗ trợ Wikimedia, một định chế phi lợi nhuận điều hành bách khoa toàn thư mở Wikipedia cùng các đề án wiki khác. Wales cũng là nhà sáng lập Fandom Inc.(trước đây là Wikia), công ty điều hành dịch vụ hosting web Fandom.
Jimmy Wales chào đời tại Huntsville, tiểu bang Alabama (Hoa Kỳ), vào tháng 8 năm 1966, không rõ ngày (theo là ngày 7). Cha của Wales, nay đã về hưu, là người quản lý một cửa hàng thực phẩm. Mẹ của Wales, Doris, và bà ngoại Erma điều hành một trường tư thục nhỏ "theo truyền thống trường học một phòng", cũng là nơi Wales đến để học tập. Thường thì chỉ có bốn học sinh cho một cấp lớp nên trường dồn chung từ cấp lớp 1 đến cấp lớp 4, và từ cấp lớp 5 đến cấp lớp 8. Wales nhận xét rằng kinh nghiệm đến trường của mình không có gì khác biệt bởi vì hai giáo viên chính của cậu là mẹ và bà ngoại. Học sinh ở đây được hưởng một sự tự do đáng kể để có thể học bất cứ thứ gì họ thích; triết lý giáo dục của trường chịu ảnh hưởng phương pháp Montessori. Người ta kể rằng Wales tiêu tốn nhiều thì giờ để nghiền ngẫm bộ Bách khoa Toàn thư Thế giới ("World Book Encyclopedia").
Sau lớp tám, Wales được gửi đến Trường Randolph, thuộc loại hình trường dự bị đại học ("prep school" - thường có học phí cao với chương trình học tập tốt), cho phép học sinh trực tiếp sử dụng phòng thực tập vi tính và các kỹ thuật khác. Wales kể lại rằng loại hình trường học này là quá mắc cho gia đình cậu, nhưng họ tin vào tầm quan trọng của giáo dục:
"Giáo dục luôn luôn là niềm đam mê trong gia đình tô, chính sự tiếp cận theo cách truyền thống với kiến thức, tri thức và hệ thống là nền tảng cho một cuộc sống tốt đẹp."
Wales nhận văn bằng cử nhân tại và bằng thạc sĩ tại Đại học Alabama. Về sau, Wales tham dự các khoá học cho chương trình tiến sĩ chuyên ngành tài chính tại Đại học Alabama và Đại học Indiana.
Wales giảng dạy tại Đại học Alabama và Đại học Indiana khi đang theo đuổi chương trình cao học, nhưng không viết luận án tiến sĩ.
Wales hành nghề buôn bán chứng khoán tại Chicago, chỉ trong vòng vài năm ông kiếm đủ tiền để "sống cùng vợ con cho đến hết đời".
Năm 1996, Wales thành lập một cổng tìm kiếm gọi là Bomis, cho đến giữa năm 2005 vẫn còn bán ảnh khiêu dâm. Vì những hoạt động ở Bomis, trong một cuộc phỏng vấn trên chương trình truyền hình C-SPAN vào tháng 9 năm 2005, Brian Lamb đã hỏi Wales về sự dính líu của ông đối với điều mà Lamb gọi là "những bức ảnh bẩn thỉu". Đáp lại, Wales miêu tả Bomis là một "công cụ tìm kiếm dành cho nam giới".
Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí "Wired", Wales không cho là nội dung của Bomis thuộc loại "khiêu dâm nhẹ": "Nếu phim xếp loại R (cấm khán giả dưới 17 tuổi) là khiêu dâm, thì Bomis là khiêu dâm, nếu những phim ấy không khiêu dâm, Bomis cũng không". Nay Wales không còn dính líu đến công ty này.
Tháng 3 năm 2000, ông thành lập N, một "bách khoa toàn thư miễn phí", và thuê Larry Sanger đảm nhiệm vị trí tổng biên tập. Trong khi Wales còn là CEO, Bomis tặng hơn 100.000 USD (chủ yếu là qua lợi nhuận và cung cấp đường truyền miễn phí) cho Nupedia và Wikipedia, và tiếp tục hỗ trợ đến năm 2002.
Wikipedia và Quỹ Hỗ trợ Wikimedia.
Việc sử dụng một wiki để tạo lập nội dung bách khoa toàn thư đã được Larry Sanger đề ra từ ngày 10 tháng 1 năm 2001. Wales thiết lập và khởi động nó vào ngày 15 cùng tháng. Vào lúc ấy Wikipedia chỉ là một trang điện tử thiết kế theo kỹ thuật wiki (cho phép độc giả dễ dàng tiếp cận để biên tập nội dung bài viết bằng cách thêm, bớt hoặc chỉnh sửa) như là một dụng cụ hợp soạn nội dung ban đầu của bách khoa toàn thư cho Nupedia. Nhưng chính sự phát triển vượt trội của Wikipedia mau chóng giúp nó trở thành đề án chính trong khi Nupedia bị loại bỏ.
Năm 2002, Sanger ra khỏi dự án, đưa lên mạng lời từ chức. Trong đó, ông chỉ trích phương pháp của Wales là "chống lại giới tinh hoa". Đáp lại, Wales mô tả mình là "chống giới khoa bảng ("anti-credentialist")." "Đối với tôi, điều quan trọng là nhận định đúng sự việc. Nếu một người thực sự thông minh và tỏ ra tuyệt vời trong công việc, tôi không quan tâm về việc người ấy chỉ là một học sinh trung học hay là một giáo sư Harvard; hiệu quả công việc mới là quan trọng … Tại Wikipedia bạn không thể dựa trên học vị … Bạn phải tiến vào thị trường ý tưởng (nơi chân lý hoặc phương pháp tốt nhất đến từ quy trình chọn lọc dựa trên sự cạnh tranh của các ý tưởng khác nhau, được trình bày tự do và công khai) và phải cộng tác với người khác.""
Vào giữa năm 2003, Wales thành lập Quỹ Hỗ trợ Wikimedia, một tổ chức phi lợi nhuận đặt trụ sở tại St. Petersburg, tiểu bang Florida, nhằm hỗ trợ Wikipedia và các đề án anh em còn non trẻ của nó. Wales tự bổ nhiệm mình và hai đồng sự, hoạt động tích cực cho Wikipedia, vào ban quản trị năm thành viên; hai người còn lại được bầu chọn bởi các đại diện của cộng đồng. Động thái này giải thoát Wales và Bomis khỏi gánh nặng tài chính hỗ trợ Wikipedia trong khi giúp ông duy trì vị trí lãnh đạo trọn đời.
Năm 2004, Wales nói rằng ông đã chi tiêu khoảng 500.000 USD để thành lập và điều hành các đề án Wiki. Đến cuối cuộc vận động vào tháng 1 năm 2005, Quỹ Hỗ trợ Wikimedia hoàn toàn được hỗ trợ tài chính bởi những khoản tặng lớn. Wales ngày càng tập trung hơn vào công tác quảng bá các đề án của tổ chức và thường xuyên đi diễn thuyết. Ngày 14 tháng 4 năm 2006, Wales nói chuyện tại Quỹ Long Now của Steward Brand với đề tài "Viễn kiến: Wikipedia và Tương lai của Văn hoá Tự do", thảo luận về những triết lý nền của Wikipedia, sự ủng hộ của ông dành cho phong trào Văn hoá Tự do, cùng những khó khăn Tổ chức Wikipedia có thể gặp khi phát triển quy mô của mình.
Tranh cãi về nguồn gốc của Wikipedia.
Trong khi Larry Sanger tự nhận mình là người đồng sáng lập Wikipedia từ tháng 1 năm 2002, Wales luôn luôn gọi mình là nhà sáng lập duy nhất của Wikipedia. Báo chí trước đây thường gọi Sanger và Wales là người đồng sáng lập, nhưng điều này đã thay đổi sau khi Sanger ra đi. Một bài viết trên tạp chí "Newsweek" năm 2004 nói "(Wales) tạo lập Wikipedia" mà không nhắc đến Sanger. Năm 2006, Wales nói với báo "Boston Globe" rằng "thật ngớ ngẩn" nếu gọi Sanger là người đồng sáng lập. Sanger phản ứng quyết liệt, tuyên bố rằng không chỉ có công phát triển Wikipedia trong giai đoạn đầu, ông cũng là người đưa ra ý tưởng ứng dụng khái niệm wiki vào việc xây dựng một bộ bách khoa toàn thư mở. Rõ ràng là Sanger đã đặt tên cho đề án. Ông nói, "Tôi nhớ rất rõ buổi chiều tôi nghĩ ra ý tưởng này cho Wikipedia. "Tuy nhiên, Sanger thừa nhận từ Wales nẩy sinh nhiều ý tưởng bao quát hơn: "Nói cho rõ, ý tưởng về một nguồn mở, một bách khoa toàn thư của sự hợp tác, mở ra cho độc giả bình thường cùng đóng góp, hoàn toàn là của Jimmy, không phải của tôi, và ngân quỹ là đến từ Bomis. (…) Wales giao cho tôi trách nhiệm phát triển bộ bách khoa toàn thư này." Wales cho rằng một nhân viên của Bomis tên Jeremy Rosenfeld là người "đã đến cùng với ý tưởng làm một bách khoa toàn thư dựa trên nguyên lý Wikipedia", mặc dù ông cũng thừa nhận không có mối liên hệ nhân quả giữa lời đề nghị này và sự tạo lập Wikipedia.
Những hoạt động khác.
Có lẽ từ những thành công của Wikipedia mà Wales thành lập công ty lợi nhuận Wikia, Inc. (không liên quan đến Wikimedia), làm chủ các wiki khác nhau và quản lý đề án Wikia.
Năm 2005, Wales được bổ nhiệm làm thành viên của Trung tâm Berkman về Internet và Xã hội tại Trường Luật Harvard thuộc Đại học Harvard. Năm 2006, Đại học Knox trao tặng Wales học vị danh dự.
Năm 2006, Wales được Quỹ Lĩnh vực Điện tử ("Electronic Frontier Foundation", EFF) trao tặng Giải thưởng Pioneer.
Ngày 3 tháng 10 năm 2005, theo một thông cáo báo chí, Wales gia nhập Ban Giám đốc của Socialtext, một đơn vị cung ứng kỹ thuật wiki cho các doanh nghiệp. Năm 2006, Wales trở thành thành viên Ban Giám đốc tổ chức phi lợi nhuận Creative Commons. Wales được "TIME" số ra ngày 8 tháng 5 năm 2006 chọn vào danh sách 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất mà tạp chí này gọi là "Những người Định hình Thế giới của Chúng ta", với nhận xét: " (...) Ngày nay Wikipedia Anh ngữ có hơn một triệu mục từ, gần gấp đôi số mục từ của Bách khoa Toàn thư Britannica. Mỗi năm con số này được nhân đôi. (...) ngụ ý rằng những tay nghiệp dư cũng có thể đóng góp nhiều như giới chuyên môn, và tài năng có thể tìm thấy bất cứ nơi đâu."
Wales đã từng cưới vợ, tên Christine, vào tháng 3 năm 1997. Tuy nhiên hiện tại họ đã chia tay khá sớm. Hai người có với nhau một con gái, Kira. Wales hiện sống ở St. Petersburg, Florida.
Năm 2008 ông công khai chia tay với người tình của mình trên Wikipedia, đáp lại bà này đã công khai bán một số bộ quần áo của ông để lại. Ngay sau đó, tháng 3 năm 2008 Jimmy Wales còn bị tố cáo đã đòi 5 000 đô la Mỹ (dollar) hỗ trợ từ , một chuyên gia máy tính, để biên tập lại mục từ viết về anh ta trên Wikipedia, vi phạm tính mở của Wikipedia , tuy nhiên Wales đã phản bác lại ý kiến đó bằng cách đưa ra nguyên văn lời tố cáo của Merkey và khẳng định rằng ông chỉ làm theo quy định "quan điểm trung lập là không thỏa hiệp". Mặc cho những thông tin đó, dường như cộng đồng Wikipedia luôn để dành một chỗ đứng cho ông.
|
West Side Story là một vở kịch của Arthur Laurents. Nhạc của phim được sáng tác bởi Leonard Bernstein, lời các bài hát bởi Stephan Sandheim và tác giả viết truyện là Arthur Laurents.
Bản soạn thảo lần đầu của cuốn sách có tên là Eastside Story. Một bộ phim chuyển thể cùng tên đã đoạt 10 giải Oscar năm 1961. Bộ phim được dựng nên trên nền tảng của câu chuyện tình nổi tiếng Romeo và Juliet.
Nội dung của bộ phim xoay quanh câu chuyện tình yêu giữa một đôi nam nữ thuộc hai nhóm đường phố là Tony và Maria. Tony thuộc nhóm Jet's và Maria thuộc nhóm Sharks. Số phận trớ trêu đã đưa tình yêu tìm đến với họ. Một ngày bạn thân của Tony(Riff) bị anh trai của Maria (Bernado) và cũng là trưởng nhóm Sharks giết chết. Từ ham muốn trả thù, Tony đã đâm chết anh ta trong một cuộc gây gổ giữa 2 nhóm. Từ đó Tony phải trốn tránh.Tony chìm trong đau khổ khi nhận được thông tin sai rằng, Maria đã bị bắn chết. Mất hết lý trí, Tony chạy ra ngoài phố và gào lên:"Chico, hãy bắn tao đi" (Chico là người mà Maria đã kết hôn khi còn bé). Bỗng nhiên, Tony nhìn thấy Maria. Khi hai người chạy đến bên nhau, Chico xuất hiện và bắn gục Tony. Maria vô cùng đau khổ vì cái chết của người mình yêu. Khác với Romeo and Julia, trong bộ phim này nhân vật Maria vẫn còn sống khi kết thúc.
|
Indiana là một tiểu bang ở miền Trung Tây Hoa Kỳ.
Indiana giáp với hồ Michigan và tiểu bang Michigan về phía bắc, với Ohio về phía đông, với Kentucky về phía nam theo đường chảy của sông Ohio, và với Illinois về phía tây. Indiana thuộc về vùng Ngũ Đại Hồ.
Sông Wabash, một nhánh của sông Ohio dài 764 kilômét (475 dặm), cắt đôi tiểu bang từ phía đông bắc tới phía tây nam, và nó đã dẫn đến hai bản nhạc tiêu biểu cho Indiana, tiểu bang ca "On the Banks of the Wabash" ("Trên bờ sông Wabash") và "The Wabash Cannonball" ("Đạn trọng pháo Wabash"). Sông Trắng ("White River"), một nhánh của sông Wabash, chảy theo đường ngoằn ngoèo qua miền trung Indiana. Indianapolis và Muncie là hai thành phố lớn nằm trên sông này. Evansville, thành phố lớn thứ ba của Indiana, nằm trên sông Ohio.
Phần nhiều của miền bắc Indiana là đất chăn nuôi; tuy nhiên, góc tây bắc của tiểu bang thuộc về khu vực đô thị lớn của Chicago nên nó đông người hơn. Gary, một thành phố trên bờ hồ Michigan, thực sự là một ngoại ô của Chicago, tuy nó thuộc về Indiana.
Các thành phố South Bend, Mishawaka, Elkhart, và Goshen đã mở mang thành một khu vực đô thị trải qua hai quận trong vòng 20 năm nay. Sông Kankakee uốn qua miền bắc Indiana và đại khái là đường biên giới giữa vùng nông thôn và vùng ngoại ô của miền tây bắc Indiana.
Miền nam Indiana pha trộn đất chăn nuôi và rừng. Rừng Quốc gia Hoosier là khu vực cấm săn trải qua 80.900 hecta (200.000 mẫu Anh) gần Bedford. Nói chung, miền nam Indiana có nhiều đồi và biến đổi địa mạo hơn miền bắc.
Các vùng dưới quyền sở hữu và bảo vệ của Dịch vụ Vườn Quốc gia (NPS) bao gồm:
Các thành phố quan trọng.
Các thành phố ở trung tâm của khu vực đô thị:
Các thành phố ở trung tâm của khu vực tiểu đô thị ("micropolitan area"):
Trước năm 2006, phần lớn của Indiana chưa áp dụng quy ước giờ mùa hè (DST). Tuy nhiên, một số quận ở tiểu bang này, nhất là Floyd, Clark, và Harrison gần Louisville, Kentucky, và hai quận Ohio và Dearborn gần Cincinnati, vẫn áp dụng quy ước giờ mùa hè không chính thức và bất hợp pháp theo tục lệ địa phương.
Ngoài ra, các quận Lake, Porter, LaPorte, Newton, và Jasper ở miền tây bắc và các quận Gibson, Posey, Vanderburgh, Warrick, và Spencer ở miền tây nam thuộc về giờ Trung Mỹ nên họ áp dụng quy ước giờ mùa hè.
Vì những người ở tiểu bang khác bị lẫn lộn hễ khi thăm Indiana, chính phủ tiểu bang thông qua một đạo luật vào năm 2005, bắt đầu áp dụng quy ước giờ mùa hè ở cả tiểu bang, bắt đầu từ tháng 4 năm 2006.
Vào ngày 2 tháng 4 năm 2006, Bộ Vận tải Hoa Kỳ bắt đầu áp dụng giờ Trung Mỹ ở các quận Starke, Pulaski, Knox, Daviess, Martin, Pike, Dubois, và Perry, nhưng các quận Martin, Dubois, Daviess, và Knox đã biểu quyết áp dụng giờ Đông Mỹ không chính thức và yêu cầu trở lại múi giờ đó chính thức, trong khi những người ở Quận Pulaski vẫn sử dụng giờ Đông Mỹ không chính thức, họ gọi giờ đó là "giờ thương mại".
Vùng Indiana đã được người đến ở mãi trước thời Văn hóa Hopewell (vào khoảng 100–400 CN). Nó là một phần của văn hóa Mississippi từ khoảng năm 1000 đến kết thúc truyền thống của văn hóa Mississippi, khi gặp người Âu Châu. Các nhóm thổ dân chính ở vùng này vào lúc đó là Miami và Shawnee. Đất này bị Pháp đòi quyền cho Tân Pháp vào thế kỷ 17, được sang tay Vương quốc Anh là một phần của hiệp ước vào cuối Chiến tranh Pháp và người Da đỏ, và được sang tay Hoa Kỳ sau Cách mạng Mỹ. Gần sau đó, nó được trở thành một phần của Lãnh thổ Tây Bắc, sau đó được chia thành Lãnh thổ Indiana và gia nhập Liên bang vào năm 1816 là tiểu bang thứ 19.
|
2046 là một bộ phim của đạo diễn Vương Gia Vệ quay tại Thượng Hải năm 2004. Bộ phim được xem như phần tiếp theo của "Tâm trạng khi yêu" ("In the Mood for Love") khi nhà văn Chu từ Singapore trở lại Hồng Kông. 2046 là bộ phim thành công nhất tại giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông năm 2005 với 6 giải bao gồm các hạng mục chính như Nam và Nữ diễn viên xuất sắc nhất. Cùng năm đó, bộ phim đã được đề cử tại Liên hoan phim Cannes và đoạt rất nhiều giải thưởng điện ảnh uy tín của Mỹ và châu Âu như giải Phim nước ngoài hay nhất tại Giải thưởng của Hội phê bình phim New York "(New York Film Critics Circle Awards)," giải thưởng của Viện Hàn lâm Phim châu Âu "(European Film Academy)," Liên hoan phim quốc tế San Sebastián "(Festival Internacional de Cine de San Sebastián)." Với vai diễn nhà văn Chu, Lương Triều Vỹ lần thứ 5 chiến thắng giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại giải Kim Tượng còn Chương Tử Di lần đầu tiên được trao giải Nữ diễn viên xuất sắc tại giải thưởng này.
Năm 1966, Chu từ Singapore trở lại Hồng Kông. Anh viết bài cho một tờ báo để kiếm sống. Buổi tối giáng sinh 24 tháng 12 năm 1966, Chu gặp lại một người bạn cũ - Lulu, trong một hộp đêm. Lulu uống quá say và Chu đưa cô ta về nhà, căn phòng cô trọ số 2046.
Hôm sau khi Chu trở lại khách sạn để trả chìa khóa thì ông chủ nói rằng không có ai tên Lulu ở đó. Chu quyết định trọ lại khách sạn và lấy căn phòng 2047. Anh biết rằng hôm trước người bạn trai của Lulu đã giết cô ta trong phòng 2046 vì ghen tuông. Phòng 2046 có một người khách mới, Bội L
|
Il buono, il brutto, il cattivo
Il buono, il brutto, il cattivo (tựa tiếng Anh: "The Good, the Bad and the Ugly", tạm dịch: "Thiện, xú, tà") là một bộ phim điện ảnh đề tài sử thi Viễn Tây của Ý năm 1966 do Sergio Leone làm đạo diễn.
Phim có sự tham gia diễn xuất của Clint Eastwood vai "Thiện" (The Good), Lee Van Cleef vai "Ác" (The Bad) và Eli Wallach vai "Tà" (The Ugly). Kịch bản phim do Leone đồng chắp bút với Age Scarpelli và Luciano Vincenzoni (phần kịch bản và lời thoại bổ sung bởi Sergio Donati nhưng ông không được ghi công), dựa trên đầu truyện do Vincenzoni và Leone phát triển. Nhà chỉ đạo quay phim Tonino Delli Colli chịu trách nhiệm công đoạn ghi hình màn ảnh rộng cho bộ phim, còn nhà soạn nhạc Ennio Morricone đảm nhận sáng tác nhạc nền phim, trong đó có bản nhạc hiệu chính. Bộ phim là thành phẩm hợp tác do Ý chủ trì với các nhà đồng sản xuất từ Tây Ban Nha, Tây Đức và Mỹ.
"Il buono, il brutto, il cattivo" nổi tiếng với những cú ghi hình dài và cận cảnh của Leone, đồng thời mang dấu ấn rất riêng bởi những yếu tố bạo lực, căng thẳng cùng các màn đấu súng đặc sắc. Cốt truyện phim xoay quanh ba tay thiện xạ đối đầu nhau và tận dụng cơ may để giành lấy kho vàng thất lạc bị chôn vùi tại một nghĩa trang, trong thời buổi hỗn loạn của cuộc Nội chiến Mỹ (đặc biệt là Chiến dịch New Mexico năm 1862), sau khi vướng vào nhiều cuộc chiến cũng như đấu súng tay đôi trên đường đi. Tác phẩm đánh dấu lần hợp tác thứ ba giữa Leone và Clint Eastwood, đồng thời là lần thứ hai với Lee Van Cleef.
"Il buono, il brutto, il cattivo" được coi là phần thứ ba và cuối cùng của loạt phim điện ảnh bộ ba "Trilogia del dollaro", sau các phần tiền truyện là "Per un pugno di dollari" (1964) và "Per qualche dollaro in più" (1965). Bộ phim gặt hái thành công về mặt thương mại khi thu về 25 triệu USD tại phòng vé và làm bệ phóng đưa Eastwood lên hàng ngũ ngôi sao điện ảnh. Do vấp phải sự chê bai dành cho dòng phim cao bồi Ý nói chung lúc bấy giờ, giới phê bình đã thể hiện phản ứng trái chiều sau khi phim ra rạp, nhưng nhiều năm về sau tác phẩm dần nhận được vô vàn lời khen từ giới phê bình. Ngày nay "l buono, il brutto, il cattivo" được coi là một trong những tác phẩm điện ảnh đề tài Viễn Tây vĩ đại và giàu ảnh hưởng nhất từng được sản xuất.
Năm 1862, trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ, bộ ba thợ săn tiền thưởng đã cố gắng tiêu diệt một tên cướp người Mexico đào tẩu tên là Tuco Ramírez. Tuco nã đạn vào ba tên này rồi tẩu thoát trên lưng ngựa. Ở một chỗ khác, tên lính đánh thuê Angel Eyes tiến hành tra hỏi cựu binh của quân Liên Minh (tức quân đội New Mexico) có tên Stevens (đây là người Angel Eyes ký thỏa thuận để thủ tiêu) về Jackson, một tên đào tẩu đã đánh cắp một kho vàng của lực lượng Liên Minh. Angel Eyes còn ép Stevens phải tiết lộ cái tên mới mà Jackson đang sử dụng: Bill Carson. Sau đó Stevens đề nghị trả cho Angel Eyes 1.000 USD để giết khách hàng của Angel Eyes là Baker. Angel Eyes chấp nhận nhiệm vụ mới nhưng vẫn bắn chết Stevens rồi rời đi để hoàn thành giao kèo với Baker. Tiếp đó y trở lại chỗ của Baker để nhận tiền thù lao giết Stevens và sát hại nốt Baker để hoàn thành giao kèo với Stevens. Trong khi đó, Tuco được giải cứu khỏi ba tên thợ săn tiền thưởng bởi một gã lang thang vô danh mà Tuco gọi là "Blondie", rồi tay cao bồi này chở Tuco đến chỗ cảnh sát trưởng địa phương để lấy khoản tiền thưởng 2.000 USD của anh ta. Khi Tuco sắp bị treo cổ, Blondie dùng súng bắn đứt dây cổ thòng lọng của Tuco và giải thoát cho y. Cả hai trốn thoát trên lưng ngựa, chia tiền thưởng cho nhau với mục tiêu kiếm về khoản tiền kếch xù. Họ lặp lại chuỗi hành động trên ở một thị trấn khác giành thêm tiền thưởng. Blondie dần trở nên mệt mỏi với những lời phàn nàn của Tuco và bỏ rơi anh ta trong sa mạc mà không có nước uống hay ngựa. Tuco nỗ lực đi bộ đến một ngôi làng và bám theo Blondie đến một thị trấn bị quân đội Liên minh chiếm đóng. Tuco chĩa súng vào Blondie và định ép anh tự treo cổ mình, nhưng đúng lúc đó quân Liên Bang (tức quân đội Hoa Kỳ) tấn công thị trấn và tạo điều kiện cho Blondie tẩu thoát.
Sau khi vất vả truy bắt, Tuco tóm được Blondie và trói chặt kéo anh dắt bộ theo để cùng băng qua một sa mạc cho đến khi Blondie gục ngã vì bị mất nước. Khi Tuco chuẩn bị nã đạn kết liễu Blondie, y chợt trong thấy một cỗ xe đang chạy trốn. Bên trong cỗ xe là một số binh sĩ của Liên Minh đã chết và Bill Carson trong tình trạng hấp hối; Bill hứa với Tuco về một kho vàng của Liên Minh trị giá 200.000 USD#đổi được chôn giấu dưới một ngôi mộ tại nghĩa trang Sad Hill. Tuco đề nghị Carson nói tên trên mộ, nhưng người lính này ngất đi vì khát trước khi kịp trả lời. Khi Tuco mang nước trở lại, Carson đã tắt thở còn Blondie nằm gục bên cạnh anh ta. Blondie tiết lộ rằng Carson đã tỉnh lại trước đó không lâu và nói với anh ta tên trên mộ trước khi qua đời. Vì thé Tuco bỗng tự có động lực mạnh mẽ để cứu sống Blondie, y đưa nước cho anh ta uống rồi đưa anh đến một đồn biên phòng gần đó để chữa trị (đây cũng là nơi anh trai của Tuco làm trưởng tu viện).
Sau khi Blondie hồi phục, hai người mặc bộ đồng phục của Liên minh và dùng cỗ xe của Carson rời đi, ngay sau đó họ bị quân Liên Bang bắt giữ và đưa đến trại tù nhân chiến tranh tại Batterville. Trong lúc điểm danh, Tuco trả lời đáp lại tên "Bill Carson" và bị Angel Eyes, lúc bấy giờ là một Trung sĩ của Liên Bang trá hình để mắt tới. Angel Eyes cho tra tấn Tuco và ép y tiết lộ tên của nghĩa trang, nhưng Tuco thú nhận rằng chỉ có Blondie mới biết tên ngôi mộ. Sớm nhận ra rằng Blondie sẽ chẳng khai lời nào dù có bị tra tấn, Angel Eyes bàn bạc với anh để chia thưởng đều cho đôi bên và cùng hợp tác. Blondie tán thành và lên đường cùng với băng đảng của Angel Eyes. Còn Tuco bị trói chặt trên một chuyến tàu để bị đưa đi xử tử, nhưng rồi y vẫn bày ra cách trốn thoát thành công.
Blondie, Angel Eyes và bè lũ chân tay của y đặt chân đến một thị trấn đã bị sơ tán. Bên cạnh đó Tuco cũng đang ẩn náu tại thị trấn này và tắm trong một khách sạn đổ nát; kế đó Tuco bị Elam, một trong ba thợ săn tiền thưởng từng cố tiêu diệt y phát hiện. Và thế là Tuco bắn chết Elam, khiến Blondie ở đó không xa nghe thấy và lần dấu vết qua tiếng súng. Anh ta tìm thấy Tuco và họ đồng ý nối lại quan hệ đối tác cũ. Cặp sát thủ truy diệt toàn bộ băng của Angel Eyes, nhưng phát hiện ra chính Angel Eyes đã chạy trốn trước.
Tuco và Blondie tiến bước về phía Sad Hill, nhưng trên đường họ bị chặn lại bởi trận chiến giữa quân Liên Bang và quân Liên Minh, ở giữa hai lực lượng là một cây cầu vắt ngang. Blondie quyết định phá hủy cây cầu vừa nhằm giải tán hai lực lượng trên, vừa cho phép tiếp cận nghĩa trang. Trong lúc hai người gắn các khối thuốc nổ vào cây cầu, Tuco đề nghị họ cùng chia sẻ thông tin cho nhau, nhằm tính đến trường hợp nếu có một người chết thì người còn lại có thể giúp đỡ người kia. Tuco tiết lộ ra tên của nghĩa trang, trong khi Blondie nói "Arch Stanton" là tên ghi trên ngôi mộ. Sau khi cây cầu nổ tung và các bên quân lính giải tán, Tuco đánh cắp một con ngựa và cưỡi chạy đến Sad Hill để đoạt số vàng về tay y. Anh ta tìm thấy mộ có tên Arch Stanton và bắt đầu đào. Blondie đến sau và chĩa súng vào Tuco khuyến khích y tiếp tục đào. Một lúc sau, Angel Eyes hiện diện làm cả hai bất ngờ. Blondie mở ngôi mộ của Stanton nhưng chỉ nhặt được một bộ xương mà chẳng có tí vàng nào. Blondie cho biết rằng anh đã nói dối về tên ghi trên mộ và đề nghị viết tên thật của ngôi mộ trên một tảng đá. Kế đó anh đặt nó úp xuống dưới đất của nghĩa trang rồi thách thức với Tuco và Angel Eyes để đấu súng tay ba.
Ba tay cao bồi nhìn nhau chằm chằm. Tất cả liền rút súng, kết quả là Blondie bắn hạ Angel Eyes, trong khi Tuco phát hiện ra rằng khẩu súng của y đã bị Blondie tháo hết đạn vào đêm hôm trước. Blondie tiết lộ rằng số vàng thực sự nằm ở ngôi mộ bên cạnh mộ Arch Stanton được đề tên là "Unknown". Lúc đầu, Tuco rất phấn khích khi tìm thấy các túi vàng, nhưng Blondie chĩa súng vào y và ra lệnh cho y tự đeo thòng lọng vào cổ được treo dưới bóng cây. Tiếp đó Blondie trói chặt tay của Tuco và bắt y giữ thăng bằng cách đứng trên một ngôi mộ liên tục lung lay, còn Blondie thì đoạt lấy một nửa số vàng và cưỡi ngựa bỏ đi. Khi Tuco kêu gào đòi được trả tự do, Blondie cầm khẩu súng trường bắn đứt dây thòng lọng và giải thoát cho Tuco. Sau khi được bắn đứt dây Tuco ngã xuống đất, còn sống và vẫn bị trói bên cạnh đống tiền được chia của mình, y đứng dậy chửi rủa ầm ĩ còn Blondie thì phi ngựa về phương trời xa.
Sau thành công của "Per qualche dollaro in più", lãnh đạo của hãng phim United Artists đã tiếp cận nhà biên kịch của phim, ông Luciano Vincenzoni để ký một hợp đồng giành bản quyền bộ phim và cho cả phần kế tiếp. Dù Vicenzoni, nhà sản xuất Alberto Grimaldi và đạo diễn Sergio Leone không có dự định nào nhưng trước cơ hội trời cho này, nhà biên kịch nảy ra một ý tưởng về "một bộ phim điện ảnh xoay quanh ba tên lừa đảo đang tìm kiếm kho báu giữa lúc diễn ra cuộc Nội chiến Mỹ." Xưởng phim tán thành nhưng muốn biết kinh phí cho phần phim tiếp theo. Cùng lúc đó, Grimaldi đang cố gắng chào bán thỏa thuận của riêng mình, nhưng ý tưởng của Vincenzon [có vẻ] hái ra tiền hơn. Bộ đôi đạt thỏa thuận với UA với kinh phí 1 triệu USD, trong đó xưởng phim đặt cọc trước 500.000 USD và 50% doanh số bán vé ngoài nước Ý. Tổng kinh phí rơi vào khoảng 1,2 triệu USD.
Quá trình quay phim bấm máy tại xưởng phim Cinecittà ở Rome thêm lần nữa vào giữa tháng 5 năm 1966, bao gồm cả cảnh mở đầu giữa Eastwood và Wallach khi Blondie bắt Tuco và tống y vào tù lần đầu tiên. Khâu sản xuất được chuyển đến vùng cao nguyên của Tây Ban Nha gần Burgos ở phía Băc–chúng là cảnh thay thế cho miền Tây Nam của Hoa Kỳ và một lần nữa được ghi hình tại Almería, phía Nam Tây Ban Nha. Lần này, ê-kíp làm phim yêu cầu nhiều bối cảnh phức tạp hơn, như một thị trấn dưới làn mưa đại bác, một trại giam tù nhận rộng lớn và một chiến trường từ cuộc Nội chiến; và ở khúc cao trào, hàng trăm người lính Tây Ban Nha được tuyển để dựng nên một nghĩa địa có hàng ngàn ngôi mộ, tương đồng với một khu sân giải trí công cộng thời La Mã. Cảnh cây cầu bị nổ tung được ghi lại tới hai lần, bởi lần quay đầu tiên cả ba máy ghi hình đều bị phá hủy trong vụ nổ. Eastwood nhớ lại, "Họ sẽ quan tâm nếu bạn làm một câu chuyện về đất nước và con người Tây Ban Nha. Rồi họ cứ ngoan cố mà để ý bạn thật kĩ, nhưng thật ra là bạn đang làm một bộ phim đề tài Viễn Tây được cho là lấy bối cảnh tại Nam Mỹ và Mexico, họ không thể ít chú tâm hơn rằng câu chuyện và chủ đề của bạn là gì." Nhà quay phim hàng đầu của Ý Tonino Delli Colli được đem trở lại ghi hình phim, đồng thời được Leone nhắc nhở hãy chú ý hơn đến góc ánh sáng so với hai phần phim trước; Ennio Morricone tiếp tục là người sáng tác nhạc phim.
Giống như nhiều tác phẩm khác của mình, đạo diễn Sergio Leone nhấn mạnh rằng "Il buono, il brutto, il cattivo" là một phim châm biếm thể loại Viễn Tây. Ông lưu ý rằng phim chủ yếu khai tác đề tài bạo lực và dùng phép phân tích phê phán chủ nghĩa lãng mạn thời khai hoang miền Tây Hoa Kỳ. Việc nhấn mạnh yếu tố bạo lực có thể thấy qua cách ba nhân vật chính (Blondie, Angel Eyes và Tuco) được xây dựng với nhiều hành vi bạo lực. Với Blondie, có thẻ thấy anh cố gắng trả tự do cho Tuco và tự vướng vào một màn đấu súng. Angel Eyes bị đặt trong một cảnh mà y giáng một đòn mạnh vào một cựu quân nhân của Liên minh có tên Stevens. Sau khi lấy thông tin cần có từ Stevens, y được chính người này cho tiền để thuê giết khách hàng của mình là Baker. Kế đến y tiến hành lấy mạng Stevens lẫn con trai của ông. Khi trở về gặp Baker, tay cao bồi cũng thủ tiêu nốt Baker (do đó có danh xưng là "il brutto"#đổi Ác). Tuco thì bị đặt trong một cảnh mà ba tên thợ săn tiền thưởng đang cố ám sát y. Trong phân cảnh mở đầu phim, ba tên thợ săn tiền thưởng bước chân vào ngôi nhà mà Tuco đang ẩn thân. Sau khi nghe tiếng nổ súng, Tuco trốn thoát bằng cách nhảy qua cửa sổ, còn hai tên bị bắn chết, 1 bị thương nặng. (do đó y có danh xưng "il cattivo"#đổi Tà). Cả ba nhân vật đều truy tìm đống vàng và sẽ làm mọi cách để giành được chúng. Cây bút Richard T. Jameson nhận xét, "Leone tường thuật lại câu chuyện truy tìm kho vàng bị giấu bằng ba kẻ bất lương và kỳ cục, được phân loại theo tựa phim (lần lượt là Clint Eastwood, Lee Van Cleef và Eli Wallach).
Phim tái dựng chủ nghĩa lãng mạn thời khai hoang miền Tây Hoa Kỳ bằng cách biến các nhân vật thành phản anh hùng. Thậm chí nhân vật được gọi là "Thiện" trong phim cũng có thể bị coi là không sống đúng với danh hiệu trên theo một khía cạnh đạo đức nào đó. Nhà phê bình Drew Marton miêu tả đây là một "phép thao túng kệch cỡm" nhằm phê phán tư tưởng Viễn Tây của Mỹ qua việc thay thế hình tượng cao bồi anh hùng phổ biến của John Wayne thành những kẻ phản anh hùng có nhân phẩm phức tạp.
"Il buono, il brutto, il cattivo" khởi chiếu tại Ý vào ngày 23 tháng 12 năm 1966 và thu về 6,3 triệu USD lúc bấy giờ. Tại Hoa Kỳ, "Per un pugno di dollari" công chiếu ngày 18 tháng 1 năm 1967 (28 tháng sau lịch phát hành gốc ở Ý), "Per qualche dollaro in più" ra rạp ngày 10 tháng 5 năm 1967 (17 tháng) và "Il buono, il brutto, il cattivo" được phát hành ngày 29 tháng 12 năm 1967 (12 tháng). Do đó cả ba tác phẩm nằm trong loạt phim điện ảnh bộ ba "Trilogia del dollaro" đều ra mắt tại Hoa Kỳ trong cùng năm. Bản phim gốc nội địa ở Ý dài 177 phút, nhưng những bản quốc tế lại có nhiều thời lượng khác nhau. Hầu hết các áp phích chủ yếu là chiếu ở Hoa Kỳ có thời lượng 161 phút, ngắn hơn 16 phút so với bản khởi chiếu ở Ý, nhưng các áp phích khác như ở Liên hiệp Anh thì lại ghi thời lượng dài 148 phút.
Đánh giá chuyên môn.
Ở thời điểm phát hành, "Il buono, il brutto, il cattivo" hứng chịu nhiều lời chỉ trích vì miêu tả yếu tố bạo lực. Leone giải thích rằng "việc giết chóc trong các bộ phim của tôi bị phóng đại lên vì tôi muốn tạo nên một phép châm biếm tặc lưỡi trong những tác phẩm Viễn Tây thông thườ, chính sức mạnh và sự tối giản này là thứ mà tôi muốn tái hiện trong các góc máy của mình." Cho đến ngày nay, nỗ lực thổi sức sống mới vào dòng phim Viễn Tây cũ kĩ của Leone mới được thừa nhận rộng rãi.
Những ý kiến của giới chuyên môn dành cho bộ phim lúc mới ra rạp là rất trái chiều, bởi nhiều phê bình gia lúc bấy giờ tỏ ra coi thường dòng phim cao bồi Ý. Trong một bài đánh giá tiêu cực cho tờ "The New York Times", nhà phê bình Renata Adler cho rằng phim "phải là tác phẩm điện ảnh đắt đỏ, ngoan đạo và gây khó chịu nhất trong lịch sử thể loại riêng của nó." Charles Champlin của nhật báo "Los Angeles Times" thì viết rằng "do đó khó có thể cưỡng lại sức cám dỗ khi gọi "The Good, The Bad and the Ugly" là "phiên bản trải dài toàn thành phố mang tên "The Bad, The Dull, and the Interminable"." Cây bút Roger Ebert, người sau này liệt phim vào những tác phẩm điện ảnh hay nhất của mình hồi tưởng trong bài nhận xét đầu tiên của mình rằng ông "đã miêu tả một phim bốn sao nhưng chỉ chấm có ba sao, có lẽ bởi nó là phim 'cao bồi Ý' và đó không phải là nghệ thuật."
Mặc dù vấp phải những đón nhận tiêu cực từ một số nhà phê bình lúc ban đầu, "Il buono, il brutto, il cattivo" dần dần nhận được những phản hồi vô cùng tích cực. Bộ phim nằm trong danh sách "100 phim điện ảnh xuất sắc nhất trong thế kỉ gần nhất" của "Time" do hai nhà phê bình Richard Corliss và Richard Schickel chọn ra. Hệ thống tổng hợp kết quả đánh giá Rotten Tomatoes thống kê có tới 97% giới phê bình điện ảnh chấm phim bài nhận xét tích cực, tác phẩm đồng thời được liệt ở hạng 78 trong "Top 100 phim điện ảnh hay nhất mọi thời đại" của trang web này. "Il buono, il brutto, il cattivo" đã được mô tả là "đại diện ưu tú nhất của dòng phim Viễn Tây của điện ảnh châu Âu, còn nhà làm phim Quentin Tarantino thì gọi tác phẩm là "bộ phim được đạo diễn hay nhất mọi thời đại" và "kiệt tác xuất sắc nhất lịch sử điện ảnh". Những nhận xét này được phản ánh qua những lá phiếu bầu chọn của ông với tạp chí "Sight Sound" vào năm 2002 và 2012, cụ thể Quentin bầu "Il buono, il brutto, il cattivo" là phim điện ảnh hay nhất từng được làm ra theo lựa chọn của ông. Bản nhạc hiệu chính của phim còn được Classic FM coi là một trong những bản nhạc hiệu mang tính biểu tượng nhất mọi thời đại. Tạp chí "Variety" thì liệt bộ phim ở hạng 49 trong danh sách 50 phim điện ảnh xuất sắc nhất của họ. Năm 2002, Film4 tiến hành một cuộc bình chọn ra 100 phim điện ảnh hay nhất, kết quả là "Il buono, il brutto, il cattivo" được bầu ở vị trí số 46. Tạp chí "Premiere" cũng đưa tác phẩm vào danh sách "100 phim điện ảnh táo bạo nhất từng được thực hiện." Mr. Showbiz thì liệt phim ở vị trí số 48 trong danh sách "100 phim điện ảnh hay nhất mọi thời đại" của ấn phẩm này.
Tạp chí "Empire" đã bổ sung "Il buono, il brutto, il cattivo" vào tuyển tập tuyệt phẩm của họ vào tháng 9 năm 2007; trong cuộc bình chọn "500 phim điện ảnh xuất sắc nhất" của ấn phẩm này, tác phẩm được bầu ở vị trí số 25. Năm 2014, "Il buono, il brutto, il cattivo" là phim điện ảnh xuất sắc thứ 47 từng được làm ra trong danh sách "301 phim điện ảnh xuất sắc nhất mọi thời đại" của "Empire". Phim cũng đạt thứ hạng tương tự trong danh sách "1000 phim điện ảnh" của tờ "The New York Times". Năm 2014, "Time Out" chọn lọc một số nhà phê bình điện ảnh, đạo diễn, diễn viên và diễn viên đóng thể để liệt ra top các bộ phim hành động hay nhất, "Il buono, il brutto, il cattivo" xếp thứ 52 trong danh sách này. BBC còn mở một bài viết phân tích về "di sản trường tồn" của bộ phim, đồng thời bình luận về cảnh bộ ba đấu súng trong phim là "một trong những phân cảnh điện ảnh hấp dẫn và đáng ca tụng nhất mọi thời đại."
|
Ivan I Danilovich Kalita
Ivan I Danilovich Kalita (tiếng Nga: "Иван I Данилович Калита"; còn được gọi Ivan túi tiền; 1288 – 31 tháng 3, 1340) Công tước Moskva từ 1325, Đại vương công Vladimir từ 1328, con trai của Daniil Aleksandrovich (Công tước Moskva).
Sau khi anh trai là Yury III Danilovich tạ thế, Ivan kế thừa ngôi vị Đại công Moskva. Vừa lên ngôi, ông đấu tranh với công vương Mikhail của Tver và hai con của công vương này, Dmitri và Aleksandr. Cuối cùng, những kẻ thù của Đại công đều bị thanh toán bởi Khan Kim Trướng. Khi Tver theo Litva, hãn Muhammad Ozbeg của Kim Trướng Hãn Quốc đã buộc phải dựa vào Ivan như là chư hầu Nga xuất sắc nhất của mình. Ivan là người nộp thuế hàng đầu của người Mông Cổ và làm cho chính ông cũng như Moskva trở nên rất giàu có nhờ lòng trung thành với hãn quốc (vì thế mới có tên hiệu "Kalita" tức túi tiền). Ông sử dụng tài sản của mình cho các công quốc láng giềng khác của người Nga vay. Các công quốc này dần dần trở thành con nợ của ông và đó là điều kiện để những người kế nghiệp ông sáp nhập dần các công quốc này. Tuy nhiên, thành công lớn nhất của ông có lẽ là việc thuyết phục hãn vương tại Saray tin rằng con trai cả của ông cần phải là người kế nghiệp ông trong vai trò của Đại vương công Vladimir, từ đó trở đi gần như mọi vị trí quan trọng đều thuộc về nhà cầm quyền Moskva.
Sau khi ông qua đời, con trai cả là Simeon Gordyi sẽ kế vị.
|
Phổi (hay Phế) là một bộ phận trong cơ thể với vai trò chính yếu là trao đổi các khí - đem oxy từ không khí vào tĩnh mạch phổi, và carbon dioxide từ động mạch phổi ra ngoài. Ngoài ra phổi cũng có một số khả năng thứ yếu khác, giúp chuyển hóa một vài chất sinh hóa, lọc một số độc tố trong máu. Phổi cũng là một nơi lưu trữ máu.
Trong con người, phổi gồm có hai buồng phổi nằm bên trong lồng ngực, được bao bọc bởi các xương sườn chung quanh, phía dưới có cơ hoành ngăn giữa phổi và các cơ quan trong bụng như gan, dạ dày, lá lách. Giữa hai buồng phổi là khí quản (1) - là ống dẫn khí chính. Khí quản phân ra hai nhánh phế quản chính (2) (3). Quả tim nằm giữa hai phổi (trung thất), hơi trệch về bên trái.
Buồng phổi bên trái có 2 thùy (trái-trên (5a), trái-dưới (5b)), bên phải có 3 thùy (phải-trên (4a), phải-giữa (4b) và phải-dưới (4c)). Mỗi buồng phổi có một phế quản chính, một động mạch (8) và hai tĩnh mạch - những ống dẫn này chia như nhánh cây chi chít từ lớn ở giữa ngực (trung thất) đến cực nhỏ phía ngoài cùng của buồng phổi - kèm theo là các dây thần kinh và mạch bạch huyết.
Những ống dẫn khí lớn hơn như khí quản và phế quản lớn được nhiều vành sụn giữ cho cứng và có ít cơ trơn. Bên trong các ống có lát màng tế bào tiêm mao và một lớp màng nhầy mỏng trên các tế bào này. Chất nhầy giữ bụi, hạt phấn và các chất bẩn khác. Qua chuyển động của tiêm mao, chất bẩn bám theo màng nhầy được đẩy lên và đưa vào thực quản nuốt xuống dạ dày theo nước miếng.
Hệ thống hô hấp.
Hệ hô hấp có hai phần, "hô hấp ngoại" là giai đoạn phổi hấp thụ O2 từ không khí bên ngoài vào cơ thể và thải CO2 ra. "Hô hấp nội" là giai đoạn trao đổi O2 và CO2 tại các tế bào trong cơ thể.
Hệ "hô hấp ngoại" gồm có hai lá phổi, như hai túi hơi được kéo ra - để hút hơi vào; và bóp lại - để đẩy hơi ra; bởi một dàn khung bơm. Dàn khung này là bộ xương lồng ngực và cơ hoành, cử động nhịp nhàng theo co bóp của các cơ xương ngực và cơ hoành, dưới sự điều khiển của một số tế bào đặc biệt trong não. Trong tình trạng thư giãn, con người hít thở 12-15 lần một phút; mỗi lần thở 500 mililít không khí (nghĩa là khoảng 6-8 L mỗi phút); 250 mL O2 đi vào cơ thể và 200 mL CO2 trở ra.
Trong hơi thở ra có nhiều chất khí thải từ trong cơ thể - khoa học có thể xét nghiệm được khoảng 250 loại khí khác nhau từ hơi thở con người, thí dụ methane (từ ruột); rượu (khi uống rượu), acetone (khi nhịn ăn),
Áp suất của các khí.
Áp suất của một hỗn hợp nhiều khí khác nhau tương đương với tổng số áp suất tạo bởi riêng từng loại khí trong hỗn hợp đó. Không khí (khô) có 20,98 % O2; 0,04% CO2; 78,06% N2 và 0,92% các loại khí trơ khác (như agon và heli). Tại cao độ ở mặt biển, áp suất không khí là 760 mmHg (1 atm). Do đó, áp suất riêng ("phân áp") của O2 là 760 × 0,21 = 160 mmHg; của CO2 là 760 × 0,0004 = 0,3 mmHg; của N2 là 760 × 0,79 = 600 mmHg. Khi tính thêm độ ẩm của nước, tỉ lệ của các khí này sẽ giảm xuống phần nào. Áp suất của hơi nước ở nhiệt độ con người là 47 mmHg. Khi vào đến phổi, sau khi quân bình hóa với hơi nước, áp suất của từng loại khí (P) sẽ trở thành như sau: PO2 = (760 - 47) × 0,21 = 149 mmHg; PN2 = (760 - 47) × 0,79 = 564 mmHg và PCO2 = 0,3 mmHg.
Hệ thống phế quản - phế nang.
Từ phế quản sơ cấp đến phế nang, hệ thống dẫn khí chia nhánh khoảng 23 lần. Trong đó 16 lần chia đầu tạo ra các nhánh của phế quản (không có trao đổi khí trong khúc này) và 7 lần sau có phế nang và có hiện tượng khí di chuyển hai chiều giữa phế nang và máu. Thiết diện của phế quản khi đầu là 2,5 cm². Sau nhiều lần chia nhánh, thiết diện của các ống dẫn tăng vọt lên, thiết diện của toàn thể các phế nang - lên đến gần 12.000 cm². Vì vậy mà vận tốc di chuyển của khí nhanh tại phế quản và rất chậm tại các tiểu phế quản và phế nang.
Con người có 300 triệu phế nang. Mỗi phế nang có nhiều mạch máu li ti bọc chung quanh. Những bong bóng cực nhỏ này nếu trải đều ra sẽ có diện tích bề mặt là 70 m². Đây là diện tích của các màng cực mỏng dùng để di chuyển khí giữa phế nang và máu.
Màng của phế nang gồm hai loại tế bào. Loại 1 mỏng tạo phần chính của màng phế nang. Loài 2 dày, tiết chất hoạt hóa bề mặt. Ngoài ra còn các tế bào phụ khác như bạch huyết cầu với nhiệm vụ miễn nhiễm và "làm sạch" môi trường.
Cơ động hô hấp.
Các thể tích phổi.
Trung bình cả hai phổi chứa được khoảng 6 lít không khí, nhưng chỉ một phần nhỏ của dung tích này được sử dụng khi thở bình thường. Cần phân biệt hai khái niệm dung tích phổi ("lung capacity") và thể tích phổi ("lung volume"), thể tích phổi là các thay đổi về mặt thể tích khi hô hấp, dung tích phổi là sự kết hợp của các thể tích phổi khác nhau. Các giá trị này phụ thuộc vào chủng tộc, độ tuổi và chiều cao. Sau khi thu thập các dữ liệu trong cộng đồng, dựa vào tuổi, chiều cao, cân nặng người ta có thể ước lượng các thông số hô hấp bình thường của một cá nhân.
Dưới đây là các thông số cơ bản cho một người châu Âu, khoảng 70 kg và có chiều cao thông thường:
Các cơ hô hấp.
Ngoài cơ hoành là cơ quan trọng nhất cho cả quá trình hô hấp, tham gia vào quá trình hít vào và thở ra các cơ tham gia hô hấp được biết đến như sau:
Các cơ hít vào gồm có:
Các cơ thở ra gồm có:
Là khoảng là lượng không khí nằm trong đường ống dẫn khí. Ở đây không xảy ra sự trao đổi khí. Trung bình cứ 500ml khí được đưa vào phổi thì 150ml khí nằm trong khoảng chết, 350ml khí còn lại nằm trong phế nang mới tham gia trao đổi khí.
|
Thành cổ Châu Sa
Thành cổ Châu Sa hay Amaravati là thủ đô của Vương quốc Amaravati, được người Chăm Pa xây dựng bằng đất vào thế kỷ thứ 9 tại xã Tịnh Châu, TP.Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Đây là loại thành Chăm bằng đất duy nhất ngày nay vẫn còn dấu tích.
Thành Châu Sa là di tích dân sự lớn nhất trong khu vực Quảng Nam- Quảng Ngãi thuộc châu Amaravati của Champa xưa. Niên đại của thành được xác định vào khoảng cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ X. Cơ sở để xác định là tấm bia được tìm thấy trong khu vực thành. Bia Châu Sa có niên dại xác định là năm 903, trên bia có những thông tin về hai vị vua đầu tiên của vương triều Indrapura (875-982) là Indravarman II và Jaya Simhavarman. Vì vậy thành Châu Sa ít nhất là đã tồn tại trong thời kỳ vương triều Indrapura.
Thành nằm trên tuyến quốc lộ 24B đi cảng Sa Kỳ - Dung Quất, thuộc xã Tịnh Châu, cách trung tâm thành phố Quảng Ngãi 7 km về phía đông bắc, phía nam giáp sông Trà Khúc, bắc giáp sông Hàm Giang về cảng biển Sa Kỳ. Thành có 2 gọng thành, nối thành nội với sông Trà Khúc.
Thành hình chữ nhật, gần vuông, chạy theo hướng bắc- nam; dài 580m, rộng 540m; thành có bốn cửa, mở giữa bốn phía tường thành; rất có thể đây chỉ là thành nội vì theo như khảo sát của Lê Đình Phụng (1988) thì thành còn có hai gọng kìm và vòng thành ngoài rất rộng.
Thành đắp bằng đất, hiện tại đo được thành cao 4-6m, chận thành rộng 20-25m, mặt thành rộng 5-8m. Bốn góc thành hiện giờ có bốn ụ đất, có thể là dấu tích của bốn tháp canh. Quanh thành có hào nước rộng 20-25m. Cách thành 500m là khu tháp cổ Gò Phố.
Năm 1924, kiến trúc sư người Pháp Henry Parmentier đã tìm thấy ở đây các di chỉ văn hóa và đưa về trưng bày tại Bảo tàng Điêu Khắc Chăm Pa ở Đà Nẵng. Các dấu vết cho thấy thành cổ Châu Sa đã từng là trung tâm kinh tế của châu Amaravati thuộc Vương quốc Chăm Pa trước kia.
Năm 1994, tức sau 70 năm được phát hiện, thành mới được công nhận là di tích cấp quốc gia của Việt Nam. Việc chậm công nhận di tích cấp quốc gia có thể đã ảnh hưởng đến việc bảo vệ thành cổ; do trước khi được quan tâm, bờ thành đã bị người dân địa phương làm đường. Hiện nay, đây là nơi thu hút sự chú ý của các nhà khảo cổ.
Đặc biệt gần đây phát hiện ra dấu tích lò gốm và những tấm đất nung có liên quan đến Phật giáo ở Núi Chồi. Bằng biện pháp so sánh Ngô Văn Doanh và các và một số nhà khoa học khác đã xác định, các tiểu phẩm gốm ở Núi Chồi có niên đại thế kỷ X. Khi nghiên cứu Núi Chồi, phát hiện nhiều hiện vật có hình dáng, kích thước và các nhân vật thể hiện trên đất nung có nguồn gốc từ khu đền Chaya của vương quốc Srivijaya, thế kỷ VII-XIII, miền nam Thái Lan. Ngoài ra còn phát hiện nhiều loại gốm với nhiều chủng loại hoa văn khác nhau. Đó là những bằng chứng chứng tỏ mối quan hệ giữa dân cư thành Châu Sa với các khu vực trong vương quốc Champa và các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á hải đảo. Như vậy ta có thể nói ít nhất là ở thế kỷ IX-X, thành Châu Sa là một trung tâm hành chính, kinh tế quan trọng của châu Amaravati, một địa điểm quan trọng thông thương với các nước trong khu vực.
|
Bãi biển Mỹ Khê (Quảng Ngãi)
Mỹ Khê là một bãi biển ở Thành phố Quảng Ngãi, Tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam.
Bãi biển này thuộc thôn Cổ Lũy, xã Tịnh Khê, Thành phố Quảng Ngãi. Nó cách trung tâm thành phố Quảng Ngãi 12 km về phía Đông, nằm bên cạnh sông Kinh. Mỹ Khê nằm trên quốc lộ 24B, cách cảng Dung Quất 16 km và gần cảng Sa Kỳ. Bãi biển này cách khu chứng tích Sơn Mỹ 3 km - nơi xảy ra vụ thảm sát Mỹ Lai đã từng làm chấn động dư luận thế giới.
Trương Đăng Quế khi xin về nghỉ hưu đã từng nói: "nhất Huế nhì đây" (theo: Di tích và thắng cảnh Quảng Ngãi, Sở VHTT Quảng Ngãi xuất bản năm 2001).
Ngoài Mỹ Lai còn có Tịnh Thiện, Thành phố Quảng Ngãi, Tỉnh Quảng Ngãi mà nơi có cảch đẹp và khí hậu tốt là xóm Nho Lâm, xóm Nho Lâm nằm giữa núi đồn và núi Bé. Có bến Đá, Cầu Kháng chiến.
|
Thảm sát Mỹ Lai
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Thảm sát Mỹ Lai hay thảm sát Sơn Mỹ là một tội ác chiến tranh của Lục quân Hoa Kỳ gây ra trong thời gian Chiến tranh Việt Nam. Trong tiếng Anh, vụ thảm sát này có tên My Lai Massacre, Son My Massacre hoặc Pinkville, trong đó Pinkville là tên địa danh của quân đội Hoa Kỳ đặt cho khu vực Mỹ Lai.
Vào ngày 16 tháng 3 năm 1968 tại khu vực thôn Mỹ Lai thuộc xã Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Tịnh Khê, thành phố Quảng Ngãi), các đơn vị lính Lục quân Hoa Kỳ đã thảm sát hàng loạt từ 347 cho đến 504 thường dân không có vũ khí, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Trước khi bị sát hại, nhiều người trong số các nạn nhân còn bị cưỡng bức, quấy rối, tra tấn, đánh đập hoặc cắt xẻo các bộ phận trên cơ thể. Sự kiện thảm khốc này đã gây sốc cho dư luận Mỹ, Việt Nam, và thế giới, hâm nóng phong trào phản chiến và là một trong các nguyên nhân dẫn tới sự triệt thoái của quân đội Hoa Kỳ khỏi Việt Nam năm 1972.
Vụ thảm sát đã bị che giấu, trong báo cáo của quân đội Mỹ ghi rằng họ đã "tiêu diệt 128 binh lính kẻ thù mà không chịu bất cứ thương vong nào". Cho tới cuối năm 1969, vụ việc mới bị phát hiện. Tuy nhiên, tòa án Mỹ đã không kết tội bất cứ sĩ quan hay binh lính Hoa Kỳ nào sau vụ thảm sát này, ngoại trừ một chỉ huy cấp trung đội là William Calley bị tuyên án chung thân, nhưng chỉ 1 ngày sau, Tổng thống Mỹ ra lệnh ân xá và Calley chỉ phải chịu quản thúc tại gia 3 năm rưỡi.
Đại đội Charlie thuộc Tiểu đoàn số 1, Trung đoàn bộ binh số 20, Lữ đoàn bộ binh số 11, Sư đoàn bộ binh số 23, Lục quân Hoa Kỳ, tới Nam Việt Nam tháng 12 năm 1967. Trong tháng đầu tiên tại Việt Nam họ không có cuộc chạm trán nào với đối phương nhưng vẫn phải chịu nhiều thương vong. Tính cho đến giữa tháng 3 năm 1968, thương vong của đơn vị này là 5 người chết, 23 người bị thương, trong đó phần lớn binh sĩ thiệt mạng vì mìn và bẫy.
Trong thời gian diễn ra Sự kiện Tết Mậu Thân (tháng 1 năm 1968), Tiểu đoàn 48 của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (thường được quân đội Hoa Kỳ gọi là "Việt Cộng") đã tiến hành một số cuộc tấn công trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Tình báo Mỹ cho rằng sau Sự kiện Tết Mậu Thân, Tiểu đoàn 48 đã rút lui về ẩn náu tại địa bàn làng Sơn Mỹ thuộc tỉnh này, cụ thể là các thôn Mỹ Lai 1, 2, 3 và 4.
Lục quân Hoa Kỳ quyết định tổ chức một cuộc tấn công lớn vào các làng bị nghi ngờ này. Đại tá Oran K. Henderson ra lệnh cho các sĩ quan cấp dưới "đánh mạnh vào đây, tiến gần kẻ địch và xóa sạch chúng". Trung tá Frank A. Barker ra lệnh cho các chỉ huy của Tiểu đoàn 1 đốt các ngôi nhà, giết sạch gia súc, phá hủy các kho lương thực và giếng nước
Vào hôm trước của cuộc tấn công, tại cuộc họp chiến thuật của Đại đội Charlie, đại úy Ernest Medina thông báo cho lính của mình rằng gần như mọi dân làng sẽ ra chợ vào lúc 7 giờ sáng, tất cả những ai còn ở lại đều là lính Việt Cộng hoặc người giúp đỡ Việt Cộng. Một số binh sĩ của đại đội Charlie sau này đã khai rằng mệnh lệnh của Medina theo như họ hiểu là giết toàn bộ du kích, lính Việt Cộng và những ai "khả nghi" (bao gồm cả phụ nữ, trẻ em), đốt trụi làng và đầu độc các giếng nước.
Trung đội 1 được chỉ định là đơn vị xung kích của Đại đội Charlie trong cuộc tấn công. Ngoài Charlie, còn có 2 đại đội khác có nhiệm vụ bao vây làng Sơn Mỹ.
Vào tối ngày 15 tháng 3 năm 1968, chỉ huy đại đội Charlie, đại úy Ernest Medina đã ra lệnh cho quân lính của mình rằng ngày hôm sau bọn họ sẽ triển khai theo kế hoạch đã định nhắm vào một địa điểm gọi là "Pinkville". Binh sĩ Harry Stanley nhớ lại, "Medina ra lệnh cho chúng tôi giết hết thảy mọi thứ trong làng". Salvatore LaMartina, một lính bộ binh lúc đó, cũng nhớ lại gần như nguyên văn lời của Medina: "Hãy giết sạch tất cả những gì còn sống". Trong tâm trí của sĩ quan pháo binh James Flynn vẫn còn bị ám ảnh câu hỏi của đồng đội: "Chẳng nhẽ chúng ta cũng giết cả phụ nữ lẫn trẻ em sao?" và Medina trả lời ngắn gọn: "Hễ thấy gì động đậy là giết"
Sáng ngày 16 tháng 3, sau một đợt công kích dọn chỗ ngắn bằng pháo và súng máy bắn từ trực thăng, Đại đội Charlie đổ bộ vào làng Sơn Mỹ. Các binh sĩ của đơn vị này không tìm thấy bất cứ lính Việt Cộng nào trong làng, thay vào đó chỉ có những người dân thường, phần lớn là phụ nữ và trẻ em, đang cố gắng tìm chỗ ẩn nấp trước cuộc càn quét của quân đội Mỹ. Nhiều người trong làng vẫn còn đang nấu cơm sáng. Tuy nhiên, binh lính đã răm rắp tuân lệnh đại đội trưởng Medina. Cả đại đội bắt đầu giết chóc, "tàn sát bất cứ thứ gì động đậy".
Trung đội của thiếu úy William Calley bắt đầu xả súng vào các "địa điểm tình nghi có đối phương", những người dân thường đầu tiên bị giết chết hoặc bị thương bởi các loạt đạn bừa bãi này. Sau đó lính Mỹ bắt đầu hủy diệt tất cả những gì chuyển động, người, gia súc, gia cầ, bằng lưỡi lê hoặc bằng lựu đạn với mức độ tàn bạo mỗi lúc một cao. Lính Mỹ quăng lựu đạn vào nhà mà không thèm bận tâm xem trong nhà có gì. Một sĩ quan túm tóc một người đàn bà và dùng súng ngắn bắn thẳng vào người đó. Một phụ nữ vừa ôm con nhỏ bước ra khỏi nhà liền bị bắn chết ngay lập tức, khủng khiếp hơn, một lính Mỹ liền dùng khẩu súng trường tự động M16 xả đạn bắn tung xác đứa trẻ sơ sinh khi nó vừa rơi xuống đất.
Đài BBC News mô tả lại cảnh này:
Binh lính bắt đầu nổi điên, họ xả súng vào đàn ông không mang vũ khí, đàn bà, trẻ em và cả trẻ sơ sinh. Những gia đình tụm lại ẩn nấp trong các căn lều hoặc hầm tạm bị giết không thương tiếc. Những người giơ cao hai tay đầu hàng cũng bị giế, nỗi bạo tàn [của lính Mỹ] mỗi lúc chồng chất. Phụ nữ bị cưỡng bức hàng loạt; những người quỳ lạy xin tha bị đánh đập và tra tấn bằng tay, bằng báng súng, bị đâm bằng lưỡi lê. Một số nạn nhân bị cắt xẻo với dấu "C Company" ("Đại đội C") trên ngực. Đến cuối buổi sáng thì tin tức của vụ thảm sát đến tai thượng cấp và lệnh ngừng bắn được đưa ra. Nhưng Mỹ Lai đã tan hoang, xác người la liệt khắp nơi.
Vài chục người bị dồn vào một mương nước và xả súng giết chết, một số chỗ khác cũng xảy ra những giết hàng loạt như vậy. Một nhóm lớn gồm khoảng 70 hoặc 80 dân làng nằm trong vòng vây của Trung đội 1 ở trung tâm làng bị Calley đích thân giết hoặc ra lệnh cho cấp dưới giết. Các binh sĩ của Trung đội 2 đã giết ít nhất từ 60 đến 70 dân làng bao gồm cả đàn ông, đàn bà và trẻ em trong khi đơn vị này càn qua nửa phía bắc của thôn Mỹ Lai 4 và Bình Tây.
Sau cuộc càn quét đầu tiên của Trung đội 1 và 2, Trung đội 3 được lệnh giải quyết bất cứ sự "kháng cự còn lại" nào. Ngay lập tức lính Mỹ giết tất cả những người và gia súc "còn sống" nhưng không may bị họ tìm được. Ngay cả những người giơ tay đầu hàng từ chỗ ẩn nấp hoặc những tiếng rên cất lên từ các đống xác người cũng bị những lính Mỹ này "giải quyết". Trung đội 3 cũng là đơn vị bao vây và giết một nhóm khoảng từ 7 đến 12 dân thường chỉ gồm phụ nữ và trẻ em.
Vì Đại đội Charlie không gặp bất cứ sự kháng cự nào của "quân địch", Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn bộ binh số 3 bắt đầu chuyển hướng càn quét sang các xóm của thôn Mỹ Khê 4 và giết khoảng 90 dân thường. Có một binh sĩ Mỹ chết và 7 người khác bị thương vì mìn và bẫy cá nhân. Trong vòng 2 ngày tiếp theo, các đơn vị lính Mỹ tiếp tục việc đốt phá các làng xóm và tra tấn những người bị bắt. Các lính Mỹ nếu không tham gia vào các tội ác thì cũng không phản đối hoặc báo cáo lại nó với cấp trên Một lính Mỹ tham gia vụ thảm sát sau này kể lại:
Tại thôn Cổ Lũy, vừa bước ra khỏi máy bay, một trung đội đã xông vào xóm Mỹ Hội. Lính Mỹ chia thành nhiều tốp, sục đến từng nhà, tìm đến từng hầm. Nhà bị sục đầu tiên là nhà ông Lệ lúc trong hầm nhà này có 15 người đang trú ẩn. Thấy lính Mỹ kéo đến, 8 người trong hầm bước ra, liền bị xả súng bắn chết tất cả, xác đè lên nhau. Lính Mỹ tiếp tục ném mìn vào hầm, giết nốt những người còn lại
Một tốp lính Mỹ khác kéo vào nhà chị Trinh ở cạnh. Con chị Trinh là cháu Đức 8 tuổi từ trong hầm chạy ra liền bị bắn chết khi miệng còn ngậm đầy cơm. Giết xong cháu bé, tốp lính Mỹ đặt mìn giật tung hầm giết chết cả thảy 7 người gồm mẹ con chị Trinh và ba mẹ con chị Hòa, không một ai được toàn thây.
Chị Võ Thị Mại vừa mới sinh hôm trước, sức yếu không kịp xuống hầm trú ẩn, đã bị lính Mỹ lột hết quần áo rồi hãm hiếp cho đến chết. Đứa bé mới sinh và hai con chị đang núp trong hầm cũng bị lính Mỹ bắn chết. Chị Ngôn có mang đến gần ngày sinh cũng bị hãm hiếp, hiếp xong lính Mỹ dùng lưỡi lê đâm thủng bụng, bào thai lòi hai chân ra ngoài. Ba đứa con của chị cũng bị lính Mỹ bắn chết tất cả. Chị Võ Thị Phụ bị bắn chết đang lúc cho con bú, lính Mỹ chất cỏ khô lên cả hai mẹ con rồi châm lửa đốt. Thi thể hai mẹ con bị lửa thiêu co quắp cả chân tay, bộ xương của cháu bé vẫn còn nằm nguyên trên xác mẹ.
Hai chị Ngô Thị Mùi, Ngô Thị Một bị lính Mỹ lôi ra khỏi hầm, thay nhau hãm hiếp, hiếp xong lính Mỹ xô hai chị em vào lại trong hầm, giật mìn giết luôn cả hai chị em cùng 4 đứa con nhỏ của chị Mùi trong đó. Gia đình ông Võ Mãi có bốn người bị giết hết. Hầm nhà ông Võ Toan có sáu người, bị lính Mỹ ném lựu đạn vào giết chết 4 người. Hầm nhà bà Nguyễn Thị Thi bị đánh sập, có 2 bà già và 6 em nhỏ bị chết, chỉ sót lại một cháu bé 10 tuổi bị thương nặng. Trong số 16 gia đình khác trong xóm có 7 cụ già, 12 phụ nữ, 17 trẻ em dưới 15 tuổi đều bị bắn chết. Nhà cửa trong xóm đều bị thiêu hủy. Cả thôn Cổ Lũy có 97 người bị tàn sát, phần lớn là người già, phụ nữ và trẻ em.
Tập sách ảnh Nhật Bản "Việt Nam: cách mạng và thắng lợi" ghi lại vụ thảm sát như sau:
"Ngày 16-3-1968, xã Sơn Mỹ, tỉnh Quảng Ngãi bị quân Mỹ triệt hạ, tàn sát một lúc 500 thường dân. Lúc đó, quân Mỹ dùng mọi loại máy bay sẵn có chia làm bốn tầng bay trên bầu trời Sơn Mỹ. Bay thấp dưới 300 mét là máy bay lên thẳng vũ trang bắn chết tất cả những "Việt cộng" định thoát ra khỏi xã. Trên 300 mét là máy bay chở sĩ quan tư lệnh quân cơ động, chỉ huy trận đánh. Trên 800 mét là máy bay sư đoàn trưởng quan sát trận đánh. Sự tàn bạo lên đến cực điểm khi quân Mỹ coi những cuộc hành quân đó như một trò chơi thể thao. Nó làm chúng ta phẫn nộ tới mức không thể nào tả nổi"
Hành động giải cứu.
Chuẩn úy Hugh Thompson, Jr., phi công trực thăng 24 tuổi thuộc đơn vị trinh sát trên không, ngay khi bay qua làng đã chứng kiến cảnh tượng khủng khiếp: vô số xác người chết, tất cả đều chỉ là trẻ con, phụ nữ và người già, không hề có dấu hiệu của người thuộc độ tuổi tòng quân hay vũ khí ở bất cứ đâu. Đội bay của Thompson tận mắt nhìn thấy đại úy Medina đá và bắn thẳng vào đầu một phụ nữ không có vũ khí (Medina sau này tuyên bố người phụ nữ có mang một quả lựu đạn). Sau khi chứng kiến những cảnh tượng kinh hoàng này, đội bay Thompson cố gắng thực hiện các cuộc điện đàm để cứu những người bị thương. Chiếc trực thăng của họ hạ cánh xuống một cái mương đầy xác người, trong đó vẫn còn người cử động. Thompson đề nghị một sĩ quan cứu người đó ra khỏi cái mương, viên sĩ quan này trả lời anh ta sẽ "giúp họ thoát khỏi nỗi khốn khổ". Cho rằng đây là một câu đùa, chiếc trực thăng của Thompson cất cánh, ngay lúc đó một người của phi đội thốt lên "Chúa ơi, anh ta đang xả súng vào cái mương".
Thompson sau đó nhìn thấy một nhóm dân thường (lại chỉ bao gồm phụ nữ, trẻ em và người già) trong một căn hầm tạm đang bị lính Mỹ tiếp cận. Chiếc trực thăng của phi đội Thompson hạ cánh và cứu được khoảng từ 12 đến 16 người trong căn hầm. Phi đội Thompson sau đó còn cứu được một đứa bé toàn thân đầy máu nhưng vẫn sống sót từ trong cái mương đầy xác người. Thompson sau đó đã báo cáo lại những gì anh nhìn thấy cho chỉ huy của mình, thiếu tá Watke, trong báo cáo Thompson đã dùng những cụm từ như "murder" (giết người) và "needless and unnecessary killings" (sát hại vô cớ và không cần thiết). Báo cáo của Thompson được các phi công và phi đội khác xác nhận.
Năm 1998 tại thủ đô Washington D.C., ba cựu sĩ quan thuộc phi đội Thompson gồm chỉ huy phi đội Glenn Andreotta, phi công Hugh Thompson và xạ thủ Lawrence Colburn đã được trao tặng Soldier's Medal (Huy chương Chiến sĩ) vì hành động ngăn cản đồng đội giết dân thường.
Do hoàn cảnh hỗn loạn khi vụ thảm sát xảy ra và việc Lục quân Hoa Kỳ không thực hiện thống kê chính xác số nạn nhân, người ta không biết được hoàn toàn chính xác số dân thường bị lính Mỹ giết hại tại Mỹ Lai. Con số ghi lại tại Khu chứng tích Sơn Mỹ là 504 dân thường từ 1 tuổi đến 82 tuổi, trong đó có: 182 phụ nữ (có 17 người đang mang thai), 173 trẻ em (có 56 em dưới 5 tháng tuổi), 60 cụ già trên 60 tuổi, 89 trung niên.. Con số do phía Mỹ đưa ra thấp hơn, 347 nạn nhân.
Có 247 căn nhà bị lính Mỹ thiêu hủy, hàng ngàn trâu bò, gia súc cũng bị giết.
Sự che giấu của quân đội Hoa Kỳ.
Những báo cáo đầu tiên của các đơn vị lính Mỹ đã tuyên bố rằng "128 Việt Cộng và 22 dân thường" bị giết tại làng sau "cuộc đọ súng ác liệt". Theo báo "Stars and Stripes" của Lục quân Hoa Kỳ vào thời điểm đó đưa tin thì "Bộ binh Hoa Kỳ đã giết 128 tên Cộng sản sau một trận đánh đẫm máu kéo dài 1 ngày mà không bị thương vong một binh sĩ nào". Trong bức điện mừng, Tướng William Westmoreland, tư lệnh chiến trường Việt Nam đã tán dương "cú giáng mạnh" này lên kẻ thù. Thuộc hạ của ông, tư lệnh Sư đoàn Americal 23 bộ binh còn viết thư ca ngợi "cuộc đọ súng ác liệt" của Đại đội C.
Những báo cáo sau này của phía Việt Nam thì tuyên bố rằng "toàn bộ số người dân bị lính Mỹ giết tại Mỹ Lai đều là dân thường".
Cuộc điều tra đầu tiên về chiến dịch Mỹ Lai được thiếu tướng George H. Young giao cho đại tá Henderson, sĩ quan chỉ huy của Lữ đoàn bộ binh hạng nhẹ số 11 phụ trách. Henderson đã thẩm vấn một số binh lính tham gia vụ thảm sát, sau đó đưa ra một báo cáo vào cuối tháng 4 ghi nhận rằng khoảng 22 dân thường đã bị giết hại một cách "không cố ý" trong chiến dịch. Quân đội Mỹ lúc này vẫn coi sự kiện ở Mỹ Lai là một chiến thắng quân sự khi lính Mỹ đã tiêu diệt được 128 lính đối phương.
Sáu tháng sau, Tom Glen, một binh sĩ 21 tuổi của Lữ đoàn 11, đã viết một lá thư cho tướng Creighton Abrams, tổng chỉ huy mới của các lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam. Trong lá thư Glen buộc tội Sư đoàn Americal, tức Sư đoàn bộ binh số 23 (và toàn bộ các đơn vị lính Mỹ khác) liên tục sử dụng bạo lực chống lại dân thường Việt Nam, lá thư không trực tiếp nhắc tới vụ Mỹ Lai vì Glen không biết nhiều về vụ tàn sát. Một trong các sĩ quan được giao phân tích lá thư là Colin Powell. Trong báo cáo phân tích, Powell viết: "Điều phản bác lại những gì miêu tả trong bức thư là sự thật rằng quan hệ giữa binh sĩ Hoa Kỳ và người dân Việt Nam là tuyệt vời", một vài nhà quan sát cho rằng cách thức Powell xử lý lá thư đồng nghĩa với việc rửa sạch sự tàn bạo của quân đội Hoa Kỳ ở Mỹ Lai. Tháng 5 năm 2004, Powell, khi này đã là Ngoại trưởng Hoa Kỳ, đã trả lời trong chương trình của Larry King trên đài CNN: "Ý tôi là, tôi đã ở trong đơn vị chịu trách nhiệm về vấn đề Mỹ Lai. Tôi ở đó sau khi sự kiện xảy ra. Mà trong chiến tranh thì những vụ việc kinh khủng như vậy vẫn xảy ra, và chúng ta vẫn phải ân hận về chúng".
Bất chấp mọi thông cáo, bản tin trên đài phát thanh và những bản báo cáo bằng tiếng Anh được phía quân Giải phóng đưa ra, trong vòng hơn một năm liền, thế giới vẫn chỉ biết tới Mỹ Lai như một "trận đánh thắng lợi" của lính Mỹ.
Sự thật rất có thể sẽ bị vùi lấp mãi mãi nếu như không có cựu chiến binh Mỹ Ronald Ridenhour tiết lộ. Tận mắt thấy những dân thường bị sát hại ở khắp mọi nơi ở Việt Nam, người lính 22 tuổi Ridenhour tuy không nằm trong số những người lính tham gia trực tiếp vào vụ Mỹ Lai, nhưng anh đã nghe chính những người lính tham gia vào vụ việc Pinkville ngày hôm đó kể cho nghe về vụ thảm sát. Không nao núng, người lính trẻ Ridenhour đã có một hành động chưa từng có, đó là cẩn thận thu thập lời khai từ nhiều người Mỹ đã chứng kiến vụ việc. Rồi sau một năm nghĩa vụ quân sự, Ridenhour trở về Mỹ và quyết tâm theo đuổi đến cùng để đưa sự việc ra ánh sáng công luận.
Vụ thảm sát Mỹ Lai có lẽ sẽ tiếp tục bị che giấu nếu không có bức thư thứ hai của Ron Ridenhour. Ridenhour, một thành viên cũ của Đại đội Charlie và biết về vụ thảm sát qua lời kể của đồng đội, vào tháng 3 năm 1969 đã gửi một lá thư trình bày chi tiết sự kiện Mỹ Lai cho tổng thống Richard M. Nixon, Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Bộ Tham mưu Liên quân và một số thành viên của Quốc hội Hoa Kỳ. Phần lớn những người được nhận thư đã bỏ qua tầm quan trọng của nó.
Độc lập với chính phủ, nhà báo Seymour Hersh đã tiến hành cuộc điều tra về vụ Mỹ Lai thông qua các cuộc nói chuyện với Calley. Ngày 12 tháng 11 năm 1969 vụ việc Mỹ Lai vỡ lở. Ngày 20 tháng 11, các tạp chí lớn như "Time", "Life" và "Newsweek" đồng loạt đăng lên trang bìa vụ thảm sát Mỹ Lai, đài truyền hình CBS cũng phát sóng cuộc phỏng vấn với Paul Meadlo. Tờ "Plain Dealer" ở Cleveland còn mạnh dạn hơn khi đăng các bức ảnh mô tả những dân thường bị giết trong vụ thảm sát. Tháng 11 năm 1969, tướng William R. Peers được chỉ định điều tra về sự kiện Mỹ Lai và các hành động che giấu của Lục quân Hoa Kỳ. Bản báo cáo cuối cùng, bản báo cáo Peers (Peers Report), được công bố tháng 3 năm 1970, đã chỉ trích mạnh mẽ việc các sĩ quan cấp cao che giấu vụ việc cũng như những hành động của các sĩ quan thuộc Đại đội Charlie tại làng Mỹ Lai 4. Theo đó:
Các binh lính [tiểu đoàn 1] đã giết ít nhất từ 175 đến 200 đàn ông, phụ nữ và trẻ em Việt Nam. Dù trong số bị giết có người ủng hộ hoặc thân với Việt Cộng (họ không mang vũ khí, gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em) nhưng nhiều bằng chứng đã xác nhận rõ chỉ có 3-4 người đích thực là Việt Cộng (VC). Một lính của đại đội được ghi nhận đã vô ý bị thương lúc nạp đạn.
Ngày 17 tháng 3 năm 1970, Lục quân Hoa Kỳ đã buộc tội 14 sĩ quan, bao gồm cả thiếu tướng Samuel W. Koster, sĩ quan chỉ huy Sư đoàn Americal (Sư đoàn bộ binh số 23), về việc che giấu thông tin liên quan tới sự kiện Mỹ Lai. Phần lớn các lời buộc tội sau đó đã được hủy bỏ. Chỉ huy lữ đoàn Henderson là sĩ quan duy nhất phải ra tòa án binh về tội che giấu thông tin, dù vậy ông này cũng được tuyên bố trắng án ngày 17 tháng 12 năm 1971.
Sau phiên tòa 10 tháng, mặc dù đã tuyên bố mình chỉ tuân theo mệnh lệnh của sĩ quan cấp trên (đại úy Medina), Calley bị tòa tuyên là có tội ngày 10 tháng 9 năm 1971 với các tội danh giết người có chủ ý và ra lệnh cho cấp dưới nổ súng. Ban đầu Calley bị tuyên án chung thân nhưng chỉ 2 ngày sau, tổng thống Nixon đã ra lệnh ân xá cho Calley. Sau cùng Calley chỉ phải chịu án 4 tháng rưỡi ngồi tù quân sự tại Fort Leavenworth, Kansas, trong thời gian này anh ta vẫn được bạn gái thăm nuôi không hạn chế. Trong một phiên tòa khác, Medina phủ nhận việc ra lệnh thảm sát, và được tuyên trắng án ở tất cả các lời buộc tội. Vài tháng sau phiên tòa, Medina thừa nhận đã che giấu bằng chứng và nói dối Henderson về con số dân thường bị giết.
Phần lớn các binh lính khác có dính líu tới vụ thảm sát Mỹ Lai khi phiên tòa xảy ra đã giải ngũ, vì vậy họ được miễn truy tố. Trong số 26 người bị buộc tội, chỉ có duy nhất Calley bị kết án.
Calley cho rằng anh ta nên đặt nhiệm vụ mà Tổ quốc giao cho lên trên cái tôi của mình. Khi tiến vào Mỹ Lai, tất cả đàn ông ở đâu? Thôn Mỹ Lai toàn là phụ nữ và trẻ em, không có thanh niên nào cả. Điều đó có nghĩa là cha chúng xa nhà đi chiến đấu. Calley tuyên bố những phụ nữ và trẻ em mà anh ta sát hại "chắc chắn là Việt Cộng".
Những người ủng hộ cuộc chiến cho rằng Calley đang làm nhiệm vụ. Phe chống đối thì cho rằng anh ta chỉ là người giơ đầu chịu báng, phải nhận tội thay cho các sĩ quan chỉ huy.
Ngày 19 tháng 8 năm 2009, trong lúc phát biểu tại Kiwanis Club, Greater Columbus, lần đầu tiên William L.Calley công khai lên tiếng xin lỗi nạn nhân. Ông nói: "Không một ngày nào trôi qua mà tôi không cảm thấy hối hận vì những gì đã xảy ra ngày hôm đó tại Mỹ Lai"
Những người sống sót.
Trong vụ thảm sát ở Mỹ Lai, có một số người sống sót nhờ được xác của những người thân che chắn khỏi những làn đạn của lính Mỹ, một trong số đó là Đỗ Ba (Đỗ Hòa), người đã được phi đội Thompson cứu khỏi cái mương đầy xác chết. Những người sống sót sau đó đã tái định cư tại khu lán trại nằm ở thôn Mỹ Lai 2. Khu định cư này gần như đã bị phá hủy sau cuộc pháo kích và không kích của Quân lực Việt Nam Cộng hòa mùa xuân năm 1972. Vụ phá hủy đầu tiên được đổ cho Việt Cộng nhưng sự thật sau đó đã được các nhân viên Quaker làm việc ở Quảng Ngãi công bố. Vụ việc này sau đó đã được đăng trên tờ "New York Times" tháng 6 năm 1972.
Nhà báo Seymour Hersh, người phát hiện ra tình huống bi kịch này đã nhận giải thưởng Pulitzer về tường thuật quốc tế năm 1970. Tường thuật của ông được minh họa bằng hình của nhà nhiếp ảnh Ron Haeberle. Người nhiếp ảnh này đã tham dự vào chiến dịch dưới tư cách là phóng viên quân đội chính thức nhằm cung cấp chứng cứ cho cái được gọi là "đếm xác" ("body count") trong thống kê quân sự của Mỹ. Các xác chết được chụp đã được các sĩ quan Mỹ xác nhận là của các binh sĩ Việt Cộng đã bị giết, thế nhưng người ta không gặp một dấu hiệu nào của Việt Cộng trong làng và cũng không gặp kháng cự nào. Mặc dầu vậy, quân đội Mỹ rất hài lòng với cuộc hành quân, họ báo cáo rằng không có quân nhân Mỹ nào chết hay bị thương và 128 binh sỹ kẻ thù đã bị tiêu diệt. Phải mất 1 năm Hersh mới tìm được một nhà xuất bản sẵn sàng công bố câu chuyện và hình ảnh của ông.
Việc xuất bản này đã đánh dấu một bước ngoặt trong cảm nghĩ của công chúng về Chiến tranh Việt Nam, cả ở Mỹ lẫn trong toàn bộ thế giới phương tây và đã góp phần quyết định vào việc tổng động viên của phong trào chống chiến tranh.
Ngày nay, Sơn Mỹ đã trở thành một trung tâm tư liệu về sự kiện: Khu chứng tích Sơn Mỹ. Bên cạnh làng cũ là 2 tòa nhà: 1 trường học và 1 trung tâm văn hóa, được xây dựng và tài trợ bởi cựu quân nhân của Chiến tranh Việt Nam.
Đạo diễn chuyên về đề tài chiến tranh Việt Nam Oliver Stone vào năm 2007 đã dự định làm một bộ phim về vụ thảm sát lấy tên "Pinkville". Bộ phim xoay quanh cuộc điều tra của tướng Peers, vai William Peers được giao cho diễn viên Bruce Willis, Woody Harrelson vào sẽ vào vai đại tá Henderson.
|
Núi Thiên Ấn là một ngọn núi và cũng được xem là một thắng cảnh của tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam.
Thiên Ấn hay còn gọi là Kim Ấn Sơn là ngọn núi nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, thuộc địa phận xã Tịnh Ấn Đông và phường Trương Quang Trọng, Thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
Núi cao 106 m, tựa hình một chiếc ấn, bốn phía sườn có hình thang cân. Giữa thiên nhiên thoáng đãng, ngọn núi như chiếc ấn của trời cao niêm cạnh dòng sông xanh nên người xưa gọi là Thiên Ấn Niêm Hà.
Trên đỉnh núi có ngôi chùa cổ nằm dưới bóng cây cổ thụ, được Chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển ngạch vào năm 1716. Năm 1830, ngọn núi được khắc vào dinh tự và năm 1850, vua Tự Đức đưa núi vào hàng danh sơn của đất nước và ghi vào tự điển. Phía Đông chùa có khu "Viên Mộ" thiết diện hình lục giác, gồm nhiều tầng, là nơi an táng các vị sư trụ trì của chùa và mộ nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947).
Thiên Ấn niêm hà (dấu trời đóng bên sông) là một quả núi cao 106m nằm giữa đồng bằng huyện Sơn Tịnh ở tả ngạn của sông Trà Khúc, cách thành phố Quảng Ngãi hơn 3 km về hướng Bắc. Từ bến đò Trà Khúc năm xưa qua khỏi cầu Trà Khúc 1 nằm trong tuyến Quốc lộ 1 có thể nghỉ chân nắ ngắm cảnh Long Đầu hý thủy rồi theo quốc lộ 24B Trà Khúc – Sa Kỳ 2 km, bên tay phải có con đường trải nhựa, xoáy tròn trôn ốc lên đến tận đỉnh bằng phẳng hơn 10 mẫu. Chân núi rộng chu vi khoảng 5 km như một khối hình thang, chiếm mặt đất khoảng 50 mẫu.
Núi Ấn còn có nhiều tên gọi khác như: núi Hó, Kim Ấn Sơn, Thổ Sơn (núi đất), Thổ châu (núi đỏ). Xưa kia núi mọc toàn là tranh chen lẫn với đá, mặt đỉnh câu cối mộc sầm uất có cọp ở. Người dân trong làng thường dùng tranh của núi Ấn để lợp nhà, tuy nhiên, không ai dám bén mảng lên đỉnh và cho rằng đất là vùng đất thiêng.
Chân núi phía Đông Thiên Ấn có cái gò cao giống cái hộp đựng con dấu, gọi là hòn Triện. Mặt khác, ngày xưa các nho sĩ thường đến Thiên Ấn lấy đá non về mài mực viết vẽ, phê sách vở rất tốt. Cũng từ đó mà trong dân gian đã có câu:
" Son núi Ấn, mài hòn son Ấn, Ấn tốt son tươi
Nước sông Trà, pha nấu nước trà, trà thơm nước động"
Đứng trên Thiên Ấn có thể nhìn bao quát cả một khung cảnh thiên nhiên núi non thơ mộng. Phía Tây Thiên Ấn giáp với núi Long Đầu, phía Bắc giáp núi La Vọng. Ngoài cảnh đẹp núi non Thiên Ấn còn thu hút khách hành hương đến đây chiêm bái, hành lễ vì trên núi còn có mộ của cụ Huỳnh Thúc Kháng một nhà nho yêu nước, một chiến sĩ cách mạng trong thời kỳ đấu tranh đòi tự do dân chủ từ thực dân Pháp. Tọa lạc trên núi còn có "Sắc Tứ tổ đình Thiên Ấn" chứa đựng nhiều câu chuyện kỳ bí thú vị, được vua Lê sắc phong vào năm 1727.
Núi Thiên Ấn là đệ nhất thắng cảnh và là "núi thiêng" của người Quảng Ngãi. Năm 1990 núi Thiên Ấn - mộ cụ Huỳnh đã được Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích và thắng cảnh quốc gia.
|
Kolomenskoye (tiếng Nga: Коломенское) là tài sản của hoàng gia Nga trước đây, nằm cách Moskva vài dặm về phía đông nam với diện tích 390 ha, trên con đường cổ dẫn tới thị trấn Kolomna (vì thế mà có tên gọi này). Khu vực có phong cảnh đẹp này nhìn ra các bờ dốc đứng của sông Moskva đã trở thành một phần của Moskva trong thập niên 1960.
Làng Kolomenskoye lần đầu tiên được nhắc đến trong di chúc của Ivan Kalita năm 1339. Từ thời gian đó thì làng này đã phát triển như là một vùng quê ưa thích của các đại công tước Moskva. Công trình xây dựng cổ nhất còn tồn tại là nhà thờ Thăng thiên rất khác thường (1530), được xây bằng đá trắng theo lệnh của đại công tước Vasilii III Ivanovich để kỷ niệm sinh nhật của người thừa kế ngai vàng được chờ đợi từ lâu (Ivan Bạo chúa trong tương lai). Là nhà thờ đá đầu tiên có kết cấu tháp có chóp mái, tên gọi dân dã là "Cột trắng" (đôi khi người ta gọi nó như vậy) đã đánh dấu sự đoạn tuyệt rõ ràng với kiểu xây dựng Byzantin truyền thống.
Nhà thờ được xây dựng từ tầng hầm ("podklet") hình chữ thập, sau đó là phần thân tháp ("chetverik") hình bát giác kéo dài, sau đó là phần chóp bát giác ("tent") với một vòm nhỏ ở phía trên. Các trụ bổ tường hẹp ở các mặt của phần thân bát giác, các khung cửa sổ hình mũi tên với ba lớp vòm cuốn bán tròn với phần lồi lên ở giữa ("kokoshnik"), sự nhịp nhàng đơn giản của các vòm cuốn cầu thang và các gian phòng mở nhấn mạnh xu hướng động của tác phẩm lớn của kiến trúc Nga này. Người ta cho rằng toàn bộ đường nét kết cấu theo chiều đứng của nó đã vay mượn từ kiểu mái có mép bờ của các nhà thờ gỗ của miền bắc Nga. Công nhận giá trị đáng chú ý của nó đối với nhân loại, UNESCO đã quyết định đưa nhà thờ này vào danh sách Di sản thế giới năm 1994.
Các công trình xây dựng khác.
Ở một hẻm núi gần Kolomenskoe người ta có thể thấy 5 chóp mái, được xây dựng vào khoảng năm 1547. Trên thực tế, nguồn gốc của nhà thờ này vẫn còn là một điều bí ẩn. Một số người cho rằng những người xây dựng nó đến từ Italia, còn những người khác lại nói rằng nó được Postnik Yakovlev xây dựng (ông cũng được coi là người xây dựng ra nhà thờ thánh Basil trên Quảng trường Đỏ. Cho dù sự thật là gì đi chăng nữa thì một điều rõ ràng là nhà thờ này tiêu biểu cho trạng thái chuyển tiếp từ nhà thờ Thăng thiên miêu tả trên đây với nhà thờ tám chóp mái nổi tiếng trên Quảng trường Đỏ.
Sa hoàng Alexei Mikhailovich Romanov (1629-1676) đã cho phá hủy toàn bộ các công trình xây dựng bằng gỗ trước đó tại Kolomenskoye và thay thế chúng bằng cung điện lớn bằng gỗ mới, được biết đến vì các mái khác thường, thần kỳ của nó. Những người nước ngoài nhắc đến mêcung lớn này với các hành lang phức tạp và 250 phòng, được xây dựng mà không cần cưa, đinh, móc như là "kỳ quan thứ tám của thế giới". Nữ hoàng tương lai Elizaveta Petrovna (1709-1762) đã sinh tại cung điện này. Khi thủ đô được rời tới Sankt-Peterburg, cung điện này đã bị bỏ hoang và xuống cấp nặng nề, vì thế nữ hoàng Catherine Đại Đế (1729-1796) đã từ chối không dùng nó làm nơi ở của bà tại Moskva. Theo lệnh của bà cung điện này đã bị phá bỏ vào năm 1768. Một điều may mắn là mô hình gỗ của cung điện này vẫn còn và chính quyền thành phố Moskva đang có kế hoạch xây dựng lại cung điện này theo đúng kích thước thật của nó.
Các vết tích còn lại của cung điện này là nhà thờ Kazanskaya 5 chóp mái (1662) với kiến trúc cổ truyền, các cổng bằng gỗ và đá của cung điện cũ. Trong thời kỳ Liên Xô, các công trình cổ bằng gỗ đã được chuyển tới Kolomenskoye từ Karelia (nhà thờ thánh Georgii), Siberia (tháp cọc chắn Bratsk) và từ nhiều khu vực khác (nhà gỗ, cối xây gió v.v). Một số trong các công trình này có từ thế kỷ 17.
|
Đặng Thùy Trâm (sinh ngày 26 tháng 11 năm 1942 tại Huế, hy sinh ngày 22 tháng 6 năm 1970 tại Đức Phổ, Quảng Ngãi) là một bác sĩ, liệt sĩ trong Chiến tranh Việt Nam.
Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh tại Huế nhưng lớn lên tại Hà Nội trong một gia đình giàu tri thức. Bố chị là ông Đặng Ngọc Khuê, bác sĩ ngoại khoa; mẹ chị là bà Doãn Ngọc Trâm, giảng viên trường Đại học Dược Hà Nội. Đặng Thùy Trâm là chị cả, dưới còn ba em gái và một em trai, cả chị và ba người em đều mang tên giống mẹ và chỉ khác nhau tên đệm (Đặng Phương Trâm, Đặng Hiền Trâm, Đặng Kim Trâm), cho nên bạn bè và người thân đều gọi Thùy Trâm là "Thùy" để phân biệt.
Chị từng là học sinh của Trường Chu Văn An, Hà Nội và là giọng ca xuất sắc của trường Chu Văn An và Đại học Y Hà Nội. Bằng các ca khúc "Bài ca hy vọng" (của Văn Ký), "Cây thùy dương (ca khúc Nga)", "Sullico"..., chị đã đoạt hàng chục huy chương trong các cuộc đua tài văn nghệ quần chúng thủ đô. Bên cạnh việc say mê học tập, luôn giúp đỡ bạn bè gặp khó khăn, Thùy Trâm còn tích cực tham gia câu lạc bộ thơ văn cùng khóa của trường Chu Văn An, gồm có các thành viên sau này trở thành các nhà văn, nhà thơ như Nguyễn Khoa Điềm, Tô Nhuận Vĩ, Vương Trí Nhà, Hoàng Ngọc Kim, Dương Đức Niệm kết thành nhóm phấn đấu vào Đảng. Nối nghiệp gia đình, Thùy Trâm thi đỗ vào Đại học Y khoa Hà Nội chuyên khoa Mắt và được nhà trường cho tốt nghiệp sớm một năm để đi chiến trường.
Với kết quả học tập, thi tốt nghiệp loại ưu, bác sĩ trẻ Thùy Trâm có thể, hoặc nhận lời ở lại trường làm cán bộ giảng dạy hoặc nhận công tác tại một bệnh viện hoặc cơ quan nào đó ở ngay Hà Nội vì bố mẹ đều là cán bộ có uy tín, có nhiều quan hệ trong ngành Y tế. Nhưng vì có người yêu vào chiến trường trước mấy năm nên sau khi tốt nghiệp chị xung phong vào Nam ngay. Năm 1966, Thùy Trâm xung phong vào công tác ở chiến trường B. Sau ba tháng hành quân từ miền Bắc, tháng 3 năm 1967, chị vào đến Quảng Ngãi và được phân công về phụ trách bệnh viện huyện Đức Phổ, một bệnh xá dân sự nhưng chủ yếu điều trị cho các thương bệnh binh. Chị được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 27 tháng 9 năm 1968.
Ngày 22 tháng 6 năm 1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, Đặng Thùy Trâm bị địch phục kích và hy sinh khi chưa đầy 28 tuổi đời, 2 tuổi Đảng và 3 năm tuổi nghề.
Hài cốt của chị được nhân dân địa phương mai táng tại nơi hy sinh và luôn hương khói. Sau chiến tranh, mộ của chị được đồng đội đưa về Nghĩa trang liệt sĩ xã Phổ Cường. Năm 1990, gia đình đã đưa hài cốt chị về Nghĩa trang liệt sĩ xã Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội (nay là phường Xuân Phương, quận Bắc Từ Liêm).
Chị đồng thời là tác giả hai tập nhật ký được viết từ ngày 8 tháng 4 năm 1968, khi phụ trách bệnh xá Đức Phổ, cho đến ngày 20 tháng 6 năm 1970, 2 ngày trước khi hy sinh. Hai tập nhật ký này được Frederic Whitehurst, cựu sĩ quan quân báo Hoa Kỳ, lưu giữ suốt 35 năm cho đến ngày được trả lại cho gia đình tác giả vào cuối tháng 4 năm 2005. Nhật ký của cô sau đó được nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn biên tập thành quyển sách mang tên "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" và trở thành một hiện tượng văn học với hơn 400.000 bản được bán. Cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được báo chí nước ngoài bình luận như một "Nhật ký Anne Frank của Việt Nam".
Cuộc gặp với Đặng Thùy Trâm.
Trong loạt bài phóng sự "Huyền thoại tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trên biển", Nhà báo Nguyễn Thành Luân (Báo Đại Đoàn Kết) thuật lại cuộc gặp gỡ với các nhân chứng lịch sử, trong đó có Thuyền phó con tàu đầu tiên ra miền Bắc - Nguyễn Văn Đức, kể lại về cuộc gặp của các thủy thủ trên con tàu "Không số" vận chuyển vũ khí đầu tiên ra Bắc với liệt sĩ Đặng Thùy Trâm trên tuyến đường mòn nổi tiếng này vào năm 1968 mà đến nay ông vẫn còn nhiều ấn tượng tốt đối với Đặng Thùy Trâm.
Mối tình của Đặng Thùy Trâm.
Trong nhật ký, Đặng Thùy Trâm viết về người mình yêu bằng chữ viết tắt "M" (Mộc). Tên thật của người chiến sĩ này là Khương Thế Hưng. Anh sinh ngày 18 tháng 9 năm 1934 tại thị xã Hội An, Quảng Nam, là con thứ ba của Nhà thơ lão thành Khương Hữu Dụng, sau Khương Thế Xương và Khương Băng Tâm. M. là chữ đầu của chữ Mộc. Nguyên Mộc tức Đỗ Mộc, là bút danh của Khương Thế Hưng ở chiến trường.
Năm 1966, Đặng Thùy Trâm vào chiến trường. Khương Thế Hưng gặp chị khi trong mình đã có hàng chục vết thương. Trong một lá thư, viết ngày 15 tháng 2 năm 1968, gửi cho bạn là Dương Đức Niệm, Thùy viết về M: "Anh bây giờ sống thật đơn giản, anh không mơ gì hơn là diệt được thật nhiều giặc Mỹ, anh không cần gì cho bản thân, kể cả tình yêu và sự nghiệp. Đối với Thùy, anh thương với tình thương rất đỗi chân thành, anh tôn trọng và cảm phục trước tình yêu thủy chung của Thùy, nhưng chỉ có thế thôi. Con tim anh không còn những rung cảm sâu xa, những vần thơ thắm đượm tình yêu, những lời ca bay bổng ước mơ nữa rồi".
Anh rất cảm phục trước tình yêu chung thủy của Thùy nhưng trái tim anh đau đớn khi thấy miền Nam đau thương, khi đồng đội của anh từng ngày, từng giờ đã và đang ngã xuống để giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Trong một lá thư gửi cho em gái, anh Hưng viết:
"Anh đã hành quân qua hàng ngàn thôn xóm cháy rụi, những cánh đồng khô héo vì chất độc… Anh đã từng lặng người trước 70 bà con Hành Đức bị thuốc độc Mỹ làm chết trong hầm, thân thể bầm tím… Anh đã nhìn tận mắt chị phụ nữ Gành Cả bị giặc Pắc Chung Hi (Hàn Quốc) hiếp, ruột chị dao găm giặc rọc từ dưới lên trên, cổ chị bị giặc vác cối đá chần lên, lưỡi chị phải thè ra ngoài!"
"Tay anh đã từng cầm chuỗi cườm của em bé, mảng da đầu dính tóc của người con gái, mảnh xương sọ của bà mẹ – những người trong số 394 người bị giặc Pắc Chung Hi tàn sát trong một giờ vào một sớm mưa lạnh ngày Đông 1966 ở Bình Hòa… Anh đã từng chứng kiến những vụ vây ráp bắt thanh niên ta đi làm bia đỡ đạn cho chúng, chúng đã giành giật trong tay những bà mẹ những người chị, những đứa con thân yêu, những người em hiền hậu… một cách vô cùng man rợ!"
"Nhưng đối với đồng bào Quảng Ngãi ta, mỗi tội ác của giặc Mỹ và tay sai gây ra chỉ có tác dụng như đổ thêm dầu vào ngọn lửa căm thù, chỉ có tác dụng làm cho quân và dân Quảng Ngãi ta thêm quyết tâm, thêm sức mạnh chiến đấu vì độc lập tự do, vì hòa bình, hòa hợp dân tộc".
Năm 1970, khi Thùy Trâm hi sinh, anh Hưng cũng bị thương nặng phải chuyển ra Bắc. Dòng nhật ký được viết sau ngày anh Hưng biết tin Đặng Thùy Trâm hi sinh:
"Em dịu dàng là vậy, chưa biết nói nặng ai câu nào. Em dũng cảm là vậy. Giặc đốt hầm bí mật vẫn bình tĩnh cứu chữa thương binh. Cuỡi hon đa phóng qua trước rào lính địch để cấp cứu ca thương binh nặng. B-52 trên đầu. Quân đánh bộ bên cạnh vẫn bình tĩnh băng bó thương binh, dìu đi khỏi vòng vây.
"Bà con thương yêu đùm bọc em. Các mẹ gọi em là Con gái. Các em gọi em là Chị. Cánh lính trẻ gọi em là Sao Vệ nữ. Các nhà thơ gọi em là người của làng thơ họ. Các nhà văn cãi lại bảo em là người của họ gửi nhờ Sê Khốp dạy nuôi. Vậy mà em ngã xuống. Và em cũng không nhận ra anh! Em chết đi biến thành ngọn gió lượn trên đầu anh. Trên đời anh. Thành tiếng gọi đằng trước để anh đi tới… Anh đã nghĩ, đó là tình yêu của người lính!...".
Ông Khương Thế Hưng mất ngày 13 tháng 11 năm 1999, sau nhiều năm dài vật lộn với thương tật và bệnh tật do di chứng chiến tranh, thọ 65 tuổi.
Em gái ông là bà Khương Băng Kính đã giữ lại bức thư viết ngày 17–3–1969 của chị Thùy Trâm gửi anh Hưng, được anh kẹp trong cuốn nhật ký. Bức thư được gia đình tặng Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cuối năm 2009 và đang được trưng bày trong triển lãm Những kỷ vật kháng chiến tại Bảo tàng Quân khu 4 (Nghệ An).
|
Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai
Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai (tiếng Anh: "The Sound of the Violin in My Lai") là một bộ phim tài liệu Việt Nam sản xuất bởi Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương, do Trần Văn Thủy biên kịch và đạo diễn. Phim công chiếu lần đầu vào năm 1998 và đã đoạt được nhiều giải thưởng lớn tại các kỳ liên hoan phim quốc tế, bao gồm Liên hoan Phim châu Á-Thái Bình Dương năm 1999 và Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 12.
Bộ phim nói về vụ thảm sát xảy ra tại Sơn Mỹ, Quảng Ngãi vào buổi sáng ngày 16 tháng 3 năm 1968, khi quân đội Mỹ giết chết 504 dân thường chỉ trong vòng 4 giờ đồng hồ. Khoảng 30 năm sau cuộc thảm sát đẫm máu, những người Mỹ từng trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào cuộc thảm sát đã trở lại Việt Nam để chữa lành vết thương chiến tranh và hàn gắn mối quan hệ giữa người dân hai nước Việt – Mỹ. Trong số này có Mike Boehm. Dù không tham gia vào sự việc nhưng ông rất tức giận với tội ác của quân đội Hoa Kỳ và vì thế đã về Việt Nam mỗi năm một lần để chơi vĩ cầm, cho những cư dân hiện tại và cho cả những người đã khuất. Bên cạnh đó, hai cựu chiến binh người Mỹ là Hugh Thompson và Larry Colburn từng có mặt và cứu giúp những em bé trong thảm sát ấy cũng thực hiện một chuyến trở về để bày tỏ sự hối hận và cùng hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn.
Phát triển và sản xuất.
Nhân tưởng niệm 30 năm ngày xảy ra thảm sát 16 tháng 3 năm 1968 – 16 tháng 3 năm 1998, đại sứ Mỹ tại Việt Nam Pete Peterson và nguyên tổng thống Bill Clinton đã lên tiếng xin lỗi nhân dân Việt Nam về vụ thảm sát này. Trước thềm sự kiện trên, Trần Văn Thủy nảy ý định làm một bộ phim tài liệu về vụ thảm sát, nhưng lúc đó ý tưởng và đề cương cho phim vẫn còn mơ hồ, chưa rõ ràng. Nhờ sự hỗ trợ của giám đốc Hãng phim Tài liệu Trung ương và phó giám đốc là Nguyễn Văn Nhân và Lê Mạnh Thích, ông đã quyết định bắt tay vào dự án.
Thông qua báo chí, Trần Văn Thủy biết sự kiện hai cựu binh Hugh Thompson và Larry Colburn sắp về Việt Nam. Cũng cùng lúc đó, ông có cơ may được gặp một cựu binh khác tên Mike Boehm. Khi biết câu chuyện của Mike Boehm, một lính Mỹ từng hoạt động trong chiến tranh Việt Nam, đã trở lại Việt Nam thường xuyên từ năm 1992 để chơi vĩ cầm tưởng niệm tại thôn Mỹ Lai, đạo diễn Trần Văn Thủy đã bị ấn tượng mạnh và quyết định triển khai tác phẩm tiếp theo của mình với trọng tâm đặt vào câu chuyện của Mike Boehm.
Trần Văn Thủy đã đảm nhận vai trò biên kịch và đạo diễn cho bộ phim. Phim được quay dưới định dạng phim 35 mm – vốn phổ biến với điện ảnh bấy giờ. Trong quá trình làm phim tài liệu này, đạo diễn Trần Văn Thủy đã phải đối mặt với nhiều khó khăn. Không chỉ thiếu thốn về mặt kỹ thuật và công cụ làm phim mà cả những tư liệu sơ sài từ phía Việt Nam về cuộc thảm sát cũng là một trở ngại lớn với ông khi tiếp cận đề tài. Trên thực tế, hầu hết những bức ảnh về sự kiện trong phim đều bắt nguồn từ nguồn tin của truyền thông Mỹ đăng tải ngay sau vụ thảm sát. Chưa dừng lại tại đó, đoàn phim cũng bị ngăn cản khỏi việc ghi hình ngày khai trương Công viên Hòa bình Mỹ Lai, lập nên bởi Mike Boehm, khi đài truyền hình CBS (Mỹ) đã ký hợp đồng độc quyền với tỉnh để đưa những thông tin then chốt về sự kiện. Dù vậy, Trần Văn Thủy vẫn tìm được cách để ghi hình các trường đoạn quan trọng đó bằng nhiều góc quay khác nhau.
Về phần âm nhạc, Mike Boehm đã sáng tác một bản nhạc cùng tên (1992) và bản nhạc này xuất hiện ở phần đầu và phần cuối của bộ phim. Trong những năm tiếp đó, nhạc khúc này vẫn thường xuyên được ông biểu diễn trong những lần trở về Sơn Mỹ.
Kiểm duyệt và công chiếu.
Thời điểm mới hoàn thành, bộ phim đã không được Cục Điện ảnh duyệt, với lý do phim thực hiện mà không có sự cho phép của Cục. Đích thân các giám đốc Nguyễn Văn Nhân và Lê Mạnh Thích sau đó đã đi mời bằng được bộ trưởng Bộ Văn hóa Nguyễn Khoa Điềm về xem phim và cho ý kiến. Cuối cùng, "Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai" được Cục Điện ảnh thông qua.
Năm 1998, bộ phim đã trình chiếu lần đầu trên sóng truyền hình Việt Nam nhân tưởng niệm 30 năm Thảm sát Mỹ Lai. Tác phẩm cũng được cho in thành nhiều bản tranh cử liên hoan phim, trình chiếu trong hội thảo tại quốc tế và tại Việt Nam, trong đó có Liên hoan phim tài liệu châu Âu – Việt Nam lần thứ 7 dưới dạng phim khai mạc.
Có thể nói rằng ở "Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai", Trần Văn Thủy đã tiếp cận được với những thủ pháp làm phim tài liệu hiện đại, đem đến những hơi thở mới mẻ cho bầu không khí phim tài liệu đã có thời gian trì trệ bởi sự lệ thuộc vào lời bình, vào những chủ đề tư tưởng áp đặt sẵn.
Ngô Phương Lan, "Đồng hành với màn ảnh"
Bộ phim đã có được phản ứng tích cực từ giới chuyên môn Việt Nam lẫn quốc tế. Nhà phê bình Ngô Phương Lan, viết trong cuốn tiểu luận "Đồng hành với màn ảnh", coi "Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai" là một "điểm sáng của phim tài liệu" trong những năm cuối thế kỷ 21. Chỉ bằng "mấy bức ảnh tư liệu và một vài nhân chứng sống", nhưng Trần Văn Thủy đã chạm đến vùng sâu thẳm trong tâm can của mỗi người, đó là "lương tri" bằng sự tự nhiên "không có sự gượng ép, không hề nhìn thấy bàn tay sắp đặt của nhà làm phim". Cây bút Barbara Gaerlan của viện quốc tế UCLA thì dành lời khen ngợi cho phim trong việc "nhìn lại chương lịch sử đáng sợ này với tính nhân văn sâu sắc". Và với "sự tái hiện nhạy cảm nhưng không hề nao núng" về vụ thảm sát, tác giả ghi nhận đây là lý do khiến bộ phim được "khán giả trên toàn thế giới hoan nghênh".
Cũng phân tích về mặt kỹ thuật của bộ phim, nhà báo Duy Hiển nhận xét tác phẩm vận dụng rất hiệu quả các thủ pháp xây dựng kịch tính qua từng phân cảnh. Ví dụ, Trần Văn Thủy đã tập trung cao độ cho trường đoạn những người phụ nữ thoát chết nhờ sự cứu giúp của một số lính Mỹ bày tỏ mong muốn được gặp lại ân nhân. Và khi sự kiện đó thực sự diễn ra, nó đã đã đóng vai trò như một "ngòi nổ" được tháo ra khỏi người xem với những cảm xúc hồi hợp, mong đợi. Bên cạnh đó, ông nhận xét đạo diễn còn rất dày công khi xây dựng các trường đoạn tương tự cho Mike Boehm – nhân vật chính của phim nhằm tạo nên "sự "bùng nổ"", khiến khán giả "vỡ òa cảm xúc".
Vào năm 1999, phim đã được trao giải Bông sen bạc của Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 12, cùng với giải Đạo diễn xuất sắc dành cho Trần Văn Thủy. Cũng trong năm này, "Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai" đoạt giải thưởng Con hạc vàng hạng mục Phim ngắn hay nhất (Best Short Film Award) tại Liên hoan phim châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 43, tổ chức ở Thái Lan năm 1999. Báo "Nhân Dân" sau đó đã xếp sự kiện phim đoạt giải quốc tế vào trong số "10 sự kiện văn hóa Việt Nam năm 1999".
Bộ phim từng được thử nghiệm và sau đó là chính thức đưa vào hệ thống sách giáo khoa Việt Nam, dưới dạng chuyện kể cho học sinh lớp 5. Cho đến nhiều năm sau, phim vẫn được xem như là một tác phẩm tiêu biểu về đề tài Chiến tranh Việt Nam của Điện ảnh Việt Nam. "Tiếng vĩ cầm của Mỹ Lai" đã xuất hiện trong một tập của chương trình radio "Democracy Now!". Chương trình bàn luận về bộ phim cũng như đề cập tới những di sản sau vụ Thảm sát Mỹ Lai.
|
Trà Bồng là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam.
Huyện Trà Bồng là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc của tỉnh Quảng Ngãi, có độ cao từ 80 - 1.500 m so với mực nước biển.
Huyện có vị trí địa lý:
Huyện lỵ của huyện là thị trấn Trà Xuân, cách thành phố Quảng Ngãi khoảng 50 km về phía tây bắc theo Quốc lộ 1 và tỉnh lộ 622.
Trà Bồng nằm ở vùng khí hậu á nhiệt đới, nhiệt độ trung bình 26-27 °C, có 2 mùa mưa nắng tương đối rõ rệt. Mùa nắng từ tháng 2 đến tháng 8 (âm lịch), khí hậu mát mẽ, mưa nhiều, lượng mưa trung bình 50-60mm/tháng. Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, thường hay gây lũ, lụt, sạt lở núi gây khó khăn trở ngại cho đời sống nhân dân các dân tộc trong huyện.
Là một huyện miền núi nên diện tích đồi núi chiếm phần lớn đất đai trong huyện, vùng đồng bằng nằm ở phía Đông huyện, giáp với huyện Bình Sơn và phía hữu ngạn sông Trà Bồng, nằm ở các xã Trà Phú, Trà Bình và thị trấn Trà Xuân.
Địa hình huyện Trà Bồng khá phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các khối núi và sông suối chằng chịt trong các thung lũng nhỏ hẹp, núi ở đây có độ dốc lớn.
Dân tộc Kinh sống tập trung chủ yếu ở các xã Trà Phú, Trà Bình và thị trấn Trà Xuân. Người Kor sống rải rác ở các xã còn lại của huyện. Người Kor ở Trà Bồng thuộc nhóm ngữ hệ Môn – Khmer. Người Kor sống thành từng Nóc (làng), có đến vài chục hộ gia đình cùng quần cư trong 1 Nóc, Nóc của người Kor thường ở trên lưng chừng núi hay ven các dòng sông suối hoặc ở giữa thung lũng. Phương thức sản xuất canh tác cũng gần giống với các dân tộc khác ở dọc Trường Sơn - Tây Nguyên, chủ yếu là sản xuất lúa nước kết hợp với kinh tế nương rẫy. Bên cạnh đó người Kor còn săn bắt, hái lượm, đánh cá dọc theo các sông, suối.
Trong quá trình phát triển bên cạnh nét văn hóa chung với các dân tộc khác nhau ở miền Tây Quảng Ngãi, người Kor ở Trà Bồng vẫn bảo lưu và phát triển được vốn văn hóa cổ truyền giàu bản sắc của dân tộc mình như: các lễ hội truyền thống, Nghệ thuật Dân ca, Dân nhạc, Dân vũ, Nghệ thuật Điêu khắc, đan lát, trang sức, trang phục độc đáo riêng có của Trường Sơn – Tây Nguyên.
Trên địa bàn huyện có trên 4 dân tộc cùng sinh sống gồm Kinh, Kor, Hrê và Ca Dong, ngày nay còn có dân tộc Mường và các dân tộc khá, tâm linh các dân tộc Trà Bồng đều theo Đảng và Bác Hồ, người Kor Trà Bồng tôn thờ vạn vật hữu linh, một số theo 4 tôn giáo nhỏ là Thiên Chúa, Tin Lành, Phật giáo, Cao Đài.
Theo sách "Đại Nam Nhất Thống Chí", Trà Bồng xưa là một trong bốn nguồn (nguyên) của tỉnh Quảng Ngãi, được gọi là "Nguồn Đà Bồng". Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), triều Nguyễn đổi tên thành "Nguồn Thanh Bồng". Năm 1915 Thực dân Pháp đổi thành "Đồn Trà Bồng" gồm 3 tổng: Sơn Bồng, Sơn Thuận và Sơn Thọ, chia làm 34 sách (làng).
Năm 1930, Thực dân Pháp đặt tại đây Đồn kiểm lý, dưới đồn kiểm lý có " Chánh, phó tổng dịch Man" ở các tổng và "Sách trưởng" ở các sách. Sau đó "Đồn Trà Bồng" được đổi tên thành " Châu Trà Bồng". Ở các xã vùng thấp, đồng bào Kinh sinh sống (lúc này thuộc huyện Bình Sơn) gồm: Làng Xuân Khương, ấp Đại An; làng Đông Phú, ấp Phú Tài; làng Bình Hòa, làng An Phong, ấp Thạch Bích; ở mỗi làng Thực dân Pháp đặt một Lý trưởng đứng đầu.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chính quyền cách mạng đổi tên châu Trà Bồng thành huyện Trà Bồng, các sách cũ nhập thành các xã mới, các làng ở phía tây huyện Bình Sơn nhập vào huyện Trà Bồng, hình thành 10 xã đồng bào dân tộc thiểu số là: Trà Khê, Trà Phong, Trà Quân, Trà Lâm, Trà Giang, Trà Thanh, Trà Lãnh, Trà Nham, Trà Thủy, Trà Sơn. Đối với các làng, ấp người Kinh, chính quyền tổ chức lại thành 3 xã: Xuân Khương và Đại An hợp thành xã Nguyễn Lang; Đông Phú và Phú Tài hợp thành xã Đào Yển; Bình Hòa, Vinh Hòa, An Phong, Thạch Bích hợp thành xã Nguyễn Hiệt. Đầu năm 1946, ba xã Nguyễn Lang, Nguyễn Hiệt, Đào Yển hợp nhất thành xã có tên là Võ Cẩn.
Cuối năm 1955, sau khi tiếp quản Trà Bồng, chính quyền Sài Gòn đổi huyện Trà Bồng thành quận Trà Bồng, lập nên 7 xã và 13 ấp. ba xã người Kinh đổi tên gọi là Trà Khương, Trà An, Trà Hòa. Về phía chính quyền cách mạng, để xây dựng căn cứ địa phục vụ cho lãnh đạo, chỉ đạo, vào năm 1957, Tỉnh ủy Quảng Ngãi quyết định tách 4 xã người Kor của huyện Sơn Hà là: Sơn Thọ, Sơn Hiệp, Sơn Bùi, Sơn Tân, sáp nhập vào huyện Trà Bồng và lần lượt đổi tên thành: Trà Thọ, Trà Hiệp, Trà Tân, Trà Bùi.
Tháng 5 năm 1958, để thuận lợi cho việc lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng, Tỉnh ủy Quảng Ngãi quyết định tách các xã Đông Bắc của huyện, thành lập khu I (Trà Xuân, Trà Phú, Trà Bình, Trà Sơn, Trà Thủy, Trà Giang) các xã vùng núi Cà Đam thành lập khu II (Trà Tân, Trà Bùi, Trà Phong, Trà Lãnh, Trà Nham, Trà Thọ, Trà Xinh, các xã phía Tây thành lập khu IV (Trà Khê, Trà Thanh, Trà Hiệp, Trà Lâm).
Đầu năm 1970, Trà Bồng được chia làm 2 huyện là Đông Trà và Tây Trà. Cuối năm 1970, Khu ủy V nhập huyện Trà Bồng và Sơn Tây thành Khu Sơn Trà trực thuộc Khu A của Khu ủy V. Cuối năm 1972, Khu Sơn Trà giải thể, các xã Sơn Tây trở lại Sơn Tây, các xã thuộc huyện Trà Bồng được tái lập như cũ.
Sau năm 1975, sau nhiều lần tách, nhập các đơn vị hành chính cơ sở, huyện Trà Bồng thuộc tỉnh Nghĩa Bình, gồm 20 xã: Trà Bình, Trà Bùi, Trà Giang, Trà Hiệp, Trà Khê, Trà Lâm, Trà Lãnh, Trà Nham, Trà Phong, Trà Phú, Trà Quân, Trà Sơn, Trà Tân, Trà Tây, Trà Thanh, Trà Thọ, Trà Thủy, Trà Trung, Trà Xinh và Trà Xuân.
Ngày 20 tháng 4 năm 1978, sáp nhập ba xã Trà Tây, Trà Xinh và Trà Trung vào xã Trà Thọ.
Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Quảng Ngãi được tái lập từ tỉnh Nghĩa Bình, huyện Trà Bồng thuộc tỉnh Quảng Ngãi. gồm 19 xã: Trà Bình, Trà Bùi, Trà Giang, Trà Hiệp, Trà Khê, Trà Lâm, Trà Lãnh, Trà Nham, Trà Phong, Trà Phú, Trà Quân, Trà Sơn, Trà Tân, Trà Thanh, Trà Thọ, Trà Thủy, Trà Trung, Trà Xinh và Trà Xuân.
Ngày 23 tháng 6 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định 39/1999/NĐ-CP về việc thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện Sơn Tây, Đức Phổ, Ba Tơ và Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. Theo đó, thành lập thị trấn Trà Xuân trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của xã Trà Xuân.
Năm 2002, huyện Trà Bồng có thị trấn Trà Xuân và 18 xã: Trà Bình, Trà Bùi, Trà Giang, Trà Hiệp, Trà Khê, Trà Lâm, Trà Lãnh, Trà Nham, Trà Phong, Trà Phú, Trà Quân, Trà Sơn, Trà Tân, Trà Thanh, Trà Thọ, Trà Thủy, Trà Trung, Trà Xinh.
Ngày 1 tháng 12 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 145/2003/NĐ-CP. Theo đó, tách 9 xã: Trà Khê, Trà Lãnh, Trà Nham, Trà Phong, Trà Quân, Trà Thanh, Trà Thọ, Trà Trung, Trà Xinh để thành lập huyện Tây Trà.
Huyện Trà Bồng còn lại thị trấn Trà Xuân và 9 xã: Trà Phú, Trà Bình, Trà Tân, Trà Bùi, Trà Giang, Trà Thủy, Trà Hiệp, Trà Lâm, Trà Sơn.
Ngày 10 tháng 1 năm 2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 867/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Quảng Ngãi (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 2 năm 2020). Theo đó:
Huyện Trà Bồng có 1 thị trấn và 15 xã như hiện nay.
Huyện Trà Bồng có 16 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Trà Xuân (huyện lỵ) và 15 xã: Hương Trà, Sơn Trà, Trà Bình, Trà Bùi, Trà Giang, Trà Hiệp, Trà Lâm, Trà Phong, Trà Phú, Trà Sơn, Trà Tân, Trà Tây, Trà Thanh, Trà Thủy, Trà Xinh.
Kinh tế Trà Bồng nhìn chung còn chậm phát triển so với mặt bằng chung của các địa phương khác trong tỉnh. Hoạt động kinh tế chủ yếu của nhân dân Trà Bồng là Nông – Lâm nghiệp, Công – Thương nghiệp và Dịch vụ, hiện đang trong quá trình trên đà phát triển.
Trong những năm qua mặc dù đời sống kinh tế của nhân dân tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng nhờ sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước, nhiều chương trình được triển khai trên địa bàn: Chương trình 134, 135, 30a, Nông thôn mới từng bước cơ sở hạ tầng được xây dựng khang trang, nhiều hợp phần hỗ trợ sản xuất, cũng như hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo và các chương trình khác được đầu tư trên địa bàn huyện, cho nên nền kinh tế có bước phát triển theo hướng tích cực, từng bước thực hiện công tác giảm nghèo nhanh và bền vững.
Nông nghiệp của huyện chủ yếu là dựa vào trồng lúa, mía, khoai, mì, bắp và trồng quế….chăn nuôi gia súc, gia cầm ở huyện Trà Bồng phổ biến là bò, trâu, gà, vịt.
Tiểu thủ công nghiệp ở Trà Bồng chủ yếu vẫn là các nghề mang tính thủ công tự túc, tự cấp của người Kor, trong đó chủ yếu là đan lát các vật dụng dùng cho sinh hoạt và sản xuất như gùi các loại, chiếu nằm, chiếu phơi lúa… với những nét đan lát tinh xảo, vật liệu chủ yếu dùng mây, cây lùng, nứa sẵn có tại địa phương. Nghề thủ công của người Kinh thì chủ yếu là các nghề thông dụng như hồ, mộc, làm gạch ngói, rèn, khai thác đá và nghề sản xuất đồ thủ công mĩ nghệ từ vỏ quế như bình ly, ống đựng tăm, tinh dầu quế, quả bánh bằng vỏ quế già, sản xuất nhang quế.
Nhiều nhà máy, công ty, xí nghiệp ra đời và phát triển, điển hình là nhà máy sản xuất chế biến quế của công ty TNHH Hương Quế Trà Bồng, có nguồn nước khoáng Thạch Bích tại xã Trà Bình hiện được công ty Đường Quảng Ngãi đang đầu tư khai thác……
Thương mại và dịch vụ Trà Bồng đã và đang được quan tâm đầu tư phát triển. Huyện đã chủ động đầu tư, nâng cấp, mở rộng chợ Trà Bồng, và các chợ khác ở các xã và trung tâm cụm xã. Các loại hình dịch vụ như: internet, karaoke, nhà nghỉ… cũng đang trên đã xây dựng, hình thành và phát triển.
Cơ sở hạ tầng ở huyện đã có bước phát triển khá, hệ thống điện, đường, trường, trạm đã được chú trọng đầu tư, xây dựng và nâng cấp đồng bộ rộng khắp từ thị trấn đến các thôn xã.
Công tác thông tin liên lạc cũng được phát triển, ở huyện đã có Bưu điện huyện, các xã đều có điểm bưu điện văn hóa xã. Hệ thống Viễn thông được đầu tư, mạng cáp quang đã được kéo đến các xã, phục vụ cho việc hiện đại hóa về Công nghệ thông tin. Trung tâm huyện lỵ đã có đường 1 chiều, hệ thống điện đường từng bước được hiện đại hóa, Đường liên xã từ huyện về được nhựa hóa, phục vụ đắc lực cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt của cán bộ và nhân dân;
Tính đến nay hầu hết các xã điều có điện, điện kéo về đã góp phần làm thay đổi lớn diện mạo của vùng đất quế, đời sống vật chất và tinh thần của người dân tăng lên rõ rệt.
Cùng với sự phát triển đó, các cơ sở công cộng như cơ quan, trường học, trạm y tế, bệnh viện cũng được đầu tư xây dựng khang trang. Các xã đồng bằng đều đã có nhà xây kiên cố, ở các làng đồng bào Kor, một số hộ gia đình cũng đã xây dựng được cho mình những ngôi nhà ngói khang trang kiên cố. Tuy nhiên việc phát triển không đồng đều giữa người Kinh và người Kor cũng là một trở ngại trên con đường phát triển của huyện nhà.
Điểm nổi bật trong văn hóa ở Trà Bồng là các di sản văn hóa cổ truyền và hoạt động văn hóa. Ở dân tộc Kor, di sản văn hóa khá phong phú, đậm nét còn lưu giữ nguyên vẹn. Trà Bồng là nơi cư trú chính của dân tộc Kor, nhà của người Kor thường ở trên lưng chừng núi, hay ven các dòng sông suối, nhà được chia dọc làm hai phần, một nửa chạy dọc suốt từ cầu thang đầu hồi bên này tới đầu hồi cầu thang bên kia gọi là gưl tức nơi sinh hoạt cộng đồng hay nhà khách. Phần còn lại gọi là tum, là nơi sinh hoạt thiêng liêng của từng gia đình,không ai được vào, nếu không có sự đồng ý của gia chủ,nhiều tum gộp lại trở thành 1 nóc (nhà dài hay còn gọi là nhà tàu lửa), đứng đầu mỗi nóc là một già làng. Nơi đây, người dân vẫn bảo tồn được các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể quý báu.
Người Kor vốn có tín ngưỡng nguyên thủy vạn vật hữu linh, thờ những đỉnh núi cao gọi là núi Ông, núi Bà. Trong di sản văn hóa dân tộc Kor có truyện cổ tích (đã được sưa tầm, dịch thuật và xuất bản), có các làn điệu như xà ru, a giới, cà ru, a lát, a-rợp… Người Kor thích đánh chiêng và có nhiều giai điệu chiêng đặc sắc, lễ hội của người Kor thì có lễ ăn lúa mới, làm nhà mới, lễ giã rạ, đặc sắc có lễ cưới, lễ rước hồn lúa, lễ hội hiến trâu rất đậm màu sắc dân tộc. Trong lễ hiến trâu có cây nêu và cây gu, 2 công trình điêu khắc hết sức độc đáo riêng có của Người Kor. Cây nêu của dân tộc Kor được dựng khá cao, với nhiều nét hoa văn, đan, khắc tinh xảo, có hình tượng chim chèo bẻo trên đầu nêu, thể hiện quan niệm thẩm mĩ và bàn tay khéo léo của các nghệ nhân Kor. Riêng bộ gu trong nhà là di sản riêng có của dân tộc Kor, không thể tìm thấy ở các dân tộc khác. Gu có gu pi và gu pô thể hiện giống nòi, sự sinh tồn của dân tộc được treo giữa nhà, có con chim đại bàng lớn được khắc vạch các hoa văn đỏ, trắng trên nền đen. Gu dẹt hay la vang treo ở cửa trước tum. Trên la vang là cả một bức tranh liên hoàn, trong đó có vẽ các hình ảnh, hoa lá, sinh hoạt rất đặc thù. Người Kor giỏi đan lát, trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt và hái lượm, những sản phẩm đồ đan của người Kor thật sự là những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo, đẹp mắt. Những kinh nghiệm về trồng, chế biến, khai thác quế, kinh nghiệm chữa bệnh…. cũng là những tri thức dân gian quý báu. Về di sản văn hóa Việt ở Trà Bồng thì có thể kể đến những bài ca dao, các điệu hát dân ca còn lưu truyền tới ngày nay. Giữa người Kor và người Việt ở Trà Bồng cũng có sự giao thoa văn hóa với nhau khá đậm nét đó là người Kor cũng có bộ lễ phục áo dài vốn là sản phẩm của miền xuôi, ở Điện Trường Bà người Kinh, người Kor đều tới cúng lễ, tưởng niệm bà Thánh Mẫu Thiên Y A Na, biểu tượng cho tinh thần đại đoàn kết các dân tộc ở Trà Bồng. Lăng thờ Bạch Hổ ở Thị trấn Trà Xuân cũng là biểu tượng của giao lưu văn hóa Việt – Kor.
Các hoạt động Văn hóa, Thể thao từng bước được đầu tư và phát triển, các thiết chế văn hóa được đầu tư xây dựng từ huyện đến cơ sở, các công trình tiêu biểu: Quảng Trường 28/8, Trung tâm Văn hóa – Thể thao. Sắp đến đầu tư Sân vận động, Khu bảo tồn Văn hóa các dân tộc huyện Trà Bồng, Cung Văn hóa thiếu nhi, Công viên 28/8.
Hoạt động Du lịch được hình thành và từng bước phát triển, góp phần phục vụ nhu cầu tham quan của nhân dân và du khách trong và ngoài tỉnh như. Huyện ủy ban hành Nghị quyết chuyên đề, Hội đồng nhân dân phê duyệt Đề án phát triển Du lịch Trà Bồng giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020.
Hoạt động Y tế, giáo dục được quan tâm đặc biệt, từng bước phát triển.
|
Hệ chuyên gia, còn gọi là hệ thống dựa tri thức hoặc hệ thống chuyên gia, là một chương trình máy tính chứa một số tri thức đặc thù của một hoặc nhiều chuyên gia con người về một chủ đề cụ thể nào đó. Các chương trình thuộc loại này đã được phát triển từ các thập niên 1960 và 1970, và trở thành ứng dụng thương mại từ thập niên 1980. Dạng phổ biến nhất của hệ chuyên gia là một chương trình gồm một tập luật phân tích thông tin (thường được cung cấp bởi người sử dụng hệ thống) về một lớp vấn đề cụ thể, cũng như đưa ra các phân tích về các vấn đề đó, và tùy theo thiết kế chương trình mà đưa lời khuyên về trình tự các hành động cần thực hiện để giải quyết vấn đề. Đây là một hệ thống sử dụng các khả năng lập luận để đạt tới các kết luận.
Nhiều hệ chuyên gia đã được thiết kế và xây dựng để phục vụ các lĩnh vực kế toán, y học, điều khiển tiến trình ("process control"), dịch vụ tư vấn tài chính ("financial service"), tài nguyên con người ("human resources"),
|
Trần Văn Thủy (sinh ngày 26 tháng 11 năm 1940) là một đạo diễn phim tài liệu người Việt Nam, nổi tiếng qua các tác phẩm "Hà Nội trong mắt ai", "Chuyện tử tế" và "Phản bội". Ông được công nhận là nhân vật hàng đầu ngành điện ảnh tài liệu Việt Nam với phong cách làm phim hướng vào hiện thực xã hội của mình.
Bắt đầu sự nghiệp với vai trò là một phóng viên chiến tranh và phim tài liệu đầu tay có tên "Những người dân quê tôi", Trần Văn Thủy đã sớm gây được tiếng vang sơ khởi trên trường điện ảnh quốc tế. Ông tiếp tục ghi dấu ấn bằng bộ phim tài liệu "Phản bội" sản xuất vào đầu những năm thập niên 1980, nói về Chiến tranh biên giới Việt–Trung. Dưới thời bao cấp và Đổi Mới, ông thực hiện hai cuốn phim "Hà Nội trong mắt ai" và "Chuyện tử tế" – là bộ đôi tác phẩm tiêu biểu nhất của Trần Văn Thủy, đạt được thành công vang dội cả trong nước lẫn quốc tế nhưng cũng từng là đối tượng bị kiểm duyệt gắt gao bởi các cấp chính quyền Đảng Cộng sản Việt Nam.
Xuyên suốt sự nghiệp làm phim, Trần Văn Thủy đã đạo diễn trên 20 bộ phim, nhiều trong số đó đoạt giải cao tại các kỳ liên hoan phim quốc gia và quốc tế. Ông từng được trao ba giải Đạo diễn xuất sắc tại Liên hoan phim Việt Nam và được nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân năm 2001. Vào năm 2022, Trần Văn Thủy đã nhận giải thưởng Lớn Giải thưởng Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội vì những cống hiến trọn đời cho điện ảnh.
Trần Văn Thủy sinh ngày 26 tháng 11 năm 1940 ở thành phố Nam Định. Cha ông tên Trần Văn Vỵ (1902–1975) – một viên chức chính quyền Pháp ngầm ủng hộ Việt Minh, còn mẹ ông tên Đỗ Thị Hiếu (1913–2013). Trong gia đình gồm bảy người con, Trần Văn Thủy là con trai thứ hai. Sau khi Toàn quốc kháng chiến nổ ra vào năm 1946, cả nhà ông tản cư về làng An Phú (xóm 2), xã Hải Phong, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thời gian này, ông và anh chị em được chăm sóc và dạy dỗ bởi bà vú nuôi tên Nhuận; sau này bà mất đã được ghi vào gia phả của gia đình. Vào năm 1949, người anh cả Vĩnh lớn hơn Trần Văn Thủy bốn tuổi bị trúng đạn và chết trong một trận càn. Vì thế ông trở thành con trai cả trong gia đình. Sau sự kiện này, ông Vỵ quyết định đưa các con trở lại thành phố, lúc này đã nằm trong tay quân đội Pháp.
Thời kỳ thơ ấu, Trần Văn Thủy được dạy học bơi lội và hàng ngày hăng hái đi bơi. Sở trường này đã góp phần quan trọng cho ông trong quãng thời gian sinh hoạt ở chiến trường. Lên 13 tuổi, ông nhập học vào trường Nguyễn Khuyến, Nam Định, học lớp Đệ thất B3 niên khóa 1953–1954. Khi còn sinh sống tại thành phố tạm chiếm, Trần Văn Thủy đã trở nên "nghiện" phim khi được xem các cuốn phim kinh điển nước ngoài, khiến ông dành tất cả tiền vào rạp chiếu bóng và sưu tầm ảnh chân dung của những tài tử điện ảnh thời ấy. Ông cũng từng đi học nghề ở nhà bạn của cha là chủ một hiệu ảnh trên phố Paul Bert, Nam Định và bước đầu đã có cơ hội tiếp xúc, làm quen với phim ảnh.
Sau Hiệp định Genève 1954, bởi cha Trần Văn Thủy bị chính quyền miền Bắc kết tội là thành phần thân Pháp nên ông và các em đã không vào được đại học. Vì vậy hậu tốt nghiệp trung học phổ thông ông xin vào một lớp nhân loại học do Bộ Văn hóa tổ chức. Năm 1960 học xong, ông về công tác tại Ty Văn hóa Khu tự trị Thái Mèo, nghiên cứu dân tộc học về các nhóm dân tộc thiểu số.
Thời gian làm tại đây, Trần Văn Thủy nhận ra tác động của điện ảnh tới công chúng và nảy sinh hứng thú. Ông đã biết có một khóa học làm phim đào tạo phóng viên chiến trường tổ chức bởi Trường Điện ảnh Việt Nam, rồi xin trưởng Ty Văn hóa khi đó là nhà thơ Lương Quy Nhân và được ông chấp thuận. Giữa năm 1965, Trần Văn Thủy tự cuốc bộ từ Lai Châu về Hà Nội để thi tuyển vào Trường Điện ảnh, nhưng khi tới nơi mới biết buổi thi đã tổ chức từ hai tuần trước. Dù không có cơ hội tham dự, ông vẫn cố ở lại Hà Nội để tìm những "ngách" khác học điện ảnh nhưng đều bị từ chối. Nhờ vào sự giúp đỡ của đạo diễn Nông Ích Đạt – khi đó công tác tại Xưởng phim truyện Việt Nam – Trần Văn Thủy được nhận vào lớp quay phim "chống Mỹ cứu nước" của trường, đồng khóa với các đồng nghiệp sau này của ông. Chương trình lẽ ra kéo dài hai năm và kết thúc vào giữa 1967, nhưng chỉ sau một nửa khóa, tháng 8 năm 1966 ông đã bị nhà trường cử vào miền Nam làm phóng viên quay phim tại chiến trường Khu 5, dù mới động vào máy quay hai lần. Để đủ điều kiện đi tác nghiệp, Trần Văn Thủy được kết nạp làm Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời gian gấp gáp tuy lý lịch gia đình ông khi đó từng bị "gạt phắt đi".
Sự nghiệp điện ảnh.
1966–1980: Dưới thời Chiến tranh Việt Nam và sang Liên Xô, về Việt Nam.
"Những người dân quê tôi".
Trần Văn Thủy làm phóng viên chiến tranh tại Ban Tuyên huấn Khu 5 từ năm 1966 đến 1969, liên miên quay phim trên địa bàn tỉnh Quảng Đà. Chưa có kinh nghiệm gì nơi chiến trường, cuộc sống của ông hết sức nguy hiểm và phải chịu đựng sự thiếu thốn mọi điều. Khi mới đến, thay vì quay phim ông đã phải làm nương rẫy một thời gian. Về sau, lúc được xuống đồng bằng, Trần Văn Thủy mới ghi lại những thước phim đầu tiên về nơi đây, khởi nguồn từ dòng sông Thu Bồn. Cùng với sự hỗ trợ của người dân địa phương, ông dành nhiều tâm huyết vào công việc mặc cho điều kiện sinh hoạt hạn chế, đến mức khi đã xong việc, vì rất ốm yếu và không còn đủ sức khỏe để ở lại đơn vị nên Trần Văn Thủy được cơ quan giao nhiệm vụ cõng 27 hộp phim ông đã quay về Bắc. Đi giữa đường, có lúc ông đã bị sốt nguy hiểm đến tính mạng; khi về đến nơi liền`phải vào viện chữa trị nhiều tháng liên tiếp.
Tuy gặp nhiều khó khăn trong quá trình làm phim, nhiều người đã nghi ngờ Trần Văn Thủy "lừa dối", chỉ "bấm cho hết" số phim để đào ngũ ra Bắc. Một trong số những lý do cho các cáo buộc này là bởi khâu tráng phim đã gặp nhiều khó khăn, do phim màu Tây Đức #đổi không thể tráng và hiển thị được với kĩ thuật của miền Bắc Việt Nam hiện thời; có người từng định hủy bỏ toàn bộ số cuốn phim trên. Nhà quay phim Nguyễn Thế Đoàn đã dùng hết kinh nghiệm của mình để tráng các cuộn phim nhằm minh oan cho đồng nghiệp. Cuối cùng, ông Đoàn sáng tạo ra một cách tráng phim, tuy là tráng trắng đen nhưng vẫn tạo nên hiệu ứng đặc biệt và sau này được đạo diễn điện ảnh nổi tiếng Liên Xô Roman Karmen khen ngợi. Trần Văn Thủy sau đó tiếp tục tự dựng và biên tập tư liệu thành một tác phẩm hoàn chỉnh và đầu tay của ông, đặt tên là "Những người dân quê tôi". Với thời lượng gần 50 phút, nội dung phim nói về cuộc sống của người dân nơi chiến trường. Bộ phim đã được gửi đi dự thi các liên hoan phim khối xã hội chủ nghĩa và giành giải Bồ câu Bạc tại Liên hoan phim tài liệu quốc tế Leipzig, Đức (#đổi ) năm 1970.
Nhập học VGIK; "Nơi chúng tôi đã sống".
Sau khi trở về công tác tại Trường Điện ảnh Việt Nam từ tháng 8 năm 1970, đến tháng 8 năm 1972 đạo diễn Trần Văn Thủy đi Liên Xô theo gợi ý của trường để học đạo diễn. Mới đầu, ông dành một năm học tiếng Nga tại Đại học Quốc gia Moskva. Mùa hè 1973, ông đã tham dự buổi thi tuyển vào Trường Đại học Điện ảnh Liên Xô (VGIK). Khi mới đến phỏng vấn, Roman Karmen – người trước đó từng trao giải cho Trần Văn Thủy ở DOK Leipzig – đã dành lời đánh giá cao phim "Những người dân quê tôi" và đặc cách cho ông làm tân sinh viên, bất chấp sự phản đối từ những thành viên ban giám hiệu khác. Ông Thủy trở thành học trò của vị đạo diễn này rồi theo học tại trường suốt 4 năm.
Năm 1975, dưới sự chỉ dẫn, hỗ trợ về phương tiện từ thầy Karmen, ông đã thực hiện một bộ phim tài liệu làm ở Siberia có tên "Nơi chúng tôi đã sống" (tiếng Nga: "Там где мы жили"). Đây là bài tập năm thứ hai của ông, nội dung tường thuật lại cuộc sống lao động của những sinh viên quốc tế trên công trường #đổi . Tuy chỉ là bài tập khóa, bộ phim đã đoạt giải Hoa cẩm chướng đỏ trong liên hoan phim VGIK, đồng thời được đem đi trình chiếu toàn liên bang và tại nhiều nước Đông Âu. Sau này phim trở thành "kinh điển", hàng năm được các sinh viên khoa đạo diễn điện ảnh của trường xem. Trần Văn Thủy sau đó đã chọn "Nơi chúng tôi đã sống" là phim tốt nghiệp rồi nhận bằng loại xuất sắc. Ông về quê nhà sớm hơn một năm do không phải ở lại làm sản phẩm cuối khóa.
Tháng 9 năm 1977, Trần Văn Thủy trở lại Việt Nam và làm việc tại Xí nghiệp Tài liệu và Khoa học Trung ương (DSF). Ông đã được giao thực hiện bộ phim tài liệu về xung đột (sau này là chiến tranh) biên giới Việt Nam–Trung Quốc công chiếu năm 1979 mang tên "Phản bội". Bộ phim – dài 9 cuốn (90 phút) do ông tự chấp bút viết kịch bản – vào thời điểm đó được nhiều người xem là phim tài liệu dài nhất do đó cũng khó làm và khó hấp dẫn người xem vì vấn đề thời lượng. Phim bao gồm các cuộc phỏng vấn tù nhân chiến tranh Trung Quốc và những thủ pháp điện ảnh để nêu bật lên sự vi phạm chủ quyền của Trung Quốc đối với Việt Nam. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch là người đã hỗ trợ nhiệt tình việc thực hiện bộ phim. Thời điểm hoàn thành năm 1980, Xưởng phim Tài liệu Trung ương chưa đưa ra chỉ đạo gì cụ thể về cuốn phim. Chỉ tới khi Nguyễn Cơ Thạch được mời xem và khen ngợi phim là "hấp dẫn", chính xác lịch sử thì "Phản bội" mới được duyệt chiếu. Tuy nhiên, vẫn còn ý kiến cho rằng mặt hình thức thể hiện tác phẩm bắt chước lối làm phim của dự án phim tài liệu lớn, dài 4 tập bởi hai đạo diễn Đông Đức #đổi và #đổi "#đổi ". Thế nhưng chính hai vị đạo diễn này khi xem xong bộ phim đã lên tiếng phát biểu rằng:
Sau khi ra mắt, bộ phim đã được chọn đi tham dự nhiều liên hoan phim quốc tế, trong đó được trao tặng bằng khen bởi Ủy ban bảo vệ hòa bình Liên Xô tại Liên hoan phim quốc tế Moskva lần thứ 12. "Phản bội" cũng nhận giải Bông sen vàng hạng mục phim tài liệu tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 5 (1980) cùng với hai tác phẩm khác của Bùi Đình Hạc, tuy theo cơ chế liên hoan chỉ có duy nhất một giải Bông sen vàng trao cho mỗi hạng mục. Cho đến nhiều năm sau, đây vẫn được coi là bộ phim tài liệu hấp dẫn nhất của lịch sử phim tài liệu chính luận Việt Nam. Dù vậy, khi chiến tranh kết thúc, các bản phim "Phản bội" đã hoàn toàn không thể tìm thấy và được cho là bị "giấu" đi vì lý do chính trị.
1982–1987: Thành công với "Hà Nội trong mắt ai" và "Chuyện tử tế".
Sau thành công lớn của "Phản bội", cả năm 1981 ông đã không có tác phẩm nghệ thuật mới. Đến đầu năm 1982, Trần Văn Thủy nhận làm đạo diễn cho một bộ phim tài liệu quảng bá du lịch Hà Nội mang tên "Hà Nội năm cửa ô". Sau khi đọc kịch bản do Đào Trọng Khánh chấp bút, ông quyết định sửa lại hoàn toàn thành một nội dung khác dựa trên tìm hiểu thực tế đời sống xã hội lúc bấy giờ. Thông qua các nhân vật và câu chuyện lịch sử của Hà Nội trong quá khứ, ông đã dần tạo nên nội dung cho bộ phim. Bộ phim có sự xuất hiện của những nhân vật đương thời như nghệ sĩ guitar khiếm thị Văn Vượng và họa sĩ Bùi Xuân Phái, với các cảnh quay được thực hiện xung quanh Hà Nội thời bao cấp. Trái ngược với phong cách chính luận của các phim tài liệu thời đó, "Hà Nội trong mắt ai" khắc họa nên một thủ đô mang "âm hưởng tha thiết, trong sáng và có chút ngậm ngùi từ tình yêu dành cho nó [...] với vẻ đẹp về chiều sâu tư tưởng, về cách trị nước yên dân trong quá khứ".
Khi mới hoàn thành, "Hà Nội trong mắt ai" nhanh chóng vấp phải rắc rối với các cơ quan kiểm duyệt. Việc bộ phim "mượn chuyện xưa để nói chuyện nay" đã đụng chạm tới quan chức và bị một số lãnh đạo trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa, chủ yếu được cho là Tố Hữu, xem là "có vấn đề". Trong một văn bản soạn trước thềm Đại hội II Hội Điện ảnh Việt Nam, phim của Trần Văn Thủy bị "kết tội" với ba ý gồm phim "không đi theo đường lối của Đảng"; "không cùng Đảng giải quyết những khó khăn của hiện tại" và "bằng vào sự nuối tiếc quá khứ phong kiến ngày xưa mà gieo rắc vào thực tại những hoài nghi bi quan và tiêu cực". Bộ phim sau cùng đã bị cấm chiếu dù không có văn bản nào chính thức, nhưng vẫn có một đoạn thời gian từ tháng 10 năm 1983 từng được phép ra rạp nhờ vào sự can thiệp của thủ tướng Phạm Văn Đồng. Trong thời gian này, ông âm thầm làm tiếp một bộ phim khác mang tên "Chuyện tử tế". Khác với tác phẩm trước, lần này phim đi sâu vào thân phận cơ cực của những người nghèo khổ và thực trạng xã hội Việt Nam đương thời. Cuốn phim được ông hoàn thành vào năm 1985, trong hoàn cảnh gia đình rất khó khăn và bị công an chính quyền theo dõi. Nhưng sớm sau đó, phim cũng chung số phận với "Hà Nội trong mắt ai" khi không thể phổ biến tới công chúng và phải cất đi để tránh bị lãnh đạo hãng phim phát hiệ="Template:Quote_box/" /
Với "Hà Nội trong mắt ai", "Chuyện tử tế"..., khác với phim tài liệu mang tính tuyên truyền trước đó, tác giả đã bộc lộ quan điểm riêng. Lần đầu tiên người ta được nghe những lời nói thật về nhân tình thế thái.Đó chính là thiên chức thiêng liêng của người làm phim tài liệu mà trước đó người ta ít thấy. Trần Văn Thủy, bằng lòng dũng cảm, chính trực của một nghệ sĩ đã vượt thoát khỏi dàn đồng ca mà cất lên tiếng nói thống thiết của nhân dân.
Năm 1987, khi Việt Nam bước vào giai đoạn Đổi Mới, Trần Văn Thủy đã được Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh ủng hộ bộ phim "Hà Nội trong mắt ai". Ông Linh cho tập hợp những cán bộ quản lý văn hóa văn nghệ, chủ tịch, tổng thư ký các hội văn học nghệ thuật cùng xem phim để cho phiếu chiếu hay không chiếu phim và tất cả mọi người đều thông qua việc chiếu phim. Cùng lúc này, Tổng bí thư cũng gặp riêng Trần Văn Thủy vào tháng 5 năm 1987, đề nghị ông làm tiếp phần 2 của phim tài liệu này. Vì vậy mà hai phim vốn nằm kho từ lâu có cơ may ra mắt cùng một lúc. Thời điểm công chiếu 1987, cả hai tác phẩm đã được khán giả đón nhận nồng nhiệt. Các buổi chiếu rạp của phim luôn trong tình trạng kín chỗ, người dân thậm chí phải xếp hàng để mua vé xem phim. Đây được xem là điều chưa từng có đối với dòng phim tài liệu sản xuất bởi nhà nước, vốn nhận về ít sự quan tâm và thường chỉ chiếu kèm phim truyện hoặc chiếu miễn phí.
Với sự đón nhận tích cực từ người xem lẫn giới chuyên môn, "Hà Nội trong mắt ai" đã được chiếu lại nhiều lần và đoạt giải Bông sen vàng hạng mục Phim tài liệu cùng ba hạng mục biên kịch, đạo diễn, quay phim xuất sắc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 8 năm 1988. Trong khi đó, "Chuyện tử tế" cũng đoạt giải Bồ câu bạc tại DOK Leizpig cùng năm, bất chấp việc phim từng bị chính quyền ngăn không cho chiếu tại nước ngoài. Nhiều khán giả và báo chí quốc tế đã gọi "Chuyện tử tế" là "một quả bom đến từ Việt Nam nổ tung ở thành phố Leizpig".
Cả hai bộ phim "Hà Nội trong mắt ai" và "Chuyện tử tế" đã thành công thu hút hàng triệu khán giả, cho đến nhiều thập kỷ sau vẫn còn giữ nguyên tính thời sự và là bộ đôi tác phẩm tiêu biểu và nổi tiếng nhất của đạo diễn Trần Văn Thủy. Riêng với "Chuyện tử tế", phim có mặt tại vô số liên hoan phim, sự kiện điện ảnh khác nhau trên thế giới, tạo nên một lượng tín đồ người xem từ quốc tế cũng như người Việt hải ngoại và được 12 đài truyền hình từ các nước mua bản quyền về chiếu. Đạo diễn, nhà phê bình điện ảnh người Mỹ #đổi cũng đề cử phim vào danh sách một trong số 10 phim tài liệu hay nhất mọi thời đại của Viện phim Anh.
1988–nay: Các dự án phim khác.
Giai đoạn này, Trần Văn Thủy vẫn tiếp tục đạo diễn kiêm biên kịch nhiều bộ phim tài liệu khác nhau. Nhờ những thành tựu điện ảnh của mình, ông từng được bầu vào ban chấp hành Hội Điện ảnh Việt Nam tại Đại hội IV của hội tháng 8 năm 1995. Trần Văn Thủy cũng được mời làm thành viên ban giám khảo phim tài liệu tại các liên hoan phim quốc tế, giải thưởng điện ảnh lớn như DOK Leipzig (1989), Giải Cánh diều (2008), Liên hoan Truyền hình toàn quốc (2020), Giải Văn hóa doanh nhân Việt Nam (2005)...
Phim về đề tài hậu chiến.
Trong những năm cuối thập niên 1980 và 1990, ông đã thực hiện hai dự án phim lớn, lấy chủ đề xoay quanh thân phận con người thời hậu chiến. Năm 1996, ông cùng Hồ Trí Phổ thực hiện một bộ phim về cuộc sống gia đình của cựu quân nhân Việt Nam có hai người con bị khuyết tật bẩm sinh do chất độc da cam mang tên "Chuyện từ góc công viên". Không giống với những phim có sử dụng lời bình, bộ phim này Trần Văn Thủy đã gần như không dùng lời bình, không âm nhạc – là phương pháp làm phim tài liệu hiện đại vốn còn rất sơ khai tại Việt Nam khi ấy. Phim từng đem đi chiếu tại hội thảo quốc tế về chất độc da cam tổ chức ở nhiều nơi khác nhau, đặc biệt là Mỹ.
Năm 1998, vào đúng ngày tưởng niệm 30 năm thảm sát Mỹ Lai, ông xuất xưởng bộ phim tài liệu "Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai". Nhân vật chính của phim là một cựu chiến binh người Mỹ Mike Boehm luôn cố gắng đem tiếng vĩ cầm đến người dân sống tại thôn Mỹ Lai và những người đã khuất, cùng với đó là cuộc trở về của các lính Mỹ từng tham gia ngăn chặn cuộc thảm sát. Bộ phim đã đoạt nhiều giải thưởng lớn ở cả Việt Nam và quốc tế, bao gồm giải Hạc vàng hạng mục phim ngắn hay nhất tại Liên hoan phim châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 43 (1999), giải Bông sen bạc và "Đạo diễn xuất sắc" cho Trần Văn Thủy tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 12. Dù vậy khi mới hoàn thành, tác phẩm lại không được Cục Điện ảnh duyệt vì phim thực hiện mà không có sự cho phép của Cục. Đích thân các giám đốc DSF Nguyễn Văn Nhân và Lê Mạnh Thích phải mời bộ trưởng Bộ Văn hóa Nguyễn Khoa Điềm đến xem phim để "Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai" được Cục Điện ảnh thông qua và phim được cho in thành nhiều bản tranh cử liên hoan phim quốc tế. Bộ phim từng là tác phẩm khai mạc Liên hoan phim tài liệu châu Âu – Việt Nam lần thứ 7 và đã thí điểm (sau đó là chính thức) đưa vào chương trình giảng dạy dưới dạng chuyện kể cho các học sinh lớp 5 trên khắp Việt Nam.
Từ tháng 3 năm 1989 đến tháng 3 năm 1990, Hội người Việt Nam tại Pháp và Cộng hòa Liên bang Đức cùng các bạn bè của Trần Văn Thủy đã tổ chức cho ông đi phỏng vấn, khảo sát về cộng đồng người Việt ở các nước Tây Âu bằng camera ghi hình với dung lượng 100 giờ băng. Sau khi hoàn thành, ông đặt tên cho bộ phim là "Thầy mù xem voi", dài 2 tập. Tác phẩm chưa được chiếu tại Việt Nam bởi những nguyên do khác nhau, bao gồm chính trị.
Phim làm theo đơn đặt hàng.
Nhờ vào độ nổi tiếng của "Chuyện tử tế", Trần Văn Thủy đã được nhiều hãng phim, đài truyền hình nước ngoài mời làm phim tài liệu. Tác phẩm đầu tiên thuộc kiểu này là "Một cõi tâm linh", sản xuất năm 1992 và công chiếu năm 1993 do đài #đổi (Anh) đặt hàng. Bộ phim gom góp, bàn luận nhiều chuyện về thờ cúng, các khái niệm tâm linh của người Việt Nam. Trước đó, ông được mời sang nước Anh để trao đổi việc sản xuất phim và khi về nước vẫn tiếp tục giữ liên lạc thông qua đạo diễn Neil Gibson. Khi vị đạo diễn này bất ngờ bị đột tử, phía đài truyền hình Anh đã gửi thẳng một bức thư đến nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt để nhờ chuyển lá thư ngỏ từ nhà đài đến Trần Văn Thủy. Bởi sự kiện trên mà các dự án sau đó ông đã không gặp phải bất cứ trở ngại nào trong quá trình làm việc với các đối tác nước ngoài. Cũng vào năm 1993, Trần Văn Thủy được đài NHK (Nhật Bản) tài trợ để làm một bộ phim tài liệu nói về con người Việt Nam mang tên "Có một làng quê". Ông quyết định về làng gốm Phù Lãng, tỉnh Bắc Ninh để ghi lại cảnh sinh hoạt nơi đây. Bộ phim làm xong năm 1994 và phát trên sóng truyền hình Nhật Bản cùng năm.
Sau khi nghỉ hưu ở Xưởng phim tài liệu Trung ương năm 2000, đến năm 2007 đạo diễn Trần Văn Thủy đã hoàn thành loạt phim tiểu sử dài 4 tập mang tên "Mạn đàm về người man di hiện đại" nhân kỷ niệm 125 năm ngày sinh học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Ý tưởng thực hiện bộ phim xuất phát từ Nguyễn Lân Bình, cháu nội của Nguyễn Văn Vĩnh, và ông cũng là người đứng ra tổ chức đầu tư lẫn chấp bút viết kịch bản. Trần Văn Thủy đã được đề nghị làm đạo diễn bộ phim và đồng biên kịch, còn Nguyễn Sỹ Bằng là người quay phim. Phim làm trong vòng một năm, trải dài qua vô số địa điểm khác nhau từ Bắc, Trung, Nam Việt Nam đến Lào, Phá, công chiếu trong nội bộ gia tộc và một số bạn hữu, trường đại học, phim đã dần được các nhà nghiên cứu để ý đến và sau đó là cả các cơ quan truyền thông, dư luận Việt Nam cùng quốc tế. Tác phẩm được chiếu rộng rãi sau đó tại Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; buổi chiếu phim ở Hà Nội được mô tả là "quá đông người". Phim đã nhận về nhiều phản hồi tích cực, được đánh giá là "vượt ngưỡng rất xa khỏi tư liệu gia tộc" và từng được mời chiếu tại Pháp với các nước khác.
Nhân sự kiện Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Trần Văn Thủy cùng với đạo diễn Nguyễn Sỹ Chung thực hiện một tác phẩm tài liệu về đề tài âm nhạc cổ truyền mang tựa "Vọng khúc ngàn năm", theo đơn đặt hàng của Nhà xuất bản Âm nhạc Việt Nam. Bộ phim có độ dài 4 tập, mỗi tập dài từ 70 đến 80 phút nói về một chủ đề khác nhau; hai tập phim đầu sau đó đã phát hành dưới dạng đĩa DVD trên toàn quốc.
Sự nghiệp sáng tác.
Từ những năm 2001–2002, Viện William Joiner Center (WJC) thuộc #đổi đã có lời ngỏ mời Trần Văn Thủy sang Mỹ tham gia chương trình "Nghiên cứu về cộng đồng người Việt". Sau hai lần nhận lời mời, ông quyết định xuất ngoại trong sáu tháng và tại đây được tiếp xúc với nhiều hoàn cảnh, bị ám ảnh bởi những thân phận phải tha hương sau 1975. Đây là động lực khiến ông dành toàn bộ công sức vào hoàn thành công trình nghiên cứu. Trong quá trình tìm hiểu, Trần Văn Thủy đã đi gặp những người bạn đồng lớp cũ, giới văn chương, trí thức để phỏng vấn và trò chuyện một cách cởi mở về cuộc sống cũng như suy nghĩ của người Việt tại hải ngoại. Vào năm 2003, sau khi hoàn thành xong bản thảo dài trên 200 trang, Trần Văn Thủy đã có dịp gặp nhà văn Nguyên Ngọc hai tuần trước khi về nước và được ông Nguyên Ngọc thúc giục in công trình thành sách. Cuốn sách đầu tay của ông mang tên "Nếu đi hết biển" nhờ đó mà ra đời.
Cuốn sách dài gần 200 trang, in bởi nhà xuất bản Thời Văn ở California sau khi phát hành đã gây nên những phản ứng trái chiều trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Có người viết hẳn một cuốn sách để phản bác toàn bộ công trình của Trần Văn Thủy và chỉ trích ông. Những ý kiến cáo buộc cho rằng sách phát hành có chủ đích trong hoàn cảnh một nghị quyết của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đang được triển khai tại cộng đồng người Việt hải ngoại, cùng với đó là việc hầu hết nhân vật được phỏng vấn trong sách là những người tỵ nạn cộng sản. Tuy vậy, "Nếu đi hết biển" vẫn tiếp tục tái bản một lần nữa tại Mỹ vào năm 2004. Không dừng lại với những tranh luận ở hải ngoại, cuốn sách cũng không được chính quyền Việt Nam chấp nhận và phổ biến trong nước. Đã từng có nhà xuất bản tại Việt Nam muốn in sách nhưng Trần Văn Thủy yêu cầu phải giữ "đúng từng dấu chấm, dấu phẩy".
Vào ngày 20 tháng 5 năm 2013, Trần Văn Thủy và Lê Thanh Dũng ra mắt cuốn hồi ký dài 29 chương, 480 trang nói về cuộc đời ông mang tên "Chuyện nghề của Thủy". Sách do Nhà xuất bản Hội nhà văn phối hợp với Công ty sách Phương Nam ấn hành. Ý định viết sách khởi đầu từ khoảng 2011–2012, khi hai học giả người Mỹ Michael Ronov và Dean Wilson đã sang phỏng vấn ông trong nửa năm để viết một luận văn dài với tựa đề "Tran Van Thuy's "Story of Kindness": Spirituality and Political Discourse". Ông cùng Lê Thanh Dũng sau đó dành ra 10 tháng liền sắp xếp lại các thông tin đã nói với hai nhà nghiên cứu và bổ sung thêm những điều chưa kể. Trong sách còn có một số chương của "Nếu đi hết biển" mà ông đưa vào. Dù lo sợ tác phẩm sẽ không được phép xuất bản và có thể bị cắt gọt, nhưng cuối cùng bản thảo của ông đã giữ nguyên từ đầu đến cuối.
Các buổi ra mắt "Chuyện nghề của Thủy" được lên kế hoạch tổ chức trên khắp Việt Nam và thu hút rất đông người tham gia, đi qua lần lượt 5 tỉnh, thành phố lớn lần lượt là Thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Hà Nội. Tuy chỉ mới in 1000 bản đầu tiên và nhà phát hành có tính đến nguy cơ bị lỗ, cuốn sách đã nhanh chóng bán hết hàng và có được sự phê bình tích cực từ độc giả, được tái bản lại nhiều lần và được trao giải "Phát hiện mới" tại Giải Sách hay năm 2013. Giáo sư, cựu chiến binh người Mỹ Eric Henry cùng nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Dy sau đó đã chuyển ngữ sách sang tiếng Anh; Wayne Karlin là người biên tập nội dung và đặt tựa sách thành "In Whose Eyes", do #đổi xuất bản năm 2016. Đây được xem là cuốn hồi ký đầu tiên của một đạo diễn Việt Nam dịch ra tiếng Anh.
Cùng thời điểm bản Anh ngữ "Chuyện nghề của Thủy" ra mắt tại Mỹ, ông cũng cho in "Trong đống tro tàn", một cuốn tạp bút gồm 16 tiểu luận dài 430 trang, bàn luận về vấn đề xã hội và những câu chuyện có thật của thân phận con người. Cuốn sách do nhà xuất bản Người Việt Books phát hành ở Hoa Kỳ.
Phong cách sáng tác và quan điểm.
"Bất kỳ một sản phẩm văn hóa nào không có tư tưởng thì không nên gọi là tác phẩm. Còn một tác phẩm rời xa thân phận con người không bao giờ có thể thành kiệt tác."
Các tác phẩm điện ảnh của đạo diễn Trần Văn Thủy đều hướng tới con người và xoáy sâu vào tâm tư, số phận của họ. Đối với Trần Văn Thủy, điểm xuất phát những bộ phim tài liệu ông làm là lòng yêu nước; ông luôn đề cao "sự thật", "con người" trong tư tưởng và trong cả các thước phim tài liệu, cũng như đặc biệt để ý đến cách một tác phẩm nghệ thuật phản ánh hiện thực xã hội. Ông còn là một nhà làm phim theo chủ nghĩa xét lại giống với thế hệ nghệ sĩ tiên phong khi ấy. Tuy nhiên vì lối đi này mà Trần Văn Thủy đã gặp phải không ít cản trở từ các cấp chính quyền Việt Nam. Thậm chí, chỉ tính đến năm 2016, vẫn có những bộ phim do ông thực hiện chưa được phép chiếu rộng rãi ra công chúng.
Trần Văn Thủy cho biết người gây ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp làm phim của ông là đạo diễn Roman Karmen. Sự thành công của những bộ phim tài liệu ông làm cũng dựa trên kinh nghiệm và tác động sâu sắc từ nền điện ảnh Liên Xô. Chính Karmen là người đã truyền cảm hứng cho Trần Văn Thủy về nhân cách, điều tạo nên một nghệ sĩ, và quan niệm phải "đánh đúng vào dây thần kinh của xã hội". Phần lớn các bộ phim đề tên ông, giống với đồng nghiệp lúc bấy giờ, được thực hiện theo lối kể tự sự: hình ảnh, âm nhạc là phụ còn lời bình là trung tâm. Tất cả những bộ phim do ông làm đều là phim tài liệu, trong đó tự viết kịch bản và lời bình, dù trên thực tế hầu hết số cuốn phim này đều không có sẵn kịch bản và nó được hình thành thông qua quá trình đi tìm ý tưởng, ghi hình phim. Trong một cuộc phỏng vấn, đạo diễn Trần Văn Thủy nhận định rằng "[phim tài liệu] phải truyền tải được một thông điệp gì đó về lẽ sống, về cách ứng xử, về bổn phận [...] lấy mục tiêu con người, xoay quanh con người". Ông tự nhận mình chưa bao giờ làm phim mang tính khoa trương, tụng ca. Bên cạnh "đúng và đủ", tính hấp dẫn trong một tác phẩm phim tài liệu cũng được ông chú trọng và là "tiêu chí đầu tiên" của đạo diễn.
Về quan điểm xã hội, ông đặt ra điều quan trọng nhất đối với xã hội Việt Nam là nhân cách và "sự tử tế". Trần Văn Thủy dành mối quan tâm nhất định và một cái nhìn trực diện về chính trị, về vấn đề hòa hợp dân tộc Việt Nam và cuộc sống con người hậu 1975, ở lĩnh vực điện ảnh đã có thể thấy qua những bộ phim về đời sống xã hội Việt Nam mà điển hình là "Hà Nội trong mắt ai" và "Chuyện tử tế". Ở lĩnh vực văn chương, cuốn sách đầu tay của ông "Nếu đi hết biển" – trong đó đề cập tới khía cạnh hòa hợp dân tộc, thuật lại những câu chuyện và phỏng vấn các văn nghệ sĩ, giới tri thức tại hải ngoại, bao gồm những người chống Cộng – từng bị phê phán cũng vì đưa ra một cái nhìn trực diện vào vấn đề nhạy cảm ít ai muốn nhắc đến. Lối khai thác này đã được áp dụng tương tự với cuốn "Chuyện nghề của Thủy" ra đời một thập kỷ sau đó.
Những người làm phim như Thủy là những người đặc biệt nhất, can đảm nhất. Có thể nói không ngần ngại rằng anh là người làm phim tài liệu chính luận giỏi nhất nước ta. Trần Văn Thủy có một cái gì đó hơi giống Trịnh Công Sơn, bởi sự hòa quyện tuyệt vời giữa hình ảnh và lời bình, nâng giá trị của phim tư liệu lên rất nhiều. Một nhà văn chính luận sâu sắc trong vai trò một đạo diễn, luôn trực diện với những vấn đề nóng hổi của nhân sinh.
Trong giới phim tài liệu Việt Nam, Trần Văn Thủy đã trở thành "cây đa, cây đề" và được mệnh danh là "đạo diễn phim tài liệu số một", hay được ví như "Francis Coppola của Việt Nam". Ông từng được mời vào vô số những buổi thuyết trình, hội thảo, các buổi phỏng vấn từ Việt Nam đến khắp nơi trên quốc tế về các bộ phim của ông, nhiều nhất là Mỹ, cùng với đó là chia sẻ góc nhìn về chính trị, xã hội.
Trong bối cảnh đất nước còn sống dưới chế độ bao cấp, giới văn nghệ sĩ vẫn chưa thể "cởi trói", ông đã trở thành người dũng cảm thực hiện các bộ phim đụng đến mặt tối của xã hội. Được xem như là một "Perestroika Việt Nam" trong công cuộc Đổi Mới, tác phẩm của Trần Văn Thủy gây ra vô vàn tranh cãi vì nó không chỉ cho thấy mặt tối của bộ phận chính khách trong Đảng mà còn phơi bày nó một cách trần trụi. Dù thực tế phổ biến là các nhà làm phim Việt Nam không được phép quay những bộ phim mang tính phê phán tầng lớp lãnh đạo, hai cuốn phim "Hà Nội trong mắt ai" và "Chuyện tử tế" do ông đạo diễn sau này đã đóng vai trò tiên phong trong quá trình công khai hóa ("glasnost") của Đảng Cộng sản Việt Nam khi bước sang thời kỳ Đổi Mới, cho thấy rằng việc chỉ trích, phê bình chính phủ và phương cách quản trị đất nước vẫn xuất hiện trong các tác phẩm sản xuất bởi nhà nước Việt Nam. Mặc dù chúng góp phần vào làn sóng các tác phẩm "mới", sự tự do trong nghệ thuật và báo chí chỉ một thời gian ngắn sau đó cũng dần bị đóng lại và "ở hồi kết". Theo nhận định của tác giả Đoàn Ánh Dương (2020), Trần Văn Thủy đã "phá vỡ những khung khổ hiện thực quen thuộc để phơi bày các hiện thực nghệ thuật mới trong phim nghệ thuật [với Đặng Nhật Minh] và phim tài liệu".
Trần Văn Thủy cũng là một nhân vật có quan điểm chính trị gây trái chiều. Giống như các văn nghệ sĩ thời kì Đổi Mới, ông đã đặt câu hỏi, thách thức những điều được tôn vinh trong Chiến tranh Việt Nam và thời hậu chiến của chính quyền cộng sản qua các tác phẩm của mình. Cho đến nhiều thập kỷ sau, ông vẫn lên tiếng về tình hình xã hội tại Việt Nam và bày tỏ lập trường về một số sự kiện chính trị khác nhau. Nhưng cũng vì điều này mà trong một thời gian dài, khoảng cuối thế kỷ 20, ông từng trở thành đối tượng bị dò xét bởi chính quyền; bị công an theo dõi và thẩm vấn, khám xét nhiều lần và bị Bộ Văn hóa gây khó dễ không cho xuất cảnh. Theo chính lời Trần Văn Thủy kể lại, một trong số những viên công an từng tham gia vào việc bắt giữ đạo diễn tại Thủ Đức đã chỉ thẳng mặt ông "mày là thằng phản động". Tuy vậy, ông lại nhận được đánh giá cao từ các học giả quốc tế về những thông điệp đem lại cho khán giả. Trong một buổi thảo luận với đạo diễn Trần Văn Thủy vào năm 2003, giáo sư Pam McElwee của Đại học Yale đã bình luận: "Những nhận xét của ông [Trần Văn Thủy] thực sự thẳng thắn, thực sự cởi mở, thực sự trung thực khi nói về tình hình xã hội, điều mà bạn không thể nghe thấy ở Việt Nam. [...] Ông chắc chắn là một trong những tiếng nói đơn độc, độc lập và rất tuyệt khi được nghe".
Giải thưởng và vinh danh.
Tính đến năm 2000, ông đã có danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú. Năm 2001, Trần Văn Thủy được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân. Tại các kỳ Liên hoan phim Việt Nam, ông đoạt ba giải Đạo diễn xuất sắc lần lượt vào những năm 1980, 1988 và 1999. Ở phạm vi quốc tế, Trần Văn Thủy đã được vinh danh là "Chứng nhân thế giới" ("Witnessing the World") tại Hội thảo điện ảnh tài liệu quốc tế The Robert Flaherty tổ chức tháng 5 năm 2003 ở New York và từng xuất hiện trong cuốn "Từ điển danh nhân" của Nhật Bản.
Vào năm 2021, Trần Văn Thủy cùng Nghệ sĩ nhân dân Đào Trọng Khánh được đề cử xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 6 ở lĩnh vực điện ảnh, phim truyền hình. Tuy nhiên ông đã không thông qua sự đồng thuận của hội đồng xét duyệt. Cụm tác phẩm trong hồ sơ của đạo diễn, gồm "Nơi chúng tôi đã sống", "Phản bội", "Chuyện tử tế", "Hà Nội trong mắt ai", "Chuyện từ góc công viên" và "Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai""" đã không tích đủ 80% số phiếu đồng ý từ các thành viên hội đồng chuyên ngành cấp Nhà nước, gây nên những ý kiến trái chiều từ người trong nghề và dư luận. Theo tiết lộ của Trần Văn Thủy, lý do cho việc hội đồng không chấp thuận là vì một bức thư của đạo diễn phim khoa học Nguyễn Lương Đức gửi đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trước đó"," cáo buộc phim "Phản bội" do ông thực hiện lấy nguyên xi từ bản gốc phim Liên Xô và chỉ lồng tiếng thuyết minh vào. Việc chủ đề của tác phẩm nói về chiến tranh biên giới cũng được cho là nguyên do khiến cơ quan thẩm quyền rơi vào thế khó xử vì sẽ bị Trung Quốc phản đối nếu trao giải cho ông nhờ cuốn phim này.
Câu chuyện về quãng đời vào chiến trường của Trần Văn Thủy từng được khắc họa trong bộ phim truyện hợp tác Việt Nam – Singapore "Vũ khúc con cò", với hình tượng là một chiến sĩ vào chiến trường quay phim tên Vinh, một trong số những nhân vật chính của tác phẩm. Vào năm 2022, nhân kỷ niệm 40 năm ngày bộ phim tài liệu "Hà Nội trong mắt ai" ra đời, ông đã được trao giải thưởng Lớn giải Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội vì những cống hiến trọn đời dành cho điện ảnh.
Trần Văn Thủy đã kết hôn và lập gia đình với nhà quay phim, Nghệ sĩ ưu tú Thủy Hằng. Ông có hai người con: một con trai cả là họa sĩ Trần Nhật Thăng, sinh năm 1972 và con gái tên Trần Thu Hương, sinh năm 1982. Sau khi thành hôn, cả hai đã đến ở nhờ nhà bạn và tại cơ quan một thời gian, trước khi tích cóp đủ tiền để mua một căn phòng nhỏ tại làng Ngọc Hà. Lúc đạo diễn Trần Văn Thủy từ Liên Xô trở về, vợ chồng ông nỗ lực mua lại nhà số 52 Hàng Bún từ nhà thơ Phan Vũ. Căn nhà này về sau do con trai ông tiếp quản. Từ năm 1997, gia đình ông đang sống tại một ngôi nhà nằm trong con ngõ nhỏ trên đường Hoàng Hoa Thám. Ngôi nhà này được xây dựng bằng số tiền Trần Văn Thủy tích cóp từ các dự án phim nước ngoài ông từng làm.
Hoạt động từ thiện.
Không dừng lại ở lĩnh vực điện ảnh, đạo diễn Trần Văn Thủy cũng được biết đến với hoạt động thiện nguyện hướng tới những người sinh sống tại làng quê nghèo, nạn nhân của chất độc da cam. Ông đã cấp học bổng cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn và giúp cháu bé bị tật nguyền lên thành phố chữa trị. Ở quê nhà Nam Định, thông qua một số tổ chức như "Các bạn của Trần Văn Thủy" tại Paris và các quỹ từ thiện Pháp, ông xây dựng nhiều công trình quan trọng cho khu dân cư như trường học, nhà văn hóa, nhà thờ; xây cầu, bê tông hóa đường làng; lập mộ tổ...
|
Sa Huỳnh là tên gọi một cửa biển ở phía nam tỉnh Quảng Ngãi, nơi đầm Nước Mặn thông ra Biển Đông và cũng là tên khu dân cư nằm cạnh cửa biển này. Địa danh này ngày nay còn có phạm vi rộng hơn là toàn bộ vùng đất ven biển cực nam tỉnh Quảng Ngãi, thuộc địa phận phường Phổ Thạnh và hai xã Phổ Châu, Phổ Khánh của thị xã Đức Phổ.
Cửa biển và thị tứ Sa Huỳnh cách trung tâm thành phố Quảng Ngãi, tỉnh lỵ Quảng Ngãi, khoảng 60 km về phía nam, có Quốc lộ 1 và đường sắt Bắc Nam đi qua.
Địa danh này trước kia vốn được đọc và viết là Sa Hoàng, có nghĩa là cát vàng. Về sau, do kỵ húy chúa Nguyễn Hoàng nên phải đọc và viết thành Sa Huỳnh như hiện nay. Cũng như cửa Đại Cổ Lũy, cửa Sa Huỳnh có vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc chiến tranh Việt–Chiêm (1471) do vua Lê Thánh Tông phát động. Sa Huỳnh cũng là cửa biển được sử dụng trên tuyến đường giao thương hàng hải khu vực Đông Nam Á từ rất sớm, có ý kiến cho rằng từ khoảng thiên niên kỷ 1.
Năm 1909, nhà khảo cổ học người Pháp M.Vinet phát hiện những ngôi mộ chum vùi dưới cồn cát Phú Khương ở ven biển cạnh đầm An Khê. Trong các báo cáo sau này, khu mộ chum ấy được gọi là (có nghĩa là Kho chum Sa Huỳnh). Các cuộc khai quật sau đó vào các năm 1923 và 1934 tại hai khu vực Phú Khương và Thạnh Đức đã tiếp tục phát hiện thêm nhiều ngôi mộ chum. Từ năm 1937, nền văn hóa khảo cổ có niên đại 2.500–3.000 năm này chính thức được gọi là văn hóa Sa Huỳnh, theo địa danh Sa Huỳnh.
Khu vực Sa Huỳnh là một trong những thắng cảnh của tỉnh Quảng Ngãi, với bãi biển đẹp và các cảnh quan bãi cát, làng mạc, đồi núi, ruộng muối.
Bãi biển Sa Huỳnh dài 6 km, bờ biển cong hình lưỡi liềm với cát vàng, không có bãi đá ngầm, phù hợp cho các hoạt động như bơi lội, vui chơi trên bãi biển. Phía nam bãi biển có ghềnh đá Châu Me, đông bắc có đảo Khỉ.
Sa Huỳnh cũng là một trong những vùng sản xuất muối nổi tiếng tại Việt Nam, nghề làm muối tại đây đã có từ hàng trăm năm nay. Cánh đồng muối Sa Huỳnh có diện tích 120 ha, thuộc địa bàn phường Phổ Thạnh. Năm 2011, Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu "Muối Sa Huỳnh" cho diêm dân tại đây. Tuy nhiên, do giá thành muối không ổn định nên các diêm dân gặp nhiều khó khăn và nhiều hộ đã bỏ nghề.
Cảng cá Sa Huỳnh cũng là một cảng cá sầm uất ở bờ biển miền Trung Việt Nam. Tuy nhiên trong những năm gần đây, luồng lạch cửa biển bị bồi lấp, gây trở ngại cho tàu thuyền đánh bắt hải sản của ngư dân địa phương ra khơi.
|
Tài tử Ngọc Bảo (tên đầy đủ: Bùi Ngọc Bảo, 8 tháng 2 năm 1926 - 4 tháng 5 năm 2006) là một ca sĩ người Việt Nam dòng nhạc tiền chiến, nổi tiếng từ thập niên 1940. Danh hiệu "Tài tử" được gắn liền với tên ông do vào năm 1951, ông là người Việt Nam đầu tiên được hãng đĩa mời sang Pháp thu 20 bài hát cùng dàn nhạc Guy Théven.
Tài tử Ngọc Bảo cho biết ông sinh năm 1926 (có nguồn lại đề năm 1925) tại làng Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội, có cha là ông Bùi Xuân Thắng, chủ bút báo "Đông Pháp". Ông chịu ảnh hưởng từ mẹ là bà Nguyễn Thị Quy - người hát ả đào lừng danh miền Bắc Việt Nam, từ đó nghệ thuật dân tộc thấm vào ông. Tuy không qua trường lớp đào tạo nào về âm nhạc, nhưng ông đã xuất hiện trên sân khấu từ khi còn rất trẻ. Mới 6 tuổi, ông đã hát được ca trù và chèo. Năm 10 tuổi, ông ra Hà Nội theo học ở trường Madelon trên phố Hàng Đẫy. Vì quá mê tài tử Tino Rossi nên ông thường trốn học đi bộ tới phòng trà Thiên Phúc ở phố Hàng Gai để nghe tiếng hát của Tino. Chính giọng của Tino Rossi là động lực thúc đẩy ông bước vào con đường ca hát. Năm 1947, người ta bắt đầu biết đến ông qua màn biểu diễn bài "Em đến thăm anh một chiều mưa" của Tô Vũ tại chính phòng trà Thiên Phúc.
Giọng hát của ông gây ấn tượng với người nghe qua những ca khúc trữ tình, lãng mạn của các tác giả Văn Cao, Đặng Thế Phong, Đoàn Chuẩn - Từ Linh, Dzoãn Mẫn, Tô Vũ... Ông rất thường hát "Đêm đông" (Nguyễn Văn Thương), "Giọt mưa thu" (Đặng Thế Phong, lời Bùi Công Kỳ) và "Biệt ly" (Dzoãn Mẫn). Giọng hát Ngọc Bảo hết sức ăn khách, việc lo liệu tài chính ông phó thác cho vợ để chỉ chuyên tâm đi hát, diễn cho cả Hoàng đế Bảo Đại nghe. Bình quân một đêm diễn của ông thu về 15 đến 20 lượng vàng. Năm 1949, ông diễn ba đêm liền tại rạp Nguyễn Văn Hảo ở Sài Gòn, thu được 80 lượng vàng.
Năm 1951, ông là người Việt Nam đầu tiên được hãng đĩa mời sang Paris, Pháp thu 20 bài hát cùng dàn nhạc Guy Théven; một số tiết mục là: "Nỗi lòng" (Nguyễn Văn Khánh), "Túi đàn" (Canh Thân), "Khúc ca mùa hè" (Canh Thân), "Đường về" (Hoàng Trọng, lời Quang Khải), "Lạnh lùng" (Hoàng Trọng, lời Quách Đàm), "Ngàn cánh chim về" (Thẩm Oánh)... Các chuyên gia Pháp thấy ông có dáng dấp phong lưu như tài tử điện ảnh nên gọi ông là "Tài tử". Kể từ đó, danh hiệu này đã gắn liền với ông trên các bìa đĩa hay báo chí. Ông còn thu âm cho nhiều hãng khác như Philips, Viễn Đông, P
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông đã gia nhập đoàn kịch Sao Vàng do nhạc sĩ Đỗ Nhuận làm chủ nhiệm.
Ông thể hiện khả năng cảm thụ âm nhạc cao và tận tụy với từng bài nhạc, có thể dành nửa năm để tập luyện một bài hát. Thậm chí ông dành hai năm để luyện Bài "Đợi anh về" (nhạc Văn Chung, Tố Hữu dịch thơ Simonov) nhưng vẫn không thật ưng ý.
Ngọc Bảo nói rằng ông có ba người tình. Người thứ nhất là nhạc Pháp, nhạc tiền chiến. Người tình thứ hai là hàng triệu thính giả. Người thứ ba là vợ ông. Họa sĩ Hoàng Lập Ngôn có lần nói rằng típ người tài tử như Ngọc Bảo nhiều chục năm mới có một. Nhà nghiên cứu văn hóa Vũ Khiêu tặng ông câu đối: "Tiếng ngọc ngàn năm là quốc bảo / Tuổi vàng tám chục giữa xuân hoa ".
Sau khi nhạc tiền chiến được chính quyền cho phép phổ biến trở lại, ông có thực hiện các album là "Lời du tử" (1998) và "Ký ức đêm" (2005) do Hồ Gươm Audio – Video phát hành. Album "Ký ức đêm" được làm xong chỉ không lâu trước khi ông mất. Nửa đầu thập niên 2000, ông có xuất hiện trên truyền hình trong chương trình "Ký ức thời gian" của đài VTV, biểu diễn nhạc phẩm "Mơ hoa" của Hoàng Giác. Dù tuổi đã cao nhưng ông thể hiện niềm đam mê âm nhạc rất lớn: "60 tuổi mới ở ngưỡng dậy thì, 70 tuổi chập chững mới lớn và 80 mới là ngưỡng trưởng thành."
Tài tử Ngọc Bảo mắc bệnh ung thư phổi và mất vào hồi 15 giờ ngày 4 tháng 5 năm 2006. Lúc sinh tiền, ông từng kể về sự yêu thích đối với nhiều loại thuốc lá.
|
Cúp Hiệp hội Bóng đá Hoàng gia Hà Lan
Cúp Hiệp hội Bóng đá Hoàng gia Hà Lan hay Cúp KNVB (tiếng Hà Lan: Koninklijke Nederlandse Voetbal Bond-beker) được tài trợ bởi TOTO KNVB Beker là giải bóng đá được tổ chức cho tất cả các đội bóng chuyên nghiệp và nghiệp dư ở Hà Lan do (KNVB) tổ chức từ năm 1898.dựa trên thể thức của . là giải đấu đóng vai trò tiền mùa giải để chuẩn bị cho mùa giải tiếp theo.
Giải đấu được hình thành trong cuộc họp hội đồng quản trị của , tại , vào ngày 19 tháng 1 năm 1898. Giải đấu bắt đầu vào mùa giải sau đó, 1898–99. Trận chung kết đầu tiên diễn ra vào ngày 9 tháng 5 năm 1899 giữa RAP Amsterdam và HVV Den Haag, và kết thúc với chiến thắng 1–0 cho đội trước nhờ bàn thắng của Julius Hisgen trong . Năm 1946, chiếc cúp được đổi thành một chiếc làm bằng bạc, một thứ cực kỳ hiếm gặp ngay sau Thế chiến thứ hai. Chiếc cúp đó vẫn được sử dụng cho đến ngày nay. Vào năm 2018, một chiếc cúp có màu vàng đã được đặt làm để kỷ niệm 100 năm giải đấu được tổ chức.
Giống như nhiều giải đấu cúp quốc gia, tên của giải đấu đã thay đổi với sự tài trợ. Từ năm 1995, cuộc thi từ KNVB Beker được biết đến với tên gọi Amstel Cup theo tên nhà tài trợ lúc đó là Amstel . Vào ngày 16 tháng 8 năm 2005, tên được đổi thành Gatorade Cup theo tên công ty đồ uống Gatorade . Năm 2006, cái tên trở lại là KNVB Beker với Gatorade vẫn là nhà tài trợ chính.
Vào ngày 12 tháng 1 năm 2018, có thông báo rằng TOTO sẽ là nhà tài trợ chính của KNVB Cup, cho đến mùa giải 2021–22. Cuộc thi được đổi tên thành TOTO KNVB Beker với hiệu quả tức thì.
Tư cách tham dự các giải đấu châu Âu.
Cho đến năm 1998, đội vô địch của chiếc cúp này đã tham gia , nhưng với việc từ bỏ giải đấu đó, Đội vô địch bây giờ sẽ được tham dự . Nếu đội vô địch đã hoàn thành ở vị trí thứ hai của và giành quyền tham dự UEFA Champions League , thì suất tham sẽ được phân phối lại cho Eredivisie của mùa giải đó.
Năm 1998, cả hai đội lọt vào chung kết KNVB Cup, Ajax và PSV , đều giành quyền tham dự Champions League, do đó, một trận play-off tranh hạng ba được diễn ra giữa hai đội bán kết bị đánh bại, và , để xác định ai sẽ giành Cúp. 'Nơi tách.
* 20 lần - Ajax Amsterdam
* 13 lần - Feyenoord Rotterdam
* 10 lần - PSV Eindhoven
* 04 lần - AZ Alkmaar
|
Phương trình vi phân riêng phần
Trong toán học, một phương trình vi phân riêng phần (Partial Differential Equations, PDEs) (còn gọi là phương trình vi phân đạo hàm riêng, phương trình đạo hàm riêng, phương trình vi phân từng phần, hay phương trình vi phân riêng) là một phương trình vi phân bao gồm liên hệ giữa một hàm đa biến chưa biết và các đạo hàm riêng của hàm theo các biến này. Để tìm được hàm chưa biết, thường cần giải các hệ phương trình vi phân riêng phần, tức là các hệ phương trình chứa các phương trình vi phân riêng phần. PDEs thường được sử dụng để xây dựng giải quyết các vấn đề xoay quanh các hàm đa biến hay xây dựng các mô hình máy tính. Một trường hợp đặc biệt của PDEs là phương trình vi phân thường (ODEs), được sử dụng để giải quyết các bài toán đơn biến và đạo hàm của chúng.
PDEs có thể được sử dụng để mô tả một số các hiện tượng chuyển động của âm thanh, nhiệt, sự phân tán, tĩnh điện học, động điện học, động học chất lưu, độ co giãn hay cơ học lượng tử nói chung là các hiện tượng biến đổi trong không gian và thời gian. Nhiều hiện tượng vật lý khác nhau thường có thể quy về việc giải các hệ phương trình vi phân riêng phần giống nhau, khiến cho công cụ toán học là cầu nối liên hệ và tổng quát hoá nhiều hiện tượng tự nhiên. Phương trình vi phân thường thường chỉ mô tả hệ động học một chiều, ngược lại PDEs mô tả các hệ đa chiều.
Phương trình vi phân riêng phần đơn giản hay gặp trong giáo trình toán là:
với "u" là hàm chưa biết của "x" và "y". Phương trình này thực tế cho biết "u"("x","y") không phụ thuộc vào "x"; và lời giải tổng quát là:
với "f" là hàm bất kỳ của "y". Phương trình này tương tự như phương trình vi phân thường
với "c" là hằng số bất kỳ không phụ thuộc vào "x".
Thí dụ này cho thấy các lời giải tổng quát của phương trình vi phân riêng phần thường chứa các hàm bất kỳ, tương tự như lời giải tổng quát của phương trình vi phân thường chứa các hằng số bất kỳ.
Để xác định cụ thể lời giải trong dải rộng của lời giải tổng quát cho từng bài toán riêng lẻ, cần có thêm các điều kiện biên.
|
Bóng ma trong nhà hát (phim 2004)
Bóng ma trong nhà hát là một bộ phim ca nhạc phát hành năm 2004 của đạo diễn Joel Schumacher. Bộ phim này được thực hiện theo vở nhạc kịch cùng tên năm 1986, còn bản gốc là tiểu thuyết "Bóng ma trong nhà hát" của nhà văn Pháp Gaston Leroux. Andrew Lloyd Webber là nhà sản xuất và cũng là tác giả kịch bản của bộ phim cùng với Joel Schumacher. Hai diễn viên chính là Gerard Butler trong vai bóng ma, và Emmy Rossum trong vai Christine Daaé.
Bộ phim tung ra hai phiên bản album nhạc phim, một phiên bản thường có 14 bài và một phiên deluxe với 2 đĩa CD với tổng cộng 35 bài.
|
Sông Ngàn Phố là một con sông phụ lưu của sông La chảy chủ yếu trong địa phận huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh .
tên sông là sông Phố - người dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, vẫn gọi con sông chảy ngang huyện (nằm trọn trong huyện) như vậy. Trong các tác phẩm văn học, lịch sử, địa lý thì gọi là sông Ngàn Phố
Sông Ngàn Phố bắt nguồn bằng các dòng suối nhỏ từ dãy núi Giăng Màn thuộc dãy Trường Sơn (còn gọi là núi Khai Trướng) nằm trong địa phận các xã Sơn Hồng, Sơn Kim 1 và Sơn Kim 2 huyện Hương Sơn, ven biên giới Việt-Lào, ở độ cao khoảng 700 m. Sông Phố chảy gần như theo hướng Tây-Đông tới ngã ba Tam Soa (xưa có bến Tam Soa), nơi giáp ranh các xã Sơn Tân, Sơn Long (huyện Hương Sơn) với các xã Trường Sơn, Tùng Ảnh (huyện Đức Thọ). Tại đây, nó hợp lưu với sông Sâu (tức sông Ngàn Sâu) từ các huyện Hương Khê, Vũ Quang chảy từ phía Nam lên để tạo thành sông La, một phụ lưu của sông Lam. Chiều dài tối đa khoảng 71–72 km. Diện tích lưu vực 1.060 km², độ cao trung bình 331 m, độ dốc trung bình 25,2%. Mật độ sông suối 0,91 km/km². Tổng lượng nước 1,40 km³ tương ứng với lưu lượng trung bình 45,6 m³/s.
Các thắng tích, địa danh lịch sử.
Vùng lưu vực sông Phố có nhiều thắng tích, địa danh lịch sử như:
|
Pemphigus là một nhóm những bệnh bọng nước tự miễn dịch hiếm gặp của da và/hay các niêm mạc. Pemphigus không lây - thậm chí khi tiếp xúc máu.
Thông thường hệ thống miễn dịch của cơ thể tạo ra các kháng thể tấn công những virus và vi khuẩn có hại trong nỗ lực nhằm giữ cho cơ thể khoẻ mạnh. Tuy nhiên, ở một người mắc bệnh pemphigus, hệ thống miễn dịch nhận định nhầm các tế bào ở da và/hay các niêm mạc là những vật chất lạ, và tấn công chúng. Các kháng thể tấn công các tế bào của chính cơ thể mình được gọi là những tự kháng thể. Trong pemphigus, tế bào bị tấn công tại những cầu nối desmosome. Các desmosome là cầu nối giữa những tế bào gai giữ cho da nguyên vẹn.
Khi những tự kháng thể tấn công các desmosome, các tế bào gai bị chia tách, dịch gian bào tập trung tại vị trí tổn thương hình thành bọng nước. Điều này gây nên thương tổn giống như bị bỏng hay vết rộp không lành lại. Ở một số rường hợp, những vết rộp đó có thể chiếm một vùng rộng trên cơ thể.
Có nhiều loại pemphigus, và chẩn đoán bệnh sớm là một điều quan trọng. Dù có thể có tính chất di truyền và một số nhóm người có thể có nguy cơ cao hơn về căn bệnh này, thì bệnh không có vẻ ảnh hưởng tới những người theo đặc trưng chủng tộc và phạm vi văn hoá, vì thế không thể nói rằng ai sẽ có thể mắc bệnh pemphigus. Bệnh có thể điều trị và có những hỗ trợ để người bệnh có thể sống chung với bệnh, gồm cả thông tin về dinh dưỡng và chăm sóc.
Bởi vì là một bệnh hiếm, pemphigus thường là điều cuối cùng người ta nghĩ tới khi chẩn đoán bệnh. Cần hỏi ý kiến một thầy thuốc da liễu nếu có bất kỳ thương tổn da hay miệng kéo dài nào. Chẩn đoán sớm có thể cho phép điều trị thành công với mức độ sử dụng thuốc thấp.
Có ba tiêu chí cho một chẩn đoán xác định:
Ngoài những điều trên, một xét nghiệm chẩn đoán khác cũng có thể được sử dụng, được gọi là huỳnh quang miễn dịch gián tiếp hay xét nghiệm hiệu giá tự kháng thể. Xét nghiệm này xác định các tự kháng thể kháng desmosome trong huyết thanh máu. Nó có thể được dùng để xác định rõ hơn về mức độ bệnh. Ngoài ra, một thử nghiệm huyết thanh về các tự kháng thể desmoglein, được gọi là ELISA, cũng có thể được thực hiện. Nó là biện pháp chính xác nhất, tuy nhiên không phải tất cả các phòng thí nghiệm đều thực hiện được xét nghiệm này.
Thuật ngữ "vulgar" có nghĩa "thông thường," và PV là dạng thường được chẩn đoán nhất của pemphigus. Những chỗ đau và rộp da luôn xuất hiện đầu tiên ở miệng. Bởi vì da là một cơ quan của cơ thể nên PV được gọi là bệnh đơn cơ quan. Nó không gây ảnh hưởng gì tới các cơ quan bên trong. Những vết rộp có thể lan tới dây thanh quản, nhưng không thể xa hơn. PV không gây ra sẹo vĩnh viễn trừ khi có sự nhiễm trùng ở vị trí thương tổn. Trong kiểu bệnh này, các tự kháng thể tấn công protein "keo", là chất giữ các tế bào da dính với nhau, được gọi là desmoglein. Các thương tổn rất đau đớn. Thỉnh thoảng có xuất hiện hiệu ứng Nikolsky, chỉ cần chạm vào da cũng đủ khiến nó rách ra. Trước kia, khi chưa được điều trị bằng thuốc, PV gây ra tỷ lệ tử vong 99%, nhưng với các liệu pháp chữa trị hiện nay, tỷ lệ tử vong giảm xuống chỉ còn 5 đến 15%
Ở loại pemphigus foliaceus này, các vết rộp và đau không xuất hiện ở miệng. Những vảy cứng đau nhức hay những vết rộp dễ vỡ thường xuất hiện đầu tiên trên mặt và da đầu và sau đó lan xuống ngực và lưng.
Các tự kháng thể được hệ miễn dịch sản xuất ra nhưng chúng chỉ liên kết với desmoglein 1. Các vết rộp rất nông và thường gây ngứa, nhưng không gây đau đớn như PV.
Đối với PF, thương tổn gây biến dạng da có thể xảy ra, nhưng tỷ lệ tử vong của kiểu bệnh này thấp hơn so với PV.
PNP là kiểu pemphigus nguy hiểm nhất. Nó thường xảy ra với những người có tiền sử chẩn đoán mắc một bệnh ác tính (ung thư). Tuy nhiên, nó lại là tuýp bệnh ít xảy ra nhất. Nó luôn xuất hiện những thương tổn đau đớn trong miệng, môi và thực quản, và xảy ra thương tổn da theo nhiều kiểu. PNP có thể gây ảnh hưởng đến phổi. Trong một số trường hợp việc chẩn đoán bệnh có thể khiến các bác sĩ phải lưu ý tìm kiếm một khối u ẩn. Một số trường hợp khối u là lành tính và tình trạng bệnh sẽ được cải thiện nếu khối u được loại bỏ bằng phẫu thuật.
Dạng bệnh này hiếm khi xảy ra và trông nó rất khác biệt so với những hình thái pemphigus khác. Các tự kháng thể trong máu cũng khác biệt và sự khác biệt đó có thể được xác định bằng các xét nghiệm.
Việc sử dụng prednisone yêu cầu một số chú ý về dinh dưỡng nhằm kiểm soát sự bùng phát bệnh pemphigus. Nó là một loại thuốc steroid glucocorticoid yêu cầu một chế độ ăn có nhiều protein, ít cacbonhydrate, ít muối, ít chất béo, với sự chú ý đặc biệt tới liều lượng calci và kali. Calci với các vitamin D bổ sung là cần thiết trong chế độ ăn hàng ngày.
Có một chế độ ăn kiêng tốt rõ ràng là quan trọng đối với sức khoẻ, nhưng nó đặc biệt quan trọng đối với các bệnh nhân pemphigus để làm giảm bớt những tác dụng phụ của thuốc và làm cho cơ thể khoẻ mạnh để có thể chống chọi với bệnh tật và phục hồi. Acidophilus, một vi khuẩn hữu ích có trong sữa chua, cũng như trong những phần bổ sung của chế độ ăn, được khuyến cáo cho những người thường xuyên phải dùng thuốc kháng sinh. Nó cũng giúp ngăn chặn nhiễm trùng.
Đã có tài liệu cho rằng một số bệnh nhân nhạy cảm với tỏi, hành và tỏi tây (nhóm thực phẩm Alium). Các thực phẩm đó và có thể cả những loại khác có thể gây ra hay làm tệ hại thêm tình trạng bệnh.
Nhạy cảm với thực phẩm có thể có lợi hay có hại, tuỳ vào từng người bệnh. Nếu một loại thức ăn bị nghi ngờ gây phồng da, thì sau một lần thử ăn lại nó, nếu tình trạng đó lại xuất hiện, loại thực phẩm đó cần được lấy ra khỏi chế độ ăn.
|
Thảm sát Nam Kinh
Thảm sát Nam Kinh, cũng thường được gọi là vụ "Cưỡng hiếp Nam Kinh", là một tội ác chiến tranh do quân đội Nhật Bản tiến hành bên trong và xung quanh Nam Kinh, Trung Quốc sau khi thành phố này rơi vào tay Quân đội Thiên hoàng Nhật Bản ngày 13 tháng 12 năm 1937. Thời gian diễn ra cuộc thảm sát vẫn chưa được biết rõ, dù bạo lực đã kết thúc trong vòng sáu tuần, cho tới đầu tháng 2 năm 1938.
Trong khi chiếm đóng Nam Kinh, quân đội Nhật Bản đã thực hiện nhiều hành động tàn ác như hãm hiếp, cướp bóc, đốt phá và hành quyết tù binh chiến tranh cũng như thường dân. Tuy những vụ hành quyết diễn ra trong bối cảnh nhiều binh lính Trung Quốc giả dạng làm thường dân, một số lớn dân thường vô tội đã bị quy là các chiến binh địch và bị giết hại, hay đơn giản bị giết ở bất kỳ hoàn cảnh nào có thể. Một số lớn phụ nữ và trẻ em cũng bị giết hại, khi những vụ hãm hiếp và giết người ngày càng lan rộng ở cả những vùng ngoại ô Nam Kinh.
Con số thương vong cụ thể là một chủ đề được bàn cãi hết sức gay gắt giữa các nhà nghiên cứu. Các ước tính từ 40.000 lên đến 300.000 người. Con số 300.000 người lần đầu tiên được Harold Timperly, một nhà báo tại Trung Hoa trong thời gian này đưa ra vào tháng 1 năm 1938. Con số này có lẽ bao gồm cả những người bị thảm sát ở những vùng xung quanh thành phố Nam Kinh trong thời gian chiếm đóng của Nhật Bản.
Các ước tính khác đến từ tuyên bố của Quân đội Thiên hoàng Nhật Bản tại Tòa án Quân sự Quốc tế vùng Viễn Đông rằng số người chết đều là binh sĩ và rằng những hành động hung bạo như vậy không hề xảy ra, cho tới lời kể của những nhân chứng phương Tây tại Tòa án Quân sự Quốc tế vùng Viễn Đông, những người đã tận mắt chứng kiến những thường dân bị giết hại và những phụ nữ bị hãm hiếp bởi binh sĩ Nhật Bản, cho tới tuyên bố của Trung Quốc cho rằng số lượng người không phải là binh lính thiệt mạng lên tới 300.000.
Nhiều người thiên về tin con số thương vong cao một phần bởi vì có nhiều bằng chứng phim ảnh về những thân thể phụ nữ, trẻ em bị chém giết, cũng như thành công thương mại của cuốn sách vụ "Cưỡng hiếp Nam Kinh" của Iris Chang, một lần nữa thu hút sự chú ý của mọi người tới sự kiện.
Ngoài số lượng nạn nhân, một số nhà phê bình Nhật Bản thậm chí đã tranh luận về việc liệu vụ thảm sát có thực sự xảy ra. Trong khi Chính phủ Nhật Bản đã thừa nhận vụ việc thật sự đã xảy ra, những người cực đoan đã trưng ra lý lẽ của mình bắt đầu bằng những tuyên bố của Quân đội Thiên hoàng tại Tòa án Quân sự Quốc tế vùng Viễn Đông rằng số người chết đều thuộc quân đội và những hành động thù địch với dân thường không hề xảy ra. Tuy nhiên, một số lượng khổng lồ các bằng chứng đã chống lại luận điểm đó. Sự tồn tại của vụ việc đã nhiều lần được khẳng định thông qua những lời tuyên bố của các chứng nhân phương Tây tại Tòa án Quân sự Quốc tế vùng Viễn Đông cũng như của những người đã tận mắt chứng kiến các thường dân bị thảm sát và phụ nữ bị binh lính Nhật hãm hiếp. Nhiều bộ sưu tập ảnh về các xác chết phụ nữ và trẻ em Trung Quốc hiện cũng đang tồn tại. Những tìm kiếm khảo cổ học gần đây càng ủng hộ lý lẽ về sự thực của vụ thảm sát.
Việc lên án vụ thảm sát là một vấn đề trọng tâm của chủ nghĩa Quốc gia Trung Quốc đang bắt đầu phát triển. Tuy nhiên, tại Nhật Bản ý kiến công chúng về sự thảm khốc của cuộc thảm sát vẫn còn chia rẽ – điều này được minh chứng qua sự thực rằng trong khi một số nhà bình luận Nhật Bản gọi nó là vụ 'Tàn sát Nam Kinh' (南京大虐殺, Nankin daigyakusatsu), những người khác lại sử dụng một thuật ngữ mềm mại hơn vụ 'Sự kiện Nam Kinh' (南京事件, Nankin jiken). Sự kiện tiếp tục là một trong tâm chú ý và tranh cãi trong quan hệ Trung Quốc – Nhật Bản.
Bối cảnh lịch sử.
Cuộc xâm lược Trung Quốc.
Tới tháng 8 năm 1937, giữa cuộc Chiến tranh Trung-Nhật, quân đội Nhật Bản gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ và chịu nhiều tổn thất trong Trận Thượng Hải. Trận đánh diễn ra đẫm máu và cả hai bên đều thiệt hại nặng nề trong những trận đánh giáp lá cà.
Ngày 5 tháng 8 năm 1937, Nhật hoàng Chiêu Hoà đích thân phê chuẩn lời đề nghị từ phía quân đội của ông ngừng tôn trọng luật pháp quốc tế đối với các tù binh chiến tranh Trung Quốc trong tay. Nghị định này cũng hướng dẫn các sĩ quan tham mưu ngừng sử dụng thuật ngữ "tù binh chiến tranh".
Từ Thượng Hải tới Nam Kinh, binh lính Nhật Bản sau đó đã thực hiện nhiều hành vi tàn bạo, nổi tiếng nhất là cuộc thi chặt đầu 100 người. Cũng có nhiều hành động hung bạo khác từ phía người Trung Quốc chống lại những tù binh chiến tranh Nhật Bản.
Tới giữa tháng 11, người Nhật đã chiếm Thượng Hải với sự trợ chiến của hải quân và không quân. Tổng tư lệnh Bộ tham mưu tại Tokyo đã quyết định không mở rộng thêm nữa cuộc chiến, vì số lượng tổn thất to lớn cũng như tinh thần đang suy sụp trong binh lính.
Thảm Sát Nam Kinh.
Khi quân đội Nhật Bản áp sát Nam Kinh, thường dân Trung Quốc lũ lượt bỏ chạy khỏi thành phố, và quân đội Trung Quốc đưa ra thi hành một chiến dịch tiêu thổ kháng chiến, với mục tiêu hủy hoại bất kỳ thứ gì có thể bị sử dụng bởi quân đội xâm lược Nhật Bản. Các mục tiêu bên trong và bên ngoài phạm vi thành phố như các trại lính, nhà cửa, Bộ thông tin Trung Quốc, rừng rú và thậm chí là toàn bộ các ngôi làng bị đốt cháy tận móng, ước tính giá trị của chúng lên tới 20 đến 30 triệu dollar Mỹ (1937).
Ngày 2 tháng 12, Nhật hoàng Showa chỉ định chú của mình là hoàng tử Asaka, làm tư lệnh cuộc xâm lược. Rất khó biết, với tư cách thành viên gia đình hoàng gia, Asaka liệu có quyền uy tối cao đối với Matsui Iwane, người chính thức là tổng tư lệnh, nhưng rõ ràng vì ở trong hàng ngũ sĩ quan cao cấp nhất, ông có quyền đối với các vị chỉ huy cấp sư đoàn, các trung tướng Nakajima Kesago và Yanagawa Heisuke.
An toàn khu Nam Kinh.
Nhiều người phương Tây đang sống trong thành phố ở thời điểm đó, là các thương nhân hay nhà truyền giáo cho nhiều tôn giáo khác nhau. Khi quân đội Nhật Bản bắt đầu các phi vụ ném bom vào Nam Kinh, đa số người phương Tây và toàn bộ các phóng viên đều quay về nước chỉ trừ 22 người, gồm cả doanh nhân John Rabe của tập đoàn Siemens (có lẽ vì tư cách một nhân vật Phát xít và Hiệp ước chống Quốc tế cộng sản song phương Nhật-Đức), ông đã ở lại và thành lập ra một ủy ban, gọi là Ủy ban Quốc tế về An toàn khu Nam Kinh. Rabe được bầu làm lãnh đạo ủy ban này. Ủy ban đã lập ra An toàn khu Nam Kinh ở khu vực phía tây thành phố. Chính phủ Nhật Bản đã chấp nhận không tấn công vào những vùng không có quân đội Trung Quốc chiếm giữ của thành phố, và các thành viên Ủy ban Quốc tế về An toàn khu Nam Kinh đã tìm cách thuyết phục chính phủ Trung Quốc rút lui toàn bộ binh sĩ của họ ra khỏi khu vực.
Người Nhật quả thực đã tôn trọng An toàn khu tới một mức độ nào đó; không một quả đạn pháo nào rơi vào khu vực này chỉ trừ vài viên đạn lạc. Trong thời gian hỗn loạn sau cuộc tấn công vào thành phố, một số người đã bị giết hại trong An toàn khu, nhưng những hành động bạo lực xảy ra trong khu vực này thấp hơn rất nhiều so với các nơi khác về mọi phương diện.
Bao vây thành phố.
Ngày 7 tháng 12, quân đội Nhật Bản ra một sắc lệnh cho tất cả binh lính, cho rằng hành động chiếm giữ một thủ đô nước ngoài là sự kiện chưa từng có với Quân đội Nhật Bản, vì thế tất cả những binh sĩ "phạm bất kỳ hành vi sai trái nào", "làm mất danh dự quân đội Nhật Bản", "cướp bóc", hay "để hỏa hoạn cháy lan, thậm chí vì lý do bất cẩn" sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc. Quân đội Nhật Bản tiếp tục tiến về phía trước, chọc thủng những giới tuyến cuối cùng của quân kháng chiến Trung Quốc, và tới sát ranh giới thành phố Nam Kinh ngày 9 tháng 12. Vào buổi trưa, quân đội thả truyền đơn vào thành phố, hối thúc Nam Kinh đầu hàng trong 24 giờ:
"Quân đội Nhật Bản, với sức mạnh 1 triệu quân, đã chinh phục Changshu (Thường Châu). Chúng tôi đã bao vây thành phố Nam K, trừng phạt chúng nghiêm khắc nhất, nhưng sẽ không gây hại tới những thường dân vô tội cũng như những binh sĩ trong quân đội Trung Quốc những người không kháng cự. Mong ước cao nhất của chúng tôi là bảo vệ nền văn hóa Đông Á. Nếu quân đội Trung Quốc tiếp tục kháng cự, chiến tranh tại Nam Kinh là không thể tránh khỏi. Nền văn hóa đã kéo dài hơn một nghìn năm sẽ chỉ còn là tro tàn, và chính phủ đã tồn tại từ hơn một thập kỷ nay sẽ bị đập tan. Bản sắc lệnh này được gửi dưới danh nghĩa Tổng tư lệnh Quân đội Nhật Bản. Hãy mở cửa thành phố Nam Kinh theo cách hòa bình, và tuân theo những huấn lệnh dưới đây."
Quân đội Nhật Bản chờ đợi câu trả lời. Tới 1 giờ chiều ngày hôm sau, khi không thấy phái đoàn Trung Quốc nào, Tướng Matsui Iwane ra lệnh dùng vũ lực chiếm Nam Kinh. Ngày 12 tháng 12, sau hai ngày tấn công của quân đội Nhật Bản, với pháo binh dồn dập và những cuộc ném bom từ trên không, Tướng Tang Sheng-chi ra lệnh quân sĩ rút lui. Diễn biến tiếp theo là sự hỗn loạn. Một số binh lính Trung Quốc vứt bỏ binh phục đóng giả thường dân để trốn tránh, nhiều người khác bị sĩ quan bắn vào lưng khi tìm cách trốn chạy. Những người đã ở bên ngoài thành phố bỏ chạy về phía bắc tới sông Dương Tử, chỉ để thấy rằng không còn một chiếc thuyền nào đợi ở đó để cứu họ. Một số người nhảy xuống làn nước mùa đông và chết đuối.
Ngày 13 tháng 12, người Nhật tiến vào thành phố Nam Kinh, không gặp bất kỳ một sự kháng cự quân sự nào.
Sự tàn bạo bắt đầu.
Những lời tường thuật của các nhân chứng tận mắt chứng kiến nói rằng trong thời gian sáu tuần sau khi Nam Kinh sụp đổ, quân đội Nhật Bản đã thực hiện các hành vi hãm hiếp, giết hại, trộm cướp, và đốt phá. Những lời chứng đáng tin cậy nhất là từ phía những người nước ngoài đã chọn lựa ở lại để bảo vệ những thường dân Trung Quốc khỏi những hành động kinh hoàng đó, gồm những cuốn nhật ký của John Rabe và Minnie Vautrin. Những nguồn tin khác gồm những lời tường thuật từ phía những người sống sót sau vụ thảm sát Nam Kinh. Ngoài ra còn có báo cáo từ phía những nhân chứng tận mắt chứng kiến khác như các nhà báo, cả phương Tây và Nhật Bản, cũng như nhật ký của một số thành viên quân đội. Một nhà truyền giáo Mỹ, John Magee, đã ở lại và quay được một cuốn phim tài liệu 16mm và một số bức ảnh về vụ thảm sát Nam Kinh. Ngoài ra, dù rất ít cựu chiến binh Nhật thừa nhận từng tham gia vào những hành động tàn ác tại Nam Kinh, một số người mà nổi tiếng nhất là Shiro Azuma đã thừa nhận có thực hiện hành vi đó.
Ngay sau khi thành phố sụp đổ, một nhóm người nước ngoài dưới sự chỉ huy của John Rabe đã hình thành nên Ủy ban Quốc tế gồm 15 người ngày 22 tháng 11 và lập ra An toàn khu Nam Kinh để bảo vệ mạng sống của các thường dân trong thành phố, với số lượng khoảng 200.000 tới 250.000 người. Có lẽ con số nạn nhân là dân thường sẽ cao hơn nhiều nếu vùng an toàn này không được lập ra. Rabe và nhà truyền giáo Mỹ Lewis S. C. Smythe, thư ký của Ủy ban Quốc tế, người cũng là một giáo sư xã hội học tại Đại học Nam Kinh, đã ghi lại những hành động tàn ác của quân đội Nhật Bản và gửi nhiều báo cáo phàn nàn tới đại sứ quán Nhật.
"Ba mươi cô gái bị bắt từ một trường ngoại ngữ tối qua, và hôm nay tôi đã nghe nhiều câu chuyện đau lòng về những cô gái bị bắt đó -- một trong số họ mới chỉ 12 tuổ, và khi nó chạy qua họ gào lên "Ging ming! Ging ming!"--Cứu mạng!" (Nhật ký Minnie Vautrin, 16 tháng 12 1937)
"Đó là một câu chuyện quá khủng khiếp để tường thuật lại; con không biết nên bắt đầu và kết thúc ở đâu. Con chưa bao giờ nghe hay đọc về một sự tàn bạo đến như vậy. Hãm hiếp: Tụi con ước tính ít nhất 1.000 vụ mỗi đêm và rất nhiều vào ban ngày. Trong trường hợp phản kháng hay bất kỳ điều gì có vẻ là sự bất tuân đó sẽ là một nhát lê đâm hay một viên đạn." (James McCallum, thư gửi về gia đình, 19 tháng 12 1937)
Tòa án Quân sự Quốc tế vùng Viễn Đông đã cho rằng 20.000 (và có lẽ có thể lên tới 80.000) phụ nữ đã bị hãm hiếp - họ ở trong độ tuổi từ thiếu niên cho tới già lão (tới 80 tuổi). Những vụ hãm hiếp thường diễn ra ở nơi công cộng ngay giữa ban ngày, thỉnh thoảng trước mặt cả người chồng hay gia đình nạn nhân. Một số lớn trong những vụ hãm hiếp đó mang tính hệ thống theo một quy trình với các binh sĩ đi tìm kiếm từng nhà để bắt các cô gái trẻ, rất nhiều phụ nữ bị bắt và bị hiếp dâm tập thể. Những phụ nữ đó bị giết hại ngay sau khi bị hãm hiếp, thường bị cắt xẻo thân mình. Theo một số lời chứng, các phụ nữ khác bị buộc phải vào trại mại dâm quân đội làm phụ nữ giải trí. Thậm chí còn có những câu chuyện kể rằng quân đội Nhật buộc nhiều gia đình phải thực hiện các hành vi loạn luân. Con trai bị buộc phải hiếp mẹ mình, những người cha bị buộc phải hiếp con gái. Một phụ nữ có thai bị binh lính Nhật hiếp dâm tập thể đã sinh con chỉ vài giờ sau đó; đứa trẻ hoàn toàn khỏe mạnh (Robert B. Edgerton, "Warriors of the Rising Sun"). Những vị sư sãi đã nguyện trọn đời chay tịnh bị buộc phải hiếp các phụ nữ để làm trò vui cho quân Nhật. Đàn ông Trung Quốc bị buộc phải hiếp các xác chết. Bất kỳ sự chống cự nào đều dẫn tới sự hành quyết. Tình trạng hãm hiếp đạt tới đỉnh điểm ngay sau khi thành phố sụp đổ nhưng nó còn tiếp tục kéo dài suốt thời gian chiếm đóng của Nhật Bản.
Nhiều người nước ngoài sống tại Nam Kinh vào thời điểm đó đã ghi lại những trải nghiệm của họ về điều đang diễn ra trong thành phố:
Robert Wilson trong bức thư của ông gửi về gia đình: "Sự tàn sát thường dân đang diễn ra một cách kinh hoàng. Tôi có thể viết nhiều trang kể lại những vụ hãm hiếp và sự tàn bạo hầu như đã vượt quá sự tưởng tượng. Hai thân hình bị đâm bằng lưỡi lê là những người còn sống sót duy nhất trong số bảy công nhân vệ sinh thành phố, những người đang ở trong trụ sở làm việc của họ khi quân đội Nhật tràn vào không có bất kỳ một sự cảnh báo nào hay một lý do nào họ giết năm người trong số đó và làm bị thương hai người đang tìm cách chạy trốn tới bệnh viện."
John Magee trong bức thư gửi cho vợ: "Chúng không chỉ giết bất kỳ tù nhân nào tìm thấy mà còn giết hại rất nhiều thường dân ở mọi lứa tuổ"
Robert Wilson trong một bức thư khác gửi về gia đình: "Chúng [binh lính Nhật] dùng lưỡi lê đâm một đứa trẻ, giết nó, và con đã mất một giờ rưỡi sáng nay để cứu chữa thân thể một đứa trẻ mới lên tám khác với năm vết lê đâm và một phát xuyên tới tận dạ dày nó, nhiều phần ruột đã lòi ra ngoài bụng."
Ngay sau khi thành phố sụp đổ, quân đội Nhật đã tiến hành một chiến dịch tìm kiếm rộng khắp với những cựu chiến binh đối phương với hàng ngàn thanh niên bị bắt giữ. Nhiều người bị mang tới Sông Dương Tử, bị hành quyết bằng súng máy để xác họ có thể trôi xuống Thượng Hải. Những người khác, theo báo cáo, đã bị sử dụng làm bia sống trong những bài tập lưỡi lê. Chặt đầu đã trở thành biện pháp giết người thông dụng nhất, tuy nhiên những hành động giết người tàn bạo khác như thiêu sống, đóng đinh lên cây, chôn sống, và treo cổ cũng được áp dụng. Một số người bị đánh tới chết. Người Nhật cũng có thể đơn giản hành quyết những người đi bộ trên đường phố, thường với lý do họ có thể là binh lính đang cải trang làm dân thường.
Hàng nghìn người bị giải đi và bị hành quyết tập thể tại một chiếc hố được gọi là "Hố mười nghìn xác", một cái rãnh dài khoảng 300 mét và rộng 5 mét. Vì những bản ghi chép không được giữ lại, những con số ước tính về số nạn nhân bị chôn trong hố này trong khoảng từ 4.000 tới 20.000 người. Tuy nhiên, đa số học giả và sử gia coi con số này ở khoảng 12.000 nạn nhân.
Phụ nữ và trẻ em cũng không thoát khỏi sự tàn bạo của cuộc thảm sát. Những nhân chứng kể lại việc các binh sĩ Nhật tung trẻ em lên không và đỡ chúng bằng lưỡi lê. Phụ nữ có thai thường trở thành mục tiêu bị giết hại, họ thường bị đâm lê vào bụng, và thỉnh thoảng bị giết sau khi đã bị hãm hiếp. Nhiều phụ nữ bị hãm hiếp tàn bạo rồi mới bị giết.
Cướp bóc và đốt phá.
Ước tính cho rằng hơn một phần ba và có thể lên tới hai phần ba thành phố đã bị phá hủy vì hành động đốt phá. Theo các báo cáo, quân đội Nhật đã đốt những tòa nhà mới xây của chính phủ và cả nhà của nhiều thường dân. Bên ngoài thành phố cũng phải hứng chịu nhiều sự đốt phá. Binh lính đi cướp bóc của cả người giàu lẫn người nghèo. Vì không có sự kháng cự từ phía quân đội cũng như thường dân Trung Quốc tại Nam Kinh nên binh lính Nhật thả sức cướp bóc tất cả những đồ giá trị khi họ thấy chúng. Điều này khiến nạn cướp phá, trộm cắp lan rộng.
Những con số ước tính số người chết.
Có nhiều sự tranh luận về tầm mức của những hành động tàn bạo trong chiến tranh tại Nam Kinh, đặc biệt về con số người chết. Những con số liên quan tới số nạn nhân chủ yếu dựa trên việc định nghĩa của các bên về phạm vi địa lý và thời gian kéo dài của sự kiện, cũng như định nghĩa của họ về từ "nạn nhân".
Tầm mức và thời gian.
Quan điểm thận trọng nhất cho rằng diện tích địa lý của vụ thảm sát chỉ nên được giới hạn trong phạm vi vài kilômét vuông của thành phố được gọi là An toàn khu, nơi các thường dân tụ tập sau cuộc xâm chiếm. Nhiều sử gia Nhật Bản đã nắm lấy sự thực rằng trong thời kỳ xâm chiếm của Nhật Bản chỉ có khoảng 200.000–250.000 thường dân tại Nam Kinh như thông báo của John Rabe, để cho rằng con số 300.000 người chết do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đưa ra là sự thổi phồng quá mức.
Tuy nhiên, nhiều nhà sử học cho tầm mức vụ việc diễn ra trên một diện tích rộng bao quanh thành phố. Gồm cả quận Xiaguan (vùng ngoại ô phía bắc thành phố Nam Kinh, kích thước khoảng 31 km vuông) và nhiều khu vực khác bên ngoài thành phố, dân số của cả vùng Nam Kinh trong khoảng 53.500.000 tới 63.500.000 người ngay trước cuộc chiếm đóng của Nhật Bản. Một số nhà sử học cũng gộp sáu huyện khác quanh Nam Kinh vào trong vụ việc này, được gọi là Khu đô thị Đặc biệt Nam Kinh.
Thời gian của vụ việc cũng được định nghĩa theo khu vực địa lý của nó: người Nhật vào khu vực này càng sớm thì thời gian càng kéo dài. Trận Nam Kinh chấm dứt ngày 13 tháng 12, khi các sư đoàn của Quân đội Nhật Bản vượt qua bức tường bao thành phố Nam Kinh. Tòa án Tội phạm Chiến tranh Tokyo đã định nghĩa giai đoạn cuộc thảm sát là sáu tuần kể từ sau sự kiện đó. Những ước tính khác thận trọng hơn nói cuộc thảm sát bắt đầu ngày 14 tháng 12, khi quân đội xâm nhập An toàn khu, và rằng nó chấm dứt sau 6 tuần. Các nhà sử học định nghĩa vụ Thảm sát Nam Kinh bắt đầu từ khi quân đội Nhật tiến vào tỉnh Giang Tô coi vụ thảm sát bắt đầu vào khoảng giữa tháng 11 tới đầu tháng 12 (Suzhou thất thủ ngày 19 tháng 11), và chấm dứt ở cuối tháng 3 năm 1938. Vì thế, số lượng nạn nhân do các nhà sử học này đưa ra cũng lớn hơn nhiều so với ước tính của những nguồn thận trọng hơn.
Xác định các nạn nhân.
Một điểm tranh luận khác là vấn đề những ai được coi là nạn nhân của những hành động tàn bạo. Tất cả các nhà sử học đồng ý rằng có nhiều thường dân đã thiệt mạng tại Nam Kinh. Trong suốt cuộc chiến tranh tại Trung Quốc, không bên nào bắt giữ nhiều tù binh chiến tranh. Quân đội Nhật thường đơn giản hành quyết những tù binh hay những binh lính Trung Quốc đầu hàng. Họ cũng hành quyết nhiều người bị họ coi là chiến binh du kích trong trang phục thường dân. Hiện không rõ có bao nhiêu thường dân vô tội đã bị xác nhận và giết hại nhầm theo cách này.
Tuy tất cả các nhà sử học đồng ý rằng thường dân phải được tính vào con số thiệt mạng trong vụ thảm sát, các nhóm khác nhau có những quan điểm khác nhau về tính chính xác của những điều sau: những binh sĩ thiệt mạng trong chiến đấu; những binh sĩ đầu hàng/bị bắt và bị hành quyết sau trận đánh; những chiến binh du kích trong trang phục thường dân; phụ nữ, trẻ em và người già rõ ràng là dân thường nhưng cũng bị giết hại. Không may thay, bằng chứng lưu trữ, như ghi chép về các cuộc chôn cất, thường chỉ đề cập tới số lượng thi thể, chứ không phải về đối tượng xuất thân của họ. Vì thế, chúng không có ý nghĩa trong việc xác định ai đã bị giết "một cách hợp pháp" và "bất hợp pháp". Cuộc tranh cãi vẫn đang tiếp diễn.
Những con số ước tính khác nhau.
Tòa án Quân sự Quốc tế vùng Viễn Đông đã ước tính trong hai bản báo cáo (có vẻ rất mâu thuẫn) rằng "hơn 200.000" và "hơn 100.000" thường dân và tù binh chiến tranh đã bị giết hại trong sáu tuần chiếm đóng đấu tiên. Con số này dựa trên những bản ghi chép về các vụ chôn cất do các tổ chức từ thiện gồm cả Red Swastika Society và Chung Shan Tang (Tsung Shan Tong)-nghiên cứu do tiến hành Smythe- đưa ra, và một số ước tính do những người sống sót tường thuật.
Năm 1947, tại Tòa án Tội phạm Chiến tranh Nam Kinh, lời tuyên án của Trung tướng Tani Hisao—chỉ huy Su đoàn số 6- đưa ra con số hơn 300.000 người chết. Ước tính này được đưa ra dựa trên những bản ghi chép về các vụ chôn cất và lời kể của các nhân chứng. Lời tuyên án kết luận khoảng 190.000 người đã bị giết hại trái phép tại nhiều địa điểm hành quyết và 150.000 người đã bị giết hại từng người (one-by-one). Con số 300.000 người chết là ước tính chính thức được khắc trên bức tường ở lối vào chính của "Đài tưởng niệm những Nạn nhân Yêu nước trong vụ Thảm sát Nam Kinh của Quân đội Nhật Bản" tại Nam Kinh.
Một số nhà sử học Nhật Bản hiện đại, như Kasahara Tokushi tại Đại học Tsuru và Fujiwara Akira, một giáo sư danh dự tại Đại học Hitotsubashi, đã quan tâm tới toàn bộ Khu vực đô thị Đặc biệt Nam Kinh, gồm cả thành phố và sáu quận lân cận, và đã đưa ra con số người chết xấp xỉ 200.000. Các nhà sử học Nhật Bản khác, dựa theo định nghĩa về vùng không gian địa lý và thời gian diễn ra cuộc thảm sát của họ, cho số người chết ở mức độ cao hơn từ 40.000 tới 300.000. Tại Trung Quốc ngày nay đa số những con số ước đoán về số nạn nhân trong vụ Thảm sát Nam Kinh trong khoảng từ 200.000 tới 400.000, và không một nhà sử học có danh tiếng nào đặt con số dưới 100.000 người.
Một tài liệu 42 phần của Cộng hòa Trung Hoa được đưa ra năm 1995 dưới tít "Một tấc sơn hà một tấc máu" (一寸河山一寸血), khẳng định rằng 340.000 thường dân Trung Quốc đã thiệt mạng tại thành phố Nam Kinh sau sự chiếm đóng của Nhật Bản, 150.000 người khác vì các trận ném bom và đấu súng trong 5 ngày chiến đấu, và 190.000 người trong vụ thảm sát, dựa trên bằng chứng được đưa ra trong những phiên Tòa tại Tokyo.
Những cuộc xét xử.
Sau bằng chứng về những hành động tàn bạo hàng loạt, Tướng Iwane Matsui đã bị phán xử về "những tội ác chống lại loài người" và, vào năm 1948, bị kết án tử hình tại Tòa án Tokyo. Matsui đã tìm cách bảo vệ Hoàng tử Asaka bằng cách chĩa mũi dùi về phía các sĩ quan chỉ huy cấp dưới. Các tướng Hisao Tani và Rensuke Isogai đều bị Tòa án Nam Kinh tuyên án tử hình.
Theo hiệp ước được ký kết giữa Tướng MacArthur và Hirohito, chính Hoàng đế và toàn thể các thành viên của gia đình hoàng gia sẽ không bị truy tố. Hoàng tử Asaka, người là sĩ quan cấp cao tại thành phố ở thời điểm xảy ra vụ thảm sát, chỉ phải ra cung khai một lần tại Nhóm Truy tố Quốc tế thuộc Tòa án Tokyo ngày 1 tháng 5 năm 1946. Asaka bác bỏ bất kỳ một cuộc thảm sát nào với thường dân Trung Quốc và tuyên bố chưa bao giờ nhận được những lời phàn nàn về hành vi của binh lính dưới quyền mình.
Tường thuật trong sử sách và sự tranh luận.
Hiện tại, cả Trung Quốc và Nhật Bản đều thừa nhận các hành vi tàn ác có xảy ra trong chiến tranh. Tuy nhiên, những tranh cãi về sự miêu tả những sự kiện đó đã trở thành một vấn đề gây căng thẳng chính trị giữa Trung Quốc và Nhật Bản.
Những hành động tàn ác ngày càng lan rộng của binh lính Nhật Bản tại Nam Kinh lần đầu tiên đã được thông tin tới Thế giới thông qua các phóng viên phương Tây tại An toàn khu Nam Kinh. Ví dụ, ngày 11 tháng 1 năm 1938, phóng viên tờ "Manchester Guardian", Harold Timperley, đã gửi báo cáo về ước tính của mình "không ít hơn 300.000 thường dân Trung Quốc" đã bị giết hại trong những cuộc "tắm máu" tại Nam Kinh và những nơi khác. Báo cáo của ông đã được Kōki Hirota truyền từ Thượng Hải tới Tokyo, và được chuyển tới các đại sứ quán Nhật tại châu Âu cũng như Hoa Kỳ. Những báo cáo về các hành động tàn bạo của người Nhật chống lại thường dân Trung Hoa của các nhà báo Mỹ, cũng như Panay incident, ngay trước việc chiếm đóng Nam Kinh, đã giúp thay đổi hướng ý kiến đại chúng Mỹ chống lại Nhật Bản. Những điều đó, dù chỉ một phần, đã dẫn tới một loạt các sự kiện dẫn tới việc Hoa Kỳ tuyên chiến với Nhật Bản sau vụ tấn công Trân Châu Cảng của họ.
Sự quan tâm của Nhật sau 1972.
Sự quan tâm tới vụ Thảm sát Nam Kinh đã mất dần và hầu như bị quên lãng cho tới tận năm 1972, năm Trung Quốc và Nhật Bản bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Tại Trung Quốc, để nuôi dưỡng mối quan hệ thân thiện mới được thành lập với Nhật Bản, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông bề ngoài có vẻ không muốn đề cập tới vụ Thảm sát Nam Kinh trên các phương tiện truyền thông, vốn bị Đảng cộng sản trực tiếp điều khiển. Vì thế, toàn bộ cuộc tranh cãi về vụ thảm sát Nam Kinh trong thập niên 1970 chỉ diễn ra tại Nhật Bản. Trong lễ kỷ niệm sự kiện bình thường hóa quan hệ, một tờ báo lớn tại Nhật Bản, tờ "Asahi Shimbun" đã cho đăng một loạt bài báo với tựa đề "Travels in China" (中国の旅, chūgoku no tabi), do nhà báo Katsuichi Honda viết. Các bài báo đã mô tả chi tiết những hành động tàn bạo của Quân đội Nhật Bản tại Trung Quốc, gồm cả vụ Thảm sát Nam Kinh. Trong loạt bài này, Honda đã đề cập tới một sự kiện khi hai sĩ quan Nhật Bản thi chặt đầu 100 người bằng thanh kiếm của mình. Sự thực về vụ việc vẫn đang bị tranh cãi gay gắt và những người chỉ trích vẫn cố gắng nắm lấy cơ hội để đưa ra ý kiến của mình về sự kiện, cũng như về cả vụ Thảm sát Nam Kinh và toàn bộ các vấn đề liên quan. Đây được coi là sự bắt đầu của cuộc tranh cãi về vụ Thảm sát Nam Kinh tại Nhật Bản.
Cuộc tranh cãi liên quan tới sự "xảy ra" trên thực tế của những vụ giết hại và hãm hiếp diễn ra chủ yếu trong thập kỷ 1970. Ý kiến của Chính phủ Trung Quốc về vấn đề này khi ấy đã bị chỉ trích, bởi vì họ dựa quá nhiều vào những lời chứng từ phía các cá nhân và những câu chuyện ít tính tin cậy. Những bản ghi chép về các cuộc chôn cất và các bức hình được đệ trình tại Tòa án Tội phạm Chiến tranh Tokyo cũng bị bác bỏ, với lý lẽ cho rằng chúng là những giả mạo của chính phủ Trung Quốc, những bằng chứng đã bị gán ghép một cách cố ý hay sai lầm cho vụ Thảm sát Nam Kinh.
Nhà phân phối Nhật của bộ phim "Hoàng đế cuối cùng" (1987) đã xuất bản phim lưu trữ về vụ Hãm hiếp Nam Kinh của bộ phim này.
Cuộc tranh cãi về sách giáo khoa Ienaga.
Tranh cãi một lần nữa lại nổ ra năm 1982, khi Bộ giáo dục Nhật Bản kiểm duyệt tất cả những lời đề cập tới vụ Thảm sát Nam Kinh trong một cuốn sách sử. Lý do được bộ đưa ra là vụ Thảm sát Nam Kinh không phải là một sự kiện lịch sử đích thực. Tác giả của cuốn sách, giáo sư Saburō Ienaga, đã kiện Bộ giáo dục trong một vụ kiện kéo dài, và thắng kiện với tư cách nguyên đơn năm 1997.
Một số vị bộ trưởng trong nội các Nhật Bản, cũng như một số nhà chính trị cao cấp, cũng đã đưa ra những lời bình luận bác bỏ những hành động tàn ác do Quân đội Nhật Bản tiến hành trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau này một số người đã từ chức sau những hành động phản đối từ phía Trung Quốc và Hàn Quốc. Để đối phó lại việc đó và những sự việc tương tự, một số nhà báo và sử gia Nhật Bản đã thành lập Nhóm Nghiên cứu vụ việc Nam Kinh ("Nankin Jiken Chōsa Kenkyūkai"). Nhóm nghiên cứu đã thu thập rất nhiều tài liệu lịch sử cũng như lời chứng từ phía những nguồn tin Trung Quốc và Nhật Bản.
Các thành viên bảo thủ hơn bên trong chính phủ cảm thấy sự khám phá những tội ác do quân đội Nhật Bản tiến hành đã tạo ra một phong trào Chủ nghĩa Quốc gia Trung Quốc. Họ bị buộc tội đã cố tình giảm bớt số lượng thương vong bằng cách thao túng sửa đổi dữ liệu.
|
Bói bằng cỏ thi
Bói bằng cỏ thi là một hình thức bói Dịch, lập quẻ bằng cách sắp các cọng cỏ thi theo một quy tắc riêng.
Bói Dịch nguyên là phép xem bói bằng mai rùa (bói giáp cốt). Xưa kia, các thuật sĩ xem hoa văn trên mai rùa mà suy đoán khí hậu, thời tiết, các điều lành dữ... Về sau, phép bói cỏ thi được dùng thay thế hoặc bổ sung cho phép bói mai rùa.
Phương pháp bói bằng cỏ thi được ghi trong "Hệ từ truyện" (chương IX và chương XI, thiên thượng). Sau này, người ta đơn giản hóa việc lấy quẻ Dịch bằng cách gieo đồng xu (còn gọi là lắc hào).
Cách lập quẻ Dịch bằng cỏ thi.
Gieo hào 1 (hào sơ).
Tổng các que trên bàn tay trái là 5 hoặc 9 (9 sẽ được xem là 2, 5 sẽ được xem là 3). Để số que (5 hoặc 9) này qua một bên. Đó là kết quả lần 1.
Cộng 3 kết quả trên với nhau ta được một hào. Thí dụ: Lần 1 được 5 que, lần hai được 8 que, lần 3 được 4 que. Vì 5 kể là 3, 8 kể là 2, 4 kể là 3 nên tổng (5 +8 +4) phải được kể là 3 + 2 +3 = 8.
Dựa theo bảng bói để biết nó là hào gì:
Hào sơ mới gieo được là số 8, vậy nó là hào thiếu âm.
Gom lại đủ 49 que bói, thao tác y hệt như trên, sau 3 lần ta sẽ được một tổng có thể là 6 hoặc 7 hoặc 8 hoặc 9. Rồi căn cứ vào bảng bói trên mà biết đó là hào gì.
Gieo hào 3, 4, 5, 6.
Thực hiện như trên.
Như vậy, mất 18 lần thao tác ta mới lập được một quẻ bói.
Sau khi lập được quẻ Dịch với quẻ gốc (quẻ chủ), hào động và quẻ biến (nếu có), người giải đoán căn cứ lời quẻ (thoán từ), lời hào (hào từ) trong Kinh Dịch để luận đoán sự lành dữ, tốt xấu cho đương sự.
Lời giải là sự tổng hợp của thoán từ và hào từ của quẻ gieo được, chú trọng nhất là hào động. Ngoài ra cần xét thêm quẻ biến từ hào động và quẻ hỗ. Khi xét quẻ biến thì bỏ đi ý nghĩa của hào tương ứng với hào động. Trong bói toán, tính trực giác của người giải đoán là rất quan trọng cho kết quả giải đoán.
|
Bát tự Hà Lạc
Bát tự Hà Lạc (có sách ghi là Tám chữ Hà Lạc) là một hình thức bói toán được xây dựng trên cơ sở triết lý của Kinh Dịch với các thuyết Can Chi, âm dương, ngũ hà; căn cứ vào giờ, ngày, tháng, năm sinh theo âm lịch và giới tính.
"Bát tự" là "tám chữ", đó là:
"Hà Lạc" là gọi tắt của Hà đồ và Lạc thư.
Đối tượng dự trắc.
Mệnh vận của người (tương tự như Tử vi, Tử Bình)
2. Từ Bát tự, căn cứ Bảng trị số của Can và Bảng trị số của Chi, tính trị số Hà Lạc.
Bảng trị số của Can (10 thiên can phối hợp Lạc đồ)
Ất và Quý: 2
Số 5 đứng giữa không đi với Can nào.
Bảng trị số của Chi (12 địa chi kết hợp Hà Đồ)
Hợi Tý là Thủy: Sinh ở số 1, thành ở số 6.
Tỵ Ngọ là Hỏa: Sinh ở số 2, thành ở số 7.
Dần Mão là Mộc: Sinh ở số 3, thành ở số 8.
Thân Dậu là Kim: Sinh ở số 4, thành ở số 9.
Thìn Tuất - Sửu Mùi là Thổ: Sinh ở số 5, thành ở số 10.
7. Tính Đại Vận và tính Lưu Niên.
7.1. Thế nào là đại vận ?
Đời người ta, từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, chia ra làm nhiều thời kỳ, hay giai đoạn. Mỗi thời kỳ ấy gồm nhiều năm và ít nhiều có tính cách chung không giống hẳn như thời kỳ khác, hoặc thịnh suy bĩ thái, hoặc đắc thất hanh truân.
Cách tính đại vận thì bắt đầu khởi lên 1 từ Nguyên đường, rồi cứ đi lên, mỗi hào là 1 Đ-V gồm hoặc 6 năm hoặc 9 năm.
Đi lên đến Hào 6 thì lại lộn trở xuống Hào 1 ở bên dưới Nguyên-đường để dùng nốt hào nào mà chưa đi tới. Nghĩa là phải đi hết 6 hào của quẻ T-T, rồi mới sang H-T, mà ở đây cũng phải bắt đầu đi từ N-Đ của H-T để tiếp theo Đ-V trước của T-T, và cũng tính đi lên đi xuống như ở T-T.
TIÊN THIÊN HẬU THIÊN
Thủy hỏa Ký tế—Biến-- Hỏa địa Tấn
NĐ------ 1-9 -- --67-72
-- --25-30 NĐ-- --46-51
(Nên nhận xét kỹ lưỡng: Những hào dương đều gồm 9 năm và những hào âm đều gồm 6 năm. Số 45 ở T-T là năm cuối cùng của tiền vận. Số 46 của H-T là năm bắt đầu của hậu vận).
- Các đại vận liên tiếp nhau đi lên từ trước mặt N-Đ rồi lại trở về sau lưng. N-Đ làm thành một vòng kín (không hở).
- Những số đặt cạnh từng hào đều là số năm của Đ-V cả. Số cuối cùng của Đ-V trước tăng thêm 1 làm thành số bắt đầu của Đ-V sau.
Nếu là hào âm thì số bắt đầu ấy cộng thêm 5 thành đủ 6 năm của Đ-V âm. Nếu là hào dương thì số bắt đầu ấy cộng thêm 8 thành đủ 9 năm cửa Đ-V dương.
7.2. Thế nào là lưu niên ?
Lưu niên là hạn đi từng năm một, cũng như tiểu hạn của tử vi. Đại vận của Hà lạc cọn gọi là Đại tượng và lưu niên là tiểu tượng.
Cách tính lưu niên (hay tuế vận)
a). Nếu đại vận là hào âm thì cứ việc biến ngay từ hào ấy bất luận Âm tuế hay Dương tuế. Quẻ do hào biến lần đầu là hạn lưu niên năm thứ nhất, cứ biến lần hết 6 hào là đúng 6 năm.
b). Nếu Đ-V là hào dương thì phải xem Âm tuế mới biến ngay còn Dương tuế thì không biến (bất biến) nhưng dù biến hay bất biến thì hào ấy cũng được kể là năm thứ nhứt, hào của năm thứ nhất ấy coi như hào thế. Lấy hào ứng của nó mà biến đi thì được quẻ của năm thứ hai. Được năm thứ hai rồi thì lại trở về biến hào thế là được quẻ năm thứ ba. Hết ba năm rồi, thì theo lệ thường như đại vận âm nghĩa là cứ biến mỗi năm một hào, hết 6 hào là vừa đúng 6 năm nữa, 6 năm này cộng với 3 năm trước, vị chi là 9 năm. Vậy tóm tắt: Đ-V hào âm gồm 6 năm. Đ-V hào dương gồm 9 năm và.
THÍ DỤ: (Lấy ở sách Hà lạc Lý số)
1 tuổi được quẻ Thiên hỏa đồng nhân, Nguyên đường ngôi Hào 2 âm.
- Muốn tính lưu niên của Đại vận hào N-Đ tức hào âm từ lên 1 đến lên 6.
- Đ-V là hào âm thì cứ biến ngay.
Năm thứ 1- Hào 2 âm quẻ Đồng Nhân biến thành Hào 2 dương quẻ Thuần Kiền.
Năm thứ 2- Hào 3 dương quẻ Thuần Kiền của năm thứ 1 biến thành Hào 3 âm quẻ Thiên Trạch Lý.
Năm thứ 3- Hào 4 dương quẻ Lý (của năm thứ 2) biến thành Hào 4 âm quẻ Phong Trạch Trung Phu.
Năm thứ 4- Hào 5 dương quẻ Trung Phu (của năm thứ 3) biến thành Hào 5 âm quẻ Sơn Trạch Tổn.
Năm thứ 5- Hào 6 dương quẻ Tốn (của năm thứ 4) biến thành Hào 6 âm quẻ Địa Trạch Lâm.
Năm thứ 6- Hào 1 dương quẻ Lâm (của năm thứ 5) biến thành Hào 1 âm Địa Thủy Sư.
(Thế là biến đủ 6 hào thành quẻ 6 năm. Nhớ rằng: Quẻ lưu niên năm sau là do quẻ lưu niên năm trước biến mà thành ra, chứ không phải do quẻ T-T hay H-T lúc mới bắt đầu tính Đ-V.
Theo bốc dịch thì X là hào âm biến ra hào dương, và dấu O là hào dương biến ra hào âm).
- Vẫn quẻ đồng nhân trên, muốn tính lưu niên của đại vận Hào 3 dương từ 7 đến 15 gồm 9 năm.
Cần nhớ rằng: Đ-V hào dương nếu gặp Dương tuế thì bất biến gặp Âm tuế mười biến. Như gặp năm Nhâm Tý thì Hào 3 dương trên này bất biến và được dùng luôn làm quẻ năm thứ nhất.
THIÊN HỎA ĐỒNG NHÂN
Tính lưu niên của đại vận Hào 3 dương từ 7 đến 15 gồm 9 năm.
Năm thứ 1- Để nguyên Hào 3 dương không biến (vì gặp Dương tuế).
Năm thứ 2- Hào 6 dương lấy làm ứng (vì Thế ở Hào 3 dương) biến thành Hào 6 âm quẻ Trạch Hỏa Cách.
Năm thứ 3- Hào 3 dương quẻ Cách (của năm thứ 2) tức là Hào Thế, biến thành Hào 3 âm quẻ Trạch Lôi Tùy.
Năm thứ 4- (đến đây T và Ư hết vai trò rồi, hào bắt đầu biến theo thường lệ) Hào 4 dương quẻ Túy (của năm thứ 3) biến thành hào âm quẻ Thủy Lôi Truân.
Năm thứ 5- Hào 5 dương quẻ Truân (của năm thứ 4) biến thành Hào 5 âm quẻ Địa Lôi Phục.
Năm thứ 6- Hào 6 âm quẻ Phục (của năm thứ 5) biến thành Hào 6 dương quẻ Sơn Lôi Di.
Năm thứ 7- Hào 1 dương quẻ Di (của năm thứ 6) biến thành Hào 1 âm quẻ Sơn Địa Bắc.
Năm thứ 8- Hào 2 âm quẻ Bắc (của năm thứ 7) biến thành Hào 2 dương quẻ Sơn Thủy Mông.
Năm thứ 9- Hào 3 âm quẻ Mông (của năm thứ 8) biến thành Hào 3 dương quẻ Sơn Phong Cổ.
Thế là tính đủ 9 năm của 1 đại vận dương.
(Nhớ rằng: Đại vận nào thì Thế ngồi ngay ở hào ấy và Ứng ở cách T 2 hào (hoặc ở trên hoặc ở dưới) vì T và Ư cần để tính 3 năm đầu của Đ.V dương.
- Năm thứ 1: Hào 3 dương, quẻ Đồng Nhân
- Năm thứ 2: Hào 6 âm, quẻ Cách
- Năm thứ 3: Hào 3 âm, quẻ Tùy
- Năm thứ 4: Hào 4 âm, quẻ Truân
- Năm thứ 5: Hào 5 âm, quẻ Phục
- Năm thứ 6: Hào 6 dương, quẻ Di
- Năm thứ 7: Hào 1 âm, quẻ Bác
- Năm thứ 8: Hào 2 dương, quẻ Mông
- Năm thứ 9: Hào 3 dương, quẻ Cổ
10 Thể cách tốt của mệnh.
hay (Quý mệnh thập cát thể)
Trong 10 thể cách trên, người nào được:
10 Thể cách không tốt của mệnh.
Trái với 10 thể cách tốt trên, lại có:
Trong 10 Thể cách không tốt vừa kể, người nào phạm phải:
Theo tác giả Học Năng: Phạm vào 10 cách ấy không chết non thì cũng nghèo hèn. Nên đo lường nặng nhẹ để định xấu tốt.
Hoặc vừa nghịch thời, phạm kỵ mà hung nhiều thì thuộc bọn người khát cái hoặc bị chém giết hoặc hung nhiều cát ít thì là mệnh Cửu Lưu Tăng Đạo.
Ví bằng được Hóa Công và Thiên địa nguyên khí đầy đủ thì tuy gian nan nhưng rồi cũng được hưởng phúc lành, trong cảnh Tân Khổ mà cũng tạm an vui. Nếu chẳng có gì cả thì tất xấu lắm.
Nói gộp các Cách tốt xấu vào 1 mục thì:
Trừ 3 Thể cách:
Tên quẻ tốt hay xấu
Lời hào tốt hay xấu
Được mùa sanh hay không được mùa sanh.
Nội dung lời đoán giải một lá số Hà Lạc.
1. Nhận xét tổng quát: Những thông tin quan trọng nhất ảnh hưởng đến tính cách và số phận của đương số. Phân tích các thông tin này ở:
• Tám chữ can chi và ngũ hành tương ứng với quẻ.
• Trị số âm và dương
• Hóa công, Thiên nguyên khí và Địa nguyên khí
• Mệnh hợp cách và mệnh không hợp cách
• Phân tích quẻ tiên thiên, nguyên đường, quẻ hậu thiên
• Dự báo những nét lớn về Tiền vận, đối chiếu giữa tiền vận và hậu vận.
• Dự báo về Tiền vận, hậu vận, tiểu vận.
2. Tính khoa học và tính nghệ thuật trong giải đoán lá số Hà Lạc
• Vấn đề số và lý
• Tính cách và số phận
• Tham khảo các môn lý số đoán mệnh khác (Tử vi, Mai Hoa Dịch số, Tử Bình…)
• Vai trò quẻ Tiên thiên, Hậu thiên và quẻ Hỗ.
Chương trình lập quẻ Bát Tự Hà Lạc
|
Kizhi (tiếng Nga: Кижи) là một hòn đảo trên hồ Onega tại Karelia, Nga (tọa độ 62°04′vĩ bắc, 35°14′17″kinh đông) với các nhà thờ, nhà và các công trình khác bằng gỗ. Nó là một trong những điểm đến phổ biến nhất của du khách tại Nga. Phần lớn trong chúng được dựng lên tại chỗ, những công trình còn lại được chuyển từ các nơi khác đến. Theo một trong các truyền thuyết, các tòa nhà được làm từ một cây búa (không có các công cụ khác), mà sau đó người thợ cả đã ném nó xuống hồ.
Hiện nay tại Kizhi là Viện bảo tàng-bảo tồn dân tộc học và kiến trúc-lịch sử quốc gia Liên bang Nga (GIAEMZ). Kizhi từ năm 1990 đã được đưa vào trong danh sách di sản thế giới và nằm dưới sự bảo vệ của UNESCO.
Đảo này dài khoảng 7 km và rộng 0,5 km. Nó được bao bọc bởi khoảng 5.000 đảo khác, phần lớn trong số đó rất nhỏ-một số trong chúng chỉ có kích thước khoảng 2x2 m, mặc dù một số đảo khác lại khá lớn, có đảo dài tới 35 km. Kizhi là nơi định cư thời trung cổ bao gồm trên 100 làng vào thế kỷ 16. Các ghi chép đầu tiên nhắc tới Kizhi có từ thế kỷ 12.
Nổi bật nhất trong số các công trình kiến trúc của nó là Nhà thờ Biến hình với 22 chóp mái, với khung tranh thánh kiểu barốc tuyệt đẹp.
Nhà thờ Pokrov với 9 chóp mái được xây dựng gần đó vào năm 1764 và gác chuông được bổ sung khoảng những năm 1862-1874. Điều gây ấn tượng nhất là các công trình xây dựng này hoàn toàn không sử dụng đinh hay các vật liệu kết nối bằng kim loại nào.
Các công trình xây dựng nhỏ bằng gỗ đã được chuyển từ các khu vực khác nhau tại Karelia tới đây, đáng chú ý là nhà thờ Lazar Phục sinh thế kỷ 14 từ tu viện Muromskii và nó là nhà thờ gỗ cổ nhất tại Nga.
Viện bảo tàng-bảo tồn kiến trúc gỗ Nga được chính quyền Liên Xô thành lập tại Kizhi năm 1960.
Năm 1990, Kizhi Pogost, một di tích lịch sử có niên đại từ thế kỷ 17 trên đảo, đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới và năm 1993, nó đã được liệt kê như là một di sản văn hóa của nước Nga.
Các di sản có giá trị.
Nhà thờ Biến hình.
Nhà thờ Biến hình (của Chúa) (tức nhà thờ Preobrazhenie Gospodnya) thuộc di tích lịch sử Kizhi Pogost, ước đoán được xây dựng trong khoảng thời gian những năm từ 1714-1722, là công trình kiệt xuất nhất và đáng chú ý nhất của quần thể kiến trúc này. Là di tích có giá trị toàn Liên bang [Nga], di tích di sản văn hóa của Liên bang Nga (tức hạng mục có giá trị đặc biệt).
Nó được coi là xây dựng theo mô hình mẫu của Nhà thờ Pokrova Presvyatoi Bogoroditsy (xây dựng năm 1708) ở tỉnh Vologda.
Nhà thờ này được xây dựng tại khu vực trước đây bị sét đánh cháy. Tên tuổi thực sự của những người xây dựng ra nó hiện nay vẫn không rõ. Chiều cao của nhà thờ là 37 m. Nhà thờ được xây dựng theo các truyền thống của nghề mộc Nga - không có đinh (ngoại trừ các "lớp vảy" trên các "lưỡi cày" của mái vòm - tại đó chúng được gắn với nhau bằng các đinh nhỏ). Theo kiểu của nó thì nhà thờ này thuộc loại "mùa hè", về mùa đông không thể tiến hành làm lễ ở đây được. Nhà thờ Biến hình đại diện cho loại các nhà thờ nhiều tầng hình bát giác. Thành phần cơ bản của công trình là thành gỗ tám mặt (bát giác) phân bổ theo các hướng chiếu sáng. Từ phía tây tới thành gỗ cơ bản là sự tiếp giáp với vách gỗ không cao của nhà ăn. Trên bát giác dưới người ta còn bố trí thêm 2 thành gỗ bát giác có kích thước nhỏ hơn.
Nhà thờ này có 22 chóp mái, sắp xếp thành các tầng trên các mái, có dạng cong đều kiểu nấm. Hình dạng và kích thước các chóp mái thay đổi theo tầng, tạo ra một bức tranh hài hòa đặc biệt do hình dáng của nhà thờ. Phòng ăn được đóng lại bằng các cánh cửa có ba trục lăn. Lối vào trong nhà thờ được làm thành dạng bậc tam cấp hai lối vào có mái che trên các côngxon.
Khung tranh tượng thánh có 4 tầng, tạo thành từ 102 tranh thánh. Niên đại của khung tranh thánh vẫn chưa được xác định một cách chính xác: Về cơ bản nó có từ nửa sau thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19. Các tranh thánh theo thời gian vẽ và các nét đặc biệt của kiểu dáng có thể chia thành 3 nhóm chính: hai tranh thánh cổ nhất là "Biến hình" và "Pokrov" có từ cuối thế kỷ 17 và là điển hình cho phong cách hội họa miền bắc. Phần cơ bản của các tranh thánh dãy dưới (bản địa) tạo thành nhóm tranh thánh thứ hai, có vào nửa sau thế kỷ 18. Các tranh thánh của 3 tầng trên cao tạo thành nhóm thứ ba và có vào khoảng đầu thế kỷ 18 và có lẽ được đưa từ nơi khác đến.
Thành gỗ của nhà thờ được dựng lên mà không có móng đá, chỉ ở nhà thờ phụ bên hông phía tây của nhà thờ này mới có móng đá (năm 1870). Các góc của nhà thờ được ốp bằng gỗ thông đuôi ngựa (chi "Pinus"). Mái của nhà ăn, bậc tam cấp được ốp từ các tấm ván gỗ thông đuôi ngựa và vân sam (chi "Picea") dọc theo các ván gỗ bạch dương (chi "Betula"). Tại các kết cấu ẩn người ta dùng các chi tiết làm từ gỗ bạch dương. Các "lưỡi cày" làm từ gỗ liễu hoàn diệp ("Populus tremula").
Nhà thờ này là dạng "mùa đông" (có sưởi ấm), tại đây có thể tiến hành lễ từ 1 tháng 10 tới Lễ Phục sinh. Người ta cho rằng nhà thờ Pokrov được xây dựng sau nhà thờ Preobrazhen khoảng 50 năm.
Khung tranh tượng thánh ban đầu của nhà thờ Pokrov đã bị mất. Khung hiện tại được phục chế trong những năm thập niên 1950 từ các tranh thánh Zaonezh trong khoảng thế kỷ 17 tới đầu thế kỷ 18, trong số đó đáng chú ý là tranh "Điều kỳ diệu về Phlora và Lavra".
Gác chuông hoàn tất quần thể kiến trúc Kizhi. Nó được dựng lên khoảng những năm 1862-1874 tại khu vực của gác chuông cũ đã bị hỏng.
Hàng rào gỗ nguyên thủy không tồn tại đến ngày nay, nó được phục chế lại năm 1959 theo mẫu còn giữ được trên các công sự gỗ ở miền bắc.
Nhà thờ Lazar Phục sinh.
Được chuyển từ tu viện Muromskii. Nhà thờ khiêm tốn này có khung tranh thánh với hai tầng tranh tượng thánh, có lẽ không trước thế kỷ 16.
Nhà thờ nhỏ Mikhail Arkhangel.
Được chuyển từ làng Lelikozero. Trong nhà thờ nhỏ này còn giữ được khung tranh thánh và trần được tô điểm từ các tranh thánh bản địa cuối thế kỷ 17.
|
Iowa (phát âm là "Ai-ô-va") là một tiểu bang thuộc miền Trung Tây Hoa Kỳ. Iowa giáp với Minnesota về phía bắc, Nebraska và Nam Dakota về phía tây, Missouri về phía nam, và Wisconsin và Illinois về phía đông. Nó có hai tên hiệu là "Tiểu bang Ngô cao" ("The Tall Corn State") và "Tiểu bang Hawkeye" ("The Hawkeye State") theo tên Black Hawk.
Đây là nơi sinh của Tổng thống Herbert Hoover (tại West Branch).
Sông Mississippi là đường biên giới phía đông của tiểu bang. Ranh giới bên tây gồm sông Missouri từ Thành phố Sioux trở về phía nam và sông Big Sioux trở về phía bắc. Có vài hồ tự nhiên ở tiểu bang này, nổi tiếng nhất là hồ Linh hồn ("Spirit Lake"), hồ Tây Okoboji, và hồ Đông Okoboji vào miền tây bắc của Iowa ("xem Iowa Great Lakes"). Các hồ nhân tạo bao gồm hồ Odessa, hồ Saylorville, hồ Đá đỏ ("Lake Red Rock"), và hồ Rathbun.
Địa hình của tiểu bang là đồng bằng đồi nhỏ. Những đồi hoàng thổ nằm trên đường biên giới tây của tiểu bang. Vài trong những đồi này dày đến vài trăm foot. Vào miền đông bắc theo sông Mississippi có một phần của Đới Phi đất bồi, ở đấy đất có những đồi gồ ghề thấp có cây tùng bách – loại đất bất thường trong Idaho.
Nơi thấp nhất là Keokuk ở miền đông nam Iowa, có độ cao 146 mét (480 foot). Nơi cao nhất, cao 509 m (1.670 foot), là đỉnh Hawkeye, nằm ở trại nuôi súc vật về phía bắc của Sibley vào miền tây bắc của Iowa. Độ cao trung bình của tiểu bang là 335 m (1.099 foot). Tiểu bang trải qua 145.743 km² (56.271 dặm vuông), tức là độ cao chỉ thay đổi tí.
Iowa có 99 quận. Thủ đô là Des Moines, thuộc về Quận Polk.
Các vùng dưới quyền Dịch vụ Vườn Quốc gia bao gồm:
Các thành phố quan trọng.
Các thống kê dân số trong ngoặc đơn dựa trên số ước lược năm 2004, trừ các số có dấu *, những con số đó được lấy từ cuộc điều tra dân số đặc biệt năm 2005. Các số khu vực thống kê đô thị được ước lượng năm 2005.
Các khu vực đô thị hơn 100.000 người:
Các thành phố hơn 10.000 người:
|
Vườn Treo Babylon là một trong Bảy kỳ quan thế giới cố đại được nhắc đến trong văn hóa Hy Lạp cổ đại. Nó được ca ngợi là một thành tựu nổi bật về kỹ thuật xây dựng với một chuỗi vườn bậc thang, có đủ các loại cây, cây bụi và cây leo đa dạng, tạo nên một ngọn núi xanh lớn được đắp bởi gạch bùn. Vườn treo được cho là được xây dựng tại thành phố cổ đại Babylon, gần thành phố Hillah tỉnh Babil, Iraq ngày nay. Tên của nó được lấy nguồn gốc từ chữ Hy Lạp "kremastós" (κρεμαστός có nghĩa là "treo qua"), dùng để chỉ những cây cối được trồng trên một cấu trúc trên cao như là ban công hay sân thượng.
Theo một truyền thuyết, vườn treo nằm kế bên một cung điện rất lớn được biết đến với cái tên "Kì quan của nhân loại," được xây dựng bởi Nebuchadnezzar II thời Tân Babylon (trị vì 605- 562 TCN), dành tặng cho vợ của mình, Amytis người Media, để làm bà khuây khỏa nỗi nhớ quê hương, nơi vốn có những ngọn đồi và thung lũng xanh tươi. Điều này được ghi chép lại bởi một tu sĩ người Babylon, Berossus, vào khoảng 290 TCN, sau này được dẫn lại bởi Josephus. Vườn treo cũng được gắn với vị nữ vương huyền thoại Semiramis, người được cho là đã trị vì Babylon vào thế kỷ thứ 9 TCN, do đó còn có một tên gọi khác là "Vườn treo của Semiramis."
Vườn treo là công trình duy nhất trong số Bảy kỳ quan thế giới cổ đại mà vị trí vẫn chưa được xác định chính xác. Không có văn bản thời Babylon còn tồn tại nào nhắc tới vườn treo, và không có bằng chứng khảo cổ vững chắc nào được tìm thấy tại Babylon. Có ba giả thuyết được đưa ra để giải thích cho vấn đề này. Thứ nhất, công trình chỉ là một huyền thoại, và các mô tả được nhắc đến trong ghi chép của các tác giả Hy Lạp và La Mã cổ đại như Strabo, Diodorus Siculus và Quintus Curtius Rufus đã tô vẽ một hình ảnh lý tưởng hóa về một khu vườn phương Đông. Thứ hai, Vườn treo đã từng tồn tại tại Babylon, nhưng đã bị phá hủy hoàn toàn trong khoảng thời gian thế kỷ 1 TCN. Thứ ba, khu vườn được nhắc đến trong truyền thuyết thực chất là khu vườn treo do vua Sennacherib của Assyria (704–681 TCN) xây dựng tại thủ đô Nineveh bên bờ sông Tigris, gần thành phố Mosul thời hiện đại.
Có năm tác giả chính mà những ghi chép về Vườn treo còn tồn tại cho đến ngày nay. Những tác giả này tập trung vào kích thước, thiết kế tổng quan, hệ thống thủy lợi, và mục đích xây dựng của khu vườn.
Josephus (khoảng 37–100 CN) dẫn lại mô tả về Vườn treo từ tác phẩm của Berossus, một tu sĩ đền thần Marduk người Babylon, viết khoảng năm 290 TCN, là tài liệu cổ nhất từng được biết tới có đề cập tới Vườn treo. Berossus viết về triều đại của Nebuchadnezzar II và là người duy nhất ghi lại rằng vị vua này là người xây dựng vườn treo.
Diodorus Siculus (60–30 TCN) có vẻ như đã tham khảo các ghi chép vào thế kỷ thứ 4 TCN của cả hai tác giả Cleitarchus (một nhà sử học của Alexander Đại đế) và Ctesias của Cnidus. Diodorus cho là Vườn treo được xây bởi một ông vua Syria. Ông chỉ ra khu vườn có hình vuông, với mỗi bên dài khoảng bốn plethron (xấp xỉ 120m), được thiết kế theo dạng bậc thang, với tầng trên cùng cao 50 cubit (khoảng 25m). Những bức tường, dày 22 feet (6.7m), được xây bằng gạch. Nền của những bậc thang đủ sâu để chứa rễ của những cây lớn nhất, và khu vườn được dẫn nước tưới từ sông Euphrates gần đó.
Quintus Curtius Rufus (thế kỷ 1 CN) được cho là đã dẫn từ cùng nguồn với Diodorus. Ông cho rằng khu vườn nằm trên đỉnh của một khu thành cổ có chu vi 20 stadion. Ông gắn khu vườn cho một vị vua Syria, cũng cùng lí do xây tặng người vợ nhớ quê hương.
Tài liệu ghi chép của Strabo (64 TCN – 21 CN) có thể là dựa trên tài liệu đã mất của Onesicritus từ thế kỷ 4 TCN. Ông cho rằng khu vườn được tưới tiêu bởi hệ thống máy bơm đinh vít dẫn nước lên từ sông Euphrates.
Nguồn tài liệu cổ điển cuối cùng được cho là độc lập với các nguồn tài liệu khác, "Sổ tay Bảy kì quan Thế giới" bởi Philo của Byzantium (được viết vào thế kỷ thứ 4 đến thứ 5 CN; không cùng một người với Philo của Byzantium, sống vào khoảng 280 TCN – 220 TCN). Kỹ thuật dẫn nước lên bằng bơm đinh vít được miêu tả bởi Strabo. Philo ca ngợi kỹ thuật xây dựng khu vườn với một khối lượng lớn đất trồng nằm ở trên cao so với nền đất xung quanh, cùng với kỹ thuật tưới tiêu.
Lịch sử tồn tại.
Các nhà sử học không xác định được vườn treo này có thật sự tồn tại hay chỉ là hư cấu, do không có nguồn tài liệu Babylon đương thời nào nhắc đến khu vườn này. Cũng không có nguồn tài liệu nào nhắc đến Amvitis vợ của Nebuchadnezzar (hoặc bất cứ người vợ nào), tuy nhiên một cuộc hôn nhân chính trị với người Media hoặc Ba Tư cũng không phải điều hiếm gặp. Có nhiều tài liệu ghi chép về các công trình của Nebuchadnezzar, tuy nhiên không hề nhắc tới bất kì khu vườn nào. Tuy nhiên, khu vườn được cho là vẫn tồn tại vào thời điểm các tác giả sau này viết về nó, một số ghi chép được cho là dẫn lại từ những người đã ghé thăm Babylon. Herodotus, người mô tả Babylon trong bộ "Sử học", không hề nhắc tới vườn treo, tuy có thể do khu vườn chưa trở nên nổi tiếng với người Hy Lạp tại thời điểm mà ông ghé thăm.
Cho đến nay, không có bằng chứng khảo cổ nào về khu vườn treo được tìm thấy tại Babylon. Có thể các chứng tích hiện đã bị chôn vùi dưới sông Euphrates khiến cho không thể khai quật được. Vào thời vua Nebuchadnezzar II, con sông chảy lệch về phía Đông so với hiện tại, và người ta không biết nhiều về phần phía Tây của Babylon. Rollinger đề xuất rằng Berossus gán công trình vườn treo cho Nebuchadnezzar vì lý do chính trị, sử dụng lại truyền thuyết đó từ một nơi khác.
Khu vườn treo tại Nineveh.
Có một giả thuyết cho rằng khu vườn treo Babylon thật ra được xây dựng bởi vua Sennacherib của Assyria (trị vì 704 – 681 TCN) trong cung điện tại Nineveh. Stephanie Dalley chỉ ra rằng trong những thế kỷ sau này, hai địa điểm đã bị nhầm lẫn, và những khu vườn rộng lớn ở cung điện Sennacherib đã bị gán cho Nebuchadnezzar II của Babylon. Các cuộc khai quật khảo cổ cho thấy dấu tích của một hệ thống dẫn nước rộng lớn được cho là dưới thời Sennacherib, theo như những dòng chữ được tìm thấy. Dalley cho rằng khu vườn là một phần của hệ thống kênh, đập, và ống dẫn nước dài 80 km dùng để đưa nước tới Nineveh, và nước được đưa lên các tầng cao khu vườn bằng bơm đinh vít.
Giả thuyết của Dalley dựa trên phân tích các mô tả tiếng Akkadia đương thời, bao gồm các luận điểm chính:
Khu vườn của vua Sennacherib không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp của nó như là một ốc đảo xanh tươi quanh năm giữa sa mạc, mà còn bởi hệ thống dẫn nước. Người Assyria có truyền thống xây dựng những khu vườn hoàng gia. Vua Ashurnasirpal II (883–859 BC) đã cho đào một con kênh cắt ngang qua những ngọn núi. Một bức điêu khắc trên tường của Assurbanipal thể hiện hình ảnh khu vườn hoàn chỉnh. Bản khắc gốc và bản vẽ lại hiện được lưu trữ trong Bảo tàng Anh, nhưng không được đem ra trưng bày. Hình ảnh khu vườn bức điêu khắc phù hợp với một số đặc điểm đã được nhắc đến bởi các tác giả cổ điển.
Sennacherib nhắc đến những khối đá vôi lớn để củng cố hệ thống đê ngăn lũ trong cung điện của mình. Nhiều phần của cung điện đã được khai quật bởi Austin Henry Layard vào giữa thế kỷ 19. Bản quy hoạch thành cổ cho thấy các đường bao nhất quán với khu vườn của Sennacherib, nhưng vị trí chắc chắn vẫn chưa được xác nhận. Khu vực này được sử dụng để làm căn cứ cho quân đội trong thời gian gần đây nên rất khó để nghiên cứu xa hơn
Việc tưới tiêu cho khu vườn đòi hỏi hệ thống cấp nước cho Nineveh phải được nâng cấp. Một hệ thống kênh đào được xây lấn sâu 50 km vào những ngọn núi. Sennacherib rất tự hào về công nghệ của mình và đã miêu tả một vài chi tiết trong các tài liệu để lại. Ông nhắc đến những cánh cổng dẫn nước tự động tại đầu nguồn nước Bavian (Khinnis). Một hệ thống cống nước khổng lồ xuyên qua thung lũng Jerwan được xây dựng từ hơn 2 triệu khối đá mài, sử dụng vòm đá và xi măng chống thấm, trên đó được viết:Sennacherib Vua của thế gian - Vua của Assyria. Từ nơi xa xôi ta đã xây dựng đường dẫn nước hướng về Nineveh, hợp với các dòng chả, và làm nước chảy qua đó.
Khu vườn, như được mô tả qua các tác phẩm nghệ thuật, có hoa nở rực rỡ, hoa quả chín, thác nước đổ và sân hóng mát dưới tán lá dày. Những loài thực vật có thể có mặt trong khu vườn, dựa theo văn học và truyền thống Babylon, cùng với các đặc điểm môi trường quanh khu vực, bao gồm:
|
Đại Kim tự tháp Giza
Đại Kim tự tháp Giza là Kim tự tháp Ai Cập lớn nhất và là lăng mộ của Vương triều thứ Tư của pharaoh Khufu. Được xây dựng vào đầu thế kỷ 26 trước Công nguyên trong khoảng thời gian 27 năm, đây là kim tự tháp lâu đời nhất còn nằm trong Bảy kỳ quan của thế giới cổ đại, và là kim tự tháp duy nhất với phần lớn còn nguyên vẹn. Là một phần của Quần thể kim tự tháp Giza, nó giáp với Giza ngày nay tại Greater Cairo, Ai Cập.
Ban đầu với chiều cao , Đại Kim Tự Tháp là cấu trúc nhân tạo cao nhất thế giới trong hơn 3.800 năm. Theo thời gian, hầu hết lớp vỏ đá vôi trắng mịn đã bị loại bỏ, điều này đã hạ thấp chiều cao của kim tự tháp xuống như hiện nay, còn . Những gì được nhìn thấy ngày nay là cấu trúc cốt lõi cơ bản. Cơ sở đo đạc là khoảng vuông, cho một khối lượng khoảng, trong đó bao gồm cả một ngọn đồi bên trong.
Kích thước của kim tự tháp là cao , chiều dài cơ sở ,với seked palm (độ dốc của 51°50'40").
Đại Kim tự tháp được xây dựng bằng cách khai thác khối lượng đá đá ước tính khoảng 2,3 triệu khối lớn với tổng trọng lượng 6 triệu tấn. Phần lớn các viên đá không đồng nhất về kích thước hoặc hình dạng và chỉ được trang trí sơ xài. Các lớp bên ngoài được liên kết với nhau bằng vữa. Chủ yếu là sử dụng đá vôi địa phương khai thác từ Cao nguyên Giza. Các khối khác được nhập khẩu bằng thuyền xuống sông Nile: Đá vôi trắng từ Tura để làm vỏ và các khối đá granit từ Aswan, nặng tới 80 tấn, cho cấu trúc Phòng Nhà Vua.
Có ba phòng được biết đến bên trong Đại kim tự tháp. Phần thấp nhất được cắt thành nền đá, trên đó xây kim tự tháp, nhưng vẫn chưa hoàn thành. Cái gọi là Phòng của Nữ hoàng và Phòng của Vua, chứa một cỗ quan tài bằng đá granit, nằm trên cao hơn, trong cấu trúc kim tự tháp. Tể tướng của Khufu là Hemiunu (còn gọi là Hemon), được một số người tin rằng là kiến trúc sư của Đại Kim tự tháp. Cho đến nay, nhiều giả thuyết khoa học và những giả thuyết khác nhau luôn cố gắng giải thích các kỹ thuật xây dựng chính xác của Kim tự tháp.
Quần thể lăng mộ xung quanh kim tự tháp bao gồm hai đền thờ được nối với nhau bằng một con đường đắp cao (một gần kim tự tháp và một gần sông Nile), lăng mộ cho gia đình và triều đình của Khufu, bao gồm ba kim tự tháp nhỏ hơn dành cho vợ của Khufu, một "kim tự tháp vệ tinh" thậm chí còn nhỏ hơn và năm Thuyền mặt trời bị chôn vùi.
Ghi công cho Khufu.
Trong lịch sử, Đại Kim tự tháp được cho là của Khufu dựa trên lời của các tác giả cổ điển, trước hết là Herodotus và Diodorus Siculus. Tuy nhiên, trong thời Trung cổ, một số người khác cũng được ghi nhận là người xây dựng kim tự tháp, ví dụ Joseph, Nimrod hoặc vua Saurid.
Năm 1837, bốn Phòng bổ sung đã được tìm thấy phía trên Phòng của Vua sau khi đào hầm. Các căn phòng, trước đây không thể tiếp cận, được bao phủ với chữ tượng hình bằng sơn đỏ. Những công nhân xây dựng kim tự tháp đã đánh dấu các khối bằng tên của các nhóm thợ của họ, trong đó có tên của pharaoh (ví dụ: “Nhóm,white crown của Khnum-Khufu đầy quyền năng”). Tên của Khufu đã được viết trên các bức tường hơn chục lần. Một bức vẽ graffiti khác đượcGoyon tìm thấy trên khối bên ngoài của lớp thứ 4 của kim tự tháp. Các chữ khắc có thể so sánh với các chữ khắc được tìm thấy ở các địa điểm khác của Khufu, chẳng hạn như mỏ đá alabaster tại Hatnub hoặc bến cảng tại Wadi al-Jarf và cũng có mặt trong các kim tự tháp của các pharaoh khác.
Trong cuộc khai quật năm 2013, Nhật ký của Merer đã được tìm thấy tại Wadi al-Jarf. Nó ghi lại việc vận chuyển khối đá vôi màu trắng từ Tura đến Đại kim tự tháp, được nhắc đến hàng chục lần với tên ban đầu là Akhet Khufu (với một kim tự tháp có tính xác định). Nó nêu chi tiết rằng những viên đá đã được chấp nhận tại She Akhet-Khufu ("vực kim tự tháp Chân trời của Khufu") và Ro-She Khufu ("lối vào vực Khufu") dưới sự giám sát của Ankhhaf, anh trai cùng cha khác mẹ và là tể tướng của Khufu, đồng thời là chủ sở hữu của mastaba lớn nhất ở Cánh đồng phía Đông Giza.
Đại kim tự tháp lớn đã được xác định là khoảng 4600 năm tuổi bằng hai cách tiếp cận chính: gián tiếp, thông qua việc ghi nhận Khufu và niên đại của nó, dựa trên bằng chứng khảo cổ và văn bản; và trực tiếp, thông qua xác định niên đại bằng cacbon phóng xạ của vật liệu hữu cơ được tìm thấy trong kim tự tháp và có trong vữa của nó.
Niên đại lịch sử.
Trong quá khứ, Đại kim tự tháp được xác định niên đại bởi chỉ do công của Khufu, người đã đặt nền móng cho việc xây dựng Đại kim tự tháp trong triều đại của ông. Do đó việc xác định niên đại của kim tự tháp là vấn đề xác định niên đại của Khufu và triều đại thứ 4. Trình tự tương đối và tính đồng bộ của các sự kiện là tiêu điểm của phương pháp này.
Xác định niên đại bằng cacbon phóng xạ.
Vữa được sử dụng rộng rãi trong việc xây dựng Đại kim tự tháp. Trong quá trình trộn, tro từ đám cháy đã được thêm vào vữa, vật liệu hữu cơ có thể được chiết xuất và do theo niên đại cacbon phóng xạ. Tổng cộng 46 mẫu vữa được lấy vào năm 1984 và 1995, đảm bảo rằng chúng rõ ràng là vốn có của cấu trúc ban đầu và không thể trộn lẫn vào ngày sau đó. Các kết quả đã được hiệu chỉnh vào năm 2871–2604 trước Công nguyên. Vấn đề gỗ cũ được cho là nguyên nhân chính gây ra sự bù đắp 100–300 năm, vì tuổi của vật liệu hữu cơ được xác định, chứ không phải khi nó được sử dụng lần cuối. Việc phân tích lại dữ liệu đã đưa ra ngày hoàn thành của kim tự tháp la trong khoảng từ năm 2620 đến năm 2484 trước Công nguyên, dựa trên các mẫu ít tuổi hơn.
Lịch sử xác định niên đại của Khufu và Đại kim tự tháp.
Vào khoảng năm 450 trước Công nguyên, Herodotus cho rằng Đại Kim tự tháp là cho Cheops (tên Hy Lạp hóa của Khufu), nhưng lại đặt triều đại một cách sai lầm là vào sau thời kỳ Ramesside. Manetho, khoảng 200 năm sau, đã soạn một danh sách phong phú của các vị vua Ai Cập mà ông chia thành các triều đại, gán Khufu vào vị trí thứ 4. Tuy nhiên, sau những thay đổi ngữ âm trong ngôn ngữ Ai Cập và do đó là bản dịch tiếng Hy Lạp, "Cheops" đã chuyển thành "Souphis" (và các phiên bản tương tự).
Niên đại Ai Cập tiếp tục được tinh chỉnh và dữ liệu từ nhiều ngành bắt đầu được đưa vào dữ liệu, chẳng hạn như niên đại phát quang, xác định niên đại bằng carbon phóng xạ và dendrochronology. Ví dụ, Ramsey et al. bao gồm hơn 200 mẫu cacbon phóng xạ trong mô hình của họ.
Hồ sơ lịch sử.
Kiến trúc thượng cổ.
Nhà sử học Hy Lạp cổ đại Herodotus đã bắt đầu viết về kim tự tháp vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, ông là một trong những tác giả lớn đầu tiên đề cập đến kim tự tháp. Trong cuốn sách thứ hai của ông là "Sử ký", ông bắt đầu thảo luận về lịch sử của Ai Cập và Đại Kim tự tháp. Báo cáo này được viết ra sau khi cấu trúc đã tồn tại hơn 2000 năm, có nghĩa là Herodotus thu thập kiến thức chủ yếu từ nhiều nguồn gián tiếp, bao gồm các quan chức và linh mục cấp thấp, người Ai Cập địa phương, người nhập cư Hy Lạp và thông dịch viên của chính Herodotus. Theo đó, những lời giải thích của ông thể hiện một hỗn hợp của những mô tả dễ hiểu, thuộc về cá nhân, những báo cáo sai lầm và truyền thuyết viển vông; do đó, nhiều suy đoán và nhầm lẫn sai sót về di tích có thể bắt nguồn từ Herodotus và công việc của ông.
Herodotus cũng mô tả một dòng chữ bên ngoài kim tự tháp, theo các dịch giả của ông, cho biết lượng củ cải, tỏi và hành tây mà các công nhân sẽ ăn khi làm việc trên kim tự tháp. Đây có thể là một ghi chú về công việc trùng tu mà Khaemweset, con trai của Ramesses II, đã thực hiện. Rõ ràng, những người bạn đồng hành và thông dịch viên của Herodotus không thể đọc được các chữ tượng hình hoặc cố tình cung cấp cho ông thông tin sai lệch.
Giữa năm 60 và 56 trước Công nguyên, nhà sử học Hy Lạp cổ đại Diodorus Siculus đã đến thăm Ai Cập và sau đó đã viết cuốn sách đầu tiên của ông là" Bibliotheca historyca" về vùng đất, lịch sử và di tích của nó, bao gồm cả Đại Kim tự tháp. Tác phẩm của Diodorus được truyền cảm hứng từ các nhà sử học trong quá khứ, nhưng ông cũng tách mình khỏi Herodotus, người mà Diodorus tuyên bố là chỉ biết kể những câu chuyện kỳ diệu và huyền thoại. Diodorus có lẽ đã rút ra kiến thức của ông từ công việc dang dở của Hecataeus của Abdera, và giống như Herodotus, ông cũng đặt người xây dựng kim tự tháp, "Chemmis," sau Ramses III. Theo báo cáo của ông, cả Chemmis (Khufu) và Cephren (Khafre) đều không được chôn cất trong kim tự tháp của họ, mà là ở những nơi bí mật, vì sợ rằng những người bề ngoài bị buộc phải xây dựng các công trình sẽ tìm kiếm cơ thể để trả thù; với khẳng định này, Diodorus đã củng cố mối liên hệ giữa việc xây dựng kim tự tháp và chế độ nô lệ.
Nhà địa lý, triết gia và sử gia người Hy Lạp Strabo đã đến thăm Ai Cập vào khoảng năm 25 trước Công nguyên, ngay sau khiAi Cập bị người La Mã thôn tính. Trong tác phẩm của ông là "Geographica", ông lập luận rằng các kim tự tháp là nơi chôn cất các vị vua, nhưng ông không đề cập đến vị vua nào được chôn cất trong công trình kiến trúc. Strabo cũng đề cập: "Ở độ cao vừa phải, một trong hai bên là một tảng đá, có thể được đưa ra ngoài; khi loại bỏ nó, sẽ có một lối đi xiên vào lăng mộ." Tuyên bố của ông đã tạo ra nhiều suy đoán, vì nó gợi ý rằng kim tự tháp có thể đã bị đột nhập vào thời điểm này.
Nhà văn La Mã Pliny the Elder đã viết vào thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, lập luận rằng Đại kim tự tháp đã được nâng lên, hoặc "để ngăn chặn các tầng lớp thấp hơn bị bỏ trống", hoặc là một biện pháp để ngăn chặn của cải giàu có của các pharaoh rơi vào tay đối thủ hoặc người kế nhiệm. Pliny không suy đoán về vị pharaoh đang được đề cập, rõ ràng lưu ý rằng "sự ngẫu nhiên [đã] khiến tên tuổi của những người đã dựng lên những đài tưởng niệm tuyệt vời như vậy về sự hư vô của họ bị lãng quên." Khi cân nhắc xem làm thế nào những viên đá có thể được vận chuyển đến một độ cao khổng lồ như vậy, ông đưa ra hai giải thích: Đó là hoặc là những gò đất rộng lớn đá nitre và muối được chất thành đống trên kim tự tháp, sau đó chúng chảy xuôi theo dòng nước từ con sông. Hoặc, những "cây cầu" được xây dựng, gạch của họ sau đó được phân phối để xây dựng nhà ở của các cá nhân, lập luận rằng mực nước sông quá thấp để các con kênh có thể đưa nước lên đến kim tự tháp. Pliny cũng kể lại rằng "theo suy đoán, trong nội thất của Kim tự tháp lớn nhất có một cái giếng, sâu tám mươi sáu cubit [], tiếp giáp với sông". Hơn nữa, ông mô tả một phương pháp được Thales của Miletus phát hiện ra để xác định chiều cao của kim tự tháp bằng cách đo bóng của nó.
Thời hậu cổ đại và Trung cổ.
Trong thời kỳ hậu cổ đại, việc hiểu sai các kim tự tháp là "vựa lúa của Joseph" bắt đầu trở nên phổ biến. Bằng chứng văn bản đầu tiên về mối liên hệ này được tìm thấy trong các câu chuyện của một nữ hành hương Cơ đốc giáoEgeria, người ghi lại rằng trong chuyến thăm của bà từ năm 381 đến năm 384 sau Công nguyên, "trong đoạn đường mười hai dặm giữa Memphis và Babylonia [= Cairo cũ] là nhiều kim tự tháp mà Joseph đã làm để chứa ngô." Mười năm sau, việc sử dụng này được xác nhận trong cuộc du hành ẩn danh của bảy nhà sư khởi hành từ Jerusalem để thăm các nhà khổ hạnh nổi tiếng ở Ai Cập, trong đó báo cáo rằng họ "đã nhìn thấy kho thóc của Joseph, nơi ông cất giữ ngũ cốc trong Kinh thánh." Cách sử dụng cuối thế kỷ thứ 4 này được khẳng định thêm trong chuyên luận địa lý "Cosmographia "do Julius Honorius viết vào khoảng năm 376 sau Công nguyên, giải thích rằng các Kim tự tháp được gọi là "kho thóc của Joseph" ('). Tham chiếu này từ Julius rất quan trọng, vì nó chỉ ra rằng nhận dạng bắt đầu lan rộng từ người hành hương du lịch. Vào năm 530 sau Công nguyên, Stephanos của Byzantium đã bổ sung thêm ý tưởng này khi ông viết trong cuốn" Ethnica "rằng từ "kim tự tháp" được kết nối với từ tiếng Hy Lạp πυρός ("puros"), có nghĩa là lúa mì.
Vào cuối thời Trung cổ, Đại kim tự tháp đã trở nên nổi tiếng là một công trình kiến trúc bị ma ám. Nhiều người cảm thấy sợ hãi khi bước vào vì đây là nơi sinh sống của các loài động vật như dơi.
Chuẩn bị cho vị trí xây dựng.
Một ngọn đồi sẽ được chọn để làm nơi hình thành nên cơ sở cho các kim tự tháp đứng trên đó. Nó sẽ được cắt lại thành các bậc và chỉ có một dải xung quanh chu vi được san bằng, phần được đo là kích thước ngang và phẳng trong khoảng . Phần nền móng đạt đến chiều cao gần nằm phía trên phần đế kim tự tháp tại vị trí Grotto.
Dọc theo các mặt của bệ cơ sở, một loạt các lỗ sẽ được khoét trên nền đá. Lehner đưa ra giả thuyết rằng họ đã giữ các cột gỗ cho việc căn chỉnh. Edwards cũng như những người khác, đã đề xuất việc sử dụng nước cho phần nền của bệ, mặc dù không rõ hệ thống như vậy sẽ thực tế và mang tính khả thi như thế nào..
Đại kim tự tháp ước tính bao gồm 2,3 triệu khối xếp lại với nhau. Khoảng 5,5 triệu tấn đá vôi, 8.000 tấn đá granit và 500.000 tấn vữa đã được sử dụng để xây dựng kim tự tháp.
Hầu hết các khối là đá ở Giza, nằm ngay phía nam của kim tự tháp, khu vực này nay gọi là Central Field.
Đá vôi trắng được sử dụng làm phần phủ có nguồn gốc từ Tura (cách về phía nam Giza) và vận chuyển bằng thuyền dọc theo sông Nile. Năm 2013, các nhà khảo cổ học tìm ra những cuộn giấy cói được gọi là Nhật ký của Merer, nó thuộc về một người giám sát việc vận chuyển đá vôi và các vật liệu xây dựng khác từ Tura đến Giza trong lần cuối cùng năm trị vì của Khufu.
Đá Granit trong kim tự tháp được vận chuyển từ Aswan, cách đó hơn . Những khối đá lớn nhất, nặng từ 25 đến 80 tấn, tạo thành các mái của "buồng của Vua" và "buồng giảm bớt" phía trên nó. Người Ai Cập cổ đại cắt đá thành các khối thô bằng cách dùng búa đóng các rãnh vào bề mặt đá tự nhiên, chèn các nêm gỗ, sau đó ngâm chúng với nước. Khi các miếng nêm hấp thụ nướ, cũng sẽ nở ra, phá vỡ tảng đá thành các khối có thể thi công được. Sau khi các khối đá được cắt, chúng được chở bằng thuyền lên hoặc xuống sông Nile để đến kim tự tháp.
Lực lượng lao động.
Người Hy Lạp tin rằng họ đã sử dụng cácnô lệ, nhưng những khám phá hiện đại được thực hiện tại các trại công nhân gần đó liên quan đến việc xây dựng tại Giza cho thấy nó được xây dựng bởi hàng nghìn lính nghĩa vụ .
Những bức vẽ graffiti của công nhân được tìm thấy tại Giza cho thấy những thước kẻ chia thành "zau" (số ít là "za"), các nhóm gồm 40 người đàn ông, bao gồm bốn đơn vị con mà mỗi đơn vị có một "Giám thị nhóm Mười người".
Đối với câu hỏi về việc làm thế nào có thể cắt hơn hai triệu khối đá trong suốt cuộc đời của Khufu, thợ đá Franck Burgos đã tiến hànhthí nghiệm khảo cổ học dựa trên một mỏ đá bị bỏ hoang của Khufu được phát hiện vào năm 2017. Trong đó, một khối đá gần như đã hoàn thành và các công cụ được sử dụng để cắt nó gồm: đục làm bằngđồng thạch tín cứng, vồ gỗ, dây thừng và các công cụ bằng đá. Trong thí nghiệm, các bản sao của chúng được sử dụng để cắt một khối nặng khoảng 2,5 tấn (kích thước khối trung bình sử dụng cho Đại kim tự tháp). Bốn công nhân đã mất 4 ngày (với mỗi người làm việc 6 giờ một ngày) để khai quật. Sự chậm chạp ban đầu đã tăng lên gấp sáu lần khi viên đá bị nước làm ướt. Dựa trên dữ liệu, Burgos ngoại suy rằng cần khoảng 3.500 người khai thác đá mới có thể sản xuất 250 khối/ngày để hoàn thành Đại kim tự tháp trong 27 năm.
Một nghiên cứu quản lý xây dựng thực hiện năm 1999, cùng với Mark Lehner và các nhà Ai Cập học khác, đã ước tính rằng tổng dự án yêu cầu lực lượng lao động trung bình khoảng 13.200 người và cao điểm nhất là khoảng 40.000 người.
Khảo sát và thiết kế.
Các phép đo chính xác đầu tiên của kim tự tháp được thực hiện bởi nhà Ai Cập học Flinders Petrie vào năm 1880–1882 và xuất bản trong sách" The Pyramids and Temples of Gizeh". Nhiều viên đá bọc ngoài và các khối buồng bên trong của Đại kim tự tháp khớp với nhau với độ chính xác cao, với các khớp nối trung bình chỉ rộng . Ngược lại, các khối lõi chỉ có hình dạng gần đúng, với những đống đổ nát được chèn vào giữa những khoảng trống lớn hơn. Vữa được sử dụng để kết dính các lớp bên ngoài với nhau và lấp đầy các khoảng trống và khớp nối.
Chiều cao và trọng lượng của khối có xu hướng nhỏ dần về phía trên cùng. Petrie đo lớp thấp nhất cao , trong khi các lớp ở phía đỉnh gần như không vượt quá .
Độ chính xác của chu vi hình chóp sao cho bốn cạnh của đáy có sai số trung bình chỉ là theo chiều dài và phần đế hoàn thiện được bình phương thành sai số góc trung bình chỉ 12 giây của cung.
Kích thước thiết kế hoàn chỉnh được đo ban đầu là cao và dài ở mỗi cạnh trong bốn cạnh nền. Người Ai Cập cổ đại sử dụng seked để mô tả độ dốc. Đối với Đại kim tự tháp, người ta đã chọn lòng bàn tay, tỷ lệ 14 đến 11 in.
Một số nhà Ai Cập học cho rằng độ dốc này được chọn vì tỷ lệ giữa chu vi và chiều cao (1760/280 cubits) bằng 2 π với độ chính xác hơn 0,05 phần trăm (tương ứng với giá trị xấp xỉ nổi tiếng của π như 22/7). Verner đã viết, "Chúng ta có thể kết luận rằng mặc dù người Ai Cập cổ đại không thể xác định chính xác giá trị của π, nhưng trong thực tế họ đã sử dụng nó". Petrie kết luận: "nhưng những mối quan hệ này của các khu vực và tỷ lệ vòng tròn có hệ thống đến mức chúng ta nên cho rằng chúng nằm trong thiết kế của người xây dựng". Những người khác lập luận rằng người Ai Cập cổ đại không có khái niệm về số pi và sẽ không hề có ý mã hóa nó trong các đài kỷ niệm của họ và rằng độ dốc của kim tự tháp quan sát được có thể chỉ dựa trên seked.
Căn chỉnh với các hướng chính.
Các mặt của chân đế của Đại kim tự tháp được căn chỉnh chặt chẽ theo bốn hướng cơ bản địa lý (không dựa trên từ tính), lệch trung bình 3 phút 38 giây của cung, hoặc khoảng một phần mườiđộ. Một số phương pháp đã được đề xuất về việc làm thế nào người Ai Cập cổ đại có thể đạt được mức độ chính xác này:
Lý thuyết xây dựng.
Nhiều lý thuyết thay thế từng được đề xuất, thường mâu thuẫn với nhau, liên quan đến kỹ thuật xây dựng kim tự tháp. Một bí ẩn về việc xây dựng kim tự tháp chính là quy hoạch của nó. John Romer cho rằng họ đã sử dụng cùng một phương pháp đã được sử dụng cho các công trình xây dựng trước đó và sau này, đặt các phần của kế hoạch trên mặt đất với tỷ lệ 1-1. Ông viết rằng "một sơ đồ làm việc như vậy cũng sẽ phục vụ cho việc tạo ra kiến trúc của kim tự tháp với độ chính xác chưa từng có bằng bất kỳ phương tiện nào khác".
Các khối đá bazan của ngôi đền kim tự tháp cho thấy "bằng chứng rõ ràng" về việc đã bị cắt bằng một loại cưa nào đó với lưỡi cắt ước tính dài . Romer cho rằng "siêu cưa" này có thể có răng bằng đồng và nặng tới . Ông đưa ra giả thuyết rằng một chiếc cưa như vậy có thể được gắn vào giá đỡ có khung bằng gỗ và có thể sử dụng cùng với dầu thực vật, cát cắt, đá nhám hoặc thạch anh để cắt thành các khối, mà sẽ cần đến sức lao động của ít nhất một chục người đàn ông để vận hành nó.
Lớp đá bọc ngoài.
Khi hoàn thành, Đại kim tự tháp được xây hoàn toàn bằng đá vôi trắng. Các khối gia công chính xác được đặt thành các lớp nằm ngang và gắn cẩn thận với nhau bằng vữa, mặt ngoài của chúng được cắt theo độ dốc và làm nhẵn ở mức độ cao. Cùng nhau chúng tạo ra bốn bề mặt đồng nhất, góc 51°50'40" (một Seked của palm). Các khối vỏ chưa hoàn thành của các kim tự tháp Menkaure và Henutsen tại Giza gợi lên đề xuất rằng mặt trước chỉ được làm nhẵn sau khi đặt đá, với các đường nối đục đánh dấu vị trí chính xác và nơi đá thừa sẽ phải bị cắt bỏ.
Chiều cao của các lớp ngang không đồng nhất nhưng thay đổi đáng kể. Lớp cao nhất trong số 203 hàng gạch còn lại nằm ở phía dưới, lớp đầu tiên cao nhất ở . Về phía trên cùng, các lớp có xu hướng chỉ cao hơn một chút. Một mô hình bất thường có thể nhận thấy khi xem xét các kích thước theo thứ tự, trong đó chiều cao các lớp giảm đều đặn và ngày càng nhọn dần.
Cái được gọi là "đá nền" đã hỗ trợ lớp vỏ (không giống như các khối lõi) cũng được chế tạo chính xác và gắn với vỏ bằng vữa. Ngày nay, những viên đá này mang lại cho cấu trúc vẻ ngoài còn nhận thấy được, sau khi kim tự tháp bị tháo dỡ vào thời trung cổ. Năm 1303 sau Công Nguyên, một trận động đất lớn đã làm mất nhiều đá bên ngoài, và còn được cho là đã bị Vương triều Bahri của An-Nasir Nasir-ad-Din al-Hasan sử dụng ở Cairo gần đó vào năm 1356. Muhammad Ali Pasha đã lấy nhiều viên đá vỏ bọc khác vào đầu thế kỷ 19 để xây dựng phần trên của Nhà thờ Hồi giáo Alabaster của ông ở Cairo, không xa Giza. Các nhà thám hiểm sau đó đã báo cáo về những đống đổ nát khổng lồ ở chân của các kim tự tháp còn sót lại sau sự sụp đổ liên tục của các tảng đá bọc, sau đó chúng đã được dọn đi trong quá trình tiếp tục khai quật địa điểm. Ngày nay có thể nhìn thấy một vài viên đá bọc từ hàng thấp nhất "in situ" ở mỗi bên, với phần được bảo tồn tốt nhất ở phía bắc bên dưới lối vào, do Vyse khai quật năm 1837.
Phần vữa đã được phân tích hóa học và chứa các tạp chất hữu cơ (chủ yếu là than củi), các mẫu trong số đó là cacbon phóng xạ có niên đại 2871–2604 trước Công nguyên. Có giả thuyết rằng vữa cho phép thợ xây đặt đá chính xác bằng cách cung cấp một lớp nền.
Người ta cho rằng một số hoặc tất cả đá vỏ được đúc ngay tại chỗ, thay vì khai thác và di chuyển, nhưng bằng chứng khảo cổ và phân tích thạch học cho thấy điều này không đúng như vậy.
Petrie ghi chú vào năm 1880 rằng các mặt của kim tự tháp, như chúng ta thấy ngày nay, là "rõ là rỗng" và "mỗi mặt có một loại rãnh đặc biệt ở giữa mặt", mà ông lý luận là do sự gia tăng độ dày của vỏ ở những khu vực này. Một cuộc khảo sát bằng tia laser vào năm 2005 đã xác nhận sự tồn tại của các dị thường này, ở một mức độ nào đó, có thể là do đá bị hư hỏng và bị bỏ đi. Trong các điều kiện ánh sáng nhất định và với việc nâng cao hình ảnh, các mặt có thể bị tách ra, dẫn đến suy đoán rằng kim tự tháp đã được cố ý xây dựng tám mặt.
Chóp tháp và phần đỉnh bị thiếu.
Trên đỉnh kim tự tháp đã từng gắn một viên đá tảng được gọi là "pyramidion" (chóp kim tự tháp, số nhiều: "pyramidia"). Vật liệu làm ra nó vẫn còn nằm trong vòng suy đoán; Đá vôi, đá granit hoặc đá bazan thường được đề xuất, trong khi với nền văn hóa phổ biến, nó thường là vàng nguyên khối hoặc mạ vàng. Tất cả triều đại thứ 4 đều biết các" pyramidia "(của Kim tự tháp Đỏ, Kim tự tháp vệ tinh Khufu (G1-d) và Kim tự tháp Menkaure của Nữ hoàng (G3-a)) là bằng đá vôi trắng và không mạ vàng. Chỉ từ triều đại thứ 5 trở đi mới có bằng chứng về những viên đá quý mạ vàng; ví dụ: một khung cảnh trên đường đắp cao của Sahure nói về "chóp tháp bằng vàng trắng thuộc về kim tự tháp Soul Shines của Sahure".
Chóp tháp của Đại Kim tự tháp đã biến mất trong thời cổ đại, khi Pliny the Elder và các tác giả sau này báo cáo về một phần trên đỉnh của nó. Ngày nay, kim tự tháp ngắn hơn khoảng so với khi còn nguyên vẹn, với khoảng 1.000 tấn vật liệu bị thiếu trên đỉnh.
Năm 1874, một nhà thiên văn học người Scotland là Sir David Gill đã lắp đặt một cột buồm trên đỉnh để quan sát hiện tượng đi qua của sao Kim hiếm hoi, đã được mời tham gia khảo sát Ai Cập và bắt đầu bằng việc khảo sát Đại kim tự tháp. Kết quả đo kim tự tháp của ông chính xác đến 1 mm và cột buồm khảo sát vẫn còn ở vị trí đó cho đến ngày nay.
Nội thất bên trong.
Cấu trúc bên trong bao gồm ba phòng chính (Phòng của Vua-, Nữ hoàng- và Phòng dưới lòng đất), Phòng trưng bày lớn và các hành lang và trục khác nhau.
Có hai lối vào kim tự tháp: lối đi ban đầu và lối đi bắt buộc, chúng gặp nhau tại một đường giao nhau. Từ đó, một lối đi xuống Căn phòng dưới lòng đất, trong khi lối đi khác đi đến Phòng trưng bày lớn. Từ đầu thư viện, bạn có thể đi ba con đường:
Cả Phòng Nhà vua và Nữ hoàng đều có một cặp "trục không khí" nhỏ. Phía trên Phòng của Nhà vua là một loạt năm Buồng thông.
Lối vào ban đầu.
Lối vào ban đầu nằm ở phía bắc, phía đông của đường tâm của kim tự tháp. Trước khi loại bỏ vỏ bọc vào thời trung cổ, kim tự tháp đã được đi vào qua một lỗ trong lớp xây thứ 19, khoảng trên nền của kim tự tháp. Chiều cao của lớp đó – – tương ứng với kích thước của đường hầm lối vào, thường được gọi là Lối đi xuống. Theo Strabo (64–24 trước Công nguyên), một tảng đá có thể di chuyển được có thể được nâng lên để đi vào hành lang dốc này, tuy nhiên người ta không biết nó là một bổ sung sau này hay là nguyên bản.
Một hàng trang trí chuyển hướng trọng lượng ra khỏi cửa ra vào. Các mặt nghiêng mà chúng từng nằm trên cho thấy một vài trong số các khối trang trí này hiện đã bị mất, vì
Nhiều hình vẽ graffiti, chủ yếu là hiện đại, được cắt trên những viên đá xung quanh lối vào. Đáng chú ý nhất là một văn bản chữ tượng hình lớn, vuông được chạm khắc để vinh danh Frederick William IV, bởi chuyến thám hiểm người Phổ của Karl Richard Lepsius đến Ai Cập năm 1842.
Hành lang phía Bắc.
Vào năm 2016, nhómScanPyramids đã phát hiện ra một lỗ hổng phía sau các chữ V lối vào bằng cách sử dụng muography, được xác nhận vào năm 2019 ít nhất là một hành lang dài, chạy ngang hoặc dốc lên trên (do đó không song song với Lối đi xuống). Cho dù nó có kết nối với Big Void phía trên Phòng trưng bày lớn hay không vẫn còn phải xem xét.
Đường hầm của bọn cướp.
Ngày nay khách du lịch vào Đại kim tự tháp thông qua Đường hầm của bọn cướp, đường hầm từ lâu đã được cắt thẳng qua khối xây của kim tự tháp. Lối vào là từ lớp thứ 6 và thứ 7 của vỏ, khoảng phía trên phần nền. Sau khi chạy thẳng và ngang nhiều hơn hoặc ít hơn nó rẽ ngoặt sang trái để gặp những viên đá chặn trong Lối đi lên. Có thể đi vào Lối đi xuống từ thời điểm này nhưng thường bị cấm vào.
Nguồn gốc của Đường hầm của bọn cướp này là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận học thuật. Theo truyền thống, hố sâu được tạo ra vào khoảng năm 820 sau Công nguyên bởi những người thợ của caliph al-Ma'mun với một phiến đá phá thành. Việc đào bới làm bật tung tảng đá trên trần của Lối đi xuống, nơi che khuất lối vào của Lối đi lên, mớ hỗn tạp của hòn đá đó rơi xuống và sau đó trượt xuống Lối đi xuống, cảnh báo họ cần phải rẽ trái. Tuy nhiên, không thể loại bỏ những viên đá này, những người thợ đã đào hầm bên cạnh xuyên qua lớp đá vôi mềm hơn của Kim tự tháp cho đến khi họ đến Lối đi lên.
Do một số khác biệt về lịch sử và khảo cổ, nhiều học giả (với Antoine de Sacy có lẽ là người đầu tiên) cho rằng câu chuyện này là giả tạo. Họ cho rằng nhiều khả năng đường hầm đã được chạm khắc ngay sau khi niêm phong kim tự tháp ban đầu. Các học giả tiếp tục cho biết, đường hầm này sau đó đã đóng lại (có thể là trong thời Khôi phục Ramesside), và cuộc thám hiểm vào thế kỷ thứ chín của al-Ma'mun đã xóa sạch. Lý thuyết này càng được củng cố bởi báo cáo của tộc trưởng Dionysius I Telmaharoyo, ông đã tuyên bố rằng trước chuyến thám hiểm của al-Ma'mun, đã có một lỗ thủng ở mặt phía bắc của kim tự tháp kéo dài vào cấu trúc tới trước khi đi vào ngõ cụt. Điều này cho thấy rằng một số loại đường hầm của bọn cướp có trước al-Ma'mun, và họ chỉ đơn giản là mở rộng nó và dọn sạch các mảnh vỡ.
Từ lối vào ban đầu, một lối đi xuống xuyên qua khối xây của kim tự tháp và sau đó đi vào nền đá bên dưới nó, cuối cùng dẫn đến Căn phòng dưới lòng đất.
Nó có chiều cao nghiêng là 4 feet Ai Cập (1.20 m; 3.9 ft) và chiều rộng của . Góc 26°26'46" của nó tương ứng với tỷ lệ 1 đến 2.
Sau, sẽ đến điểm cuối thấp hơn của Lối đi lên; một trên trần nhà, bị chặn bởi đá granit và có thể ban đầu đã bị che đi. Để phá vỡ những tảng đá cứng này, người ta đã đào một đường hầm ngắn nối với phần cuối của Đường hầm của bọn cướp. Nó đã mở rộng theo thời gian và vừa với cầu thang.
Đoạn tiếp tục đi xuống và đến một đoạn khác, bây giờ thông qua nền tảng thay vì cấu trúc thượng tầng kim tự tháp. Những thanh hướng dẫn lười biếng được sử dụng để chặn bộ phận này bằng gạch vụn để tránh phải dẫn người xuống và quay ngược trục dài, cho đến khoảng năm 1902 khi Covington lắp đặt một cửa sắt có khóa móc để ngăn chặn hoạt động này. Gần cuối phần này, trên bức tường phía tây, là kết nối với trục thẳng đứng dẫn đến Phòng trưng bày lớn.
Một trục nằm ngang nối phần cuối của Đoạn đi xuống với Căn phòng dưới lòng đất, Nó có chiều dài là , rộng và cao . Một nằm ở cuối bức tường phía tây, lớn hơn một chút so với đường hầm, trần nhà không đều và trống không.
Phòng ngầm dưới lòng đất.
Phòng dưới lòng đất, hay còn gọi là "Hố", là phòng thấp nhất trong số ba phòng chính và là phòng duy nhất được đào vào nền móng bên dưới kim tự tháp.
Nằm sâu bên dưới tầng nền, với số đo đại khái bắc nam đông-tây , với chiều cao xấp xỉ .
Nửa phía tây của căn phòng, ngoài trần nhà, còn chưa hoàn thành, với những đường hào do những người khai thác đá chạy từ đông sang tây để lại. Một phần hốc đã bị cắt vào từ nửa phía bắc của bức tường phía tây. Duy nhất chỉ có , qua Lối đi xuống, nằm ở cuối phía đông của bức tường phía bắc.
Mặc dù dường như mới được biết đến trong thời cổ đại, theo Herodotus và các tác giả sau này, sự tồn tại của nó đã bị lãng quên vào thời Trung cổ cho đến khi được khám phá lại vào năm 1817, khi Giovanni Caviglia dọn sạch đống đổ nát chặn Lối đi xuống.
Đối diện với lối vào, một hành lang mù chạy thẳng về phía nam và tiếp tục uốn cong một chút khoảng , đo khoảng mét vuông. Một ký tự Hy Lạp hoặc La Mã trên trần nhà với ánh sáng của một ngọn nến, cho thấy rằng căn phòng thực sự có thể đã có người bước vào từ Thời kỳ cổ điển.
Ở giữa nửa phía đông, một lỗ lớn được mở ra, gọi là Pit Shaft hoặc Shaft của Perring. Phần trên cùng có thể có nguồn gốc cổ xưa, rộng khoảng mét vuông và sâu , căn chỉnh theo đường chéo với buồng. Caviglia và Salt đã mở rộng nó đến độ sâu khoảng . Năm 1837 Vyse hướng trục bị chìm xuống độ sâu , với hy vọng phát hiện ra khoang chứa nước mà Herodotus ám chỉ. Chiều rộng hẹp hơn một chút vào khoảng . Không có khoang nào được phát hiện sau khi Perring và các công nhân của ông đã trải qua một năm rưỡi đục xuyên qua lớp đá gốc đến mực nước lúc bấy giờ của sông Nile, một số nơi sâu đến sâu hơn nữa. Đống đổ nát được tạo ra trong quá trình hoạt động này tích tụ khắp buồng. Petrie khi ghé thăm vào năm 1880, phát hiện ra trục được lấp đầy một phần bởi nước mưa chảy tràn xuống Lối đi xuống. Năm 1909, khi các hoạt động khảo sát của anh em nhà Edgar bị cản trở bởi vật chất, họ chuyển cát và đá nhỏ trở lại trục, để lại phần trên sạch sẽ. Chiếc trục sâu đôi khi bị nhầm là một phần của thiết kế ban đầu .
Ludwig Borchardt cho rằng Căn phòng dưới lòng đất ban đầu được lên kế hoạch làm nơi chôn cất pharaoh Khufu, nhưng nó đã bị bỏ hoang trong quá trình xây dựng vì một căn phòng cao hơn trong kim tự tháp sẽ thích hợp hơn.
Lối đi lên kết nối Lối đi xuống với Phòng trưng bày lớn. Dài , có cùng chiều rộng và chiều cao với trục mà nguồn, mặc dù góc thấp hơn một chút ở 26°6'.
Đầu dưới của trục cắm ba viên đá granit, được trượt xuống từ Phòng trưng bày lớn để bịt kín đường hầm. Chúng dài , và tương ứng. Phần trên cùng bị hư hại nặng, do đó ngắn hơn. Phần cuối của Đường hầm của bọn cướp nằm bên dưới những phiến đá, vì vậy một đường hầm ngắn đã được đào xung quanh chúng để có thể đi đến Lối đi xuống, vì đá vôi xung quanh mềm hơn đáng kể và dễ làm việc hơn.
Hầu hết các khớp nối giữa các khối tường chạy vuông góc với sàn, có hai trường hợp ngoại lệ. Thứ nhất, những khớp ở một phần ba phía dưới của hành lang là thẳng đứng. Thứ hai, ba viên đá dầm được chèn vào gần giữa (cách nhau khoảng 10 cubit), có lẽ là để ổn định đường hầm.
Trục giếng và Hang động.
Trục giếng (còn được gọi là Trục phục vụ hoặc Trục dọc) liên kết phần dưới của Phòng trưng bày lớn với phần cuối của Lối đi xuống, khoảng ở phía dưới.
Nửa trên đi qua khối xây hạt nhân của hình chóp. Lúc đầu, nó chạy thẳng đứng trong khoảng , sau đó hơi nghiêng về phía nam trong cùng một khoảng cách, cho đến khi chạm vào nền đá khoảng trên nền của kim tự tháp. Một phần thẳng đứng khác đi xuống sâu hơn, được lót một phần bằng khối xây đã bị phá vỡ tới một cái hốc được gọi là Grotto. Nửa dưới của Trục giếng đi qua nền đá một góc khoảng 45° với trước một đoạn dốc hơn, dài , dẫn đến điểm thấp nhất của nó. Phần cuối cùng của kết nối nó với Lối đi xuống, chạy gần như nằm ngang. Các nhà xây dựng rõ ràng đã gặp khó khăn khi căn chỉnh lối ra phía dưới.
Mục đích của trục thường được giải thích là trục thông gió cho Phòng dưới lòng đất và như một trục thoát hiểm cho những công nhân trượt các tảng đá chặn Lối đi lên vào đúng vị trí.
Hang là một hang động đá vôi tự nhiên có khả năng đã từng lấp đầy bởi cát và sỏi trước khi xây dựng, và trước cả khi bị bọn cướp phá rỗng. Một khối đá granit nằm trong đó có khả năng có nguồn gốc từ cổng vòm đã từng phong tỏa Phòng Nhà Vua.
Khu phức hợp kim tự tháp.
Đại kim tự tháp bao quanh bởi một khu phức hợp gồm một số tòa nhà, bao gồm cả các kim tự tháp nhỏ.
Đền và đường đắp cao.
Đền Kim tự tháp, đứng ở phía đông của kim tự tháp và đo từ bắc xuống nam và từ đông sang tây, đã gần như biến mất hoàn toàn. Chỉ còn lại một số đá lát bazan đen. Chỉ có một số tàn tích của con đường đắp cao liên kết kim tự tháp với thung lũng và Đền Thung lũng. Đền Thung lũng chôn cất bên dưới ngôi làng Nazlet el-Samman; đã tìm thấy những bức tường đá vôi và lát đá bazan nhưng địa điểm vẫn chưa được khai quật.
Khu mộ hướng đông.
Ngôi mộ của Queen Hetepheres I, em gái của Sneferu và mẹ của Khufu, nằm cách Đại kim tự tháp khoảng về phía đông. Được phát hiện tình cờ bởi đoàn thám hiểm Reisner, nơi chôn cất vẫn còn nguyên vẹn, mặc dù chiếc quan tài niêm phong cẩn thận đã được chứng minh là trống rỗng.
Kim tự tháp con.
Ở đầu phía nam của phía đông là bốn kim tự tháp phụ. Ba kim tự tháp vẫn có độ cao gần như đầy đủ thường được gọi là Kim tự tháp Nữ hoàng (G1-a, G1-b và G1-c). Kim tự tháp vệ tinh thứ tư, nhỏ hơn (G1-d), đã bị hủy hoại đến nỗi sự tồn tại của nó chưa từng được biết đến cho đến khi phát hiện ra phiến đá đầu tiên và sau đó, phần còn lại của nó lộ ra trong các cuộc khai quật năm 1991–93.
Ba hố hình con thuyền nằm ở phía đông của kim tự tháp. Chúng có kích thước và hình dạng đủ lớn để chứa những con thuyền hoàn chỉnh, mặc dù nông đến mức bất kỳ cấu trúc thượng tầng nào, nếu từng có, đều phải bị dỡ bỏ hoặc tháo rời.
Hai hố thuyền bổ sung, dài và hình chữ nhật, được tìm thấy ở phía nam của kim tự tháp, vẫn được bao phủ bởi những phiến đá nặng tới 15 tấn.
Công trình đầu tiên trong số này được nhà khảo cổ học Ai Cập Kamal el-Mallakh phát hiện tháng 5 năm 1954. Bên trong là 1.224 mảnh gỗ, dài nhất , ngắn nhất . Những thứ này được giao cho một người thợ đóng thuyền là Haj Ahmed Yusuf, ông đã tìm ra cách để ghép các mảnh lại với nhau. Toàn bộ quá trình, bao gồm bảo tồn và làm thẳng gỗ cong vênh, mất mười bốn năm. Kết quả là một chiếc thuyền làm bằng gỗ tuyết tùng dài , các tấm gỗ của nó nối kết lại với nhau bằng dây, ban đầu nằm trong Bảo tàng thuyền Giza Solar, một bảo tàng hình con thuyền đặc biệt, có máy lạnh bên cạnh kim tự tháp. Nó hiện nằm trong Bảo tàng Grand Egypt.
Trong quá trình xây dựng bảo tàng này vào những năm 1980, hố thuyền kín thứ hai đã được phát hiện. Nó vẫn chưa mở cho đến năm 2011, khi việc khai quật bắt đầu trên con thuyền.
Thị trấn kim tự tháp.
Một công trình đáng chú ý bên cạnh quần thể kim tự tháp Giza là bức tường đá cực lớn, Bức tường của Quạ. Mark Lehner đã khám phá ra một thị trấn công nhân bên ngoài bức tường, còn được gọi là "Thành phố đã mất", có niên đại vào khoảng thời gian trị vì của Khafre (2520–2494 trước Công nguyên) và Menkaure (2490–2472 TCN) dựa trên phong cách đồ gốm, dấu ấn và địa tầng theo triều đại đã được xây dựng và chiếm đóng. Vào đầu thế kỷ 21, Lehner và nhóm của ông đã thực hiện một số khám phá, bao gồm cả những gì dường như là một khu cảng thịnh vượng, gợi ý về thị trấn và các khu sinh sống liên quan, bao gồm các doanh trại được gọi là "phòng trưng bày", có thể không dành cho các công nhân kim tự tháp, nhưng là dành cho những người lính và thủy thủ sử dụng cảng. Với phát hiện mới này, về nơi mà các công nhân kim tự tháp có thể đã sống sau đó, Lehner đề xuất khả năng thay thế họ là có thể đã cắm trại trên những con dốc mà ông tin rằng đã dùng để xây dựng các kim tự tháp, hoặc có thể tại các mỏ đá gần đó.
Vào đầu những năm 1970, nhà khảo cổ học người Úc Karl Kromer đã khai quật một gò đất ở Cánh đồng Nam của cao nguyên. Nó được tìm thấy có chứa các đồ tạo tác bao gồm cả con dấu bằng gạch bùn của Khufu, mà ông đã xác nhận với một khu định cư của các nghệ nhân. Các tòa nhà bằng gạch bùn ở ngay phía nam của Đền Thung lũng Khufu chứa các vật liệu niêm phong bằng bùn của Khufu và được gợi ý là một khu định cư phục vụ cho sự sùng bái Khufu sau khi ông qua đời. Một nghĩa trang của công nhân được sử dụng ít nhất là từ thời trị vì của Khufu đến cuối Vương triều thứ Năm đã được Hawass phát hiện ở phía nam của Bức tường Quạ năm 1990.
Các tác giả Bob Brier và Hoyt Hobbs cho rằng "tất cả các kim tự tháp đã bị cướp" bởi Tân Vương quốc ngay từ khi việc xây dựng các lăng mộ hoàng gia ở Thung lũng các vị vua bắt đầu. Joyce Tyldesley nói rằng bản thân Đại kim tự tháp "được cho là đã bị Vương quốc Trung cổ mở ra và vét sạch", trước khi caliph Al-Ma'mun người Ả Rập vào kim tự tháp vào khoảng năm 820 sau Công nguyên.
I. E. S. Edwards thảo luận về việc Strabo từng đề cập rằng kim tự tháp "đi lên phía trên một chút có một viên đá có thể lấy ra, đá sẽ được nâng lên tạo ra một lối đi dốc dẫn đến phần nền móng". Edwards cho rằng kim tự tháp đã bị bọn cướp đột nhập sau khi Vương quốc cũ kết thúc và bị phong ấn rồi mở ra lại nhiều lần cho đến khi cánh cửa của Strabo được thêm vào. Ông nói thêm: "Nếu phỏng đoán mang tính suy đoán cao này là chính xác, thì cũng cần phải giả định rằng sự tồn tại của cánh cửa đã bị lãng quên hoặc lối vào một lần nữa bị chặn bằng đá ốp", để giải thích tại sao al-Ma'mun có thể không tìm thấy lối vào. Các học giả như Gaston Maspero và Flinders Petrie đã lưu ý có bằng chứng cho rằng một cánh cửa tương tự đã được tìm thấy tại Kim tự tháp Bent của Dashur.
Herodotus đã đến thăm Ai Cập vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên và kể lại một câu chuyện mà ông từng nghe kể về những căn hầm dưới kim tự tháp được xây dựng trên một hòn đảo nơi thi thể của Khufu nằm lại. Edwards lưu ý rằng kim tự tháp "gần như chắc chắn đã được mở ra và đồ đạc của nó bị cướp bóc từ rất lâu trước thời Herodotus" và nó có thể đã bị đóng cửa một lần nữa trong Vương triều thứ hai mươi sáu của Ai Cập khi các di tích khác được trùng tu. Ông gợi ý rằng câu chuyện được kể cho Herodotus có thể là kết quả của gần hai thế kỷ kể đi kể lại của các hướng dẫn viên kim tự tháp.
|
Gone with the Wind (phim)
Cuốn theo chiều gió (tiếng Anh: "Gone With the Wind") (1939) là bộ phim Mỹ, thuộc thể loại phim chính kịch-lãng mạn-sử thi, được phỏng theo tiểu thuyết cùng tên của Margaret Mitchell, xuất bản năm 1936. Phim được sản xuất bởi David O.Selznick, đạo diễn Victor Fleming và kịch bản gốc Sidney Howard. Bộ phim được quay ở miền Nam nước Mỹ trong thời gian xảy ra nội chiến. Các diễn viên chính bao gồm: Clark Gable, Vivien Leigh, Leslie Howard, Olivia de Havilland và Hattie McDaniel. Nội dung của phim xoay quanh cuộc nội chiến Mỹ và thời kì tái thiết nhìn từ quan điểm của một người Mỹ da trắng ở miền Nam.
Ra mắt năm 1939, "Gone With the Wind" vẫn chứng tỏ sức sống lâu bền trong lòng khán giả khi dẫn đầu danh sách 100 bộ phim thành công nhất mọi thời đại về doanh thu tại Mỹ. Đây là kết quả từ cuộc thăm dò của nhật báo điện ảnh "Screen Digest". Bộ phim đoạt 9 giải Oscar vừa được bình chọn là bộ phim có nhiều khán giả nhất mọi thời đại trong lịch sử chiếu bóng Anh Quốc. Kể từ khi được phát hành năm 1939, "Cuốn theo chiều gió" đã mang lại 3.4 tỷ đô la, vẫn kém so với con số 4 tỷ đô la doanh thu phòng vé mà "Titanic hay " kiếm được, tính đến thời điểm này).
Bộ phim được bình chọn là một trong 100 phim hay nhất của điện ảnh Hoa Kỳ bởi viện phim Mỹ (đứng thứ 6 trong danh sách năm 2007).
Với độ dài ba giờ bốn mươi phút và bốn phút nghỉ giữa các phần, Cuốn theo chiều gió là bộ phim Mỹ có lồng tiếng dài nhất từng được thực hiện tính đến thời điểm hiện tại.
Tóm tắt nội dung.
Bộ phim bắt đầu trên trang trại trồng bông Tara ở vùng nông thôn Georgia năm 1861 - thời kì nước Mỹ đang xảy ra nội chiến, nơi mà Scarlett O'Hara (Vivien Leigh) đang tán tỉnh hai anh em nhà Tarleton, Brent (Fred Crane) và Stuart (George Reeves). Scarlett, Suellen (Evelyn Keynes) và Careen (Ann Rutherford) là ba cô con gái của một người di cư gốc Ailen, Gerald O'Hara (Thomas Mitchell), và vợ ông, Ellen O'Hara (Barbara O'Neil), một hậu duệ của dòng dõi quý tộc Pháp. Hai anh em nhà Tarleton chia sẻ với Scarlett một bí mật, rằng Ashley Wilkes (Leslie Howard), người mà Scarlett thầm yêu, sẽ cưới chị em họ anh ta là Melanie Hamilton (Olivia de Havilland). Lễ đính hôn dự định sẽ được thông báo và ngày tiếp theo đó trong bữa tiệc ngoài trời tại nhà Ashley, trang trại Twelve Oaks gần đó.
Tại Twelve Oaks, Scarlett nhận ra cô đang được mến mộ bởi Rhett Butler (Clark Gable), một khách mời đẹp trai láu cá mà đã bị dòng họ ở Charleston của anh ta từ mặt. Rhett bị mọi người phản đối trong một cuộc thảo luận về chiến tranh, khi anh cho rằng miền Nam chẳng có cơ hội nào thắng những con số vượt trội và sức mạnh công nghiệp của miền Bắc. Scarlett lẻn đi khi mọi người đang ngủ trưa để được ở một mình với Ashley trong thư viện, và thú nhận tình yêu dành cho anh. Ashley thừa nhận anh thấy Scarlett hấp dẫn, và rằng anh cũng đã luôn thầm yêu cô, nhưng anh và Melanie ngọt ngào hợp nhau hơn. Cô buộc tội Ashley đã khiến cô hiểu nhầm và tát anh một cách giận dữ. Ashley im lặng bỏ đi còn Scarlett càng tức giận khi biết rằng Rhett đang chợp mắt trên ghế bành trong thư viện, và anh đã nghe lỏm toàn bộ câu chuyện. "Này ông, ông thật chẳng ra dáng một quý ngài!", và anh đáp lại lời của cô: "Còn cô, thưa cô, chẳng phải một quý bà!". Tuy nhiên Rhett hứa sẽ giữ kín bí mật tội lỗi của cô. Scarlett vội vã rời khỏi thư viện. Bữa tiệc bị gián đoạn bởi thông báo rằng chiến tranh đã nổ ra, do đó đám đàn ông phải vội đi tòng quân và đám phụ nữ thì bị tỉnh giấc trưa. Khi Scarlett nhìn Ashley hôn tạm biệt Melanie từ trên lầu, cậu em trai nhút nhát của Melanie, Charles Hamilton (Rand Brooks), người mà Scarlett đã vô tư đùa bỡn, hỏi cưới cô trước khi lên đường. Mặc dù không thực sự yêu Charles nhưng Scarlett vẫn đồng ý với mục đích tiếp cận gia đình Ashley và khiến anh ghen tuông. Charles và Scarlett cưới trước khi anh lên đường ra mặt trận.
Scalett sớm goá bụa khi Charles chết vì bệnh viêm phổi và bệnh sởi trong quá trình phục vụ quân đội Liên minh miền Nam. Mẹ của Scarlett gửi cô đến nhà Hamilton ở Atlanta để khiến cô vui lên, mặc dù bà vú trực tính Mammy (Hattie McDaniel) bảo với Scarlett rằng bà biết cô tới đó chỉ hòng hi vọng Ashley quay lại. Scarlett và Melanie tham gia buổi bán hàng từ thiện ở Atlanta; Scarlett, người đáng nhẽ phải chìm đắm trong tột cùng đau khổ thì bị xì xào căm ghét. Rhett, bây giờ là người hùng vượt phong tỏa của Liên minh, xuất hiện trong sự ngạc nhiên của mọi người. Scarlett thậm chí còn làm dân chúng Atlanta kinh ngạc hơn khi chấp nhận lời mời nhảy cùng của Rhett. Trong khi nhảy, Rhett tiết lộ ý định giành lấy cô, và Scarlett đáp rằng điều đó sẽ chẳng bao giờ xảy ra khi mà cô còn đang sống.
Cuộc chiến trở nên bất lợi cho Liên minh sau trận Gettysburg mà trong đó nhiều đàn ông ra đi từ thị trấn của Scarlett đã hi sinh. Scarlett một lần nữa không thành trong nỗ lực giành lấy trái tim Ashley khi anh về nghỉ lễ Giáng sinh, mặc dù họ đã hôn nhau say đắm trong phòng khách trước khi anh quay trở lại mặt trận. Trong bệnh viện, Scarlett và Melanie chăm sóc những chiến sĩ bị thương (Cliff Edwards).
Tám tháng sau, thành phố bị bao vây bởi quân đội Liên bang trong chiến dịch Atlanta, Melanie trở dạ sớm. Giữ lời hứa với Ashley rằng sẽ "chăm sóc Melanie", Scarlett và người hầu gái Prissy (Butterfly McQueen) phải tự đỡ đẻ mà không có bác sĩ. Scarlett cầu xin Rhett đưa cô trở về Tara ngay lập tức cùng với Melanie, Prissy và đứa bé. Anh xuất hiện trên xe ngựa để mang họ rời khỏi thành phố trên một hành trình nguy hiểm vượt qua những bến ga và kho hàng bốc cháy. Anh bỏ cô lại cùng với con ngựa sắp chết, Melanie đang hấp hối, đứa bé và Prissy khóc lóc sướt mướt, cùng một nụ hôn say đắm trên đường trở về Tara. Cô đáp lại sự sửng sốt của anh bằng một cái tát khi anh lên đường chiến đấu cho quân đội Liên minh. Trên hành trình trở về nhà, Scarlett thấy Twelve Oaks bị cháy, tàn phá và bỏ hoang. Cô thở phào nhìn thấy Tara vẫn còn nhưng tất cả đã bỏ đi ngoại trừ bố mẹ cô, những người chị em và hai người làm, Mammy và Pork (Oscar Polk). Scarlett biết tin mẹ cô vừa mất vì sốt thương hàn còn cha cô thì đang trở nên mất trí sau những đau khổ. Trước Tara không có ai coi sóc và bị cướp phá bởi đám lính Liên Bang, Scarlett thề cô sẽ làm bất cứ điều gì để cứu sống gia đình và bản thân: "Có chúa chứng giám, ta sẽ không bao giờ đói nữa".
Scarlett xếp đặt công việc thu hoạch bông cho người nhà và giúp việc. Cô còn giết cả một tên lính miền Bắc đào ngũ đã đột nhập và hăm doạ cô, và tìm được tiền vàng trong túi dết của hắn, đủ để chu cấp cho gia đình cô trong một thời gian ngắn. Chiến tranh kết thúc với sự thất bại của quân Liên minh. Ashley trở về sau khi bị bắt làm tù binh. Mammy ngăn Scarlett chạy đến bên anh trong ngày anh và Melanie đoàn tụ. Ashley chán nản thấy mình không giúp được gì nhiều cho Tara, và khi Scarlett cầu xin anh hãy chạy trốn cùng cô, anh thú nhận rằng anh khao khát cô rồi hôn cô say đắm, nhưng cũng nói rằng anh không thể rời bỏ Melanie. Gerad O’Hara chết vì ngã ngựa trong lúc cố rượt tên Yankee, đốc công cũ của Tara bây giờ muốn mua lại điền trang này, ra khỏi lãnh địa của ông. Chỉ còn lại Scarlett một mình gánh vác gia đình, và cô nhận thấy là không thể trả nổi những khoản thuế má ngày càng tăng cho Tara. Biết rằng Rhett vẫn còn ở Atlanta và tin rằng anh vẫn giàu có, cô yêu cầu Mammy may cho một chiếc váy từ tấm rèm cũ của mẹ cô vẫn treo trong phòng khách. Tuy nhiên, qua cuộc viếng thăm, Rhett bảo cô rằng tài khoản ngân hàng của anh đã bị phong toả, và rằng nỗ lực vay mượn của cô là vô ích.
Khi Scarlett từ biệt Rhett, cô chạm trán vị hôn phu của cô em gái, Frank Kennedy (Carroll Nye) đã luống tuổi, người mà hiện tại đang sở hữu một cửa hàng tạp hoá và một nhà máy xẻ gỗ đều làm ăn phát đạt. Scarlett nói dối rằng Suellen mệt mỏi vì chờ đợi và đã cưới một gã đẹp trai khác. Sau khi trở thành bà Frank Kennedy, Scarlett cũng tiếp quản luôn công việc kinh doanh của chồng, và nàng dùng lợi nhuận kiếm được để mua một nhà máy cưa mà đã rất phát đạt trong quá trình tái thiết Atlanta, một phần là vì cô sẵn sàng giao thương với cả bọn Yankee đáng khinh cũng như thuê dùng những công nhân từng ngồi tù trong nhà máy của cô. Khi Ashley sắp nhận được một công việc trong nhà băng, Scarlett lại nhử tính yếu đuối của anh bằng cách khóc lóc rằng cần anh giúp một tay điều hành nhà máy cưa. Dưới sức ép từ Melanie, anh nhận lời. Một hôm, sau vụ Scarlett bị tấn công khi đánh xe một mình qua khu ổ chuột lân cận, Frank, Ashley và những người khác đã bất ngờ đột kích vào khu phố đó. Ashlet bị thương trong cuộc ẩu đả với đám lính Liên bang, còn Frank thì chết.
Sau đám tang của Frank, Rhett tới thăm Scarlett và cầu hôn nàng. Scarlett chấp nhận anh một phần vì tiền. Anh hôn nàng say đắm và nói rằng rồi một ngày anh sẽ giành được tình yêu của nàng bởi cả anh và nàng đều giống nhau. Sau tuần trăng mật ở New Orleans, Rhett hứa rằng sẽ lấy lại vẻ huy hoàng cũ cho Tara, trong khi Scarlett xây dựng biệt thự lớn nhất ở Atlanta. Hai người có với nhau một bé gái. Scarlett muốn đặt tên bé là Eugenie Victoria, nhưng Rhett lại đặt là Bonnie Blue Butler (Cammie King). Rhett làm mọi thứ để có được danh tiếng tốt đối với dân chúng Atlanta vì lợi ích của cô con gái bé bỏng. Scarlett, vẫn bám lấy Ashley và buồn phiền trước những dấu hiệu đi xuống của nhan sắc (vòng eo của nàng đã tăng từ 18,5 inch lên 20 inch), nói với Rhett rằng cô không muốn có thêm con nữa và rằng họ sẽ không ngủ chung giường kể từ nay. Trong cơn tức giân, anh đạp đổ cánh cửa ngăn đôi phòng ngủ của hai người, cho cô biết rằng cô không thể xua đuổi anh một khi anh đã muốn gần cô.
Một hôm trong lúc đi thăm nhà máy, Scarlett và Ashley cùng ôn lại những kỉ niệm xưa cũ, và khi cô ôm lấy anh để an ủi thì đã bị phát hiện bởi hai kẻ hay buôn chuyện, trong đó có chị gái India của Ashley, người vốn ghét Scarlett. Họ hăm hở rêu rao tin đồn khắp nơi và danh tiếng của Scarlett lại một lần nữa bị huỷ hoại. Tối hôm đó, Rhett, đã biết chuyện, buộc Scarlett phải ra khỏi giường và đến dự bữa tiệc sinh nhật của Ashley. Không tin bất cứ lời nói xấu nào về chị dâu mình, Melanie đã đứng về phía Scarlett để cho mọi người thấy rằng cô tin những tin đồn kia là sai sự thật.
Tối muộn hôm đó, sau khi về đến nhà, trong khi định lén lấy cho mình một ly rượu thì Scarlett phát hiện ra Rhett đang ngồi uống ở tầng dưới. Mù quáng vì ghen tuông, anh bảo Scarlett rằng anh có thể giết cô nếu điều đó có thể khiến cô quên được Ashley. Bế xốc cô lên tầng, anh nói: "Đêm nay em sẽ không đẩy tôi ra". Cô tỉnh dậy vào sáng hôm sau với vẻ hạnh phúc tội lỗi, nhưng Rhett trở lại để xin lỗi cô và đề nghị li hôn. Scarlett không đồng ý, nói rằng đó là một sự ô nhục. Rhett quyết định mang theo Bonnie trong chuyến đi dài ngày đến Luân Đôn. Tuy nhiên sau đấy anh nhận ra rằng một đứa bé như Bonnie vẫn luôn cần có mẹ vì một đêm, Bonnie gặp ác mộng và bé đã khóc gọi mẹ trong mơ. Rhett trở về cùng với Bonnie và Scarlett vui sướng được gặp lại anh, nhưng anh cự tuyệt nỗ lực hoà giải của cô. Anh để ý thấy sự khác biệt ở cô. Cô cho anh biết cô đang mang bầu nữa. Rhett hỏi ai là cha đứa bé và Scarlett nói với anh rằng anh biết rõ đấy là ai và thậm chí cô còn chẳng muốn đứa bé. Bị tổn thương, Rhett bảo cô "Vui lên đi. Biết đâu cô sẽ gặp tai nạn." Điên tiết, Scarlett nhảy bổ vào Rhett nhưng bị trượt chân ngã xuống cầu thang và sẩy thai. Rhett, phát điên lên vì cảm giác tội lỗi, khóc và kể với Melanie về cơn ghen của anh nhưng vẫn không để lộ sự thật về tình cảm của Scarlett dành cho Ashley.
Khi Scarlett đang hồi phục thì Bonnie bé bỏng, cũng bốc đồng như ông ngoại, chết trong một cú ngã trong lúc nhảy qua hàng rào với chú ngựa con. Scarlett đổ lỗi cho Rhett còn Rhett thì đổ lỗi cho chính mình. Melanie tới thăm để an ủi họ, và thuyết phục Rhett hãy để Bonnie được yên nghỉ nhưng sau đó thì cô đổ gục khi mang cái thai thứ hai mà bác sĩ đã cảnh báo có thể khiến cô mất mạng. Lúc hấp hối, cô nhờ Scarlett chăm sóc Ashley dùm cô như nàng đã từng chăm sóc cô dùm Ashley. Melanie cũng bảo Scarlett hãy đối tốt với Rhett vì anh rất yêu cô và trút hơi thở cuối cùng. Bên ngoài, Ashley khuỵu xuống trong nước mắt, vô vọng khi không còn vợ nữa. Chỉ đến lúc đấy Scarlett mới nhận ra cô không hề có một ý nghĩa gì trong anh, rằng cô đã yêu một điều gì đó chưa từng tồn tại. Cô chạy về nhà chỉ để biết rằng Rhett đang đóng gói hành lý rời bỏ cô. Cô cầu xin anh đừng đi, nói với anh rằng cô đã luôn yêu anh, rằng cô chưa từng thật sự yêu Ashley. Nhưng, anh cự tuyệt, nói rằng cái chết của Bonnie đã đi cùng với mọi cơ hội hàn gắn giữa hai người. Và khi cô nhắc lại rằng cô yêu anh, anh khẳng định: "Đấy là điều không may của em".
Khi Rhett bước ra khỏi cửa, dự định sẽ quay về quê hương Charleston của anh, Scarlett van nài, "Rhett, nếu anh đi, em sẽ về đâu? Em sẽ làm gì?" Anh đã trả lời một câu nổi tiếng, "Nói thẳng là, em yêu, tôi đếch quan tâm!" và lẩn vào màn sương. Cô ngồi trên bậc thang và khóc trong tuyệt vọng, "Vậy thì có sao chứ?". Và rồi cô nhớ lại giọng nói của Gerald, Ashley, Rhett, tất cả họ đều gợi nhắc cô rằng sức mạnh của cô đến từ chính Tara. Hi vọng bừng sáng trên gương mặt Scarlett: "Tara! Nhà. Mình sẽ về nhà, và mình sẽ nghĩ cách mang Rhett trở về! Rốt cuộc thì, ngày mai là một ngày khác!". Trong cảnh cuối, Scarlett đứng dậy, kiên quyết, trước khi đến Tara.
Về biên kịch Sidney Howard, nhà nghiên cứu lịch sử điện ảnh Joanne Yeck viết, "đơn giản hoá cuốn tiểu thuyết đồ sộ Cuốn theo chiều gió quả thực là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, yêu cầu bộ phim kéo dài ít nhất sáu tiếng đồng hồ;... Selznick đã muốn Howard ở lại để sửa bản thả, bản thảo đã được sửa lại bởi một nhóm những nhà viết kịch địa phương, gồm cả Bent H"
Nhà sản xuất David O.Selznick đã thay đạo diễn ba tuần trước khi khởi quay và sau đó thay luôn kịch bản. Ông tìm ra Victor Fleming, người mà thời điểm đó đang thực hiện bộ phim "The Wizard of Oz". Fleming đã không bằng lòng với kịch bản nên Selznick đã yêu cầu nhà viết kịch lừng danh Ben Hecht viết lại hoàn toàn kịch bản trong vòng năm ngày." Nhà viết kịch Ron Hutchinson đã khai thác tình tiết li kì này trong vở kịch nổi tiếng Moonlight and Magnolias, khi mà "Selznick thực sự nhốt bản thân ông cùng Fleming và Ben Hecht trong phòng trong vòng năm ngày để viết lại hoàn toàn kịch bản".
Cùng lúc bộ phim được phát hành năm 1939, người ta đã thắc mắc rằng ai nên được cho là người biên kịch cho bộ phim. "Tuy nhiên bất chấp những thay đổi và số lượng người tham gia biên kịch, kịch bản cuối cùng giống bản thảo của Howard một cách đáng kể. Tên của Howard xuất hiện duy nhất trong phần hiệu đính như là một sự tưởng nhớ đến ông và sự nghiệp của ông, vì năm 1939, Sidney Howard chết thảm khốc trong một vụ tai nạn máy kéo trên nông trường ở tuổi bốn mươi tám, trước khi bộ phim được khởi chiếu."
Selznick nhớ lại vào tháng 10 năm 1939, cuộc thảo luận với người hiệu đính cho phim:
"Anh có thể nó thẳng rằng một phần tương đối nhỏ trong những chất liệu của bộ phim mà không phải từ truyện, phần lớn là chính bản thân tôi, và những lời thoại duy nhất không phải của tôi thì một ít là của Sidney Howard, một ít của Ben Hecht và một ít của John Van Druten. Tôi nghi ngờ rằng có khoảng mười từ trong kịch bản là của Oliver Garrett. Về phần kết cấu, khoảng tám mươi phần trăm là của tôi, phần còn lại thì chia cho Jo Swerling và Sidney Howard, cùng Ben Hecht đóng góp cho kết cấu của phần cuối".
Theo người viết tiểu sử cho Hecht, illiam MacAdams, "Lúc bình minh ngày chủ nhật 20 tháng 2 năm 1939, David Selznick và đạo diễn Victor Fleming lắc Hecht dậy để thông báo rằng ông đang nợ MGM và phải đi cùng họ ngay lập tức để quay Cuốn theo chiều gió mà đã được bấm máy từ năm tuần trước. Selznick mất khoảng 50,000 đô-la cho mỗi một ngày trì hoãn bộ phim để đợi biên kịch và thời gian thì rất là cấp bách.
Hetch lúc đấy đang làm dở dự án At the Circus cho anh em Marx. Nhớ lại bức thư viết cho người bạn Gene Fowler, cũng là một nhà biên kịch, Hecht nói ông chưa từng đọc cuốn tiểu thuyết nhưng Selznick và Fleming không thể đợi cho tới khi ông đọc xong nó. Họ phải ứng biến dựa trên kịch bản gốc của Howard. Hecht viết, "Sau mỗi cảnh được thảo luận và mổ xẻ, tôi ngồi xuống trước máy chữ và gõ nó ra. Selznick và Fleming nóng lòng muốn tiếp tục việc quay phim đang dở của họ liên tục giục tôi. Chúng tôi làm việc như vậy trong bảy ngày, từ mười tám đến hai mươi giờ một ngày. Selznick không cho chúng tôi ăn trưa với lý do rằng ăn uống sẽ làm chậm tiến độ. Anh ta chỉ cho chúng tôi chuối và lạc muố
Katie Scarlett O'Hara Hamilton Kennedy Butler: Nhân vật chính của tác phẩm, một cô gái xinh đẹp, con của một điền chủ giàu có ở Georgia trước nội chiến Mỹ. Nàng đã 3 lần kết hôn, tính tình ích kỷ, ngang bướng nhưng là con người đầy nghị lực và sức mạnh vượt qua khó khăn.
Scarlett O'Hara do nữ diễn viên Vivien Leigh thủ vai.
Rhett Butler: Người chồng thứ ba của Scarlett, một con người từng trải, mưu trí, vô cùng thông minh và sâu sắc, thực dụng nhưng cũng rất đa cảm và có một tình yêu thương vô bờ bến dành cho Scarlett và Bonnie.
Rhett Butler được thể hiện bởi Clark Gable.
George Ashley Wilkes: "George Ashley Wilkes": Chồng của Melanie và là người Scarlett theo đuổi đến gần hết tác phẩm. Một người đàn ông quý phái và hay mơ mộng, thông minh nhưng yếu đuối, dễ gục ngã trước thực tế.
Melanie Hamilton Wilkes: Vợ và là chị em họ của Ashley, chị chồng Scarlett, một người phụ nữ quý phái, yếu đuối, hiền dịu, đôn hậu nhưng lại đầy nghị lực và sức mạnh tiềm ẩn, là điểm tựa tinh thần của Ashley và Scarlett. Sau khi cố gắng sinh đứa con thứ hai, nàng đã mất vì không đủ sức khỏe.
Một vài chi tiết thú vị.
Tất cả rượu sử dụng trong bộ phim đều là trà. Tuy nhiên, trong cảnh quay khi Clark Gable và Hattie McDaniel uống mừng ngày sinh của Bonnie thì Gable đã bí mật thay trà bằng rượu thật. Hattie không hề biết chút gì cho tới khi uống một ngụm. Chiều hôm sau, Gable hỏi Hattie: "Này vú, cơn say rượu thế nào?
Gable cũng bị đoàn làm phim chơi một vố. Trong cảnh quay khi Rhett tới để cứu Scartlett, Prissy và hai mẹ con Melanie, Rhett phải vào phòng ngủ để bế Melanie (đang bệnh) ra khỏi giường. Nhân viên hậu trường đã khâu thêm 70 pounds vào đồ ngủ của Melanie. Khi Gable bế de Havilland lên, ông cảm thấy bà nặng hơn bình thường. Vốn là người là người rất vui tính, Gable đã đùa lại rằng có ai đó trong đoàn làm phim đã đóng đinh de Ha villand vào giường.
Trong bốn nhân vật chính trong phim thì Melanie là nhân vật duy nhất chết. Điều kì lạ là ngoài đời thực thì diễn viên Olivia de Havilland là diễn viên sống lâu nhất (bà qua đời năm 2020 ở tuổi 104) (Leslie Howard mất vì tai nạn máy bay trong chiến tranh, Vivien Leigh mất năm 1967 do căn bệnh viêm phổi còn Clark Gable thì chết vì nhồi máu cơ tim vào năm 1960)
Vivien Leigh nói rằng bà không thích hôn Clark Gable vì miệng ông có mùi rất khó chịu.
Khi Hattie McDaniel nhận được giải Oscar, bà sung sướng đến phát khóc và chỉ lý nhí được lời cảm ơn. Bạn diễn của bà, Olivia de Havilland đã tới chúc mừng và chỉ đến lúc ấy, de Havilland mới nhớ ra là mình đã bị vuột mất giải Oscar (cả hai người đều được đề cử giải Oscar cho diễn viên phụ xuất sắc nhất). Quá thất vọng, de Havilland đã lặng lẽ ra ngoài trong nước mắt.
Trong giờ nghỉ, Vivien Leigh và Clark Gable thường chơi trò battleship (một trò đố chữ). Một lần, hai người mời Olivia de Havilland chơi và bà đã dễ dàng đánh bại cả hai người. Từ đó, Leigh và Gable không cho de Havilland chơi cùng nữa.
Trong thời gian quay phim, Vivien Leigh hút bốn gói thuốc lá một ngày.
Phần nhạc sử dụng trong phim được xếp thứ 2 trong Danh sách 100 năm nhạc phim của Viện phim Mỹ
Phim được đề cử 13 giải năm 1939, trong đó có 8 đoạt giải, trở thành phim đầu tiên đoạt trên 5 giải Oscar.
Được viện phim Mĩ xếp loại
|
Đường Lâm là một xã thuộc thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Đường Lâm nằm bên hữu ngạn sông Hồng (bờ phía Nam), cạnh đường Quốc lộ 32, tại ngã ba giao cắt với Quốc lộ 21A. Xã cách Hà Nội 50 km về phía Tây. Sông Tích Giang chảy từ hướng hồ Suối Hai qua Đường Lâm để vào thị xã Sơn Tây.
Phía Tây và Tây Bắc giáp xã Cam Thượng huyện Ba Vì
Phía Tây Nam giáp xã Xuân Sơn
Phía Nam giáp xã Thanh Mỹ
Phía Đông Nam giáp phường Trung Hưng
Phía Đông giáp phường Phú Thịnh
Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
Tên gọi Đường Lâm được nhắc tới trong Đại Việt sử ký toàn thư là nơi sinh của Phùng Hưng, Ngô Quyền. Còn trong An Nam chí lược của Lê Tắc lại ghi kèm Châu Ái. Điều này dẫn tới một số tranh luận gần đây về 3 địa điểm được cho là Đường Lâm thật gồm: Sơn Tây, Thanh Hóa và Hà Tĩnh. Chi tiết xem mục tồn nghi bên dưới.
Nơi này cũng xuất hiện với tên gọi Thôn Đường trong sự kiện Loạn hai thôn Đường Nguyễn xảy ra ở đất Thái Bình (tỉnh Sơn Tây) khi vua Ngô Quyền mất, Dương Tam Kha cướp ngôi và cháu của Ngô Quyền là Ngô Nhật Khánh đã nổi lên chống họ Dương, trở thành một trong 12 sứ quân đóng tại đây.
Trải qua nhiều thời kỳ, tới sau tháng 8/1945 xã Đường Lâm được tái lập từ các làng cũ của tổng Cam Giá Thịnh, huyện Phúc Lộc, vốn là nơi đặt lỵ sở của trấn Sơn Tây.
Trong số 9 thôn thuộc xã Đường Lâm hiện nay có 5 thôn thực sự là những làng cổ: Cam Thịnh (gọi tắt từ Cam Giá Thịnh), Cam Lâm (trước gọi là Cam Tuyền), Đoài Giáp, Đông Sàng và Mông Phụ. 4 thôn kia thì tương đối mới: vào nửa đầu thế kỷ 19, Phụ Khang là một xóm biệt lập của Mông Phụ; vốn là xóm cũ của Đông Sàng và Cam Thịnh, 2 làng Hà Tân và Hưng Thịnh được biến thành thôn cách đây khoảng 30 - 40 mươi năm; còn Văn Miếu thì mới tách ra từ Mông Phụ.
Đường Lâm trở thành làng cổ đầu tiên ở Việt Nam được Nhà nước trao bằng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia ngày 19 tháng 5 năm 2006.
Đây là quê hương nhiều danh nhân như bà Man Thiện (mẹ của hai Bà Trưng), Bố Cái Đại vương Phùng Hưng, vua Ngô Quyền, Thám hoa Giang Văn Minh, bà chúa Mía (người xây chùa Mía, vương phi của chúa Trịnh Tráng), Phan Kế Toại, Hà Kế Tấn, Kiều Mậu Hãn, Phan Kế A
Tuy thường được gọi là "làng cổ" nhưng thực ra Đường Lâm từ xưa "gồm 9 làng" thuộc tổng Cam Giá Thịnh huyện Phúc Thọ trấn Sơn Tây, trong đó 5 làng Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp và Cam Lâm liền kề nhau. Các làng này gắn kết với nhau thành một thể thống nhất với phong tục, tập quán, và tín ngưỡng hàng ngàn năm nay không hề thay đổi. Đầu thế kỷ 19, Đường Lâm là nơi đặt lỵ sở của trấn Sơn Tây.
Sách Đại Việt địa dư toàn biên, Nguyễn Văn Siêu viết: "... Bố Cái Đại Vương là Phùng Hưng. Tiền Ngô Vương Quyền đều là người Đường Lâm. Nay xã Cam Lâm, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ (xã Cam Lâm trước là xã Cam Tuyền) có 2 đền thờ Bố Cái Đại Vương và Tiền Ngô Vương. Còn có một bia khắc rằng: Bản xã đất ở rừng rậm, đời xưa gọi là Đường Lâm, đời đời có anh hào. Đời nhà Đường có Phùng Vương tên húy Hưng, đời Ngũ Đại có Ngô Vương tên húy Quyền. Hai vương cùng một làng, từ xưa không có. Uy đức còn mãi, miếu mạo như cũ. Niên hiệu đề là Quang Thái năm thứ 3 (Trần Thuận Tông-1390) mùa xuân tháng 2, ngày 18 làm bia nà"
Di sản kiến trúc.
Ngày nay, làng Đường Lâm vẫn giữ được hầu hết các đặc trưng cơ bản của một ngôi làng người Việt với cổng làng, cây đa, bến nước, sân đình, chùa, miếu, điếm canh, giếng nước, ruộng nước, gò đồi. Hệ thống đường sá của Đường Lâm rất đặc biệt vì chúng có hình xương cá. Với cấu trúc này, nếu đi từ đình sẽ không bao giờ quay lưng vào cửa Thánh.
Một điểm đặc biệt là Đường Lâm còn giữ được một cổng làng cổ ở làng Mông Phụ. Đây không phải là một cổng làng như các cổng làng khác ở vùng Bắc Bộ có gác ở trên mái với những mái vòm cuốn tò vò mà chỉ là một ngôi nhà hai mái đốc nằm ngay trên đường vào làng. Cũng ở làng Mông Phụ có đình Mông Phụ - được xây dựng năm 1684 (niên hiệu Vĩnh Tộ đời vua Lê Hy Tông) - là ngôi đình đặc trưng cho đình Việt truyền thống. Sân đình thấp hơn mặt bằng xung quanh nên khi trời mưa, nước chảy vào sân rồi thoát ra theo hai cống ở bên tạo thành hình tượng hai râu rồng. Hàng năm, đình tổ chức lễ hội từ mùng Một đến mùng Mười tháng Giêng âm lịch với các trò chơi như thu lợn thờ, thi gà thờ...
Về nhà cổ, ở Đường Lâm có 956 ngôi nhà truyền thống trong đó các làng Đông Sàng, Mông Phụ và Cam Thịnh lần lượt có 441, 350 và 165 nhà. Cò nhiều ngôi nhà được xây dựng từ rất lâu (năm 1649, 1703, ). Đặc trưng của nhà cổ truyền thống ở đây là tất cả đều được xây từ những khối xây bằng đá ong.
Trong số 8 di tích lịch sử - văn hóa ở Đường Lâm (có đình Mông Phụ), chùa Mía (tức Sùng Nghiêm tự) được Bộ Văn hóa Thông tin xếp vào loại đặc biệt. Chùa có 287 pho tượng gồm 6 tượng đồng, 107 tượng gỗ và 174 tượng đất (làm từ đất sét, thân và rễ cây si).
Văn miếu Sơn Tây.
Văn miếu Sơn Tây là văn miếu cấp vùng của cả vùng xứ Đoài, trước thời nhà Nguyễn cho tới năm 1831, là một trong 4 văn miếu của tứ trấn Thăng Long. Năm 1831 tỉnh Sơn Tây nhà Nguyễn được thành lập, nó trở thành Văn miếu của tỉnh Sơn Tây nhà Nguyễn, thời này nó được đặt ở làng Cam Giá Thịnh (tức thôn Cam Thịnh Đường Lâm ngày nay). Đến tháng 7 âm lịch năm Đinh Mùi, niên hiệu Thiệu Trị thứ 7 (1847), Văn miếu tỉnh Sơn Tây được dời từ Cam Thịnh đến làng (tức xã thời Nguyễn) Mông Phụ thuộc tổng Cam Giá Thịnh, vị trí này nay trùng với vị trí Văn miếu phục dựng năm 2012 thôn Văn miếu xã Đường Lâm. Thời gian này Nguyễn Đăng Giai làm tổng đốc Sơn Hưng Tuyên cho di dời. Năm Thành Thái thứ 3 (1891), tổng đốc Sơn Hưng Tuyên Cao Xuân Dục cho trùng tu lại tại vị trí năm 1847. Tới thời năm 1947, do chủ trương tiêu thổ kháng chiến chống Pháp của Việt Minh và do chiến tranh tàn phá những năm 1947-1954 di tích này không còn tồn tại. Thời Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam trước năm 2012, trên nền di tích chính quyền cho xây dựng một cơ sở cao 7 tầng để chế biến thức ăn và chăn nuôi gia xúc gia cầm (bảo tồn giống gà Mía đặc sản địa phương). Năm 2012, chính quyền thành phố Hà Nội cho di dời cơ sở chăn nuôi này đi chỗ khác để phục dựng lại Văn miếu Sơn Tây.
Nghề làm tương ở đây cũng rất nổi tiếng và chất lượng tương của làng không hề thua kém các làng làm tương khác như làng Bần Yên Nhân (Hưng Yên), Cự Đà (Thanh Oai, Hà Tâ).Ngoài ra còn nổi tiếng vời loại kẹo dồi, kẹo lạc, chè lam thơm ngon, đặc sản. Đường lâm cũng nổi tiếng với món thịt quay đòn, hương vị đặc biệt mà chỉ nơi đây mới có.
"Đại Việt sử ký toàn thư" chỉ ghi quê Ngô Quyền và Phùng Hưng là Đường Lâm, không chú thích cụ thể. Trong khi "Việt điện u linh" và "Lĩnh nam chích quái" viết thời Trần cho thấy nhiều mối liên hệ về Đường Lâm như: sông Phúc Lộc (tức Phúc Thọ), gần Đỗ Động (tức Quốc Oai, Thanh Oai) và gần Phong châu (tức Vĩnh Tường, Việt Trì). Còn sử liệu Trung Quốc cho biết Đường Lâm được lập dưới thời Đường với những điểm chính:
Hiện có bốn luồng ý kiến tranh luận về Đường Lâm là:
|
Giorgio Napolitano (29 tháng 6 năm 1925 – 22 tháng 9 năm 2023), là nhà chính trị và là thượng nghị sĩ của Ý. Ông được bầu làm tổng thống thứ mười một của Cộng hòa Ý từ ngày 10 tháng 5 năm 2006 đến ngày 14 tháng 1 năm 2015. Ở tuổi 90, ông Napolitano là một trong số các nguyên thủ quốc gia cao tuổi nhất thế giới.
Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Ý từ năm 1945 đến năm 1991 nhưng sau này chuyển sang Đảng Dân chủ cánh tả, ông đã là Chủ tịch Hạ viện Ý từ 1992-1994 và Bộ trưởng Nội vụ từ 1996-1998.
Năm 1942, ông trúng tuyển tại trường Đại học Napoli Federico II. Ông đã gia nhập Tổ chức phát xít đại học địa phương ("Gioventù Universitaria Fascista"), nơi ông gặp nhóm bạn bè nòng cốt của mình, là những thành viên của chủ nghĩa phát xít. Sau này, ông khẳng định rằng, nhóm sinh viên đó thực ra là mảnh đất ươm trồng thực sự cho năng lượng tri thức chống phát xít.
Đắc cử tổng thống Ý.
Năm 2005, ông được bổ nhiệm là Nghị sĩ suốt đời, và ngày 6 tháng 10 năm 2006 ông được bầu làm Tổng thống Ý.
Ngày 20 tháng 4 năm 2013, ông đã tái đắc cử Tổng thống Ý nhiệm kỳ thứ hai. Với sự ủng hộ của tất cả các chính đảng lớn, trừ Phong trào Năm sao, ông Napolitano đã dễ dàng nhận được hơn 50% số phiếu bầu cần thiết (504 phiếu) trong tổng số 1.007 phiếu để giành chiến thắng trong phiên bỏ phiếu tại cuộc họp lưỡng viện đặc biệt của quốc hội.
|
Tổng thống Ý là nguyên thủ quốc gia Ý. Nhiệm kỳ tổng thống là bảy năm. Tổng thống Ý đại diện sự thống nhất dân tộc và đảm bảo rằng nền chính trị Ý tuân thủ theo hiến pháp Ý.
Tổng thống thực hiện nhiệm vụ như điểm kết nối 3 ngành: Được bầu bởi cơ quan lập pháp, bổ nhiệm Thủ tướng điều hành hành pháp, và là chủ tịch ngành tư pháp. Ngoài ra còn là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang.
Trình độ chuyên môn.
Những người soạn thảo Hiến pháp Ý cho rằng Tổng thống cần là một chính khách cao tuổi có vị thế. Theo điều 84 của hiến pháp Ý, bất kỳ công dân Ý nào đủ 50 tuổi vào ngày bầu cử và có quyền dân sự và chính trị có thể được bầu làm tổng thống.
Những người đang nắm giữ bất kỳ chức vụ nào đều bị ngăn cản trở thành Tổng thống, trừ khi họ miễn nhiệm chức vụ của họ được bầu trước đây.
Mặc dù Hiến pháp không quy định giới hạn nhiệm kỳ. Nhưng không có vị Tổng thống nào có nhiệm kỳ thứ 2 trừ Tổng thống Napolitano được bầu lại năm 2013. Khi đó đã đồng ý với nhiệm kỳ 2 vì Nghị viện bế tắc trong việc bầu cử Tổng thống. Nhưng ông không thực hiện hết nhiệm kỳ của mình và đã về hưu tháng 1/2015.
Tổng thống nước Cộng hòa được bầu bởi Quốc hội trong một phiên họp chung của Hạ viện Ý và Thượng viện Ý. Ngoài ra, 20 vùng của Ý cử 58 đại diện cử tri đặc biệt. Ba đại diện đến từ mỗi vùng, ngoại trừ Aosta Valley chỉ định một vị, các đại diện được bầu bởi Hội đồng Khu vực để đảm bảo quyền đại diện cho tất cả các địa phương và các dân tộc thiểu số.
Theo hiến pháp, cuộc bầu cử phải được tổ chức theo hình thức bỏ phiếu kín, với 315 thượng nghị sĩ, 630 đại biểu hạ và 58 đại diện khu vực bỏ phiếu. Tỷ lệ 2/3 số phiếu cần thiết để bầu trên bất kỳ ba vòng bỏ phiếu đầu tiên, sau đó là 1/2, và vòng cuối chỉ cần đa số phiếu là đủ. Cuộc bầu cử được chủ trì bởi Chủ tịch Hạ viện, người kêu gọi kiểm công khai kiểm phiếu. Việc bỏ phiếu được tổ chức tại "Palazzo Montecitorio", trụ sở của Hạ viện.
Tổng thống nhậm chức sau khi đã thực hiện một lời tuyên thệ trước Quốc hội và đọc diễn văn tổng thống.
Tổng thống được bầu duy nhất chỉ trong 1 vòng là Francesco Cossiga và Carlo Azeglio Ciampi. Sau đó Tổng thống Ciampi được Giorgio Napolitano thay thế trong cuộc bầu cử ngày 10/5/2006.
Tổng thống có nhiệm kỳ 7 năm, điều này ngăn cản bất cứ Tổng thống tái đắc cử của viện tương tự với nhiệm kỳ 5 năm, và cấp một số quyển tự do từ các mối quan hệ chính trị quá độ đến cơ quan bổ nhiệm.
Nhiệm kỳ của Tổng thống có thể kết thúc khi:
Cựu Tổng thống được gọi Tổng thống danh dự và được bổ nhiệm Thượng nghị sĩ suốt đời.
Khi Tổng thống vắng mặt, Chủ tịch thượng viện đảm nhiệm chức vụ của Tổng thống.
Hiến pháp quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng thống:
Trên thực tế chức vụ Tổng thống chủ yếu, cho dù không hoàn toàn mang tích chất lễ nghi. Hiến pháp quy định rằng mọi quyết định của Tổng thống phải được thành viên của Chính phủ ký tiếp (hoặc Thủ tướng hoặc cá nhân bộ trưởng), hầu hết quyết định của Tổng thống mang tích chất nghi thức và trách nhiệm chính trị thực sự thuộc về Chính phủ. Tuy nhiên quyền ân xá và giảm án là đặc quyền độc lập của Tổng thống.
Điều 86 Hiến pháp quy định, trong mọi trường hợp Tổng thống không đủ khả năng đảm đương trách nhiệm, thì Chủ tịch Thượng viện có vai trò là Quyền Tổng thống.
Trong trường hợp không thể đảm nhiệm, qua đời hoặc từ chức Tổng thống, Chủ tịch Hạ viện sẽ triệu tập cuộc bầu cử Tổng thống mới trong vòng 15 ngày, mặc dù nhiệm kỳ dài hơn dự tính trong thời gian Nghị viện giản tán hoặc 3 tháng trước khi giải tán.
Tổng thống cư trú tại cung điện Quirinal tại Rome, và có toàn quyền sử dụng tại Castelporziano, gần Rome, và Villa Rosebery, tại Naples.
|
Sữa chua hay Yogurt (ya-ua) là một chế phẩm sữa được sản xuất bằng cách cho vi khuẩn lên men sữa. Mọi loại sữa có thể dùng để làm sữa chua nhà làm, nhưng trong cách chế tạo hiện đại, sữa bò được dùng nhiều nhất.
Sữa chua đặc và yaourt là sản phẩm lên men lactic từ sữa bò tươi, sữa bột hay sữa động vật nói chung sau khi đã khử chất béo và thanh trùng vi khuẩn gây bệnh bằng phương pháp tiệt trùng Pasteur ở nhiệt độ 80-90 °C.
Quá trình tạo thành.
Sữa lên men thành sữa chua do vi khuẩn lactic và hiện tượng này gọi là lên men lactic. Sữa chua có vị sánh, sệt do vi khuẩn lactic đã biến dịch trong sữa thành dịch chứa nhiều axit lactic:
Đường lactose + (xt) vi khuẩn lactic = axit lactic + năng lượng (ít).
Từ đó, độ pH trong sữa giảm thấp, casein trong sữa sẽ đông tụ và làm cho sữa từ lỏng trở thành sệt.
Sữa chua chứa rất nhiều các khoáng chất như calci, vitamin C, vitamin D, kẽm, axit lactic và probiotic. Hàm lượng các chất có trong 180 gram sữa chua bao gồm:
Từ lâu sữa chua được biết đến như một nguồn bổ sung calci, kẽm và các vi khuẩn có lợi cho đường ruột. Các công dụng nổi bật của sữa chua bao gồm:
Sữa chua khi ăn có thể để thêm vài miếng trái cây, rất bỗ dưỡng cho sức khỏe và còn kích thích vị giác. Nó có thể là một bữa xế bổ dưỡng.
|
Malta (phiên âm tiếng Việt: Man-ta; ]), tên chính thức Cộng hòa Malta (: ), là một đảo quốc Nam Âu, gồm một quần đảo ở Địa Trung Hải. Nó tọa lạc ở vị trí về phía nam của Ý, về phía đông của Tunisia, và về phía bắc của Libya. Quốc gia này chỉ có diện tích , với dân số khoảng 450.000 người, khiến nó trở thành một trong những quốc gia nhỏ nhất, vào loại có mật độ dân cư dày nhất. Thủ đô của Malta, Valletta, với diện tích 0.8 km², là thủ đô nhỏ nhất trong Liên minh châu Âu. Malta có hai ngôn ngữ chính thức: tiếng Malta và tiếng Anh.
Malta là một quần đảo nằm giữa Địa Trung Hải (nằm ở lòng chảo phía đông). Chỉ có ba đảo lớn – Malta (Malta), Gozo (Għawdex), và Comino (Kemmuna) – là có người ở. Những đảo nhỏ (xem dưới đây) đều bỏ hoang. Quần đảo này là dấu tích của dải đất nối liền Sicilia và Bắc Phi, bị tách ra khi nước biển dâng cao ở cuối Kỉ Băng Hà.. Quần đảo Malta nằm ở rìa mảng kiến tạo Phi, nơi nó tiếp giáp với mảng Âu.
Rất nhiều vịnh nằm dọc theo bờ biển lồi lõm tạo ra các cảng đẹp. Địa hình bao gồm đồi thấp và đồng bằng. Điểm cao nhất của Malta là Ta' Dmejrek, cao , gần Dingli. Mặc dù có một vài sông nhỏ vào thời điểm có lượng mưa lớn, ở Malta không có một con sông hay hồ cố định nào. Tuy nhiên, có một vài suối chảy quanh năm ở Baħrija, l-Imtaħleb, San Martin, và thung lũng Lunzjata ở Gozo.
Theo Địa thực vật học, Malta thuộc về khu vực khí hậu Địa Trung Hải. Theo Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên, lãnh thổ Malta thuộc về vùng rừng và cây bụi Địa Trung Hải.
Malta có khí hậu Cận nhiệt Địa Trung Hải, với mùa đông không quá lạnh, mùa hè ấm nóng. Mưa nhiều vào mùa đông, mùa hạ nói chung khô hạn.
Nhiệt độ trung bình năm là vào ban ngày và vào ban đêm. Vào tháng lạnh nhất – tháng 1 – Nhiệt độ nằm trong khoảng ban ngày và ban đêm. Tháng nóng nhất là tháng 8, nhiệt độ nằm trong khoảng ban ngày và ban đêm. Nhìn chung mùa hè kéo dài 8 tháng, bắt đầu từ khoảng giữa tháng tư vào ban ngày và vào ban đêm, kết thúc vào tháng 11 với nhiệt độ khoảng ban ngày và ban đêm, mặc dù vậy, trong bốn tháng còn lại, nhiệt độ cũng có khi lên đến . Trong tất cả các thủ đô ở châu Âu, Valletta -thủ đô của Malta có mùa đông ấm nhất, với nhiệt độ trung bình khoảng ban ngày và ban đêm trong khoảng từ tháng Một đến tháng Hai. Vào tháng Ba và tháng 11, nhiệt độ trung bình khoảng vào ban ngày và ban đêm. Rất hiếm những biến động đột ngột về nhiệt độ. Malta cũng là một trong số ít những nước châu Âu "xanh quanh năm".
Nhiệt độ trung bình năm của nước biển vào khoảng (cao nhất ở châu Âu), từ vào tháng 1 đến vào tháng 8.Trong cả sáu tháng – từ tháng 6 đến tháng 11 – nhiệt độ trung bình của nước biển lên đến .
Khoảng 3000 giờ nắng mỗi năm (cao hàng đầu châu Âu), từ trung bình trên 5 giờ mỗi ngày vàng tháng 12 đến trên 12 giờ vào tháng 6. tức là khoảng gấp đôi so với thành phố nằm ở phía bắc của châu Âu Luân Đôn – 1,461, chênh lệch này còn lớn hơn vào mùa đông, London chỉ có 37 giờ nắng trong khi khi Malta có 155 đến 167 giờ nắng vào tháng 12.
Do có vị trí chiến lược quan trọng nên hòn đảo này từ xưa bị người Phoenicia, đến người Hy Lạp, người Carthage và người La Mã tranh giành quyền thống trị. Khoảng năm 58, trong một tai nạn đắm tàu gần đảo Malta, Thánh Phaolô đã lưu lại và rao giảng Phúc âm trên đảo này. Năm 870, Malta rơi vào tay người Ả Rập. Bá tước Roger I chinh phục Malta năm 1090, từ đây số phận của đảo này gắn liền với lịch sử của vương quốc Sicilia cho đến thế kỷ XVI. Năm 1530, Charles Quint giao lại đảo này cho dòng Hiệp sĩ Cứu tế, nơi đây trở thành căn cứ quân sự chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ. Malta bị Napoléon Bonaparte chiếm giữ năm 1798. Người Anh giành lại đảo này sau hai năm vây hãm. Malta trở thành thuộc địa và là căn cứ quân sự của thực dân Anh từ năm 1813.
Trong Chiến tranh thế giới thứ II, Malta giữ một vai trò quan trọng trong cuộc chiến ở Địa Trung Hải (1940-1943), trở thành đảo quốc độc lập và là nước thành viên trong Khối Liên hiệp Anh năm 1964. Năm 1972, Malta đã thỏa thuận với Anh việc đóng cửa các căn cứ Anh trên đảo, việc ký kết có hiệu lực năm 1979. Malta tuyên bố là nước cộng hòa năm 1974. Sau khi kết thúc liên minh với Anh, Malta tìm cách đảm bảo chính sách trung lập của mình thông qua các thỏa thuận với các nước khác. Malta gia nhập Liên minh châu Âu từ năm 2004.
Theo chế độ cộng hòa, đứng đầu Nhà nước là Tổng thống (nhiệm kỳ 5 năm). Quốc hội gồm 1 Viện với 65 ghế (nhiệm kỳ 5 năm). Theo Hiến pháp Malta, Tổng thống được các Nghị sĩ bầu với nhiệm kỳ 5 năm. Dựa trên kết quả bầu cử, lãnh đạo đảng nào hoặc lãnh đạo liên minh đảng nào được đa số phiếu sẽ được chỉ định làm thủ tướng. Theo kết quả cuộc bầu cử tháng 3 năm 2004, Tổng thống Eddie Fenech Adami được 33/65 phiếu.
Là một nước nhỏ nên Malta chọn lọc trong việc chọn đối tác quan hệ. Do lịch sử, Malta có quan hệ khá chặt chẽ với Anh. Malta ưu tiên chính phát triển quan hệ với các nước thành viên EU, bên cạnh đó, Malta cũng chú trọng mở rộng quan hệ với các nước láng giềng trong khu vực Địa Trung Hải và Bắc Phi; các nước lớn ở Trung Âu và vùng Baltic; và tại Châu Á là Trung Quốc.
Năm 2004, Malta gia nhập khối EU. Malta còn là thành viên của Liên Hợp Quốc (1 tháng 12 năm 1964)
Chính sách quốc tịch.
Với mục đích hỗ trợ phát triển kinh tế, Malta đưa ra nhiều chính sách phát triển kinh tế, trong đó Chương trình Nhà đầu tư Cá nhân của Malta (IIP) được giới thiệu vào đầu năm 2014, cho phép cấp quốc tịch cho các cá nhân và gia đình giàu có trên thế giới tại Malta.
Những người muốn hay được cấp hộ chiếu Malta phải giàu có để đáp ứng chính sách đầu tư của chính phủ Malta qua hình thức đầu tư trực tiếp bằng tiền, mua trái phiếu, mua bất động sản theo Chương trình nhà đầu tư cá nhân của Malta. Ví như, nếu mua trái phiếu chính phủ Malta hoặc các dạng trái phiếu được chính quyền công nhận, nhà đầu tư cần bỏ ra ít nhất 150 nghìn euro với cam kết 5 năm trở lên. Chỉ sau khi có bất động sản và được cấp quyền định cư, nhà đầu tư mới được cấp quốc tịch. Ước tính, để có được quốc tịch Malta phải tốn ít nhất là gần 900 nghìn USD.
Thủ tục pháp lý của IIP khá nhanh gọn. Nếu Việt Nam phải mất 5 năm sinh sống kể từ thời điểm xin nhập tịch thì tại Malta chỉ cần 12 tháng. Thậm chí, nếu đã đáp ứng được các yêu cầu cư trú của Malta theo tiêu chuẩn IIP, khoảng thời gian được công nhận quốc tịch chỉ trong 6 tháng. Theo quy định của pháp luật Malta thì các cá nhân đầu tư để có quốc tịch thứ hai không phải từ bỏ quốc tịch hiện có của họ.
Các ứng viên thành công sẽ được cấp quốc tịch ở Malta bằng một Giấy Chứng Nhận Nhập Tịch và có thể được mở rộng cho cả gia đình của họ. Khi một ứng viên được cấp quốc tịch Malta, sẽ trở thành công dân châu Âu, họ được hưởng quyền tự do đi lại tới tất cả 28 quốc gia châu Âu và Thụy Sĩ. Họ được phép thành lập doanh nghiệp ở Malta và được cấp hộ chiếu Malta cho phép họ được miễn thị thực khi đến hơn 160 quốc gia trên toàn thế giới trong đó có cả Mỹ.
Kinh tế khá đa dạng và thịnh vượng. Vốn đầu tư nước ngoài gia tăng đáng kể từ năm 1987 vào các ngành hàng hải, hàng không, tài chính và văn hóa. Nông nghiệp trồng trọt gồm ngũ cốc và rau quả. Du lịch là một ngành quan trọng. Tính đến năm 2016, GDP của Malta đạt 10.463 USD, đứng thứ 133 thế giới và đứng thứ 42 châu Âu.
GDP: 5.4 tỷ USD (2006).
Tăng trưởng GDP năm 2006: 2.4%.
Lạm phát: 2.6% (2006).
Xuất khẩu: 2,4 tỷ USD (2006) với các mặt hàng máy móc và phương tiện vận chuyển.
Đối tác xuất khẩu: Singapore, Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Trung Quốc và Ý.
Nhập khẩu: 4.0 tỷ USD (2006) chủ yếu là thực phẩm, máy chưa lắp ráp hoàn thiện và các phương tiện vận chuyển.
Với vị trí địa lý thuận lợi, Malta có tài nguyên thiên nhiên chính là đá vôi. Malta chỉ sản xuất 20% nhu cầu thực phẩm và thiếu nguồn nước ngọt. Nền kinh tế Malta dựa chủ yếu vào trao đổi thương mại nước ngoài, du lịch, sản xuất đồ điện tử và dệt may, đóng và sửa chữa thuyền.
Dịch vụ chiếm 74% tổng sản phẩm xã hội.
Công nghiệp chiếm 23% bao gồm các mặt hàng máy móc, sản xuất và sửa chữa tàu thuyền, thực phẩm, giày dép và quần á
Nông nghiệp chiếm 3%.
Lực lượng lao động: 164.000 người (2006).
Tỷ lệ thất nghiệp: 6,8% (2006).
Tôn giáo tại Malta (2016)
Công giáo Rôma là quốc giáo ở Malta bởi quốc đảo này theo truyền thuyết đã có một lịch sử lâu dài 2000 năm gắn bó với Kitô giáo, kể từ vụ đắm tàu của Tông đồ Phaolô vào khoảng năm 60 Công Nguyên. Theo Văn phòng Thống Kê Trung ương của Tòa Thánh Vatican cuối năm 2008, Malta chỉ có 443,000 dân, trong đó có 418,000 (tức 94.4%) là tín hữu Công giáo Rôma chiếm 97% dân số. Malta có hai giáo phận và 85 giáo xứ với 9 Giám mục, 853 linh mục, 1.143 tu sĩ, 1.231 giáo lý viên, 269 tiểu chủng sinh và 91 đại chủng sinh. Có 17.786 học sinh tham dự ở 80 trung tâm giáo dục Công giáo, từ mẫu giáo tới đại học. Các hoạt động bác ái xã hội do Công giáo điều hành bao gồm 24 nhà chăm sóc cho người tàn tật và già yếu, 26 viện mồ côi và nhà trẻ, 9 trung tâm tham vấn về gia đình và phò sự sống, 24 trung tâm giáo dục và phục hồi, và 4 tổ chức các loại khác.
Ngoài ra Malta còn 1% Kitô hữu ngoài Công giáo bao gồm Chính Thống giáo và Tin Lành; 1% theo Hồi giáo và 1% không theo đạo nào.
|
Phương pháp DMFT hay lý thuyết DMFT hay lý thuyết trường trung bình động (DMFT là viết tắt của chữ tiếng Anh "dynamical mean field theory") là một lý thuyết trường trung bình trong vật lý chất rắn cho phép tính toán các tính chất của các vật liệu gần với thực tế hơn. Nó xuất phát từ cùng ý tưởng của các lý thuyết trường trung bình; nhưng được phát triển thay thế các lý thuyết trường trung bình cũ để tính đến cả các nhiễu loạn lượng tử. Các phiên bản mới nhất thể được áp dụng cho các hệ vật lý chất rắn ở trạng thái cơ bản phức tạp với nhiều tham số trật tự tầm xa ("long rang order parameter").
DMFT là một lý thuyết trường trung bình mới được bắt đầu giới thiệu và phát triển từ đầu nhưng năm 1990 bởi hai nhà vật lý Antoine Georges (Pháp) và Gabriel Kotliar (Mỹ). Cho đến nay, lý thuyết đang được dần hoàn chỉnh với các phiên bản mới như C-DMFT ("Cluster-DMFT").
Lý thuyết này bắt nguồn cùng ý tưởng với các lý thuyết trường trung bình trước đây. Thay vì giải bài toán tổng quát cho cả hệ chất rắn nhiều hạt, nó giải bài toán hệ một hạt tương tác với các phần tử còn lại được xem như một trường trung bình.
Thường thì trong các phương pháp trường trung bình trước đây ví dụ như trường trung bình Weisse, hay là trường trung bình Hartree Fock, vấn đề ban đầu được đưa về bài toán hệ một hạt bằng phương pháp lấy trung bình các tham số trong hệ, có nghĩa là bỏ qua tất cả các nhiễu loạn lượng tử. Chính vì vậy những phương pháp này chỉ cho kết quả gần đúng trong giới hạn tương tác trong hệ là yếu, với những nhiễu lượng tử là nhỏ và hoàn toàn có thể bỏ qua được. Những lý thuyết này đã thành công trong việc giải thích những hiện tượng vật lý chất rắn trên kim loại, bán dẫn, và cả siêu dẫn nhiệt độ thấp (lý thuyết BCS). Song khi tương tác các điện tử trong hệ là tương đối lớn so với động năng của các điện tử, những phương pháp này lại không thể giải thích được, đơn giản vì lúc này những nhiễu lượng tử không thể bỏ qua được. Một ví dụ điển hình của sự thất bại đó là chất cách điện Mott. Nếu theo các lý thuyết cũ thì những chất này phải là chất dẫn điện do chỉ có một điện tử duy nhất ở lớp ngoài cùng.
Do những yêu cầu trên, một lý thuyết mới với khả năng mô tả hệ chất rắn mà không bỏ qua các nhiễu lượng tử là một nhu cầu tất yếu. DMFT ra đời và thành công đầu tiên chính là việc giải thích vấn đề chất cách điện Mott và chuyển pha Mott (chuyển pha kim loại - chất cách điện). DMFT được xây dựng trên cơ sỏ lý thuyết hàm Green. Đầu tiên nó được dùng để tính toán cho các mô hình với số chiều tiến đến vô cùng (những mô hình phi vật lý nhưng lại là một giới hạn rất tốt cho các lý thuyết trường trung bình, vì hoàn toàn có thể tính toán các kết quả một cách giải tích). Hiện nay, nhờ những phát triển về kĩ thuật tính toán và kết hợp với lý thuyết DFT ("density functional theory"), mà cụ thể là xấp xỉ LDA ("local density approximation"), DMFT hoàn toàn có thể cho phép tính toán trên các hệ vật lý rất gần thực tế.
|
Hiệu ứng phát xạ photon
Hiệu ứng phát xạ bằng photon là hiện tượng tách các điện tử trên bề mặt vật liệu (kim loại, hợp ) bằng cách bắn phá các photon lên bề mặt vật liệu đó. Photon với năng lượng đủ lớn có thể làm bắn ra các điện tử ở các lớp nằm sâu hơn trong vật liệu.
Một ứng dụng quan trọng của hiệu ứng này trong vật lý chất rắn là phép đo ARPES ("angle-resolved photoemission spectroscopy") dùng để xác định phổ kích thích một điện tử ""A"("k","w")" của vật liệu.
Hiện nay các nghiên cứu lý thuyết về các mô hình chất rắn vật liệu thường dựa trên việc so sánh kết quả mô phỏng với kết quả của thí nghiệm ARPES để đánh giá tính chính xác của nó.
|
Ngưng tụ Bose–Einstein (bose-einstein condensate hay BEC) là một trạng thái vật chất của khí boson loãng bị làm lạnh đến nhiệt độ rất gần độ không tuyệt đối (hay rất gần giá trị 0 K hay —273,15 °C hoặc —459.67 °F). Dưới những điều kiện này, một tỷ lệ lớn các boson tồn tại ở trạng thái lượng tử thấp nhất, tại điểm mà các hiệu ứng lượng tử trở lên rõ rệt ở mức vĩ mô. Những hiệu ứng này được gọi là hiện tượng lượng tử mức vĩ mô.
Mặc dù các thí nghiệm về sau cho thấy có những tương tác phức tạp trong hệ, trạng thái vật chất này lần đầu tiên được Satyendra Nath Bose và Albert Einstein tiên đoán tồn tại trong năm 1924–25. Bose đầu tiên gửi một bài báo đến Einstein về thống kê lượng tử của lượng tử ánh sáng (ngày nay gọi là photon). Einstein đã rất ấn tượng về bài viết này, ông dịch nó từ tiếng Anh sang tiếng Đức và gửi bài viết của Bose đến tạp chí "Zeitschrift für Physik" và được công bố bởi tạp chí này. (Bản nháp của Einstein, lúc đầu nghĩ là có thể bị mất, đã được tìm thấy trong thư viện của Đại học Leiden vào năm 2005.). Einstein sau đó mở rộng ý tưởng của Bose cho hệ hạt vật chất trong hai bài báo sau đó. Những nỗ lực của Bose và Einstein cho kết quả về khái niệm khí Bose trong khuôn khổ lý thuyết thống kê Bose–Einstein, miêu tả phân bố thống kê của những hạt đồng nhất với spin nguyên, mà sau này Paul Dirac gọi là các boson. Các hạt boson, bao gồm photon cũng như các nguyên tử heli-4 (4He), được phép tồn tại ở cùng trạng thái lượng tử như nhau. Einstein chứng minh rằng khi làm lạnh các nguyên tử boson đến nhiệt độ rất thấp thì hệ này tích tụ lại (hay "ngưng tụ") trong trạng thái lượng tử thấp nhất có thể, và tạo nên trạng thái mới của vật chất.
Năm 1938 Fritz London đề xuất trạng thái BEC như là một cơ chế giải thích cho tính siêu chảy của 4He cũng như tính siêu dẫn nhiệt độ thấp ở một số vật liệu.
Năm 1995 khí ngưng tụ đầu tiên đã được tạo ra bởi nhóm của Eric Cornell và Carl Wieman ở phòng thí nghiệm JILA thuộc Viện Công nghệ Tiêu chuẩn Quốc gia (NIST) tại Đại học Colorado ở Boulder, khi họ làm lạnh khí nguyên tử Rubidi đến nhiệt độ 170 nanokelvin (nK) (1,7 x 10−7 K). Cũng trong thời gian này, Wolfgang Ketterle ở Học viện Công nghệ Massachusetts tạo ra được ngưng tụ Bose-Einstein đối với nguyên tử Natri và duy trì được hệ 2000 nguyên tử này trong thời gian lâu cho phép nghiên cứu những tính chất của hệ này. Thành tựu này mà Cornell, Wieman và Ketterle được nhận Giải Nobel Vật lý năm 2001. Tháng 11 năm 2010 trạng thái BEC của photon đã được quan sát thấy. Năm 2012, các nhà vật lý đã phát triển lý thuyết BEC cho hệ photon.
Sự chuyển pha dẫn đến ngưng tụ Bose Einstein xuất hiện ở dưới nhiệt độ giới hạn, đối với khí phân bố đều 3 chiều của hệ hạt không tương tác mà không có bậc tự do nội tại trong nó, được cho bởi công thức:
Các hạt trong vật lý được chia ra làm hai lớp cơ bản: lớp các boson và lớp các fermion. Boson là những hạt với "spin nguyên" (0,1,), fermion là các hạt với "spin bán nguyên" (1/2,3/). Các hạt boson tuân theo thống kê Bose-Einstein, còn các hạt fermion tuân theo thống kê Fermi-Dirac. Ngoài ra các hạt fermion còn tuân theo nguyên lý loại trừ Pauli, "hai hạt fermion không thể cùng tồn tại trên một trạng thái lượng tử".
Đối với mô hình khí lý tưởng (không có tương tác giữa các boson), khi ở nhiệt độ đạt đến không tuyệt đối (0 kelvin) tất cả các hạt boson có thể cùng tồn tại trên một trạng thái lượng tử với năng lượng thấp nhất. Đó chính là ngưng tụ Bose-Einstein. Trong trường hợp một hệ khí lý tưởng ba chiều, tồn tại một nhiệt độ chuyển pha, mà hệ khí sẽ ngưng tụ ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ này.
Đối với hệ khí boson có tương tác (mô hình khí thực), người ta đã chứng minh một cách lý thuyết là tồn tại nhiệt độ chuyển pha, mà khí bose có thể ngưng tụ ngay cả trong các hệ hai chiều (Bologiubov-Pitaevskii). Những tiến bộ trong kĩ thuật làm lạnh và giam nguyên tử (làm lạnh bằng laser, làm lạnh bằng bay hơi, bẫy nguyên tử bằng laser, từ trường, điện trường) đã cho phép thực nghiệm quan sát được hiện tượng ngưng tụ Bose-Einstein trong các hệ khí lithi, kali và natri.
Sau khi quan sát hiện tượng ngưng tụ Bose, các nhà vật lý thực nghiệm đã tiếp tục đạt được những thành công trong việc làm lạnh khí fermion. Quá trình làm lạnh này khó hơn đối với boson do các fermion phải tuân theo nguyên lý Pauli. Người ta cũng đã quan sát hiện tượng ngưng tụ này ở fermion, nhưng với số phần trăm nguyên tử ngưng tụ thấp hơn. Hiện tượng này được gọi là "khí fermi suy biến". Các lý thuyết giải thích hiện tượng này bằng mô hình các hạt fermion tương tác với nhau. Hai fermion trong tương tác có thể liên kết được với nhau sẽ tạo ra các phân tử boson, ở nhiệt độ đủ thấp, các boson nhân tạo này sẽ ngưng tụ.
|
Trong vật lý, lượng tử là số lượng tối thiểu của bất kỳ thực thể vật lý (thuộc tính vật lý) tham gia vào một sự tương tác. Khái niệm cơ bản rằng một thuộc tính vật lý có thể được "lượng tử hóa" được gọi là "giả thuyết lượng tử hóa ". Điều này có nghĩa là độ lớn của thuộc tính vật lý chỉ có thể nhận các giá trị rời rạc bao gồm các bội số nguyên của một lượng tử.
Ví dụ, một photon là một lượng tử ánh sáng (hoặc bất kỳ dạng bức xạ điện từ nào khác). Tương tự, năng lượng của một electron liên kết bên trong nguyên tử được lượng tử hóa và chỉ có thể tồn tại ở một số giá trị rời rạc nhất định. (Nguyên tử và vật chất nói chung là ổn định vì các điện tử chỉ có thể tồn tại ở các mức năng lượng riêng biệt trong nguyên tử.) Lượng tử hóa là một trong những nền tảng của vật lý rộng lớn hơn nhiều của cơ học lượng tử. Lượng tử hóa năng lượng và ảnh hưởng của nó đến cách năng lượng và vật chất tương tác (điện động lực học lượng tử) là một phần của khuôn khổ cơ bản để hiểu và mô tả thiên nhiên.
Tài nguyên và khám phá.
Từ gốc "quantum" là số ít trung tính của Latin "quantus" tính từ nghi vấn, có nghĩa là "bao nhiêu". "Quanta", số nhiều trung tính, viết tắt của "lượng tử điện" (electron), được sử dụng trong một bài báo năm 1902 về hiệu ứng quang điện của Philipp Lenard, người cho rằng Hermann von Helmholtz đã sử dụng từ này trong lĩnh vực điện. Tuy nhiên, từ "lượng tử" nói chung đã được biết đến nhiều trước năm 1900, ví dụ như "lượng tử" được sử dụng trong EA Poe's Loss of Breath. Nó thường được sử dụng bởi các bác sĩ, chẳng hạn như trong thuật ngữ "lượng tử thỏa mãn". Cả Helmholtz và Julius von Mayer đều là bác sĩ cũng như nhà vật lý. Helmholtz đã sử dụng "lượng tử" liên quan đến nhiệt trong bài báo của ông về công trình của Mayer, và từ "lượng tử" có thể được tìm thấy trong công thức của định luật nhiệt động lực học đầu tiên của Mayer trong bức thư của ông ngày 24 tháng 7 năm 1841.
Năm 1901, Max Planck sử dụng "quanta" có nghĩa là "lượng tử của vật chất và điện", khí và nhiệt. Năm 1905, để đáp lại công trình của Planck và công trình thí nghiệm của Lenard (người đã giải thích kết quả của mình bằng cách sử dụng thuật ngữ "lượng tử điện"), Albert Einstein cho rằng bức xạ tồn tại trong các gói bản địa hóa không gian mà ông gọi là "lượng tử ánh sáng" ("Lichtquanta").
Khái niệm lượng tử hóa bức xạ được phát hiện vào năm 1901 bởi Max Planck, người đã cố gắng tìm hiểu sự phát bức xạ từ các vật thể bị nung nóng, được gọi là bức xạ vật đen. Bằng cách giả định rằng năng lượng chỉ có thể được hấp thụ hoặc giải phóng trong các gói nhỏ, vi phân, rời rạc (mà ông gọi là "bó", hay "phần tử năng lượng"), Planck đã tính đến một số vật thể thay đổi màu sắc khi bị đốt nóng. Vào ngày 14 tháng 12 năm 1900, Planck báo cáo những phát hiện của mình cho Hiệp hội Vật lý Đức, và lần đầu tiên giới thiệu ý tưởng lượng tử hóa như một phần trong nghiên cứu của ông về bức xạ vật đen. Kết quả của các thí nghiệm của mình, Planck đã suy ra giá trị số của "h", được gọi là hằng số Planck, và báo cáo các giá trị chính xác hơn cho đơn vị điện tích và số Avogadro – Loschmidt, số phân tử thực trong một mol, cho Hội Vật lý Đức. Sau khi lý thuyết của mình được xác thực, Planck đã được trao giải Nobel Vật lý cho khám phá của ông vào năm 1918.
Khái niệm cơ bản rằng một tính chất vật lý có thể được "lượng tử hóa" được gọi là "giả thuyết lượng tử hóa". Điều này có nghĩa là độ lớn của tính chất vật lý chỉ có thể đảm nhận các giá trị cụ thể bao gồm bội số nguyên của một lượng tử.
Ví dụ, một photon là một lượng tử ánh sáng (hoặc bất kỳ dạng bức xạ điện từ nào khác). Tương tự, năng lượng của một electron liên kết trong một nguyên tử được lượng tử hóa và chỉ có thể tồn tại trong một số giá trị bội của nó. (Thật vậy, các nguyên tử và vật chất nói chung đều ổn định vì các electron chỉ có thể tồn tại ở các mức năng lượng riêng biệt trong một nguyên tử.) Lượng tử hóa là một trong những nền tảng của vật lý lượng tử rộng hơn nhiều. Lượng tử hóa năng lượng và ảnh hưởng của nó đối với cách năng lượng và vật chất tương tác (điện động lực học lượng tử) là một phần của khung cơ bản để hiểu và mô tả thiên nhiên.
Trong khi lượng tử hóa lần đầu tiên được phát hiện trong Bức xạ điện từ, nó mô tả một khía cạnh cơ bản của năng lượng không chỉ giới hạn ở các Photon.. Trong nỗ lực đưa lý thuyết vào thỏa thuận với thực nghiệm, Max Planck đã quy định rằng năng lượng điện từ được hấp thụ hoặc phát ra trong các gói hoặc lượng tử riêng biệt.
|
Thiên sứ (tiếng Anh: Angel) là những thực thể siêu nhiên phục vụ Thiên Chúa được tìm thấy trong nhiều tôn giáo hữu thần. Theo niềm tin của ba tôn giáo chính thuộc nhất thần giáo, các thiên sứ thường thi hành nhiệm vụ của các sứ giả là kết nối Thiên đàng với nhân giới, họ hướng dẫn, bảo vệ nhân loại và là bề tôi trung thành của Thiên Chúa.
Các thiên sứ trong nghệ thuật thường có hình dáng giống con người với vẻ đẹp phi thường, dù điều này không phải lúc nào cũng đúng. Đôi khi, họ được miêu tả một cách đáng sợ và vô nhân đạo. Họ thường được xác định trong tác phẩm nghệ thuật Kitô giáo với đôi cánh to lớn cùng quầng hào quang trên đầu và phát ra ánh sáng thần thánh.
Từ angel trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng Anh cổ "engel" (thay a đọc g) rồi qua tiếng Latinh angelus, từ này lại đến từ tiếng Hy Lạp cổ "ἄγγελος" ángelos, nghĩa là "sứ giả", nhà ngôn ngữ học Beekes tin rằng từ này có nguồn gốc Ba Tư cổ "liên quan đến ἄγγαρος *angaros, chức vụ sang sứ của người Ba Tư" cũng từ tiếng Akkad 𒂊𒄈𒌅 (egirtu) chỉ một thoả thuận đối với các vị thần bằng một tấm bảng đất sét vào thời cổ đại . Một từ trong tiếng Hebrew có nghĩa gần nhất với ángelos là מלאך, "mal’ach" trong Từ điển Strong ("Strong’s Concordance") cũng có nghĩa là "sứ giả".
Thiên sứ trong tiếng Việt được dịch lần đầu từ những văn bản từ điển Việt-Bồ-La qua các giáo sĩ người Bồ Đào Nha từ hội Dòng Tên, viết bằng chữ Hán là 天使, bao gồm chữ Thiên (天) trong Thiên đàng và chữ Sứ (使) trong Sứ giả. Vậy Thiên sứ mang nghĩa đen là "sứ giả từ thiên đàng". Trong một số tài liệu, thiên sứ cũng được gọi là "thiên thần", nhưng tên gọi này không đúng lắm vì thiên sứ không phải là một vị thần.
Thiên sứ học ("angelology") là một nhánh gần gũi với thần học, tuy Thiên sứ học không phải là Thần học (Theology), nghiên cứu về hệ thống đẳng cấp của thiên sứ, sứ giả hoặc các quyền lực trên chốn khinh không, chủ yếu quan hệ với Do Thái giáo (gọi hệ thống này là kaballistic), dù vẫn thường bị lãng quên.Có những người tin rằng đạo Zoroastra có ảnh hưởng trên thiên sứ học của Do Thái giáo, như vậy cũng ảnh hưởng trên thiên sứ học của Cơ Đốc giáo, do có những yếu tố của đạo Zoroastra xuất hiện trong Do Thái giáo sau khi dân tộc Israel tiếp xúc với nền văn minh Ba Tư trong thời kỳ lưu đày ở Babylon, trong đó Satan được xem là kẻ đứng đầu các quyền lực tội ác trong sự đối đầu với Thiên Chúa (so sánh Satan với Angra Mainyu, cũng gọi là Ahriman, trong đức tin Zoroastra, chống nghịch Ahura Mazda, thần linh tối thượng). Danh hiệu"Vua của sự tối tăm"dành cho Satan có thể có nguồn gốc từ đức tin Zoroastra.
Ngược lại, có những nhà phê bình bày tỏ xác tín rằng Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo đã có ảnh hưởng trên đạo Zoroastra. Họ cho rằng những điểm tương đồng như đã thấy giữa Zoroastra và Chúa Giê-xu, cũng như trong các nhân tố khác, là sản phẩm của những thầy tư tế trong nỗ lực tôn cao Zoroastra và ngăn cản tín đồ đạo Zoroastra quay sang các tôn giáo khác.
Thiên sứ trong Kinh Tanakh (Cựu Ước).
Tên trong Kinh Thánh của thiên sứ, מלאך ("malakh"), có ý nghĩa sâu xa hơn khi được thêm vào danh xưng của Thiên Chúa như"thiên sứ của Chúa", hoặc"thiên sứ của Thiên Chúa"(Zechariah 12.8 – "Trong ngày đó, Chúa sẽ làm đấng bảo hộ của dân cư Jerusalem, và trong ngày đó kẻ rất yếu trong vòng chúng nó sẽ như David, nhà David sẽ như Thiên Chúa, sẽ như thiên sứ của Chúa ở trước mặt chúng nó."). Có những danh xưng khác dành cho thiên sứ như"Các con trai của Thiên Chúa"(Sáng thế ký 6.4; Job 1. 6).
Theo Do Thái giáo, danh xưng "Elohim" chỉ dành riêng cho một Thiên Chúa duy nhất; song có những lúc "Elohim" (thế lực), "bnē 'Elohim", "bnē Elim", (các con trai của thần linh) (ngụ ý các thực thể thuộc thế giới thần linh) được dùng để chỉ các thực thể có quyền năng lớn. Dần dà được dùng để chỉ những thực thể siêu nhiên, khác với Yahweh ("Đức Giê-hô-va" tức "Thiên Chúa") và vì vậy, là thực thể cấp thấp và hoàn toàn phục tùng Ngài (Sáng thế ký 6.2; Job 1.6; Thi thiên 8.5).
Thiên sứ đôi khi được gọi là"đấng thánh’’ (Zechariah 14.5) và"đấng canh giữ"(Daniel 4.13 – "Ta nhìn xem những sự hiện thấy trong đầu ta, khi ta nằm trên giường, và này, có một đấng thánh canh giữ từ trên trời xuống,") cũng được gọi là"thiên binh"(Phục truyền luật lệ ký 17.3 – "...đi hầu việc và quỳ lạy các thần khác, hoặc mặt trời, Mặt Trăng, hay là cả thiên binh - tức là điều ta không dạy bảo;") hoặc là"Tướng đạo binh của Yahweh"(Joshua 5.14 – "Người đáp: Không, bây giờ ta đến làm tướng đạo binh của Yahweh.")
Các thiên sứ thường được nối kết với các vì tinh tú. YHWH (Yahweh tức Thiên Chúa) luôn phân biệt Ngài với các thiên sứ, do đó, Moses ("Mô-sê" hoặc "Môi-se") cấm dân Hebrew (Do Thái cổ) thờ lạy"thiên binh".
Hình dạng của thiên sứ.
Trong Kinh Thánh Hebrew, thiên sứ thường xuất hiện trong hình dạng con người, và người ta thường không nhận ra thiên sứ (Sáng thế ký 18.2; Các Quan xét 6. 21,22; Xuất Ai Cập ký 3.2). Là những thực thể siêu nhiên, thiên sứ có thể mang hình dạng loài người, thích ứng với sứ mạng thực thi. Thiên sứ có thể cầm gươm trần hoặc các loại vũ khí khác (Dân số ký 22. 23; Joshua 5. 13; Ezekiel 9. 2). Có một thiên sứ thi hành sự trừng phạt được đề cập ở 1Sử ký 21. 16,30 "David ngước mắt lên, thấy thiên sứ của Chúa đứng giữa lưng trời, tay cầm gươm đưa ra trên Jerusalem". Sách Daniel có nhắc đến một thiên sứ "mặc vải gai, chung quanh lưng thắt đai bằng vàng ròng U-pha. Mình người như bích ngọc; mặt người như chớp, và mắt như đuốc cháy; tay và chân như đồng đánh bóng, và tiếng nói như tiếng đám đông" (Daniel 10. 5,6).
Hình tượng này của thiên sứ tương tự như sự miêu tả dành cho Chúa Giê-Su trong sách Khải Huyền. Người ta tin rằng thiên sứ có cánh (Daniel 9. 21 – "Gabriel, người mà ta đã thấy trong sự hiện thấy đầu tiên, được sai bay mau đến gặp ta độ lúc dâng lễ chiều hôm") theo sự mô tả trong hội họa Cơ Đốc, Do Thái và Zoroastra, theo đó, các thiên sứ thường có vầng hào quang. Thiên sứ thường được tin là có quyền năng và đáng sợ, khôn ngoan và thấu suốt mọi điều trên đất, sáng suốt trong phán đoán, thánh khiết mặc dù là không phải không thể sa ngã. (Thi thiên 103. 20; 2Samuel 14. 17, 20; 19. 27; Zechariah 14. 5; Job 4. 18; 25. 2). Thiên sứ được cho là có liên quan đến các sứ mạng đặc biệt như"thiên sứ cứu nạn","kẻ truyền giải","thiên sứ huỷ diệt","sứ giả của giao ước","thiên sứ đứng chầu Thiên Chúa", cũng có"một nhóm thiên sứ ác"(Sáng thế ký 48. 16; 33. 23; 2Samuel 24. 16; Malachi 3.1; Isaiah 63. 9; Thi thiên 78. 49).
Quan điểm Cơ Đốc giáo.
Trong Tân Ước thiên sứ thường xuất hiện như là những sứ giả đem mặc khải đến từ Thiên Chúa như khi hiện đến cho Thánh Giuse (Joseph), cho Chúa Giê-su, cho Maria , cho Phê-rô; Chúa Giê-su cũng nói về các thiên sứ thi hành nhiệm vụ ở sách Mác-cô 8.38 và Mác-cô 13.27, có lần ngài đã ngụ ý rằng họ không kết hôn. Tân Ước không nói nhiều về thứ bậc của thiên sứ, nhưng có những ám chỉ về điều này. Sự phân biệt giữa thiên sứ thiện và thiên sứ ác được thừa nhận. Các thiên sứ thiện như Gabriel, Metratron, và Michael. Các thiên sứ ác như Beelzebul, Samael và Apollyon. Có những thứ bậc trong hàng ngũ thiên sứ cũng được nhắc đến, thiên sứ trưởng Michael. Các thiên sứ của Bảy Hội thánh vùng Tiểu Á đã được mô tả trong Khải Huyền 1-3. Đây có lẽ là những thiên sứ bảo vệ, đại diện cho các hội thánh cũng giống như các thiên sứ trong sách Daniel đại diện cho các dân tộc.
Thiên sứ trưởng Gabriel hiện ra cùng Đức Mẹ Maria trong vai trò truyền thống của một sứ giả tỏ cho Đức Mẹ biết con của bà là đấng Cứu thế[Messiah hoặc Savior theo tiếng Anh], các thiên sứ khác cũng hiện ra để báo tin về sự ra đời của hài nhi Giê-su. Trong Matthew 28.2 một thiên sứ hiện ra tại mộ của Chúa Giê-su, làm lính gác La Mã kinh khiếp, lăn tảng đá ở cửa mộ, và bảo cho những phụ nữ đến thăm mộ biết về sự phục sinh của Chúa Giê-su ("Và này, đất rúng động dữ dội, vì có thiên sứ của Chúa ở trên trời xuống, đến lăn hòn đá mà ngồi ở trên."). Trong Phúc âm Máccô 16.5, khi các phụ nữ này vào bên trong ngôi mộ trống họ thấy một thiên sứ được miêu tả như là"một người trẻ tuổi". Theo ký thuật của Phúc âm Luca 24.4, có hai thiên sứ hiện ra khi những phụ nữ này đã vào bên trong ngôi mộ; ở đây các thiên sứ được miêu tả mặc áo"sáng như chớp". Tương tự, Phúc âm Gioan 20.12 thuật lại rằng Mary nói chuyện với"hai thiên sứ mặc áo trắng"ngồi trong mộ Chúa Giê-su.
Khi Chúa Giê-su về trời, có hai thiên sứ hiện ra và báo rằng Ngài sẽ trở lại (Công vụ 1. 10,11). Khi Phê-rô (Peter - Tiếng Anh) bị bắt giam, một thiên sứ khiến lính gác ngủ mê, giải thoát ông khỏi xiềng xích và đưa ông ra khỏi nhà giam (Công vụ 12. 7-8).Trong sách Khải Huyền, các thiên sứ thi hành nhiều nhiệm vụ khác nhau, trong đó có việc chầu quanh Ngai Thiên Chúa và ca hát chúc tụng: "Thánh thay, thánh thay, thánh thay".
Các thiên sứ thường khi xuất hiện trong hình dạng loài người, mặc dù các nhà thần học cho rằng thiên sứ không có thân xác, nhưng có thể hoá thân. Seraphim được miêu tả trong Kinh Thánh là có sáu cánh toả sáng từ bên trong. Từ cuối thế kỷ thứ 4, người ta hình dung các thiên sứ xuất hiện với đôi cánh, một cách giải thích dễ hiểu cho khả năng di chuyển của thiên sứ đến từ thiên đàng. Khả năng này được ngụ ý trong Kinh Thánh. Các nhà thần học kinh viện cho rằng các thiên sứ có thể lập luận và di chuyển cực nhanh. Những người này cũng dạy rằng thiên sứ là những nhân tố trung gian của một số năng lực, hoặc là năng lực tự nhiên của vũ trụ như lực quay của các hành tinh hoặc lực chuyển động của các vì sao. Thiên sứ được ban cho những khải tượng phước hạnh, hoặc sự hiểu biết thấu suốt về Thiên Chúa.
Mặc dù các bản tín điều không nhắc đến một học thuyết chính thức nào về thiên sứ, trong thời trung cổ, các tư tưởng tôn giáo thường chịu ảnh hưởng bởi tác phẩm Phẩm hàm các Thiên thể ("Celestial Hierachy") của một tác giả ẩn danh vào thế kỷ thứ 5 hoặc của các tác giả viết theo văn phong của Dionysius the Areopagite. Người theo thuyết Bất khả tri có khuynh hướng bác bỏ sự hiện hữu của thiên sứ, hoặc cho đó là điều không thể biết. Song, theo nguyên lý về tính liên tục, cần có những thực thể trung gian giữa loài người và Thiên Chúa.
Một số truyền thống Cơ Đốc cho rằng các thiên sứ được tổ chức vào ba thứ bậc chính, rồi có những thứ bậc nhỏ hơn nữa, có đến chín cấp bậc thiên sứ. Dựa vào "Phẩm hàm các Thiên thể" mà có: Thiên sứ, Trưởng thiên sứ, Principatus, Potestates, Virtutes, Dominationes, Thrones, Cherubim và Seraphim. Trong các phẩm hàm này, Cherubim và Seraphim là thân cận nhất với Thiên Chúa, trong khi các Thiên thần và trưởng thiên sứ hoạt động tích cực trong tiếp xúc với loài người; tuy nhiên có một số truyền thống cho rằng các trưởng thiên sứ có phẩm hàm cao nhất, và con số các trưởng thiên sứ cũng ít hơn các thiên thể khác.
Một số truyền thống trong Cơ Đốc giáo cho rằng thiên sứ giữ các vai trò đặc biệt trong đời sống tín hữu. Người Công giáo tin rằng có thiên thần bảo hộ cho mỗi người ngay khi vừa chào đời.
Phổ biến trong cộng đồng Kháng Cách ("Protestant"), Anh giáo và Công giáo là niềm tin cho rằng danh hiệu"Thiên sứ của Đức Giê-hô-va"là dành cho Chúa Giê-su trước khi ngài hoá thân thành người.
Ngày nay, quan điểm về sự hiện hữu của thiên sứ vẫn được chấp nhận rộng rãi trong vòng các giáo phái thuộc Cơ Đốc giáo.
Satan (còn gọi là Lucifer) và ma quỷ, theo quan điểm Cơ Đốc, là các thiên sứ phản loạn chống nghịch Thiên Chúa và bị đuổi khỏi Thiên đàng. Cơ Đốc giáo không công nhận sự hiện hữu của thần linh nào khác ngoài Thiên Chúa, nên các trường phái thần học xem những thiên sứ ác này là những thực thể phản loạn chống lại Ba Ngôi và dối trá tự nhận mình là các thần linh.
Quan điểm Cơ Đốc về đời sau tin rằng linh hồn của những người công chính sau khi chết sẽ lên Thiên đàng và được biến hoá trở nên giống các thiên sứ. Kinh Thánh ký thuật lời của Chúa Giê-su miêu tả người được cứu sau khi phục sinh sẽ trở nên giống như thiên sứ trong các vấn đề liên quan đến hôn nhân và sự sống vĩnh cửu, ", thì không lấy vợ gả chồng. Bởi vì họ sẽ không chết được nữa, vì giống như các thiên sứ, và là con của Thiên Chúa, tức là con của sự phục sinh." (Luca 20. 35-36). Sứ đồ Phao-lô cũng đề cập đến sự hoá thân này, "Này là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hoá" (1Côr. 15.51), Phao-lô cho biết các thánh đồ sẽ"xét đoán các thiên sứ"(1Cor 6. 3).
|
Sơn Ca (băng nhạc)
Băng nhạc Sơn Ca là một chương trình nghệ thuật của nhạc sĩ Phượng Linh (tức Nguyễn Văn Đông) được phát hành từ 1971 đến 1975 tại Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa dưới dạng băng và băng cassette. Chương trình này gồm tất cả 10 băng nhạc, đánh số từ 1 đến 11 nhưng không có băng số 4. Các giọng ca nổi tiếng được hãng dĩa hát Sơn Ca thu âm băng riêng ca sĩ có Phương Dung, Giao Linh, Khánh Ly, Sơn Ca, Lệ Thu và Thái Thanh.
Hãng dĩa hát Sơn Ca là một công ty ghi âm và phát hành âm nhạc do doanh nhân có tiếng ở Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa là Huỳnh Văn Tứ và nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đồng sáng lập vào cuối năm 1967, có biểu trưng là hình con chim hót đậu trên quả địa cầu, kinh doanh sản phẩm tại quầy 116, thương xá TAX. Thể loại âm nhạc đa dạng từ nhạc vàng đến tân cổ giao duyên. Ngoài việc thu âm và phát hành dĩa hát, từ năm 1971 trở đi hãng này cho ra đời loạt băng nhạc dưới hình thức (thời này còn gọi đơn giản là "băng lớn") và băng cassette, gọi chung là băng nhạc "Sơn Ca".
Băng nhạc "Sơn Ca" gồm tất cả 10 băng được đánh số từ 1 đến 11 nhưng không có băng số 4. Mở đầu và kết thúc băng thường là đoạn nhạc hiệu độc đáo "Sơn Ca, Sơn Ca, Sơn Ca" do Nguyễn Văn Đông soạn, Lê Văn Thiện phối khí, với lời giới thiệu và tạm biệt do nữ xướng ngôn viên tên Hiền diễn đọc. Nội dung băng là những ca khúc có thể được tạm xếp vào các thể loại là nhạc vàng, tình khúc 1954-1975, nhạc tiền chiến và hiếm hoi là một vài ca khúc nhạc nước ngoài lời Việt. Mỗi băng có từ 17 đến 20 bài hát (thường là 18) của nhiều tác giả, riêng băng "Sơn Ca 7" đặc biệt dành riêng cho các sáng tác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Hai năm đầu 1971-1972, hãng phát hành ba băng nhạc theo chủ đề, quy tụ nhiều giọng ca thượng thặng đương thời. Từ băng "Sơn Ca 5" trở đi, hãng chuyển hướng làm băng đơn ca, mỗi băng một ca sĩ, khởi màn là ca sĩ Phương Dung và đây cũng là giọng ca duy nhất mà hãng Sơn Ca làm nhiều hơn một băng đơn ca. Băng "Sơn Ca 6" là băng đơn ca đầu tiên của Giao Linh - một trong hai học trò nổi tiếng của Nguyễn Văn Đông bên cạnh ca sĩ Thanh Tuyền. Băng "Sơn Ca 10" có sự cộng tác của danh ca Thái Thanh và ban hợp ca nổi tiếng nhất thời bấy giờ là ban Thăng Long. Việc làm băng đơn ca riêng cho từng ca sĩ, được nhìn nhận là ý tưởng tiên phong, mới mẻ, mở đầu xu hướng cho nhiều băng khác về sau, trong bối cảnh các băng nhạc đương thời phần lớn là băng tổng hợp nhiều ca sĩ.
Chuỗi băng nhạc "Sơn Ca" được phát hành liên tục cho đến khi hãng dĩa Sơn Ca chấm dứt tồn tại từ sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975. Băng nhạc cuối cùng là "Sơn Ca 11" thực tế không kịp phát hành tại Việt Nam dù công việc hậu kỳ đã xong từ cuối năm 1974. Sau này, ông chủ Tứ đi định cư Pháp, hành trang mang theo bản thu gốc của "Sơn Ca 11" rồi giao lại cho Thúy Nga Paris phát hành chỉ dưới hình thức cassette.
Riêng về "Sơn Ca 4", nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cho biết băng này có bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, không được cơ quan kiểm duyệt của Việt Nam Cộng hòa cấp phép. Có người nhầm lẫn "Sơn Ca 4" với một băng cassette khác mang tên "Chương trình nhạc tuyển Sơn Ca 4: Đưa em vào hạ" được thực hiện tại California, Hoa Kỳ vào thập niên 1980, vốn dĩ nằm trong chuỗi băng do ca sĩ Sơn Ca thực hiện theo nghệ danh của bà và không có mối liên quan nào với hãng dĩa hát Sơn Ca. Tại hải ngoại, băng Sơn Ca được một số cơ sở phát hành băng nhạc in sang lại đều ở hình thức cassette.
|
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.