text
stringlengths 82
354k
|
|---|
Quỳnh Giao (ca sĩ)
Quỳnh Giao (1946 – 2014) là một nữ ca sĩ Việt Nam, tên thật là Nguyễn Phước Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang, sinh ngày 8 tháng 11 năm 1946 tại làng Vỹ Dạ, Huế, Việt Nam.
Quỳnh Giao sinh ra trong gia đình dòng dõi hoàng tộc ở Huế, là con gái của Minh Trang (tên thật: Nguyễn Thị Ngọc Trâm (1921 – 2010)), nữ danh ca của tân nhạc những năm đầu. Cha là Nguyễn Phước Ưng Quả (1905 – 1951), cháu nội Tuy Lý Vương Miên Trinh, là người con thứ 11 của vua Minh Mạng và em vua Thiệu Trị và là một học giả uyên bác, từng là Thái tử Thiếu bảo khi dạy học Thái tử Bảo Long, Hiệu trưởng trường Quốc học tại Huế, và Giám đốc Nha học chánh Trung Phần thuộc Bộ Học của nước Việt Nam thời Pháp. Năm Quỳnh Giao 5 tuổi, cha của bà qua đời và mẹ bà tái giá với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước.
Ngay từ bé, với tên thật Đoan Trang, Quỳnh Giao đã hát trên đài Phát thanh Quốc gia Sài Gòn, trong ban "Tuổi Xanh" của kịch sĩ Kiều Hạnh. Quỳnh Giao cũng từng tốt nghiệp thủ khoa lớp dương cầm và được bà Robin của Trung tâm văn Hóa Pháp, Alliance Française, hướng dẫn về thanh nhạc và opera.
Quỳnh Giao thực sự đến với âm nhạc khi 15 tuổi. Đó là năm 1961, bà Minh Trang đang cộng tác với ban Tây Hồ của nhạc sĩ Hoàng Trọng thì mất giọng do căn bệnh hen suyễn nên Quỳnh Giao được mời vào thay thế cho mẹ. Từ đó bà đi hát với nghệ danh Quỳnh Giao và trở thành một ca sĩ quan trọng trong những chương trình ca nhạc của các đài phát thanh Sài Gòn, Quân đội và Tiếng Nói Tự Do trước năm 1975. Trong những năm đầu 1970 Quỳnh Giao cùng với các em gái Vân Quỳnh, Vân Khanh và Vân Hòa thành lập Ban tứ ca Bốn Phương chuyên hát tại vũ trường Ritz và thâu âm cho các trung tâm Băng nhạc Jo Marcel, Phạm Mạnh Cương và Premier.
Ngày 24 tháng 4 năm 1975, Quỳnh Giao cùng chồng và con rời Việt Nam sang cư ngụ tại thành phố Annandale, Virginia. Trong thời gian ở Annandale, bà gần như ngưng mọi hoạt động về ca nhạc ngoài việc tiếp tục mở lớp dạy dương cầm và thỉnh thoảng thực hiện vài băng nhạc có tính cách lưu niệm do chính bà tự đàn và hát.
Năm 1990, Quỳnh Giao tái giá với chuyên gia kinh tế học Nguyễn Xuân Nghĩa, sau đó bà cùng chồng về sống tại California. Từ đó, bà bắt đầu quay lại với âm nhạc và phát hành nhiều CD thành công như "Khúc nguyệt quỳnh, Hành trình Phạm Duy"... Quỳnh Giao cũng cùng với các ca sĩ Mai Hương, Kim Tước lập ban Tiếng Tơ Đồng ở hải ngoại và thu được nhiều thành công.
Ca sĩ Quỳnh Giao qua đời vào lúc 3 giờ sáng hôm thứ tư ngày 23 tháng 7 năm 2014 tại Fountain Valley, California, hưởng thọ 68 tuổi.
Băng nhạc Quỳnh Giao.
Trong khoảng thời gian từ 1965 đến 1975, Quỳnh Giao cùng với ban Bốn Phương đã thâu âm một số băng nhạc cho các hãng Phạm Mạnh Cương, Jo Marcel, Premier, Tiếng Nhạc Tâm Tì
|
Trong mật mã học, mã hóa khối (tiếng Anh: "block cipher") là những thuật toán mã hóa đối xứng hoạt động trên những khối thông tin có độ dài xác định ("block") với những chuyển đổi xác định. Chẳng hạn một thuật toán mã hóa khối có thể xử lý khối 128 bít đầu vào và biến nó thành khối 128 bít ở đầu ra. Quá trình chuyển đổi còn sử dụng thêm một tham số nữa: khóa bí mật để cá biệt hóa quá trình. Việc giải mã cũng diễn ra tương tự: xử lý khối mã hóa 128 bít cùng với khóa để trả về khối 128 bít bản rõ ban đầu.
Để mã hóa những văn bản có độ dài vượt quá độ dài của khối, người ta sử dụng thuật toán theo một chế độ mã hóa khối nào đó.
Phân biệt với mã hóa khối là mã hóa dòng. Mã hóa dòng làm việc trên từng bít của dòng dữ liệu và quá trình biến đổi thay đổi theo quá trình mã hóa. Tuy nhiên, sự phân biệt giữa 2 phương pháp nhiều khi không rõ ràng vì mã hóa khối khi hoạt động theo một chế độ nào đó thì có tác dụng như một phương pháp mã hóa dòng.
Thuật toán mã hóa khối ra đời sớm và có nhiều ảnh hưởng là thuật toán DES (Data Encryption Standard - Tiêu chuẩn mã hóa dữ liệu) do công ty IBM phát triển và được ban hành làm tiêu chuẩn năm 1977. Tiêu chuẩn thay thế DES có tên là AES (Advanced Encryption Standard - Tiêu chuẩn mã hóa nâng cao) được ban hành năm 2001.
Quá trình mã hóa khối bao gồm 2 thuật toán: mã hóa - ký hiệu "E" và giải mã - ký hiệu "E-1". Cả hai thuật toán đều tác động lên một khối đầu vào "n" bít sử dụng một khóa "k" bít để cho ra một khối đầu ra "n" bít. Đối với bất kỳ khóa nào, giải mã là hàm ngược của mã hóa, nghĩa là:
trong đó "M" là khối thông tin và "K" là khóa bất kỳ.
Với mỗi khóa "K", "EK" là một hoán vị (song ánh) của khối đầu vào. Mỗi khóa sẽ xác định một hoán vị trong tổng số formula_2 khả năng.
Độ dài của khối thông tin, ký hiệu là n, thông thường là cố định ở 64 hoặc 128 bít. Một số thuật toán có độ dài khối thay đổi nhưng không phổ biến. Tính đến trước những năm giữa của thập kỷ 1990 thì độ dài 64 bít thường được sử dụng. Từ đó trở về sau thì khối 128 bít được sử dụng rộng rãi hơn. Trong các chế độ mã hóa khối thì người ta thường phải bổ sung thêm một số bít cho văn bản (tiếng Anh: padding) để văn bản chứa số nguyên lần các khối. Mỗi chế độ mã hóa có đặc tính khác nhau về lan truyền lỗi (lỗi mã hóa trong khối này ảnh hưởng tới khối khác), khả năng truy xuất ngẫu nhiên và khả năng chống lại các kiểu tấn công khác nhau. Độ dài thông thường của khóa, k, là 40, 56, 64, 80, 128, 192 và 256 bít. Hiện tại (năm 2006) thì 80 bít là độ dài tối thiểu của khóa để có thể chống lại tấn công kiểu duyệt toàn bộ.
Mã hóa khối gồm nhiều quá trình lặp lại.
Hầu hết các thuật toán mã hóa khối sử dụng lặp đi lặp lại các hàm đơn giản. Phương pháp này còn được gọi là mã hóa khối lặp (xem thêm product cipher). Mỗi chu kỳ lặp được gọi là một vòng (tiếng Anh: round) và thông thường các thuật toán có từ 4 tới 32 vòng.
Rất nhiều thuật toán mã hóa khối có tính chất của mạng Feistel, hay tổng quát hơn là hệ thống thế và hoán vị. Các thành phần sử dụng trong thuật toán là các hàm toán học, các hàm lô gíc ("đặc biệt là hàm XOR"), hộp thế (S-box) và các phương pháp hoán vị.
Thuật toán mã hóa Lucifer do công ty IBM phát triển dựa trên những nghiên cứu của Horst Feistel được xem là thuật toán mã hóa đầu tiên dùng cho mục đích dân sự. Sau đó, thuật toán này được sửa đổi và trở thành tiêu chuẩn mã hóa của chính phủ Hoa Kỳ vào năm 1976 với tên gọi là DES ("Tiêu chuẩn mã hóa dữ liệu, tiếng Anh: Data Encryption Stardard"). Từ đó, DES được sử dụng rất rộng rãi.
DES đã được thiết kế chống lại một số dạng tấn công mà Cơ quan an ninh quốc gia Hoa Kỳ (NSA) và IBM đã biết vào thời điểm thiết kế. Tuy nhiên, những thông tin này đã không được công bố và chỉ được biết đến vào cuối những năm 1980 nhờ những nghiên cứu của Eli Biham và Adi Shamir. Kỹ thuật đó có tên là tấn công vi sai. Kỹ thuật tấn công tuyến tính là một dạng tấn công khác chỉ được làm sáng tỏ sau xuất bản của Mitsuru Matsui. DES đã tạo nên một làn sóng nghiên cứu trong lĩnh vực mật mã học và thám mã. Từ đó nhiều vấn đề được làm sáng tỏ và nhiều thuật toán mã hóa mới đã ra đời.
Khối dữ liệu trong DES có độ dài 64 bít (khối 64 bít trở nên phổ biến sau DES) và độ dài khóa là 56 bít. Độ dài khóa phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó bao gồm cả quy định của chính phủ. Ngay từ những năm 1970, nhiều người đã cho rằng độ dài khóa 56 bít là không đủ an toàn. Cùng với sự phát triển của khả năng tính toán, vấn đề này ngày càng trở nên cấp thiết. Năm 1998, một hệ thống dành riêng cho thám mã DES của tổ chức Electronic Frontier Foundation đã phá được khóa DES trong thời gian hơn 2 ngày. Một số biến thể của DES như Triple DES hay 2TDES có độ dài khóa hiệu dụng 112 và 80 bít vẫn được coi là an toàn vào thời điểm năm 2004.
DES được thay thế như là một tiêu chuẩn bởi AES (thuật toán mã hóa nâng cao, tiếng Anh: Advanced Encryption Standard) vào năm 2001 sau một cuộc thi rộng rãi. Tác giả của AES là 2 người Bỉ: Joan Daemen và Vincent Rijmen (lấy tên chung là Rijndael). AES có độ dài khối là 128 bít và khóa có độ dài có thể là 128, 192 hay 256 bít. Chính phủ Hoa Kỳ cho phép sử dụng AES với các thông tin mật do NSA xếp loại.
Bên cạnh tấn công tuyến tính và vi sai còn có rất nhiều kiểu tấn công khác lên mã hóa khối: tấn công vi sai từng phần (tiếng Anh: truncated and partial differential cryptanalysis), tấn công kiểu XLS, tấn công kiểu bu mê răng (tiếng Anh: boomerang attack)... Để một thuật toán mới được chấp nhận, nó phải được chứng minh có khả năng chống lại các dạng tấn công đã biết.
Các hàm băm dựa trên mã hóa khối.
Các thuật toán mã hóa khối có thể sử dụng theo một số cách để tạo ra hàm băm mật mã. Những phương pháp này tương tự với các chế độ mã hóa khối dùng cho mã hóa
Sử dụng mã hóa khối cho hàm băm thường chậm hơn so với dùng các hàm băm chuyên dụng. Tuy nhiên dùng mã hóa khối cho cả hai mục đích (mã hóa và hàm băm) lại tiện lợi vì chỉ phải thực hiện 1 lần. Điều này càng có ý nghĩa cho các hệ thống nhúng (chẳng hạn như thẻ thông minh) do không gian dành cho phát triển phần mềm bị hạn chế.
Mã hóa khối với tham số.
M. Liskov, R. Rivest, và D. Wagner đã mô tả một dạng tổng quát hơn là mã hóa khối với tham số (tiếng Anh:"tweakable" block ciphers). Đầu vào của thuật toán dạng này bên cạnh bản rõ/bản mã và khóa còn có thêm một tham số nữa gọi là "tweak". Tweak cùng với khóa sẽ lựa chọn cách hoán vị của thuật toán. Nếu việc thay đổi tweak yêu cầu khối lượng tính toán nhỏ (so với quá trình tạo khóa) thì ta sẽ có thêm một số chế độ hoạt động khác. Xem thêm bài mã hóa ổ đĩa để có thêm thông tin về vấn đề này.
|
Lục quân Đế quốc Nhật Bản
Lục quân Đế quốc Nhật Bản (kanji cổ: 大日本帝國陸軍, kanji mới: 大日本帝国陸軍; romaji: "Dai-Nippon Teikoku Rikugun"; Hán-Việt: Đại Nhật Bản đế quốc lục quân) thường gọi tắt là Lục quân Nhật, là lực lượng quân sự trên bộ của Đế quốc Nhật Bản từ năm 1868 đến 1945, được kiểm soát bởi Bản bộ Tham mưu và Bộ Lục quân, cả hai đều dưới quyền Thiên hoàng Nhật Bản với tư cách là chỉ huy tối cao của quân đội và Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Sau này, có Tổng giám bộ Hàng không Lục quân trở thành cơ quan thứ ba giám sát quân chủng này. Vào thời kì đỉnh cao, Lục quân Đế quốc Nhật Bản là một trong những lực lượng chính trị mạnh mẽ nhất ở Đế quốc Nhật Bản, đồng thời cũng là nòng cốt thường chiếm ưu thế trên chiến trường. Lục quân Đế quốc Nhật Bản nổi tiếng với vô số tội ác chiến tranh đã gây ra trong Chiến tranh Trung–Nhật và Chiến tranh Thái Bình Dương, chẳng hạn như vụ cưỡng hiếp ở Nam Kinh và cuộc hành quân chết chóc Bataan.
Bộ máy chỉ huy.
Trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản, không kể Thiên hoàng, thì 3 vị đứng đầu 3 cơ quan trên là 3 người có vị trí cao nhất.
Các đơn vị được biên chế theo binh chủng: bộ binh, kỵ binh, pháo binh
Thời kỳ 1944-1945, Lục quân Đế quốc Nhật Bản có các quân hàm sau, xếp từ cao xuống thấp:
|
Tượng thần Mặt Trời ở Rhodes
Tượng thần Mặt Trời ở Rhodes là một bức tượng vĩ đại của thần Mặt Trời trên đảo Rhodes (Hy Lạp), do Chares xứ Lindos (một nhà điêu khắc Hy Lạp) dựng nên trong khoảng 292 TCN và 280 TCN. Nó khoảng cùng kích thước với Tượng thần tự do ở New York, dù được đặt trên một cái bệ thấp hơn. Bức tượng từng là một trong Bảy kỳ quan thế giới.
Quyết định dựng tượng.
Alexandros Đại đế băng hà khi tuổi còn trẻ năm 323 TCN khi chưa có thời gian lập ra bất kỳ một kế hoạch nào cho người kế vị. Chiến tranh giành quyền lực nổ ra giữa những tướng lĩnh của ông, cuối cùng ba người trong số họ chia nhau phần lớn đế chế của ông tại vùng Địa Trung Hải.
Trong thời gian chiến tranh, Rhodes đứng về phía Ptolemaios, và cuối cùng khi Ptolemaios chiếm được quyền kiểm soát Ai Cập, Rhodes và Ai Cập của Ptolemaios lập ra một đồng minh kiểm soát đa số hoạt động thương mại ở miền đông Địa Trung Hải. Một tướng khác của Alexanderos là Monophthalmus phản đối việc đó. Năm 305 TCN, ông cho con trai là Demetrius (lúc ấy là một vị tướng nổi tiếng) tấn công Rhodes với một đội quân 40.000 người. Tuy nhiên, thành phố được phòng ngự vững vàng và Demetrius phải bắt đầu xây dựng một số tháp bao vây nhằm cho quân leo được lên tường thành. Tháp đầu tiên được dựng trên sáu chiếc tàu, và chúng đã bị một cơn bão lật úp trước khi có thể đem ra sử dụng. Ông lại thử lần nữa với một tháp dựng trên mặt đất với kích thước lớn hơn, gọi là "Helepolis", nhưng những người lính phòng ngự trong thành phố Rhode đã cho nước chảy tràn ra khu đất trước tường thành khiến tháp này không thể di chuyển được. Năm 304 TCN, một lực lượng viện binh gồm các tàu chiến do Ptolemaios gửi đến đã tới nơi, quân của Demetrius buộc phải nhanh chóng rút chạy, để lại hầu như toàn bộ những trang bị vây hãm của mình. Dù không giành được thắng lợi ở Rhodes, Demetrius đã được đặt tên hiệu là "Poliorcetes", "kẻ vây hãm các thành phố", vì ông đã thành công trong việc vây hãm ở nhiều thành phố khác.1
Để ăn mừng thắng lợi, người Rhode quyết định xây dựng một bức tượng vĩ đại cho vị thần bảo hộ mình là Helios (thần Mặt Trời). Việc xây dựng được giao cho Chares, một người sinh ra tại Rhodes và đã từng tham gia vào việc xây dựng các bức tượng to lớn trước đó. Thầy giáo của ông, nhà điêu khắc lừng danh Lysippus, đã dựng nên một bức tượng thần Zeus cao 60 foot. Để có tiền chi trả cho việc xây dựng tượng thần Mặt Trời, người Rhode đã bán toàn bộ các trang bị vây hãm mà Demetrius để lại phía trước thành phố của họ.
Những miêu tả thời trước (có khác biệt một chút so với nhau) về bức tượng cho rằng kết cấu của nó dựa trên nhiều cột đá (hay những tháp bằng gạch) bên trong, và đứng trên một bệ bằng cẩm thạch trắng cao 15 mét (50 feet) gần lối vào cảng Mandraki (một số khác cho rằng trên một đê chắn sóng ở cảng). Các xà bằng thép được đặt vào bên trong các tháp, và các tấm đồng được gắn vào các thanh ngang để tạo thành da. Đa số các vật liệu được nấu chảy từ các loại vũ khí mà đội quân của Demetrius bỏ lại, và cái tháp bao vây được dùng làm giàn giáo ở tầng thấp. Những phần phía trên được dựng lên bằng cách dùng một đoạn dốc lớn bằng đất nung. Riêng bức tượng đã cao hơn 34 mét (110 feet). Sau 12 năm, năm 280 TCN, bức tượng vĩ đại được hoàn thành.
Bức tượng chỉ tồn tại trong vòng 56 năm cho tới khi Rhodes phải hứng chịu một trận động đất năm 224 TCN. Bức tượng bị gãy ở phần đầu gối và sụp xuống phần đất liền. Ptolemaios III ra lệnh chi tiền làm lại bức tượng, nhưng một lời sấm đã khiến những người Rhode sợ hãi rằng họ đã xúc phạm đến thần Mặt Trời, và họ không dám xây dựng lại nó. Những phần đổ vỡ của bức tượng tiếp tục nằm trên mặt đất trong hơn 800 năm tiếp theo, thậm chí đã vỡ ra, nhiều du khách đã du lịch tới đó vì ấn tượng khi nhìn thấy. Gaius Plinius Secundus (Pliny the Elder) đã ghi chép rằng rất ít người có thể vòng tay ôm được ngón tay cái và rằng mỗi ngón tay của tượng đã lớn hơn đa số những bức tượng bình thường khác.
Năm 654, một lực lượng Ả Rập dưới quyền chỉ huy của Muawiyah I chiếm Rhodes và, theo những nhà sử học Theophanes, những phần còn lại của tượng đã bị đem bán cho một nhà buôn từ Edessa. Ông ta phá vỡ bức tượng và chở những tấm đồng bằng 900 con lạc đà về quê hương. Những mảnh rời đó tiếp tục được đào lên đem bán, sau khi được tìm thấy dọc theo con đường lữ hành.
Nhiều bức hoạ cũ (ở trên) cho thấy hình tượng đứng mỗi chân đặt trên một phía của cổng cảng và các con tàu đi qua bên dưới để vào: "... pho tượng đồng thau nổi tiếng của Hy Lạp, mỗi chân đặt trên một phía cả" (trong "The New Colossus", bài thơ được tìm thấy ở bệ Tượng thần tự do). Nhân vật Cassius của Shakespeare trong kịch "Julius Caesar" (II,i,136-38) đã nói về Caesar:
"Like a Colossus, and we petty men"
"Walk under his huge legs and peep about"
"To find ourselves dishonourable graves"
Bức tượng thần đứng dạng chân trên cảng chỉ là sự tưởng tượng của người sau này.
Thần Mặt Trời ở thời hiện đại.
Năm 1989, một cấu trúc xây dựng bằng đá trông giống với nắm đấm của con người được tìm thấy ở vùng biển Rhodes. Nó được cho là phần đầu tiên được khám phá ra của bức tượng thần Mặt Trời. Tuy nhiên, sau đó người ta đã xác định nó chỉ là đá và bùn rác đã bị một xe ủi hất xuống biển.
Đã từng có nhiều lời bàn cãi về việc có nên xây dựng lại bức tượng hay không. Những người ủng hộ cho rằng điều này sẽ làm bùng nổ lượng khách du lịch tới Rhodes, nhưng những người phản đối nói nó quá tốn kém (hơn 100 triệu euro). Ý kiến này đã nhiều lần được đặt ra từ năm 1970, nhưng vì thiếu hụt tài chính, nên những công việc đó vẫn chưa thực hiện được. Các kế hoạch xây dựng tượng đã được tiến hành từ năm 1998 bởi nghệ sĩ Nikolaos Kotziamanis người Síp-Hy Lạp.
Gần đây bức tượng lại một lần nữa được đề cập tới trong bài thơ "The New Colossus" của Emma Lazarus:
"Not like the brazen giant of Greek fame,"
"With conquering limbs astride from land to land"
Trong đoạn mở đầu bài thơ, Lazarus so sánh bức tượng thần Mặt Trời với bức tượng Nữ thần Tự do.
Trong phim "Hercules" của Disney, con quái vật Philoctetes sống trên đảo Rhodes, và có những phần vẫn còn nhìn thấy của bức tượng trên đảo như cái đầu và đôi chân vẫn còn đứng trên bệ.
Trong bài thơ "The Colossus", Sylvia Plath đề cập tới tượng thần Mặt Trời ở Rhodes.
|
Hemoglobin (còn gọi là huyết sắc tố, viết tắt Hb hay Hgb; công thức hóa học: C2952H4664N812O832S8Fe4) là một protein chứa sắt có trong erythrocyte của hầu hết các loài động vật có xương sống (ngoại trừ họ cá Channichthyidae), cũng như mô của một số động vật không xương sống. Hemoglobin trong máu có nhiệm vụ vận chuyển oxy từ các cơ quan hô hấp (phổi hoặc mang) đến các mô khác của cơ thể, nơi nó giải phóng oxy để tạo điều kiện cho quá trình hô hấp hiếu khí giúp tăng cường quá trình trao đổi chất của động vật. Một người khỏe mạnh có từ 12 đến 20 gam hemoglobin trong mỗi 100#đổi mL máu. Hemoglobin là một metallicoprotein, là một chromoprotein cũng như là một globulin.
Ở động vật có vú, hemoglobin chiếm khoảng 96% trọng lượng khô của hồng cầu (không bao gồm nước) và khoảng 35% tổng trọng lượng (bao gồm cả nước).
Tùy theo sự kết hợp các loại chuỗi globin, có các loại hemoglobin khác nhau:
Một số hemoglobin ở thời kỳ phôi và thời kỳ đầu của bào thai.
|
Jerusalem (phiên âm tiếng Việt: "Giê-ru-sa-lem", #đổi ; tiếng Do Thái: ירושׁלים "Yerushalayim"; tiếng Ả Rập: "al-Quds", tiếng Hy Lạp: Ιεροσόλυμα "Ierosólyma") là một thành phố ở Trung Đông, nằm trên một cao nguyên thuộc dãy núi Do Thái giữa Địa Trung Hải và Biển Chết. Đây là một trong những thành phố lâu đời nhất trên thế giới và được coi là một địa điểm linh thiêng đối với ba tôn giáo chính khởi nguồn từ Abraham - Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Cả Israel và Chính quyền Palestine đều tuyên bố Jerusalem là thủ đô của họ, khi Israel duy trì các thể chế chính phủ chính của mình ở đó và Nhà nước Palestine dự đoán đây sẽ là trung tâm quyền lực của nhà nước này; tuy nhiên, không yêu cầu nào được công nhận rộng rãi trên phạm vi quốc tế .
Trong lịch sử lâu dài của mình, Jerusalem đã bị phá hủy ít nhất hai lần, bị bao vây 23 lần, bị bắt và chiếm 44 lần, bị tấn công 52 lần. Một phần của Jerusalem được gọi là Thành phố David cho thấy những dấu hiệu định cư đầu tiên trong thiên niên kỷ thứ 4 TCN, dưới dạng lều trại của những người chăn cừu du mục. Jerusalem được đặt tên là "Urusalim" trên các sách cổ Ai Cập cổ đại, có lẽ có nghĩa là "Thành phố Shalem" theo một vị thần Canaan, trong thời kỳ Canaanite (thế kỷ 14 trước Công nguyên). Trong thời kỳ Israel cổ đại, hoạt động xây dựng quan trọng ở Jerusalem bắt đầu vào thế kỷ thứ 9 trước Công nguyên (Thời đại đồ sắt II), và vào thế kỷ thứ 8, thành phố đã phát triển thành trung tâm tôn giáo và hành chính của Vương quốc Judah. Năm 1538, các bức tường thành phố được xây dựng lại lần cuối cùng xung quanh Jerusalem dưới thời Suleiman the Magnificent. Ngày nay, những bức tường đó xác định Thành phố Cổ, theo truyền thống được chia thành bốn phần tư được biết đến từ đầu thế kỷ 19 là Khu vực Armenia, Cơ đốc giáo, Do Thái và Hồi giáo. Thành phố cổ này trở thành Di sản Thế giới năm 1981 và nằm trong Danh sách Di sản Thế giới đang bị đe dọa.
Kể từ năm 1860, Jerusalem đã phát triển vượt xa ranh giới của Thành phố Cổ. Năm 2015, Jerusalem có dân số khoảng 850.000 cư dân, bao gồm khoảng 200.000 người Do Thái thế tục, 350.000 người Do Thái Haredi và 300.000 người Palestine. Năm 2011, dân số là 801.000, trong đó người Do Thái chiếm 497.000 (62%), Hồi giáo 281.000 (35%), Kitô hữu 14.000 (khoảng 2%) và 9.000 (1%) người không được phân loại theo tôn giáo.
Theo Kinh thánh, Vua David đã chinh phục thành phố từ người Jebusite và thiết lập nó trở thành thủ đô của vương quốc Israel, và con trai của ông, Vua Solomon, đã chi tiền xây dựng Đền thờ đầu tiên. Các học giả hiện đại cho rằng người Do Thái tách ra khỏi các dân tộc và văn hóa Canaan thông qua sự phát triển của một tôn giáo độc quyền - và sau đó là độc thần - tập trung vào El/Yahweh, một trong những thần của người Canaan cổ đại. Những sự kiện nền tảng này, diễn ra vào buổi bình minh của thiên niên kỷ thứ 1 TCN, cho thấy tầm quan trọng biểu tượng trung tâm của người Do Thái. Biệt danh thành phố linh thiêng ("עערררר", phiên âm ' "ir haqodesh") có lẽ đã được gắn liền với Jerusalem trong thời kỳ hậu lưu đày. Jerusalem được coi là thành phố Thánh trong Kitô giáo, được bảo tồn trong bản Septuagint mà các Kitô hữu đã nhận là sách riêng của họ, đã được củng cố bởi bản tường thuật Tân Ước về sự đóng đinh của Giêsu ở đó. Trong Hồi giáo Sunni, Jerusalem là thành phố linh thiêng thứ ba, sau Mecca và Medina. Theo truyền thống Hồi giáo, vào năm 610 CE, nó đã trở thành qibla đầu tiên, điểm cầu nguyện của người Hồi giáo (salat), và Muhammad thực hiện Hành trình đêm của mình ở đó mười năm sau, lên thiên đàng, nơi ông nói chuyện với Thiên Chúa, theo Kinh Qur'an. Kết quả là, mặc dù có diện tích chỉ 0.9km2, Thành phố cổ là nơi có nhiều địa điểm có tầm quan trọng tôn giáo, trong đó có Núi Đền với Bức tường phía Tây, Mái vòm Đá và Nhà thờ Hồi giáo al-Aqsa, và Nhà thờ Mộ Thánh. Bên ngoài Thành phố cổ có Lăng mộ Vườn.
Ngày nay, vị thế của Jerusalem vẫn là một trong những vấn đề cốt lõi trong cuộc xung đột giữa Palestine và Israel. Trong Chiến tranh Ả Rập Israel năm 1948, Tây Jerusalem là một trong những khu vực bị Israel kiểm soát và sau đó sáp nhập trong khi Đông Jerusalem, bao gồm Thành phố Cổ, bị Jordan chiếm và sau đó bị Jordan sáp nhập. Israel tái kiểm soát được Đông Jerusalem từ Jordan trong Chiến tranh Sáu ngày năm 1967 và sau đó sáp nhập vào Jerusalem, cùng với lãnh thổ xung quanh bổ sung. Một trong những Luật cơ bản của Israel, Luật Jerusalem năm 1980, gọi Jerusalem là thủ đô không thể tách rời của đất nước. Tất cả các chi nhánh của chính phủ Israel đều được đặt tại Jerusalem, bao gồm Knesset (quốc hội của Israel), nơi ở của Thủ tướng (Beit Aghion) và Tổng thống (Beit HaNassi) và Tòa án tối cao. Trong khi cộng đồng quốc tế coi việc sáp nhập là bất hợp pháp và coi Đông Jerusalem là lãnh thổ của Palestine bị Israel chiếm đóng, Israel có yêu sách chủ quyền mạnh mẽ hơn đối với Tây Jerusalem.
Tên gọi, từ nguyên.
Nguồn Ai Cập cổ đại.
Một thành phố được gọi là "Rušalim" trong các văn bản ghi tên kẻ thù của Vương quốc Ai Cập (khoảng thế kỷ 19 TCN), với độ phổ biến rộng rãi, được xác định là Jerusalem. Jerusalem được gọi là "Urušalim" trong các chữ cái Amarna của Abdi-Heba (1330s BCE).
Cái tên "Jerusalem" được nhiều từ khác nhau có nghĩa là "nền tảng (Sumerian "yeru", 'khu định cư' / Semitic "yry "': được tìm thấy, đặt một nền tảng) của vị thần Shalem "; Thần Shalem do đó là vị thần ban đầu của thành phố Thời đại đồ đồng này.
Shalim hay Shalem là tên của vị thần hoàng hôn trong tôn giáo Canaan, với tên của họ dựa trên cùng một SLM gốc mà từ này có nghĩa là từ "hòa bình" trong tiếng Do Thái ("Salam" hoặc "Shalom" trong tiếng Ả Rập và tiếng Do Thái hiện đại). Do đó, cái tên được đặt cho các từ nguyên như "Thành phố hòa bình", "Nơi trú ngụ của hòa bình", "trú ngụ trong hòa bình" ("an toàn khi trú ngụ"), xen kẽ với "Tầm nhìn hòa bình" trong một số sách của tác giả Kitô giáo.
Đuôi "-ayim" kết thúc mang nghĩa kép, do đó dẫn đến sự gợi ý rằng tên "Yerushalayim" đề cập đến thực tế là thành phố đầu tiên tọa lạc trên hai ngọn đồi.
Kinh thánh tiếng Do Thái và nguồn Do Thái.
Hình thức "Yerushalem" hoặc "Yerushalayim" (Jerusalem) lần đầu tiên xuất hiện trong Kinh thánh, trong Sách Joshua. Theo một người Midrash, cái tên này là sự kết hợp của " Yireh " ("Nơi ở", tên do Abraham đặt cho nơi ông bắt đầu hy sinh con trai mình) và " Shalem " ("Nơi bình yên", do linh mục cao cấp Shem đặt), sau đó hai tên được Thiên Chúa hợp nhất lại.
Bản chữ ghi lại cũ nhất.
Chữ viết trong tiếng Hebrew ngoài Kinh thánh đầu tiên của từ Jerusalem có niên đại vào thế kỷ thứ sáu hoặc thứ bảy TCN và được phát hiện ở Khirbet Beit Lei gần Beit Guvrin năm 1961. Dòng chữ ghi: "Tôi là Yahweh Đức Chúa Trời, tôi sẽ chấp nhận các thành phố của Judah và tôi sẽ cứu chuộc Jerusalem", hoặc như các học giả khác đề nghị dịch thành: "Yahweh là Thần của cả Trái Đất. Những ngọn núi của Judah thuộc về Người, thuộc về Thần Jerusalem ".
Jebus, Zion, Thành phố David.
Một khu định cư cổ xưa của Jerusalem, được thành lập sớm nhất là vào thời đại đồ đồng trên đồi phía trên mùa xuân Gihon, đã theo Kinh Thánh được đặt tên làJebus "(ví dụ," Judges 19: 10: יְב֔וּס הִ֖יא יְרוּשָׁלִָ֑ם: "Jebus, nó [là] Jerusalem" ). Được gọi là "Pháo đài Zion" ("metsudat Zion"), nó được David đổi tên thành Thành phố David, và được biết đến với cái tên này trong thời cổ đại. Một tên khác, " Zion ", ban đầu được gọi là một phần riêng biệt của thành phố, nhưng sau đó được dùng để biểu thị toàn bộ thành phố và đại diện cho vùng đất Thánh của Israel.
Tên Hy Lạp, La Mã và Byzantine.
Trong tiếng Latin Hy Lạp và tên của thành phố đã được phiên âm "Hierosolyma" (tiếng Hy Lạp: Ἱεροσόλυμα; trong "hieròs" Hy Lạp, "ἱερός," có nghĩa là thánh), mặc dù thành phố được đổi tên thành Aelia Capitolina cho một phần của thời kỳ lịch sử La Mãcủa nó.
Apocryphon Aramaic của Genesis of the Dead Sea Scrolls (1QapGen 22:13) đánh đồng Jerusalem với "Salem" trước đó (שלם), được cho là vương quốc Melchizedek trong Genesis 14:18. Các nguồn gốc tiếng Hebrew khác, kết xuất Kitô giáo đầu tiên của câu và "targumim", đưa Salem ở Bắc Israel gần Shechem (hoặc Sichem), nay là Nablus, một thành phố có tầm quan trọng trong văn bản tiếng Hebrew thời kỳ đầu. Có thể người điều khiển Apocryphon của Genesis muốn tách Melchizedek khỏi khu vực của Shechem, lúc đó đang thuộc quyền sở hữu của người Samari. Tuy nhiên, có thể, các nguồn Rabbinic sau này cũng đánh đồng Salem với Jerusalem, chủ yếu để liên kết Melchizedek với các truyền thống Đền thờ sau này.
Tên tiếng Ả Rập.
Trong tiếng Ả Rập, Jerusalem là phổ biến nhất được gọi là , phiên âm là "al-Quds" và có nghĩa là "Thành phố linh thiêng" hoặc "Thánh địa". Chính sách của chính phủ Israel bắt buộc rằng , Phiên âm như "Ūršalīm," đó là cùng nguồn gốc của tên tiếng Hebrew và tiếng Anh, được sử dụng như tên tiếng Ả Rập cho thành phố kết hợp với . . Các gia đình Ả Rập Palestine đến từ thành phố này thường được gọi là " "Qudsi" " hoặc " "Maqdisi" ", trong khi những người theo đạo Hồi giáo Palestine có thể sử dụng những thuật ngữ này như một tên gọi dân cư.
Jerusalem có lịch sử lâu dài, Theo truyền thuyết Do Thái, Vua David hậu duệ của tổ phụ Abraham, đã chinh phục thành phố này từ người Jebusite. Theo những đồ vật khảo cổ học đã được tìm thấy, sự định cư tại Jerusalem bắt đầu tồn tại từ 3 nghìn năm trước Công Nguyên. Theo những nguồn tin tức lịch sử, thành phố được nhắc đến lần đầu tiên vào những năm 2 nghìn trước Công Nguyên. Lúc đầu, thành phố được xây dựng và sáng lập nên bởi người Canaanite (có thể, nhưng cũng không nhất thiết phải là người Jebusite, người đã chiếm giữ thành phố cuối thời kỳ đồng thiếc) và trở thành thủ đô các vương quốc và thực thể: Vương quốc Israel thống nhất, Vương quốc Judah và Judea trong thời kỳ Đền thờ Thứ nhất và thời kỳ Đền thờ Thứ hai. Thành phố tiếp tục giữ vai trò quan trọng là thủ phủ của Đất Thánh trong thời kỳ thống trị của người Hồi giáo. Jerusalem là thành phố linh thiêng nhất của Do Thái giáo, và có ý nghĩa đặc biệt với Cơ Đốc giáo và Hồi giáo.
Từ năm 1948 đến 1967, phần phía tây của Jerusalem được quản lý bởi Israel như thủ đô của đất nước, trong khi phía Đông Jerusalem được quản lý bởi Jordan. Thành phố hợp nhất lại bởi thắng lợi của Israel trong Chiến tranh sáu ngày, mặc dù địa vị của thành phố vẫn bị tranh chấp. Luật của Israel từ năm 1980 tuyên bố Jerusalem như thủ đô vĩnh viễn, không bị chia cách của Israel, trong khi Đông Jerusalem lại được cho là thủ đô đang được chờ đợi của đất nước Palestina sau này. Địa vị của những nơi linh thiêng trong thành phố cũng đang bị tranh cãi.
Với số dân 704.900 (từ ngày 31 tháng 12 năm 2004), Jerusalem là thành phố không đồng nhất, tiêu biểu cho nhiều loại dân tộc, tôn giáo và những nhóm kinh tế xã hội. Khu vực được gọi là "Thành phố cổ" được bao vây bởi bức tường thành và bao gồm bốn khu: Hồi giáo, Kitô giáo, Do Thái, và Armenia. Thị trưởng hiện giờ của Jerusalem là Nir Barkat.
Tư cách chính trị.
Tư cách quốc tế.
Trong khi cộng đồng quốc tế xem Đông Jerusalem, bao gồm toàn Phố Cổ, như một phần của các vùng lãnh thổ Palestine bị chiếm đóng, không phải phần nào, phần phía Tây hoặc Đông Jerusalem, được công nhận như là một phần của lãnh thổ của Israel hoặc Nhà nước Palestine. Theo Kế hoạch phân vùng của Liên Hợp Quốc cho Palestine thông qua tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào năm 1947, Jerusalem đã được dự kiến sẽ trở thành một corpus separatum (thực thể tách biệt) được quản lý bởi Liên Hợp Quốc. Trong cuộc chiến tranh năm 1948, phần phía tây của thành phố bị chiếm đóng bởi lực lượng của nhà nước non trẻ của Israel, trong khi phần đông bị chiếm đóng bởi Jordan. Cộng đồng quốc tế chủ yếu là xem xét tình trạng pháp lý của Jerusalem để lấy được từ kế hoạch phân vùng, và tương ứng từ chối công nhận chủ quyền của Israel trên thành phố.
Tình trạng dưới sự quản lý của Israel.
Sau năm 1967 chiến tranh sáu ngày, Israel đã mở rộng thẩm quyền và điều hành của mình trên Đông Jerusalem, thiết lập biên giới thành phố mới.
Trong năm 2010, Israel thông qua luật cho Jerusalem tình trạng ưu tiên quốc gia cao nhất ở Israel. Luật này ưu tiên việc xây dựng trong thành phố, và cung cấp các khoản tài trợ và lợi ích về thuế cho cư dân để làm nhà ở, cơ sở hạ tầng, giáo dục, việc làm, kinh doanh, du lịch, và các sự kiện văn hóa giá cả phải chăng hơn. Bộ trưởng Tài chính Moshe Kahlon nói rằng dự luật gửi "một thông điệp chính trị rõ ràng, dứt khoát rằng Jerusalem sẽ không được chia", và rằng "tất cả những người trong cộng đồng Palestine và quốc tế những người mong đợi chính phủ Israel hiện để chấp nhận bất cứ nhu cầu liên quan đến chủ quyền của Israel hơn của nó vốn là sai lầm và gây hiểu nhầm ".
Tư cách của thành phố, và đặc biệt là thánh địa của mình, vẫn còn là một vấn đề cốt lõi trong cuộc xung đột Israel-Palestine. Chính phủ Israel đã thông qua kế hoạch xây dựng trong khu phố Hồi giáo của thành phố cũ để mở rộng sự hiện diện của người Do Thái ở Đông Jerusalem, trong khi một số nhà lãnh đạo Hồi giáo đã tuyên bố rằng người Do Thái không có kết nối lịch sử với Jerusalem, cáo buộc rằng bức tường phía Tây 2500 tuổi được xây dựng như là một phần của một nhà thờ Hồi giáo. Người Palestine coi Jerusalem là thủ đô của Nhà nước Palestine, và biên giới của thành phố đã là chủ đề của các cuộc đàm phán song phương. Một nhóm các chuyên gia đã nhóm họp lúc đó, Thủ tướng Israel Ehud Barak trong năm 2000 kết luận rằng thành phố phải được phân chia, do Israel đã không đạt được bất kỳ mục tiêu quốc gia của mình ở đó. Tuy nhiên, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu cho biết vào năm 2014 rằng "Jerusalem sẽ không bao giờ bị chia cắt". Một cuộc thăm dò được tiến hành trong tháng 6 năm 2013 cho thấy 74% người Do Thái Israel bác bỏ ý tưởng của một thủ đô của Palestine ở bất cứ phần nào của Jerusalem, mặc dù 72% công chúng coi nó như là một thành phố chia cắt. Một cuộc thăm dò được tiến hành bởi Trung tâm Palestine cho dư luận và Mỹ Pechter Trung Đông thăm dò ý kiến của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, giữa những người dân Ả Đông Jerusalem vào năm 2011 cho thấy 39% người dân Ả Rập Đông Jerusalem sẽ thích có quốc tịch Israel so với 31% người chọn quyền công dân Palestine. Theo thăm dò, 40% cư dân Palestine sẽ thích được ở lại các khu phố của họ nếu họ sẽ được đặt dưới sự cai trị của người Palestine.
Jerusalem là thủ đô.
Thủ đô của Israel.
Ngày 05 tháng 12 năm 1949, Thủ tướng đầu tiên của Israel, David Ben-Gurion, đã tuyên bố Jerusalem là thủ đô của Israel, và từ đó tất cả các nhánh của chính quyền Israel từ lập pháp, tư pháp và hành pháp-được đóng ở đó, ngoại trừ Bộ Quốc phòng đóng ở HaKirya ở Tel Aviv. Tại thời điểm công bố, Jerusalem đã được phân chia giữa Israel và Jordan và do đó chỉ có Tây Jerusalem đã được tuyên bố thủ đô của Israel.
Vào tháng 7 năm 1980, Israel đã thông qua Luật Jerusalem là Luật cơ bản. Luật tuyên bố Jerusalem là thủ đô "hoàn chỉnh và thống nhất" của Israel. "Luật cơ bản: Jerusalem, thủ đô của Israel" là một lý do quan trọng đối với cộng đồng quốc tế không công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết 478 trên 20 tháng 8 năm 1980, trong đó tuyên bố rằng Luật cơ bản là "một sự vi phạm luật pháp quốc tế", là "vô giá trị và phải được hủy bỏ ngay lập tức". Các nước thành viên đã được kêu gọi rút đại diện ngoại giao của họ khỏi Jerusalem. Sau nghị quyết, 22 trong số 24 quốc gia mà trước đó đã có Đại sứ quán tại (Tây) Jerusalem chuyển chúng ở Tel Aviv, nơi mà nhiều đại sứ quán đã cư trú trước khi Nghị quyết 478. Costa Rica và El Salvador tiếp vào năm 2006. Hiện nay, không có đại sứ quán nằm trong giới hạn thành phố Jerusalem, mặc dù có bốn lãnh sự trong thành phố.
Năm 1995, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật Đại sứ quán Jerusalem, yêu cầu, với điều kiện, mà đại sứ quán của nó được chuyển từ Tel Aviv đến Jerusalem. Tuy nhiên, Tổng thống Hoa Kỳ đã lập luận rằng các nghị quyết của Quốc hội về tình trạng của Jerusalem chỉ là tư vấn. Hiến pháp bảo lưu quan hệ đối ngoại như một quyền hành pháp, và như vậy, Đại sứ quán Hoa Kỳ vẫn là ở Tel Aviv. Do không công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel, một số báo chí phi Israel sử dụng Tel Aviv là một hoán dụ cho Israel.
Ngày 6 tháng 12 năm 2017, tổng thống Mỹ Donald Trump chính thức công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel.
Thủ đô của Palestine.
Palestine xem Đông Jerusalem là lãnh thổ bị chiếm đóng theo Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc 242. Chính quyền Palestine tuyên bố Jerusalem, bao gồm cả Haram al-Sharif, là thủ đô của Nhà nước Palestine, PLO tuyên bố rằng Tây Jerusalem cũng tuỳ thuộc vào cuộc đàm phán tình trạng vĩnh viễn. Tuy nhiên, nó đã tuyên bố họ sẽ sẵn sàng xem xét các giải pháp thay thế, chẳng hạn như làm Jerusalem là một thành phố mở.
Vị trí hiện tại của PLO là Đông Jerusalem, theo định nghĩa của ranh giới đô thị trước năm 1967, sẽ là thủ đô của Palestine và Tây Jerusalem là thủ đô của Israel, với mỗi nhà nước được hưởng đầy đủ chủ quyền đối với một phần tương ứng của thành phố và với riêng của mình đô thị. Một hội đồng phát triển chung sẽ chịu trách nhiệm phát triển phối hợp.
Một số nhà nước, như Nga và Trung Quốc, công nhận nhà nước Palestine với Đông Jerusalem là thủ đô của nó. Đại hội đồng Liên Hợp Quốc Nghị quyết 58/292 khẳng định rằng những người Palestine có quyền chủ quyền đối với Đông Jerusalem.
Thành phố kết nghĩa.
Jerusalem là thành phố kết nghĩa với:
|
Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (gọi ngắn gọn là Đội) là một tổ chức dành cho thiếu niên nhi đồng hoạt động tại Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập ngày 15 tháng 5 năm 1941, ở thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng và được Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phụ trách. Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh được dựa trên nền tảng hoạt động của Phong trào Thiếu niên Tiền phong tại các quốc gia Cộng sản.
Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh lấy 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng làm mục tiêu phấn đấu rèn luyện cho đội viên, giúp đỡ thiếu nhi trong học tập, hoạt động, vui chơi, thực hiện quyền và bổn phận theo Công ước quốc tế về Quyền Trẻ em, Luật Trẻ em.
Ngày 26 tháng 3 năm 1931, Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết thành lập tổ chức Đoàn Thanh niên và giao cho Đoàn phụ trách thiếu nhi.
Ngày 15 tháng 5 năm 1941: Đội Nhi đồng Cứu quốc đầu tiên được thành lập tại thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng và được coi là thành viên của Mặt trận Việt Minh. Đội đã hoạt động theo Điều lệ của Mặt trận Việt Minh với nội dung "Dự bị giúp đánh Tây, đánh Nhật để làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập".
Vào ngày thành lập, 05 Đội viên đầu tiên của Đội là Nông Văn Dền (Bí danh Kim Đồng, đội trưởng), Nông Văn Thàn (Bí danh Cao Sơn), Lý Văn Tịnh (Thanh Minh), Lý Thị Nì (Thủy Tiên), Lý Thị Xậu (Thanh Thủy). Người phụ trách Đội đầu tiên là Đức Thanh.
Giữa năm 1950, hai tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong và Đội Nhi đồng cứu Quốc sáp nhập lại làm một và lấy tên chung là Đội Thiếu nhi cứu quốc.
Tháng 3 năm 1951, Đội Thiếu nhi cứu quốc được đổi tên thành Đội Thiếu nhi Tháng Tám
Tháng 11 năm 1956, Đội Thiếu nhi Tháng Tám được đổi tên thành Đội Thiếu niên Tiền phong và từ ngày 19 tháng 3 năm 1960 các em nhi đồng được tổ chức vào Đội Nhi đồng Tháng Tám.
Ngày 30 tháng 1 năm 1970, thể theo nguyện vọng của thiếu nhi cả nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết trao cho Đội được mang tên Bác Hồ. Từ đó đến nay, Đội được mang tên Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
Tuyên ngôn hoạt động.
Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh là trường học giáo dục thiếu nhi Việt Nam trong và ngoài nhà trường, là đội dự bị của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; lực lượng nòng cốt trong các phong trào thiếu nhi.
Đội viên Đội TNTP Hồ Chí Minh là thiếu niên Việt Nam từ 9 đến hết 15 tuổi thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy, phấn đấu học tập, rèn luyện và tu dưỡng để trở thành đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Lời hứa của đội viên.
1. Thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng.
2. Tuân theo Điều lệ Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
3. Giữ gìn danh dự Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
Quyền của đội viên.
1. Được Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh giúp đỡ để phát huy năng lực trong học tập, hoạt động, vui chơi, công tác xã hội.
2. Được Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình theo chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước và Điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Điều lệ Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
3. Được sinh hoạt Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, bàn bạc và quyết định các công việc của Đội. Được ứng cử, đề cử, bầu cử vào Ban Chỉ huy liên đội, chi đội. Đội viên hết tuổi Đội, chi đội làm lễ trưởng thành Đội.
Nhiệm vụ của đội viên.
1. Thực hiện Điều lệ, Nghi thức Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và Chương trình Rèn luyện đội viên.
2. Thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy để trở thành con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, Cháu ngoan Bác Hồ, đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
3. Làm gương tốt cho thiếu niên, nhi đồng; giúp đỡ thiếu niên và nhi đồng trở thành đội viên Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Tích cực tham gia công tác Nhi đồng.
Nhi đồng từ 6 đến 8 tuổi là lớp dự bị của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
Nhi đồng sinh hoạt theo Sao, mỗi Sao Nhi đồng có số lượng tối thiểu 5 em, trong đó có 1 trưởng Sao. Sao nhi đồng do liên đội thành lập.
Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh giúp đỡ nhi đồng thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng, xứng đáng là con ngoan, trò giỏi, bạn tốt và trở thành đội viên Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
Năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên, nhi đồng.
Vào năm 1961, nhân Lễ kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam (15 tháng 5 năm 1941 - 15 tháng 5 năm 1961), theo đề nghị của Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi một bức thư cho thiếu niên, nhi đồng. Nội dung trong thư đã trở thành một trong các nội dung của điều lệ hoạt động của Đội:
Dùng làm mục tiêu: "Phấn đấu rèn luyện cho đội viên, giúp đỡ đội viên phát triển mọi khả năng trong học tập, hoạt động, vui chơi, thực hiện quyền và bổn phận theo luật Bảo vệ Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em. Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh đoàn kết, hợp tác với các tổ chức, phong trào thiếu nhi ở khu vực và thế giới vì những quyền của trẻ em, vì hòa bình, hạnh phúc của các dân tộc."
Khăn quàng đỏ là biểu tượng và đồng phục của "đội viên Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh". Đó là một tấm vải màu đỏ, hình tam giác cân, thường từ vải bông, lụa, valise hoặc vải voan và được xem là một phần của cờ Tổ quốc. Khăn quàng đỏ được thắt lên cổ áo đồng phục của đội viên theo một quy tắc nhất định. Khăn quàng đỏ còn là biểu tượng của Chủ nghĩa Cộng sản. Khăn quàng đỏ được Đội viên mang trong tất cả các hoạt động của Đội.
Cơ cấu tổ chức của Đội.
Hội đồng Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh các cấp đại diện cho tổ chức Đội, do Ban Chấp hành Đoàn cùng cấp lập ra và giúp Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
Hệ thống tổ chức của Hội đồng Đội gồm 4 cấp:
Cấp cơ sở của Đội là liên đội và chi đội.
Tổ chức cơ sở Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh được thành lập trong trường học và ở địa bàn dân cư.
Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ Đoàn, Đội; Cung, Nhà thiếu nhi, Trung tâm hoạt động thanh thiếu nhi và các hoạt động tập thể của Đội được thành lập các liên đội, chi đội tạm thời để tổ chức các hoạt động theo Điều lệ và Nghi thức Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
Chi đội được thành lập khi có từ 3 đội viên trở lên. Chi đội có từ 9 đội viên trở lên có thể chia thành các phân đội (mỗi phân đội có ít nhất 3 đội viên).
Liên đội được thành lập khi có từ 2 chi đội trở lên. Việc thành lập, chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc giải thể chi đội, liên đội trong nhà trường hoặc ở địa bàn dân cư do cấp bộ Đoàn hoặc Hội đồng Đội cấp xã ra quyết định.
Hội đồng Đội Trung ương.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.
Hội đồng Đội Trung ương Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh là cơ quan do Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lập ra và lãnh đạo; với chức năng tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn chỉ đạo, hướng dẫn Hội đồng Đội các cấp về công tác Đội và phong trào thiếu nhi; thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu niên nhi đồng; phối hợp với các cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, các lực lượng xã hội, các tổ chức quốc tế trong công tác xây dựng Đội và tham gia thực hiện Công ước của Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em, Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Hội đồng Đội Trung ương là cơ quan giúp Ban Bí thư, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn thẩm định và quyết định các chương trình, nội dung tài liệu nghiệp vụ, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phụ trách và chỉ huy Đội để ban hành thống nhất trong cả nước.
- Tham mưu cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đoàn Trung ương Đoàn về công tác Đội và phong trào thiếu nhi; thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng. Hội đồng Đội Trung ương tham mưu cho Trung ương Đoàn thực hiện nhiệm vụ đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em.
- Chỉ đạo và hướng dẫn Hội đồng Đội cấp dưới tổ chức thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ của Đoàn về công tác Đội, phong trào thiếu nhi, bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng.
- Phối hợp với các cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, các lực lượng xã hội, các tổ chức quốc tế trong công tác xây dựng Đội và tham gia thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Luật Trẻ em, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến trẻ em.
- Phụ trách công tác tổ chức và hoạt động của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, phát triển phong trào thiếu nhi theo đường lối của Đảng và chủ trương của Đoàn.
- Nghiên cứu, đề xuất với Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn những chủ trương công tác Đội và phong trào thiếu nhi, bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu niên nhi đồng, chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng xã hội, định hướng quá trình hình thành nhân cách cho các em từ tuổi nhi đồng; đổi mới hình thức sinh hoạt Đội, hoạt động thiếu nhi phù hợp với các loại hình trường, lớp và địa bàn dân cư
- Xây dựng kế hoạch, biện pháp tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn về công tác Đội và phong trào thiếu nhi; chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện điều lệ Đội, nghiệp vụ đối với Hội đồng Đội cấp dưới và nội dung phương hướng hoạt động của hệ thống các Cung, Nhà Thiếu nhi, Trung tâm hoạt động thanh thiếu nhi, trường Đội, điểm vui chơi dành cho trẻ em, hướng dẫn thiếu niên, nhi đồng đoàn kết, giúp đỡ nhau thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em.
- Tổng kết, phổ biến, áp dụng những mô hình tiên tiến, phù hợp về công tác Đội và phong trào thiếu nhi. Báo cáo tình hình công tác Đội, phong trào thiếu nhi và hoạt động của Hội đồng Đội với Ban Chấp hành Đoàn Trung ương Đoàn.
- Phối hợp với các Ban chức năng, các cơ quan nghiệp vụ của Đoàn để thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đội và phong trào thiếu nhi, công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu niên nhi đồng.
- Đại diện Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh tham gia các tổ chức liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
- Liên kết với các ngành, đoàn thể để thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng Đội và sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
- Tham gia giám sát việc chấp hành pháp luật về trẻ em, chủ động đưa ra những kiến nghị cần thiết đối với các cơ quan Nhà nước hữu quan để thực hiện nhiệm vụ đó; góp phần ngăn ngừa và xử lý các hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của thiếu nhi.
- Quan hệ với các tổ chức thiếu nhi, các tổ chức trong nước và quốc tế vì sự phát triển của trẻ em.
- Tham gia giám sát và đưa ra những kiến nghị đối với Ban Chấp hành Đoàn và các cơ quan Nhà nước trong việc đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện cơ chế, chính sách cho đội ngũ Giáo viên làm tổng phụ trách Đội và cán bộ phụ trách Đội trên địa bàn dân cư.
- Ban hành các văn bản, hướng dẫn thực hiện chương trình công tác Đội và phong trào thiếu nhi theo chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn.
- Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ công tác Đội và phong trào thiếu nhi của Ban Chấp hành Đoàn, Hội đồng Đội và tổ chức Đội cấp dưới.
- Tổ chức các hội nghị, đại hội, liên hoan, gặp mặt của thiếu nhi, cán bộ phụ trách, các lực lượng tình nguyện vì trẻ em và hệ thống Cung, Nhà thiếu nhi, Trung tâm hoạt động thanh thiếu nhi.
- Đề nghị các cấp, các ngành và Đoàn Thanh niên tuyên dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác Đội và phong trào thiếu nhi; công tác bảo vệ, chăm sóc giáo dục thiếu niên nhi đồng; Quy định và thực hiện các hình thức khen thưởng của tổ chức Đội theo hướng dẫn của Hội đồng Đội Trung ương.
- Kiến nghị, đề xuất với các cơ quan Nhà nước, các ngành, đoàn thể xã hội bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; chăm lo các hoạt động của tổ chức Đội và thiếu nhi. Đại diện bảo vệ quyền lợi, ngăn ngừa và kháng nghị những hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của thiếu nhi.
- Định kỳ tổ chức, kiểm tra việc triển khai thực hiện các chủ trương của Đoàn về công tác Đội và phong trào thiếu nhi; tham gia giám sát việc thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, Luật Trẻ em.
- Giúp Ban Thường vụ Đoàn Trung ương Đoàn phối hợp với Ban Thường vụ Đoàn cấp dưới quản lý chức danh chủ tịch Hội đồng Đội cấp dưới trực tiếp.
- Quyết định chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ công tác Đội cho đội ngũ cán bộ phụ trách và cán bộ chỉ huy Đội; nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm công tác Đội và phong trào thiếu nhi.
- Hội đồng Đội Trung ương là cơ quan giúp Ban Bí thư, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn thẩm định và quyết định các chương trình, nội dung tài liệu nghiệp vụ, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phụ trách và chỉ huy Đội để ban hành thống nhất trong cả nước.
- Giúp Ban Thường vụ Đoàn Trung ương Đoàn theo dõi, hướng dẫn và chỉ đạo hệ thống các trung tâm hoạt động thiếu nhi, các cung, nhà thiếu nhi, điểm vui chơi dành cho trẻ em.
- Thay mặt cho tổ chức Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh trong mối quan hệ với các tổ chức quốc tế có liên quan tới trẻ em.
Chủ tịch Hội đồng Đội Trung ương.
Chủ tịch Hội đồng Đội Trung ương phải là Bí thư Trung ương Đoàn:
|
Lực đẩy Archimedes (hay lực đẩy Ác-si-mét) là lực tác động bởi một chất lưu (chất lỏng hay chất khí) lên một vật thể nhúng trong nó, khi cả hệ thống nằm trong một trường lực của Vật lý học (trọng trường hay lực quán tính). Lực vật lý học này có cùng độ lớn và ngược hướng của tổng lực mà trường lực tác dụng lên phần chất lưu có thể tích bằng thể tích vật thể chiếm chỗ trong chất này. Lực này được đặt tên theo Archimedes, nhà bác học người Hy Lạp đã khám phá ra nó. Lực đẩy Archimedes giúp thuyền và khí cầu nổi lên, là cơ chế hoạt động của sự chìm nổi của tàu ngầm hay cá, và đóng vai trò trong sự đối lưu của chất lưu.
Nếu thả một vật ở trong lòng chất lỏng thì:
Vậy nói một cách dễ hiểu, vật sẽ nổi khi "trọng lượng riêng tổng hợp" của nó nhỏ hơn trọng lượng riêng của nước. Điều này có thể lý giải việc tàu to và nặng gấp nhiều lần so với kim lại có thể nổi. Kim tuy nhẹ nhưng thể tích chiếm nước nhỏ nên trọng lượng riêng sẽ lớn còn tàu tuy nặng nhưng thể tích chiếm nước rất lớn do đó "trọng lượng riêng tổng hợp" sẽ nhỏ. Kết cấu thân vỏ tàu là kết cấu vỏ có khung gia thường làm bằng thép. Về một khía cạnh nào đó bên trong lớp tôn vỏ tàu hoàn toàn "rỗng" dẫn đến thể tích chiếm nước lớn.
Trọng lượng tàu luôn thay đổi nên "trọng lượng riêng tổng hợp" cũng luôn thay đổi theo. Khi ta chất hàng vào tàu, tàu sẽ chìm dần ứng với công thức bên trên. Nếu ta chất quá nhiều hàng, tàu chìm đến mức mà nước sẽ tràn vào chiếm chỗ các không gian trong các kết cấu vỏ rỗng, các khoang, các két, một mặt làm tăng trọng lượng tàu, một mặt làm giảm thể tích chiếm nước kết quả là "trọng lượng riêng tổng hợp" tăng và giá trị này lớn hơn trọng lượng riêng của nước. Nói cách khác - tàu đang chìm. Tất cả các phân tích trên đây chỉ đúng khi đảm bảo giả thuyết tàu ổn định, không nghiêng, không chúi.
Khi thả một vật xuống nước, trên bề mặt Trái Đất, nếu vật có trọng lượng riêng nhẹ hơn trọng lượng riêng của nước thì nó sẽ nổi lên trên mặt nước, do trọng lực của vật kéo nó xuống nhỏ hơn lực đẩy Archimedes nên vật nổi hoàn toàn. Trạng thái cân bằng đạt được khi lực đẩy Archimedes bằng trọng lực của vật, và vật chiếm một thể tích trong nước nhỏ hơn tổng thể tích của nó. Nếu khối lượng riêng của vật này nặng hơn nước thì nó sẽ chìm xuống, do lực đẩy Archimedes lớn nhất có được khi vật chìm hoàn toàn cũng không đủ thắng trọng lực tác dụng vào vật.
Công thức tính lực đẩy Ác-si-mét.
Lực Ác si mét xuất hiện từ tác dụng của áp suất chất lỏng (hay khí) trên bề mặt vật thể. Công thức cho tổng lực áp suất:
- "P" - áp suất trên bề mật vật thể (N/m2)
Hàm "P" cho chất lỏng tĩnh:
"P"("z") = "ρl g z" + "P"0
- "ρl" - tỉ trọng chất lỏng (kg/m3)
- "g" - hấp dẫn (m/s2)
- "z" - độ sâu dưới bề mặt chất lỏng (m)
- "P"0 - áp suất trên bề mặt chất lỏng (N/m2)
(áp suất thuộc độ sâu). Áp dụng định luật Guass biến đổi cộng thức này thành:
"FA" = ∬ "P" "n" "dS" = ∭ ∇"P" "dV" = ∭ "ρl g dV" "k" = "ρl g V" "k"
- "dV" - miếng thể tích vật thể (m3)
- "V" - thể tích vật thể (m3)
- "k" - vectơ đơn vị hướng "z"
Đây là kết quả lực đẩy Ác-si-mét bằng tích của tỉ trọng của chất lỏng nhân thể tích bị vật chiếm chỗ. Phương pháp ở trên có thể dùng cho trường chất lỏng tỉ trọng không đều như 2+ chất lỏng khác nhau (ví dụ cục sắt nổi trên thủy ngân dưới nước) hay chất lỏng đổi tỉ trọng tùy áp suất.
Phân tích nâng cao.
Lực đẩy không xem xét sức căng bề mặt (lực mao dẫn) tác động lên vật. Hơn nữa, lực đẩy Archimedes không áp dụng được trong chất lỏng phức tạp.
Có một ngoại lệ đối với nguyên tắc của Archimedes được gọi là trường hợp dưới cùng (hoặc bên). Điều này xảy ra khi một bên của vật chạm vào đáy (hoặc bên) của tàu mà nó bị ngập trong nước, và không có chất lỏng nào thấm vào dọc theo bên đó. Trong trường hợp này, lực đẩy ròng là khác với lực đẩy Archimedes, do thực tế là do không có chất lỏng nào thấm vào bên đó, nên sự đối xứng của áp lực đã bị phá vỡ.
|
Kimi Räikkönen (tên đầy đủ Kimi Matias Räikkönen, phát âm IPA: /ˈ; sinh ngày 17 tháng 10 năm 1979 tại Espoo, Phần Lan), biệt danh Ice Man, là tay đua Công thức 1 người Phần Lan. Raikkonen từng vô địch mùa giải 2007. Mùa giải 2021, Raikkonen thi đấu cho đội đua Alfa Romeo.
Raikkonen có một chuỗi thành tích khá ấn tượng tại các giải karting từ năm 10 tuổi. Từ năm 15 tuổi, Raikkonen bắt đầu tham gia các giải đua bên ngoài lãnh thổ Phần Lan. Năm 1998, Raikkonen về nhất giải Nordic Championship tổ chức ở Na Uy.
Từ năm 1999, Raikkonen chính thức chọn con đường đua xe chuyên nghiệp, bắt đầu bằng giải đua European Formula Ford. Cuối năm 1999, anh sang Anh thi đấu. Anh đã vô địch giải đua Mùa đông Formula Renault UK Winter 1999. Sang năm 2000, anh tiếp tục vô địch giải Formula Renault UK.
Tổng cộng trong hai năm đua chuyên nghiệp đầu tiên của mình (1999 và 2000) Raikkonen tham gia 23 chặng đua, giành được 13 chiến thắng.
Quá ấn tượng trước thành tích tuyệt vời của Kimi, Peter Sauber (ông chủ của đội F1 Sauber) đã cho anh chạy thử xe F1 vào tháng 9 năm 2000 ở trường đua Mugello. Để tránh sự soi mói của các đối thủ, đội đua Sauber đã gọi Raikkonen bằng mật danh Eskimo.
Sau đó Raikkonen tiếp tục tham gia hai đợt thử xe khác ở trường đua Jerez và trường đua Catalunya và được Sauber ký hợp đồng chính thức để tham gia F1 mùa giải 2001.
Tuy nhiên, bản hợp đồng này gây ra nhiều tranh cãi bởi anh không có nhiều kinh nghiệm đua thể loại xe bánh hở như các tay đua cùng tuổi. Những người phản đối cho rằng không nên cấp bằng đua F1 cho một tay đua còn thiếu kinh nghiệm, mới chỉ tham gia 23 chặng đua như Raikkonen. Tuy vậy Kimi vẫn được cấp bằng và anh đã đập tan mọi lời phê bình bằng việc ghi điểm ngay trong lần ra mắt đầu tiên tại GP Úc 2001 với vị trí thứ sáu.
Sau đó anh tiếp tục ghi được điểm ở 3 chặng đua ở Áo, Canada và Anh. Tổng kết mùa giải F1 đầu tiên trong sự nghiệp, Raikkonen ghi được 9 điểm, xếp thứ 10 chung cuộc.
Đến lúc này thì Raikkonen lại trở thành một cái tên được nhiều đội đua săn đón. Đội đua Mclaren, với sự thuyết phục của Mika Hakkinen (đồng hương Phần Lan của Raikkonen) đã thành công trong việc chiêu mộ Raikkonen để thay thế cho chính Hakkinen, người đã quyết định giải nghệ sau khi mùa giải 2001 kết thúc.
Năm 2002, một lần nữa Raikkonen gây ấn tượng mạnh ngay ở chặng đua đầu tiên cho đội đua mới. Anh đã có lần đầu tiên trong sự nghiệp lên podium ở chặng đua GP Úc. Ở chặng đua GP Pháp, Raikkonen có cơ hội chiến thắng nhưng lại bị trượt do vết dầu loang từ một chiếc xe khác, nên đã bị Michael Schumacher vượt, sau cùng chỉ về nhì.
Ngoài ra thì đây là một mùa giải mà chiếc xe Mclaren gặp rất nhiều trục trặc khiến cho Raikkonen phải bỏ cuộc rất nhiều lần. Chỉ có 6 lần Raikkonen hoàn thành cuộc đua, với vị trí thấp nhất là P4. Toàn mùa giải, anh xếp thứ sáu với 24 điểm.
Năm 2003, Raikkonen bắt đầu mùa giải với 1 thành tích cực kỳ ấn tượng, lên bục podium 5 trên 6 chặng đua đầu tiên, trong đó có chiến thắng đầu tiên trong sự nghiệp tại Malaysia. Mùa giải này Raikkonen trở thành tay đua cạnh tranh chức vô địch với Michael Schumacher. Cuối cùng anh giành ngôi Á quân với 2 điểm kém hơn, một phần do anh bỏ cuộc nhiều hơn đối thủ (Raikkonen bỏ cuộc 3 lần, Schumacher bỏ cuộc 1 lần).
Lần bỏ cuộc đáng tiếc nhất là ở chặng đua GP Châu Âu, đây cũng là chặng đua đầu tiên trong sự nghiệp mà Raikkonen xuất phát ở vị trí pole. Trong cuộc đua chính, Raikkonen cũng bảo vệ được vị trí dẫn đầu cho đến khi bị hư động cơ ở vòng 25.
Một chặng đua đáng nhớ khác của Raikkonen ở mùa giải này là GP Brasil. Ở cuối cuộc đua chính, Raikkonen đã vượt được Giancarlo Fisichella để có vị trí dẫn đầu. Nhưng gần như cùng lúc đó thì xảy ra một tai nạn nghiêm trọng liên quan đến Fernando Alonso và Mark Webber ở nhóm sau khiến cho cuộc đua phải kết thúc sớm. Theo quy định thì kết quả chính thức được tính ở vòng chạy trước khi Raikkonen vượt Fisichella nên Raikkonen chỉ xếp thứ hai ở chặng đua này.
Năm 2004 là một mùa giải thất vọng của Raikkonen. Anh phải bỏ cuộc ở 3 chặng đua đầu tiên của mùa giải đều vì lý do bị hư động cơ. Phải đến chặng đua thứ 11 ở GP Anh Raikkonen mới có lần đầu tiên trong mùa giải lên bục podium.
Ở cuối mùa giải, Raikkonen có chiến thắng ngoạn mục ở chặng đua GP Bỉ dù chỉ xuất phát từ vị trí thứ 10. Raikkonen kết thúc mùa giải 2004 ở vị trí thứ bảy, 45 điểm và 4 podium
Năm 2005 Raikkonen lần thứ hai đua tranh danh hiệu vô địch, lần này là với Fernando Alonso. Do khởi đầu mùa giải không tốt, nên Raikkonen là người phải bám đuổi Alonso. Raikkonen có kết quả rất tốt ở giai đoạn cuối mùa giải nhưng không thể lật đổ được tay đua người Tây Ban Nha, lần thứ hai nhận giải Á quân.
Ở 4 chặng đua đầu tiên, Raikkonen chỉ có 1 lần lên podium ở Bahrain nhưng lại có đến 2 lần không ghi được điểm nào ở Malaysia và San Marino.
Đến chặng đua thứ năm-GP Tây Ban Nha, Raikkonen có lần đầu tiên trong sự nghiệp chiến thắng pole-to-win. Anh tái lập thành tích này ở chặng sáu-GP Monaco.
Raikkonen tiếp tục là tay đua dẫn đầu ở chặng bảy-GP Châu Âu. Đáng tiếc là ở vòng chạy cuối cùng, chiếc xe của anh lại bị hỏng nên để mất chiến thắng quan trọng vào chính tay đối thủ Fernando Alonso. Chặng tám-GP Canada thì ngược lại, Alonso phạm sai lầm tông rào khi đang dẫn đầu, Raikkonen tận dụng cơ hội để giành chiến thắng.
Sau đó cả Raikkonen và Alonso (cùng các tay đua sử dụng lốp Michelin) đều không tham gia đua chính chặng chín-GP Mỹ.
Trong số 7 chặng đua cuối cùng của mùa giải, Raikkonen giành được 4 chiến thắng và 2 lần về nhì. Nổi bật nhất là chiến thắng chặng đua GP Nhật Bản, nơi anh chỉ xuất phát từ vị trí thứ 17, đây là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử F1. Nhưng như đã nêu ở trên, điều đó là không đủ để ngăn cản Fernando Alonso lên ngôi vô địch.
Năm 2006, Mclaren lại khủng hoảng. Cả ba tay đua của họ (bao gồm cả Raikkonen) đã không giành được một chiến thắng nào. Từ giữa mùa giải, Mclaren đã phải thay thế tay đua chính thức Juan Pablo Montoya bằng tay đua dự bị Pedro De la Rosa. Với Raikkonen, kết quả tốt nhất trong mùa giải này của anh chỉ là 2 lần về nhì ở Úc và Italia.
Ferrari lần một (2007—2009).
Sau Grand Prix Italia năm 2006, Ferrari thông báo đã ký hợp đồng ba năm 2007-2009 với Räikkönen. Hợp đồng này biến Räikkönen trở thành tay đua được trả lương cao nhất làng F1, với mức lương cơ bản 51 triệu dollar Mỹ mỗi năm. Ở Ferrari anh làm đồng đội với tay đua Brazil Felipe Massa.,
Đoạt chức vô địch năm 2007.
Räikkönen khởi đầu mùa giải tại Australia với vị trí pole, lập được vòng nhanh nhất và trở thành tay đua đầu tiên sau Nigel Mansell hồi năm 1989 giành chiến thắng ngay ở Grand Prix đầu tiên với Ferrari. Đây là lần đầu tiên trong sự nghiệp anh giành hat-trick: pole, vòng nhanh nhất và chiến thắng. Ở Grand Prix Malaysia năm 2007 Räikkönen bị Lewis Hamilton vượt ngay ở pha xuất phát và chỉ về đích vị trí thứ 3. Tại Bahrain Grand Prix năm Chặng đua GP Bahrain 2007, Räikkönen xuất phát ở vị trí thứ 3 nhưng bị tay đua người Tây Ban Nha của đội McLaren Fernando Alonso vượt qua, cuối cùng anh một lần nữa lại về đích ở vị trí thứ 3. Sau chặng đua này Raikkonen, Alonso và Hamilton cùng có được 22 điểm, chia sẻ 3 vị trí dẫn đầu trên bảng xếp hạng tổng.
Tại Grand Prix Tây Ban Nha Räikkönen phải bỏ cuộc khi cuộc đua chỉ còn 10 vòng nữa vì lỗi hệ thống điện. Sự cố này khiến anh rơi xuống vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng cá nhân, sau người đồng đội Felipe Massa. Trong cuộc đua phân hạng tại Monaco Grand Prix năm Chặng đua GP Monaco 2007 Räikkönen lao vào một barrier khiến hệ thống treo phía trước bên phải hư hỏng. Anh xuất phát ở vị trí 16 và về đích thứ 8.
Tại Canada Räikkönen xếp hạng xuất phát thứ 4 và về đích thứ 5. . Tại Grand Prix Hoa Kỳ, Räikkönen xuất phát thứ 4 và về đích thứ 4 nhưng đã lập được thành tích vòng chạy nhanh nhất. Sau chặng này thì anh tạm thời đứng thứ 4, kém người dẫn đầu Lewis Hamilton 26 điểm
Tại Pháp Räikkönen xuất phát thứ 3, và đã vượt qua được Hamilton ngay ở góc cua đầu tiên của cuộc đua. Sau đó anh vượt được đồng đội Felipe Massa bằng pit-stop và giành thắng lợi thứ 2 trong mùa giải. Đây chiến thắng 1-2 đầu tiên của Ferrari trong mùa giải 2007. Raikkonen tiếp tục giành chiến thắng ở chặng đua Grand Prix Anh. Hai chiến thắng liên tiếp giúp cho Raikkonen thu hẹp khoảng cách với Hamilton xuống còn 18 điểm.
European Grand Prix là lần thứ hai trong mùa giải anh giành pole. Ngay ở vòng 1 trời đã đổ mưa khiến cho rất nhiều tay đua phải vào pit để thay sang lốp mưa, trong đó có Raikkonen. Tuy nhiên anh lại để mất lái ngay trước cổng pit nên buộc phải chạy thêm một vòng nữa nên để tụt hạng rất sâu. Đến vòng 35 Raikkonen phải bỏ cuộc vì chiếc xe bị hư hệ thống thủy lực. Do Hamilton cũng không ghi được điểm nào nên khoảng cách giữa 2 người được giữ nguyên là 18 điểm.
Ở chặng đua Hungary Grand Prix, Raikkonen phân hạng đứng thứ 4 nhưng sau đó đã được đôn lên thứ 3 do Alonso bị phạt. Trong cuộc đua Räikkönen đã vượt Nick Heidfeld ngay khi xuất phát và gây áp lực lên Lewis Hamilton cho tới khi cán đích ở vị trí thứ hai, do đó đã bị đối thủ nới rộng khoảng cách lên thành 20 điểm.
Tại Thổ Nhĩ Kỳ anh xuất phát thứ 3. Trong ngày đua anh vượt qua Hamilton ở góc cua đầu tiên để có vị trí thứ hai, và giữ vị trí này tới cuối cuộc đua, sau đồng đội Felipe Massa. Đây là chiến thắng 1-2 thứ hai của Ferrari trong mùa giải. Hamilton chỉ về đích thứ 5 nên khoảng cách được thu hẹp xuống còn 16 điểm.
Ở GP Italia, Raikkonen xuất phát ở vị trí thứ 5, trong cuộc đua chính anh một lần nữa vượt được Nick Heidfeld ở pha xuất phát, để leo lên vị trí thứ 4. Sau khi Felipe Massa phải bỏ cuộc anh có được vị trí thứ 3 sau hai tay đua Mclaren. Một lần nữa khoảng cách 18 điểm với Hamilton lại được tái lập.
Tại trường đua sở trường Spa-Francorchamps Räikkönen có lần thứ 3 trong mùa giành pole. Sau xuất phát suôn sẻ, anh dần nới rộng khoảng cách 5 giây với Massa, và 20 giây với các tay đua McLaren, qua đó thẳng tiến giành thắng lợi thứ 4 trong mùa. Lúc này khoảng cách với Hamilton chỉ còn 13 điểm.
Nó lại được nới rộng thành 17 điểm sau chặng đua ở Fuji Speedway. Đây là một cuộc đua mưa nữa và Hamilton đã chiến thắng còn Raikkonen chỉ về ba.
Hamilton sau đó phạm sai lầm nghiêm trọng, phải bỏ cuộc ở chặng đua Grand Prix Trung Quốc, Raikkonen đã tận dụng tối đa cơ hội, giành được chiến thắng để thu hẹp khoảng cách xuống còn 7 điểm trước chặng đua cuối cùng của mùa giải.
Raikkonen bước vào chặng đua cuối cùng Grand Prix Brazil năm 2007 với vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng cá nhân sau hai tay đua của Mclaren. Ở chặng này, Raikkonen xuất phát từ vị trí thứ ba sau người đồng đội Felipe Massa (pole) và Hamilton. Ở pha xuất phát Räikkönen vượt được Hamilton để vươn lên vị trí thứ hai. Massa do đã đã hết hi vọng giành chức vô địch cá nhân nên đã chơi đồng đội, để cho Räikkönen vượt ở lần vào pit thứ hai. Räikkönen từ đó thẳng tiến về đích và giành chiến thắng. Trong khi đó Hamilton có một cuộc đua vô cùng vất vả, chỉ về đích thứ 7. Nhờ đó mà Raikkonen có một pha ngược dòng ngoạn mục, đoạt chức vô địch với chỉ 1 điểm nhiều hơn Hamilton và Alonso.
Sau chặng đua này, xuất hiện cáo buộc những chiếc xe của Nico Rosberg, Robert Kubica và Nick Heidfeld không tuân thủ các quy định về nhiên liệu nên các trọng tài đã phải tiến hành điều tra. Nếu họ bị kết tội và bị hủy kết quả thì sẽ làm thay đổi kết quả cuộc đua chính, Hamilton sẽ được đôn từ vị trí thứ bảy lên thứ ba. và sẽ giành lại chức vô địch. Tuy nhiên, sau cùng thì trọng tài không xử phạt tay đua nào, kết quả vẫn được giữ nguyên và Räikkönen chính thức giành chức Vô địch cá nhân năm 2007, Mclaren đã khiếu nại quyết định này nhưng không thành công..
Năm 2008, Raikkonen có kết quả rất tốt ở đầu mùa giải. Trong 5 chặng đầu tiên thì anh giành được 2 chiến thắng ở GP Malaysia và GP Tây Ban Nha, thêm 2 lần lên podium ở GP Bahrain và GP Thổ Nhĩ Kỳ. Thành tích đó giúp cho Raikkonen tạm vươn lên dẫn đầu bảng xếp hạng cá nhân sau 5 chặng. Tuy nhiên chuỗi 2 chặng không ghi điểm liên tiếp ở Monaco và Canada khiến cho Raikkonen bị dần tụt lại sau người đồng đội Massa. Và cho đến cuối mùa giải Raikkonen cũng không giành được thêm chiến thắng nào, chấp nhận đứng sau Massa (và nhà vô địch Lewis Hamilton).
Năm 2009, Raikkonen cùng đồng đội Massa không thể ghi điểm ở 3 chặng đua đầu tiên của mùa giải. Đến chặng đua thứ sáu ở Monaco, Raikkonen là người mang về podium đầu tiên trong mùa giải cho Ferrari. Kể từ khi Massa phải nghỉ thi đấu vì chấn thương (ở chặng đua Hungary), Raikkonen là chủ lực ghi điểm của Ferrari. Anh có chuỗi 4 lần lên podium liên tiếp ở GP Hungary, GP Châu Âu, GP Bỉ và GP Italia, trong số đó podium ở Bỉ là một chiến thắng.
Tạm nghỉ F1 để đua Rally (2010-2011).
Trong hai năm 2010 và 2011, Raikkonen tham gia giải đua World Rally Championship. Anh xếp thứ 10 chung cuộc ở cả hai mùa giải nhưng không giành được chiến thắng nào. Bên cạnh đó Raikkonen cũng thử sức ở giải Nascar Mỹ.
Năm 2012, Raikkonen tìm được suất đua chính F1 ở đội đua Lotus. Anh không mất nhiều thời gian để làm quen trở lại với chiếc xe F1, đã lên podium ngay ở chặng đua thứ tư (GP Bahrain). Cho đến cuối mùa giải, Raikkonen có thêm 6 lần lên podium nữa, nổi bật nhất là chiến thắng chặng đua GP Abu Dhabi với câu radio nổi tiếng 'hãy để tôi một mình, tôi biết tự biết phải làm gì'.
Năm 2013, Raikkonen có chiến thắng ngay ở chặng đua mở màn GP Úc và có phong độ rất tốt ở nửa đầu mùa giải. Ở nửa cuối mùa giải, Raikkonen phải bỏ cuộc hai lần ở GP Bỉ và GP Abu Dhabi. Anh cũng không tham gia hai chặng đua cuối cùng do bị chấn thương ở lưng.
Ferrari lần hai (2014-2018).
Năm 2014, Raikkonen trở lại Ferrari và đua cho đội đua này trong suốt 5 năm. Ở lần trở lại này, Raikkonen đã bị hai đồng đội là Fernando Alonso và Sebastian Vettel lất lướt. Cơ hội chiến thắng đầu tiên của Raikkonen là ở chặng đua GP Monaco 2017 nơi anh đã giành pole, song lại để mất chiến thắng vào tay Vettel do chiến thuật của Ferrari. Ở GP Singapore 2017, Vettel và Raikkonen cùng với Max Verstappen đã tông nhau ở pha xuát phát.
Năm 2018 là mùa giải đỉnh cao cuối cùng của Raikkonen, anh nhiều lần lên podium và đã giành được chiến thắng cuối cùng trong sự nghiệp ở chặng đua GP Mỹ. Trước đó ở chặng đua GP Anh, ở giai đoạn xuất phát thì Raikkonen có tình huống tông vào đuôi xe Lewis Hamilton và bị phạt 10 giây. Vì đã bỏ lỡ cơ hội chiến thắng trước khán giả nhà nên Hamilton đã rất bức xúc nói Ferrari cố tình dàn xếp để Raikkonen gây tai nạn hòng làm lợi cho đồng đội Vettel (là người chiến thắng cũng là người cạnh tranh danh hiệu vô địch với Hamilton ở mùa giải 2018), sau đó thì hai bên mau chóng giảng hòa.
Năm 2019, Raikkonen trở lại đội đua đầu tiên của mình là Sauber, lúc này đã được đổi tên thành Alfa Romeo. Anh là chủ lực ghi điểm của đội đua này với kết quả tốt nhất là vị trí thứ 4 ở chặng đua GP Brasil.
Năm 2020, do động cơ Ferrari suy yếu khiến cho Alfa Romeo và Kimi Raikkonen bị ảnh hưởng theo. Cả mùa giải, anh chỉ có 2 lần ghi điểm (đều về 9 ở GP Tuscan và GP Emilia Romagna). Tình hình của mùa giải 2021 cũng không khả quan hơn. Raikkonen còn không thể tham gia hai chặng đua GP Hà Lan và GP Italia do bị nhiễm COVID-19. Anh cũng thông báo quyết định giải nghệ sau khi hoàn thành mùa giải 2021.
Cuộc sống cá nhân.
Räikkönen từng kết hôn với cựu Hoa hậu Scandinavia người Phần Lan Jenni Dahlman vào ngày 31 tháng 7 năm 2004, họ chưa có con và đã ly dị vào năm 2014.
Ngày 7 tháng 8 năm 2016, Raikkonen lần thứ hai lập gia đình, lần này là với người mẫu Minna-Mari "Minttu" Virtanen. Hai người có hai con, một trai sinh năm 2015 và một gái sinh năm 2017.
Thời còn trẻ, Raikkonen có lối sống tự do theo phong cách playboy, anh hâm mộ cố tay đua F1 James Hunt một phần do ông cũng có lối sống này, tuy nhiên sau khi có con thì Raikkonen thực sự trở thành mẫu người đàn ông của gia đình.
Các sở thích của Räikkönen gồm trượt tuyết, hockey trên băng. Anh cũng thích chạy nhiều loại xe khác nhau như Snowmobile hay Motorcross.
! colspan="3" style="border-top: 5px solid #78FF78;" |Vị trí thể thao
! colspan="3" style="background:#FFF179;" | Giải thưởng
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Hà Khẩu, Hồng Hà
Huyện tự trị dân tộc Dao Hà Khẩu (; Tiếng Cáp Nê: ) là một huyện cửa khẩu của Trung Quốc nằm gần biên giới với Việt Nam, thuộc Châu tự trị dân tộc Cáp Nê, Di Hồng Hà, phía nam của tỉnh Vân Nam, giáp biên giới với tỉnh Lào Cai, Việt Nam. Huyện có diện tích 1.313 km² và có 80.000 dân (thống kê năm 2002), được biết đến nhiều nhất như là huyện có đường xe lửa từ Côn Minh đến Hà Nội.
Huyện lị là thị trấn Hà Khẩu ("Hà Khẩu trấn"), nhìn sang thành phố Lào Cai của Việt Nam qua sông Nậm Thi.
Huyện Hà Khẩu gồm 2 trấn và 4 hương, là các hương trấnː Liên Hoa Than (ghềnh Liên Hoa, 莲花滩乡), Dao Sơn (瑶山乡), Lão Phạm Trại (老范寨乡), Hà Khẩu (河口镇), Nam Khê (南溪镇), Kiều Đầu (桥头乡).
Năm Điều Lộ thứ nhất (679), vua Cao Tông nhà Đường lập ra An Nam đô hộ phủ, đất huyện Hà Khẩu ngày nay thuộc An Nam đô hộ phủ thời đó. Vùng đất huyện Hà Khẩu châu Hồng Hà, một phần Kim Bình châu Hồng Hà và một phần huyện Mã Quan (châu Văn Sơn) ngày nay là là động Thất Quán (七綰洞), thuộc Lâm Tây Nguyên (林西原, Cao nguyên Lâm Tây, ngày nay là tỉnh Lào Cai Việt Nam). Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu chép rằngː ""Lâm Tây nguyên ở phía tây Phong Châu, bên cạnh Lâm Tây Nguyên có động Thất Quán của người dân tộc thiểu số mà thủ lĩnh là Lý Do Độc (李猶獨), bộ thuộc có thêm các động như động Đào Hoa (桃花), tất cả đều giúp Trung Quốc canh phòng và thu thuế nơi biên ải với Nam Chiếu. Đường thư chép: Lâm Tây Nguyên trước có binh lính canh phòng cả vào mùa đông. Vào năm Đại Trung thứ tám (854) (thời vua Đường Tuyên Tông), Lý Trác, giữ chức đô hộ An Nam, đã bãi bỏ binh lính biên phòng và giao hết việc phòng biên cho thổ tù Lý Do Độc. Lý Do Độc ở vào thế cô lập không có đủ quân để canh phòng. Nhân đó, viên Thác Đông tiết độ sứ nước Nam Chiếu dụ dỗ mua chuộc ông ta theo về Nam Chiếu. Từ đó, An Nam bắt đầu bị Nam Chiếu xâm lấn. Tân Đường Thư chép rằngː An Nam Đô hộ phủ cai trị quản lĩnh châu Lâm Tây (林西州). Châu này có 2 huyện làː Lâm Tây và Cam Quất (甘橘)." Động Đào Hoa về sau có thể là ải Lê Hoa, tức ải Liên Hoa, nằm trên biên giới Đại Việt và Trung Hoa, nay là hương Liên Hoa Than (Ghềnh Liên Hoa) của huyện Hà Khẩu. Cam Quất có thể là đất thị xã Cam Đường tỉnh Lào Cai Việt Nam ngày nay.
Sách Tân Đường thư cũng chépː "An Nam Đào Lâm nhân giả, cư Lâm Tây nguyên, Thất Quán động thủ lĩnh Lý Do Độc chủ chi, tuế tuế thú biên。Lý Trác chi tại An Nam, dã tấu bãi phòng đông binh lục thiên nhân, vị Do Độc khả đương nhất đội, át man chi nhập。Man tù dĩ nữ thê Do Độc tử, Thất Quán động cử phụ man, Vương Khoan bất năng chế。"" . Dịch nghĩa làː Một người gốc Đào Lâm (桃林) ở An Nam, sống ở Lâm Tây Nguyên (林西原), là chúa Lý Do Độc (李由獨), thủ lĩnh của động Thất Quán (七綰洞), canh gác biên giới hàng năm. Lý Trác (李琢) cũng ở An Nam, tuyên bố rút bỏ 6000 binh lính phòng biên mùa đông, và bảo với Lý Do Độc hãy dùng đội thổ binh duy nhất thuộc quyền để mà kiềm chế sự xâm nhập của Nam Chiếu. Vua Nam Chiếu kết thông gia với Lý Do Độc. Độc đem toàn bộ động Thất Quán theo về Nam Chiếu, mà Vương Khoan (王寬) không thể kiểm soát được. (Vương Khoan làm đô hộ An Nam năm 861). Đại Việt sử ký tiền biên viết: "... "Người Đào Lâm, Phong Châu, An Nam ở động Thất Quán [thuộc] Lâm Tây Nguyên, do thủ lĩnh Lý Do Độc làm chủ, hàng năm vẫn đóng thú biên giới gọi là phòng thủ binh, lại thường giúp Trác [thu] nộp tô thuế. Viên tri châu Phong Châu nói với Trác hãy xin bãi quân đóng thú, chuyên ủy cho Do Độc phòng giữ. Trác tâu xin bãi 6 nghìn người ở phòng thú binh và bảo Do Độc có thể tương đương một đội. Thế là Do Độc thế cô không tự lập được. Quan Thác đông tiết độ của Nam Chiếu viết thư mời Do Độc, rồi đem gả con gái cho con trai Độc, bổ làm Thác đông Thác nha (Thác đông là nói sẽ khai thác biên giới phía đông. Giao Chỉ ở phía đông Nam Chiếu cho nên đặt chức ấy). Từ đó An Nam bắt đầu có mối lo về người Man [Nam Chiếu]." Đất Hà Khẩu ngày nay, thuộc động Thất Quán thời kỳ (854-860) cũng theo về sáp nhập vào Thác Đông tiết độ sứ (拓東節度使) của Nam Chiếu.
Năm 860, Mông Thế Long lên ngôi vua Nam Chiếu sửa quốc hiệu thành Đại Lễ quốc (大禮國), và chia đôi Thác Đông tiết độ. Nửa phía Nam của Thác Đông tiết độ sứ, tiếp giáp An Nam đô hộ phủ của Đại Đường, lập thành Thông Hải đô đốc (通海都督). Đất Hà Khẩu cũng theo Thất Quán động thuộc vào Thông Hải đô đốc, nằm trên vùng biên giới đông nam của Nam Chiếu với An Nam.
Lần thứ hai, đất huyện Hà Khẩu được cho là thuộc lãnh thổ An Nam nhưng là An Nam Quốc, tức Đại Việt của Việt Nam, sớm nhất có thể là từ thời nhà Lý - Vương quốc Đại Lý (khoảng năm 1014-1037) và muộn nhất là thời nhà Minh - Nhà Lê trung hưng (khoảng năm 1644-1660). Đại Việt sử ký toàn thư chépː "Vào năm Quý Sửu, niên hiệu Thuận Thiên thứ tư (1013), mùa đông, tháng 10 âm lịch, châu Vị Long (渭龍) liên kết với man Nam Chiếu (vương quốc Đại Lý) nổi dậy chống nhà Lý. Vua Lý Thái Tổ tự dẫn quân đi đánh châu này. Thủ lĩnh châu Vị Long là Hà Yến Tuấn (何晏俊) sợ hãi, dẫn các thuộc hạ chạy vào rừng núi… Vào năm Giáp Dần niên hiệu Thuận Thiên thứ năm (1014, tức năm Đại Trung Tường Phủ thứ bảy nhà Tống), mùa xuân, tháng Giêng âm lịch, các tướng nước Đại Lý là Dương Trường Huệ (楊長惠), Đoàn Kính Chí (段敬至) dẫn 200000 quân Đại Lý vào cướp phá lãnh thổ Đại Cồ Việt, lập doanh trại ở bến Kim Hoa (金華步), đặt tên là Ngũ Hoa trại (五花寨). Châu mục châu Bình Lâm (平林) là Hoàng Ân Vinh (黃恩榮) đã báo cáo vụ việc cho nhà Lý. Vua sai Dực Thánh Vương (翊聖王) đưa quân đi đánh quân Đại Lý xâm lược, chặt đầu hàng nghìn người và bắt sống vô số binh lính và ngựa chiến. Vua ban chiếu cho các viên ngoại lang là Phùng Chân (馮真) và Lý Thạc (李碩) sang nước Tống báo tin thắng trận, và đem biếu 100 ngựa thu được của quân Đại Lý. Vua Tống ban chiếu cho nơi sở tại đưa các sứ nước Việt đến cửa khuyết và đón tiếp đầy đủ. Khi đến nơi, vua Tống cho mời đoàn của Phùng Chân vào yết kiến tại cung Sùng Đức, rồi theo thứ bậc ban thưởng mũ, áo, vải lụa… Vào năm Ất Mão, niên hiệu Thuận Thiên thứ sáu (1015), mùa xuân, … tháng 2 âm lịch, … Vua ban chiếu cho Dực Thánh Vương, Vũ Đức Vương (武德王) đi đánh các châu Đô Kim (都金), Vị Long (渭龍), Thường Tân (常新), Bình Nguyên (平原) , bắt được thủ lĩnh Hà Yến Tuấn đem về kinh sư, bêu đầu ở chợ Đông." "Năm Đinh Sửu niên hiệu Thông Thụy thứ 4 (1037), mùa xuân, ngày mồng 1 tháng 2, vua Lý Thái Tông thân đi đánh đạo Lâm Tây (林西道), sai Khai Hoàng Vương Nhật Tôn làm Đại nguyên soái đánh các châu Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên, cho Phụng Càn Vương Nhật Trung làm Kinh sư lưu thủ. Quân đi từ Kinh sư đến đóng ở Lâm Tây, dẹp yên được. Tháng 3, vua từ đạo Lâm Tây về đến kinh.""
Vào thời thuộc Minh và thời nhà Lê sơ của Đại Việt, đất huyện Hà Khẩu là một phần của châu/huyện Thủy Vĩ của Việt Nam. Địa đầu của Thủy Vĩ là ải Lê Hoa (梨花隘), sau được gọi là ải Liên Hoa (蓮花隘), nay thuộc địa phận hương Liên Hoa Than (Ghềnh Liên Hoa, ghềnh hoa sen) huyện Hà Khẩu châu Hồng Hà tỉnh Vân Nam Trung Quốc, là cửa ải biên giới giữa Đại Việt (Việt Nam) và Đại Minh (Trung Quốc). Trong chiến tranh Minh–Việt (1407–1414) và khởi nghĩa Lam Sơn, nhiều lần cánh quân Minh do Mộc Thạnh chỉ huy từ Vân Nam thường tiến vào Việt Nam qua cửa ải này. Tháng 3 năm 1427, Mộc Thạnh cùng tham tướng Từ Hanh và Đàm Trung, theo đường Vân Nam, tiến đánh cửa ải Lê Hoa. Quân của Mộc Thạnh cầm cự với quân do các tướng Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả chỉ huy nhưng tới tháng 9 cùng năm nghe tin Liễu Thăng tử trận, phải rút quân. Trịnh Khả nhân đà đang sắc bén, tung quân ra đánh phá; chém hơn vạn thủ cấp, bắt được hơn 1.000 quân và hơn 1.000 ngựa. Mộc Thạnh chỉ kịp một người một ngựa chạy thoát. An Nam truyện trong Minh sử chép: 沐晟軍至水尾, 造船將進, 聞通已議和, 亦引退, 賊乘之, 大敗 (Mộc Thạnh quân chí Thủy Vĩ, tạo thuyền tương tiến, văn Thông dĩ nghị hòa, diệc dẫn thoái, tặc thừa chi, đại bại) nghĩa là ""Mộc Thạnh kéo quân đến Thủy Vĩ, làm thuyền bè, sửa soạn để chực tiến quân. Được tin Thông đã nghị hòa, Thạnh cũng rút lui. Địch thừa thắng đổ ra đánh. Thạnh thua to."'". Theo Minh thực lục, ngày 14 tháng 12 năm 1427, Mộc Thạnh cùng thuộc hạ chạy tới Cao Trại, Thủy Vĩ thì bị quân Lam Sơn phục kích cả trên sông lẫn trên bờ, phải vất vả làm lại thuyền mới đi tiếp được. Hiện nay, tại hương Đại Trại huyện Kim Bình châu Hồng Hà, (tiếp giáp hương Liên Hoa Than), có tồn tại các địa danh là Cao Gia trại (Gaojiazhai 高家寨) và Thủy Vĩ (Shuiwei 水尾).
Địa danh Lãnh Thủy Câu (suối nước lạnh, 冷水沟, Lengshuigou) đầu nguồn con suối chảy vào sông Hồng, thuộc Mạn Chương xã khu của trấn Hà Khẩu, nằm đối diện phía bắc đền Thượng Lào Cai (châu Thủy Vĩ xưa (水尾)), có thể là nơi diễn ra trận Lãnh Câu (冷溝) kết thúc thắng lợi khởi nghĩa Lam Sơn, được Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô đại cáoː (冷溝之血杵漂,江水為之嗚咽;) "Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc".
Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn viết: "... "Sau khi Liễu Thăng thua trận, vua sai đem bốn tên chỉ huy, thiên hộ đã bắt được, và bằng sắc ấn tín của Liễu Thăng, đưa đến cho Mộc Thạnh. Quân sĩ của Thạnh quá kinh hãi tự tan rã. Các ông Phạm Văn Xảo liền tung quân vào đánh, phá tan đạo quân đó ở Lãnh Thủy Câu (冷水溝 [ngòi nước lạnh]) và Đan Xá, chém đầu hơn vạn tên và bắt sống được rất nhiều.""
Các nhóm dân tộc.
Theo số liệu năm 1994, các nhóm dân tộc ở Hà Khẩu bao gồm:
Do nằm sát biên giới Việt Nam, đa số các chủ thể kinh doanh tại Hà Khẩu đều có người Việt hoặc người Trung biết tiếng Việt cơ bản. Tuy nhiên, một số cửa hàng chỉ có người Trung Quốc phục vụ và không sử dụng tiếng Anh.
Có tuyến xe buýt đến tất cả các điểm đến trong tỉnh Vân Nam, bao gồm cả dịch vụ xe chạy qua đêm từ Côn Minh. Nhiều điểm có thể đến được bằng cách trung chuyển ở Mông Tự.
Có một đường cao tốc nối liền Xinjie, một thị trấn thuộc huyện Hà Khẩu, với tỉnh Lào Cai ở miền Bắc Việt Nam. Nó được khai trương vào tháng 2 năm 2008 và đánh dấu việc hoàn thành đường cao tốc đầu tiên nối Vân Nam với một quốc gia láng giềng thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Đường cao tốc Xinhe 56,3 km, 3,58 tỷ nhân dân tệ là một trong nhiều dự án cơ sở hạ tầng sẽ tăng kết nối giữa Vân Nam và ASEAN và tạo điều kiện cho việc vận chuyển người và hàng hóa giữa hai khu vực, dự kiến sẽ thấy sự gia tăng lớn về du lịch và thương mại những năm tới.
Tuyến đường sắt Hải Phòng - Vân Nam khổ hẹp, nối Côn Minh với thành phố cảng Hải Phòng, được thực dân Pháp mở cửa năm 1910, đi qua biên giới Trung Quốc-Việt Nam tại Hà Khẩu.
Vào tháng 12 năm 2014, phần cuối cùng (Mông Tự - Hà Khẩu) của tuyến đường sắt Côn Minh - Hà Khẩu tiêu chuẩn mới đã được hoàn thành. Nó kết thúc tại ga đường sắt Bắc Hà Khẩu mới, cũng được kết nối bằng đường ray hẹp đến đường sắt cũ, để tạo điều kiện cho việc di chuyển hàng hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam.
Tuy chỉ là một thị trấn nhỏ cạnh biên giới, nhưng Hà Khẩu khá tấp nập, nhộn nhịp với nhiều trung tâm thương mại, cửa hàng mua sắm lớn và các khu ẩm thực bao gồm nhà hàng, quán ăn phục vụ các món ăn Trung Hoa như bánh bao, sủi cảo, xá xíu, trà sữa. Trung tâm thương mại Bằng Hữu là trung tâm mua sắm lớn nhất tại Hà Khẩu. Các mặt hàng được bày bán chủ yếu ở đây là quần áo, trang sức và đồ điện tử.
Được thành lập lần đầu tiên vào năm 1992, Khu hợp tác kinh tế biên giới Hà Khẩu là khu vực biên giới được Hội đồng Nhà nước tại Trung Quốc phê duyệt nhằm thúc đẩy thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam. Nó có diện tích quy hoạch là 4,02 km2. Khu vực này đã thực hiện một số chính sách để phục vụ khách hàng của mình tại Trung Quốc từ các ngành và lĩnh vực khác nhau bao gồm đầu tư, thương mại, tài chính, thuế, nhập cư,
Hà Khẩu đang trở thành một điểm đến mới hấp dẫn cho những du khách Việt Nam muốn tham quan Trung Quốc trong ngày với chi phí phải chăng, do du khách chỉ cần làm sổ thông hành và không phải trải qua các thủ tục xin thị thực thông thường, cũng như vì tiền Việt Nam được chấp nhận ở Hà Khẩu. Sổ thông hành có thời hạn một tháng, nhưng du khách chỉ được phép di chuyển tự do trong bán kính 100 km thuộc phạm vị huyện Hà Khẩu. Du khách đi trong ngày cần về trước 23h (giờ Trung Quốc) tức 22h (giờ Việt Nam). Nếu ở lại qua đêm, cần xin vé ngủ tại khu thương mại tự do thí điểm tỉnh Vân Nam.
Một địa điểm hút khách đáng chú ý ở Hà Khẩu là công viên Sơn Lâm, một công viên nhân tạo được xây theo kiểu vườn Trung Hoa, nằm cách cửa khẩu khoảng 7 km.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Hướng Dương (hay còn gọi là Hướng Nhật Quỳ, Hướng Dương Quỳ Tử, Thiên Quỳ Tử, Quỳ Tử, Quỳ Hoa Tử) là loài hoa thuộc họ Cúc (Asteraceae), có tên khoa học là Helianthus Annuus.
Cây hướng dương có nguồn gốc từ Bắc Mỹ. Đây là loài cây thảo sống khoảng một năm, thân to thẳng có lông cứng, thường có đốm, cao 1-3 m. Lá to, thường mọc so le, có cuống dài, phiến lá hình trứng đầu nhọn, phía dưới hình tim, mép có răng cưa, hai mặt đều có lông trắng. Cụm hoa đầu lớn, đường kính 7-20 cm, bao chung hình trứng; Hoa hình lưỡi, ngoài màu vàng; các hoa lưỡng tính ở giữa màu tím hồng. Cây ra hoa vào mùa đông, mùa xuân. Thời gian ra hoa tại châu Âu thường là từ cuối tháng 6 / tháng 7 đến tháng 9. Tại Việt Nam, như tại Nghệ An, có hai vụ thu hoạch hoa hướng dương là vào tháng 3-4 và tháng 11-12.
Bông hoa Hướng Dương trên thực tế là một cụm hoa dạng đầu, bao gồm những bông hoa con (chiếc hoa) tập hợp cùng nhau.
Ở vòng ngoài, những bông hoa con gọi là chiếc hoa tỏa tia. Chúng có thể có màu vàng, nâu sẫm, da cam hoặc các màu khác. Những bông hoa con này không có khả năng sinh sản. Các bông hoa con nối thành một vòng tròn ở bên trong các chiếc hoa toả tia được gọi là chiếc hoa dạng đĩa. Các chiếc hoa trong cụm này được sắp xếp theo kiểu xoắn ốc.
Thông thường mỗi chiếc hoa hướng về phía chiếc tiếp theo theo một góc xấp xỉ bằng góc vàng, tạo ra một kiểu các vòng xoắn nối liền với nhau, trong đó số các vòng xoắn trái và số các vòng xoắn phải là các số kế tiếp trong dãy Fibonacci, điển hình là 34 vòng xoắn theo một hướng và 55 theo hướng kia; trên một bông hoa hướng dương rất to người ta có thể thấy 89 vòng xoắn theo một hướng và 144 theo hướng kia.
Những bông hoa dạng đĩa khi trưởng thành phát triển thành những cái mà người ta gọi là "hạt Hướng Dương". Tuy nhiên, các "hạt" đó thực sự là một loại quả (quả bế) của loài cây này, với những hạt thật sự nằm bên trong, lớp vỏ không ăn được.
Hoa Hướng Dương quay về Mặt Trời.
Hoa Hướng Dương quay theo hướng Mặt Trời. Trong một nghiên cứu được công bố trên "Khoa học", các nhà nghiên cứu phát hiện đồng hồ sinh học và khả năng phát hiện ánh sáng của hoa Hướng Dương cùng hoạt động, kích hoạt các gen liên quan đến sự phát triển tại đúng thời điểm cho phép thân cây uốn theo hình cung của Mặt Trời. Nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, khi phát triển đầy đủ, trong một số trường hợp cao bằng người, các cây luôn hướng về phía đông cho một khởi đầu mới, để được sưởi ấm từ Mặt Trời nhằm thu hút các côn trùng thụ phấn.
Stacey Harmer và Hagop Atamian, nhà sinh học thực vật tại Đại học California, cùng với Davis và các đồng nghiệp của họ đã nghiên cứu hoa Hướng Dương trên các cánh đồng, trong chậu và trong các phòng tăng trưởng. Họ nhận thấy, các cây phát triển chậm hơn so với những cây có ánh Mặt Trời chiếu vào. Việc đuổi theo Mặt Trời đã thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây. Thực tế là hoa Hướng Dương chuyển hướng lại quay về phía đông vào ban đêm, chưa có nguyên nhân cụ thể, có thể do hoạt động của đồng hồ sinh học. Các nhà nghiên cứu đặt cây hướng dương trong phòng có đèn chiếu giống như đường đi của ánh Mặt Trời trong các chu trình sáng và tối khác nhau. Các cây hoạt động như mong đợi trong chu kỳ 24 giờ. Nhưng trong chu kỳ 30 giờ, chúng đã bị lẫn lộn. Và khi các cây đã hoạt động theo chu kỳ 24 giờ ngoài trời và được đặt trong nhà dưới ánh sáng cố định, chúng vẫn tiếp tục uốn từ đông sang tây trong một vài ngày theo chu kỳ của Mặt Trời. Điều này có nghĩa rằng nhịp sinh học 24 giờ đã định hướng cho sự chuyển động của hoa Hướng Dương.
Thân của Hướng Dương non phát triển nhanh hơn vào ban đêm ở mặt phía tây cho phép đầu của chúng ngả về phía đông. Ban ngày, mặt phía đông của thân phát triển và chúng ngả về phía tây theo hướng Mặt Trời. Tiến sĩ Atamian đã thu thập các mẫu về các cạnh đối diện của thân từ hoa Hướng Dương một cách định kỳ, và tìm thấy những gen khác nhau, liên quan đến việc phát hiện ánh sáng và quá trình tăng trưởng, hoạt động của các mặt đối diện của thân cây. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy các hoa trong chậu quay mặt hướng Đông được sưởi ấm và thu hút nhiều côn trùng thụ phấn hơn, ngược với những bông hoa bị buộc phải quay mặt phía tây vào lúc bình minh. Việc sưởi ấm những bông hoa quay mặt hướng tây cũng thu hút nhiều loài thụ phấn hơn. Các nhà nghiên cứu cho rằng, thực vật thường phát triển theo hướng đông khi còn non, và tiếp tục khi trưởng thành bởi vì hướng đó được sưởi ấm vào buổi sáng, khi đó các con bọ hoạt động tích cực hơn mang lợi thế phát triển cho cây.
Khả năng chịu mặn.
Từ những năm 1990, hoa hướng dương đã được chứng minh là có khả năng chịu mặn ở mức độ trung bình nhờ khả năng tích trữ và chống chịu (tolerate) muối trong mô. Cây hướng dương được đề xuất như một giải pháp cho những vùng đất nhiễm mặn nhờ khả năng hấp thụ muối và nước dư thừa.
Cách trồng (sơ lược).
Hướng Dương ưa ấm, đất tơi xốp sợ ngập úng, nhiệt độ cao cây mọc kém, cây ngủ nghỉ. Cây Hướng Dương có thể trồng chậu, đất chậu thường dùng là đất lá rụng trộn với đất cát, thêm một ít bột xương. Mỗi năm thay chậu một lần vào tháng 8 - 9. Trước lúc thay chậu cần tỉa thưa, chỉnh hình, cắt bớt rễ. Hàng năm vào tháng 4 đem cây ra ngoài nơi thoáng gió. Để cho cây không ngừng ra hoa tăng cường tưới phân loãng, 10 ngày tưới một lần. Tưới nước bình thường không nên tưới nhiều nước. Đến mùa hè nóng cây bước vào ngủ nghỉ, nên đưa cây vào nhà bệ cây. Mùa thu là mùa ra hoa cần kết hợp tưới nước bón ít phân loãng.
Sau mùa hoa cần tỉa cành, xúc tiến phân nhánh. Cây Hướng Dương mọc nhanh hàng năm đề phải tỉa cành, mỗi năm 3 lần: mùa xuân, mùa hè và mùa thu. Căn cứ vào sinh trưởng của cây cần để cây có 3 - 5 cành chính, các cành dài cũng phải được tỉa bớt. Cây hướng dương mọc được 1 năm chỉ cần cắt ngắn ít cành. Sau khi tỉa cành thường đòi hỏi một thời gian hồi phục, nên sau đó nửa tháng phải bón thúc phân, cho cây không. Ngưng ra chồi nở hoa. Để tránh cây mọc quá cao, cần phải hái ngọn, cho mọc nhánh bên và nhiều hoa.
Nhân giống cây hoa Hướng Dương thông thường dùng phương pháp giâm cành. Giâm cành vào mùa xuân tỷ lệ sống cao hơn mùa thu. Cánh làm cụ thể là: Cắt đầu cành có chồi đỉnh 6 - 8 cm, cắt các đốt phía dưới, cắt bỏ lá gốc, sau khi vết cắt khô, cắm vào chậu cát hoặc sỏi, sâu 1/8 - 1/2 cành giâm, rồi tưới nước đẫm. Sau đó 2 ngày tưới 1 lần, để ở nhiệt độ 18 - 20 độ C. Sau 20 ngày mọc rễ và chờ khi cây con cao 2 – 3 cm là đưa vào chậu, chậu để nơi râm, khi cây mọc chồi mới có thể chuyển vào nơi quản lý bình thườ
Công dụng làm thuốc.
Toàn bộ các bộ phận của cây Hướng Dương đều được dùng làm thuốc. Theo Đông Y và kinh nghiệm dân gian, thì:
- Hạt Hướng Dương có vị ngọt, tính bình, không độc. Tác dụng tư âm bổ hư, ninh tâm an thần, chỉ lỵ, thấu chẩn. Dùng chữa tinh thần uất ức, thần kinh suy nhược, chán ăn, đau đầu do suy nhược, đi lỵ ra máu, sởi không mọc được.
- Vỏ hạt có thể dùng để chữa tai ù.
- Hoa Hướng Dương có tác dụng trừ phong, sáng mắt. Dùng chữa đầu choáng váng, mặt sưng phù, còn dùng để thúc sinh cho phụ nữ.
- Khay hạt Hướng Dương (còn gọi là Quỳ Phòng, Hướng Nhật Quỳ Hoa Thác, Hướng Nhật Quỳ Hoa Bàn) có tác dụng chữa đầu đau, mắt hoa, răng đau, đau dạ dày và bụng, phụ nữ thống kinh, sưng đau lở loét.
- Lá có tác dụng tăng cường tiêu hóa và chữa cao huyết áp.
- Lõi thân cành (còn gọi là Hướng Nhật Quỳ Ngạnh Tâm, Hướng Nhật Quỳ Kinh Tâm, Hướng Nhật Quỳ Nhương) có tác dụng chữa tiểu tiện xuất huyết, tiểu dưỡng chấp, sỏi đường tiết niệu, tiểu tiện khó khăn.
- Rễ cây Hướng Dương có tác dụng chữa ngực, sườn và vùng thượng vị đau nhức, thông đại tiểu tiện, chữa đòn ngã chấn thương, mụn nhọt lở loét chảy nước vàng.
Hướng Dương tại Việt Nam.
Ở Việt Nam còn có loài "Hướng Dương dại" (còn gọi là "Sơn Quỳ", "Dã Quỳ" tên khoa học là "Tithonia diversifolia (Hemsl.) A. Gray", cùng thuộc họ Cúc. Cây được nhập trồng, hiện nay mọc hoang dại ở nhiều nơi, từ đồng bằng tới vùng núi, thường thấy ở dọc các đường đi, bãi , một số nơi lấy lá xát trị ghẻ
Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tại Việt Nam hầu như không trồng Hướng Dương để lấy hạt, vì điều kiện thời tiết, khí hậu không phù hợp. Hướng Dương tại Việt Nam thường chỉ cho hạt lép, trừ một số ít diện tích nhỏ tại Lâm Đồng, Lào Cai… Hạt Hướng Dương tiêu thụ tại Việt Nam thường được nhập khẩu từ Trung Quốc.
Cánh đồng hoa Hướng Dương lớn nhất Việt Nam là ở tại nông trường xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An rộng gần 60 ha và bắt đầu trồng Hướng Dương từ năm 2010 để làm thức ăn cho bò. Hoa nở hai mùa vào tháng 3-4 và tháng 11-12.
|
Miguel de Cervantes y Saavedra ([miˈɣel de θeɾˈβantes saaˈβeðɾa], phiên âm là Xéc-van-tét); 29 tháng 9 năm 1547 (giả định) – 23 tháng 4 năm 1616 NS) là tiểu thuyết gia, nhà thơ và nhà soạn kịch người Tây Ban Nha, được nhiều người đánh giá là nhà văn vĩ đại nhất trong văn học tiếng Tây Ban Nha, và là một trong những tiểu thuyết gia xuất sắc nhất mà thế giới từng sản sinh. Ông được biết đến với tiểu thuyết "Don Quixote", một tác phẩm thường được coi là tiểu thuyết hiện đại đầu tiên và là một trong những tác phẩm đỉnh cao của văn học thế giới.
Phần lớn cuộc đời ông sống trong cảnh nghèo đói và tương lai mờ mịt, nhiều chi tiết trong tiểu sử còn đang tranh cãi hoặc không rõ, và phần lớn tác phẩm còn lại của ông được sáng tác trong ba năm trước khi ông qua đời. Mặc cho tất cả điều này, ảnh hưởng và đóng góp của ông cho văn học được phản ánh bởi thực tế rằng tiếng Tây Ban Nha thường được mệnh danh là "ngôn ngữ của Cervantes".
Năm 1569, Cervantes buộc phải rời Tây Ban Nha và chuyển đến Rome, nơi ông làm việc trong gia đình của một hồng y. Năm 1570, ông gia nhập một trung đoàn Bộ binh Hải quân Tây Ban Nha, và bị thương nặng trong Trận Lepanto vào tháng 10 năm 1571. Ông phục vụ quân địch cho đến năm 1575, khi bị cướp biển Barbary bắt giữ; sau năm năm bị giam cầm, ông được trả tiền chuộc và trở về Madrid.
Cuốn tiểu thuyết quan trọng đầu tiên của ông, có tựa đề "La Galatea", được xuất bản vào năm 1585, nhưng ông vẫn tiếp tục làm công việc thu mua, sau đó là viên chức thu thuế của chính phủ. Phần I của "Don Quixote" được xuất bản năm 1605, trong khi Phần II xuất bản năm 1615. Các tác phẩm khác bao gồm bộ 12 tác phẩm "Novelas ejemplares" ("Tiểu thuyết mẫu mực"); một bài thơ dài, "Viaje del Parnaso" ("Hành trình đến Parnassus"); và "Ocho comedias y ocho entremeses" "(Tám vở kịch và tám" "entr'acte"). "Los trabajos de Persiles y Sigismunda" ("Công việc khổ cực của Persiles và Sigismunda"), được xuất bản sau khi ông qua đời vào năm 1616.
Người ta cho rằng Cervantes đã được sinh ra tại Alcalá de Henares, một thành phố Castilian khoảng 35 km (22 dặm) về phía đông bắc từ Madrid, có thể là vào ngày 29 tháng 9 (ngày lễ Thánh Micae) năm 1547. Ngày sinh của ông có thể đã được xác định từ sổ đăng ký nhà thờ, do truyền thống đặt tên một đứa trẻ theo tên Thánh của ngày sinh. Ông được rửa tội tại Alcalá de Henares vào ngày 9 tháng 10 năm 1547 tại nhà thờ giáo xứ Santa María la Mayor. Sổ đăng ký rửa tội ghi lại như sau:
Cervantes lúc sinh không có tên Cervantes Saavedra. Ông đặt tên "Saavedra" khi đã trưởng thành. Theo quy ước đặt tên Tây Ban Nha họ thứ hai của ông là của người mẹ, Cortinas.
Cervantes sinh ra tại một gia đình quý tộc sa sút ở Tây Ban Nha. Cha ông là một bác sĩ ngoại khoa bất đắc chí, từng phải ra toà vì thiếu nợ. Do kinh tế gia đình vất vả, ông chỉ học đến Trung học, tuy nhiên, ông rất chăm chỉ đọc sách.
Hơn 22 tuổi, ông đến Ý, đúng vào thời kỳ Phục Hưng và làm người hầu cho một Hồng y giáo chủ. Đây là cơ hội lớn cho ông đọc sách của chủ và học tập.
Năm 1571, hạm đội Thổ Nhĩ Kỳ xâm nhập vào khu vực Địa Trung Hải, Tây Ban Nha và Cộng hòa Venezia tổ chức hạm đội liên hợp chống lại. Hạm đội Liên minh thần thánh cuối cùng cũng đánh tan quân Thổ trong trận Lepanto, Cervantes tham gia trận này, được mô tả như một "hiệp sĩ gầy gò và khờ dại".
Năm tháng tù đày.
Sau khi tham gia nhiều trận đánh lớn trên biển Địa Trung Hải với tư cách là lính Tây Ban Nha, ông bị cướp biển Bắc Phi bắt giữ khi trên đường trở về Tây Ban Nha. Chúng đòi tiền chuộc quá lớn, gia đình ông không kịp chuẩn bị và triều đình thì không hề quan tâm.
Ông bị giam 5 năm ở Algie, tiếp xúc với văn hóa Hồi giáo (sau trở thành tư liệu quan trọng cho sáng tác của ông). Đến năm 1580, khoản tiền chuộc giảm xuống một phần vì bọn cướp phục lòng dũng cảm của ông, một phần vì chúng nhận ra không thể lợi dụng ông để lấy tiền từ triều đình Tây Ban Nha. Hai chị gái của ông đã phải gia nhập vào nhà thờ để nhận một số tiền đem chuộc ông.
Ông mất tại Madrid ngày 23 tháng 4 năm 1616 trong lịch Gregory, cùng ngày Shakespeare mất trong lịch Julian. Đáng kể là bách khoa toàn thư "Encyclopedia Hispanica" cho rằng ngày mất của Cervantes theo truyền thống – 23 tháng 4 – là ngày đề trên mộ. Theo truyền thống ở Tây Ban Nha trong hồi đó, ngày trên mộ là ngày chôn, chứ không phải là ngày mất. Nếu "Encyclopedia Hispanica" đúng thì Cervantes chắc qua đời ngày 22 tháng 4 và được chôn ngày 23 tháng 4. Dù sao, Cervantes và Shakespeare thực sự không mất cùng ngày, tại vì hai nước Anh và Tây Ban Nha đang sử dụng lịch khác trong thời kỳ đó.
|
Sông Trà Khúc là con sông lớn nhất ở tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam .
Sông Trà Khúc phát nguồn từ núi Đắc Tơ Rôn với đỉnh cao 2.350 m, do hợp nước của bốn con sông lớn là sông Rhe, sông Xà Lò (Đắk Xà Lò), sông Rinh (Drinh), sông Tang (Ong). Chỗ ngã tư đó còn gọi là ngã tư Ly Lang.
Sông từ đó chảy theo hướng đông qua ranh giới các huyện Sơn Hà, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, thành phố Quảng Ngãi và đổ ra cửa Đại Cổ Lũy (Chiêm lũy lịch môn). #đổi
Sông Trà Khúc có độ dài khoảng 135 km, trong đó có khoảng 1/3 chiều dài sông chảy qua vùng núi và rừng rậm, có độ cao 200- 1.000m, phần còn lại chảy qua vùng đồng bằng.
Đây là con sông có độ dốc lớn. Đầu nguồn của sông có công trình thủy lợi Thạch Nham nên khi chảy về hạ lưu ở địa bàn thành phố Quảng Ngãi, huyện Tư Nghĩa và huyện Sơn Tịnh nguồn nước trở nên cạn kiệt. Mùa mưa, sông thường gây lũ lớn.
Tên "Trà Khúc" mang giọng Chiêm vì "Trà" có gốc từ "jaya" trong tiếng Phạn, và là một trong bốn họ chính thống của các vua Chiêm: On, Ma, Trà, Chế.
Bờ xe nước (guồng nước) của sông đã từng là hình ảnh đi vào thi ca. Chính thức ngừng hoạt động năm 1993, mang nước tưới tiêu cho các đồng ruộng mía xứ Quảng; nhưng bây giờ bờ xe nước đã đi vào ký ức. Dự án khôi phục bờ xe nước đã được triển khai.
Cặp núi Thiên Ấn và sông Trà Khúc là biểu tượng của tỉnh Quảng Ngãi. Bài ca "Nhớ Đàn Xe Nước" của tác giả Văn Đông, trong đó có câu: "Ta nhớ quê ta có núi Ấn sông Trà".
Trưa 15/4/2016, 11 học sinh lớp 6 trường THCS Nghĩa Hà ra sông Trà Khúc - đoạn thuộc thôn Thanh Khiết, xã Nghĩa Hà, TP Quảng Ngãi - chơi, 9 em tuổi 12-13 đã bị chết đuối, chỉ còn 2 em nữ ở trên bờ.
|
Lê Thái Tổ (chữ Hán: 黎太祖 10 tháng 9 năm 1385 – 5 tháng 10 năm 1433), tên thật là Lê Lợi (黎利) là một nhà chính trị, nhà lãnh đạo quân sự, người đã thành lập một đội quân người Việt và lãnh đạo đội quân này chiến đấu chống lại sự chiếm đóng của quân đội nhà Minh từ năm 1418 đến lúc đánh đuổi hoàn toàn quân Minh ra khỏi Đại Việt vào năm 1428 sau đó xây dựng và tái thiết lại đất nước. Ông cũng thành công với các chiến dịch quân sự đánh dẹp các tù trưởng ở biên giới phía Bắc Đại Việt và quân đội Ai Lao bị xúi giục. Ông được coi là anh hùng, vị Hoàng đế huyền thoại của Đại Việt với tài năng quân sự, khả năng cai trị và lòng nhân ái đối với nhân dân.
Lê Lợi sinh ra trong một gia đình hào trưởng tại Thanh Hóa, trưởng thành trong thời kỳ Nhà Minh đô hộ nước Việt. Thời bấy giờ có nhiều cuộc khởi nghĩa của người Việt nổ ra chống lại quân Minh nhưng đều thất bại. Năm 1418, Lê Lợi tổ chức cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với lực lượng ban đầu chỉ khoảng vài nghìn người. Thời gian đầu ông hoạt động ở vùng thượng du Thanh Hóa, quân Minh đã huy động lực lượng tới hàng vạn quân để đàn áp, nhưng bằng chiến thuật trốn tránh hoặc sử dụng chiến thuật phục kích và hòa hoãn, nghĩa quân Lam Sơn đã dần lớn mạnh. Năm năm sau (1424), Lê Lợi quyết định đánh vào Nghệ An, Thuận Hóa, liên tục thắng trận rồi trở ra giải phóng Thanh Hóa. Tới năm 1426, quân Lam Sơn đã làm chủ từ Thanh Hóa tới Thuận Hóa, quân Minh chỉ còn co cụm trong các thành Nghệ An, Thuận Hóa và Thanh Hóa.
Năm 1426, ông cử 3 đạo quân tiến ra Bắc, trong khi nhà Minh cử một lực lượng lớn do Vương Thông chỉ huy sang tiếp viện. Hai cánh quân của Lê Lợi kết hợp với nhau, đánh bại quân Minh ở trận Tốt Động – Chúc Động, ép Vương Thông lui về Đông Quan cố thủ. Nghe tin, Lê Lợi lập tức mang đại quân ra Bắc, tổ chức lại quân đội, phân chia hành chính, ban hành các đạo dụ răn quân lính và nhân dâ, Mộc Thạnh mang quân sang tiếp viện, Lê Lợi sai quân ngăn chặn và đánh bại hoàn toàn hai đạo quân tiếp viện này. Vương Thông cùng đường phải xin hòa với quân Lam Sơn khi chưa được sự cho phép của triều đình Minh. Bất chấp sự phản đối của tướng lĩnh và dân chúng, Lê Lợi không những cho phép quân Minh được rút lui an toàn mà còn chu cấp vật tư như thuyền bè, tu sửa đường sá... cho họ. Đến ngày 17 tháng 12 năm 1427 (âm lịch) quân Minh chính thức về nước, Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thay mình làm bài "Bình Ngô đại cáo" báo cáo cho thiên hạ biết về việc quân Minh đã giảng hòa, rút quân về nước, Nam Bắc thôi việc binh đao, thiên hạ đại định.
Năm 1428, lên ngôi vua, Lê Lợi từ điện Tranh ở Bồ Đề vào thành Đông Quan, đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đặt quốc hiệu là Đại Việt, lấy Đông Kinh làm thủ đô, xưng là Thuận Thiên Thừa Vận Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương, hiệu là Lam sơn động chủ, sử gọi là Thái Tổ Cao Hoàng đế, dựng lên hoàng triều Lê (sử Việt Nam hiện đại gọi là nhà Hậu Lê). Lê Lợi đã xây dựng lại khoa cử, luật lệ, kinh tế, chế tác lễ nhạc, đồng thời thu thập lại sách vở, mở mang trường họ, Nông Đắc Thái (châu Thạch Lâm) và Đèo Cát Hãn (châu Mường Lễ), đánh bại một cánh quân Ai Lao sang giúp Hãn.
Ông được các sử gia đánh giá cao ở tài năng chính trị, quân sự, kinh tế, là một trong hai vị thánh trung hưng của dân tộc (người đầu tiên là Ngô Quyền) nhưng một số sử gia hiện đại lại chỉ trích vì cho rằng ông đã làm hại hai trong số gần một trăm công thần được ông phong là Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo. Tuy nhiên, các sử gia Lê Quý Đôn, Trần Quốc Vượng và Tạ Chí Đại Trường cho rằng Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo thực sự đã phạm tội, và Lê Lợi xử tội họ là đúng theo pháp luật. Khi Việt Nam bị người Pháp đô hộ, những người chủ trương khôi phục quốc gia đã coi Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn như là hình mẫu, niềm cảm hứng và biểu tượng của sự đoàn kết quốc gia. Phan Bội Châu coi ông là hình ảnh chói lọi của vị vua Trung hưng thứ hai sau Ngô Quyền. Trong Chiến tranh Việt Nam (1945-1975) để đề ra chiến lược đánh Pháp và Mỹ, lãnh tụ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Trường Chinh viết cuốn sách "Kháng chiến nhất định thắng lợi" đã lấy cuộc kháng chiến 10 năm của Lê Lợi làm ví dụ cho việc kháng chiến trường kỳ.
Nguồn gốc và giáo dục.
Lê Lợi sinh ngày 6 tháng 8 năm 1385, người làng Lam Giang hay Lam Sơn, huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa (nay là thị trấn Lam Sơn huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Cụ nội của Lê Lợi là Lê Hối, có lần đến Lam Sơn, sách "Đại Việt thông sử" đã chép rằng: "Đã trông thấy đàn chim bay lượn quanh chân núi, giống như cảnh đông người tụ hội". Lê Hối cho là đất tốt và chuyển nhà đến ở đấy. Sau 3 năm thì thành sản nghiệp. Từ đó, các thế hệ họ Lê thay nhau làm quân trưởng ở Thanh Hóa, đế nghiệp của họ Lê bắt đầu từ đó.
Căn cứ vào thành phần cư dân ở vùng Lam Sơn hiện nay phần lớn là người Mường và dòng họ Lê Lợi đã mấy đời làm quân trưởng ở đó, có những giả thuyết cho rằng Lê Lợi là một tù trưởng người Mường. Tuy nhiên, các khảo cứu về gia phả họ Lê gần đây đã tìm ra kị nội của Lê Lợi là ông Lê Mỗi, người trang Bái Đô (nay thuộc xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân). Lê Mỗi sinh được 5 người con, trong đó Lê Hối là con trai thứ hai. Bái Đô là một vùng đất chưa bao giờ có người Mường ở. Về dòng họ mẹ của Lê Lợi cũng có nguồn gốc là người Kinh từ nơi khác đến khai khẩn vùng đất Thủy Chú. Như vậy có thể khẳng định Lê Lợi là người Kinh, không phải người Mường
Lê Hối lấy bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên, người sách Quần Dội (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Hai người sinh ra Lê Đinh, nối được nghiệp nhà, lòng yêu người, người gần xa đến quy phụ, trong nhà đông tới hàng ngàn người. Lê Đinh lấy vợ là Nguyễn Thị Quách, sinh được 37 người con trai, con trưởng là Lê Tòng, con thứ là Lê Khoáng. Lê Khoáng lấy bà Trịnh Ngọc Thương (người làng Chủ Sơn nay là Thủy Chú) Bà Trịnh Ngọc Thương có ông nội tên là Trịnh Tám, khi đi đánh Chiêm Thành có công bắt được con voi trắng, được trao chức Đại toát hữu. Cha bà là Trịnh Sai được kế tập chức vị Đại toát hữu
Hai ông bà Lê Khoáng ở làng Lam Sơn thì các tù trưởng người Ai Lao là Cầm Lô, Cầm Lạn kéo đến cướp phá. Hai cụ chuyển tới Thủy Chú, sinh ra Lê Học, Lê Trừ và Lê Lợi, lại sinh 3 người con gái là Quốc thái Trưởng Công chúa Ngọc Tá, Quốc trưởng Công chúa Ngọc Vĩnh và Quốc trưởng Công chúa Ngọc Tiên.
Lê Lợi sinh vào giờ Tý ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu, tức ngày 10 tháng 9 năm 1385, niên hiệu Xương Phù năm thứ 9 đời Nhà Trần tại làng Chủ Sơn tức làng Thủy Chú, huyện Lôi Dương, quê của mẹ ông. "Đại Việt sử ký toàn thư" mô tả ông là người ""thiên tư tuấn tú khác thường, khi lớn lên, thần sắc tinh anh kỳ vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có một nốt ruồi, tiếng nói như chuông, dáng đi tựa rồng, nhịp bước như hổ"."Lê Lợi lúc nhỏ được người anh ruột Lê Học nuôi nấng.
Lê Lợi còn có một người anh trai tên là Lê Trừ - tổ 5 đời của vua Lê Anh Tông sau này. Các vua nhà Lê trung hưng đều là con cháu của Lê Anh Tông, tức là thuộc dòng Lê Trừ chứ không phải dòng Lê Lợi.
Thời trẻ và bối cảnh lịch sử.
Lê Lợi nối đời làm phụ đạo Lam Sơn, lớn lên giữa lúc nước Đại Việt có nhiều biến động. Năm ông 16 tuổi (1400), ngoại thích nhà Trần là Hồ Quý Ly sau nhiều năm nắm quyền đã truất ngôi của Trần Thiếu Đế, lên làm hoàng đế, lấy quốc hiệu là Đại Ngu, lập nên Nhà Hồ.Nhà Minh (Trung Quốc) vốn rất muốn xâm lăng Đại Ngu, đã nhân cơ hội Hồ Quý Ly cướp ngôi Nhà Trần để đưa quân tràn vào đất Việt năm 1406. Hồ Quý Ly liên tục thất bại và đến tháng 6 năm 1407 thì bị bắt cùng các con trai là Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương và cháu nội là Hồ Nhuế. Nhà Hồ sụp đổ, người Việt rơi vào 20 năm dưới sự cai trị của nhà Minh.
Hoàng đế nhà Minh (Trung Quốc) lúc đó thực hiện chính sách xóa bỏ nền văn minh Đại Việt thời Nhà Lý và Nhà Trần bằng các cách như đốt, phá và chở về Yên Kinh tất cả các loại sách, văn bia có nói về dân Việt, của dân Việt tạo lập, thiến hoạn đàn ông người Việt; dùng chính lệnh ngặt nghèo, thi hành hình phạt tàn ác, cấm muối mắm, nâng sưu thuế, bắt nộp sản vật. Ngoài ra họ còn dời dân chúng đi xa, đắp 10 tòa thành khắp nước, chia quân đóng giữ, nhằm dễ bề cai trị và trấn áp những cuộc nổi dậy của người Việt. Những hành động đó làm người Việt căm giận. Ngay sau khi Nhà Minh chiếm đóng, tông thất Nhà Trần là Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng đã khởi binh dựng lên Nhà Hậu Trần. Sử sách ghi chép khác nhau về thái độ của Lê Lợi đối với Nhà Hậu Trần. "Đại Việt sử ký toàn thư" cho biết Lê Lợi thấy họ không có thực lực nên không theo mà ẩn náu trong vùng Lam Sơn, chiêu nạp kẻ sĩ. Sách "Việt sử tiêu án" lại cho rằng Lê Lợi từng theo Trùng Quang Đế và làm chức Kim ngô Tướng quân. Theo sách Đại Việt thông sử, trong thời kì Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, Lê Lợi ở nhà đọc sách, nghiền ngẫm binh pháp, giữ mình chờ thời. Đến khi nhà Minh đánh bại nhà Hồ, Lê Lợi ngầm có chí khôi phục quốc gia, nên hạ mình tôn người hiền, bỏ tiền của ra nuôi binh sĩ, thu dụng những người mắc lối và chống đối nhà Minh, được nhiều người qui phục.
Tướng Hoàng Phúc Nhà Minh biết tiếng ông, đã trao cho chức quan để dụ theo, nhưng ông không chịu khuất phục. Lê Lợi "ẩn dấu ở núi rừng làm nghề cày cấy; đọc sách kinh, sử, nhất là càng chuyên tâm về các sách Thao Lược; hậu đãi các tân khách; chiêu nạp kẻ trốn, kẻ làm phản; ngầm nuôi ác kẻ mưu trí; bỏ của, phát thóc để giúp cho kẻ côi cút, nghèo nàn; hậu lễ, nhún lời, để thu bọn anh hùng hào kiệt; đều được lòng vui vẻ của họ" (theo Lam Sơn thực lục). Những hào kiệt như Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Lưu Nhân Chú, Trịnh Vô, Vũ Uy, Lê Liễu và Lê Xa Lôi nối tiếp đến quy phục. Đến năm 1414 thì Nhà Hậu Trần hoàn toàn bị quân Minh đánh bại.
Khởi nghĩa Lam Sơn.
Năm 1416, Lê Lợi đã cùng 18 người khác tham gia hội thề Lũng Nhai nguyện đánh quân Minh cứu nước. Khi nhà Minh đánh bại hoàn toàn nhà Hồ đã kêu gọi Lê Lợi ra làm quan cho họ nhưng Lê Lợi từ chối. Lê Lợi nhận thấy thế quân Minh còn mạnh, nên đem nhiều tiền của hối lộ cho các chỉ huy nhà Minh là Trương Phụ, Trần Trí, Sơn Thọ... để khỏi bị nạn, chờ thời cơ. Thổ quan người Việt phục vụ cho nhà Minh là Lương Nhữ Hốt quê ở huyện Cổ Đằng (nay là Hoằng Hóa, Thanh Hóa) biết Lê Lợi có chí lớn, ngầm ghen ghét, bèn báo cho quân Minh. Bị quân Minh bức bách, Lê Lợi quyết định dấy binh khởi nghĩa. Lê Lợi từng nói rằng:
Mùa xuân, ngày mồng 2, tháng Giêng, năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt đồng chí hướng như Phạm Vấn, Lê Văn An, Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Ngân, Nguyễn Lý... tất cả 50 tướng văn và tướng võ (trong đó có 19 người đã từng kết nghĩa anh em nguyện cùng chí hướng với nhau ở hội thề Lũng Nhai, năm 1416), chính thức phất cờ khởi nghĩa (khởi nghĩa Lam Sơn). Sách Lam Sơn thực lục chép rằng:
Ông tự xưng là Bình Định vương, đặt quan chức và liêu thuộc, phát hịch các nơi xa gần cùng tham gia khởi nghĩa, giành lấy chính quyền Đại Việt. Thời kì hoạt động ở vùng thượng du Thanh Hóa, Lê Lợi tổ chức quân đội bằng cách lập các đạo binh phụ tử gồm ba binh chủng: Quân thiết đột, quân dũng sĩ, quân nghĩa sĩ, mỗi binh chủng có hai trăm người.
Thời kỳ đầu ở vùng núi Thanh Hóa.
Trong thời gian đầu, lực lượng của quân Lam Sơn chỉ có vài ngàn người, lương thực thiếu thốn, thường chỉ thắng được vài trận nhỏ và hay bị quân Minh đánh bại. Hoạt động trong thời này chủ yếu ở vùng núi Thanh Hóa. Có những lúc Lê Lợi và quân Lam Sơn phải trốn chạy. Thời gian từ năm 1418 tới năm 1423, trong 5 năm nghĩa quân Lam Sơn đã có 18 trận đánh với quân Minh.
Ngày 9 tháng 1 âm lịch năm 1418, tướng Nhà Minh là Mã Kỳ dẫn đại quân đánh vào Lam Sơn. Lê Lợi rút quân tới Lạc Thủy, tại đây ông bố trí quân mai phục chờ địch. Khi quân Mã Kỳ tới vào ngày 13 tháng 1, Lê Lợi sai quân mai phục đổ ra đánh; theo "Toàn thư": "Lê Thạch cùng các tướng Đinh Bồ, Lê Ngân, Lê Lý... dẫn đầu xông vào trận giặc, chém được hơn 3.000 thủ cấp, thu được hàng ngàn quân tư, khí giới", sau đó nghĩa quân dời về núi Chí Linh.
Ba ngày sau, cộng sự người Việt tên là Ái dẫn quân Minh theo lối tắt đánh úp nghĩa quân. Người Minh bắt được vợ con của Lê Lợi và thân quyến của nhiều tướng sĩ. Một bộ phận nghĩa quân nhụt chí đành bỏ cuộc, chỉ có Lê Lễ, Lê Vấn, Lê Bí, Lê Xí và Lê Đạp theo Lê Lợi vào ẩn náu ở núi Chí Linh. Nghĩa quân tuyệt lương đến 2-3 tháng; đến khi quân Minh rút lui, Lê Lợi mới trở về thu lại được tàn quân hơn 100 người, xây chiến lũy ở Lam Sơn cố thủ, phủ dụ quân lính, ước thúc cơ đội và sửa sang khí giới; nhờ đó nghĩa quân Lam Sơn lại mạnh lên.
Cuối tháng 1 âm lịch năm 1418, nghĩa quân Lam Sơn bị thua trận ở Mường Một, chạy thoát về Trịnh Cao, quân Minh đuổi theo vây chặt các lối hiểm yếu. Trong tình thế nguy cấp Lê Lợi hỏi mọi người: "Có ai dám bắt chước Kỷ Tín ngày xưa không?" Lúc ấy chỉ có Lê Lai nhận lời, đem quân ra khiêu chiến và tự xưng là chúa Lam Sơn. Quân Minh vây đánh và bắt được Lê Lai và một số tướng lĩnh khác. Vì tưởng là Lê Lợi, người Minh đã xử tử Lê Lai một cách tàn ác và lui quân. Nhờ hành động của Lê Lai, Lê Lợi cùng các tướng lĩnh khác được thoát. Năm 1419, tận dụng thời cơ quân Minh lui quân, Lê Lợi tiến hành xây dựng thành lũy, sửa sang chiến cụ và động viên sĩ khí quân đội.
Tháng 10 âm lịch năm 1420, quân Minh tiến đánh nghĩa quân Lam Sơn, Lê Lợi cho quân mai phục ở bến Bổng, đánh thắng và thu hơn 100 con ngựa. Lê Lợi cho quân nghỉ ở Mường Nanh, sau dời quân đóng ở Mường Thôi. Lý Bân và Phương Chính được Đồng tri châu Quỳ Châu là Cầm Lạn dẫn đường, kéo 10 vạn đại quân tới, theo đường từ Quỳ Châu tới Mường Thôi. Lê Lợi sai Lê Triệu, Lê Lý và Lê Vấn đem quân phục ở xứ Bồ Mộng để phục đánh tiền quân Nhà Minh. Quân Minh đến, nghĩa quân Lam Sơn đổ ra đánh, quân Minh tan vỡ, nghĩa quân giết 300 quân Minh. Đại quân Minh tiến gần tới dinh Lê Lợi đóng, Lê Lợi sai quân mai phục ở chỗ hiểm yếu. Ngày hôm sau, Lê Lợi tung quân ra đánh, quân Minh đại bại ở xứ Bồ Thi Lang và bị mất hơn 1000 quân; Lý Bân và Phương Chính chỉ chạy thoát được thân mình. Nghĩa quân truy sát đến 6 ngày đêm mới dẫn quân trở về.
Tận dụng thời cơ, Lê Lợi tiến quân đóng ở trại Ba Lẫm thuộc Lỗi Giang, quân Minh không dám khiêu chiến. Tướng Nhà Minh là Tạ Phượng, Hoàng Thành lui binh về Nga Lạc, rồi lại về giữ trại Quan Du để phòng vệ thành Tây Đô, giữ chặt lũy không ra. Lê Lợi sai tướng Lam Sơn là Lê Hào, Lê Sát đánh trại Quan Du, chém hơn nghìn người. Chiến thắng Thị Lang là trận đánh mang tính bước ngoặt với nghĩa quân Lam Sơn, trước nay nghĩa quân dù thắng cũng phải rút chạy, nay đánh bại 10 vạn quân địch, thừa thế đuổi theo, lập chiến tuyến ở Lỗi Giang, dòm ngó Tây Đô. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng "từ đó thế giặc ngày một suy". Lê Lợi nhân cơ hội đó mộ binh, chiêu tập nhân dân các xứ, các huyện bên cạnh đều hưởng ứng.
Ngày 20 tháng 11 năm 1421, tướng Nhà Minh là Trần Trí thu quân các vệ Giao Châu cùng ngụy binh, hơn 10 vạn quân tiến tới chiến tuyễn Lỗi Giang. Lê Lợi cho rằng:
Lê Lợi chia quân tập kích doanh trại quân Minh vào ban đêm, phá 4 trại, chém hơn 1000 người. Trần Trí không nản, đem quân phá núi, mở đường tiến đánh nghĩa quân, Lê Lợi sai quân phục ở đèo Ống, đánh tan quân Trần Trí, khiến Trí tháo chạy.
Vừa lúc ấy quân Ai Lao đem 3 vạn quân, 100 thớt voi đột xuất đến doanh trại nghĩa quân Lam Sơn, phao tin là hợp sức với nghĩa quân đánh quân Minh. Lê Lợi chấp thuận, quân Ai Lao nửa đêm đánh úp nghĩa quân. Lê Lợi đích thân đốc chiến, đánh tan quân Ai Lao, chém 1 vạn người, bắt 14 con voi, truy kích 4 ngày đêm đến tận sào huyệt quân Ai Lao rồi dẫn quân trở về đóng ở Sách Thủy. Một thời gian sau, tù trưởng Ai Lao là Mãn Sát xin giảng hòa, Lê Lợi cho đó là kế gian, các tướng cố xin hòa, Bình chương Lê Thạch tiến đánh nhưng trúng phải chông ngầm mà chết.
Tháng 2 âm lịch năm 1422, viên tướng Nhà Minh là Lý Bân bệnh mà chết. Tháng 12 âm lịch năm 1422, quân Minh và quân Ai Lao tiến đánh nghĩa quân ở Trại Quan Du, do bị đánh cả hai mặt, nghĩa quân nhiều người chết và bị thương. Lê Lợi rút quân về Sách Khôi, 7 ngày sau quân Minh tiến tới. Lê Lợi nói với các quân sĩ:
Nói xong chảy nước mắt, quân sĩ xúc động, tranh nhau xin chết. Lê Lĩnh, Phạm Vấn, Lê Hào, Lê Triện xông lên trước, chém tướng Nhà Minh là Phùng Quý và hơn 1000 người, bắt được 100 con ngựa. Quân Minh đại bại, Mã Kỳ, Trần Trí thoát thân chạy về Đông Quan; quân Ai Lao tan vỡ.
Sau trận Sách Khôi, Lê Lợi thu quân về núi Chí Linh, nghĩa quân thiếu lương 2 tháng, phải đẵn măng rừng, rau và củ để ăn, nhiều người bỏ trốn. Lê Lợi bắt chém viên tướng trốn đi tên Khanh, từ đó việc quân mới tạm an ổn. Do chinh chiến nhiều ngày, tướng sĩ mệt mỏi nên Lê Lợi chấp thuận hòa hoãn với quân Minh, sai Lê Vận, Lê Trăn đi giảng hòa, và được quân Minh chấp thuận.
Ngày 14 tháng 4 âm lịch năm 1423, Lê Lợi lui quân về Lam Sơn. Các chỉ huy quân Minh như Tham tướng Trần Trí và Nội quan Sơn Thọ đem nhiều cá, muối, thóc giống và nông cụ tặng nghĩa quân, Lê Lợi tặng vàng, bạc đáp lễ, nhưng vẫn bí mật cảnh giác. Quân Minh cho rằng không khuất phục được Lê Lợi, bèn bắt giam nhóm sứ giả Lê Trăn không cho về. Lê Lợi đình chỉ việc giảng hòa, tướng sĩ Lam Sơn đều căm giận người Minh và thề chiến đấu tới cùng. Bài "Bình Ngô đại cáo" do Lê Lợi sai Nguyễn Trãi soạn sau này đã thuật lại một cách sâu sắc những năm đầu gian khổ của Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn:
Tiến vào Nghệ An.
Ngày 20 tháng 9 âm lịch năm 1424, khi Lê Lợi hỏi mọi người rằng: "Nay chúng ta nên tới xứ nào để mưu đồ việc nước?", Thiếu úy Nguyễn Chích đã đáp:
Lê Lợi nghe theo, tiến quân vào Nghệ An.
Ngày 20 tháng 9 âm lịch năm 1424, Lê Lợi chia quân đánh úp thành Đa Căng, phá được thành này, quân Minh bị giết và chết đuối hơn 1000 người. Tham chính Lương Nhữ Hốt chạy thoát, nghĩa quân thu nhiều lương thực, khí giới. Sau đó tướng Nhà Minh là Hoa Ánh đến cứu, Lê Lợi xua quân đánh tràn, quân Minh thua to, chạy vào Tây Đô. Lê Lợi sai thả về tất cả vợ, con, gia quyến của quân Minh bị bắt, rồi tiến quân vào châu Trà Long.
Lê Lợi dẫn quân qua núi Bồ Lạp thuộc Châu Quì, thì bị Chỉ huy đồng tri nhà Minh Sư Hựu, Tri phủ châu Trà Lân là Cầm Bành đem 5000 quân đón ở mặt trước, mặt sau bị Trần Trí, Lý An, Phương Chính, Thái Phúc uy hiếp. Nhân trời sắp tối, Lê Lợi sai phục binh trong rừng đón đánh Trần Trí, Lý An, Phương Chính, quân Minh tan vỡ, Đô ty Trần Trung bị chém, mất 2000 người, 100 con ngựa. Ngày sau, nghĩa quân đến Trang Trịnh Sơn, châu Trà Lân, đánh bại Sư Hựu, chém thiên hộ Trường Bản và hơn 1000 người. Lê Lợi dẫn quân đến sách Mộc, Trần Trí đuổi theo nhưng không dám tiến sâu, lui về giữ thành Nghệ An, đưa trả Lê Trăn cầu hòa.
Tháng 11 âm lịch năm 1424, Lê Lợi sai người chiêu dụ Cầm Bành. Bành cự tuyệt không theo, Cầm Bành cùng với hơn ngàn quân lên dựng rào lũy trên đỉnh núi để đón quân cứu viện. Nghĩa quân bao vây, Phương Chính, Sơn Thọ muốn đem quân cứu nhưng không dám tiến quân, sai người mang thư cầu hòa nghĩa quân, nhằm giải vây Cầm Bành. Lê Lợi nói rằng: "Cầm Bành đang nguy khốn, bọn Chính đáng lẽ phải cấp tốc cứu viện, nay lại dùng dằng, hẳn là có ý lo sợ. Chi bằng ta giả cách cho hòa để xem tình thế ra sao, tin đi tin lại mất hàng tuần hàng tháng, thì Cầm Bành lúc ấy chắc đã bị bắt rồi". Rồi ông viết thư để trên bè thả theo dòng sông, Lê Lợi viết thư rằng vẫn muốn giảng hòa, nhưng bị Cầm Bành chặn đường, xin cho sứ giả đến hòa giải để thông đường về. Phương Chính nhận được thư, sai Trần Đức Nhị đến bảo Cầm Bành hòa giải, Bành biết viện binh không đến, liền đầu hàng. Lê Lợi tiếp quản châu Trà Lân và ra lệnh rằng:
Lê Lợi ủy lạo, động viên các bộ tộc, khao thưởng tù trưởng và mộ quân thêm 5000 người. Quân Minh nghe tin Cầm Bành ra hàng, quay lại đánh trại Trà Lân, nhưng bị Lê Lợi đánh lui.
Vây đánh thành Nghệ An.
Lê Lợi tiến quân tới đánh Thành Nghệ An, quân sắp đi, nhận được tin báo quân Minh đem quân thủy bộ tới. Lê Lợi bàn với các tướng:
Trên tình hình đó, ông chia hơn nghìn quân, sai tướng Lê Liệt theo đường tắt giữ huyện Đỗ Gia, cướp thế tranh tiên của địch. Còn Lê Lợi thì chính mình cầm đại quân, đóng giữ vào nơi hiểm trở để đợi. Chừng ba, bốn ngày, người Minh đem hết cả quân, mặt thủy, mặt bộ đều tới ải Khả Lưu, đắp lũy và đóng trại ở miệt dưới. Nghĩa quân ở miệt trên, dương cờ, đánh trống, đêm thì đốt lửa. Lại ngầm sai quân tinh nhuệ và bốn thớt voi, qua sông phục nơi hiểm yếu. Trời sắp sáng, quân Minh bèn dẫn quân, trên cạn, dưới sông đều tiến, để đánh dinh trại của nghĩa quân. Lê Lợi giả vờ lui, nhử giặc vào chỗ có quân phục. Giặc không ngờ, đem hết quân vào sâu. Quân phục bốn mặt nổi lên, xông đánh, cả phá được trận giặc. Quân Minh thiệt hại vô số, rồi tựa núi, đắp lũy cố thủ và không tấn công nữa.
Khi ấy, lương của nghĩa quân không tới 10 ngày, quân Minh còn nhiều lương, Lê Lợi nhận định rằng:
Ông bèn sai đốt hết trại, dinh, rồi giả vờ chạy lên miệt trên; nhưng thật ra quân Lam Sơn đi ngầm đường tắt, đợi quân Minh đến thì đánh. Quân Minh cho rằng nghĩa quân bỏ chạy, đem quân từ dưới lên đóng vào dinh trại cũ. Ngày sau, Lê Lợi đem quân khiêu chiến, quân Minh tung hết quân ra đánh. Lê Sát, Lê Vấn, Lê Bí, Lê Lễ, Lê Nhân Chú, Lê Ngân, Lê Chiến, Lê Tông Kiều, Lê Khôi, Lê Bôi, Lê văn An đều thi nhau hãm trận. Quân Minh vỡ trận, người chết vô số, thuyền trôi nghiền, quân lính chết đuối tắc cả dòng sông. Tướng tiên phong Hoàng Thành bị chém chết, tướng Chu Kiệt cùng hơn 1000 quân Minh bị bắt, nghĩa quân thừa thắng đuối 3 ngày, quân Minh chạy vào thành Nghệ An cố thủ.
Tháng 5 năm 1425, Lê Lợi lại sai Đinh Lễ đem quân ra đánh Thành Trài Diễn Châu, Tướng minh Tiết Tụ tập hợp quân minh đánh trả nghĩa quân lam sơn Đinh Lễ chỉ huy đánh quân minh Tiết Tụ thua rút vào thành trài diễn châu cố thủ , Bình Định vương Lê Lợi điều quân Lam Sơn bao vây Thành Trài (Diễn Châu), hạ Thành Nghệ An phía nam… Tướng nhà Minh là Tiết Tụ bối rối trước thế lực của quân Lam Sơn áp đảo, phải kêu cứu… Bọn giặc Minh ở Tây Đô Thanh hóa cấp tốc điều Đô ti Trương Hùng đem 300 chiến thuyền quân, lương vượt biển đến Cửa Vạn qua Hoa Lũy vào sông Trài để cứu viện. Tướng quân Đinh Lễ đem quân Lam Sơn đánh tiêu diệt viện binh ngay từ Cửa Vạn đến các ngả sông Bùng, sông Trài, diệt gọn 300 chiến thuyền, Đinh Lễ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đánh hạ Thôn trang ,thành Trài (Diễn Châu),
Tương truyền, tướng nhà Minh (Tiết Tụ) ôm đầu máu kéo tàn quân tháo chạy ra phía cung Đất Đỏ, Hoàng Mai .
, Quân Minh Tiết Tụ Chỉ huy thua chạy về Tây Đô (Thanh Hóa). Sau đó ông lại điều Lê Sát, Lưu Nhân Chú và Lý Triện tiếp ứng cho Đinh Lễ đánh ra Tây Đô, quân Minh ra đánh lại bị thua phải rút vào cố thủ trong thành. Lê Lợi một mặt siết vòng vây quanh thành Nghệ An và Tây Đô, mặt khác sai Trần Nguyên Hãn, Doãn Nỗ, Lê Đa Bồ đem quân vào nam đánh Tân Bình, Thuận Hóa. Tướng Minh là Nhậm Năng ra đánh bị phá tan. Sau đó Lê Lợi lại sai Lê Ngân, Lê Văn An mang thủy quân tiếp ứng cho Trần Nguyên Hãn chiếm đất Tân Bình, Thuận Hóa. Quân Minh phải rút vào cố thủ nốt. Như vậy đến cuối năm 1425, Lê Lợi làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào, các thành của đối phương đều bị bao vây.
Chiến dịch Tốt Động - Chúc Động.
Tháng 8 năm 1426, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh Bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lý Triện ra phía Tây Bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông Bắc; Đinh Lễ, Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan. Lý Triện tiến đến gần Đông Quan gặp Trần Trí kéo ra, liền đánh bại Trần Trí. Nghe tin viện binh nhà Minh ở Vân Nam sắp sang, Triện chia quân cho Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả ra chặn quân Vân Nam, còn Lý Triện và Đỗ Bí hợp với quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh Đông Quan.
Phạm Văn Xảo phá tan viện binh Vân Nam. Quân Vân Nam chạy về cố thủ ở thành Xương Giang. Trần Trí thấy mất viện binh bèn cầu viện Lý An ở Nghệ An. Lý An và Phương Chính để Thái Phúc ở lại giữ thành Nghệ An, mang quân vượt biển ra cứu Đông Quan. Lê Lợi liền giao cho Lê Văn An, Lê Văn Linh vây thành, còn mình kéo đại quân ra Bắc.
Vua Minh sai Vương Thông, Mã Anh mang quân sang tiếp viện. Thông hợp với quân ở Đông Quan được 10 vạn, chia cho Phương Chính, Mã Kỳ. Lê Triện, Đỗ Bí đánh bại Mã Kỳ ở Từ Liêm, lại đánh luôn cánh quân của Chính. Cả hai tướng thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ Sở. Lý Triện lại tiến đánh Vương Thông, nhưng Thông đã phòng bị, Triện bị thua phải rút về Cao Bộ, sai người cầu cứu Nguyễn Xí. Đinh Lễ, Nguyễn Xí đem quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động. Nhân biết Vương Thông định chia dường đánh úp Lý Triện, hai tướng bèn tương kế tựu kế dụ Thông vào ổ mai phục Tốt Động. Quân Vương Thông thua to, Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân bị giết, 1 vạn quân bị bắt sống. Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở Đông Quan.
Kết cục của trận Tốt Động-Chúc Động đã làm phá sản kế hoạch phản công của Vương Thông đồng thời tạo ra lợi thế cho nghĩa quân Lam Sơn buộc quân Minh phải rút về cố thủ và chấp nhận đàm phán. Do mất rất nhiều vũ khí trong trận này, quân Minh buộc phải tìm cách chế tạo vũ khí, Vương Thông đã sai quân phá chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh để làm hỏa khí. Trong khi đó, quân Lam Sơn có thêm rất nhiều vũ khí và có thể đã tiếp thu thêm công nghệ chế tạo súng của quân Minh.
Sách Đại Việt thông sử viết rằng:
Lê Lợi được tin thắng trận liền sai Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị chia hai đường thủy bộ tiến ra gần Đông Quan.
Lê Lợi tiến quân ra Bắc, lập Trần Cảo, bao vây thành Đông Quan.
Cánh quân của Đinh Lễ, Lý Triện sau trận Tốt Động - Chúc Động liền bao vây thành Đông Quan, báo tin về hành dinh Lê Lợi đóng ở Lỗi Giang Thanh Hóa. Được tin, Lê Lợi liền đem đại quân và 20 con voi, theo đường thủy tiến gấp ra Bắc, đóng dinh ở sông Lũng Giang (sông Đáy). Sau đó Lê Lợi tiến đánh một trận lớn phá tiền đồn quân Minh bảo vệ thành Đông Quan, khiến cho quân Minh phải chạy hoàn toàn vào Đông Quan đắp lũy cố thủ. Lê Lợi nhân cơ hội quân Minh bị vây ở Đông Quan, liền chia các lộ trấn ở Đông Đô thành bốn đạo, xếp đặt lại tổ chức, kén chọn người tài, trị tội các ngụy quan người Việt phục vụ cho nhà Minh.
Vương Thông không dám ra đánh, viện cớ tìm lại tờ chiếu của vua Minh năm 1407 khi đánh nhà Hồ, có nội dung muốn lập lại con cháu nhà Trần ra điều kiện với Lê Lợi rằng Thông sẽ rút về nếu Lê Lợi lập con cháu nhà Trần làm vua.
Lấy đại cuộc làm trọng, muốn quân Minh nhanh chóng rút về nên Lê Lợi đồng ý. Ông sai người tìm được Trần Cảo bèn lập làm vua, còn ông tự xưng là Vệ quốc công. Vương Thông ngoài mặt giảng hòa nhưng lại sai quân đào hào cắm chông phòng thủ và mật sai người về xin cứu viện. Lê Lợi biết chuyện liền cắt đứt giảng hòa.
Sau khi cắt đứt giảng hòa, Lê Lợi sai các tướng đi đánh chiếm các thành ở Bắc Bộ như Điêu Diêu (Thị Cầu, Bắc Ninh), Tam Giang (Tam Đái, Phú Thọ), Xương Giang (phủ Lạng Thương), Kỳ Ôn, không lâu sau đều hạ được. Đầu năm 1427 ông chia quân tiến qua sông Nhị, đóng dinh ở Bồ Đề, sai các tướng đánh thành Đông Quan. Ông đặt kỷ luật quân đội rất nghiêm để yên lòng nhân dân. Do đó quân Lam Sơn đi đến các nơi rất được lòng dân.
Tướng Minh là Thái Phúc nộp thành Nghệ An xin hàng. Lê Lợi sai Thượng thư bộ Lại là Nguyễn Trãi viết thư dụ đối phương ở các thành khác ra hàng. Nhân lúc quân Lam Sơn vây thành có vẻ lơi lỏng, quân Minh ở Đông Quan ra đánh úp. Lê Triện tử trận ở Từ Liêm, Đinh Lễ và Nguyễn Xí bị bắt ở Thanh Trì. Sau Đinh Lễ bị giết, Nguyễn Xí trốn thoát được.
Chiến dịch Chi Lăng - Xương Giang.
Cuối năm 1427, vua Minh Tuyên Tông điều viện binh cứu Vương Thông, sai Liễu Thăng mang 10 vạn quân tiến sang từ Quảng Tây; Mộc Thạnh mang 5 vạn quân từ Vân Nam kéo sang.
Trước khi viện binh Nhà Minh kéo sang Lê Lợi đã sai Thái úy Trần Nguyên Hãn, Tư mã Lê Sát, Thiếu úy Nguyễn Lý công thành gấp hạ thành Xương Giang. Thành Xương Giang bị nghĩa quân vây trong hơn 6 tháng, không hạ được, đến đây Lê Lợi đích thân ra lệnh cho các tướng đắp đất, mở đường, dùng câu liêm, giáo dài, nỏ cứng, tên lửa và súng lửa công phá thành từ bốn mặt. Quân Lam Sơn cuối cùng đã hạ được Xương Giang. Các tướng Minh chỉ huy thành này là Lưu Tử Phụ và Lý Nhiệm chết trận.
Lại ra lệnh dời người ở những vùng đối phương đi qua như Lạng Giang Bắc Giang, Quy Hóa Tuyên Quang, để đồng không để cô lập đối phương. Các tướng khuyên Lê Lợi đánh thành Đông Đô nhưng Lê Lợi phản đối:
Lê Lợi họp bàn với các tướng, nói rằng:#đổi
Biết cánh Liễu Thăng là quân chủ lực, ông sai Lê Sát, Lê Nhân Chú, Lê Lãnh, Đinh Liệt, Lê Thụ mang quân phục ở Chi Lăng, lại sai Lê Văn An, Lê Lý mang quân tiếp ứng. Đối với cánh quân Mộc Thạnh, ông biết Thạnh là viên tướng lão luyện, sẽ ngồi chờ thắng bại của Liễu Thăng mới hành động nên hạ lệnh cho Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả cố thủ không đánh.
Tướng trấn giữ biên giới là Trần Lựu liên tục giả cách thua chạy từ Ải Nam Quan về Ải Lưu rồi lại lui về Chi Lăng. Ngày 18 tháng 9 âm lịch, Thăng đuổi đến Chi Lăng. Trần Lựu lại thua, Thăng đắc thắng mang 100 quân kị đi trước. Ngày 20, Thăng bị phục binh của Lưu Nhân Chú, Lê Sát, Trần Lựu đổ ra chém chết.
Các tướng thừa dịp xông lên đánh quân Minh, giết hơn 1 vạn quân, chém được Lương Minh, Lý Khánh tự vẫn. Tướng Minh còn lại Hoàng Phúc, Thôi Tụ cố kéo về thành Xương Giang thế thủ nhưng đến nơi mới biết thành đã bị quân Lam Sơn hạ, phải đóng quân ngoài đồng không. Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn chặn đường vận lương, sai Phạm Vấn, Lê Khôi đem 3000 quân Thiết đột, 4 thớt voi, cùng với Lê Sát, Nguyễn Lý, Lưu Nhân Chú, Lê Văn An tấn công, giết 5 vạn quân Minh ở Xương Giang. Hoàng Phúc và hơn 3 vạn quân bị bắt, Thôi Tụ không hàng bị giết. Mộc Thạnh nghe tin Liễu Thăng thua bèn rút chạy. Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả đuổi theo chém hơn 1 vạn quân, bắt sống 1000 người ngựa.
Hội thề Đông Quan.
Ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi, tức 10 tháng 12 năm 1427, Lê Lợi cùng các tướng Nhà Minh: Tổng binh Thành Sơn hầu Vương Thông, Tham tướng Mã Anh, Thái giám Sơn Thọ, Mã Kỳ, Vinh Xương hầu Trần Trí, An Bình hầu Lý An, Đô ty Phương Chính, Chưởng đô ty sự Trần Tuyền, Trần Hựu, Giám sát Ngự sử Chu Kỳ Hậu, Cấp sự trung Quách Vĩnh Thanh, Hữu bố chính sứ Dặc Khiêm, Tả hữu tham chính là Hồng Bỉnh Lương, Lục Trinh và Lục Quảng Bình, Án sát sứ Dương Thời Tập và Thiêm sự Quách Đoan làm hội thề ở cửa Nam thành Đông Đô.
Vương Thông hẹn rằng đến ngày 12 tháng 12 âm lịch thì đem quân về nước và sai người đem tờ trình xin trả lại đất đai cho nghĩa quân. Lê Lợi sai giải vây thành Đông Quan, kéo quân lui về, lại sai giải vây cho 3 thành: Tây Đô, Cổ Lộng và Chí Linh; truyền cho nghĩa quân hộ tống các tướng trong 3 thành trên dẫn quân về thành Đông Quan, để cùng về Trung Quốc.
Ngày 29 tháng 11 âm lịch năm 1427, Lê Lợi sai Lê Thiếu Dĩnh, Lê Cảnh Quang đem tờ biểu cầu phong của Trần Cảo, cùng các vật phẩm theo viên chỉ huy do Vương Thông sai, sang triều Minh.
Các tướng sĩ và người dân căm tức sự tàn ngược của quân Minh, nên khuyên ông giết các bại tướng. Lê Lợi đáp rằng:
Tháng 12 âm lịch năm 1427, Lê Lợi ra lệnh Cánh đường thủy, cấp 500 chiếc thuyền, cho Phương Chính, Mã Kỳ lãnh nhận. Cánh đường bộ, cấp lương thảo, cho Sơn Thọ, Hoàng Phúc lãnh nhận. Còn hơn 2 vạn người bị bắt hoặc đầu hàng và 2 vạn con ngựa thì do Mã Anh lãnh nhận. Chinh man tướng quân Trần Tuấn đem quân trấn thủ đi theo. Tất cả đều tới dinh Bồ Đề lạy tạ mà về.
Ngày 12 tháng 12 âm lịch năm 1427, Phương Chính, Mã Kỳ tới dinh Bồ Đề cáo biệt Lê Lợi, ở lại suốt một buổi chiều, Lê Lợi sai sắm trâu ngựa, trướng vẽ và lễ phẩm hậu tặng. Đến ngày 17, tướng Minh là Vương Thông dẫn quân bộ đi sau. Lê Lợi đã nói chuyện với Vương Thông suốt đêm trước khi từ biệt nhau. Ông còn sai đưa trâu rượu, cờ thêu, trướng vẽ cùng các lễ vật tiễn Vương Thông rất hậu. Quân thủy, bộ của ba thành Tây Đô, Cổ Lộng, Chí Linh cùng lục tục rút tiếp. Từ đây, chiến tranh chấm dứt với thắng lợi hoàn toàn của nghĩa quân Lam Sơn. Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để báo cáo cho thiên hạ biết về việc quân Minh đã giảng hòa, rút quân về nước, Nam Bắc thôi việc binh đao, thiên hạ đại định. Đây là áng văn chương rất có giá trị, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam, sau bài thơ Nam quốc sơn hà.
Sáng lập triều Hậu Lê.
Lê Lợi lên ngôi vua nước Đại Việt.
Sau khi quân Minh rút về vào tháng 12 năm 1427, Trần Cảo là người được triều đình nhà Minh phong làm Quốc vương của Đại Việt. Đến tháng Giêng, năm 1428, Trần Cảo tự biết mình không có công, lòng người không theo nên bỏ trốn vào châu Ngọc Ma (phủ Trấn Ninh), bị quan quân bắt mang về và bị ép uống thuốc độc chết. Trước khi lên ngôi vào ba tháng sau đó, Lê Lợi đã thi hành nhiều chính sách khác nhau để khôi phục đất nước. Vào tháng 8 năm 1427, lúc chiến sự đang diễn ra, Lê Lợi sai sứ sang nhà Minh xin lập Trần Cảo làm An Nam quốc vương, vua Minh đồng ý. Liền sai sứ giả sang sắc phong, đến tháng 3 năm 1428 đoàn sứ giả nhà Minh mới đến được thành Đông Quan, Đại Việt. Lê Lợi lại sai sứ giả sang nhà Minh báo tang về cái chết của Trần Cảo.
Ngày 15 tháng 4 âm lịch năm 1428, Lê Lợi từ điện Tranh ở Bồ Đề vào thành Đông Quan, đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đặt quốc hiệu là Đại Việt, lấy Đông Kinh làm thủ đô, xưng là Thuận Thiên Thừa Vận Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương, hiệu là "Lam Sơn động chủ", sử gọi là Thái Tổ Cao Hoàng đế, dựng lên Hoàng triều Lê (sử Việt Nam hiện đại thường gọi là nhà Hậu Lê).
Quan hệ ngoại giao với Đại Minh.
Theo sử gia Phan Huy Chú, do Việt Nam ở phía Nam Trung Quốc, tuy là một nước tự chủ, có quy mô riêng, ở trong xưng đế, mà bên ngoài thì phong vương, vẫn chịu phong hiệu của triều đình Trung Quốc. Vào thời nhà Hồ, nhà Minh xâm lược nước Việt trên danh nghĩa "phù Trần diệt Hồ". Khi Lê Lợi khởi nghĩa đánh nhà Minh, cho tới năm 1427, khi ấy nghĩa quân Lam Sơn đang vây thành Đông Quan, Lê Lợi lập Trần Cảo làm vua, sai sứ sang nhà Minh cầu phong cho Trần Cảo làm An Nam quốc vương. Nhà Minh đồng ý, sai sứ sang nước Việt để thụ phong cho Trần Cảo. Nhưng khi sứ giả nhà Minh sang Đại Việt năm 1428, Trần Cảo đã chết, Lê Lợi sai sứ sang báo tang, và ông tổ chức lễ lên ngôi làm vua nước Đại Việt mà không cần thông qua triều đình nhà Minh.
Sau đó Lê Lợi liên tiếp cử các đoàn sứ giả sang triều đình nhà Minh xin lại người con gái ông bị bắt lúc 9 tuổi khi loạn lạc và xin phong vương, với lý do con cháu nhà Trần đã tuyệt diệt. Ngược lại, nhà Minh sai sứ giả sang Đại Việt nói rằng con gái Lê Lợi đã chết vì bệnh đậu mùa và dụ Lê Lợi trả lại người bị bắt và vũ khí Đại Việt còn giữ lại. Lê Lợi đã không trả vũ khí thu được trong chiến tranh cho nhà Minh, đến năm 1430, triều đình nhà Minh mới từ bỏ yêu sách đòi trả vũ khí, chiếu chỉ vua Minh gửi cho Lê Lợi (ngày 7/5/1430) có đoạn viết: "Binh khí nhằm mục đích bảo vệ dân, dân chúng An Nam đều là con đỏ, nay để lại đó hay mang về đây Trẫm đều không hỏi thêm. Duy quan lại, quân nhân của triều đình cùng gia thuộc đều chưa trở về, họ đều có cha mẹ vợ con trông ngóng, khiến ân ái cách tuyệt lòng sao nỡ..."
Đến ngày 15/7/1431 triều đình nhà Minh vẫn không chịu phong Vương cho Lê Lợi, mà chỉ phong làm quyền cai quản nước An Nam, gọi là "quyền thự An Nam quốc sự". Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Lợi sai sứ sang nhà Minh tạ ơn và nộp 5 vạn lạng vàng tuế cống, nhưng theo sách này chép ngày 19/12/1433, nhà Minh sai sứ đòi triều đình Đại Việt số vàng cống hàng năm: "Ngày 19, nhà Minh sai Chánh sứ là Binh bộ Thị lang Từ Kỳ, Phó sứ là Hành nhân ty Hành nhân Quách Tế sang đòi số vàng cống hàng năm. Trước đó, nhà Minh mấy lần sai sứ sang đòi nhiều số vàng cống hàng năm. Cao Hoàng đế xin theo như lệ cống năm Hồng Vũ thứ 3. Vua Minh vẫn cứ không nghe, đến đây lại sai bọn Kỳ, Tế sang đòi". Không rõ Lê Lợi có cống số vàng cống theo lệ cho triều đình nhà Minh hay không.
Nhà nước và chính trị.
Lúc nghĩa quân Lam Sơn tiến ra Đông Đô năm 1427, Lê Lợi chia các lộ, trấn làm 4 đạo, đặt liêu thuộc văn võ ở trong ở ngoài; đặt chức tướng quân, các thị vệ và chức tuần kiểm ở cửa biển, còn vệ quân các lộ, các phủ thì bổ quan đại thần làm kiểm tri, tổng tri và đồng tri để chỉ huy và thi hành mệnh lệnh, quân ở 4 đạo thuộc về các quan này; ở nơi trấn thủ thì có chức quan sát và phòng ngự. Theo Lê Quý Đôn, Lê Lợi phỏng theo chế độ nhà Trần, nhằm cho các đơn vị to nhỏ giữ gìn lẫn nhau và các cấp ràng buộc với nhau.
Vua Lê Thái Tổ sau khi lên ngôi năm 1428, chia trong nước làm năm đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc và Hải Tây. Mỗi đạo đặt một vệ quân, mỗi vệ đặt chức Tổng quản(có các chức tổng quản, đô tổng quản, đồng tổng quản, trên dưới liên hệ nhau, lớn nhỏ giữ gìn nhau). Ông còn đặt chức Hành khiển ở năm đạo, chia giữ việc sổ sách và từ tụng của quân dân, đứng đầu là Hành khiển, thứ đến là các chức Tham tri, Đồng tri, Chủ bạ, Đạo thuộc. Các đạo đều đặt các ban tả hữu, giữa của cải chứa trong kho tàng (có chức Đô tri).
Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí, Lê Thái Tổ còn có những chính sách hành chính như sau: Định quan các lộ, các huyện (lộ đặt Tri phủ, Chưởng ấn, thứ đến các chức Trấn phủ sứ, An phủ sứ, Tuyên phủ sứ, Chiêu thảo sứ...) và đặt quan trấn thủ nơi hiểm yếu. Đặt các quan có các tên gọi: Bình chương, Tư đồ (sau thêm chữ đại), đại Tư không, đại Tư mã, Khu mật đại sứ, Thiếu úy, Thượng tướng, Đại tướng, Á hầu, Thông hầu, Quan phục hầu, Trước phục hầu. Chia các lộ ở Đông Đô làm bốn đạo, đặt các chức văn võ liêu thuộc trong ngoài, có chức Bộc xạ, Thị trung, Thiếu bảo, Hành khiển, Thượng thư, Hàn lâm, các chức quan bốn đạo (chức chánh mang hàm tổng tri, coi việc quân dân; chức phó mang hàm kiên tri quân dân bạ tịch), quan Mật viện, quan các bộ (chẳng hạn như Thượng thư bộ Lại Nguyễn Trãi), quan các sảnh (như Thượng thư sảnh), quan Hàn lâm viện (như các chức Thừa chỉ, Học sĩ), quan Hình viện, quan quân vệ, quan điền binh. Các chức quan ngoài thì có các chức sứ, Quan sát sứ, Phòng ngự sứ, Tuyên úy sứ, An phủ sứ. Các quan văn võ đại thần được vua coi thân tín, đều được thêm chữ nhập nội. Quan võ từ Tổng quản, Tổng lĩnh, Đồng tri xuống đến Đại đội trưởng, Đội trưởng, quan văn từ Hành khiển, Thượng thư xuống đến thất phẩm đều là những chức sang, lại có ngự tiền văn đội, ngựa tiền võ đội và khách đội, thực đội. Lại đặt các quan ở các xã.
Luật pháp và thực thi luật pháp.
Về luật pháp, Thái Tổ cho đặt ra bộ luật mới theo như hình luật của nhà Đường; đặt ngũ hình là: xuy, trượng, đồ, lưu và tử. Đặt lệ bát nghị: nghị thân, nghị cố, nghị hiền, nghị năng, nghị công, nghị quí, nghị cần, nghị tân.
Tháng 1 âm lịch năm 1428, thiên hạ thái bình, vua Lê Thái Tổ sai các quan Tư không, Tư đồ, Tư mã, Thiếu úy, Hành khiển bàn việc soạn các điều luật dân sự và quân sự, nhằm mục đích "để cho người làm tướng biết phép trị quân, người làm quan các Lộ biết phép trị dân, và sự răn dạy quân dân, cũng nên cho biết có phép, để những người giữ việc gì, biết phép của việc ấy mà làm". Các cơ quan triều đình đã thực thi lệnh này, và đệ trình những đề xuất của mình lên nhà vua.
Năm Thuận Thiên thứ 2 (1429), Lê Thái Tổ định luật cấm cờ bạc, đánh bạc thì chặt bàn tay 5 phân, đánh cờ thì chặt bàn tay 2 phân. Những kẻ vô cố không phải việc công mà họp nhau uống rượu thì bị 100 trượng, kẻ dung túng thì tội giảm 1 bậc. Về tội ăn hối lộ, Lê Thái Tổ quy định nếu ghi nhận ăn hối lộ 1 quan tiền trở lên thì bị xử chém.
Từ đời vua Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly chấp chính, bắt đầu dùng tiền giấy gọi là hội sao, nhà nước thu tiền đồng đổi tiền giấy. Đến khi Lê Lợi lên ngôi, tiền đồng trong nước không còn, nên đúc thứ tiền đồng mới. Đến tháng 4, năm 1428, triều đình cho đúc đồng tiền mới của Đại Việt, gọi là tiền Thuận Thiên, được sử mô tả là "mây xanh hiện, có cánh có chân, bên dưới như mâm ngọc, hai bên tả hữu hình như hai con cá chép vờn nhau." Đến tháng 12, năm Thuận Thiên thứ 1 (1428), Lê Thái Tổ lại đúc tiền Thuận Thiên thông bảo, tính 50 đồng là 1 tiền. Năm Thuận Thiên thứ 2 (1429), ông truyền cho các quan trong ngoài bàn phép dùng tiền. Ông xuống chiếu rằng:
Nhà Minh hoàn thành việc xâm lược Đại Ngu bằng việc đánh bại Nhà Hậu Trần năm 1414; Nhà Minh có mở khoa thi nhưng kẻ sĩ đều trốn tránh không chịu ra thi. Phép thi cử bỏ mặc cho đến khi vua Lê Thái Tổ đánh thắng quân Minh.
Năm 1426, Lê Thái Tổ tiến quân ra Bắc, đóng quân ở dinh Bồ Đề. Ông liền hạ lệnh thi học trò văn học, đầu đề bài thi: "Bảng văn dụ thành Đông Quan", lấy đỗ 50 người, sung bổ chức An phủ các lộ bên ngoài và chức Viên ngoại lang ở 6 bộ trong Kinh. Khoa này Đào Công Soạn, người Tiên Lữ, Hưng Yên đỗ đầu.
Sau khi giành độc lập năm 1428, Lê Thái Tổ cho mở lại trường Quốc Tử giám để cho con cháu các quan và người thường dân tuấn tú vào học và đặt các nhà học ở các phủ và các lộ. Lúc mới đến Đông Đô, Thái Tổ mở khoa thi lấy đỗ 32 người.
Năm 1429, Lê Thái Tổ hạ chiếu cho quân nhân các lộ và những người ẩn dật ở rừng núi, cùng các quan từ tứ phẩm trở xuống, ai thông kinh sử, thì đến cả sảnh đường để thi, năm ấy thi khoa Minh kinh.
Năm 1431, Thái Tổ mở thi Hoành từ. Năm 1433, ông đích thân ra thi văn sách. Thi hai khoa này, hoặc dùng minh kinh, hoặc luận phú hoặc dùng sách vấn, đều tùy tài năng mà cất nhắc bổ dụng vượt bậc, vẫn chưa lấy đỗ Tiến sĩ.
Theo Đào Duy Anh, nước Đại Việt về văn hóa, nửa triều Trần từ đời Chu Văn An Nho học đã bắt đầu thắng Phật học. Sang đời Lê, Nguyễn, Nho học mới chiếm địa vị độc tôn. Hai triều ấy đều có phép luật nghiêm khắc đối với các nhà tu hành Phật giáo và Đạo giáo. Nước Việt trải qua sự chiếm đóng của Nhà Minh thì rất nhiều sách vở về Nho học, Phật học của nước Việt bị người Minh thu mất, rồi người Minh phát lại những sách Ngũ kinh, Tứ thư thể chú để dùng ở các trường công. Đến khi Nhà Lê phục quốc, những chế độ và thư tịch ở đời Lý, Trần đã bị người Minh tiêu hủy hoặc mất tích nên đành phỏng theo chế độ của Minh triều, lấy khoa cử làm con đường dụng thân duy nhất, dùng văn chương bác cổ để làm thước đo nhân tài, lấy sách Tống nho làm chính thư.
Nhà Minh sau khi xâm chiếm Đại Việt đã có chính sách thu hoặc đốt phá các sách vở về Nho học, Phật học của người Việt, rồi phát các sách Tứ thư, Ngũ kinh thể chú để dùng ở các trường công. Khi nhà Lê phục quốc Đại Việt, chế độ và thư tịch đời Lý, Trần đều bị người Minh tiêu hủy hoặc mất tích nên đành phỏng theo chế độ của Nhà Minh, lấy khoa cử làm con đường dụng nhân duy nhất, dùng văn chương để đánh giá tài năng. Theo Đào Duy Anh, thời kỳ Lý Trần là thời kỳ Tam giáo (Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo) cùng song hành tồn tại; đến nay Nho học hoàn toàn độc tôn. Nhà nước có mở các cuộc thi cho người theo tôn giáo nhưng đó chỉ là cách hạn chế giai tầng này. Đối với tôn giáo, Lê Thái Tổ quy định những người muốn xuất gia trong Phật giáo và Lão giáo phải thi kinh điển các đạo này. Người thi đỗ được phép làm sư hoặc làm đạo sĩ, còn người thi trượt thì phải về quê làm ăn.
Với lực lượng ban đầu năm 1418 kể cả khoảng vài nghìn người, bao gồm quân Thiết đột, quân Nghĩa sĩ, quân Dũng sĩ mỗi binh chủng có 200 người. Đến năm 1427 khi tiến ra thành Đông Quan, Nghĩa quân Lam Sơn đã có tổng số 35 vạn quân, trong đó có 7 vạn quân tinh nhuệ, chia làm trung, tiền, hậu, tả, hữu đều có chức năng hành quân tổng lĩnh. Lại đặt 14 vệ, Thiết đột, Kim ngô, Ngọc kiềm, Phủng thần, Xa kỵ, Câu kiềm, Thiên ngưu, Phủng thánh, Tráng sĩ, Thần vũ, Du nỗ, Thần tý, Vũ lâm, Thiên uy, Nhũ uy. Mỗi vệ có các chức thượng tướng quân, đại tướng quân, tướng quân, đô chỉ huy sứ và hỏa đầu, hỏa thủ.
Sau khi đánh được quân Minh, Lê Lợi cho 25 vạn quân về làm ruộng, còn 10 vạn ở lại. Một nhà có ba người thì 1 người làm lính, việc phú dịch những gia đình này sẽ miễn trong ba năm. Lê Lợi sau khi lên ngôi lại tổ chức lại quân đội, chia ra làm vệ quân 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc và Hải Tây. Mỗi vệ đặt chức Tổng quản. Lại đặt sáu chân ngự tiền và Ngự tiền vũ đội. Lê Lợi đã áp dụng chế độ luân phiên với quân đội, bằng cách chia quân đội thành 5 phiên, 1 phiên lưu lại quân ngũ và 4 phiên cho về làm ruộng. Vào năm 1429, Lê Lợi tổ chức thao diễn quân đội, các sử quan triều Nguyễn gọi lần thao diễn này là "thao diễn quân đội một cách vĩ đại", điều động tất cả các vệ quân để tập trận thủy bộ.
Theo sử gia Sun Lai Chen, nhà Minh Trung Quốc đã có sự phát triển cao về hỏa khí, khiến cho họ bất bại khi đi đánh nhau khắp bốn phương. Cuộc xâm lăng của nhà Minh với nhà Hồ là cuộc xâm lăng của Trung Quốc với Đại Việt chưa bao giờ dễ dàng và nhanh chóng như thế, đó là nhờ sự ưu việt của hỏa khí nhà Minh có được. Nghĩa quân Lam Sơn đã học được cách chế tạo súng, và thu được nhiều súng của quân Minh nên là một phần nguyên nhân của chiến thắng. Số súng Nghĩa quân Lam Sơn thu được sau chiến tranh đã làm triều đình nhà Minh lo ngại, họ liên tục hối thúc Lê Lợi trả lại, nhưng Lê Lợi đã không trả cái nào, rốt cuộc nhà Minh buộc phải chấp nhận.
Chính sách ruộng đất.
Mùa xuân tháng 1 năm 1428, quân Minh đã về nước, Đại Việt hoàn toàn độc lập. Lê Lợi đã thực hiện những chính sách của mình nhằm phục hồi lại đất nước vốn đã bị suy tàn sau những năm bóc lột của quân Minh và chiến tranh. Tháng 7 âm lịch năm 1426 Lê Lợi cho làm sổ hộ tịch (sổ đinh). Tháng Giêng năm 1428, nhà vua hạ lệnh cho con em các nhà đầu mục và các tướng hiệu đều nên trở về nhận ruộng đất ở quê cha đất tổ, để chấm dứt nạn tranh chiếm ruộng đất. Tháng 4 âm lịch năm 1428, nhà vua ra lệnh trả lại ruộng đất, nhà cửa cho những quân dân bị bắt vào 4 thành Tây Đô, Đông Kinh, Cổ Lộng, Chí Linh đã được bổ vào các quân phụ vào quân Thiết đột. Ngày 25 tháng 11 âm lịch năm 1428, triều đình cho làm sổ ruộng đất, sổ hộ tịch. Triều đình ra chỉ thị cho các phủ, huyện, lộ khám xét các chằm bãi, ruộng đất, mỏ vàng bạc, những sản vật núi rừng trong hạt, các loại thuế cũ, cùng ruộng đất đã sung công các nhà thế gia và những người tuyệt tự, ruộng đất của bọn đào ngũ, ngụy quan.
Ngày 22 tháng 12 âm lịch năm 1428, Lê Thái Tổ ra lệnh chỉ cho các quan phủ, huyện, lộ, trấn, xã, sách đối chiếu, khám xét ruộng đất, đầm bãi công tư trong các huyện, xã của lộ mình. Ngày 22 tháng 1 năm 1429, nhà vua ra lệnh cho các đại thần tâu lên về việc cấp đất cho dân chúng, từ quan lại, quân nhân, đàn ông, đàn bà, người già yếu, mồ côi, góa chồng.
Tháng 2 âm lịch năm 1429, Lê Thái Tổ lệnh cho tập trận trong 5 đạo, cả thủy binh và bộ binh. Sau cuộc tập trận, ông chia số quân sĩ làm 5 phiên, lưu lại 1 phiên còn 4 phiên về làm ruộng. Ngày 29 tháng 3 âm lịch năm 1429, nhà vua ra lệnh rằng phần đất của các quan và phủ đệ công hầu trăm quan nên trồng cây, hoa, rau đậu, không được để hoang, ai không theo thì mất phần đất đó. Các công hầu đã được ban cho đất ở, nếu trong phần đất của quân Thiết đột thì không cho quá nhiều, chỉ từ 5 sào trở xuống, nếu không phải trong phần đất của quân Thiết đột thì cho 2 mẫu trở xuống đến 1 mẫu. Nếu đã được chia ruộng đất vườn nhà nhất định rồi, lại còn chiếm đất trong thành Đại La làm nhà cửa khác nữa thì không được.
Ngày 30 tháng 5 âm lịch năm 1429, ông sai định hạng ruộng đất của các cộng sự người Việt của quân Minh trước đây. Ngày 19 tháng 12 âm lịch năm 1429, ông ra lệnh xã nào có nhiều ruộng đất nhưng ít người, để bỏ hoang thì cho phép các quan nơi đó cho những người không có ruộng ở các xã khác đến cày cấy, người chủ ruộng xã đó không được chiếm giữ rồi bỏ hoang. Ai vi phạm sẽ bị xử theo tội cưỡng bức chiếm đoạt. Vào các năm Thuận Thiên thứ 3 (1430) và 6 (1433), ông lại cho làm sổ hộ tịch.
Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí, chính sách ruộng đất của Lê Thái Tổ gọi là phép quân điền. Triều đình ra lệnh cho các phủ huyện khám đo những ruộng đất đầm bãi công tư làm thành sổ sách. Lại sắc cho các quan đại thần bàn định số ruộng cấp cho các quan, quân đội và nhân dân, từ quan đại thần trở xuống, cho đến những người già yếu, con mồ côi, bà góa và đàn ông, đàn bà trở lên, theo thứ bậc khác nhau. Lại truyền cho các phủ, huyện, xã, rằng nơi nào có ruộng đất nhiều mà dân ít phải bỏ hoang, thì cho phép các quan bản hạt được cho người không có ruộng ở xã khác đến cày cấy. Điền chủ xã ấy không được chiếm đoạt mà bỏ hoang, làm trái thì phạt.
Chính sách đất đai của vua Thái Tổ đã làm cho Đại Việt như lời nhận xét của sử thần trong sách Đại Việt sử ký toàn thư: "Vua mặc áo sớm, ăn cơm trưa, trải 10 năm mà thiên hạ đại trị". Dân gian có câu ca dao về việc no đủ, thịnh trị thời của vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông:
"Đời vua Thái Tổ, Thái Tông,"
"Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn."
Dẹp phản kháng trong nước, thu châu Phục Lễ.
Đánh Bế Khắc Thiệu, Nông Đắc Thái.
Ngoài xây dựng kinh tế, Thái Tổ còn phải đối phó với bạo loạn trong nước. Tháng 11 âm lịch năm 1430, Thổ tù ở châu Thạch Lâm, trấn Thái Nguyên là Bế Khắc Thiệu, Nông Đắc Thái nổi dậy; để đối phó, Lê Lợi tuyển binh ở bãi Bồ Đề.
Tháng Giêng năm 1431, sau khi giết Phạm Văn Xảo, Lê Lợi thân chinh đem quân đánh trấn Thái Nguyên. Khi đến châu Thạch Lâm, thành Na Lữ, ông cho đóng quân ở đây, vì thấy thắng cảnh núi sông, nên sai lập sinh từ thờ phụng. Trên núi đá phía tây bắc thành Na Lữ, có bài thơ của vua Lê Thái Tổ ngự chế khắc vào đá, bên dưới ghi rằng: "Thuận Thiên tứ niên Tân Hợi chính nguyệt thị thập nhật đà".
Nội dung bài thơ như sau, được viết trong sách Đại Nam nhất thống chí:
"Bất từ vạn lý chỉnh sư đồ,"
"Duy lục biên manh xích tử tô."
"Thiên địa bất dung gian đảng tại,"
"Cổ kim thùy xá bạn thần chu."
"Trung lương tự khả lương đa phúc."
"Bạo bội chung nan bảo nhất khu."
"Đái lệ bất di thần tử tiết;"
"Danh thùy vạn cổ dữ sơn câu."
"Đường xa chẳng quản ngại ra quân"
"Chỉ muốn biên phương cứu lấy dân".
"Trời đất chẳng dung phường phản tặc,"
"Xưa nay ai xá tội gian thần"
"Trung lương ắt tự giành nhiều phúc".
"Bạn nghịch đành khôn giữ chiếc thân."
"Sông cạn đá mòn không đổi tiết"
"Danh cùng núi ấy vạn năm xuân."
Tháng 2 âm lịch cùng năm, ông đánh chiếm được Lâm Châu, giết Bế Khắc Thiệu và bắt sống Nông Đắc Thái.
Đánh Đèo Cát Hãn, thu châu Mường Lễ.
Năm 1407, khi quân Minh sang đánh Nhà Hồ, Đèo Cát Hãn dẫn 4.000 quân ra xin hợp tác với quân Minh. Theo Minh sử, năm 1405, Đèo Cát Hãn dâng sớ lên triều đình Nhà Minh tố cáo Nhà Hồ đánh chiếm 7 trại Mãnh Man thuộc châu Ninh Viễn dưới quyền Đèo Cát Hãn, vốn thuộc phủ Vân Nam, giết con rể của ông, bắt con gái của ông để khống chế.
Năm 1427, Lê Lợi sai Chủ thư thị sử Trần Hồ đi chiêu dụ châu Ninh Viễn (tức châu Mường Lễ, sau đổi là châu Phục Lễ, nay là phủ An Tây). Phụ đạo châu ấy là Đèo Cát Hãn đem binh tướng theo về.
Tháng giêng năm 1432, Lê Lợi sai con trai cả là Lê Tư Tề và Tư đồ Lê Sát đem quân đánh châu Mường Lễ, do Đèo Cát Hãn thông đồng Phạm Văn Xảo làm loạn, liên kết với nghịch thần Ai Lao là Kha Đốn xâm lấn đất Mang Mỗi. Sau đó đích thân Lê Lợi thân chinh, đánh được Mang Lễ, Kha Đốn bị giết, Đèo Cát Hãn bỏ chạy, Lê Lợi thu Mang Lễ, đổi tên thành châu Phục Lễ.
Trên đường đi thảo phạt Đèo Cát Hãn, vua Lê Thái Tổ đã có 2 bài thơ; bài thứ nhất được khắc trên vách đá Pú Huổi Chỏ, có tên là Thân chinh Phục Lễ châu Đèo Cát Hãn (Tự mình đi đánh Đèo Cát Hãn ở châu Phục Lễ), viết bằng chữ Hán theo thể ngũ ngôn bát cú; bài thơ thứ hai, bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn bát cú, được khắc trên vách núi Hào Tráng (Hòa Bình), có tên là Chinh Đèo Cát Hãn, quá Long Thủy đê (Đi đánh Đèo Cát Hãn trở về, qua đường đê Long Thủy). Bài thơ này đã được chép trong Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích (1744-1818), và được nhắc tới trong sách Hưng Hóa ký lược của Phạm Thận Duật (1825-1885), dưới triều vua Tự Đức.
Chính sách với các công thần tham gia khởi nghĩa Lam Sơn.
Lê Lợi đã dành cho người chết thay mình là Lê Lai nhiều ân sủng đặc biệt. Khi Lê Lai vừa chết, Lê Lợi ngầm sai người tìm di hài đem về Lam Sơn mai táng. Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), phong Lê Lai là Công thần hạng nhất, tặng là "Suy trung Đồng đức Hiệp mưu Bảo chính Lũng Nhai công thần", hàm Thiếu úy, thụy là Toàn Nghĩa. Tháng 12 năm 1429, vua Lê Thái Tổ sai Nguyễn Trãi viết hai bản lời thề ước trước và lời thề nhớ công của Lê Lai, để trong hòm vàng. Lại gia phong làm Thái úy. Năm Thái Hòa thứ nhất 1443 ban tặng tước Bình chương quốc quân trọng sự, ban cho túi kim ngư, ấn vàng, tước Huyện Thượng hầu.
Năm 1428 truy tặng Lê Thạch làm Trung vũ Đại vương, được thờ ở tẩm miếu hoàng gia. Đối với Lý Triện, Lê Lợi trao cho cha của ông là Lê Ba Lao làm Quan sát sứ, tước Thượng phẩm, cấp 400 mẫu ruộng, con ông là Lý Lăng làm Phòng ngự sứ, tước Phục hầu, đều được đổi sang họ Lê. Năm 1428, Lý Triện được truy tặng chức Nhập nội Tư mã. Khi Đinh Lễ hi sinh trong Khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi cho em ông là Đinh Liệt làm Nhập nội Thiếu úy, tước Á hầu, các vợ lẽ của ông là bọn Hà Ngọc Dung gồm 5 người được làm tông cơ.
Tháng 2, năm 1428, Lê Lợi định các hạng công cho các hỏa thủ và quân nhân Thiết đột có công ở Lũng Nhai, chia ra thứ bậc gồm 221 người: Công hạng nhất, cho mang họ vua là Phạm Vấn, Lê Quy, Lê Dịch, Lê Ê... 52 người, làm Vinh lộc đại phu tả Kim ngô vệ đại tướng quân tước Thượng trí tự; công thứ 2, cho quốc tính là Lê Bố, Đinh Liệt, Lê Khảo gồm 72 người, làm Trung lượng đại phu tả Bổng thần vệ tướng quân tước Đại trí tự; công thứ 3, cho mang họ vua, là Đinh Lễ gồm 94 người, làm Trung vũ đại phu Câu kiềm vệ tướng quân tước Trí tự. Khoảng tháng 3, năm 1428, sách Đại Việt sử ký toàn thư lại chép về việc ban thưởng cho 3 người: "Lấy Thừa chỉ Nguyễn Trãi làm Quan Phục hầu, Tư đồ Trần [Nguyên] Hãn làm Tả Tướng quốc, Khu mật đại sứ Phạm Văn Xảo làm Thái bảo, đều ban quốc tính."
Tháng 5 năm 1429, Lê Lợi lại ban biển ngạch công thần cho 93 người (những người tên chữ "nghiêng" đều được cải sang họ "Lê" của vua, ở đây ghi nguyên họ những người đó):
Chính sách đối với những người Việt làm quan cho Nhà Minh.
Trước năm 1428, Lê Lợi đã cho tiến hành bắt những quan lại người Việt phục vụ cho Nhà Minh, bắt vợ con, nô tỳ, tài vật, trâu bò đem giải nộp cho hết, điều tra những kẻ có lòng khác, thu nhập văn bằng ấn tin của ngụy quan, theo đúng hạn nộp lên. Sau đó cho ngụy quan chuộc mệnh, định lệ tiền chuộc các vợ cả, vợ lẽ và nô tỳ của ngụy quan. Vợ Bố chính ty thì 70 quan, dưới đến các hạng sinh viên, thổ quan, thừa sai, bạn đương, thì vợ là 10 quan, con trai, con gái và nô tỳ từ 10 tuổi trở xuống thì 5 quan.
Năm 1428, sau khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ ra lệnh trị tội những viên quan cộng tác với Nhà Minh. Năm 1429 ông ra lệnh chỉ rằng những người này trước đã có lệnh cho tha tội chuộc mệnh, thì cho miễn cả ruộng đất (không phải sung công). Tháng 5 âm lịch năm 1429, Lê Thái Tổ ra lệnh: cho những văn võ hào kiệt nào còn bị bỏ sót có thể đến chỗ Thiếu phó Lê Văn Linh mà tự tiến, không phân biệt ngụy quan hay sĩ thứ, cốt lấy tài đức.
Các quan người Việt của Nhà Minh như Lương Nhữ Hốt, Trần Phong, Đỗ Duy Trung, con cái của Mạc Thúy như Mạc Tung đều được Lê Thái Tổ tha mạng. Các ngụy quan như Trần Phong, Lương Nhữ Hố, kết bè đảng, ngầm đưa thư sang nhà Minh thì họ sẽ làm nội ứng. Người đưa thư bị Thượng tướng trấn Thái Nguyên là Hoàng Nguyên Ý bắt được. Lê Lợi sai giết đi, giấu việc ấy. Sau có người tố giác, Lê Lợi mới hạ chiếu giết đi, còn con cái, đồ đảng đều được tha mạng.
Lập người kế vị và băng hà.
Ngày 7 tháng 1 âm lịch năm 1429, Lê Thái Tổ lập con trưởng Lê Tư Tề làm Quận vương, giúp trông coi việc nước, con thứ Nguyên Long làm Hoàng thái tử. Lê Tư Tề mắc chứng điên cuồng, giết bừa các tì thiếp, việc đó không hợp ý vua Thái Tổ. Năm 1433, Lê Thái Tổ vời người con của anh ruột của mình là Nhập nội Thiếu úy Lê Khôi lúc ấy đang trấn thủ Hóa châu về để bàn định việc lập Thái tử, tháng 8 âm lịch năm đó, con trưởng Lê Tư Tề bị phế giáng làm Quận vương, con thứ Nguyên Long kế thừa tông thống. Đô đốc Phạm Vấn, Đại Tư đồ Lê Sát và Tư khấu Lê Ngân được vua trao trọng trách phụ chính giúp vua Lê Thái Tông còn ít tuổi.
Lê Thái Tổ ở ngôi được 5 năm thì qua đời vào ngày 22 tháng 8 âm lịch (ngày 7 tháng 9 dương lịch) năm Quý Sửu (1433), hưởng dương 49 tuổi. Vì nhớ công Lê Lai chết thay cho mình ở núi Chí Linh trước kia, ông dặn lại đời sau phải giỗ Lê Lai trước khi giỗ ông một ngày. Bởi thế đời sau truyền lại câu: "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi."
Lê Lợi được an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn và được tôn miếu hiệu là Thái Tổ (太祖), thụy hiệu là "Thống Thiên Khải Vận Thánh Đức Thần Công Duệ Văn Anh Vũ Khoan Minh Dũng Trí Hoàng Nghĩa Chí Minh Đại Hiếu Cao Hoàng Đế" (chữ Hán: 統天啟運聖德神功睿文英武寬明勇智弘義至明大孝高皇帝). Đời sau đều gọi là Thái Tổ Cao Hoàng đế (chữ Hán: 太祖高皇帝) hay Cao Hoàng (高皇), Cao Đế (皇帝). Thái tử Lê Nguyên Long 11 tuổi lên nối ngôi, tức hoàng đế Lê Thái Tông.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại những lời nhận xét về Lê Thái Tổ như sau:
Sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn chép rằng:
Lời bình của các quan đời Vĩnh Trị, sách Lam Sơn thực lục:
Nguyễn Trãi trong bài "Phú núi Chí Linh" cho rằng Lê Thái Tổ sánh ngang với các vị vua hiền như Nghiêu Thuấn:
Nguyễn Mộng Tuân trong bài "Nghĩa kỳ phú" viết về sự nghiệp của Lê Thái Tổ:
Thiếu bảo Lễ bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ Lê Tung viết trong "Việt giám thông khảo tổng luận":
"Hơn 20 năm loạn lạc, một sớm dẹp yên. Non sông nhờ đấy cải quan, đất nước nhờ đấy yên tĩnh, là bởi Thái Tổ Cao Hoàng đế ta, trí dũng khoan nhân, vua tôi hợp lòng cùng dạ mà nên vậy. Hãy xem Thái Tổ thần vũ không thích giết người, tức là lòng của trời đất đó; thu nuôi dân xiêu các lộ, thế là lòng nhân của trời đất đó; tha về 10 vạn hàng binh, thế là đức của trời đất đó. Có lệnh tiến cử người hiền, tức như Thành Thang chọn người hiền không hạn phương nào; có chiếu dụ bảo kẻ hàng, tức như Thành Thang lấy khoan nhân thay cho bạo ngược. Binh nông có chế độ, tức như Vũ Vương dùng tám chính, chăm dân có điều lệ, tức là Vũ vương vỗ yên bốn phương. Bảo 10 điều quân chính, để giảng đại nghĩa vua tôi; ban sáu điều giáo hóa, để tỏ rõ luân thường phụ tử; thận trọng hình phạt, là kính sự tin của hiệu lệnh, kết hiếu nước Minh, là lo săn sóc lễ bang giao. Bằng như dựng thái miếu thờ tiên tổ, lập học hiệu để tỏ nhân luân; bài Bình Ngô đại cáo không câu nào không phải là lời nhân nghĩa trung tín, bộ Lam Sơn thực lục không việc nào không phải là đạo tu tề trị bình."
Theo Giáo sư Văn Tân:
"Nguyễn Trãi gọi phép đánh giặc của Lê Lợi là thánh võ hoặc thần võ (Ôi vua ta tài thánh võ-Đến như thần võ không giết-Bài Phú núi Chí Linh). Nghệ thuật quân sự trở thành thánh võ hay thần võ có nghĩa là đã phát triển đến tột đỉnh rồi. Nghệ thuật đó biểu hiện cụ thể ở lấy ít thắng nhiều, lấy yếu chống mạnh, không đánh thành mà cũng hạ được thành."
Theo sử gia Việt Nam Cộng hòa Phạm Văn Sơn viết trong sách Việt sử tân biên:
"Đầu thế kỉ 15, vua Thái Tổ nhà Hậu Lê, với sự hậu thuẫn mạnh mẽ và kiên quyết của toàn dân, đã lập nên một sự nghiệp bất hủ trong sử xanh là đánh đuổi quân xâm lược của triều Minh ra khỏi bờ cõi, sau 10 năm chiến đấu đầy hi sinh gian khổ. Từ Thái Tổ đến Thánh Tông hùng khí của dân tộc Việt mạnh như sóng cồn, nếu đem so sánh Việt Nam với các lân quốc châu Á thì ta có thể tự hào rằng mình là quốc gia cường thịnh bậc nhất Đông Nam Á về mọi phương diện."
Di sản và hình ảnh trong văn hóa.
Lê Lợi là vị vua có công đánh đuổi quân Minh, chấm dứt 20 năm Bắc thuộc lần 4 và sáng lập hoàng triều Lê, triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Việt Nam. Sau thời kỳ độc lập hơn 400 năm kể từ thế kỷ X, Đại Việt có nguy cơ trở lại thành quận huyện của Trung Hoa. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi đã chấm dứt 20 năm cai trị của Nhà Minh tại Đại Việt. Bởi công lao đó của ông nên đời sau còn nhớ Nhà Lê khi bị Nhà Mạc cướp ngôi và đó là một nguyên nhân khiến Nhà Lê có thể trung hưng (1533). Thậm chí ngay cả khi con cháu triều Lê không còn nắm được thực quyền thì trên danh nghĩa vẫn là người đứng đầu thiên hạ. Chúa Trịnh làm phụ chính nhiều đời nhưng vẫn không dám cướp ngôi Nhà Lê cũng bởi sợ dư luận còn nhớ công lao giành lại độc lập cho đất nước của Nhà Lê. Về cai trị, ông cũng là người thiết lập lại trật tự, quy củ của chế độ quân chủ các triều đại Lý, Trần trước đây mà các thế hệ vua sau tiếp tục củng cố, phát triển cao hơn nữa.
Theo Tiến sĩ Trịnh Vĩnh Tường người Đài Loan, khi quân Minh xâm lược Đại Ngu, đã có 64 cuộc khởi nghĩa của người Việt nhằm chống lại sự cai trị trong thời gian (1407-1424). Quân đội nhà Minh đã dùng các biện pháp khủng khiếp nhằm đàn áp sự phản kháng đó. Quân Minh đã tàn sát dân Việt tới mức phạm tội diệt chủng - tội ác ở tầm nhân loại. Nhờ có Lê Lợi mà nước Việt đã không bị biến mất trên bản đồ thế giới, hưởng nền độc lập tự chủ 360 năm cho tới năm Kỉ Dậu (1789) khi nhà Thanh sang xâm phạm. Về sau khi tìm cách chống lại sự đô hộ của người Pháp, những người chủ trương phục quốc như Phan Bội Châu coi Lê Lợi như là hình mẫu anh hùng khôi phục quốc gia, ông cho rằng đó là hình ảnh chói lọi của vị tổ Trung hưng thứ hai sau Ngô Quyền.
Trường Chinh, nhân vật vạch ra chiến lược cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã viết tác phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi", trong đó ông coi Khởi nghĩa Lam Sơn là hình mẫu của cuộc kháng chiến trường kì của nhân dân Việt Nam trước Pháp và Hoa Kỳ:
Hồ Chí Minh trong "Việt Nam quốc sử diễn ca" viết:
Lê Lợi sau khi chết được lập đền thờ rộng rãi ở nhiều nơi, như đền thờ làng Mỹ Xá, xã Minh Tân, Nam Sách, Hải Dương; đền thờ Lê Lợi ở làng Năng Cát, xã Trí Nang, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa; đền thờ Lê Lợi ở phường Đoàn Kết, Thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Tên ông cũng được đặt cho các tên đường, phố, trường học ở Việt Nam.
Những điểm giống với Hán Cao Tổ.
Giữa Vua Lê Thái Tổ của Việt Nam và Vua Hán Cao Tổ của Trung Quốc có những điểm tương đồng trong thân thế, cuộc đời sự nghiệp bản thân và sự nghiệp của hậu duệ:
Khi ngự phê sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, vua Tự Đức Nhà Nguyễn cũng đánh giá Lê Lợi ""mở được nền chính thống nghìn năm, thật đáng là bậc nối gót Hán Cao Tổ"." Sử quan Nhà Nguyễn trong lời cẩn án dưới lời phê của Tự Đức còn nêu thêm một điểm giống nhau nữa giữa Lê Thái Tổ và Hán Cao Tổ: hai người cùng dấy binh nổi lên với một thanh kiếm.
"Bậc trượng phu sinh ở đời phải cứu nạn lớn, lập công to, lưu lại tiếng thơm ngàn năm sau, sao lại chịu hèn nhát để cho người sai khiến?" - Đại Việt sử ký toàn thư
Gươm thần Thuận Thiên.
Theo sách Đại Việt thông sử, Lam Sơn thực lục chép về nhân vật Lê Thận, Lê Thận ở làng Mục Sơn và Lê Lợi là bạn thân. Lê Thận làm nghề đánh cá, có hôm quăng chài bắt được thanh sắt, về để ở góc tối. Một hôm Lê Lợi tới chơi nhân ngày giỗ cha mẹ của bạn, thấy ánh sáng trong góc nhà, đến nơi chỉ thấy thanh sắt. Lê Thận mới kể lại cho vua nghe, vua lấy mang về nhà, không mài mà sáng, thấy chữ triện, ghi rõ Thuận Thiên và chữ Lợi, biết là gươm thần trời cho. Hôm sau vua bắt được chuôi gươm ở gốc cây đa, tra vừa gươm vừa khớp. Về sau Lê Thận tham gia khởi nghĩa Lam Sơn trước nhất, sau đảm nhiệm những chức quan quan trọng trong triều đình Đại Việt. Sau khi đuổi giặc Minh về được một năm, ngày hôm ấy Lê Lợi - bấy giờ đã là một vị thiên tử - cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả-vọng trước kinh thành. Nhân dịp đó, Long quân sai rùa vàng lên đòi lại thanh gươm thần. Khi chiếc thuyền chèo ra giữa hồ thì tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi làn nước xanh. Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Vua đứng trên và nhận thấy lưỡi gươm đeo bên mình cũng đang cử động. Con rùa vàng không sợ người, nhô thêm nữa, tiến sát về phía thuyền vua. Nó đứng nổi lên trên mặt nước và nói:
"Bệ hạ hoàn gươm cho Long quân!"
Nghe nói thế nhà vua bỗng hiểu ra bèn thò tay rút gươm ra khỏi bao. Chỉ một lát thanh gươm thần rời khỏi tay vua bay đến phía rùa vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy ngang lưỡi. Cho đến khi gươm và rùa lặn xuống, người ta vẫn thấy có vệt sáng le lói dười mặt nước hồ xanh.
Khi những chiếc thuyền của bá quan tiến lên kịp thuyền rồng thì vua liền báo ngay cho họ biết:
"Đức Long quân cho chúng ta mượn thanh gươm thần để trừ giặc Minh. Nay đất nước đã thanh bình, Người sai rùa lấy lại."
Và từ đó, hồ bắt đầu được mang tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn-kiếm.
Phu nhân hồ ly.
Truyền thuyết kể rằng thời quân Lam Sơn chưa mạnh, Lê Lợi bị đánh bại, tướng sĩ chạy tan tác mỗi người một nơi. Bị quân Minh đuổi, Lê Lợi trốn vào rừng, trông thấy xác một cô gái chết trên bãi cỏ. Ông rút gươm đào tạm một cái huyệt chôn cô gái và cầu khấn người chết phù hộ để thoát nạn.
Quân Minh đuổi tới gần, Lê Lợi vội trốn vào một gốc cây to rỗng ruột, xung quanh là cỏ mọc cao. Quân Minh cho chó sục sạo, đánh hơi đến gốc cây. Thấy chó sủa ở gốc cây, quân Minh đâm bừa ngọn giáo vào trong, trúng đùi Lê Lợi. Ông vội lấy vạt áo chùi vết máu ở mũi giáo. Quân Minh rút giáo ra không thấy gì nhưng chó vẫn sủa. Quân Minh định dùng lửa đốt cây thì trong gốc cây có con cáo trắng chạy ra, chó săn ùa theo đuổi bắt. Quân Minh tưởng là chó sủa vì con cáo nên bỏ đi.
Lê Lợi thoát nạn, cho rằng linh hồn người con gái đã chết hóa thành cáo cứu mình. Ông đến nấm mộ cô gái vái tạ. Sau này lên ngôi vua, ông truy tặng cô gái là "Hồ ly phu nhân".
Cụ thể cho truyền thuyết trên, thần tích đền Mẫu Thượng cho biết trong một trận đánh Lê Lợi bị giặc đuổi tới khu vực Đồng Giao - Tam Điệp thì gặp xác một người phụ nữ đã bị mối xông, vua vội lấy đất lấp mà không để ý quân giặc đã đuổi tới gần. Tình thế cấp bách vua vội nấp vào gốc cây đa rất to ở gần đó. Giặc có con chó săn rất giỏi tìm người, trận đánh nào chúng cũng cho chó đi theo và chưa khi nào nó tìm sai. Đến gần gốc cây đa nơi vua Lê Lợi đang nấp, bất ngờ từ trong gốc đa có một con cáo chạy ra, đánh lạc hướng quân địch; nhờ vậy vua Lê Lợi được cứu. Vua cho rằng chính vong hồn của người phụ nữ vừa được nhà Vua lấp đã hoá thành con cáo để cứu mình nên cho quân lập đền thờ đặt hiệu cho cô gái là "Bạch Diện Sơn Tinh công chúa" để ghi nhớ ơn cứu mạng. Từ đó nhân dân trong vùng Tam Điệp truyền tụng nhau và đến đây lễ rất đông, đền thuộc địa phận thôn Tân Thượng xã Quang Sơn nên thường gọi là đền Mẫu thượng, hiện nay vẫn còn ở thành phố Tam Điệp.
Cuối thế kỷ 18, Phạm Đình Hổ xác minh việc nhà Lê trung hưng đã làm tượng thờ ân nhân của Lê Thái Tổ trong sân triều đình Lê - Trịnh:
"Những buổi chầu trong điện không bị ngăn cấm người ngoài vào xem. Ta khi nhỏ thường hay vào sân rồng, thấy bên võ ban có đặt pho tượng "Hộ quốc phu nhân". Tượng ấy đầu người thân hồ ly, dáng rất đẹp, hình dung một thiếu nữ búi tóc, cài trâm".
Cả 4 người trên đều có mộ táng tại Lỗi Viên, thôn Hào Lương.
Vua Lê Thái Tổ không lập chính thất (vợ cả hay vương hậu, hoàng hậu), sử sách ghi chép lại có các bà:
Vua Lê Thái Tổ có bốn người con là:
|
Bảo hiểm là phương thức bảo vệ trước những tổn thất tài chính. Đó là hình thức quản lý rủi ro, chủ yếu được sử dụng để bảo hiểm cho những rủi ro ngẫu nhiên hoặc tổn thất có thể xảy ra. Một doanh nghiệp cung cấp bảo hiểm được gọi là nhà bảo hiểm, công ty bảo hiểm.
Các phương pháp chuyển giao hoặc phân tán rủi ro đã được các thương nhân Babylonia, Trung Hoa và Ấn Độ thực hành từ rất lâu trước đây lần lượt từ thiên niên kỷ thứ 3 và thứ 2 trước Công nguyên. Các thương nhân Trung Quốc đi qua các ghềnh thác đầy nguy hiểm sẽ phân phối lại hàng hóa của họ cho nhiều tàu để hạn chế tổn thất do bất kỳ tàu nào bị lật.
Luật "Codex Hammurabi" 238 (khoảng năm 1755–1750 TCN) quy định rằng thuyền trưởng tàu biển, quản lý tàu hoặc người thuê tàu đã cứu một con tàu khỏi tổn thất toàn bộ là chỉ được yêu cầu trả một nửa giá trị của con tàu cho chủ tàu. Trong "Digesta seu Pandectae" (533), tập 2 của mã hóa các luật theo lệnh của Justinian I (527–565) thuộc Đế chế Đông La Mã, một ý kiến pháp lý được viết bởi Luật gia La Mã Paulus vào đầu Cuộc khủng hoảng của thế kỷ thứ ba năm 235 sau Công nguyên đã được đưa vào về " Lex Rhodia " ("Luật Rhodia" ) nêu rõ nguyên tắc trung bình chung của bảo hiểm hàng hải được thành lập trên đảo Rhodes vào khoảng năm 1000 đến 800 trước Công nguyên với tư cách là thành viên của Doric Hexapolis, một cách chính đáng bởi Phoenicia trong cuộc xâm lược Doria được đề xuất và sự nổi lên của Dân tộc trên biển trong thời kỳ đen tối của Hy Lạp (khoảng 1100 – c. 750) dẫn đến sự gia tăng của phương ngữ tiếng Hy Lạp Doric.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu xã hội, pháp lý, kinh tế, kĩ thuật, nghiệp vụ...)
Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được. Các định nghĩa trên thường thiên về một góc độ nghiên cứu nào đó (hoặc thiên về xã hội - định nghĩa 1, hoặc thiên về kinh tế, luật pháp - định nghĩa 2, hoặc thiên về kỹ thuật tính - định nghĩa 3).
Một định nghĩa vừa đáp ứng được khía cạnh xã hội (dùng cho bảo hiểm xã hội) vừa đáp ứng được khía cạnh kinh tế (dùng cho bảo hiểm thương mại) và vừa đầy đủ về khía cạnh kỹ thuật và pháp lý có thể phát biểu như sau: "Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê"
Bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm xã hội là loại hình bảo hiểm do nhà nước tổ chức và quản lý nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động. Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO tại Công ước Geneva năm 1952 gồm
Cơ chế hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội: Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội
Chi các khoản trợ cấp và chi phí cho người tham gia bảo hiểm xã hội trong các trường hợp:
Bảo hiểm y tế.
Bảo hiểm y tế là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn tài lực từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm để hình thành quỹ bảo hiểm, và sử dụng quỹ để thanh toán các chi phí khám chữa bệnh cho người được bảo hiểm khi ốm đau.
Đối tượng của bảo hiểm y tế là sức khỏe của người được bảo hiểm (rủi ro ốm đau, bệnh tậ).
Cơ chế hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế: Hình thành quỹ bảo hiểm y tế
Bảo hiểm kinh doanh.
Trên góc độ tài chính, bảo hiểm kinh doanh là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những tổn thất khi rủi ro xảy ra. Trên góc độ pháp lý, bảo hiểm kinh doanh thực chất là một bản cam kết mà một bên đồng ý bồi thường cho bên kia khi gặp rủi ro nếu bên kia đóng phí bảo hiểm. Do đó, bảo hiểm kinh doanh là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn tài chính thông qua sự đóng góp của các tổ chức và cá nhân tham gia bảo hiểm.
Đặc điểm của bảo hiểm kinh doanh:
Nguyên tắc của bảo hiểm kinh doanh:
Hình thức của bảo hiểm kinh doanh:
Cơ chế, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm kinh doanh: Cơ chế hình thành quỹ bảo hiểm kinh doanh
Bảo hiểm thương mại.
Bảo hiểm thương mại hay hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện bởi các tổ chức kinh doanh bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm thương mại. Bảo hiểm thương mại chỉ những hoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro trên cơ sở người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đã thỏa thuận trước trên hợp đồng.
Nội dung Bảo hiểm thương mại: Nội dung của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, ngoài mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm với khách hàng của mình (gọi là Người mua bảo hiểm) còn được thể hiện trong mối quan hệ giữa người bảo hiểm gốc và người nhận tái bảo hiểm khi thực hiện tái bảo hiểm và bao hàm các hoạt động của trung gian bảo hiểm như: môi giới, đại lý... Nhà bảo hiểm thương mại hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận trong việc đảm bảo rủi ro cho khách hàng của mình.
Lợi ích: Trong cuộc sống hàng ngày, lúc này hay lúc khác, dù không hề mong muốn và dù khoa học kỹ thuật có tiến bộ đến đâu, người ta vẫn có thể phải gánh chịu những rủi ro tổn thất bất ngờ. Tác động của rủi ro làm cho con người không thu hái được kết quả như đã dự định trước và tạo ra sự ngưng trệ quá trình sản xuất, sinh hoạt của xã hội. Đó chính là tiền đề khách quan cho sự ra đời của các loại quỹ dự trữ bảo hiểm nói chung và hoạt động bảo hiểm thương mại nói riêng. Tồn tại song song với các quỹ dự trữ khác, Bảo hiểm thương mại đóng vai trò như một công cụ an toàn thực hiện chức năng bảo vệ con người, bảo vệ tài sản cho kinh tế và xã hội. Cụ thể là:
Đối với người dân, bảo hiểm đảm bảo cho họ về mặt tài chính nhằm khắc phục hậu quả khi bất ngờ gặp rủi ro tai nạn hay bệnh tật như chi phí điều trị, viện phí, thu nhập mất giảm…Bảo hiểm nhân thọ còn cung cấp những chương trình tiết kiệm và là người đại diện đầu tư mang lại lợi tức cho khách hàng.
Đối với các doanh nghiệp, tham gia bảo hiểm giúp các doanh nghiệp với việc bỏ ra
một khoản phí bảo hiểm ổn định và nhỏ có thể hoán chuyển rủi ro - những yếu tố không ổn định và tổn thất không lường trước được sang cho nhà bảo hiểm. Nhờ vậy, các doanh nghiệp an tâm sản xuất và khi có những tổn thất xảy ra, bồi thường bảo hiểm sẽ giúp họ nhanh chóng khôi phục quá trình kinh doanh.
Đối với ngân hàng thương mại, bảo hiểm đảm bảo cho khả năng hoàn trả vốn vay của doanh nghiệp – người đi vay trong những trường hợp gặp rủi ro tổn thất. Mặt khác, các loại hình bảo hiểm nhân thọ còn giúp các ngân hàng an tâm triển khai các loại hình tín dụng tiêu dùng cho người dân.
Hoạt động bảo hiểm phát triển.góp phần cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hợp tác kinh tế, kỹ thuật, thương mại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác hoạt động bảo hiểm còn mang về cho kinh tế quốc dân một khoản ngoại tệ đáng kể.
Bảo hiểm chẳng những có tác dụng bồi thường tổn thất sau khi có rủi ro phát sinh mà còn góp phần rất lớn cho việc đề phòng rủi ro và hạn chế tổn thất. Nhà bảo hiểm thường sử dụng những chuyên gia giỏi, tổ chức các dự án nghiên cứu, tư vấn – tài trợ cho cơ quan quản lý nhà nước áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất hoặc tư vấn cho khách hàng tăng cường quản trị rủi ro ở đơn vị mình.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bảo hiểm với việc nắm giữ quỹ tiền tệ bảo hiểm rất lớn nhưng tạm thời nhàn rỗi đã trở thành những nhà đầu tư lớn. Bảo hiểm vì vậy còn có vai trò trung gian tài chính là một kênh huy động và cấp vốn có hiệu cho nền kinh tế. Đặc biệt, ở nhiều nước phát triển, các nhà bảo hiểm còn bảo hiểm cho trái phiếu nhất là trái phiếu đô thị. Điều nầy làm tăng tính an toàn của trái phiếu đô thi, giúp cho chính quyền trung ương và địa phương thu hút vốn từ dân cư, đầu tư cho các dự án y tế, giáo dục, công trình phúc lợi và cơ sở hạ tầng.
Với những lợi ích nói trên, bảo hiểm đã ra đời từ rất lâu và ngày càng phát triển. Trong những năm gần đây, hàng năm, trên toàn thế giới, số phí bảo hiểm thu được lên đến hàng ngàn tỷ đô la Mỹ (năm 2001: trên 2400 tỷ), trung bình mỗi cư dân trên hành tinh chúng ta mỗi năm bỏ ra 393 USD cho việc tham gia bảo hiểm, trong đó, 235 USD cho BHNT và 158 USD cho BHPNT. Ở nhiều nước, bảo hiểm chiếm tỷ lệ đáng kể trong GDP (Ví dụ, Hàn Quốc: 12%, Nhật Bản: 11%, Mã Lai: 5%). Hàng năm, bảo hiểm cũng đã góp phần đáng kể trong việc khắc phục hậu quả của những tổn thất đặc biệt là các tổn thất thảm họa.
Đặc điểm của Bảo hiểm thương mại: Nhìn chung, bảo hiểm thương mại có một số đặc điểm cơ bản sau:
Trước tiên, hoạt động bảo hiểm thương mại là một hoạt động thỏa thuận (nên còn gọi là bảo hiểm tự nguyện);
Hai là, sự tương hổ trong bảo hiểm thương mại được thực hiện trong một "cộng đồng có giới hạn", một "nhóm đóng";
Ba là, bảo hiểm thương mại cung cấp dịch vụ đảm bảo không chỉ cho các rủi ro bản thân) mà còn cho cả rủi ro tài sản và trách nhiệm dân sự.
Nguyên tắc hoạt động cơ bản của Bảo hiểm thương mại thì hoạt động bảo hiểm nói chung, hoạt động bảo hiểm thương mại nói riêng tạo ra được một "sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít" trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất. Số người tham gia càng đông, tổn thất càng phân tán mỏng, rủi ro càng giảm thiểu ở mức độ thấp nhất thể hiện ở mức phí bảo hiểm phải đóng là nhỏ nhất đủ để mỗi người đó không ảnh hưởng gì quan trọng đến hoạt động sinh hoạt sản xuất của mình. Hoạt động theo quy luật số đông, đó là nguyên tắc cơ bản nhất của bảo hiểm.
Bên cạnh đó, đám đông tham gia vào cộng đồng càng lớn thể hiện nhu cầu bảo hiểm càng tăng theo đà phát triển của nền kinh tế - xã hội, những người được bảo hiểm không thể và cũng không cần biết nhau, họ chỉ biết người quản lý cộng đồng (doanh nghiệp bảo hiểm) là người nhận phí bảo hiểm và cam kết sẽ bồi thường cho họ khi có rủi ro tổn thất xảy ra. Hoạt động bảo hiểm thương mại tạo ra được một sự hoán chuyển rủi ro từ những người được bảo hiểm qua người bảo hiểm trên cơ sở một văn bản pháp lý: Hợp đồng bảo hiểm. Điều này đã tạo ra một rủi ro mới đe dọa mối quan hệ giữa 2 bên trên hợp đồng. Dịch vụ bảo hiểm thương mại là một lời cam kết, liệu lúc xảy ra tổn thất, doanh nghiệp bảo hiểm có thực hiện hoặc có khả năng thực hiện cam kết của mình hay không trong khi phí bảo hiểm đã được trả theo "nguyên tắc ứng trước". Ngược lại các rủi ro, tổn thất được bảo hiểm được minh thị rõ ràng trên hợp đồng, liệu có sự man trá của phía người được bảo hiểm hay không để nhận hưởng tiền bảo hiểm. Như vậy, mối quan hệ giữa 2 bên trên hợp đồng bảo hiểm gắn liền với sự tin tưởng lẫn nhau và điều này đòi hỏi phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản thứ hai: Nguyên tắc trung thực.
Các nét khác nhau cơ bản giữa Bảo hiểm thương mại và Bảo hiểm xã hội:
Phân loại Bảo hiểm thương mại: Phân loại theo đối tượng bảo hiểm:
Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm thì toàn bộ các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành ba nhóm: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người và bảo hiểm trách nhiệm dân sự:
Phân loại theo kỹ thuật bảo hiểm:
Theo cách phân loại này các loại hình bảo hiểm được chia ra làm 2 loại: loại dựa trên kỹ thuật "phân bổ" và loại dựa trên kỹ thuật "tồn tích vốn".
Phân loại theo tính chất của tiền bảo hiểm trả:
bảo hiểm sẽ nhận được số tiền khoán theo đúng mức mà họ đã thỏa thuận trước trên hợp đồng bảo hiểm với người bảo hiểm tùy thuộc và phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng đóng phí. Đây chính là các loại bảo hiểm nhân thọ và một số trường hợp của bảo hiểm tai nạn, bệnh tật. Với loại bảo hiểm nầy, về nguyên tắc, người mua bảo hiểm có thể cùng một lúc ký nhiều hợp đồng bảo hiểm cho một đối tương và không bị hạn chế số tiền bảo hiểm
Phân loại theo phương thức quản lý:
Với cách phân loại này, các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại được chia làm 2 hình thức: bắt buộc và tự nguyện
Các điều khoản loại trừ phổ biến
Bảo hiểm nhân thọ:
Các thuật ngữ bảo hiểm thường gặp trong đơn bảo hiểm:
So với cá cược.
Một số người cho rằng việc tham gia bảo hiểm cũng giống như một loại cá cược. Công ty bảo hiểm sẽ đặt cược rằng bạn hoặc tài sản của bạn sẽ không phải gánh chịu tổn thất trong khi bạn đang sử dụng tiền vào việc khác. Có thể hiểu một cách đại khái rằng: sự chênh lệch giữa phí bảo hiểm và khoản tiền giới hạn trách nhiệm của công ty bảo hiểm được tính theo tỉ lệ ( tương tự như việc chơi cá ngựa với tỉ lệ 10:1). Chính vì lí do này, rất nhiều các nhóm tôn giáo (bao gồm Amish và Hồi giáo) đã không tham gia bảo hiểm, thay vào đó họ trông chờ vào sự hỗ trợ của cộng đồng khi có thảm họa xảy ra. Hay nói cách khác, cộng đồng này sẽ hỗ trợ họ phục hồi lại tổn thất bị mất.
Tuy nhiên, cách thức này không hỗ trợ một cách hiệu quả đối với các rủi ro lớn. Ngay cả các công ty bảo hiểm ở Phương Tây cũng gặp khó khăn khi đối phó với các rủi ro lớn. Ví dụ như lũ lụt xảy ra sẽ làm ảnh hưởng đến gần như toàn bộ thành phố, và công ty bảo hiểm sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi phải thực hiện việc bồi thường. Ví dụ điển hình đó là lũ lụt ở New Orleans, 2005. Tương tự, các tổn thẩt do chiến tranh và động đất cũng bị loại trừ. Tuy nhiên, vẫn có thể bảo hiểm cho những tổn thất lũ lụt và động đất thông qua hình thức tái bảo hiểm.
Trong các trò chơi cá cước, thì mức tỉ lệ đã được xác định ngay từ đầu trò chơi và không chịu tác động bởi người chơi. Còn đối với việc tham gia bảo hiểm, ví dụ như bảo hiểm cháy, người tham gia bảo hiểm được yêu cầu là phải tìm cách giảm thiểu rủi ro: lắp các thiết bị báo cháy và sử dụng các vật liệu chống cháy để giảm thiểu những tổn thất gây ra bởi cháy. Bên cạnh đó, doanh nghiệp bảo hiểm cũng giúp thực hiện việc giảm thiểu tổn thất khi có rủi ro gây nên.
Như vây, bảo hiểm tương tự như cá cược ở góc độ rủi ro, nhưng có sự khác biệt về động cơ (tìm kiếm rủi ro hay tránh né rủi ro). Đối với trò cá cược, bạn không có sự lựa chọn nào khác hoặc thua hoặc thắng. Nhưng đối với bảo hiểm, bạn có thể quản lí rủi ro mà bạn không thể nào tránh được hoặc rủi ro thuần túy mà bạn không đoán trước được khả năng xảy ra. Quản trị rủi ro là việc xác định và kiểm soát rủi ro. Tránh né, giảm thiểu hay chuyển giao rủi ro là cách thức tạo sự dự đoán tốt hơn cho người tiêu dùng hay doanh nghiệp để họ đạt tối đa lợi ích trong các cơ hội của mình. Cá cược cũng được xem là loại rủi ro không được bảo hiểm.
|
Phan Huy Ích (chữ Hán: 潘輝益; 1751 – 1822), tự Khiêm Thụ Phủ, Chi Hòa, hiệu Dụ Am, Đức Hiên, là quan đại thần trải ba triều đại Lê trung hưng, Tây Sơn và Nguyễn. Góp nhiều công lớn trong lĩnh vực ngoại giao, ông trở thành nhà ngoại giao tiêu biểu thời Tây Sơn. Phan Huy Ích được vua Quang Trung giao cùng với Ngô Thì Nhậm trông nom công việc ngoại giao sau chiến thắng mùa xuân năm Kỷ Dậu. Hai anh em Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích được giao toàn quyền việc đối ngoại với nhà Thanh. Dưới triều Tây Sơn, Phan Huy Ích đã nhận một nhiệm vụ vô cùng cao cả: đi sứ sang nhà Thanh. Ngoài những thành tích ngoại giao, ông còn đóng góp nhiều tác phẩm văn học có giá trị.
Ông tên thật là Phan Công Hậu, sinh ngày 12 tháng 12 năm Canh Ngọ (tức 9 tháng 1 năm 1751) ở làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh). Do kiêng húy của Tuyên phi Đặng Thị Huệ, về sau ông đổi tên là Huy Ích.
Ông là con trai đầu của Tiến sĩ Phan Huy Cận (hay Cẩn, về sau đổi thành Phan Huy Áng). Thuở nhỏ, ông sống và học tập tại làng Thu Hoạch, đến năm 20 tuổi, năm 1771, ông thi đỗ Giải nguyên tại trường thi Nghệ An. Trước đó, năm 1753, cha ông là Phan Huy Cận cũng đỗ Giải nguyên tại trường thi Hương này.
Sau khi đỗ Giải nguyên, ông được triều đình thu dụng và bổ nhiệm một chức quan nhỏ tại trấn Sơn Nam. Ông trở thành học trò của Ngô Thì Sĩ, được thầy mến tài và gả con gái cho.
Đỗ đầu khoa thi Hương trường Nghệ khoa Tân Mão (1771), ông được xem là một nhân tài đầy tiềm năng. Mãi đến năm 1773, Phan Huy Ích mới được bổ chức Tả mạc xứ Sơn Nam. Năm 1775, ông cùng người anh vợ là Ngô Thì Nhậm dự thi Hội ở Thăng Long và cùng đỗ Tiến sĩ, rồi sau đó đỗ chế khoa đồng tiến sĩ. Khoa này có 18 tiến sĩ, và Phan Huy Ích đỗ Hội nguyên Tiến sĩ, đứng đầu số đó. Trước đó, vào năm 1754, cha ông cũng từng đỗ Hội nguyên Tiến sĩ như thế.
Làm quan ba triều.
Triều Lê trung hưng.
Năm 1776, ông tiếp tục thi đỗ kỳ thi Ứng chế và được triều đình bổ làm Hàn lâm thừa chỉ, rồi làm Đốc đồng tỉnh Thanh Hóa, trông coi việc an ninh. Ủng hộ chế độ Chúa Trịnh, năm Đinh Dậu (1777) sau khi được bổ làm Đốc đồng Thanh Hoa (tức Thanh Hóa), ông về giữ chức Thiêm sai tri hình phiên ở phủ Chúa. Cũng trong năm 1777, ông được chúa Trịnh Sâm lệnh mang ấn kiếm, sắc phong tước Cung quận công của vua Lê ban cho Nguyễn Nhạc, nhưng khi vào đến Phú Xuân, tướng Phạm Ngô Cầu trấn giữ Phú Xuân cản giữ ông lại, sai Nguyễn Hữu Chỉnh đi vào Quảng Nam phong cho Nguyễn Nhạc. Sau đó, ông được chúa phái lên Nam quan tiếp sứ thần nhà Thanh rồi được thăng Hiến sát sứ Thanh Hóa, trông coi việc xét xử và luật pháp.
Năm 1786, quân Tây Sơn ra Bắc tiêu diệt kiêu binh và Trịnh Khải, sau đó rút về Nam. Trịnh Bồng đem quân bao vây kinh thành uy hiếp vua Chiêu Thống, vua Lê triệu Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An về Kinh để bảo vệ. Phan Huy Ích đang ở dưới trướng Bùi Thế Toại chống lại Nguyễn Hữu Chỉnh nhưng bị đánh thua. Phan Huy Ích bị bắt sống, Nguyễn Hữu Chỉnh không giết mà mang theo.
Cuối năm 1787, quân Tây Sơn ra Bắc Hà lần thứ hai. Lê Chiêu Thống chạy sang Kinh Bắc chống lại Tây Sơn. Phan Huy Ích bỏ lên Sài Sơn (Sơn Tây), chấm dứt 14 năm làm quan với chính quyền vua Lê - chúa Trịnh.
Tháng 5 năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc, xuống chiếu cầu hiền. Phan Huy Ích cùng Ngô Thì Nhậm, Đoàn Nguyên Tuấn, Nguyễn Thế Lịch (có tên khác là Nguyễn Gia Phan) ra hợp tác với Tây Sơn. Phan Huy Ích được phong làm Tả Thị lang bộ Hộ.
Sau cuộc hành quân phá quân Thanh, mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789, của Quang Trung, ông phụ trách công việc ngoại giao. Cuối tháng 2 năm 1790, Phan Huy Ích cùng với Đại Tư mã Ngô Văn Sở được cử trong phái đoàn do Phạm Công Trị đóng giả vua Quang Trung dẫn đầu sang Trung Quốc mừng vua Càn Long 80 tuổi.
Năm 1792, về nước, được thăng Thị trung Ngự sử ở tòa Nội các rồi Thượng thư bộ Lễ. Cũng trong năm này, vua Quang Trung mất. Ông cố gắng giúp đỡ vua trẻ Quang Toản, nhưng không ngăn nổi đà suy vi của Tây Sơn.
Mùa hạ năm 1802, vua Gia Long đem quân ra Bắc. Ông bị bắt cùng với Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thế Lịch, cả ba đều bị đánh đòn trước Văn Miếu. Vào năm 1804, Gia Long nhân muốn định lại tên nước, bèn cử Phan Huy Ích soạn một bài tuyên cáo, nội dung được ông sao lại trong "Dụ Am thi văn tập", có đoạn như sau:
""Xuống chiếu cho thần dân trong thiên hạ đều biết: Trẫm nghĩ, xưa nay các bậc đế vương dựng nước, ắt có đặt quốc hiệu để tỏ sự đổi mới, hoặc nhân tên đất lúc mới khởi lên, hoặc dùng chữ nghĩa tốt đẹp, xét trong sử sách chứng cớ đã rõ ràng. Đến thời Đinh Tiên hoàng gọi là Đại Cồ Việt nhưng người Trung Quốc vẫn gọi là Giao Chỉ. Từ thời Lý về sau, quen dùng tên An Nam do nhà Tống phong cho ngày trước. Tuy thế, vận hội dù có đổi thay nhưng trải bao đời vẫn giữ theo tên cũ, thực là trái với nghĩa chân chính của việc dựng nước vậy. Trẫm nối nghiệp xưa, gầy dựng cơ đồ, bờ cõi đất đai rộng nhiều hơn trước. Xem qua sổ sách, trẫm xét núi sông nên đặt tên tốt để truyền lâu dài [...] Ban đổi tên An Nam làm nước Việt Nam, đã tư sang Trung Quốc biết rõ. Từ nay trở đi, cõi viêm bang bền vững, tên hiệu tốt đẹp gọi truyền, ở trong bờ cõi đều hưởng phước thanh ninh [...]"."
Năm 1814, ông về lại quê Thu Hoạch dạy học và sau đó lại ra Sài Sơn an dưỡng. Theo các nhà nghiên cứu, trong thời gian này, ông hoàn chỉnh bản dịch "Chinh phụ ngâm", mà người diễn Nôm đầu tiên tương truyền là bà Đoàn Thị Điểm. Ngoài ra, ông còn sáng tác "Dụ Am thi văn tập", "Dụ Am ngâm lục". Ngày 20 tháng 2 năm Nhâm Ngọ (tức 13 tháng 3 năm 1822), Phan Huy Ích mất tại quê nhà.
|
Ayrton Senna, tên thật là Ayrton Senna Da Silva, (21 tháng 3 năm 1960 - 1 tháng 5 năm 1994) là tay đua Công thức 1 nổi tiếng người Brasil. Senna được coi là một huyền thoại của môn thể thao tốc độ này. Cái chết bất ngờ của Senna trong khi đang dẫn đầu cuộc đua San Marino Grand Prix tại Imola đã để lại nhiều tiếc thương trong lòng người hâm mộ. Với những thành tích đã cống hiến cho môn thể thao này, Ayrton Senna được coi là một tượng đài vững chắc của F1, cùng với các tên Juan Manuel Fangio, Jackie Stewart, Niki Lauda, Nelson Piquet, Alain Prost, Michael S
Senna sinh ra tại Sao Paulo (Brasil). Là con trai của một địa chủ giàu có, niềm đam mê đua xe của anh đã được phát triển nhanh chóng. Được sự ủng hộ từ người cha, một người cực kỳ đam mê đua xe, Senna đã ngồi lên chiếc xe kart đầu tiên vào năm 4 tuổi. Anh tham gia vào một cuộc thi kart ở tuổi 13. Tại cuộc đua này, Senna đã giành được pole position. Mặc dù kinh nghiệm hơn Senna rất nhiều nhưng các đối thủ khác không thể bắt kịp anh trên các đoạn đường thẳng, đơn giản vì lúc đó Senna còn ít tuổi, trọng lượng cơ thể nhẹ hơn nhiều so với các tay đua khác. Năm 1977, Senna thắng Giải vô địch Kart Nam Mỹ.
Di chuyển sang châu Âu vào năm 1981, Senna tham gia cuộc thi British Formula Ford 1600 và lại chiến thắng. Anh đã rất thành công tại các giải đua F3 và quyết định chạy thử với Williams, McLaren, Brabham và Toleman. Sau các lần thử, Senna bước vào đấu trường F1 với đội Toleman.
Bắt đầu sự nghiệp F1.
Toleman là một đội đua khá nhỏ nếu so sánh với những "ông lớn" như Williams, McLaren hay Brabham. Mặc dù vậy, đội này vẫn xây dựng một động cơ khá tươm tất được vận hành bởi động cơ Hart Turbo. Nhờ có chiếc xe mang động cơ này Senna đã sớm thu hút được nhiều sự chú ý tới tài năng của mình. Anh ghi điểm đầu tiên ngày 7 tháng 4 năm 1984 tại South Africa Grand Prix. Tại Monaco Grand Prix, Senna đã thực sự gây ấn tượng tới các chuyên gia. Trời mưa đã gây cản trở cho các tay đua, nhất là lúc vượt nhau. Nhưng với nỗ lực không ngừng, từ vị trí xuất phát thứ 13, Senna đã kiên trì vượt lên. Tại vòng thứ 19 Senna vượt qua người thứ 2, và là nhà vô địch tương lai lúc bấy giờ, Niki Lauda rồi nhanh chóng bám đuổi người dẫn đầu Alain Prost. Tuy nhiên, mưa ngày càng nặng hạt, cuộc đua bị buộc phảIi chấm dứt và Senna về với vị trí số 2. Đây là mùa F1 đầu tiên của Senna và anh hoàn thành mùa đầu tiên với 13 điểm, đứng thứ 9 trên bảng năm đó.
Thời gian với Lotus.
Năm tiếp theo, Senna tham gia đội đua Lotus, dùng động cơ của Renault. Anh giành pole position lần đầu tiên tại Brasil nhưng phải bỏ cuộc đua vì một sự cố kỹ thuật. Chặng tiếp theo, vào ngày 21 tháng 4 năm 1985, Senna giành được chiến thắng F1 đầu tiên nhờ giành được pole position cộng với đối thủ chính Alain Prost bị lao vào hàng rào. Senna hoàn thành mùa F1 này khá thành công với 3 chiến thắng, 4 lần đứng hạng 2 hay 3, và được xếp thứ 4 vào cuối mùa.
Năm thứ hai tại Lotus, động cơ đã được nâng cấp để đạt độ tin cậy cũng như mạnh mẽ hơn. Khởi đầu mùa, Senna đã vượt qua những người nổi tiếng như Alain Prost, Niki Lauda để giành vị trí thứ 2, sau người đồng hương Nelson Piquet tại cuộc đua ở Brasil. Không lâu sau, Senna chiếm lấy ngôi đầu bảng đầu tiên sau khi giành lấy một chiến thắng oanh liệt tại Jerez ở Tây Ban Nha. Thế nhưng anh không tồn tại được trên đầu của bảng xếp hạng. Cuộc tranh giành cho vị trí đầu bảng, rốt cục, lại trở về với Prost, Piquet và Mansell. Những thất bại kỹ thuật, một lần nữa, xảy đến làm ngăn cản hy vọng trở thành vô địch của anh. Senna hoàn thành mùa 1986 với vị trí thứ 4, giành được 55 điểm, 8 pole position và 6 lần đứng hạng 2 hay 3.
Mùa giải 1987 đến với nhiều hy vọng. Đội Lotus dường như mạnh mẽ hơn với động cơ do Honda cung cấp, sau khi Renault quyết định rút khỏi cuộc chơi đầy may rủi này. Senna đã giành 2 chiến thắng liên tiếp tại Monaco và Hoa Kỳ, một lần nữa bước lên ngôi đầu bảng. 1987 đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong sự nghiệp của Senna khi anh có thể đối chọi với 2 tay đua của Williams-Honda là Nelson Piquet và Nigel Mansell. Theo như tính toán trước đó, Senna có thể hất cẳng 2 tay đua trên nếu về đích thứ 3 tại 2 chặng đua cuối. Và anh đã làm được nhiều hơn thế khi về đích thứ 2 tại Nhật và tại Úc. Thế nhưng thần may mắn đã không mỉm cười với Senna khi đội Lotus của anh bị phát hiện có một số chi tiết phạm luật. Do vậy, các kết quả trên không được công nhận. Senna xếp thứ 3 vào cuối mùa, giành 57 điểm, 1 pole position và 6 lần hạng 2 hay 3. Dù trắng tay nhưng Senna đã lọt vào mắt xanh của McLaren, đánh dấu một sự khởi đầu mới với đội đua nước Anh.
Sự nghiệp với McLaren.
Năm 1988, nhờ có mối quan hệ khá tốt đẹp với Honda suốt mùa 1987 cộng với sự ủng hộ của nhà vô địch lúc bấy giờ là Alain Prost, Senna ký hợp đồng với McLaren và trở thành đồng đội của Prost. Bộ đôi này đã thể hiện tài năng của mình bằng việc đem về cho McLaren 15 chiến thắng trên tổng số 16 cuộc đua của mùa. Cuối mùa, Senna đã vượt qua Prost, giành vị trí quán quân chung cuộc.
Năm tiếp theo, cuộc tranh đua nội bộ giữa 2 nhà vô địch diễn ra càng quyết liệt, tiêu biểu tại German Grand Prix, nơi Senna đã giành chiến thắng. Tuy nhiên, ngôi vô địch 1989 lại thuộc về Prost sau cuộc đua tại Nhật Bản, nơi hai tay đua đã cố gắng bám đuổi nhau và hậu quả là cả hai đều phải bỏ cuộc. Dù trắng tay tại Nhật Bản, McLaren và Prost vẫn giành ngôi đầu bảng mùa 1989.
Về sau, Senna còn giành thêm 2 chức vô địch nữa vào năm 1990 và 1991 trước khi chuyển sang thi đấu cho Williams.
Tử nạn trên đường đua.
Hay bị cho là thô lỗ và cục cằn, Senna thực ra lại là một người giàu tình cảm, thường cố gắng giấu những cảm xúc thật của mình dưới vẻ ngoài cứng rắn. Anh đã bật khóc trước cái chết của tay đua người Áo Roland Ratzenberger, một ngày trước cái chết của chính anh.
Những giờ phút cuối cùng của Ayrton Senna - ngày Chủ nhật 1 tháng 5 năm 1994 - đã được ghi lại một cách cẩn thận:
7h30: Senna được gọi dậy tại phòng số 200 khách sạn Castello ở Castel San Pietro bởi Owen O'Mahony, phi công riêng của anh. Sau đó anh bay tới đường đua trên một chiếc trực thăng, rồi dễ dàng dẫn đầu ở đợt đua khởi động buổi sáng. Anh đề nghị David Brown, kỹ sư phụ trách chiếc xe đua của anh không điều chỉnh gì thêm ở chiếc xe. Anh cũng chạy một vòng biểu diễn ghi hình cho kênh truyền hình TF1 của Pháp, nơi kỳ phùng địch thủ một thời của anh, Alain Prost đang làm việc. Anh nói với người của TF1 qua radio: "Cho tôi gửi lời hỏi thăm tới người bạn cũ của tôi, Alain Prost. Hãy nói với anh ấy rằng chúng tôi rất nhớ anh ấy." Bởi hai đối thủ cũ từng như Mặt Trăng và Mặt Trời và hầu như không bao giờ nói chuyện với nhau, hành động của Senna đã khiến Prost xúc động, và sau đó 2 người đã nói chuyện với nhau rất lâu. Prost còn hẹn gặp lại Senna tại vòng đua Monaco 2 tuần sau đó.
11h: Senna cùng với Gerhard Berger, đồng đội cũ ở McLaren, tới buổi họp báo trước cuộc đua. Cuộc họp báo ngắn, trong đó những người có mặt đã dành 1 phút tưởng niệm tay đua Roland Ratzenberger (của đội Simtek), người đã chết ngày hôm trước trong một tai nạn ở vòng đua xếp hạng. Trong cuộc họp báo này, Senna đã thể hiện sự lo ngại của mình về tốc độ của xe an toàn. Anh cho rằng xe an toàn chạy quá chậm so với tốc độ hoạt động lý tưởng của lốp xe đua, khiến cho lốp xe đua bị nguội đi, giảm độ ma sát với đường đua.
12h: Senna tới khu vực tiếp khách của đội Williams để cùng với người đồng đội Damon Hill đón tiếp các vị khách mời. Anh không còn tâm trạng nào để làm việc này, nhưng hiểu rằng tiếp thị là một phần trong công việc của một tay đua.
12h20: Senna bắt đầu chuẩn bị cho cuộc đua. Thông thường anh hay ăn một bữa trưa nhẹ với cá hoặc pasta, sau đó nghỉ ngơi khoảng 1 giờ, không nói chuyện với ai cả.
13h30: Nửa tiếng trước khi xuất phát, Senna tới khu vực kỹ thuật của đội đua Williams. Jaime Brito, một phóng viên người Brasil, đã đề nghị anh ký tặng 3 bức ảnh. "Anh ấy đã làm một việc mà tôi chưa bao giờ thấy anh ấy làm trước đây," Brito nhớ lại. "Anh ấy đi vòng quanh chiếc xe đua của mình, xem xét lốp xe, tì thử cánh gió sau của xe, cứ như là anh ấy nghi ngờ điều gì bất thường ở chiếc xe".
13h45: Senna phá vỡ quy luật thông thường trên vạch xuất phát của anh khi tháo bỏ mũ bảo hiểm. Trong khi phần đông các tay đua khác thường đợi đến sát giờ đua mới vào xe, Senna thường vào xe rất sớm và tập trung suy nghĩ.
14h: Đèn xuất phát bật sáng, Senna dẫn đầu các xe đua ào ào tiến tới cua đầu tiên. Tuy nhiên một tai nạn xảy ra: tay đua Pedro Lamy của đội Lotus đâm vào chiếc xe Benetton bị chết máy giữa đường của tay đua J. J. Lehto, khiến mảnh vỡ văng tung toé khắp đường đua. Một chiếc bánh xe bay lên tận khán đài, làm bị thương 9 người.
14h03: Xe an toàn xuất hiện, dẫn đầu đoàn đua chạy chậm xung quanh đường đua trong khi các nhân viên kỹ thuật dọn dẹp các mảnh vỡ. Đây chính là điều mà Senna đã lo ngại trong cuộc họp báo. Senna vẫn dẫn đầu, theo sau lần lượt là Michael Schumacher, Gerhard Berger và Damon Hill.
14h15: Đội Williams thông báo cho Senna biết xe an toàn chuẩn bị rời khỏi đường đua để cuộc đua tiếp tục. Senna trả lời. Đây là lần liên lạc cuối cùng của anh với đội đua. Cuộc đua bắt đầu trở lại, Senna và Schumacher lập tức bám sát nhau và gia tăng khoảng cách với các tay đua còn lại.
14h17: Vòng đua thứ bảy, Senna vào khúc cua Tamburello với tốc độ 190 dặm/giờ (khoảng 305 km/h), mất lái và lao vào bức tường bêtông không có lớp lốp cao su bảo vệ. Điểm va chạm đầu tiên là khu vực phía trước bên phải của xe, lốp xe văng ra ngoài, chiếc xe bẹp dúm, bật trở lại tới gần mép đường đua. Khi chiếc xe Williams mất lái, Senna đã đạp phanh, nên tốc độ xe khi chạm vào tường bêtông giảm xuống còn 131 dặm/giờ (khoảng 210 km/h). Ngay sau khi đâm, người ta thấy Senna dường như cử động đầu, mang lại chút hy vọng nhỏ rằng anh không bị thương nặng. Tuy nhiên, Senna đã bị chấn thương rất nặng ở vùng đầu. Hàng triệu người xem truyền hình đã nhìn thấy máu chảy ra khỏi xe trong những hình ảnh quay từ trên không. Senna được đưa ra khỏi xe và chở đến bệnh viện Maggiore ở Bologna bằng trực thăng. Trên máy bay, các bác sĩ cố gắng duy trì nhịp tim cho anh.
14h55: 37 phút sau tai nạn của Senna, cuộc đua được cho xuất phát lại. Berger dẫn đầu trong 11 vòng trước khi vào pit và bỏ cuộc ở vòng 14. Là bạn thân của Senna, anh lập tức vào bệnh viện.
16h20: Michael Schumacher cán vạch đích trước tiên, giành chiến thắng thứ ba liên tiếp. Ngay sau đó, tại bệnh viện, các tín hiệu điện não đồ cho thấy não của Senna đã ngừng hoạt động, và anh chỉ còn được duy trì cuộc sống thực vật bởi các máy móc y tế. Theo luật của Ý, các bác sĩ không được phép ngừng hoạt động của các máy móc trong vòng 12 tiếng đồng hồ. Tuy nhiên 12 tiếng đồng hồ là quá nhiều với tình trạng của Senna.
18h40: Bác sĩ trưởng Maria Theresa Fiandri ra thông báo rằng Senna đã chết. Tại đường đua, khi dọn dẹp những gì còn lại của chiếc xe của anh, người ta đã tìm thấy một lá quốc kỳ Áo. Senna đã định giành chiến thắng thứ 42 của mình để tưởng nhớ Ratzenberger.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Trong toán học và vật lý học, một liên hệ Kramers-Kronig cho biết quan hệ giữa phần thực của một hàm giải tích phức với một tích phân chứa phần ảo của nó; và ngược lại. Liên hệ này được đặt theo tên của Ralph Kronig và Hendrik Anthony Kramers.
Quan hệ này thường được ứng dụng trong vật lý học khi nghiên cứu về điện trường và từ trường trong môi trường vật chất. Ví dụ, trong quang học, đặc biệt là quang học phi tuyến, liên hệ này giúp tính được chiết suất của vật liệu bằng cách đo hệ số hấp thụ, một đại lượng dễ dàng đo được chính xác.
Xét một bức xạ điện từ đơn sắc có biến đổi theo thời gian được viết bởi formula_1 trong biểu diễn phức của sóng. Công thức sau cho thấy mối liên hệ giữa hệ số hấp thụ và độ điện thẩm formula_2:
Các tích phân ở trên là tích phân Cauchy và formula_5 là giá trị Cauchy chính.
Biểu diễn theo hệ số hấp thụ "α", chiết suất "n" và tốc độ ánh sáng trong chân không "c":
Điều kiện để formula_7 thỏa mãn liên hệ Kramers-Kronig là nó phải lài biến đổi Fourier của một tiến trình vật lý tuyến tính và có tính nhân quả. Nếu viết
với formula_9 và formula_10 là các hàm giải tích thực, liên hệ Kramers-Kronig sẽ là
Liên hệ Kramers–Kronig có quan hệ với biến đổi Hilbert, và thường được áp dụng cho độ điện thẩm formula_13 của vật liệu. Chú ý là
với formula_15 là độ cảm điện môi của vật liệu. Độ cảm điện môi có thể được coi là biến đổi Fourier của sự biến đổi theo thời gian của véctơ phân cực trong vật liệu sau khi bị tác động của một xung điện trường.
|
Đới Đức Tuấn (1908 - 1969), hay Đái Đức Tuấn, nổi tiếng với bút danh TchyA, là một kí giả, văn sĩ và thi sĩ Việt Nam.
Đới Đức Tuấn sinh năm 1908 tại thôn Ngọc Giáp, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, xứ An Nam thuộc Liên bang Đông Dương. Xuất thân trong một gia đình quan lại, sau khi tốt nghiệp tú tài toàn phần, ông làm tham tá ở Nha học chánh Đông Dương từ năm 1930. Đới Đức Tuấn bắt đầu viết báo, viết văn từ 1935 cho các tờ Đông Tây, Nhật Tân, Tiểu thuyết thứ bảy. Đến năm 1940 ông xin nghỉ việc và sang cư trú dài hạn tại Côn Minh. Đến năm 1945 ông trở lại Bắc Kỳ tiếp tục làm báo. Năm 1950 ông dạy học ở trường Quốc học Huế.
Về bút danh TchyA, có người cho rằng chữ A trong bút danh phải được viết hoa mới đúng theo ý của Đới Đức Tuấn. Tạ Tỵ khi vẽ chân dung Đới Đức Tuấn đều ghi rõ bút danh của Đới Đức Tuấn là TchyA; nhưng trong "Nhà văn hiện đại" của Vũ Ngọc Phan (Nhà xuất bản Sống mới, Sài Gòn, 1959, tr.985) và các bộ sách từ điển văn học được xuất bản gần đây, như "Từ điển Văn học" (bộ mới), "Từ điển tác gia Văn hóa Việt Nam" (Nhà xuất bản VH-TT, Hà Nội, 1999) đều ghi là Tchya.]
Năm 1946 Đới Đức Tuấn gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng, sau đó đăng trình vào Quân đội Quốc gia Việt Nam, thăng tới Đại úy đồng hóa và rã ngũ năm 1956.
Ông mất ngày 8 tháng 8 năm 1969 tại Sài Gòn.
Vũ Ngọc Phan nhận xét:
Văn của Tchya ""không phải thứ văn chương hàm súc hay linh hoạt, nên những truyện ngắn của ông đều dài dòng, cổ lỗ… chỉ những tập truyện truyền kỳ là còn kha khá.
"Và cũng như văn, thơ ông đượm rất nhiều phong vị cổ. Ở văn, gọt giũa quá, nhiều khi tai hại; nhưng ở thơ, nó lại có được đôi phần hay là lời điêu luyện, già giặn. Tôi nói "có được đôi phần hay", vì nếu gọt giũa lắm vẻ tự nhiên, sự thành thật sẽ không còn nữa…"
"Sống liều nghịch với sầu thương "
"Thuyền cô đẫm bóng tà dương nhẹ chèo "
"Sương tàn lả ngọn ba tiêu,"
"Lòng trần thoảng sạch bể chiều nhấp nhô"
"…Về không nổi, ngày thêm tẻ "
" Ở chẳng nên chi, tóc điểm vàng "
"Gánh nợ thê noa nào trả nữa "
"Chân trời đâu nhỉ cái bồng tang?..."
"Về thơ, ông chịu ảnh hưởng thơ Đường rất nhiều, còn về tiểu thuyết truyền kỳ, ông cũng lại chịu ảnh hưởng Liêu trai. Ông là một nhà văn và là một nhà thơ không có cái gì đặc sắc.""
Sau này, Nguyễn Vinh Phúc có những đánh giá tương tự:
Về tiểu thuyết, Tchya sử dụng "quá nặng màu sắc thần bí và định mệnh, văn chương lại xen nghị luận, giảng thuyết nên tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm không có gì đáng kể. May mà, cốt truyện hấp dẫn, cách kết cấu các chương khéo, phần đuôi của câu chuyện trước lại khởi đầu cho một câu chuyện ly kỳ khác ở chương sau…"
Còn tập thơ "Đầy vơi", "tuy ra đời vào cuối phong trào thơ mới, nhưng ý vị khá cổ, lời nhiều sáo ngữ, rất ít tứ mới, từ mới. Tuy nhiên, nhờ kỹ thuật gọt giũa công phu nên thơ Tchya nói chung cũng tao nhã…"
|
Jean-Pierre Papin (sinh 5 tháng 11 năm 1963 tại Boulogne-sur-Mer, Pháp) là một trong những cầu thủ bóng đá xuất sắc của Pháp, giành Quả Bóng Vàng năm 1991.
Sự nghiệp cầu thủ.
Bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp của mình tại câu lạc bộ Brugge năm 1985, nhưng ông đạt đến đỉnh cao khi chơi tại câu lạc bộ hàng đầu Pháp là Olympique Marseille ở vị trí trung phong với năm lần liên tiếp đoạt chức vua phá lưới giải vô địch quốc gia Pháp, từ 1988 đến 1992.
Mùa bóng 1992-1993, Papin chuyển sang A.C. Milan và gặp lại Olympique Marseille trong trận chung kết Champions League năm 1993. Kết quả là đội bóng mới của ông đã thua đội bóng cũ 0-1. Sau đó, Papin lần lượt trải qua các câu lạc bộ Bayern München, Girondins de Bordeaux, Guingamp trước khi giải nghệ năm 1999.
Sau khi từ giã sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp, ông tiếp tục chơi bóng cho đến năm 40 tuổi, khi đầu quân cho các đội bóng nghiệp dư gần nơi mình sinh sống: Jeunesse sportive Saint-Pierroise (tại đảo Reunion) và US Cap-Ferret, nơi ông đã ghi được tổng cộng 140 bàn trong ba mùa bóng.
Papin chơi cho đội tuyển Pháp 54 trận từ năm 1986 đến năm 1995, ghi 30 bàn. Thành tích cao nhất của ông khi chơi cho đội tuyển quốc gia là hạng ba World Cup 1986 tại México. Ông đoạt giải Quả bóng vàng châu Âu 1991. Papin cũng có trong danh sách 125 cầu thủ hay nhất thế giới còn sống do FIFA bình chọn năm 2004, với những pha ngả bàn đèn đã trở thành kinh điển. Kỹ thuật này là thành quả của sự khổ luyện trong nhiều năm của ông, độ chuẩn xác và uy lực của cú sút bù đắp cho thể hình có phần khiêm tốn của Papin. Nó khiến cho ông trở thành một mẫu tiền đạo vô cùng độc đáo, khi là một trung phong cắm nhưng lại có khả năng ghi bàn từ xa. Ngày nay, động tác này mang tên ông, các cú "papinade".
Sự nghiệp Huấn luyện viên.
Trong những năm thi đấu cho US Cap-Ferret, Papin tranh thủ thi lấy bằng Huấn luyện viên. CLB đầu tiên mà ông dẫn dắt là FC Bassin d'Arcachon, một đội thi đấu tại Division d'Honneur (Giải hạng 6 Pháp) nằm tại miền Tây nước Pháp. Dưới sự dẫn dắt của ông, đội đã giành được cúp vùng Nouvelle-Aquitaine cũng như quyền thăng hạng, lên chơi ở giải CFA 2 (hạng 5) ở mùa bóng 2004-2005.
Đội bóng chuyên nghiệp đầu tiên mời ông về huấn luyện là RC Strasbourg tại mùa giải 2006-2007 ngay sau khi họ bị xuống hạng. Papin đã lèo lái đội khá thành công, giúp đội trở lại Ligue 1 chỉ sau đúng một năm thi đấu tại giải hạng hai. Nhưng tại cuối mùa bóng này, vì một số vấn đề nội bộ mà ông không tiếp tục dẫn dắt đội. Trong mấy tháng "thất nghiệp", nhiều thông tin tuyên bố đội Trung Quốc có mời ông về làm Huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia nước này nhưng ông từ chối. Ông cũng từ chối về dẫn dắt FC Nantes Atlantique.
Khi giải vô địch Pháp năm 2007-2008 khởi tranh được 4 vòng đấu, ông chính thức thay thế huấn luyện viên gạo cội Guy Roux về cầm quân RC Lens sau những kết quả khá thất vọng của đội này tại đầu mùa bóng. Nhưng Papin cũng không thể giúp đội giành quyền trụ hạng thành công với lực lượng cầu thủ không phải do ông lựa chọn trước khi mùa giải diễn ra. Kết thúc mùa bóng ông thôi giữ chức huấn luyện viên trưởng của RC Lens. Ngay sau đó ông có một số lời đề nghị khác (như của FC Nantes Atlantique hay Châteauroux) nhưng sau kinh nghiệm trên ông đều từ chối khi đánh giá chưa tìm được đội bóng và môi trường làm việc thích hợp.
! colspan="3" style="background: #FFF179;" |Giải thưởng
! colspan="3" style="background: #00ff00;" |Vị trí
|
Thái Ất thần kinh hay Thái Ất là một trong ba môn học xếp vào tam thức (Thái Ất, Độn giáp, Lục nhâm đại độn).
Thái Ất tức là Thái Nhất, tên gọi khác của Thần Bắc cực.
Tính số cục bao gồm niên cục, nguyệt cục, nhật cục và thời cục.
Mỗi nguyên tý có 72 năm. Niên cục là số từ 1 đến 72 trong mỗi nguyên tý. Người ta dùng mốc tính tích niên từ Thượng cổ, năm Giáp Tý đời Thiên hoàng, cách năm CN 10.153.917 năm. Để tính số niên cục của một năm, sử dụng công thức:
Có một số thuyết tính mốc tích niên từ Trung cổ, năm Giáp Dần đến năm tuổi Việt (tuổi Việt lấy năm dương lịch là năm 2879 TCN cộng với năm xem)
Từ Thượng cổ, năm Giáp Tý đời Thiên hoàng đến Trung cổ, năm Giáp Dần cách nhau 10.141.310 năm.
Nếu dùng mốc Trung cổ, năm Giáp Dần, những vì sao xuất phát từ Thượng cổ, năm Giáp Tý thì phải thêm số doanh sai, tính toán phiền phức.
Ví dụ năm 2014 dương cục là: Tích niên = 2014 + 10.153.917 = 10.155.931, chia tích niên cho 3.600 được số dư 331, phần dư lại chia tiếp 360 dư 331, phần dư này chia tiếp cho 72 được số dư 43. Vậy được số niên cục dương 43.
Cục tương ứng với tháng gọi là nguyệt cục. Cách tính là lấy số tích tháng từ Thượng cổ, năm Giáp Tý đến tháng xem, cộng thêm hai tháng Tý, Sửu vì người ta dùng lịch kiến Dần; hai tháng này gọi là Thiên Chính, Địa Chính.
Ví dụ: Tính nguyệt cục của tháng 06/2009
Từ Thượng cổ Giáp Tý đến năm trước năm có tháng xem (năm 2008) có: 10.153.917 + 2008= 10.155.925 năm, 10.155.925 * 12 = 121.871100 tháng. Số tháng Thiên Chính, Địa Chính và tháng cần xem (6)là 8, nghĩa là phải cộng thêm 8 được tổng số tháng = 121.871100 + 8= 121.871108. Lấy số này: 360 dư 308, 308: 72 dư 20. Như vậy tháng 06/2009 thuộc nguyên Nhâm Tý, có Nguyệt cục dương 20.
Một số thuyết tính gốc Nguyệt cục là ngày mồng một (Mậu Ngọ) tháng 11 (Bính Tý), năm Giáp Tý, năm đầu niên hiệu Nguyên Gia, vua Tống Văn Đế nhà Tống (420-479) ở Trung Quốc thời kỳ Nam-Bắc triều (Tương ứng với ngày 7 tháng 12 năm 424). Sách "Thái Ất dị giản lục" có ghi cách tính này.
Ví dụ: Tính Nguyệt cục của tháng Mậu Dần năm Canh Thìn (2000)
Từ tháng Bính Tý năm Giáp Tý (năm 424) đến tháng Ất Hợi (tháng trước tháng Bính Tý) năm Kỷ Mão (năm 1999) có: (2000-1) – 423 = 1.576 năm. Lấy số năm (1.576) * 12 được 18.912 tháng (mỗi năm 12 tháng). Từ tháng tháng Bính Tý năm Kỷ Mão (1999) đến tháng Mậu Dần năm Canh Thìn (2000) có 3 tháng. Vậy số Tích tháng = 18.912 + 3 = 18.915. Lấy số này chia cho 360 dư 195. Lấy dư số chia cho 72 dư 51. Như thế tháng Mậu Dần năm Canh Thìn (2000) thuộc nguyên Nhâm Tý, dương có Nguyệt cục dương 51.
Nguyên tắc: niên cục dương thì nguyệt cục cũng dương; niên cục âm thì nguyệt cục cũng âm.
Một số thuyết áp dụng cục âm dương trong Thái Ất kể ngày. Cục âm, dương tính như sau: Từ Đông chí đến trước ngày Hạ chí, là dương cục; từ Hạ chí đến trước ngày Đông chí, thuộc âm cục (chú ý tính ngày phải xét đến cả giờ chuyển tiết, khí)
Thí dụ: Tính nhật cục ngày 26/4/2012 dương lịch.
Tính Nhật cục theo Thái Ất thần kinh:
Ngày Đông chí năm trước: 22 tháng 12 năm 2011
Ngày Giáp Tí đầu tiên gần nhất sau Đông chí năm trước là ngày 04/01/2012
Số ngày tích lại: 26/04/12- 04/01/12+ 1 = 114 đem chia cho 360 được số dư 114. Số dư chia tiếp cho 72 được số dư là 42.
Vậy ngày 26/04/2012 có Nhật cục 42
Có thuyết tính mốc tích ngày là ngày Giáp Tí (01) tháng Giáp Tí (11), năm Quý Hợi thuộc niên hiệu Cảnh Bình đời Tống tương ứng với ngày 19 tháng 12 năm 423 theo dương lịch.
Trước hết tính số ngày từ gốc là ngày 19 tháng 2 năm 423 tới ngày 18 tháng 2 trước ngày xét và tính được tròn số từ năm 423 tới năm xét.
Tiếp đó người ta sử dụng công thức tính làm tròn ngày tích 365,2425 ngày/năm với số năm.
Bước tiếp theo tính số ngày lẻ từ ngày 19 tháng 2 tới ngày xét.
Lấy tổng số ngày (số tích ngày) chia 360 lấy dư. Lại chia tiếp 72 lấy dư làm số Nhật cục.
Có thuyết quy định tính Tích Nhật dựa vào Tích Nguyệt. Sách Thái Ất dị giản lục có ghi cách tính này.
Ví dụ: Tính thời cục giờ Tý, ngày 12/08/2011
Ngày Giáp Ngọ gần nhất là 01/08/2011. Số ngày tích lại: 11. Số tích giờ 11. 12 = 132 giờ. Cộng thêm 1 giờ là 133 giờ. 133 chia 360 dư 133, lại chia 133 cho 72 dư 61. Ngày 12/08/2011 thuộc dương cục. Vậy tính được Thời cục 61 Dương.
Cách tính số Niên cục, Nguyệt cục, Nhật cục, Thời cục gọi là Tứ kế (Tuế kế, Nguyệt kế, Nhật kế, Thời kế)
Những sách này ít thấy bán trong các cửa hiệu sách ở Việt Nam.
Thái ất tử vi
Công cụ tính toán Niên cục, Nguyệt cục, Nhật cục, Thời cục cho Thái Ất tự động
|
Chợ Mới, An Giang
Chợ Mới là một huyện thuộc tỉnh An Giang, Việt Nam.
Huyện Chợ Mới nằm ở phía đông của tỉnh An Giang, có địa giới hành chính:
Huyện Chợ Mới được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Nao và rạch Cái Tàu Thượng, có 2 cù lao là cù lao Ông Chưởng và cù lao Giêng.
Chợ Mới có diện tích 355,71 km², dân số là 442.908 người (theo tổng điều tra dân số năm 2020 của huyện để báo cáo Thủ tướng), bao gồm:
Mật độ dân số: 866 người/km².
Tổng diện tích đất tự nhiên: 36.928,9 ha, bao gồm:
Mùa lũ có khả năng tải nước 8000 m3/s với tốc độ 1 m/s. Mực nước thấp nhất có lưu lượng dao động 1000 m3/s đến 2000 m3/s xuất hiện vào tháng 4 và đầu tháng 5.
Mùa thường có hệ thống sông ngòi chằng chịt dọc theo các kênh rạch cung cấp đủ lượng nước tưới tiêu cho cả huyện.
Khoáng sản: chủ yếu là bột sét và cát mịn do trầm tích trên sông tụ lại phân bố chủ yếu dọc theo các bờ sông.
Nguồn gốc tên gọi Chợ Mới.
Về nguồn gốc của tên gọi Chợ Mới, tương truyền rằng ngày xưa có ngôi chợ cũ tên Phó Định Bài nằm ở bên kia bến đò Kiến An. Về sau, một ngôi chợ khá bề thế được xây dựng tại làng Long Điền thuộc khu vực huyện lỵ ngày nay và được người dân gọi là "Chợ Mới". Trước đó, vào năm 1897 tại làng Long Điền đã có hai ngôi chợ cũ tên là chợ Ông Chưởng và chợ Thủ Chiến Sai.
Ban đầu, địa danh Chợ Mới chỉ là tên một ngôi chợ tại làng Long Điền thuộc tỉnh Long Xuyên. Sau này, thực dân Pháp thành lập quận và đặt tên là quận Chợ Mới do lấy theo tên gọi Chợ Mới vốn là nơi đặt quận lỵ.
Chợ Mới cũng là nơi thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Long Xuyên và ngày nay là tỉnh An Giang.
Vào thời nhà Nguyễn độc lập, vùng đất Chợ Mới ngày nay vốn là một phần của huyện Đông Xuyên thuộc phủ Tuy Biên, tỉnh An Giang.
Sau khi chiếm hết được các tỉnh Nam Kỳ vào năm 1867, thực dân Pháp dần xóa bỏ tên gọi tỉnh An Giang cùng hệ thống hành chính phủ huyện cũ thời nhà Nguyễn, đồng thời đặt ra các hạt Thanh tra. Vùng đất Chợ Mới lúc này thuộc hạt Thanh tra Long Xuyên. Đồng thời, hạt Long Xuyên cũng lấy thêm địa phận các làng Tân Phú, Tân Thạnh trước đó thuộc tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường để lập tổng mới gọi là tổng Phong Thạnh Thượng trực thuộc hạt Thanh tra Long Xuyên.
Ngày 5 tháng 1 năm 1876, hạt Thanh tra Long Xuyên đổi thành hạt tham biện Long Xuyên, các thôn đổi thành làng. Ngày 1 tháng 1 năm 1900, tất cả các đơn vị hành chính cấp tỉnh ở Đông Dương điều thống nhất gọi là "tỉnh", trong đó có tỉnh Long Xuyên.
Năm 1897, ba tổng An Bình, Định Hòa và Phong Thạnh Thượng có các làng trực thuộc như sau:
Năm 1917, thực dân Pháp thành lập quận Chợ Mới thuộc tỉnh Long Xuyên, gồm 3 tổng với 20 làng: tổng Định Hoà có 8 làng, tổng An Bình có 6 làng, tổng Phong Thạnh Thượng có 6 làng. Quận lỵ Chợ Mới đặt bên bến đò Kiến An, sau dời về làng Long Điền, tức thị trấn Chợ Mới ngày nay. Lúc này, số làng đã giảm do thực dân Pháp tiến hành hợp nhất một số làng lại thành các làng mới với các tên gọi mới.
Ngày 1 tháng 1 năm 1920, hợp nhất ba làng Bình Đức Đông, Phú Xuân, Tân Phước thành lập làng mới lấy tên là làng Bình Phước Xuân.
Năm 1939, quận Chợ Mới có 3 tổng:
Ngày 7 tháng 11 năm 1939, ba làng Tấn Đức, Mỹ Hưng, Mỹ Chánh bị giải thể để thành lập hai làng mới là Tấn Mỹ và Mỹ Hiệp.
Cũng sau này, quận Chợ Mới được nhận thêm các làng Hội An (trước đây thuộc tổng An Thạnh Thượng, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc và làng Hòa Bình (trước đây thuộc tổng An Phú, quận Lấp Vò, tỉnh Long Xuyên). Làng Hòa Bình được chính quyền thực dân Pháp thành lập do hợp nhất làng An Hòa và làng Bình Thạnh Tây trước đó. Đặc biệt, tên làng An Hòa đã được dùng để chỉ phà (bắc) An Hòa nối liền hai bờ quận Châu Thành và quận Chợ Mới của tỉnh Long Xuyên lúc bấy giờ (ngày nay nối liền hai bờ thành phố Long Xuyên và huyện Chợ Mới của tỉnh An Giang).
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ chủ trương bỏ cấp tổng, bỏ đơn vị làng, thống nhất gọi là xã, đồng thời bỏ danh xưng quận, gọi thay thế bằng huyện. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã, tuy nhiên vẫn gọi là quận cho đến năm 1975. Huyện Chợ Mới ban đầu vẫn thuộc tỉnh Long Xuyên. Ngày 6 tháng 3 năm 1948, huyện Chợ Mới thuộc tỉnh Long Châu Tiền. Ngày 27 tháng 6 năm 1951, huyện Chợ Mới thuộc tỉnh Long Châu Sa. Đến năm 1954, huyện Chợ Mới lại trở về thuộc tỉnh Long Xuyên như cũ.
Việt Nam Cộng hòa.
Sau năm 1956, các làng gọi là xã. Ngày 17 tháng 2 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cắt tổng Phong Thạnh Thượng ra khỏi quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên để nhập vào tỉnh Phong Thạnh mới thành lập, sau đó trở thành quận Thanh Bình của tỉnh Kiến Phong, ngày nay bao gồm huyện Thanh Bình và huyện Tam Nông của tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, tỉnh Long Xuyên hợp nhất với tỉnh Châu Đốc thành tỉnh An Giang. Ngày 24 tháng 4 năm 1957, quận Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang, quận lỵ đặt tại xã Long Điền, gồm 2 tổng với 12 xã như sau:
Địa giới này được duy trì cho đến năm 1975, kể cả khi An Giang tách thành hai tỉnh là An Giang và Châu Đốc vào ngày 8 tháng 9 năm 1964. Sau năm 1965, cấp tổng bị giải thể, các xã trực thuộc quận. Năm 1970, quận Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang gồm 12 xã: An Thạnh Trung, Bình Phước Xuân, Hòa Bình, Hội An, Kiến An, Long Điền, Long Kiến, Mỹ Hiệp, Mỹ Hội Đông, Mỹ Luông, Nhơn Mỹ, Tấn Mỹ. Quận lỵ vẫn đặt tại xã Long Điền.
Chính quyền Cách mạng.
Trong giai đoạn 1957-1965, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng đặt huyện Chợ Mới thuộc tỉnh An Giang, giống như sự phân chia hành chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tháng 12 năm 1965, chính quyền Cách mạng giao huyện Chợ Mới về cho tỉnh Kiến Phong quản lý.
Tháng 5 năm 1974, Trung ương Cục miền Nam quyết định giải thể các tỉnh Kiến Phong và An Giang để tái lập các tỉnh Long Châu Tiền và tỉnh Sa Đéc. Lúc này, huyện Chợ Mới lại thuộc tỉnh Sa Đéc.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn đặt huyện Chợ Mới thuộc tỉnh Sa Đéc như trước đó cho đến đầu năm 1976.
Từ năm 1976 đến nay.
Tháng 2 tháng 1976, huyện Chợ Mới trở lại thuộc tỉnh An Giang cho đến ngày nay. Huyện Chợ Mới lúc đó bao gồm thị trấn Chợ Mới và 12 xã: An Thạnh Trung, Bình Phước Xuân, Hòa Bình, Hội An, Kiến An, Long Điền, Long Kiến, Mỹ Hiệp, Mỹ Hội Đông, Mỹ Luông, Nhơn Mỹ, Tấn Mỹ. Trong đó, thị trấn Chợ Mới được thành lập do tách đất từ xã Long Điền.
Ngày 25 tháng 4 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 181-CP về việc điều chỉnh địa giới một số xã thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang như sau:
Ngày 12 tháng 1 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 8-HĐBT về việc phân vạch địa giới phường, thị trấn và một số xã của huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang như sau:
Ngày 17 tháng 10 năm 2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 119/2003/NĐ-CP. Theo đó, thành lập thị trấn Mỹ Luông trên cơ sở 808 ha diện tích tự nhiên và 15.540 nhân khẩu của xã Mỹ Luông, đổi tên xã Mỹ Luông thành xã Mỹ An.
Ngày 9 tháng 2 năm 2018, UBND huyện Chợ Mới tổ chức lễ công bố quyết định xã Hội An đạt chuẩn đô thị loại V của UBND tỉnh An Giang.
Ngày 19 tháng 12 năm 2019, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định 1059/QĐ-BXD về việc công nhận thị trấn Chợ Mới mở rộng (gồm thị trấn Chợ Mới và một phần các xã: Long Điền A, Long Điền B, Kiến Thành và Kiến An) là đô thị loại IV.
Ngày 13 tháng 2 năm 2023, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 721/NQ-UBTVQH15 (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 10 tháng 4 năm 2023). Theo đó, thành lập thị trấn Hội An trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Hội An.
Từ đó, huyện Chợ Mới có 3 thị trấn và 15 xã như hiện nay.
Huyện Chợ Mới có 18 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 3 thị trấn: Chợ Mới (huyện lỵ), Hội An, Mỹ Luông và 15 xã: An Thạnh Trung, Bình Phước Xuân, Hòa An, Hòa Bình, Kiến An, Kiến Thành, Long Điền A, Long Điền B, Long Giang, Long Kiến, Mỹ An, Mỹ Hiệp, Mỹ Hội Đông, Nhơn Mỹ, Tấn Mỹ được chia thành 142 ấp.
Huyện Chợ Mới có 9 xã đạt chuẩn nông thôn mới: Long Điền A, Long Điền B (2015), Kiến Thành (2016), Mỹ Hiệp, Hòa An (2017), Long Kiến, Tấn Mỹ, Bình Phước Xuân (2018), Kiến An (2019), An Thạnh Trung (2021), Long Giang (2022).
Trên địa bàn huyện có 97 trường học ở các cấp, trong đó có 7 trường THPT:
Văn hóa - Du lịch.
Chợ Mới là nơi có nhiều tôn giáo chung sống: Phật giáo, Hòa Hảo, Thiên chúa, Cao Đài, Tin Là
"Ba phen quạ nói với diều"
"Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm."
"Lung linh bóng nước con đò"
"Nhớ sao Chợ Mới câu hò thủy chung"
"Quê tôi miền đất anh hùng"
"Hôm nay vẫn đẹp vô cùng ai ơi."
|
Đội viên là danh hiệu của một người khi tham gia và được kết nạp vào một tổ chức Đội.
Như: Đội viên Đội Thiếu Niên Tiền Phong. Đội viên Đội Công Tác Xã Hội.
Tại Việt Nam, Đội viên thường được hiểu là thành viên của Đội Thiếu Niên Tiền Phong. Những đội viên này đa số là học sinh cấp 1 hoặc cấp 2 và phải đeo khăn quàng đỏ.
Trang web Đội viên
|
Đế quốc là một nhà nước lớn mạnh, có tầm ảnh hưởng quốc tế sâu rộng, thống trị nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn hoặc chi phối được nhiều quốc gia khác.
Trong lịch sử đã tồn tại nhiều đế quốc sở hữu diện tích lãnh thổ rộng lớn, trải dài qua nhiều châu lục, đôi khi được gọi là các đế quốc toàn cầu, nhưng chưa từng có bất kỳ một đế quốc nào đủ khả năng để thống trị toàn bộ thế giới. Những nỗ lực xuất phát từ tham vọng cá nhân hay chủ nghĩa dân tộc bá quyền, điển hình như Đế quốc Pháp thời Napoleon hay Phe Trục trong Thế Chiến II... đều thất bại.
Đế quốc, xét về ngữ nghĩa, là từ Hán Việt có nghĩa là đất nước được cai trị bởi một vị hoàng đế. Đế quốc có cấp bậc cao hơn vương quốc, là đất nước được cai trị bởi một quân vương. Các cấp bậc này nằm trong hệ thống phân chia thứ bậc của chế độ chính trị phong kiến. Đế quốc là rộng lớn và đông dân hơn vương quốc, uy quyền hoàng đế là lớn hơn so với tước vương. Điều này tương tự cách dùng "Empire" (đế quốc) trong tiếng Anh dùng chỉ nước cai trị bởi một "Emperor" (hoàng đế), cấp bậc cao hơn "Kingdom" (vương quốc) là nước cai trị bởi một "King" (quân vương).
Ở Trung Hoa, người nắm lấy thiên hạ sau một cuộc chinh phạt sẽ trở thành hoàng đế, tước vương và đất đai thường do hoàng đế ban cấp cho họ hàng thân thuộc. Ở Châu Âu, quyền lực cao nhất ở từng nước là Vương Thất (một số nước tước vị thậm chí thấp hơn, ví dụ: Đại công quốc Ba L). Danh hiệu quý tộc cao nhất ở châu Âu là hoàng đế do bầu chọn bởi các nước với danh hiệu Hoàng đế Đế quốc La Mã thần thánh. Ở Pháp, đến khi Napoleon Đệ nhất nắm quyền, ông ta trở thành hoàng đế đầu tiên của nước Pháp bởi Napoleon đã chinh phạt và chiếm được gần như toàn bộ phần tây châu Âu. Ở Anh, người được xem là hoàng đế đầu tiên chính là Victoria với danh hiệu Nữ hoàng Ấn Độ, vì lý do chính trị, Victoria giới hạn danh hiệu "nữ hoàng" chỉ sử dụng trên phạm vi Ấn Độ thuộc Anh, trong khi chỉ duy trì danh hiệu "Vương" ở Anh và các phần còn lại của đế quốc Anh.
Hệ thống phân chia thứ bậc phong kiến cũng có tính chất cưỡng ép chứ không phải được đồng thuận. Ví dụ, hoàng đế Trung Quốc qua nhiều thời kỳ chỉ xem Việt Nam như một vương quốc chư hầu, và phong tước An Nam quốc vương cho vua Việt Nam, nhưng trên thực tế không sở hữu hay có bất kỳ thẩm quyền nào đối với Việt Nam.
Về sau, từ Đế quốc (hay "Empire" trong tiếng Anh) vẫn được sử dụng cho các nước lớn không theo chế độ phong kiến, dùng để chỉ một nước với khả năng kiểm soát hệ thống chính trị rộng lớn bao gồm nhiều nước. Từ Đế quốc được sử dụng với hàm nghĩa một nước mở rộng kiểm soát lãnh thổ và quyền lực chính trị, chứ không nhất thiết phải là một nước mang đặc tính chính trị phong kiến. Ví dụ, Đế quốc Mỹ.
Sử dụng nhầm lẫn.
Từ "đế quốc" và "đế chế" trong tiếng Việt là hai từ riêng biệt với ý nghĩa khác nhau thường được sử dụng nhầm lẫn. Từ "đế quốc" chỉ một hệ thống liên kết nhiều quốc gia, trong khi từ "đế chế" chỉ chế độ chính trị quân chủ.
Trường hợp nhầm lẫn điển hình là Đế quốc Việt Nam, từ "đế quốc" ở đây chỉ quốc gia theo chế độ chính trị hoàng quyền nhà Nguyễn vừa giành được độc lập dưới sự hỗ trợ danh nghĩa của Nhật, trong ý nghĩa này "đế quốc" chỉ chế độ chính trị. Trường hợp Đế chế thứ ba của Đức, từ "đế chế" được sử dụng trong khi nước Đức dưới quyền Hitler lúc đó không phải là chế độ quân chủ mà là chế độ độc tài quân sự, trong ý nghĩa này "đế chế" lại được dùng để chỉ quốc gia.
Theo định nghĩa của các nhà sử học Marxist thì đế quốc là quốc gia đi xâm lược các nước khác, thống trị các nước chiếm được, tiến hành vơ vét của cải, khai thác tài nguyên và bóc lột sức lao động dân bản xứ. Đế quốc là một nước thống trị nhiều nước, và các nước bị thống trị được gọi là thuộc địa. Trường phái Marxist chỉ trích rất nặng nề đối với "đế quốc" nhất là giai đoạn đối đầu ý thức hệ trong thế kỷ XX.
Theo cách lý giải của những nhà sử học tư bản phương Tây thì đế quốc là tập hợp nhiều quốc gia, trong đó có một quốc gia nắm vai trò lãnh đạo cả hệ thống. Đế quốc theo quan niệm này không phải là một nước, mà là một hệ thống. Những nhà sử học thuộc trường phái này mặc dù thừa nhận sự tiêu cực của đế quốc nhưng vẫn mô tả mặt tích cực của nó, như sự lây lan của văn minh phương Tây với nhiều tiến bộ.
Quan niệm thống nhất giữa hai trường phái sử học đối với "đế quốc" thì quan hệ giữa nước thống trị và bị trị trong hệ thống đế quốc đó là bất bình đẳng. Vì nếu sự bất bình đẳng không tồn tại thì hệ thống sẽ được gọi là "liên bang".
Trong các cách định nghĩa khác, đế quốc là một quốc gia đa sắc tộc hay nhà nước đa quốc gia với sự thống trị về mặt chính trị, quân sự của một dân tộc đối với các dân tộc có sự khác biệt về văn hóa và dân tộc.
Tom Nairn và Paul James định nghĩa đế chế là thực thể chính trị "mở rộng quan hệ quyền lực trên các không gian lãnh thổ mà họ không có chủ quyền pháp lý trước đó và mở rộng một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa, họ có được một số đo lường quyền bá chủ rộng rãi trên các không gian đó cho mục đích trích xuất hoặc tích lũy giá trị". Rein Taagepera đã định nghĩa một đế chế là "bất kỳ thực thể chính trị có chủ quyền tương đối lớn nào đối với các thành phần không có chủ quyền".
Tuy vậy, trong lịch sử tồn tại những trường hợp rất khác biệt nhau khiến cho việc hiểu đế quốc theo một định nghĩa chung không phải là điều đơn giản. Điển hình như trường hợp Đế quốc La Mã Thần thánh (từ thế kỷ 8 đến năm 1806) không có thẩm quyền ở nhiều nước châu Âu nhưng vẫn được duy trì như một hệ thống phân chia thứ bậc chính trị hoàng quyền, một hệ thống Công giáo được nhiều nước thần phục và đóng thuế tượng trưng. Trường hợp khác là Trung Quốc với hệ thống thần phục và triều cống chứ không có chủ quyền thực tế chính trị và lãnh thổ đối với các nước láng giềng. Hay như trường hợp phức tạp của Hoa Kỳ vẫn gây tranh cãi hiện nay.
Cấu trúc chính trị.
Một cấu trúc chính trị đế quốc có thể được thiết lập và duy trì theo hai cách:
Cấu trúc lãnh thổ.
Về phạm vi và hình lãnh thổ, đế quốc có hai dạng chủ yếu:
Các đế quốc thường được hình thành từ nhiều thành phần dân tộc, đa quốc gia, đa dạng văn hóa và tôn giáo khác nhau.
Nguồn gốc và lịch sử.
Mục đích cơ bản của đế quốc và các cuộc chiến tranh chinh phục liên quan mở rộng phạm vi lãnh thổ, chiếm hữu của cải và tài nguyên, chiếm hữu nô lệ, duy trì hoạt động thương mại, trong đó bao gồm độc quyền thương mại, truyền giáo hoặc duy trì hệ thống trưng thu thuế và triều cống lên nhiều nước. Không chỉ chiếm dụng mà còn duy trì lâu dài việc chiếm dụng đó để phục vụ và duy trì sự thịnh vượng của đế quốc.
Mục đích riêng mỗi đế quốc trong quá trình bành trướng có thể khác nhau đôi chút từ mục đích cơ bản, do các điều kiện kinh tế-xã hội và lịch sử khác nhau.
Các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha mở rộng đế quốc xuất phát từ nhu cầu truyền đạo Công giáo. Trong bối cảnh nổi lên của Đế quốc Ottoman đã chiếm con đường sang phương Đông, mở rộng Hồi giáo và các cuộc tấn công lấn sâu vào châu Âu đang diễn ra trên vùng Balkan. Sứ mệnh truyền đạo Công giáo để cạnh tranh trở thành nhu cầu bức thiết. Bên cạnh đó, người Bồ Đào Nha, mà sau đó là Hà Lan đặc biệt chú trọng thương mại vì nhu cầu thịnh vượng, củng cố mạnh mẽ quốc gia trước các cường quốc ở châu Âu. Bồ Đào Nha do đất nước nhỏ bé và dân số ít hơn các nước châu Âu không cho phép họ khả năng lấn sâu vào châu Âu, buộc họ bành trướng hải ngoại, chiếm lấy những vùng đất lạc hậu mà khả năng quân sự và công nghệ Bồ Đào Nha lúc bấy giờ có thể cho phép họ dễ dàng thực hiện hơn so với ở châu Âu. Còn trường hợp Hà Lan, họ được thôi thúc bởi nhu cầu củng cố thịnh vượng, là nhu cầu đảm bảo cho cuộc chiến tranh dài nhiều thập niên chống Tây Ban Nha để giành độc lập ở miền Bắc và sau đó là các tỉnh miền Nam.
Nước Pháp từ thế kỷ 17 đã đẩy mạnh bành trướng thuộc địa hải ngoại bởi nhu cầu xây dựng quyền lực và sự thịnh vượng khắp các lục địa, qua đó, thúc đẩy vinh quang và uy tín chính trị của triều đại Bourbon ở châu Âu.
Vào cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, theo cách lý giải của các nhà sử học Marxist, mở rộng của đế quốc liên quan đến chủ nghĩa thực dân, với động cơ kinh tế rõ ràng hơn, trong giai đoạn phát triển tột cùng của chủ nghĩa tư bản, các lý do của bành trướng đế quốc chủ yếu từ:
Thuộc địa là nơi cung cấp tài nguyên, là nơi tiêu thụ hàng hóa cùng nguồn nhân công rẻ mạt, và là nơi để đế quốc trút các gánh nặng của "khủng hoảng thừa". Từ đó thôi thúc các nước đế quốc chạy đua xâm lược và tranh giành thuộc địa trên khắp thế giới.
Ở một số nước đế quốc, động cơ xây dựng đế quốc đạt mức cực đoan, như trường hợp Đế chế Đức III, dưới chính quyền Đức Quốc xã. Mục tiêu cơ bản là Không gian sinh tồn, xâm chiếm các quốc gia Tây châu Âu, sau đó là Nga, chiếm đất đai dân tộc khác, thuyên chuyển, cưỡng bức họ di cư đến những vùng đất xa xôi, nô lệ hóa hoặc diệt chủng.
"Thực tế là các bộ tộc, dân tộc và các quốc gia đã tạo nên những quan điểm cho một nền tảng chính trị cơ bản, giúp giải thích tại sao đế quốc không thể bị giới hạn ở một địa điểm hay thời đại cụ thể mà đã xuất hiện và tái lập qua hàng ngàn năm và trên tất cả các châu lục".
Những đế quốc đầu tiên.
Vào thế kỷ 24 trước Công nguyên (TCN), Đế quốc Akkad do vua Sargon Đại đế trị vì là một đế chế lớn đầu tiên trong lịch sử. Trong thế kỷ 15 TCN, Ai Cập bước vào thời kỳ Tân Vương quốc Ai Cập, dưới sự thống trị của pharaon Thutmose III. Đế chế đầu tiên có uy lực sánh ngang với La Mã trong giai đoạn sau là Đế quốc Assyria (2000 - 612 TCN). Ngoài ra, gần Đế quốc Assyria, người Media cũng có một "đế quốc" và chính họ đã chinh phạt luôn cả kinh thành Assyria với sự hỗ trợ của Đế quốc Tân Babylon. Cận kề với Đế quốc Media có đế quốc Lydia, với ông vua giàu có nổi tiếng Kroisos. Nhưng rồi Media bị vua chư hầu xứ Ba Tư là Cyrus Đại Đế tiêu diệt, và lập nên Đế quốc Ba Tư của nhà Achaemenes (550-330 TCN). Dưới sự chỉ huy của vua Cyrus Đại Đế, quân Ba Tư chinh phạt được Lydia và Babylon. Ba Tư là một đế quốc vinh quang, rộng lớn và đa văn hóa, thâu tóm cả Lưỡng Hà, Ai Cập, một phần của Hy Lạp, xứ Thrace, phần còn lại là Trung Đông, nhiều khu vực tại Trung Á và Pakistan, cho đến khi đế quốc này bị Alexandros Đại Đế đánh đổ và thay thế bằng Đế quốc Macedonia, nhưng rồi đế quốc này cũng yểu mệnh như ông.
Sử dụng hoán dụ.
"Đế chế" được dùng chỉ một doanh nghiệp kinh doanh quy mô lớn (ví dụ một công ty xuyên quốc gia), một tổ chức chính trị được kiểm soát bởi một cá nhân duy nhất (một ông chủ chính trị) hoặc một nhóm (các ông chủ chính trị).
|
Pavel Novotný (sinh ngày 5 tháng 2 năm 1977, tên khai sinh Jaroslav Jirík, ngoài ra còn có một số tên gọi khác là Max Orloff, Jan Dvorak) là một nam diễn viên đóng phim khiêu dâm người Cộng hòa Séc. Anh chính thức xuất hiện trong làng giải trí khiêu dâm từ năm 1998 và chủ yếu hợp tác với hãng Bel Ami có trụ sở tại Bratislava, Slovakia và hãng Studio 2000 của Mỹ. Hiện tại, anh đã bí mật rút khỏi nghề diễn viên khiêu dâm và thông tin về cuộc sống riêng tư sau đó của anh không được tiết lộ.
Đặc điểm diễn xuất.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Pavel Novotny được coi là một trong những ngôi sao phim khiêu dâm nổi bật nhất của Cộng hòa Séc và có ảnh hưởng ở tầm quốc tế. Một trong những đặc điểm làm nên thành công của anh phải kể đến là ngoại hình đặc trưng cho người Slav Đông Âu. Pavel sở hữu một khuôn mặt đẹp trai với những đường nét vuông vức, khỏe khoắn, mũi cao và có phần hao hao giống một thiếu niên trong thời gian đầu đóng phim khiêu dâm nhưng về sau khuôn mặt anh thể hiện nhiều nét nam tính trưởng thành hơn. Trong phần lớn các phim của mình, Pavel đóng cảnh top, đưa dương vật vào hậu môn của đối tác.
Bộ phim quốc tế đầu tiên Pavel Novotny tham gia là "Czech Point" (1999). Trong phim này, Pavel Novotny và Ales Hanak là hai diễn viên người Séc duy nhất. Họ đóng vai hai người lính thuộc lực lượng đặc nhiệm của quân đội Séc sang học tập trong môi trường quân đội Mỹ và không hề biết tiếng Anh. Vị chỉ huy (do Chris Steel đóng) yêu cầu Pavel cởi bỏ quần áo để kiểm tra phát triển hình thể và sau đó hai người đã quan hệ tình dục ngay trong phòng chỉ huy. Trong Prague Rising (2000), Pavel cùng Ales Hanak lại diễn xuất cùng nhau và nhập vai những bóng ma ám trong ngôi nhà cổ ở Cộng hòa Séc. Sự đa dạng trong diễn xuất cũng là một thành công lớn của Pavel khi anh đóng nhiều cảnh top khác nhau với những vai trò như lính cứu hỏa (trong "Czech Firemen") hay nhân viên khách sạn ("The Jan Dvorak Story").
|
Kim Đồng (1929 – 15 tháng 2 năm 1943) là bí danh của Nông Văn Dền , một thiếu niên người dân tộc Nùng, ở xóm Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
Kim Đồng, tên thật là Nông Văn Dền. "Dền" tiếng Tày, Nùng có ý nghĩa là Tiền. Khi sinh ra Dền, cha mẹ Dền mong muốn đứa con trai của mình sau này sẽ có cuộc sống hạnh phúc, ấm no nên mới đặt tên như vậy.
Gia đình Kim Đồng.
Cha của Kim Đồng, là người làng Nà Mạ, tên là Nông Văn Ý. Trong một lần sang quê vợ ở làng Kép Ké (Nà Sác) gặp nạn, chết không xác định được nguyên nhân chính xác.
Mẹ Kim Đồng tên là Lân Thị Hò (1890 - 1972), quê làng Kép Ké. Bà là một người phụ nữ chăm chỉ, hết lòng vì chồng con, giỏi nghề dệt và làm giấy bản, là hội viên Hội phụ nữ cứu quốc. Sức khỏe bà rất yếu nên từ nhỏ Kim Đồng đã phải làm nhiều việc của người lớn, điều đó sớm hình thành trong Kim Đồng những tính cách của người lớn như: Quyết đoán, năng động, không ngại khó, dũng cả
Kim Đồng có hai chị gái, một anh trai và một em gái. Chị gái cả tên là Nông Thị Nhằm. Lấy chồng trong làng tên là Lý Văn Kinh thường được gọi là Kinh Xình, nhà anh Kinh Xình là nơi hội họp, đón tiếp, bảo vệ cán bộ cách mạng. Trong ngôi nhà này, ngày 14/2/1943, lãnh đạo chủ chốt Châu uỷ Hà Quảng họp, nhờ hành động dũng cảm của Kim Đồng mà thoát cả lên núi phía sau nhà. Chị gái thứ hai là Nông Thị Lằng cũng lấy chồng trong làng. Anh trai là Nông Văn Tằng (bí danh là Phục Quốc) sớm tham gia cách mạng, là đội viên giải phóng quân, chiến đấu và hy sinh ở Chợ Đồn (Bắc Kạn). Để anh Phục Quốc có điều kiện hoạt động cách mạng, 12 tuổi, Kim Đồng đã thay anh đi làm phu, chặt cây, trồng cỏ ở đồn Sóc Giang. Em gái là Nông Thị Slấn, xinh đẹp, chăm chỉ. Một lần qua suối, không may trượt chân ngã, chết đuối.
Kim Đồng đã cùng đồng đội làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón Việt Minh và chuyển thư từ. Trong một lần đi liên lạc, khi cán bộ đang có cuộc họp, anh phát hiện có quân Pháp đang tới nơi cư trú của cán bộ, Kim Đồng đã đánh lạc hướng họ để các bạn của mình đưa bộ đội về căn cứ được an toàn. Kim Đồng chạy qua suối, quân Pháp theo không kịp liền nổ súng vào anh. Kim Đồng ngã xuống ngay bên bờ suối Lê Nin ở Cao Bằng ngày 15 tháng 2 năm 1943, khi đó anh vừa mới tròn 14 tuổi. Để tưởng nhớ về anh có nhà thơ đã miêu tả rằng:
" "Anh là anh Kim Đồng"
"Người anh hùng tuổi nhỏ"
"Đã anh dũng hy sinh"
"Vì quê hương đất nước"
"Nhưng Kim Đồng sống mãi"
"Nêu gương sáng muôn đời"
"Cho tuổi thơ Việt Nam"
"Luôn chăm ngoan, học tốt!"."
Nhạc sĩ Phong Nhã đã sáng tác bài hát Kim Đồng vào năm 1945 để ca ngợi những chiến công của anh. Bài hát đã được chọn trong danh sách 50 bài hát hay nhất thế kỷ 20.
""Hờn căm bao lũ tham tàn phát xít"
"Dấn bước ra đi Kim Đồng lên chiến khu"
"Kim Đồng quê hương Việt Bắc xa mù"
"Kim Đồng thay cha rửa mối quốc thù...""
Tháng 7 năm 1997, Kim Đồng được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.
|
Hiệu ứng lá sen
Trong khoa học vật liệu, hiệu ứng lá sen chỉ sự không thấm nước của bề mặt một số lá cây, điển hình là lá sen. Nước bị đẩy lùi khỏi bề mặt của lá nhờ các sợi lông nhỏ mịn trên bề mặt.
Barthlott đã nghiên cứu và chứng minh sự liên quan giữa cấu trúc micro và các hợp chất hóa học trên bề mặt lá sen với khả năng chống bị ướt và tự làm sạch khỏi chất làm ô nhiễm. Nước rơi lên bề mặt lá sẽ lăn như những giọt hình cầu, cuốn đi bùn bẩn và vi trùng.
Người ta đã mô phỏng hiệu ứng này để tạo ra các vật liệu tự làm sạch, siêu kị nước dựa trên hiệu ứng này của tự nhiên. Chúng được ứng dụng để chế tạo sơn, ngói lợp mái nhà, vải hay các bề mặt khác cần tự làm sạch.
Sen là loài nổi tiếng về sự sạch sẽ, dù mọc trong môi trường bùn lầy. Ca dao Việt Nam có câu:
"Trong đầm gì đẹp bằng sen"
"Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng"
"Nhị vàng bông trắng lá xanh"
"Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"
Cũng từ hiện tượng và định nghĩa nêu trên, tục ngữ Việt Nam đã lấy chúng làm một trong các câu thành ngữ sau đây: "nước đổ lá sen", "nước đổ lá khoai", "nước đổ lá môn", "nước đổ đầu vịt" dùng để ám chỉ những người không chịu tiếp thu cái được dạy dù đã được chỉ dạy nhiều lần.
|
Ngô Đức Kế (chữ Hán: 吳德繼; 1878 - 1929) tên thật là Ngô Bình Viên, hiệu Tập Xuyên (集川); là chí sĩ, và là nhà thơ, nhà báo Việt Nam ở đầu thế kỷ 20.
Ngô Đức Kế là người làng Trảo Nha, thuộc tổng Đoài, huyện Thạch Hà, phủ Hà Thanh, tỉnh Hà Tĩnh (nay là thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh).
Xuất thân trong một gia đình quan lại nhiều đời. Cha ông là Tả tham tri bộ Lễ Ngô Huệ Liên (1840- 1912), về sau giữ chức Toản tu Quốc sử quán triều Nguyễn.
Năm Tân Sửu (1901), ông Kế dự thi Đình, đỗ Á khoa năm Thành Thái thứ 13. Tuy nhiên, ông không ra làm quan ở nhà dạy học, đọc tân thư, liên hệ với Phan Bội Châu , và đứng ra đề xướng lối học mới và bài xích cái học từ chương và cử nghiệp . Đồng thời, ông cùng với Lê Văn Huân và Đặng Nguyên Cẩn lập ra Triều Dương thương điếm ở Vinh .
Năm Mậu Thân (1908), ông bị thực dân Pháp bắt và bị đày ở Côn Đảo cho đến năm 1921.
Năm 1921, ông ra tù. Đến năm sau (1922), ông làm Chủ bút báo "Hữu thanh" của Hội Công thương tương tế ở Hà Nội, đồng thời sáng tác thơ vǎn. Trên báo "Hữu thanh", ông đã viết một số bài "đả kích thơ văn lãng mạn và quyết liệt bài xích nhóm Nam Phong (đứng đầu là Phạm Quỳnh) vì đã bênh vực "Truyện Kiều"".
Năm 1927, tờ báo trên bị đóng cửa, Ngô Đức Kế mở "Giác quần thư xã", để xuất bản một số sách tiến bộ, trong số đó có "Phan Tây Hồ di thảo" của nhà chí sĩ Phan Chu Trinh.
Ngô Đức Kế qua đời ngày 10 tháng 12 năm 1929 tại Hà Nội. Khi ấy, ông 51 tuổi. Nhân dân gọi ông là Ngô Nhân Tổ (người cụ tổ họ Ngô) hoặc gọi là Ngô Việt Hành (hành tinh đất Ngô - Việt)
Sau khi mở "Giác quần thư xã", ông có soạn:
Khi ở Côn Đảo, ông có soạn:
Ngoài ra, ông Kế còn có một số bài báo và thơ. Trong số ấy, nổi bật có bài "Nền quốc văn" (đăng trên báo "Hữu thanh", tháng 4 năm 1924) và "Luận về chánh học cùng tà thuyết" (đăng trên báo "Hữu thanh", tháng 9 năm 1924), ông đã kịch liệt chống lại chủ trương đề cao "Truyện Kiều" của Phạm Quỳnh. Vì theo ông, tác phẩm ấy đã làm cho các thanh niên "say đắm trong trời tình biển ái mà mềm nhũng cái lòng sắt đá, bỏ mất cái chí nguyện cao xa"...
Ghi nhận công lao.
Nội dung thơ văn của Ngô Đức Kế thường xoay quanh đề tài vận động duy tân đất nước, ca ngợi khí tiết của người trượng phu, ca ngợi các đồng chí đã hy sinh, và bộc lộ niềm phấn khởi khi nghe tin phong trào yêu nước lại dấy lên mạnh mẽ. Bên cạnh đó, ông cũng dũng cảm và sắc sảo chống văn hóa nô dịch của thực dân Pháp, và phê phán nghiêm khắc vua quan nhà Nguyễn đã để đất nước lâm cảnh khốn cùng. Tuy quan điểm không khỏi phiến diện và bảo thủ, nhưng ông đã góp phần thức tỉnh tinh thần yêu nước trong thanh niên và các tầng lớp khác vào thời đó...
Ghi nhận công lao ông, tên Ngô Đức Kế được dùng để đặt cho một số con đường ở Thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang, Vinh, Cần Thơ, Huế, Bà Rị
|
Hồ Bá Cự còn được biết đến nhiều hơn là Hồ Tùng Mậu (15 tháng 6 năm 1896 – 23 tháng 7 năm 1951) là một nhà hoạt động cách mạng và chính khách Việt Nam. Ông từng là đảng viên của cả Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam, thành viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Thanh tra Ban Thanh tra Chính phủ.
Hồ Tùng Mậu tên thật là Hồ Bá Cự, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1896 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống chống Pháp. Ông nội ông là Hồ Bá Ôn, hi sinh trong trận chiến với Pháp năm 1883. Cha ông là Hồ Bá Kiện, một chí sĩ trong phong trào Văn Thân, bị thực dân Pháp bắt giam và bắn chết trong khi vượt ngục tại Lao Bảo năm 1915.
Thoát ly gia đình hoạt động cách mạng.
Chịu ảnh hưởng sâu sắc của cha, năm 1916, ông thoát ly gia đình, dạy học ở hai huyện Thanh Chương và Anh Sơn (Nghệ An) mong tìm được bạn cùng chí hướng.
Năm 1919, với bí danh Hồ Tùng Mậu, ông cùng với Lê Hồng Sơn, Ngô Chính Học, Nguyễn Thị Tích, Đặng Quỳnh Anh, dưới sự dẫn đường của Đặng Xuân Thanh, bí mật xuất dương sang Lào rồi sang Xiêm. Sau ba tháng ở Trại Cày ở Bản Đông (tỉnh Phì Chịt), tháng 7 năm 1920, ông cùng Lê Hồng Sơn được cụ Đặng Thúc Hứa bố trí vượt biển sang Quảng Châu (Trung Quốc). Ông ở trọ nhà của chí sĩ Hồ Học Lãm, một họ hàng gần của ông (vai chú), học tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, rồi học trường Trung học An Định và trường Bưu điện.
Năm 1923, ông cùng Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái,… thành lập nhóm Tâm Tâm Xã, một tổ chức thanh niên mang tư tưởng phục quốc, hoạt động chính trị với mục đích giành độc lập cho Việt Nam khỏi chế độ thực dân Pháp. Tháng 3 năm 1924, ông được Phan Bội Châu giao nhiệm vụ mang tài liệu về nước tuyên truyền và vận động thanh niên xuất dương, nhưng đến tháng 7 năm 1924, được tin Phạm Hồng Thái mưu sát Toàn quyền Martial Henri Merlin, ông trở lại Quảng Châu.
Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu, tiếp xúc với một số thành viên của Tâm Tâm xã, kết nạp các thành viên này vào tổ chức Cộng sản đoàn. Trong số các thành viên này có Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn.
Hồ Tùng Mậu nhanh chóng trở thành một trong những thành viên tích cực trong việc phát triển Hội. Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông còn sử dụng một số bí danh khác như Lương, Ích, Phan Tái, Hồ Mộng Tống, Hồ Quốc Đống, Hồ Tùng Tôn, Ninh Võ, Hà Quị, Yên Chính, Lương Gầy, Lương Tử Anh.
Tháng 6 năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội trên cơ sở Cộng sản đoàn và mở lớp huấn luyện chính trị cho thanh niên ở trong nước sang. "Ban huấn luyện chính trị đặc biệt" của Hội đặt ở ngôi nhà số 13 đường Văn Minh (Quảng Châu). Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn là giảng viên phụ giảng của Nguyễn Ái Quốc.
Vận động lập Đảng Cộng sản.
Tháng 3 năm 1926, Nguyễn Ái Quốc giới thiệu ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1927, ông bị chính quyền Trung Quốc Quốc dân Đảng bắt giam 3 lần, lần lâu nhất bị giam 5 tháng, nhưng cuối cùng ông được trả lại tự do cùng một số người khác. Tháng 8 năm 1928, ông lại bị bắt giam tới tháng 11 năm 1929. Sau khi được thả, ông đến Hồng Kông. Tại đây, ông gia nhập Chi bộ Hải ngoại của An Nam Cộng sản Đảng. Cũng trong thời gian này, thực dân Pháp đã cho lập phiên tòa ở Nghệ An để xử vắng mặt và kết án tử hình Hồ Tùng Mậu với tội danh "Vận động lập Đảng Cộng sản, xúi giục đưa người ra nước ngoài, mưu đồ phản loạn".
Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đến Hồng Kông, tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam. Hồ Tùng Mậu là một trong bảy thành viên tham dự Hội nghị thành lập Đảng ngày 3 tháng 2 năm 1930 tại Cửu Long (Hương Cảng), do Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản chủ trì. Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn tham dự Hội nghị với tư cách "Cán bộ lãnh đạo ở hải ngoại", tham gia thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Giải thoát Nguyễn Ái Quốc và cuộc sống lưu đày.
Ngày 6 tháng 6 năm 1931, nhận được tin Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Anh bắt tại Hương Cảng, ông cùng Trương Vân Lĩnh liên hệ với Hội Quốc tế Cứu tế Đỏ nhờ can thiệp và vận động luật sư Francis Henry Loseby bào chữa buộc chính quyền thực dân Anh phải trả lại tự do cho Nguyễn Ái Quốc. Ông cũng nhanh chóng liên lạc và báo cáo cho cơ quan Đông Phương bộ của Quốc tế Cộng sản và tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhờ giúp đỡ giải thoát cho lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Nhờ sự tích cực của ông, Vụ án Tống Văn Sơ diễn ra theo chiều hướng có lợi. Tuy nhiên, đến ngày 30 tháng 6 năm 1931, Hồ Tùng Mậu bị chính quyền thực dân Anh bắt giam với lý do hoạt động chống nhà cầm quyền Hồng Kông, nhưng vì không đủ chứng cứ buộc tội nên họ trục xuất ông khỏi Hương Cảng, đồng thời thông tin cho mật thám Pháp đón lõng bắt ông tại Thượng Hải.
Ngày 26 tháng 6 năm 1931, ông bị mật thám Pháp bắt giữ ngay khi vừa đặt chân đến Thượng Hải. Ông bị giải về tô giới Pháp rồi bị đưa về Việt Nam xét xử. Ông bị chính quyền thực dân Pháp tuyên án tử hình tại phiên tòa ngày 6 tháng 12 năm 1931 tại Nghệ An, nhưng sau đó giảm xuống thành án chung thân khổ sai.
Ông trải qua các nhà lao Vinh, Lao Bảo, sau đó mới đến nhà đày Kontum. Tại ngục Kontum, ông tham gia sáng lập "Hội tao đàn ngục thất", lấy thơ văn để nuôi dưỡng chí khí chiến đấu.
Trong những năm sau đó, ông bị đày qua nhà đày Buôn Ma Thuột, rồi ngục Trà Khê. Mãi đến ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, ông cùng các đồng chí của mình vượt ngục Trà Khê, trở về quê nhà tại làng Quỳnh Đôi, Nghệ An. Bấy giờ, Chính phủ Trần Trọng Kim có mời ông ra làm cố vấn, nhưng ông dứt khoát từ chối.
Tham gia kháng chiến.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ông nhận được giấy mời ra Hà Nội của Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại đây, ông gặp lại người bạn cũ Lê Thiết Hùng và được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ làm Chính ủy và Khu trưởng Khu 4 (nay là Quân khu 4) để chuẩn bị cho nguy cơ chiến tranh đang đến gần. Ông giữ chức vụ Chính ủy Khu 4 từ tháng 10 năm 1945 đến tháng 11 năm 1946. Ông cũng đồng thời làm Giám đốc kiêm Chính ủy Trường Quân chính Nhượng Bạn, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Năm 1947, ông được cử giữ chức Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Liên khu IV, đồng thời được bầu làm Ủy viên Thường vụ Liên khu ủy.
Ngày 19 tháng 3 năm 1948, Hồ Mỹ Xuyên, con trai duy nhất của ông, trên đường công tác tại địa phận Lục Yên, tỉnh Yên Bái, đã bất ngờ lâm nạn và hy sinh khi tuổi đời vừa tròn 28. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh tự tay đánh máy chữ, gửi thư chia buồn tới gia đình ông.
Ngày 18 tháng 12 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra Chính phủ và cử ông giữ chức vụ Tổng Thanh tra. Đầu năm 1950, Hội Hữu nghị Việt - Hoa được thành lập. Ông được bầu làm Hội trưởng đầu tiên của Hội. Tại Đại hội Đảng lần thứ II vào tháng 2 năm 1951, ông được bầu là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Ngày 23 tháng 7 năm 1951, ông hy sinh trên đường đi vào Liên khu IV công tác, do bị máy bay địch Pháp phát hiện và bắn chết tại Phố Còng, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.
Tuy nhiên, nguyên nhân cái chết của Hồ Tùng Mậu vẫn còn nhiều nghi vấn. Theo sử gia Laura Calkins, có rất nhiều tin đồn xung quanh cái chết của Hồ Tùng Mậu. Một giả thiết đưa ra là Hồ Tùng Mậu tự tử vì trách nhiệm của ông trong vụ nạn đói ở Thanh Hóa. Tình báo của Pháp xác nhận bí mật với quan chức Mỹ rằng ông bị thanh trừng.
Công trình gắn liền với tên tuổi của Hồ Tùng Mậu.
Sau khi được tin ông hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và tự tay viết Lời điếu viếng ông, trong đó có đoạn: ""Chú Tùng Mậu ơi! Lòng ta rất đau xót, linh hồn chú biết chăng? Về tình nghĩa riêng - tôi với chú là đồng chí, lại là thân thiết hơn anh em ruột. Khi hoạt động ở đất khách quê người, khi bị giam ở lao tù đế quốc, khi tranh đấu ở nước nhà… đã bao phen chúng ta đồng cam cộng khổ như tay với chân". "Mất chú, đồng bào mất một người lãnh đạo tận tụy, Chính phủ mất một người cán bộ lão luyện, đoàn thể mất một người đồng chí trung thành và tôi mất một người anh em chí thiết! Mấy nguồn thương tiếc! Mấy nguồn thương tiếc cộng vào một lòng tôi…"".
Ngày 22 tháng 8 năm 1951, khi đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Hoàng Quốc Việt dẫn đầu đến Bình Nhưỡng (Triều Tiên), Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc gửi lời chia buồn đến sự hi sinh của Hồ Tùng Mậu. Họ gọi ông là "người cách mạng cao quý", nhưng không nhắc đến việc ông là Đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Quốc lâu năm.
Năm 2008, ông được truy tặng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất của nhà nước Việt Nam.
Tên ông được đặt cho nhiều đường phố và trường học tại Việt Nam. Tên ông cũng là của một xã cùng tên ở huyện Ân Thi, Hưng Yên. Ở Hà Nội, tên ông được đặt cho đoạn Quốc lộ 32 từ phường Cầu Diễn thuộc quận Nam Từ Liêm đến địa ngã tư cầu vượt Mai Dịch thuộc quận Cầu Giấy.
Hồ Tùng Mậu có một vợ người Trung Quốc, tên là Lý Phương Thuận (hay Lý Ưng Thuận, Lý Sâm). Lý Phương Thuận bị cảnh sát Hong Kong bắt khi đang ở cùng với Nguyễn Ái Quốc vào ngày 6 tháng 6 năm 1931 tại Cửu Long, Hương Cảng.
Ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Thảo, nhưng ông bà chỉ có một người con trai duy nhất là Hồ Mỹ Xuyên, sinh năm 1920.
Ông Xuyên hy sinh năm 1947, nhưng trước đó đã lập gia đình với bà Nguyễn Thị Chanh và có với nhau 3 người con, về sau đều trở thành những chính khách cao cấp của Việt Nam là
|
Mũi đất hay mũi biển là phần đất nằm kề biển với 3 mặt là nước bao quanh.
Địa chất và địa lý học.
Mũi đất thường bao bọc vịnh biển. Những mũi đất được tạo nên chủ yếu là do quá trình biến đổi địa chất, hay do nước biển dâng lên làm ngập các phần đất thấp hơn còn phần đất cao thì nổi lên tạo thành mũi đất.
|
Lý Tự Trọng (20 tháng 10 năm 1914 – 21 tháng 11 năm 1931) tên thật là Lê Hữu Trọng, còn được gọi là Huy là một trong những nhà cách mạng trẻ tuổi của Việt Nam.
Ông sinh ngày 20 tháng 10 năm 1914 tại làng Bản Mạy, tỉnh Nakhon Phanom - Thái Lan. Quê gốc ông ở xã Thạch Minh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Cha ông là Lê Hữu Đạt, mẹ là Nguyễn Thị Sờm, đều là những Việt kiều sống ở Nakhon; họ gốc của ông vốn là Lê Hữu song đến đời ông thì được đặt thành Lê Văn. Ông có đông anh chị em gồm: Lê Văn Đại, Lê Văn Tăng, Lê Văn Năng, Lê Thị Sáu, Lê Thị Bả
Năm 1923, chỉ mới 10 tuổi, Lý Tự Trọng được sang Trung Quốc học tập và hoạt động trong Hội Thanh niên Cách mạng đồng chí. Năm 1926, ông về nước hoạt động với nhiệm vụ thành lập đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương và làm liên lạc cho Xứ ủy Nam Kỳ với Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 9 tháng 2 năm 1931, trong buổi kỷ niệm gặp mặt một năm cuộc khởi nghĩa Yên Bái tổ chức tại Sài Gòn, Lý Tự Trọng đã bắn chết viên mật thám Le Grand để bảo vệ diễn giả Phan Bôi đang diễn thuyết tại quảng trường Lareni. Tuy nhiên, sau đó ông đã bị bắt giam vào Khám Lớn và bị kết án tử hình ngày 21 tháng 11 năm 1931 khi mới 17 tuổi. Sự kiện này làm dấy lên một phong trào đấu tranh mạnh mẽ ở Khám Lớn khiến từ đó cai ngục tại đây luôn gọi Lý Tự Trọng là "Ông Nhỏ".
Nhà thờ Lý Tự Trọng được xây trên nền nhà tổ tiên của dòng họ Lê tại xã Việt Tiến, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Lý Tự Trọng được Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh công nhận là người Đoàn viên đầu tiên với tấm thẻ Đoàn viên danh dự số 1. Tên của ông đã được đặt cho tên của một giải thưởng của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh dành trao tặng cho thanh niên. Ngoài ra, tên ông cũng được đặt cho nhiều trường học và con đường ở Việt Nam.
Theo thông tin của hội đồng hương Hà Tĩnh tại Thành phố Hồ Chí Minh, mộ của liệt sĩ Lý Tự Trọng "được tìm thấy tại công viên Lê Thị Riêng". Còn theo một số thông tin địa phương thì được tìm thấy dưới một ngôi nhà 3 tầng ở Thành phố Hồ Chí Minh, gần khu vực tìm thấy mộ cố tổng bí thư Trần Phú.
|
Phan Huy Chú (chữ Hán: ; 1782 – 28 tháng 5 năm 1840), tự Lâm Khanh, hiệu Mai Phong, là quan triều nhà Nguyễn và là nhà thơ, nhà thư tịch lớn, nhà bác học Việt Nam.
Nguồn gốc và giáo dục.
Phan Huy Chú là con của Phan Huy Ích, một nhà nho có tiếng đậu tiến sĩ đời nhà Hậu Lê và từng làm quan cho nhà Tây Sơn. Mẹ ông là Ngô Thị Thực, con gái của Ngô Thì Sĩ, em gái của Ngô Thì Nhậm, bà mất khi ông 10 tuổi. Phan Huy Chú có tên là Hạo, sau vì kiêng quốc húy của nhà Nguyễn mới đổi là Chú, tự Lâm Khanh, hiệu Mai Phong.
Ông sinh ra và lớn lên ở thôn Thụy Khuê, thuộc huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai (trước thuộc tỉnh Sơn Tây, sau thuộc Hà Tây và nay là thôn Thụy Khuê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội).
Ông xuất thân trong gia đình có truyền thống khoa bảng, là con trai thứ ba của Lễ bộ Thượng thư, tiến sĩ Phan Huy Ích. Ông nội là tiến sĩ Phan Huy Cận, ông ngoại là Ngô Thì Sĩ, cha là Phan Huy Ích, bố vợ là Nguyễn Thế Lịch, bác là Ngô Thì Nhậm, chú là Phan Huy Ôn, anh là Phan Huy Thực…
Quê gốc của ông là thôn Chi Bông, xã Thu Hoạch (đầu thời Nguyễn thuộc huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quan, trấn Nghệ An, nay thuộc xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh). Năm 1787, một người trong dòng họ Phan Huy (và là ông nội của Phan Huy Chú) là Phan Huy Cận (sau đổi tên là Áng), làm quan lớn dưới triều Lê-Trịnh, sau khi từ giã chốn quan trường đã đến ở làng Thụy Khuê, và trở thành "ông tổ đầu tiên của chi phái Phan Huy" ở đây.
Phan Huy Chú được cha mẹ nuôi dạy chu đáo, lại từng được Ngô Thì Nhậm (cậu ruột) rèn dạy từ lúc 6 tuổi; nổi tiếng hay chữ ở miền phủ Quốc tỉnh Sơn, nhưng cả hai lần thi Hương (Đinh Mão 1807 và Kỷ Mão 1819) ông chỉ đỗ Tú tài (nên tục gọi ông là "Kép Thầy", vì ở làng Thầy và đỗ hai lần). Kể từ đó, ông thôi việc thi cử, chỉ chuyên tâm vào việc nghiên cứu và trước tác.
Tác động của dòng dõi tài danh, hiếu học và những quan hệ trí tuệ đã ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, tính cách của Phan Huy Chú. Phan Huy Chú là một nhà bác học, danh nhân văn hóa Việt Nam, với tài danh lỗi lạc về bách khoa thư.
Năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mạng biết tiếng Phan Huy Chú, cho triệu ông vào kinh đô Huế, cử giữ chức Biên tu trường Quốc tử giám ở Huế. Năm này, ông dâng lên vua bộ sách "Lịch triều hiến chương loại chí" do ông biên soạn (khởi soạn khi còn đi học, đến năm 1809 thì cơ bản hoàn thành), và được khen thưởng.
Năm Ất Dậu (1825), ông được sung làm Phó sứ sang Trung Quốc. Khi về, được làm Phủ thừa phủ Thừa Thiên, rồi thăng Hiệp trấn Quảng Nam (1829). Ít lâu sau, ông bị giáng vì phạm lỗi, được điều động về Huế giữ chức Thị độc ở Viện Hàn lâm.
Năm Tân Mão (1831), lại sung Phan Huy Chú làm Phó sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Nhưng khi về nước, thì cả đoàn sứ bộ đều bị giáng chức vì tội "lộng quyền", riêng ông bị cách chức.
Năm sau (Nhâm Thìn 1832), cho ông làm phục dịch trong phái bộ sang Batavia (Giang Lưu Ba, Indonesia) để lập công chuộc tội.
Trở về (Giáp Ngọ 1834), ông được bổ làm Tư vụ bộ Công. Sau đó, vì chán chốn quan trường, ông cáo bệnh xin về hưu ở làng Thanh Mai, thuộc huyện Tiên Phong (nay là xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, Hà Nội). Ở đây, ông làm nghề dạy học và soạn sách cho đến khi mất.
Phan Huy Chú mất ngày 27 tháng 4 năm Canh Tý (28 tháng 5 năm 1840) lúc 58 tuổi. Phần mộ của ông hiện ở tại thôn Mai Trai, xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, (trước thuộc Hà Tây, nay thuộc Hà Nội). Đã sửa lại lần 1, lần 2 năm 2012 và được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 2014.
Các tác phẩm chính.
Nhìn chung, Phan Huy Chú nổi tiếng là nhà nghiên cứu, biên khảo hơn là nhà thơ, nhà văn. Tác phẩm có giá trị nhất của ông là bộ "Lịch triều hiến chương loại chí". Đây có thể xem là "bộ bách khoa toàn thư" đầu tiên của Việt Nam. Kế tiếp, đáng kể nữa là bộ "Hoàng Việt dư địa chí", ghi chép về địa lý Việt Nam.
Vợ của Phan Huy Chú là bà Nguyễn Thị Vũ, con gái Tiến sĩ Nguyễn Thế Lịch (tức Nguyễn Gia Phan), người thôn Yên Lũng, Từ Liêm (nay thuộc Hoài Đức, Hà Nội). Ông giỏi nghề thuốc, và từng làm quan trải đến chức Thượng thư bộ Hộ dưới triều Tây Sơn. Năm 1803, ông bị vua Gia Long sai đánh đòn tại Văn Miếu cùng với Ngô Thì Nhậm.
Có thông tin nghi vấn cho rằng, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon là hậu duệ của nhà bác học Phan Huy Chú. Ngày 23 tháng 5 năm 2015, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon đã đến dâng hương tại nhà thờ dòng họ Phan Huy. Tuy nhiên trong lưu bút của mình, ông Ban chỉ ghi nhận mình là một "thành viên họ Phan" (tức là một người mang họ Phan), chứ không nói rõ là thành viên họ Phan Hàn Quốc, hay họ Phan Việt Nam (thậm chí dòng họ Phan Huy). Họ Phan là một họ của người Á Đông, có cả ở Hàn Quốc, Trung Quốc lẫn Việt Nam.
Tại Việt Nam, những con đường và ngôi trường mang tên ông từ thời kỳ thuộc địa đã không hề thay đổi cho đến nay mặc dù các con đường khác mang tên của các anh hùng dân tộc Việt Nam lại bị thay đổi qua nhiều biến thiên thời cuộc.
-Phan Huy Lê, "Về dòng họ Phan Huy ở Sài Sơn".
-Tạ Ngọc Liễn, "Sự nghiệp còn mãi".
-Kim Anh, "Vai trò gia đình với sự hình thành tài năng Phan Huy Chú".
|
Cabo da Roca là mũi biển, điểm cực Tây của đại lục Bồ Đào Nha. Đồng thời cũng là điểm cực Tây của lục địa châu Âu.
Thuộc một địa điểm của quận Lisbol, cách Lisbol 40 km về phía Tây, trong công viên tự nhiên Serra de Sintra. Có tọa độ là 38°47′ Bắc 9°30′ Tây. Tại đây có một tấm bia đá khắc làm mốc.
Điểm cao nhất so với mặt nước Đại Tây Dương là 140 m. Trên đỉnh có một ngọn hải đăng và điểm du lịch nhỏ.
Ngày nay mũi biển này là một địa điểm hấp dẫn du lịch, với lượng khách tham quan nhiều.
|
Đặng Dung (: templatestyles src="Nôm/" / 1373 – 1414) là tướng lĩnh nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là con trai của Đặng Tất, người theo phò vua Giản Định đế của nhà Hậu Trần, sau bị Giản Định đế giết chết cùng với tướng Nguyễn Cảnh Chân. Giận vì cha mình chết oan, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) rời đi, lập Trần Quý Khoáng tức vua Trùng Quang tiếp tục khởi nghĩa.
Đặng Dung là người xã Mỹ Tho, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An (nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là con trai cả của Quốc công Đặng Tất.
Theo Đặng tộc Đại Tông phả, ông tổ 4 đời của Đặng Tất là Đặng Bá Kiển vốn cư ngụ ở vùng kinh kỳ Thăng Long, sau đó di dời vào Nghệ An châu. Đặng Bá Kiển sinh ra Đặng Bá Tĩnh đỗ Thám hoa đời nhà Trần. Đặng Bá Tĩnh sinh ra Đặng Đình Dực, Đặng Đình Dực sinh ra Đặng Tất, Đặng Tất sinh ra Đặng Dung.
Cha của Đặng Dung là Đặng Tất, làm quan cho nhà Trần và nhà Hồ; vào năm 1391, Hồ Quý Ly bổ dụng Đặng Tất làm Châu phán Hóa Châu. Năm 1402, Đặng Tất giúp việc cho Hoàng Hối Khanh cai trị vùng đất Thăng Hoa mới lấy được từ Chiêm Thành.
Tháng 5, năm 1407, cha con họ Hồ bị bắt ở cửa biển Kỳ La, Chiêm Thành nhân đó dấy quân hòng chiếm lại đất Thăng Hoa. Đặng Tất xin với Trương Phụ cho mình cai trị đất Hóa Châu, Trương Phụ chấp thuận, sau đó quân Chiêm Thành rút về.
Năm 1407, vào tháng 10, người con thứ của vua Trần Nghệ Tông, tên là Trần Ngỗi, tự lập làm vua lên ngôi ở Tràng An, xưng là Giản Định đế. Do quân mới lập, nhà vua phải chạy vào Nghệ An, Đặng Tất lúc ấy làm Đại tri châu Hóa Châu nghe tin, liền giết viên quan nhà Minh đem quân từ Hóa châu ra Nghệ An phò giúp. Đặng Tất dâng con gái cho vua Giản Định đế, sau đó được phong làm Quốc công.
Năm 1409, sau trận đại chiến Bô Cô (xã Hiếu Cổ, huyện Ý Yên, thuộc tỉnh Nam Định ngày nay), vì nghe lời của hoạn quan Nguyễn Quỹ và học sinh Nguyễn Mộng Trang nói rằng Đặng Tất chuyên quyền, vua Giản Định Đế đem lòng ngờ vực đã giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Đặng Dung tức giận bỏ Trần Ngỗi (Giản Định Đế), cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) đem binh Thuận Hóa về Thanh Hóa, rước Trần Quý Khoáng đến Nghệ An lập làm vua, tức Trùng Quang Đế.
Phò vua Trùng Quang.
Trần Quý Khoáng hay Trần Quý Khoách là con Trang Định vương Trần Ngạc và là cháu nội của Trần Nghệ Tông, trước kia Quý Khoáng làm quan Nhập nội thị trung. Trần Quý Khoáng lên ngôi vua ở Chi La, đổi niên hiệu là Trùng Quang, dùng Nguyễn Súy làm Thái phó, Nguyễn Cảnh Dị làm Thái bảo, Đặng Dung làm Đồng bình chương sự, Nguyễn Chương làm Tư mã.
Lúc này Giản Định đế đang ở thành Ngự Thiên, chống nhau với nhà Minh. Trùng Quang đế sai Nguyễn Súy mang quân đến đánh úp, bắt được Giản Định đế. Mẹ của Giản Định đế là Hưng Khánh Thái hậu và bầy tôi là Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh bàn nhau khởi binh đánh úp lại Trùng Quang đế để khôi phục quyền lực cho Giản Định đế. Việc bị tiết lộ, Trùng Quang đế bắt giết Lê Tiệt và Lê Nguyên Đỉnh, còn lại thì tha cả. Gặp khi ấy Nguyễn Súy đưa Giản Định đế đến Nghệ An, Trùng Quang đế thay mặc mũ áo thường ra đón tiếp. Trùng Quang đế bèn tôn Giản Định đế làm Thượng hoàng, cùng nhau mưu tính việc khôi phục.
Giản Định đế và Trùng Quang đế chia quân làm hai, Giản Định đế tiến quân đến Hạ Hồng, vua Trùng Quang tiến quân đến Bình Than, các người hùng kiệt ở các lộ đều hưởng ứng; gặp lúc Trương Phụ dẫn quân đến, Giản Định đế bỏ thuyền lên bộ, Trương Phụ chia quân đi đằng sau, bắt được giải về Kim Lăng. Cánh quân vua Trùng Quang giữ nhau với Trương Phụ ở Bình Than, chia cho Đặng Dung giữ cửa Hàm Tử, vì thiếu lương thực, quân tan vỡ, vua Trùng Quang được tin, tự liệu không chống nổi, lại về Nghệ An, Trương Phụ đuổi theo, đến đâu cũng chém giết người vô số.
Năm 1410, vua Trùng Quang dẫn quân tiến ra Bắc, thắng một số trận nhưng vì hiệu lệnh không thống nhất, quân Minh tiến đến đâu, quân Hậu Trần tan vỡ đến đó. Vua Trùng Quang lại rút binh về Nghệ An. Đầu năm 1411, vua nhà Minh sai Trương Phụ mang 14 vệ, tổng cộng 78.400 quân (Minh sử chép 2.400 quân) tiếp viện cho Mộc Thạnh, năm sau Trương Phụ dẫn binh vào Nghệ An, gặp Nguyễn Súy, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung ở trận Mô Độ. Hai bên liều chết đánh nhau chưa phân thắng bại, thì Nguyễn Súy và Nguyễn Cảnh Dị bất ngờ dẫn quân vượt biển rút chạy, Hồ Bối bỏ thuyền lên bờ. Đặng Dung thế cô, không có cứu viện, liền đi thuyền nhẹ vượt biển trốn đi. Năm 1413, Trương Phụ lại tiến đánh Nghệ An, đến đây nhà Hậu Trần phải lui vào Hóa Châu, đất cố thủ cuối cùng của nhà Hậu Trần.
Tháng 6 năm Quý Tỵ (1413) quân Trương Phụ vào đến Nghệ An, quan Thái phó nhà Hậu Trần là Phan Quý Hữu ra hàng, được mấy hôm thì mất. Trương Phụ cho con Quý Hữu là Phan Liêu làm Tri phủ Nghệ An. Phan Liêu muốn tâng công, nên nói cho Phụ biết Trần Quý Khoáng có bao nhiêu tướng tá người nào giỏi, người nào dở, quân số nhiều ít, sơn xuyên chỗ hiểm, chỗ không thế nào.
Trương Phụ bèn quyết ý vào Hóa Châu, và hội chư tướng lại để bàn kế tiến binh. Mộc Thạnh nói rằng: "Hóa Châu núi cao bể rộng khó lấy lắm". Trương Phụ nhất định vào đánh cho được, nói rằng: "Ta sống cũng ở đất Hóa Châu này, mà chết cũng ở đất Hóa Châu này. Hóa Châu mà không lấy được thì không mặt mũi nào về trông thấy chúa thượng!". Lập tức truyền cho quân thủy bộ tiến vào đánh Hóa Châu.
Tháng 9 năm 1413, quân Trương Phụ vào đến Thuận Châu, Nguyễn Súy và Đặng Dung giữ sông Thái Gia, đặt phục binh, nhân đêm đánh úp dinh Trương Phụ. Đặng Dung nhảy lên thuyền Trương Phụ toan bắt sống, nhưng không biết mặt, vì thế Trương Phụ mới nhảy xuống sông lấy thuyền nhỏ mà chạy thoát được. Bấy giờ quân Hậu Trần còn rất ít, Trương Phụ thấy vậy đem binh đánh úp lại, bọn Đặng Dung địch không nổi phải bỏ chạy.
Sử thần Ngô Sĩ Liên trong "Đại Việt Sử ký Toàn thư" nói:
"Trận đánh ở Sái Già, Đặng Dung, Nguyễn Súy, đem tàn quân trơ trọi chống lại bọn giặc mạnh, quân tướng đều tinh nhuệ. Dung nửa đêm đánh úp doanh trại giặc làm cho tướng giặc sợ hãi chạy trốn, đốt hết thuyền bè, khí giới của chúng, không phải người thực sự có tài làm tướng, thì có làm được như thế hay không? Thế nhưng cuối cùng vẫn bại vong, đó là do trời. Tuy thất bại, cũng vẫn vinh quang, vì sao vậy?"
"Bọn Dung vì nghĩa không thể cùng sống với giặc, phải tiêu diệt bọn chúng mới nghe, cho nên mới hết lòng, hết sức giúp đỡ Trùng Quang để mưu khôi phục. Trong khoảng 5 năm, kiên trì chiến đấu với giặc, dẫu có bất lợi, nhưng ý chí không núng, khí thế càng hăng, đến kiệt sức mới chịu thôi. Lòng trung vì nước của người bề tôi, dẫu trăm đời sau vẫn còn tưởng thấy được!"
Tháng 12, năm 1413, từ khi thua trận Sái Già, quân Hậu Trần thế yếu không thể chống với quân Minh được nữa, phải vào ẩn núp ở trong rừng núi; Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung muốn chạy sang Xiêm La, Trương Phụ đuổi theo bắt được. Nguyễn Cảnh Dị mắng chửi Phụ rằng: "Chính ta muốn giết mày, bây giờ lại bị mày bắt!" Mắng chửi mãi không ngớt mồm, Phụ đem giết đi, lấy gan ăn. Trùng Quang đế chạy sang Lão Qua, Nguyễn Súy chạy sang Minh Linh cũng đều bị quân nhà Minh bắt.
Chẳng được bao lâu vua Trần và các tướng đều bị bắt và bị giải về Yên Kinh cả. Đi đến giữa đường, Trùng Quang Đế nhảy xuống nước tự tử, Đặng Dung và Nguyễn Súy cũng nhảy xuống theo tự sát. Đặng Dung có làm bài thơ "Thuật hoài", sau được nhiều người truyền tụng:
"Việc đời bối rối tuổi già vay"
"Trời đất vô cùng một cuộc say"
"Bần tiện gặp thời lên cũng dễ"
"Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay"
"Vai khiêng trái đất mong phò chúa"
"Giáp gột sông trời khó vạch mây"
"Thù trả chưa xong đầu đã bạc"
"Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày".
Sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên chép:
"Đang khi đôi bên quân Nam và quân Bắc đang cầm cự nhau thì Đặng Dung bí mật dùng bộ binh và tượng binh mai phục, đúng nửa đêm thì bất ngờ đánh úp vào doanh trại của [Trương] Phụ. [Đặng] Dung đã nhảy lên thuyền của [Trương] Phụ và định bắt sống Phụ nhưng lại không biết mặt để có thể nhận ra hắn, vì thế, Phụ liền nhảy sang thuyền nhỏ chạy thoát. Quân Minh bị tan vỡ đến quá nữa, thuyền bè, khí giới bị đốt phá gần hết, thế mà [Nguyễn] Súy không biết hợp lực để cùng đánh. [Trương] Phụ biết quân của [Đặng] Dung ít nên lập tức quay lại đánh. Dung đành phải chịu thất bại, quân sĩ chạy tan tác hết"..
Nguyễn Khắc Thuần kể tiếp:
"Tháng 11 năm 1413, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ bắt sống khi đang tìm đường tạm lánh sang Xiêm La để tính kế lâu dài. Vì liên tục lớn tiếng chửi mắng nên Nguyễn Cảnh Dị đã bị Trương Phụ hạ lệnh giết ngay. Còn Đặng Dung cùng Trần Quý Khoáng, Nguyễn Súy và một số tướng lãnh khác bị áp giải về Yên Kinh (Trung Quốc). Dọc đường, Trần Quý Khoáng nhảy xuống nước tự tử, Đặng Dung cũng lập tức nhảy xuống chết theo."
Trần Trọng Kim cũng cho biết tương tự:
"Từ khi thua trận ấy rồi, Trần Quý Khoách thế yếu quá không thể chống với quân giặc được nữa, phải vào ẩn núp ở trong rừng núi. Chẳng được bao lâu Trần Quý Khoáng, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung, Nguyễn Súy đều bị bắt, và phải giải về Yên Kinh cả. Đi đến giữa đường, Quý Khoách nhảy xuống nước tự tử, bọn ông Đặng Dung cũng tử tiết cả. Ông Đặng Dung có làm bài thơ Thuật hoài, mà ngày nay còn có nhiều người vẫn truyền tụng."
"Cha con ông Đặng Dung đều hết lòng giúp nước phò vua, tuy không thành công được, nhưng cái lòng trung liệt của nhà họ Đặng cũng đủ làm cho người đời sau tưởng nhớ đến, bởi vậy hiện nay còn có đền thờ ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩ
Theo Minh Thực lục thì:
"Quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ mang quân đến trang Tra Hoàng, huyện Chính Hòa, châu Chính Bình (Quảng Bình); tướng giặc là Hồ Đồng hàng. Nghe tin bọn Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung, Long Hổ Tướng quân ngụy Lê Thiềm hơn 700 tên chạy đến sách Côn Bồ, Tiêm Man; bọn Phụ tiến binh ngay đến sông La Mông. Phải theo đường núi vin cành lá mà leo lên nên đành bỏ ngựa, tướng sĩ tiếp tục đi theo. Đến sách Côn Bồ, bọn Cảnh Dị đã bỏ trốn; lại truy kích đến sách Tra Bồ Nại, bọn giặc và dân địa phương đều trốn, không biết ở chốn nào, nên làm cuộc lục soát lớn. Vào canh tư, đi trên 20 dặm, nghe tiếng trống điểm canh, Phụ sai Đô Chỉ huy Phương Chính mang quân lẳng lặng đi, đến lúc trời sáng đến phía bắc sông, tại sách Tra Bồ Cán. Giặc lập trại tại bờ phía nam, quan quân vượt sông vây đánh. Giặc chống không nổi, tên bắn liên tiếp trúng, Cảnh Dị bị thương tại sườn, bắt được. Đặng Dung trốn, Phương Chính mang quân truy lùng, bị bắt cùng với em là Đặng Nhuệ. Bắt hết bọn giặc Lê Thiềm, tịch thu ấn ngụy của Cảnh Dị. Cảnh Dị bị thương nặng, bị róc thịt lấy thủ cấp, áp giải cùng anh em Đặng Dung đến kinh đô; tất cả đều bị xử chém để làm răn."
Sử thần Ngô Sĩ Liên bàn rằng:
"Trận đánh ở Sái Già, Đặng Dung, Nguyễn Súy đem tàn quân trơ trọi chống lại bọn giặc mạnh, quân tướng đều tinh nhuệ. Dung nửa đêm đánh úp doanh trại giặc làm cho tướng giặc sợ hãi chạy trốn, đốt hết thuyền bè, khí giới của chúng, không phải người thực sự có tài làm tướng, thì có làm được như thế hay không? Thế nhưng cuối cùng vẫn bại vong, đó là do trời. Tuy thất bại, cũng vẫn vinh quang, vì sao vậy? Bọn Dung vì nghĩa không thể cùng sống với giặc, phải tiêu diệt bọn chúng mới nghe, cho nên mới hết lòng, hết sức giúp đỡ [23a] Trùng Quang để mưu khôi phục. Trong khoảng 5 năm, kiên trì chiến đấu với giặc, dẫu có bất lợi, nhưng ý chí không núng, khí thế càng hăng, đến kiệt sức mơí chịu thôi. Lòng trung vì nước của người bề tôi, dẫu trăm đời sau vẫn còn tưởng thấy được! Ngày xưa nước Lỗ đánh nhau với nước Tề ở đất Can Thì bị thất bại, thánh nhân không vì thua mà kiêng né, lại chép rõ để nêu niềm vinh quang chiến đấu với kẻ thù, chứ không bàn đến việc thành bại. Thế thì trận đánh ở Sái Già, quân Minh bị tan vỡ một nửa, quân ta đến khi sức kiệt mới chịu thua cũng vinh quang lắm thay !"
|
Đội Cung (1903–1941) hay Nguyễn Văn Cung, là một thủ lĩnh của cuộc binh biến của một số binh sĩ lính khố xanh ngày 13 tháng 1 năm 1941 tại Nghệ An, chống lại thực dân Pháp.
Thân thế và sự nghiệp.
Tên thật của Đội Cung là Trần Văn Cung, sinh năm 1903. Cha của ông là Trần Công Dậu, người ở Long Trì, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, một người yêu nước bị thực dân Pháp giết hại. Mẹ ông là người họ Nguyễn, ở làng Hạc Oa, Đông Sơn, Thanh Hóa nay là làng Hạc oa, phường Đông Cương, thành phố Thanh Hóa. Ở tài liệu khác lại ghi cha ông là Cử nhân Trần Công Thưởng, quê ở làng Long Trì, nay là xã Kỳ Phú, huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh), mẹ là bà thiếp Lương Thị Uyên quê làng Thổ Sơn (tên gọi khác của Làng Hạc Oa), huyện Đông Sơn (Thanh Hóa).
Ông sinh ở quê mẹ khi cha ông làm tri huyện Đông Sơn. Từ nhỏ, do được một người họ Nguyễn nhận làm con nuôi nên lấy tên là Nguyễn Văn Cung (Theo Từ điển Hà Tĩnh, từ điển Bách Khoa và cuốn lịch sử xã Tràng Sơn) Khi ông sinh ra, được người cậu ruột nhận làm con nuôi và đưa về quê ngoại, nên ông lấy theo họ bên ngoại là Nguyễn Văn Cung Một số tài liệu ghi tên ông là Nguyễn Tri Cung.
Khi trưởng thành, ông tham gia lực lượng lính khố xanh khi mới 23 tuổi tại Nghệ An và thăng dần lên chức Đội (tương đương Trung sĩ). Khi thực dân Pháp có ý định điều một số đội lính khố xanh tại Nghệ An sang chiến đấu tại Lào, các binh sĩ tại đây đã hoang mang và bất mãn. Ngày 8 tháng 1 năm 1941, Đội Cung được điều động từ Vinh về đồn Chợ Rạng (Thanh Chương, Nghệ An) thay cho viên đồn trưởng người Pháp là Alonzo.
Đêm 13 tháng 1 năm 1941, ông cùng 11 lính đồn Chợ Rạng tiến về Đô lương giết viên đồn trưởng Pháp ở đồn Đô Lương rồi cùng 25 lính ở đây tiến về Vinh ngay trong đêm đó với mục đích chiếm Trại Giám Binh Desrioux ở thành Nghệ An và sau đó phát triển ra các nơi khác. Do bị lộ nên không chiếm được trại Giám Binh Desrioux ở Vinh. Nghĩa binh bị đàn áp, binh biến chấm dứt. Riêng Đội Cung thoát được lẩn trốn một thời gian, nhưng do có chỉ điểm nên một tháng sau ông bị bắt khi vào nhà Tống Gia Liêm, khu vực Cổng Chốt..
Cuối tháng 2 năm 1941, Toà án binh Hà Nội đã xử án 51 bị can trong vụ khởi nghĩa Rạng - Đô Lương. Đội Cung, Cai Vỵ cùng 9 người lính khác bị kết án tử hình, 12 người bị án chung thân, 2 người bị án 20 năm khổ , thực dân Pháp tiến hành cuộc hành quyết Đội Cung và 10 đồng đội của ông ở Vinh.
Báo "Cởi ách" của Tỉnh ủy Đảng Cộng sản Đông Dương Nghệ An ra ngày 20 tháng 2 năm 1941 viết:
Phần mộ Đội Cung hiện nay ở phía ngoài cửa Hữu thành Nghệ An cũ.
Năm 1934, ông lập gia đình với bà Mai Thị Doan, người làng Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông bà có với nhau hai người con gái tên là Nguyễn Thị Châu và Nguyễn Thị Thu Lan. Cả hai người con gái của ông đều theo nghề dạy học. Người con đầu đã mất năm 1977 còn người con gái út Nguyễn Thị Thu Lan nay đã nghỉ hưu, sống tại Hà Nội và vẫn thường xuyên về Vinh chăm sóc mộ phần cha.
Tên Đội Cung được đặt cho các con phố ở Hà Nội (Quận Hai Bà Trưng), Vinh, Huế, Thanh Hóa và Thành phố Hồ Chí Minh (Quận 11).
|
Hải Thượng Lãn Ông
Hải Thượng Lãn Ông (chữ Hán: 海上懶翁, 10 tháng 11 năm 1724 - 18 tháng 3 năm 1791), tên thật là Lê Hữu Trác (黎有晫) là một lang y, được coi là ông tổ của ngành y học cổ truyền Việt Nam.
Lê Hữu Trác vốn có tên là Huân (薰), biểu tự Cận Như (瑾如), bút hiệu Quế Hiên (桂軒), Thảo Am (草庵), Lãn Ông (懶翁), biệt hiệu cậu Chiêu Bảy (舅招𦉱), sinh ngày 10 tháng 11 năm Canh Tý (1720) tại thôn Văn Xá, hương Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay là xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, Hưng Yên). Tuy nhiên, cuộc đời ông phần nhiều (đặc biệt là từ năm 26 tuổi đến lúc mất) gắn bó với ở quê mẹ thôn Bàu Thượng, xã Tĩnh Diệm, huyện Hương Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Quang Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là con thứ 7 của tiến sĩ Lê Hữu Mưu và phu nhân Bùi Thị Thưởng .
Dòng tộc ông vốn có truyền thống khoa bảng; ông nội, bác, chú (Lê Hữu Kiều), anh và em họ đều đỗ Tiến sĩ và làm quan to. Thân sinh của ông từng đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, làm Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông, gia phong chức Ngự sử, tước Bá, khi mất được truy tặng hàm Thượng thư (năm Kỷ Mùi 1739). Khi ấy, Lê Hữu Trác mới 20 tuổi, ông phải rời kinh thành về quê nhà, vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, mong nối nghiệp gia đình, lấy đường khoa cử để tiến thân. Nhưng xã hội bấy giờ rối ren, các phong trào nông dân nổi dậy khắp nơi. Chỉ một năm sau (1740), ông bắt đầu nghiên cứu thêm binh thư và võ nghệ, "nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tòng quân để thí nghiệm sức học của mình" (tựa "Tâm lĩnh"). Chẳng bao lâu sau, ông nhận ra xã hội thối nát, chiến tranh chỉ tàn phá và mang bao đau thương, làm ông chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên đã nhiều lần từ chối sự đề bạt. Đến năm 1746, nhân khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự "bẻ tên cởi giáp" theo đuổi chí hướng mới.
Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân ngũ, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả "trăm việc đổ dồn vào mình, sức ngày một yếu" (Lời tựa "Tâm lĩnh"), lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi. Sau nhờ lương y Trần Độc, người Nghệ An là bậc lão nho, học rộng biết nhiều nhưng thi không đỗ, trở về học thuốc, nhiệt tình chữa khỏi.
Trong thời gian hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông thường đọc "Phùng thị cẩm nang" và hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, bèn đem hết những hiểu biết về y học truyền cho ông. Vốn là người thông minh học rộng, ông mau chóng hiểu sâu y lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y không chỉ lợi ích cho mình mà có thể giúp người đời, nên ông quyết chí học thuốc.
Ở Hương Sơn, ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu "Hải Thượng Lãn Ông". "Hải Thượng" là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ Thượng Hồng quê cha và cũng là xứ Bầu Thượng quê mẹ. "Lãn Ông" nghĩa là "ông lười", ngụ ý lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích gắn bó.
Mùa thu năm Bính Tý (1756), Lê Hữu Trác ra kinh đô mong tìm thầy để học thêm vì ông thấy y lý mênh mông nhưng không gặp được thầy giỏi, ông đành bỏ tiền mua một số phương thuốc gia truyền, trở về Hương Sơn "từ khước sự giao du, đóng cửa để đọc sách" (tựa "Tâm lĩnh"), vừa học tập và chữa bệnh. Mười năm sau tiếng tăm của ông đã nổi ở vùng Hoan Châu.
Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn Ông đã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. Sau hơn chục năm viết nên bộ "Y tôn tâm lĩnh" gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ánh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải Thượng Lãn Ông.
Ngày 12 tháng 1 năm Cảnh Hưng 43 (1782), ông nhận được lệnh chúa triệu về kinh. Lúc này ông đã 62 tuổi, sức yếu lại quyết chí xa lánh công danh, nhưng do theo đuổi nghiệp y đã mấy chục năm mà bộ "Tâm lĩnh" chưa in được, "không dám truyền thụ riêng ai, chỉ muốn đem ra công bố cho mọi người cùng biết, nhưng việc thì nặng sức lại mỏng, khó mà làm được" ("Thượng kinh ký sự"), ông hy vọng lần đi ra kinh đô có thể thực hiện việc in bộ sách. Vì vậy ông nhận chiếu chỉ của chúa Trịnh, từ giã gia đình, học trò rời Hương Sơn lên đường.
Ra kinh vào phủ chúa xem mạch và kê đơn cho thế tử Trịnh Cán, ông được Trịnh Sâm khen "hiểu sâu y lý" ban thưởng cho ông 20 xuất lính hầu, và bổng lộc ngang với chức quan kiểm soát bộ Hộ để giữ ông lại. Nhưng ông giả ốm không vào chầu, sau lại viện cớ tuổi già mắt hoa, tai điếc thường ốm yếu để được trọ ở ngoài. Bọn ngự y ghen tỵ với Lãn ông không chịu chữa theo đơn của ông, nên thế tử không khỏi, ông biết thế nhưng không hề thắc mắc với bọn thầy thuốc thiếu lương tâm này, kết quả để sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh lợi.
Thời gian ở kinh đô, ông nhiều lần xin về thăm cố hương Hải Dương, nhưng mãi đến tháng 9 năm 1782, sau chúa Trịnh mới cho phép ông về. Không lâu sau, ông lại có lệnh triệu về kinh vì Trịnh Sâm ốm nặng. Về kinh ông chữa cho Trịnh Sâm khỏi và cũng miễn cưỡng chữa tiếp cho Trịnh Cán. Trịnh Sâm lại trọng thưởng cho ông. Ông bắt buộc phải nhận nhưng bụng nghĩ: "Mình tuy không phải đã bỏ quên việc ẩn cư, nhưng nay hãy tạm nhận phần thưởng rồi sau vứt đi cũng được" ("Thượng kinh ký sự").
Sau khi Trịnh Sâm chết vì bệnh lâu ngày sức yếu, Trịnh Cán lên thay, nhưng Trịnh Cán cũng ốm dai dẳng nên "khí lực khô kiệt", khó lòng khỏe được. Do nóng lòng trở về Hương Sơn, nhân có người tiến cử một lương y mới, Lê Hữu Trác liền lấy cớ người nhà ốm nặng rời kinh, ông rất vui mừng. Ngày 2 tháng 11 (năm 1782) Lãn ông về đến Hương Sơn.
Năm 1783 ông viết xong tập "Thượng kinh ký sự" bằng chữ Hán tả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và quyền uy, thế lực của nhà chúa - những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm. Tập ký ấy là một tác phẩm văn học vô cùng quý giá. Mặc dầu tuổi già, công việc lại nhiều: chữa bệnh, dạy học, nhưng ông vẫn tiếp tục chỉnh lý, bổ sung, viết thêm (tập Vân khí bí điển, năm 1786) để hoàn chỉnh bộ "Hải Thượng y tông Tâm lĩnh". Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác không chỉ là danh y có cống hiến to lớn cho nền y học dân tộc, ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại.
Ông qua đời vào ngày 25 tháng Giêng năm Tân Hợi (1791) (nhằm ngày 18 tháng 3 năm 1791) tại Bầu Thượng, (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), hưởng thọ 67 hoặc 71 tuổi. Mộ ông nay còn nằm ở khe nước cạnh chân núi Minh Từ thuộc xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn.
Lê Hữu Trác là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam, trong đó có thuốc Nam, kế thừa xuất sắc sự nghiệp "Nam dược trị Nam nhân" của Tuệ Tĩnh thiền sư. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 28 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh giá là công trình y học xuất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và các cuốn Lĩnh Nam bản thảo, Thượng kinh ký sự không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học.
Câu nói nổi tiếng.
Suốt đời, Hải Thượng Lãn Ông không vương vào vòng danh lợi. Ông có hai câu thơ tỏ chí của mình:
"Công danh trước mắt trôi như nước,"
"Nhân nghĩa trong lòng chẳng đổi phương."
|
Cape Horn (tiếng Hà Lan: "Kaap Hoorn"; tiếng Tây Ban Nha: "Cabo de Hornos"; có nghĩa là "Mũi Sừng") là mũi đất, điểm cực nam của quần đảo Tierra del Fuego, miền Nam Chile.
Có ý kiến phổ biến cho rằng Cape Horn là điểm tận cùng về phía Nam của châu Mỹ. Mặc dù trên lý thuyết đây không phải là điểm cực nam của Nam Mỹ (là Quần đảo Diego Ramírez cách Cape Horn 105 km về phía tây nam), Cape Horn đánh dấu ranh giới phía bắc của eo biển Drake và đánh dấu nơi hai đại dương Đại Tây Dương và Thái Bình Dương gặp nhau.
Cape Horn được khám phá lần đầu tiên vào năm 1616 bởi thủy thủ người Hà Lan Willem Schouten, người đặt tên cho nó là "Kaap Hoorn" theo tên thành phố Hoorn ở Hà Lan. Trong nhiều thập kỷ, Cape Horn là một cột mốc quan trọng trên tuyến đường vận tải đường thủy, qua đó các tàu thuyền chở hàng hóa thương mại trên khắp thế giới. Vùng nước xung quanh Cape Horn đặc biệt nguy hiểm, do gió mạnh, sóng lớn, dòng chảy mạnh và các tảng băng trôi; những nguy hiểm này đã khiến nó trở nên khét tiếng như một nghĩa địa của các thủy thủ.
Nhu cầu đi lại qua Cape Horn đã giảm đáng kể từ khi kênh đào Panama được mở vào tháng 8 năm 1914. Tuy nhiên, đi thuyền quanh Cape Horn vẫn được coi là một trong những thử thách đáng trải nghiệm trong giới du thuyền mạo hiểm. Do đó, một số thủy thủ giải trí tiếp tục đi theo tuyến đường này, đôi khi là một phần của việc đi vòng quanh thế giới. Hầu như tất cả trong số này chọn các tuyến đường qua các kênh ở phía bắc của mũi. (Nhiều người đi đường vòng qua các đảo và neo đậu để chờ thời tiết thuận lợi đến thăm Cape Horn, hoặc đi thuyền quanh đó để tái tạo một vòng quanh địa điểm lịch sử này). Một số cuộc đua du thuyền trên biển nổi bật, đáng chú ý là Cuộc đua Đại dương Volvo, VELUX 5 Oceans và Quả cầu Vendée, đi thuyền vòng quanh thế giới qua Mũi Sừng. Những kỷ lục về tốc độ cho hành trình đi thuyền vòng quanh thế giới được công nhận theo tuyến đường này.
Năm 1525, con tàu San Lesmes do Francisco de Hoces, thành viên của Đoàn thám hiểm Loaísa chỉ huy, đã bị thổi bay về phía nam bởi một cơn gió ở phía trước Đại Tây Dương ở đoạn cuối eo biển Magellan và đến vĩ độ 56 °S nơi họ nghĩ là sẽ thấy nơi tận cùng của đất liền.
Vào tháng 9 năm 1578, Francis Drake, trong quá trình đi vòng quanh thế giới, đã đi qua eo biển Magellan vào Thái Bình Dương. Trước khi ông ta có thể tiếp tục hành trình về phía bắc, các con tàu của ông đã gặp phải một cơn bão và được thổi về phía nam Tierra del Fuego. Sự mở rộng của vùng nước mở mà họ gặp phải khiến Drake đoán rằng từ xa là một lục địa khác, như đã tin trước đây, Tierra del Fuego là một hòn đảo có vùng biển mở về phía nam. Phát hiện này đã không được để mắt trong một thời gian, khi các tàu sau này tiếp tục sử dụng lối đi đã biết qua Eo biển Magellan.
Vào đầu thế kỷ 17, Công ty Đông Ấn Hà Lan đã được trao độc quyền cho tất cả các giao dịch của Hà Lan thông qua Eo biển Magellan và Mũi Hảo Vọng, các tuyến đường duy nhất được biết đến để đi đến Viễn Đông. Để tìm kiếm một tuyến đường thay thế và một tuyến đến Terra Australis chưa biết, Isaac Le Maire, một thương nhân giàu có ở Amsterdam và Willem Schouten, một chủ tàu của Horn, đã đóng góp cổ phần bằng nhau cho doanh nghiệp, với sự hỗ trợ tài chính bổ sung từ các thương nhân Horn. Jacob Le Maire, con trai của Isaac, đã tiếp tục cuộc hành trình với tư cách là trưởng nhóm Marchant Marchant và là nhân tố chính, phụ trách các khía cạnh giao dịch của nỗ lực này. Hai chiếc tàu rời Hà Lan vào đầu tháng 6 năm 1615 là Eendracht 360 tấn với Schouten và Le Maire trên tàu, và Hoorn 110 tấn, trong đó anh trai của Schouten, Johan là chủ. Sau đó, Eendracht, cùng với phi hành đoàn của chiếc tàu Hoorn bị đắm gần đây, đi qua eo biển Le Maire và Schouten cùng với Le Maire đã thực hiện chuyến khám phá tuyệt vời của họ.
Vào thời điểm nó được phát hiện, Mũi Sừng được cho là điểm cực nam của Tierra del Fuego; những mối nguy hiểm không thể đoán trước của điều kiện thời tiết và biển cả trong eo biển Drake khiến việc thám hiểm trở nên khó khăn và chỉ đến năm 1624, Mũi Sừng mới được phát hiện là một hòn đảo. Đó là một minh chứng kể đến những khó khăn của điều kiện khu vực này khi mà Nam Cực, chỉ cách đó 650 km (400 dặm) trên eo biển Drake, được phát hiện chỉ là thời gian gần đây như năm 1820, mặc dù eo biển này đã được sử dụng như một tuyến đường vận chuyển chính trong 200 năm.
Trong nhiều thế kỷ, Cape Horn là hải trình chủ yếu giữa các lục địa Mỹ, Âu và Á châu. Các tàu thuyền đi vòng quanh Mũi Sừng mang theo len, ngũ cốc vàng từ Úc trở về châu Âu; nhiều giao dịch được thực hiện quanh Mũi Sừng giữa Châu Âu và Viễn Đông; và các tàu thương mại và hành khách đi lại giữa các bờ biển của Hoa Kỳ thông qua Mũi Sừng. Các thuyền tàu hầu như phải chọn thủy lộ này, dù bao hiểm nguy luôn rình rập trên khúc quanh tuy nhỏ nhưng thuộc hàng đáng sợ nhất thế giới. Năm 1934, một nhà thám hiểm người Na Uy tên là Al Hansen là người đầu tiên trên thế giới chinh phục Mũi Sừng bằng thuyền mộc. Nhưng vì đi sai đường từ đông sang tây, thuyền của ông đã bị đắm sau khi không thể chống chọi nổi với những cơn gió lớn tại đây.
Các tuyến đường sắt xuyên lục địa ở Bắc Mỹ, cũng như Kênh đào Panama mở cửa năm 1914 ở Trung Mỹ, dẫn đến việc giảm dần việc sử dụng Cape Horn để buôn bán. Khi tàu hơi nước thay thế tàu thuyền, Flying P-liner Pamir trở thành chiếc thuyền buồm thương mại cuối cùng đi vòng quanh mũi Cape Horn chở hàng hóa, chở ngũ cốc từ cảng Victoria ở Úc, đến Falmouth, Anh vào năm 1949.
Trải qua hàng trăm năm nay, Cape Horn luôn là nỗi khiếp sợ cho các thủy thủ, ngay cả những người đi biển lâu năm, dày dặn kinh nghiệm nhất.
Cape Horn là một vách đá cao khoảng 425 m, nằm ở cực nam châu Mỹ, trên một hòn đảo nhỏ (đảo Horn), diện tích 12 km². Mũi Horn tiếp giáp với rìa phía bắc của eo biển Drake, một eo biển rộng 650 km phân cách hai lục địa Nam Mỹ và Nam Cực. Khoảng cách từ đây đến bán đảo Nam Cực chỉ khoảng 1000 km. Nó nằm trong vườn quốc gia Cabo de Hornos.
Mũi đất nằm trong lãnh hải Chile và Hải quân Chile duy trì một trạm trên đảo Horn, bao gồm một khu dân cư, tòa nhà tiện ích, nhà nguyện và ngọn hải đăng. Một khoảng cách ngắn từ nhà ga chính là một đài tưởng niệm, bao gồm một tác phẩm điêu khắc lớn được thực hiện bởi nhà điêu khắc người Chile, Jose Balcells, có hình bóng của một con hải âu, để tưởng nhớ các thủy thủ đã chết trong khi cố gắng "vượt qua Mũi Sừng". Nó được dựng lên vào năm 1992 thông qua sáng kiến của Lực lượng anh em thuyền trưởng Cape Horn của Chile. Do gió mạnh đặc trưng của khu vực, tác phẩm điêu khắc này đã bị thổi bay vào năm 2014 và chưa biết liệu nó đã được khôi phục lại vị trí bình thường hay chưa. Địa hình ở đây hoàn toàn không có cây cối, mặc dù khá tươi tốt do lượng mưa thường xuyên. Cape Horn là giới hạn phía nam của phạm vi mà chim cánh cụt Magellan phân bố.
Khí hậu trong khu vực nói chung là từ mát mẻ đến lạnh, do vĩ độ cao ở bán cầu nam. Không có trạm thời tiết trong nhóm đảo bao gồm Cape Horn; nhưng một nghiên cứu vào năm 1882-1883, đã tìm thấy lượng mưa hàng năm là 1.357 mm (53,4 inch), với nhiệt độ trung bình hàng năm là 5,2 °C (41,4 °F). Gió được báo cáo trung bình 30 km mỗi giờ (8,33 m / s; 18,64 dặm / giờ), (5 Bf), với các cơn gió trên 100 km mỗi giờ (27,78 m / s; 62,14 dặm / giờ), (10 Bf) xảy ra trong tất cả các mùa. Có 278 ngày mưa (70 ngày có tuyết) và 2.000 milimét (79 inch) lượng mưa hàng năm.
Độ che phủ của mây nhìn chung rất rộng, với trung bình từ 5,2 eighth trong tháng 5 và tháng 7 đến 6,4 eighth trong tháng 12 và tháng 1. Lượng mưa cao trong suốt cả năm: trạm thời tiết trên Quần đảo Diego Ramirez gần đó, 109 km (68 dặm) về phía tây nam trong eo Drake, cho thấy lượng mưa lớn nhất vào tháng 3, trung bình là 137,4 mm (5,41 in); trong khi tháng 10, nơi có lượng mưa ít nhất, vẫn trung bình khoảng 93,7 mm (3,69 in). Điều kiện gió ở đây thường rất xấu và nghiêm trọng, đặc biệt là vào mùa đông. Các trận cuồng phong có tốc độ 30– 100 km/giờ liên tục thổi qua đây khiến thời tiết ở mũi Horn có thể trở nên lạnh giá và ẩm ướt hơn. Vào mùa hè, gió ở Cape Horn chỉ có lực mạnh trong 5% thời gian, nhìn chung tầm nhìn khá tốt; tuy nhiên, vào mùa đông, gió bão xuất hiện tới 30% thời gian, thường có tầm nhìn kém.
Nhiều câu chuyện được kể về những chuyến đi nguy hiểm "quanh Mũi Sừng", mô tả hầu hết các cơn bão dữ dội. Charles Darwin đã viết: ""Một cảnh tượng của một bờ biển như vậy là đủ để thực hiện giấc mơ của một người trên cạn trong một tuần về các vụ đắm tàu, nguy hiểm và cái chết."
Là điểm cực nam của vùng đất bên ngoài Nam Cực, khu vực này chỉ trải qua 7 giờ ánh sáng ban ngày trong ngày Hạ chí, với bản thân Cape Horn có 6 giờ 57 phút. Khu vực này trong tháng 12 trải qua khoảng 17 giờ rưỡi ban ngày trong ngày Đông chí tháng 12 và có thể trải qua những ngày sáng chạng vạng trên biển từ hoàng hôn đến bình minh. Ban ngày vùng cực hoặc đêm trắng có thể được quan sát trong tuần xung quanh ngày Đông chí.
Cape Horn có khí hậu vùng lãnh nguyên (ET), với lượng mưa dồi dào, phần lớn là tuyết rơi xuống.
Cape Horn là một phần của xã Cabo de Hornos, lỵ sở là Puerto Williams thuộc tỉnh Antártica Chilena. Khu vực này là một phần của Vùng Magallanes y la Antártica Chilena của Chile. Thị trấn gần Mũi Sừng nhất là Puerto Toro chỉ cách Puerto Williams vài cây số về phía nam.
Nhiều tàu chở dầu hiện đại quá rộng để phù hợp với Kênh đào Panama, cũng như một vài tàu chở khách và một số tàu sân bay. Nhưng không có tuyến đường thương mại thông thường xung quanh Mũi Sừng và các tàu hiện đại chở hàng hóa hiếm khi được nhìn thấy. Tuy nhiên, một số tàu du lịch thường xuyên đi vòng quanh Mũi Sừng khi đi từ đại dương này sang đại dương khác. Những nơi này thường dừng ở Ushuaia hoặc Punta Arenas cũng như Cảng Stanley. Một số tàu du lịch nhỏ chở khách đi giữa Ushuaia và Bán đảo Nam Cực cũng sẽ vượt qua Mũi Sừng, nếu thời gian và thời tiết cho phép.
Các tuyến thuyền buồm.
Một số tuyến thuyền buồm tiềm năng có thể được theo sau xung quanh mũi Nam Mỹ. Eo biển Magellan, giữa đại lục và Tierra del Fuego, là một con đường lớn mặc dù lối đi hẹp, được sử dụng để buôn bán trước khi Mũi Sừng được phát hiện. Kênh Beagle (được đặt tên theo con tàu của đoàn thám hiểm Charles Darwin), giữa Tierra del Fuego và Isla Navarino, cung cấp một tuyến đường tiềm năng, mặc dù khó khăn. Các đoạn khác có thể được thực hiện xung quanh Quần đảo Wollaston và Hermite ở phía bắc của Cape Horn.
Tuy nhiên, tất cả những đoạn đường này đều nổi tiếng với những cơn gió nguy hiểm, có thể bất ngờ tấn công một con tàu với rất ít hoặc không có cảnh báo nào; Vùng nước mở của eo Drake, phía nam Cape Horn, đến nay vẫn là con đường rộng nhất, đoạn hẹp nhất cũng vào khoảng 800 km (500 dặm) chiều rộng; lối đi này cung cấp không gian biển rộng rãi để điều động khi gió thay đổi, và là tuyến đường được sử dụng bởi hầu hết các tàu và thuyền buồm, mặc dù có khả năng cao xảy ra hiện tượng sóng cực đoan.
"Vòng quanh Mũi Sừng"".
Tham quan Cabo de Hornos có thể được thực hiện trong một chuyến đi trong ngày bằng trực thăng hoặc bằng thuyền điều lệ hoặc thuyền buồm tuy sẽ khó khăn hơn, hoặc tàu du lịch. "Nhân đôi sừng" theo truyền thống được hiểu là liên quan đến việc chèo thuyền từ 50 độ Nam trên một bờ biển này đến 50 độ Nam trên bờ biển khác, hai vĩ độ chuẩn của một cuộc du ngoạn quanh Mũi Sừng, một nỗ lực khó khăn và tốn thời gian hơn đáng kể chiều dài tối thiểu là 930 dặm (1.500 km).
Một số yếu tố kết hợp để làm cho lối đi xung quanh Cape Horn trở thành một trong những tuyến vận chuyển nguy hiểm nhất trên thế giới: điều kiện đi thuyền khốc liệt phổ biến ở Nam Đại Dương nói chung; địa lý của đoạn phía nam của Mũi Sừng; và vĩ độ cực nam của nó, ở 56 ° nam. (Để so sánh, Cape Agulhas ở cực nam châu Phi nằm ở 35 ° nam; Đảo Stewart/Rakiura ở cuối phía nam của New Zealand là 47 ° nam.)
Nơi đây được xem là địa ngục của gió, những cơn gió mạnh ở vĩ độ trên 40 ° nam có thể thổi từ tây sang đông mà gần như không bị ngăn trở bởi đất liền. Những cơn gió này đủ nguy hiểm để các tàu đi về phía đông sẽ có xu hướng ở lại phía bắc thuộc khu vực không quá 40 ° vĩ độ nam; tuy nhiên, tiếp cận Cape Horn đòi hỏi tàu phải tiến về phía nam ở vĩ độ 56 ° nam, vào vùng gió mạnh nhất. Hơn nữa, bị gò ép giữa lục địa Nam Cực và dãy núi Andes, gió ùa thẳng vào eo hẹp Drake, gây ra những trận bão kinh hoàng tạo ra các con sóng lớn.
Những cơn gió mạnh của Nam Đại Dương tạo ra những đợt sóng lớn tương ứng; những con sóng này có thể đạt được độ cao lớn khi chúng cuộn quanh Nam Đại Dương, không bị ngăn trở từ đất liền. Tuy nhiên, tại Cape Horn, những con sóng này gặp phải một vùng nước nông ở phía nam của mũi, có tác dụng làm cho sóng ngắn hơn và dốc hơn, làm tăng đáng kể nguy cơ cho tàu. Nếu dòng chảy hải lưu mạnh về phía đông qua eo Drake gặp phải một cơn gió đông đối nghịch, điều này có thể có tác dụng xuất hiện thêm các đợt sóng. Ngoài những con sóng "bình thường" này, khu vực phía tây của Cape Horn đặc biệt nổi tiếng với những con sóng độc, có thể đạt được độ cao lên tới 30 mét (98 feet).
Các luồng gió và dòng chảy hải lưu mạnh tạo ra các vấn đề đặc biệt đối với các tàu đang cố gắng đi vòng qua khu vực, tức là từ đông sang tây. Đây là một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng đối với các tàu thuyền truyền thống, có thể tạo ra rất ít khả năng chống gió vào thời điểm tốt nhất; các thuyền buồm hiện đại có hiệu quả hơn đáng kể đối với gió và đáng tin cậy hơn có thể thực hiện một chuyến đi về phía tây của Cape Horn, như họ làm trong cuộc đua Thách thức toàn cầu.
Những tảng băng trôi là mối nguy hiểm cho các thủy thủ mạo hiểm đi xa trên vĩ độ 40 ° nam. Mặc dù giới hạn băng trôi là ở phía nam xung quanh mũi, tảng băng trôi là mối nguy hiểm đáng kể cho các tàu thuyền trong khu vực. Ở Nam Thái Bình Dương vào tháng Hai (mùa hè ở Nam bán cầu), các tảng băng thường bị giới hạn ở dưới 50 ° nam; nhưng vào tháng 8, nguy cơ băng trôi có thể di chuyển xa về phía bắc ở 40 ° nam. Ngay cả trong tháng hai, Cape Horn vẫn ở dưới vĩ độ của giới hạn xuất hiện các tảng băng. Những mối nguy hiểm này đã khiến cho Cape Horn trở nên khét tiếng vì có lẽ đây là tuyến đường biển nguy hiểm nhất thế giới; nhiều tàu bị đắm, và nhiều thủy thủ đã chết khi cố gắng đi vòng quanh khu vực này.
Hai ngọn hải đăng được đặt gần hoặc ở Cape Horn. Một ngọn nằm trong Trạm Hải quân Chile là nơi dễ tiếp cận và tham quan hơn, và thường được gọi là ngọn hải đăng Cape Horn. Tuy nhiên, trạm Hải quân Chile, bao gồm ngọn hải đăng (ARLS CHI-030, 55 ° 57′49 ″ S 67 ° 13′14 W) và đài tưởng niệm, không được đặt trên Cape Horn (rất khó tiếp cận bằng đường bộ hoặc biển), nhưng trên một điểm đất khác khoảng một dặm về phía đông-đông bắc.
Ngọn hải đăng Cape Horn thích hợp là một tháp ánh sáng bằng sợi thủy tinh nhỏ hơn 4 mét (13 feet), với một mặt phẳng tiêu cự 40 mét (130 feet) và một loạt các khoảng 21 km (13 dặm). Đây là ngọn hải đăng Cape Horn đích thực (ARLS CHI-006, 55 ° 58′38 ″ S 67 ° 15′46 ″ W), và là ngọn hải đăng truyền thống cực nam của thế giới. Một vài công cụ hỗ trợ điều hướng nhỏ được đặt ở phía nam xa hơn, bao gồm một ở Quần đảo Diego Ramírez và một số ở Nam Cực.
Thuyền giải trí và thể thao.
Mặc dù đã mở các kênh đào Suez và Panama, Cape Horn vẫn là một phần của tuyến thuyền buồm nhanh nhất trên thế giới, và vì vậy sự phát triển của thuyền buồm giải trí đường dài đã mang lại sự hồi sinh của những thuyền buồm đi qua Mũi Sừng. Do sự xa xôi của địa điểm và các mối nguy hiểm ở đó, du thuyền một vòng quanh Cape Horn được coi là tương đương với việc leo lên đỉnh Everest, và vì vậy nhiều thủy thủ đã đến đây và tìm thử thách cho riêng mình.
Joshua Slocum là người chèo du thuyền một mình đầu tiên vượt qua thành công theo cách này (vào năm 1895) mặc dù cuối cùng, thời tiết khắc nghiệt đã buộc anh phải sử dụng một số tuyến đường nội địa giữa các kênh và đảo và người ta tin rằng anh không thực sự vượt ra ngoài Mũi Sừng. Nếu người ta phải đi theo định nghĩa nghiêm ngặt, chiếc thuyền nhỏ đầu tiên đi thuyền ra ngoài Cape Horn là chiếc du thuyền Saoirse dài 42 feet, được Conor O'Brien cùng với ba người bạn chèo thuyền trong một chuyến đi vòng quanh thế giới từ năm 1923 đến 1925. Năm 1934, Al Hansen của Na Uy là người đầu tiên đi vòng quanh Cape Horn một mình từ đông sang tây qua "con đường sai" bằng con thuyền Mary Jane, nhưng sau đó bị đắm ở bờ biển Chile. Người đầu tiên đi vòng quanh thế giới theo kiểu du thuyền một mình thành công thông qua Cape Horn là Vito Dumas người Argentina, người đã thực hiện chuyến đi vào năm 1942 trong chiếc ketch Lehg II dài 33 feet (10 mét); kể từ đó, một số thủy thủ khác đã theo ông, bao gồm cả Webb Chiles, người vào tháng 12 năm 1975 đã đi một vòng quanh Cape Horn. Vào ngày 31 tháng 3 năm 2010, Abby Sunderland, 16 tuổi, đã trở thành người trẻ nhất đi thuyền một mình quanh Cape Horn trong nỗ lực đi vòng quanh thế giới. Vào năm 1987, Đoàn thám hiểm Cape Horn của Anh, đứng đầu là Nigel H Seymour, đã đi quanh Cape Horn trong chiếc thuyền kayak đầu tiên trên thế giới có tên là "Kaymaran". Hai chiếc thuyền kayak đi biển có thể liên kết với nhau bằng hai cánh buồm ở bất kỳ vị trí nào trong bốn vị trí chèo thuyền giữa hai chiếc thuyền kayak.
Ngày nay, có một số cuộc đua du thuyền lớn được tổ chức thường xuyên dọc theo tuyến đường cũ qua Cape Horn. Đầu tiên trong số đó là Cuộc đua Quả cầu vàng Chủ nhật, là cuộc đua cá nhân; điều này đã truyền cảm hứng cho cuộc đua "Around Alone" ngày nay, nơi những người đi vòng quanh có điểm dừng và Quả cầu Vendée, không ngừng nghỉ. Cả hai đều là những cuộc đua cá nhân, và được tổ chức bốn năm một lần. "Volvo Ocean Race" là một cuộc đua đường thủy với các điểm dừng, đi theo lộ trình cứ sau bốn năm. Nguồn gốc của nó nằm trong Cuộc đua vòng quanh thế giới cuộc đua lần đầu tiên vào năm 1973. Giải thưởng "Jules Verne" là giải thưởng cho việc đi vòng quanh thế giới nhanh nhất bởi bất kỳ loại du thuyền nào, không có giới hạn về quy mô người tham gia (không hỗ trợ, không ngừng nghỉ). Cuối cùng, cuộc đua "Thử thách Toàn cầu" đi vòng quanh thế giới "sai đường", từ đông sang tây, liên quan đến việc phải đi vòng quanh Cape Horn trước những cơn gió và dòng chảy hải lưu hung tợn.
Cape Horn vẫn là một mối nguy hiểm lớn cho các thủy thủ đi du ngoạn với mục đích giải trí. Tuy nhiên, một trường hợp kinh điển là của Miles và Beryl Smeeton, người đã cố gắng đi quanh mũi trong du thuyền Tzu Hang của họ. Bị tấn công bởi một làn sóng độc khi đến gần mũi, chiếc thuyền đã bị lật nhào. Mặc dù họ sống sót và có thể sửa chữa thuyền ở Talcahuano, Chile, họ đã cố gắng vượt qua chặng đường đó một lần nữa, và thuyền vẫn bị lật và bị phá hủy lần thứ hai, bởi một làn sóng độc khác, một lần nữa họ sống sót một cách kỳ diệu.
|
Tiền âm phủ (còn gọi là "tiền địa phủ", "tiền vàng bạc", "tiền vàng mã") gọi tắt là vàng mã là một loại giấy kích thước và trang trí giống (hoặc gần giống) như giấy bạc thật, được dùng để cúng bái trong các dịp ma chay, đám giỗ, cúng tế, làm lễ tại các đền, chùa. Theo quan niệm của những người còn sống, những người đã chết được đưa xuống cõi âm, một nơi giống với cõi dương. Những người ở cõi âm đều sinh hoạt giống như trên dương thế và họ cũng cần có những vật dụng dành cho cuộc sống.
Để có thể gửi tiền, đồ dùng cho người ở cõi âm, người ta đốt tiền âm phủ và nhiều loại vàng mã khác như vật dụng thường dùng, sau này biến tấu thêm nhà, xe, máy tính, ti vi, điện thoại, quần á, làm ăn phát đạt hơn. Tuy nhiên cái chính của việc đốt tiền âm phủ là thể hiện sự quan tâm, mối thâm tình sâu đậm với người đã khuất.
Tại Việt Nam có nhiều công ty sản xuất và in tiền âm phủ để bán ra thị trường. Đây là một loại hàng hóa được bán rất chạy vào các dịp lễ, Tết.
Tục đốt vàng mã có nguồn gốc từ Trung Quốc, xuất hiện trong đám tang của người xưa. Vào thời nhà Tần (thế kỉ 2), nhiều quý tộc Trung Hoa có thói quen tùy táng theo người chết bằng bạch ngọc cùng nhiều đồ vật quý giá khác và phát triển cực thịnh dưới thời nhà Đường (618-907).
Người Ai Cập cổ đại (khoảng năm 3100-30 TCN), với quan niệm chết là bắt đầu cho cuộc sống dưới âm phủ sau đó nên trong triều đại của mình, các pharaoh Ai Cập đã ra công xây dựng những kim tự tháp nguy nga, tráng lệ để ướp xác mình và chôn theo vàng bạc, châu báu, các hoàng phi, cung tần mỹ nữ của mình với mục đích tiếp tục hưởng thụ cuộc sống sung túc về vật chất sau khi chết trong cõi âm.
Từ thời nhà Hạ khoảng năm 2205 TCN, người Trung Quốc mới có tục làm đồ đất, đồ gỗ chôn theo người chết. Nhưng đến đời nhà Chu (1.122 TCN), họ lại có tục tuẫn táng, chôn sống vợ con, bộ hạ, đồ vật yêu thích của vua, các quan lớn khi những người này chết.
Về sau, thấy lệ tuẫn táng là vô nhân đạo nên người Trung Quốc lại chế ra người gỗ, người cỏ để chôn thay người thật. Tục chôn người gỗ, người cỏ này vẫn gây nên nhiều ác cảm, căm phẫn trong lòng các nhà Nho nổi tiếng như Khổng Tử, Mạnh Tử. Trong Kinh Lễ, đức Khổng Tử (551 – 479 TCN, người khai sáng Nho giáo, triết gia lỗi lạc bậc nhất Trung Quốc và châu Á thời cổ) quở rằng: "Ai bày ra hình nhơn thế mạng để chôn theo người chết đó là kẻ bất nhân". Thầy Mạnh Tử (372–289 TCN, nhà Nho và triết gia vĩ đại thứ hai Trung Quốc, chỉ sau Khổng Tử), cũng nói: "Ai làm ra Bồ nhìn con gỗ bởi cái lệ chôn sống người, là kẻ tuyệt tự".
Đến thời nhà Hán (206 TCN-220 SCN), do sự phản đối của các bậc thầy Nho giáo nêu trên mà lệ tuẫn táng được bãi bỏ nhưng người ta vẫn chôn sống các món đồ ăn mặc, hành dùng của người chết, ngoài ra còn có thêm một phong tục khác là làm nhà mồ để người thân người chết ra ấp mộ, làm phỗng đá quanh nhà mồ.
Khi Tần Thủy Hoàng (259-210 TCN) lên ngôi hoàng đế (221-210 TCN), nhận thấy việc này quá lãng phí nên đã ra sắc lệnh cấm tùy táng bằng hiện vật thật. Thay vào đó là nghi thức tượng trưng, tùy táng bằng tiền giả, vàng giả... (làm bằng giấy). Tục này phát triển cực thịnh vào thời Đường (thế kỉ 7) và bắt đầu lưu truyền vào Việt Nam. Như vậy có thể thấy, ý nghĩa ban đầu của tục đốt vàng mã rất nhân văn, nhằm tránh sự lãng phí của cải.
Cho đến thời nhà Hán, người Trung Quốc đã bỏ lệ tuẫn táng (chôn người sống theo người chết) rất bất nhân; tuy nhiên họ vẫn còn tục tùy táng: chôn sống các món đồ ăn mặc, hành dùng của người chết, làm nhà mồ để người thân người chết ra ấp mộ, làm phỗng đá. Từ đời Đường, người Trung Quốc mới chế ra giấy vàng mã để thay cho các hình nhân, đồ vật thật, đồ mã chôn theo người chết khi có tang ma.
Câu chuyện chế tạo vàng mã bắt đầu từ việc chế ra giấy. Đời Hán, vua Hòa Đế hiệu Nguyên Hưng năm đầu (105 Sau Công nguyên), ông Thái Lĩnh lấy vỏ cây dó và rẻ rách, lưới rách đem chế ra giấy. Đời Đường(bắt đầu từ năm 618), ông Vương Dũ dùng giấy chế ra vàng bạc, quần á, tế lễ.
Năm Khai Nguyên thứ 26 (năm 738), vua Đường Huyền Tông (685-762) ra sắc dụ cho phép dùng tiền giấy thay cho tiền thật trong việc cúng tế, cầu siê, có thể nói Vương Dũ chính là thủy tổ nghề vàng mã.
Ngoài giấy tiền vàng bạc cùng các loại giấy khác, người Trung Quốc thời đó còn chế ra các loại hình nhân thế mạng cho vợ hầu, con cái, tôi tớ, cửa nhà, xe cộ, đồ đạc, vật dụng, áo quần, lục súc… và hàng trăm vật khác làm bằng giấy. Các loại đồ vàng mã gọi chung là minh khí này liên tục xuất hiện, làm cho nhân dân đua nhau chuộng đồ mã.
Đến đời vua Đường Đại Tông (726-779) (năm 762), khi Phật giáo đang cực thịnh ở Trung Quốc, nhân dịp lễ Vu Lan, một nhà sư Phật giáo muốn khuyến khích người dân theo Phật nên tâu với vua ra lệnh cho người dân đốt nhiều vàng mã để kính biếu gia tiên trong ngày này. Không lâu sau, chiếu chỉ của vua lại bị chư tăng Phật giáo công kích dữ dội vì đốt vàng mã vào ngày rằm tháng 7 đã làm mất đi ý nghĩa thật sự ngày lễ Vu Lan.
Trước sự phản đối của chư Tăng, người dân Trung Quốc tỉnh ngộ bỏ vàng mã nên nghề vàng mã dần suy thoái. Hậu duệ của Vương Dũ là Vương Luân bị thất nghiệp đã nghĩ kế làm người chết sống lại để người đời tin tưởng là nhờ hối lộ vàng mã mà thần thánh cho mình được phục sinh. Kể từ đó, nghề vàng mã lại phục hưng, người dân Trung Quốc tiếp tục dùng vàng mã để đốt cho linh hồn các gia tiên và thiên, địa, quỷ, thần trong tam, tứ phủ khi ma chay, tế lễ... (Tam tứ phủ là tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam và nhiều nước châu Á, thờ các vị đứng đầu và các quan cai quản trời-đất-nước và địa phủ để cầu xin tài lộc, sức khỏe trong đời sống hiện tại).
Sách Trực Ngôn Cảnh Giáo của Trung Hoa kể lại rằng Vương Luân là dòng dõi của Vương Dũ, vì không muốn nghề nghiệp gia truyền làm vàng mã bị mai một, nên cố gắng hết sức để chấn hưng nghề làm đồ mã, bèn lập mưu với người bạn thân, lên kế hoạch bí mật chết giả, bằng cách để người bạn thân đó giả vờ đau ốm cho mọi người biết, khoảng vài ngày sau Vương Luân loan tin người bạn thân đã qua đời, sau đó khâm liệm bỏ vào quan tài chờ ngày an táng. Nhưng sự thật thì người bạn của Vương Luân vẫn còn sống, tuy ở trong quan tài nhưng vẫn có lỗ trống ở dưới đáy để thở và đưa thức ăn vào. Đến ngày đưa đám tang, trong khi lễ nhạc linh đình, phúng điếu rộn rịp, Vương Luân đem giấy tiền vàng mã và những đồ dùng bằng giấy như nhà cửa, áo quần và hình nhân thế mạng, đích thân làm lễ cúng tế để cầu nguyện cho người bạn thân. Sau đó ông ta đốt hết giấy tiền vàng mã và hình nhân thế mạng.
Khi đốt xong thì quan tài tự nhiên rung động, ai nấy đều mục kích rõ ràng, vội cùng nhau mở nắp quan tài ra. Người bạn thân của Vương Luân quả nhiên sống lại, đến trước mặt Vương Luân phủ phục xuống đất cảm tạ và thuật lại cho mọi người nghe rằng chư vị thần dưới âm đã nhận được vàng mã và hình nhân thế mạng nên thả hồn ông ta trở về cõi trần, nên ông ta mới được sống lại.
Mọi người đều tin là thật và tin tức được loan truyền rộng rãi trong dân gian, nên đồ mã của Vương Luân sau đó lại được hưng thịnh như xưa. Nhờ thế các nhà buôn đồ mã lại làm giàu một cách nhanh chóng và phổ biến sang các nước chư hầu để tiêu thụ, trong đó có Việt Nam. Sau này do sự cạnh tranh nghề nghiệp, nên người bạn thân đã tiết lộ mưu kế gian xảo của Vương Luân và vì thế ngày nay chúng ta mới biết lai lịch việc này.
Vàng mã đã được phát triển bởi người Trung Quốc hiện đại và trên khắp Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á (như: Nhật Bản, Thái Lan, Ấn Độ, Triều Tiên, Việt Nam, Mông Cổ...) từ cuối thế kỷ 19. Từ đầu thế kỷ 20 có sự tương đồng với loại tiền thương mại nhỏ thuộc loại được phát hành bởi các doanh nghiệp trên khắp Trung Quốc cho đến khi giành độc lập giữa những năm 1940.
Tục lệ đốt vàng mã này ảnh hưởng sâu đậm vào nước ta, từ vua chúa đến thứ dân. Vụ đốt vàng mã lớn nhất Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 là trong đám tang của Vua Khải Định, băng hà vào ngày 25 tháng 11, năm 1925, triều đình Huế đã làm nguyên cả ngôi điện Kiến Trung bằng giấy thật lớn và nhiều loại đồ dùng của vua như ngự liễn, long xa, tàn kiệu,
Cố đại lão Hòa thượng Thích Tố Liên (1903-1977) là một tu sĩ Phật giáo có nhiều công lao trong phong trào chấn hưng Phật giáo, đưa Phật giáo Việt Nam hòa nhập với Phật giáo Thế giới giai đoạn giữa thế kỷ 20. Năm 1951, ông là sáng lập viên kiêm Tổng thư ký của Tổng hội Phật giáo Việt Nam, tổ chức thống nhất Phật giáo toàn quốc, tiền thân của Giáo hội Phật giáo thống nhất Việt Nam sau này.
Bài tuyên truyền bài trừ vàng mã ""Nguyên nhân tục lệ đốt vàng mã" của hòa thượng Tố Liên được đăng trên báo Đuốc Tuệ (cơ quan ngôn luận của Hội Phật giáo Bắc Kỳ thời trước Cách mạng tháng Tám) số ra năm 1952. Bài viết ra đời trong bối cảnh phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ 20 của các cao tăng và cư sĩ trí thức với mục đích loại bỏ những "đám mây" mê tín dị đoan, làm cho bầu trời văn hóa Phật giáo Việt Nam trở nên trong sáng hơn.
Hòa thượng Thích Gia Quang, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng định tục đốt vàng mã không có trong Phật giáo Việt Nam. Việc ra văn bản là góp phần khẳng định một lần nữa quan điểm này, đồng thời mang tính chất nhắc nhở, thầy trụ trì các chùa phổ biến cho người dân hiểu rõ hơn, tường tận hơn để hạn chế và dần dần đi đến từ bỏ tục đốt vàng mã. Không đốt vàng mã trong các cơ sở thờ tự, tín ngưỡng thờ Phật đó cũng là chủ trương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
"Hiện, còn một bộ phận người nghèo đói, túng thiếu, cơm gạo không đủ ăn. Trong khi đó, không ít người bỏ ra rất nhiều tiền để đốt vàng mã. Đây là điều bất hợp lý", Hòa thượng Thích Thanh Nhiễu, trụ trì chùa Quán Sứ, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhấn mạnh.
Trụ trì chùa Quán Sứ cũng khẳng định: Một mình nhà chùa không thể ngăn được người dân mang vàng mã đến chùa cúng và đốt. Chính vì vậy, các cơ quan quản lý nhà nước, các tỉnh, thành phải cùng vào cuộc, trong đó phải làm từ gốc của vấn đề là việc sản xuất, buôn bán vàng mã...
Thượng tọa Thích Nhật Từ, Phó Trưởng ban Phật giáo Quốc tế - Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam chỉ rõ: Về bản chất, đạo Phật không khích lệ tập tục đốt vàng mã. Việc ngừng các hoạt động mê tín dị đoan, trong đó có việc đốt vàng mã là điều cần thiết. Đã đến lúc không nên để tập tục này tiếp tục diễn ra trong các cơ sở thờ tự. Các tăng ni cần nêu cao ý thức vì việc này trái với Phật pháp…
Thượng tọa Thích Thanh Duệ, Phó Trưởng ban Nghi lễ Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng định: "Trong giáo lý nhà Phật không có việc đốt vàng mã cúng tế người chết. Quan điểm của đạo Phật hoàn toàn bác bỏ tục lệ mê tín này. Phật giáo chỉ khuyên trong ngày Lễ vu-lan (báo hiếu cha mẹ) thì nên ăn chay niệm Phật để tưởng nhớ. Và làm Lễ xá tội vong nhân (cúng chúng sinh) – cúng những vong hồn lưu lạc một mâm cỗ chay để bố thí siêu sinh. Đồng thời, giúp đỡ những người nghèo khổ chốn trần gian, ăn chay niệm Phật và phóng sinh tích đức để siêu độ vong linh".
Thượng toạ Thích Thanh Nhã, trụ trì chùa Trấn Quốc (Hà Nội) cũng khẳng định: Kinh Phật không dạy đốt vàng mã cho người quá cố. Bản thân trụ trì cũng thường xuyên nhắc nhở Phật tử nên hạn chế đốt vàng mã. Theo ông thì nên dùng tiền mua vàng mã đốt để làm việc thiện cho đời sẽ tốt hơn rất nhiều.
Đại đức Thích Thiện Hạnh, trụ trì chùa Vinh Phúc (thôn Quang Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh) cũng cho rằng, việc đốt vàng mã là mê tín dị đoan và sai hoàn toàn. Đại đức Thích Thiện Hạnh giải thích: "Chúng ta vẫn có câu: Dương sao âm vậy. Nhưng vàng mã của chúng ta về dưới đó có tiêu được không? Quần áo chúng ta đốt về có vừa với kích cỡ của ông bà chúng ta nữa không? Xe cộ, đồ dùng… có được gửi đúng địa chỉ không? Thành thực trả lời những câu hỏi đó cũng đủ thấy đốt vàng mã là mê tín dị đoan, không hề phù hợp hay có cơ sở. Nếu cha mẹ cõi âm chỉ mong chờ ngày này để được miếng cơm, manh áo, căn nhà… thì những tháng ngày còn lại, tổ tiên ông bà, cha mẹ ăn, mặc, ngủ, nghỉ ở đâu".
Các đại đức đều cho rằng: Người dương biết làm phúc, thì người âm dễ siêu thoát. Chúng ta nên lên chùa, thành tâm cầu nguyện hồi hướng tâm đức. Nếu có tiền để mua sắm vàng mã đốt cho cha mẹ, thì nên dùng tiền đó để chia sẻ cho những người nghèo khó. Bởi "Cứu một người dương gian bằng ngàn người âm phủ"". Còn cầu nguyện, chỉ cần tấm lòng thành, nếu không thành tâm thì làm gì cũng vô ích".
Cổ tục đốt vàng mã đã có từ lâu đời, ăn sâu vào tâm thức của người dân Việt Nam nên rất khó từ bỏ trong một sớm một chiều. Tuy vậy, chúng ta cố gắng nên hạn chế là tốt nhất.
Phố Hàng Mã có một lịch sử lâu đời là nơi bán các loại hàng mã. Theo tục lệ, những người chết ban đầu được chôn kèm những đồ tùy táng (đồ thật) nhưng sau người ta thấy việc đó tốn kém và lãng phí nên thay bằng các hình mô phỏng bằng giấy, tre, gỗ… đốt để thay thế.
Ngày xưa thì cung tiến xe ngựa, tiền giấy, người thế thân… bây giờ thì có nhà lầu, xe hơi, điện thoại di động… Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt tin rằng trần sao âm vậy nên người sống thường mua các đồ mô phỏng (hàng mã) để cúng tiến cho người đã khuất.
Ngày xưa còn có một phố Hàng Mã khác nữa, sau đã ghép vào phố Mã Mây bây giờ. Khi nếp sống văn minh càng chiếm ưu thế, các mặt hàng phục vụ đám hiếu ở Mã Mây suy giảm và một phần chuyển về phố Hàng Mã bây giờ. Và Hàng Mã, cũng theo xu hướng đó, từ một con phố chuyên bán mặt hàng phục vụ đám hiếu thì giờ thành phố bán đồ chơi và các mặt hàng trang trí.
|
Mũi Columbia là điểm cực Bắc trên đất liền của Canada, cách Bắc Cực khoảng 769 km, nằm trên đảo Ellesmere tại 83°06'41" Bắc, 69°57'30" Tây. Mũi đất này là điểm đất liền xa nhất về phía tây của biển Lincoln thuộc Bắc Băng Dương.
Mũi Columbia được nhà thám hiểm người Anh George Nares khám phá trong cuộc thám hiểm từ năm 1875 đến 1876.
Trạm trung chuyển tại mũi Columbia là trạm xa nhất về phía Bắc, phục vụ cho việc thám hiểm Bắc Cực.
|
Thành cổ Quảng Ngãi
Thành cổ Quảng Ngãi, còn gọi là Cẩm thành hay thành Gấm, là một thành lũy được xây dựng vào năm 1807 thời nhà Nguyễn ở Quảng Ngãi, Việt Nam. Thành cổ Quảng Ngãi là trong 29 thành được xây dựng ở thời nhà Nguyễn.
Trước năm 1945, thành được dùng làm trung tâm hành chính của nhà Nguyễn và của chính quyền thực dân Pháp. Năm 1947, thành đã bị Việt Minh thực hiện tiêu thổ kháng chiến phá hủy hoàn toàn. Cùng năm này, thực dân Pháp cũng đã lên núi Thiên Ấn và đốt cháy điện Thiên Ấn trong khuôn viên chùa Thiên Ấn. Thành cổ hiện chỉ còn dấu tích nằm phía trước khách sạn Ninh Thọ, thuộc khuôn viên quảng trường tỉnh Quảng Ngãi, cạnh một con đường nằm ở phía đông nam thị xã Quảng Ngãi trước đây.
Cẩm thành là cái tên xuất hiện ở thế kỷ 19, còn dùng để chỉ vùng Quảng Ngãi ngày nay, với trung tâm là thành cổ Quảng Ngãi. Có giả thuyết cho rằng cái tên này do Nguyễn Cư Trinh đặt ra nhưng cũng có giả thuyết khác . Cẩm có nghĩa là đẹp; vậy "Cẩm thành" có nghĩa là thành đẹp vì trong Quảng Ngãi thập nhị cảnh có nêu rõ 12 cảnh đẹp xứ Quảng :
Vua Nguyễn Ánh (Gia Long) thật tinh tường khi chọn xây dựng thành Quảng Ngãi thay vì chọn vùng đất Phú Nhơn (tả ngạn sông Trà Khúc) trước đó, cách xa hơn là Châu Sa là lỵ sở của người Chăm và cũng là nơi đặt tam ty của Thừa tuyên Quảng Nam triều Lê. Thành Quảng Ngãi được xây dựng có bình đồ hình vuông cổng chính hướng về phía bắc (kinh thành Huế). Thành phố Quảng Ngãi hiện nay được xây dựng trên nền thành cổ.
|
Mũi Spear là điểm cực Đông của Canada,(52°37' Đông).
Mũi đất nằm ở Avalon Peninsula gần St. John's, Newfoundland, đây là nơi đầu tiên ở Canada có thể nhìn thấy Mặt Trời mọc mỗi ngày.
Trong tiếng Bồ Đào Nha "Cabo da Esperança" có nghĩa là "mũi của hy vọng" đã trở thành "Cap d'Espoir" trong tiếng Pháp và cuối cùng là lan "Cape Spear".
|
Mũi Cà Mau là một mũi đất ở phía nam tỉnh Cà Mau thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Mũi đất này còn có tên là Mũi Bãi Bùng. Đây là cực Nam trên đất liền của Việt Nam. Mũi Cà Mau không phải là điểm cố định, nó vẫn tiếp tục mở rộng do phù sa lấn ra biển hằng năm từ 60 m đến 80 m.
Mũi Cà Mau là vùng đất nằm về phía nam của tỉnh Cà Mau, thuộc địa phận xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, cách thành phố Cà Mau hơn 110 km. Bên trái mũi là biển Đông, bên phải là biển Tây, tức Vịnh Thái Lan.
Mũi Cà Mau không phải là một điểm, mà là một mũi đất với phạm vi là địa phận xã Đất Mũi, là cực Nam trên đất liền của Việt Nam. Điểm chính xác tính bằng tọa độ ở vị trí xa nhất về phía nam mũi đất không cố định do tọa độ có thể thay đổi theo thời gian. Sự thay đổi này là do phù sa bồi đắp vẫn tiếp tục lấn dần ra biển. Cho đến năm 2015, điểm xa nhất phía nam là tọa độ 8°33'903" độ vĩ Bắc 104°50'798" độ kinh Đông, thuộc bãi Khai Long, địa bàn Xóm Rẫy. Công trình Tượng đài Mũi Cà Mau được đặt tại một vị trí khác về phía Tây của mũi đất, thuộc tọa độ 8°37'30" độ vĩ Bắc, 104°43' độ kinh Đông, tọa độ này chỉ là tọa độ được chọn để đặt tượng đài biểu tượng.
Địa lý tự nhiên.
Khu vực Mũi Cà Mau có hệ sinh thái cửa sông ven biển với rừng ngập mặn đa dạng và phong phú, là một phần thuộc về Vườn quốc gia Mũi Cà Mau. Dòng chảy của thủy lưu ven bờ bao gồm dòng triều lưu và dòng chảy do gió. Từ Gành Hào, dòng chảy triều lưu mang tính chất bán nhật triều không đều, trong một ngày đêm 2 lần nước lên và 2 lần nước rút. Vận tốc chảy dao động từ 0,5 đến 1,0 m/giây. Ảnh hưởng sau dòng triều lưu là dòng chảy do gió. Vào mùa khô, từ Gành Hào đến Mũi Cà Mau, dòng chảy có hướng Tây – Tây Nam, nước chảy ép sát bờ đến Mũi Cà Mau thì chuyển sang hướng Tây, tốc độ dòng chảy là 0,22 đến 0,60 m/giây. Vào mùa mưa, dòng chảy có hướng Đông – Đông Bắc, xu hướng là dịch chuyển ra xa bờ. Mũi Cà Mau vẫn tiếp tục mở rộng do phù sa lấn ra biển hằng năm từ 60 m đến 80 m. Phù sa đã tạo ra các bãi bồi có diện tích trên 120 ha mỗi năm.
Thực vật có 22 loài cây rừng ngập mặn, quần xã thực vật là rừng tái sinh tự nhiên hỗn giao giữa đước, vẹt và rừng mấm thuần loài. Ngoài ra, rừng còn có một ít xu, tra, chà là, ô rô, ráng. Loài cây chiếm ưu thế là mấm trắng, mấm đen, vẹt tách, vẹt dù, đước đôi.
Động vật phong phú, về lớp thú có 13 loài thuộc 9 họ; chim có 74 loài thuộc 23 họ; bò sát có 17 loài thuộc 9 họ; lưỡng cư có 5 loài thuộc 3 họ; cá gồm 175 loài thuộc 116 giống và 77 họ; tôm có 14 loài; động, thực vật phiêu sinh có 133 loài. Trong đó, hai loài thú nằm trong Sách đỏ IUCN của thế giới: khỉ đuôi dài và cà khu. Chim có 5 loài nằm trong Sách đỏ IUCN: cò Trung quốc ("Egretta eulophotes"), bồ nông chân xám ("Pelecanus philippinensis"), giang sen ("Ibis leucocephalus"), rẽ mỏ cong hông nâu ("Numenius madagascariensis"), quắn trắng ("Threskiornis melanocephalus"). Ngoài ra, có 7 loài chim và 2 loài bò sát nằm trong Sách đỏ IUCN, 6 loài bò sát nằm trong Sách đỏ Việt Nam. Rừng đất Mũi từng được ghi nhận có lợn rừng, kỳ đà, cá sấ
Mũi Cà Mau theo sử sách ghi nhận là đã thuộc chủ quyền chúa Nguyễn vào năm 1708. Những di dân "Minh hương" dẫn đầu là Mạc Cửu đã khám phá ra các vùng đất phía tây Đồng bằng sông Cửu Long. Ông đã cho lập 7 thôn đầu tiên và chiêu mộ dân tứ xứ, lập chủ quyền vùng đất gọi là Hà Tiên.
Xứ Cà Mau được quản lý bởi đạo Long Xuyên, có hai cảng biển là cảng Đốc Huỳnh và cảng Hàu Ky. Vùng là nơi cùng khai hoang và chung sống của các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer. Đất mũi Cà Mau cũng là nơi mà Nguyễn Ánh khi chạy Tây Sơn đã lưu trú và đi qua. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, quân đội Mỹ đã ném một lượng lớn bom đạn và rải chất độc hóa học xuống các cánh rừng đất mũi.
Một ghi nhận từ năm 1990 đến 1998, rừng đất Mũi Cà Mau bị khai thác quá mức có diện tích lên tới 4.661 ha. Những người phá rừng được ghi nhận là dân tứ xứ đến đây, phần lớn bao gồm thương binh, cán bộ hưu trí, bộ đội phục viên, sĩ quan về hưu.
Năm 2003, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau thành lập trên cơ sở ban đầu là Khu bảo tồn thiên nhiên Đất Mũi, với tổng diện tích 41.862 ha, trong đó 12.203 thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.
Dân cư – Kinh tế.
Trục giao thông quan trọng đến Mũi Cà Mau là đường Hồ Chí Minh đoạn Năm Căn – Đất Mũi, tổng chiều dài 51,3 km. Tuyến đường có bề rộng nền đường 7,5 m, bề rộng mặt đường là 6 m, chi phí xây dựng hơn 3.540 tỷ VND.
Dân cư sống dọc theo hệ thống các kênh rạch chằng chịt. Dân địa phương nuôi hàu với năng suất thương mại 200 tấn/năm, nổi bật là hàu sữa. Khu vực bãi bồi Mũi Cà Mau được dân địa phương sử dụng để nuôi nghêu. Một số sản phẩm truyền thống địa phương bao gồm chiếu cói, đũa đước, mắm đồng. Ẩm thực có mực ống, tôm biển nướ, hàu chấm mù tạt, cua gạch son, vọp luộc gừng chấm mắm, lẩu mắm ăn với rau choạ
Các công trình nổi bật.
Khu vực đất mũi có các công trình như cột Mốc toạ độ quốc gia, Cột cờ Hà Nội, Tượng đài Mũi Cà Mau, Đền thờ Lạc Long Quân, Công trình Mốc đường Hồ Chí Minh, Tượng đài cua Cà Mau, là các địa điểm tham quan đã đưa vào khai thác du lịch. Ước tính có 60.000 đến 70.000 du khách đến đất mũi hằng năm, trong đó có du khách quốc tế. Chính quyền địa phương đã quy hoạch Khu du lịch Mũi Cà Mau với diện tích 56 ha.
Ngày 2 tháng 11 năm 2019, tỉnh Cà Mau quyết định di dời biểu tượng con tàu Tượng đài Mũi Cà Mau đến vị trí khác. Biểu tượng con tàu sẽ di dời đến vị trí mới là khu vực đầu bờ kè chống sạt lở Mũi Cà Mau. Nguyên nhân là vì biểu tượng con tàu đã xây dựng lâu, có cốt nền thấp, bị ngập khi triều cường dâng cao.
Biến động môi trường.
Bên cạnh việc được phù sa bồi đắp, vùng đất Mũi Cà Mau cũng xảy ra hiện tượng sạt lở ven biển. Vào năm 2011, tình trạng sạt lở trở nên nghiêm trọng đến mức báo chí lo ngại sẽ mất Mũi Cà Mau. Tình trạng sạt lở chủ yếu ở phía đông của mũi đất. Các bờ kè bằng đá hộc và cây dừa đổ đất bị sóng biển cuốn trôi. Dự án kè bê tông trị giá 18 tỷ đồng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn xây dựng – thương mại – du lịch Công Lý thi công trong 3 năm bị sạt lở và các cột bê tông nằm xa ngoài khơi. Nhiều đoạn đường mất do sạt lở, và khoảng cách ăn sâu vào bờ có chỗ đến 2 km. Nguyên nhân được cho là bắt nguồn từ việc đốn hạ các mảng rừng để xây dựng các công trình, tượng đài của Khu du lịch Mũi Cà Mau khiến đất trơ trọi.
Để chống chọi lại biến động môi trường này, ngày 10 tháng 7 năm 2012, bờ kè chống sạt lở Mũi Cà Mau được thi công khẩn cấp, gồm hai hàng cột bê tông ly tâm song song với khoảng cách hai hàng là 1,5 m. Giữa hai hàng cột đặt đá. Tổng chiều dài cho đến năm 2020 được thống kê là 3 km. Năm 2016, chính quyền tỉnh Cà Mau đã cho trồng thêm 1.300 ha rừng phòng hộ tại các bãi bồi. Đồng thời, chi tiêu thêm 811 tỷ VND để xây dựng 20 km đê chắn sóng biển và 6,7 km kè rọ đá, kè tường mềm.
|
Du lịch Quảng Ngãi
Du lịch Quảng Ngãi gồm có các khu du lịch Mỹ Khê, Sa Huỳnh, khu du lịch văn hoá Thiên Ấn, khu du lịch sinh thái núi Cà Đam, khu du lịch Thác Trắng, khu du lịch Suối Chí, khu Du lịch văn hoá Thiên Bút, khu du lịch Thạch Nham, khu du lịch đảo Lý Sơn, khu du lịch sinh thái Vạn Tường, khu nghỉ dưỡng Vạn Tường.
Tỉnh Quảng Ngãi có 150 km đường bờ biển kéo dài từ An Tân đến Sa Huỳnh nên có nhiều bãi tắm đẹp như Mỹ Khê, Sa Huỳnh Khe Hai, Lệ Thủy, Minh Tâ
Quảng Ngãi có các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh (cách đây 2000 đến 3000 năm), Chùa Ông với kiến trúc là sự kết hợp giữa văn hóa Trung Hoa và văn hóa Việt, Văn hóa ChămPa với Thành cổ Châu Sa, ngoài khơi có đảo Lý Sơn với các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh như Xóm Ốc, suối Chình, văn hóa Chămpa. Với 23 di tích lịch sử văn hóa và 2 di tích danh nhân quốc gia hiện có Quảng Ngãi còn có hơn 100 di tích cấp tỉnh và đang từng bước lập hồ sơ đề nghị Bộ Văn hóa thông tin công nhận nhằm bảo tồn và phát huy giá trị.
Có lẽ không có tỉnh nào, ngoài các di tích cách mạng, di tích danh nhân, di tích thắng cảnh, hội đủ các loại hình du lịch: du lịch tâm linh, du lịch di tích lịch sử cách mạng, du lịch nghỉ dưỡng biển và du lịch sinh thái, Quảng Ngãi còn có các di tích căm thù và qua 2 cuộc kháng chiến, Quảng Ngãi cũng là nơi có các cuộc đấu tranh đi vào lịch sử: Ba Tơ, Trà Bồng, Ba Gia, Vạn Tường, khu chứng tích Sơn Mỹ.
Quảng Ngãi nổi tiếng với các đặc sản: muối Sa Huỳnh, quế Trà Bồng, mạch nha, đường phổi, kẹo gươ
Quy mô ngành du lịch.
Giai đoạn 2016 – 2019, tổng lượt khách đến tỉnh đạt trên 3,6 triệu lượt, trong đó, khách quốc tế đạt 315 nghìn lượt; tổng doanh thu du lịch đạt 3.400 tỷ đồng. Năm 2019, giải quyết việc làm cho 13.500 lao động, trong đó có 4.500 lao động trực tiếp.
Năm 2020, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên tổng lượng khách du lịch đến tỉnh chỉ khoảng 453 nghìn lượt, trong đó khách quốc tế hơn 9.000 lượt. Tổng doanh thu du lịch đạt 504 tỷ đồng; giải quyết việc làm cho khoảng 8.700 lao động, trong đó có 2.800 lao động trực tiếp.
|
Chùa Thiếu Lâm (chữ Hán: 少林寺; bính âm Hán ngữ: "Shàolínsì"; phiên âm Hán-Việt: Thiếu Lâm tự; dịch nghĩa: "chùa trong rừng gần đỉnh Thiếu Thất") là một ngôi chùa tại Tung Sơn, thành phố cấp huyện Đăng Phong, địa cấp thị Trịnh Châu, Hà Nam, Trung Quốc, nổi tiếng từ lâu nhờ mối liên hệ với Phật giáo Thiền tông và võ thuật. Là cái nôi của Thiền tông Trung Hoa, có lẽ nó là một cơ sở Phật giáo nổi tiếng nhất đối với phương Tây. Tuy nhiên, võ thuật của Thiếu Lâm tự lại được biết đến nhiều nhất đối với người Á Đông, chùa Thiếu Lâm với võ phái Thiếu Lâm được xem là nguồn gốc các phái võ Trung Quốc hiện nay, từng có câu thành ngữ nói về điều đó: "Thiên hạ công phu xuất Thiếu Lâm" (mọi công phu võ thuật trong thiên hạ đều khởi phát từ Thiếu Lâm).
Theo "Tục cao tăng truyện" (续高僧传, 645) của Đạo Tuyên, chùa Thiếu Lâm ban đầu được Hiếu Văn Đế của nhà Bắc Ngụy xây dựng ở phía bắc núi Thiếu Thất, đỉnh phía tây của Tung Sơn, một trong các ngọn núi linh thiêng của Trung Quốc cho nhà sư Bạt Đà, người đã thuyết giảng Bộ kinh Phật giáo ở Trung Quốc trong vòng ba thập kỷ.
Dương Huyễn Chi, trong "Lạc Dương già lam ký" (洛陽伽藍記; 547), và Lý Hiền (李賢), trong "Minh nhất thổng chí (明一統志; 1461), cũng công nhận vị trí và thời đại của ngôi chùa như Đạo Tuyên. Quyển "Gia Khánh trùng tu nhất thống chí" (嘉慶重修一統志; 1843) viết rằng ngôi chùa ở tỉnh Hà Nam, được xây dựng vào năm Thái Hòa (太和) thứ 20 nhà Bắc Ngụy (tức năm 497). Ngôi chùa bị hủy diệt và trùng tu vài lần, trở thành một trong những ngôi chùa xưa nhất của Trung Quốc.
Có lẽ người nổi tiếng nhất có liên hệ với chùa Thiếu Lâm là Bồ đề đạt ma. Ông là một nhà sư được cho là từ Ba Tư hoặc Nam Ấn Độ sang Trung Quốc vào thế kỉ thứ 5 hay thứ 6 để truyền bá Phật giáo. Trường phái Phật giáo do Bồ-đề-đạt-ma lập ra ở Thiếu Lâm trở thành nền tảng cho Thiền tông sau này (cả hai từ "Zen" hay 禪 "thiền" đều bắt nguồn từ "dhyana" trong tiếng Phạn, nghĩa là thiền). Sau khi vào Thiếu Lâm tự, truyền thuyết kể rằng Bồ-đề-đạt-ma thấy các nhà sư không có hình thể mạnh khỏe cho thiền định và họ thường ngủ gục trong khi thiền. Chuyện kể rằng Bồ-đề-đạt-ma ngồi thiền quay mặt vào tường trong một hang đá cạnh chùa trong chín năm, sau đó ông giới thiệu một hệ thống các bài tập thể dục được cho là thập bát La-hán chưởng hay là các bài tập co giãn cơ bắp kinh điển Đạt-ma. Dần dần những động tác này phát triển thành võ thuật. Theo truyền thống, các nhà sư Thiếu Lâm phát triển kỹ năng võ thuật để phòng thủ sự tấn công của kẻ địch, như là một phương tiện giữ gìn sức khỏe, và như là một kỉ luật về tinh thần và thể chất.
Sự hệ thống hóa võ thuật bởi các nhà sư có lẽ bắt đầu với những viên quan võ trong quân đội về hưu và đi tu tại đó. Tu viện là một nơi ở ẩn, không giống như là trong chiến trường, do vậy những người đó có thể trao đổi võ thuật và hoàn thiện các miếng võ đó.
Tiếng tăm về quân sự của chùa bắt đầu vào đầu đời nhà Đường (618–907). Tấm bia của Thiếu Lâm tự năm 728 miêu tả chuyện các nhà sư chiến đấu giúp cho vị hoàng đế tương lai là Lý Thế Dân chống lại đối thủ của ông là Vương Thế Sung.
Khi lên ngôi, vị vua biết ơn và cho mở rộng khuôn viên chùa và cho phép một số nhà sư tiếp tục việc huấn luyện quân sự. Võ công của Thiếu Lâm tự đạt đến đỉnh cao vào đời nhà Minh (1368–1644), khi vài trăm nhà sư Thiếu Lâm được phong hàm như trong quân đội và đích thân họ chỉ huy các chiến dịch chống lại quân nổi loạn và quân cướp từ Nhật Bản. Vào thời điểm này, các nhà sư Thiếu Lâm đã phát triển môn võ Thiếu Lâm với phong cách riêng biệt.
Ngôi chùa nguyên thủy vẫn tồn tại sau nhiều lần bị cướp phá và được xây dựng lại. Vào 1928, tướng Thạch Hữu Tam thuộc hạ của Tưởng Giới Thạch phóng hỏa đốt chùa, thiêu hủy đi nhiều văn thư vô giá trong thư viện chùa, một số sảnh đường, và làm hư hại nặng tấm bia đã nói đến ở trên.
Cách mạng Văn hóa Trung Quốc thanh trừng tất cả các nhà sư và các tài liệu Phật giáo tồn tại trong khuôn viên chùa, để chùa hoang tàn trong nhiều năm. Sau thành công vang dội của bộ phim "Thiếu Lâm Tự" do Lý Liên Kiệt đóng vai chính vào năm 1982, chùa được Nhà nước Trung Quốc cho xây dựng lại và trở thành địa điểm du lịch chính thức. Các nhóm võ thuật trên khắp thế giới đã quyên góp để bảo trì chùa và các khuôn viên quanh đó, và sau đó được ghi danh trên những viên đá có khắc chữ gần lối vào chùa.
Người ta cho rằng chùa Thiếu Lâm bị phá hủy nhiều nhất là bởi quân đội Mãn Châu nhà Thanh. Tuy nhiên, có lẽ điều đó là không chính xác và chỉ là ngụy tạo. Thực tế, Khang Hi, hoàng đế thứ hai của nhà Thanh, là một người hâm mộ chùa Thiếu Lâm ở Hà Nam đến mức ông đã khắc chữ trên đá ở phía trên cổng chính của chùa mà cho đến ngày nay vẫn còn.
Câu chuyện về nhà Thanh phá hủy chùa Thiếu Lâm có thể là nói về chùa Nam Thiếu Lâm, mà Từ Kha ("Xu Ke" 徐珂), trong tác phẩm Thanh Bại Lỗi Sao (Q"ing bai lei chao" 清碑類鈔) (1917), cho là ở tỉnh Phúc Kiến.
Một số sử sách khác còn nói rằng có 3 ngôi chùa Nam Thiếu Lâm trong khu vực này: Nam Thiếu Lâm Tự Bồ Điền Phúc Kiến, Nam Thiếu Lâm Tự Phúc Thanh Phúc Châu Phúc Kiến, Nam Thiếu Lâm Tự Toàn Châu (Tuyền Châu) Phúc Kiến.
Một đại hội Đạt-ma được tổ chức trong hai ngày 19 và 20 tháng 8 năm 1999, tại chùa Thiếu Lâm, Tung Sơn, Trung Quốc, đã phong hòa thượng Thích Vĩnh Tín ("Shi Yong Shin" 奭永信) làm phương trượng. Ông là người kế nhiệm thứ mười ba của hòa thượng phương trượng Thiền sư Tuyết Đình Phúc Dụ ("Xue-ting Fu-yu" 雪庭福裕). Vào tháng 3 năm 2006, tổng thống Nga Putin đã trở thành nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên đến thăm chùa Thiếu Lâm.
|
"Bài này viết về một loại vũ khí, với những nghĩa khác xem tại Bazooka (định hướng)"
Bazooka tên gọi chung của một loại súng chống tăng không giật với các đặc điểm: Thân dài, có hình ống, tính di động cao, đặt lên vai khi bắn, bắn ra rocket và mục tiêu là các vật thể kiên cố (xe tăng, công sự, tàu thuyền nhỏ, thậm chí cả máy bay). Bazooka nổi tiếng nhờ được sử dụng suốt từ Thế chiến 2 cho tới tận Chiến tranh Việt Nam. Từ "bazooka" được cho là bắt nguồn từ chữ "bazoo" trong tiếng Anh, là từ lóng chỉ "cái miệng". Từ "bazooka" xuất hiện đầu tiên từ cuốn tiểu thuyết năm 1909 "The Swoop, or how Clarence Saving England" của PG Wodehouse.I shouldn't 'arf wonder, from the look of him, if he wasn't the 'aughty kind of a feller who'd cleave you to the bazooka for tuppence with his bloomin' falchion.
Loại Bazooka ban đầu có cỡ nòng 2,36 inch (cỡ nòng 60mm) là loại được sử dụng phổ biến trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Súng bazooka đã bị thay bởi M72 LAW ("Light anti-tank weapon" - Vũ khí chống tăng hạng nhẹ) trong Chiến tranh Việt Nam. Đến thập niên 2000, quân đội Mỹ đã không còn sử dụng Bazooka, tuy nhiên nó vẫn được sử dụng tại một số cuộc chiến tại châu Phi và khu vực Mỹ Latinh.
Trong kháng chiến chống Pháp, kỹ sư Trần Đại Nghĩa của Việt Nam đã tìm cách tự chế tạo súng Bazooka bằng các lò rèn thủ công để trang bị cho bộ đội Việt Nam.
Tháng 9/1946, kỹ sư Phạm Quang Lễ - một trí thức Việt kiều về nước, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho ông phụ trách Cục Quân giới với lời dặn: "“Chú về phải lo ngay việc chế tạo vũ khí cho sự nghiệp kháng chiến của Nhân dân ta”". Và ngày 27/10/1946, Chủ tịch trực tiếp giao nhiệm vụ cho kỹ sư Phạm Quang Lễ lên xưởng Giang Tiên nghiên cứu chế tạo súng chống tăng dựa theo mẫu Bazooka 60mm của Mỹ Tháng 11/1946, xưởng Giang Tiên đã sản xuất thử nghiệm 1 khẩu súng và 50 viên đạn Bazoka, bắn thử nhưng đạn không xuyên do chất lượng thuốc nổ không đảm bảo. Ngày 5/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao cho Phạm Quang Lễ làm Cục trưởng Cục Quân giới (tiền thân Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng) và đặt tên mới cho ông là Trần Đại Nghĩa (để giữ bí mật danh tính cho ông và cho gia đình, họ hàng ở miền Nam)
Sau một số lần cải tiến, thử nghiệm các kiểu pha chế thuốc nổ, cuối cùng súng bazooka do Việt Nam chế tạo đã thử nghiệm thành công vào đầu tháng 3/1947. Ngày 5/3/1947, trong trận Trúc Sơn - Chùa Trầm, bằng 3 súng Bazooka và 10 quả đạn vừa xuất xưởng, bộ đội Việt Nam đã bắn cháy 2 xe tăng Pháp, bẻ gãy cuộc hành quân của địch. Từ đó, nhiều xưởng quân khí Việt Nam chuyên sản xuất Bazoka để trang bị cho bộ đội, riêng xưởng K3 thuộc Đặc khu Hà Nội, cuối năm 1947 đã sản xuất được hàng chục khẩu súng và 300 viên đạn Bazoka/tháng. Xưởng XC của Khu 3 từ mẫu Bazoka 60mm đã nghiên cứu chế tạo được Bazooka cỡ 73mm để đánh ca nô, tàu chiến trên sông..
Super Bazooka, sau này thay thế bằng AT4.
Bazooka và Super Bazooka.
Bazooka và Super Bazooka.
Super Bazooka trong Sự kiện Vịnh Con Lơn, lực lượng thân Mỹ Brigade 2506 sử dụng loại Bazooka 2.36 in để chống lại đoàn xe tăng T34 của Fidel Castro.
Bazooka và Super Bazooka.
Các nước sử dụng.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
M20A1 và biến thể của RL-83.
JGSDF sử dụng super bazookas, sau này được thay thế bằng mẫu súng không giật Carl Gustaf 8.4 cm.
M9A1 và M20 Super Bazooka.
Thu giữ những khẩu M1A1 của quân Đồng Minh rồi nghiên cứu thành khẩu "6 cm Raketenpanzerbüchse 788."
M9A1 được Quân đội Hà Lan sử dụng trong một thời gian ngắn với tên gọi Raketwerper 2,36 inch. Nó phục vụ từ đầu những năm 1950 đến cuối những năm 1960 với Landmacht như một vũ khí huấn luyện, với Troepenmacht ở Suriname (TRIS, lực lượng quân đội ở Surinam, một phần của Landmacht), và Nederlands Detachement Verenigde Naties (N.D.V.N.) , Dutch Detachment United Nations) năm 1950–1951 trong Chiến tranh Triều Tiên. Trong Chiến tranh Triều Tiên, khẩu bazooka 2,36 inch đã được thay thế bằng khẩu M20 3,5 inch. Mặc dù nó đã thay thế M9A1 vào năm 1951 bằng N.D.V.N. Loại vũ khí này không được đưa vào Landmacht cho đến năm 1954. M20 và M20B1 sau đó được thay thế bằng LAW 66 mm vào năm 1968, nhưng những khẩu Bazooka vẫn đang nằm trong kho cho quân dự bị, động viên và những người khác sử dụng không ưu tiên cho đến năm 1989.
: Super Bazooka M20.
Một số lượng lớn Bazooka 2,36 inch và 3,5 inch đã bị Đảng Cộng sản Trung Quốc thu giữ trong Nội chiến Trung Quốc và Chiến tranh Triều Tiên. Trung Quốc cũng đã sao chép phiên bản 3.5-inch thành khẩu Type 51 với cỡ nòng 90 mm. Type 51 có thể bắn đạn của mẫu 3,5 inch (tức là 90 mm), nhưng Super Bazooka 3,5 inch lại không thể sử dụng đạn của Type 51.
Trong Chiến tranh Triều Tiên, KPA sử dụng súng chống tăng M20 Super Bazooka tịch thu được của đối phương và bản sao của nó do Trung Quốc sản xuất mang tên Type 51. Súng dài 1.524 mm, cỡ nòng 89 mm, tầm bắn hiệu quả 150 m, sức xuyên thép 200 mm.
|
Nguyễn Thiếp (chữ Hán: 阮浹, 1723 - 1804) tự Khải Xuyên, là danh sĩ cuối đời Hậu Lê và Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam. Ông là người xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô, thủ đô mới của Vương triều Tây Sơn.
Thân thế và sự nghiệp.
Ông vốn có tên húy là Minh, tự là Quang Thiếp, sau vì kiêng húy vua chúa nên đổi là Thiếp. Ngoài ra, ông còn có rất nhiều tên tự hay tên hiệu, do ông tự đặt hoặc do người đương thời xưng tặng, chẳng hạn như: "Khải Xuyên" (có sách chép là "Khải Chuyên"), "Hạnh Am", "Điên ẩn", "Cuồng ẩn", "Lạp Phong cư sĩ", "Hầu Lục Niên", "Lam Hồng dị nhân", "Lục Niên tiên sinh", "La Giang phu tử"... Riêng Nguyễn Huệ (tức vua Quang Trung) gọi ông là "La Sơn phu tử", "La Sơn tiên sinh".
Thủy tổ của ông là Nguyễn Hợp, quê ở Cương Gián, Nghi Xuân, trấn Nghệ An. Cụ Nguyễn Hợp có hai người con trai: con trai cả Nguyễn Khai và con trai thứ Nguyễn Hội. Con trai cả Nguyễn Khai lấy vợ lẽ ở làng Nguyệt Ao, tổng Lai Thạch, sinh con cháu rồi lập chi họ Nguyễn ở xã Nguyệt Ao (hay Áo, còn gọi là Nguyệt Úc), tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang (nay là xã Kim Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh). Đến đời bố ông là Quản lĩnh Nguyễn Quang Trạch, mẹ là người họ Nguyễn cùng làng, Nguyễn Thiếp ra đời tại làng này.
Ngày 25 tháng 8 năm Quý Mão (1723), Nguyễn Thiếp ra đời và được hấp thu vốn văn hóa đầu tiên từ mẹ.
Ông ham học từ nhỏ. Lúc nhỏ, ông và ba anh em trai nhờ mẹ chăm sóc và chú là Tiến sĩ Nguyễn Hành rèn dạy nên đều học giỏi. Ông là người ham đọc sách từ nhỏ.
Năm 19 tuổi (khi ấy Nguyễn Hành đang làm Hiến sát sứ Thái Nguyên), ông ra đó học, rồi được chú gửi cho bạn thân là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm (cha của thi hào Nguyễn Du) dạy dỗ thêm.
Tuy nhiên, chưa được một năm thì Nguyễn Hành đột ngột mất ở lỵ sở, Nguyễn Thiếp phải tự tìm đường về Hà Nội. Đến Đông Anh thì ông ốm nặng, may có người giúp đỡ nên thoát chết nhưng lại mắc di chứng tâm thần. Khi bệnh phát, đầu óc ông hoang mang, không biết làm gì cả. Dù bị chứng tâm thần, Nguyễn Thiếp vẫn tự đấu tranh tư tưởng, kiềm chế được bệnh và chủ động trong vấn đề học tập.
Năm 1743, ông dự thi Hương ở Nghệ An đỗ thủ khoa, nhưng không ở lại dự thi Hội mà đi ở ẩn.
Năm Mậu Thìn (1748), ông ra Bắc dự thi Hội nhưng chỉ vào đến tam trường (kỳ 3). Sau đó ông vào Bố Chính dạy học.
Năm Bính Tuất (1756), lúc này đã 33 tuổi, Nguyễn Thiếp được triều đình mời ra làm chức Huấn đạo (chức quan trông coi việc học trong một huyện) ở Anh Đô (phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An). Ở đó 6 năm, ông được đổi làm Tri huyện Thanh Giang (nay là Thanh Chương, Nghệ An).
Năm Mậu Tý (1768), Nguyễn Thiếp từ chức, trở về lập trại Bùi Phong dưới chân núi Thiên Nhẫn (Nam Đàn, Nghệ An) để dạy học.
Năm 1775, quân Trịnh chiếm Phú Xuân, Trần Văn Kỷ ra Thăng Long để thi Hội. Khi Trần Văn Kỷ hỏi Nguyễn Nghiễm, một bậc nguyên lão khả kính về nhân tài của Hoan châu thì được trả lời: "Đạo học sâu xa thì Lạp Phong Cư Sỹ, văn phong phép tắc thì Thám hoa Nguyễn Huy Oánh, còn thiếu niên đa tài đa nghệ chỉ có Nguyễn Huy Tự". Nhân vật mà "đạo học sâu xa", có danh hiệu Lạp Phong Cư Sỹ chính là Nguyễn Thiếp.
Năm 1780, chúa Trịnh Sâm mời ông ra Thăng Long. Gia phả họ Nguyễn ghi rõ ý định của Trịnh Sâm bấy giờ là lật đổ nhà Lê, nhưng ông cương quyết can ngăn. Nhưng chúa Trịnh không nghe. Nguyễn Thiếp chán nản xin cáo từ mà không nhận bất cứ chức tước hay bổng lộc nào. Lúc này Nguyễn Thiếp đã 60 tuổi, trở về trường cũ trong núi sâu và tiếp tục dạy học, nghiên cứu học thuật.
Năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt họ Trịnh. Khi về đến Phú Xuân, Nguyễn Huệ viết thư cùng lễ vật ra Nghệ An mời Nguyễn Thiếp về Phú Xuân giúp mình. Nguyễn Thiếp đã khéo léo từ chối. Ông đưa ra 3 lý do để trả lời Nguyễn Huệ, tự nhận mình là một thần tử nhà Lê, tuổi cao, tài hèn sức mọn, không thể giúp gì được.
Tháng 8 năm 1787, Nguyễn Huệ lại cử quan Lưu thủ là Nguyễn Văn Phương và Binh bộ Thị lang Lê Tài ra Nghệ An dâng thư mời Nguyễn Thiếp. Lần này Nguyễn Thiếp cũng khiêm nhường từ chối.
Lần thứ 3, ngày 13 tháng 9 năm 1787, Nguyễn Huệ sai quan Thượng thư Bộ hình Hồ Công Thuyên dâng thư mời Nguyễn Thiếp. Nguyễn Thiếp vẫn thoái thác không đi.
Tháng 4 năm Mậu Thân (1788), trên đường ra Thăng Long trừ Vũ Văn Nhậm, khi đến đất Nghệ An, Nguyễn Huệ đã cử Cẩn Tín hầu Nguyễn Quang Đại mang thư đến mời Nguyễn Thiếp đến hội kiến. Lời thư rất tha thiết, nên ông đành xuống núi nhưng vẫn chưa chịu ra giúp. Hai người rất tâm đầu ý hợp, bàn luận sôi nổi. Cuộc hội kiến tưởng chừng như không dứt.
Cuối năm 1788, sau khi lên ngôi Hoàng đế tại núi Bân (Huế), vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ) kéo quân ra Bắc, đến Nghệ An nghỉ binh, nhà vua lại triệu Nguyễn Thiếp đến hỏi kế sách đánh đuổi quân Thanh xâm lược.
Trong buổi hội kiến lần này, vua Quang Trung hỏi Nguyễn Thiếp: "Hay tin vua Lê Chiêu Thống sang nhà Thanh cầu lụy, vua Thanh cho quân sang đánh, trẫm sắp đem quân ra chống cự, mưu đánh và giữ nước được hay thua, Phu tử nghĩ thế nào?".
Nguyễn Thiếp trả lời: "Bây giờ trong nước trống không, lòng người tan rã, quân Thanh thì ở xa tới mà lòng bọn tướng soái thì huênh hoang tự đắc, chúng không cần biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, binh lương và trận chiến sẽ xảy ra như thế nào, còn quân lính thì phân vân không biết là sang đánh hay đến giữ theo sự khẩn khoản của vua Lê... Số quân của Hoàng đế kéo từ miền trong ra chưa đủ để chống đối với quân giặc, mà trở lại chiêu mộ thêm binh thì thời gian không cho phép. Vậy Hoàng đế phải tuyển mộ ngay quân lính ở đất Thanh Nghệ, vì nơi đây là đất thượng võ xưa nay, anh hùng nhiều, mà hào kiệt cũng nhiều".
Khi vua Quang Trung hỏi chiến thuật đánh quân Thanh, Nguyễn Thiếp trả lời: "Người Thanh ở xa tới mệt nhọc không biết tình hình khó dễ thế nào. Nó có bụng khinh địch. Nếu đánh gấp thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được".
Diễn biến của trận quyết chiến với quân Thanh quả đúng như dự kiến thiên tài của vua Quang Trung cũng như nhận định chính xác của Nguyễn Thiếp.
Sau đại thắng vào đầu xuân Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung về đến Nghệ An lại mời Nguyễn Thiếp đến bàn quốc sự. Trong bức thư gửi Nguyễn Thiếp, vua Quang Trung thổ lộ: "Trẫm ba lần xa giá Bắc thành, Phu tử đã chịu ra bàn chuyện thiên hạ. Người xưa bảo rằng: Một lời nói mà dấy nổi cơ đồ. Lời Phu tử hẳn có thế thật".
Sau khi Quang Trung đánh đuổi giặc Thanh, Nguyễn Thiếp trở thành một trong những vị học giả được vua tin cậy nhất. Vua biết ông không thích tham gia chính sự nên chỉ nhờ giải quyết những việc có tính chất học thuật và đặc biệt giao hẳn cho ông việc tổ chức nền giáo dục mới.
Ngay tại khoa thi Hương đầu tiên dưới triều đại Quang Trung được tổ chức ở Nghệ An vào năm 1789, Nguyễn Thiếp được cử làm Đề điệu kiêm Chánh Chủ khảo. Ông khuyên nhà vua hòa hoãn với nhà Thanh để tập trung xây dựng đất nước trở thành một quốc gia cường thịnh. Tuy nhiên sau khi giúp vua Quang Trung, Nguyễn Thiếp lại về núi Thiên Nhẫn mà không chịu ở Phú Xuân.
Năm 1791, vua Quang Trung lại cho mời ông vào Phú Xuân để bàn việc nước. Vì cảm thái độ chân tình ấy, nên lần này ông đã nhận lời (trước đó ông đã từ chối 3 lần). Đến gặp, ông đã dâng lên vua Quang Trung một bản tấu bàn về 3 vấn đề: Một là "Quân đức" (đại ý khuyên vua nên theo đạo Thánh hiền để trị nước); hai là "Dân tâm" (đại ý khuyên vua nên dùng nhân chính để thu phục lòng người), và ba là "Học pháp" (đại ý khuyên vua chăm lo việc giáo dục). Tuy là ba, nhưng chúng có quan hệ mật thiết với nhau và đều lấy quan niệm "dân là gốc nước" làm cơ sở. Nguyễn Thiếp viết: "Dân là gốc nước, gốc vững nước mới yên".
Những lời tấu ấy được nhà vua nghe theo. Ngày 20 tháng 8 năm 1791, nhà vua ban chiếu lập "Sùng chính Thư viện" ở nơi ông ở ẩn và mời ông làm Viện trưởng. Kể từ đó, ông hết lòng chăm lo việc dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm để dạy học và phổ biến trong dân. Chỉ trong hai năm, ông đã tổ chức dịch xong các sách: "Tiểu học, Tứ thư, Kinh Thi", và chủ trì biên soạn xong hai bộ sách là "Thi kinh giải âm" và "Ngũ kinh toát yếu diễn nghĩa".
Tháng 9 năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung đột ngột băng hà, sự nghiệp của Nguyễn Thiếp đành dở dang.
Năm Tân Dậu (1801), vua Cảnh Thịnh (con vua Quang Trung) có mời ông vào Phú Xuân để hỏi việc nước. Đang ở nơi ấy, thì kinh thành mất vào tay chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau là vua Gia Long). Nghe vị chúa này tỏ ý muốn trọng dụng, ông lấy cớ già yếu để từ chối, rồi xin về trại Bùi Phong.
Ngày 6 tháng 2 năm 1804 (Quý Hợi), danh sĩ Nguyễn Thiếp không bệnh mà mất, thọ 81 tuổi, và được an táng tại nơi ông ở ẩn.
Lăng mộ của cụ Nguyễn Thiếp đến nay còn được bảo vệ nguyên vẹn và là một trong số những ngôi mộ có phong thủy đẹp nhất Xứ Nghệ, được Bộ Văn hoá xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1994.
Tác phẩm của Nguyễn Thiếp gồm có:
Ngoài ra, theo Giáo sư Nguyễn Lộc trong "Từ điển văn học" (bộ mới), thì ông còn có: Hạnh Am ký (Ghi chép của Hạnh Am, 1782), Thích Hiên ký (Ghi chép ở Thích Hiên, 1786), bài viết đề ở gia phả, và đề tựa "Thạch Động thi tập" của Phạm Nguyễn D
Nhận xét (sơ lược).
Nhà nghèo, mẹ già, con đông nhưng ông không muốn ra làm quan để kiếm chút bổng lộc mà chỉ thích ở ẩn. Tuy nhiên, đọc "Hạnh Am thi thảo", bên cạnh những bài ca ngợi thú ẩn dật, vẫn thấy tấm lòng của ông gắn bó với đời, với quê hương, và than thở cho cảnh suy vi của thế thái nhân tì, thơ ông giản dị, mộc mạc, được Phan Huy Chú khen là "thơ đều tao nhã thanh thoát, lý thú thung dung, thực là lời nói của người có đức, các tao nhân ngâm khách (khác) không thể sánh được" (Văn tịch chí).
Thông tin liên quan.
Nền nhà Sùng chính Thư viện hiện còn lưu tại núi Bùi Phong với ngổn ngang gạch xây, đá , có thể nhìn ngắm Lục Niên thành (tòa thành của Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa chống Minh) và đập Lục Niên xanh trong. Bên cạnh phế tích, là khu mộ của Nguyễn Thiếp và bà chính thất họ Đặng (song táng) đã được xếp hạng là "di tích cấp Quốc gia".
Sau ngày đỗ đại khoa (Tiến sĩ - 1898) Nguyễn Văn Trình có đến nhà thờ Nguyễn Thiếp (ở xã Kim Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) cúng tặng câu đối:
六 年 夫 子 興 中 國
三 世 曾 孫 拜 外
"Lục Niên phu tử hưng trung quốc"
"Tam thế tằng tôn bái ngoại gia"
"Phu tử sáu năm chấn hưng đất nước"
"Cháu chắt ba đời kính bái ngoại gia"
Tên ông được đặt cho con đường tại TPHCM và Hà Nội, nhưng hiện nay đang bị viết sai thành Nguyễn Thiệp.
|
Lê Văn Thiêm (1918-1991) là tiến sĩ toán học đầu tiên của Việt Nam, giáo sư toán học và là một trong số các nhà khoa học tiêu biểu nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20. Ông nghiên cứu chủ yếu về lý thuyết các hàm phân hình, diện Riemann và một số vấn đề về toán học ứng dụng. Lê Văn Thiêm được chính phủ Việt Nam phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 vào năm 1996 và Huân chương Độc lập hạng nhất về những công trình toán học đặc biệt xuất sắc.
Ông sinh ngày 29 tháng 3 năm 1918 tại xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình có truyền thống khoa bảng.
Năm 1939, ông thi đỗ thứ nhì trong kỳ thi kết thúc lớp P.C.B (Lý - Hoá - Sinh) và được cấp học bổng sang Pháp du học tại trường đại học sư phạm Paris (école Normale Supérieure).
Học tập và nghiên cứu tại châu Âu.
Người ta đã phải mất rất nhiều công sức tìm hiểu mới có thể tìm tư liệu về GS Lê Văn Thiêm giai đoạn 1943-1946, nhưng lại không có nhiều thông tin về thời kỳ 1946-1949. Nhờ vào hai Giáo sư H. Esnault và E. Viehweg từ Đại học tổng hợp Essen, Đức, mới biết được thời gian GS Lê Văn Thiêm ở Đức.
Ông tốt nghiệp Thạc sĩ năm 1943 tại Paris, sau đó ông sang làm luận án Tiến sĩ tại Đại học Göttingen (Đức) với học bổng của Quỹ Alexander von Humboldt dưới sự hướng dẫn của nhà toán học Hans Wittich.
Luận án Tiến sĩ Toán học của ông về giải tích phức được bảo vệ thành công năm 1945 tại Đại học Göttingen với hồ sơ bảo vệ số Math.Nat.Prom. 0728. Tên của luận án là "Über die Bestimmung des Typus einfach zusammenhängender offener Riemannscher Flächen", tạm dịch: "Về việc xác định kiểu của một diện Riemann mở đơn liên". Buổi bảo vệ được tổ chức vào ngày 4/4/1945, sau đó bằng tiến sĩ được trao vào ngày 8/4/1946 với điểm đánh giá trung bình: Giỏi. Ông được xem là người Việt Nam đầu tiên có bằng Tiến sĩ Toán học.
Ông tiếp tục bảo vệ luận án Tiến sĩ Quốc gia ở Pháp năm 1949 tại Đại học Paris 11 với luận văn có nhan đề là "Sur le problème d'inversion dans la théorie de la distribution des valeurs des fonctions méromorphes", tạm dịch: "Về bài toán ngược trong lý thuyết phân phối giá trị các hàm phân hình".
Ông có một thời gian làm việc cùng với GS. Rolf Herman Nevanlinna tại Đại học Zurich, Thụy Sĩ cho tới năm 1949.
Năm 1949, theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, GS. Lê Văn Thiêm từ bỏ địa vị khoa học của mình ở Zurich để về nước tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu giành độc lập cho dân tộc. Ông đã trở về nước qua đường bay Paris - Băng Cốc, rồi từ Băng Cốc bằng đường bộ qua Campuchia về rừng U Minh, khu 9 miền Nam tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, công tác tại Sở Giáo dục Nam Bộ từ ngày 19 tháng 12 năm 1949.
Trong thời gian công tác ở khu 9, Lê Văn Thiêm đã được GS. Hoàng Xuân Nhị giới thiệu vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Một Việt kiều, mới về nước có 4 tháng, đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản, đây là điều hiếm thấy.
Sau thắng lợi vang dội của chiến dịch Biên giới năm 1950, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khẩn trương chuẩn bị lực lượng cán bộ khoa học cho việc kiến thiết đất nước sau ngày toàn thắng.
Tháng 7.1950, Đề án giáo dục được thông qua nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu của thời kỳ cách mạng mới.
Từ năm học 1950 - 1951, trong điều kiện khó khăn gian khổ của cuộc kháng chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng bước hình thành ba trung tâm đại học: trung tâm Việt Bắc gồm các trường: Đại học Y, Ban quân dược, Cao đẳng Công chính, Cao đẳng Mỹ thuật; trung tâm Thanh - Nghệ với hai phân hiệu Khoa học Xã hội và Khoa học Tự nhiên; Khu học xá Trung ương (đặt nhờ tại Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc) đào tạo cán bộ khoa học và giáo viên trung học.
Năm 1951, Lê Văn Thiêm được Chính phủ điều động từ Nam Bộ ra Việt Bắc để nhận nhiệm vụ mới. Ông đã phải lội bộ 6 tháng theo đường rừng để ra đến Việt Bắc. Ông được giao nhiệm vụ xây dựng Trường Khoa học Cơ bản (sau này là Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội) và Trường Sư phạm Cao cấp (sau này là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), được cử giữ chức vụ Hiệu trưởng của hai trường này và giảng dạy môn Cơ học lý thuyết.
Ông là Viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học, chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học Việt Nam và tổng biên tập đầu tiên của hai tạp chí toán học Việt Nam là tạp chí ""Acta Mathematica Vietnamica" và "Vietnam Journal of Mathematics"".
Ông giữ vị trí đại diện toàn quyền của Việt Nam tại Viện Liên hợp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna, Liên Xô (1956 – 1980).
Ông mất ngày 3 tháng 7 năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu khoa học.
Giáo sư Lê Văn Thiêm là một tài năng toán học xuất sắc, là người có công đầu đặt nền móng xây dựng và phát triển nền toán học Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của ông, Viện Toán học đã trở thành một trung tâm toán học được thế giới biết đến của Việt Nam. Ông là một trong những người đầu tiên giải được bài toán ngược của lý thuyết phân phối giá trị hàm phân hình, hiện nay trở thành kết quả kinh điển trong lý thuyết này.
GS. Lê Văn Thiêm có đóng góp lớn trong việc thiết lập quan hệ hợp tác quốc tế giữa các nhà toán học Việt Nam và các nhà toán học thế giới. Ông đã đưa Hội Toán học Việt Nam tham gia vào Hội Toán học quốc tế với tư cách là thành viên chính thức, đưa Viện Toán học tham gia vào Trung tâm Toán học quốc tế Banach (Ba Lan). Nhờ mối quan hệ tốt và uy tín khoa học của ông mà nhiều nhà toán học có tên tuổi trên thế giới như Laurent Schwartz, Alexander Grothendieck, Stephen Smale và Chomsky (Mỹ)... đã sang Việt Nam và nhiệt tình giúp đỡ, cộng tác với các nhà toán học Việt Nam.
Năm 1963, nghiên cứu công trình về ứng dụng hàm biến phức trong lý thuyết nổ, vận dụng phương pháp Lavrentiev, giáo sư Thiêm cùng các học trò tham gia giải quyết thành công một số vấn đề thực tiễn ở Việt Nam như:
Ông đã ứng dụng hàm biến phức sang các lĩnh vực khác như: lý thuyết đàn hồi, chuyển động của chất lỏng nhớt. Kết hợp nghiên cứu lý thuyết với ứng dụng, Lê Văn Thiêm đề xuất một phương pháp độc đáo sử dụng nguyên lý thác triển đối xứng của hàm giải tích để tìm nghiệm tường minh cho bài toán thấm trong môi trường không đồng chất. Công trình này được đánh giá cao, được đưa vào cuốn sách chuyên khảo "The Theory of Groundwater Movement" (Lý thuyết chuyển động nước ngầm) của nữ Viện sĩ người Nga P.Ya.Polubarinova Kochina, xuất bản ở Moskva năm 1977.
Ông đã cùng với các cộng sự ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam dùng toán học để góp phần giải quyết các vấn đề như:
Ông đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996.
Các công trình Toán học.
Ông cùng với Phạm Tỉnh Quát được xem là những người Việt Nam đầu tiên có công bố quốc tế về Toán học hiện đại. Các công trình sắp theo thứ tự thời gian đó là
Ông chủ biên nhiều sách về toán học. Trong đó có 2 cuốn sách chuyên khảo: "Một số vấn đề toán học trong lý thuyết đàn hồi" (1970) và "Một số vấn đề toán học chất lỏng nhớt" (1970).
|
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (viết tắt là BCHTW hoặc BCHTƯ) là cơ quan lãnh đạo thường trực cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, bầu ra bởi Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức 5 năm một lần. BCHTW hiện tại là khóa XIII.
Theo thủ tục chính thức thì BCHTW bầu ra người đứng đầu là Tổng Bí thư và các thành viên khác trong Bộ Chính trị. Thông thường, BCHTW tổ chức họp Hội nghị từ hai tới ba lần một năm.
Các thành viên của BCHTW được gọi là Ủy viên Trung ương Đảng, số lượng do từng lần Đại hội quyết định. Năm 1976 sau Đại hội IV thì số ủy viên là 101 người. Đến Đại hội VIII thì số ủy viên tăng lên 170. Đại hội khóa X bầu ra 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết. Đến Đại hội XI (2011) gồm 175 ủy viên chính thức và 25 ủy viên dự khuyết. Đại hội XII (2016) bầu ra 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết. Con số này được duy trì ở Đại hội XIII (2021).
BCHTW có thẩm quyền giới thiệu người ra ứng cử Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ để Quốc hội thảo luận và phê chuẩn , tham gia ý kiến về nhân sự Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội và các thành viên Chính phủ.
Theo Điều lệ Đảng thì BCHTW quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Ủy viên BCHTW, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị.
Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý nhưng không phải là Ủy viên BCHTW.
Bộ Chính trị có thẩm quyền kỷ luật khiển trách, cảnh cáo Ủy viên BCHTW vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên. Trong trường hợp cách chức hoặc khai trừ, Bộ Chính trị báo cáo BCHTW xem xét, quyết định.
Điều lệ Đảng sửa đổi năm 2011 có quy định mới mở rộng quyền BCHTW "căn cứ tình hình thực tế quyết định chỉ đạo thí điểm một số chủ trương mới". Theo quy định hiện hành thì BCHTW có quyền xem xét về vấn đề Hiến pháp, trước khi Quốc hội thông qua.
Phương thức làm việc.
Phiên họp thường kỳ của BCHTW được gọi "Hội nghị Trung ương". Ban Chấp hành Trung ương làm việc theo chương trình toàn khóa và hàng năm (điều chỉnh khi cần thiết). Ban Chấp hành Trung ương họp thường lệ 6 tháng một lần.
Khi Bộ Chính trị thấy cần thiết hoặc khi có trên một nửa số Ủy viên BCHTW đề nghị thì Bộ Chính trị quyết định triệu tập Hội nghị Trung ương bất thường.
Chủ tọa các Hội nghị Trung ương là những Ủy viên Bộ Chính trị đảm nhiệm các chức danh:
Các Ủy viên BCHTW thường gồm các quan chức cấp cao trong bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể ở cấp trung ương và cấp tỉnh. Những chức vụ được liệt kê đảm bảo là "chức vụ khi được bầu" và ""tiếp tục giữ chức vụ đó"."
BCHTW xem xét việc chuyển Ủy viên BCHTW dự khuyết có đủ điều kiện để thay thế Ủy viên Trung ương chính thức khi khuyết.
Quyền hạn của các Ủy viên BCHTW theo quy định của Đảng, bao gồm tham gia quyết định các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền BCHTW, và các quyền khác. Các Ủy viên dự khuyết không có quyền biểu quyết.
Tại kỳ họp 6 CHTW khóa XI đã bàn và quyết nghị quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, với các tiêu chuẩn được đặt ra với Ủy viên BCHTW, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước.
Theo quy định hiện hành thì hàng năm, sẽ lấy phiếu tín nhiệm các thành viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, với đối tượng ghi phiếu tín nhiệm là các Ủy viên BCHTW..
Cơ quan tham mưu giúp việc.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng có các cơ quan tham mưu giúp việc là:
Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc.
Hiện có bốn cơ quan đào tạo cán bộ, nghiên cứu, báo chí, xuất bản. Về mặt tổ chức, các cơ quan này tương đương với các Ban Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam:
Ban Chấp hành Trung ương trước Đại hội lần thứ nhất của Đảng.
Ban Chấp hành Trung ương lâm thời thành lập sau Hội nghị thành lập đảng tháng 2 năm 1930 có:
Trịnh Đình Cửu (Phụ trách Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam), Nguyễn Hới, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao, Phạm Hữu Lầu, Hoàng Quốc Việt, Lưu Lập Đạo (bổ sung), sau đến tháng 7 bổ sung thêm Trần Phú. Ít lâu sau hội nghị trên, Trịnh Đình Cửu xin rút khỏi Ban Chấp hành Trung ương lâm thời để nhận công tác ở Xử Ủy Bắc Kỳ. Một số bị Pháp bắt sau đó (Nguyễn Hới, Hoàng Quốc Việt, Phạm Hữu Lầu, sau Nguyễn Hới hi sinh). Xứ Ủy Nam Kỳ cử Nguyễn Trọng Nhã và Ngô Đức Trì tham gia Ban Chấp hành TW lâm thời.
Sau Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ nhất tháng 10 năm 1930, Ban Chấp hành Trung ương gồm 6 Ủy viên: Trần Phú, Ngô Đức Trì, Nguyễn Trọng Nhã, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc, Lê Mao. Tổng Bí thư: Trần Phú.
Phong trào nổi dậy 1930-1931, nổi bật là Xô-viết Nghệ Tĩnh bị Pháp đàn áp. Tổ chức của đảng bị tan vỡ, kể cả Ban Chấp hành TW, Trần Phú, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắ, Lê Hồng Phong trở về Trung Quốc bắt liên lạc với cán bộ Việt Nam ở nước ngoài như: Hoàng Đình Giong, Hoàng Văn Thụ... mục đích lập lại Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng và thảo chương trình hành động của Đảng.
Tháng 3 năm 1934, Ban chỉ huy ở ngoài được thành lập gồm có Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dựt do Lê Hồng Phong làm Bí thư. Sau đó còn có thêm các người khác như Phùng Chí Kiên. Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng trước Đại hội I có chức năng như là Ban chấp hành Trung ương Lâm thời và được Quốc tế cộng sản công nhận, quy định rõ chức năng nhiệm vụ.
|
Laura Lane Welch Bush (sinh ngày 4 tháng 11 năm 1946) là vợ của cựu Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush, và là Đệ Nhất Phu nhân Hoa Kỳ từ 2001 đến 2009.
Từ lúc còn niên thiếu, Laura đã thích đọc sách. Sau khi tốt nghiệp Đại học Southern Methodist năm 1968 với văn bằng Cử nhân Giáo dục và Đại học Texas tại Austin với học vị Thạc sĩ Khoa học Thư viện, cô lần lượt đảm nhận công việc giáo viên lớp hai, sau đó là thủ thư. Năm 1977, Laura gặp George Walker Bush và kết hôn trong năm sau. Họ có hai cô con gái sinh đôi.
Sau khi kết hôn, Laura Bush bắt đầu tham gia các hoạt động chính trị. Bà vận động cho chồng khi ông tranh cử (nhưng thất bại) vào Quốc hội Hoa Kỳ năm 1978. Trong cương vị Đệ Nhất Phu nhân Texas, Bush khởi xướng nhiều đề án trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và xóa mù chữ. Năm 1999, bà tích cực vận động cho chồng trong cuộc đua vào Nhà Trắng, nổi bật nhất là bài diễn văn thu hút sự chú ý của công luận bà đọc trước Đại hội Toàn quốc Đảng Cộng hòa năm 2000. Laura Bush trở thành Đệ Nhất Phu nhân Hoa Kỳ sau khi chồng bà đánh bại ứng cử viên Đảng Dân chủ Al Gore trong cuộc bầu cử có kết quả sít sao năm 2000.
Là một trong những Đệ Nhất Phu nhân được yêu thích nhất, Laura Bush hoạt động tích cực trong các lĩnh vực bà đặc biệt quan tâm: giáo dục và xóa mù chữ. Từ năm 2001, bà tổ chức Lễ hội Sách Quốc gia nhằm khuyến khích giáo dục trên quy mô toàn cầu. Qua các tổ chức The Heart Truth và Susan G. Komen for the Cure, bà vận động cho các đề án giáo dục sức khỏe cho phụ nữ. Trong những chuyến công du hải ngoại, bà thường tập chú vào các vấn đề như HIV/AIDS và bệnh sốt rét.
Laura Lane Welch chào đời tại Midland, Tiểu bang Texas, là con duy nhất của Harold Bruce Welch (1912-1995) và Jenna Louise Hawkins (sinh năm 1919). Từ một người xây dựng nhà ở, cha của Laura trở thành một nhà kinh doanh bất động sản thành công, trong khi mẹ cô đảm nhiệm công việc kế toán cho doanh nghiệp của chồng. Từ khi còn bé, Laura được cha mẹ khuyến khích đọc sách, dần dà hình thành thói quen yêu thích sách. Cô kể lại, "Tôi học biết từ mẹ tôi tầm quan trọng của thói quen đọc sách. Từ khi còn bé, mẹ vẫn thường đọc truyện cho tôi nghe. Từ đó tôi thích sách và thường xuyên tới thư viện. Đến hè, tôi thường dành cả buổi chiều đọc sách trong thư viện. Tôi thích quyển Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên, Little Women, và các quyển khá"
Laura nhập học Trường Tiểu học James Bowie, rồi các trường trung học San Jacinto Junior và Midland Lee tại Midland. Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1964, cô theo học Đại học Southern Methodist ở Dallas, và ra trường năm 1968 với văn bằng Cử nhân Khoa học chuyên ngành Giáo dục.
Năm 1963, Laura dính líu vào một tai nạn xe hơi khi xe cô đâm vào một chiếc xe khác làm thiệt mạng Michael Dutton Douglas, một bạn học cùng lớp. Theo hồ sơ lưu trữ của Midland, không ai say rượu khi điều khiển phương tiên giao thông, và cũng không có ai bị truy tố. Theo người phát ngôn của Bush, "Đây là một tai nạn thương tâm ảnh hưởng sâu sắc đến các gia đình và mọi người liên quan, kể cả cộng đồng nói chung. Cho đến nay, bà Bush vẫn giữ im lặng về vụ việc này."
Sinh viên, Giáo viên, Thủ thư.
Năm 1968, Welch đậu bằng Cử nhân Khoa học chuyên ngành Giáo dục tại Đại học Southern Methodist ở Dallas. Sau khi tốt nghiệp, Welch đến dạy tại Trường Tiểu học Longfellow thuộc Khu Học chính Độc lập Dallas cho đến năm 1969. Sau đó, cô dành ba năm dạy học tại Trường Tiểu học John F. Kennedy ở Houston, cho đến năm 1972.
Năm 1973, Welch nhận học vị Thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Thư viện tại Đại học Texas tại Austin. Sau đó, cô đảm nhiệm vị trí thủ thư tại Chi nhánh Kashmere Gardens của Thư viện Công Houston cho đến năm 1974, khi cô trở về Austin. Ở đây cô nhận nhiệm vụ thủ thư cho Khu Học chính Độc lập Austin, Trường Tiểu học Dawson cho đến năm 1977. Khi nhắc đến kinh nghiệm làm việc với một nhóm trẻ em trong năm 2003, Bush nói, "Từng là cô giáo rồi thủ thư, tôi học biết tầm quan trọng của thói quen đọc sách trong nhà trường và trong cuộc sống."
Hôn nhân và Gia đình.
Laura Welch và Georg W. Bush gặp nhau năm 1977 khi họ cùng đến dự một bữa tiệc thịt nướng ngoài trời ("barbecue") tại sân sau nhà của một cặp vợ chồng là bạn của cả hai người. Sau ba tháng tìm hiểu, ngày 5 tháng 11 năm 1977,
Welch và Bush tổ chức hôn lễ tại một nhà thờ thuộc Giáo hội Giám Lý Hiệp nhất ở Midland, đây cũng là nơi Welch đã chịu lễ báp têm.
Năm 1981, Laura Bush sinh đôi hai cô con gái, Barbara và Jenna. Năm 2000, cả hai đều tốt nghiệp trung học rồi theo học Đại học Yale và Đại học Texas tại Austin năm 2004.
George W. Bush nói rằng chính Laura đã giúp ông đi đến quyết định bỏ rượu trong năm 1986. Bush cũng tin rằng bà là người có nhiều ảnh hưởng trong nỗ lực ổn định cuộc sống riêng tư của ông. Theo Jane Simms Podesta, phóng viên tạp chí "People", "Bà là hậu phương vững chắc của ông. Bà là ảnh hưởng tốt đẹp trên tâm tính ông. Tôi nghĩ rằng, bằng nhiều phương cách, bà đã xây dựng ông trở nên con người như ngày hôm nay."
Dù phải bận rộn chăm sóc con, Laura Bush vẫn tham gia, như là một thiện nguyện viên, một số tổ chức như Bạn của Thư viện Công Midland, Ban Quản trị Đội Thiếu nhi Midland, Ban Quản trị Bạn của Thư viện Công Dallas, Hiệp hội Phụ huynh Học sinh và Giáo viên Trường Tiểu học Preston Hollow, Ban Quản trị Thành viên Cộng đồng Ban Bảo vệ Trẻ em.
Mỗi năm vài lần, Laura cùng chồng trở về lãnh địa rộng lớn của gia tộc, Gia trang Bush. Tọa lạc ở Kennebunkport, tiểu bang Maine, gia trang là nơi họp mặt thường xuyên của Gia tộc Bush từ gần 100 năm qua.
Đệ Nhất Phu nhân Texas.
Laura Bush trở nên Đệ Nhất Phu nhân Texas từ năm 1995 đến năm 2000, khi chồng bà đắc cử Thống đốc tiểu bang Texas. Khi được hỏi có quan tâm đến chính trị không, bà trả lời, "Nó không thu hút tôi." Suốt thời gian lưu trú ở Dinh Thống đốc Texas, bà không đứng ra tổ chức một sự kiện chính thức nào.
Tuy nhiên, trong cương vị Đệ Nhất Phu nhân, Laura Bush hoạt động tích cực cho phúc lợi của phụ nữ và trẻ em trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và xóa mù chữ. Qua Lễ hội Sách Texas, bà gây quỹ cho các thư viện, thành lập Đề án Xoá mù chữ Gia đình của Đệ Nhất Phu nhân, khuyến khích các gia đình cùng đọc sách với nhau. Bà thành lập các chương trình "Adopt-a-Caseworker" nhằm hỗ trợ cho Dịch vụ Bảo vệ Trẻ em. Laura Bush cũng sử dụng vị thế của mình để vận động công luận quan tâm đến các căn bệnh Alzheimer và ung thư vú.
Đến giữa năm 1999, bà đồng ý để chồng ra tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ, dù bảo cho ông biết bà chưa bao giờ mơ thấy ông làm điều này. Diễn văn Laura Bush trình bày trước đại biểu về dự Đại hội Toàn quốc Đảng Cộng hòa năm 2000 đã biến bà thành một nhân vật được chú ý bởi công luận toàn quốc.
Tháng 12 năm 2000, sau khi có kết quả chung cuộc cho cuộc bầu cử tổng thống năm 2000, chồng bà từ nhiệm thống đốc bang Texas để chuẩn bị cho lễ nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 2001, thời điểm Laura Bush trở nên Đệ Nhất Phu nhân Hoa Kỳ.
Đệ Nhất Phu nhân Hoa Kỳ.
Trong cương vị Đệ Nhất Phu nhân, Laura Bush hoạt động tích cực trong các lĩnh vực giáo dục và sức khoẻ phụ nữ, cả trong và ngoài nước. Các sáng kiến quan trọng của bà đều liên quan đến giáo dục và sức khỏe phụ nữ.
Giáo dục và Trẻ em.
Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Bush cho biết bà đặc biệt quan tâm đến các vấn đề giáo dục, trong đó có việc tuyển dụng giáo viên giỏi để bảo đảm rằng trẻ em sẽ tiếp nhận một nền giáo dục chất lượng cao. Bà cũng chú trọng đến sự phát triển của trẻ trong giai đoạn đầu đời. Năm 2001, nhắm đến mục tiêu cổ xúy thói quen đọc sách và giáo dục, bà cộng tác với Thư viện Quốc hội khởi xướng Lễ hội Sách Quốc gia được tổ chức hằng năm, và Đề án Quốc ca nhằm phát huy tinh thần ái quốc trong học đường.
Ngay sau sự kiện 11 tháng 9, Laura Bush bày tỏ sự quan tâm dành cho trẻ em trên khắp nước Mỹ,
Chúng ta cần biết chắc rằng trẻ em đang được an toàn ngay trong nhà mình và trong trường học. Chúng ta cần biết chắc rằng có nhiều người yêu thương chúng và chăm sóc chúng, và rằng dù có những kẻ xấu trên khắp thế giới thì số người tốt còn đông đảo hơn nhiều."
Ngày hôm sau, bà viết những bức thư mở gởi đến các gia đình Mỹ, đặc biệt là cho học sinh trung tiểu học. Bà quan tâm đến việc làm giảm nhẹ hiệu ứng cảm xúc của vụ tấn công tác động đến trẻ em nhất là khi những hình ảnh kinh hoàng xuất hiện nhiều lần trên truyền hình. Vào dịp kỷ niêm một năm sự kiện 11/9, bà khuyên các phụ huynh nên đọc truyện cho trẻ, hoặc thắp nến để tưởng niệm, nhưng "đừng để trẻ xem những hình ảnh về sự kiện 11 tháng 9 khi quý vị biết rằng chúng sẽ được chiếu trên truyền hình nhiều lần - hình ảnh máy bay đâm thẳng vào tòa nhà hoặc hình ảnh những cao ốc đang đổ xuống."
Đến cuối nhiệm kỳ, Laura Bush được Liên Hợp Quốc vinh danh khi tổ chức quốc tế này đề cử bà làm đại sứ cho Thập niên Xóa mù chữ Liên Hợp Quốc. Trong cương vị này, bà cho biết sẽ chủ tọa Hội nghị Xóa mù chữ Toàn cầu, được tổ chức vào tháng 9 năm 2006 nhằm khuyến khích những nỗ lực bền bỉ vận động cho công cuộc xóa mù chữ và quảng bá những hoạt động thành công trong nỗ lực này. Một trong những động lực thúc đẩy Bush phối hợp tổ chức hội nghị là những ích lợi trẻ em ở những nước nghèo thụ hưởng sau khi được xóa mù chữ mà bà từng chứng kiến trong những chuyến du hành hải ngoại.
Sức khỏe Phụ nữ.
Một lĩnh vực khác mà Laura Bush tham gia tích cực là các vấn đề liên quan đến sức khỏe và phúc lợi cho phụ nữ. Bà thành lập tổ chức "Women's Health and Wellness Initiative" cũng như tham dự vào hai chiến dịch chính của tổ chức này.
Lần đầu tiên bà đến với cuộc vận động của The Heart Truth là vào năm 2003. Đây là một tổ chức trực thuộc Viện Tim Phổi và Huyết học Quốc gia. Mục tiêu của chiến dịch là nâng cao nhận thức về bệnh tim mạch ở phụ nữ và phương pháp phòng tránh. Việc bà nhận làm đại sứ danh dự cho chương trình đã dẫn đến những nỗ lực của chính phủ liên bang kêu gọi phụ nữ quan tâm đến những nguy cơ của bệnh tim mạch. Bush nhận xét về căn bệnh, "Giống nhiều phụ nữ khác, tôi vẫn nghĩ rằng bệnh tim mạch là bệnh của nam giới, bệnh ung thư mới là điều chúng ta nên quan tâm nhiều nhất. Nhưng trên đất nước chúng ta, bệnh tim mạch giết chết nhiều phụ nữ hơn tất cả bệnh ung thư cộng lại. Đối với căn bệnh này thì giáo dục sức khỏe, phương pháp phòng tránh, và ngay cả một bộ trang phục màu đỏ cũng có thể cứu được nhiều mạng sống." Bà đi khắp đất nước để chuyện trò với những phụ nữ đang hoặc từng mắc bệnh tim mạch.
Tháng 5 năm 2005 tại Trung tâm Nghệ thuật Trình diễn John F. Kennedy, cùng với cựu Đệ Nhất Phu nhân Nancy Reagan, Bush trao tặng bộ sưu tập trang phục đỏ của các Đệ Nhất Phu nhân. Đây là cuộc triển lãm các bộ trang phục màu đỏ của các Đệ Nhất Phu nhân Lady Bird Johnson, Betty Ford, Rosalynn Carter, Nancy Reagan, Barbara Bush, Hillary Clinton và Laura Bush, là cơ hội cho các Đệ Nhất Phu nhân qua các thời kỳ khác nhau đóng góp vào nỗ lực nâng cao ý thức cộng đồng đối với bệnh tim mạch ở phụ nữ.
Mẹ của Bush, Jenna Welch, ở tuổi 78 bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú, và Laura Bush hoạt động tích cực giúp phòng tránh căn bệnh này bằng cách tham gia tổ chức Susan G. Komen for the Cure. Bà nhận xét, "Chỉ vài năm trước đây thôi, bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú nghĩa là ít có cơ hội để phục hồi. Nhưng nhờ những nỗ lực của Tổ chức Komen…ngày càng có nhiều phụ nữ và nam giới đang hiệp lực chống chọi với bệnh ung thư vú và cố vượt qua nghịch cảnh. Bà sử dụng vị thế của mình để tìm kiếm sự ủng hộ của quốc tế cho Tổ chức Komen qua " the Partnership for Breast Cancer Awareness and Research of the Americas", một đề án nhằm nối kết các chuyên gia từ Hoa Kỳ, Brasil, Costa Rica và México.
Tháng 10 năm 2001, Laura Bush là nhân vật đầu tiên không phải tổng thống đã đọc bài diễn văn tổng thống trên sóng phát thanh. Bà sử dụng cơ hội này để nói về hoàn cảnh của phụ nữ tại Afghanistan trong lúc quân đội Mỹ chiếm đóng đất nước này, bà phát biểu, "Áp chế phụ nữ là mục tiêu trọng tâm của bọn khủng bố." Tháng 5 năm 2002, bà đọc một bài diễn văn gởi đến nhân dân Afghanistan trên Đài Phát thanh Tự do, đặt ở Praha, Cộng hoà Czech.
Uy tín và Phong cách.
Laura Bush rất được lòng dân. Trong tháng 1 năm 2006, một cuộc thăm dò dư luận của USA Today/CBS/Gallup chỉ ra rằng có đến 82% người dân Mỹ ủng hộ bà, và chỉ có 13% tỏ ý bất bình, đưa tên bà vào danh sách các Đệ Nhất Phu nhân được yêu thích nhất. Cựu Thư ký Báo chí Nhà Trắng Ari Fleischer nhận xét, "Tại nhiều nơi trên khắp nước, bà ngày càng được yêu thích và được chào đón nồng hậu hơn tổng thố[để hỗ trợ họ]." Theo những chỉ số của các cuộc khảo sát dư luận, uy tín của Laura Bush tiếp tục dâng cao.
Trong năm 2006, không đồng ý với Chris Wallace của kênh truyền hình Fox News khi được hỏi tại sao người dân Mỹ bắt đầu đánh mất niềm tin nơi Tổng thống Bush, Laura Bush trả lời, "Tôi không nghĩ như thế. Tôi thực sự không tin tưởng các cuộc thăm dò dư luận. Tôi đã đi khắp đất nước, gặp gỡ nhiều người, tôi chứng kiến phản ứng của họ đối với chồng tôi, đối với tôi. Hiện đang có nhiều thách thức căng thẳng tại Hoa Kỳ...Tất cả quyết định Tổng thống đưa ra cho từng thách thức này đều khó khăn. Chúng là những quyết định khó khăn. Tất nhiên sẽ có người không hài lòng về hệ quả của những quyết định ấy. Nhưng tôi nghĩ người dân biết rằng Tổng thống đang làm điều mà ông tin là đúng cho Hoa Kỳ, rằng ông đang làm điều mà ông nghĩ ông có bổn phận phải làm cho nhân dân Hoa Kỳ, nhất là đối với cuộc chiến chống khủng bố, rằng ông đang cố bảo vệ họ...Khi những chỉ số thăm dò dư luận về ông ở mức cao thì chúng không được đưa lên trang nhất."
Tạp chí People, tờ Washington Post và các báo khác đã đánh giá cao Laura Bush về tính trang nhã và khả năng cảm thụ trong thời trang của bà, được thể hiện trong lễ nhậm chức tổng thống lần thứ hai vào tháng 1 năm 2005. Khi ấy bà mặc áo dài vải cashmire trắng đồng bộ với chiếc áo khoác được Oscar de la Renta thiết kế. Ngay sau đó là những buổi lễ hội, trang phục của Laura Bush là áo dài màu nhạt viền ren đính pha lê, tay dài với khăn choàng màu xanh bạc. Chiếc áo dài lụa mềm này cũng được thiết kế bởi de la Renta. Theo nhận xét của tờ Washington Post, "Nó khiến bà trông lộng lẫy và quyến rũ."
Suốt trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Bush, Laura quan tâm nhiều hơn đến lãnh vực ngoại giao. Bà đi đến nhiều nước trong tư cách đại diện cho Hoa Kỳ.
Trong cương vị Đệ Nhất Phu nhân, bà đã thực hiện năm chuyến công du thiện chí đến châu Phi. Dù mục đích chính của các chuyến đi là nâng cao nhận thức về HIV/AIDS và bệnh sốt rét, Bush cũng nhấn mạnh đến nhu cầu giáo dục và cung ứng nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ. Bà cũng có nhiều chuyến công du đến các quốc gia khác nhằm vận động và tìm kiếm sự hậu thuẫn cho Kế hoạch Khẩn cấp Chữa trị AIDS của Tổng thống Bush, trong đó có Zambia (2007), Mozambique (2007), Mali (2007), Mali (2007), Senegal (2007), và Haiti (2008).
Trong chuyến thăm Myanmar vào giữa năm 2007, Bush lên tiếng ủng hộ phong trào dân chủ, cũng như kêu gọi binh sĩ và dân quân Miến Điện tránh sử dụng bạo lực. Đến tháng 10, bà đến Trung Đông trong nỗ lực cải thiện hình ảnh nước Mỹ bằng cách đánh động sự quan tâm của công chúng đối với sức khỏe phụ nữ, nhất là căn bệnh ung thư vú. Miêu tả chuyến đi là một thành công, bà nói những định kiến từ hai phía đã bị phá vỡ.
Quan điểm về Chính sách.
Bush là thành viên Đảng Cộng hòa từ khi bà kết hôn. Nhìn chung, bà theo đuổi các quan điểm truyền thống.
Trong năm 2000, khi được hỏi về quyền phá thai Bush nói rằng bà không nghĩ là cần phải đảo ngược vụ án Roe v. Wade, cũng không bình phẩm gì về việc phụ nữ có quyền phá thai hay không. Tuy nhiên, bà tin rằng đất nước cần làm "mọi điều có thể để hạn chế số vụ phá thai, rồi hạ thấp con số này bằng những phương cách như nói chuyện với giới trẻ về trách nhiệm, tuyên truyền các biện pháp kiêng cữ, mở các lớp học về kiêng cữ tại trường học, nhà thờ, và Trường Chúa Nhật."
Năm 2006, trả lời trong một cuộc phỏng vấn đề cập đến Tu chính án Liên bang về Hôn nhân, Bush kêu gọi các nhà lãnh đạo dân cử chớ nên chính trị hóa vấn đề hôn nhân đồng tính, "Hiển nhiên là không nên sử dụng nó như là một công cụ vận động tranh cử. Đây là một vấn đề nhạy cả
Ngày 12 tháng 7 năm 2005, khi đang công du ở Nam Phi, Laura Bush đề nghị chồng chọn một phụ nữ khác vào vị trí đang khuyết tại Tòa án Tối cao Hoa Kỳ do quyết định nghỉ hưu của nữ thẩm phán Sandra O’ Connor. Ngày 2 tháng 10, trong một bữa ăn tối tại Nhà Trắng với Laura, Tổng thống Bush đã yêu cầu Harriet Miers thế chỗ O’ Connor. Đến cuối tháng, khi những chỉ trích dữ dội nhắm vào Miers, Laura Bush tỏ dấu hoài nghi rằng đằng sau sự chống đối là những định kiến về giới tính.
Năm 2004, Laura Bush được tạp chí Forbes chọn là người phụ nữ quyền thế thứ nhì ở Hoa Kỳ, và đứng thứ tư trong danh sách các phụ nữ có nhiều quyền lực nhất thế giới, với nhận xét, "Bush là bàn tay quyền lực ở hậu trường Nhà Trắng. Tổng thống thường nhắc đến bà như là sức mạnh quan trọng nhất hướng dẫn ông trong cuộc sống. Ông cũng cho rằng chính Đệ Nhất Phu nhân đã giúp thay đổi ông, đặt ông vào con đường dẫn đến Nhà Trắng."
|
Đinh Xuân Lâm (4 tháng 2 năm 1925 – 25 tháng 1 năm 2017) là một trong những người góp công đầu xây dựng Bộ môn Lịch sử cận – hiện đại Việt Nam, phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khóa IV, Chủ tịch Hội đồng khoa học Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam. Ông là một trong "tứ trụ" của nền sử học Việt Nam (Lâm, Lê, Tấn, Vượng).
Ông sinh tại xã Sơn Tân (nay là xã Tân Mỹ Hà), huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình quan lại nhà Nguyễn.
Từ nhỏ ông theo song thân ra sinh sống và trưởng thành ở Thanh Hóa (cha ông là Tri huyện Yên Định), gắn bó với mảnh đất này như quê hương thứ hai của mình. Sau khi đỗ thành chung, ông học Trường Quốc học Huế và tốt nghiệp tú tài toàn phần ban Triết học văn chương. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là một trong những thầy giáo trung học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Năm 1954, ông được chuyển thẳng lên năm thứ 2 Đại học Sư phạm Văn khoa, đồng môn với Phan Huy Lê và Trần Quốc Vượng. Tốt nghiệp thủ khoa xuất sắc, ông được giữ lại làm cán bộ giảng dạy Khoa Lịch sử Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Dưới sự dìu dắt của thầy Trần Văn Giàu, ông đã góp công đầu xây dựng Bộ môn Lịch sử cận – hiện đại Việt Nam. Tại đây ông đã nghiên cứu và biên soạn các giáo trình như "Lịch sử Việt Nam 1897 – 1914" (1957), "Hoàng Hoa Thám và phong trào nông dân Yên Thế" (1958), "Lịch sử Việt Nam cận đại" (1959 – 1961).
Giáo sư Lâm đã hướng dẫn thành công hơn 30 luận án tiến sĩ trong và ngoài nước, tác giả của hơn 200 công trình nghiên cứu khoa học.
Ông mất ngày 25 tháng 1 năm 2017 tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.
Ông được phong học hàm Phó giáo sư năm 1980 và Giáo sư năm 1984, ngành Sử học. Cùng với Giáo sư Nguyễn Lân, ông là một trong hai người ngành Sử đầu tiên được Nhà nước Việt Nam tôn vinh phong tặng Nhà giáo Nhân dân và được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất.
Giáo sư Đinh Xuân Lâm đã viết và đứng tên hơn 370 bài báo, 7 đề tài nghiên cứu khoa học và 90 đầu sách. Một số tác phẩm của ông là:
|
Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam
Đại hội Đại biểu toàn quốc là đại hội then chốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Ban Chấp hành Trung ương triệu tập thường lệ 5 năm 1 lần, theo Điều lệ là "cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng". Đại biểu dự đại hội gồm các Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương triệu tập đại hội và đại biểu do đại hội cấp dưới bầu.
Đại biểu chính thức dự Đại hội đại biểu toàn quốc gồm các Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và Đại biểu do Đại hội cấp dưới bầu; Đại biểu dự Đại hội phải được Đại hội thẩm tra tư cách và biểu quyết công nhận.
Đại hội Đại biểu toàn quốc bất thường có thể được triệu tập khi Ban Chấp hành Trung ương thấy cần hoặc khi có hơn một nửa số Cấp ủy trực thuộc yêu cầu. Đại biểu dự Đại hội bất thường là các Uỷ viên Trung ương đương nhiệm, đại biểu đã dự Đại hội đại biểu toàn quốc đầu nhiệm kỳ, đủ tư cách.
Ở các cấp, cơ quan lãnh đạo cao nhất là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên, với đại biểu tham dự gồm các ủy viên ban chấp hành cấp triệu tập đại hội và đại biểu do đại hội cấp dưới bầu.
Một số kỳ có Đại hội trù bị họp kín một số ngày giải quyết các công việc quan trọng, còn Đại hội chính thức hay có đại biểu quốc tế tham dự, họp công khai. Các Đại hội gần đây bỏ thể lệ này, thường chỉ họp trù bị một ngày để chuẩn bị công việc Đại hội chính. Thông thường, Tổng Bí thư sẽ đọc Báo cáo chính trị tổng kết nhiệm kỳ.
|
Ngọc Lan (ca sĩ)
Lê Thanh Lan, tên thánh: Maria Lê Thanh Lan (28 tháng 12 năm 1956 – 3 tháng 6 năm 2001), được biết đến với nghệ danh Ngọc Lan, là một ca sĩ hải ngoại nổi tiếng. Không chỉ với giọng hát, cô còn được khán giả đặc biệt yêu mến vì khuôn mặt khả ái và tính cách nhút nhát, khiêm tốn của mình.
Ngọc Lan tên thật là Lê Thanh Lan, sinh ngày 28 tháng 12 năm 1956 tại Nha Trang (cô còn được gọi chung với tên Thánh là Maria Lê Thanh Lan). Ngọc Lan là người con thứ năm trong số 8 người con trong một gia đình khá giả, cha của cô, ông Lê Đức Mậu, từng phục vụ trong Binh Chủng Truyền Tin của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Khi còn ở Việt Nam, cô đã đến với âm nhạc qua nhạc sĩ Lê Hoàng Long, từng học nhạc và biểu diễn trong một số dịp tại Nha Trang. Cô đã từng theo học ở trường Lý Thường Kiệt, ngoại ô Sài Gòn.
Năm 1980, Ngọc Lan đến Hoa Kỳ và định cư tại Minnesota. Hai năm sau, Ngọc Lan thực sự bắt đầu sự nghiệp ca hát ở California. Cô lấy nghệ danh "Ngọc Lan" vì tên thật Thanh Lan trùng với ca sĩ Thanh Lan đã nổi tiếng. Với sự giới thiệu của ca sĩ Duy Quang, cô đã hát tại một số quán cà phê nhạc và các buổi biểu diễn. Trong những buổi đầu đi hát với mục đích kiếm tiền phụ giúp gia đình và trang trải việc học hành, cô đã từng có ý định bỏ nghề để về phụ gia đình bán hamburger vì cô cảm thấy thanh quản của cô không cho phép cô hát quá nhiều. Nhưng được sự khích lệ của người thân và bạn bè, cô tiếp tục con đường ca hát và gặt được nhiều thành công ngoài mong đợi.
Đỉnh cao của sự nghiệp.
Với chất giọng ngọt ngào, trữ tình, man mác nỗi buồn, Ngọc Lan nhanh chóng được khán giả biết đến và đã được các trung tâm nổi tiếng mời thu âm như trung tâm băng nhạc Dạ Lan, trung tâm Giáng Ngọc, và xuất hiện thường xuyên tại các vũ trường, phòng trà... Đặc biệt sau khi cộng tác với trung tâm nhạc MayQ Productions và được trung tâm này thực hiện riêng hai chương trình video đặc biệt ' (1989) và ' (1991) bởi đạo diễn Đặng Trần Thức thì Ngọc Lan đã đạt được đỉnh cao trong sự nghiệp âm nhạc. Hai cuốn video trên cho đến nay vẫn được đánh giá là hai cuốn video rất có giá trị về mặt nghệ thuật được dành riêng cho một nghệ sĩ.
Sự thành công ngoài sức tưởng tượng của Ngọc Lan được giới chuyên môn nhận định là do tên tuổi của cô xuất hiện vào những năm tháng mà nền âm nhạc hải ngoại đang "khát" ca sĩ và những tiếng hát mới, sự xuất hiện của cô với việc lựa chọn đúng dòng nhạc Tình ca - dòng nhạc mà trong thời kỳ này rất được ưa chuộng bên cạnh những tiếng hát đã thành công với những loại nhạc này từ trước năm 1975 như Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Duy Q, cũng không thể phủ nhận được tài năng và chất giọng thiên phú của cô mới chính là yếu tố đưa tên tuổi của cô bay xa hơn trên bầu trời âm nhạc.
Thành công nối tiếp thành công, sau đó cuối thập niên 80 đầu 90, cô nhận lời mời của trung tâm Asia tham gia trong CD 15 Liên khúc Tình Yêu cùng với 2 tiếng hát khác cũng đang được mến mộ lúc bấy giờ là Trung Hành và Kiều Nga, CD này đã mở ra thời kỳ của phong trào liên khúc và được ưa chuộng không riêng gì tại hải ngoại mà còn lan về tận ở Việt Nam, được ghi nhận là một trong những CD Liên khúc có số bán cao nhất trong lịch sử của trung tâm này. Qua CD này, tên tuổi Ngọc Lan ngày càng nổi tiếng.
Đồng thời trong thời gian này, cô cũng đã được mời đi lưu diễn liên tục, khắp nơi và đã trở thành nữ ca sĩ Top của liên tiếp 4 năm kể từ năm 1987 trong làng ca nhạc của cộng đồng người Việt trên khắp năm châu. Đáng kể như là chuyến lưu diễn 3 đêm rất thành công của cô tại Sydney và Melbourne, Úc năm 1990. Báo Chiêu Dương (Úc) đã đăng ngày 14 tháng 9 năm 1990 như sau:
Năm 1992, là năm đánh dấu sự thu hình trực tiếp đầu tiên của Ngọc Lan trên sân khấu ca nhạc trong chương trình Hollywood Night 1 với ca khúc Mưa trên biển vắng vào ngày 10 tháng 3 năm 1992, cũng trong dịp này, cô đã dành cho MC Nam Lộc buổi phỏng vấn chính thức đầu tiên. Ngọc Lan có sự cộng tác gắn bó với những chương trình của Hollywood Night, điều này làm nhiều người lầm tưởng cô có hùn vốn với trung tâm này. Sự cộng tác vẫn diễn ra liên tục và đều đặn cho tới khi cô giã từ sự nghiệp để lùi về bóng tối, nên có thể nói tên tuổi của Ngọc Lan đã gắn liền với những chương trình Hollywood Night.
Ngọc Lan được yêu thích qua nhiều nhạc phẩm nước ngoài lời Việt, như "Mưa trên biển vắng" (cô cho đây là ca khúc đã đưa cô đến gần với khán giả), "Dòng sông tuổi nhỏ (La Maritza)"... Cô cũng trình bày nhiều ca khúc tiếng Pháp như "Viens m'embrasser", "Poupée de cire, poupée de son", "Les valses de vienne", những nhạc phẩm của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Đức H, cô đã trình bày trên 800 ca khúc và trên 40 video clip. Sự hạn chế quay video thu hình được chính cô giải thích là do bản tính nhút nhát của mình trước ống kính.
Sự hạn chế xuất hiện.
Sau đó Ngọc Lan đột ngột không xuất hiện nữa vào năm 1993 và tạo nên nhiều tin đồn. Năm 1994 cô xuất hiện trở lại trong một số chương trình, cùng năm đó, trong chương trình đánh dấu sự trở lại của cô mang tên "Ngọc Lan và Thính Giả thương yêu" tại Anaheim với kết quả thành công mỹ mãn, tuy nhiên sau buổi ca nhạc đó, khán giả cũng nhận ra rằng cô có phần nào suy sụp tinh thần và tiếng hát của cô không còn linh động như xưa. Nguyên nhân có lẽ là do bệnh tình và sự qua đời đột ngột của người chị gái trước đó không lâu. Năm 1994 cũng là một năm cô kết hôn với nhạc sĩ Kevin Khoa. Và từ đó trở đi, cô vẫn tiếp tục sinh hoạt văn nghệ nhưng không còn mạnh mẽ như những năm đầu thập niên 90 khi mà tên tuổi cô được rất nhiều người biết đến vì sức khỏe không cho phép.
Trong năm 1996, trong lần thu hình trong cuốn video 12: Việt Nam Niềm Nhớ cho trung tâm Asia tại Toronto để trình bày nhạc phẩm "Con Đường Tôi Về" của nhạc sĩ Lê Tín Hương, trước hàng ngàn khán giả, Ngọc Lan phải có người nắm tay đưa lên sân khấu, dù bị hạn chế tầm nhìn nhưng cô vẫn cố gắng lột tả trọn vẹn ca khúc này với hình ảnh khó quên khi cô quỳ giữa sân khấu vào lúc cuối phần trình diễn. Và trong thời gian đó, Ngọc Lan thỉnh thoảng vẫn còn xuất hiện trong các băng video cho các trung tâm ca nhạc như Hollywood Nights, Asia nhưng hầu hết là các clip quay ngoại cảnh thay vì trên sân khấu.
Giã từ sự nghiệp.
Năm 1998, Ngọc Lan xuất hiện lần cuối cùng trong dịp thu hình quay ngoại cảnh cho Asia cuốn Video 18: Nhớ Sài Gòn, trong cuốn video này, Ngọc Lan đã cắt đi kiểu tóc uốn xoăn đặc trưng mà thay vào đó là kiểu tóc tém cùng gương mặt mệt mỏi, đượm buồn của mình trong ca khúc "Khóc một dòng sông" của Đức Huy. Đây là video ca nhạc cuối cùng của cô với trung tâm Asia.
Sau đó không lâu, trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình tại Nam California phát hình vào ngày 10 tháng 3 năm 1998, Ngọc Lan và phu quân Kelvin Khoa đã dành cho MC Nam Lộc và Thụy Trinh một cuộc nói chuyện thân tình để giải tỏa những thắc mắc và lời đồn đại về tình trạng bệnh tình của cô từ giới thưởng ngoạn, tai hại nhất là vụ trung tâm băng nhạc Diễm xưa đưa tin về việc ca sĩ hải ngoại Ngọc Lan đã qua đời trước đó. Và đây cũng là lần cuối cùng cô xuất hiện trước khán giả, sau đó cô giã từ sân khấu, lùi hẳn vào trong bóng tối vì bệnh tình cô ngày càng trầm trọng.
Sau một thời gian dài bị chứng bệnh đa xơ cứng hành hạ và thị lực bị hạn chế, Ngọc Lan đã từ trần vào lúc 8 giờ 25 sáng ngày 3 tháng 6 năm 2001 tại bệnh viện Vencor, Huntington Beach, California.
Đám tang của cô được rất đông đảo người ái mộ tham dự và được cho là đám tang dành cho một nghệ sĩ có nhiều người tham dự nhất vào thời điểm đó. Và ít lâu sau, ít nhất đã có 6 ca khúc đã được viết lên để tưởng niệm người nữ ca sĩ tài sắc này như Nhật Ngân với "Tiếng hát mong manh", Trần Trịnh với "Gãy cành thiên hương", Trần Thiện Thanh với "Huyền thoại Ngọc Lan", Ngọc Trọng với "Bài cho tình ta", Hùng Quân với "Còn đâu tiếng hát ru đời" nhưng được biết đến nhiều hơn cả là ca khúc "Vĩnh biệt một loài hoa" của nhạc sĩ Anh Bằng. Trong bài hát đó có những câu sau:
"Người con gái ấy mang tên loài hoa."
"Mắt biếc suối trong, mi cong ngọc ngà"
"Loài hoa yêu ấy, bây giờ đã xa, bây giờ đã xa"...
..."Ngọc Lan! Ngọc Lan! Sao nỡ ra đi vội vàng."
"Ôi! Tiếng kinh đêm cầu hồn, như tiếng ai ca thật buồn."
"Ngọc Lan! Ngọc Lan! Vĩnh viễn buông tay phận người."
"Thôi hết trăm năm đọa đầy."
"Một nấm mồ yên đời đờ"
Ngọc Lan được cho là một trong những ca sĩ thành công và nổi tiếng nhất của nền âm nhạc Việt Nam sau năm 1975. Phong cách và lối trình diễn của cô không chỉ để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng giới thưởng ngoạn mà còn góp phần ảnh hưởng đến các tiếng hát thuộc thế hệ trẻ sau này như Minh Tuyết, Y Phương, Lâm Thúy Vân.
|
Cồn Mang là một dải đá và là một điểm nghỉ mát thuộc thôn Tràng Vỹ, xã Trà Cổ, huyện Hải Ninh, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam. Đây cũng là điểm đầu tiên của bãi biển Trà Cổ dài 17 km, điểm cuối của bãi biển này là Mũi Ngọc.
Cát ở Cồn Mang trắng, mịn được bồi tự nhiên do tác động của sóng và dòng biển ven bờ. Sau các cồn cát, cao chừng 3–4 m, là các dải rừng phi lao chắn gió, giữ cát. Gần Cồn Mang còn có hệ sinh thái rừng ngập mặn chưa hề bị xâm phạm. Xung quanh nơi này cũng có nhà thờ, đình và chùa Trà Cổ.
Các đường giao thông đến Cồn Mang bao gồm đường biển và đường bộ. Trên đường biển, có canô hoặc phổ biến hơn là tàu cánh ngầm xuất phát từ Bãi Cháy, Quảng Ninh (khoảng 132 km) hoặc từ Hải Phòng (khoảng 206 km). Đường bộ mất thời gian hơn vì đường đèo khá ngoằn ngoèo nhưng phong cảnh khác với trên biển.
|
Quân ủy Trung ương (Việt Nam)
Quân ủy Trung ương là cơ quan lãnh đạo mọi mặt trong Quân đội nhân dân Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam, có nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất với Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam những vấn đề về đường lối, nhiệm vụ quân sự và quốc phòng; kế hoạch phòng thủ đất nước; phương hướng và biện pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân; cơ chế lãnh đạo của đảng với Quân đội nhân dân Việt Nam.
Quân ủy Trung ương có trách nhiệm phối hợp và hướng dẫn các cấp uỷ trực thuộc Trung ương thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về quân sự, quốc phòng. Quân uỷ Trung ương trực tiếp lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh toàn diện, xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh. Thông qua các biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, Quân uỷ Trung ương bảo đảm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.
Quân ủy Trung ương thực hiện chế độ quyết định tập thể đối với vấn đề lớn như chủ trương, chương trình, kế hoạch thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các biện pháp xây dựng quân đội, quyết định các vấn đề về công tác cán bộ trong quân đội. Quân uỷ Trung ương chỉ đạo Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và thông qua Tổng cục Chính trị chỉ đạo các Đảng bộ và hệ thống chính uỷ, chính trị viên, cơ quan chính trị các cấp tiến hành công tác đảng, công tác chính trị nhằm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức.
Để lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt lực lượng vũ trang nhân dân, tháng 1 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định thành lập Trung ương Quân ủy.
Tên gọi qua các thời kỳ:
• Tháng 1 năm 1946, thành lập Trung ương Quân ủy.
• Tháng 10 năm 1948, bãi bỏ Trung ương Quân ủy. Thành lập Tổng Chính ủy
• Tháng 5 năm 1952, thiết lập lại Tổng Quân ủy
• Tháng 1 năm 1961 đổi tên thành Quân ủy Trung ương
• Ngày 15-12-1982, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 07/NQ-TW Về việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, thực hiện chế độ một người chỉ huy trong quân đội, trong đó quy định: bỏ hệ thống cấp ủy đảng từ Quân ủy Trung ương đến cấp trên cơ sở; thành lập Hội đồng quân sự và Hội đồng chính trị
• Ngày 04-7-1985, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 27/NQ-TW Về việc khôi phục lại hệ thống tổ chức đảng trong toàn quân từ Đảng ủy Quân sự Trung ương đến cơ sở
• Năm 2011, đổi tên thành Quân ủy Trung ương
Theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân ủy Trung ương do Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ định, bao gồm một số ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam công tác trong quân đội và một số ủy viên trung ương Đảng công tác ngoài quân đội, đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Quân ủy Trung ương có các cơ quan trực thuộc sau:
Quân ủy Trung ương (2020–2025).
Ngày 17/6/2021, tại trụ sở Bộ Quốc phòng đã diễn ra Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ nhất khóa XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025. Tại phiên họp, ông Võ Văn Thưởng, Thường trực Ban Bí thư, đã công bố quyết định của Bộ Chính trị, khóa XIII chỉ định các nhân sự tham gia Quân ủy Trung ương, nhiệm kỳ 2020–2025 gồm 25 người. Tháng 7/2021, Thượng tướng Trần Quang Phương được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội; Tháng 9/2021, Trung tướng Trần Hồng Minh được Bộ Chính trị chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng, cả 2 ông lần lượt thôi tham gia Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025.
Quân ủy Trung ương (2015–2020).
Ngày 10/5/2016, tại Trụ sở Bộ Quốc phòng, đã diễn ra lễ công bố Quyết định số 186-QĐ/TW ngày 29/4/2016 của Bộ Chính trị chỉ định Quân ủy Trung ương, Thường vụ Quân ủy Trung ương và các chức danh Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, nhiệm kỳ 2015-2020. Theo Quyết định này, Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2015–2020 gồm 23 thành viên; ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư giữ chức Bí thư Quân ủy Trung ương; Đại tướng Ngô Xuân Lịch giữ chức Phó Bí thư Quân ủy Trung ương.
Quân ủy Trung ương (2010–2015).
Danh sách cuối cùng trước khi hết nhiệm kỳ:
Đảng ủy Quân sự Trung ương (2005–2010).
Danh sách cuối cùng trước khi hết nhiệm kỳ:
Đảng ủy Quân sự Trung ương (2000–2005).
Danh sách cuối cùng trước khi hết nhiệm kỳ:
Bí thư qua các thời kỳ.
"Xem thêm: Bí thư Quân ủy Trung ương"
Phó Bí thư qua các thời kỳ.
"Xem thêm": "Phó Bí thư Quân ủy Trung ương"
|
Đan Phượng là một huyện ngoại thành thuộc thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Đan Phượng (丹鳳) theo nghĩa gốc Hán có nghĩa là "chim phượng đỏ".
Đan Phượng nằm ở phía tây bắc trung tâm thành phố Hà Nội, tại khoảng giữa của trục đường quốc lộ 32 từ trung tâm Hà Nội đi Sơn Tây, cách trung tâm thành phố khoảng 20km.
Huyện Đan Phượng có Quốc lộ 32 chạy qua khoảng 4 Km, nếu đi từ phía Hà Nội lên Sơn Tây đến Km 16+500 là ngã Tư Trôi (thuộc huyện Hoài Đức) rẽ phải khoảng 300m là đến huyện Đan Phượng theo tỉnh lộ 422. So với các quận, huyện của thủ đô Hà Nội, Đan Phượng có ít đơn vị hành chính và diện tích tự nhiên thuộc loại nhỏ, nhưng xét về mảng văn hóa giáo dục lại rất phong phú. Tất cả các trường Tiểu học trong huyện đã đạt chuẩn Quốc gia, có những xã đông dân cư khoảng 19.000 người như ở Tân Hội, 25.000 người như ở Tân Lập, hơn 10.000 người như ở thị trấn Phùng, Hồng Hà, Phương Đì)
Huyện Đan Phượng là huyện có hệ thống sông Hồng, sông Đáy chảy qua. Xưa kia là ngã ba sông (sông Hồng, sông Nhuệ, sông Đáy) nên địa hình của huyện tương đối bằng phẳng, chủ yếu là đất phù sa. Chiều cao trung bình từ 6-8m.
Dân số năm 2019 là 174.501 người. 5% dân số theo đạo Thiên Chúa.
Huyện được đặt từ thời Trần, thuộc xứ Đoài, đến thời Minh chiếm đóng thì huyện tên là Đan Sơn thuộc châu Từ Liêm, phủ Giao Châu. Sang thời Hậu Lê huyện lệ về phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Năm 1831, vua Minh Mạng điều chỉnh địa giới hành chính và thành lập các tỉnh mới. Huyện đựợc tách ra thành huyện riêng vào năm 1832 vẫn thuộc phủ Quốc Oai. Năm 1904, Đan Phựợng được nhập về phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.
Sau cách mạng tháng Tám (1945), cấp phủ bị bãi bỏ, nên từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 3 năm 1947 sáp nhập xã Cối Sơn (Tân Lập, Tân Hội) và Hạ Trì (Liên Hà, Liên Trung) thuộc huyện Từ Liêm thành huyện Đan Phượng thuộc tỉnh Hà Đông.
Từ tháng 3 năm 1947, 4 huyện Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Trì, Thanh Oai và thị xã Hà Đông được cắt chuyển về thành phố Hà Nội theo quyết định của Khu II (Khi sự kiện 19 tháng 12 năm 1946 nổ ra, Mặt trận Hà Nội được sáp nhập vào Khu II. Từ ngày 1 tháng 11 năm 1948, Khu 2 đặt quyền trực thuộc của Liên khu 3, nhưng đến tháng 5 năm 1949 thì khu Hà Nội lại được tách ra để thành lập Mặt trận Hà Nội độc lập, trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Tình trạng này được duy trì cho đến sau năm 1954, khi đấy gọi là Khu Hà Nội).
Từ ngày 12 tháng 3 năm 1947 đến tháng 5 năm 1948, huyện Đan Phượng được gộp vào liên quận huyện IV - Hoài Đức và Đan Phượng (theo công văn số: 038/KCT, ngày 13 tháng 3 năm 1947), UBK- Khu XI của Bộ chỉ huy Chiến khu XI). Tháng 5 năm 1947, Trung ương quyết định tách ba tỉnh Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây ra khỏi Khu II, thành lập Khu XI.
Tháng 5 năm 1948 đến tháng 10 năm 1948, Khu XI được Trung ương quyết định giải thể Khu XI và thành lập tỉnh Lưỡng Hà (Hà Đông - Hà Nội) thuộc Liên khu III. Lúc này, liên quận huyện IV - Hoài Đức và Đan Phượng được tách ra thành huyện Liên Bắc. Đan Phượng thuộc huyện Liên Bắc - tỉnh Lưỡng Hà.
Từ tháng 10 năm 1948 đến tháng 3 năm 1954:
Tháng 4 năm 1954, huyện Đan Phượng được tái lập và thuộc tỉnh Sơn Tây quản lý theo quyết định của Liên khu uỷ III.
Tháng 8 năm 1954, huyện Đan Phượng được Liên khu uỷ III cắt chuyển trả lại cho tỉnh Hà Đông.
Ngày 20 tháng 4 năm 1961, 5 xã thuộc huyện Đan Phượng là Tân Dân (Thượng Cát), Tân Tiến (Liên Mạc), Trần Phú (Phú Diễn), Trung Kiên (Tây Tựu) và Minh Khai được cắt chuyển về huyện Từ Liêm (Hà Nội) theo quyết định của Quốc hội tại kì họp thứ 2 (Khóa II) (nay là địa bàn các phường Thượng Cát, Liên Mạc, Phú Diễn, Phúc Diễn, Tây Tựu, Minh Khai thuộc quận Bắc Từ Liêm).
Ngày 21 tháng 4 năm 1965, huyện Đan Phượng thuộc quyền quản lý của tỉnh mới Hà Tây.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, huyện Đan Phượng là một trong 24 đơn vị hành chính của tỉnh Hà Sơn Bình, gồm thị trấn Phùng và 15 xã: Đan Phượng, Đồng Tháp, Hạ Mỗ, Hồng Hà, Liên Hà, Liên Hồng, Liên Trung, Phương Đình, Song Phượng, Tân Hội, Tân Lập, Thọ An, Thọ Xuân, Thượng Mỗ, Trung Châu.
Từ ngày 29 tháng 12 năm 1978 đến ngày 12 tháng 8 năm 1991, huyện Đan Phượng được cắt chuyển về thành phố Hà Nội theo quyết định của Quốc hội tại kì họp thứ 4 (khoá VI) vào cuối tháng 12 năm 1978.
Từ ngày 12 tháng 8 năm 1991 đến ngày 29 tháng 5 năm 2008, huyện Đan Phượng là một trong 14 đơn vị hành chính của tỉnh Hà Tây theo quyết định của Quốc hội tại kì họp thứ 9 (khoá VIII) vào ngày 12 tháng 8 năm 1991.
Ngày 8 tháng 4 năm 2002, mở rộng thị trấn Phùng trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích, dân số của hai xã Đan Phượng và Song Phượng.
Ngày 1 tháng 8 năm 2008, giải thể tỉnh Hà Tây cũ, huyện Đan Phượng thuộc thành phố Hà Nội theo Nghị quyết 15-NQ/QH ngày 29 tháng 5 năm 2008.
Huyện Đan Phượng có 16 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Phùng (huyện lỵ) và 15 xã: Đan Phượng, Đồng Tháp, Hạ Mỗ, Hồng Hà, Liên Hà, Liên Hồng, Liên Trung, Phương Đình, Song Phượng, Tân Hội, Tân Lập, Thọ An, Thọ Xuân, Thượng Mỗ, Trung Châu.
Các đơn vị hành chính cơ sở cấp xã, thôn, cụm dân cư
1. Thị trấn Phùng 6 phố, thôn: Phan Đình Phùng, Phùng Hưng, Phượng Trì, Nguyễn Thái Học, Tây Sơn, Thụy Ứng
2. Đan Phượng (Phùng) 3 thôn: Đại Phùng, Đoài Khê, Đông Khê
3. Đồng Tháp (Liên Hợp) 5 thôn: Bãi Tháp, Bãi Thuỵ, Đại Thần, Đồng Lạc, Thọ Vực
4. Hạ Mỗ (Hồng Thái) 2 thôn: Hạ Mỗ,Trúng Đích
5. Hồng Hà 4 thôn: Bá Dương Nội, Bá Dương Thị (Bá), Bồng Lai, Tiên Tân (Bến Tiên)
6. Liên Hà 3 thôn: Đoài, Quý, Thượng
7. Liên Hồng 4 thôn: Đông Lai, Hữu Cước, Thượng Trì, Tổ
8. Liên Trung 2 thôn: Hạ Trì, Trung
9. Phương Đình (Liên Minh) 8 thôn: Cổ Ngoã, Địch Trong, Địch Trung, Địch Đình, Địch Thượng, Ích Vịnh, La Thạch, Phương Mạc
10. Song Phượng 4 thôn, xóm: Tháp Thượng, Thu Quế, Thuận Thượng, Thống Nhất
11. Tân Hội 4 thôn: Thượng Hội, Thuý Hội, Phan Long (Sơn), Vĩnh Kỳ
12. Tân Lập 4 thôn: Đan Hội, Hạ Hội, Hạnh Đàn, Ngọc Kiệu (Tên chung: Kẻ Gối hay Tổng Gối) và 4 tổ dân phố Tân Tây Đô.
13. Thọ An 3 thôn: An Thanh (Tây Sơn), Thanh Điềm (Bắc Hà), Thọ Lão (Đông Hải)
14. Thọ Xuân 4 thôn: Tiến Bộ, Thống Nhất, Chiến Thắng, Hoà Bình
16. Trung Châu 8 thôn: Chu Phan, Hưu Trưng, Nại Yên (Nại Xá, Yên Châu), Phương Lang (Phương Nội), Phương Ngoại, Trung Hà làng, Vạn Vĩ, Vân Môn.
Huyện là cái nôi của các loại hình nghệ thuật dân gian trong đó có Hát ca trù ở xã Thượng Mỗ, Vật truyền thống ở xã Hồng Hà, Thổi cơm thi ở hội Dầy, hát Chèo tàu ở hội Gối (Tân Hội), hát chèo bè trên sông của dân chài Vạn Vĩ, hội thả diều ở Bá Giang, bơi trải ở Đồng Tháp, rước cây bông ở Trung Hà…
Huyện có 15 tiến sĩ có tên trong văn bia tại Văn miếu Quốc tử giám và nhiều danh nhân tiêu biểu như:
Các cá nhân được truy tặng, phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân:
1. Anh hùng, liệt sĩ thời kỳ chống Pháp: Phan Xích (tức Nguyễn Thạc Rương): nguyên chỉ huy trưởng huyện đội Liên Bắc, giặc Pháp tôn là hùm xám Liên Bắc.
2. Anh hùng, liệt sĩ thời kỳ chống Pháp: Lê Thao (Xã Hạ Mỗ).
3. Anh hùng, liệt sĩ thời kỳ chống Pháp: Hoàng Thị Lê (Thôn Thượng Trì, Xã Liên Hồng).
4. Anh hùng Hoàng Hữu Chuyên (chống Trung Quốc năm 1979)
Hạ tầng giao thông.
Hiện nay, trên địa bàn huyện đã hình thành khu đô thị Tân Tây Đô (thuộc xã [[Tân Lập]]), khu nhà ở Tân Lập cũng như khu đô thị Vinhome Wonder Park (đang xây dựng ở xã [[Tân Hội]] và [[Liên Trung]]). Ngoài ra còn có khu đô thị sinh thái The Phoenix (thuộc xã Đan Phượng) và các siêu thị.
Các dự án hạ tầng giao thông đã được quyết định đầu tư như: đường Vành đai 4, đường Tây Thăng Long
Các dự án đường sắt đô thị đi qua địa bàn huyện (dự kiến) là các tuyến số 3 (Trôi - Nhổn - Yên Sở), tuyến số 4 (Liên Hà - Bắc Thăng Long).
Tuyến tàu điện một ray (monorail) Liên Hà - Tân Lập - An Khánh (huyện Đan Phượng và Hoài Đức)
Các tuyến đường phố.
Là một huyện gần trung tâm Hà Nội dân cư đông đúc rất thuận lợi cho việc tiêu thụ các sản phẩm từ nông nghiệp cũng như hình thành các làng nghề, nhóm nghề như mộc nội thất, chế biến thực phẩm, tiêu thụ nông sản, trồng [[đồng bằng sông Hồng]] là nơi tập trung nhiều làng nghề. Các làng nghề truyền thống thường tập trung ở các tỉnh thành như [[Hà Nội]], [[Nam Định]], [[Hà Tây]] cũ, [[Thái Bình]]. Còn các làng nghề và làng có nghề lại thường tập trung ở Hà Nội, Hà Tây cũ, bắc [[Hưng Yên]], nam [[Vĩnh Phúc]], Nam Định. Nghề phụ thường thì tập trung ở khu vực ven đô thị lớn, nơi mật độ dân cư cao hay các đầu mối giao thông thuận lợi. Đan Phượng là huyện nhỏ nhưng hội tụ đầy đủ các yếu tố trên nên cũng có khá nhiều làng nghề truyền thống, làng nghề, làng có nghề và nghề phụ như:
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Diệp Minh Tuyền (1941 - 1997) là một nhà thơ nhưng hầu hết lại được biết như là một nhạc sĩ Việt Nam. Hầu hết các sáng tác của ông thuộc dòng nhạc đỏ, được biết tới nhiều hơn cả là bài "Hát mãi khúc quân hành", nhưng Diệp Minh Tuyền còn là tác giả của ca khúc "Tình cờ", một ca khúc trữ tình được giới trẻ yêu thích.
Diệp Minh Tuyền sinh ngày 18 tháng 8 năm 1941 tại thành phố Mỹ Tho (lúc bấy giờ gọi là thị xã Mỹ Tho thuộc tỉnh Mỹ Tho), trong một gia đình trí thức yêu nước. Cha ông từng là thủ lĩnh của Thanh niên tỉnh Mỹ Tho thời kháng chiến chống Pháp. Năm 6 tuổi, Diệp Minh Tuyền theo cha mẹ tản cư lên Sài Gòn.
Mê nhạc từ nhỏ, ngày bé ông được mẹ dạy chơi đàn mandolin. Năm 1950, Diệp Minh Tuyền theo mẹ vào chiến khu Đồng Tháp Mười và đã tham gia biểu diễn trong các cuộc văn nghệ của đơn vị mẹ ông. Từ thời kỳ đó, ông bắt đầu ảnh hưởng bởi những ca khúc kháng chiến của các nhạc sĩ như Văn Cao, Lưu Hữu Phướ
Năm 1952, Diệp Minh Tuyền theo cha về Phân liên khu miền Tây ở rừng U Minh. Ông theo học tại trường tiểu học kháng chiến xã Biển Bạch và tham gia đội văn nghệ của nhà trường. Ông cũng tham gia phụ việc làm nhân viên ấn loát thuộc Phòng Chính trị Bộ tư lệnh miền Tây Nam Bộ. Cũng ở đây, Diệp Minh Tuyền có được gặp gỡ nghệ sĩ Quốc Hương.
Năm 1954 Diệp Minh Tuyền tập kết ra Bắc. Ông học ở trường học sinh miền Nam và tham gia ban văn nghệ trường Học sinh miền Nam số 14, một ban văn nghệ khá nổi tiếng ở Hải Phòng. Thời gian này ông viết ca khúc đầu tay "Em bé miền Nam", rồi tiếp theo đến "Chiều Hạ Long".
Mặc dù dự định thi vào trường Âm nhạc Việt Nam, nhưng nghe lời của cha, năm 1961 ông thi vào Đại học Tổng hợp Văn. Ông tiếp tục chơi nhạc và làm thơ, năm 1962, bài thơ đầu tiên của ông được đăng trên số Xuân của báo Phụ nữ. Từ 1965 đến 1968, ông về làm việc ở tổ lý luận phê bình Viện Văn học Việt Nam. Thơ của ông được nhiều người phổ nhạc như bài "Con đường có lá me bay", "Mùa chim én bay" (được Hoàng Hiệp phổ nhạc), "Màu cờ tôi yêu" (được Phạm Tuyên phổ nhạc)... Ông đã xuất bản được 6 tập thơ.
Sau năm 1975, Diệp Minh Tuyền công tác tại Hội Văn học Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1978, ca khúc "Tình biển" của ông được nhiều người biết đến qua tiếng hát Nhã Phương. Khi chiến tranh Tây Nam bùng nổ năm 1979, Diệp Minh Tuyền viết "Bài ca tạm biệt", tiếp theo "Bài ca người lính, Nếu em là bờ xa, Bài ca thành phố ban chiều, Giã từ cành phượng vĩ"... Và đặc biệt là "Hát mãi khúc quân hành" được giải Nhất cuộc thi viết về lực lượng vũ trang năm 1984. Khoảng cuối thập niên 1990, ca khúc "Tình cờ" của ông được giới trẻ yêu thích qua tiếng hát ca sĩ Phương Thanh.
Diệp Minh Tuyền từng giữ chức Phó Tổng thư ký Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh kiêm Tổng biên tập Tạp chí Sóng nhạc. Ông còn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh. Ông còn được nhiều giải thưởng âm nhạc của Thành phố Hồ Chí Minh và là tác giả nhiều bài phê bình âm nhạc, văn hoá.
Ông mất ngày 21 tháng 11 năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh do bị tai biến mạch máu não.
Một số tác phẩm.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Lưu Bách Thụ (1914-1979) là một nhạc sĩ Việt Nam, tác giả nhạc phẩm "Con thuyền xa bến".
Lưu Bách Thụ sinh ngày 1 tháng 10 năm 1914 tại xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Trước 1945, ông làm công nhân nhà máy in và đã có sáng tác "Con thuyền xa bến" nổi tiếng. Ca khúc này vẫn được các ca sĩ của Sài Gòn trước 1975 trình diễn và thu âm.
Khi Cách mạng tháng Tám thành công, Lưu Bách Thụ tham gia lực lượng tự vệ và sau đó gia nhập Trung đoàn Thủ đô. Cũng chính trong thời gian này, ông viết ca khúc "Biết ơn Cụ Hồ", một ca khúc quen thuộc trong những ngày đầu Cách mạng tháng Tám.
Chiến tranh Việt - Pháp bùng nổ, Lưu Bách Thụ theo các đơn vị quân đội đi khắp các địa phương của hai tỉnh Lào Cai và Nghĩa Lộ (Hoàng Liên Sơn sau này). Ông viết một số ca khúc như "Giải phóng Lào Cai, Tây Bắc chiến thắng"... và được phổ biến trong thời gian kháng chiến.
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Lưu Bách Thụ về công tác tại Ban Biên tập Văn nghệ Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Trong những năm chiến tranh Việt Nam, ông viết một số bản như "Tay em kén chọn, Tuổi xuân với rừng xanh, Cô thợ nề Thủ đô"...
Lưu Bách Thụ cũng viết những ca khúc dành cho thiếu nhi như "Vâng lời Bác Hồ", hay "Em làm kế hoạch nhỏ" với lời của Phạm Tuyên.
Ông mất năm 1974.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Phạm Trọng Cầu (1933-1998) là một nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng, tác giả ca khúc "Mùa thu không trở lại" và bài hát thiếu nhi "Cho con". Ông còn có bút danh Phạm Trọng, được ông sử dụng tại miền Nam trước năm 1975.
Tiểu sử sự nghiệp.
Phạm Trọng Cầu sinh ngày 25 tháng 12 năm 1935 tại Phnôm Pênh, Campuchia. Nguyên quán của ông ở Hà Nội (có tài liệu ghi là Nghệ An). Ông là con của trắc địa sư Phạm Văn Lạng và bà Đào Thị Ngọc Thư, vốn người ở Hà Nội sau đổi sang làm việc ở Campuchia. Tuy ông sống hết tuổi thơ ở đây nhưng âm nhạc Campuchia cũng không ghi dấu ấn nào trong những sáng tác của ông sau này.
Năm 1943, gia đình Phạm Trọng Cầu trở về Sài Gòn. Theo một bài viết khác thì năm 1939 cha mẹ ông bị trục xuất ra khỏi Campuchia, vì lý do chính trị. Ở Sài Gòn, mẹ ông mở nhà hàng ca nhạc mang tên Aristo. Tại đây, Phạm Trọng Cầu được tiếp xúc với những ban nhạc người Philippines và một số ca sĩ, nhạc sĩ danh tiếng Việt Nam, trong đó có Trần Văn Khê, Phạm D
Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh, gia đình ông trở lại Sài Gòn, rồi lại xuống Bến Lức, về miền Tây Nam Bộ, đến tận Vũng Liê, tham gia đội Tuyên truyền xung phong huyện.
Năm 1948, Phạm Trọng trở lại Sài Gòn, tham gia phong trào xuống đường đấu tranh của sinh viên học sinh. Một thời gian sau, ông thoát ly và vào bộ đội tiểu đoàn 308, rồi trung đoàn Cửu Long. Sau đó ông bị thương phải cưa chân, mẹ ông đã tìm cách đưa ông vào Sài Gòn cứu chữa. Chính thời gian này ông viết ca khúc đầu tay "Trường làng tôi".
Năm 1953, Phạm Trọng Cầu vào học tại trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn. Sau khi tốt nghiệp, năm 1962, ông sang Pháp thi vào Nhạc viện Paris ("Conservatoire Supérieur de Musique de Paris"). Và tại Paris, Pham Trọng Cầu đã viết bản "Mùa thu không trở lại" nổi tiếng.
Năm 1969, ông về nước giảng dạy tại trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, tham gia các đoàn văn nghệ như Nguồn Sống, sinh viên Phật tử Vạn Hạ, ông bị bắt và bị giam cho đến 1975.
Sau ngày thống nhất đất nước, Pham Trọng Cầu về công tác ở Hội Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, và là ủy viên Hội Âm nhạc thành phố. Từ năm 1976, ông đã cùng với một số nhạc sĩ khác như Trịnh Công Sơn, Trần Long Ẩn, Miên Đức Thắng, Hoàng Hiệp, Nguyễn Ngọc Thiện, Trương Thì
Pham Trọng Cầu còn cùng với nhạc sĩ Nguyễn Nam (Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh) khuấy động phong trào ca hát thiếu nhi, thành lập các nhóm hát. Bản thân ông cũng có nhiều ca khúc thiếu nhi thành công như "Nhịp cầu tre, Em nhớ mãi một ngày"... đặc biệt là "Cho con". Tuy tốt nghiệp Nhạc viện Paris nhưng ông không có nhiều sáng tác khí nhạc, gia tài của ông chủ yếu là ca khúc.
Ông mất năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm Trọng Cầu có cho phát hành 1 tuyển tập nhạc "12 bài ca quen thuộc trên đất Pháp" do Nhà xuất bản Đăng Quang xuất bản tại Sài Gòn năm 1970. Dưới đây là bản danh sách một số tác phẩm của ông:
|
Chiếu thư đánh Chiêm
Chiếu thư đánh Chiêm là một văn bản chữ Hán trong lịch sử Việt Nam, do Hoàng đế Lê Thánh Tông soạn thảo và thông báo cho nhân dân Đại Việt để chuẩn bị lực lượng tấn công vương quốc Chiêm Thành vào năm 1471.
Bối cảnh lịch sử.
Vào cuối thế kỷ 15, thời kỳ đầu Lê Thánh Tông trị vì Đại Việt, quốc gia này có lãnh thổ cực nam là châu Hóa, tiếp giáp với vương quốc Chiêm Thành. Đây là vùng lãnh thổ bất ổn, thỉnh thoảng bị quân Chiêm Thành tấn công để đòi lại các châu mà quân Việt đã chiếm của Chiêm Thành từ thời nhà Trần. Vua Chiêm Thành lúc đó là Trà Toàn có những biểu hiện cấu kết với nhà Minh định trong đánh ra, ngoài đánh vào Đại Việt. Trà Toàn vốn cướp ngôi không danh chính và có những thái độ khinh thường và nhục mạ triều đình Đại Việt, nhục mạ sứ thần Đại Việt và cười cợt "Thiên tử" Đại Việt có ý định làm lu mờ "Thiên tử" Trung Hoa (xem chú thích 7 và 8).
Năm 1470, Lê Thánh Tông đã quyết định chinh phạt, sáp nhập lãnh thổ Chiêm Thành vào Đại Việt. Ông bá cáo với dân chúng trong nước biết một cách công khai và rõ ràng về lý do xuất quân, bằng chiếu thư đánh Chiêm. Ông thân chinh cầm quân tiến vào đất Chiêm Thành.
Tháng 3 năm 1471, kinh đô Chà Bàn (Vijaya) của người Chăm thất thủ. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, hơn 30.000 người Chăm bị bắt làm nô lệ, trong đó có vua Trà Toàn; 40.000 lính Chăm đã tử trận.
Sau chiến thắng, Lê Thánh Tông thực hiện chính sách mới, bình định và Việt hóa dân chúng người Chăm và sáp nhập lãnh thổ Chiêm Thành vào Đại Việt. Tháng 6 năm 1471, lãnh thổ Chiêm Thành được lập thành thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa.
Dưới đây là bản dịch của chiếu thư đánh Chiêm, đọc trước 26 vạn quân, vào ngày xuất quân mồng 6 tháng 11 âm lịch năm Canh Dần (tức ngày 28 tháng 11 năm 1470).
Bản dịch trích từ bản dịch Đại Việt Sử ký Toàn thư:
|
Air Force One hay Không lực Một là số hiệu điều khiển không lưu được dùng để gọi bất kì một chiếc phi cơ phản lực nào của Không lực Hoa Kỳ đang chuyên chở tổng thống của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Dù vậy, tên này được dùng chủ yếu cho hai chiếc phản lực đời Boeing 747-200B, một chiếc máy bay dân sự được thiết kế lại theo cách quân sự, với số đuôi là "28000" và "29000", tên chính thức là Boeing VC-25A được Không lực Hoa Kỳ sử dụng. Dùng một cách chính xác "Không lực Một" chỉ được dùng để chỉ chiếc máy bay nào đang chuyên chở tổng thống, thuật ngữ này được dùng phổ biến để chỉ một trong hai chiếc máy bay kể trên được dùng và bảo quản bởi Không lực Hoa Kỳ. Chuyên cơ Không lực Một là một biểu tượng nổi bật tượng trưng cho sức mạnh và quyền lực của các Tổng thống Hoa Kỳ.
Việc sử dụng chuyên cơ để di chuyển tổng thống Mỹ, phát sinh ra vào năm 1943, các quan chức của Không quân Hoa Kỳ, bắt đầu lo lắng về việc tổng thống thường xuyên sử dụng máy bay dân sự để di chuyển. Một chiếc C-87 Liberator Express lúc ấy đã được sửa đổi và điều chỉnh được chọn làm chuyên cơ cho tổng thống, nhưng đã bị Cơ quan Mật Vụ Hoa Kỳ từ chối vì lý do an toàn, cũng như lịch sử không an toàn của chiếc máy bay này. Thay vào đó, một chiếc C-54 Skymaster đã được sửa đổi và biến thành chuyên cơ mới cho tổng thống, chiếc máy bay này có biệt danh là "Sacred cow." Chiếc máy bay này đã được sử dụng để vận chuyển tổng thống Franklin D. Roosevelt đến dự Hội nghị Yalta, vào năm 1945, và tiếp tục sử dụng thêm hai năm nữa cho tổng thống Harry S. Truman.
Tên gọi "Không lực Một" được nghĩ ra vào năm 1953, sau một sự cố, khi mà một chiếc Lockheed Constellation, đang chở tổng thống Dwight D. Eisenhower đi vào cùng một không phận dành cho máy bay thương mại, và sử dụng cùng một tên gọi điều khiển không lưu.
Đã có rất nhiều loại máy bay đã được sử dụng làm Không lực Một, kể từ khi tổng thống có chuyên cơ riêng. Bắt đầu từ hai chiếc Lockheed Constellation vào cuối những năm 1950, có tên gọi "Columbine II" và "Columbine III". Sau đó thêm hai chiếc Boeing 707 cũng đã được ra mắt vào những năm 1960, và 1970. Và bắt đầu từ năm 1990, chiếc Boeing VC-25 được sử dụng, đây là một chiếc máy bay có khung của 747-200B, nhưng nội thất và tiện nghi được làm khác so với những gì máy bay này thường có.
Không lực Một hiện tại được trang bị hệ thống thông tin liên lạc và an ninh cực kỳ hiện đại và có tính bảo mật tuyệt đối, giúp tổng thống Mỹ có thể điều hành công việc bình thường khi đang ở độ cao 13 km. Trên máy bay có 87 đường điện thoại khác nhau, trong đó có 28 đường tuyệt mật được mã hóa. Nó có thể được coi là một trung tâm chỉ huy di động cho tổng thống trong trường hợp có xảy ra một cuộc tấn công vào nước Mỹ. Chuyên cơ của Tổng thống Mỹ còn có khả năng phòng thủ cao nhờ các thiết bị chống tên lửa gắn kèm, cũng như chống lại xung điện từ, cũng như chống lại bom nguyên tử.
"Không lực Một" thường được sử dụng với "Marine One", máy bay trực thăng làm nhiệm vụ chuyên chở tổng thống tới sân bay trong trường hợp di chuyển bằng xe là không phù hợp.
Tổng thống cũng có thể sử dụng chiếc C-32, nếu điều kiện hoặc sân bay quá nhỏ để một chiếc lớn như Boeing 747 hạ cánh.
Trong khi đó, chiếc máy bay chuyên chở phó Tổng thống Hoa Kỳ được gọi là Không lực Hai, thường là một chiếc C-32.
Không quân Hoa Kỳ, năm 2016 đã thông báo rằng Boeing sẽ là nhà thầu cho chiếc chuyên cơ mới của tổng thống dựa trên khung của Boeing 747-8. Chiếc chuyên cơ dự kiến sẽ ra mắt lần đầu vào khoảng năm 2023.
Tổng thống Theodore Roosevelt là tổng thống Mỹ đầu tiên bay trên máy bay, vào ngày 11 tháng 10 năm 1910, trên một chiếc máy bay của anh em nhà Wright, tại một vùng đất gần St. Louis, Missouri. Chỉ có điều ông đã hết nhiệm kỳ khi ông bắt đầu bay. Chuyến bay của ông chỉ là một chuyến bay ngắn ở một hội chợ, nhưng nó cũng khởi đầu cho việc di chuyển bằng hàng không của tổng thống.
Trước khi Thế Chiến Thứ Hai, các tổng thống Mỹ rất ít khi di chuyển ra nước ngoài hoặc xuyên quốc gia. Việc thiếu các thể loại thông tin liên lạc, cũng như các lựa chọn di chuyển rất chậm đã khiến cho việc đi xa của tổng thống là gần như không thể, nó khiến cho tổng thống tốn rất nhiều thời gian và cũng cách ly tổng thống ra khỏi thủ đô Washington D.C. Tổng thống chỉ thường dùng tàu hỏa để di chuyển tới các khu vực lân cận. Tới cuối những năm 1930, với việc ra mắt các loại máy bay như Douglas DC-3, nhiều người dân Mỹ đã xem việc di chuyển bằng máy bay là phương tiện vận chuyển tốt hơn. Việc máy bay làm từ kim loại, các động cơ tân tiến, các phương tiện liên lạc, và định vị tiên tiến đã giúp cho việc di chuyển bằng máy bay an toàn hơn và tiện lợi hơn. Nhiều người dân, cũng như quan chức chính phủ, đã sử dụng các hãng hàng không, thay vì tàu hỏa nhiều hơn.
Tổng thống Franklin D. Roosevelt là tổng thống Mỹ đầu tiên bay trên máy bay khi vẫn còn trong nhiệm kỳ. Máy bay đầu tiên được sử dụng cho tổng thống là một chiếc Douglas Dolphin được chế tạo vào năm 1933. Chiếc máy bay đã được cải tiến tân trang hơn cho bốn hành khách, và một góc phòng ngủ nhỏ. Chiếc máy bay được sử dụng cho tổng thống từ năm 1933 đến năm 1939. Thế nhưng không có báo cáo nào cho biết rằng, tổng thống đã từng di chuyển trên máy bay này. Trong lúc Thế Chiến Thứ Hai đang diễn ra, Roosevelt đã di chuyển trên một chiếc Boeing 314, bay bởi phi hành đoàn của hãng Pan Am, đến dự Hội nghị Casablanca năm 1943 ở Maroc. Chuyến bay đã bay đến 5,500 dặm (8,850 km) trong 3 chuyến bay. Mối đe dọa từ tàu ngầm của Đức ở biển Đại Tây Dương đã khiến cho việc di chuyển bằng hàng không là sự lựa chọn đúng đắn.
Lo lắng việc sử dụng các hãng hàng không thương mại làm phương tiện vận chuyển cho tổng thống, lãnh đạo của Không quân thuộc Quân đội Hoa Kỳ(trước khi Không quân Hoa Kỳ được thành lập), đã đặt hàng một chiếc máy bay chuyên dụng để vận chuyển tổng thống. Chiếc đầu tiên được đề xuất là một chiếc C-87A được đưa ra để vận chuyển tổng thống khắp mọi nơi trên thế giới, và cũng đã được cải tiến ngay lập tức. Thế nhưng, sau khi xem xét lịch sử đầy tai tiếng của chiếc máy bay này, Mật Vụ Hoa Kỳ đã thẳng thừng từ chối để dùng chiếc máy bay này để vận chuyển tổng thống. Chiếc C-87 là biến thể của chiếc Consolidated B-24 Liberator, được cho là sẽ gây ấn tượng cho các chiến đấu cơ của kẻ thù, và cho các ngoại bang mà chiếc máy bay này đến thăm. Chiếc C-87 cuối cùng thì chỉ được dùng để vận chuyển các quan chức của tổng thống. Nó cũng đã chở Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ Eleanor Roosevelt lúc ấy đến thăm các quốc gia Mỹ La-tin vào tháng Ba, năm 1944. Cuối cùng, chiếc máy bay này cũng đã bị phá dỡ vào năm 1945.
Sở Mật Vụ Hoa Kỳ cuối cùng cũng chọn và cải tiến một chiếc Douglas C-54 Skymaster cho việc đi lại của tổng thống. Chiếc máy bay mới được gọi là VC-54C, có biệt danh là Sacred Cow (tạm dịch: Bò linh thiêng), gồm có một khu vực để ngủ, các điện thoại, và radio, cũng như một thang máy để nâng đỡ tổng thống Roosevelt người bị bệnh bại liệt, phải ngồi xe lăn lên máy bay. Sau khi được cải tiến xong, tổng thống Roosevelt chỉ duy nhất một lần dùng nó trước khi qua đời để bay đến Hội nghị Yalta, vào tháng 2, năm 1945.
Sau khi qua đời vào tháng 4, năm 1945, Phó tổng thống lúc ấy là Harry S. Truman đã lên nắm quyền. Một dự luật mới đã tạo ra Không quân Hoa Kỳ, Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947, đã được ký thành luật khi Truman đang ở trên chiếc VC-54C. Truman sau đó, đã thay chiếc C-54 bằng một chiếc DC-6 đã cải tiến, và gọi nó là "Independence" (tên của quê hương của Truman ở Missouri). Đây là chiếc máy bay đầu tiên được trang trí ngoại thất có hình một con đại bàng đầu trắng ở phần mũi.
Tên gọi "Air Force One", hay Không lực Một đã được tạo ra vì lý do an ninh trong thời kỳ của tổng thống Dwight D. Eisenhower. Tên gọi này được hình thành từ một sự cố năm 1953, khi mà một chiếc máy bay có cùng số hiệu không lưu Eastern Airlines 8610, và Air Force 8610, khi ấy đang chở tống thống. Cả hai chiếc máy bay đã đi vào cùng một không phận với nhau, sau sự cố, tên gọi không lưu "Air Force One" đã được giới thiệu. Chuyến bay đầu tiên sử dụng tên gọi này là vào năm 1959.
Tổng thống Eisenhower cũng đã ra mắt bốn máy bay cánh quạt vào phục vụ cho đội bay tổng thống. Các nhóm phi cơ này bao gồm hai chiếc Lockheed C-121, có tên gọi là "Columbine II" và "Columbine III". hai chiếc khác là Aero Commander cũng đã được thêm vào đội bay, và có một điểm khác biệt lớn là máy bay nhỏ nhất từng được dùng làm Không lực Một. Eisenhower cũng đã nâng cấp các chiếc máy bay bằng cách thêm một chiếc điện thoại không đối đất và máy đánh chữ không đối đất.
Đến cuối những năm cuối nhiệm kỳ của Eisenhower, 1958, Không quân Hoa Kỳ đã thêm ba chiếc phản lực Boeing 707 (gọi là VC-137, có số đăng ký là SAM 970, 971, và 972) vào đội bay. Eisenhower đã trở thành vị tổng thống đầu tiên sử dụng VC-137 trong chuyến công du "Bay đến Hòa bình" của ông, từ ngày 3 tháng 12, đến ngày 22 tháng 12 năm, 1959. Ông đã thăm 11 quốc gia Châu Á, bay đến 22.000 dặm (35,000 km) trong vòng 19 ngày, nhanh hơn gấp hai lần chiếc Columbine của ông.
Dưới thời của tổng thống John F. Kennedy, việc công du bằng máy bay của tổng thống đã chính thức đi vào thời kỳ phi cơ phản lực. Ông đã sử dụng các máy bay từ thời Eisenhower để di chuyển đến các nước Canada, Pháp, Áo, và Anh. Nhưng vào thang 10 năm 1962, chính quyền Kennedy, đã mua một thêm chiếc Boeing C-137, một chiếc Boeing 707 được cải tiến để bay xa hơn - Special Air Mission (SAM) 26000 (Nhiệm vụ Bay Đặc biệt 26000)
Lúc ấy Không quân Hoa Kỳ đã tự chọn và muốn chọn sơn một màu sơn cho máy bay là: Màu đỏ và vàng kim loại, với tên của quốc gia viết bằng chữ vuông góc. Kennedy nghĩ rằng là máy bay sẽ nhìn quá lộng lẫy, và, với lời khuyên từ vợ là, Jacqueline Kennedy, ông đã tìm gặp một nhà thiết kế công nghiệp Mỹ gốc Pháp là Raymond Loewy nhằm tìm kiếm sự trợ giúp về màu sơn cũng như nội thất của máy bay mới. Loewy đã gặp tổng thống và việc tìm hiểu của ông đã dẫn ông đến Nhà Lưu trữ Quốc gia, nơi ông đã nhìn vào bản copy đầu tiên của Bản tuyên ngôn độc lập, và nhìn thấy tên của quốc gia được cách rời ra rất nhiều, và sử dụng một font chữ gọi là Caslon. Cuối cùng ông đã thiết kế, để lô ra một khúc kim loại đã được đánh bóng ở phần đuôi, và hai màu, xanh dương xám tượng trưng cho nước cộng hòa, và một màu xanh dương nhạt, tượng trưng cho tương lai và hiện tại. Con dấu tổng thống Hoa Kỳ cũng được thêm vào hai bên của phần thân gần mũi, một lá cờ Hoa Kỳ ở trên đuôi, và hai bên có ghi dòng chữ "United States of America" (Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ) được viết hoa hết tất cả. Việc làm của Loewy đã nhận được sự tuyên dương và tán thành từ báo chí, cũng như tổng thống. Màu sơn này của Loewy sau đó cũng được sơn lên chiếc VC-25 sau này vào năm 1990.
SAM 26000 đã phục vụ từ năm 1962 đến năm 1998, phục vụ từ thời tổng thống Kennedy đến thời tổng thống Bill Clinton. Ngày 22 tháng 11, năm 1963, chiếc SAM 26000 này chính là chiếc máy bay đã chở tổng thống Kennedy đến Dallas, Texas,nó đã được sử dụng làm phong nền khi tổng thống đang chào đón người dân ra đón ông tại Sân bay Dallas' Love Field. Trưa cùng ngày hôm đó, Kennedy đã bị ám sát, và phó tổng thống Lyndon Johnson đã lên và tuyên thệ nhậm chức tổng thống trên chiếc SAM 26000. Dưới sự yêu cầu từ Johnson, chiếc SAM 26000 này đã chở thi hài Kennedy về Washington. Một thập kỷ sau, SAM 26000, cũng đã đưa thi hài của Johnson về quê hương Texas sau quốc tang của ông ở Washington.
Lyndon B. Johnson đã sử dụng SAM 26000 để công du rất nhiều khắp quốc gia, cũng như dùng nó để đi thăm lính Mỹ tại Miền Nam Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam. SAM 26000 cũng đã sử dụng bởi tổng thống Nixon để tạo nên rất nhiều kỷ lục thăm viếng, như chuyến thăm lịch sử của ông đến Trung Quốc năm 1972, và một năm sau để đến thăm Liên Xô, cả hai chuyến thăm đều là lần đầu tiên của một vị tổng thống Hoa Kỳ. Nixon đã gọi chiếc máy bay này là "Linh hồn của năm 76" nhân dịp kỷ niệm hai trăm năm của Hoa Kỳ, logo ấy đã được sơn hai bên mũi của máy bay.
SAM 26000 được thay thế vào tháng 12, năm 1972 bởi một chiếc VC-137 khác, Special Air Mission 27000, nhưng SAM 26000 vẫn được giữ lại làm dự phòng cho đến khi nó về hưu vào năm 1998. SAM 26000 được đem về trưng bày ở Bảo tàng Không quân quốc gia Hoa Kỳ ở Căn cứ Không quân Wright-Patterson, ở tiểu bang Ohio. Richard Nixon là tổng thống đầu tiên sử dụng SAM 27000, và chiếc máy bay mới này đã phục vụ cho tất cả các đời tổng thống tiếp theo cho đến khi nó bị thay thế bởi hai chiếc VC-25 (SAM 28000 và SAM 29000) vào năm 1990.
Sau khi thông báo rằng ông sẽ từ chức tổng thống, Nixon đã lên chiếc SAM 27000(với tên gọi là "Air Force One") để về lại quê nhà của ông ở California. Đại tá Ralph Albertazzie, phi công lúc ấy cho Không lực Một, nhận được tin Gerald Ford đã tuyên thệ nhậm chức tổng thống, phải thay đổi tên gọi không lưu thành SAM 27000, cho biết rằng không có tổng thống nào trên máy bay. Trên bầu trời thành phố Jefferson, Missouri, Albertazzie đã điện đàm: "Kiểm soát Không lưu Kansas City, đây từng là Không lực Một (Air Force One). Xin vui lòng có thể đổi tên gọi của chúng tôi thành SAM 27000?" và nhận được tín hiệu trả lời rằng: "Đã rõ, SAM 27000. Chúc may mắn với ngài tổng thống."
SAM 27000 bay lần cuối là Không lực Một, là vào ngày 29 tháng 8, năm 2001 khi ấy đã chở tổng thống George W. Bush từ San Antonio đến Waco, Texas. Sau đó, chính thức ngừng hoạt động, nó sau đó bay đến Sân bay Quốc tế San Bernardino ở California. Nó khi ấy đã bị tháo dỡ và chở đến Thư viện Tổng thống Ronald Reagan, ở Simi Valley, California, nơi mà nó được lắp ráp lại và trưng bày vĩnh viễn.
Trong hai nhiệm kỳ của Ronald Reagan không thấy sự thay đổi lớn nào đến Không lưc Một, việc chế tạo ra phiên bản dành cho tổng thống của Boeing 747 bắt đầu trong khi ông còn là tổng thống. Không quân Hoa Kỳ đã đưa ra Đề nghị Yêu cầu Đề Xuất vào năm 1985 cho hai chiếc máy bay thân rộng với động cơ tối thiểu là ba, cũng như tầm bay không cần tiếp nhiên liệu tới 6,000 dặm (9,650 km). Boeing với chiếc 747 và McDonnell Douglas với chiếc DC-10 đã gởi tới đề xuất, và chính quyền Reagan đã chọn đặt hàng hai chiếc Boeing 747 giống nhau để thay thế chiếc 707 đang già đi mà ông đang sử dụng. Nội thất được thiết kế bởi Đệ nhất Phu nhân Nancy Reagan và làm liên tưởng đến vùng Tây Nam Hoa Kỳ. Chiếc đầu tiên trong hai chiếc, có mã là VC-25A, đã được giao vào năm 1990, khi ấy George H. W. Bush đang nắm quyền. Có một sự chậm trễ nhỏ vì cần phải làm thêm việc để thiết kế chiếc máy bay chống lại xung điện từ (EMP - Electromagnetic Pulse).
Chiếc VC-25 được trang bị hai đường dây điện thoại bảo mật và không bảo mật, cũng như hệ thống liên lạc bằng máy tính, giúp tổng thống có khả năng làm nhiệm vụ khi đang bay, trong trường hợp có một cuộc tấn công vào nước Mỹ.
Đội bay vận chuyển tổng thống được vận hành bởi Đoàn bay số 89, tại Căn cứ Không quân Andrews, gần Camp Springs, Maryland cách Washington khoảng 15 dặm (24 km), tổng thống thường dùng trực thăng Marine One để bay từ và đến Nhà Trắng ở sân bay này.
Không lưc Một thường không có chiến đấu cơ hộ tống bay theo khi bay trong không phận Hoa Kỳ, nhưng điều này đã từng xảy ra. Vào tháng 6 năm 1974, khi tổng thống Nixon đang trên đường bay đến dừng chân ở Syria, một chiến đấu cơ Syria đã chặn lại đường bay của chuyên cơ với mục đích làm nhiệm vụ hộ tống. Nhưng, tổ bay của Không lực Một, đã không được thông báo trước, và kết quả là đội bay phải bay với biện pháp né xa chiếc chiến đấu cơ ấy, bao gồm cả chúi mũi.
Sự kiện 11 tháng 9 và hiện tại.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, tổng thống George W. Bush trong lúc đang thăm trường Tiểu học Emma E. Brooker ở Sarasota, Florida thì bị gián đoạn. Sau khi chiếc thứ hai, đâm vào tòa tháp phía Nam ở thành phố New York, thì ông đã cất cánh từ Sân bay Quốc tế Sarasota-Bradenton trên chiếc VC-25 cùng với Đại tá Mark Tillman, chỉ huy của Không lực Một lúc ấy. Một lúc thì trạm kiểm soát không lưu cảnh báo về việc có một chiếc máy bay thương mại bay rất gần Không lực Một, và không trả lời tín hiệu không lưu. Mark nói: "Khi mà chúng tôi bay ngang qua Gainesville, FL, chúng tôi nhận được tin từ Trung tâm kiểm soát không lưu Jacksonville. Họ nói rằng 'Không lực Một, bạn có một chiếc máy bay đằng sau bạn và ở trên cao hơn bạn và hiện đang hạ độ cao dần, còn chúng tôi thì không tài nào liên lạc được với chiếc máy bay ấy cả - họ đã ngắt tín hiệu.' Và ngay lúc đó, tôi nghĩ rằng ai đó đang bám theo chúng tôi ở Sarasota, họ thấy chúng tôi cất cánh, và cứ giữ độ cao rồi bám theo chúng tôi đến thời điểm ấy. Chúng tôi lúc đó cũng không biết bọn khủng bố có khả năng như thế nào cả."
Để đối phó lại mối đe dọa này, Đại tá Mark Tillman nói rằng ông đã bay về hướng Vịnh Mexico để xem chiếc máy bay ấy có bám theo nữa không. Chiếc máy bay ấy hóa ra tiếp tục bay tiếp đoạn đường bay của nó, và Tillman giải thích rằng chiếc máy bay ấy đã mất đi hộp tín hiệu (transponder), và phi công trên chiếc máy bay ấy đã không chuyển tín hiệu ấy qua một tần số khác. Hộp tín hiệu là bộ phận trên máy bay có nhiệm vụ phát ra tín hiệu nhận dạng máy bay trên màn hình kiểm soát không lưu. Một mối đe dọa nữa lại một lần nữa xuất hiện, một thông báo nói rằng một cuộc tấn công nữa sắp xảy ra tới Không lực Một. "Chúng tôi nhận được thông báo từ phó tổng thống và nhân viên rằng 'Tiếp theo là Angel.' Angel là biệt danh bí mật dành cho Không lực Một. Một khi chúng tôi đã bay ra vùng Vịnh [Mexico] thì họ gởi thông báo ấy cho chúng tôi, ngay lúc đó tôi gọi và yêu cầu một chiếc chiến đấu cơ để hỗ trợ. Nếu có một chiếc máy bay chở khách nữa là một phần của việc tấn công, thì sẽ rất tốt nếu có một chiếc chiến đấu cơ đi trước và lo phần đó cho chúng tôi." Một lúc sau, trạm kiểm soát không lưu nói với Tillman rằng Cục hàng không Liên bang Hoa Kỳ (FAA) đã đóng cửa toàn bộ không phận Hoa Kỳ, và Không lực Một là chiếc máy bay duy nhất lúc này đang bay trên bầu trời nước Mỹ. Lúc đó, Tillman nói rằng kế hoạch muốn đưa tổng thống về trở lại Washington D.C đã bị hủy bỏ và thay vào đó hạ cánh xuống Căn cứ Không quân Barksdale, Louisiana và Căn cứ Không quân Offutt, Nebraska, nơi mà tổng thống đã có một bài phát biểu. Tillman nói rằng lý do là vì lo lắng về mối đe dọa, Không lực Một có thể bị tấn công khi đang bay trở về Căn cứ Không quân Andrews.Sau khi dừng tại những điếm đến khác nhau, cuối cùng tổng thống đã bay trở về Washington. Ngày hôm sau, các quan chức tại Nhà Trắng và Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã giải thích rằng tổng thống Bush làm như vậy bởi vì đã có "những thông tin chính xác và đáng tin cậy về việc Nhà Trắng và Không lực Một cũng là những mục tiêu của bọn khủng bố." Nhà Trắng sau đó cũng không thể xác nhận các bằng chứng về mối đe dọa đến Không lực Một, và một cuộc điều tra đã tìm thấy rằng mối đe dọa đó là do những hiểu lầm trong việc đưa truyền thông tin.
Nhiều tổng thống đã mời các lãnh đạo các quốc gia để đi cùng trên Không lực Một nhiều lần, ví dụ như tổng thống Nixon mời Tổng bí thư Liên Xô Leonid Brezhev đi cùng ông đến California từ Washington D.C. vào tháng 6, năm 1973. Năm 1983, tổng thống Reagan và Nữ hoàng Elizabeth II đã đi thăm Tây Duyên hải Hoa Kỳ trên Không lực Một. Tháng 3 năm 2012, tổng thống Obama đã mời Thủ tướng Anh David Cameron đi đến một trận bóng rổ ở Ohio trên Không lực Một.
Khi tổng thống Bush hết nhiệm kỳ vào năm 2009, một chiếc VC-25 đã được dùng để chở ông về Texas. Chiếc máy bay này không có tên gọi Air Force One, hay Không lực Một, mà là Special Air Mission 28000 (viết tắt SAM 28000), vì không có tổng thống nào trên chiếc máy bay. Việc tương tự cũng xảy ra với cựu tổng thống Ronald Reagan và Bill Clinton.
Vào ngày 27 tháng 9 năm 2009, một chiếc VC-25 đã bay vòng ở độ cao rất thấp tại thành phố New York với mục đích để chụp ảnh cũng như huấn luyện, và đã làm sợ hãi người dân vì làm liên tưởng đến vụ tấn công khủng bố 11 tháng 9 cũng tại chính thành phố này. Vụ việc tranh cãi đã dẫn đến việc giám đốc Louis Caldera của Văn phòng Quân sự Nhà Trắng, có mục đích cung cấp hỗ trợ quân sự cho Nhà Trắng phải từ chức.
Không quân Hoa Kỳ muốn hai chiếc VC-25A được thay thế, vì chiếc máy bay không chỉ đang già đi mà còn rất tốn kém để vận hành (khoảng 200,000 USD / giờ bay). Trung tâm Chỉ huy Di động Hàng không thuộc Không quân Hoa Kỳ đã được phân công nhiệm vụ tìm kiếm máy bay mới để thay thế, có thể là Boeing 747-8, hoặc là Airbus A380. Ngày 7 tháng 1 năm 2009, Chỉ huy Lực lượng Không quân Hoa Kỳ, với nhiệm vụ tìm kiếm chuyên cơ thay thế mới đã phát hành thông báo tìm kiếm một nhà cung cấp cho đội bay thế hệ mới của tổng thống, dự kiến ra mắt vận hành vào năm 2017. Tới ngày 28 tháng 1 năm 2009, là ngày hết hạn cho thông báo, với việc Công ty Phòng thủ Hàng không và Vũ trụ châu Âu (Airbus) nói rằng sẽ không tham gia vào việc làm máy bay mới cho tổng thống, và để lại cho Boeing làm nhà cung cấp duy nhất với có thể là chiếc 747-8 hoặc Boeing 787. Ngày 28 tháng 1 năm 2015, Không quân Hoa Kỳ thông báo đã chọn mua 3 chiếc 747-8 làm chiếc máy bay tiếp theo cho tổng thống, và Boeing đã chính thức làm nhà thầu, bắt đầu làm chiếc máy bay mới vào ngày 29 tháng 1 năm 2016.
Các loại máy bay khác của tổng thống.
Dưới thời của tổng thống Johnson, Không quân Hoa Kỳ đã mua một chiếc Beechcraft King Air B90 và được gọi là VC-6A. Chiếc máy bay được dùng để chở tổng thống Johnson giữa Căn cứ không quân Bergstrom, gần Austin, Texas để bay tới trang trại của gia đình ở Johnson City, Texas, và cũng từng một lần đưa tổng thống đến Princeton, New Jersey.
Hãng hàng không United là hãng hàng không thương mại duy nhất, năm 1973, đã vận hành Executive One (tương tự như Air Force One, nhưng mà vận hành bởi một công ty chứ không phải bởi Không quân) để bay tổng thống Nixon như một hành khách từ Sân bay Washington Dulles để đến Sân bay quốc tế Los Angeles. Nhân viên của ông giải thích rằng làm như vậy nhằm tiết kiệm tiền nhiên liệu bằng cách không phải bay bằng chiếc 707 (VC-137) của Không quân.
Ngoài phi cơ, tổng thống cũng dùng cả trực thăng Marine One (Lục quân Một - tên gọi tương đương như Không lực Một) được vận hành bởi Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ thay vì Không quân (Air Force). Trực thăng thường được dùng để bay từ sân bay ra hoặc vào thành phố trường hợp sân bay cách qua xa điểm đến để có thể đi bằng xe, hoặc quá tốn kém để di chuyển bằng xe.
Vào tháng 11 năm 1999, tổng thống Bill Clinton đã bay từ Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ đến Trạm sân bay Hải quân Cengiz Topel ở ngoài Izmit, Thổ Nhĩ Kỳ trên một chiếc C-20C (Gulfstream III) của Không quân với tên gọi "Không lực Một", được hộ tống với 3 chiếc F-16.
Ngày 8 tháng 3, năm 2000, tổng thống Clinton đã bay tới Pakistan trên một chiếc Gulfstream III ngụy trang (không có màu sơn của Không quân), trong khi một chiếc khác, có tên gọi "Không lực Một" cũng bay theo cùng tuyến đường vài phút sau. Việc đánh lạc hướng này đã được nhiều hãng truyền thông Hoa Kỳ ghi nhận.
Ngày 1 tháng 5, năm 2003, tổng thống George W. Bush đã ngồi bay trên ghế phi công phụ trên một chiếc S-3B Viking từ Trạm sân bay Hải quân North Island, California bay đến Tàu sân bay USS Abraham Lincoln ngoài bờ biển California, nơi mà ông đã đưa ra bài phát biểu gây tranh cãi "Mission Accomplished", nói về việc sẽ ngừng Chiến tranh Iraq nhưng lại tăng cường hoạt động nhiều ngày sau. Cũng trong chuyến bay, chiếc máy bay lần đầu tiên sử dụng tên gọi "Navy One" (Hải quân Một). Hiện chiếc máy bay đang được trưng bày tại Viện bảo tàng Hàng không Hải quân Quốc gia ở Trạm sân bay Hải quân Pensacola, Florida.
Vào tháng 5 năm 2009, tổng thống Barack Obama đã đưa Đệ nhất Phu nhân đi hẹn hò ở thành phố New York trên một chiếc Gulfstream C-37B (Gulfstream G550).
Ngày 16 tháng 7, năm 2010, cả gia đình tổng thống Obama, đã bay tới Maine trong một chuyến nghỉ mát trên một chiếc Gulfstream III của Không quân Hoa Kỳ
Khi điều kiện bắt buộc, tổng thống thường bay nội địa bằng chiếc Boeing C-32, thường là để bay tới những sân bay nhỏ không đủ khả năng tiếp nhận chiếc VC-25. Ngoài ra cũng là dự phòng nếu cả hai chiếc VC-25 không thể chở tổng thống vì lý do an toàn, hoặc trục trặc kỹ thuật.
|
Phương Đình là tên một xã của huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Xã Phương Đình có các làng Phương Mạc, Ích Vịnh, La Thạch, Cổ Thượng, Cổ Hạ, Trại Cổ Ngõa, Địch Trung, Địch Thượng,Địch Đình,va Địch Trong. Các làng nằm bên dòng sông Đáy gồm có Phương Mạc, La Thạch, và Địch Thượng.
Gồm 10 thôn: Phương mạc, ích vịnh, la thach,địch trung, địch đình, địch trong, địch thượng, thón
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Gây mê hay vô cảm là các phương pháp làm cho bệnh nhân mất ý thức (có thể phục hồi) và giảm đau, để giúp thực hiện các phương pháp chữa bệnh có thể gây đau đớn như phẫu thuật, thủ thuật trên bệnh nhân.
Trước năm 1846, phẫu thuật thường không nhiều, do hiểu biết về sinh lý bệnh chỉ định để điều trị bằng phẫu thuật còn sơ đẳng. Kỹ thuật tiệt trùng ngăn ngừa nhiễm trùng vết mổ còn chưa được biết đến, cộng thêm sự chưa làm mất cảm giác được hoàn toàn đã là một trở ngại chính. Vì tất cả những yếu tố này mà mổ thì ít, mà số tai biến hoặc người bệnh chết trong mổ lại cao. Do đặc điểm đó, phẫu thuật có xu hướng tự nhiên chỉ là mổ cấp cứu, ví dụ, cắt cụt chi khi gãy hở hoặc dẫn lưu ổ áp-xe. Mổ lớn với kỹ thuật cẩn thận không thể tiến hành trên bệnh nhân bởi không làm giảm đau được thích đáng .
Một vài phương thức làm giảm đau cho phẫu thuật đã được dùng (như cho uống rượu say, dùng lá hasit dẫn xuất của thuốc phiện). Thỉnh thoảng phương pháp vật lý cũng được sử dụng để làm giảm đau (như gói chân tay trong băng hoặc làm thiếu máu với một garô). Làm mất tri giác thì bằng cách đánh mạnh vào đầu hoặc bóp cổ cho nghẹt mạch máu để làm mê man, dĩ nhiên phải trả giá khá đắt. Phương pháp phổ biến nhất thường được sử dụng để đạt được yên tĩnh trong khi mổ đơn giản là dùng sức mạnh để kiềm chế bệnh nhân
W.T. G. Morton, một nha sĩ Boston (còn đang là một sinh viên y khoa), đã tìm hiểu những hiệu quả gây mê của ete, đánh giá nó có nhiều hứa hẹn, đã thực hành trên động vật và sau đó trên người. Cuối cùng, ông thỉnh cầu sự trình diễn để chấp nhận được sử dụng thuốc một cách công khai như một nhà gây mê phẫu thuật vào ngày 16 tháng 10 năm 1846. Henry J. Bigelow, một nhà phẫu thuật nổi tiếng có mặt trong buổi trình diễn đã bình luận, "Sự kiện tôi đã thấy hôm nay sẽ lan đi toàn thế giới". Morton được công nhận người đầu tiên phát minh trị liệu gây mê.
Giai đoạn sau năm 1846, ete đã là một thuốc mê lý tưởng đầu tiên. Nó hỗ trợ cả hô hấp và tuần hoàn - là những đặc tính cốt tử ở thời kỳ sinh lý học con người còn chưa được hiểu biết đầy đủ. Thuốc mê tiếp theo được sử dụng rộng rãi là clorofom; rồi Nitrous Oxyt (mà ngày nay vẫn được sử dụng rộng rãi), và Cyclopropane có lẽ là thuốc được sử dụng rộng nhất trong gây mê cho khoảng 30 năm tiếp theo.
Tuy nhiên, với hoàn cảnh ngày càng tăng nguy cơ cháy-nổ trong phòng mổ; Halothane, một thuốc gây mê không cháy nổ đã được giới thiệu trong thực hành lâm sàng vào năm 1956; nó đã cách mạng hóa phương thức gây mê hô hấp. Hầu hết những thuốc mới hơn đều được làm theo mẫu của Halothane.
Các thuốc giãn cơ (neuromuscular blocking agents) như Curare, với hình thức thô đã được thổ dân Nam Mỹ dùng như một thuốc độc tẩm vào mũi tên của họ. Vào thập kỷ 1940, các nhà gây mê đã sử dụng Curare để làm giãn cơ - điều mà trước đây chỉ đạt được với mê ở mức sâu. Hơn 6 năm sau nhiều thuốc tổng hợp thay thế đã được sử dụng trên lâm sàng.
Năm 1935, Lundy chứng minh tác dụng lâm sàng hữu ích của Thiopental, một thiobarbiturat tác dụng nhanh đã được sử dụng như một thuốc mê đơn độc, nhưng những liều đủ hiệu quả mê lại làm suy sụp trầm trọng tuần hoàn, hô hấp hệ thần , thiopental đến nay vẫn được chấp nhận như là một thuốc dùng để khởi mê nhanh chóng trong các phương thức gây mê.
Các thuốc được giới thiệu trong những năm gần đây khá nhiều như: Etomidate, isoflurane, Ketamine (Corssen Domino,1966), propofol (Key,1977)... Nhưng thuốc mê hơi mới với phương thức "Low flow"; phương thức sử dụng các opioids tác dụng ngắn truyền hằng định trong tĩnh mạch (với hoặc không dùng thuốc mê hơi hiệu lực mạnh) Sự phối hợp như một phương thức gây mê hoàn toàn chỉ dùng các thuốc không bốc hơi (Total intravenous Anesthesia – TIVA / gây mê tĩnh mạch theo nồng độ - AIVOC), là một xu hướng được nghiên cứu, ứng dụng ngày một rộng rãi vì những ưu điểm (hiệu lực, an toàn, môi trườ) nhờ các tiến bộ khoa học công nghệ áp dụng rộng rãi trong y tế đang là một phát triển lý thú hiện thời trong thực hành gây mê.
Trước 1954, ở vùng kháng chiến, đa số mổ với gây tê tại chỗ bằng novocaine, ở bệnh viện hậu phương có mê ether, cloroform mask hở hoặc mask ombredane, mổ sâu dùng thêm Morphine mua ở vùng tạm chiếm. 1952 Dược sĩ Lê Quang Toàn cục quân y sản xuất được chloroform. 1953-1954 do thu được chiến lợi phẩm nên đã sử dụng gây mê tĩnh mạch bằng thiopental (nesdonal) đơn thuần, nhưng tai biến khá nhiều (một phần do dùng nồng độ cao 5%). Hồi sức cơ bản với huyết thanh tiêm dưới da, không có cơ sở nào truyền máu.
Ở vùng tạm chiếm, có dùng tê, mê mask hở, mask Ombredane mê ether vòng hở, nửa kín qua mask; thuốc chính là ether, chloroform, chlorua etyle, hỗn hợp Shleide, nesdonal. Thuốc hồi sức chủ yếu Subtosan truyền mạch máu. (GMHS, 1.1979).
Năm 1956, Nguyễn Dương Quang sang Trung Quốc học gây mê hồi sức 3 tháng, và đã về Việt Nam phát triển mê nội khí quản trong phẫu thuật cắt dạ dày, ruột. Nhờ vậy, năm 1957 đã áp dụng gây mê thành công để giáo sư Tôn Thất Tùng mổ lấy được một thai đôi ở bệnh nhân 27 tuổi. Giai đoạn này thuốc dãn cơ còn dùng hãn hữu, nên thường phải mê sâu giai đoạn III3 để đặt nội khí quản và bệnh nhân tự thở trong mê là chủ yếu. Truyền máu cũng đã bắt đầu phổ biến. Năm 1957 bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ phổ biến phương pháp tê Vichnepski bác sĩ Nguyễn Văn Thanh báo cáo luận án tê trong xương; đã bắt đầu phát triển truyền máu động mạch, lấy máu trong ổ bụng lồng ngực truyền lại.
Từ năm 1957 đến 1959, hờ có nhiều đoàn chuyên gia sang giúp (bác sĩ Albadjev/Bungarie ở QYV 108 Bệnh viện Việt Đức; bác sĩ Tiệp khắc ở Bv Hải Phòng) đã áp dụng mê nội khí quản + Thiopental + Myorelaxin tiêm từng liều nhỏ mê hạ huyết áp chỉ huy với arfonad. Đặc biệt đã giúp đào tạo lớp bác sĩ chuyên ngành gây mê hồi sức đầu tiên của Việt nam (dân y quân y – Nguyễn Thụ, Trần Quang Dương, Phan Đình Kỷ, Nguyễn Quang Bích, Đoàn Bá Thả) một lớp gây mê trung cấp ở Hải phòng. 1958 bệnh viện Việt Đức đã bắt đầu mổ tim mê hạ thể nhiệt nông.
Năm 1960, bác sĩ Trương Công Trung (Bv 103) tiến hành tê ngoài màng cứng Dicaine; tê tuỷ sống, tê đuôi ngựa bắt đầu được phổ biến; đông miên nhân tạo được bác sĩ Hoàng Đình Cầu áp dụng để mổ phổi. 1961-1962 bác sĩ Tôn đức Lang đi học gây mê hồi sức ở Bungarie về phổ biến mê nội khí quản trẻ em, mê hạ huyết áp chỉ huy, hạ thể nhiệt nông, mê nội khí quản với ống Carlene. 1962 lớp y sĩ gây mê hồi sức đầu tiên tốt nghiệp do bác sĩ Nguyễn Thụ Trần Quang Dương phụ trách; các bác sĩ gây mê hồi sức cũng đã bắt đầu được đào tạo có hệ thống. 1965 Bv Việt Đức lập được tuần hoàn ngoài cơ thể.
Sau 1962, khoa Phẫu thuật - Gây mê hồi sức được thành lập ở bệnh viện Việt Đức. 1963-1965: Gây mê hạ thể nhiệt, tuần hoàn ngoài cơ thể trong mổ tim, thận nhân tạo. Năm 1967 Bộ y tế Cục quân y chỉ thị tổ chức thành lập phòng Hồi sức tập trung.
1967 hô hấp nhân tạo kéo dài đã được áp dụng trong điều trị mảng sườn di động. Từ 1967-1975 nhiều bác sĩ gây mê hồi sức tham gia chiến tranh chống Mỹ cứu nước hy sinh ở các miền của đất nước (kể cả ở chiến trường B...). 1972-1974 (bác sĩ Nguyễn Tài Thu, Y sĩ Nguyễn Thí bác sĩ Trương Hữu Tố BV103 sang Thượng hải học về châm tê...) sau đó Châm tê đã bắt đầu áp dụng trong phẫu thuật trong các bệnh viện quân dân y. 1973-1976 có 2 hội nghị gây mê hồi sức toàn miền bắc với sự chủ trì của bác sĩ Hoàng Đình Cầu bác sĩ Nguyễn Dương Quang.
Trong những năm chiến tranh (1967-1975) miền bắc đã đào tạo được 150 bác sĩ gây mê hồi sức tự đảm nhận công việc gây mê hồi sức của tất cả các chiến trường, trong cũng khoảng thời gian này miền nam chỉ có 5 bác sĩ gây mê hồi sức đã mời tất cả đến 23 đoàn chuyên gia ngoại quốc đến giúp đỡ. Đến năm 1979 đã có tổng số 190 bác sĩ trên 300 y sĩ gây mê hồi sức. (gây mê hồi sức, 1.1979).
Việt Nam gia nhập Hội gây mê hồi sức thế giới năm 1986, khi Giáo sư Tôn Đức Lang tham dự hội nghị tại Cualalampua.
Vào những năm 2000, tổng số người làm công tác gây mê: trong đó GS, PGS: TS:4 ThS:37 BsCKII:12 CKI:170 BsCKSB: 300 KTV Cử nhân:324. Chủ tịch hội gây mê hồi sức Việt Nam hiện nay là GS Nguyễn Thụ. Đa số các bệnh viện từ tuyến huyện trở lên đã có bác sĩ GMHS Khoa gây mê hồi sức. Các bệnh viện tuyến quân khu, quân đoàn đều đã có bác sĩ GMHS khoa GMHS.
Hội Hồi sức Cấp cứu đã được thành lập vào cuối năm 2000. GS Nguyễn Văn Đính làm chủ tịch.
Mê (vô cảm toàn thân, gây mê toàn diện) là sự mất cảm giác và ý thức tạo bởi các thuốc mê khác nhau, gồm bốn hợp thành là không đau, giãn cơ, mất ý thức và quên.
Thuốc mê là một loại thuốc khiến ức chế hệ thần kinh trung ương, làm bệnh nhân mất ý thức, mất cảm giác và phản xạ tạm thời. Các loại thuốc mê thường được sử dụng để gây mê cho bệnh nhân trước phẫu thuật, hoặc dùng cho các trường hợp cai nghiện.
Giai đoạn và độ mê.
Giữa 1847 và 1858, John Snow đã mô tả một vài dấu hiệu giúp đỡ ông xác định chiều sâu gây mê ở những bệnh nhân được gây mê clorofoc hoặc ête. Năm 1920 Guedel A.E (sinh 1883) thêm các dấu hiệu khác, đã phác thảo bốn giai đoạn gây mê, chia giai đoạn ba (mê phẫu thuật) thành bốn mức độ.
Điểm Guedel: là một hệ thống để mô tả những giai đoạn (stage) các mức độ mê (plane) trong mổ. (Những giai đoạn này thấy rõ nhất với hít hơi ête khó mô tả khi gây mê phối hợp như khi khởi mê tĩnh mạch bằng thiopental sau đó hít thuốc mê hơi halothane…).
Giai đoạn I: (quên giảm đau) từ lúc bắt đầu sử dụng thuốc mê tới lúc mất ý thức - hơi thở yên tĩnh, tuy nhiên đôi khi không đều, các phản xạ vẫn còn hiện diện.
Giai đoạn II: (mê sảng hoặc kích thích) từ lúc mất ý thức cho đến lúc mê hoàn toàn - trong giai đoạn này BN có thể cử động chân tay, nói huyên thuyên không mạch lạc, nín thở, hoặc trở nên quá khích, nôn mửa rất nguy hiểm do hít vào chất nôn. Tránh gây kích thích ở giai đoạn này; cần nhanh chóng đưa BN qua giai đoạn III.
Giai đoạn III: (mê phẫu thuật) bắt đầu từ khi thở đều (một cách cân đối) mất hoàn toàn tri giác cho đến khi có dấu hiệu đầu tiên của suy hô hấp tuần hoàn - giai đoạn này được chia ra bốn mức độ:
Mức độ 1 - mất tất cả những cử động hít thở trở nên cân đối (như máy). Mất phản xạ mi mắt, nhưng nhãn cầu còn hoạt động rõ. Phản xạ họng hầu mất, nhưng phản xạ thanh quản phúc mạc vẫn còn, trương lực cơ bụng có thể đánh giá thông qua trương lực của cơ ngoại nhãn cầu.
Mức độ 2 - nhãn cầu cố định chính giữa, kết mạc mất sáng (đục), cơ liên sườn giảm bớt hoạt động. Hơi thở vẫn còn cân đối, dung tích lưu thông (tidal) giảm bớt, không thay đổi nhịp hoặc biên độ khi rạch da. Đặt nội khí quản không còn gây ra co thắt thanh quản.
Mức độ 3 - xuất hiện liệt cơ liên sườn, chỉ còn hô hấp bằng cơ hoành. Đồng tử không phản ứng với ánh sáng nữa, toàn bộ các cơ giãn hoàn toàn.
Mức độ 4 - mê sâu hoàn toàn, ngừng tự thở mất cảm giác.
Giai đoạn IV: (gần chết) với nhiều dấu hiệu nguy hiểm. Giai đoạn này được mô tả với các đặc điểm như đồng tử giãn rộng tối đa da lạnh với màu xám tro; huyết áp tụt thường không đo được, mạch quay rất yếu hoặc không bắt được. Ngừng tim sắp xảy ra - cần giảm bớt thuốc mê ngay, thông khí phổi bằng tay với 100% oxy, thay khí liên tục trong bóng bóp (liên tục làm rỗng bóng)...
Mặc dù cổ điển nhưng những dấu hiệu các giai đoạn gây mê này vẫn có thể công nhận đến chừng mực nào đó khi sử dụng nhiều loại thuốc mê thông thường, chúng không còn rõ lắm trong các kỹ thuật sử dụng thuốc mê hiện đại. Hơn nữa, Cullen cộng sự (1972) đã chứng minh rằng không một dấu hiệu đơn lẻ nào trong các dấu hiệu chính đã được Guedel mô tả có quan hệ thoả đáng với nồng độ thuốc đo được trong phế nang khi cuộc mê đang duy trì ổn định. Do đó, chỉ thuật ngữ "giai đoạn hai" - trạng thái mê sảng khi. Chưa mê hoàn toàn còn hay dùng
Tuy nhiên có ít trường hợp điển hình như mô tả trên. Cách thăm dò thực tế sử dụng trên lâm sàng để lượng định độ mê. Ví dụ:
Nếu mi mắt lười nháy chạm vào lông mi (chậm nháy mắt), nếu BN còn nuốt, nếu nhịp thở còn sâu không đều, nếu biết rằng chưa sử dụng một lượng lớn thuốc mê – có thể đánh giá: mê phẫu thuật là chưa đạt.
Mất phản xạ khi đụng vào lông mi (eyelash) thể hiện hô hấp đều đăng - chỉ ra rằng đang ở giai đoạn mê phẫu thuật. (Nếu rạch da ngay lúc này, sự biểu lộ của mê "nhẹ" có thể xuất hiện: bao gồm hiện tượng tăng hô hấp hoặc tăng huyết áp; cơ hàm có thể co chặt, thậm chí nếu mở được mồm để đặt ống vào đường thở có thể kích thích gây oẹ "nôn khan", ho, nôn, hoặc co thắt thanh quản "laryngospasm").
Khi gây mê sâu hơn - thì những phản ứng nêu trên giảm bớt oặc mất hẳn. Với hầu hết các thuốc mê thông thường, độ sâu mê tăng kéo theo dung tích lưu thông giảm bớt; co hẹp khí quản trở nên rõ rệt do sự tham gia của các cơ hô hấp phụ, hoạt động của cơ hoành trở nên trục trặc, phần ngực dưới bị hạ thấp do cơ hoành lôi kéo. Khi sử dụng nhóm thuốc mê halogenated có hiệu lực mạnh, xu hướng của huyết áp rất tương quan với độ sâu của mê, hiện tượng giảm huyết áp có thể sử dụng như một chỉ số tương đối của liều lượng.
Những gợi ý thể hiện mê đang "nhẹ" hơn bao gồm các hiện tượng chảy nước mắt, có đọạn ngừng thở khi kích thích phúc mạc, tăng trở kháng khi bóp bóng làm đầy phổi hoặc thể hiện trên đồng hồ đo áp lực, có các dấu hiệu của mê "nhẹ" đã liệt kê ở phần trên.
Suy giảm hô hấp trầm trọng, ngừng thở, giảm huyết áp rõ rệt, hoặc ngừng tim - phải nhìn nhận như là dấu hiệu của mê sâu trừ phi do các nguyên nhân khác gây nên (ví dụ - tác dụng của dãn cơ, mất máu, thiếu oxy, giảm carbonic, hoặc do ảnh hưởng của phản xạ dây phế vị...).
Như vậy, từ kinh nghiệm phối hợp với sự quan sát liên tục các phản ứng của BN khi cho thuốc mê khi kích thích, cho phép đánh giá ước lượng độ sâu mê. Phép đo nồng độ thuốc mê cuối thì thở ra (End-tidal) có thể hữu ích trong việc đánh giá độ mê khi sử dụng các loại thuốc mê hơi.
Phân loại về các phương thức gây mê.
Có ba phương thức chính:
Có 5 bước tiến hành trong phương pháp gây mê chung:
Kỹ thuật thực hành.
Thủ tục nhận bệnh.
Kiểm tra đúng tên - loại mổ - yêu cầu đặc biệt của loại mổ - những xét nghiệm chính về tim, phổi tiết niệu - Giấc ngủ đau đêm trước - thụt tháo - ngưng ăn uống.
Sắp xếp chuẩn bị thiết lập các phương tiện.
Kiểm tra máy phương tiện giúp thở, phương tiện khai thông đường thở luôn sẵn sàng hoạt động được ngay có hiệu quả phù hợp BN; Máy hút ở tư thế sẵn sàng; Kiểm tra tháo bỏ răng giả, mắt giả. Lắp đặt các phương tiện theo dõi (mạch, huyết áp, ống nghe, ECG, thông khí, phân tích khí Oxy, CO2, nhiệt kế... tối thiểu phải có huyết áp ống nghe). Các gối chèn, dây buộc đủ chặt mà không gây tổn thương thần kinh tuần hoàn, ánh sáng vừa phải, không chiếu đèn thẳng vào người mặt BN cho tới khi đã mê hoặc bắt đầu phẫu thuật
Tư thế trên bàn mổ liên quan đến loại phẫu thuật.
Có khoảng 21 tư thế chính:
Tư thế ít ảnh hưởng nhất tới hô hấp tuần hoàn là nằm ngửa, tay dọc theo thân nếu phải dang thì không bao giờ quá 90 độ hoặc bị treo hay rơi khỏi bàn làm tổn thương tới dây TK.
Khi thay đổi tư thế rất dễ tụt huyết áp. Một số phương pháp ngăn ngừa các bất lợi do tư thế mổ:
Cho thuốc tiền mê.
Có 3 căn nguyên chính để dùng thuốc tiền mê trước khi vô cảm. Thứ nhất là an thần: làm giảm lo sợ làm ngắn bớt giai đoạn kích thích của gây mê. Thứ hai là tác dụng cộng thêm làm tăng hiệu lực của các thuốc giảm đau, tê, mê. Thứ ba là dự phòng ngăn chặn trước các phản ứng xấu về sinh lý dược lý, gây ra bởi các thuốc hoặc do kỹ thuật tiến hành (như cho co mạch để chống tụt huyết áp khi tê tuỷ; atropine khi có dùng các thuốc thường kèm theo sự suy giảm dây X; cho bacbituric để giảm thiểu hoặc trung hoà đối kháng tác dụng độc của thuốc tê; lidocain để giảm kích thích tim; hạn chế hoặc ngăn ngừa sự tăng tiết dễ dẫn đến tắc nghẽn đường thở). Các thuốc thường dùng có công hiệu để tiền mê để an thần cộng thêm tác dụng là nhóm morphine; nhóm bacbituric; nhóm trấn tính tranquilizer ()
Các thuốc dự phòng có nhóm co mạch (như ephedrrine); Nhóm atropine, scopolamine để giảm tiết giảm tác dụng kích thích dây X, giảm phản xạ phó giao cảm. Các thuốc Bacbiturat để trung hoà thuốc tê. Lidocaine để giảm kích thích tim. Thuốc kháng histamine để giảm ngăn ngừa các phản ứng dị ứng.
Quá trình vô cảm.
Kiểm soát chắc chắn đường thở (phải hút thường xuyên sạch máu, chất tiết, dị vật ứ đọng trong đường thở); luôn bảo đảm thông suốt đường thở (từ việc đặt nâng lưỡi tới mở khí quản nếu phù hoặc phát triển khối máu tụ trong họng hầ); dự phòng, hạn chế chấn thương. Những sai sót nhỏ của người gây mê thường để lại những tổn thương cho bệnh nhân như chấn thương môi, lợi, răng; đau họng; trầy kết mạc mắt; các vết bầm tím trên mặt, bầm máu nơi tiêm; đau lưng sau tư thế mổ lấy sỏi; nôn mửa.
|
Airbus SE (; ]#đổi ; ]#đổi ; [ˈeiɾbus]) là một trong những hãng sản xuất máy bay lớn nhất thế giới.
Hãng có trụ sở ở Toulouse, Pháp. Năm 2005, Airbus đã ký kết được nhiều hợp đồng sản xuất, số lượng máy bay được cung cấp cao hơn cả Boeing.
Airbus S.A.S (Société par actions simplifiée) (của Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Anh) là một công ty chuyên sản xuất máy bay và là công ty con của tập đoàn Airbus (trước đây gọi là EADS (The European Aeronautic Defence and Space Company)) - một công ty hàng không vũ trụ châu Âu. Có trụ sở tại Blagnac, ngoại ô thành phố Toulouse của Pháp. Công ty sản xuất khoảng một nửa số máy bay phản lực của thế giới và có các hoạt động quan trọng trên khắp châu Âu.
Airbus bắt đầu từ một tập đoàn của các nhà sản xuất hàng không vũ trụ, Airbus Industrie. Các công ty quốc phòng và hàng không vũ trụ của Liên minh châu Âu năm 1999 và 2000 đã cho phép thành lập một công ty cổ phần đơn giản hóa vào năm 2001, thuộc sở hữu của EADS (80%) và BAE Systems (20%). Sau quá trình mở rộng mặt hàng BAE (British Aerospace) đã bán cổ phần của mình cho EADS vào ngày 13 tháng 10 năm 2006.
Airbus sử dụng khoảng 63.000 nhân công tại 16 địa điểm ở 4 quốc gia Liên minh châu Âu: Pháp, Đức và Tây Ban Nha, Anh. Khâu lắp ráp cuối cùng được đặt tại Toulouse, Pháp; Hamburg, Đức, Seville, Tây Ban Nha, và từ năm 2009 đặt thêm nhà máy tại Thiên Tân, Trung Quốc. Hãng cũng đang trong quá trình hoàn thiện nhà máy mới tại thành phố Mobile thuộc tiểu bang Alabama, Mỹ. Airbus còn có các công ty con ở Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ.
Công ty giới thiệu và đưa ra thị trường thương mại máy bay chở khách fly-by-wire (Điều khiển điện tử) đầu tiên - Airbus A320, và máy bay chở khách lớn nhất thế giới, Airbus A380. và Airbus cũng nổi tiếng với tình dự phòng và an toàn cho mỗi chiếc máy bay của họ. Một trong những hệ thống bảo vệ của máy bay là Alpha Floor
Airbus Industrie được các công ty hàng không châu Âu thành lập để cạnh tranh với các công ty Mỹ như Boeing, McDonnell Douglas và Lockheed.
Mặc dù máy bay châu Âu có rất nhiều sáng tạo và cải tiến, nhưng ngay cả những sản phẩm thành công nhất cũng không có doanh thu cao. Năm 1991, Jean Pierson - Giám đốc điều hành của Airbus Industrie, đã phân tích một số nhân tố giải thích về vị trí thống lĩnh của các nhà sản xuất máy bay Mỹ: Do nước Mỹ có diện tích lớn nên việc đi lại theo đường hàng không được ưa chuộng; Năm 1942, Anh và Mỹ thỏa thuận ủy thác việc sản xuất máy bay vận tải sang cho Mỹ; Chiến tranh thế giới thứ hai đã đem lại cho Mỹ một ngành công nghiệp hàng không mạnh mẽ và mang lại nhiều lợi nhuận ".
"Với mục đích tăng cường sức mạnh hợp tác châu Âu trong lĩnh vực công nghệ hàng không và từ đó thúc đẩy tiến bộ nền kinh tế và công nghệ ở châu Âu, phải có biện pháp thích hợp để phát triển và sản xuất một máy bay "Airbus" (máy bay hoạt động tầm trung hoặc ngắn)." – trích Bản sứ mệnh Airbus (Airbus Mission Statement)
Năm 1959, Hawker Siddeley đã quảng bá một phiên bản "Airbus" Armstrong Whitworth AW.660 Argosy (máy bay vận tải quân sự/hàng hóa của Anh sau chiến tranh và là mẫu máy bay cuối cùng được sản xuất bởi hãng máy bay Armstrong Whitworth Aircraft.), có thể vận chuyển khoảng 126 hành khách. Tuy nhiên, các nhà sản xuất máy bay châu Âu đã nhận thấy được những rủi ro của sự phát triển đó và cùng với chính phủ của mình, họ thấy rằng sự hợp tác là cần thiết để phát triển một chiếc máy bay như vậy và để cạnh tranh với các nhà sản xuất mạnh hơn của Mỹ. Vào Paris Air Show năm 1965, các hãng hàng không châu Âu chính thức thảo luận về yêu cầu của họ cho một "airbus" có khả năng vận chuyển 100 hành khách hoặc hơn trong khoảng cách ngắn tới trung bình với chi phí thấp. Cùng năm đó, Hawker Siddeley (dưới sự thúc đẩy của Chính phủ Anh) hợp tác với Breguet và Nord để nghiên cứu và thiết kế airbus. Nhóm Hawker Siddeley/Breguet/Nord HBN 100 đã trở thành cơ sở cho việc tiếp tục của dự án. Đến năm 1966, nhóm đã có các đối tác là Sud Aviation, sau đó là Aerospatiale (Pháp), Arbeitsgemeinschaft Airbus, Deutsche Airbus (Đức) và Hawker Siddeley (Anh). Một yêu cầu tài trợ đã được gửi tới ba chính phủ trong tháng 10 năm 1966. Ngày 25 tháng 7 năm 1967, chính phủ ba nước đã nhất trí tiến hành với đề xuất này.
Hai năm sau thỏa thuận này, chính phủ Anh và Pháp đã bày tỏ nghi ngờ về dự án. Biên bản ghi nhớ đã nói rằng 75 đơn đặt hàng phải được hoàn thành vào 31 tháng 7 năm 1968. Chính phủ Pháp bị đe dọa rút khỏi dự án do lo ngại về nguồn tài chính dùng để phát triển máy bay Airbus A300, Concorde và Dassault Mercureconcurrently nhưng sau đã bị thuyết phục ngược lại. Sau khi công bố về mối lo ngại của mình với dự án A300B vào tháng 12 năm 1968, và lo sợ rằng sẽ không thu lại được khoản đầu tư do doanh số bán hàng thấp, chính phủ Anh thông báo rút lui vào ngày 10 tháng 4 năm 1969. Đức nhân cơ hội này để tăng thị phần của mình trong dự án lên tới 50%. Tới lúc này, Pháp và Đức lại miễn cưỡng cho phép sự tham gia của Hawker Siddeley để có được thiết kế cánh của máy bay. Vì vậy, các công ty của Anh được phép tiếp tục các đặc quyền của một nhà thầu phụ. Hawker Siddeley đã đầu tư 35 triệu Bảng Anh vào trang bị máy móc, nhưng do thiếu hụt vốn nên đã nhận một khoản vay 35 triệu Bảng từ chính phủ Đức.
Sự hình thành Airbus Industrie.
Airbus Industrie được chính thức thành lập như một Groupement d'Interet Économique (Economic Interest Group hay GIE – Nhóm lợi ích kinh tế chung) vào ngày 18 tháng 12 năm 1970. Nó được hình thành dựa trên một sáng kiến của chính phủ Pháp, Đức và Anh năm 1967. Tên "Airbus" được lấy từ một thuật ngữ không độc quyền được sử dụng bởi ngành công nghiệp hàng không trong những năm 1960 để chỉ những máy bay thương mại có kích thước và phạm vi nhất định, và thuật ngữ này đã được chấp nhận trong ngôn ngữ Pháp. Aérospatiale và Deutsche Airbus mỗi công ty có 36,5% cổ phần, Hawker Siddeley 20% và Fokker-VFW 7%. Mỗi công ty sẽ chuyển các bộ phận do mình chế tạo đến một nhà máy lắp ráp cuối cùng để máy bay sẵn sàng thực hiện chuyến bay. Tháng 10 năm 1971, công ty Tây Ban Nha CASA đã mua 4,2% cổ phần của Airbus Industrie, Aérospatiale và Deutsche Airbus giảm mức cổ phần của họ còn 47,9%. Tháng 1 năm 1979, British Aerospace đã kế thừa 20% cổ phần của Hawker Siddeley trong Airbus Industrie. Các cổ đông lớn giảm cổ phần của họ xuống còn 37,9%, trong khi CASA vẫn giữ nguyên 4,2%.
Năm 2005, Airbus đã ký kết được nhiều hợp đồng sản xuất, cung cấp máy bay hơn cả Boeing.
Những sản phẩm dân dụng.
Airbus A350-1000 XWB lên lịch giao hàng 3 năm sau đó.
|
Rivaldo Vítor Borba Ferreira (sinh ngày 19 tháng 4 năm 1972 tại Paulista, Pernambuco), được biết đến nhiều nhất với tên Rivaldo (]), là một cựu cầu thủ bóng đá Brasil chơi ở vị trí tiền vệ. Anh từng được FIFA bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất năm 1999 và đoạt Quả Bóng Vàng năm 1999.
Giai đoạn nổi bật nhất trong sự nghiệp của Rivaldo là 5 năm thi đấu tại câu lạc bộ xứ Catalan Barcelona, khi mà anh giúp câu lạc bộ này giành được chức vô địch La Liga 2 năm liên tiếp (1998 - 1999) và Copa del Rey 1998, cũng trong giai đoạn này anh góp công lớn đưa Brasil lên ngôi vô địch thế giới lần thứ 5. Tháng 4 năm 2004, anh được Vua Pelé đưa vào danh sách 125 cầu thủ còn sống vĩ đại nhất.
Trong khoảng thời gian từ 1993 đến 2003, Rivaldo đã chơi 86 trận và ghi 36 bàn cho đội tuyển bóng đá quốc gia Brazil ("vàng - xanh"), và là một trong những nhân tố chính giúp đội này đoạt FIFA World Cup năm 2002. Ở vai trò tiền vệ tấn công, anh được xem như là người có khả năng kiến thiết trận đấu tốt và mang nhiều những phẩm chất kỹ thuật điêu luyện. Anh còn nổi tiếng với những cú sút "lật bàn đèn".
Rivaldo sinh ra trong một gia đình rất nghèo khổ, nằm trong khu ổ chuột ở gần thành phố cảng Recife. Bề ngoài của anh hiện vẫn in đậm những dấu ấn nhọc nhằn từ thuở ấu thơ: đôi chân vòng kiềng và hàm răng bị mất mấy cái. Ông Romildo, cha của anh đã bị chết trong một tai nạn đường sắt từ năm 1989. Một năm sau sự mất mát này, Rivaldo đã bắt đầu sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp của mình.
Bắt đầu tại Brasil.
Rivaldo trở thành cầu thủ chuyên nghiệp từ 17 tuổi, khi ký hợp đồng với Paulista vào năm 1989.. Ông Paulista, huấn luyện viên của đội thường tỏ ra không tin tưởng cái thân thể yếu ớt của anh, điều này làm anh khó chịu. Anh chuyển sang chơi cho Santa Cruz FC từ 1991. Năm 1992, anh sang miền bắc ký hợp đồng với São Paulo nơi anh đã chơi cho Mogi Mirim EC. Vào năm 1993, anh lại chuyển sang thủ đô để chơi cho SC Corinthians tại giải hạng nhất. Sau vài năm thể hiện mình, anh được gọi tên vào đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil, và ghi bàn ngay trong trận ra mắt, đó là trận đấu giao hữu giữa đội nhà và Mexico.
Vào năm tiếp theo, anh chấm dứt hợp đồng với câu lạc bộ cũ và chuyển đến SE Palmeiras, giúp câu lạc bộ này bảo vệ thành công chức vô địch vào năm 1994. Khoảng giữa năm 1993 và 1994, anh được tạp chí uy tín Placar Magazine trao giải Bola de Prata cho cầu thủ giỏi nhất khu vực. Anh được chọn làm người đại diện cho Brazil tại Olympics Atlanta 1996. Tuyển Brasil lần này giành được huy chương đồng, bản thân Rivaldo đã làm một cuộc tỏa sáng giúp Brasil thắng Nigeria, và từ đó, có mặt thường xuyên trong đội hình của Mario Zagallo, huấn luyện viên đương nhiệm của đội tuyển.
Trước khi Olympic 1996 diễn ra, câu lạc bộ Parma F.C. thông tin rằng họ đã ký hợp đồng với Rivaldo và đồng đội Amaral của anh từ Paimeras. Sau Olympics, chuyện đó không xảy ra, và thay vì đến Ý, Rivaldo sang Tây Ban Nha để đá cho Deportivo La Coruña ở giải La Liga. Anh chỉ ở đó 1 mùa giải, song đã để lại ấn tượng bằng những thành tích tốt. Rivaldo là một trong bốn vua phá lưới của mùa bóng với 21 bàn sau 41 trận, giúp Deportivo cán đích ở vị trí thứ 3. Năm 1997, Rivaldo được chuyển sang FC Barcelona, bằng một cuộc chuyển nhượng trị giá 4 tỷ peseta Tây Ban Nha (khoảng 26 triệu đô-la).
Trong mùa bóng đầu với Barcelona, anh là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ 2 với 19 bàn sau 34 trận, giúp Barcelona lập cú Đúp: chức vô địch La Liga và Copa del Rey. Rivaldo sau đó trở lại tuyển quốc gia để tham dự World Cup 1998, ghi được 3 bàn, hai bàn nằm trong trận tứ kết thắng Đan Mạch 3-2. Rivaldo không được gọi vào tuyển quốc gia để tham dự Cúp bóng đá Nam Mỹ 1997, và là một trong những cầu thủ chủ chốt làm nên thành công cho Brasil tại Cúp bóng đá Nam Mỹ 1999. Rivaldo đã ghi được 5 bàn trong giải này, trong đó một bàn thắng quan trọng từ quả phạt trực tiếp đã giúp Brasil đả bại Argentina 2-1 tại vòng tứ kết, và 2 bàn cho trận chung kết thắng Uruguay 3-0. Anh được bầu làm cầu thủ xuất sắc nhất giải này.
Năm 1999, anh giành được thêm một chức vô địch La Liga với Barcelona, và lại là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ hai của giải. Cũng trong năm đó, Rivaldo được bầu là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA và giành được Quả bóng vàng châu Âu. Trong mùa bóng thứ 3 với Barcelona, Rivaldo bất đồng với huấn luyện viên trưởng Louis van Gaal, khi anh chỉ chịu chơi ở vị trí tiền vệ kiến thiết, chứ không chịu chơi bên cánh trái. Trong thời gian này tuy quan hệ với van Gaal rất căng thẳng, Rivaldo vẫn ghi được 10 bàn tại đấu trường UEFA Champions League, giúp đội bóng vào đến bán kết. Van Gaal thì bị sa thải vào tháng 6 năm 2000. Đến mùa giải La Liga 2000 - 2001, Rivaldo lại một lần nữa là cầu thủ ghi bàn nhiều thứ 2. Trong trận đấu cuối cùng của mùa bóng đó, gặp Valencia CF, Rivaldo ghi một cú hat-trick giúp đội thắng 3-2. Bàn thắng thứ 3 ở phút thứ 90 trong trận này là một bàn thắng kinh điển, đó là một pha "lật bàn đèn" được phối hợp từ nhiều động tác kỹ thuật: đỡ bóng bằng ngực, xoay người và ngả người móc bóng, nó cũng được coi là bàn thắng tuyệt vời nhất trong sự nghiệp của anh.
Rivaldo trở thành một trong những nhân vật trung tâm của sự chỉ trích mỗi khi Brazil không chiến thắng, kể từ Olympics 1996, sau khi anh hứa sẽ giữ vững phong độ tại đội tuyển quốc gia như khi đá cho câu lạc bộ. Đến giải bóng đá tiền World Cup 2002, phong độ nghèo nàn của Brasil khiến cho cả đội bị khán giả la ó đủ điều, đến mức mà sau trận thắng 1-0 trước Colombia vào tháng 12 năm 2000, Rivaldo dọa rằng anh sẽ nghỉ thi đấu cho tuyển quốc gia.
Thời gian này, vì phong độ tốt, anh chịu sự tranh giành giữa câu lạc bộ Barcelona và tuyển Brasil. Mùa hè năm 2001, có lần Rivaldo phải sang Panama đá 1 trận đấu mang tính trình diễn giữa Brasil với Panama, rồi bay sang Ba Lan để đá cho Barcelona, rồi lại về Brazil cho một trận đấu với Paraguay, tất cả diễn ra trong vòng 10 ngày.
Đỉnh cao trong sự nghiệp bóng đá quốc tế của Rivaldo là tại World Cup 2002, tổ chức ở Hàn Quốc và Nhật Bản. Anh ghi bàn liên tục trong 5 trận đầu cho Brasil. Tiền đạo Ronaldo trong một bài phỏng vấn sau trận đấu thứ tư của đội tuyển, đã cho rằng có sự giữa anh và Rivaldo có sự kình địch. Rivaldo, khi trả lời, đã nhấn mạnh rằng mục đích chính của anh là trở thành nhà vô địch thế giới. Rivaldo lại có bàn thắng ngoạn mục vào lưới Bỉ tại vòng 2. Sau đó huấn luyện viên đội Bỉ là ông Robert Waseige đã nhận xét anh là nhân tố quyết định chiến thắng. Tiền vệ trẻ lúc đó là Ronaldinho giúp Rivaldo ghi thêm 1 bàn thắng nữa trong trận thắng Anh 2-1 ở tứ kết. Brasil gặp Đức ở chung kết, và chiến thắng 2-0 để lên ngôi vô địch. Cả hai bàn thắng của Ronaldo đều có sự tham gia của Rivaldo, trong đó bàn thắng thứ hai là sau một pha bỏ bóng đẹp mắt.
Năm 2002, tuy là nhân tố chính của một giải đấu thành công, nhưng Rivaldo đã để hoen ố hình ảnh của mình không ít. Chuyện xảy ra trong trận đấu đầu tiên của đội với Thổ Nhĩ Kỳ: trong những phút cuối của trận, khi bóng đã ra ngoài sân, hậu vệ Thổ Nhĩ Kỳ Hakan Ünsal bực bội đá bóng trúng Rivaldo, khi anh đang chờ ở chấm phạt góc. Quả bóng chỉ văng trúng tay, nhưng Rivaldo lại nằm xuống ôm mặt. Pha ăn vạ này khiến trọng tài đưa cầu thủ Thổ Nhĩ Kỳ rời sân với chiếc thẻ vàng thứ hai. Nhưng sau khi FIFA xem lại băng video, họ đã phạt Rivaldo 11,670 Swiss Francs tội ăn vạ, cộng với 1,670 tiền phí tổn.
Vào tháng 6 năm 2002, một sự kiện lớn đã ảnh hưởng đến sự nghiệp của Rivaldo, đó là huấn luyện viên van Gaal, người có hiềm khích với anh từ trước, lại trở về làm huấn luyện viên Barcelona. Rivaldo ngay sau đó đã hủy bỏ hợp đồng với câu lạc bộ Tây Ban Nha, và ký một hợp đồng thời hạn 3 năm với câu lạc bộ Ý AC Milan. Với Milan, anh đoạt Coppa Italia và chức vô địch UEFA Champions League vào năm 2003. Thời gian ở Milan, anh không làm được như kỳ vọng. Rivaldo rời câu lạc bộ sau một thời gian đá bóng ít mà chấn thương thì nhiều. Trở lại Brazil, anh đá cho Cruzeiro tại Belo Horizonte. Đến năm 2004 anh lại về châu Âu, gia nhập câu lạc bộ Hy Lạp Olympiacos F.C., sau khi từ chối lời mời sang Premier League chơi cho Bolton.
Rivaldo đã ghi một số bàn thắng đáng nhớ tại giải vô địch Hy Lạp mùa bóng 2004-05, trong màu áo sọc của Olympiacos, đáng kể nhất là một bàn thắng tại trận chung kết Cúp Hy Lạp. Rivaldo đã sút phạt thành bàn 2 lần trong mùa giải đó, đầu tiên là trong trận derby với Panathinaikos và bàn thứ hai trong trận gặp câu lạc bộ Anh Liverpool tại UEFA Champions League. Anh cũng ghi 1 bàn quyết định trong trận thắng 1-0 cuối mùa giải với Thessaloniki, giúp đội nhà bảo vệ thành công chức vô địch.
Rivaldo tiếp tục ghi nhiều bàn quan trọng tại UEFA Champions League năm sau, trong đó có một bàn vào lưới Real Madrid, nhưng chừng đó chưa đủ để đưa Olympiacos tiến sâu vào giải đấu khắc nghiệt này, họ bị loại sau vòng bảng. Sau đó anh ký một hợp đồng mới với Olympiacos ở tuổi 34. Vào tháng 6 năm 2006, Rivaldo tuyên bố mùa bóng 2006-2007 với Olympiacos sẽ là mùa bóng cuối cùng anh ở Châu Âu, trước khi trở lại Brasil. Nhưng anh lại thay đổi quyết định và ở lại 1 năm nữa. Mùa 2006-2007 cũng là mùa giải tốt nhất kể từ khi anh đến Olympiakos: ghi 17 bàn sau 27 trận, và giành chiến thắng tại giải Superleague.
Trong một lần phỏng vấn, Rivaldo phát biểu rằng "người hâm mộ ở Olympiacos thật tuyệt", và là tuyệt nhất trong những câu lạc bộ anh từng trải qua.
Rivaldo rời Olympiakos vào cuối mùa bóng 2006-2007 do không đạt được thỏa thuận về mức lương, sau 81 trận đấu và 43 bàn thắng cho câu lạc bộ. Anh gia nhập AEK Athens FC vào 29 tháng 5 năm 2007, đó là một sự kiện lớn trong lịch sử của đội bóng.
Tại AEK Athens Rivaldo chơi dưới sự dẫn dắt của Llorenç Serra Ferrer, từng thân với anh tại Barcelona. Anh mở đầu sự nghiệp tại AEK bằng một bàn thắng trong trận giao hữu. Anh ghi một cú "lật bàn đèn" nữa tại vòng 1 UEFA Cup trong trận đấu với FC Red Bull Salzburg. Trong trận đấu với Olympiacos, Rivaldo đã đưa AEK giành chiến thắng 4-0 trước đội bóng cũ.
Ngày 25 tháng 8 năm 2008, Rivaldo tuyên bố anh đồng ý rời Hy Lạp để chuyển sang chơi cho FC Bunyodkor, một câu lạc bộ của Uzbekistan, tại đây anh sẽ nhận mức lương 10,2 triệu Euro 1 năm. Ngay trong trận ra mắt vào ngày 8 tháng 9 năm 2008, anh đã lập 1 cú đúp giúp đội vượt qua Mash'al với tỉ số 2-0. Tuy vậy, anh không thể giúp đội bóng tiến sâu vào Cúp C1 châu Á. Đội đã phải chịu thất bại 0-3 trước các cầu thủ đến từ Úc, Adelaide United tại vòng bán kết.
Thống kê sự nghiệp.
"Số liệu thống kê tính đến năm 2010."
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Danh hiệu cá nhân
|
Gia đình văn hóa
Gia đình văn hóa là một chỉ tiêu được chính phủ Việt Nam đề ra để thực hiện trong nhiều gia đình ở Việt Nam ở cấp tổ dân phố nhằm tạo ra một số tiêu chuẩn về văn hóa và khuyến khích các gia đình đạt các tiêu chuẩn này. Những gia đình được chính quyền cấp xã công nhận là đã đạt tiêu chuẩn sẽ được cấp bằng khen cùng tên, bằng khen Gia đình văn hóa. Tổng cộng là có 22 chỉ tiêu.
Các tiêu chuẩn văn hóa của chương trình này dựa nhiều trên các giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam. Tuy nhiên các tiêu chuẩn này không chỉ khép kín trong truyền thống, mà nó tiếp nhận các yếu tố văn hóa của những dân tộc khác. Đa phần các trường hợp nhận bằng khen là đủ tiêu chuẩn; tuy nhiên, vẫn có những ý kiến cho rằng trong một số ít trường hợp chưa hoàn toàn đạt yêu cầu mà vẫn được cấp bằng khen. Nếu 80% gia đình trong một khu phố đạt chỉ tiêu là "Gia đình văn hóa" thì ủy ban nhân dân địa phương có thể xin được công nhận là "phố văn hóa" hoặc "làng văn hóa".
Năm 1960, phong trào gia đình văn hóa được thí điểm đầu tiên tại tỉnh Hưng Yên với 6 gia đình đầu tiên tại thôn Ngọc Tỉnh - xã Ngọc Long- huyện Yên Mỹ đồng thời cũng là những gia đình đầu tiên được công nhận Gia đình văn hóa. Mục đích của phong trào là khuyến khích các gia đình tích cực lao động sản xuất, thực hiện nếp sống mới, nuôi dạy con cái học hành tiến bộ, đoàn kết xóm làng và giữ gìn vệ , sau đó mở rộng tới nhiều địa phương khác.
|
Phong kiến (châu Âu)
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Phong kiến là cấu trúc xã hội xoay quanh những mối quan hệ xuất phát từ việc sở hữu đất đai để đổi lấy lao động. Tại châu Âu, chế độ này là một tổng hợp các tục lệ pháp lý và quân sự nở rộ vào giai đoạn từ thế kỷ 9 tới 15.
Về mặt thuật ngữ, chế độ phong kiến (phong tước, kiến địa) là một từ gốc Hán-Việt: 封建, xuất phát từ hệ tư tưởng chính trị thời Tây Chu, Trung Quốc. Vào thời này, vua Chu ra chế độ đem đất đai phong cho bà con để kiến lập các nước chư hầu gọi là "phong kiến thân thích". Do chế độ này giống chế độ phong đất cho bồi thần ở Châu Âu nên người ta đã dùng chữ "phong kiến" để dịch chữ "féodalité" từ tiếng Pháp. Tuy vậy cả hai chữ này chỉ mới phản ánh hình thức phân phong đất đai chứ chưa phản ánh bản chất của chế độ đó. Trong tiếng Pháp, "féodalité" bắt nguồn từ chữ "feod" trong tiếng Latinh nghĩa là "lãnh địa cha truyền con nối".
Phong kiến phản ánh hình thức truyền nối và chiếm hữu đất đai của chế độ quân chủ thời xưa, trong thời quân chủ chuyên chế. Trong nhiều trường hợp, những thời kỳ quân chủ trước kia cũng được gọi là thời kỳ phong kiến. Tuy nhiên, trong thời hiện tại, thể chế về chế độ quân chủ thời nay là chế độ quân chủ lập hiến, cho nên phong kiến chỉ phản ánh một giai đoạn, một thời kỳ hay là một hình thái của chế độ quân chủ.
Ví dụ về phong kiến.
Chế độ nông nô tại Nga.
Chế độ nông nô ở Nga là một chế độ phong kiến cứng rắn, chế độ này không chỉ chặt bỏ hơn một nửa mùa màng và thu thuế từ nông dân, mà còn ràng buộc nông dân với ruộng đất của lãnh chúa phong kiến. Như vậy, nông dân bị giam cầm, không thể tự do đi lại từ lãnh chúa phong kiến này sang lãnh chúa phong kiến khác, không thể tích lũy kinh phí và cũng không thể trở thành lãnh chúa phong kiến.
Phương Đông và phương Tây.
Trong từng quốc gia và từng khu vực, chế độ phong kiến mang những đặc điểm riêng của những loại hình khác nhau. Do đó trong vài thập kỷ gần đây, các nhà sử học và các nhà nghiên cứu có những quan niệm rất khác nhau về chế độ phong kiến. Chính vì vậy, đã có những cuộc tranh luận về những đặc điểm cũng như sự tồn tại của chế độ phong kiến ở nhiều nước, nhất là sự khác nhau giữa phương Đông và phương Tây.
Sự khác biệt giữa phương Tây và phương Đông nhiều đến mức độ làm cho một số nhà sử học tỏ ý nghi ngờ hoặc phủ nhận việc áp dụng định nghĩa kiểu phương Tây về chế độ phong kiến đối với phương Đông.
Theo ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê, phong kiến của phương Đông và "féodalité" của phương Tây thực chất không giống nhau:
"Thời Trung cổ, ở phương Tây (như Pháp chẳng hạn) cũng có chế độ féodalité mà ta dịch là phong kiến, nhưng sự thực thì féodalité khác phong kiến Trung Hoa. Thời đó vua chúa của phương Tây suy nhược, các rợ (như Normand, Các dân tộc German, Visigoth) ở chung quanh thường xâm lấn, cướp phá các thành thị, đôi khi cả kinh đô nữa, rồi rút lui. Các gia đình công hầu thấy sống ở kinh đô không yên ổn, triều đình không che chở được cho mình, phải dắt díu nhau về điền trang của họ, xây dựng những đồn luỹ kiên cố, chung quanh có hào; họ đúc khí giới, tuyển quân lính để chống cự với giặc. Nông dân ở chung quanh đem ruộng đất tặng lãnh chúa hoặc sung vào quân đội của lãnh chúa để được lãnh chúa che chở. Do đó mà một số lãnh chúa khá mạnh, đất rộng, quân đông, họ hợp lực nhau đem quân cứu triều đình, được phong tước cao hơn, có khi lấn áp nhà vua nữa, và sau triều đình phải tốn công dẹp họ để thống nhất quốc gia. Nguyên nhân thành lập chế độ phong kiến ở Đông và Tây khác nhau như vậy nên không thể so sánh với nhau được."
Theo học giả Phan Khôi, lịch sử Việt Nam cũng không có chế độ phong kiến theo kiểu vua phân quyền cho các lãnh chúa giống như phương Tây, mà chỉ có chế độ vua trả lương cho quan lại để họ giúp vua cai trị quận huyện (giống như Trung Quốc sau thời nhà Tần).
|
Súng phun lửa là một loại vũ khí hoàn toàn có thể phun ra lửa nhằm tiêu diệt hoặc sát thương mục tiêu đối phương.Súng phun lửa thường có tầm bắn vài chục đến vài trăm mét nếu lắp đặt trên module bánh xích hoặc bánh hơi và nòng súng được tinh chỉnh lại. Súng phun lửa thường dùng chất lỏng như xăng hoặc chất khí như khí ga để phun.Trong lĩnh vực quân sự,hầu hết súng phun lửa sử dụng chất lỏng hoặc gas tùy mục đích sử dụng
Loại súng phun lửa cầm tay của bộ binh có cấu tạo gồm 2 thành phần chính: túi đeo sau lưng và súng. Túi đeo sau lưng có hai hay ba bình, một bình nén đầy khí gas, hai bình khác chứa chất lỏng có thể cháy
Súng phun lửa là một loại vũ khí, dùng để bắn lửa về phía đối phương. Tuy rằng nhiều súng phun lửa không thật sự là súng, nhưng vẫn thường gọi như vậy.
Súng phun lửa thời cổ là Hỏa Hổ. Trong thời kỳ thuốc nổ và nòng súng còn yếu, sức công phá của đạn chưa mạnh, người ta không nhồi đạn. Sử dụng thuốc nổ đã được làm chậm tốc độ cháy bằng cách trộn dư chất khử (hồi đó là bột than, lưu huỳ). Thuốc được nhồi nhiều hơn so với lúc bắn đạn, khí nóng và phần chất khử dư phụt về địch gây cháy. Nguyên tắc này vẫn được áp dụng ngày nay. Hỏa hổ ngày xưa là ống đồng mỏng, nhồi gần đầy, sát thương vài chục mét, là vũ khí mạnh đến giữa thiên niên kỉ thứ 2, sau đó súng bắn đạn dần thay thế. Sau này nhờ công của Gốt Đát mà súng được bắn với nguyên liệu là tinh thể lỏng, phóng lủa nhanh và mạnh hơn, nhưng lại vô cùng nguy hiểm vì có thể cháy ra xung quanh.
Súng phun nhiên liệu ngày nay do Đức chế tạo đầu tiên trong đệ nhất thế chiến thường sử dụng thuốc hai thành phần, một phần chất oxy hóa được bơm vào bình đựng nhiên liệu, cháy làm tăng áp, đẩy hỗn hợp nhiên liệu-chất oxy hóa về phía địch. Hỗn hợp này có chất oxy hóa nên rất khó dập tắt, cháy tỏa nhiệt lớn. Súng phun này thường được chế tạo như ba-lô lính, đeo sau lưng, vòi phun cầm tay. Nhược điểm của hệ thống này là rất nguy hiểm, thiếu sức công phá tường giáp, tầm gầ"đạn dược" dồi dào.
Các súng bắn đạn cháy vác vai Nga SPG thường mang chất nổ rắn. Chất nổ trộn dư chất oxy hóa tỏa nhiệt mạnh, như bột nhôm. Một phần chất nổ này có tác dụng như nhiên liệu tên lửa, đẩy đầu đạn về phía địch, chui vào hầm, nhà. Các chất khử rắn như bột nhôm có tác dụng rất mạnh, nguy hiểm. Nhược điểm của loại súng này là không mang được nhiều đạn. Ưu điểm là nhiệt độ cháy cao, chui sâu, tầm xa và vùng ảnh hưởng rộng.
Các xe cộ phun lửa như xe tăng phun lửa thường dùng các máy bơm, trộn nhiên liệu và chất oxy hóa trước khi phun đi xa bằng máy bơm dùng động cơ. Hỗn hợp cháy có thể trộn thêm các chất giảm bay hơi, bám dính, gây nhão như napan, để cháy lâu.
Những loại đạn cháy, bom cháy thường trộn chất oxy hóa và chất khử trước như SPG.
|
Tự Đức (: templatestyles src="Nôm/" / 22 tháng 9 năm 1829 – 19 tháng 7 năm 1883) tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (阮福洪任), khi lên ngôi đổi thành Nguyễn Phúc Thì (阮福時), là vị hoàng đế thứ tư của triều Nguyễn. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883, ông được truy tôn miếu hiệu là Nguyễn Dực Tông (阮翼宗), thụy hiệu là Thể Thiên Anh Hoàng Đế. Trong suốt thời gian trị vì của mình ông chỉ sử dụng duy nhất một niên hiệu là Tự Đức (嗣德) nên thường được gọi với tên này.
Triều đại của ông đánh dấu sự suy yếu của nhà Nguyễn và nhiều sự kiện xấu với vận mệnh Đại Nam. Quân đội nhà Nguyễn ngày càng suy yếu, kinh tế trì trệ, trong khi nhiều cuộc nội loạn diễn ra trong cả nước. Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng. Trước tình hình người Pháp xâm lấn trong triều đình đặt ra vấn đề cải cách, liên tiếp các năm từ 1864 đến 1881, các quan là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước nhưng các đình thần lại không thống nhất, nhà vua cũng không đưa ra được quyết sách dứt khoát. Mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình cải cách là cho học tiếng nước ngoài, nhưng đình thần vẫn bất đồng và nảy sinh hai phe chủ trương cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa. Chính vua Tự Đức cũng phải tự phê về triều đại mình như sau: ""Thanh dung thịnh nhi võ bị suy, nghị luận đa nhi thành công thiểu" (聲容盛而武備衰, 議論多而成功少; nghĩa là: Bề ngoài hào nhoáng nhưng quân sự suy yếu, bàn luận nhiều mà thành công ít)"
Triều đình nhà Nguyễn ngày càng bất lực trước sự tấn công của Pháp, chỉ mong cắt đất cầu hòa. Cuối cùng, tới năm 1883, Tự Đức qua đời, ngay sau đó Pháp tấn công vào kinh đô và ép buộc nhà Nguyễn phải công nhận sự "bảo hộ" của Pháp trên toàn Đại Nam. Nhà Nguyễn sau thời Tự Đức chỉ còn là danh nghĩa, vua Nguyễn chỉ còn là bù nhìn, thực tế thì đã mất nước vào tay Pháp.
Nguyễn Phúc Hồng Nhậm sinh ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu (tức 22 tháng 9 năm 1829) tại Huế, là con thứ nhưng là đích tử của vua Thiệu Trị và Phạm Thị Hằng (bà Từ Dụ). Khi còn nhỏ Hồng Nhậm còn có tên khác là Nguyễn Phúc Thì. Ngoài ra, theo truyền thống hoàng tộc Nguyễn Phúc có từ thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, hoàng tử sinh ra để dễ nuôi sẽ được đặt thêm tên có chữ Mệ, vì vậy thuở nhỏ ông còn được gọi là Mệ Tríu
Vì anh trai của ông, Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là một người ham chơi, mê cờ bạc, không chịu học hành nên vua Thiệu Trị trước lúc qua đời đã để di chiếu truyền ngôi cho ông. Bấy giờ ông mới 19 tuổi, nhưng học hành đã thông thái. Đến tháng 10 năm 1847 ông chính thức lên ngôi hoàng đế ở điện Thái Hòa, đặt niên hiệu là Tự Đức, bắt đầu từ năm sau là 1848. Khi Tự Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị tuân theo phong cách Nho giáo.
Tự Đức lên ngôi vào tháng 10 năm Đinh Mùi 1847 theo di chiếu của vua cha Thiệu Trị. Bấy giờ ông mới có 19 tuổi.
Quan lại dưới thời Tự Đức.
Phần lớn triều thần thời Tự Đức là những người hấp thụ nền giáo dục Nho giáo nên không cập nhật được những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại. Hơn nữa Đại Nam đang trong tình trạng đóng cửa nên triều đình nhà Nguyễn có rất ít thông tin về thế giới bên ngoài. Họ chỉ nhìn nhận tình hình thế giới bằng con mắt của hàng trăm năm trước khi phương Tây chưa công nghiệp hoá trong khi phương Tây đã bỏ xa nước Đại Nam về công nghệ, kỹ thuật. Một số người ở Nghệ An đã xuất ngoại nên nắm bắt được tình hình thế giới đương thời mà điển hình là ông Nguyễn Trường Tộ. Khi về nước, Nguyễn Trường Tộ liền thỉnh cầu Hoàng đế gấp rút cải cách kẻo mất nước. Tiếc thay, quần thần ngăn cản nên ông cũng từ chối ban hành cải tổ. Nhiều nhà sử học quy trách nhiệm về việc mất nước cho các quan lại cao cấp dưới thời Tự Đức. Tuy nhiên dưới thời ông cũng có một số trung thần xả thân vì nước như Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệ
Thuế khoá trong nước dưới thời Tự Đức đại khái cũng giống như các thời Minh Mạng (1820 - 1841) và Thiệu Trị (1841 - 1847) trước đó, nhưng từ khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha chiếm các tỉnh Nam Kỳ rồi lại phải bồi tiền binh phí mất 4 triệu nguyên, triều đình mới tìm cách lấy tiền, bèn phải cho quan Hầu Lợi Trịnh đánh thuế cao trong việc buôn bán thuốc nha phiến từ Quảng Bình đến Bắc Kỳ, tuy không nhiều. Sử sách chép rằng mỗi năm nhà vua thu được có 302.200 quan tiền thuế nha phiến.
Nhà vua buộc phải dùng lối đời trước bán quan để lấy tiền, theo hình thức "quyên". Định lệ cho quyên từ 1.000 quan trở lên thì được hàm cửu phẩm, lên đến 10.000 thì được thăng hàm lục phẩm.
Thời Tự Đức có nhiều giặc giã và là một thời rất loạn lạc ở Đại Nam. Có nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình cùng với thực dân Pháp âm mưu chiếm hết toàn cõi Đại Nam. Tuy nhiên quân đội nhà Nguyễn thời kỳ này lại sa sút rất nhiều. Theo sách "Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn", thời Tự Đức, công tác quốc phòng của nhà Nguyễn có sự tương phản rõ rệt với các triều trước.
Một trong những lý do khiến cho tình hình quân đội sa sút là vấn đề tài chính. Các cuộc chiến thời Minh Mạng đã làm ngân khố nhà Nguyễn suy kiệt. Vũ khí và trang thiết bị làm mới gần như không có. Bộ binh được trang bị rất lạc hậu: 50 người mới có 5 khẩu súng, mỗi năm chỉ tập bắn 1 lần 6 viên đạn. Vũ khí được bảo dưỡng cũng kém. Về thủy binh, không có tàu hơi nước nào được đóng mới, thủy quân thậm chí không đủ khả năng để bảo vệ bờ biển chống hải tặc. Việc giảng dạy binh pháp không còn chú trọng tới sách vở phương Tây nữa mà quay trở lại với "Binh thư yếu lược" của Trần Hưng Đạo triều Trần. Đời sống binh lính không được quan tâm thỏa đáng, lương thực lại còn bị ăn bớt. Do đó tinh thần chiến đấu của binh sĩ không được cao.
Năm 1861, Tự Đức ra lệnh cho các tỉnh thành chọn lấy những thanh niên trai tráng khỏe mạnh để đi lính. Đến năm 1865, triều đình Tự Đức tổ chức khoa thi đầu tiên để tuyển chọn Võ tiến sĩ vào thời Nguyễn.
Tuy rằng Đại Nam lúc đó các tướng sĩ tài giỏi không thiếu nhưng thời thế đã khác xưa thế mà vẫn còn dùng gươm giáo. Khi ấy, thực dân Pháp đã có súng ống tân tiến do đó gươm giáo của Đại Nam không thể địch nổi. Tuy Đại Nam có nhân lực dồi dào, vũ khí hiện đại để chiến đấu thì lại thiếu thốn trầm trọng. Trong một đội gồm 10 binh lính thì mới có một khẩu súng kiểu cũ, phải châm ngòi bắn mới được. Mà quân sĩ không được tập bắn nhiều do sợ tốn tiền đạn dược. Bởi thế khi quân Pháp tới Đại Nam chẳng thể chống nổi.
Quan điểm nghệ thuật quân sự của vua quan triều Nguyễn không hề vượt quá khuôn khổ của khoa quân sự trung cổ. Việc không bắt kịp với thành tựu mới của khoa học phương Tây thời vua Tự Đức khiến cho quân sự Việt Nam bị lạc hậu nhiều. Vì vậy, khi quân Pháp xâm lược Đại Nam năm 1858, khoảng cách về trang thiết bị với quân đội nhà Nguyễn đã khá xa.
Chẳng những không chống nổi quân Pháp, ngay cả quân Cờ đen là một nhóm thổ phỉ chỉ có mấy trăm người cũng có thể kéo từ biên giới Trung Quốc vào đến tận Sơn Tây, lập trại cát cứ, gây nhiễu loạn cả một vùng suốt nhiều năm mà hàng vạn quân nhà Nguyễn ở miền Bắc cũng không dẹp nổi. Đánh không thắng được, cuối cùng nhà Nguyễn phải trả tiền để thuê đội quân thổ phỉ này cùng chống Pháp, và đáng buồn hơn nữa là quân Cờ đen lại gây thiệt hại cho Pháp nhiều hơn là quân nhà Nguyễn. Điều này cho thấy quân đội nhà Nguyễn thời Tự Đức đã suy yếu tới mức nào.
Tự Đức khước từ mọi giao thiệp với người phương Tây, dầu việc giao thiệp chỉ nhằm phục vụ thương mại. Năm 1850, có tàu của Hoa Kỳ vào cửa Đà Nẵng, có quốc thư xin thông thương nhưng nhà vua làm ngơ không thèm tiếp thư.
Từ năm 1855 đến 1877 các nước Anh, Pháp và Tây Ban Nha nhiều lần có tàu vào cửa Đà Nẵng, cửa Thị Nại (Bình Định) và Quảng Yên xin thông thương cũng không được. Mãi đến khi Gia Định bị thực dân Pháp chiếm đóng, việc ngoại giao giữa triều đình với các nước phương Tây khó khăn, Tự Đức mới thay đổi chính sách, đặt ra Bình Chuẩn Ty để lo buôn bán và Thượng Bạc Viện để giao thiệp với người nước ngoài nhưng không có kết quả vì những người được ủy thác vào các việc này không được học hành gì về ngoại giao.
Cấm đạo Công giáo.
Sau khi lên ngôi vào năm 1848 thì vua Tự Đức đã có dụ cấm đạo Công giáo, cũng vì sự cấm đạo tàn nhẫn này mà thực dân Pháp sau này có cớ xâm chiếm Đại Nam. Tự Đức nhận xét về Công giáo:
""Họ bảo Thiên Chúa tức là Thượng đế, Thượng đế là chúa tể của trời, tức là sáng tạo ra trời đất, vạn vật. Họ lại nói Thiên chúa không phải là trời, không phải là đất, không phải là lý, không phải là đạo, không phải là khí, không phải là tính, không phải là người, không phải là vật, không phải là quỷ, không phải là thần, đó là đầu mối của vạn vật, mà chính mình không bắt đầu từ đâu cả… đem so với Lão Tử khi nói "Vô danh là bắt đầu của trời vật, Đạo sinh ra một, một sinh ra hai" mới thấy thuyết của Gia Tô lại càng xuyên tạc thô sơ, họ chỉ biết mượn Thiên Chúa để che giấu cái dấu tích Gia Tô, và để làm văn hoa cho sự lầm lỗi vì đã thờ phụng xằng mà không kể gì đến gốc tích nữa"".
Một trong những tuyên cáo của Tự Đức có ghi:
Ba năm sau đó, năm 1851, sự khoan dung này dành cho các linh mục bản xứ đột nhiên bị bãi bỏ. Từ đó dụ cấm đạo càng khắt khe hơn trước. Từ đó về sau: "hoặc là họ phải chà đạp lên thánh giá, nếu không sẽ chém làm hai ở ngang lưng" (trảm yêu). Trong năm đó và năm kế tiếp, bốn vị giáo sĩ truyền đạo người Pháp đã bị chém đầu và thi thể bị ném trôi sông hay ra biển. Báo chí Công giáo tại Pháp kêu la trong sự kinh hoàng, và sự khích động đã thu nhận được một cảm tình viên nơi Hoàng hậu Pháp Eugenie, nhất là khi trong số các nạn nhân sau này có tên một vị tu sĩ Tây Ban Nha mà khi còn là một thiếu nữ, bà có quen biết tại Andalusia.
Về việc này, Trần Trọng Kim có lời bình:
Theo hòa ước với Pháp năm 1862, nhà Nguyễn bỏ việc cấm đạo Công giáo. Năm 1864, để phản ứng lại âm mưu giết hại người Công giáo của giới Văn Thân ở Huế, Tự Đức hạ dụ:
Phan Phát Huồn nhận định rằng dù sắc dụ trên có điều sai lạc nhưng Tự Đức đã công nhận sự trung thành và bị vu oan của người Công giáo. Năm 1869, Tự Đức ra hai sắc dụ bảo vệ người Công giáo: cho phép người Công giáo được tập hợp thành làng, có lý trưởng Công giáo, và cấm người lương nhục mạ và quấy rầy lễ nghi của người Công giáo. Tuy vậy đối với nhiều người, Tự Đức không còn đủ uy tín, và phong trào Văn Thân chống đối ông bắt đầu nổi lên tàn sát người Công giáo.
Các cuộc nổi loạn.
Tự Đức là một vị vua chăm chỉ về việc trị dân, ngay từ năm Canh Tuất (1850) vua sai Nguyễn Tri Phương làm Kinh lược Đại sứ 6 tỉnh Nam Kỳ, Phan Thanh Giản làm Kinh lược Đại sứ Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Bình Thuận, Nguyễn Đăng Giai làm Kinh lược Đại sứ Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa. Các đại thần này đi khám xét công việc các quan lại và sự làm ăn trong dân gian, có điều gì hay dở phải dâng sớ tâu về Kinh đô cho vua biết.
Dù vậy, tại Bắc Kỳ có 40 cuộc nổi loạn dưới triều Tự Đức. Chỉ có vài ba năm đầu còn hơi yên trị, từ năm 1851 trở đi, trong nước ngày càng nhiều cuộc nổi loạn. Bắc Kỳ là nơi nhiều loạn nhất, bởi vì đây là đất của tiền triều Hậu Lê, nhiều người tưởng nhớ đến tiền triều, nên chỉ những người muốn làm loạn, hoặc tự nhận là hậu duệ triều Hậu Lê, hoặc tìm một người giả nhận dòng dõi nhà Hậu Lê, rồi tôn lên làm minh chủ để lấy cớ mà khởi sự.
Bấy giờ, ở Trung Quốc có quân Thái Bình Thiên Quốc nổi lên đánh nhà Thanh, đến khi tan vỡ thì tàn quân Thái Bình Thiên Quốc tràn sang Đại Nam cướp phá ở miền thượng du, quan quân nhà Nguyễn phải đi đánh dẹp rất phiền phức. Ở trong nước thì thỉnh thoảng lại có tai biến như nước lụt, đê vỡ... Ở Hưng Yên, đê Văn Giang vỡ 18 năm liền, cả huyện Văn Giang trở thành bãi cát bỏ hoang, nhân dân đói khổ, nghề nghiệp không có, bởi thế nên người đi làm giặc ngày càng nhiều.
Năm 1851, có nhóm giặc Khách là Quảng Nghĩa Đường, Lục Thắng Đường, Đức Thắng Đườ"giặc Tam Đường" quấy nhiễu ở mặt Thái Nguyên. Vua Tự Đức sai Nguyễn Đăng Giai ra kinh lược ở Bắc kỳ. Giai đã dùng cách khôn khéo dụ được quân nổi loạn về hàng. Bởi vậy trong hạt lại được yên một độ. Nhưng đến năm 1854, Nguyễn Đăng Giai qua đời, Bắc kỳ lại có loạn.
Năm 1854, năm Tự Đức thứ 7, ở tỉnh Sơn Tây có một nhóm người đem Lê Duy Cự là hậu duệ của triều Lê ra lập làm minh chủ để khởi sự đánh nhà Nguyễn. Lúc bấy giờ có Cao Bá Quát, người làng Phú Thụy, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh thi đỗ cử nhân, ra làm quan, được bổ chức Giáo thụ phủ Quốc Oai (Sơn Tây). Cao Bá Quát là một nhà văn, nhà thơ lỗi lạc ở Bắc Kỳ, mà cứ bị quan trên đè nén, cho nên bức chí, từ quan lui về dạy học, rồi theo nhóm người ấy xưng làm Quốc sư để dấy loạn ở vùng Sơn Tây và Hà Nội.
Lúc đầu nghĩa quân giành được một số thắng lợi ở Sơn Tây, Nam Định nhưng sau đó thì bị quân triều đình đánh tan. Theo "Thư mục chính biên" thì Cao Bá Quát bị bắn chết trong một trận đánh năm 1855, nhưng theo "Việt Nam sử lược" thì Quát bị quan Phó Lãnh binh tỉnh Sơn Tây là Lê Thuận đánh bắt được và đem về chém tại làng. Vua Tự Đức ra lệnh cho tru di tam tộc dòng họ Cao.
Bởi vì tháng 5 ấy ở tỉnh Bắc Ninh và Sơn Tây có nhiều châu chấu phá hoại mùa màng, đến cuối năm lại có cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Cự, nên tục gọi là "giặc Châu Chấu".
Sau khi Cao Bá Quát chết, Lê Duy Cự còn quấy rối đến mấy năm sau mới dẹp yên được.
Khởi nghĩa Lê Duy Phụng.
Khởi nghĩa Lê Duy Phụng là tên gọi của cuộc nổi dậy do Lê Duy Phụng, trước đã từng tham gia trong lực lượng Pháp tiến đánh Nam Kỳ, lãnh đạo chống triều đình nhà Nguyễn ờ vùng ven biển Bắc Kỳ từ năm 1861 đến 1865. Cuộc nổi dậy đã được các lực lượng nông dân khởi nghĩa, các nhóm giặc cỏ ở khắp Bắc Kỳ như Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An cũng như hải tặc ngoài biển ủng hộ nhiệt liệt, lan rộng khắp miền Bắc cho quân Pháp rảnh tay ở Nam Kỳ.
Hồng Bảo mưu giành ngôi.
Theo lẽ thường, sau khi vua Thiệu Trị qua đời, ngôi vua sẽ được truyền cho người con trưởng là Nguyễn Phúc Hồng Bảo (1825 - 1854). Thế nhưng, khi vua Thiệu Trị mất, "liền ngày ấy, các hoàng thân và các quan văn võ họp tại điện Cần Chánh để tuyên đọc di chiếu, theo đó hoàng tử thứ hai là Phúc Tuy công Nguyễn Phúc Hồng Nhậm được lập lên ngôi. Hồng Nhậm khóc lạy lãnh mạng. Di chiếu đọc chưa dứt, An Phong công (Hồng Bảo) phẫn uất thổ huyết hơn một đấu, nằm vật ngã giữa điện đình. Lúc làm lễ đăng quang, mấy người phải đỡ ông dậy, nghi lễ mới hoàn tất."
Lý do Hồng Bảo bị phế truất, sử nhà Nguyễn chép lời trăng trối lúc lâm chung của Thiệu Trị nói với các đại thần Trương Đăng Quế, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương và Lâm Duy Tiếp:
Dù vậy, Hồng Bảo không tin đây là ý của vua cha mà là do Trương Đăng Quế bày mưu, nên quyết chí báo thù người gây ra. và tìm cách giành lại ngôi báu.
Vào tình hình trước nguy cơ bị thực dân Pháp đô hộ. Đoàn Hữu Trưng, là một người có học thức, tin rằng vua Tự Đức bất tài và nghĩ rằng vua Hồng Bảo nếu được lên ngôi thì sẽ giải quyết được tình hình nguy cấp như hiện giờ. Trưng đứng về phía chủ chiến chống Pháp thay vì hòa. Ông còn phản Tự Đức vì Tự Đức không chịu cải cách đất nước. Do các người dân tham gia cuộc nổi dậy này đa số dùng chày vôi nên họ còn được gọi là "quân chày vôi".
Giặc Khách ở Bắc kỳ.
Giữa thế kỷ 19, vùng Tây Bắc Đại Nam ngày càng mất ổn định. Sau khi cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc bị nhà Thanh đàn áp, nhiều nhóm tàn quân của Thái Bình Thiên quốc tản mác và bỏ xuống phía nam, hoạt động ở vùng núi miền bắc Đại Nam theo diện hoạt động thổ phỉ. Tình hình biên giới hai nước Đại Nam và Đại Thanh càng phức tạp, nhiều giặc giã, nhưng quân đội triều đình nhà Nguyễn lại không đủ sức đánh dẹp được, nên buộc phải đồng ý cho quân Nhà Thanh vào miền Bắc để bình định vùng biên giới.
Năm 1868, cuộc nổi dậy của Ngô Côn bị dẹp tan, số tàn quân dạt sang Đại Nam và trở thành những đám phỉ thi nhau cướp bóc dọc biên giới ở vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang… trong đó mạnh nhất là quân Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh. Nhằm truy quét tiêu diệt triệt để toán phỉ này, từ năm 1869, nhà Thanh đã nhiều lần phái tướng Phùng Tử Tài đưa quân sang Đại Nam phối hợp với quân nhà Nguyễn và quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đánh quân Cờ Vàng.
Năm 1868, Ngô Côn cho quân đánh chiếm thành Cao Bằng, nhà Nguyễn phải cử quan tổng đốc Phạm Chí Hương viết thư sang nhà Thanh xin cho quân sang tiễu trừ. Triều đình Mãn Thanh đã cho Phó tướng Tạ Kế Quý đem quân sang phối hợp với Ông Ích Khiêm và quan đề đốc Nguyễn Viết Thành đánh đuổi nhưng không được. Đến tháng 7 năm 1868, quân tướng nhà Thanh và Triều Nguyễn lại cùng nhau phối hợp đánh quân Cờ Vàng do Ngô Côn cầm đầu ở Thất Khê nhưng thất bại; trong trận này tham tán Nguyễn Lệ và Phó Đô đốc Nguyễn Viết Thành bị tử trận, còn Tham tán Phạm Chí Hương bị bắt.
Trước tình hình đó đã buộc triều đình Huế phải nhờ cậy đến Đề đốc Quảng Tây là Phùng Tử Tài mang 16 doanh quân (mỗi doanh có từ 200 đến 300 quân) sang phối hợp với quân triều đình Huế đánh đuổi. Nhà Nguyễn lại cử Vũ Trọng Bình làm Hà Ninh Tổng đốc kết hợp với Phùng Tử Tài mang 31 quân thứ (gần 1 vạn quân) đánh Ngô Côn, khôi phục được tỉnh Cao Bằng vào tháng 5 năm 1869.
Khi Ngô Côn vây hãm quân triều đình ở phủ Phú Bình thuộc tỉnh Thái Nguyên, Tán tương quân thứ Tôn Thất Thuyết, quyền đề đốc Nguyễn Văn Nhuận chia đường tiến đánh, lấy lại được phủ thành. Đó cũng là lúc, để cùng phối hợp, Vũ Trọng Bình và Nguyễn Văn Tường ở Lạng Sơn liền bàn với Phùng Tử Tài tiến quân về Thái Nguyên, Bắc Ninh, Sơn Tây, Tuyên Quang để "cùng đánh một loạt cứ điểm sào huyệt của bọn phỉ".
Bên cạnh quân chính quy của Mãn Thanh và Đại Nam thì đợt tiễu trừ lần này còn có vai trò to lớn của cánh quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc. Tháng 2 năm 1868 Lưu Vĩnh Phúc đã phối hợp với quân của triều đình Huế dẹp quân "Cờ Vàng", "Cờ Trắng" ở vùng Quảng Ninh, Lạng Sơn, Tuyên Quang và Bắc Ninh.
Năm 1869, quân Cờ đen phục kích đánh tan tác quân Cờ vàng tại Lào Cai, rồi truy quét Cờ vàng đến tận hang ổ tại Hà Giang. Phối hợp với quân Cờ đen là quân nhà Nguyễn và quân Thanh của tướng Phùng Tử Tài, quân Cờ vàng phải tháo chạy khỏi căn cứ Hà Giang. Tuy nhiên, do dịch bệnh và khí hậu khắc nghiệt nên quân Thanh phải rút về, quân Cờ vàng tiếp tục kiểm soát một vùng rộng lớn ở khoảng giữa sông Hồng đến biên giới, từ Lào Cai đến Sơn Tây.
Vào cuối năm Canh Ngọ (1870), sau khi thất bại ở Thất Khê, Cao Bằng, Ngô Côn đem quân rút chạy xuống Bắc Ninh và đem quân vây sát thành Bắc Ninh với khí thế rất mạnh. Nhưng lần này Ngô Côn bị chỉ huy quân nhà Nguyễn là Ông Ích Khiêm bắn chết trong một trận giao chiến ở gần sông Đuống. Đó là lần chiến thắng vang dội nhất, từ sau chiến thắng đánh chiếm lại thành Cao Bằng do Vũ Trọng Bình, Nguyễn Hiên, Đinh Hội chỉ huy. Hai trận thắng cách nhau chỉ hai tháng.
Sau khi dẹp được quân Ngô Côn, triều đình nhà Nguyễn đã cử nhiều quan lại như Võ Trọng Bình, Trần Đình Túc, Ông Ích Khiêm đến hội đàm với tướng Thanh là Phùng Tử Tài xung quanh vấn đề sự hiện diện của quân Thanh trên đất Đại Nam và buộc Phùng Tủ Tài phải gây sức ép lên quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc để nhóm quân này phải rút về Trung Quốc.
Khi Phùng Tử Tài đến Tuyên Quang theo như yêu cầu của Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường, quân Thanh dưới quyền Phùng Tử Tài hội quân với quân Nam tại đấy. Quân Thanh đóng trại ở xã Linh Hồ, ngoài thành. Phùng Tử Tài phàn nàn về vấn đề lương thực và đạn dược tiếp vận chậm. Để làm vừa lòng ông, Nguyễn Bá Nghi, Đào Trí liền bị vua Tự Đức cách chức.
Vua Tự Đức cũng gửi dụ ra mặt trận ngợi khen Vũ Trọng Bình, Nguyễn Văn Tường giỏi về ứng đối (với tướng nhà Thanh), cho chuyên sung việc hộ dẫn, theo bàn công việc mưu kế đánh dẹp, vỗ về. Năm Tự Đức thứ hai mươi ba, Canh ngọ (1870), tại Lạng Sơn, tán tương Nguyễn Văn Tường theo sắc dụ của vua Tự Đức, sung làm khâm mạng đến đại bản doanh của tướng nhà Thanh Phùng Tử Tài để phúng điếu tổng trấn Quan Tùng Chi nhà Thanh mới chết bệnh và các chiến sĩ trận vong của họ với số tiền tượng trưng là 200 lạng bạc cùng nhiều lễ vật khác, đồng thời ông cũng uỷ lạo các doanh quân Thanh bằng số bạc 3000 lạng, để tiễn chân quân Thanh hợp lực tiễu phỉ về nước.
Tháng Tư năm Tự Đức 23 (năm 1870), tình hình ở Bắc Kỳ tạm yên, Phùng Tử Tài được lệnh rút quân về nước. Tuy bị đánh lui khỏi Cao Bằng nhưng dư đảng của giặc "Cờ Vàng" vẫn còn rất mạnh, giữa năm 1871, giặc Cờ Vàng lại trỗi dậy mạnh mẽ, cướp bóc các tỉnh thượng du Bắc Kỳ ở vùng Tây Bắc. Phùng Tử Tài lại phụng mệnh lần thứ hai đem quân ra ngoài quan ải đánh dẹp nhưng chưa diệt được Hoàng Sùng Anh.
Năm 1875, Hoàng Sùng Anh lại câu kết với quân Pháp nổi lên quấy phá khắp nơi. Đạo viên Quảng Tây là Triệu Ốc được lệnh đưa quân đi đánh, quân Cờ đen mở chiến dịch quyết định đánh chiếm Hà Giang, phối hợp với họ không những là quân nhà Nguyễn mà cả quân Thanh từ Quảng Tây và Vân Nam. Hoàng Sùng Anh bị truy đuổi, bị bộ hạ làm phản, bị bắt rồi bị giết chết.
Cuộc xâm lược của Pháp.
Năm 1856, chiến thuyền Catinat vào cửa Đà Nẵng rồi cho người đem thư lên trách triều đình Đại Nam về việc giết giáo sĩ Công giáo. Không được trả lời, quân Pháp bắn phá các đồn lũy rồi bỏ đi. Có Giám mục Pellerin trốn được lên tàu về Pháp, thuật lại cho triều đình Pháp cảnh các giáo sĩ Công giáo bị đàn áp dã man ở Đại Nam. Pellerin nói rằng chỉ cần có loạn là các tín đồ Công giáo sẽ nổi lên đánh giúp. Cùng sự tác động của Hoàng hậu Pháp Eugénie, một người rất sùng đạo, Hoàng đế Pháp Napoléon III (1808 - 1873) quyết ý đánh Đại Nam.
Năm 1858, Trung tướng Pháp là Charles Rigault de Genouilly đem tàu Pháp và tàu Tây Ban Nha gồm 14 chiếc vào cửa Đà Nẵng bắn phá rồi hạ thành An Hải và Tôn Hải.
Dù chỉ đồn trú ở Đà Nẵng, các binh sĩ ngoại quốc đã bị khuất phục với các con số đáng sợ vì mắc bệnh dịch tả, kiết lỵ và các chứng bệnh nhiệt đới khác, và một cuộc tiến quân trên nội địa bằng đường bộ hoàn toàn là điều không thực hiện được. Dòng sông Hương chảy từ Huế ra biển, nhưng chỉ có những tàu chạy ở tầm nước nông mới lưu thông được, và kém may mắn thay một số tàu chiến loại nhỏ được sản xuất đặc biệt tại Pháp cho chiến dịch tại Đại Nam lại bị phái sang Hồ Lake Garda để chống lại người Áo trong một cuộc chiến nổ ra tại miền Bắc nước Ý. Hiển nhiên việc chỉ lảng vảng ở Đà Nẵng sớm bị chứng tỏ là không đạt được một mục đích gì cả. Nhưng họ còn có thể đi đâu được nữa. Trung tướng Rigault de Genouilly đổi ý sang đánh Gia Định. Đầu năm 1859, Rigault de Genouilly dẫn quân Pháp và Tây Ban Nha vào cửa Cần Giờ, đánh thành Gia Định. Chỉ trong 2 ngày thì thành vỡ, quan Hộ đốc Võ Duy Ninh tự vận. Xong Trung tướng Rigault de Genouilly lại đem quân trở ra Đà Nẵng đánh đồn Phúc Ninh, quân của Nguyễn Tri Phương thua phải rút về giữ đồn Nại Hiên và Liên Trì.
Rigault de Genouilly bệnh phải về nước, Thiếu tướng Page sang thay. Thiếu tướng Page đề nghị việc giảng hòa, chỉ xin được tự do giảng đạo Công giáo và được buôn bán với Đại Nam nhưng triều đình Huế không đồng ý. Đến năm 1862, quân Pháp chiếm Biên Hòa và Vĩnh Long. Triều đình Huế phái Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Nam giảng hòa với Pháp ngày 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất, 1862. Trong bản hòa ước gồm 12 khoản có những khoản như sau:
Vua Tự Đức bèn nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp và phái Phan Thanh Giản vào trấn giữ ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ còn lại. Năm 1867, Phó Đô đốc La Grandière kéo quân đánh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Phan Thanh Giản biết thế chống không nổi nên bảo các quan nộp thành trì cho bớt đổ máu rồi uống thuốc độc tự vẫn. Toàn đất Nam Kỳ thuộc về Pháp.
Năm Quý Dậu 1873, Thiếu tướng Dupré sai Trung úy Hải quân Francis Garnier đem quân tấn công thành Hà Nội. Chỉ một giờ thì thành vỡ, tướng Nguyễn Tri Phương bị thương nặng. Bị Pháp bắt, ông không cho băng bó và nhịn ăn đến chết. Trong 20 ngày, Đại Nam mất bốn tỉnh là Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương.
Khi ấy có Lưu Vĩnh Phúc là đầu đảng của quân Cờ Đen về hàng triều đình Huế, vua Tự Đức phong cho chức Đề đốc để phụ đánh quân Pháp. Lưu Vĩnh Phúc đem quân ra đánh thành Hà Nội. Francis Garnier đem quân ra nghênh thì bị phục kích chết ở cầu Giấy. Paris biết chuyện nên triệu Thiếu tướng Dupré về Pháp. Dupré tìm cách đỡ tội, sai Đại úy Hải quân Paul-Louis-Félix Philastre ra Hà Nội để trả lại thành và bốn tỉnh bị chiếm. Hai bên ký hòa ước năm Giáp Tuất 1874, trong đó triều đình Huế công nhận cả miền Nam là thuộc về Pháp và Pháp cũng bồi thường lại cho Đại Nam bằng tàu bè và súng ống.
Năm 1882, Thống đốc Nam Kỳ Charles Le Myre de Vilers gởi thư cho triều đình Huế nói rằng vua ngu tối, bất lực, đất nước loạn ly, Pháp phải trấn an miền Bắc để bảo vệ quyền lợi của dân Pháp. Một mặt Le Myre de Vilers gửi Đại tá Hải quân Henri Rivière ra Hà Nội, đưa tối hậu thư cho quan Tổng đốc Hoàng Diệu bắt phải hàng. Đúng 8 giờ sáng thì quân Pháp tấn công, 11 giờ thành đổ, Hoàng Diệu treo cổ tự tử.
Khâm sai Pháp ở Huế là Rheinart sang thương thuyết, trong đó đòi nước Đại Nam phải nhận nước Pháp bảo hộ và nhường thành thị Hà Nội cho Pháp. Triều đình cho người sang cầu cứu Trung Quốc. Triều đình nhà Thanh được dịp bèn gởi quân qua đóng hết các tỉnh Bắc Ninh và Sơn Tây. Quân Pháp và quân Trung Quốc giao tranh. Đại tá Henri Rivière bị quân Cờ Đen giết tại Cầu Giấy.
Sau cái chết của vua Tự Đức, các vị vua ít tuổi lần lượt được đưa lên Dục Đức, Hiệp Hòa; ngày 20 tháng 8 năm 1883 Pháp tấn công vào cửa biển Thuận An, một hiệp ước được ký kết là Hiệp ước Quý Mùi 1883 với nội dung là xác nhận quyền bảo hộ của người Pháp lên Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
Giữa khi đó, ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi, tức ngày 19 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức qua đời, hưởng thọ 54 tuổi. Bài vị nhà vua được đưa vào thờ trong Thế Miếu; miếu hiệu là Dực Tông (翼宗) và thụy hiệu là Anh Hoàng đế (英皇帝). Lăng ông gọi là Khiêm Lăng, tại làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Một điều rất đáng chú ý ở Khiêm Lăng là tấm bia ở Bi đình nặng trên 20 tấn do Tự Đức tự dựng cho mình. Thông thường, con phải dựng văn bia cho cha nhưng vì Tự Đức không có con ruột nên ông tự dựng. Trong văn bia này Tự Đức tự trách mình về việc để mất nước vì ""ngu mà mong yên ổn, mờ tối không lo phòng bị từ khi việc chưa phát, tôi hay tướng giỏi cũng đã rơi rụng quá nửa, không ai nhắc nhở lời dạy của vua cha về việc đề phòng mặt biển đến giúp ta tránh khỏi chỗ lỗi lầm". Ông trần thuật "Ai là người cũng gìn giữ bờ cõi ta, vỗ yên nhân dân ta? Bất đắc dĩ phải đánh dẹp, nhưng càng đánh dẹp càng loạn, mỏi mệt". Ông cũng trăn trở tính chuyện giữ nước, nhưng những quan đại thần được sai đi bàn định điều ước lại "không hiểu vì lý do gì lại dễ dàng lập thành hòa nghị. Bỗng chốc đem cả nhân dân cùng đất đai của các triều nhọc nhằn gây dựng cho giặc hế". Tự Đức nhận trách nhiệm "không sáng suốt trong việc biết người, ấy là của ta; dùng người không đúng chỗ, cũng là tội của ta; hàng trăm việc không làm được; đều là tội của ta cả...". Ông "nuốt nước mắt, đành chịu tội với tôn miếu và nhân dân" và hối hận vì đã dùng người không sáng suốt, không xứng đáng, tình hình trong nước lại rối ren, tin chiến trường tới tấp, việc quan bộn bề, vua thêm gầy ốm, mang bệnh, không chăm lo chính sự được. Ông hổ thẹn nói rằng "Ta thực sự một mai chết đi thì tự thẹn trí khôn không bằng con cáo"".
Tự Đức được đánh giá là một vị vua có tư cách tốt, tính tình hiền lành. Ông chăm chỉ xem xét việc triều chính và không hề trễ nải. Theo Việt Nam sử lược, ông thường chít khăn vàng và mặc áo vàng, khi có tuổi thì ông hay mặc quần vàng và đi giày hàng vàng do nội vụ đóng, không ưa dùng trang sức, cũng không cho các bà cung phi đeo đồ nữ trang, chỉ cốt lấy sạch sẽ làm đẹp. Ông thường dậy sớm thiết triều từ 6 giờ sáng, chăm chỉ phê duyệt tấu chương, là một vị vua cần cù chăm chỉ.
Nhưng Tự Đức cai trị đúng vào một thời đại khó khăn. Trong nước nhiễu loạn, bên ngoài thì thực dân Pháp xâm lấn. Dù chăm chỉ nhưng Tự Đức không đủ tài năng để đưa ra các cải cách nhằm xoay chuyển cục diện đất nước. Trong việc chiến sự với Pháp, ông tỏ ra nhu nhược. Khi quân triều đình mới thất bại vài trận, ông đã nhanh chóng cắt đất Nam Kỳ lục tỉnh để cầu hòa, dù nghĩa quân ở Nam bộ vẫn đang chiến đấu và đã thu được một số thắng lợi.
Trong triều đình, vua lấy các quan làm tai mắt. Nhưng các quan lại phò tá vua đều là người học hành theo lối khoa cử thời cũ và không am hiểu thời đại mới, nên mọi việc đều hỏng cả. Sử gia Trần Trọng Kim đánh giá: "Dù rằng vua có trách nhiệm vua, quan có trách nhiệm quan, dẫu thế nào vua Dực Tông cũng không tránh khỏi cái lỗi với nước nhà, nhưng mà xét cho xác lý, thì cái lỗi của đình thần lúc bấy giờ cũng không nhỏ vậy".
Đến đầu thế kỷ 20, khi nhà Nguyễn đã mất nước vào tay Pháp, Ngô Tất Tố nhận định về tình hình triều Nguyễn khi đó:
Nhìn chung, sự thất bại của Tự Đức rất giống như vua Đạo Quang nhà Thanh, người cai trị cùng thời với ông. Cả hai đều là những vị vua cần cù chăm chỉ, đề cao tiết kiệm nhưng lại quá giáo điều, thiếu thực tế, không đủ quyết đoán, mưu lược, và hiểu biết về tình hình thế giới nên không thể cứu vãn đất nước đang chìm trong nội ưu ngoại loạn. Tính cách và khả năng của họ chỉ thích hợp cai trị vào thời bình (với tình hình chính trị ít biến động).
Lúc bấy giờ, Ông Ích Khiêm là một trong số những quan lại không hài lòng về việc quân đội triều đình yếu kém, phải dựa vào quân Cờ đen (một nhóm vũ trang từ Trung Quốc kéo sang) để chống Pháp, đồng thời cũng chê trách các võ tướng bất lực, lúc hữu sự phải nhờ vào người Trung Quốc để đánh giặc. Ông có làm bài thơ trách
Trong bài thơ "Lịch sử nước ta" viết năm 1941, Hồ Chí Minh nhận xét về thời Tự Đức:
Nhà cách mạng đầu thế kỉ XX Phan Bội Châu cũng quy trách nhiệm cho vua Tự Đức và Thái hậu Từ Dụ đã làm mất nước, kết tội họ là giặc
Tự Đức là ông vua hay chữ nhất triều Nguyễn, nên ông rất đề cao Nho học. Ông chăm về việc khoa bảng, sửa sang việc thi cử và đặt ra Nhã Sĩ khoa và Cát Sĩ khoa để chọn lấy người có tài văn học ra làm quan.
Tự Đức là người ham học, hiểu biết nhiều và đặc biệt yêu thích thơ văn. Đêm nào ông cũng xem sách đến khuya. Ông làm nhiều thơ bằng chữ Hán, trong đó có bộ "Ngự Chế Việt sử tổng vịnh", vịnh hàng trăm nhân vật trong lịch sử Việt Nam. Ngoài ra, ông còn làm cả sách bằng chữ Nôm để dạy cho dân dễ hiểu, điển hình như "Luận Ngữ diễn ca", "Thập điều", "Tự học diễn ca"... Có rất nhiều giai thoại về Tự Đức, nhất là những chuyện vua giao thiệp với nhà văn, học giả đương thời.
Nhà vua rất thích lịch sử, đã đặt Tập Hiền viên và Khai Kinh diên để ông ngự ra cùng với các quan bàn sách vở, thơ phú hoặc nói chuyện chính trị. Ông còn chỉ đạo cho Quốc sử quán soạn bộ sử lớn "Khâm định Việt sử Thông giám cương mục", từ đời thượng cổ cho đến hết thời nhà Hậu Lê, trong đó ông tự phê nhiều lời bình luận.
Tự Đức cũng rất yêu nghệ thuật, đã tập trung nhiều người soạn kịch bản tuồng về kinh thành Huế, và lệnh cho soạn những vở tuồng lớn "Vạn bửu trình tường", "Quần phương hiến thụy".
Tự Đức được người đời khen ngợi là một ông vua có hiếu. Lệ thường cứ ngày chẵn thì chầu cung, ngày lẻ thì ngự triều: trong một tháng chầu cung 15 lần và ngự triều cũng 15 lần, trừ khi đi vắng và lâm bệnh. Trong suốt 36 năm thường vẫn như thế, không sai chút nào.
Dù làm vua, Tự Đức luôn kính cẩn vâng lời mẹ dạy. Ông đã ghi chép những lời răn của mẹ vào một cuốn sách, đặt tên là "Từ huấn lục". Thậm chí, có lần do mải đi săn về cung muộn, trễ mất việc làm lễ giỗ vua cha, thấy mình phạm lỗi nên ông nằm ra, đặt chiếc roi lên mâm son để chờ Hoàng thái hậu Từ Dụ trách phạt.
Sử sách chép lại, vua Tự Đức có tất cả 103 bà phi tần, ngự thiếp. Tuy hậu cung đông đảo như thế, nhưng do thể chất ốm yếu, ông hay đau bệnh liên miên, lại thêm di chứng của bệnh đậu mùa nên không thể có con. Ngoại trừ Lệ Thiên Anh Hoàng hậu Võ Thị Duyên được phối thờ với nhà vua ở điện Hoà Khiêm bên trong Khiêm Lăng, tất cả các bà còn lại đều được thờ tại Chí Khiêm đường. Dưới đây liệt kê chức vị và tên húy của một số vị phi tần của vua Tự Đức.
Vì không thể có con nên vua Tự Đức nhận ba người cháu gọi bằng bác làm con nuôi:
Tự Đức được vua Thanh tặng con chim hạc quý hiếm nên ông quý lắm, cho đeo lên cổ tấm thẻ bài ghi "Thiên Tử Hạc". Một ngày, chim hạc bay ra khỏi hoàng cung, lạc vào vườn của một gia đình thường dân, bị chó nhà này cắn chết. Vua Tự Đức mất con hạc yêu quý, dày công tốn sức chăm nuôi nên truyền cho quần thần điều tra. Sau khi biết con hạc bị chó nhà dân cắn chết, vua Tự Đức nổi giận, truyền cho bộ Hình luận tội. Bộ Hình kết án chủ chó tội tử hình và bị tịch thu toàn bộ gia sản. Việc xử án của bộ Hình đến tai quan Ngự sử Phạm Đan Quế. Sau khi xem xét các tình tiết của vụ án, ông gặp vua Tự Đức và trình một bản tấu được viết bằng thơ:
"Hạc bất năng ngôn"
"Khuyển vô thức tự"
"Hạc nhập dân viên"
"Khuyển trung vu chủ"
"Điểu, Thú đấu tranh"
"U minh hà dự"
"Khuyển phệ hạc tử"
"Tôi quy vu chủ"
"Hạc trắc khuyển tử"
"Tường hà luật xử?"
"Hạc chẳng biết nói"
"Chó không biết chữ"
"Hạc vào vườn dân"
"Chó trung với chủ"
"Chim, thú đánh nhau"
"Tối sáng không rõ"
"Chó cắn chết hạc"
"Tội quy cho chủ"
"Hạc mổ chết chó"
"Luật xử thế nào?"
Xem xong bản tấu, vua Tự Đức cấp tốc hạ lệnh hủy bỏ bản án và không bàn đến nữa.
|
Diva (phát âm: /ˈdiː.və/) hay còn gọi là nữ danh ca, là một khái niệm ban đầu được sử dụng để mô tả một người phụ nữ nổi tiếng, có tài năng xuất chúng.
Nữ danh ca người Mỹ Whitney Houston được xem là nhân tố quan trọng nhất trong việc đưa đế chế "Diva" trở nên phổ biến trên toàn thế giới. Nhờ sức ảnh hưởng mạnh mẽ của cô trên các bảng xếp hạng âm nhạc đại chúng, nữ ca sĩ lừng danh này được vinh danh là người tiên phong, mở đường cho nhiều thế hệ nghệ sĩ theo sau cô như Mariah Carey, Céline Dion, Beyoncé và Christina A"Saving All My Love for You", "How Will I Know" và "I Will Always Love You"...
Khái niệm này có nguồn gốc từ một từ cổ trong tiếng Ý mang nghĩa là "nữ thần", vốn bắt nguồn từ hình thức giống cái của từ "divus" trong tiếng Latinh, có nghĩa là "một vị thần".
Trong thuật ngữ âm nhạc thế giới cũng như Việt Nam ngày nay, "diva" được dùng để nhắc đến những nữ ca sĩ có giọng hát tuyệt vời, sự nghiệp lâu năm, vững bền, tạo nên được một trường phái âm nhạc riêng và có sức ảnh hưởng lớn đến nền nghệ thuật của quốc gia mà người đó đã và đang hoạt động hay rộng hơn là trên toàn thế giới.
Nghĩa của chữ "Diva" tương tự như chữ "Prima Donna".
"Diva" được dùng theo nghĩa xấu thì là để diễn tả một người phụ nữ nổi tiếng trong lĩnh vực âm nhạc hay phim ảnh, nhưng có những đòi hỏi cao và cực kỳ khó tính về quyền lợi cá nhân của mình.
Tạp chí Time (số xuất bản ngày 21 tháng 10 năm 2002) cho rằng "Có thể định nghĩa một diva là một cái tôi nữ nhi điên khùng chỉ bù lại được phần nào nhờ vào chất giọng tuyệt vời".brTừ này ban đầu được dùng để chỉ những giọng ca opera nữ hoàn hảo, nhưng bây giờ thì được dùng để mô tả cả những nữ ca sĩ tài năng ở dòng nhạc đại chúng.
Cũng giống như trước đó, từ "prima donna" cũng có nguồn gốc từ opera với nghĩa là "đào chánh". Khái niệm diva đã thoát ra khỏi nguồn gốc mang tính nghề nghiệp và trở nên thông dụng trong nhà hát và ngành nghệ thuật trình diễn. Để đạt tiêu chuẩn một "diva", cần phải đạt một trong hai hoặc cả hai tiêu chí: một giọng hát tuyệt vời, âm vực rộng và/hoặc phong thái trình diễn cuốn hút, làm chủ được sân khấu, gây ấn tượng và truyền được cảm hứng tới người khác.
Ở Việt Nam, hiện chỉ có bốn nữ nghệ sĩ được phong tặng danh hiệu "Diva nhạc nhẹ". Đó là: ca sĩ Mỹ Linh, Thanh Lam, Trần Thu Hà và Hồng Nhung.
Nền âm nhạc Việt Nam có bốn ca sĩ được giới truyền thông gọi là Diva Việt Nam đó là Thanh Lam, Hồng Nhung, Mỹ Linh, Trần Thu Hà. Danh hiệu này bắt đầu phổ biến từ những năm 2000.
Lễ hội cho các diva.
|
Thanh Tùng (1948–2016) là một nhạc sĩ Việt Nam với nhiều ca khúc nhạc trẻ được yêu thích.
Ông tên đầy đủ là Nguyễn Thanh Tùng, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1948 tại Nha Trang, thuộc tỉnh Khánh Hòa. Năm 6 tuổi ông theo cha mẹ tập kết ra Bắc và lớn lên tại Hà Nội. Sau đó ông sang học tại Nhạc viện Bình Nhưỡng, Triều Tiên và tốt nghiệp năm 23 tuổi.
Từ năm 1971 đến 1975 Thanh Tùng là chỉ huy dàn nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam II. Sau 1975, Thanh Tùng về sống tại Thành phố Hồ Chí Minh và là người có công xây dựng Dàn nhạc nhẹ Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và khai sinh nhóm hợp ca Những làn sóng nhỏ. Ông còn chỉ huy hợp xướng và chỉ đạo nghệ thuật Đoàn Ca múa Bông Sen. Thanh Tùng cũng là người đầu tiên đưa nhạc nhẹ chuyển soạn các ca khúc thành nhạc không lời như "Con kênh xanh xanh" của Ngô Huỳnh, "Cánh chim báo tin vui" của Đàm T
Năm 1975, Thanh Tùng viết ca khúc đầu tay "Cây sầu riêng trổ bông" cho một vở cải lương. Từ đó, ông đã viết hơn 200 bài hát. Nhiều sáng tác của ông được giới trẻ yêu thích như "Hát với chú ve con", "Hoàng hôn màu lá", "Chuyện tình của biển", "Lời tỏ tình của mùa xuân", "Ngôi sao cô đơn", "Câu chuyện nhỏ của tôi", "Hoa tím ngoài sân", "Em và tôi", "Phố biển", "Mưa ngâu", "Lối cũ ta về".
Ông từng công tác tại Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh. Nhạc sĩ có ba người con (2 trai, 1 gái): con trai cả là Nguyễn Thanh Bách, con trai thứ là Nguyễn Thanh Thông, cô con gái út là Nguyễn Thị Bạch Dương. Hiện con cái của Nhạc sĩ đều là những doanh nhân thành đạt ở Việt Nam. Chính ông cũng là một doanh nhân, khi đầu tư kinh doanh nước khoáng, nhà hàng, khách sạn và bất động sản. Ông còn sở hữu một vũ trường. Vào tháng 7 năm 1998, ông mở một nhà hàng mang tên Sinh Đôi tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Vào năm 2008, ông không còn đi lại được sau một cơn tai biến bất ngờ. Ông còn bị liệt bên phải, mất khả năng nói, bị tiểu đường và thận. Ông qua đời vào ngày 15 tháng 3 năm 2016 tại Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội. Nơi an nghỉ của ông tại Công viên Thiên Đức (Vĩnh Hằng Viên – tỉnh Phú Thọ).
|
Trần Hoàn (nhạc sĩ)
Trần Hoàn (1928-2003) là tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng như "Sơn nữ ca" (1948), "Tìm em", "Lời người ra đi" (1950), "Lời Bác dặn trước lúc đi xa" (1998), "Thăm Bến nhà rồng" (1990), "Kể chuyện người cộng sản", "Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh"... Ông còn từng là Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam.
Thân thế sự nghiệp.
Ông tên thật là Nguyễn Tăng Hích, còn bút danh là Hồ Thuận An, sinh năm 1928, quê quán Hải Lăng, Quảng Trị. Bố của ông là người rất yêu thích âm nhạc và sành sỏi về ca Huế, hát bội, nhạc Tây. Điều này có ảnh hưởng đến sự nghiệp âm nhạc của ông sau này.
Năm 1935 Trần Hoàn theo học tại Quốc học Huế. Ông tự học nhạc và bắt đầu sáng tác từ năm 16, 17 tuổi. Ông bắt đầu nối tiếng với ca khúc "Sơn nữ ca" viết năm 20 tuổi khi đang ở chiến khu Quảng Bình. Trần Hoàn tham gia kháng chiến, trải qua nhiều cương vị lãnh đạo các tổ chức văn hóa của đảng, đầu tiên là Đoàn phó đoàn tuyên truyền văn nghệ Trung bộ và Liên khu IV. Năm 1948, Trần Hoàn được kết nạp vào đảng. Từ 1948 đến 1956, phụ trách công tác văn hóa văn nghệ Liên khu IV, Liên khu III, khu Tả ngạn.
Năm 1956, ông về làm giám đốc Sở Văn hóa Thành phố Hải Phòng. Ông đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển văn hóa của thành phố Cảng. Là một trong những cán bộ đầu tiên tham gia tiếp quản thành phố và là Giám đốc đầu tiên của Sở VHTT Hải Phòng 10 năm. Ông đã góp phần không nhỏ trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân theo cách mạng, xây dựng đời sống mới, xây dựng chính quyền bằng các hình thức hoạt động văn hóa, nghệ thuật có hiệu quả. Trần Hoàn còn là nhà quản lý có nhiều công lao gây dựng, thúc đẩy phong trào văn hóa văn nghệ phát triển trong hoàn cảnh thành phố còn thiếu thốn và khó khăn nhiều mặt. Ông cũng là một trong những người đầu tiên xây dựng, tổ chức Hội văn nghệ Hải Phòng. Cuối năm 1963, Đại hội văn nghệ Hải Phòng lần thứ nhất, Chi hội trưởng là nhà văn Nguyên Hồng và Chi hội phó là Trần Hoàn. Với cương vị Giám đốc Sở ông đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của chi hội văn học nghệ thuật Hải Phòng lúc sơ khai như mở các lớp viết văn, làm báo, hướng dẫn, bồi dưỡng cây bút trẻ.
Năm 1964, ông trở lại chiến trường Bình Trị Thiên với bút danh Hồ Thuận An, thời gian này ông sáng tác những bài hát như "Tiếng hát trên Gio Cam giải phóng, Lời ru trên nương"...
Sau 1975, Trần Hoàn là trưởng Ty Thông tin Bình Trị Thiên.
Năm 1983, ông được điều động tham gia Ban thường vụ Thành ủy Hà Nội, giữ chức trưởng ban tuyên huấn, sau đó là Phó Bí thư Thành ủy. Đại hội Đảng lần thứ VI ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ thông tin và sau đó là Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin (1987 - 1996) và đến Đại hội VII của Đảng ông được tái cử vào Ban Chấp hành Trung ương đảng. Ông là đại biểu Quốc hội khóa VIII.
Từ 7/1996, giữ chức Phó trưởng Ban văn hóa tư tưởng Trung ương, Phó chủ tịch rồi Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam; Ủy viên Hội đồng lý luận phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương.
Những sáng tác của Trần Hoàn khá phong phú, từ những ca khúc thời kỳ đầu mang tính trữ tình như "Sơn nữ ca, Lời người ra đi"... cho tới những bài hát "Lời ru trên nương, Tình ca mùa xuân, Nắng tháng Ba, Một mùa xuân nho nhỏ"... và mang đậm chất dân ca như "Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh, Lời Bác dặn trước lúc đi xa"...
Ông mất ngày 23 tháng 11 năm 2003, ở Hà Nội.
|
Hồ Bắc (nhạc sĩ)
"Xem các nghĩa khác tại Hồ Bắc (định hướng)"
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Hồ Bắc là một nhạc sĩ Việt Nam.
Ông sinh ngày 8 tháng 10 năm 1930 tại làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn (nay là khu phố Phù Lưu, phường Đông Ngàn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Ông tham gia cách mạng từ rất sớm, 15 tuổi đã là cán bộ Việt Minh phụ trách Thiếu nhi tuyên truyền cách mạng. Sau đó Hồ Bắc vào bộ đội và là cán bộ âm nhạc của Văn công sư đoàn 316, Tổng cục Hậu cần.
Bài hát "Làng tôi" được ông viết năm 1949 tại chiến khu Việt Bắc. Gắn liền với hai cuộc chiến tranh, phần lớn các sáng tác của ông thuộc dòng nhạc đỏ như "Làng tôi" (1949), "Bên kia sông Đuống" (phỏng thơ Hoàng Cầm - 1950), "Gặt tay nhanh" (1952), "Giữ mãi tuổi xuân" (1954), "Giữ biển trời Xô viết Nghệ An" (1965), "Trên đường Hà Nội" (1966) "Gửi anh chiến sĩ thông tin đảo" (1966), "Sài Gòn quật khởi" (1968), "Bên cảng quê hương tôi" (1970)...
Từ năm 1956, Hồ Bắc chuyển về Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam và làm việc ở đây cho đến khi nghỉ hưu năm 1990. Ở Đài Tiếng nói Việt Nam, Hồ Bắc đã viết một số hợp xướng như "Ca ngợi tổ quốc", "Dáng đứng Việt Nam", "Tổ quốc yêu thương". Ông cũng viết nhạc cho các phim truyện, tài liệu và hoạt hình.
Ngoài công việc sáng tác Hồ Bắc còn viết lời giới thiệu cho những chương trình ca nhạc, bình giải các tác phẩm âm nhạc, biên dịch gần 500 ca khúc nước ngoài để phát sóng. Ông là ủy viên Hội Văn nghệ Hà Nội (từ khoá I đến khóa IV), nguyên phó tổng thư ký Hội Văn nghệ Phát thanh Truyền hình. Ông còn tham gia giảng dạy sáng tác.
Bài "Làng tôi" của ông trùng tên với hai ca khúc cũng rất nổi tiếng khác của Văn Cao và Chung Quân.
Ông được trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất (1997) và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho "Làng tôi, Giữ mãi tuổi xuân, Ca ngợi Tổ quốc" (hợp xướng), "Sài Gòn quật khởi" và "Bến cảng quê hương tôi" (2001).
Ông đã đột ngột ra đi do tuổi cao sức yếu lúc 4 giờ 15 phút sáng, ngày 8 tháng 2 năm 2021 (27 tết) tại nhà riêng của ông (ở Hà Nội)
|
PDF (viết tắt của từ tiếng Anh: "Portable Document Format", Định dạng Tài liệu Di động) là một định dạng tập tin văn bản khá phổ biển được phát triển bởi Adobe Systems. Tương tự như định dạng Word (.doc), PDF hỗ trợ văn bản thô (text) cùng với phông chữ, hình ảnh đồ họa, âm thanh và nhiều phương tiện tập tin đi kèm khác. Tuy vậy, việc hiển thị văn bản PDF không phụ thuộc vào môi trường làm việc của người sử dụng (cấu hình máy, phần mềm và hệ điều hành). Không như văn bản Word, một văn bản PDF, trong hầu hết các trường hợp, sẽ được hiển thị giống nhau trên những môi trường làm việc khác nhau. Chính vì ưu điểm này, định dạng PDF đã trở nên phổ biển cho việc phát hành sách, báo hay các tài liệu khác qua mạng Internet.
Để đọc được tập tin PDF trên máy vi tính, bạn phải có một phần mềm hỗ trợ định dạng này. Phần mềm phổ biến hiện nay là Adobe Reader hay Foxit Reader.
Việc phổ biến định dạng PDF trong thời gian đầu tương đối chậm . Những phiên bản đầu tiên của PDF không hỗ trợ siêu liên kết bên ngoài, làm giảm tính hữu dụng của nó trên web. Kích thước tập tin tăng lên so với văn bản thuần cũng có nghĩa là thời gian để tải xuống một tài liệu PDF sẽ lâu hơn, đây cũng là một vấn đề với những thiết bị kết nối vốn đã chậm thời đó.
Adobe sớm cung cấp miễn phí chương trình Acrobat Reader (bây giờ là Adobe Reader) và tiếp tục hỗ trợ định dạng PDF nguyên mẫu. Cuối cùng PDF trở thành định dạng chuẩn cho những tài liệu in được trên web.
Định dạng PDF được thay đổi nhiều lần khác nhau và hiện tại vẫn tiếp tục được phát triển. Dưới đây là 9 phiên bản ứng với các phiên bản của Acrobat.
|
Camp Nou (], có nghĩa là "sân mới", thường được gọi bằng tiếng Anh là Nou Camp), được đặt tên là Spotify Camp Nou vì lý do tài trợ, là sân nhà của câu lạc bộ La Liga FC Barcelona kể từ khi hoàn thành vào năm 1957. Với sức chứa hiện tại 99,354, đó là sân vận động có sức chứa lớn nhất ở Tây Ban Nha và châu Âu, và sân vận động bóng đá lớn thứ hai trên thế giới.
Sân đã tổ chức hai trận chung kết Cúp C1 châu Âu/Champions League vào năm 1989 và 1999, hai trận chung kết Cup Winners' Cup, bốn trận chung kết Inter-Cities Fairs Cup, năm trận đấu Siêu cúp bóng đá châu Âu, bốn trận chung kết Cúp Nhà vua Tây Ban Nha, hai trận chung kết Copa de la Liga, và 21 trận đấu Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha. Sân cũng đã tổ chức năm trận đấu trong Giải vô địch bóng đá thế giới 1982, bao gồm trận khai mạc, hai trong số bốn trận đấu tại Giải vô địch bóng đá châu Âu 1964 và trận chung kết của môn bóng đá tại Thế vận hội Mùa hè 1992.
Vào ngày 15 tháng 3 năm 2022, có thông báo rằng dịch vụ phát nhạc trực tuyến Spotify đã đạt được thỏa thuận với FC Barcelona để có được quyền đặt tên cho sân vận động trong một thỏa thuận trị giá 310 triệu đô la. Sau khi được sự chấp thuận của thỏa thuận tài trợ với Spotify bởi Hội đồng thành viên đại biểu bất thường của FC Barcelona vào ngày 3 tháng 4 năm 2022, sân vận động chính thức được đổi tên thành Spotify Camp Nou vào ngày 1 tháng 7 năm 2022.
Vào tháng 4 năm 2022, có thông báo rằng việc cải tạo sân vận động sẽ bắt đầu vào tháng 6 năm 2022 sau khi mùa giải kết thúc.
Việc xây dựng Camp Nou bắt đầu vào ngày 28 tháng 3 năm 1954 vì sân vận động trước đây của Barcelona, Camp de Les Corts, không có chỗ để mở rộng. Mặc dù dự kiến ban đầu được gọi là Estadi del FC Barcelona, cái tên phổ biến hơn là Camp Nou đã được sử dụng. Việc ký hợp đồng với László Kubala vào tháng 6 năm 1950, được coi là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất của Barcelona, đã tạo thêm động lực cho việc xây dựng một sân vận động lớn hơn.
Vào ngày 14 tháng 11 năm 1950, chủ tịch Agustí Montal i Galobart đã nhận được sự đồng ý thuận lợi của một hội đồng thành viên để mua đất để xây dựng một sân vận động mới, nằm ở Hospitalet de Llobregat, sau đó đã được trao đổi với Hội đồng thành phố Barcelona để lấy một khu đất khác trong khu vực lân cận Les Corts. Sân vận động nằm ở cuối Travessera de les Corts, bên cạnh Cementiri và Maternitat. Ủy ban dành riêng cho dự án đã đề xuất một địa điểm khác vào tháng 2 năm 1951. Việc mua bán chính thức diễn ra hai năm sau đó.
Việc bổ nhiệm Francesc Miró-Sans làm chủ tịch của FC Barcelona vào ngày 14 tháng 11 năm 1953 là để khởi động lại dự án. Được đầu tư vào tháng 2 năm sau, Miró-Sans quyết định ủng hộ khu đất được mua vào năm 1950 và viên đá đầu tiên của sân vận động được đặt vào ngày 28 tháng 3 năm 1954. Một đám rước vài nghìn người đã thực hiện hành trình từ Camp de Les Corts đến La Masia de Can Planes, nơi tổ chức buổi lễ đặt viên đá đầu tiên, một buổi lễ long trọng với sự hiện diện của Miró-Sans, người đứng đầu Tổ chức Dân sự. Chính phủ Barcelona và tổng giám mục Barcelona, Gregorio Modrego.
Dự án được hoàn thành một năm sau đó, khi câu lạc bộ giao việc xây dựng cho công ty xây dựng Ingar SA. Công việc được cho là kéo dài 8 tháng, nhưng chi phí cao gấp hơn 4 lần so với dự kiến, lên tới 288 triệu pesetas. Thông qua các khoản thế chấp và cho vay, câu lạc bộ đã xoay sở để hoàn thành dự án, vay nặng lãi trong vài năm. Câu lạc bộ hy vọng sẽ trang trải chi phí bằng việc bán mảnh đất tại Les Corts, nhưng Hội đồng thành phố Barcelona đã mất 5 năm để xác định lại điều kiện của nó, dẫn đến một thời kỳ khó khăn kinh tế nhất định, Cuối cùng, người đứng đầu nhà nước và chính phủ Tây Ban Nha vào thời điểm đó, nhà độc tài Francisco Franco, đã cho phép tái cấp đất tại Les Corts và chấm dứt cuộc khủng hoảng của câu lạc bộ Barcelona. Trong quá trình xây dựng Camp Nou, La Masia đóng vai trò là xưởng chế tạo mô hình và là nơi làm việc của các kiến trúc sư và nhà xây dựng.
Các kiến trúc sư là Francesc Mitjans và Josep Soteras, với sự cộng tác của Lorenzo García-Barbón.
Cuối cùng, vào ngày 24 tháng 9 năm 1957, ngày lễ La Mercè, Camp Nou được khánh thành. Một thánh lễ long trọng do tổng giám mục chủ trì, người đã chào đón sân vận động đã hoàn thành, trước bài Hallelujah từ Đấng cứu thế của Handel. Các chức sắc của chế độ Franco và của thành phố tập trung tại tòa án tổng thống, và khoảng 90.000 người đã tham dự lễ khai mạc trên khán đài của sân vận động lớn. Trong sự kiện này, các câu lạc bộ bóng đá từ khắp Catalunya đã diễu hành trên sân, cũng như các thành viên của các bộ phận khác nhau của Barça, penyes và các đội FC Barcelona khác nhau.
Những năm đầu và World Cup 1982.
Vào tháng 5 năm 1972, Camp Nou tổ chức trận chung kết European Cup Winners' Cup giữa Rangers và Dynamo Moscow. Rangers thắng trận với tỷ số 3–2. Bảng điểm điện tử được lắp đặt năm 1975 tại sân vận động.
Sân vận động đã được mở rộng vào năm 1980, để chuẩn bị cho Giải vô địch bóng đá thế giới 1982, bổ sung thêm hộp, phòng chờ VIP, khu vực báo chí mới, điểm đánh dấu mới và việc xây dựng tầng thứ ba, có chiều cao nhỏ hơn so với tầng thứ ba. thiết kế ban đầu rộng 6m (46,60m so với thiết kế ban đầu là 52,50m). Việc mở rộng sân vận động đã thêm 22.150 chỗ ngồi mới, nâng tổng sức chứa chỗ ngồi lên 71.731 và sức chứa khán đài được mở rộng thêm 16.500 lên 49.670, nâng tổng sức chứa của sân vận động (kết hợp chỗ ngồi và chỗ đứng) lên 121.401. Kỷ lục tham dự của FC Barcelona được thiết lập vào ngày 5 tháng 3 năm 1986 trong trận tứ kết Cúp C1 châu Âu với Juventus trước 120.000 khán giả, chỉ kém 1.401 khán giả so với sức chứa của sân vận động..
Camp Nou là một trong một số sân vận động được sử dụng trong suốt World Cup 1982, tổ chức lễ khánh thành vào ngày 13 tháng 6. Nó cũng tổ chức nhiều trận đấu trong giải đấu đó hơn bất kỳ sân vận động nào trong số 16 sân vận động khác được sử dụng trên khắp Tây Ban Nha, bao gồm cả trận khai mạc, nơi diễn ra lễ khai mạc truyền thống (bao gồm cả việc thả chim bồ câu). Trước 95.000 người, Bỉ đã khiến đương kim vô địch Argentina thất bại 1–0 trong trận mở màn đó. Sau đó, nó tổ chức ba trận đấu vòng tròn tính điểm giữa Liên Xô, Ba Lan và Bỉ, mà Ba Lan đã giành chiến thắng và vượt qua vòng loại để lọt vào bán kết, nơi họ đấu với Ý tại Camp Nou, thua 2–0; Ý tiếp tục giành chiến thắng trong trận chung kết diễn ra tại Sân vận động Santiago Bernabéu của Real Madrid ở Madrid.
Camp Nou cũng đã tổ chức Chung kết UEFA Champions League 1999 giữa Manchester United và Bayern Munich, với cả hai đội canh tranh giành cú ăn ba vô địch quốc gia/cúp quốc gia/cúp châu Âu. Bayern đã sớm dẫn trước nhờ bàn thắng của Mario Basler ở phút thứ sáu và giữ thế dẫn trước khi đồng hồ điểm 90 phút, nhưng United đã lội ngược dòng để giành chiến thắng với các bàn thắng thời gian bù giờ của Teddy Sheringham và Ole Gunnar Solskjær.
Sức chứa của sân vận động đã thay đổi rất nhiều trong những năm qua, mở cửa là 106.146 và tăng lên 121.401 cho Giải vô địch bóng đá thế giới 1982.
Ngoài việc là sân nhà của Barcelona, Camp Nou còn là sân nhà của đội tuyển Catalunya. Sân vận động thường được sử dụng cho các sự kiện bóng đá khác. Trận chung kết cúp châu Âu giữa Milan và Steaua București được tổ chức vào ngày 24 tháng 5 năm 1989, với chiến thắng 4–0 của câu lạc bộ Ý. Camp Nou tổ chức một phần của cuộc thi bóng đá, bao gồm cả trận chung kết, trong Thế vận hội Mùa hè 1992. Để chuẩn bị cho những trận đấu này, hai tầng chỗ ngồi bổ sung đã được lắp đặt trên đường mái trước đó.
Camp Nou ít thay đổi sau năm 1982, ngoại trừ việc khai trương bảo tàng câu lạc bộ vào năm 1984. Sân vận động được cải tạo vào năm 1993–94, trong đó mặt sân được hạ thấp 2,5 mét (8 feet), khoảng cách an ninh ngăn cách bãi cỏ với các phòng trưng bày đã được dỡ bỏ và phòng đứng được loại bỏ để nhường chỗ cho từng cá nhân. Hộp báo chí mới, cải tạo khán đài và hộp tổng thống, bãi đậu xe mới dưới khán đài chính, hệ thống âm thanh và ánh sáng mới đã được hoàn thành kịp thời cho mùa giải 1998–99. Trong giai đoạn 1998–99, UEFA đánh giá Camp Nou là sân vận động năm sao vì các dịch vụ và chức năng của nó. Mặc dù thường được gọi là Camp Nou, tên chính thức của sân vận động thực ra là “Estadi del FC Barcelona” kể từ khi hoàn thành, và phải đến mùa giải 2000-01, các thành viên câu lạc bộ mới bỏ phiếu chính thức đổi tên sân vận động thành biệt danh phổ biến của nó.
Cơ sở vật chất hiện bao gồm một cửa hàng bán đồ lưu niệm, các sân bóng nhỏ dành cho các trận đấu tập và một nhà nguyện cho các cầu thủ. Sân vận động cũng có bảo tàng được ghé thăm nhiều thứ hai ở Catalonia, Bảo tàng FC Barcelona, nơi đón hơn 1,2 triệu du khách mỗi năm.
Vào ngày 1 tháng 10 năm 2017, trận đấu của Barcelona với Las Palmas được diễn ra trên sân Camp Nou không có khán giả do bất ổn chính trị trong khu vực.
Cải tạo và mở rộng.
Câu lạc bộ đã đưa ra một cuộc đấu thầu quốc tế để tu sửa sân vận động nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập sân vận động. Mục tiêu là làm cho cơ sở trở thành một môi trường đô thị tích hợp và dễ thấy. Câu lạc bộ đã tìm cách tăng sức chứa thêm 13.500 chỗ ngồi, với ít nhất một nửa tổng số chỗ ngồi phải có mái che.#đổi Mục đích là biến nó thành sân vận động lớn thứ ba trên thế giới về mặt về sức chứa, sau Sân vận động Narendra Modi ở Ấn Độ (sức chứa 132.000 chỗ ngồi) và Sân vận động mùng 1 tháng 5 Rungrado ở Bắc Triều Tiên (sức chứa 114.000 chỗ ngồi).
Vào ngày 18 tháng 9 năm 2007, kiến trúc sư người Anh Norman Foster và công ty của ông đã được chọn để "tái cấu trúc" Camp Nou. Kế hoạch bao gồm việc bổ sung khoảng 6.000 chỗ ngồi, với sức chứa tối đa là 105.000, với chi phí ước tính là 250 triệu euro. Hội đồng quản trị FC Barcelona đã chấp thuận việc bán sân tập cũ của họ (Mini Estadi) trước sự phản đối đáng kể để tài trợ cho việc tu sửa. Dự án được lên kế hoạch bắt đầu vào năm 2009 và hoàn thành vào mùa giải 2011–12. Tuy nhiên, do cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, việc bán sân tập bị hoãn lại và dự án tu sửa cũng vậy. Vào tháng 5 năm 2010, Sandro Rosell, khi đó là ứng cử viên cho chức chủ tịch của FC Barcelona, đã bác bỏ khả năng bán Mini Estadi, nói rằng việc "bán những viên ngọc quý" là không thể biện minh được, và cuộc bầu cử của ông vào ngày 30 tháng 6 năm 2010 có hiệu quả. tạm dừng kế hoạch tu sửa Camp Nou.
Vào tháng 1 năm 2014, ban giám đốc của Barcelona đã từ chối lựa chọn xây dựng một sân vận động mới do những hạn chế về tài chính và thay vào đó, họ đã chọn sửa sang lại Camp Nou để nâng sức chứa lên tới 105.000 chỗ ngồi. Dự án dự kiến sẽ chạy từ năm 2017 đến đầu năm 2021, với chi phí khoảng 495 triệu bảng Anh (600 triệu euro), khiến nó trở thành một trong những bản mở rộng đắt nhất trên cơ sở mỗi chỗ ngồi. Một kế hoạch tinh chỉnh đã được phát hành vào tháng 5 năm 2015 cho thấy kế hoạch thêm mái che trên khán đài và hiển thị kế hoạch mở rộng chỗ ngồi một cách chi tiết hơn. Việc xây dựng đã được lên kế hoạch vào năm 2019 để bắt đầu vào mùa hè năm 2020 và hoàn thành vào năm 2024.
Vào ngày 28 tháng 4 năm 2022, sau nhiều lần trì hoãn, Hội đồng thành phố Barcelona đã cấp giấy phép cải tạo sau mùa giải 2021–22. Trọng tâm của việc đổi mới sẽ là khía cạnh công nghệ cấp một và cấp hai. Tầng thứ ba dự kiến sẽ bị phá bỏ vào giữa năm 2023 và việc cải tạo dự kiến sẽ hoàn thành trong mùa giải 2025–26. Trong thời gian cải tạo, FC Barcelona sẽ chuyển đến Estadi Olímpic Lluís Companys ở Montjuïc.
Các hoạt động khác.
Camp Nou đã được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau ngoài bóng đá, thường được dùng để tổ chức các buổi hòa nhạc lớn.
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tổ chức buổi thánh lễ cho một giáo đoàn hơn 121.000 người tại Camp Nou vào ngày 17 tháng 11 năm 1982, nhân dịp ông được làm công dân danh dự của Barcelona.
Các nghệ sĩ nổi tiếng từng biểu diễn tại "Camp Nou" phải kể đến: Julio Iglesias, Bruce Springsteen, Sting, U, ngôi sao nhạc pop Michael Jackson đã có buổi biểu diễn trước 95.000 người hâm mộ trong khuôn khổ chuyến lưu diễn Bad World Tour.
|
Bắc Sơn (nghệ sĩ)
Bắc Sơn (1931 – 2005) là một nhạc sĩ, diễn viên, giáo viên người Việt Nam. Trong sự nghiệp của mình, ông đã viết khoảng 500 ca khúc nhạc nhẹ, nhạc không lời, đặc biệt những ca khúc âm hưởng dân ca Nam bộ, tham gia góp mặt trong 60 bộ phim, là tác giả của khoảng 80 kịch bản phim và 100 vở kịch nói.
Cuộc đời và sự nghiệp.
Bắc Sơn tên thật Trương Văn Khuê, sinh ngày 25 tháng 12 năm 1931. Ông sinh ra và lớn lên tại xã Phước Lộc (nay là thị trấn Long Thành), huyện Long Thành, Đồng Nai. Năm ông 14 tuổi, cha ông hy sinh trong khi tham gia kháng chiến chống Pháp.
Từ năm 1952 đến 1977, ông là giáo viên dạy học ở nhiều tỉnh. Ông chuyển vào Sài Gòn năm 1965 và bắt đầu được biết đến khi thực hiện chương trình "Quê Ngoại" trên truyền hình.
Bài nhạc đầu tiên của ông là "Giòng Đồng Nai" sáng tác năm 1955 mà tận bốn năm sau mới được ca sĩ Anh Ngọc hát. Tiếp theo là một loạt bài "Sóng vỗ bờ xa, Tình người ra biển, Nắng lên cho đẹp"... Trong đó bài "Nắng lên cho đẹp" được dùng làm nhạc hiệu mở đầu chương trình Hương Quê hằng ngày trên Đài truyền hình Sài Gòn.
Các bài nhạc nổi tiếng nhất của ông đều mang âm hưởng dân ca Nam bộ như "Còn thương rau đắng mọc sau hè, Sa mưa giông, Em đi trên cỏ non, Tháng mấy anh về, Gió đưa bông sậy, Còn thương góc bếp chái hè, Con sáo sậu, Bông bí vàng"... Riêng bài "Còn thương rau đắng mọc sau hè" được ông viết làm nhạc nền cho vở kịch truyền hình "Bếp lửa ấm" phát trên Đài Truyền hình Sài Gòn ngày 27 tháng 11 năm 1974. Người trình bày đầu tiên ca khúc này là ca sĩ Hoàng Oanh. Sau 1975, ca sĩ Hương Lan ghi âm lại tại Pháp và bài nhạc nhanh chóng phổ biến. Ca khúc này được Cục Nghệ thuật Biểu diễn chính thức cho phép lưu hành tại Việt Nam từ tháng 5 năm 2017. Ngoài ra, ông còn viết 5 tập nhạc truyện: "Hoa đào năm ngoái, Bông bí vàng, Còn thương rau đắng mọc sau hè, Duyên ta như mây, Về thăm quê ngoại". Điều đặc biệt là Bắc Sơn rất ít xuất bản nhạc của mình vì chính ông tự nhận "bài nào cũng lỗ to".
Bắc Sơn còn là một diễn viên nổi tiếng, ông tham gia diễn xuất trong khoảng 60 phim điện ảnh. Một vai được nhiều người biết tới như Sỹ (phim "Xa và gần"), Năm Ngưu (phim "Vùng gió xoáy"), Hai Bạc Liêu (phim "Người tìm vàng"), Phúc (phim "Cô Nhíp"), ông Tư (phim "Con chó phèn")... Vai diễn Năm Ngưu trong phim "Vùng gió xoáy" đã giúp ông đoạt giải "Diễn viên xuất sắc" tại Liên hoan Phim toàn quốc lần thứ 9. Ngoài diễn xuất, Bắc Sơn cũng là tác giả của 80 kịch bản phim.
Bắc Sơn mất ngày 23 tháng 2 năm 2005, sau thời gian điều trị căn bệnh ung thư phổi.
Bắc Sơn được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú ngày 3 tháng 2 năm 1997. Năm 2016, quỹ học bổng mang tên ông được An Nông Group lập ra mục đích để trao cho con em nghệ sĩ nghèo, công nhân hậu đài có hoàn cảnh khó khăn được đến trường. Ngoài ra, gia đình nhạc sĩ Bắc Sơn xây dựng 3 ngôi trường dành cho con em công nhân các khu chế xuất và khu công nghiệp ở huyện Bình Chánh, tỉnh Long An. Trong đêm nhạc ngày 27 tháng 10 năm 2016, công ty Tượng sáp Việt đã trưng bày tượng sáp nhạc sĩ Bắc Sơn trong số 100 tượng sáp do công ty thực hiện nhằm tôn vinh những người có đóng góp trong văn hóa nghệ thuật Việt Nam.
Hợp soạn với Phùng Sửu năm 1960
Mỗi vở dài khoảng 60 phút.
|
J2ME (Java 2 Micro Edition) là một nhánh của ngôn ngữ lập trình Java để phát triển các ứng dụng trên điện thoại di động hay các thiết bị cầm tay nhỏ gọn khác.
J2ME được phát triển từ kiến trúc Java Card, Embeded Java vf Personal Java của phiên bản Java 1.1. Đến sự ra đời của Java 2 thì Sun quyết định thay thế Personal Java và được gọi với tên mới là Java 2 Micro Edition, hay viết tắt là J2ME.
Đúng với tên gọi, J2ME là nền tảng cho các thiết bị có tính chất nhỏ gọn.
Việc cài đặt cần có các công cụ sau:
Thứ tự cài đặt là J2SDK; tiếp theo bởi J2RE, J2ME wireless toolkit; sau đó là IDEA; rồi thiết lập đường dẫn cần thiết trong IDEA tới vị trí của J2SDK, J2RE và Wireless Toolkit đã cài.
|
McLaren, được sáng lập vào năm 1963 bởi Bruce McLaren (1937-1970), là một đội đua nước Anh, vốn nổi tiếng nhất ở lĩnh vực đua xe Công thức 1 nhưng cũng tham gia tại Indianapolis 500-Mile Race, Canadian-American Challenge Cup và 24 Hours of Le Mans. Tên đầy đủ của đội hiện nay là Team McLaren Mercedes nhưng kể từ tháng 1 năm 2007 sẽ được đổi thành Vodafone McLaren Mercedes theo một bản hợp đồng tài trợ lớn từ hãng truyền thông Vodafone được thông báo từ tháng 12 năm 2005. Hiện nay người điều hành đội đua là Ron Dennis, dưới sự lãnh đạo của McLaren Racing, một thành viên của McLaren Group
Năm 1990 McLaren Cars được thành lập để phục vụ cho việc sản xuất xe hơi thông dụng dựa trên chuyên môn sẵn có từ các cuộc đua xe.
McLaren là một trong những đội đua thành công nhất ở Công thức 1, có nhiều chiến thắng hơn bất kỳ đội đua nào khác trừ Ferrari, đồng thời cũng sở hữu rất nhiều chức vô địch cá nhân và đồng đội tại F1. McLaren tổng cộng có 11 chức vô địch cá nhân và 8 chức đồng đội kể từ năm 1966.
Bruce McLaren Motor Racing được sáng lập bởi 1 người New Zealand Bruce McLaren vào năm 1963. Chặng đua đầu tiên của đội diễn ra tại Monaco năm 1966. Tuy nhiên những cuộc đua này tồn tại quá ngắn vì lỗi rò rỉ dầu ở chiếc xe.
Năm 1966 và 1967, đội đua chỉ đua với 1 chiếc xe với Bruce là tay lái chính. Ngoài nghĩa vụ đối với các giải Grand Prix, Bruce còn tham gia Can Am Championship bên cạnh người đồng đội Denny Hulme. Bộ đôi này đã giành chiến thắng 5 trong tổng số 6 cuộc đua.
Năm 1968 đội đua bao gồm 2 tay đua trong đó có cả Denny Hulme, ông hoàng F1 lúc bấy giờ và cũng là người đua tại giải Can Am cho McLaren. Bruce đã giành chức vô địch non-championship Race tại Brands Hatch. Sau đó tại Bỉ đã chứng kiến chức vô địch đầu tiên cho đội.
3 podiums tiếp theo năm 1969 được dành cho Bruce. Trong khi đó tại giải Can Am, ông và đồng đội của mình chia nhau các chiến thắng tại đó.
Cả thập kỷ 70 của thế kỷ 20 chứng kiến 1 kết quả tồi tệ đáng thất vọng của McLaren với cái chết của ông chủ Bruce McLaren khi đang thử xe ở giải Can Am tại Goodwood. Mặc dù cái chết này để lại một khoảng trống lớn trong đội nhưng những thành viên khác đã tập hợp, đoàn kết lại và giành được một số thành quả khá quan trọng ở nhiều thể thức khác nhau bao gồm CanAm, Công thức 1, Công thức 2, Indy Car và F5000.
McLaren quyết định từ bỏ giải CanAm vào cuối năm 1972, chỉ tập trung vào Công thức 1 và IndyCar. Quyết định này của họ tỏ ra là 1 quyết định đúng đắn khi năm 1974 họ vô địch tuyệt đối với chức vô địch đồng đội và cá nhân (Emerson Fittipaldi) và chức vô địch Indianapolis 500 đầu tiên với tay đua Jonny Rutherford. Chức vô địch cá nhân năm 1976 đến với McLaren đồng nghĩa với việc họ là đội đua đầu tiên giành cả trọn bộ chức quán quân trong một mùa giải.
McLaren cuối cùng cũng rời bỏ giải IndyCar sau khi có kết quả tệ hại vào cuối năm 1979.
Đội đua McLaren hiện nay là đội đua liên kết giữa McLaren và đội đua Công thức 2 thuộc sở hữu cá nhân của Ron Dennis, được gọi là Project 4, vào năm 1981. Kể từ đó, tất cả các thiết kế xe của McLaren đều được đặt tên là MP4-xx. Trong trường hợp này P4 chính là Project 4. Nhưng điều này không có liên quan gì tới thiết kế chassis.
Trên thực tế MP4 tượng trưng cho Malboro Project 4. Do vậy, tên đầy đủ phải là 'McLaren MP4-xx'. Cái tên này phản ánh không chỉ tên của đội mà còn của hãng tài trợ chính cho đội. Cái tên này đã tồn tại với McLaren nhiều năm nay, dù cho sau này nhà tài trợ chính của McLaren là West-đối thủ chính của Malboro. Như vậy, ngày nay Malboro là hãng tài trợ cho Ferrari nhưng vẫn để lại vết tích trong đội McLaren. Cái tên đó được ngăn cách bởi dấu gạch chéo "/" từ trước năm 1996 và đã được thay bằng dấu gạch ngang "-" từ năm 1997 tới nay.
Thời kỳ phồn thịnh nhất trong lịch sử McLaren tới dưới sự điều hành của Ron Dennis. John Barnard đã thiết kế ra chiếc MP4/1 mang tính chất lịch sử khi dùng hoàn toàn nguyên liệu sợi cácbon, nguyên liệu đã chứng tỏ vị thế vượt trội khi đưa vào động cơ Porsche Turbo. Các tay lái cho McLaren thời kỳ đó lần lượt là Niki Lauda, Alain Prost, Keke Rosberg và Stefan Johansson. McLaren-Porsche giành ngôi quán quân năm 1984 (cùng chiếc vương miện cá nhân của Niki Lauda) và năm 1985 (với chức vô địch đầu tiên cho Prost). Năm 1986 ngôi quán quân đã không thuộc về McLaren mặc dù Alain Prost vô địch lần thứ 2 liên tiếp.
Sau khi để tuột mất 2 chức vô địch liên tiếp năm 1986 và 1987, McLaren đã thuyết phục được Honda chấm dứt hợp đồng với Williams để đến với mình. Với cái tên mới McLaren-Honda đã giành được 1 kết quả đáng kinh ngạc với 15 trên 16 cuộc đua. Năm đó, Ayrton Senna có được danh hiệu đầu tiên trong sự nghiệp với đội đua nước Anh. Năm tiếp theo, với động cơ 3.5L mới được thiết kế bởi Honda, McLaren một lần nữa giành cú đúp với ngôi quán quân thuộc về Alain Prost. Prost đã chiếm được ngôi vô địch sau một tai nạn gây xôn xao dư luận với Ayrton Senna tại Nhật Bản GP. Đây là đỉnh điểm của một mối thù truyền kiếp giữa 2 tay đua tài năng bậc nhất Ayrton Senna và Alain Prost.
Alain Prost rời McLaren để tới Ferrari vào năm 1990. Tuy vậy, McLaren vẫn tiếp tục thống trị giải đua xe Công thức 1 suốt 2 năm sau đó, với chức vô địch của Senna năm 1990 và 1991 và 2 chức vô địch đồng đội. Thành công này có được nhờ đóng góp không nhỏ của Gerhard Berger, người thế chỗ Prost.
Sự suy sụp của McLaren giữa những năm 1990.
Từ năm 1992 trở đi, McLaren sa vào những thất bại. Sau ưu thế vượt trội của động cơ Renault khi cung cấp cho Williams, Honda quyết định từ bỏ F1. McLaren chuyển sang dùng động cơ Ford. Trong khi điều này khá là thuận lợi dưới tay lái của Senna thì đó quả là một mùa giải thảm khốc cho người đồng đội Michael Andretti khi chỉ giành được một vài điểm. Gần cuối mùa giải, anh được thế chỗ bởi Mika Haikkinen, một tay đua trẻ người Phần Lan. Năm 1994, Senna chuyển tới Williams, và Martin Brundle cùng với Haikkinen là 2 tay đua của McLaren với động cơ Peugeot. Thành tích của đội khi đó không hề gây được ấn tượng. Chính vì vậy Peugeot đã phải rút khỏi F1 để nhường chỗ cho động cơ mới của Mercedes-Benz. Thế nhưng mùa giải 1995 thậm chí còn tệ hại hơn 1994, với MP4/10 quá nặng và chậm chạp. Nhà cựu vô địch Nigel Mansell chuyển tới McLaren vào năm 1995 nhưng cũng sớm giã từ sự nghiệp chỉ sau 2 chặng đua vì lý do không phù hợp với chiếc xe.
1996 đánh dấu sự kết thúc 1 kỉ nguyên của McLaren khi phân tách khỏi nhà tài trợ lâu năm Malboro. Kể từ đó, chiếc xe đỏ trắng rất nổi tiếng bị thay thế bằng màu xám của nhà tài trợ mới: West.
Cuối những năm 90.
Mặc dù đạt kết quả tồi tệ năm 1996, cuối cùng động cơ Mercedes đã trở nên tốt hơn. Trong khi Williams thống trị F1 trong suốt những năm 1996, 1997 McLaren đã tiến những bước chậm chạp nhưng vững chắc với động cơ Mercedes và 2 tay đua Mika Haikkinen và David Coulthard. Năm 1997, Coulthard có 1 khởi đầu khá thuận lợi bằng việc chiến thắng Úc GP. Tuy vậy, chiếc xe vẫn không đủ ổn định để chiến thắng 1 chặng đua, kể cả khi Coulthard chiến thắng thêm chặng Ý. Trong suốt 1997, McLaren đã "đi đêm" với designer tài năng của Williams, Adrian Newey, và đưa được ông về đội trong sự tức giận của Williams. Chặng cuối cùng của mùa giải, European Grand Prix, Mika Haikkinen đã được nếm trải hương vị chiến thắng đã mong mỏi từ lâu.
Sự thật là McLaren đã có Adrian Newey trên đội ngũ kỹ thuật, cùng với việc giã từ F1 của Renault vào cuối năm 1997 đồng nghĩa với việc McLaren đã trở lại, sẵn sàng chiến đấu. Năm 1998, McLaren đã một lần nữa chiếm lấy thế thượng phong khi chiến thắng 9 chặng. Haikkinen trở thành nhà vô địch, giành được 100 điểm cùng với chức vô địch đồng đội của McLaren. Năm 1999, Haikkien bảo vệ thành công ngôi vô địch, nhưng McLaren lại để tuột mất danh hiệu đó vào tay Ferrari.
2000 là năm của những cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa McLaren và Ferrari nhưng rốt cuộc thì Ferrari đã đánh bại đội đua nước Anh, giành ngôi vô địch.
Kể từ năm 2000, McLaren đã chiến đấu quyết liệt nhằm đòi lại vị trí thống trị tại F1. Năm 2001, McLaren có một bước tiến đáng kể khi giành vị trí thứ 2 chung cuộc nhưng đáng tiếc là cả hai trong số họ không ai đủ khả năng để đánh bại gã khổng lồ đỏ Ferrari với tay đua chủ lực Michael Schumacher. Năm 2002, Haikkinen có 1 kỳ nghỉ phép, một phần dẫn tới sự giải nghệ của nhà cựu vô địch, mở đường cho tay đua trẻ, người đồng hương đầy triển vọng Kimi Raikkonen để thế chỗ anh. McLaren chỉ giành được thêm 4 chiến thắng trong 3 năm 2002, 2003, 2004. Trong đó năm 2002 chỉ có 1 chiến thắng duy nhất tại Monaco của Coulthard.
Mùa giải 2003 khởi đầu đầy hứa hẹn, với 2 chiến thắng đầu mùa chia đều cho cả hai tay đua David Coulthard và Kimi Raikkonen. Tuy nhiên, các đối thủ khác nhanh chóng bắt kịp đội đua nước Anh khi McLaren lại đang phải vật lộn với những sửa chữa các lỗi của chiếc MP4-18. Điều này buộc đội đua phải sử dụng động cơ cũ MP4-17D, một cản trở rất lớn trong môn F1 hiện đại. Tuy vậy, Raikkonen vẫn kiên trì bám đuổi Michael Schumacher trên con đường giành chức vô địch cho tới chặng cuối cùng. Chung cuộc, Kimi Raikkonen và McLaren về nhì sau Michael Schumacher và Ferrari đúng 2 điểm.
McLaren bắt đầu mùa giải 2004 với MP4-19 mà giám đốc kỹ thuật Adrian Newey giới thiệu là "phiên bản nâng cấp của MP4-18". Nhưng tới giữa mùa giải, đội đua lại cần tới 1 chiếc xe mới. Chiếc MP4-19B thực sự là một chiếc xe mới với hệ thống khí động học được chế tạo hoàn toàn mới. David Coulthard giành được vị trí thứ 3 tại kì phân hạng tại Pháp đã đem tới một niềm hy vọng mới cho đội đua. Cuối năm Kimi Raikkonen giành được chiến thắng vang dội trước thế lực Michael Schumacher tại Bỉ năm đó.
Tay đua người Colombia từng vô địch CART Juan Pablo Montoya được chọn làm người thay thế David Coulthard, là đồng đội mới của Kimi Raikkonen. Mùa giải này đối với Montoya không phải là một mùa giải có những bước khởi đầu thuận lợi khi anh phải nhường chỗ cho 2 test-drivers là Pedro De La Rosa và Alexander Wurz vì bị dính vào một chấn thương. Đầu mùa giải, McLaren không thật sự nổi bật, để mất nhiều điểm vào tay Renault. Tuy nhiên tại San Marino sự thể đã khác khi mà chiếc McLaren là chiếc xe nhanh nhất tại kì đua phân hạng. Đáng buồn thay khi Raikkonen để vuột mất chiến thắng trong tầm tay vào tay Fernando Alonso vì một lỗi của chiếc xe.
Mặc dù ưu thế về tốc độ trội hơn hẳn của McLaren so với đối thủ Renault, vấn đề đáng quan tâm nhất lúc bấy giờ của họ chính là sự tin cậy của chiếc xe. Đó là một cái gai khó dỡ bỏ của đội khi mà người trả giá cho những lỗi đó là những chiến thắng của Kimi Raikkonen. Nhờ những sai lầm đó, Renault chính là kẻ được hưởng lợi nhất trong việc gia tăng khoảng cách với đội thứ 2 trong bảng tổng sắp. Chính những bất ổn định này dẫn tới việc Kimi Raikkonen để mất chức vô địch một cách đáng tiếc và ngay cả ngôi quán quân đồng đội dành cho McLaren cũng bị Renault nẫng mất.
Ngày 19 tháng 12 năm 2005, McLaren tuyên bố ký được 1 hợp đồng béo bở với nhà đương kim vô địch Fernando Alonso vào năm 2007. Theo đó rộ lên nhưng suy đoán về khả năng Kimi Raikkonen sẽ rời McLaren để đến với gã khổng lồ đỏ Ferrari nhưng nhiều người cho rằng anh sẽ vẫn ở lại với McLaren, sát cánh cùng Alonso.
Các nhà tài trợ.
McLaren có một trong những hợp đồng tài trợ lâu năm nhất với Phillip Morris qua hãng Malboro. Mối quan hệ được ký kết năm 1974 và kéo dài từ năm 1981 tới năm 1996, khi Malboro chuyển sang tài trợ cho Ferrari.
Imperial Tobacco (với thương hiệu West) là nhà tài trợ chính cho McLaren từ năm 1997 cho tới ngày 29 tháng 7 năm 2005. Sau đó, McLaren đã phải tìm một nhà tài trợ khác vì quy định cấm quảng cáo thuốc lá của Liên minh châu Âu.
Ngày 22 tháng 2 năm 2005, Diageo plc và McLaren công bố rằng Diageo trở thành nhà tài trợ chính cho đội với thương hiệu Johnnie Walker, thương hiệu rượu Whisky nổi tiếng nhất thế giới. Tiêu đề "Johnnie Walker" và biểu tượng "Striding Man" được sơn trên sườn xe kể từ giải Hungary. Tuy nhiên, tên đầy đủ của đội không có Johnnie Walker mà chỉ gồm Team McLaren Mercedes cho tới hết năm 2006. Kể từ mùa 2007, đội đua này sẽ đổi thành Vodafone McLaren Mercedes.
Ngày 8 tháng 3 năm 2006, đội đua đã thông báo rằng Emirates Airline đã tham gia tài trợ đội với hợp đồng 1 năm, trị giá khoảng 20-$25 triệu đô la Mỹ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Khái Hưng (1896 - 1947) là một nhà văn người Hải Phòng. Cùng với Nhất Linh, ông là cây bút chính của Tự Lực Văn Đoàn.
Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư. Bút danh "Khái Hưng" được hình thành khi ông dùng phép đảo chữ để sắp xếp lại các chữ cái trong tên thật "Khánh Giư".
Ông sinh năm 1896, xuất thân trong một gia đình quan lại ở Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Một số tài liệu ghi ông sinh năm 1897.. Cha ông là Trần Mỹ, từng giữ chức Tuần phủ. Cha vợ ông là Lê Văn Đinh, cũng giữ chức Tổng đốc Bắc Ninh. Em ruột ông là nhà văn Trần Tiêu.
Khái Hưng đi học ở trường Albert Sarraut. Sau khi đỗ tú tài I, vì không muốn làm công chức, ông về Ninh Giang mở đại lý bán dầu hỏa. Được một thời gian, Khái Hưng tới Hà Nội dạy ở trường Tư thục Thăng Long. Trong khoảng thời gian 1930 đến 1932, Nhất Linh từ Pháp về nước và cũng dạy tại trường này. Khái Hưng đã quen Nhất Linh ở đó và họ trở thành một cặp tác giả nổi tiếng. Tuy Khái Hưng hơn Nhất Linh 9 tuổi nhưng là người bước vào văn đoàn sau nên được gọi Nhị Linh.
Khái Hưng tham gia Tự Lực Văn Đoàn do Nhất Linh thành lập. Văn đoàn này bắt đầu xuất hiện công khai từ 1932, và đến đầu năm 1933 thì tuyên bố chính thức thành lập với ba thành viên trụ cột là Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo.
Cùng thời gian đó, Tự Lực Văn Đoàn ra tờ báo "Phong Hóa". Về sau khi Phong Hóa bị đóng cửa thì tờ "Ngày Nay" thay thế. Cùng với báo, Tự Lực Văn Đoàn còn có nhà xuất bản Đời Nay. Toàn bộ tác phẩm của Khái Hưng đều do Ngày Nay và Đời Nay công bố.
Là một trong những cây bút chính của nhóm, tiểu thuyết đầu tay của Khái Hưng "Hồn bướm mơ tiên" (1933) là tiểu thuyết đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn. Tiểu thuyết cuối cùng của ông là "Thanh Đức" (1943) và cũng là tiểu thuyết cuối cùng của nhóm. Khái Hưng cũng viết chung với Nhất Linh hai tiểu thuyết là "Gánh hàng hoa" và "Đời mưa gió" và ra đời chung tập truyện ngắn "Anh phải sống" cùng năm 1934.
Giống như các tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn khác, tác phẩm của Khái Hưng thường đề cao tình yêu tự do, chống lại các lễ giáo phong kiến, ít nhiều mang tính cải cách xã hội. Khái Hưng cũng có viết một số vở kịch, thường chỉ một hồi, nhưng ít được công diễn. Trong những năm 1935 đến 1940, Khái Hưng là nhà văn được nhiều thanh niên thành thị ưa chuộng. Khái Hưng cùng là một dịch giả. Bài "Tình tuyệt vọng" ông dịch từ thơ của Félix Arvers rất nổi tiếng.
"Lòng ta chôn một khối tình"
"Tình trong giây phút mà thành thiên thu"
"Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu"
"Mà người gieo thảm như hầu không hay"
Trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai, giống như Nhất Linh, Khái Hưng cũng tham gia hoạt động chính trị. Do tham gia Đại Việt dân chính Đảng thân Nhật nên Khái Hưng từng bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp tháng 3 năm 1945, Khái Hưng được trả tự do. Ông cùng Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Bách cho ra tờ "Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới".
Sau Cách mạng tháng Tám, Khái Hưng phụ trách chuyên mục "Chuyện lẩn thẩn" trên nhật báo Việt Nam, cơ quan ngôn luận Việt Nam Quốc dân Đảng do Hoàng Thúc Gị chủ bút. Ông kí danh Chàng lẩn thẩn dưới mỗi bài báo.
Khái Hưng bị Việt Minh bắt giam tại Liên Khu 3 (Lạc Quần, Trực Ninh) rồi đem xử tử hình ở bến đò Cựa Gà, làng Ngọc Cục (Ngọc Tiên) phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định vào ngày 17/11/1947 khi ông mới 51 tuổi. Theo ông Nguyễn Tường Triệu, con nuôi Khái Hưng, tiết lộ Khái Hưng mất tích sau Tết Đinh Hợi (22/1/1947).
Cuốn tiểu thuyết quen thuộc nhất của Khái Hưng là cuốn "Nửa chừng xuân". Theo quan điểm mácxít trên Từ điển văn học:
Nhà phê bình Trương Chính có những nhận xét công bằng hơn về Khái Hưng:
|
Gia đình (家庭) hay nhà (茹) là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và/hoặc quan hệ giáo dục. Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài.
Thực tế, gia đình có những ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ đến xã hội. Chức năng quan trọng nhất của gia đình là sinh sản (cha kết hôn với mẹ để cùng sinh ra con cái), bởi nó tạo ra nòi giống tương lai cho dân tộc, đảm bảo cho đất nước không bị suy vong do nạn lão hóa dân số. Gia đình cũng chính là tế bào của xã hội, đất nước muốn phát triển lành mạnh, bền vững thì Nhà nước phải có những chính sách để duy trì kết cấu gia đình vững mạnh (tức là phải hạn chế ở mức thấp nhất tình trạng ly hôn, tảo hôn, bạo lực gia đình, làm mẹ đơn thân, sinh con ngoài giá thú, quan hệ tình dục trước hôn nhâ).
Khái niệm Gia đình.
Ngay từ thời nguyên thủy cho tới hiện nay, không phụ thuộc vào cách kiếm sống, gia đình luôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho các thành viên trong gia đình. Song để đưa ra được một cách xác định phù hợp với khái niệm gia đình, một số nhà nghiên cứu xã hội học đã đưa ra sự so sánh giữa gia đình loài người với cuộc sống lứa đôi của động vật, gia đình loài người luôn luôn bị ràng buộc theo các điều kiện văn hóa xã hội của đời sống gia đình ở con người. Gia đình ở loài người luôn bị ràng buộc bởi các quy định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động của xã hội; vì thế theo các nhà xã hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để nói về gia đình loài người.
Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa, kinh tế... khiến cho nó không giống với bất kỳ một nhóm xã hội nào. Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu phù hợp và chỉ có như vậy mới có cách tiếp cận phù hợp đến với gia đình.
Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người. "Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người".
Có nhiều cơ sở để phân loại gia đình thành các loại khác nhau.
Xét về quy mô, gia đình có thể phân loại thành:
Dưới khía cạnh xã hội học và về quy mô các thế hệ trong gia đình, cũng có thể phân chia gia đình thành hai loại:
Kế hoạch hóa gia đình.
Ở các nước đang phát triển, vì tỉ lệ sinh cao làm dân số tăng cao, chính phủ thực hiện các chính sách để người dân giảm số con trong gia đình. Ở Trung Quốc, chính sách một con làm giảm đáng kể tốc độ tăng dân số của nước này. Ở Việt Nam, chính quyền khuyến khích mỗi gia đình chỉ nên có một đến hai con. Trong khi đó, ở nhiều nước phát triển như nhiều nước Âu châu và Hàn Quốc, Nhật Bản, chính phủ có biện pháp khuyến khích gia đình có thêm con nhằm tránh giảm dân số.
Mặc dù đã có những chính sách nhất định về Kế hoạch hóa sinh con, nhưng nhiều hộ gia đình vẫn có tâm lý khác nhau:
- Một mặt do gia đình có điều kiện, sinh cho vui cửa vui nhà
- Mặt khác do sinh con 1 bề muốn có người nối dõi
Chức năng cơ bản.
Gia đình có 2 chức năng cơ bản sau:
Hai chức năng cơ bản này chi phối toàn bộ các chức năng khác của gia đình như:
Gia đình Việt Nam.
Theo phong tục tập quán người Việt, các thành viên trong gia đình thường về tụ hội đông đủ vào dịp Tết Nguyên Đán hằng năm. Ngoài ra các dịp đám cưới, đám tang, đám giỗ cũng là dịp để các thành viên trong gia đình tập hợp lại. Gia đình Việt Nam có đặc điểm là nhiều thế hệ sống chung trong cùng một mái nhà. Mỗi gia đình thường có ba thế hệ sống chung với nhau: ông bà - cha mẹ - con cái. Đối với gia đình Việt Nam thì người trụ cột thường là người chồng (hoặc người cha, ông).
Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ký ban hành Quyết định 72/2001/QĐ-TTg chọn ngày 28 tháng 6 hàng năm là ngày gia đình Việt Nam.
Thuật ngữ quan hệ trong gia đình.
Ngoài hai từ chính thống cha và mẹ, các vùng khác nhau có những từ khác nhau như bố, ba, thầy, tía để chỉ cha và má, u, mạ để chỉ mẹ.
Một số từ để chỉ mối quan hệ nếu có trong gia đình như: ông nội là cha của cha, bà nội là mẹ của cha, ông ngoại là cha của mẹ, bà ngoại là mẹ của mẹ. Và bác trai của cha mẹ thì là ông bác; bác gái của cha mẹ là bà bác. Chú của cha mẹ là ông chú; cô của cha mẹ là bà cô. Cậu của cha mẹ là ông cậu; dì của cha mẹ là bà dì.
Bác là anh, chị của cha, mẹ.
Chú là em trai của cha, Thím là vợ của chú.
Cô là em gái của cha, Chú là chồng của cô.
Cậu là em trai của mẹ, Mợ là vợ của cậu.
Dì là em gái của mẹ. Chú là chồng của dì.
Dì ghẻ là vợ mới của bố (Cách gọi của con riêng của chồng).Dượng là chồng mới của mẹ (Cách gọi của con riêng của vợ)
Thông thường để gọi một người trong gia đình người ta dùng từ chỉ mối quan hệ kết hợp với thứ của người đó (nếu có quan hệ huyết thống) hoặc thứ của chồng hoặc vợ người đó (nếu không có quan hệ huyết thống) chẳng hạn như chú tư, vợ của chú tư được gọi là thím tư. Con đầu trong gia đình được gọi là con cả (Hoặc con đầu lòng) trở đi [ Ví dụ: Con cả, con hai, con , con út (người con sinh ra cuối cùng gọi là con út) ] không có thứ một, chỉ có con một (Ý chỉ nhà này chỉ có đúng 1 người con).
Bác (trai) là anh của cha, Bác gái là vợ của bác.
Chú là em trai của cha, Thím là vợ của chú.
Cô là chị hoặc em gái của cha, Dượng là chồng của cô.
Cậu là anh hoặc em trai của mẹ, Mợ là vợ của cậu.
Dì là chị hoặc em gái của mẹ. Dượng là chồng của dì.
Thông thường để gọi một người trong gia đình người ta dùng từ chỉ mối quan hệ kết hợp với tên của người đó. Con trong gia đình được gọi theo thứ tự cả, hai, ba, tư. Trong Miền Nam thường không dùng từ cả, con đầu sẽ tính là thứ hai (Ví dụ như anh cả ở Miền Bắc thì Miền Nam sẽ gọi là anh hai).
Anh em bà con (họ hàng): con của chú bác gọi là anh chị em chú bác (anh chị em con chú con bác), con của dì gọi là anh chị em bạn dì (anh chị em con dì), con của cô cậu gọi là anh chị em cô cậu (anh chị em con cô con cậu).
Dâu rể: gọi theo vợ hoặc chồng là người có quan hệ huyết thống với mình kết hợp với từ dâu hoặc rể ví dụ như con dâu, con rể, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu. Hai người chồng của hai chị em gái miền Nam gọi là anh em cột chèo, miền Bắc gọi là anh em đồng hao hoặc đứng nắng. Hai người vợ của hai anh em trai gọi là chị em bạn dâu.
|
Tàu điện ngầm, còn được gọi là đường sắt đô thị ở Việt Nam () là hệ thống giao thông rộng lớn dùng chuyên chở hành khách trong một vùng đô thị, thường chạy trên đường ray. Những tuyến đường này có thể đặt ngầm dưới lòng đất, hoặc trên cao bằng hệ thống cầu cạn. Khác với xe điện mặt đất (tramway), tàu điện ngầm có thể đạt tốc độ cao vì có lối đi riêng, không phải chung đường giao thông với những phương tiện chuyên chở khác.
Tàu điện ngầm chạy nhiều lượt thành nhiều chuyến mỗi ngày trên những tuyến nhất định, nên có thể vận chuyển số lượng lớn hành khách. Vì có nhiều chuyến, việc đi lại bằng tàu điện thuận tiện và thoải mái hơn cho hành khách. Đa số các thành phố lớn trên thế giới đều có hệ thống tàu điện ngầm. Cùng mẫu số với tàu điện (tramway) và xe buýt, tàu điện ngầm có những trạm cố định để dừng cho khách lên xuống nhưng vì có đường đi dành riêng nên tàu điện ngầm đi nhanh hơn, không bị kẹt xe và cũng an toàn hơn.
Nước Anh là nước đầu tiên trên thế giới xây đường tàu điện ngầm, đoạn tàu điện ngầm đầu tiên chỉ dài 6 km.
Tốc độ chạy tàu điện ngầm nhanh nhất ở Mỹ, đạt 72 km/h. Lượng vận chuyển hành khách lớn nhất ở Moskva (Nga), mỗi năm 2,5 lượt tỉ người. Đường tàu điện ngầm thuận tiện nhất ở Paris (Pháp).
Mức độ tự động hoá quản lý của hệ thống tàu điện ngầm rất cao. Thường không có người quản lý, sau khi hành khách bỏ tiền vào máy tự động, máy sẽ tự động đẩy ra tấm card từ có đầy đủ thông tin nhận biết ga xa nhất mà hành khách muốn đến, khi đến cửa ra vào, hành khách nhét vé vào máy soát vé, thanh chắn cửa tự động mở ra. Nếu đi vượt quá quãng đường ghi trên vé thì thanh chắn không mở và hành khách phải bù thêm lượng tiền còn thiếu mới ra được khỏi ga tàu.
Đường tàu điện ngầm thường được hiểu là đi ngầm dưới mặt đất, nhưng hiện nay hơn 60 đường tàu điện ngầm trên thế giới, chỉ có 10 đường là hoàn toàn trong mặt đất, còn lại là kết hợp giữa trên và dưới mặt đất, ở nơi sầm uất thì phải làm dưới mặt đất, còn lại dùng cầu vượt hoặc đi trên mặt đất để giảm bớt khó khăn và giá thành thi công.
Tàu điện ngầm ở một số nước.
Tuyến tàu điện ngầm đầu tiên trên thế giới được khánh thành vào ngày 10 tháng giêng 1863 tại Luân Đôn được gọi là "Metropolitan Railway". Lúc đó đầu tàu vẫn chạy bằng hơi nước. Nó nối những nhà ga "Paddington", "King’s Cross", "St Pancras" và "Euston", mà nằm tương đối xa ngoài trung tâm thành phố, với Thành phố Luân Đôn.
Tàu điện ngầm đầu tiên nằm tuyến đường "City and South London Railway" (bây giờ "Northern Line"), khánh thành vào ngày 4 tháng 11 năm 1890 tại Luân Đôn. Nó dẫn từ trạm "Von" "Stockwell" tới "King William Street". Bắt đầu từ đó nhiều đô thị lớn khác ở Âu châu cũng làm theo, hy vọng là sẽ giải quyết được vấn đề giao thông trong thành phố.
Tàu điện ngầm ở Việt Nam.
templatestyles src="Bản mẫu:Đầu tham khảo/" /
Dự án tại VN:
|
Nhà văn Hoàng Ngọc Phách, (20 tháng 8 năm 1896 - 24 tháng 11 năm 1973) là tác giả tiểu thuyết "Tố Tâm", một trong những tiểu thuyết hiện đại đầu tiên của Việt Nam, tác phẩm đã được giáo sư Michele Sullivan và Emmanuel Lê Ốc Mạch dịch sang tiếng Pháp.
Nhà xuất bản Gallimard - nổi tiếng với bộ sách "Tìm hiểu phương Đông", chuyên dịch và giới thiệu các tác phẩm văn học nổi tiếng ở các nước Ảrập, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam - đã ấn hành cuốn sách này với tên gọi "Một trái tim trong sáng".
Hoàng Ngọc Phách, tên huý là Tước, ông còn có bút hiệu Song An, sinh năm 1896, quê ở làng Đông Thái, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình có truyền thống hiếu học, yêu nước, cha ông từng tham gia phong trào Cần Vương. Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán rồi học trường Pháp Việt. Sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Tiểu học ở Vinh, ông ra học Trường Bưởi, Hà Nội.
Khiếu văn chương của ông cũng được bộc lộ từ sớm. Năm 1916 khi mới học xong năm thứ hai trường Bưởi, Hoàng Ngọc Phách đã trúng giải 8 trong 20 giải của cuộc thi thơ do Ban Quản trị rạp Sán Nhiên Đài tổ chức. Cũng trong thời gian học ở trường Bưởi, ông tham gia và chỉ đạo các phong trào bãi khóa, thành lập Hội Học sinh tương tế chống bọn giám thị khinh rẻ, bạc đãi học sinh nghèo.
Năm 1919, Hoàng Ngọc Phách đỗ cả hai bằng Cao đẳng tiểu học Pháp và bằng Thành Chung. Cùng năm đó, ông trúng tuyển luôn kỳ thi tuyển vào trường Cao đẳng sư phạm, Ban văn chương. Năm cuối khóa học ở đây, Hoàng Ngọc Phách hoàn thành tiểu thuyết "Tố Tâm". Với tác phẩm này, ông là người mở đầu cho nền tiểu thuyết hiện đại Việt Nam. Nhiều ý kiến còn cho rằng Tố Tâm là cuốn tiểu thuyết hiện đại đầu tiên của Việt Nam.
Năm 1922 tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm, Hoàng Ngọc Phách được bổ làm giáo sư trường Thành Chung, Nam Định. Ba năm sau ông chuyển về Hà Nội làm Tổng Thư ký trường Cao đẳng sư phạm. Thời gian đó, phong trào để tang Phan Chu Trinh, đòi thả Phan Bội Châu diễn ra sôi nổi, nhất là trong học sinh, sinh viên. Do có liên can tới các hoạt động chính trị này, Hoàng Ngọc Phách bị đổi xuống Kiến An rồi xin chuyển sang dạy ở trường Cao đẳng tiểu học Bonnal Hải Phòng.
Trong thời gian dạy học ở Hải Phòng, Hoàng Ngọc Phách còn làm Hội trưởng hội Trí Tri Hải Phòng. Ông thường tổ chức những buổi diễn thuyết, tổ chức đội kịch mà đạo diễn, diễn viên là thầy trò trường Bonnal. Số tiền thu được dùng vào việc từ thiện. Những vở "Lọ vàng, Bạn và vợ, ông Tây An Nam"... có tiếng vang thu hút được nhiều khán giả. Dưới sự dìu dắt của Hoàng Ngọc Phách, Thế Lữ và một số nghệ sĩ khác đã trưởng thành và gặt hái được nhiều thành công trong ngành nghệ thuật sân khấu.
Năm 1931 Hoàng Ngọc Phách lên dạy học ở trường Cao đẳng tiểu học Lạng Sơn. Năm 1935 ông về dạy học ở Bắc Ninh cho đến ngày Tổng khởi nghĩa. Ở đây, ông cũng tham gia tổ chức Hội Khuyến học, Hội Truyền bá quốc ngữ tỉnh và giữ chức Hội trưởng hai tổ chức xã hội này.
Sau cách mạng tháng Tám đến năm 1959, Hoàng Ngọc Phách giữ nhiều chức vụ trong ngành giáo dục: Giám đốc học khu Bắc Ninh kiêm Hiệu trưởng trường trung học Hàn Thuyên, Giám đốc giáo dục chiến khu 12, Liên khu 1, Giám đốc Cao đẳng sư phạm Trung ương, Thanh tra học vụ toàn quốc, Hiệu trưởng trường phổ thông Phan Đình Phùng, rồi về ban tu thư Bộ Giáo dục, tham gia nhóm nghiên cứu Lê Quý Đôn. Năm 1959 ông chuyển sang Viện văn học làm công tác nghiên cứu cho đến năm 1963 thì nghỉ hưu.
Ông mất năm 1973.
Tên của ông được đặt cho một con đường tại phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Một con đường ở Thị trấn Đức Thọ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh cũng mang tên ông.
|
Tô Ngọc Vân (1906 - 1954) là một họa sĩ Việt Nam nổi tiếng, tác giả của một số bức tranh tiêu biểu cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Ông còn có một số bút danh như Tô Tử, Ái Mỹ, TNV. Tô Ngọc Vân là một trong nhóm tứ kiệt của nền hội họa Việt Nam (Trí, Vân, Lân, Cẩn).
Cuộc đời và sự nghiệp.
Tô Ngọc Vân sinh ngày 15 tháng 12 năm 1906 (một vài tài liệu ghi là 1908) tại Hà Nội. Nguyên quán của ông là làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, nhưng ông sinh ra và lớn lên tại Hà Nội.
Thân sinh của họa sĩ Tô Ngọc Vân là một nhà nho nghèo, tên khai sinh là Tô Văn Phú. Sau khi rời quê, đã lên Hà Nội kiếm sống bằng nghề làm thư ký và sửa morasse cho một số tòa báo ở Hà Nội. Mẫu thân là cụ Nguyễn Thị Nhớn người làng Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên), làm nghề buôn bán nhỏ tại Hà Nội. Khi đó, bà nội của ông thường hầu đồng tại đền Dâu (Hàng Quạt) nên ông thường sống tại đây. Trong đền có rất nhiều tượng với hình dáng màu sắc khiến ông thích thú. Ngoài ra, các lễ nghi sinh hoạt của những buổi chầu cũng tạo nên rất nhiều ấn tượng về hình họa. Vì thế, ông thường vẽ lại hình các tượng ra sân. Có lẽ, niềm yêu thích hội họa của họa sĩ Tô Ngọc Vân đã nhen nhóm tại đây. Sau ông được người bác ruột, lấy chồng Pháp nhưng không có con, đưa về nuôi dưỡng và cho đi học.
Xuất thân là một cậu bé con nhà nghèo, nên đến quá tuổi, ông mới được đi học. Khi đang học trung học năm thứ 3 trường Trung học Bảo hộ (hay còn gọi là trường Bưởi, nay là trường trung học phổ thông Chu Văn An), ông bỏ học để đi theo con đường nghệ thuật. Năm 1926, ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (nay là Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam) cùng khóa với họa sĩ Thang Trần Phềnh. Họa sĩ Tô Ngọc Vân thuộc thế hệ đầu tiên của trường, tốt nghiệp khóa 2 năm 1931. Sau khi ra trường, Tô Ngọc Vân đã có tác phẩm xuất sắc, được giải thưởng cao ở Pháp. Ông đi vẽ nhiều nơi ở Phnôm Pênh, Băng Cốc, Huế... Ông cũng là một người viết về mỹ thuật, phê bình nghệ thuật trên báo chí. Ông hợp tác với các báo "Phong Hóa" và "Ngày Nay" của Nhất Linh, báo "Thanh Nghị".
Vợ ông là bà Nguyễn Thị Hoàn (1912), là con gái thứ của cụ Ký Nguyễn Văn Toản (thư ký tòa soạn báo Trung Bắc Tân Văn của học giả Nguyễn Văn Vĩnh). Quê gốc của bà ở làng Cự Khối, Gia Lâm nhưng bà ra đời và sinh sống trưởng thành cùng gia đình tại số 95, Hàng Chiếu, Hà Nội. Thủa nhỏ, bà học ở Ecole Brieux (nay là trường Thanh Quan - Hàng Cót). Khi bà mới vào học trường Ecole Normale Superieure thì bỏ dở và lấy chồng. Ông bà có 5 người con.
Trong đó nổi tiếng nhất là người con cả: Giáo sư - Tiến sĩ khoa học Tô Ngọc Thanh.
Con thứ hai là Phó tiến sĩ (Luyện kim mầu tại Liên Xô) Tô Ngọc Thái, một chuyên gia hàng đầu về bauxit của Việt Nam, công tác tại Bộ Luyện kim (cũ). Phó Tiến sĩ Tô Ngọc Thái có thời gian dài tham gia nhóm cán bộ của Việt Nam công tác tại Hội đồng Tương trợ Kinh tế (gọi tắt là khối SEV).
Họa sĩ Tô Ngọc Thành là con trai thứ ba, tu nghiệp tại Praha (Cộng hòa Séc) từ 1967-1975 về hoạt hình. Họa sĩ Tô Ngọc Thành công tác tại Xưởng phim hoạt hình Việt Nam, đã tham gia làm nhiều phim hoạt hình, trong đó có phim Ông trạng thả diều đạt giải Bông sen vàng.
Người con gái duy nhất của ông bà là Tiến sĩ - Kiến trúc sư Tô Thị Toàn. Tiến sĩ Tô Thị Toàn tốt nghiệp khóa KT64 trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Bà ra công tác và về sau được tín nhiệm làm Viện trưởng Viện thiết kế Kiến trúc Hà Nội. Sau khi rời cơ quan này, bà được chuyển lên làm Phó ban và cuối cùng làm Trưởng ban Quản lý phố cổ Hà Nội. Bà vinh dự được tín nhiệm 2 lần trúng cử Đại biểu Quốc hội khóa X và XI.
Kiến trúc sư Tô Ngọc Thạch (con trai út) tốt nghiệp loại giỏi của trường Đại học Kiến trúc La Habana (Cuba). Ông về nước năm 1974, tham gia làm nhiều dự án xây dựng do Cuba tài trợ. Sau đó, với vốn kiến thức ngoại ngữ phong phú của mình, ông được chuyển sang làm công tác ngoại giao đảng cho ban Đối ngoại Trung ương Đảng. Ông rời nhiệm sở từ vị trí Vụ Trưởng Vụ Quan hệ Nhân dân.
Họa sĩ Tô Ngọc Vân có người em duy nhất là bà Tô Thị Vượng. Bà Vượng lấy chồng người làng Kiêu Kỵ nên phần lớn cuộc đời bà sinh sống tại đây cho đến khi mất, trừ một quãng thời gian trước 1954 theo chồng lên sống tại Bắc Giang.
Từ 1935 đến 1939, họa sĩ Tô Ngọc Vân dạy học ở trường trung học Phnôm Pênh. Sau đó ông về dạy ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tới 1945. Thời gian đó ông vừa giảng dạy vừa vẽ linh tinh vào vở của mình. Sau cách mạng Tháng Tám, Tô Ngọc Vân tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1950 ông phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc. Thời gian này ông đã vẽ rất nhiều ký họa.
Tô Ngọc Vân được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc sử dụng chất liệu sơn dầu ở Việt Nam. Ông còn được xem là một trong những họa sĩ lớn của hội họa Việt Nam, nằm trong "bộ tứ" nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn (Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn). Ngay từ những năm học trong trường Mỹ thuật, ông đã sớm nghiên cứu kỹ lưỡng kỹ thuật sử dụng chất liệu sơn dầu. Ông đã viết những dòng tự sự ", phản ứng lại sự lan tràn của hội họa Pháp sang ta và để giành một địa vị mỹ thuật trọng yếu cho dân tộc trên thế giớ". Thông qua kỹ thuật, ông đã cố gắng diễn tả được vẻ đẹp của duyên dáng người Việt Nam đương thời mà tiêu biểu là chân dung thiếu nữ.
Tô Ngọc Vân cũng là một trong số rất ít họa sĩ Việt Nam đã sớm vẽ tem ngay từ thời Pháp thuộc ("Postes Indochine"). Mẫu tem "Apsara" được ông thiết kế từ nguồn tư liệu của những chuyến đi vẽ, sáng tác ở khu đền Angkor Wat, Angkor Thom của Campuchia. Hình tượng chính của con tem là tiên nữ Apsara, một trong hàng ngàn tượng vũ nữ điêu khắc nổi trên những vách đền đài của nền văn hoá cổ Khmer. Tem "Apsara" của họa sĩ Tô Ngọc Vân là mẫu tem thứ 23 của Bưu điện Đông Dương kể từ khi Pháp phát hành tem thư ở Việt Nam. Và cũng là tem duy nhất ông góp vào nền nghệ thuật tem thư ở Việt Nam.
Họa sĩ Tô Ngọc Vân hy sinh ngày 17 tháng 6 năm 1954 tại Km 41, Ba Khe, bên kia Đèo Lũng Lô, do máy bay địch Pháp phát hiện và bắn chết, sát chiến trường Điện Biên Phủ. Ông được truy tặng danh hiệu Liệt sỹ và phần mộ hiện an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch.
Tác phẩm tiêu biểu.
Đều là tranh sơn dầu.
Và hàng trăm ký họa kháng chiến.
Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996). Tên ông được đặt cho nhiều con đường tại một số thành phố và thị xã ở Việt Nam như thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Thủ Đức, Đà Nẵng, Hưng Yên, Hải Dương, Yên Bái, Đà Lạt, Vũng Tàu ... và đặt cho một miệng núi lửa trên Sao Thủy.
Tại Hà Nội, tên ông được đặt cho con phố nhỏ phía Đông Bắc Hô Tây, đường Xuân Diệu vào làng Quảng Bá, tới ngã ba hồ bơi Quảng Bá, ngoặt bên trái đi tới cổng nhà nghỉ Công ty Khách sạn và Du lịch công đoàn Hà Nội.
|
Quá trình công tác.
Ông tên thật là Nguyễn Ngọc Thiện, quê ở xã Đức Thượng, thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội).
Bắt đầu tham gia cách mạng từ năm 1944 với nhiệm vụ in và phát hành báo Độc Lập tại quê nhà. Tháng 3 năm 1945, ông trở thành Bí thư Thanh niên Cứu quốc thị xã Sơn Tây. Từ tháng 5 năm 1945, ông học tại Trường quân chính kháng Nhật, là đội viên công tác xây dựng cơ sở giao thông từ chiến khu Việt Bắc về Hòa Bình. Cũng trong thời gian này ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 7 năm 1947, tham gia bộ đội địa phương hoạt động ở các tỉnh Sơn Tây, Ninh Bình và Nam Định.
Từ tháng 5 năm 1947 đến tháng 2 năm 1955, ông lần lượt giữ các cương vị Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn phó, Trung đoàn trưởng các Trung đoàn 48, Trung đoàn 64 và Trung đoàn 66 thuộc Ðại đoàn 320.
Tháng 11 năm 1953 đến tháng 2 năm 1955 ông là Tham mưu trưởng Đại đoàn 320 (sau là Sư đoàn 320).
Từ tháng 3 năm 1955 đến tháng 7 năm 1970, ông công tác tại Bộ Tổng Tham mưu và giữ chức Cục phó rồi Cục trưởng các Cục Quân huấn và Cục Tác chiến. Năm 1958, ông được phong quân hàm Thượng tá.
Tháng 4 năm 1962, ông sang Liên Xô học tại , được thăng quân hàm Đại tá (1965).
Năm 1967, ông vào miền Nam trực tiếp chiến đấu và là Phó Tư lệnh chiến trường Trị Thiên (mặt trận B5).
Từ tháng 8 năm 1970 đến năm 1973, là phái viên của Bộ Quốc phòng tại Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam và là Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Miền (B2).
Tháng 4 năm 1974, là Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng với nhiệm vụ đặc biệt cùng với Cục Tác chiến làm gấp kế hoạch tác chiến chiến lược trong hai năm để giành thắng lợi lớn giải phóng miền Nam.
Năm 1975, ông là quyền Tham mưu trưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau năm 1975, ông tiếp tục giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng đến khi về hưu, Ủy viên Hội đồng Quân sự Bộ Quốc phòng .
Năm 1980, ông được thăng quân hàm Trung tướng. Năm 1986, thăng quân hàm Thượng tướng.
Năm 1987, ông giữ chức Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia.
Tháng 10 năm 1995, ông được Đảng và Nhà nước cho nghỉ hưu.
Hoạt động chính trị.
Trong Đảng Cộng sản Việt Nam, ông là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa IV (1976);
Năm 1982 ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa V.
Năm 1981, ông được bầu làm Đại biểu Quốc hội khoá VII.
Năm 1986 ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa VI.
Ông nổi danh vì có thời gian dài hơn 20 năm làm công tác tác chiến, do đó bạn bè vẫn thường gọi ông với biệt danh là Hiền "tác chiến".
Ông là em ruột của bà Nguyễn Thị Mùi (tức Nguyễn Thị Minh Sơn), vợ của Đại tướng Lê Trọng Tấn.
Ông lập gia đình với bà Lương Ngọc Thư vào năm 1954. Ông bà có với nhau 3 người con (một gái, hai trai).
Ngày 18 tháng 4 năm 2006, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền mất tại Hà Nội, thọ 78 tuổi. Ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.
Thượng tướng Lê Ngọc Hiền được Đảng, Nhà nước trao tặng:
|
Ỷ Lan (chữ Hán: 倚蘭, 7 tháng 3, năm Giáp Thân (1044) – 25 tháng 7, năm Đinh Dậu (1117) hay còn gọi là Linh Nhân Hoàng thái hậu (靈仁皇太后), là phi tần của Hoàng đế Lý Thánh Tông, mẹ ruột của hoàng đế Lý Nhân Tông trong lịch sử Việt Nam.
Bà đã hai lần đăng đàn nhiếp chính, giúp đất nước dưới triều triều Lý được hưng thịnh, những đóng góp cho hoàng triều nhà Lý nhất là về Phật giáo và tài năng trị nước của bà đều được sử gia khen ngợi và tán dương. Tuy vậy, để có thể có quyền hành nhiếp chính đất nước, bà đã mưu kế dựa vào Lý Thường Kiệt, phế truất và sát hại Thái hậu nhiếp chính tiền nhiệm là Thượng Dương Hoàng thái hậu và 72 cung tần phi nữ. Việc làm này đã gây nên nhiều tranh cãi xung quanh bà, xây nhiều chùa chiền nhưng lại đi giết hại vô số mạng người, không xứng đáng để được ví với Quan Thế Âm Bồ Tát.
Tên gọi và xuất thân.
Xuất thân của bà, các sách như "Đại Việt sử lược" và "Đại Việt sử ký toàn thư" đều không ghi chép rõ ràng. Chỉ biết bà họ Lê, người hương Thổ Lỗi, sau là Siêu Loại, còn "Ỷ Lan" là tên do Lý Thánh Tông ban cho sau khi vào cung.
Theo truyện thơ nói về Ỷ Lan có tên là "Lý triều đệ tam Hoàng thái hậu cổ lục thần tích quốc ngữ diễn ca văn" của Trương Thị Trong thời Chúa Trịnh, thì bà có tên là Lê Khiết Nương (黎潔娘). Tuy nhiên, cứ theo việc mẹ bà được gọi là Tĩnh Nương (靜娘), ở một thời kỳ xưa từng rất phổ biến dùng từ đệm "nương" sau tên thật của người phụ nữ, thì có lẽ tên thực của bà (theo truyện thơ) là Khiết. Cũng có nguồn cho rằng, bà có tên là Lê Yến (黎嬿). Một học giả người Tống là Thẩm Hoạt trong sách "Mộng khê bút đàm" (quyển thứ 2) ghi tên bà là Lê Thị Yến Loan, nhưng học giả Hoàng Xuân Hãn cho biết đó chỉ là cách phiên âm từ tên Ỷ Lan mà thôi.
Theo truyền thuyết về bà, Ỷ Lan sinh ngày 7 tháng 3 năm Giáp Thân (7 tháng 4 năm 1044) tại hương Thổ Lỗi sau đổi thành Siêu Loại, phủ Thiên Đức, lộ Bắc Giang Hạ nay thuộc khoảng khu vực giáp ranh giữa hai huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội và huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Tuy nhiên, trong truyện thơ trên không nói rõ bà sinh năm nào, chỉ cho biết cha bà họ Lê, có nguồn ghi tên là Lê Công Thiết, làm chức quan nhỏ ở Kinh thành Thăng Long. Và mẹ bà, theo truyện thơ chỉ ghi hiệu là "Tĩnh Nương", có nguồn ghi tên là Vũ Thị Tĩnh, là một người làm ruộng tại hương Thổ Lỗi.
Đến năm Ỷ Lan 12 tuổi thì mẹ ốm mất, cha lấy mẹ kế họ Đồng, nhưng ít lâu sau ông cũng qua đời. Kể từ đó, bà sống với người mẹ kế, hai người rất hòa thuận.
Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" (Bản kỷ toàn thư, quyển 3) chép:
"... "Tục truyền rằng vua (Lý Thánh Tông) cúng khấn cầu tự chưa thấy hiệu nghiệm, mới đi chơi khắp chùa quán. Xa giá đi đến đâu, con trai con gái đổ xô đến xem không ngớt, duy có một người con gái hái dâu cứ đứng tựa trong bụi cỏ lan. Vua trông thấy, gọi đưa vào cung, được vua yêu phong làm Ỷ Lan Phu nhân""...
Theo truyện thơ trên, thì đó là năm Giáp Thìn (1064), khi vua Lý Thánh Tông đến chùa Thổ Lỗi cầu tự và mở hội tuyển cung nữ. Song có nguồn cho rằng đó là vào mùa xuân năm 1063, khi vua đi cầu tự ở chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh), qua hương Thổ Lỗi (nằm ngay cạnh con đường thiên lý để đi vào chùa Dâu), Ngài vén rèm nhìn ra, thấy từ xa có người con gái tựa vào cây lan và cất tiếng hát trong trẻo. Sau đó thì đưa người con gái ấy vào cung.
Lê thị vào cung, phong làm Ỷ Lan Phu nhân (倚蘭夫人), nơi ở là Du Thiền các (逰蟾閣). Tên hiệu "Ỷ Lan" nghĩa là tựa vào gốc lan, Thánh Tông ban phong hiệu này để lấy làm kỷ niệm của việc gặp gỡ giữa hai người. Thánh Tông sang tuổi 40 mà chưa có con trai nối dõi, sai Chi hội hậu nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu tự ở chùa Thánh Chúa. Nhà sư dạy cho Bông thuật đầu thai thác hóa, Bông nghe theo. Việc phát giác, đem chém Bông ở trước cửa chùa. Người sau gọi chỗ ấy là Đồng Bông. Chùa ở xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm. Đồng Bông ở phía tây trước cửa chùa, nay hãy còn. Lễ thức "Bông Sòng", hiện còn được biểu diễn hàng năm vào dịp Lễ hội ở Làng Sủi quê hương Bà (3/3 Âm lịch) là hoạt động duy nhất trong cả nước Việt Nam hiện nay mô tả, nhắc nhớ lại việc giải oan cho ông Nguyễn Bông. Hiện nay, có đền thờ Đức Lý Thái Hậu (bà Ỷ Lan) ngay cạnh Đình làng Sủi, trên có đắp nổi chữ "Mẫu nghi thiên hạ", trong mật thất có ngai thờ vương miện của vua và mũ của bà.
Mùa xuân, tháng Giêng, năm 1066, Linh Nhân Hoàng nhân sinh ra Hoàng tử Lý Càn Đức (李乾德). Ngày hôm sau, lập làm Hoàng thái tử, đổi niên hiệu, đại xá, và phong mẹ là Ỷ Lan Phu nhân làm Thần phi (宸妃).
Năm Mậu Thân (1068) bà lại sinh ra Minh Nhân vương (明仁王), có thuyết sau đó là Sùng Hiền hầu. Thánh Tông cho đổi hương Thổ Lỗi làm hương Siêu Loại, và phong Thần phi làm Nguyên phi (元妃), đứng đầu các phi tần trong cung.
Địa vị bây giờ của Ỷ Lan chỉ sau Dương Hoàng hậu.
Làm Nhiếp chính lần thứ nhất.
Tháng 2 năm Kỷ Dậu (1069), Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Tin cậy, trước khi đi nhà vua trao quyền điều khiển chính sự ở triều đình cho Nguyên phi, giúp sức có Lý Đạo Thành (李道成) là Thái sư đầu triều đương thời.
Ra trận, Thánh Tông đánh mãi không được, bèn lui binh. Khi đem quân về đến châu Cư Liên (Tiên Lữ, Hưng Yên) thì nghe tin Nguyên phi làm rất tốt việc nội trị, lòng dân cảm hóa hòa hợp, trong cõi vững vàng, tôn sùng Phật giáo, dân gọi là bà Quan Âm. Thánh Tông nói: "... "Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao!"" Bèn quay lại đánh nữa, bắt được vua nước ấy là Chế Củ và 5 vạn người.
Năm sau (1070), Chế Củ xin đem đất ba châu: Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (tức vùng Quảng Bình và Quảng Trị ngày nay) để chuộc tội. Giang sơn Đại Việt bước đầu mở rộng xuống phía Nam.
Mưu đoạt quyền bính.
Tháng Giêng, năm 1072, Thánh Tông Hoàng đế lâm bệnh nặng rồi băng hà, thọ 50 tuổi, trị vì được 18 năm. Hoàng thái tử Lý Càn Đức kế nghiệp, sử gọi là Lý Nhân Tông. Nhân Tông kế nghiệp khi mới 7 tuổi, nên tôn đích mẫu là Dương Hoàng hậu làm Thượng Dương Hoàng thái hậu (上楊皇太后) và để cho Thái hậu cùng dự việc triều chính, có Thái sư Lý Đạo Thành giúp đỡ công việc.
Ỷ Lan Nguyên phi được tôn làm Hoàng thái phi (皇太妃), không có quyền xen vào việc triều chính. Nhưng rồi, dưới lợi thế là mẹ đẻ của Hoàng đế, cùng sự liên kết với Thái úy Lý Thường Kiệt, bà đã khiến Nhân Tông ra chiếu chỉ phế truất Thượng Dương Thái hậu. Sau đó, Ỷ Lan đã ra lệnh giam Dương Thái hậu cùng 72 cung nhân khác vào lãnh cung. Đến khi phát tang chôn cất Thánh Tông Hoàng đế, Thái hậu cùng các cung nhân bị buộc phải chôn theo. Khu vực trước cánh đồng làng Sủi (làng Phú Thị)hiện nay, có địa danh là Mả Nàng, theo các cụ cao tuổi ở làng,
Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" (Bản kỷ toàn thư, quyển 3) chép sơ lược việc này như sau:
""Quý Sửu (1073)... Giam Hoàng thái hậu họ Dươ(bởi) Linh Nhân có tính ghen, cho mình là mẹ đẻ mà không được dự chính sự, mới kêu với vua rằng: "Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quý người khác hưởng, thế thì sẽ để mẹ già vào đâu?" Vua bèn sai đem giam Dương Thái hậu và 72 người thị nữ vào cung Thượng Dương, rồi bức phải chết chôn theo lăng Thánh Tô(còn) Thái sư Lý Đạo Thành lấy chức Tả gián nghị đại phu ra coi châu Nghệ An"." Từ khi đó, vai trò của Lý Thường Kiệt ngày càng lên.
Làm Nhiếp chính lần thứ hai.
Sau khi sát hại Thượng Dương Hoàng thái hậu, Ỷ Lan được tôn làm Hoàng thái hậu nhiếp chính. Lý Đạo Thành vốn là người phụ chính Thượng Dương Thái hậu, Ỷ Lan cho là không nên dùng và biếm ông ra trấn thủ Nghệ An. Nhưng không lâu sau lại cho gọi về, ban chức "Thái phó bình chương quân quốc trọng sự" để cùng với Thái úy phụ chính là Lý Thường Kiệt điều hành đất nước.
Năm 1075, Thái úy Lý Thường Kiệt, sau khi cử gián điệp thu thập tin tức của Nhà Tống, đã tiến hành mang quân sang vây đánh Khâm Châu và Liêm Châu (thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc). Phá tan kho lương thực và khí giới của Nhà Tống ở Ung Châu, giết hơn vạn dân và lui binh. Nhà Tống chấn động, tuy nhiên vẫn không từ bỏ ý định xâm lược Đại Việt.
Năm 1076, tướng Quách Quỳ, một viên tướng dày dạn trận mạc cùng Triệu Tiết đem đại binh sang xâm lược Đại Việt. Mặc dù quân Tống rất mạnh song không thể vượt qua được phòng tuyến sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt. Ông đã cử Lý Kế Nguyên đánh bại đội quân thủy của quân Tống sang kết hợp với quân đánh bộ của Quách Quỳ. Quách Quỳ thiếu lương thực, chỉ mong đánh lớn một trận cho bõ. Nhưng Lý Thường Kiệt án binh bất động không ra, vì ông đợi cho quân Quách Quỳ hết lương, dịch bệnh đeo bám.
Tháng 2 năm 1077, thủy quân Đại Việt tràn lên bờ, đánh chiếm núi Nham Biền rồi đổ bộ xuống quân Tống. Một cuộc giao tranh ác liệt diễn ra, Quách Quỳ, Triệu Tiết đem quân sang chống đỡ. Hai bên tiêu hao nặng. Nhưng Quách Quỳ, Triệu Tiết không hề biết rằng đó chỉ là nghi binh.
Đêm ấy, lợi dụng quân Triệu Tiết mệt mỏi và không đề phòng, Lý Thường Kiệt vượt sông Như Nguyệt, đánh một trận khủng khiếp trong đêm. 5 vạn quân viễn chinh của Tống bị diệt trong đêm đó.
Quách Quỳ từ 10 vạn còn lại hơn 3 vạn thoi thóp như cá nằm trên thớt. Sau đó, khi nhận được thư giảng hòa của Thái úy, Nhà Tống mừng như bắt được vàng và nhanh chóng rút quân.
Sử sách không ghi rõ thời gian bà thôi nhiếp chính và trao lại quyền hành cho Nhân Tông. Phỏng theo sự kiện Tuyên Từ Hoàng thái hậu Nhà Hậu Lê khoảng 400 năm về sau, có lẽ thời gian nhiếp chính của bà cũng chỉ khoảng 10 năm, tức là đến khoảng năm 1085, hoặc có thể trễ hơn vài năm hoặc sớm hơn vài năm. Tuy nhiên, Ỷ Lan dù thế nào vẫn tiếp tục có ảnh hưởng lớn trong triều đình, ví dụ như vào năm 1103, Hoàng thái hậu đã phát tiền ở kho nội phủ để chuộc con gái do nhà nghèo bị bán ở đợ, đem họ mà gả cho những người đàn ông góa vợ. Bà còn đề xuất lệnh cấm trộm trâu và giết trâu bừa bãi.
Vốn là người sùng đạo Phật, và là "người tu tại gia", về già, Hoàng thái hậu Ỷ Lan càng để tâm làm việc thiện, xây chùa và nghiên cứu về đạo Phật. Tính đến năm (1115), bà đã cho xây cất 150 chùa, đền, trong đó có chùa Đại Dương Sùng Phúc Tự ở quê hương (Phú Thị, Gia Lâm).
Vụ án Hồ Dâm Đàm.
Lê Văn Thịnh là người đỗ đầu trong khoa thi đầu tiên của Nho học được triều đình tổ chức năm 1075, được bổ làm quan, dần trải đến chức Thái sư. Năm 1084 ông thành công trong việc bàn nghị về việc cương giới với quan Nhà Tống, khiến nước này phải trả lại 6 huyện 3 động thuộc châu Quảng Nguyên cho Đại Việt. Trong vụ án "Hồ Dâm Đàm", ông bị phế truất chức vụ và bị đày đi Thao Giang (nay thuộc huyện Tam Nông, Phú Thọ). Khi được triều đình đại xá, ông trở về quê và mất năm 1096.
Vụ án trên, lâu nay người ta đã bàn nhiều. Có người nói vì ông bị nghi kỵ nên bị hạ bệ. Có người nói ông là nạn nhân bởi "sự xung đột ý thức hệ giữa Phật giáo với Nho giáo". Phật giáo được đề cao, được bảo trợ bởi Thái hậu Ỷ Lan. Còn Nho giáo được du nhập khá mới, sớm nhất vào đời Thánh Tông Hoàng đế nên bị hạn chế, mà Lê Văn Thịnh là người đứng đầu phái này.
Năm 1117, Thái hậu qua đời, thọ 73 tuổi, thụy hiệu là Linh Nhân Phù Thánh Hoàng thái hậu (靈仁扶聖皇太后). Sau đó, triều đình làm lễ hỏa táng, chôn theo ba người hầu gái.
Mùa thu, tháng 8, cùng năm ấy, chôn Linh Nhân Hoàng thái hậu ở Thọ lăng, thuộc phủ Thiên Đức (nay là phường Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh).
Câu nói nổi tiếng.
Một lần vua Lý Thánh Tông hỏi Ỷ Lan về kế trị nước, Ỷ Lan tâu:
Nghe xong Lý Thánh Tông rất phục.
Bà được tôn thờ ở một số nơi, nhưng đáng kể hơn cả là "Cụm di tích Đền Ghênh và Chùa Bà Tấm". Đình Yên Thái ở ngõ Tạm Thương, phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm cũng thờ bà.
Nơi thờ Ỷ Lan được lập tại 3 nơi chủ chốt:
Bên cạnh công lao ổn định và phát triển đất nước, Ỷ Lan còn có hai việc nổi bật đã được sử cũ biên chép, đó là việc "chuộc người" (năm 1103) và việc "đề xuất lệnh cấm trộm trâu và giết trâu bừa bãi" (năm 1117) như đã kể trên. Việc thứ nhất được sử thần Ngô Sĩ Liên khen là: "Thái hậu đổi đời cho họ, cũng là việc làm chân chính vậy". Còn việc thứ hai khiến nhiều người dân càng kính trọng và biết ơn bà, bởi "con trâu là đầu cơ nghiệp".
Tuy nhiên, trong trang sử đời bà có một vết đen, đó là việc giết chết Thái hậu Thượng Dương và 72 người thị nữ. Tục truyền rằng bà rất hối hận về việc này nên đã làm nhiều chùa Phật để sám hối, rửa oan.
Xét khía cạnh khác, qua bài kệ của bà còn lưu lại trong cuốn "Thiền Uyển tập anh", đã chứng tỏ bà không chỉ là người "hiểu sâu tôn chỉ" đạo Phật, mà còn là người giỏi chữ nghĩa. Và theo GS Nguyễn Khắc Thuần, "chính những lời đối đáp giữa bà với các bậc cao tăng đã đặt nền tảng đầu tiên cho việc ra đời của sách Thiền Uyển tập anh rất có giá trị sau này".
Giới thiệu bài kệ.
Bài kệ không có đầu đề (đầu đề do người đời sau thêm vào, có sách ghi là Kệ Sắc không), được Ỷ Lan làm sau khi đàm đạo với Đại sư Thông Biện về những tôn chỉ của đạo Thiền.
Với bài kệ trên, Ỷ Lan đã được các nhà nghiên cứu văn học Việt xếp vào hàng ""tác gia văn học thời Lý-Trần"."
|
Họ Trôm (danh pháp khoa học: Sterculiaceae) là một danh pháp khoa học để chỉ một nhóm thực vật có hoa ở cấp độ họ. Giới hạn định nghĩa, tình trạng và vị trí của họ này thay đổi theo từng quan điểm phân loại. Tên gọi khoa học của họ này dựa trên chi Trôm ("Sterculia"). Theo định nghĩa truyền thống thì các họ Sterculiaceae, Malvaceae, Bombacaceae, và Tiliaceae tạo thành "phần cơ bản của bộ Cẩm quỳ" trong hệ thống Cronquist và quan hệ họ hàng gần gũi giữ các họ này nói chung được công nhận. Sterculiaceae có thể tách ra từ Malvaceae "nghĩa hẹp" ("sensu stricto") do có bề mặt nhẵn của các hạt phấn hoa và các bao phấn hai ngăn.
Một loạt các nghiên cứu phát sinh loài đã cho rằng Sterculiaceae, Tiliaceae và Bombacaceae theo định nghĩa truyền thống là cận ngành khi miêu tả theo nhánh và địa vị hiện tại của các họ này đang được đặt dưới sự nghi vấn. APG và các hệ thống APG II hợp nhất Bombacaceae, Malvaceae "sensu stricto", Sterculiaceae và Tiliaceae, các thành phần cơ bản của bộ Malvales trong hệ thống Cronquist, thành một họ được định nghĩa rộng hơn là họ Malvaceae "nghĩa rộng" ("sensu lato"). Trong quan điểm này thì các đơn vị phân loại trước đây được phân loại trong họ Sterculiaceae được xử lý như là các phân họ Byttnerioideae, Dombeyoideae, Helicteroideae và Sterculioideae của họ Malvaceae "sensu lato". Hệ thống Thorne chấp nhận việc tiếp cận trung gian giữa hai hệ thống trên trong việc tổ hợp phần lớn họ Sterculiaceae truyền thống (nhưng lại không bao gồm chi "Sterculia") với các thành phần của họ Tiliaceae truyền thống để tạo ra họ Byttneriaceae.
Sterculiaceae theo truyền thống đã được phần lớn các nhà phân loại học công nhận như là một họ và nó vẫn còn được thấy mặc dù các phân loại của APG, Thorne hay các hệ thống khác cũng đã được chấp nhận. Theo nghĩa truyền thống của nó thì họ này bao gồm khoảng 70 chi, với tổng cộng khoảng 1.500 loài cây thân gỗ và cây bụi khu vực nhiệt đới. Các sản phẩm đáng chú ý nhất của họ này là sôcôla và bột ca cao từ cây ca cao ("Theobroma cacao"), cũng như hạt côla từ cây côla (chi "Cola"). Nhiều loài sản sinh ra một số loại gỗ.
|
Lai Vung là một huyện nằm ở phía nam tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam.
Lai Vung được mệnh danh là "vương quốc quýt hồng", nằm giữa sông Tiền và sông Hậu nên có nguồn nước dồi dào thuận lợi cho trồng cây ăn trái với đặc sản nổi tiếng là quýt hồng, quýt đường, cam sành, bưở"quýt hồng Lai Vung" và "nem Lai Vung" được Cục Sở hữu trí tuệ công nhận và cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu độc quyền của huyện Lai Vung.
Huyện Lai Vung nằm ở phía nam của tỉnh Đồng Tháp, nằm cách thành phố Cao Lãnh khoảng 27 km, cách thành phố Sa Đéc khoảng 17 km, cách trung tâm thành phố Cần Thơ khoảng 11 km, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 179 km, có vị trí địa lý:
Huyện có diện tích 238 km², dân số năm 2019 là 164.240 người, mật độ dân số đạt 690 người/km².
Nguồn gốc địa danh.
Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức vào thế kỷ XIX đã có ghi chép địa danh Lai Vung. Theo đó, sông Lai Vung là tên tục của Cường Oai giang. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiếu, địa danh Lai Vung thực chất có nguồn gốc từ tiếng Khmer "Sla tamvun", tức là loại cau để chín khô trên cây, vốn được bán rất nhiều ở vùng này, do đó, vùng này cũng được họ gọi là Srôk Sla tamvun. Về sau được người Việt gọi biến âm thành Lai Vung như ngày nay.
Ngày 01 tháng 4 năm 1916, thực dân Pháp thành lập quận Lai Vung thuộc tỉnh Vĩnh Long, do tách ra từ quận Sa Đéc gồm có 2 tổng là;
Việt Nam Cộng hòa.
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa quyết định giải thể tỉnh Sa Đéc, sáp nhập vào địa bàn tỉnh Vĩnh Long. Quận Lai Vung khi đó cũng bị giải thể và nhập vào địa bàn quận Lấp Vò thuộc tỉnh Vĩnh Long. Ngày 11 tháng 7 năm 1962, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho lập thêm quận Đức Thành thuộc tỉnh Vĩnh Long trên cơ sở tách đất từ quận Lấp Vò, quận lỵ đặt tại Lai Vung về mặt hành chính thuộc xã Tân Thành. Quận Đức Thành có địa giới hành chính trùng với quận Lai Vung cũ trước năm 1956.
Ngày 24 tháng 9 năm 1966, tỉnh Sa Đéc được tái lập, quận Đức Thành gồm 3 tổng An Khương, Ti Thiện và Tiến Nghĩa với 8 xã. Quận lỵ là Đức Thành đặt tại xã Hòa Long.
Năm 1970, quận Đức Thành gồm 8 xã: Hòa Long, Long Hậu, Long Thắng, Phong Hòa, Tân Hòa Bình, Tân Phước, Tân Thành, Vĩnh Thới.
Chính quyền Cách mạng.
Chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng phân chia, sắp xếp lại các đơn vị hành chính trong tỉnh như bên chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Năm 1957, chính quyền Cách mạng cũng giải thể và sáp nhập tỉnh Sa Đéc vào tỉnh Vĩnh Long. Đồng thời, huyện Lai Vung khi đó cũng bị giải thể và nhập vào địa bàn huyện Lấp Vò thuộc tỉnh Vĩnh Long giống như phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Trong giai đoạn 1966-1974, địa bàn tỉnh Sa Đéc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn do tỉnh Vĩnh Long của chính quyền Cách mạng quản lý. Do đó, huyện Lấp Vò vẫn thuộc tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn này. Bên cạnh đó, tên gọi "quận Đức Thành" cũng không được phía chính quyền Cách mạng công nhận và sử dụng.
Tháng 5 năm 1974, Trung ương Cục miền Nam quyết định giải thể các tỉnh Kiến Phong và An Giang để tái lập các tỉnh Long Châu Tiền và tỉnh Sa Đéc. Lúc này, huyện Lấp Vò trực thuộc tỉnh Sa Đéc cho đến đầu năm 1976.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn đặt huyện Lấp Vò thuộc tỉnh Sa Đéc như trước đó cho đến đầu năm 1976.
Tháng 2 năm 1976, Lấp Vò là huyện của tỉnh Đồng Tháp, gồm 14 xã: Long Hưng, Dương Hòa, Định Yên, Phong Hòa, Tân Thới, Bình Thành, Vĩnh Thạnh, Bình An Trung, Mỹ An Hưng, Tân Mỹ, Long Hậu, Phước Thành, Tân Khánh Trung, Hòa Thắng.
Ngày 27 tháng 12 năm 1980, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 382/CP về việc điều chỉnh địa giới một số xã thuộc huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp:
Ngày 5 tháng 1 năm 1981, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 4-CP về việc đổi tên huyện Lấp Vò thành huyện Thạnh Hưng.
Ngày 6 tháng 3 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 36-HĐBT về việc phân vạch địa giới một số xã của huyện Thạnh Hưng thuộc tỉnh Đồng Tháp, theo đó:
Ngày 27 tháng 9 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 149-HĐBT về việc phân vạch lại địa giới hành chính một số xã của huyện Thạnh Hưng thuộc tỉnh Đồng Tháp như sau:
Ngày 27 tháng 6 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 77/HĐBT về việc chia huyện Thạnh Hưng thuộc tỉnh Đồng Tháp thành hai huyện Thạnh Hưng và Lai Vung. Theo đó, huyện Lai Vung có 11 xã: Tân Dương, Hòa Thành, Long Thắng, Hòa Long, Long Hậu, Tân Phước, Tân Thành, Vĩnh Thới, Tân Hòa, Định Hòa và Phong Hòa; gồm 23.864 ha diện tích tự nhiên và 142.267 nhân khẩu. Huyện lỵ của huyện Lai Vung đặt tại xã Hòa Long.
Năm 1994, tách một phần diện tích và dân số của xã Hòa Long để thành lập thị trấn Lai Vung, thị trấn huyện lỵ huyện Lai Vung.
Huyện Lai Vung có 1 thị trấn và 11 xã như hiện nay.
Huyện Lai Vung có 12 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Lai Vung (huyện lỵ) và 11 xã: Định Hòa, Hòa Long, Hòa Thành, Long Hậu, Long Thắng, Phong Hòa, Tân Dương, Tân Hòa, Tân Phước, Tân Thành, Vĩnh Thới.
Kinh tế - xã hội.
Chủ yếu trồng cây có múi và cây hoa màu. Huyện có đặc sản là trái cây cam sành, quýt hồng, bưởi, nấm rơm, nem Lai Vung.
Theo Kế hoạch phát triển Du lịch huyện Lai Vung giai đoạn 2017 đến 2020 và những năm tiếp theo, đã xác định từng bước củng cố và tập trung phát triển 3 sản phẩm du lịch đặc trưng với tiềm năng và lợi thế của du lịch huyện là: Du lịch tham quan vườn cây ăn trái và Trải nghiệm những hoạt động sôi nổi trên mặt nước, mô hình Du lịch thực dưỡng và Du lịch Homestay.
Các trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Lai Vung:
Mạng lưới giao thông thủy bộ rất thuận lợi, huyện có các tuyến huyện lộ trên 100 km đường nhựa phủ khắp liên thông với Tỉnh lộ 851, 852, 853 nối liền với Quốc lộ 54 và Quốc lộ 80; cách cảng Sa Đéc và cảng Cần Thơ chỉ 20 km đi từ khu công nghiệp sông Hậu.
|
"Đối với các định nghĩa khác, xem" Vú (định hướng)"."
Vú là một trong hai phần nổi bật nằm ở khu vực bên trên của phần bụng của một loài linh trưởng. Cả con cái và con đực đều phát triển vùng ngực từ các mô phôi giống nhau.
Ở phụ nữ, vùng ngực đóng vai trò là một tuyến vú, sản xuất và tiết ra sữa để cung cấp dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh Lớp mỡ dưới da phủ và bao quanh một mạng lưới các ống dẫn hội tụ tại đầu vú, và những mô này tạo nên kích thước và hình dáng của vùng ngực. Ở cuối các ống dẫn sữa là tiểu thùy, hoặc cụm phế nang, nơi sữa được sản xuất và lưu trữ phản ứng với các tín hiệu nội tiết. Khi mang thai, vùng ngực phản ứng với sự tương tác phức tạp của các hormone, bao gồm estrogen, progesterone và prolactin, để hoàn thành quá trình phát triển, cụ thể là sự trưởng thành của tiểu thùy phế nang, để chuẩn bị cho việc tiết sữa và cho con bú.
Loài người là loài duy nhất trong thế giới động vật có bộ ngực vĩnh viễn. Khi đến tuổi dậy thì, sự kết hợp giữa hormone estrogen và hormone tăng trưởng sẽ góp phần tạo nên sự phát triển vĩnh viễn của vùng ngực ở phụ nữ. Điều này chỉ xảy ra ở mức độ thấp hơn đáng kể so với nhiều loài linh trưởng khác—phát triển vùng ngực ở các loài linh trưởng khác thường chỉ xảy ra trong trường hợp mang thai. Ngoài chức năng quan trọng là cung cấp dưỡng chất cho trẻ sơ sinh, bộ ngực phụ nữ còn mang theo các đặc điểm về xã hội và tình dục. Bộ ngực đã xuất hiện trong nghệ thuật điêu khắc, nghệ thuật và nhiếp ảnh cổ điển cũng như hiện đại. Chúng có thể nổi bật trong quá trình nhận thức về cơ thể và sự hấp dẫn tình dục của phụ nữ. Một số nền văn hóa liên kết ngực với tình dục và thường coi việc trần ngực tại nơi công cộng là thiếu phù hợp hoặc không phải là hành vi đứng đắn. Vùng ngực, đặc biệt là núm vú, được xem là vùng cảm giác nhạy cảm.
Nguyên gốc và thuật ngữ.
Từ tiếng Anh "breast" xuất phát từ từ cổ tiếng Anh "brēost" (nghĩa là ngực, vú), có nguồn gốc từ từ cổ Tiếng Anh , rồi từ Tiếng Đức Tiền sử (ngực), và còn trở về căn gốc Tiếng Ấn-Âu Tiền sử "bhreus–" (tăng trưởng, nảy mầm). Cách viết "breast" phù hợp với cách phát âm ở Scotland và vùng Bắc nước Anh. Từ điển "Merriam-Webster" ghi nhận rằng "Tiếng Anh Trung cổ , [có nguồn] từ Tiếng Anh cổ ; có nguồn từ Tiếng Đức Cao cổ ..., Tiếng Ai-len cổ [bụng], và Tiếng Nga "; thuật ngữ này được sử dụng từ trước thế kỷ 12.
Trong tiếng Anh, có nhiều cụm từ địa phương để chỉ ngực, từ những cụm từ lịch sự tới những cụm từ lóng hoặc tục. Một số cụm từ lóng tục có thể bị coi là xúc phạm hoặc mang tính phân biệt đối với phụ nữ.
Sự phát triển tiến hóa.
Trong số các loài động vật, loài người là duy nhất có ngực tăng kích thước vĩnh viễn sau khi đạt tuổi dậy thì (còn được gọi là tuổi dậy thì ở con người). Tại sao sự thay đổi tiến hóa này xảy ra vẫn chưa được hiểu rõ. Một số giả thuyết đã được đưa ra:
Một khả năng được đề xuất liên quan đến quá trình tổng hợp chất nội tiết là tiền chất của hormone steroid dehydroepiandrosterone, diễn ra trong các vùng giàu mỡ trên cơ thể như mông và ngực. Điều này đã góp phần vào sự phát triển não bộ của con người và đóng vai trò trong việc tăng kích thước não. Việc ngực tăng kích thước có thể đã bắt đầu từ giai đoạn của loài "Homo ergaster" (1,7-1,4 triệu năm trước). Sau đó, có thể đã có các giả thuyết khác về hình thành ngực trở thành nguyên nhân chính.
Có ý kiến từ các nhà động vật học Avishag và Amotz Zahavi rằng kích thước ngực của con người có thể được giải thích bằng lý thuyết nguyên tắc làm khuyết về sự khác biệt giới. Theo ý kiến này, ngực lớn của phụ nữ có thể được hiểu là một cách trình diễn chân thành về sức khỏe của phụ nữ và khả năng phát triển và mang chúng suốt cuộc đời. Đối tượng tiềm năng sau đó có thể đánh giá gen của một đối tác tiềm năng dựa trên khả năng duy trì sức khỏe của cô ấy ngay cả khi cô ấy phải chịu gánh nặng năng lượng bổ sung.
Nhà động vật học Desmond Morris đưa ra một cách tiếp cận theo góc độ xã hội sinh học trong cuốn sách khoa học của ông "The Naked Ape". Ông đề xuất, thông qua việc so sánh với các loài linh trưởng khác, rằng ngực tiến hóa để thay thế mông phình to làm tín hiệu tình dục cho quá trình rụng trứng. Ông lưu ý làm thế nào con người có dương vật và ngực đều lớn so với kích thước của họ. Hơn nữa, người tiền sử đã chọn cách di chuyển bằng hai chân và giao hợp khuôn mặt đối mặt. Do đó, ông đề xuất rằng tín hiệu tình dục phình to giúp duy trì mối liên kết giữa đôi vợ chồng dù họ thực hiện các nhiệm vụ khác nhau và do đó bị tách biệt trong khoảng thời gian dài.
Trong cuốn sách nghiên cứu "Tiến hóa của Ngực Con Người" (2001), đã được đề xuất rằng hình dáng tròn của ngực phụ nữ đã phát triển để ngăn trẻ sơ sinh bú mà không bị ngạt thở. Điều này liên quan đến hàm nhỏ của trẻ sơ sinh người, khi không thể nối tiếp từ khuôn mặt để đến vú, dẫn đến việc ngực có hình dáng phẳng có thể che lấp mũi của trẻ nếu đặc thù như với tinh tinh. Với sự lùi lại của hàm người trong khuôn mặt, cơ thể phụ nữ đã bù đắp bằng cách có ngực tròn hơn.
Người ta cũng đưa ra ý kiến khác từ Ashley Montague (1965), cho rằng sự xuất hiện của ngực là sự thích nghi cho việc cho ăn trẻ sơ sinh với một lý do khác. Khi tổ tiên người bắt đầu đứng thẳng và mất lông cơ thể, việc mang trẻ ở hông hoặc vai trở nên cần thiết thay vì trên lưng như các loài khác. Điều này khiến cho trẻ khó tìm vú và chỗ để bám vào lông cơ thể của mẹ. Sự di động của vú trên ngực lớn của hầu hết phụ nữ giúp trẻ dễ dàng tìm thấy và nắm bám để bú.
Có các ý kiến khác, bao gồm việc ngực lớn vĩnh viễn có thể thu hút đối tác, ngực "đung đưa" cung cấp cho trẻ điểm tựa, hoặc ngực lớn vĩnh viễn chia sẻ chức năng của một bướu lưng của lạc đà, để tích trữ mỡ như dự trữ năng lượng.
Cấu trúc của ngực.
Ở phụ nữ, ngực nằm ở phía trên cơ ngực lớn và nằm từ mức xương sườn thứ hai đến mức xương sườn thứ sáu phía trước của lồng ngực; tức là, ngực phủ một phần lớn khu vực ngực và bức tường ngực. Phía trước của ngực, mô vú có thể kéo dài từ Gan cửa xương (gò cổ) đến giữa xương ức (xương vú). Ở hai bên hông của ngực, mô vú có thể kéo dài vào Nách và có thể đến tận phía sau là Cơ sườn lưng rộng, kéo dài từ lưng dưới đến xương cánh tay (xương bắp trên). Dưới dạng một tuyến vú, ngực bao gồm các lớp mô khác nhau, chủ yếu là hai loại: Mô mỡ; và mô tuyến, có tác động đến việc tiết sữa của ngực.:115
Về hình thái học, ngực có hình dáng giống nước mắt. Lớp mô ở phần ngoại cùng (màng mỡ bề ngoài) được tách ra khỏi da bởi lớp mỡ dưới da (mô mỡ). Các dây treo dây đeo Cooper là những phần mở rộ từ lớp màng mỡ bề ngoài đến lớp da bọc. Ngực của phụ nữ người lớn chứa 14–18 búi vú tiết sữa không đều hội tụ tại vùng vú. Những ống tiết sữa có đường kính 2.0–4.5 mm và được bao quanh ngay lập tức bởi mô liên kết dày đặc hỗ trợ tuyến vú. Sữa chảy ra khỏi ngực thông qua vú, được bao quanh bởi vùng da có màu gọi là bầu vú. Kích thước của bầu vú có thể thay đổi rộng rãi ở các phụ nữ. Bầu vú chứa các tuyến mồ hôi biến đổi gọi là Tuyến Montgomery. Những tuyến này tiết ra chất dầu nhờn để làm trơn và bảo vệ vú trong quá trình cho con bú. Các hợp chất bay hơi trong những chất tiết này cũng có thể làm kích thích mùi để kích thích nhu cầu ăn của trẻ sơ sinh.
Kích thước và trọng lượng của ngực có sự biến đổi rộng rãi giữa các phụ nữ. Ngực cỡ nhỏ đến trung bình có trọng lượng từ 500 gram (1,1 pound) hoặc ít hơn, và ngực cỡ lớn có thể nặng khoảng 750 đến 1.000 gram (1,7 đến 2,2 pound) hoặc hơn. Về thành phần, ngực chứa khoảng 80 đến 90% mô stoma (mỡ và mô liên kết), trong khi mô tế bào biểu hoặc tuyến chỉ chiếm khoảng 10 đến 20% thể tích của ngực. Tỷ lệ thành phần mô của ngực cũng biến đổi giữa các phụ nữ. Một số phụ nữ có tỷ lệ mô tuyến so với mô mỡ hoặc mô liên kết cao hơn. Tỷ lệ mỡ tới mô liên kết xác định độ dày hoặc độ cứng của vú. Trong suốt cuộc đời phụ nữ, ngực của họ thay đổi về kích thước, hình dáng và trọng lượng do sự thay đổi hormone trong giai đoạn dậy thì, chu kỳ kinh nguyệt, mang thai, cho con bú và mãn kinh.
Ngực là một tuyến apocrine sản xuất sữa được sử dụng để cho ăn bé sơ sinh. Đầu vú của ngực được bao quanh bởi vùng vùng areola (khu vực đầu-vùng areola). Vùng areola có nhiều tuyến dầu, và màu da biến đổi từ hồng đến nâu đậm. Các đơn vị cơ bản của ngực là các đơn vị ống tiết sữa nút cuối (TDLUs), sản xuất sữa ngực mỡ. Chúng đảm nhận chức năng nuôi con bằng cách hoạt động như một tuyến vú. Chúng được phân bố khắp cơ thể của ngực. Khoảng hai phần ba mô tiết sữa nằm trong khoảng cách 30 mm từ gốc đầu vú. Các ống tiết sữa cuối cùng dẫn sữa từ TDLUs vào 4-18 ống tiết sữa, dẫn sữa đến đầu vú. Tỷ lệ tuyến sữa so với mỡ là 2:1 ở phụ nữ đang cho con bú, và 1:1 ở phụ nữ không đang cho con bú. Ngoài các tuyến sữa, ngực còn bao gồm các mô liên kết (collagen, elastin), mỡ trắng và ligament Cooper treo. Cảm giác trong ngực được cung cấp bởi sự gây mê của hệ thần kinh ngoại vi thông qua các nhánh da phía trước (anterior) và hai bên (lateral) của các dây thần kinh nội xâm thứ tư, thứ năm và thứ sáu. Dây thần kinh T-4 (Dây thần kinh cột sống thắt lưng 4), cung cấp cảm giác cho khu vực đầu-vùng areola.
Lưu thông bạch huyết.
Khoảng 75% bạch huyết từ vùng ngực chảy đến các nút bạch huyết nách cùng phía trên cơ thể, trong khi 25% bạch huyết di chuyển đến các nút gần xương xịt (parasternal) (ở bên cạnh xương xịt).:116 Một lượng nhỏ bạch huyết còn lại chuyển đến nút bạch huyết của ngực khác và các nút bạch huyết bụng. Vùng dưới vùng areola có một mạng bạch huyết được gọi là "mạng bạch huyết dưới areola của Sappey". Các nút bạch huyết nách bao gồm các nhóm nút pectoral (ở ngực), subscapular (dưới xương bả vai), và humeral (vùng xương cánh tay) mà dòng chảy đến các nút bạch huyết nách trung tâm và nút bạch huyết nách đỉnh. Việc lưu thông bạch huyết từ vùng ngực đặc biệt quan trọng trong ung thư học do ung thư vú thường xuất phát từ tuyến vú, và tế bào ung thư có thể lan truyền (tách ra) từ khối u và lan tỏa đến các bộ phận khác của cơ thể thông qua hệ thống bạch huyết.
Hình dáng, cấu trúc và hỗ trợ.
Các biến thể về hình dáng, kích thước, thể tích, mật độ mô, vị trí cơ ngực và khoảng cách của vùng ngực quyết định hình dáng tự nhiên, diện mạo và vị trí trên ngực phụ nữ. Kích thước vùng ngực và các đặc điểm khác không dự đoán tỷ lệ mỡ tới tuyến sữa hoặc khả năng cho phụ nữ cho con bú. Kích thước và hình dáng của vùng ngực bị ảnh hưởng bởi các thay đổi hormone bình thường trong cuộc sống (sự phát triển ngực, kinh nguyệt, mang thai, mãn kinh) và các tình trạng y tế (ví dụ như tăng trưởng vùng ngực ở trinh nữ). Hình dáng của vùng ngực được tự nhiên xác định bởi sự hỗ trợ của các dây chằng Cooper, cấu trúc cơ và xương ở dưới ngực, và bởi vỏ da bọc. Các dây chằng Cooper giữ vững ngực từ xương gáy (xương chìm) và màng cơ xương gáy-ngực (xương chìm và ngực) bằng cách xuyên qua và bao quanh mô mỡ và tuyến sữa. Ngực được định vị, gắn kết và được hỗ trợ bởi tường ngực, trong khi hình dáng của nó được thiết lập và duy trì bởi vỏ da.#đổi Ở hầu hết phụ nữ, một bên ngực sẽ hơi lớn hơn bên kia. Sự không đối xứng rõ ràng và kéo dài hơn về kích thước vùng ngực xảy ra ở khoảng 25% phụ nữ.
Mặc dù nhiều người thường nghĩ rằng việc cho con bú sẽ làm ngực bị chảy xệ, nhưng các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng nguyên nhân gây chảy xệ của ngực ở phụ nữ chủ yếu bao gồm bốn yếu tố quan trọng: hút thuốc lá, số lượng lần mang thai, trọng lực và tăng hoặc giảm cân.
Phần dưới của mỗi ngực được nối với ngực bằng màng sâu trải dài trên cơ ngực lớn. Khoảng không gian giữa ngực và cơ ngực lớn, gọi là không gian sau ngực, giúp cho ngực có khả năng di chuyển.
Phần ngực của chúng ta nằm trong ngăn của ngực (không gian ngực), dần dần nghiêng ra ngoài từ điểm gắn với xương ngực ở phía trên (gần xương ngực) và từ phía trên xuống những xương sườn thấp nhất, tạo nên sự hỗ trợ cho ngực. Vùng gấp dưới ngực, nơi mặt dưới của ngực tiếp xúc với ngực, là một đặc điểm cơ bản do da ngực bám dính vào các mô liên kết ở phía dưới da của ngực; vùng gấp dưới ngực là phạm vi dưới cùng của ngực. Thường thì mô ngực bình thường có cảm giác chấn động hoặc hạt nhỏ, mức độ này khác nhau đối với từng người phụ nữ.
Ngực chủ yếu được tạo thành từ các mô mỡ, mô tuyến, và mô liên kết. Vì các mô này có các thụ thể hormone, kích thước và thể tích của ngực biến đổi theo sự thay đổi hormone cụ thể cho sự phát triển của vùng ngực (thelarche), kinh nguyệt (sản xuất trứng), thai kỳ (sinh sản), cho con bú (cho ăn con cái), và mãn kinh (kết thúc kinh nguyệt).
Cấu trúc hình thái của ngực con người giống nhau ở cả nam và nữ cho đến tuổi dậy thì. Đối với các cô gái trong giai đoạn phát triển ngực (thelarche), các hormon giới tính nữ (chủ yếu là estrogen) phối hợp với hormon tăng trưởng thúc đẩy sự phát triển, tăng trưởng và phát triển của vùng ngực. Trong thời gian này, các tuyến sữa tăng kích thước và thể tích và bắt đầu nằm trên ngực. Các giai đoạn phát triển của đặc điểm giới tính phụ thuộc (ngực, lông mu, ) được minh họa trong tỉ lệ năm giai đoạn Tanner.
Trong giai đoạn thelarche, vùng ngực đang phát triển có thể không đều kích thước và thường thì ngực bên trái nhỉnh hơn một chút. Tình trạng không đối xứng này là tạm thời và bình thường theo thống kê trong sự phát triển cơ thể và tình dục của phụ nữ. Các vấn đề y tế có thể gây ra sự phát triển quá mức (ví dụ: tăng trưởng vùng ngực ở trinh nữ, tăng trưởng quá mức) hoặc phát triển không đủ (ví dụ: biến dạng vùng ngực ống, tăng trưởng không đủ) ở các cô gái và phụ nữ.
Khoảng hai năm sau khi bắt đầu vào thời kỳ dậy thì (khi cô gái có chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên), hormone estrogen và hormone tăng trưởng kích thích sự phát triển và tăng trưởng của mô tuyến, mỡ và mô gắn bám tạo thành ngực. Quá trình này kéo dài khoảng bốn năm cho đến khi hình dáng cuối cùng của ngực (kích thước, thể tích, mật độ) được xác định vào khoảng tuổi 21. Sự phát triển của vùng ngực ở các cô gái bắt đầu từ thời kỳ dậy thì, khác với tất cả các loài động vật có vú khác, trong đó ngực chỉ phát triển khi đang cho con bú.
Sự biến đổi trong chu kỳ kinh nguyệt.
Trong thời kỳ kinh nguyệt, ngực sẽ trở nên phình to do việc giữ nước và tăng trưởng tạm thời.
Mang thai và cho con bú.
Ngực đạt độ trưởng thành đầy đủ khi phụ nữ mang thai lần đầu. Sự thay đổi trong ngực thường là dấu hiệu đầu tiên của thai kỳ. Ngực sẽ trở nên lớn hơn, vùng xung quanh vú trở nên lớn hơn và đậm màu hơn, các tuyến Montgomery sẽ phình lên, và đôi khi tĩnh mạch trở nên rõ ràng hơn. Ngực có thể đau nhức trong thời kỳ mang thai, đặc biệt là trong ba tháng đầu. Đến giữa thai kỳ, ngực đã có khả năng sản xuất sữa vật lý và một số phụ nữ có thể bày tỏ colostrum, một dạng sữa mẹ.
Sự tăng cao của hormone prolactin trong thời kỳ mang thai có vai trò quan trọng trong việc sản xuất sữa. Tuy nhiên, sản xuất sữa bị chặn bởi hormone progesterone và estrogen cho đến sau khi sinh, khi mức độ progesterone và estrogen giảm đi.
Khi mãn kinh đến, ngực sẽ co rút. Kích thước của ngực có thể giảm đi khi mức độ estrogen trong cơ thể giảm đi. Mô mỡ và tuyến sữa cũng sẽ bắt đầu teo lại. Ngực cũng có thể phình to do tác động phụ từ việc dùng viên tráng miệng kết hợp. Kích thước của ngực cũng có thể thay đổi theo sự biến đổi về cân nặng. Sự thay đổi về hình dáng của ngực thường có thể thấy qua vết rạn da trên bề mặt da ngực; chúng có thể là dấu hiệu lịch sử cho sự gia tăng và giảm đi về kích thước và thể tích của ngực trong suốt quá trình cuộc đời của phụ nữ.
Việc cho con bú.
Chức năng quan trọng nhất của ngực, như tuyến vú, là cung cấp sữa mẹ để dinh dưỡng cho em bé. Sữa mẹ được sản xuất trong các tế bào tạo sữa trong các ống nhuyễn. Khi em bé bú, việc kích thích ngực sẽ khiến não của mẹ sản xuất hormone oxytocin. Oxytocin cao kích thích các tế bào cơ xung quanh ống nhuyễn co bóp, làm cho sữa chảy qua các ống nối từ ống nhuyễn đến núm vú.
Các em bé mới sinh đã có bản năng và nhu cầu hút núm vú, và việc cho con bú không chỉ cung cấp dinh dưỡng mà còn mang lại sự thoải mái cho em bé. Sữa mẹ chứa đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết trong 6 tháng đầu đời, và sau đó vẫn là một nguồn dinh dưỡng quan trọng, cùng với thức ăn rắn, ít nhất đến 1 hoặc 2 tuổi.
Ý nghĩa lâm sàng.
Ngực dễ bị ảnh hưởng bởi nhiều tình trạng lành tính và ác tính. Những tình trạng lành tính thường gặp nhất là viêm tuyến vú sau khi sinh, biến đổi về ngực u nang và đau ngực.
Sữa mẹ không liên quan đến mang thai được gọi là sữa ra khi không mang thai. Nó có thể do một số loại thuốc (như các loại thuốc điều trị tâm thần), tình trạng căng thẳng cơ thể cực đoan hoặc các rối loạn nội tiết. Sữa mẹ ở trẻ sơ sinh được gây ra bởi các hormone từ mẹ đã truyền vào máu của em bé trong thời kỳ mang thai.
Ung thư vú là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong do ung thư ở phụ nữ và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tử vong cao ở phụ nữ. Các yếu tố có thể giảm nguy cơ mắc ung thư vú bao gồm kiểm tra vú đều đặn bởi chuyên gia y tế, siêu âm vú định kỳ, kiểm tra tự kiểm tra ngực, ăn uống lành mạnh, tập thể dục để giảm mỡ thừa, và cho con bú.
Cả nam lẫn nữ đều phát triển ngực từ các mô sinh sản ban đầu. Tuy nhiên, ngực nam thường không chứa các đốm và túi nhỏ như ở ngực nữ. Hiếm khi có một số ít đốm xuất hiện, dẫn đến việc một số nam giới phát triển ung thư tuyến đốm ngực. Thông thường, nam sản xuất ít hormone nữ (estrogen) và nhiều hormone nam (androgen) như testosterone, làm giảm tác động của hormone nữ trong việc phát triển mô ngực quá mức. Tại thời kỳ dậy thì và ở nam, việc phát triển ngực không bình thường thể hiện qua hiện tượng sưng ngực do mất cân bằng giữa hormone nữ và nam trong cơ thể. Khoảng 70% nam thanh niên có thể tạm thời phát triển mô ngực trong giai đoạn dậy thì. Tình trạng này thường tự giải quyết trong vòng hai năm. Khi sữa ra ở nam giới xuất hiện, nó thường là triệu chứng của một vấn đề về tuyến yên.
Phẫu thuật thẩm mỹ.
Phẫu thuật thẩm mỹ có thể được thực hiện để làm tăng hoặc giảm kích thước vú, hoặc để tái tạo vú trong trường hợp bị biến dạng do bệnh lý như ung thư vú. Các phẫu thuật tăng kích thước vú và nâng vú (mastopexy) thường chỉ được thực hiện vì mục đích thẩm mỹ, trong khi phẫu thuật giảm vú đôi khi được chỉ định về mặt y tế. Trong trường hợp vú của phụ nữ bị không đối xứng nghiêm trọng, có thể thực hiện phẫu thuật để làm to vú nhỏ hơn, làm nhỏ vú lớn hơn, hoặc cả hai.
Phẫu thuật tăng kích thước vú thường không ảnh hưởng đến khả năng cho con bú trong tương lai. Trong khi đó, phẫu thuật giảm vú thường dẫn đến giảm cảm giác ở vùng nhũ hoa, và giảm sự cung cấp sữa cho phụ nữ muốn cho con bú. Việc cấy ghép có thể làm ảnh hưởng đến quá trình mammography (hình ảnh X-quang vùng vú).
Xã hội và văn hóa.
Trong hình tượng Kitô giáo, một số tác phẩm nghệ thuật miêu tả phụ nữ cầm vú trong tay hoặc trên đĩa, thể hiện họ đã chết như nhà đạo tử do vú bị cắt đứt; ví dụ về điều này là Thánh Agatha của Sicilia.
Femen là một nhóm hoạt động nữ quyền sử dụng việc trần truồng như một phần của các chiến dịch chống lại vấn nạn du lịch tình dục tấn công đối với các tình dục, tôn giáo, chống chủ nghĩa phân biệt giới và kỳ thị đồng tính. Các hoạt động của Femen thường bị cảnh sát bắt giữ đáp lại những cuộc biểu tình của họ.
Lịch sử sử dụng ngực nữ làm chủ đề cho tiết mục hài hước của các diễn viên hài có từ lâu (ví dụ, các tiết mục burlesque/slapstick của diễn viên hài người Anh Benny Hill).
Lịch sử nghệ thuật.
Trong xã hội tiền sử châu Âu, những tượng nữ có vẻ ngoại việc ngực phát triển hoặc được phóng đại đều phổ biến. Một ví dụ điển hình là Venus of Willendorf, một trong nhiều tượng nữ Venus figurines thời kỳ Tiền sử có hông và vòng ngực rất đầy đặn. Các hiện vật như bát, tượng đá và tượng thần có hình ngực được ghi chép từ năm 15.000 TCN đến cuối thời cổ đại trên khắp châu Âu, Bắc Phi và Trung Đông.
Nhiều nữ thần tượng trưng cho tình yêu và sự sinh sản được liên kết với ngực và sữa mẹ. Hình ảnh của nữ thần Phoenicia Astarte thường được biểu thị như những cột trang trí bằng những hình ngực. Isis, nữ thần Ai Cập đại diện cho nhiều điều, trong đó có sự làm mẹ lý tưởng, thường được miêu tả đang bú sữa cho vua pharaoh, xác nhận vị thế thần thánh của họ như những người cai trị. Thậm chí cả những vị thần nam tượng trưng cho tái sinh và sự sinh sản cũng thỉnh thoảng được biểu thị với các phần bổ như ngực, như vị thần sông Hapy được cho là chịu trách nhiệm cho việc tràn trề hàng năm của con sông Nile.
Ngực nữ cũng xuất hiện nổi bật trong Nghệ thuật Minoan thông qua các tượng nữ thần nổi tiếng Snake Goddess, và một số tác phẩm khác, tuy nhiên hầu hết ngực nữ đều được che phủ. Ở Hy Lạp cổ đại, có nhiều tôn giáo tôn thờ "Kourotrophos", người mẹ cho con bú, được tượng trưng bởi các nữ thần như Gaia, Hera và Artemis. Việc tôn thờ các vị thần được tượng trưng bởi ngực nữ tại Hy Lạp trở nên hiếm khi vào thế kỷ một. Sự tôn thờ phổ biến các nữ thần giảm đi đáng kể trong thời kỳ sự gia tăng của các thành phố quốc gia Hy Lạp, một di sản được kế thừa trong Đế chế La Mã sau này.
Trong giai đoạn giữa nửa thế kỷ đầu TCN, văn hóa Hy Lạp trải qua một sự thay đổi từ từ trong cách nhìn về ngực nữ. Phụ nữ trong nghệ thuật thường che phủ bằng quần áo từ cổ xuống, bao gồm các nữ thần như Athena, bảo trợ của Athens tượng trưng cho sự nỗ lực anh dũng. Tuy nhiên cũng có những ngoại lệ: Aphrodite, nữ thần tình yêu, thường được miêu tả một cách trần trụi, tuy nhiên trong tư thế thể hiện sự nhút nhát hoặc khiêm tốn, một biểu tượng được so sánh với các bức tranh pin-up hiện đại bởi nhà sử học Marilyn Yalom. Mặc dù đàn ông trần trụi thường được miêu tả đứng thẳng, hầu hết những tượng trưng về nữ trần trụi trong nghệ thuật Hy Lạp thường xuất hiện "thường có tấm vải sát kín và tư thế hơi cúi mình, tự bảo vệ mình". Một truyền thuyết phổ biến tại thời điểm đó là về người phụ nữ Amazon, một bộ tộc của những nữ chiến binh hung hãn chỉ giao tiếp với nam giới để sinh sản và thậm chí cắt bỏ một ngực để trở thành chiến binh giỏi hơn (ý tưởng là ngực phải sẽ làm cản trở việc sử dụng cung và mũi tên). Huyền thoại này đã trở thành một chủ đề phổ biến trong nghệ thuật thời Hy Lạp và La Mã cổ đại và là một câu chuyện cảnh báo trái ngược.
Hình ảnh cơ thể.
Nhiều phụ nữ xem ngực của họ quan trọng đối với sự quyến rũ tình dục của họ, như một dấu hiệu về nữ tính quan trọng cho bản thân họ.
Bởi vì ngực chủ yếu là mô mỡ, hình dáng của chúng có thể — trong giới hạn — được định hình bằng trang phục như foundation garments. Bra thường được mặc bởi khoảng 90% phụ nữ ở phương Tây, và thường được mặc để được hỗ trợ. Quy chuẩn xã hội trong hầu hết các nền văn hóa Tây phương là phải che kín ngực ở nơi công cộng, tuy nhiên mức độ che phủ thay đổi tùy thuộc vào ngữ cảnh xã hội. Một số tôn giáo xem ngực nữ có đặc quyền đặc biệt, qua giảng dạy chính thức hoặc qua biểu tượng. Hồi giáo cấm phụ nữ tự do tiết lộ ngực của họ ở nơi công cộng.
Nhiều văn hóa, bao gồm các văn hóa ở Bắc Mỹ thuộc vùng Tây phương, liên kết ngực với tình dục và thường coi việc tiết lộ ngực là không đạo đức hoặc đúng đắn. Ở một số văn hóa, như người Himba ở phía bắc Namibia, phụ nữ không mặc áo để che ngực là điều bình thường. Ở một số văn hóa ở châu Phi, ví dụ, đùi được coi là có tính chất gợi dục cao và không bao giờ được tiết lộ ở nơi công cộng, nhưng việc tiết lộ ngực không bị cấm. Ở một số nước phương Tây và vùng lãnh thổ, việc phụ nữ tự do tiết lộ ngực tại bãi biển là chấp nhận được, tuy nhiên có thể không được chấp nhận ở trung tâm thành phố.
Thái độ xã hội và pháp luật về việc cho con bú ở nơi công cộng thay đổi rộng rãi. Ở nhiều nước, việc cho con bú ở nơi công cộng phổ biến, được bảo vệ bởi pháp luật và thường không được xem là vấn đề. Tuy nhiên, mặc dù việc này có thể là hợp pháp hoặc được xã hội chấp nhận, một số người mẹ có thể vẫn do dự tiết lộ ngực để cho con bú ở nơi công cộng do sự phản đối thực tế hoặc tiềm năng từ những người khác, những bình luận tiêu cực hoặc quấy rối. Ước tính khoảng 63% phụ nữ trên khắp thế giới đã từng cho con bú công khai. Ở Úc và nhiều nước châu Âu, phụ nữ tự do tiết lộ ngực tại bãi biển là hợp pháp và được chấp nhận văn hóa. Nhà làm phim Lina Esco đã làm một bộ phim mang tên "Free the Nipple", nói về ", nhưng không phải của nam, điều này Esco cho rằng là một ví dụ về chủ nghĩa phân biệt giới trong xã hội."
Địa lý nhân hóa.
Có nhiều ngọn núi được đặt theo tên ngực vì chúng có hình dáng giống như ngực và do đó là các đối tượng của tôn thờ tôn giáo và tôn thờ tổ tiên như biểu tượng của sự sinh sản và sự sung túc. Ở châu Á, có "Núi Ngực", nơi có một hang động mà Thiền sư Bồ Đề Đạt Ma (Da Mo) đã dành rất nhiều thời gian để thiền định. Những ngọn núi ngực khác như Núi Elgon trên biên giới Uganda-Kenya; và Maiden Paps ở Scotland; ('Núi ngực của thiếu nữ') trên đảo Talim, Philippines; những ngọn đồi sinh đôi được biết đến với cái tên Paps of Anu ( hoặc 'những bộ ngực của Anu'), gần Killarney ở Ireland; độ cao 2.086 m của hoặc trong , Tây Ban Nha; ở Thái Lan, ở Puerto Rico; và những Bộ ngực của Aphrodite ở Mykonos, cùng với nhiều ví dụ khác. Ở Hoa Kỳ, dãy núi Teton được đặt theo từ tiếng Pháp có nghĩa là 'đầu vú'.
Quá trình trưởng thành và kích thước của vùng ngực có thể được đo bằng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này bao gồm Cấp độ Tanner, kích cỡ cúp áo ngực, thể tích ngực, sự khác biệt giữa ngực và ngực, đơn vị ngực, bán kính nửa vòng ngực, và chu vi ngực, cùng với các biện pháp đo khác.
|
Áo ngực, áo lót hay áo vú (phiên âm từ tiếng Pháp: "soutien-gorge" - xu chiêng) là một dạng - áo lót phù hợp thường được thiết kế để nâng đỡ hoặc che ngực của phụ nữ. Áo lót được thiết kế cho nhiều mục đích khác nhau, bao gồm nâng đỡ ngực nói chung, tăng cường hoặc làm giảm hình dạng của kích thước và / hoặc hình dạng vú, tạo khe ngực hoặc các mục đích thẩm mỹ hoặc thực tế khác. Đồ bơi , áo yếm và váy hở lưng có thể có hỗ trợ ngực tích hợp với cúp áo ngực hỗ trợ. Áo lót cho con bú được thiết kế để tạo điều kiện thuận lợi cho việc cho con bú . Một số người có nhu cầu về y tế và phẫu thuật đối với áo ngực, nhưng hầu hết mặc chúng vì lý do thời trang hoặc văn hóa.
Áo ngực đã trở nên quan trọng hơn cả chức năng đơn thuần của chúng. Lựa chọn của phụ nữ về loại áo ngực để mặc bị ảnh hưởng một cách có ý thức và vô thức bởi nhận thức của xã hội về hình dạng cơ thể lý tưởng của phụ nữ , thay đổi theo thời gian. Áo ngực đã trở thành món đồ thời trang và là tuyên ngôn văn hóa đôi khi được người mặc cố tình để lộ hoặc thậm chí được mặc như trang phục bên ngoài.
Thuật ngữ "brassiere", từ tiếng Pháp b"rassière", được sử dụng bởi "Evening Herald" ở Syracuse, New York, vào năm 1893. Nó đã được chấp nhận rộng rãi hơn vào năm 1904 khi Công ty DeBevoise sử dụng nó trong quảng cáo của họ - mặc dù từ này thực sự là tiếng Pháp cho áo lót của một đứa trẻ. Trong tiếng Pháp, nó được gọi là "soutien-gorge" (nghĩa đen là "người đỡ cổ họng"). Nó và các phiên bản đầu tiên khác giống như một chiếc áo yếm được làm cứng lại với phần xương.
"Tạp chí Vogue" lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ "brassiere" vào năm 1907, và đến năm 1911 từ này đã được đưa vào "Từ điển tiếng Anh Oxford". Vào ngày 3 tháng 11 năm 1914, hạng mục bằng sáng chế mới được thành lập của Hoa Kỳ dành cho "áo giáp đồng" đã được khánh thành với bằng sáng chế đầu tiên được cấp cho Mary Phelps Jacob. Vào những năm 1930, "brassiere"/"brassière" dần dần được rút ngắn thành "bra".
Một số nhà sản xuất đồ lót và đồ định hình , trong số đó có Wonderbra, Frederick's của Hollywood, Agent Provocateur và Victoria's Secret , sản xuất áo
lót nâng cao khe ngực. Có tới 30 loại áo ngực, bao gồm áo nâng ngực, áo quây, dây quấn, demicup, áo ngực thể thao, áo lót siêu nhỏ, có đệm, áo ngực dạng T-shirt, nhiều đường, có gọng, không dây, dành cho bà bầu, liền mạch, silicone, và gắn bó. Lịch sử của kèn đồng đầy huyền thoại, trong đó những người như Caresse Crosby, Howard Hughes , Herminie Cadolle và Otto Titzling làm trung tâm chỉ huy.
Trước khi sự phổ biến của áo ngực nữ, tượng bán thân phụ nữ được bọc trong áo nịt ngực và trang phục có cấu trúc được gọi là " chất liệu tượng bán thân ", làm bằng vải và ren. Lịch sử của áo nịt ngực cho thấy chúng bắt đầu lỗi mốt vào năm 1917, khi kim loại cần thiết để chế tạo xe tăng và đạn dược cho Chiến tranh thế giới thứ nhất, và khi thời trang những năm 1920 nhấn mạnh đến những hình dáng nam tính. Với sự trở lại với những hình tượng phụ nữ nhiều hơn vào những năm 1930, áo nịt ngực đã duy trì được nhu cầu mạnh mẽ ngay cả ở đỉnh điểm của cuộc Đại suy thoái . Nhà thiết kế Vivienne Westwood đã giới thiệu lại chiếc áo nịt ngực như một cách hợp thời trang để nâng cao khe ngực vào năm 1985. Năm 1989, Jean Paul Gaultier năm 1989 mặc cho Madonna một chiếc áo nịt ngực màu hồng. Chẳng bao lâu sau, Westwood đã giới thiệu một biến thể có mặt đàn hồi hoạt động như một ban công để đẩy sự phân cắt lên. Theo Rebecca Scritchfield, sự phổ biến trỗi dậy của áo nịt ngực được thúc đẩy bởi "bức ảnh trên Instagram về một người có vòng eo siêu nhỏ và bộ ngực khổng lồ."
Khi áo nịt ngực trở nên không hợp thời trang, áo lót và đệm lót đã giúp tôn lên, phô diễn và nhấn mạnh bầu ngực. Năm 1893, Marie Tucek, người New York, đã được cấp bằng sáng chế cho "áo nâng đỡ ngực", được mô tả là một sửa đổi của áo nịt ngực, và rất giống với một chiếc áo lót nâng ngực hiện đại được thiết kế để nâng đỡ bầu ngực. Nó bao gồm một tấm làm bằng kim loại, bìa cứng hoặc vật liệu cứng khác có hình dạng để vừa với thân dưới bầu ngực, theo đường viền của bầu ngực. Nó được bao phủ bởi lụa, vải canvas hoặc vải khác, kéo dài phía trên tấm vải để tạo thành một túi cho mỗi bên ngực. Tấm cong quanh thân và kết thúc ở gần nách.
Mặc áo để nâng đỡ bầu ngực có thể có từ thời Hy Lạp cổ đại. Phụ nữ mặc "apodesmos", sau này là "stēthodesmē", "mastodesmos" và "voi răng mấu", đều có nghĩa là "băng đeo ngực", một dải len hoặc vải lanh quấn ngang ngực và buộc hoặc ghim ở phía sau. Phụ nữ La Mã đeo băng đeo ngực khi chơi thể thao, chẳng hạn như những dải được hiển thị trên bức khảm "Đăng quang của Người chiến thắng" (còn được gọi là "khảm Bikini").
Những mảnh vải lanh được tìm thấy tại Lâu đài Lengberg ở Đông Tyrol , Áo có niên đại từ 1440 đến 1485 được cho là áo lót. Hai trong số họ có những chiếc cốc làm từ hai mảnh vải lanh được may bằng vải kéo dài đến đáy thân với một hàng sáu khoen để buộc bằng ren hoặc dây. Một chiếc có hai dây đeo vai và được trang trí bằng ren ở khe ngực.
Từ thế kỷ 16, áo lót của phụ nữ giàu có hơn ở thế giới phương Tây bị thống trị bởi áo nịt ngực , có tác dụng đẩy ngực lên trên. Vào cuối thế kỷ 19, các nhà thiết kế quần áo bắt đầu thử nghiệm các lựa chọn thay thế, chia chiếc áo nịt ngực thành nhiều phần: một thiết bị cố định giống như chiếc nịt dành cho phần thân dưới và thiết bị treo ngực từ vai đến phần thân trên.
Áo ngực hiện đại.
Mặc dù chiếc áo ngực đầu tiên, một loại vải lanh và ren trông gần giống hệt áo ngực hiện đại, được phát hiện trong một bộ sưu tập đầu thế kỷ 15 từ Lâu đài Lengberg ở Tyrol , Áo , không có bằng chứng nào khác về việc sử dụng áo lót vào những năm 1400, và Chiếc áo ngực đầu tiên được cho là của Mary Phelps Jacob (hay được biết đến với cái tên Caresse Crosby ), một trang mạng xã hội ở New York. Thất vọng với chiếc áo nịt ngực hình cá voi liên tục lấp ló trong chiếc váy dự tiệc mới, cô đã tạo ra chiếc áo lót từ hai chiếc khăn tay và một số dải ruy băng để khoe khe ngực của mình.
Vì nó khiến cô ấy trông đẹp hơn, Phelps Jacob hay còn gọi là Polly bắt đầu bán áo lót cho bạn bè với giá một đô la. Không lâu sau, bà thành lập Công ty Fashion Form Brassière, một xưởng sản xuất dành cho hai phụ nữ ở Boston, và được cấp bằng sáng chế chiếc áo ngực đầu tiên với tên gọi "the backless brassière" vào năm 1914. Sau khi làm vài trăm chiếc áo lót và một số đơn đặt hàng từ các cửa hàng bách hóa, bà đã bị thuyết phục bởi chồng mình. để đóng cửa công ty. Cô đã bán bằng sáng chế cho Công ty Corset Warner Brothers với giá 1.500 đô la Mỹ. Trong 30 năm tiếp theo, Warner Brothers đã kiếm được hơn 15 triệu đô la Mỹ từ thiết kế.
Theo Cadolle Lingerie House, Herminie Cadolle , một nhà phát minh người Pháp, là nhà phát minh đầu tiên cấp bằng sáng chế cho loại 'áo lót' hiện đại, được gọi là "corselet-gorge", đồ lót tách phần trên áo ngực ra khỏi áo nịt ngực dưới, bước đầu tiên hướng tới áo ngực hiện đại. Một truyền thuyết đô thị cho rằng chiếc kèn đồng được phát minh bởi một người đàn ông tên là Otto Titzling ("chiếc địu"), người đã thua kiện với "Phillip de Brassière" ("lấp đầy cái thau") bắt nguồn từ cuốn sách năm 1971 "Bust-Up: The Uplifting Câu chuyện về Otto Titzling và sự phát triển của chiếc áo ngực" và được tuyên truyền trong một bài hát hài hước từ bộ phim "Beaches" .
Phụ nữ đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết kế và sản xuất áo ngực, chiếm một nửa số bằng sáng chế được nộp. Người Đức gốc Dresden , Christine Hardt, đã được cấp bằng sáng chế cho chiếc kèn đồng hiện đại đầu tiên vào năm 1899. Sigmund Lindauer từ Stuttgart-Bad Cannstatt, Đức, đã phát triển chiếc kèn đồng để sản xuất hàng loạt và được cấp bằng sáng chế vào năm 1912. Nó được sản xuất hàng loạt. của Mechanische Trikotweberei Ludwig Maier und Cie. ở Böblingen, Đức. Tại Hoa Kỳ, Mary Phelps Jacob đã nhận được bằng sáng chế vào năm 1914 cho thiết kế đồng thau đầu tiên được công nhận là cơ sở cho áo lót hiện đại. Việc sản xuất hàng loạt vào đầu thế kỷ 20 đã làm cho quần áo được phổ biến rộng rãi cho phụ nữ ở Hoa Kỳ, Anh, Tây Âu và các nước khác chịu ảnh hưởng của thời trang phương Tây. Sự thiếu hụt kim loại trong Thế chiến thứ nhất đã khuyến khích sự kết thúc của áo nịt ngực.
Sự phát triển của áo ngực có gọng bắt đầu từ những năm 1930, mặc dù nó không được phổ biến rộng rãi cho đến những năm 1950, khi Chiến tranh
Thế giới thứ hai kết thúc, đã giải phóng kim loại cho mục đích sử dụng trong gia đình. Aviator và nhà làm phim Howard Hughes đã thiết kế một nguyên mẫu cho một chiếc áo lót có gọng khí động học cho Jane Russell khi quay "The Outlaw" năm 1941. Theo Hughes, kết quả là "chiều dài của khe hở thực tế là 5 và 1/4 inch. " Áo ngực vào những năm 1940 để lại một lượng vải đáng kể ở trung tâm, do đó tạo ra sự tách biệt giữa hai bên ngực thay vì phần ngực được đẩy vào nhau như ngày nay. Frederick MellingerFrederick's của Hollywood đã tạo ra chiếc áo lót có đệm đầu tiên vào năm 1947, tiếp theo là chiếc áo lót nâng ngực sớm một năm sau đó (được mệnh danh là "Ngôi sao đang lên" ).
Áo ngực có đệm thêm chất liệu (bọt, silicone, gel, không khí, chất lỏng, ) vào các cúp ngực để giúp ngực trông đầy đặn hơn. Có nhiều thiết kế khác nhau, từ nâng nhẹ đến hiệu ứng đẩy cao, cung cấp độ che phủ và nâng đỡ, giấu núm vú, thêm hình dạng cho các bầu ngực cách xa nhau và thêm thoải mái. Phần đệm chia độ sử dụng nhiều phần đệm hơn ở dưới cùng của các cốc nhỏ dần về phía trên cùng. Cũng có những loại áo lót nửa đệm phù hợp với váy khoét cổ sâu. Với sự ra đời của áo lót có đệm, doanh số bán miếng đệm có thể tháo rời đã giảm xuống, mặc dù một số áo lót có đệm cũng có miếng lót có thể tháo rời. Nữ diễn viênJulia Roberts được yêu cầu phải mặc một chiếc áo ngực chứa gel silcone được làm riêng cho bộ phim "Erin Brockovich" để tăng khe ngực của mình.
Brassières ban đầu được sản xuất bởi các công ty sản xuất nhỏ và cung cấp cho các nhà bán lẻ. Thuật ngữ "cốc" không được sử dụng cho đến năm 1916, và các nhà sản xuất dựa vào cốc có thể co giãn để phù hợp với các bộ ngực có kích thước khác nhau. Phụ nữ có bộ ngực lớn hơn hoặc chảy xệ có thể lựa chọn áo lót có đường dài, có gọng, miếng chèn hình nêm giữa các cúp ngực, dây đai rộng hơn, Lastex , dây buộc chắc chắn dưới cúp và dây chun nhẹ.
Vào tháng 10 năm 1932, Trại SH và Công ty đã so sánh kích thước và độ rũ của bộ ngực với các chữ cái từ A đến D. Quảng cáo của Trại làm nổi bật các bộ ngực được dán nhãn bằng chữ cái trên tạp chí "Corset and Underwear Review" vào tháng 2 năm 1933 . Năm 1937, Warner bắt đầu đưa kích thước cốc vào các sản phẩm của mình. Các dây đeo có thể điều chỉnh đã được giới thiệu bằng cách sử dụng nhiều móc và nhắm mắt vào những năm 1930. Vào thời điểm Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, hầu hết phụ nữ quan tâm đến thời trang ở châu Âu và Bắc Mỹ đều mặc áo đồng phục, và phụ nữ ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh bắt đầu áp dụng nó.
Vào mùa thu năm 1963 và mùa xuân năm 1964, xu hướng thời trang phương Tây bị chi phối bởi những đường cắt cổ sâu, trong khi những người xem phim lại bị mê hoặc bởi những bộ phim như "Tom Jones" miêu tả "sự phân thân hung hãn". Các nhà sản xuất đồ lót và quần áo định hình như Warner Brothers, Gossard , Formfit và Bali đã tận dụng cơ hội để tung ra thị trường những chiếc áo lót đang lao dốc. Áo ngực có gọng che được núm vú và phần dưới bầu ngực trong khi để trần phần trên khiến nó phù hợp với áo khoét sâu và cổ chữ V sâu. Nó cũng có máu ở tâm thấp hơn, ngắn hơn và hẹp hơngiúp duy trì sự hỗ trợ trong khi tăng sự phân cắt bằng cách cho phép máu me giảm vài inch xuống dưới giữa hai bầu ngực. Áo lót có gọng có nhiều độ sâu khác nhau giúp tạo khe ngực tuyệt vời. Giống như áo ngực đẩy, chúng có một số lớp đệm và hỗ trợ, cũng như giúp đẩy hai bầu ngực vào nhau và tạo khe ngực. Bali và Vassarette cũng tiếp thị áo lót ren giúp tối đa hóa khe ngực.
Chiếc áo lót nâng ngực đầu tiên được tạo ra vào năm 1964 bởi Louise Poirier người Canada và được cấp bằng sáng chế cho Wonderbra (đăng ký nhãn hiệu vào năm 1935 ), sau đó thuộc sở hữu của Canadianelle, một công ty đồ lót của Canada vào năm 1971. Áo ngực đẩy là được thiết kế để ép hai bầu ngực lên trên và gần nhau hơn để tạo ra vẻ ngoài đầy đặn hơn với sự trợ giúp của cúp độn, khác với các loại áo ngực có đệm khác ở vị trí của miếng đệm. Nó khiến phần trên và bên trong của bầu ngực bị lộ ra ngoài, tạo thêm nhiều khe ngực. Chúng có nhiều kiểu dáng và mọi kích cỡ bắt đầu từ A đến E. Hầu hết các loại áo lót đẩy ngực đều có gọng để nâng và hỗ trợ thêm, trong khi phần đệm thường được làm bằng bọt.
Những năm 1990 trở đi.
Thương hiệu Wonderbra được Sara Lee Corporation mua lại vào năm 1994 và từ năm 2006, được cấp phép cho HanesBrands Inc và Sun Capital cho
các thị trường khác nhau. Nó có 54 yếu tố thiết kế, bao gồm cốc ba phần, gọng dưới, mặt sau có góc cạnh chính xác, dây đai cứng và "bánh quy" có thể tháo rời. Khi chiếc áo lót có gọng đẩy lần đầu tiên xuất hiện tại thị trường Hoa Kỳ, cứ sau 15 giây, Wonderbra lại bán được một chiếc, mang lại doanh thu năm đầu tiên là 120 triệu đô la Mỹ. Áo lót trở thành một trong những loại nội y phức tạp nhất từng được tạo ra.
Năm 1994, bức ảnh phân thân của siêu mẫu Eva Herzigova được Ellen von Unwerth chụp cho chiến dịch quảng cáo gây tranh cãi "Hello Boys" của Wonderbra đã giúp hình thành lý tưởng phụ nữ, một trải nghiệm mà Herzigova mô tả là "trao quyền". Năm 1999, áp phích quảng cáo được xếp ở vị trí thứ 10 trong cuộc thi Áp phích của thế kỷ do tạp chí thương mại Campaign biên soạn . Vào năm 2011, nó đã được bình chọn là chiến dịch quảng cáo hàng đầu mọi thời đại trong một cuộc bình chọn của Trung tâm Truyền thông Ngoài trời, cổng thông tin quảng cáo và tiếp thị, và được giới thiệu trong một cuộc triển lãm tại Bảo tàng Victoria và Albert. Nó đã giúp đưa thương hiệu này đi đầu trong cuộc cạnh tranh về sự phân tách sau 30 năm tương đối mờ nhạt. Vào ngày thứ sáu đầu tiên của tháng 4 hàng năm ở Nam Phi ,nhà tiếp thị Wonderbra của công ty đồng thau tài trợ cho Ngày khai thác quốc gia .
Hãng bán lẻ đồ lót lớn nhất nước Mỹ Victoria's Secret đã được Roy Raymond, một cựu sinh viên Stanford, thành lập ở San Francisco vào cuối những năm 1970 với sức hút tương tự. Các thiên thần của Victoria's Secret tổ chức buổi trình diễn thời trang đầu tiên tại Khách sạn Plaza ở New York vào năm 1995. Ngay cả các thương hiệu truyền thống, những người đã sản xuất những chiếc cúp nhọn, lưng thấp, cạp trước và không có dây buộc theo phong cách thập niên 1950, như Maidenform tham gia cuộc thi năm 1995. Năm 1999, sự kiện này là webcast đầu tiên. Đến năm 2001, sự kiện này đã được phát sóng trên truyền hình mạng với 12 triệu người xem cho lần phát sóng đầu tiên. Các nhà sản xuất đồ lót khác như Frederick's of Hollywood và Agent Provocateur cũng tham gia cuộc thi vào thời điểm đó, với việc trước đây đã giới thiệu một thiết kế có tên là Hollywood Extreme Cleavage Bra giúp tạo ấn tượng về một khe ngực hình cầu giống như bộ ngực tăng cường được các ngôi sao ưa chuộng. Pamela Anderson .
Áo ngực có gọng sử dụng một sợi dây được khâu vào vải áo ngực và dưới mỗi chiếc cúp, từ phần giữa áo ngực đến phần nách của người mặc. Nó giúp nâng, tách, định hình và nâng đỡ bầu ngực. Những chiếc áo lót này sử dụng một dải kim loại, nhựa hoặc nhựa thông mỏng, thường có lớp phủ nylon ở cả hai đầu. Một số kiểu áo ngực có gọng cũng có dạng cúp mềm. Áo lót có gọng chiếm 60% thị trường áo ngực của Vương quốc Anh vào năm 2000 và 70% vào năm 2005. Khoảng 70% phụ nữ mặc áo lót có gọng thép theo các ngành sản xuất đồ lót của New York vào năm 2009. Năm 2001, 70% (350 triệu) áo lót được bán ở Hoa Kỳ là áo lót có gọng. Năm 2005, áo lót có gọng là phân khúc phát triển nhanh nhất trên thị trường. Đã có những phàn nàn rằng áo lót có gọng hạn chế lưu lượng máu và chất lỏng bạch huyết xung quanh ngực ngăn cản việc thoát chất độc ra ngoài, mặc dù chưa có bằng chứng về điều đó.
Trong thập kỷ tiếp theo, đặc biệt là trong thời gian dịch COVID-19, bralette và áo lót mềm bắt đầu thay thế áo lót có gọng và có đệm, đôi khi cũng được dùng như một loại áo khoác ngoài. Đồng thời mức độ phổ biến của các nhãn hiệu như Victoria's Secret giảm đáng kể. Bởi vì, theo Sarah Shotton, giám đốc sáng tạo của Agent Provocateur, "Bây giờ là về cơ thể lực lưỡng, sức khỏe và phúc lợi", hơn là "về cái nhìn của nam giới," trong khi theo nhà thiết kế nội y độc lập Araks Yeramyan "It là #MeToo đã thúc đẩy phong trào bralette trở thành như ngày nay. "Một số bralette vẫn cung cấp các thiết kế chìm, đệm nhẹ, hỗ trợ phía dưới hoặc phân chia đáng kể.
Áo lót sản xuất hàng loạt được sản xuất để vừa vặn với một người phụ nữ nguyên mẫu đang đứng với cả hai tay ở hai bên. Thiết kế giả định rằng cả
hai vú đều có kích thước bằng nhau và cân xứng. Sản xuất một chiếc áo ngực vừa vặn là một thách thức vì loại áo này được cho là phải vừa vặn nhưng ngực của phụ nữ có thể chảy xệ, thay đổi về thể tích, chiều rộng, chiều cao, hình dạng và vị trí trên ngực. Các nhà sản xuất tạo ra các kích cỡ áo ngực tiêu chuẩn để mang lại sự vừa vặn "gần gũi", tuy nhiên, ngay cả một phụ nữ có số đo chính xác cũng có thể gặp khó khăn trong việc tìm một chiếc áo ngực vừa vặn vì sự khác nhau về kích cỡ giữa các nhà sản xuất khác nhau. Một số nhà sản xuất tạo ra " kích thước bàn trang điểm"và cố tình ghi sai kích cỡ áo ngực của họ để cố thuyết phục phụ nữ rằng họ mảnh mai hơn và bảnh bao hơn.
Áo ngực là một trong những loại quần áo phức tạp nhất để may. Một thiết kế điển hình có từ 20 đến 48 bộ phận, bao gồm dây đeo, máu me, bảng điều khiển bên, cốc, đỉnh, đường viền cổ áo, gọng, dây đeo, vòng, thanh trượt, mối nối dây đeo và chốt. Áo lót được xây dựng trên mô hình gọng vuông. Nhà thiết kế đồ lót Chantal Thomass cho biết,Đó là một loại quần áo có tính kỹ thuật cao, được làm từ rất nhiều mảnh vải nhỏ, với rất nhiều kích cỡ để cân nhắc cho các loại ly khác nhau, , vì vậy các đường may và cấu trúc cần phải cực kỳ chắc chắn. Nó rất khác với một bộ quần áo; nó tiếp xúc trực tiếp với da, nó cần phải siêu rắn. Thành phần chính cung cấp sự hỗ trợ nhiều nhất là một dải ngực quấn quanh thân. Nó hỗ trợ hai cốc thường được giữ cố định bằng hai dây đeo vai . Băng ngực thường được đóng ở phía sau bằng móc và dây buộc mắt , nhưng những mẫu áo ngực nhỏ hơn có thể được buộc ở phía trước. Áo lót ngủ hoặc áo lót thể thao không có dây buộc và được kéo qua đầu và bầu ngực. Phần giữa các cốc được gọi là máu me. Phần dưới nách nơi băng nối với các ly được gọi là "cánh sau".
Các thành phần của áo ngực, bao gồm phần trên và dưới cúp ngực (nếu có đường may), phần trung tâm, mặt bên và mặt sau và dây đai, được cắt theo thông số kỹ thuật của nhà sản xuất. Nhiều lớp vải có thể được cắt cùng một lúc bằng cách sử dụng tia laser điều khiển bằng máy tính hoặc các thiết bị cắt bằng cưa máy. Các mảnh được lắp ráp bởi các công nhân từng mảnh sử dụng máy may công nghiệp hoặc máy tự động. Móc và mắt kim loại tráng được khâu bằng máy và xử lý nhiệt hoặc ủi vào các đầu sau của dây đeo và một thẻ hoặc nhãn được gắn hoặc in trên chính áo ngực. Những chiếc áo lót hoàn chỉnh được gấp lại (bằng máy hoặc thủ công) và đóng gói để vận chuyển.
Băng và cúp ngực, không phải dây đeo vai, được thiết kế để nâng đỡ sức nặng của ngực phụ nữ. Áo lót có gọng dựa vào gọng và thêm các đường may và tấm tăng độ cứng để nâng đỡ chúng. Dây vai của một số áo lót thể thao bắt chéo ở phía sau để giảm áp lực lên vai khi cánh tay được nâng lên. Các nhà sản xuất liên tục thử nghiệm với các thiết kế khung độc quyền. Ví dụ: mẫu Playtex "Áo ngực 18 giờ" sử dụng thiết kế M-Frame.
Áo ngực ban đầu được làm bằng vải lanh, vải bông rộng, dệt sợi chéo và được may bằng cách sử dụng các đường may phẳng hoặc băng keo. Hiện
nay chúng được làm từ nhiều loại vật liệu khác nhau, bao gồm Tricot, Spandex, Spanette, Latex, microfiber , satin , Jacquard , bọt, lưới và ren , được pha trộn để đạt được những mục đích cụ thể. Spandex, một loại sợi tổng hợp có tích hợp "bộ nhớ co giãn", có thể được pha trộn với cotton, polyester hoặc nylon. Lưới là một chất tổng hợp công nghệ cao bao gồm các sợi siêu mịn được đan chặt chẽ để tạo sự êm ái.
Sáu mươi đến bảy mươi phần trăm áo ngực được bán ở Anh và Hoa Kỳ đều có lót ly. Gọng được làm bằng kim loại, nhựa hoặc nhựa thông. cho biết tiền thân của gọng trong áo lót có niên đại ít nhất là năm 1893, khi Marie Tucek ở Thành phố New York cấp bằng sáng chế cho một loại áo nâng đỡ "ngực", một loại áo ngực đẩy sớm được làm bằng kim loại hoặc bìa cứng và sau đó được phủ bằng vải. Gọng được chế tạo xung quanh chu vi của cốc nơi nó gắn vào dây đeo, tăng độ cứng của nó để cải thiện khả năng hỗ trợ, nâng và tách.
Áo lót không dây hoặc áo lót mềm có thêm đường may và phần gia cố bên trong.
Vào cuối những năm 1970, áo lót không dây đã nổi lên ở cả Hanky Panky và Hanro ở Thụy Sĩ. Tiếp theo là Cosabella ở Ý và Eres (công ty) [ fr ] ở Pháp vào những năm 1980, cũng như Eberjey vào những năm 1990. Những người khác sử dụng chất liệu đệm hoặc vật liệu định hình để nâng cao kích thước hoặc khe ngực.
Kích thước và sự vừa vặn.
Ở hầu hết các quốc gia, áo ngực có kích thước vòng một và cúp ngực, chẳng hạn như 34C; 34 là vòng ngực, hoặc số đo xung quanh thân ngay bên dưới bầu ngực, và C là kích thước cúp ngực, dùng để chỉ thể tích của bầu ngực. Hầu hết áo ngực được cung cấp với 36 kích cỡ; Triumph "Doreen" có kích thước 67, tối đa 46J.
Kích thước cốc thay đổi tùy thuộc vào kích thước dây đeo. Cúp AD trên dải 38 có thể tích lớn hơn cup D trên dải 34, vì thể tích của vú phụ nữ tăng khi kích thước dải ngực của cô ấy tăng lên. Ở các quốc gia đã áp dụng tiêu chuẩn cỡ váy EN 13402 của Châu Âu , phép đo được làm tròn đến bội số gần nhất của 5 cm (2,0 in).
Các tiêu chuẩn sản xuất quốc tế và hệ thống đo lường rất khác nhau. Áo ngực được thiết kế cho một thân hình lý tưởng, nhưng giải phẫu của phụ nữ rất khác nhau. Mười phần trăm bộ ngực của phụ nữ là không đối xứng, với 62 phần trăm trường hợp vú bên trái lớn hơn. Ngực của một người phụ nữ có thể nhỏ và có khoảng cách rộng, người khác có thể tập trung gần với ngực, thẳng đứng và rất đầy đặn. Do đó, việc tìm kiếm một chiếc áo ngực vừa vặn là vô cùng khó khăn. Khi phụ nữ tìm thấy một chiếc áo ngực vừa vặn, họ có xu hướng giữ nguyên kích cỡ đó, mặc dù họ có thể giảm và tăng cân.
Trong một cuộc khảo sát ở Vương quốc Anh, 60% trong số hơn 2.000 phụ nữ trong độ tuổi từ 16 đến 75 cho biết họ đã từng mặc áo ngực vừa vặn và 99% nói rằng độ vừa vặn là yếu tố ít quan trọng nhất khi chọn áo ngực. Sự công khai ngày càng tăng về vấn đề áo ngực kém vừa vặn đã làm tăng số lượng phụ nữ tìm kiếm một chiếc áo vừa vặn. Nhà bán lẻ Marks Spencer của Anh cho biết hàng tuần có khoảng 8.000 phụ nữ mặc áo ngực trong cửa hàng của họ. Mặc dù vậy, khoảng 80–85% phụ nữ vẫn mặc áo ngực sai kích cỡ.
Các chuyên gia về áo ngực khuyên bạn nên mua phụ kiện áo ngực chuyên nghiệp từ bộ phận nội y của cửa hàng quần áo hoặc cửa hàng chuyên bán đồ lót, đặc biệt là đối với cỡ cúp D hoặc lớn hơn, và đặc biệt nếu đã tăng hoặc giảm cân đáng kể hoặc nếu người mặc liên tục điều chỉnh áo ngực của mình. Phụ nữ ở Anh thay đổi cỡ áo ngực trung bình sáu lần trong suốt cuộc đời của họ.
Dấu hiệu của dây áo ngực bị lỏng bao gồm dây đeo ở phía sau lưng. Nếu dải băng khiến thịt tràn ra ngoài mép thì nó quá nhỏ. Một phụ nữ có thể kiểm
tra xem dây áo ngực có quá chật hay lỏng hay không bằng cách lộn ngược dây áo ngực trên thân mình sao cho các đường cúp ở phía sau, sau đó kiểm tra xem có vừa vặn và thoải mái hay không. Các chuyên gia khuyên phụ nữ nên chọn cỡ dây đeo vừa vặn bằng cách sử dụng bộ móc ngoài cùng. Điều này cho phép người mặc sử dụng các móc chặt hơn khi áo ngực kéo dài trong suốt thời gian tồn tại của nó.
Áo lót có thể được thiết kế để nâng cao kích thước ngực của phụ nữ, hoặc để tạo khe ngực , hoặc cho các cân nhắc về thẩm mỹ, thời trang hoặc thiết thực hơn. Áo lót cho con bú được thiết kế để hỗ trợ việc cho con bú. Áo ngực dạng nén, chẳng hạn như áo ngực thể thao, chống đẩy và giảm thiểu chuyển động của ngực, trong khi áo ngực dạng gói có các đường cúp để nâng đỡ. Hỗ trợ ngực có thể được tích hợp trong một số bộ đồ bơi, áo yếm và váy. Áo lót ung thư được thiết kế đặc biệt cho bệnh nhân ung thư vú đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ vú. Các kiểu này cung cấp hỗ trợ sau phẫu thuật và một số bao gồm miếng đệm hoặc túi để nhồi.
Áo ngực có nhiều kiểu dáng, bao gồm backless, balconette, có thể chuyển đổi, có kệ, full cup, áo ngực che phủ hoàn toàn, demi-cup, giảm thiểu, độn, plunge, lounge bra, posture, push-up, racerback, sheer, áo quây, T-shirt, có gọng, không có đường viền và cúp mềm.
Các loại áo ngực.
Có nhiều loại áo ngực khác nhau:
Các cỡ kích thước.
Có nhiều hệ thống đơn vị khác nhau để phân loại kích thước các áo ngực phù hợp với vú lớn nhỏ. Phần lớn chia theo mẫu tự từ AAA đến DD. Một cách tìm cỡ kích áo ngực như sau (dùng thước đo với đơn vị inch (1 inch = 2.54 cm))
Thí dụ, phụ nữ có chu vi vòng bụng trên là 30", vậy phải cộng 6 thành cỡ 36".
Nếu vòng ngực là 40", hiệu số ngực-bụng là 4" - theo bảng thì là cỡ nắp D.
Phụ nữ này nên mang nịt cỡ 36D.
Nhiều phụ nữ mong chờ đến ngày mà họ có thể cởi áo ngực.
Một số phụ nữ cảm thấy khó chịu và đau vú toàn thân do thay đổi sợi tuyến vú và mô vú của họ thường được mô tả là "cục u", "giống như sợi dây" hoặc "nhão". Các bác sĩ thường khuyên phụ nữ nên mặc áo ngực vừa vặn, nâng đỡ để giúp giải quyết các triệu chứng.
Các nghiên cứu cơ sinh học đã chứng minh rằng, tùy thuộc vào hoạt động và kích thước của vú phụ nữ, khi cô ấy đi bộ hoặc chạy không bằng tay, ngực của cô ấy có thể di chuyển lên và xuống từ 4 đến 18 cm (1,6 đến 7,1 in) hoặc hơn, và cũng dao động bên sang một bên.
Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng khi kích thước ngực của phụ nữ tăng lên, họ ít tham gia các hoạt động thể chất hơn, đặc biệt là tập thể dục mạnh. Ví dụ, rất ít phụ nữ có bộ ngực rất lớn chạy bộ. Để tránh cảm giác khó chịu và đau đớn khi tập luyện, các chuyên gia y tế khuyến nghị phụ nữ nên mặc áo ngực thể thao vừa vặn trong quá trình hoạt động.
Phụ nữ đôi khi mặc áo ngực vì họ nhầm tưởng rằng chúng ngăn ngừa ngực bị chảy xệ ( ptosis ) khi họ già đi. Các bác sĩ, phụ nữ bán đồ lót, thiếu nữ và phụ nữ trưởng thành từng tin rằng áo ngực là bắt buộc về mặt y tế để nâng đỡ ngực. Trong một bài báo năm 1952 trên "Tạp chí Phụ huynh" , Frank H. Crowell đã viết rằng điều quan trọng đối với các cô gái tuổi teen là phải bắt đầu mặc áo ngực sớm. Điều này sẽ ngăn ngừa tình trạng ngực bị chảy xệ, các mạch máu bị kéo căng và lưu thông kém sau này.
Niềm tin này dựa trên ý kiến không chính xác rằng vì ngực không thể tự hỗ trợ về mặt giải phẫu, nên việc mặc áo lót tạo ra sự khác biệt khi phụ nữ già đi. Một nghiên cứu năm 2013 của Jean-Denis Rouillon nói rằng việc mặc áo ngực thực sự có thể làm suy yếu các mô nâng đỡ giữ ngực. Các nhà sản xuất áo ngực cẩn thận tuyên bố rằng áo ngực chỉ ảnh hưởng đến hình dạng của bộ ngực khi chúng đang được mặc. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến tình trạng sưng vú trong suốt cuộc đời của một phụ nữ là hút thuốc lá , số lần mang thai , trọng lực , chỉ số khối cơ thể cao hơn , kích thước cúp ngực lớn hơn và tăng và giảm cân đáng kể.
|
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Vịnh Việt Thanh hay Vũng Việt Thanh là vịnh ven bờ biển ở phía bắc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Vùng nước của vịnh kéo dài từ mũi Nam Châm (xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn) đến mũi Phước Thiện (xã Bình Hải, huyện Bình Sơn) với diện tích mặt nước là 12 km². Khu vực vịnh hiện thuộc khu kinh tế Dung Quất của tỉnh Quảng Ngãi, nhà máy lọc dầu Dung Quất thuộc địa bàn xã Bình Trị, cách bờ biển của vịnh không xa.
|
Lê Văn Viễn (1904 - 1972) tức Bảy Viễn, nguyên là người cầm đầu một băng đảng xã hội đen, là tướng cướp lừng danh trước năm 1945, về sau tham gia tổ chức lực lượng vũ trang kháng chiến chống Pháp và hợp tác với Việt Minh, rồi ly khai trở về hợp tác với chính phủ Quốc gia Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại làm Quốc trưởng và được phong Thiếu tướng Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ông cũng là thủ lĩnh của Lực lượng Bình Xuyên kiêm Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn. Năm 1955, Bảy Viễn chỉ huy lực lượng này chống chính phủ và bị Thủ tướng Ngô Đình Diệm dẹp tan, nên phải đào thoát và lưu vong sang Pháp.
Bảy Viễn sinh năm Giáp Thìn 1904 tại làng Phong Đước, tổng Tân Phong Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn, Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương (Nay là xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam) trong một gia đình điền chủ trung lưu gốc Hoa (Cha người Trung Quốc, mẹ người Việt). Thân phụ là Lê Văn Dậu, người Triều Châu (Quảng Đông, Trung Quốc), một điền chủ Hoa kiều và cũng là một đàn anh giang hồ nhóm Nghĩa Hòa (Triều Châu) thuộc Thiên Địa hội, mang tinh thần Phản Thanh phục Minh, nên Bảy Viễn có máu giang hồ từ nhỏ.
Trong tác phẩm "Bảy Viễn, ông trùm Chợ Lớn" của tác giả Pierre Darcourt - nhà báo văn sĩ người Pháp sinh tại Việt Nam - đã chiếu theo hồ sơ của Mật thám Pháp tại Nam Kỳ, viết rằng: Lê Văn Dậu sinh tại Trung Hoa (Nhà Thanh), có cha là người Triều Châu và mẹ là người vùng miền khác vì ông được gia đình bên Ngoại truyền dạy kha khá vốn chữ Hán bài bản, nên đã tham gia nhóm Nghĩa Hòa (Triều Châu) của tổ chức Thiên Địa hội ngay từ thời thiếu niên, nhưng không rõ ông gia nhập trước hay sau khi di cư sang Việt Nam. Sau khi di dân sang Nam Kỳ (Đông Dương thuộc Pháp) và định cư tại Chợ Lớn, ông trở thành một điền chủ giàu có và nhanh chóng được nhóm Nghĩa Hòa suy tôn làm một trong những Giáo chủ (Thủ lĩnh). Lê Văn Dậu tuy là tay anh chị giang hồ nhưng ông rất được nể trọng vì bản tánh cương trực, trung thực, lương thiện và công bằng. Là người trọng danh dự, ông Dậu hết lòng bảo vệ quyền lợi phe nhóm và em út cũng như luôn giúp đỡ bà con làng xóm và những người khốn khó, và do là một trong những đàn anh có tiếng của nhóm Nghĩa Hòa ở Chợ Lớn, nên ông cũng thường đứng ra làm trung gian hòa giải mâu thuẫn xung đột giữa các băng nhóm. Bảy Viễn lúc nhỏ ương ngạnh, hung bạo và khó bảo nên thường bị cha rầy la và dạy dỗ nghiêm khắc, tánh giang hồ hảo hán của ông Dậu có ảnh hưởng rất lớn đến Viễn. Nhờ vậy mà sau này, tay giang hồ nghĩa hiệp trọng tình bạn và tình anh em như Bảy Viễn luôn được đàn em và bạn bè - kể cả các trùm xì-thẩu người Tàu ở Chợ Lớn - kính nể.
Tuy sinh ra trong gia đình điền chủ khá giả, lúc nhỏ sống đầm ấm sung túc và được học hành đàng hoàng, nhưng Viễn ham chơi nên chỉ học hết Tiểu học trường làng, và sau vì cảm thấy thiệt thòi một cách bất công trong việc chia gia tài nên Viễn bỏ nhà đi bụi, tự lực cánh sinh rồi học võ ở nhiều nơi nên ông rất giỏi võ và rất có máu mặt trong việc đánh đấm giành địa bàn.
Về hình thể, Bảy Viễn cao 1m70, dáng to vạm vỡ, trên khắp cơ thể đều có hình xăm, cả một con Rồng lớn chiếm trọn tấm lưng, đầu Rồng trên cổ, đuôi Rồng tận hậu môn, hai vai xăm hình Đầm trần truồng, trên dương vật xăm chữ Tàu và ngay trên quy đầu xăm hình đầu Rắn, ngoài ra còn có vết sẹo dài 6cm trên cánh tay trái (Nguyên là hình xăm đã bị Viễn lấy dao tự rạch lên để xóa bỏ vết xăm). Tuy xăm cùng mình và là dân anh chị nhưng Bảy Viễn rất chú trọng cách ăn mặc, luôn ăn vận chỉnh tề, từ quân phục đến thường phục đều vừa vặn với thân hình lực lưỡng, cao và cân đối nên ông trông lúc nào cũng lịch lãm và uy nghiêm. Về diện mạo, Bảy Viễn khuôn mặt chữ điền, lông mày rậm, tóc cứng và dày, đen nhánh, được húi cua kiểu nhà binh, môi dày, mũi cao và thẳng, đặc biệt là cặp mắt sáng dữ dằn mang tướng mạo của kẻ đàn anh, nên tuy dân giang hồ nhưng Bảy Viễn rất điển trai và phong độ, mang phong thái của một vị tướng thực thụ.
Ngày 14 tháng 2 năm 1921, Bảy Viễn vào tù lần đầu với bản án 20 ngày tù giam khi mới 17 tuổi do phạm tội trộm xe đạp (Thời bấy giờ, xe đạp là tài sản có giá trị rất lớn, và thật ra chiếc xe đạp ấy vốn của gia đình Viễn, nhưng vì bà mẹ đem cho một người bà con mà ông không biết, khi phát hiện chiếc xe đang nằm ở nhà người ta thì ông mang về, nên bị hàm oan, cũng có thể đây là lý do khiến Viễn bị thiệt thòi trong vụ chia gia tài, nguyên nhân dẫn đến việc bỏ nhà đi bụi).
Trước năm 1945, Bảy Viễn là tay giang hồ tướng cướp khét tiếng làm điên đảo giới nhà giàu và các chủ tiệm vàng cũng như ngành an ninh của chính quyền Thuộc địa khắp Sài Gòn-Chợ Lớn, khiến người Pháp phải ráo riết truy bắt. Trong tác phẩm "Bảo Đại, hay những ngày cuối cùng của vương quốc An Nam", tác giả Daniel Grandclément đã miêu tả rằng: "Bảy Viễn là một đầu sỏ lưu manh thực thụ, từng cầm đầu mafia Chợ Lớn. Trưởng thành từ cuộc sống đường phố và trở thành thủ lĩnh nhờ sức mạnh võ biền, Viễn đánh nhau rất liều lĩnh để xưng hùng xưng bá, là tướng cướp nhưng nổi danh chỉ đánh vào bọn nhà giàu".
Ban đầu Bảy Viễn nổi danh là tay anh chị chợ Bình Đông, chuyên bảo kê các trường đá gà và thu tiền xâu từ các sòng bạc, Viễn còn có cả một băng đảng do mình cầm đầu chuyên “bảo kê” cho các hãng xe đò chạy tuyến Sài Gòn-Biên Hòa và Vũng Tàu. Sau đó Bảy Viễn mở rộng địa bàn hoạt động, vào trung tâm thành phố Chợ Lớn làm bảo kê cho các tay xì-thẩu người Tàu.
Ngày 31 tháng 5 năm 1927, Bảy Viễn bị phạt giam 2 tháng tù về tội hành hung gây thương tích (Lúc ấy Viễn đang làm cho một ông chủ sòng bạc người Tàu, nhưng vì mâu thuẫn mà "nện" tên chủ một trận). Bảy Viễn tiếp tục các hoạt động của mình ngay khi được trả tự do, và nhờ công việc làm ăn phát đạt, Viễn dần mua cổ phần trong hai nhà hàng, một công ty Taxi, một quán rượu đêm và tài trợ cho một mạng lưới các nhà máy chưng cất rượu bí mật.
Ngày 12 tháng 9 năm 1935, một chiếc xe đò chở khách đi Phan Thiết bị năm người mang súng ngắn chặn lại khi băng ngang Rừng Lá, hai thương gia giàu có người Tàu bị cướp số tiền 6.000 đồng, một trong số họ, Lin Fung Ha, nhận diện ra đuợc Bảy Viễn qua ảnh chụp. Ngày 20 tháng 6 năm 1936, Bảy Viễn bị bắt tại nhà của một ả tình nhân trên đường "Rue de Louvain" ở Sài Gòn (Nay là đường Đề Thám, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh). Khi bị bắt, Viễn không có vũ khí trong người, nhưng lục soát trong nhà thì cảnh sát tịch thu được một khẩu súng Sauer của Đức kiểu năm 1930, cỡ nòng 7.65 mm với 32 viên đạn. Có thuyết khác thì cho rằng trong một vụ cướp tiệm vàng ở Giồng Ông Tố, Viễn lấy được 6.000 đồng (Tương đương với 600 tấn gạo), nhưng sau đó không lâu thì bị bắt. Ngày 28 tháng 8, Bảy Viễn bị kêu án 12 năm tù và đày đi Côn Đảo về tội tổ chức băng đảng và tàng trữ vũ khí bất hợp pháp. Tuy nhiên, đến năm 1940, Viễn vượt ngục thành công về đất liền. Trong khoảng thời gian ngồi khám lần đầu này, Bảy Viễn đã hạ được một tay trùm du đãng gốc Khmer để trở thành ông vua du đãng mới, rồi còn quyến rũ và dan díu với cô vợ của một tên Thầy chú (Cai ngục), cô này rất mê Viễn nên sẵn sàng giúp đỡ và hỗ trợ ông.
Năm 1941, Bảy Viễn bị bắt cùng Mười Trí (Huỳnh Văn Trí), một người bạn mới quen trong vụ tổ chức cướp xưởng mộc Bình Triệu. Mười Trí cũng là dân giang hồ, giỏi võ, vì bất mãn xã hội mà lập nên một nhóm cướp gây chấn động cả Sài Gòn-Chợ Lớn, vì vậy cả hai có duyên gặp và kết thân. Tòa án tuyên phạt Bảy Viễn 12 năm khổ sai cộng thêm 8 năm còn thiếu trước đây thành 20 năm. Sau đó Bảy Viễn lại vượt ngục thành công nhưng máu "phiêu lưu" vẫn âm ỉ nên Viễn và Mười Trí lại tổ chức đi cướp lần nữa, rồi lại bị bắt đày ra Côn Đảo lần thứ 3. Đến năm 1945, sau khoảng thời gian chuẩn bị chu đáo nhưng dài hơi vì vợ chồng Thầy chú đã được triệu hồi về đất liền, Bảy Viễn và Mười Trí cùng vài người bạn thân lại tổ chức vượt ngục thành công lần cuối cùng (Có tài liệu nói Bảy Viễn được người Nhật thả ra sau khi đảo chính người Pháp thành công để tính kế lâu dài). Lịch sử nhà tù Côn Đảo chỉ khoảng 10 cuộc vượt ngục thành công mà Bảy Viễn đã chiếm đến 3.
Tham gia kháng chiến.
Tháng 8 năm 1945, vừa vượt ngục trở về cũng là lúc nổ ra Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Được một số nhân vật trong Xứ ủy Nam Kỳ móc nối, Bảy Viễn cùng Mười Trí tập hợp lực lượng du đãng tại Sài Gòn hợp tác với Trần Văn Giàu tham gia Kháng chiến chống Pháp. Bộ đội Lê Văn Viễn xây dựng thành Chi đội 9 do Lê Văn Viễn làm Chi đội trưởng và thuộc Liên khu Bình Xuyên, sở chỉ huy đặt tại Vườn Thơm (Bình Chánh) và do Ba Dương (Tức Dương Văn Dương) làm Tổng chỉ huy.
Chi đội 9 của Bảy Viễn còn được gọi là "Bộ đội Phú Thọ" hoặc "Bộ đội Bảy Viễn", dù vậy, đơn vị của Bảy Viễn tuy tuân thủ chỉ thị quân sự của cấp trên nhưng lại từ chối tiếp nhận những chính trị viên do cấp trên cử xuống. Tháng 10 cùng năm, Bảy Viễn đưa đơn vị rời Vườn Thơm rút về mật khu Rừng Sác. Cuối tháng 11, ông được Ủy ban Hành chính lâm thời cử làm Tư lệnh tối cao các Lực lượng Kháng chiến Sài Gòn-Chợ Lớn kiêm Chỉ huy trưởng khu Sài Gòn-Chợ Lớn. Trong khoảng thời gian gần 3 năm trước khi về thành, Bảy Viễn đã chỉ huy Chi đội 9 Bộ đội Bình Xuyên đánh nhiều trận quyết liệt, gây không ít thiệt hại cho Quân đội Pháp.
Ngày 20 tháng 2 năm 1946, Tổng chỉ huy Ba Dương hy sinh trong một trận chống càn của Pháp ở Bến Tre, khi chỉ huy một bộ phận quân Bình Xuyên vượt sông Soài Rạp từ Rừng Sác về cứu nguy cho mặt trận An Hóa-Giao Hòa. Sau khi Ba Dương hy sinh, Bảy Viễn vận động để nắm chức Tư lệnh Bình Xuyên nhưng một số cán bộ Chỉ huy trưởng các Chi đội Bình Xuyên không tán thành.
Ngày 12 tháng 4 năm 1946, tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh các Lực lượng vũ trang Nam Bộ ký quyết định phong Năm Hà (Tức Dương Văn Hà, em cùng cha khác mẹ của Dương Văn Dương) làm Tư lệnh Lực lượng Bình Xuyên thay cho Ba Dương. Vì vậy, tháng 7 cùng năm, Nguyễn Bình ký quyết định phong Bảy Viễn làm Đệ nhất Khu bộ phó Chiến khu 7 (Đệ nhị Khu bộ phó là Huỳnh Văn Nghệ tức Tám Nghệ) với ý định tách Viễn ra khỏi vị trí trực tiếp chỉ huy Lực lượng Bình Xuyên và để ông không từ bỏ kháng chiến về hợp tác với Pháp và Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Trung tuần tháng 12 cuối năm, Bảy Viễn chính thức giữ chức Khu bộ phó Chiến khu 7, đồng thời cũng trong tháng này Đại úy Savani - Trưởng Phòng nhì Pháp (Cơ quan tình báo Quốc phòng Hải ngoại của Pháp) cho cài người vào Chi đội 9 bí mật tiếp xúc với Bảy Viễn nhằm mục đích lập Chiến khu Quốc gia Rừng Sác. Các tay nội gián mà Phòng Nhì cài vào gồm 4 người: Anh em Lại Văn Sang (Tư Sang)-Lại Hữu Tài (Năm Tài) - hai tay trí thức do Maurice Thiên giới thiệu - với vai trò các cố vấn thân cận, luôn theo sát tác động Bảy Viễn; Lâm Ngọc Đường - nhân viên Phòng Nhì cùng Maurice Thiên - tay tư sản khá giả và cũng là nhân viên Phòng Nhì hoạt động dưới danh nghĩa là cơ sở kinh tài ở trên thành của Chi đội 9, chuyên tiếp tế nhu yếu phẩm từ Sài Gòn về Rừng Sác.
Những ngày đầu theo kháng chiến, Bảy Viễn chỉ biết Maurice Thiên và Lâm Ngọc Đường đang làm công việc hành chính văn phòng cho Pháp, Viễn chưa biết cả 4 người thân tín này đều là nhân viên Phòng Nhì (Riêng Maurice Thiên - tay tư sản trí thức gốc Tàu lai vô dân Tây, là bạn thân của Bảy Viễn hơn chục năm). Trong đêm tiệc mừng chính thức nhậm chức Đệ nhất Khu bộ phó Chiến khu 7, ngoài việc mời các Chi đội trưởng Liên khu Bình Xuyên và Đệ nhị Khu bộ phó Huỳnh Văn Nghệ, thì với sự gợi ý của hai anh em cố vấn họ Lại, Bảy Viễn đã cho mời hai vị lãnh đạo tôn giáo lớn nhất Nam Bộ là Hộ pháp Phạm Công Tắc của Đạo Cao Đài và Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ, cũng như mời cả Lâm Ngọc Đường cùng Maurice Thiên - hai trùm nhân viên Phòng nhì Pháp, đồng thời cũng là cấp trên thực tế của hai anh em họ Lại - ở Sài Gòn về căn cứ Rừng Sác dự tiệc.
Với sự tác động tinh vi và từ từ của hai anh em Tài-Sang nhằm khoét sâu mâu thuẫn giữa Bộ đội Bảy Viễn với Bộ đội Nguyễn Bình mà Bảy Viễn ngày càng nghi ngờ việc mình được phong chức Đệ nhất Khu bộ phó cao hơn Tám Nghệ. Hai anh em họ Lại còn to nhỏ với Bảy Viễn về việc Nguyễn Bình, Huỳnh Văn Nghệ cùng Bộ Tư lệnh Việt Minh thật ra là những người Cộng Sản, khi quyết định việc gì cũng có tính toán riêng và cho rằng Bảy Viễn đang sống trong sự kìm kẹp của cả Cộng Sản Việt Minh lẫn Thực dân Pháp nên Viễn quyết định nghe theo lời đề nghị của Năm Tài và Maurice Thiên là tạm thời "án binh bất động", không xung đột với Việt Minh mà cũng không giao tranh với Pháp. Bảy Viễn không biết ông đã có quan hệ với các nhân viên Phòng Nhì, khiến cho bản thân và Chi đội 9 bị Phòng Nhì thao túng, vô hình trung tạo chứng cứ để Nguyễn Bình cùng Bộ Tư lệnh Khu 7 càng thêm nghi ngờ Viễn phản bội kháng chiến.
Chưa kể, tiếp theo đó là những tin tức về việc Cựu hoàng Bảo Đại đang trong quá trình đàm phán với chính phủ Pháp nhằm thành lập một chính phủ Quốc gia Việt Nam độc lập được Pháp công nhận và bảo trợ khi gia nhập khối Liên hiệp Pháp. Biết rằng Bảy Viễn là chiến sĩ Quốc gia không đảng phái nên Phòng nhì Pháp ra sức làm lung lay lập trường của Bảy Viễn khi tạo ra viễn cảnh một chiến sĩ cách mạng nay trở về với "Chính nghĩa Quốc gia" và phục vụ cho chính phủ của một nước Việt Nam độc lập phi Cộng Sản vì Phòng Nhì cũng biết rằng Bảy Viễn ít nhiều vẫn chưa muốn kết thúc sự nghiệp kháng chiến mà ông đã đi theo từ những ngày đầu. Phòng nhì Pháp luôn muốn tiến xa hơn khi không ngừng chiêu dụ Bảy Viễn lập Chiến khu Quốc gia Rừng Sác, lôi kéo các Chi đội Liên khu Bình Xuyên cùng theo về thành nhằm làm suy yếu Lực lượng kháng chiến Việt Minh. Thực tế đây là những nhiệm vụ mà Phòng nhì Pháp vạch ra giao cho 4 nhân viên nội gián của mình đang nằm vùng trong Chi đội 9.
Cuối tháng 1 năm 1948, sau khi Khu trưởng Khu 7 Nguyễn Bình được phong quân hàm Trung tướng và được đề bạt làm Uỷ viên Quân sự Nam Bộ kiêm Tổng chỉ huy chiến trường Nam Bộ, thì cả Nguyễn Bình và Ủy ban Hành chính-Kháng chiến Nam Bộ quyết định phong Bảy Viễn làm Khu bộ trưởng Chiến khu 7 với hy vọng rằng có thể lôi kéo đưa Viễn về chỉ huy Tổng hành dinh Bộ Tư lệnh Khu 7, quyết tâm không để ông rời bỏ kháng chiến dù Bộ Tư lệnh Khu đã nắm được nhiều chứng cứ chứng minh việc Bảy Viễn "đi đêm" với Phòng Nhì. Biết Bảy Viễn rất nể Tám Nghệ (Huỳnh Văn Nghệ) vì những chiến công lớn của Bộ đội Tám Nghệ tại chiến trường miền Đông nên Nguyễn Bình tin tưởng cử Tám Nghệ vào Rừng Sác thuyết phục Bảy Viễn về Khu nhận chức Khu trưởng Khu 7. Gặp được Tám Nghệ, Bảy Viễn vui mừng tiếp đón nồng nhiệt, nhưng sau đó liền bày tỏ thái độ nghi ngờ về kế sách "điệu Hổ ly sơn" của Nguyễn Bình, nên đã được Tám Nghệ trấn an và khích tướng:
"Anh được đề bạt (Khu trưởng Khu 7) là vinh dự cho cả giới giang hồ đi theo kháng chiến. Làm Khu trưởng, anh sẽ quy tụ thêm anh hùng hào kiệt để quân ta ngày thêm đông, lực lượng kháng chiến càng thêm mạnh. Với lạ, không lẽ xuống đồng, Cọp biến thành Chồn-Cáo hay sao?"
Lo ngại việc Tám Nghệ thất bại nên Khu 7 đã phải nhờ cả người bạn thân chí cốt của Viễn là Mười Trí đi thuyết khách. Được hai vị chỉ huy quân sự nổi danh khích lệ nên Bảy Viễn đồng ý về họp tại Bộ Tư lệnh Khu, nhưng việc nhận chức Khu trưởng hay không còn tùy vào tình hình. Vài tháng sau, ngày 20 tháng 5 năm 1948, Bảy Viễn cùng hai Đại đội võ trang (Khoảng 200 lính) thiện chiến và trung thành của mình đi Đồng Tháp theo lời mời của Nguyễn Bình, đến dự cuộc họp quan trọng do Nguyễn Bình chủ trì với mục đích phong Viễn chức Khu bộ trưởng Chiến khu 7, đồng thời giải quyết những mâu thuẫn đang tồn tại giữa Bộ đội Bình Xuyên của Bảy Viễn và Bộ đội Nguyễn Bình.
Tại cuộc họp, Bảy Viễn đã trả lời rắn chắc và đanh thép các chất vấn của Nguyễn Bình về những mâu thuẫn nội bộ và tỏ ý nghi ngờ việc phong chức Khu trưởng Khu 7 mà trước đó Viễn cho rằng người xứng đáng nhận chức này hơn phải là Huỳnh Văn Nghệ vì theo Viễn những chiến công của Bộ đội Tám Nghệ vượt xa Bộ đội Bảy Viễn. Được Nguyễn Bình tiết lộ tin tình báo rằng hai anh em cố vấn Tài-Sang là người của Phòng Nhì và cáo buộc Bảy Viễn bao che tay sai mật thám, nên trong lúc hội nghị tạm ngưng, chính Bảy Viễn đã tra hỏi cả hai tên và được Năm Tài thừa nhận thì Viễn mới biết mình đã bị Phòng Nhì nắm thóp từ lâu. Sau vì Bảy Viễn lưỡng lự việc nhận chức Khu trưởng Khu 7 và tỏ vẻ bất hợp tác nên Nguyễn Bình quyết định giải tán các đơn vị Bình Xuyên, phiên chế thành các đơn vị Vệ quốc Đoàn để phá tan âm mưu chia rẽ các Lực lượng kháng chiến và Việt Minh của Phòng nhì Pháp, mặc cho nhiều lãnh đạo chủ chốt bên phía Bình Xuyên phản đối quyết định này (Bao gồm cả Mười Trí, Chi đội trưởng Chi đội 4). Bảy Viễn phản đối quyết liệt đồng thời tố cáo Nguyễn Bình muốn thiết lập chế độ Đảng trị và củng cố uy quyền cá nhân nên đã sát hại Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ và hai lần ám sát Viễn nhưng bất thành. Bảy Viễn nói với Nguyễn Bình:
"Chúng tôi không hài lòng về cung cách đồng chí đối xử với chúng tôi. Bình Xuyên đã chiến đấu từ trước khi đồng chí vào tới Nam Bộ, đồng chí không hề đề nghị giúp đỡ gì chúng tôi, mà đồng chí chỉ hạ lệnh bắt chúng tôi phải thi hành. Chúng tôi đã đánh giặc suốt 30 tháng qua và đã có hơn ba trăm anh em hy sinh. Suốt trong ba năm chiến đấu đó, chúng tôi không hề nhận được của Việt Minh và Hà Nội một hột gạo, một con cá khô, một khẩu súng, một viên đạn. Những đoàn công-voa (Convoi) từ Bắc vào, đi ngang qua vùng của chúng tôi, đã được chúng tôi bảo vệ để vận chuyển mọi thứ đến đơn vị của các đồng chí an toàn. Cả những khi các đồng chí bị Tây truy kích, chúng tôi cũng hậu tập giải vây và ngăn cản để các đồng chí rút lui ê"
"Chúng tôi nghĩ rằng các chánh trị viên không có gì để dạy dỗ chúng tôi. Chúng tôi đã ý thức cầm súng chiến đấu vì nền độc lập của Tổ quốc, và để đòi tự do. Chúng tôi không chiến đấu cho một chế độ Đảng trị, hay để củng cố uy quyền lãnh đạo đã nhẫn tâm tàn sát đồng đội một cách tàn độc hơn là đối với quân thù..."
Bảy Viễn chất vấn Nguyễn Bình vì sao giết Giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ thì được Nguyễn Bình trả lời:
"Đó là kẻ lúc nào cũng mưu tính diệt Cộng Sản và cá nhân tôi, cho nên phải tiêu diệt."
Trong lúc Bảy Viễn vẫn còn dự hội nghị tại Đồng Tháp, thì cùng lúc, Bộ Tư lệnh Khu 7 (Bộ đội Nguyễn Bình) đã chỉ đạo triển khai cuộc thanh trừng nhân viên Phòng nhì Pháp trong nội bộ Bình Xuyên, tổ chức cuộc tảo thanh nhằm vào Bộ chỉ huy Chi đội 9 và Tổng hành dinh của Bảy Viễn tại Căn cứ Rừng Sác. Đến sáng ngày 24 tháng 5 năm 1948 thì Bộ Tư lệnh Khu 7 đã bắt gọn các nhân viên Bộ chỉ huy Chi đội 9, chính Lâm Ngọc Đường cũng bị bắt trong lúc đang loay hoay tìm đường thoát thân và chưa kịp phi tang các tang chứng gồm một chiếc cặp đựng các tài liệu Pháp gửi cho Bảy Viễn, danh sách các nhân viên Phòng Nhì, nhật ký ghi các vụ việc phá hoại, kế hoạch lập chiến khu ma cùng một cặp đầy ắp tiền Đông Dương).
Sau đó vài ngày, khi nhận được tin cấp báo về việc Tổng hành dinh Rừng Sác bị tảo thanh, Bảy Viễn bàng hoàng, vì đối với Viễn, mất Rừng Sác là không còn đường để quay về nên cuối cùng, sau những xung đột không thể giải quyết, Bảy Viễn từ chối chức Khu trưởng Khu 7 và không còn muốn hợp tác với Việt Minh nữa. Trên đường từ Đồng Tháp về Rừng Sác, Bảy Viễn và đoàn tùy tùng bị Trung đoàn 306 của Nguyễn Bình phục kích trong đêm nhưng vì đã đề phòng và chống trả quyết liệt nên Bảy Viễn thoát khỏi vòng vây, sau cuộc đụng độ này thì Bảy Viễn chỉ còn lại hai Trung đội (Khoảng 100 lính).
Tuy cũng phản đối quyết định giải tán các đơn vị Lực lượng Bình Xuyên, nhưng Mười Trí vẫn trung thành ở lại quân kháng chiến Việt Minh. Rạng sáng ngày 27 tháng 5 năm 1948, sau khi Bảy Viễn âm thầm rút quân rời chiến khu Đồng Tháp đã được Mười Trí mời đến Tổng hành dinh đồng thời cũng là nhà của ông ở Đông Thành (Chi đội 4) tá túc, nhằm thuyết phục Viễn quyết định kỹ trước khi quá muộn. Đêm ấy, bà vợ Mười Trí đãi hai anh em bữa cơm thịnh soạn. Mười Trí vì tình bạn, tình anh em từng cùng nhau vào sinh ra tử, từ đi cướp, vô tù đến chiến đấu trên mặt trận, đã khuyên Bảy Viễn nên suy nghĩ thấu đáo và nhất là nên ở lại vì "còn nước còn tát", nếu xảy ra chuyện thì Mười Trí sẽ đứng ra bảo lãnh bất kể hậu quả. Cảm động, Viễn tuy vẫn chưa phục, nhưng hứa hẹn sẽ suy nghĩ kỹ.
Cùng đêm, khi Bảy Viễn đang say giấc, Mười Trí cho gọi thuộc cấp đến, ra lệnh thông báo rằng các lực lượng Bình Xuyên khác ai ở đâu thì ở yên đấy, không được tự ý rời đi khi không có lệnh của ông, nhằm làm giảm tối đa thiệt hại cho quân đội Việt Minh.
Sáng hôm sau, khi cùng nhau dùng bữa cơm gia đình thân tình cuối cùng, Bảy Viễn thông báo đã suy nghĩ kỹ, Viễn quyết định ra đi, trở về Sài Gòn vì không thể sống chung với những người mà ông xem là bất công và xảo quyệt. Mười Trí đã tiên liệu trước, nên dù rất thất vọng về Bảy Viễn và về sự bất lực của mình, vẫn đồng ý tiễn Viễn đi một đoạn dài đến tận xã Hưng Long (Bình Chánh), kể từ đó, cả hai thuộc hai chiến tuyến khác nhau. Mười Trí có làm một bài thơ cảm động về hoàn cảnh này. Điều đặc biệt, bài thơ vẫn được lưu truyền đến nay, gần thị trấn Cái Tàu Hạ, vài cụ cao niên vẫn còn nhớ bài thơ ly biệt của Mười Trí.
Vào lúc 13 giờ trưa ngày 12 tháng 6 năm 1948, qua sự trung gian móc nối của Đại úy Savani - Trưởng Phòng nhì Pháp, Bảy Viễn cùng Năm Tài đi đến một địa điểm cách đồn An Phú khoảng 2 cây số thuộc quận Cần Giuộc họp với 2 sĩ quan Pháp là Đại úy Jean Pouget và Thiếu úy Cistisni để bàn việc trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia.
Sau khi Bảy Viễn về thành, Maurice Thiên ngay lập tức tổ chức xây cất các dãy nhà phố kiểu khu gia binh quanh khu vực chợ Phạm Thế Hiển - khu chợ tuy mới thành lập nhưng đã sớm thu hút dân tứ xứ di cư đến và nhanh chóng trở thành khu vực sầm uất với nhiều dãy phố nhà lầu vươn cao - để giải quyết vấn đề ăn ở cho hai Trung đội trung thành của Viễn. Riêng Bảy Viễn được Năm Tài lo liệu sang ngay một căn nhà phố tại số 31 Đại lộ Gaudot (Nay là đường Hải Thượng Lãn Ông, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh) làm Dinh thự / Tổng hành dinh kiêm văn phòng liên lạc tạm thời của Bộ tham mưu Lực lượng Bình Xuyên.
Ngoài ra, vì chỉ còn lại hai Trung đội nên Bảy Viễn ra lệnh cho Năm Bé - đàn em thân tín của Viễn - nhanh chóng tuyển quân mộ lính tại các khu vực quanh chợ Phạm Thế Hiển, chợ Xóm Củi, cầu Nhị Thiên Đường, cầu Xóm Chỉ, cầu Chữ Y, chợ Cầu Muối, cầu Ông Lãnh và cầu Tân Thuận, nên chỉ sau vài ba ngày thì quân số Lực lượng Bình Xuyên ly khai đã nhanh chóng nâng lên thành một Tiểu đoàn (Khoảng 1000 lính), được cấp quân phục và trang bị vũ khí đầy đủ, sau đó giao cho Tư Sang huấn luyện quân sự cấp tốc. Nhờ vậy, sau hơn một tuần lễ thì Bảy Viễn đã có trong tay một Lực lượng Bình Xuyên mới.
Ngày 17 tháng 6, Bảy Viễn tuyên bố Lực lượng Bình Xuyên trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia, đặt Tổng hành dinh tại số 31 Đại lộ Gaudot, Chợ Lớn. Sau khi về hợp tác với Pháp và Chính phủ Quốc gia, ngày 1 tháng 8 cùng năm Bảy Viễn được Tướng Pierre Boyer de Latour gắn lon Đại tá và thuộc quyền Tổng trấn Nam Phần.
Sau khi Bảy Viễn về thành, phần lớn Lực lượng Bình Xuyên được tổ chức lại và phiên chế thành các Vệ quốc đoàn, bộ phận còn lại do Viễn chỉ huy ly khai Việt Minh để tham gia chính quyền Quốc gia Việt Nam đã trở thành lực lượng Bình Xuyên được biết đến nhiều nhất vào thập niên 1950. Nhóm Bình Xuyên ly khai còn là một lực lượng quân sự bổ sung nằm trong khối Liên hiệp Pháp dưới danh xưng "Công an xung phong", nắm quyền kiểm soát toàn vùng Sài Gòn-Chợ Lớn.
Năm 1949, Bảy Viễn cho xây Tổng hành dinh phía bên kia cầu chữ Y (Hướng quận 8 ngày nay, vị trí sát dạ cầu, bị phá hủy sau khi tướng Dương Văn Minh đánh bại quân Bình Xuyên). Viễn cũng là người bảo trợ cho một ngôi chùa nhỏ tên Bảo Quốc ở gần đấy (Bảo Quốc tự, thành lập năm 1947, nay mang tên là Linh Phước tự, tọa lạc tại số 139 đường Dạ Nam, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh). Theo báo Người Lao Động thì Bảy Viễn còn sở hữu một ngôi biệt thự sang trọng ngay trung tâm thành phố Đà Lạt, tọa lạc tại số 10 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nay là trụ sở của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng.. Ngoài ra, Bảy Viễn còn sở hữu không ít dinh thự trong Chợ Lớn, một trong số đó tọa lạc sát bên hý trường Đại Thế Giới (Nay là tòa nhà số 20 đường Ngô Quyền, quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Ông trùm Chợ Lớn.
Bảy Viễn và Quốc trưởng Bảo Đại gặp nhau lần đầu năm 1949 tại Sài Gòn, sau đó cả hai nhanh chóng kết thân với nhau, nhờ vậy mà Bảy Viễn được Bảo Đại phong "Nam Tước" của Hoàng gia và nhận làm em nuôi dù Bảo Đại nhỏ tuổi hơn Viễn nhiều. Thời đó, người ta cho đấy là vinh hạnh lớn của Bảy Viễn, khi một tướng cướp võ biền gốc giang hồ lại được một cựu Hoàng đế nhận làm em nuôi và kết giao, nhưng ai cũng biết, Bảo Đại tiêu tiền như nước, không bao giờ là đủ khi đồng lương Pháp trả không là gì so với cuộc sống Đế vương của ông ta, còn Viễn đã trở thành một đại tư sản nhờ việc kinh doanh các sòng bạc lớn, Bảo Đại vì tiền, Bảy Viễn vì quyền. Kể từ đó, Lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn cũng trở thành một trong những lực lượng bảo vệ Quốc trưởng Bảo Đại, tình bạn giữa Bảy Viễn và cựu Hoàng đế ngày càng thân thiết. Viễn thường lên Đà Lạt nghỉ mát và thăm Bảo Đại, những dịp gặp nhau, cả hai thường cùng đi săn, câu cá hoặc đánh bạc.
Ngày 1 tháng 1 năm 1951, bằng thế lực của mình, "Cọp Rừng Sác" Bảy Viễn đấu thầu thành công và thâu tóm sòng bạc Đại Thế Giới (Casino grand Monde) ở Chợ Lớn vốn thuộc hàng lớn nhất nhì Châu Á hoặc có lẽ toàn Thế giới lúc bấy giờ mà trước đó thuộc quyền quản lý của Lâm Giống, trùm cờ bạc Ma Cao. Theo hồ sơ về tỷ phú Hoa kiều Lý Long Thân do Cảnh sát Việt Nam Cộng hòa lập, hiện lưu trữ tại Cục lưu trữ Việt Nam, thì Lý để cầu thân Bảy Viễn đã bỏ số tiền hơn 4 triệu Franc để tổ chức tiệc chiêu đãi Bảy Viễn và thuộc cấp tại hý trường Đại Thế Giới. Sau đó Lý còn đề nghị Bảy Viễn đứng ra thầu lại sòng bạc Đại Thế Giới dưới sự hỗ trợ tài chính của chính mình với giá 500 nghìn đồng Đông Dương/ngày. Được tỷ phú Hoa kiều hỗ trợ và nhất là được Quốc trưởng Bảo Đại bảo trợ tạo mọi điều kiện thuận lợi nên Bảy Viễn dễ dàng trúng thầu khai thác "sới bạc" Đại Thế Giới, đó cũng là mong muốn của Bảy Viễn vì nắm được Đại Thế Giới là nắm được Chợ Lớn, thành phố Trung Hoa giàu có của Việt Nam vừa rộng lớn vừa nhộn nhịp bậc nhất Thế giới, nhiều khả năng thịnh vượng hơn cả Khu phố Tàu San Francisco nổi tiếng của Hoa Kỳ .
Viễn còn trúng thầu sòng bạc Kim Chung (Casino Cloche d'Or), tại khu vực ngày nay là khu chợ Dân Sinh sát cạnh trung tâm thành phố Sài Gòn, đồng thời làm ngơ cho khu mại dâm Bình Khang công khai hoạt động. Có tài liệu còn cho thấy Bảy Viễn móc nối với tên trùm Franchini người đảo Corse (Pháp) - cũng là chủ sở hữu đương thời của Khách sạn Continental - để buôn thuốc phiện và ma túy từ Tam giác Vàng qua Việt Nam rồi tới Âu-Mỹ. Theo các tài liệu trong Trung tâm Lưu trữ Quốc gia thì Lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn còn tham gia vào rất nhiều các ngành kinh doanh và khai thác khắp Nam Kỳ (Đơn cử như việc Bảy Viễn đứng ra mở sơn tràng khai thác gỗ ở khu vực Sài Gòn-Vũng Tàu cũng như nhiều công trường khác trên cao nguyên, rồi thu thuế, thiết lập các đoàn vận tải, thiết lập các công ty xe đò từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Tây và Vũng Tàu).
Lực lượng Bình Xuyên do Bảy Viễn chỉ huy vẫn là một đơn vị độc lập, vừa là quân đội vừa là tổ chức xã hội đen khét tiếng với đầy đủ các ban tham mưu, mật thám, gián điệp, chỉ điểm. Bảy Viễn còn cho thành lập những Ban Hành động (Comités d’action), trong thực tế đó là các Ban Ám sát (Comités d’assassinats) gồm khoảng 150 người, mang súng lục và lựu đạn, mỗi lần hoạt động thường đi từng toán 2-3 người. Những toán này được dùng để thanh toán bất cứ ai cạnh tranh hay chống lại các hoạt động của Bình Xuyên. Ngoài ra, Bảy Viễn còn là chủ tịch Đảng "Mặt trận Bình dân" với khoảng 10.000 đảng viên.
Cả nhà văn Daniel Grandclément và Đại úy Jean Pouget (Sau này là Thiếu tá kiêm sĩ quan tùy tùng của Đại tướng Pháp Henri Navarre, Bảy Viễn từng đụng độ Jean Pouget mấy trận ác liệt trước khi về thành) đều cho rằng khu vực Chợ Lớn khá phức tạp và không tướng lĩnh lẫn quan chức Pháp nào có thể khiến tình hình yên ổn cho đến khi Bảy Viễn quay về vì thời thanh niên Viễn từng làm mưa làm gió ở Chợ Lớn nên rất am tường địa bàn này. Là người gốc Hoa, lại trọng chữ tín, luôn sòng phẳng trong việc kinh doanh và cũng nhờ tiếng tăm Lực lượng Bình Xuyên mà chỉ trong thời gian ngắn sau khi về thành, Viễn đã dàn xếp ổn thỏa với các bang nhóm người Hoa giúp mang lại an ninh trật tự, ngay cả các chủ sòng bạc và các tay xì-thẩu người Tàu sừng sỏ nhất cũng không dám bàn cãi dây dưa với đại diện của 3 nghìn tay anh chị quen chém giết được võ trang tận răng.
Chợ Lớn còn là khu vực kinh tế trọng yếu của thủ đô Sài Gòn và cả miền Nam Việt Nam, kết nối với Nam Kỳ Lục tỉnh cũng như vựa lúa của toàn cõi Việt Nam lẫn Đông Nam Á, và vì Bảy Viễn từng theo Việt Minh vào bưng kháng chiến, hiểu rõ lối đánh và tư duy giao tranh của Việt Minh, với sự hiểu biết ấy và mong muốn tiêu diệt quân Nguyễn Bình ở Sài Gòn đã giúp Viễn tiêu diệt quân Cộng sản trong một thời gian rất ngắn. Thật vậy, Lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn đã chứng tỏ thực lực của mình khi hoạt động tích cực hiệu quả trong việc phá vỡ và quét sạch các cơ sở hạ tầng, kinh tài và nằm vùng của Việt Minh ra khỏi Sài Gòn-Chợ Lớn. Cả người Pháp lẫn Bảo Đại đều rất tin tưởng giao cho Bình Xuyên toàn quyền kiểm soát Sài Gòn-Chợ Lớn cùng Vũng Tàu và căn cứ địa cũ là Rừng Sác để chống lại Cộng Sản Việt Minh, nên Viễn vừa cai quản để giữ an ninh trật tự vừa trông chừng không để Việt Minh thâm nhập quấy phá hòng kiếm tiền hưởng lợi nhằm phát triển lực lượng. Bảy Viễn chính thức trở thành ông chủ Chợ Lớn. Vì vậy, trong khoảng thời gian này, ít có người Cộng sản nào dám đến hoạt động trong nội thành Sài Gòn-Chợ Lớn.
Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn.
Năm 1951, Lực lượng Bình Xuyên giải tỏa thành công con lộ 15 Sài Gòn-Vũng Tàu. Ngày 22 tháng 4 năm 1952, Quốc trưởng Bảo Đại phong Bảy Viễn lên cấp Thiếu tướng (Major-général) Quân đội Quốc gia và bổ nhiệm vào chức vụ Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn kiêm nhiệm vụ trông coi ngành Cảnh sát-Công an, nên sau đó Bảy Viễn giao chức Giám đốc Nha Cảnh sát Đô thành cho thuộc cấp Lại Văn Sang (Tư Sang).
Trong khoảng thời gian vàng son khi nắm trong tay quyền lực to lớn, vừa là tướng quân đội, vừa nắm toàn quyền ngành an ninh nhưng đồng thời cũng thao túng nhiều hoạt động kinh doanh cùng thế giới ngầm tội phạm, Bảy Viễn trở thành một trong những ông trùm mafia giàu có và quyền lực nhất Đông Dương, thậm chí toàn cõi Đông Nam Á. Bảy Viễn xứng danh là "Bố già" của Việt Nam không thua gì các "Bố già" trùm mafia nổi danh của Ý và Mỹ. Trong giới giang hồ miền Nam trước năm 1975 thì Bảy Viễn là người thành công nhất về quyền lực, sự giàu sang cũng như đạt đến đỉnh cao danh vọng.
Đảo chính thất bại.
Ngày 4 tháng 10 năm 1954, Bảy Viễn cùng tướng Nguyễn Văn Hinh và tướng Nguyễn Văn Xuân vào Dinh Độc Lập để hội đàm cùng tân Thủ tướng Ngô Đình Diệm, nhưng rồi từ chối lời mời của vị Thủ tướng về việc sáp nhập Lực lượng Bình Xuyên vào Quân đội Quốc gia. Ngoài việc cả 3 vị tướng lĩnh chỉ yêu cầu được giữ một số bộ ít ỏi đại diện cho những đoàn thể của mình, thì Bảy Viễn cùng tướng Hinh và tướng Xuân còn yêu cầu được tham chính và đưa ra yêu sách cải tổ toàn diện cùng lập Nội các mới, nên sau đó Diệm cương quyết từ chối không cho Bảy Viễn tham gia chính phủ, vì theo ý của Bảo Đại, ông cựu Hoàng đế này muốn Viễn nhậm chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bảo Đại thậm chí còn muốn đưa Bảy Viễn lên làm Thủ tướng trong trường hợp loại bỏ Ngô Đình Diệm khi mâu thuẫn giữa Diệm và ông cựu Hoàng lên đến đỉnh điểm.
Bình Xuyên và các giáo phái khác như Cao Đài, Hòa Hảo muốn giữ nguyên lực lượng riêng của mình với lý do quân đội họ có lối đánh riêng, nếu sáp nhập vào Quân đội Quốc gia, e là sẽ mất đi hiệu năng chiến đấu. Nhưng vì Diệm không nhượng bộ, nên cả Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo và một số lực lượng khác đã cùng họp bàn ra quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia vào ngày 4 tháng 3 năm 1955 với chủ tịch là Hộ pháp Phạm Công Tắc và phó chủ tịch là Bảy Viễn nhằm chống đối chính phủ mà Thủ tướng Diệm điều hành thay Quốc trưởng Bảo Đại đang công du ở Pháp. Ngoài ra, Thủ tướng Diệm vốn là người Công giáo trọng tiết hạnh muốn dẹp bỏ các tệ nạn xã hội cũng như cắt đứt các nguồn thu nhập khổng lồ của Bảy Viễn nên đã ra lệnh đóng cửa Đại Thế Giới, Kim Chung cùng các sòng bạc khác do Bình Xuyên điều hành và giải tán khu mại dâm Bình Khang khiến Bảy Viễn tức điên người và tình hình ngày càng gay cấn.
Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia gửi tối hậu thư buộc chính phủ phải có danh sách Nội các mới trước ngày 26 tháng 3 năm 1955, nhưng vì Nội các Ngô Đình Diệm không chịu nhượng bộ nên ngày 28 tháng 3 quân Bình Xuyên đã mở cuộc tấn công Bộ Tổng tham mưu rồi pháo kích vào Dinh Độc Lập, sang tháng 4 thì tấn công thành Cộng Hòa. Ban đầu quân đội Bình Xuyên giành được không ít lợi thế, nhưng sau đó bị các đơn vị Nhảy dù Quân đội Quốc gia do Trung tá Đỗ Cao Trí chỉ huy sau năm ngày đã nhanh chóng áp đảo và đánh bật ra khỏi Sài Gòn-Chợ Lớn. Quân đội Quốc gia phản công, đáng kể nhất là lực lượng người Nùng thiện chiến của Ngô Đình Diệm đã đánh sang tận Tổng hành dinh của Bình Xuyên ở khu vực cầu Chữ Y khiến lực lượng Bình Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài Gòn-Chợ Lớn và rút về mật khu Rừng Sác, hai bên sau đó vẫn giằng co suốt nhiều tháng trời. Thủ tướng Diệm quyết định đặt Bảy Viễn và các thuộc cấp là Lại Văn Sang và Lại Hữu Tài ra ngoài vòng pháp luật. Ngày 21 tháng 5, Bảy Viễn và các thuộc cấp bị truy tố trước Tòa án Quân sự về các tội danh phá hoại và phản quốc. Ngày 21 tháng 9, Thủ tướng Diệm tổ chức Chiến dịch Hoàng Diệu (1955) do Đại tá Dương Văn Minh chỉ huy để truy kích tàn quân Bình Xuyên đang cố thủ tại mật khu Rừng Sác. Bảy Viễn may mắn được Pháp giúp giải thoát và đưa sang Pháp bằng phi cơ.
Lưu vong và qua đời.
Bảy Viễn đến Thủ đô Paris trong âm thầm như một du khách, kể từ đây ông bắt đầu cuộc sống lưu vong. Sau đó không lâu, nhờ thông qua Phòng nhì Pháp mà cả gia đình của Bảy Viễn cũng đưọc đưa qua Pháp đoàn tụ với ông. Việc người Pháp giải cứu và bảo vệ Bảy Viễn cùng gia đình của ông đã được ém nhẹm để giữ mối quan hệ hữu hảo giữa chính phủ Pháp và chính phủ Việt Nam Cộng hòa non trẻ mới được thành lập, ông Ngô Đình Diệm hiểu được điều này nên cũng không đòi hỏi hay đề nghị gì thêm với người Pháp, miễn là Bảy Viễn không được trở về Việt Nam. Dù vậy, ngày 13 tháng 1 năm 1956, Bảy Viễn và các thuộc cấp (Đã lưu vong) bị Tòa án Quân sự tuyên án tử hình khiếm diện về tội danh phá hoại và phản quốc, tước binh quyền và tịch thu tài sản.
Sau khi lưu vong ở Pháp, dù sống nơi xứ người, Bảy Viễn vẫn luôn dõi theo tình hình chiến sự ở Việt Nam. Theo các tài liệu và thư từ còn lưu giữ được bảo tồn ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia hiện nay, thì sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ, từ năm 1964 đến năm 1970, Bảy Viễn liên tục gửi nhiều bức thư cho chính quyền mới ở Nam Việt Nam, phần lớn mang nội dung rằng Viễn xin được cùng gia đình hồi hương, trở về Việt Nam để sinh sống như những công dân bình thường, và cam đoan không can hệ đến chuyện quốc sự, nhưng nếu chính quyền có thiện ý mời ông làm cố vấn tiếp tục đối kháng với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc, thì dù có tuổi cao sức yếu, Viễn vẫn vui lòng góp sức. Tuy nhiên, những bức thư với lời lẽ trang trọng này lại không được đón nhận, và Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa thậm chí còn xếp xó vào kho lưu trữ tư liệu dưới dạng văn bản mật. Ngoài thư từ, có hẳn một công văn của Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa đề cập đến vấn đề lo ngại việc ông Lê Văn Viễn giữa các năm 1965 và 1968 đã thực hiện những chuyến du lịch đến các quốc gia láng giềng lân cận như Thái Lan và Campuchia, nhưng thực chất là đến tham dự các cuộc họp của các nhóm chính trị lưu vong ở hải ngoại.
Bảy Viễn có năm người vợ cùng nhiều con cái, tất cả vợ con đều được ông đón sang Pháp (Trừ Thiếu tá Lê Paul - con trai trưởng của Bảy Viễn - bị bắt năm 1955 và bị tử hình tại Sài Gòn năm 1956). Các con của Bảy Viễn đều đỗ đạt thành tài và có địa vị khá trong xã hội Pháp. Con cháu-hậu duệ Bảy Viễn vẫn ở Pháp. Những năm tháng sống lưu vong, tuy được chính phủ Pháp bảo vệ và bảo trợ, nhưng Bảy Viễn nhờ có khối tài sản khổng lồ trong các ngân hàng được tích trữ từ thời còn là "Bố già" ở Việt Nam mà ông có thể sống thoải mái cùng gia đình trong một ngôi biệt thự ở ngoại ô Paris. Năm 1972, Bảy Viễn từ trần tại Paris, Pháp, hưởng thọ 68 tuổi.
Năm 1972, tin cựu Thiếu tướng Lê Văn Viễn qua đời được đăng báo ở cả Pháp, Mỹ và Nam Việt Nam. Ngay sau đó, Hồ Hữu Tường - chính trị gia, nhà văn và nhà báo từng ủng hộ và hợp tác với Lực lượng Bình Xuyên - nhận lời "Tòa soạn Bách Khoa" viết bài báo ngắn về Bảy Viễn với nhan đề "Nhân việc Lê Văn Viễn từ trần - Một vài nhận xét về Cựu Thủ lãnh Bình Xuyên" cho "Đặc san Bách Khoa" mà trong đó ông Tường khiêm nhường khen ngợi cá tính Viễn. Hồ Hữu Tường viết rằng Bảy Viễn là người nghĩa hiệp, anh hùng trọng anh hùng nên dù mâu thuẫn gay gắt với tướng Nguyễn Bình đến mức tuyệt giao nhưng Viễn vẫn không thù oán gì cá nhân tướng Bình, và vào năm 1951, khi nghe tin Nguyễn Bình bị quân Pháp phục kích giết chết, Bảy Viễn không tỏ vẻ vui mừng gì mà chỉ ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Là tay giang hồ tánh tình cương trực thẳng thắn nên vào những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám, lực lượng của Bảy Viễn từ một nhóm nhỏ vô danh dần được biết đến và mở rộng quy mô, chiêu mộ được rất nhiều thanh niên ái quốc mà trong đó phần lớn là giới du đãng vốn là thành phần luôn bị xã hội kỳ thị xa lánh. Ưu điểm là vậy nhưng Hồ nhân sĩ cũng cho rằng vì chỉ có những ưu điểm trên nên đó đồng thời cũng là khuyết điểm dẫn đến thất bại của Bảy Viễn.
Bảy Viễn thích nuôi một số loài thú dữ. Ở trong Tổng hành dinh sát cầu chữ Y, Bảy Viễn nuôi một con Hổ cái nhốt trong chuồng sắt và nuôi Báo xích trên cũi gỗ, những khi nhàn rỗi thì ông có thể vuốt râu Hùm xoa đầu Beo. Ngoài ra Viễn còn nuôi Cá Sấu thả ở trong ao ngoài sân vườn cùng nuôi rất nhiều loài chim và thú quý hiếm khác. Có một giai thoại do ông Hồ Hữu Tường thuật lại rằng Bảy Viễn quý loài Hổ đến mức trong một lần đi săn, đang lúc rình mồi thì một con Hổ từ đâu nhảy ra chồm lên vồ trúng các ngón chân của Viễn tạo nên vết thương khá sâu. Bảy Viễn tuy ngồi xổm và bị tấn công bất ngờ nhưng vẫn không lung lay hay trượt ngã, và với khẩu súng săn trong tay, nếu bắn một phát thì Hổ sẽ chết ngay, nhưng vì thương tình mà Viễn chỉ quát lớn một tiếng để Hổ hoảng sợ bỏ chạy.
Từng tồn tại tin đồn rằng Bảy Viễn còn rất nhiều kho báu như tiền và vàng ở miền Nam Việt Nam, nên sau khi đánh bại quân Bình Xuyên năm 1955, chính phủ Ngô Đình Diệm dưới sự điều hành của cố vấn Ngô Đình Nhu đã truy tìm tịch thu, nhiều khả năng điều này đã dẫn đến cái chết của Thiếu tá Lê Paul - con trai trưởng 27 tuổi của Bảy Viễn. Theo tác phẩm "Bảy Viễn - Thủ lĩnh Bình Xuyên" của nhà văn Nguyên Hùng cũng như một bài báo mạng, thì trong cuộc chiến cuối năm 1955, Bảy Viễn cùng các thuộc cấp thân tín như Lại Hữu Tài, Lại Văn Sang, Tư Hiển cùng con là Lê Paul đã mạo hiểm thoát ra khỏi Rừng Sác, tới con lộ 15, mượn xe chạy thoát ra Vũng Tàu, nơi có đông quân Pháp trú đóng để chờ tàu chở về nước, tuy nhiên Lê Paul đã không thể chạy thoát theo cha được và bị bắt khi đang loay hoay tìm đường thoát thân. Để chuộc lại con trai, Bảy Viễn cố gắng thương lượng với Ngô Đình Nhu về việc bàn giao tiền bạc gửi trong các ngân hàng nhưng bất thành nên Lê Paul bị giam giữ đến tháng 4 năm 1956 thị bị tử hình. Phần lớn dư luận ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 cho rằng kho tàng Bảy Viễn sau năm 1955 đã bị các tướng lĩnh và sĩ quan cấp cao của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tẩu tán một phần, phần còn lại giao cho chính quyền Nam Việt Nam, nhưng sau này nhờ vào các bài báo và bài viết của một vài ký giả và luật sư nên cũng có dư luận cho rằng tất cả số kho báu ấy đã được quân đội Việt Nam Cộng hòa tường trình và bàn giao minh bạch cho chính phủ, sang năm 1956 thì Tổng thống Ngô Đình Diệm quyết định sử dụng số kho báu ấy (Bao gồm vàng và tiền mặt) để xây dựng và thành lập Cô nhi viện Quốc gia.
Bảy Viễn là người mê cổ nhạc và mến mộ tiếng hát của cô Năm Cần Thơ, nên khi Viễn được phong chức Khu bộ phó Chiến khu 7 và mở tiệc liên hoan, đã cho nhạc sĩ Hai Dậu - trưởng Ban văn nghệ Chi đội 9 - về Sài Gòn mời danh ca cổ nhạc cô Năm Cần Thơ vào chiến khu Rừng Sác tham gia văn nghệ góp vui. Đến khi về thành và làm chủ khu Chợ Lớn, Bảy Viễn đã cho cô Năm Cần Thơ mở quán rượu ca cổ nhạc tên "Quán Họa Mi" trong khuôn viên hý trường Đại Thế Giới.
Theo một nguồn khả tín, cố nghệ sĩ cải lương Út Bạch Lan lúc nhỏ từng là con nuôi Bảy Viễn. Cố nghệ sĩ cải lương Ba Xây (Người gốc Hoa) cũng từng là thông dịch viên tiếng Hoa cho Bảy Viễn (Có thể Bảy Viễn chỉ biết tiếng Triều Châu và chút ít tiếng Quảng Đông, nên cần có thông dịch viên kề cận khi giao hảo với các đại phú gốc Quảng Đông hay người từ Hồng Kông mới đến)
|
Siêu lạm phát là tình trạng lạm phát cao, có tác động phá hoại nền kinh tế nghiêm trọng. Thông thường, tốc độ tăng giá chung ở mức 3 chữ số hàng năm thì gọi là siêu lạm phát. Khi có siêu lạm phát, tiền mất giá nghiêm trọng, và lượng cầu về tiền tệ giảm đi đáng kể.
Không có định nghĩa thống nhất về siêu lạm phát. Có người cho rằng mức lạm phát trên 1.000% là siêu lạm phát, trên 100% đến dưới 1.000% là lạm phát phi mã, từ 10% đến dưới 100% là lạm phát cao.
Năm 1956, Phillip Cagan viết quyển sách "Tiền tệ và cơ năng của siêu lạm phát", là nghiên cứu chính thức đầu tiên về siêu lạm phát và ảnh hưởng của nó (dù quyển "Kinh tế học về lạm phát" của C. Bresciani-Turroni đã được xuất bản năm 1931 tại Ý, nói về thời kì siêu lạm phát tại Cộng hòa Weimar những năm đầu thập niên 1920). Trong cuốn sách của mình, Cagan định nghĩa rằng siêu lạm phát xảy ra khi tỷ lệ lạm phát hàng tháng lên 50% hoặc hơn, và kết thúc khi xuống dưới 50% (với điều kiện là nó phải duy trì trong vòng ít nhất một năm).
Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế đã ban hành nguyên tắc giữ sổ sách trong một môi trường siêu lạm phát. Họ không thiết lập một quy tắc tuyệt đối nào về thời điểm phát sinh siêu lạm phát. Thay vào đó, các yếu tố sau đây sẽ cho thấy sự tồn tại của siêu lạm phát.
Hiện có nhiều giả thuyết về nguyên nhân dẫn đến siêu lạm phát. Nhưng gần như tất cả các siêu lạm phát đã được gây ra bởi thâm hụt ngân sách chính phủ, nên buộc chính phủ phải in thêm rất nhiều tiền. Sau khi phân tích 29 siêu lạm phát (theo định nghĩa của Cagan) thì Bernholz đã kết luận rằng ít nhất 25 trong số đó đã xảy ra theo cách này. Bên cạnh đó, một điều kiện cần thiết cho siêu lạm phát là sự tồn tại của các loại tiền tệ không chuyển đổi cố định vào vàng và bạc. Giả thuyết này được đề xuất bởi có một thực tế là có một số trường hợp ngoại lệ về siêu lạm phát, chẳng hạn như siêu lạm phát của Pháp những năm 1789-1796, sau khi tiền "assignat", một loại tiền giấy không chuyển đổi, được giới thiệu.
Siêu lạm phát làm giảm sức mua của các tổ chức tiết kiệm tư nhân và công cộng; bóp méo nền kinh tế thiên về việc tích trữ tài sản thực tế; làm cơ sở tiền tệ tháo chạy khỏi đất nước, cho dù nội tệ hay ngoại tệ có mạnh đến đâu.
Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của siêu lạm phát là sự gia tăng thay thế tiền lạm phát bằng cách ổn định làm ổn định tiền vàng và bạc trong thời gian trước đây, sau đó làm ổn định ngoại tệ một cách tương đối (sau sự sụp đổ của tiêu chuẩn vàng bạc, theo định luật Gresham). Nếu lạm phát đủ cao, các quy định của chính phủ như hình phạt nặng, tiền phạt, thường kết hợp với kiểm soát ngoại hối sẽ không thể ngăn chặn việc thay thế tiền lạm phát. Kết quả là, đồng tiền lạm phát sẽ bị định giá thấp hơn so với tiền nước ngoài ổn định, trong điều kiện sức mua tương đương. Vì vậy, người nước ngoài có thể sống và mua sản phẩm ở mức giá rẻ ở các nước bị lạm phát cao. Nó có thể dẫn đến việc chính phủ của các nước - vốn thất bại trong việc cải cách tiền tệ trong một thời gian - phải hợp pháp hóa các ngoại tệ mạnh (trước đây là vàng và bạc), và chúng có thể thay thế hoàn toàn tiền lạm phát. Nếu không hợp pháp hóa ngoại tệ mạnh, thì doanh thu thuế của chính phủ, bao gồm thuế lạm phát, sẽ tiếp cận xuống đến mức 0. Quá trình này có thể thấy được ở Zimbabwe vào cuối thập niên 2000. Khi đó, đồng đôla của nước này, do bị mất giá nghiêm trọng, nên đã được thay thế bằng đồng đôla Mỹ và rand Nam Phi.
Siêu lạm phát thường kết thúc bằng các biện pháp quyết liệt, chẳng hạn như việc áp đặt các biện pháp cắt giảm chi tiêu chính phủ hoặc làm thay đổi cơ sở tiền tệ. Một trong số các biện pháp đó là đô la hóa, tức là sử dụng đồng ngoại tệ (không nhất thiết phải thay thế bằng đô la Mỹ) như là một đơn vị quốc gia của tiền tệ. Một ví dụ là đô la hóa ở Ecuador, bắt đầu từ tháng 9 năm 2000 để đối phó cho sự mất giá nghiêm trọng của đồng sucre. (Đồng sucre khi đó đã mất giá 75% từ đầu năm 2000.) Tuy nhiên, đô la hóa vẫn thường xuyên xảy ra ở các nước, bất chấp các nỗ lực của chính phủ để ngăn chặn nó bởi kiểm soát ngoại hối, tiền phạt nặng hay hình phạt. Chính phủ đã cố gắng để thiết kế một cuộc cải cách tiền tệ nhằm làm ổn định giá trị của tiền tệ. Nếu không thành công với những cải cách này thì tiền lạm phát sẽ bị thay thế bởi ngoại tệ mạnh. Vì vậy, cũng không quá ngạc nhiên khi đã có ít nhất 7 trường hợp trong lịch sử mà trong đó, ngoại tệ mạnh ở nước ngoài đã chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng tiền lạm phát. Cuối cùng, chính phủ đã phải hợp pháp hóa các đồng tiền cũ cho trường hợp doanh thu của nó sẽ giảm xuống còn 0.
Siêu lạm phát đã để lại những hậu quả đau thương cho những người bị ảnh hưởng, và các chế độ chính trị tiếp theo luôn ban hành chính sách để ngăn chặn sự tái phát của nó. Điều này có nghĩa là làm cho các ngân hàng trung ương cảm thấy tích cực về việc duy trì sự ổn định của giá cả như trường hợp của ngân hàng Bundesbank tại Đức, hoặc di chuyển đến một số cơ sở phức tạp của đồng tiền như một hội đồng tiền tệ. Nhiều chính phủ cũng đã ban hành mức lương và kiểm soát giá cả cực kỳ gay gắt trong sự trỗi dậy của siêu lạm phát, nhưng điều này vẫn không ngăn chặn lạm phát tiếp tục cung ứng tiền tệ của ngân hàng trung ương, và luôn dẫn đến thiếu hụt hàng tiêu dùng nếu các chính sách được thực thi một cách cứng nhắc.
Hậu quả đối với tiền tệ.
Tại các nước từng trải qua siêu lạm phát, các ngân hàng trung ương thường in tiền có mệnh giá lớn hơn và lớn hơn thế nữa, khiến các tờ tiền mệnh giá nhỏ trở nên vô giá trị. Điều này sẽ dẫn đến sự xuất hiện của các tờ tiền có mệnh giá 1 tỷ đơn vị tiền tệ hoặc hơn.
Một cách để giúp người dân khỏi bị ám ảnh bởi những con số 0 là tuyên bố một đơn vị tiền tệ mới. (Ví dụ, thay vì in tờ tiền 10 tỷ đôla, một ngân hàng trung ương sẽ cho đổi tiền theo tỉ lệ 1 tỉ đôla cũ đổi 1 đôla mới. Như vậy, các tờ tiền mới sẽ được ghi là 10 đôla mới.) Một ví dụ thực tế là ở Thổ Nhĩ Kỳ, khi nước này cho đổi tiền lira của mình theo tỉ lệ 1.000.000 lira cũ (TRL) đổi 1 lira mới (TRY) từ ngày 1 tháng 1 năm 2005. Trong khi điều này không làm giảm giá trị thực tế của tiền tệ, nó còn được định nghĩa là "định giá lại đồng tiền" và cũng thỉnh thoảng xảy ra ở các nước có lạm phát thấp hơn. Khi xảy ra siêu lạm phát, lạm phát tiền tệ quá nhanh làm chứa đựng những con số quá lớn trên các hóa đơn trước khi tiền tệ được định giá lại.
Một số tờ tiền được đóng dấu để chỉ ra những thay đổi liên quan đến mệnh giá, vì nó thường mất rất nhiều thời gian để in những tờ tiền mới. Bởi vì, trong thời gian các tờ tiền mới được in, các tờ tiền cũ sẽ trở nên lỗi thời.
Đồng tiền kim loại thường là nạn nhân của siêu lạm phát, do kinh phí để đúc tiền vượt quá giá trị lưu thông của nó. Một số lượng lớn tiền đúc đã bị nấu chảy, thường là bất hợp pháp, sau đó đi xuất khẩu cho các ngoại tệ mạnh.
Các chính phủ thường sẽ cố gắng che đậy tỉ lệ thực sự của lạm phát thông qua một loạt các kĩ thuật khác nhau. Không có hành động nào trong số đó là nhằm giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của lạm phát; và nếu bị phát hiện, nó sẽ có xu hướng làm suy yếu niềm tin của người dân vào đồng tiền, dẫn đến tăng lạm phát. Kiểm soát giá cả nói chung sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hàng hóa và nhu cầu rất cao đối với các mặt hàng bị kiểm soát, gây ra sự gián đoạn của các chuỗi cung ứng. Sản phẩm phục vụ cho người tiêu dùng có thể bị giảm hoặc biến mất khi các doanh nghiệp không còn thấy nó đạt hiệu quả kinh tế để tiếp tục sản xuất và (hoặc) phân phối hàng hóa đó theo giá hợp pháp, làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu cung.
Ngoài ra còn có vấn đề với hệ thống tiền xử lý bằng máy tính. Tại Zimbabwe, trong siêu lạm phát của đồng đô la nước này, nhiều máy rút tiền tự động và máy thanh toán thẻ phải vật lộn với các lỗi tràn số học khi khách hàng yêu cầu hàng tỷ và hàng nghìn tỷ đô la trong cùng một thời gian.
Một số ví dụ thực tế.
Năm 1922, lạm phát ở Áo chạm mức 1.426%. Trong 9 năm, từ năm 1914 đến tháng 1 năm 1923, chỉ số giá tiêu dùng tăng 11.836 lần; tờ tiền có mệnh giá cao nhất lúc bấy giờ là 500.000 krone Áo.
Quan sát các phản ứng của Áo trước siêu lạm phát, vốn được thúc đẩy bởi sự ích kỉ và thiếu khả năng chính trị, bao gồm việc tích trữ thực phẩm và đầu cơ ngoại tệ, Owen S. Phillpotts, Bộ trưởng thương mại Đại sứ quán Anh tại Viên (thủ đô của Áo) đã viết: "Áo cũng giống như những người đàn ông trên một con tàu không thể điều khiển nó, và liên tục phát tín hiệu cầu cứu. Trong khi chờ đợi, hầu hết trong số họ bắt đầu cắt bè, mảng ra khỏi mặt sàn. Con tàu vẫn chưa chìm bất chấp sự rò rỉ, và những người - vốn đã có nhiều gỗ bằng cách này - có thể sử dụng chúng để nấu đồ ăn, trong khi các thủy thủ cảm thấy lạnh và đói rét. Người dân ở Áo rất thiếu sự can đảm, nghị lực và lòng yêu nước".
Là nước đầu tiên sử dụng tiền định danh, Trung Quốc đã từng 2 lần trải qua giai đoạn siêu lạm phát. Tiền giấy ở đây đã xuất hiện lần đầu tiên dưới thời nhà Đường và được đón nhận rất tích cực. Chúng giữ nguyên được giá trị khi triều đại tiếp theo (nhà Tống) kiểm soát chặt chẽ việc phát hành tiền giấy. Sự tiện lợi của chúng trong các mục đích thương mại đã dẫn đến nhu cầu mạnh mẽ đối với tiền giấy. Khi khung phép trên lượng cung bị phá vỡ, thì siêu lạm phát đã xảy ra.
Nhà Nguyên đã in một lượng lớn tiền định danh để tài trợ cho các cuộc chiến tranh của họ, dẫn đến siêu lạm phát.
Trong thế kỉ 20, Trung Quốc lại tiếp tục trải qua siêu lạm phát, cụ thể là vào những năm 1948 - 1949, khi Trung Quốc đang có nội chiến. Năm 1947, tờ 50.000 yuan là tờ tiền có mệnh giá cao nhất. Đến giữa năm 1948, mệnh giá này là 180 triệu yuan. Trong năm 1948, chính phủ đã thay thế tiền cũ bằng đồng "yuan vàng", theo tỉ lệ 3 triệu yuan cũ đổi 1 yuan vàng. Thế nhưng, trong chưa đầy một năm, mệnh giá cao nhất đã là 10 triệu yuan vàng. Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh, đồng "yuan bạc" đã được giới thiệu với tỉ lệ 500 triệu yuan vàng đổi 1 yuan bạc. Trong giai đoạn siêu lạm phát, tờ tiền có mệnh giá cao nhất là 6 tỷ yuan do Ngân hàng tỉnh Tân Cương phát hành. Sau khi đồng Renminbi (RMB hay nhân dân tệ) được thiết lập bởi chính phủ cộng sản mới, siêu lạm phát chấm dứt; năm 1955 RMB được định giá lại theo tỉ lệ 10.000 RMB cũ đổi 1 RMB mới.
Siêu lạm phát ở Trung Quốc được chia làm 2 giai đoạn:
Đức (Cộng hòa Weimar).
Đến tháng 11 năm 1922, giá trị của tiền vàng trong lưu thông tại Đức (Cộng hòa Weimar) đã giảm từ 300 triệu bảng (trước Thế chiến 1) xuống còn 20 triệu bảng. Ngân hàng Reichbank đã phản ứng điều này bằng cách in ấn tiền mác không kiểm soát, từ đó đẩy nhanh sự mất giá của đồng mác. Lord D'Abernon đã từng viết: "Trong lịch sử, chưa có một con chó nào có thể chạy theo cái đuôi của con chó Reichbank với tốc độ của nó." Nhưng đỉnh điểm của lạm phát ở Đức là vào năm 1923. Năm 1922, mệnh giá cao nhất là 50.000 mác. Đến năm 1923, mệnh giá này là 100 nghìn tỷ mác (=1014). Thời điểm tháng 12 năm 1923, tỷ giá hối đoái là 4,2 nghìn tỷ mác (=4,2 × 1012) đổi 1 đôla Mỹ. Trong năm 1923, tỷ lệ lạm phát tăng 3.25 × 106% mỗi tháng (giá cả nhân đôi sau mỗi 2 ngày). Từ 20 tháng 11 năm 1923, đồng mác được thay thế bởi đồng Rentenmark (RM, hay mác mới) theo tỷ lệ 1 nghìn tỷ mác cũ đổi 1 mác mới. Như vậy, tỷ giá mới sẽ là 4.2 RM đổi 1 USD, giống như tỷ giá của đồng mác cũ năm 1914.
Tương tự như ở Trung Quốc, siêu lạm phát ở Đức cũng được chia làm 2 giai đoạn:
Sau khi bị Đức chiếm đóng vào tháng 4 năm 1941, đã có sự gia tăng đột ngột về giá cả ở Hy Lạp. Điều này xảy ra là do yếu tố tâm lý liên quan đến tình trạng thiếu cung và tích trữ hàng hóa. Trong thời gian bị Đức và Ý chiếm đóng, sản xuất công nghiệp của Hy Lạp (nông nghiệp, khoáng sả) đã được sử dụng để duy trì lực lượng chiếm đóng và luôn đảm bảo sự tiếp tế cho lực lượng Afrika Korps (Quân đoàn châu Phi của Đức).
Khi giá trị xuất khẩu bằng đồng drachma giảm, nhu cầu tiền tệ mới đã tác động đến tỷ giá của nó. Giá các mặt hàng tăng vọt do tình trạng thiếu cung (do phong tỏa hải quân và tích trữ hàng hóa). Các khoản nợ đầu tư cũng đã được xử lý bằng đồng drachma (đảm bảo) của Ngân hàng Hy Lạp (tiền giấy được in ấn riêng để trả nợ). Khi giá tăng, Đức và Ý đòi Ngân hàng Hy Lạp phải bán drachma cho họ để bù đắp cho sự tăng giá này. Vì vậy, nền kinh tế Hy Lạp đình trệ, khiến người dân mất lòng tin vào tiền tệ. Tỉ lệ lạm phát từ tháng 11 năm 1943 đến tháng 11 năm 1944 là 2,5 × 1010%, số tiền lưu thông trên toàn quốc là 6,28 × 1018 drachma và một đồng vàng trị giá khoảng 43 nghìn tỷ drachma.
Năm 1946, nước Anh đề xuất kế hoạch bình ổn cho Hy Lạp, bao gồm việc tăng doanh thu từ bán hàng cứu trợ, điều chỉnh một số thuế suất đặc biệt, cải thiện phương pháp thu thuế và thành lập một Ủy ban tiền tệ để chịu trách nhiệm các vấn đề về tài chính. Đến đầu năm 1947, giá cả được bình ổn, niềm tin của người dân được phục hồi và thu nhập được nâng cao. Khi đó, Hy Lạp chính thức thoát khỏi siêu lạm phát.
Hiệp ước Trianon và bất ổn chính trị những năm 1919 - 1924 đã dẫn đến lạm phát phi mã ở Hungary. Năm 1921, trong một nỗ lực để ngăn chặn lạm phát, quốc hội Hungary đã thông qua cuộc cải cách Hegedüs, trong đó đánh thuế 20% đối với tiền gửi ngân hàng. Hành động này đã làm kết tủa mọi ngờ vực của các ngân hàng công cộng, nhất là những người làm nông nghiệp, dẫn đến hệ quả là làm giảm lượng tiền trong lưu thông. Cuối cùng, chính phủ Hungary phải in tiền không kiểm soát, dẫn đến lạm phát chạm mốc 98% mỗi tháng.
Khi Thế chiến II bùng nổ, nền kinh tế của Hungary đang rất yếu kém, nước này còn mạnh tay áp dụng những chính sách bao cấp cho khu vực kinh tế tư nhân, gây ra tình trạng thâm hụt ngân sách nghiêm trọng. Để đáp ứng nhu cầu của ngân sách, tình trạng in tiền diễn ra ồ ạt.
Năm 1944, mệnh giá cao nhất ở nước này là 1.000 pengő. Đến cuối 1945, mệnh giá này là 10 triệu pengő. Tờ tiền có mệnh giá cao nhất là 100 tỷ tỷ (1020) pengő được in vào khoảng giữa năm 1946. Tình hình trầm trọng đến nỗi chính phủ Hungary phải sử dụng một đơn vị tiền tệ đặc biệt (adópengő) được thiết kế cho trả thuế và bưu chính. Loại tiền này được điều chỉnh hằng ngày qua đài phát thanh. Ngày 1 tháng 1 năm 1946, một adópengő có giá trị tương đương một pengő. Đến cuối tháng 7, một adópengő đổi được 2 nghìn tỷ tỷ (hoặc 2 × 1021) pengő. Đồng pengő đã bị thay thế sau đó trong một lần tái định giá tiền (400 tỷ tỷ tỷ pengő đổi 1 forint), khi đó tổng giá trị của tất cả các tờ tiền Hungary đang được lưu thông ở nước này có giá trị chỉ bằng 1/1.000 đôla Mỹ. Đỉnh điểm của lạm phát tại Hungary là khi nó chạm mức 1.3 × 1016% (giá sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 15 giờ).
Triều Tiên đã từng trải qua thời kì siêu lạm phát từ tháng 12 năm 2009 đến giữa tháng 1 năm 2011. Căn cứ vào giá gạo, siêu lạm phát ở Triều Tiên đã đạt đỉnh vào giữa tháng 1 năm 2010, nhưng theo tỷ giá trên thị trường chợ đen và các tính toán trên cơ sở sức mua tương đương, tháng cao điểm của lạm phát ở nước này là vào đầu tháng 3 năm 2010. Tuy nhiên, số liệu này là không chính thức và do đó phải được xử lý với một mức độ cẩn trọng.
Khi chiếm đóng Philippines vào thời điểm Thế chiến II đang diễn ra, chính phủ Nhật Bản đã ban hành và cho lưu thông tiền định danh. Chính phủ của Cộng hòa Philippines do Nhật tài trợ — do Jose P. Laurel đứng đầu — ban hành chính sách cấm sở hữu các loại tiền tệ khác, nhất là "tiền du kích". Loại tiền định danh này còn được gọi là "peso Mickey Mouse" vì nó tương tự như chơi bằng tiền bạc. Những người sống sót trong chiến tranh thường kể lại câu chuyện họ phải mang vali hoặc túi bayong (túi truyền thống của Philippines, làm bằng dừa hay dải lá buri dệt) tràn ra các hóa đơn do Nhật phát hành.
Trong thời gian đầu, 75 peso có thể mua được 1 quả trứng vịt. Năm 1944, một hộp diêm được bán với giá 100 peso. Năm 1942, mệnh giá lớn nhất được cho phép là 10 peso. Sau đó, vì lạm phát, chính phủ Nhật Bản đã in các tờ tiền mệnh giá 100, 500 và 1.000 peso.
Đế quốc Anh - Malaya.
Malaya và Singapore đã bị Nhật Bản chiếm đóng và thống trị từ năm 1942 đến năm 1945. Người Nhật phát hành một loại tiền đặc biệt, gọi là "tiền chuối" (xuất hiện tứ một mô típ của cây chuối trong tờ giấy bạc 10 đôla) như là một tiền tệ chính thức để thay thế tiền đôla eo biển do người Anh đưa vào lưu hành. Trong thời gian đó, các chi phí thiết yếu tăng mạnh. Khi chiếm đóng thành công, các nhà chức trách Nhật Bản đã in thêm tiền để tài trợ cho các hoạt động chiến tranh của họ, dẫn đến siêu lạm phát và sự mất giá tiền tệ.
Giá trị của 100 đôla eo biển ở thuộc địa của Nhật Bản
Siêu lạm phát ở Liên Xô kéo dài khoảng 7 năm, bùng nổ từ những ngày đầu của cuộc cách mạng Bolshevik trong tháng 11 năm 1917, diễn ra trong suốt thời kỳ chiến tranh sau đó. Thời kì siêu lạm phát của Liên Xô đã được đánh dấu bằng 3 lần đổi tiền mà trong đó đồng rúp mới thay thế rúp cũ theo tỷ lệ 10.000 đổi 1 (1 tháng 1 năm 1922), 100 đổi 1 (1 tháng 1 năm 1923) và 50.000 đổi 1 (ngày 7 tháng 3 năm 1924). Giữa năm 1921 và năm 1922, lạm phát ở Liên Xô là 213%.
Để khống chế lạm phát, chính phủ tái lập các tiêu chuẩn vàng với sự ra đời của tiền "chervonets" như là một phần của chính sách kinh tế mới. Cuộc khủng hoảng lạm phát kết thúc vào tháng 3 năm 1924 với sự ra đời của "đồng rúp vàng" như là một tiền tệ tiêu chuẩn của quốc gia
Nam Tư cũng đã từng 2 lần rơi vào cảnh siêu lạm phát những năm 1989 - 1994. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của Nam Tư là cuộc xung đột ở Bosnia. Chính phủ Nam Tư do Slobodan Milošević đứng đầu đã hậu thuẫn các lực lượng ly khai dân tộc Serbia, khiến Liên hiệp quốc phải ra lệnh trừng phạt kinh tế. Lệnh trừng phạt của LHQ đã khiến nền kinh tế nước này suy yếu, với tỷ lệ lạm phát hàng tháng tăng lên 1.000.000% vào tháng 12 năm 1993 (giá tăng gấp đôi sau mỗi 2,3 ngày).
Mệnh giá cao nhất vào năm 1988 là 50.000 dinar. Năm 1989 mệnh giá này là 2 triệu dinar. Trong cuộc đổi tiền năm 1990, 10 ngàn dinar cũ (thế hệ 1) sẽ đổi được 1 dinar mới (thế hệ 2). Năm 1992, Nam Tư tiếp tục cho đổi tiền: 10 dinar cũ (thế hệ 2) đổi 1 dinar mới (thế hệ 3). Tờ tiền có mệnh giá cao nhất ở nước này (năm 1992) là 50.000 dinar (thế hệ 3). Năm 1993 mệnh giá này là 10 tỷ dinar. Sau đó, Nam Tư cho đổi tiền lần thứ 3 theo tỉ lệ 1.000.000 dinar cũ (thế hệ 3) đổi 1 dinar mới (thế hệ 4). Nhưng trước khi năm 1993 kết thúc, chính phủ phải in những tờ tiền có mệnh giá 500 tỷ dinar. Năm 1994, Nam Tư cho đổi tiền lần thứ 4 theo tỉ lệ 1 tỷ dinar cũ (thế hệ 4) đổi 1 dinar mới (thế hệ 5). Một tháng sau, nước này cho đổi tiền lần cuối cùng theo tỉ lệ 13 triệu dinar (thế hệ 5) đổi 1 novi dinar (dinar thế hệ 6). (Thời điểm đổi tiền, 1 novi dinar có giá trị tương đương 1 đồng mác của Đức.) Như vậy, 1 dinar thế hệ 6 tương đương với khoảng 1.3 × 1027 dinar thế hệ 1.
Lạm phát ở Nam Tư chạm mức 5 × 1015% (lạm phát tích lũy) trong thời gian từ 1 tháng 10 năm 1993 đến 24 tháng 1 năm 1994. Siêu lạm phát ở Nam Tư được chia làm 2 giai đoạn:
Siêu lạm phát ở Zimbabwe là một trong số ít các trường hợp dẫn đến việc từ bỏ đồng nội tệ. Thời điểm Zimbabwe giành được độc lập vào năm 1980, một đồng đô la Zimbabwe (ZWD, thế hệ 1) đổi được khoảng 1,25 đôla Mỹ. Tuy nhiên, lạm phát tràn lan và sự sụp đổ của kinh tế Zimbabwe đã làm giảm giá trị đồng tiền. Lạm phát đã ổn định trước khi Tổng thống Robert Mugabe thi hành chính sách cải cách ruộng đất vào năm 2000: Nông dân da trắng bị tịch thu toàn bộ đất đai và phân phối lại cho nông dân da màu. Chính điều này đã dẫn đến sản xuất thực phẩm bị phá vỡ, doanh thu từ xuất khẩu thực phẩm giảm mạnh và giảm nguồn vốn từ nước ngoài vào. Kết quả là chính phủ của ông Mugabe và Ngân hàng Dự trữ Gideon Gono phải in rất nhiều tờ tiền có mệnh giá cao hơn.
Siêu lạm phát đã bắt đầu từ sớm trong thế kỉ 21, đạt 624% vào năm 2004. Nó đã giảm xuống còn 3 chữ số nhỏ trước khi tăng trở lại lên 1.730% vào năm 2006. Ngày 1 tháng 8 năm 2006, Ngân hàng Dự trữ Zimbabwe cho đổi tiền theo tỷ lệ 1.000 ZWD đổi 1 đôla thế hệ 2 (ZWN), nhưng lạm phát năm tính đến tháng 6 năm 2007 đã lên đến 11.000% (so với dự báo 9.000%) trước đó. Trong năm 2008, Ngân hàng Dự trữ Zimbabwe đã dần dần phát hành những tờ tiền có mệnh giá lớn hơn:
Lạm phát ở Zimbabwe vào thời điểm 16 tháng 7 đã tăng lên 2,2 triệu % và một số nhà phân tích cho rằng lạm phát đã vượt qua mức 9 triệu %. Thời điểm ngày 22 tháng 7 năm 2008, 688 tỷ ZWN mới đổi được 1 đôla Mỹ, hoặc 688 nghìn tỷ ZWD.
Ngày 1 tháng 8 năm 2008, đồng đôla Zimbawe được định giá lại theo tỷ lệ 1010 ZWN đổi 1 đôla thế hệ 3 (ZWR). Ngày 19 tháng 8, con số lạm phát chính thức được công bố: lạm phát vào tháng 6 là 11.250.000%. Thời điểm tháng 7 năm 2008, lạm phát năm của Zimbabwe là 231.000.000% (giá sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 17,3 ngày). Đến tháng 10 năm 2008, Zimbabwe bắt đầu sa lầy vào vũng bùn mang tên "siêu lạm phát" với mức lương không thể đuổi kịp trước sự tăng tốc của lạm phát.
Trong nền kinh tế này, hoạt động của nhiều bệnh viện và trường học bị gián đoạn vì nhiều bác sĩ, y tá và giáo viên không có khả năng trả tiền vé xe buýt để làm việc. Thủ đô của Zimbabwe, Harare, gần như không có nước sinh hoạt. Trong lúc đang cần ngoại tệ để duy trì hoạt động của chính phủ, thống đốc ngân hàng trung ương Zimbabwe, Gideon Gono đã cho người mang các vali chứa đôla Zimbabwe chạy trên đường phố để tìm kiếm chỗ mua bán đôla Mỹ và rand Nam Phi.
Từ sau tháng 7 năm 2008 trở đi, chưa có báo cáo chính thức nào về lạm phát của Zimbabwe được đưa ra. Giáo sư Steve H. Hanke, để giải quyết vấn đề, đã tính toán tỉ lệ lạm phát ở nước này trong giai đoạn sau tháng 7 năm 2008 và xưất bản các Chỉ số Siêu lạm phát của Hanke cho Zimbabwe. Các tính toán của Hanke (gọi tắt là HHIZ) đã chỉ ra rằng lạm phát năm đã đạt đỉnh ở mức 89.7 nghìn tỷ tỷ % (89.700.000.000.000.000.000.000%) vào giữa tháng 11 năm 2008. Tỉ lệ lạm phát tháng cao điểm là 79,6 tỷ %, tương đương với tỉ lệ lạm phát ngày 98% và tỉ lệ hằng năm là khoảng 7 × 10108 %. Với tỉ lệ này, giá cả sẽ nhân đôi sau mỗi 24,7 giờ. (Lưu ý rằng phần lớn các con số tính toán ở trên chỉ được xét chủ yếu trên lý thuyết, khi siêu lạm phát đã không duy trì ở tốc độ đó trong cả năm.)
Vào thời cao điểm tháng 11 năm 2008, tỷ lệ lạm phát ở Zimbabwe đã tiếp cận (nhưng không phá được) kỷ lục thế giới ở Hungary năm 1946. (Tháng 7 năm đó, tỷ lệ lạm phát ở Hungary là 4,19 tỷ tỷ phần trăm.) Ngày 2 tháng 2 năm 2009, đồng đôla đã được định giá lại lần thứ tư với tỷ lệ 1012 đôla thế hệ 3 (ZWR) đổi 1 đôla thế hệ 4 (ZWL), chỉ 3 tuần sau khi tờ tiền 100 nghìn tỷ đôla được đưa vào lưu thông (ngày 16 tháng 1), nhưng siêu lạm phát đã suy yếu dần vì tỉ lệ lạm phát chính thức bằng đôla Mỹ được công bố và các giao dịch nước ngoài được hợp pháp hóa, và đến ngày 12 tháng 4, đôla Zimbabwe chính thức bị loại bỏ khỏi lưu thông.
Siêu lạm phát ở Venezuela là siêu lạm phát mới nhất xảy ra trên thế giới. Là một trong những nước có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới, 90% thu nhập tài chính của Venezuela đều dựa vào xuất khẩu dầu. Chính quyền của tổng thống Maduro cho rằng, các thế lực ngoại bang do Mỹ cầm đầu đã cấu kết với các phe nổi loạn trong nước để phát động “chiến tranh kinh tế”. Trong khi đó, những người phản đối thì cho rằng ông Maduro thi hành chính sách bất cập, khiến vật giá leo thang, thực phẩm và thuốc men ngày càng thiếu hụt.
Tháng 1/2018, đồng nội tệ (bolivar) của nước này bị mất giá trị lên đến 98% so với cùng kỳ năm 2017. Thời đó, lương tháng tối thiểu của nước này là dưới 4 đôla Mỹ. Theo IMF (Quỹ Tiền tệ Thế giới), tỉ lệ lạm phát tại nước này có thể lên đến hơn 1.000.000% (giá sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 2,3 ngày). Lạm phát ở nước này cao đến mức người dân phải tới các chợ đen ở ngoại ô thủ đô Caracas để mua các nhu yếu phẩm khó tìm như xà phòng, dầu gội đầu, bột ngô hay gạo. Kinh tế sa sút cùng với tình trạng thiếu thốn lương thực khiến cân nặng trung bình của người dân Venezuela giảm xuống trung bình 11 kg trong năm 2017. Thời điểm đó, 90% dân số nước này sống trong nghèo khổ. Ngoài ra, vì lạm phát quá cao nên người dân thường cân tiền thay vì đếm tiền như trước.
Cuối tháng 8 năm 2018, theo các thị trường chợ đen tại Venezuela, 6,6 triệu bolivar có thể đổi được 1 đô la Mỹ.
Sau đó, những biện pháp giải quyết cuộc khủng hoảng được Tổng thống Nicolas Maduro công bố ngày 17/8/2018 và có hiệu lực vào ngày 20/8.
Các nỗ lực cải cách kinh tế bao gồm tăng lương tối thiểu lên 60 lần, giảm giá trị đồng tiền xuống 95%, xóa 5 số 0 trên đồng nội tệ bolivar, phát hành tờ tiền mới có tên Bolivar Soberano.
Một số ví dụ về lạm phát cao.
Một số quốc gia từng có tỷ lệ lạm phát cao, nhưng tốc độ chưa đạt đến định nghĩa về siêu lạm phát của Gregory N. Mankiw: tỷ lệ lạm phát mỗi tháng trên 50% thì được gọi là siêu lạm phát.
Giữa năm 1987 và 1995, đồng dinar của Iraq đã mất giá nghìn lần, từ tỷ giá chính thức 0,306 dinar đổi 1 đôla Mỹ (hoặc 3,26 đôla Mỹ đổi 1 dinar, mặc dù tỷ lệ trên chợ đen được cho là thấp hơn đáng kể) xuống còn 3.000 dinar đổi 1 đôla Mỹ do chính phủ in ấn tiền mặt quá mức. Nó tương đương với một tỷ lệ lạm phát trung bình năm lên tới 306% trong giai đoạn này.
Mặc dù giá dầu đã có giai đoạn tăng "nóng" vào cuối những năm 1970 (México chuyên sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ), Mexico vẫn vỡ nợ (nợ nước ngoài) vào năm 1982. Hậu quả là dòng vốn liên tục tháo chạy khỏi Mexico và nước này phải gánh chịu siêu lạm phát cùng sự mất giá của đồng peso. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, Mexico đã ra mắt đồng tiền mới, đồng nuevo peso ("peso mới" hay MXN), bỏ đi 3 chữ số 0 trong tờ tiền peso cũ, một tỷ lệ lạm phát lên tới 100.000% trong nhiều năm diễn ra khủng hoảng. (Tỷ lệ đổi tiền là 1.000 peso cũ đổi 1 peso mới.)
Ai Cập (thuộc La Mã).
Tại Ai Cập (lúc bấy giờ đang chịu sự thống trị của Đế chế La Mã), nơi mà một số tài liệu và giá cả vẫn còn được lưu giữ lại cho đến ngày nay, giá của 1 kg lúa mì là 200 drachmae vào năm 276, và tăng lên đến hơn 2.000.000 drachmae vào năm 334, một tỷ lệ lạm phát lên đến 1.000.000% trong thời gian 58 năm.
Mặc dù giá cả tăng hơn 10.000 lần trong thời gian trên, nhưng do thời gian kéo dài tới 58 năm, nên tỉ lệ lạm phát bình quân hằng năm chỉ có 17,2% mỗi năm.
Romania đã từng có giai đoạn lạm phát phi mã vào cuối những năm 1990. Mệnh giá cao nhất ở nước này vào năm 1990 là 100 lei và năm 1998 là 100.000 lei. Năm 2000 mệnh giá này là nửa triệu lei. Năm 2005 con số này là 1 triệu lei. Lạm phát ở Romania năm 2005 là 9%. Vào tháng 7 năm 2005 đồng lei cũ đã bị thay thế bởi đồng leu mới theo tỉ lệ 10.000 lei cũ đổi 1 leu mới. Tháng 7 năm 2005 mệnh giá cao nhất ở Romania là 500 leu (= 5.000.000 lei cũ).
Thời kỳ 1954 - 1975, ở miền Nam Việt Nam từng diễn ra một số đợt lạm phát rất cao do cung tiền tăng quá nhanh (Mỹ đổ tiền viện trợ quá nhiều cho chính phủ Sài Gòn). Từ cuối năm 1973 đến cuối năm 1974, khủng hoảng kinh tế do Mỹ cắt giảm viện trợ đã khiến lạm phát trong riêng năm này ở miền Nam Việt Nam đã đạt tới trên 200%.
Cuối năm 1985, sai lầm về tổng điều chỉnh giá - lương - tiền đã khiến Việt Nam rơi vào tình trạng lạm phát phi mã. Siêu lạm phát xuất hiện liên tục từ năm 1985 đến 1988, với tỉ lệ lạm phát từ 300% đến 800% mỗi năm. Năm 1986, tỷ lệ lạm phát lên đến 774,7% khiến kinh tế rối loạn. Siêu lạm phát vẫn tiếp diễn trong 2 năm sau đó (năm 1987: 323,1%; năm 1988: 393%). Đến năm 1989, lạm phát mới xuống dưới 100% và Việt Nam mới thoát khỏi lạm phát.
Các kiểu lạm phát.
Tỷ lệ lạm phát thường được đo bằng tỷ lệ phần trăm mỗi năm. Nó cũng có thể được đo bằng tỷ lệ phần trăm mỗi tháng hoặc thời gian để giá cả tăng gấp đôi.
Các công thức trong việc tính lạm phát:
Thông thường, khi tiền tệ được định giá lại, 3 chữ số 0 sẽ bị cắt khỏi tờ tiền. Trong bảng trên, nếu lạm phát hàng năm là 100%, phải mất 3,32 năm để một chữ số 0 được thêm vào giá, hoặc 3 × 3,32 = 9,96 năm để trong giá bán có thêm 3 chữ số 0. Trong trường hợp này, ta có thể đoán trước được rằng sẽ có một cuộc tái định giá tiền trong vòng 10 năm sau khi tiền tệ được giới thiệu.
Theo các công thức toán, trong trường hợp của Việt Nam năm 1986 (ở trên):
|
Trong toán học, hàm Weierstrass là một ví dụ về hàm liên tục nhưng không đâu khả vi. Hàm này do Weierstrass đưa ra.
Hàm này được định nghĩa như sau:
trong đó formula_2 là số nguyên lẻ và
Thật ra Hardy G. H. đã chỉ ra rằng hàm đó không đâu khả vi chỉ với giải thiết rằng formula_4 (G.H. Hardy, Weierstrass's nondifferentiable function, Trans -Amer, Math. Soc, 12(1916), 301-325).
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Đua xe đạp tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2005
Bộ môn Đua xe đạp tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2005 được thi đấu từ ngày 28 tháng 11 đến ngày 05 tháng 12 năm 2005. Các vận động viên sẽ tranh 12 bộ huy chương ở 8 nội dung dành cho nam và 4 nội dung dành cho nữ. Môn đua xe đạp được chia thành bộ môn thi đấu tương đối khác biệt
Nội dung xe đạp vòng chảo trong nhà.
Nội dung tính điểm.
|
Chi Đoạn (danh pháp khoa học: Tilia) là một chi của khoảng 30 loài cây thân gỗ, có nguồn gốc chủ yếu tại khu vực ôn đới của Bắc bán cầu, chủ yếu tại châu Á (tại đây có sự đa dạng nhất về loài), châu Âu và miền đông Bắc Mỹ; nhưng không thấy có mặt tại miền tây Bắc Mỹ. Trong hệ thống phân loại Cronquist, chi này được đặt trong họ Đoạn (Tiliaceae), nhưng nghiên cứu gen của nhóm APG đã cho thấy họ này cần hợp nhất với họ Cẩm quỳ ("Malvaceae") và hiện nay chi này được xếp trong phân họ Đoạn ("Tilioideae") của họ Cẩm quỳ nghĩa rộng.
Các loài cây trong chi này nói chung được gọi là đoạn hay gia.
Các loài "Tilia" là các loài cây thân gỗ lớn, lá sớm rụng, cao tới 20-40m, với các lá hình tim xiên, rộng 6–20 cm, và chủ yếu sinh trưởng trong vùng ôn đới. Số lượng chính xác loài hiện không chắc chắn, do nhiều loài rất dễ dàng bị lai ghép, cả trong tự nhiên lẫn được trồng bởi con người. Danh sách dưới đây là các loài được công nhận nhiều nhất
Các loài cây đoạn sản sinh ra các hoa có hương thơm, chứa nhiều mật và là một loại thuốc trong y học. Nó cũng là loài cây quan trọng để nuôi ong nhằm thu mật ong, với mật ong có màu nhạt nhưng nhiều hương vị. Hoa của nó cũng được sử dụng trong một số dạng trà thuốc. "T. cordata" là loài được ưa chuộng cho các mục đích y học, do có nồng độ cao của các hoạt chất. Nó được coi là có tác dụng tốt đối với hệ thần kinh, được dùng trong y học để điều trị mất ngủ, động kinh và đau đầu. Thông thường, các loài đoạn hoa kép được sử dụng trong sản xuất nước hoa. Các chồi và lá non có thể ăn được. Các loài đoạn bị ấu trùng của một số loài nhậy thuộc bộ Lepidoptera phá hoại - xem "Danh sách côn trùng cánh vảy phá các loài đoạn".
Gỗ của các loài đoạn khá mềm và dễ gia công. Người ta cũng kinh doanh gỗ đoạn, cụ thể là tại khu vực Bắc Mỹ với tên gọi "basswood". Tên gọi này có nguồn gốc từ phần lõi gỗ dạng sợi bên trong thân cây, được biết đến như là "bast" (libe) (tiếng Anh cổ). Sợi gỗ thu được từ thân gỗ non của cây. Gỗ của chúng được dùng để làm mô hình cho các công trình xây dựng hay các bản khắc gỗ phức tạp cũng như làm các phần của đàn ghita.
Cây đoạn là biểu trưng quốc gia của Slovakia, Slovenia và Cộng hòa Séc, tại đó nó được gọi là "lipa" (trong tiếng Slovak và tiếng Slovenia) và "lípa" (trong tiếng Séc). Cây đoạn cũng là loài cây huyền thoại của người Slav. Trong thế giới Chính thống giáo Slav, gỗ đoạn là loại gỗ ưa thích được dùng để làm các tượng thánh. Các tượng thánh đáng chú ý được làm thủ công của Andrei Rublev, như Chúa ba ngôi (Lòng hiếu khách của Abraham) và Đấng Cứu thế, hiện nay đang đặt trong viện bảo tàng Tretyakov tại Moskva được tạo ra từ gỗ đoạn. Gỗ đoạn được chọn là do khả năng được đánh bóng rất tốt cũng như khả năng chịu cong vênh của nó.
|
"Xin xem các mục từ khác có cùng tên ở Lan (định hướng).hihi"
Mạng máy tính cục bộ, hay mạng cục bộ (), là một hệ thống mạng dùng để kết nối các máy tính trong một phạm vi nhỏ (nhà ở, phòng làm việc, trường học, ). Các máy tính trong mạng LAN có thể chia sẻ tài nguyên với nhau, mà điển hình là chia sẻ tập tin, máy in, máy quét và một số thiết bị khác.
Một mạng LAN tối thiểu cần có máy chủ ("server"), các thiết bị ghép nối ("Repeater", "Hub", "Switch", "Bridge"), máy tính con ("client"), card mạng ("Network Interface Card – NIC") và dây cáp ("cable") để kết nối các máy tính lại với nhau. Trong thời đại của hệ điều hành MS-DOS, máy chủ mạng LAN thường sử dụng phần mềm Novell NetWare, tuy nhiên điều này đã trở nên lỗi thời hơn sau khi Windows NT và Windows for Workgroups xuất hiện. Ngày nay hầu hết máy chủ sử dụng hệ điều hành Windows, và tốc độ mạng LAN có thể lên đến 10 Mbps, 100 Mbps hay thậm chí là 1 Gbps.
Một hình thức khác của LAN là WAN (Wide Area Network), có nghĩa là mạng diện rộng, dùng để nối các LAN lại với nhau (thông qua router).
Một hình thức khác nữa của mạng LAN, mới xuất hiện trong những năm gần đây là WLAN (Wireless LAN) – mạng LAN không dây.
Vào thời gian trước khi những máy tính cá nhân xuất hiện, một máy tính trung tâm chiếm trọn 1 căn phòng, người dùng truy nhập những thiết bị đầu cuối máy thông qua cáp truyền dữ liệu tốc độ thấp. Những Mạng SNA của IBM (cấu trúc mạng hệ thống) được tập trung vào những thiết bị đầu cuối liên kết hay những máy tính lớn khác tại những chỗ từ xa qua những đường dây cáp thuê bao. Từ đây nó là những mạng được kết nối trên diện rộng.
Những mạng cục bộ LAN (Local Area Network) đầu tiên đã được tạo ra vào cuối những năm 1970 và thường tạo ra những mối liên kết cao tốc giữa vài máy tính trung tâm lớn tại một chỗ. Nhiều hệ thống cạnh tranh được tạo ra vào thời gian này là Ethernet và ARCNET được biết đến nhiều nhất.
Sự phát triển vượt bậc của CP/M – Và sau đó những máy tính cá nhân chạy trên nền DOS có nghĩa rằng có hàng trăm máy tính đã có thể hoạt động đơn lẻ và độc lập với máy tính trung tâm. Sự hấp dẫn ban đầu của mạng máy tính là việc có thể chia sẻ ổ đĩa và những máy in laser, hai thứ cũng rất đắt đỏ lúc đó. Có nhiều người hào hứng với khái niệm mới và trong vài năm, từ khoảng 1983 về phía trước, những học giả công nghiệp tin học đều đặn khai báo năm tới sẽ là năm của mạng LAN.
Trên thực tế, nhận định đó bị lung lay mạnh bởi sự tăng nhanh của các loại lớp vật lý khác nhau và những thủ tục thi hành mạng không tương thích, và sự bối rối về việc làm thế nào để chia sẻ tài nguyên tốt nhất. Điển hình, mỗi nhà cung cấp có một kiểu card mạng riêng của họ, dây cáp, giao thức kết nối, hệ điều hành mạng riêng của họ. Và một giải pháp quan trọng xuất hiện với cái tên NetWare Novell, giải pháp của họ hỗ trợ 40 kiểu card mạng khác nhau, và một hệ điều hành phức tạp hơn so với hầu hết các đối thủ của nó. Phần mềm mạng thống trị các máy tính cá nhân được nối với nhau (LAN) của các doanh nghiệp từ những năm đầu 1983 – khi nó được giới thiệu – cho đến giữa những năm 1990 khi Microsoft giới thiệu hệ điều hành mạng tân tiến Windows NT advanced server và Windows cho nhóm làm việc (Windows for working group).
Những đối thủ của phần mềm mạng, chỉ có Banyan Vines có những kỹ thuậy mạnh để cạnh tranh nhưng Banyan chẳng bao giờ có một vị thế an toàn. Microsoft và 3Com làm việc cùng nhau tạo ra một hệ điều hành mạng đơn giản, tiền thân 3+Share của 3Com và LAN Manager của Microsoft" cũng như LAN Server của IBM. Không một ai trong số trên đặc biệt thành công.
Trong cùng thời gian với máy tính trạm lớn frame, những trạm làm việc UNIX từ những nhà cung cấp như Sun Microsystems, Hewlett-Packard, Silicon Graphics, Intergraph, NeXT và Apollo sử dụng giao thức TCP/IP. Dù phân đoạn đoạn thị trường cho trạm làm việc chạy trên UNIX đã và đang sụt giảm nhưng những công nghệ được phát triển bởi họ tiếp tục có ảnh hưởng trên Internet và trong cả hai Hệ điều hành Linux Mac OS X của Apple và giao thức TCP/IP gần như hoàn toàn thay thế IPX, AppleTalk, NetBEUI và những giao thức khác được dùng trong buổi đầu mạng LAN được sinh ra.
Bài này còn sơ khai.
Mô tả kỹ thuật.
Mặc dầu ngày nay mạng Ethernet chuyển đổi là giao thức thông dụng nhất dùng trong tầng liên kết dữ liệu và IP là giao thức thông dụng nhất trong tầng Network, rất nhiều sự lựa chọn khác nhau đã và đang được sử dụng, và một vài trong số đó trở nên phổ biến trong những lĩnh vực thích hợp. Mạng LAN nhỏ hơn gồm có một hoặc vài liên kết chuyển mạch tới những mạng khác – thường với một liên kết tới một bộ định tuyến, modem cáp, hay DSL modem cho truy nhập Internet.
Những mạng LAN lớn hơn được mô tả bởi người dùng với những đường dẫn dư thừa và chuyển đổi sử dụng giao thức giải thuật cây để ngăn chặn vòng lặp, khả năng của chúng để điều khiển các loại giao thông khác nhau thông qua chất lượng dịch vụ (QoS), và cô lập giao thông qua VLANs. Mạng LAN lớn hơn cũng bao gồm nhiều và đa dạng các thiết bị như bộ chuyển đổi, tường lửa, bộ định tuyến, bộ cân bằng tải, cảm biến và hơn thế nữa.
LAN có thể có liên kết với những mạng cục bộ khác thông qua đường thuê bao, dịch vụ thuê bao, hoặc bằng "đường hầm" thông qua mạng Internet sử dụng công nghệ VPN. Tùy thuộc vào cách tạo ra và bảo đảm các liên kết, và độ rộng địa lý của mạng, hệ các mạng LAN này có thể trở thành Mạng liên kết chủ (MAN) hoặc Mạng liên kết diện rộng (WAN), hoặc một phần của Mạng toàn cầu.
Các thiết bị cần thiết.
– Là một máy tính có "CPU" tốc độ cao, "RAM" và ổ đĩa lớn, thường liên kết với các thiết bị ngoại vi khác như máy in ("printer", máy quét ("scanner"), …).
Máy trạm đôi khi còn gọi là máy khách (client). Các máy khách kết nối với máy chủ và có thể liên lạc với nhau thông qua máy chủ.
|
Đường thẳng là một khái niệm nguyên thủy không định nghĩa, được sử dụng làm cơ sở để xây dựng các khái niệm toán học khác. Đường thẳng được hiểu là một đối tượng hình học không có chiều rộng (không gian một chiều) có độ cong bằng không tại mọi điểm, tuy nhiên đây không phải là một định nghĩa.
Một đường thẳng được hiểu như là một đường dài (vô hạn), mỏng (vô cùng) và thẳng tuyệt đối. Trong hình học Euclide, có một và chỉ có một đường thẳng đi qua hai điểm bất kỳ khác nhau. Đường thẳng này tạo ra đoạn nối ngắn nhất giữa hai điểm đó.
Hai hay ba điểm nằm trên cùng một đường thẳng được gọi là cộng tuyến. Trong một mặt phẳng, hai đường thẳng khác nhau hoặc là song song tức không bao giờ gặp nhau, hoặc giao nhau tại một và chỉ một điểm. Hai mặt phẳng giao nhau nhiều nhất là một đường thẳng.
Đường thẳng trong mặt phẳng Descartes có thể được mô tả bằng phương trình tuyến tính và hàm tuyến tính.
Khái niệm trực quan về đường thẳng có thể được hình thức hóa bằng nhiều cách. Nếu hình học được phát triển theo phương pháp tiên đề (như trong tác phẩm "Các phần tử" của Euclid hay trong tác phẩm sau này "Cơ sở của hình học" của David Hilbert), thì đường thẳng chẳng được định nghĩa gì cả, mà chỉ được đặc trưng bởi các tính chất của nó trong hệ tiên đề. "Bất kỳ thứ gì thỏa mãn các tiên đề của đường thẳng thì nó chính là đường thẳng.". Trong khi Euclide đã từng định nghĩa đường thẳng là cái gì đấy "có chiều dài mà không có bề dày", thực ra ông chưa bao giờ dùng định nghĩa mơ hồ này ở các chứng minh phía sau trong tác phẩm của mình.
Trong không gian Euclide R"n" (và cũng như trong mọi không gian vector khác), chúng ta định nghĩa đường thẳng L là tập con của không gian đang xét và có dạng
với a và b là hai vector cho trước trong R"n", đồng thời b phải khác 0. Vector b xác định hướng của đường thẳng, và a là một điểm nằm trên đường thẳng. Chọn các vector a và b khác nhau có thể dẫn đến kết quả cùng một đường thẳng.
Trong không gian hai chiều, chẳng hạn trong một mặt phẳng, hai đường thẳng phân biệt hoặc là hai đường thẳng song song hoặc phải cắt nhau tại một điểm. Tuy nhiên, trong không gian nhiều hơn hai chiều, hai đường thẳng có thể không song song nhau mà cũng chẳng cắt nhau, và hai đường thẳng như vậy gọi là hai đường thẳng chéo nhau.
Trong R2, mọi đường thẳng được biểu diễn bởi một phương trình tuyến tính có dạng
với "a", "b" và "c" là các hệ số thực cố định trong đó "a" và "b" không đồng thời bằng 0 (xem phần phương trình tuyến tính để có thêm các dạng khác). Các tính chất quan trọng của đường thẳng trong không gian hai chiều là độ dốc, giao điểm của nó với trục Ox, giao điểm của nó với trục Oy.
Trừu tượng hơn, người ta thường nghĩ về trục số thực như là một nguyên mẫu điển hình cho một đường thẳng, và giả định rằng mỗi điểm trên đường thẳng tương ứng một-một với một số thực nào đó trên trục số thực. Thế nhưng ta hoàn toàn có thể sử dụng cả số siêu thực và kể cả đường thẳng dài trong lý thuyết topo để làm nguyên mẫu cho đường thẳng.
Tính chất "thẳng" của đường thẳng, thường được hiểu là tính chất cho phép đường thẳng cực tiểu hóa khoảng cách giữa hai điểm, mà về sau có thể được tổng quát hóa thành khái niệm đường trắc địa trong đa tạp khả vi.
Phương trình đường thẳng.
Trong hệ tọa độ Descartes vuông góc Oxy, phương trình đường thẳng có dạng formula_3 trong đó a là hệ số góc. Hoặc tổng quát hơn là phương trình formula_4.
Trong hình học Euclid, nếu cho một đường thẳng "l" và hai điểm "A" và "B", một tia, hay nửa-đường thẳng, có gốc "A" và đi qua "B" là tập hợp các điểm "C" trên đường thẳng "l" sao cho "A" và "B" đều thuộc tập hợp này và "A" không nằm giữa "C" và "B". Điều này có nghĩa là, trong hình học, một tia phát xuất từ một điểm rồi đi mãi về một hướng.
Trong quang học, nhất là trong quang hình, đường lan truyền của ánh sáng hoặc các bức xạ điện từ khác, trong môi trường đồng nhất, là một đường thẳng và được gọi là tia sáng hay quang tuyến. Tia này vuông góc với mặt sóng trong lý thuyết quang sóng.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
|
Lê Dung (5 tháng 6 năm 1951 - 29 tháng 1 năm 2001) là một ca sĩ và giảng viên giọng soprano của âm nhạc Việt Nam. Bà đã từng đứng ra tổ chức nhiều đêm nhạc cổ điển, trình diễn nhiều aria, đào tạo hàng các ca sĩ như Tạ Minh Tâm, Ngọc A, bà là nghệ sĩ nhân dân trẻ tuổi nhất lúc được phong tặng danh hiệu này.. Bà cũng được mệnh danh là "Người đàn bà hát", một cụm từ dùng để tôn vinh những nữ nghệ sĩ có sắc đẹp và giọng hát trời phú.
Lê Dung thành công trong nhiều thể loại, từ opera, nhạc tiền chiến, dân ca, nhạc đỏ và cả nhạc trẻ. Những tác phẩm bà thể hiện để lại dấu ấn mạnh mẽ ngay cả khi ca khúc đã được thể hiện rất thành công bởi người hát trước đó.
Lê Dung thể hiện rất thành công bài hát của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Văn Ký, Nguyễn Đình Thi, Trần Hoàn, Hoàng Hiệp, Nguyễn Tài Tuệ, Ngô Thụy Miên, Phú Quang, Hồng Đă
Lê Dung tên thật là Đoàn Lê Dung. Do thời gian chiến tranh loạn lạc nên bà không được biết chính xác ngày sinh và nơi sinh của mình, về sau bà chọn ngày 5 tháng 6 năm 1951 làm ngày sinh và nơi lớn lên là Quảng Ninh làm nơi sinh.
Bà sống cùng bố mẹ trong một căn nhà nhỏ ở phường Cao Xanh của Thị xã Hòn Gai (nay là thành phố Hạ Long).
Nhạc sĩ Đức Huyên lúc đó làm công tác Đoàn ở Quảng Ninh đã xuống lớp học của Lê Dung và phát hiện ra tài năng này. Ông đưa Lê Dung vào Câu lạc bộ Thiếu nhi Hạ Long, đưa đi diễn, thu thanh tại Đài Tiếng nói Việt Nam, đi hát phục vụ các đoàn lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước mỗi khi đến Hạ Long.
Sự nghiệp ca hát chuyên nghiệp của Lê Dung bắt đầu năm 17 tuổi khi bà đầu quân vào Đoàn Văn công Quân khu Tả Ngạn. Năm đó, Lê Dung thi đỗ đại học ngành y nhưng lại bỏ không học, quyết tâm theo con đường ca hát. Bà đi diễn khắp nơi, phục vụ ở thao trường, dưới hầm mỏ, và hát cho các chiến sĩ chiến đấu bảo vệ miền Bắc.
Bắt đầu sự nghiệp ca hát năm 17 tuổi, bà đầu quân vào Đoàn Văn công Quân khu Tả Ngạn. Năm 1976, Lê Dung về Đoàn ca múa Tổng cục chính trị và một năm theo học thanh nhạc tại Trường Âm nhạc Việt Nam từ 1977. Bà đã theo học với nhiều giảng viên có tài năng và kinh nghiệm như nghệ sĩ nhân dân Trung Kiên hay Nhà giáo ưu tú Hồ Mộ La và đã có một thời gian thụ giáo Nghệ sĩ nhân dân Thương Huyền. Năm 1982 tốt nghiệp hạng Thủ khoa và từ đó cái tên Lê Dung bắt đầu được công chúng yêu nhạc biết đến. Năm 1984, Lê Dung được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú.
Sau đó, năm 1986 Lê Dung được trường gửi theo học cao học thanh nhạc tại Nhạc viện Tchaikovsky, Liên Xô. Đến năm 1990 bà về nước và trở thành nghệ sĩ solo của Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Năm 1993, Lê Dung được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân.
Năm 1992 Lê Dung cũng là ca sĩ Việt Nam đầu tiên tự tổ chức một đêm solo âm nhạc tại Nhà hát Lớn Hà Nội với hơn 20 bài hát thuộc các dòng nhạc mang tính hàn lâm, từ những aria trong nhạc kịch nổi tiếng "Cô Sao" của Đỗ Nhuận tới "Thiên Thai" của Văn Cao.
Lê Dung mất ngày 29 tháng 1 năm 2001 tức mùng 6 Tết Tân Tỵ, do tai biến mạch máu não. Khi đó, hãng bảo hiểm Prudential cho rằng hồ sơ bảo hiểm của nghệ sĩ Lê Dung có những điểm kê khai chưa chính xác nên đã từ chối bồi thưởng bảo hiểm. Vụ việc gây tranh cãi.
Bà cũng là giảng viên thỉnh giảng bậc cao học thanh nhạc của các trường Nhạc viện Hà Nội, Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật Quân đội. Trong sự nghiệp giảng dạy, Lê Dung từng đào tạo nhiều học trò thành công như Tạ Minh Tâm, Hà Thủy, Thái Bảo, Việt Hoàn, Phương N
Bà thuộc giọng nữ cao (Soprano). Lê Dung hát bằng phẩm chất nữ tính, bay bổng, mềm mại nhưng khi cần bà có thể đẩy độ mãnh liệt của giọng lên ngang với giọng bán kịch tính.
Lê Dung vẫn nằm trong số ít ca sĩ có trình độ kỹ thuật gần đạt tới ngưỡng hoàn hảo. Sự ra đi của bà đã để lại một sự mất mát lớn đối với nền âm nhạc Việt Nam. Lê Dung có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền opera của Việt Nam. Bà cũng là ca sĩ hàng đầu của dòng nhạc đỏ và nhạc tiền chiến.
Lê Dung từng có một người chồng và có một con trai tên là Nguyễn Anh Tuấn. Năm 1991, Lê Dung kết hôn với Hồng Thanh Quang. Bài hát "Khúc mùa thu" phổ thơ Hồng Thanh Quang, trình bày bởi Lê Dung được xem là bài hát mà nhạc sĩ Phú Quang viết riêng cho cặp đôi tài hoa nhưng nhiều trắc trở này, và hầu như không có nghệ sĩ nào hát bài hát này ngoài chính Lê Dung. Cuộc hôn nhân của họ kéo dài được 6 năm, sau đó 2 người ly dị.
Phóng sự "Lê Dung - Người đàn bà hát" phát sóng trong Chương trình "Hải Phòng thành phố tôi yêu", do xưởng phim truyền hình Đài truyền hình Hải Phòng thực hiện.
|
Máy in mã vạch
Máy in mã vạch là một loại máy in chuyên dụng, thường được kết nối với máy tính, như một thiết bị ngoại vi để in mã vạch. Các máy in này thường được hỗ trợ bằng phần mềm để người dùng lựa chọn kiểu dáng nhãn mã vạch, nội dung kèm theo, độ phân giải, loại và kích thước mã vạch cần in.
Máy in mã vạch theo hai phương pháp: Tác động nhiệt trực tiếp lên giấy cảm nhiệt để tạo ra chữ/hình in, và in chuyển nhiệt gián tiếp - nghĩa là dùng nhiệt làm nóng chảy chất sáp (wax) hoặc nhựa (resin) trên ruy-băng (ribbon) để tạo ra ký tự in.
Việc lựa chọn máy in mã vạch thường phụ thuộc các yêu cầu về công suất in ấn, điều kiện làm việc của máy in, chất lượng mã vạch để phù hợp với mục đích sử dụng.
Máy in mã vạch (barcode printer) còn được gọi là máy in tem nhãn (label printer) là thiết bị ngoại vi được kết nối với máy tính có chức năng in thông tin và mã vạch lên bề mặt tem nhãn (label) theo yêu cầu người dùng.
|
Luật Hồng Đức là tên gọi thông dụng của bộ Quốc triều hình luật hay Lê triều hình luật, là bộ luật chính thức của nhà nước Đại Việt thời Lê sơ hiện còn được lưu giữ đầy đủ. Do các bộ luật của các triều đại phong kiến Việt Nam đều có tên gọi là Quốc triều hình luật nên ở đây dùng tên gọi Luật Hồng Đức làm tên gọi cho bài mặc dù nó không phải là tên gọi chính thức.
Nó có thể coi là bộ luật tổng hợp bao gồm nhiều quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như: Lĩnh vực luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật hôn nhân-gia đình, luật hành chí
Văn bản của bộ luật này là một trong những thư tịch cổ nhất hiện còn được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán-Nôm (Hà Nội). Tại đây có hai bản in ván khắc đều có tên là Quốc triều hình luật. Ngoài ra còn có một bộ sách chép tay tuy có tên gọi là Lê triều hình luật, nhưng nội dung của nó lại là bản sao lại của Quốc triều hình luật (thời Hậu Lê) và chép vào thời gian sau này.
Trong đó bản Quốc triều hình luật mang ký hiệu A.341 là bản in ván khắc hoàn chỉnh hơn cả và được coi là văn bản có giá trị nhất. Bộ luật trong sách này gồm 6 quyển, in ván khắc trên giấy bản, tổng cộng gồm 129 tờ đóng chung thành một cuốn. Sách không ghi tên tác giả, không có dấu hiệu niên đại soạn thảo hay niên đại in ấn và cũng không có lời tựa hoặc các chú dẫn khác. Bìa nguyên bản cuốn sách đã mất, được thay thế bằng một tờ bìa viết 4 chữ Hán là Quốc triều hình luật bằng bút lông. Nội dung của bộ luật này đã được Phan Huy Chú ghi chép lại trong phần "Hình luật chí" của Lịch triều hiến chương loại chí, nhưng thiếu so với cuốn sách này 143 điều trong tổng số 722 điều.
Trong số 722 điều của Quốc triều Hình luật thì 200 điều phỏng theo luật nhà Đường (Đường luật sớ nghị), 17 điều phỏng theo luật nhà Minh. Ngoài ra có 178 điều chung đề tài nhưng Quốc triều Hình luật đưa ra một giải pháp khác các triều đại Trung Hoa. Đáng chú ý nhất là có 328 điều không tương ứng với điều luật nào của Trung Quốc cả.
Từ đầu thế kỷ 20, Quốc triều hình luật đã được khảo dịch sang tiếng Pháp. Đến năm 1956, nó mới được dịch sang quốc ngữ lần đầu tiên (bản dịch của Trường Đại học Luật khoa Sài Gòn do Lương Thần Cao Nãi Quang phiên âm, và dịch nghĩa, Nguyễn Sĩ Giác hiệu đính, Vũ Văn Mẫu viết lời tựa, nhà in Nguyễn Văn Của phát hành, Sài Gòn, 1956). Gần đây, Viện Sử học Việt Nam đã dịch thuật lại cho chuẩn xác hơn. (Nhà xuất bản Pháp lý, Hà Nội - 1991).
Một số học giả Pháp, khi khảo dịch và nghiên cứu cho rằng nó có tên là Lê triều hình luật và nó là Lê triều điều luật được in năm 1777 (Cảnh Hưng thứ 38) mà Phan Huy Chú đã ghi lại trong Lịch triều hiến chương loại chí sau khi họ nghiên cứu thiên "Hình luật chí" trong cuốn sách này của ông cũng như bản chép tay của Quốc triều hình luật. Theo Vũ Văn Mẫu, Quốc triều hình luật được ban bố lần đầu tiên trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) và có lẽ vào thời gian cuối của niên hiệu này. Ý kiến của Vũ Văn Mẫu chủ yếu dựa vào ý kiến của Phan Huy Chú viết về việc ban hành dưới thời Lê, bộ Hồng Đức hình luật và lời đề tựa của vua Gia Long triều Nguyễn cho bộ Hoàng Việt luật lệ, trong đó ông đánh giá rất cao bộ luật cổ này và gọi nó là bộ luật Hồng Đức.
Theo Viện Sử học Việt Nam, Quốc Triều hình luật được khởi thảo từ thời Lê Thái Tổ, sau đó tiếp tục được bổ sung dưới các triều Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông. Tới thời Lê Thánh Tông thì bộ luật được hoàn chỉnh. Các ý kiến này chủ yếu dựa vào "Đại Việt sử ký toàn thư" với ghi chép là năm Thái Hòa thứ 7 (1449), vua Lê Nhân Tông đã bổ sung thêm vào bộ hình luật chương điền sản gồm 14 điều. Ngoài ra, qua các sử sách khác và qua các lần in khắc ván (với những điểm khác nhau về nội dung của các văn bản), các bổ sung và tên gọi các đơn vị hành chính ghi trong bộ luật v.v có thể nhận thấy bộ luật này được soạn thảo, bổ sung, hiệu đính qua nhiều đời vua triều Lê.
Quốc triều hình luật trong cuốn sách A.341 có 13 chương, ghi chép trong 6 quyển (5 quyển có 2 chương/quyển và 1 quyển có 3 chương), gồm 722 điều. Ngoài ra, trước khi đi vào các chương và điều thì Quốc triều hình luật còn có các đồ biểu quy định về các hạng để tang và tang phục, kích thước và các hình cụ (roi, trượng, gông, dây sắt v.v).
Bố trí cụ thể như sau:
Hai chương cuối này đã có một số quy định về tố tụng, nhưng chưa hoàn chỉnh.
Các quy định dân sự.
Trong bộ luật Hồng Đức, các quan hệ dân sự được đề cập tới nhiều nhất là các lĩnh vực như: quan hệ sở hữu, quan hệ hợp đồng và thừa kế ruộng đất.
Sở hữu và hợp đồng.
Bộ luật Hồng Đức đã phản ánh hai chế độ sở hữu ruộng đất trong thời kỳ phong kiến là: sở hữu nhà nước (ruộng công/ công điền/công thổ) và sở hữu tư nhân (ruộng tư/tư điền/tư thổ).
Trong bộ luật Hồng Đức, do đã có chế độ lộc điền-công điền tương đối toàn diện về vấn đề ruộng đất công nên trong bộ luật này quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất chỉ được thể hiện thành các chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm chế độ sử dụng ruộng đất công như: không được bán ruộng đất công (điều 342), không được chiếm ruộng đất công quá hạn mức (điều 343), không được nhận bậy ruộng đất công đã giao cho người khác (điều 344), cấm làm sai quy định phân cấp ruộng đất công (điều 347), không để bỏ hoang ruộng đất công (điều 350), cấm biến ruộng đất công thành tư (điều 353), không được ẩn lậu để trốn thuế (điều 345) v.v
Bên cạnh đó việc bảo hộ quyền sở hữu tư nhân/ hợp đồng về ruộng đất tư cũng được quy định rõ ràng. Chẳng hạn, cấm xâm lấn ruộng đất của người khác (điều 357), cấm tá điền tranh ruộng đất của chủ (điều 356), cấm ức hiếp để mua ruộng đất của người khác (điều 355) v.v
Qua một số quy định trên, có thể thấy bộ luật đã điều chỉnh ba loại hợp đồng về ruộng đất:
Mua bán ruộng đất
Cầm cố ruộng đất
Thuê mướn ruộng đất
Về hình thức, các hợp đồng thường phải lập thành văn tự giữa các bên tham gia hợp đồng với sự chứng thực của quan viên có thẩm quyền.
Trong lĩnh vực thừa kế, quan điểm của các nhà làm luật Đại Việt thời Lê khá gần gũi với các quan điểm hiện đại về thừa kế. Cụ thể: Khi cha mẹ còn sống, không phát sinh các quan hệ về thừa kế nhằm bảo vệ và duy trì sự trường tồn của gia đình, dòng họ. Thứ hai là các quan hệ thừa kế theo di chúc (các điều 354, 388) và thừa kế không di chúc (thừa kế theo luật) với các điều 374-377, 380, 388. Điểm đáng chú ý trong bộ luật Hồng Đức, người con gái có quyền thừa kế ngang bằng với người con trai(trong trường hợp người con trai trưởng mất hoặc chết trước đó - Xem thêm Lịch Triều Hiến Chương Loại chí -Tập 2 - Hình Luật Chí). Đây là một điểm tiến bộ không thể thấy ở các bộ luật phong kiến khác. Thứ ba, bộ luật đã phân định về nguồn gốc tài sản của vợ chồng, gồm có: tài sản riêng của mỗi người và tài sản chung của cả hai vợ chồng. Việc phân định này góp phần xác định việc phân chia thừa kế cho các con khi cha mẹ đã chết hoặc chia tài sản cho bên còn sống nếu một trong hai vợ hoặc chồng chết trước.
Thừa kế chính là điểm nổi bật nhất của luật pháp triều hậu Lê
Trách nhiệm dân sự.
Luật Hồng Đức cũng quy định trách nhiệm dân sự của các bên tham gia quan hệ, với những nội dung khá chặt chẽ, cụ thể.
Bên cạnh các nội qui trên trẻ em cũng cần được chăm sóc kĩ càng và giáo dục đặc biệt với 3 tiêu chí:
Với 3 tiêu chí trên để người dân biết nhà nước rất quan tâm đến trẻ em bởi trẻ em là tương lai của đất nước là rường cột của quê hương.
Các quy định hình sự.
Các nguyên tắc chủ đạo.
Hình luật là nội dung trọng yếu và có tính chất chủ đạo, bao trùm toàn bộ nội dung của bộ luật. Các nguyên tắc hình sự chủ yếu của nó là:
Các nhóm tội cụ thể.
, danh dự và nhân phẩm con người, các tội xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, các tội phạm quân sự, xâm phạm chế độ sở hữu ruộng đất, xâm phạm chế độ hôn nhân-gia đình, các tội tình dục, các tội xâm phạm chế độ tư pháp v.v
Quan niệm về hình phạt trong bộ luật khá chi tiết nhưng cứng nhắc với khung hình phạt thường là cố định, tuy rằng có tính đến các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ (điều 41).
Các hình phạt cụ thể có ngũ hình và các hình phạt khác.
Ngũ hình được quy định tại điều 1 và bao gồm: xuy, trượng, đồ, lưu, tử.
Các hình phạt khác.
Ngoài ngũ hình, luật Hồng Đức còn áp dụng các hình phạt khác như:
Các quy định trong hôn nhân-gia đình.
Các nguyên tắc cơ bản trong lĩnh vực hôn nhân của bộ luật là: hôn nhân không tự do, đa thê và xác lập chế độ gia đình gia trưởng. Nó thể hiện lễ nghĩa Nho giáo, trật tự xã hội-gia đình phong kiến, tuy nhiên vẫn có một số điểm tiến bộ.
Trong lĩnh vực hôn nhân, bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ như kết hôn, chấm dứt hôn nhân (do chết hoặc ly hôn).
Trong quan hệ kết hôn, luật quy định các điều kiện để có thể kết hôn là: có sự đồng ý của cha mẹ (điều 314), không được kết hôn giữa những người trong họ hàng thân thích (điều 319), cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ hay chồng (điều 317), cấm kết hôn khi ông, bà, cha hay mẹ đang bị giam cầm, tù tội (điều 318), cấm anh (em) lấy vợ góa của em (anh), trò lấy vợ góa của thầy (điều 324), với một số quy định khác trong các điều 316, 323, 334, 338, 339. Tuy nhiên,Quốc triều hình luật không quy định tuổi kết hôn, mặc dù trong Thiên Nam dư hạ tập (phần lệ Hồng Đức hôn giá) có viết: "Con trai 18 tuổi, con gái 16 tuổi mới có thể thành hôn", có lẽ là do đã tồn tại một văn bản khác cùng thời quy định về điều này. Luật Hồng Đức cũng quy định về hình thức và thủ tục kết hôn như đính hôn và thành hôn (các điều 314, 315, 322). Lưu ý là Quốc triều hình luật luật cho thấy cuộc hôn nhân có giá trị pháp lý từ sau lễ đính hôn. Ví dụ điều 315 quy định: "Gả con gái đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không gả nữa thì phải phạt 80 trượ". Tuy nhiên, nếu trong thời gian từ lễ đính hôn cho đến khi thành hôn mà một trong hai bên bị ác tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từ hôn.
Chấm dứt hôn nhân.
Luật Quốc triều hình luật quy định các trường hợp chấm dứt hôn nhân là: một trong hai người đã chết hoặc ly hôn.
Về trường hợp chấm dứt hôn nhân do một trong hai người đã chết cần lưu ý là quan hệ hôn nhân chỉ thực sự chấm dứt ngay nếu người chết là vợ, còn nếu là chồng chết thì nó chỉ chấm dứt sau khi mãn tang. Quy định này được đặt ra một cách gián tiếp trong các điều 2 và 320.
Về trường hợp ly hôn có ba nhóm sau:
Quan hệ gia đình.
Trong lĩnh vực quan hệ gia đình, bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ như quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thân thuộc khác (vợ cả-vợ lẽ, anh-chị-em, cha mẹ-con nuôi, vai trò của người tôn trưởng tức trưởng họ).
Trong quan hệ vợ cả-vợ lẽ thì ngoài các quy định về các nghĩa vụ của họ với chồng và nhà chồng thì họ cũng phải tuân thủ trật tự thê thiếp và vợ cả nói chung được ưu tiên hơn. Về quan hệ anh-chị-em thì người anh trưởng có quyền và nghĩa vụ đối với các em, nhất là khi cha mẹ đã chết, đồng thời cũng bảo vệ sự hòa thuận trong gia đình (phạt nặng đánh lộn, kiện cáo nhau). Việc nhận nuôi con nuôi phải được lập thành văn bản và phải đối xử như con đẻ cũng như ngược lại, con nuôi phải có nghĩa vụ như con đẻ đối với cha mẹ nuôi.
Các quy định tố tụng.
Mặc dù không được tách bạch ra thành các chương riêng rẽ, nhưng Quốc triều hình luật đã thể hiện một số khái niệm của luật tố tụng hiện đại như:
Qui phạm pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức.
1. Đa phần các qui phạm pháp luật trong Bộ luật Hồng Đức được xây dựng theo phương thức xuất hiện đầy đủ cả ba bộ phận là giả định, quy định và chế tài trực tiếp.
Ví dụ Điều 585: "Trâu của 2 nhà đánh nhau, con nào chết thì 2 nhà cùng ăn thịt, con nào sống thì 2 nhà cùng cày, trái luật thì sẽ xử phạt 80 trượng.".
Trong đó: Trâu của 2 nhà đánh nhau là bộ phận giả định; con nào chết thì 2 nhà cùng ăn thịt, con nào sống thì 2 nhà cùng cày là bộ phận quy định; trái luật thì sẽ xử phạt 80 trượng là bộ phận chế tài.
Điều 89: "Trước sau ngày hoàng đế lên ngôi một tháng, cấm các nhà ở trong kinh thành cử hành việc tang, người nào phạm phải thì phạt 50 roi, biếm một tư".
Trong đó: Trước sau ngày hoàng đế lên ngôi một tháng là bộ phận giả định; cấm các nhà ở trong kinh thành cử hành việc tang là bộ phận quy định; trái luật thì sẽ xử phạt 50 roi, biếm một tư là bộ phận chế tài.
Với cách mô tả hành vi vi phạm pháp luật và chế tài đối với chủ thể thực hiện hành vi đó rõ ràng như vậy, người dân sẽ biết được hành vi nào nên làm, hành vi nào nên tránh, tạo điều kiện để toàn thể mọi tầng lớp nhân dân hiểu luật. Quan xử án cũng biết được cần phải xử như thế nào.
2. Có nhiều qui phạm trong Bộ luật Hồng Đức mô tả ngắn một tình huống cụ thể. Điều này khiến qui phạm trở nên rõ ràng với người dân.
Ví dụ Điều 393: "Người cha lấy vợ trước sinh được một con trai, phần hương hoả đã giao cho giữ; nhưng người con trai ấy lại chỉ sinh được một người con gái; mà cha có vợ lẽ hay nàng hầu lại sinh được một con trai nhưng lại bị cố tật, người con trai cố tật ấy sinh được cháu trai, thì ruộng đất hương hoả phải giao cho người cháu trai con kẻ cố tật, để tỏ ra rằng dòng họ không thể để tuyệt".
Hoặc Điều 395: "Cha mẹ sinh được hai con trai, người con trai trưởng chỉ sinh con gái, con thứ lại có con trai thì phần hương hỏa giao cho con trai người con thứ; nhưng con trai người con thứ chỉ sinh cháu gái thì phần hương hỏa trước kia lại phải giao trả cho con gái người con trưởng".
Ưu điểm của cách quy định ngắn gọn một tình huống, ngoài việc dễ thuộc, dễ nhớ, dễ vận dụng còn cho thấy từ một vấn đề pháp lý khá phức tạp đã được chuyển hóa thành một tình huống rất đơn giản.
3. Bộ luật Hồng Đức có cách quy định chế tài dưới dạng chế tài cố định. Với mỗi một vi phạm cụ thể thì có một hình phạt cụ thể tương ứng; mức độ tăng nặng hay giảm nhẹ cũng được quy định ngay sau đó một cách cụ thể, rõ ràng.
Ví dụ Điều 466: "Đánh gãy răng, sứt tai mũi, chột 1 mắt, gãy ngón chân, ngón tay, giập xương, hay lấy nước sôi, lửa làm người bị thương và rụng tóc, thì xử tội đồ làm khao đinh. Lấy đồ bẩn thỉu ném vào đầu mặt người ta thì xử biếm 2 tư; đổ vào miệng mũi thì biếm 3 tư. Đánh gãy 2 răng, 2 ngón tay trở lên thì xử tội đồ làm tượng phường binh. Lấy gươm giáo đâm chém người, dẫu không trúng cũng phải lưu đi châu gần (người quyền quý phạm tội thì xử tội biếm). Nếu đâm chém bị thương và làm đứt gân, chột 2 mắt, đoạ thai thì xử tội lưu đi châu xa. Nếu trong khi đương xét hỏi, người bị thương lại bình phục, thì tội nhân được giảm tội 2 bậc. Nếu đánh bị thương 2 người trở lên và nhân bị thương mà thành cố tật, hay đánh đứt lưỡi, huỷ hoại âm, dương vật đều xử tội giảo; và phải đền tiền thương tổn như lệ định. Với chế tài cố định này, nó đã đảm bảo tính chính xác trong việc áp dụng luật của các cơ quan Nhà nước, tránh được sự tuỳ tiện trong việc áp dụng luật".
Việc xây dựng các chế tài cố định trong Bộ luật Hồng Đức ở một chừng mực nhất định rất thuận lợi cho việc áp dụng, và có ưu điểm là tránh được sự tùy tiện trong việc áp dụng.
4. Trong Bộ luật Hồng Đức từ một sự kiện hay vụ việc, nhà làm luật lường tính các vấn đề phát sinh xung quanh vụ việc đó.
Ví dụ Điều 234: "Những quan coi quân đội ở các trấn, lộ hay huyện cùng những quan viên trong các cục các viện, đi lại giao kết với nhau, mưu làm việc phản nghịch, mà quan ty quản giám chẳng lưu tâm xem xét, hay dung túng giấu giếm không tâu lên, thì cùng với người phản nghịch cùng một tội; nếu đã tâu lên mà lại ngầm sai người báo cho kẻ phản nghịch biết thì tội cũng thế. Nếu vì tâu lên không giữ kín đáo để cho kẻ phản nghịch biết thì viên quan tâu được giảm tội 1 bậc. Nếu việc mưu phản nghịch đã lộ, việc hung ác đã rõ, mà quan giám không xét tình thế mà lung bắt và tâu lên, thì bị tội như tội đồng mưu; nếu việc mưu phản chưa lộ thì được giảm nhẹ hai bậc."
Giống như các bộ luật phong kiến khác, luật Hồng Đức thể hiện rõ bản chất giai cấp của nó. Mục tiêu hàng đầu của nó là để bảo vệ vương quyền, địa vị và quyền lợi của giai cấp phong kiến, củng cố trật tự xã hội và gia đình gia trưởng phong kiến. Nó là sự pháp điển hóa tư tưởng chính trị và đạo đức Nho giáo. Tuy vậy, không thể phủ nhận các điểm đặc sắc và tiến bộ của nó.
Luật Hồng Đức tiếp thụ nhiều thành tựu lập pháp của Trung Hoa, chịu ảnh hưởng của cả luật pháp nhà Đường và nhà Minh. Tuy vậy, nó có những điểm không giống với các bộ luật của nhà nước phong kiến Trung Quốc cả về nội dung lẫn bố cục.
Về bố cục, bộ Đường luật có 500 điều chia thành 12 chương (Danh lệ, Vệ cấm, Chức chế, Hộ hôn, Khai khố, Thiện hưng, Đạo tặc, Đấu tụng, Trá ngụy, Tạp luật, Bộ vong, Đoán ngục) trong 30 quyển. Có thể thấy, trong luật Hồng Đức các quy định về các nhóm tội tình dục và các vấn đề ruộng đất được quy định riêng biệt và cụ thể hơn.
Về nội dung, các quy định về hôn nhân-gia đình, điền sản của luật Hồng Đức được chú trọng hơn so với Đường luật (quy định cụ thể về văn tự, chúc thư, chế độ và phương thức chia thừa kế, tài sản của vợ-chồng khi góa bụa v.v). Chính vì thế, sau này các tòa án thời Pháp thuộc hay Tòa thượng thẩm Sài Gòn thời Việt Nam Cộng hòa hay dựa trên các quy định này của luật Hồng Đức để phân xử các vụ kiện tụng liên quan tới tài sản vợ-chồng.
Bộ luật nhà Nguyễn.
So với bộ Hoàng Việt luật lệ (hay luật Gia Long) (năm 1811) ra đời sau hàng thế kỷ, có thể thấy luật Hồng Đức chưa có tính khái quát hóa cao và phân ngành rõ như Hoàng Việt luật lệ. Tuy nhiên, mức bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong luật Hồng Đức lại cao hơn so với Hoàng Việt luật lệ. Như giáo sư Vũ Văn Mẫu đã viết khi nhận xét về Hoàng Việt luật lệ: "bao nhiêu những sự tân kỳ mới lạ trong bộ luật triều Lê đã không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong luật nhà Nguyễn. Không còn những điều khoản liên quan đến hương hỏa, đến chúc thư, đến các điều kiện về giá thú, đến chế độ tài sản của vợ chồng."
Ngoài ra, Luật Hồng Đức còn được đánh giá là nhẹ hơn các triều đại trước và nhẹ hơn luật của nhà Nguyễn sau này, có cả sự phân biệt trừng phạt người phạm tội còn nhỏ tuổi hoặc tàn tật.
Các điểm tiến bộ.
Điểm tiến bộ trong luật Hồng Đức là nó có một tiến khá căn bản trong việc cải thiện địa vị của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Vai trò của người phụ nữ đã được đề cao hơn rất nhiều so với các bộ luật đương thời trong khu vực. Nó cho thấy người vợ có quyền quản lý tài sản của gia đình (khi chồng chết) và họ có quyền thừa kế như nam giới.
Điểm thứ hai, là hình phạt cho phạm nhân nữ bao giờ cũng thấp hơn so với phạm nhân nam. Ví dụ: Điều 1 quy định trượng hình chỉ đàn ông phải chịu: "Từ 60 cho đến 100 trượng, chia làm 5 bậc: 60 trượng, 70 trượng, 80 trượng, 90 trượng, 100 trượng, tuỳ theo tội mà thêm bớt. Xử tội này có thể cùng với tội lưu, tội đồ, biếm chức, hoặc xử riêng chỉ đàn ông phải chịu." Điều 680: "Đàn bà phải tội tử hình trở xuống nếu đang có thai, thì phải để sinh đẻ sau 100 ngày mới đem hành hình. Nếu chưa sinh mà đem hành hình thì ngục quan bị xử biếm hai tư; ngục quản bị đồ làm bản cục đinh. Dù đã sinh rồi, nhưng chưa đủ hạn một trăm ngày mà đem hành hình, thì ngục quan và ngục lại bị tội nhẹ hơn tội trên hai bậc. Nếu đã đủ 100 ngày mà không đem hành hình, thì ngục quan hay ngục lại bị tội biếm hay tội phạt"..
Điểm thứ ba, nó thể hiện chính sách trọng nông của triều Lê. Bộ luật trừng phạt rất nặng các tội như phá hoại đê điều (điều 596), chặt phá cây cối và lúa má của người khác (điều 601), tự tiện giết trâu ngựa (điều 580) v.v Những điều luật trong Quốc Triều Hình Luật đã xác định trách nhiệm của nhà nước thông qua trách nhiệm của hệ thống quan lại nhằm đảm bảo cuộc sống tối thiểu của người nghèo khổ trong xã hội (Điều 294; Điều 9)
Điểm thứ tư, luật Hồng Đức có nhiều quy định thể hiện tính chất nhân đạo, thể hộ vệ dân thường. Ví dụ: Điều 17 Quốc Triều Hình Luật quy định: "Khi phạm tội chưa già cả tàn tật, đến khi gàn tật mới bị phát giác thì xử theo luật già cả tàn tật. Khi ở nơi bị đồ thì già cả tàn tật cũng thế. Khi còn bé nhỏ phạm tội thì xử theo luật lúc còn nhỏ". Quốc Triều Hình Luật còn thể hiện chính sách khoan hồng đối với người phạm tội tuy chưa bị phát giác và tự thú trước (trừ phạm tội thập ác hoặc giết người). Điều 18 và điều 19: "Phàm ăn trộm tài vặt của người sau lại tự thú với người mất của thì cũng coi như là thú ở cửa quan". Điều 21, 22, 23, 24 của Quốc Triều Hình Luật quy định cho chuộc tội bằng tiền (trừ hình phạt đánh roi vì cho rằng đánh roi có tính chất răn bảo dạy dỗ nên không phải cho chuộc).
Điểm thứ năm, luật Hồng Đức vừa tiếp thu có chọn lọc tư tưởng của Nho giáo vừa phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc. Ví dụ: Điều 40: "Những người miền thượng du (miền núi, miền đồng bào dân tộc ít người cư trú) cùng phạm tội với nhau thì theo phong tục xứ ấy mà định tội. Những người thượng du phạm tội với người trung châu (miền trung du và miền đồng bằng) thì theo luật mà định tội.". Có thể nói đây là một trong những điều luật thể hiện rõ nhất tính sáng tạo của nhà làm luật. Điểm thú vị của quy định này ở chỗ luật pháp dù có hoàn bị đến đâu cũng không thể phủ nhận hoặc thay thế hoàn toàn vai trò của phong tục tập quán vốn dĩ đã tồn tại lâu dài trước cả khi có luật.
|
Trong tiếng Việt, từ "tài tử" có nghĩa là không phải chuyên nghiệp. Ví dụ ca sĩ tài tử để chỉ người đi hát không chuyên, có thể không lấy tiền. Tính từ "tài tử" cũng chỉ lối làm việc thiếu cố gắng, như học tài tử.
"Tài tử" còn được dùng với nghĩa diễn viên điện ảnh, thường dùng ở miền Nam trước đây. Ngày nay mọi người thường hiểu là diễn viên ngôi sao, ví dụ tài tử Tom Cruise.
Tài tử cũng là tên một thể loại âm nhạc ở Nam bộ, nhạc tài tử. Chữ "tài tử" được dùng đúng với nghĩa của từ này, nhạc tài tử là nhạc của những người không chuyên chơi.
Có nguồn cho rằng chữ "tài tử" vốn được dùng như danh từ với nghĩa là "nghệ sĩ", "người tài hoa". Người miền Nam Việt Nam xưa dùng chữ "tài tử" để chỉ diễn viên điện ảnh, với ý nói họ là người tài hoa. Về sau, chữ "tài tử" được dùng như tính từ để chỉ cách sống của như những người "tài tử" (nghệ sĩ). Cách sống này được cho là ít ràng buộc vào thông lệ xã hội, tự do theo ý muốn hay sự đam mê cá nhân. Theo quan điểm này, nhạc tài tử là loại nhạc mang tính nghệ sĩ, ngẫu hứng, ứng tác ứng tấu, chỉ chơi giữa những nghệ sĩ tâm đầu ý hợp.
|
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.