text
stringlengths
82
354k
Giải bóng đá Các đội mạnh Toàn quốc lần thứ I Giải bóng đá Các đội mạnh Toàn quốc 1990 là mùa giải thứ 9 của giải đấu bóng đá hạng cao nhất Việt Nam và là mùa giải đầu tiên giải mang tên gọi Giải bóng đá Các đội mạnh Toàn quốc. 18 đội bóng tham dự thi đấu qua ba giai đoạn, gồm 2 vòng bảng và vòng loại trực tiếp để chọn ra đội vô địch và 3 đội bóng xuống hạng A1 mùa giải năm sau. Kết thúc giải đấu, Câu lạc bộ Quân đội giành được chức vô địch từ tay Đồng Tháp. Tiền vệ Nguyễn Hồng Sơn của đội đoạt danh hiệu vua phá lưới với 10 bàn thắng ghi được. Công nhân Xây dựng Hà Nội, Sông Lam Nghệ Tĩnh và Tiền Giang là ba đội phải xuống hạng cùng với Dệt Nam Định bị ban tổ chức loại trực tiếp do để xảy ra sự cố hành hung trọng tài ở vòng 1. Nhưng sau đó, cả 4 đội được giữ lại ở giải các đội mạnh và tiếp tục thi đấu ở mùa giải 1991, trừ Dệt Nam Định chỉ có thể trở lại từ mùa giải 1992. Các đội tham dự. Tham dự giải đấu là 18 đội bóng đã được sàng lọc từ giải phân hạng năm 1989 và đều được công nhận là các "đội mạnh". Sau khi kết thúc mùa giải 1989, đội bóng đá Bình Định được thành lập dựa trên lực lượng nòng cốt của đội Công nhân Nghĩa Bình và thừa kế suất thi đấu của đội bóng này tại giải Các đội mạnh Toàn quốc. Cũng sau mùa giải 1989, đội bóng Tổng cục Đường sắt đổi tên mới là Đường sắt Việt Nam. Thể thức thi đấu. Giai đoạn 1, 18 đội được chia thành 3 bảng thi đấu tại 3 khu vực với thể thức vòng tròn 2 lượt tính điểm. Mỗi đội chỉ được hoà tối đa 3 trận (trận hòa thứ 4 không tính điểm). 3 đội xếp cuối 3 bảng xuống hạng A1. 2 đội dẫn đầu mỗi bảng cùng 2 đội xếp thứ 3 có thành tích tốt nhất được quyền vào thi đấu giai đoạn 2. Tại giai đoạn này, 8 đội được chia thành 2 nhóm thi đấu vòng tròn một lượt, chọn 2 đội nhất, nhì mỗi bảng đá chéo ở bán kết. Hai đội thắng tranh chức vô địch. Vòng đấu loại trực tiếp. Ngày 6 tháng 5 năm 1990 Không có trận tranh hạng ba, đội An Giang được ban tổ chức trao giải ba. Ngày 20 tháng 5 năm 1990
Kiểm toán tài chính Kiểm toán tài chính là một hoạt động kiểm tra đặc biệt nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo tài chính của các tổ chức, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp, bảo đảm việc tuân thủ các chuẩn mực và các quy định hiện hành. Kiểm toán tài chính cần được phân biệt với kiểm toán công nghệ thông tin. Điều kiện thực hiện. Công tác kiểm toán do cơ quan chuyên môn gồm các chuyên gia có trình độ nghiệp vụ thích hợp được pháp luật thừa nhận hoặc các công ty kiểm toán độc lập thực hiện. Tùy theo các loại hình kiểm toán mà việc thực hiện kiểm toán được thực hiện bằng mệnh lệnh hành chính hoặc là các giao kết kinh tế, dân sự. Kiểm toán độc lập. Thuật ngữ này đề cập đến các công ty kiểm toán tư nhân. Các doanh nghiệp khi có nhu cầu kiểm toán thì sẽ phải bỏ tiền ra để thuê kiểm toán. Chi phí của việc thuê kiểm toán không nhỏ. Công ty không tự dưng bỏ tiền ra thuê kiểm toán về kiểm tra công ty mình. Đối với một số công ty thì việc kiểm toán là bắt buộc. Các công ty kiểm toán hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm toán của mình. Kiểm toán nội bộ. Kiểm toán nội bộ là bộ phận kiểm toán trong công ty, kiểm tra độ chính xác và minh bạch của hoạt động kế toán trong công ty. Kiểm toán nội bộ làm việc dưới quyền Ban Giám đốc. Kiểm toán nhà nước. Kiểm toán nhà nước là một đơn vị kiểm toán thực hiện công tác kiểm tra sự minh bạch, đúng đắn trong hoạt động kế toán ở các doanh nghiệp nhà nước hoặc các công ty doanh nghiệp có vốn của nhà nước.
Bạo loạn hay bạo động là một hình thức bất ổn dân sự thường được đặc trưng bởi một nhóm người gây ra sự xáo trộn mang tính bạo lực chống lại chính quyền, tài sản sở hữu hoặc nhân dân. Bạo loạn thường liên quan đến trộm cắp, phá hoại và phá hủy tài sản, công cộng hoặc tư nhân. Các tài sản được nhắm mục tiêu khác nhau tùy thuộc vào cuộc bạo loạn và khuynh hướng của những người liên quan. Mục tiêu có thể bao gồm các cửa hàng, xe hơi, nhà hàng, tổ chức nhà nước và các tòa nhà tôn giáo. Bạo loạn thường xảy ra khi đám đông có cảm giác bị đối xử không công bằng hoặc bất đồng quan điểm. Trong lịch sử, bạo loạn đã xảy ra do nghèo đói, thất nghiệp, điều kiện sống tồi tàn, áp bức của chính phủ, thuế hoặc quân dịch bắt buộc, xung đột giữa các nhóm dân tộc, bạo loạn chủng tộc hoặc tôn giáo (bạo lực giáo phái, pogrom), kết quả của một sự kiện thể thao (bạo loạn thể thao, côn đồ bóng đá) hoặc sự thất vọng với các kênh hợp pháp dùng để giải quyết bất bình. Trong khi các cá nhân có thể cố gắng lãnh đạo hoặc kiểm soát một cuộc bạo loạn, các cuộc bạo loạn thường bao gồm các nhóm vô tổ chức thường xuyên "hỗn loạn và thể hiện hành vi bầy đàn". Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy bạo loạn không phải là hành vi phi lý, giống như bầy đàn, mà thực sự tuân theo các chuẩn mực xã hội đảo ngược. Xử lý bạo loạn thường là một nhiệm vụ khó khăn đối với lực lượng cảnh sát. Họ có thể sử dụng hơi cay hoặc khí CS để kiểm soát những kẻ bạo loạn. Cảnh sát chống bạo động có thể sử dụng các phương pháp kiểm soát ít gây chết người hơn, chẳng hạn như súng săn bắn đạn nhựa để gây thương tích hoặc làm mất khả năng của những kẻ bạo loạn để bắt giữ dễ dàng hơn.
Macedonia (; tiếng Hy Lạp: ), còn được gọi là Macedon (), là một vương quốc cổ đại nằm ở ngoài rìa phía bắc của nền văn minh Hy Lạp Cổ xưa và Hy Lạp Cổ điển, và sau này trở thành quốc gia bá chủ ở Hy Lạp thời kỳ Hy Lạp hóa. Vương quốc được thành lập và ban đầu được cai trị bởi triều đại Argead, tiếp theo sau đó là nhà Antipatros và Antigonos. Vốn là quê nhà của người Macedonia cổ đại, phạm vi vương quốc ban đầu nằm tập trung ở khu vực tây bắc của bán đảo Hy Lạp, có biên giới với Ipiros về phía tây, Paeonia về phía bắc, Thrace về phía đông và Thessaly về phía nam. Trước thế kỷ thứ 4TCN, Macedonia là một vương quốc nhỏ nằm bên ngoài khu vực bị thống trị bởi các thành bang hùng mạnh là Athens, Sparta, và Thebes, và lệ thuộc nhà Achaemenes trong một thời gian ngắn. Dưới triều đại của vị vua nhà Argead là PhilipII (359–336TCN), Macedonia chinh phục khu vực đại lục Hy Lạp và Thrace thông qua chinh phạt và ngoại giao. Cùng với một đạo quân được cách tân với nòng cốt là đội hình chiến đấu phalanx sử dụng những ngọn giáo "sarissa", PhilipposII đã đánh bại các thế lực bá quyền cũ là Athens và Thebes trong Trận Chaeronea vào năm 338TCN. Người con trai của PhilipposII là Alexandros Đại đế, lãnh đạo một liên minh các thành bang Hy Lạp, đã hoàn thành mục tiêu thống trị toàn bộ thế giới Hy Lạp của cha mình khi ông hủy diệt Thebes sau khi thành phố này nổi loạn. Trong chiến dịch chinh phạt tiếp theo sau đó của mình, Alexandros đã lật đổ đế quốc Achaemenes và chinh phục một vùng lãnh thổ kéo dài tới tận sông Ấn. Trong một thời gian ngắn, đế quốc của ông trở thành vương quốc hùng mạnh nhất thế giới#đổi một vương quốc Hy Lạp hóa hoàn toàn, mở đầu sự chuyển tiếp tới một thời kỳ mới của nền Văn minh Hy Lạp cổ đại. Nghệ thuật Hy Lạp và văn học phát triển rực rỡ ở những vùng đất mới bị chinh phục và những tiến bộ trong triết học, kỹ thuật và khoa học được truyền bá tới khắp mọi nơi trong thế giới cổ đại. Đặc biệt quan trọng là những đóng góp của Aristotle, người thầy của Alexandros, các tác phẩm của ông đã trở thành nguyên tắc cơ bản của triết học Phương Tây. Sau cái chết của Alexandros Đại đế vào năm 323TCN, kế tiếp là các cuộc chiến tranh Diadochi, đế quốc tồn tại ngắn ngủi của Alexandros bắt đầu phân chia, Macedonia vẫn là một trung tâm chính trị và văn hóa của người Hy Lạp ở khu vực Địa Trung Hải cùng với triều đại Ptolemaios, đế quốc Seleukos và vương quốc Pergamon. Những thành phố quan trọng như Pella, Pydna và Amphipolis đã tham gia vào các cuộc chiến tranh giành quyền lực để kiếm soát vùng lãnh thổ này. Nhiều thành phố mới đã được thành lập chẳng hạn như Thessalonica bởi Kassandros (nó được đặt tên theo tên người vợ của ông ta là Thessalonike của Macedonia). Sự suy yếu của Macedonia bắt đầu với các cuộc chiến tranh Macedonia và sự trỗi dậy của Rome với tư cách là cường quốc số một ở Địa Trung Hải. Khi cuộc chiến tranh Macedonia lần thứ Ba kết thúc vào năm 168TCN, chế độ quân chủ của Macedonia bị bãi bỏ và được thay thế bằng các chư hầu của La Mã. Một giai đoạn ngắn phục hồi của chế độ quân chủ trong cuộc chiến tranh Macedonia lần thứ Tư vào năm 150–148TCN kết thúc bằng việc thiết lập tỉnh Macedonia của La Mã. Các vị vua Macedonia là người nắm giữ quyền lực tuyệt đối và sở hữu mọi tài sản của quốc gia như vàng và bạc, họ đã thúc đẩy các hoạt động khai thác mỏ để đúc tiền trả lương cho quân đội của họ và dưới triều đại của PhilipposII là duy trì một hạm đội Macedonia. Không giống như các quốc gia "diadochi" kế tục, sự thờ cúng hoàng đế được ấp ủ bởi Alexandros chưa bao giờ được chấp nhận ở Macedonia, tuy nhiên các vị vua Macedonia vẫn đảm nhận vai trò như là các tư tế tối cao của vương quốc và là người bảo trợ hàng đầu cho các giáo phái trong nước và ngoại quốc thuộc về tôn giáo thời kỳ Hy Lạp hóa. Quyền lực của các vị vua Macedonia trên lý thuyết được giới hạn bởi thể chế của quân đội, trong khi đó một vài cộng đồng nằm bên trong khối thịnh vượng chung Macedonia đã có được một quyền tự trị ở mức độ cao và thậm chí là có các chính quyền dân chủ với hội đồng nhân dân. Tên gọi Macedonia (, "") xuất phát từ tên dân tộc Μακεδόνες ("Makedónes"), mà bản thân nó lại có nguồn gốc từ tính từ μακεδνός ("makednós") trong tiếng Hy Lạp cổ đại, nghĩa là "cao", có thể dùng để mô tả dân tộc này. Nó có cùng gốc như tính từ μακρός ("makros"), nghĩa là "dài" hoặc "cao" trong tiếng Hy Lạp cổ đại. Tên gọi này ban đầu được cho là có nghĩa hoặc là "người vùng cao nguyên", "người cao", hoặc "người to cao". Nhà ngôn ngữ học Robert S. P. Beekes tuyên bố rằng cả hai thuật ngữ trên đều có gốc gác từ ngôn ngữ Tiền Hy Lạp nào đó và không giải thích được cả khi nhìn nhận hình thái học ngôn ngữ Ấn-Âu, song De Decker cho rằng lập luận này còn thiếu sót. Các sử gia Hy Lạp cổ đại Herodotos và Thucydides thuật lại truyền thuyết rằng các vị vua Macedonia thuộc triều đại Argead là hậu duệ của Temenos, vua của Argos, và do đó có thể tuyên bố rằng Heracles là một trong những vị tổ tiên của họ cũng như là một hậu duệ trực tiếp từ Zeus, vị thần đứng đầu hệ thống các vị thần của người Hy Lạp. Các truyền thuyết mâu thuẫn thì lại nói rằng Perdiccas I của Macedonia hoặc Karanos của Macedonia mới là người đã sáng lập nên triều đại Argead, cùng với đó là 5 hoặc 8 vị vua trước thời AmyntasI. Các giám khảo "Hellanodikai" của Thế vận hội Olympic cổ đại đã cho phép Alexandros I của Macedonia tham gia vào các cuộc tranh tài sau khi ông ta khẳng định rằng nhà Argead có nguồn gốc từ Temenos. Ít điều được biết đến về vương quốc trước triều đại của cha AlexandrosI là Amyntas I của Macedon trong thời kỳ Cổ xưa. Vương quốc Macedonia nằm dọc theo sông Haliacmon và Axius ở Hạ Macedonia, phía bắc của núi Olympus. Sử gia Robert Malcolm Errington cho rằng một trong số những vị vua nhà Argead đầu tiên đã chọn Aigai (ngày nay là Vergina) làm kinh đô của họ vào giữa thế kỷ thứ 7TCN. Trước thế kỷ thứ 4TCN, vương quốc này bao phủ một khu vực tương ứng với phần phía Tây và miền trung của vùng đất Macedonia thuộc Hy Lạp ngày nay. Nó dần dần mở rộng sang khu vực Thượng Macedonia vốn là nơi sinh sống của những bộ lạc Hy Lạp là người Lyncestae và Elimiotae và đến các vùng đất Emathia, Eordaia, Bottiaea, Mygdonia, Crestonia, và Almopia, vốn được định cư bởi nhiều bộ lạc khác nhau như là người Thrace và Phrygia. Những người hàng xóm không phải người Hy Lạp của người Macedonia bao gồm người Thrace sinh sống ở những vùng đất phía đông bắc, người Illyri ở phía Tây Bắc, và người Paeonia ở phía bắc, trong khi vùng đất Thessaly ở phía Nam và Ipiros ở phía Tây được định cư bởi người Hy Lạp với những nét tương đồng về văn hóa với của người Macedonia. Một năm sau khi Darius I của Ba Tư (522-486TCN) phát động một cuộc xâm lược vào châu Âu nhằm chống lại người Scythia, người Paeonia, người Thrace, và một vài thành bang Hy Lạp ở khu vực Balkan, vị tướng người Ba Tư Megabazus đã sử dụng ngoại giao để thuyết phục AmyntasI quy phục như là một chư hầu của đế quốc Achaemenes, điều này mở ra thời kỳ Macedonia thuộc Achaemenes. Bá quyền của nhà Achaemenes đối với Macedonia đã bị gián đoạn trong một thời gian ngắn bởi cuộc nổi dậy của người Ionia (499–493TCN), dẫu vậy vị tướng Ba Tư Mardonius đã đưa nó quay trở lại nằm dưới quyền bá chủ của nhà Achaemenes. Mặc dù Macedonia được hưởng một mức độ tự trị rộng rãi và chưa bao giờ bị biến trở thành một satrap (tức một tỉnh) của đế quốc Achaemenes, nó được cho là đã cung cấp binh lính cho quân đội nhà Achaemenes. AlexandrosI đã hỗ trợ về mặt quân sự cho Xerxes I (486-465TCN) trong cuộc xâm lược Hy Lạp lần thứ hai của người Ba Tư vào năm 480–479TCN, và những binh sĩ người Macedonia đã chiến đấu ở bên phía người Ba Tư tại Trận Platea vào năm 479TCN. Sau chiến thắng của người Hy Lạp tại Salamis vào năm 480TCN, AlexandrosI đã đóng vai trò là một đại sứ của nhà Achaemenes để đề xuất một hiệp ước hòa bình và liên minh với người Athens, tuy nhiên đề nghị này đã bị từ chối. Ngay sau đó, quân đội của nhà Achaemenes đã buộc phải triệt thoái khỏi khu vực lục địa châu Âu, điều này đánh dấu sự chấm dứt quyền kiểm soát của người Ba Tư đối với Macedonia. Sự dính líu với văn minh Hy Lạp. Mặc dù ban đầu là một chư hầu của Ba Tư, AlexandrosI của Macedonia đã xây dựng những mối quan hệ ngoại giao thân thiện với các kẻ thù Hy Lạp trước đây của ông, người Athen và Sparta-những thế lực lãnh đạo liên minh các thành bang Hy Lạp. Người kế vị của ông ta, vua PerdiccasII (454-413TCN) đã lãnh đạo người Macedonia tham gia vào bốn cuộc chiến tranh khác nhau chống lại Athens, thành bang lãnh đạo liên minh Delos, cùng lúc đó vị vua người Thrace Sitalces của vương quốc Odrysia lại tiến hành các cuộc xâm lược đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ của Macedonia ở phía đông bắc. Chính trị gia người Athen, Pericles đã thúc đẩy quá trình thuộc địa hóa khu vực sông Strymon gần vương quốc Macedonia, tại đây thành phố thuộc địa Amphipolis đã được thành lập vào năm 437/436TCN để nó có thể cung cấp cho Athens một nguồn cung vàng và bạc ổn định cũng như là gỗ và dầu hắc ín để cung cấp cho hải quân Athen. Ban đầu Perdiccas II đã không có bất cứ hành động nào và có thể đã chào đón người Athen, vì người Thrace là kẻ thù chung của họ. Điều này đã thay đổi khi người Athen thiết lập liên minh với một người em trai và em họ của PerdiccasII, những người đã nổi loạn chống lại ông. Do đó, hai cuộc chiến tranh riêng biệt chống lại người Athens đã nổ ra trong khoảng thời gian từ năm 433 tới năm 431TCN. Vị vua Macedonia trả đũa bằng cách kích động cuộc nổi loạn của các đồng minh Athens ở Chalcidice và tiếp sau đó giành được sự ủng hộ từ thành phố có vị trí chiến lược là Potidaea. Sau khi chiếm được các thành phố của người Macedonia là Therma và Beroea, Athens vây hãm Potidaea nhưng thất bại trong việc chiếm nó; Therma đã được trao trả lại cho Macedonia và phần lớn khu vực Chalcidice trở về tay của người Athens trong một hiệp ước hòa bình được trung gian bởi Sitalces, ông ta đã trợ giúp về quân sự cho người Athens đổi lại là có được các đồng minh Thrace mới. PerdiccasII đã đứng về phía Sparta trong cuộc chiến tranh Peloponnisos (431–404TCN) giữa Athens và Sparta, vào năm 429TCN Athens đã trả đũa ông bằng cách thuyết phục Sitalces xâm lược Macedonia, thế nhưng ông ta đã phải rút lui do không có đủ quân lương vào mùa đông. Vào năm 424TCN, Arrhabaeos, một vị vua địa phương ở Lynkestis thuộc Thượng Macedonia, đã nổi loạn chống lại Perdiccas, và người Sparta đã đồng ý giúp đỡ ông để dập tắt cuộc nổi loạn. Tại Trận Lyncestis người Macedonia đã hoảng sợ và bỏ chạy trước khi cuộc chiến bắt đầu, khiến cho vị tướng Sparta là Brasidas nổi giận, binh sĩ của ông ta đã cướp bóc đoàn xe chở quân nhu vô chủ của người Macedonia. Perdiccas sau đó đổi phe và ủng hộ người Athens, và ông đã thành công trong việc dẹp tan cuộc nổi loạn của Arrhabaeos. Brasidas qua đời vào năm 422TCN, cùng năm này Athens và Sparta đã đạt được một hiệp ước, hiệp ước Hòa bình của Nicias, nó đã giải thoát Macedonia khỏi giao ước là một đồng minh của Athen. Sau trận Mantinea vào năm 418TCN, những người Sparta chiến thắng đã thiết lập một liên minh với Argos, PerdiccasII đã nhiệt tình tham gia vào liên minh quân sự này vì mối đe dọa của các đồng minh Sparta còn lại ở Chalcidice. Khi Argos đột nhiên đổi phe với tư cách là một nền dân chủ thân Athen, hạm đội Athen đã có thể thiết lập một cuộc phong tỏa chống lại các hải cảng của Macedonia và xâm lược Chalcidice vào năm 417TCN. PerdiccasII đã cầu hòa vào năm 414TCN và thiết lập một liên minh với Athens, con trai và cũng là người kế vị của ông là ArchelaosI (413-399TCN) đã tiếp tục đường lối này. Athens sau đó đã hỗ trợ về mặt hải quân cho ArchelaosI trong cuộc vây hãm Pydna của người Macedonia vào năm 410TCN, đổi lại cho điều này đó là nguồn gỗ và các trang bị cho hải quân của Athens. Dẫu cho Archelaos I đã phải đối mặt với một số cuộc nổi loạn và phải chống lại một cuộc xâm lược của người Illyri dưới sự lãnh đạo bởi Sirras của Lynkestis, ông ta đã có thể mở rộng ảnh hưởng của Macedonia tới Thessaly bằng việc gửi hỗ trợ về mặt quân sự cho các đồng minh của mình. Mặc dù ông vẫn giữ lại Aigai như là một trung tâm về tôn giáo và nghi lễ, ArchelaosI đã dời kinh đô của vương quốc về Pella, vào thời điểm đó nó được xác định vị trí bởi một hồ nước và một con sông nối với biển Aegea. Ông đã nâng cao chất lượng đồng tiền của Macedonia bằng cách đúc những đồng tiền xu với một hàm lượng bạc cao hơn cũng như ban hành loại tiền xu bằng đồng riêng biệt. Triều đình hoàng gia của ông đã thu hút sự có mặt của những học giả nổi tiếng như là nhà soạn kịch người Athen Euripides. Khi ArchelaosI bị ám sát, vương quốc của ông rơi vào sự hỗn loạn kéo dài từ năm 399 tới năm 393TCN và gồm triều đại của bốn vị vua khác nhau: Orestes, con trai của ArchelaosI; AeroposII,người chú, nhiếp chính, và cũng là người đã sát hại Orestes; Pausanias, con trai của AeroposII; và AmyntasII, ông ta đã cưới người con gái út của ArchelaosI. Chúng ta biết rất ít về thời kỳ hỗn loạn này; nó kết thúc khi AmyntasIII (393-370TCN), con trai của Arrhidaeos và cháu nội của AmyntasI, giết chết Pausanias và giành lấy ngai vàng của Macedonia. Amyntas III đã buộc phải bỏ chạy khỏi vương quốc của mình vào năm 393 hoặc 383TCN (dựa theo các nguồn khác nhau) do một cuộc xâm lược ồ ạt của bộ tộc Dardani người Illyria dưới sự lãnh đạo của Bardylis. Một người tiếm vị tên là Argaeos đã cai trị khi ông vắng mặt, nhưng cuối cùng AmyntasIII đã quay trở về vương quốc của mình với sự trợ giúp từ các đồng minh Thessaly AmyntasIII cũng suýt chút nữa bị lật đổ bởi quân đội của thành phố Olynthos ở Chalcidice nhưng với sự trợ giúp từ Teleutias, em trai của vị vua Sparta Agesilaos II, người Macedonia đã buộc Olynthos phải đầu hàng và giải tán liên minh Chalcidice của họ vào năm 379TCN. Alexandros II (370-368TCN), con trai của EurydiceI và AmyntasIII, đã kế vị cha của mình và ngay lập tức xâm lược Thessaly để gây chiến chống lại "tagos" (lãnh đạo quân sự tối cao của người Thessaly) Alexandros của Pherae, ông đã chiếm được thành phố Larissa. Người Thessaly không muốn cả AlexandrosII lẫn Alexandros của Pherae cai trị họ và đã kêu gọi sự trợ giúp từ Pelopidas của Thebes; ông ta đã thành công trong việc chiếm lại Larissa và tiếp nhận các con tin thuộc tầng lớp quý tộc bao gồm người em trai của AlexandrosII và cũng là vị vua tương lai PhilipposII (359–336TCN) theo hiệp định hòa bình được thu xếp với Macedonia. Alexandros sau đó bị người em rể Ptolemaios của Aloros ám sát, ông ta đã giữ vai trò như là một nhiếp chính độc đoán cho PerdiccasIII (368-359TCN), em trai của AlexandrosII, tuy nhiên Perdicass III cuối cùng đã xử tử Ptolemaios khi đạt đến tuổi trưởng thành vào năm 365TCN. Khoảng thời gian còn lại của triều đại Perdiccas III cho thấy một sự ổn định về chính trị và sự hồi phục về kinh tế. Tuy nhiên, một cuộc xâm lược của người Athen dưới sự lãnh đạo của Timotheos, con trai của Conon đã thành công trong việc chiếm được Methone và Pydna, một cuộc xâm lược khác của người Illyri dưới sự lãnh đạo của Bardylis đã khiến cho PerdiccasIII cùng với 4,000 binh sĩ Macedonia tử trận. Sự trỗi dậy của Macedonia. Philippos II lên ngôi vua khi ông mới 24 tuổi vào năm 359TCN. Bằng tài ngoại giao khéo léo, ông đã có thể thuyết phục người Thraci dưới sự cai trị của Berisades ngừng ủng hộ cho Pausanias, một người tranh giành ngai vàng, và đối với người Athen là ngừng sự ủng hộ cho một người tiếm vị khác. Ông đã thực hiện được những việc này bằng cách hối lộ người Thraci và đồng minh người Paeonia của họ và thiết lập một hiệp ước với Athens mà trong đó từ bỏ yêu sách của ông đối với Amphipolis. Ông cũng đã có thể giảng hòa với người Illyri mà đã đe dọa biên giới của ông. Philippos II đã dành hoàn toàn những năm đầu tiên của mình để thay đổi quân đội Macedonia. Một sự cải cách về tổ chức, trang bị, huấn luyện của nó, bao gồm cả việc giới thiệu đội hình phalanx Macedonia được trang bị với những cây giáo dài (tức là "sarissa"), nó đã chứng tỏ sự thành công ngay lập tức khi được thử nghiệm chống lại các kẻ thù người Illyri và Paeonia của ông. Những ghi chép lẫn lộn trong các nguồn cổ đại đã dẫn tới việc các học giả ngày nay tranh cãi về việc những vị tiên vương của PhilipposII đã đóng góp đáng kể như thế nào cho những cải cách này và sự phát triển của những ý tưởng của ông đã chịu sự ảnh hưởng từ những năm tháng tuổi trẻ khi đang bị giam cầm ở Thebes như là một con tin chính trị trong thời kỳ quyền bá chủ của Thebes, đặc biệt là sau cuộc gặp với vị tướng Epaminondas. Người Macedonia theo chế độ một vợ một chồng theo truyền thống giống như những người Hy Lạp khác, thế nhưng PhilipposII lại thực hiện chế độ đa thê và cưới 7 người vợ với chỉ duy nhất một người không có liên quan tới sự trung thành của các quý tộc thần dân của ông hoặc là các đồng minh mới. Cuộc hôn nhân đầu tiên của ông là với Phila của Elimeia thuộc tầng lớp quý tộc ở Thượng Macedonia cũng như là công chúa người Illyria Audata để đảm bảo một liên minh hôn nhân. Để thiết lập liên minh với Larissa ở Thessaly, ông đã kết hôn với một nữ quý tộc người Thessaly tên là Philinna vào năm 358TCN, bà đã sinh cho ông một người con trai là Philippos III Arrhidaeos (323-317TCN). Vào năm 357TCN, ông đã kết hôn với Olympias để đảm bảo một liên minh với Arybbas, Vua của Ipiros và người Molossoi. Cuộc hôn nhân này sẽ sinh ra một người con trai và sẽ cai trị với tên gọi là AlexandrosIII (được biết đến nhiều hơn với tên gọi là Alexandros Đại đế), ông ta tuyên bố là hậu duệ của Achilles huyền thoại thông qua huyết thống triều đại của mình từ Ipiros. Chúng ta không rõ liệu rằng các vị vua của nhà Achaemenes Ba Tư có ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ đa thê của PhilipposII hay không, mặc dù vậy vị tiên vương AmyntasIII của ông đã có ba người con trai với một người vợ hai có thể tên là Gygaea: Archelauos, Arrhidaeos, và Menelaos. PhilipposII đã xử tử Archelaos vào năm 359TCN, trong khi hai người em cùng cha khác mẹ với PhilipposII bỏ chạy tới Olynthos, điều này sẽ đóng vai trò như là một "casus belli" cho cuộc chiến tranh Olynthos (349–348TCN) chống lại liên minh Chalcidice của ông ta. Trong khi Athens đang bận rộn với cuộc Chiến tranh Đồng Minh (357–355 TCN), PhilipposII đã tái chiếm lại Amphipolis từ tay họ vào năm 357TCN và trong năm tiếp theo là Pydna và Potidaea, thành phố này đã được ông trao lại cho liên minh Chalcidice như đã hứa trong một hiệp ước. Vào năm 356TCN, ông đã chiếm Crenides, tái thành lập nó lại với tên gọi là Philippi, trong khi vị tướng Parmenion của ông đánh bại vị vua Illyria tên là Grabos của người Grabaei. Trong cuộc vây hãm Methone vào năm 355–354TCN, PhilipposII mất mắt phải của mình từ một vết thương do tên bắn, nhưng ông đã thành công trong việc chiếm thành phố và đối xử với cư dân của nó một cách thân mật, không giống với người Potidaea đã bị bắt làm nô lệ. Philippos II và Macedonia sau đó đã tham gia vào Cuộc chiến tranh Thần Thánh (356–346TCN). Nó bắt đầu khi Phocis chiếm giữ và cướp phá ngôi đền thờ Apollo tại Delphi thay vì nộp các khoản tiền phạt phải trả, điều này khiến cho Đại nghị liên minh tuyên chiến với Phocis và một cuộc nội chiến đã nổ ra giữa các thành viên của liên minh Thessaly hoặc là đứng về phía Phocis hoặc Thebes. Chiến dịch ban đầu của PhilipposII là chống lại Pherae ở Thessaly vào năm 353TCN theo lời yêu cầu của Larissa đã kết thúc bằng hai thất bại tai hại trước vị tướng người Phocis là Onomarchos. PhilipposII sau đó đánh bại Onomarchos vào năm 352TCN tại Trận cánh đồng Crocus, điều này đã dẫn đến việc PhilipposII được bầu làm nhà lãnh đạo ("archon") của liên minh Thessaly và cho phép ông có được một ghế trong hội đồng Đại nghị liên minh cùng với đó là một hôn nhân liên minh với Pherae thông qua việc cưới Nicesipolis, cháu gái vị bạo chúa Jason của Pherae. Philippos II đã sớm dính dáng tới đế quốc Achaemenes, đặc biệt là bằng việc trợ giúp các phó vương và lính đánh thuê nổi dậy chống lại chính quyền trung ương của vị vua nhà Achaemenes. Vị phó vương của Hellespontine Phrygia là Artabazos II, người tham gia vào cuộc nổi loạn chống lại Artaxerxes III, đã có thể ẩn náu như là một người bị lưu đày tại triều đình Macedonia từ năm 352 tới năm 342 TCN. Đi cùng với ông ta là gia đình và vị tướng đánh thuê Memnon của Rhodes. Barsine, con gái của Artabazos, và là người vợ tương lai của Alexandros Đại đế đã lớn lên tại triều đình Macedonia. Sau chiến dịch chống lại vị vua người Thrace Cersobleptes, vào năm 349TCN, PhilipposII đã bắt đầu cuộc chiến tranh chống lại liên minh Chalcidice, nó đã được tái lập vào năm 375TCN sau một thời gian bị giải tán. Bất chấp sự can thiệp của người Athen dưới quyền Charidemos, Olynthos đã bị PhilipposII chiếm vào năm 348TCN, và cư dân của nó đã bị bán làm nô lệ, bao gồm cả một số công dân Athen. Người Athen, đặc biệt là bằng một loạt bài diễn văn của Demosthenes mà được biết đến với tên gọi là "Olynthiacs", đã không thành công trong việc thuyết phục các đồng minh của họ phản công và vào năm 346TCN, họ đã ký kết một hiệp ước hòa bình với Macedonia được biết đến với tên gọi Hòa ước của Philocrates. Hiệp ước này quy định rằng Athens sẽ từ bỏ yêu sách đối với các vùng lãnh thổ ven biển của Macedonia, khu vực Chalcidice, và Amphipolis đổi lại bằng việc giải phóng những người Athen bị bắt làm nô lệ cũng như đảm bảo rằng PhilipposII sẽ không tấn công các khu định cư của người Athen ở khu vực Thracian Chersonese. Trong khi đó, Phocis và Thermopylae đã bị quân đội Macedonia chiếm đóng, và những người đã cướp bóc ngôi đền Delphi bị xử tử, PhilipposII đã được trao tặng hai ghế của người Phocis trong hội đồng Đại Nghị liên minh và vị trí người chủ trì toàn bộ thế vận hội Pythia. Athens ban đầu phản đối quyền thành viên của ông trong hội đồng và từ chối tham dự thế vận hội để phản đối, nhưng cuối cùng họ đã chấp nhận những điều này, có lẽ sau sự thuyết phục đáng kể của Demosthenes trong bài diễn thuyết "Về Hòa bình" của ông ta. Trong vài năm tiếp theo, Philippos II đã bận rộn với việc tổ chức lại hệ thống chính quyền ở Thessaly, ông còn tiến hành chiến dịch chống lại vị vua người Illyri là Pleuratos I và lật đổ Arybbas ở Ipiros để thay thế bằng người em vợ là Alexandros I (thông qua cuộc hôn nhân của Philippos II với Olympias), ông cũng đã đánh bại Cersebleptes ở Thrace. Điều này cho phép ông mở rộng quyền kiểm soát của người Macedonia đối với Hellespont nhằm phục vụ cho dự định sẽ mở một cuộc xâm lược vào khu vực Anatolia của nhà Achaemenes sau này. Vào năm 342TCN, PhilipposII đã chinh phục một thành phố Thrace ở khu vực ngày nay là Bulgaria và đổi tên nó là Philippopolis (ngày nay là Plovdiv). Chiến tranh đã nổ ra với Athens vào năm 340TCN trong lúc PhilipposII đang tham gia vào hai cuộc vây hãm không thành công cuối cùng đối với Perinthus và Byzantion, tiếp theo sau đó là một chiến dịch thành công chống lại người Scythia dọc theo sông Danube và sự tham gia của Macedonia vào cuộc Chiến tranh Thần Thánh lần thứ Tư chống lại Amphissa vào năm 339TCN. Thebes đã đánh đuổi một đơn vị đồn trú người Macedonia khỏi Nicaea (gần Thermopylae), điều này dã dẫn đến việc Thebes liên kết với Athens, Megara, Corinth, Achaea, và Euboea trong một cuộc chạm trán cuối cùng chống lại Macedonia tại Trận Chaeronea vào năm 338TCN. Sau chiến thắng của người Macedonia tại đó, PhilipposII đã thiết lập một chế độ đầu xỏ ở Thebes, nhưng vẫn khoan dung đối với Athens, với hy vọng sử dụng hải quân của họ trong một kế hoạch xâm lược nhằm vào đế quốc Achaemenes. Sau đó ông chịu trách nhiệm chính cho việc thành lập liên minh Corinth mà bao gồm các thành bang Hy Lạp chủ chốt ngoại trừ Sparta. Bất chấp việc vương quốc Macedonia không có mặt chính thức trong liên minh này, vào năm 337TCN, PhilipposII đã được bầu làm nhà lãnh đạo ("hegemon") hội đồng của nó ("synedrion") và tổng tư lệnh ("strategos autokrator") của chiến dịch sắp tới nhằm xâm lược đế quốc Achaemenes. Kế hoạch của Philippos là để trừng phạt người Ba Tư vì sự đau khổ gây ra cho người Hy Lạp và để giải phóng các thành bang Hy Lạp ở Tiểu Á cũng có thể là nỗi sợ hãi của toàn Hy Lạp về một cuộc xâm lược Hy Lạp khác của người Ba Tư, đã góp phần vào quyết định xâm lược đế quốc Achaemenes của ông. Người Ba Tư đã trợ giúp cho Perinthus và Byzantion vào năm 341–340TCN, chiến lược của Macedonia nêu rõ là cần chiếm được Thrace và khu vực biển Aegea chống lại sự xâm lấn ngày càng tăng của nhà Achaemenes, khi mà vị vua Ba Tư Artaxerxes III tiến hành củng cố thêm sự kiểm soát của mình đối với các tổng trấn ở miền Tây Anatolia. Khu vực này, mang tới sự giàu có và nhiều nguồn tài nguyên giá trị hơn khu vực Balkans, nó cũng được vị vua của Macedonia khao khát vì tiềm năng kinh tế vô hạn của mình. Khi Philippos II cưới Cleopatra Eurydice, cháu gái của vị tướng Attalos, và nói về việc sinh ra những người kế vị tiềm năng mới tại bữa tiệc cưới, điều này đã khiến cho người con trai của PhilipposII là Alexandros, một người từng tham gia trận Chaeronea, và mẹ của ông ta là Olympias nổi giận. Họ đã cùng bỏ về Ipiros trước khi Alexandros được triệu về Pella bởi PhilipposII. Khi PhilipposII sắp xếp một cuộc hôn nhân giữa người con trai của ông là Arrhidaeos với Ada của Caria, con gái của Pixodaros, vị tổng trấn Ba Tư của Caria, Alexandros đã can thiệp và thay vào đó ông đề nghị cưới Ada cho mình. PhilipposII sau đó đã hủy bỏ hoàn toàn đám cưới và lưu đày các cố vấn của Alexandros là Ptolemaios, Nearchos, và Harpalos. Để hòa giải với Olympias, PhilipposII đã gả con gái của họ là Cleopatra cho người em trai của Olympias (và là chú của Cleopatra) là AlexandrosI của Ipiros, nhưng PhilipposII đã bị người cận vệ của mình là Pausanias của Orestis ám sát ngay trong bữa tiệc đám cưới của họ và Alexandros đã kế vị ông vào năm 336TCN. Các học giả ngày nay đã tranh luận về vai trò có thể của AlexandrosIII "Đại đế" và người mẹ của ông là Olympias trong vụ ám sát PhilipposII, lưu ý từ lựa chọn của Philippos trong việc loại bỏ Alexandros khỏi kế hoạch xâm chiếm châu Á của ông ta, thay vào đó lựa chọn ông giữ vai trò là nhiếp chính của Hy Lạp và phó "hegemon" của Liên minh Corinth, và tiềm năng của việc sinh ra một người kế vị nam khác giữa PhilipposII và người vợ mới của ông ta, Cleopatra Eurydice. AlexandrosIII (336-323TCN) đã lập tức được tuyên bố làm vua bởi một hội đồng của quân đội và các quý tộc chủ chốt, đứng đầu trong số họ là Antipatros và Parmenion. Vào thời điểm kết thúc triều đại và sự nghiệp quân sự của mình vào năm 323TCN, Alexandros sẽ cai trị một đế quốc bao gồm khu vực lục địa Hy Lạp, Tiểu Á, Cận Đông, Ai Cập cổ đại, Mesopotamia, Persia, và phần lớn khu vực Trung và Nam Á (tức khu vực Pakistan ngày nay). Một trong những việc làm đầu tiên của ông đó là chôn cất cha của mình tại Aigai. Các thành viên của liên minh Corinth đã nổi dậy khi nghe tin về cái chết của PhilipposII, nhưng sớm bị dẹp yên bằng vũ lực bên cạnh việc ngoại giao thuyết phục, đã bầu chọn Alexandros là "hegemon" của liên minh để thực hiện kế hoạch xâm lược Ba Tư. Vào năm 335TCN, Alexandros đã tiến đánh bộ lạc người Thrace Triballi ở khu vực dãy núi Haemus và dọc theo sông Danube, ông đã buộc họ phải đầu hàng trên đảo Peuce. Ngay sau đó, vị vua người Illyria là Cleitos của người Dardani đã đe dọa tấn công Macedonia, nhưng Alexandros đã nắm thế chủ động và vây hãm người Dardani tại Pelion (ngày nay thuộc Albania). Khi Thebes một lần nữa nổi loạn tách khỏi liên minh Corinth và đang vây hãm đội quân đồn trú Macedonia ở Cadmea, Alexandros đã rời mặt trận Illyria và hành quân tiến về Thebes, tại đây ông đã vây hãm thành phố này. Sau khi phá vỡ các bức tường thành, quân đội của Alexandros đã tàn sát 6,000 người Thebes, bắt 30,000 cư dân làm tù binh, và thiêu trụi hoàn toàn thành phố như là một lời cảnh cáo mà khiến cho toàn bộ các thành bang Hy Lạp khác ngoại trừ Sparta không dám thách thức Alexandros thêm một lần nào nữa. Trong suốt sự nghiệp quân sự của mình, Alexandros đã giành chiến thắng tất cả các trận đánh do đích thân ông chỉ huy. Chiến thắng đầu tiên của ông trước người Ba Tư ở Tiểu Á là Trận Granicus vào năm 334TCN, ông đã sử dụng một đội kỵ binh nhỏ như là một mồi nhử để cho phép lực lượng bộ binh của mình vượt qua sông tiếp nối bằng một cuộc đột kích của kỵ binh từ lực lượng chiến hữu kỵ binh của ông. Alexandros đã chỉ huy cuộc đột kích bằng kỵ binh tại trận Issus vào năm 333TCN, buộc vị vua Ba Tư Darius III và đạo quân của ông ta phải tháo chạy. Bất chấp việc có quân lực áp đảo, DariusIII lại một lần nữa bỏ chạy trong trận Gaugamela vào năm 331TCN. Vị vua Ba Tư sau đó bị bắt và hành quyết bởi chính vị satrap của Bactria và cũng là người họ hàng của ông ta, Bessus, vào năm 330TCN. Vị vua của Macedonia sau đó đã săn đuổi và hành quyết Bessus ở nơi mà ngày nay là Afghanistan, chiếm luôn vùng đất Sogdia trong quá trình này. Tại Trận Hydaspes vào năm 326TCN, (ngày nay ở Punjab), khi những con voi chiến của vua Porus xứ Pauravas đe dọa các binh sĩ của Alexandros, ông đã ra lệnh cho họ tách rời hàng ngũ và vây quanh những con voi rồi tấn công những viên quản tượng của chúng bằng những ngọn giáo "sarissa". Khi những binh sĩ người Macedonia đe dọa binh biến vào năm 324TCN tại Opis, Babylonia (gần Baghdad, Iraq), Alexandros đã phong các tước hiệu quân đội của người Macedonia cùng với những trọng trách quan trọng hơn cho các tướng lĩnh Ba Tư và đơn vị của họ để thay thế, điều này buộc binh sĩ của ông phải thỉnh cầu sự tha thứ tại một buổi tiệc hòa giải được tổ chức giữa người Ba Tư và Macedonia. Alexandros có lẽ đã hủy hoại sự cai trị của mình bằng việc thể hiện các dấu hiệu của chứng hoang tưởng tự đại. Trong khi đang sử dụng các hành động tuyên truyền hiệu quả chẳng hạn như là việc chặt đứt nút thắt Gordium, ông cũng cố gắng thể hiện bản thân mình như là một vị thần sống và một người con trai của Zeus sau chuyến thăm của ông tới nhà tiên tri tại Siwah trong sa mạc Libya (ở Ai Cập ngày nay) vào năm 331TCN. Nỗ lực của ông nhằm bắt mọi người phải phủ phục trước ông ở Bactra vào năm 327TCN bắt chước theo nghi lễ "proskynesis" của các vị vua Ba Tư đã không được các thần dân Macedonia và Hy Lạp của ông chấp nhận vì sự báng bổ tôn giáo của nó sau khi vị sử quan của ông Callisthenes từ chối thực hiện lễ nghi này. Khi Alexandros ra lệnh sát hại Parmenion tại Ecbatana (gần Hamadan ngày nay, Iran) vào năm 330TCN, Errington đã cho rằng đây là "dấu hiệu của hố sâu ngăn cách ngày càng lớn giữa các lợi ích của nhà vua với của vương quốc và người dân của ông". Sự kiện ông sát hại Cleitos Đen vào năm 328TCN được miêu tả là "đầy căm thù và hấp tấp" bởi Dawn L. Gilley và Ian Worthington. Tiếp tục chính sách đa thê của cha mình, Alexandros đã khuyến khích mọi người kết hôn với những người phụ nữ châu Á, ví dụ như ông đã cưới Roxana, một công chúa người Sogdia của Bactria. Tiếp sau đó ông đã cưới Stateira II, người con gái đầu của DariusIII, và Parysatis II, người con gái út của Artaxerxes III, tại lễ cưới Susa vào năm 324TCN. Trong khi đó, ở Hy Lạp, vị vua Sparta Agis III đã cố gắng lãnh đạo một cuộc nổi dậy của người Hy Lạp chống lại Macedonia. Ông ta đã bị đánh bại vào năm 331TCN tại Trận Megalopolis bởi Antipatros, người đang giữ vai trò là nhiếp chính của Macedonia và phó "hegemon" của liên minh Corinth thay cho Alexandros. Trước khi Antipatros bắt đầu chiến dịch của mình ở Peloponnese, ông ta đã thuyết phục viên tổng đốc của Thrace tên là Memnon không nổi loạn bằng biện pháp ngoại giao. Antipatros đã trì hoãn việc trừng phạt Sparta và thay vào đó là để việc này cho Liên minh Corinth đứng đầu bởi Alexandros, ông cuối cùng đã tha thứ cho người Sparta với điều kiện là họ giao nộp 50 quý tộc làm con tin. Quyền lãnh đạo của Antipatros có phần không được lòng người dân ở Hy Lạp do ông ta ủng hộ (có lẽ theo lệnh của Alexandros) những kẻ bất mãn bị lưu đày và đồn trú các thành phố với các đội quân Macedonia, tuy vậy vào năm 330TCN, Alexandros đã tuyên bố rằng những chính thể chuyên chế được thiết lập ở Hy Lạp sẽ bị bãi bỏ và quyền tự do của người Hy Lạp sẽ được khôi phục. Khi Alexandros Đại đế qua đời ở Babylon vào năm 323TCN, người mẹ của ông Olympias đã ngay lập tức buộc tội Antipatros và phe của ông ta đã đầu độc ông, mặc dù vậy không có bằng chứng để chứng minh điều này. Với việc không có ai được phong làm hoàng thái tử, các chỉ huy quân đội Macedonia đã chia thành hai phe, một bên tuyên bố rằng người anh trai cùng cha khác mẹ với Alexandros là PhilipposIII Arrhidaeos (323-317TCN) là vua và một bên là đứng về phía người con trai sơ sinh của Alexandros và Roxana, AlexandrosIV (323-309TCN). Ngoại trừ người Euboea và Boeotia, người Hy Lạp đã ngay lập tức nổi dậy tiến hành một cuộc khởi nghĩa chống lại Antipatros mà được biết đến với tên gọi cuộc chiến tranh Lamia (323–322TCN). Khi Antipatros bị đánh bại trong Trận Thermopylae vào năm 323TCN, ông đã bỏ chạy tới Lamia và bị vị tướng người Athen là Leosthenes vây hãm tại nơi này. Một đạo quân Macedonia dưới sự chỉ huy của Leonnatos sau đó đã giải vây cho Antipatros. Antipatros đã dẹp được cuộc nổi loạn nhưng cái chết của ông vào năm 319TCN đã để lại một khoảng trống quyền lực và do đó hai vị vua Macedonia được dựng lên đã trở thành những con tốt thí trong một cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa các "diadochi", những vị tướng lĩnh cũ trong quân đội của Alexandros. Một hội đồng của quân đội đã được triệu tập ở Babylon ngay sau cái chết của Alexandros, họ đã tuyên bố PhilipposIII là vua và viên chiliarch Perdiccas là nhiếp chính của ông. Antipatros, Antigonos Monophthalmos, Crateros, và Ptolemaios đã thiết lập một liên minh để chống lại Perdiccas trong một cuộc nội chiến được khởi đầu bằng việc Ptolemaios chiếm đoạt cỗ xe tang của Alexandros Đại đế. Perdiccas đã bị chính các sĩ quan của mình ám sát vào năm 321TCN trong một chiến dịch thất bại ở Ai Cập chống lại Ptolemaios, cuộc hành quân dọc theo sông Nile của ông đã khiến cho 2,000 binh sĩ của ông bị chết đuối. Mặc dù Eumenes của Cardia đã thành công trong việc giết chết Crateros trên chiến trường, điều này ít có ảnh hưởng đến cuộc phân chia Triparadisus ở Syria vào năm 321TCN, tại đây phe liên minh chiến thắng đã giải quyết vấn đề về một chế độ nhiếp chính mới và những quyền lợi về lãnh thổ. Antipatros đã được bổ nhiệm làm nhiếp chính cho cả hai vị vua. Trước khi Antipatros qua đời vào năm 319TCN, ông ta đã bổ nhiệm người bề tôi trung thành với nhà Argead là Polyperchon làm người kế tục mình, bỏ qua người con trai của ông ta là Kassandros và bỏ qua quyền được chọn một nhiếp chính mới của nhà vua (bởi vì PhilipposIII được cho là bất ổn về mặt tâm thần) Thiết lập một liên minh với Ptolemaios, Antigonos, và Lysimachos, Kassandros đã lệnh cho tướng Nicanor chiếm pháo đài Munichia ở thị trấn cảng Piraeus của Athens bất chấp sắc lệnh của Polyperchon rằng các thành bang Hy Lạp sẽ không còn các đơn vị đồn trú Macedonia, điều này đã khơi mào cho cuộc chiến tranh Diadochi lần thứ Hai (319–315TCN). Sau một chuỗi các thất bại quân sự của Polyperchon, vào năm 317TCN, PhilipposIII, thông qua người vợ mưu mô của mình là Eurydice II của Macedonia, đã chính thức phong Kassandros làm nhiếp chính thay cho ông ta. Sau đó, Polyperchon đã tìm kiếm sự giúp đỡ từ Olympias ở Ipiros. Một liên quân gồm người Ipirot, Aetolia, và quân của Polyperchon đã xâm lược Macedonia và buộc quân đội của PhilipposIII và Eurydice phải đầu hàng, điều này đã cho phép Olympias xử tử vị vua này và buộc hoàng hậu của ông phải tự tử. Olympias sau đó đã xử tử Nicanor cùng với nhiều quý tộc Macedonia khác, nhưng vào mùa xuân năm 316TCN, Kassandros đã đánh bại lực lượng của bà, bắt giữ bà, và đưa bà ra xét xử với tội giết người rồi sau đó kết án tử hình bà. Kassandros đã cưới người con gái của Philippos II là Thessalonike và đã mở rộng sự kiểm soát của Macedonia cho tới tận Epidamnos ở Illyria. Tới năm 313TCN, vị vua người Illyria là Glaukias của Taulantii đã tái chiếm lại thành phố này. Vào năm 316TCN, Antigonos đã đoạt được những vùng lãnh thổ của Eumenes và thành công trong việc đánh đuổi Seleukos I Nikator khỏi Babylon, điều này đã khiến cho Kassandros, Ptolemaios, và Lysimachos gửi một tối hậu thư chung cho Antigonos vào năm 315TCN, yêu cầu ông ta phải giao nộp những vùng lãnh thổ khác ở châu Á. Antigonos đã ngay lập tức liên minh với Polyperchon, lúc này đang đóng quân ở Corinth, và gửi một tối hậu thư của riêng ông cho Kassandros, buộc tội ông ta tội giết người vì đã xử tử Olympias và yêu cầu ông ta giao nộp gia đình hoàng gia, vua AlexandrosIV cùng thái hậu Roxana. Cuộc xung đột diễn ra tiếp sau đó đã kéo dài cho tới mùa đông năm 312/311TCN, khi mà một thỏa thuận hòa bình mới đã công nhận Kassandros là tướng quân của châu Âu, Antigonos là "số một ở Châu Á", Ptolemaios là tướng quân của Ai Cập, và Lysimachos là tướng quân của Thrace. Kassandros đã xử tử AlexandrosIV và Roxana vào mùa đông năm 311/310TCN, và tới năm 306–305TCN, các "diadochi" đã tự xưng là vua ở lãnh thổ của mình. Kỉ nguyên Hy Lạp hóa. Sự khởi đầu của Hy Lạp thời kỳ Hy Lạp hóa được xác định bởi cuộc xung đột giữa nhà Antipatros, đầu tiên được lãnh đạo bởi Kassandros (trị vì từ 305-297TCN), con trai của Antipatros, và nhà Antigonos, dưới sự lãnh đạo của vị tướng người Macedonia là Antigonos I Monophthalmos (trị vì từ 306-301TCN) và người con trai của ông ta, vị vua tương lai DemetriosI (trị vì từ 294-288TCN). Kassandros đã vây hãm Athens vào năm 303TCN, nhưng khi Demetrios xâm lược Boeotia để nhằm cắt đứt con đường rút lui của ông, Kassandros đã buộc phải triệt thoái về Macedonia. Khi Antigonos và Demetrios cố gắng tái lập lại Liên minh Hy Lạp của PhilipposII với bản thân họ là hai hegemon, một liên minh được tái lập lại của Kassandros, Ptolemaios I Soter (trị vì từ 305-283TCN) của nhà Ptolemaios ở Ai Cập, Seleukos I Nikator (trị vì từ 305-281TCN) của đế quốc Seleukos, và Lysimachos (trị vì từ 306-281TCN), Vua của Thrace, đã đánh bại nhà Antigonos tại trận Ipsus vào năm 301TCN, Antigonos đã tử trận còn Demetrios đã buộc phải tháo chạy. Kassandros qua đời vào năm 297TCN, và người con ốm yếu của ông là PhilipposIV cũng qua đời ngay trong năm đó, những người con trai khác của Kassandros là Alexandros V của Macedonia (trị vì từ 297-294TCN) và Antipatros II của Macedonia (trị vì từ 297-294TCN) đã kế vị cùng với người mẹ của họ là Thessalonike của Macedonia giữ vai trò là nhiếp chính. Trong lúc Demetrios giao chiến với lực lượng của nhà Antipatros ở Hy Lạp, AntipatrosII đã giết chết người mẹ của mình để giành quyền lực. Người em trai tuyệt vọng của ông, AlexandrosV sau đó đã cầu xin sự trợ giúp tới từ Pyrros của Ipiros (trị vì từ 297-272TCN), ông ta đã từng sát cánh bên cạnh Demetrios tại trận Ipsus nhưng sau đó đã được gửi tới Ai Cập làm con tin như là một phần của thỏa thuận giữa Demetrios và PtolemaiosI. Để đổi lại cho việc đánh bại lực lượng của AntipatrosII và buộc ông ta phải chạy trốn tới triều đình của Lysimachos ở Thrace, Pyrros đã nhận được phần thưởng đó là phần cực tây của vương quốc Macedonia. Demetrios sau đó đã ám sát người cháu họ AlexandrosV của ông ta rồi tự tuyên bố là vua của Macedonia, thế nhưng thần dân lại phản đối sự xa lánh, độc đoán theo kiểu phương đông của ông ta. Chiến tranh đã sớm nổ ra giữa Pyrros và Demetrios vào năm 290TCN khi Lanassa, vợ của Pyrros, con gái của Agathocles của Syracuse, bỏ ông để lấy Demetrios và đem đến cho ông ta hòn đảo Corcyra vốn là của hồi môn của bà. Cuộc chiến kéo dài đến năm 288TCN, khi Demetrios đánh mất sự ủng hộ từ người Macedonia và bỏ trốn khỏi vương quốc. Macedonia sau đó được phân chia giữa Pyrros và Lysimachos, với việc Pyrros chiếm phần phía Tây Macedonia còn Lysimachos là phần phía đông Macedonia. Đến năm 286TCN, Lysimachos đã đánh đuổi Pyrros và quân đội của ông ta ra khỏi Macedonia. Năm 282TCN, một cuộc chiến tranh mới đã bùng nổ giữa SeleukosI và Lysimachos; Lysimachos sau đó đã tử trận trong trận Corupedion và điều này cho phép SeleukosI nắm quyền kiểm soát Thrace và Macedonia. Nhưng SeleukosI lại bị ám sát ngay sau đó vào năm 281TCN bởi viên sĩ quan của mình là Ptolemaios Keraunos, con trai của PtolemaiosI và cháu nội của Antipatros, ông ta tiếp đó tự xưng là vua của Macedonia trước khi bị người Celt giết chết trên chiến trường trong cuộc xâm lược Hy Lạp của họ. Quân đội Macedonia đã tôn vị tướng Sosthenes của Macedonia lên làm vua, mặc dù vậy dường như ông đã từ chối tước hiệu này. Sau khi đánh bại vị thủ lĩnh người Gaul là Bolgios và đánh đuổi đội quân cướp bóc của Brennus, Sosthenes đã qua đời và lại khiến cho Macedonia rơi vào tình trạng hỗn loạn. Những người Gaul xâm lược đã tàn phá Macedonia cho tới khi Antigonos II Gonatas, con trai của Demetrios, đánh bại họ ở Thrace tại trận Lysimachia vào năm 277TCN và sau đó ông đã được tuyên bố là vua của Macedonia. Năm 280TCN, Pyrros đã phát động một chiến dịch ở Magna Graecia (tức là khu vực Nam Ý) chống lại Cộng hòa La Mã, nó được biết đến với tên gọi cuộc chiến tranh Pyrros, tiếp sau là cuộc xâm lược Sicily của ông. Ptolemaios Keraunos đã bảo đảm ngai vàng Macedonia của mình bằng cách giao cho Pyrros 5000 binh sĩ và 20 con voi chiến cho nỗ lực này của ông ta. Pyrros đã quay trở về Ipiros vào năm 275TCN sau khi thất bại hoàn toàn trong cả hai chiến dịch, điều này đã góp phần cho sự trỗi dậy của Rome bởi vì các thành bang Hy Lạp ở miền Nam Ý chẳng hạn như Tarentum lúc này đã trở thành đồng minh La Mã. Pyrros đã xâm lược Macedonia vào năm 274TCN, ông đã đánh bại đạo quân chủ yếu là lính đánh thuê của AntigonosII tại Trận Aous và đánh đuổi ông ta khỏi Macedonia, buộc ông ta phải tìm kiếm nơi ẩn náu cùng hạm đội hải quân của mình ở khu vực biển Aegean. Pyrros đã đánh mất phần lớn sự ủng hộ của mình từ người Macedonia vào năm 273TCN khi những lính đánh thuê ngỗ ngược người Gaul của ông cướp phá khu nghĩa trang hoàng gia ở Aigai. Pyrros đã truy kích AntigonosII ở Peloponnese, tuy nhiên cuối cùng AntigonosII đã có thể giành lại được Macedonia. Pyrros sau đó tử trận khi đang vây hãm Argos vào năm 272TCN, điều này cho phép AntigonosII giành lại phần còn lại của Hy Lạp. Ông sau đó đã khôi phục lại các ngôi mộ của triều đại Argead ở Aigai và sáp nhập vương quốc Paeonia. Liên minh Aetolia đã ngăn trở sự kiểm soát của AntigonosII đối với khu vực miền Trung Hy Lạp, và sự thành lập của liên minh Achaea vào năm 251TCN đã đẩy lùi các lực lượng của người Macedonia ra khỏi phần lớn bán đảo Peloponnese và đôi lúc đã sáp nhập cả Athens và Sparta. Khi đế quốc Seleukos đứng về phía nhà Antigonos của Macedonia chống lại nhà Ptolemaios của Ai Cập trong các cuộc chiến tranh Syria, hải quân của nhà Ptolemaios đã gây gián đoạn nghiêm trọng những nỗ lực của AntigonosII nhằm kiểm soát khu vực lục địa Hy Lạp. Với sự trợ giúp từ hải quân của nhà Ptolemaios, vị chính trị gia người Athen là Chremonides đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống lại uy quyền của người Macedonia mà được biết đến với tên gọi là cuộc chiến tranh Chremonides (267–261TCN). Vào năm 265TCN, Athens đã bị bao vây và vây hãm bởi lực lượng của AntigonosII, và một hạm đội của nhà Ptolemaios đã bị đánh bại trong Trận Cos. Athens cuối cùng đã đầu hàng vào năm 261TCN. Sau khi Macedonia thiết lập một liên minh với vị vua nhà Seleukos là Antiochos II, một thỏa thuận hòa bình giữa AntigonosII và Ptolemaios II Philadelphos của Ai Cập cuối cùng đã được ký kết vào năm 255TCN. Năm 251TCN, Aratos của Sicyon đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống lại AntigonosII, và vào năm 250TCN, PtolemaiosII đã tuyên bố ủng hộ vị vua tự xưng Alexandros của Corinth. Mặc dù Alexandros đã qua đời vào năm 246TCN và Antigonos đã có thể giành được một chiến thắng hải quân trước nhà Ptolemaios tại Andros, người Macedonia đã để mất Acrocorinth vào tay lực lượng của Aratos vào năm 243TCN, tiếp theo sau đó Corinth đã được kết nạp vào liên minh Achaea. AntigonosII đã giảng hòa với liên minh Achaea vào năm 240TCN, nhượng lại những vùng lãnh thổ mà ông đã mất ở Hy Lạp. AntigonosII qua đời vào năm 239TCN và đã được kế vị bởi người con trai của ông là Demetrios II của Macedonia (trị vì từ 239-229TCN). Nhằm tìm kiếm một liên minh với Macedonia để chống lại người Aetolia, thái hậu và nhiếp chính của Ipiros, Olympias II, đã đề nghị gả người con gái của bà là Phthia của Macedonia cho DemetriosII. Demetrios II đã chấp nhận lời đề nghị của bà, nhưng ông lại gây tổn hại đến mối quan hệ với nhà Seleukos bằng cách ly dị Stratonike của Macedonia. Mặc dù người Aetolia đã thiết lập một liên minh với liên minh Achaea như là một hệ quả của điều này, DemetriosII đã có thể xâm lược Boeotia và chiếm nó từ tay của người Aetolia vào năm 236TCN. Liên minh Achaea đã thành công trong việc chiếm Megalopolis vào năm 235TCN, và vào giai đoạn cuối triều đại của DemetriosII thì người Macedonia đã để mất gần như toàn bộ bán đảo Peloponnese ngoại trừ Argos. DemetriosII còn mất đi một đồng minh ở Ipiros khi mà chế độ quân chủ bị lật đổ trong một cuộc cách mạng cộng hòa. DemetriosII đã tranh thủ sự trợ giúp của vị vua Illyria là Agron để bảo vệ Acarnania chống lại người Aetolia, và vào năm 229TCN, họ đã thành công trong việc đánh bại hạm đội liên hợp của người Aetolia và liên minh Achaea tại trận Paxos. Một vị vua người Illyria khác, Longarus của vương quốc Dardania, đã xâm lược Macedonia và đánh bại một đạo quân của DemetriosII ngay trước khi ông qua đời vào năm 229TCN. Mặc dù người con trai còn nhỏ tuổi của ông là Philippos đã ngay lập tức kế vị ngai vàng, nhiếp chính của ông ta Antigonos III Doson (trị vì từ 229-221TCN) vốn là người cháu họ của AntigonosII, đã được quân đội tôn lên làm vua và Philippos là người thừa kế của ông sau khi Antigonos giành được một loạt các chiến thắng quân sự trước người Illyria ở phía Bắc và người Aetolia ở Thessaly. Aratos đã phái một sứ thần tới chỗ Antigonos III vào năm 226TCN để thiết lập một liên minh vốn không ai ngờ tới vào thời điểm đó khi mà vị vua cải cách Cleomenes III của Sparta đang đe dọa phần còn lại của Hy Lạp trong cuộc chiến tranh Cleomenes (229–222TCN). Để đổi lại cho sự trợ giúp về mặt quân sự, AntigonosIII yêu cầu Corinth phải được trao trả lại cho người Macedonia, Aratos cuối cùng đã đồng ý vào năm 225TCN. Năm 224TCN, quân đội của AntigonosIII đã chiếm Arcadia từ tay người Sparta. Sau khi thiết lập một liên minh Hy Lạp theo cùng cách thức giống như liên minh Corinth của PhilipposII, ông đã thành công trong việc đánh bại người Sparta tại trận Sellasia vào năm 222TCN. Đây là lần đầu tiên trong suốt chiều dài lịch sử của mình, Sparta đã bị chiếm đóng bởi một thế lực ngoại bang, điều này đã khôi phục lại vị thế của Macedonia như là cường quốc số một ở Hy Lạp. Antigonos đã qua đời một năm sau đó có lẽ là do bệnh lao, ông đã để lại một vương quốc Hy Lạp hóa hùng mạnh cho người kế vị PhilipposV. Philippos V của Macedonia (trị vì từ 221-179TCN) ngay lập tức đã đối mặt với những thách thức đối với quyền lực của ông đến từ bộ lạc người Illyria là người Dardani và liên minh Aetolia. PhilipposV và đồng minh của ông đã thành công trong việc chống lại người Aetolia và đồng minh của họ trong cuộc Chiến tranh Đồng Minh (220–217 TCN), tuy nhiên ông đã giảng hòa với người Aetolia ngay khi nghe tin về những cuộc tấn công của người Dardani ở phía Bắc và chiến thắng của người Carthage trước người La Mã tại Trận hồ Trasimene vào năm 217TCN. Demetrios của Pharos được cho là đã thuyết phục PhilipposV chiếm lấy Illyria trước tiên nếu muốn thực hiện một cuộc xâm lược nhằm vào bán đảo Ý. Năm 216TCN, PhilipposV đã phái 100 chiếc thuyền chiến hạng nhẹ tới khu vực biển Adriatic để tấn công Illyria, một động thái mà đã khiến cho Scerdilaidas của vương quốc Ardiaei kêu gọi sự trợ giúp từ người La Mã. Rome đã phản ứng lại bằng cách phái 10 chiếc quinquereme hạng nặng từ Sicily tới tuần tra khu vực bờ biển Illyria, điều này khiến cho PhilipposV phải hủy bỏ kế hoạch và ra lệnh cho hạm đội của mình rút lui, ngăn chặn một cuộc chiến có thể xảy ra vào lúc đó. Chiến tranh với Rome. Vào năm 215TCN, vào giai đoạn đỉnh điểm của cuộc chiến tranh Punic lần thứ hai với đế quốc Carthage, chính quyền La Mã đã chặn đứng một chiếc thuyền ở ngoài khơi bờ biển Calabria, trên chiếc thuyền này có một phái viên người Macedonia và một sứ thần người Carthage đang giữ một hiệp ước được Hannibal Barca soạn thảo, nó là một tuyên bố về một liên minh với PhilipposV. Hiệp ước này quy định rằng chỉ có Carthage mới có quyền đàm phán các điều khoản về sự đầu hàng giả định của Rome và hứa trợ giúp lẫn nhau trong trường hợp sau khi được hồi sinh Rome sẽ tìm kiếm sự trả thù đối với Macedonia hoặc Carthage. Mặc dù vậy người Macedonia có lẽ chỉ quan tâm đến việc bảo vệ những vùng đất mới được chinh phục của họ ở Illyria, tuy thế người La Mã vẫn có thể ngăn trở bất cứ tham vọng lớn lao nào của PhilipposV đối với khu vực Adriatic trong cuộc chiến tranh Macedonia lần thứ nhất (214–205TCN). Vào năm 214TCN, Rome đã bố trí một hạm đội tại Oricus, nơi này cùng với Apollonia đã bị người Macedonia tấn công. Khi người Macedonia chiếm Lissus vào năm 212TCN, Viện nguyên lão La Mã đã phản ứng lại bằng cách xúi giục liên minh Aetolia, Sparta, Elis, Messenia, và Attalos I (trị vì từ 241-197TCN) của Pergamon gây chiến chống lại PhilipposV, giữ cho ông bận rộn và tránh xa khỏi Ý. Liên minh Aetolia đã ký kết một hiệp ước hòa bình với PhilipposV vào năm 206TCN, còn Cộng hòa La Mã đã đàm phán hiệp ước Phoenice vào 205TCN để chấm dứt chiến tranh và cho phép người Macedonia giữ lại một số thành trì mà họ đã chiếm được ở Illyria. Mặc dù người La Mã đã từ chối lời đề nghị của người Aetolia vào năm 202TCN về việc Rome một lần nữa tuyên bố chiến tranh với Macedonia, Viện nguyên lão La Mã đã cân nhắc nghiêm túc đối với lời đề nghị tương tự tới từ Pergamon và đồng minh Rhodes của nó vào năm 201TCN. Những quốc gia này đã tỏ ra lo lắng về liên minh của PhilipposV với Antiochos III Đại đế của đế quốc Seleukos, mà đã xâm lược đế quốc Ptolemaios vốn đã mệt mỏi vì chiến tranh và kiệt quệ về tài chính trong cuộc Chiến tranh Syria lần thứ Năm (202–195TCN), khi PhilipposV chiếm những thành trì của nhà Ptolemaios ở khu vực biển Aegea. Mặc dù các phái viên của Rome đã đóng một vai trò chủ chốt trong việc thuyết phục Athens gia nhập vào liên minh chống Macedonia cùng với Pergamon và Rhodes vào năm 200TCN, thế nhưng "comitia centuriata" (hội đồng nhân dân) đã bác bỏ đề nghị về việc tuyên chiến với Macedonia của Viện nguyên lão La Mã. Trong khi đó, PhilipposV đã chinh phục các vùng đất ở khu vực Hellespont và Bosporus cũng như là đảo Samos của nhà Ptolemaios, điều này đã dẫn đến việc Rhodes thành lập một liên minh với Pergamon, Byzantium, Cyzicus, và Chios chống lại Macedonia. Bất chấp trên danh nghĩa là đã liên minh với vị vua nhà Seleukos, PhilipposV đã thua trận thủy chiến Chios vào năm 201TCN và đã bị hạm đội của người Rhodes và Pergamon phong tỏa ở Bargylia. Trong lúc Philippos V đang bận giao chiến với các đồng minh Hy Lạp của Rome, thì Rome lại coi điều này như là một cơ hội để trừng phạt người đồng minh cũ của Hannibal bằng một cuộc chiến tranh mà họ hy vọng là sẽ mang đến một chiến thắng và không cần quá nhiều nguồn lực. Viện nguyên lão La Mã đã yêu cầu PhilipposV chấm dứt chiến tranh chống lại các quốc gia Hy Lạp lân cận và tuân theo một ủy ban phân xử quốc tế để giải quyết các bất bình. Khi "comitia centuriata" cuối cùng đã bỏ phiếu tán thành việc tuyên chiến của Viện nguyên lão La Mã vào năm 200TCN và trao tối hậu thư của họ cho PhilipposV, trong đó yêu cầu rằng một tòa án đánh giá thiệt hại gây ra cho Rhodes và Pergamon, vị vua của Macedonia đã bác bỏ điều này. Điều này đã đánh dấu sự khởi đầu của Chiến tranh Macedonia lần thứ hai (200–197TCN), với việc Publius Sulpicius Galba Maximus chỉ huy các hoạt động quân sự ở Apollonia. Người Macedonia đã thành công trong việc bảo vệ lãnh thổ của họ trong khoảng gần hai năm, thế nhưng chấp chính quan La Mã Titus Quinctius Flamininus đã thành công trong việc đánh bật PhilipposV khỏi Macedonia vào năm 198TCN, buộc binh sĩ của ông phải thoái lui tới Thessaly. Khi liên minh Achaea phản bội lại người Macedonia và đứng về phía Rome, vị vua của Macedonia đã cầu hòa, nhưng bởi vì các điều khoản đưa ra được cho là quá khắc nghiệt, và vì thế cuộc chiến tranh vẫn tiếp tục diễn ra. Vào tháng 6 năm 197TCN, người Macedonia đã bị đánh bại tại Trận Cynoscephalae. Rome sau đó đã thông qua một hiệp ước mà buộc Macedonia phải từ bỏ phần lớn những vùng lãnh thổ Hy Lạp của nó ngoại trừ chính Macedonia, trừ khi nó đóng vai trò là một vùng đệm để đề phòng các cuộc tấn công của người Illyria và Thracia vào Hy Lạp. Mặc dù một số người Hy Lạp nghi ngờ người La Mã có ý định thay thế Macedonia như là một thế lực bá chủ mới ở Hy Lạp, Flaminius đã tuyên bố tại thế vận hội Isthmia vào năm 196TCN rằng Rome có ý định bảo toàn quyền tự do của người Hy Lạp bằng việc không để lại bất cứ đơn vị đồn trú nào và cũng không đòi hỏi cống nạp bằng bất cứ hình thức nào. Lời hứa hẹn của ông đã bị trì hoãn bởi những cuộc đàm phán với vị vua Sparta là Nabis, vào lúc đó ông ta đã chiếm Argos, tuy vậy người La Mã đã rút quân khỏi Hy Lạp vào năm 194TCN. Nhận được sự khuyến khích từ liên minh Aetolia và lời kêu gọi giải phóng Hy Lạp khỏi bàn tay của người La Mã từ họ, vị vua Seleukos AntiochosIII đã đổ bộ cùng với quân đội của mình ở Demetrias, Thessaly, vào năm 192TCN, và được người Aetolia bầu làm "strategos". Macedonia, liên minh Achaea, và các thành bang Hy Lạp khác đã giữ sự liên minh của họ với Rome. Người La Mã sau đó đã đánh bại đế quốc Seleukos trong Trận Thermopylae vào năm 191TCN và tiếp đó là trong trận Magnesia vào năm 190TCN, điều này đã buộc nhà Seleukos phải trả một khoản bồi thường chiến tranh, phá hủy phần lớn hạm đội của họ, và từ bỏ yêu sách của họ đối với bất cứ vùng lãnh thổ nào nằm ở phía Bắc hoặc phía Tây của dãy núi Taurus theo hiệp ước Apamea vào năm 188TCN. Được sự chấp nhận của Rome, PhilipposV đã có thể chiếm được một vài thành phố ở miền trung Hy Lạp mà vốn đã liên minh với AntiochosIII vào năm 191–189TCN, trong khi đó Rhodes và Eumenes II (trị vì từ 197-159TCN) của Pergamon đã giành được những vùng lãnh thổ ở Tiểu Á. Thất bại trong việc làm vừa lòng tất cả các phe trong những cuộc tranh chấp lãnh thổ khác nhau, vào năm 184/183TCN Viện nguyên lão La Mã đã quyết định buộc PhilipposV phải từ bỏ Aenus và Maronea, bởi vì chúng đã được tuyên bố là các thành phố tự do theo hiệp ước Apamea. Điều này đã làm giảm bớt nỗi sợ hãi của EumenesII rằng Macedonia có thể gây ra một mối đe dọa đối với những vùng đất của ông ta ở Hellespont. Perseus của Macedonia (trị vì từ 179-168TCN) đã kế vị PhilipposV và xử tử người em trai Demetrios của mình, ông ta vốn được lòng người La Mã nhưng lại bị Perseus buộc tội phản quốc. Perseus sau đó đã cố gắng thiết lập các liên minh hôn nhân với Prusias II của Bithynia và Seleukos IV Philopator của đế quốc Seleukos, cùng với đó là đã nối lại các mối quan hệ với Rhodes mà đã khiến cho EumenesII cảm thấy vô cùng lo lắng. Mặc dù EumenesII đã cố gắng làm suy yếu ngấm ngầm các mối quan hệ ngoại giao này, Perseus đã gây dựng một liên minh với liên minh Boeotia, mở rộng quyền lực của mình tới Illyria và Thrace, và vào năm 174TCN, ông đã giành được vai trò quản lý ngôi đền Apollo tại Delphi với tư cách là một thành viên của hội đồng đại nghị liên bang. Eumenes II đã đến Rome vào năm 172TCN và đọc một bài diễn văn trước Viện nguyên lão để tố cáo sự vi phạm và các tội ác được quy cho là của Perseus. Điều này đã thuyết phục được Viện nguyên lão tuyên bố cuộc chiến tranh Macedonia lần thứ Ba (171–168TCN). Mặc dù Perseus đã giành chiến thắng trước người La Mã tại trận Callinicus vào năm 171TCN, quân đội Macedonia đã bị đánh bại tại trận Pydna vào tháng 6 năm 168TCN. Perseus chạy trốn tới Samothrace nhưng ông đã đầu hàng ngay sau đó và bị đưa tới Rome cho lễ diễu binh chiến thắng của Lucius Aemilius Paullus Macedonicus, ông sau đó bị quản thúc tại Alba Fucens và qua đời tại đây vào năm 166TCN. Người La Mã đã bãi bỏ chế độ quân chủ của Macedonia bằng cách thiết lập bốn nước cộng hòa đồng minh riêng biệt thay cho nó, thủ phủ của chúng đặt tại Amphipolis, Thessalonica, Pella, và Pelagonia. Người La Mã đã áp đặt các điều luật khắt khe ngăn cản những sự tiếp xúc về kinh tế và xã hội giữa các cư dân của những nước cộng hòa này, bao gồm cả việc cấm các cuộc hôn nhân giữa họ và (tạm thời) ngăn cấm việc khai thác vàng và bạc. Một người tên là Andriskos đã tự xưng là hậu duệ của nhà Antigonos, ông ta sau đó nổi dậy chống lại người La Mã và được tuyên bố là vua của Macedonia. Ông đã đánh bại một đạo quân La Mã dưới quyền của vị praetor Publius Juventius Thalna trong cuộc chiến tranh Macedonia lần thứ Tư (150–148TCN). Bất chấp điều này, Andriskos đã bị đánh bại trong Trận Pydna lần thứ hai bởi Quintus Caecilius Metellus Macedonicus vào năm 148TCN Tiếp sau sự kiện này, người La Mã đã hủy diệt Carthage vào năm 146TCN và giành chiến thắng trước liên minh Achaea trong Trận Corinth, mở ra thời kỳ Hy Lạp thuộc La Mã và sự thiết lập từ từ của Tỉnh Macedonia của La Mã. Phân cấp chính quyền. Đứng đầu chính quyền của Macedonia là nhà vua ("basileos"). Ít nhất là từ triều đại của PhilipposII trở đi, nhà vua đã được trợ giúp bởi những người hầu hoàng gia ("basilikoi paides"), cận vệ ("somatophylakes"), các chiến hữu ("hetairoi"), những người bạn ("philoi"), một hội đồng mà bao gồm các thành viên của quân đội, và (trong thời kỳ Hy Lạp hóa) các quan tòa. Thiếu các bằng chứng cho thấy mức độ chia sẻ quyền lực của mỗi một nhóm trong số này với nhà vua hoặc là sự tồn tại của chúng đã có nền tảng trong một khuôn khổ hiến pháp chính thức. Trước triều đại của PhilipposII, thể chế duy nhất được chứng minh bằng văn bản chứng từ đó là chế độ quân chủ. Vương quyền và triều đình hoàng gia. Chính quyền được biết đến đầu tiên của Macedonia cổ đại đó là chế độ quân chủ của nó, chế độ này kéo dài tới năm 167TCN khi nó bị người La Mã bãi bỏ. Chế độ quân chủ cha truyền con nối của người Macedonia đã tồn tại ít nhất là từ thời kỳ Hy Lạp cổ xưa với gốc rễ là tầng lớp quý tộc Homer từ thời kỳ Mycenae. Thucydides viết rằng vào thời xa xưa, Macedonia được phân chia thành các bộ lạc địa phương nhỏ, mỗi bộ lạc lại có một tiểu vương, các bộ lạc thuộc Hạ Macedonia cuối cùng đã được thống nhất lại dưới quyền của một vị vua vĩ đại, người đã thể hiện quyền lực như là một vị chúa tể đối với các vị tiểu vương của Thượng Macedonia.Sự kế vị cha-con theo trực hệ đã bị phá vỡ sau vụ ám sát Orestes của Macedonia vào năm 396TCN (được cho là dưới bàn tay của vị nhiếp chính và người kế vị của ông là Aeropos II của Macedonia), làm mờ mịt vấn đề đó là không rõ liệu rằng ở đây là chế độ con trai trưởng thừa kế theo truyền thống có sẵn hay là một hội đồng quân đội hoặc của người dân sẽ có quyền lập hiến được lựa chọn một vị vua khác. Chúng ta không rõ liệu rằng con trai của các hoàng hậu hoặc những người vợ người Macedonia có luôn luôn được ưu tiên hơn những người khác hay không bởi vì Archelaos I của Macedonia đã lên ngôi sau khi đã ám sát người thừa kế được chỉ định của cha mình, bản thân Archelaos là một người con trai của Perdiccas II của Macedonia với một nữ nô lệ. Chúng ta biết được rằng các vị vua Macedonia trước thời PhilipposII đã nắm giữ những đặc quyền và thực hiện trách nhiệm tiếp đãi những sứ thần ngoại quốc, quyết định chính sách đối ngoại của vương quốc, và đàm phán liên minh với những cường quốc ngoại bang. Sau chiến thắng của người Hy Lạp ở Salamis vào năm 480TCN, vị tướng người Ba Tư là Mardonius đã phái Alexandros I của Macedonia tới Athens với tư cách là một đại diện ngoại giao chính để dàn xếp một liên minh giữa đế quốc Achaemenes và Athens. Quyết định phái Alexandros được dựa trên sự thông gia của ông với một gia đình quý tộc Ba Tư và mối quan hệ chính thức trước đây của ông với thành bang Athens. Với việc nắm giữ các nguồn tài nguyên tự nhiên bao gồm vàng, bạc, gỗ và những vùng đất đai thuộc hoàng gia, các vị vua Macedonia thời kỳ đầu cũng còn có khả năng mua chuộc các phe phái trong nước và ngoại quốc bằng những món quà ấn tượng. Có ít thông tin được biết đến về hệ thống pháp luật của Macedonia cổ đại ngoại trừ việc nhà vua giữ vai trò là thẩm phán tối cao của vương quốc. Các vị vua Macedonia cũng là Tổng tư lệnh của quân đội. PhilipposII cũng còn được đánh giá cao nhờ vào những hành động mộ đạo của mình trong vai trò như là tư tế tối cao của quốc gia. Ông đã thực hiện các nghi lễ hiến hế hàng ngày và dẫn dắt những lễ hội tôn giáo. Alexandros đã bắt chước nhiều khía cạnh khác nhau của triều đại người cha của mình, chẳng hạn như ban tặng đất đai và các món quà cho những quý tộc trung thành, nhưng ông cũng đã đánh mất sự ủng hộ của những người chủ chốt trong số họ vì đã chấp nhận một số lễ phục của một vị quân chủ Phương Đông, Ba Tư, một "chúa tể và chủ nhân" như Carol J. King đề xuất, thay vì của một "người chiến hữu" giống như mối quan hệ truyền thống của các vị vua Macedonia với những chiến hữu của họ. Cha của Alexandros, PhilipposII, có lẽ đã chịu ảnh hưởng từ các truyền thống của người Ba Tư khi ông áp dụng các thể chế tương tự như các cơ quan ở trong vương quốc Achaemenes, chẳng hạn như là có một thư ký hoàng gia, kho lưu trữ hoàng gia, những người hầu hoàng gia, và một ngai vàng. Những người hầu hoàng gia. Những người hầu hoàng gia là các cậu bé và những thiếu niên được triệu tập theo nghĩa vụ từ các gia đình quý tộc và phục vụ các vị vua Macedonia có lẽ là từ triều đại của PhilipposII trở đi, mặc dù vậy bằng chứng chắc chắn hơn cho điều này có niên đại là vào triều đại của Alexandros Đại đế. Những người hầu hoàng gia đóng vai trò gián tiếp trong các hoạt động chính trị quan trọng và việc được triệu tập theo nghĩa vụ có vai trò như là một dự định để cho họ bước đầu làm quen với đời sống chính trị. Sau một thời gian huấn luyện và phụng sự, những người hầu này được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những chiến hữu và tùy tùng cá nhân của nhà vua. Trong suốt quá trình huấn luyện của họ, những người hầu được kỳ vọng sẽ bảo vệ nhà vua khi ông yên giấc, dắt ngựa cho nhà vua, giúp nhà vua cưỡi ngựa, tháp tùng nhà vua trong các chuyến đi săn hoàng gia, và phụng sự nhà vua trong "symposia" (tức là các buổi tiệc rượu). Mặc dù có ít các bằng chứng về những người hầu hoàng gia vào thời kỳ nhà Antigonos, chúng ta biết được rằng một số người trong số họ đã bỏ chạy cùng với Perseus của Macedonia tới Samothrace sau thất bại của ông trước người La Mã vào năm 168TCN. Các cận vệ hoàng gia đảm nhiệm vai trò là các thành viên thân cận nhất của nhà vua tại triều đình và trên chiến trường. Họ được chia thành hai nhóm: "agema" của "hypaspistai", một kiểu lực lượng đặc nhiệm cổ đại thường có số lượng vài trăm người, và một nhóm nhỏ hơn được đích thân nhà vua lựa chọn căn cứ vào những phẩm chất cá nhân của mỗi người hoặc là để tôn vinh những gia đình quý tộc mà họ xuất thân từ đó. Do đó, lực lượng cận vệ, bị giới hạn về số lượng và hình thành nên nhóm thân tín của nhà vua, không phải lúc nào cũng chịu trách nhiệm cho việc bảo vệ sinh mạng của nhà vua khi ở trong hoặc ngoài chiến trường; tước hiệu và chức vụ của họ là một biểu hiện của sự ưu tú nhiều hơn, có lẽ được sử dụng để chế ngự sự ganh đua giữa các gia đình quý tộc. Chiến hữu, những người bạn, hội đồng, và các cuộc họp. Các chiến hữu, bao gồm lực lượng chiến hữu kỵ binh và lực lượng bộ binh "pezhetairoi" tinh nhuệ, về cơ bản đại diện cho một nhóm lớn hơn những cận vệ của nhà vua. Những người được tin cậy nhất hoặc những chiến hữu có cấp bậc cao nhất hình thành nên một hội đồng mà giữ vai trò như là một ban cố vấn cho nhà vua. Một số lượng nhỏ các bằng chứng cho thấy sự tồn tại của một hội đồng quân sự trong thời chiến và một hội đồng nhân dân trong thời bình. Các thành viên của hội đồng có quyền phát biểu một cách tự do, và mặc dù không có bằng chứng trực tiếp cho thấy rằng họ đã bỏ phiếu cho các vấn đề của nhà nước, một điều rõ ràng rằng đôi khi nhà vua ít nhất là đã chịu sức ép phải đồng ý với yêu cầu của họ. Hội đồng rõ ràng đã được trao quyền xét xử các vụ án phản quốc và ấn định hình phạt cho họ, chẳng hạn như Alexandros Đại đế đã đóng vai trò như là công tố viên trong phiên tòa xét xử và kết án ba người bị cáo buộc có liên quan đến âm mưu ám sát người cha của ông (trong khi những người khác đã được tuyên bố trắng án). Tuy nhiên, có lẽ là không đủ bằng chứng để cho phép kết luận rằng các hội đồng và hội nghị lập pháp thường xuyên được duy trì hoặc có cơ sở hợp hiến vững chắc, hoặc rằng những quyết định của họ luôn được nhà vua chú ý. Ngay sau khi Alexandros qua đời, các chiến hữu đã ngay lập tức tổ chức một hội đồng để nắm quyền kiểm soát đế quốc của ông, nhưng nó đã sớm trở nên mất ổn định bởi sự cạnh tranh và xung đột nổ ra giữa các thành viên của nó. Quân đội cũng sử dụng binh biến như là một công cụ để đạt được các mục đích chính trị. Quan tòa, khối thịnh vượng chung, chính quyền địa phương, và các quốc gia đồng minh. Các vị vua nhà Antigonos của Macedonia đã dựa vào những vị quan lại địa phương khác nhau để quản lý các công việc của nhà nước. Họ bao gồm các quan chức cấp cao của thành phố, chẳng hạn như vị "strategos" phụ trách quân sự và vị politarch, tức là vị tổng đốc được bầu chọn ("archon") của một thành phố lớn ("polis"), cũng như chức vụ tôn giáo-chính trị là "epistates". Không có bằng chứng còn sót lại nào về lai lịch cá nhân của các vị quan chức này, mặc dù vậy họ có thể được chọn trong số những nhóm quý tộc "philoi" và "hetairoi", họ đã được bổ nhiệm thế chỗ cho các tướng lĩnh quân đội. Ở Athens cổ đại, chế độ dân chủ của Athen đã được khôi phục trong ba lần khác nhau sau khi thành phố bị chinh phục lần đầu tiên bởi Antipatros vào năm 322TCN. Khi nó liên tục nằm dưới sự cai trị của người Macedonia, nó đã bị cai trị bởi một chế độ đầu sỏ do người Macedonia dựng nên bao gồm những công dân giàu có nhất của thành bang. Những thành bang khác đã được đối xử theo cách hoàn toàn khác và được cho phép có một mức độ tự chủ lớn hơn. Sau khi PhilipposII chinh phục Amphipolis vào năm 357TCN, thành phố này đã được phép giữ lại chế độ dân chủ của nó, bao gồm hiến pháp của nó, hội đồng nhân dân, hội đồng thành phố ("boule"), và các cuộc bầu cử những vị quan chức mới hàng năm, nhưng một đội quân đồn trú người Macedonia đã được bố trí bên trong các bức tường của thành phố cùng với một viên tham tán hoàng gia người Macedonia ("epistates") để giám sát các vấn đề chính trị của thành phố. Philippi, thành phố được PhilipposII thành lập, là thành phố duy nhất trong khối thịnh vương chung Macedonia mà có một chính quyền dân chủ với hội đồng nhân dân, bởi vì hội đồng ("ecclesia") của Thessaloniki, trong thực tế dường như chỉ có vai trò hình thức. Một số thành phố cũng duy trì các khoản thu hàng năm của họ. Các vị vua của Macedonia và chính quyền trung ương quản lý các khoản thu được phát sinh từ những ngôi đền và tầng lớp tư tế. Trong khối thịnh vương chung Macedonia, một số bằng chứng từ thế kỷ thứ 3TCN chỉ ra rằng các quan hệ ngoại giao với nước ngoài đã được quản lý bởi chính quyền trung ương. Mặc dù mỗi một thành phố Macedonia trên danh nghĩa là đã tham gia vào các sự kiện toàn Hy Lạp với tư cách là một thực thể độc lập, trong thực tế, việc cấp "asylia" (bất khả xâm phạm, miễn trừ ngoại giao, và quyền ẩn náu tại những nơi tôn nghiêm) cho các thành phố nhất định đã được xử lý trực tiếp bởi nhà vua. Tương tự, các thành bang Hy Lạp nằm trong "koina" Hy Lạp cùng thời (tức là liên bang của các thành bang, "sympoliteia") tuân theo các nghị định được bỏ phiếu tập thể bởi các thành viên của liên minh. Trong các thành bang thuộc một liên minh hoặc liên bang, việc cấp "proxenia" (tức là việc tiếp đãi các sứ thần ngoại quốc) thường là một quyền được chia sẻ bởi chính quyền địa phương và trung ương. Nhiều bằng chứng còn sót lại cho thấy việc cấp "proxenia" là đặc quyền duy nhất của chính quyền trung ương ở trong liên minh Ipiros, và một số bằng chứng cho thấy sự sắp đặt tương tự ở trong khối thịnh vượng chung Macedonia. Các thành bang mà đã liên minh với Macedonia ban hành các nghị định liên quan đến "proxenia" của riêng họ. Các liên minh ngoại quốc cũng thiết lập liên minh với các vị vua Macedonia, chẳng hạn như liên minh Crete đã ký các hiệp ước với Demetrios II Aetolicos và Antigonos III Doson bảo đảm sự cung cấp lính đánh thuê Crete cho quân đội Macedonia, và bầu chọn Philippos V của Macedonia là quan nhiếp chính danh dự ("prostates") của liên minh. Quân đội Macedonia thời kỳ đầu. Cấu trúc cơ bản của quân đội Macedonia cổ đại là sự phân chia giữa lực lượng chiến hữu kỵ binh ("hetairoi") và lực lượng chiến hữu bộ binh ("pezhetairoi"), được tăng cường thêm bởi các đội quân đồng minh khác nhau, các binh sĩ ngoại quốc được tuyển mộ, và lính đánh thuê. Lực lượng chiến hữu bộ binh có lẽ đã tồn tại từ triều đại của Alexandros I của Macedonia. Kỵ binh Macedonia, mặc áo giáp cơ bắp, đã trở nên nổi tiếng trong và sau khi họ tham gia vào cuộc chiến tranh Peloponnesus, vào thời điểm đó họ đứng về phía Athens hoặc Sparta. Bộ binh Macedonia trong thời kỳ này bao gồm những người chăn cừu và nông dân được huấn luyện nghèo nàn, trong khi lực lượng kỵ binh bao gồm các quý tộc. Dựa vào các chứng cứ là những tác phẩm nghệ thuật thuộc giai đoạn đầu thế kỷ thứ 4TCN, có một ảnh hưởng rõ rệt từ người Sparta đối với quân đội Macedonia trước thời PhilipposII. Nicholas Viktor Sekunda tuyên bố rằng vào giai đoạn đầu triều đại của PhilipposII vào năm 359TCN, quân đội Macedonia bao gồm 10,000 bộ binh và 600 kỵ binh, thế nhưng Malcolm Errington cảnh báo rằng những con số được các tác giả cổ đại trích dẫn nên được xem xét với sự hoài nghi nhất định. Philippos II và Alexandros Đại đế. Sau khi dành nhiều năm làm một con tin chính trị ở Thebes, PhilipposII đã cố gắng mô phỏng các bài tập quân sự mẫu của người Hy Lạp và phát những trang bị tiêu chuẩn cho các dân binh, và đã thành công trong việc biến quân đội Macedonia từ một đạo quân được tuyển mộ từ những người nông dân thành một đạo quân được huấn luyện tốt, một đạo quân chuyên nghiệp. PhilipposII đã áp dụng một số chiến thuật quân sự từ kẻ thù của mình, chẳng hạn như là đội hình kỵ binh "embolon" từ người Scythia. Lực lượng bộ binh của ông sử dụng những chiếc khiên "peltai" thay thế cho những chiếc khiên kiểu "hoplon" trước đó, họ được trang bị với những chiếc mũ giáp bảo vệ, giáp bảo vệ chân, và cả áo giáp bảo vệ thân hoặc các dải băng quanh bụng "kotthybos", cùng với những ngọn giáo "sarissa" và một dao găm là vũ khí phụ. Lực lượng bộ binh "hypaspistai" tinh nhuệ, bao gồm những người lính được tuyển chọn từ hàng ngũ "pezhetairoi", được thành lập dưới triều đại của PhilipposII và được tiếp tục sử dụng dưới triều đại của Alexandros Đại đế. PhilipposII cũng là người thiết lập nên lực lượng cận vệ hoàng gia ("somatophylakes"). Về phần đội quân chiến đấu tầm xa trang bị nhẹ của mình, Philippos II đã tuyển mộ lực lượng đánh thuê là các cung thủ Crete cũng như những lính phóng lao, lính ném đá, và cung thủ người Thrace, Paeonia, và Illyrii. Ông cũng chiêu mộ các kỹ sư chẳng hạn như Polyidos của Thessaly và Diades của Pella, những người có tài năng trong việc xây dựng các vũ khí công thành tiên tiến và những cỗ pháo mà có thể bắn những mũi tên lớn. Sau khi giành được các mỏ dồi dào ở Krinides (được đổi tên thành Philippi), ngân khố hoàng gia đã có đủ khả năng để đưa ra chiến trường một đạo quân chuyên nghiệp thường trực. Nguồn thu của nhà nước tăng lên dưới triều đại của PhilipposII đã cho phép người Macedonia xây dựng một hạm đội nhỏ lần đầu tiên, mà bao gồm các tàu trireme. Đơn vị kỵ binh người Macedonia duy nhất được chứng thực dưới thời Alexandros là lực lượng chiến hữu kỵ binh, tuy vậy ông đã thành lập một lực lượng chiến hữu kỵ binh "hipparchia" (tức là một đơn vị gồm vài trăm kỵ binh) mà bao gồm toàn bộ là người Ba Tư trong giai đoạn tiến hành chiến dịch ở châu Á. Khi tiến quân tới châu Á, Alexandros đã mang theo 1,800 kỵ binh từ Macedonia, 1,800 kỵ binh từ Thessaly, 600 kỵ binh từ những vùng đất còn lại của Hy Lạp, và 900 kỵ binh "prodromoi" từ Thrace. Antipatros đã có thể nhanh chóng xây dựng một lực lượng gồm 600 kỵ binh bản địa người Macedonia để tham gia vào cuộc chiến tranh Lamia khi nó nổ ra vào năm 323TCN. Những thành viên tinh nhuệ nhất trong lực lượng "hypaspistai" của Alexandros được gọi là "agema", và một thuật ngữ mới cho "hypaspistai" đã được nảy sinh ra sau trận Gaugamela vào năm 331TCN: "argyraspides" (những chiếc khiên bạc). Lực lượng này tiếp tục phụng sự sau giai đoạn triều đại của Alexandros Đại đế và có thể có nguồn gốc châu Á. Về tổng thể, lực lượng bộ binh phalanx sử dụng giáo của ông có số lượng khoảng 12,000 người, 3,000 trong số đó là lực lượng "hypaspistai" tinh nhuệ và 9,000 là "pezhetairoi". Alexandros tiếp tục sử dụng các cung thủ Crete và đưa thêm lực lượng cung thủ bản địa người Macedonia vào quân đội. Sau trận Gaugamela, các cung thủ có gốc Tây Á đã trở nên phổ biến. Quân đội nhà Antigonos. Quân đội Macedonia đã tiếp tục phát triển dưới thời nhà Antigonos. Người ta không rõ liệu có bao nhiêu người đã được chọn làm "somatophylakes", có tám người trong lực lượng này vào giai đoạn cuối triều đại của Alexandros Đại đế, trong khi lực lượng "hypaspistai" dường như đã bị biến thành lực lượng hỗ trợ cho "somatophylakes". Tại trận Cynoscephalae vào năm 197TCN, người Macedonia đã chỉ huy khoảng 16,000 lính giáo phalanx. Đội kỵ binh chiến hữu hoàng gia của Alexandros Đại đế gồm 800 người, bằng số lượng kỵ binh trong đội kỵ binh thần thánh (tiếng Latin: "sacra ala"; tiếng Hy Lạp: "hiera ile") được Philippos V của Macedonia chỉ huy trong cuộc chiến tranh Đồng Minh vào năm 219TCN. Lực lượng kỵ binh chính quy người Macedonia có số lượng 3,000 người tại Callinicus, nó tách biệt với lực lượng kỵ binh thần thánh và kỵ binh hoàng gia. Trong khi các kỵ binh Macedonia vào thế kỷ thứ 4 chiến đấu mà không cần khiên, người Macedonia sau đó đã bắt chước sử dụng khiên cho kỵ binh từ những người Celt xâm lược vào thập niên 270TCN, họ sau đó đã định cư ở Galatia, ở khu vực trung tâm Anatolia. Nhờ vào những bản khắc đương thời đến từ Amphipolis và Greia có niên đại lần lượt vào năm 218 và 181TCN, các nhà sử học đã có thể dựng lại một phần nào đó tổ chức của quân đội nhà Antigonos dưới thời PhilipposV. Ít nhất là từ triều đại của Antigonos III Doson trở đi, lực lượng bộ binh tinh nhuệ nhất dưới thời nhà Antigonos là lực lượng peltast, những người lính trang bị nhẹ hơn và cơ động hơn sử dụng những ngọn lao "peltai", gươm, và một chiếc khiên đồng nhỏ hơn những chiếc khiên của những người lính phalanx Macedonia. Trong lực lượng peltast, khoảng gần 2,000 người được lựa chọn để phục vụ trong lực lượng tinh nhuệ tiên phong "agema", cùng với các peltast khác với số lượng khoảng 3,000. Số lượng peltast biến đổi theo thời kỳ nhưng có lẽ chưa bao giờ vượt quá 5,000 người. Họ đã chiến đấu bên cạnh những người lính phalanx mà lúc này được chia thành các đội quân "chalkaspides" (khiên đồng) và "leukaspides" (khiên trắng). Các vị vua nhà Antigonos của Macedonia đã tiếp tục mở rộng và trang bị lực lượng hải quân. Kassandros đã duy trì một hạm đội nhỏ tại Pydna, Demetrios I của Macedonia có một hạm đội ở Pella, và Antigonos II Gonatas, trong thời kỳ đảm nhiệm vai trò như là một vị tướng cho Demetrios ở Hy Lạp, đã sử dụng hạm đội để giữ những pháo đài của người Macedonia ở Demetrias, Chalkis, Piraeus, và Corinth. Hải quân đã được phát triển đáng kể trong cuộc chiến tranh Chremonides (267–261TCN), điều này cho phép hải quân Macedonia đánh bại hải quân Ai Cập của nhà Ptolemaios trong trận Cos vào năm 255TCN và Trận Andros vào năm 245TCN và cho phép mở rộng ảnh hưởng của người Macedonia lên toàn bộ quần đảo Cyclades. AntigonosIII Doson đã sử dụng hải quân Macedonia để xâm lược Caria, trong khi PhilipposV phái 200 tàu tham gia vào trận Chios vào năm 201TCN. Hải quân Macedonia đã bị cắt giảm xuống còn 6 tàu theo hiệp ước hòa bình vào năm 197TCN để kết thúc cuộc chiến tranh Macedonia lần thứ hai với cộng hòa La Mã, mặc dù vậy Perseus của Macedonia đã nhanh chóng tập hợp được một số tàu "lemboi" vào thời điểm cuộc chiến tranh Macedonia lần thứ ba bùng nổ vào năm 171TCN. Xã hội và văn hóa. Sau khi được chấp thuận là ngôn ngữ của triều đình dưới triều đại của Philippos II của Macedonia, các tác giả Macedonia cổ đại đã viết những tác phẩm của mình bằng tiếng Hy Lạp Koine, "lingua franca" vào giai đoạn cuối của thời kỳ Cổ Điển và ở Hy Lạp thời kỳ Hy Lạp hóa. Bằng chứng hiếm hoi bằng văn bản chỉ ra rằng tiếng Macedonia bản địa là một thổ ngữ của tiếng Hy Lạp tương tự như tiếng Hy Lạp Thessaly và tiếng Hy Lạp tây bắc, hoặc là một ngôn ngữ có họ hàng gần gũi với tiếng Hy Lạp. Đa phần các bản khắc còn sót lại từ thời kỳ Macedonia cổ đại đều được viết bằng tiếng Hy Lạp Attic và ngôn ngữ kế tục của nó là tiếng Koine. Tiếng Hy Lạp Attic (và tiếng Koine sau này) là ngôn ngữ thường được sử dụng bởi quân đội Macedonia cổ đại, mặc dù vậy chúng ta biết được rằng Alexandros Đại đế đã từng hét to một mệnh lệnh khẩn cấp bằng tiếng Macedonia cho các cận vệ của ông trong bữa tiệc rượu mà ông giết Cleitos Đen. Tiếng Macedonia đã biến mất trong thời kỳ Hy Lạp hóa hoặc là vào thời kỳ La Mã, và hoàn toàn bị thay thế bằng tiếng Hy Lạp Koine. Tín ngưỡng tôn giáo và các tục lệ mai táng. Vào thế kỷ thứ 5TCN, người Macedonia và những người Hy Lạp ở phía nam ít nhiều đã thờ cúng cùng các vị thần trong hệ thống các vị thần Hy Lạp. Ở Macedonia, các chức vụ chính trị và tôn giáo thường đan xen. Chẳng hạn, người đứng đầu thành phố Amphipolis cũng giữ vai trò là tư tế của thần Asklepios, vị thần y học của người Hy Lạp; một cơ cấu tương tự cũng đã tồn tại ở thành phố Kassandreia, tại đây vị tư tế của giáo phái tôn vinh người sáng lập nên thành phố là Kassandros cũng là người đứng đầu trên danh nghĩa của thành phố. Điện thờ chính của thần Zeus đã được duy trì ở Dion, trong khi một cái khác ở Veria được dành riêng cho Herakles và được vua Demetrios II Aetolikos (trị vì từ 239-229 TCN) bảo trợ. Trong khi đó, các giáo phái ngoại quốc từ Ai Cập đã được triều đình hoàng gia ủng hộ, chẳng hạn như ngôi đền Sarapis tại Thessaloniki. Người Macedonia cũng còn có các mối liên hệ với những giáo phái "quốc tế"; ví dụ như các vị vua Macedonia Philippos III của Macedonia và Alexandros IV của Macedonia đã dâng tặng những lễ vật tạ ơn cho quần thể đền thờ Samothrace của giáo phái thần bí Cabeiri. Trong ba ngôi mộ hoàng gia ở Vergina, các họa sĩ lành nghề đã trang trí những bức tường bằng một cảnh thần thoại về việc thần Hades bắt cóc nữ thần Persephone và các cảnh đi săn hoàng gia, ngoài ra những món đồ tùy táng xa hoa bao gồm vũ khí, áo giáp, các chiếc chén uống rượu, và những đồ vật cá nhân đã được chôn cất cùng với người chết, thi hài của họ được hỏa táng trước khi được chôn cất trong các quan tài vàng. Một số đồ tùy táng và trang trí vốn phổ biến trong các ngôi mộ Macedonia khác, thế nhưng một số đồ vật được tìm thấy ở Vergina rõ ràng lại gắn liền với hoàng gia, bao gồm một vương miện, các đồ vật xa xỉ, và vũ khí cùng áo giáp. Các học giả đã tranh luận về danh tính những người chủ nhân của các ngôi mộ kể từ lúc phát hiện ra tro cốt của họ vào năm 1977–1978, và nghiên cứu mới đây cùng với khám nghiệm pháp y đã đi đến kết luận rằng ít nhất một trong số những người được an táng ở đây là PhilipposII. Nằm gần ngôi Mộ thứ nhất là tàn tích còn lại của một "heroon", một ngôi đền dành cho các nghi lễ thờ cúng người chết. Vào năm 2014, Ngôi mộ Kasta đã được phát hiện ở ngoài rìa của Amphipolis và là ngôi mộ cổ đại lớn nhất được tìm thấy ở Hy Lạp (tới năm 2017). Kinh tế và các tầng lớp xã hội. Những người Macedonia trẻ tuổi thường được cho là đã tham gia vào việc đi săn và đấu võ mà vốn là một hệ quả phụ sinh ra từ lối sống thay đổi bãi chăn nuôi theo mùa trong quá trình chăn thả các loài gia súc chẳng hạn như cừu và dê, trong khi đó nhân giống ngựa và chăn nuôi bò cũng là những nghề phổ biến khác. Một số người Macedonia lại làm nông, các hoạt động thủy lợi, khai hoang, và trồng trọt hay thường được hỗ trợ bởi chính quyền Macedonia. Nền kinh tế Macedonia và tài chính của nhà nước chủ yếu được hậu thuẫn nhờ vào việc khai thác gỗ và khai thác những kim loại giá trị chẳng hạn như là đồng, sắt, vàng, và bạc. Việc biến đổi những nguyên liệu này thành những sản phẩm hoàn chỉnh và việc bán những sản phẩm đó đã khuyến khích sự phát triển của các trung tâm đô thị và dần dần thay đổi lối sống mộc mạc của người Macedonia trong suốt thế kỷ thứ 5TCN. Nhà vua Macedonia là một nhân vật chuyên chế đứng đầu chính quyền và xã hội, với quyền lực được cho là vô hạn để quản lý các vấn đề của nhà nước và chính sách công, nhưng ông còn là nhà lãnh đạo của một hê thống cai trị mang tính cá nhân cao độ với những mối quan hệ gần gũi hoặc họ hàng với "hetairoi" của ông, lực lượng nòng cốt của tầng lớp quý tộc Macedonia. Những quý tộc này chỉ đứng sau nhà vua về quyền lực và đặc quyền, họ nắm giữ các cấp bậc trong chính quyền của nhà vua và giữ vai trò là các sĩ quan chỉ huy trong quân đội.Các vương quốc Hy Lạp hóa kế tục đế quốc của Alexandros thì lại có hệ thống cai trị mang tính quan liêu nhiều hơn với sự di động xã hội lớn hơn dành cho các thành viên của xã hội trong quá trình tìm cách gia nhập vào tầng lớp quý tộc, đặc biệt là ở Ai Cập dưới thời nhà Ptolemaios. Mặc dù được cai trị bởi một vị vua và tầng lớp quý tộc thượng võ, Macedonia dường như không sử dụng nô lệ rộng rãi giống như các quốc gia Hy Lạp cùng thời. Nghệ thuật thị giác. Dưới triều đại của ArchelaosI vào thế kỷ thứ 5TCN, tầng lớp thượng lưu người Macedonia cổ đại đã đón nhận các phong tục tập quán và truyền thống nghệ thuật từ những vùng đất khác của Hy Lạp trong khi vẫn lưu giữ các nghi thức tang lễ từ xa xưa có lẽ là từ thời kỳ Homer mà tiếp nối bởi tiệc rượu đêm, chúng được đặc trưng bởi các đồ vật chẳng hạn như là những krater bằng kim loại được trang trí mà chứa tro cốt của các quý tộc Macedonia đã khuất trong ngôi mộ của họ. Trong số này, chiếc krater lớn bằng đồng đến từ một ngôi mộ thế kỷ thứ 4TCN ở Thessaloniki có tên gọi là Derveni Krater đã được trang trí bằng cảnh tượng thần Dionysos và đoàn tùy tùng của ông ta, nó thuộc về một quý tộc từng phục vụ trong quân đội. Các tác phẩm nghệ thuật bằng kim loại của người Macedonia thường theo phong cách dạng bình của người Athen từ thế kỷ thứ 6TCN trở đi, và chúng cùng với những chiếc chén uống rượu, nữ trang, bình chứa, vòng hoa, vương miện, và tiền xu nằm trong số các đồ vật kim loại được tìm thấy trong những ngôi mộ của người Macedonia. Những tác phẩm nghệ thuật sơn màu của người Macedonia còn tồn tại cho đến ngày nay bao gồm các bức bích họa và tranh tường, ngoài ra còn có các trang trí trên những tác phẩm điêu khắc nghệ thuật chẳng hạn như các bức tượng và phù điêu. Chẳn hạn như, dấu vết của màu sắc vẫn còn tồn tại trên các bức phù điêu chạm nổi thấp của cỗ quan tài Alexandros có niên đại vào thế kỷ thứ 4TCN. Những bức tranh của người Macedonia đã cho phép các nhà sử học nghiên cứu về kiểu cách quần áo cũng như các tranh bị quân sự được người Macedonia cổ đại sử dụng. Bên cạnh các tác phẩm nghệ thuật bằng kim loại và tranh vẽ, những bức tranh khảm là một hình thức quan trọng khác trong số những tác phẩm nghệ thuật Macedonia còn sót lại. Bức Tranh khảm săn hưu đực ở Pella với các đặc trưng ba chiều và phong cách mơ mộng của nó cho thấy ảnh hưởng rõ ràng từ các tác phẩm nghệ thuật sơn màu và khuynh hướng nghệ thuật Hy Lạp hóa rộng lớn hơn, mặc dù vậy đề tài săn bắn đơn sơ lại phù hợp với thị hiếu của người Macedonia. Tương tự, bức tranh khảm Săn Sư tử của Pella minh họa một cảnh tượng của Alexandros với người chiến hữu của mình là Crateros hoặc đơn giản là một bức tranh minh họa thông thường về sự đi săn tiêu khiển của hoàng gia. Những bức tranh khảm với các chủ đề thần thoại bao gồm cảnh tượng thần Dionysos cưỡi một con báo săn và Helen của Troy bị bắt cóc bởi Theseus, tranh khảm này sử dụng những đặc trưng mơ mộng và cách đánh bóng thực tương tự như các bức tranh của người Macedonia. Những chủ đề phổ biến trong các bức tranh và tranh khảm của người Macedonia bao gồm chiến tranh, cảnh đi săn, và cảnh tấn công tình dục của nam giới (tức là bắt cóc phụ nữ để hãm hiếp hoặc kết hôn); những chủ đề này đôi khi được kết hợp vào trong một tác phẩm duy nhất và có lẽ ngụ ý về một mối liên hệ ẩn dụ. Nhà hát, âm nhạc và biểu diễn nghệ thuật. Philippos II đã bị ám sát vào năm 336TCN tại nhà hát ở Aigai, Macedonia, vào giữa lúc đang diễn ra trò chơi và những chương trình biểu diễn kỷ niệm đám cưới của con gái ông, Cleopatra của Macedonia. Alexandros Đại đế được cho là một người có sự ngưỡng mộ lớn lao dành cho cả nhà hát và âm nhạc. Ông đặc biệt yêu thích các vở kịch của những tác giả bi kịch của Athen cổ điển là Aeschylos, Sophocles, và Euripides, những tác phẩm của họ đã góp phần hình thành nên nền giáo dục Hy Lạp thích hợp cho những thần dân phương đông mới của ông bên cạnh việc học tập bằng tiếng Hy Lạp, bao gồm cả các tác phẩm sử thi của Homer. Trong khi ông cùng quân đội của mình đóng quân tại Tyre (ngày nay ở Lebanon), Alexandros đã cho phép các vị tướng của mình vừa đóng vai trò là các quan toà trong các cuộc thi thể thao vừa tham gia biểu diễn trên sân khấu trong các vở bi kịch Hy Lạp. Các diễn viên nổi tiếng vào thời đó là Thessalos và Athenodoros đã biểu diễn tại sự kiện này. Âm nhạc cũng đã được đề cao ở Macedonia. Ngoài agora, gymnasium, sân khấu, các điện thờ tôn giáo và những ngôi đền được dành riêng cho các vị nam và nữ thần Hy Lạp, một trong những dấu hiệu chính của một thành phố Hy Lạp đích thực nằm trong đế quốc của Alexandros Đại đế đó là sự hiện diện của một Odeon dành cho biểu diễn ca kịch. Nó không chỉ hiện diện tại Alexandria ở Ai Cập mà còn ở những thành phố xa xôi như là Ai-Khanoum thuộc Afghanistan ngày nay. Văn học, giáo dục, triết học, và sự bảo trợ. Perdiccas II của Macedonia có thể đã tiếp đón những vị khách là các học giả Hy Lạp Cổ điển nổi tiếng tại triều đình của ông, chẳng hạn như là nhà thơ trữ tình Melanippides và vị thầy thuốc lừng danh Hippocrates, và tác phẩm "enkomion" viết cho Alexandros I của Macedonia của Pindar có thể đã được sáng tác ngay tại triều đình của ông ta. ArchelaosI đã tiếp đón nhiều học giả Hy Lạp, các nghệ sĩ, và những người nổi tiếng tại triều đình của ông hơn những vị tiên vương. Những vị khách danh dự của ông bao gồm họa sĩ Zeuxis, kiến trúc sư Callimachos, nhà thơ Choerilos của Samos, Timotheos của Miletos, và Agathon, cũng như nhà soạn kịch người Athen Euripides. Triết gia Aristotle, người đã học tập tại Học viện Plato của Athens và sáng lập ra trường phái Aristotle, đã chuyển tới Macedonia, người ta nói rằng ông vừa dạy dỗ chàng trai trẻ tuổi Alexandros Đại đế vừa đảm nhận vai trò là một nhà ngoại giao đáng kính cho PhilipposII. Trong số những thành viên thuộc đoàn tùy tùng gồm các nghệ sĩ, nhà văn, và triết gia của Alexandros có Pyrrho của Elis, người sáng lập nên chủ nghĩa hoài nghi của Pyrrho, một trường phái triết học hoài nghi. Dưới triều đại Antigonos, Antigonos Gonatas đã xây dựng các mối quan hệ thân mật với Menedemos của Eretria, người sáng lập ra trường phái Eretria của triết học, và Zenon, người sáng lập nên chủ nghĩa khắc kỷ. Liên quan đến việc chép sử của người Hy Lạp thời kỳ đầu và việc chép sử của người La Mã sau này, Felix Jacoby đã xác định được có thể có đến 13 nhà sử học đã viết về Macedonia trong tác phẩm "Fragmente der griechischen Historiker" của ông. Ngoài các ghi chép của Herodotus và Thucydides, những tác phẩm được Jacoby sưu tập chỉ là những đoạn rời rạc, trong khi những tác phẩm khác đã bị mất hoàn toàn, chẳng hạn như là lịch sử cuộc chiến tranh Illyria của Perdiccas III do Antipatros viết. Những nhà sử học người Macedonia là Marsyas của Pella và Marsyas của Philippi đã viết các tác phẩm lịch sử của Macedonia, vị vua nhà Ptolemaios là Ptolemaios I Soter còn tác giả của một tác phẩm lịch sử về Alexandros, và Hieronymos của Cardia đã viết một tác phẩm lịch sử về những vị vua kế tục Alexandros. Sau chiến dịch Ấn Độ của Alexandros Đại đế, vị tướng người Macedonia là Nearchos đã viết một tác phẩm về chuyến du hành của ông từ cửa sông Ấn tới Vịnh Ba Tư. Sử gia người Macedonia Crateros đã xuất bản một tập hợp các nghị định được thi hành bởi hội đồng nhân dân của nền dân chủ Athen, có vẻ là trong khi ông theo học tại ngôi trường của Aristotle. Philippos V của Macedonia đã sở hữu các bản thảo của tác phẩm lịch sử do Theopompos viết về PhilipposII, nó đã được các học giả triều đình của ông thu thập và phổ biến bằng các bản sao sau này. Các môn thể thao và thời gian nhàn rỗi. Khi Alexandros I của Macedonia thỉnh cầu để được tranh tài trong cuộc thi chạy của thế vận hội Olympia cổ đại, ban đầu những người tổ chức cuộc thi đã từ chối lời thỉnh cầu của ông, họ giải thích rằng chỉ có người Hy Lạp mới được phép tranh tài. Tuy nhiên, AlexandrosI đã đưa ra bằng chứng đó là một gia phả hoàng gia của nhà Argead chứng minh dòng dõi từ Temenos của Argros cổ đại, một động thái mà cuối cùng đã thuyết phục được các giám khảo "Hellanodikai" của thế vận hội Olympia về nguồn gốc Hy Lạp của ông và thẩm quyền để tranh tài. Vào cuối thế kỷ thứ 5TCN, vị vua người Macedonia ArchelaosI đã được trao thưởng vòng hoa ô liu ở cả Olympia và Delphi (tại thế vận hội Pythia) vì giành chiến thắng trong các cuộc đua xe ngựa PhilipposII đã nhận được tin báo về việc con ngựa của ông đã giành chiến thắng tại thế vận hội Olympia (trong một cuộc đua ngựa hoặc là đua xe ngựa) vào đúng ngày người con trai Alexandros Đại đế của ông được sinh ra, vào ngày 19 hoặc 20tháng 7 năm 356TCN. Những người Macedonia không thuộc hoàng gia cũng đã tranh tài và giành chiến thắng trong các cuộc thi đấu khác nhau tại thế vận hội Olympia vào thế kỷ thứ 4TCN. Ngoài các cuộc thi văn chương, Alexandros đã tổ chức các cuộc thi thi âm nhạc và thể thao trên khắp đế quốc của ông. Ăn uống và ẩm thực. Macedonia cổ đại chỉ sản xuất ra một vài loại thực phẩm và đồ uống hảo hạng mà được đánh giá rất cao ở những nơi khác trong thế giới Hy Lạp, chúng bao gồm cá chình từ vịnh Strymon và đặc biệt là rượu vang được sản xuất ở Chalcidice. Việc sử dụng bánh mì dẹt như là một đĩa đựng thức ăn được biết đến sớm nhất là được thực hiện ở Macedonia vào thế kỷ thứ 3 TCN, mà có lẽ đã ảnh hưởng đến loại bánh mì mâm của thời kỳ Trung Cổ.Gia súc và dê đã được tiêu thụ, mặc dù vậy lại không có ghi chú nào về loại pho mát núi của người Macedonia trong văn chương cho tới tận thời kỳ Trung Cổ. Tác giả hài kịch Menandros đã viết rằng thói quen ăn uống của người Macedonia đã thâm nhập vào giới thượng lưu của Athen; ví dụ như, việc đưa thịt vào món tráng miệng của một bữa ăn. Người Macedonia dường như cũng đã đưa món "mattye" vào ẩm thực Athen, một món ăn thường được làm từ thịt gà hoặc các loại thịt được tẩm gia vị, muối, và nước xốt, nó được ăn trong khi uống rượu vang. Món ăn đặc biệt này đã bị chế giễu và gán ghép với sự phóng túng và say xỉn trong một vở kịch của nhà thơ trào phúng người Athen Alexis kể về sự suy đồi đạo đức của người Athen dưới thời Demetrios I của Macedonia. "Tiệc rượu đêm" ở vương quốc Macedonia và những vùng đất của người Hy Lạp là một bữa tiệc dành cho tầng lớp quý tộc và giai cấp đặc quyền, một dịp để tiệc tùng, chè chén, tiêu khiển, và đôi khi là thảo luận về triết học. Các "hetairoi", những thành viên chủ chốt của chế độ quý tộc Macedonia, được cho là sẽ tham gia vào các bữa tiệc như vậy cùng với nhà vua của mình. Họ cũng được cho là sẽ tháp tùng nhà vua trong các chuyến đi săn hoàng gia để kiếm thịt thú săn cũng như là để giải trí. Bản sắc dân tộc. Có một số bất đồng cả giữa các học giả cổ đại và hiện đại về bản sắc dân tộc của người Macedonia cổ đại. Ernst Badian nhận thấy rằng gần như toàn bộ các tài liệu tham khảo còn tồn tại tới ngày nay về sự tương phản và khác biệt giữa người Hy Lạp và Macedonia tồn tại trong các bài viết diễn văn của Arrianus, một người sống vào thời đế quốc La Mã, khi đó bất kỳ khái niệm nào về sự khác biệt chủng tộc giữa người Macedonia và những người Hy Lạp khác đều khó hiểu. Hatzopoulos lập luận rằng không có sự khác biệt thực sự nào về mặt dân tộc nào giữa người Macedonia và Hy Lạp, chỉ có duy nhất một sự khác biệt về mặt chính trị được tạo ra sau khi liên minh Corinth được tạo thành vào năm 337TCN (mà được lãnh đạo bởi Macedonia thông qua việc bầu chọn PhilipposII là "hegemon" của liên minh, trong khi ông không phải là một thành viên của liên minh này),N. G. L. Hammond khẳng định rằng các quan điểm cổ đại phân biệt bản sắc dân tộc của Macedonia với phần còn lại của thế giới nói tiếng Hy Lạp sẽ được xem là một sự biểu hiện xung đột giữa hai hệ thống chính trị khác nhau: hệ thống dân chủ của các thành bang (ví dụ như Athens) chống lại chế độ quân chủ (Macedonia). Các học giả khác mà cũng tán thành quan điểm cho rằng sự khác biệt giữa người Macedonia và Hy Lạp là về chính trị chứ chứ không phải là sự khác biệt về chủng tộc bao gồm Michael B. Sakellariou, Malcolm Errington, và Craige B. Champion. Anson lập luận rằng một số tác giả Hy Lạp đã diễn đạt những quan niệm phức tạp hoặc thậm chí luôn thay đổi và mơ hồ về bản sắc dân tộc chính xác của người Macedonia, vốn bị một số học giả chẳng hạn như Aristotle trong tác phẩm "Chính trị" của ông xem là người man rợ và những người khác cho là bán Hy Lạp hoặc là người Hy Lạp. Roger D. Woodard khẳng định rằng ngoài việc vẫn còn không chắc chắn về việc phân loại chính xác tiếng Macedonia và mối quan hệ của nó với tiếng Hy Lạp, các tác giả cổ đại vẫn còn đưa ra những ý kiến trái ngược nhau về người Macedonia.Simon Hornblower chỉ rõ bản sắc Hy Lạp của người Macedonia, xem xét đến nguồn gốc, ngôn ngữ, sự thờ cúng và trang phục của họ. Bất kỳ nhận thức nào trước đây về sự khác biệt dân tộc giữa người Hy Lạp và Macedonia đã phai mờ dần vào năm 148TCN không lâu sau khi người La Mã chính phục Macedonia và sau đó là phần còn lại của Hy Lạp với thất bại của liên minh Achaea trước Cộng hòa La Mã tại trận Corinth. Công nghệ và kỹ thuật. Nghệ thuật kiến trúc. Mặc dù đã sử dụng một sự pha trộn từ các hình mẫu và phong cách khác nhau đến từ phần còn lại của Hy Lạp, kiến trúc của người Macedonia lại không đại diện cho một phong cách độc đáo hoặc khác biệt nào xuất phát từ các kiến trúc Hy Lạp cổ đại khác. Trong số các thức cột cổ điển, các kiến trúc sư người Macedonia thích dùng thức cột Ionic, đặc biệt là trong các sân nhỏ có hàng cột bao quanh của những ngôi nhà riêng. Có một số ví dụ còn tồn tại cho tới ngày nay về kiến trúc cung điện của người Macedonia mặc dù chúng hiện ở trong tình trạng đổ nát bao gồm một cung điện tại địa điểm kinh đô Pella, dinh thự mùa hè ở Vergina gần cố đô Aigai, và dinh thự hoàng gia tại Demetrias gần Volos ngày nay. Tại Vergina, tàn tích của ba phòng tiệc lớn với các sàn lát bằng đá cẩm thạch (bị bao phủ bởi những mảnh vụn mái ngói) với kích thước mặt bằng sàn đo được khoảng 16.7 x 17.6 m (54.8 x 57.7 ft), có lẽ cho thấy những ví dụ sớm nhất về các giàn mái hình tam giác đồ sộ, chúng được cho là có niên đại là vào giai đoạn trước triều đại của Antigonos II Gonatas hoặc thậm chí là vào giai đoạn bắt đầu thời kỳ Hy Lạp hóa. Kiến trúc của người Macedonia sau này còn có thêm các vòm và mái vòm. Các cung điện ở cả Vergina và Demetrias đều có các bức tường xây từ loại gạch bùn được phơi khô, ngoài ra cung điện ở Demetrias lại có bốn tháp ở các góc và nằm vòng quanh một sân trong nằm ở trung tâm theo phong cách của một dinh thự kiên cố thích hợp cho một vị vua hoặc ít nhất là một vị tổng đốc quân sự. Các vị vua Macedonia còn trài trợ cho các công trình kiến trúc nằm ngoài Macedonia. Chẳng hạn, sau chiến thắng tại trận Chaeronea (338 TCN), PhilipposII đã xây dựng một công trình tưởng niệm hình tròn tại Olympia, nó được gọi là Philippeion, ông đã cho trang trí bên trong nó bằng những bức tượng miêu tả bản thân mình, cha mẹ của ông là Amyntas III của Macedonia và Eurydice I của Macedonia, người vợ của ông là Olympias, và người con trai của ông, Alexandros Đại đế. Tàn tích của khoảng 20 nhà hát Hy Lạp còn tồn tại cho tới ngày nay ở các khu vực thuộc Macedonia và Thrace ở Hy Lạp gồm: 16 nhà hát ngoài trời, ba odea, và có thể là một nhà hát đang được khai quật ở Veria. Công nghệ và kỹ thuật quân sự. Vào thời kỳ Hy Lạp hóa, việc các quốc gia Hy Lạp tài trợ cho sự phát triển và phổ biến các loại vũ khí công thành vặn xoắn mạnh mẽ hơn, các tàu hải quân và những kiểu dáng tiêu chuẩn cho vũ khí và áo giáp đã trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Dưới thời PhilipposII và Alexandros Đại đế, nhiều cải tiến đã được thực hiện đối với pháo công thành chẳng hạn như là các ballista bắn mũi nỏ và các vũ khí công thành chẳng hạn như là những tháp công thành khổng lồ. E.W.Marsden và M.Y.Treister cho rằng vị vua Macedonia Antigonos I Monophthalmos và người kế vị của ông Demetrios I của Macedonia đã có những cỗ pháo công thành mạnh nhất thế giới Hy Lạp hóa vào cuối thế kỷ thứ 4TCN. Cuộc vây hãm Salamis, Cyprus, vào năm 306TCN đã đòi hỏi phải xây dựng những vũ khí công thành lớn và triệu tập những người thợ lành nghề đến từ nhiều vùng của Tây Á. DemetriosI đã xây dựng một tháp công thành cho cuộc vây hãm Rhodes (305–304 TCN) của người Macedonia, nó cần trên 3000 binh sĩ để vận hành và được thiết kế cao 9 tầng. Phần bệ của nó có diện tích , 8 bánh xe có rãnh được điều khiển theo hai hướng bởi các trục xoay, ba mặt của nó được bao phủ bởi các tấm thép để bảo vệ chúng khỏi lửa, và các cửa sổ được mở một cách cơ học (che chắn bằng những màn che bằng vải nhồi len để làm giảm sự va đập từ những viên đạn của các ballista) có kích thước khác nhau để phù hợp với việc bắn các loại tên từ mũi tên cho tới những mũi nỏ lớn hơn. Trong cuộc vây hãm Echinus của Philippos V của Macedonia vào năm 211TCN, đạo quân vây hãm đã đào các đường hầm dưới lòng đất để bảo vệ những người lính và công binh khi họ quay về và khi từ trại quay lại công sự vây hãm. Họ sử dụng hai tòa tháp công thành nối với nhau bằng một đoạn tường vách tạm thời bằng liễu gai, hai tòa tháp được trang bị máy bắn tên (ballista) và mái che để bảo vệ phần trước phiến gỗ công thành. Bất chấp tiếng tăm ban đầu của Macedonia như là một người dẫn đầu trong công nghệ vây hãm, Alexandria ở Ai Cập đã trở thành trung tâm cho những cải tiến về công nghệ đối với máy bắn đá vào thế kỷ thứ 3TCN, như được chứng minh bởi các tác phẩm của Philo của Alexandria. Những sáng tạo khác. Mặc dù có lẽ không sản sinh ra nhiều sự cải tiến về công nghệ giống như các khu vực khác của Hy Lạp, nhưng có một số phát minh mà có thể đã được bắt nguồn từ Macedonia ngoài các vũ khí và pháo công thành. Máy ép oliu được vận hành bằng cách quay để sản xuất dầu oliu có thể đã được phát minh ở Macedonia cổ đại hoặc ở một vùng khác của Hy Lạp, hoặc thậm chí ở tận phía đông như Cận Đông hoặc Anatolia. Loại thủy tinh ép khuôn xuất hiện lần đầu tiên ở Macedonia vào thế kỷ thứ 4TCN (mặc dù nó có thể đã tồn tại một cách đồng thời ở đế quốc Achaemenes); Những mảnh thủy tinh mờ, trong suốt được biết đến đầu tiên trong thế giới Hy Lạp đã được phát hiện ở Macedonia và Rhodes và có niên đại là vào giai đoạn nửa sau của thế kỷ thứ 4TCN.Tài liệu khoa học và kỹ thuật bằng tiếng Hy Lạp đã bắt đầu ở Athens cổ đại vào thế kỷ thứ 5TCN, trong khi những trung tâm chính tạo ra những cải tiến về mặt kỹ thuật và tài liệu trong thời kỳ Hy Lạp hóa là Alexandria, Rhodes, và Pergamon. Tiền tệ, tài chính, và tài nguyên. Việc đúc các đồng xu bằng bạc đã bắt đầu dưới triều đại của AlexandrosI như là một cách thức để chi trả cho các phí tổn của hoàng gia. ArchelaosI đã tăng hàm lượng bạc trong các đồng xu của ông cũng như đúc thêm các đồng xu bằng đồng để thúc đẩy thương mại trong nước và với nước ngoài. Việc đúc tiền xu đã gia tăng đáng kể dưới các triều đại của PhilipposII và Alexandros Đại đế, đặc biệt là sau khi nguồn thu của nhà nước đã được gia tăng nhờ việc chiếm được vùng đồi Pangaion. Trong thời kỳ Hy Lạp hóa, các triều đại của Macedonia, nhà Ptolemaios ở Ai Cập, và vương quốc Pergamon đã độc quyền kiểm soát hoàn toàn đối với các hoạt động khai thác mỏ, đa phần là để đảm bảo kinh phí cho quân đội của họ. Vào giai đoạn cuối của những cuộc chinh phạt của Alexandros Đại đế, gần 30 xưởng đúc tiền kéo dài từ Macedonia tới Babylon đã sản xuất ra những đồng tiền xu tiêu chuẩn. Quyền đúc tiền được chia sẻ bởi chính quyền trung ương và một số chính quyền địa phương, tức là các chính quyền tự trị của các thành phố Thessaloniki, Pella, và Amphipolis nằm trong khối thịnh vượng chung của người Macedonia. Người Macedonia cũng là những người đầu tiên phát hành các đồng tiền khác nhau dành cho lưu hành nội bộ và với bên ngoài. Nguồn thu của nhà nước cũng còn được gia tăng thông qua việc thu nông sản từ những vùng đất trồng trọt, gỗ từ các cánh rừng, và thuế đối với những hàng nhập khẩu và xuất khẩu tại các bến cảng. Một số mỏ, các lùm cây, những vùng đất nông nghiệp, và các cánh rừng thuộc về nhà nước Macedonia đã được nhà vua Macedonia khai thác, mặc dù vậy chúng thường được cho thuê như là tài sản hoặc được trao như là tiền trợ cấp dành cho các thành viên thuộc giới quý tộc chẳng hạn như là các "hetairoi" và "philoi". Thuế quan bắt buộc đối với những hàng hóa lưu thông đến và ra khỏi các cảng biển của người Macedonia đã tồn tại ít nhất là từ triều đại của AmyntasIII, và Callistratos của Aphidnae (mấtkhoảngnăm 350TCN) đã giúp đỡ PerdiccasIII tăng gấp đôi thu nhập hàng năm của vương quốc từ thuế hải quan, từ 20 lên thành 40 talent. Sau khi đánh bại Perseus tại Pydna vào năm 168TCN, Viện nguyên lão La Mã đã cho phép mở lại các mỏ sắt và đồng, nhưng lại cấm khai thác vàng và bạc đối với bốn nhà nước chư hầu mới được thiết lập thay thế cho chế độ quân chủ ở Macedonia. Điều này có thể là do Viện nguyên lão lo ngại rằng sự giàu có vật chất thu được từ các hoạt động khai thác vàng và bạc sẽ cho phép người Macedonia tài trợ cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Người La Mã có lẽ cũng đã quan tâm đến việc ngăn chặn sự lạm phát gây ra bởi một sự gia tăng cung ứng tiền tệ đến từ sự khai thác bạc của người Macedonia. Người Macedonia đã tiếp tục đúc các đồng tiền xu bằng bạc trong khoảng thời gian từ năm 167 đến năm 148TCN (tức là ngay trước khi thiết lập tỉnh Macedonia của La Mã), và khi người La Mã dỡ bỏ lệnh cấm người Macedonia khai thác bạc vào năm 158TCN, điều đó có thể chỉ đơn giản là đã phản ánh thực trạng địa phương vì hoạt động trái phép này đã tiếp diễn bất chấp sắc lệnh của Viện nguyên lão. Triều đại của Philippos II và Alexandros Đại đế chứng kiến sự chấm dứt của thời đại Hy Lạp Cổ điển và sự ra đời của nền văn minh Hy Lạp hóa, tiếp theo sự truyền bá của văn hóa Hy Lạp tới khu vực Cận Đông trong và sau những cuộc chinh phục của Alexandros. Người Macedonia sau đó di cư tới Ai Cập và các vùng đất của châu Á, thế nhưng sự thuộc địa hóa mạnh mẽ các vùng đất ngoại quốc đã làm cạn kiệt nguồn nhân lực sẵn có của chính Macedonia, làm suy yếu vương quốc trong các cuộc chiến tranh với những cường quốc Hy Lạp hóa khác, đồng thời góp phần vào sự sụp đổ của nó và sự chinh phục của người La Mã. Tuy nhiên, theo Errington thì sự truyền bá của văn hóa và tiếng Hy Lạp mà được củng cố bởi những cuộc chinh phục của Alexandros ở Tây Á và Bắc Phi đã đóng vai trò như là một "tiền đề" cho sự bành trướng sau này của người La Mã tới những vùng đất đó và toàn bộ nền tảng cho đế quốc Byzantine Các vị vua Macedonia của các quốc gia kế tục như nhà Ptolemaios và Seleukos đã chấp nhận những người đến từ tất cả mọi nơi trong thế giới Hy Lạp như là các chiến hữu "hetairoi" của họ và không xây dựng một bản sắc dân tộc như nhà Antigonos. Các học giả hiện đại đã tập trung vào việc những vương quốc Hy Lạp hóa kế tục này đã bị ảnh hưởng bởi nguồn gốc Macedonia của họ nhiều hơn như thế nào so với các truyền thống của người phương đông hoặc người Hy Lạp miền nam. Trong khi xã hội Sparta vẫn chủ yếu giống như một hòn đảo và Athens tiếp tục đặt ra những giới hạn nghiêm ngặt đối với việc có được quyền công dân, các thành phố Hy Lạp hóa toàn cầu ở châu Á và đông bắc châu Phi đã có một sự tương đồng nhiều hơn với các thành phố của người Macedonia và chứa đựng một hỗn hợp dân cư bao gồm những cư dân bản địa, những người định cư gốc Hy Lạp và Macedonia, các cư dân phương Đông đã Hy Lạp hóa và nói tiếng Hy Lạp, nhiều người trong số họ là thành quả của các cuộc hôn nhân khác chủng tộc giữa người Hy Lạp và cư dân bản địa. Sự thần thánh hóa các vị vua người Macedonia có lẽ đã bắt đầu từ cái chết của PhilipposII, nhưng người con trai của ông ta là Alexandros Đại đế rõ ràng mới là người đã tự xưng là một vị vị thần sống. Sau chuyến viếng thăm của ông tới chỗ nhà tiên tri ở Didyma vào năm 334TCN mà đã ám chỉ về sự thần thánh của ông, Alexandros đã tới thăm nhà tiên tri của Zeus Ammon — cách gọi của người Hy Lạp đối với vị thần Ai Cập Amun-Ra — tại ốc đảo Siwa thuộc sa mạc Libya vào năm 332TCN để xác nhận địa vị thần thánh của ông. Mặc dù hai đế quốc Ptolemaios và Seleukos vẫn duy trì những sự thờ cúng tổ tiên của họ và phong thần các vị vua của mình, các vị vua đã không được thờ phụng ở vương quốc Macedonia. Trong khi Zeus Ammon đã được người Hy Lạp biết đến trước triều đại của Alexandros, đặc biệt là tại thuộc địa của người Hy Lạp ở Cyrene, Libya, Alexandros là vị vua người Macedonia đầu tiên bảo trợ cho các vị thần và tầng lớp tư tế của Ai Cập, Ba Tư, và Babylon, tăng cường sự hợp nhất giữa các tín ngưỡng tôn giáo Cận Đông với của người Hy Lạp. Tiếp sau triều đại của ông, sự thờ cúng thần Isis đã truyền bá dần dần khắp thế giới Hy Lạp hóa và La Mã, trong khi đó tín ngưỡng thờ cúng vị thần Ai Cập Sarapis đã dần dần được Hy Lạp hóa bởi các vị vua nhà Ptolemaios của Ai Cập trước khi sự thờ cúng của vị thần này được truyền bá tới Macedonia và khu vực Aegea. Nhà sử học người Đức Johann Gustav Droysen lập luận rằng các cuộc chinh phục của Alexandros Đại đế và việc tạo dựng nên thế giới Hy Lạp hóa đã cho phép Thiên chúa giáo phát triển và được chính thức hóa trong thời kỳ La Mã.
Trong giải tích vectơ, toán tử div hay toán tử phân kỳ hay suất tiêu tán là một toán tử đo mức độ phát (ra) hay thu (vào) của trường vectơ tại một điểm cho trước; div của một trường vectơ là một hàm số thực có thể âm hay dương. Ví dụ, ta xét xem không khí được hâm nóng hay làm nguội đi. Trường vectơ trong ví dụ này là vận tốc của không khí di chuyển tại từng điểm. Nếu không khí được hâm nóng lên trong một vùng nào đó nó sẽ nở ra trong tất cả mọi hướng do vậy các vectơ vận tốc sẽ chỉ hướng ra khỏi vùng đó. Do đó suất tiêu tán trong vùng đó sẽ có giá trị dương, vì vùng đó là nguồn phát nhiệt. Nếu như không khí lạnh đi và co lại, suất tiêu tán vùng đó sẽ có giá trị âm và vùng được gọi là nguồn thu nhiệt. Một cách chính xác hơn, suất tiêu tán tượng trưng cho mật độ thể tích của một thông lượng đi ra khỏi trường vectơ từ một thể tích rất nhỏ xung quanh một điểm cho trước. Toán tử div áp dụng trên một trường vectơ formula_1 được định nghĩa bởi: Trong tọa độ Descartes, với trường vectơ được biểu diễn là formula_3, toán tử này được viết:
Trong mật mã học, RSA là một thuật toán mật mã hóa khóa công khai. Đây là thuật toán đầu tiên phù hợp với việc tạo ra chữ ký điện tử đồng thời với việc mã hóa. Nó đánh dấu một sự tiến bộ vượt bậc của lĩnh vực mật mã học trong việc sử dụng khóa công cộng. RSA đang được sử dụng phổ biến trong thương mại điện tử và được cho là đảm bảo an toàn với điều kiện độ dài khóa đủ lớn. Thuật toán được Ron Rivest, Adi Shamir và Len Adleman mô tả lần đầu tiên vào năm 1977 tại Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Tên của thuật toán lấy từ 3 chữ cái đầu của tên 3 tác giả. Trước đó, vào năm 1973, Clifford Cocks, một nhà toán học người Anh làm việc tại GCHQ, đã mô tả một thuật toán tương tự. Với khả năng tính toán tại thời điểm đó thì thuật toán này không khả thi và chưa bao giờ được thực nghiệm. Tuy nhiên, phát minh này chỉ được công bố vào năm 1997 vì được xếp vào loại tuyệt mật. Thuật toán RSA được MIT đăng ký bằng sáng chế tại Hoa Kỳ vào năm 1983 (Số đăng ký 4.405.829). Bằng sáng chế này hết hạn vào ngày 21 tháng 9 năm 2000. Tuy nhiên, do thuật toán đã được công bố trước khi có đăng ký bảo hộ nên sự bảo hộ hầu như không có giá trị bên ngoài Hoa Kỳ. Ngoài ra, nếu như công trình của Clifford Cocks đã được công bố trước đó thì bằng sáng chế RSA đã không thể được đăng ký. Mô tả sơ lược. Thuật toán RSA có hai khóa: khóa công khai (hay khóa công cộng) và khóa bí mật (hay khóa cá nhân). Mỗi khóa là những số cố định sử dụng trong quá trình mã hóa và giải mã. Khóa công khai được công bố rộng rãi cho mọi người và được dùng để mã hóa. Những thông tin được mã hóa bằng khóa công khai chỉ có thể được giải mã bằng khóa bí mật tương ứng. Nói cách khác, mọi người đều có thể mã hóa nhưng chỉ có người biết khóa cá nhân (bí mật) mới có thể giải mã được. Ta có thể mô phỏng trực quan một hệ mật mã khoá công khai như sau: Bình muốn gửi cho An một thông tin mật mà Bình muốn duy nhất An có thể đọc được. Để làm được điều này, An gửi cho Bình một chiếc hộp có khóa đã mở sẵn và giữ lại chìa khóa. Bình nhận chiếc hộp, cho vào đó một tờ giấy viết thư bình thường và khóa lại (như loại khoá thông thường chỉ cần sập chốt lại, sau khi sập chốt khóa ngay cả Bình cũng không thể mở lại được-không đọc lại hay sửa thông tin trong thư được nữa). Sau đó Bình gửi chiếc hộp lại cho An. An mở hộp với chìa khóa của mình và đọc thông tin trong thư. Trong ví dụ này, chiếc hộp với khóa mở đóng vai trò khóa công khai, chiếc chìa khóa chính là khóa bí mật. Giả sử An và Bình cần trao đổi thông tin bí mật thông qua một kênh không an toàn (ví dụ như Internet). Với thuật toán RSA, An đầu tiên cần tạo ra cho mình cặp khóa gồm khóa công khai và khóa bí mật theo các bước sau: Một số lưu ý: Khóa công khai bao gồm: Khóa bí mật bao gồm: Một dạng khác của khóa bí mật bao gồm: Dạng này cho phép thực hiện giải mã và ký nhanh hơn với việc sử dụng định lý số dư Trung Quốc (tiếng Anh: "Chinese Remainder Theorem" - CRT). Ở dạng này, tất cả thành phần của khóa bí mật phải được giữ bí mật. An gửi khóa công khai cho Bình, và giữ bí mật khóa cá nhân của mình. Ở đây, "p" và "q" giữ vai trò rất quan trọng. Chúng là các phân tố của n và cho phép tính "d" khi biết "e". Nếu không sử dụng dạng sau của khóa bí mật (dạng CRT) thì "p" và "q" sẽ được xóa ngay sau khi thực hiện xong quá trình tạo khóa. Giả sử Bình muốn gửi đoạn thông tin "M" cho An. Đầu tiên Bình chuyển "M" thành một số "m" "n" theo một hàm có thể đảo ngược (từ "m" có thể xác định lại "M") được thỏa thuận trước. Quá trình này được mô tả ở phần #Chuyển đổi văn bản rõ. Lúc này Bình có "m" và biết "n" cũng như "e" do An gửi. Bình sẽ tính "c" là bản mã hóa của "m" theo công thức: Hàm trên có thể tính dễ dàng sử dụng phương pháp tính hàm mũ (theo môđun) bằng (thuật toán bình phương và nhân) Cuối cùng Bình gửi "c" cho An. An nhận "c" từ Bình và biết khóa bí mật "d". An có thể tìm được "m" từ "c" theo công thức sau: Biết "m", An tìm lại "M" theo phương pháp đã thỏa thuận trước. Quá trình giải mã hoạt động vì ta có Do "ed" ≡ 1 (mod "p"-1) và "ed" ≡ 1 (mod "q"-1), (theo Định lý Fermat nhỏ) nên: Do "p" và "q" là hai số nguyên tố cùng nhau, áp dụng định lý số dư Trung Quốc, ta có: Sau đây là một ví dụ với những số cụ thể. Ở đây chúng ta sử dụng những số nhỏ để tiện tính toán còn trong thực tế phải dùng các số có giá trị đủ lớn. Khóa công khai là cặp ("e", "n"). Khóa bí mật là "d". Hàm mã hóa là: encrypt("m") = "m""e" mod "n" = "m"17 mod 3233 với "m" là văn bản rõ. Hàm giải mã là: với "c" là văn bản mã. Để mã hóa văn bản có giá trị 123, ta thực hiện phép tính: encrypt(123) = 12317 mod 3233 = 992 Để giải mã văn bản có giá trị 992, ta thực hiện phép tính: decrypt(992) = 9922753 mod 3233 = 123 Cả hai phép tính trên đều có thể được thực hiện hiệu quả nhờ thuật toán bình phương và nhân. Chuyển đổi văn bản rõ. Trước khi thực hiện mã hóa, ta phải thực hiện việc chuyển đổi văn bản rõ (chuyển đổi từ "M" sang "m") sao cho không có giá trị nào của M tạo ra văn bản mã không an toàn. Nếu không có quá trình này, RSA sẽ gặp phải một số vấn đề sau: Trên thực tế, ta thường gặp 2 vấn đề đầu khi gửi các bản tin ASCII ngắn với "m" là nhóm vài ký tự ASCII. Một đoạn tin chỉ có 1 ký tự codice_1 sẽ được gán giá trị "m" = 0 và cho ra bản mã là 0 bất kể giá trị của "e" và "N". Tương tự, một ký tự ASCII khác, codice_2, có giá trị 1 sẽ luôn cho ra bản mã là 1. Với các hệ thống dùng giá trị "e" nhỏ thì tất cả ký tự ASCII đều cho kết quả mã hóa không an toàn vì giá trị lớn nhất của "m" chỉ là 255 và 2553 nhỏ hơn giá trị "n" chấp nhận được. Những bản mã này sẽ dễ dàng bị phá mã. Để tránh gặp phải những vấn đề trên, RSA trên thực tế thường bao gồm một hình thức chuyển đổi ngẫu nhiên hóa "m" trước khi mã hóa. Quá trình chuyển đổi này phải đảm bảo rằng "m" không rơi vào các giá trị không an toàn. Sau khi chuyển đổi, mỗi bản rõ khi mã hóa sẽ cho ra một trong số khả năng trong tập hợp bản mã. Điều này làm giảm tính khả thi của phương pháp tấn công lựa chọn bản rõ (một bản rõ sẽ có thể tương ứng với nhiều bản mã tuỳ thuộc vào cách chuyển đổi). Một số tiêu chuẩn, chẳng hạn như PKCS, đã được thiết kế để chuyển đổi bản rõ trước khi mã hóa bằng RSA. Các phương pháp chuyển đổi này bổ sung thêm bít vào M. Các phương pháp chuyển đổi cần được thiết kế cẩn thận để tránh những dạng tấn công phức tạp tận dụng khả năng biết trước được cấu trúc của bản rõ. Phiên bản ban đầu của PKCS dùng một phương pháp đặc ứng (ad-hoc) mà về sau được biết là không an toàn trước tấn công lựa chọn bản rõ thích ứng (adaptive chosen ciphertext attack). Các phương pháp chuyển đổi hiện đại sử dụng các kỹ thuật như chuyển đổi mã hóa bất đối xứng tối ưu (Optimal Asymmetric Encryption Padding - OAEP) để chống lại tấn công dạng này. Tiêu chuẩn PKCS còn được bổ sung các tính năng khác để đảm bảo an toàn cho chữ ký RSA (Probabilistic Signature Scheme for RSA - RSA-PSS). Tạo chữ ký số cho văn bản. Thuật toán RSA còn được dùng để tạo chữ ký số cho văn bản. Giả sử An muốn gửi cho Bình một văn bản có chữ ký của mình. Để làm việc này, An tạo ra một giá trị băm (hash value) của văn bản cần ký và tính giá trị mũ "d" mod "n" của nó (giống như khi An thực hiện giải mã). Giá trị cuối cùng chính là chữ ký điện tử của văn bản đang xét. Khi Bình nhận được văn bản cùng với chữ ký điện tử, anh ta tính giá trị mũ "e" mod "n" của chữ ký đồng thời với việc tính giá trị băm của văn bản. Nếu 2 giá trị này như nhau thì Bình biết rằng người tạo ra chữ ký biết khóa bí mật của An và văn bản đã không bị thay đổi sau khi ký. Cần chú ý rằng các phương pháp chuyển đổi bản rõ (như RSA-PSS) giữ vai trò quan trọng đối với quá trình mã hóa cũng như chữ ký điện tử và không được dùng khóa chung cho đồng thời cho cả hai mục đích trên. Độ an toàn của hệ thống RSA dựa trên 2 vấn đề của toán học: bài toán phân tích ra thừa số nguyên tố các số nguyên lớn và bài toán RSA. Nếu 2 bài toán trên là khó (không tìm được thuật toán hiệu quả để giải chúng) thì không thể thực hiện được việc phá mã toàn bộ đối với RSA. Phá mã một phần phải được ngăn chặn bằng các phương pháp chuyển đổi bản rõ an toàn. Bài toán RSA là bài toán tính căn bậc "e" môđun "n" (với "n" là hợp số): tìm số "m" sao cho "me=c" mod n, trong đó ("e", "n") chính là khóa công khai và "c" là bản mã. Hiện nay phương pháp triển vọng nhất giải bài toán này là phân tích "n" ra thừa số nguyên tố. Khi thực hiện được điều này, kẻ tấn công sẽ tìm ra số mũ bí mật "d" từ khóa công khai và có thể giải mã theo đúng quy trình của thuật toán. Nếu kẻ tấn công tìm được 2 số nguyên tố "p" và "q" sao cho: "n" = "pq" thì có thể dễ dàng tìm được giá trị ("p"-1)("q"-1) và qua đó xác định "d" từ "e". Chưa có một phương pháp nào được tìm ra trên máy tính để giải bài toán này trong thời gian đa thức ("polynomial-time"). Tuy nhiên người ta cũng chưa chứng minh được điều ngược lại (sự không tồn tại của thuật toán). Xem thêm phân tích ra thừa số nguyên tố về vấn đề này. Tại thời điểm năm 2005, số lớn nhất có thể được phân tích ra thừa số nguyên tố có độ dài 663 bít với phương pháp phân tán trong khi khóa của RSA có độ dài từ 1024 tới 2048 bít. Một số chuyên gia cho rằng khóa 1024 bít có thể sớm bị phá vỡ (cũng có nhiều người phản đối việc này). Với khóa 4096 bít thì hầu như không có khả năng bị phá vỡ trong tương lai gần. Do đó, người ta thường cho rằng RSA đảm bảo an toàn với điều kiện "n" được chọn đủ lớn. Nếu "n" có độ dài 256 bít hoặc ngắn hơn, nó có thể bị phân tích trong vài giờ với máy tính cá nhân dùng các phần mềm có sẵn. Nếu n có độ dài 512 bít, nó có thể bị phân tích bởi vài trăm máy tính tại thời điểm năm 1999. Một thiết bị lý thuyết có tên là TWIRL do Shamir và Tromer mô tả năm 2003 đã đặt ra câu hỏi về độ an toàn của khóa 1024 bít. Vì vậy hiện nay người ta khuyến cáo sử dụng khóa có độ dài tối thiểu 2048 bít. Năm 1993, Peter Shor công bố thuật toán Shor chỉ ra rằng: máy tính lượng tử (trên lý thuyết) có thể giải bài toán phân tích ra thừa số trong thời gian đa thức. Tuy nhiên, máy tính lượng tử vẫn chưa thể phát triển được tới mức độ này trong nhiều năm nữa. Năm 2010, các nhà khoa học thuộc Đại học Michigan đã công bố phát hiện một kẽ hở trong hệ thống mật mã hoá RSA. Cách phá vỡ hệ thống, lấy khoá bí mật RSA 1024 bit chỉ trong vài ngày thay vì vài năm nếu tấn công theo cách thông thường - tấn công bằng brute force (dò tìm lần lượt). Các nhà khoa học tạo một điện thế lớn để gây lỗi hệ thống, từ đó giúp tìm ra khoá bí mật. Việc tấn công được thực hiện trên một FPGA. Báo cáo được trình bày tại hội nghị DATE 2010 diễn ra tại Dresden, Đức tháng 3 năm 2010. "Xem thêm": Bài toán phân tích RSA Các vấn đề đặt ra trong thực tế. Quá trình tạo khóa. Việc tìm ra 2 số nguyên tố đủ lớn "p" và "q" thường được thực hiện bằng cách thử xác suất các số ngẫu nhiên có độ lớn phù hợp (dùng phép kiểm tra nguyên tố cho phép loại bỏ hầu hết các hợp số). "p" và "q" còn cần được chọn không quá gần nhau để phòng trường hợp phân tích "n" bằng phương pháp phân tích Fermat. Ngoài ra, nếu "p"-1 hoặc "q"-1 có thừa số nguyên tố nhỏ thì "n" cũng có thể dễ dàng bị phân tích và vì thế "p" và "q" cũng cần được thử để tránh khả năng này. Bên cạnh đó, cần tránh sử dụng các phương pháp tìm số ngẫu nhiên mà kẻ tấn công có thể lợi dụng để biết thêm thông tin về việc lựa chọn (cần dùng các bộ tạo số ngẫu nhiên tốt). Yêu cầu ở đây là các số được lựa chọn cần đồng thời ngẫu nhiên và không dự đoán được. Đây là các yêu cầu khác nhau: một số có thể được lựa chọn ngẫu nhiên (không có kiểu mẫu trong kết quả) nhưng nếu có thể dự đoán được dù chỉ một phần thì an ninh của thuật toán cũng không được đảm bảo. Một ví dụ là bảng các số ngẫu nhiên do tập đoàn Rand xuất bản vào những năm 1950 có thể rất thực sự ngẫu nhiên nhưng kẻ tấn công cũng có bảng này. Nếu kẻ tấn công đoán được một nửa chữ số của "p" hay "q" thì chúng có thể dễ dàng tìm ra nửa còn lại (theo nghiên cứu của Donald Coppersmith vào năm 1997) Một điểm nữa cần nhấn mạnh là khóa bí mật "d" phải đủ lớn. Năm 1990, Wiener chỉ ra rằng nếu giá trị của "p" nằm trong khoảng "q" và 2"q" (khá phổ biến) và "d" "n"1/4/3 thì có thể tìm ra được "d" từ "n" và "e". Mặc dù "e" đã từng có giá trị là 3 nhưng hiện nay các số mũ nhỏ không còn được sử dụng do có thể tạo nên những lỗ hổng (đã đề cập ở phần chuyển đổi văn bản rõ). Giá trị thường dùng hiện nay là 65537 vì được xem là đủ lớn và cũng không quá lớn ảnh hưởng tới việc thực hiện hàm mũ. RSA có tốc độ thực hiện chậm hơn đáng kể so với DES và các thuật toán mã hóa đối xứng khác. Trên thực tế, Bình sử dụng một thuật toán mã hóa đối xứng nào đó để mã hóa văn bản cần gửi và chỉ sử dụng RSA để mã hóa khóa để giải mã (thông thường khóa ngắn hơn nhiều so với văn bản). Phương thức này cũng tạo ra những vấn đề an ninh mới. Một ví dụ là cần phải tạo ra khóa đối xứng thật sự ngẫu nhiên. Nếu không, kẻ tấn công (thường ký hiệu là Hắc) sẽ bỏ qua RSA và tập trung vào việc đoán khóa đối xứng. Cũng giống như các thuật toán mã hóa khác, cách thức phân phối khóa công khai là một trong những yếu tố quyết định đối với độ an toàn của RSA. Quá trình phân phối khóa cần chống lại được tấn công đứng giữa ("man-in-the-middle attack"). Giả sử Hắc có thể gửi cho Bình một khóa bất kỳ và khiến Bình tin rằng đó là khóa (công khai) của An. Đồng thời Hắc có khả năng đọc được thông tin trao đổi giữa Bình và An. Khi đó, Hắc sẽ gửi cho Bình khóa công khai của chính mình (mà Bình nghĩ rằng đó là khóa của An). Sau đó, Hắc đọc tất cả văn bản mã hóa do Bình gửi, giải mã với khóa bí mật của mình, giữ một bản copy đồng thời mã hóa bằng khóa công khai của An và gửi cho An. Về nguyên tắc, cả Bình và An đều không phát hiện ra sự can thiệp của người thứ ba. Các phương pháp chống lại dạng tấn công này thường dựa trên các chứng thực khóa công khai (digital certificate) hoặc các thành phần của hạ tầng khóa công khai (public key infrastructure - PKI). Tấn công dựa trên thời gian. Vào năm 1995, Paul Kocher mô tả một dạng tấn công mới lên RSA: nếu kẻ tấn công nắm đủ thông tin về phần cứng thực hiện mã hóa và xác định được thời gian giải mã đối với một số bản mã lựa chọn thì có thể nhanh chóng tìm ra khóa "d". Dạng tấn công này có thể áp dụng đối với hệ thống chữ ký điện tử sử dụng RSA. Năm 2003, Dan Boneh và David Brumley chứng minh một dạng tấn công thực tế hơn: phân tích thừa số RSA dùng mạng máy tính (Máy chủ web dùng SSL). Tấn công đã khai thác thông tin rò rỉ của việc tối ưu hóa định lý số dư Trung quốc mà nhiều ứng dụng đã thực hiện. Để chống lại tấn công dựa trên thời gian là đảm bảo quá trình giải mã luôn diễn ra trong thời gian không đổi bất kể văn bản mã. Tuy nhiên, cách này có thể làm giảm hiệu suất tính toán. Thay vào đó, hầu hết các ứng dụng RSA sử dụng một kỹ thuật gọi là che mắt. Kỹ thuật này dựa trên tính nhân của RSA: thay vì tính "cd mod n", An đầu tiên chọn một số ngẫu nhiên "r" và tính "(rec)d mod n". Kết quả của phép tính này là "rm mod n" và tác động của r sẽ được loại bỏ bằng cách nhân kết quả với nghịch đảo của r. Đối với mỗi văn bản mã, người ta chọn một giá trị của r. Vì vậy, thời gian giải mã sẽ không còn phụ thuộc vào giá trị của văn bản mã. Tấn công lựa chọn thích nghi bản mã. Năm 1981, Daniel Bleichenbacher mô tả dạng tấn công lựa chọn thích nghi bản mã (adaptive chosen ciphertext attack) đầu tiên có thể thực hiện trên thực tế đối với một văn bản mã hóa bằng RSA. Văn bản này được mã hóa dựa trên tiêu chuẩn PKCS #1 v1, một tiêu chuẩn chuyển đổi bản rõ có khả năng kiểm tra tính hợp lệ của văn bản sau khi giải mã. Do những khiếm khuyết của PKCS #1, Bleichenbacher có thể thực hiện một tấn công lên bản RSA dùng cho giao thức SSL (tìm được khóa phiên). Do phát hiện này, các mô hình chuyển đổi an toàn hơn như chuyển đổi mã hóa bất đối xứng tối ưu (Optimal Asymmetric Encryption Padding) được khuyến cáo sử dụng. Đồng thời phòng nghiên cứu của RSA cũng đưa ra phiên bản mới của PKCS #1 có khả năng chống lại dạng tấn công nói trên.
Michael Ballack (]; sinh ngày 26 tháng 9 năm 1976) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Đức. Anh là một trong những cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử của đội tuyển quốc gia Đức. Ballack đã mặc chiếc áo số 13 cho mọi đội bóng mà anh ấy từng thi đấu, ngoại trừ 1. FC Kaiserslautern. Anh được Pelé bình chọn là một trong 100 Cầu thủ xuất sắc nhất còn sống của FIFA và là tiền vệ xuất xắc nhất UEFA vào năm 2002. Anh đã 3 lần giành được danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Đức - vào các năm 2002, 2003 và 2005. Ballack được biết đến với Phạm vi chuyền bóng, sút xa mạnh mẽ, thể lực và sự hiện diện chỉ huy ở hàng tiền vệ. Ballack bắt đầu sự nghiệp của mình khi còn là một thanh niên tại cộng đồng thể thao doanh nghiệp BSG Motor "Fritz Heckert" Karl-Marx-Stadt vào năm 1983. Sau đó, anh gia nhập đội trẻ của câu lạc bộ bóng đá FC Karl-Marx-Stadt. Ballack có trận ra mắt đội bóng dưới 21 tuổi của Đức vào ngày 26 tháng 3 năm 1996. Mặc dù đội bóng đã xuống hạng trong mùa giải đầu tiên của anh ấy, nhưng màn trình diễn của anh ấy ở Regionalliga vào mùa giải tiếp theo đã dẫn đến việc chuyển đến 1 FC Kaiserslautern vào năm 1997. Anh ấy đã vô địch Bundesliga trong mùa giải đầu tiên của anh ấy tại câu lạc bộ, vinh dự lớn đầu tiên của anh ấy. Anh ấy trở thành đội một thường xuyên trong mùa giải 1998–99 và cũng có lần đầu tiên khoác áo ĐTQG Đức. Anh chuyển đến Bayer Leverkusen với giá 4,1 triệu euro vào năm 1999. Mùa giải 2001–02 chứng kiến ​​anh giành được một loạt huy chương á quân: Bayer Leverkusen về nhì tại Bundesliga, DFB-Pokal, UEFA Champions League và Đức thua Brazil ở giải Chung kết World Cup 2002. Việc chuyển đến Bayern Munich trị giá 12,9 triệu euro đã dẫn đến những danh hiệu cao hơn: đội bóng này đã giành được cú đúp Bundesliga và DFB-Pokal vào các năm 2003, 2005 và 2006. Ballack đã trở thành một tay săn bàn xuất sắc nhất từ ​​hàng tiền vệ, ghi 58 bàn cho Bayern từ năm 2002 đến 2006. Anh ấy gia nhập câu lạc bộ Premier League Chelsea vào giữa năm 2006 và giành được danh hiệu Anh trong mùa giải đầu tiên của mình tại câu lạc bộ. Chấn thương đã loại trừ anh ấy trong phần lớn thời gian của năm 2007, nhưng anh ấy đã trở lại vào mùa giải sau để giúp Chelsea lọt vào trận chung kết Champions League đầu tiên của họ. Anh ấy cũng tiếp tục giành được FA Cup một lần nữa vào năm 2009 và sau đó một lần nữa là một phần của danh hiệu vô địch quốc gia và cúp quốc gia vào năm 2010. Trên bình diện quốc tế, Ballack đã chơi ở Giải vô địch bóng đá châu Âu của UEFA vào các năm 2000, 2004 và 2008, và FIFA World Cup vào các năm 2002 và 2006. Jürgen Klinsmann đã bổ nhiệm anh làm đội trưởng đội tuyển quốc gia vào năm 2004. Ballack đã ghi những bàn thắng liên tiếp trong trận đấu trong quý. - trận chung kết và bán kết giúp đất nước anh vào chung kết World Cup 2002 và dẫn dắt đội bóng của anh vào bán kết World Cup 2006 và chung kết Euro 2008. Anh tạo dựng tên tuổi với vai trò tiền vệ đa năng với câu lạc bộ Bayer Leverkusen. Ở Bayer anh chơi vị trí tiền vệ trung tâm với cả chức năng công và thủ. Khi chuyển sang Bayern Munich, dưới sự chỉ đạo của Ottmar Hitzfeld và Felix Magath, Ballack chơi lùi hơn, ít lên tham gia tấn công hơn và chú trọng vào việc thu hồi và phân phối bóng. Tuy nhiên ở đội tuyển Đức, anh vẫn giữ vai trò tiền vệ đa năng. Anh có khả năng chơi tốt cả hai chân và chơi đầu. Anh đã được bình chọn là cầu thủ Đức xuất sắc nhất trong 3 năm (2002, 2003, 2005). Anh cũng là một trong những biểu tượng thể thao của Đức thời gian gần đây. Ballack được Pelé đưa vào danh sách 125 cầu thủ còn sống xuất sắc nhất vào năm 2004. Năm 2004, huấn luyện viên đội tuyển Đức lúc đó là Jürgen Klinsmann chọn Ballack làm đội trưởng.Sau khi Đức giành hạng ba World Cup trên sân nhà năm 2006, huấn luyện viên mới của Đức Joachim Löw tiếp tục giữ Ballack là đội trưởng đội tuyển. Ballack có số áo 13 ở cả đội tuyển Đức và các câu lạc bộ anh từng khoác áo. Năm 2012, anh đã quyết định giải nghệ sau khi chấm dứt hợp đồng với câu lạc bộ Bayer Leverkusen, để lại trong lòng người hâm mộ Die Mannschaft nhiều nuối tiếc. Sự nghiệp câu lạc bộ. Đội tuyển quốc gia. Ngày 26 tháng 3 năm 1996, Ballack ra mắt đội tuyển U21 quốc gia Đức gặp Đan Mạch, ngay sau khi ký hợp đồng với Chemnitzer FC. Tổng cộng, anh ấy đã chơi 19 trận cho đội bóng này, ghi được 4 bàn thắng. Sau đó, sau khi anh ấy chuyển đến 1. FC Kaiserslautern, huấn luyện viên trưởng đội cấp cao Berti Vogts đã gọi anh ấy vào đội. Tuy nhiên, lần đầu tiên Ballack xuất hiện ở đội tuyển Đức là vào ngày 28 tháng 4 năm 1999, khi anh vào sân thay cho Dietmar Hamann trong trận đấu với Scotland. Ballack chỉ chơi 63 phút tại UEFA Euro 2000. Tại FIFA World Cup 2002, anh ghi bàn trong các trận đấu với Hoa Kỳ và Hàn Quốc ở vòng loại trực tiếp khi Đức lọt vào trận chung kết. Tuy nhiên, anh ấy đã bị phạt thẻ vì phạm lỗi chiến thuật trong trận bán kết với Hàn Quốc và bị treo giò trong trận chung kết, trận đấu mà Đức để thua 0-2 trước Brazil. Anh ấy đã được đưa vào Đội hình toàn sao của World Cup. Ballack thua trận chung kết cuối cùng đã dẫn đến một sự sửa đổi lâu dài về luật ân xá thẻ vàng nhằm "tạo cơ hội cho những cầu thủ giỏi nhất chơi trong trận chung kết". Sau Euro 2004, Jürgen Klinsmann thay Rudi Völler dẫn dắt đội tuyển quốc gia và Ballack thay thế Oliver Kahn làm đội trưởng. Anh ghi ba bàn - tất cả đều là phạt đền - ở Cúp Liên đoàn các châu lục 2005, giải đấu mà Đức bị Brazil loại ở bán kết. Ballack (#13) trong trận gặp Thụy Điển tại World Cup 2006 Tại World Cup 2006, anh không thể ra sân trong trận đầu tiên của Đức gặp Costa Rica do bị căng cơ bắp chân, nhưng đã xuất hiện trong 5 trận đấu sau đó. Đức đã bị loại ở bán kết, nhưng họ đã giành được vị trí thứ ba trong trận đấu với Bồ Đào Nha. Anh ấy được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất trận trong các trận đấu với Ecuador và Argentina, và lần thứ hai liên tiếp được đưa vào Đội hình tiêu biểu World Cup của FIFA. Sau giải đấu, Klinsmann từ chức huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia và được kế nhiệm bởi trợ lý Joachim Löw. Ballack đá chính và chỉ huy đội tuyển Đức trong trận đấu đầu tiên của họ tại Euro 2008 gặp Ba Lan. Anh ấy đã chứng tỏ là một nhân vật có ảnh hưởng ở khu vực giữa sân khi Đức lội ngược dòng sau thất bại sốc trước Croatia để lọt vào trận chung kết, ghi một quả phạt trực tiếp vào lưới Áo giúp Đức giành chiến thắng 1–0 và giành một suất vào tứ kết. Trong trận tứ kết, anh ấy đã đánh đầu ghi bàn vào lưới Bồ Đào Nha để nâng tỷ số lên 3–1 trong chiến thắng 3–2 của họ sau pha kiến tạo từ quả đá phạt trực tiếp ở phút 60 của Bastian Schweinsteiger, giúp Đức tiến vào bán kết. Đức tiếp tục đánh bại Thổ Nhĩ Kỳ 3–2 trong trận bán kết. Trước trận chung kết, Ballack dính chấn thương bắp chân nhưng cuối cùng đã vượt qua kịp thời. Tuy nhiên, Đức đã để thua 1–0 trước Tây Ban Nha. Tuy nhiên, anh ấy đã có tên trong Đội hình của Giải đấu. Ballack đã ghi bốn bàn ở vòng loại World Cup 2010, nhưng đã bỏ lỡ World Cup 2010 sau khi bị chấn thương mắt cá do phạm lỗi với Kevin-Prince Boateng của Portsmouth trong trận chung kết FA Cup 2009-10. Ballack đã đến Nam Phi để hỗ trợ tinh thần cho đội tuyển quốc gia nhưng anh ấy đã rời đi sau khi Philipp Lahm, người được bổ nhiệm làm đội trưởng do chấn thương của Ballack, đã nhận xét sau trận tứ kết rằng anh ấy sẽ không trao lại băng đội trưởng cho Ballack. Huấn luyện viên Oliver Bierhoff của đội đã chỉ trích những bình luận của Lahm và làm rõ tình hình, nói rằng, "Philipp Lahm là đội trưởng của World Cup và Michael Ballack vẫn là đội trưởng." Đức đã thi đấu mạnh mẽ trong giải đấu bất chấp sự vắng mặt của Ballack, bao gồm chiến thắng 4–1 trước Anh và 4–0 trước Argentina trên đường giành vị trí thứ ba, nhờ những tài năng tiền vệ mới nổi như Sami Khedira, Thomas Müller và Mesut Özil. Cựu đội trưởng đội tuyển Đức Lothar Matthäus cho rằng sự vắng mặt của Ballack đã giúp những cầu thủ trẻ này phát triển. Kể từ vòng loại World Cup 2010, Ballack không được triệu tập cho bất kỳ trận đấu quốc tế nào. Có thông tin cho rằng huấn luyện viên đội tuyển Đức Joachim Löw đang đợi Ballack giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế sau World Cup 2010, tuy nhiên Ballack đã từ chối từ bỏ mặc dù dính phải chấn thương trong mùa giải 2010–11 với Bayer Leverkusen. Vào ngày 16 tháng 6 năm 2011, có thông báo rằng Ballack sẽ không còn là một phần của đội tuyển quốc gia. Hiệp hội bóng đá Đức (DFB) đã đề nghị anh chơi hai trận giao hữu để đạt 100 trận đấu cho Đức, nhưng anh đã từ chối, cáo buộc Löw không tôn trọng anh kể từ khi anh bị chấn thương vào tháng 3 năm 2010 và gọi lời mời thi đấu hai trận khác cho Đức là " trò hề". Ballack tự tổ chức trận đấu chia tay và mời Löw và Lahm. Các đội trong hố được đặt tên là Worldplayers vs. Ballack and Friends. Lahm đã chơi trọn 90 phút. Tham dự có Boris Becker, Michael Schumacher, Lothar Matthäus và Rudi Völler. Đời sống cá nhân. Ballack đã kết hôn và đã có ba con trai với người vợ Simone Lambe, gồm: Louis (sinh 2001), Emilio (sinh 2002) và Jordi (sinh 2005). Tuy nhiên đến năm 2012, vợ chồng Ballack đã ly dị. Ngày 5 tháng 8 năm 2021, con trai thứ hai của Ballack là Emilio qua đời do tai nạn ở Bồ Đào Nha khi mới 18 tuổi.
Olympique de Marseille (], #đổi ; , #đổi ), còn được gọi đơn giản là Marseille hoặc viết tắt OM (], #đổi ), là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp tại thành phố Marseille, Pháp; được thành lập năm 1899 và phần lớn chơi ở các giải bóng đá hàng đầu nước Pháp suốt lịch sử tồn tại. Marseille đã chín lần vô địch giải hạng nhất Pháp Ligue 1, mười lần đoạt Cúp nước Pháp và là đội bóng Pháp duy nhất từng đoạt chức vô địch UEFA Champions League sau trận thắng AC Milan 1-0 bằng bàn thắng của hậu vệ Basile Boli ngày 26 tháng 5 năm 1993. Sau chức vô địch Cúp C1 này không lâu, OM bị phát hiện dính vào vụ bán độ đầy tai tiếng với đội bóng Valenciennes trong cùng mùa giải 1992-1993, kết quả là dù vô địch Pháp năm đó Marseille vẫn bị tước danh hiệu đồng thời bị phạt rớt xuống hạng nhì. Từ mùa 1996-1997, Olympique Marseille trở lại chơi tại Giải hạng nhất Pháp Ligue 1. Phải đến mùa giải 2009 - 2010, Marseille mới lại giành được chức vô địch quốc gia Pháp. Sân vận động Vélodrome có sức chứa 67.000 khán giả là sân nhà của đội OM, nằm ở phía nam thành phố Marseille. OM đã chơi tại đây từ năm 1937. Từ năm 1997, chủ sở hữu đội bóng là tỉ phú người Thụy Sĩ Robert Louis-Dreyfus. Áo thi đấu truyền thống của Olympique de Marseille có màu trắng với những đường viền phụ màu xanh lơ. Khẩu hiệu bằng tiếng Pháp của đội "Droit Au But" có nghĩa là "Thẳng tiến tới khung thành" được in trên áo cùng với một ngôi sao tượng trưng cho một chức vô địch Champions League đã giành được. Marseille còn là đội bóng được yêu thích nhất nước Pháp, có lực lượng cổ động viên trung thành rất hùng hậu thường lấp đầy các khán đài sân Stade Vélodrome giúp OM đạt số lượng trung bình khán giả đến sân lớn nhất tại Pháp, chẳng hạn chỉ số cho mùa 2007-2008 là 52 600 khán giả/trận. Theo ông André Gascard, người đã từng chơi bóng cho OM trước thế chiến thứ nhất, sau đó trở thành huấn luyện viên, tham gia công tác điều hành, rồi là người lưu trữ sử liệu của câu lạc bộ, thì Olympique de Marseille được thành lập bởi ông René Dufaure de Montmirail vào năm 1892, nhưng đến năm 1899 đội mới sử dụng tên gọi như ngày nay là "Olympique de Marseille". Trước đó đội lần lượt mang tên "Sporting Club", "US Phocéenne", rồi "Football Club de Marseille". Các điều lệ của câu lạc bộ được đại hội thành viên thông qua vào tháng 8 năm 1899. Khẩu hiệu "Thẳng tiến tới khung thành" (Droit au but) bắt nguồn từ môn bóng bầu dục vốn là môn thể thao chính của câu lạc bộ lúc bấy giờ. Cũng theo André Gascard, sau khi gia nhập USFSA năm 1898, mãi đến năm 1902 nhờ người Anh và người Đức mà môn bóng đá mới bắt đầu được chơi tại "l'OM". Do có nguồn lực tài chính mạnh hơn và tổ chức tốt hơn các đội bóng khác cùng thành phố Marseille như Sporting, Stade, Phocé'Huveaune. Năm 1904 đội giành chức vô địch Championnat du Littoral (Giải vô địch vùng Duyên hải) lần đầu sau khi đánh bại nhiều đội bóng khác ở Marseille và vùng phụ cận, rồi giành quyền dự vòng chung kết của giải vô địch bóng đá Pháp. Thời đó, từ "football" dùng cho môn bóng bầu dục, còn môn bóng đá được gọi là "association". Ở giải đấu cấp quốc gia, đội liên tiếp bốn lần thất bại tại trận bán kết vào các năm 1904, 1905, 1906, 1908. Nhưng tiếp tục vô địch vùng Duyên hải thêm năm năm liên tiếp nữa. Phải đến cuối thập niên 1910, với sự trưởng thành của Stade Helvétique de Marseille, OM mới hết làm mưa làm gió ở miền Nam nước Pháp. Stade Helvétique sau đó làm điều mà Olympique de Marseille không làm được là đoạt 3 chức vô địch giải bóng đá Pháp do USFSA tổ chức trước khi thế chiến thứ nhất bùng nổ. Từ thập niên 1920, "l'OM" bắt đầu trở thành một đội bóng lớn tại Pháp. Marino Dallaporta trở thành chủ tịch câu lạc bộ năm 1921 và mang về Marseille một số ngôi sao lớn. Như tại mùa giải 1923-1924, hai tuyển thủ Pháp Édouard Crut và Jean Boyer đã được chiêu mộ về từ Paris. Olympique de Marseille đã ngay lập tức có được danh hiệu quốc gia đầu tiên khi liên tiếp đoạt ba chiếc Cúp bóng đá Pháp vào các năm 1924, 1926 và 1927, trong đó chiếc cúp năm 1924 là danh hiệu quan trọng đầu tiên đội có được sau khi đánh bại kình địch FC Sète, vốn là đội thống trị bóng đá Pháp thời đó, tại trận chung kết. Năm 1929, OM vô địch giải bóng đá nghiệp dư Pháp, tiền thân của Ligue 1 ngày nay. Thời gian này nhiều tuyển thủ của đội tuyển Pháp đang chơi bóng tại Marseille, như Jules Dewaquez, Jean Boyer, Joseph Alcazar Chính vì những thành tích trên mà OM là một trong hai mươi đội bóng được chọn để tham gia giải vô địch bóng đá chuyên nghiệp đầu tiên của Pháp được tổ chức năm 1932. Đội bắt đầu chuyển sang hoạt động theo quy chế chuyên nghiệp. Kỷ nguyên chuyên nghiệp. Giải vô địch quốc gia chuyên nghiệp đầu tiên của Pháp được tổ chức vào năm 1932-1933 được chia làm hai bảng. OM đứng thứ hai ở bảng đấu của mình sau đội vô địch giải là Olympique lillois, mặc dù Marseille đã hạ đội bóng phía Bắc nước Pháp tới 7 - 0 tại trận khai mạc giải. Mùa giải tiếp theo (1933-1934). Đội để vuột mất cú đúp đầu tiên trong lịch sử của mình sau khi cùng giành ngôi á quân ở các cúp Quốc gia và giải vô địch quốc gia sau FC Sète. Đáng tiếc nhất là tại giải vô địch quốc gia năm đó, khi Marseille còn ba trận đấu muộn trong khi Sète đã đấu tất cả các trận của mình và chỉ hơn OM đúng một điểm cũng như thua rất sa về hiệu số bàn thắng. OM chỉ cần hòa một trong ba trận đấu cuối là giành ngôi vô địch, tiếc là đội bóng thành phố cảng đã thất thủ ở cả ba trận đấu đó và ngậm ngùi về nhì. Năm 1937 Marseille lần đầu tiên vô địch giải chuyên nghiệp Pháp nhờ hiệu số bàn thắng +30 hơn đội xếp nhì FC Sochaux-Montbéliard có hiệu số +17 (tỉ số bàn thắng bàn thua 1,76 so với 1,33). Hai danh hiệu khác mà OM giành được trong khoảng thời gian này là hai chiếc cúp bóng đá Pháp vào các năm 1935 và 1938. Đội cũng giành ngôi á quân quốc gia vào các năm 1938, 1939. Năm 1938 Larbi Ben Barek ký hợp đồng với "l'OM" rồi trở thành "viên ngọc đen" của đội, nhưng thế chiến thứ hai đã kết thúc sự nghiệp của ông. Mùa bóng 1942-1943 ghi nhận rất nhiều kỉ lục của đội: 100 bàn thắng trong 30 trận; thắng Avignon 20-2 trong đó riêng cầu thủ Aznar ghi 9 bàn (gồm 8 bàn đầu tiên giúp OM dẫn 8-0); Aznar ghi tổng cộng 56 bàn sau 38 trận ở cả hai giải vô địch quốc gia và cúp quốc gia. Năm 1948 OM vô địch Pháp nhờ trận hòa Sochaux cùng hai trận thắng quan trọng vào cuối mùa tại Stade Vélodrome trước Roubaix (6-0) và Metz (6-3) khi có sự trở lại của Aznar và Robin vào mùa xuân. Năm 1952 đội suýt rớt hạng nhưng 31 bàn thắng của Gunnar Andersson đã giúp đội thoát được. Năm 1953 Andersson lập kỉ lục ghi 35 bàn thắng trong một mùa, còn OM thua OGC Nice 1-2 trong trận chung kết cúp nước Pháp năm 1954. OM thi đấu rất vất vả thời kì này nên rớt xuống hạng nhì lần đầu năm 1959. Trừ mùa 1962-1963 chơi tại hạng nhất thì từ năm 1959 đến 1965 OM chơi tại hạng nhì. Năm 1965, Marcel Leclerc thành chủ tịch đội bóng. Khoảng thời gian Marcel Leclerc làm chủ tịch từ 1965 đến 1972 là kỷ nguyên đầu tiên OM thống trị giải vô dịch Pháp. Tham vọng của ông giúp OM trở lại Ligue 1 năm 1965 rồi sau đó đoạt cúp bóng đá Pháp năm 1969. Mùa 1970-1971, Roger Magnusson đã hỗ trợ tiền đạo Josip Skoblar ghi 44 bàn tại Ligue 1 giúp OM đoạt chức vô địch, còn Skoblar đoạt chiếc giày vàng châu Âu. Mùa 1971-1972, sự xuất hiện của hai cầu thủ Georges Carnus và Bernard Bosquier từ AS Saint-Etienne giúp OM giành cú đúp vô địch Ligue 1 và cúp nước Pháp. Nhưng thành công không kéo dài được bao lâu khi ngày 19 tháng 7 năm 1972 Marcel Leclerc bị buộc rời khỏi đội. Vị chủ tịch cứng rắn này dọa sẽ rút OM khỏi Ligue 1 do liên đoàn không chấp nhận một đội bóng có ba cầu thủ nước ngoài, trong khi ông muốn mang về ngôi sao Hungary Zoltán Varga mà OM đã có đủ hai cầu thủ ngoại quốc theo quy định thời đó. Bất ngờ OM thay vì ủng hộ đã sa thải ông, bắt đầu thời kì khủng hoảng của đội với chỉ một cúp nước Pháp năm 1976 rồi bị rớt xuống hạng nhì. Marseille chơi ở hạng nhì tám năm với đội hình gồm rất nhiều cầu thủ trẻ (như Éric Di Meco) sau này giúp đội trở lại hạng nhất năm 1984. Kỷ nguyên của Bernard Tapie. Ngày 12 tháng 4 năm 1986 nhờ sự hậu thuẫn của thị trưởng Marseille Gaston Defferre, ông Bernard Tapie trở thành chủ tịch đội bóng, bắt đầu thời kì tạo nên đội hình mạnh nhất trong lịch sử bóng đá Pháp. Hai hợp đồng chất lượng đầu tiên ông mang về OM là Karl-Heinz Forster và Alain Giresse sau Giải vô địch bóng đá thế giới năm 1986. Những năm tiếp theo ông ký hàng loạt hợp đồng với rất nhiều danh thủ như Jean-Pierre Papin, Chris Waddle, Klaus Allofs, Enzo Francescoli, Abedi Pelé, Didier Deschamps, Basile Boli, Marcel Desailly, Rudi Völler, Eric Cantona, cùng nhiều huấn luyện viên nổi tiếng như Franz Beckenbauer, Gérard Gili, Raymond Goethals với tham vọng mang về nhiều thành tích cho đội. Từ năm 1989 đến 1992, OM vô địch Ligue 1 bốn lần liên tiếp cùng một Cúp bóng đá Pháp. Đỉnh cao của OM thời kì này là chức vô địch Champions League bằng bàn thắng của hậu vệ Basile Boli vào lưới AC Milan trong trận chung kết ngày 26 tháng 5 năm 1993 trên sân vận động Olympic tại Munich, Đức. Đây cũng là chức vô địch Champions League duy nhất bóng đá Pháp đạt được đến bây giờ, đồng thời giúp Didier Deschamps trở thành đội trưởng trẻ nhất còn Fabien Barthez là thủ môn trẻ nhất từng đoạt danh hiệu này. Vụ bán độ OM/Valenciennes. Thành công này không ngờ là điểm bắt đầu cho một thập niên xuống dốc của đội khi chủ tịch Tapie bị phát hiện đã dàn xếp một vụ bán độ tai tiếng bậc nhất trong lịch sử bóng đá Pháp, là vụ bán độ OM/VA. Ông đã mua chuộc các cầu thủ đội Valenciennes (VA) trước trận OM-VA mùa 1992-1993 để đảm bảo Marseille thắng trận để vô địch sớm và không ai bị thương trước trận chung kết Champions League với AC Milan diễn ra ngay sau đó. Hậu quả là OM bị tước chức vô địch Ligue 1 mùa 1992-1993, không được tham dự cúp châu Âu và cúp liên lục địa mùa kế tiếp, đồng thời bị đánh rớt xuống giải hạng nhì Pháp Ligue 2. Con đường trở lại vinh quang? Marseille trở lại hạng nhất năm 1996 do sự hậu thuẫn của ông chủ mới của đội Robert Louis-Dreyfus cũng là chủ hãng Adidas. Ông chọn Rolland Courbis làm huấn luyện viên, ký hợp đồng với các cầu thủ Fabrizio Ravanelli, Laurent Blanc, Andreas Köpke để cuối mùa bóng 1996-1997 OM xếp thứ 11. Mùa 1998-1999 OM kỉ niệm 100 năm thành lập với đội hình gồm những ngôi sao như Robert Pirès, Florian Maurice, Christophe Dugarry, William Gallas và vị trí thứ hai sau Girondins Bordeaux tại Ligue 1. Cũng mùa này, đội lọt vào chung kết UEFA Cup rồi thua Parma 0-3. Tháng 11 năm 1999, Courbis phải rời đội do khởi đầu mùa bóng mới khá thất vọng. Năm 2004 OM lại vào trận chung kết cúp UEFA, sau khi lần lượt đánh bại Dnipro Dnipropetrovsk, Inter Milan, Liverpool và Newcastle United đầy ấn tượng rồi lại thua Valencia bấy giờ vừa vô địch Tây Ban Nha với tỉ số 0-2. Người hâm mộ OM lại phải tiếp tục chờ một chức vô địch quan trọng từ 1993 đến nay. Tháng 1 năm 2007, doanh nhân Canada Jack Kachkar đàm phán với Dreyfus để mua OM nhưng do ông thương thảo quá lâu nên ngày 22 tháng 3 ông Dreyfus quyết định không bán đội. Tháng 5 năm 2007 OM vào trận chung kết Cúp bóng đá Pháp gặp FC Sochaux-Montbéliard, và lại thua trên loạt sút luân lưu sau khi hòa 2-2 trong giờ đấu chính thức. Đội kết thúc mùa 2006-2007 ở hạng thứ hai sau Lyon, giành quyền tham dự Champions League mùa sau. Trước đó đội đã thua PSG 1-2 trong trận chung kết cúp quốc gia năm 2006. Tại giải Champions League, bằng trận thắng bất ngờ 1-0 trên sân Anfield của Liverpool năm 2007 bởi bàn thắng đẹp của Mathieu Valbuena, OM là đội bóng Pháp đầu tiên thắng tại sân nhà Liverpool. Nhưng đội lại thua Liverpool 0-4 tại Vélodrome qua đó Liverpool là đội bóng Anh đầu tiên thắng trận tại đây. Đầu tháng 5 năm 2009 khi OM đang dẫn đầu Ligue 1 thì huấn luyện viên Eric Gerets tuyên bố sẽ ra đi vào cuối mùa, và việc này đã gây ít nhiều xáo trộn trong đội. Ngay sau đó ban lãnh đạo Marseille tuyên bố Didier Deschamps cựu cầu thủ OM sẽ dẫn dắt đội từ mùa bóng 2009-2010. Tại mùa bóng đầu tiên dẫn dắt Marseille, Deschamps đã đưa Marseille đến chức vô địch nước Pháp lần thứ 9 trong lịch sử sau 18 năm chờ đợi. Cùng trong mùa giải 2009 - 2010, Marseille còn giành chiếc cúp Liên đoàn lần đầu tiên. Sau khi ông chủ Robert Louis-Dreyfus qua đời, Marseille được chuyển giao cho con gái của ông Robert Louis-Dreyfus. Ở mùa giải 2010 - 2011, đội bóng đã lọt vào vòng 2 của Champions League. Kết thúc mùa giải, Marseille bảo vệ thành công chiếc cúp Liên đoàn, song chỉ xếp thứ 2 ở Ligue 1 và để mất chức vô địch vào tay Lille. Từ năm 1904 đến 1937, Marseille chơi tại sân Stade de l'Huveaune sức chứa 15 000 khán giả do chính đội sở hữu, khác với sân Stade Vélodrome hiện nay do đội thuê lại. Từ năm 1937 đến nay OM thuê Stade Vélodrome làm sân nhà tuy vậy có một số thời điểm đội vẫn dùng sân l'Huveaune, như thời Marcel Leclerc để buộc chính quyền thành phố Marseille phải giảm giá cho thuê sân Vélodrome, hoặc khi sân Vélodrome sửa chữa chuẩn bị cho vòng chung kết Euro 1984 và World Cup 1998. Lần sửa năm 1998 tạo thêm hai khán đài bắc (Virage Nord) và khán đài nam (Virage Sud) cùng với hai khán đài chính Jean Bouin và Ganay có tổng sức chứa 60 013 khán giả, thường xuyên đầy kín các cổ động viên trung thành của đội. Người hâm mộ hy vọng chính quyền thành phố sẽ sớm tăng sức chứa cũng như lợp mái che tất cả các khán đài. Trước mỗi trận đấu tại Vélodrome người ta thường được nghe bài hát "Jump" của ban nhạc rock Van Halen, còn khi OM ghi bàn cổ động viên hay hát bài "Come with Me" của Puff Daddy. Hiện tại, để chuẩn bị cho Euro 2016, một dự án nâng cấp sân Velodrome đã được thông qua, theo đó, toàn bộ khán đài sẽ được lợp mái che và sức chứa sẽ lên tới 65000 đến 70000 người. Không khí trên sân Stade Vélodrome khi OM thi đấu luôn sôi động so sự cuồng nhiệt của khán giả, đặc biệt từ sức cổ vũ của các hội cổ động viên của đội ở hai khán đài bắc và nam phía sau khung thành. Họ thường sử dụng pháo sáng, những lá cờ to và thường ngồi xếp thành biểu trưng của đội bóng. Khán đài bắc dành cho các hội cổ động viên Yankee Nord Marseille, Marseille Trop Puissant, Fanatics, Dodgers. Các hội thường mua vé xem trọn mùa từ đầu giải rồi chia lại cho các hội viên. Từ năm 2002 khán đài bắc chính thức mang tên Patrice de Peretti (1972-2000), cố sáng lập viên đồng thời là lãnh đạo hội cổ động viên Marseille Trop Puissant. Khán đài nam thường dành cho các hội cổ động viên Commando Ultras 1984, South Winners, Amis de l'OM, Club Central des Supporteurs. Giữa ba đội bóng AS Livorno (Ý), AEK Athens (Hy Lạp), và Olympique Marseille có quan hệ rất mật thiết. Cổ động viên OM thường trưng biểu ngữ ủng hộ hai câu lạc bộ này. OM đã 9 lần vô địch hạng nhất Pháp, xếp sau AS Saint-Étienne với 10 lần, Marseille hai lần đoạt "cú đúp" gồm chức vô địch hạng nhất và cúp quốc gia năm 1972 và 1989. Đội cũng là câu lạc bộ Pháp duy nhất từng vô địch UEFA Champions League với danh hiệu năm 1993. "Tính đến 24 tháng 7 năm 2023" "Tính đến 1 tháng 1 năm 2023" Cầu thủ nổi tiếng. Quả bóng vàng châu Âu. Cầu thủ đoạt giải Quả bóng vàng châu Âu khi đang chơi cho Olympique de Marseille: Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Jean-Pierre Papin – 1991 Chiếc giày vàng châu Âu. Cầu thủ đoạt giải Chiếc giày vàng châu Âu khi đang chơi cho Olympique de Marseille: Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Josip Skoblar (44 bàn) – 1971
Binh pháp Tôn Tử Tôn Tử binh pháp (: 孫子兵法 / 孙子兵法; Pinyin: Sūnzĭ Bīngfǎ; WG: Sun1 Tzu3 Ping1 Fa3;) tên tiếng Anh của nó được gọi là "The Art of War" (tạm dịch: "Nghệ thuật Chiến tranh" hoặc "Binh pháp") và còn được gọi là "Binh pháp Ngô Tôn Tử", là sách chiến lược chiến thuật chữ Hán do Tôn Vũ soạn thảo vào năm 512 TCN thời Xuân Thu. Cuốn sách chứa một lời giải thích và phân tích chi tiết về quân đội Trung Quốc, từ vũ khí và chiến lược đến cấp bậc và kỷ luật. Tôn Tử cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các nhà hoạt động tình báo và gián điệp đối với nỗ lực chiến tranh. Bởi vì Tôn Tử từ lâu đã được coi là một trong những nhà chiến thuật và phân tích quân sự giỏi nhất trong lịch sử, những lời dạy và chiến lược của ông đã hình thành nên nền tảng của huấn luyện quân sự tiên tiến trong nhiều thế kỷ. Cuốn sách được dịch sang tiếng Pháp và xuất bản năm 1772 (tái bản năm 1782) bởi tu sĩ Dòng Tên người Pháp Jean Joseph Marie Amiot. Một bản dịch sang tiếng Anh đã được sĩ quan người Anh Everard Ferguson Calthrop dịch vào năm 1905 với tựa đề The Book of War. Bản dịch tiếng Anh có chú thích đầu tiên đã được Lionel Giles hoàn thành và xuất bản vào năm 1910. Các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị như nhà lãnh đạo Trung Quốc Mao Trạch Đông, lãnh chúa Nhật Bản Takeda Shingen, đại tướng Việt Nam Võ Nguyên Giáp, và tướng quân đội Mỹ Norman Schwarzkopf Jr. đã lấy cảm hứng từ cuốn sách. Vào khoảng thế kỷ 12, một số học giả bắt đầu nghi ngờ về sự tồn tại lịch sử của Tôn Tử, chủ yếu với lý do ông không được nhắc đến trong tác phẩm kinh điển "Tả truyện", trong đó đề cập đến hầu hết các nhân vật đáng chú ý thời kỳ Xuân Thu. Cái tên "Tôn Võ" () không xuất hiện trong bất kỳ văn bản nào trước "Sử ký", và đã bị nghi ngờ là một nhận thức mô tả được tạo ra có nghĩa là "chiến binh chạy trốn": tên họ "Tôn" được coi là thuật ngữ liên quan "kẻ chạy trốn" ("Tấn" ), Trong khi "Võ" là đức tính của Trung Quốc cổ xưa nghĩa là "võ nghệ, dũng cảm" ("wǔ" ), tương ứng với vai trò của Tôn Tử với tư cách là người "thay mặt" của người anh hùng trong câu chuyện về Ngũ Tử Tư. Không giống như Tôn Võ, Tôn Tẫn dường như là một người thực sự là người có thẩm quyền thực sự trong các vấn đề quân sự, và có thể là nguồn cảm hứng cho việc tạo ra nhân vật lịch sử "Tôn Tử" thông qua một hình thức thần thoại hóa lịch sử (euhemerism). Khám phá tại lăng mộ Ngân Tước sơn. Năm 1972, các thẻ tre Ngân Tước sơn được phát hiện trong hai ngôi mộ triều đại Hán (206 TCN - 220 sau CN) gần thành phố Lâm Nghi thuộc tỉnh Sơn Đông. Trong số nhiều tác phẩm thẻ tre có trong các ngôi mộ, đã được niêm phong từ 134 đến 118 TCN, tương ứng có hai văn bản riêng biệt, một văn bản được gán cho "Tôn Tử", tương ứng với văn bản nhận được và một văn bản khác được quy cho Tôn Tẫn, giải thích và mở rộng về "Binh pháp Tôn Tử" trước đó "của" Tôn Tử. Tài liệu của văn bản Tôn Tẫn trùng lặp với phần lớn văn bản "Tôn Tử" và cả hai có thể là "một truyền thống trí tuệ duy nhất, liên tục phát triển được hợp nhất dưới cùng họ Tôn". Phát hiện này cho thấy phần lớn sự nhầm lẫn trong lịch sử là do có hai văn bản có thể được gọi là "Binh pháp Tôn Tử", chứ không phải một. Nội dung của văn bản trước đó là khoảng một phần ba các chương của "Binh pháp Tôn Tử" hiện đại, và văn bản của chúng rất khớp với nhau. Hiện tại, người ta thường chấp nhận rằng phiên bản "Binh pháp Tôn Tử" trước đó đã được hoàn thành trong khoảng từ 500 đến 430 TCN. Tóm lược nội dung. Tôn tử binh pháp gồm 18 thiên hay chương, nhưng hiện tại chỉ tìm thấy 13 thiên gồm: Ảnh hưởng trên lĩnh vực quân sự. Theo nhận định của viên Sĩ quan Thomas Raphael Phillips, không những là binh thư cổ nhất mà "Binh pháp Tôn Tử" còn là binh thư kinh điển vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Từ giữa thế kỷ 20, các chuyên gia quân sự phương Tây đã thường xuyên vận dụng tư tưởng Tôn Tử để nghiên cứu các vấn đề quân sự. Trong nhiều tác phẩm nổi tiếng về quân sự, từ "Chiến lược luận" (Strategy) của Sir Basil Henry Liddell Hart, "Đại chiến lược" (The Great Strategy) của John M. Collins, cho đến "Chỉ huy tác chiến" (Game Plan: A Geostrategic Framework For the Conduct of the U.S-Soviet Contest) của Zbigniew Kazimierz Brzezinski, đều có thể nhận ra ảnh hưởng của tư tưởng Tôn Tử. Nhiều quan điểm trong "Binh pháp Tôn Tử", như chiến lược thắng lợi trọn vẹn là "không cần đánh mà khuất phục được kẻ địch", quan điểm thận trọng đối với chiến tranh (thận chiến) và hạn chế chiến tranh, quan điểm đánh bằng thủ đoạn ngoại giao (phạt giao) chú trọng liên minh chiến lược, càng chứng tỏ giá trị quý báu trong xu thế "hoà bình và phát triển" hiện nay. Ngoài ra, Tôn Tử còn dạy bài học rằng luôn phải chiếm đóng chỗ hiểm yếu, dễ làm chủ địa hình: Ảnh hưởng ngoài phạm vi Trung Quốc. "Binh pháp Tôn Tử" được du nhập vào Nhật Bản ngay từ thế kỷ 6, nhưng chưa phải là trọn bộ. Năm 525, Thiên hoàng Keitai đã nói với vị chỉ huy quân đội - Thân vương Arakabi rằng tính mạng của dân chúng và sự tồn tại của Nhà nước lệ thuộc vào một thống soái vĩ đại, đây hẳn là rút ra từ cuốn Tôn Tử. Người có công lớn nhất trong việc đưa "Binh pháp Tôn Tử" đến Nhật Bản chính là học giả người Nhật Kibi Makibi (Cát Bi Chân Bi, 693-775). Vào năm 716, khi ông được phái đến Trung Quốc để học tập thể chế nhà Đường. Sau 19 năm học tập các loại kinh, sử, học thuyết Trung Hoa, ông đã mang theo rất nhiều sách kinh điển của Trung Quốc về Nhật Bản, trong đó có cả "Binh pháp Tôn Tử". Tương truyền, ông dùng "Binh pháp Tôn Tử "để đào luyện binh sĩ trước năm 760.. Sau khi vào Nhật Bản cuốn sách đã tạo nên một sức ảnh hưởng to lớn, và trở thành lý thuyết chỉ đạo quân sự chủ yếu của Nhật Bản. Trong đó nổi tiếng nhất là học giả Oe no Masafusa (Đại Giang Khuông Phòng). Cuốn "Đấu chiến kinh" do ông biên soạn được coi là trước tác lý luận quân sự đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản. Tác phẩm này chịu ảnh hưởng sâu sắc của "Binh pháp Tôn Tử", là một "kiệt tác bất hủ" dung hoà binh pháp Trung Quốc cổ đại với nền quân sự Nhật Bản. Tại phương Tây "Binh pháp Tôn Tử" được du nhập đến Pháp đầu tiên. Vào năm 1772, cha đạo Joseph Marie Amiot đã phiên dịch và xuất bản cuốn sách tại Paris với tên gọi "Nghệ thuật quân sự Trung Quốc", trong đó có"13 chương binh pháp Tôn Tử", đã gây được tiếng vang lớn. Bản dịch tiếng Anh đầu tiên của "Binh pháp Tôn Tử" được xuất bản vào năm 1804. Tại phương Tây, Anh là nước nghiên cứu nhiều nhất về "Binh pháp Tôn Tử". Trong số các bản dịch ngoại văn của cuốn sách này, những bản dịch tiếng Anh, do Anh xuất bản cũng có tầm ảnh hưởng rộng nhất. Năm 1810, "Binh pháp Tôn Tử" được Bruno Nnavvrra dịch sang tiếng Đức và xuất bản tại Berlin với nhan đề "Tác phẩm bàn về chiến tranh của các binh gia cổ điển Trung Quốc". Một Chuyên gia lý luận quân sự nổi tiếng của Đức là Carl von Clausewitz cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của "Binh pháp Tôn Tử", điều này thể hiện rất rõ trong tác phẩm Bàn về chiến tranh (Von Kriege) của ông. Việc nghiên cứu "Binh pháp Tôn Tử" tại Hoa Kỳ diễn ra khá muộn, sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt mới bắt đầu. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, khiến cho hình thức và quy luật tác chiến truyền thống đã có sự thay đổi to lớn. Hệ thống lý luận quân sự truyền thống của châu Âu trở nên lỗi thời, thế nhưng "Binh pháp Tôn Tử" với nội hàm triết lý quân sự uyên thâm, đã thu hút sự chú ý của các chuyên gia chiến lược phương tây, giúp họ tìm ra đáp án để giải quyết các vấn đề thực tế. Sở trưởng sở nghiên cứu chiến lược thuộc đại học quốc phòng Hoa Kỳ là John Collins trong tác phẩm "Đại chiến lược: nguyên tắc và thực tiễn" (Grand Strategy Principles and Practices) xuất bản năm 1973 đã viết như sau: "Tôn Tử là một nhân vật vĩ đại đã tạo lập nên hệ tư tưởng chiến lược đầu tiên của thời cổ đạ, vẫn không ai có được trình độ nhận thức sâu sắc đến thế về các mối quan hệ tương tác, các vấn đề cần nghiên cứu và những nhân tố ràng buộc đối với chiến lược. Phần lớn các quan điểm của ông vẫn giữ trọn vẹn giá trị trong thời đại ngày nay". Ảnh hưởng đối với các lĩnh vực khác. Ngay từ thời "Chiến Quốc" Bạch Khuê đã ứng dụng tư tưởng của Tôn Tử vào lĩnh vực kinh doanh và đạt được nhiều thành tựu lớn. Sang thời Bắc Tống, xuất hiện một tác phẩm lý luận về nghệ thuật Cờ vây "Kỳ kinh thập tam thiên" (Mười ba chương kinh điển đánh cờ), mô phỏng theo 13 chương của "Binh pháp Tôn Tử". Từ nửa sau thế kỷ 20 trở lại đây, xu thế ứng dụng "Binh pháp Tôn Tử" trong những lĩnh vực phi quân sự càng trở nên sôi nổi. Trong những năm 50 của thế kỷ trước, tại Nhật Bản đã xuất hiện học phái "quản lý kinh doanh theo binh pháp", và nhanh chóng gây ảnh hưởng trên phạm vi toàn thế giới, hình thành một trào lưu nghiên cứu "Binh pháp Tôn Tử" trong lĩnh vực kinh tế. Ngoài ra "Binh pháp Tôn Tử" còn được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nữa, như triết học, y học, thể dục thể thao, khoa học hệ thống, lý thuyết quyết định, tâm lý học, ngôn ngữ học, toán học, dự trù học, quản trị hành vi, và đều có được thành quả to lớn Ứng dụng trong kinh doanh. Những thương nhân nổi tiếng thời Tiên Tần là Đào Chu Công (Phạm Lãi), Bạch Khuê đã biết ứng dụng thành công "Binh pháp Tôn Tử" vào quản lý kinh doanh. Bước vào xã hội hiện đại, nhiều nước tư bản phát triển không hẹn mà cùng có ý tưởng vận dụng "Binh pháp Tôn Tử" để cải thiện vấn đề quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, giữa thế kỷ 20 tại Nhật Bản thậm chí còn hình thành một học phái kinh doanh bằng binh pháp, với sức ảnh hưởng lan toả khắp thế giới, hình thành cơn sốt nghiên cứu "Binh pháp Tôn Tử" trong lĩnh vực kinh tế. Nhiều công ty lớn thậm chí còn trực tiếp sử dụng "Binh pháp Tôn Tử" làm giáo trình huấn luyện dành cho các nhân viên quản lý bậc trung trở lên. Theo "Thời báo kinh tế thế giới" ra ngày ngày 24 tháng 1 năm 1983, một phái đoàn quản lý doanh nghiệp Trung Quốc đi thăm Nhật Bản để tham khảo kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp, đã được cán bộ phía Nhật Bản giải thích như sau: "Kinh nghiệm quản lý của chúng tôi đều xuất phát từ đất nước Trung Quốc của các anh", và tặng cho phái đoàn Trung Quốc một cuốn sách, thật bất ngờ, đó chính là "Binh pháp Tôn Tử" Hoa Kỳ cũng đã đem "Binh pháp Tôn Tử" ứng dụng rộng rãi vào lĩnh vực quản lý kinh tế. Claude S. Gorge trong tác phẩm "Lịch sử tư tưởng quản lý" (The History of Managerial Thoughts) xuất bản năm 1972, đã nhận xét về giá trị to lớn của lý thuyết dùng người trong "Binh pháp Tôn Tử" đối với vấn đề quản lý doanh nghiệp hiện đại. Ông viết rằng: "Nếu muốn trở thành nhân tài về quản lý, bạn nhất định phải đọc Binh pháp Tôn Tử". Vào năm 1979, D. A. Holway trong tác phẩm "Lịch sử phát triển của tư tưởng quản lý" cũng hết sức ca ngợi những tư tưởng quản lý kinh tế hàm ẩn trong "Binh pháp Tôn Tử", và nhận xét rằng phương pháp phân chia cấp bậc quân đội, đẳng cấp tướng lĩnh trong quản lý quân sự, cách sử dụng thanh la, cờ xí, lửa hiệu để chuyền tin tức chứng tỏ Tôn Tử đã biết cách xử lý tốt các mối quan hệ giữa tham mưu và lãnh đạo trực tiếp, và cho rằng lý luận tổ chức kiểu mẫu cho quản lý doanh nghiệp hiện đại. Trong chương Kế của "Binh pháp Tôn Tử" có viết. Tướng lĩnh phải có các đức tính (mưu trí), (uy tín), (nhân từ), (dũng cảm), (nghiêm minh). Đặt trong thương trường hiện đại, quan điểm này vẫn giữ nguyên ý nghĩa chỉ đạo phổ biến của nó, chỉ có điều chiến trường giờ đã đổi sang thương trường, tướng lĩnh của thương trường chính là các doanh nhân. Và một doanh nhân cũng phải biết về tình hình thương trường của mình, như binh pháp Tôn Tử có viết: Mười ba chương sách của cuốn Tôn Tử gồm 8.000 chữ, quán xuyến tư tưởng và phương pháp của duy vật luận đơn thuần và biện chính pháp nguyên thủy, nêu lên được mối quan hệ phức tạp của chiến tranh với chính trị, ngoại giao, kinh tế, hoàn cảnh tự nhiên, cùng là tác dụng tương hỗ giữa năng động chủ quan của người dụng binh với quy luật khách quan, điều kiện hiện thực, đề cập một cách toàn diện quy luật phổ biến của chiến tranh và nguyên tắc trọng yếu của chỉ đạo chiến tranh. Binh pháp Tôn Tử là binh thư sớm nhất, vĩ đại nhất thời cổ ở Trung Quốc, mà từ xưa đến nay được xếp hàng đầu trong bảy tập võ kinh. Người Nhật suy tôn Tôn Vũ là "thủy tổ của binh học phương đông" là "thánh điển binh học" và là "binh thư thời cổ bậc nhất thế giới". Thiên hoàng Minh Trị cũng đã được nghe giảng dạy về "Binh pháp Tôn Tử". Binh pháp của Tôn Vũ được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài, ở châu Âu cũng rất được tôn sùng. Trong các cuộc chiến tranh liên miên, Hoàng đế Napoléon Bonaparte cũng thường đọc "Tôn Tử binh pháp". Không những thế, theo nhà nghiên cứu Quách Hóa Nhược, sau cuộc Thế chiến thứ nhất, khi Hoàng đế ("Kaiser") Wilhelm II của Đức được đọc "Binh pháp Tôn Tử", đã than rằng: "Tiếc thay 20 năm trước đây Trẫm không được xem cuốn sách này" Nhà cách mạng Trung Quốc Mao Trạch Đông cũng chịu ảnh hưởng của binh pháp Tôn Tử, thể hiện qua các binh thư của ông. Thất bại của người Mỹ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam cũng khiến cho các nhà lý luận quân sự hàng đầu của nước Mỹ phải để ý đến "Tôn Tử binh pháp". Tháng 8 năm 1990, sau khi Chiến tranh vùng Vịnh bùng phát, phóng viên "Thời báo Los Angeles" đến phỏng vấn Tổng thống George H. W. Bush, phát hiện trên bàn làm việc của ông có bày hai cuốn sách, là "Hoàng đế Caesar" và "Binh pháp Tôn Tử". Có người nói: Trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh, các sĩ quan quân đội Hoa Kỳ đều mang theo "Binh pháp Tôn Tử". Như vậy cho thấy cuốn binh pháp cổ đại có từ 2500 năm trước, trong cuộc chiến tranh hiện đại hoá hôm nay vẫn phát huy ảnh hưởng sâu rộng. Danh tướng Takeda Shingen (Vũ Điền Tín Huyền) được tôn xưng là"Tôn Tử"của Nhật Bản. Ông suy tôn Tôn Tử là bậc thầy của mình, viết bốn câu trong "Binh pháp Tôn Tử" lên cờ trận, cắm tại cửa doanh trại. "Lúc nhanh thì như gió cuốn, lúc chậm rãi như rừng sâu, lúc tấn công như lửa cháy, lúc phòng ngự như núi đá". "Tôn Tử binh pháp" không chỉ là báu vật của văn hoá truyền thống của dân tộc Trung Hoa, mà còn là tinh hoa của văn hoá thế giới, là của cải tinh thần chung của nhân loại. Trong khi dịch "Tôn Tử binh pháp" năm 1957, Quách Hóa Nhược tâm sự: "Văn cổ của Tôn Tử cô đúc nếu dịch theo một cách đơn giản thì trúc trắc khó hiểu, tuy trung thành nhưng không"đạt". Cho nên một mặt phải hết sức trung thành với nguyên văn, từng chữ từng câu đều phải cố giữ ý nghĩa cũ của nó, không thể thêm thắt, nếu không sẽ hoá ra chú thích. Nhưng, một mặt khác giữ từ và câu trong giọng văn diễn tả lại phải bồi bổ thêm cho gọn ý, khiến người đọc dễ hiểu. Văn cổ của Tôn Tử, văn gọn nghĩa sâu, nhiều âm điệu, có thể nói để trong vườn sẽ toả mùi thơm của hoa quý, ném xuống đất sẽ có tiếng kêu của bạc vàng. Nhiều từ sắp đối nhau, nhiều câu trùng lắp thật là đẹp khiến người ta không nỡ và cũng không dám tự ý để làm mất thần sắc và âm điệu giàu có của nó" Lời tựa do nhóm biên dịch cuốn "Truyện Tôn Tử" của Tào Nghiêu Đức có đoạn viết: "Trước tác"Binh pháp Tôn Tử"là bộ binh pháp kinh điển hàng đầu thế giới, được danh tướng các thời đại đề cao, nức tiếng xưa nay. Tác dụng và giá trị của nó, không chỉ hạn hẹp trong phạm vi quân sự, mà các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hoá, kinh tế, đều chịu ảnh hưởng sâu sắc." Một tuyệt tác quân sự kinh điển ở châu Âu sánh vai với binh pháp Tôn Tư là"Những quân lệnh của Friedrich Đại đế dành cho binh tướng của mình"do chính vị vua - chiến binh vĩ đại Friedrich II của Phổ (Friedrich Đại đế) viết nên (1747). Các nhà nghiên cứu cho rằng kiệt tác này có nhiều tư tưởng giống với "binh pháp Tôn Tử". Tỷ như trong khi Tôn Tử viết: "Biết người biết ta, trăm trận không nguy; không biết người mà chỉ biết ta, một trận thắng một trận thua; không biết người, không biết ta, mọi trận đều bại." Thì Friedrich Đại đế cũng có viết: "Một người phải biết về các kẻ thù của mình, các liên minh của chúng, bản chất và tài nguyên của nước chúng để mà còn tiến quân. Một người phải biết kiếm bạn hữu, biết tài nguyên của mình, và phải biết nhận thấy những hiệu quả tương lai mà người này mong muốn hoặc lo sợ từ những thủ đoạn chính trị". Mã Nhất Phu đánh giá về "binh pháp Tôn Tử" như sau: "Ảnh hưởng của cuốn Tôn Tử không chỉ giới hạn ở lĩnh vực quân sự."Tôn Tử"là phương lược trị quốc của chính trị gia, là tấm gương soi của nhà triết học, là pháp bảo của nhà ngoại giao, là báu vật ở trong con mắt của văn học gia; trong cuộc thương chiến kịch liệt hiện nay, đó cũng là sách giáo khoa chiến lược của những nhà kinh doanh. Vị thần kinh doanh Tùng Hạ của Nhật Bản cũng cho rằng, cuốn Tôn Tử là pháp bảo thành công của ông ta" Binh pháp Tôn Tử được vận dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, hấp dẫn được sự chú ý nghiên cứu của nhiều nhân sĩ, cuối cùng đã gây thành một sức nóng Tôn Tử mang tính toàn cầu. Do hạn chế của hiện thực khách quan và mức độ nhận thức đương thời, cuốn Tôn Tử không thể tránh khỏi những chỗ thiên lệch hoặc lầm lẫn, như xem nhẹ vai trò binh sĩ, chỉ chú trọng được lợi mà không để ý đến chính nghĩa hay là không chính nghĩa như: "cướp bóc thôn xóm, giành lấy nhân lực của nước địch; mở rộng lãnh thổ, giành lấy của cải nước địch". Cần chú ý xem lại những phần đó. Trên thực tế, những việc như trên là điều không thể nào tránh khỏi. Trong giao tranh, điều quan trọng nhất mà một tướng lĩnh phải đặt lên hàng đầu chính là kết quả của trận chiến, chỉ cần thắng lợi thì những điều khác đều không còn ý nghĩa ví dụ: nếu như không tấn công các thôn làng sẽ không thể duy trì lực lượng chiến đấu cho quân sĩ, không thể ép quân địch tự chui vào kế. Hoặc nếu như chỉ quan tâm đến số người có thể bị mất thì không thể nào có thể chiến thắng. Có người nói rằng phép biện chứng của Tôn Vũ chỉ khuôn trong lĩnh vực quân sự học, phạm vi nhỏ hẹp. Nhận định như vậy là thiên lệch, bất cứ loại tư tưởng nào, chỉ cần nó giàu tính triết học, vô luận nhìn từ góc độ nào, đều có ý nghĩa chỉ đạo phổ biến. Nhiều vấn đề trong 13 thiên "Binh pháp" như: Tuy nói về quân sự, nhưng phù hợp với các ngành nghề. Ở một số nước có nền kinh tế phát triển, ngay khi tuyển dụng nhân viên bán hàng, cũng không tách rời nội dung của "Binh pháp Tôn Tử" . Câu cuối cùng chương 3 như sau: 故曰:知彼知己,百戰不殆;不知彼而知己,一勝一負;不知彼,不知己,每戰必敗 ("tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi; bất tri bỉ nhi tri kỷ, nhất thắng nhất phụ; bất tri bỉ, bất tri kỷ, mỗi chiến tất bại") "Biết người biết ta, trăm trận không nguy; không biết người mà chỉ biết ta, một trận thắng một trận thua; không biết người, không biết ta, mọi trận đều bại". Câu này đã đi vào thành ngữ Trung Quốc và Việt Nam, rất phổ biến nhưng nội dung có khác đi: "Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng""("Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng")"
Bahrain (phiên âm tiếng Việt: "Ba-ranh" (theo phiên âm từ tiếng Pháp); ), gọi chính thức là Vương quốc Bahrain ( ""), là một quốc gia quân chủ Ả Rập trên vịnh Ba Tư. Đây là một đảo quốc gồm một quần đảo nhỏ tập trung quanh đảo Bahrain, nằm giữa Qatar và duyên hải đông bắc của Ả Rập Xê Út, Bahrain liên kết với Ả Rập Xê Út qua đường đắp cao Quốc vương Fahd dài 25 km. Dân số Bahrain đạt 1.234.567 vào khoảng năm 2010, trong đó bao gồm 666.172 người ngoại quốc. Bahrain có diện tích 780 km², là quốc gia nhỏ thứ ba tại châu Á sau Maldives và Singapore. Bahrain thời cổ đại từng thuộc văn minh Dilmun. Đảo quốc nổi tiếng từ xưa với nghề tìm kiếm ngọc trai, ngọc trai Bahrain được cho là tốt nhất thế giới trong thế kỷ XIX. Bahrain là một trong các khu vực cải sang Hồi giáo sớm nhất (628). Sau giai đoạn người Ả Rập cai trị, Bahrain bị người Bồ Đào Nha chiếm đóng vào năm 1521. Đến năm 1602, Quốc vương Abbas I của vương triều Safavid Ba Tư trục xuất người Bồ Đào Nha. Năm 1783, thị tộc Bani Utbah chiếm lấy Bahrain từ Nasr Al-Madhkur (thống đốc của Ba Tư) và kể từ đó đảo quốc nằm dưới quyền cai trị của gia tộc Al Khalifa. Đến cuối thập niên 1800, sau các hiệp ước liên tiếp với Anh, Bahrain trở thành một lãnh thổ bảo hộ của Anh. Năm 1971, Bahrain tuyên bố độc lập. Bahrain thay đổi tiền tố quốc hiệu từ 'nhà nước' sang 'vương quốc' vào năm 2002. Năm 2011, đảo quốc này trải qua các cuộc thị uy lấy cảm hứng từ Mùa xuân Ả Rập. Bahrain có nền kinh tế hậu dầu mỏ đầu tiên tại khu vực vịnh Ba Tư. Kể từ cuối thế kỷ XX, Bahrain tiến hành đầu tư vào các lĩnh vực ngân hàng và du lịch. Nhiều tổ chức tài chính lớn hiện diện tại thủ đô Manama của đảo quốc. Bahrain có chỉ số phát triển con người ở mức cao và được Ngân hàng Thế giới công nhận là một nền kinh tế thu nhập cao. Trong tiếng Ả Rập, "Bahrayn" là dạng kép của "bahr" ("biển"), do đó "al-Bahrayn" nghĩa là "hai biển", song hai biển ám chỉ điều gì thì vẫn còn tranh luận. Thuật ngữ này xuất hiện năm lần trong kinh Quran, song không ám chỉ đảo quốc hiện đại—ban đầu người Ả Rập gọi là "Awal"— mà là toàn bộ miền đông bán đảo Ả Rập (đặc biệt là al-Katif và al-Hasa). Ngày nay, "hai biển" của Bahrain thay vào đó thường được cho là vịnh phía đông và tây của đảo, biển bắc và nam của đảo, hoặc là nước mặn và nước ngọt tại bên trên và bên dưới mặt đất. Ngoài các giếng nước, có các khu vực tại vùng biển phía bắc của Bahrain xảy ra hiện tượng nước ngọt sủi bọt lên giữa dòng nước mặn, hiện tượng này được các du khách chú ý từ thời cổ. Một thuyết khác về từ nguyên của Bahrain cho rằng hai biển chính là vịnh Ba Tư và một hồ nước yên lặng tại đại lục bán đảo Ả Rập. Cho đến vãn kỳ Trung Cổ, "Bahrain" được dùng để chỉ miền đông bán đảo Ả Rập, gồm cả miền nam Iraq, Kuwait, Al-Hasa, Qatif và Bahrain. Khu vực trải dài từ Basra tại Iraq đến eo biển Hormuz tại Oman. Không rõ thời điểm chính xác khi thuật ngữ "Bahrain" bắt đầu chỉ đề cập đến quần đảo Awal. Đảo và vương quốc được viết phổ biến là Bahrein cho đến thập niên 1950. Bahrain là quê hương của văn minh Dilmun, là một trung tâm mậu dịch quan trọng trong thời đại đồ đồng giúp liên kết Lưỡng Hà và thung lũng sông Ấn. Bahrain sau đó nằm dưới quyền cai trị của người Assyria và người Babylon. Từ thế kỷ VI đến thế kỷ III TCN, Bahrain là bộ phận của đế quốc Achaemenes Ba Tư. Đến khoảng năm 250 TCN, người Parthia (từ đông bắc Ba Tư) kiểm soát vịnh Ba Tư và bành trướng ảnh hưởng xa đến Oman. Người Parthia lập các đồn quân sự dọc duyên hải phía nam của vịnh Ba Tư để kiểm soát các tuyến mậu dịch. Người Hy Lạp cổ đại gọi Bahrain là "Tylos", trung tâm mậu dịch ngọc trai, khi đô đốc Hy Lạp Nearchus đổ bộ lên Bahrain theo lệnh Alexandros Đại đế. Nearchus được cho là vị chỉ huy đầu tiên của Alexandros đến đảo, ông ghi lại rằng Bahrain có các đồn điền lớn trồng bông để sản xuất trang phục. Sử gia Hy Lạp Theophrastus viết rằng cây bông bao phủ phần lớn Bahrain và rằng Bahrain nổi tiếng về gậy đi bộ (ba toong) xuất khẩu được chạm khắc các hình vẽ. Alexandros có kế hoạch định cư người Hy Lạp tại Bahrain, và mặc dù không rõ về quy mô tiến hành trên thực tiễn, song Bahrain là bộ phận hội nhập nhiều trong thế giới Hy Lạp hoá: ngôn ngữ của tầng lớp thượng lưu là tiếng Hy Lạp (dù Aramaic được sử dụng hàng ngày), trong khi thần Zeus được thờ phụng dưới dạng thần mặt trời Shams Ả Rập. Bahrain thậm chí còn trở thành địa điểm thi đấu thể thao Hy Lạp. Sử gia Hy Lạp Strabo cho rằng người Phoenicia có nguồn gốc từ Bahrain. Herodotus cũng cho rằng quê hương của người Phoenicia là Bahrain. Trong thế kỷ III, quân chủ đầu tiên của vương triều Sassanid Ba Tư là Ardashir I hành quân đến Oman và Bahrain, đánh bại người cai trị Bahrain là Sanatruq. Khi đó, Bahrain được gọi là Mishmahig. Bahrain cũng là nơi thờ một vị thần bò gọi là Awal, những người thời phụng xây một tượng lớn cho Awal tại Muharraq, song hiện đã biến mất. Sau nhiều thế kỷ được gọi là "Tylos", Bahrain được gọi là "Awal". Đến thế kỷ V, Bahrain trở thành một trung tâm của Cảnh giáo, ngôi làng Samahij là nơi ở của các giám mục. Năm 410, theo như hồ sơ tôn giáo của Giáo hội Đông phương Syria, một giám mục tên là Batai bị rút phép thông công khỏi giáo hội tại Bahrain. Tín đồ Cảnh giáo thường bị triều đình Đông La Mã ngược đãi do bị cho là dị giáo, song Bahrain nằm ngoài phạm vi kiểm soát của đế quốc này. Cư dân Bahrain thời kỳ tiền Hồi giáo gồm có người Ả Rập Cơ Đốc giáo, người Ba Tư theo Hoả giáo, người Do Thái, và người nói tiếng Aram. Theo học giả Anh Robert Bertram Serjeant, người Bahrain có thể là hậu duệ Ả Rập hoá của những người Cơ Đốc giáo, Do Thái giáo và Ba Tư sống trên đảo vào thời điểm người Hồi giáo chinh phục. Tương tác đầu tiên của Muhammad với cư dân Bahrain là cuộc xâm chiếm Al Kudr. Muhammad ra lệnh tấn công bất ngờ bộ lạc Banu Salim với cáo buộc rằng họ âm mưu tấn công Medina. Ông nhận được tin tức rằng một số bộ lạc tập hợp một đội quân tại Bahrain và chuẩn bị tấn công vào đại lục. Song các nhân sĩ bộ lạc rút lui khi biết rằng Muhammad đang dẫn quân đến giao chiến với họ. Tư liệu Hồi giáo truyền thống viết rằng Al-Ala'a Al-Hadrami được Muhammad cử làm sứ giả trong cuộc chinh phục Zaid ibn Haritha (Hisma) đến khu vực Bahrain vào năm 628 và rằng quân chủ địa phương là Munzir ibn-Sawa al-Tamimi hưởng ứng và cải đạo toàn bộ khu vực sang Hồi giáo. Năm 899, giáo phái Qarmat (thuộc hệ Hồi giáo Shia) chiếm được Bahrain, tìm cách lập ra một xã hội không tưởng dựa trên lý trí và tái phân phối của cải trong những người thụ giáo. Sau đó, giáo phái Qarmat yêu cầu triều cống từ khalip tại Baghdad, và đến năm 930 họ cướp phá Mecca và Medina, đưa Đá Đen thiêng liêng về căn cứ của họ tại Ahsa, tức khu vực Bahrain trung đại, để đòi tiền chuộc. Theo sử gia Al-Juwayni, hòn đá được trả lại 22 năm sau vào năm 951 trong hoàn cảnh khó hiểu. Sau thất bại vào năm 976 trước vương triều Abbas Ba Tư, giáo phái Qarmat bị vương triều Uyuni của người Ả Rập tại al-Hasa (nay thuộc Ả Rập Xê Út) lật đổ, vương triều này chiếm được toàn bộ khu vực Bahrain vào năm 1076. Vương triều Uyuni kiểm soát Bahrain cho đến năm 1235, vào năm này quần đảo bị một thống đốc Ba Tư chiếm đóng trong một thời gian ngắn. Năm 1253, người Usfuri du mục lật đổ vương triều Uyuni, nhờ đó giành quyền kiểm soát miền đông bán đảo Ả Rập, trong đó có quần đảo Bahrain. Năm 1330, quần đảo trở thành một nước chư hầu của quân chủ Hormuz, song tại địa phương quần đảo nằm dưới quyền kiểm soát của vương triều Jarwani tại Qatif (nay thuộc Ả Rập Xê Út) theo Hồi giáo Shia. Đến giữa thế kỷ XV, quần đảo nằm dưới quyền kiểm soát của vương triều Jabri, một triều đại Bedouin cũng có căn cứ tại Al-Ahsa và kiểm soát hầu hết miền đông bán đảo Ả Rập. Thời kỳ đầu hiện đại. Năm 1521, người Bồ Đào Nha liên minh với Hormuz và chiếm được Bahrain từ tay quân chủ Jabri là Migrin ibn Zamil. Bồ Đào Nha cai trị Bahrain trong khoảng 80 năm, trong thời gian đó họ dựa chủ yếu vào các thống đốc người Ba Tư theo Hồi giáo Sunni. Năm 1602, Abbas I của vương triều Safavid Ba Tư trục xuất người Bồ Đào Nha khỏi quần đảo, giúp thúc đẩy Hồi giáo Shia. Trong hai trăm năm sau đó, các quân chủ Ba Tư duy trì quyền kiểm soát đối với quần đảo, song bị gián đoạn do các cuộc xâm chiếm vào năm 1717 và 1738 của giáo phái Ibadi tại Oman. Trong hầu hết giai đoạn này, vương triều Ba Tư quản lý gián tiếp Bahrain, hoặc là thông qua thành phố Bushehr (nay thuộc Iran) hoặc thông qua các thị tộc Ả Rập Sunni nhập cư. Nhóm sau là các bộ lạc từ lãnh thổ Ba Tư quay trở lại phía bán đảo Ả Rập của vịnh Ba Tư, họ được gọi là "Huwala". Năm 1753, một thị tộc Huwala là Nasr Al-Madhkur xâm chiếm Bahrain nhân danh Karim Khan Zand (người sáng lập vương triều Zand tại Ba Tư) và khôi phục quyền cai trị trực tiếp của Ba Tư. Năm 1783, Nasr Al-Madhkur để mất quần đảo Bahrain sau khi thất bại trước bộ lạc Bani Utbah. Bahrain không phải là lãnh thổ mới của người Bani Utbah vì họ hiện diện tại đây từ thế kỷ XVII. Trong thời gian này, họ bắt đầu mua các vườn chà là tại Bahrain; một văn kiện cho thấy rằng 81 năm trước khi gia tộc Al-Khalifa đến, một vị sheikh của bộ lạc Al Bin Ali (một nhánh của Bani Utbah) đã mua một vườn chà là từ Mariam bint Ahmed Al Sanadi trên đảo Sitra. Al Bin Ali là nhóm chi phối kiểm soát thị trấn Zubarah trên bán đảo Qatar, ban đầu là trung tâm quyền lực của Bani Utbah. Sau khi Bani Utbah giành quyền kiểm soát Bahrain, Al Bin Ali thực tế có địa vị độc lập tại đây với vị thế bộ lạc tự quản. Họ sử dụng hiệu kỳ có bốn dải đỏ và ba dải trắng gọi là Al-Sulami tại Bahrain, Qatar, Kuwait, và tỉnh Đông của Ả Rập Xê Út. Sau đó, các thị tộc và bộ lạc Ả Rập khác từ Qatar chuyển đến Bahrain để định cư sau khi Nasr Al-Madhkur thất bại. Trong các gia tộc này có Al Khalifa, Al-Ma'awdah, Al-Fadhil, Al-Mannai, Al-Noaimi, Al-Sulaiti, Al-Sadah, Al-Thawadi. Gia tộc Al Khalifa chuyển từ Qatar đến Bahrain vào năm 1799. Ban đầu, tổ tiên của họ bị Ottoman trục xuất khỏi Umm Qasr thuộc miền trung bán đảo Ả Rập đến Kuwait vào năm 1716, họ ở lại đó cho đến năm 1766. Khoảng thập niên 1760, các thị tộc Al Jalahma và Al Khalifa, đều thuộc liên minh Utub, di cư đến Zubarah thuộc Qatar ngày nay, khiến Al Sabah là gia tộc duy nhất sở hữu Kuwait. Từ thế kỷ XIX. Vào đầu thế kỷ XIX, Bahrain bị cả người Oman và gia tộc Al Saud (hoàng tộc Ả Rập Xê Út ngày nay) xâm chiếm. Năm 1802, quần đảo nằm dưới quyền cai quản của một thiếu nhi 12 tuổi khi quân chủ Oman cho con trai ông ta là Salim làm thống đốc của pháo đài Arad. Năm 1816, công sứ chính trị Anh tại vịnh Ba Tư là William Bruce nhận được thư từ Sheikh của Bahrain với nội dung lo ngại về tin đồn rằng Anh sẽ ủng hộ Imam của Muscat tấn công đảo. Bruce đến Bahrain để cam đoan với Sheikh rằng đó không phải sự thực và đưa ra một thoả thuận phi chính thức đảm bảo với Sheikh rằng Anh duy trì là một bên trung lập. Năm 1820, bộ lạc Al Khalifa được Anh công nhận là quân chủ ("Al-Hakim" theo tiếng Ả Rập) của Bahrain sau khi ký kết quân hệ hiệp ước. Tuy nhiên, mười năm sau đó họ buộc phải cống nạp hàng năm cho Ai Cập (chư hầu của Ottoman) bất chấp việc tìm kiếm bảo hộ từ Ba Tư và Anh. Năm 1860, gia tộc Al Khalifa viết thư cho triều đình Ba Tư và Ottoman, và họ chấp thuận đưa Bahrain nằm dưới quyền bảo hộ của Ottoman trong tháng 3 do được hưởng các điều kiện tốt hơn. Cuối cùng, chính phủ Ấn Độ thuộc Anh khuất phục Bahrain khi người Ba Tư từ chối bảo vệ quần đảo. Thượng tá Lewis Pelly ký một hiệp ước mới với gia tộc Al Khalifa để đưa Bahrain nằm dưới quyền cai trị và bảo hộ của Anh. Sau chiến tranh Qatar–Bahrain vào năm 1868, các đại biểu của Anh ký kết thoả ước khác với gia tộc Al Khalifa. Nó ghi rõ rằng quân chủ không thể chuyển nhượng bất kỳ lãnh thổ nào của mình ngoại trừ cho Anh và không thể tham gia quan hệ với bất kỳ chính phủ ngoại quốc nào nếu Anh không đồng ý. Đổi lại Anh cam kết bảo vệ Bahrain khỏi toàn bộ hành vi công kích bằng đường biển và giúp đỡ trong trường hợp có tấn công trên bộ. Quan trọng hơn là người Anh cam kết ủng hộ quyền cai trị của gia tộc Al Khalifa tại Bahrain, bảo đảm cho vị thế quân chủ vốn bất ổn của họ. Các thoả ước khác vào năm 1880 và 1892 chính thức hoá vị thế bảo hộ Bahrain của người Anh. Náo động trong cư dân Bahrain bắt đầu khi Anh chính thức thiết lập địa vị thống trị hoàn toàn đối với lãnh thổ vào năm 1892. Cuộc khởi nghĩa đầu tiên có quy mô rộng đã diễn ra trong tháng 3 năm 1895 nhằm chống lại quân chủ Bahrain là Sheikh Issa bin Ali. Sheikh Issa là người đầu tiên trong gia tộc Al Khalifa cai trị mà không có quan hệ với Ba Tư. Đại diện của Anh tại vịnh Ba Tư là Arnold Wilson đến Bahrain từ Muscat trong thời gian này. Khởi nghĩa phát triển thêm với việc một số người biểu tình bị quân Anh giết. Trước khi phát triển dầu mỏ, quần đảo phần lớn chuyên về tìm kiếm ngọc trai, và cho đến thế kỷ XIX vẫn được đánh giá là có chất lượng tốt nhất thế giới. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, có khoảng 400 tàu tìm ngọc trai và giá trị xuất khẩu hàng năm là trên 30.000 bảng Anh. Năm 1911, một nhóm thương gia Bahrain yêu cầu hạn chế ảnh hưởng của Anh đối với quốc gia. Các thủ lĩnh của nhóm này sau đó bị tống giam và lưu đày sang Ấn Độ. Năm 1923, người Anh tiến hành cải cách hành chính và thay thế Sheikh Issa bin Ali bằng con trai ông. Một số địch thủ tăng lữ và gia đình như al Dossari rời đi hoặc bị lưu đày sang Ả Rập Xê Út và Iran. Ba năm sau, người Anh đặt Bahrain dưới quyền cai trị thực tế của Charles Belgrave, người này giữ chức vụ cố vấn cho quân chủ Bahrain cho đến năm 1957. Belgrave tiến hành một số cải cách như thành lập trường học hiện đại đầu tiên tại quần đảo vào năm 1919, trường nữ sinh đầu tiên tại vịnh Ba Tư vào năm 1928 và bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1937. Trong khi đó, ngành lặn tìm ngọc trai phát triển với tốc độ nhanh chóng. Năm 1927, quân chủ của Iran là Reza Shah yêu sách chủ quyền đối với Bahrain trong một bức thư gửi đến Hội Quốc Liên, động thái này thúc đẩy Charles Belgrave tiến hành các biện pháp khắc nghiệt bao gồm khuyến khích xung đột giữa người Hồi giáo Shia và Sunni nhằm dẹp yên khởi nghĩa và giới hạn ảnh hưởng của Iran. Belgrave thậm chí còn đề xuất đổi tên vịnh Ba Tư thành "vịnh Ả Rập"; song bị chính phủ Anh bác bỏ. Quan tâm của Anh trong phát triển của Bahrain bắt nguồn từ lo ngại về tham vọng của Ả Rập Xê Út và Iran trong khu vực. Công ty Dầu mỏ Bahrain (Bapco) là công ty con của Công ty Standard tại California (Socal), họ phát hiện dầu mỏ vào năm 1931 và bắt đầu sản xuất vào năm sau đó. Điều này khiến cho Bahrain được hiện đại hoá nhanh chóng. Quan hệ với Anh trở nên mật thiết hơn, bằng chứng là Hải quân Hoàng gia Anh chuyển toàn bộ Bộ tư lệnh Trung Đông từ Bushehr thuộc Iran sang Bahrain vào năm 1935. Bahrain tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai bên phía Đồng Minh. Ngày 19 tháng 10 năm 1940, bốn máy bay SM.82s của Ý tiến hành oanh tạc Bahrain cùng các mỏ dầu Dhahran tại Ả Rập Xê Út, nhằm mục tiêu là nhà máy lọc dầu do Đồng Minh điều hành. Sau chiến tranh, cảm tình chống Anh ngày càng phổ biến khắp thế giới Ả Rập và dẫn đến náo loạn tại Bahrain. Náo loạn tập trung mục tiêu vào cộng đồng Do Thái. Năm 1948, sau khi gia tăng các hành vi thù địch và cướp bóc, hầu hết thành viên của cộng đồng Do Thái Bahrain từ bỏ tài sản và đào thoát sang Bombay, sau đó định cư tại Israel và Anh. #đổi , 37 người Do Thái còn sống tại Bahrain. Trong thập niên 1950, Ủy ban Đoàn kết Quốc gia yêu cầu hình thành hội đồng dân cử, loại bỏ Belgrave và tiến hành một số cuộc thị uy và tổng đình công. Năm 1965, một cuộc khởi nghĩa kéo dài trong một tháng bùng phát sau khi hàng trăm công nhân của Công ty Dầu mỏ Bahrain bị sa thải. Ngày 15 tháng 6 năm 1971, mặc dù Shah của Iran yêu sách chủ quyền lịch sử với Bahrain, song ông chấp thuận một cuộc trưng cầu dân ý do Liên Hợp Quốc tổ chức và cuối cùng Bahrain tuyên bố độc lập và ký một hiệp ước hữu nghị mới với Anh. Bahrain gia nhập Liên Hợp Quốc và Liên đoàn Ả Rập trong cùng năm. Cuộc bùng nổ dầu mỏ trong thập niên 1970 mang lại lợi ích rất lớn cho Bahrain, song cuộc suy thoái tiếp sau đó khiến kinh tế bị tổn hại. Quốc gia này đã bắt đầu đa dạng hoá kinh tế và hưởng lợi từ nội chiến Liban trong thập niên 1970 và 1980, khi mà Bahrain thay thế Beirut (thủ đô Liban) trong vai trò là trung tâm tài chính Trung Đông. Sau cách mạng Hồi giáo tại Iran vào năm 1979, đến năm 1981 các phần tử theo trào lưu chính thống Shia tại Bahrain tiến hành đảo chính thất bại dưới bảo trợ của Mặt trận Hồi giáo Giải phóng Bahrain. Cuộc đảo chính do một giáo sĩ Shia lưu vong tại Iran tên là Hadi al-Modarresi chỉ đạo, ông ta tự xưng là thủ lĩnh tối cao của một chính phủ thần quyền. Trong tháng 12 năm 1994, một nhóm thanh niên ném đá vào các vận động viên nữ trong một giải chạy marathon quốc tế do các vận động viên này để hở chân. Xung đột sau đó với cảnh sát nhanh chóng phát triển thành bất ổn dân sự. Một cuộc khởi nghĩa quần chúng diễn ra từ năm 1994 đến năm 2000 khi các phần tử tả khuynh, tự do và Hồi giáo liên hiệp. Kết quả là khoảng bốn mươi người thiệt mạng và khởi nghĩa kết thúc sau khi Hamad ibn Isa Al Khalifa trở thành Emir của Bahrain vào năm 1999. Ông cho tiến hành bầu cử nghị viện, trao cho nữ giới quyền bỏ phiếu, và phóng thích toàn bộ các tù nhân chính trị. Một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 14–15 tháng 2 năm 2001 có kết quả là đại đa số ủng hộ Hiến chương Hành động Quốc gia. Ngày 14 tháng 2 năm 2002, Bahrain đổi quốc hiệu chính thức từ Nhà nước Bahrain sang Vương quốc Bahrain. Bahrain tham gia hành động quân sự chống lại Taliban vào tháng 10 năm 2001 khi triển khai một tàu hộ tống trên biển Ả Rập để phục vụ các hoạt động cứu hộ và nhân đạo. Do đó đến tháng 11 cùng năm, chính phủ Hoa Kỳ xác định Bahrain là một "đồng minh lớn không thuộc NATO". Bahrain phản đối xâm chiếm Iraq và đề nghị Saddam Hussein tị nạn trong những ngày trước cuộc xâm chiếm. Quan hệ giữa Bahrain và Qatar được cải thiện sau khi tranh chấp biên giới về quần đảo Hawar được Toà án Công lý Quốc tế tại La Hay giải quyết vào năm 2001. Sau khi tiến hành tự do hoá chính trị, Bahrain đàm phán một hiệp định tự do mậu dịch với Hoa Kỳ vào năm 2004. Được truyền cảm hứng từ Mùa xuân Ả Rập, cộng đồng Shia vốn chiếm đa số tại Bahrain bắt đầu các cuộc thị uy lớn chống giới lãnh đạo theo Hồi giáo Sunni vào đầu năm 2011.:162–3 Chính phủ sau đó yêu cầu trợ giúp an ninh từ Ả Rập Xê Út và các quốc gia Vùng Vịnh khác và tuyên bố tình trạng khẩn cấp kéo dài trong ba tháng.:132–9 Chính phủ sau đó tiến hành đàn áp lực lượng đối lập, bao gồm việc tiến hành hàng nghìn vụ bắt giữ và tra tấn có hệ thống. Có trên 80 thường dân và 13 cảnh sát thiệt mạng tính đến tháng 3 năm 2014. Bahrain nằm dưới quyền cai trị của chế độ Al-Khalifa, là một nền quân chủ lập hiến do quốc vương đứng đầu, quốc vương hiện nay là Shaikh Hamad bin Isa Al Khalifa. Quốc vương Hamad có quyền lực hành pháp rộng lớn, bao gồm bổ nhiệm thủ tướng và các bộ trưởng, chỉ huy quân đội, chủ toạ Hội đồng Tư pháp Tối cao, bổ nhiệm Hội đồng Cố vấn của nghị viện và giải tán Hội đồng Đại diện.(tr15) Người đứng đầu chính phủ là thủ tướng, thủ tướng hiện hành Shaikh Khalīfa bin Salman Al Khalifa là chú của Quốc vương Hamad và giữ chức vụ này kể từ năm 1971, khiến ông là thủ tướng tại nhiệm lâu nhất trên thế giới. Năm 2010, khoảng một nửa thành viên chính phủ thuộc gia tộc Al Khalifa. Bahrain có quốc hội lưỡng viện ("al-Jam'iyyah al-Watani") gồm Hội đồng Cố vấn ("Majlis Al-Shura") có 40 ghế và Hội đồng Đại diện ("Majlis Al-Nuwab") có 40 ghế. 40 thành viên của Shura do quốc vương bổ nhiệm, còn 40 thành viên của Hội đồng Đại diện được bầu theo thể thức đa số tuyệt đối trong các khu vực bầu cử một ghế với nhiệm kỳ 4 năm. Hội đồng Cố vấn có thể phủ quyết trên thực tế Hội đồng Đại diện, do các dự thảo luật cần phải được họ tán thành. Sau khi được Hội đồng Cố vấn tán thành, quốc vương có thể phê chuẩn và ban hành đạo luật hoặc trả lại nó trong vòng sáu tháng cho Quốc hội, và tại đây nó chỉ có thể được thành luật nếu hai phần ba thành viên của cả hai hội đồng tán thành.(tr15) Năm 1973, quốc gia này tổ chức bầu cử nghị viện lần đầu tiên; tuy nhiên, hai năm sau, tiểu vương đương nhiệm giải tán nghị viện và đình chỉ hiến pháp sau khi nghị viện bác bỏ Luật An ninh Nhà nước. Giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2010 có ba lần bầu cử nghị viện, cuộc bầu cử năm 2002 bị phe đối lập Al Wefaq tẩy chay, Al Wefaq giành đa số ghế trong cuộc bầu cử năm 2006 và 2010. Cuộc bầu cử bổ sung năm 2011 được tổ chức để thay thế 18 thành viên của Al Wefaq từ chức nhằm phản đối chính phủ đàn áp. Việc mở cửa chính trị mang lại lợi ích lớn cho các phái chủ nghĩa Hồi giáo Shia và Sunni trong bầu cử, tạo cho họ một nền tảng nghị viện để theo đuổi các chính sách của mình. Nó khiến cho các giáo sĩ lại nổi bật trong hệ thống chính trị, khi thủ lĩnh tôn giáo Shia tối cao là Sheikh Isa Qassim giữ một vai trò sống còn. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1999 gọi là "thời kỳ Luật An ninh Nhà nước", diễn ra nhiều vi phạm nhân quyền bao gồm bắt giữ tuỳ tiện, giam giữ không xét xử, tra tấn và buộc phải lưu vong. Sau khi Tiểu vương Hamad Al Khalifa kế vị cha là Isa Al Khalifa vào năm 1999, ông cho tiến hành các cải cách rộng lớn và nhân quyền được cải thiện đáng kể. Tình trạng nhân quyền bắt đầu kém đi vào năm 2007 khi tra tấn bắt đầu được sử dụng lại. Năm 2011, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền mô tả tình hình nhân quyền của Bahrain là "ảm đạm". Năm 2011, Bahrain chịu chỉ trích do đàn áp khởi nghĩa Mùa xuân Ả Rập. Trong tháng 9 năm đó, chính phủ bổ nhiệm một uỷ ban để xác nhận các tường thuật về vi phạm nhân quyền nghiêm trọng như tra tấn có hệ thống. Chính phủ cam kết tiến hành cải cách và tránh lặp lại các "sự kiện đau thương". Năm 2016, Nghị viện châu Âu thông qua một nghị quyết lên án các lạm dụng nhân quyền của nhà đương cục Bahrain, và kêu gọi kết thúc cuộc đàn áp chống lại các nhà bảo vệ nhân quyền, đối lập chính trị và xã hội dân sự tại đây. Quyền lợi chính trị của nữ giới Bahrain gia tăng khi họ giành được quyền bỏ phiếu và tranh cử trong bầu cử cấp quốc gia lần đầu tiên vào năm 2002. Tuy nhiên, vào năm đó không có nữ giới nào đắc cử., do đó có sáu người được bổ nhiệm vào Hội đồng Cố vấn. Nada Haffadh trở thành nữ bộ trưởng đầu tiên của Bahrain khi bà được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Y tế vào năm 2004. Đến khi Bahrain được bầu làm nước đứng đầu Đại hội đồng Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2006, họ bổ nhiệm luật sư Haya bint Rashid Al Khalifa làm chủ tịch của Đại hội đồng. Năm 2006, Lateefa Al Gaood trở thành nữ nghị viên đầu tiên sau chiến thắng mặc định. Số lượng nữ nghị viên tăng lên bốn sau bầu cử bổ sung năm 2011. Hầu hết cơ quan phát sóng nội địa do nhà nước sở hữu. Các nhà báo Bahrain phải chịu nguy cơ bị khởi tố vì phạm các tội như "phá hoại" chính phủ và tôn giáo. Tự kiểm duyệt là điều phổ biến. Các nhà báo là mục tiêu của giới quan chức trong biểu tình chống chính phủ năm 2011. Đến năm 2016, Bahrain có 1,3 triệu người sử dụng internet. Bahrain có quân đội quy mô nhỏ song được trang bị tốt, có tên là Lực lượng Phòng thủ Bahrain (BDF), với quân số khoảng 13.000 người (2012). Tư lệnh tối cao của quân đội Bahrain là quốc vương và người có quyền lực thứ nhì là thái tử. Lực lượng Phòng thủ Bahrain chủ yếu sử dụng trang thiết bị của Hoa Kỳ, như F16 Fighting Falcon, F5 Freedom Fighter, UH60 Blackhawk, M60A3 tanks, và tàu USS "Jack Williams với tên mới là RBNS "Sabha. Chính phủ Bahrain có quan hệ mật thiết với Hoa Kỳ, họ ký kết các thoả ước hợp tác với quân đội Hoa Kỳ và cung cấp cho Hoa Kỳ một căn cứ tại Juffair kể từ đầu thập niên 1990, song Hoa Kỳ có hiện diện về hải quân tại đảo quốc kể từ năm 1948. Đây là trụ sở của Bộ tư lệnh Trung tâm Hải quân Hoa Kỳ (COMUSNAVCENT) / "Hạm đội 5 Hoa Kỳ" (COMFIFTHFLT), và có khoảng 6.000 nhân viên quân sự Hoa Kỳ. Bahrain tham gia chiến dịch can thiệp do Ả Rập Xê Út lãnh đạo tại Yemen nhằm chống lại phiến quân Houthis theo Hồi giáo Shia và lực lượng trung thành với cựu tổng thống Ali Abdullah Saleh, Bahrain thiết lập quan hệ song phương với 190 quốc gia (2012). #đổi , Bahrain duy trì mạng lưới 25 đại sứ quán, 3 lãnh sự quán, và bốn phái bộ thường trực tại Liên đoàn Ả Rập, Liên Hợp Quốc và Liên minh châu Âu. 36 quốc gia khác đặt đại sứ quán tại Bahrain. Bahrain giữ vai trò khiêm tốn, ôn hoà trên chính trường khu vực và gắn bó với quan điểm của Liên đoàn Ả Rập về hoà bình Trung Đông và quyền lợi của người Palestine bằng việc ủng hộ giải pháp hai nhà nước. Bahrain là một thành viên sáng lập của Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh. Quan hệ với Iran có khuynh hướng căng thẳng do cuộc đảo chính bất thành năm 1981 mà Bahrain đổ lỗi cho Iran, ngoài ra các thành phần bảo thủ cực đoan tại Iran thỉnh thoảng yêu sách chủ quyền đối với Bahrain. Khu tự quản đô thị đầu tiên tại Bahrain là chính quyền Manama gồm 8 thành viên được thành lập vào tháng 7 năm 1919. Các thành viên của chính quyền tự quản được bầu hàng năm; Bahrain đi đầu trong thế giới Ả Rập về chính quyền tự quản. Chính quyền tự quản có trách nhiệm dọn dẹp đường phố và cho thuê nhà ở và cửa hàng. Cho đến năm 1929, họ tiến hành mở rộng đường phố cũng như mở chợ và lò mổ. Năm 1958, chính quyền tự quản bắt đầu các dự án lọc nước. In 1960, Bahrain comprised four municipalities including "Manama", "Hidd", "Al Muharraq", and "Riffa". Trong vòng 30 năm sau đó, 4 chính quyền tự quản được phân thành 12 do các khu dân sư như Hamad Town và Isa Town phát triển. Các chính quyền tự quản này được Manama quản lý bằng hội đồng khu tự quản trung ương với các thành viên do quốc vương bổ nhiệm. Các cuộc bầu cử chính quyền tự quản đầu tiên được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2002. Tháng 9 năm 2014, Bahrain có thay đổi về hành chính. Bahrain là nền kinh tế tự do nhất tại Trung Đông và đứng thứ 12 toàn cầu dựa theo Chỉ số tự do kinh tế do Heritage Foundation/"Wall Street Journal" công bố. Năm 2008, Bahrain trở thành trung tâm tài chính tăng trưởng nhanh nhất thế giới dựa theo Chỉ số trung tâm tài chính toàn cầu của City of London. Dịch vụ ngân hàng và tài chính của Bahrain, đặc biệt là ngân hàng Hồi giáo, được hưởng lợi từ bùng nổ kinh tế khu vực do nhu cầu dầu mỏ tăng cao. Sản xuất và chế biến dầu mỏ là sản phẩm xuất khẩu lớn nhất của Bahrain, chiếm 60% nguồn thu xuất khẩu, 70% thu nhập chính phủ, và 11% GDP. Nhôm là sản phẩm xuất khẩu đứng hạng hai, tiếp đến là tài chính và vật liệu xây dựng. Tình hình kinh tế thay đổi cùng với biến động của giá dầu mỏ kể từ năm 1985, chẳng hạn như trong và sau khủng hoảng vịnh Ba Tư năm 1990-1991. Nhờ có hạ tầng thông tin và giao thông phát triển cao, Bahrain là nơi đặt trụ sở của một số hãng đa quốc gia và đang tiếp tục xây dựng một số dự án công nghiệp lớn. Một phần lớn trong xuất khẩu là các sản phẩm dầu mỏ từ dầu thô nhập khẩu, dầu thô chiếm khoảng 51% nhập khẩu của đảo quốc vào năm 2007. Bahrain dựa nhiều vào nhập khẩu thực phẩm để cung cấp cho dân số đang gia tăng; Úc là quốc gia xuất khẩu thịt và quả chủ yếu cho Bahrain. Do chỉ có 2,9% lãnh thổ Bahrain là đất canh tác, nông nghiệp đóng góp 0,5% trong GDP của Bahrain. Năm 2004, Bahrain ký kết Thoả thuận mậu dịch tự do Hoa Kỳ -Bahrain, theo đó giảm hàng rào mậu dịch nhất định giữa hai quốc gia. Tỷ lệ thất nghiệp, đặc biệt là trong thanh niên, cùng việc cạn kiệt tài nguyên dầu mỏ và nước ngầm là các khó khăn kinh tế dài hạn chủ yếu. Năm 2008, tỷ lệ người không có việc làm là 4%, trong đó nữ giới chiếm 85% tổng số. Năm 2007, Bahrain trở thành quốc gia Ả Rập đầu tiên tiến hành trợ cấp thất nghiệp, cùng một loạt cải cách lao động khác. Bahrain là một điểm đến du lịch, đón trên tám triệu du khách vào năm 2008. Hầu hết du khách đến từ các quốc gia Ả Rập lân cận song ngày càng có nhiều người đến từ bên ngoài khu vực do di sản của đảo quốc và danh tiếng của Giải đua ô tô Công thức 1 Bahrain. Vương quốc này có văn hoá Ả Rập hiện đại cùng di sản khảo cổ học của năm nghìn năm văn minh. Bahrain có các pháo đài như di sản thế giới Qalat Al Bahrain. Bảo tàng Quốc gia Bahrain có các đồ tạo tác về lịch sử quốc gia có niên đại từ những cư dân sớm nhất trên đảo vào khoảng 9000 năm trước và Beit Al Quran là một bảo tàng lưu giữ các đồ tạo tác Ả Rập về Qur'an. Một số địa điểm du lịch lịch sử phổ biến tại đảo quốc là thánh đường Al Khamis, đây là một trong các thánh đường lâu năm nhất trong khu vực, và còn có pháo đài Arad tại Muharraq, đền Barbar, các gò mộ A'ali và đền Saar. Tree of Life (cây sinh mệnh) có tuổi đời 400 năm mọc tại hoang mạc Sakhir cũng là một điểm đến du lịch nổi tiếng. Ngắm chim (chủ yếu tại quần đảo Hawar), lặn biển và cưỡi ngựa là các hoạt động du lịch phổ biến tại Bahrain. Nhiều du khách đến từ Ả Rập Xê Út và đến Manama chủ yếu là vì các trung tâm mua sắm tại đây, như Bahrain City Centr và Seef Mall tại khu vực Seef. Manama Souq và "Gold Souq" tại khu vực cổ của Manama cũng nổi tiếng với du khách. Kể từ năm 2005, Bahrain hàng năm đều tổ chức một lễ hội trong tháng 3 mang tên "Mùa xuân văn hoá", có các nhạc sĩ và nghệ sĩ nổi danh quốc tế trình diễn trong các buổi hoà nhạc. Manama được Liên đoàn Ả Rập chỉ định là Thủ đô Ả Rập về Văn hoá trong năm 2012 và "Thủ đô Du lịch Ả Rập" trong năm 2013. Sân bay quốc tế Bahrain (BIA) nằm trên đảo Muharraq tại phía đông bắc. Sân bay này phục vụ trên 100.000 chuyến bay và trên 8 triệu hành khách vào năm 2010. Gulf Air là hãng hàng không quốc gia của Bahrain, hãng điều hành và đặt căn cứ tại BIA. Bahrain có mạng lưới đường bộ phát triển tốt, đặc biệt là tại Manama. Việc phát hiện dầu mỏ vào đầu thập niên 1930 làm tăng tốc xây dựng đường sá tại Bahrain, liên kết một số làng hẻo lánh như Budaiya tới Manama. Tại phía đông có một cầu liên kết Manama tới Muharraq từ năm 1929, một đường đắp cao được xây dựng vào năm 1941 nhằm thay thế cầu gỗ cũ. Hiện nay có ba cây cầu hiện đại liên kết hai đảo. Lưu lượng qua lại giữa hai đảo lên cao sau khi xây dựng Sân bay quốc tế Bahrain vào năm 1932. Các đường vành đai và xa lộ sau đó được xây dựng nhằm liên kết thủ đô với các làng tại tỉnh Bắc và hướng đến các thị trấn tại miền trung và miền nam Bahrain. Bốn đảo lớn và toàn bộ các thị trấn và làng mạc được liên kết bằng các đường chất lượng tốt. Trong năm 2002, có 3.164 km đường, trong đó 2.433 km được trải bề mặt. Đường đắp cao Quốc vương Fahd dài 24 km liên kết Bahrain và Ả Rập Xê Út qua đảo Umm an-Nasan, công trình hoàn thành vào năm 1986 và do Ả Rập Xê Út tài trợ. Năm 2008, có trên 17 triệu hành khách đi qua đường đắp cao này. Hải cảng chính của Bahrain là Mina Salman, gồm có 15 bến. Năm 2001, Bahrain có một đội thương thuyền gồm tám chiếc có tải trọng từ 1.000 GRT, tổng cộng là 270.784 GRT. Xe riêng và taxi là phương thức giao thông chính tại thành thị. Lĩnh vực truyền thông tại Bahrain chính thức bắt đầu vào năm 1981 khi công ty Batelco được thành lập, và cho đến năm 2004 đây là công ty độc quyền trong lĩnh vực này. Năm 1981, có trên 45.000 máy điện thoại được sử dụng tại Bahrain. Đến năm 1999, Batelco có trên 100.000 hợp đồng điện thoại di động. Năm 2002, do áp lực từ các thể chế quốc tế, Bahrain thi hành luật viễn thông và lập một cơ quan điều tiết độc lập. Năm 2004, Zain bắt đầu hoạt động tại Bahrain và đến năm 2010 VIVA trở thành công ty thứ ba cung cấp dịch vụ di động tại đảo quốc. Bahrain có liên kết internet từ năm 1995, tỷ lệ liên kết di động và internet của Bahrain là 210,4/người (2008). Số người sử dụng internet tại Bahrain tăng từ 40.000 vào năm 2000 lên đến 250.000 vào năm 2008. Đến tháng 8 năm 2013, có 22 nhà cung cấp dịch vụ internet được cấp phép. Bahrain là một quần đảo nhìn chung là bằng phẳng và khô hạn tại vịnh Ba Tư. Đảo quốc gồm một đồng bằng hoang mạc thấp cao dần lên một dốc đứng thấp tại trung tâm có điểm cao nhất là Jabal ad Dukhan 134 m. Bahrain có tổng diện tích tự nhiên là 665 km² song nhờ cải tạo đất nên diện tích tăng lên đến 765 km². Bahrain thường được miêu tả là một quần đảo gồm 33 đảo, song các dự án cải tạo đất quy mô lớn đã làm thay đổi tình trạng đó; cho đến tháng 8 năm 2008 số đảo và nhóm đảo tăng lên đến 84. Bahrain không có biên giới trên bộ với quốc gia khác, và có 161 km đường bờ biển. Đảo quốc còn yêu sách thêm 12 hải lý lãnh hải và 24 hải lý vùng tiếp giáp lãnh hải. Đảo lớn nhất Bahrain là đảo Bahrain, tiếp đến là quần đảo Hawar, Muharraq, Umm an Nasan, và Sitra. Bahrain có mùa đông ôn hoà và mùa hè rất nóng và ẩm ướt. Tài nguyên tự nhiên của đảo quốc gồm lượng lớn dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, cùng với cá tại vùng biển ngoài khơi. Đất canh tác chỉ chiếm 2,82% diện tích. Khoảng 92% diện tích Bahrain là hoang mạc với các trận hạn hán và bão bụi theo định kỳ. đó là các mối nguy tự nhiên chủ yếu đối với người Bahrain. Các vấn đề môi trường tại Bahrain bao gồm hoang mạc hoá do đất canh tác thoái hoá, thoái hoá bờ biển do tràn dầu và chất thải khác từ các tàu chở dầu cỡ lớn, lọc dầu, trạm phân phối, và cải tạo đất phi pháp. Khu vực nông nghiệp và hộ gia đình sử dụng quá mức tầng nước ngầm Dammam, khiến nó bị mặn đi do các vùng nước lợ và mặn liền kề. Một nghiên cứu thủy hoá cho thấy chất lượng nước của tầng nước ngầm thay đổi đáng kể do dòng chảy ngầm từ phần tây bắc của Bahrain, là nơi tầng nước ngầm nhận nước từ dòng nước ngầm từ miền đông Ả Rập Xê Út, đến phần phía nam và đông nam. Bốn loại mặn hoá dòng nước ngầm được xác định, cùng với đó là bốn lựa chọn để quản lý chất lượng nước ngầm. Dãy núi Zagros ở bên kia vịnh Ba Tư thuộc Iran khiến gió cấp thấp hướng về Bahrain. Bão bụi từ Iraq và Ả Rập Xê Út thổi đến do gió tây bắc, có tên địa phương là gió shamal, làm giảm tầm nhìn trong các tháng 6 và 7. Mùa hè tại Bahrain rất nóng. Vùng biển quanh Bahrain rất nông, do đó nhiệt tăng lên nhanh chóng vào mùa hè và gây ra độ ẩm cao, đặc biệt là vào ban đêm. Nhiệt độ mùa hè có thể lên đến 50 °C trong các điều kiện thích hợp. Lượng mưa tại Bahrain ở mức tối thiểu và không đều, mưa chủ yếu xuất hiện vào mùa đông với mức kỷ lục là 71,8 mm. Đa dạng sinh học. Ghi nhận được trên 330 loài chim tại quần đảo Bahrain, 26 loài trong đó sinh sản tại Bahrain. Hàng triệu chim di cư bay qua khu vực vịnh Ba Tư trong các tháng mùa đông và mùa thu. Một loài gặp nguy hiểm toàn cầu là "Chlamydotis undulata" định kỳ di cư trong mùa thu. Nhiều đảo và vùng biển nông của Bahrain có tầm quan trọng toàn cầu đối với việc sinh sản của chim cốc Socotra; có đến 100.000 cặp chim này được ghi nhận tại quần đảo Hawar. Chỉ có 18 loài thú được tìm thấy tại Bahrain, các loài như linh dương, thỏ sa mạc và nhím gai phổ biến trong hoang dã song linh dương sừng thẳng Ả Rập trên đảo bị săn đến tuyệt chủng. 25 loài lưỡng cư và bò sát, 21 loài bướm và 207 loài thực vật được ghi nhận tại Bahrain. Quần thể sinh cảnh hải dương đa dạng và gồm lớp cỏ biển và bãi bùn rộng, các rạn san hô rải rác cũng như các đảo xa bờ. Lớp cỏ biển là nơi tìm kiếm thức ăn quan trọng đối với một số loài bị đe doạ như cá cúi và đồi mồi dứa. Năm 2003, Bahrain cấm chỉ bắt bò biển, rùa biển và cá heo trong lãnh hải của mình. Khu Bảo tồn Quần đảo Hawar là nơi kiếm ăn và sinh sản có giá trị đối với nhiều loài chim biển di cư, nó là một địa điểm được công nhận quốc tế đối với chim di cư. Khu sinh sản của loài chim cốc Socotra tại quần đảo Hawar là khu sinh sản chim lớn nhất thế giới, và loài cá cúi kiếm ăn quanh quần đảo tạo thành tập hợp cá cúi lớn thứ nhì thế giới sau Úc. Bahrain có năm khu bảo tồn được quy định, bốn trong số đó là môi trường hải dương. Đó là: Quần đảo Hawar, đảo Mashtan, vịnh Arad, vịnh Tubli và công viên hoang dã Al Areen Wildlife. Năm 2010, dân số Bahrain tăng lên 1,2 triệu, trong đó 568.399 người là công dân Bahrain và 666.172 người là ngoại kiều. Số liệu này tăng so với 1,05 triệu (517.368 ngoại kiều) vào năm 2007, là năm dân số Bahrain vượt mốc một triệu. Mặc dù đa số cư dân Bahrain là người Trung Đông, song có một lượng đáng kể người đến từ Nam Á sống tại đảo quốc. Năm 2008, có khoảng 290.000 công dân Ấn Độ sống tại Bahrain, là nhóm ngoại kiều lớn nhất tại đây. Bahrain là quốc gia có chủ quyền có mật độ dân số cao thứ tư thế giới với 1.646 người/km² vào năm 2010. Đa số cư dân sống tại miền bắc của đảo quốc, tỉnh Nam là nơi thưa dân nhất. Miền bắc của Bahrain đô thị hoá cao nên được co là một đại đô thị lớn. Bahrain có thành phần dân tộc đa dạng, người Bahrain theo Hồi giáo Shia được phân thành hai dân tộc chính là Baharna và Ajam. Hầu hết người Bahrain theo Hồi giáo Shia thuộc dân tộc Baharna, người Ajam có nguồn gốc là người Ba Tư. Người Ba Tư theo Hồi giáo Shia tạo thành các cộng đồng lớn tại Manama và Muharraq. Có thiểu số nhỏ người Bahrain Shia thuộc dân tộc Hasawis đến từ Al-Hasa (thuộc Ả Rập Xê Út). Người Bahrain theo Hồi giáo Sunni chủ yếu chia thành hai dân tộc chính: người Ả Rập và người Huwala. Người Ả Rập theo Hồi giáo Sunni là dân tộc có uy thế nhất tại Bahrain, họ nắm giữ hầu hết các chức vụ trong chính phủ và hoàng tộc Bahrain là người Ả Rập Sunni. Người Ả Rập Sunni có truyền thống cư trú tại các khu vực như Zallaq, Muharraq, Riffa và quần đảo Hawar. Người Huwala là hậu duệ của người Iran theo Hồi giáo Sunni, một bộ phận trong đó là hậu duệ của người Ba Tư Sunni, trong khi những người khác là hậu duệ người Ả Rập Sunni. Ngoài ra còn có người theo Hồi giáo Sunni có gốc Baloch. Hầu hết người Bahrain gốc Phi đến từ Đông Phi và có truyền thống cư trú tại đảo Muharraq và Riffa. Quốc giáo của Bahrain là Hồi giáo và hầu hết công dân Bahrain là người Hồi giáo. Không có số liệu chính thức về tỷ lệ tín đồ phái Shia và Sunni của người Hồi giáo Bahrain, song khoảng 70% người Hồi giáo Bahrain theo phái Shia. Tồn tại một cộng đồng Cơ Đốc giáo bản địa tại Bahrain. Cư dân Bahrain không theo Hồi giáo có số lượng là 367.683 theo điều tra nhân khẩu năm 2010, hầu hết trong số đó là người Cơ Đốc giáo. Ngoại kiều chiếm đa số tín đồ Cơ Đốc giao tại Bahrain. Bahrain còn có một cồng đồng Do Thái giáo bản địa với số lượng là 37 công dân Bahrain (2010). Do dòng di dân và công nhân nhập khẩu từ Ấn Độ, Philippines hay Sri Lanka, tỷ lệ người Hồi giáo tại Bahrain suy giảm trong những năm gần đây. Theo điều tra nhân khẩu năm 2001, 81,2% cư dân Bahrain là người Hồi giáo, 10% là người Cơ Đốc giáo, và 9,8% tin theo Ẩn Độ giáo và các tôn giáo khác. Điều tra nhân khẩu năm 2010 ghi nhận rằng tỷ lệ người Hồi giáo giảm xuống còn 70,2%. Các quan chức chính phủ Bahrain bác bỏ các báo cáo từ phái đối lập cho rằng chính quyền muốn thay đổi tình hình nhân khẩu của quốc gia bằng những người Syria Sunni nhập tịch. Tín đồ Baha'i chiếm khoảng 1% tổng dân số Bahrain. Tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức tại Bahrain, song tiếng Anh được sử dụng phổ biến. Tiếng Ả Rập Bahrain là phương ngôn được nói phổ biến nhất của tiếng Ả Rập tại Bahrain, song nó khác nhiều so với tiếng Ả Rập tiêu chuẩn. Tiếng Ả Rập giữ một vai trò quan trọng trong sinh hoạt chính trị, theo hiến pháp thì nghị sĩ phải thông thạo tiếng Ả Rập. Trong số cư dân Bahrain, có nhiều người nói tiếng Ba Tư hay Urdu. Tiếng Nepal cũng được nói phổ biến trong cộng đồng công nhân Nepal và binh sĩ Gurkha. Tiếng Malayalam, Tamil và Hindi được nói trong các cộng đồng Ấn Độ. Toàn bộ các thể chế thương mại và bảng hiệu đường phố được ghi song ngữ Ả Rập-Anh. Giáo dục là bắt buộc đối với trẻ em từ 6 đến 14 tuổi. Giáo dục miễn phí đối với công dân Bahrain trong các trường công lập, Bộ Giáo dục Bahrain cung cấp sách giáo khoa miễn phí. Nam sinh và nữ sinh được tách biệt trong các trường học riêng. Vào lúc đầu thế kỷ XX, các trường Qur'an ("Kuttab") là hình thức giáo dục duy nhất tại Bahrain. Chúng là các trường học truyền thống có mục tiêu là giảng dạy thanh thiếu niên đọc kinh Qur'an. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Bahrain trở nên mở cửa trước ảnh hưởng từ phương Tây, và xuất hiện nhu cầu về các thể chế giáo dục hiện đại. Hệ thống trường học công lập hiện đại tại Bahrain bắt đầu từ năm 1919 khi có một trường học cho nam sinh được khai giảng tại Muharraq. Năm 1926, Ủy ban giáo dục cho mở trường công lập thứ nhì cho nam sinh tại Manama, và đến năm 1928 trường công lập đầu tiên cho nữ sinh được mở tại Muharraq. #đổi , có 126.981 học sinh trong các trường công lập. Năm 2004, Quốc vương Hamad ibn Isa Al Khalifa cho thi hành một dự án hỗ trợ giáo dục 12 năm tại Bahrain. Mục tiêu của dự án là liên kết toàn bộ trường học tại vương quốc thông qua internet. Ngoài các trường trung học của Anh, đảo quốc còn có Trường Bahrain (BS) của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Ngoài ra còn có các trường tư cung cấp chương trình IB Diploma hoặc A-Levels của Anh. Bahrain cũng khuyến khích các thể chế học tập bậc cao, thu hút tài năng ngoại kiều và tăng số công dân Bahrain trở về sau khi ra nước ngoài học tập. Đại học Bahrain được thành lập nhằm phục vụ học tập bậc đại học và sau đại học, còn Viện Khoa học Y tế Đại học Quốc vương Abdulaziz do Bộ Y tế trực tiếp điều hành, huấn luyện các bác sĩ, y tá, dược sĩ và nhân viên y tế. Hiến chương Hành động Quốc gia năm 2001 tạo tiền đề hình thành các đại học tư nhân như Đại học Ahlia tại Manama và Viện Đại học Bahrain tại Saar. Đại học Hoàng gia cho Nữ giới (RUW) được thành lập vào năm 2005, là trường đại học quốc tế tư nhân đầu tiên chuyên biệt về giáo dục cho nữ giới. Bahrain có hệ thống chăm sóc y tế phổ quát tồn tại từ năm 1960. Công dân Bahrain được miễn phí chăm sóc y tế do chính phủ tài trợ còn ngoại kiều được nhiều trợ cấp. Chi tiêu y tế chiếm 4,5% GDP của Bahrain theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới. Các bác sĩ và y tá bản địa chiếm đa số lực lượng lao động trong linh vực y tế, đây là điều khác biệt với các quốc gia Vùng Vịnh khác. Bệnh viện đầu tiên tại Bahrain là Bệnh viện Truyền giáo Hoa Kỳ, khánh thành vào năm 1893 với tư cách trạm xá. Năm 1957, Tổ hợp Y tế Salmaniya tại Manama là bệnh viện công lập đầu tiên được khánh thành tại Bahrain. Các bệnh viện tư nhân cũng hiện diện trên toàn quốc, như Bệnh viện Quốc tế Bahrain. Tuổi thọ triển vọng tại Bahrain là 73 đối với nam giới và 76 đối với nữ giới. So với nhiều quốc gia trong khu vực, tỷ lệ mắc AIDS và HIV is tương đối thấp. Sốt rét và lao (TB) không tạo ra vấn đề lớn tại Bahrain do không phải là dịch bản địa. Do đó, số ca mắc sốt rét và lao giảm trong các thập niên gần đây, số ca công dân Bahrain mắc các bệnh này trở nên hiếm hoi. Bộ Y tế bảo trợ chiến dịch vắc xin định kỳ chống lao và các dịch bệnh khác như viêm gan B. Bahrain đang phải chịu nạn béo phì khi có đến 28,9% nam giới và 38,2% nữ giới được phân loại là béo phì (2012). Bahrain cũng là một trong các quốc gia có tỷ lệ mắc tiểu đường cao nhất thế giới, với trên 15% cư dân bị bệnh, và chiếm 5% số ca tử vong. Các bệnh tim mạch gây ra 32% số ca tử vong tại Bahrain, đứng số một về nguyên nhân từ vong tại đây (thứ nhì là ung thư). Bệnh hồng cầu hình liềm và bệnh tan máu bẩm sinh phổ biến tại đảo quốc, một nghiên cứu kết luận rằng lần lượt 18% và 24% người Bahrain mắc hai bệnh này. Hồi giáo là tôn giáo chủ yếu, và người Bahrain khoan dung trước việc hành lễ của các tín ngưỡng khác. Các quy tắc liên quan đến trang phục nữ giới thường thoải mái hơn so với các quốc gia lân cận; trang phục truyền thống của nữ giới thường bao gồm hijab hoặc abaya. Trang phục truyền thống của nam giới là thobe kèm với khăn trùm đầu truyền thống như keffiyeh, ghutra và agal, song trang phục phương Tây được phổ biến. Phong trào nghệ thuật hiện đại tại Bahrain chính thức xuất hiện trong thập niên 1950, đạt đỉnh cao khi thành lập một hội nghệ thuật. Chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa siêu thực, và ngệ thuật thư pháp là các hình thức nghệ thuật phổ biến tại đảo quốc. Chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng được phổ biến trong các thập niên gần đây. Gốm và dệt cũng là các sản phẩm nổi tiếng, chúng được sản xuất nhiều trong các làng tại Bahrain. Thư pháp Ả Rập phát triển có tính đại chúng do chính phủ bảo trợ nghệ thuật Hồi giáo, đỉnh cao là lập một bảo tàng Hồi giáo mang tên Beit Al Quran. Bảo tàng Quốc gia Bahrain có trưng bày thường trực nghệ thuật đương đại. Kiến trúc Bahrain tương tự như các quốc gia lân cận trong vịnh Ba Tư. Các tháp gió giúp thông gió tự nhiên trong nhà, và là một dấu hiệu phổ biến tại các toà nhà cổ, đặc biệt là khu phố cổ của Manama và Muharraq. Văn học Bahrain vẫn nặng tính truyền thống, hầu hết nhà văn và nhà thơ truyền thống viết theo phong cách Ả Rập cổ điển. Trong những năm gần đây, ngày càng nhiều nhà thơ trẻ tuổi chịu ảnh hưởng từ văn học phương Tây, hầu hết viết thơ tự do và thường chứa nội dung chính trị và cá nhân. Trong văn học, Bahrain là địa điểm vùng đất cổ đại Dilmun được nói đến trong Sử thi Gilgamesh. Truyền thuyết cũng kể rằng đây là địa điểm Vườn Eden. Phong cách âm nhạc tại Bahrain tương tự các quốc gia lân cận. Phong cách âm nhạc dân gian Khaliji được phổ biến tại đảo quốc. Phong cách âm nhạc sawt là một dạng phức hợp âm nhạc đô thị, được trình diễn bằng đàn Oud, vĩ cầm và trống mirwas. Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất tại Bahrain. Đội tuyển bóng đá quốc gia Bahrain thi đầu nhiều lần tại Cúp châu Á, Cúp các quốc gia Ả Rập, song chưa từng vượt qua vòng loại Giải vô địch thế giới. Bahrain có giải bóng đá chuyên nghiệp nội địa hạng cao nhất là Ngoại hạng Bahraini. Bóng rổ, Rugby và cưỡi ngựa cũng phổ biến tại đảo quốc. Bahrain có một đường đua công thức một, tại đó bắt đầu tổ chức Giải đua ô tô Công thức 1 Bahrain Gulf Air từ 2004. Cuộc đua từ đó được tổ chức thường niên, ngoại trừ năm 2011 do có biểu tình chống chính phủ.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Viêm xoang là một bệnh xảy ra do viêm các xoang cạnh mũi, nguyên nhân đa số bởi nhiễm trùng. Viêm xoang được phân loại theo cấp tính và mạn tính. Viêm xoang cấp tính thường điều trị nội khoa, còn mạn tính thì phải điều trị ngoại khoa. Viêm xoang cấp tính theo thứ tự thường gặp là: Xoang là phần sụn xốp phía trong xương. Sở dĩ xương đầu, xương mặt có khối lượng nhẹ là do có nhiều hốc xoang như xoang mũi, xoang trán, xoang chẩm, xoang má… Xoang được cấu trúc rất nhiều "hang hốc" lỗ chỗ như san hô. Trong các "hang hốc" lớn nhỏ li ti ấy đều phủ một lớp niêm mạc rất mỏng. Đồng thời trong xoang luôn duy trì hệ thống tân dịch và mạch máu để nuôi dưỡng và tưới tắm cho xương. Xoang có chức năng nhiệm vụ chính là chứa đựng và lưu thông dưỡng chất nuôi xương, làm giảm tỉ trọng của xương. Xoang đầu, mặt còn giúp cho âm thanh tiếng nói được êm ấm, vang vọng và truyền cảm. Khi bị nhiễm trùng, các niêm mạc xoang bị viêm gây ung mủ. Bế tắc sự lưu thông tân dịch, vi trùng sẽ biến dần niêm mạc, tân dịch thành mủ và hoại tử tàng tích trong hốc xoang gây đau đầu, khó thở và rất khó chịu… Nước mủ lỏng và dịch viêm mang theo vi trùng cùng mùi rất hôi chảy rỉ ra ngoài mũi và chảy xuống họng làm viêm mũi, viêm họng, khi nuốt xuống dạ dày thì còn làm viêm cả dạ dày và đại tràng, tất cả các xoang thuộc đầu mặt đều có thể viêm trực tiếp hoặc lây qua bệnh viêm mũi. Bệnh viêm mũi và viêm xoang đành rằng là do vi trùng nhưng theo quan điểm của triết lý Y học phương Đông thì nguyên nhân chính là do thận (thận không hoàn thành chức năng quản lý, điều tiết và bảo vệ). Triết lý Y học phương Đông cho rằng: "Thận chủ cốt" (tức là thận làm chủ và quản lý phụ trách về xương), mà xoang là ruột xương. Cho nên, khi chức năng quản lý và bảo vệ của thận suy giảm thì các cơ quan bộ phận trực thuộc nó mới bị suy thoái, bị vi trùng xâm nhập. Bởi vậy các bài thuốc chữa viêm xoang hầu hết thiết lập với cơ sở là bổ thận, tiêu viêm, bài nùng, sinh cơ. Bệnh viêm xoang là một trong những căn bệnh mãn tính phổ biến và rất dễ phát sinh bệnh đặc biệt là trong điều kiện môi trường sinh hoạt hiện nay. Nguyên nhân gây ra bệnh Viêm xoang thi rất nhiều, nhưng chúng ta có thể tổng quát lại một số cái chung nhất như sau: Trên đây là một số nguyên nhân chính có thể dẫn đến bệnh Viêm xoang, chúng ta biết được các nguyên nhân này để biết cách phòng tránh bệnh một cách hiệu quả. Có tất cả bốn triệu chứng chính: Vùng bị nhức tùy theo xoang bị viêm: Viêm xoang thường gây ra hiện tượng chảy dịch, tùy thuộc vào vị trí xoang bị viêm mà dịch nhầy có thể chảy ra phía mũi hoặc xuống họng. Viêm các xoang trước thì dịch chảy ra mũi trước. Viêm các xoang sau thì dịch chảy vào họng. Triệu chứng chảy dịch làm cho người bệnh có cảm giác luôn phải khụt khịt mũi hoặc cảm giác lờ đờ ở cổ họng luôn muốn khạc nhổ. Tùy theo mức độ bệnh nặng hay nhẹ, bệnh mới bị hay bị lâu năm, dịch nhầy sẽ có màu trắng đục, màu vàng nhạt hoặc màu xanh, có mùi hôi, khẳn. Đây là triệu chứng phổ biến của mũi khi bị viêm xoang. Có thể nghẹt 1 bên, có thể nghẹt cả hai bên. Ngửi không biết mùi. Thường là viêm nặng, phù nề nhiều, mùi không len lỏi lên đến thần kinh khứu giác. Viêm xoang khó phát hiện: không có các triệu chứng trên, hoặc chỉ có một triệu chứng đơn độc mà thôi. Viêm xoang dễ phát hiện: có ít nhất 3 triệu chứng trên. Trường hợp đặc biệt: viêm xoang hàm do răng. Chỉ xoang hàm một bên viêm nặng mà thôi do vi khuẩn từ sâu răng đưa vào xoang. Mủ chảy vào mũi, rất hôi. Cần phân biệt với các triệu chứng của bệnh viêm mũi dị ứng. Bệnh viêm mũi dị ứng thường gây ra các triệu chứng: Ngứa mũi, hắt hơi liên tục thành tràng dài vào buổi sáng hoặc khoảng 10h tối, thường có chảy dịch mũi trong suốt, không màu và nghẹt mũi. Giữ nhiệt độ trong nhà vừa phải, xông mũi bằng hơi nước nóng, uống nước nhiều để làm loãng các chất tiết. Nếu viêm xoang do vi trùng, bác sĩ có thể cho bạn uống một đợt kháng sinh từ 10 - 14 ngày. Thuốc chống sổ mũi có thể giúp mủ và chất nhầy thoát ra, nhưng cũng phải cẩn thận khi dùng vì có thể gây hại nhiều hơn lợi khi làm khô mũi quá mức và các chất không thoát ra ngoài được. Kèm theo điều trị bằng thuốc, có thể rửa xoang bằng phương pháp Proetz. Phương pháp này rất hiệu quả, bệnh nhân cảm thấy dễ chịu sau vài lần rửa. Nếu viêm xoang không bớt khi dùng thuốc, có thể gây tê và chọc xoang để thoát các chất ứ đọng và phải mổ xoang trong trường hợp vẹo vách ngăn. Sau khi điều trị nội khoa mà không thuyên giảm, nhiều bệnh nhân cần điều trị ngoại Để phòng ngừa bệnh Viêm xoang hiệu quả, chúng ta cần lưu ý một số điểm sau: Những biến chứng nguy hiểm từ viêm xoang. Viêm xoang có thể dẫn đến các biến chứng ở đường hô hấp như viêm tai giữa, viêm họng mạn tính, nhiệt miệng, viêm thanh quản, khí phế quản; biến chứng ở mắt như nhiễm trùng ổ mắt, viêm thần kinh thị giác; biến chứng sọ não như viêm tắc tĩnh mạch xoang hang, viêm não, viêm màng não. Khi người bệnh viêm xoang bị sốt cao, đau đầu nghiêm trọng, đau mắt hay giảm thị lực, cần kịp thời đi khám bác sĩ.
Trong hình học, một đoạn thẳng là một phần của đường thẳng mà bị giới hạn bởi hai đầu mút, và chứa quỹ tích của tất cả những điểm nằm giữa hai đầu mút. Các ví dụ về đoạn thẳng là: các cạnh của một tam giác hay một hình vuông. Tổng quát hơn, nếu cả hai đầu mút là hai đỉnh kề nhau của một đa giác, đoạn thẳng đó là một cạnh (của đa giác đang xét), nếu hai đầu mút không phải là hai đỉnh kề nhau thì đoạn thẳng đó là đường chéo của đa giác. Khi các đầu mút nằm trên cùng một đường như là đường tròn, thì đoạn thẳng đó được gọi là một dây cung (của đường đang xét). Giả sử formula_1(đường thẳng) là một không gian vector trên formula_2(mặt phẳng số thực) hay formula_3, và formula_4 là một tập con của formula_1. Khi đó formula_4 được gọi là một đoạn thẳng nếu L có thể được biểu diễn dưới dạng tham số như sau: với formula_8 thuộc formula_1 và formula_10. Đôi khi người ta muốn phân biệt giữa "đoạn thẳng mở" và "đoạn thẳng đóng". Để làm điều đó, người ta định nghĩa đoạn thẳng mở như phần trên và định nghĩa đoạn thằng đóng như là tập con formula_4 được biểu diễn dưới dạng tham số sau đây: với formula_8 thuộc formula_1 và formula_15. Một định nghĩa khác hoàn toàn tương đương: Một đoạn thẳng (đóng) là bao lồi của hai điểm phân biệt.
Nguyễn Bỉnh Khiêm (chữ Hán: 阮秉謙; 13 tháng 5 năm 1491 – 28 tháng 11 năm 1585), tên huý là Văn Đạt (文達), tự là Hanh Phủ (亨甫), hiệu là Bạch Vân am cư sĩ (白雲庵居士), được các môn sinh tôn là Tuyết Giang phu tử (雪江夫子), là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử cũng như văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 16. Ông được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Nam – Bắc triều (Lê – Mạc phân tranh) cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử Việt Nam. Sau khi đậu Trạng nguyên khoa thi Ất Mùi (1535) và làm quan dưới triều Mạc, ông được phong tước “Trình Tuyền hầu” rồi thăng tới “Trình Quốc công” (程國公) mà dân gian quen gọi ông là Trạng Trình. Ngoại trừ quãng thời gian dưới 10 năm thời thơ ấu có thể xem là bình yên cuối triều Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống gần trọn thế kỷ 16, một thế kỷ nhiều biến chuyển mang tầm ảnh hưởng chưa từng có trước đó trong lịch sử dân tộc, mà ông vừa là nhân chứng vừa là nhân tố quan trọng tạo nên chúng. Là một người xuất thân từ tầng lớp trí thức quan lại nhưng cả cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa bao giờ coi việc làm quan là lý tưởng cao nhất của sự nghiệp, cũng như là một nhà nhân đạo chủ nghĩa ông luôn đề cao tư tưởng thân dân trong sách lược trị nước. Dưới thời quân chủ của Việt Nam, ông là một trong số hiếm "văn nhân thuần túy" (tức là những người không phải quan tướng nắm binh quyền và chưa từng cầm quân ra trận) và lại cũng không phải là công thần khai quốc lẫn người thân thích với hoàng tộc nhưng được phong tới tước Công ('Quận công' hay 'Quốc công') ngay từ lúc còn sống. Trình Quốc công là tước phong chính thức cao nhất của vua nhà Mạc ban cho Nguyễn Bỉnh Khiêm gần 20 năm trước khi ông mất. Sự thật lịch sử này căn cứ vào 3 tấm văn bia do chính ông soạn lúc đã cáo quan về quy ẩn tại quê nhà Trung Am ở độ tuổi ngoài 73 và hiện còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn tại 2 huyện Quỳnh Phụ và Thái Thụy của tỉnh Thái Bình. Việc phong tước hiệu Quốc công cho Nguyễn Bỉnh Khiêm ngay từ lúc sinh thời đã chứng tỏ sự trân trọng rất lớn mà vua Mạc dành cho ông và có thể xem đây là một sự ghi nhận mang tính biểu tượng của nhà vua đối với những đóng góp của ông cho triều đại này. Cần nhớ rằng trong lịch sử Trung Quốc cũng như Việt Nam, hai tước hiệu hàng đầu như tước Công và Vương có quy chế rất khắt khe để vua ban phong cho những người không có quan hệ thân thích với hoàng tộc. Kiểu "văn nhân thuần túy" và lại không có quan hệ thân thích với hoàng tộc như Nguyễn Bỉnh Khiêm hay Nguyễn Trãi là khó hơn cả các trường hợp xét duyệt khác để được phong tới tước công (dù là Quốc công hay Quận công) ngay khi còn sống. Kiểu "văn nhân cầm quân" chẳng hạn như Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Công Trứ hay Trương Đăng Quế thậm chí còn có nhiều cơ hội để lập quân công với triều đình hơn kiểu "văn nhân thuần túy" nên họ thường được phong tước hiệu cao hơn. Tuy nhiên đến nay, vẫn còn nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với một nhận định sai sót là Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ được truy phong tước hiệu Quốc công sau khi ông đã qua đời. Đạo Cao Đài sau này cũng phong thánh cho ông và suy tôn ông là Thanh Sơn Đạo sĩ hay Thanh Sơn chân nhân. Xét một cách toàn diện lịch sử Việt Nam thế kỷ 16, nhiều người đã gọi Nguyễn Bỉnh Khiêm là "cây đại thụ văn hóa dân tộc", hay nói theo cách khác, ông đã được xem là đại diện tiêu biểu nhất của lịch sử phát triển văn hóa Việt Nam trong thế kỷ nhiều biến động lớn này. Cùng với một nhân vật nổi danh khác của xứ Hải Đông là Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những đại diện tiêu biểu nhất của thời kỳ văn hóa Lê–Mạc mang tính bản lề trong lịch sử trung đại của Việt Nam. Một vài người trong thời kỳ này, điển hình như Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể được coi là những tác gia văn học thực sự lớn đầu tiên của Việt Nam. Cũng như về nhiều phương diện, họ có thể được xem là những tên tuổi 'tập đại thành' đầu tiên của nền thơ ca Việt Nam. Đó là những người mà tác phẩm của họ có sự dồi dào về số lượng, phong phú về thể tài và có ảnh hưởng quan trọng đến tiến trình phát triển của một nền văn học mang tính dân tộc. Một yếu tố quan trọng nữa ở các tác gia này là phần lớn tác phẩm của họ vẫn còn được lưu truyền qua nhiều biến động của lịch sử để hậu thế ngày nay có thể nghiên cứu và đánh giá một cách tương đối toàn diện về sự nghiệp văn chương của họ. Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhiều nhà nghiên cứu văn học Việt Nam đánh giá là người xứng đáng kế thừa và phát triển ngôn ngữ thi ca dân tộc kể từ sau thời Nguyễn Trãi, góp phần giúp nó đạt đến mức độ hoàn thiện cao dưới thời Nguyễn Du. Cần nhớ rằng việc sáng tác thơ văn bằng tiếng mẹ đẻ (tức tiếng Việt) sử dụng chữ Nôm của người Việt đã có những bước đi chập chững đáng ghi nhận ở thời kỳ Lý–Trần nhưng chỉ thực sự tạo ra những bước đột phá vững chắc đầu tiên trong thời đại Lê–Mạc mà điển hình là 3 tập thơ Nôm còn được lưu truyền đến ngày nay bao gồm "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi, "Hồng Đức quốc âm thi tập" của vua Lê Thánh Tông cùng các triều thần, và "Bạch Vân quốc ngữ thi tập" của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hai tập thơ của ông là "Bạch Vân am thi tập" (chữ Hán) và "Bạch Vân quốc ngữ thi tập" (chữ Nôm) được coi là thành tựu lớn của thơ văn trung đại Việt Nam, mở đầu cho một dòng thơ ca "chạm chân vào hiện thực", đã quan tâm mô tả xã hội dưới góc nhìn đời tư và đời thường, là một cống hiến lớn của văn học thời Mạc đối với tiến trình phát triển và hoàn thiện của thơ văn dân tộc. Xét về nhiều mặt, có thể xem ông là người đi khai phá có công khơi mở nhiều hướng phát triển mới cho thơ ca Việt Nam, trong đó có những dòng thơ mang đậm tính tuyên truyền đạo lý - suy tưởng triết lý - cảm hứng thế sự (tiệm cận với hiện thực đa diện của xã hội đương thời) sẽ có điều kiện phát triển mạnh ở các thế kỷ sau ông như lịch sử thơ văn Việt Nam đã ghi nhận. Ông cũng được sử sách và người đời thừa nhận rộng rãi với tư cách là một nhà dự báo, hoạch định chiến lược kỳ tài, với tầm nhìn địa chính trị đi trước thời đại nhiều thế kỷ. Những lời cố vấn nổi tiếng của ông dành cho các tập đoàn quyền lực phong kiến Mạc, Lê-Trịnh, Nguyễn (nói theo lời của danh sĩ Nguyễn Thiếp là "phiến ngữ toàn tam tính") đã có ảnh hưởng to lớn, mang tính bước ngoặt đối với tiến trình của lịch sử dân tộc và từ đó tác động lớn tới quan hệ địa chính trị của cả khu vực Đông Nam Á trở về sau. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, Nguyễn Bỉnh Khiêm có khả năng là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có một tầm nhìn chiến lược thấu suốt về chủ quyền của đất nước trên biển Đông ngay từ thế kỷ 16. Ông cũng có thể là người đầu tiên trong lịch sử nhắc đến hai chữ Việt Nam – với tư cách là quốc hiệu của dân tộc – một cách có ý thức nhất thông qua di sản thơ văn của ông còn lưu lại đến ngày nay. Do đó người đời sau coi ông là nhà tiên tri số một trong lịch sử Việt Nam đồng thời lưu truyền nhiều câu sấm ký được cho là bắt nguồn từ ông và gọi chung là "Sấm Trạng Trình". Không chỉ dân gian mà 2 bộ chính sử của nhà Nguyễn là "Đại Nam nhất thống chí" và "Đại Nam thực lục tiền biên" (đều do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn) cũng xác nhận năng lực dự đoán - tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm và tác động của ông đến quyết định Nam tiến của Nguyễn Hoàng. Sử liệu Đại Việt thuộc địa phận nhà Mạc cai quản ở thế kỷ 16 do các sử thần triều Mạc biên soạn hầu như thất lạc (có thể trong giai đoạn chiến tranh ác liệt Lê-Mạc) và không được lưu truyền về sau. Cũng có thể do thời gian cầm quyền ngắn mới có 65 năm ở Thăng Long và lại đang bận tâm nhiều đến việc chiến sự đương thời nên nhà Mạc chưa chú trọng viết sử của triều đại mình. Khi nhà Lê-Trịnh đánh bại nhà Mạc vào năm 1592, thì sử thần nhà Lê Trung Hưng cũng là những người biên soạn hầu hết những dữ liệu lịch sử về thời Mạc như chúng ta biết ngày nay. Các sách chính sử Việt Nam do những sử thần của nhà Lê-Trịnh (bao gồm cả Phạm Công Trứ và Lê Quý Đôn) biên soạn trong các thế kỷ 17 và thế kỷ 18 (như "Đại Việt sử ký toàn thư" bản bổ sung, "Đại Việt thông sử") không ghi chép đầy đủ và rõ ràng về Nguyễn Bỉnh Khiêm, chủ yếu chép 2 sự kiện khi Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng nguyên và lúc ông xin về quê. Người đầu tiên có những nghiên cứu và biên soạn tương đối chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân trong bản "Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký" viết năm 1743. Bên cạnh bản phả ký của Vũ Khâm Lân, có 2 nguồn thông tin quan trọng về Nguyễn Bỉnh Khiêm được giới nghiên cứu ngày nay (bao gồm nhà nghiên cứu văn hóa Vũ Khiêu) đánh giá cao về độ tin cậy là nguồn thơ văn (chữ Hán và chữ Nôm) của chính ông và nguồn thông tin lịch sử từ các bản văn bia thời Mạc còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn xung quanh vùng Tiên Lãng (Hải Phòng), Vĩnh Bảo (Hải Phòng) và Quỳnh Phụ (Thái Bình). Vào năm 2000, đoàn cán bộ của Viện nghiên cứu Hán Nôm tiến hành sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại huyện Quỳnh Phụ thuộc tỉnh Thái Bình đã phát hiện 2 tấm bia (có tên "Diên Thọ kiều bi ký" và "Tu tạo thạch Phật bi ký") thời Mạc do chính Nguyễn Bỉnh Khiêm biên soạn và chứa nhiều thông tin lịch sử rất có giá trị về cuộc đời thực của ông. Chẳng hạn, qua 2 tấm văn bia được phát hiện ở huyện Quỳnh Phụ (Thái Bình), các nhà nghiên cứu có thể xác nhận một sự thật lịch sử là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được vua Mạc phong tước Trình Quốc công (程國公) từ trước năm 1568, tức là sớm hơn 17 năm trước khi ông qua đời. Phần lớn cuộc đời gần trọn một thế kỷ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã trải qua ở quê nhà Trung Am (trước thời ông có tên là Trình Tuyền), Vĩnh Lại thuộc xứ Đông, cũng là đất phát nghiệp của nhà Mạc. Ông chỉ bước vào chốn quan trường khi đã gần 50 tuổi, sau nhiều năm đứng ngoài quan sát thời cuộc. Đường quan lộ của ông kéo dài chưa đầy 30 năm, tính từ năm ông đậu Trạng nguyên ở tuổi 45 (1535) cho tới khi chính thức cáo quan về nghỉ hưu ở độ tuổi 73 như trong thơ văn của ông đã xác nhận. Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với một sai sót lịch sử cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm là ông chỉ có 7 năm (1535–1542) làm quan dưới triều Mạc rồi cáo quan về sống và dạy học ở quê nhà Trung Am cho đến lúc mất. Sự thật không hoàn toàn như vậy. Khoảng thời gian gần hai chục năm tính từ năm ông 53 tuổi tới lúc 73 tuổi, ông chủ yếu làm quan tại gia, đóng vai trò cố vấn từ xa cho vua và chỉ về triều khi cần bàn việc chính sự hay theo xa giá nhà vua đi dẹp loạn. Trình Quốc công là tước phong chính thức cao nhất của vua nhà Mạc ban cho Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc sinh thời, từ khoảng hơn 20 năm trước khi ông mất. Dưới thời quân chủ của Việt Nam, ông là một trong số rất hiếm "văn nhân thuần túy" (tức là những người không phải quan tướng nắm binh quyền và chưa từng đích thân cầm quân ra trận) được phong tới tước Quốc công ngay từ khi còn sống. Điều này cho thấy nếu không có công tích đặc biệt lớn với triều đình thì một "văn nhân thuần túy" như ông rất khó có thể được phong đến tước Quốc công (Trình Quốc công) ngay từ lúc còn sống như nội dung 3 tấm văn bia còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn tại 2 huyện Quỳnh Phụ và Thái Thụy của tỉnh Thái Bình đã cho biết. Ông không phải người thân thích trong hoàng tộc nhà Mạc, cũng không phải quan tướng nắm binh quyền. Ông là hình mẫu của một "văn nhân thuần túy" như sử sách và cả thơ văn của chính ông vẫn thường mô tả. Việc phong tước hiệu Quốc công cho Nguyễn Bỉnh Khiêm ngay từ lúc sinh thời đã chứng tỏ sự trân trọng vô cùng lớn mà vua Mạc dành cho ông và có thể xem đây là một sự ghi nhận mang tính biểu tượng của nhà vua đối với những đóng góp của ông cho triều đại này. Cần nhớ rằng trong lịch sử Trung Quốc cũng như Việt Nam, hai tước hiệu hàng đầu như tước Công và Vương có quy chế rất khắt khe để vua ban phong cho những người không có quan hệ thân thích với hoàng tộc. Kiểu "văn nhân thuần túy" và lại không có quan hệ thân thích với hoàng tộc như Nguyễn Bỉnh Khiêm hay Nguyễn Trãi là khó hơn cả các trường hợp xét duyệt khác để được phong tới tước công (dù là Quốc công hay Quận công) ngay khi còn sống. Kiểu "văn nhân cầm quân" chẳng hạn như Nguyễn Nghiễm hay Nguyễn Công Trứ thậm chí còn có nhiều cơ hội để lập quân công với triều đình hơn kiểu "văn nhân thuần túy" nên họ thường được phong tước hiệu cao hơn. Tuy nhiên đến nay, vẫn còn nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với một nhận định sai sót là Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ được truy phong tước hiệu Quốc công sau khi ông đã qua đời. Một trường hợp khá tương tự là tấm bia hộp hay còn gọi là "sách đá" được tìm thấy khi người ta tình cờ đào phải mộ thân phụ Trạng nguyên Giáp Hải (1515–1586?) tại Bắc Giang năm 1998. Bản bia hộp hay "sách đá" này đã giúp giải đáp nhiều nghi vấn và cả hiểu nhầm (bao gồm cả ở những học giả nổi danh như Phan Huy Chú) về cuộc đời và sự nghiệp của Giáp Hải, một trọng thần của triều Mạc và đồng thời là một người bạn vong niên thân cận của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tấm bia hộp cũng cho ta biết được thông tin quan trọng là một văn nhân thuần túy như Giáp Hải chỉ được thăng đến tước "Quốc công" giống Nguyễn Bỉnh Khiêm khi ông đã ở gần độ tuổi cáo quan về hưu sau khi đã có nhiều năm hết lòng phụng sự triều Mạc. Gia thế và những năm thơ ấu. Nguyễn Bỉnh Khiêm nguyên có tên khai sinh là Nguyễn Văn Đạt, sinh ngày 6 tháng 4 năm Tân Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 22 dưới triều Lê Thánh Tông (13 tháng 5 1491), ở thời kỳ được coi là thịnh trị nhất của nhà Lê sơ. Ông sinh tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng). Cha của ông là giám sinh Nguyễn Văn Định, đạo hiệu là Cù Xuyên, nổi tiếng hay chữ nhưng chưa hiển đạt trong đường khoa cử. Mẹ của ông là bà Nhữ Thị Thục, con gái út của quan Tiến sĩ Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan triều Lê Thánh Tông, bà là người phụ nữ có bản lĩnh khác thường, học rộng biết nhiều lại giỏi tướng số, nên muốn chọn một người chồng tài giỏi để sinh ra người con có thể làm nên đế nghiệp sau này, nhưng kén chọn mãi đến khi luống tuổi bà nghe lời cha mới lấy ông Nguyễn Văn Định (người huyện Vĩnh Lại) là người có tướng sinh quý tử. Quê ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (nay là thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng). Nội ngoại đôi bên thuộc hai phủ nhưng bên này bên ấy nhìn rõ cây đa đầu làng, chỉ qua con sông Hàn (Tuyết Giang) nối đôi bờ. Nguyễn Bỉnh Khiêm được giáo dục từ nhỏ trong một gia đình nội ngoại đều có học vấn uyên thâm. Hầu hết những nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm đều ghi nhận ảnh hưởng lớn của bên họ ngoại trong việc hình thành nhân cách cũng như tài năng của ông. Trong gia phả của họ Nguyễn (thuộc nhánh hậu duệ người con trai thứ 7 của Nguyễn Bỉnh Khiêm) ở thôn An Tử Hạ còn ghi lại: "Phu nhân hồi An Tử Hạ, ỷ phụ thân giáo dưỡng Đạt nhi tam tuế", qua đó cho thấy người mẹ Nhữ Thị Thục và ông ngoại Nhữ Văn Lan có công lớn giáo dưỡng Nguyễn Văn Đạt khi còn nhỏ. Thời niên thiếu và những năm biến loạn cuối đời Lê sơ. Đến tuổi trưởng thành, nghe tiếng Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều (thuộc huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa ngày nay) nổi danh trong giới sĩ phu đương thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cất công vào tận xứ Thanh để tầm sư học đạo. Lương Đắc Bằng từng là một đại thần giữ chức Thượng thư dưới triều Lê sơ nhưng sau khi những kế sách nhằm ổn định triều chính do ông đưa ra không được vua Lê cho thi hành, Lương Đắc Bằng đã cáo quan về quê sống đời dạy học (1509). Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn sáng dạ, thông minh lại chăm chỉ học hành nên chẳng bao lâu đã trở thành học trò xuất sắc nhất của người thầy họ Lương. Bởi vậy mà trước khi qua đời, Bảng nhãn Lương Đắc Bằng đã trao lại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm bộ sách quý về Dịch học (Chu Dịch) là "Thái Ất thần kinh" đồng thời ủy thác người con trai Lương Hữu Khánh của mình cho Nguyễn Bỉnh Khiêm dạy dỗ. Thi cử và làm quan dưới triều Mạc. Lớn lên trong thời đại loạn (giai đoạn triều Lê sơ rơi vào khủng hoảng, suy tàn), không muốn đi lại vết xe cũ của người thầy Lương Đắc Bằng nên từ khi trưởng thành cho đến khi ra ứng thí (1535), suốt hơn 20 năm, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã bỏ qua tới 9 kỳ đại khoa (trong đó có 6 khoa thi dưới triều Lê sơ). Ngay cả khi nhà Mạc lên thay nhà Lê sơ (1527), xã hội dần đi vào ổn định nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không vội vã ra ứng thí (ông không tham dự 2 khoa thi đầu tiên dưới triều Mạc). Tới năm Đại Chính thứ sáu (1535) đời Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh) thịnh trị vương đạo nhất triều Mạc, ông mới quyết định đi thi và đậu ngay Trạng nguyên. Năm ấy ông đã 45 tuổi. Ngay sau khi đỗ đạt, ông được bổ nhiệm làm Đông Các hiệu thư (chuyên việc soạn thảo, sửa chữa các văn thư của triều đình) rồi sau được cử giữ nhiều chức vụ khác nhau như Tả thị lang bộ Hình, Tả thị lang bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ. Nhưng sự qua đời đột ngột của Mạc Thái Tông vào năm Đại Chính thứ 11 khi mới 41 tuổi (1540) đã kết thúc giai đoạn được coi là thịnh trị nhất dưới triều Mạc đồng thời Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng mất đi một chỗ dựa vững chắc cho việc thực hiện những hoài bão trị quốc của mình. Nhân lúc triều chính nhiễu nhương chia bè kết phái do Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải) còn ít tuổi lên thay vua cha nhưng chưa đủ năng lực điều hành chính sự, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dâng sớ trị tội 18 lộng thần (trong đó có cả con rể của ông là Phạm Dao làm Trấn thủ Sơn Nam) nhưng không được vua chấp thuận. Bởi vậy, năm 1542 ông xin về quê trí sĩ sau 8 năm làm quan tại triều đình. Sau hai năm về trí sĩ, tới năm Giáp Thìn (1544), vua Mạc lại cho người về phong tước Trình Tuyền Hầu cho ông, rồi sau lại thăng ông lên chức Thượng thư bộ Lại, Thái phó, tước Trình Quốc Công. Do vậy mà dân gian quen gọi ông là Trạng Trình. Một số nhà nghiên cứu tiểu sử Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng nguồn gốc của tên gọi Trình Tuyền (gắn với tước hiệu Trình Tuyền Hầu và Trình Quốc Công của ông) là bắt nguồn từ tên địa danh của làng Trung Am từ trước chứ không phải là bắt nguồn từ họ tên người theo ý hiểu rằng "Nguyễn Bỉnh Khiêm là người hiểu rõ suối nguồn Lý học của họ Trình (tức Trình Di và Trình Hạo) đời Tống bên Trung Quốc". Gần hai chục năm từ năm 53 tuổi tới 73 tuổi, Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy không ở hẳn kinh đô nhưng vẫn cáng đáng nhiều việc triều chính, lúc bàn quốc sự, lúc theo xa giá nhà vua đi dẹp loạn, vua Mạc tôn kính ông như bậc quân sư. Những việc trọng đại nhà vua thường sai sứ giả về hỏi (trong đó có lời khuyên nổi tiếng đã đi vào sử sách: "Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế" (Đất Cao Bằng tuy nhỏ nhưng dựa vào đó có thể kéo dài được vài đời)), có khi lại đón ông lên kinh để bàn việc, xong rồi ông lại trở về làng Trung Am. Ngoài 73 tuổi, ông mới chính thức treo ấn từ quan, về quy ẩn nơi quê nhà. Trạng nguyên, Tô Khê hầu Giáp Hải một người bạn lâu niên với Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm thơ ca ngợi tài đức cũng như công lao của ông đối với triều Mạc, trong đó có những câu như "Lực phù nhật cốc trụ kình thiên" (năng lực phò vua như cột chống đỡ trời) hay "Tứ triều huân nghiệp nhân trung kiệt" (một tay anh kiệt huân nghiệp trải bốn triều vua). Trong những năm trí sĩ cũng như thời gian quy ẩn tại quê nhà, ông đã cho dựng am Bạch Vân, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ, lập quán Trung Tân, làm cầu Nghinh Phong, Trường Xuân cho dân qua lại thuận tiện và mở trường dạy học cạnh sông Tuyết (còn có tên là sông Hàn). Vì vậy mà về sau các môn sinh tôn ông là "Tuyết Giang phu tử". Học trò của ông có nhiều người hiển đạt sau này như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Trương Thời Cử, Đinh Thời Trung, Hàn Giang cư sĩ Nguyễn Văn Chính (con trai cả của ông). Những năm cuối đời. Ngày 28 tháng 11 năm Ất Dậu, niên hiệu Đoan Thái nguyên niên (1585), ông tạ thế tại quê nhà ở tuổi 95, đây là tuổi thọ hiếm có đương thời. Trước khi qua đời, ông còn dâng sớ lên vua Mạc: "... Thần tính độ số thấy vận nước nhà đã suy, vận nhà Lê đến hồi tái tạo, ý trời đã định, sức người khó theo. Song nhân giả có thể hồi thiên ý, xin nhà vua hết lòng tu nhân phát chính, lấy dân làm gốc, lấy nước làm trọng, trong sửa sang văn trị, ngoài chuyên cần võ công, may ra giữ được cơ nghiệp tổ tiên, thì thần chết cũng được thỏa lòng". Bấy giờ vua Mạc Mậu Hợp cử Phụ chính đại thần Ứng vương Mạc Đôn Nhượng cùng văn võ bá quan về lễ tang để tỏ sự trọng thị. Việc vua Mạc cử người được vua coi như cha về dự lễ tang đã nói lên sự trân trọng rất lớn của triều Mạc với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Triều đình lại sai cấp ruộng tự điền trăm mẫu, đồng thời cấp ba nghìn quan tiền để lập đền thờ ông tại quê nhà, đích thân vua đề chữ lên biển gắn trước đền thờ là "Mạc Triều Trạng nguyên Tể Tướng Từ". Gia đình và hậu duệ. Theo bản "Phả ký" ("Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký") do Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân soạn năm 1743, Nguyễn Bỉnh Khiêm có cả thảy ba người vợ và 12 người con, trong đó có bảy người con trai. Cũng giống như cha, hầu hết các con trai của Nguyễn Bỉnh Khiêm đều theo phò tá nhà Mạc. Bởi vậy sau khi nhà Mạc bị thất thủ dưới tay nhà Lê-Trịnh (1592), con cháu ông đều phải thay tên đổi họ, li tán thập phương. Một chi họ do người con trai cả của ông là Hàn Giang hầu Nguyễn Văn Chính đứng đầu đã di cư về vùng Trường Yên thuộc đất Hoa Lư, Ninh Bình ngày nay và đổi từ họ Nguyễn sang họ Giang nhằm tránh sự trả thù của nhà Lê-Trịnh. Lúc sinh thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cử người con trai thứ 7 (con trai út) dẫn người cháu đội bát hương sang sinh cơ lập nghiệp ở làng An Tử Hạ, xã Kiến Thiết bên quê ngoại để trông coi phần mộ và thờ phụng ông bà ngoại Nhữ Văn Lan cùng mẹ Nhữ Thị Thục rồi về sau tạo thành một chi họ Nguyễn hậu duệ của Trạng Trình trên đất Tiên Lãng ngày nay. Trong suốt thời kỳ dài cho tới nay, việc xác định địa điểm an táng thật của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một vấn đề được nhiều thế hệ con cháu ông và các nhà nghiên cứu huyền học - tâm linh (dịch lý, phong thủy, ngoại cả) tại Việt Nam quan tâm, đặc biệt kể từ sau khi đền thờ Trạng Trình được tôn tạo và mở rộng thành quần thể di tích lịch sử - văn hoá vào năm 2000. Tuy nhiên cho đến thời điểm khu di tích được Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt vào đầu năm 2016, vẫn chưa có công bố chính thức của các cơ quan có thẩm quyền trước các phương tiện truyền thông. Không ít nhà nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng việc đi tìm mộ thật của ông sẽ mãi là một bí ẩn cũng như nhiều bí ẩn hay những thắc mắc chưa được giải đáp xung quanh cuộc đời và sự nghiệp của một trong những con người có ảnh hưởng nhất của lịch sử trung đại Việt Nam. Thể loại sáng tác. Về thơ chữ Hán, ông có "Bạch Vân am thi tập", theo ông cho biết là có khoảng một nghìn bài, nay còn lại khoảng 800 bài. Trong lời đề tựa cho tập thơ chữ Hán của mình, ông đã viết: "... Tuy nhiên cái bệnh yêu thơ lâu ngày tích lại chưa chữa được khỏi vậy. Mỗi khi được thư thả lại dậy hứng mà ngâm vịnh, hoặc là ca tụng cảnh đẹp đẽ của sơn thủy, hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa trúc, hoặc là tức cảnh mà ngụ ý, hoặc là tức sự mà tự thuật, thảy thảy đều ghi lại thành thơ nói về chí, được tất cả nghìn bài, biên tập thành sách, tự đặt tên là Tập thơ am Bạch Vân" ("Bạch Vân am thi tập tiền tự"). Về thơ chữ Nôm, ông có "Bạch Vân quốc ngữ thi tập" (còn gọi là "Trình quốc công Bạch Vân quốc ngữ thi tập"), chính ông ghi rõ sáng tác từ khi về nghỉ ở quê nhà, nhưng không cho biết có bao nhiêu bài, hiện còn lại khoảng 180 bài. Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm làm theo thể Đường luật và Đường luật xen lục ngôn nhưng ông thường không đặt tiêu đề cụ thể cho từng bài mà việc đó được thực hiện bởi những nhà biên soạn sau này. Theo "Phả ký" ("Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký") của Vũ Khâm Lân, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có bài phú bằng quốc âm nhưng nay đã bị thất lạc. Các thể loại khác. Ngoài di sản văn học với hơn 800 bài thơ (cả chữ Hán và chữ Nôm) còn lưu lại đến ngày nay, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng để lại nhiều bài văn bia (bi ký) nổi tiếng như "Trung Tân quán bi ký", "Thạch khánh ký", "Tam giáo tượng bi minh"... Hầu hết bia đá ông cho khắc lúc sinh thời đã bị thất lạc hay hư hại qua hàng thế kỷ nhưng nhiều bài văn bia nhờ được người đương thời chép lại mà còn lưu đến hôm nay. Một số văn bia do Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn và cho khắc đá đã được tìm thấy vào năm 2000 tại huyện Quỳnh Phụ của tỉnh Thái Bình (nằm giáp với huyện Vĩnh Bảo của Hải Phòng qua sông Hóa). Trong dân gian còn lưu hành nhiều câu sấm Trạng. Các tập sấm ký Nôm thường mang tên Trạng Trình (Sấm Trạng Trình) và phần lớn viết theo thể lục bát như "Trình quốc công sấm ký", "Trình tiên sinh quốc ngữ". Sấm Trạng Trình là một hiện tượng văn học cần phải được tìm hiểu và xác minh thêm. Giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm được nhìn nhận là một trong những nhà văn hóa lớn của dân tộc. Ông là một chính khách có uy tín, bậc hiền triết, nhà tiên , gồm cả chữ Hán và chữ Nôm. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ lớn, không chỉ của thế kỷ XVI. Tác phẩm của ông có ảnh hưởng sâu rộng, tác động tích cực vào đời sống tinh thần của nhân dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của tiến trình văn học dân tộc. Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân trong bài "Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký" soạn năm 1743, có đôi dòng nhận định về di sản thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm: "không cần gọt dũa mà tự nhiên, giản dị mà lưu loát, thanh đạm mà có nhiều ý vị... như gió mát trăng thanh, nghìn năm sau còn tưởng thấy". Danh sĩ thời nhà Nguyễn là Phan Huy Chú trong bộ sách "Lịch triều hiến chương loại chí" ở phần Văn tịch chí cũng gần như có chung quan điểm với Vũ Khâm Lân khi nhận xét về thơ văn Trạng Trình: "thanh tao, tiêu sái, hồn hậu, phong nhã, có ý thú tự nhiên". Như PGS.TS. Trần Thị Băng Thanh (Viện Văn học) đã đánh giá, Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ viết nhiều nhất trong năm thế kỷ đầu của nền văn học viết Việt Nam. Về số lượng mà xét thì Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà quán quân. Tuy nhiên vấn đề không chỉ là số lượng. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có một phong cách thơ riêng không lẫn. Ai cũng biết một nguyên tắc thẩm mỹ quan trọng của thơ thời trung đại là "thơ ngôn chí", nguyên tắc mà các nhà nghiên cứu hiện đại thường xem là làm hạn chế tính thẩm mỹ của thơ và ngay các nhà thơ cổ cũng không phải đều nhất nhất tuân theo. Thế nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tuân theo một cách "triệt để" và với một cảm hứng sáng tạo mạnh mẽ. Với ông, đề vịnh, tự sự, tự thuật cũng đều để ngôn chí, và phong cách riêng của ông cũng được xác định chính từ những vần thơ ngôn chí ấy. Thơ văn của ông thể hiện sự ưu thời mẫn thế, đậm chất triết lý, giáo huấn nhưng vẫn gần gũi và dễ tiếp nhận. Theo đánh giá của GS. Nguyễn Huệ Chi trong bài tham luận "Bước đầu suy nghĩ về Văn học Mạc", thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đánh dấu cho sự khởi đầu của một hình thức tư duy mới trong tiến trình hoàn thiện thơ ca trung đại Việt Nam. Đó là tư duy thế sự. Thơ vẫn mang tính trữ tình nhưng là "trữ tình lý trí". Nó mang hình thức không phải là tư duy cảm tính mà là tư duy lý tính, nhìn thẳng vào xã hội nên gọi là tư duy thế sự. Bởi vậy thơ có tính phát hiện, hiện thực rất đáng kể. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn sâu vào các ngóc ngách của xã hội để thấy bức tranh phức tạp của xã hội mà bức tranh ấy diễn ra một cách tự nhiên bởi nó là bức tranh xã hội có thực. Vì là tư duy thế sự nên cũng nhìn sâu vào tâm lý con người. Trong khi ở thời trước đó (điển hình là thời của Lê Thánh Tông) mọi thứ trong xã hội đều được ước lệ hoá, công thức hoá, được mỹ hoá thành một xã hội chung chung đâu cũng như nhau. Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem là người xứng đáng kế thừa và phát triển truyền thống thi ca dân tộc kể từ sau thời Nguyễn Trãi, góp phần giúp nó đạt đến mức độ hoàn thiện cao dưới thời Nguyễn Du, đồng thời bổ sung vào đó đậm đặc hơn, chất triết lý, suy tưởng và giáo huấn, để thơ trở thành một công cụ hữu ích, phục vụ con người, phản ánh hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng một cách sâu sắc, với cái nhìn khái quát của một triết gia, trong đó có những chiêm nghiệm từng trải của cá nhân ông. Giàu chất trí tuệ, thơ ông là những khát vọng muốn khám phá những quy luật của thiên nhiên, xã hội và của cả con người, nhằm tự vượt thoát ra khỏi những bế tắc của một thời và có ảnh hưởng sâu sắc tới tận ngày hôm nay, cả về tư tưởng và nghệ thuật của thơ, cả về tầm vóc văn hóa và nhân cách của một nhà thơ, được thể hiện rõ nét nhất qua Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm. Các học giả như GS. Nguyễn Huệ Chi (Viện Văn học) và PGS.TS. Trần Nguyên Việt (Viện Triết học) có chung quan điểm khi cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm là người mở đầu cho tư duy biện chứng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam dưới cái nhìn mang đậm tính triết học thể hiện qua thơ văn của ông. Ngoài những sáng tác thơ ca còn lưu truyền, những văn bia do Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn và cho khắc đá không chỉ có giá trị về mặt lịch sử hay khảo cổ mà còn chứa đựng nhiều giá trị về mặt tư tưởng cũng như nhân sinh quan của ông. Một trong số những bài văn bia có giá trị nhất là bài đề tại quán Trung Tân do Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn với nội dung như sau: "... Tôi viết biển đề tên Quán Trung Tân. Có người hỏi tôi: Quán tên là Trung Tân có ý nghĩa như thế nào? Tôi trả lời rằng: Trung là đạo trung, giữ được toàn Thiện là Trung, trái lại thì không phải là Trung. Còn Tân là bến để đậu, biết chỗ bến đậu đúng thì là bến chính, nếu đậu sai chỗ là bến mê... Nghĩa chữ Trung chính là ở chỗ chí Thiệ, niên hiệu Quảng Hoà thứ ba (1543) Tiến sĩ cập đệ khoa Ất Mùi (1535) Lại bộ Tả thị lang kiêm Đông các Đại học sĩ Tư chính Khanh Trung Am, Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn" (Bản dịch của nhà sử học Ngô Đăng Lợi). Qua bài văn bia này, ông không chủ trương trung với một cá nhân nào dù đó là một ông vua, mà là trung với lẽ phải, với chân lý, với điều thiện và với nghĩa vụ mà mình phải thực hiện. Khi theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, ông được truyền cho quyển "Thái Ất thần kinh" từ đó ông tinh thông về lý học, tướng số... Sau này, dù Nguyễn Bỉnh Khiêm không còn làm quan nhưng vua Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải) vẫn phong cho ông tước Trình Tuyền hầu vào năm Giáp Thìn (1544), ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn ngành lý học, giống như Trình Y Xuyên, Trình Minh Đạo bên Trung Hoa. Sau đó được thăng chức Thượng thư bộ Lại tước hiệu Trình Quốc công. Nhờ học tính theo Thái Ất, ông tiên đoán được biến cố xảy ra đến 500 năm sau, được dân gian truyền tụng và suy tôn là "nhà tiên tri" số một của Việt Nam. Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm, còn gọi là Sấm Trạng Trình là những lời tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm về các biến cố chính của dân tộc Việt trong khoảng 500 năm (từ năm 1509 đến khoảng năm 2019). Đây là những dự báo thiên tài, hợp lý, tùy thời, tự cường, hướng thiện và lạc quan theo lẽ tự nhiên "thuận thời thì an nhàn, trái thời thì vất vả". "Trạng Trình đã nắm được huyền cơ của tạo hóa" (lời Nguyễn Thiếp – danh sĩ thời Lê mạt). "An Nam lý học hữu Trình Tuyền" (lời Chu Xán- sứ giả của triều Thanh). Sấm ký, giai thoại và giải đoán chứa đựng nhiều thú vị về một trí tuệ bậc Thầy kỳ tài muôn thuở, nặng lòng yêu nước thương dân và sâu sắc hiếm thấy. Sấm ký ở bản A có 262 câu, gồm 14 câu "cảm đề" và 248 câu "sấm ký". Đây là bản trích ở bộ "Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển" (tập 2) của Trịnh Văn Thanh – Sài Gòn – 1966. Ngoài bản A còn có ít nhất ba dị bản về sấm Trạng Trình. Tài liệu liên quan hiện có 20 văn bản, trong đó bảy bản là tiếng Hán Nôm lưu tại Thư viện Khoa học Xã hội (trước đây là Viện Viễn Đông Bác Cổ) và Thư viện Quốc gia Hà Nội và 13 tựa sách quốc ngữ về sấm Trạng Trình xuất bản từ năm 1948 đến nay. Bản tiếng quốc ngữ phát hiện sớm nhất có lẽ là Bạch Vân Am thi văn tập in trong Quốc Học Tùng Thư năm 1930 mà hiện nay vẫn chưa tìm được. Sấm ký gắn với những giai thoại và sự thật lịch sử. Nhiều nội dung trong sấm ký hiện đã được giải mã, chứng minh tính đúng đắn của những quy luật- dự đoán học trong Kinh Dịch và Thái Ất thần kinh". Đến nay đã có 36 giai thoại và sự thật lịch sử về Sấm Trạng Trình đã được giải mã. Trước Nguyễn Bỉnh Khiêm, vua Phật Trần Nhân Tông (1258- 1308) là người rất coi trọng phép biến Dịch. Người đã viết trong "Cư trần lạc đạo":"Kinh Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu. Sách Nhàn đọc giấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim". Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với "Thái Ất thần kinh","Sấm ký","Bạch Vân Am thi văn tập", "huyền thoại và di tích lịch sử" đã lưu lại cho dân tộc Việt Nam và nhân loại một tài sản văn hoá vô giá. Tương truyền, ông là người đã đưa ra lời khuyên giúp các nhà Nguyễn, Mạc, Trịnh, Lê. Khi Nguyễn Hoàng sợ bị anh rể Trịnh Kiểm giết, ông khuyên nên xin về phía nam với câu "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (có tài liệu viết là "khả dĩ dung thân") nghĩa là "Một dải Hoành Sơn có thể dung thân lâu dài". Nguyễn Hoàng nghe theo và lập được nghiệp lớn, truyền cho con cháu từ đất Thuận Hoá. Lúc nhà Mạc sắp mất cũng sai người đến hỏi ông, ông khuyên vua tôi nhà Mạc ""Cao Bằng tuy thiển, khả diên số thể" (tức Cao Bằng tuy nhỏ, nhưng có thể giữ được). Nhà Mạc theo lời ông và giữ được đất Cao Bằng gần 80 năm nữa. Đối với Lê - Trịnh, khi vua Lê Trung Tông chết không có con nối, Trịnh Kiểm định thay ngôi nhà Lê nhưng còn sợ dư luận nên sai người đến hỏi ông. Ông nói với chú tiểu, nhưng thực ra là nói với bề tôi họ Trịnh: "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản"" (ý nói giữ là bề tôi của các vua Lê thì lợi hơn). Trịnh Kiểm nghe theo, sai người tìm người tôn thất nhà Lê thuộc chi Lê Trừ (anh Lê Lợi) đưa lên ngôi, tức là vua Lê Anh Tông. Họ Trịnh mượn tiếng thờ nhà Lê nhưng nắm thực quyền điều hành chính sự, còn nhà Lê nhờ họ Trịnh lo đỡ cho mọi chuyện chính sự, hai bên nương tựa lẫn nhau tồn tại tới hơn 200 năm. Bởi thế còn có câu: "Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong". Theo một số nhà sưu tầm và nghiên cứu, Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã được Trạng Trình dự báo qua câu thơ: "Đầu Thu gà gáy xôn xao/ Trăng xưa sáng tỏ soi vào Thăng Long". ở câu 1, "đầu Thu" là tháng 7 Âm lịch, "gà" nghĩa là năm Ất Dậu, thời điểm sự kiện diễn ra, "gáy xôn xao" nghĩa là có tiếng vang lớn, thức tỉnh muôn người. Ở câu 2, "Trăng xưa" nghĩa là "cổ nguyệt" theo Hán tự, ghép lại thành từ "hồ", là họ của Hồ Chí Minh. "Sáng tỏ soi vào Thăng Long" là sự kiện Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình của thủ đô Thăng Long – Hà Nội. Tuy nhiên, có một số lượng không nhỏ những nhà nghiên cứu dịch học tại Việt Nam, trong đó có GS. Nguyễn Tài Thư có quan điểm bác bỏ hầu hết những gì được gọi là trước tác sấm ký của Nguyễn Bỉnh Khiêm: "...Nhờ “lý” đó mà Nguyễn Bỉnh Khiêm dự kiến và đề xuất được nhiều sự kiện có tính chất lịch sử đương thời, như trong lúc nước lửa, ông khuyên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá để khỏi bị anh rể là Trịnh Kiểm bức hại, khuyên chúa Trịnh phải phò vua Lê thì mới giữ được ngôi báu, khuyên nhà Mạc dời lên Cao Bằng để duy trì thêm vài triều đại nữa, , đã được lịch sử chứng minh là đúng đắn. Sử sách đã ghi chép nhiều. Mọi người hầu như đều biết. Nhưng khả năng biết trước có cơ sở hiện thực đó của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng gây cho một số người thắc mắc, muốn gán sức thần cho ông. Thực ra ở đó chỉ là sản phẩm của một đầu óc suy lý, là kết quả của một sự phân tích biết dựa vào thực tế, biết nắm lấy thời thế và biết phát huy tư tưởng “lý” của ông. Một người học rộng biết nhiều, nắm vững lịch sử dân tộc, lại dùng “lý” để suy xét sự vật thì những kiến giải trên không có gì là quá ngạc nhiên. Từ khả năng biết trước như trên của ông, có người còn tiến tới phú cho ông là nhà tiên tri kiểu Đạo giáo, nhà tiên thiên học có khả năng làm ra những lời sấm dự báo được tương lai xa xôi. Bao nhiêu cuốn “Sấm ký Trạng Trình” đang được lưu truyền là thuộc loại đó. Thực ra đây chỉ là những lời đồn đại, những sự gán ghép vô lối về ông. Đó chỉ là do tâm lý sùng bái danh nhân của một số người còn mang nặng tư duy thần bí, đã khoác tấm áo siêu nhiên cho ông, hoặc đó là kết quả của một mưu đồ chính trị, bịa ra sự kiện, lợi dụng tên tuổi của ông để thực hiện âm mưu, thường là việc làm của người đời sau. Cách làm đó không những không đề cao được vai trò của ông mà còn làm hại uy tín của ông. Sở dĩ nói hiện tượng “sấm ký” là bịa đặt, bởi vì thực tế khách quan thì phong phú và phức tạp, cái tất nhiên đi liền với vô số cái ngẫu nhiên, khiến con người khó lần ra manh mối. Bản thân Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã nhiều lần nói lên sự hạn chế của mình và của con người nói chung trong nhận thức và hành động. Ông nói: “Cùng và thông, được và mất, lẽ nào do con người quyết định?” (Cùng thông, đắc táng khởi do nhân? – Tự thuật, bài 8), “Cùng và thông, được và mất cũng là do trời!” (Cùng thông, đắc táng diệc do thiên – Trung Tân ngụ hứng), “Việc trái với thời, hàng vạn chỗ bất đồng” (Sự dữ thời vi vạn bất đồng – Nguyên đán ngẫu thành, bài 3), “Đời người mười mong muốn thì đến chín là trái ý” (Nhân sinh thập nguyện cửu thường vi – Hoài cổ). Một sự thực như thế thì làm thế nào ông lại biết trước được các sự việc cụ thể ở bên ngoài mà bản thân không được mục kích, hơn nữa lại cách xa hàng trăm năm sau như “Sấm ký Trạng Trình” ghi chép!?" Ảnh hưởng và di sản. Văn học và tư tưởng. Là một trung thần của nhà Mạc, triều đại đối địch hoàn toàn với quyền lợi của các dòng họ thế lực Lê-Trịnh-Nguyễn (vốn cùng phát tích từ xứ Thanh) của nhà Lê trung hưng và cả nhà Nguyễn về sau, bởi vậy sau khi nhà Mạc thất thủ (1592), sự nghiệp cũng như di sản văn hóa của Nguyễn Bỉnh Khiêm không tránh được cái nhìn thiên kiến của đại bộ phận những sử gia, học giả dưới thời cai trị của các họ Lê-Trịnh rồi họ Nguyễn trong nhiều thế kỷ. Như nhà nghiên cứu Trần Khuê ("Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc", 1991) đã lưu ý: "...Cũng như việc Lê Quý Đôn ghi đủ loại chư thần và nghịch thần, và trong "Kiến văn tiểu lục", mục Tài phẩm (tài năng và phẩm hạnh), ông ghi mấy chục danh nhân kể cả một số người đã làm quan với “ngụy Mạc” như Lễ bộ thượng thu Hà Nhậm Đại, nhưng tài năng, phẩm hạnh, hành trạng… của Lại bộ thượng thư Thái phó Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thì ông không ghi chép. (Có những nhân vật ít nổi tiếng như Lê Bá Ly mà Lê Quý Đôn ghi về tài năng phẩm hạnh 2 trang giấy đặc tới hơn 500 chữ, một số nhân vật khác cũng còn được một vài trăm chữ. Nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm thì không được ghi tiểu truyện). Lê Quý Đôn chỉ ghi về Nguyễn Bỉnh Khiêm rất sơ sài: Một lần ghi về thi đỗ, một lần ghi về “trí sĩ”, một lần ghi về “tên tác phẩm”. Thế thôi? À, có thêm một lần ông ghi ý kiến của Chu Xán về Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hồi đầu niên hiệu Khang Hy, nhà Thanh sai Minh Đồ và Chu Xán sang nước ta sách phong, lúc ấy là năm Chính Hòa thứ tư (1683)." Những cái nhìn theo hướng như vậy cũng được phần lớn giới nghiên cứu hiện đại ở Việt Nam duy trì cho tới đầu thập niên cuối cùng của thế kỷ 20. Trong suốt một thời gian dài cho tới cuối thập niên 1980, cách đánh giá của giới nghiên cứu “chính thống” tại Việt Nam về sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm bị ảnh hưởng lớn bởi cái nhìn thiên kiến về vai trò lịch sử của vương triều Mạc bắt đầu từ thời Lê trung hưng (1533) cho tới tận trước thời kỳ Đổi Mới. GS. Vũ Khiêu trong bài viết “Kỷ niệm 400 năm ngày mất của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Những vấn đề khoa học trong nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm” (1985) đã có những đánh giá mang tính tổng kết về những đóng góp quan trọng của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong dòng chảy của lịch sử thơ văn Việt Nam: “...Trước hết, phải thấy rằng suốt bao nhiêu thế kỷ học chữ Hán và làm thơ bằng chữ Hán, các nhà trí thức Việt Nam trước những khó khăn về ngôn từ và thể loại đã lẩn tránh việc cố gắng làm thơ bằng tiếng mẹ đẻ. Trước sự sáng tạo của Nguyễn Thuyên, sự quan tâm đặc biệt của Nguyễn Trãi, thành quả bước đầu của Lê Thánh Tông và nhóm Tao Đàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã suốt cuộc đời dành bao tâm huyết để làm thơ bằng tiếng Việt. Không chỉ nói với đồng bào mình những điều muốn nói. Ông cũng như Nguyễn Trãi đã đem hết nhiệt tình xây dựng nền văn học dân tộc mà lòng yêu nước và óc tự cường đã hằng ngày thôi thúc các ông. Với một di sản lớn lao mà ông để lại, thơ Nôm của ông đã đánh dấu một chặng đường quang vinh trong lịch sử văn học Việt Nam. Thơ văn ông vừa mang những nét mộc mạc và rắn chắc của thơ Nguyễn Trãi, vừa tiếp thu truyền thống trau chuốt và nhuần nhuyễn của thơ Lê Thánh Tông và nhóm Tao Đàn. Thơ của ông chính là sự chuẩn bị cần thiết cho sự phát triển rực rỡ của thơ Nôm thế kỷ XVIII. Có lẽ đầy lòng tự hào về tinh hoa và tiềm năng của dân tộc trong thơ ca dân gian Việt Nam mà ông đã đưa vào tràn ngập trong thơ ông những lời đẹp nhất của ca dao, tục ngữ. Thơ của ông hướng vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân mà ông gần gũi và yêu quý. Có lẽ vì thế mà thơ Nôm của ông ít những lời sáo rỗng về phong, hoa, tuyết, nguyệt, mà lại đi vào lòng người với những nét rất thân thương của những đồ đạc, những rau cỏ, những chim muông gặp gỡ hằng ngà, ông đã thuộc tên từ cụ già đến trẻ em, đi vào niềm vui và nỗi lo của từng người, và từ đó đưa vào thơ một tính nhân dân sâu sắ, của cuộc đời ông.” Nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong một bài phân tích cụ thể về phong cách thơ ca của Nguyễn Bỉnh Khiêm đăng trên Tạp chí Sông Hương (số 35, T.12-1989) đã nhận định: “...Ông là một ẩn sĩ nhưng không phải một ẩn sĩ Ấn Độ chạy vào núi sống để thờ thần linh, không phải một ẩn sĩ Trung Quốc quay lưng với chính trị, tự thổi phồng mình, tự tôn thờ mình. Thơ ông chẳng có gì là huênh hoang của thơ triết lý Trung Quốc. Ông quay về sống trong vòng tay của làng mạc họ hàng, dạy học trò, bình dị, khiêm tốn, như cha ông chúng : tính, khí, ly, tâ, biết trước hậu thể năm trăm năm chẳng hề nói bóng gió gì đến hậu vận. Ông trạng nguyên hay chữ nhất nước chẳng thiết gì đến chữ nghĩa, điển tích từ chương. Con người được cả thời đại tôn sùng chẳng buồn nhắc tới danh tiếng của mình. Thậm chí ông không nhắc đến cá nhân mình. Đây là một phong cách lạ, trước ông không có mà sau ông cũng không. Nhưng ông hiểu được cái bí quyết để giành được lòng tin của hậu thế. Phải gạt bỏ mọi "bánh vẽ" của cuộc đời (công danh, chức tước, chữ nghĩa, trang tức) để xuất hiện giản dị và chân thành. Không rên la, thậm chí không thở dài, không đóng vai một người thuyết phục, giáo dục. Hãy quên cái con người của cương vị xã hội (bằng tôi, nhà sư, nho sĩ...) để làm con người trong lòng mọi người. Chính vì vậy thơ ông lần đầu tiên trong văn học ta nói với mọi người. Nếu muốn nói đến ý nghĩa triết học của thơ ông thì nó là ở đấ, để nghe. Ông là con người duy nhất của văn học ta chủ trương một đường lối nghệ thuật riêng: nghệ thuật là để giúp con người tìm lại được chính mình, chân thành với mình và với xã hội. Khi nào ta hiểu được nhu cầu ấy, ta sẽ biết ơn phu tử và sẽ hiểu được giá trị của nhà thơ kiệt xuất.” ("Tìm hiểu phong cách Nguyễn Bỉnh Khiêm qua một bài thơ", Tạp chí Sông Hương, 1989) Như PGS. Nguyễn Hữu Sơn (Viện Văn học) đã đánh giá: “Bên cạnh nhiều tác gia văn học lớn ở thế kỷ XVI như Nguyễn Dữ, Nguyễn Hàng, Hà Nhậm Đại, Phùng Khắc Khoan, Hoàng Sĩ Khả, Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi lên như một hiện tượng văn hoá tiêu biểu, một “cây đại thụ” văn hoá dân tộc thế kỷ XVI. Tư cách tác gia văn học - “cây đại thụ văn hoá” thể hiện trước hết trên phương diện số lượng tác phẩm, mức độ thâu thái các giá trị văn hoá tinh thần thời đại cũng như khả năng kết hợp giữa việc tinh lọc, nâng cấp vốn tri thức bác học với việc phổ cập, tạo ảnh hưởng trong toàn bộ đời sống xã hộ, ông trở thành thước đo thực trạng đời sống tinh thần dân tộc ở một chặng đường lịch sử, cây đại thụ văn hoá toả bóng xuống cả thế kỷ. Một mình ông buộc phải đóng nhiều vai diễn. Đồng thời với vốn kiến thức cao siêu, Nguyễn Bỉnh Khiêm lại vẫn bộc lộ cái nhìn nhân ái, dân dã, hoà đồng với thiên nhiên, cỏ cây hoa lá, làng thôn, trăng trong gió mát. Điều này góp phần giải hoà dòng thơ duy lý, khơi mở nguồn cảm hứng nghệ sĩ thanh cao. Điều cũng rõ ràng là mặc dù mang trong mình đầy những lẽ bất cập do hoàn cảnh thời đại quy định song Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn hiện diện như một nhân cách lịch sử chói sáng, một cây đại thụ văn hoá chính bởi sự kết tinh vốn kiến thức sâu rộng trên cơ sở một tấm lòng chính trực, gắn bó sâu sắc với cội nguồn văn hoá dân tộc. Ông là hiện thân của mĩ học phong kiến cả trên phương diện nhân văn lẫn mặt hạn chế của nó.” Nhân kỷ niệm 425 năm ngày mất của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà thơ Trần Nhuận Minh (Ủy viên Hội đồng Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam) trong bài viết “Nguyễn Bỉnh Khiêm: Nhà thơ lớn bóng trùm nhiều thế kỷ” (Báo Hải Dương Điện tử, 2010) đã phân tích một số điểm nổi bật trong di sản thi ca của ông: “Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là một nhà thơ lớn, không chỉ của thế kỷ XVI. Tác phẩm của ông có ảnh hưởng sâu rộng, tác động tích cực vào đời sống tinh thần của nhân dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của tiến trình văn học dân tộc. Về thơ chữ Hán, ông có "Bạch Vân am thi tập", theo ông cho biết là có khoảng 1.000 bài, nay còn khoảng 700 bài. Về thơ chữ Nôm, ông có "Bạch Vân quốc ngữ thi tập", chính ông ghi rõ sáng tác từ khi về nghỉ ở quê nhà, chúng ta không biết có bao nhiêu bài, hiện còn khoảng 170 bài, trong đó vài chục bài lẫn với thơ Nôm Nguyễn Trãi (1380-1422)... Ông đã kế thừa xứng đáng truyền thống thơ Lê Thánh Tông, đặc biệt là thơ Nguyễn Trãi và bổ sung vào đó, đậm đặc hơn, chất triết lý, suy tưởng và giáo huấn, để thơ trở thành một công cụ hữu ích, phục vụ con người, phản ánh hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng sâu nặng lẽ đời, với cái nhìn khái quát của một triết gia, trong đó có những chiêm nghiệm từng trải của cá nhân ông. Giàu chất trí tuệ, thơ ông là những khát vọng muốn khám phá những quy luật của thiên nhiên, xã hội và của cả con người, nhằm tự vượt thoát ra khỏi những bế tắc của một thời và có ảnh hưởng sâu sắc tới tận ngày hôm nay, cả về tư tưởng và nghệ thuật của thơ, cả về tầm vóc văn hóa và nhân cách của một nhà thơ... Trong thơ Việt Nam, có lẽ ông là người sáng lập ra loại thơ diễn giải minh họa và tuyên truyền, mà sau này ta thấy càng ngày càng phổ biến trong nền thơ hiện đại, chảy thành một dòng lớn trong thơ Việt Nam thế kỷ thứ XX, với nhiều tác phẩm xuất sắc của những tên tuổi lớ, lẽ đời, nhân tình thế thái, được ông trình bày vô cùng đa dạng, phong phú, có đủ các mùi vị, sắc thái. Đây là một đóng góp đặc sắc và có thể nói là độc đáo của ông trong thơ Việt Nam, tạo thành một từ trường, khiến ông trở thành một trong những ngọn núi lớn của thi ca dân tộc. Ở đây, màu sắc triết học đã tan vào cảnh vật và tâm trạng, làm cho nó có sức lan tỏa xa rộng, bền vững lâu dài. Nhiều câu thơ của ông ở loại này đã trở thành danh ngôn, thành ngạn ngữ, có cuộc sống riêng, độc lập với chính người đã sinh ra nó. (...) Một nội dung quan trọng trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là chữ “nhàn”. Chữ “nhàn” cũng đã xuất hiện trong thơ Chu Văn An, Nguyễn Trãi và một số nhà thơ khác. Đây là một xu hướng sáng tác văn chương của các sĩ phu ở nhiều thời kỳ, thể hiện sự bất hợp tác với chính quyền phong kiến và sự phủ nhận hiện thực thối nát của xã hội đương thời. Vì thế, giá trị khách quan của nó là tích cực. Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, chữ “nhàn” trở thành một ám ảnh nghệ thuật, bởi nó không chỉ bộc lộ những tâm trạng riêng của ông, gắn liền với thời cuộc, mà còn thể hiện một quan niệm triết học của ông, một cách ứng xử của ông trước cuộc đời. Nội dung chữ “nhàn” trong thơ ông phức tạp hơn các nhà thơ khác, và nét chủ yếu không phải là tiêu cực mà là phép hành tàng của nhà nho trong lẽ xuất xử trước thời cuộc mà thôi.” Trong bài viết “Bước đầu suy nghĩ về văn học thời Mạc”, GS. Nguyễn Huệ Chi có những phân tích: “Nhìn trong xu thế chung, văn học Việt Nam có một yêu cầu nội tại để tạo nên bước nhảy vọt thật sự kể từ thế kỷ XVI trở đi, dấu mốc nhảy vọt ấy rơi đúng vào văn học triều đại Mạc. Đây là cái ngẫu nhiên mà cũng là cái tất yếu của lịch sử. Thời đại Lê sơ là đỉnh cao của độc tôn Nho giáo và thể chế quân chủ tập trung, phải chọn một vị vua làm biểu tượng để cho dân tôn thờ, thần thánh hóa, đặc điểm chung của văn học bởi vậy là hướng thượng. Phải quay nhìn lên ông vua và lấy ông vua làm hình mẫu, đem cảm hứng “vua sáng tôi hiền” kết nối thành động lực sáng tác. Đến triều đại Mạc, sau bao nhiêu chặng “vua quỷ”, “vua lợn” của triều Lê sơ làm người ta chán nản, tự nhiên hình tượng cao quý là các ông vua bị lu mờ, bị hạ thấp từ trong tiềm thức. Và cảm hứng “thần thánh hóa” đấng minh quân mất dần chỗ đứng. Người ta không còn hào hứng ngẩng lên, “hướng thượng” trong sáng tác của mình. Tình trạng này gây ra một phản ứng trái ngược trong vô thức: người sáng tác bắt đầu từ chỗ nhìn lên nay quay nhìn trở xuống. Và khi nhìn xuống hạ dân thì một thế giới khác chợt hiện rõ trong tầm mắt. Họ bỗng nhìn thấy con người với bao nhiêu sự phức tạp, thánh thiện có mà tầm thường cũng có, ở chính đối tượng gần gũi nhất với mình ấy. Con người được phơi bày với những dục vọng, toan tính, những nét thấp hèn và cao cả, những tình cảm riêng tư, cá nhân. Đó chính là một phát hiện lớn của văn học thời Mạc, mở đầu cho một dòng văn học chạm chân vào hiện thực. Văn học thay đổi chức năng mà không tự biết: nó mô tả xã hội dưới góc nhìn đời tư và đời thường. Trước đây, thông qua tiêu chí “cái cao cả”, nhà văn nhìn xã hội dầu không muốn cũng như được đánh bóng lên, được ước lệ hóa, công thức hóa, mỹ hóa thành một xã hội vàng son song trừu tượng, đâu cũng như nhau. Nhưng bây giờ nhìn vào khía cạnh đời tư đời thường thì cũng xã hội ấy lại hiện ra dưới muôn hình vạn trạ, có thủ công, có làm giàu, và có đủ thứ lục đục xoay quanh nó, có cuộc đấu tranh giữa quyền lực và không có quyền lực, giữa ham muốn và bất lực. Không loại trừ cuộc đấu tranh muôn thuở về đạo đức giữa cái thiện và cái ác. Một xã hội phong phú hơn nhiều so với bức tranh xã hội thời Lê sơ mà văn học để lại. Tính quy định vẻ đẹp tức là cái sắc màu sống thực của thời đại này phản chiếu trong văn học, thể hiện tiêu biểu ở tập truyện “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ cũng chuyển cả sang thơ, làm cho thơ ca mang một phương thức tư duy mới. Trước đây, thơ là thơ trữ tình. Thơ bây giờ cũng là thơ trữ tình nhưng là trữ tình - lý trí. Nó rời bỏ tư duy cảm tính bước sang địa hạt tư duy lý tính. Và hướng cái nhìn vào xã hội, ấy là tư duy thế sự. Thơ trở nên có tính phát hiện hiện thực rất sắc mà cây bút tiêu biểu là Nguyễn Bỉnh Khiê, cái nhìn khám phá tâm lý sâu sắc, do xã hội phức tạp, có công, có thương, buôn bán phát triển, nên văn học nhìn thấy tiếng va xiết của đồng tiền. Đây chính là giai đoạn bắt đầu nói đến vai trò của đồng tiền. Cũng chính Nguyễn Bỉnh Khiêm xác nhận vai trò đồng tiền như một tiếng động lạ, vang lên cái âm thanh đáng sợ của nó: “Nghe thôi thinh thỉnh lại đồng tiền” (thơ Nôm). Đồng tiền hiện ra với tất cả vẻ quỷ quyệt khinh người. Nó có đủ sức mạnh làm tha hóa xã hội. Nhưng bên cạnh đó nó cũng có mặt tích cực mà Nguyễn Bỉnh Khiêm có nói đến: “Kẻ khó nhờ ơn, có kẻ giàu” (thơ Nôm).” Nhìn trong toàn bộ tiến trình phát triển và hoàn thiện thơ văn chữ viết của Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đi đầu trong việc khai phá một số chức năng mới, hình thức tư duy mới của thơ văn trung đại Việt Nam, đánh dấu một bước tiến quan trọng so với các thời kỳ trước ông, bằng cách bổ sung vào dòng chảy thơ ca dân tộc những đặc tính còn khá mới (hoặc chưa từng được quan tâm đúng mức ở những thời kỳ trước ông) như tính triết lý, tính thế sự và tính trào phúng được vận dụng linh hoạt bên cạnh tính trữ tình vốn quen thuộc. Và như vậy, ông là người có công khơi mở những hướng đi mới, những hướng tư duy mới cho nhiều tên tuổi nổi bật của thơ văn dân tộc ở các thế kỷ sau. GS. Nguyễn Huệ Chi ("Bước đầu suy nghĩ về văn học thời Mạc") đã khái quát: “Một trong những đặc điểm nổi bật của văn học thời Mạc là thời đại này đã bước đầu xây dựng nên hình tượng con người tự do. Ở thời đại Lê sơ vì lực hút của triều đình phong kiến, Nho giáo độc tôn mạnh, nên gần như hút về tâm là quỹ đạo chủ đạo. Đến một Nguyễn Trãi vĩ đại là thế mà khi bị ruồng rẫy về Côn Sơn bao giờ lòng cũng đau đáu nghĩ đến vương triều, hễ được vời ra thì ra lại ngay. Đến thế kỷ XVIII lại có một hiện tượng ngược lại là người ta bỏ chạy khỏi triều đình, bỏ chạy để về sống ẩn, chỉ có mình với mình. Đây là thời đại ly tâm. Vào thời đại Mạc thế kỷ XVI thì khác, người ta không bị hút về tâm nữa nhưng cũng không hẳn ly tâm, nhờ đó tạo nên chính sự tự chủ cho người thức giả. Mình muốn ra thì ra, muốn về thì về, biểu trưng rõ nhất là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Bỉnh Khiêm ra thi với Mạc rồi sau 7 năm, thấy cần phải xuất thế ông bèn chủ động rút lui, bấy giờ Mạc vẫn chưa suy thoái. Về một thời gian ông lại ra giúp. Chính phong thái ung dung chủ động kia đã tạo nên tiếng nói tự do, tự tại trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ văn của rất nhiều người như Nguyễn Hãng, Nguyễn Dữ… Dòng mạch tư duy tự do tự tại quy tụ nên hình tượng con người không bị lệ thuộc trăm phần trăm vào quyền lực nữa mà ít hay nhiều đã là con người giải thoát. Cần phải thừa nhận rằng trong cái nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có một phương diện gọi là tự tại. Nhàn ở đây không là ẩn, chưa phải xã hội thối nát đến mức mình không thể chấp nhận nổi mà trở về chăm nom vài luống cúc, hoặc lẩn trốn vào cửa thiền, hoặc tìm quên trong thú vui cần câu, chén rượu. Nhàn, bởi mình cảm thấy phải làm chủ cuộc sống của mình, cho nên tự mình trở về an nhàn nghỉ ngơi. Nhưng khi nhà Mạc kêu gọi đi đánh bọn phản loạn thì Nguyễn lại hăng hái ra giúp. Nhàn trong trường hợp này là nhàn tự tại. Nhàn tự tại chính là nét khác với nhàn ở nhiều thời đại khác là thứ nhàn chỉ muốn lánh đục, lánh triều đình, “dũng thoái”. Nhàn tự tại không cố chấp mà hồn nhiên hơn.” Như nhà phê bình Đỗ Lai Thúy trong bài tiểu luận “Nguyễn Bình Khiêm, lựa chọn như một lối ứng xử” (Tạp chí VHNT số 334, tháng 4-2012) đã nhận định, Nguyễn Bỉnh Khiêm, xét về mặt loại hình nhân cách hoặc mẫu người văn hóa có thể xem là điểm trung gian trong sự biến chuyển từ mẫu nhà nho - con người quân tử như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tô, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… Nhưng khác Nguyễn Trãi ở chỗ Ức Trai sống vào giai đoạn Nho giáo chưa chính thức trở thành quốc giáo, chưa lên ngôi chính thống, độc tôn. Và khác Lê Thánh Tông ở chỗ Nho giáo thời Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy vẫn là chính thống, vẫn là độc tôn, nhưng đang suy vi vì chiến tranh, đất nước bị chia cắt, nhân dân cực khổ và nổi loạn. Nhà nho quân tử Nguyễn Bỉnh Khiêm, vì thế, có những nét mới, đặt ra những vấn đề mới. Với một nhà nho quân tử, vấn đề cốt yếu, mang tính lý tưởng vẫn là trung thành với nhà vua chính thống (trung thần bất sự nhị quân). Nhưng ở thời Nguyễn Bỉnh Khiêm, các khái niệm “vua” và “nước” (cũng như giữa “vương triều” và “quốc gia”, “quyền lợi gia tộc” và “quyền lợi dân tộc”) không còn trùng khít nữa, quyền lợi của vua mâu thuẫn với quyền lợi của dân, nên việc trung thành với một ông vua ngu tối (hôn quân) sẽ trở thành ngu trung: vấn đề chọn chủ được đặt ra. Sự lựa chọn này trở thành một vấn đề trí thức bắt đầu từ Nguyễn Bỉnh Khiêm với Lê – Mạc, sẽ kéo dài với bao người khác trước sự phân tranh Trịnh – Nguyễn, Tây Sơn – Nguyễn Ánh… Ứng xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm về sau đã trở thành một trong những khuôn mẫu cho nhiều thế hệ nhà nho, trí thứ“ngụy” Mạc, rồi làm quan lớn, rồi tòng chinh theo vua Mạc đánh dẹp “loạn quân”, trong đó có cả dòng dõi nhà Lê-Trịnh-Nguyễn, đã gây nhiều băn khoăn, thắc mắc ở những đầu óc phò “chính thống”. Thế mà Nguyễn Bỉnh Khiêm làm tất cả những điều ấy không hề có một mặc cảm “ý thức hệ” nào, với một trạng thái nhận thức gần như cao nhất trong mọi cách hành xử của bản thân ông. Trong bài viết “Nguyễn Bỉnh Khiêm trong sự chuyển biến về ứng xử chính trị của trí thức Việt Nam”, nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh đã có những phân tích về cách hành xử của Nguyễn Bỉnh Khiêm trước thời thế, như là hình mẫu khởi đầu cho một quá trình chuyển biến thực sự về nhận thức cũng như hành động của giới trí thức - nho sĩ trong lịch sử phong kiến Việt Nam: Sự tự do tư tưởng trong việc chọn lựa con đường sự nghiệp và cách ứng xử linh hoạt trước những biến chuyển thời thế của Nguyễn Bỉnh Khiêm (toàn tâm đi theo nhà Mạc đến cuối đời, một triều đại bị coi là “ngụy triều” tiếm ngôi theo quan điểm Nho giáo truyền thống, mà không theo nhà Lê sơ “chính thống” hay nhà Lê trung hưng sau đó được nhiều nho sĩ đương thời ủng hộ) có thể ít nhiều đã ảnh hưởng đến sự chọn lựa bước đường công danh của các học trò ông như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh (cả hai đều theo nhà Lê trung hưng thay vì nhà Mạc). Hoạch định chiến lược. Nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhiều người xưa nay đã vô tình hay cố ý đồng nhất giữa 2 khái niệm gần nhau là “dự báo” và “bói toán” khi bàn về năng lực “tiên tri” của ông. Phần lớn những gì được lưu truyền tới nay về khả năng bói toán của Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể chỉ là sản phẩm thêu dệt của trí tưởng tượng dân gian. Tuy nhiên, thiên năng dự báo của ông (dựa trên kiến thức tổng hợp sâu rộng về dịch lý, lịch sử, chính trị, địa lý, phong thủ) là điều đã được nhiều người có uy tín ở các thời đại khác nhau khẳng định. Trong số này có Chu Xán (sứ thần đời nhà Thanh), Vũ Khâm Lân (thời Lê Trung Hưng), Phạm Đình Hổ (thời Lê Trung Hưng), Nguyễn Thiếp (sống thời Lê Trung Hưng, thời nhà Tây Sơn, và thời nhà Nguyễn), Phan Huy Chú (thời nhà Nguyễn), Nguyễn Tài Thư (nhà nghiên cứu chuyên về dịch lý học ở Việt Nam hiện tại), Nguyễn Khắc Mai (hiện là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Minh triết Việt Nam), và Nguyễn Phúc Ưng Viên (hậu duệ hoàng tộc nhà Nguyễn, hiện đang sống và hành nghề đông y tại Việt Nam). Danh sĩ Nguyễn Thiếp (1723-1804) từ xứ Nghệ về trấn Hải Dương (xứ Đông) với mong muốn tìm lại những dấu tích gắn với cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm, đã cảm tác bài thơ "Quá Trình Tuyền mục tự" ("Qua chùa cũ của Trình Tuyền"), trong đó có những câu ca ngợi Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có khả năng “áo cơ thâm tạo hóa” (mưu cơ thâm kín can dự vào công việc của tạo hóa) và “phiến ngữ toàn tam tính” (chỉ một lời mà bảo toàn cho cả ba họ). GS. Nguyễn Tài Thư (2007) khi nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm, có quan điểm phân biệt rõ ràng giữa hai phạm trù “dự báo” và “bói toán” (liên quan đến hiện tượng sấm ký): "...Nhờ “lý” đó mà Nguyễn Bỉnh Khiêm dự kiến và đề xuất được nhiều sự kiện có tính chất lịch sử đương thời, như trong lúc nước lửa, ông khuyên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá để khỏi bị anh rể là Trịnh Kiểm bức hại, khuyên chúa Trịnh phải phò vua Lê thì mới giữ được ngôi báu, khuyên nhà Mạc dời lên Cao Bằng để duy trì thêm vài triều đại nữa, , đã được lịch sử chứng minh là đúng đắn. Sử sách đã ghi chép nhiều. Mọi người hầu như đều biết. Nhưng khả năng biết trước có cơ sở hiện thực đó của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng gây cho một số người thắc mắc, muốn gán sức thần cho ông. Thực ra ở đó chỉ là sản phẩm của một đầu óc suy lý, là kết quả của một sự phân tích biết dựa vào thực tế, biết nắm lấy thời thế và biết phát huy tư tưởng “lý” của ông. Một người học rộng biết nhiều, nắm vững lịch sử dân tộc, lại dùng “lý” để suy xét sự vật thì những kiến giải trên không có gì là quá ngạc nhiên. Từ khả năng biết trước như trên của ông, có người còn tiến tới phú cho ông là nhà tiên tri kiểu Đạo giáo, nhà tiên thiên học có khả năng làm ra những lời sấm dự báo được tương lai xa xôi. Bao nhiêu cuốn “Sấm ký Trạng Trình” đang được lưu truyền là thuộc loại đó. Thực ra đây chỉ là những lời đồn đại, những sự gán ghép vô lối về ông. Đó chỉ là do tâm lý sùng bái danh nhân của một số người còn mang nặng tư duy thần bí, đã khoác tấm áo siêu nhiên cho ông, hoặc đó là kết quả của một mưu đồ chính trị, bịa ra sự kiện, lợi dụng tên tuổi của ông để thực hiện âm mưu, thường là việc làm của người đời sau. Cách làm đó không những không đề cao được vai trò của ông mà còn làm hại uy tín của ông. Sở dĩ nói hiện tượng “sấm ký” là bịa đặt, bởi vì thực tế khách quan thì phong phú và phức tạp, cái tất nhiên đi liền với vô số cái ngẫu nhiên, khiến con người khó lần ra manh mối." Nguyễn Bỉnh Khiêm được sử sách và người đời thừa nhận rộng rãi với tư cách là một nhà dự báo, hoạch định chiến lược kỳ tài, với tầm nhìn địa chính trị đi trước thời đại nhiều thế kỷ. Những lời cố vấn nổi tiếng của ông dành cho các dòng họ Mạc, Trịnh, Nguyễn (nói theo lời của danh sĩ Nguyễn Thiếp là "phiến ngữ toàn tam tính") đã có ảnh hưởng to lớn, mang tính bước ngoặt đối với cỗ xe tiến trình của lịch sử Việt Nam (trong đó bao gồm quan hệ Việt Nam – Trung Quốc) và từ đó tác động lớn tới quan hệ địa chính trị của cả khu vực Đông Nam Á từ thời kỳ trung đại (thế kỷ 16) trở về sau. Cho đến nay vẫn tồn tại những luồng quan điểm khác biệt về tính xác thực của những lời cố vấn nổi tiếng không chỉ được ghi trong sử sách mà cũng được truyền tụng rộng rãi trong dân gian về tài tiên đoán, dự báo đi trước thời đại của Nguyễn Bỉnh Khiêm dành cho các tập đoàn quyền lực phong kiến Mạc, Lê-Trịnh, Nguyễn đương thời. Không ít nhà nghiên cứu phủ nhận việc Nguyễn Bỉnh Khiêm (vốn là một trung thần của nhà Mạc) lại có thể sẵn lòng bày kế cho các họ Lê, họ Trịnh hay họ Nguyễn, vốn là những thế lực đối địch hoàn toàn với họ Mạc. Nhưng xét một cách khách quan và công bằng thì những lời khuyên đó của Nguyễn Bỉnh Khiêm không xung đột lợi ích với nhau. Đúng như danh sĩ Nguyễn Thiếp sống thời nhà Tây Sơn đã ca ngợi: “phiến ngữ toàn tam tính”, nghĩa là lời nói ngắn gọn mà bảo toàn lợi ích cho cả ba họ ("Quá Trình Tuyền mục tự"). Cũng có nhiều ý kiến cho rằng những lời “mách nước” đó của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là giai thoại hay truyền thuyết, cũng như quan điểm của nhiều người về nguồn gốc sấm truyền của Trạng Trình chỉ là sáng tác của dân gian hay người đời sau mà thôi. Nhưng có một thực tế là chúng đã được ghi lại trong không ít sử liệu cũng như được lưu truyền qua nhiều đời con cháu của một số dòng họ có liên quan. Theo "Đại Nam nhất thống chí" do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn: “Vua Lê Trung Tông (1549 - 1557) không có con nối ngôi, đại thần bàn định xem nên lập ai, nhưng chưa quyết được, mới sai người đến hỏi (Nguyễn Bỉnh Khiêm). Ông không đáp và bảo người nhà rằng: Năm nay đã mất mùa, sao không mau tìm thóc giống cũ mà đem gieo trồng cho kịp thời vụ. Bề tôi nhà Lê suy ý lời nói ấy, bèn quyết kế rước lập vua Anh Tông”. Rồi việc “Khi Trịnh Tùng lăng loàn, có dị chí, ngầm sai người hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm về số phận nhà Lê còn dài ngắn như thế nào? Ông không đáp bỏ ra chùa chơi, giả bộ giận các nhà sư bất cẩn, trách mắng rằng: Ngạn ngữ có câu “thờ Phật ăn oản, không biết thờ Phật thì mong gì được ăn oản”. Trịnh Tùng nghe nói mới thôi không cướp ngôi nhà Lê nữa”. Hay như việc “Đức Thái tổ Hoàng đế triều ta (Nguyễn Hoàng) luôn bị họ Trịnh chèn ép bức bách, muốn dời đi nơi khác, đã sai người đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông trả lời: Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân (nghĩa là: Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được). Sau bản triều xây dựng cơ nghiệp ở miền Nam, lời ông quả ứng nghiệm”. Quyển thứ nhất của "Đại Nam thực lục tiền biên" (cũng do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn) cũng ghi việc Nguyễn Bỉnh Khiêm “mách nước” cho Nguyễn Hoàng mở về phương Nam: “Đến khoảng năm Thuận Bình đời Lê Trung Tông, do quân công được tiến phong Đoan quận công. Bấy giờ Hữu tướng triều Lê là Trịnh Kiểm (bấy giờ xưng là Lượng quốc công) cầm giữ binh quyền, chuyên chế mọi việc. Tả tướng là Lãng quận công Uông (con trưởng Triệu Tổ) bị Kiểm hãm hại. Kiểm lại thấy chúa công danh ngày càng cao nên rất ghét. Chúa thấy thế, trong lòng áy náy không yên, cùng bàn mưu với Nguyễn Ư Dĩ rồi cáo bệnh, cốt giữ mình kín đáo để họ Trịnh hết ngờ. Chúa nghe tiếng Nguyễn Bỉnh Khiêm (người làng Trung Am, xứ Hải Dương, đỗ Trạng nguyên triều Mạc, làm đến chức Thái bảo về trí sĩ) giỏi nghề thuật số, nên ngầm sai người tới hỏi. Bỉnh Khiêm nhìn núi non bộ trước sân ngâm lớn rằng: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Sứ giả đem câu ấy về thuật lại. Chúa hiểu ý”. Ở đây có một giả thiết được đặt ra rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm không có vai trò lịch sử gì trong quyết định Nam tiến của Nguyễn Hoàng mà chỉ là dân gian thêu dệt nên như nhiều giai thoại về Bỉnh Khiêm. Vậy thì tại sao cả hai bộ sử ("Đại Nam thực lục" và "Đại Nam nhất thống chí") được xem là chính thống của nhà Nguyễn, do các sử thần triều Nguyễn (Quốc sử quán triều Nguyễn) biên soạn lại xác nhận lời nói của Bỉnh Khiêm một cách quả quyết và có vẻ trang trọng đến vậy? Tại sao sử thần nhà Nguyễn không cố tình “lờ đi” vai trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong quyết định Nam tiến của Nguyễn Hoàng, hoặc giả như gắn vai trò của Bỉnh Khiêm cho một nhân vật lịch sử nào đó thân cận và trung thành với Nguyễn Hoàng chẳng hạn? Lại cũng có một luồng quan điểm cho rằng không phải Nguyễn Hoàng nhờ chị gái Ngọc Bảo xin anh rể Trịnh Kiểm cho mình vào trấn giữ đất Thuận Hóa sau khi đã tham vấn Nguyễn Bỉnh Khiêm mà chính Trịnh Kiểm là người đầu tiên đề xuất ý tưởng cho em vợ vào Nam trấn thủ. Những người ủng hộ luồng quan điểm này cho rằng vì người thời Nguyễn vốn có mối thù ghét kéo dài với những gì thuộc về công tích của họ Trịnh nên sử thần thời Nguyễn mới đem ý tưởng của Trịnh Kiểm gắn cho Bỉnh Khiêm. Tuy nhiên, những người ủng hộ luồng quan điểm này (ủng hộ vai trò lịch sử của Trịnh Kiểm thay vì Nguyễn Bỉnh Khiêm) lại vấp phải một mâu thuẫn khác là họ không giải thích được tại sao sử thần triều Nguyễn lại quả quyết ghi nhận vai trò của một người họ biết rõ vừa là một trung thần vừa là một trọng thần của nhà Mạc như Bỉnh Khiêm. Cần nhớ, xét về mặt lịch sử người nhà Nguyễn phải thù ghét những gì gắn với họ Mạc nhiều hơn những gì liên quan đến họ Trịnh vì họ Mạc vốn luôn bị xem là kẻ thù truyền thống của cả ba dòng họ thế lực Lê-Trịnh-Nguyễn vốn cùng phát tích từ xứ Thanh. Vậy dù có đưa ra lý lẽ nào để bác bỏ vai trò lịch sử của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong quyết định Nam tiến của Nguyễn Hoàng thì người ta cũng phải thừa nhận một điều là sử thần thời nhà Nguyễn (cụ thể ở đây là những sử quan của Quốc sử quán triều Nguyễn) đã có một cái nhìn trân trọng đáng kể đối với tài năng của Bỉnh Khiêm dù họ vẫn mang nặng tư tưởng bài xích “Nhuận Mạc”. Trong bài viết phóng sự “Bí ẩn trầm hương - Kỳ 1: Vài dòng lịch sử” đăng trên báo Thanh Niên điện tử, tác giả Hoàng Hải Vân trong cuộc đối thoại với ông Nguyễn Phúc Ưng Viên (là cháu nội hoàng tử thứ 12 con vua Minh Mạng, khi đó đang sống và hành nghề bào chế thuốc nam tại Thành phố Hồ Chí Minh), đã thuật lại nguyên văn như sau: “Ông Ưng Viên nói một trong những thứ mà Chúa Tiên mang vào Nam là những đàn dê, việc này do chính Nguyễn Bỉnh Khiêm đề nghị. Dê là con vật độc đáo, không những có giá trị y thực phục vụ sức khỏe cho dân chúng, mà còn rất tiện ích cho hậu cần quân sự. Dê dễ nuôi, có thể dẫn các đàn dê theo quân, khi có chiến sự chúng ở đâu nằm im ở đó không chạy nhặng xị như trâu bò gà vịt, lại dễ phân phối trong quân, một con dê có thể phục vụ gọn bữa ăn cho một “tiểu đội”. Cha ông của ông Ưng Viên dặn dò con cháu ngoài việc nhớ ơn và thờ phụng tổ tiên mình, còn phải nhớ ơn và thờ phụng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bởi Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đề xuất với Chúa Nguyễn từ chiến lược chiến thuật, từ chuyện quân cơ, hậu cần cho đến những chuyện cụ thể liên quan đến bảo vệ sức khỏe cho quân dân như món ăn, bài thuốc để làm hành trang Nam tiến. Trong đó có chuyện “dụng trầm”.” Như Li Tana, một nhà nghiên cứu về lịch sử Việt Nam trung cận đại, đã nhận định: “Một làn sóng di dân vĩ đại của người Việt Nam đã diễn ra vào cuối thế kỷ XVI. Về phương diện lịch sử, nó có thể sánh với cuộc di dân của người Trung Hoa, tuy với tỷ lệ nhỏ hơn, từ phía Bắc tới đồng bằng sông Dương Tử dưới thời Đông Tấn (thế kỷ thứ IV sau CN). Trước thời kỳ này, số người Việt Nam di dân xuống phía Nam không nhiều, có vẻ lác đác. Nhưng bây giờ động cơ thúc đẩy họ di dân trở nên mạnh hơn và mục đích của họ cũng rõ ràng hơn. Nếu Thuận Hóa trước đây xem ra còn là một vùng đất đầy bất trắc, bấp bênh về một số lĩnh vực thì việc Nguyễn Hoàng thiết lập chính quyền ở đây được coi như là việc tái khẳng định quyền của người Việt Nam được định cư ở vùng đất này và vì thế là một khuyến khích lớn đối với việc di dân…” Trong bài viết “Một Việt Nam khác? Vương quốc của họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18”, Li Tana phân tích: Giai đoạn cai trị của họ Nguyễn ở Đàng Trong kể từ thời Nguyễn Hoàng (1558) cho tới thời Minh Mạng (1820-1841) cũng đưa tới một hệ quả lịch sử mang tính bước ngoặt là nó đã thay đổi căn bản nhận thức của người Việt về tầm quan trọng của chủ quyền biển đảo đối với an ninh quốc phòng cũng như lợi ích kinh tế lâu dài của dân tộc. Nó cho thấy một tầm nhìn chiến lược rõ ràng của những nhà cai trị họ Nguyễn (bao gồm các đời chúa Nguyễn và vua nhà Nguyễn) thông qua những động thái cụ thể thể hiện ý thức xác lập và thực thi chủ quyền lịch sử của người Việt đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước khi có sự tranh chấp chủ quyền từ những thế lực khác. Tầm nhìn về biển Đông. Bài thơ “Cự ngao đới sơn” nằm trong tập thơ chữ Hán "Bạch Vân am thi tập" được Nguyễn Bỉnh Khiêm viết cách đây gần 500 năm, được GS. Đinh Gia Khánh dịch thơ đã lâu, song gần đây, bài thơ được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt từ khi chính quyền Trung Quốc bộc lộ rõ tham vọng xâm lấn, thuộc địa hoá biển Đông, chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, vốn là một thực tế lịch sử được sử liệu các triều đại Trung Quốc, Việt Nam và nguồn tư liệu phong phú về hàng hải của nhiều quốc gia phương Tây thừa nhận. Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai thuộc Trung tâm nghiên cứu Minh triết Việt Nam trong bài viết “Bài thơ Cự Ngao Đới Sơn - một dự báo chiến lược thiên tài của Nguyễn Bỉnh Khiêm” (2013) đã có những phân tích về tầm nhìn đi trước hằng thế kỷ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo của một quốc gia (cụ thể ở đây là phải chắc chắn xác lập được chủ quyền của con dân nước Việt đối với biển Đông hay còn gọi là biển Nam Trung Hoa) ở vào giai đoạn trung đại khi mà không mấy ai thực sự quan tâm đến nó, ngay cả với những nhà hoạch định chiến lược vốn nổi tiếng nhìn xa trông rộng của các triều đại phong kiến Trung Hoa trước đây. Tác giả bài viết có những phân tích: “Bài thơ có tuổi đã khoảng 500 năm mà bây giờ càng đọc càng thấy rất "kim nhật kim thì", rất thời sự. Ta những tưởng như cụ Trạng Trình đang nói với chính chúng ta hôm nay. Bài thơ nguyên là để nói cái chí của cụ: "Chí những phù nguy xin gắng sức" ("Ngã kim dục triển phù nguy lực")... Câu thơ cuối bài của cụ: "Ta nay cũng muốn đem sức phò nguy" chính là nói về chúng ta trong những nhiệm vụ làm chủ biển Đông hôm nay vậy.” Một bài phân tích đáng chú ý khác là bài viết “Tầm nhìn chiến lược về biển đảo của Trạng Trình từ 500 năm trước” (2013) của nhà thơ Nguyễn Đình Minh với những nhận định như sau: “Tác giả đã chỉ ra một trong những điều tất yếu của sự bền vững muôn đời của giang sơn Đại Việt chính là nắm giữ chủ quyền biển Đông. Trước đây khi đề cập đến lãnh thổ, chúng ta thường nói nhiều về sông núi, đất đai; chúng ta có nói về biển nhưng không nhiều, biển không là trọng điểm nhấn mạnh. Nhưng từ 500 năm về trước Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dự báo tầm quan trọng của biển đảo dẫn đến sự tồn vong thịnh trị của cả quốc gia; điều ấy cho thấy tầm chiến lược về bảo vệ của ông rất rộng lớn và toàn diện.” Như tác giả bài viết đã kết luận: “Một tầm nhìn chiến lược về biển Đông”. Khi bài “Cự ngao đới sơn” được viết ở thế kỷ 16, vào thời đó, chủ quyền của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không bị tranh chấp quốc tế, các thế lực khác nhau chủ yếu đặt tham vọng xâm chiếm phần lãnh thổ đất liền mà thôi. Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ở rất xa đất liền là nơi lánh nạn, trú bão của các đoàn thương thuyền, ngư thuyền mạo hiểm dám ra khơi xa, trong điều kiện phương tiện thuyền bè đương thời, vai trò của kinh tế biển - đảo khi đó chưa được khai thác như bây giờ. Đặc biệt hai câu kết của bài thơ như một lời tự day dứt, trăn trở, một ý chí quyết tâm của chính tác giả: “Ta nay muốn thi thố sức phù nguy / Lấy lại quan hà, thành xưa của nhà vua” (“Ngã kim dục triển phù nguy lực / Vãn khước quan hà cựu đế thành”). Sức lay động của bài thơ chính là ở đây, là ở những chữ như “ngã” (tôi, ta), “kim” (nay, hiện thời), “dục” (ước muốn, khát khao), “phù” (giúp sức), “nguy” (nguy nan), “vãn” (muộn, chậm, lâu), “khước” (lấy lại, giành lại). Như nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích, bài thơ nếu không phải “sấm ký” thì cũng là lời nhắn nhủ, lời hiệu triệu xuất phát từ tận đáy lòng của tác giả, với tính dự báo chiến lược đi trước thời đại hằng thế kỷ, dụng ý dành cho hậu thế nhiều đời sau chứ không phải cho riêng đương thời thế kỷ 16. Bài thơ là một ví dụ điển hình cho tôn chỉ nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm: "thơ ngôn chí", như ông đã bộc bạch trong lời đề tựa của "Bạch Vân am thi tập". Xuyên suốt cả bài thơ là một tư tưởng chủ đạo: "lo trước cái lo của thiên hạ" (khái niệm "thiên hạ" đặt trong ngữ cảnh cụ thể của bài thơ trên chính là để chỉ "quốc gia - dân tộc"). Như có nhà nghiên cứu đã nhận định về giá trị tư tưởng của bài thơ: một con người dù ở bất cứ quốc gia nào, dân tộc nào, thời đại nào, mà có thể bận tâm lo trước mối lo lớn (an ninh quốc phòng, an nguy chủ quyền) của giang sơn xã tắc hằng trăm năm sau (500 năm ở đây nếu xét tuổi đời của bài thơ) thì đáng để hậu thế phải ngàn lần suy ngẫm và kính phục. Triết học và tôn giáo. Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà nho có cái nhìn thời thế rất sâu sắc, độc đáo. Ông học được những kiến thức Nho học từ Lương Đắc Bằng (thuộc phái Tượng số học của Tống Nho). Học trò suy tôn ông là Tuyết Giang Phu Tử– một bậc chân nho. Tuy nhiên ta vẫn gặp thái độ như không mấy lạc quan trong cuộc đời. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết những câu tương tự Đỗ Phủ, Nguyễn Trãi: "Nho quan tự tín đa thân ngộ" (Tự biết "cái mũ nhà nho" đã làm cho tấm thân mắc nhiều lầm lỡ – "Ngụ hứng, 3", "Bạch Vân am thi tập"). Nguyễn Bỉnh Khiêm ra làm quan với nhà Mạc nhưng ông cũng thấy được sự đổ nát từ bên trong. Ông đã dâng sớ chống tham nhũng. Ông lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ như là một tín đồ nhà Phật. Cha ông là Văn Định cũng đã từng lấy đạo hiệu là Cù Xuyên. Nếu Nguyễn Trãi có nhiều lần đọc "Pháp Bảo đàn kinh" (tác giả từng viết "Môn Thiền nhất phái Tào Khê thủy", "Vô thụ phi đài ngữ nhược tâm" – "Du Nam Hoa tự"); Nguyễn Du sau này đã viết "Ngã độc Kim Cương thiên biến kinh" (Tụng đọc "Kinh Kim Cương" hơn nghìn vạn lần) ("Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài") thì Nguyễn Bỉnh Khiêm có bài "Độc Phật kinh hữu cảm". Ông đã chịu ảnh hưởng Phật giáo khá nhiều trong cuộc đời và sáng tác. Về quê ông tích cực xây chùa, mở trường học. Thường ngày ông cùng với vài nhà sư, một số bạn bè dạo chơi các danh thắng trong đó có núi Yên Tử – trung tâm thiền học Việt Nam. Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm chơi chùa Phổ Minh (ngôi chùa được xây dựng từ thời nhà Trần), ông đã sánh Pháp giới của nhà Phật với quan niệm Trời của Nho gia: "Pháp giới ưng đồng thiên quảng đại" (Pháp giới sánh ngang tầm rộng lớn của trời) "Du Phổ Minh tự"). Điều này chứng tỏ ông đã nhận thức được tư tưởng "Nhất thế chư pháp vô phi Phật pháp" ở "Kinh Kim Cang" [7, 56]. Đến tiết Trung nguyên, Nguyễn Bỉnh Khiêm hy vọng ở lòng yêu thương rộng lớn:"Từ bi ta muốn nhờ công sức, Cứu được bao người chịu khổ oan" ("Trung nguyên tiết xá tội" – Đinh Gia Khánh dịch). Nhà thơ rất cảm hứng khi đọc kinh Phật ("Độc Phật kinh hữu cảm"). Ông tâm đắc triết lý sắc không: "Xuân hoa phong nguyệt không mà sắc" ("Tân quán ngụ hứng, 12"). Đây là tư tưởng "Sắc tức thị không, không tức thị sắc" nổi bật của "Kinh Bát nhã" Tư tưởng Thiền có lẽ đã gây chấn động trong nhận thức của tác giả: "Vị Phật na tri vô hữu tướng, Đáo thiền phương ngộ bổn lai ky (cơ)" (Chưa Phật nào hay vô hữu tướng, Đạt thiền mới biết bổn lai cơ – "Tân quán ngụ hứng, 18"). Tư tưởng này được tìm thấy ở "Kinh Kim Cang". Khi Phật nói với Tu – bồ - đề: "Phàm cái gì có hình tướng đều là hư vọng. Nếu các ông thấy các pháp (tướng) đều hư vọng, không thật (phi tướng) tức là thấy được Như Lai (thật tướng các pháp)" [7, 41]. Tư tưởng này cũng được tiếp nối ở "Pháp Bảo Đàn kinh". Tác giả nói "Bổn lai cơ" trong trường hợp này không ngoài mệnh đề "Bổn lai vô nhất vật" ("Pháp Bảo Đàn kinh"). Khái niệm "cơ" ở cuối câu có thể có nguồn gốc xuất pháp từ Tượng Số học – vốn là sở trường của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chính tư tưởng Thiền và kinh Phật đã làm phong phú và nâng cao bản lĩnh Nho học cùng bản sắc trí tuệ trong thơ và đời Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Bỉnh Khiêm là danh nhân văn hóa duy nhất trong lịch sử Việt Nam cho tới nay được công nhận là một vị thánh của một tôn giáo chính thức. Ông được suy tôn là Thanh Sơn Đạo sĩ (còn được gọi là Thanh Sơn Chơn nhơn), là một trong ba vị thánh linh thiêng của Đạo Cao Đài. Bức tranh Tam Thánh ký hòa ước được lưu thờ tại Tòa Thánh Tây Ninh có vẽ chân dung của Nguyễn Bỉnh Khiêm bên cạnh Victor Hugo và Tôn Trung Sơn. Trong các tác phẩm thơ văn của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm thường nêu cao chữ "nhàn", hiểu theo nghĩa thông thường là nhàn hạ, nhàn tản. Nhưng như nhiều nhà nghiên cứu đã bàn luận, cách hiểu theo nghĩa trên sẽ khiến người ta dễ hiểu nhầm và đi đến chỗ tầm thường hoá tư tưởng và nhân cách của ông. Thực tế dù thường được sử sách và người đời mô tả như một nhà ẩn sĩ cốt cách thanh tao thoát tục nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa bao giờ là một người “lánh đời”, bàng quan trước thế sự xung quanh mình (hay thậm chí là “chán đời”, “ghét đời” như không ít nhà nghiên cứu đã gán cho Nguyễn Bỉnh Khiêm). Có lẽ chữ dùng thích hợp hơn cả cho Nguyễn Bỉnh Khiêm phải là “thương đời”, “đau đời” như nhiều nhà nghiên cứu gần đây đã bàn luận. Trần Khuê ("Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc", 1991) từng nhận xét: “Trong vài trăm năm qua, người ta truyền tụng và giảng dạy trong nhà trường phong kiến, thực dân quá nhiều thơ nhàn dật của ông. Một số nhà nghiên cứu lại đi thống kê số lượng từ nhàn trong thơ ông rồi yên trí rằng cái gam-chủ trong thơ ông và trong đời ông là thứ gam majeur-nhàn-dật. Họ quên rằng chính ông đã nói rõ: “Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia đình, lớn lên bước vào giới sĩ phu, lúc về già chỉ thích nhàn dật, lấy cảnh núi non sông nước làm vui… ”. Rõ ràng không thể lấy cái âm hưởng thơ ông lúc chờ thời hay cái âm hưởng hoàng hôn cuối đời để định giá toàn bộ thơ ông và đời ông. Ba mươi năm phò nhà Mạc và hàng trăm bài thơ chữ Hán chứng minh rằng ông sống hào hùng và tung hoành khí phách. Hiển nhiên gam chủ của thơ ông và đời ông là thứ gam majeur-hành động.” Tác giả Viên Linh trong bài viết “Trạng Trình, hồn chữ nghìn thu” (2013) nhận định: “Nhân sinh quan của Nguyễn Bỉnh Khiêm sờ sờ ra đó, mà cứ bàn về cái nhàn, cái yếm thế, cái chán đời của ông. Tôi nghĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm ưu tư về nhân sinh xã hội đương thời, lo cho cái ăn cái uống của người nghèo bạc phước, phận hèn thân mọn, kiếm không đủ ăn, ông không lòng dạ nào để vịnh hoa và tán tụng các nương tử, những thứ xa xỉ với người dân. Ông không làm thơ vì mình, ông làm thơ cho người. Ông không có thì giờ để buồn chán vì mình, vì không nghĩ về mình thì không buồn về mình, ông buồn cho những kiếp người nhỏ nhoi đói rét xung quanh.” Thực tế, qua những bài văn bia do ông soạn còn lưu lại người đời không chỉ thấy tính chủ động và thành tâm của Trình Quốc Công trong các hoạt động xã hội như vận động xây cầu, xây quán, xây đình chùa mà còn thấy được uy tín và ảnh hưởng sâu rộng của ông trong các tầng lớp nhân dân. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà chính trị có tư tưởng thân dân rất rõ ràng. Khi phê phán tầng lớp cai trị trong xã hội phong kiến, ông luôn đứng trên lập trường của những con người áo vải bình dân, mặc dù ông không xuất thân từ tầng lớp của họ. Trong lịch sử Việt Nam dưới thời phong kiến, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những danh nhân đi tiên phong trong việc phát động và tham gia tích cực các hoạt động xã hội mang tính từ thiện vì lợi ích chung của cộng đồng, đặc biệt là đối với tầng lớp thường dân. Trong bài văn bia "Diên Thọ kiều bi ký" (1568), Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có những câu như tuyên ngôn cho tư tưởng nhân nghĩa của ông: “...Làm việc thiện không phải vì công tích mà ở tấm lòng. Nay vừa sau cơn loạn lạc thì chẳng những thân người ta bị chìm đắm, mà tâm người ta càng thêm chìm đắm. Các bậc sĩ đệ nên khuyến khích nhau bằng điều thiện, để làm cho mọi người dấy nên lòng thiện mà tạo nên miền đất tốt lành.” Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy làm quan cho nhà Mạc, và khi cáo quan vẫn giúp nhà Mạc; nhưng với tinh thần nhập thế của một nhà Nho tinh đời, ông không ngần ngại bày kế sách cho cả vua Lê, chúa Trịnh và cả chúa Nguyễn. Nguyễn Bỉnh Khiêm bình thản nhìn sự đời thay đổi, chữ “trung” của ông được cắt nghĩa trong bài "Trung Tân quán bi ký" như sau: “Quán dựng xong, đề biển là Quán Trung Tân. Có người hỏi: lấy tên quán như vậy ý nghĩa thế nào? Ta trả lời rằng: trung nghĩa là trung chính vậy. Giữ được toàn vẹn tính thiện của mình là trung vậy, không giữ toàn vẹn được tính thiện của mình thì không phải là trung vậy. Tân tức là bến vậy. Biết chỗ dừng đó là đúng bến, không biết chỗ dừng thì là lạc bến vậy. Tên gọi của quán này đại thể là như thế. Như trung với vua, hiếu với cha mẹ, thân ái với anh em, hòa hợp vợ chồng, tín với bạn bè, đó là trung vậy. Đối diện với của cải mà không tham, thấy lợi mà không tranh giành, vui với điều thiện mà bao dung được người, lấy tình thực mà ứng đãi với mọi vật, đó cũng là trung vậy”. Điều này cho thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn ý thức về “tam cương ngũ thường” của Nho giáo, nhưng ông không phải loại nho sĩ cố chấp, ngu trung. Lòng trung của Nguyễn Bỉnh Khiêm được thể hiện là giữ vẹn điều thiện và lấy tình thực mà ứng đãi. Tên gọi Việt Nam. Cho đến trước thế kỷ 19 (trước khi nhà Nguyễn được thành lập), trong số các tác gia thời trung đại của Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm được xem là người có mối liên hệ mật thiết nhất với hai chữ Việt Nam thông qua các trước tác của ông hoặc có liên quan trực tiếp với ông. Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải (Trung tâm nghiên cứu Tiềm năng con người thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam khẳng định điều này. Dù chưa có những bằng chứng chắc chắn để khẳng định Nguyễn Bỉnh Khiêm có phải là người đầu tiên sử dụng danh xưng Việt Nam với tư cách là quốc hiệu của dân tộc hay không nhưng nhiều nhà nghiên cứu hiện nay cũng đồng quan điểm với ông Nguyễn Phúc Giác Hải khi cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể là người đầu tiên sử dụng danh xưng Việt Nam một cách có ý thức nhất để gọi tên của đất nước. Trong các tác phẩm liên quan đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, có ít nhất bốn lần danh xưng Việt Nam đã được sử dụng một cách có chủ ý. Điều này cũng góp phần bác bỏ quan điểm cho rằng hai chữ Việt Nam chỉ được Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng một cách ngẫu nhiên hay tùy hứng mà thôi. Trong kho lưu trữ của Viện Nghiên cứu Hán-Nôm hiện còn lưu giữ nhiều tài liệu cổ (chép tay) về Nguyễn Bỉnh Khiêm có sử dụng danh xưng Việt Nam như một quốc hiệu tiền định. Ngay trong phần đầu của tập "Sấm ký" có tựa đề "Trình tiên sinh quốc ngữ", tên gọi Việt Nam đã được nhắc đến: "Việt Nam khởi tổ xây nền". Danh xưng Việt Nam còn được sử dụng một lần nữa trong bài thơ chữ Hán của ông có tựa đề "Việt Nam sơn hà hải động thưởng vịnh" ("Vịnh về non sông đất nước Việt Nam"). Ngoài ra còn có hai bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm gửi hai người bạn thân đồng thời là hai Trạng nguyên của triều Mạc, cho thấy tên gọi Việt Nam được dùng như một sự chủ ý. Bài thứ nhất gửi Trạng nguyên, Thư Quốc công Nguyễn Thiến, hai câu cuối Nguyễn Bỉnh Khiêm viết: "Tiền trình vĩ đại quân tu ký / Thùy thị phương danh trọng Việt Nam" ("Tiền đề rộng lớn ông nên ghi nhớ, Ai sẽ là kẻ có tiếng thơm được coi trọng ở Việt Nam?"). Bài thứ hai gửi Trạng nguyên, Tô Khê hầu Giáp Hải, hai câu cuối Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng viết: "Tuệ tinh cộng ngưỡng quang mang tại / Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam" (Cùng ngửa trông ngôi sao sáng trên bầu trời, Trước sau soi ánh sáng rực rỡ vào nước Việt Nam). Các bài thơ trên còn được chép trong tập thơ chữ Hán của ông là "Bạch Vân am thi tập". Hiện vật lịch sử. Ngoài khu vực di tích và đền thờ Trình Quốc công thuộc địa phận 2 huyện Vĩnh Bảo (quê nội Nguyễn Bỉnh Khiêm) và Tiên Lãng (quê ngoại Nguyễn Bỉnh Khiêm) của Thành phố Hải Phòng, các nhà nghiên cứu Hán Nôm tại Việt Nam đã phát hiện một số di vật lịch sử có giá trị lớn không chỉ về Nguyễn Bỉnh Khiêm mà còn về thời Mạc nằm trong địa phận 2 huyện Thái Thụy và Quỳnh Phụ (sau khi hợp nhất 2 huyện cũ là Quỳnh Côi và Phụ Dực) của tỉnh Thái Bình tiếp giáp với huyện Vĩnh Bảo của Thành phố Hải Phòng. Trong bài viết “Bài văn bia ghi việc tạc tượng Tam giáo, chùa Cao Dương của Trình Quốc công” ("Tạp chí Hán Nôm" số 1, 1990) của hai tác giả Đinh Khắc Thuân và Vũ Tuấn Sán có đoạn: Trong bài viết “Hai tấm bia Trạng Trình soạn mới phát hiện ở Thái Bình” ("Tạp chí Hán Nôm" số 6, 2002), nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Hữu Tưởng mô tả chi tiết 2 tấm bia có niên đại thời Mạc do chính Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn văn và cho khắc đá: Trong đợt khảo sát khác cũng thuộc địa bàn huyện Quỳnh Phụ của tỉnh Thái Bình, nhà nghiên cứu Trang Thanh Hiền ("Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật" số 355, 2014) có mô tả sơ lược về tấm bia cầu Diên Thọ ("Diên Thọ kiều bi") do Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn năm 1568: Đây được xem là những phát hiện lịch sử có giá trị lớn về Nguyễn Bỉnh Khiêm và thời Mạc bởi chúng giúp giải đáp hoặc bác bỏ nhiều tồn nghi qua nhiều thời đại về cuộc đời thực của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Qua 3 tấm văn bia còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn tại 2 huyện Quỳnh Phụ và Thái Thụy của tỉnh Thái Bình, chúng ta có thể biết đích xác một vài thông tin lịch sử quan trọng là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chính thức nghỉ hưu (trí sĩ) ở quê nhà Trung Am và được vua Mạc phong tước "Quốc công" (đứng liền trên tước "Quận công" và đứng ngay dưới tước "Vương" trong thứ bậc phong tước hiệu của các triều đại phong kiến Trung Quốc và Việt Nam ngày trước) từ trước năm 1568, tức là sớm hơn 17 năm trước khi ông qua đời. Điều này trực tiếp bác bỏ quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu là ông chỉ được truy phong tước "Công" sau khi mất (1585). Nó cũng đồng thời gián tiếp bác bỏ quan điểm gần như đã trở thành quen thuộc của giới nghiên cứu là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sớm về hưu sau có 7 năm (1535–1542) làm quan dưới triều Mạc và không còn quay lại tham chính sau đó. Việc Nguyễn Bỉnh Khiêm được phong tước hiệu "Quốc công" ("Trình Quốc công") ngay khi ông còn sống đã cho thấy sự khoản đãi và trân trọng của vua Mạc với ông lớn tới cỡ nào. Bởi tước "Công" thường chỉ được ban tặng cho những người thân thích trong hoàng tộc và những người có công lớn trong các cuộc dẹp loạn cứu giá hay các cuộc chiến chống giặc ngoại xâm. Ông không phải người thân thích trong hoàng tộc nhà Mạc, cũng không phải quan tướng cầm quân ra trận. Ông là một văn nhân Nho gia điển hình như sử sách và cả thơ văn của chính ông vẫn thường mô tả. Thực tế cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng cho thấy ông chưa bao giờ bị ràng buộc bởi "giấc mộng công hầu". Sử sách (như của Phan Huy Chú) cũng ghi nhận rằng ông mang lý tưởng giúp đời hơn là ôm tham vọng thăng quan tiến chức, bởi suốt những năm trai trẻ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chủ động không ứng thí nhiều khoa thi cuối triều Lê sơ và cả đầu triều Mạc. Ông chỉ bước vào chốn quan trường khi đã gần 50 tuổi, sau nhiều năm đứng ngoài quan sát thời cuộc. Đường quan lộ của ông kéo dài chưa đầy 30 năm, tính từ năm ông đậu Trạng nguyên ở tuổi 45 (1535) cho tới khi chính thức cáo quan về nghỉ hưu ở độ tuổi 73 như trong thơ văn của ông đã xác nhận. Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với một sai sót lịch sử cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm là ông chỉ có 7 năm (1535–1542) làm quan dưới triều Mạc rồi cáo quan về sống và dạy học ở quê nhà Trung Am cho đến lúc mất. Thực tế lịch sử phong kiến Việt Nam cho thấy phong cách "làm quan tại gia" (không ở thường trực tại kinh đô nhưng vẫn đủ quyền hành vua ban để có thể tác động đến chính sự từ xa) như Nguyễn Bỉnh Khiêm là thực sự ít gặp. Trước ông có trường hợp Chu Văn An nhưng sự nghiệp của Văn An chủ yếu nghiêng về mặt giáo dục hơn là tác động đáng kể đến chính sự nhà Trần. Đặt giả thiết nếu sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ có 7 năm (trong cả cuộc đời kéo dài gần một thế kỷ của ông) phục vụ dưới triều Mạc và nếu ông không có những công tích đặc biệt với triều đại thì vua Mạc lấy lý do chính đáng nào để ban tước hiệu lớn đến vậy (tước "Quốc công", Trình Quốc công) cho ông ngay lúc sinh thời, như nội dung 3 tấm văn bia được phát hiện tại tỉnh Thái Bình đã cho biết? Cần nhớ rằng, một công thần bậc nhất của nhà Mạc như Trạng nguyên Giáp Hải (1515–1586?) cũng chỉ được thăng đến tước "Công" sau khi ông đã có nhiều năm hết lòng phụng sự triều đại. Cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm, những nhân vật có công không nhỏ với công cuộc trung hưng thành công của nhà Lê-Trịnh cuối thế kỷ 16 là Phùng Khắc Khoan (1528–1613) và Nguyễn Hoàng (1525–1613) cũng chưa được phong quá tước "Công" lúc còn sống. Cũng cần nhớ thêm rằng, một khai quốc công thần hàng đầu của nhà Lê sơ như Nguyễn Trãi (1380–1442), có công lớn với triều Hậu Lê đến mức tưởng chỉ đứng sau Lê Thái Tổ (Lê Lợi), nhưng chỉ được phong đến tước "Hầu" (tước phong của Nguyễn Trãi là "Quan Phục hầu", đứng áp chót trong thứ bậc phong hầu cho các công thần nhà Lê sơ sau khi kháng chiến chống quân Minh thắng lợi) lúc sinh thời. Sau thảm án Lệ Chi Viên, Lê Thánh Tông đã xuống chiếu chiêu tuyết cho Nguyễn Trãi, nhưng cũng chỉ truy tặng ông tước "Bá" ("Tán Trù bá"), hạ bậc tước phong của Nguyễn Trãi khi còn sống. Sau đó, Lê Tương Dực cũng chỉ truy tặng Nguyễn Trãi trở lại tước "Hầu" ("Tế Văn hầu"). Là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử chính trị và văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 16, cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm đã trải qua gần trọn một thế kỷ nhiều biến chuyển với quy mô tác động chưa từng có trước đó trong lịch sử dân tộc, mà ông vừa là nhân chứng vừa là nhân tố quan trọng tạo nên chúng. Trạng nguyên Giáp Hải, một công thần bậc nhất triều Mạc, đã viết thơ ca ngợi tài lý học của Nguyễn Bỉnh Khiêm và tên tuổi của ông trong giới Nho gia đương thời cũng như công lao của ông đối với triều Mạc, trong đó có những câu sau: Bài văn tế "Môn sinh tế Tuyết Giang phu tử văn" đọc trước linh cữu Nguyễn Bỉnh Khiêm mùa đông năm 1585 do Tiến sĩ Đinh Thì Trung (Đinh Thời Trung) thay mặt các đồng môn soạn ra để tế viếng người thầy của mình. Trong bài văn tế, học trò Đinh Thời Trung đã coi Tuyết Giang phu tử là bậc "muôn chương đọc khắp, học tài chẳng kém Âu, Tô" (Âu Dương Tu và Tô Đông Pha đời Tống), "văn lực không nhường Lý, Đỗ" (Lý Bạch và Đỗ Phủ đời Đường), "một kinh Thái ất thuộc lòng, đốt lửa soi gan Dương Tử" (hiểu rõ lẽ huyền vi của bộ "Thái ất" như Dương Hùng đời Hán), "suy trước biết sau, học lối Nghiêu Phu môn hộ" (suy trước biết sau chẳng khác nào Thiệu Ung đời Tống) và "một mình Lý học tinh thông, hai nước anh hùng không đối thủ". Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân (1702/1703–?), trong bài "Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký" soạn năm 1743 có những dòng ca ngợi:"...Bởi tiên sinh chẳng những chỉ tinh thâm một môn Lý học, biết rõ dĩ vãng cũng như tương lai, mà sự thực thì trăm đời sau cũng chưa dễ ai hơn được vậy. Ôi! Ở trong thiên hạ, các bậc quân vương, các vị hiền giả, hỏi có thiếu chi, nhưng chỉ có lúc sống thì được phú quý vinh hoa, còn sau khi mất thì những cái đó lại cũng mai một đi với thời gian, hỏi còn ai nhắc nữa? Còn như tiên sinh, nói về thế hệ đã truyền đến 7, 8 đời, gần thì sĩ phu dân thứ ngưỡng vọng như bóng sao Đẩu trên trời, dẫu cách ngàn năm cũng còn tưởng như một buổi sớm, xa thì sứ giả Thanh triều tên Chu Xán, nói đến nhân vật Lĩnh Nam cũng đã có câu “An Nam Lý học hữu Trình Tuyền” tức là công nhận môn Lý học của nước An Nam chỉ có Trình Tuyền là người số một, rồi chép vào sách truyền lại bên Tàu. Như thế, đủ thấy Tiên sinh quả là một người rất mực của nước ta về thời trước vậy." Danh sĩ Nguyễn Thiếp (1723–1804), người được Quang Trung Nguyễn Huệ tôn kính như bậc thầy, từ xứ Nghệ ra Bắc, về trấn Hải Dương mong tìm lại những dấu tích gắn với cuộc đời của Bạch Vân cư sĩ, đã ngậm ngùi viết trong bài thơ "Quá Trình Tuyền mục tự" (Qua chùa cũ của Trình Tuyền) khi viếng cảnh xưa mà không còn am Bạch Vân, quán Trung Tân bên bến Tuyết Giang, trong đó có những dòng thơ ca ngợi Trình Tuyền hầu Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có tài "áo cơ thâm tạo hóa" (mưu cơ thâm kín can dự cả vào công việc của tạo hóa) hay "phiến ngữ toàn tam tính" (một lời ngắn gọn mà bảo toàn cho cả ba họ). Phạm Đình Hổ trong "Vũ trung tùy bút" đã viết: "Lý học như Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan đều là tinh anh của non sông đúc lại". Phan Huy Chú, danh sĩ thời nhà Nguyễn, trong bộ sách "Lịch triều hiến chương loại chí" đã xem Nguyễn Bỉnh Khiêm là "một bậc kỳ tài, hiền danh muôn thuở". Cũng như thời Lê-Trịnh ở Đàng Ngoài và thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, người thời nhà Nguyễn (1802–1945) nói chung cũng không có mấy thiện cảm về những gì liên quan đến nhà Mạc, triều đại đối địch hàng đầu với các dòng họ thế lực Lê-Trịnh-Nguyễn vốn cùng phát tích ở xứ Thanh. Thêm một lý do lịch sử nữa là tổ phụ của các vua chúa nhà Nguyễn là Nguyễn Kim (thân phụ của Nguyễn Hoàng) đã bị đầu độc chết bởi tay một hàng tướng của nhà Mạc là Dương Chấp Nhất. Cho nên, dù không đến mức thâm thù gọi tên "Ngụy Mạc" như triều Lê-Trịnh nhưng triều Nguyễn cũng không mấy tôn trọng khi gọi "Nhuận Mạc". Tuy vậy, vua Tự Đức cũng không hề giấu sự ngưỡng mộ dành cho tài năng và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm thông qua bài thơ thất ngôn tứ tuyệt sau: Nguyên Tổng bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười về thăm khu di tích Trạng Trình đã ghi những hàng chữ lưu niệm: "Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ, nhà văn, một thầy giáo, một nhà triết học, một nhà dự báo, một danh nhân văn hóa như cây đại thụ bóng trùm cả một thế kỷ XVI. Tấm lòng yêu nước, thương dân tha thiết, nhân cách cao cả cùng với tri thức uyên bác và tài năng sáng tạo đã tạo nên sự nghiệp, uy tín và ảnh hưởng rộng lớn của ông mà đến nay chúng ta rất đỗi tự hào, trân trọng." Giáo sư Vũ Khiêu có những đánh giá về việc Nguyễn Bỉnh Khiêm đã quyết định đi theo phò tá triều Mạc mà không phải là nhà Lê: "Vì sao nhà trí thức kiệt xuất này, suốt cuộc đời cho đến lúc gần 50 tuổi vẫn nhất định không chịu đi thi, không chịu cộng tác với nhà Lê, không nhận bất cứ công việc gì của nhà Lê để cuối cùng chọn Mạc Đăng Dung như minh chủ của mình? Theo những người xuyên tạc nói thì Nguyễn Bỉnh Khiêm bất đắc dĩ phải theo nhà Mạc mà thôi. Thực ra trước những thành công và tiến bộ nhất định của nhà Mạc Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thực sự vui mừng, tin tưởng ở một xã hội thanh bình và thịnh trị do triều đại mới đem lại: “Mừng thấy thời vần đời mở trị / Thái bình thiên tử, thái bình dân”. Ông quyết định ra phục vụ nhà Mạc, coi đó là sự lựa chọn đúng đắn của bậc trượng phu và người quân tử: “Quân tử mới hay nơi xuất xứ / Trượng phu cũng có chí anh hùng”. Họ còn nói: ông đã nửa chừng bỏ triều Mạc để về quê. Không phải như thế! Ngược lại, ông đã suốt đời đem hết tâm lực để phục vụ triều Mạc trên mọi lĩnh vực văn học, chính trị, quân sự coi như nghĩa vụ lớn lao của mình: “Ba đời chúa được phúc tình cờ / Ơn nặng chưa từng báo tóc tơ”. Cho đến lúc ông 70 tuổi dù được về nghỉ ở quán Trung Tân, ông vẫn bày tỏ thái độ chung thuỷ với các vua Mạc vẫn nhiều lúc về thăm vua, nhiều lúc theo vua ra mặt trận: “Xem lại tuổi đời ngoài bảy chục / Chỉ vì già yếu há quên vua”. Tấm lòng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và thái độ của ông do chính ông tự tay viết ra và còn để lại đã bác bỏ mọi sự xuyên tạc vô căn cứ về ông. Những lời tâm huyết trong thơ của ông khiến người đời sau phải suy nghĩ vì sao ông lại gắn bó với Mạc Đăng Dung và triều Mạc đến thế." GS Vũ Minh Giang (Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng: "Sự dấn thân muộn màng của một con người tài năng bộc lộ từ khi còn bé chứng tỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm không thuộc người lãnh đạm với thời cuộc, mà trái lại ông là người có lý tưởng cao hơn nhiều so với chí hướng thi đỗ làm quan, vinh thân phì gia thường thấy ở phần lớn nho sỹ. Ông chỉ tham dự vào chính trường khi cảm thấy thời cuộc cần đến mình, khi hoàn cảnh chính trị có thể tạo điều kiện cho ông đem tài trí ra giúp đời, phụng sự đất nước". Giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong bài tham luận "Bước đầu suy nghĩ về văn học Mạc" đã đánh giá về Nguyễn Bỉnh Khiêm: "...Ông là một nhà văn hóa, và riêng ở bình diện văn hóa mà nói thì tầm vóc không thua kém Nguyễn Trãi là mấy, phần nào đấy còn khai phá vào một vài lĩnh vực sâu hơn. Bởi ông chuyên về dịch học. Chính ông xây dựng nền tảng của tư tưởng biện chứng trong Kinh Dịch, góp vào lịch sử tư tưởng Việt Nam một số kiến giải mới mẻ. Là một nhà dịch học nên ông nổi tiếng là bậc tiên tri, nhưng ông cũng lại là một nhà thơ lớn. Ông viết đến một nghìn bài thơ chữ Hán. Đây là con số mà từ thời đại Mạc trở về trước hoàn toàn chưa có..." Giáo sư Nguyễn Tài Thư trong tác phẩm "Nghiên cứu Kinh Dịch" (Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, 2002) đã có những đúc kết về di sản Lý học (Dịch học) của Trạng Trình: "Chiêm nghiệm những nguyên lý của Chu Dịch, đưa nó vào xử thế mà ông nổi tiếng là người nhìn xa trông rộng. Những sự kiện Nguyễn Bỉnh Khiêm tiên đoán nhà Lê trung hưng, chỉ cho nhà Mạc lên Cao Bằng, khuyên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Hóa Châu đã được lịch sử chứng minh là tài tình, thì ở đây không có gì là lời nói gặp may, mà là những dự đoán có cơ sở thực tế vững vàng, đáng được nhân dân tôn ông làm nhà tiên tri. Quả thật, học Dịch và hiểu Dịch như ông xưa nay không phải là nhiề". Nhà nghiên cứu Trần Khuê trong tham luận hội thảo khoa học “Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc” (1991) đã có những đúc kết tinh tế về hành trạng cuộc đời cũng như tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất thân từ cửa Khổng, ông đi ngang qua sân nhà Lão tử, rồi dừng lại trước cửa Thiền, suy ngẫm về giáo lý và đạo lý, cuối cùng ông đã trở về với đồng ruộng và lũy tre xanh của làng quê Việt Nam, hay nói khác đi, ông đã trở về với dân tộc. Suốt đời ông, ông đã sống như mình cần sống và đã hành động như mình cần hành động.” Quan điểm trái chiều. Khi so sánh Nguyễn Bỉnh Khiêm với một nhân vật lỗi lạc khác của trấn Hải Đông là Nguyễn Trãi, các nhà nghiên cứu đều không quên so sánh những khác biệt cơ bản về thời đại sống của hai danh nhân này. Xét về nhiều mặt, thời của Nguyễn Bỉnh Khiêm phát triển và phức tạp hơn hẳn thời của Nguyễn Trãi, đặc biệt là các quan hệ xã hội và kinh tế. Thời của Nguyễn Trãi, kẻ sĩ gần như chỉ có một lựa chọn trên con đường kiến lập công danh sự nghiệp là hướng về triều đình cai trị ở Thăng Long. Cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm trong giai đoạn khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam, kẻ sĩ đồng thời có vài con đường lập nghiệp khác nhau như những lựa chọn của Nguyễn Dữ, Dương Văn An, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Đào Duy Từ... Đánh giá về Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng phụ thuộc vào cách nhìn qua những thời đại khác nhau về triều Mạc - triều đại mà ông đã tận trung cho đến cuối đời nhưng là triều đại có nhiều xung đột lịch sử gay gắt với những triều đại quyền lực phát tích từ xứ Thanh như nhà Lê sơ, nhà Lê-Trịnh, và cả nhà Nguyễn sau này. Nhìn nhận về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bên cạnh những dòng ca ngợi thường thấy về nhân cách, ảnh hưởng lịch sử, đóng góp cho văn hóa dân tộc thì người ta cũng không quên phê bình cái nhìn trong thơ văn của ông với chính thời đại ông. Tác giả Trần Khuê (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) trong “Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc” nhìn nhận: Tác giả Nguyễn Hữu Sơn (Viện Văn học) trong “Đời và thơ Phùng Khắc Khoan trong bối cảnh văn hóa Đại Việt thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII” cũng có những nhận định khá tương đồng với Trần Khuê: Về nhãn quang chính trị của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có nhiều quan điểm đánh giá trái chiều nhau qua các thời đại, có cả ca ngợi và cũng không ít ý kiến mang tính phê bình, ít nhiều trách móc ông. Đặc biệt là câu chuyện vốn đã nổi tiếng trong sử sách về việc ông vốn là một trung thần của nhà Mạc nhưng lại không từ chối bày mưu hiến kế cho các họ Lê-Trịnh-Nguyễn, những thế lực thù địch hàng đầu của họ Mạc. Nhà nghiên cứu văn hóa phương Đông Trần Ngọc Vương trong bài viết “Lưỡng đầu chế thời Lê-Trịnh và những hệ quả lịch sử của nó” có những nhận xét mang tính đại diện cho luồng quan điểm phê bình trong đánh giá về Nguyễn Bỉnh Khiêm: Thậm chí đã có một bài thơ thất ngôn bát cú khuyết danh được lưu truyền tới nay, nói về Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa hàm ý ca ngợi nhưng cũng ngầm ý trách móc ông: "Thần cơ huyền bí rất tinh thông" "Xứ xứ, ai ai cũng biết ông" "Một nước Chu, Trình danh giá trọng" "Hai triều Lê Mạc nợ nần chung" "Biết rằng song Tấu bay chân ngựa" "Sao chẳng non thương dấu cánh hồng" "Ví dậy suối vàng xin hỏi lại" "Dong thân còn có đất nào không?" Tương truyền thuở nhỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên là Văn Đạt. Mẹ ông là Nhữ thị vốn tinh thông tướng số và có ước vọng là lấy chồng làm vua hoặc có con làm vua. Do đó trong quá trình dạy dỗ, bà đã truyền cho ông mơ ước ấy rồi. Một hôm khi bà đi vắng, ông Định ở nhà với con và tình cờ hát: "Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung". Không ngờ Nguyễn Bỉnh Khiêm nhanh nhảu ứng đối lại ngay: ""Vịn tay tiên, nhè nhẹ rung"." Khi bà về đến nhà, ông rất tâm đắc kể lại chuyện ấy thì bị bà trách nuôi con mong làm vua làm chúa cớ sao lại mong làm bầy tôi ("nguyệt" chỉ bầy tôi). Lại một lần khác bà dạy Nguyễn Bỉnh Khiêm câu hát ""Bống bống bang bang, ngày sau con lớn con tựa ngai vàng"." Ông Định hoảng sợ vì nếu triều đình hay được sẽ mất đầu về tội khi quân nên sửa lại: ""Bống bống bang bang, ngày sau con lớn con vịn ngai vàng"." Nhiều lần như vậy, bà rất bất bình nên bỏ đi. Nguyễn Bỉnh Khiêm lớn lên chỉ được ở cạnh bố. Tương truyền sau đó bà lấy một người họ Phùng và sinh ra Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Sau chính Khắc Khoan trở thành học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bà Nhữ Thị vẫn không thoả chí vì họ Phùng không có chí làm vua. Mãi sau này bà Nhữ tình cờ gặp một trang nam nhi làng chài đang kéo lưới mà bà tiếc nuối vì cho rằng người này có số làm vua, còn tuổi mình đã cao. Người đó chính là Mạc Đăng Dung, vị vua khai triều của nhà Mạc. Năm 1985, tại Thành phố Hải Phòng, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phối hợp với Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học về Danh nhân văn hoá Nguyễn Bỉnh Khiêm nhân kỷ niệm 400 năm ngày mất của ông. Tại hội thảo này, các nhà khoa học đã đánh giá, khẳng định về tầm vóc của Trạng Trình và ghi nhận những đóng góp của Nguyễn Bỉnh Khiêm với thời đại ông sống cũng như với lịch sử dân tộc. Năm 1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Sở Văn hoá Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức cuộc Hội thảo khoa học kỷ niệm 500 năm ngày sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm với chủ đề "Nguyễn Bỉnh Khiêm trong sự phát triển văn hoá dân tộc". Cũng trong năm 1991, khu di tích gắn với cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Cuối năm 2000, nhân kỷ niệm 415 năm ngày mất của Trạng Trình, Ủy ban nhân dân Thành phố Hải Phòng cho khởi công xây dựng dự án nâng cấp tạo dựng cả một vùng rộng lớn thành quần thể "Khu di tích danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm" tại thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo với nhiều hạng mục công trình: Đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm với ba gian tiền đường, hai gian hậu cung, phía trước có hai hồ nước tượng trưng cho trời và đất, bức hoành phi trong đền ghi 4 chữ "An Nam Lý Học"; Khu vực hồ Thái Nhâm phía trước đền thờ, trên khoảng đất nhỏ giữa hồ có cầu bắc qua còn lưu giữ tấm bia đá làm năm Vĩnh Hựu thời Lê Trung Hưng (1736) ghi lại việc làm đền thờ Trạng và tên những người đã đóng góp xây dựng đền; Ngôi nhà ba gian lợp cói dựng phía sau đền, mô phỏng am Bạch Vân, nơi Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi từ quan về dạy học; Quần thể vườn tượng, với kích thước tương đương người thật, diễn tả lại cuộc đời, cảnh dạy học khi xưa của Trạng Trình, tạo nên một khung cảnh gần gũi và sống động với du khách; Phần mộ cụ Nguyễn Văn Định, cha của Trạng Trình (riêng phần mộ của Trạng Trình đến nay vẫn chưa có thông tin chính thức về địa điểm cụ thể); Nhà trưng bày về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm; Quán Trung Tân, nơi lưu giữ quan niệm mới về chữ "Trung" hướng lòng theo "Chí Trung Chí Thiện"; Khu vực tượng đài Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng đá granit cao 5,7m, nặng 8,5 tấn cùng hai bức phù điêu diễn tả lại cuộc đời sự nghiệp của Trạng Trình và lịch sử của địa phương, phía trước tượng đài là hồ bán nguyệt rộng 1.000m²; Chùa Song Mai, Nhà thờ tổ là nơi thờ bà Minh Nguyệt, người vợ thứ ba của Trạng Trình đã từng tu hành tại đây; Tháp Bút Kình Thiên với ngụ ý ca ngợi công đức Trạng Trình như cột trụ chống trời. Khu di tích được xây dựng khang trang đã trở thành điểm du lịch văn hóa lớn của Thành phố Hải Phòng. Nhân kỷ niệm ngày mất của ông, giáo sư Vũ Khiêu viết Chúc văn tưởng niệm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, sau được in trong tập “Danh nhân văn hoá Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm” do Nhà xuất bản Hải Phòng ấn hành năm 2001 có đoạn: "Ngoài vòng danh lợi: đôi làn mây trắng bay cao Trong cuộc bể dâu: một tấm lòng son chẳng đổi" Trên quê ngoại ông ở thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng được thờ cùng với mẹ Nhữ Thị Thục và ông ngoại Nhữ Văn Lan tại Từ đường họ Nhữ - Nguyễn trong quần thể di tích có lăng mộ của vợ chồng Tiến sĩ Thượng thư Nhữ Văn Lan cùng con gái Nhữ Thị Thục (mẹ của Trạng Trình). Văn miếu Mao Điền ở Hải Dương và Văn miếu Trấn Biên ở Đồng Nai đều có tượng và bài vị thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đình làng Thanh Am (tên cũ là Hoa Am) thuộc phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội ngày nay, được xây dựng từ cuối thế kỷ XVI là nơi thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm như một vị Thành hoàng của làng. Tên gọi cũ là Hoa Am cũng do Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc sinh thời đặt cho làng trong thời gian ông làm quan dưới triều Mạc. Khi về già, ông vẫn lui tới đây khuyên dân làm nghề nông nuôi tằm ươm tơ dệt lụa. Khi ông mất, nhân dân ghi nhớ công lao, tôn sùng ông là một trong các vị Thành Hoàng của làng. Cụm đình, chùa làng Thanh Am có bề dày lịch sử với những sắc phong, thần phả, sấm ký và nhiều tư liệu còn giữ. Đạo Cao Đài đã phong thánh cho Nguyễn Bỉnh Khiêm và suy tôn ông là Thanh Sơn Đạo sĩ hay Thanh Sơn Chơn nhơn, là một trong ba vị thánh linh thiêng của Đạo. Bức tranh Tam Thánh ký hòa ước lưu thờ tại Tòa Thánh Tây Ninh có vẽ chân dung của Nguyễn Bỉnh Khiêm bên cạnh Victor Hugo và Tôn Trung Sơn. Ngày 7 tháng 1 năm 2016 (tức ngày 28 tháng 11 năm Ất Mùi), tại Khu di tích và đền thờ Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, UBND Thành phố Hải Phòng đã trọng thể kỷ niệm 430 năm ngày mất của ông và đón nhận bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt do Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thay mặt Chính phủ trao tặng. Buổi lễ đã được truyền hình trực tiếp trên sóng VTV2 của Đài Truyền hình Việt Nam. Đây là di tích quốc gia đặc biệt thứ hai của Hải Phòng sau danh lam thắng cảnh quần đảo Cát Bà được xếp hạng vào năm 2013. Tên của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được lấy đặt cho nhiều con đường, trường học trên khắp đất nước. Tại Hải Phòng có một con phố mang tên Trạng Trình và con đường mang tên Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tại Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn), đường Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộc phường Bến Nghé, quận 1 (được đổi từ tên đường Angier vào năm 1955) là một trong những con đường lưu giữ nhiều giá trị lịch sử-văn hoá-kiến trúc bậc nhất của thành phố, bao gồm những công trình tiêu biểu như Thảo Cầm Viên Sài Gòn, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, Đền thờ các vua Hùng và Trường THPT công lập Trưng Vương.
Trong toán học, và cụ thể hơn là lý thuyết tập hợp, tập hợp rỗng (hay còn gọi là tập rỗng) là tập hợp duy nhất không chứa phần tử nào. Trong lý thuyết tập hợp tiên đề ("axiomatic set theory"), tiên đề về tập rỗng thừa nhận sự tồn tại của tập rỗng, và mọi tập hữu hạn đều được xây dựng từ tập rỗng. Ký hiệu chuẩn cho tập rỗng là formula_1 hoặc ∅, do nhóm Bourbaki (cụ thể là André Weil) đưa ra năm 1939. Các ký hiệu này không nên bị nhầm lẫn với nguyên âm Øø của các ngôn ngữ vùng Scandinavia và chữ cái Hy Lạp Φ. Một ký hiệu thông dụng khác cho tập rỗng là {}. Để so sánh, ta đặt ba ký hiệu cạnh nhau: ∅ Øø Φ – ký hiệu tập rỗng (ký hiệu đầu tiên) được dựa trên một đường tròn hình học, trong khi chữ cái Scandinavia giống như một chữ hình ôval 'O'. Chú ý: Tập hợp {∅} không phải là tập rỗng mà là tập hợp có chứa 1 phần tử tên là rỗng. Tập rỗng "∅" có mã unicode U+2205. Mã soạn thảo bằng TeX là \emptyset và \varnothing, cho ra các hình tương ứng là: * Luôn đúng với mọi phần tử thuộc tập rỗng (sự thật hiển nhiên) * Luôn sai với mọi phần tử thuộc tập rỗng * Tính chất đúng với mọi phần tử thuộc V * Tính chất không đúng với mọi phần tử thuộc V
Trong toán học, tổ hợp afin của các vectơ "x", "x""n" là một tổ hợp tuyến tính được định nghĩa như sau: trong đó tổng các hệ số bằng 1, tức là: Ở đây, giả sử các vector nằm trong một không gian vectơ cho trước "V" trên một trường "K" và các hệ số là số vô hướng thuộc "K". Khái niệm này quan trọng, chẳng hạn trong hình học Euclide. Một tổ hợp afin của các điểm bất động của một phép biến đổi afin cũng là một điểm bất động, vì vậy các điểm bất động này tạo ra một không gian con afin (trong không gian 3 chiều: một đường thẳng hay một mặt phẳng, và trong các trường hợp tầm thường, là một điểm hay cả không gian). Giả sử các điểm trong không gian tương ứng với các vectơ. Hình dung tình huống sau: người A biết một điểm cụ thể là điểm gốc của không gian, trong khi đó người B lại cho rằng điểm khác - ta gọi nó là p - là điểm gốc. Hai người thực hiện phép cộng a và b. Theo phép cộng vectơ thông thường, B sẽ vẽ một mũi tên từ p đến a và một mũi tên khác từ p đến b, rồi vẽ tiếp một hình bình hành để tìm một điểm mà B nghĩ rằng đó là a + b. Nhưng thực ra, đối với A thì đó là điểm hình thành từ phép tính p + (a − p) + (b − p). Tương tự, nếu A và B cứ thử làm nhiều tổ hợp tuyến tính khác nhau của a và b, hoặc tổ hợp tuyến tính của một số hữu hạn vector như vậy, A và B nhìn chung sẽ có thu được những kết quả khác nhau. Thế nhưng - chúng ta có một lưu ý: Nếu tổ hợp tuyến tính giữa a và b là một tổ hợp affine, nghĩa là tổng các hệ số bằng 1, khi đó A và B luôn có cùng một kết quả. Vấn đề ở chỗ là: A đang làm việc trên "cấu trúc tuyến tính", nhưng cả A và B đều đang làm việc trên "cấu trúc afin" - tức là, trên giá trị của các tổ hợp afin. Một điều cần lưu ý nữa là: chỉ có tổng các hệ số bằng 1 thì mới có kết quả nói trên.
Trong toán học, bao afin của tập hợp "S" trong không gian Euclide R"n" là tập afin nhỏ nhất chứa "S", hay định nghĩa tương đương: bao afin là giao của tất cả các tập afin chứa "S". Ở đây, "tập afin" được hiểu là một tập sinh ra do sự tịnh tiến một không gian con vectơ. Bao afin của "S" - ký hiệu là aff("S") là tập hợp tất cả các tổ hợp affine của các phần tử thuộc "S", tức là: Các tập liên quan. Nếu thay vì dùng tổ hợp afin ở định nghĩa trên, người ta dùng tổ hợp lồi, tức đòi hỏi thêm một điều kiện là tất cả các formula_2 đều là số không âm, khi đó người ta thu được cái gọi là bao lồi của "S", mà phải nhỏ hơn so với bao afin của "S" vì có thêm điều kiện ràng buộc nói trên. Tuy nhiên, nếu bây giờ chúng ta không đặt bất kỳ giới hạn nào lên các formula_2, tức chúng ta thay tổ hợp afin bằng tổ hợp tuyến tính thì ta được một tập gọi là span tuyến tính của "S", mà hiển nhiên là lớn hơn bao affine của "S".
Solenoid là một dụng cụ được tạo ra bởi một vòng dây dẫn điện quấn theo dạng hình trụ. Khi cho dòng điện chạy qua dây thì sẽ xuất hiện từ trường khá đều trong lòng ống. Cường độ từ trường sinh ra phụ thuộc vào cường độ dòng điện đi qua dây, số vòng dây trên một đơn vị đo [[chiều dài]] của ống dây và phụ thuộc vào kích thước của ống dây. Một solenoid "dài vô hạn" (chiều dài ống lớn hơn rất nhiều so với đường kính của ống) được quấn bởi "n" vòng dây trên một mét mang dòng điện "I" ampe sẽ tạo ra từ trường đồng nhất ở bên trong lòng nó với cường độ: "B" = 4 π
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh (sinh 1942) nguyên là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương ("Central Institute for Economic Management" - CIEM), Hà Nội, Việt Nam. Thân thế và học tập. Lê Đăng Doanh, sinh năm 1942 ở Hà Nội, là con trai của Lê Tư Lành nhà giáo, nhà nghiên cứu lịch sử, văn học. Ông là một trong 350 Moritzburger . Sau khi tốt nghiệp đại học tại trường Đại học Kỹ thuật Leuna-Merseburg (Đức) năm 1967 ông sang Moskva năm 1984 để học bồi dưỡng về quản lý kinh tế và được cấp chứng chỉ tại Viện hàn lâm kinh tế quốc gia Nga. Ông bảo vệ tiến sĩ kinh tế ở Việt Nam năm 1997. Từ năm 1968 đến năm 1978, ông làm chuyên viên Văn phòng Chính phủ Việt Nam và là trưởng phòng ở CIEM từ năm 1987 đến năm 1988. Ông là chuyên viên cao cấp từ năm 1988-1990, từng làm thư ký kinh tế cho văn phòng của các nhà lãnh đạo Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Nguyễn Duy T Ông đã viết rất nhiều bài về kinh tế Việt Nam và về vấn đề tham nhũng. Từ năm 2007 đến 2009, ông là thành viên sáng lập của Viện nghiên cứu Phát triển IDS. Vào đầu tháng 7 năm 2015, Liên Hợp Quốc đã bổ nhiệm Tiến sĩ Lê Đăng Doanh làm thành viên Ủy ban chính sách phát triển của Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 1/1/2016 đến 31/12/2018.
Trong không gian Euclide, một tập hợp được gọi là lồi nếu lấy hai điểm tùy ý thuộc vật thể thì đoạn thẳng nối hai điểm ấy cũng sẽ thuộc vật thể đó. Ví dụ, một khối lập phương đặc ruột là một vật thể lồi, nhưng bất kỳ vật thể nào rỗng ruột hoặc có vết lõm thì không lồi. Giả sử "C" là một tập trong một không gian vector thực hay phức. "C" được gọi là lồi nếu với mọi "x" và "y" thuộc "C" và với mọi "t" trong khoảng[0,1], điểm (1 − "t") "x" + "t y" cũng thuộc "C". Nói cách khác, mọi điểm trên đoạn thẳng nối "x" và "y" đều thuộc "C". Điều này cũng dẫn đến kết luận: tập lồi trong không gian véc-tơ tô-pô thì liên thông, thậm chí là đơn liên. Tập "C" được gọi là lồi tuyệt đối nếu nó lồi và cân bằng. Tập con lồi của R (tập số thực) chẳng qua là các khoảng của R. Một vài ví dụ về tập con lồi trong không gian Euclide 2 chiều là các đa giác đều và các vật thể có chiều rộng hằng số. Một vài ví dụ về tập con lồi trong không gian Euclide 3 chiều là các khối Archimede và các khối Platon. Các khối Kepler-Poinsot là ví dụ về các tập không lồi. Tính chất của tập lồi. Giả sử formula_1 là một tập lồi, formula_2 là các điểm thuộc formula_1, và formula_4 là các số không âm bất kỳ sao cho formula_5, thì tổ hợp lồi formula_6 cũng thuộc formula_1. Giao của một số bất kỳ tập lồi cũng là một tập lồi, vì vậy tất cả các tập con lồi của một không gian vectơ tạo nên một lưới đầy đủ. Điều này cũng có nghĩa là bất kỳ một tập con "A" nào của không gian vectơ cũng có thể được chứa trong một tập lồi nhỏ nhất (gọi là bao lồi của "A"), mà tập lồi này cũng chính là giao của tất cả các tập lồi chứa "A". Giả sử "C" là một không gian vector thực hay phức. "C" được gọi là hình sao nếu tồn tại ít nhất một điểm formula_8 thuộc "C" sao cho đoạn thẳng nối formula_8 đến điểm bất kỳ "y" thuộc "C" cũng được chứa trong "C". Do đó một tập lồi luôn luôn là hình sao nhưng một tập hình sao chưa chắc là tập lồi. Định nghĩa về tập lồi và bao lồi có thể được mở rộng một cách tự nhiên trong hình học phi Euclide, hay tổng quát hơn, trong các đa tạp Riemann, bằng cách định nghĩa tập lồi là tập chứa mọi đường trắc địa nối hai điểm bất kỳ trong tập đó. Tính lồi tổng quát. Khái niệm tính lồi trong không gian Euclide có thể được tổng quát hóa bằng cách sửa đổi định nghĩa ở một vài khía cạnh. Khi đó, người ta gọi chung chúng là "tính lồi tổng quát", vì sau khi sửa đổi, các đối tượng hình thành vẫn còn giữ được một số tính chất đã biết của tập lồi. Tính lồi trực giao. Một ví dụ về tính lồi tổng quát là tính lồi trực giao. Một tập "S" trong không gian Euclide được gọi là lồi trực giao, nếu bất kỳ đoạn thẳng nào song song với một trong các trục tọa độ và nối hai điểm của "S" thì đoạn thẳng đó phải nằm trong "S". Dễ dàng chứng minh rằng giao của một số bất kỳ các tập lồi trực giao cũng là tập lồi trực giao. Ngoài ra, tập lồi trực giao cũng giữ lại được một vài tính chất khác của tập lồi. Tính lồi trừu tượng (tiên đề). Khái niệm tính lồi có thể tổng quát hóa cho nhiều đối tượng khác, bằng cách lựa chọn một số tính chất của tính lồi làm tiên đề.
Nhà xuất bản Penguin Books được Allen Lane thành lập năm 1935-1936. Những sách đầu tiên có nhiều loại - mỗi loại có bìa màu riêng biệt: tiểu sử màu xanh dương đậm, tiểu thuyết màu cam, truyện tội phạm màu xanh lục. Những tác giả đầu tiên gồm có Ernest Hemingway, Eric Linklater và Agatha Christie. Mỗi cuốn sách thời đó chỉ có giá 6 xu, bằng giá một gói thuốc lá.
Dân tộc Silesians đã ở vùng Thượng Silesia từ nhiều thế kỷ trước và đầu tiên được cai trị bởi triều đại Piast Silesia của Ba Lan cho đến khi nó bị tiêu diệt và sau đó trở thành lãnh thổ của Habsburg. Đến thế kỷ 19, khi vùng đất này dưới quyền cai trị của Vương quốc Prussia, Katowice được thành lập và trở thành một thành phố năm 1865. Với các dân tộc Đức, Silesia, Do Thái và Ba Lan, sau cuộc khởi nghĩa Silesia từ 1918 đến 1921, Katowice là một phần của nền Cộng hoà Ba Lan thứ hai. Sau đó, vùng đất này bị phân chia bởi hội đồng đồng minh, chuyển "Kattowitz" về Ba Lan với quyền tự trị khá lớn. Với trữ lượng khoáng sản lớn (đặc biệt là than) ở gần núi, thành phố rất hưng thịnh. Sự thình vượng và phát triển lớn của thành phố phụ thuộc vào công nghiệp khai thác than và công nghiệp thép trong cuộc Cách mạng Công nghiệp. Nhưng ngày nay, kinh tế của Katowice chuyển dịch dần từ công nghiệp nặng sang buôn bán nhỏ. Trong khoảng thời gian từ 1953 đến 1956, Katowice chính quyền cộng sản bị đổi tên thành "Stalinogród" – "Thành phố Stalin". Trong thời kỳ hậu Chiến tranh thế giới thứ hai, dưới sự lãnh đạo của chính quyền cộng sản ở Cộng hoà Nhân dân Ba Lan, đã xảy ra sự tàn phá về mặt sinh thái đối với môi trường tự nhiên. Nhưng gần đây, chính quyền hậu cộng sản của Ba Lan đã thay đổi một số quy định, thủ tục và chính sách nhằm sửa chữa những sự tàn phá này.
Nhà xuất bản McGraw-Hill do James Herbert McGraw và John A. Hill thành lập. Ông James H. McGraw, một giáo viên tại New York, bắt đầu làm nghề xuất bản từ năm 1884. Ông mua bản quyền Tạp chí Dụng cụ Xe Hỏa Hoa Kỳ năm 1888. Khi đó, John A. Hill đang làm chủ bút tập san Kỹ Sư Xe Hỏa. Hai người này tiếp tục theo đuổi việc xuất bản các bài chuyên khoa trong ngành của mình. Năm 1899, McGraw thành lập "The McGraw Publishing Company". Năm 1902, John Hill thành lập "The Hill Publishing Company". Hai ông có quen biết qua lại với nhau trong nhiều lãnh vực nghiên cứu về xuất bản khoa học kỹ thuật. Năm 1909, hai nhà xuất bản kết hợp thành "McGraw-Hill Book Company". John Hill giám đốc, McGraw phó giám đốc. Hai nhà xuất bản tuy nhiên vẫn có một số hoạt động riêng biệt. Năm 1916 John Hill mất. Năm 1917, James McGraw kết hợp các phần còn lại của hai nhà xuất bản, tạo thành "McGraw-Hill Publishing Company".
Hang Con Moong (theo tiếng địa phương có nghĩa là "hang con thú") là một hang đá trong Vườn quốc gia Cúc Phương. Tuy Vườn quốc gia Cúc Phương phần lớn thuộc tỉnh Ninh Bình nhưng hang Con Moong lại thuộc xã Thành Yên, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 23/11/2016, hang Con Moong và các di tích phụ cận đã được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt. Hang được phát hiện tháng 11 năm 1974 và khai quật lần đầu tiên năm 1976. Đây là một hang thông hai đầu, dài khoảng 30–40 m, trần hang cao 8,41 m. Bằng "phương pháp Cácbon 14" (C14), các nhà khoa học đã chứng minh niên đại của các lớp đất đá trong hang là 15 ngàn năm (lớp cuối), 12-10 ngàn năm (lớp giữa) và 7-10 ngàn năm (lớp trên). Các lớp đất đá này cho thấy quá trình phát triển liên tục của con người tiền sử. Tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Khắc Sử (Viện Khảo cổ học Việt Nam) cho rằng hang Con Moong cùng với động Người Xưa, hang Đắng, mái đá Mộc Long và hang Lai tạo thành một quần thể di tích cho thấy một cộng đồng dân cư cư trú trong một thung lũng rộng lớn, có sự thay đổi về dân số, vị trí cư trú và phương thức sản xuất và cộng đồng này góp phần tạo nên văn hóa Đa Bút. Qua các lần khai quật đã phát hiện một số ngôi mộ có di cốt người. Di tích Hang Con Moong gắn với một số di tích hang động ở vườn quốc gia Cúc Phương cho thấy khoảng sau 7000 năm TCN, cư dân nơi đây đã làm một cuộc di cư vĩ đại, vươn ra chiếm lĩnh đồng bằng châu thổ huyện Vĩnh Lộc (Thanh Hóa) và Nho Quan - Tam Điệp (Ninh Bình) tạo dựng nên bộ mặt văn hóa mới - văn hóa Đa Bút - văn hóa Trung kỳ Đá mới Việt Nam. Có thể coi đây là công cuộc di cư khai phá châu thổ sông Hồng và sông Mã đầu tiên trong lịch sử. Các di tích phụ cận. Song song với việc hoàn thiện khai quật hang Con Moong, các nhà khoa học đã khảo sát, khai quật và nghiên cứu các hang động xung quanh khu vực hang Con Moong. Từ Con Moong, trải qua hàng chục ngàn năm do biến đổi của khí hậu, thời tiết dẫn đến môi trường sinh sống được mở rộng, kỹ nghệ chế tác công cụ lao động, sinh hoạt ngày càng tiến bộ, người nguyên thủy đã tách ra từng bầy nhóm, di chuyển đến các hang động Mang Chiêng, hang Diêm, hang Lai, hang Mộc Long, Mái đá Mộc Long, Hang Đắng (Động Người xưa), hang Bố giáo … Những kết quả nhiên cứu đó đã góp phần nâng tầm giá trị lịch sử - văn hóa của quần thể di tích - hang động khu vực hang Con Moong. Di sản văn hóa. Từ năm 2006, Chính phủ Việt Nam đồng ý lập hồ sơ đề cử hang Con Moong là di sản văn hóa thế giới. Nếu di chỉ khảo cổ hang Con Moong và các di chỉ cư trú khác tại Vườn quốc gia Cúc Phương được UNESCO vinh danh, đây sẽ là di sản thế giới liên tỉnh đầu tiên ở Việt Nam.
Microsoft Word là một phần mềm xử lý văn bản được phát triển bởi Microsoft. Nó được phát hành lần đầu vào ngày 25 tháng 10 năm 1983, dưới tên 'Multi-Tool Word' cho hệ thống Xenix. Các phiên bản tiếp theo sau đó được viết cho một số nền tảng khác bao gồm: IBM PC chạy DOS (1983), Apple Macintosh chạy Classic Mac OS (1985), ATT UNIX PC (1985), Atari ST (1988), OS/2 (1989), Microsoft Windows (1989), SCO Unix (1990) và macOS (2001). Sử dụng Wine, các phiên bản của Microsoft Word trước năm 2013 có thể chạy trên Linux. Các phiên bản thương mại của Word được cấp phép dưới dạng sản phẩm độc lập hoặc là một thành phần của bộ phần mềm Microsoft Office, có thể được mua bằng giấy phép vĩnh viễn hoặc là một phần của đăng ký Microsoft 365. Năm 1981, Microsoft thuê Charles Simonyi, nhà phát triển chính của Bravo, người tạo ra GUI Chương trình soạn thảo văn bản đầu tiên, được phát triển tại Xerox PARC. Simonyi bắt đầu làm việc trên một trình xử lý văn bản có tên "Multi-Tool Word" và nhanh chóng đã thuê Richard Brodie, một cựu thực tập sinh Xerox, người đã trở thành kỹ sư phần mềm chính. Microsoft đã công bố Multi-Tool Word cho Xenix và MS-DOS năm 1983 . Tên của nó đã sớm được đơn giản hóa thành 'Microsoft Word'. Các bản trình diễn miễn phí của ứng dụng được đóng gói cùng với số tháng 11 năm 1983 của 'PC World', khiến nó trở thành bản đầu tiên được phân phối trên đĩa với tạp chí. Năm đó Microsoft trình diễn Word chạy trên Windows. Không giống như hầu hết các chương trình MS-DOS vào thời điểm đó, Microsoft Word được thiết kế để sử dụng bằng chuột. Quảng cáo mô tả Microsoft Mouse và mô tả Word là WYSIWYG, trình xử lý văn bản có cửa sổ với khả năng hoàn tác và hiển thị văn bản in đậm, in nghiêng và gạch chân, mặc dù nó không thể hiển thị phông chữ. Ban đầu nó không phổ biến vì giao diện người dùng của nó khác với trình xử lý văn bản hàng đầu vào thời điểm đó, WordStar. Tuy nhiên, Microsoft đều đặn cải tiến sản phẩm, phát hành phiên bản 2.0 đến 5.0 trong sáu năm tới. Năm 1985, Microsoft đã pỏtt Word sang Mac OS cổ điển (được gọi là Phần mềm hệ thống Macintosh vào thời điểm đó). Điều này trở nên dễ dàng hơn nhờ Word for DOS đã được thiết kế để sử dụng với màn hình độ phân giải cao và máy in laser, mặc dù chưa có loại nào sẵn có cho công chúng. Nó cũng đáng chú ý vì chức năng cắt và dán rất nhanh và số lượng thao tác hoàn tác không giới hạn, đó là do nó sử dụng cấu trúc dữ liệu bảng mảnh. Theo tiền lệ của LisaWrite và MacWrite, Word cho Mac OS đã thêm các tính năng WYSIWYG thực sự. Nó đáp ứng nhu cầu về một trình xử lý văn bản có nhiều khả năng hơn MacWrite. Sau khi phát hành, doanh số bán hàng của Word cho Mac OS cao hơn so với đối tác MS-DOS của nó trong ít nhất bốn năm. Bản phát hành thứ hai của Word cho Mac OS, xuất xưởng vào năm 1987, được đặt tên là Word 3.0 để đồng bộ hóa số phiên bản của nó với Word cho DOS; đây là nỗ lực đầu tiên của Microsoft để đồng bộ hóa số phiên bản trên các nền tảng. Word 3.0 bao gồm nhiều cải tiến nội bộ và các tính năng mới, bao gồm cả lần triển khai đầu tiên của đặc tả định dạng RTF, nhưng có nhiều lỗi. Trong vòng vài tháng, Word 3.0 đã được thay thế bằng Word 3.01 ổn định hơn, được gửi miễn phí qua thư cho tất cả người dùng đã đăng ký 3.0. Sau khi MacWrite Pro ngừng hoạt động vào giữa những năm 1990, Word cho Mac OS không bao giờ có bất kỳ đối thủ nặng ký nào. Word 5.1 dành cho Mac OS, được phát hành vào năm 1992, là một trình xử lý văn bản rất phổ biến nhờ tính sang trọng, tương đối dễ sử dụng và bộ tính năng. Nhiều người dùng cho biết đây là phiên bản Word dành cho Mac OS tốt nhất từng được tạo. Năm 1986, một thỏa thuận giữa Atari và Microsoft đã đưa Word lên Atari ST dưới tên "Microsoft Write". Phiên bản Atari ST là một bản port của Word 1.05 cho Mac OS và không bao giờ được cập nhật. Phiên bản đầu tiên của Word cho Windows được phát hành vào năm 1989. Với việc phát hành Windows 3.0 vào năm sau, doanh số bán hàng bắt đầu tăng lên và Microsoft nhanh chóng trở thành công ty dẫn đầu thị trường về bộ xử lý văn bản cho IBM PC-máy tính tương thích. Năm 1991, Microsoft tận dụng sự phổ biến ngày càng tăng của Word dành cho Windows bằng cách phát hành phiên bản Word dành cho DOS, phiên bản 5.5, thay thế giao diện người dùng độc đáo của nó bằng một giao diện tương tự như ứng dụng Windows. Khi Microsoft biết về Sự cố máy tính năm 2000, Microsoft đã cung cấp Microsoft Word 5.5 cho DOS để tải xuống miễn phí. #đổi , phần mềm vẫn có sẵn để tải xuống từ trang web của Microsoft. Năm 1991, Microsoft bắt tay vào một dự án có tên mã là Pyramid để viết lại hoàn toàn Microsoft Word từ đầu. Cả phiên bản Windows và Mac OS sẽ bắt đầu từ cùng một cơ sở mã. Nó đã bị loại bỏ khi người ta xác định rằng nhóm phát triển sẽ mất quá nhiều thời gian để viết lại và sau đó bắt kịp tất cả các khả năng mới có thể được thêm vào cùng một lúc mà không cần viết lại. Thay vào đó, các phiên bản tiếp theo của Word cho Windows và Mac OS, được đặt tên là phiên bản 6.0, cả hai đều bắt đầu từ cơ sở mã của Word cho Windows 2.0. Với việc phát hành Word 6.0 vào năm 1993, Microsoft một lần nữa cố gắng đồng bộ hóa số phiên bản và phối hợp đặt tên sản phẩm trên các nền tảng, lần này là trên DOS, Mac OS và Windows (đây là phiên bản cuối cùng của Word cho DOS). Nó đã giới thiệu AutoCorrect, tự động sửa một số lỗi đánh máy nhất định và AutoFormat, có thể định dạng lại nhiều phần của tài liệu cùng một lúc. Trong khi phiên bản Windows nhận được đánh giá tích cực (vd: từ "InfoWorld"), phiên bản Mac OS đã bị chê bai rộng rãi. Nhiều người cho rằng nó chậm, vụng về và tốn nhiều bộ nhớ, đồng thời giao diện người dùng của nó khác biệt đáng kể so với Word 5.1. Để đáp ứng yêu cầu của người dùng, Microsoft đã cung cấp lại Word 5 sau khi ngừng sản xuất. Các phiên bản tiếp theo của Word cho macOS không còn là bản pỏtt trực tiếp của Word cho Windows, thay vào đó có sự kết hợp giữa mã được chuyển và mã gốc. Word cho Windows có sẵn độc lập hoặc là một phần của bộ Microsoft Office. Word chứa các khả năng xuất bản thô sơ trên máy tính để bàn và là chương trình xử lý văn bản được sử dụng rộng rãi nhất trên thị trường. Các tệp Word thường được sử dụng làm định dạng để gửi tài liệu văn bản qua e-mail vì hầu hết mọi người dùng có máy tính đều có thể đọc tài liệu Word bằng cách sử dụng ứng dụng Word, trình xem Word hoặc trình xử lý văn bản nhập định dạng Word (xem Microsoft Word Viewer). Word 6 cho Windows NT là phiên bản 32-bit đầu tiên của sản phẩm, được phát hành cùng với Microsoft Office cho Windows NT cùng thời điểm với Windows 95. Đó là một bản port đơn giản của Word 6.0. Bắt đầu với Word 95, mỗi bản phát hành Word được đặt tên theo năm phát hành, thay vì số phiên bản.. Word 2007 đã giới thiệu giao diện người dùng được thiết kế lại nhấn mạnh các điều khiển phổ biến nhất, chia chúng thành các tab và thêm các tùy chọn cụ thể tùy thuộc vào ngữ cảnh, chẳng hạn như chọn hình ảnh hoặc chỉnh sửa bảng. Giao diện người dùng này, được gọi là Ribbon, được thêm vào Excel, PowerPoint và Access 2007, sau đó sẽ được đưa vào các ứng dụng Office khác với Office 2010 và các ứng dụng Windows như Paint và WordPad tương ứng với Windows 7. Giao diện được thiết kế lại cũng bao gồm một thanh công cụ xuất hiện khi chọn văn bản, bao gồm các tùy chọn định dạng. Word 2007 cũng bao gồm tùy chọn lưu tài liệu dưới dạng tập tin Adobe Acrobat hoặc XPS, và tải lên các tài liệu Word như các bài đăng trên blog trên các dịch vụ như WordPress. Word 2010 cho phép tùy chỉnh thanh Ribbon, thêm chế độ xem Backstage để quản lý tệp, đã cải thiện điều hướng tài liệu, cho phép tạo và nhúng ảnh chụp màn hình, và tích hợp với các dịch vụ trực tuyến như Microsoft OneDrive. Word 2019 thêm chức năng đọc chính tả. Word 2021 thêm tính năng đồng tác giả, làm mới hình ảnh trên trải nghiệm bắt đầu và các tab, lưu vào đám mây tự động, chế độ tối, tiêu điểm dòng, tab vẽ được cập nhật và hỗ trợ cho ODF 1.3. Phần mở rộng tên tập tin. Các định dạng tệp gốc của Microsoft Word được biểu thị bằng phần mở rộng tên tập tin codice_1 hoặc codice_2 filename extension. Mặc dù phần mở rộng codice_1 đã được sử dụng trong nhiều phiên bản Word khác nhau, nó thực sự bao gồm bốn định dạng tệp riêng biệt: Đuôi tập tin codice_2 mới hơn trở thành chuẩn hóa quốc tế Office Open XML cho các tài liệu Office và được sử dụng theo mặc định bởi Word 2007 trở lên cho Windows cũng như Word 2008 trở lên cho macOS. Định dạng nhị phân (Word 97–2007). Vào cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000, định dạng tài liệu Word mặc định (.DOC) trở thành tiêu chuẩn "de facto" của định dạng tập tin tài liệu cho người dùng Microsoft Office.#đổi Có các phiên bản khác nhau của 'Định dạng Tài liệu Word' được sử dụng theo mặc định trong Word 97–2007. Mỗi tập tin từ nhị phân là một Tập tin hợp chất, một hệ thống tập tin phân cấp trong một tập tin. Theo Joel Spolsky, Định dạng tập tin nhị phân Word cực kỳ phức tạp chủ yếu là do các nhà phát triển của nó phải cung cấp một số lượng lớn các tính năng và ưu tiên hiệu suất hơn bất kỳ thứ gì khác. Như với tất cả các Tập tin Hợp chất OLE, Định dạng Nhị phân Word bao gồm 'bộ lưu trữ', tương tự như thư mục máy tính và 'luồng', tương tự như tập tin. Mỗi bộ nhớ có thể chứa các luồng hoặc bộ nhớ khác. Mỗi Tệp nhị phân Word phải chứa một luồng được gọi là luồng 'WordDocument' và luồng này phải bắt đầu bằng Khối thông tin tập tin (FIB). FIB đóng vai trò là điểm tham chiếu đầu tiên để định vị mọi thứ khác, chẳng hạn như vị trí bắt đầu, kết thúc của văn bản trong tài liệu Word, phiên bản Word nào đã tạo tài liệu và các thuộc tính khác. Word 2007 trở lên tiếp tục hỗ trợ định dạng tệp DOC, mặc dù nó không còn là định dạng mặc định. Tài liệu XML (Word 2003). Định dạng XML .docx được giới thiệu trong Word 2003 là một định dạng dựa trên XML đơn giản được gọi là WordProcessingML hay WordML. Microsoft Office định dạng XML là các định dạng tài liệu dựa trên XML (hay XML schema) được giới thiệu trong các phiên bản của Microsoft Office trước Office 2007. Microsoft Office XP đã giới thiệu một định dạng XML mới để lưu trữ các bảng tính Excel và Office 2003 đã thêm một định dạng dựa trên XML cho các tài liệu Word. Các định dạng này đã được nối theo bởi Office Open XML (ECMA-376) trong Microsoft Office 2007. Khả năng tương thích giữa các phiên bản. Mở tập tin Tài liệu Word trong phiên bản Word khác với phiên bản được tạo có thể khiến tài liệu hiển thị không chính xác. Các định dạng tài liệu của các phiên bản khác nhau thay đổi theo nhiều cách (chẳng hạn như thay đổi phông chữ hoặc xử lý các tác vụ phức tạp hơn như chú thích cuối trang). Định dạng được tạo trong các phiên bản mới hơn không phải lúc nào cũng tồn tại khi được xem trong các phiên bản cũ hơn của chương trình, gần như luôn luôn là do khả năng đó không tồn tại trong phiên bản trước. Định dạng RTF (RTF), một nỗ lực ban đầu để tạo một định dạng để trao đổi văn bản được định dạng giữa các ứng dụng, là một định dạng tùy chọn cho Word giữ lại hầu hết định dạng và tất cả nội dung của tài liệu gốc. Định dạng của bên thứ ba. Plugin cho phép các phiên bản Windows của Word đọc và ghi các định dạng mà nó không hỗ trợ, chẳng hạn như định dạng tiêu chuẩn quốc tế OpenDocument (ODF) (ISO/IEC 26300:2006) có sẵn. Trước khi phát hành Gói dịch vụ 2 (SP2) cho Office 2007, Word vốn không hỗ trợ đọc hoặc viết tài liệu ODF mà không có plugin, cụ thể là Plugin SUN ODF hoặc Trình dịch OpenXML/ODF. Với SP2 được cài đặt, tài liệu ODF định dạng 1.1 có thể được đọc và lưu giống như bất kỳ định dạng được hỗ trợ nào khác ngoài những định dạng đã có sẵn trong Word 2007. Việc thực hiện phải đối mặt với những lời chỉ trích đáng kể, và ODF Alliance và những người khác đã tuyên bố rằng plugin của bên thứ ba cung cấp hỗ trợ tốt hơn. Microsoft sau đó đã tuyên bố rằng hỗ trợ cho ODF có một số hạn chế. Vào tháng 10 năm 2005, một năm trước khi bộ Microsoft Office 2007 được phát hành, Microsoft đã tuyên bố rằng không có đủ nhu cầu từ các khách hàng của Microsoft đối với hỗ trợ định dạng OpenDocument tiêu chuẩn quốc tế và do đó nó sẽ không được đưa vào Microsoft Office 2007. Tuyên bố này đã được lặp lại trong những tháng tiếp theo. Như một câu trả lời, vào ngày 20 tháng 10 năm 2005, một bản kiến ​​nghị trực tuyến đã được tạo ra để yêu cầu hỗ trợ ODF từ Microsoft. Vào tháng 5 năm 2006, plugin ODF cho Microsoft Office đã được phát hành bởi OpenDocument Foundation. Microsoft tuyên bố rằng họ không có mối quan hệ nào với các nhà phát triển plugin. Vào tháng 7 năm 2006, Microsoft đã công bố việc tạo ra dự án Open XML Translator – các công cụ để xây dựng cầu nối kỹ thuật giữa Định dạng Microsoft Office Open XML và Định dạng Tài liệu Mở (ODF). Công việc này đã được bắt đầu để đáp ứng các yêu cầu của chính phủ về khả năng tương tác với ODF. Mục tiêu của dự án không phải là thêm hỗ trợ ODF vào Microsoft Office, mà chỉ để tạo một plugin và bộ công cụ bên ngoài. Vào tháng 2 năm 2007, dự án này đã phát hành phiên bản đầu tiên của phần bổ trợ ODF cho Microsoft Word. Vào tháng 2 năm 2007, Sun đã phát hành phiên bản đầu tiên của plugin ODF dành cho Microsoft Office. Phiên bản 1.0 được phát hành vào tháng 7 năm 2007. Microsoft Word 2007 (Gói dịch vụ 1) (chỉ dành cho đầu ra) hỗ trợ định dạng PDF và XPS, nhưng chỉ sau khi cài đặt thủ công tiện ích bổ sung 'Lưu dưới dạng PDF hoặc XPS' của Microsoft. Trên các bản phát hành sau này, tuỳ chọn này được cung cấp theo mặc định.
Chiến dịch Biên giới Chiến dịch Biên giới Thu đông 1950, còn gọi là Chiến dịch Lê Hồng Phong 2, là một chiến dịch trong Chiến tranh Đông Dương do Quân đội nhân dân Việt Nam (được phía Pháp gọi là Việt Minh) thực hiện từ ngày 16 tháng 9 đến 14 tháng 10 năm 1950 nhằm phá vòng vây mà quân viễn chinh của Đệ Tứ Cộng hòa Pháp bố trí nhằm cô lập các căn cứ địa Việt Bắc. Để từ đó khai thông biên giới Việt-Trung để mở đầu cầu tiếp nhận viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc. Mặt khác, Việt Minh sẽ mở rộng căn cứ địa, làm tiêu hao sinh lực quân đồn trú Pháp và thử nghiệm các chiến thuật của Quân đội Nhân dân Việt Nam cho các trận đánh lớn sau này. Đến năm 1949, lực lượng viễn chinh Pháp vẫn chưa chiếm được khu vực Việt Bắc; việc kiểm soát đồng bằng Bắc Bộ diễn ra chậm và thiếu ổn định. Trong khi đó, Việt Minh đã tổ chức lại bộ máy và lực lượng, bắt đầu mở những trận đánh quy mô lớn để chống lại quân Pháp. Ngoài các lực lượng địa phương, Việt Minh đã tập hợp được hai Đại đoàn 308 và Đại đoàn 304, hai trung đoàn 174 và trung đoàn 209 để làm lực lượng cơ động. Trong 5 năm bị cô lập, Việt Minh tích cực mở rộng quan hệ ngoại giao nhằm tìm kiếm sự ủng hộ của quốc tế. Ngày 1 tháng 10 năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập; họ nhanh chóng công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó ngày 18 tháng 1 năm 1950, Liên Xô và các nước Đông Âu công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Uy tín và tiềm lực quân sự của Mặt trận Việt Minh ngày càng tăng ảnh hưởng trong dân chúng. Ngoài ra, Việt Minh cũng thông qua các tổ chức Việt kiều tại Pháp và các tổ chức cánh tả để đấu tranh chính trị, tác động mạnh đến phong trào phản đối cuộc chiến tranh Đông Dương lúc này đang cao trào. Nước Pháp lâm vào cuộc khủng hoảng chính trị chưa từng có. Nhà nước Quốc gia Việt Nam thiếu uy tín trong nhân dân do bị coi là chính phủ bù nhìn; quân đội của họ không đủ năng lực để có thể phối hợp tốt với lực lượng viễn chinh Pháp tại Đông Dương để chiến thắng cuộc chiến. Vì vậy, chính phủ Pháp tính đến phương án chấp nhận các khoản viện trợ quân sự và kinh tế từ chính phủ Hoa Kỳ để tiếp tục cuộc chiến Mục tiêu của chiến dịch. Trước tình hình chiến trường Đông Dương, ngoài việc tăng viện 20 tiểu đoàn lê dương Âu – Phi, quân Pháp còn thực hiện chiến lược Da vàng hóa chiến tranh, tổ chức thêm 35 tiểu đoàn quân đội bản xứ (Quân đội Quốc gia Việt Nam). Nước Mỹ bắt đầu nhảy vào cuộc với viện trợ quân sự cho Pháp và Quốc gia Việt Nam. Tháng 5/1949, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp là tướng Georges Marie Joseph Revers được phái sang Đông Dương nghiên cứu tình hình để vạch ra kế hoạch mới. Theo đó, người Pháp sẽ tăng viện tại Bắc Bộ để củng cố, mở rộng phạm vi ảnh hưởng ở đồng bằng và trung du; giành lấy các nguồn cung ứng quan trọng; tăng cường phòng thủ tứ giác Lạng Sơn – Tiên Yên – Hải Phòng – Hà Nội và phong tỏa biên giới; phát triển quân đội người bản xứ và quân Âu-Phi làm lực lượng cơ động. Theo kế hoạch của tướng Revers, quân đội Pháp ở Đông Dương thực hiện chủ trương xem Bắc Bộ là chiến trường chính; chiếm đóng đồng bằng, củng cố biên giới; đồng thời ra sức tăng viện, tổ chức quân đội quốc gia bản xứ để làm giảm ảnh hưởng và thu hẹp khả năng kiểm soát của lực lượng Việt Minh; tăng cường lực lượng trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ; tổ chức một hệ thống phòng ngự mới dựa vào những cứ điểm lớn và những binh đoàn ứng chiến ("colonne") lớn; và tăng cường phi cơ và trọng pháo để chống lại các cuộc tấn công của quân Việt Minh. Trong lúc đó, mở những cuộc càn quét liên tiếp vào vùng địch hậu, nhất là ở Nam Bộ để củng cố hậu phương. Để lấy lại thế chủ động, Pháp tăng cường hệ thống phòng ngự đường thuộc địa số 4, khoá biên giới Việt - Trung nhằm cô lập căn cứ địa Việt Bắc với bên ngoài, thiết lập hành lang Đông - Tây với mục đích cô lập Việt Bắc với đồng bằng Bắc Bộ, chuẩn bị lực lượng tấn công Việt Bắc lần 2 để tiêu diệt đầu não Việt Minh, lập ra hệ thống Liên khu Biên thùy. Lực lượng Pháp chủ trương tiếp tục kiểm soát toàn tuyến từ Cao Bằng đến Móng Cái (suốt tuyến đường số 4). Khi tình hình chuyển biến xấu, quân Pháp ở Đông Dương rút bớt một số đơn vị nhỏ lẻ nhưng vẫn giữ vững các thị xã, thị trấn chiến lược như Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê, Na Sầm, Đồng Đăng và dọc tuyến Lạng Sơn - Tiên Yên - Móng Cái. Về phía Việt Minh, tích cực thực hành hình thức chiến tranh Đại đội độc lập - Tiểu đoàn tập trung và trong tháng 2 năm 1950 đã đề ra chủ trương: Gấp rút hoàn thành việc chuẩn bị, giành thắng lợi lớn, làm chuyển biến chiến tranh có lợi, tiêu diệt cho được một phần quan trọng lực lượng địch, thu hẹp vùng kiểm soát của đối phương, tích cực ngăn ngừa và phá những cuộc càn quét, tiến tới giành chủ động về chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Bộ chỉ huy Việt Minh đã nhận định đúng ý đồ của Pháp, nhanh chóng vạch kế hoạch chủ động tấn công để khai thông con đường liên lạc quốc tế để nhận viện trợ từ Trung Quốc, Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, Việt Minh có thể tiêu diệt một bộ phận sinh lực đối phương, mở rộng ảnh hưởng và củng cố địa bàn căn cứ địa Việt Bắc, tạo điều kiện đẩy mạnh công cuộc kháng chiến. Để thực hiện chủ trương này, Việt Minh mở chiến dịch Lê Hồng Phong 1 với trọng điểm là khu vực Lào Cai – Bắc Hà nhưng kết quả rất hạn chế. Đầu tháng 7/1950, Bộ Tổng tư lệnh Việt Minh quyết định chuyển hướng chiến dịch sang Cao Bằng – Lạng Sơn. Lực lượng hai bên. Trên con đường dài 116 km xuyên qua rừng rậm núi cao từ Lạng Sơn lên Cao Bằng, Pháp đặt hệ thống đồn bốt ở các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng và các thị trấn Đồng Đăng, Na Sầm, Thất Khê, Đông Khê cùng nhiều đồn nhỏ nằm rải rác xung quanh. Về lực lượng, quân Pháp ở Cao Bằng có 3 tiểu đoàn lê dương Maroc và nhiều lính phụ lực bản xứ do Trung tá Pierre Charton phụ trách, trực thuộc bộ chỉ huy vùng đặt tại Lạng Sơn do đại tá Constans chỉ huy. Ở Lạng Sơn có 5 tiểu đoàn lính Pháp, thiết giáp, trọng pháo và nhiều lính phụ lực bản xứ. Ở Đông Khê (cách Cao Bằng 30 km về phía đông nam), có 2 đại đội lê dương dưới quyền của hai đại uý Vollaire và Alliou. Ở Thất Khê (cách Đông Khê khoảng 20 km), có một đại đội khác trấn giữ. Ở Na Chàm, có một đại đội do đại úy Mattéi và trung úy Aluzot chỉ huy. Tổng cộng quân Pháp có 10 tiểu đoàn Âu-Phi, 1 tiểu đoàn và 9 đại đội lính Việt; 27 khẩu pháo các loại gồm: 2 khẩu 155mm, 15 khẩu 105mm, 1 khẩu 94mm, 5 khẩu 75mm, 4 khẩu 57mm; 4 đại đội công binh; 4 đại đội cơ giới; 6 máy bay chiến đấu và 2 máy bay trinh sát liên lạc. Các tiểu đoàn lê dương là các đội quân tinh nhuệ, có khả năng đánh phòng ngự tốt. Các tiểu đoàn Tabor lính Maroc có khả năng đánh rừng núi. Lực lượng lính bản xứ Thổ - Nùng cũng được đánh giá là xông xáo và thông thạo chiến trường. Lực lượng cơ động của Pháp ở biên giới thuộc GTM (Binh đoàn Maroc – Groupement tirailleur Marocain) và do Trung tá Le Page chỉ huy. Tính trên toàn chiến trường Bắc Bộ là 9 tiểu đoàn cơ động/12 tiểu đoàn cơ động Đông Dương/124 tiểu đoàn của quân đội Liên hiệp Pháp. Trên thực tế, Pháp đã điều thêm 2 tiểu đoàn cơ động lên Biên giới là 1 BEP (Tiểu đoàn dù lê dương số 1) và 3 BCCP. Hệ thống đồn bốt của Pháp rất vững chắc, các vị trí đều có lô cốt bê tông cốt sắt kiên cố. Các vị trí này là những mục tiêu khó khăn đối với trang bị của Việt Minh thời bấy giờ. Tuy nhiên, hệ thống này cũng có những điểm yếu. Đó là bố trí thành tuyến độc đạo kéo dài, một số vị trí dễ thành đột xuất, cô lập và hở sườn dễ bị chia cắt; hậu cần, tiếp tế, tải thương đều khó khăn và gần như phụ thuộc hoàn toàn vào không quân; khả năng sử dụng vũ khí, khí tài công nghệ cao như: xe tăng, máy bay bị hạn chế. Quân đội Nhân dân Việt Nam. Quân số các đơn vị là 25.000 người. Bộ chỉ huy chiến dịch và cơ quan: 4.500 người. Tổng cộng: 29.500 người. Ngoài ra còn có một số đại đội bộ đội địa phương và du kích của hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn. Lãnh đạo chiến dịch là Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch, gồm: Ngoài việc biên chế đã bước đầu thống nhất, các đơn vị chủ lực Quân đội Nhân dân Việt Nam (Đại đoàn 308, trung đoàn 174 và 209, trung đoàn pháo binh 675) được huấn luyện quân sự ở Trung Quốc từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1950; họ có nhiều tiến bộ trong các kỹ thuật chiến đấu như kỹ thuật đánh bộc phá, đánh công kiê, bộ đội đã qua các lớp giáo dục chính trị. Một số mặt hạn chế của Quân đội Nhân dân Việt Nam là cách thức du kích vẫn chiếm ưu thế; thiếu kinh nghiệm chiến đấu quy mô lớn với yêu cầu hiệp đồng chặt chẽ; tổ chức và biên chế cồng kềnh; trình độ tổ chức của chỉ huy chưa đáp ứng được yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên Quân đội Nhân dân Việt Nam đối diện với bài toán hậu cần quy mô lớn nên tiến hành rất khó khăn. Các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn và Lạng Sơn đã huy động hàng trăm tấn gạo, 73 tấn ngô. Kết quả thực tế hậu cần chiến dịch đã tiếp tế cho bộ đội 1.886 tấn lương thực thực phẩm (1.700 tấn gạo, 113 tấn ngô, 33 tấn muối); 200 tấn vũ khí đạn dược (có 41 tấn đạn), cứu chữa hơn 1.550 thương binh; huy động 121.700 lượt người đi dân công, phục vụ 1.716.000 ngày công. Do tầm quan trọng của chiến dịch, Hồ Chí Minh cũng trực tiếp tham gia công tác chỉ đạo và tham mưu. Khi chia tay với Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên đường đi chiến dịch, chủ tịch Hồ Chí Minh dặn: "Chiến dịch này hết sức quan trọng, chỉ được thắng không được thua!" Ngày 2/9/1950, sau khi họp Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường ra mặt trận, đoàn hộ tống đi chiến dịch mang mật danh "Thắng Lợi". Đây là lần đầu đoàn hộ tống đi theo có tới sáu người. Trên đường đi, ghé thăm một đơn vị thanh niên xung phong làm đường phục vụ chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng thanh niên bốn câu thơ, về sau trở thành khẩu hiệu của Hội liên hiệp Thanh niên Việt Nam: Ngày 9/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra "Lời kêu gọi đồng bào Cao - Bắc - Lạng", cảm tạ đồng bào ba tỉnh đã đóng góp rất nhiều cho chiến dịch, như góp quân lương, sửa đường sá, vận tải, chuyên chở, giúp đỡ bộ đội và kêu gọi "Toàn thể đồng bào ba tỉnh, các ủy ban kháng chiến và hành chính, các đoàn thể nhân dân cố gắng thêm nữa, tiếp tục giúp đỡ cho bộ đội ta trước mặt trận để quân ta giết nhiều địch, đánh thắng to". Ngày 10/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Sở chỉ huy chiến dịch ở làng Tả Phày Tử thuộc huyện Quảng Yên, phía bắc thị xã Cao Bằng. Ngày 13/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Sở chỉ huy chiến dịch để đến mặt trận Đông Khê để trực tiếp theo dõi đánh trận mở màn, và chỉ thị cho bộ đội: "Dù khó khăn đến đâu cũng kiên quyết khắc phục đánh cho kỳ thắng trận đầu". Đến thăm Trung đoàn 296 đang đóng gần Đông Khê, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ "phải đánh thắng trận mở màn của chiến dịch Biên giới". Tại đây, Hồ Chí Minh đã làm bài thơ: Ý đồ chiến dịch của Việt Minh. Ngày 21/8/1950, qua thảo luận Hội nghị Đảng ủy chiến dịch, cùng với tham khảo ý kiến của các cố vấn Trung Quốc, Việt Minh quyết tâm như sau: Đợt 1 (16/9 đến 20/9): Tiêu diệt cứ điểm Đông Khê. Ngày 16 tháng 9 năm 1950, trung đoàn 174 và trung đoàn 209 của quân Việt Minh do Thiếu tướng Hoàng Văn Thái chỉ huy (khi đó ông là: Tổng Tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam và làm Tham mưu trưởng chiến dịch), chủ động đánh chiếm cứ điểm Đông Khê đầu tiên với mục đích: chắc chắn đạt được thắng lợi; cô lập Cao Bằng, uy hiếp cứ điểm Thất Khê từ đó phá thế trận phòng thủ của quân Pháp trên đường số 4; mở đầu Chiến dịch Biên giới thu đông 1950. Thị trấn Đông Khê thuộc huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, nằm dọc theo đường số 4, trên ngã ba đường đi Thị xã Cao Bằng, Tà Lùng, Thất Khê. Cách Đông Khê 45 km về phía bắc là Thị xã Cao Bằng, 15 km về phía nam là Pò Khẩu, 5–7 km về phía đông là Phìa Khoá, 12 km về phía tây là làng Hạc. Cụm cứ điểm Đông Khê nằm trong hệ thống phòng thủ Cao-Bắc-Lạng, trực thuộc phân khu Thất Khê. Lực lượng Pháp có 2 đại đội thuộc tiểu đoàn 2 trung đoàn 3 bộ binh lê dương trấn giữ và 1 trung đội bảo an do đại úy Allioux chỉ huy, quân số khoảng 350 tên. Vũ khí có 2 đại bác 105mm, 2 súng cối 81mm, 2 cối 60mm, 2 pháo 57mm, 2 pháo 20mm. Bố trí thành 2 khu vực chính là khu trung tâm và ngoại vi. Cứ điểm Đông Khê có hoả lực mạnh, công sự kiên cố, các cứ điểm được xây dựng liên hoàn, có thể chi viện hỗ trợ nhau. Để đảm bảo chắc thắng trận đầu, Ban chỉ huy mặt trận Đông Khê, do Hoàng Văn Thái phụ trách, quyết định sử dụng một lực lượng ưu thế để đánh Đông Khê. Nhiệm vụ các đơn vị được phân công như sau: Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 bố trí ở đông nam Đông Khê, có nhiệm vụ tiêu diệt quân nhảy dù và chặn đánh quân Pháp ở Đông Khê chạy về phía nam, đồng thời làm lực lượng dự bị đánh Đông Khê khi cần thiết. Sáng ngày 16/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp dậy sớm lên đài quan sát trên một mỏm núi liền với bản Nà Lạn. Ngọn núi này cách Đông Khê khoảng 10 km theo đường chim bay. Từ đây có thể theo dõi tình hình chung của trận đánh qua ống nhòm. Sáng ngày 16/9 năm 1950, Đông Khê, 6 giờ 30, một trận pháo kích lớn đổ xuống những trận địa Pháp ở đây. Trung đoàn 174 tổ chức mở cuộc tiến công các vị trí tiền tiêu, đến 9 giờ chiếm được đồn Yên Ngựa, 10 giờ 30 phút, chiếm đồn Thìa Khóa (phía đông cách pháo đài 200m). Hướng tây nam, trung đoàn 209 triển khai trận địa chậm, nên đến 18 giờ mới nổ súng, 21 giờ diệt được đồn Pò Đình, tiếp tục tiến công đồn Pò Hầu, nhưng hết ngày vẫn chưa giải quyết xong. Ở Cao Bằng, Trung tá Charton, chưa nhận được lệnh của cấp trên, vẫn dựa vào những thông tin của tướng Marchand cho ông ta cách đây 3 ngày. Ông ta chưa biết những do dự của bộ chỉ huy cấp cao, nhưng từ sáng đến giờ, ông ta biết rõ: "Tiếng pháo nổ vang liên tục ở phía nam! chắc là ở Đông Khê, lần này có vẻ rất nghiêm trọ" Ngày 17/9, ở Đông Khê, tình hình trở nên rất khó khăn cho Pháp. Trong pháo đài, hệ thống phòng thủ bị cắt ra làm đôi. Đến 4 giờ sáng, trung đoàn 174 chiếm được Cẩm Phầy, trung đoàn 209 chiếm được Phủ Thiện, Nhà Cũ, khu trường học. Vào cuối buổi sáng, 1 chiếc Morane vẫn quan sát cờ tam tài bay trên pháo đài. Trung sỹ nhất Rajault, phi công thuộc phi đội 3/6 "Roussillon" đồn trú ở Gia Lâm trên chiếc P63 Kingcobra số 599, trong một đợt rải đạn yểm trợ cho pháo đài đã bị bộ đội Việt Minh dùng ba khẩu M2 Browning với 405 viên đạn thu được của quân Pháp bắn rơi ở phía nam Đông Khê. Cuối ngày hôm đó, trước sự chống cự quyết liệt của lính lê dương Pháp, cuộc tấn công bị dừng lại một thời gian. Vào 18 giờ 30, tướng Hoàng Văn Thái, chỉ huy trực tiếp trận đánh hạ lệnh tổng tấn công. Tiểu đoàn 251 tiến công trên hướng đông pháo đài, đã chiếm được đầu cầu. Trên hướng bắc, tiểu đoàn 249 cũng chiếm được đồn Nhà Thương, phát triển vào bên trong, bắt liên lạc được với trung đoàn 209, cùng phối hợp tổ chức mũi tiến công vào sau lưng pháo đài. Trận chiến đấu ác liệt kéo dài suốt đêm, nhiều chiến sĩ chiến đấu rất dũng cảm: Đại đội trưởng Trần Cừ lấy thân mình lấp lỗ châu mai, tiểu đội trưởng La Văn Cầu nhờ đồng đội chặt cánh tay bị thương để tiếp tục lao lên đánh bộc phá. Sau 54 giờ chiến đấu, đến ngày 18, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn thất thủ, mặc dù đã được không quân yểm trợ. Quân Pháp bị diệt hơn 120 lính, bị bắt 200, chỉ có 20 lính thoát vây chạy vào rừng. Đại úy Jeaugeon cùng khoảng 20 lính lê dương trốn thoát được về Thất Khê ngày 24/9, quần áo tả tơi, đói khát và kiệt sức. Đại úy Allioux, chỉ huy cứ điểm, bị bắt cùng với số còn lại. Pháp mất 1 máy bay tiêm kích bị bắn rơi; 2 pháo 105mm, 1 pháo 57mm, 1 cối 81mm, 1 trọng liên, 5 đại liên, 3 khẩu PIAT, 13 trung liên, 2 cac bin, 2 súng ngắn, 162 súng trường bị tịch thu. Phía Việt Minh có 130 người tử trận và 223 bị thương. Lần đầu tiên Quân đội Nhân dân Việt Nam áp dụng thành công chiến thuật công kiên có hiệu quả ở cấp trung đoàn. Thắng lợi của trận Đông Khê đã tạo điều kiện quan trọng cho chiến dịch, đồng thời mở ra một giai đoạn chiến đấu mới: chuyển từ cách đánh du kích sang đánh chính quy. Chiến thắng Đông Khê đã chặt đứt một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường số 4, khiến phòng tuyến của Pháp bị cắt ra làm đôi. Đây là trận chiến đấu công kiên có quy mô tương đối lớn, có hiệp đồng giữa các binh chủng, tập trung tiêu diệt 1 cứ điểm lớn của Pháp bố trí phòng ngự trong công sự kiên cố, hoả lực mạnh, quân số đông ở địa hình rừng núi hiểm trở. Hướng mặt trận Na Sầm - Lạng Sơn, trước khi đánh Đông Khê, bộ đội địa phương đã phá bốn cầu, nhiều đoạn đường trên đường 4 đoạn phía nam Thất Khê. Ngày 16 tháng 9, tiểu đoàn 428 phục kích ở đoạn Pắc Luông đánh tiểu đoàn 3 Ta-bo từ Lạng Sơn lên Na Sầm, phá bốn xe, diệt 60 lính. Ngày 17 tháng 9, tiểu đoàn 888 phục kích ở Tha Lai phá hai xe, diệt 120 lính, đến 18 tháng 9 phá cầu Tha Lai. Đợt 2 (21/9 đến 29/9): tiêu diệt quân cơ động Pháp. Kế hoạch hành quân của Pháp. Ngày 16/9, tại Sài Gòn, mệnh lệnh đặc biệt tối mật số 46 của tướng Carpentier gửi cho tướng chỉ huy ở Hà Nội: "Tôi quyết định rút tất cả các đồn bốt ở Cao Bằng và Đông Khê. Thành phố Cao Bằng sẽ được rút lui hoàn toàn một khi chiến dịch tấn công lên Thái Nguyên bắt đầu vào 1 ngày gần ngày 1/10 nhất có thể đượ" Về tiến trình rút lui: "Các đơn vị ở Cao Bằng sẽ được củng cố bằng 2 tiểu đoàn Tabor đến bằng đường không. Cũng bằng đường không, thường dân trẻ em, người già và phụ nữ sẽ được đưa về Lạng Sơn. Những người đàn ông sẽ rút bằng đường bộ với quân đội. Đường rút lui sẽ là đường số 4, cùng với các đơn vị đồn trú ở Đông Khê... Chỉ có các đồ đạc quý giá và nhẹ mới được vận chuyển bằng máy bay. Những vật liệu và quân dụng khác sẽ được phá huỷ tại chỗ..." Pháp nhanh chóng điều động quân đội ở Bắc Bộ thực hiện cuộc "hành quân kép". Quân Pháp gửi tiếp viện đi từ Lạng Sơn qua ngả Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê. Cùng lúc đó, một đơn vị Pháp khác hướng về đại bản doanh Việt Minh tại Thái Nguyên: Tại Lạng Sơn, Bộ chỉ huy của đại tá Constans, chỉ huy trung đoàn 3 lê dương và các đơn vị đồn trú ở vùng biên giới đông bắc, người nhận của mệnh lệnh số 46, trước tình hình mới bất ngờ, phản ứng ngay. Ông ta lúc này có trong tay 1 liên đoàn bộ binh bắc phi do trung tá Le Page chỉ huy: Thế trận phục kích của Việt Minh. Tiểu đoàn 1 Tabor của đại úy Feaugas, lúc đó đang ở Đồng Đăng, đã nhanh chóng đi về phía Na Sầm. Ngày 17-9, trừ tiểu đoàn 1 Tabor, binh đoàn Le Page bị chặn lại ở vùng núi vôi Tà Lài, cách Đồng Đăng 5 km. Đơn vị đi đầu, tiểu đoàn 3 Tabor bị rơi vào 1 ổ phục kích. Kết quả 5 chết, 16 bị thương. Việt Minh đã sớm bố trí các thế trận chờ sẵn. Trong thời gian 12 ngày khi binh đoàn Le Page đi qua Thất Khê, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã liên tục củng cố các vị trí phục kích chỉ cách thị trấn có vài giờ đường. Phần lớn của lực lượng chủ lực Việt Minh bao gồm đại đoàn 308, trung đoàn 209 và trung đoàn pháo binh 95 tập trung trong vùng núi giữa biên giới Trung Quốc và đường số 4 kéo dài từ dãy Nà Kéo cho đến dãy Nà Mộc Ngần xung quanh Bông Bạch và Pô-ma, trên một hành lang khoảng 12–13 km. Trung đoàn 174, sau khi đã giải quyết Đông Khê, vẫn cùng với tiểu đoàn 426 và 4 khẩu sơn pháo 75mm, được lệnh cấp tốc hành quân xuống phía nam Thất Khê, vượt qua thị trấn bằng phía tây. Mục tiêu là để cắt đường số 4 giữa Thất Khê và Na Sầm, sẵn sàng tiêu diệt các đồn bốt vẫn còn đóng rải rác trên con đường này đến Lạng Sơn. Cuối tháng 9, ở Cao Bằng, từng đoàn máy bay chở đến Cao Bằng toàn bộ tiểu đoàn 3 Tabor rút khỏi binh đoàn Le Page sau trận phục kích ở Tha Lai. Trên đài phát thanh Paris, người ta vẫn nói rằng Cao Bằng sẽ được tử thủ. Nhưng thực tế sau ngày 20/9, Alessandri đã viết ra một bản phác thảo kế hoạch triệt thoái khỏi Cao Bằng (hiện nay vẫn nằm ở kho văn khố quân đội Pháp SHAT): ""Ngày 27, Bỏ Cao Bằng… cuộc gặp gỡ sẽ xảy ra ở địa điểm "hầm" cách Đông Khê khoảng 8km, nhưng tình hình sẽ khả quan hơn nếu Le Page đến được km 20 từ Cao Bằng (km 26 từ Đông Khê)"". Ông ta còn viết thêm: "Về vấn đề phá hủy vũ khí, xem với tướng tổng chỉ huy". Ngày 29/9, Charton đã được cho biết một cách chính thức rằng ông phải bỏ Cao Bằng, cuộc hành quân được đặt tên chiến dịch Therese. Cuộc rút lui của ông phải trùng với các hoạt động của binh đoàn Le Page, nhưng ông ta không thể biết chính xác được binh đoàn Le Page đang ở đâu. Ngày rút lui cũng đã được chỉ định là ngày mùng 3, trong trường hợp này, Charton chỉ có thể tuân lệnh và không thể tự ý tự quyết định được. Trong trường hợp ông ta tự ý rời Cao Bằng sớm hơn, binh đoàn của ông ta sẽ phải một mình chịu trận với hơn 10 tiểu đoàn Việt Minh mà không có sự hỗ trợ của Le Page. Thiếu tá Delcros, trong bản báo cáo tổng kết chiến dịch đã lên án việc giữ bí mật quá đáng và cũng xem nó là một trong những giải thích chính cho sự chiến thắng của Việt Minh. Hệ thống tình báo Việt Minh, từ những người giúp việc cho đến những thư ký phụ cận gần các sĩ quan Pháp "đã cho tướng Giáp biết rõ tình hình của đối phương gần như qua truyền hình trực tiếp". Những trò giữ bí mật cuối cùng chẳng khác gì những viên đạn mà sĩ quan Pháp tự bắn vào chân họ trong quá trình tiến triển của chiến dịch. Đại đoàn 308 đã chiếm các điểm cao quan trọng ở các ngọn núi Ngọc Trà và Khâu Luông, từ đó khống chế được Đông Khê và đường số 4. Sáng ngày 1/10, binh đoàn Le Page bắt đầu hành quân 2 bên lề đường số 4 về phía Lũng Phầy. Không một cuộc đụng độ nào xảy ra. Giai đoạn đầu của chiến dịch "Tiznit" kết thúc, Le Page đã thi hành theo đúng mệnh lệnh nhận được, chiếm giữ những vị trí quan trọng dọc đường số 4. Vài ngày sau các tù binh Pháp sẽ biết được rằng họ đã bị theo dõi chặt chẽ, phía Việt Minh để chắc ăn đã đợi Pháp tiến sâu vào trận địa. Quân Pháp càng tiến lên phía trước càng cách xa nguồn tiếp viện và yểm trợ. Cao nguyên Nầ Pá đang trở thành một cái bẫy khổng lồ. Binh đoàn Le Page bị bao vây. Chiều 1 tháng 10, Bộ chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam quyết định "tập trung lực lượng tiêu diệt toàn bộ quân địch…, trọng điểm tiêu diệt từ Đông Khê đến Keo Ái". Các đơn vị được giao nhiệm vụ như sau: Trung đoàn 209 chiếm lĩnh các điểm cao trong thị trấn và bắc thị trấn không cho địch chiếm lại Đông Khê; trung đoàn 88 chiếm lĩnh Keo Ái chặn không cho Pháp rút về cũng như quân Pháp từ Thất Khê lên; Trung đoàn 36 chiếm lại Khâu Luông, sẵn sàng đánh quân dù trong phạm vi từ Nà Pá đến Pò Hầu; trung đoàn 102 làm lực lượng dự bị. Chiều ngày 1-10, Tiểu đoàn dù lê dương bị dính lại trước 1 vị trí súng máy Việt Minh đặt trên 1 gò đất thuộc vị trí bốt phía nam cũ của Đông Khê. Lúc này là 17 giờ. Tiểu đoàn trưởng Segretain và Le Page đồng ý đóng quân lại ở đây, vì thời tiết quá xấu để không quân có thể yểm trợ, hơn nữa những khẩu pháo mà Constant hứa chi viện vẫn chưa đến nơi. Các sĩ quan dù lê dương sống sót và đại úy Feaugas chỉ huy tiểu đoàn 1 Tabor sau này trách quyết định thiếu kiên quyết này của Le Page. Họ cảm thấy phía trước vẫn còn ít địch, 1 cuộc tấn công thần tốc của binh đoàn chắc có lẽ đủ để lấy lại Đông Khê. Thực ra, tướng Giáp đã đồn trú nhiều tiểu đoàn xung quanh pháo đài để tránh làm mục tiêu không kích, nhưng vẫn sẵn sàng tham chiến nếu Đông Khê bị uy hiếp. Vì thế việc "ít địch đằng trước" chỉ là ảo giác. Sáng sớm ngày 2-10-1950, Le Page chuyển quân. Tiểu đoàn dù đi tiền phong, đến đồn Nà Pá hiện bỏ trống, cách Đông Khê khoảng 6 cây số thì giao chiến. 10 tiểu đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam đợi quân dù xuống lòng chảo mới ở trên các ngọn đồi và từ đồn Na-pa nổ súng xuống. Trọng pháo, súng liên thanh, moóc-chi-ê nổ liên hồi vào đầu quân nhảy dù. Ngay những phút đầu, tiểu đoàn dù đã thiệt hại 1/3 quân số. Le Page vội vàng ra lệnh ngưng tiến, ra lệnh cho quân dù còn lại cố cầm chân QĐNDVN để Le Page tìm đường khác xuyên qua rừng. Suốt ngày 2 tháng 10, các trận địa mai phục của đại đoàn 308 Việt Minh liên tục đánh thiệt hại và làm tiêu hao cánh quân của Le Page. Đêm 2 rạng sáng 3 tháng 10, 4 giờ sáng, tiểu đoàn 1 Tabor lại tiếp tục tấn công lên dãy núi vôi phía tây nam Đông Khê. Trong 2 ngày vừa rồi, số tổn thất của đơn vị là 7 chết và 17 bị thương chủ yếu là ở đại đội 29. Vào 6 giờ 30, 2 đại đội của Tabor 1 chịu nhiều đợt tấn công và cận chiến dữ dội do 2 tiểu đoàn 80 và 84 trung đoàn 36 của Việt Nam. Sơn pháo Pháp từ vị trí nằm ở phía bên kia dốc núi không thể chi viện được. Đến sáng, không quân đến tiếp viện nhưng lại bắn nhầm vào vị trí lính Bắc Phi do nhầm màu xanh quân phục của họ với màu quân phục Việt Minh. Kết quả của đêm đó: tiểu đoàn 11 có 17 người chết và 35 bị thương. Vào 16 giờ, trận đánh ở Nà Kéo bắt đầu lại. Le Page ở điểm cao 765 cách đó 4 km, theo dõi tình hình với rất nhiều lo âu. Vào cuối buổi chiều, Delcros cho biết rằng tiểu đoàn ông ta sắp bị tràn ngập, quân Việt Nam đã chiếm được các đỉnh cao xung quanh Na Kéo. Ông ta muốn đưa thương binh về Lũng Phai để các đơn vị đồn trú ở đây đưa họ về Thất Khê. Đêm 3-4 tháng 10, đơn vị của Delcros bị đánh bật khỏi Na Kéo. Bỏ lại những tử sỹ, họ định hành quân với thương binh về Lũng Phai cách đó 7 km. Đây là lần đầu tiên từ thế chiến thứ 2 mà lính lê dương phải bỏ lại xác của đồng đội, điều đó chứng tỏ tình huống rất gay go. Trong đêm, lính Bắc Phi đi trước, rồi đến tiểu đoàn dù lê dương và thương binh. Phía đầu của đội hình bị rơi vào 1 ổ phục kích, tất cả các cu li bản xứ đều bỏ chạy để lại toàn bộ cáng thương binh cho binh lính của Delcros, các đơn vị Bắc Phi bị đánh tan tác, viên chỉ huy Delcros và đại úy Jean-Pierre chỉ huy phó tiểu đoàn dù lê dương bị lạc khỏi đội hình. Cùng thời gian đó, đại đội Bắc Phi ở Lũng Phai cũng đã bị tiểu đoàn 18 trung đoàn 102 và tiểu đoàn 23 trung đoàn 88 đánh bật ra khỏi vị trí phải lui về cao điểm 703. Cái rọ ở Đông Khê đã được đóng lại. Đến ngày 4 tháng 10 tiểu đoàn dù lê dương số 1 và Tabor của Pháp đã bị thiệt hại nghiêm trọng và buộc phải rút chạy khỏi Khâu Luông chạy về cố thủ với nửa binh đoàn còn lại ở thung lũng Cốc Xá, cách Đông Khê 6 km về phía Tây Nam để đợi cánh quân của Charton rút về từ Cao Bằng. Binh đoàn Charton rút khỏi Cao Bằng. Ngày 2/10, ở Cao Bằng, trong khi Binh đoàn Le Page đang bị bao vây, Charton chuẩn bị những phương án cuối cùng cho cuộc rút lui. Trưa hôm đó, ra lệnh phá huỷ hết các kho trại, các khí giới nặng không mang theo được và những điểm chiến lược quan trọng tại Cao bằng được ban bố. Charton ra lệnh hủy bỏ các thứ nặng cồng kềnh, bỏ tất cả xe cam-nhông, trọng pháo, bỏ đạn dược, quân nhu, lương thự, băng rừng xuống mạn tây nam để gặp đoàn quân Le Page. Tất cả đồ đạc của đám dân sự, phần lớn là người Tàu, người Thổ đen, cũng bị đốt hết để cho nhẹ. Charton truyền lệnh ai đi chậm không theo kịp thì bị bỏ lại. Sáng ngày 3/10, Charton đã thu xếp xong và rời thị xã. Binh đoàn Charton tiến rất chậm và vẫn chờ liên lạc của Constans và nhất là của binh đoàn Le Page đến đón. Đoàn xe kéo dài hàng km bao gồm: Binh đoàn Charton và Le Page bị tiêu diệt. Binh đoàn Le Page. Đêm 1 rạng sáng 2 tháng 10, trên đường số 4 giữa Thất Khê và Lạng Sơn, Trung đoàn 174 đã đến nơi tụ tập, sẵn sàng tấn công các đồn bốt phía nam Thất Khê và cắt liên lạc giữa 2 thị trấn này. Ngày 3/10, Trung đoàn 174 cùng 2 tiểu đoàn 426 và 428 bắt đầu công việc cắt đường. Bốt 41 Tây nằm một mình trên sông Kỳ Cùng bị tấn công và tiêu diệt lúc 21 giờ. Có 30 lính Pháp sống sót vượt sông về bốt 41 Đông. Ngày 4/10, quân Việt Minh tiếp tục tiêu diệt bốt 41 Đông. Vào 0 giờ 25 ngày mùng 5, sau gần 4 giờ cận chiến, đơn vị lê dương ở đây phải rút lui với 7 người chết, 13 bị thương và hơn 30 mất tích. Đại đội 3 lê dương, đóng ở đồn 45, mất liên lạc với cấp trên, đã tự động bỏ chốt lui về Thất Khê. Như vậy là từ lúc này, không còn hiện diện nào của quân Pháp trong vòng 20 km phía nam Thất Khê. Cũng lúc này, trung tá Đặng Văn Việt được lệnh cùng với trung đoàn 174 lên phía bắc tham gia vào chiến dịch tiêu diệt 2 binh đoàn Pháp đang rút lui. Trung đoàn 209 (trung đoàn Sông Lô) của Việt Minh đã hành quân lên Quang Liệt, phía Bắc Đông Khê để chặn đánh binh đoàn Charton. Ngày 6 tháng 10, cánh quân của Charton cũng đến được Cốc Xá và bắt liên lạc được với Le Page. Đại đoàn 308 lập tức bao vây chặt Cốc Xá và điểm cao 477. Trung đoàn 209 chặn ở phía Bắc. Phía Nam, trung đoàn 174 chốt chặn đường rút ở Cốc Tồn - Khâu Pia. Ngày 5/10, những lính Pháp sống sót của các bốt 41 Đông và Tây, 45 rút về đến Thất Khê, trên khoảng 2 đại đội ban đầu chỉ còn 77 lính lê dương và 2 sĩ quan trong đó chỉ có 6 thương binh đã đi theo kịp. Sáng sớm ngày 6 tháng 10, trung đoàn 36 bắt đầu tấn công Cốc Xá. Tình hình phòng thủ của các đơn vị Bắc Phi bắt đầu xấu đi rất nhanh vào buổi sáng, những khẩu súng máy và súng cối của Việt Minh đã bao phủ hoàn toàn vị trí phòng thủ của các đơn vị này. Trong cả ngày hôm đó những bức điện liên tục được gửi cho Le Page bởi Constans cho thấy tình hình đầy kịch tính của chiến trận. Vào 10 giờ 15 ngày 6/10/1950, lần đầu tiên bom napan được sử dụng ở Việt Nam bên cạnh những quả bom thường. Đại úy Jean-Pierre, trong 1 cuộc tuần tra đã phát hiện ra lính Bắc Phi đã rút lui bỏ vùng "hẻm núi" phía Cốc Xá, và hiện nay vị trí này đã được quân Việt Minh đã chiếm đóng. Đến buổi trưa thì gần như toàn bộ binh đoàn Le Page đã bị xoá sổ chỉ còn 650 trên tổng số 2500 người, số ít còn lại cố chạy sang điểm cao 477 cùng với chỉ huy Le Page. Nhưng tại 477, 5 tiểu đoàn của đại đoàn 308 và của trung đoàn 209 đã vây chặt quân Charton. Buổi chiều, tiểu đoàn 89 đã chiếm lĩnh con đường độc đạo đi về phía Cốc Xá, bắt đầu đặt ở vùng "hẻm núi" những ổ súng máy, thành lập 1 hệ thống phòng thủ chiều sâu, đơn vị tiền tuyến là đại đội 395 của đại đội trưởng Nguyễn Tiến Trang với sự yểm trợ của 2 đại đội 397 và 399 cùng tiểu đoàn bộ ngay phía sau. Chưa kể các khẩu súng máy trên 2 điểm cao kề bên Cốc Xá có thể bắn chéo cánh sẻ vào toàn bộ con đường hành lang. Vào 17 giờ, Le Page họp tất cả các tiểu đoàn trưởng của binh đoàn và cho biết cuộc tấn công phá vây vào hẻm Cốc Xá sẽ bắt đầu vào 3 giờ sáng hôm sau. Tiểu đoàn dù lê dương sẽ là đơn vị tiên phong. Lúc này, Le Page nói chuyện lần đầu tiên trực tiếp qua điện đàm với Charton, cho biết tình hình của binh đoàn đang bị bao vây và sắp phải phá vòng vây này, ông ta cũng hẹn gặp Charton ở 477 vào cuối đêm. Đơn vị đi đầu trong cuộc xung phong ban đêm này là trung đội của trung úy Chauvet, liền sau đó là đại đội 2 của đại úy Bouyssou rồi tiểu đội sinh viên sĩ quan của trung úy Faulques. Ở bên phải, phía bãi đá phía nam là đại đội 3 của đại úy De Saint Etienne. Bên trái, phía bắc là đại đội 1 của đại úy Garrigue cùng với đại đội chỉ huy của đại úy De Borde. Tất cả có khoảng hơn 350 lính dù lê dương còn lại sau những trận đánh trước đó. Trong 1 cuộc xung phong được nhiều nhân chứng xem là "ghê rợn nhất trong lịch sử chiến tranh Đông Dương", với tiếng nổ liên hồi của lựu đạn và cối, súng tự động của Việt Minh "đã gặt những người lính dù Lê Dương như gặt lúa". Chỉ trong vòng chưa đầy 1 giờ, cả tiểu đoàn đã bị tiêu diệt, tất cả các chỉ huy đại đội đều đã tử trận, đa số các trung đội trưởng đều đã bị chết hoặc bị thương. Vượt qua những xác lính dù lê dương, tiểu đội sinh viên sĩ quan của trung úy Faulques đã đến được cách "nguồn suối" chỉ còn vài chục mét trước khi bị tiêu diệt, trung úy Faulques bị trúng 3 viên đạn vẫn cố gắng cùng những lính lê dương cuối cùng lết về phía mục tiêu để bị bắn hạ hết người này đến người khác. Trung úy Stien, chỉ huy phòng nhì của tiểu đoàn, cùng nhóm Pác-ti-dăng, vượt qua được vách đá để xuống thung lũng trước khi bị tiêu diệt ở đây. Vào khoảng 6 giờ 30 sáng, những người lính Bắc Phi sống sót đã đến được vị trí "nguồn nước", nhưng ở đây họ vẫn còn phải vượt 1 vách đá để xuống vùng thung lũng, nơi binh đoàn Charton đang đợi, trong khi đó những khẩu súng máy ở các điểm cao xung quanh vẫn không ngớt rải đạn vào họ. Ngày 6/10, tình hình của binh đoàn Charton xấu đi rõ rệt. Đại úy Morichere, chỉ huy 1 đại đội hỗ trợ bản xứ, quyết định vượt rặng đá vôi phía đông Quang Liệt để đến gặp Le Page. Anh ta đã đụng với một đơn vị Việt Minh lớn, có thể là 1 tiểu đoàn. Kết quả, cả 1 đại đội hỗ trợ bị tiêu diệt hoàn toàn. Đêm 6-7 tháng 10, Việt Minh tiếp tục đè mạnh áp lực lên cao điểm 590 của tiểu đoàn 3 Lê dương. Phía tây, Charton thấy nhiều đơn vị vũ trang đang di chuyển trong ánh đuốc, có lẽ đây là tiểu đoàn 23 trung đoàn 88. Trong khi đó hàng ngàn bộ đội Việt Minh khác đang âm thầm tiến về hướng của ông ta. Một điểm đáng lo lắng khác là tình hình của binh đoàn Le Page, với hàng trăm thương binh mà đáng lẽ phải là đơn vị đi giải cứu cho binh đoàn của ông ta. Vào 5 giờ sáng, tiếng âm vang giữ dội của trận đánh phía Cốc Xá chỉ làm ông ta lo lắng hơn. Vào sáng sớm bộ đội Việt Minh bắt đầu tấn công. Đại đội hỗ trợ bản xứ bị đánh bật khỏi Bản Ca và lùi về phía tiểu đoàn Tabor ở phía bắc, bởi tiểu đoàn 84 trung đoàn 36. Cách đây 5 ngày tiểu đoàn cũng đã tham gia vào trận Nà Kéo, sau đó cùng với các đơn vị Việt Minh khác hành quân vòng qua phía nam dãy núi đá vôi về phía Cốc Tôn và Bản Ca. Vào 7 giờ sáng, đến lượt tiểu đoàn 3 Tabor bị tấn công. Đại đội 36 của đại úy Peyris đóng ngọn đồi số 3 bị tràn ngập và phải rút về phía đại đội 51. Khi đến nơi, tiểu đoàn 3 Lê Dương có tổ chức 1 cuộc tấn công lấy lại ngọn đồi này nhưng đã thất bại, thiếu tá Forget, chỉ huy tiểu đoàn đã tử thương. Phần lớn những dân thường đã bỏ chạy khỏi binh đoàn, đa số là những người công giáo, sẽ đến được Lạng Sơn vài ngày sau và đã trú ở ngay trong nhà thờ ở đây. Lạng Sơn sẽ bị bỏ rơi và 4 năm sau những người công giáo lại sẽ phải khăn gói vào phía nam vĩ tuyến 17. Charton cho 2 đại đội hỗ trợ bản xứ do trung úy Viltard đến đóng quân ở đồi Quy Chân, nhìn về phía Cốc Xá để đón tiếp binh đoàn Le Page. Trong suốt buổi sáng, họ nhìn thấy đi về phía họ từng nhóm hỗn hợp bộ binh Bắc Phi cùng với một số lính dù lê dương vừa thoát ra khỏi vòng vây. Khi đến nơi, những người lính dù lê dương đã được tập hợp lại thành đơn vị chiến đấu, họ chỉ còn lại 130 người. Tiểu đoàn trưởng Segretain vẫn còn sống, cũng như tiểu đoàn phó Jeanpierre và 6 trung-thiếu úy. Ngược lại, những đơn vị Bắc Phi đã mất hết khả năng chiến đấu và không thể tập hợp lại được nữa. Trung tá Le Page và sở chỉ huy của ông ta đã gặp trung úy Stien và vài lính Pác-ti-dăng ("Partisan") sống sót, họ đã cùng vượt qua vòng vây để đến gặp Charton. Sở chỉ huy của Charton nằm ở vùng trũng giữa đồi 477 và 1 điểm cao 600m phía nam. Đến chiều, binh đoàn Charton trở nên rối loạn khi biết tin binh đoàn Le Page đã bị xoá sổ. 16 giờ, Charton đã tập hợp những người còn sống sót rút khỏi 477 mở đường máu về Nà Cao, nhưng đến chiều thì bị bắt làm tù binh cùng với toàn bộ ban tham mưu. Trong số 635 lính lê dương của tiểu đoàn Pháp rời Lạng Sơn 4 ngày trước, chỉ có 32 sẽ đến được Thất Khê, trong đó chỉ có 1 sĩ quan trên 15 người lúc đầu. Phía Việt Nam ghi nhận đã tiêu diệt 677 địch, bắt 1.386 tù binh, trong đó có Charton cùng nhiều sĩ quan chỉ huy và cả tỉnh trưởng Cao Bằng của Pháp. Những quân lính còn lại của Le Page cùng với chỉ huy của mình mất liên lạc với Charton đã tìm cách rút theo đường rừng để về Thất Khê nhưng sang ngày 8 tháng 10, Le Page cũng đã bị các binh sĩ của trung đoàn 88 đại đoàn 308 bắt làm tù binh cùng với các sĩ quan tham mưu của mình. Thiếu tá Arnaud và đại úy Faugas cũng đều bị bắt và làm tù binh của Việt Minh trong vòng 4 năm. Đêm 17 rạng ngày 18-10, Constans ở Lạng Sơn ra lệnh quân sĩ lên đường, hấp tấp chạy không kịp phá huỷ gì, bỏ lại nguyên vẹn thành phố, doanh trại, kho quân nhu, đạn dược, thực phẩm, chỉ mang theo trọng pháo và một số xe cam-nhông chuyên chở. Số vũ khí đủ để trang bị cho một đại đoàn sau đó đã rơi toàn bộ vào tay Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đợt 3 (từ 9 đến ngày 14/10 năm 1950): truy kích quân Pháp rút chạy. Trong số 5.807 binh lính và sĩ quan của 2 binh đoàn Pháp, chỉ có tất cả 1.388 người đã đến được Thất Khê hay Lạng Sơn trước khi những nơi này được di tản. Binh đoàn Le Page chỉ có 1.021 thoát được trên 3.193, binh đoàn Charton chỉ có 367 trên 2.614. Đặc biệt tiểu đoàn dù BEP số 1, hơn 1.000 người chỉ còn sống sót được 23 người. Charton và Le Page bị bắt. Các sĩ quan khác bị bắt hoặc tử trận hết, chỉ thoát được có một mình đại úy dù Jean Pierre (chỉ huy tiểu đoàn dù BEP số 1) chạy về được Thất Khê. Một ngoại lệ là 1 hạ sĩ quan cùng 7 lính Bắc Phi đã chạy vào rừng và đi bộ trong vòng 3 tuần, sử dụng thực phẩm của dân để tới tận Hải Phòng. Tính đến ngày 8 tháng 10, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 8 tiểu đoàn quân Pháp, làm sụp đổ kế hoạch phòng thủ biên giới của Pháp. Quân Pháp tiếp tục phải chịu những tổn thất nặng nề khi bị 4 tiểu đoàn của đại đoàn 308 cùng toàn bộ trung đoàn 174 (Cao-Bắc-Lạng) truy kích. Tiểu đoàn 3 com-măng-đô đi chặn hậu để bảo vệ cuộc rút lui bị tiêu diệt và bị bắt hết, chỉ còn 5 người thoát được về Lạng Sơn. Trước nguy cơ Thất Khê sẽ lại bị tiêu diệt như Đông Khê, bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã ra lệnh rút khỏi Thất Khê trong rối loạn. Ngày 11-10, Thất Khê rút lui bỏ lại nguyên vẹn đồn bót, súng ống đạn dược. Ngày 15-10, Na Sầm thất thủ sau một tuần chiến đấu. Quân Pháp ở Đồng Đăng cũng bỏ chạy. Ở các địa phương khác, quân Việt Minh liên tục quấy rối, không cho quân Pháp thực hiện các cuộc chuyển quân tiếp viện cho mặt trận Cao-Bắc-Lạng. Đến ngày 17 tháng 10, Quân đội Nhân dân Việt Nam chủ động kết thúc chiến dịch. Dưới sự uy hiếp của quân Việt Nam và sự hoang mang của bộ chỉ huy Pháp, đến ngày 22 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút bỏ hoàn toàn khỏi các cứ điểm còn lại trên đường 4 như Thất Khê, Na Sầm, Đồng Lập, Lạng Sơ Chiến dịch Biên giới đã làm phá sản chiến lược quân sự chính trị của Pháp. Vòng vây biên giới bị đập tan, hành lang Đông - Tây bị chọc thủng, kế hoạch Reve cơ bản bị sụp đổ. Tổn thất hơn 8.000 lính trong 1 chiến dịch là một thất bại chưa từng có trong lịch sử chiến tranh xâm lược thuộc địa của đế quốc Pháp. Mất quyền chủ động quân sự, Pháp cũng mất quyền chủ động về ngoại giao, chính trị. Tin thất trận làm chính phủ và quốc hội Pháp lo ngại sợ hãi. Ngày 15-10-1950, thủ tướng Pleven cử một phái đoàn gồm Bộ trưởng Liên kết Letourneau, tướng Juin và tướng Valluy sang Đông Dương để điều tra. Quốc hội họp phiên đặc biệt ngày 19-10-1950. Ngày 17-10-1950, Bộ trưởng Letourneau và hai tướng Juin, Valluy tới Sài Gòn. Phái đoàn được các nhà chức trách quân sự tức tốc trình bày tình hình đặc biệt ở Bắc Việt Nam. Phái đoàn Letourneau tới Hà Nội giữa không khí chủ bại và hoảng sợ bao trùm. Những tin đồn rộ lên là Hồ Chí Minh hứa sẽ mang quân vào Hà Nội ăn Tết Tân Mão 1951, làm các công chức Pháp lo sợ, phải tản cư gia đình của họ vào Sài Gòn. Tướng Marchand chỉ huy Hà Nội và đại tá Constans chỉ huy Lạng Sơn bị lột chức, tướng Alessandri chỉ huy Bắc Kỳ xin thuyên chuyển về Pháp, tướng Boyer de la Tour được cử thay thế tạm Alessandri. Tướng Carpentier nhờ được sự che chở của tướng Juin nên không bị trừng phạt nhưng cũng bị mất chức. Chính phủ vội tìm người có đủ uy tín và khả năng để giao phó Đông Dương vào tay người đó. Tướng Juin, tướng Koenig được mời nhưng đều từ chối, tướng De Lattre de Tassigny nhận lời. De Lattre vội vã bay ra Hà Nội và ở luôn tại đó để trấn tĩnh nhân tâm và cải tổ lại quân đội, thay đổi một loạt các sĩ quan cao cấp, tạo lập các toán quân lưu động, mang quân từ miền Nam ra tiếp viện. De Lattre chặn đứng việc triệt thoái khỏi Tiên Yên, Móng Cái mà Boyer de Latour, thi hành chương trình của tướng Carpentier để lại, định bỏ ngỏ cửa ngõ vào Hải Phòng cho Việt Minh từ phía Lạng Sơn xuống. Việt Nam đã đạt được toàn bộ mục tiêu đề ra, thành công hoàn toàn trong chiến dịch. Họ đã loại khỏi vòng chiến đấu 8.300 lính đối phương, gồm 7.000 lính Âu- Phi và hơn 1.000 lính pạc-ti-dăng (bắt sống 3.576, có 3.000 là lính Âu - Phi). Quân đội Nhân dân Việt Nam thu được hơn 3.000 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh; gồm 2.000 súng máy các loại (trung liên, đại liên, trọng liên), 8.500 súng cá nhân (súng ngắn, súng trường, tiểu liên), 450 xe tải, 13 khẩu trọng pháo, 120 súng cối các cỡ của quân Pháp và 3.500 quả đạn, ba tiểu đội thiết giáp, 12.500 viên đạn đại bác 105mm, 7.000 viên đạn súng không giật, 5 triệu viên đạn súng bộ binh, 600 tấn xăng. Quân trang thu hơn 4000 áo capot, đủ trang bị cho hơn 2 trung đoàn. Quân lương như gạo, bột mì, muối, đường, sữ, quân y thu 8 tấn thuốc men, băng gạc. Ý nghĩa lớn về mặt quân sự của chiến dịch không phải là số đất được chiếm hay số quân bị bắt. Vành đai đồn bốt Pháp thực hiện sau năm 1947 để bao vây Việt Bắc đã được phá hủy hoàn toàn. Khai thông biên giới Việt- Trung (từ Cao Bằng đến Đình Lập), mở rộng địa bàn kiểm soát lên đến 4.000 km² và 35 vạn dân. (Chỉ tính số đất về tay Việt Nam dọc đường số 4, chưa tính hàng loạt các vùng du kích được mở rộng khi đánh mạnh phối hợp với quân chính quy). Tính chung cả nước, trong cuộc tiến công Thu-Đông năm 1950 đã tiêu diệt gần 12.000 địch, hạ và bức rút 217 vị trí, giải phóng 40 vạn dân, trong đó có 5 thị xã (Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Thái Nguyên, Hoà Bình) và 17 thị trấn. Chiến dịch đã khai thông một đoạn biên giới dài, nối Việt Bắc với các đồng minh lớn thành một dải liên tục đến tận châu Âu. Hàng loạt các đồng minh quan trọng nhất (Liên Xô, Trung Quốc) công nhận Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay từ thời điểm này. Thế bị bao vây cả trong lẫn ngoài của Việt Minh đã được phá vỡ. Việc nối liền biên giới với các đồng minh lớn cũng mở đường xây dựng một đội quân chính quy, hùng hậu, trang bị hiện đại để kết thúc chiến tranh. Ngay sau chiến dịch, những đợt hàng viện trợ đầu tiên đã vượt biên giới Trung Quốc vào Việt Nam, ban đầu chỉ là vũ khí phương Tây mà Việt Nam quen dùng, chiến lợi phẩm của các đồng minh. Sau này là những vũ khí, khí tài hiện đại dần dần thay thế trang bị cho Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến dịch Biên Giới nối tiếp hàng loạt các nỗ lực thực hành đánh công kiên xung quanh Việt Bắc, từ Lào Cai, Yên Bái (đồn Phố Lu) cho đến Lạng Sơn, Quảng Ninh (các đồn An Châu, Phố Rà). Sau chiến dịch này, quân Việt Nam hoàn toàn thoát khỏi thế bao vây, thành lập nhóm cơ động gồm các đại đoàn mạnh, mở nhiều cuộc tiến công lớn xa căn cứ Việt Bắc, giành quyền chủ động từ tay quân Pháp. Ngày 14/10/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ gửi thư cảm ơn và khen ngợi đồng bào Cao - Bắc - Lạng. Cùng ngày, với bí danh Đin, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi Tổng Bí thư Liên Xô là Iosif Stalin thông báo những thắng lợi bước đầu của quân dân Việt Nam, cảm ơn sự giúp đỡ của nước bạn. Cuối tháng 10/1950, Bác thăm bệnh viện Thủy Khẩu, nơi cứu chữa các thương binh trong chiến dịch. Thăm hỏi thương binh nặng và nói chuyện với thương binh nhẹ, Người báo tin: "Quân ta thắng lợi rồi, ta không còn bị bao vây, cửa đã mở ra thế giới, Đảng và Bác không quên công lao của các chiến sĩ đã ngã xuống hoặc bị thương tật". Ngày 30/10/1950, trong "Lời kêu gọi và khuyên nhủ các chiến sĩ" đăng trên báo Sự thật, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ hai thắng lợi: thứ nhất là đã tiêu diệt địch và đã giải phóng Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê. Thắng lợi thứ hai là đã nhận thức được những ưu khuyết điểm của ta. Người căn dặn: ""Chúng ta chớ vì thắng lợi mà kiêu căng, chủ quan, khinh địch. Chúng ta phải nhớ rằng: trong toàn cuộc trường kỳ kháng chiến thì thắng lợi này chỉ mới là bước đầu. Chúng ta còn phải đánh và phải thắng nhiều trận gay go hơn, to tát hơn nữa mới đi đến thắng lợi hoàn toàn"." Đây là chiến dịch đầu tiên mà Quân đội Nhân dân Việt Nam chủ động tấn công, làm thay đổi cục diện chiến trường: bắt đầu giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ. Quân Pháp thất bại lớn cả về quân sự và chính trị, bị đẩy lùi vào thế phòng ngự bị động. Chiến dịch này có ý nghĩa bản lề quan trọng, là một bước ngoặt của cuộc chiến tranh.
Lê Đức Anh (1 tháng 12 năm 1920 – 22 tháng 4 năm 2019), tên khai sinh là Lê Văn Giác, bí danh là Nguyễn Phú Hòa, Sáu Nam, là Chủ tịch nước thứ tư nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 1992–1997. Trước đó ông từng là một tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, quân hàm Đại tướng, từng là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam (1987–1991), Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (1986–1987). Ông nội Lê Đức Anh là Lê Thảng (6 tháng 11 năm 1861 – 11 tháng 5 năm 1939), quê quán tại Truồi, làng Bàn Môn, Lộc An, Phú Lộc,Thừa Thiên Huế. Cụ Lê Thảng là nông dân, từng tham gia Phong trào Cần Vương. Cụ Lê Thảng kết hôn với bà Cung Thị Quyến sinh ra được 6 người con, 2 trai và 4 gái, trong đó có Lê Quang Túy (sinh ngày 25 tháng 11 năm 1885), con trai cả, là thân phụ Lê Đức Anh. Lê Quang Túy kết hôn với bà Lê Thị Thoa (sinh năm 1886) sinh ra Lê Văn Giác, chính là tên khai sinh của ông, vào ngày 1 tháng 12 năm 1920 tại một căn nhà tranh của cha mẹ nuôi cụ Lê Quang Túy ở làng Trường Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Lê Quang Túy và bà Lê Thị Thoa có với nhau 13 người con, tất cả đều sinh ở làng Trường Hà, huyện Phú Vang, Huế, 4 người mất từ lúc còn nhỏ, còn 9 người, 2 trai và 7 gái. Lê Văn Giác là con thứ 7 trong 9 người con. Lê Hữu Độ, anh trai Lê Văn Giác, sau này là cán bộ phụ trách trại chăn nuôi của Bộ Công an Việt Nam. Lê Văn Giác có 3 người chị gái đã mất là Lê Thị Ngọc Tỷ, Lê Thị Kha, Lê Thị Hiệp và 2 em gái là bà Lê Thị Thể (làm nghề buôn bán ở thành phố Đà Nẵng) và bà Lê Thị Xoan (công tác tại Trường Trung cấp Y tế Huế, đã nghỉ hưu và hiện đang sống tại Huế). Ông Lê Thảng và ông Lê Quang Túy có thêm nghề thầy thuốc nên cuộc sống gia đình ông đỡ vất vả hơn người dân trong làng, vốn rất nghèo. Tuy vậy, ông bà Lê Quang Túy gia đình đông con nên phải vừa làm ruộng, vừa chữa bệnh, vừa đi làm thuê để kiếm sống. Lê Văn Giác thông minh nên được ưu tiên ăn học. Lên 5 tuổi, cậu được học chữ Nho tại nhà. Từ 6 tuổi đến 10 tuổi, Lê Văn Giác học chữ Quốc ngữ ở làng Dưỡng Mong và Trường An Lương Đông, huyện Phú Lộc. Sau một trận dịch bệnh đậu mùa, Lê Văn Giác bị hỏng mắt trái, chân yếu không thể đi lại. Cậu phải tập luyện một năm mới trở lại bình thường. Vào năm đầu tiên đi học, cha mẹ Lê Văn Giác đổi tên cho cậu thành Lê Đức Anh theo lời khuyên của thầy giáo để cậu được ngồi bàn đầu tiên để nhìn cho rõ vì mắt kém. Vào năm 11 tuổi, ông được cho ra học tiểu học ở thành Vinh, Nghệ An dưới sự nuôi dạy của chị gái Lê Thị Hiệp (tức Nở) và anh rể Trần Quát, người cùng làng, làm nghề dạy học ở thành Vinh. Ông học chương trình tiểu học bằng tiếng Pháp. Sau khi xong tiểu học, cậu trở về Phú Vang, Huế làm nông giúp cha mẹ. Năm 15 tuổi, ông làm gia sư dạy chữ Quốc ngữ cho một số trẻ em làng Dưỡng Mong, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhận xét về tính cách của ông, theo lời thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Lê Đức Anh là người rất khắt khe, nguyên tắc trong công việc; ít nói, lắng nghe cấp dưới một cách tập trung, chăm chú; ghét tính dối trá, cẩu thả, thiếu trách nhiệm. Theo Luật sư Cù Huy Hà Vũ (con trai cố nhà thơ Cù Huy Cận), Lê Đức Anh là người tiết kiệm và chân thành. Sự nghiệp quân đội. Kháng chiến chống Pháp. Năm 1937, 17 tuổi, Lê Đức Anh bắt đầu tham gia các hoạt động cách mạng chống thực dân Pháp. Tháng 5 năm 1938, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1944, Lê Đức Anh tổ chức và Phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra, ông tổ chức lực lượng gồm 300 người, trang bị vũ khí vừa thu được và giáo mác, tầm vô Tháng 8 năm 1945, ông nhập ngũ, giữ các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Chính trị viên Tiểu đoàn, chi đội 1 và Trung đoàn 301. Từ tháng 10 năm 1948 đến năm 1950, ông là tham mưu trưởng các Quân khu 7, Quân khu 8 và đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn. Từ năm 1951 đến 1954, giữ chức tham mưu phó, quyền tham mưu trưởng bộ tư lệnh Nam Bộ. Chiến tranh Việt Nam. Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc. Tháng 5 năm 1955, ông được cử giữ chức Cục phó Cục Tác chiến, rồi Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam; hàm Đại tá (1958) Từ tháng 8 năm 1963, ông giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 2 năm 1964, ông được điều vào Nam với bí danh Sáu Nam, giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Miền Nam. Ngày 16 tháng 11 năm 1967, thân mẫu ông là cụ Lê Thị Thoa qua đời đúng lúc Lê Đức Anh đang chuẩn bị cho Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Bộ Chỉ huy miền Nam. Năm 1969, Lê Đức Anh được điều về làm Tư lệnh Quân khu 9. Ngày 23 tháng 6 năm 1969, thân phụ ông là cụ Lê Quang Túy mất khi Lê Đức Anh đang chỉ huy chiến trường miền Tây Nam Bộ. Cuối năm 1974, ông được điều trở lại chức Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, trực tiếp chỉ huy đơn vị ở hướng Tây Nam. Cũng trong năm này, ông và Đồng Sĩ Nguyên được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng. Trong 11 năm tham gia đánh Mỹ, ông đã trực tiếp chỉ huy 4 trận đánh lớn: Năm 1980, Trung tướng Lê Đức Anh đặt chân lên Campuchia với trọng trách tái thiết Campuchia sau Chiến tranh biên giới Tây Nam. Cũng trong năm 1980, ông được phong hàm từ Trung tướng lên Thượng tướng. Năm 1981, khi đang giữ chức Tư lệnh Quân khu 7, ông được phân công kiêm chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, Phó trưởng ban, rồi Trưởng ban lãnh đạo chuyên gia Việt Nam tại Campuchia. Năm 1983, khi Lê Đức Anh đang điều trị mắt ở Liên Xô thì được Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam gọi về để lo vụ đánh địch ngầm ở Siem Reap. Lê Đức Anh giải quyết êm đẹp vụ này. Năm 1984, ông được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước thăng quân hàm từ Thượng tướng lên Đại tướng và được Bộ Chính trị chỉ định làm Uỷ viên Hội đồng Quân sự Bộ Quốc phòng . Tháng 12 năm 1986, Lê Đức Anh được cử giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự nghiệp chính trị. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1987-1991). Sau đó, Lê Đức Anh tham gia chính trường và giữ nhiều chức vụ trong chính phủ. Từ ngày 16 tháng 2 năm 1987 đến 10 tháng 8 năm 1991, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân sự Trung ương. Khi Bộ Chính trị họp đã thông qua kế hoạch điều chỉnh chiến lược và giảm quân số quân đội của ông, từ 1,5 triệu quân thường trực xuống còn 45 vạn (từ 9 quân đoàn giảm xuống còn 4 quân đoàn), gánh nặng ngân sách quốc phòng được giải tỏa. Trong thời gian giữ chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng, ông đã là một người có tiếng nói lớn trong hệ thống chính trị của Việt Nam. Cuối tháng 2 năm 1987, trong cuộc họp Bộ Chính trị ở Nhà Con Rồng – Sở Chỉ huy của Bộ Quốc phòng tại Hoàng thành Thăng Long, Đại tướng Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã đề xuất thực hiện "phá thế bao vây cấm vận của Mỹ và bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, tìm cách gia nhập ASEAN". Năm 1988, trong chuyến thị sát tại quần đảo Trường Sa, Lê Đức Anh trên cương vị Bộ trưởng Quốc phòng đã dự lễ kỷ niệm 33 năm ngày truyền thống của Quân chủng Hải quân, Quân đội nhân dân Việt Nam (7/5/1955–7/5/1988). Chuyến thăm diễn ra ngay sau khi Trung Quốc nổ súng vào tàu vận tải của Việt Nam tại đảo Gạc Ma rạng sáng 14/3 làm 64 chiến sĩ trên tàu HQ-604 hy sinh. Ông phát biểu: "", trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, xin hứa với đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau "Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta"". Năm 1989, sau sự kiện Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu, ông cảnh báo về mối đe dọa được cho là phương Tây đang phá hoại Đảng Cộng sản Việt Nam, lập luận về việc quân đội tham gia nhiều hơn vào chính trị "vào thời điểm chủ nghĩa xã hội Việt Nam đang bị tấn công". Ông là một trong số ít những cán bộ quân đội đã trải qua cả bốn chiến trường trong suốt 40 năm: Tham gia 9 năm kháng chiến chống Pháp, tham gia chỉ huy tại chiến trường miền Nam chống Mỹ trong 11 năm (1964 – 1975), chỉ huy chiến trường Campuchia trong 7 năm (1979 – 1986), tham gia chỉ huy chiến trường biên giới phía Bắc trong 3 năm (1986 – 1989). Chủ tịch nước (1992-1997). Năm 1991, Lê Đức Anh giữ chức vụ Thường trực Bộ chính trị. Năm 1992, ông được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bầu vào chức vụ Chủ tịch nước. Ông cũng là Ủy viên BCH TƯ khóa IV – VIII, Ủy viên Bộ Chính trị khóa V – VIII, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; đại biểu Quốc hội khóa VI, VIII, IX và Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh. Vào ngày 23 tháng 9 năm 1992, ông là người kế nhiệm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công và do đó là Chủ tịch nước Việt Nam. Mặc dù vị trí này (theo phương Tây) chủ yếu mang tính biểu tượng, chức Chủ tịch nước trở nên quan trọng hơn nhiều trong nhiệm kỳ của ông. Ông giữ chức danh này cho đến khi được Trần Đức Lương thay thế vào ngày 24 tháng 9 năm 1997. Đại tướng Lê Đức Anh đã được ghi công với một số giải thưởng, bao gồm Huân chương Sao Vàng và Huân chương Hồ Chí Minh. Trong cuốn sách của mình, tác giả Bolton cho rằng Lê Đức Anh được nhiều người coi (về mặt tư tưởng) là người bảo thủ nhất trong số ba nhà lãnh đạo chính trị trong nhiệm kỳ của mình. Thủ tướng Võ Văn Kiệt được cho là ủng hộ cải cách và do đó thường không đồng ý với Lê Đức Anh. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười thì linh hoạt hơn về mặt tư tưởng và được coi là đại diện cho sự trung dung giữa Anh và Kiệt, nhưng dường như có xu hướng bảo thủ. Bolton cho rằng Lê Đức Anh phản đối những cải cách kinh tế mà ông cho là quá liều lĩnh của ông Kiệt. Năm 1991, Lê Đức Anh ủng hộ Đỗ Mười ứng cử cương vị lãnh đạo đảng để phản đối Võ Văn Kiệt. Cũng theo Bolton thì nhóm ủng hộ ông Kiệt sau đó đã lan truyền tin đồn về những hành vi xấu được cho là có liên quan đến Lê Đức Anh trong thời gian ông ở Campuchia. Tuy nhiên, không rõ Bolton dựa vào căn cứ nào để đưa ra những kết luận này trong cuốn sách của mình. Bản thân ông Võ Văn Kiệt thì nhận xét về ông Lê Đức Anh như sau: "Ngần ấy thời gian biết anh Sáu Nam – Lê Đức Anh, có lúc cùng chiến trường, có lúc cùng ở cấp lãnh đạo đất nước, anh là một cán bộ tham mưu tầm cỡ, một vị chỉ huy cương nghị, bản lĩnh và dám chịu trách nhiệm, một Bộ trưởng Quốc phòng trong thời bình xây dựng có nhiều đổi mới trong tổ chức và bố trí lực lượng quân đội, lực lượng vũ trang nhân dân, một trong những người lãnh đạo quốc gia tầm cỡ trong thời kỳ đổi mới đất nướ, không có nhiều tướng lĩnh như anh Lê Đức A" Trong nhiệm kỳ Chủ tịch nước của Lê Đức Anh, Việt Nam đã thành công trong việc bình thường hóa quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam vào năm 1995. Cũng trong năm này, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã sang Hoa Kỳ để tham dự lễ kỉ niệm 50 năm thành lập Liên Hợp Quốc. Ông là nguyên thủ đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt chân lên lãnh thổ Hoa Kỳ kể từ khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam năm 1975. Giữa tháng 11 năm 1996, ông phải nhập viện sau một lần đột quỵ lớn. Năm 1997, Chủ tịch nước Lê Đức Anh bị xuất huyết não. Điều này xảy ra vào thời điểm nhóm cải cách mà ông phản đối đang suy tàn và trong một thời gian, bệnh của ông dường như thay đổi động lực trong giới lãnh đạo chính trị, khôi phục lại xu hướng cải cách. Tuy nhiên, Tổng Bí thư Đỗ Mười đã lãnh đạo một cuộc phản công chống lại xu hướng cải cách khi cảnh báo về những mặt trái của nền kinh tế thị trường đang ngày cảng nảy nở như tham nhũng, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đứ Vào cuối tháng 9 năm 1997, Quốc hội miễn nhiệm chức Chủ tịch nước kiêm Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh đối với ông, Phó Thủ tướng Trần Đức Lương đã được bầu làm Chủ tịch nước tiếp theo. Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1997-2001). Ông làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 12 năm 1997 đến tháng 4 năm 2001 thì chức vụ này bị bãi bỏ. Ông là người đã hỗ trợ cho ông Lê Khả Phiêu trên con đường trở thành Tổng bí thư. Nghỉ hưu tới trước khi qua đời. Sau khi chức Cố vấn bị bãi bỏ, ông đã nghỉ hưu. Sau khi nghỉ hưu, ông sống ở nhà riêng của mình. Năm 2013, ông được trao huy hiệu 75 năm tuổi Đảng.. Trong lễ kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Quân khu 7 vào năm 2015, ông đã có mặt tham dự buổi lễ. Nhân dịp sinh nhật thứ 94, ông đã được các lãnh đạo đến mừng thọ có cả Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Qua đời và quốc tang. Đại tướng Lê Đức Anh qua đời vào hồi 20 giờ 10 phút, ngày 22 tháng 4 năm 2019 ở tuổi 98, tại nhà công vụ số 5A phố Hoàng Diệu, Hà Nội - nơi ông và vợ gắn bó với nhau từ cuối năm 1986. Lễ viếng từ 7h đến 11h ngày 3 tháng 5 năm 2019 tại Nhà tang lễ Quốc gia, Hà Nội (nơi đặt linh cữu của ông), Hội trường Thống Nhất và trụ sở Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (quê hương ông) theo nghi thức quốc tang. Lễ truy điệu từ 10h45 ngày 3 tháng 5 năm 2019, 11h15 cùng ngày linh cữu được đưa ra Sân bay quốc tế Nội Bài để đưa về Thành phố Hồ Chí Minh theo nguyện vọng của gia đình. Đến 15h30 ngày 3 tháng 5 năm 2019, linh cữu của Lê Đức Anh đã về tới Thành phố Hồ Chí Minh đặt an vị ở vị trí gia đình sắp xếp tại khu K1, nghĩa trang Thành phố Hồ Chí Minh. Lễ an táng đã được tổ chức tại đây vào 16h30 cùng ngày. Trong lễ tang, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nâng linh cữu, nhóm lực lượng ở Thành phố Hồ Chí Minh mang di ảnh của ông. Ông Lê Mạnh Hà - trưởng nam thay mặt gia đình lo liệu hậu sự. Đến đưa tiễn Lê Đức Anh lần cuối còn có Đặng Thị Ngọc Thịnh, Nguyễn Tấn Dũng và các lãnh đạo, nguyên lãnh đạo đảng, nhà nước ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó thể theo di nguyện của ông và nguyện vọng của gia đình, phần mộ của ông đã được đặt cạnh nơi an nghỉ của những người bạn tri kỷ quá cố, nơi để người dân có thể thường xuyên đến thăm viếng và chăm sóc. Đại tướng Lê Đức Anh được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: Lê Đức Anh lập gia đình lần đầu với bà Phạm Thị Anh (tự Bảy Anh, sinh năm 1925, mất 2011). Bà Phạm Thị Anh là con của một điền chủ nhỏ ở huyện Bến Cát, Bình Dương. Ông và bà có với nhau 2 người con. Người con gái đầu mất hai ngày sau khi sinh do sinh thiếu tháng và phải chạy giặc. Người con gái thứ 2 tên Lê Xuân Hồng sinh năm 1951 ở xã An Tây, huyện Bến Cát, là Tiến sĩ tâm lý học, nguyên là Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm mẫu giáo Trung ương 3 (nay là Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh), nghỉ hưu năm 2005. Sau hiệp định Genève 1954, ông tập kết ra Bắc còn bà vẫn ở lại miền Nam. Sau khi ra Bắc, trong cuộc ""chỉnh huấn, chỉnh quân" do cố vấn Trung Quốc chỉ đạo, ông bị kiểm điểm do lấy vợ thuộc thành phần địa chủ tư sản và phải tuyên bố "ly khai với gia đình vợ"". Ở miền Nam, bà Bảy Anh nhận được tin này nhưng không đi bước nữa. Năm 2009, ông Anh và bà Bảy Anh đã gặp lại nhau sau gần 60 năm xa cách tại nhà riêng của bà Anh ở Bến Cát, Bình Dương. Năm 1956, Lê Đức Anh kết hôn với bà Võ Thị Lê (sinh năm 1928, tại xã Quế Phong, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, mất ngày 18 tháng 11 năm 2016 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Hà Nội). Bà Lê là bác sĩ y khoa, công tác tại Bệnh viện Việt Xô Hà Nội. Bà Lê đã có một con gái với chồng trước tên là Huỳnh Thị Lệ Hạnh, sinh năm 1950, là kỹ sư thông tin, cán bộ hàng không, nay đã nghỉ hưu. Theo các phương tiện thông tin đại chúng, Lê Đức Anh và người vợ hai của ông có hai người con: Các con của Lê Đức Anh đều là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Công nữ Ngọc Vạn Công nữ Ngọc Vạn (公女玉萬), tương truyền, có họ tên đầy đủ là Nguyễn Phúc Ngọc Vạn (阮福玉萬) hoặc Nguyễn Phúc Thị Ngọc Vạn, gọi tắt là Ngọc Vạn, sinh khoảng năm 1605, mất sau năm 1658, là con gái thứ hai của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (ở ngôi: 1613-1635). Nhiều tài liệu trước đây thường ghi tước vị của bà là công chúa, nhưng thực sự là công nữ, vì bà chỉ là con của chúa Nguyễn. Năm Canh Thân (1620), bà được gả cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II. Nhờ có cuộc hôn nhân này mà tình giao hảo giữa hai nước được tốt đẹp, để chúa Nguyễn có thể dồn lực lại hòng đối phó với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đồng thời cũng tạo thêm cơ hội cho người Việt mở rộng lãnh thổ về phía Nam. Ngọc Vạn là con gái thứ hai của chúa Nguyễn Phúc Nguyên và Hiếu Văn Hoàng hậu Mạc Thị Giai. Mạc Thị Giai vốn là con gái của Mạc Kính Điển, cháu gái của Mạc Thái tông Mạc Đăng Doanh. Ngọc Vạn có nhiều anh trai và chị em gái ruột, trong đó có Nguyễn Phúc Lan (sau là chúa Thượng), Ngọc Liên, Ngọc Khoa. Cha bà là chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên lên ngôi chúa năm 1613, và để củng cố vị thế của mình, vị chúa này đã tìm cách giao hảo với các nước phương Nam khi đó là Chiêm Thành và Chân Lạp. Khoảng thời gian đó, triều đình Xiêm La gần như trực tiếp thống trị Chân Lạp. Vì vậy, khi lên ngôi vua, Chey Chetta II (ở ngôi: 1618-1628), liền cho xây dựng kinh đô mới ở Oudong (Vũng Long hay Long Úc) và cầu thân với chúa Nguyễn để chống lại sự khống chế của Xiêm La. Làm vương hậu Chân Lạp. Năm 1620, theo lời cầu hôn của vua Chey Chetta II, chúa Sãi thuận gả Ngọc Vạn cho ông, và bà trở thành Vương hậu nước Chân Lạp với tước hiệu Brhat Mae Samdach Brhat Bhagavati Amara Deva Thida"." Vừa đẹp người, lại đẹp nết, nên bà được vua Chey Chettha II rất yêu quý. Nhờ vậy, mà nhà vua đã cho một số người Việt đi theo bà giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình Chân Lạp, cũng như cho nhiều người Việt lập hãng xưởng và buôn bán ở gần kinh đô. Lợi dụng mối quan hệ này, năm 1623, chúa Sãi còn cử một sứ bộ, đem theo thư cùng nhiều tặng phẩm, tới Oudong để tỏ tình thân hữu và bảo đảm sự ủng hộ của triều đình Huế. Trong quốc thư, chúa Nguyễn cũng đã yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập một đồn thuế ở Prei Kor (tức vùng Sài Gòn) và lập một dinh điền ở Mô Xoài (gần Bà Rịa ngày nay - đây là dinh điền chính thức đầu tiên trên đất Chân Lạp). Nhờ sự vận động của Ngọc Vạn, nên cả hai việc trên đều được vua Chey Chetta II chấp thuận. Vai trò của Vương hậu Somdach (tức Ngọc Vạn), đã có nhiều tác giả đề cập đến, như: "Vị vua mới lên ngôi là Chey Thettha II cho xây một cung điện tại Oudong, ở đây ông làm lễ thành hôn với một công chúa con vua An Nam. Bà này rất xinh đẹp, về sau có ảnh hưởng lớn đến vua. Nhờ bà mà một phái đoàn An Nam đã xin và được vua Chey Thettha II cho lập thương điếm ở miền nam Cao Miên, nơi này nay gọi là Sài Gòn" (trích trong cuốn "L’ Empire Khmer"). "Tháng 3 năm 1618, Prea Chey Chessda được phong vương với tước hiệu Somdach Prea Chey Chessda Thiréach Réaméa Thupphdey Barommonpit. Lúc đó vua An Nam gả một người con gái cho vua Cao Miên. Công chúa này rất đẹp, được nhà vua yêu mến và lập làm vương hậu tước hiệu Somdach Prea Preaccac Vodey Prea Voreac Khsattey" (trích trong cuốn "Royaume du Cambodge"). "Chúa Nguyễn lúc bấy giờ rất vui mừng thấy Cao Miên muốn giao hảo bèn gả công chúa cho vua Cao Miên. Công chúa xinh đẹp và được vua Miên yêu quý vô cù, sứ bộ Việt từ Huế đến Oudong yết kiến vua Cao Miên, dâng ngọc ngà châu báu, xin người Việt được khai khẩn và lập nghiệp tại miền N" (trích trong cuốn "Histoire sommaire du Royaume de Cambodge"). "Năm 1623, Chey Chettha, người đã cưới công chúa Việt Nam, được triều đình Huế giúp đỡ để chống lại quân Xiê" (trích trong cuốn "Le Cambodge"). "Chey Chettha II dời đô từ Lovéa Em đếu Oudong năm 1620 và cưới công chúa Việt Nam được phong làm hoàng hậu và rất được yêu quý nhớ đức hạnh và vẻ đẹp mỹ miều. Vì đã giúp đỡ cho vua Cao Miên chống lại những cuộc xâm lăng của Xiêm nên chúa Sãi mới xin vua Cao Miên cho phép những người Việt di cư vào Nam được khai khẩn đất đai, trồng trọt, buôn bán và trả thuế ở Sài Gòn, Biên Hòa và Bà Rịa. Vua Cao Miên chấp thuận đề nghị của nhạc phụ." (trích trong cuốn "Histoire des Pays de L’union Indochinoise"). "Từ thế kỷ 17 đã có nhiều người Việt Nam đến hai xứ Đồng Nai và Mỗi Xuy của Chân Lạp (tức Biên Hòa, Bà Rịa ngày nay), để vỡ đất làm ruộng. Vua Chân Lạp Chey Chetta II muốn tìm một đối lực để chống lại lân bang Xiêm La nguy hiểm kia, đã xin cưới một công nữ con chúa Nguyễn làm hoàng hậu, trông mong sự ủng hộ của triều đình Thuận Hóa và chúa Hy Tông (chúa Sãi) có mưu đồ xa xôi, năm 1620, đã gả cho vua Chân Lạp một công nữ. Cuộc hôn nhân này có ảnh hưởng lớn lao đến vận mạng Chân Lạp sau này. Bà hoàng hậu đem nhiều người Việt đến, có người được giữ chức hệ trọng trong triều, bà lại lập một xưởng thợ và nhiều nhà buôn gần kinh đô. "Đến năm 1623, một sứ bộ của chúa Nguyễn đến Oudong yêu cầu được lập cơ sở ở Prey Kôr tức Sài Gòn ngày nay và được ở đấy một sở thu thuế hàng hóa. Vua Chey Chetta chấp thuận và triều đình Thuận Hóa khuyến khích người Việt di cư đến đấy làm ăn rồi lấy cớ để giúp chính quyền Miên gìn giữa trật tự, còn phải một tướng lãnh đến đóng ở Prey Kôr nữa. Khi Chey Chatta mất, vùng đất từ Prey Kôr trở ra Bắc đến biên giới Chiêm Thành (tức là Sài Gòn, Bà Rịa, Biên Hòa ngày nay), đã có nhiều người Việt đến ở và khai thác đất đai" (trích trong cuốn "Việt sử xứ Đàng Trong", phần "Chúa Nguyễn gây ảnh hưởng trên đất Chân Lạp"). Đổi lại, chúa Sãi hai lần giúp con rể (Chey Chetta II) đẩy lui quân Xiêm sang xâm lược. Giáo sĩ người Ý tên Christopho Borri ở Quy Nhơn đã nhìn thấy viện binh từ Đàng Trong tiến sang Cao Miên, nên đã ghi lại trong cuốn Hồi ký của mình (xuất bản năm 1631) như sau: "Chúa Nguyễn luôn luyện tập binh sĩ và gởi quân đội giúp vua Cao Miên, tức chàng rể chồng của con chúa. Chúa viện trợ cho vua Cao Miên thuyền bè, binh lính để chống lại vua Xiê" Loạn lạc ở Chân Lạp. Năm 1628, vua Chey Chetta II từ trần, triều đình Chân Lạp liên tục xảy ra các cuộc tranh chấp ngôi giữa những hoàng thân. Nhiều nhà vua bị anh em họ, rể, chá Theo "Biên Hòa sử lược toàn biên" (Quyển 2) thì Ngọc Vạn sống với vua Chey Chetta II, đã sinh được một trai là Chan Ponhéa Sô và một gái tên là Neang Nhéa Ksattrey. Tuy nhiên, so sánh độ tuổi của Chan Ponhéa Sô thì người này không thể là con của Ngọc Vạn. Theo Christopher Buyers thì cuộc hôn nhân của Chey Chettha II và hoàng hậu Ngọc Vạn như sau: Ngọc Vạn sinh khoảng năm 1605 (mất khoảng năm 1658), được gả cho Chey Chettha II vào năm 1620 và được phong hoàng hậu, hiệu là (Brhat Mae Samdach Bhagavati Brhat) Sri Vararajini Kshatriyi. Nhũ danh của Ngọc Vạn là Anak Anga Cuv [Cheou] hoặc Nguyễn Phúc Thị Ngọc Vạn. Họ có với nhau các con là: Sự tranh chấp quyền lực ở Chân Lạp. Sau khi Chey Chetta II mất, nội bộ Chân Lạp liền xảy ra việc tranh quyền giữa chú là Prea Outey (em ruột của Chey Chetta II) người giữ chức Giám quốc (ab joréach hoặc "Udayaraja") và người cháu là vua Chan Ponhéa Sô (ở ngôi: 1628-1630) (con của Chey Chetta II). Trước đây, lúc vua Chei Chetta II còn sống đã định cưới Công chúa Ang Vodey cho Hoàng tử Chan Ponhéa Sô. Nhưng chẳng may, khi nhà vua vừa mất thì Préa Outey, tức là chú ruột của Chan Ponhéa Sô, lại cưới nàng Công chúa này trong khi Hoàng tử còn đang tu (theo truyền thống) trong chùa. Sau khi rời tu viện, Chan Ponhéa Sô lên ngôi và trong một buổi tiếp tân, nhà vua trẻ gặp lại nàng Ang Vodey xinh đẹp. Sau đó, cả hai đã mượn cớ đi săn bắn để gặp gỡ, nhưng không ngờ Préa Outey biết được liền đuổi theo và giết chết cả hai vào năm 1630. Chan Ponhéa Sô làm vua mới được hai năm. Người con thứ hai của Chey Chetta II lên ngôi với vương hiệu là Ponhea Nu (ở ngôi: 1630–1640). Năm 1640, Ponhea Nu đột ngột băng hà, Phụ chính Préah Outey liền đưa con mình lên ngôi, tức quốc vương Ang Non I. Nhưng Ang Non I cũng chỉ làm vua được hai năm (ở ngôi: 1640-1642) thì bị người con thứ ba của Chey Chetta II là Chau Ponhea Chan (Nặc Ông Chân - mẹ ông là người Lào) dựa vào một số người Chăm và người Mã Lai, giết chết cả chú Préah Outey và em họ Ang Non I để giành lại ngôi vua. Nặc Ong Chân lên ngôi (ở ngôi: 1642-1659), cưới một Công chúa người Mã Lai theo đạo Hồi (Islam) làm Vương hậu và nhà vua cũng bỏ quốc giáo (Phật giáo Tiểu thừa) để theo đạo của vợ. Điều này cùng với việc cho nhóm người thiểu số Mã Lai và Chăm được nhiều ưu đãi, đã gây bất bình trong giới hoàng tộc và dân chúng Chân Lạp (dân tộc Khmer). Nặc Ông Chân còn xưng là Ramathipadi I, sau đó đổi thành Sultan Ibrahim. Năm 1658, con của Préah Outey là Ang Sur (So) và Ang Tan dấy binh chống lại Nặc Ông Chân nhưng thất bạ, Ang So và Ang Tan cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần liền sai Phó tướng dinh Trấn Biên (Phú Yên) là Nguyễn Phước Yến dẫn 3000 quân đến thành Hưng Phước (bấy giờ là Mỗi Xuy, tức Bà Rịa), phá được thành rồi tiến vào bắt Nặc Ông Chân bỏ vào cũi đem về giam ở Quảng Bình. Năm sau (1659), Nặc Ông Chân chết chúa Nguyễn phong cho Ang So làm vua Chân Lạp, hiệu là Barom Reachea VIII (ở ngôi: 1660-1672). Từ đó, lưu dân Việt đến Gia Định, Mỗi Xuy (Bà Rịa), Biên Hòa ngày càng đông để khai khẩn đất đ Năm 1672, vua Barom Reachea VIII bị một người vừa là rể vừa là cháu là Chey Chetta III giết chết, em là Ang Tan (Nặc Ông Tân) chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn. Nhưng ngay sau đó Chey Chetta III cũng bị người của Nặc Ông Chân sát hại. Ang Chei (Nặc Ông Đài, ở ngôi: 1673-1674) con trai đầu của vua Barom Reachea VIII lên ngôi. Ông Đài cho đắp thành lũy ở địa đầu Mỗi Xuy, nhờ Xiêm cứu viện để chống lại chúa Nguyễn. Bị quân Xiêm đánh đuổi, Ang Tan cùng cháu là Ang Nan (Nặc Ông Nộn) chạy sang Sài Gòn kêu cứu chúa Nguyễn. Năm 1674, Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần sai Cai cơ Nguyễn Dương Lâm và Tham mưu Nguyễn Đình Phái chia quân làm hai cánh cùng tiến lên Chân Lạp. Nặc Ông Đài bỏ thành Nam Vang chạy vào rừng, để rồi bị thuộc hạ đâm chết. Sau khi Nặc Ông Đài mất, người em là Nặc Ông Thu (Ang Sor) ra hàng. Để giải quyết tình trạng "nồi da xáo thịt" dai dẳng này, chúa Nguyễn cho Nặc Ông Thu làm Chính vương, đóng đô ở Phnom pênh (Nam Vang), cho Nặc Ông Nộn làm Đệ nhị vương, đóng đô ở khu vực gò Cây Mai (thuộc Sài Côn, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh)...Tuy nhiên, hai phe vẫn không từ bỏ ý định loại trừ nhau. Sau hơn 50 năm luôn phải tìm cách tồn tại trong chốn vàng son nhưng đẫm máu ấy, theo lời kể, thì Thái hậu Ngọc Vạn đã theo Nặc Ông Nộn về Sài Côn, rồi lui về sống ở Bà Rịa. Nơi đây, bà cho lập chùa Gia Lào (núi Chứa Chan, Đồng Nai), rồi ẩn tu cho đến hết đời. Khẳng định Ngọc Vạn chính là vợ vua Chey Chetta II. Trước đây, vị công nữ được gả cho Chey Chetta II vẫn còn là một vấn đề chưa thống nhất. Vì ở mục "Công chúa" trong Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên chỉ ghi như thế này: "Chúa Sãi có bốn người con gái là: 1/ Công chúa Ngọc Liên, lấy Trấn biên doanh trấn thủ phó tướng Nguyễn Phúc Vĩnh. Phúc Vĩnh là con trưởng Mạc Cảnh Huống. 2/ Công chúa Ngọc Vạn, không có truyện. 3/ Công chúa Ngọc Khoa, không có truyện. 4/ Công chúa Ngọc Đĩnh lấy phó tướng Nguyễu Cửu Kiều. Năm Giáp Tỵ (1684, Lê Chính Hòa năm thứ 5), mùa đông, Ngọc Đĩnh Mất." Tương tự, trong quyển "Généalogie des Nguyễn avant Gia Long" (Phổ hệ nhà Nguyễn trước Gia Long) của Tôn Thất Hân và Bùi Thanh Vân (Bulletin des Amis de vieux Huế, 1920) cũng chỉ ghi là: "Ngọc Khoa con gái thứ của Sãi vương, không để lại dấu tích. Ngọc Vạn con gái thứ của Sãi vương, không có dấu tích gì về Ngọc Vạn." Bàn về việc "không có truyện" trên, trong cuốn "Việt sử xứ Đàng Trong" của GS. Phan Khoang có đoạn: "Việc này, sử ta đều không chép, có lẽ các sử thần nhà Nguyễn cho là việc không đẹp, nên giấu đi chăng? Nhưng nếu họ quan điểm như vậy thì không đúng. Hôn nhân chính trị, nhiều nước đã dùng, còn ở nước ta thì chính sách đã đem lại ích lợi quan trọng. Đời nhà Lý thường đem công chúa gả cho các tù trưởng các bộ lạc thượng du Bắc Việt, các bộ lạc ấy là những giống dân rất khó kiếm chế. Nhờ đó mà các vùng ấy được yên ổn, dân thượng không xuống cướp phá dân ta, triều đình thu được thuế má, cống phẩm; đất đai ấy, nhân dân ấy lại là một rào dậu kiên cố ở biên giới Hoa-Việt để bảo vệ cho miền Trung Châu và kinh đô Thăng Long. Đến đời Trần, chính đôi má hồng của ả Huyền Trân đã cho chúng ta hai châu Ô, Lý để làm bàn đạp mà tiến vào Bình Thuận." "Sử ta không chép, nhưng theo các sách sử Cao Miên do các nhà học giả Pháp biên soạn, mà họ lấy sử liệu Cao Miên để biên soạn thì quả Chey Chetta II năm 1620 có cưới một công nữ con chúa Nguyễn. Giáo sĩ Borri, ở Đàng Trong trong thời gian ấy cũng có nói đến cuộc hôn nhân này. Xem "Đại Nam liệt truyện Tiền biên" (mục Công Chúa), thấy chúa Hi Tông (tức chúa Sãi) có bốn con gái, hai nàng Ngọc Liên, Ngọc Đãng thì có chép rõ sự tích chồng con, còn hai nàng Ngọc Vạn, Ngọc Khoa thì chép là "khuyết truyện", nghĩa là không có tiểu truyện, tức là không biết chồng con như thế nào. Vậy người gả cho vua Chey Chetta II phải là Ngọc Vạn hoặc Ngọc Khoa." Sách "Nguyễn Phúc tộc Thế phả" xuất bản tại Huế (1995) khẳng định rằng: Người Việt ghi nhận công lao. Theo Nguyễn Lệ Hậu, thì: "việc giữ gìn biên cương và mở mang bờ cõi luôn là ước vọng lớn lao của hầu hết các đấng quân vương, và trong suốt thời gian trị vì của mình các bậc đế vương đã không ngừng khai thác bằng hầu hết những khả năng và biện pháp vốn có. Ở đây, vấn đề hôn nhân nhằm mục đích chính trị đã đóng một vai trò không nhỏ trong việc mở mang bờ cõi, nhất là trong công cuộc Nam tiến. Trong đó các cành vàng lá ngọc đã đóng một vai trò nhất định, nước mắt má hồng đã tô thắm cho từng dãi đất biên cương." Nhận xét riêng về vai trò của Ngọc Vạn, TS. Trần Thuận viết: "Cuộc hôn nhân này mặc dầu không được sử nhà Nguyễn ghi chép vì một lý do nào đó. Song, xét đến cùng thì đây là một cuộc hôn nhân mang màu sắc chính trị có tầm quan trọng đặc biệt đối với lịch sử dân tộc Việt Nam, nó đáp ứng nhu cầu cho cả hai phía. Chân Lạp cần có sự "bảo hộ" của chúa Nguyễn để tránh khỏi sự tấn công tiêu diệt của vương quốc Xiêm. Chúa Nguyễn cần có chỗ đứng ở phía Nam, đẩy mạnh sự khai phá của lưu dân Việt trên mảnh đất khô cằn và thấp trũng mà từ lâu người Chân Lạp vẫn bỏ hoang, đồng thời tạo nên sự ổn định mặt phía Nam để rảnh tay lo đương đầu với thế lực Trịnh ở phía Bắ, rõ ràng là một chiếc cầu nối trong quan hệ Việt–Miên ở thế kỷ , từng có những người phụ nữ làm nên đại cuộc như Hai Bà Trưng, Bà Triệ, và cũng từng có những người phụ nữ lặng lẽ hy sinh để cha anh làm nên nghiệp lớn như Huyền Trân, Ngọc Vạn, Ngọc K! Cảm phục Ngọc Vạn và Ngọc Khoa, thi sĩ Trần Tuấn Khải (1895-1983), đã có thơ rằng:
Nguyễn Tấn Dũng (sinh ngày 17 tháng 11 năm 1949 tại Cà Mau) là một chính trị gia người Việt Nam. Ông nguyên là Thủ tướng thứ sáu của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2016. Từ năm 1997 đến năm 2016, ông cũng đồng thời là Đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa X, XI, XII, XIII thuộc đơn vị bầu cử khu vực 3 Thành phố Hải Phòng (huyện Tiên Lãng), Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa VIII, IX, X, XI, Trưởng ban Ban Chỉ đạo thi hành án phần tài sản vụ án EPCO - Minh Phụng từ năm 2002. Ông từng giữ chức Trưởng ban Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Sau Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI), ban này chuyển sang cho Bộ Chính trị quản lý, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Ông được Quốc hội bầu lên vị trí Thủ tướng Chính phủ từ ngày 24 tháng 6 năm 2006 sau khi Thủ tướng tiền nhiệm Phan Văn Khải quyết định về hưu năm 2006. Sau đó ông tái đắc cử vào ngày 25 tháng 7 năm 2011. Ông là nhà lãnh đạo cấp cao đầu tiên của Việt Nam thuộc thế hệ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và cũng là một trong những Thủ tướng trẻ tuổi nhất khi nhậm chức là 56 tuổi. Tại Đại hội Đảng lần thứ XII ông xin không tái cử vào Ban chấp hành Trung ương và được chấp nhận. Từ ngày 6 tháng 4 năm 2016 ông thôi nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ, nghỉ hưu theo chế độ.. Ông làm Thủ tướng vào cuối khóa X sau khi ông Khải từ chức rồi làm Thủ tướng qua 2 khóa XI và XII nên ông có 3 nhiệm kỳ làm Thủ tướng. Nguyễn Tấn Dũng quê ở Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Cha ông là Nguyễn Tấn Thử (tên khác: Nguyễn Tấn Minh, Mười Minh) chính trị viên phó Tỉnh đội Rạch Giá, mất ngày 16 tháng 4 năm 1969, khi một trái bom Mỹ đã ném trúng hầm trú ẩn của Tỉnh đội Rạch Giá, và được truy phong liệt sĩ. Mẹ ông là bà Nguyễn Thị Hường (1924 – 2017). Bà là chị em con chú con bác với diễn viên Nguyễn Chánh Tín. Là con thứ hai trong gia đình, Nguyễn Tấn Dũng còn được gọi với cái tên Ba Dũng. Khi tham gia quân đội năm 1961, ông học Bổ túc văn hóa cấp III và Khóa đào tạo Quân y sỹ và Bổ túc chương trình Phẫu thuật ngoại khoa của bác sĩ Quân y đến tháng 12 năm 1976. Từ năm tháng 1 năm 1977, học khóa Sỹ quan chỉ huy cấp Tiểu đoàn - Trung đoàn đến tháng 9 năm 1981. Năm 1981, ông thôi phục vụ trong quân đội, tháng 10 năm 1981 ông học ở Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc tại Hà Nội đến tháng 12 năm 1994. Năm 1991 ông học Cử nhân Luật của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh hệ tại chức đến năm 1994. Sự nghiệp chính trị. Từ tháng 9 năm 1997, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khoá X (đại biểu khu vực 3 Hải Phòng) và được đề cử và sau đó được Quốc hội thông qua giữ chức Phó Thủ tướng; sau đó Thủ tướng Phan Văn Khải cử giữ chức vụ Phó Thủ tướng Thường trực và Chủ tịch Hội đồng Tài chính - Tiền tệ của Chính phủ, trong thời gian này ông được nhà nước Lào tặng thưởng Huân Chương ISALA hạng nhất (huân chương cao quý nhất của Lào). Tháng 5 năm 1998, Quốc hội thông qua cử ông kiêm chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Chức vụ này ông giữ đến ngày 11 tháng 12 năm 1999 thì bàn giao lại cho ông Lê Đức Thúy. Tháng 8 năm 2002, ông tiếp tục được đề cử giữ chức vụ Phó Thủ tướng và được Quốc hội khoá XI thông qua. Thủ tướng Chính phủ (2006-2016). Ngày 16 tháng 5 năm 2006, Thủ tướng Phan Văn Khải đề cử ông làm người kế nhiệm mình trước phiên khai mạc kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI. Ngày 27 tháng 6 năm 2006, ông được Quốc hội bầu làm tân Thủ tướng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ông trở thành người trẻ nhất giữ chức vụ này. Ngày 27/11/2006, Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định 1568/QĐ – TT cho phép tu sửa nghĩa trang và mộ phần của các lính tử trận Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 25 tháng 7 năm 2007, tại Quốc hội khóa XII ông tái đắc cử nhiệm kỳ 2 chức vụ Thủ tướng Chính phủ, với tỷ lệ 96,96% phiếu đồng ý hợp lệ trên tổng số đại biểu. Ngày 26 tháng 7 năm 2011, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIII ông tái đắc cử nhiệm kỳ 3 với tỷ lệ 94% phiếu đồng ý hợp lệ trên tổng số đại biểu. Vấn đề kinh tế. Khủng hoảng kinh tế năm 2008. Trong cuộc Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009, khi lạm phát cả năm của Việt Nam lên cao nhất khu vực (25%), chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã thông qua gói kích cầu trị giá tổng cộng 8 tỷ đô la (tương đương 143.000 tỷ đồng). Về gói kích cầu này, ông Nguyễn Trần Bạt cho rằng, dòng tiền chảy không đến các mục đích như được thông báo, không có khu vực kinh tế nào ở Việt Nam tỏ ra khởi sắc sau gói kích cầu ngoài thị trường chứng khoán và nâng mức thâm hụt ngân sách lên đến 8% so với 5% của năm 2008. Tuy nhiên, theo Ngân hàng Phát triển châu Á nhận định thì gói kích cầu của Chính phủ đã có tác dụng tốt và kinh tế Việt Nam quý IV năm 2009 được đánh giá là hồi phục và tăng tốc. Tuy nhiên, sang năm 2010, gói kích cầu đã bộc lộ nhược điểm: bội chi ngân sách đến mức báo động, dự trữ ngoại hối quá thấp, bất ổn định kinh tế vĩ mô. Điều này dẫn tới lạm phát tăng cao, các chính sách thắt chặt tiền tệ ngay sau đó gây khó khăn kinh tế. IMF và WB phải đề nghị Việt Nam thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô. Thất bại trong việc quản lý kinh tế. Phá giá tiền tệ: trong vòng 14 tháng tính tới 13 tháng 2 năm 2011, Việt Nam đã phải phá giá đồng tiền bốn lần. Lần gần nhất, VND bị phá giá 9,3%. Trong nhiệm kỳ đầu, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam lâm vào tình trạng bất ổn nghiêm trọng, chứa đựng rất nhiều rủi ro suy thoái. Cùng chịu tác động bởi suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng kinh tế các nước trong khu vực không lâm vào tình trạng bất ổn như Việt Nam. Thủ tướng bị đặt câu hỏi về khả năng quản lý kinh tế. Trong những năm liên tiếp trước khi Thủ tướng Dũng nhậm chức ở nhiệm kỳ đầu tiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh dần: 7,08% năm 2002, 7,34% năm 2003, 7,79% năm 2004, và 8,44% năm 2005. Ngược lại, sau khi thủ tướng nhậm chức, tăng trưởng GDP giảm: năm 2007 đạt 8,23%, năm 2008 đạt 6,31%, năm 2009 đạt 5,32%, năm 2010 tăng một chút lên 6,78% nhưng năm 2011 chỉ còn 5,89%. Lạm phát tăng cao (nhất châu Á vào tháng 7-8 năm 2011) hậu quả của các chính sách vĩ mô sai lầm trong khi đời sống của nhân dân khó khăn hơn: Mức thu nhập trong giai đoạn 2008 - 2010 tăng bình quân 9,3%/năm (giai đoạn lạm phát cao lên tới hơn 40%) sau khi trừ đi yếu tố tăng giá đã thấp hơn mức thu nhập thực tế 10,7%/năm của thời kỳ năm 2002-2004. Ông cho ra nghị quyết 11 NQ/Cp thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô gây ra nhiều vấn đề, tác dụng phụ, cho nền kinh tế, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, ngân hàng khủng hoảng. Ngày 20/10/2012, trước Quốc hội, ông Dũng xin lỗi vì những yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành.. Trong trong Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIII ông đã thừa nhận các sai lầm trong quản lý kinh tế đã dẫn tới các vấn đề nghiêm trọng của nền Kinh tế Việt Nam. Năm 2013, trong đợt Lấy phiếu tín nhiệm tại Quốc hội lần đầu tiên, ông Nguyễn Tấn Dũng được số phiếu tín nhiệm cao 210, tín nhiệm 122, tín nhiệm thấp 160. Tổ tư vấn nhiệm kì 2011 – 2016. Tổ tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng nhiệm kì 2011 – 2016 gồm có 13 người sau (kèm chức vụ năm 2016): Tập trung đầu tư xây dựng hai Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để sớm phát triển hai Đại học này thành các cơ sở giáo dục Đại học xuất sắc, hàng đầu của Việt Nam, từng bước vươn lên đẳng cấp khu vực và quốc tế. Quyết định 97/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ. Trong đó ở điều 2 mục 2 có nhấn mạnh: "nếu có ý kiến phản biện về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cần gửi ý kiến đó cho cơ quan Đảng, Nhà nước có thẩm quyền, không được công bố công khai với danh nghĩa hoặc gắn với danh nghĩa của tổ chức khoa học và công nghệ." Thúc đẩy Bộ Khoa học và Công nghệ hoàn thiện các văn bản pháp quy, đào tạo nguồn nhân lực cho nhà máy điện nguyên tử đầu tiên khu vực Đông Nam Á tại Ninh Thuận. Ngày 29 tháng 4 năm 2009, ông ban hành công văn 650/TTg – KTN, chỉ đạo các bộ ban ngành phối hợp triển khai dự án bauxite tại Tây Nguyên. Một vài sự kiện liên quan xảy ra tại Việt Nam trong nhiệm kỳ của ông. Bao gồm: Nguyễn Tấn Dũng có những thành công về mặt đối ngoại. Năm tháng sau khi nhậm chức, ông để lại dấu ấn đầu tiên trong nhiệm kỳ của mình với thành công của hội nghị APEC (tháng 11 năm 2006). Tháng 5 năm 2007, tạp chí World Business bình chọn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là một trong 20 nhân vật cải cách của châu Á. Trong nhiệm kỳ của ông, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và sau đó là thành viên luân phiên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (nhiệm kỳ 2008-2009). Năm 2010, Việt Nam với vai trò chủ tịch luân phiên của ASEAN được đánh giá là thành công trong hoạt động ngoại giao và kết nối các thành viên được nhiều báo chí đánh giá là nhờ công lớn của ông. Tháng 1 năm 2016, tại Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam ông vẫn nhận được đề cử vào Ban chấp hành Trung ương, mặc dù trước đó ông xin không tái cử. Sau đó Đại hội đã biểu quyết cho phép ông rút khỏi danh sách bầu cử.. Từ ngày 6 tháng 4 năm 2016, ông được Quốc hội miễn nhiệm chức vụ Thủ tướng Chính phủ và nghỉ hưu theo chế độ. Chỉ trích và bê bối. Ông là thủ tướng đầu tiên của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bị khởi kiện chính thức với cáo buộc vi hiến. Ngày 11 tháng 6 năm 2009, ông Cù Huy Hà Vũ đã gửi đơn kiện thủ tướng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về việc ký quyết định khai thác quặng bauxit ở Tây nguyên Việt Nam khi cho rằng ông Dũng đã vi phạm pháp luật Việt Nam khi ra quyết định về dự án trong đó có luật bảo vệ môi trường, luật bảo vệ di sản văn hóa. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân Hà Nội đã bác đơn kiện này. Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc phê bình: "Toàn dân người ta đã biết ông này không có năng lực quản lý xã hội, quản lý kinh tế cho nên chưa bao giờ kinh tế của chúng ta nó sa sút như bây giờ. Sự không có năng lực của ông ấy là đã rõ. Mặt khác, các tập đoàn kinh tế nào là Vinashin, Vinalines rồi còn bao nhiêu tập đoàn kinh tế khác mà ông Thủ tướng trực tiếp quản lý đã thất thoát hàng ngàn tỷ của nhân dân, thiệt hại quá lớn. Mặt khác, ông ấy lại độc đoán, độc tài vì vậy nếu còn nắm quyền thì ông ấy còn làm bao nhiêu thứ khác chỉ có hại cho đất nước như vậy thì không lo sao được ?". Ngày 18 tháng 9 năm 2015, ba ông Lưu Văn Sùng, Đỗ Thế Tùng và Nguyễn Đình Kháng đồng ký đơn gửi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành kiểm điểm, kỷ luật, và kiên quyết không để ông Nguyễn Tấn Dũng lọt vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII vì cho rằng ông Dũng tiếp sức cho các thế lực thù địch vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc, phá hoại tình đoàn kết, hữu nghị và kích động đối đầu Việt - Trung. Bê bối Mobifone mua AVG. Chiều ngày 18 tháng 12 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã diễn ra phiên xét xử vụ án Tổng Công ty Viễn thông Mobifone mua 95% cổ phần Công ty Cổ phần nghe nhìn Toàn cầu (AVG), diễn biến đáng chú ý là bị cáo Nguyễn Bắc Son, người được cho là chủ mưu của vụ bê bối này đã khai trước tòa rằng ông không phải kẻ chủ mưu, cầm đầu thương vụ AVG, mọi thứ đều có sự phê duyệt và làm đúng theo chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ (thời điểm đó đang trong nhiệm kỳ ông Nguyễn Tấn Dũng nắm quyền lãnh đạo cao nhất của Chính phủ). Đời sống cá nhân. Cha của Nguyễn Tấn Dũng là Nguyễn Tấn Thử (hay Nguyễn Tấn Minh) (tức Mười Minh), chính trị viên Tỉnh đội Kiên Giang, hi sinh trong một trận Mỹ ném bom B-52 vào ngày 16 tháng 4 năm 1969, được phong Liệt sỹ còn mẹ ông là bà Nguyễn Thị Hường, từng sống trong căn nhà 1108 đường Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá, Kiên Giang, cũng là nơi đặt nhà thờ họ của ông Dũng. Bà Hường mất ngày 30 tháng 11 năm 2017, thọ 93 tuổi. Ông có em trai là Tư Thắng và chị gái tên là Hai Tâm. Vợ ông là bà Trần Thanh Kiệm, cả 2 có ba người con. Con trai cả của ông là Nguyễn Thanh Nghị, sinh năm 1976, lấy bằng tiến sĩ ngành kỹ sư công chánh (xây dựng) ở Đại học George Washington ở Washington, từng giữ chức thứ trưởng Bộ Xây dựng và là bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang từ 16 tháng 10 năm 2015 đến 17 tháng 10 năm 2020.. Ông Nghị hiện là Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Người con thứ hai là bà Nguyễn Thanh Phượng, sinh năm 1980, tốt nghiệp Cử nhân Kinh tế tại Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội và Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (MBA) tại Đại học quốc tế tại Geneva, Thụy Sĩ (International University in Geneva). Bà là Chủ tịch Quỹ Đầu tư Bản Việt, doanh nghiệp với số vốn khoảng 55 triệu đô la Mỹ, chủ tịch Chứng khoán Bản Việt từ năm 2007, thành viên HDQT Ngân hàng Bản Việt từng giữ chức Chủ tịch nhưng đã tạm nghỉ theo chế độ thai sản hồi đầu tháng 5 năm 2013. Bà Phượng kết hôn với ông Nguyễn Bảo Hoàng là một Việt kiều Mỹ năm 2008 và hiện có hai con. Nguyễn Bảo Hoàng sinh năm 1974 là Tổng giám đốc Quỹ đầu tư IDG Ventures Vietnam, chuyên đầu tư vào các công ty thuộc lĩnh vực tiêu dùng, truyền thông và công nghệ kể từ năm 2004. Hiện ông là chủ tịch Liên đoàn Bóng rổ Việt Nam, Chủ tịch Học viện thể thao Sài Gòn (SSA), sở hữu chi nhánh MacDonald tại Việt Nam. Con trai út của Nguyễn Tấn Dũng, tên là Nguyễn Minh Triết, sinh năm 1988, từng học A level tại trường St. Michael College (Mỹ), theo học cử nhân về kỹ sư kỹ thuật hàng không ở Đại học Queen Mary của Anh và hoàn tất khóa học thạc sĩ chuyên ngành kỹ sư chế tạo máy tại Anh. Từng công tác tại Ban thanh niên nông thôn - Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Ủy viên Trung ương Đoàn, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ và Phát triển Sinh viên Việt Nam, bí thư tỉnh đoàn Bình Định và Ủy viên ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định, nhiệm kỳ 2013 - 2017. Tháng 4 năm 2016, Nguyễn Minh Triết đã làm đám cưới với cô Đồng Thanh Vy, người từng đoạt giải Á hậu Đông Nam Á. Ngay sau lễ cưới, Nguyễn Minh Triết nhận được quyết định bổ nhiệm làm Trưởng ban Thanh niên Trường học, Trung ương Đoàn tại Hà Nội, nơi Đồng Thanh Vy đang theo học trường Cao đẳng Kế toán Hà Nội. Nguyễn Minh Triết hiện đang là Bí thư Trung ương Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam.
Frank Lloyd Wright sinh ngày 8 tháng 6 năm 1867 – 9 tháng 4 năm 1959) – nhà kiến trúc sư người Mỹ, nhà thiết kế nội thất, nhà văn và nhà giáo dục học, người đã thiết kế hơn 1000 cấu trúc và 532 công trình kiến trúc. Wright cho rằng việc thiết kế các cấu trúc phải dựa trên sự hài hòa giữa con người và môi trường xung quanh, một triết lý mà ông gọi là " kiến trúc hữu cơ". Triết lý này được minh họa bởi thiết kế Thác nước (1935), được coi là: " công trình vĩ đại nhất mọi thời đại của kiến trúc Mỹ". Wright là người dẫn đầu trào lưu kiến trúc Prairie và phát triển khái niệm nhà Usonian, tầm nhìn độc nhất vô nhị của ông về quy hoạch đô thị ở Mỹ. br Các công trình của ông bao gồm các ví dụ nguyên bản và các ví dụ cách tân về các loại hình nhà cao tầng gồm: công sở, trường học, nhà thờ, các tòa nhà cao chọc trời, khách sạn và viện bảo tàng. Wright cũng thiết kế rất nhiều yếu tố nội thất cho các tòa nhà của ông, ví dụ như đồ gia dụng và kính màu. Wright không chỉ là tác giả của 20 quyền sách và rất nhiều bài báo mà còn là giảng viên đại học nổi tiếng ở Mỹ và châu Âu thời đó. Đời tư đầy thăng trầm của ông đã từng là giật tít lớn trên các bài báo và đáng chú ý nhất là trận hỏa hoạn năm 1914 và vụ ám sát tại xưởng vẽ Talies. Dù ông đã được nổi tiếng suốt cuộc đời mình, năm 1991, Wright được Viện Kiến trúc sư Mỹ công nhận là 'kiến trúc sư vĩ đãi nhất mọi thời đại của nước Mĩ". Năm 2019, một bộ tuyển chọn các tác phẩm của ông đã trở thành di sản thế giới với tên gọi " Kiến trúc thế kỷ 20 của Frank Lloyd Wright." Wright sinh ra tại một thị trấn nông nghiệp ở Richland Center, tiểu bang Wisconsin, Mỹ vào ngày 8 tháng 6 năm 1867, và được đặt tên là Frank Lincoln Wright. Cha ông là một nhà diễn thuyết đáng kính ở địa phương, một giáo viên dạy nhạc, một luật sư phụ động (không thường xuyên) và là một mục sư hay đi đó đây. William Wright gặp gỡ và kết hôn với Anna Lloyd Jones, một giáo viên tỉnh lẻ, vào một năm trước khi ông được nhận vào làm thanh tra của các trường trong hạt. Ban đầu, cha ông là một mục sư rửa tội phái Baptist nhưng sau đó ông gia nhập gia đình vợ theo đức tin Unitarian. Anna thuộc dòng dõi lớn, danh giá và giàu có Lloyd Jones, di cư từ xứ Wales sang Spring Green, WiIsconsin. Một trong những người anh của bà là Jenkin Lloyed Jones, người đã trời thành, một trong những nhân vật quan trọng trong việc truyền đạo Unitarian ở miền Tây Hoa Kỳ.Cả cha mẹ Wright đều là những cá nhân bản lĩnh với những sở thích, thú tiêu khiển đi từ tư chất của 2 người và họ đã truyền đạt lại cho ông. Theo tiểu sử của mẹ ông, bà đã rất mong chờ đứa con cả của mình sẽ lớn lên và xây dựng những tòa nhà tuyệtt đẹp. Bà trang hoàng phòng ngủ của ông bằng những bản vẽ của những nhà thờ Anh xé ra từ những tờ tạp chí để nuôi dưỡng hoài bão của đứa trẻ. Gia đình ông chuyển về Weymouth, Massachusetts năm 1870 để William làm mục sư ở một giáo đoàn nhỏ. br Năm 1876, Anna viếng thăm triển lãm Centennial ở Philadelphia và thấy các trò chơi trí tuệ khối gỗ xếp hình được trưng bày của Friedrich Wilhelm August Fröbel. Wright rất thích chơi trò chơi khối xếp hình do mẹ ông mua tặng. Trò chơi này bao gồm nhiều khối hình học khác nhau có thể được kết hợp thành nhiều tổ hợp đa dạng để hình thành các tổ hợp không gian ba chiều. Trò chơi này đã đặt nền móng cho quá trình Sau này, Wright đã viết trong hồi ký của mình về ảnh hưởng của trò chơi đó tới quan điểm của ông như sau: " Trong vài năm, tôi ngồi trên bàn nhỏ của trẻ mẫu giáo, và chơi với khối vuông, khối cầu và hình tam giác, những khối hình bằng gỗ cây thích nhẵn đó…tất cả vẫn còn nằm trên những ngón tay tôi đến ngày hôm nay…" Rất nhiều công trình của Wright nổi tiếng do dáng vẻ hình học đặc trưng mà những khối màu gỗ đó thể hiện. br Gia đình Wright gặp khó khăn về tài chính và phải quay về Spring Green Wisconsin, nơi dòng dõi Lloyd Jones có thể giúp William cha ông tìm được việc làm. Họ định cư ở Madison, nơi William dạy nhạc và làm thư ký cho một công đồng Unitarian mới thành lập. Mặc dù William là một người cha không gần gũi con nhiều, nhưng ông vẫn chia sẻ tình yêu âm nhạc, đặc biệt là các tác phẩm của Johann Sebastian Bach với các con mình. br Vào năm Wright 14 tuổi, cha mẹ ông ly thân. Anna mẹ ông đã không hài lòng một thời gian khi cha ông không có khả năng gánh vác gia đình và đề nghị ông rời khỏi nhà. Vụ ly dị hoàn tất mọi thủ tục năm 1885 sau khi William kiện Anna về việc bà thiếu thốn tình cảm trong việc chăn gối. William rời Wisconsin sau vụ ly dị và Wright tuyên bố rằng ông sẽ không bao giờ gặp lại cha mình nữa. Thời điểm này ông đổi chữ lót từ Lincoln thành Lloyd theo dòng dõi của mẹ ông, Lloyd Jonneses. Với vai trò là người đàn ông duy nhất trong gia đình, Wright gánh vác trọng trách tài chính cho mẹ và 2 người chị em. Học vấn và quá trình làm việc cho Silsbee (1885–1888). Wright học ở một trường phổ thông ở Madison nhưng không có bằng chứng nào cho thấy ông đã từng tốt nghiệp. Năm 1886, Ông được nhận vào học và bắt đầu con đường học hành của mình tại trường Đại học Wisconsin như một học sinh đặc biệt, tại đây, ông là thành viên của hội huynh đệ Phi Delta Theta.Ông học các khóa học bán thời gian trong 2 học kỳ và làm việc với giáo sư kỹ thuật dân dụng Allan D. C Năm 1887, ông rời trường mà không nhận bằng (dù vậy, ông được chứng nhận bằng tiến sĩ danh dự ngành Mỹ học từ trường năm 1895) và đến Chicago tìm việc làm. Do vụ hỏa hoạn lớn ở Chicago năm 1871 và sự bùng bổ dân số trong những năm đó, việc công cuộc phát triển cơ sở hạ tầng đang tràn ngập cả thành phố. Ông sau này nhớ lại kể rằng ấn tượng đầu tiên của ông về thành phố Chicago là những khu nhà đầy bụi, cáu bẩn, những con đường đông đúc và kiến trúc đáng thất vọng, nhưng ông rất quyết tâm tìm việc làm. Trong vài ngày, sau khi được phỏng vấn với vài công ty nổi tiếng, ông được nhận vào làm thợ thiết kế cho một công ty kiến trúc của Joseph Lyman Silsbee. Wright đã từng hợp tác trước đó với Silsbee- khi đó là thợ thiết kế và giám sát công trình – trong nhà thờ nhỏ Unity với gia đình Wright ở Spring Green, Wisconsin. Nhưng trong khi làm trong công ty đó, ông Wright còn làm cho 2 dự án gia đình khác: All Souls Church ở Chicago cho chú ông, Jenkin Lloyd Jones, và Hillside Home School I ở Spring Green cho 2 dì của ông. Những thợ thiết kế khác làm cho Silsbee năm 188 còn có các nhà kiến trúc sư sau này như: Cecil Corwin, George W. Maher, và George G. Elmslie. Wright nhanh chóng kết bạn Corwin, người mà ông đã ở cùng cho đến khi ông tìm được một căn nhà ổn định. br Trong hồi ký của mình, Wright kể lại ông cũng đã có khoảng thời gian ngắn làm việc cho 1 công sở kiến trúc khác ở Chicago. Cảm thấy bị trả lương không tương xứng cho công việc của mình ở Silsbee (8 đô/ tuần), anh thợ thiết kế trẻ bỏ việc và làm nhà thiết kế cho các công ty Beers, Clay, and Dutton. Tuy nhiên, Wright nhanh chóng tự nhận ra mình không đủ sức với những thiết kế của mình, ông bỏ việc mới và quay về với Joseph Silsbee- lần này, ông được tăng lươ Dù Silsbee khăng khăng bám vào mỗi kiến trúc Victorian và kiến trúc phục hưng, Wright lại thấy các công trình của mình "duyên dáng như tranh vẽ" hơn là hung ác tàn bạo của thời kì đó. Vậy nhưng Wright vẫn khao khát làm việc tiến bộ hơn. Sau gần 1 năm làm cho Silsbee, Wright biết được rằng công ty của Adler Sullivan đang tìm một người " có thể hoàn thành các bản vẽ nội thất bên trong một tòa giảng đường". Wright thể hiện với họ rằng ông là một người có đủ khả năng và ấn tượng với các của thiết kế trang trí của Louis Sullivan, và trong 2 buổi phỏng vấn ngắn sau đó, ông nói là một người học nghề trong công ty.
Công nữ Ngọc Khoa Công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Khoa (chữ Hán: 公女阮福玉誇), không rõ sinh mất năm nào, là con gái thứ ba của chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên. Theo "Nguyễn Phước tộc Thế phả", bà được gả cho Po Romê vào năm Tân Mùi (1631). Nhờ có cuộc hôn phối này mà tình giao hảo giữa hai nước được tốt đẹp, để chúa Nguyễn có thể dồn lực lại hòng đối phó với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đồng thời cũng tạo thêm cơ hội cho người Việt mở rộng lãnh thổ về phía Nam. Thời kỳ chiến tranh Đàng Ngoài-Đàng Trong vừa bắt đầu bùng nổ năm 1627. Năm 1629, lưu thủ Phú Yên là Văn Phong liên kết với người Chiêm Thành nổi lên chống lại chúa Nguyễn. Chúa Sãi cử Phó tướng Nguyễn Hữu Vinh, đem quân dẹp yên, và đổi phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên. Từ cuối thế kỷ 16 người Chiêm Thành thường buôn bán với người Bồ Đào Nha ở Ma Cao, một thuộc địa của Bồ Đào Nha trên đất Trung Hoa. Thương thuyền Bồ Đào Nha hay ghé buôn bán trao đổi với người Chiêm ở hải cảng Cam Ranh và Phan Rang. Sự liên hệ này khiến chúa Sãi lo ngại người Chiêm sẽ liên kết với Bồ Đào Nha, để chống lại mình. Vậy, đây có thể là một trong những nguyên nhân đã dẫn đến cuộc hôn phối giữa Ngọc Khoa và vua Po Romê, giúp Nguyễn Phúc Nguyên có được sự hòa hảo với Chiêm Thành. Và rất có thể vì cuộc hôn phối này, mà sử sách không biên chép gì về Ngọc Khoa. Giở Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên thì thấy chúa Sãi có bốn người con gái, mà hai trong số đó là Ngọc Vạn và Ngọc Khoa đều ghi là: "không có truyện". Tương tự, trong quyển "Généalogie des Nguyễn avant Gia Long" (Phổ hệ nhà Nguyễn trước Gia Long) của Tôn Thất Hân và Bùi Thanh Vân (Bulletin des Amis de vieux Huế, 1920) cũng chỉ ghi là: "Ngọc Khoa con gái thứ của Sãi vương, không để lại dấu tích. Ngọc Vạn con gái thứ của Sãi vương, không có dấu tích gì về Ngọc Vạn." Thế nhưng cái tên Ngọc Khoa lại được nói đến ít nhất trong ba tác phẩm, đó là: "Việt sử giai thoại" của Đào Trinh Nhất, "Đất Việt Trời Nam" của Thái Văn Kiểm, "Việt Nam Văn Học Toàn Thư" của Hoàng Trọng Miên. Và cả ba tác giả đều đã viết rằng người đàn bà lấy vua Chiêm Thành Po Romé là công nữ Ngọc Khoa, con gái của chúa Sãi. Tuy nhiên, mãi đến khi "Nguyễn Phúc tộc Thế phả" được xuất bản tại Huế (1995) thì tiểu truyện của hai công nữ Ngọc Vạn và Ngọc Khoa mới được xác định khá rõ ràng: "Về cuộc Nam Tiến, Ngài (chúa Sãi) đã dùng chính sách hoà bình, thân thiện với Chiêm Thành và Cao Miên. Năm 1620, Chúa gả Công Nữ Ngọc Vạn cho vua Cao Miên là Chư Chetta II (1618-1686) nên dân chúng vào làm ăn sinh sống ở vùng đất Thủy Chân Lạp của Cao Miên được thuận lợi. Năm 1631, Chúa lại gả Công Nữ Ngọc Khoa cho Vua Chiêm Pô Romê, nhờ đó mà có sự hoà hiếu Chiêm-Việt." Bàn về việc "không có truyện" trong sử nhà Nguyễn, GS. Phan Khoang viết: "Việc này, sử ta đều không chép, có lẽ các sử thần nhà Nguyễn cho là việc không đẹp, nên giấu đi chăng? Nhưng nếu họ quan điểm như vậy thì không đúng. Hôn nhân chính trị, nhiều nước đã dùng, còn ở nước ta thì chính sách này đã đem lại ích lợi quan trọng. Đời nhà Lý thường đem công chúa gả cho các tù trưởng các bộ lạc thượng du Bắc Việt, các bộ lạc ấy là những giống dân rất khó kiếm chế. Nhờ đó mà các vùng ấy được yên ổn, dân thượng không xuống cướp phá dân ta, triều đình thu được thuế má, cống phẩm; đất đai ấy, nhân dân ấy lại là một rào dậu kiên cố ở biên giới Hoa-Việt để bảo vệ cho miền Trung Châu và kinh đô Thăng Long. Đến đời Trần, chính đôi má hồng của công chúa Huyền Trân đã cho chúng ta hai châu Ô, Lý để làm bàn đạp mà tiến vào Bình Thuậ" Công nữ Ngọc Khoa tên đầy đủ là Nguyễn Thị Ngọc Khoa, là em ruột cùng mẹ với công nữ Ngọc Vạn và là con gái thứ ba của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên. Cũng như Ngọc Vạn, không một tài liệu nào ghi chép công nữ Ngọc Khoa sinh vào tháng mấy, năm nào. Hơn nữa là sử liệu của Đại Việt không viết nhiều về bà mà chỉ có những truyền thuyết và sử Chăm đề cập. Một điều đáng quan tâm về công nữ Ngọc Khoa của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên này chính là nhan sắc tuyệt trần. Nhan sắc của Ngọc Khoa đẹp đến nổi mà chỉ một lần chúa Sãi cho Ngọc Khoa theo đoàn thương buôn vào Chiêm Thành mua bán hàng hóa, Po Rome vừa nhìn thấy đã mê mẩn, bần thần, từ đó chỉ còn mơ tưởng mau chóng gặp lại và sở hữu nhan sắc tuyệt trần kia. Điều này được hai tác giả Dohamide và Doroheim ghi trong tác phẩm “Lược sử dân tộc Chăm”. Biết được vua Po Rome bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của con gái mình. Chúa Sãi Nguyên Phúc Nguyên, đã quyết định gả Ngọc Khoa cho Po Rome để hòa hoãn với Champa. Quan trọng hơn là tránh mối nguy bị Champa đánh úp sau lưng, đặc biệt là thực hiện những mưu đồ sau này. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nhìn thấy ở vua Po Rome ở một điều; đó là Po Rome là người rất giỏi thao lược, chú trọng mở rộng kinh tế, đặc biệt là ngoại giao rất tốt với các nước mạnh như Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Indonesia, Malaysia … Điều này đã dẫn đến sự lo ngại khi Champa mạnh lên sẽ làm cho Đại Việt phải khốn đốn trong việc giữ yên bờ cõi. Cuộc hôn nhân này bị sự phản đối của đại thần hai nước. Tuy nhiên, với Đại Việt thì không quá lớn còn Champa thì việc này được các đại thần phản đối mạnh mẽ. Nhưng vì ý vua đã quyết nên cuộc hôn nhân đã thực hiện tốt đẹp vào năm 1631. Tuy là người vợ thứ ba của vua Po Rome nhưng so với hoàng hậu chánh thất Bia Than Cih và thứ hậu Bia Than Can; Công nữ Ngọc Khoa (Bia Ut Yuôn) khi về Dinh điện của Champa rất được vua Po Rome sùng ái. Sự sùng ái này đến nỗi trong khoảng thời gian ngắn Ngọc Khoa đã đẩy hoàng hậu chánh thất Bia Than Cih và thứ hậu Bia Than Can vào hậu cung. Làm được điều này là do nhan sắc của Ngọc Khoa quá đẹp, quá duyên dáng và quá thông minh. Một thời gian sau, không biết vì lí do gì mà Ngọc Khoa (Bia Ut Yuôn) sinh bệnh và không có ai có thể chữa trị được. Nhiều nguồn liệu ghi lại thì Ngọc Khoa giả vờ để thực hiện mục đích gì đó mà chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã căn dặn. Và cuối cùng, mọi chuyện cũng rõ khi Ngọc Khoa nói với Po Rome rằng nàng bị thần Krek quấy phá, làm sinh bệnh; và chỉ có cách chặt cây Krek thì nàng mới khỏi bệnh. Với vương quốc Champa, ngoài hoa sứ (hoa Champa) là loài hoa được xem là quốc hoa của Champa; thì cây Krek là cây được xem là nơi thần ngự trị và hộ mệnh cho vương quốc Champa. Không những vậy, cây Krek là cây thân gỗ được Champa sử dụng để đóng thuyền chiến cho thủy binh. Chính vì vậy mà nhân dân Champa rất coi trọng và hết lòng bảo vệ cây Krek. Đã biết vì sao mà Bia Ut Yuôn bị bệnh chữa hoài không hết, cộng thêm việc Po Rome quá yêu và chiều chuộng Bia Ut Yuôn. Cho nên, vua Po Rome đã ra lệnh cho binh lính chặt cây Krek mọc trong dinh điện của mình. Tuy nhiên, khi binh lính dùng rìu chặt cây Krek thì cây phun ra những tia máu giết chết ngay tại chỗ. Quá tức tối và nóng giận việc binh lính không chặt đổ được cây Krek, thêm việc bệnh tình Bia Ut Yuôn ngày càng nặng. Đích thân vua Po Rome đã rút gươm chặt đổ cây Krek. Vua chặt đúng ba nhát thì cây Krek đổ xuống nhưng lạ thay thân cây vang than khắp trời và máu trong thân chảy ra suốt bảy ngày bảy đêm. Sau bảy ngày bảy đêm tuôn máu, cây Krek chết, đúng lúc thì Bia Ut Yuôn hết bệnh. Năm 1651, Champa và Đại Việt và bắt đầu trở mặt nhau. Chủ động trong vấn đề này, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên cho quân tiến đánh Champa. Ngay lập tức, vua Po Rome cho sẻ gỗ Krek đóng thuyền chiến bắt đầu cuộc chiến với Đại Việt. Trong trận hỗn chiến với Đại Việt, vua Po Rome bị trúng kế, kết quả là bị bắt và tự sát trên đường giải về Huế. Cuộc chiến kết thúc, Đại Việt thắng trận và chiếm nhiều vùng đất của Champa. Tuy nhiên, với nhân dân Champa, họ không tin với tài thao lược của vua Po Rome thì không dễ gì Đại Việt sẽ đánh thắng. Mà họ cho rằng vua Po Rome thua trận là do ngài đã chặt đổ cây Krek, thần linh vì thế mà trút giận lên người Po Rome. Đặc biệt là thần Krek không phù hộ, che chở vận mệnh cho Champa nữa. Xảy ra điều này là do công nữ Đại Việt Ngọc Khoa đã mê muội Po Rome, vì thế nhân dân Chăm họ đã giận dữ tìm giết Ngọc Khoa. Tuy nhiên, khi biết tin Po Rome tử trận thì Ngọc Khoa đã tự sát theo. Theo quan điểm của người Chiêm. Sử sách không ghi lại là bà Ngọc Khoa đã làm những gì ở triều đình Chiêm Thành, chỉ biết rằng truyền thuyết cũng như tục ngữ Chiêm Thành đều có ý trách cứ, cho rằng bà Ngọc Khoa đã làm cho vua Po Romê trở nên mê muội và khiến cho nước Chiêm sụp đổ. Ngoài việc thần linh hóa câu chuyện, truyền thuyết trên đây đã phản ảnh một phần sự thật lịch sử, đó là nước Chiêm Thành, một lần nữa suy yếu hẳn đi sau cuộc hôn nhân Việt Chiêm năm 1631, nhờ đó, người Việt nhanh chóng vượt qua Chiêm Thành, xuống đồng bằng sông Cửu Long. Như thế, hai công nữ Ngọc Khoa và Ngọc Vạn, tuy không chính thức đem lại đất đai như công chúa Huyền Trân, nhưng cả hai đều đã mở đường cho cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễ Theo quan điểm của người Việt. Theo Nguyễn Lệ Hậu, thì: "việc giữ gìn biên cương và mở mang bờ cõi luôn là ước vọng lớn lao của hầu hết các đấng quân vương, và trong suốt thời gian trị vì của mình các bậc đế vương đã không ngừng khai thác bằng hầu hết những khả năng và biện pháp vốn có. Ở đây, vấn đề hôn nhân nhằm mục đích chính trị đã đóng một vai trò không nhỏ trong việc mở mang bờ cõi, nhất là trong công cuộc Nam tiến. Trong đó các cành vàng lá ngọc đã đóng một vai trò nhất định, nước mắt má hồng đã tô thắm cho từng dãi đất biên cương".. Chính vì lẽ đó, thi sĩ Trần Tuấn Khải (1895-1983), đã có thơ ca ngợi Ngọc Khoa và Ngọc Vạn như sau: Nhầm lẫn, nghi vấn. Nhiều tài liệu trước đây thường ghi tước vị của bà là công chúa, nhưng thực ra là công nữ, vì bà chỉ là con của chúa Nguyễn. Và ở Nhật Bản, các văn bản họ Araki ký gửi cơ quan Nagasaki Bugyousho (Trường Kỳ Phụng Hành Sở, một cơ quan quản lý mâu dịch hải ngoại tại Nagasaki) cho rằng một vị chúa hoặc trấn thủ Quảng Nam gả một con gái nuôi cho một thương gia Nhật, chủ một thương điếm ở Hội An tên là Araki Soutarou (Hoang Mộc Tông Thái Lang), tên Việt là Nguyễn Thái Lang, hiệu là Hiển Hùng. Điều này phù hợp với nội dung tìm tòi và phân tích của tác giả Thân Trọng Thủy, và bà này theo chồng qua sinh sống ở Nhật trong 26 năm, được người Nhật ở Nagasaki quý mến. Khi bà chết, mộ bà được chôn cạnh mộ chồng ở ngôi chùa Daionji (Đại Âm Tự) tại Nagasaki, sau này con cháu đời thứ 13 đã cải táng đi đâu không rõ..
Nguyễn Phúc Nguyên (chữ Hán: 阮福源; 16 tháng 8 năm 1563 – 19 tháng 11 năm 1635) hay Nguyễn Hy Tông, Nguyễn Tuyên Tổ, là vị chúa Nguyễn thứ hai của chính quyền Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam (ở ngôi từ 1613 đến 1635) sau chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Trong thời gian ở ngôi chúa, ông đã xây dựng một vương triều độc lập ở Đàng Trong, từng bước ly khai khỏi chính quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài. Ông được dân chúng gọi là chúa Sãi, chúa Bụt hay Phật chúa. Nguyễn Phúc Nguyên là con thứ sáu của chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525–1613), mẹ là Nguyễn thị. Ông sinh ngày 28 tháng 7 năm Quý Hợi, tức ngày 16 tháng 8 năm 1563. Nguyễn Phúc Nguyên là người đầu tiên trong dòng dõi chúa Nguyễn mang họ kép Nguyễn Phúc. Tương truyền lúc mang thai, mẹ ông chiêm bao thấy có vị thần đưa cho một tờ giấy trên có đề chữ "Phúc". Lúc kể lại chuyện, mọi người chúc mừng bà và đề nghị đứa bé ra đời được đặt tên là "Phúc". Nhưng bà nói rằng, nếu chỉ đặt tên Phúc cho đứa bé thì chỉ một mình nó hưởng, để cho nhiều người trong dòng họ được hưởng phúc, bà đề nghị lấy chữ này làm chữ lót. Và khi thế tử ra đời bà đặt tên là Nguyễn Phúc Nguyên. Theo sách "Đại Nam thực lục", sau khi kế nghiệp Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên cho sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài đâu cũng vui phục, bấy giờ người ta gọi là Chúa Phật. Từ đấy mới xưng quốc tính là họ Nguyễn Phúc. Các con của Nguyễn Hoàng, người con đầu là Nguyễn Hà, con thứ là Nguyễn Hán, con thứ ba là Nguyễn Diễn và con thứ tư là Nguyễn Thành đều đã mất sớm; người con thứ năm là Nguyễn Hải ở lại Bắc Hà làm con tin, chỉ còn Nguyễn Phúc Nguyên là người có khả năng kế thừa cơ nghiệp của Nguyễn Hoàng. Năm 1585, khi mới 22 tuổi, Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên dẫn một hạm đội 10 chiếc đến bến Cửa Việt, tiêu diệt hai chiếc tàu hải tặc Shirahama Kenki (Bạch Tần Hiển Quý), người Nhật Bản. Chúa Tiên (tức Nguyễn Hoàng) vui mừng khen rằng: "Con ta thực là anh kiệt." Năm Nhâm Dần (1602), Nguyễn Phúc Nguyên được cử đến trấn thủ dinh Quảng Nam. Nguyễn Phúc Nguyên tuổi lớn lại giỏi, ngày thường cùng các tướng bàn luận việc binh, tính toán có nhiều việc đúng. Nguyễn Hoàng biết có thể trao phó nghiệp lớn. Điều hành Đàng Trong. Những năm cuối đời, Nguyễn Hoàng bề ngoài tuy chưa chống đối họ Trịnh nhưng bên trong đã hết sức phòng bị. Tháng 6 năm 1613, Nguyễn Hoàng trước khi mất dặn Nguyễn Phúc Nguyên rằng: "Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang Hoành Sơn và sông Gianh Linh Giang hiểm trở, phía nam ở núi Hải Vân và núi Đá Bia Thạch Bi sơn vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta". Các quan vâng di chiếu tôn Phúc Nguyên làm "Thống lãnh Thủy bộ Chư dinh kiêm Tổng Nội ngoại Bình chương Quân quốc Trọng sự Thái bảo Thụy Quận công." Bấy giờ ông đã 51 tuổi. Ông còn được vua Lê Kính Tông (1599 - 1619) sắc phong làm trấn thủ hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam gia hàm Thái bảo, tước Quận công. Điều hành Đàng Trong. Sau khi kế nghiệp Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài đâu cũng vui phục, bấy giờ người ta gọi là Chúa Phật. Từ đấy mới xưng quốc tính là họ Nguyễn Phúc. Năm 1600, khi Nguyễn Hoàng còn sống, đã dời dinh về Ái Tử, nay Nguyễn Phúc Nguyên dời dinh về các xã Phúc Yên, Bác Vọng thuộc huyện Quảng Điền, sai con là Khánh Mỹ hầu trấn thủ Quảng Nam. Năm 1620, hai người con thứ bảy, thứ tám của Thái Tổ Nguyễn Hoàng là quận Văn Tôn Thất Hiệp và quận Hữu Tôn Thất Trạch âm mưu nổi loạn, tự mình làm nội ứng, hẹn khi nên việc thì họ Trịnh phải cho hai người trấn giữ đất Đàng Trong. Trịnh Tráng điều đô đốc Nguyễn Khải đem 5.000 quân đóng ở Nhật Lệ (thuộc huyện Phong Lộc) để đợi tin. Nguyễn Phúc Hiệp và Nguyễn Phúc Trạch sợ Chưởng cơ Tôn Thất Tuyên, không dám hành động. Nguyễn Phúc Nguyên họp bàn với các tướng bàn kế chống Trịnh, Hiệp và Trạch giả vờ nói với chúa Nguyễn rằng: "Tuyên trí dũng hơn người, nếu sai cầm binh, hẳn phá được giặc". Tôn Thất Tuyên biết hai người làm phản, bèn nói với chúa: "Nếu thần dời bỏ dinh thì sợ có nội biến". Nguyễn Phúc Nguyên sai Chưởng dinh Tôn Thất Vệ, anh trai Tôn Thất Tuyên đem quân chống tướng Nguyễn Khải của họ Trịnh. Hiệp và Trạch thấy mưu không xong, bèn đem quân chiếm giữ kho Ái Tử, đắp lũy Cồn Cát để làm phản. Chúa sai người đến dỗ, nhưng không chịu nghe. Chúa bèn lấy Tôn Thất Tuyên làm tiên phong, tự đem đại binh đi đánh. Hiệp và Trạch thua chạy, Tuyên đuổi bắt được đem dâng. Phúc Nguyên trông thấy, chảy nước mắt nói: "Hai em sao nỡ trái bỏ luân thường?" Hiệp, Trạch cúi đầu chịu tội. Chúa muốn tha, nhưng các tướng đều cho là pháp luật không tha được. Bèn sai giam vào ngục. Hiệp và Trạch xấu hổ sinh bệnh chết. Nguyễn Khải nghe tin dẫn quân trở về. Nhà Trịnh vô cớ đem phát binh, từ đó Nguyễn Phúc Nguyên không nộp thuế cống nữa. Năm 1622, Chúa Sãi cho đặt dinh Ai Lao, do đất này có sông Hiếu là giáp ranh với đất Ai Lao và các bộ lạc Man Lục Hoàn, Vạn Tượng, Trấn Ninh, Quy Hợp, đều có đường thông đến đây. Mộ dân các nơi chia làm sáu thuyền quân để coi giữ. Năm 1626, Chúa cho dời cung phủ về làng Phước Yên, xã Phúc Yên, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, gọi nơi chúa ở là "phủ". Được sự tiến cử của Khám lý Trần Đức Hòa, Chúa Phúc Nguyên đã thu dụng Đào Duy Từ (1572–1634). Nhờ có sự hiến kế của Đào Duy Từ, ông đã cho xây Lũy Thầy (lũy Trường Dục, lũy Nhật Lệ và lũy Trường Sa); tạo thành một thế vững chắc cho xứ Đàng Trong, gây dựng chính quyền độc lập với Đàng Ngoài. Do nhu cầu phát triển lực lượng chống Trịnh, Chúa mời cha con nhà Jean De La Croix (Bồ Đào Nha) từ Hội An ra Huế giúp nhà Chúa mở xưởng đúc vũ khí đạn dược. Jean De La Croix cần có nơi hành lễ hàng tuần và sau đó nhà thờ Cơ đốc giáo đầu tiên xuất hiện trên đất Huế. Năm 1631, Chúa lập ra sở đúc súng đại bác, mở trường bắn, trường tập voi, tập ngựa, cứ hằng năm luyện tập để phòng bị chiến tranh. Chúa Phúc Nguyên đã tiến hành cải tổ lại bộ máy hành chính. Lãnh thổ được chia theo Thừa Tuyên hay Xứ, phân thành Chính Dinh, Dinh ngoài. Dưới dinh là các phủ huyện. Được chia ra bảy dinh: Chính Dinh (Phú Xuân), Cựu Dinh (Ái Tử – Quảng Trị), Quảng Bình, Vũ Xá, Bố Chính, Quảng Nam và Trấn Biên. Mỗi dinh có thể coi như một tỉnh hiện nay. Hành chính có chức quan lưu thủ đứng đầu, quân sự thì có chức quan tuần thủ chỉ huy. Chúa Nguyễn Đàng Trong đã chú trọng phát triển ngoại thương, tận dụng ưu thế địa lý, yếu tố chính trị như nằm trên lối ra vào giao thương đường thủy Đông Á với phương Tây, Mạc Phủ Nhật Bản phải dùng Châu Ấn Thuyền để qua đây giao dịch mua bán hàng hoá (do nhà Minh cấm mua bán với Nhật Bản). Chúa Nguyễn đã lập ở Hội An một hệ thống hành chính hoạt động rất hiệu quả (đặt tại Dinh trấn Thanh Chiêm) cách Hội An khoảng 10 km. Chính sách định cư lúc đó thoáng hơn cả. Người Nhật, người Hoa được định cư lâu dài, được lập phố riêng, gọi là phố Khách, phố Nhật. Thậm chí người Nhật, người Hoa được lập khu hành chính riêng, tự quản. Năm 1618, vị thị trưởng phố Nhật ở Hội An đầu tiên được Chúa Nguyễn công nhận là một chủ tàu kiêm nhà buôn tên là Furamoto Yashiro. Trong 19 địa điểm người Nhật đến buôn bán thì có bốn nơi họ được lập phố riêng. Giáo sĩ Christoforo Borri đã cư trú tại Hội An năm 1618 miêu tả đô thị: "Hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng thuộc tỉnh Quảng N" "Thành phố rộng rãi, có thể nhận ra hai khu vực, một khu vực do người Hoa ở, khu vực kia thì người Nhật Bản ở." "Người Hoa và Nhật Bản là những thương nhân chủ yếu của chợ phiên, năm nào cũng mở và kéo dài trong bốn tháng. Người Nhật thường đem lại 4, 5 vạn nén bạc, người Trung Hoa thì đi một thứ thuyền buồm đem lại nhiều tơ lụa tốt và sản vật đặc biệt của họ." "Do chợ này mà Quốc vương thu được số tiền thuế lớn, toàn quốc nhờ vậy cũng được nhiều lợi ích." Một năm sau khi lên ngôi Chúa (năm 1614), Nguyễn Phúc Nguyên quyết định bãi bỏ Đô ty, Thừa ty, Hiến ty, là thiết chế quân sự của hệ thống chính quyền nhà Lê. Trong các năm 1614 và 1615, ông tổ chức lại việc cai trị, đặt ra tam ti tại Chính dinh và các chức lệnh sử để trông coi mọi việc, định quy chế các chức vụ ở phủ, huyện, phân chia ruộng đất ở thôn xã. Tam ti là: Xá sai ti, Tướng thần lại ti, Lệnh sử ti. Bên cạnh đó còn các ty Nội Lệnh sử kiêm coi các thứ thuế, Tả Lệnh sử và Hữu Lệnh sử chia nhau thu tiền sai dư ở hai xứ về nộp Nội phủ. Tại các dinh ở ngoài, tùy theo từng nơi, có nơi Chúa chỉ đặt một Lệnh sử ti kiêm cả việc Xá sai ti và Tướng thần lại ti, nhưng cũng có nơi đặt hai ti là Xá sai ti và Tướng thần lại ti, có nơi thì đặt Xá sai ti và Lệnh sử ti để coi việc quân dân, đinh điền, sổ sách, từ tụng, thuế khó, mà thêm bớt quan viên. Đầu năm 1615, các quy chế mới về chức trách và quyền hạn của các phủ, huyện được ban hành. Theo quy chế này thì ở phủ huyện, Tri phủ, Tri huyện coi việc từ tụng; các thuộc hạ thì có: Đề lại, Thông lại chuyên việc tra khám. Huấn đạo, Lễ sinh chuyên việc tế tự ở chỗ sở tại. Còn việc thu thuế thì đặt quan khác để coi về việc ấy. Về đàng quan võ thì đặt chức: Chưởng dinh, Chưởng cơ, Cai cơ, Cai đội để coi việc binh. Quan lại ở Bắc Bổ được bổ vào xứ Thuận Quảng cho đến khi chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên không chịu nộp thuế cho nhà Lê. Chiến tranh với họ Trịnh. Căng thẳng giữa Nguyễn Phúc Nguyên và Trịnh Tùng ngày càng tăng khi ông tỏ ra không phục tùng họ Trịnh. Năm 1620, Chúa Phúc Nguyên ngừng nộp thuế cho chính quyền Lê-Trịnh Đàng Ngoài. Hai người em của Nguyễn Phúc Nguyên gửi mật thư xin họ Trịnh phát binh, tự mình làm nội ứng, hẹn khi nên việc thì chia Đàng Trong cho trấn giữ. Chúa Trịnh là Trịnh Tráng sai tướng đem 5.000 quân chờ ở cửa Nhật Lệ chờ đợi tin. Nguyễn Phúc Nguyên sai tướng dẹp được hai người em; quân Trịnh rút về Bắc, Phúc Nguyên thấy chúa Trịnh vô cớ phát binh, từ đó không nộp thuế cống nữa. Tháng 6 năm 1623, Nguyễn Phúc Nguyên nghe tin Trịnh Tùng chết, vẫn sai sứ đến phúng. Cuộc chiến đầu tiên 1627. Năm 1624, nhân khi nhà Minh đang chống chọi với nhà Thanh, và họ Trịnh mới diệt được Mạc Kính Cung ở Cao Bằng, Chúa Trịnh Tráng mới sai Công bộ thượng thư Nguyễn Duy Thì và nội giám Phạm Văn Tri vào Thuận Hóa đòi tiền thuế từ ba năm về trước. Chúa Sãi tiếp sứ nói rằng: "Hai xứ Thuận Quảng liền mấy năm không được mùa, dân gian túng đói, vì thế không nỡ thu thuế. Khi khác được mùa sẽ chở nộp cũng chưa muộn". Sứ giả không biết nói gì, bèn từ biệt về. Chúa Trịnh lại sai sứ mang sắc vua Lê vào dụ Chúa Sãi cho con ra chầu, và đòi nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền để đưa đi cống nhà Minh. Chúa Sãi không chịu. Chúa Trịnh thấy vậy, bèn quyết ý đánh họ Nguyễn. Tháng 3 năm 1627, sai Nguyễn Khải và Nguyễn Danh Thế đem 5.000 quân đi làm tiên phong vào đóng ở xã Hà Trung (tục gọi là Cầu Doanh), còn Chúa Trịnh Tráng thống lãnh 20 vạn đại quân thủy bộ, hai đạo tiến vào hội binh ở cửa Nhật Lệ. Chúa Sãi cử các tướng Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Phúc Vệ và Nguyễn Phúc Trung đón đánh. Quân Trịnh chủ động tấn công nhưng không chọc thủng được tuyến phòng thủ của quân Nguyễn. Phía Nguyễn có lợi thế là đại bác kiểu Bồ Đào Nha nên làm quân Trịnh sợ chạy dạt. Hai tướng Trịnh là Nguyễn Khải và Lê Khuê đều thua chạy. Trong lúc hai bên tiếp tục giằng co thì tướng Nguyễn Hữu Dật phao tin là Trịnh Gia và Trịnh Nhạc mưu phản ở miền Bắc. Chúa Trịnh Tráng nghi ngờ vội rút quân về bắc. Năm 1630, Chúa Sãi đã làm theo kế của Đào Duy Từ trả lại sắc cho vua Lê - chúa Trịnh và khuyên nên đánh lấy đất Nam Bố Chính để lấy sông Gianh làm biên giới phòng thủ tự nhiên (09-1630). Cuộc chiến thứ hai 1633. Khi quân Trịnh thu quân, Chúa Sãi theo kế của Đào Duy Từ gấp rút xây lũy Trường Dục (lũy Thầy) để phòng thủ. Năm 1631, con trưởng của Sãi vương là Nguyễn Phúc Kỳ qua đời, con thứ hai là Nguyễn Phúc Lan được làm Thế tử, con thứ tư là Nguyễn Phúc Anh ra thay Kỳ trấn giữ Quảng Nam. Anh bất mãn vì không được lập làm thế tử, cho nên mưu thông đồng với chúa Trịnh, bèn viết thư hẹn làm nội ứng cho Trịnh Tráng. Năm 1633, Thanh Đô Vương Trịnh Tráng rước vua Lê đem binh nam tiến lần thứ hai, đóng ở cửa Nhật Lệ như trước. Sãi vương cử Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến làm tướng ra đánh. Chúa Trịnh đang đợi suốt hơn 10 hôm không thấy hiệu làm nội ứng của Phúc Anh thì bị quân Nguyễn đánh úp, quân Trịnh hoảng loạn tan vỡ bỏ chạy. Thanh Đô Vương rút về bắc, để lại con rể là Nguyễn Khắc Liệt trấn thủ châu Bắc Bố Chính. Tháng 4 năm Tân Dậu (1621), bọn thổ mục Lục Hoàn (tức Lạc Hòn) thuộc Lan Xang thả quân qua sông Hiếu sang cướp bóc ở biên thùy, Sãi vương sai Tôn Thất Hòa đi đánh. Hòa chia quân phục ở các đường trọng yếu, sai những lái buôn mua bán để nhử. Quả nhiên quân Man đến cướp nhưng bị phục binh bắt được hết đem về. Chúa muốn lấy ân tín vỗ về người đất xa, bèn sai cởi hết trói và thả về nên làm người Man cảm phục, từ đấy họ không quấy nhiễu nữa. Về cuộc Nam tiến, Chúa Sãi dùng chính sách hòa bình với Chân Lạp (Campuchia). Năm 1620, ông chấp nhận lời hỏi cưới con gái ông của quốc vương Chân Lạp là Chey Chetta II, gả con gái là Ngọc Vạn cho Chey Chetta II. Chey Chetta II đã xin chúa viện trợ vũ khí và quân đội để chống lại sự đe dọa của Xiêm La (Thái Lan). Trên thực tế thì Chúa Sãi đã chuẩn bị vũ khí và mộ binh giúp vua Chân Lạp, cung cấp cho ông này thuyền chiến và quân binh để cầm cự chống Xiêm. Chúa Sãi hai lần giúp con rể Chey Chetta II đẩy lui quân Xiêm sang xâm lược. Giáo sĩ người Ý tên Christoforo Borri ở Quy Nhơn đã nhìn thấy viện binh từ Đàng Trong tiến sang Cao Miên, nên đã ghi lại trong cuốn Hồi ký của mình (xuất bản năm 1631) như sau: "Chúa Nguyễn luôn luyện tập binh sĩ và gởi quân đội giúp vua Cao Miên, tức chàng rể chồng của con chúa. Chúa viện trợ cho vua Cao Miên thuyền bè, binh lính để chống lại vua Xiê" Năm 1623, một sứ bộ Đàng Trong được cử tới Oudong, đem theo thư cùng nhiều tặng phẩm để tỏ tình thân hữu và bảo đảm sự ủng hộ của chúa Phúc Nguyên, và đã thương lượng thành công với vua Chey Chetta II, được chấp thuận nhượng vùng đất Mô Xoài, lập một thương điểm (đồn thu thuế) là Prei Nokor để tiến hành thu thuế. Triều đình Đàng Trong còn phái tướng lĩnh đem quân đóng đồn binh ở Prei Nokor để bảo vệ lưu dân người Việt làm ăn, buôn bán, khai hoang và đồng thời giúp chính quyền Chân Lạp gìn giữ trật tự. Khi Chey Chetta II mất, vùng đất từ Prei Nokor trở ra Bắc đến biên giới Chiêm Thành (tức là Sài Gòn, Bà Rịa và Biên hòa ngày nay) đã có nhiều người Việt đến ở và khai thác đất đai. Năm 1629, lưu thủ Phú Yên là Văn Phong liên kết với người Chăm Pa nổi lên chống lại chúa Nguyễn. Cũng có thuyết nói rằng Po Rome ngầm liên kết với Văn Phong, nhưng không ra mặt trực tiếp vì sợ đối phương vin vào cớ đó để xâm lược. Địch đã tập kết binh lực tại các căn cứ trên đất Kauthara (bắc Khánh Hòa ngày nay) gần khu vực biên thùy tiếp giáp phủ Phú Yên của Đàng Trong, đại quân hai đường thủy bộ khẩn trương xuất kích. Lũy Choại nằm ở bờ Nam sông Đà Diễn là một trong những tiền đồn kiên cố quân Nguyễn dựng lên từ thời Lương Văn Chánh mà cánh quân bộ của Chăm Pa phải dùng đại bác Bồ Đào Nha và voi chiến để vượt qua. Còn đoàn chiến thuyền sau khi tập kích yểm trợ bộ binh vượt sông ở cửa sông Đà Diễn, đã nhanh chóng tiến lên phía Bắc vào cửa biển Bà Đài. Tại đây, Văn Phong và lực lượng nội ứng của ông ta nhận được sự tiếp chiến của đại quân người Chăm, đã làm chủ phủ lỵ Tuy Hòa nằm kề trên bờ vịnh. Phủ Qui Nhân phía Bắc núi Cù Mông đặt trong tình trạng khẩn cấp, huy động binh thuyền ra cửa Thi Nại chặn đường tiến của hạm đội Chăm Pa và Văn Phong. Tin Văn Phong làm phản về đến dinh Chúa. Do quân Trịnh có thể đánh bất cứ lúc nào, nguy cả mặt trên và dưới nên buộc Chúa Sãi phải tạm nhận sắc phong của sứ giả triều đình Lê – Trịnh và nhận lệnh chỉ ra Đông Đô đánh quân Mạc. Chúa Sãi cử Phó tướng Nguyễn Hữu Vinh đem quân dẹp yên, và đổi phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên. Quân Trịnh đã không mở cuộc tấn công như mật tin tình báo, sau vài trận giao tranh thăm dò, nhận thấy binh lực đối phương có phần áp đảo, Văn Phong điều đình với các tướng lĩnh Chăm, để bảo toàn lực lượng đã cho quay về phòng thủ tại phía Nam dãy Đại Lĩnh. Văn Phong đã mang theo những thủ lĩnh, lãnh chúa địa phương mà ông hợp tác và đội quân do ông tập hợp được về với Chăm Pa cùng nhiều kho tàng, của cải. Từ cuối thế kỷ 16, người Chăm phát triển ngoại thương rất mạnh, thường buôn bán với người Trung Hoa, Hà Lan, nhất là Bồ Đào Nha ở Ma Cao. Thương thuyền Bồ Đào Nha hay ghé buôn bán trao đổi với người Chiêm ở hải cảng Cam Ranh và Phan Rang. Sự liên hệ này khiến chúa Sãi lo ngại người Chăm sẽ liên kết với Bồ Đào Nha để chống lại mình. Năm 1631, chúa gả con gái là Ngọc Khoa (có sách gọi là Ngọc Hoa) cho vua Chăm Pa là Po Rome. Cuộc hôn phối này làm quan hệ Việt - Chăm diễn ra tốt đẹp. Sự kiện này tạo sự ổn định cho Đàng Trong ở mặt phía Nam, giúp cho chúa Nguyễn có thể tập trung lực lượng để đối phó trước các cuộc tấn công của chúa Trịnh Đàng Ngoài. Thời Chúa Phúc Nguyên giao thương Việt - Nhật càng mở mang phát triển hơn. Chúa cho người Nhật mở thương điếm tại Hội An. Chúa đích thân viết thư mời các thương nhân nước ngoài vào làm ăn tại Hội An. Năm 1634, Chúa Sãi gửi thư cho thương gia người Nhật là Toba, ông này được Chúa nhận làm con nuôi. Năm 1619, Chúa Phúc Nguyên gả một con gái của mình cho Araki Sutaru - một thương nhân người Nhật làm chủ cửa hàng lớn ở Hội An và có tàu viễn dương, nhằm nhờ tàu của Araki đi mua kim loại, diêm tiêu từ Áo Môn, Quảng Đông và Trường Kỳ về. Nhờ vậy mà quân đội của chúa Nguyễn được trang bị rất đầy đủ và chống đỡ được các cuộc tấn công của quân Trịnh. Hai người con nuôi và con rể của Chúa Phúc Nguyên này đã sở hữu 17 chiếc thuyền trong tổng số 84 chiếc thuyền buôn của Nhật đến Đàng Trong từ năm 1604 - 1635. Chúa Nguyễn cũng có một loạt các bức thư trao đổi về ngoại giao và thương mại với chính quyền Mạc phủ Tokugawa (Nhật Bản) thời bấy giờ. Những văn bản An Nam Quốc Thư này hiện lưu trữ tại National Archives of Japan (国立公文書館). Từ năm 1604 đến năm 1634 (Nguyễn Phúc Nguyên được giao là Trấn thủ dinh Quảng Nam năm 1602), Mạc phủ đã cấp 130 giấy phép đến sáu cảng thuộc khu vực tương đương với Việt Nam hiện nay. Riêng cảng Hội An có 86 thuyền được cấp giấy phép chiếm 25,98% số giấy phép cấp cho toàn bộ khu vực Đông Nam Á, gấp gần năm lần tỷ số bình quân chung trong khu vực, chiếm 66,15% số giấy phép cấp cho toàn bộ khu vực Việt Nam, gấp sáu lần tỷ số bình quân chung cho Việt Nam. "Ngày 20 tháng 7, các tàu này rời Vịnh Đà Nẵng, ngày 21 thì gặp bão ngoài khơi, nên lạc nhau. Chiếc tàu Vin-hu-zen tới Đài Loan ngày 2 tháng 8, chiếc Scha-zen tới ngày 10 cùng tháng. Riêng chiếc Grootebroek bị đắm gần đảo Paracel ở vĩ tuyến 17° Bắc. Thương gia Jean de Sormeau cùng 8 thủy thủ đoàn đã hy sinh. Trong số hàng hóa trị giá 153.690 florins, thì số hàng hóa chìm cùng tàu là 70.695 florins. Phần còn lại được thủy thủ cứu và cất dấu nơi an toàn tại đảo. Thuyền trưởng Huijich Jansen và 12 thủy thủ đi bằng thuyền nhỏ vào duyên hải xứ Đàng T" "Thuyền trưởng Jansen làm báo trình về việc thuyền Grootebroek bị đắm tại Paracels và sự tịch thu 23.580 réaux bởi nhà chức trách xứ Đàng Trong." Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên qua đời ngày 19 tháng 11 năm 1635, hưởng thọ 73 tuổi. Thế tử Nhân Lộc hầu Nguyễn Phúc Lan lên kế nghiệp, tức Thượng vương. Đình thần dâng Phúc Nguyên thụy hiệu là Đại đô thống trấn Nam phương Tổng quốc chính Dực Thiện Tuy Du Thụy Dương vương. Ban đầu an táng tại Sơn Phận, huyện Quảng Điền; sau cải táng về vùng núi Hải Cát, Hương Trà, Thừa Thiên. Tên lăng là Trường Diễn. Đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, Phúc Nguyên được truy tôn là Tuyên tổ Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu Văn vương. Sau này, vua Gia Long truy tặng Phúc Nguyên miếu hiệu Hy Tông, thụy hiệu Hiển Mô Quang Liệt Ôn Cung Minh Duệ Dực Thiện Tuy Du Hiếu Văn Hoàng đế. Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên có mười hai công tử và bốn công nữ: Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên được xem là vị chúa đầu tiên xây dựng cơ nghiệp Đàng Trong của nhà Nguyễn với ý chí cương quyết, tạo nên một xứ Đàng Trong độc lập, tự chủ. Ông đã chỉnh đốn việc cai trị, củng cố quốc phòng, biết dùng người tài để chăm lo việc nước nên nhân dân được an cư lạc nghiệp. Ngoài ra, ông còn đẩy lui được các cuộc tấn công của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Ông đã tạo nên một nền ngoại thương hàng hải mạnh, với thương cảng Hội An trở thành thương cảng chính không chỉ của Đàng Trong mà trên toàn khu vực tương đương với Việt Nam và Đông Nam Á hiện nay. Ông cũng được xem là nhân vật có vai trò then chốt trong cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn, một cuộc nội chiến ác liệt, kéo dài và không phân thắng bại; nó tiêu hủy sức người, sức của, và dẫn đến chia cắt sự thống nhất của quốc gia Đại Việt. Nhưng chế độ Đàng Trong của chúa Nguyễn đã thực thi những chính sách cai trị cách tân, khác với Đàng Ngoài, lúc đó đang theo xu hướng hoài cổ Nho giáo thời Lê sơ, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Về mặt khách quan, cuộc nội chiến có lợi cho xu thế phát triển của lịch sử dân tộc. Tên ông được đặt tên cho một con đường ở Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh Một cụm rạn san hô ở phía nam Biển Đông cũng được đặt tên ông, gọi là bãi Phúc Nguyên. Hình ảnh của ông được thờ cúng trong khu Nam Phương Linh Từ, ở Đồng Tháp.
Thành Thái (chữ Hán: 成泰 14 tháng 3 năm 1879 – 20 tháng 3 năm 1954), tên khai sinh là Nguyễn Phúc Bửu Lân (阮福寶嶙), là vị hoàng đế thứ 10 của triều đại nhà Nguyễn, tại vị từ 1889 đến 1907. Do chống Pháp nên ông, cùng với các vua Hàm Nghi và Duy Tân, là 3 vị vua yêu nước trong lịch sử Việt Nam thời Pháp thuộc bị đi đày tại ngoại quốc (bao gồm vua Hàm Nghi, ông và vua Duy Tân). Ông không có miếu hiệu. Thành Thái tên thật là Nguyễn Phúc Bửu Lân (阮福寶嶙), khi lên ngôi đổi thành Nguyễn Phúc Chiêu (阮福昭). Ông là con thứ 7 của vua Dục Đức và bà Phan Thị Điều, sinh ngày 22 tháng 2 năm Kỷ Mão tức 14 tháng 3 năm 1879 tại Huế, cùng ngày, tháng, năm với nhà bác học Albert Einstein (người phát hiện ra thuyết tương đối). Ông là cháu nội của Thoại Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y và là chắt của vua Thiệu Trị. Năm ông bốn tuổi, vua cha Dục Đức bị hai đại thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường phế truất và chết trong tù. Đến nǎm được chín tuổi, vì ông ngoại là Phan Đình Bình (làm quan Thượng thư bộ Hộ) bị vua Đồng Khánh bắt giam rồi bỏ cho chết vì mắng Đồng Khánh nịnh bợ và thân Pháp khi Đồng Khánh ra Quảng Bình dụ vua Hàm Nghi đầu hàng, nên Bửu Lân lại phải cùng mẹ Từ Minh lên kinh đô, chịu sự quản thúc, sống trong cảnh thiếu thốn. Ngày 28 tháng 1 năm 1889, vua Đồng Khánh yểu bệnh qua đời ở tuổi 24. Khi đó con vua Đồng Khánh là Bửu Đảo mới 3 tuổi nên không nối ngôi được, triều đình Huế xin ý kiến của Tổng sứ Trung Bắc kỳ Pierre Paul Rheinart. Ở tòa Khâm sứ lúc này có ông Diệp Văn Cương đang làm thông ngôn. Diệp Vǎn Cương lấy cô ruột của Bửu Lân, và cũng có cảm tình thương hại vua Dục Đức (anh vợ), nên cố tìm cách cho cháu mình lên ngôi. Ông dịch cho Khâm sứ Rheinart nghe hoàn toàn khác với ý của Viện Cơ mật. Vì thế Bửu Lân được chọn lên ngai vàng. Khi phái đoàn của triều đình đến rước Bửu Lân lên ngôi, bà Từ Minh khóc van xin phái đoàn tha cho con. Bà nghĩ tới cảnh chồng mình là vua Dục Đức và thảm kịch bốn tháng ba vua trước đây nên khóc lóc, năn nỉ. Sau một hồi khuyên giải, Từ Minh mới chấp nhận để cho phái đoàn rước Bửu Lân về Tử Cấm thành. Ngày 2 tháng 2 năm 1889, Bửu Lân lên ngôi tại điện Thái Hòa lấy hiệu là Thành Thái. Khi đó Bửu Lân mới 10 tuổi. Triều Thành Thái khác các triều trước ở chỗ lễ đǎng quang không có Truyền quốc bảo tỷ ấn ngọc. Lúc trước, khi rời khỏi Kinh thành Huế, vua Hàm Nghi đã mang theo và đánh mất tại tỉnh Quảng Bình. Cho nên lúc tại vị vua Đồng Khánh đã phải dùng một ấn ngọc khác. Ngoài ra, di chiếu cũng không có. Vua Dục Đức hay vua Đồng Khánh không truyền ngôi lại cho vua Thành Thái. Không ấn ngọc, không di chiếu, nhưng lại có một toán lính Pháp bồng súng đóng ở bên trong cửa Ngọ Môn. Thành Thái là một ông vua trẻ có nhiều tính cách đặc biệt. Những ngày đầu tiên, tuy đã là vua nhưng vì còn bé nên ông vẫn thích chơi bời, nghịch ngợm. Một số quan phụ chính giúp đỡ như Tuy Lý vương, Nguyễn Trọng, Trương Quang Đản, thường có lời can ngǎn ông, nhưng không được ông nghe lời. Các bà hậu ở Lưỡng cung rất lo cho Thành Thái, đã bắt ông ra ở đảo Bồng Dinh trên hồ Tịnh Tâm và quản thúc ông rất nghiêm ngặt, để đưa vào khuôn phép. Một thời gian sau, ông mới trở về Đại Nội. Thành Thái được đánh giá là người cầu tiến, yêu nước và chống Pháp. Khác với những vị vua trước đây, ông học chữ Nho, học tiếng Pháp và cũng cho cả con cái của mình cùng theo học chữ Pháp. Không nói ra, nhưng rõ ràng ý định của ông là học chữ Pháp để có thể giao tiếp với những người này với tinh thần chống Pháp. Ông còn cắt tóc ngắn, mặc âu phục, học cả lái ca nô, xe hơi, làm quen với vǎn minh phương Tây. Là vị vua gần gũi với dân chúng, ông thường xuyên đi vi hành. Thành Thái cũng cho phép hoàng phi bị cấm cung đi cùng với mình bằng xe. Và lần đầu tiên "dân chúng quên cả nhìn mặt vua, lúc này không bị tội phạm tất". Dân gian lúc này có một câu ca dao nói về sự vi hành của vua Thành Thái: "Kim Long có gái mỹ miều," "Trẫm thương, Trẫm nhớ, Trẫm liều, Trẫm đi" Ông để ý đến cả các loại vũ khí, đã giao cho họa sĩ Lê Vǎn Miến (tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Paris) vẽ cho ông các khẩu súng Pháp. Vua Thành Thái rất thích đọc những tân thư chữ Hán của Trung Quốc và Nhật Bản. Nhờ đó vua có tinh thần tự cường dân tộc và đầu óc cải cách. Thành Thái làm thơ không nhiều, nhưng có những bài xuất sắc. Ông cũng ham vǎn nghệ, đánh trống tuồng khá thành thạo, có khi lên đóng một vài vai tuồng ở Duyệt Thị Đường. Có thể nói Thành Thái là người có hiểu biết khá toàn diện. Tinh thần chống Pháp. Thành Thái dần dần bộc lộ tinh thần dân tộc rất cao. Ông khinh ghét những bọn quan lại xu phụ. Một viên quan lớn là Nguyễn Thân đã tiến con gái đến cho vua (là đệ nhất giai phi của Thành Thái) song cũng không được ông trân trọng. Có lần, cầu Long Biên ở Hà Nội được lấy tên Toàn quyền Pháp Doumer, xây dựng xong, Hoàng Cao Khải đưa ra một danh sách xin nhà vua ban thưởng cho những người có công, nhà vua đã cười nhạt mà trả lời: "Ta có biết mặt mũi những đứa nào đâu". Những người Pháp thường xuyên gần gũi không được ông trọng thị lắm vì vậy họ thường có thành kiến với ông. Có những tài liệu nói là nhà vua đã toan bí mật sang Trung Quốc, nhưng mới đi đến Thanh Hóa đã bị người Pháp ngǎn chặn. Lại có ý kiến cho rằng ông đã đồng tình giúp đỡ tạo điều kiện cho Cường Để xuất dương theo Phan Bội Châu sang Nhật. Dưới triều Thành Thái tuy vẫn còn có những cuộc vận động chống Pháp, nhưng nhìn chung Việt Nam cũng đã đi vào ổn định, nên đã có nhiều công trình mới được xây dựng. Nhất là ở kinh đô Huế, các bệnh viện, trường Quốc học, chợ Đông Ba, cầu Tràng Tiề, chính nhà vua đã gợi ý vấn đề thành lập với Thượng thư Ngô Đình Khả. Chính quyền thực dân Pháp phải đồng ý cho tiến hành những công trình đó. Vua Thành Thái còn bí mật lập các đội nữ binh để che mắt Pháp. Một số tài liệu ghi rằng vua đã chiêu nạp được 4 đội, mỗi đội 50 người, đội trước huấn luyện xong thì trở về gia đình và nạp đội mới, khi có thời cơ sẽ cùng nổi dậy chống Pháp. Nhưng sự việc cuối cùng bị lộ khi Thượng thư bộ Lại Trương Như Cương và Cơ mật viện báo cho Khâm sứ Pháp Levécque. Bị ép thoái vị. Trước các ý tưởng cấp tiến của Thành Thái, người Pháp lo ngại tìm cách ngăn trở. Để che mắt, Thành Thái giả hành động như một người mất trí. Khi các bản vẽ vũ khí của ông bị phát hiện, Thành Thái giả điên, cào cấu các bà cung phi và xé nát các bản vẽ. Lợi dụng cơ hội này, người Pháp vu cho ông bị điên, ép ông thoái vị, nhường ngôi cho con vì lý do sức khỏe. Khâm sứ Pháp còn nói thẳng là đã biết ông có ý đồ chống Pháp, nên không để ông ở ngôi được. Còn nếu Thành Thái muốn tại vị thì ông phải ký vào một tờ giấy tạ tội, tuyên bố với quốc dân là có âm mưu chống lại nước Pháp, nay phải thành thực hồi tâm. Nhưng ông đã ném tờ tuyên cáo thảo sẵn ấy xuống đất, từ chối. Ngày 29 tháng 7 năm 1907, nhân dịp Thành Thái không phê chuẩn việc bổ nhiệm một số quan lại đã được Khâm sứ Lévêque và Hội đồng Thượng thư thỏa thuận, Lévêque đã tuyên bố truất quyền và quản thúc Thành Thái trong Đại Nội. Một Hội đồng Phụ chính do Trương Như Cương cầm đầu được thành lập. Ngày 3 tháng 9 năm 1907, triều thần theo lệnh của Pháp vào điện Càn Thành dâng vua dự thảo chiếu thoái vị, có chữ ký của các đại thần (trừ Ngô Đình Khả), với lý do sức khoẻ không bảo đảm, xin tự nguyện thoái vị. Xem xong bản dự thảo, Thành Thái chỉ cười nhạt, ghi hai chữ "phê chuẩn" rồi quay lưng đi vào. Ngày 12 tháng 9 năm 1907, Chính phủ Bảo hộ đưa Thành Thái ngự vào Sài Gòn, xin bàn định cách xưng hô. Phủ Phụ chính tâu nói bản triều không có lệ ấy, duy vua các triều trước nhường ngôi đều được tôn là Thái thượng hoàng, đích mẫu là Hoàng thái hậu, sinh mẫu là Hoàng thái phi. Nay hoàng thượng lên ngôi, cứ nói là lúc đầu chưa kịp bàn bạc về lễ. Sài Gòn là nhượng địa do nước Pháp quản hạt, việc xưng hô tùy theo tục nước Pháp. Tới như ở Trung Bắc hai kỳ phàm nếu phải viết tới và xưng hô đều tuân theo chiếu tấn tôn gọi là :Hoàng phụ, Hoàng đích mẫu, Hoàng sinh mẫu, chờ về sau sẽ bàn nghĩ thi hành.. Thành Thái bị đưa đi quản thúc ở Bạch Dinh, Cap Saint Jacques (Vũng Tàu ngày nay).Đến nǎm 1916 ông bị đày ra đảo Réunion cùng với con trai là vua Duy Tân. Ông cùng gia đình thuê một căn nhà ở thành phố Saint Denis tại đảo Réunion. Thành Thái và Hoàng phi Chí Lạc dạy các con tiếng Việt và cả những nhạc cụ dân tộc như đàn cò, sá, làm vườn. Các hoàng tử, người thì làm cận vệ cho Thành Thái, người đảm nhận lo phần trầu cau, điểm tâm sáng, người phụ dọn dẹp nhà cử Khác với vua Hàm Nghi khi bị đày ở Algerie trước đó, cuộc sống của cha con cựu hoàng Thành Thái khá chật vật. Già cả ốm đau, con cái nheo nhóc, ông hoàng Bửu Lân nhiều lần bị chủ nhà đòi tiền thuê nhà, chủ nợ đòi nợ. Năm 1925, vua Khải Định biết tình cảnh ông, đã trích ngân sách gửi sang cho ông 1.000 đồng, rồi sau thỉnh thoảng lại cho tiền. Sau khi Khải Định mất, không còn khoản tiền đó nữa, nên ngày 21 tháng 9 năm 1935, Bửu Lân phải viết thư gửi vua Bảo Đại xin nhà nước Bảo hộ Pháp cho một khoản tiền để mua nhà, "hễ hết đời" ông thì nhà nước sẽ thu lại. Đầu tháng 5 năm 1947 (sau khi vua Duy Tân mất), nhờ sự vận động của con gái và con rể của ông, vợ chồng luật sư Vương Quang Nhường, cựu hoàng Thành Thái mới được cho về Việt Nam. Ông cùng gia đình sống ở Villa Anna tại Cap Saint Jacques (Vũng Tàu ngày nay). Tháng 3 năm 1953, ông được phép về Huế thăm lăng tẩm cha mẹ. Ông mất ngày 20 tháng 3 năm 1954 tại Sài Gòn và được an táng tại khuôn viên thành An Lăng (lăng Dục Đức) tại xã An Cựu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, hưởng thọ 75 tuổi. Ông được đặt tên cho một con đường nối dài ở quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều đường phố, địa danh khác trên khắp cả nước. Vua Thành Thái có rất nhiều con nhưng chưa được khảo sát đầy đủ. Tên các hoàng tử và công chúa do các tài liệu ghi lại còn nhiều mâu thuẫn.
Bùi Quốc Khái (chữ Hán: 裴國愾 1141-1234) là người đỗ đầu khoa thi Tiến sĩ năm Trinh Phù thứ 10 (Ất Tỵ, 1185) dưới thời vua Lý Cao Tông (ở ngôi: 1176-1210) nước Đại Việt. Bùi Quốc Khái sinh năm Tân Dậu (1141) tại làng Bình Lãng, phủ Thượng Hồng (nay là thôn Bình Phiên, xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương). Theo sử liệu thì ông là người có tài, nhưng vì chán công danh nên không xin thi cử. Mãi đến năm Trinh Phù thứ 10 (1185), khi tuổi đã 45, ông mới đi ứng thí và đã đỗ đại khoa trong số 30 người trúng tuyển. Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép: "Ất Tỵ [Trinh Phù] năm thứ 10 [1185]. Mùa xuân, tháng Giêng, sĩ nhân trong cả nước, người nào từ 15 tuổi trở lên, mà thông thạo thi thư thì được vào hầu học ở Ngự điện. (Sau) lấy đỗ bọn Bùi Quốc Khái, Đặng Nghiêm (tổng cộng) 30 người, còn thì đều ở lại học." Sau khi đỗ đạt, ông được vua bổ nhiệm chức Nhập thị Kinh diên, giữ nhiệm vụ dạy Thái tử và hầu vua học. Ông làm quan ba triều: Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông và Lý Chiêu Hoàng, trải đến chức Đô ngự sử. Sách "Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam" chép: "Bùi Quốc Khái một lòng trung nghĩa, dày công giúp nước an dân. Gặp lúc triều chính đổ nát, gian thần lộng quyền, ông treo ấn từ quan, rồi xuất gia đầu Phật ở chùa Thiên Niên (gần Hồ Tây, Hà Nội)... Ngày 18 tháng 1 năm Giáp Ngọ (1234) ông mất, thọ 93 tuổi. Thương tiếc ông, người dân tạo tượng thờ ông ở chùa Thiên Niên, và ghi danh ông trên "Thanh Bằng thịnh sự bia" (bia nói về sự thịnh vượng của làng Bằng Liệt ), khắc ngày 18 tháng 2 năm Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 (1784). Quê quán của ông, sách "Đại Việt sử ký toàn thư" không ghi. Còn "Lịch triều hiến chương loại chí", Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều cho biết Bùi Quốc Khái là người Bình Lãng huyện Cẩm Giàng. Tuy nhiên, theo TS Bùi Xuân Đính, thì tấm bia ở Văn chỉ làng Bằng Liệt, xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì (nay đổi thành phường thuộc quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội) được lập trước hai cuốn sách trên khá lâu đã khẳng định Bùi Quốc Khái là người làng Bằng Liệt. Như vậy, có nhiều khả năng ông quê gốc ở đây nhưng về sau chuyển xuống làng Bình Lãng, và khi đi thi thì ông làm hồ sơ tại nơi ở hiện tại. Tiến sĩ khai khoa. Và theo nội dung tấm bia này, thì Bùi Quốc Khái chỉ đỗ thứ hai trong kỳ thi Đình khoa Ất Tỵ (1185). Trích văn bia: "lúc đầu, hội tư văn mua một khu đất ở xóm Vĩnh Phúc dựng Từ chỉ làm nơi cúng tế lâu dài. Vị trùm trưởng cùng các thành viên trong hội xuất ruộng tư làm ruộng tế điền của hội để lưu truyền mãi mãi. Hàng năm cho người cày cấy lấy tiền lợi tức cúng tế. Cứ vào 12 tháng 2 chuẩn bị lễ vật dâng tế lên Từ chỉ cáo tế các chi vị: Tiến sĩ cập đệ, Đệ nhất giáp, Đệ nhị danh, Bảng nhãn Khoa Ất Tỵ, chức Ngự sử đài, Đô ngự sử Bùi tướng công (Quốc Khái) cùng các vị chức sắc trúng trường, viên mục, các hương sắc trên dưới cùng được phối hưởng, để khí thiêng hun đúc, nối dài thờ tự muôn ngàn vạn năm, mãi mãi trường tồn cùng trời đất. Nhân đó khắc lên bia đá để truyền về sau." Mặc dù có khác biệt nhỏ về thứ hạng, nhưng căn cứ vào các sử liệu đã nêu trên và nội dung văn bia ở làng Bằng Liệt, TS Bùi Xuân Đính đã kết luận rằng "Bùi Quốc Khái mới chính là vị khai khoa của Thăng Long Hà Nội, chứ không phải Chu Văn An, người đã đỗ Thái học sinh (như Tiến sĩ sau này) vào khoảng đời Trần Hiến Tông (1329-1341)" Tháng 12-2020, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội quyết định gắn biển "Phố Bùi Quốc Khái" cho một con phố ở Quận Hoàng Mai.
Sàn giao dịch chứng khoán Sàn giao dịch chứng khoán (tiếng Anh: stock exchange, securities exchange hoặc bourse) là một hình thức sàn giao dịch cung cấp cho những người môi giới cổ phiếu và người mua bán cổ phiếu một nền tảng và phương tiện để trao đổi và mua bán các cổ phiếu, trái phiếu cũng như các loại chứng khoán khác. Sàn giao dịch cổ phiếu cũng cung cấp các dịch vụ cho việc phát hành và thu hồi chứng khoán cũng như các phương tiện tài chính và các sự kiện như việc chi trả lợi tức và cổ tức. Chứng khoán được giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán gồm: các cổ phiếu do các công ty phát hành, các chứng chỉ quỹ, các sản phẩm phái sinh, các sản phẩm hợp tác đầu tư và trái phiếu. Các sàn giao dịch chứng khoán hoạt động như một "sàn đấu giá liên tục" – nơi mà người mua lẫn người bán có thể đến gặp nhau và thực hiện giao dịch thông qua việc hô giá công khai "(open outcry)" tại một sàn giao dịch truyền thống hoặc thông qua sàn giao dịch điện tử. Để có thể giao dịch trên một sàn giao dịch cổ phiếu, cổ phiếu phải được niêm yết ở đó. Thường có một trung tâm để ít nhất là ghi lại dữ liệu, nhưng việc giao dịch ngày càng ít có liên kết đến một nơi cụ thể, bởi vì các sàn giao dịch hiện đại là các mạng lưới thông tin điện tử, tạo nên ưu thế về tốc độ và chi phí giao dịch. Chỉ các thành viên mới được phép giao dịch trên một sàn giao dịch chứng khoán. Một sàn giao dịch chứng khoán là thành phần quan trọng nhất của một thị trường chứng khoán. Thông thường không bắt buộc phải phát hành cổ phiếu thông qua sàn giao dịch, và cổ phiếu cũng không bị bắt buộc phải giao dịch trên sàn. Những giao dịch như vậy được gọi là "giao dịch ngoài sàn" hay mua bán thẳng. Đây là cách thường thấy để giao dịch các trái phiếu. Chào giá ban đầu của các cổ phần và các trái phiếu tới các nhà đầu tư được thực hiện tại thị trường sơ cấp và việc giao dịch sau đó được thực hiện tại thị trường thứ cấp. Các sàn giao dịch ngày càng biến thành một phần của thị trường chứng khoán thế giới. Cung và cầu trên các thị trường chứng khoán được dẫn dắt bởi nhiều yếu tố, giống như trên mọi thị trường tự do, bị ảnh hưởng bởi giá các cổ phần (xem giá trị cổ phần). Trong thế kỷ 12 ở nước Pháp, các "courratiers de change" lo lắng về việc quản lý và điều chỉnh các khoản nợ của các phường hội nông nghiệp với ngân hàng. Bởi vì những người đó giao dịch nợ, nên có thể coi họ là những người môi giới buôn bán đầu tiên. Một số nguồn khác cho rằng nguồn gốc của thuật ngữ "bourse" ("thị trường chứng khoán" trong tiếng Pháp) bắt nguồn từ chữ "bursa" trong tiếng Latinh, có nghĩa là "một cái túi" bởi vì ở thế kỷ 13 tại Bruges, dấu hiệu một cái túi tiền (hay có lẽ ba cái túi tiền), được treo trước cửa ngôi nhà nơi những nhà buôn thường tụ họp. Tuy nhiên, có lẽ giả thuyết chính xác hơn là ở cuối thế kỷ 13, những nhà buôn hàng hoá ở Bruges đã tụ tập tại ngôi nhà của một người đàn ông tên là Van der Burse, và năm 1309 họ đã chính thức hoá việc gặp gỡ không nghi thức đó cho tới tận ngày nay và trở thành "Bruges Bourse". Ý tưởng này nhanh chóng lan ra quanh vùng Flanders và các tỉnh xung quanh và "Bourses" nhanh chóng được mở tại Ghent và Amsterdam. Vào giữa thế kỷ 13, những ông chủ ngân hàng tại Venice bắt đầu mua bán chứng khoán chính phủ. Năm 1351, Chính phủ Venice đặt ra ngoài vòng pháp luật những lời đồn thổi với chủ ý làm hạ giá quỹ công trái chính phủ. Trong thế kỷ 14, người dân ở Pisa, Verona, Genoa và Florence cũng bắt đầu buôn bán các trái phiếu chính phủ. Điều này chỉ là có thể bởi vì có các thành bang độc lập không bị cai trị bởi một công tước mà bởi một hội đồng những công dân có uy tín. Hà Lan sau này bắt đầu có các công ty cổ phần, cho phép những người giữ cổ phần đầu tư vào doanh nghiệp kinh doanh và thu được một phần chia từ lợi nhuận của nó hay một phần thua lỗ. Năm 1602, Công ty Đông Ấn Hà Lan phát hành những cổ phần đầu tiên trên Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam. Đây là công ty đầu tiên phát hành cổ phần và khế ước nợ. Khi mọi người đưa ra những khoản tiết kiệm và đầu tư vào các cổ phần, việc này dẫn tới sự phân chia hợp lý hơn các nguồn tài nguyên bởi vì vốn có thể dùng để tiêu dùng, hay gửi trong các ngân hàng, được huy động và tái định hướng để thúc đẩy hoạt động kinh doanh mang lại lợi ích cho nhiều lĩnh vực của nền kinh tế như nông nghiệp, thương mại và công nghiệp, dẫn tới một sự tăng trưởng kinh tế cao hơn và sức sản xuất ở mức độ lớn hơn. Các công ty coi nguồn vốn thu được là một cơ hội để mở rộng các dây chuyền sản xuất, tăng thêm các kênh phân phối, ngăn chặn tính bất ổn, tăng thị phần, hay mua sắm thêm các tài sản khác cần thiết cho kinh doanh. Một sự bỏ thầu mua lại hay một thoả thuận kết hợp thông qua thị trường chứng khoán là cách đơn giản nhất để phát triển công ty bằng cách mua lại hay kết hợp. Bằng cách trao cho mọi người một cơ hội để mua các cổ phần và nhờ đó trở thành người đồng sở hữu (những người nắm giữ cổ phần) của doanh nghiệp có thể sinh lời, thị trường chứng khoán giúp làm giảm bất bình đẳng trong thu nhập. Cả nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và nghiệp dư thông qua sự tăng trưởng của giá chứng khoán và phân chia cổ tức đều có cơ hội nhận được phần chia lợi nhận từ công việc kinh doanh đầy hứa hẹn do người khác lập ra. Hợp tác quản lý. Bằng cách có được nhiều người sở hữu ở nhiều tầng lớp khác nhau, các công ty nói chung có khuynh hướng cải thiện các tiêu chuẩn quản lý và hiệu năng của mình nhằm thoả mãn các yêu cầu của những người nắm giữ cổ phần đó và việc hợp tác quản lý của mọi người trên thị trường chứng khoán cũng như của chính phủ càng chặt chẽ hơn. Nhờ vậy, mọi người cho rằng các công ty công chúng (các công ty được sở hữu bởi các nhà đầu tư nắm giữ cổ phần và là thành viên tham gia vào các sàn giao dịch chứng khoán công cộng) thường được quản lý tốt hơn so với các công ty tư nhân (các công ty này không có cổ phần được giao dịch trên các sàn công cộng, thông thường thuộc sở hữu của người sáng lập và/hay gia đình hay người thừa kế của họ, hay là bởi một nhóm các nhà đầu tư nhỏ). Tuy nhiên, một số trường hợp đã cho thấy có lẽ có những sự chệch hướng lớn trong kiểu hợp tác quản lý tại một số công ty thuộc sở hữu công cộng (Enron, MCI WorldCom, P, Webvan, hay Parmalat). Cơ hội đầu tư. Đối lập với những công việc kinh doanh đòi hỏi tiêu tốn những khoản vốn lớn, đầu tư vào các cổ phần là cơ hội mở cho cả những nhà đầu tư chứng khoán lớn và nhỏ bởi vì một người chỉ mua một số cổ phần mà anh ta có khả năng. Vì thế Sàn giao dịch chứng khoán cung cấp một nguồn thu nhập khác cho những người có tiền tiết kiệm ở mức độ thấp. Vốn cho dự án. Chính phủ hay thậm chí cả các chính quyền địa phương như các chính quyền thành phố có thể quyết định vay tiền để hỗ trợ tài chính cho những dự án hạ tầng to lớn như thoát nước và xử lý nước thải hay cung cấp nhà ở bằng cách bán một kiểu chứng khoán khác được gọi là khế ước nợ. Những khế ước nợ đó có thể tăng giá thông qua Sàn giao dịch chứng khoán khi các thành viên công chúng mua nó, nhờ vậy không cần phải đánh thuế quá cao đối với người dân để có tiền đầu tư phát triển. Thước đo kinh tế. Tại sàn giao dịch chứng khoán, giá cổ phần lên và xuống phụ thuộc phần lớn vào thị trường. Giá cổ phần tăng lên hay giữ ổn định khi các công ty và nền kinh tế nói chung cho thấy những dấu hiệu của sự ổn định. Vì thế sự chuyển động của giá cổ phần có thể là một đồng hồ báo khuynh hướng chung của nền kinh tế. Yêu cầu niêm yết. Các công ty cần thiết phải đáp ứng được các yêu cầu của sàn giao dịch để có thể niêm yết và giao dịch cổ phần của mình tại đó. Ví dụ, để được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE), một công ty phải phát hành ít nhất một triệu cổ phần trị giá tương đương $100 triệu và phải kiếm được hơn $10 triệu trong vòng 3 năm vừa qua). Các sàn giao dịch chứng khoán có nguồn gốc là những tổ chức đa bên, do chính các thành viên mua bán chứng khoán của nó sở hữu. Gần đây có khuynh hướng "bỏ đa bên", các thành viên sẽ bán các cổ phần của họ tại một đợt phát hành đầu tiên. Theo cách này tổ chức đa bên trở thành một phường hội, với các cổ phần được niêm yết trên một sàn giao dịch chứng khoán. Các ví dụ về việc này là Sàn giao dịch chứng khoán Australia (1998), Euronext (2000), NASDAQ (2002) và Sở giao dịch chứng khoán New York (2005). Kiểu giao dịch khác. Trong thế kỷ 19, các sàn giao dịch cho phép mua bán theo các hợp đồng trước theo mặt hàng. Giao dịch mua bán qua các hợp đồng trước được gọi là các hợp đồng tương lai. Những "giao dịch hàng hoá" này sau này bắt đầu được thực hiện trên các sản phẩm khác, như các tỷ lệ lãi suất và cổ phần, cũng như các hợp đồng lựa chọn. Hiện chúng được gọi chung là các hợp đồng tương lai. Tương lai của sàn giao dịch chứng khoán là điện tử, hệ thống các chuyên gia của Sàn giao dịch chứng khoán New York dường như đang chống lại những kiểu giao dịch mới, Các mạng lưới thông tin điện tử, hay ECNs. ECNs ca ngợi tốc độ xử lý những khối lượng trao đổi lớn của họ, trong khi hệ thống các chuyên gia đề xướng vai trò của các chuyên gia trong việc giữ trật tự của các thị trường, đặc biệt ở các điều kiện lạ thường hay các kiểu lệnh đặc biệt. Các mạng lưới thông tin điện tử gồm một mạng lưới lợi nhuận quyền lợi đặc biệt với chi phí của các nhà đầu tư từ thậm chí là những giao dịch thương mại trao đổi trực tiếp nhỏ nhất. Mặt khác, các hệ thống dựa trên máy móc được cho là hiệu quả hơn và cải thiện được bộ máy thừa hành truyền thống và hạn chế yêu cầu đàm phán qua trung gian. Về lịch sử, 'thị trường' (như đã được ghi chú, gồm toàn bộ mua bán cổ phần trên mọi giao dịch) đã chậm chạp trong việc phản ứng với cuộc cách mạng công nghệ. Sự thay đổi sang thương mại hoàn toàn điện tử có thể làm xói mòn/hạn chế lợi nhuận thương mại của những sàn giao dịch bằng chuyên gia và những "thương nhân trên tầng" của NYSE. Quốc hội đã uỷ nhiệm việc thành lập một hệ thống thị trường "multiple" chứng khoán quốc gia năm 1975. Từ đó, ‘các hệ thống thông tin điện tử’ đã phát triển nhanh chóng. Khi thực hiện các giao dịch lớn với tốc độ ánh sáng, các hệ thống điện tử làm giảm khả năng chạy trước (front running), hay trao đổi trước khi có lệnh của khách hàng, một "hành vi bất hợp pháp mà nhiều nhà môi giới trên sàn NYSE đã bị điều tra và phạt nặng trong những năm gần đây." Khi hoạt động dưới hệ thống giám sát của các chuyên gia, nếu trên thị trường có một trao đổi lớn dưới một cái tên, những người mua khác ngay lập tức có thể kiểm tra để biết nhà giao dịch dưới cái tên đó ở tầm cỡ nào, và dự đoán ra nguyên nhân tại sao anh/chị ta lại ra quyết định mua hay bán. Đó là cách thị trường dự đoán hoạt động của giá. ECNs đã thay đổi quá trình giao dịch chứng khoán thông thường (giống như những dịch vụ môi giới trước chúng) thành một hình thức kinh doanh kiểu hàng hoá "(commodity-type business)". ECNs có thể điều chỉnh sự công bằng của phát hành công khai lần đầu (IPO), giám sát quy trình IPO, hay đánh giá hiệu quả của nghiên cứu chứng khoán và sử dụng phí giao dịch để trợ cấp cho những cuộc nghiên cứu mức độ nhỏ và vừa. Tuy nhiên, một số người tin rằng cách tốt nhất là phối hợp ưu điểm của công nghệ và con người – nói cách khác một kiểu lai. Trao đổi 25.000 cổ phiếu trong cổ phần của Lucent (định giá gần đây: $2.80; số lượng gần đây: 49.069.700) là một giao dịch khá đơn giản đối với thương mại điện tử; trao đổi 100 cổ phiếu thuộc cổ phần Hạng A của Berkshire Hathaway (định giá gần đây: $88.710,00; số lượng gần đây: 450) thì có lẽ không được như vậy. Sự lựa chọn hệ thống cần phải rõ ràng (nhưng luôn thuộc quyền của người giao dịch), dựa trên những đặc trưng riêng của loại chứng khoán được trao đổi. Thậm chí khi ECNs đang trở nên một phần trọng yếu của hệ thống thị trường quốc gia, các cơ hội kiếm lời có lẽ vẫn là ở sự chênh lệch giữa giá đặt và giá chào. Điều này đặc biệt chính xác đối với những giám đốc đầu tư điều hành các khoản giao dịch lớn, và sở hữu một số tiền góp vốn trong một ECN hay một công ty chuyên nghiệp. Ví dụ, trong các tài khoản môi giới chứng khoán của mình, "Các khoản đầu tư chính xác chiếm tới 29% các lệnh hữu danh trong các cổ phần được niêm yết ở NYSE, và 37% trong số các lệnh hữu danh trên Sàn giao dịch chứng khoán Boston, nơi có sự giám sát chung của các chuyên gia. Nói một cách chính xác, những giao dịch đó được quản lý bởi những đội môi giới "quản lý dòng lệnh" riêng biệt, những người tìm cách có được khả năng thực hiện tốt nhất có thể cho khách hàng và việc thực hiện phải có tỷ suất lợi nhuận cao. Thị trường thứ cấp. Những nghiên cứu gần đây của các giáo sư tài chính SMUCox Kumar Venkataraman và Hendrik Bessembinder đưa ra những hiểu biết sâu sắc và đáng tin cậy vào những khả năng mới.
Dải Gaza là một dải đất hẹp ven biển dọc theo Địa Trung Hải, ở Trung Đông, "về mặt pháp lý" không được quốc tế công nhận là một phần của bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào. Tên của nó được đặt theo tên thành phố chính Gaza. Đây là một trong những vùng lãnh thổ có mật độ dân số cao nhất trên Trái Đất, với khoảng 1.4 triệu người sống trên khu vực diện tích 360 km². Dải Gaza thuộc quyền tài phán của Chính quyền Palestine, và họ cũng kiểm soát biên giới của Dải Gaza với Ai Cập. Israel kiểm soát không phận và đường bờ biển. Theo lập trường chính thức của Palestine vùng đất này vẫn nằm dưới sự chiếm đóng quân sự, và rằng Israel giữ quyền chiếm giữ quyền lực. Chính phủ Israel không chấp nhận điều đó, đặc biệt sau sự rút quân của Israel năm 2005. Về mặt địa lý, Dải Gaza là phần cực tây của các lãnh thổ Palestine ở Tây Nam Á, có biên giới trên bộ với Ai Cập ở phía tây nam và Israel ở phía bắc và phía đông. Ở phía tây, nó giáp với Biển Địa Trung Hải. Các biên giới của Dải Gaza ban đầu được xác định bởi các ranh giới đình chiến giữa Ai Cập và Israel sau Chiến tranh Ả rập-Israel năm 1948, diễn ra sau sự tan rã của nước Palestine ủy trị của Anh. Nó bị Ai Cập chiếm (trừ giai đoạn bốn tháng xâm chiếm của Israel trong cuộc Khủng hoảng Suez) cho tới khi bị người Israel chiếm năm 1967 trong cuộc Chiến tranh sáu ngày. Năm 1993, sau những thỏa thuận hòa bình giữa Palestine-Israel, được gọi là Thỏa thuận Oslo, đa phần Dải Gaza được chuyển nằm dưới quyền kiểm soát giới hạn của Chính quyền Palestine. Tháng 2, 2005 chính phủ Israel biểu quyết áp dụng kế hoạch đơn phương rút quân của Thủ tướng Ariel Sharon khỏi Dải Gaza bắt đầu từ ngày 15 tháng 8 năm 2005. Kế hoạch này yêu cầu dỡ bỏ toàn bộ các khu định cư của người Israel tại đó, và dời toàn bộ người định cư cùng các căn cứ quân sự khỏi Dải Gaza, một tiến trình được hoàn thành vào ngày 12 tháng 12 năm 2005 khi chính quyền Israel chính thức tuyên bố kết thúc giai đoạn cai trị quân sự ở Dải Gaza sau 38 năm kiểm soát. Việc rút quân bị tranh cãi gay gắt bên trong những người theo đường lối chủ nghĩa quốc gia cấp tiến ở Israel, đặc biệt là những người theo xu hướng chủ nghĩa quốc gia tôn giáo, và một số người ủng hộ những xu hướng đó hiện coi Dải Gaza là một phần lãnh thổ Israel bị chiếm đóng. Sau khi rút quân, Israel vẫn giữ quyền kiểm soát lãnh hải và không phận Dải Gaza. Israel đã rút khỏi "Đường Philadelphi" liền sát với biên giới của Dải Gaza với Ai Cập sau một thỏa thuận với nước này nhằm bảo đảm biên giới phía họ. Tương lai tình trạng chính trị của Dải Gaza vẫn còn chưa được quyết định, và được coi là một phần của bất kỳ một nhà nước Palestine nào trong tương lai. Dải Gaza nằm ở Trung Đông (tại #đổi ). Nó có biên giới dài 51 km với Israel, và biên giới dài 11 km với Ai Cập, gần thành phố Rafah. Khan Yunis nằm cách 7 km về phía đông bắc Rafah, và nhiều thị trấn nằm dọc theo bờ biển giữa nó và Thành phố Gaza. Beit Lahia và Beit Hanoun nằm ở phía bắc và đông bắc Thành phố Gaza. Khối Gush Katif của những khu định cư Israel được dùng làm nơi đi ra gần nhất của Rafah và Khan Yunis, dọc theo bờ phía tây nam dài 40 km của Biển Địa Trung Hải. Dải Gaza có khí hậu ôn hòa, với mùa đông ấm áp, mùa hè nóng và thường bị hạn hán. Đất đai phẳng hay nhấp nhô, có nhiều cồn cát gần bờ biển. Điểm cao nhất là Abu 'Awdah (Joz Abu 'Auda), ở mức 105 mét trên mực nước biển. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên gồm đất đai có thể trồng cấy (khoảng một phần ba diện tích được tưới tiêu), và gần đây đã khám phá ra khí gas tự nhiên. Các vấn đề môi trường gồm sa mạc hóa; mặn hóa nguồn nước ngọt; xử lý nước thải; các bệnh từ nguồn nước; suy thoái đất; và giảm sút cùng ô nhiễm nguồn nước ngầm. Đây được coi là một trong mười lăm vùng đất được gọi là "Cái nôi của Nhân loại." Hiện nó còn giữ những di tích cổ nhất còn lại của một đám lửa đốt rác do con người tạo ra và một số trong những bộ xương người cổ nhất thế giới. Sản xuất kinh tế của Dải Gaza đã giảm một phần ba từ 1992 đến 1996. Sự sụt giảm này phần lớn vì tham nhũng và quản lý kém của Yasser Arafat và các chính sách phong tỏa của Israel—sự ép buộc đóng cửa biên giới để trả đũa các vụ tấn công khủng bố vào Israel—đã phá vỡ các mối quan hệ thị trường lao động và hàng hóa được lập nên trước đó giữa Israel và Dải Gaza. Hậu quả tồi tệ nhất của sự suy giảm này là tình trạng thất nghiệp gia tăng. Việc áp dụng biện pháp phong tỏa toàn diện của Israel đã giảm bớt trong những năm gần đây và vào năm 1988, Israel đã đưa ra các biện pháp mới nhằm giảm bớt các hậu quả của việc phong tỏa và các biện pháp an ninh khác đối với việc di chuyển hàng hòa và lao động của Palestine vào Israel. Những thay đổi đó đã khiến cho nền kinh tế Dải Gaza phục hồi đáng kể trong ba năm liền. Sự phục hồi kinh tế này chỉ chấm dứt khi phong trào al-Aqsa Intifada nổ ra vào ba tháng cuối năm 2000. al-Aqsa Intifada khiến cho các lực lượng an ninh Israel (IDF) kiểm soát và phong tỏa chặt chẽ biên giới cũng như thường xuyên hạn chế việc đi lại bên trong những vùng tự trị của người Palestine, gây ảnh hưởng lớn đến di chuyển thương mại và lao động. Năm 2001, và thậm chí còn nghiêm trọng hơn vào đầu năm 2002, sự xáo động quốc tế và những biện pháp quân sự của Israel trong những vùng tự trị của Palestine đã phá hủy các cơ sở kinh tế và hành chính của vùng này, mở rộng việc phong tỏa khiến GDP của Dải Gaza giảm mạnh. Một nhân tố chính khác khiến giảm sút thu nhập của vùng là việc hạn chế số người Palestine được phép vào làm việc tại Israel. Sau khi Israel rút quân khỏi Dải Gaza, một lần nữa họ lại cho phép công nhân Palestine vào Israel làm việc nhưng từ sau khi Hamas lên nắm quyền sau cuộc bầu cử nghị viện năm 2006., Israel đang có ý định giảm bớt và thậm chí là chấm dứt cho phép người Palestine được vào Israel làm việc. Trong thời gian những người định cư Israel còn ở tại Dải Gaza, họ đã xây dựng những nhà kính và thực nghiệm những biện pháp canh tác mới. Những nhà kính đó cũng là nơi cung cấp hàng trăm việc làm cho người Palestine ở Gaza. Khi Israel rút quân khỏi Dải Gaza vào mùa hè năm 2005, các nhà kính đó được Ngân hàng thế giới mua lại và trao cho người dân Palestine để khôi phục nền kinh tế của họ. Đa số những nhà kính đó hiện được các nông dân Palestine sử dụng, dù đã có những vụ cướp phá xảy ra ở vài nơi. Theo CIA World Factbook, GDP năm 2001 giảm 35% xuống mức thu nhập trên đầu người còn $625 một năm, và 60% dân số hiện sống dưới mức nghèo khổ. Các ngành công nghiệp tại Dải Gaza nói chung là nhỏ và đều là kiểu sản xuất gia đình với các sản phẩm dệt may, xà phòng, điêu khắc trên gỗ cây ô liu và các đồ thủ công mỹ nghệ làm từ vỏ trai; người Israel đã thành lập một số ngành công nghiệp ở mức độ nhỏ tại một trung tâm công nghiệp. Điện do Israel cung cấp. Các sản phẩm nông nghiệp chính là ô liu, chanh, các loại rau, thịt bò, và các sản phẩm sữa. Xuất khẩu chính là chanh và hoa, trong khi nhập khẩu gồm thực phẩm, các loại hàng tiêu thụ, và các vật liệu xây dựng. Đối tác thương mại chính của Dải Gaza là Israel, Ai Cập, và Bờ Tây. Một cuộc nghiên cứu do Đại học Johns Hopkins (USA) và Đại học Al-Quds (tại Jerusalem) tiến hành cho CARE International vào cuối năm 2002 cho thấy tỷ lệ thiếu ăn rất cao trong số dân Palestine. Việc nghiên cứu cho biết 17.5% trẻ em 6 tuổi–59 tháng bị suy dinh dưỡng kinh niên. 53% phụ nữ ở tuổi sinh đẻ và 44% trẻ em bị thiếu máu. Hậu quả của việc rút quân Israel từ tháng 8 và tháng 10 2005, hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Gaza tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức. . Giao thông và thông tin liên lạc. Dải Gaza có một hệ thống đường sá nhỏ và kém phát triển. Nó cũng có một đường sắt đơn theo khoảng cách tiêu chuẩn chạy dọc toàn bộ chiều dài từ phía bắc đến phía nam; tuy nhiên, nó đã bị bỏ hoang và không được sửa chữa, và chỉ ít phần tuyến đường còn sót lại. Tuyến đường này từng được nối với hệ thống đường sắt Ai Cập ở phía nam và hệ thống đường sắt Israel ở phía bắc. Vì sự bùng nổ của phong trào Al-Aqsa Intifada, cảng duy nhất của Dải Gaza đã không bao giờ được hoàn thành. Sân bay của Dải Gaza, Sân bay quốc tế Gaza, đã mở cửa vào ngày 24 tháng 11 1998 như một phần trong những điều kiện của thỏa thuận Oslo II và Bản ghi nhớ sông Wye ngày 23 tháng 10 1998. Sân bay đã bị đóng cửa vào tháng 10 năm 2000 theo lệnh của Israel, và đường băng của nó đã bị Các lực lượng phòng vệ Israel phá hủy vào tháng 12 năm 2001. Từ đó nó được đổi tên thành Sân bay quốc tế Yaser Arafat. Dải Gaza có một hệ thống dịch vụ viễn thông yếu kém dùng dây dẫn trần cũng như các dịch vụ điện thoại di động do PalTel (Jawwal) hay các nhà cung cấp dịch vụ của Israel như Cellcom điều hành. Tại Dải Gaza có bốn nhà cung cấp dịch vụ internet hiện đang cạnh tranh nhau về các dịch vụ dial-up và ADSL. Đa số các gia đình tại Dải Gaza đều có một TV (70%+), và khoảng 20% có một máy tính cá nhân. Người dân sống tại Dải Gaza có thể sử dụng dịch vụ vô tuyến vệ tinh (Al-Jazeera, và các chương trình giải trí của Liban và Ai Cập vân vân), các kênh tư nhân địa phương và các chương trình TV của Công ty truyền hình Palestine, Cơ quan truyền hình Israel và Cơ quan truyền hình số hai Israel.
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất () hay gọi tắt là UAE (theo tên tiếng Anh là "United Arab Emirates") là quốc gia Tây Á nằm về phía đông nam của Bán đảo Ả Rập, trên Vịnh Ba Tư, giáp với Ả Rập Xê Út và Oman đồng thời có biên giới trên biển với Qatar và Iran. UAE duy trì chế độ Quân chủ tuyển cử liên bang bao gồm các tiểu vương quốc: Abu Dhabi (thủ đô), Ajman, Dubai (thành phố lớn nhất), Fujairah, Ras Al Khaimah, Sharjah và Umm Al Quwain. Mỗi tiểu vương quốc lại có một vị Quân chủ cai trị, giữa các Quân chủ hình thành Hội đồng Tối cao Liên bang, hội đồng này sẽ họp để bầu chọn ra 1 người đại diện làm Tổng thống của toàn liên bang theo nhiệm kỳ. Năm 2013, quy mô dân số UAE được ước tính đạt vào khoảng 9,2 triệu người trong đó 1,4 triệu có quyền công dân hợp pháp và 7,8 triệu còn lại là người nhập tịch hoặc ngoại kiều. Sự có mặt của con người tại UAE cổ đại bắt nguồn từ quá trình di cư của những người hiện đại từ châu Phi cách đây khoảng 125.000 năm TCN thông qua các vết tích, chứng cứ được khai quật tại khu vực khảo cổ học Faya-1 ở Mleiha và Sharjah, nơi đây phát hiện các địa điểm chôn cất, an táng của con người có niên đại từ thời đại đồ đá mới và thời đại đồ đồng, trong đó, địa điểm lâu đời nhất là Jebel Buhais. Kế tiếp sau thời kỳ cổ đại là thời kỳ xuất hiện nền văn minh của người Sumer, trong giai đoạn này, khu vực là nơi phát triển nền kinh tế thương mại nhộn nhịp trong Thời đại Umm Al Nar, giao thương, trao đổi hàng hóa với Thung lũng Indus, các khu vực Bahrain, Mesopotamia, Iran, Bactria và Levant phát triển mạnh mẽ. Thời kỳ Wadi Suq tiếp theo và thời đại đồ sắt đã chứng kiến ​​sự xuất hiện của nhiều bộ lạc du mục của người Ả Rập trên sa mạc cũng như bắt đầu có sự phát triển của các hệ thống trữ nước cùng thủy lợi hỗ trợ cho việc định cư lâu dài của cư dân ở cả vùng ven bờ biển lẫn trong nội địa. Thời đại Hồi giáo của UAE bắt đầu với việc trục xuất người Sasani khỏi lãnh thổ sau . Lịch sử thương mại của UAE đã dẫn đến sự hình thành "Julfar" - ngày nay là tiểu vương quốc Ras Al Khaimah cùng các tiểu quốc khác. Sự thống trị thương mại biển xung quanh Vịnh Ba Tư bởi các thương nhân người Dubai đã dẫn đến xung đột quân sự với các Đế quốc châu Âu như Bồ Đào Nha và Anh. Sau nhiều thập kỷ xung đột liên miên trên biển với các cường quốc, các bộ tộc hồi giáo đã chấp nhận đình chiến với việc ký kết Hiệp ước hòa bình hàng hải vĩnh viễn với Đế quốc Anh vào năm 1819 (phê chuẩn vào năm 1853 và thêm một lần nữa vào năm 1892), qua đó chính thức thành lập Các Quốc gia Đình chiến dưới sự bảo hộ của Hoàng gia Anh. UAE giành được độc lập và tuyên bố thành lập quốc gia thống nhất vào ngày 2 tháng 12 năm 1971 - sau khi đàm phán thành công với người Anh. 6 tiểu vương quốc đầu tiên đồng loạt gia nhập Liên bang vào năm 1971 và tiểu vương quốc thứ 7 còn lại - Ras Al Khaimah, gia nhập cuối cùng vào ngày 10 tháng 2 năm 1972. Hồi giáo và tiếng Ả Rập là tôn giáo chính thức cũng như ngôn ngữ chính thức ở UAE ngày nay. Dự trữ dầu mỏ của UAE được dự tính lớn thứ 7 trên thế giới trong khi trữ lượng khí đốt tự nhiên được ước tính lớn thứ 17 toàn cầu. Tuy vậy, Sheikh Zayed, người cai trị tiểu quốc Abu Dhabi và đồng thời là vị Tổng thống đầu tiên của UAE là người đã trực tiếp khởi xướng hàng loạt cải cách kinh tế - xã hội nhằm tránh sự ảnh hưởng, phụ thuộc quá mức của dầu mỏ đối với nền kinh tế quốc gia, kế hoạch của ông là sử dụng nguồn doanh thu khủng từ dầu mỏ để tái đầu tư vào hệ thống y tế, giáo dục cũng như xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng đồng thời đa dạng hóa nền kinh tế. Các cải cách thành công đưa nền kinh tế của UAE trở nên đa dạng và bền vững nhất trong Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh với thành phố đông dân nhất Dubai là một thành phố toàn cầu, trung tâm thương mại hàng không và hàng hải quan trọng quy mô quốc tế. Đất nước ít phụ thuộc hơn vào tài nguyên thiên nhiên so với những năm trước đồng thời phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực công nghệ, du lịch, thương mại, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và kinh doanh. Chính phủ UAE là một trong số ít chính phủ không đánh thuế thu nhập cá nhân mặc dù họ vẫn có vận hành, xây dựng một hệ thống chuyên để thu thuế doanh nghiệp cùng thuế giá trị gia tăng riêng ban hành vào năm 2018 (nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức 5%). UAE hiện nay vẫn đang duy trì một số luật của Bộ Luật Hồi giáo Sharia trong hệ thống pháp lý. UAE sở hữu một nền kinh tế với thu nhập rất cao, là một trong những quốc gia giàu có nhất trên thế giới với thu nhập bình quân đầu người luôn được xếp vào nhóm dẫn đầu, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức rất cao (thống kê năm 2020). UAE được công nhận là một cường quốc khu vực, cường quốc năng lượng và cường quốc bậc trung. UAE là một đồng minh thân cận và quan trọng của Hoa Kỳ tại Trung Đông, thành viên của nhiều tổ chức quốc tế lớn, trong số đó nổi bật như: Liên Hợp Quốc, Liên đoàn Ả Rập, Tổ chức Hợp tác Hồi giáo, OPEC, Phong trào không liên kết và Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh. Vùng đất của Tiểu vương quốc đã bị chiếm giữ hàng ngàn năm. Các công cụ bằng đá được phục hồi ở Jebel Faya thuộc tiểu vương quốc Sharjah cho thấy một khu định cư của người dân châu Phi cách đây 127.000 năm và một công cụ bằng đá dùng để giết mổ động vật được phát hiện tại Jebel Barakah trên bờ biển Ả Rập cho thấy nơi cư trú thậm chí từ hơn 130.000 năm trước. Không có bằng chứng liên hệ với thế giới bên ngoài ở giai đoạn đó, mặc dù trong thời gian đó, các liên kết thương mại sôi động được phát triển với các nền văn minh ở Mesopotamia, Iran và văn hóa Harappan của Thung lũng Indus. Sự tiếp xúc này vẫn tồn tại và trở nên rộng khắp, có lẽ được thúc đẩy bởi việc buôn bán đồng tại dãy núi Hajar, bắt đầu khoảng 3.000 TCN. Các nguồn tin của người Sumer nói về UAE như là quê hương của người 'Makkan' hoặc người Magan. Có sáu thời kỳ định cư chính của con người thời tiền Hồi giáo, bao gồm thời kỳ Hafit từ 3.200-2.600 TCN; văn hóa Umm Al Nar kéo dài từ 2.600-2.000 TCN, người Wadi Suq thống trị từ 2.000-1.300 TCN. Từ năm 1.200 trước Công nguyên đến sự ra đời của Hồi giáo ở Đông Ả Rập, qua ba thời đại đồ sắt (Thời đại đồ sắt 1, 1.200-1.000 trước Công nguyên; Thời đại đồ sắt 2, 1.000-600 trước Công nguyên và Thời đại đồ sắt 3, 600-300 trước Công nguyên) và thời kỳ Mleiha (năm 300 trước Công nguyên) khu vực này đã bị Achaemenid và các lực lượng khác chiếm đóng và chứng kiến ​​việc xây dựng các khu định cư kiên cố và chăn nuôi rgờ vào sự phát triển của hệ thống thủy lợi falaj. Trong thời kỳ cổ đại, Al Hasa (nay là tỉnh Đông của Ả Rập Xê Út) là bộ phận của Al Bahreyn và tiếp giáp Đại Oman (nay là Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Oman). Từ thế kỷ II CN, các bộ lạc chuyển dịch từ Al Bahreyn hướng đến Vùng Vịnh thấp hơn, cùng với đó là luồng di cư của các nhóm bộ lạc Azdite Qahtani (hay Yamani) và Quda'ah từ tây nam bán đảo Ả Rập hướng đến miền trung Oman. Các nhóm Sassanid hiện diện tại bờ biển Batinah. Thời kỳ Hồi giáo. Thời điểm Hồi giáo truyền bá đến mũi đông bắc của bán đảo Ả Rập được cho là diễn ra ngay sau một lá thư của Nhà tiên tri Hồi giáo Muhammad gửi đến những người cai trị Oman vào năm 630. Tiếp đó có một nhóm người cai trị đi đến Medina, cải sang Hồi giáo và sau đó lãnh đạo khởi nghĩa thành công chống lại Sassanid. Sau khi Muhammad từ trần, các cộng đồng Hồi giáo mới ở phía nam vịnh Ba Tư có nguy cơ tan rã do có các cuộc khởi nghĩa chống các thủ lĩnh Hồi giáo. Khalip Abu Bakr phái một đội quân từ thủ đô Medina, họ hoàn thành tái chinh phục lãnh thổ (cuộc chiến Ridda) sau trận chiến đẫm máu tại Dibba khiến khoảng 10.000 người thiệt mạng. Hành động này đảm bảo tính toàn vẹn của Đế quốc Hồi giáo và thống nhất bán đảo Ả Rập dưới quyền Đế quốc Rashidun mới xuất hiện. Năm 637, Julfar (tại khu vực nay là Ra's al-Khaimah) là một cảng quan trọng, được sử dụng làm điểm dừng chân của quân Hồi giáo đi xâm lược Đế quốc Sassanid Ba Tư. Khu vực Al Ain/Ốc đảo Buraimi được gọi là Tu'am và là một điểm mậu dịch quan trọng đối với các tuyến đường lạc đà giữa duyên hải và nội địa bán đảo Ả Rập. Địa điểm Cơ đốc giáo sớm nhất ở UAE được phát hiện lần đầu tiên vào những năm 1990, một khu phức hợp tu viện rộng lớn trên hòn đảo ngày nay là Đảo Sir Bani Yas và có từ thế kỷ thứ 7. Được cho là Nestorian và được xây dựng vào năm 600 sau Công nguyên, nhà thờ dường như đã bị bỏ hoang vào năm 750 sau Công nguyên. Nó tạo thành một liên kết hiếm hoi với di sản của Kitô giáo được cho là đã lan rộng trên bán đảo từ 50 đến 350 sau Công nguyên theo các tuyến đường thương mại. Chắc chắn, vào thế kỷ thứ 5, Oman có một giám mục tên là John - giám mục cuối cùng của Oman là Etienne, vào năm 676 sau Công nguyên. Thời đại Ottoman và Bồ Đào Nha. Môi trường hoang mạc khắc nghiệt dẫn đến xuất hiện "bộ lạc đa tài", các nhóm du mục sinh sống nhờ một loạt các hoạt động kinh tế, bao gồm chăn nuôi, trồng trọt và săn bắn. Các nhóm này chuyển dịch theo mùa nên họ thường xuyên xung đột với nhau, và lập ra các khu dân cư và trung tâm mùa vụ và bán mùa vụ. Chúng hình thành các nhóm bộ lạc có danh xưng tồn tại đến nay, trong đó có Bani Yas và Al Bu Falah của Abu Dhabi, Al Ain, Liwa và duyên hải Al Bahrayn, Dhawahir, Awamir và Manasir tại nội địa, Sharqiyin tại duyên hải phía đông và Qawasim ở phía bắc. Đến thế kỷ XVI, các cảng tại vịnh Ba Tư và bộ phận cư dân tại khu vực nay là duyên hải Iraq, Kuwait và Ả Rập Xê Út nằm dưới ảnh hưởng trực tiếp của Đế quốc Ottoman. Trong khi đó, các lực lượng thực dân Bồ Đào Nha, Anh và Hà Lan cũng xuất hiện tại Vùng Vịnh, còn toàn bộ duyên hải phía bắc vịnh Ba Tư lúc này vẫn do Ba Tư cai quản. Đến thế kỷ XVII, bang liên Bani Yas là lực lượng chi phối hầu hết khu vực nay là Abu Dhabi. Người Bồ Đào Nha duy trì ảnh hưởng đối các khu dân cư duyên hải, xây dựng các công sự sau khi chinh phạt các khu dân cư duyên hải trong thế kỷ XVI, đặc biệt là trên duyên hải phía đông tại Muscat, Sohar và Khor Fakkan. Duyên hải phía nam vịnh Ba Tư được người Anh gọi là "Duyên hải Hải tặc", do thuyền của liên bang Al Qawasim (Al Qasimi) có căn cứ tại khu vực này tiến hành quấy nhiễu tàu treo cờ Anh từ thế kỷ XVII cho đến thế kỷ XIX. Các đội viễn chinh Anh bảo vệ tuyến đường đến Ấn Độ trước những kẻ cướp tại Ras al-Khaimah dẫn đến các chiến dịch nhằm vào các trụ sở và bến cảng khác dọc duyên hải vào năm 1809 và sau đó là vào năm 1819. Đến năm sau, Anh Quốc và một số người cai trị địa phương ký một hiệp ước chiến đấu với nạn hải tặc dọc duyên hải vịnh Ba Tư, khiến xuất hiện thuật ngữ "Các Nhà nước đình chiến", xác định tình trạng của các tiểu vương quốc duyên hải. Các hiệp ước tiếp theo được ký kết vào năm 1843 và 1853. Theo hiệp ước năm 1892, những người theo đạo Hồi đã đồng ý không định đoạt bất kỳ lãnh thổ nào ngoại trừ người Anh và không tham gia vào các mối quan hệ với bất kỳ chính phủ nước ngoài nào ngoài người Anh mà không có sự đồng ý của họ. Đổi lại, người Anh hứa sẽ bảo vệ bờ biển khỏi mọi sự xâm lược bằng đường biển và giúp đỡ trong trường hợp bị tấn công trên bộ. Hiệp ước này được ký kết bởi các quân chủ của Abu Dhabi, Dubai, Sharjah, Ajman, Ras Al Khaimah và Umm Al Quwain từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 3 năm 1892. Sau đó nó được Phó vương Ấn Độ và Chính phủ Anh tại Luân Đôn phê chuẩn. Do chính sách hàng hải của Anh, các đội tàu ngọc trai có thể hoạt động tương đối an toàn. Tuy nhiên, người Anh cấm chỉ buôn bán nô lệ nên một số sheikh và thương nhân bị mất một nguồn thu nhập quan trọng. Năm 1869, bộ lạc Qubaisat định cư tại Khawr al Udayd cố gắng tranh thủ sự ủng hộ của Ottoman. Khawr al Udayd đã được Abu Dhabi tuyên bố vào thời điểm đó, một yêu sách được người Anh ủng hộ. Năm 1906, Percy Cox, thường trú Anh, đã xác nhận bằng văn bản cho nhà cai trị của Abu Dhabi, Zayed bin Khalifa Al Nahyan ('Zayed the Great') rằng Khawr al Udayd thuộc về tôn giáo của ông. Thời kỳ Anh bảo hộ và tìm ra dầu mỏ. Nhằm phản ứng trước tham vọng của các quốc gia châu Âu khác là Pháp và Nga. Anh và "Các quốc gia Đình chiến" đã lập quan hệ mật thiết hơn trong một hiệp ước năm 1892. Các sheikh (quân chủ) chấp thuận không chuyển nhượng bất kỳ lãnh thổ nào với ngoại lệ là Anh và không tham gia các mối quan hệ với bất kỳ chính phủ ngoại quốc nào ngoại trừ Anh mà không được Anh đồng ý. Đổi lại, Anh hứa bảo hộ Duyên hải Đình chiến trước toàn bộ các cuộc công kích bằng đường biển và giúp đỡ trong trường hợp có tấn công trên bộ. Trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, ngành công nghiệp ngọc trai phát triển mạnh, tạo ra thu nhập và việc làm cho cư dân vịnh Ba Tư. Chiến tranh thế giới thứ nhất có tác động nghiêm trọng đến ngành công nghiệp này, rồi nghề này bị xóa xổ do suy thoái kinh tế toàn cầu vào cuối thập niên 1920 và đầu thập niên 1930 cùng với việc phát minh ngọc trai nuôi cấy. Tàn dư của nghề ngọc trai biến mất không lâu sau Chiến tranh thế giới thứ hai khi Chính phủ Ấn Độ đánh thuế nặng ngọc trai nhập khẩu từ Vùng Vịnh. Ngành ngọc trai suy thoái khiến kinh tế Các quốc gia Đình chiến cực kỳ gian khổ. Năm 1922, chính phủ Anh đảm bảo được cam đoan từ những người cai trị địa phương rằng họ không ký kết nhượng địa với các công ty ngoại quốc mà không có sự cho phép của các sheikh. Nhận thức tiềm năng phát triển các tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, Công ty Dầu mỏ Iraq (IPC) do Anh lãnh đạo thể hiện quan tâm đến khu vực, Công ty Dầu Anh-Ba Tư (APOC, sau là BP) có 23,75% cổ phần trong IPC. Công ty dầu mỏ Ba Tư (APOC, sau này trở thành Dầu khí Anh, hay BP) có 23,75% cổ phần trong IPC. Từ năm 1935, đạt được đồng thuận với những người cai trị địa phương về nhượng địa khai thác dầu trên bờ, APOC ký kết thỏa thuận đầu tiên, thay mặt cho Công ty Dầu khí (PCL), một công ty liên kết của IPC. APOC bị ngăn cản độc quyền phát triển khu vực do hạn chế của Thỏa thuận Làn ranh Đỏ, theo đó yêu cầu nó phải hoạt động thông qua IPC. Một số quyền mua bán cổ phần giữa PCL và những quân chủ địa phương được ký kết, cung cấp thu nhập hữu ích cho các cộng đồng từng trải qua bần cùng sau khi ngành ngọc trai sụp đổ. Tuy nhiên, nguồn tiền từ dầu mỏ mà những người cai trị có thể thu được từ các khoản tại các nước xung quanh như Iran, Bahrain, Kuwait, Qatar và Ả Rập Xê Út vẫn còn khó khăn. Các giếng dầu đầu tiên ở Abu Dhabi đã được khoan bởi công ty điều hành của IPC, Công ty Phát triển Dầu khí (Trúcial Coast) Ltd tại Ras Sadr vào năm 1950, với một lỗ khoan sâu 4.000 mét, với chi phí cực lớn tại thời điểm đó là 1 triệu bảng. Người Anh thiết lập một văn phòng phát triển để giúp đỡ các tiểu vương quốc một số phát triển nhỏ. 7 sheikh của các tiểu vương quốc sau đó quyết định thành lập một hội đồng để hợp tác các vấn đề giữa họ và kế tục văn phòng phát triển. Năm 1952, hình thành "Hội đồng Các quốc gia Đình chiến", và bổ nhiệm Adi Bitar, cố vấn pháp lý của Sheikh Rashid của Dubai, làm tổng thư ký và cố vấn pháp lý của hội đồng. Hội đồng tan rã khi Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất hình thành. Tính chất bộ lạc trong xã hội và việc thiếu xác định biên giới giữa các tiểu vương quốc thường xuyên dẫn đến các tranh chấp, được giải quyết thông qua hòa giải hoặc bằng vũ lực song hiếm thấy. Năm 1953, một công ty con của BP, D'Arcy Explective Ltd, đã nhận được một nhượng bộ ngoài khơi từ người cai trị Abu Dhabi. BP đã kết hợp với Compagnie Française des Pétroles (sau này là Total) để thành lập các công ty điều hành, Abu Dhabi Marine Area Ltd (ADMA) và Dubai Marine Area Ltd (DUMA). Một số cuộc khảo sát dầu dưới đáy biển đã được thực hiện, bao gồm một viên thám bởi nhà thám hiểm biển nổi tiếng như Jacques Cousteau. Năm 1958, một giàn khoan nổi đã được kéo từ Hamburg, Đức và đặt tại Umm Shaif ở vùng biển Abu Dhabi. ADMA đã thực hiện thêm các khám phá ngoài khơi tại Zakum và các nơi khác, và các công ty khác đã thực hiện các phát hiện mới như mỏ dầu Fateh ngoài khơi Dubai và mỏ Mubarak ngoài khơi Sharjah (chia sẻ với Iran). Trong khi đó, hoạt động thăm dò trên bờ bị cản trở bởi các tranh chấp lãnh thổ. Năm 1955, Vương quốc Anh đại diện cho Abu Dhabi và Oman trong cuộc tranh chấp của họ với Ả Rập Xê Út về ốc đảo Buraimi. Một thỏa thuận năm 1974 giữa Abu Dhabi và Ả Rập Xê Út dường như đã giải quyết tranh chấp biên giới, nhưng điều này chưa được phê chuẩn. Biên giới của UAE với Oman đã được phê chuẩn vào năm 2008. PDTC tiếp tục cuộc viễn thám trên bờ của mình ra khỏi khu vực tranh chấp, khoan thêm năm lỗ khoan. Tuy nhiên, vào ngày 27 tháng 10 năm 1960, công ty đã phát hiện ra dầu với số lượng thương mại tại giếng số 3 Murban trên bờ biển gần Tarif. Năm 1962, PDTC trở thành Công ty Dầu khí Abu Dhabii. Khi thu nhập từ dầu tăng lên, quân chủ của Abu Dhabi là Zayed bin Sultan Al Nahyan cho tiến hành một chương trình xây dựng lớn, xây các trường học, nhà ở, bệnh viện và đường sá. Khi Dubai bắt đầu xuất khẩu dầu vào năm 1969, Sheikh Rashid bin Saeed Al Maktoum có thể đầu tư thu nhập từ trữ lượng hạn chế nhằm thúc đẩy đa dạng hóa giúp tạo ra thành phố toàn cầu Dubai ngày nay. Đến năm 1966, tình hình trở nên rõ ràng rằng chính phủ Anh không còn đủ khả năng cai quản và bảo hộ khu vực nay là Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Các nghị sĩ Anh tranh luận về sự chuẩn bị của Hải quân Hoàng gia để bảo vệ những người theo đạo Hồi. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Denis Healey báo cáo rằng Lực lượng Vũ trang Anh đã quá sức và trong một số khía cạnh nguy hiểm được trang bị đầy đủ để bảo vệ những người theo đạo Hồi. Ngày 24 tháng 1 năm 1968, Thủ tướng Anh Harold Wilson công bố quyết định của chính phủ, được tái xác nhận vào tháng 3 năm 1971 bởi Thủ tướng Edward Heath là kết thúc các mối quan hệ hiệp ước với bảy tiểu vương quốc Đình chiến cùng với Bahrain và Qatar. Sau công bố này, tiểu vương của Abu Dhabi là Sheikh Zayed bin Sultan Al Nahyan do lo ngại bị tấn công nên nỗ lực thuyết phục Anh tôn trọng các hiệp ước bảo hộ bằng cách đề xuất chi trả toàn bộ chi phí duy trì quân đội Anh tại khu vực. Chính phủ Công Đảng của Anh bác bỏ đề xuất. Sau khi Nghị sĩ Công Đảng Goronwy Roberts thông báo cho Sheikh Zayed tin tức về việc người Anh triệt thoái, chín tiểu vương quốc vịnh Ba Tư nỗ lực hình thành một liên minh gồm các tiểu vương quốc Ả Rập, song đến giữa năm 1971 họ vẫn không thể đồng thuận về các điều khoản liên minh dẫu cho quan hệ hiệp ước với Anh sẽ kết thúc trong tháng 12 cùng năm. Bahrain độc lập vào tháng 8, và Qatar độc lập vào tháng 9 năm 1971. Đến khi hiệp ước các tiểu vương quốc Đình chiến thuộc Anh mãn hạn vào ngày 1 tháng 12 năm 1971, họ trở thành các quốc gia độc lập hoàn toàn. Các quân chủ của Abu Dhabi và Dubai tuyên bố hình thành một liên minh giữa hai tiểu vương quốc, chuẩn bị một hiến pháp, sau đó kêu gọi quân chủ của năm tiểu vương quốc khác họp và trao cho họ cơ hội gia nhập. Hai tiểu vương quốc cũng đồng thuận rằng hiến pháp được viết vào ngày 2 tháng 12 năm 1971. Vào ngày đó, tại Cung điện Nhà khách Dubai, bốn tiểu vương quốc khác đồng ý tham gia một liên minh gọi là Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Bahrain và Qatar từ chối lời mời tham gia liên minh. Tiểu vương quốc Ras al-Khaimah tham gia liên minh vào đầu năm 1972. Tháng 2 năm 1972, Hội đồng Quốc gia Liên bang (FNC) được thành lập; đó là một cơ quan tư vấn gồm 40 thành viên được chỉ định bởi bảy người cai trị. UAE gia nhập Liên đoàn Ả Rập vào ngày 6 tháng 12 năm 1971 và Liên Hợp Quốc vào ngày 9 tháng 12. Đây là thành viên sáng lập của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh vào tháng 5 năm 1981, với việc Abu Dhabi tổ chức hội nghị thượng đỉnh GCC đầu tiên. Một cậu bé người Dubai 19 tuổi đến từ Abu Dhabi, Abdullah Mohammed Al Maainah, đã thiết kế lá cờ UAE vào năm 1971. Chủ đề chính của màu cờ là sự thống nhất của các quốc gia Ả Rập. Các màu cờ của Pan-Arab gồm đỏ, xanh lá cây, trắng và đen. Nó được thông qua vào ngày 2 tháng 12 năm 1971. Al Maainah trước đây từng là đại sứ UAE tại Chile và hiện đang làm đại sứ UAE tại Cộng hòa Séc. Thời kỳ hòa bình. UAE hỗ trợ các hoạt động quân sự từ Mỹ và các quốc gia liên minh khác tham gia cuộc chiến chống Taliban ở Afghanistan (2001) và Saddam Hussein ở Iraq (2003) cũng như các hoạt động hỗ trợ Chiến tranh toàn cầu chống khủng bố ở châu Phi tại Căn cứ không quân Al Dhafra nằm bên ngoài Abu Dhabi. Căn cứ không quân cũng hỗ trợ các hoạt động của Đồng minh trong Chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư năm 1991 và Chiến dịch theo dõi phía Bắc. Nước này đã ký một thỏa thuận quốc phòng quân sự với Hoa Kỳ vào năm 1994 và với Pháp vào năm 1995. Vào tháng 1 năm 2008, Pháp và UAE đã ký một thỏa thuận cho phép Pháp thiết lập một căn cứ quân sự lâu dài ở tiểu vương quốc Abu Dhabi. UAE đã tham gia các hoạt động quân sự quốc tế tại Libya vào tháng 3 năm 2011. Ngày 2 tháng 11 năm 2004, tổng thống đầu tiên của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất là Sheikh Zayed bin Sultan Al Nahyan từ trần. Con trai cả của ông là Sheikh Khalifa bin Zayed Al Nahyan kế vị làm Tiểu vương của Abu Dhabi. Theo quy định của hiến pháp, Hội đồng Tối cao với các Tiểu vương của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bầu Khalifa làm tổng thống. Sheikh Mohammed bin Zayed Al Nahyan kế vị Khalifa làm Thái tử Abu Dhabi. Tháng 1 năm 2006, Sheikh Maktoum bin Rashid Al Maktoum, thủ tướng Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và là quân chủ Dubai, từ trần, và Thái tử Sheikh Mohammed bin Rashid Al Maktoum đảm nhiệm cả hai chức vụ. Bầu cử toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất vào ngày 16 tháng 12 năm 2006. Một lượng nhỏ cử tri được lựa chọn trước sẽ tiến hành bầu ra một nửa thành viên của Hội đồng Quốc gia Liên bang, một cơ cấu cố vấn. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất hầu như tránh được Mùa xuân Ả Rập; tuy nhiên, có trên 100 nhà hoạt động Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bị tống giam và tra tấn vì họ yêu cầu cải cách. Hơn thế, một số người bị tước quốc tịch. Lưu tâm đến các cuộc biểu tình ở Bahrain gần đó, vào tháng 11 năm 2012, UAE đã đặt ra ngoài vòng pháp luật chế giễu chính phủ hoặc cố gắng tổ chức các cuộc biểu tình công khai thông qua phương tiện truyền thông xã hội. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất nằm tại Trung Đông, giáp với vịnh Oman và vịnh Ba Tư , nằm giữa Oman và Ả Rập Xê Út; đây là một vị trí chiến lược nằm sát phía nam của eo biển Hormuz, một điểm trung chuyển trọng yếu đối với dầu thô thế giới. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất nằm giữa 22°30' và 26°10' vĩ Bắc và giữa 51° và 56°25′ kinh Đông. Quốc gia này có 530 km biên giới với Ả Rập Xê Út về phía tây và nam, và có biên giới dài 450 km với Oman về phía đông nam và đông bắc. Liên bang từng yêu sách có biên giới trên bộ dài 19 km với Qatar tại khu vực Khawr al Udayd; tuy nhiên tranh chấp lãnh thổ với Ả Rập Xê Út dường như đã được giải quyết. Sau khi quân đội Anh rời khỏi Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất vào năm 1971, liên bang có tranh chấp chủ quyền một số đảo trong vịnh Ba Tư với Iran và vẫn chưa được giải quyết. Liên bang cũng có tranh chấp chủ quyền với Qatar về một số đảo. Tiểu vương quốc lớn nhất liên bang là Abu Dhabi, chiếm 87% tổng diện tích toàn quốc với 67.340 km², còn tiểu vương quốc nhỏ nhất là Ajman chỉ rộng 259 km². Bờ biển Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất trải dài trên 650 km dọc bờ nam của vịnh Ba Tư. Hầu hết bờ biển gồm các lòng chảo muối kéo dài xa vào đất liền. Bến cảng tự nhiên lớn nhất nằm tại Dubai, song các cảng khác đã được nạo vét. Các đảo nhỏ, cũng như nhiều rạn san hô và bãi cát di động đe dọa đến tàu thuyền qua lại. Thủy triều mạnh và thi thoảng là gió bão càng làm phức tạp thêm cho tàu thuyền di chuyển gần bờ. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất cũng có một đoạn bờ biển Al Bāţinah ven vịnh Oman, song bán đảo Musandam giáp eo biển Hormuz là một lãnh thổ tách rời của Oman tách biệt qua Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Tại phía tây và nam của Abu Dhabi, các đụn cát lớn và lăn hợp nhất vào Rub al-Khali (miền hoang vắng) của Ả Rập Xê Út. Khu vực hoang mạc Abu Dhabi có hai ốc đảo quan trọng có nước ngầm đầy đủ để cung cấp cho khu dân cư thường trú và canh tác. Ốc đảo Liwa rộng lớn nằm tại phía nam gần biên giới chưa được phân định với Ả Rập Xê Út. Cách 100 km về phía đông bắc là ốc đảo Al-Buraimi, kéo dài hai bên biên giới Abu Dhabi-Oman. Hồ Zakher là một hồ nhân tạo gần biên giới với Oman. Trước khi rút khỏi khu vực vào năm 1971, Anh Quốc đã vạch ra biên giới nội bộ giữa bảy tiểu vương quốc nhằm ngăn chặn trước các tranh chấp lãnh thổ vốn có thể cản trở việc thành lập liên bang. Về tổng thể, các quân chủ chấp thuận can thiệp của người Anh, song trong trường hợp tranh chấp biên giới giữa Abu Dhabi và Dubai, cũng như giữa Dubai và Sharjah, xung đột về yêu sách không được giải quyết cho đến sau khi Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất được độc lập. Biên giới phức tạp nhất là tại Dãy núi Al-Hajar al-Gharbi, tại đó năm tiểu vương quốc tranh giành quyền tài phán đối với hơn một chục vùng đất tách rời. Hệ thực vật và động vật. Trên các ốc đảo, người ta trồng các loại cây như chà là, keo acacia và bạch đàn. Trên hoang mạc, thực vật rất thưa thớt và gồm có các loại cỏ và cây bụi gai. Động vật bản địa tiến gần đến tuyệt chủng do săn bắn gia tăng, dẫn đến một chương trình bảo tồn trên đảo Bani Yas do Sheikh Zayed bin Sultan Al Nahyan khởi xướng trong thập niên 1970, khiến cho nhiều loài còn tồn tại, như linh dương sừng thẳng Ả Rập, lạc đà một bướu và báo. Các loại cá và thú ven biển chủ yếu gồm cá thu, pecca và cá ngừ, cũng như cá mập và cá voi. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất có khí hậu cận nhiệt đới khô hạn với mùa hè nóng và mùa đông ấm. Các tháng nóng nhất là tháng 7 và tháng 8, khi nhiệt độ cao nhất trung bình đạt trên 45 °C tại đồng bằng duyên hải. Tại dãy núi Al Hajar, nhiệt độ thấp hơn đáng kể, do kết quả của độ cao. Nhiệt độ thấp nhất trung bình vào tháng 1 và tháng 2 là từ 10 đến 14 °C. Trong những tháng cuối hè, gió đông nam ẩm gọi là Sharqi khiến khu vực duyên hải đặc biệt khó chịu. Lượng mưa bình quân năm tại khu vực duyên hải thấp hơn 120 mm, trong khi tại một số vùng núi lượng mưa hàng năm thường đạt . Mưa tại các khu vực duyên hải diễn ra trong thời gian ngắn và xối xả trong các tháng mùa hè, đôi khi dẫn đến ngập lụt tại các thung lũng sông thường cạn nước. Khu vực thỉnh thoảng có bão cát dữ dội, làm giảm tầm nhìn nghiêm trọng. Vào ngày 28 tháng 12 năm 2004, tuyết xuất hiện tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất trong một dịp rất hiếm gặp tại dãy núi Jebel Jais ở Ras al-Khaimah. Một vài năm sau, tuyết và mưa đá được trông thấy nhiều hơn. Dãy núi Jebel Jais đã trải qua 2 lần tuyết rơi kể từ khi quá trình theo dõi thời tiết bắt đầu. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất là một liên bang của các chế độ quân chủ chuyên chế thế tập. Liên bang nằm dưới quyền quản lý của Hội đồng Tối cao Liên bang gồm có 7 tiểu vương của 7 tiểu vương quốc trong liên minh: Abu Dhabi, Ajman, Fujairah, Sharjah, Dubai, Ras al-Khaimah và Umm al-Qaiwain. Các tiểu vương quốc được giữ lại các trách nhiệm mà pháp luật không trao cho chính phủ quốc gia. Mỗi tiểu vương quốc được phân định cung cấp một tỷ lệ thu nhập cho ngân sách trung ương. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất sử dụng danh hiệu Sheikh thay vì Tiểu vương để chỉ những người cai trị của các tiểu vương quốc. Mặc dù do Hội đồng Tối cao bầu ra, song chức vụ Tổng thống và Thủ tướng về cơ bản là thế tập: tiểu vương của Abu Dhabi giữ chức tổng thống, và tiểu vương của Dubai là thủ tướng. Thủ tướng đồng thời là Phó tổng thống. Sheikh Zayed bin Sultan Al Nahyan là tổng thống của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất từ khi lập quốc cho đến khi ông mất vào ngày 2 tháng 11 năm 2004. Sau đó, Hội đồng Tối cao Liên bang bầu con trai của ông là Sheikh Khalifa bin Zayed Al Nahyan vào chức vụ này. Thái tử của Abu Dhabi là Mohammed bin Zayed Al Nahyan là người thừa kế, nhưng vẫn sẽ yêu cầu bầu cử Hội đồng tối cao liên bang để đảm nhận chức tổng thống. Chính phủ liên bang gồm có ba nhánh: Chính phủ điện tử UAE là sự mở rộng của Chính phủ Liên bang UAE dưới dạng điện tử. Hội đồng Bộ trưởng của UAE (tiếng Ả Rập: مجلس الوزراء) là cơ quan hành pháp chính của chính phủ do Thủ tướng chủ trì. Thủ tướng, người được Hội đồng tối cao liên bang bổ nhiệm, bổ nhiệm các bộ trưởng. Hội đồng Bộ trưởng gồm 22 thành viên và quản lý tất cả các vấn đề đối nội và đối ngoại của hội đồng theo luật hiến pháp và liên bang. UAE là quốc gia duy nhất trên thế giới có Bộ Khoan dung, Bộ Hạnh phúc và Bộ Trí tuệ nhân tạo. UAE cũng có một Hội đồng Thanh niên Quốc gia, được đại diện trong nội các UAE thông qua Bộ trưởng Bộ Thanh niên. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất triệu tập Hội đồng Quốc gia Liên bang (FNC) tổ chức bầu cử toàn quốc 4 năm một lần. Hội đồng này gồm có 40 thành viên đến từ tất cả các tiểu vương quốc. Mỗi tiểu vương quốc được phân bổ đại diện đầy đủ và đồng đều nhau. Một nửa trong số đó được các quân chủ của họ bổ nhiệm, và một nửa còn lại được bầu cử gián tiếp với nhiệm kỳ hai năm. Tuy nhiên, hội đồng này bị hạn chế với vai trò phần lớn mang tính cố vấn. Một chỉ thị đã được ban hành quy định rằng kể từ cuộc bầu cử năm 2019, một nửa số thành viên FNC sẽ được phân bổ cho nữ giới. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất thường xuyên được mô tả là nhà nước "độc tài". Theo tờ "New York Times", UAE là "một chế độ chuyên chế với ánh sáng của một nhà nước hiện đại, tiến bộ". Quốc gia này xếp thứ hạng kém về các chỉ số tự do về tự do dân sự và quyền lợi chính trị. Các Tiểu Vương quốc hàng năm đều bị Freedom House xếp hạng là "không tự do" trong báo cáo "Tự do trên Thế giới" của họ. UAE cũng xếp hạng kém trong các Chỉ số tự do báo chí cho các Phóng viên không biên giới hằng năm. Sheikh Zayed đã được tờ "New York Times" hỏi vào tháng 4 năm 1997 về lý do tại sao không có nền dân chủ được bầu ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, trong đó ông trả lời:Tại sao chúng ta nên từ bỏ một hệ thống làm hài lòng người dân của chúng tôi để giới thiệu một hệ thống dường như gây ra sự bất đồng quan điểm và đối đầu? Hệ thống chính quyền của chúng tôi dựa trên tôn giáo của chúng tôi và đó là những gì người dân của chúng tôi muốn. Nếu họ tìm kiếm giải pháp thay thế, chúng tôi sẵn sàng lắng nghe họ. Chúng tôi đã luôn nói rằng người dân của chúng tôi nên nói lên yêu cầu của họ một cách cởi mở. Tất cả chúng ta đều ở trong cùng một chiếc thuyền và cả hai đều là thuyền trưởng và thủy thủ đoàn. Cánh cửa của chúng tôi đang mở cho bất kỳ ý kiến ​​nào được đưa ra và điều này được mọi công dân của chúng tôi biết đến. Đó là niềm tin sâu sắc của chúng tôi rằng Thiên Chúa đã tạo ra con người tự do và đã quy định rằng mỗi cá nhân phải được hưởng tự do lựa chọn. Không ai nên hành động như thể họ sở hữu người khác. Quan hệ đối ngoại. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất có quan hệ ngoại giao và thương mại rộng rãi với các quốc gia khác. Quốc gia này giữ vai trò quan trọng trong OPEC và Liên Hợp Quốc và là một trong những thành viên sáng lập Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC). Một trong những mỏ neo chính của chính sách đối ngoại của UAE là xây dựng mối quan hệ hợp tác với tất cả các nước trên thế giới. Hỗ trợ phát triển đáng kể đã làm tăng tầm vóc của UAE giữa các quốc gia khác. Hầu hết viện trợ nước ngoài này (vượt quá 15 tỷ đô la) đã được gửi đến các nước Ả Rập và Hồi giáo. UAE là thành viên của Liên Hợp Quốc và một số cơ quan chuyên môn của mình (ICAO, ILO, UPU, WHO, WIPO); cũng như Ngân hàng Thế giới, IMF, Liên đoàn Ả Rập, Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC), OPEC, Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ Ả Rập và Phong trào Không liên kết và là một giám sát viên của Cộng đồng Pháp ngữ. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất là một trong ba quốc gia từng công nhận Taliban là chính phủ hợp pháp tại Afghanistan (cùng với Pakistan và Ả Rập Xê Út). Trước sự khuyến khích của Hoa Kỳ, UAE đã cố gắng lập một đại sứ quán cho Taliban theo ba điều kiện bao gồm tố cáo lãnh đạo Al Qaeda Osama bin Laden, công nhận hiến pháp Afghanistan và từ bỏ bạo lực và vũ khí của họ. Taliban từ chối cả ba điều kiện và UAE đã rút lại lời đề nghị. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất duy trì quan hệ ngoại giao với Taliban cho đến các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 (cùng với Pakistan). Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất có quan hệ mật thiết duy trì trong thời gian dài với Ai Cập và là quốc gia Ả Rập đầu tư lớn nhất vào Ai Cập. Pakistan là quốc gia đầu tiên chính thức công nhận Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất khi liên bang thành lập và tiếp tục là một trong các đối tác kinh tế và mậu dịch chủ yếu của liên bang; có khoảng 400.000 kiều dân Pakistan làm việc tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Trung Quốc và UAE cũng là những đồng minh quốc tế mạnh mẽ, với sự hợp tác đáng kể trên các khía cạnh kinh tế, chính trị và văn hóa. Sự hiện diện của người nước ngoài lớn nhất ở UAE là Ấn Độ. Sau khi Anh rút khỏi UAE vào năm 1971 và thành lập UAE như một quốc gia, UAE đã tranh chấp quyền đối với ba hòn đảo trong Vịnh Ba Tư chống lại Iran, đó là Abu Musa, Greater Tunb và Lesser Tunb. UAE đã cố gắng đưa vấn đề ra Tòa án Công lý Quốc tế, nhưng Iran đã bác bỏ quan điểm này. Tranh chấp đã không ảnh hưởng đáng kể đến các mối quan hệ vì sự hiện diện của cộng đồng Iran lớn và quan hệ kinh tế mạnh mẽ. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Hoa Kỳ có mối quan hệ chiến lược rất chặt chẽ. UAE đã được mô tả là đồng minh chống khủng bố tốt nhất của Hoa Kỳ tại vùng Vịnh bởi Richard A. Clarke, cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ và chuyên gia chống khủng bố. Mỹ duy trì ba căn cứ quân sự ở UAE. UAE cũng là quốc gia duy nhất ở Trung Đông có biên giới Hoa Kỳ được các nhân viên của Cơ quan Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ điều hành và cho phép du khách đến Hoa Kỳ với tư cách là khách du lịch nội địa. Năm 2013, UAE đã chi nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới để tác động đến chính sách của Hoa Kỳ và định hình cuộc tranh luận trong nước. Trong tranh chấp với Hoa Kỳ, Iran đã nhiều lần đe dọa đóng cửa eo biển Hormuz, một tuyến giao thương dầu mỏ quan trọng. Do đó, vào tháng 7 năm 2012, UAE đã bắt đầu vận hành một đường ống dẫn dầu chính trên đất liền, đường ống dẫn dầu Habshan-Fujairah, đi qua eo biển Hormuz để giảm thiểu bất kỳ hậu quả nào từ việc Iran cho ngừng hoạt động. Trên phương diện thương mại, Anh và Đức là các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và quan hệ song phương mật thiết trong thời gian dài, một lượng lớn công dân hai quốc gia này cư trú tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Cựu Thủ tướng Anh Tony Blair phục vụ như một cố vấn tài trợ cho Công ty Phát triển Mubadala, một phương tiện đầu tư thuộc sở hữu hoàn toàn của chính phủ Abu Dhabi. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đã tích cực tham gia vào cuộc chiến do Yemen lãnh đạo và đã hỗ trợ chính phủ được quốc tế công nhận cũng như Hội đồng Chuyển tiếp miền Nam ly khai ở Yemen chống lại việc Houthi tiếp quản Yemen và Al-Qaeda ở Bán đảo Ả Rập. Quan hệ ngoại giao giữa Các Tiểu vương quốc và Nhật Bản được thành lập ngay khi liên bang độc lập. Hai quốc gia luôn có mối quan hệ và mậu dịch hữu hảo, xuất khẩu của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất sang Nhật Bản gồm có dầu thô và khí đốt thiên nhiên, còn nhập khẩu từ Nhật Bản là các mặt hàng ô tô và điện tử. UAE và Ả Rập Xê Út trở thành đồng minh thân thiết khi Salman bin Abdulaziz Al Saud trở thành Quốc vương Ả Rập Xê Út vào năm 2015 và Mohammed bin Salman làm Thái tử năm 2017. Vào tháng 6 năm 2017, UAE cùng với nhiều quốc gia Trung Đông và Châu Phi đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar do cáo buộc Qatar là nhà tài trợ khủng bố, dẫn đến cuộc khủng hoảng ngoại giao Qatar. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã trở thành giáo hoàng đầu tiên từ Tòa thánh đến thăm Bán đảo Ả Rập trong chuyến đi tới Abu Dhabi năm 2019 và tổ chức lễ hội cho hơn 120.000 người tham dự tại Sân vận động Thành phố Thể thao Zayed. Do chính sách đối ngoại thành công của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, hộ chiếu của Tiểu vương quốc đã trở thành quốc gia có các nước cho miễn thị thực nhanh nhất trong Chỉ số Hộ chiếu Henley Partners năm 2018 trong thập kỷ qua, tăng thứ hạng toàn cầu lên 28 bậc. Theo Henley Passport Index, kể từ ngày 28 tháng 3 năm 2019, công dân Tiểu vương quốc đã miễn thị thực hoặc thị thực khi đến 165 quốc gia và vùng lãnh thổ, xếp hạng hộ chiếu của Tiểu vương quốc thứ 21 trên thế giới về tự do đi lại. Theo The Passport Index, tuy nhiên, hộ chiếu UAE đứng thứ 1 trên thế giới với quyền đi lại với 167 quốc gia. Quân đội Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất được thành lập vào năm 1971 từ Hướng đạo sinh Trúcial lịch sử, một biểu tượng lâu dài về trật tự ở Đông Ả Rập và được chỉ huy bởi các sĩ quan Anh. Các trinh sát Trúcial Oman đã được chuyển sang Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất với tư cách là hạt nhân của lực lượng phòng thủ năm 1971 với sự thành lập của UAE và được đưa vào Lực lượng phòng vệ Liên minh. Mặc dù ban đầu có số lượng nhỏ, các lực lượng vũ trang UAE đã tăng trưởng đáng kể trong những năm qua và hiện được trang bị một số hệ thống vũ khí hiện đại nhất, được mua từ nhiều nước tiên tiến quân sự, chủ yếu là Pháp, Mỹ và Anh. Hầu hết sĩ quan tốt nghiệp từ Học viện Quân sự Hoàng gia Anh tại Sandhurst, những người khác theo học tại Học viện Quân sự Hoa Kỳ tại West Point, New York, Học viện Quân sự Hoàng gia, Duntroon tại Duntroon, Úc và Trường Quân sự đặc biệt St Cyr tại Pháp. Pháp và Hoa Kỳ đã đóng vai trò chiến lược quan trọng nhất với các thỏa thuận hợp tác quốc phòng và cung cấp vật chất quân sự. Một số triển khai của quân đội UAE bao gồm một tiểu đoàn bộ binh cho lực lượng UNOSOM II của Liên Hợp Quốc ở Somalia năm 1993, Tiểu đoàn bộ binh 35 đến Kosovo, một trung đoàn đến Kuwait trong Chiến tranh Iraq, phá hủy các hoạt động ở Lebanon, Chiến dịch Tự do Bền vững ở Afghanistan, Can thiệp của Mỹ ở Libya, Can thiệp của Mỹ ở Syria và Can thiệp của Ả Rập Xê Út ở Yemen. Vai trò quân sự tích cực và hiệu quả mặc dù có ít nhân sự hoạt động đã khiến quân đội UAE được biệt danh là "Sparta nhỏ" của các tướng quân lực lượng vũ trang Hoa Kỳ và cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ James Mattis. Trong tháng 3 năm 2011, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất chấp thuận tham gia thi hành vùng cấm bay tại Libya khi phái đi sáu chiếc AEAF F-16 và sáu chiếc máy bay tiêm kích Mirage 2000, triển khai bộ binh ở Afghanistan, 30 chiếc F-16 của UAEAF, triển khai lực lượng bộ binh ở Nam Yemen và giúp Mỹ tiến hành cuộc không kích đầu tiên vào các mục tiêu của Nhà nước Hồi giáo IS ở Syria. UAE đã bắt đầu sản xuất một lượng lớn thiết bị quân sự hơn trong nỗ lực giảm sự phụ thuộc nước ngoài và giúp đỡ công nghiệp hóa quốc gia. Ví dụ về sự phát triển của quân đội quốc gia bao gồm công ty đóng tàu Abu Dhabi (ADSB), công ty sản xuất một loạt tàu và là nhà thầu chính trong Chương trình Baynunah, một chương trình thiết kế, phát triển và sản xuất tàu hộ tống được tùy chỉnh để hoạt động ở vùng nước nông của Ba Tư Vịnh. UAE cũng đang sản xuất vũ khí và đạn dược thông qua Caracal International, phương tiện vận tải quân sự thông qua Nimr LLC và máy bay không người lái cùng nhau thông qua Công ty Công nghiệp Quốc phòng Emirates. UAE vận hành biến thể độc nhất của General Dynamics F-16 Fighting Falcon F-16E Block 60, được gọi một cách không chính thức là "Falcon Sa mạc", do General Dynamics phát triển với sự cộng tác từ UAE và đặc biệt cho Không quân Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Về xe tăng chiến đấu, Quân đội Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất vận hành xe tăng Leclerc tùy chỉnh và là nhà điều hành duy nhất của xe tăng này ngoài Quân đội Pháp. Triển lãm và hội nghị quốc phòng lớn nhất ở Trung Đông, Triển lãm Quốc phòng Quốc tế, diễn ra hai năm một lần tại Abu Dhabi. Pháp và Hoa Kỳ giữ vị thế quan trọng chiến lược nhất trong hợp tác quân sự của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, với các thỏa thuận hợp tác phòng thủ và điều khoản vật tư quân sự. Liên bang từng thảo luận với Pháp về khả năng mua 60 máy bay chiến đấu Rafale vào tháng 1 năm 2013. Liên bang giúp Hoa Kỳ phát động chiến dịch không kích đầu tiên của họ chống các mục tiêu của Nhà nước Hồi giáo tại Syria. Pháp mở căn cứ Abu Dhabi vào tháng 5 năm 2009. Trong Chiến tranh Vùng Vịnh, Hoa Kỳ cho đóng quân và thiết bị tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và các nơi khác trong Vịnh Ba Tư. Năm 2015, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất tham gia can thiệp quân sự do Ả Rập Xê Út lãnh đạo tại Yemen nhằm chống lại phiến quân Houthis theo Hồi giáo Shia và lực lượng trung thành với cựu tổng thống Ali Abdullah Saleh. Phân chia hành chính. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất được chia thành bảy tiểu vương quốc. Dubai là Tiểu vương quốc đông dân nhất với 35,6% dân số UAE. Tiểu vương quốc Abu Dhabi chiếm 31,2%, nghĩa là hơn hai phần ba dân số UAE sống ở Abu Dhabi và Dubai. Abu Dhabi có diện tích 67.340 km², chiếm 86,7% tổng diện tích của đất nước, không bao gồm các đảo. Nó có đường bờ biển kéo dài hơn 400 km và được chia thành ba khu vực chính. Tiểu vương quốc Dubai kéo dài dọc theo bờ biển Vịnh Ba Tư của UAE khoảng 72 km. Dubai có diện tích 3.885 km², tương đương với 5% tổng diện tích của đất nước, không bao gồm các đảo. Tiểu vương quốc Sharjah kéo dài dọc theo khoảng 16 km bờ biển Vịnh Ba Tư và sâu 80 km vào nội địa. Các tiểu vương quốc phía bắc bao gồm Fujairah, Ajman, Ras al-Khaimah và Umm al-Qaiwain tất cả có tổng diện tích 3881 km². Hệ thống tư pháp của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bắt nguồn từ hệ thống dân luật và luật Sharia. Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, các tòa án hình sự và dân sự tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất áp dụng các yếu tố trong luật Sharia, hệ thống hóa trong bộ luật hình sự và luật gia đình, theo cách thức kỳ thị chống nữ giới. Đánh roi là hình phạt dành cho các tội hình sự như ngoại tình, tình dục trước hôn nhân và tiêu thụ đồ uống có cồn. Theo phán quyết của tòa án Sharia, việc đánh roi dao động từ 80 đến 200. Lạm dụng bằng lời nói liên quan đến danh dự của một người là bất hợp pháp và bị trừng phạt 80 roi. Từ năm 2007 đến 2014, nhiều người ở UAE đã bị kết án 100 roi. Gần đây hơn vào năm 2015, hai người đàn ông đã bị kết án 80 roi vì đánh và lăng mạ một người phụ nữ. Vào năm 2014, một người nước ngoài ở Abu Dhabi đã bị kết án 10 năm tù và 80 roi sau khi uống rượu và cưỡng hiếp một đứa trẻ mới biết đi. Tiêu thụ rượu cho người Hồi giáo là bất hợp pháp và bị trừng phạt 80 roi; nhiều người Hồi giáo đã bị kết án 80 roi vì uống rượu. Đôi khi 40 roi được đưa ra. Quan hệ tình dục bất hợp pháp đôi khi bị phạt bởi 60 roi. 80 roi là con số tiêu chuẩn cho bất kỳ ai bị kết án đánh roi trong một số tiểu vương quốc. Tòa án Sharia đã xử phạt những người lao động trong nước bị mắc kẹt. Vào tháng 10 năm 2013, một người giúp việc người Philippines đã bị kết án 100 roi vì mang thai bất hợp pháp. Lái xe say rượu là bất hợp pháp và bị trừng phạt 80 roi; nhiều người nước ngoài đã bị kết án 80 roi vì lái xe khi say rượu. Ở Abu Dhabi, mọi người đã bị kết án 80 roi vì hôn ở nơi công cộng. Theo luật của UAE, quan hệ tình dục trước hôn nhân bị trừng phạt 100 roi. Ném đá là một hình thức trừng phạt pháp lý tại Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất. Vào tháng 5 năm 2014, một người giúp việc châu Á đã bị kết án tử hình bằng cách ném đá ở Abu Dhabi. Những người nước ngoài khác đã bị kết án tử hình bằng cách ném đá vì phạm tội ngoại tình. Từ năm 2009 đến năm 2013, một số người bị hành quyết bằng cách ném đá. Phá thai là hành động bất hợp pháp và bị trừng phạt 100 roi và lên đến năm năm tù giam. Trong những năm gần đây, một số người đã rút lại lời nhận tội của mình trong các vụ án tình dục bất hợp pháp sau khi bị kết án ném đá hoặc 100 roi. Hình phạt cho tội ngoại tình là đánh 100 roi đối với người chưa lập gia đình và ném đá đến chết đối với người đã kết hôn. Các tòa án Sharia có thẩm quyền độc quyền đối với các vụ án pháp luật gia đình và cũng có thẩm quyền đối với một số vụ án hình sự khác gồm ngoại tình, tình dục trước hôn nhân, cướp tài sản, tiêu thụ đồ uống có cồn và các tội có liên quan. Luật nhân thân dựa theo Sharia quy định các vấn đề như kết hôn, ly hôn và nuôi con. Luật nhân thân Hồi giáo áp dụng cho người Hồi giáo và đôi khi là cả người phi Hồi giáo. Ngoại kiều phi Hồi giáo có thể phải chịu nghĩa vụ pháp lý đối với các phán quyết theo luật Sharia về kết hôn, ly hôn và nuôi con. Bội giáo là tội bị tử hình tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Báng bổ tôn giáo là bất hợp pháp; ngoại kiều liên quan đến lăng mạ Hồi giáo sẽ bị trục xuất. UAE kết hợp các tội ác hận thù Sharia (tức là các tội ác chống lại Thiên Chúa) vào Bộ luật Hình sự của mình - sự bội đạo là một trong số đó. Điều 1 và Điều 66 của Bộ luật Hình sự của UAE yêu cầu các tội phạm hudud phải bị trừng phạt bằng án tử hình do đó, việc bội giáo bị trừng phạt bằng cái chết ở UAE. Trong một số trường hợp, tòa án của UAE đã bỏ tù những người phụ nữ đã báo cáo hiếp dâm. Ví dụ, một phụ nữ người Anh, sau khi cô báo cáo bị ba người đàn ông hãm hiếp, đã bị buộc tội về tội "uống rượu". Một phụ nữ Anh khác bị buộc tội "công khai quan hệ tình dục ngoài hôn nhân" sau khi cô báo cáo bị hãm hiếp, trong khi một phụ nữ Úc cũng bị kết án tù tương tự sau khi cô báo cáo hãm hiếp tập thể ở UAE. Trong một trường hợp khác gần đây, một phụ nữ Tiểu vương quốc 18 tuổi đã rút đơn khiếu nại hãm hiếp tập thể bởi sáu người đàn ông khi công tố đe dọa cô ta với một án tù dài. Người phụ nữ vẫn phải ngồi tù một năm. Vào tháng 7 năm 2013, một phụ nữ Na Uy, Marte Dalelv, đã báo cáo hãm hiếp với cảnh sát và nhận án tù vì "thực hiện trái phép tình dục và uống rượu". Nữ giới Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất cần được người giám hộ là nam giới cho phép để được kết hôn và tái hôn. Yêu cầu này bắt nguồn từ cách diễn giải của liên bang về Sharia, và trở thành luật liên bang kể từ năm 2005. Tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, việc kết hôn giữa một nữ giới Hồi giáo và nam giới ngoại đạo bị trừng phạt theo pháp luật, do được cho là một hình thức "gian dâm". Hôn nhau ở nơi công cộng là bất hợp pháp và có thể dẫn đến trục xuất. Người nước ngoài ở Dubai đã bị trục xuất vì hôn ở nơi công cộng. Ở Abu Dhabi, mọi người đã bị kết án 80 roi vì hôn ở nơi công cộng. Một luật liên bang mới ở UAE nghiêm cấm chửi thề trên Whatsapp và phạt 250.000 AED tiền phạt và phạt tù; người nước ngoài bị phạt bằng cách bị trục xuất. Vào tháng 7 năm 2015, một người nước ngoài người Úc đã bị trục xuất vì chửi thề trên Facebook. Đồng tính luyến ái là bất hợp pháp và là một tội bị tử hình theo luật tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Tuy nhiên, thực tế không xảy ra việc hành quyết. Pháp luật Abu Dhabi quy định xử phạt 14 năm tù với người phạm tội kê gian, còn pháp luật Dubai xử phạt 10 năm tù đối với việc kê gian đồng thuận. Cắt cụt chi là một biện pháp trừng phạt pháp lý tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, do các tòa án Sharia phán quyết. Đóng đinh là một hình phạt pháp lý ở UAE. Điều 1 của Bộ luật Hình sự Liên bang quy định rằng "các quy định của Luật Hồi giáo sẽ được áp dụng đối với các tội phạm bị trừng phạt bằng giáo lý, các hình phạt và tiền máu." Bộ luật Hình sự Liên bang bị hủy bỏ chỉ khi các điều khoản trong đó mâu thuẫn với bộ luật hình sự của các tiểu vương quốc, do đó cả hai đều có thể thi hành đồng thời. Trong tháng Ramadan, sẽ là phạm pháp nếu ăn, uống hoặc hút thuốc công khai từ khi bình minh đến lúc hoàng hôn. Ngoại lệ là phụ nữ mang thai và trẻ em. Pháp luật áp dụng cho cả người Hồi giáo và người phi Hồi giáo, và không tuân thủ có thể bị bắt giữ. Nhảy múa nơi công cộng là phạm pháp tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Đánh roi và ném đá là những hình phạt pháp lý ở UAE. Yêu cầu này bắt nguồn từ luật Sharia và là luật liên bang từ năm 2005. Một số công nhân trong nước tại UAE là nạn nhân của những hình phạt tư pháp của Sharia như phạt roi và ném đá. Báo cáo thường niên của Freedom House về Tự do cho thế giới đã liệt kê Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất là "Không Tự do" mỗi năm kể từ năm 1999, năm đầu tiên có dữ liệu trên trang web của họ. UAE đã rút khỏi Mùa xuân Ả Rập; tuy nhiên, hơn 100 nhà hoạt động của Tiểu vương quốc đã bị bỏ tù và bị tra tấn vì họ tìm cách cải cách. Kể từ năm 2011, chính phủ UAE đã ngày càng tiến hành các vụ mất tích có chủ đích. Nhiều công dân nước ngoài và công dân Tiểu vương quốc đã bị nhà nước bắt giữ và bắt cóc. Chính phủ UAE phủ nhận những người này đang bị giam giữ (để che giấu nơi ở của họ), đặt những người này ra ngoài sự bảo vệ của pháp luật. Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, các báo cáo về việc mất tích và tra tấn bắt buộc ở UAE là mối quan tâm lớn. Tổ chức Nhân quyền Ả Rập đã lấy được lời khai từ nhiều bị cáo, vì báo cáo về "Sự biến mất và tra tấn cưỡng bức ở UAE", người báo cáo rằng họ đã bị bắt cóc, tra tấn và bị lạm dụng trong các trung tâm giam giữ. Báo cáo bao gồm 16 phương pháp tra tấn khác nhau bao gồm đánh đập nặng nề, đe dọa bị điện giật và từ chối tiếp cận chăm sóc y tế. Năm 2013, 94 nhà hoạt động của Tiểu vương quốc đã bị giam giữ trong các trung tâm giam giữ bí mật và bị đưa ra xét xử vì cáo buộc cố gắng lật đổ chính phủ. Các tổ chức nhân quyền đã lên tiếng chống lại sự bí mật của phiên tòa. Một người Dubai, có cha là một trong số các bị cáo, đã bị bắt vì tweet về phiên tòa. Vào tháng 4 năm 2013, anh ta bị kết án 10 tháng tù. Vụ mất tích gần đây nhất liên quan đến ba chị em từ Abu Dhabi. Các biện pháp đàn áp cũng được sử dụng để chống lại Dubai để biện minh cho tuyên bố của chính phủ UAE rằng có một "âm mưu quốc tế" trong đó công dân UAE và người nước ngoài đang hợp tác để gây bất ổn đất nước. Công dân nước ngoài cũng phải chịu một chiến dịch trục xuất. Công dân nước ngoài bị buộc phải mất tích bao gồm hai người Libya và hai người Qatar. Tổ chức Ân xá báo cáo rằng những người đàn ông Qatar đã bị chính phủ UAE bắt cóc và chính phủ UAE đã giữ kín thông tin về số phận đàn ông từ gia đình của họ. Trong số những người nước ngoài bị giam giữ, bị cầm tù và bị trục xuất là Iyad El-Baghdadi, một blogger nổi tiếng và cá tính với Twitter. Anh đã bị chính quyền UAE bắt giữ, giam giữ, bỏ tù và sau đó bị trục xuất khỏi đất nước. Mặc dù cư trú trọn đời tại UAE, với tư cách là một công dân Palestine, El-Baghdadi không có quyền truy đòi tranh chấp trật tự này. Anh ta không thể trở lại lãnh thổ Palestine, do đó anh ta bị trục xuất về Malaysia. Năm 2007, chính phủ UAE đã cố gắng che đậy thông tin về vụ hãm hiếp một thiếu niên người Pháp của ba người dân địa phương, một trong những người có tình trạng dương tính với HIV đã bị chính quyền Tiểu vương quốc giấu kín. Áp lực ngoại giao dẫn đến việc bắt giữ và kết án những kẻ hiếp dâm ở Tiểu vương quốc Dubai. Vào tháng 4 năm 2009, một đoạn băng video tra tấn được công bố cho thế giới cho thấy Sheikh Issa bin Zayed Al Nahyan đang tra tấn một người đàn ông (Mohammed Shah Poor) bằng roi da bằng điện, ván gỗ có đinh nhô ra và chạy qua anh ta. Vào tháng 12 năm 2009, Issa xuất hiện tại tòa án và tuyên bố mình vô tội. Phiên tòa kết thúc vào ngày 10 tháng 1 năm 2010, khi Issa được xóa tội rằng đã tra tấn Mohammed Shah Poor. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền chỉ trích phiên tòa và kêu gọi chính phủ thành lập một cơ quan độc lập để điều tra các cáo buộc lạm dụng của nhân viên an ninh UAE và những người có thẩm quyền khác. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã bày tỏ quan ngại về phán quyết này và cho biết tất cả các thành viên của xã hội Tiểu vương quốc "phải bình đẳng trước pháp luật" và kêu gọi xem xét cẩn thận quyết định để đảm bảo rằng các yêu cầu của công lý được đáp ứng đầy đủ trong trường hợp này. Trong những năm gần đây, một số lượng lớn người nước ngoài theo đạo Hồi Shia đã bị trục xuất khỏi UAE. Các gia đình Shia của Lebanon nói riêng đã bị trục xuất vì sự cảm thông của họ đối với Hezbollah. Theo một số tổ chức, hơn 4.000 người nước ngoài Shia đã bị trục xuất khỏi UAE trong những năm gần đây. Vấn đề lạm dụng tình dục ở lao động nữ trong nước là một vấn đề đáng quan tâm khác, đặc biệt là người giúp việc gia đình không được bảo vệ bởi luật lao động của UAE năm 1980 hoặc dự thảo luật lao động năm 2007. Các cuộc biểu tình của công nhân đã bị đàn áp và những người biểu tình bị cầm tù. Trong Báo cáo thường niên 2013, Ân xá Quốc tế đã thu hút sự chú ý đến hồ sơ nghèo nàn của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất về một số vấn đề nhân quyền. Họ nhấn mạnh cách tiếp cận hạn chế của chính phủ đối với quyền tự do ngôn luận và hội họp, việc họ sử dụng bắt bớ và tra tấn tùy tiện và sử dụng hình phạt tử hình của UAE. Năm 2012, cảnh sát Dubai đã khiến ba công dân Anh bị đánh đập và bị điện giật sau khi bắt giữ họ về tội ma túy. Thủ tướng Anh, David Cameron, bày tỏ "quan ngại" về vụ việc và nêu ra vấn đề này với Tổng thống UAE, ông Sheikh Khalifa bin Zayed Al Nahyan, trong chuyến thăm cấp nhà nước năm 2013 tới Vương quốc Anh. Ba người đàn ông đã được ân xá và được thả vào tháng 7 năm 2013. Trong một báo cáo được phát hành vào ngày 12 tháng 7 năm 2018, Ân xá Quốc tế kêu gọi 'điều tra tội ác chiến tranh' đối với các nhà tù do UAE điều hành ở Yemen. Vào ngày 10 tháng 9 năm 2018, những người Yemen bị giam giữ trong một nhà tù do UAE điều hành đã trải qua một cuộc tuyệt thực để phản đối việc họ bị giam giữ. Bất chấp lệnh của các công tố viên để thả một số tù nhân bị giam giữ, những người bị giam giữ vẫn đang bị giam giữ. Lao động nhập cư. Lao động nhập cư được loại trừ khỏi quyền lao động tập thể của UAE, do đó người di cư dễ bị cưỡng bức lao động. Lao động nhập cư ở UAE không được phép tham gia công đoàn. Hơn nữa, công nhân nhập cư bị cấm không được đình công. 12 công nhân đã bị trục xuất vào năm 2014 vì đình công. Vì người lao động nhập cư không có quyền tham gia công đoàn hoặc đình công, họ không có phương tiện để tố cáo sự bóc lột mà họ phải chịu. Liên đoàn Công đoàn Quốc tế đã kêu gọi Liên Hợp Quốc điều tra bằng chứng cho thấy hàng nghìn công nhân nhập cư ở UAE được coi là lao động nô lệ. Vào năm 2013, cảnh sát đã bắt giữ một công dân Hoa Kỳ và một số công dân UAE, liên quan đến video trên YouTube được cho là miêu tả Dubai và cư dân của họ theo chiều hướng châm biếm. Video được quay tại các khu vực của Satwa, Dubai và có các băng đảng học cách chiến đấu bằng vũ khí đơn giản, bao gồm cả giày, aghal, , công dân từ các quốc gia khác nhau đã bị tống vào tù vì phạm tội. Một phụ nữ Úc đã bị buộc tội 'viết những từ xấu trên phương tiện truyền thông xã hội', sau khi cô ấy đăng một bức ảnh về một chiếc xe đậu trái phép. Cô sau đó bị trục xuất khỏi UAE. Bộ máy An ninh Nhà nước tại UAE đã bị cáo buộc về một loạt tội ác tàn bạo và vi phạm nhân quyền bao gồm mất tích có chủ đích, bắt bớ và tra tấn tùy tiện, mới nhất là vụ mất tích của doanh nhân Thổ Nhĩ Kỳ Amer Al Shawa vào ngày 2 tháng 10 năm 2014. Tự do lập hội cũng bị hạn chế nghiêm trọng. Tất cả các hiệp hội và tổ chức phi chính phủ phải đăng ký thông qua Bộ Xã hội và do đó nằm dưới sự kiểm soát của Nhà nước trên thực tế. Khoảng hai mươi nhóm phi chính trị hoạt động trên lãnh thổ mà không cần đăng ký. Tất cả các hiệp hội phải được đệ trình theo hướng dẫn kiểm duyệt và tất cả các ấn phẩm trước tiên phải được chính phủ phê duyệt. Secret Dubai là một blog độc lập ở Dubai, từ năm 2002 đến năm 2010. Nó đã tạo ra một lượng người theo dõi đáng kể trong Thế giới blog Trung Đông cho đến khi Cơ quan quản lý viễn thông của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (TRA) chặn trang web. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất có quy định trang phục đúng chuẩn mực. Quy định về trang phục là một phần của luật hình sự của Dubai. Hầu hết các trung tâm tại UAE đều có quy định về trang phục được hiển thị tại các lối vào. Tại các trung tâm thương mại của Dubai, phụ nữ được khuyến khích che vai và đầu gối. Nhưng mọi người có thể mặc đồ bơi tại các hồ bơi và bãi biển. Mọi người cũng được yêu cầu mặc quần áo khiêm tốn khi vào Thánh đường Hồi giáo, chẳng hạn như Thánh đường Hồi giáo Sheikh Zayed ở Abu Dhabi. Thánh đường mở cửa cho khách du lịch cung cấp quần áo có chuẩn mực cho nam giới và phụ nữ nếu cần thiết. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất có kinh tế lớn thứ nhì trong Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (sau Ả Rập Xê Út), với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là 377 tỷ USD (1,38 nghìn tỷ AED) vào năm 2012. Kể từ khi độc lập vào năm 1971, kinh tế Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất tăng trưởng gần 231 lần để đạt tới 1,45 nghìn tỷ AED vào năm 2013. Mậu dịch phi dầu mỏ tăng trưởng đạt 1,2 nghìn tỷ AED, tăng khoảng 28 lần từ năm 1981 đến năm 2012. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất xếp hạng 26 trên thế giới về nơi tốt nhất để kinh doanh theo tiêu chí môi trường kinh tế và điều tiết, trong báo cáo năm 2017 của Nhóm Ngân hàng Thế giới. Abu Dhabi là tiểu vương quốc rộng nhất (67.350 km²) với lượng dầu mỏ và khí đốt khổng lồ khoảng 80% dầu mỏ được khai thác ở UAE từ Abu Dhabi.Ngoại trừ Dubai, hầu hết liên bang dựa vào thu nhập từ dầu. Dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong kinh tế, đặc biệt là tại Abu Dhabi. Trên 85% kinh tế Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất dựa vào xuất khẩu dầu theo số liệu của năm 2009. Trong khi Abu Dhabi và các tiểu vương quốc khác vẫn tương đối bảo thủ trong cách tiếp cận để đa dạng hóa, thì tiểu vương quốc có trữ lượng dầu ít hơn nhiều là Dubai đã dũng cảm hơn trong chính sách đa dạng hóa. Năm 2011, xuất khẩu dầu chiếm 77% ngân sách nhà nước của UAE. Các nỗ lực thành công nhằm đa dạng hóa kinh tế giúp giảm tỷ lệ GDP dựa trên sản xuất dầu mỏ xuống còn 25%. Dubai từng trải qua khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng trong giai đoạn 2007–2010 và được giải cứu nhờ tiền từ dầu của Abu Dhabi. Dubai đang có ngân sách cân bằng, phản ánh tăng trưởng về kinh tế. Du lịch là một lĩnh vực tăng trưởng trong kinh tế Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Dubai là điểm đến du lịch hàng đầu tại Trung Đông. Theo Chỉ số Thành phố Điểm đến Toàn cầu hàng năm của MasterCard, Dubai là điểm đến du lịch phổ biến thứ năm trên thế giới. Dubai chiếm đến 66% kinh tế du lịch của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, trong khi Abu Dhabi chiếm 16% và Sharjah chiếm 10%. Dubai tiếp đón 10 triệu du khách trong năm 2013. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất có cơ sở hạ tầng tiến bộ và phát triển nhất trong khu vực. Kể từ thập niên 1980, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đã chi hàng tỷ đô la cho cơ sở hạ tầng. Các bước phát triển này là đặc biệt rõ rệt tại các tiểu vương quốc là Abu Dhabi và Dubai. Các tiểu vương quốc còn lại nhanh chóng tiếp bước, cung cấp các ưu đãi lớn cho các nhà phát triển bất động sản nhà ở và thương mại. Giá bất động sản ở Dubai đã giảm đáng kể khi Dubai World, công ty xây dựng của chính phủ, tìm cách trì hoãn việc thanh toán nợ.#đổi Pháp luật Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất không cho phép công đoàn tồn tại. Quyền lợi thương lượng tập thể và quyền đình công không được công nhận, và Bộ Lao động có quyền buộc công nhân quay lại làm việc. Các công nhân nhập cư tham gia một cuộc đình công có thể bị đình chỉ giấy phép lao động và bị trục xuất. Do đó, có rất ít pháp luật chống kỳ thị liên quan đến vấn đề lao động, trong khi công dân liên bang và người Ả Rập Vùng Vịnh khác được ưu tiên trong các công việc khu vực công. Thực tế, hơn tám mươi phần trăm người lao động là công dân liên bang công tác cho chính phủ, nhiều người còn lại tham gia các công ty quốc doanh như Emirates Airlines và Dubai Properties. Báo cáo của Freedom House phân loại truyền thông Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất hàng năm là "không tự do". Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất xếp hạng thấp trong xếp hạng về tự do báo chí thường niên của Phóng viên không biên giới. Dubai Media City và twofour54 là các khu vực truyền thông chủ yếu tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Đây cũng là nơi đặt trụ sở của một số cơ quan truyền thông liên Ả Rập, trong đó có Middle East Broadcasting Centre và Orbit Showtime Network. Năm 2007, Sheikh Mohammed bin Rashid Al Maktoum ra lệnh rằng các nhà báo không còn có thể thể bị truy tố hoặc bỏ tù vì lý do liên quan đến công việc của họ. Trong thời gian đó, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất quy định sẽ là bất hợp pháp khi phổ biến tài liệu trực tuyến có thể đe dọa đến "trật tự công cộng". Việc chỉ trích chính phủ là điều không được phép, chỉ trích các quan chức chính phủ và thành viên hoàng tộc cũng không được phép. Án tù giam được tuyên cho các cá nhân "chế nhạo hoặc làm tổn hại" danh tiếng của quốc gia và "thể hiện khinh thường" tôn giáo. Đã có nhiều vi phạm tự do báo chí có động cơ chính trị, như vào năm 2012 một người sử dụng Youtube bị bắt giữ tại Dubai do sản xuất và tải lên mạng một đoạn phim về việc một người bản địa đánh một công nhân ngoại quốc. Sân bay quốc tế Dubai là sân bay nhộn nhịp nhất thế giới về chuyên chở hành khách quốc tế vào năm 2014, vượt qua London Heathrow. Một tuyến đường sắt toàn quốc dài 1.200 km đang được xây dựng và sẽ liên kết toàn bộ các thành thị và cảng lớn. Dubai Metro là hệ thống đường sắt đô thị đầu tiên tại bán đảo Ả Rập. Các cảng lớn của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất là Cảng Khalifa, Cảng Zayed, Cảng Jebel Ali, Cảng Rashid, Cảng Khalid, Cảng Saeed và Cảng Khor Fakkan. Abu Dhabi, Dubai, Sharjah, Ajman, Umm Al Quwain và Ras Al Khaimah được kết nối bằng đường cao tốc E11, đây là con đường dài nhất ở UAE. Tại Dubai, ngoài tàu điện ngầm, Xe điện Dubai và Palm Jumeirah Monorail cũng kết nối các khu khác của thành phố. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất có hai công ty khai thác viễn thông là Etisalat và Emirates Integrated Telecommunications Company ("du"). Etisalat khai thác độc quyền cho đến khi công ty thứ nhì khai trương dịch vụ di động vào tháng 2 năm 2007. Số thuê bao internet được dự kiến tăng từ 0,904 triệu vào năm 2007 lên 2,66 triệu vào năm 2012. Cơ quan điều tiết là Cơ quan Quản lý Viễn thông có nhiệm vụ lọc nội dung tôn giáo, chính trị và tình dục. Dịch vụ không dây 5G đã được lắp đặt trên toàn quốc vào năm 2019 thông qua sự hợp tác với Huawei. Hệ thống giáo dục từ cấp trung học trở xuống do Bộ Giáo dục liên bang giám sát, riêng tại tiểu vương quốc Abu Dhabi sẽ do Hội đồng Giáo dục Abu Dhabi quản lý. Hệ thống phổ thông gồm các trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông. Các trường công do chính phủ cấp kinh phí và chương trình đào tạo phù hợp với mục tiêu phát triển của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Ngôn ngữ giảng dạy trong các trường công là tiếng Ả Rập, song tiếng Anh được coi trọng như ngôn ngữ thứ hai. Ngoài ra, còn có một số trường học tư nhân được quốc tế công nhận. Các trường học công tại liên bang miễn học phí cho công dân, trong khi phí tại các trường học tư nhân sẽ khác nhau. Hệ thống giáo dục bậc đại học do Bộ Giáo dục Đại học giám sát, bộ này chịu trách nhiệm tuyển sinh vào các thể chế đại học của mình. Tỷ lệ người trưởng thành biết chữ vào năm 2011 là 90%.#đổi Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Hàng nghìn công dân đang theo đuổi học tập chính quy tại 86 trung tâm giáo dục người thành niên trên khắp toàn quốc. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất thể hiện quan tâm mãnh liệt đến cải tiến giáo dục và nghiên cứu. Các hành động táo bạo bao gồm việc thành lập các Trung tâm Nghiên cứu CERT, Viện Khoa học và Công nghệ Masdar và Viện Phát triển Doanh nghiệp. Theo QS Rankings, các đại học xếp hạng đầu tại liên bang là Đại học Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (xếp hạng 421–430 toàn cầu), Đại học Khalifa (xếp hạng 441–450 toàn cầu), Đại học Mỹ Sharjah (xếp hạng 431–440) và Đại học Sharjah (xếp hạng 551–600). Tuổi thọ dự tính khi sinh tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất là 76,96. Bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong chủ yếu tại đây, chiếm 28% tổng số tử vong; các nguyên nhân chính khác là tai nạn và chấn thương, ung thư, và dị tật bẩm sinh. Theo dữ liệu của Tổ chức Y tế Thế giới từ năm 2014, 37,2% người thành niên tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bị béo phì lâm sàng, với chỉ số khối cơ thể (BMI) từ 30 trở lên. Tháng 2 năm 2008, Bộ Y tế công bố một chiến lược y tế 5 năm về linh vực y tế công cộng tại các tiểu vương quốc phía bắc, là những nơi nằm trong phạm vi quyền hạn của bộ này và không có các cơ quan y tế riêng như Abu Dhabi và Dubai. Chiến lược tập trung vào thống nhất chính sách y tế và cải thiện tiếp cận dịch vụ y tế với chi phí hợp lý, đồng thời giảm phụ thuộc vào việc điều trị tại ngoại quốc. Các kế hoạch cấp bộ nhằm tăng thêm số lượng bệnh viện, trung tâm y tế cơ sở. Việc quy định bảo hiểm y tế bắt buộc tại Abu Dhabi đối với ngoại kiều và người phụ thuộc họ là một động lực chính trong cải cách chính sách y tế. Công dân Abu Dhabi được đưa vào kế hoạch này từ ngày 1 tháng 6 năm 2008 và Dubai tiếp bước cho các nhân viên chính phủ. Cuối cùng, theo pháp luật liên bang, mọi công dân và ngoại kiều tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất sẽ được bảo đảm có bảo hiểm y tế bắt buộc theo một kế hoạch cưỡng chế thống nhất. Liên bang được hưởng lợi từ du khách y tế đến từ các quốc gia Ả Rập Vùng Vịnh khác. Họ thu hút du khách y tế muốn phẫu thuật chỉnh hình, thủ tục tiên tiến, phẫu thuật tim và cột sống, và điều trị nha khoa, do dịch vụ y tế có tiêu chuẩn cao hơn các quốc gia Ả Rập Vùng Vịnh khác. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, dân số của UAE năm 2018 ở mức 9,543 triệu người. Người nước ngoài và người nhập cư chiếm 88,52% trong khi người Dubai chiếm 11,48% còn lại. Sự mất cân bằng này là do tỷ lệ di cư ròng đặc biệt cao của quốc gia là 21,71‰, cao nhất thế giới. Theo Điều 8 của Luật Liên bang số 17 của UAE, một ngoại kiều có thể xin quyền công dân Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất sau khi cư trú tại đây trong 20 năm, với điều kiện là cá nhân đó chưa từng bị kết tội và có thể nói thông thạo tiếng Ả Rập. Tuy nhiên, hiện nay quyền công dân không được cấp một cách dễ dàng, và nhiều người sống tại đây trong tình trạng không quốc tịch. Chỉ có 1,4 triệu người là công dân chính thức. Nhân khẩu của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất cực kỳ đa dạng. Năm quốc tịch đông dân nhất ở các tiểu vương quốc Dubai, Sharjah và Ajman là Ấn Độ (11%), Pakistan (10%), dân bản địa (40%), Bangladesh (7%) và Philippines (6%). Người nước ngoài từ Châu Âu, Úc, Bắc Mỹ và Châu Mỹ Latinh chiếm 500.000 dân. Hơn 100.000 người quốc tịch Anh sống ở quốc gia này. Phần còn lại của dân số là từ các quốc gia Ả Rập khác. Khoảng 88% dân số Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất cư trú tại đô thị. Tuổi thọ dự tính trung bình là 76,7 vào năm 2012, cao nhất thế giới Ả Rập. Tỷ lệ giới tính nam/nữ là 2,2 đối với tổng dân số và 2,75 đối với nhóm tuổi 15–65, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất là quốc gia mất cân bằng giới tính cao thứ nhì thế giới chỉ sau Qatar. Tôn giáo tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (Pew Research) Hồi giáo là tôn giáo lớn nhất và là quốc giáo chính thức tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Chính phủ đi theo chính sách khoan dung với các tôn giáo khác và hiếm khi can dự vào hoạt động của những người phi Hồi giáo. Tương tự như vậy, những người phi Hồi giáo được mong đợi tránh can dự vào các vấn đề tôn giáo Hồi giáo hay giáo dục Hồi giáo. Chính phủ áp đặt các hạn chế về truyền bá các tôn giáo khác dưới bất kỳ phương thức truyền thông nào do nó được cho là một hình thức truyền giáo. Có khoảng 31 nhà thờ Cơ Đốc giáo trên khắp liên bang, một đền thờ Ấn Độ giáo trong khu vực Bur Dubai, một Sikh Gurudwara tại Jebel Ali và cũng có một chùa tại Al Garhoud. Dựa theo số liệu của Bộ Kinh tế vào năm 2005, 76% dân số là tín đồ Hồi giáo, 9% là tín đồ Cơ Đốc giáo và 15% theo các tôn giáo khác (chủ yếu là Ấn Độ giáo). Số liệu thống kê không bao gồm nhiều du khách và công nhân "tạm thời" trong khi tính các tín đồ Baha'i và Druze là người Hồi giáo. Trong số công dân Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, 85% theo phái Hồi giáo Sunni, còn 15% theo phái Hồi giáo Shi'a- hầu hết tập trung tại các tiểu vương quốc Sharjah và Dubai. Các di dân Oman hầu hết theo phái Hồi giáo Ibadi, trong khi ảnh hưởng của Sufi cũng hiện diện. Thành phố lớn nhất. Tiếng Ả Rập là ngôn ngữ quốc gia của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Phương ngữ Vùng Vịnh của tiếng Ả Rập là bản ngữ của công dân Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Từ thời kỳ bị Anh chiếm đóng cho đến năm 1971, tiếng Anh là "ngôn ngữ chung" chủ yếu tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Do đó, kiến thức về ngôn ngữ này là một yêu cầu khi xin hầu hết các công việc bản địa. Các ngôn ngữ thế giới khác hiện diện cùng với các ngoại kiều. Văn hóa Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất dựa trên văn hóa Ả Rập, và chịu ảnh hưởng từ văn hóa Ba Tư, Ấn Độ và Đông Phi. Ảnh hưởng của Ba Tư trong văn hóa liên bang có thể thấy rõ trong kiến trúc truyền thống và nghệ thuật dân gian. Chẳng hạn, tháp thông gió đặc trưng trên đỉnh các tòa nhà truyền thống được gọi là "barjeel" trở thành một điểm nhận dạng của kiến trúc Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và được cho là ảnh hưởng từ Ba Tư. Ảnh hưởng này bắt nguồn từ các thương nhân chạy trốn chế độ thuế tại Ba Tư vào đầu thế kỷ XIX và cũng từ các chủ nhân địa phương của các cảng bên bờ vịnh Ba Tư, như cảng Al Qassimi. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất có một xã hội đa dạng. Các ngày lễ lớn tại Dubai gồm có "Eid al Fitr" đánh dấu kết thúc "Ramadan", và ngày Quốc khánh (2 tháng 12) đánh dấu thành lập liên bang. Nam giới Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất ưa chuộng mặc một kandura, là một áo dài trắng đến mắt cá nhân dệt từ len hoặc bông, còn nữ giới mặc một abaya, một áo ngoài đen che kín hầu hết cơ thể. Thơ phú cổ của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất chịu ảnh hưởng mạnh từ học giả Ả Rập thế kỷ VIII là Al Khalil bin Ahmed. Thi nhân đầu tiên được biết đến trong khu vực là Ibn Majid, sinh khoảng 1432-1437 tại Ras Al-Khaimah. Các nhà văn Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất nổi tiếng nhất là Mubarak Al Oqaili (1880–1954), Salem bin Ali al Owais (1887–1959) và Ahmed bin Sulayem (1905–1976). Ba nhà thơ khác từ Sharjah, gọi là nhóm Hirah, được nhận xét là chịu ảnh hưởng nặng từ thơ ca Apollo và lãng mạn. Hội chợ sách quốc tế Sharjah là hội chợ lâu đời nhất và lớn nhất trong cả nước. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất có một số bảo tàng nổi tiếng khu vực, danh tiếng nhất trong đó là khu vực di sản của thành phố Sharjah gồm 17 bảo tàng, nơi này là thủ đô văn hóa của Thế giới Ả Rập vào năm 1998. Tại Dubai, khu vực Al Quoz thu hút một số nhà trưng bày nghệ thuật cũng như bảo tàng, chẳng hạn như Bảo tàng Tư nhân Salsali. Abu Dhabi đã lập nên một khu văn hóa trên đảo Saadiyat. Sáu dự án lớn được lên kế hoạch, trong đó có Guggenheim Abu Dhabi và Louvre Abu Dhabi. Dubai cũng có kế hoạch xây dựng một bảo tàng Kunsthal và một khu nhà trưng bày và nghệ sĩ. Văn hóa Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất là bộ phận của văn hóa Đông Ả Rập. Liwa là một loại hình âm nhạc và vũ đạo trình diễn địa phương, chủ yếu tại các cộng đồng là hậu duệ của người Bantu từ hồ Lớn châu Phi. Lễ hội Rock Hoang mạc Dubai cũng là một lễ hội lớn với các nghệ sĩ heavy metal và rock. Điện ảnh Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất rất nhỏ bé song đang phát triển. Đồ ăn truyền thống của khu vực luôn là gạo, cá và thịt. Thực phẩm của cư dân Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất hầu hết được nhập khẩu từ các quốc gia Tây Á khác và Nam Á gồm Iran, Ả Rập Xê Út, Pakistan, Ấn Độ và Oman. Hải sản là trụ cột trong bữa ăn trong nhiều thế kỷ. Thịt và gạo là các thực phẩm chủ yếu khác; thịt cừu là loại thịt được ưa chuộng hơn, sau đó đến dê và bò. Đồ uống phổ biến là cà phê và trà, có thể cho thêm vào đó bột bạch đậu khấu, nhụy hoa nghệ tây (saffron), bạc hà để tạo mùi vị khác biệt. Các món ăn văn hóa phổ biến của người Dubai bao gồm "threed", "machboos", "khubisa", "khameer" và bánh mì "chabab" trong khi Lugaimat là một món tráng miệng nổi tiếng của Dubai Đồ ăn nhanh trở nên rất phổ biến trong giới thanh niên, đến mức có các chiến dịch nhằm nêu bật mối nguy từ việc tiêu thụ chúng quá mức. Đồ uống có cồn chỉ được cho phép phục vụ tại các nhà hàng và quán rượu khách sạn. Toàn bộ các câu lạc bộ đêm cũng được phép bán đồ uống có cồn. Một số siêu thị được cấp phép có thể bán đồ uống có cồn, song các sản phẩm này được bán trong khu vực riêng. Tương tự như vậy, thịt lợn, là "haram" (không được phép cho người Hồi giáo), được bán ở các phần riêng biệt trong tất cả các siêu thị lớn. Mặc dù có thể tiêu thụ đồ uống có cồn, song sẽ là bất hợp pháp nếu say ở nơi công cộng hoặc lái xe với bất kỳ dấu vết nào của rượu trong máu. Đua xe công thức 1 đặc biệt phổ biến tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, và được tổ chức hàng năm tại Trường đua Yas Marina. Cuộc đua được tổ chức vào chiều tối, và là cuộc đua Grand Prix đầu tiên bắt đầu vào ban ngày và kết thúc vào đêm. Các môn thể thao phổ biến khác gồm có đua lạc đà, huấn luyện chim săn, cưỡi ngựa sức bền và quần vợt. Tiểu vương quốc Dubai có hai sân golf lớn là: The Dubai Golf Club và Emirates Golf Club. Trong quá khứ, jockeys lạc đà con đã được sử dụng, dẫn đến sự chỉ trích rộng rãi. Cuối cùng, UAE đã thông qua luật cấm sử dụng con non cho môn thể thao này, dẫn đến việc loại bỏ gần như tất cả các trò jockeys. Gần đây, jockeys robot đã được giới thiệu để khắc phục vấn đề jockeys lạc đà con. Ansar Burney thường được khen ngợi vì công việc anh đã làm trong lĩnh vực này. Bóng đá là môn thể thao phổ biến tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Al Nasr, Al Ain, Al Wasl, Sharjah, Al Wahda và Shabab Al Ahli là các câu lạc bộ nổi tiếng nhất. Hiệp hội Bóng đá Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất được thành lập vào năm 1971 và kể từ đó đã dành thời gian và nỗ lực để quảng bá môn thi đấu, họ tổ chức các chương trình đào tạo trẻ và cải thiện năng lực không chỉ của các cầu thủ, mà còn của các quan chức và huấn luyện viên liên quan đến các câu lạc bộ. Đội tuyển bóng đá quốc gia Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất giành quyền tham gia Giải vô địch bóng đá thế giới vào năm 1990 cùng với Ai Cập. Đây là World Cup thứ ba liên tiếp với hai quốc gia Ả Rập đủ điều kiện, sau Kuwait và Algeria năm 1982, và Iraq và Algeria một lần nữa vào năm 1986. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất chiến thắng tại Giải vô địch Vùng Vịnh trong hai lần vào năm 2007 tại Abu Dhabi vào năm 2013 tại Bahrain. Nước này đã tổ chức AFC Asian Cup 2019. Đội UAE đã đi hết vòng bán kết, khi họ bị đánh bại bởi nhà vô địch Qatar. Cricket cũng là một môn thể thao phổ biến tại liên bang, phần lớn là do cộng đồng ngoại kiều từ các nước Nam Á, Anh và Úc. Sân vận động Cricket Sharjah từng tổ chức bốn trận đấu test cricket quốc tế. Sân vận động Cricket Sheikh Zayed tại Abu Dhabi cũng từng tổ chức các trận đấu cricket quốc tế. Dubai có hai sân vận động cricket (Dubai Cricket Ground số 1 and số 2) và một sân thứ ba (Sân vận động DSC Cricket) nằm trong Dubai Sports City. Dubai cũng là nơi đặt trụ sở Hội đồng Cricket Quốc tế. Đội tuyển cricket quốc gia Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất giành quyền tham dự Giải vô địch cricket thế giới năm 1996 và năm 2015 tổ chức tại Úc và New Zealand và suýt bỏ lỡ vòng loại cho Giải vô địch cricket thế giới năm 2007. Giải đấu cricket châu Á lần thứ 14 được tổ chức tại UAE vào tháng 9 năm 2018.
Lợi nhuận trước thuế và lãi Lợi nhuận trước lãi vay và thuế hay thu nhập trước lãi vay và thuế (tiếng Anh: "earnings before interest and taxes—EBIT") là một chỉ tiêu dùng để đánh giá khả năng thu được lợi nhuận của công ty, bằng thu nhập trừ đi các chi phí, nhưng chưa trừ tiền (trả) lãi và thuế thu nhập. EBIT được đề cập đến như "khoản kiếm được từ hoạt động kinh doanh", "lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh" hay "thu nhập ròng từ hoạt động". Công thức để tính EBIT là: EBIT = Thu nhập - Chi phí hoạt động Có thể xem công thức tính EBIT một cách cụ thể hơn như sau: EBIT = Tổng Doanh thu - Tổng biến phí - Tổng định phí Nói cách khác, EBIT là tất cả các khoản lợi nhuận trước khi tính vào các khoản thanh toán tiền lãi và thuế thu nhập. Một yếu tố quan trọng đóng vai trò giúp cho EBIT được sử dụng rộng rãi là nó đã loại bỏ sự khác nhau giữa cấu trúc vốn và tỷ suất thuế giữa các công ty khác nhau. Do đã loại bỏ lãi vay và thuế, hệ số EBIT làm rõ hơn khả năng tạo lợi nhuận của công ty, và dễ dàng giúp người đầu tư so sánh các công ty với nhau.
Kênh đào Suez (phiên âm tiếng Việt: Xuy-ê) là kênh giao thông nhân tạo nằm trên lãnh thổ Ai Cập, chạy theo hướng Bắc-Nam đi ngang qua eo Suez tại phía Đông Bắc Ai Cập, nó nối Địa Trung Hải với Vịnh Suez, một nhánh của Biển Đỏ. Kênh đào cung cấp 1 lối đi tắt cho những con tàu đi qua cảng Châu Âu-Châu Mỹ đến những cảng phía nam Châu Á, cảng phía Đông Châu Phi và Châu Đại Dương. Kênh được bắt đầu khởi công ngày 25 tháng 4 năm 1859 và hoàn thành vào ngày 17 tháng 11 năm 1869. Khi hoàn thành, kênh đào Suez dài 193,30 km (120,11 dặm), khúc hẹp nhất là 60 m, và độ sâu tại đó là 24 m đủ khả năng cho tàu lớn 250.000 tấn qua được. Tuyến đường dài 164 km này đã thay đổi vĩnh viễn lịch sử vận tải đường biển quốc tế, giúp tàu thuyền không phải đi qua mũi phía Nam Châu Phi, rút ngắn 6000 km. Có lẽ vào khoảng những năm 1839 tới 1878 trước Công Nguyên vào Triều đại vua Senusret III đã có một kênh đào đông tây nối sông Nin với Biển Đỏ phục vụ giao thông bằng những con thuyền đáy bằng đẩy sào và cho phép việc giao thương giữa Biển Đỏ và Địa Trung Hải. Con kênh này đã không đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Ai Cập lúc bấy giờ và nhanh chóng bị lãng quên. Theo sử sách Hy Lạp, vào khoảng những năm 600 trước Công Nguyên, vua Necho II đã nhận thấy tầm quan trọng của kênh này và cho tu sửa lại nó. Tuy nhiên con kênh chính thức được hoàn thành bởi vua Darius I của Ba Tư. Ông đã hoàn thành con kênh sau khi chiếm Ai Cập và đã mở rộng nó đủ để cho phép hai tàu chiến trieme tránh nhau trong kênh và hành trình trong kênh mất 4 ngày. Vào cuối thế kỉ 18 Napoléon Bonaparte, trong khi ở Ai Cập, đã có ý định xây dựng một kênh đào nối giữa Biển Đỏ và Địa Trung Hải. Nhưng kế hoạch này của ông đã bị bỏ ngay sau những cuộc khảo sát đầu tiên bởi theo những tính toán sai lầm của các kỹ sư thời bấy giờ thì mực nước Biển Đỏ cao hơn Địa Trung Hải tới 10 m. Vào khoảng năm 1854 và 1856 Ferdinand de Lesseps, một người Pháp là bạn của phó vương Ai Cập Sa’id Pasha đã mở một công ty kênh đào nhằm xây dựng kênh đào phục vụ cho đội thương thuyền dựa theo thiết kế của một kiến trúc sư người Úc Alois Negrelli. Sau đó với sự hậu thuẫn của người Pháp công ty này được phát triển trở thành công ty kênh đào Suez vào năm 1858. Công việc sửa chữa và xây mới kênh được tiến hành trong gần 11 năm. Hầu hết công việc được tiến hành bởi những lao động khổ sai người Ai Cập. Người ta ước tính luôn có một lực lượng 30.000 người lao động trên công trường và cho đến khi hoàn thành, gần 120.000 người đã bỏ mạng tại đây. Người Anh đã ngay lập tức nhận ra kênh đào này là một tuyến buôn bán quan trọng và việc người Pháp nắm quyền chi phối con kênh này sẽ là mối đe doạ cho những lợi ích kinh tế, chính trị của Anh trong khi đó lực lượng hải quân của Anh lúc bấy giờ là lực lượng mạnh nhất trên thế giới. Vì vậy chính phủ Anh đã chính thức chỉ trích việc sử dụng lao động khổ sai trên công trường và gửi một lực lượng người Ai Cập có vũ trang kích động nổi loạn trong công nhân khiến công việc bị đình trệ. Tức giận trước thái độ tham lam của Anh, Ferdinand de Lesseps đã gửi một bức thư tới chính phủ Anh chỉ trích sự bất nhân của nước Anh khi một vài năm trước đó trong công trình xây dựng đường sắt xuyên Ai Cập đã làm thiệt mạng 80.000 lao động khổ sai Ai Cập. Lần đầu tiên dư luận thế giới lên tiếng hoài nghi về việc cổ phiếu của công ty kênh đào Suez đã không được bán công khai. Anh, Mỹ, Úc, Nga đều không có cổ phần trong công ty này. Tất cả đều được bán cho người Pháp. Kênh đào cuối cùng cũng được hoàn thành vào ngày 17 tháng 11 năm 1869 mặc dù đã rất nhiều xung đột chính trị và sự cố kỹ thuật xảy ra xung quanh công trình. Tổng chi phí đã đội hơn 2 lần so với dự tính ban đầu của các kỹ sư. Kênh đào ngay lập tức làm ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc đến ngành vận tải thế giới. Kết hợp với đường sắt xuyên Mỹ hoàn thành 6 tháng trước đó, nó cho phép hàng hoá đi vòng quanh thế giới trong một thời gian kỷ lục. Nó cũng góp phần quan trọng trong việc mở rộng thuộc địa của Châu Âu tại Châu Phi. Những khoản nợ khổng lồ đã buộc người kế nhiệm Phó vương Ai Cập bán lại cổ phần trị giá 4 triệu bảng của mình cho người Anh. Tuy nhiên người Pháp vẫn nắm giữ phần lớn cổ phần chi phối. Vào năm 1888 một hội nghị ở Constantinopolis đã tuyên bố kênh đào là một khu vực trung lập và yêu cầu quân đội Anh bảo vệ kênh đào trong suốt cuộc nội chiến ở Ai Cập. Sau đó căn cứ vào hiệp ước với Ai Cập năm 1936 Anh đã đòi quyền kiểm soát kênh đào. Cuối cùng vào năm 1954 Chính quyền Ai Cập đã phủ nhận hiệp ước 1936 và nước Anh buộc phải từ bỏ quyền kiểm soát kênh. Năm 1956 tổng thống Ai Cập Nasser tuyên bố quốc hữu hoá kênh và ý định xây dựng một căn cứ quân sự ở dọc kênh. Hành động này của Ai Cập được hậu thuẫn bởi Liên Xô và đã gây lo ngại sâu sắc cho Mỹ, Anh, Pháp và Israel gây nên cuộc Khủng hoảng kênh đào Suez. Ngày 29 tháng 10 năm 1956, Israel tấn công bán đảo Sinai và dải Gaza để trả đũa. Năm 1957, Liên Hợp Quốc cử lực lượng gìn giữ hòa bình tới đây để bảo đảm tính trung lập của kênh. Kênh bị đóng cửa một lần duy nhất từ tháng 11 năm 1956 tới tháng 4 năm 1957 trong cuộc Chiến tranh Ả rập - Do Thái lần 2. Cho tới tháng 6 năm 1967, năm xảy ra chiến tranh lần 3 giữa Israel và các nước Ả Rập, gần 15% các luồng hàng viễn dương và trên 20% các luồng hàng vận chuyển dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ thế giới đã được vận chuyển qua kênh đào. Dự án kênh đào Suez mới. Ngày 18 tháng 10 năm 2014, Chính phủ Ai Cập đã ký hợp đồng với 6 công ty xây dựng quốc tế (gồm một công ty của Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), hai công ty của Hà Lan (là Royal Boskalis Westminster, Van Oord), hai công ty của Anh (là tập đoàn Jan de Nul, tập đoàn Deme), một công ty của Hoa Kỳ (là Great Lakes Dredge Dock)) để đào một tuyến kênh đào Suez mới, vốn đã được khởi công từ tháng 8 năm 2014, chạy song song với tuyến kênh đào Suez hiện hành. Kênh Suez mới có tổng chiều dài 72 km, dự kiến tổng kinh phí 4 tỷ USD và đã hoàn thành vào 23 tháng 7 năm 2015 (sớm hơn 1 tháng so với dự kiến). Theo tờ Business Insider dẫn tài liệu ghi chép vào năm 1963 và được giải mật năm 1996 thì trước khi dự án này được triển khai, người Mỹ và người Israel đã vạch kế hoạch sử dụng 520 quả bom hạt nhân chiến thuật có đương lượng nổ 2 megaton mỗi quả để đào một con kênh biển trên lãnh thổ Israel thay thế cho kênh Suez. Ủy ban Năng lượng nguyên tử Mỹ (AEC) dự kiến con kênh mới này sẽ dài 257,5 km (khoảng 160 dặm Anh) với điểm đầu là bờ biển Địa Trung Hải phía Bắc dải Gaza, xuyên qua sa mạc Negev và điểm cuối là cảng Aqaba trên bờ Biển Đỏ. Tuy nhiên, có hai lý do làm cho dự án này bất khả thi. Một là lượng phóng xạ phát ra hầu như không thể kiểm soát mặc dù dự án được thực hiện trên địa hình sa mạc, hầu như không có dân cư. Các cuộc thử nghiệm với quy mô nhỏ (dự án PNE) tại sa mạc Nevada (Hoa Kỳ) cho thấy mức độ ảnh hưởng của phóng xạ là rất nặng nề. Hai là phản ứng dữ dội của các quốc gia Ả Rập vốn đối địch với Israel có thể bùng phát, gây bất lợi về chính trị đối với cả Hoa Kỳ và Israel. Đề án mạo hiểm bị xếp lại cùng với việc AEC giải thể năm 1974. Sự cố tàu Ever Given trên kênh Suez. Ngày 23-3-2021, khi di chuyển qua kênh đào Suez, tàu chở hàng khổng lồ Ever Given thuộc sở hữu của công ty Nhật Shoei Kisen Kaisha, do công ty Đài Loan Evergreen Marine vận hành và treo cờ Panama, có sức chứa 20.124 container loại 20 ft đã gặp một sự cố nghiêm trọng trong hệ thống điều khiển khiến mũi tàu đâm vào bãi cát ở bờ Đông, còn đuôi tàu thì mắc kẹt trong cát sỏi ở bờ Tây. Con tàu gần như nằm chắn ngang kênh đào ở đoạn dưới hồ Great Bitter. Sự cố này đã làm tắc nghẽn tuyến đường hàng hải quan trọng bậc nhất thế giới, chiếm 12% tổng lưu lượng giao thông hàng hải toàn cầu bị đình trệ trong nhiều ngày. Ước tính có hàng trăm tàu bị kẹt ở Port Said (phía Địa Trung Hải) và hàng trăm tàu khác bị kẹt ở Port Suez (phía Biển Đỏ). Theo thống kê của của Bloomberg, có tới 453 tàu bị mắc kẹt ở cả hai đầu kênh Suez gồm có: Sáng 29-03-2021, sau nhiều nỗ lực đào cát ở mũi và đuôi tàu, hạ bớt tải trọng và huy động hàng chục tàu kéo vào cuộc, các lực lượng chức năng của Ai Cập với sự hỗ trợ của quốc tế mới khắc phục được sự cố, đưa con tàu trở lại vị trí song song với bờ kênh. Nhưng sau đó vài giờ, con tàu lại mắc kẹt do gió đẩy mũi tàu mắc kẹt trở lại, tuy nhiên sự cố lần này được đánh giá ít nghiêm trọng hơn. Ước tính sự cố này đã làm cho hơn 9.600 tỷ USD hàng hóa bị ứ đọng ở hai đầu con kênh suốt 1 tuần, trong đó có hơn 200 tàu chở dầu và khí tự nhiên hóa lỏng với dung tích trên 13 triệu thùng quy đổi, đẩy giá dầu thế giới lên xấp xỷ 70 USD/thùng. Sơ bộ thống kê từ IMF cho thấy sự cố còn làm thiệt hại khoảng 6 tỷ đến 10 tỷ USD/ngày của nền kinh tế toàn cầu. Chuyên gia, Giáo sư Stephen Flynn tại Đại học Northeastern đánh giá: "Mức độ gián đoạn do Ever Given gây ra cứ tự nhân lên sau mỗi 24 giờ" nên "sự gián đoạn trong vòng một tuần với quy mô lớn cỡ này sẽ tiếp tục có tác động dữ dội. Sẽ phải mất ít nhất 60 ngày trước khi mọi thứ được giải quyết và tình hình trở lại bình thường đôi chút". Chuyên gia Rory Hopcraft của nhóm nghiên cứu an ninh hàng hải tại Đại học Plymouth (Anh) nhận định rằng những vụ tắc nghẽn kiểu này sẽ còn diễn ra do để tồi đa hóa lợi nhuận, các hãng vận tải ngày càng sử dụng những con tàu khổng lồ (như tàu HMM Algeciras có sức chở tới 22.000 container) nhưng kênh Suez và các thủy lộ hiểm yếu khác lại không kịp khơi sâu và mở rộng dòng chảy. Ông cũng cho rằng trong tương lai chưa rõ sẽ có bao nhiêu sự cố mắc cạn tương tự Ever Given sẽ xảy ra vì khi tàu vận tải lớn hơn thì mọi thứ càng trở nên phức tạp hơn. Đây không phải là lần đầu tiên kênh đào Suez bị tắc nghẽn. Trong cuộc Chiến tranh Sinai (1956) giữa Ai Cập, có sự hỗ trợ của Anh, Pháp với Israel, kênh Suez đã bị đóng cửa gần 5 tháng. Năm 1967, Chiến tranh Israel - Liên minh Arab bùng nổ. Israel đánh chiếm toàn bộ bán đảo Sinai tới bờ Đông kênh Suez. Con kênh này đã bị Ai Cập phong tỏa suốt 8 năm bằng thủy lôi và các con tàu cũ bị đánh đắm ở hai đầu con kênh đã làm cho 14 tàu hàng treo cờ Đức, Thụy Điển, Pháp, Anh, Mỹ, Ba Lan, Bulgaria và Tiệp Khắc bị mắc kẹt tại đây suốt 8 năm. Năm 1973 Israel thất bại trong cuộc chiến Yom Kippur và đến năm 1975, phải trả lại bán đảo Sinai cho Ai Cập. Kênh Suez mới được Chính phủ Ai Cập tái khai thông.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Dennis Nicolaas Maria Bergkamp (];sinh ngày 10 tháng 5 năm 1969) là một cựu cầu thủ bóng đá người Hà Lan. Ban đầu anh vốn là một tiền vệ trung tâm, nhưng Bergkamp đã được chuyển lên đá tiền đạo cắm và sau đó là tiền đạo hộ công, nơi anh vẫn thi đấu suốt sự nghiệp sau này. Bergkamp đã được Jan Mulder miêu tả như một cầu thủ "kĩ thuật điêu luyện nhất", và một ""tiền đạo đá cặp trong mơ" "của Thierry Henry. Vốn xuất thân là con trai của một thợ điện, Bergkamp sinh ra ở Amsterdam và là một cầu thủ nghiệp dư ở các giải đấu thấp. Anh được Ajax phát hiện tài năng khi mới 11 tuổi và đã chơi trận chuyên nghiệp đầu tiên của mình vào năm 1986. Việc chơi tốt ở mùa giải năm đó đã giúp anh được triệu tập lên tuyển quốc gia một năm sau cùng sự thu hút của một số câu lạc bộ lớn ở châu Âu. Bergkamp đã gia nhập câu lạc bộ nước Ý Internazionale vào năm 1993, nơi anh đã có hai mùa giải thực sự đáng quên. Sau đó anh đã gia nhập Arsenal vào năm 1995. Đó là lúc mà Bergkamp đã trở lại phong độ chói sáng trước đây ở Ajax, qua đó góp phần giúp câu lạc bộ giành nhiều danh hiệu cao quý. Tiêu biểu là 3 chức vô địch Premier League, 4 danh hiệu FA Cup và ngôi á quân UEFA Champions League 2005 - 2006, đánh dấu mùa giải cuối cùng anh khoác lên mình màu áo đỏ trắng. Ở cấp độ quốc gia, Bergkamp đã vượt qua kỷ lục cũ của huyền thoại Faas Wilkes để trở thành tay săn bàn xuất sắc nhất của Hà Lan mọi thời đại vào năm 1998, mà sau này Patrick Kluivert và Robin van Persie đã vượt qua. Bergkamp được huyền thoại người Brazil Péle đánh giá là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất trong thế hệ của mình cũng như xứng đáng lọt vào trong Top 100 cầu thủ vĩ đại nhất của FIFA. Năm 2007, anh vinh dự được mời gia nhập "Ngôi đền huyền thoại của làng bóng đá Anh"- là cầu thủ Hà Lan duy nhất và đến nay lập được ki tích này. Bergkamp đã từng đứng thứ ba trong danh sách đề cử rút gọn cho danh hiệu "Quả bóng vàng". Do hội chứng sợ bay nên Bergkamp được các cổ động viên yêu quý của Arsenal gọi trìu mến là "Người Hà Lan không bay". Tại Việt Nam đôi khi anh được mệnh danh "Thiên hạ đệ nhất tinh tế" do lối đá kỹ thuật đẹp mắt. Sinh ra tại Amsterdam, Bergkamp là người con trai út trong bốn đứa con của Wim và Tonnie Bergkamp. Anh lớn lên ở một vùng ngoại ô có tầng lớp lao động sinh sống, còn gia đình ông có tham vọng để tiến tới xã hội trung lưu. Cha anh, một thợ điện và một cầu thủ bóng đá nghiệp dư ở một giải đấu thấp, đã điền tên anh vào một đội bóng phong trào của tiền đạo người Scotland Denis Law. Để tuân thủ đúng việc đặt tên theo truyền thống của người Hà Lan, anh đã viết thêm một chữ "n" vào họ Bergkamp của mình sau khi cái tên gốc không được nhà tuyển trạch chấp nhận. Bergkamp được nuôi dạy giống như một tín đồ giáo và anh thường xuyên được đến nhà thờ khi còn nhỏ. Mặc dù trong những năm sau đó Bergkamp cho biết rằng việc đến nhà thờ không còn quá quan trọng đối với anh, nhưng anh vẫn luôn duy trì đức tin của mình. Sự nghiệp cấp câu lạc bộ. Bergkamp trưởng thành từ lò đạo tạo trẻ của Ajax và anh được đôn lên đội một của câu lạc bộ vào năm 11 tuổi. Giám đốc thể thao Johan Cruyff đã đưa anh ra mắt chuyên nghiệp vào ngày 14 tháng 12 năm 1986 khi đội đối đầu với câu lạc bộ Roda JC, trận đấu đã kết thúc khi Ajax đả bại đối thủ 2-0. Bàn thắng đầu tiên của Bergkamp cho câu lạc bộ là bàn thắng vào lưới của HFC Haarlem vào ngày 22 tháng 2 năm 1987 khi Ajax đã đánh bại đối thủ với tỉ số đậm 6-0. Anh đã ra sân tổng cộng 23 trận trong mùa giải 1986-1987, trong đó có trận đấu với Malmo FF ở cúp châu Âu năm đó khi Ajax đã trở thành nhà vô địch, khiến báo chí Hà Lan nức lòng ca ngợi cầu thủ trẻ giàu triển vọng này. Ajax đã chính thức trở thành tân vương khi đánh bại Lokomotive Leipzig với tỉ số 1-0, trong trận đấu đó Bergkamp đã vào sân thay người và thi đấu quá xuất sắc. Ở mùa giải sau đó, Bergkamp ngày càng khẳng định chỗ đứng của mình trong đội hình của Ajax. Năm đó là thời kỳ vàng son của câu lạc bộ khi Ajax giành danh hiệu Eredivisie mùa giải 1989-1990 lần đầu tiên trong vòng 5 năm qua. Bergkamp ghi được 29 bàn thắng sau 36 trận ở mùa giải đó và trở thành tay săn bàn hàng đầu của châu Âu lúc bấy giờ, cùng chia sẻ thành tích với tiền đạo Romario của PSV Eindhoven. Ajax đã giành UEFA Cup năm 1992 sau bàn thắng quyết định vào lưới Torino ngay trên sân khách. Sau đó họ tiếp tục đánh bại SC Heerenveen 6-2 trong trận chung kết KNVB Cup vào ngày 20 tháng 5 năm 1993. Bergkamp là chân sút hàng đầu tại Eredivisie từ 1991-1993, và được bình chọn là "Cầu thủ Hà Lan của năm" vào mùa giải 1992-1993. Tổng cộng anh đã ghi được 122 bàn sau 239 trận cho đội bóng quê nhà. Bergkamp đã thu hút sự chú ý của hàng loạt câu lạc bộ lớn ở châu Âu bởi thành tích quá ấn tượng của mình trong màu áo Ajax. Cruyff khuyên anh không nên gia nhập Real Madrid, một trong những đội bóng từng ngỏ ý muốn mua anh. Tuy nhiên Bergkamp nhất quyết muốn được chơi ở Ý. Anh đánh giá Serie A là "Giải đấu hấp dẫn nhất thời điểm đó" và điểm đến ưa thích có thể là Juventus hoặc Internazionale. Vào ngày 16 tháng 2 năm 1993, Bergkamp đã đồng ý một thỏa thuận với mức phí 7.1 triệu euro để chuyển đến đội bóng mới, trong thỏa thuận còn có cả đồng đội của anh ở Ajax là Wim Jonk. Sau khi ký kết hợp đồng, Bergkamp tiết lộ rằng "Inter đã đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của tôi, điều tôi ấn tượng nhất ở Inter là một sân vận động lớn, các CĐV nhiệt thành và phong cách thi đấu của đội bóng". Bergkamp có trận ra mắt ở cuộc đối đầu với Reggiana vào ngày 29 tháng 8 năm 1993 trên sân nhà San Siro mà Inter đã thắng 2-1. Anh ghi bàn thắng đầu tiên ở đội bóng mới trong trận tiếp đón Cremonese vào tháng 9 năm 1993. Mặc dù vậy Bergkamp đã vấp phải nhiều khó khăn trước sự phòng thủ vững chắc của các đội bóng ở Ý nên anh chỉ ghi được 7 bàn thắng trên mọi mặt trận. Nguyên nhân một phần là do nhà quản lý Osvaldo Bagnoli không đủ khả năng để có được sự thống nhất trong nội bộ Internazionale do anh ưa thích Bergkamp hơn 2 cầu thủ khác là Rubén Sosa (người Uruguay) và Salvatore Schillaci (người Ý). Do sự điều hành câu lạc bộ kém cỏi nên Bagnoli đã bị sa thải và người thế chỗ cho anh là Giampiero Marini - một cựu thành viên trong đội hình tuyển Ý vô địch World Cup năm 1994. Inter sau đó đã có vị trí thứ 13 tại Serie A, thoát khỏi khu vực xuống hạng, và lại rất thành công tại UEFA Cup khi vùi dập FC Salzburg 2 bàn không gỡ trong trận chung kết. Ở giải đấu đó Bergkamp là chân sút xuất sắc nhất với 8 bàn thắng và một hatrick vào lưới Rapid Bucuresti ở vòng đấu mở màn. Ở mùa giải thứ hai của Bergkamp tại Inter, vị trí cầm quân tiếp tục đổi người và người kế nhiệm lần này là Ottavio Blanchi. Trước khi mùa giải khởi tranh Bergkamp đã phải trải qua một chiến dịch World Cup 1994 đầy thất vọng cùng vô số chấn thương và mệt mỏi từ giải đấu đó. Vì vậy mà anh chỉ ghi được 5 bàn sau 26 lần ra sân. Từ đó mà mối quan hệ giữa Bergkamp với báo chí Italia và người hâm mộ ngày càng trở nên gay gắt. Tính cách nhút nhát và việc bỏ về nhà sau trận đấu của anh được dư luận gọi là sự thờ ơ. Cũng bởi thành tích yếu kém của Bergkamp trên sân cỏ, một ấn phẩm của Ý đã đổi tên hạng mục dành cho các hoạt động tệ nhất trong tuần: từ "L'Asino della settimana "(trò lố bịch của tuần) thành "Bergkamp della settimana. "Inter kết thúc mùa giải với vị trí thứ 6 tại Serie A và thất bại trong việc bảo vệ ngôi vô địch UEFA Cup khi bị loại ngay ở vòng 2. Vào tháng 2 năm 1995, một doanh nhân người Ý và cũng là Fan hâm mộ Inter là Massimo Moratti đã mua lại thành công câu lạc bộ mình yêu quý, và ông đã hứa với người hâm mộ sẽ đầu tư để tái thiết lại đội hình. Tương lai của Bergkamp tại Inter càng trở nên bấp bênh hơn khi vị chủ tịch mới lập tức có một bản hợp đồng mới với cầu thủ Maurizio Ganz chỉ một tháng sau khi ông tiếp quản đội bóng. Vị chủ tịch của Inter Moratti đã thực hiện một thương vụ bán cầu thủ, đó là việc Bergkamp sẽ rời Inter để đầu quân cho Arsenal vào tháng 6 năm 1995 với mức phí khoảng 7.5 triệu bảng Anh. Anh trở thành bản hợp đồng đầu tiên trong kỷ nguyên của HLV Bruce Rioch và đã phá vỡ kỷ lục chuyển nhượng của câu lạc bộ với chỉ 2.5 triệu bảng Anh. Việc Bergkamp đến câu lạc bộ là vô cùng quan trọng bởi không chỉ vì ông là một cầu thủ Hà Lan nổi tiếng và sẽ có những năm tháng đẹp nhất của sự nghiệp trước mắt mà còn bởi anh chính là nhân tố then chốt để đưa Arsenal trở lại thời kỳ hoàng kim sau thời gian khủng hoảng đầu thập niên 90. Trong ngày khai mạc của mùa giải 1995-1996, anh đã có trận ra mắt khi đối đầu với Middlesbrough. Bergkamp đã phải dành thời gian để hòa nhập với môi trường bóng đá Anh và anh không thể ghi bàn sau 6 trận liên tiếp sau đó, khiến báo chí Anh được một phen chế giễu anh. Và Bergkamp đã kết thúc mùa giải đầu tiên ở đội bóng mới với 11 bàn thắng sau 33 lần ra sân, qua đó giúp Pháo Thủ kết thúc ở vị trí thứ 5 và kiếm được một vị trí dự UEFA Cup sau bàn thắng duy nhất vào lưới Bolton Wanderers vào ngày cuối cùng của mùa giải. Việc Arsenal bổ nhiệm Arsene Wenger là HLV trưởng của câu lạc bộ vào tháng 9 năm 1996 đã đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp của Bergkamp. Sau những thành công có được ở Pháp và Nhật Bản, Wenger đã hết lời ca ngợi tài năng của Bergkamp và muốn sử dụng anh là cầu thủ dẫn dắt lối chơi của đội bóng. Cả hai người đều là những người ủng hộ triết lý bóng đá tấn công, vì vậy Wenger đã quyết định đưa ra một giáo án tập luyện và dinh dưỡng vô cùng nghiêm ngặt với Bergkamp. Mặc dù xuất hiện ít hơn ở mùa giải 1996-1997, nhưng Bergkamp đã tạo ra ảnh hưởng tích cực tới lối chơi của đội với 13 đường kiến tạo. Trong cuộc đối đầu với Tottenham Hotspur vào tháng 11 năm 1996, anh đã thực hiện một đường chuyền chuẩn xác ở phút thứ 88 để đội trưởng Tony Adams vô-lê chân trái tuyệt đẹp giúp đội bóng giành chiến thắng. Sau đó anh còn ghi bàn vào phút bù giờ sau khi khống chế trái bóng bằng chân trái, thực hiện động tác qua người Stephen Carr trong không gian hẹp trước khi tung cú dứt điểm làm cháy lưới đối thủ. Bergkamp đã nhận thẻ đỏ đầu tiên trong sự nghiệp ở trận đấu với Sunderland vào tháng 1 năm 1997 sau pha vào bóng cao chân với tiền vệ đội bạn Paul Bracewell ở phút thứ 26. Arsenal đã tiếp tục để thua trận 1-0, nhưng sau đó đã có màn nước rút hoàn hảo khi thắng 8 trên 16 trận đấu tiếp theo để chính thức đưa Pháo Thủ vào top 3, nhưng bỏ lỡ cơ hội dự Champions League bởi hiệu số bàn thắng/bại thấp hơn. Bergkamp chính là nhân tố chính giúp Arsenal giành cú đúp quốc nội mùa giải sau đó. Anh trở thành cầu thủ ghi bàn hàng đầu ở CLB với 22 bàn thắng và tỉ lệ tấn công 0.57. Thành công của Arsenal càng có cơ sở hơn khi tên viết tắt của đội bóng được viết ngay trên sân của đại kình địch Manchester United. Trong trận đấu với Leicester City đầu mùa ở phố Filbert vào ngày 23 tháng 8 năm 1997, Bergkamp đã ghi được hatrick đầu tiên của mình cho CLB. Bàn thắng thứ ba là bàn thắng yêu thích của anh: một pha đỡ bóng vô cùng nhạy cảm, khéo léo vượt qua hậu vệ Matt Elliot trước khi tung cú sút hạ gục thủ thành Kasey Keller. Sau trận đấu, HLV của Leicester là Martin O'Neil đã thừa nhận rằng đó là "cú hatrick ngoạn mục nhất tôi từng xem". Trong một trận đấu đá lại ở vòng tứ kết FA Cup gặp West Ham United vào ngày 17 tháng 3 năm 1998, Bergkamp đã bị truất quyền thi đấu do pha phạm lỗi với tiền vệ Steve Lomas, đồng thời bỏ lỡ 3 trận đấu sau đó do án treo giò. Anh đã tiếp tục phải ngồi ngoài phần còn lại của mùa giải sau chấn thương gân khoeo ở trận gặp Derby Couty
Vị thế chính trị Đài Loan Sự tranh cãi về vị thế chính trị Đài Loan xoay quanh tại việc Đài Loan, gồm cả quần đảo Bành Hồ ("Pescadores" hoặc "Penghu"), có nên được coi là 1 quốc gia độc lập có tên là Trung Hoa Dân Quốc (THDQ), hay nên thống nhất với những vùng lãnh thổ hiện thuộc quyền quản lý của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc), hay trở thành nước Cộng hòa Đài Loan về mặt chính thức. Tình trạng chính trị của Đài Loan rất phức tạp vì những tranh cãi về sự tồn tại của Trung Hoa Dân Quốc như một nhà nước, nói cách khác về vị thế chính trị của Trung Hoa Dân Quốc ở Đài Loan. Hiến pháp Đài Loan (tức Trung Hoa Dân Quốc) hiện nay không hề tự coi họ là 1 đảo quốc độc lập, mà họ tự coi mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn Trung Quốc, tức là họ vẫn tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, đảo Đài Loan chỉ là 1 phần trong lãnh thổ đó (họ gọi đảo Đài Loan là "Vùng Tự do của Trung Hoa Dân Quốc", còn vùng lãnh thổ do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa kiểm soát được họ gọi là "vùng Đại Lục do Đảng Cộng sản chiếm đóng trái phép"). Ngược lại, phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng coi mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn Trung Quốc, và tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ lãnh thổ đảo Đài Loan (họ goi đảo Đài Loan là "tỉnh thứ 23 chờ thống nhất của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa"). Như vậy, về mặt pháp lý, trong trường hợp nổ ra chiến tranh Trung Quốc - Đài Loan thì cuộc chiến sẽ được coi là sự tiếp tục của nội chiến Trung Quốc giữa 2 chính phủ nhằm thống nhất toàn Trung Hoa, chứ không phải là cuộc chiến xâm lược - chống xâm lược giữa 2 quốc gia riêng biệt. Hiện tại, Đài Loan, Kim Môn, Mã Tổ, Bành Hồ và các đảo khác bên ngoài bờ biển Phúc Kiến; và cùng quần đảo Đông Sa tại Biển Đông đang là những phần tạo thành nhà nước được gọi là Trung Hoa Dân Quốc (THDQ). Chính quyền Đài Loan cũng có tranh chấp chủ quyền tại vùng Biển Đông và trên thực tế đang chiếm đóng đảo Ba Bình ("Itu Aba") THDQ từng kiểm soát đại lục Trung Quốc, đòi chủ quyền đối với Mông Cổ và Tannu Uriankhai (một phần của nó hiện nay là nước cộng hòa Tuva) trước khi chính phủ của nó buộc phải dời sang Thủ đô Đài Bắc năm 1949 do thất trận trước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Từ khi Trung Hoa Dân Quốc mất ghế tại Liên Hợp Quốc năm 1971 (bị thay thế bởi CHND Trung Hoa), đa số các nước có chủ quyền đã quay sang công nhận ngoại giao đối với CHND Trung Hoa, coi nó là đại diện hợp pháp duy nhất của toàn bộ Trung Quốc, đáng chú ý nhất là việc Mỹ công nhận năm 1979. Tới năm 2023, Đài Loan chỉ còn giữ các quan hệ ngoại giao một cách chính thức với 12 nước thành viên của Liên Hợp Quốc và Tòa thánh Vatican, dù "trên thực tế" các mối quan hệ vẫn được duy trì với nhiều nước. Những cơ quan như Văn phòng kinh tế và văn hóa Đài Bắc và Viện Hoa Kỳ tại Đài Loan đang hoạt động "trên thực tế" như những đại sứ quán, dù không có được đặc quyền ngoại giao theo luật: họ không thể cung cấp bất kỳ sự bảo vệ lãnh sự nào và các nhân viên của họ cũng không có được bất kỳ quyền miễn trừ ngoại giao nào. Địa điểm của văn phòng vẫn nằm tại nước chủ nhà. Chính phủ THDQ luôn coi mình là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc, bao gồm những lãnh thổ cũ của họ nay đã do Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa kiểm soát. Lập trường này đã bắt đầu bị giảm bớt từ đầu thập niên 1990, bởi CHND Trung Hoa đã cai quản đại lục Trung Quốc ổn định và Trung Hoa dân quốc gần như không có hy vọng giành lại các lãnh thổ này, dù những tuyên bố chủ quyền của THDQ đối với vùng Trung Quốc lục địa vẫn được ghi nhận chính thức trong hiến pháp của họ. Các nhóm khác nhau có những quan niệm khác nhau về tình trạng chính trị thực tế hiện tại của Đài Loan. ("Xem thêm: Độc lập Đài Loan, Thống nhất Trung Quốc, và Quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan") Hơn nữa, tình hình có thể bị hiểu nhầm bởi vì có các đảng phái khác nhau và những nỗ lực từ phía nhiều nhóm khác nhau để giải quyết tranh chấp thông qua một chính sách nhập nhằng có chủ định. Giải pháp chính trị được chấp nhận bởi nhiều nhóm hiện nay là giữ nguyên trạng: có nghĩa là, ở mức tối đa thì coi Đài Loan là một quốc gia không chính thức, và ở mức tối thiểu là chính thức tuyên bố không ủng hộ chính phủ này tuyên bố độc lập. Tuyên bố độc lập một cách chính thức là cái gì thì hiện vẫn chưa rõ ràng, vì sự thực là chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đang kiểm soát cả đảo Đài Loan, tự coi mình là chính phủ hợp pháp của toàn Trung Quốc "trên danh nghĩa". Tình trạng nguyên trạng được chấp nhận bởi vì nó không xác định tình trạng hợp pháp hay tình trạng tương lai của Đài Loan, khiến cho mỗi nhóm đều có thể giải thích tình trạng này theo cách có thể chấp nhận được đối với mình. Nhưng chính sách giữ nguyên trạng cũng bị chỉ trích vì quá nguy hiểm, bởi vì những bên khác nhau có cách giải thích khác nhau về cái gọi là "nguyên trạng", dẫn tới khả năng xảy ra chiến tranh do việc tiến sát đến bên miệng hố chiến tranh hay do tính toán sai lầm. Việc "giữ nguyên trạng" giúp Trung Hoa Dân Quốc cai trị đảo Đài Loan độc lập trên thực tế, nhưng cũng ngăn chặn tuyên bố đảo Đài Loan độc lập về mặt pháp lý. Đài Loan, cùng với quần đảo Bành Hồ, đã được Trung Quốc (lúc ấy ở thời nhà Thanh) nhượng lại cho Nhật Bản năm 1895. Nhật Bản đầu hàng Trung Quốc năm 1945 khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai sau 50 năm cai trị thuộc địa, và nó đã trở thành một tỉnh của Trung Hoa Dân Quốc. Khi thất trận trong cuộc Nội chiến Quốc-Cộng năm 1949, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc phải dời sang Đài Bắc, và giữ quyền kiểm soát một số đảo dọc theo bờ biển đại lục Trung Quốc và tại Biển Đông, trong khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập tại đại lục tháng 10 năm 1949, tuyên bố họ là nhà nước kế tục của Trung Hoa Dân Quốc. Đảo Kim Môn, Mã Tổ và Ô Khâu ở bờ biển Phúc Kiến, và đảo Ba Bình và quần đảo Đông Sa ở Biển Đông, hiện đang do Trung Hoa Dân Quốc chiếm giữ, nhưng chúng không được nhượng lại cho Nhật Bản. Một số tranh cãi ủng hộ độc lập cho Đài Loan không áp dụng cho những đảo này. (Đảo Ba Bình ("Itu Aba") đang bị tranh chấp giữa Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan và một số quốc gia Đông Nam Á khác.) Vấn đề chủ quyền. Sự nhượng quyền, sự trả lại và sự tự quyết của Đài Loan. Trong thời nhà Thanh, Trung Quốc đã nhượng lại hòn đảo này cùng với quần đảo Bành Hồ cho Nhật Bản vào lúc kết thúc cuộc Chiến tranh Thanh-Nhật sau khi ký kết Thoả ước Shimonoseki. Tại Hội nghị Cairo năm 1943, các nước chính trong phe Đồng Minh đã đồng ý để Nhật Bản trả lại "toàn bộ lãnh thổ Nhật đã chiếm của Trung Quốc", gồm cả Đài Loan và Bành Hồ, cho Trung Hoa Dân Quốc khi Nhật đầu hàng. Theo cả Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc, thoả thuận này có hiệu lực hợp pháp theo Văn kiện đầu hàng của Nhật Bản năm 1945. Đại sứ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tại Liên hiệp quốc, Vương Anh Phàm (王英凡), đã nhiều lần tuyên bố tại Liên hiệp quốc: "Đài Loan là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc từ trong lịch sử lâu dài" và "cả Tuyên bố Cairo năm 1943 và Tuyên bố Potsdam năm 1945 đã tái khẳng định chủ quyền rõ ràng của Trung Quốc đối với Đài Loan là một nội dung của luật pháp quốc tế." Mặt khác, một số người ủng hộ Đài Loan độc lập cho rằng: vì Hiệp ước Shimonoseki năm 1895, Đài Loan "về mặt danh nghĩa" là một phần của Nhật Bản khi THDQ được thành lập năm 1912, và vì vậy không phải là một phần của Trung Hoa Dân Quốc. Tuy nhiên, những người ủng hộ thống nhất chỉ ra rằng "nhà Thanh" nói chung đã được chấp nhận là một cái tên trong lịch sử của Trung Quốc. Do vậy, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc là người kế tục của nhà Thanh. Cũng như vậy, vì Tuyên bố Cairo là một thông cáo không được ký kết, những người ủng hộ độc lập cho rằng tính hợp pháp của tuyên bố này cần phải được xem xét lại. Hơn nữa, họ chỉ ra rằng văn kiện đầu hàng của Nhật Bản chỉ đơn giản là một sự đình chiến, một tạm ước theo đúng tính chất, và chỉ là một thoả thuận tạm thời hay nhất thời và sẽ bị thay thế bởi một hiệp ước hoà bình. Vì thế, những người ủng hộ độc lập quả quyết rằng cả Hiệp ước hoà bình San Francisco và Hiệp ước Đài Bắc có tính pháp lý cao hơn văn kiện đầu hàng và rằng các hiệp ước đã không chuyển tư cách Đài Loan từ Nhật Bản sang cho Trung Quốc. Theo lý lẽ này, chủ quyền của Đài Loan được trả lại cho người dân Đài Loan khi Nhật Bản rút lại chủ quyền đối với Đài Loan tại Hiệp ước hoà bình San Francisco (SFPT) năm 1951, dựa trên chính sách tự quyết đã được áp dụng cho "những vùng lãnh thổ bị tách ra từ các quốc gia thù địch như là kết quả của Chiến tranh thế giới thứ hai" như được quy định bởi điều 76b và 77b của Hiến chương Liên hiệp quốc và bởi Nghị định thư của Hội nghị Yalta. Tuy nhiên, những người ủng hộ độc lập phản đối rằng cả THDQ và CHNDTH đều không ký kết vào Hiệp ước hoà bình San Francisco (SFPT), khiến cho SFPT không có quyền áp dụng hợp pháp vào tình trạng chủ quyền của Đài Loan. Những người ủng hộ độc lập chỉ ra rằng ở cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Đồng minh đã đồng ý rằng THDQ "tạm thời chiếm Đài Loan thay cho các lực lượng Đồng Minh" dưới sự cho phép của Tướng Douglas MacArthur ngày 2 tháng 9 năm 1945. Những người ủng hộ thống nhất chỉ ra sự thực rằng Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Postdam đã được trích dẫn trong cả Văn kiện đầu hàng của Nhật Bản và Hiệp ước hoà bình giữa Nhật Bản và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, hoàn thành việc trao trả chủ quyền từ Nhật Bản sang Trung Quốc. Vì thế Tuyên bố Cairo, Tuyên bố Postdam và Văn kiện đầu hàng của Nhật Bản sau đó cùng với Hiệp ước hoà bình giữa Nhật Bản và Trung Quốc phải được coi là có tính pháp lý cao hơn lệnh của Tướng MacArthur. Thậm chí một số người coi Hiệp ước Đài Bắc năm 1952 là đã trực tiếp cho thấy rằng Nhật Bản công nhận chủ quyền của chính phủ THDQ đối với Đài Loan, Bành Hồ, và "các lãnh thổ hiện nay hay có thể từ đây nằm dưới quyền kiểm soát của chính phủ của nó," Nhật Bản đã bãi bỏ hiệp ước này ngay khi thiết lập các quan hệ ngoại giao với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa năm 1972 bằng cách công nhận tuyên bố của CHNDTH rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc. Dù việc giải thích các hiệp ước hoà bình đã được sử dụng để bác bỏ tính hợp pháp của Trung Hoa Dân Quốc đối với Đài Loan trước thập niên 1990, việc Trung Hoa Dân Quốc tiến hành các cuộc bầu cử toàn dân ở Đài Loan đã vô hiệu hóa quan điểm này. Ngoại trừ những người ủng hộ độc lập cho Đài Loan một cách cực đoan, đa số dân Đài Loan ủng hộ thuyết chủ quyền nhân dân và không thấy có nhiều xung đột giữa thuyết chủ quyền này và lập trường Trung Hoa Dân Quốc. Theo nghĩa này, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc hiện cai quản Đài Loan không phải là chính phủ THDQ đã chấp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản bởi vì các chính quyền cai trị đã được uỷ nhiệm của nhân dân thông qua các cuộc bầu cử khác nhau: một là toàn bộ cử tri đại lục Trung Quốc, một là các cử tri của Đài Loan. Trên thực tế, tổng thống Trần Thủy Biển đã thường nhấn mạnh tới thuyết chủ quyền nhân dân trong những bài phát biểu của mình. Tuy nhiên, tới năm 2005, xung đột giữa hai thuyết vẫn còn chiếm một vị trí quan trọng bên trong chính trị Đài Loan. Thuyết chủ quyền nhân dân, được Phiếm Lục nhấn mạnh cho rằng Đài Loan cần phải có những thay đổi căn bản về hiến pháp thông qua biện pháp trưng cầu dân ý. Thuyết THDQ hợp pháp, được Phiếm Lam ủng hộ, cho rằng bất kỳ những thay đổi căn bản hiến pháp nào đòi hỏi phải thông qua thủ tục sửa đổi hiến pháp của THDQ. Quan điểm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH). Lập trường của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho rằng Trung Hoa Dân Quốc đã ngừng tồn tại với tư cách là một chính phủ hợp pháp từ khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập ngày 1 tháng 10 năm 1949 và rằng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là chính thể tiếp nối của Trung Hoa Dân Quốc với tư cách chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc, với quyền cai trị Đài Loan theo lý thuyết kế tục nhà nước. Như vậy, mặt khác quyền hợp pháp của Trung Hoa Dân Quốc trong việc chiếm lại lục địa vẫn không được chấp nhận rộng rãi mà còn đang bị tranh cãi. Những người ủng hộ thống nhất ở Lục địa Trung Quốc cho rằng Trung Hoa Dân Quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là hai phe trong cuộc Nội chiến Trung Quốc, vốn chưa bao giờ chính thức kết thúc. Vì thế, cả hai bên đều thuộc về cùng một nước có chủ quyền - Trung Quốc. Bởi vì chủ quyền của Đài Loan thuộc về Trung Quốc, sự ly khai của Đài Loan phải được chấp nhận bởi 1,4 tỷ người trên toàn Trung Quốc chứ không phải 23 triệu người đang sống ở Đài Loan. Hơn nữa, theo Nghị quyết 2758 của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, cho rằng "Công nhận rằng những đại diện của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung hoa là những đại diện hợp pháp duy nhất của Trung Quốc trước Liên hiệp quốc", Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã chính thức được trao chủ quyền đối với toàn bộ Trung Quốc, kể cả Đài Loan. Vì thế, dựa trên tuyên bố chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với Đài Loan, nước này có quyền hợp pháp khi mở rộng quyền tại phán của mình đối với Đài Loan, kể cả bằng vũ lực nếu cần thiết. Tuy nhiên, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho rằng Trung Hoa Dân Quốc không đáp ứng với tiêu chí thứ tư của Thỏa ước Montevideo, bởi vì họ chỉ còn được 13 nước (khá nhỏ và nghèo) công nhận và bị cấm tham gia vào các tổ chức quốc tế như Liên hiệp quốc. Những phản đối của Trung Hoa Dân Quốc cho rằng sức ép của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với các nước đã khiến họ không thể được công nhận rộng rãi và rằng Điều 3 của Thỏa ước Montevideo đó cũng nói rõ, "Sự hiện diện chính trị của quốc gia độc lập với sự công nhận của các nước khác." Điều này đã được thực hiện bởi vì Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã có nhiều hành vi cưỡng ép nhằm cô lập Trung Hoa Dân Quốc về mặt ngoại giao. Tuy nhiên, những người ủng hộ thống nhất lại chỉ ra sự thật là Thỏa ước Montevideo chỉ được ký kết bởi 19 nước tại Hội nghị Quốc tế lần thứ 7 các nước châu Mỹ. vì thế, quyền lực của Liên hiệp quốc cũng như các Nghị quyết của Liên hiệp quốc có tính chất pháp lý cao hơn Thỏa ước Montevideo. Lập trường hiện tại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho rằng "Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất đối với Trung Quốc và Đài Loan là một phần không thể tách rời của Trung Quốc". Cộng hòa Nhân dân Trung hoa không muốn đàm phán với Trung Hoa Dân Quốc về bất kỳ một hình thức nào khác ngoài Chính sách Một Trung Quốc, nhưng đã tỏ ra thiện chí cho phép ý nghĩa "một Trung Quốc" được hiểu theo cách mơ hồ. Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa coi việc vi phạm vào Chính sách Một Trung Quốc, hay những hành động mâu thuẫn với chính sách đó như việc cung cấp vũ khí cho Trung Hoa Dân Quốc là một sự vi phạm vào quyền toàn vẹn lãnh thổ của họ. Các tổ chức thông tin quốc thế thường báo cáo rằng "Trung Quốc coi Đài Loan là một tỉnh phản loạn cần phải được thống nhất với lục địa bằng vũ lực nếu cần thiết", thậm chí khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không nói rõ ràng rằng Đài Loan là một tỉnh phản loạn. Tuy nhiên, phương tiện truyền thông đại chúng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và các quan chức của họ thường coi Đài Loan là "Tỉnh Đài Loan của Trung Quốc". (Những vùng Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố chủ quyền Kim Môn, Ô Khâu và quần đảo Mã Tổ là một phần tỉnh Phúc Kiến của họ, các đảo ở Biển Đông thuộc tỉnh Quảng Đông và Hải Nam.) Quan điểm của Trung Hoa Dân Quốc. Trung Hoa Dân Quốc cho rằng họ có mọi tính chất của một nhà nước và rằng họ không phải bị "thay thế" hay "kế tục" bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bởi vì họ vẫn đang tiếp tục tồn tại sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập. Theo Công ước Montevideo năm 1933, nguồn được trích dẫn nhiều nhất để định nghĩa một quốc gia là: một quốc gia phải sở hữu một dân số cố định, một lãnh thổ được xác định, một chính phủ và khả năng thiết lập quan hệ với các quốc gia khác. Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố họ có đủ mọi tính chất đó bởi vì họ sở hữu một chính phủ có chủ quyền với quyền tài phán trên những vùng lãnh thổ đã được xác định rõ với hơn 23 triệu dân và một bộ ngoại giao thực sự. Quan điểm của Trung Hoa Dân Quốc luôn cho rằng họ "trên thực tế" là một quốc gia có chủ quyền. Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc luôn giữ lập trường rằng họ là chính phủ hợp pháp duy nhất co quyền cai quản toàn bộ Trung Quốc. Năm 1991, Tổng thống Lý Đăng Huy tuyên bố rằng chính phủ của ông không có ý tranh chấp quyền cai trị với những người Cộng sản ở lục địa nữa. Tuy nhiên, Quốc hội Trung Hoa Dân Quốc, cơ quan hiện không còn tồn tại nữa, chưa bao giờ chính thức thay đổi biên giới quốc gia. Việc thay đổi biên giới quốc gia giờ đây đỏi hỏi phải có sự sửa đổi hiến pháp và được Lập pháp viện thông qua cũng như được phê chuẩn bởi đa số tuyệt đối của cử tri Trung Hoa Dân Quốc. Mặt khác, dù Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc được ban hành năm 1946 không chỉ rõ những vùng lãnh thổ nào bao gồm trong quốc gia, bản dự thảo hiến pháp năm 1925 đã liệt kê danh sách các tỉnh của Trung Hoa Dân Quốc và Đài Loan không phải là một trong số đó, bởi vì Đài Loan "trên thực tế" là một phần lãnh thổ của Nhật Bản chiếu theo Hiệp ước Shimonoseki năm 1895. Hiến pháp cũng quy định tại Khoản I.4, rằng "lãnh thổ Trung Hoa Dân Quốc là lãnh thổ nguyên thuộc quyền cai trị của họ; trừ khi được Quốc hội cho phép, điều này không thể được thay đổi." Tuy nhiên, vào năm 1946, Tôn Khoa, con trai Tôn Dật Tiên và là Viện trưởng Viện Hành pháp (Thủ tướng) Trung Hoa Dân Quốc, đã báo cáo với Quốc hội rằng "có hai kiểu thay đổi lãnh thổ: 1. từ bỏ lãnh thổ và 2. sáp nhập lãnh thổ mới. Ví dụ cho trường hợp đầu tiên là sự độc lập của Mông Cổ, và trường hợp thứ hai sẽ là việc giành lại Đài Loan. Cả hai đều là những ví dụ về sự thay đổi lãnh thổ." Nhật Bản đã từ bỏ mọi quyền đối với Đài Loan theo Hiệp ước San Francisco năm 1951 và Hiệp ước Đài Bắc năm 1952 mà không có bên nhận lại rõ ràng. Trong khi Trung Hoa Dân Quốc liên tục cầm quyền ở Đài Loan sau khi chính phủ cầm quyền Đài Loan theo Chỉ thị chung số 1 chấp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản, chưa từng có một cuộc họp nào của Quốc hội Trung Hoa Dân Quốc để tiến hành thay đổi lãnh thổ theo Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc, dù các Điều khoản sửa đổi của Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc đã đề cập tới Tỉnh Đài Loan. Vì thế, nhiều người ủng hộ Đài Loan độc lập đã chỉ ra rằng Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc trên thực tế ngăn cản chính họ cai trị Đài Loan một cách hợp pháp. Quốc hội, cơ quan hiện không còn tồn tại nữa, đã đưa ra các sửa đổi hiến pháp trao cho nhân dân "Vùng tự do Trung Hoa Dân Quốc", gồm cách lãnh thổ họ kiểm soát, đặc quyền thi hành chủ quyền của nhà nước Cộng hoà thông qua các cuộc bầu cử Tổng thống và toàn bộ ngành lập pháp cũng như thông qua các cuộc bầu cử để phê chuẩn những sửa đổi đối với Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc. Cũng như vậy, Chương I, Điều 2 Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc nói rằng "Chủ quyền của Trung Hoa Dân Quốc sẽ thuộc về toàn thể công dân." Đối với một số người, điều này có nghĩa rằng hiến pháp hoàn toàn chấp nhận rằng chủ quyền của Trung Hoa Dân Quốc bị giới hạn ở những vùng mà họ kiểm soát thậm chí nếu không có những sửa đổi hiến pháp quy định rõ ràng biên giới Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1999, Tổng thống Lý Đăng Huy từng đề xuất lý thuyết hai nhà nước (hay lý thuyết quan hệ nhà nước – nhà nước, ) mà cả Trung Hoa Dân Quốc và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đều được coi là những nhà nước riêng biệt với quan hệ ngoại giao, văn hoá, lịch sử đặc biệt, và lý thuyết này đã được ủng hộ rộng rãi bên trong Đài Loan. Tuy nhiên, lý thuyết này khiến Cộng hoà nhân dân Trung Hoa phản ứng giận dữ, họ tin rằng Lý Đăng Huy ngầm ủng hộ Đài Loan độc lập. Lý thuyết của Lý Đăng Huy cuối cùng đã không được xúc tiến tiếp. Tổng thống kế nhiệm Trần Thủy Biển thì tin rằng "Đài Loan là Trung Hoa Dân Quốc." Điều này đã được đưa ra trong Lý thuyết bốn giai đoạn của Trung Hoa Dân Quốc. Tuy nhiên, ông đã thận trọng giữ im lặng về vấn đề Đài Loan có phải hay không một phần của Trung Quốc và ý nghĩa của thuật ngữ Trung Hoa. Các giấy tờ của chính phủ đã ngụ ý rằng Đài Loan và Trung Hoa Dân Quốc, Trung Quốc và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là đồng nghĩa. Trần Thủy Biển cũng đã từ chối tán thành Nguyên tắc Một Trung Quốc mà Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa yêu cầu, coi đó là điều kiện tiên quyết để bắt đầu đàm phán. Vì thế những nỗ lực tái khởi động các vòng đàm phán bán chính thức thông qua các công thức chiểu theo "cuộc trưng cầu dân ý 1992" hay "tinh thần 1992" đã không mang lại thành công. Sau khi trở thành chủ tịch Đảng tiến bộ dân chủ tháng 7 năm 2002, Trần Thủy Biển cho thấy xu hướng ngả theo lý thuyết hai nhà nước vào đầu tháng 8, 2002, ông bình luận rằng Đài Loan có thể "đi trên con đường riêng của Đài Loan" và rằng "rõ ràng rằng hai bên bờ eo biển là các quốc gia riêng biệt." Những lời bình luận đó đã bị các đảng đối lập ở Đài Loan chỉ trích mạnh mẽ. Lập trường của những người ủng hộ Đài Loan độc lập cho rằng Đài Loan không phải là một phần của Trung Quốc. Cho tới tận giữa thập kỷ 1990, những người ủng hộ Đài Loan độc lập phản đối Trung Hoa Dân Quốc và ủng hộ việc thành lập một nước Trung Hoa Dân Quốc độc lập. Từ giữa thập niên 1990, một sự thoả hiệp giữa đa số những người ủng hộ Đài Loan độc lập và Thống nhất Trung Quốc đã đạt được về việc Đài Loan tiếp tục ủng hộ sự tồn tại của Trung Hoa Dân Quốc nhưng chỉ là một chính phủ quản lý duy nhất Đài Loan và các hòn đảo của họ. Liên đoàn đoàn kết Đài Loan, đảng nhỏ bên trong Liên minh xanh, phản đối sự thoả hiệp này. Lập trường của những người ủng hộ Thống nhất Trung Quốc ở Đài Loan cho rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc, nhưng Cộng hoà nhân dân Trung Hoa không phải là chính phủ hợp pháp duy nhất tại Trung Quốc, và rằng sự thống nhất chỉ có thể xảy ra dưới chế độ Trung Hoa Dân Quốc. Bên trong Đài Loan, sự ủng hộ Đài Loan độc lập và thống nhất Trung Quốc tồn tại như một phần của chính trị với sự quan tâm của đa số tầng lớp trung lưu. Theo truyền thống, thống nhất thường được những "người lục địa" (con cháu dân lục địa tới đây sau nội chiến) ủng hộ, trong khi những người ủng hộ độc lập là dân "Đài Loan bản xứ" (họ đã sống ở hòn đảo này trước khi xảy ra cuộc nội chiến). Tuy nhiên, qua 70 năm thì cả hai nhóm hiện nay đã không còn phân biệt rõ ràng như trước nữa. Quan điểm của các nước và các tổ chức quốc tế khác. Vì mục tiêu chống Cộng buổi đầu Chiến tranh Lạnh, Trung Hoa Dân Quốc ban đầu được Liên Hợp Quốc và đa số quốc gia phương Tây công nhận là chính phủ hợp pháp duy nhất của cả Trung Hoa lục địa và Đài Loan. Nghị quyết 505 Đại hội đồng Liên hiệp quốc được thông qua ngày 1 tháng 2 năm 1952 đã coi những người Cộng sản Trung Quốc là những kẻ phiến loạn chống Trung Hoa Dân Quốc. Tuy nhiên, trong thập niên 1970 một sự thay đổi lớn trong chính sách ngoại giao khiến mọi quyền lợi chuyển từ tay Trung Hoa Dân Quốc sang Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ngày 25 tháng 10 năm 1971, Nghị quyết 2758 được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua, theo đó trục xuất Trung Hoa Dân Quốc và thay thế ghế của Trung Quốc tại Hội đồng bảo an (và mọi tổ chức Liên hiệp quốc khác) bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nghị quyết tuyên bố "rằng những đại diện của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là những đại diện hợp pháp duy nhất của Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc." Nhiều nỗ lực của Trung Hoa Dân Quốc nhằm tái gia nhập Liên Hợp Quốc, không phải với tư cách đại diện cho toàn bộ Trung Quốc nữa, mà chỉ là đại diện cho nhân dân tại các vùng lãnh thổ do họ quản lý vẫn chưa được hội đồng thông qua, chủ yếu vì áp lực ngoại giao của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cho rằng Nghị quyết 2758 đã giải quyết vấn đề này. ("Xem Trung Quốc và Liên hiệp quốc.") Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ chối giữ quan hệ ngoại giao với bất kỳ quốc gia nào công nhận Trung Hoa Dân Quốc, nhưng không từ chối trong trường hợp quốc gia đó chỉ giữ quan hệ kinh tế, văn hóa và các trao đổi khác không phải là quan hệ ngoại giao chính thức. Vì thế, nhiều nước có quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh vẫn giữ các văn phòng ngoại giao không chính thức tại Đài Bắc. Ví dụ, Hoa Kỳ giữ Viện Mỹ tại Đài Loan. Tương tự, chính phủ Đài Loan thiết lập các văn phòng kiểu ngoại giao tại đa số các quốc gia dưới những tên gọi khác nhau, thông thường nhất là Văn phòng Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc. Hoa Kỳ, Canada, Vương quốc Anh và Nhật Bản công nhận một nhà nước Trung Hoa và rằng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là chính phủ hợp pháp duy nhất của Trung Quốc. Tuy nhiên, Hoa Kỳ và Nhật Bản "thừa nhận" chứ không phải "công nhận" lập trường của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc. Đối với Canada và Anh Quốc, văn bản thỏa thuận giữa hai bên ghi rõ rằng hai bên "lưu ý" lập trường của Bắc Kinh, nhưng từ "ủng hộ" không được sử dụng. Lập trường của chính phủ Vương quốc Anh đã nhiều lần khẳng định rằng "tương lai của Đài Loan phải được quyết định một cách hòa bình bởi nhân dân ở hai phía eo biển." Dù các phương tiện truyền thông tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố rằng Hoa Kỳ phản đối sự độc lập của Đài Loan, Hoa Kỳ đã đề cập tới sự khác nhau tế nhị giữa "phản đối" và "không ủng hộ". Trên thực tế, đa số những lời tuyên bố do Washington đưa ra đều nói rằng họ "không ủng hộ nền độc lập của Đài Loan", chứ không phải "phản đối". Vì thế, Hoa Kỳ hiện không đưa ra tuyên bố lập trường chính trị, trừ với một điều kiện tiên quyết rằng phải có một giải pháp cho sự khác biệt giữa hai bên eo biển Đài Loan. Tất cả tình trạng mập mờ như vậy khiến Hoa Kỳ cuối cùng luôn phải đi trên một con đường hẹp với những lưu ý tới cả hai bên tranh chấp. Trung Hoa Dân Quốc vẫn giữ quan hệ ngoại giao chính thức với 13 quốc gia, chủ yếu tại Trung Mỹ, Caribe, châu Phi và châu Đại Dương. Đặc biệt, Tòa Thánh cũng công nhận Trung Hoa Dân Quốc, một quốc gia không có đa số tín đồ Thiên chúa/Cơ đốc, chủ yếu để phản đối sự đàn áp Cơ đốc giáo trong lục địa. Vatican đã nhiều lần nhắc lại ý định ngừng quan hệ với Đài Loan ngay khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tăng thêm các quyền tự do tôn giáo. Ngày 11 tháng 10 năm 1989, Belize lại chuyển sang tiếp xúc ngoại giao với Đài Loan. Trong thập kỷ 1990, đã có một cuộc chiến tranh ngoại giao dữ dội trong đó Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc cùng nỗ lực lôi kéo các nước nhỏ thiết lập quan hệ ngoại giao với mình. Ngày 20 tháng 11 năm 1998, Quần đảo Marshall lại chuyển sang công nhận Đài Loan. Tuy nhiên, tới năm 2001, nỗ lực này dường như đã chấm dứt khi sức mạnh kinh tế ngày càng tăng của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cộng với mối nghi ngờ tại Đài Loan về việc hành động đó có thực sự mang lại lợi ích cho họ. Ngày 14 tháng 5 năm 2005, Nauru lại chuyển sang tiếp xúc ngoại giao với Đài Loan. Tháng 3 năm 2004, Dominica chuyển sang công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để đổi lấy một khoản viện trợ. Tuy nhiên, cuối năm 2004, Vanuatu đã thay đổi lập trường từ Bắc Kinh sang Đài Bắc trong một thời gian ngắn, dẫn tới việc Thủ tướng nước này bị mất chức và quay trở lại công nhận Bắc Kinh. Ngày 20 tháng 1 năm 2005, Grenada chuyển quan hệ ngoại giao từ Đài Bắc sang Bắc Kinh, đổi lại hàng triệu đô la viện trợ (US$1.500 cho mỗi người dân Grenada) đã được cung cấp. Ngày 26 tháng 10 năm 2005, Senegal cũng ngừng quan hệ ngoại giao với Trung Hoa Dân Quốc và thiết lập các tiếp xúc ngoại giao với Bắc Kinh. Ngày 5 tháng 8 năm 2006, Tchad chấm dứt quan hệ ngoại giao với Đài Bắc để chuyển sang công nhận Bắc Kinh. Ngày 26 tháng 4 năm 2007, Saint Lucia lại chuyển sang quan hệ ngoại giao với chính quyền Đài Bắc. Ngày 5 tháng 5 năm 2007, Costa Rica ngừng quan hệ ngoại giao với Đài Loan và thiết lập quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh. Tháng 1 năm 2008, Malawi chuyển sang công nhận Trung Quốc đại lục. Ngày 4 tháng 11 năm 2013, Gambia tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Bắc và chuyển sang quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh. Tháng 12 năm 2016, São Tomé và Príncipe chuyển sang quan hệ ngoại giao từ Đài Loan đến Trung Quốc đại lục. Ngày 13 tháng 6 năm 2017, thêm một quốc gia đã tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan là Panama. Ngày 1 tháng 5 năm 2018, Cộng hòa Dominica chấm dứt quan hệ ngoại giao với Đài Bắc và chuyển sang quan hệ ngoại giao với Trung Quốc đại lục. Ngày 25 tháng 5 năm 2018, Burkina Faso cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan và chuyển sang thiết lập quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh. Ngày 21 tháng 8 năm 2018, El Salvador tuyên bố ngừng quan hệ ngoại giao với Đài Bắc và chuyển sang thiết lập quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh. Ngày 20 tháng 9 năm 2019, Kiribati tuyên bố chấm dứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan và chuyển sang quan hệ ngoại giao với Trung Quốc đại lục. Ngày 9 tháng 12 năm 2021, Nicaragua tuyên bố chấm dứt quan hệ ngoại giao với Đài Bắc và chuyển sang thiết lập quan hệ ngoại với Bắc Kinh. Ngày 25 tháng 3 năm 2023, Honduras chấm dứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan và chuyển sang tiếp xúc ngoại giao với Trung Quốc đại lục. Hiện tại, 13 nước đang giữ quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Hoa Dân Quốc gồm: Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Quần đảo Marshall (1998) Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Saint Kitts và Nevis (1983) Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Saint Lucia (1984–1997, 2007) Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Saint Vincent và Grenadines (1981) Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Thành Vatican (Tòa Thánh) (1942) Dưới áp lực liên tiếp của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nhằm ngăn chặn bất kỳ một sự đại diện có thể mang tính chất quốc gia nào của Trung Hoa Dân Quốc, các tổ chức quốc tế đã đưa ra các chính sách khác nhau về vấn đề tham gia của Đài Loan. Trong trường hợp (Liên hiệp quốc và Tổ chức Y tế Thế giới) nơi hầu như toàn bộ các quốc gia thành viên đều là các quốc gia có chủ quyền, Trung Hoa Dân Quốc đã bị thay thế toàn bộ, nhưng trong những trường hợp khác, như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Hội đồng Olympic Quốc tế (IOC) Trung Hoa Dân Quốc thường tham gia với cái tên: "Trung Hoa Đài Bắc" như trong trường hợp APEC và IOC, và "Lãnh thổ Thuế quan riêng biệt Đài Loan, Bành Hồ, Kim Môn, và Mã Tổ" (thường gọi tắt là Trung Hoa Đài Bắc") trong trường hợp WTO. Vấn đề tên gọi của Đài Loan đã được nghiên cứu kỹ trong giải 2006 World Baseball Classic. Những người tổ chức dự định gọi họ là Đài Loan, nhưng dưới sức ép của Trung Quốc đã buộc phải đổi thành "Trung Hoa Đài Bắc". Người Đài Loan phản đối quyết định này, tuyên bố rằng WBC không phải một sự kiện của Hội đồng Olympic Quốc tế, nhưng phản đối không mang lại kết quả. Bản hướng dẫn ISO 3166 về tên gọi các quốc gia và vùng lãnh thổ cấp mã riêng biệt cho Đài Loan (TW), ngoài mã của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CN), nhưng liệt kê Đài Đoan là "Đài Loan, tỉnh của Trung Quốc" dựa theo cái tên do Liên hiệp quốc sử dụng với sức ép từ phía Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trong , Đài Loan cũng được đánh mã CN-71 thuộc Trung Quốc, vì thế khiến Đài Loan thành một phần của Trung Quốc trong ISO 3166-1 và ISO 3166-2. Tên gọi của Trung Hoa Dân Quốc và Đài Loan vẫn là một vấn đề thường gây tranh cãi tại các tổ chức phi chính phủ. Một tổ chức đang gặp phải sự đối đầu kịch liệt trong vấn đề này là Lions Club. Sơ suất khi phát ngôn. Nhiều nhà lãnh đạo chính trị, dù ủng hộ một hình thức "Chính sách Một Trung Hoa" nào đó, đã lỡ lời coi Đài Loan là một quốc gia hoặc coi là Nhà nước Trung Hoa Dân Quốc. Các Tổng thống Ronald Reagan và George W. Bush trong thời gian nắm quyền từng coi Đài Loan là một quốc gia. Dù gần cuối nhiệm kỳ Ngoại trưởng, Colin Powell đã không có ý nói rằng Đài Loan là một quốc gia, nhưng đã dùng từ "Republic of China" (Trung Hoa Dân Quốc) hai lần trong một lần tường trình trước Ủy ban Quan hệ Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ ngày 9 tháng 3 năm 2001. Tại Trung Quốc, trong diễn văn cuối cùng trước Đại hội Nhân dân Toàn Quốc, Thủ tướng Chu Dung Cơ đã sơ suất coi Đại lục Trung Quốc và Đài Loan là hai quốc gia riêng biệt. Cũng có một số nhân vật Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã không chính thức tuyên bố Đài Loan là một quốc gia . Gần đây hơn cả, Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld đã phát biểu trên một tờ báo tiếng Trung tại California tháng 7 năm 2005 rằng Đài Loan là "một quốc gia có chủ quyền". Tuy nhiên, Trung Quốc chỉ phát hiện ra điều đó ba tháng sau khi lời tuyên bố được đưa ra. Trong một bài diễn văn gây tranh cãi ngày 4 tháng 2 năm 2006, Ngoại trưởng Nhật Taro Aso đã gọi Đài Loan là một quốc gia có mức độ giáo dục rất cao nhờ ở thời kỳ thuộc địa Nhật Bản trước đó trên hòn đảo này. Một tháng sau, ông đã nói với một ủy ban nghị viện Nhật rằng "nền dân chủ của Đài Loan đã rất thuần thục và những quy tắc kinh tế tự do đã ngấm rất sâu, vì thế đó là một đất nước của pháp luật. Theo nhiều cách, đó là một đất nước có cùng nhiều giá trị với Nhật Bản." Cùng lúc ấy, ông chấp nhận rằng "Tôi biết sẽ có vấn đề khi gọi Đài Loan là một quốc gia". Sau này, Bộ ngoại giao Nhật Bản đã tìm cách diễn đạt những lời lẽ trên theo cách khác. Những giải pháp quân sự và can thiệp có thể xảy ra. Cho tới năm 1979, cả hai bên đều có ý định giải quyết vấn đề bằng quân sự. Những cuộc va chạm không thường xuyên đã xảy ra trong suốt thập niên 1950 và 1960, với những lần leo thang dẫn tới Cuộc khủng hoảng Eo biển Đài Loan lần thứ nhất và và lần thứ hai. Năm 1979, khi Hoa Kỳ thay đổi chính sách đối ngoại, quay sang ủng hộ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa Dân Quốc mất đi đồng minh cần thiết để "tái chiếm lục địa." Trong lúc ấy, mong ước được cộng đồng quốc tế ủng hộ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa khiến họ phải đưa ra chính sách thống nhất hòa bình theo cái sau này được gọi là "một đất nước, hai chế độ," chứ không phải "giải phóng Đài Loan" xây dựng xã hội chủ nghĩa (nói cách khác, biến Đài Loan thành một Vùng hành chính đặc biệt). Điều kiện của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về can thiệp quân sự. Bất kể như thế nào, chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ ngay lập tức tiến hành chiến tranh với Đài Loan. Với các điều kiện: Điều kiện thứ ba đã đặc biệt gây nên sự lo ngại tại Đài Loan bởi thuật ngữ "một cách vô hạn định" có thể được diễn giải theo nhiều nghĩa. Một số bên coi nó mang nghĩa: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa muốn giữ nguyên trạng và sự mập mờ không được họ chấp nhận, dù nước này đã nhiều lần nói rằng không hề có biểu thời gian xác định cho việc thống nhất. Lo ngại về một tuyên bố chính thức về nền độc lập "theo pháp lý" của Đài Loan là động cơ chính thúc đẩy việc tăng cường quân sự giữa Đài Loan và Trung Hoa lục địa. Một số người tin rằng Đài Loan vẫn nỗ lực tuyên bố độc lập trong thời gian Thế vận hội Mùa hè 2008 tại Bắc Kinh. Những người khác chỉ ra rằng bộ máy chính quyền Mỹ hiện nay đã công khai tuyên bố muốn giữ nguyên trạng, họ sẽ không giúp đỡ Đài Loan trong trường hợp hòn đảo này đơn phương tuyên bố độc lập. Theo tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Trần Thủy Biển, Trung Quốc đã tăng tốc triển khai tên lửa chống lại Đài Loan tới con số 120 mỗi năm, khiến tổng kho tên lửa đạn đạo của họ lên tới 706 chiếc, với khả năng trang bị đầu đạn hạt nhân và mục tiêu chính là Đài Loan. Những tên lửa này được cho là có CEP (Giới hạn lỗi) hơn 100 mét, vì thế sẽ không gây thiệt hại lớn trong hoàn cảnh một cuộc chiến tranh thông thường. Một số người tin rằng việc triển khai chúng chỉ là mưu kế chính trị của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nhằm tăng áp lực lên Đài Loan, buộc nước này phải từ bỏ những nỗ lực nhằm đơn phương tuyên bố độc lập, ít nhất cũng trong thời điểm hiện tại. Cân bằng quyền lực. Khả năng chiến tranh, sự gần gũi địa lý giữa Trung Hoa Dân Quốc-kiểm soát Đài Loan và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa-kiểm soát lục địa Trung Quốc, và kết quả của những cuộc va chạm cứ vài năm lại xảy ra một lần, khiến cho đây trở thành một trong những địa điểm tập trung sự chú ý quốc tế tại Thái Bình Dương. Cả hai bên đã lựa chọn một sự tập trung lực lượng hải quân hùng hậu. Tuy nhiên, các chiến lược hải quân giữa hai phía đã có sự thay đổi lớn trong thập kỷ 1980 và 1990, khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tiếp cận vấn đề theo cách mạnh mẽ hơn khi xây dựng các sân bay, còn Đài Loan chấp nhận tư thế phòng thủ với việc xây dựng và mua nhiều phi đội tàu khu trục và tên lửa. Không quân Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được cho là lớn và mạnh mẽ, dù nó vẫn chưa đủ khả năng kiểm soát không phận Đài Loan trong trường hợp xảy ra xung đột. Không quân Trung Hoa Dân Quốc dựa chủ yếu vào các máy bay chiến đấu thế hệ thứ hai của họ. Trung Hoa Dân Quốc sở hữu khoảng 150 chiếc F-16 do Hoa Kỳ chế tạo, gần 60 chiếc Mirage 2000-5 của Pháp và gần 130 chiếc IDF (Máy bay chiến đấu phòng vệ trong nước) do họ tự phát triển. Tất cả các máy bay phản lực chiến đấu của Đài Loan đều có thể tham gia các trận đánh kiểu BVR (ngoài tầm nhìn) bằng các tên lửa BVR, trong khi chỉ một số ít máy bay chiến đấu của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có cùng tính năng như vậy. Năm 2003, Trung Hoa Dân Quốc đã mua bốn tàu khu trục tên lửa - kiểu USS "Kidd" cũ và ba tàu hộ tống, và tỏ vẻ rất quan tâm tới lớp "Arleigh Burke". Nhưng với sự phát triển của hải quân và không quân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, một số người nghi ngờ khả năng Trung Hoa Dân Quốc có thể đứng vững trước một cuộc tấn công quyết định từ phía lục địa Trung Hoa trong tương lai. Điều này cũng dẫn tới một số quan điểm rằng nền độc lập của Đài Loan, nếu nó được tuyên bố, cần phải được thực hiện càng sớm càng tốt khi Trung Hoa Dân Quốc vẫn còn có khả năng chống chọi với một cuộc xung đột quân sự toàn diện. Trong ba thập kỷ qua, những ước tính về thời gian Đài Loan đứng vững trước một cuộc tấn công tổng lực từ phía bên kia eo biển mà không có sự trợ giúp từ bên ngoài đã giảm từ ba tháng xuống chỉ còn sáu ngày. Và cũng cần lưu ý rằng đa số những ước tính về bất cứ một sự hỗ trợ quân sự ở mức cao nhất nào từ phía Hoa Kỳ cũng cần ít nhất hai tuần chuẩn bị, những điều kiện hiện tại không hề có lợi cho Đài Loan. Nhiều báo cáo do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa Dân Quốc và quân đội Mỹ đưa ra cho thấy những đánh giá hoàn toàn trái ngược về khả năng phòng thủ Đài Loan. Tất nhiên, khả năng chiến tranh không phải được đặt ra một cách tách biệt. Năm 1979, Nghị viện Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật Quan hệ Đài Loan, một đạo luật thường được diễn giải như một sự bảo đảm bảo vệ Đài Loan từ phía Hoa Kỳ trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công từ phía lục địa (Đạo luật được áp dụng cho Đài Loan và Bành Hồ, nhưng không áp dụng cho Kim Môn và Mã Tổ). Hoa Kỳ vẫn duy trì một hạm đội thường trực lớn nhất thế giới tại Vùng châu Á Thái Bình Dương gần Đài Loan. Hạm Đội 7, chủ yếu hoạt động từ các căn cứ tại Nhật Bản, là một lực lượng quân sự mạnh được xây dựng xung quanh chiếc tàu sân bay triển khai thường trực ngoài lãnh thổ duy nhất của thế giới, chiếc USS "Kitty Hawk". Dù mục đích theo tuyên bố của hạm đội không phải là để bảo vệ Đài Loan, nhưng từ những hành động trong quá khứ của hạm đội này có thể thấy đó cũng là một trong những lý do giải thích sự hiện diện của nó trong vùng biển. Từ năm 2000, Nhật Bản đã sửa đổi các nghĩa vụ phòng vệ với Hoa Kỳ và cũng bắt đầu chương trình tái vũ trang, một phần để phản ứng trước lo ngại rằng Đài Loan sẽ bị tấn công. Một số nhà phân tích tin rằng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có thể tung ra những cuộc tấn công thăm dò vào các căn cứ quân sự tại Nhật Bản để xác định liệu các lực lượng Hoa Kỳ và Nhật Bản có muốn giúp Đài Loan hay không. Các nhà hoạch định chính sách Nhật Bản cũng coi nền độc lập của Đài Loan là điều sống còn, không chỉ bởi vì Đài Loan kiểm soát nhiều con đường hàng hải đông đúc, mà việc Trung Quốc chiếm giữ được nó sẽ khiến Nhật Bản rơi vào tình thế bất lợi hơn. Về mặt lịch sử, trong Chiến tranh thế giới thứ hai, dù Hoa Kỳ đã chiếm giữ Philippines, một mục tiêu khác chính là Đài Loan (khi ấy còn được gọi là Formosa) từ đó có thể tung ra một cuộc tấn công trực tiếp vào Nhật Bản. Tuy nhiên, những lời chỉ trích cho rằng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ không bao giờ muốn trao cho Hoa Kỳ và Nhật Bản một cơ hội như vậy để họ có cớ can thiệp. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ trong một báo cáo năm 2011 cho biết rằng nhiệm vụ chính của quân đội CHND Trung Hoa là để chuẩn bị cho một cuộc xung đột quân sự có thể xảy ra với Đài Loan, bao gồm cả hỗ trợ quân sự của Hoa Kỳ. Mặc dù nguy cơ xảy ra khủng hoảng trong ngắn hạn là thấp, nhưng trong trường hợp không có những diễn biến chính trị mới, Đài Loan có thể sẽ chiếm ưu thế trong việc lập kế hoạch và hiện đại hóa quân đội trong tương lai. Tuy nhiên, các ưu tiên khác cũng ngày càng trở nên nổi bật và có thể thực hiện được do nguồn lực quân sự ngày càng tăng. Nhiều hệ thống quân sự tiên tiến nhất của Trung Quốc đại lục được đóng quân ở các khu vực đối diện với Đài Loan. Việc hiện đại hóa quân sự nhanh chóng đang liên tục thay đổi cán cân sức mạnh quân sự nghiêng về phía Trung Quốc đại lục. Một báo cáo năm 2008 của RAND Corporation phân tích một cuộc tấn công trên lý thuyết vào năm 2020 của Trung Quốc đại lục nhằm vào Đài Loan cho thấy rằng Mỹ không có khả năng bảo vệ Đài Loan. Sự phát triển của tên lửa hành trình có thể cho phép Trung Quốc phá hủy một phần hoặc hoàn toàn hoặc làm cho các tàu sân bay và căn cứ của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương tê liệt. Các radar mới của Trung Quốc có thể sẽ phát hiện ra máy bay tàng hình của Mỹ và Trung Quốc đang có được những máy bay tàng hình hiệu quả hơn. Độ tin cậy của các tên lửa tầm xa của Hoa Kỳ như một phương tiện để đạt được ưu thế trên không là một vấn đề đáng nghi ngờ và phần lớn chưa được chứng minh. Năm 2021, Đô đốc Phillip Davidson cho biết trong một cuộc điều trần của Ủy ban Dịch vụ Vũ trang Thượng viện rằng Trung Quốc có thể thực hiện các hành động quân sự đối với Đài Loan vào một thời điểm nào đó trong vòng 6 năm tới. Một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc sau đó đã trả lời rằng Davidson đang cố "thổi phồng lên mối đe dọa quân sự của Trung Quốc." Khủng hoảng Eo biển Đài Loan lần thứ ba. Năm 1996, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bắt đầu tiến hành các cuộc tập trận quân sự gần Đài Loan, và phóng nhiều tên lửa đạn đạo qua hòn đảo này. Sự đe dọa được đưa ra trước khả năng Tổng thống Lý Đăng Huy, người đã đưa ra lý thuyết "hai nhà nước" gây nhiều tranh cãi cho các quan hệ xuyên eo biển, được tái đắc cử. Hoa Kỳ, ở thời cầm quyền của tổng thống Clinton, đã gửi hai nhóm tàu sân bay chiến đấu tới vùng này, cho chúng đi vào Eo biển Đài Loan. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, không thể theo dõi hoạt động của các con tàu, và có lẽ cũng không muốn leo thang xung đột, nhanh chóng xuống thang. Sự kiện ít gây ảnh hưởng tới kết quả cuộc bầu cử, bởi vì không một đối thủ nào của Lý Đăng Huy đủ mạnh để đánh bại ông ta, nhưng đa số người tin rằng, những hành động hiếu chiến của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đã không hề đe dọa được người dân Đài Loan mà còn tạo lợi thế cho Lý Đăng Huy để ông được tới hơn 50% số phiếu. Khả năng xảy ra chiến tranh tại Eo biển Đài Loan, dù khá thấp trong tương lai gần, vẫn buộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Trung Hoa Dân Quốc và Hoa Kỳ duy trì cảnh giác và luôn đề phòng lẫn nhau. Mục tiêu của cả ba bên tại thời điểm này là duy trì nguyên trạng. Những phát triển gần đây và triển vọng tương lai. Dù tình hình còn mù mờ, đa số các nhà quan sát tin rằng nó sẽ ổn định khi có đầy đủ sự hiểu biết lẫn nhau và sự đồng thuận của các quý ông nhằm giữ mọi điều không bùng phát thành một cuộc chiến. Sự tranh cãi hiện nay là về thuật ngữ "Một Trung Quốc", như Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa yêu cầu Trung Hoa Dân Quốc chấp nhận trước khi có bất kỳ một cuộc đàm phán nào. Dù Đảng Tiến bộ Dân chủ đã giảm bớt ủng hộ dành cho chính sách Đài Loan độc lập, sự ủng hộ bên trong đảng vẫn còn chưa đủ để Trần Thủy Biển đồng ý với Chính sách Một Trung Quốc. Trái lại, Quốc Dân Đảng (KMT) và Đảng Thân Dân (PFP) đối lập dường như muốn có một số thay đổi với Chính sách Một Trung Quốc, và các nhà quan sát tin rằng lập trường của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có mục đích loại bỏ Trần Thủy Biển trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2004 với hy vọng rằng một nhân vật ủng hộ tích cực hơn cho việc Thống nhất Trung Quốc sẽ lên nắm quyền. Một phần để đối đầu với chính sách này, Trần Thủy Biển đã thông báo vào tháng 7 năm 2002 rằng nếu Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không đáp ứng lại thiện chí của Đài Loan, Đài Loan có thể "đi trên con đườ" Với việc Trần Thủy Biển tái đắc cử năm 2004, hy vọng của Bắc Kinh về một giải pháp nhanh chóng hơn đã tan biến, dù chúng dường như một lần nữa lại có được hy vọng khi liên minh Toàn Lam chiếm đa số phiếu trong cuộc bầu cử lập pháp năm 2004. Tuy nhiên, phản ứng của dân chúng Đài Loan đối với luật chống ly khai được Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thông qua năm 2005 không hề thuận lợi. Sau hai chuyến thăm chớp nhoáng của các lãnh đạo KMT và PFP tới Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sự cân bằng ý kiến dân chúng dường như mang lại nhiều hy vọng, với việc Liên minh Toàn Lục chiếm đa số phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 2005, nhưng Liên minh Toàn Lam lại có được một thắng lợi áp đảo trong cuộc bầu cử thành phố năm 2005. Ý kiến công chúng. Ý kiến công chúng Đài Loan về quan hệ với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa rất khó ước định, bởi vì kết quả của các cuộc trưng cầu thường có xu hướng rất nhạy cảm về việc các vấn đề được diễn đạt như thế nào và các ý kiến được đưa ra thế nào, và có một xu hướng từ tất cả các đảng chính trị là diễn đạt các kết quả đó theo cách ủng hộ quan điểm của họ. Đa số đồng ý rằng chính sách một đất nước, hai chế độ của Bắc Kinh là có thể chấp nhận được khi nó được áp đặt một phía xuống Đài Loan; tuy nhiên, ý kiến nhân dân về sự tự định đoạt quy chế của Đài Loan còn phức tạp hơn. Khi được đưa ra một lựa chọn giữa ba luồng ý kiến về độc lập, thống nhất, hay nguyên trạng, các kết quả thường thấy từ những cuộc khảo sát gần đây cho thấy 10% lựa chọn độc lập, 55% ủng hộ thống nhất và khoảng 35% thích giữ nguyên trạng. Tuy nhiên, có khoảng 70 tới 80% ủng hộ quan điểm rằng Đài Loan là một quốc gia độc lập dưới cái tên Trung Hoa Dân Quốc với một mối quan hệ đặc biệt với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, như cựu Tổng thống Lý Đăng Huy từng đề xuất. Sự phụ thuộc của các kết quả khảo sát vào cách diễn đạt được thể hiện bởi các kết quả từ một cuộc khảo sát gần đây. 72% số người được hỏi nói rằng họ sẽ không chiến đấu để chống lại một cuộc sáp nhập từ Đại lục. Tuy nhiên, khi câu hỏi được đổi rằng liệu họ sẽ chiến đấu với Trung Quốc nếu Đài Loan tuyên bố độc lập, số lượng câu trả lời khẳng định giảm xuống chỉ còn 18% . Số lượng người theo chủ nghĩa thực dụng - những người sẽ lựa chọn thống nhất hay độc lập dựa trên tình hình thực tế- ngày càng gia tăng. Một cuộc khảo sát gần đây vào tháng 12 năm 2004 cho thấy, nếu có một cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề độc lập, thống nhất hay trở thành một bang của Hoa Kỳ, 41% người Đài Loan ủng hộ thống nhất với Đại lục, 24% lựa chọn phản đối và 5% muốn trở thành bang thứ 51 của Mỹ. 80% dân số đồng ý tưởng đề xuất thống nhất "Một Trung Quốc, hai chế độ" của Trung Quốc sau khi Luật chống li khai đã được thông qua. Thay đổi vị thế Đài Loan có chú ý đến hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc. Chiếu theo Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc, hiện đang được các đảng chính trị lớn như KMT và DPP tôn trọng và công nhận, việc thay đổi tình trạng chính phủ của Trung Hoa Dân Quốc hay công bố rõ ràng vị thế chính trị Đài Loan chỉ xảy ra khi thay đổi hiến pháp. Nói cách khác, nếu những người ủng hộ thống nhất muốn thống nhất Đài Loan với lục địa, theo cách đó sẽ xóa bỏ hoàn toàn chủ quyền của Trung Hoa Dân Quốc, hay nếu những người ủng hộ độc lập muốn xóa bỏ Trung Hoa Dân Quốc để lập ra một nước Cộng hòa Đài Loan, họ sẽ cần phải sửa đổi hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc. Việc thông qua một sự sửa đổi như vậy đòi hỏi phải có được một sự đồng thuận chính trị chưa từng có, gồm sự đồng ý của ba phần tư số đại biểu Lập pháp viện. Sau khi thông qua luật pháp, những sự sửa đổi cần phải được phê chuẩn bởi ít nhất năm mươi phần trăm số cử tri Trung Hoa Dân Quốc, "bất luận" số lượng người đi bầu. Với những sự khó khăn như vậy trong việc sửa đổi hiến pháp, cả Liên minh Toàn Lục và Liên minh Toàn Lam đều không thể đơn phương thay đổi tình thế chính trị và tình trạng pháp luật của Đài Loan theo quy định của hiến pháp. Tuy nhiên, những người cực lực ủng hộ độc lập cho Đài Loan coi hiến pháp của nước này không hợp pháp và vì thế tin rằng không có căn cứ buộc phải có những sự sửa đổi hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc để thay đổi vị thế chính trị Đài Loan. Ghi chú về thuật ngữ. Một số nguồn học thuật cũng như Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gọi tình trạng tranh cãi về vị thế chính trị Đài Loan là "Vấn đề Đài Loan", được dịch theo tiếng Trung Quốc thành 臺灣問題/台湾问题 (Đài Loan vấn đề). Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc không thích thuật ngữ đó, nhấn mạnh rằng điều này cần phải được gọi là "Vấn đề Lục địa" bởi vì quan điểm của Trung Hoa Dân Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang tạo ra một vấn đề hay gây nên một vấn đề bên ngoài Đài Loan. Để tránh sự ủng hộ tới bất kỳ bên nào về vấn đề này, bài viết này sử dụng thuật ngữ trung lập là "Vị thế chính trị Đài Loan".
Andriy Mykolayovych Shevchenko ( ], sinh ngày 29 tháng 9 năm 1976 tại Dvirkivschyna, tỉnh Kiev) là cựu tiền đạo và huấn luyện viên bóng đá người Ukraina. Ông từng giành Quả Bóng Vàng năm 2004. Năm Shevchenko 9 tuổi thì xảy ra thảm họa Chernobyl vào tháng 4 năm 1986. Làng ông bị ảnh hưởng bởi thảm họa đó, do đó gia đình đã phải bỏ nhà, di cư đi nơi khác. Vào tuổi thiếu niên, ông từng là một tay đấm bốc tại giải thiếu niên LLWI Ukraina, nhưng sau này cảm thấy thể hình mình không phù hợp, ông quyết định chuyển sang chơi bóng đá. Sự nghiệp câu lạc bộ. Năm 1986, Shevchenko bị rớt trong phần lừa bóng khi thi vào trung tâm huấn luyện thể thao của thành phố Kiev, nhưng ông đã lọt vào mắt xanh của ban lãnh đạo Dynamo Kyiv trong thời gian chơi ở giải thiếu niên, và họ đã mời ông gia nhập câu lạc bộ trẻ. 4 năm sau, Shevchenko cùng đội U-14 Dynamo Kiev đoạt cúp Ian Rush (nay là Welsh Super Cup) tại Wales; ông là vua phá lưới của giải. Mùa bóng 1992–93, Shevchenko là cầu thủ ghi bàn nhiều nhất tại đội hình 2 của Dynamo với 12 bàn thắng, sự thể hiện đó khiến ông được đưa lên đội hình một. Ông giành danh hiệu vô địch quốc gia lần thứ 2 vào mùa bóng tiếp theo, sau khi ghi 6 bàn trong 20 trận đấu, và 1 hat-trick trong trận thắng 4–0 trước Barcelona tại Champions League 1997–98. Mùa bóng 1998–99, ông ghi được 19 bàn thắng sau 23 trận tại giải quốc nội và 6 bàn sau 10 trận tại giải châu lục. Ông kết thúc 5 mùa giải chơi cho Dynamo bằng một chức vô địch quốc gia. Năm 1999, Shevchenko chuyển đến A.C. Milan với hợp đồng chuyển nhượng kỷ lục trị giá 25 triệu USD. Ông ra mắt Serie A vào ngày 28 tháng 8 năm 1999 trong trận hòa 2–2 với Lecce. Ông trở thành cầu thủ ngoại quốc đầu tiên tại Serie A giành được chức vô địch và danh hiệu vua phá lưới ngay trong mùa bóng đầu, với 24 bàn thắng sau 32 trận. Với chức vô địch châu Âu mùa bóng 2002–03 cùng Milan, Shevchenko cũng là cầu thủ người Ukraina đầu tiên vô địch giải này. Ông ghi tổng cộng 5 bàn thắng sau 24 trận của giải, và là người sút thành công quả penalty vào lưới Juventus trong trận chung kết. Ông đoạt danh hiệu vua phá lưới lần thứ 2 trong sự nghiệp khi ghi nhiều bàn nhất tại Serie A mùa bóng 2003–04, với 24 bàn sau 32 trận đấu, giúp Milan đoạt "Scudetto" lần đầu tiên sau 4 năm. Shevchenko kết thúc 1 mùa giải thành công với phần thưởng Quả bóng vàng châu Âu 2004, trở thành cầu thủ người Ukraina thứ 3 trong lịch sử đoạt giải này (trước đó là Oleg Blokhin và Igor Belanov). Mùa bóng 2004–05, Shevchenko bị một chấn thương xương mặt và phải nghỉ nhiều trận đấu, nhưng anh cũng ghi được 17 bàn. Shevchenko đi vào lịch sử Champions League vào ngày 23 tháng 11 năm 2005, khi ghi tất cả bốn bàn thắng trong chiến thắng 4–0 của Milan trong trận đấu với Fenerbahçe, một việc mà từ trước chỉ có bốn người làm được (4 người đó là Marco van Basten, Simone Inzaghi, Dado Pršo và Ruud van Nistelrooy). Ông ghi bàn thắng cuối cùng cho Milan mùa giải ấy ở trận tứ kết với Lyon trong những phút cuối cùng, thế nhưng đội bóng đã phải dừng bước khi để thua Barcelona tại trận bán kết. Vào ngày 8 tháng 2 năm 2006, với bàn thắng vào lưới Treviso, ông trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thứ 2 trong lịch sử đội bóng "sọc đỏ đen", chỉ sau Gunnar Nordahl, Mùa hè năm 2005, chủ tịch Roman Abramovich của Chelsea tuyên bố muốn mua Shevchenko với giá 85 triệu USD (56.7 triệu Euro) và đưa Hernán Crespo sang A.C. Milan như một khoản tiền bù. Milan từ chối lời đề nghị mua tiền đạo của Chelsea, nhưng đưa Crespo về đội bóng theo bảng hợp đồng cho mượn. Mãi đến ngày 28 tháng 5 năm 2006, sau World Cup 2006, Shevchenko mới chuyển đến Chelsea với 1 hợp đồng trị giá £30.000.000, đó là số tiền chuyển nhượng cao nhất trong lịch sử Chelsea. Ông đã nhận chiếc áo số 7 như huấn luyện viên José Mourinho nói rằng ông có thể tiếp tục mặc. Shevchenko đá trận đầu cho Chelsea vào 13 tháng 8 năm 2006 tại giải FA Community Shield, ghi bàn thắng đầu tiên cho đội này trong trận thua Liverpool 2–1. Ông ghi các bàn thắng vào lưới FC Porto và Valencia tại UEFA Champions League và bàn bàn quan trọng vào lưới Tottenham Hotspur để đưa đội bóng vào trận bán kết FA Cup. Ông kết thúc mùa bóng với tổng cộng 14 bàn sau 51 trận đấu. Trong thời gian này có lúc anh đã trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thứ 2 tại đấu trường châu Âu, với 57 bàn sau Gerd Müller, nhưng vị trí này đã phải nhường lại Filippo Inzaghi trong mùa giải 2007–08. Mùa giải 2006-07 của Shevchenko kết thúc khi ông mắc phải một chấn thương vào gần cuối mùa bóng. Ông không được đấu trận bán kết Champions League với Liverpool và trận chung kết FA Cup với Manchester United trên sân Wembley mới vào ngày 19 tháng 5 năm 2007. Shevchenko ghi bàn thắng cuối cùng cho Chelsea trong trận hoà 1-1 với Bolton Wanderers vào cuối mùa bóng 2007–08. Trở lại AC Milan. Vào ngày 23 tháng 8 năm 2008, sau nhiều phen thoả thuận, Chelsea đồng ý cho Shevchenko trở lại chơi bóng ở Serie A với AC Milan. Sau khi rời Chelsea, ông phát biểu với báo giới rằng mình "vui như vừa đoạt chức vô địch châu Âu vậy". Nhưng ai ngờ rằng khi quay về Milan ông chỉ là một cái bóng khiến cho các Milano buồn rầu và tiếc nuối. Shevchenko đã đánh mất phong độ từ khi chuyển đến Chelsea. Trở về Dinamo Kiev. Trở lại với AC Milan trong hợp đồng cho mượn, ông cũng không đạt được thành công mong muốn và đến cuối mùa giải, ông lại quay về với Chelsea. Tại đây, do tiếp tục không được ra sân nhiều nên ngày 31 tháng 8 năm 2009, Sheva chọn phương án ra đi và trở lại Dynamo Kiev đá 3 năm cuối cùng của sự nghiệp.. Sự nghiệp quốc tế. Shevchenko đã chơi 111 trận và ghi 48 bàn thắng cho đội tuyển Ukraina, trong đó có kỳ World Cup 2006 và Euro 2012. Ông ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên cho mình vào tháng 5 năm 1996, trong 1 trận giao hữu với Thổ Nhĩ Kỳ. Vào tháng 3 năm 2000, người quản lý của câu lạc bộ Dynamo là Valery Lobanovsky trở thành huấn luyện viên trưởng của đội tuyển Ukraina, trong nhiệm vụ đưa đội này tham dự vòng chung kết World Cup 2002. Shevchenko ghi 10 bàn trong vòng loại, nhưng Ukraina sau đó đã bị loại tại trận đấu quyết định với đội tuyển Đức. Anh ghi một trong 5 bàn của tuyển Ukraina tại vòng loại Euro 2008. Tại Euro 2012 được đồng tổ chức tại quê nhà Ukraina (cùng với Ba Lan), anh ghi được cả hai bàn thắng trong khuôn khổ lượt trận đầu tiên của bảng D với Thụy Điển. Tuy nhiên đội tuyển Ukraina phải dừng bước ở vòng bảng sau khi để thua Pháp với tỉ số 0-2 và thua Anh với tỉ số 0-1 (trong trận đấu này, bàn thắng của Marko Dević có đi qua vạch vôi rõ ràng của đội tuyển Anh nhưng trọng tài Viktor Kassai không công nhận bàn thắng hợp lệ này). Ngày 28 tháng 7 năm 2012, Shevchenko chính thức giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế, sau khi tỏa sáng rực rỡ trong màu áo đội tuyển Ukraina tại Euro 2012 để theo đuổi con đường chính trị nhưng không thành công do ông không đủ phiếu bầu để bước chân vào nghị trường. Sau khi đội tuyển Ukraina lần thứ hai liên tiếp dừng bước ở vòng bảng Euro 2016, huấn luyện viên khi đó là ông Mykhailo Fomenko không được gia hạn hợp đồng, Shevchenko được lên thay và đưa đội tuyển lọt vào chung kết Euro 2020. Tại giải đấu đó, ông dẫn dắt đội thi đấu thành công và lần đầu lọt vào tứ kết của giải năm đó trước khi để thua 0–4 trước đội tuyển Anh (đội sau đó giành ngôi á quân). Sau giải đấu này, ông quyết định không gia hạn hợp đồng. Shevchenko có vợ là Kristen Pazik, một người mẫu Mỹ. Họ gặp gỡ và hẹn hò tại Giorgio Armani vào năm 2002, và cưới nhau vào ngày 14 tháng 3 năm 2004, lễ cưới được tổ chức bí mật trên 1 sân gôn ở thủ đô Washington. Họ thường nói chuyện với nhau bằng tiếng Ý, mặc dù Shevchenko đã từng công bố mong muốn học tiếng Anh của mình. Giới truyền thông cho rằng Pazik là tác nhân rất lớn thúc đẩy Shevchenko đồng ý chuyển sang Chelsea, thành phố mà cô ta có nhiều bạn bè, và là môi trường thuận lợi để con cái họ nói tốt tiếng Anh. Shevchenko từng phát biểu rằng việc ông chuyển đến Chelsea là "do chuyện gia đình". Ông có 2 đứa con trai, Jordan (tên lấy từ huyền thoại bóng rổ nhà nghề Mỹ Michael Jordan), sinh ngày 29 tháng 10 năm 2004, và Christian, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2006. Andriy mừng sinh nhật Jordan bằng bàn thắng trong trận đấu gặp Sampdoria (AC Milan thắng 1-0). Chủ tịch AC Milan ngài Silvio Berlusconi là cha đỡ đầu con trai đầu lòng của Andriy, Jordan. Một ngày sau khi Christian ra đời, Shevchenko đã ghi bàn trong trận đấu mà Chelsea thắng Watford 4 - 0, ông và các đồng đội đã thực hiện động tác "rock-the-baby" goal celebration để ăn mừng sự kiện này. Shevchenko là bạn thân của nhà thiết kế thời trang Giorgio Armani, ông từng làm người mẫu của Armani trong nhiều chương trình thời trang ở Kyiv. Vào tháng 7 năm 2005, ông trở thành đại sứ của FIFA trong chuyến thăm từ thiện Làng trẻ em SOS. Ông và gia đình hiện đang sống ở Virginia Water, Surrey. Tên của Shevchenko (Viết: "Андрій" theo tiếng Ukraina) gặp nhiều vấn đề khi chuyển ngữ từ chữ cái kirin sang chữ cái Latin. Andriy là cách viết được sử dụng tại trang web chính của cầu thủ này (). Nó cũng được sử dụng bởi UEFA, FIFA và là kiểu viết vần thông dụng nhất trên các phương tiện truyền thông nói tiếng Anh (dù tạp chí "World Soccer" ghi là "Andrii" và Sky Sports ghi "Andrei"). Cách phát âm chính xác là [an.ˈdrij]. Người hâm mộ của CLB Dynamo Kyiv đặt biệt danh cho ông là "Sheva", từ chữ "Shevchenko" mà ra. Tại câu lạc bộ. "*Các giải đấu khác bao gồm Siêu cúp bóng đá Ý, Siêu cúp Anh, Cúp Liên đoàn bóng đá Anh và Cúp bóng đá liên lục địa" "(Tính tới 27 tháng 3 năm 2008)"
Chim cánh cụt hay còn gọi là chim cụt cánh (bộ Sphenisciformes, họ Spheniscidae - lấy theo chi "Spheniscus" nghĩa là "hình nêm") là một nhóm chim nước không bay được. Chúng hầu như chỉ sống ở Nam bán cầu, với duy nhất một loài, chim cánh cụt Galápagos, được tìm thấy ở phía bắc đường xích đạo. Vốn rất thích nghi cho cuộc sống trong nước, chim cánh cụt có bộ lông tương phản nhau gồm các mảng sáng và tối và chân chèo để bơi lội. Hầu hết chim cánh cụt ăn nhuyễn thể, cá, mực và các dạng sinh vật biển khác mà chúng bắt được khi bơi dưới nước. Chúng dành khoảng một nửa cuộc đời trên cạn và nửa còn lại ở biển. Mặc dù hầu hết tất cả các loài chim cánh cụt đều có nguồn gốc từ Nam bán cầu, chúng không chỉ được tìm thấy ở những vùng khí hậu lạnh, chẳng hạn như Nam Cực. Trên thực tế, chỉ có một số loài chim cánh cụt sống ở xa về phía nam. Một số loài được tìm thấy ở vùng ôn đới, nhưng một loài, chim cánh cụt Galápagos, sống gần đường xích đạo. Loài chim cánh cụt sống lớn nhất là chim cánh cụt hoàng đế ( "Aptenodytes forsteri" ): trung bình, con trưởng thành khoảng cao và nặng . Loài chim cánh cụt nhỏ nhất là chim cánh cụt xanh nhỏ ( "Eudyptula nhỏ" ), còn được gọi là chim cánh cụt cổ tích, đứng khoảng cao và nặng . Trong số các loài chim cánh cụt còn tồn tại, những con chim cánh cụt lớn hơn sống ở những vùng lạnh hơn, trong khi những con chim cánh cụt nhỏ hơn thường được tìm thấy ở các vùng khí hậu ôn đới hoặc thậm chí nhiệt đới. Một số loài từ thời tiền sử đạt được kích thước khổng lồ, trở nên cao hoặc nặng bằng người trưởng thành. Chúng không bị giới hạn ở các vùng Nam Cực; ngược lại, các khu vực cận Nam Cực chứa đựng sự đa dạng cao, và ít nhất một con chim cánh cụt khổng lồ đã xuất hiện trong khu vực khoảng 2.000 km về phía nam của xích đạo 35 mya, trong một vùng khí hậu chắc chắn là ấm hơn ngày nay. Các loài và nơi sống. Số lượng loài còn lại đến nay vẫn là một chủ đề gây tranh cãi. Trong các loại văn bản khác nhau người ta liệt kê từ 16 đến 19 loài. Một số tác giả còn cho rằng chim cánh cụt chân chèo trắng là một loài chim lặn nhỏ (Eudyptula) riêng, mặc dù ngày nay nói chung nó được coi là phân loài của chim cánh cụt nhỏ (chẳng hạn Williams, 1995; Davis Renner, 2003). Tương tự, người ta vẫn chưa rõ chim cánh cụt hoàng gia chỉ đơn thuần là dạng biến đổi màu sắc của chim cánh cụt Macaroni hay không. Ngoài ra, cũng khá thích hợp để coi như một loài riêng là quần thể miền bắc của chim cánh cụt Rockhopper (Davis Renner, 2003). Mặc dù tất cả các loài chim cánh cụt hiện còn đều có nguồn gốc ở nam bán cầu, nhưng ngược lại với niềm tin phổ biến, chúng không chỉ tìm thấy tại các khu vực có khí hậu lạnh, chẳng hạn châu Nam Cực. Trên thực tế, chỉ có vài loài chim cánh cụt thực sự sinh sống xa đến vậy về phía nam. Có ba loài sinh sống ở khu vực nhiệt đới; một loài sinh sống xa về phía bắc tới quần đảo Galápagos (chim cánh cụt Galápagos) và thỉnh thoảng chúng còn vượt qua cả đường xích đạo trong khi kiếm ăn. Loài lớn nhất là chim cánh cụt hoàng đế ("Aptenodytes forsteri"): chim trưởng thành trung bình cao khoảng 1,1 m (3 ft 7 in) và cân nặng 35 kg (75 lb) hoặc hơn thế. Loài chim cánh cụt nhỏ nhất là chim cánh cụt nhỏ (còn gọi là chim cánh cụt tiên), chúng chỉ cao khoảng 40 cm (16 in) và cân nặng 1 kg (2,2 lb). Nói chung loài chim cánh cụt nào có kích thước lớn hơn thì cũng có khả năng giữ nhiệt tốt hơn, và vì thế sinh sống trong khu vực lạnh hơn, trong khi các loài chim cánh cụt nhỏ chủ yếu tìm thấy trong khu vực có khí hậu ôn đới hay thậm chí là nhiệt đới. Phần lớn chim cánh cụt ăn các loại nhuyễn thể, cá, mực và các dạng sinh vật biển khác chúng bắt được trong khi bơi lội dưới nước. Chúng tiêu tốn khoảng một nửa thời gian trên cạn và nửa còn lại dưới lòng các đại dương. Một trong những dạng hành vi gây trở ngại nhất của chim cánh cụt diễn ra khi chim mẹ mất con của nó, hoặc là do chúng không chịu đựng được cơn bão đầu tiên trong đời, hoặc là do các lý do khác như kẻ thù. Khi chim mẹ mất con, nó có ý đồ ăn trộm con của chim mẹ khác- có lẽ là để giảm sự thương tiếc con. Hành vi này làm các nhà khoa học kinh ngạc, do nó là một hành động bột phát về tình cảm ngược lại với hành vi bản năng; là điều mà nhiều động vật hoang dã không bao giờ có khi chúng mất con. Nhiều người đã sử dụng điều này như là chứng cứ cơ bản trong nhiều thập kỷ để cho rằng nhiều động vật có tình cảm tương tự như con người, thông thường là dành cho mục đích về các quyền của động vật. Một cách tự nhiên, những con chim mái khác trong nhóm không thích hành vi này và sẽ giúp đỡ con chim mẹ thực thụ bảo vệ các con của nó. Tuy nhiên, hành vi này có thể được giải thích một cách tốt hơn như là phương tiện cho chim mái, hoặc chim trống, có thể nhớ được sự hợp tác toàn diện của các chim bố mẹ khác trong việc nuôi nấng chim con, nếu cho rằng mối quan hệ là một vợ-một chồng; có lẽ ở đây có sự khác biệt giữa chim trống và chim mái liên quan tới việc ăn trộm chim non và giữa các loài trong sự liên hệ với đặc tính một vợ-một chồng là theo mùa hay vĩnh cửu. Chim cánh cụt dường như không e ngại con người và các nhóm nhà thám hiểm có thể đến gần chúng mà không làm cho chúng sợ. Lịch sử tiến hóa của chim cánh cụt được tìm hiểu không kỹ, do các hóa thạch chim cánh cụt là khá hiếm. Hóa thạch chim cánh cụt cổ nhất được biết là của chi "Waimanu", chúng đã sống trong giai đoạn đầu của thế Paleocen tại khu vực New Zealand, khoảng 62 triệu năm trước. Trong khi chúng chưa thích nghi tốt với cuộc sống dưới nước như chim cánh cụt ngày nay (điều đó có lẽ diễn ra vào thời kỳ thế Eocen khoảng 40 triệu năm trước), thì "Waimanu" đã không bay được và tương tự như chim lặn gavia, với các cánh ngắn thích nghi cho việc lặn sâu.Các hóa thạch này cho thấy chim cánh cụt tiền sử đã không bay được và có thể sống dưới nước được và nguồn gốc của chúng có lẽ đã bắt đầu khoảng 65 triệu năm trước, trước khi diễn ra sự tuyệt chủng của khủng long. Tổ tiên của chim cánh cụt trước "Waimanu" hiện vẫn không rõ, mặc dù một số nhà khoa học (Mayr, 2005) cho rằng họ Plotopteridae tương tự như chim cánh cụt (thông thường được coi là có họ với chim cổ rắn và chim cốc) có thể trên thực tế là nhóm chị em ban đầu của chim cánh cụt, và chim cánh cụt có thể có sự chia sẻ chung cùng một tổ tiên với bộ Bồ nông (Pelecaniformes). Theo truyền thống, phần lớn các loài chim cánh cụt đã tuyệt chủng được đặt trong một phân họ có lẽ là cận ngành gọi là Palaeeudyptinae. Để có danh sách đầy đủ các chi này, xem phần Phân loại dưới đây. Tình trạng số lượng chim cánh cụt ngày nay là rất ổn định, chúng sống rất đông đúc thành từng bầy.Vì vậy chưa có nguy cơ bị tuyệt chủng đối loài chim này . Đặc điểm cơ thể. Chim cánh cụt thích nghi tốt với cuộc sống dưới nước. Các cánh của chúng đã tiến hóa thành các chân chèo và không có tác dụng để bay trong không gian. Tuy nhiên, trong nước thì chim cánh cụt lại nhanh nhẹn một cách đáng ngạc nhiên. Với bộ lông mượt thì một lớp không khí được duy trì, đảm bảo cho sức nổi của chúng. Ngoài ra, lớp không khí này còn có tác dụng giúp cho chim cánh cụt chịu được nước lạnh. Trên mặt đất, chim cánh cụt dùng đuôi và các cánh để duy trì cân bằng cho thế đứng thẳng của chúng. Tất cả các loài chim cánh cụt đều có màu trắng ở phần bụng và màu sẫm (chủ yếu là đen) ở phần lưng. Nó có tác dụng giúp cho chúng được ngụy trang tốt. Kẻ thù săn tìm chúng từ phía dưới (chẳng hạn cá kình hay hải cẩu báo) rất khó phân biệt màu trắng của bụng chim cánh cụt với màu phản chiếu từ mặt nước. Bộ lông sẫm màu trên lưng chúng giúp chúng thoát khỏi các kẻ thù từ phía trên. Chim cánh cụt có thể bơi lặn trong nước với vận tốc từ 6 tới 12 km/h, mặc dù có một số báo cáo cho rằng tốc độ có thể lên tới 27 km/h (điều này có thể xảy ra khi chúng bị giật mình hay bị tấn công). Các loài chim cánh cụt nhỏ không lặn sâu và chỉ săn tìm mồi gần mặt nước và chỉ lặn khoảng 1-2 phút. Các loài chim cánh cụt lớn có thể lặn sâu khi cần thiết. Kỷ lục lặn sâu của chim cánh cụt hoàng đế lớn đã được ghi nhận là tới độ sâu 565 m (1.870 ft) và kéo dài tới 20 phút. Chim cánh cụt có thể đi lạch bạch bằng hai chân hoặc trượt bằng bụng của chúng dọc theo lớp tuyết, một chuyển động gọi là "trượt băng", điều này cho phép chúng tiết kiệm năng lượng trong khi vẫn có thể chuyển động tương đối nhanh. Chim cánh cụt có thính giác tốt. Các mắt của chúng đã thích nghi với việc quan sát dưới nước và là phương tiện chủ yếu của chúng để định vị con mồi và lẩn tránh kẻ thù. Ngược lại, ở trên cạn thì chúng là cận thị. Khả năng khứu giác của chúng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Chúng có thể uống nước mặn một cách an toàn do tuyến lệ của chúng lọc lượng muối dư thừa từ máu . Muối được tiết ra ngoài trong dạng chất lỏng đậm đặc từ hốc mũi. Chim cánh cụt không có cơ quan sinh dục ngoài . Kết quả là chỉ có thử nghiệm nhiễm sắc thể mới xác định được giới tính của chúng. Một số loài chim cánh cụt có thể giao phối cả đời, trong khi các loài khác chỉ giao phối một mùa. Nói chung, chúng tạo ra một bầy con nhỏ và cả chim bố lẫn chim mẹ cùng chăm sóc con non. Ở một số loài con cái đẻ ít trứng (10-20: 10 trứng), ấp 65 ngày. Sau mỗi lần ấp, con cái giảm 40-50% khối lượng. Sau khi trứng nở, con mẹ tiếp tục ủ ấm cho con non. Hành vi quan hệ trống mái. Đầu tháng 2 năm 2004 tờ "New York Times" thông báo rằng một cặp chim cánh cụt quai mũ trống tại Vườn bách thú Công viên Trung tâm ("Central Park Zoo") tại thành phố New York đã kết đôi và thậm chí chúng đã ấp thành công từ trứng ra một con chim mái non. Các chim cánh cụt khác ở New York cũng đã được thông báo là tạo ra các cặp đồng tính. Các vườn thú tại Nhật Bản và Đức cũng dẫn chứng các cặp chim cánh cụt đực. Các cặp chim đực này đã xây tổ cùng nhau và dùng các hòn đá thay trứng trong tổ của chúng. Nghiên cứu tại Đại học Rikkyo, Tokyo đã tìm thấy 20 cặp như thế tại 16 vườn nuôi thú và bể nuôi tại Nhật Bản. Vườn thú Bremerhaven tại Đức đã cố tách các cặp chim cánh cụt đực bằng cách nhập khẩu các chim cánh cụt mái từ Thụy Điển và tách các cặp đực ra nhưng họ đã không thành công. Giám đốc vườn thú nói rằng các mối quan hệ "uyên ương" này là quá mạnh.
Linh lan hay lan chuông (danh pháp khoa học: Convallaria majalis), là loài duy nhất trong chi "Convallaria" thuộc một họ thực vật có hoa là họ Asparagaceae. Nó có nguồn gốc trong khu vực ôn đới mát của Bắc bán cầu tại châu Á, châu Âu và Bắc Mỹ. Nó là một loài cây thân thảo sống lâu năm có khả năng tạo thành các cụm dày dặc nhờ loang rộng theo các rễ ngầm dưới mặt đất gọi là thân rễ. Các thân rễ này tạo ra rất nhiều chồi mỗi mùa xuân. Thân cây cao tới 15–30 cm, với hai lá dài 10–25 cm và cành hoa bao gồm 5-15 hoa trên đỉnh ngọn thân cây. Hoa có màu trắng (ít khi hồng), hình chuông, đường kính 5–10 mm, có mùi thơm ngọt; nở hoa về cuối mùa xuân. Quả của nó là loại quả mọng màu đỏ, nhỏ với đường kính 5–7 mm. Nó là một loại cây cảnh trồng phổ biến trong vườn vì các hoa có mùi thơm của nó. Lá và hoa linh lan chứa các glycozit như Convallimarin, Convallarin có tác dụng tim mạch và được sử dụng trong y học trong nhiều thế kỷ. Với các đơn thuốc quá liều nó có thể gây ngộ độc; các loài vật nuôi và trẻ em có thể bị thương tổn khi ăn phải linh lan. Linh lan bị ấu trùng của một số loài thuộc bộ Lepidoptera phá hoại, như "Antitype chi". Hoa này trong tiếng Anh còn được gọi là "Our Lady's tears" (Nước mắt của Mẹ) do, theo một truyền thuyết, từ những giọt nước mắt của Eva rơi xuống, khi bị đuổi ra khỏi thiên đàng, đã trở thành hoa linh lan. Một thuyết khác cho rằng linh lan xuất hiện từ những giọt nước mắt của Đức Mẹ đồng trinh Mary khi chúa Jesus bị đóng đinh câu rút. Theo một truyền thuyết khác, hoa linh lan cũng đã xuất hiện từ máu của Thánh Leonard trong trận chiến của ông với con rồng. Các tên gọi khác trong tiếng Anh là May Lily (huệ tháng Năm), May Bells (hoa chuông tháng Năm), Lily Constancy (huệ chung thủy), Ladder-to-Heaven (thang tới thiên đường), Male Lily and Muguet Theo truyền thống, hoa linh lan được bán tại Pháp trên các đường phố vào ngày 1 tháng 5 và được tặng cho nhau như một thứ đem lại may mắn. Kể từ năm 1982, hoa linh lan là quốc hoa của Phần Lan. Nó là loài hoa chính thức của các hội đoàn như Pi Kappa Alpha, Kappa Sigma và của liên đoàn các bà xơ Alpha Epsilon Phi tại Hoa Kỳ. Tên gọi "lily of the valley" ("linh lan") cũng được sử dụng trong một số bản dịch ra tiếng Anh của Kinh Thánh phần Nhã ca 2:1, mặc dù từ trong tiếng Hêbrơ là "shoshana" nguyên thủy được dùng tại đó không chắc chắn có phải để chỉ loài hoa này hay không.
Convallaria là một chi thực vật trong họ "Asparagaceae". Loài điển hình của chi này là linh lan. Trước đây, chi này được xem là chi đơn loài với 1 loài duy nhất "Convallaria majalis". Tuy nhiên sau này, các nhà nghiên cứu đã tách ra thêm 2 loài nữa thuộc chi này là "Convallaria keiskei" và "Convallaria montana".
Hoàng lan hay ngọc lan tây, y lan công chúa (danh pháp hai phần: Cananga odorata), là một loài cây thân gỗ trong Chi Công chúa ("Cananga"). Loài cây này có thể có độ cao trung bình khoảng 12 m, phát triển tối đa khi được trồng tại nơi có nhiều nắng, và nó ưa thích các loại đất chua tại khu vực nguồn gốc của nó là các rừng mưa. Vỏ cây màu xám trắng; nhánh ngang hay thòng, mang lá song đính, không lông. Lá của nó dài, trơn và bóng loáng. Hoa có màu vàng ánh lục hoặc hồng, quăn như sao biển, và có tinh dầu có mùi thơm rất mạnh, nở từ tháng 11 đến tháng 12. Mỗi hoa cho ra một chùm quả, mỗi chùm quả chứa 10 - 12 hạt, giống như hạt na. Tên gọi ylang-ylang có nguồn gốc từ tiếng Tagalog "ilang-ilang", có nghĩa là "hoa của các loài hoa" mà không phải là để nói bóng gió tới mùi thơm dễ chịu của hoa hoàng lan. Mùi thơm của hoa hoàng lan vừa nồng và đậm với các dấu vết của hoa cây cao su và món sữa trứng, đồng thời lại rực rõ với dấu vết của hoa nhài và tinh dầu cam đắng ("Citrus aurantium" thứ "amara" hay "Bigaradia"). Tinh dầu hoa hoàng lan thu được bằng cách chưng cất nhờ hơi nước và tách ra thành các cấp khác nhau (extra; 1; 2; 3) tương ứng với việc chưng cất vào khi nào. Thành phần chính tạo ra mùi thơm của hoàng lan là mêtyl anthranilat. Cây gỗ cao 6–18(–33) m, với vỏ cây màu xám nhạt; các cành non có lông tơ li ti, sau chuyển thành nhẵn nhụi, sẫm màu và có khía. Phiến lá hình trứng-thuôn dài hay hình elip-thuôn dài, dài 10–21 cm, rộng 4–10 cm, thường nhọn hoắt lệch bên ở đỉnh, đáy hình nêm rộng hay thuôn tròn hoặc cắt cụt, hơi có lông tơ trên gân giữa và các gân phụ; hệ gân lá nổi rõ. Hoa rủ thành cành hoa gồm 2–6 hoa, mùi rất thơm. Cánh hoa màu xanh lục sau chuyển thành vàng nhạt, với đốm nâu-tía ở đáy mé trong, thẳng-hình mũi mác, kích thước dài (2,5–)5–7,5(–8,7) cm, rộng 5–7(–14) mm, có long tơ li ti. Đơn quả 10–16, hình elipxoit hay thuôn dài-trứng ngược, dài 1,5–2,3 cm, nhẵn nhụi. Hạt màu nâu nhạt, theo đường viền thuon dài-hình elip, dẹp, dài 9 mm, rộng 6 mm, dày 2,5 mm,với các mặt nhăn hay rỗ. Đồn điền, đất đai gieo trồng bản địa, đất hoang nhiều bụi rậm và các bụi cây gần làng mạc; ở cao độ 0–750 m. Tinh dầu hoàng lan được dùng trong điều trị bằng xoa bóp dầu thơm, người ta tin rằng nó có thể làm giảm huyết áp cao, điều tiết các chất bã nhờn đối với các vấn đề về da, và cho rằng nó có tác dụng kích thích tình dục. Tinh dầu hoàng lan cũng được dùng rộng rãi trong công nghiệp sản xuất nước hoa theo phong cách phương Đông. Mùi hoàng lan pha trộn khá tốt với phần lớn các loại mùi cây cỏ, hoa quả và gỗ. Tại Indonesia, hoa hoàng lan được rải trên giường cưới của các đôi tân hôn. Tinh dầu hoàng lan chiếm tới 29% xuất khẩu hàng năm của Comoros (số liệu năm 1998). Hoàng lan tạo ra nhiều cảm xúc, là đề tài sáng tác cho giới văn nghệ sĩ. Nhà văn Thạch Lam trong tác phẩm "Dưới bóng hoàng lan", đã viết về một mối tình chớm nở giữa chàng thanh niên trẻ và cô bạn láng giềng, với kỷ niệm cùng nhặt hoa hoàng lan rơi trong sân vườn và cùng trưởng thành. Khi đi xa hay trở về vườn cũ, chàng vẫn nhớ "Cây hoàng lan cao vút, cành lá rủ xuố, khi trăng lên, đi qua hai bên bờ lá đã ướt sương, mùi hoàng lan thoang thoảng bay trong gió... Mỗi mùa cô lại giắt hoàng lan trong mái tóc để tưởng nhớ mùi hương". Hoặc như nhạc sĩ Trần Long Ẩn trong bài hát "Đêm thành phố đầy sao" có viết "Vườn nhà em cây hoàng lan bát ngát hương tỏa ". Hoặc như nhạc sĩ Phú Quang trong "Em ơi, Hà Nội phố" có câu "Ta còn em mùi hoàng lan, ta còn em mùi hoa sữ".
Thành phố thuộc tỉnh (Việt Nam) Thành phố thuộc tỉnh là một loại hình đơn vị hành chính cấp hai tại Việt Nam, tương đương với quận, huyện, thị xã và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp huyện). Thành phố thuộc tỉnh là một đô thị lớn về kinh tế, văn hóa và kết nối giao thông của một tỉnh; nó còn là trung tâm hành chính, nơi đặt trụ sở các cơ quan nhà nước của tỉnh đó nếu nó là tỉnh lị. Một số thành phố thuộc tỉnh còn được chỉ định làm trung tâm kinh tế và văn hóa của cả một vùng (liên tỉnh). Một thành phố thuộc tỉnh được chia thành nhiều phường (phần nội thành) và xã (phần ngoại thành). Do đó, về loại hình, thành phố thuộc tỉnh là một đô thị và dân cư tại đó được xếp là dân thành thị, nhưng vẫn có thể còn một phần dân sống bằng nông nghiệp ở các xã ngoại thành. Hiện nay, Việt Nam có 7 thành phố thuộc tỉnh có mức độ đô thị hóa cao, chỉ có phường mà không có xã trực thuộc là: Bắc Ninh, Dĩ An, Đông Hà, Sóc Trăng, Thủ Dầu Một, Từ Sơn và Vĩnh Long. Quy định trong luật pháp. "1. Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:" "Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;" "Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương;" "Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường." "Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập." "Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có:" "1. Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh);" "2. Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện);" "3. Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);" "4. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt." Như vậy, thành phố thuộc tỉnh nằm ở cấp hành chính thứ hai trong 3 cấp hành chính (cấp tỉnh, cấp huyện, ) của Việt Nam. Tuy nhiên, so với các quận, huyện, thị xã, thì thành phố thuộc tỉnh thường lớn hơn và có vị thế quan trọng hơn. Vai trò này được ghi rõ trong Nghị định số 15/2007/NĐ-CP của Chính phủ: "Thành phố thuộc tỉnh có vị trí là trung tâm chính trị, kinh tế - xã hội hoặc là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông của tỉnh và giao lưu trong nước, quốc tế; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội liên huyện, liên tỉnh và vùng lãnh thổ" (Điều 5). Cũng theo nghị định này thì thành phố thuộc tỉnh là đơn vị hành chính cấp huyện loại I trong tổng số các loại. Tiêu chuẩn của đơn vị hành chính. Theo Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành năm 2016, tại "Điều 5", "Mục 2: Tiêu chuẩn của đơn vị hành chính đô thị", "Chương I: Tiêu chuẩn của đơn vị hành chính" thì một thành phố thuộc tỉnh cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn như sau: "Điều 5. Tiêu chuẩn của thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương" "1. Quy mô dân số từ 150.000 người trở lên." "2. Diện tích tự nhiên từ 150 km² trở lên." "3. Đơn vị hành chính trực thuộc:" "a) Số đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc có từ 10 đơn vị trở lên;" "b) Tỷ lệ số phường trên tổng số đơn vị hành chính cấp xã từ 65% trở lên." "4. Đã được công nhận là đô thị loại I hoặc loại II hoặc loại III; hoặc khu vực dự kiến thành lập thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương đã được phân loại đạt tiêu chí của đô thị loại I hoặc loại II hoặc loại III." "5. Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này." Danh sách thành phố thuộc tỉnh. Số liệu về dân số chủ yếu lấy theo kết quả sơ bộ của cuộc tổng điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2019 (không tính dân số quy đổi), một số thành phố dùng số liệu dân số quy đổi ("in nghiêng"). templatestyles src="Legend/" /  Tỉnh lỵ Đến ngày 10 tháng 4 năm 2023, Việt Nam có 82 thành phố thuộc tỉnh. Trong đó:
Trường Bách khoa Paris École polytechnique ("Trường Bách khoa Paris"), hay còn được nhắc đến với tên X, là một trong những grande école nổi tiếng nhất Pháp và người dân Pháp coi đây là trường đào tạo kĩ sư nổi tiếng nhất tại Pháp. Trước 1976, trường tọa lạc tại khu khu phố La Tinh ở trung tâm Paris. Sau đó, vì lý do cần mở rộng, trường đã được chuyển đến Palaiseau nằm ở ngoại ô phía Nam Paris. Mục đích truyền thống của các sinh viên Polytechnique ("polytechniciens") là trở thành nhân lực cấp cao của chính phủ Pháp các tập đoàn công nghiệp hàng đầu của quốc gia và mục đích này vẫn còn được tiếp tục cho đến ngày nay. Ví dụ 16 sinh viên đứng đầu sẽ được lựa chọn trở thành "", là chương trình đào tạo nhân lực cấp cao hàng đầu của nhà nước Pháp. Trường Polytechnique được quản lý trực tiếp bởi Bộ Quốc phòng Pháp. Cho dù ngày nay trường không còn là một học viện quốc phòng, nhưng các truyền thống quân đội vẫn được tiếp nối. Trước hết, đứng đầu trường là một vị tướng, thêm vào đó, các vị trí điều hành, quản trị, thể thao đều do các nhân sự trong quân đội đảm nhiệm. Tất cả các sinh viên, kể cả sinh viên nữ, đều phải trải qua một kì huấn luyện quân sự trước khi bắt đầu khóa học kĩ sư. Bản thân họ cũng là các sĩ quan dự bị. Về sau tính chất quân sự của trường ngày càng giảm đi, trên thực tế, rất ít sinh viên tốt nghiệp tiếp tục theo đuổi nghiệp binh. Vào những dịp lễ lớn như ngày Quốc khánh Pháp (ngày 14 tháng 7), các sinh viên của Polytechnique tham gia lễ duyệt binh trên đại lộ Champs-Élysées trong bộ đồng phục quân đội truyền thống nổi tiếng của trường. Sinh viên trường Polytechnique thường nằm trong đơn vị duyệt binh thứ 2, chỉ sau duy nhất đơn vị khách mời của chính phủ Pháp. Trường Polytechnique bao gồm cả đào tạo đại học và sau đại học. Trường có các khu nghiên cứu trên các lĩnh vực khoa học khác nhau như vật lý, toán, tin học, kinh tế, hóa học, sinh họ("Centre National de la Recherche Scientifique" - CNRS). Ngoài ra, trường còn có rất nhiều giáo sư, tiến sĩ, nghiên cứu sinh từ khắp nơi tham gia làm việc tạo nên một môi trường học tập nghiên cứu trình độ cao. Chương trình học tập. Chương trình học của trường khác so với các chương trình đại học bình thường. Tuy vẫn được nhắc đến như đào tạo đại học, nhưng trên thực tế chương trình học luôn vượt khá xa so với chương trình đại học khoa học bình thường. Sau 3 năm học, sinh viên được trao bằng tốt nghiệp tương đương với Master năm nhất của Pháp. Thêm vào đó, chương trình học thường rất rộng, sinh viên thường tiếp cận các môn học nằm ngoài chuyên ngành của mình. Triết lý "rộng hơn sâu" đã gây nên rất nhiều tranh cãi từ nhiều năm nay, nhưng điều này đã làm nên tính đặc trưng của chương trình học Polytechnique. Thực tế cho thấy, sinh viên sau khi tốt nghiệp đa số có một nền tảng khoa học cơ bản rất chắc chắn giúp họ dễ dàng đào sâu vào bất cứ chuyên ngành nào trong thời gian ngắn hơn nhiều so với một sinh viên đại học bình thường. Trong môi trường làm việc, các nhà tuyển dụng đặc biệt ưu tiên sinh viên Polytechnique do tin rằng với kĩ năng này, các "polytechnicien" có thể tiến xa trong bất kì công việc nào. Ngoài khoa học, các sinh viên phải theo học một môn thể thao bắt buộc, từ các môn đại chúng như bóng đá, bơi lộ, golf, đánh kiế Cuộc thi tuyển vào trường Polytechnique là một kì thi tuyển đặc biệt khó khăn. Sinh viên cần học ít nhất 2 năm "dự bị" ("préparatoire") sau khi tốt nghiệp phổ thông. Các trường dự bị nổi tiếng như Lycée Louis-Le-Grand hay the Lycée Henri-IV. Cuộc thi tuyển bao gồm 1 tuần thi viết các môn toán, vật lý, hóa học, văn học, triết học và tiếp sau đó là kì thi nói. Khoảng 400 sinh viên Pháp được lựa chọn mỗi khóa. Sinh viên nước ngoài từng theo khóa học dự bị như sinh viên Pháp cũng phải trải qua một kì thi tương tự (gọi là EV1, thường là các sinh viên đến từ các nước dùng tiếng Pháp). Các sinh viên nước ngoài khác có thể được nhận thông qua một kì thi tuyển nhẹ hơn (gọi là EV2, bao gồm một bài thi trắc nghiệm toán nhiều câu hỏi về nhiều phần khác nhau của toán đại cương như Đại số tuyến tính, Giải tích, Phương trình vi phân, Xác suấ, tiếp đó các thí sinh trải qua 3 bài thi vấn đáp về Toán, Vật lý đại cương và bài hiểu biết tổng hợp. Mỗi bài thi có 30 phút chuẩn bị và 45 phút trình bày). Trong một khóa học có khoảng 100 sinh viên nước ngoài, hầu hết đến từ Brasil, Việt Nam, Trung Quốc, Iran, Nga và România. Trước năm 2004, cộng đồng sinh viên Việt Nam ở X khá đông, mỗi năm có khoảng hơn 10 sinh viên, nhưng trong 3 năm nay mỗi chỉ có khoảng 5,6 sinh viên Việt Nam thi đỗ. Trong khi đó lượng sinh viên Trung Quốc tăng khá mạnh từ 4,5 hai năm trước tăng lên khoảng 20 năm 2007. Để tìm hiểu thêm về kì thi tuyển, tham khảo website của trường . Hồ sơ đăng ký vào khoảng tháng 8 hàng năm. Khóa học đại học trước đây kéo dài trong 3 năm, trong đó có 1 năm nghĩa vụ quân sự, 1 năm "chương trình chung" và 1 năm học chuyên ngành ("majeurs"). Đến khóa X2000, chương trình đã được sửa đổi thành 4 năm, trong đó năm cuối sinh viên có 2 lựa chọn: theo học năm 4 tại một trường đại học thứ hai tại Pháp hay nước ngoài (và sẽ có bằng của cả hai trường) hoặc theo học một chương trình Master. Phần lớn sinh viên lựa chọn con đường thứ nhất. Khóa học bắt đầu bằng 8 tháng học quân sự. Trước đây khóa học này kéo dài 12 tháng và bắt buộc cho tất cả sinh viên Pháp. Sau này do việc bãi bỏ nghĩa vụ quân sự bắt buộc tại Pháp, khóa học này được chuyển thành "đào tạo quân sự và con người" và trở nên nhẹ nhàng hơn. Các sinh viên quốc tịch Pháp tập trung học tháng đầu tiên trong một trung tâm quân sự tại Barcelonette. Kết thúc tháng học, sinh viên được điều vào các dịch vụ dân sự hay quân sự như Hải quân, Không quân, Cảnh sát. Năm tháng cuối cùng từng sinh viên sẽ ở lại trong một đơn vị quân sự như bộ binh, pháo binh, hải quâ Trong thời gian các sinh viên Pháp thực hiện khóa học quân sự, các sinh viên nước ngoài theo các khóa thực tập dân sự. Các sinh viên không thuộc cộng đồng Pháp ngữ được theo học một khóa học ngôn ngữ. Sau khóa học quân sự là năm học chung "tronc commun". Trước đây kì học chung này rất vất vả do sinh viên phải học tất cả các môn học định sẵn. Kể từ X2000, "tronc commun" được giảm nhẹ đi đáng kể và được bắt đầu ngay sau khi khóa học quân sự kết thúc. Trong vòng 4 tháng, các sinh viên được học những môn nền tảng như giải tích Hilbert, toán xác suất, vật lý lượng tử, tin học nền tảng và kinh tế. Ngoài ra còn có các môn xã hội và một môn thể thao bắt buộc. Từ năm thứ 3, sinh viên phải chọn 2 "majeurs", hay là chuyên ngành sâu. Kết thúc chuyên ngành, mỗi sinh viên tiếp tục thực hiện một thực tập chuyên ngành kéo dài ít nhất 3 tháng trong một trung tâm nghiên cứu, trường đại học hay công ty. Đến năm 4, trừ các sinh viên theo chương trình Corps, mỗi sinh viên lựa chọn hoặc một chương trình Master, hoặc là một chương trình chuyên ngành tại một trường đại học chuyên ngành (Mines, Ponts, ENSAE, Télécom, ENS, HEC P). Lý do chính của việc học chuyên ngành năm cuối tại một trường khác là do trong 3 năm học Polytechnique, các sinh viên được chú trọng nhiều đến phương pháp luận hơn là kiến thức chuyên môn thực sự cần cho một kỹ sư. Do đó, năm học chuyên ngành sẽ giúp cho họ hoàn thiện sẵn sàng bước vào môi trường làm việc. Sinh viên được xếp hạng sau khi hoàn tất khóa học tại trường. Đối với sinh viên quốc tịch Pháp, thứ hạng rất quan trọng vì nó liên hệ trực tiếp đến chương trình đào tạo nhân lực quốc gia ("Corps"), bao gồm các chương trình tinh tú như "Corps de Mines", "Corps de Ponts". Vào năm cuối, các chương trình Corps được giới thiệu và sinh viên có thể đăng ký nếu họ có thứ hạng đủ cao. Nếu một sinh viên đủ tiêu chuẩn mà không muốn tham gia, sinh viên có thứ hạng cao nhất trong danh sách chờ sẽ được gọi thay thế. Kể từ khóa X2000, tính quan trọng của bảng xếp hạng đã được giảm đi nhiều. Trừ chương trình Corps, các trường đại học nơi các "polytechnicien" theo học năm cuối thường dựa vào "transcript" để đánh giá họ. Sinh viên Pháp không phải đóng học phí khi học tại trường. Họ còn được nhận lương như một sĩ quan dự bị. Thông qua Hội sinh viên của trường ("Caisse des élèves "hay" KES") các sinh viên Pháp đóng một phần lương của mình để trợ giúp chi phí cho các sinh viên nước ngoài, chủ yếu là các sinh viên không có học bổng tài trợ. Thông thường, không có điều khoản cam kết về tài chính khi học tại Polytechnique. Tuy nhiên, các sinh viên Pháp theo những chương trình đào tạo nhân lực quốc gia ("Corps") phải cam kết làm việc ít nhất 10 năm trong các dịch vụ công sau khi tốt nghiệp. Nếu sinh viên không hoàn thành khoảng thời gian cam kết thì phải bồi hoàn học phí đào tạo. Trường hợp này xảy ra khi một cựu sinh viên đang là Corps và muốn làm việc cho một công ty tư nhân. Khi đó anh ta thường yêu cầu công ty bồi hoàn chi phí cho nhà nước trước khi vào làm việc. Đào tạo sau đại học. Trường Polytechnique tổ chức nhiều chương trình đào tạo Master bằng cách liên kết với các trường khác như École Normale Supérieure, Université Paris-Sud , cho dù các sinh viên trường được ưu ái trước hết. Trường cũng có chương trình đào tạo tiến sĩ cho các sinh viên đã có bằng Master hay tương đương. Các cựu sinh viên của trường Polytechnique được gọi là "X", cùng với khóa học của họ. Ví dụ như X1987 để gọi những cựu sinh viên Polytechnique khóa 1987. Danh sách một số cựu X nổi tiếng (trong rất nhiều người nổi tiếng): Các nhà công nghiệp và CEOs: Các tổng thống và chính trị gia: Các sĩ quan quân đội: Bốn vị thống chế chỉ huy quân đội Pháp trong Thế chiến thứ nhất: Các nhà khoa học nổi tiếng: Cựu sinh viên Việt Nam: Sinh viên Việt Nam. Sinh viên Việt Nam đầu tiên ở trường bách khoa Paris là ông Nguyễn Văn Xuân, X1912. Năm 1972, bà Tạ Thu Thủy ghi dấu ấn là người phụ nữ đầu tiên thủ khoa đầu vào của Polytechnique. Bố bà bị đuổi khỏi trường vì tham gia hoạt động chống Pháp, sau đó gia đình bà ở lại Paris và ủng hộ hoạt động chống sự hiện diện của Mỹ tại Việt Nam. Bà nhập tịch Pháp năm 1981. Từ năm 1995, các sinh viên đến từ Việt Nam được tuyển chọn qua kì thi dành cho sinh viên nước ngoài EV2, một số khác theo học các lớp chuẩn bị tại Pháp rồi thi đỗ vào trường trong kỳ thi tuyển sinh (concours) cùng với sinh viên Pháp. Nhiều trong số các sinh viên Việt Nam học tại đây đã từng đoạt huy chương trong các kì thi Olympic toán, lý quốc tế. Sinh viên nước ngoài không được xếp hạng cùng sinh viên Pháp, tuy nhiên khóa X1997, sinh viên Ngô Đắc Tuấn có thứ hạng tương đương với người thủ khoa của khóa.
Cảng Cái Lân là một cảng nước sâu thuộc cụm cảng Hòn Gai tỉnh Quảng Ninh, đang được xây dựng và mở rộng thành một trong những cảng lớn nhất Việt Nam. Quá trình xây dựng và phát triển. Tháng 7-1996 Cảng Cái Lân được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đầu tư Năm 1997 Đưa vào khai thác bến số 1 Tháng 4-2004 Đưa vào khai thác bến 5, 6, 7 Năm 2010 Khởi công xây dựng bến 2, 3, 4 Khả năng lưu thông và tiếp nhận. Độ sâu luồng tại mức thuỷ triều bằng 0: -10 m. Vùng quay trở: 350 m. Kích cỡ tàu có thể tiếp nhận: 5.500 TEU (hàng container) và 85.000 DWT giảm tải (hàng rời). Độ cao tĩnh không của cầu Bãi Cháy tại điểm thủy triều bằng 0: 55,6 m.
Thiệu Trị (chữ Hán: 紹治 16 tháng 6 năm 1807 – 4 tháng 11 năm 1847), húy là Nguyễn Phúc Dung (阮福曧), sau cải thành Nguyễn Phúc Miên Tông (阮福綿宗), là vị hoàng đế thứ ba của nhà Nguyễn nước Đại Nam. Ông kế vị vua cha là Minh Mạng, trị vì từ năm 1841 đến khi qua đời, tổng cộng gần 7 năm, được truy tôn miếu hiệu là Hiến Tổ (憲祖), thụy hiệu Thiệu Thiên Chương Hoàng Đế (紹天章皇帝). Trong thời gian trị vì ông chỉ sử dụng một niên hiệu là Thiệu Trị nên thường được gọi theo tên này. Thiệu Trị được sử sách mô tả là một hoàng đế thông minh, tận tụy chăm lo việc nước, uyên bác Nho học, yêu thích thơ ca. Nhưng Thiệu Trị không đưa ra cải cách gì mới, chỉ duy trì các chính sách hành chính, kinh tế, giáo dục, luật pháp, quân sự... từ thời Minh Mạng. Khi Thiệu Trị lên ngôi, chính sách bành trướng của Minh Mạng đã khiến lãnh thổ Đại Nam đạt đến mức rộng nhất trong lịch sử. Đại Nam đô hộ vùng đông nam Chân Lạp, đặt ra Trấn Tây Thành nhưng sự hà khắc của quan quân Việt đã gây nên sự căm phẫn và nổi dậy liên miên của người Chân Lạp, chi phí quân sự khiến quốc khố ngày càng cạn kiệt. Thiệu Trị phải xuống lệnh rút quân khỏi Trấn Tây Thành. Liên quân Xiêm La-Chân Lạp nhân đó đánh phá biên giới Tây Nam, Thiệu Trị sai nhiều tướng giỏi như Lê Văn Đức, Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩ, nhưng đất Trấn Ninh thì đã bị Xiêm La chiếm mất. Năm 1845, Đại Nam và Xiêm La ký hòa ước chia nhau quyền bảo hộ Chân Lạp, vùng biên phía Tây cuối cùng đã được tạm yên, nhưng cũng từ đây quá trình mở rộng lãnh thổ của người Việt bị dừng lại, lãnh thổ Đại Nam cũng bị thu hẹp khá nhiều so với thời Minh Mạng. Sau khi kết thúc chiến tranh với Xiêm La, Thiệu Trị phải đương đầu với mối đe dọa xâm lược càng lúc càng gia tăng từ Pháp. Đỉnh điểm là trận cửa biển Đà Nẵng (1847) khi quân thuyền Pháp bắn chìm 5 chiếc thuyền đồng của thủy quân Đại Nam. Thất bại này khiến hoàng đế hết sức tức giận và lo lắng, nhưng cho đến khi chết, Thiệu Trị và quần thần vẫn không thể tìm ra phương sách hợp lý để đối phó. 10 năm sau cái chết của Thiệu Trị (1858), Pháp nổ súng xâm lược Đại Nam, mở đầu thời kỳ Việt Nam bị Pháp đô hộ. Vua Thiệu Trị có húy là Dung, sau khi vua Minh Mạng lập ra bài Đế hệ thi thì ông được đổi tên thành Miên Tông, khi lên ngôi lại đổi thành Nguyễn Phúc Tuyền. Ông sinh ngày 11 tháng 5 (âm lịch) năm Đinh Mão (1807), là Đích trưởng tử của vua Minh Mạng, mẹ là "Tá Thiên Nhân Hoàng hậu" Hồ Thị Hoa. Mới 13 ngày sau khi sinh hạ Miên Tông, bà Hồ Thị Hoa qua đời, Miên Tông được Hoàng tổ mẫu là Nhân Tuyên Hoàng thái hậu đích thân chăm sóc và nuôi dưỡng. Những năm đầu Minh Mạng, hoàng trưởng tử Miên Tông được xuất các và đến Chí Thiện đường để học tập. Năm thứ 11 (1830), ông được vua cha phong làm Trường Khánh công. Năm 1837, ông kiêm nhiếp chức "Tôn nhân phủ Tả tôn chính" trông coi các việc trong hoàng thất.Theo sách "Quốc sử di biên" chép lại, khi Thiệu Trị chưa lên ngôi nhưng trong câu đối của ông đã báo trước về địa vị của người đứng đầu thiên hạ nay mai. Một hôm Thánh tổ ra câu đối "Long vi vạn vật chi linh, biến hóa phi đằng mặc trắc (nghĩa là: Rồng thiêng hơn vạn vật, biến hóa bay nhảy khôn lường)".Nghe xong Trường Khánh đối lại "Thiên nãi nhất nguyên chi khí, khôi hiệu phú đảo vô ngân (nghĩa là: Trời là khí nhất nguyên, rộng lớn che trùm tất cả)". Thánh tổ nghe xong vô cùng làm lạ, quý trọng lắm. Trong câu đối trên, Trường Khánh thể hiện được tầm nhìn lớn, bao quát thiên hạ Năm Minh Mạng thứ 21 (1840), vua cho đúc các con thú bằng vàng để ban thưởng cho các hoàng thân anh em, các hoàng tử công và hoàng tử chưa được phong tước. Trường Khánh công được ban cho một con voi bằng vàng nặng 21 lạng và một con rồng có cánh bằng vàng nặng 7 lạng. Khi vua Minh Mạng qua đời, Nguyễn Phúc Miên Tông được di mệnh nối ngôi lấy niên hiệu là Thiệu Trị. Vua Thiệu Trị lên ngôi ngày 20 tháng 1 năm Tân Sửu (tức 11 tháng 2 năm 1841) ở điện Thái Hòa, vừa đúng 34 tuổi. Phần nhiều sử sách nhận định vua Thiệu Trị là một người hiền hòa, siêng năng cần mẫn nhưng không có tính hoạt động như vua cha. Mọi định chế pháp luật, hành chính, học hiệu, điền địa và binh bị đều được sắp đặt khá quy củ từ thời Minh Mạng, Thiệu Trị chỉ áp dụng theo các định lệ của vua cha, ít có sự cải cách, thay đổi gì mới. Quan lại lúc bấy giờ có Trương Đăng Quế, Lê Văn Đức, Doãn Uẩn, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương và Lâm Duy Tiếp ra sức phò tá. Tuy nhiên, cũng nên hiểu rằng những cuộc chiến tranh, nổi dậy thời Thiệu Trị đa phần là do hậu quả từ thời vua Minh Mạng để lại. Thiệu Trị cũng nổi tiếng là một vị vua thi sĩ, có để lại rất nhiều bài thơ, nổi tiếng nhất là 2 bài thơ chữ Hán có tên là "Vũ Trung Sơn Thủy (Cảnh trong mưa)" và "Phước Viên Văn hội lương dạ mạn ngâm (Đêm thơ ở Phước Viên)". Cả hai bài không trình bày theo lối thường mà viết thành 5 vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng tròn có một số chữ, đếm mỗi bài có 56 chữ, ứng với một bài thơ thất ngôn bát cú, nhìn vào như một "trận đồ bát quái", vua có chỉ cách đọc và đố là kiếm ra 64 bài thơ trong đó. Hiện nay các nhà ngôn ngữ, học giả đã tìm ra được 128 cách đọc. Trong năm đầu tiên khi Thiệu Trị lên ngôi, đất Nam Kỳ liên tục nổi lên các cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình. Đa số đều là các cuộc nổi dậy của người dân tộc Khmer. Nguyên nhân đều do chính sách đồng hóa và cai trị hà khắc từ thời Minh Mạng để lại. Năm 1841, Lâm Sâm khởi binh ở Phú Lạc Hóa (nay là Vĩnh Long và Trà Vinh), Sơn Tốt và Trần Lâm nổi dậy ở Ba Xuyên (nay là Sóc Trăng), dân Khmer ở Thất Sơn nổi loạn với sự trợ giúp của quân Chân Lạp và Xiêm La. Triều đình phải vất vả cử binh đi dẹp loạn, tới cuối năm 1842 mới tạm bình định đất Nam Kỳ. Không như vua cha Minh Mạng, Thiệu Trị ít có tham vọng về mở rộng lãnh thổ và khuếch trương thanh thế. Năm 1841, Thiệu Trị vừa lên ngôi, thấy tình hình Chân Lạp bất ổn, dân Chân Lạp chống đối quan lại Đại Nam cai trị, còn đất Nam Kỳ liên tiếp có nổi loạn. Nhân có lời tâu của Tạ Quang Cự xin bỏ đất Trấn Tây Thành, rút quân về giữ An Giang, Vua Thiệu Trị liền nghe theo, truyền cho tướng quân trấn thủ Trấn Tây là Trương Minh Giảng rút quân về. Ngoài ra, Thiệu Trị cũng cho bỏ luôn phủ Quảng Biên và huyện Khai Biên (nay thuộc tỉnh Kampot và Sihanoukville). Nước Cao Miên được lập lại, vua mới là Sá Ong Giun (Ang Duong, em trai của vua cũ Nặc Chăn - Ang Chan II) làm Cao Miên quốc vương, cháu gái là Ngọc Vân (Ang Mey - con gái Ang Chan II) làm Cao Miên quận chúa. Nước Xiêm hùng mạnh thay thế Đại Nam để bảo hộ nước Cao Miên. Việc làm này cũng đánh dấu sự từ bỏ tham vọng sáp nhập phần lãnh thổ phía Đông Chân Lạp vào bản đồ Đại Nam. Trương Minh Giảng vì việc này mà quá uất ức nên đã sinh bệnh, qua đời khi vừa rút binh về tới An Giang. Thiệu Trị nhân đó lại giáng thêm tội cho Trương Minh Giảng. Nước Xiêm và Chân Lạp nhân đó tiếp tục gây hấn, xúi giục người dân tộc nổi loạn trong phần đất Nam Kỳ. Năm 1842, quân Xiêm nhân cơ hội Nam Kỳ có loạn, tiến đến tận Vĩnh Tế để phá rối Đại Nam, dẫn đến cuộc chiến Việt - Xiêm lần tiếp theo. Đến tận năm 1845, sau khi quân Đại Nam tiến công truy đuổi quân Xiêm ngược lên lãnh thổ Cao Miên, hai nước Việt - Xiêm mới ký hòa ước, chấp nhận cùng bảo hộ nước Cao Miên. Nước Pháp và đạo Thiên Chúa. Từ khi Thiệu Trị lên ngôi thì việc cấm đạo Thiên Chúa bớt đi, nhưng triều đình vẫn không có cảm tình với Thiên Chúa giáo, và những giáo sĩ ngoại quốc vẫn còn bị giam ở Huế. Có người báo tin đó cho Trung tá Pháp là Favin Lévêque coi tàu Héroïne. Trung tá Favin Lévêque đem tàu vào Đà Nẵng xin cho năm người giáo sĩ được tha. Năm Thiệu Trị thứ 5, Ất Tỵ 1845, có người Giám mục tên Lefèbvre phải án xử tử. Thiếu tướng nước Pháp là Cécile biết, sai quân đem tàu Alcmène vào Đà Nẵng đón Giám mục ra. Năm Đinh Mùi 1847, khi người Pháp biết rằng ở Huế không còn giáo sĩ bị giam nữa, mới sai Đại tá De Lapierre và Trung tá Rigault de Genouilly đem hai chiến thuyền vào Đà Nẵng, xin bỏ những chỉ dụ cấm đạo và để cho người trong nước được tự do theo đạo mới. Khi hai bên còn đang thương nghị về việc này thì quan nước Pháp thấy thuyền của Đại Nam đóng gần tàu của Pháp và ở trên bờ lại thấy có quân đắp đồn lũy, nghĩ rằng có âm mưu bèn phát súng bắn đắm cả những thuyền ấy, rồi nhổ chạy ra biển. Vua Thiệu Trị thấy vậy tức giận, có dụ ra cấm người ngoại quốc vào giảng đạo và trị tội những người trong nước đi theo đạo. Những sự kiện này mở đầu "đường lối ngoại giao pháo hạm" của thực dân Pháp, báo hiệu trước những hành động xâm lược về sau này. Một vài tháng sau Thiệu Trị lâm bệnh nặng. Theo sử nhà Nguyễn, con trai trưởng của ông là Nguyễn Phúc Hồng Bảo, một người ham chơi, mê cờ bạc, không chịu học hành. Vì vậy khi gọi các quan Trương Đăng Quế, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương và Lâm Duy Hiệp vào trăn trối, Thiệu Trị để di chiếu truyền ngôi cho con thứ là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm. Hồng Bảo được tin đem binh vào, nhưng bị quan Phạm Thế Lịch giữ lại. Một mình Hồng Bảo vào lạy lục vua cha Thiệu Trị, nhưng ông quay mặt đi không trả lời. Hồng Bảo bị Phạm Thế Lịch và Vũ Văn Giải đưa vào hậu cung và giữ ở đó. Thiệu Trị qua đời vào ngày 27 tháng 9 năm Đinh Mùi, tức 4 tháng 11 năm 1847, hưởng thọ 41 tuổi, miếu hiệu là Hiến Tổ (憲祖). Thụy hiệu của ông là Thiệu Thiên Long Vận Chí Thiện Thuần Hiếu Khoan Minh Duệ Đoán Văn Trị Vũ Công Thánh Triết Chương Hoàng đế (紹天隆運至善純孝寬明睿斷文治武功聖哲章皇帝). Sau khi mất, bài vị nhà vua được đưa vào thờ trong Thế Miếu. Lăng của ông là Xương Lăng, tọa lạc tại làng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Dưới đây liệt kê những vị hậu phi đã sinh con cho vua Thiệu Trị. Ngoài ra, nhà vua còn nhiều thứ phi và cung nhân không được liệt kê trong Thế phả. Bài vị của những vị phi tần vô tự được thờ ở một gian trong Xương Lăng, tẩm lăng của vua Thiệu Trị. Vua Thiệu Trị có 64 người con, gồm 29 hoàng tử và 35 công chúa.
Cảng Hải Phòng là một cụm cảng biển tổng hợp cấp quốc gia, lớn thứ 2 ở Việt Nam sau cảng Sài Gòn và lớn nhất miền Bắc, là cửa ngõ quốc tế của Việt Nam nằm tại ba quận Hồng Bàng, Ngô Quyền và Hải An, bên cạnh đó cụm cảng Lạch Huyện đang được hoàn thiện sẽ mang một tầm vóc mới cho cảng biển Hải Phòng. Cảng Hải Phòng được người Pháp xây dựng năm 1874, là nơi được sử dụng để đổ bộ và tiếp tế cho quân đội viễn chinh. Sau đó, thương cảng này được nối liền với Vân Nam, Trung Quốc bằng đường xe lửa. Đến năm 1939, cảng này thực hiện 23% khối lượng vận chuyển xuất nhập khẩu của xứ Đông Dương. Ngày 21 tháng 3 năm 1956, Cảng Hải Phòng là một xí nghiệp do Ngành vận tải thủy phụ trách và quản lý. Ngày 10 tháng 7 năm 1965, Cảng Hải Phòng là xí nghiệp trực thuộc Cục vận tải đường biển. Ngày 28 tháng 11 năm 1978, Cảng Hải Phòng trực thuộc Tổng cục đường biển. Ngày 29 tháng 4 năm 1995, Cảng Hải Phòng trực thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam. Ngày 12 tháng 10 năm 2007, Cảng Hải Phòng chuyển sang hoạt động theo mô hình Công ty TNHH Một thành viên Cảng Hải Phòng trực thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam. Ngày 1 tháng 7 năm 2014, Cảng Hải Phòng chuyển sang hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần. Thông số kỹ thuật. Cảng Hải Phòng hiện nay bao gồm các khu bến cảng chính sau: Hiện chính phủ Việt Nam đang có kế hoạch nâng cấp cụm cảng Hải Phòng. Khu bến Lạch Huyện sẽ được xây dựng làm cảng tổng hợp và cảng container. Đây sẽ là khu bến chính của cảng Hải Phòng có năng lực tiếp nhận tàu trên 100.000 DWT vào làm hàng. Khu bến Đình Vũ sẽ được nạo vét, cải tạo để có thể tiếp nhận được tàu 20.000 đến 30.000 DWT. Ngoài ra, còn có bến Nam Đồ Sơn chuyên dùng cho an ninh quốc phòng. Các cảng ở Hải Phòng. Cũng ở Hải Phòng, ngoài các cảng trên, còn có hơn 40 bến cảng khác với các chức năng khác nhau, như vận tải chất hóa lỏng (xăng, dầu, khí đốt), bến cảng đóng tàu, bến cho tàu vận tải đường sông nhỏ có trọng tải 1-2 tấn ("tàu chuột"). Các cảng này do nhiều công ty khác nhau quản lý và khai thác.
Sân bay Gia Lâm Sân bay Gia Lâm là sân bay cấp II, thuộc phường Phúc Đồng, quận Long Biên, cách trung tâm thành phố Hà Nội 8 km. Vào năm 2022, sân bay Gia Lâm được lựa chọn để tổ chức Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam lần đầu tiên. Đặc điểm khai thác. Đây là sân bay chính của Hà Nội trước năm 1975. Sau năm 1975, sân bay này đã được thay thế bằng Sân bay Quốc tế Nội Bài. Hiện nay, sân bay Gia Lâm dành cho hoạt động bay huấn luyện và bay taxi phục vụ các chuyến du lịch bằng máy bay trực thăng. Định hướng phát triển. Cục Hàng không Việt Nam cho biết, đang quy hoạch sân bay Gia Lâm. Đến sau năm 2015, sân bay này sẽ thành ga hàng không giá rẻ để đáp ứng yêu cầu mở rộng thị trường. Tuy nhiên, vào năm 2020, Nhà nước đã bãi bỏ việc này.
Ngô Văn Sở (chữ Hán: 吳文楚, ? - 1795), còn có tên là Ngô Hồng Chấn, Ngô Văn Tàng, là một danh tướng của nhà Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam. Thân thế và sự nghiệp. Ông sinh trưởng tại làng Bình Thạnh, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (nay thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Tổ tiên ông là người ở Trảo Nha, huyện Thiên Lộc (nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) di cư vào huyện Tây Sơn lúc nào chưa rõ. Ông nội là Ngô Mãnh đã từng làm quan đến chức Đô thống thời Trương Phúc Loan, trấn đóng nơi địa đầu Linh Giang và Trường Dục. Cha ông là Ngô Văn Diễn, giữ chức Khinh xạ Vệ úy triều Lê – Trịnh, trấn giữ đất Quảng Nam (Có tài liệu nói mẹ ông tên là Nguyễn Thị Mỹ nhưng không rõ người quê gốc ở đâu). Ngô Văn Diễn có bốn con trai là Ngô Văn Sở, Ngô Văn Trị, Ngô Văn Ngữ và Ngô Văn Dần. Con cháu Ngô Văn Ngữ hiện ở phường Nhơn Bình, TP Quy Nhơn. Ngô Văn Sở và Ngô Văn Ngữ được thờ ở ngôi nhà khi xưa các ông sống tại nơi nói trên. Còn con cháu 3 vị khác đều trốn chạy khỏi quê hoặc không sống ở quê trước khi nhà Tây Sơn sụp đổ năm 1801 (Phả hệ họ Ngô Việt Nam). Do tính cương trực, Ngô Mãnh không chịu luồn cúi nên bị Trương Phúc Loan tìm cách hãm hại, vu cho tội thông đồng với Chúa Trịnh, bị tước thu binh quyền, tịch thu gia sản và phải tội lưu đày. Ngô Mãnh trốn thoát cảnh ngục tù, một thân cùng cháu nhỏ là Ngô Văn Sở không dám về quê, đành cải danh là Đặng Hải Siêu và Đặng Sơn Điêu vào Nam, lưu lạc lên Tây Sơn. Trên đường đi, Hải Siêu lâm bệnh, nên ông cháu xin nương nhờ nơi vườn nhà Bùi công ở thôn Xuân Hòa. Bùi công nuôi dưỡng tử tế. Một hôm, vào nửa đêm, nhà Bùi công bị cướp, Ngô Mãnh ra tay cứu trợ, đánh tan bọn cướp. Bùi công ân cần thăm hỏi, Hải Siêu đem tất cả sự thật ra giãi bày. Từ đó, ông trở thành thầy dạy võ cho bà Bùi Thị Xuân con gái Bùi công. Ngô Văn Sở cũng học cùng, tức bạn đồng môn với Bùi Thị Xuân. Sau ba năm ẩn náu tại Bùi gia trang, Ngô Mãnh bị bạo bệnh qua đời. Ngô Văn Sở buồn rầu xin giã biệt Bùi công đi xuống hạt Quy Nhơn và định cư tại Bình Thạnh, Tuy Viễn (Tuy Phước). Gian lao với phong trào Tây Sơn. Năm 1771, ba anh em Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ cùng khởi binh, Ngô Văn Sở đến đầu quân ngay từ buổi đầu. Năm 1773, Ngô Văn Sở được cử làm Chinh nam Đại tướng quân cùng Lê Văn Lộc, Lê Văn Hưng vào đánh chiếm ba phủ Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận. Mặt tây được hai Vua Thủy, Hỏa yểm hộ, binh Tây Sơn cứ thẳng tiến vào Nam. Đi tới đâu được hoan nghênh tới đó, và lấy ba thành dễ dàng như trở bàn tay. Tướng nhà Nguyễn là Nguyễn Văn Hiền bị giết, và Nguyễn Khoa Kiên bị bắt sống. Đại thắng, Ngô Văn Sở kéo binh về, để Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Hưng ở lại trấn giữ. Năm 1775, ông lại theo Nguyễn Huệ và rồi cùng đánh tan hơn hai vạn quân Nguyễn do tướng Tống Phúc Hiệp ở Phú Yên. Kể từ lúc ấy, Ngô Văn Sở trở thành một trong những tướng lĩnh cao cấp của Bộ chỉ huy quân Tây Sơn. Năm 1778, Nguyễn Nhạc xưng đế, phong Ngô Văn Sở chức Đại Tư mã. Lúc Nguyễn Huệ ra đánh Thuận Hóa đem theo Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân theo làm Tham tán quân vụ để chia bớt binh quyền. Năm 1782, Trịnh Sâm chết, hai con là Trịnh Khải và Trịnh Cán tranh nhau làm chúa. Trịnh Khải giết Hoàng Đình Bảo, người phụ tá của Trịnh Cán (còn nhỏ), giành lấy ngôi chúa. Thủ hạ của Đình Bảo là Nguyễn Hữu Chỉnh chạy vào nam đầu hàng Tây Sơn. Tháng 3 năm 1786, dân Bắc Hà bị nạn đói, giá gạo tăng vọt, thây chết nằm liền nhau. Trịnh Khải hạ lệnh ai nộp của sẽ trao cho quan chức, nhưng không ai hưởng ứng, bèn dùng sắc lệnh bắt ức nhà giàu để lấy tiền chia ra phát chẩn. Nhận thấy thời cơ đánh Bắc Hà, Nguyễn Huệ đề nghị Nguyễn Nhạc đánh ra bắc nhưng Nguyễn Nhạc ngần ngại chưa quyết. Sang tháng 4 năm đó, Phạm Ngô Cầu sai sứ là Nguyễn Phú Như vào Quy Nhơn mượn tiếng trao đổi vấn đề biên giới, nhưng thực ra muốn dò tình hình Tây Sơn. Phú Như vốn có quen biết với Nguyễn Hữu Chỉnh, bèn mang tình hình Thuận Hóa nói lại. Hữu Chỉnh bèn xin Nguyễn Nhạc ra quân đánh Thuận Hóa. Lúc đó Nguyễn Nhạc mới quyết định. Nguyễn Nhạc cử Nguyễn Huệ làm tổng chỉ huy các cánh quân thủy bộ, Vũ Văn Nhậm làm Tả quân đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm Hữu quân đô đốc, Nguyễn Lữ chỉ huy đội dự bị thủy quân. Ngô Văn Sở cũng đi theo. Sau đó theo Nguyễn Huệ vượt sông Gianh đánh ra Bắc Hà (1786). Năm 1787, Ngô Văn Sở cùng Tiết chế Vũ Văn Nhậm ra diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, đánh chiếm Thăng Long. Tháng 4 năm 1788, Lê Chiêu Thống đã bỏ kinh đô lưu vong. Sau khi diệt Chỉnh, Vũ Văn Nhậm lập Lê Duy Cẩn (hay Cận) làm Giám quốc. Cựu thần nhà Lê không người nào theo. Vũ Văn Nhậm chuyên quyền. Ngô Văn Sở bèn làm mật tấu cùng Bắc Bình Vương (tức Nguyễn Huệ). Nguyễn Huệ hay tin lập tức truyền lệnh xuất sư, đem quân ra Bắc lần thứ hai. Đi suốt ngày đêm, hơn 10 ngày đến Thăng Long. Diệt Vũ Văn Nhậm (1788). Đại Tư mã Ngô Văn Sở nắm giữ chính quyền, thống lĩnh quân đội, được giao trọng trách trông coi 11 trấn Bắc Hà. Đô đốc Võ Văn Dũng, Nội hầu Phan Văn Lân, Chưởng phủ Nguyễn Văn Dụng, Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết, Hộ bộ Trần Thuận Ngôn, Học sĩ Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích đều theo Ngô Văn Sở giữ Thăng Long. Theo sách "Đại Nam chính biên liệt truyện", trước khi về lại Phú Xuân, trong buổi trao quyền cho Ngô Văn Sở, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đã nói: ""Sở và Lân là nanh vuốt của ta. Dụng và Ngôn là lòng dạ của ta. Nhậm là bề tôi mới của ta. Nay ta lấy cái việc quân vụ và quốc chính của 11 trấn Bắc Hà ủy thác cho. Ta thuận cho theo tiện nghi mà làm việc, phải hội đồng thương nghị với nhau, chớ vì cũ mới mà xa nhau"." Năm 1788, vua Lê Chiêu Thống dẫn nhiều vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy vào xâm lược Việt Nam. Ngô Văn Sở làm kế hoãn binh sai người đến dinh họ Tôn cầu hòa. Lời đề nghị bị bác khước. Quân Tây Sơn do Đại Tư mã Ngô Văn Sở chỉ huy, theo mưu kế của Ngô Thì Nhậm, cho gọi binh các trấn Kinh Bắc, Thái Nguyên, Hải Dương, Sơn Tây về hội tại Bắc Thành trấn Sơn Nam rồi chủ động rút quân về đóng ở Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình) cố thủ, đồng thời cho Nguyễn Văn Tuyết về Phú Xuân cáo cấp. Được tin cấp báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (21 tháng 12 năm 1788) Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung. Ngay sau khi làm lễ đăng quang tại núi Bân (Phú Xuân), nhà vua trực tiếp mang đại quân ra Bắc để đánh đuổi quân xâm lược. Ngày 20 tháng chạp năm Mậu Thân (1789), đại binh vua Quang Trung đến Tam Điệp. Ngô Văn Sở ra chịu tội, Quang Trung biết là mưu của Ngô Thời Nhậm, nên bỏ qua. Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân được lệnh đem tiền quân tiến về Thăng Long. Trong chiến dịch phản công này, Đại Tư mã Ngô Văn Sở được ở bên cạnh vua Quang Trung để cùng chỉ huy đạo quân chủ lực đánh vào hai thành trì quan trọng của đối phương, đó là Hà Hồi và Ngọc Hồi. Nhờ lập nhiều công lao, nên khi xét thưởng ông được nhà vua phong tới tước Ích Quốc công. Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ở lại Thăng Long, tổng thống việc quân quốc. Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích phụ trách việc giao thiệp với Trung Hoa. Tháng 1 năm 1790, Ngô Văn Sở lãnh giao nhiệm vụ dẫn đầu phái đoàn 100 người đưa giả vương Phạm Công Trị sang Yên Kinh nhà Thanh dự lễ Bát tuần đại thọ vua Càn Long. Khi về nước ông được phong Thủy sư Đô đốc. Năm 1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời, Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi (tức Cảnh Thịnh). Ngô Văn Sở được triệu hồi về Phú Xuân. Bùi Đắc Tuyên được Ngô Văn Sở ủng hộ, nên được trọng đãi. Vua Cảnh Thịnh lên ngôi tấn phong chức Đại Đổng lý, tước Quận công (Chấn Quận công), coi sóc cả việc quân và dân ở Bắc Hà. Trong sách "Tây Sơn Lương tướng ngoại truyện" có đoạn chép về ông như sau: ""Ngô Văn Sở làm quan không cầu danh lợi, tiếng tăm, lúc nào cũng muốn tránh quyền thế. Thường ngày, ông yêu kính quân tử mà vẫn giữ lòng thương xót tiểu nhân. Ông cùng với Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng và Bùi Thị Xuân đều là danh tướng, được người đương thời gọi là Tứ kiệt"." Do nhà vua còn nhỏ, quyền hành nhanh chóng rơi vào tay người cậu vua là Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Kể từ đó, triều đình Tây Sơn sinh ra lục đục mãi. Theo tài liệu của các giáo sĩ phương Tây có mặt tại Phú Xuân lúc bấy giờ thì Bùi Đắc Tuyên muốn lật đổ vua Cảnh Thịnh, thanh trừng các công thần Tây Sơn để đưa con mình là Bùi Đắc Trụ lên làm vua. Năm 1793, Nguyễn Ánh đem quân đánh Nguyễn Nhạc. Nguyễn Nhạc cầu cứu ra triều đình Phú Xuân. Quang Toản sai Ngô Văn Sở, Phạm Công Hưng đem 17.000 quân và 80 thớt voi vào cứu, quân Nguyễn Ánh rút lui. Tuy Ngô Văn Sở can ngăn nhưng Phạm Công Hưng vẫn chiếm cứ kho tàng, giải giáp quân đội của vua Thái Đức. Lúc đó Nguyễn Nhạc đang bệnh trên giường, nghe tin đất phong của con mình là Nguyễn Văn Bảo bị chiếm mất thì uất quá thổ huyết mà qua đời. Quang Toản an trí Nguyễn Văn Bảo ra huyện Phù Ly, phế làm Hiếu công và cai quản toàn bộ đất đai của dòng trưởng. Không ngăn cản được việc cướp chính quyền của Phạm Công Hưng, nhưng Ngô Văn Sở đã can thiệp cho các quan văn võ đại thần của vua Thái Đức khỏi bị hại. Lớp xin được cáo quan về làng, lớp thuận quy phục Cảnh Thịnh thì bị phân tán đi các nơi xa. Sau đó Ngô Văn Sở lại trở về Phú Xuân. Năm 1794, xảy ra vụ án Lê Văn Hưng. Để hãm hại Hưng, Đắc Tuyên tâu vua cử Hưng mang quân vào đánh chiếm Phú Yên. Sau chiến thắng, Lê Văn Hưng về Phú Xuân báo tiệp thì bị Bùi Đắc Tuyên tấu xàm là Lê Văn Hưng chưa có lệnh vua đã rút, ý muốn tạo phản. Cảnh Thịnh vì còn nhỏ tuổi ra lệnh giết hại ông dù đã được Ngô Văn Sở và Trần Văn Kỷ can ngăn. Nội bộ lục đục, bị dìm chết. Năm 1795, Đắc Tuyên gọi Vũ Văn Dũng ở Bắc Hà về Phú Xuân, và cho Ngô Văn Sở ra thay. Vũ Văn Dũng về đến trạm Hoàng Giang thì gặp Trần Văn Kỷ bị Bùi Đắc Tuyên đày ở đó. Kỷ nói với Dũng rằng: "Thái sư chuyên quyền tác oai tác phúc, sẽ là điều bất lợi cho xã tắc; nếu không sớm trừ đi, sau này hối cũng không kịp." Nghe lời bàn của Trần Văn Kỷ, Đại Đô đốc Võ Văn Dũng gấp rút dẫn quân về Phú Xuân, bí mật phối hợp với Nguyễn Văn Huấn, Phạm Công Hưng vây bắt Bùi Đắc Tuyên ngay ở cung của vua Cảnh Thịnh. Cho rằng Ngô Văn Sở là người cùng phe cánh với Đắc Tuyên, Vũ Văn Dũng cho làm chiếu lệnh giả ra Thăng Long bắt Ngô Văn Sở giải về Phú Xuân. Ngô Văn Sở và hai cha con Bùi Đắc Tuyên bị nhốt vào cũi sắt, đem xuống sông Hương dìm chết. Đó là năm 1795. Theo danh sĩ Nguyễn Trọng Trì (1854-1922) thì Ngô Văn Sở "không phải là người có nhiều tham vọng." Cho nên ông tự nguyện đi theo Bùi Đắc Tuyên hay bị viên Thái sư này gán ép (để tạo thanh thế), hoặc bị tướng Võ Văn Dũng vu oan (nhằm loại trừ một thế lực), cần phải tìm hiểu thêm. Năm 1788, sau khi Vũ Văn Nhậm bị giết chết, Ngô Văn Sở được giao nhiệm cai quản Bắc Hà. Trong buổi trao quyền, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã tuyên bố rằng: "(Ngô Văn) Sở và (Phan Văn) Lân đều là nanh vuốt của ta". Điều này cho thấy tài năng của ông và sự tin cậy của cấp trên đối với ông. Trong sách "Tây Sơn lương tướng ngoại truyện" của Nguyễn Trọng Trì cũng có đoạn chép về Ngô Văn Sở như sau: "Ngô Văn Sở làm quan không cầu danh lợi tiếng tăm, lúc nào cũng muốn tránh quyền thế. Thường ngày, (ông) yêu kính quân tử mà vẫn giữ lòng thương xót tiểu nhân. Ông cùng với Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng và Bùi Thị Xuân đều là danh tướng, được người đương thời gọi là Tứ kiệt." Cùng thời với ông có tướng Ngô Văn Sở quê ở Gia Định gốc Thừa Thiên, từng theo quân Tây Sơn làm đến chức Đô úy, sau đầu hàng chúa Nguyễn, năm Kỷ Mùi (1799) theo Võ Tánh trấn giữ thành Bình Định. Sách "Đại Nam Liệt truyện" viết về tướng Ngô Văn Sở này như sau: Vợ của tướng Ngô Văn Sở người Gia Định là bà Nguyễn Thị Đích, sinh được 1 con gái và 2 con trai: bà Ngô Thị Chính là con gái đầu lòng, hai người em trai tên Thắng và Thọ. Do trùng tên, Đại Tư mã Ngô Văn Sở thường bị hiểu lầm là cha của Tuệ Khiết Hiền phi Ngô Thị Chính - một phi tần nổi tiếng của vua Minh Mạng.
Nguyễn Cung Tông (chữ Hán: 阮恭宗 23 tháng 2 năm 1852 – 6 tháng 10 năm 1883), tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Ái, sau đổi thành Nguyễn Phúc Ưng Chân (阮福膺禛), là vị hoàng đế thứ năm của triều đại nhà Nguyễn. Ông lên ngôi vua ngày 19 tháng 7 năm 1883 nhưng tại vị chỉ được ba ngày, ngắn nhất trong số 13 vị hoàng đế của triều Nguyễn, được vua Thành Thái truy tôn miếu hiệu là Cung Tông (恭宗), thụy hiệu là Huệ Hoàng đế (惠皇帝). Dục Đức là tên gọi khi ông còn ở Dục Đức Đường. Thân thế và cuộc sống ban đầu. Dục Đức sinh ngày 23 tháng 2 năm 1852 tại Huế. Có nguồn ghi ông sinh 4 tháng 1 năm Quý Sửu (tức 11 tháng 2 năm 1853). Ông là con thứ hai của Thoại Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y (con trai thứ tư của vua Thiệu Trị) và bà Trần Thị Nga, có tự là Ưng Ái (膺𩡤) (sử không lưu lại húy). Năm 1869, khi được 17 tuổi, ông được bác ruột là vua Tự Đức chọn làm con nuôi (vì lúc nhỏ bị bệnh đậu mùa nên vua Tự Đức không có con) và ban tên tự Ưng Chân (膺禛), đồng thời cho ra ở Dục Đức đường (育德堂) và giao cho Hoàng quý phi Vũ Thị Duyên trông nom dạy bảo. Năm 1883 ông được phong làm Thụy Quốc công (瑞國公). Sử sách còn nêu nguyên do ông phải đổi tên vì Nguyễn Phúc Hồng Y sinh ra ông, tên Ái không có bộ "thị", nên Tự Đức nhận ông làm con, đổi là Nguyễn Phúc Ưng Chân, tên này có bộ "thị" (xem thêm bài Đế hệ thi). Trong thời gian này, ông có quan hệ chặt chẽ với người Pháp, khi đó đang xâm lược Việt Nam. Năm 1881, vào thời điểm Pháp rục rịch tấn công miền bắc, ông từng cho chuyển nhiều tài liệu quan trọng về việc nước cho Trú sứ Pháp là Rheinart. Vị vua ba ngày. Ngày 15 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức lâm trọng bệnh, đưa di chiếu truyền ngôi cho Ưng Chân, và dùng Trần Tiễn Thành làm Phụ chánh Đại thần, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết làm Đồng Phụ chánh Đại thần. Nhưng trong di chiếu có đoạn phê bình tính nết của tự quân như sau: "... Ưng Chân tuy từ lâu nay đã trưởng thành nhưng vì có tật ở mắt nên hành vi mờ ám sợ sau này thiếu sáng suốt, tính lại hiếu dâm cũng là điều chẳng tốt chưa chắc đã đảm đương được việc lớn. Mà nước có vua lớn tuổi là điều may cho xã tắc, nếu bỏ đi thì biết làm sao đây"." Các quan Phụ chính Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết dâng sớ lên vua Tự Đức xin bỏ mấy đoạn có liên quan đến tính nết xấu của tự quân và câu "chưa chắc đã đảm đương được việc lớn" nhưng vua Tự Đức từ chối, vì cho rằng viết như thế để tự quân biết kiểm điểm và tu tỉnh. Vào giờ Thìn (11-13 h) ngày 19 tháng 7 năm 1883, Tự Đức qua đời ở điện Càn Thành, Ưng Chân khóc lạy tờ cố mệnh ở điện Cần Chánh, sau đó vào điện Hoàng Phước chịu tang. Trước kia, Tự Đức còn sinh tiền không yêu quý Ưng Chân, thường kiếm cớ bắt lỗi, quở mắng, ngược lại thương yêu người con nuôi thứ 3 là Ưng Đăng (sau là Hoàng đế Kiến Phúc). Nguyễn Văn Tường thấy vậy, nghĩ rằng thế nào Ưng Đăng cũng được chọn nối ngôi, nên khinh thường Ưng Chân ra mặt, không ngờ tờ di chiếu lại viết như thế, khiến trong lòng Tường chẳng được yên, và Tôn Thất Thuyết cũng không bằng lòng với tự quân. Gặp lúc Tự quân đem nhiều người thân cận vào làm hộ vệ trong điện Hoàng Phước và các sở Quang Minh, những người này tự do ra vào cung điện, trong khi các tờ tâu trình khẩn cấp, cơ mật từ các viên đại thần các tỉnh dâng lên để trong điện một đêm vẫn chưa giao ra. Lại trong khi làm lễ cúng tiên đế mà tự quân vẫn mặc áo sắc lục cũ, hoặc sai chế ngay các đồ dùng riêng, đều là những hành động bị cấm trong thời gian để tang. Hai viên phó Phụ chánh thấy vậy càng thêm ganh ghét. Tường mật bàn với Thuyết rằng: "Tiên đế đã bảo vua nối ngôi chưa chắc đương nổi việc lớn, lại giao cho ngôi lớn. Nay bắt đầu, cử động đã như thế, huống chi là ngày sau ư? Đó là việc lo riêng cho chúng ta." Thuyết vốn ỷ mình cầm quân đội trong tay, cũng có mưu đồ phế lập, mới đáp: "Cứ như lời chiếu thì mưu tính là vì Xã tắc, bất đắc dĩ mà làm việc nhỏ như Y Doãn, Hoắc Quang", cũng là chí của Tiên đế". Tự quân cho rằng trong di chiếu có đoạn nói không tốt về mình, không muốn đọc cho mọi người nghe thấy, mới triệu ba viên Phụ chính vào bàn việc bỏ đoạn ấy đi, nói rằng: "Vua là bậc đứng đầu trăm họ, phải là người có đạo đức đứng đầu, di chiếu của Tiên đế vì lo trăm họ, nên có lời răn bảo nghiêm khắc như trên. Ngày nay việc nước khó khăn, quan hệ ngoại giao căng thẳng, nếu để di chiếu lan truyền thì quân Pháp sẽ tìm cớ gây rối, mà các lân bang cũng xem thường, với tình hình như vậy, đình thần giải quyết ra sao". Và đề nghị xóa phần di chiếu đó. Trần Tiễn Thành bằng lòng, hai viên còn lại cũng giả vờ đồng ý. Vì thế Tự quân tự tay xóa bỏ đoạn ấy trong tờ di chiếu, lại dặn riêng với Trần Tiễn Thành cách hành xử lúc tuyên đọc di chiếu. Đến hôm đọc di chiếu, Trần Tiễn Thành khi đến đoạn ấy thì đọc lướt và nhỏ tiếng, không ai nghe thấy cả. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết khi đó mới giở trò lật mặt, giả bộ làm ra vẻ quái lạ, rồi chất vấn vua nối ngôi sao dám giấu bớt di chiếu của Tiên đế, thật là bậy bạ vô cùng, lại vặn hỏi Tiễn Thành. Tiễn Thành biết rằng đã bị đánh lừa, mới đáp rằng mình bị chứng khan tiếng, đọc đến đoạn ấy thì hết hơi. Tường và Thuyết không chịu, lập tức sai quân cấm vệ bắt giữ 10 người hộ vệ của vua nối ngôi đứng đầu là Nguyễn Như Khuê, giam vào ngục, rồi cho Tham tri Nguyễn Trọng Hợp lấy di chiếu đọc lại. Sau đó họp các hoàng thân và các quan ở Tả vu, nói về tội lỗi của Ưng Chân, và xin lập vua khác. Trần Tiễn Thành muốn can ngăn, nhưng Tôn Thất Thuyết quát rằng: "Ông cũng có tội to, còn muốn nói gì nữa." Khi đó trong cả triều chỉ có quan Ngự sử là Phan Đình Phùng lên tiếng phản đối, vị lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hương Khê trong phong trào Cần Vương sau này liền bị bắt giam vào ngục. Trần Tiễn Thành và các hoàng thân đều khiếp sợ, không dám làm trái và cùng ký tên vào tờ hạch tội, tâu xin ý chỉ của Thái hoàng Thái hậu (Từ Dụ) truất bỏ đi. Tờ hạch tội buộc cho vua Dục Đức bốn tội lớn: Sau khi nhận được sự đồng ý của Thái hoàng Thái hậu, hai quan Phụ chính liền ra chỉ phế truất ông vào ngày 23 tháng 7 năm 1883, giáng làm Thụy quốc công như trước, và giam vua Dục Đức ở nơi ở cũ là Dục Đức đường, rồi viện Thái y, và cuối cùng là Ngục thất trong Kinh thành Huế. Kết cục Phế đế. Nguyễn Văn Tường muốn lập Ưng Đăng lên làm vua, nhưng Tôn Thất Thuyết nắm quân đội trong tay, lập em của Tự Đức là Lãng quốc công Hồng Dật lên ngôi, với niên hiệu là Hiệp Hòa, lúc này Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết bàn nhau việc trừ khử Tự quân (tức Dục Đức, lúc đó đang bị giam ở viện Thái y), mới dời ông qua nhà ngục phủ Thừa Thiên và cho canh giữ cẩn mật, lại bắt các con của ông về quản thúc ở quê mẹ: hai hoàng tử thứ 7 (tức vua Thành Thái sau này) và thứ 9 theo mẹ là bà Vương phi Phan Thị Điều về xã Phú Lương, Hoàng tử thứ 10 theo mẹ là bà Nguyễn thị về xã Phú Xuân, còn Hoàng tử thứ 11 vẫn đang trong bụng mẹ. Các con của ông nguyên trong tên có bộ Sơn (山) đều phải đổi theo bộ Thạch (石). Hai người mật báo với quan cai ngục không cho Tự quân ăn uống gì nữa. Giờ Thìn (7-9h) ngày 6 tháng 10 năm 1883 ông qua đời vì bị bỏ đói, hưởng dương 32 tuổi. Người cai ngục khai rằng ông tuyệt thực mà chết, và đem di hài an táng ở cánh đồng xứ Tứ Tây, xã An Cựu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, sau được gọi là An Lăng. Tuy nhiên, theo sử gia Phạm Văn Sơn, thì đang khi vua Dục Đức hết sức đau đớn vì đói khát, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã sai người giết vua bằng thuốc độc vì sợ để lâu sẽ sinh biến. Vì chỉ làm vua được mấy ngày chưa kịp đặt niên hiệu, Dục Đức chỉ là tên gọi nơi ở Dục Đức đường. Khi ông mất, có hai người lính bó thi thể ông trong chiếu rách, mang chôn. Thế nhưng đến đầu làng An Cựu, ngoại thành Huế thì xác vua rơi xuống bên khe nước nông. Tin rằng đây là nơi yên nghỉ do vua tự chọn, người ta chỉ chôn cất ông qua loa cho xong việc. Lâu ngày, ngôi mộ gần như trở thành phần đất bằng do không ai chăm sóc. Có lần, một người ăn mày đói chết, gục ngay trên mộ vua, dân nơi đó không biết vua Dục Đức đã nằm tại đó nên chôn người ăn mày ngay trên mộ vua. Sau này, khi vua Thành Thái lên ngôi, ông lần theo dấu vết và lời kể lại để tìm mộ vua cha. Thế nhưng khi đào lên, người ta thấy ở đó có tới hai bộ hài cốt, vậy là vua đành cho người ta lấp đất lại, xây nơi đó thành An Lăng. Năm 1886 dưới triều vua Đồng Khánh, ông được truy phong là Thụy Nguyên quận vương, thụy là Trang Cung. Năm 1889, Đồng Khánh băng hà, con của Dục Đức là Bửu Lân được lập lên ngôi, tức Hoàng đế Thành Thái. Vua mới cho lập miếu Hoàng khảo (hay Tân miếu) trong kinh thành để thờ cúng Dục Đức. Năm 1892, Thành Thái truy tôn cha mình là Cung Huệ Hoàng đế (恭惠皇帝). Lăng của Dục Đức là An Lăng, tại làng An Cựu, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1897, đổi Tân miếu thành miếu Cung Tông, năm 1899 cho xây điện thờ ở An Lăng, gọi là điện Long Ân. Năm 1901, vua Thành Thái truy thụy cho cha mình là "Khoan Nhân Duệ Triết Tĩnh Minh Huệ Hoàng đế" (寬仁睿哲靜明惠皇帝), miếu hiệu là Cung Tông (恭宗). Vua Dục Đức được ghi nhận là có 8 bà vợ, nhưng sử sách chỉ nhắc nhiều đến bà Phan Thị Điều, là mẹ của vua Thành Thái và Tuyên Hóa vương Bửu Tán. Những bà còn lại không rõ tên. Vua Dục Đức có 11 hoàng tử và 8 hoàng nữ. Ngoại trừ hoàng tử Thành Thái và Bửu Tán, những người con còn lại của vua Dục Đức đều không rõ mẹ.
Nguyễn Giản Tông (chữ Hán:阮簡宗; 12 tháng 2 năm 1869 – 31 tháng 7 năm 1884), tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Đăng (阮福膺登), là vị hoàng đế thứ bảy của triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Ông lên ngôi ngày 2 tháng 12 năm 1883, tại vị được 8 tháng thì qua đời, được truy tôn miếu hiệu là Nguyễn Giản Tông (簡宗), thuỵ hiệu Nghị Hoàng Đế (毅皇帝), ông dùng niên hiệu là Kiến Phúc (建福) nên còn được gọi là Kiến Phúc Đế (建福帝). Dưới thời vua Kiến Phúc, vào ngày 6 tháng 6 năm 1884, triều đình Huế đã kí với thực dân Pháp bản Hòa ước Giáp Thân (Hòa ước Patenôtre), có chỉnh lý một số điều so với bản Hòa ước Quý Mùi nhưng về cơ bản vẫn công nhận sự "bảo hộ" của Pháp đối với đất nước Việt Nam. Vua Kiến Phúc chỉ làm vua được 8 tháng, và trở thành vị quân chủ yểu mệnh nhất của triều đại nhà Nguyễn, khi băng hà chỉ vừa 15 tuổi. Cái chết của ông liên hệ mật thiết đến dưỡng mẫu Học phi Nguyễn Văn Thị Hương và Phụ chánh Đại thần Nguyễn Văn Tường. Kiến Phúc sinh vào ngày 2 tháng giêng năm Kỷ Tỵ (12 tháng 2 năm 1869) tại Huế, là con thứ ba của Kiên quốc công Nguyễn Phúc Hồng Cai (em ruột vua Tự Đức, sau tôn là Thuần Nghị Kiên Thái vương) và bà phủ thiếp Bùi Thị Thanh. Húy của ông là Nguyễn Phúc Ưng Đăng (阮福膺登), lên ngôi lấy tên là Nguyễn Phúc Hạo (阮福昊), tự Dưỡng Thiện. Vì bác ruột của Ưng Đăng tức vua Tự Đức không thể có con, nên đã nhận ba người cháu làm con nuôi: Nguyễn Phúc Ưng Ái (sau là vua Dục Đức), Nguyễn Phúc Ưng Kỷ và Nguyễn Phúc Ưng Đăng, trong đó Ưng Kỷ (sau là vua Đồng Khánh) và Ưng Đăng là anh em ruột, đều là con của Kiên quốc công và phủ thiếp họ Bùi. Theo "Quốc triều sử toát yếu" thì Ưng Đăng được vua Tự Đức truyền đem vào cung, giao cho bà Học phi Nguyễn Văn Thị Hương nuôi dạy từ lúc mới 2 tuổi. Sách Đại Nam thực lục ghi nhận về tính cách của ông: "Vua từ thuở nhỏ đã hiểu biết sớm, ôn hòa, yên lặng, sạch sẽ, cẩn thận lời nói và việc làm. Khi hầu cơm, khi thăm hỏi kính cẩn giữ phận làm con. Ngày thường chỉ ưa thích sách vở, thơ văn." Trong số ba người con nuôi, vua Tự Đức yêu mến Ưng Đăng nhất. Mùa thu năm 1882, ông được cho ra ở nhà đọc sách ở bên tả Duyệt Thị đường, gọi là Dưỡng Thiện đường. Về sau những lúc rảnh, vua lại sai đem các chương tấu ở các nha thuộc các bộ mà cắt nghĩa giảng giải để ông tập xem cho quen. Ngày 19 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức mất, di chúc cho sung Ưng Đăng làm hoàng tử thứ ba, đổi tên là Ưng Hỗ, nhưng vì tuổi còn nhỏ nên không thể lập làm người kế vị, mà người được chọn là Ưng Chân (tức Dục Đức). Di chiếu có đoạn nói về Ưng Đăng: "Ưng Đăng tính thận trọng dễ bảo, hầu hạ sớm hôm cẩn thận, chưa có khuyết điểm gì, nhưng tuổi còn thơ bé, học chưa thông; đương lúc khó khăn này chưa chắc đã am hiểu công việc, nên trẫm đành bỏ tình riêng mà theo mưu nghiệp lớ" Được lập lên ngôi. Tuy nhiên Dục Đức chỉ ở ngôi được ba ngày thì đã bị các quan Phụ chánh đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết phế truất. Hoàng tử Ưng Hỗ bị chuyển ra ở quán quan xá ngoài Cửu vụ khiêm. Em trai vua Tự Đức là Hồng Dật được lập lên ngôi, tức là vua Hiệp Hòa. Ngày 29 tháng 11 năm đó, vua Hiệp Hòa mưu giết các quan Phụ chánh Đại thần thất bại và sau đó bị họ xử tử. Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết họp các quan đại thần, tôn lập Ưng Hỗ lên ngôi. Ông từ chối rằng: "Ta còn non trẻ, sợ không kham nổi công việc." Hai người lại tâu rằng: "Đó là ý của Tiên đế, nay là mệnh trời, xin nghĩ lấy tôn miếu xã tắc làm trọng." Rốt cục ông bị bắt phải nhận lời. Ngày 2 tháng 12 năm 1883, vua mặc áo thêu con mãng đến điện Cần Chính, lạy nhận tỷ ngọc ấn vàng truyền quốc. Vì khi đó mũ cửu long, áo bào vàng và đai ngọc chế chưa xong, đến nỗi không mặc áo bào, tấn tôn đã 3 ngày rồi cũng vẫn mặc áo thêu con mãng, và lấy niên hiệu là "Kiến Phúc". Khi ấy, ông mới 15 tuổi, và mọi việc trong triều đều do hai quan Phụ chính quyết định. Tình hình ở Bắc Kì. Lúc bấy giờ ở Bắc Kỳ, lực lượng của Hoàng Kế Viêm, Trương Quang Đản hãy còn phối hợp với quân nhà Thanh, kình chống với quân Pháp. Viên Khâm sứ Pháp ở Huế lấy điều đó ra trách cứ, khiến triều đình có dụ truyền cho hai viên tướng ấy phải về Kinh. Nhân nhượng như vậy, nhưng ít lâu sau quân Pháp vẫn tiến đánh và chiếm đoạt các tỉnh là Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hóa và Tuyên Quang. Bảo hộ của Pháp. Ngày 18 tháng 4 (âm lịch) năm Giáp Thân (1884), Pháp ký kết hòa ước Thiên Tân (còn gọi là Hòa ước Fournier) với nhà Thanh. Đại lược rằng triều Thanh thuận rút quân đóng ở Bắc Kỳ về, và từ đấy về sau họ để cho nước Pháp được tự do xếp đặt mọi việc ở đất Việt Nam. Thắng thế, ngày 13 tháng 5 (âm lịch) năm đó (tức ngày 6 tháng 6 năm 1884), đại diện Pháp Jules Patenôtre ký tờ hòa ước mới với triều đình nhà Nguyễn. Đó là Hòa ước Giáp Thân (1884), công nhận cuộc bảo hộ của Pháp và chia nước Việt ra làm hai khu vực là Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Hoàng đế yểu mệnh. Đang khi đất nước rối ren như thế, thì vua Kiến Phúc mất vào ngày 10 tháng 6 (âm lịch) năm Giáp Thân (31 tháng 7 năm 1884), hưởng dương 15 tuổi. Miếu hiệu của ông là Giản Tông (簡宗), thụy hiệu là "Thiệu Đức Chí Hiếu Uyên Duệ" Nghị Hoàng đế" (绍德止孝渊睿毅皇帝). Lăng của Kiến Phúc là Bồi Lăng (陪陵), ở phía trái Khiêm Lăng, tại làng Dương Xuân Thượng, phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Kiến Phúc mất, đáng lẽ ra con nuôi thứ hai của vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (Chánh Mông) - cũng là anh ruột của nhà vua, lên nối ngôi. Tuy nhiên bà Hoàng thái phi mẹ nuôi của ông khi vời các hoàng thân gồm Miên Định, Hồng Hưu cùng đại thần Phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và Phạm Thận Duật vào trong cung; đã truyền lại di chúc nhường ngôi cho Công tử Ưng Lịch (con thứ 5 của Hồng Cai song không được Tự Đức nhận làm con nuôi chính thức), lên nối ngôi. Theo Trần Trọng Kim, hai ông Tường và Thuyết sợ lập người lớn tuổi, mình dễ mất quyền, nên mới bỏ qua ông hoàng Chánh Mông mà lập Công tử Ưng Lịch mới 12 tuổi. Đó chính là vua Hàm Nghi. Và "di chúc" của Kiến Phúc thực tế là lời từ miệng của bà Hoàng thái phi, chưa rõ thật sự vua Kiến Phúc có di chúc như thế hay không. Sử nhà Nguyễn chép Kiến Phúc mất vì bệnh. Viên Khâm sứ Pháp Rheinart cũng cho rằng nhà vua mất vì bệnh. Ông kể: "...Cái chết của Đế [Kiến Phúc] là một cái chết tự nhiên [mort naturelle], nhưng nó đã đến một cách quá bất ngờ làm cho mọi người kinh ngạc. Đứa trẻ đáng thương đã làm vua một cách miễn cưỡng: cậu sống trong sự kinh hoàng, luôn luôn lo sợ bị một số phận như người tiền nhiệm, buồn bực, trầm mặc, trốn tránh mọi người. Trong một thời gian khá lâu cậu không dậy nổi, tôi không biết cậu có thể đứng lên mà không cần người đỡ không, từ lúc bị bệnh, nghĩa là từ ba tháng " Tuy nhiên, có lời đồn rằng nhà vua chết là do Nguyễn Văn Tường đầu độc. Sách "Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam" kể: "Nguyên bà Học phi Nguyễn thị (vợ vua Tự Đức) là mẹ nuôi của Kiến Phúc, tư tình với Nguyễn Văn Tường. Nhân một hôm vua bệnh, ông Tường vào thăm có trò chuyện riêng với bà, vua nghe thấy. Ông Tường thấy có thể nguy hiểm liền xuống Thái y viện bốc một thang thuốc dâng vua uống, ngày hôm sau thì vua mấ" Ngoài ra, còn có một số giả thuyết như sau: - Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường giết vua Kiến Phúc, tôn một vị vua nhỏ tuổi hơn để dễ việc nắm trọn quyền bính. - Hai Phụ chính trên cho rằng Hòa ước Giáp Thân (1884) là bất bình đẳng, nếu vua Kiến Phúc không còn nữa thì "hiệp ước sẽ mất hết hiệu lực". - Vua Kiến Phúc và phe phái của ông tư thông với Khâm sứ Pháp ở Huế, làm trở ngại công việc chống Pháp của hai Phụ chính. Và các sách đã dẫn ở mục chú thích.
Đồng Khánh Đế (chữ Hán: 同慶 19 tháng 2 năm 1864 – 28 tháng 1 năm 1889), tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Thị (阮福膺豉) và Nguyễn Phúc Ưng Đường (阮福膺禟 ), lên ngôi lấy tên là Nguyễn Phúc Biện (阮福昪), là vị hoàng đế thứ chín của nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, tại vị từ năm 1885 đến 1889. Đồng Khánh nguyên là con nuôi của vua Tự Đức. Năm 1885, sau khi triều đình Huế bị thất bại trước quân đội Pháp trong trận Kinh thành Huế, vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết bỏ chạy ra Quảng Trị, người Pháp đã lập ông lên làm vua, lập ra chính quyền Nam triều dưới sự Bảo hộ của Pháp. Trong thời gian trị vì của ông, thực dân Pháp bắt đầu những công việc đầu tiên để thiết lập nền đô hộ kéo dài hơn 60 năm ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, trong khi triều đình Huế chọn lối ngoại giao hòa hoãn, tránh gây xích mích với người Pháp, đồng thời tranh thủ xây dựng và quản trị nội bộ. Đồng Khánh Đế chủ trương tiếp thu nền văn minh Pháp, dùng các mặt hàng Tây phương, cách tân và áp dụng các chính sách để nội địa hóa quản trị trong nước. Ông từng được người Pháp trao tặng Huân chương Bắc đẩu Bội tinh. Đầu năm 1889, Đồng Khánh nhuốm bệnh nặng và qua đời khi còn khá trẻ, chỉ trị vì được 4 năm, miếu hiệu là Cảnh Tông (景宗). Kế nhiệm ông là vua Thành Thái. Đồng Khánh sinh ngày 12 tháng 1 năm Giáp Tý, tức ngày 19 tháng 2 năm 1864 tại Huế. Tên húy của ông là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (阮福膺祺), khi lên ngôi đổi thành Nguyễn Phúc Biện (阮福昪). Ngoài ra ông còn có tên gọi là Chánh Mông do vào năm 1882, vua Tự Đức đã lệnh xây cho ông ngôi nhà học gọi là "Chánh Mông đường" (正蒙堂). Ông là con trai cả của Kiên quốc công Nguyễn Phúc Hồng Cai (sau tôn phong làm Thuần Nghị Kiên Thái vương, hoàng tử thứ 26 của vua Thiệu Trị) với bà Chánh phi Bùi Thị Thanh, tên khai sinh là Nguyễn Phúc Ưng Thị. Vì bác của ông là vua Tự Đức mắc bệnh không thể có con nên buộc lòng phải chọn ra các trẻ trong tông thất làm con nuôi để dự phòng sau này có người kế vị. Năm 1865, Ưng Thị mới có hai tuổi được vua Tự Đức nhận làm con nuôi và giao cho bà Nhất giai Thiện phi Nguyễn Thị Cẩm chăm sóc dạy bảo, đổi tên thành Ưng Đường (về sau khi lên ngôi dùng tên trong kim sách là Biện). Ngày 11 tháng 1 năm 1883, vua Tự Đức phong cho ông làm Hoàng tử, Kiên Giang quận công. Trong số các con của Kiên Thái vương sau này có tới ba người được làm vua, là Đồng Khánh, Kiến Phúc và Hàm Nghi, vì thế có câu rằng: "Một nhà sanh đặng ba vua" "Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài". Tuy nhiên ông dường như không được Tự Đức đánh giá cao mà ngược lại, trong số ba người con nuôi, Tự Đức thương quý nhất là Ưng Đăng (Kiến Phúc), vị hoàng tử này cũng là em ruột của Ưng Thị. Trong tờ di chúc, nhà vua nhắc về ông như sau "Ưng Kỷ người yếu hay ốm, có tâm tật, học chưa thông mà kiêu ngạo, hay bới việc riêng của người cho lạm thẳng, đều không phải là tư chất thuần lương theo lời phải, sợ bọn ngươi khó lấy lời nói can được." Ngày 19 tháng 7 năm 1883 (16 tháng 6 âm lịch), vua Tự Đức băng hà ở tuổi 54. Mặc dù có ý trao lại hoàng vị cho Ưng Đăng, tuy nhiên ở trong tình thế người Pháp đang đe dọa xâm lược, việc nước gặp nhiều khó khăn, nên phải chọn Ưng Chân làm người kế vị. Tuy nhiên Ưng Chân (vua Dục Đức) vừa lên ngôi được ba ngày thì đã bị các Phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết phế truất và hại chết. Liên tiếp hai vua Hiệp Hòa, Kiến Phúc được lập lên ngôi rồi cũng đều bị quyền thần bức hại trong khi tình hình chiến sự ngày càng bất lợi. Sau Hòa ước Quý Mùi, ngày 25 tháng 8 năm 1883, Việt Nam chính thức bị đặt dưới sự bảo hộ của Pháp. Ngày 19 tháng 7 năm 1883 (16 tháng 6 âm lịch), vua Tự Đức băng hà ở tuổi 54. Mặc dù có ý trao lại hoàng vị cho Ưng Đăng, tuy nhiên ở trong tình thế người Pháp đang đe dọa xâm lược, việc nước gặp nhiều khó khăn, nên phải chọn Ưng Chân làm người kế vị. Tuy nhiên Ưng Chân (vua Dục Đức) vừa lên ngôi được ba ngày thì đã bị các Phụ chính Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết phế truất và hại chết. Liên tiếp hai vua Hiệp Hòa, Kiến Phúc được lập lên ngôi rồi cũng đều bị quyền thần bức hại trong khi tình hình chiến sự ngày càng bất lợi. Sau Hòa ước Quý Mùi, ngày 25 tháng 8 năm 1883, Việt Nam chính thức bị đặt dưới sự bảo hộ của Pháp. Ngày 31 tháng 7 năm 1884, vua Kiến Phúc qua đời. Đáng lý khi đó phải tôn hoàng tử còn lại là Ưng Thị lên ngôi, nhưng Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết nhìn thấy không thuận mắt, vì thế lại lập người em cùng cha khác mẹ của ông tên là Ưng Lịch lên ngôi, tức là vua Hàm Nghi. Cùng năm đó, Kiên Giang quận công được lệnh đi tế Thanh Minh, nhưng trở về chậm trễ mà bị giáng xuống tước Kiên Giang hầu. Được lập lên ngôi. Đêm ngày 4 rạng sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết cho quân tấn công vào tòa Khâm sứ Pháp và đồn Mang Cá, nhưng thất bại. Quân Pháp phản công đánh vào Đại Nội, hai quan phụ chính vội vã đưa vua Hàm Nghi cùng Tam cung chạy ra Quảng Trị. Hoàng tử Chánh Mông cũng đi theo nhà vua chạy loạn. Nguyễn Văn Tường ở lại kinh thành, bàn với người Pháp đón Tam cung về triều, tuy nhiên nhà vua và Tôn Thất Thuyết vẫn còn ở lại Tân Sở để kháng chiến. Vì thế de Courcy và Nguyễn Văn Tường dùng chú của Tự Đức là Thọ Xuân vương Nguyễn Phúc Miên Định (75 tuổi), hiện là người có uy tín cao nhất và đứng đầu phủ Tông nhơn, làm Giám quốc, trong lúc chờ Hàm Nghi về triều. Ngày 17 tháng 7, hai bà Thái hậu về kinh, lệnh cho các quan tìm đón Hoàng tử Chánh Mông đưa về ở tạm trong phủ Tĩnh Giang quận công. Pháp mượn danh nghĩa Thái hậu, hạ lệnh các quan và sĩ phu trở về, nhưng không có nhiều người hưởng ứng. Ngày 28 tháng 7, Tổng đốc Hải Ninh Nguyễn Hữu Độ được mời về triều, và người Pháp lấy cớ Nguyễn Văn Tường không đón được Hàm Nghi, kết tội ông ta cùng với Tôn Thất Thuyết là "cậy quyền uy hiếp trong ngoài, gây mầm họa chiến tranh, dẫn tới cơn đại biến loạn, tội lớn không sao kể xiết". Sau đó, Pháp cho thuyền chở Văn Tường đến Gia Định, sau chở gồm cả Phạm Thận Duật, Lê Đính (cha Tôn Thất Thuyết) ra thuộc địa Tahiti; Thận Duật trong khi đi đường bị ốm chết ở trên tàu, buông xác xuống biể, để phế truất vua Hàm Nghi và lập hoàng tử Chánh Mông lên ngôi. Ngày 19 tháng 9 năm 1885, Ưng Đường phải thân hành sang bên Khâm sứ Trung kỳ của người Pháp. Sau đó đến giờ Tị, ông làm lễ lên ngôi ở điện Thái Hòa, được tôn làm Hoàng đế, lấy niên hiệu là Đồng Khánh (同慶), với ý nghĩa "Cùng chung niềm vui". Lễ rước vua mới từ Phu Văn Lâu vào điện Càn Thành do de Courcy và Champeaux dẫn đầu. Dọc đường rước vua đi qua có lính Pháp bồng súng và lính Việt vác gươm giáo đứng bảo vệ. Sau ngày lên ngôi, ông gửi quốc thư sang Pháp để "cảm tạ" và hứa sẽ giữ tình giao hảo giữa hai nước, đồng thời còn phong cho de Courcy tước Bảo hộ Quận vương, de Champeaux là Bảo quốc công. Tuy Đồng Khánh đã lên ngôi nhưng vẫn chưa đặt niên hiệu mới, tất cả công văn, giấy tờ đều dùng niên hiệu Hàm Nghi, quần thần nghị bàn rồi xin ý chỉ của Thái hậu, dùng ngay niên hiệu Đồng Khánh không cần đợi đến sang năm. Từ tháng 10 âm lịch trở đi gọi là năm Đồng Khánh Ất Dậu, và từ Tết Nguyên Đán năm sau (Bính Tuất 1886) lấy làm năm Đồng Khánh nguyên niên, cho hợp với lòng người. Theo gia phả dòng họ Nguyễn Phúc, dưới thời Đồng Khánh, triều đình gặp cảnh túng thiếu vì thực dân Pháp vơ vét và phần lớn tiền trong phủ khố đã bị Tôn Thất Thuyết đưa ra Quảng Trị. Vua cùng bộ máy đã cố gắng đưa ra những cải cách và hỗ trợ nhằm khôi phục nền kinh tế bị phá hủy, đồng thời xây dựng và tái thiết văn hóa và giáo dục. Tuy nhiên, tình cảnh trong nước lúc đó nhiều biến động và loạn lạc khiến một phần các chính sách bị ảnh hưởng. Theo hịch Cần vương của vua Hàm Nghi, khắp các nơi trong nam ngoài bắc nổi dậy chống Pháp. Có bài ca dao nói về hoàn cảnh thời đó: "Ngẫm xem thế sự mà rầu," "Ở giữa Đồng Khánh, hai đầu Hàm Nghi." Để ổn định lại vấn đề nội trị trong nước, Tháng 8 âm lịch năm Hàm Nghi nguyên niên (1885), Vua phong Nguyễn Hữu Độ làm Cố mệnh Lương thần, Thái tử Thái sư, Đại Học sĩ điện Cần Chánh, Đại thần Viện Cơ mật, Kinh lược sứ Bắc Kỳ... tước Vĩnh Lại bá, dùng Phan Đình Bình là Cố mệnh Lương thần, Hiệp tá Đại Học sĩ, Đại Học sĩ điện Văn Minh, Tả quốc Huân thần, Thượng thư bộ Lại, Tổng tài Quốc sử quá Ngày 20 tháng 8 năm 1885, nhà vua cùng đình thần quyết định tước bỏ huy hiệu Hoàng thái phi của bà Nguyễn Văn Thị Hương (mẹ nuôi của vua Kiến Phúc), gọi là Học phi như trước, vì lý do rằng việc tấn tôn Thái phi là do ý quyền thần chứ không phải là di mệnh của tiền vương (Tự Đức). Mùa xuân năm 1886, gia cấp cho dưỡng mẫu là bà Thiện phi Nguyễn Thị Cẩm lương bổng hằng năm 300 quan tiền, 700 phương gạo và quần áo mặc vào mùa xuân cùng mùa đông. Bấy giờ có người đề nghị phong tặng thêm cho bà Thiện phi, nhưng đình thần lấy lí do "nước không thể có hai mối" mà từ chối, cũng không truy tặng thêm cho phụ thân bà là Nguyễn Đình Tân. Cùng khi đó lại tôn phong cho cha ruột là Kiên quốc công làm Ôn Nghị Kiên vương, đến năm 1888 lại tặng là Hoàng thúc phụ Thuần Nghị Kiên Thái vương, lăng gọi là Thiên Thành cục, tại Thiên Hoàng Long sơn; gọi sinh mẫu là bà quả phụ Vương phi Bùi Thị Thanh là Hoàng thúc mẫu Kiên Thái vương phi. Lại cấp lộc điền 18 mẫu ở xã Thanh Đàm, phủ Thừa Thiên trong sổ bạ tên Nguyễn Văn Tường cho hai người con của Kiên Thái vương. Truy tặng cha mẹ của Vương phi theo lệ ngoại thích giảm xuống một bậc, và phong cho các anh em ruột là Công tử Ưng Phong làm Kiên huyện hầu, Công nữ Tú Lộc làm An Nghĩa huyện chúa. Tháng 11 âm lịch năm đó có các sao dữ là sao Thái Bạch và sao Chổi hiện ra, vua quở trách Giám thần Cao Chính Thuyết vì cớ biết điềm lành dữ mà e ngại không nói ra. Cũng trong thời gian đó, vua mệnh cho các đại thần ở Viện tập lãm kiểm duyệt và sớm đưa đi in khắc các sách vở trước tác của Hoàng khảo (Tự Đức). Mùa thu năm 1887, lại có lệnh thu thập 3 tập văn thơ thánh chế của vua Tự Đức. Tháng 5 năm 1888, Quốc Tử giám đã thu thập sao chép Tự Đức Thánh chế tam thi tập, vua ngự chế bài Bạt phụ vào cuối mỗi tập. Trong tông thất, năm 1885, vua chuẩn cho khôi phục tước hàm cho những người trong tông thất từng mắc lỗi (Tuy Lý công Miên Trinh, Triệu Phong quận công Miên Triện, Hải Ninh quận công Miên Tranh, Kỳ Phong quận công Hồng Đĩnh, Tuy Lý huyện công Hồng Tu). Cử nhân Công Tôn Ưng Phương được phục hồi nguyên ngạch, Thị độc Học sĩ, Tham tá các vụ Hồng Sâm được phục hồi chức cũ, đổi phong Đồng Xuân công chúa Gia Đốc là công chúa Phục Lễ. Truy tặng Thụy quốc công (vua Dục Đức) làm Thụy Nguyên quận vương, chuẩn cho lập đền thờ, cấp ruộng tế tự 12 mẫu ở xã Triều Sơn. Khi đó tể thần Phan Đình Bình, vốn là cha vợ của vua Dục Đức, cùng Nguyễn Hữu Độ xảy ra xung đột và Hữu Độ mật cáo rằng Phan Đình Bình có ý muốn lập cháu ngoại mình là hoàng tôn Bửu Lân làm vua, lại lúc đi công cán ở Quảng Bình tỏ ra nghe ngóng chần chừ, và tự tiện mang đồ của vua về nhà cùng nhiều tội khác. Quần thần xin an trí Đình Bình ra phủ Thừa Thiên. Đồng Khánh đang trong cơn giận dữ, đem Phan Đình Bình vào tội chết, tước hết chức tước tài sản. Ít lâu sau đó ông ta chết ở trong ngục. Năm 1888, dùng Nguyễn Thuật làm Tả trực Tuyên úy, rồi Thượng thư bộ Hộ, Thượng thư bộ Lại, Hiệp biện Đại Học sĩ gia hàm Thái tử Thiếu bảo, Tổng đốc tỉnh Thanh Hóa. Ngày 11 tháng 12 năm đó, quan đầu triều là Nguyễn Hữu Độ mất., cho Nguyễn Trọng Hợp làm Đại Học sĩ điện Văn Minh, Hoàng Hữu Thường làm Thự tá hiệp Đại Học sĩ. Hai người đều dâng sớ từ chối, vua không theo Việc miễn giảm thuế. Để khôi phục nền kinh tế bị tổn hại nặng nề, Vua ra nhiều chỉ dụ để xử lý các vấn đề cấp thiết nhằm hỗ trợ khôi phục Thủ công nghiệp, kiểm soát giá cả, phát chẩn và trợ giúp các địa phương. Phủ thần tấu rằng sau vụ kinh thành thất thủ, dân các xã làm nghề dệt bỏ nghề rất nhiều, nên xin cho các dịp lễ trong năm sau tạm bãi việc chế vải lụa, nhà vua thuận cho tạm hoãn một hai tháng. Đầu năm 1886, giá gạo ở phủ Thừa Thiên đắt đỏ, vua chuẩn cho trích 5 vạn hộc gạo trong kho ra bán cho dân với giá mỗi hộc 1 đồng bạc, hoặc 6 quan tiền (năm sau lại có tương tự xảy ra và triều đình Huế trích 2 vạn phương gạo giao cho Phủ thần Hội đồng cùng phái bộ bán giảm giá cho dân mỗi phương 8 quan). Vì tỉnh thành Quảng Nam và Bình Định bị giặc cướp đốt phá, triều đình cho trích tiền và gạo trong kho ra chẩn cấp cho dân theo từng thứ hạng. Tháng 4, chiếu miễn thuế năm trước và khoản nợ còn thiếu cho dân ở Hà Tĩnh, thuế còn thiếu năm ngoái cho tỉnh Quảng Bình và miễn nửa thuế vụ hè thu năm trước cho phủ Thừa Thiên. Tháng 6, mệnh cho tỉnh Quảng Trị xem xét trong số tù nhân mà những ai già yếu, bệnh tật mà xét lỗi có thể khoan giảm thì tha cho về. Năm 1887, tỉnh Khánh Hòa bị lụt, dân đói, chuyển 3000 phương gạo chứa ở cửa Đà Nẵng đến chu cấp cho dân. Lại giảm 4/10 thuế thân năm trước, 3/10 thuế sản vật và toàn bộ thuế ruộng đất vụ hè cho tỉnh Thanh Hóa vì địa phương này bị phỉ gây hại nặng nề. Các tỉnh Bắc Ninh, Thanh Hà, Hải Dương gặp thiên tai, chuẩn cho điều hòa miễn giảm thuế ở các nơi. Mùa thu năm đó, chuẩn cấp cho 148 hộ dân Nghệ An bị hỏa hoạn và miễn thuế 2 năm cho tỉnh Bình Định và Phú Yên vì các nơi này bị phỉ quấy rối. Tháng 11 - 12, năm 1888, tỉnh Thanh Hóa dâng sớ nói vùng thượng du liên tiếp bị phỉ quấy rối và nạn hổ báo làm hại dân chúng, xin miễn các khoản cúng nạp và thuế sản vật còn thiếu, vua y cho. Cùng năm ấy, khách người Thanh Trần Quang Hanh ở Vĩnh Yên xin được mở sòng bạc chịu nộp thuế ở Nghĩa An, Nam Nghĩa, Bình Phú thuộc phủ Thừa Thiên, bộ Hộ đã bàn bạc và có ý cho phép. Nhưng Nguyễn Hữu Độ dâng sớ kể về các tệ hại của nạn cờ bạc, nên xin nghiêm cấm, vua chuẩn theo lời tâu đó. Về văn hóa và giáo dục. Tháng 8, bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục được hoàn thành, mệnh tỉnh Hà Nội in ra 100 bản cho vua ngự coi. Tháng 9, vì trường thi Nam Định bị tàn phá do chiến tranh, nên chuẩn cho sĩ tử Nam Định thi chung với sĩ tử Hà Nội. Vì có sự biến khiến các trường phải nhiều lần đình thi, nay số sĩ tử rất đông, nhà vua cho tăng ngạch lấy đỗ (mỗi trường 10 Cử nhân và 30 Tú tài). Mùa hạ năm 1888, cho trường Bình Định thi chung tại Thừa Thiên, Thanh Hóa thi với Nghệ An và Ninh Bình thi chung với Hà Nam. Tháng 5 năm 1887, Đồng Khánh ra chỉ soạn bộ "Dư địa chí", gồm 25 tập chép tay ghi lại địa lý các tỉnh trong cả nước (chỉ gồm Bắc Kỳ và Trung Kỳ). Năm 1888, triều đình tuyển chọn 25 người con em các quan viên từ 15 đến 22 tuổi, cấp cho học bổng mỗi người 100 đồng và đưa sang châu Âu du học. Vua Đồng Khánh có làm một bài thơ Thánh chế tỏ ý dạy bảo quan lại phải chăm lo hoàn thành chức phận, chia sẻ niềm lo lắng trước tình thế khó khăn. Mùa đông năm 1888, Viện Cơ mật tâu rằng đối với những văn bản khẩn cấp phải dâng lên trong đêm thì niêm phong kín lưu ở Viện lưu trát rồi mới dâng lên. Khi có công văn gửi đi thì xin đóng dấu ngự niêm hoặc tín phong ở bên ngoài rồi giao cho Viện thuộc dán kín rồi gửi đi. Vua không ưng theo. Đồng Khánh Đế là một vị vua có một quan điểm cứng rắn về việc nội cung khi ông đưa ra tiêu chuẩn cao cho các cung phi, hoàng tử, công chúa, cung nhân và thị nữ. Vua đưa ra nhiều chỉ dụ, chỉ thị và các trừng phạt nghiêm khắc cho những người vi phạm. Vào cuối năm 1885, trong nội bộ hoàng tộc xảy ra hai sự kiện. Vụ thứ nhất là công tử Hồng Hải đánh nhau với con Phò mã Nguyễn Văn Toán tên là Ước. Anh của Hồng Hải là Hồng Sanh dẫn 3 tên lính "Phú Lãng Sa" bắt tên Ước rồi bỏ trốn. Phủ Tôn nhân chiếu theo điều lệ về "tội đánh nhau" phạt Hồng Hải 30 roi, tư bổng 3 tháng, tên Ước khi nào bắt được sẽ đánh 20 roi để trừng trị. Vua lấy cớ hoàng thân phạm tội, chiếu theo "tội không được làm" phạt Hồng Hải 80 roi, tước bổng 2 năm, và giao tên Ước cho phủ Thừa Thiên định đoạt. Vụ thứ hai là vào tháng 10 âm lịch, đồ thờ ở 5 tòa điện bị mất. Phủ Tôn nhân chuẩn bị làm tội người coi giữ Tôn Thất Úy, Tôn Thất Lã. Viện Cơ mật lấy lý do loạn lạc nên các quan trông nom khó tránh khỏi sơ suất, xin giảm nhẹ tội cho họ. Vua cho rằng để làm gương thì không thể không trừng phạt, và cách chức hai người này. Trước kia Đồng Khánh chưa lên ngôi đã nạp người con gái của Nguyễn Diệm là Nguyễn thị làm Phủ thiếp, đó chính là bà vợ nguyên phối nhưng bà lại mất sớm. Mùa đông năm 1886 tặng là Nghĩa tần, thân phụ bà Nghĩa tần là Hậu quân Đô thống Nguyễn Diễm truy thăng hàm Thái tử Thiếu bảo. Sau khi vua đăng cơ, chuẩn theo trình tâu của Viện Cơ mật và bộ Lễ, tấn phong cho các bà phủ thiếp của mình gồm 5 người vào chức vị: Trần Đăng Thị Đồng làm Quan phi, Phan Văn thị làm Giai phi, Hồ Văn thị làm Chánh tần, Nguyễn Văn thị làm Nghi tần, Trần Văn thị làm Dự tần; chuẩn sung vào quản 6 Thượng viện là Thượng nghi, Thượng trân, Thượng phục, Thượng y, Thượng diên, Thượng nô. Riêng Giai phi được ban quan Nhiếp Lục viện (tức trông coi các việc trong nội cung). Chuẩn phong Mai Văn thị làm Tiệp dư, Nguyễn Văn thị làm Quý nhân, Nguyễn Hữu thị làm Mĩ nhân, Trịnh Văn thị làm Tài nhân và Mai thị làm Tài nhân vị nhập lưu. Ngày 16 tháng 2 năm 1886 ông tuyển con gái của Huân thần Nguyễn Hữu Độ là Nguyễn Hữu Thị Nhàn (1870 - 1936) làm Chánh cung (Hoàng quý phi), ban Kim bài (chiều ngang khắc chữ: "Đồng Khánh sắc tứ", chiều dọc khắc chữ "Kiêm nhiếp lục viện"). Ông Hữu Độ dâng sớ từ chối, nhưng triều đình không theo. Tháng 2 âm lịch năm Đồng Khánh thứ 2 (1887), nhà vua xuống dụ quở mắng các bà trong nội cung là "cam tâm vứt bỏ ân huệ, mỗi ngày một thêm lười biếng, để lại chúng cần thực thêm phí phạm", sau đó tùy theo hạnh kiểm từng người mà giáng xuống có thứ bậc: Quan phi Trần Đăng thị lời nói, cử chỉ thô tục không biết sửa đổi bị giáng làm Tùy tần, Chính tần Hồ Văn thị chơi bời lêu lổng không lo việc công bị giáng làm Mĩ nhân, Nghi tần Nguyễn Văn thị thô bạo tham lam đố kị đủ cả nên bị xử nặng giáng làm Tài nhân; Tài nhân Trịnh Văn thị, Nguyễn Hữu thị khinh nhờn thành thói bị giáng làm Cung nhân. Riêng phần Giai phi đã qua răn dạy mà biết hối lỗi nên được dung thứ. Đối với Hoàng quý phi trông coi việc nội cung mà để bọn ấy vô lễ thái quá, về tình có thể rộng lượng xét cho nhưng phải nhắc nhở nghiêm khắc. Đến tháng 12 cùng năm, có việc cung nhân Nguyễn Thị Điền lấy trộm áo ngự, theo luật thời Minh Mạng phải khép vào tội chém đầu bêu giữa chợ. Các quan trong Nội các xin bãi việc bêu đều. Vua truyền giảm tội thành xử treo cổ, thi hành ngay lập tức. Liền sau đó bà Giai phi Phan Văn thị vì cớ giữ đồ đạc mà không cẩn thận, để thất thoát và giả bệnh trốn trá Mùa xuân năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), biên soạn Ngọc điệp tôn phả, lấy Thượng thư bộ Lễ Đoàn Văn Hội, Thượng thư bộ Hộ Tôn Thất Phiên sung làm Chánh, Phó Tổng tài. Đối với phong trào Cần vương. Bấy giờ ở Tân Sở, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần vương chống Pháp, đất nước lúc đó có tới hai vua. Mùa hạ năm 1886, ngày 17 tháng 6, xa giá khởi hành từ kinh đô bắt đầu chuyến đi với mục đích chiêu dụ phong trào, dựng hành tại ở Châu Thị, cho soạn tờ Sắc dụ để bảo các sĩ phu chống Pháp nếu biết "hối lỗi", "quy thuận" thì vẫn sẽ được cho giữ nguyên chức cũ, mà nếu vua Hàm Nghi thuận về sẽ ban cho tước công, cấp bổng lộc hậu hĩnh, đồ dùng cho xài theo kiểu vua chú, Ngài ngồi tàu từ cửa Nhật Lệ mà về kinh đô. Ngài tự nhận xét về chuyến đi không thành công của mình như sau: "Trẫm hồi loan bình yên, các quan lạy mừng là theo lễ đấy. Nhưng từ Quảng Trị trở ra Bắc, các tướng giặc chưa bắt làm tội hết, chưa chắc hết thảy sớm yên, chưa biết công hay tội thế nào?" "Không đời nào tôi có thể tin rằng Hà Tĩnh, Quảng Bình trung thành với tôi, vì hai tỉnh ấy có nhiều sĩ phu quá!" Năm 1887, vua Đồng Khánh lại cử Hoàng Tá Viêm, một cựu thần có uy tín, làm An Hữu Kinh lý Đại thần, ra Quảng Bình phủ dụ phe kháng chiến một lần nữa. Chiếu thư của ông nói rõ: nếu vua Hàm Nghi thuận về sẽ phong làm Tổng trấn Thanh Nghệ, hậu đãi bổng lộc; Tôn Thất Thuyết nếu chịu quy phục sẽ xóa tội cũ cho về làm ruộng, bọn Trương Văn Ban, Nguyễn Trực, Nguyễn Thư, Lê Mô Khởi, Nguyễn Nguyên Thành, Phan Trọng Mư, Nguyễn Phạm Tuân, Phan Đình Phùng nếu quay đầu cũng sẽ khoan giảm tội mà bố trí cho các chức hàm khác. Kết quả không có ai chịu theo hàng, và Hoàng Tá Viêm được lệnh về triều vào tháng 12 năm đó. Cuối năm 1888, nhờ có nội gián Nguyễn Đình Tình và Trương Quang Ngọc mà người Pháp vây bắt được vua Hàm Nghi. Triều đình Huế đã biết tin, sai quan lại Thừa Thiên và bộ binh ra đón rước về Huế. Nhưng người Pháp sợ dân tình sẽ bị kích động nên quyết định đày Hàm Nghi ra Algérie ở Bắc Phi. Trong tình thế đó, Vua yêu cầu Toàn quyền Pháp Étienne Antione Guillaume Richaud trợ cấp mỗi năm cho vua Hàm Nghi (quận công Ưng Lịch) mỗi năm 4.981 đồng bạc - một khoản tiền rất lớn ở thời điểm đó, và cho thêm một người hầu cận với lương mỗi năm 299 đồng. Từ đó các cuộc kháng chiến ở Bắc và Trung Bộ lần lượt bị đàn áp hoặc phải đầu hàng. Phong trào Cần vương suy yếu dần, nhưng còn kéo dài đến năm 1896 mới dứt hẳn. Quan hệ với người Pháp. Vua Đồng Khánh là người theo chủ trương ôn hòa với người Pháp, sách của Trần Trọng Kim viết: "Đồng Khánh tính tình hiền lành, hay trang sức và cũng muốn duy tân, ở rất được lòng người Pháp". Sau khi đăng cơ, vua Đồng Khánh gửi thư cho chính phủ Pháp đáp lễ và cam kết giữ mối bang giao hai nước. Chính phủ Pháp trao tặng cho ông Huân chương Bắc Đẩu bội tinh hạng Nhất, đồng thời "trả lại" 2 điện Hiếu Tư, Long An và Quốc sử quán bị chiếm giữ trước đó; "giao trả" 20.000 lạng bạc (2.000 thoi, mỗi thoi 10 lạng) và 20.000 quan tiền đồng, chuẩn cho cung tiến trong Nội cung 10.000 lạng bạc, 10.000 quan tiền;lưỡng cung Thái hậu cung 10.000 lạng bạc, 10.000 quan tiền . Tuy nhiên về thực chất, kho tàng vẫn người Pháp canh giữ, chỉ theo điều khoản mà tới kì hạn mà trích ra cho hoàng gia mà thôi. Toàn quyền Pháp thảo ra ba điều lệ đưa cho Viện Cơ mật gồm: Điều lệ cấm chuyên chở súng ống đạn dược (Chỉ những quan Pháp và thương nhân có giấy ủy quyền của công sứ mới được phép chở binh khí vào nước ta, nhưng phải khai trình rõ ràng. Những người làm trái sẽ bị trị tội theo pháp luật, vũ khí ấy sẽ bị sung vào kho). Điều lệ nhà nước có quyền lấy ruộng tư sung vào ruộng công nếu việc đó cần cho lợi ích chung (những việc vì lợi ích nhà nước mà lấn vào ruộng tư của nhà nào, nếu có chỉ ý của triều đình và Toàn quyền Pháp, thì ruộng đó phải sung công và được đền bù bằng tiền). Điều lệ về quyền chức Kinh lược Bắc Kỳ (thay mặt nhà vua ở Bắc Kỳ). Tháng 11 năm 1885, ông hạ lệnh đặt ra 8 lá cờ Bảo hộ để phát cho Lục bộ cùng Viện Cơ mật, Ti Hành nhơn để treo trong các ngày lễ tết và ngày Quốc khánh Pháp. Lá cờ bảo hộ có nền vàng, ở góc trái trên cao là hình quốc kỳ Pháp, sách Đại Nam thực lục Chính biên mô tả như sau: "Mẫu cờ (chia làm 4 phần): 3 phần dùng sắc vàng, trong đó một phần phía trên ở chỗ gần mặt trên trục, 1 phần 3 dùng sắc xanh, trắng, đỏ; giao cho các địa phương tuân theo mà làm". Ngày 14 tháng 3 năm 1886, triều đình Huế và Pháp thiết kế ra một loại huân chương dành tặng thưởng cho các viên chức có công, được gọi là "ordre impérial du Dragon d'Annam" (Long bội tinh), phỏng theo mô hình Bắc đẩu bội tinh của Pháp. Tổng sứ Bắc Trung kỳ Paul Bert là người đầu tiên được vua Đồng Khánh ban thưởng Long bội tinh hạng nhất năm 1886. Theo Đại Nam thực lục, vào cuối năm 1887, theo đề nghị của chính phủ bảo hộ Pháp, 191 quan viên người Pháp và 21 quan viên người Việt được trao huân chương này. Lúc bấy giờ Nguyễn Hữu Độ được cử ra Bắc Kì gặp Thống tướng của Pháp de Courcy thương lượng về các khoản cấp dành cho triều đình Huế ở Bắc Kì mỗi năm, cụ thể như sau: Chi phí hằng năm tăng thêm số tiền và gạo, mỗi năm khoản 1 triệu quan. Ngạch lính ở Kinh 1000 người, các tỉnh từ 300 đến 400, 500, súng ống 2000 khẩu. Các khoản thuế chợ, thuế đò và các mặt hàng đồng, tơ sợi, rượ Vấn đề lương giáo do triều đình quản lý. Việc thay đổi và bổ dụng các quan do bản quốc tâu chuẩn định đoạt. Mùa xuân năm Đồng Khánh thứ 2 (1887), Nguyễn Hữu Độ về Huế. Mùa hạ cùng năm, chuẩn cho mở trường dạy tiếng Pháp, lấy Diệp Văn Cương làm Chưởng giáo, Nguyễn Hữu Mẫn làm Trợ giáo, cho con em quan lại, binh lính và dân chúng được nộp tiền mà vô học, đến cuối năm Viện Cơ mật làm cuộc sát hạch, tuyển những người ưu tú làm Hành nhân, cấp lương bổng cho việc học chữ và học việc. Mùa đông năm 1887, người Pháp tiến hành đào cảng từ nước Pháp đến Tân Thế giới, muốn thuê 1500 dân phu ở nước ta và nước Thanh. Vua và Triều đình nhận thấy đường sá xa xôi, nhọc tới sức dân, nên không đồng ý. Ít lâu sau đó, công trình xưởng thợ Hải Vân ở người Pháp xin bắt dân phu và định khi khởi công sẽ bắt thêm 2500 - 3000 người nữa. Viện thần xin tư cho phủ Quảng Trị, Quảng Nam theo đó bắt dân phu ứng dịch, còn về khoản tăng thì sẽ tính sau. Vua đáp lại rằng người dân đang gặp nạn đói và thời tiết rét mướt, áo quần không có mà lại bắt đi phu, người ta sẽ oán thán. Ngày 8 tháng 11 năm 1887, de Courcy chết. Vua sai Hoài Đức công Nguyễn Phúc Miên Lâm và Thượng thư bộ Lễ Chu Đình Kế ra Bắc phùng viếng, thăm hỏi, cấp 500 đồng bạc để đúc tượng đồng của De Courcy. Tháng 3 năm 1888, Toàn quyền Đông Dương Ernest Constans yết kiến vua ở điện Thái Hòa dâng trình quốc thư, Đồng Khánh cũng viết thư phúc đáp. Ngày 17 tháng 10 năm 1887, Tổng thống Pháp Marie François Sadi Carnot ra sắc lệnh thành lập Liên bang Đông Dương với thuộc địa Nam Kỳ, bán thuộc địa bán bảo hộ Bắc Kỳ cùng hai xứ bảo hộ Trung Kỳ và Campuchia đều đặt dưới 1 viên quan Toàn quyền Đông Dương người Pháp. Ngày 3 tháng 10 năm 1888, triều đình Huế bị Pháp ép phải cắt nhượng năm xã của huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam nằm bên tả ngạn sông Hàn làm "nhượng địa" Tourane (sau gọi là Đà Nẵng). Hà Nội và Hải Phòng cũng chung số phận như vậy, và 3 khu vực này trở thành 3 thuộc địa chính thức. Tính cách và sinh hoạt thường ngày. Năm 1886, Trương Vĩnh Ký được người Pháp đưa về Huế để làm việc, và được yết kiến với vua Đồng Khánh. Trong một lá thư viết tại Huế đề ngày 24 tháng 4 năm 1886, Trương Vĩnh Ký đã thuật lại về Hoàng đế như sau: "Vua Đồng Khánh, nay được 23 tuổi, con của hoàng tử Kiến quốc Công – con trai Thiệu Trị anh cả cùng mẹ khác cha (?) với Kiến Phúc, là người nối ngôi từ tháng 8 năm 1885, đồng thời cũng là anh em cùng cha khác mẹ với người em thứ Hàm Nghi. Tự Đức không có con, nên đã nuôi dạy Đồng Khánh trong Nội cung hai năm coi như hoàng dưỡng tử, và được ban tước như đã từng ban cho Dục Đức – con của hoàng tử Kiến Thoại Vương và Kiến Phước, để sau này truyền ngôi. Nhà vua đương kim được người em Kiến Phước thương yêu trìu mến, một tính cách trái ngược với những gì thường xảy ra trong các hoàng gia Á châu. Khi Kiến Phước dạo chơi, người anh cả âu yếm bồng em trong tay, hoặc đi kèm hai bên Kiến Phước. Suốt thời trẻ, Đồng Khánh ở trong một dinh thất đặc biệt gọi là Chánh Mông đường, vùi đầu vào viêc học tập (để đạt đến) cái danh vọng của xứ An Nam. Ngày đêm ông hoàng miệt mài đọc sách, tranh thủ tiếp thu chữ nghĩa một cách chăm chỉ tại thư phòng. Nhờ thế, ông tỏ ra thông hiểu triết học, lịch sử và văn chương Viễn Đông, giỏi hơn một nhà nho trung bình. Ông chỉ có một cách nghỉ ngơi giải trí duy nhất là tập cưỡi ngựa. Ông cũng được Tự Đức quan tâm chăm sóc, mỗi tháng ba lần nhà vua cho phép Đồng Khánh vào Nội các để nghị luận về kinh truyện cổ điển, tập làm tấu chương, để sau này tham gia tu chỉnh điển chương, chính sự. Trong các cuộc hội họp của Nội các, ông hoàng nổi bật do sự mẫn tiệp đánh giá đúng người đúng việc của ông. Ông hoàng trẻ này dường như không hề có tham vọng ngai vàng, nên chẳng quan tâm đến những xung đột giữa các triều thần và những lạm dụng quyền hành cần phải kiềm chế, mà chỉ giữ thái độ vô tư, chẳng bận lòng về những mối cừu hận giữa các phe phái. Sống giữa lòng dân tộc, ông hoàng có thể có những quan sát cá nhân để lượng định tình trạng khốn khổ của dân chúng. Về phần phẩm hạnh, ông hoàng giữ ý tứ giữa các anh em cũng như các đấng sinh thành, mối hòa đồng mà Khổng Tử đã khuyến dạy. Ông hoàng trẻ này có vẻ thông tuệ và nhã nhặn, dễ dàng thích nghi với những tập tục ngoại lai xét ra ưu việt hơn những lề thói của người bản xứ." Đồng Khánh là vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn chấp nhận sự bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Được tiếp xúc với nền văn minh Tây phương, ông uống rượu Bordeaux, uống sữa hộp và thích dùng các hàng hóa đồ chơi của Pháp chế tạo. Ông còn ban các món ấy cho các hoàng thân, phi tần, cung nữ... Tháng 1 năm 1886, theo đề nghị của người Pháp, vua Đồng Khánh đã cho phép thợ ảnh chụp mình. Bức ảnh vua Đồng Khánh sau đó được rửa làm 2 bản, một gửi về Pháp quốc, một nhà vua giữ lại. Từ thời vua Tự Đức trở về trước, do những quan điểm riêng mà các vị vua nhà Nguyễn đều không chấp nhận việc chụp ảnh này. Như vậy có thể coi Đồng Khánh là vị vua đầu tiên cho phép thợ ảnh chụp ảnh mình. Trong sinh hoạt thường ngày, nhà vua hay chú ý đến ngoại diện, thường chăm sóc trang điểm. F. Baille kể lại trong bài " Les Annamite " như sau: "Hàng ngày, một toán cung phi được chọn trong tất cả đẳng cấp phục dịch đức vua. Ba mươi người chia nhau canh gác xung quanh hậu cung của ngài, năm nàng luôn ở bên cạnh ngài, luân phiên săn sóc, trang điểm cho ngài. Các nàng thay quần áo cho ngài, chải chuốt bộ móng tay dài hơn ngón tay, thoa dầu thơm, vấn khăn lụa vòng quanh đầu ngài. Sau cùng chú ý đến từng chi tiết nhỏ nhặt xung quanh ngài sao cho thật hoàn hảo, năm cung phi này cũng kiêm lo hầu cơm nước cho đức vua." Theo "Kể chuyện các vua Nguyễn", vua Đồng Khánh thích xem hát bội. Nhà vua đặt tên cho các cung phi sủng ái của mình theo các vị thuốc bắc trong vở hát đặc biệt yêu thích "Vạn Bửu trình tường" như: Đại Hoàng, Nhân Sâm, Cam Thả Qua đời và việc kế vị. Vì biết rằng mình không thể sống lâu, vua Đồng Khánh rất thích đọc các sách về kinh dịch, bói toán, tìm hiểu những điều huyền bí. Khi còn là hoàng tử, vì muốn biết khi nào được lên ngôi và trị vì như thế nào, nhà vua đã cầu xin Thánh Mẫu Thiên Y A Na ở đền Ngọc Trản cho biết và nữ thần đã đoán đúng ngày vua lên ngôi. Tháng 3 năm 1886, nhà vua cho đổi đền nữ thần Ngọc Trản thành điện Huệ Nam (có nghĩa là ban ân cho nước Nam). Nhà vua tự nhận là đồ đệ của Thánh Mẫu và gọi bà là "chị", lại sắc cho bộ Công treo biển ngạch treo ở điện, bộ Lễ mỗi năm hai kỳ (mùa Xuân và mùa Thu) phải cử một vị quan đại diện triều đình đến nơi để dâng đồ lễ... Cuối năm 1888, Đồng Khánh mắc một bệnh lạ, mà các bộ sử của nhà Nguyễn đều không ghi rõ là căn bệnh gì. Ông không ăn uống gì được, thỉnh thoảng lên cơn sốt, nhức nhối trong người và thường mơ thấy ác mộng. Các quan ngự y không ai chữa được, kẻ thì bị cách chức, người bị bỏ ngục. Tổng Trú sứ Rheinart gợi ý nhà vua nhờ tới bác sĩ Pháp, và ông Cotte đang ở cửa Thuận An được triệu vào cung, nhưng việc chẩn trị cũng không có kết quả. Trong báo cáo gửi cho Toàn quyền Đông Dương, Rheinart mô tả về bệnh tình của Đồng Khánh như sau: "Sáng ngày 27, tôi cho đi hỏi tin tức Nhà vua và được trả lời rằng đêm trước tình hình rất tệ. Nhà vua đã nôn, nấc và đã bất tỉnh trong nhiều giờ, rất đáng lo và sợ một vụ đầu độc luôn đáng ngờ trong chốn đầy mưu mô ở triều đình, tôi năn nỉ để một trong các bác sĩ của chúng ta khám bệnh cho Nhà vua. Những sự vận động đầu tiên đã không thể đạt mục đích, vì các thành kiến quá nặng nề không dễ để người ta nhường bước. Cuối cùng, khoảng 2 giờ, người ta báo cho tôi rằng Nhà vua đã muốn ăn một chút cơm và lại mệt ngay sau đó và rằng Nhà vua đã chấp nhận sự chăm sóc của chúng " Trong cuốn Souvenir d’Annam (1886-1890) của Baille - nguyên Công sứ Pháp tại Huế, xuất bản ngay trong năm 1890 cũng có chi tiết nói về chuyện này, dịch ra tiếng Việt như sau: "Các thầy thuốc An Nam đã hết phương chữa trị. Cáu giận, nhà vua đã thẳng tay sa thải họ, trừng phạt họ, sai tống giam họ và tuyên bố sẵn sàng chấp nhận những lời tư vấn của một bác sĩ Pháp". Tuy sức khỏe suy yếu nhưng Đồng Khánh vẫn gắng gượng xử lý việc triều chính, lệnh các nơi dâng tấu vẫn theo lệ thường. Các quan trong triều xin đình chỉ việc dâng sớ để nhà vua giữ gìn sức khỏe, ông đáp rằng: "Việc nước còn nhiều quan hệ khẩn yếu, trẫm lấy làm lo, nên không thể không cố gắng". Sau gần 2 tuần nhuốm bệnh, đến ngày 26 tháng 1 năm 1889, bệnh trở nặng. Ngày 28 tháng 1 năm 1889 (âm lịch ngày 27 tháng 12 năm Mậu Tý), lúc 8 giờ tối, Đồng Khánh băng hà ở điện Càn Thành, hưởng dương 24 tuổi, trị vì được 3 năm. Theo một số người thuật lại, nhà vua phát bệnh là vì ám ảnh bởi cái chết của Phan Đình Bình trước đó. Căn cứ báo cáo ngày 30 tháng 1 năm 1889, nhà vua đã "qua đời vì cơn sốt rét ác tính và mọi ý nghĩ về cái chết bất đắc kỳ tử có lẽ phải dẹp bỏ, vì những biểu hiện quan sát được không cho phép đặt giả thiết rằng nhà vua là nạn nhân của một vụ đầu độc hình sự". Vì các con của ông tuổi đều còn nhỏ chưa có nối ngôi được, các quan kéo nhau đến hỏi ý kiến của Tổng sứ Trung Bắc kỳ Pierre Paul Rheinart. Bấy giờ Phan Đình Bình bị chết, con gái ông là bà Vương phi Phan Thị Điều cùng con trai tức Hoàng tử Bửu Lân bị đưa đi quản thúc ở nhà Trấn Vũ phía đông kinh thành. Khi đó, thông ngôn Diệp Văn Cương là em rể của Dục Đức cố tình dịch sai lời nói của Khâm sứ Rheinart, để giúp Bửu Lân lên ngôi vua, tức là vua Thành Thái. Ngày 15 tháng 2, triều đình rước quan tài vua Đồng Khánh tới điện Phụng An. Ngày 16 tháng 1 làm lễ thành phục. Ngày 25 tháng 1, đặt thụy hiệu là "Hoằng Liệt Thông Thiết Mẫn Huệ Thuần Hoàng Đế" (弘烈聰哲敏惠純皇帝), miếu hiệu là Cảnh Tông (景宗). Vua Đồng Khánh có sáu người con trai, nhưng chỉ có Hoàng trưởng tử là Bửu Đảo sống qua tuổi trưởng thành. Năm 1916, Bửu Đảo mới được lập lên ngôi, tức là vua Khải Định. Truy thụy cho vua cha là "Phối Thiên Minh Vận Hiếu Đức Nhân Vũ Vĩ Công Hoằng Liệt Thông Thiết Mẫn Huệ Thuần Hoàng Đế" (配天明運孝德仁武偉功弘烈聰哲敏惠純皇帝), miếu hiệu là Cảnh Tông (景宗). Đánh giá, di sản. Vua Đồng Khánh là vị vua gây nhiều tranh cãi với nhiều góc nhìn nhận khác nhau của mỗi một chế độ. Trong con mắt các nhà Sử học theo quan điểm chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Vua là một ông vua xu nịnh người Pháp trong khi theo chính sử chép của Sử quan nhà Nguyễn cũng như các nhà Sử học như Trần Trọng Kim và các nhà Sử học theo chế độ Việt Nam Cộng Hòa, Vua được đánh giá là một vị vua sáng suốt, thông minh, vì nước, vì dân, ngặt vì tình thế và thọ mệnh không dài mà sự nghiệp của Vua cũng như vận mệnh của một Quốc gia còn nhiều điều phải tiếc nuối. Theo sử quan nhà Nguyễn: "Vua là người sáng suốt, quả cảm, cương quyết, lanh lợi, để chí về trung hưng, mọi người đương có hy vọng như Tuyên vương nhà Chu, thế mà không được sống lâu, không thành được việc lớn, đáng tiếc thay!" "Cảnh Tông Thuần Hoàng đế, tư chất hơn bậc thượng triết; vận hội gặp buổi trung hưng, khôi phục ngôi cao, cả nhận mệnh lớn, kính trời đất, làm lễ Nam Giao; theo tổ tiên giữ hiến chương cũ. Phụng thờ Hoàng Thái hậu, hiếu thảo một lòng, đối xử với họ hàng, ơn ban khắp cả; lấy lễ độ đối đãi bề tôi, dùng khoan hòa trị yên dân chúng, thân ra chiến trận, công võ hiển dương; sửa lệ bang giao, lân hiếu càng hậu; xem tờ can gián, nêu thưởng kẻ trung ngôn; nghe giảng kinh diên, biết rộng đạo hiền thánh. Yêu dân chăm việc; trị ngục hoãn hình, cùng là mở rộng khoa thi, gia ơn cho sĩ tử; tha số thuế thiếu, để vỗ yên nhân dân; gặp khánh tiết thì ban ân, cứ đầu xuân là thưởng khắp". Trước 1975, tên vua được đặt cho một đại lộ tại Sài Gòn, nay là đường Trần Hưng Đạo tại Quận 5 cũng như hai trường phổ thông nổi tiếng tại Hà Nội và Huế - Trường Nữ sinh Đồng Khánh nhằm vinh danh ông Một trong những công trạng lớn nhất của vua Đồng Khánh khi ở ngai vàng là đòi lại kho báu của triều đình Nhà Nguyễn bị Pháp cướp đi sau khi Kinh thành Huế thất thủ. Chính phủ Pháp đồng ý trao trả lại 1/2 số vàng bạc và báu vật cướp được. Triều đình Huế yêu cầu người Pháp ưu tiên trả lại ấn triện, sách vàng và những đồ thờ tự bằng vàng bạc mang tính quốc bảo, vì thế mà hiện nay, Việt Nam vẫn còn giữ lại được khá nguyên vẹn các bảo vật của triều Nguyễn Về phía Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tiến sĩ Phan Viết Dũng đánh giá Đồng Khánh là một ông vua bù nhìn vì quyền lợi của mình mà luồn cúi với người Pháp, bán rẻ quyền lợi của dân tộc. Về chủ trương chiêu dụ của Đồng Khánh đối với phong trào Cần Vương, tác giả cho rằng: "Chủ trương phủ dụ của Đồng Khánh là chiêu bài xảo trá, âm mưu nhanh chóng tiêu diệt lực lượng Cần Vương hòng dập tắt phong trào yêu nước của nhân dân chống thực dân Pháp và triều đình thân Pháp để củng cố một vương triều vì lợi ích của ông vua bù nhìn. Với chủ trương này ông vua bù nhìn Đồng Khánh ngày càng bộc lộ bản chất nhu nhược, thần phục ách đô hộ của thực dân Pháp để lại một vết nhơ trong lịch sử". Hầu hết các sử sách của Việt Nam sau 1945 thường đánh giá ông như một ông vua phản động, thân Pháp, vì quyền lợi của riêng mình mà cam tâm làm bù nhìn, tay sai cho ngoại bang. Lăng của Đồng Khánh là Tư Lăng (思陵), tại làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, phía Tây núi Khiêm sơn, cách Khiêm lăng 500m và cách kinh thành 6,5 km về phía Nam. Ông được thờ tại Tả Tam Án ở Thế Miếu và Tả Tam Án điện Phụng Tiên trong Đại Nội kinh thành Huế. Vốn là khi ông qua đời, vì kinh tế kiệt quệ nên vua Thành Thái đã lấy điện Trung Tư vừa xây xong đổi thành điện Ngưng Hy để thờ tiên vương, và an táng ông trên đồi Hộ Thuận cách đó 300m về phía Tây và đặt tên khu vực này là Tư lăng. Đến năm 1916, vua Khải Định cho tu sửa điện Ngưng Hy gồm một chánh tịch và một tiền tịch, các công trình phụ trợ có Tả, Hữu Phối điện ở phía trước, Tả, Hữu Tùng viện và Kiều gia ở phía sau. Khu vực lăng mộ được Âu hóa hoàn toàn hơn với Bi đình là theo kiểu kiến trúc romance pha trộn đường nét Á Đông. Tại Paris, ngày 24 tháng 11 năm 2010, một bức tranh của vua Hàm Nghi được tìm thấy và được đem bán đấu giá. Qua một cuộc bán đấu giá khác của Sotheby, một bức tranh vẽ "Đại nội Huế" cũng đã được bán. Đây có thể là tác phẩm của vua Đồng Khánh, với bút danh ký trên tác phẩm là Ưng Mông. Như vậy, về mặt niên đại, vua Đồng Khánh đã vẽ tranh cách ngày nay ít nhất 127 năm, trước vua Hàm Nghi. Vua Hàm Nghi chỉ bắt đầu đi vào hội họa sau khi ông từ Alger sang Paris và được xem một cuộc triển lãm hội họa của Gauguin (1899), tức là đúng mười năm sau khi vua Đồng Khánh mất. Ở Sài Gòn trước năm 1975 có một đại lộ được đặt tên Đồng Khánh. Đến năm 1976 đổi tên là đường Trần Hưng Đạo B, nay thuộc địa bàn quận 5. Niên hiệu Đồng Khánh còn được dùng để đặt tên cho một số ngôi trường ở Việt Nam: Theo "Nguyễn Phúc tộc thế phả", vua Đồng Khánh có 6 hoàng tử và 4 hoàng nữ. "Hoàng tộc lược biên" của dòng họ Nguyễn Phúc lại chép rằng, vua có đến 6 hoàng nữ, song không kể tên của họ: Bà Trần Lệ Xuân, tức Madame Nhu, Đệ nhất Phu nhân của chính quyền Việt Nam Cộng hòa từ 1955 đến 1963, là cháu gọi vua Đồng Khánh bằng ông cố (bà Thân Thị Nam Trân mẹ bà Nhu là cháu gọi vua Đồng Khánh là ông ngoại).
Tcl hay TCL (viết tắt từ Tool Command Language) là một ngôn ngữ thông dịch mạnh mẽ và dễ sử dụng. Nó có thể chạy trên nhiều hệ điều hành khác nhau. Tcl được Giáo sư John Ousterhout của Đại học California tại Berkeley xây dựng vào năm 1988, đầu tiên từ ý tưởng xây dựng một ngôn ngữ thông dịch hiệu quả, và sau đó là bộ thư viện kèm theo có thể tái sử dụng trong các chương trình sau này. Mục tiêu chính của Tcl là một "embedded command language" (ngôn ngữ lệnh nhúng được) thể hiện ở 3 nội dung sau: Tcl được ứng dụng trong các lĩnh vực từ trên máy tính cá nhân cho đến các ứng dụng mạng, quản trị, kiểm tra. Các gói mở rộng ("package") của Tcl bao gồm:
Định luật thứ hai của nhiệt động lực học Định luật 2 nhiệt động lực học hay nguyên lý thứ hai của nhiệt động lực học là một trong 4 định luật cơ bản của nhiệt động lực học. Nó liên quan đến tính không thể đảo ngược của một quá trình nhiệt động lực học và đề ra khái niệm entropy do nhà vật lý học người Phổ là Rudolf Clausius phát hiện ra. Từ thế kỉ 18, các nhà khoa học đã biết đến hai quá trình đặc biệt mà nó chi phối toàn bộ vũ trụ đó là quá trình thuận nghịch và bất thuận nghịch. Quá trình thuận nghịch là quá trình mà vật chất tiến tới hậu quả (kết quả) sau đó lại có thể quay về nguyên nhân, rồi lại tiến tới mãi mãi, lặp đi lặp lại vô hạn khiến cho sinh vật không bao giờ già đi, vật chất không bao giờ bị hủy hoại hay bị lão hóa và trở thành vĩnh cửu, không thể phá hủy. Theo lý thuyết thì điều này có vẻ hơi hoang đường, phi thực tế như sự xuất hiện của lý thuyết về động cơ vĩnh cửu vậy. Quá trình bất thuận nghịch là một quá trình nghịch đảo của quá trình thuận nghịch, đây là quá trình mà sự vật sự việc luôn đi từ quá khứ đến hiện tại mà không đi ngược lại, quá trình này đồng nghĩa với sự tự phá hủy, hủy hoại của vật chất: con người thì ngày càng già đi, máy móc thì hoạt động ngày càng yếu đi, kim loại bị ăn mòn bị rỉ sé, vừa phát sáng lại vừa tỏa nhiệt, ngọn lửa lại có thể chuyển động linh hoạt, nói chung bản chất của lửa là nhiệt, nhiệt có thể tạo thành bằng cách thực hiện công hay truyền nhiệt. Bản chất của vũ trụ là nhiệt, không một vật thể nào trong vũ trụ không chịu sự chi phối của nhiệt nói cách khác mọi vật đều có ma sát không nhiều thì ít mà ma sát lại sinh ra nhiệt. Thực ra trước khi Clausius ra đời thì một kĩ sư người Pháp tên là Sadi Carnot đã hoàn thành một tác phẩm là "những suy tư về động lực của nhiệt". Đây là tác phẩm đánh dấu sự quan tâm của các nhà vật lý thời đó về nhiệt. Ngày 2/1/1882, Rudolf Clausius ra đời đánh dấu một thời kì mới của nhiệt, nguyên lý này phát biểu rằng entropy của một hệ kín chỉ có hai khả năng, hoặc là tăng lên, hoặc giữ nguyên. Từ đó dẫn đến định luật là không thể chuyển từ trạng thái mất trật tự sang trạng thái trật tự nếu không có sự can thiệp từ bên ngoài. Một số cách phát biểu khác là: "Một hệ lớn và không trao đổi năng lượng với môi trường sẽ có entropy luôn tăng hoặc không đổi theo thời gian". "Mọi dẫn truyền hoặc biến đổi năng lượng đều làm tăng entropy của vũ trụ". "Để cho một quá trình xảy ra một cách tự phát thì nó phải làm tăng entropy của vũ trụ". Vì entropy là mức độ hỗn loạn của hệ, định luật này nói rằng vũ trụ sẽ ngày càng "hỗn loạn" hơn. Cơ học thống kê đã chứng minh rằng định luật này là một định lý, đúng cho hệ lớn và trong thời gian dài. Đối với hệ nhỏ và thời gian ngắn, có thể có thay đổi ngẫu nhiên không tuân thủ định luật này. Nói cách khác, không như định luật 1, các định luật vật lý chi phối thế giới vi mô chỉ tuân theo định luật 2 một cách gián tiếp và có tính thống kê. Ngược lại, định luật 2 khá độc lập so với các tính chất của các định luật đó, bởi lẽ nó chỉ thể hiện khi người ta trình bày các định luật đó một cách giản lược hóa và ở quy mô nhỏ.
Sông Danube (hay Đa-nuýp trong tiếng Việt) là sông dài thứ hai ở châu Âu (sau sông Volga ở Nga). Sông bắt nguồn từ vùng Rừng Đen của Đức, là hợp lưu của hai dòng sông Brigach và Breg. Lưu vực sông Danube được tính từ vùng Donaueschingen là điểm hai con sông được nhắc tới ở trên gặp nhau. Sông dài 2850 km, chảy qua nhiều nước Trung và Đông Âu và đổ vào Biển Đen. "Danube" là một tên sông trong tiếng Âu Cổ bắt nguồn từ "*dānu" của tiếng Ấn-Âu nguyên thủy. Các tên sông chung gốc khác là Dunaj, Dzvina/Daugava, Don, Donets, Dnieper, Dniestr, Dysna và Tana/Deatnu. Trong tiếng Phạn Vệ Đà, "dānu" có nghĩa là "chất lỏng, giọt sương" và "dānuja" có nghĩa là "sinh ra từ "dānu"" hoặc "sinh ra từ giọt sương". Trong tiếng Avesta, từ tương tự có nghĩa là "sông". Trong Rigveda, nữ thần Danu là mẹ của Vrtra, "một con rồng chặn sông". Người Phần Lan gọi dòng Danube là "Tonava", rất có thể có nguồn gốc từ tên con sông trong tiếng Đức là Donau. Tên tiếng Sámi của con sông là Deatnu, nghĩa là "Sông lớn". "Dānu" trong tiếng Scythia cổ có lẽ là danh từ chung chỉ các con sông: "Dnieper" và "Dniestr", "Danapris" và "Danastius", được cho là hậu duệ của lần lượt hai từ tiếng Scythia "*dānu apara" "sông xa" và "*dānu nazdya-" "sông gần". Con sông này được người Hy Lạp cổ đại gọi là () vay ​​mượn từ tiếng Daco-Thracia có nghĩa là 'mạnh mẽ, nhanh chóng', có lẽ bắt nguồn từ tên cổ là Dniester ("Danaster" trong tiếng Latinh, "Tiras" trong tiếng Hy Lạp) và tương tự như từ "turos" 'nhanh chóng' trong tiếng Iran và "iṣiras" (इषिरस्) 'nhanh chóng' trong tiếng Phạn, đều có gốc từ tiếng Ấn-Âu nguyên thủy (PIE) là "*isro-", "*sreu" 'chảy'. Vào thời Trung cổ, "Tiras" trong tiếng Hy Lạp được mượn sang tiếng Ý thành "Tyrlo" và lan sang ngữ hệ Turk thành "Tyrla", tiếng Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục ảnh hưởng sang tiếng Rumani thành Turlă. Con sông được gọi là "Matoas" trong tiếng Thraco-Phrygia, nghĩa là "kẻ mang lại may mắn". Trong tiếng Latinh, sông Danube được biết đến với nhiều tên khác nhau là "Danubius", "Danuvius", "Ister" hoặc "Hister". Tên Latinh của con sông là giống đực, cũng như tất cả các tên Slav của nó, ngoại trừ tiếng Slovene (tên sông Rhine cũng là giống đực trong tiếng Latinh, hầu hết các ngôn ngữ Slav, và cả trong tiếng Đức). "Donau" trong tiếng Đức (Tiếng Đức cận đại "Donaw", "Tonaw", tiếng Đức Thượng trung kỳ "Tuonowe") là giống cái, vì chứa hậu tố "-ouwe" "đất ngập nước". Tên con sông trong tiếng Rumani là "Dunărea", khác với các ngôn ngữ xung quang do nó là giống cái. Ngữ pháp này chắc chắn không được kế thừa từ tiếng Latinh, mặc dù tiếng Rumani là một ngôn ngữ thuộc nhóm Rôman. Để giải thích sự biệt lập này, các nhà ngôn học cho rằng tên tiếng Rumani của con sông có nguồn gốc từ tiếng Thracia "*Donaris". Căn tố Ấn-Âu nguyên thủy của cái tên này cõ lẽ liên quan với tiền tố ""don-"/"dan-"" tiếng Iran, còn hậu tố giả định "-aris" xuất hiện trong tên cổ của sông Ialomița, "Naparis", và con sông Miliare được Jordanes nhắc tới trong tác phẩm "Getica". Gábor Vékony cho rằng giả thuyết này không hợp lý, bởi vì người Hy Lạp đã mượn "Istros" từ người Thracia bản địa. Ông đề xuất rằng tên Rumani của dòng sông là từ mượn của một ngôn ngữ Turk (tiếng Cuman hoặc tiếng Pecheneg). Các phụ lưu chính của sông Danube theo thứ tự từ nguồn đến cửa sông: Iller - Lech - Regen (đổ vào sông Danube tại Regensburg) - Isar - Inn (nhập dòng tại Passau) - Enns - Morava - Leitha - Váh (nhập dòng tại Komárno) - Hron - Ipel - Sió - Drava - Vuka - Tisza - Sava (nhập dòng tại Belgrade) - Tamiš - Velika Morava - Caraş - Jiu - Iskar - Olt - Vedea - Argeş - Ialomiţa - Siret - Prut. Sông Danube bắt nguồn cách Donaueschingen 1,4 Km về phía đông durch do hai sông Brigach và Breg nhập lại. Ở nước Đức từ nguồn sông Breg cho tới biên giới Đức-Áo là một đoạn dài 618 Kilometer; coi như là một đoạn sông dài thứ tư ở Đức. Những thành phố lớn nhất nằm dọc theo dòng sông là Tuttlingen, Ulm, Neu-Ulm, Neuburg an der Danube, Ingolstadt, Regensburg, Straubing và Passau (theo thứ tự dòng nước chảy). Những phụ lưu quan trọng bên hữu ngạn là Iller tại Neu-Ulm, Lech tại Marxheim (phía tây của Donauwörth), Isar tại Deggendorf và cuối cùng tại Passau là sông Inn; hữu ngạn là sông Donauwörth tại Wörnitz, sau Kelheim là sông Altmühl và sau cùng tại Regensburg sông Naab và sông Regen. Những kiến trúc quan trọng dọc theo dòng sông là nhà dòng Erzabtei Beuron, lâu đài Fürstenschloss của dòng họ Hohenzollern tại Sigmaringen, nhà thờ Gotik Münster zu Ulm với cái tháp nhà thờ cao nhất thế giới (161,53 m), tại eo Weltenburger Enge nhà dòng Abtei Weltenburg và Befreiungshalle tại Kelheim. Kế đó là cầu đá Steinerne Brücke và nhà thờ Dom St. Peter tại Regensburg cũng như tượng đài Walhalla tại Donaustauf. Đồng bằng châu thổ sông Danube. Châu thổ sông Danube là một di sản thế giới từ năm 1991. Các vùng đất ngập nước của nó (theo danh sách các vùng đất ngập nước quan trọng trên thế giới Ramsar) là nơi cư trú và dừng chân của nhiều loài chim di cư, bao gồm các loài có nguy cơ bị đe dọa như "Phalacrocorax pygmaeus". Châu thổ là nơi cư trú của hơn 300 loài chim cũng như 45 loài cá nước ngọt. Châu thổ sông Danube (tiếng Romania: Delta Dunării phát âm [ˈdelta ˈdunərij]; tiếng Ukraina: Дельта Дунаю, Del'ta Dunaju) là đồng bằng châu thổ sông lớn thứ 2 ở châu Âu sau đồng bằng châu thổ sông Volga và là nơi được bảo tồn tốt nhất trên lục địa. Phần lớn của châu thổ này nằm trên lãnh thổ Romania (quận Tulcea), trong khi phần phía bắc, thuộc bờ trái của nhánh Chilia thì nằm trên lãnh thổ Ukraina (tỉnh Odessa). Diện tích bề mặt khoảng 4152 km², trong đó 3446 km² thuộc Romani. Nếu kể cả các đầm phá của Razim-Sinoe (1015 km² trong đó có 865 km² mặt nước), nằm ở phía nam của đồng bằng, nhưng có mối quan hệ về địa lý và sinh thái, thì tổng diện tích của châu thổ lên đến 5165 km². Hợp tác quốc tế. Sinh thái và môi trường. Tổ chức quốc tế về bảo vệ sông Danube (ICPDR) là một tổ chức bao gồm 14 quốc gia và cùng lãnh thổ (Đức, Áo, cộng hòa Séc, Slovakia, Slovenia, Hungary, Croatia, Bosnia và Herzegovina, Serbia, Bulgary, Romani, Moldova, Montenegro và Ukraina) và EU. Tổ chức này được thành lập năm 1998 để quản lý tòa bộ lưu vực sông Danube, bao gồm các chi lưu và các tài nguyên nước ngầm. Mục tiêu của tổ chức này là thực hiện công ước về bảo vệ sông Danube bằng cách thúc đẩy và điều phối việc quản lý nguồn nước một cách cân bằng và bền vững, bao gồm bảo tồn, cải thiện và sử dụng hợp lý tài nguyên nước và thực hiện chỉ thị khung về nước của EU. Ủy ban Danube quan tâm đến dự duy trì và phát triển các điều kiện giao thông trên sông. Ủy ban này được 7 quốc gia có ranh giới với sông này thành lập năm 1948. Các thành viên tham gia gồm Áo, Bulgary, Croatia, Đức, Hungary, Moldova, Slovakia, Romani, Nga, Ukraina, và Serbia, và hội họp định kỳ 2 lần mỗi năm.
Thần thoại Bắc Âu Thần thoại Bắc Âu bao gồm tôn giáo và tín ngưỡng thời kỳ tiền Kitô giáo, cùng với các truyền thuyết của cư dân vùng Scandinavia, kể cả những người định cư trên đảo Iceland - nơi tìm thấy nhiều tư liệu viết của thần thoại Bắc Âu. Dị bản nổi tiếng của thần thoại Bắc Âu là thần thoại các dân tộc German vốn hình thành từ thần thoại các dân tộc Ấn-Âu tồn tại trước đó. Tôn giáo các dân tộc Bắc Âu không dựa trên một "sự thật" được truyền trực tiếp từ thần thánh đến con người (tuy cũng có những câu chuyện người trần được thần thánh viếng thăm) và không có những văn bản chính quy như Kinh Thánh của Kitô giáo hay kinh Qur'an của Hồi giáo. Thần thoại Bắc Âu được truyền miệng dưới dạng những bài thơ dài. Việc lưu truyền tôn giáo Bắc Âu diễn ra mạnh nhất vào thời Viking. Người ta tìm hiểu về thần thoại Bắc Âu chủ yếu qua các sử thi Edda và các văn bản ghi chép trong thời Kitô giáo mở rộng về khu vực Scandinavia. Thần thoại Bắc Âu có ảnh hưởng lớn đến các tác phẩm văn học nghệ thuật. Trong các quán rượu của người Viking có những nghệ sĩ kể cho mọi người nghe về câu chuyện này bằng giọng hát của họ và đó là phong tục truyền miệng Thần thoại Bắc Âu tồn tại chủ yếu bằng con đường truyền miệng, do đó nó bị thất truyền một phần lớn. Tuy nhiên, không phải tất cả đều bị mất đi nhờ vào các ghi chép của các học giả Ki-tô giáo, đặc biệt là các Edda và tác phẩm "Heimskringla" của Snorri Sturluson - người tin rằng các vị thần thời kỳ tiền Ki-tô giáo không phải là quỷ dữ. Một tác phẩm đáng chú ý khác là "Gesta Danorum" của Saxo Grammaticus. Do đa phần các tư liệu còn sót lại về tôn giáo của người Bắc Âu cổ là do những người theo Kitô giáo viết, các vị thần Bắc Âu trong tác phẩm này bị sửa đổi nhiều, và biến thành "người" chứ không phải là "thần". Đặc biệt Saxo Grammaticus viết về các vị thần Bắc Âu như "bọn lừa đảo và mọi rợ". Ông ta viết bằng tiếng Latin, chối bỏ ngôn ngữ của cha ông mình, "Grammaticus" là tên Latin do ông tự đặt cho mình. Saxo cho Odin và Thor là những kẻ đã "mượn hơi" các vị thần trong thần thoại La Mã như Jupiter và Mercury để được nổi tiếng. Edda bằng văn xuôi được viết vào đầu thế kỷ 13 bởi Snorri Sturluson, một nhà thơ, nhà lãnh đạo và nhà ngoại giao ở Iceland. Nó chủ yếu được coi là sổ tay cho các nhà thơ mới vào nghề. Edda bằng văn xuôi bao gồm những chú giải về các hình tượng truyền thống thường được dùng trong thơ ca. Nhờ tác phẩm này, những mẫu chuyện rời rạc trong thần thoại Bắc Âu được kể lại một cách hệ thống và liên tục. Edda bằng thơ được cho là xuất hiện 50 năm sau Edda bằng văn xuôi. Nó gồm 29 bài thơ dài, trong đó 11 bài nói về các vị thần, số còn lại là về các anh hùng trong thần thoại như Sigurd của dòng họ Volsung (Siegfried trong trường ca "Nibelungenlied" của Đức). Dù các học giả thường cho rằng nó được sáng tác sau Edda bằng văn xuôi, văn phong và thể thơ của tác phẩm chứng tỏ các bài thơ trong đó đã được sáng tác khá lâu trước khi bản viết tay của chúng ra đời. Ngoài các tài liệu trên còn có các bản khắc chữ Rune như các bản khắc trên bảng đá ở Rök và tấm bùa Kvinneby cũng là nguồn khảo cứu quý giá. Ngoài ra còn có các bản khắc và hình vẽ thể hiện các cảnh trong thần thoại Bắc Âu như chuyến đi câu của Thor, các cảnh từ trường ca "Volsunga", Odin và Sleipnir, Odin bị Fenrir nuốt chửng, Hyrrokkin đến dự đám tang của Balder. Thần thoại Bắc Âu có thể tạm chia thành hai phần là thần thoại các vị thần và trường ca anh hùng. Thần thoại các vị thần. Voluspa: khởi nguyên và kết thúc của thế giới. Số phận của toàn vũ trụ được mô tả trong "Völuspá" (Lời tiên tri) - một trong những bài thơ đáng chú ý nhất trong Edda bằng thơ. Trong "Völuspá", Odin gọi hồn của một Volva (nữ tiên tri) để hỏi về quá khứ và tương lai của thế giới. Vị nữ tiên tri hỏi lại Odin liệu ông có thật sự muốn biết điều đó không. Odin nhấn mạnh rằng với vai trò vua của các vị thần, ông cần có những hiểu biết đó. Cuối cùng, vị nữ tiên tri cho Odin biết những bí mật của quá khứ và tương lai rồi chìm trở lại vào bóng tối. Quá trình hình thành thế giới. Trong thần thoại Bắc Âu tồn tại một cái vực thẳm (tương tự như Chaos trong thần thoại Hy Lạp) vô hạn được gọi là Ginnungagap. Ginnungagap tồn tại giữa hai khu vực trái ngược nhau, ở phương Bắc thì lạnh lẽo bao phủ có tên gọi là Niflheim hay vùng đất băng giá. Từ Niflheim có một cái giếng được gọi là Hvergelmir từ đó chảy ra 11 dòng sông là Svöl, Gunnthrá, Fjörn, Fimbulthul, Slid, Hrid, Sylgr, Ylgr, Vid, Leiptr và Gjoll (dòng sông chảy gần nhất với Hel và có cây cầu Gjallarbru bắc qua), các con sông ấy được gọi chung là Élivágar (sông băng). Còn ở phương Nam lại là vùng lúc nào cũng rực lửa gọi là Muspellsheim hay là vùng đất tiêu điều được cai trị bởi tộc người khổng lồ Surtr. Khi ngọn lửa của Múspellsheim làm tan chảy băng giá của Niflheim, dòng băng tan ấy chảy vào Ginnunga-gap hòa vào Élivágar tạo nên sinh vật đầu tiên của vũ trụ: người khổng lồ Ymir hay Aurgelmir. Từ mồ hôi dưới nách của Ymir lại sản sinh ra đôi nam nữ khổng lồ và từ đó sinh ra loài khổng lồ băng giá. Sương muối tiếp tục tan chảy tạo nên con bò khổng lồ Audhumla. Ymir uống sữa bò để tồn tại và phát triển nòi giống. Audhumla tiếp tục ăn bằng cách liếm tảng băng muối. Một hôm, khi con bò Auðhumla đang liếm băng thì tảng băng đó lộ ra mái tóc, ngày thứ hai lộ ra cái đầu còn ngày thứ ba sinh ra toàn vẹn cơ thể. Từ đó lại sản sinh ra thần Búri. Búri sinh ra người con trai tên là Borr. Borr kết hôn cùng với Bestla - con gái người khổng lồ Bolthorn và sinh ra ba người con là Odin, Vili và Ve.Càng ngày Ymir càng to lớn và độc ác nên ba anh em Odin, Vili và Ve quyết định giết Ymir. Dòng máu chảy ra từ Ymir tạo ra đại hồng thủy nhấn chìm bọn khồng lồ chỉ trừ vợ chồng Bergelmir thoát nạn nhờ con thuyền. Con cháu của Bergelmir ngày càng thù ghét các vị thần Aesir. Người khổng lồ hay người Jotuns hay được biết dưới cái tên gọi: Thursar, Hrímthursar, Risar, Bergrisar hay Troll đều là những kẻ độc ác. Từ xác của Ymir mọc ra cây tần bì Yggdrasill và các vị thần bắt đầu xây dựng thế giới: máu của Ymir tạo thành biển và hồ, sọ tạo thành vòm trời (được bốn người lùn Nordri, Sudri, Austri và Vestri chống giữ ở bốn phương), óc trở thành mây, xương tạo thành núi, những con giòi trong cái xác chết tạo thành người lùn (kẻ chuyên sống dưới mặt đất có quan hệ mật thiết với người khổng lồ). Thần Odin bắt đứa con trai của Bergelmir biến nó thành một con đại bàng và đặt nó tại nơi tận cùng của biển cả. Đôi cánh vỗ của con đại bàng này tạo ra gió và các con sóng biển. Không dừng tại đó, ba người con của Borr còn tạo ra mặt trời, mặt trăng và các vì sao từ tia lửa của Múspelheimr. Họ đặt mặt trời và mặt trăng lên hai cỗ xe riêng biệt. Cỗ xe mặt trời được hai con ngựa là Avrak và Alvsin kéo, phía trước mặt trời là tấm khiên Svalin (có nghĩa là "khiên làm mát," giúp bảo vệ Trái Đất khỏi sức nóng của Mặt Trời). Đường đi của Mặt Trời vẫn thường được biết tới dưới cái tên Alfrodull (vinh quang của người Elf). Những đứa con của Mundifari đã đặt tên cho con gái là Sól (Sun) - vợ của Glenr - và con trai là Máni (Moon). Để trừng phạt sự bất kính ấy các Æsir đã bắt Sól lái cỗ xe mặt trời còn Máni cưỡi cỗ xe mặt trăng. Một hôm Máni bắt được hai đứa trẻ mặt đất đang trên đường mang nước giếng Byrgir trở về cùng với bình đất nung và cây sào của chúng. Tên của chúng là Bil và Hjuki, con của Vidfinn. Kể từ đó chúng luôn đi theo Máni trên suốt chuyến xe của chàng. Một mụ khổng lồ đã sinh ra một bầy ma sói trong đó có hai con tên là Skoll và Hati không ngừng truy đuổi anh em Sól và Máni hòng ăn thịt họ. Bởi thế anh em luôn hối hả trên bầu trời. Khi con sói đến gần mặt trăng thì nó gây nên hiện tượng nguyệt thực (tương tự như gấu ăn trăng) hoặc đến gần mặt trời thì gây ra hiện tượng nhật thực. Cuối cùng Skoll cũng đuổi kịp Sól và Hati cũng bắt được Máni. Cả hai anh em đều bị con sói ăn thịt. Sự hình thành và phát triển của con người. Được chia thành hai niên đại: trước Ragnarok và sau Ragnarok. Ngay sau khi Odin, Villi và Ve khai thiên lập địa, họ đã tạo ra con người đầu tiên từ những cây gỗ trên bãi biển: người nam Askr (từ cây thân bì) và người nữ Embla (từ thân cây du). Odin ban cho loài người hơi thở và linh hồn. Vili cho cảm xúc và nhận thức còn Ve cho giác quan và ngoại hình. Loài người sống ở vùng đất giữa đại nguyên mênh mông gọi là Midgard (Trung Địa). Tộc Jotnar thường xuyên quấy phá con người nên các vị thần dựng những ngọn núi khổng lồ từ lông mày của Ymir để ngăn cách giống khổng lồ với loài người. Heimdall kết hôn với Edda sinh ra Þæll. Þæll lấy Thir sinh ra con cháu,sau này mang thân phận nô lệ. Lấy Amma sinh ra Karl, Karl lớn lên rồi lấy Snor sinh ra hậu duệ là tầng lớp nông dân và thợ thủ công. Heimdall kết hôn với Móðir sinh ra Jarl. Jarl và Erna (con của Hersi) là thủy tổ của giai cấp quý tộc. Con người và thần thánh đã sống chung với nhau đến thời kỳ Ragnarok. Sau khi giết được Freyr, tên khổng lồ độc ác Sutr đã phóng hỏa đốt cháy thế giới. Con người bị giết sạch chỉ trừ cặp vợ chồng Lif và Lifþrasir đã sống sót qua ngày tận thế bằng cách trốn trong rừng Hoddmimis holt, ăn sương sớm để sống sót. Con cháu của Lif và Lifthrasir sinh sôi nảy nở trở lại và quay trở về Midgard. Con người và thần thánh sống chung với nhau, mở ra kỷ nguyên thứ hai hòa bình và tràn ngập hạnh phúc. Trong thần thoại Bắc Âu, Trái Đất là một dĩa dẹt đặt trên cành của cây thế giới Yggdrasil. Asgard, nơi các vị thần sinh sống, nằm ở trung tâm đĩa. Con đường duy nhất dẫn đến Asgard là cầu vồng Bifröst. Các người khổng lồ sống ở Jotunheim (nghĩa là "vùng đất của người khổng lồ"). Người chết đến một nơi lạnh lẽo và tối tăm gọi là Niflheim do Hel, con gái của Loki, cai trị. Đâu đó ở phương nam là vùng Muspelheim rực lửa, nơi các người khổng lồ lửa sinh sống. Các vùng đất siêu nhiên khác là Álfheim - vương quốc của người Elf trắng, Svartálfaheim (hay Nidavellir) - vương quốc của người lùn. Giữa Asgard và Niflheim là Midgard (hay Middle-earth), nơi con người sinh sống.Còn Valhalla là nơi các chiến binh đến sau khi tử trận. Tính đối lập là một thành phần quan trọng trong quan điểm về vũ trụ của thần thoại Bắc Âu. Ví dụ thế giới được hình thành từ băng và lửa. Nguồn gốc tên gọi. Giả thuyết được chấp nhận rộng rãi nhất là Yggdrasil là từ ghép của "ygg" (khủng khiếp) và "drasil" (ngựa). Yggr là một trong các biệt danh của Odinnên nghĩa của "Yggdrasil" được cho là "con ngựa của Odin", ám chỉ chín ngày Odin tự treo mình lên cây này để đổi lấy chữ rune. Thơ ca cổ Bắc Âu đôi khi gọi giá treo cổ là "con ngựa của kẻ chết treo". Một giả thuyết khác cho rằng "Yggdrasil" có nghĩa là "con ngựa khủng khiếp", tức là không liên quan gì tới Odin. "Fjolsvinnsmál", một bài thơ trong Edda bằng thơ gọi cây thế giới là "Mimameidr" (cây của Mimir). "Yggdrasil" có thể coi là đồng nhất với "Lérað", cái cây có cành lá vươn tận Valhalla và là nguồn thức ăn cho con dê Heiðrún và con hươu Eikþyrnir. Trong Edda, Yggdrasil được miêu tả là có ba rễ: một qua Asgard, một qua Jötunheim và một qua Hel. Phía dưới rễ qua Asgard là giếng nước Urd("Urðabrunnr" - còn gọi là "Giếng số phận"). Ở đó có ba nữ thần số mệnh (còn gọi là các Norn), những người không chịu ảnh hưởng của bất kỳ ai kể cả các thần linh. Những nữ thần này hàng ngày lấy nước từ giếng Urd để tưới cho Yggdrasil giữ nó mãi xanh tươi. Dưới rễ qua Jötunheim là dòng suối (có nơi cho là giếng nước) của Mímir ("Mímisbrunnr" - còn gọi là "Suối, hay giếng, tri thức") và dưới rễ qua Hel là giếng Hvergelmir (có nghĩa là "cái chảo sôi"). Odin vì muốn uống được nước suối này mà phải đánh đổi bằng một con mắt của mình. Một con gà trống khổng lồ (hoặc một con chim ưng) tên là Vidofnir đậu trên ngọn của Yggdrasil. Con rồng Níðhöggr gặm phần rễ đi qua Niflheim của nó. Con sóc Ratatosk di chuyển liên tục giữa Vidofnir và Nídhoggr để kể lại những lời xúc phạm lẫn nhau của chúng. Ngoài ra còn có bốn con hươu gặm vỏ của Yggdrasil tên là Duneyrr, Durathror, Dvalin và Dainn. Cái tên "Yggdrasil" nếu được hiểu là "con ngựa của Odin" được cho là gắn với sự hy sinh của Odin được kể lại trong phần Hávamál của Edda bằng thơ (dù cái cây mà Odin tự treo mình không được nói rõ là Yggdrasil). Ở trung tâm vũ trụ là cây tần bì Yggdrasil có các rễ nối liền chín thế giới lại với nhau. Một rễ nối tới Múspellsheim, một rễ nối tới Niflheim, một rễ nối tới Vanaheimr (vùng đất của các vị thần Vanir), một rễ nối tới Ásgard (vùng đất của các vị thần Æsir). Ngoài ra còn có các thế giới Áflheim (vùng đất của yêu tinh ánh sáng), Svartálfaheimr (vùng đất của yêu tinh bóng tối), Nidavellir (thế giới của người lùn), Jotunheim (vùng đất của người khổng lồ). Giữa Asgard và Midgard được nối bởi cây cầu vồng lửa Bifröst. Múspellsheimr là một trong chín thế giới của Yggdrasil, nơi đây lúc nào cũng rực lửa, nóng bức. Nơi đây là nơi trú ngụ của loài khổng lồ lửa được cầm đầu bởi tên Surtr. Vùng đất này nằm ở phía Nam ở tầng thứ hai đối lập với vùng đất Niflheim. Khi Ragnarok đến, Surtr làm gãy cây cầu Biforst và dùng lửa thiêu cháy thế giới. Tên Surtr giết chết thần Freyr nhưng lại bị tiêu diệt dưới tay thần Thor. Màu sắc biểu tượng cho Múspellsheim là màu đỏ. Niflheimr là một trong chín thế giới, được biết đến với tên là vùng đất băng giá nguyên thủy. Khi Hel sinh ra (con của Loki), Odin đã trục xuất nữ thần xuống vùng đất này để cai quản người chết vì tuổi già và bệnh tật. Helheimr có tên khác là Níflhel. Các vong hồn sau khi rời bỏ cuộc sống sẽ băng qua Gjallarbrú ("cầu có vái che vàng") do Modgud canh giữ. Họ còn phải đi qua hang Gnipahellir phủ bởi máu, được canh giữ bởi con chó Garmr. Cuối cuộc hành trình, các vong hồn đến trình diện trước sảnh Eljudnir để nhận phán quyết từ Hel. Vanaheimr là một trong ba thế giới trên thiên đường, trong tiếng Bắc Âu cổ là "vùng đất của các vị thần Vanir". Vanir còn được gọi là Vindheimr (vùng đất của gió). Đây là nơi trú ngụ của các vị thần Vanir - thần bảo trợ cho sự phì nhiêu, giàu có, trí tuệ và tài tiên tri. Nơi này yên bình và sung túc. Thần Njörðr sẽ trở về sau Ragnarök bắt đầu. Vanaheim tượng trưng cho thế giới của nước với biểu tượng là những cơn gió nhẹ mang lại sự sống từ phía Tây. Các thần Vanaheim còn được gọi là thần chết, do đó Vanaheimr - thủy giới nằm ở phái Tây có thể được liên tưởng tới chuyến viễn du cuối cùng. Màu sắc biểu tượng cho vùng đất này là xanh lục, xanh lam sẫm, nâu và vàng bóng pha sắc đỏ. Chương I của "Yngling Saga" có nhắc đến Vananheimr nằm ở phía Đông sông Don nước Nga. Chương XV của cuốn sách này còn nhắc đến việc nhà vua Sveigðir đã kết hôn với người phụ nữ ở Vanaland, và họ có con trai là Vanalandi (người từ vùng đất của Vanir). Trung tâm Asgard là cánh đồng Idavoll, nơi các Aesir họp bàn những việc quan trọng. Các nam thần họp ở điện Gladsheim và các nữ thần ở điện Vingólf. Họ cũng gặp nhau hàng ngày ở suối vận mệnh Urd bên dưới Yggdrasil. Ngai vàng Lidskjalf của thần Odin được đặt trên điện Valaskjalf Xung quanh Asgard là một bức tường vững chắc do một người khổng lồ tên là Hrimthurs xây dựng. Cách duy nhất để lên Asgard là đi qua cầu vồng Bifröst. Quầng đỏ của cầu vồng thật ra là lửa để ngăn những người khổng lồ băng vượt qua. Trách nhiệm gác lối vào Asgard được giao cho thần Heimdall. Ngoài hai điện chung là Gladsheim và Vingolf, mỗi vị thần có nơi ở riêng của mình. Mười hai toà cung điện được xây lên cho mỗi vị thần xuất chúng. Thần Heimdall sống trong một cung điện tên là Himinbiorg ở gần cây cầu Bifröst. Lãnh địa của thần Thor tên là Thrudvangar và tòa chính điện gọi là Bilskirnir. Thần Balder và vợ, nữ thần rừng Nanna xinh đẹp sống ở cung điện Breidablik trong khi thần Forseti có cung điện Glitnir, nơi thần làm nhiệm vụ phán xử những tranh chấp của cả thần linh và con người. Nữ thần Freyja sở hữu một cung điện lộng lẫy tên là Folkvang. Cha nữ thần là thần gió Njord, sống trong điện Noatun bên bờ biển và ngôi nhà của thần Freyr, anh của nữ thần Freyja, tên là Alfheim. Nữ thần Frigg, vợ thần Odin, có cung điện riêng tên là Fensalir. Riêng thần tối cao Odin sống trong điện Valaskjaff có mái bằng bạc. Tuy nhiên, nơi nổi tiếng nhất của Asgard là cung điện Valhalla thuộc sở hữu của Odin. Các vị anh hùng tử vong trong chiến trận được triệu tập về nơi này. Valhalla (tiếng Bắc Âu cổ: "Valhöll", nghĩa là "cung điện của những người tử trận") là một trong những lâu đài của Odin trong thần thoại Bắc Âu, nơi ở của những chiến sĩ hy sinh một cách anh dũng ngoài mặt trận (gọi là các Einherjar). Một nữa chiến sĩ tử trận được đưa về đây, số còn lại được chào đón ở vùng đất Folkvang của nữ thần Freyja. Họ được Bragi chào đón và được các Valkyrie đưa về Valhalla. Cổng chính của Valhalla có tên là Valgrind được miêu tả trong phần Grímnismál của sử thi Edda như là "cánh cổng thiêng" và "không ai biết nó được khóa như thế nào". Ngoài ra cung điện này còn có năm trăm bốn mươi cửa và có phòng đủ rộng để tám trăm chiến binh dàn hàng ngang. Tường của Valhalla kết bằng giáo, mái lợp bằng khiên và chỗ ngồi làm bằng những tấm giáp che ngực. Người ta nói rằng có đủ chỗ cho tất cả các chiến binh được chọn. Hằng ngày, những vị anh hùng tử trận, những người sẽ chiến đấu cạnh các vị thần trong trận chiến cuối cùng Ragnarök, tập trận trên các cánh đồng của Asgard. Tối đến họ yến tiệc ở Valhalla với lợn rừng quay và "mead" (một loại rượu làm từ mật ong). Những người không đến Valhalla phải về Hel, xứ sở của người chết thuộc âm cung Niflheim hoặc một số nơi khác. Ví dụ những người chết ở biển sẽ được đưa về lâu đài của Aesir dưới đáy biển. Theo Grimnismál, Valhalla nằm ở vùng đất Gladsheim, từ đây tỏa ánh sáng vàng rực rỡ. Trên mái của cung điện có dê Heidrun và hươu đực Eikthyrnir đều gặm lá cây Laerad, từ sừng hươu Eikthyrnir, những những giọt nước xuống Hvergelmir, trở thành mọi nguồn của con suối. Còn từ bầu sữa của Heidrun chảy ra món rượu mật ong khác là thức uống ở Valhalla. Ngoài ra còn có gà trống Salgofinir, tiếng gáy của nó dùng để đánh thức các tử sĩ Einherjar. Trước cửa Valhalla có một cây khác là cây Glasir với tán lá bằng vàng. Một con sói treo ở cửa tây và một con đại bàng bay lượn trên thánh điện. Ban ngày họ thức dậy để rèn luyện khả năng chiến trận của mình. Đêm đến họ mọi vết thương sẽ lành lại và các tử sĩ sẽ dùng bữa tối do các tiên nữ Valkyrie phục vụ. Món thứ nhất là rượu mật ong từ con dê Heidrun. Món thứ hai được Andhrimir - đầu bếp của các vị thần - làm trong chiếc vại Eldhrimnir từ thịt lợn rừng Saehrimnir. Con lợn ấy sẽ tự hồi sinh vào sáng hôm sau để chuẩn bị cho ngày kế tiếp. Odin không bao giờ ăn thức ăn dâng lên mình mà dành cho hai con sói của thần là Geri và Freki. Có ba "thị tộc" thần thánh trong thần thoại Bắc Âu là Aesir (Æsir), Vanir và Jotunheim (trong bài viết này gọi là người khổng lồ). Sự khác biệt giữa hai thị tộc Æsir và Vanir (được gọi chung là thần) chỉ là tương đối. Giữa hai thị tộc thần thánh này từng xảy ra chiến tranh mà phần thắng thuộc về phe Æsir. Nhưng họ đã chấp nhận dàn hòa để cùng nhau cai trị thế giới và để giữ hòa bình, hai bên trao đổi con tin và đã có những cuộc hôn nhân giữa các thành viên của hai thị tộc. Một số vị thần thuộc về cả hai nơi. Một số học giả suy đoán rằng câu chuyện này phản ánh quá trình các thần linh của người Ấn-Âu xâm lăng chiếm ưu thế so với các thần linh của người bản địa. Tuy nhiên đây chỉ là một giả thuyết. Có những người cho rằng sự phân biệt Æsir/Vanir chỉ là phiên bản Bắc Âu của hệ thống thần thánh của các dân tộc Ấn-Âu, giống như sự phân biệt giữa các vị thần trên đỉnh Olympus với các Titan trong thần thoại Hy Lạp. Æsir thường là các vị thần chiến tranh (Sigtívar) hay thần chiến trận(Valtívar). Các Aesir sống ở Asgard. Các nam thần Aesir là Các nữ thần Æsir là Vanir là thần tộc tượng trưng cho sự phì nhiêu và hòa bình. Các Vanir thường là các thần của mùa màng, biển và sự sung túc. Bên cạnh các Aesir đại diện cho sức mạnh và chiến tranh, các Vanir được coi là những vị thần đem lại của cải, bảo hộ cho hòa bình và hạnh phúc và cùng với các Aesir, duy trì trật tự và ổn định. Họ có hiểu biết sâu rộng về pháp thuật nên có thể tiên đoán tương lai. Freyja được coi là người dạy pháp thuật cho các Aesir. Cộng đồng Vanir cho phép người cùng gia đình, thậm chí anh chị em ruột kết hôn với nhau - điều mà thị tộc Aesir ngăn cấm. Freyr và Freyja là con của Njord ("Njǫrðr") với em ruột mình. Có thể là các sử thi Edda coi các Vanir đồng nhất với người Elf (tiếng Bắc Âu cổ gọi là "Alfar") khi trong các Edda hai cụm từ "Aesir và Vanir" và "Aesir và Alfar" được dùng thay thế lẫn nhau để chỉ "tất cả các vị thần". Cả Vanir và Alfar đều đem lại sự sung túc. Sự khác nhau trong tên gọi có thể chỉ địa vị khác nhau giữa họ. Người Elf chỉ là những phúc thần có vai trò nhỏ bé trong khi Vanir là một thị tộc lớn có nhiều ảnh hưởng. Thần Freyr được coi là thủ lĩnh của người Elf (tòa điện nơi Freyr sinh sống có tên là Álfheim nghĩa là "ngôi nhà của người Elf"). Người Bắc Âu cổ tin rằng các Vanir ban cho họ những hiểu biết về thiên văn học. Thần gió Njord đã đem kiến thức về Mặt Trời, Mặt Trăng và các vì sao (thể hiện trong các bản khắc chữ rune và những hình vẽ trong hang động) lưu truyền khắp vùng Scandinavia. Dù còn nhiều tranh cãi, người ta tin rằng những hiểu biết này giúp người đi biển và các người Viking sau này vượt qua những vùng biển rộng. Ngoài ra các Vanir còn am tường nghề y và ma thuật. Một số vị thần Vanir Chiến tranh giữa thị tộc Aesir và Vanir. Mọi việc bắt nguồn từ Gullveig đến thăm Asgard, nàng ta rất thích vàng và suốt ngày chỉ nói về vàng khiến cho các thần Aesir cảm thấy rất phiền phức. Để khỏi phải nghe, họ đưa nàng tới cung điện của Odin rồi trói nàng lại rồi đâm lại nhiều nhát bằng giáo. Họ thiêu nàng ta ba lần mà Gullveig vẫn hồi sinh. Các thần Vanir hết sức tức giận khi nghe cách thị tộc Aesir đối xử với Gullveig, họ đòi thần tộc Aesir phải cho họ địa vị ngang bằng với nhóm thần Aesir. Các vị thần Aesir không những không đồng ý mà còn gây chiến. Cả hai bên đánh nhau trong vòng mười năm không phân thắng bại nên đành phải giảng hòa, các thần Aesir chấp nhận yêu cầu từ thần tộc Vanir. Cả hai giảng hòa bằng cách nhổ nước bọt vào một cái bình. Từ cái bình đó sinh ra thần Kvasir. Cuối cùng là họ trao đổi con tin với nhau để đảm bảo hai bên giữ hòa bình. Các vị thần khác. Ngoài các vị thần chủ yếu ở trên còn có thần phụ (hay tiểu thần) cũng góp phần vào công việc cai quản thế giới cũng như có liên hệ với con người. Một số còn được thờ phượng và xem như là thần bảo hộ. Búri là vị thần được sinh ra từ con bò Audhumla khi nó liếm băng. Thần lấy người khổng lồ sinh ra Borr. Borr kết hôn với người khổng lồ Bestla (con gái của Bothorn) sinh ra ba người con là Odin, Vé và Vili. Một số vị tiểu thần. Người có năng lực nhất trong đám tiểu thần Fornjot và dòng dõi của ông ta. Theo Edda, Fornjot có ba người con trai là Ler, Logi cai quản lửa và Kari cai quản gió. Kari sinh ra đứa con trai tên là Jokul - thần băng - hay Frosti - thần sương. Snjo - thần tuyết - là con trai của Kari. Mặt khác Snjo sinh ra bốn người con là Thorri (sương đen), Fonn (núi băng vĩnh cửu), Drifa (ụ tuyết) và Mjoll (bão tuyết). Thần Ler (được biết đến với tên Aegir, còn có tên khác là Hlér hoặc Gymir) là vị thần biển. Snorri cho rằng thần sinh sống lâu đài dưới biển gần đảo Læsø ở vùng biển Kattegat. Lúc đầu thần không có thiện cảm với tộc Aesir. Tuy nhiên bằng tính tình nóng nảy và hung dữ của Thor, Aegir buộc phải mở tiệc chiêu đãi các vị thần Aesir vào mùa đông mỗi năm, đổi lại ông cũng nhận được sự tiếp đón nồng hậu và hiếu khách khi đến vùng đất Asgard. Tuy khi nỗi hận thù thần Thor dâng lên vì đã vênh váo ra lệnh cho mình, thần ấp ủ kế hoạch trả thù đó là bắt Thor phải tìm chiếc vại đủ lớn để ủ rượu về cho mọi người. Và thần chỉ rõ chỉ có tên khổng lồ Hymir (tức cha dượng của Tyr) mới có. Thần Thor phải vượt qua bao nhiêu thử thách nguy hiểm mới mang được về được. Người hầu của Aegir là Fimafeng (bị Loki giết) và Eldir. Ran là nữ thần bão biển và vợ của Aegir, thần thường làm đắm thuyền bè gom những thủy thủ chết đuối (do chỉ có những người nào bị giết bởi gươm giáo mới được về Valhalla còn Hellheim thì chỉ nhận những người chết do tuổi tác và bệnh tật) và đem họ về lâu đài và chăm sóc. Aegir và Rán sinh ra chín người con gái, họ được gọi chung là sóng biển, luôn mặc váy trắng và mang khăn che mặt. Tên của họ lần lượt là Dagr là con trai của Nótt và Delling, cai quản ban ngày. Thần cưỡi con ngựa là Skinfaxi, cả ánh sáng từ khắp nơi được tỏa ra từ chiếc bớm của nó. Hai mẹ con Nótt và Dagr luân phiên cưỡi cỗ xe của mình đi vòng quanh thế giới. Các nữ thần Norn. Mỗi khi đứa trẻ sinh ra thì sẽ có các Norn quy định vận mệnh của nó, không một ai có thể sống lâu hơn thời gian mà các Norn quy định. Thần thường xe sợi chỉ vàng, quyết định vận mệnh của con người từ lúc sinh ra, trưởng thành cho đến khi chết đi. Chiều dài của sợi chỉ sau khi kết thúc một lượt quay cũng là "chiều dài" cuộc đời của một con người. Trong khi hai cô chị ngồi cuộn chỉ vào trục quay thì cô em Skuld lại tháo tung cuộn chỉ của mình ra, vì thế loài người không ai có thể biết trước vận mệnh của mình. Con người tuyệt đối không chết trước ngày mà ba nữ thần đã định sẵn. Thần Odin và các vị thần ở Asgard thường đến hỏi ba chị em họ về tương lai của mình cũng như tương lai của thế giới. Vì ngoại hình thì ba chị em Norn được miêu tả giống với ba giai đoạn phát triển của con người. Verdandi là một thiếu nữ trẻ và xinh đẹp nhất trong ba người, Skuld là một người phụ nữ trưởng thành và Urd là một bà lão già nua. Hel là nữ thần chết, cai quản âm phủ Helheim. Ả ta là con gái của Loki với nữ khổng lồ Angrboða., chị của sói Fenrir và đại mãng xà Midgard là Jörmungandr. Hel là một mụ phù thủy kinh tởm. Lúc nhỏ ả ta được nuôi tại lâu đài của Angrboda ở Jotunheimr. Nhưng nhận thấy được hậu quả khủng khiếp khi để Hel sống chung với thị tộc man rợ của mình, Odin đã trục xuất mụ về Niflheim. Niflheim chỉ tiếp nhận những người chết do tuổi tác và bệnh tật.Theo Snorri miêu tả, thì Hel có nửa thân màu đen, nửa còn lại bình thường. Còn thần thoại Bắc Âu tả Hel nửa thân trên là phụ nữ với đôi mắt lạnh lùng giống như người chết, nửa thân dưới thì lở loét ghê rợn đến nỗi ngay cả những vị thần cũng không dám nhìn vào mặt Hel, còn người bình thường vô phúc nhìn thấy ả thì ngay lập tức máu đông lại và chết ngay lập tức. Trong thế giới người chết, Hel ngồi trên một chiếc ngai đáng sợ được trang trí bằng đầu lâu, xương cốt và rắn rết. Phía trước mặt ả là "quyển sổ thiên mệnh" hay "quyển sổ của thế giới người chết", mỗi khi có một người trần hay một vị thần nào lìa bỏ cõi đời xuống địa ngục, quyển sổ sẽ hiện lên tên cũng như lai lịch, việc làm cũng như tội trạng của họ khi còn sống. Nhờ quyển sổ ấy mà Hel có thể cai quản được vô số linh hồn cũng như giao việc làm thích đáng cho họ ở chốn địa ngục lạnh lẽo, buồn thảm này. "Quyển sổ thiên mệnh" không có số trang cố định, khi hết trang nó sẽ tự động thêm một trang mới vào khi có một linh hồn rời bỏ chốn dương gian. Trước khi Ragnarok nổ ra, người trần sẽ bước vào thời đại suy tàn, chiến tranh xảy ra liên miên, đạo đức con người trở nên đồi bại, nhân luân không còn và lúc ấy thế giới người chết của Hel bỗng trở nên sinh động và đông đúc lạ thường, "quyển sổ thiên mệnh" với số trang dày chưa từng có tiếp nhận liên tục các linh hồn tội lỗi nơi trần thế. Lúc ấy, Hel, nữ hoàng của địa phủ, ngồi sau tấm màn "bất hạnh" của mình (chỉ mở để Hel gặp và phán xử các oan hồn người chết) đang nở một nụ cười man rợ ghê người. Ả cười cho sự phồn vinh của vương quốc mà ả cai trị cũng như để mở đầu cho một cuộc chiến khủng khiếp sắp sửa xảy ra, cuộc chiến Ragnarok. Cổng vào Niflheim nằm ở tít trên phương Bắc lạnh giá được canh gác bởi chó săn Garmr xiềng xích trong hang Gnipahellir.Hel sống ở Helheim mà cụ thể là trong cung điện tên là Eljudnir. Hel có một chiếc đĩa gọi là "đói", con dao là "khan hiếm" và cái giường là "bệnh".Hel có người hầu cận là Ganglati và người hầu gái là Ganglot. Thỉnh thoảng, mụ ta thăm dương thế bằng con ngựa ba chân của mình. Đi đến đâu, Hel cũng gieo rắc bệnh tật, điềm bất hạnh đến đó. Sumarr và Vetr là hình tượng thần thánh hóa của mùa hè và mùa đông, mùa hè trong thần thoại Bắc Âu. Trong Edda thơ, họ xuất hiện trong "Vafþrúðnismál" và trong Edda văn xuôi thì phần "Gylfaginning." Theo Edda, Sumarr là con của Svásudr còn Vetr là con của Vindsvalr hoặc Vindjóni, cả hai sẽ tồn tại cho đến hoàng hôn của chư thần. Các Æsir và Vanir thường rất thù địch với bộ tộc Iotnar (số ít là "Iotunn" hay "Jotuns", trong tiếng Anh cổ là "Eotenas" hay "Entas"). Bộ tộc này giống như các Titan và Gigantos trong thần thoại Hy Lạp và thường được gọi là người khổng lồ tuy cũng có người gọi họ là quỷ. Tuy nhiên, các Aesir có tổ tiên là người của Iotnar và có thành viên của cả Aesir lẫn Vanir kết hôn với họ. Tên một số người khổng lồ được nhắc đến trong sử thi Edda. Người khổng lồ thường được coi như hiện thân của các sức mạnh tự nhiên. Có hai loại người khổng lồ là người khổng lồ băng và người khổng lồ lửa. Ngoài ra còn có người Elf và người lùn. Vai trò của họ trong thần thoại Bắc Âu không rõ. Họ thường được cho là đồng minh của các vị thần Aesir-Vanir. Tiên nữ Valkyrie là những nữ thần (nữ thiên thần) là những nữ thần phục vụ Odin trong việc đưa các chiến binh tử trận (Einherjar) hoặc những ai chết anh dũng dưới lưỡi giáo mác. Họ có chút tương đồng như nữ thần Kères trong thần thoại Hy Lạp nhưng không kinh khủng như vậy. Nữ thần Valkyrie như người quyết định sống chết trong chiến trường, được quyền chọn chiến sĩ nào làm Einherjar. Nếu ai được chọn làm Einherjar thì chắc chắn họ sẽ chết trong chiến trận. Trong "Gylfaginning," Snorri có đề cập Họ là những Valkyrie:họ được Odin phái tới chiến trườnghọ định trước kẻ tử trận và người chiến thắng trong vinh quang.Gunnr và Róta cũng Norn trẻ tuổi nhấtcô ấy được gọi là Skuldđến bất cứ nơi đâu và rước kẻ tử trận và phân định cuộc chiến.Tại điện Valhalla, họ sẽ hầu rượu cho các Einherjar mỗi buổi tối. Bất kì người thiếu nữ nào đã trở thành Valkyrie sẽ mãi mãi có được sự bất tử và không bao giờ bị tổn thương nếu họ tuân theo mệnh lệnh của các vị thần và luôn là một trinh nữ.Valkyrie thường mặc áo giáp, đội mũ sắt có trang trí sừng hoặc cánh, cưỡi ngựa và cầm theo khiên giáo. Các Valkyrie còn có tên gọi khác là trinh nữ chiến trận, trinh nữ hầu rượ, các Valkyrie hóa thân thành những con thiên nga, tìm những ngọn suối đẹp để tắm. Truyền thuyết kể rằng những giọt nước rơi ra từ bờm ngựa của Valkyrie sẽ làm cho đất đai màu mỡ, tươi tốt còn ánh sáng phát ra từ thanh kiếm hay áo giáp đã tạo nên ánh sáng huyền ảo trên bầu trời đêm. Và ánh sáng đó chính là cực quang. Theo khổ thơ XXX trong "Völuspá", một volva kể với Odin tạm dịch là Cô ta thấy các valkyrieđến từ một nơi xa và rộngsẵn sàng để đi đếntới "Goðþjóðar".Skuld cầm khiênvà người khác là SkogulGunr, Hildr, Gondulvà Geirskogul.Trong bài thơ "Grímnismál", khi Odin (đang cải trang thành "Grímnir") đang bị bị tra tấn, đói cồn cào và khát cháy cổ họng, nói rằng Agnar thần mong ước các Valkyrie là Hrist và Mist "mang cho thần một cốc nước". Trong đoạn khác, Odin nói ra thêm mười một valkyrie nữa: "hãy mang bia rượu tới einherjar"; đó là Skeggjöld, Skögul, Hildr, Þrúðr, Hlökk, Herfjötur, Göll, Geirahöð, Randgríð, Ráðgríð và Reginleif. Einherjar hay tử sĩ là những linh hồn của những chiến sĩ hi sinh anh dũng trong các chiến trận, được các tiên nữ Valkyrie lựa chọn mang về Asgard. Một nửa trong số đó được mang tới sống tại thánh điện Valhalla của thiên đế Odin, số còn lại được chuyển về vùng đất Folkvang, lãnh địa của nữ thần Freyja. Chỉ có những kẻ xuất sắc nhất, mới được chọn để trở thành Einherjar. Theo truyền thuyết, các chiến binh được chọn trở thành Einherjar sẽ tỏa ra trên mình một ánh sáng hoàng kim mà chỉ có Valkyrie mới thấy được. Einherjar sẽ tụ họp hàng ngày ở điện Valhalla. Ban ngày họ được đánh thức dậy nhờ tiếng gáy của gà trống Salgofinir và rèn luyện khả năng chiến trận của mình. Đêm đến họ mọi vết thương sẽ lành lại và các tử sĩ sẽ dùng bữa tối do các tiên nữ Valkyrie phục vụ. Món thứ nhất là rượu mật ong từ con dê Heidrun. Trong "Grímnismál" thì, món thứ hai được Andhrimir - đầu bếp của các vị thần - làm trong chiếc vại Eldhrimnir từ thịt lợn rừng Saehrimnir. Con lợn ấy sẽ tự hồi sinh vào sáng hôm sau để chuẩn bị cho ngày kế tiếp. Odin thường xuyên dự tiệc cùng họ. Đôi khi một vài Einherjar cừ khôi được thần Heimdallr cử xuống Midgard hoặc Jotunheimr để chiến đấu với bọn khổng lồ, nhưng họ không được phép tiếp xúc với người sống. Trong bài thơ "Vafþrúðnismál," khi Odin tranh tài cùng với tên khổng lồ thông thái Vafþrúðnir bằng tên khác là Gagnráðr, ngài đã hỏi "những kẻ nào đã chiến đấu trong cung điện hàng ngày?". Bằng sự khôn ngoan của mình,Vafþrúðnir đã đối đápNhững Einheriar chiến đấu trong thánh điện của Odin hàng ngày;họ chọn chết trận và trở về từ chiến trường,họ ngồi gần nhau hơn trong sự hòa bình, đoàn kết.Trong chương XX thuộc tập "Gylfaginning," Odin còn có tên gọi khác là "Valföðr ("Bắc Âu cổ nghĩa là "Cha của kẻ tử trận"), Những ai kể từ khi ngã xuống dưới thanh gươm giáo, sẽ trở thành người con nuôi của đấng Odin.Do đó trong chiến trận, người ta thường hay ném giáo về phía quân thù và hô lớn: "Hãy về với Odin đi." tức là tế những chiến binh cho thần Odin. Việc tuyển quân cứ thế tiếp diễn đến ngày mạt thế, khi nghe tiếng tù và Gjarllarhorn vang lên, báo hiệu Ragnarok bắt đầu. Họ sẽ cầm gươm đao và sát cánh chiến đấu cùng các vị thần tại cánh đồng Vígríðr chống lại khổng lồ. Một số sử gia còn cho rằng những kẻ chết trong chiến tranh xâm lược sẽ đi đến Valhalla còn những ai hi sinh trong các cuộc kháng chiến, bảo vệ quê hương mình thì sẽ được rước về lãnh địa Folkvang. Vǫlva (völva, số nhiều vǫlvur hay völur) là tên gọi dành cho phù thủy, ngôn sứ hay tiên tri của người Bắc Âu cổ. Volva còn có tên gọi khác là "fjölkunning" hiểu biết nhiều) vì họ biết sử dụng cả seiðr, spá và galdr. Seidr là loại phép thuật được nữ thần Freyja mang từ Vanaheimr truyền bá cho các vị thần Æsir. Nguồn gốc và bản chất seidr khá mơ hồ đó có thể là thần chú hoặc khiêu vũ theo vòng tròn. Seidr được cho là liên hệ với tình dục. Cả nam (seidmadr) và nữ (seidkona) đều có thể thực hiện được, nhưng hầu hết loại phép thuật thường được nữ giới sử dụng. Odin là nam thần duy nhất thực hiện loại ma thuật này và bị Loki gán cho là thiếu nam tính (ergi). "Eiriks saga rauða" có đề cập đến cách thức vận dụng của seidr do Thorbjǫrg thực hiện, bao gồm tụng niệm và cầu nguyện để kết nối với thế giới linh hồn. Theo "Yngling saga" của Snorri thì seidr bao gồm cả tiên tri và phép điều khiển. Truyện dân gian (Saga) về người anh hùng huyền thoại cho biết seidkona mang áo choàng màu đen trên tay cầm một con quay sợi. Người nào bị con quay chạm vào má ba lần thì mất trí nhớ. Hai phép thuật còn lại là spá (tiên tri/ dự ngôn) và galdr (thần chú hoặc chú ngữ). Freyja có thể được coi là "nữ hoàng" volva, là vì Freia thành thạo về phép thuật nhất trong số các chư thần. Ngoài là thần tình yêu, sắc đẹp và sự phì nhiêu, Freyja còn là nữ thần chiến trận do đó các volva muốn lặp lại những gì mà Freyja đã làm với Asgard lên chiến tranh của người trần ở thế giới Trung Địa. Nhiều nữ quý tộc muốn đại diện cho Freyja tại Midgard cũng sử dụng một số công cụ để điều khiển chiến trận lúc các cuộc xung đột nổ ra. Một trong những nữ volva nổi tiếng nhất là Heidr - tái sinh sau khi nữ thần Gullveig thuộc thần tộc Vanir bị thị tộc Asgard giết. Các sinh vật khác. Dís ("nữ thần" trong tiếng Bắc Âu cổ, số nhiều là "disir") là tên gọi các tiểu nữ thần, linh hồn và hồn ma trong thần thoại Bắc Âu. Disir thường liên quan tới số phận con người, ban cho điều lành hoặc gây ra điềm dữ cho con người. Các disir có quyền năng bảo vệ mái ấm gia đình, mùa màng hoặc có thể trợ giúp người thai phụ lúc lâm bồn. Disir có thể phù trợ cho một người, nhóm người hoặc một địa danh nào đó. Vai trò của disir trong các saga cổ không khác mấy Norn, Fylgja và Valkyrie. Trong một số bài thơ trong Edda thơ như "Hamðísmal" hoặc "Grimnísmál", disir được dùng để chỉ các Norns. Cũng như Norns và Valkyrie, dís thường xuất hiện ở dạng số nhiều. Theo bài thơ "Guðrúnarkviða I" trong Edda thơ, 19 nữ Valkyrie được gọi bằng tên chung là "Herjans Disir" (những disir của Oðin). Tuy mang danh hiệu "nữ thần" nhưng địa vị lại thấp hơn các nữ Ásynjur. Nữ thần Freyja còn có một cái tên khác là "Vanadis" (dis của thần Vanir). Ngoài Freia, Snorri còn kể ra "Öndurdis" (dis giày tuyết), để chỉ tới Skadi. Các disir được thờ phục bằng các phong tục hiến tế đặc biệt ("disablot"), do các tín nữ cử hành. Dísblót được cử hành vào cuối thu, đầu mùa đông. Hamingjur (hay còn gọi là thần hộ mệnh) có sức mạnh siêu thường và thường xuất hiện với hình tượng những nàng tiên vô hình luôn theo sát theo con người và dẫn dắt họ. Mỗi người có một thần hộ mệnh riêng đem lại may mắn của mình, người ta có thể cho người khác mượn thần hộ mệnh khi muốn chấp nhận một điều bất hạnh, rủi ro nào đó. Fylgja (số nhiều là "Fylgjur"; hay còn gọi là ngân tùy) là một sinh vật, tạo vật siêu nhiên trong thần thoại Bắc Âu cổ, được trao nhiệm vụ là đi theo cùng với mỗi người từ lúc lọt lòng đến khi giã từ ánh sáng mặt trời. Fylgja gắn liền với vận mệnh, số phận của mỗi người, có thể coi chúng là bản sao của mỗi người. Chúng có thể được coi là linh vật hộ mệnh, mỗi người có một hoặc nhiều linh vật hộ mệnh. Fylgja có hình dạng là một con vật, thường là con cái. Hình dạng của chúng thường ứng với tính cách của chủ nhân: đấng anh hùng có gấu, bò tót làm linh vật, còn kẻ tiểu nhân, xảo trá có cáo đại diệ Fylgja thường vô hình với con người hoặc chỉ xuất hiện trong những giấc mơ. Chúng có thể giúp tự vệ hoặc tấn công kẻ thù. Vì là linh vật hộ mệnh nên có ích và mang lại may mắn, đồng thời chúng còn đại diện cho cái chết. Nếu fylgja hiện hình trước mặt chủ nhân thì cảnh báo người đó đang gặp hiểm nguy hoặc đang cận kề cái chết, đặc biệt là khi fylgja cưỡi một con ngựa xám hoặc được nó mời về nhà. Khi người đó chết thì nó sẽ được chuyển qua phù hộ cho các thành viên khác trong gia đình của kẻ đó. Draugr (số nhiều "draugar") là một trong những sinh vật khủng khiếp nhất ở thần thoại Bắc Âu. Về bản chất chúng đã chết, nhưng không phải mà hồn ma mà là những xác thịt có khả năng di chuyển (hay xác sống, tương đương với thuật ngữ trong tiếng Anh là Zombie). Không giống như Fylgja, chúng gieo rắc nỗi sợ hại cho loài người. Ngoại hình của draugr thường ở trạng thái phân hủy nên có mùi hôi thối đặc trưng. Một số người cho rằng đôi mắt của chúng lóe ra những ta sáng kinh rợn. Ngoài khả năng di chuyển và sức khỏe phi thường, chúng còn có thể sử dụng các loại ma thuật như biến hình, thay đổi thời tiết, tiên , draugr thường hoạt động về đêm nhưng nguy hiểm hơn là ánh sáng mặt trời không gây tổn thương cho draugr. Bất cứ người nào sống hà tiện, tham lam hoặc xấu tính có thể trở thành draugr. Đặc điểm nhận biết một người sẽ biến thành dragur là xác thế không nằm mà đứng hoặc ngồi. Sự hiện diện của chúng có thể được phát hiện nhờ ánh sáng mạnh như lân quang phát ra từ ngôi mô của chúng, tạo thành ranh giới ngăn cách giữa nơi dương thế với cõi âm gian. Draugr có khi vô hại hoặc có khi có hại. Chúng vô hại ở chỗ chỉ nằm yên dưới mộ, và canh giữ tài sản, của cải được mai táng cùng với chúng. Draugr trở thành sinh vật khủng bố loài người và sinh vật khi rời khỏi mộ của mình mà tấn công sinh vật sống hoặc quay về nhà cũ để đòi lại tài sản mà chúng cho là thuộc quyền sở hữu của nó. Draugr có thể biến hóa thành đám khói rồi luồn lách qua khe đá rời khỏi mặt đất mà hiện về dương thế. Chúng tấn công con người và động vật bằng cách giết chết sinh vật đó hoặc tra tấn tâm hồn họ. Vũ khí chẳng thể giết chết được chúng nên việc tiêu diệt draugr vô cùng khó khăn. Để diệt chết chúng chỉ có cách lôi draugr trở về ngôi mộ của nó và chặt đầu nó rồi đặt cái đầu lên mông của chúng rồi hỏa thiêu, cuối cùng lấy tro tàn rắc xuống biển. Trong văn hóa Bắc Âu cổ, có một sinh vật tương tự như draugr là haugbui - xác chết sống dưới mộ. Tuy nhiên haugbui không thể tự rời khỏi ngôi mộ của nó và chỉ tấn công những kẻ xâm phạm lãnh thổ của nó. Tương lai trong tín ngưỡng Bắc Âu khá u tối. Lực lượng bóng tối và hỗn loạn sẽ vượt qua các vị thần đại diện cho trật tự. Loki và các con sẽ vượt ra khỏi xiềng xích. Người chết từ Niflheim trở lại dương thế tấn công người sống. Heimdall, vị thần đứng gác ở cổng Asgard sẽ triệu tập lực lượng nhà trời bằng một hồi tù và. Sau đó nổ ra cuộc chiến giữa hỗn độn và trật tự (vẫn được biết tới với cái tên Ragnarok). Định mệnh của các vị thần là thất bại trong trận chiến này. Họ biết rõ điều đó nên sẽ tập hợp những chiến binh giỏi nhất, các Einherjar, để chiến đấu bên cạnh mình. Nhưng cuối cùng họ cũng phải bất lực nhìn thế giới chìm trở lại vào bóng tối. Các vị thần và trật tự do họ tạo ra sẽ bị tiêu diệt. Bản thân Odin sẽ bị Fenrir nuốt chửng. Tuy nhiên, sẽ còn một vài vị thần và con người sống sót để xây dựng một thế giới mới. Các học giả vẫn đang tranh cãi xem đây có phải là dấu hiệu của những ảnh hưởng từ Ki-tô giáo hay không. Nếu không, quan điểm ngày tận thế của Voluspa có thể phản ánh thế giới quan Ấn-Âu cổ. Trường ca anh hùng. Bên cạnh những câu chuyện về các vị thần linh, thần thoại Bắc Âu cũng kể về các vị vua và anh hùng người trần thế. Những câu chuyện này phản ánh quá trình hình thành các bộ tộc và quốc gia Bắc Âu. Một số học giả cho rằng những câu chuyện này dựa trên những sự kiện có thật và có thể coi chúng như một nguồn nghiên cứu lịch sử vùng Scandinavia. Wayland là một trong ba con trai (Slagfinn, Egil) là con trai của vua xứ Phần Lan.
Nước mắm Phan Thiết Nước mắm Phan Thiết là tên gọi chung các loại nước mắm xuất xứ từ Phan Thiết, một địa phương có nghề làm nước mắm truyền thống. Nước mắm Phan Thiết thuộc loại "lão làng" và đã có mặt ở hầu hết tại các thị trường trong nước. Nước mắm Phan Thiết đã có từ thời Phan Thiết có tên là Tổng Đức Thắng (1809). Những nhà làm nước mắm khi đó đã làm được nhiều nước mắm và bán ở Đàng Ngoài. Đến đầu thế kỷ 20, nước mắm Phan Thiết đã có một nhãn hiệu nổi tiếng là nước mắm Liên Thành, được bán rộng rãi trong Nam ngoài Trung. Về mặt thương hiệu, từ năm 2007, tên gọi này đã được luật hoá khi Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận đăng ký bảo hộ vô thời hạn trên lãnh thổ Việt Nam để chứng nhận xuất xứ cho các loại nước mắm được chế biến theo đúng tiêu chuẩn chất lượng và An toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) trong địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, ngoài Việt Nam, trước đó 8 năm, từ ngày 1 tháng 6 năm 1999 một công ty tên là Kim Seng, trụ sở tại California (Mỹ) đã đăng ký thương hiệu "nước mắm nhỉ thượng hạng Phan Thiết" tại Văn phòng bản quyền sáng chế và nhãn hiệu thương mại Hoa Kỳ . Nước mắm Phan Thiết chủ yếu được làm từ cá cơm và nhiều loài các khác tùy vào mỗi lần tàu về và muối hạt. Có nhiều loại cá cơm như cá cơm sọc tiêu, cơm than, cơm đỏ, sọc phấn, phấn chì, cơm lé, xuất hiện từ tháng tư cho đến tháng tám âm lịch, là loại cá nhỏ, con to chỉ bằng ngón tay út hay bằng chiếc đũa, nhưng phân rã thành mắm nhanh, nên thời gian thành nước mắm cũng ngắn. Tuy nhiên, nhiều nhà làm nước mắm lâu năm cho biết chất lượng còn phụ thuộc vào thời gian đánh bắt cá, nhất là cá tháng tám, con nào cũng đều béo mập thì nước mắm mới ngon và đạt độ đạm cao nhất. Chế biến trong thùng lều. Người ta dùng loại thùng gỗ hình trụ gọi là "thùng lều", cao 2 - 2,5 m, đường kính 1,5 – 2 m, dung tích từ 2.5-8 m3 để muối cá. Sở dĩ người ta phải dùng loại gỗ mềm như bằng lăng, mít, bờ lời để làm thùng là vì khi "niền" lại bằng dây song, chạy quanh mặt ngoài thân thùng, các mảnh gỗ được siết chặt vào nhau, không còn khe hở. Cá cơm đánh bắt về được chọn lựa kỹ, bỏ những con to hay nhỏ quá hoặc không tươi. Cá được đem vào muối không cần rửa lại vì trước khi đem lên bờ, cá đã được rửa bằng nước biển. Khi muối tỷ lệ thường dùng là 10 cá 4 muối, hay 3 cá 1 muối . Hai thành phần đó trộn chung cho thật đều mà không để nát, gọi là chượp. Sau khi cho chượp vào đầy thùng lều thì phủ lên cá kè đã được kết lại như tấm chiếu, rải một lớp muối lên trên rồi cài vỉ tre trên mặt và xếp đá đè xuống. Sau 2-4 ngày người ta mở nút lù có cụm lọc ở đáy thùng lều tháo dịch cá chảy ra. Dịch này gọi là nước bổi, do các enzymes trong ruột cá giúp thủy phân phần nội tạng cá mà thành. Nước bổi có thành phần đạm, nhưng có mùi tanh, chưa ăn được, thường được lọc bỏ váng bẩn để làm nước châm vào các thùng chượp đã chín nhằm tăng độ đạm. Sau khi nước bổi rút, chượp trong thùng xẹp xuống và bắt đầu quá trình thủy phân chính. Tác nhân chính của quá trình này là một loại vi khuẩn kỵ khí thì cần thời gian từ 8-18 tháng thì mới thủy phân xong thân cá. Khi quá trình này hoàn thành, tức chượp chín, thì nước mắm hình thành trong suốt với màu từ vàng rơm tới nâu đỏ cánh gián (tuỳ theo từng mẻ cá) không còn mùi tanh mà có mùi thơm đặc trưng. Nước nhất được rút từ thùng lều được gọi là nước mắm nhỉ - hoàn toàn từ thân cá thủy phân mà thành. Sau khi đã rút nước nhỉ, người ta đổ nước châm vào để rút tiếp nước hai gọi là nước mắm ngang. Mỗi lần rút, độ đạm càng giảm, nên để có sản phẩm có độ đạm đồng nhất bán ra thị trường, người ta phải đấu trộn các loại nước mắm có độ đạm khác nhau. Chế biến trong lu. Đây là phương pháp làm nước mắm phổ biến ở Phan Thiết, đặc biệt là trong các cơ sở nhỏ. Cách ướp chượp, tỷ lệ cá và muối, vẫn theo cách dùng thùng lều. Điểm khác biệt là chượp ướp trong lu và lu được đậy kín phơi ngoài trời thay vì để trong nhà như thùng lều. Bằng cách này, nhiệt độ trong lu thường cao hơn, chượp mau chín hơn. Độ đạm của nước mắm. Độ đạm dinh dưỡng. Quá trình thủy phân của chượp thường đi song song với quá trình phân huỷ của các vi khuẩn gây thối, vì thế, thành phần đạm của nước mắm bao gồm 2 sản phẩm của 2 quá trình đó, tức là đạm dinh dưỡng và đạm urê (tức đạm thối). Tỷ lệ đạm dinh dưỡng trong nước mắm càng cao, thì nước mắm càng ngon. Tỷ lệ trung bình ở các loại nước mắm ngon chiếm khoảng 60-70% đạm tổng. Tuy nhiên, theo luật định, độ đạm mà nhà sản xuất khai báo trên bao bì chỉ là đạm tổng, không phải là đạm dinh dưỡng. Nước mắm cao đạm. Bằng phương pháp ủ chượp - kéo rút thông thường, nước mắm nhất - tức nước nhỉ - chỉ có độ đạm khoảng 28-30oN. Để có nước mắm nhỉ cao đạm từ 35-37 độ, một mặt người ta phải chọn được cá tốt, tỷ lệ thịt cao, tươi ngon, một mặt khác phải rút kiệt nước bổi để giảm lượng nước có trong thùng chượp. Để đưa độ đạm cao hơn, người ta phải đôn đạm. Phương pháp này thường sử dụng nước hoa cà (nước mắm chưa ngấu) có độ đạm khoảng 22-28o làm nước châm để kéo rút lần lượt qua nhiều thùng lều liên tiếp, mỗi một thùng sẽ làm tăng vài độ đạm. Tuy nhiên, độ đạm kỷ lục có thể đạt được cho đến hiện nay chỉ là 42-43o và chỉ có một số rất ít doanh nghiệp nước mắm ở Phan Thiết có thể làm được. Khác biệt chung nhất, dễ nhận thấy nhất của nước mắm Phan Thiết so với nước mắm Phú Quốc và các vùng khác là màu vàng rơm (nếu nguyên liệu là cá cơm) hay màu nâu nhạt (cá nục), trong sánh, có mùi thơm nồng và vị ngọt đậm do đạm cao . Khác biệt đó của nước mắm Phan Thiết được giải thích vì quá trình ủ chượp dưới trời nắng và gió - nhiệt độ trung bình cao, độ ẩm thấp tác động tích cực đến cơ chế lên men - điều mà khó có địa phương nào được ưu đãi như vùng cực Nam Trung bộ. Ngay trong làng nghề nước mắm ở Phan Thiết, cũng có 3 khu vực sản xuất nước mắm ít nhiều khác nhau:
Hàm Nghi (chữ Hán: 咸宜 3 tháng 8 năm 1871 – 14 tháng 1 năm 1944), thụy hiệu Xuất Đế (出帝), tên thật Nguyễn Phúc Ưng Lịch (阮福膺𧰡), là vị hoàng đế thứ tám của nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Là em trai của vua Kiến Phúc, năm 1884 Hàm Nghi được các phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa lên ngôi ở tuổi 13. Sau khi cuộc phản công tại kinh thành Huế thất bại năm 1885, Tôn Thất Thuyết đưa ông ra ngoài và phát chiếu Cần Vương chống thực dân Pháp. Nhân danh ông, Tôn Thất Thuyết đã phát động phong trào Cần Vương, kêu gọi văn thân, nghĩa sĩ giúp vua, giúp nước. Phong trào này kéo dài đến năm 1888 thì Hàm Nghi bị bắt. Sau đó, ông bị đem an trí ở Alger (thủ đô xứ Algérie) và qua đời tại đây năm 1944 vì bệnh ung thư dạ dày. Do áp lực của Pháp nên nhà Nguyễn không lập miếu hiệu cho ông. Ngày nay, lịch sử Việt Nam xem ông cùng với các vua chống Pháp gồm Thành Thái, Duy Tân là ba vị vua yêu nước trong thời kỳ Pháp thuộc. Hàm Nghi húy là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, khi lên ngôi đổi thành Nguyễn Phúc Minh. Ông là con thứ năm của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Phan Thị Nhàn, sinh ngày 17 tháng 6 năm Tân Mùi, tức 3 tháng 8 năm 1871 (có tài liệu ghi ông sinh ngày 22 tháng 7 năm 1872) tại Huế. Ông là em ruột của vua Kiến Phúc (Ưng Đăng) và vua Đồng Khánh (Chánh Mông hay Ưng Kỷ). Sau khi vua Tự Đức qua đời vào tháng 7 năm 1883, mặc dù các Phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết nắm trọn quyền hành trong việc phế bỏ vua này truất ngôi vua khác nhưng lại rất bị động trong việc tìm người trong Hoàng gia có cùng chí hướng để đưa lên ngôi. Trước thời Hàm Nghi, cả ba vua Dục Đức, Hiệp Hòa và Kiến Phúc đều lần lượt đi ngược lại đường lối của phái chủ chiến hoặc bị mất sớm, trở thành những phần tử không thể không bị loại bỏ khỏi triều chính đang rối ren. Vua Kiến Phúc đột ngột qua đời trong lúc tình hình đang có lợi cho phái chủ chiến trong triều đình Huế. Sau khi nhà vua mất, đáng lẽ con nuôi thứ hai của vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ lên ngôi, nhưng Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết sợ lập một vị vua lớn tuổi sẽ mất quyền hành và hai ông chủ trương dứt khoát lựa chọn bằng được một vị vua ủng hộ lập trường chống Pháp nên đã chọn Ưng Lịch. Đây là một người có đủ tư cách về dòng dõi, nhưng chưa bị cuộc sống giàu sang của kinh thành làm vẩn đục tinh thần tự tôn dân tộc và quan trọng hơn hết là hai ông có thể định hướng nhà vua về đại cuộc của đất nước một cách dễ dàng. Ưng Lịch từ nhỏ sống trong cảnh bần hàn, dân dã với mẹ ruột chứ không được nuôi dạy tử tế như hai người anh ruột ở trong cung. Khi thấy sứ giả đến đón, cậu bé Ưng Lịch hoảng sợ và không dám nhận áo mũ người ta dâng lên. Sáng ngày 12 tháng 6 năm Giáp Thân, tức ngày 2 tháng 8 năm 1884, Ưng Lịch được dìu đi giữa hai hàng thị vệ, tiến vào điện Thái Hòa để làm lễ lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Hàm Nghi. Khi đó Ưng Lịch mới 13 tuổi. Người ta nói rằng Hàm Nghi được lên nối ngôi theo di chúc của vua Kiến Phúc trước đây. Tuy nhiên, trên thực tế, Hàm Nghi được phái chủ chiến lập lên ngôi. Nhân vật cầm đầu phái chủ chiến là Tôn Thất Thuyết - Phụ chính đại thần đồng thời là Thượng thư bộ Binh. Thời gian tại kinh thành Huế. Tháng 7-1884, sau khi vua Kiến Phúc đột ngột qua đời, triều đình tôn Hàm Nghi lên ngôi. Khâm sứ Pierre Paul Rheinart thấy Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tự tiện lập vua, không hỏi ý kiến đúng như đã giao kết nên gửi quân vào Huế bắt Triều đình nhà Nguyễn phải xin phép. Rheinart gửi công hàm cho triều đình Huế rằng: Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết phải làm tờ xin phép bằng chữ Nôm nhưng viên Khâm sứ không chịu, bắt làm bằng chữ Hán. Hai ông phải viết lại, viên Khâm sứ mới chịu và sau đó đi cửa chính vào điện làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi. Công việc đầu tiên mà vua Hàm Nghi phải thủ vai, dưới sự hướng dẫn của Tôn Thất Thuyết là tổ chức đón phái đoàn Pháp từ Tòa Khâm sứ ở bờ Nam sông Hương sang điện Thái Hòa làm lễ tôn vương cho nhà vua. Đây là thắng lợi mà phe chủ chiến của triều đình Huế đã đạt được trong việc bảo vệ ngai vàng của Hàm Nghi; còn đối với người Pháp thì sau những yêu sách, đòi hỏi bất thành, họ đành phải nhân nhượng để tránh thêm những rắc rối mới bằng cách chấp nhận một sự việc đã rồi. Lúc 9 giờ sáng ngày 17 tháng 8 năm 1884, phái đoàn Pháp gồm Đại tá Guerrier, Khâm sứ Rheinart, Thuyền trưởng Wallarrmé cùng 185 sĩ quan binh lính kéo sang Hoàng thành Huế. Guerrier buộc triều đình Huế phải để toàn bộ quân Pháp tiến vào Ngọ Môn bằng lối giữa, là lối chỉ dành cho vua đi, nhưng Tôn Thất Thuyết nhất định cự tuyệt. Cuối cùng chỉ có 3 sứ giả được vào cổng chính, còn lại các thành phần khác thì đi cổng hai bên. Cả triều đình Huế và phái đoàn Pháp đều mang tâm trạng không vừa lòng nhau, nhưng buổi lễ thọ phong cuối cùng cũng kết thúc êm thấm. Lúc phái đoàn Pháp cáo từ, Tôn Thất Thuyết đã ngầm cho quân lính đóng cửa chính ở Ngọ Môn lại nên đoàn Pháp phải theo hai lối cửa bên để về. Nhìn nhận về sự kiện này, Marcel Gaultier đã viết: Năm sau 1885, Thống tướng de Courcy được Chính phủ Pháp cử sang Việt Nam để phụ lực vào việc đặt nền bảo hộ. Tướng de Courcy muốn vào yết kiến vua Hàm Nghi nhưng lại muốn là toàn thể binh lính của mình, 500 người, đi vào cửa chánh là cửa dành riêng cho đại khách. Triều đình Huế xin để quân lính đi cửa hai bên, chỉ có các bậc tướng lĩnh là đi cửa chánh cho đúng nghi thức triều đình, nhưng de Courcy nhất định không chịu. Phong trào Cần Vương. Đêm 22 rạng 23 tháng 5 âm lịch (tức đêm ngày 5 rạng ngày 6 tháng 7 năm 1885), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, vì thấy người Pháp khinh mạn vua mình như vậy, nên quyết định ra tay trước: đem quân tấn công trại binh của Pháp ở đồn Mang Cá. Đến sáng thì quân Pháp phản công, quân triều Nguyễn thua chạy, rời bỏ Kinh thành Huế. Tôn Thất Thuyết vào cung báo lại việc giao chiến trong đêm và mời vị hoàng đế trẻ Hàm Nghi cùng Tam cung lên đường. Nghe chuyện phải rời khỏi thành, vua Hàm Nghi đã thảng thốt nói: ""Ta có đánh nhau với ai mô mà phải chạy"." Vua Hàm Nghi ngồi trong kiệu bị chao đảo liên tục, đầu bị va đập nhiều lần vào thành kiệu rất đau, sau cùng nhà vua phải xuống nằm trên võng cho lính cáng. Nguyễn Văn Tường cho người rước vua Hàm Nghi tới thành Quảng Trị để lánh nạn. Chiều ngày 6 tháng 7 thì cả đoàn mới tới Quảng Trị. Nhưng sau đó ông lại ra trình diện với quân Pháp. Tướng de Courcy hẹn cho Nguyễn Văn Tường hai tháng phải tìm cách để rước vua về. Nguyễn Văn Tường viết sớ ra Quảng Trị xin rước vua về nhưng Tôn Thất Thuyết cản thư không cho vua biết. Hết hạn hai tháng, cả gia đình Nguyễn Văn Tường bị de Courcy đày ra Côn Đảo, sau đó đưa tới đảo Tahiti ở Thái Bình Dương. Một thời gian sau Nguyễn Văn Tường qua đời, xác được đưa về Việt Nam. Ngày 9 tháng 7, dưới áp lực của Tôn Thất Thuyết, vua Hàm Nghi đành từ biệt Tam cung, lên đường đi Tân Sở. Hàm Nghi ở Tân Sở rồi về vùng xã xa của 2 huyện Minh Hóa và Tuyên Hóa, Quảng Bình. "Vua Hàm Nghi đã phải chịu nhiều khổ ải vì phải luồn lách giữa núi rừng hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, giữa muôn vàn thiếu thốn, bệnh tật, đói khát và sự hiểm nguy về tính mạng luôn đe dọa". Tại Tân Sở, vua Hàm Nghi tuyên hịch Cần Vương kêu gọi sĩ phu và dân chúng nổi dậy chống Pháp giành độc lập. Sự ủng hộ, che chở giúp đỡ và tham gia nhiệt tình của đồng bào các địa phương từ Quảng Trị qua tới đất Lào cũng như trong vùng Hà Tĩnh, Quảng Bình đã cho Hàm Nghi thấy được vai trò của bản thân mình nên nhà vua đã không còn cảm thấy bị cưỡng ép như trước. ""Nhà vua bị những gian lao mà luyện thành người nhẫn nại và đón cuộc phong trần bằng thái độ rất thản nhiên"." Dân chúng nổi dậy rất đông, nhưng vì rải rác các nơi nên lực lượng không mạnh. Nhà vua đã hai lần xuống dụ Cần vương trong đó có một lần gửi thư cầu viện cho Tổng đốc Vân-Quý của triều Mãn Thanh và rất nhiều chỉ dụ khác tới các quan lại, lãnh tụ của phong trào chống Pháp. "Tên của ông ta đã trở thành ngọn cờ của nền độc lập quốc , đâu đâu dân chúng cũng nổi lên theo lời gọi của ông vua xuất hạnh". Trong suốt thời gian kháng chiến của vua Hàm Nghi, vua anh Đồng Khánh và 3 bà Thái hậu liên tục gửi thư kêu gọi vua trở về nhưng ông khẳng khái từ chối. Toàn quyền Pháp ở Đông Dương là Paul Bert cũng đã định lập Hàm Nghi làm vua 4 tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh Bình nhưng cũng không thành. "Nhà vua thường nói mình ưa chết trong rừng hơn là trở về làm vua mà ở trong vòng cương tỏa của người". Tại căn cứ địa lãnh đạo phong trào Cần Vương, vua Hàm Nghi được Tôn Thất Thuyết cử con là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp hộ giá bảo vệ, cùng Đề đốc Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân chia nhau phòng thủ và tấn công lực lượng Pháp trong vùng. Tháng 9 năm 1888, suất đội Nguyễn Đình Tình phản bội ra đầu thú với Pháp tại đồn Đồng Cá. Nguyễn Đình Tình lại dụ được Trương Quang Ngọc về đầu thú. Sau đó Nguyễn Đình Tình và Trương Quang Ngọc tình nguyện với Pháp đem quân đi vây bắt vua Hàm Nghi. Đêm khuya 26 tháng 9 năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt khi đang ngủ, Tôn Thất Thiệp bị đâm chết. Khi đó, ông mới 17 tuổi, chống Pháp được ba năm. Nhà vua đã chỉ thẳng vào mặt Trương Quang Ngọc mà nói rằng: "Mi giết ta đi còn hơn là mi mang ta ra nộp cho Tây". Từ đêm hôm đó ở bờ khe Tá Bào, huyện Tuyên Hóa (nay là huyện Minh Hóa) tỉnh Quảng Bình, Trương Quang Ngọc mang vua Hàm Nghi về các đồn Thanh Lạng, Đồng Ca rồi sang Quảng Khê và đến đồn Thuận Bài vào chiều ngày 14 tháng 11 năm 1888. Quân Pháp tổ chức chào đón vua rất long trọng nhưng vua đã tỏ ra không hiểu, không nhận mình là Hàm Nghi. Viên Trung úy chỉ huy quân đội Bonnefoy đã chuyển bức thư của Tôn Thất Đàm gửi cho vua Hàm Nghi xem nhưng nhà vua ném lá thư xuống bàn và làm như không có can hệ gì đến mình. Viên Đề đốc Thanh Thủy là Nguyễn Hữu Viết được Pháp cử tới để thăm hỏi và nhận mặt thì nhà vua giả như không hay biết. Nhưng khi người Pháp đem thầy học cũ là Nguyễn Nhuận đến xem thì nhà vua vô tình đứng dậy vái chào. Đến lúc đó thì người Pháp mới yên trí đó là vua Hàm Nghi. Từ Thuận Bài, người Pháp chuyển vua Hàm Nghi qua Bố Trạch rồi vào Đồng Hới và tới cửa Thuận An ngày 22 tháng 11 năm 1888. Lúc này, triều đình Huế đã biết tin Hàm Nghi bị bắt, vua Đồng Khánh sai quan lại Thừa Thiên và bộ Binh ra đón để đưa về Huế. Nhưng người Pháp sợ dân tình sẽ bị kích động khi thấy mặt vị vua kháng chiến nên đã báo cho Viện Cơ mật rằng vua Hàm Nghi lúc này tính tình khác thường, về kinh e có điều bất tiện, cần phải đưa đi tĩnh dưỡng nơi khác một thời gian. Kỳ thực người Pháp đã có quyết định dứt khoát với vị vua kháng chiến này là đày sang xứ Algérie ở Bắc Phi. Rheinart đã báo cho ông biết là Thái hậu đang ốm nặng, nếu nhà vua muốn thăm hỏi thì sẽ cho rước về gặp mặt. Nghe vậy, vua Hàm Nghi đáp: "Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn dám nghĩ gì đến cha mẹ, anh em nữa", rồi ông cáo từ về phòng riêng. Sau khi bị truất, cựu hoàng được chính thức gọi là Quận công Ưng Lịch. Bị Pháp lưu đày. Vào 4 giờ sáng ngày 25 tháng 11 năm 1888, vua Hàm Nghi bị đưa xuống tàu đi vào Lăng Cô. Trước phút rời xa quê hương, nhà vua nhìn lên bờ, không nén được cảm xúc vì nỗi niềm riêng và vận nước nên đã òa khóc. Từ Sài Gòn, ngày 13 tháng 12 năm 1888, vua Hàm Nghi bị đưa xuống chiếc tàu mang tên "Biên Hòa" vượt đại dương đi Bắc Phi. Do không quen đi trên biển, nhà vua bị say sóng liên miên nhưng vẫn không hề thốt ra một lời kêu ca, oán thán. Chiều chủ nhật, 13 tháng 1 năm 1889, Hàm Nghi đến thủ đô Alger của Algérie (tiếng Việt gọi là A Lợi Tư). Lúc này ông vừa bước qua tuổi 18. Mười ngày đầu, Hàm Nghi tạm trú tại L'hôtel de la Régence (Tòa Nhiếp chính). Sau đó, ông được chuyển về ở Villa des Pins (Biệt thự Rừng thông) thuộc làng El Biar, cách Alger 5 km. Ngày 24 tháng 1, Toàn quyền Tirman của Algérie tiếp kiến và mời Hàm Nghi ăn cơm gia đình. Ít ngày sau, qua Toàn quyền Tirman, cựu hoàng nhận được tin mẹ là bà Phan Thị Nhàn (vợ thứ của Kiên Thái vương) đã mất vào ngày 21 tháng 1 năm 1889 tại Huế. Trong mười tháng tiếp đó, Hàm Nghi nhất định không chịu học tiếng Pháp vì ông cho đó là thứ tiếng của dân tộc xâm lược nước mình và vẫn dùng khăn lượt, áo ngũ thân theo nếp cũ ở quê hương. Mọi việc giao thiệp đều qua thông ngôn Trần Bình Thanh. Nhưng về sau, thấy người Pháp ở Algérie thân thiện, khác với người Pháp ở Việt Nam, nên từ tháng 11 năm 1889 ông bắt đầu học tiếng Pháp. Vài năm sau, Hàm Nghi có thể nói và viết tiếng Pháp rất giỏi. Hàm Nghi cũng giao du cùng những trí thức Pháp nổi tiếng. Năm 1899, ông có sang thăm Paris và đến xem một triển lãm của danh họa Paul Gauguin, về sau khi vẽ tranh Hàm Nghi cũng chịu ảnh hưởng bởi phong cách của Gauguin. Hơn 100 năm sau, bức tranh "Déclin du jour" (Chiều tà) của cựu hoàng phát hiện được dưới nghệ danh Xuân Tử khi bán đấu giá ở Paris ngày 24 tháng 11 năm 2010 đã bán được với giá 8.800 euro. Năm 1904, Hàm Nghi đính hôn với cô Marcelle Laloe (sinh năm 1884, mất năm 1974), con gái của ông Laloe Chánh án tòa Thượng phẩm Alger. Đám cưới của họ trở thành một sự kiện văn hóa của Thủ đô Alger. Hàm Nghi cùng bà Marcelle Laloe có ba người con: Công chúa Như Mai tốt nghiệp Kỹ sư Canh nông. Công chúa Như Luân tốt nghiệp Tiến sĩ Y khoa và lập gia đình với Công tước François Barthomivat de la Besse. Ngày 14 tháng 1 năm 1944, Hàm Nghi qua đời vì bệnh ung thư dạ dày tại biệt thự Gia Long, thủ đô Alger. Ông được chôn cất ở Thonac (quận Sarlat-la-Canéda), vùng Nouvelle-Aquitaine, nước Pháp. Trên mộ của vua Hàm Nghi và một số tài liệu ghi ông mất năm 1944. Ông ra đi mang theo nỗi hờn vong quốc không bao giờ nguôi ngoai trong tâm trí. Vì có tư tưởng chống Pháp, vua Hàm Nghi, cùng với các vua Thành Thái, Duy Tân, được xem là 3 vị vua yêu nước của Việt Nam thời Pháp thuộc. Đến thời điểm tháng 5 năm 2014, hài cốt vua Hàm Nghi ở làng Thonac (Pháp). Năm 2009, bài vị và di ảnh vua Hàm Nghi được hội đồng Nguyễn Phúc tộc đưa về thờ tại Thế Tổ Miếu (Hoàng thành Huế). Niên hiệu của ông (Hàm Nghi) được đặt cho một con đường trung tâm ở Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Hà Nội có đường Hàm Nghi thuộc phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm. Tại thành phố Hải Phòng có đường Hàm Nghi ở phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng. Tại Đà Nẵng có đường Hàm Nghi ở quận Thanh Khê. Tại thành phố Huế có đường Hàm Nghi ở phường Phước Vĩnh. Tại thành phố Móng Cái, phố Hàm Nghi kéo dài từ phố Duy Tân đến phố Trần Nhật Duật. Tại thành phố Thanh Hoá đường Hàm Nghi kéo dài suốt trục đường chính của phường Đông Hương. Và tất cả các tỉnh thành đều có tên đường Hàm Nghi. Năm 1955, trường Trung học Thành Nội được dời về trường Quốc Tử Giám triều Nguyễn ở Huế và đổi tên thành trường Trung học Hàm Nghi. Trường bị giải thể năm 1975 để rồi 30 năm sau vào ngày 4 tháng 9 năm 2005 ngôi trường này chính thức được khai giảng trở lại với sự đóng góp rất lớn của cựu học sinh Trường Hàm Nghi trước 1975. Tại thành phố Đà Nẵng có trường Tiểu học Hàm Nghi và tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh có trường Trung học Hàm Nghi. Thành phố Huế cũng có trường Trung học Hàm Nghi.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là "nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa", theo Điều 2, Hiến pháp 2013. Đây là sự kết hợp của hai kiểu nhà nước: nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền. Nhà nước mang bản chất giai cấp, là tổ chức để thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị. Cho đến nay đã có các kiểu Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là kiểu "Nhà nước Xã hội chủ nghĩa", thể hiện ở: Cũng là "Nhà nước pháp quyền", nên Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mang các bản chất chung của Nhà nước pháp quyền, đó là: Các bản chất khác của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là: Ngoài ra, theo Hiến pháp, Nhà nước Việt Nam còn có bản chất sau: Tổ chức Nhà nước trung ương. Nhà nước Việt Nam là hệ thống có 4 cơ quan. Đó là Dưới đây là Sơ đồ tổ chức của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2016: Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, gọi ngắn gọn hơn là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam hay Tổng Bí thư, là chức danh lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam và cũng là chức vụ cầm quyền cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam. Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (đương nhiệm là ông Nguyễn Phú Trọng) Quốc hội Việt Nam theo mô hình đơn viện và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc hội Việt Nam có các nhiệm vụ chính: Thành phần nhân sự của cơ quan này là các đại biểu, do cử tri Việt Nam bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Các đại biểu được bầu chịu trách nhiệm trước cử tri bầu ra mình và trước cử tri cả nước, có nhiệm kỳ 5 năm. Hiện nay, Quốc hội có 499 đại biểu. Đứng đầu Quốc hội Việt Nam là Chủ tịch Quốc hội do các đại biểu bầu ra. Hiện nay Chủ tịch Quốc hội là ông Vương Đình Huệ. Chính phủ Việt Nam là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của quốc hội. Chính phủ chịu sự giám sát của Quốc hội và Chủ tịch nước. Chính phủ phải chấp hành: Chính phủ Việt Nam được thành lập trong kỳ họp thứ nhất của Quốc hội mỗi khóa và có nhiệm kỳ là 5 năm. Đứng đầu Chính phủ Việt Nam là Thủ tướng. Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Chủ tịch nước đề cử và Quốc hội phê chuẩn. Các Phó thủ tướng do Thủ tướng chỉ định. Các thành viên Chính phủ do Chủ tịch nước chỉ định theo đề xuất của Thủ tướng Chính phủ và được Quốc hội phê chuẩn. Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ là ông Phạm Minh Chính. Tòa án nhân dân Tối cao. Tòa án nhân dân Tối cao Việt Nam là cơ quan xét xử nhà nước cao nhất và có những nhiệm vụ và quyền hạn sau: Đứng đầu Tòa án nhân dân Tối cao là Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao. Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao do Chủ tịch nước đề cử và Quốc hội phê chuẩn. Hiện nay, Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao là ông Nguyễn Hòa Bình. Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan kiểm sát và công tố nhà nước cao nhất. Viện kiểm sát có thẩm quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp: Đứng đầu Viện kiểm sát nhân dân tối cao là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm theo Hiến pháp. Hiện nay, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là ông Lê Minh Trí. Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là người đứng đầu Nhà nước Việt Nam và thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Chủ tịch nước hiện nay là ông Võ Văn Thưởng. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số đại biểu Quốc hội với nhiệm kỳ 5 năm. Chủ tịch nước có các quyền hạn như sau: Tổ chức Nhà nước tại địa phương. Việt Nam theo chế độ đơn nhất, các chính quyền địa phương phụ thuộc vào chính quyền trung ương. Hiện nay có 3 cấp địa phương là cấp tỉnh (tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận và huyện) và cấp xã (xã, phường và thị trấn). Tại mỗi cấp có các cơ quan tương ứng là Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Hội đồng nhân dân. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực tại cấp thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh, quận, thành phố và huyện. Đại biểu HĐND do cử tri khu vực đó bầu lên với nhiệm kì 5 năm. Đứng đầu HĐND là Chủ tịch HĐND do các đại biểu bầu ra. Ủy ban nhân dân. Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính tại cấp thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh, quận, thành phố và huyện. Đứng đầu UBND là Chủ tịch UBND do Hội đồng Nhân dân cấp đó bầu ra. Tòa án nhân dân. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử tại cấp thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh, quận, thành phố và huyện. Đứng đầu TAND là Chánh án do Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao bổ nhiệm. Viện kiểm sát nhân dân. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan kiểm sát và công tố tại cấp thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh, quận, thành phố và huyện. Đứng đầu Viện kiểm sát là Viện trưởng do Viện trưởng Viện Kiểm sát Tối cao bổ nhiệm. Bộ máy Nhà nước Việt Nam hiện nay thể hiện được sự hiệu quả tương đối trong công tác quản lý cũng như vận hành đất nước. Tuy nhiên, còn một số tồn tại như: cồng kềnh, yếu kém và trì trệ ở tại một số địa phương cũng như các cơ quan bộ. Bên cạnh đó, bộ máy hành chính có quá nhiều ban bệ, thứ trưởng, vụ trưởng, nhiều cấp phó. Theo quy định, mỗi bộ chỉ được có tối đa 4 thứ trưởng, nhưng các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương đều có lúc có tới 10 thứ trưởng.
Tôn Thất Thuyết (chữ Hán: 尊室説; 1839 – 1913), biểu tự Đàm Phu (談夫), là quan phụ chính đại thần, nhiếp chính dưới triều Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc và Hàm Nghi của triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Ông làm quan đầu triều trong giai đoạn Việt Nam lâm nguy: bên ngoài thì bị quân Pháp xâm chiếm, bên trong thì vua Nguyễn nhu nhược bất tài, trong khi ông luôn chủ trương phải chiến đấu đến cùng để bảo vệ đất nước. Ông là người đã phế lập các vua Dục Đức, Hiệp Hoà và Kiến Phúc do những ông vua này quá bất tài hoặc có ý đầu hàng Pháp, gây nên một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng bên trong hoàng tộc, cho tới khi Hàm Nghi (một vị vua có dũng khí chống Pháp) được ông hỗ trợ lên ngôi. Khi thất bại trong một cuộc binh biến chống Pháp năm 1885, Tôn Thất Thuyết đã phò tá vua Hàm Nghi đi Quảng Trị, tổ chức nghĩa quân chống Pháp, và chính ông nhân danh Hàm Nghi đã ra chiếu Cần Vương, bản chiếu thư nổi tiếng kêu gọi nhân dân Việt Nam yêu nước đứng lên chống Pháp. Toàn bộ gia đình 3 đời của ông cũng tham gia kháng chiến và phần lớn đã hy sinh vì nước, được sử sách và nhân dân ca ngợi là "Toàn gia ái quốc". Tôn Thất Thuyết sinh ngày 29 tháng 3 năm Kỷ Hợi, tức 12 tháng 5 năm 1839 tại làng Phú Mộng, bên bờ sông Bạch Yến cạnh Kinh thành Thuận Hóa, nay thuộc thôn Phú Mộng, phường Kim Long, thành phố Huế. Ông là con thứ hai của Đề đốc Tôn Thất Đính và bà Văn Thị Thu, cũng là cháu 5 đời của Hiền vương Nguyễn Phúc Tần. Thời vua Tự Đức. Năm 30 tuổi (1869), Tôn Thất Thuyết giữ chức Án sát tỉnh Hải Dương. Đến tháng 7 năm 1870, được sung làm Biện lý Bộ hộ rồi sau đó (tháng 11) chuyển sang chức Tán tương giúp Tổng thống quân vụ đại thần Hoàng Tá Viêm "dẹp loạn" ở các tỉnh phía Bắc. Sau chiến dịch này, Tôn Thất thuyết được phong chức "Quang lộc tự khanh" và làm Tán lý quân thứ Thái Nguyên. Kể từ đây, ông chuyên hoạt động quân sự và nổi tiếng dần qua các cuộc giao tranh với những cánh quân chống lại triều đình Huế. Tháng 12 năm 1870, ông chỉ huy đánh dẹp nhóm Đặng Chí Hùng ở Thái Nguyên. Tháng 3 năm 1872, ông cùng Trương Văn Để đánh tan quân Tàu Ô ở Hải Dương, giết chết Hoàng Tề. Tháng 8 năm 1872, ông đánh thắng toán giặc Khách ở Quảng Yên. Tháng 12 năm 1873, ông cùng Hoàng Tá Viêm phục binh tại Cầu Giấy, Hà Nội giết chết viên chỉ huy quân sự trong đợt Pháp đánh miền Bắc lần thứ nhất là đại úy Francis Garnier. Ông muốn thừa thắng tấn công địch nhưng triều đình sai ông triệt binh về Sơn Tây. Tôn Thất Thuyết liền cự tuyệt, buộc triều đình phải cử người đến bàn bạc, ông mới chịu lui binh. Tháng 3/1874 vẫn là Tham tán Đại thần nhưng Tôn Thất Thuyết được phong là Hữu tham tri Bộ binh, tước Vệ Chính Nam. Một tháng sau, ông giữ chức tuần vũ tỉnh Sơn Tây kiêm tham tán Đại thần. Tháng 7 năm 1874, ông cùng Hoàng Tá Viêm đàn áp 2 cuộc nổi dậy của hai sĩ phu Trần Tuấn và Đặng Như Mai. Tháng 3 năm 1875, ông dập tắt được khởi nghĩa ở Cổ Loa, Đông Anh, bắt chém thủ lĩnh trận. Tháng 6 năm 1875, bức hàng nhóm Dương Đình Tín ở Thái Nguyên. Tháng 9 năm 1875, bắt sống được tướng quân Cờ vàng là Hoàng Sùng Anh ở Thái Nguyê Với hàng loạt công lao như vậy nên Tôn Thất thuyết được vua Tự Đức cho thăng tiến nhanh. Tháng 3 năm 1872, ông được bổ làm Bố chính tỉnh Hải Dương. Năm 1873 làm Tham tán Đại thần hàm Thị lang Bộ binh, rồi lên thự Tham tri Bộ binh. Tháng 3 năm 1874 vẫn là Tham tán Đại thần nhưng Tôn Thất Thuyết được phong là Hữu tham tri Bộ binh, tước Vệ Chính Nam. Tháng 4 năm 1874, ông giữ chức Tuần Vũ tỉnh Sơn Tây kiêm Tham tán Đại thần. Tháng 3 năm 1875 ông là Tổng đốc Ninh-Thái kiêm Tổng đốc các việc quân Ninh-Thái-Lạng-Bằng. Đến tháng 10 năm 1875 lại được bổ làm Hiệp đốc quân vụ Đại thần, chức tước gần ngang với Tổng thống quân vụ Đại thần Hoàng Kế Viêm. Với thắng lợi vào năm 1881, Tôn Thất Thuyết được phong chức Thượng thư Bộ binh và sang tháng 2 năm 1882 ông kiêm thêm chức Hải phòng sứ Kinh thành Huế. Năm 1883, Tôn Thất Thuyết chính lãnh chức Thượng thư Bộ binh và sau đó được cử vào Cơ Mật Viện vào tháng 6 năm 1883. Vào tháng 10 năm 1875, khi ông đang làm Tổng đốc Ninh-Thái, phái viên Pháp ở Hà Nội đã đề nghị triều đình Huế phải thay người, vua Tự Đức đã bổ ông đi chỗ khác. Từ năm 1876, Tôn Thất Thuyết thường lâm bệnh, muốn thôi đảm đương việc quân và dâng sớ lên vua Tự Đức bày tỏ ý muốn đi tu. Ngày 19 tháng 7 năm 1883, Tự Đức đã triệu tập một số đại để chứng kiến việc ký di chúc truyền ngôi cho Hoàng tử Ưng Chân, đồng thời phong cho Tôn Thất Thuyết làm Đệ tam Phụ chính đại thần sau Trần Tiễn Thành và Nguyễn Văn Tường để giúp cho Ưng Chân kế vị ngôi vua vào tháng 7 năm 1883. Theo nhận xét của vua Tự Đức, Tôn Thất Thuyết "có tài dụng võ, nhưng thiếu lương thiện, không trung thực và hay trốn trách nhiệm. Học hành kém, không nhất quán, nhát gan, đa nghi, dễ làm mất lòng người khác. Hắn phải học nhiều thêm để trở thành một người quân tử" , nhưng vua Tự Đức cũng khen ông là "“tướng có uy vũ”, “tài trí đáng khen”, “không phải là cuồng dũng như Ông Ích Khiêm, ít học như Trương Văn Để, cho nên Lê Tuấn cũng từng khen là biết lễ”". Vậy nên lúc sắp mất, Tự Đức vẫn tin tưởng trao trọng trách Phụ chính Đại thần cho ông. Thời vua Dục Đức, vua Hiệp Hòa. Chỉ sau ít ngày giữ chức Phụ chính đại thần, Tôn Thất Thuyết đã cùng Nguyễn Văn Tường phế lập vua Dục Đức để đưa Hiệp Hòa lên ngôi. Vua Dục Đức bị giam vào ngục cho đến chết. Từ lúc về Huế tham dự triều chính, đặc biệt là sau ngày vua Tự Đức mất, Tôn Thất Thuyết đã nỗ lực biến triều đình Huế thành trung tâm đầu não chống Pháp. Sáng ngày 20/3/1883, hơn 1.000 quân Pháp đổ bộ và chiếm được cửa Thuận An. Nghe tin Thuận An thất thủ, vua Hiệp Hòa phải cử người đến xin người Pháp đình chiến và buộc các tướng lĩnh rút lui và nhổ các vật cản trên sông Hương. Quyết định nghị hòa của vua Hiệp Hòa tạo ra sự bất mãn trong hàng ngũ quan quân chủ chiến, nhưng họ đành bất lực. Tôn Thất Thuyết phản ứng bằng cách đem cờ và ngự bài binh sự trả lại cho nhà vua, còn Ông Ích Khiêm thì hậm hực rút quân bản bộ (chừng 700 người). Hiệp ước Harmand được vua Hiệp Hòa phê chuẩn ngày 25/8/1883, gồm 27 điều khoản công nhận người Pháp có quyền bảo hộ lãnh thổ và kiểm soát về mặt ngoại giao của triều đình. Đây được coi là văn bản đầu hàng chính thức của nhà Nguyễn và Việt Nam chính thức bị thực dân Pháp đô hộ. Vua Hiệp Hòa còn nghe theo Khâm sứ De Champeaux, cử người ra Bắc để triệu hồi các võ tướng đang trấn giữ ở nơi đó về kinh. Những việc làm mang tính đầu hàng Pháp của nhà vua đã khiến nhiều người thêm phẫn nộ. Các tướng như Hoàng Tá Viêm, Trương Quang Đản, Ngô Tất N Tháng 8/1883, Tôn Thất Thuyết được thăng chức Điện tiền tướng quân, Hiệp biện Đại học sỹ, tước Vệ Chính bá. Nhưng do phản đối Hiệp ước Harmand, ông đã bị Hiệp Hoà đổi sang làm thượng thư bộ Lễ rồi thượng thư bộ Lại. Do không chấp nhận chủ trương đầu hàng người Pháp của vua Hiệp Hòa, ông đã cùng các đại thần tiếp tục phế bỏ và bức tử vua Hiệp Hòa vào cuối tháng 11 năm đó, rồi lập người con nuôi khác của vua Tự Đức là Kiến Phúc lên ngôi. Ông giữ lại chức thượng thư bộ Binh. Vua Kiến Phúc lên ngôi ngày 2/12/1883, tạo điều kiện cho phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết đứng đầu củng cố thế lực, tăng cường lực lượng quân sự ở các tỉnh và kinh đô, cũng như củng cố hệ thống sơn phòng ở các tỉnh miền Trung và các tỉnh phía Bắc. Trong triều đình Huế, tất cả những quan từng có quan hệ mật thiết với Pháp đều bị ông tìm cách trừ bỏ. Nhưng ông phải nhẫn nhịn để Kiến Phúc ký Hòa ước Giáp Thân (6 tháng 6 năm 1884) vì cần có thêm thời gian củng cố lực lượng. Vào đầu tháng 8 năm 1884, sau khi vua Kiến Phúc lâm bệnh băng hà, việc đưa Hàm Nghi lên ngôi cũng xuất phát từ mục tiêu của Tôn Thất Thuyết nhằm hướng triều đình theo chủ trương chống Pháp. Đến lúc Hàm Nghi lên ngôi, Tôn Thất Thuyết mới thực sự kiểm soát triều đình đã không còn thực quyền nhằm tháo gỡ những ràng buộc mà người Pháp đang thiết lập lên An Nam. Người Pháp cũng đã công nhận ""triều đình An Nam đã biểu dương một thái độ không hèn" và "thái độ ấy do Hội đồng Phụ chính đề ra"". Từ đó, Tôn Thất Thuyết trở thành đối tượng cần thanh trừng hàng đầu của người Pháp. Thời vua Hàm Nghi. Dưới thời vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết thực sự trở thành cái gai mà người Pháp muốn nhổ ngay lập tức. Đầu tháng 1 năm 1884, Tôn Thất Thuyết lập đội quân Phấn Nghĩa và giao cho Trần Xuân Soạn trực tiếp chỉ huy để sẵn sàng ứng phó khi có sự cố. Ngày 2/7/1885, tướng Pháp là De Cuorcy đã mang 3 đại đội bộ binh, 1 phân đội lính bộ truy kích, 1 đội kèn, tổng cộng 19 sỹ quan, 1.024 lính và 2 tàu chiến đến cảng Thuận An - Huế. Ngày 3/7/1885, De Courcy yêu cầu hội kiến với các Thượng thư của Triều đình Huế và Cơ Mật viện để bàn chi tiết lễ chuyển giao hiệp ước Patenôtre, đồng thời nhân cơ hội này để bắt Tôn Thất Thuyết. Nhưng âm mưu của De Courcy bị lộ, Tôn Thất Thuyết cáo ốm không có mặt. Do âm mưu bắt Tôn Thất Thuyết không thành, De Courcy liền đưa yêu sách là đòi triều đình Huế nội trong ba ngày phải nộp tiền chiến phí. Sự khiêu khích của Pháp đối với triều đình Hàm Nghi đã đến cực điểm. Phong trào Cần Vương. Trong tình thế luôn bị thực dân Pháp muốn loại bỏ, không thể ngồi khoanh tay nhìn đất nước chịu nhục, ông đã ra tay trước để giành thế chủ động bằng cuộc tấn công Pháp tại Huế vào đêm 4 tháng 7 năm 1885, khi quân Pháp đang mở tiệc chiêu đãi thì Tôn Thất Thuyết cho quân đánh úp vào trại lính và của Tòa Khâm sứ Pháp. Ông bí mật chia quân doanh làm hai đạo, một đạo do Tôn Thất Lệ, em ruột ông chỉ huy vượt sông Hương đánh úp Tòa Sứ Pháp, còn ông sẽ chỉ huy đạo thứ hai đánh úp doanh trại Pháp ở trấn Bình Đài (Mang Cá). Một giờ sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh nổ súng vào Trấn Bình Đài. Quân Pháp ở Bình Đài phút đầu vô cùng hoảng hốt, nhưng sau đó củng cố lại được và cố thủ đợi trời sáng. Đạo quân Tôn Thất Lệ tấn công Tòa Sứ, đánh nhau giáp lá cà với địch. Quân Pháp tập trung toàn bộ lực lượng để bảo vệ kho đạn và bưu điện. De Courcy khẩn thiết xin viện binh từ ngoài Hải Phòng vào. Đến gần sáng, quân Pháp củng cố được đội ngũ và phản kích trở lại, đánh vào Thành nội. 9 giờ sáng ngày 5/7/1885, Hoàng thành thất thủ. Chiếm được Kinh thành, quân Pháp ra sức đốt phá, cướp bóc, bắn giết. Tất cả các của quý trong Hoàng cung đều bị vét sạch, trụ sở Bộ Binh và Bộ Lại của Tôn Thất Thuyết bị đốt phá tan hoang. Hữu quân đô thống Hồ Văn Hiến và Nguyễn Văn Tường rước vua Hàm Nghi rút ra khỏi kinh thành ở cửa Tây Nam. Hậu quân bảo vệ xa giá là Tôn Thất Thuyết, quân hộ tống xa giá gặp bộ phận đón của Tôn Thất Lệ ở Trường Thi (La Chữ) tổng cộng có hơn 100 người. Sau đó ông đã đưa Hàm Nghi ra Sơn Phòng Quảng Trị, thay mặt vua hạ chiếu Cần Vương. Lời chiếu nhấn mạnh "người giàu đóng góp tiền của, người mạnh khoẻ đóng góp sức lực, người can đảm đóng góp cánh tay, để lấy lại đất nước trong tay quân xâm lược". Hai con trai của Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp cũng đều là chỉ huy trong phong trào Cần Vương. Cha mẹ, anh em, vợ và con rể của ông cũng tham gia góp sức cho phong trào. Người Pháp treo giải 2000 lạng bạc cho ai nộp đầu Tôn Thất Thuyết và ai bắt được vua Hàm Nghi thì được thưởng 500 lạng bạc. Mặc cho ba bà Thái hậu và nhiều quan lại kêu gọi đầu hàng và quay về triều đình, Tôn Thất Thuyết vẫn tuyên bố: "Về Huế là tự mình đưa chân vào cho ngục thất, mà người cầm chìa khoá là quân Pháp. Thừa nhận Hiệp ước 1884 là dâng nước Nam cho kẻ địch. Đành rằng hoà bình là quý, nhưng không lo khôi phục sẽ mang tiếng là đã bỏ giang sơn của tiền triều dày công gây dựng và còn có tội với hậu thế" Sau khi giúp vua Hàm Nghi xây dựng căn cứ lãnh đạo phong trào kháng Pháp, nhận thấy tương quan lực lượng quá chênh lệch, vào tháng 2 năm 1886, Tôn Thất Thuyết đã để cho hai con trai là Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm tiếp tục phò tá Hàm Nghi chống Pháp, còn mình cùng với Trần Xuân Soạn và Ngụy Khắc Kiều tìm đường cầu viện, vượt Hà Tĩnh rồi Nghệ An, đến tháng 3 năm 1886 ông tới Thanh Hoá. Ông dừng chân tại Cẩm Thủy một thời gian và cùng Trần Xuân Soạn và em ruột Tôn Thất Hàm thảo luận về kế hoạch khởi nghĩa rồi phân Soạn ở lại lo phát triển phong trào. Sau đó ông đến tổng Trịnh Vạn thuộc châu Thường Xuân hội kiến Cầm Bá Thước và ở lại đó cho đến ngày 22 tháng 4 năm 1886. Từ đấy ông qua thượng lưu sông Mã, đến châu Quan Hóa để gặp tù trưởng người Mường là Hà Văn Mao. Điểm dừng chân lâu nhất của ông là vào tháng 6 năm 1886 tại nhà tù trưởng người Thái là Đèo Văn Trị, bởi lẽ lúc này ông mắc bệnh rất nặng, không thể tiếp tục đi được. Ông tiếp tục lên đường đi Vân Nam và đến Quảng Đông vào tháng 2 năm 1887. Ông chủ trương cầu viện nhà Thanh giúp Việt Nam đánh thực dân Pháp. Cuối năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt vì thuộc hạ Trương Quang Ngọc phản bội, Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm đều chết khi đang hộ vệ nhà vua. Nhưng cuộc cầu viện bất thành, ông đành tìm các bạn lưu vong như Nguyễn Thiện Thuật, cố gắng liên lạc với phong trào trong nước. Hoạt động tại Trung Quốc. Lúc này tại Thanh Hóa, cuộc khởi nghĩa Ba Đình bị dập tắt, căn cứ của Trần Xuân Soạn bị mất, nên ông Soạn đã vượt biên sang Trung Quốc gặp ông Thuyết tại Quảng Đông. Việc cầu viện nhà Thanh của Tôn Thất Thuyết bất thành, nhưng nhờ vào tình cảm cá nhân của một số quan lại Mãn Thanh chống Pháp nên Tôn Thất Thuyết đã cùng các đồng sự của ông tổ chức liên lạc với các cuộc chống Pháp bên trong nước, mua sắm vũ khí, đạn dược mang về cho nghĩa quân. Tôn Thất Thuyết đã tổ chức đường dây liên lạc với các cuộc khởi nghĩa bên trong nước, quyên góp, chiêu mộ binh dũng. Trâu bò, lúa gạo từ Việt Nam được chuyển sang Trung Quốc và đổi lấy vũ khí đưa về cho nghĩa quân. Hoạt động của Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn ở Quảng Đông rầm rộ đến nỗi quan lại Việt Nam thuộc tỉnh Lạng Sơn hay biết. Tháng 9/1888, tỉnh Lạng Sơn báo cáo về triều đình Đồng Khánh rằng: "“Lê Thuyết (tức Tôn Thất Thuyết)và Trần Xuân Soạn, lẻn đến một dải Liên Thành, Bằng Tường nước Thanh nhập bọn với Lương Tuấn Tú và bọn Hoàng Văn Tường thuộc khách tỉnh ấy, cùng nhau tụ họp”, “Lê Thuyết ở nước Trung Hoa, giả làm quan nước Thanh, chiêu mộ binh dũ”". Việc tiếp tế này duy trì mãi đến năm 1894 thì kết thúc do biên giới Việt - Trung bị khoá. Tống Duy Tân sau khi thất bại ở Thanh Hóa đã sang Quảng Đông gặp ông, nhưng năm 1888 ông lại cử Tống Duy Tân về xây dựng căn cứ chống Pháp ở Hùng Lĩnh. Năm 1889, Tôn Thất Thuyết cử người về Hà Tĩnh và phong cho Phan Đình Phùng làm Bình Trung tướng quân. Hầu hết các tướng lĩnh vùng Đông Bắc và Bắc Kỳ đều có sự liên lạc với Tôn Thất Thuyết. Ông đã tổ chức nhiều hoạt động chống Pháp ở vùng Đông Triều liên tục trong những năm 1891 - 1892. Những năm 1892 - 1895, do bị mất liên lạc trong nước, ông đã xây dựng nhiều toán quân có vũ trang mà chủ yếu là người Hoa và dân tộc thiểu số. Tháng 6 năm 1892, ông đã chỉ đạo cho Lương Phúc đưa quân xâm nhập tổng Hoành Mô thuộc Móng Cái, phát tuyên ngôn dưới danh nghĩa Hàm Nghi để đánh Pháp. Đầu năm 1893, ông đã chỉ đạo cho Vũ Thái Hà tiến vào Bình Hồ cũng thuộc Móng Cái để tấn công Pháp cũng dưới danh nghĩa Cần Vương. Tháng 3 năm 1895, ông cho một đạo quân tiến đánh Cao Bằng, chiếm vùng Lục Khu nhưng bị Pháp đẩy lui. Từ năm 1895, chiến tranh Trung - Nhật nổ ra, biên giới Việt - Trung bị kiểm soát chặt chẽ, người Pháp yêu cầu nhà Mãn Thanh quản thúc Tôn Thất Thuyết, theo dõi Lưu Vĩnh Phúc nên các hoạt động của ông chấm dứt. Ông bị cấm túc, không được ra khỏi nơi cư trú. Triều đình Mãn Thanh cấp cho ông khoản trợ cấp hàng tháng 60 lạng bạc để hưu trí. Trong những năm cuối đời, ông thường có cơn điên dại và thường múa gươm chém vào những tảng đá trong vườn. Tính khí thất thường của ông trong những năm này khiến những người theo ông dần bỏ về Việt Nam hết. Trong những năm này, do cô quạnh, ông tái giá với một bà góa người Trung Quốc năm 1899. Nhân dân vùng Long Châu, Quảng Đông, Trung Quốc gọi ông là "Đả thạch lão" ("Ông già chém đá"). Ông mất tại Trung Quốc vào ngày 22 tháng 9 năm 1913. Khi ông mất, đại thần nhà Thanh là Lý Căn Nguyên ở Bắc Kinh xót thương ông trung liệt, đã cho xây mộ và dựng bia ông ở Thiên Quang. Nhân sĩ Quảng Châu có câu đối điếu ông: "Thù Tây bất cộng đái thiên, vạn cổ anh hồn quy Tượng Quận" "Hộ giá biệt tầm tỉnh địa, thiên niên tàn cốt kí Long Châu" "(Thù Tây chẳng đội trời chung, muôn thuở anh hồn về quận Tượng" "Giúp chúa riêng tìm cõi thác, nghìn năm xương nát gởi Long Châu)" Toàn gia yêu nước. Như vậy phần lớn gia đình ông đều hy sinh vì nước: Cha Tôn Thất Đính bị lưu đày, mẹ và vợ ông mất nơi rừng núi, hai em trai ông Tôn Thất Hàm, Tôn Thất Lệ cùng hai con ông là Đàm và Tiệp đều anh dũng hi sinh, mấy người con trai thứ và con rể ông là Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền cũng bôn ba ở nước ngoài lo chống Pháp. Gia đình Tôn Thất Thuyết đã được người đời xưng tặng là "Toàn gia yêu nước" Có nhiều đánh giá trái ngược liên quan đến cuộc đời của Tôn Thất Thuyết, xuất phát từ quan điểm của mỗi giai đoạn lịch sử. Thời Pháp thuộc, thực dân Pháp căm ghét nỗ lực kháng chiến của Tôn Thất Thuyết nên sách báo thời đó chủ yếu là phê phán ông: "Nước ta quan Tướng anh hùng" "Bách quan văn võ cũng không ai tày" "Người có ngọc vẹt cầm tay," "Đạn vàng Tây bắn ba ngày không nao!" "Tài hay văn vũ lược thao," "Khí khái, nhâm độn ra vào rất thông." "Bốn bề cự chiến giao công," "Tây phiên nói thực anh hùng nước Nam!" Thời đó trong dân gian có câu vè nói về 4 vị tướng chống Pháp: "Nước Nam có bốn anh hùng / Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu!" Bàn luận về đôi câu này, PGS. TS. Đỗ Bang viết: "Sau ngày kinh đô thất thủ, phe thân Pháp và tay sai nắm quyền, các vị này thất thế bị rơi vào thế đối lập chống lại triều đì, xuyên tạc ngay tại Huế... bia miệng độc ác và nghịch lý nhất là khi đem sự nghiệp của các ông ra làm điều giễu cợ". Đối với những nhà nghiên cứu lịch sử sau năm 1954, khi nước Việt Nam đã đánh đuổi được thực dân Pháp, thì Tôn Thất Thuyết được ca ngợi là anh hùng dân tộc. Trên tinh thần ca ngợi chủ nghĩa yêu nước chống ngoại xâm, giới sử học đánh giá cao nhân cách Tôn Thất Thuyết, trân trọng tấm lòng yêu nước nhiệt thành của ông, ca ngợi sự kiên trì chống Pháp và tận trung với vua Hàm Nghi của ông. Vua Hàm Nghi xuống dụ Cần Vương kêu gọi sĩ phu yêu nước giúp vua đánh giặc, về mặt danh nghĩa là dụ của vua Hàm Nghi, nhưng ai cũng biết tinh thần linh hồn của cuộc chiến đấu và cả việc khởi thảo dụ Cần Vương là do Tôn Thất Thuyết Việc Tôn Thất Thuyết 2 lần phế vua Nguyễn chỉ trong một thời gian ngắn cũng được giới sử học ngày nay phân tích lại. Ở thời kỳ đó thì đây bị coi là hành vi bất trung, nhưng xét kỹ ra thì đó là "bất trung với vua nhưng tận trung với nước", bởi nếu không làm thế thì nhà Nguyễn sẽ chỉ có một vị vua nhu nhược, cam nguyện phục tùng Pháp như Dục Đức, Hiệp Hòa, chứ không thể tìm ra vị vua có chí hướng kháng chiến như Hàm Nghi để hiệu triệu toàn dân chống Pháp. Việc Tôn Thất Thuyết phế vua bị sách vở của thực dân Pháp và nhà Nguyễn mô tả là do ông có tham vọng cá nhân, "quyền thần sâu hiểm". Sự mô tả mang tính bôi nhọ đó rõ ràng là phi lý, bởi nếu muốn giành quyền lợi của bản thân thì Tôn Thất Thuyết chỉ cần làm một việc đơn giản: cộng tác với thực dân Pháp để cùng khống chế vua Nguyễn và triều đình, rồi sau đó chỉ việc ở Huế hưởng phú quý với sự bảo trợ của Pháp, chứ ông không cần phải mạo hiểm đứng lên chống Pháp, rồi lại phải đưa vua Hàm Nghi bôn tẩu nơi núi rừng, chịu bao gian khổ để rồi cuối cùng cả 3 đời trong gia đình ông đều hy sinh Tuy nhiên một số sai lầm của ông cũng được phân tích: không huy động nhân dân trong cuộc tấn công quân Pháp ở Huế ngày 5 tháng 7 năm 1885, ảo tưởng việc nhà Thanh sẽ giúp Việt Nam chống Pháp, hoạt động đàn áp khởi nghĩa nông dân của ông trong khoảng 10 năm trước khi về Huế cũng khiến ông bị mất đi một phần sự ủng hộ tại địa phương. Theo TS Nguyễn Quang Trung Tiến, Khoa Lịch sử Trường Đại học khoa học Huế, Tôn Thất Thuyết có những tính cách đặc biệt nên khiến người khác có những hiểu lầm: "“Theo ghi chép qua các tư liệu lịch sử Tôn Thất Thuyết là người ít nói, nhưng cương quyết, khẳng khái, thích lời ngay thẳng không ưa xu nịnh. Ông có sự quả quyết đôi lúc hơi tàn nhẫn liên quan đến việc trừng trị đối phương. Ngay cả những người trong cung cũng ngại ông. Tuy nhiên, ở cương vị là một vị tướng đem quân đi dẹp các nhóm nổi dậy và ăn cướp hãm hại dân chúng thì không thể nhân nhượng, nhu mì được”" Ngày nay tại Việt Nam có hàng trăm đường phố ở khắp các địa phương được đặt theo tên ông để ca ngợi. Phủ thờ Tôn Thất Thuyết vốn là Phủ thờ của dòng họ, được Tôn Thất Thuyết cho xây dựng khoảng năm Tự Đức thứ 19 (1866). Sau ngày Tôn Thất Thuyết mất dòng họ lấy Phủ này làm nơi thờ ông. Di tích Phủ thờ Tôn Thất Thuyết được Nhà nước Việt Nam công nhận là di tích quốc gia ngày 19/10/1994 theo Quyết định số 2754/QĐ-BT.
Văn hóa Hòa Bình Văn hóa Hòa Bình được giới khảo cổ học chính thức công nhận từ ngày 30 tháng 1 năm 1932, do đề xuất của Madeleine Colani, sau khi đã được Đại hội các nhà Tiền sử Viễn Đông họp tại Hà Nội thông qua. Khởi thủy, cụm từ này được dùng để nói đến nền văn hóa cuội được ghè đẽo trên khắp chu vi hòn cuội để tạo ra những dụng cụ từ thời kỳ đá cũ đến thời kỳ đá mới. Qua thời gian, tất nhiên cụm từ này đã được đề nghị mang những tên khác nhau và có những ý nghĩa cũng khác nhau. Nhưng thời gian gần đây, hoạt động của các nhà khảo cổ học trong suốt từ năm 1975 lại đây đã cho thấy một hướng mới về quan niệm khác về thời đại cũng như không gian của Văn hóa Hòa Bình.Đây là 1 nền văn hoá đã khởi nguồn cho văn minh người Việt mà lan truyền và ảnh hưởng lên xứ phía Bắc. Cơ sở tổng quát. Văn hóa Hòa Bình thuộc thời đại đồ đá cũ sang thời đại đồ đá mới (cách ngày nay 15.000 năm, kéo dài đến 2.000 năm trước Công Nguyên), trên vùng đất xen núi đá vôi, thuộc phía Tây châu thổ ba con sông lớn thuộc Bắc Bộ Việt Nam, và với không gian rộng lớn, tiêu biểu cho cả phía xứ vùng Đông Nam Á và Nam Trung Quốc. Dựa vào các di chỉ tìm thấy và niên đại của chúng, các nhà khảo cổ chia Văn hóa Hòa Bình thành ba thời kỳ nối tiếp nhau: Lịch sử khám phá. Năm 1923, bà Madeleine Colani cùng những người hướng dẫn địa phương khám phá ra một số lượng rất lớn di cốt người và dụng cụ bằng đá, trong một hang đá vôi thuộc tỉnh Hòa Bình. Trong mấy năm liền sau đó, bà liên tục khám phá thêm mười hai hang động trong vùng Hòa Bình, khai quật được một số lượng di vật hiếm thấy. Sau khi phân tích chúng và so sánh liên hệ với đồ đá tìm thấy trong vùng núi Bắc Sơn, bà đề nghị xem toàn thể những di vật đặc biệt bằng đá cuội, với đặc điểm là chỉ được đẽo ở lưỡi hay rìa, là của cùng một nền văn hóa, Văn hóa Hòa Bình hay Hoabinhien. Thời gian kể từ khi phát hiện các dụng cụ bằng đá và bằng xương tại di chỉ thuộc tỉnh Hòa Bình, các nhà khảo cổ còn phát hiện ở rất nhiều địa điểm khắp các quốc gia trong vùng như Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia, Malaysia, S, Đài Loan, A"60 năm sau Hoabinhian" tổ chức tại Hà Nội, các nhà khảo cổ học thống nhất quan điểm về thuật ngữ "Văn hóa Hòa Bình" được xem như một khái niệm để chỉ nguồn gốc Các di vật Văn hóa Hòa Bình. Tại Việt Nam, hiện có trên 130 địa điểm thuộc nền Văn hóa Hòa Bình, trong đó trên một nửa do các nhà khảo cổ học Việt Nam phát hiện trong khoảng thời gian từ 1966-1980. Riêng tỉnh Hòa Bình có 72 di chỉ đã được phát hiện và nghiên cứu. Vào thời kỳ đầu thế kỷ 20, các nhà khảo cổ học thực sự chưa khám phá đủ số lượng cần thiết và nhiều địa điểm chưa được khám phá, dựa trên các dụng cụ thô sơ chỉ đẽo một mặt nên việc đánh giá các di vật này chưa được chính xác với tầm quan trọng của Văn hóa Hòa Bình. Nhưng đến thập niên 1960 các khám phá khảo cổ gây sự chú ý các nhà khảo cổ học thế giới tại Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, các đảo nam Thái Bình Dương khiến các nhà tiền sử học đặt lại vấn đề người tiền sử tại Đông Nam Á. Trước hết, nhà khảo cổ người Úc Gorman tìm thấy tại hang Ma (Spirit Cave) ở Thái Lan những dấu hiệu cho thấy người thuộc văn hóa Hòa Bình đã bắt đầu trồng trọt bầu bí sớm hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới, từ cỡ hơn 11 ngàn năm trước. Những năm gần đây, các nhà khảo cổ học đã có những khám phá mang tính đột phá khi quan niệm mới về sự tiện dụng trong vùng Đông Nam Á nhiệt đới cổ xưa không cần hoàn toàn dựa vào các công cụ sinh hoạt và kiếm ăn bằng đá cuội, khi quan sát các bộ lạc còn sót lại và bị biệt lập tại các đảo trong quần đảo Indonesia và tập quán dùng đồ tre, nứa, và các loại mũi tên tẩm độc để săn bắn các con thú lớn, cũng như tập tục ăn sò, ốc biển, ốc nước ngọt, các loại cá sẵn có trong các làn nước ấm. Luận điểm so sánh với các dụng cụ khác ở phương Tây đang được nhiều nhà khoa học xem xét lại. Các di vật chính của thời kỳ Văn hóa Hòa Bình chính (niên đại sớm 12.000 năm cách ngày nay) tại tỉnh Hòa Bình và các tỉnh từ Quảng Bình đến Thái Nguyên là các dụng cụ bằng đá cuội ghè đẽo một mặt, hoặc chỉ phần lưỡi; các mảnh gốm không có hình thù do kỹ thuật nung chưa đạt nhiệt độ cao, đây là di tích đồ gốm xưa nhất của cư dân Văn hóa Hòa Bình cho đến nay đã tìm thấy; các dụng cụ đào bới có cán tra, các vòng trang sức bằng vỏ ốc. Thời kỳ này các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy di cốt người ở vài địa điểm. Di chỉ muộn của Văn hóa Hòa Bình được tìm thấy ở Bắc Sơn (niên đại sớm 5.000 TCN, thuộc Lạng Sơn). Các dụng cụ bằng đá ở đây đã có một trình độ chế tác cao hơn nhiều, lưỡi đá đã được mài sắc, khảo cổ học gọi là "rìu Bắc Sơn". Đồ gốm đã có tiến bộ, kỹ thuật được làm thủ công, cư dân ở đây nặn các dải đất dài, rồi cuộn tròn từ đáy lên miệng và miết kín khe hở, nung gốm bằng chất củi đốt xung quanh. Đồ trang sức bằng đất nung có dùi lỗ và xâu thành chuỗi. Các bằng chứng ngày càng nhiều về một nền văn minh Đông Nam Á đã làm lung lay nhiều thuyết tiền cổ đứng vững nhiều thập kỷ của thế kỷ 20. Người tiên phong trong việc đề xuất hướng mới cho nguồn gốc loài người là Wilhelm G. Solheim II, giáo sư Đại học Hawaii. Năm 1967, Solheim II cho công bố trên nhiều tài liệu nói về sự ra đời sớm của việc trồng trọt, làm gốm, đóng thuyền, đúc đồ đồng Sau Solheim II, một số nhà khảo cổ học khác như Meacham ở Hồng Kông, Higham ở New Zealand, Pookajorn ở Thái Lan đều thống nhất quan điểm, vùng Đông Nam Á, từ Thái Lan xuống Indonesia qua bán đảo Đông Dương, là cái nôi của văn minh Nam Á - Nam Đảo. Và mới đây, Stephen Oppenheimer còn đi xa hơn nữa, khi đưa ra thuyết rằng văn minh Đông Nam Á là cội nguồn của văn minh phương Tây, rằng khi cư dân thềm Sunda di tản tránh biển dâng, họ đã đến vùng Lưỡng Hà - Trung Đông, mang theo kinh nghiệm trồng trọt, làm đồ gồm và sự tích Đại hồng thủy. Năm 2017, Người Hoà Bình được cho là những nhân tố còn sống xót sau đại sự kiện Đại hồng thuỷ ở cuối kỷ Younger Dryas. Atlantis được xác định là nằm trên tiểu lục địa Sundaland. Chú ý rằng những đánh giá này chưa có cập nhật những thành tựu mới từ cuối thế kỷ 20 đến nay, trong đó có nghiên cứu sinh học phân tử, cho ra bằng chứng mới xác định loài người hình thành từ Châu Phi và phát tán ra khắp thế giới (Out-of-Africa). Nghiên cứu về gen gần đây cho thấy người Việt có thể có nguồn gốc từ Châu Phi. Kết quả nghiên cứu ủng hộ giả thuyết tổ tiên người Việt đã di cư từ châu Phi từ 200.000 năm trước, khoảng 40.000 - 60.000 năm trước đã đến cư trú tại Việt Nam, sau đó tiếp tục di cư lên các nước Đông Á. Văn hóa Sơn Vi Văn hóa Hòa Bình Văn hóa Bắc Sơn
Vua Việt Nam (chữ Nôm:𤤰越南) là quân chủ của nước Việt Nam độc lập tự chủ từ thời dựng nước đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử mà vua Việt Nam có thể mang tước hiệu khác nhau. Ở trong nước, tước hiệu tự xưng cao nhất là Hoàng đế và thấp hơn là Quốc vương hoặc Quận vương. Trong huyền sử, khái niệm vua Việt Nam đã thấy ghi chép từ thời Hồng Bàng (các Hùng Vương với nước Văn Lang), nhưng còn nhiều điểm nghi vấn mơ hồ chưa thể khẳng định rõ ràng. Sau đó, An Dương vương cướp ngôi họ Hùng lập ra nhà Thục với nước Âu Lạc rồi họ Triệu (Triệu Đà) lấy nước của nhà Thục. Thế nhưng, Hồng Bàng thị là dòng dõi Thần Nông thị, Thục Phán An Dương vương là hậu duệ Khai Minh thị còn Triệu Đà cũng là người Há, những triều đại sơ khai đều có sự nghi vấn gây tranh cãi. Trong ngàn năm Bắc thuộc từng trỗi dậy những chính quyền nhưng thời gian tồn tại chưa được bao lâu đã bị dẹp yên, sự nghiệp chưa ổn định lâu dài nên chưa thể cấu thành triều đại. Từ khi họ Khúc giành lấy quyền tự chủ cho đến hết loạn 12 sứ quân, danh nghĩa Việt Nam vẫn chỉ là một phiên trấn của Trung Quốc với cái tên Tĩnh Hải quân, các nhà lãnh đạo Việt Nam thời tự chủ chỉ ở mức Tiết độ sứ cả trong nước và ngoại giao, đến lúc Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán mới tự xưng Vương. Bắt đầu từ đấy, vua Việt Nam mới chính thức được xác định, tuy nhiên, nhà Ngô vẫn chưa đặt quốc hiệu. Bấy giờ bên Trung Quốc cũng đang loạn to, chính quyền trung ương còn mải lo đánh dẹp nên chưa thể nhòm ngó xuống mạn cực nam, chỉ có nước Nam Hán kế cận thỉnh thoảng xung đột mà thôi. Đến thời nhà Đinh, đối với thần dân trong nước, các vua người Việt đã xưng hoàng đế và đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, gặp lúc nhà Tống cũng mới chấm dứt cục diện Ngũ đại Thập quốc nên sai sứ sang sắc phong vua Đinh làm Giao Chỉ quận vương, từ đó nền quân chủ Việt Nam mới được xác lập. Sau các cuộc tấn công thất bại của nhà Tống, Trung Quốc đã phải công nhận quyền lực của người Việt ở Thăng Long. Nước Việt được xem như một dạng chư hầu đặc biệt mà Trung Quốc không thể sáp nhập bằng vũ lực; nhưng ngược lại, người Việt cũng phải công nhận Trung Quốc là một nước lớn, về phương diện ngoại giao phải chịu lép nhường thần quyền con trời, mạng trời cao hơn cho vua Trung Quốc, tuy vua Việt vẫn có quyền xưng là con trời và vâng mệnh trời cai trị dân đối với dân nước Việt. Vua Việt Nam tự ví mình với Mặt Trời như vua Trung Quốc. Từ đây, mô hình chính trị Trung Hoa đã được Việt hóa và phát triển để khẳng định ngai vua ở Thăng Long là ngai vàng của Hoàng đế nước Nam trị vì "Đế quốc phương Nam" theo mệnh trời. Hệ thống triều đình của các vua nước Việt cũng tương tự các triều đình của vua chúa Trung Quốc, các nghi thức và danh phận của các vị quan cũng tương tự như quan lại Trung Quốc. Các vị vua nước Việt đã sử dụng rất nhiều nghi thức, biểu tượng chỉ dành riêng cho vua Trung Quốc như áo long bào màu vàng có rồng năm móng, giường long sàng, ngôi cửu ngũ, khi chết thì dùng từ "băng hà" và xây lăng có đường hầm dẫn xuống huyệt. Các vua nước Việt được chính thức dùng các nghi thức đặc biệt nhạy cảm với vua Trung Quốc như thờ trời, tế trời ở đàn Nam Giao, được quyền cai quản các thần linh ở nước Việt, được quyền phong chức tước cho các thánh, thần, sông núi ở nước Việt, có lẽ chỉ ngoại trừ vua Đồng Khánh là vị vua Việt Nam duy nhất chịu làm em của một nữ thần mà thô; có vua Việt Nam còn mượn cớ đau chân để khỏi quỳ gối trước chiếu chỉ của vua Trung Quốc để chứng tỏ mình không phải là cấp dưới của vua Trung Quốc. Tóm lại, các vị vua của Việt Nam là các vị vua thực sự như các vua Trung Quốc. Các vua Việt Nam đã dùng gần như đầy đủ các nghi thức thần quyền quân chủ dành riêng cho vua chúa Trung Quốc, chỉ có cái khác duy nhất là quyền lực thần quyền này không được phép áp đặt lên dân Trung Quốc, ngược lại, quyền lực thần quyền của vua chúa Trung Quốc cũng không áp đặt được lên vua quan và dân nước Việt, các quan của triều đình Việt Nam thì chỉ tuân lệnh và trung thành với vua Việt Nam mà thôi. Thiên mệnh của vua Trung Quốc chỉ kéo dài đến biên giới Việt – Trung. Theo ý thức thần quyền của hai chế độ quân chủ thì biên giới này do Trời vạch sẵn và được Trời cũng như các thần bảo vệ. Cả hai nước đều ý thức được tầm quan trọng của đường biên giới này trong việc duy trì quyền lực giữa hai nước và đã giữ được sự cố định truyền thống của nó trong một thời gian rất dài trong lịch sử. Quan hệ triều cống với Trung Quốc được coi là lựa chọn thay thế duy nhất cho đối đầu, chiến tranh hoặc cấm vận kinh tế với giá rẻ nhất. Vì vậy các triều đại phong kiến Việt Nam trên danh nghĩa vẫn là một phiên thuộc của các triều đại phong kiến Trung Quốc, hầu hết các vị vua Việt Nam lên ngôi đều phải chịu sắc phong của Trung Quốc; hoặc phải để vua Trung Quốc hợp thức hóa vương vị và thần quyền của mình như vua Quang Trung. Vào lúc loạn lạc thay đổi triều đại ở Việt Nam là cơ hội tốt để các triều đại quân chủ và phong kiến phương Bắc mượn cớ giúp vua triều trước, không chịu sắc phong cho vua mới hoặc đem quân qua can thiệp nhằm chiếm đóng và đô hộ lâu dài nước Việt như thời nhà Minh, nhà Thanh. Một số vua khác chỉ trị vì trên danh nghĩa, quyền lực thực sự lại nằm trong tay các vị chúa hoặc các đại thần và phe cánh, hầu hết các vị vua đều được biết bằng miếu hiệu hoặc thụy hiệu và tôn hiệu vắn tắt, những trường hợp vị quân chủ chỉ đặt một niên hiệu trong thời gian tại vị thì sẽ được biết đến bằng niên hiệu. Có những vị vua tuy thực tế cầm quyền nhưng sau thất bại cho nên không được các sử gia phong kiến công nhận, vì theo quan điểm thời đó họ chỉ là phản tặc hoặc nghịch thần, do đó họ chỉ được gọi theo tước hiệu khi chưa lên ngôi, tước hiệu sau khi bị mất ngôi hoặc gọi thẳng tên huý. Đối với Trung Quốc thì vua Việt Nam có tước hiệu là: Sau đây là danh sách vị vua Việt Nam từ khi hình thành nhà nước đến hết thời kỳ quân chủ. Trong danh sách này, ngoài những vị vua còn liệt kê một số nhân vật không phải vua nhưng đã nắm giữ thực quyền cai trị tối cao lãnh đạo đất nước như: các vị Tiết độ sứ thời tự chủ, các chúa Trịnh và chúa Nguyễn thời Lê trung hư, dù chế độ chưa thực sự ổn định nhưng do chống ngoại xâm nên cũng bỏ qua sự trung lập mà đưa vào để tôn vinh sự chính thống và độc lập dân tộc: Thời kỳ nguyên sử. Kỷ Hồng Bàng hiện vẫn còn gây tranh cãi về tính chính xác và thời điểm xuất hiện. Do đó giai đoạn này được xem có tính hư ảo nhiều hơn. Nhà Triệu (204–111 TCN). Nhà Triệu là triều đại đầu tiên được xác nhận hoàn toàn về tính lịch sử, . Hiện trường hợp này vẫn còn đang tranh cãi, đa phần thư tịch cổ đều tính từ khi nhà Hán diệt nước Nam Việt là thời Bắc thuộc, tuy nhiên gần đây có sách lại tính từ khi Triệu Đà diệt nước Âu Lạc đã bắt đầu thời Bắc thuộc. Vì người Trung Quốc cũng không coi chính thể này là triều đại của họ mà chỉ chép phụ vào phần liệt truyện, cho nên tạm thời vẫn liệt kê ở đây như một triều đại nối tiếp hợp pháp của Việt Nam như nhà Nguyên và nhà Thanh ở Trung Quốc. Bắc thuộc lần I, II và III. Trưng Nữ Vương (40–43). Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ngắn ngủi chưa kịp ổn định đã bị diệt vong, tuy nhiên vì do phụ nữ lãnh đạo, hơn nữa lại chống ngoại xâm nên cũng được sử sách đưa vào thành một triều đại của Việt Nam. Nhà Tiền Lý và Triệu Việt Vương (544–603). Theo các thư tịch cổ Trung Quốc (Lương thư, Trần thư và Nam sử) và Việt Nam (trước thời Lê sơ) thì Lý Bí bị Trần Bá Tiên đánh bại và nhà Tiền Lý chấm dứt, nước Vạn Xuân vẫn thuộc nhà Lương và nhà Trần nối tiếp quản lý, sau này Lý Phật Tử nổi dậy chống nhà Tùy là chính quyền khác nhưng tự xưng nối tiếp Lý Bí ngày trước nên gọi là Hậu Lý. Đến khi Ngô Sĩ Liên viết Đại Việt sử ký toàn thư đã cóp nhặt trong dã sử để bổ sung thêm Triệu Việt Vương và Đào Lang Vương, Triệu Việt Vương được Lý Bí truyền ngôi trong hoàn cảnh sắp mất ở động Khuất Lão còn Đào Lang Vương bất phục cũng tự lập nước Dã Năng riêng, như vậy nhà nước Vạn Xuân lúc đó bị phân liệt, đến khi Lý Phật Tử đánh bại Triệu Việt Vương mới thu giang sơn về một mối. Do sau triều đại này bị mất về tay nhà Tùy nên Triệu Việt Vương được các sử gia đời sau công nhận là vua chính thống vì ông còn có công đánh đuổi quân Lương, nếu nhà Hậu Lý tồn tại thêm vài đời nữa mà người viết sử thuộc triều đại đó thì Lý Thiên Bảo sẽ được công nhận là chính thống nối tiếp Lý Bí còn Triệu Việt Vương sẽ thành kẻ tiếm quyền kiểu như Dương Tam Kha xen kẽ giữa nhà Tiền Ngô và Ngô hay Dương Nhật Lễ thay thế nhà Trần mà thôi. Chính quyền họ Mai cũng là cuộc khởi nghĩa chưa kịp ổn định, sử sách chỉ ghi chép vài dòng sơ sài nhưng vì tôn vinh vấn đề chống ngoại xâm nên cũng được liệt vào danh sách vua Việt Nam. Chống Bắc thuộc lần IV. Thực ra nhà Hậu Trần là một cuộc khởi nghĩa thất bại, chưa ổn định chỉ mang tính chất cục bộ nhưng do đề cao việc chống giặc ngoại xâm cho nên sử sách bỏ qua sự trung lập mà vẫn xem như một triều đại. Thời kỳ chia cắt. Niên biểu Lê Trung hưng - Chúa Trịnh - Chúa Nguyễn Thái thượng hoàng có nghĩa là vua cha bề trên, có trường hợp chỉ gọi là thượng hoàng để có nghĩa rộng hơn (vua bề trên). Tùy từng hoàn cảnh lịch sử, thực quyền của thượng hoàng khác nhau. Thượng hoàng có thể giao toàn quyền cho vua hoặc vẫn nắm quyền chi phối việc triều chính; hoặc có thể thượng hoàng chỉ mang danh nghĩa, có những vị không ở ngôi vua ngày nào nhưng do có con làm vua nên cũng được tôn xưng là Thái thượng hoàng. Đối với các vị chúa, khi nhường ngôi sẽ được tôn xưng là Thái thượng vương. Thông thường, thượng hoàng là cha vua, nhưng có các trường hợp không phải như vậy: Thượng hoàng Trần Nghệ Tông truyền ngôi cho em là Duệ Tông, Duệ Tông mất lại lập cháu gọi bằng bác là Phế Đế; Thượng hoàng Mạc Thái Tổ truyền ngôi cho con là Thái Tông, Thái Tông mất sớm lại lập cháu nội là Hiến Tông; Thượng hoàng Lê Ý Tông là chú của vua Lê Hiển Tông. Ngoài 7 Thượng hoàng nhà Trần từ Trần Thừa tới Nghệ Tông cùng Hồ Quý Ly, Mạc Thái Tổ, các Thượng hoàng còn lại trong lịch sử Việt Nam đều không tự nguyện làm Thượng hoàng mà do sự sắp đặt của quyền thần trong triều. Trong lịch sử Việt Nam, duy nhất có trường hợp Thái thượng hoàng, vua, Thái thượng vương và chúa cùng tồn tại trong khoảng 20 năm giai đoạn Cảnh Hưng cuối thời Hậu Lê. Đó là: Thái thượng hoàng Lê Ý Tông (1740–1759), vua Lê Hiển Tông (1740–1786), Thái thượng vương Trịnh Dụ Tổ (1740–1762) và chúa Trịnh Nghị Tổ (1740–1767). Những chính thể tự trị và ly khai. Ngoài những triều đại chính thống, trong lịch sử Việt Nam còn xuất hiện những chính quyền tự chủ và tự lập. Họ là những triều đại không chính thức, có khi chỉ là 1 viên quan địa phương nổi lên hình thành thế lực cát cứ, hoặc là những người dân thường dựng cờ khởi nghĩa, thậm chí là các vương tôn hoàng thân quốc thích tranh chấp ngai vàng trong hoàng tộc nên tạo phản. Vì chính quyền của họ chưa thực sự vững mạnh hoặc chưa đủ điều kiện để thiết lập nên triều đại nên họ chỉ bị coi là giặc cỏ, là quân phiệt cát cứ, hay là quyền thần thế tập nhưng sự tồn tại của họ cũng là một nhân tố không thể thiếu trong dòng chảy lịch sử. Cũng có người đã xưng đế xưng vương đặt ra quốc hiệu, cũng có kẻ xưng công hầu khanh tướng, có người mới chỉ làm thủ lĩnh một vùng nhưng trên thực tế họ ít nhiều đã nắm quyền hành cai quản đất nước hoặc những khu vực địa lý nhất định chẳng khác gì một vương quốc độc lập. Ngoài ra còn có những khu vực tự trị của dân tộc thiểu số do các lãnh chúa người bản xứ cai trị, tuy danh nghĩa là thuần phục triều đình trung ương nhưng trên thực tế họ cũng có bộ máy cai trị và luật lệ riêng. Vua các quốc gia cổ. Ngoài những triều đại của người Kinh ra, trên dải đất Việt Nam hiện tại còn tồn tại nhiều quốc gia cổ đại do người dân tộc thiểu số sáng lập ra như các triều đại Chăm Pa: Hồ Tôn Tinh, Việt Thường thị, Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành, Panduranga-Chăm Pa, Thuận Thành trấn. Các tiểu quốc của người thiểu số ở Tây Nguyên: Thủy Xá - Hỏa Xá, Tiểu quốc J'rai, Tiểu quốc Mạ, Tiểu quốc A, và họ cũng tranh đấu với các triều đại người Việt suốt hàng ngàn năm, cuối cùng họ bị đồng hóa. Họ có nền văn hóa và bản sắc dân tộc riêng không ảnh hưởng gì đến nền văn minh Trung Hoa, bởi lãnh thổ của họ đã hoàn toàn thuộc về Việt Nam nên vua của họ cũng cần được xem là một phần lịch sử Việt Nam. Rất tiếc, ngoại trừ vương quốc Chăm Pa, các tiểu quốc khác do sử liệu không nhiều nên thông tin về các vị vua hầu như không có nên không thể lập danh sách riêng. Ngoài ra còn có trường hợp Phù Nam và Thủy Chân Lạp ở Nam Bộ nhưng vùng đó chỉ là một phần lãnh thổ của hai đế chế này, do đó không hẳn vua của hai chính thể đó là vua Việt Nam mà chỉ có mối liên đới nhất định mà thôi.
Mắt người là một cơ quan đáp ứng với ánh sáng và có nhiều chức năng khác nhau. Là một cơ quan cảm giác, mắt ở lớp thú tạo ra một điều kiện cần của thị giác. Các tế bào que và nón trong võng mạc cho phép sự cảm nhận ánh sáng và khả năng nhìn có ý thức bao gồm phân biệt màu sắc và cảm nhận về chiều sâu. Mắt người có thể phân biệt 10 triệu màu khác nhau và nhiều khả năng là có thể nhận biết một photon đơn lẻ.#đổi Giống như mắt của các loài thú khác, các tế bào hạch thần kinh nhạy sáng không tạo ảnh ở võng mạc mắt người nhận tín hiệu ánh sáng để điều chỉnh kích thước đồng tử, sự điều tiết và kiềm chế hoócmôn melatonin và sự đồng bộ của đồng hồ sinh học cơ thể Mắt người là một phần của não hình thành từ tuần thứ ba của phôi kỳ dưới dạng hai túi thị nguyên thủy, phát triển và lồi dần ra phía trước tạo thành võng mạc, thủy tinh thể và các thành phần hoàn chỉnh khác. Con người có khả năng dùng mắt để liên hệ, trao đổi thông tin với nhau thay lời nói. Trong văn học, mắt thường được gọi là "cửa sổ tâm hồn". Mô tả cơ thể học. Mắt người nằm trong hai lỗ hốc hai bên sống mũi, trên có gò lông mày và trán, dưới giáp xương má. Màng mạc bọc xương của hốc mắt nối tiếp bên sau với màng cứng của não, bọc theo dai dây thần kinh thị giác. Bên ngoài có hai mí mắt khi nhắm lại che kín hốc mắt. Mí trên có lông mi dài cong, lông mi của mí dưới ít hơn và ngắn hơn. Bên trong hốc mắt có các tuyến nước mắt, các bắp thịt di chuyển mắt, trong cùng là các mô mỡ chêm đệm không cho mắt bị kéo vào phía sau bởi các bắp thịt. Tròng mắt là một hình cầu, lớp củng mạc phía ngoài, màu trắng đục ("tròng trắng"), phía trước bọc bởi một lớp trong gọi là kết mạc. Giác mạc nối tiếp củng mạc lồi ra phía trước, trong suốt để lộ phía trong cầu mắt, tạo thành "tròng đen". Bên sau giác mạc theo thứ tự từ ngoài vào trong là khối lỏng thủy dịch, vòng cơ mi ("con ngươi"), thủy tinh thể nằm trong trung tâm phía sau cơ mi, khối lỏng dịch thủy tinh, và sau cùng, lót phía trong cầu mắt là võng mạc, nơi ánh sáng tác động lên nhiều đầu dây thần kinh hình nón và hình gậy. Những dây thần kinh tụ lại tại một điểm ra phía sau cầu mắt theo dây thần kinh thị giác vào não. Vì điểm này của võng mạc không có dầu thần kinh đón nhận ánh sáng nên gọi là điểm mù. Ánh sáng đi qua thủy tinh thể hội tụ rõ nhất tại hoàng điểm (điểm vàng) trên võng mạc. Cầu mắt di động nhờ sức kéo của 6 bắp thịt: 4 cơ trực - trên, dưới, ngoài, trong; 2 cơ chéo - trên và dưới. Hai cơ "trực ngoài" và "trực trong" chỉ đơn giản quay ra ngoài vào trong. Cơ "trực trên" quay cầu lên và chếch vào trong một chút, cơ "chéo dưới", quay lên và ra ngoài một chút. Hai cơ này có tác động chung là đưa hướng nhìn lên (tác động ngoài-trong bị khử nhau). Tương tự, cơ "trực dưới" quay cầu xuống vào trong một chút, cơ "chéo trên" quay xuống và ra ngoài một chút. Hai cơ có tác động chung là nhìn xuống (Khi xét nghiệm hai cơ trực trên và dưới nên bảo bệnh nhân nhìn vào trong một chút để tránh tác động của hai cơ chéo. Tương tự, khi xét nghiệm hai cơ chéo trên và dưới nên bảo bệnh nhân nhìn ra ngoài một chút để tránh tác động của hai cơ trực). Hệ thống thần kinh thị giác. Phản xạ của mắt. Một số phản xạ của mắt dùng trong xét nghiệm lâm sàng: Chẩn học bằng Mống mắt. Khoa học mống mắt (tiếng Anh: "Iridology") là ngành chẩn đoán chưa được y học công nhận, chẩn đoán bệnh dựa theo thay đổi về hình thái, màu sắc của mống mắt. Y sĩ ngành này chỉ chẩn khám nhưng không chữa trị, thường nhờ điều trị do y sĩ các ngành khác như y học tự nhiên. Y sĩ mống mắt hành nghề tại châu Âu, Anh quốc nhiều hơn tại Hoa Kỳ.
Tôn Thất Tiệp (chữ Hán: 尊室詥, 1870-1888) là con trai thứ của Tôn Thất Thuyết. Cùng anh trai Tôn Thất Đàm, ông là một trong những chỉ huy của phong trào Cần Vương.. (theo gia phả nhà cụ Tôn Thất Thuyết thì hai con trai của ông là Tôn Thất Tiệp và Tôn Thất Đàm chứ không phải là Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm) Ngày 4 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết cho quân đánh úp vào trại lính và Tòa Khâm sứ Pháp nhưng thất bại. Vua Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết chạy ra thành Quảng Trị, sau đó lên Sơn Phòng Tân Sở rồi về vùng Tuyên Hóa, Quảng Bình. Tại Tân Sở vua Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vương. Tôn Thất Đàm cùng Tôn Thất Thiệp được cha giao cho nhiệm vụ bảo vệ vua Hàm Nghi. Cuối năm 1888, vua Hàm Nghi bị một thuộc hạ là Trương Quang Ngọc làm phản đem quân tới bắt. Tôn Thất Tiệp bảo vệ vua và bị giết chết trước mặt vua Hàm Nghi ngày 1 tháng 11 cùng năm tại Tuyên Hóa. Khi đó ông mới 18 tuổi. Tại Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh có những con đường được mang tên ông.
Tôn Thất Đàm (1864 – 1888) là một trong những người chỉ huy của phong trào Cần Vương (1885 - 1896), với mục đích giúp vua cứu nước, khôi phục lại chế độ phong kiến Việt Nam. Tôn Thất Đàm quê ở xã Xuân Long, thành phố Huế, là con trai trưởng của Tôn Thất Thuyết, anh trai của Tôn Thất Tiệp. Ngày 4 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết cho quân đánh úp vào đồn Mang Cá và Tòa Khâm sứ Pháp nhưng thất bại. Vua Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết chạy ra thành Quảng Trị, sau đó lên Sơn Phòng Tân Sở rồi về vùng Tuyên Hoá, Quảng Bình. Tại Tân Sở, vua Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vương. Tôn Thất Đàm nhận chức Khâm sai Chưởng lý quân vụ đại thần, thay cha điều hành triều đình Hàm Nghi. Ông cùng Tôn Thất Tiệp được cha giao cho nhiệm vụ bảo vệ vua Hàm Nghi trong khoảng thời gian từ tháng 2 năm 1886 đến tháng 10 năm 1888. Cuối năm 1888, vua Hàm Nghi bị thuộc hạ cũ là Trương Quang Ngọc dẫn theo bọn Nguyễn Định Trình, Cao Viết Lượng gồm hơn hai mươi tên tới bắt. Tôn Thất Tiệp bảo vệ vua và bị giết chết. Tôn Thất Đàm đã tự sát vào ngày 15 tháng 11 năm 1888 khi hay tin vua Hàm Nghi bị lọt vào tay quân Pháp. Có nguồn cho rằng khi vua Hàm Nghi bị bắt, Tôn Thất Đàm đang đóng quân ở Hà Tĩnh. Nghe tin, ông viết cho Hàm Nghi một bức thư tạ tội đã không bảo vệ được vua. Và một bức thư cho Thiếu tá Dabat, đóng ở đồn Thuận Bài xin cho thủ hạ ra đầu thú về làm ăn. Sau đó ông thắt cổ tự vẫn ở chùa Vàng Liêu (Hương Khê, Hà Tĩnh). Tên ông được đặt cho các con đường ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế, Nam Định. Tuy nhiên, con đường ở Thành phố Hồ Chí Minh bị ghi sai thành Tôn Thất Đạm. Phố Tôn Thất Đàm (Ba Đình, Hà Nội) là nơi đặt trụ sở Bộ Ngoại giao Việt Nam. Trên đường Tôn Thất Đạm (phường Bến Nghé, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) có một tòa chung cư cổ được xây từ năm 1886, cùng một ngôi chợ thường được người dân gọi là "chợ quê" hay "chợ nhà giàu". Năm 2018, căn nhà của ông được phục dựng trong Bảo tàng nhà Việt ở Điện Bàn, Quảng Nam.
Lê Quý Đôn (chữ Hán: 黎貴惇, 2 tháng 8 năm 1726 – 11 tháng 6 năm 1784), tên lúc nhỏ là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu (允厚), hiệu Quế Đường (桂堂), là vị quan thời Lê trung hưng, cũng là nhà thơ và được mệnh danh là "nhà bác học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến". Ở thế kỷ 18, các tri thức văn hóa, khoa học của dân tộc được tích lũy hàng ngàn năm tới nay đã ở vào giai đoạn súc tích, tiến đến trình độ phải hệ thống, phân loại. Thực tế khách quan này đòi hỏi phải có những bộ óc bách khoa, Lê Quý Đôn với học vấn uyên bác của mình đã trở thành người "tổng hợp" mọi tri thức của thời đại. Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị mối mọt ăn mất. Thân thế và sự nghiệp. Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ (2 tháng 8 năm 1726) tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam, nay là thôn Đồng Phú thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông là con trai cả của ông Lê Phú Thứ (sau đổi là Lê Trọng Thứ), đỗ Tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (Giáp Thìn, 1721) và làm quan trải đến chức Hình bộ Thượng thư, tước Nghĩa Phái hầu. Ông Lê Trọng Thứ sinh năm 1694 và có hiệu là Trúc Am. Tổ tiên vốn là họ Lý ở huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc. Vì tránh nạn nên gia đình ông dời về ở xã Vị Dương (nay là huyện Thái Thụy, Thái Bình). Về sau gia đình ông lại đến ngụ cư ở xã Diên Hà, huyện Hưng Hà cùng tỉnh. Mẹ Lê Quý Đôn tên Trương Thị Ích, là con gái thứ ba của Trương Minh Lượng, đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1700), trải nhiều chức quan, tước Hoằng Phái hầu. Ba lần đỗ đầu. Thuở nhỏ, Lê Quý Đôn là người ham học, thông minh, có trí nhớ tốt, được người đương thời coi là "thần đồng". Năm lên 5 tuổi, ông đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi. Năm 12 tuổi, ông đã học "khắp kinh, truyện, các sử, các sách của bách gia chư tử". Năm Kỷ Mùi, ông theo cha lên học ở kinh đô Thăng Long. Năm 1743 (Quý Hợi, đời vua Lê Hiển Tông), ông dự thi Hương và đỗ đầu (Giải nguyên) lúc 18 tuổi. Sau khi đỗ Giải nguyên năm 1743, vì không muốn trùng tên với Nguyễn Danh Phương (1690 - 1751), một thủ lĩnh nông dân đang nổi lên chống triều đình, nên ông đã đổi tên là Lê Quý Đôn. Sau đó, ông cưới bà Lê Thị Trang ở phường Bích Câu làm vợ. Bà là con gái thứ 7 của Lê Hữu Kiều, Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1718). Tuy đỗ đầu khoa thi Hương, nhưng thi Hội mấy lần ông đều không đỗ. Ông ở nhà dạy học và viết sách trong khoảng 10 năm (1743-1752). Sách "Đại Việt thông sử" (còn gọi là "Lê triều thông sử") được ông làm trong giai đoạn này (Kỷ Tỵ, 1749).52), ông lại dự thi Hội, và lần này thì đỗ Hội nguyên. Vào thi Đình, ông đỗ luôn Bảng nhãn. Vì kỳ thi này không lấy đỗ Trạng nguyên nên kể như cả ba lần thi ông đều đỗ đầu. Sau khi đỗ đại khoa, năm Quý Dậu (1753), Lê Quý Đôn được bổ làm Thị thư ở Viện Hàn lâm, rồi sung làm Toản tu quốc sử vào mùa xuân năm Giáp Tuất (1754). Năm Bính Tý (1756), ông được cử đi thanh tra ở trấn Sơn Nam, phát giác "6, 7 viên quan ăn hối lộ". Tháng 5 năm đó, ông được biệt phái sang phủ Chúa coi việc quân sự (chức Tri Binh phiên). Ba tháng sau, ông được cử đi hiệp đồng các đạo Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hó Năm Đinh Sửu (1757), ông được thăng làm Hàn lâm viện Thị giảng. Trong năm này ông viết "Quần thư khảo biện". Đi sứ nhà Thanh. Năm Kỷ Mão (1759), vua Lê Ý Tông mất, triều đình cử ông làm Phó sứ, tước Dĩnh Thành bá, để cùng với Trần Huy Mật, Trịnh Xuân Chú cầm đầu phái đoàn sang nhà Thanh (Trung Quốc) báo tang và nộp cống (1760).“ Tháng 11 năm Kỷ Mão, Cảnh Hưng thứ 20 (1759) sai các ông Chánh sứ Trần Huy Mật, Phó sứ Lê Quý Đôn, Trịnh Xuân Chú sang tuế cống nhà Thanh, thêm vào việc báo tang vua [Lê] Ý Tông. ”— "Đại Việt sử ký tục biên"   /div Trên đường sang Yên Kinh (nay là Bắc Kinh), Lê Quý Đôn thấy các quan lại nhà Thanh có thói quen gọi đoàn sứ của Đại Việt là "di quan, di mục" (quan lại mọi rợ), ông lên tiếng phản đối, từ đấy họ mới gọi là "An Nam cống sứ". Việc đáng kể nữa trong chuyến đi sứ này đó là ông đã được các quan lớn triều Thanh như Binh bộ Thượng thư Lương Thi Chinh, Công bộ Thượng thư Quy Hữu Quang và nhiều nho thần khác tìm đến thăm. Đặc biệt, khi đến làm lễ ở điện Hồng Lô, Lê Quý Đôn gặp đoàn sứ thần Triều Tiên do Hồng Khải Hi (洪启禧 - 홍계희) đứng đầu (còn có Triệu Vinh Tiến 趙榮進 và Lý Huy Trung 李徽中). Sau đó, ông đã làm thơ với họ và cho họ xem ba tác phẩm của mình là "Thánh mô hiền phạm lục", "Quần thư khảo biện" và "Tiêu Tương bách vịnh". Tài văn chương và ứng đáp của ông làm cho họ "phải tôn trọng", "phải khen ngợi". Một trong số các bài thơ Lê Quý Đôn giao lưu với các sứ thần Triều Tiên: Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất Dị bang hợp chí diệc đồng phương, Học thuật bản tòng Tiên Tố Vương. Hoàn phúc cộng hân ca ngũ thiện, Dật tài thiên quý phạp tam trường. Trắc ly, bạch trụy giao đầu tặng, Đoan ủy, hồng trù mịch biểu chương. Tín bút thư hoàng chung khiểm khiểm, Xán hoa thanh luận quá du dương. Tiễn sứ thần Triều Tiên kỳ 1 Khác bang nhưng hợp chí, cũng cùng một hướng,Học thuật vốn cùng theo Tiên Tố Vương.Cùng vui với cái phúc được trọn vẹn, ca lên bài ca ngũ thiện,Riêng thẹn cho mình đem khoe tài năng mà lại không đủ tam trường.Giấy trắc ly và giấy bạch trụy trao tặng lẫn nhau,Phép đoan ủy và phép hồng trù tìm thấy ở biểu chương.Thả sức viết văn sửa chữ, thật uyển chuyển,Miệng tươi như hoa luận bàn, rõ ràng lại quá đề cao. ”— Lê Quý Đôn   /div Trở về nước (Nhâm Ngọ, 1762), ông được thăng chức Thừa chỉ Viện Hàn lâm, rồi làm Học sĩ ở Bí thư các để duyệt kỹ sách vở, Ngô Thì Sĩ giữ chức Chính tự. Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục viết rằng: "Bổ dụng Nguyễn Bá Lân và Lê Quý Đôn sung làm học sĩ trong Bí thư các, để duyệt kỷ sách vở, chọn người có văn học là bọn Ngô Thì Sĩ sung giữ chức chính tự trong các." Năm Quý Mùi (1763), ông viết "Bắc sứ thông lục". Trong khoảng thời gian 10 năm (1763-1772), Lê Quý Đôn nhiều lần được cử coi thi Hội. Năm Giáp Thân (1764), ông dâng sớ xin thiết lập pháp chế, vì thấy một số quan lại lúc bấy giờ "đã quá lạm dụng quyền hành, giày xéo lên pháp luật", nhưng không được chúa nghe. Cũng trong năm đó, ông được cử làm Đốc đồng xứ Kinh Bắc, rồi đổi làm Tham chính xứ Hải Dương (Ất Dậu, 1765), song ông dâng sớ không nhận chức và xin về hưu. Sách "Khâm định Việt sử Thông giám cương mục" viết rằng: "Tháng 6, mùa hạ. Lê Quý Đôn, tham chính Hải Dương bị bãi. Từ khi sang sứ nhà Thanh trở về nước, rồi bổ làm tham chính Hải Dương, Quý Đôn tự giãi bày chín tội, nhưng thực ra là tự kể công lao của mình." Theo Phan Huy Chú, lời sớ đại khái rằng: ""Tấm thân từng đi muôn dặm còn sống về được, lại gặp cảnh vợ chết, con thơ phiêu bạt chỗ giang hồ, thần thực không thích làm quan nữa, xin cho về làng"." Được chấp thuận, ông trở về quê "đóng cửa, viết sách". Cũng theo Phan Huy Chú, năm 1760, cha vợ ông Đôn là Lê Hữu Kiều mất. Năm sau (1761), vợ ông Đôn là Lê Thị Trang (sinh năm 1733) cũng mất vì bệnh lao khi chưa đầy 30 tuổi, và đã có sáu con. Theo nhà nghiên cứu Bùi Hạnh Cẩn, Lê Quý Đôn từ quan là vì thấy nhà chúa mỗi ngày thêm sa đà vào các việc vui chơi, muốn bổ ông đi trấn cõi ngoài để không còn phải nghe những lời can ngăn của ông, chứ không hẳn là vì nỗi buồn riêng về vợ con. Đầu năm Đinh Hợi (1767), chúa Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm lên nối ngôi. Nghe theo lời tâu của Nguyễn Bá Lân, chúa cho triệu Lê Quý Đôn về triều, phong làm chức Thị thư, tham gia biên tập quốc sử, kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám, lên vua Lê Hiển Tông đọc. Tháng 9 năm đó, ông được cử làm Tán lý quân vụ trong đội quân của Nguyễn Phan (tước Phan Phái hầu) đi dẹp cuộc nổi dậy của Lê Duy Mật ở Thanh Hóa. Năm Mậu Tý (1768), ông làm xong bộ "Toàn Việt thi lục", dâng lên chúa Trịnh. Năm Kỷ Sửu (1769), ông dâng khải xin lập đồn điền khẩn hoang ở Thanh Hóa. Năm Canh Dần (1770), bàn đến công lao đánh dẹp, ông được thăng làm Hữu thị lang bộ Hộ kiêm Thiêm đô Ngự sử. Mùa thu năm ấy, ông và Đoàn Nguyễn Thục nhận lệnh đi khám duyệt hộ khẩu ở xứ Thanh Hóa. Xong việc trở về, ông tâu xin tha bớt các thuế thổ sản, thủy sản cho các huyện và thuế thân còn thiếu. Chúa Trịnh liền giao cho triều đình bàn và thi hành. Ít lâu sau, ông được thăng Tả thị lang bộ Lại. Khi lãnh trọng trách này, ông có tâu trình lên bốn điều, được chúa khen ngợi, đó là: Sách "Khâm định Việt sử Thông giám cương mục" viết rằng: "Trước kia, Quý Đôn làm phó đô ngự sử, thường dùng số bạc đút lót trong khi xét kiện để dâng chúa Trịnh, bèn được thăng chức Hữu thị lang bộ Hộ. Đến nay, nhân khi khám xét hạt Thanh Hoa trở về, lại dâng hơn một ngàn lạng bạc đã ăn của đút, nên do chức Hữu thị lang bộ Hộ thăng lên chức này." Năm Nhâm Thìn (1772), ông được cử đi điều tra về tình hình thống khổ của nhân dân và những việc nhũng lạm của quan lại ở Lạng Sơn. Năm Quý Tỵ (1773) đại hạn, nhân đó ông tâu trình 5 điều, đại lược nói: ""Phương pháp của cổ nhân đem lại khí hòa, dẹp tai biến, cốt lấy lễ mà cầu phúc của thần, lấy đức mà khoan sức dân"." Chúa nghe theo, bổ ông làm Bồi tụng (Phó Tể tướng), giữ việc dân chính, kiêm quản cơ Hữu hùng, tước Dĩnh Thành hầu. Trong năm này, ông viết "Vân đài loại ngữ". Tháng 5, năm 1773, chúa Trịnh Sâm hạ lệnh cho Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Phương Đĩnh và Lê Quý Đôn làm lại sổ hộ tịch, Quý Đôn kê cứu tra xét quá nghiêm khắc, nhân dân đều nghiến răng căm hờn, họ làm thư nặc danh dán ở cửa phủ chúa Trịnh xin bãi bỏ Quý Đôn đi mà dùng Ngũ Phúc, lời lẽ trong thư rất là khích thiết. Nhân đây, Trịnh Sâm thay đổi mệnh lệnh, cho Ngũ Phúc cùng Quý Đôn đều giữ công việc đôn đốc làm sổ. Ngũ Phúc xin thi hành theo điều lệ đời Cảnh Trị, đại để có nơi tăng, có nơi giảm, có nơi bình bổ vẫn như cũ. Số dân đinh hơi kém với ngạch đinh năm Bảo Thái, dân cũng cho là thuận tiện. Tháng 10 năm Giáp Ngọ (1774), chúa Trịnh Sâm thân chinh mang quân đánh Thuận Hóa, Lê Quý Đôn được cử giữ chức Lưu thủ ở Thăng Long. Đầu năm Ất Mùi (1775), tướng Hoàng Ngũ Phúc đánh chiếm được Thuận Hóa. Tháng 2 năm đó, chúa Trịnh trở về kinh, rồi thăng ông làm Tả thị lang bộ Lại kiêm Tổng tài Quốc sử quán. Cũng trong năm đó xảy ra vụ Lê Quý Kiệt (con Lê Quý Đôn) đổi quyển thi với Đinh Thì Trung. Bị phát giác, cả hai đều bị tội. Vì là đại thần, Lê Quý Đôn được miễn nghị. Sách "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" (Chính Biên, quyển thứ 44, tờ 27 và tờ 28) chép: ""Quý Kiệt con Quý Đôn. Kỳ đệ tứ khoa thi [thi Hội] này, Quý Kiệt cùng Đinh [Thì] Trung đổi quyển cho nhau để làm bài. Việc bị lộ, Đinh [Thì] Trung phải tội lưu đi Yên Quảng, Quý Kiệt phải trở về làm dân. Đinh [Thì] Trung nhân phát giác bức thư riêng của Quý Kiệt và cáo tố là do Quý Đôn chủ sự. Trịnh Sâm lấy cớ Quý Đôn là bậc đại thần, bỏ đi không xét, mà luận thêm tội Quý Kiệt, bắt giam cấm ở ngục ở cửa Đông"." Năm Bính Thân (1776), chúa Trịnh Sâm đặt ty trấn phủ ở Thuận Hóa. Lê Quý Đôn được cử làm Hiệp trấn Tham tán quân cơ, để cùng với Đốc suất kiêm Trấn phủ Bùi Thế Đạt tìm cách chống lại quân Tây Sơn. Tại đây, ông soạn bộ "Phủ biên tạp lục". Ít lâu sau, ông được triệu về làm Thị lang bộ Hộ kiêm chức Đô ngự sử. Năm Mậu Tuất (1778), ông được cử giữ chức Hành tham tụng, nhưng ông từ chối và xin đổi sang võ ban. Chúa Trịnh chấp thuận, cho ông làm Tả hiệu điểm, quyền Phủ sự (quyền như Tể tướng, tạm coi việc phủ chúa), tước Nghĩa Phái hầu. Tháng 4 năm đó, Lê Thế Toại dâng bài khải công kích Lê Quý Đôn. Năm sau (1779), ông lại bị Hoàng Văn Đồng tố cáo, nên bị giáng chức. Tháng 7, năm 1779, thổ tù Hoàng Văn Đồng làm phản, triều đình sai Nguyễn Lệ, Nguyễn Phan đi đánh, Văn Đồng xin hàng. Sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục chép rằng:""Văn Đồng cáo tố rõ tình trạng sách nhiễu của Quý Đôn và Xuân Hán. Lệ đem việc này tâu về triều, bọn Quý Đôn đều can tội, phải giáng chức"." Năm Tân Sửu (1781), ông lại được giữ chức Tổng tài Quốc sử quán. Tháng 9 năm Nhâm Dần (1782), chúa Trịnh Sâm qua đời, Trịnh Cán được nối ngôi chúa. Chỉ vài tháng sau, quân tam phủ nổi loạn giết chết Quận Huy (Hoàng Đình Bảo), phế bỏ Trịnh Cán và Đặng Thị Huệ (vợ chúa Trịnh Sâm, mẹ Trịnh Cán), lập Trịnh Khải làm chúa. Nhớ lại hiềm riêng, Nguyễn Khản nói với chúa Trịnh Khải giáng chức Lê Quý Đôn. Đầu năm Quý Mão (1783), ông nhận lệnh đi làm Hiệp trấn xứ Nghệ An. Ít lâu sau, ông được triệu về triều làm Thượng thư bộ Công. Trong bối cảnh kiêu binh gây rối, triều chính rối ren, nhân dân đói khổ... Lê Quý Đôn lâm bệnh nặng. Sau đó, ông xin về quê mẹ là làng Nguyễn Xá (huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) để chữa trị, nhưng không khỏi. Ông mất ngày 14 tháng 4 năm Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 (tức 11 tháng 6 năm 1784), lúc 58 tuổi. Thương tiếc, chúa Trịnh Tông (tức Trịnh Khải) đã đề nghị với vua Lê Hiển Tông cho bãi triều ba ngày, cử Bùi Huy Bích làm chủ lễ tang, đồng thời cho truy tặng Lê Quý Đôn hàm Công bộ Thượng thư. Đến khi vua Lê Chiêu Thống nắm quyền chính, ông được gia tặng tước Dĩnh quận công. Ông có bốn con trai: Lê Quý Kiệt, Lê Quý Châu, Lê Quý Tá và Lê Quý Nghị. Theo GS. Dương Quảng Hàm, Lê Quý Đôn thật là một nhà bác học ở đời Lê mạt: một tay ông đã biên tập, trứ thuật rất nhiều sách. Tuy tác phẩm của ông đã thất lạc ít nhiều nhưng những bộ còn lưu lại cũng là một kho tài liệu để khảo cứu về lịch sử, địa dư và văn hóa của nước Việ: # Đế kỷ (2 quyển), chép từ năm Lê Lợi khởi nghĩa (1418) đến năm ông mất (1433). # Nghệ văn chí (1 quyển), chép về sách vở văn chương. # Liệt truyện (11 quyển), chép về các Hậu phi, Hoàng tử, Danh thần (đời vua Lê Thái Tổ) và Nghịch thần (từ cuối đời nhà Trần đến nhà Mạc). Về văn Nôm, hiện nay chỉ còn: Tuy nhiên trừ bài "khải" ra, theo PGS. Nguyễn Thạch Giang, các bài Nôm còn lại đều không chắc là của ông. Lê Quý Đôn là một ""nhà bác học ham đọc, ham biết và ham viết"," là ""một nhà bác học có kiến thức hết sức uyên bác và đa dạng"." Điều đó đã được nhà sử học Phan Huy Chú nói đến từ những năm đầu của thế kỷ 19, trích: "Ông có tư chất khác đời, thông minh hơn người mà (vẫn) giữ tính nết thuần hậu, lại chăm học không biết mỏi. Tuy đỗ đạt vinh hiển, tay vẫn không rời quyển sách. Bình sinh (ông) làm sách rất nhiều. Bàn về kinh sử thì sâu sắc, rộng rãi, mà nói về điển cố thì đầy đủ rõ ràng. Cái sở trường của ông vượt hơn cả, nổi tiếng trên đời. Văn thơ ông làm ra gọi là Quế đường tập có mấy quyển" (trong "Nhân vật chí") "Ông là người học vấn rộng khắp, đặt bút thành văn. Cốt cách thơ trong sáng. Lời văn hồn nhiê, không cần suy nghĩ mà trôi chảy dồi dào như sông dài biển cả, không chỗ nào không đạt tới, thật là phong cách đại gia" (trong "Văn tịch chí"). Xét góc cạnh khác, theo Giáo sư Văn Tân thuộc Viện Sử học (Việt Nam), Lê Quý Đôn còn là: * Một nhà trí thức muốn có những cải cách trong xã hội Việt Nam. * Một nhà chính trị quan tâm đến nhân dân, gần gũi nhân dân, và hiểu những mong muốn của nhân dân. * Một nhà trí thức có tư tưởng tự tôn và tự hào dân tộc. Tuy nhiên, là một nho sĩ trung thành với họ Trịnh, và ý hệ thức của Lê Quý Đôn là ý thức hệ của giai cấp phong kiến hồi thế kỷ 18, nên trong đời ông, ông đã từng đi đánh dẹp các đội quân nổi dậy chống lại triều đình Lê-Trịnh. Giai thoại văn học. Có một số giai thoại kể về Lê Quý Đôn, đáng chú ý có chuyện Rắn đầu biếng học: Người ta kể rằng, một hôm, Tiến sĩ Vũ Công Trấn đến thăm Tiến sĩ Lê Phú Thứ là người bạn cùng đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn 1724 (sau đổi là Lê Trọng Thứ). Nghe con bạn là Lê Quý Đôn còn trẻ mà đã hay chữ nên ông Trấn lấy đầu đề "Rắn đầu biếng học" để thử tài. Ít phút sau, Lê Quý Đôn đã làm xong bài thơ dưới đây: "Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà! "Rắn đầu biếng học lẽ không tha "Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ, "Nay thét mai gầm rát cổ cha. "Ráo mép chỉ quen tuồng lếu láo, "Lằn lưng cam chịu vết roi da." "Từ nay Trâu Lỗ" "xin siêng học," "Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia!" Bài thơ đúng vần, đúng luật, rất hợp đầu đề, mà ý tứ lại cao kỳ. Đặc biệt, mỗi câu có tên một loài "rắn". Các công trình gắn liền với tên tuổi của Lê Quý Đôn. Tên Lê Quý Đôn được dùng để đặt tên cho nhiều trường học, nhiều đường phố ở khắp nước Việt Nam như:
Duy Tân (chữ Hán: 維新 19 tháng 9 năm 1900 – 26 tháng 12 năm 1945), tên khai sinh là Nguyễn Phúc Vĩnh San (阮福永珊), là vị hoàng đế thứ 11 của nhà Nguyễn, ở ngôi từ năm 1907 đến năm 1916, sau vua Thành Thái. Giống như vua cha, Duy Tân là một trong hai hoàng đế nhà Nguyễn kháng Pháp và được đánh giá là vị vua chống Pháp quyết liệt nhất. Khi vua cha bị thực dân Pháp lưu đày, ông được người Pháp đưa lên ngôi khi còn thơ ấu. Tuy nhiên, ông dần dần khẳng định thái độ bất hợp tác với Pháp. Năm 1916, lúc ở châu Âu có cuộc Đại chiến, ông bí mật liên lạc với các lãnh tụ Việt Nam Quang phục Hội như Thái Phiên, Trần Cao Vân dự định khởi nghĩa. Tuy nhiên, dự định bại lộ và Duy Tân bị bắt ngày 6 tháng 5 và đến ngày 3 tháng 11 năm 1916 ông bị đem an trí trên đảo Réunion ở Ấn Độ Dương. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945) ông gia nhập quân Đồng Minh chống phát xít Đức. Ngày 26 tháng 12 năm 1945, ông tử nạn trong vụ tai nạn máy bay ở Cộng hòa Trung Phi, khi ông mới 45 tuổi. Ngày 28 tháng 3 năm 1987, thi hài ông được đưa từ M'Baiki, Cộng hòa Trung Phi về Việt Nam, rồi đưa về an táng tại Lăng Dục Đức, Huế cạnh lăng mộ vua cha Thành Thái. Ông không có miếu hiệu. Vua Duy Tân tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh San (阮福永珊), khi lên ngôi đổi thành Nguyễn Phúc Hoảng (阮福晃) sinh ngày 26 tháng 8 năm Canh Tý, tức 19 tháng 9 năm 1900[#endnote_] tại Huế. Ông là con thứ 8 của vua Thành Thái và bà hoàng phi Nguyễn Thị Định. Vua Thành Thái có nhiều con trai, đáng lẽ phải chọn người con trưởng kế vị, nhưng người Pháp sợ một vị vua trưởng thành khó sai khiến nên họ muốn tìm chọn một người nhỏ tuổi. Khi Khâm sứ Fernand Ernest Lévecque cầm danh sách các hoàng tử con vua Thành Thái vào hoàng cung chọn vua, lúc điểm danh thì thiếu mất Vĩnh San. Triều đình cho người đi tìm thì thấy Vĩnh San đang trốn dưới gầm giường, mặt mày lem luốc. Khi tra hỏi thì Vĩnh San nói: "Ta đang tìm con dế vừa mới xổng". Vì sợ bị quở phạt, người lính đi tìm Vĩnh San không đưa ông đi tắm rửa mà đưa thẳng ra trình diện quan Pháp. Người Pháp trông thấy đồng ý ngay vì họ thấy Vĩnh San có vẻ nhút nhát và đần độn. Triều đình thấy vua quá nhỏ nên xin tăng thêm một tuổi thành 8. Họ cũng đặt niên hiệu cho Vĩnh San là Duy Tân, như muốn hướng tới sự nghiệp không thành của vua Thành Thái. Ngày 5 tháng 9 năm 1907, Vĩnh San lên ngôi lấy niên hiệu là Duy Tân. Và chỉ một ngày sau lễ đăng cơ, Duy Tân đã đổi khác. Một nhà báo Pháp đã thuật lại: "...Un jour de trône a complètement changé la figure d'un enfant de 8 ans". ("Một ngày lên ngai vàng đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của cậu bé lên tám") Để kiểm soát vua Duy Tân, người Pháp cho lập một phụ chính gồm sáu đại thần là Tôn Thất Hân, Nguyễn Hữu Bài, Huỳnh Côn, Miên Lịch, Lê Trinh và Cao Xuân Dục để cai trị Việt Nam dưới sự điều khiển của Khâm sứ Pháp. Một tiến sĩ sinh học là Ebérhard được đưa đến để dạy học cho vua Duy Tân, theo nhiều người thì đó chỉ là hành động kiểm soát. Khoảng năm 1912, Khâm sứ Georges Marie Joseph Mahé mở một chiến dịch tìm vàng ráo riết. Mahé lấy tượng vàng đúc từ thời chúa Minh Nguyễn Phúc Chu trên tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ, đào lăng Vua Tự Đức và đào xới lung tung trong Đại Nội để tìm vàng. Vua Duy Tân phản đối quyết liệt những hành động thô bạo đó, nhưng Mahé vẫn làm ngơ. Duy Tân ra lệnh đóng cửa cung không tiếp ai. Tòa Khâm sứ Pháp làm áp lực với nhà vua thì Duy Tân đe dọa sẽ tuyệt giao với các nhà đương cục ở Huế lúc bấy giờ. Cuối cùng Toàn quyền Albert Pierre Sarraut từ Hà Nội phải vào giải quyết vua Duy Tân mới cho mở Hoàng thành. Năm vua Duy Tân 13 tuổi, ông xem lại những hiệp ước mà hai nước Việt-Pháp đã ký. Nhà vua cảm thấy việc thi hành của hiệp ước ấy không đúng với những điều kiện mà hai bên đã ký kết với nhau nên một hôm giữa triều đình, nhà vua tỏ ý muốn cử ông Nguyễn Hữu Bài là người giỏi tiếng Pháp sang Pháp để yêu cầu duyệt lại hiệp ước ký năm 1884 (Patenôtre). Nhưng cả triều đình không ai dám nhận chuyến đi đó. Năm 15 tuổi, vua Duy Tân đã triệu tập cả sáu ông đại thần trong Phụ chính, bắt buộc các vị phải ký vào biên bản để đích thân vua sẽ cầm qua trình với Tòa Khâm sứ nhưng các đại thần sợ người Pháp giận sẽ kiếm chuyện nên từ chối không ký và phải xin yết kiến bà Thái hậu để nhờ bà can gián nhà vua. Từ đó không những nhà vua có ác cảm với thực dân Pháp mà còn ác cảm với Triều đình. Dự định khởi nghĩa với Việt Nam Quang phục Hội. Việt Nam Quang phục Hội được Phan Bội Châu thành lập từ 1912. Biết được vua Duy Tân là người yêu nước chống Pháp nên Việt Nam Quang phục Hội quyết định móc nối. Hai lãnh đạo của hội là Trần Cao Vân và Thái Phiên bỏ tiền vận động người tài xế riêng của vua Duy Tân xin thôi việc. Thay vào đó là Phạm Hữu Khánh, một thành viên của Hội. Tháng 4 năm 1916, khi vua Duy Tân ra bãi tắm Cửa Tùng nghỉ mát, Phạm Hữu Khánh có đưa cho vua một bức thư của hai lãnh tụ Trần Cao Vân và Thái Phiên. Duy Tân đọc thư và muốn gặp hai người này. Ngày hôm sau, ba người cùng đến câu cá ở Hậu hồ, vua Duy Tân đồng ý cùng tham gia khởi nghĩa. Khởi nghĩa dự định được tổ chức vào 1 giờ sáng ngày 3 tháng 5. Nhưng cuối tháng 4, một thành viên của Việt Nam Quang phục Hội ở Quảng Ngãi là Võ An đã làm lộ tin. Chiều ngày 2 tháng 5, công sứ Pháp ở Quảng Ngãi là de Taste mật điện với Khâm sứ Trung kỳ biết tin. Nghe tin, khâm sứ Charles ra lệnh thu súng ở các trại lính người Việt cất vào kho và cấm trại không cho một người lính Việt nào ra ngoài. Đêm 2 tháng 5, Trần Cao Vân và Thái Phiên đưa thuyền đến bến Thương Bạc đón vua Duy Tân. Nhà vua cải trang theo lối thường dân đi cùng hai người hộ vệ là Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu. Họ tới làng Hà Trung, lên nhà một hội viên Việt Nam Quang phục Hội để chờ giờ phát lệnh bằng súng thần công ở Huế. Nhưng chờ đến ba giờ sáng vẫn không nghe hiệu lệnh, biết đã thất bại, Trần Cao Vân và Thái Phiên định đưa vua Duy Tân tới vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi. Sáng ngày 6 tháng 5 năm 1916, họ bị bắt. Khâm sứ tại Huế Charles và Toàn quyền thuyết phục vua Duy Tân trở lại ngai vàng nhưng ông không đồng ý: Pháp bắt triều đình Huế phải xử, Thượng thư bộ Học Hồ Đắc Trung được ủy nhiệm thảo bản án. Trần Cao Vân khi đó bị giam trong ngục, nhờ được người đưa tin cho Hồ Đắc Trung xin được lãnh hết tội và xin tha cho vua. Hồ Đắc Trung làm án đổ hết tội cho 4 người Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu. Bốn người bị xử chém ở An Hòa. Vua Duy Tân bị đày đi đảo La Réunion ở Ấn Độ Dương cùng với vua cha Thành Thái vào năm 1916. Sang đảo La Réunion. Ngày 3 tháng 11 năm 1916, gia đình vua Thành Thái và Duy Tân lên tàu Guadiana ở Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu). Đến ngày 20 tháng 11 họ tới bến Pointe de Galets đảo La Réunion lúc 7 giờ rưỡi sáng. Tại đây, từ chối một biệt thự sang trọng người Pháp dành cho, gia đình cựu hoàng sống trong một căn nhà thuê lại một người dân ở thành phố Saint-Denis. Ông sống giản dị trong căn nhà nhỏ, ăn mặc và sinh hoạt cũng giản dị như bao người dân bình thường khác ở đảo. Duy Tân bất bình với cha Thành Thái vì không hợp tính tình, ông cắt đứt liên lạc với gia đình. Duy Tân ghi tên học về vô tuyến điện và mở tiệm Radio - Laboratoire bán hàng sửa chữa máy. Đồng thời, ông thi tú tài ở trường Trung học Leconte de Lisle và học thêm ngoại ngữ, luật học. Duy Tân ít quan hệ với người Pháp, chỉ giao du với một nhóm bạn bè. Ông tham gia hội yêu nhạc, học cưỡi ngựa và thắng nhiều cuộc đua. Cựu hoàng Duy Tân còn viết nhiều bài và thơ đăng trong những tờ báo "Le Peuple" (Dân chúng), "Le Progrès" (Tiến bộ) dưới biệt hiệu Georges Dry. Bài "Variations sur une lyre briée" (Những biến tấu của một cây đàn lia gãy vỡ) được giải nhất văn chương của Viện Hàn lâm Khoa học và Văn chương La Réunion năm 1924. Duy Tân còn là hội viên của Hội Tam Điểm, Franc-Macon và Hội địa phương bảo vệ Nhân quyền và quyền Công dân. Trong bài "Destin tragique d'un Empereur d'Annam: Vĩnh San - Duy Tân" đăng trong "Revue France-Asie", năm 1970, tác giả E.P Thébault, một bạn thân của Duy Tân, ghi rằng: "chỉ một lần – một lần mà thôi – trong bức thơ ngày 5 tháng 6 năm 1936 gởi cho Marius Moutet, Tổng trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, Duy Tân gợi lại cuộc biến động 1916 và nói về vai trò của ông trong vụ ấy để xin phép qua trú ngụ bên Pháp"". Trong nhiều bức thư khác gởi cho Chính phủ Pháp từ 1936 cho đến 1940, để xin phục vụ trong Quân đội Pháp, ông không đả động đến vụ mưu loạn tại Việt Nam. Tất cả đơn đều bị bác vì Bộ Thuộc địa phê trong tờ lý lịch cá nhân của Duy Tân (được giải mật sau này): ", extrêmement indé'A" (Có vẻ khó mua chuộc, rất độc lập, mưu đồ rời khỏi đảo La Réunion để tái lập ngôi báu ở An N). Tham gia Quân đội Pháp. Ngày 18 tháng 6 năm 1940, Charles de Gaulle kêu gọi chống Đức Quốc xã. Sự việc nước Pháp bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đầu hàng phát xít Đức và sau đó lực lượng kháng chiến Pháp ở hải ngoại do De Gaulle đứng đầu được thành lập ở Anh trở về tái chiếm đất Pháp đã có tác động rất lớn đến tư tưởng, tình cảm của Cựu hoàng. Ông xem De Gaulle là thần tượng, là hình mẫu cho hoạt động cứu nước của mình. Tuy "nước Pháp tự do" và nước Pháp thực dân mà ông chống đối đều là một nước Pháp, Duy Tân hưởng ứng và bằng đài vô tuyến điện, ông đã thu thập tin tức bên ngoài để chuyển cho Lực lượng kháng chiến tự do Pháp. Vụ việc đổ bể, ông bị nhà cầm quyền La Réunion (lúc đó theo Chính phủ Vichy) câu lưu sáu tuần. Sau đó, ông phục vụ ba tháng với cấp bậc hạ sĩ vô tuyến trong phe kháng chiến của tướng Legentilhomme và Đại tá Alain de Boissieu. Duy Tân nhờ Thống đốc La Réunion là A. Capagory (1942 - 1947) can thiệp cho ông đăng vào bộ binh Pháp dưới quyền của tướng Catroux với cấp bậc binh nhì. Một thời gian sau ông được thăng lên Chuẩn úy rồi sang châu Âu. Ngày 5 tháng 5 năm 1945, có lệnh đưa Chuẩn úy Duy Tân về phòng Quân sự của tướng Charles de Gaulle ở Paris. Duy Tân đến Pháp vào tháng 6 năm 1945 khi Đức đã đầu hàng ngày 8 tháng 5. Ngày 20 tháng 7 năm 1945, ông được đưa qua phục vụ tại Bộ Tham mưu của Sư đoàn 9 Bộ binh Thuộc địa ("9ème DIC") đóng ở vùng Schwarzwald (Forêt Noire), Đức. Duy Tân cho rằng người Pháp sẽ đưa ông trở lại ngai vàng và hai bên sẽ lập một loạt thỏa hiệp được hai chính phủ thông qua. Ngày 29 tháng 8 năm 1945, trên đài phát thanh Radio-Tananarive, ông kêu gọi đất nước hợp tác với nước Pháp qua mối quan hệ hữu nghị với chủ trương một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và tạm thời ủy thác cho Pháp bộ Ngoại giao và Quốc phòng. Ngày 29 tháng 10 năm 1945, Charles de Gaulle ký một sắc lệnh hợp thức hóa những sự thăng cấp liên tiếp của Duy Tân trong Quân đội Pháp: Thiếu úy từ 5 tháng 12 năm 1942, Trung úy từ 5 tháng 12 năm 1943, Đại úy tháng 12 năm 1944 và Thiếu tá ngày 25 tháng 9 năm 1945. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng cựu hoàng Duy Tân đã bị dùng như một con bài chính trị trong kế hoạch mật tái chiếm Đông Dương của Pháp. Gặp Charles de Gaulle và chuẩn bị về Việt Nam. Ngày 14 tháng 12 năm 1945, Charles de Gaulle tiếp cựu hoàng Duy Tân. Trong tập "Hồi ký chiến tranh", tướng de Gaulle ghi: Trong tác phẩm "Histoire du Việt Nam de 1940 à 1952" sử gia Philippe de Villers nhận xét: Một bạn thân của Duy Tân là E.P Thébault kể lại trong bài "Destin tragique d'un Empereur d'Annam: Vĩnh San - Duy Tân": Trong hồi ký "Bên giòng lịch sử 1940-1965", linh mục Cao Văn Luận ghi lại rằng mùa đông 1944 và đầu năm 1945, cùng với một số du học sinh Việt và Việt kiều, ông có tiếp xúc ba lần với Duy Tân ở Paris. Lần đầu, cựu hoàng giải thích: Duy Tân đã từng tâm sự: "Riêng về phần tôi, lòng yêu quê hương Việt Nam không cho phép tôi để ngỏ cửa cho một cuộc tranh chấp nội bộ nào. Điều mà tôi mong muốn là tất cả các con dân Việt Nam ý thức được rằng họ là một quốc gia và ý thức ấy sẽ thức đẩy họ dựng lên một nước Việt Nam xứng đáng là quốc gia. Tôi tưởng rằng tôi sẽ làm tròn bổn phận của một công dân Việt Nam khi nào mà tôi làm cho những người nông dân Lạng Sơn, Huế, Cà Mau ý thức được tình huynh đệ của họ. Nghĩa hợp quần ấy được thực hiện dưới bất cứ chế độ nào: cộng sản, xã hội chủ nghĩa, bảo hoàng hay quân chủ, điều đó không quan trọng, điều quan trọng là phải cứu dân tộc Việt Nam khỏi cái họa phân chia."[#endnote_] Ngày 24 tháng 12 năm 1945, Duy Tân lấy phi cơ Lockheed C-60 của Pháp cất cánh từ Bourget, Paris để trở về La Réunion thăm gia đình trước khi thi hành sứ mạng mới. Lúc 13 giờ 50, phi cơ rời Fort Lami để bay đến Bangui, trạm kế tiếp. Ngày 26 tháng 12 năm 1945, khoảng 18 giờ 30 GMT, máy bay rớt gần làng Bassako, thuộc phân khu M'Baiki, Cộng hòa Trung Phi. Tất cả phi hành đoàn đều thiệt mạng, gồm có một thiếu tá hoa tiêu, hai trung úy phụ tá, hai quân nhân (trong đó có vua Duy Tân) và bốn thường dân. Theo nhiều người thì đây có thể là một vụ mưu sát. Việc vua Duy Tân trở lại Việt Nam sẽ gây khó khăn cho Anh trong việc trao trả các thuộc địa. Cũng trong "Destin tragique d’un Empereur d’Annam", E.P Thébault viết: "Ngày 17 tháng 12 năm 1945 – mười hôm trước khi tử nạn – Duy Tân có linh cảm tính mạng ông bị đe dọa. Khi cả hai đi ngang – lần chót – vườn Tuileries, cựu hoàng nắm tay Thébault nói: "Anh bạn già Thébault của tôi ơi! Có cái gì báo với tôi rằng tôi sẽ không trị vì. Anh biết không, nước Anh chống lại việc tôi trở về Việt Nam. Họ đề nghị tặng tôi 30 triệu quan nếu tôi bỏ ý định ấy." Ngày 28 tháng 3 năm 1987, hài cốt của vua Duy Tân được gia đình đưa từ M'Baiki, Trung Phi về Paris làm lễ cầu siêu tại Viện Quốc tế Phật học Vincennes và sau đó đưa về an táng tại An Lăng, Huế, cạnh nơi an nghỉ của vua cha Thành Thái, vào ngày 6 tháng 4 năm 1987. Sau Cách mạng tháng Tám, có phố Duy Tân ở Hà Nội, nhưng sau đổi lại. Một nhóm chính trị ít nhiều có khuynh hướng dân chủ xã hội theo Duy Tân. Bên cách mạng lúc đó xem ông là người từng có lập trường yêu nước nhưng rồi làm việc cho Pháp. Ở Sài Gòn thời Việt Nam Cộng hòa, đường Garcerie cũ thời Pháp thuộc được đổi tên là đường Duy Tân. Đây là con đường với hai hàng cây lớn, chạy ngang Trường Đại học Kiến trúc và Đại học Luật khoa có tiếng là thơ mộng nên được nhắc trong bản nhạc "Trả lại em yêu" của Phạm Duy. Tuy nhiên vào năm 1985, đường Duy Tân bị đổi tên thành đường Phạm Ngọc Thạch. Ngày 5 tháng 12 năm 1992, tại thành phố Saint-Denis (đảo La Réunion) đã khánh thành một đại lộ và một cầu mang tên ông: Đại lộ và Cầu Vĩnh San. Ở Việt Nam, năm 2010 phố Duy Tân được đặt tên tại phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Năm 2013 tại thành phố Móng Cái, tên ông được đặt cho phố kéo dài từ phố Hàm Nghi đến đường Đoan Tĩnh. Tại thành phố Đồng Hới, Quảng Bình tên ông được đặt cho con đường kéo dài từ đường Trần Hưng Đạo đến đường Phạm Văn Đồng ở phường Nam Lý. Tại Đà Nẵng, đường Duy Tân nối từ Ngã tư Quân đoàn đến đường Nguyễn Văn Linh, có đi qua Quân khu 5, Sân bay Quốc tế Đà Nẵng. Tại Đà Nẵng còn có Trường Đại học Duy Tân (đại học tư thục). Một lần nhà vua thiếu niên từ bãi tắm Cửa Tùng lên (hàng năm ông hay ra đây nghỉ mát), tay chân dính cát. Thị vệ bưng chậu nước cho vua rửa. Duy Tân vừa rửa vừa hỏi: "Khi tay dơ thì lấy nước mà rửa, khi nước bẩn thì lấy chi mà rửa?" Người thị vệ chưa biết trả lời ra sao thì vua Duy Tân nói tiếp: "Nước dơ thì phải lấy máu mà rửa, hiểu không?" Một lần khác vua Duy Tân ra ngồi câu cá trước bến Phu Văn Lâu. Thượng thư Nguyễn Hữu Bài cùng đi. Mãi không thấy con cá nào cắn câu, vị hoàng đế trẻ bèn ra câu đối: "Ngồi trên nước không ngăn được nước, trót buông câu nên lỡ phải lần." Sau khi nghĩ ngợi một lúc, Thượng thư Nguyễn Hữu Bài đối lại: "Nghĩ việc đời mà ngán cho đời, đành nhắm mắt đến đâu hay đó." Nghe đồn Duy Tân phê Nguyễn Hữu Bài là người cam chịu trước số mạng. Nhà vua còn bảo: "Theo ý trẫm, sống như thế buồn lắm. Phải có ý chí vượt gian khó thì cuộc sống mới có ý nghĩa!" Khi sang đảo La Réunion, Duy Tân có đem theo Hoàng phi Mai Thị Vàng, nhưng được 2 năm bà xin về Việt Nam vì không chịu được khí hậu ở đó. Thời gian ở La Réunion, ông có chung sống với 3 người vợ ngoài giá thú, vì Hoàng phi Mai Thị Vàng từ chối ly hôn. Những người con của ông với các người vợ gốc châu Âu đều mang họ mẹ và được rửa tội theo lễ nghi Công giáo. Một tài liệu viết các con ông đều không nói được tiếng Việt và có ít quan hệ với cựu hoàng Thành Thái. Duy Tân cũng không khuyến khích các con học tiếng Việt và tìm hiểu về Việt Nam. Đến năm 1946, tòa án thành phố Saint-Denis đồng ý cho các con của Duy Tân mang họ ông. Andrée Maillot và Armand Viale vẫn giữ họ cũ của mình. 5 người Suzy, Georges, Claude, Roger và Andrée đổi thành Georges Vĩnh San, Claude Vĩnh San Các bà vợ và con cái: "Gìn vàng giữ ngọc cho hay,brCho đành lòng kẻ chân mây cuối trời." "Đá dù nát, "Vàng" chẳng phai,brTử sinh vẫn giữ lấy lời tử sinh." Trong các hoàng tử của vua Duy Tân có hoàng tử Bảo Ngọc (Guy Georges Vĩnh San), sinh ngày 31 tháng 1 năm 1933 có bốn con Patrick Vĩnh San, Chantal Vĩnh San, Annick Vĩnh San và Pascale Vĩnh San, thường xuyên tham gia các hoạt động và nghi lễ của nhà Nguyễn cùng với vợ là bà Monique. Một người con khác là Hoàng tử Bảo Vàng (tên đầy đủ là Yves Claude Vĩnh San, sinh ra tại Saint-Denis, đảo Réunion ngày 8 tháng 4 năm 1934). Hoàng tử Bảo Vàng cưới Jessy Tarby và họ có mười con (7 trai và 3 gái): Yves Vĩnh San, Patrick Vĩnh San, Johnny Vĩnh San, Jerry Vĩnh San, Thierry Vĩnh San, Stéphanie Vĩnh San, Cyril Vĩnh San, Didier Vĩnh San, Marie-Claude Vĩnh San, Marilyn Vĩnh San và Doris Vĩnh San. Vào năm 1987, ông đưa di hài vua cha về Việt Nam để an táng tại lăng Dục Đức (ông nội của Duy Tân). Cùng với Hoàng tử Bảo Thắng, ông là lãnh đạo của Đại Nam Long tinh Viện. Mục đích của hội này không liên quan đến chính trị Việt Nam và vai trò của hoàng tộc dưới sự lãnh đạo của thái tử Nguyễn Phúc Bảo Long là các hoạt động nhân đạo, giáo dục, và văn hóa cho người Việt Nam. Một người con khác là Hoàng tử Bảo Quý (Joseph Roger Vĩnh San), đang sống cùng vợ là bà Lebreton Marguerite tại Nha Trang, Khánh Hòa
Viện Toán học (Việt Nam) Viện Toán học là cơ quan nghiên cứu chuyên sâu cơ bản về toán học trực thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST). Viện được thành lập năm 1969 theo Nghị định số 25/CP của Chính phủ ngày 5 tháng 2 năm 1969. Nhiệm vụ của Viện Toán học là nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực toán học, hợp tác nghiên cứu khoa học với các Viện khác ở trong nước và quốc tế. Từ khi thành lập đến nay, Viện luôn chú trọng nghiên cứu những vấn đề toán học ứng dụng. Nhiệm vụ thứ ba của Viện là luôn luôn cộng tác với các Viện chuyên ngành khác trong việc ứng dụng toán học vào quản lý và phát triển sản xuất. Viện cũng rất quan tâm đến việc nâng cao chất lượng giảng dạy toán học ở bậc cao. Trung tâm đào tạo của Viện thành lập năm 1994 với mục đích đào tạo các tài năng nghiên cứu trẻ trong lĩnh vực toán học.
Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Henrik Larsson (sinh ngày 20 tháng 9 năm 1971) là một cựu cầu thủ bóng đá người Thụy Điển. Anh là huyền thoại của câu lạc bộ Celtic khi ghi 242 bàn thắng trong 315 trận cho đội bóng giàu truyền thống của Scotland, xếp thứ 3 trong danh sách những chân sút vĩ đại nhất của Celtic sau Bobby Lennox (242) và Jimmy McGrory (468). Anh là được coi là người hùng trong trận chung kết Chung kết UEFA Champions League 2006 giữa FC Barcelona và Arsenal. Các câu lạc bộ đã và đang thi đấu. Đội tuyển Thụy Điển. Tính đến trước World Cup 2006, Henrik đã 78 lần khoác áo đội tuyển Thụy Điển và ghi được 28 bàn thắng.
Hội Toán học Việt Nam Được thành lập vào ngày 15 tháng 8 năm 1966 bởi giáo sư Lê Văn Thiêm, tới nay hội đã có gần 1000 thành viên. Hội Toán học Việt Nam cũng là đơn vị chủ quản của Giải thưởng Lê Văn Thiêm - giải thưởng nhằm vinh danh các cá nhân có sự đóng góp lớn cho ngành toán học Việt Nam. Lãnh đạo Hội Toán học hiện nay. Lãnh đạo Hội nhiệm kì 2023-2028:
Sơn Hà là một huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Huyện Sơn Hà nằm ở phía tây của tỉnh Quảng Ngãi, có vị trí địa lý: Huyện Sơn Hà có diện tích 750,31 km², dân số là 75.000 người, bao gồm các dân tộc: Kinh, H're, Ca Dong, Xơ Đăng Huyện Sơn Hà có 14 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Di Lăng (huyện lỵ) và 13 xã: Sơn Ba, Sơn Bao, Sơn Cao, Sơn Giang, Sơn Hạ, Sơn Hải, Sơn Kỳ, Sơn Linh, Sơn Nham, Sơn Thành, Sơn Thượng, Sơn Thủy, Sơn Trung. Sau năm 1975, huyện Sơn Hà thuộc tỉnh Nghĩa Bình, gồm 17 xã: Sơn Ba, Sơn Bao, Sơn Bua, Sơn Cao, Sơn Dung, Sơn Giang, Sơn Hạ, Sơn Kỳ, Sơn Lăng, Sơn Linh, Sơn Mùa, Sơn Nham, Sơn Tân, Sơn Thành, Sơn Thượng, Sơn Thủy và Sơn Tinh. Ngày 24 tháng 3 năm 1979, sáp nhập xã Sơn Bua và xã Sơn Mùa thành xã Sơn Mùa. Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Quảng Ngãi được tái lập từ tỉnh Nghĩa Bình, huyện Sơn Hà thuộc tỉnh Quảng Ngãi, gồm 16 xã: Sơn Hạ, Sơn Thành, Sơn Nham, Sơn Cao, Sơn Linh, Sơn Giang, Sơn Thủy, Sơn Kỳ, Sơn Ba, Sơn Bao, Sơn Thượng, Sơn Lăng, Sơn Tinh, Sơn Dung, Sơn Mùa và Sơn Tân. Ngày 6 tháng 8 năm 1994, tách 4 xã: Sơn Tinh, Sơn Dung, Sơn Mùa và Sơn Tân để tái lập huyện Sơn Tây. Huyện Sơn Hà còn lại 12 xã: Sơn Hạ, Sơn Thành, Sơn Nham, Sơn Cao, Sơn Linh, Sơn Giang, Sơn Thủy, Sơn Kỳ, Sơn Ba, Sơn Bao, Sơn Thượng và Sơn Lăng. Ngày 30 tháng 12 năm 1997: Huyện Sơn Hà có 1 thị trấn và 13 xã như hiện nay. Kinh tế chủ yếu mang tính chất thuần nông. Trong những năm gần đây, trồng rừng và chăn nuôi là thế mạnh của huyện. Hiện nay, trên địa bàn huyện có Nhà máy Mì Sơn Hải (Nhà máy chế biến sắn) đang hoạt động tạo đầu ra cho nông sản của các dân tộc thiểu số. Hiện tại đang có thêm nhà máy cây keo lai ở xã Sơn Hạ. Thạch Bích tà dương, còn gọi là Núi Đá Vách có độ cao 1.095 m là một trong 12 thắng cảnh nổi tiếng của Quảng Ngãi. Đập và hồ Thạch Nham là những địa chỉ du lịch khá nổi tiếng nằm ở địa phận xã Sơn Nham. Ngoài ra còn có Suối Tầm Linh thuộc xã Sơn Linh đây cũng là một khu du lịch sinh thái.
Trong vật lý học, bức xạ hay phát xạ là sự lan tỏa hoặc truyền dẫn năng lượng dưới dạng sóng hoặc hạt qua không gian hoặc qua môi trường vật chất. Bức xạ bao gồm: Bức xạ thường được phân loại là "ion hóa" hoặc "không ion hóa" tùy thuộc vào năng lượng của các hạt bức xạ. Bức xạ ion hóa mang hơn 10 eV, đủ để ion hóa các nguyên tử, phân tử và phá vỡ các liên kết hóa học. Một nguồn phổ biến của bức xạ ion hóa là các vật liệu phóng xạ phát ra bức xạ α, β hoặc γ, tương ứng với hạt nhân heli, electron hoặc positron và photon. Các nguồn khác bao gồm tia X từ chụp X-quang trong y tế, muon, meson, positron, neutron và các hạt khác cấu thành các tia vũ trụ thứ cấp, vốn được tạo ra sau khi các tia vũ trụ sơ cấp tương tác với bầu khí quyển của Trái Đất. Bức xạ ion hóa. Bức xạ với năng lượng đủ lớn có thể làm ion hóa các nguyên tử; nghĩa là nó có thể "đánh bật" các electron ra khỏi nguyên tử, tạo ra các ion. Bởi vì các tế bào sống, hay quan trọng hơn là DNA trong các tế bào đó có thể bị tổn hại do quá trình ion hóa này, nên việc tiếp xúc với bức xạ ion hóa sẽ làm tăng nguy cơ ung thư.
Nghĩa Hành là một huyện trung du thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Địa hình trung dung chuyển tiếp từ vùng núi phía Tây đến đồng bằng ở phía Đông. Đồi gò thấp và thoải cao từ 25-200 m. Sông Vệ chảy qua huyện với chiều dài khoảng 30 km, sông Phước Giang khoảng 20 km. Đường tỉnh 627 qua suốt chiều dọc huyện, 14 tuyến đường huyện dài 74 km. Đường xe lửa Bắc Nam qua địa phận huyện hai đoạn ngắn. Huyện Nghĩa Hành có 12 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm thị trấn Chợ Chùa (huyện lỵ) và 11 xã: Hành Đức, Hành Dũng, Hành Minh, Hành Nhân, Hành Phước, Hành Thiện, Hành Thịnh, Hành Thuận, Hành Tín Đông, Hành Tín Tây, Hành Trung. - Xã Hành Minh có 4 thôn: Long Bàn Nam, Long Bàn Bắc, Tình Phú Nam, Tình Phú Bắc. - Xã Hành Đức có 5 thôn: Kỳ Thọ Nam 1, Kỳ Thọ Nam 2, Kỳ Thọ Bắc, Phú Châu, thôn Xuân Vinh. - Xã Hành Trung có 4 thôn: Hiệp Phổ Nam, Hiệp Phổ Bắc, Hiệp Phổ Trung, Hiệp Phổ Tây. - Xã Hành Phước có 9 thôn: Hòa Vinh, Đề An, Thuận Hòa, An Chỉ Đông, An Chỉ Tây, Hòa Mỹ, Vinh Thọ, Hòa Sơn, Hòa Thọ. - Xã Hành Thuận có 7 thôn: Đại An Đông 1, Đại An Đông 2, Đại An Tây 1, Đại An Tây 2, Phúc Minh, Phú Định, Xuân An. - Xã Hành Dũng có 7 thôn: Kim Thành Hạ, Trung Mỹ, An Hòa, An Sơn, An Phước, An Định, An Tân. - Xã Hành Nhân có 8 thôn: Đồng Vinh, Kim Thành Thượng, Đông Trúc Lâm, Tân Thành, Bình Thành, Nghĩa Lâm, Phước Lâm, Tân Lập. - Xã Hành Tín Tây có 9 thôn: Phú Khương, Phú Thọ, Long Bình, Tân Phú 1, Tân Phú 2, Tân Hòa, Đồng Miếu, Trũng Kè 1, Trũng Kè 2. - Xã Hành Tín Đông có 7 thôn: Thiên Xuân, Nguyên Hòa, Đồng Giữa, Nhơn Lộc 1, Nhơn Lộc 2, Khánh Giang, Trường Lệ. - Xã Hành Thiện có 7 thôn: Bàn Thới, Ngọc Sơn (Theo chính sách mới thì Ủy ban Nhân dân xã Hành Thiện đã hợp nhất thôn Ngọc Dạ và thôn Mễ Sơn lại với nhau, cái tên Ngọc Sơn là hình thức ghép chữ giữa chữ "Ngọc" trong "Ngọc Dạ" và chữ "Sơn" trong "Mễ Sơn"), Vạn Xuân 1, Vạn Xuân 2, Phú Lâm Đông, Phú Lâm Tây. - Xã Hành Thịnh có 11 thôn: An Ba, Châu Me, châu Mỹ, Xuân Ba, Mỹ Hưng, Đồng Xuân, Ba Bình, Xuân Đình, Thuận Hòa, Hòa Huân, Xuân Hòa. Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Quảng Ngãi – Hoài Nhơn đi qua đang được xây dựng. Ngày 24 tháng 8 năm 1981, huyện Nghĩa Hành được tái lập, ban đầu gồm 8 xã: Hành Đức, Hành Dũng, Hành Minh, Hành Phước, Hành Thiện, Hành Thịnh, Hành Thuận và Hành Tín. Ngày 19 tháng 2 năm 1986: Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Quảng Ngãi được tái lập từ tỉnh Nghĩa Bình, huyện Nghĩa Hành thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 30 tháng 12 năm 1997, chia xã Hành Tín thành hai xã: Hành Tín Đông và Hành Tín Tây. Huyện Nghĩa Hành có 1 thị trấn và 11 xã như hiện nay. Một số nhân vật lịch sử: Lê Khiết - tức Lê Tựu Khiết (Hành Thịnh), Nguyễn Công Phương (Hành Phước), Võ Duy Ninh (Hành Thuận), Nguyễn Văn Được (Hành Tín)... Suối Chí nằm ẩn mình dưới khu rừng nguyên sinh, tổng diện tích của khu rừng 1.012ha, nhân dân nơi đây thường gọi khu rừng này là rừng Cộng đồng vì toàn bộ khu rừng này đã được giao cho 350 hộ dân thuộc hai thôn Khánh Giang và Trường Lệ, xã Hành Tín Đông quản lý.
Thành Đồ Bàn hay Vijaya (tiếng Phạn विजय, nghĩa Việt: Thắng lợi), còn gọi là thành cổ Chà Bàn (Trà Bàn) là kinh đô của Chăm Pa, nay thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn và cách thành phố Quy Nhơn (tỉnh Bình Định, Việt Nam) 27 km về hướng Tây Bắc. Trong thời kỳ Chăm Pa có quốc hiệu là Chiêm Thành. Vijaya đồng thời cũng là tên gọi của một trong các tiểu quốc của Chăm Pa, tiểu quốc Vijaya. Sau khi kinh đô cũ Indrapura bị quân đội Lê Hoàn của Đại Cồ Việt tấn công và phá hủy năm 982. Triều đình Chăm Pa lánh nạn vào phương Nam. Lưu Kế Tông, một vị tướng của Lê Hoàn đã ở lại và cai trị khu vực bắc Chăm từ Quảng Bình vào Quảng Nam ngày nay. Ở phía Nam, người Chăm đã tôn một vị lãnh đạo của mình lên ngôi với tên hiệu là Harivarman II vào năm 988. Ông đã cho xây dựng Vijaya là quốc đô của mình. Sau cái chết của Lưu Kế Tông, người Việt rút lui khỏi vùng đất phía bắc, Harivarman II đã lấy lại và dời đô về kinh đô cũ Indrapura, tuy nhiên tới khoảng năm 999 vị vua kế tiếp là Sri Vijaya Yangkupu đã vĩnh viễn dời đô về Vijaya. Việc dời đô về Vijaya được "Tống sử" ghi lại khi đoàn sứ thần của Chăm Pa tới nhà Tống (Trung Quốc) vào năm 1005. Trong 5 năm thế kỷ là kinh đô, Vijaya phải chịu nhiều cuộc tấn công từ Đại Việt, Chân Lạp, Xiêm, Nguyên Mông. Người Khmer đã tấn công vào rất nhiều lần, có những thời gian Vijaya chịu sự cai trị của Chân Lạp từ năm 1145 đến năm 1149 và từ năm 1190 đến năm 1192. Xiêm La dưới thời vương triều Sukhothai cũng góp phần vào trận chiến năm 1313 nhưng sau đó đã rút lui bởi sự can thiệp của nhà Trần (Đại Việt), Nguyên Mông tấn công Vijaya vào năm 1283. Nhưng nhiều nhất vẫn là các cuộc tấn công từ các vương triều Đại Việt, các thống kê cho thấy Vijaya bị tấn công từ Đại Việt vào các năm 1044, 1069, 1074 (nhà Lý), 1252, 1312, 1377 (nhà Trần), 1403 (nhà Hồ), 1446, 1471 (nhà Lê). Trận chiến tại thành Vijaya vào năm 1471 với quân đội nhà Lê (Đại Việt) cũng chấm dứt sự tồn tại sau 5 thế kỷ là quốc đô của Vijaya, Chăm Pa mất hoàn toàn miền Bắc vào Đại Việt và lui về vùng phía nam đèo Cù Mông. Năm 982, triều đại vua Yangpuku Vijaya (tiếng Hán Việt là Ngô Nhật Hoan ?), thành Đồ Bàn được xây dựng. Đây là kinh đô cuối cùng của vương quốc Chăm Pa và các vua Chăm đã đóng ở đây từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15. Năm 1377, trong trận Đồ Bàn, vua Trần Duệ Tông đem 120.000 quân bộ, thủy đánh thành Đồ Bàn bị Chế Bồng Nga đánh bại, Trần Duệ Tông tử trận. Năm 1403, Hồ Hán Thương sai tướng đem 200.000 lính vây đánh thành Đồ Bàn ngót hai tháng trời, nhưng bị quân Chiêm Thành phản công quyết liệt, phải rút quân về nước. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đem một đoàn lục, thủy quân hùng mạnh sang đánh Chăm Pa. Sau khi chiếm được, Lê Thánh Tông ra lệnh phá hủy thành Đồ Bàn. Năm 1778, Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung ương Hoàng Đế nhà Tây Sơn, đóng đô ở đây, nên còn gọi là thành Hoàng Đế, ông cho mở rộng về phía Đông, xây dựng nhiều công trình lớn. Năm 1799, thành bị quân Nguyễn Ánh chiếm, đổi gọi là thành Bình Định. Ngày nay, thành Hoàng Đế là một trong những di tích giá trị, quan trọng trong nghiên cứu lịch sử quân sự và khảo cổ học. Vijaya nằm tại vị trí mà hiện nay là xã Nhơn Hậu, Thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Cách Quốc lộ 1 khoảng 2 km, toàn thể kinh thành nằm trên một vùng đất cao so với các cánh đồng xung quanh Theo ghi chép trong "Doanh Nhai Thắng Lãm" của Mã Đoan, viên thông ngôn của Trịnh Hòa (người nhà Minh, Trung Quốc) đến Vijaya khoảng năm 1413 thì kinh đô Chăm Pa thời kỳ này được miêu tả như sau: "Đi theo hướng tây nam một trăm lý thì sẽ tới kinh thành nơi nhà vua ngự, người ngoại quốc gọi là "Chiêm Thành". Kinh thành có lũy bằng đá bao quanh, ra vào qua bốn cổng, có lính canh gác. Điện vua thì cao và rộng, phần mái ở trên lợp ngói nhỏ hình thuẫn; bốn bức tường bao quanh có đắp trang trí công phu bằng gạch và hồ, rất gọn ghẽ. Các cánh cửa được làm bằng gỗ cứng, chạm trổ hình thù dã thú và cầm súc. Nhà cửa dân cư trong thành lợp mái tranh, chiều cao mái hiên (tính từ mặt đất) không quá ba "thước", ra vào phải khom lưng cúi đầu, ai cao quá thì thật là bực mình" Vijaya là kinh đô của Chăm Pa trong 5 thế kỷ, từ năm 999 đến năm 1471. Trong khoảng thời gian này, các triều vua Chăm cho xây dựng rất nhiều công trình ở kinh đô, nay còn lại là tám ngôi tháp. Qua các cuộc xung đột với Đại Việt, Champa mất dần các trấn phía bắc: Indrapura, Amaravati rồi đến năm 1471 thì chính Vijaya bị quân của vua Lê Thánh Tông vây hãm. Quân nhà Lê hạ được sau khi giao tranh đẫm máu. Theo "Đại Việt Sử Ký Toàn Thư" thì quân Việt bắt sống hơn 30.000 người Chiêm, trong đó có vua Trà Toàn còn 40.000 lính Chiêm tử trận. Đồ Bàn từ đó bị bỏ hoang. Mãi đến cuối thế kỷ 18, vua Tây Sơn là Nguyễn Nhạc mới ra lệnh xây dựng Thành Hoàng Đế trên nền cũ thành Vijaya cũ để làm kinh đô. Năm 1799 quân chúa Nguyễn Phúc Ánh tái chiếm thành Hoàng Đế và đổi tên là Thành Bình Định. Sang triều Gia Long năm 1816, nhà vua cho phá bỏ thành Bình Định và chuyển thủ phủ về Quy Nhơn. Hiện nay dấu tích của vương triều Chăm Pa tại Vijaya còn lại là đôi sư tử bằng đá, chạm trổ theo phong cách nghệ thuật Bình Định vào thế kỷ 12-14. Ngoài ra có ngôi Tháp Cánh Tiên, một trong các phong cách nghệ thuật các tháp Chăm. Di tích Đồ Bàn hiện nay không còn mấy ngoài tường lũy bằng đá ong, ngoài là hào cạn. Trong thành vẫn còn lối đi lát đá hoa cương, một thửa giếng vuông, tượng voi đá, và bên cửa hậu là gò Thập Tháp. Đặc biệt có ngôi tháp Cánh Tiên cao gần 20 mét, góc tháp có tượng rắn làm bằng đá trắng, voi đá và nhiều tượng quái vật. Kiến trúc tháp này được coi là tiêu biểu cho phong cách Bình Định có niên đại nửa sau thế kỷ 11 sang đầu thế kỷ 12, thuộc triều vua Harivarman IV (1074-1081) và Harivarman V (1113-1139). Phía Bắc thành có Chùa Thập Tháp Di Đà (được xây trên nền của mười tháp Chăm cổ); phía Nam thành có chùa Nhạn Tháp, đều là những ngôi chùa cổ. Khu vực Đồ Bàn nói chung còn giữ được nhiều di tích liên quan đến văn hóa Chăm Pa và phong trào Tây Sơn như lăng Võ Tánh, lăng Ngô Tùng Châu, cổng thành cũ. Trong lăng còn chiếc lầu bát giác cổ kính, trong lầu còn tấm bia đá khắc công tích của Ngô Tùng Châu và Võ Tánh (năm 1800). Bia bằng đá trắng, chịu nhiều gió bụi thời gian đến nay đã mòn cả những chữ Hán khắc trên đó. Hiện nay Phường Đập Đá nằm ngay bên ngoài thành.
Sông La là một phụ lưu của sông Lam, dài 12,5 km chảy qua huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Sông La là hợp lưu của hai sông Ngàn Phố (từ Hương Sơn đồ về) và sông Ngàn Sâu (từ Hương Khê và Vũ Quang) tại bến Tam Soa (Linh Cảm, Đức Thọ). Đến lượt nó lại hợp lưu với sông Cả (từ Nghệ An chảy sang) tạo thành dòng sông Lam nằm giữa 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Sông La là một dòng sông rất đẹp, có phong cảnh nên thơ và là nguồn cảm ứng sáng tạo cho nhiều nhạc sĩ. Sách Đại Nam nhất thống chí viết: "Sông La có hai nguồn: Một nguồn từ động Thâm Nguyên (tức Ngàn Sâu) ở núi Khai Trương (tức núi Giăng Màn) châu Quy Hợp tỉnh Hà Tĩnh (đạo Hà Tĩnh xứ Nghệ xưa), chảy về Đông đến xã Chu Lễ, hợp với sông Tiêm, đến xã Bào Khê gặp sông Trúc, qua sông Cửu Khúc đến xã Vụ Quang thì hội với sông Ác (tức sông Ngàn Trươi), đến xã Đỗ Xá thì gặp sông Ngàn Phố. Nguồn kia là sông La Hà bắt đầu từ ngọn Cốt Đột núi Giăng Màn, chảy về phía Đông gọi là sông Ngàn Phố đến Đỗ Xá hợp với sông La. Sông La chảy đến xã Bùi Xá thì chia ra một nhánh chảy vào sông Minh, chảy tiếp về Đông đến xã Tường Xá thì đổ vào sông Lam." Các bài hát về sông La:
Chim cổ rắn là các loài chim trong họ Anhingidae, bộ Chim điên (trước đây xếp trong bộ Bồ nông). Hiện nay còn tồn tại tổng cộng 4 loài trong một chi duy nhất, một trong số đó hiện đang ở tình trạng gần bị đe dọa tuyệt chủng. Chúng được gọi là chim cổ rắn là do chúng có cổ dài và mảnh dẻ, tạo ra bề ngoài tương tự như những con rắn khi chúng bơi với phần thân chìm dưới mặt nước. Chim cổ rắn là các loài chim lớn. Con trống có bộ lông màu đen hay nâu sẫm, mào mọc thẳng đứng trên đầu và mỏ lớn hơn của con mái. Chim mái có bộ lông nhạt màu hơn, đặc biệt là trên cổ và các phần dưới. Cả chim trống và chim mái có các chấm màu xám trên các lông vai dài và các lông vũ của mặt trên các cánh. Mỏ nhọn có các gờ răng cưa. Các chân chim cổ rắn có màng bơi, ngắn và ở gần phần cuối của thân. Bộ lông của chúng có thể thấm nước, tương tự như của chim cốc nên chúng phải rũ cánh để làm khô sau khi bơi lặn. Các tiếng kêu của chúng bao gồm các tiếng kêu ríu rít hay rất huyên náo khi chúng bay hoặc đậu. Trong mùa động dục, các con trưởng thành đôi khi có tiếng huýt gió như quạ kêu. Chim cổ rắn sinh sống ở khu vực vòng quanh xích đạo, trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Chúng sống trong môi trường nước ngọt hoặc lợ và có thể tìm thấy trong các hồ, sông, đầm lầy, cửa sông, vịnh, phá và các cánh rừng đước ngập nước. Chúng có xu hướng tụ tập thành bầy đôi khi tới 100 con nhưng lại có đặc tính chiếm cứ lãnh thổ khá cao khi vào mùa sinh sản. Phần lớn là sống tĩnh tại và không di cư, tuy nhiên các quần thể lớn có thể có hiện tượng di cư. Thức ăn chủ yếu của chim cổ rắn là cá có kích thước trung bình. Chúng dùng các mỏ nhọn của mình để xiên con mồi khi chúng lặn xuống dưới nước. Chúng có thể phóng mỏ của chúng về phía trước tương tự một mũi giáo. Chúng cũng ăn cả các động vật lưỡng cư như ếch và sa giông, các loài động vật bò sát như rắn và rùa cũng như các động vật không xương sống như côn trùng, tôm tép và các động vật thân mềm khác. Các loài chim này dùng chân của chúng để di chuyển dưới nước, đuổi theo và phục kích con mồi. Sau đó chúng đâm vào con mồi, chẳng hạn cá, để đem nó lên trên bề mặt nước, tung nó trong không gian để bắt và nuốt. Chim cổ rắn là động vật có quan hệ tình dục kiểu một vợ-một chồng và chúng cặp đôi trong mùa sinh sản. Chúng có nhiều kiểu thể hiện khả năng để tìm kiếm bạn tình, bao gồm việc các con trống khoe mã để hấp dẫn con mái, các thể hiện chào mừng giữa con trống với con mái và các thể hiện liên kết cặp giữa các cặp. Trong mùa sinh sản, các túi nhỏ dưới cổ chúng đổi từ màu hồng hay vàng sang màu đen và phần da trên mặt chuyển từ màu vàng hay vàng-lục sang màu xanh thổ. Thông thường chúng giao phối và sinh sản theo từng bầy. Sinh sản có thể diễn ra thành mùa hoặc quanh năm và thay đổi theo khu vực địa lý. Tổ của chúng được làm từ các cành cây non và được xây trên các ngọn cây hay trong các đám lau sậy, thường gần mặt nước. Ổ trứng có từ 2-6 trứng (thông thường khoảng 4) với vỏ màu lục nhạt, được ấp trong khoảng 25 - 30 ngày. Trứng nở không đồng thời. Cả chim bố và chim mẹ cùng chăm sóc các con và con non thuộc loại không tự kiếm mồi sớm được. Chúng đạt độ tuổi trưởng thành sau khoảng 2 năm. Nói chung chim cổ rắn có thể sống khoảng 9 năm. Họ chim này có quan hệ họ hàng rất gần với các họ khác trong bộ Bồ nông (Pelecaniformes). Hiện nay, nói chung người ta công nhận có 4 loài còn sinh tồn trong cùng một chi với danh pháp khoa học "Anhinga". Chim cổ rắn phương đông là loài cận mức nguy hiểm. Sự phá hủy môi trường sinh sống cùng với các sự can thiệp khác của con người là những nguyên nhân chính làm cho số lượng của loài này bị suy giảm. Các loài còn sinh tồn. Các "loài" tuyệt chủng được biết đến nhờ các bộ xương ở Mauritius và Australia đã được đặt tên khoa học là "Anhinga nana" (chim cổ rắn Mauritius) và "Anhinga parvus", nhưng chúng đã bị xác định sai lầm các bộ xương của chim cốc đuôi dài ("Phalacrocorax africanus") và chim cốc nhỏ có mào ("Phalacrocorax melanoleucos"), một cách tương ứng (Olson, 1975). Tuy nhiên, trong trường hợp đầu tiên, chúng có thể thuộc về một phân loài đã tuyệt chủng, có thể tạm được gọi là "Phalacrocorax africanus nanus" (chim cốc Mauritius lùn) - trớ trêu thay, do "nanus/nana" có nghĩa là "lùn" nhưng các bộ phận còn sót lại của nó lại "lớn hơn" những phần tương ứng của những con chim cốc đuôi dài phân bổ rất gần về mặt địa lý. Có một lượng khá lớn các loài và các chi tiền sử chỉ tìm thấy từ các hóa thạch (chủ yếu là trong kỷ đệ Tam); trong số đó được đặt tên một cách thích hợp là "Macranhinga", "Meganhinga" và "Giganhinga", đại diện cho những con chim cổ rắn rất lớn và không biết bay. Các loài tiền sửa của "Anhinga" được cho là phân bố trong các điều kiện khí hậu giống ngày nay, phân bố từ châu Âu trong Miocene ẩm hơn và nóng hơn. Dòng nhỏ hơn đã sống sót trong hơn 20 triệu năm. Các bằng chứng hóa thạch loài cho thấy chúng tập trung quan xích đạo, với loài trẻ hơn phân bố về phía đông của châu Mỹ, Hadley cell có vẻ là yếu tố chính giúp chi này vượt qua nguy cơ tuyệt chủng và sống sót: "Protoplotus", một chi phalacrocoraciform nhỏ trong Paleogene ở Sumatra, từng được xem là một nhóm chim cổ rắn nguyên thủy. Tuy nhiên, nó cũng được xếp thành họ riêng (Protoplotidae) và có thể là một nhánh cơ bản của Sulae và/hoặc gần với tổ tiên chung của cormorants và chim cổ rắn.
Isadora Duncan sinh ra tại San Francisco, là đứa con út của Joseph Charles Duncan (1819–1898), một nhân viên ngân hàng, kỹ sư khai thác mỏ và Mary Isadora Gray (1849–1922). Các anh trai của bà là Augustin Duncan và Raymond Duncan; chị gái bà, Elizabeth Duncan, cũng là một vũ công. Sau khi Isadora ra đời không lâu, cha bà bị phát hiện dùng tiền từ hai ngân hàng mà ông giúp thành lập cho mục đích các nhân. Tuy không phải ở tù, nhưng mẹ của bà (tức giận vì chồng không chung thủy và vụ bê bối) đã ly hôn, và gia đình rơi vào cảnh nghèo đói. Joseph Duncan, cùng với bà vợ thứ ba và cô con gái của họ, qua đời vào năm 1898 khi tàu hơi nước SS "Mohegan" mà họ đi mắc cạn ngoài khơi Cornwall. Sau vụ ly hôn, mẹ của Isadora chuyển tới sống với gia đình ở Oakland, California, tại đây bà trở thành thợ may và giáo viên dạy piano. Isadora đi học từ năm sáu tới mười tuổi, nhưng bà bỏ học vì thấy đây là một môi trường gò bó. Bà và ba anh chị kiếm tiền bằng cách dạy múa cho trẻ con ở địa phương. Vào đêm ngày 14 tháng 9 năm 1927 ở Nice, Pháp, Duncan là hành khác của một xe ô tô Amilcar CGSS của #đổi , một thợ máy người Pháp-Ý. Bà quàng một chiếc khăn lụa dài vẽ tay bởi nghệ sĩ người Nga Roman Chatov, một món quà từ người bạn Mary Desti. Desti, người tiễn Duncan, đã bảo bà mặc một chiếc áo choàng khi đi xe mui trần vì trời lạnh, nhưng bà chỉ đồng ý đeo khăn quàng. Khi họ khởi hành, bà nói với Desti và những người đồng hành, "" ("Tạm biệt, bạn tôi. Tôi đi đến vinh quang đây!"); nhưng theo tiểu thuyết gia người Mỹ Glenway Wescott, Desti sau này bảo với ông lời tạm biệt thực sự của Duncan là ("Tôi khởi hành tới tình yêu đây"). Desti khá xấu hổ về điều này, bởi lời tạm biệt gợi ý rằng Duncan và Falchetto có thể sẽ hẹn hò ở khách sạn của bà. Chiếc khăn quàng của bà cuốn vào chiếc bánh xe đang chạy, kéo bà ra khỏi chiếc xe mui trần và làm gãy cỏo bà. Desti cho biết bà đã cảnh cáo Duncan về chiếc khăn quàng gần như sau khi chiếc xe rời đi. Desti đưa Duncan tới bệnh viện, nơi bà được tuyên bố là đã qua đời. Khi qua đời, Duncan là một công dân Liên Xô. Di nguyện của bà là được trở thành người Liên Xô đầu tiên được chứng thực di chúc tại Hoa Kỳ. Duncan được hỏa táng, tro cốt của bà được đặt cạnh tro cốt các con mình tại Nghĩa trang Père-Lachaise ở Paris. Trên bia mộ của bà có khắc dòng chữ "École du Ballet de l'Opéra de Paris" ("Trường Ba Lê của Nhà hát Opera Paris"). Nếu như các trường dạy múa của Duncan ở Châu Âu không tồn tại được lâu, bà đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới ba lê hiện đại và phong cách múa của bà vẫn còn được lưu truyền dưới sự chỉ dẫn của Maria-Theresa Duncan, Anna Duncan, và Irma Duncan, ba trong số sáu cô con gái nuôi. Quá trình nhận nuôi chưa bao giờ được xác minh, nhưng cả sáu người đã đổi họ sang Duncan. Thông qua chị gái mình, Elizabeth, phương pháp của Duncan được tiếp nhận bởi Jarmila Jeřábková từ Praha nơi di sản của bà vẫn còn tồn tại. Khi Nhà hát Champs-Élysées được xây dựng, Duncan được nhà điêu khắc Antoine Bourdelle chạm khắc trên bức phù điêu thấp ngoài cổng vào. Bà cũng có mặt trong tranh tường của Maurice Denis vẽ chín vị muse trong khán phòng. Anna, Lisa, Theresa và Irma, các học sinh của ngôi trường đầu tiên của Isadora Duncan, đã mang tính thẩm mỹ và sư phạm trong điệu múa của Isadora tới New York và Paris. Kỹ thuật múa của Duncan cũng được lưu truyền bằng sự thành lập của Tổ chức Di sản Isadora Duncan, sáng lập Mignon Garland (người được dạy múa bởi Anna và Irma Duncan). Garland hâm mộ Duncan đến nỗi về sau bà sống trong tòa nhà được dựng lên cùng địa chỉ với nơi Duncan từng ở, với một tấm bảng kỷ niệm gần lối vào vẫn còn tồn tại #đổi . Garland cũng đã yêu cầu được San Francisco đặt tên lại con hẻm Adelaide Place thành Isadora Duncan Lane. Trong y khoa, Hội chứng Isadora Duncan chỉ tới những tai nạn do những phụ kiện quanh cổ bị cuốn vào bánh xe hoặc máy móc.
Họ Chim điên (danh pháp khoa học: Sulidae) là một họ chim bao gồm 9-10 loài chim điên. Chúng là các loài chim biển sống ven bờ có kích thước từ trung bình tới lớn, có hoạt động săn bắt mồi (cá) bằng cách lao mình xuống nước. Tên gọi chim điên được dịch từ tiếng Pháp fou (kẻ điên). Các loài trong họ này hay được coi là đồng chi trong các nguồn cũ, đặt tất cả trong chi "Sula". Trong tiếng Anh, chúng được chia thành hai nhóm với tên gọi là "booby" (dùng cho chim điên) và "gannet" (dùng cho ó biển).
Học viện Kỹ thuật Quân sự Học viện Kỹ thuật Quân sự (KQH) ( "– MTA"), hay còn được gọi với cái tên dân sự là Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn thuộc nhóm các Đại học trọng điểm Quốc gia Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, sự chỉ đạo nghiệp vụ của Bộ giáo dục và Đào tạo. Học viện có nhiệm vụ đào tạo cán bộ kỹ thuật, chỉ huy tham mưu kỹ thuật có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ cho quân đội. Đồng thời, Học viện có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ quân sự, kết hợp nghiên cứu với triển khai ứng dụng, chuyển giao công nghệ với sản xuất và thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. Học viện Kỹ thuật quân sự (Military Technical Academy – MTA) là trường đại học nghiên cứu (research university), được tổ chức theo mô hình trường đại học kỹ thuật tổng hợp, vừa đào tạo và nghiên cứu ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại vào thiết kế, chế tạo, sản xuất và khai thác sử dụng vũ khí, khí tài, trang thiết bị và phương tiện kỹ thuật quân sự, cũng như phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhà khoa học. Hơn 1300 cán bộ với hơn 900 giảng viên, trong đó: Lãnh đạo hiện nay. Năm 2006, thực hiện chế độ Chính ủy, Chính trị viên trong Quân đội. Theo đó Đảng bộ trong Học viện Kỹ thuật quân sự bao gồm: Danh sách ngành đào tạo trình độ thạc sĩ: 18 ngành Danh sách ngành đào tạo trình độ tiến sĩ: 15 ngành
Chim điên là một nhóm gồm các loài chim biển thuộc chi Sula. họ Chim điên ("Sulidae"). Tên gọi này được dịch từ tiếng Pháp fou (kẻ điên), được người Pháp dùng để gọi các loài chim trong họ này. Trong tiếng Anh chúng được chia thành 2 nhóm: 1 nhóm gồm 6 loài được gọi là "booby", 3 loài còn lại được gọi là "gannet" (ó biển). Tên gọi "booby", có lẽ có nguồn gốc từ một từ lóng trong tiếng Tây Ban Nha là "bubi", có nghĩa là kẻ ngớ ngẩn, do các con chim hiền lành này có thói quen đậu trên boong hay mạn tàu thuyền và rất dễ bị bắt để ăn thịt. Năm trong sáu loài chim điên thuộc về chi "Sula", với loài thứ sáu gần đây đã được đặt trong một chi riêng là "Papasula", trong khi ba loài chim điên còn lại (gannet) thường được đặt trong chi "Morus"; nhưng nhiều học giả cho rằng cả chín loài nói trên đây cần được coi là cùng giống và vẫn thuộc về chi "Sula". Chim điên là các loài chim lớn (69–86 cm) với các cánh dài và nhọn cũng như có mỏ dài. Chúng săn bắt cá bằng cách lao mình từ một độ cao nhất định vào trong nước biển và truy kích con mồi của nó dưới nước. Chúng có các túi chứa khí ở phần mặt dưới lớp da cổ có tác dụng làm lớp đệm cho các tác động của nước khi chúng lao xuống mặt nước. Chúng là các loài chim sống thành bầy trên các hòn đảo và ven bờ biển, thông thường đẻ 1 hay nhiều trứng có vỏ màu xanh đá phấn trên mặt đất hay đôi khi trong các tổ trên cây. Phát sinh chủng loại. Sơ đồ phát sinh chủng loại của chi "Sula". Các loài ở Việt Nam. Ở Việt Nam đã phát hiện được 3 loài: chim điên chân đỏ (ở quần đảo Hoàng Sa), chim điên mặt xanh (ở Nam Bộ) và chim điên bụng trắng (ở Cửa Việt và quần đảo Hoàng Sa).
Tổ hợp lồi là tổ hợp tuyến tính của các điểm dữ liệu (mà các điểm này có thể là các vector hay là các giá trị vô hướng), trong đó tất cả các hệ số đều là số không âm và có tổng bằng 1. Nó được gọi là "tổ hợp lồi", vì tất cả các tổ hợp lồi có thể có (ứng với các điểm cụ thể cho trước) đều nằm trong bao lồi của các điểm đó. Thật ra, tập hợp tất cả các tổ hợp lồi tạo ra bao lồi. Một trường hợp đặc biệt là: nếu chỉ có hai điểm dữ liệu, khi đó giá trị của điểm mới (hình thành bằng cách lấy tổ hợp lồi của hai điểm ban đầu) sẽ nằm trên đoạn thẳng nối hai điểm đó.
Thuật ngữ diều hâu hay chim ưng hoặc chim cắt dùng để chỉ tới các loài chim săn mồi trong một trên ba ngữ cảnh sau: Tên gọi thông thường của các loài chim này tại các khu vực khác nhau trên thế giới thường sử dụng từ "diều hâu", "ưng", "cắt" một cách lỏng lẻo. Ví dụ, tại Bắc Mỹ, ó buteo ("Buteo") thông thường chỉ gọi là "hawk" (diều hâu, chim cắt, chim ưng). Các loài diều hâu thực thụ, ưng tạo thành phân họ Accipitrinae và phần lớn nằm trong chi "Accipiter". Vào tháng 2 năm 2005, nhà khoa học người Canada, tiến sĩ Louis Lefebvre thông báo phương pháp đo IQ của chim chóc theo sự sáng tạo của chúng trong thói quen ăn uống. Diều hâu đã được coi là một trong những loài chim thông minh nhất trên cơ sở của thang đo này. Người ta còn cho rằng diều hâu có thị lực rất tốt, đạt tới 20/2, vào khoảng 8 lần sắc bén hơn những người có thị lực tốt.
Trong hình học, bao lồi của một hình là tập hợp lồi nhỏ nhất chứa hình đó. Bao lồi có thể được định nghĩa là giao của tất cả tập lồi chứa một tập con cho trước của một không gian Euclid, hoặc là tập hợp gồm tất cả tổ hợp lồi của các điểm trong tập con đó. Đối với một tập con bị chặn của mặt phẳng, bao lồi có thể được minh họa thành một hình bao bởi một dây đàn hồi kéo dãn xung quanh tập con đó. Bao lồi của tập mở là bao lồi mở, và bao lồi của tập compact là bao lồi compact. Mỗi tập lồi compact đều là bao lồi của các điểm cực biên của nó. Toán tử bao lồi là một ví dụ về toán tử đóng, và một antimatroid có thể được biểu diễn bằng cách áp dụng toán tử đóng này cho tập hợp hữu hạn các điểm. Các bài toán thuật toán về việc tìm bao lồi của một tập hợp hữu hạn các điểm trong mặt phẳng hoặc các không gian Euclid ít chiều khác và bài toán đối ngẫu về các nửa không gian giao nhau đều là những vấn đề cơ bản của hình học tính toán. Chúng có thể được giải trong thời gian formula_1 đối với tập hợp điểm hai chiều hoặc ba chiều, và trong thời gian bằng với độ phức tạp thời gian trong trường hợp tệ nhất được cho bởi định lý cận trên ở không gian nhiều chiều hơn. Cùng với tập hợp điểm hữu hạn, bao lồi cũng đã được nghiên cứu đối với đa giác đơn, chuyển động Brown, đường cong ghềnh và trên đồ thị của hàm. Bao lồi được ứng dụng rộng rãi trong toán học, thống kê, tối ưu hóa tổ hợp, kinh tế, mô hình hóa hình học và tập tính học. Một số cấu trúc liên quan đến nó bao gồm bao lồi trực giao, lớp lồi, chỏm lồi, tam giác đạc Delaunay và sơ đồ Voronoi. Một tập hợp các điểm trên một không gian Euclid được gọi là tập lồi nếu nó chứa các đoạn thẳng nối từng cặp điểm của nó. Bao lồi của một tập formula_2 cho trước có thể được định nghĩa là Với tập bị chặn trong mặt phẳng Euclid mà các điểm trong tập đó không tạo thành đường thẳng thì đường biên của bao lồi là đường cong Jordan với chu vi nhỏ nhất chứa formula_2. Có thể tưởng tượng rằng ta kéo dãn một dây đàn hồi để nó bao quanh toàn bộ tập formula_8 rồi thả dây ra để nó co lại đến mức tối đa; khi đó, dây bao lại tập lồi của formula_8. Cách hiểu này không thể mở rộng được ngay cho không gian nhiều chiều hơn: với một tập hợp hữu hạn các điểm trong không gian ba chiều, một lân cận của một cây bao trùm của các điểm này bao lại chúng với diện tích bề mặt nhỏ tùy ý và nhỏ hơn diện tích bề mặt của bao lồi. Tuy nhiên, trong không gian nhiều chiều, một số dạng của bài toán vật cản về việc tìm một bề mặt năng lượng thấp nhất nằm trên một hình cho trước có thể có bao lồi là nghiệm của chúng. Với các đối tượng trong không gian ba chiều, định nghĩa đầu tiên phát biểu rằng bao lồi là vùng giới hạn lồi nhỏ nhất của các đối tượng đó. Định nghĩa qua giao của các tập lồi có thể được mở rộng cho hình học phi Euclid, và định nghĩa qua tổ hợp lồi có thể được mở rộng từ không gian Euclid sang không gian vectơ thực hoặc không gian afin bất kỳ; bao lồi cũng có thể được khái quát hóa theo một cách trừu tượng hơn sang matroid định hướng. Quan hệ giữa các định nghĩa. Định nghĩa đầu tiên không hiển nhiên đúng: vì sao phải tồn tại một tập lồi nhỏ nhất chứa formula_2 với mọi formula_2? Tuy nhiên, định nghĩa thứ hai (giao của tất cả các tập lồi chứa formula_2) lại mang tính rạch ròi hơn. Theo đó, bao lồi là tập con của mỗi tập lồi formula_13 khác formula_2 chứa formula_2, vì formula_13 có trong các tập được giao. Do đó, nó chính là tập lồi nhỏ nhất chứa formula_2. Vì vậy, hai định nghĩa đầu tiên là tương đương nhau. Mỗi tập lồi chứa formula_2 phải chứa tất cả tổ hợp lồi của các điểm trong formula_2 (theo giả thiết rằng nó là tập lồi), nên tập hợp tất cả các tổ hợp lồi này có trong giao của tất cả các tập lồi chứa formula_2. Ngược lại, tập hợp tất cả các tổ hợp lồi cũng là một tập lồi chứa formula_2 nên nó cũng chứa giao của tất cả các tập lồi chứa formula_2, và do đó định nghĩa thứ hai và thứ ba là hai định nghĩa tương đương. Thực tế, theo định lý Carathéodory, nếu formula_2 là tập con của một không gian Euclid formula_24 chiều, mỗi tổ hợp lồi của một số hữu hạn các điểm trong formula_2 cũng là một tổ hợp lồi của nhiều nhất formula_26 điểm trong formula_2. Tập hợp các tổ hợp lồi của một bộ gồm formula_26 điểm là một đơn hình; trong mặt phẳng nó là một tam giác và trong không gian ba chiều nó là một tứ diện. Vì vậy, mỗi tổ hợp lồi của các điểm trong formula_2 đều thuộc một đơn hình có các đỉnh thuộc formula_2, nên định nghĩa thứ ba và thứ tư là hai định nghĩa tương đương. Bao trên và bao dưới. Ở hai chiều, bao lồi đôi khi được chia thành hai phần là bao trên và bao dưới, kéo dài giữa các điểm ngoài cùng bên trái và bên phải của bao đó. Tổng quát hơn, đối với bao lồi trong bất kỳ không gian nhiều chiều nào, có thể chia đường biên của bao đó thành các điểm mặt trên (những điểm mà theo đó một tia hướng lên không giao với bao), điểm mặt dưới và điểm cực biên. Với bao ba chiều, các phần mặt trên và mặt dưới của đường biên tạo thành những đĩa tôpô. Bao đóng và bao mở. "Bao lồi đóng" của một tập hợp là tập đóng của bao lồi, và "bao lồi mở" là phần trong (hoặc, trong một số tài liệu, phần trong tương đối) của bao lồi. Bao lồi đóng của formula_2 là giao của tất cả các nửa không gian đóng chứa formula_2. Nếu bao lồi của formula_2 đã là một tập đóng (xảy ra chẳng hạn khi formula_2 là một tập hữu hạn hoặc, tổng quát hơn, là một tập compact) thì nó bằng bao lồi đóng đó. Tuy nhiên, giao của các nửa không gian đóng là tập đóng, nên khi một bao lồi không phải là bao lồi đóng thì nó không thể biểu diễn được theo cách này. Nếu bao lồi mở của một tập hợp formula_2 là bao lồi formula_24 chiều thì mỗi điểm trong bao đó thuộc một bao lồi mở gồm nhiều nhất formula_37 điểm thuộc tập formula_2. Tập hợp các đỉnh của một hình vuông, khối bát diện đều, hoặc khối đa diện chéo trong không gian nhiều chiều là những ví dụ về trường hợp cần đúng formula_37 điểm. Sự bảo toàn tính chất tôpô. Về mặt tôpô, bao lồi của một tập mở luôn luôn là bao lồi mở, và bao lồi của một tập compact luôn luôn là bao lồi compact. Tuy nhiên, có một số tập đóng có bao lồi không phải là bao lồi đóng. Chẳng hạn, tập đóng (tập hợp các điểm thuộc hoặc nằm phía trên đường cong phù thủy Agnesi) có bao lồi là nửa mặt phẳng trên mở. Tính compact của bao lồi của tập compact trong không gian Euclid với số chiều hữu hạn được khái quát hóa bằng định lý Krein–Smulian, theo đó bao lồi đóng của một tập con compact yếu trong một không gian Banach (một tập con có tính compact dưới dạng tôpô yếu) là bao lồi compact yếu. Một điểm cực biên của một tập lồi là một điểm trong tập hợp không nằm trên một đoạn thẳng giữa hai điểm khác trong cùng tập hợp đó. Đối với một bao lồi, mỗi điểm cực biên đều phải thuộc tập đã cho, vì ngược lại nó không thể tạo thành một tổ hợp lồi gồm các điểm đã cho. Theo định lý Krein–Milman, mỗi tập lồi compact trong một không gian Euclid (hoặc, tổng quát hơn, trong một không gian vectơ tôpô lồi địa phương) là bao lồi của các điểm cực biên của nó. Tuy nhiên, định lý này có thể không đúng đối với các tập lồi không compact; ví dụ, toàn bộ mặt phẳng Euclid và quả cầu đơn vị mở đều có tính lồi, nhưng chúng không có điểm cực biên nào. Lý thuyết Choquet mở rộng định lý này từ tổ hợp lồi hữu hạn của các điểm cực biên sang tổ hợp vô hạn trong các không gian tổng quát hơn. Tính chất hình học và đại số. Toán tử bao lồi có các tính chất đặc trưng của một toán tử đóng: Khi được áp dụng cho một tập hợp hữu hạn các điểm, đó chính là toán tử đóng của một antimatroid, cụ thể là antimatroid bao của tập hợp đó. Mỗi antimatroid đều có thể được biểu diễn theo cách này bằng bao lồi của các điểm trong một không gian Euclid với số chiều đủ lớn. Các phép toán dựng bao lồi và tính tổng Minkowski giao hoán lẫn nhau vì tổng Minkowski của bao lồi của các tập hợp có cùng kết quả với bao lồi của tổng Minkowski của các tập hợp đó. Kết luận này là một bước để chứng minh định lý Shapley–Folkman giới hạn khoảng cách giữa một tổng Minkowski và bao lồi của nó. Đối ngẫu xạ ảnh. Phép đối ngẫu xạ ảnh để dựng bao lồi của một tập hợp hữu hạn các điểm chính là phép dựng giao của một họ gồm các nửa không gian đóng chứa điểm gốc (hoặc một điểm bất kỳ xác định). Trường hợp đặc biệt. Tập hợp điểm hữu hạn. Bao lồi của một tập hợp điểm hữu hạn formula_51 tạo thành một đa giác lồi khi formula_52, hoặc tổng quát hơn là một đa diện lồi trong formula_53. Mỗi điểm cực biên của bao đó được gọi là đỉnh, và (theo định lý Krein–Milman) mỗi đa diện lồi đều là bao lồi của các đỉnh của nó. Nó chính là đa diện lồi duy nhất có các đỉnh thuộc formula_8 và bao hết toàn bộ formula_8. Với tập hợp các điểm ở vị trí tổng quát, bao lồi là một đa diện đơn hình. Theo định lý cận trên, số mặt của bao lồi của formula_56 điểm trong không gian Euclid formula_24 chiều là formula_58. Đặc biệt, ở hai chiều và ba chiều, số mặt lớn nhất của bao lồi tuyến tính theo formula_56. Bao lồi của một đa giác đơn bao quanh đa giác đã cho và được nó chia thành nhiều vùng, trong đó có một vùng là chính đa giác đó. Các vùng còn lại, giới hạn bởi một chuỗi đa giác của đa giác và một cạnh của bao lồi, được gọi là "rãnh" (pocket). Thực hiện lặp lại phân tích này với mỗi rãnh một cách đệ quy thì một biểu diễn phân cấp của đa giác đã cho được tạo thành và được gọi là "cây sai phân lồi" (convex differences tree) của đa giác đó. Chiếu lại một rãnh qua cạnh bao lồi của nó làm mở rộng đa giác đơn này thành một đa giác mới với chu vi không đổi và diện tích lớn hơn, và định lý Erdős–Nagy phát biểu rằng quá trình mở rộng này sẽ chấm dứt sau một số hữu hạn bước. Đường cong do chuyển động Brown tạo ra trong mặt phẳng, tại bất kỳ thời điểm cố định nào, có xác suất là 1 để có bao lồi mà đường biên tạo thành một đường cong khả vi liên tục. Tuy nhiên, với một góc formula_60 thỏa mãn formula_61, sẽ có những thời điểm trong chuyển động Brown mà trong đó một chất điểm chạm vào đường biên của bao lồi tại một đỉnh của góc formula_60. Số chiều Hausdorff của tập hợp những thời điểm đặc biệt như thế là formula_63 (với xác suất cao). Đường cong trong không gian. Đối với bao lồi của một đường cong trong không gian hoặc một tập hợp hữu hạn các đường cong không gian ở vị trí tổng quát trong không gian ba chiều, các phần của đường biên cách ra khỏi những đường cong này là các bề mặt xiên và khai triển được. Một số ví dụ bao gồm oloid, bao lồi của hai đường tròn trong các mặt phẳng vuông góc, trong đó mỗi đường tròn đều đi qua tâm của đường tròn còn lại; sphericon, bao lồi của hai nửa đường tròn đồng tâm trong các mặt phẳng vuông góc; và D-form, các hình lồi có được từ định lý Alexandrov đối với một mặt phẳng được tạo thành bằng cách dán hai tập lồi phẳng cùng chu vi lại với nhau. Bao lồi hoặc bao lồi dưới của một hàm formula_64 trong một không gian vectơ thực là hàm có trên đồ thị là bao lồi dưới của trên đồ thị của formula_64. Nó là hàm lồi cực đại duy nhất bị chặn trên bởi formula_64. Định nghĩa này có thể được mở rộng cho bao lồi của một tập hợp các hàm (có được từ bao lồi của hợp của các trên đồ thị, hoặc từ giá trị nhỏ nhất theo từng điểm của chúng) và, ở dạng này, có tính đối ngẫu với phép toán liên hợp lồi. Trong hình học tính toán, có một số thuật toán để tính bao lồi của một tập hợp hữu hạn các điểm và các đối tượng hình học khác. Ở đây "tính bao lồi" có nghĩa là xây dựng một cấu trúc dữ liệu rõ ràng và hiệu quả để biểu diễn hình lồi cần tìm. Các dạng biểu diễn đầu ra đã được xét đối với bao lồi của tập hợp điểm bao gồm một hệ bất phương trình bậc nhất mô tả các mặt của bao, một đồ thị vô hướng của các mặt đó (kể cả các mặt liền kề), hoặc toàn bộ dàn mặt của bao đó. Ở hai chiều, có một cách đơn giản hơn là liệt kê các điểm là đỉnh trong cấp cyclic của chúng quanh bao này. Với bao lồi hai chiều hoặc ba chiều, độ phức tạp tính toán của các thuật toán tương ứng thường được đo theo số điểm đầu vào formula_56 và số điểm trong bao lồi formula_68, có thể nhỏ hơn đáng kể so với formula_56. Đối với bao trong không gian nhiều chiều thì số mặt của các chiều khác cũng có thể được quan tâm khi phân tích thuật toán. Quét Graham có thể tính bao lồi của formula_56 điểm trong mặt phẳng trong thời gian formula_71. Với các điểm ở hai và ba chiều, có một số thuật toán nhạy cảm đầu ra phức tạp hơn có thể tính được bao lồi trong thời gian formula_72, trong đó có thuật toán Chan và thuật toán Kirkpatrick–Seidel. Với số chiều formula_73, thời gian để tính bao lồi là formula_74, bằng với độ phức tạp đầu ra trong trường hợp tệ nhất của bài toán. Bao lồi của một đa giác đơn trong mặt phẳng có thể được dựng trong thời gian tuyến tính. Các cấu trúc dữ liệu bao lồi động có thể được dùng để theo dõi bao lồi của một tập hợp điểm khi thêm vào hoặc xóa đi các điểm trong tập hợp, và các cấu trúc bao lồi điểm chuyển động có thể giúp theo dõi bao lồi đối với các điểm chuyển động liên tục. Dựng bao lồi cũng là công cụ cho một số thuật toán hình học tính toán khác, chẳng hạn như thuật toán thước cặp quay dùng để tính chiều dài và đường kính của một tập hợp điểm. Các cấu trúc liên quan. Một số hình khác có thể được xác định từ một tập hợp các điểm theo cách tương tự như với bao lồi, có thể là tập cha nhỏ nhất với tính chất nhất định, là giao của tất cả các hình chứa các điểm đó từ một họ các hình cho trước, hoặc là hợp của tất cả tổ hợp của các điểm với dạng nhất định. Ví dụ: Tam giác đạc Delaunay của một tập hợp điểm và dạng đối ngẫu của nó, sơ đồ Voronoi, đều có liên quan đến bao lồi: tam giác đạc Delaunay của một tập hợp điểm trên formula_78 có thể được xem là hình chiếu của một bao lồi trên formula_79. Các hình alpha của một tập hợp điểm hữu hạn cho một họ gồm các đối tượng hình học (không lồi) lồng nhau mô tả hình dạng của một tập hợp điểm tại các cấp độ chi tiết khác nhau. Mỗi hình alpha đều là hợp của một số điểm trong tam giác đạc Delaunay, được chọn bằng cách so sánh bán kính đường tròn ngoại tiếp của chúng với tham số alpha. Chính tập hợp điểm đó tạo thành một điểm cuối của họ các hình đó, và bao lồi của nó tạo thành điểm cuối còn lại. Lớp lồi của một tập hợp điểm là một họ gồm đa giác lồi lồng nhau, trong đó đa giác ngoài cùng là bao lồi, với các lớp bên trong được dựng một cách đệ quy từ các điểm không phải là đỉnh của bao lồi đó. Chỏm lồi của một đa giác là đa giác lồi lớn nhất được chứa trong nó. Nó có thể được tìm trong thời gian đa thức, nhưng số mũ của thuật toán rất cao. Bao lồi được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Trong toán học, bao lồi được dùng để nghiên cứu đa thức, giá trị riêng của ma trận, phần tử đơn nguyên đơn vị và một số định lý liên quan đến bao lồi trong hình học rời rạc. Trong thống kê chuẩn mạnh, bao lồi là đường viền ngoài cùng của độ sâu Tukey, là một phần quan trọng của biểu đồ túi minh họa dữ liệu hai chiều, và được dùng để xác định tập nguy cơ của các quy tắc ra quyết định ngẫu nhiên. Bao lồi của vectơ chỉ thị của nghiệm cho các bài toán tổ hợp là nội dung trọng tâm trong tối ưu hóa tổ hợp và tổ hợp đa diện. Trong kinh tế học, bao lồi có thể được dùng để áp dụng các phương pháp về tính lồi trong kinh tế cho các thị trường không lồi. Trong mô hình hóa hình học, đặc tính bao lồi đường cong Bézier hỗ trợ tìm các giao điểm của chúng, và bao lồi là một phần không thể thiếu trong việc đo thân tàu. Và trong nghiên cứu về tập tính của động vật, bao lồi xuất hiện trong một định nghĩa thường dùng về phạm vi chỗ ở. Đa giác Newton của đa thức đơn biến và đa diện Newton của đa thức đa biến là bao lồi của các điểm được suy ra từ số mũ của các hạng tử trong đa thức, và có thể được dùng để phân tích tính tiệm cận của đa thức và giá trị của nghiệm của đa thức đó. Bao lồi và đa thức cũng có liên hệ với nhau trong định lý Gauss–Lucas, theo đó mọi nghiệm của đạo hàm của một đa thức đều nằm trong bao lồi của các nghiệm của đa thức đó. Trong lý thuyết phổ, miền số của một ma trận chuẩn tắc là bao lồi của các giá trị riêng của nó. Định lý Russo–Dye mô tả bao lồi của các phần tử đơn nguyên đơn vị trong một C*-đại số. Trong hình học rời rạc, định lý Radon và định lý Tverberg có liên quan đến sự tồn tại phân hoạch của các tập hợp điểm thành các tập con với bao lồi giao nhau. Định nghĩa tập lồi là tập hợp chứa tất cả các đoạn thẳng nối các điểm của nó và bao lồi là giao của tất cả các tập cha lồi đều áp dụng được cho không gian hyperbol và không gian Euclid. Tuy nhiên, trong không gian hyperbol, còn có thể xét đến bao lồi của tập hợp điểm lý tưởng gồm những điểm không thuộc chính không gian hyperbol mà chỉ nằm trong đường biên của một mô hình không gian đó. Đường biên của bao lồi của các điểm lý tưởng của không gian hyperbol ba chiều là tương tự với bề mặt xiên trong không gian Euclid, và các tính chất mêtric của chúng đóng vai trò quan trọng trong giả thuyết hình học hóa trong tôpô ít chiều. Bao lồi hyperbol cũng được dùng khi tính tam giác đạc chính tắc của đa tạp hyperbol, hay xác định xem hai nút thắt có bằng nhau hay không. Xem thêm mục chuyển động Brown về ứng dụng của bao lồi trong chuyển động Brown, và mục đường cong không gian về ứng dụng của bao lồi trong lý thuyết về bề mặt khai triển được. Trong thống kê chuẩn mạnh, bao lồi là một trong những thành phần chủ chốt của một biểu đồ túi (bagplot), một phương pháp để minh họa phân bố của các điểm mẫu hai chiều. Các hình bao của độ sâu Tukey tạo thành một họ tập lồi lồng nhau với bao lồi nằm ngoài cùng, và biểu đồ túi cũng hiển thị một đa giác khác có hình bao với độ sâu 50% từ họ lồng nhau đó. Trong lý thuyết quyết định thống kê, tập nguy cơ của một quy tắc ra quyết định ngẫu nhiên là bao lồi của các điểm nguy cơ của các quy tắc ra quyết định tất định nằm dưới nó. Tối ưu hóa tổ hợp. Đối tượng nghiên cứu trọng tâm trong tối ưu hóa tổ hợp và tổ hợp đa diện là bao lồi của vectơ chỉ thị của nghiệm cho một bài toán tổ hợp. Nếu mặt của các đa diện đó có thể tìm được, mô tả đa diện là giao của các nửa không gian, thì các thuật toán dựa trên quy hoạch tuyến tính có thể được dùng để tìm nghiệm tối ưu. Bao lồi của các vectơ trọng số của các nghiệm đó, một dạng khác của bao lồi, cũng được dùng trong tối ưu hóa đa mục tiêu. Ta có thể cực đại hóa bất kỳ tổ hợp tựa lồi của các trọng số bằng cách tìm và kiểm tra từng đỉnh của bao lồi, hiệu quả hơn nhiều so với khi kiểm tra tất cả các nghiệm có thể có. Trong mô hình Arrow–Debreu của cân bằng kinh tế tổng thể, đại diện kinh tế được giả thiết là có tập ngân sách lồi và ưa thích lồi. Các giả thiết này của tính lồi trong kinh tế có thể được dùng để chứng minh sự tồn tại của một cân bằng như thế. Khi dữ liệu kinh tế trong thực tế là phi lồi thì có thể chuyển dữ liệu này sang trạng thái lồi bằng cách lấy bao lồi của nó. Định lý Shapley–Folkman có thể được áp dụng để chứng minh rằng với các thị trường lớn thì phép xấp xỉ này là chính xác và dẫn đến một "tựa cân bằng" đối với thị trường phi lồi ban đầu. Mô hình hóa hình học. Trong mô hình hóa hình học, một trong những tính chất then chốt của đường cong Bézier là nó nằm trong bao lồi của các điểm kiểm soát của nó. Cái gọi là "đặc tính bao lồi" này có thể được áp dụng để nhanh chóng tìm ra giao điểm của các đường cong như vậy chẳng hạn. Trong thiết kế tàu thuyền, chu vi xích thân tàu (chain girth) là một độ đo kích thước của một tàu buồm, được xác định bằng bao lồi của mặt cắt ngang thân tàu. Nó khác với chu vi mặt ngoài thân tàu (skin girth) là chu vi của chính mặt cắt đó ngoại trừ đối với tàu thuyền có bao lồi. Bao lồi thường được xem là đa giác lồi nhỏ nhất trong tập tính học, một lĩnh vực nghiên cứu hành vi của động vật, ở đó nó là cách tiếp cận cổ điển để ước lượng phạm vi chỗ ở của một loài động vật dựa vào các điểm mà loài động vật đó được quan trắc. Các điểm ngoại lai có thể làm kích thước của đa giác đó tăng một cách quá mức; một hướng tiếp cận khác để hạn chế tình trạng này là chỉ ước lượng dựa trên tập con của các điểm quan trắc, chẳng hạn như chọn một trong các lớp lồi sát với một tỉ lệ mật độ điểm dữ liệu làm mẫu, hoặc áp dụng phương pháp bao lồi địa phương bằng cách hợp bao lồi của láng giềng của các điểm. Vật lý lượng tử. Trong vật lý lượng tử, không gian trạng thái của một hệ thống lượng tử — tập hợp tất cả các cách hệ thống có thể được thiết lập — là một bao lồi có điểm cực biên là các toán tử nửa xác định dương gọi là trạng thái thuần và các điểm ở phía trong gọi là trạng thái hỗn hợp. Định lý Schrödinger–HJW chứng minh rằng một trạng thái hỗn hợp bất kỳ có thể được viết thành tổ hợp lồi của các trạng thái thuần theo nhiều cách khác nhau. Nhiệt động lực học. Một bao lồi trong nhiệt động lực học đã được Josiah Willard Gibbs xác định trong bài báo năm 1873, dù nó được xuất bản từ trước khi thuật ngữ "bao lồi" có tên gọi như hiện tại. Trong một tập hợp các mức năng lượng của các hệ số tỷ lượng đối với một vật liệu, chỉ có mức năng lượng với những giá trị đo nằm ở bao lồi dưới mới bền vững. Khi loại đi một điểm thì khoảng cách của nó tới bao này chỉ độ bền của trạng thái đó. Bao lồi của các điểm trong mặt phẳng xuất hiện lần đầu tiên dưới dạng đa giác Newton trong thư của Isaac Newton gửi Henry Oldenburg vào năm 1676. Thuật ngữ "convex hull" trong tiếng Anh xuất hiện sớm nhất từ công trình của #đổi , và cụm từ tương ứng trong tiếng Đức xuất hiện sớm hơn, chẳng hạn như trong bình duyệt về #đổi của Hans Rademacher. Một số thuật ngữ khác như "convex envelope" cũng được sử dụng trong khoảng thời gian này. Đến năm 1938, theo Lloyd Dines, từ "convex hull" đã trở thành tiêu chuẩn, và Dines thêm rằng ông thấy đó là điều đáng tiếc, vì nghĩa thông tục của từ "hull" có thể được hiểu rằng nó chỉ bề mặt của một hình, trong khi bao lồi thực tế còn chứa thêm cả phần bên trong chứ không chỉ có phần bề mặt đó.
Henry James (15 tháng 4 năm 1843 – 28 tháng 2 năm 1916) là tác giả và nhà phê bình văn học Mỹ, là con trai của Henry James Sr. và em trai của nhà triết học và nhà tâm lý học William James. Ông sống phần nhiều cuộc đời ở châu Âu và trở thành là một công dân Anh không lâu trước khì chết. Ông được biết chủ yếu với những cuốn tiểu thuyết, những truyện ngắn mới lạ dựa trên những chủ đề về ý thức. Quyển "Charles W. Eliot" của ông đã đoạt Giải Pulitzer cho tác phẩm Tiểu sử và Tự truyện năm 1931. James đóng góp đáng kể vào phê bình tiểu thuyết những điều hư cấu, đặc biệt ông nhấn mạnh cho tự do nhất có thể được trong việc trình bày tầm nhìn ra thế giới. Truyện ngắn, truyện vừa.
Phật Đản (chữ Nho 佛誕 - nghĩa là "ngày sinh của đức Phật") hay là Vesak (, Devanagari: वैशाख, Sinhala: වෙසක් පෝය) là ngày kỷ niệm Phật Tất-đạt-đa Cồ-đàm sinh ra tại vườn Lâm-tì-ni năm 624 TCN, diễn ra vào ngày 8 tháng 4 âm lịch hoặc 15 tháng 4 hàng năm, tùy theo quốc gia. Theo truyền thống Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Hán truyền, ngày này chỉ là ngày kỷ niệm ngày sinh của đức Phật Thích Ca; tuy nhiên, theo Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Tạng truyền thì ngày này là ngày Tam hiệp (kỷ niệm Phật đản, Phật thành đạo và Phật nhập Niết-bàn). Ngày lễ Phật Đản, hay lễ Vesak, Tam Hiệp, được kỷ niệm vào các ngày khác nhau tùy theo quốc gia. Một số quốc gia với đa số Phật tử chịu ảnh hưởng Bắc tông (như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam) thường tổ chức ngày lễ Phật đản vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch. Các quốc gia theo Nam tông thường tổ chức vào ngày trăng tròn trong tháng 4 âm lịch hay là ngày trăng tròn trong tháng 5 dương lịch. Có những năm có 2 ngày trăng tròn trong tháng 5 dương lịch như năm 2007, có nơi tổ chức ngày Vesak vào ngày trăng tròn đầu tiên (ngày 1 tháng 5) trong khi tại nơi khác lại kỷ niệm vào ngày trăng tròn thứ 2 (ngày 31 tháng 5). Cách tính kỷ nguyên Phật lịch tại các quốc gia theo truyền thống Nam tông cũng khác nhau, nên năm Phật lịch có thể cách nhau một năm. Phật Đản là ngày lễ trọng đại được tổ chức hằng năm bởi cả hai truyền thống Nam tông và Bắc tông. Ngày nay người ta thường biết đến Phật Đản qua tên gọi "Vesak". Từ "Vesak" chính là từ ngữ thuộc ngôn ngữ Sinhalese cho các biến thể tiếng Pali, "Visakha". "Visakha" / "Vaisakha" là tên của tháng thứ hai của lịch Ấn Độ, "ngày lễ vào tháng vesākha" theo lịch Ấn Độ giáo, tương ứng vào khoảng tháng 4, tháng 5 dương lịch. Tại Ấn Độ, Bangladesh, Nepal và các nước láng giềng Đông Nam Á theo truyền thống Thượng tọa bộ, lễ Phật đản được tổ chức vào ngày trăng tròn trong tháng Vaisakha của lịch Phật giáo và lịch Hindu, mà thường rơi vào tháng 4 hoặc tháng 5 của lịch Gregoria phương Tây. Lễ hội được gọi là "Visakah Puja" (lễ hội Visakah) hay là "Buddha Purnima", "Phật Purnima" (बुद्ध पूर्णिमा), "Purnima" nghĩa là ngày trăng tròn trong tiếng Phạn hay là "Buddha Jayanti", "Phật Jayanti", với "Jayanti" có nghĩa là sinh nhật ở Nepal và Tiếng Hindi. Thái Lan gọi là "Visakha Bucha"; Indonesia gọi là "Waisak"; Tây Tạng gọi là "Saga Daw"; Lào gọi là "Vixakha Bouxa" và Myanmar (Miến Điện) gọi là "Ka-sone-la-pyae" (nghĩa là "Ngày rằm tháng Kasone", cũng là tháng thứ hai trong lịch Myanmar). Tại Đại hội Phật giáo Thế giới lần đầu tiên diễn ra tại Colombo, Sri Lanka, 25 tháng 5 đến 8 tháng 6 năm 1950, các phái đoàn đến từ 26 quốc gia là thành viên đã thống nhất ngày Phật đản quốc tế là ngày rằm tháng Tư âm lịch. Ngày 15 tháng 12 năm 1999, theo đề nghị của 34 quốc gia, để tôn vinh giá trị đạo đức, văn hóa, tư tưởng hòa bình, đoàn kết hữu nghị của Đức Phật, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại phiên họp thứ 54, mục 174 của chương trình nghị sự đã chính thức công nhận Đại lễ Vesak là một lễ hội văn hóa, tôn giáo quốc tế của Liên Hợp Quốc, những hoạt động kỷ niệm sẽ được diễn ra hàng năm tại trụ sở và các trung tâm của Liên Hợp Quốc trên thế giới từ năm 2000 trở đi, được tổ chức vào ngày trăng tròn đầu tiên của tháng 5 dương lịch. Ý nghĩa và tầm quan trọng. Phật Đản là ngày nghỉ lễ quốc gia tại nhiều quốc gia châu Á như Bhutan, Thái Lan, Nepal, Sri Lanka, Malaysia, Miến Điện, Mông Cổ, Singapore, Indonesia, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Campuchia, Là, ngày này không phải là ngày nghỉ lễ được công nhận chính thức; tuy nhiên, ngày lễ này vẫn có ảnh hưởng quan trọng trong xã hội với tỷ lệ lớn dân cư chịu ảnh hưởng văn hóa Phật giáo. Vào ngày lễ, Phật tử thường vinh danh Tam bảo: "Phật", "Pháp", "Tăng" (qua các hình thức như dâng cúng, tặng hoa, đến nghe thuyết giảng), và thực hành ăn chay và giữ Ngũ giới, Tứ vô lượng tâm (từ bi hỷ xả), thực hành bố thí và làm việc từ thiện, tặng quà, tiền cho những người yếu kém trong cộng đồng. Kỷ niệm Vesākha cũng có nghĩa là làm những nỗ lực đặc biệt để mang lại hạnh phúc, niềm vui cho những người bất hạnh như người già cao niên, người khuyết tật và người bệnh, chia sẻ niềm vui và hòa bình với mọi người. Ở một số quốc gia, đặc biệt là Sri Lanka, hai ngày được dành cho việc cử hành Vesākha, việc bán rượu và thịt thường bị cấm và tất cả các cửa hàng rượu, bia và lò giết mổ phải đóng cửa do nghị định của chính phủ. Chim, côn trùng và thú vật được phóng sinh như là một "hành động mang tính biểu tượng của sự giải thoát", của sự trả tự do cho những người bị giam cầm, bị bỏ tù, bị tra tấn trái với ý muốn của họ. Tại Ấn Độ, Nepal, người dân thường mặc áo trắng khi lên các tịnh xá và ăn chay. Tại hầu hết các quốc gia châu Á đều có diễu hành xe hoa và nghi lễ tụng niệm, tại Hàn Quốc có lễ hội đèn hoa sen (연등회, Yeondeunghoe) rất lớn. Cử hành ngày lễ. Tại Bhutan, Phật nhập Niết bàn là một ngày lễ quốc gia và cũng được tổ chức với tên gọi Saga Dawa vào ngày thứ 15 của Saga Dawa (tháng thứ tư của lịch Tây Tạng). Việc quan sát tháng thánh bắt đầu từ ngày 1 của Saga Dawa, Tháng Vesak mà đỉnh điểm là vào ngày 15 trăng tròn của tháng với các lễ kỷ niệm ba sự kiện thánh trong cuộc đời của Đức Phật; sinh, giác ngộ và Chết (Mahaparinirvana). Xuyên suốt Tháng lễ Saga Dawa Vesak, các hoạt động đạo đức và luân lý đạo đức diễn ra trong gia đình, chùa chiền, tu viện và những nơi công cộng. Những người sùng đạo và tín đồ tuân thủ các bữa ăn chay nghiêm ngặt trong suốt tháng Saga Dawa và tránh tiêu thụ bất kỳ thực phẩm không phải là đồ ăn chay nào. Ngày lễ Phật nhập niết bàn cũng chứng kiến ​​các tín đồ đến thăm tu viện để cầu nguyện và thắp đèn bơ. Mọi người thuộc nhiều tầng lớp khác nhau mặc quốc phục của họ và đến các tu viện để nhận được sự ban phước từ vị thần hộ mệnh của họ. Lễ Phật Đản được tổ chức ở Ấn Độ, đặc biệt là ở Sikkim, Ladakh, Arunachal Pradesh, Bodh Gaya ("Bồ Đề Đạo Tràng"), các nơi khác nhau tại Bắc Bengal như Kalimpong, Darjeeling, Kurseong, và Maharashtra (nơi có 73% tín đồ Phật giáo Ấn Độ) và các nơi khác của Ấn Độ theo lịch Ấn Độ. Người Phật tử đi đến Tịnh xá và ở lại lâu hơn các ngày thường, nghe toàn bộ kinh Phật giáo dài. Họ mặc trang phục thường là màu trắng tinh khiết và ăn chay. "Kheer", một loại cháo ngọt thường được phục vụ để nhớ lại câu chuyện của "Sujata", một cô gái trẻ đã dâng Đức Phật một bát cháo sữa. Mặc dù thường gọi là "Phật Đản", nhưng ngày này đã trở thành ngày Tam Hợp, kỷ niệm Đản sinh, giác ngộ (nirvāna) và ngày nhập Niết bàn (Parinirvāna) của Đức Phật theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy (Theravada). Tại Ấn Độ, Nepal và các nước láng giềng Đông Nam Á theo Phật giáo Nguyên thủy, lễ Vesak/Purnima nguyên thủy được tổ chức vào ngày trăng tròn của tháng Vaisakha của lịch Phật giáo và lịch Hindu, mà thường rơi vào tháng 4 hoặc tháng 5 của lịch Gregorian phương Tây. Lễ hội được gọi là "Phật Purnima" (बुद्ध पूर्णिमा), "Purnima" nghĩa là ngày trăng tròn trong tiếng Phạn. Ngày lễ cũng được gọi là "Phật Jayanti", với "Jayanti" có nghĩa là sinh nhật ở Nepal và Tiếng Hindi. Gần đây, tại Nepal, Ấn Độ, Sri Lanka, ngày Vesak/Purnima chính được tổ chức vào ngày trăng tròn trong tháng 5 dương lịch. Đại lễ Phật đản, thường được biết đến ở Nepal là "Phật Jayanti" (sinh nhật Đức Phật) được tổ chức rộng rãi trên khắp cả nước, chủ yếu là tại Lumbini (Lâm-tì-ni) - nơi sinh của Đức Phật - và tại chùa Swayambhu - ngôi chùa linh thiêng của Phật giáo, còn được gọi là "Chùa Khỉ". Cánh cửa chính của Swayambhu chỉ được mở vào ngày này, do đó, mọi người từ khắp thung lũng Kathmandu và hàng ngàn khách hành hương từ nhiều nơi trên thế giới đến với nhau để mừng Phật đản tại nơi Đức Phật sinh ra, Lumbini. Tại Nepal, Đức Phật được tôn thờ bởi tất cả các nhóm tôn giáo, do đó "Phật Jayanti" được đánh dấu bằng một ngày nghỉ lễ quốc gia. Người ta tặng thực phẩm và quần áo cho những người nghèo và cũng cung cấp hỗ trợ tài chính cho các tu viện và trường học, nơi Phật giáo được dạy và thực hành. Tại Myanmar, ngày Vesak cũng gọi là ngày của Kason. Kason là tháng thứ 2 trong 12 tháng theo lịch Myanmar. Đây là tháng nóng nhất trong năm. Nên trong khuôn khổ lễ hội Vesak, người dân nơi đây, với lòng thành kính, đặt những chậu nước tinh khiết trên đầu đội đến những tự viện tưới xuống cây Bồ-đề. Họ tưới cây Bồ-đề để cảm ơn giống cây này đã che chở đức Thế Tôn trong những ngày thiền định trước khi chứng đạo và ước nguyện năng lực giải thoát luôn trưởng dưỡng trong họ. Tại Sri Lanka, Phật giáo là quốc giáo. Thời gian lễ hội Vesak, người dân được nghỉ lễ. Gần đây, lễ Vesak được tổ chức vào ngày trăng tròn trong tháng 5 dương lịch và kéo dài 1 tuần. Ngoài những buổi lễ tụng kinh và cầu nguyện mang tính tôn giáo, lễ hội Vesak còn có nhiều chương trình mang tính lễ hội dân gian. Trong những ngày lễ hội, việc bán rượu và thịt thường bị cấm, tất cả quán bia rượu và lò giết mổ phải đóng cửa. Người dân nước này phóng sanh một số lượng lớn thú vật, chim, cá… Việc bố thí ("Dana") cũng được xem rất trọng, họ thường đến thăm và phát quà cho trẻ mồ côi và người già neo đơn cũng như lập những quầy cung cấp miễn phí thức ăn uống cho khách qua đường. Người dân thường mặc áo trắng và đi đến đền thờ, tu viện và tham gia vào các nghi lễ truyền thống tại đó, nhiều người ở lại đền thờ cả ngày và thực hành Bát giới. Hầu hết tư gia Phật tử đều trang trí cờ Phật giáo, lồng đèn và đèn nến… Những nơi công cộng diễn ra nhiều chương trình lễ hội. Trong đó chương trình rước và diễn hành xá-lợi gây ấn tượng và tạo nên xúc cảm nhất đối với người tham dự. Xá-lợi Phật được tôn trí trên lưng những chú voi được trang điểm lộng lẫy với sắc màu mang phong cách Nam Á, theo sau là hàng ngàn Phật tử, diễn hành khắp những đường phố. Ngày lễ quan trọng và truyền thống này được tổ chức khắp Indonesia, được gọi là ngày "Waisak" và là ngày nghỉ lễ quốc gia mỗi năm, chính thức kể từ năm 1983, được tổ chức vào ngày rằm tháng 4 âm lịch. Tại đền Borobudur ("Ba La Phù Đồ"), hàng ngàn nhà sư Phật giáo sẽ hội tụ với nhau để tụng các câu thần chú và câu kinh trong một nghi lễ gọi là "Pradaksina". Các nhà sư kỷ niệm ngày đặc biệt với việc hứng nước thánh (tượng trưng cho sự khiêm tốn) và vận chuyển ngọn lửa (tượng trưng cho ánh sáng và giác ngộ) từ vị trí này đến vị trí khác. Các nhà sư cũng tham gia vào nghi lễ "Pindapata", nơi họ nhận được từ thiện và cúng dường từ người dân Indonesia. Tại Thái Lan, Lào, Campuchia. Thái Lan là quốc gia Phật giáo đã 5 lần tổ chức Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc. Vesak Day cũng được gọi là "Visaka Bochea Day" tại Campuchia và "Vixakha Bouxa Day" tại Lào. Tại Lào, trong thời gian lễ hội Vesak, khí trời nóng bức và không mưa, người ta thường bắn pháo hoa với ước nguyện sẽ có mưa. Tại Trung Quốc, Phật giáo đã có mặt gần 2000 năm. Phật giáo từng là tư tưởng chủ đạo cho chính quyền và người dân trong một số triều đại. Lễ Phật đản được tổ chức từ thời Tam Quốc, đã ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội qua nhiều giai đoạn lịch sử. Nhưng ngày nay Phật giáo không còn ảnh hưởng nhiều trong xã hội Trung Quốc, từ khi theo xã hội chủ nghĩa. Người dân chỉ còn biết đến Phật giáo như là một tôn giáo lo ma chay, cúng kiếng, võ thuật… Lễ Phật đản chỉ có thể được tổ chức trong khuôn viên tự viện và ít được xã hội quan tâm. Phật giáo Đài Loan có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống thường nhật của người dân tại lãnh thổ Đài Loan. Từ năm 1999, ngày Phật Đản đã là một ngày nghỉ lễ quốc gia ở Đài Loan, được tổ chức hàng năm vào "ngày chủ nhật thứ hai của tháng 5" và trùng với Ngày của Mẹ. Nghi lễ thường bắt đầu với điệu nhảy truyền thống và hát ca khúc Phật giáo. Một bức tượng của Đức Phật - kèm theo âm nhạc - được rước vào địa điểm và buổi lễ bắt đầu với phần dâng cúng năm vật là hoa, trái cây, hương, thực phẩm và đèn cho Đức Phật. Tại Nhật Bản, Phật giáo truyền đến từ cuối thế kỷ thứ VI và là tôn giáo chính trong giai đoạn trung và đầu cận đại. Ngày nay, vai trò của tôn giáo ít ảnh hưởng mạnh đến đời sống thường ngày ở Nhật Bản. Lễ Phật đản thường gắn liền với Lễ hội Hoa Anh đào, cũng chỉ giới hạn trong phạm vi tự viện và trong quần chúng Phật tử. Như một kết quả của thời Minh Trị Duy Tân, Nhật Bản đã thông qua lịch Gregorian thay âm lịch của Trung Quốc từ năm 1873. Trong nhiều ngôi chùa Nhật Bản, ngày Đức Phật sinh được tổ chức vào ngày 8 tháng 4 dương lịch, và ít khi theo những ngày âm lịch của Trung Quốc. Tại Hàn Quốc, ngày Phật đản là ngày lễ quốc gia. Ngày này được gọi là 석가 탄신일 (Seokga tansinil), có nghĩa là "Phật đản" hoặc 부처님 오신 날 (Bucheonim osin nal) có nghĩa là "ngày Đức Phật đến", bây giờ đã phát triển thành một trong những lễ hội văn hóa lớn nhất của quốc gia. Lễ hội Phật đản diễn ra tại nhiều nơi công cộng, và trên những đường phố. Trưng bày và diễn hành lồng đèn là một trong những chương trình ấn tượng và gây nhiều xúc cảm nhất. Lễ hội đèn lồng (연등회, Yeon Deung Hoe) thường kéo dài 1 tuần cho đến ngày chính thức Phật đản. Riêng tại thủ đô Seoul, ước tính có khoảng trên 100.000 lồng đèn với nhiều hình dáng và màu sắc đã được trưng bày và biểu diễn trên những đường phố, và dự đoán sẽ có khoảng 300.000 lượt người trong và ngoài nước tham dự lễ hội này. Lễ hội đèn lồng này được ghi vào Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể của UNESCO từ năm 2020 và được công nhận là Tài sản Văn hóa Phi vật thể của Hàn Quốc từ năm 2012. Vào ngày Đức Phật ra đời, nhiều ngôi chùa cung cấp bữa ăn miễn phí và trà cho tất cả du khách. Lễ Phật đản được công nhận là một ngày nghỉ lễ chính thức tại miền Nam Việt Nam bắt đầu từ năm 1958 do chính phủ Đệ Nhất Cộng hòa của chính thể Việt Nam Cộng hòa thông qua, vào ngày này thường có diễu hành xe hoa trên đường phố. Khi Việt Nam thống nhất sau khi chấm dứt chiến tranh Việt Nam năm 1975, thì ngày này không còn là ngày lễ quốc gia. Ngày lễ này ngày càng được Phật giáo Việt Nam tổ chức long trọng trên cả nước với nhiều hoạt động phong phú như diễu hành, rước xe hoa, văn nghệ mừng sự ra đời của Đức Phật và các hoạt động từ thiện khác. Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc - Vesak đã được tổ chức tại Việt Nam vào các năm 2008, 2014, 2019. Trước đây, ở Việt Nam thường tổ chức lễ Phật đản vào ngày 8 tháng 4 âm lịch, nhưng những năm gần đây, theo văn bản của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam lễ được tổ chức từ 8 đến 15 tháng 4 (âm lịch), lễ chính vào ngày 15 tháng 4 âm lịch. Những năm gần đây, ngày Phật Đản được coi là một ngày lễ hội quan trọng, thu hút sự tham gia không chỉ của Phật tử mà còn là của người dân trên mọi miền của Việt Nam. Ngày này cũng nhận nhiều sự quan tâm của chính quyền, thực tế mọi buổi lễ Phật đản chung của các huyện đều có sự tham gia của chủ tịch huyện và các chuyến thăm của chủ tịch mặt trận Tổ quốc, sự hỗ trợ kinh phí trong công tác tổ chức Phật đản. Ngoài ra vào ngày này các tổ chức từ thiện của Phật giáo thường tổ chức các hoạt động thăm hỏi những người khó khăn, trẻ em cơ nhỡ tại các nhà tình thương, những người già neo đơn không nơi nương tựa. Đây chính là điều quan trọng nhất của Đạo Phật trong việc xây dựng Đạo của sự Từ Bi. Tại Indonesia, Thái Lan, ngày Vesak được tổ chức vào ngày 14 hoặc ngày 15 tháng 4 âm lịch; tại Sri Lanka, Nepal, Ấn Độ, ngày Phật Đản được tổ chức vào ngày trăng tròn trong tháng 5 dương lịch; tại Trung Hoa,Việt Nam, Hàn Quốc là ngày 8 tháng 4 âm lịch; tại Nhật Bản là ngày 8 tháng 4 dương lịch. Tương ứng với dương lịch: PL = Phật lịch, AL = Âm lịch, DL = Dương lịch.
Khải Định Đế (chữ Hán: 啓定帝; 8 tháng 10 năm 1885 – 6 tháng 11 năm 1925), tên khai sinh Nguyễn Phúc Bửu Đảo (阮福寶嶹), là vị hoàng đế thứ 12 của nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ 1916 đến 1925. Ông được truy tôn miếu hiệu là Hoằng Tông (弘宗). Khải Định là một vị vua bất tài, nhu nhược trước Pháp, không quan tâm chính sự mà chỉ ham chơi bời, cờ bạc, ăn tiêu xa xỉ. Ông tự sáng chế ra những bộ y phục mới cho mình và cho cả quan hộ vệ. Ông còn rất chuộng trang điểm, ăn mặc lòe loẹt, không tuân theo y phục hoàng tộc truyền thống. Do vậy, ông thường bị đả kích bởi báo chí và các phong trào yêu nước Việt Nam đương thời. Vua Khải Định có tên khai sinh là Nguyễn Phúc Bửu Đảo (阮福寶嶹), khi lên ngôi lấy ngự danh là Nguyễn Phúc Tuấn (阮福晙), là con trưởng của vua Đồng Khánh, mẹ là Dương Thị Thục. Ông sinh vào ngày 1 tháng 9 năm Ất Dậu, tức 8 tháng 10 năm 1885, tại kinh thành Huế. Năm 1889, vua Đồng Khánh mất, Bửu Đảo còn nhỏ tuổi nên không được kế vị (người kế vị là Bửu Lân niên hiệu Thành Thái). Nǎm 1906, Bửu Đảo được phong là Phụng Hóa công (奉化公). Ông là người mê cờ bạc, thường xuyên bị thua, có khi phải cầm bán cả những đồ dùng và những người hầu hạ. Bửu Đảo còn bắt vợ mình, là Trương Như Thị Tịnh con gái của quan đại thần Trương Như Cương, về xin tiền bố mẹ gán nợ để đánh bạc tiếp. Việc Bửu Đảo lên ngôi cũng không hoàn toàn suôn sẻ. Sau khi buộc tội hoàng đế Duy Tân, người Pháp đã có ý muốn xóa bỏ chế độ quân chủ ở Việt Nam nhưng các triều thần, đặc biệt là Thượng thư Nguyễn Hữu Bài không chịu nên Pháp phải chiều theo ý. Ngày 18 tháng 5 năm 1916, Bửu Đảo lên ngôi lấy niên hiệu là Khải Định (啓定). Thời gian trị vì. Dưới thời của vua Khải Định, triều đình Huế vẫn là chính quyền bù nhìn của Pháp. Mọi việc đều do Tòa Khâm sứ định đoạt. Vua Khải Định cũng kết thân với Khâm sứ Trung kỳ Jean François Eugène Charles và gửi gắm con mình là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy cho vợ chồng Khâm sứ. Ngày 20 tháng 5 năm 1922, vua Khải Định sang Pháp dự Hội chợ thuộc địa ở Marseille. Đây là lần đầu tiên một vị vua bù nhìn nhà Nguyễn ra nước ngoài. Chuyến công du của vua Khải Định đã làm dấy lên nhiều hoạt động của người Việt Nam yêu nước nhằm phản đối ông. Phan Châu Trinh đã gửi một bức thư dài trách vua Khải Định 7 tội, thường gọi là "Thư thất điều" hay "Thất điều trần". Trong bức thư đó, Phan Châu Trinh chỉ gọi tên húy là Bửu Đảo chứ không gọi vua Khải Định, và trách Khải Định tội "ăn mặc lố lăng". Trong thư chỉ ra 7 tội sau: Tại Pháp, trên tờ báo "Người cùng khổ", Nguyễn Ái Quốc có một loạt bài chế giễu Khải Định trong đó có truyện ngắn "Vi hành" và còn viết vở kịch "Con rồng tre", diễn ở ngoại ô Pa-ri Tháng 9 năm 1924, từ Pháp về, vua Khải Định còn lo tổ chức lễ tứ tuần đại khánh rất lớn và tốn kém, bắt nhân dân khắp nơi gửi quà mừng lễ. Sau lễ mừng thọ, ngân sách Nam triều kiệt quệ, vua Khải Định cho tăng thêm 30 phần trăm thuế điền. Ngô Đức Kế đã làm bài thơ liên châu (4 bài liên tiếp) để đả kích, trong đó có một bài như sau: "Ai về địa phủ hỏi Gia Long," "Khải Định thằng này phải cháu ông?" "Một lễ tứ tuần vui lũ trẻ," "Trǎm gia ba chục khổ nhà nông." "Mới rồi ngoài Bắc tai liền đến," "Nǎm ngoái sang Tây ỉa vãi cùng?" "Bảo hộ trau rồi nên tượng gỗ," "Vua thời còn đó, nước thời không!" Khải Định cũng không được lòng dân chúng. Ở Huế nhân dân đã truyền tụng câu ca dao phổ biến về Khải Định: "Tiếng đồn Khải Định nịnh Tây," "Nghề này thì lấy ông này tiên sư!" Khải Định có xây rất nhiều công trình, trong đó nổi tiếng nhất chính là lăng mộ của ông. Lăng vua Khải Định khác hẳn các lăng tẩm xưa nay và đã trở thành vấn đề thảo luận của nhiều người, cả dư luận chung và trong giới chuyên môn kiến trúc. Nhiều người chê lăng vua Khải Định có kiến trúc lai căng, nhưng lại có ý kiến cho là độc đáo và khác lạ. Vua Khải Định ở ngôi được 10 năm thì bị bệnh nặng và mất vào ngày 20 tháng 9 năm Ất Sửu tức 6 tháng 11 năm 1925, thọ 41 tuổi. Lăng của vua Khải Định tên chữ là Ứng Lăng 應陵, tại làng Châu Chữ, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Vua Khải Định có tất cả 12 bà vợ. Vua Khải Định đối xử tốt với các bà vợ của mình và dù bị nghi ngờ về giới tính thật ông vẫn có được con trai nối dõi. Hậu duệ: Tuy vua Khải Định có 12 bà vợ nhưng chỉ có duy nhất một người con là: Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (1913 -1997), tức hoàng đế Bảo Đại, mẹ là Nhất giai Hậu phi Hoàng Thị Cúc Thế phả vua nhà Nguyễn. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.
Bạch Liêu (chữ Hán: 白遼, một số tài liệu ghi là Bạch Liên) sinh năm 1236 quê ở làng Yên Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu (nay thuộc huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An) nay là xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, mất năm 1315. Ông là người thông minh nhớ lâu, đọc sách ngàn dòng một mạch. Ông đỗ trạng nguyên năm Thiệu Long thứ 9 (1266) đời vua Trần Thánh Tông, là vị tổ khai khoa của xứ Nghệ, nhưng không ra làm quan. Ông ở lại làm môn khách giúp Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải trấn Nghệ An. Với tư cách là một quân sư, ông đã giúp Trần Quang Khải thảo ra kế hoạch về tuyển quân và dự trữ lương thực, củng cố biên giới phía Nam (gọi là Biến pháp tam chương) góp phần quan trọng trong việc đánh thắng quân Nguyên Mông. Ông được cử theo đoàn sứ bộ sang nhà Nguyên, bằng trí tuệ uyên bác và tài ngoại giao, ông đã góp phần thiết lập quan hệ ngoại giao hoà hiếu giữa 2 nước. Khi tuổi đã cao, ông về quê mở trường dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho dân. Ông thọ 79 tuổi, được an táng tại quê nhà. Ông được vua phong cho làm Phúc thần, hiệu là Đương Cảnh thành hoàng Đại Vương. Sau đó, hậu duệ di cư vào trấn Nghệ An (núi Thành) xã Hưng Phú - huyện Hưng Nguyên, đã dời mộ ông vào đồng Phù Quang, xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc. Hậu duệ Bạch Liêu có Bạch Tiến An vào Quảng Ngãi, có cháu xa đời là Bạch Văn Vĩnh, thủ lĩnh phong trào Cần Vương ở Quảng Ngãi, bị Pháp chém tại bến Tam Thương ngày 15 tháng Giêng năm Bính Thân (27/2/1896). Cháu nội Bạch Văn Vĩnh là Bác sỹ Bạch Quang Minh (Bạch Ngẫu), làm việc tại Viện Nghiên cứu Đông y, một thời nổi tiếng ở Hà Nội cuối thế kỷ XX. Chắt Bạch Văn Vĩnh là cựu Đạo diễn VTV4 Bạch Tố Uyên. Nhờ có công với đất nước, ông đã được các triều Lê, Nguyễn sắc phong Thần mộ. Hiện Đền thờ Trạng nguyên Bạch Liêu tại xã Hưng Phú - huyện Hưng Nguyên - tỉnh Nghệ An, đã được Bộ Văn hóa-Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia, theo quyết định số 2015/VH-QĐ ngày 16 tháng 12 năm 1993.
Nguyễn Văn Tường (chữ Hán: 阮文祥; 1824–1886), là đại thần phụ chính của nhà Nguyễn. Tên họ và thi cử. Ông xuất thân từ một gia đình lao động nghèo thuộc làng An Cư, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Với các tài liệu "Đại Nam thực lục chính biên" và "Quốc triều hương khoa lục", người đời sau nhận thấy: Như vậy, có thể lần thứ hai này, Nguyễn Văn Tường chỉ bị "nhắc lại" án cũ, hồi ông mới 18 tuổi (1842). Hành trạng chính trị. Sau khi đậu cử nhân (1850), dự thi hội, đạt đủ phân số điểm để được bổ nhiệm, ông vào huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, nhận chức huấn đạo (phụ trách việc dạy và học). 1853, huyện Thành Hóa, thuộc tỉnh Quảng Trị được thành lập. Ông được bổ làm tri huyện ở đó cho đến 9 năm sau. Thành Hóa là một nơi xung yếu, "hậu lộ của kinh đô", chỉ những người được tin cậy mới được giao trọng trách, nhất là trong thời điểm Pháp đã tấn công Đà Nẵng, Gia Định, kích động nội phản ở Bắc Kỳ, sứ bộ Phan Thanh Giản ký kết Hòa ước Nhâm Tuất (1862). Tại đây, ông đã xây dựng được một căn cứ địa tốt cho Huế. Ông lại chứng tỏ là một người rất có tâm và tài trong việc đoàn kết người Thượng với người Kinh. Năm 1862, ông vào kinh đô Huế giữ chức biện lý Bộ Binh, rồi vào Quảng Nam làm án sát. Năm 1864, vì cần có vị quan giỏi để điều hành "điểm nóng" mâu thuẫn lương - giáo, ông được chuyển đổi làm phủ doãn kinh đô (tỉnh Thừa Thiên và đạo Quảng Trị). Năm 1866, vì cuộc khởi nghĩa Chày vôi nổ ra trong phạm vi quản lý, ông bị cách chức. Từ 1866 đến 1868, Nguyễn Văn Tường trở lại huyện Thành Hóa, với chức trách bang biện (tham mưu), tiếp tục xây dựng căn cứ địa Thành Hóa (Tân Sở về sau). Trong hai năm này, ông lại được cấp ấn quan phòng với quyền được trực tiếp tâu lên vua những việc thực thi cụ thể cùng những kiến nghị rộng lớn. Cũng trong năm Đinh Mão 1867, mặc dù đang ở huyện Thành Hóa, ông vẫn được triều đình và vua Tự Đức điều động vào sứ bộ để vô Gia Định đàm phán với Pháp. Đặc biệt, năm sau, khi sứ bộ dự định đi Paris, ông có viết một bản tấu nổi tiếng, thể hiện tư tưởng "phòng thủ chủ chiến" (thủ để chiến), đồng thời phê phán "ảo tưởng hòa nghị" (tháng 3 âm lịch, Mậu Thìn 1868). Thương thuyết với nhà Thanh (1868–1873). Từ tháng 7 âm lịch, cũng năm Mậu Thìn (1868) ấy, Nguyễn Văn Tường với chức tán tương quân thứ, đứng vào hàng ngũ các quan tướng chỉ huy 3 đạo quân hùng hậu nhất của triều Nguyễn, tiến ra Bắc tiễu phỉ (nội phản, nhất là tàn quân Thái bình thiên quốc toan xưng hùng xưng bá ở biên giới Đại Nam, mặc dù triều đình đã hết sức phủ dụ). Suốt 5 năm trời, ông là một quan văn cầm gươm từng trải trận mạc trên vùng núi phía Bắc, đồng thời là một nhà ngoại giao trong nhiệm vụ thương thuyết, phối hợp tiễu phỉ với quân binh nhà Thanh. Đây cũng là thời đoạn các quân thứ Đại Nam thu phục được Lưu Vĩnh Phúc (chủ tướng quân Cờ Đen) để tiêu diệt quân Cờ Vàng, Cờ Trắng và để chống Pháp. Hòa ước Giáp Tuất (1874). Việc tiễu phỉ ở phía Bắc không thể dứt điểm được, Pháp lại dùng thủ đoạn "buôn bán" vũ khí cho bọn phỉ để nuôi dưỡng chúng, nhằm làm tiêu hao sinh lực quân Đại Nam và ý chí của triều đình. Vì vậy, 1873, ông được điều động vào phái bộ, do Lê Tuấn làm chánh sứ, vô Gia Định thương lượng với thực dân Pháp. Cuộc đàm phán kéo dài, bởi triều đình và sứ bộ Đại Nam không chịu nhân nhượng Pháp, mặc dù tại Gia Định lúc ấy, không chỉ có Pháp mà còn có các đại diện của nhiều nước thực dân châu Âu và cố đạo Thiên Chúa giáo (Pháp và Tây Ban Nha). Tướng Pháp Dupré cử Francis Garnier ra quấy nhiễu Bắc Kỳ để làm sức ép. Thành Hà Nội cùng các thành tỉnh lân cận bị thất thủ. Nguyễn Tri Phương tử tiết. Tuy quân của Lưu Vĩnh Phúc chém được Francis Garnier, nhưng tình thế buộc triều đình phải nhân nhượng. Nguyễn Văn Tường ra Bắc Kỳ thu hồi xong bốn tỉnh, lại phải vào Gia Định để cùng Lê Tuấn, Nguyễn Tăng Doãn tiếp tục bàn định các điều khoản, cuối cùng phải đành chấp nhận Hòa ước Giáp Tuất (1874) và một thương ước khác. Trọng thần tại triều đình (1874–1883). Năm 1874, ông giữ chức Thượng thư Bộ Hình kiêm Thương bạc đại thần tại kinh đô Huế. Không lâu sau ông được bổ sung vào Viện cơ mật. Từ thời điểm này, Nguyễn Văn Tường là một trọng thần tại triều. Chức vụ ông giữ lâu nhất là Thượng thư Bộ Hộ, quản lý Thương bạc viện (cơ quan ngoại giao và ngoại thương). Ông còn là người có công cải cách thuế ruộng đất, để thống nhất Đàng Trong và Đàng Ngoài về chiều sâu, thiên về tầng lớp nông dân nghèo. Phụ chính đại thần (1883–1885). Năm 1883, vua Tự Đức băng hà, trong tình hình Bắc Kỳ đang bị thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai. Mặc dù Henri Rivière cũng bị giết chết trong một trận đánh do Hoàng Tá Viêm làm tổng chỉ huy, Lưu Vĩnh Phúc trực tiếp cầm quân, các tỉnh Bắc Kỳ vẫn chưa thu hồi được, kinh đô Huế lại đứng trước nguy cơ bị tấn công. Và thật sự Thuận An, cửa ngõ của kinh đô, đã bị thất thủ, không lâu sau ngày vua Tự Đức mất. Do đó, cùng với Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường lần lượt lập rồi phế bỏ 2 vua Dục Đức, Hiệp Hòa (với lý do: một thân Pháp, "tả đạo"; một cấu kết với Pháp qua De Champeaux), nhằm mục đích đưa lên ngai vàng một vị vua yêu nước, quyết chiến với thực dân Pháp. Bấy giờ, quân Thanh đã sang đất Bắc Kỳ để phối hợp đánh Pháp, theo những lần thương nghị giữa Nguyễn Văn Tường, đại diện triều đình Đại Nam, và Đường Đình Canh, đại diện triều đình Đại Thanh (Trung Hoa), từ năm 1881. Nhưng trong thực tế, quân binh nhà Thanh lại mưu mô quy phục Lưu Vĩnh Phúc nhằm mục đích cùng Pháp chia đôi Bắc Kỳ ("Bắc Kỳ mỏ" và "Bắc Kỳ gạo"), lấy sông Hồng làm ranh giới. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết thực hiện kế sách quân sự "tọa sơn quan song hổ đấu", thúc đẩy chiến tranh giữa Pháp và Hoa nổ ra, còn triều đình Huế đứng vào thế trung lập. Nhưng triều đình nhà Thanh lại ký Hòa ước Thiên Tân với Pháp, cô lập hoàn toàn triều đình Huế. Triều đình Huế bị bắt buộc phải ký Hòa ước Giáp Thân (còn gọi là Hòa ước Patenôtre, 1884). Trong tình thế ấy, hai vị phụ chính đại thần vẫn cố gắng tiếp tục thúc đẩy chiến tranh Pháp - Hoa tiếp diễn, nhằm làm suy yếu lực lượng cả Pháp lẫn Hoa và tranh thủ thời gian để xây dựng cơ sở cho phong trào Cần Vương. Một loạt sơn phòng được củng cố, xây dựng, gồm cả "hậu lộ kinh đô", Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị). Đích thân Nguyễn Văn Tường chỉ đạo xây dựng "kinh đô kháng chiến" hoặc "kinh đô tị địa" này. Vua Kiến Phúc lại không may mắc bệnh, băng hà. Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép khá kĩ lưỡng như sau: Ngày 12 tháng 6 âm lịch, năm Quý Mùi (1884), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cùng Tôn nhân phủ, đình thần lập vua Hàm Nghi lên ngôi. Hai vị phụ chính cùng các thành viên nhóm chủ chiến (Trần Xuân Soạn, Trương Văn Để...) đã có một vị minh quân để tiếp tục đương đầu với Pháp cũng như với bộ phận khá lớn giáo dân Thiên Chúa giáo được cho là bị các cố đạo phỉnh gạt, cầm súng, đào hào, tiếp tế lương thực cho Pháp. Chính phủ Pháp quyết thực hiện xâm lược toàn bộ Đại Nam. De Courcy được cử sang với mục đích hoàn tất việc chiếm trọn Bắc Kỳ và bắt đầu tấn công chiếm cứ kinh đô Huế. Câu nói của De Courcy, hầu như ai cũng biết, "cần phải giải quyết việc này ở Huế"; và ông ta đã vạch kế hoạch bắt sống hoặc tiêu diệt nhóm chủ chiến triều đình Huế, đứng đầu là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Cuộc kinh đô quật khởi và bị thất thủ (ngày 5 tháng 7 năm 1885). Ngày 23 tháng 5 âm lịch, Ất Dậu (khuya ngày 4 tháng 7, bước sang ngày 5 tháng 7 năm 1885), tuy thi hành kế sách "không biết gì", nhưng thực sự ông cùng Tôn Thất Thuyết chỉ huy cuộc tấn công một cách bất ngờ vào Sứ quán Pháp bên kia sông Hương và doanh trại Pháp tại Mang Cá (Huế), nhưng thất bại. Thực chất đó chỉ là đòn đánh trước để giành thế thượng phong, mặc dù biết rằng De Courcy cố dùng kế khích tướng, ép buộc quân Đại Nam phải tấn công trước (Đại Nam tấn công trước thì không nước nào trách được việc Pháp vi phạm các hòa ước). Nguyễn Văn Tường cho người rước vua Hàm Nghi và Tam cung (thái hoàng thái hậu Từ Dũ, Trung phi Vũ thị, Học phi Nguyễn thị) ra khỏi kinh thành; trong khi đó, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn vẫn cố kìm giữ sự tấn công của Pháp. Trần Xuân Soạn là vị tướng can trường, ông có nhiệm vụ rút quân cuối cùng. Theo dự kiến mà nhóm chủ chiến đã vạch ra trong trường hợp kinh đô thất thủ (phương án 2), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lúc ấy liền quyết định đưa vua ra thành Quảng Trị, rồi sẽ đưa lên Tân Sở (tại huyện Thành Hóa, tức là Cam Lộ) để tránh đạn quân xâm lược Pháp, đồng thời phát Dụ Cần vương. Trong lúc đó, một mặt được lệnh của bà Từ Dũ và vua Hàm Nghi, mặt khác là thực hiện phương án 2, ngăn cản Pháp truy kích xa giá, thực thi kế sách "kẻ ở người đi" (đàm và đánh), nên ông đã quay lại điều đình với Pháp. Nguyễn Văn Tường đã nhờ giám mục Caspar (có tên tiếng Việt là Lộc) của giáo đường Kim Long đưa sang Sứ quán để gặp tướng De Courcy (qua môi giới Caspar cũng là cách mà vào năm 1883, khi Thuận An thất thủ, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Trọng Hợp đã thực hiện trong việc "cầu hòa"). Sau khi De Courcy buộc Nguyễn Văn Tường ban bố một vài lệnh lạc "hòa hảo giữa hai nước Việt - Pháp", ông ta lại ra thời hạn cho Nguyễn Văn Tường: trong vòng hai tháng phải tìm cách để đưa vua Hàm Nghi và Tam cung về. Nguyễn Văn Tường phái Phạm Hữu Dụng cầm sớ ra Quảng Trị, tâu xin rước vua về, nhưng Tôn Thất Thuyết cản sớ không cho vua biết. Tôn Thất Thuyết dặn Phạm Hữu Dụng: Nguyễn Văn Tường cố gắng thương thuyết với Pháp 2 điều là Pháp không được tiếp tục bức hiếp và phía ta cũng nên "đoàn kết" với Pháp. Nếu được như thế, mới có thể rước vua Hàm Nghi về lại kinh đô. Nguyễn Văn Tường lại viết sớ vấn an Tam cung, và đệ trình về việc Tam cung tạm về Khiêm lăng (lăng Tự Đức) trong khi chờ vụ việc được giải quyết. Về việc Tôn Thất Thuyết cản Phạm Hữu Dụng trực tiếp dâng sớ lên vua Hàm Nghi và cũng không cho vua biết: Đây có thể là một khía cạnh mâu thuẫn trong sách lược mà hai vị phụ chính đã bàn với nhau, và chắc hẳn đúng hơn là do tình huống mới nảy sinh, nên đó chỉ là một "động tác giả", để thực hiện thủ thuật "hai mặt", nhằm đối phó với Pháp. Nhưng ngay sau đó, bằng sự liên lạc mật, họ lại nhất trí vẫn duy trì kế sách "kẻ ở người đi". Từ Tân Sở, Dụ Cần vương chính thức và duy nhất được ban bố, cùng thời điểm vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết gửi về Huế một bản sắc dụ cho Nguyễn Văn Tường. Mật dụ của vua Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) từ Tân Sở gửi về Nguyễn Văn Tường, cùng một ngày phát Dụ Cần vương, 2 tháng 6 năm Ất Dậu (13 tháng 6 năm 1885): Sau đó ít hôm, vào ngày 7 tháng 5 năm Ất Dậu (18 tháng 7 năm 1885), vua Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) lại từ Tân Sở gửi một mật dụ về Huế cho hoàng tộc: Trong hai tháng đó, Nguyễn Văn Tường hoàn toàn bị Pháp quản thúc ngay tại Sở Thương bạc, do một trung đội lính viễn chinh thuộc Pháp canh giữ, sĩ quan Schmitz chỉ huy. Tất cả mọi sắc dụ ký tên thái hoàng thái hậu Từ Dũ đều do Miên Định (chú ruột vua Tự Đức, hiện giữ chức nhiếp chính giám quốc) bàn bạc, thông qua và Nguyễn Nhược Thị Bích (tác giả "Hạnh Thục ca") chấp bút. Tuy ở trong thế bị quản thúc nghiêm ngặt, Nguyễn Văn Tường vẫn đấu tranh hết sức gay gắt với nhóm người "đón gió xoay buồm", trực diện là với Nguyễn Hữu Độ (người đã có ý theo Pháp từ 1873—theo ghi chép đã xuất bản của Jean Dupuis và theo "Đại Nam thực lục chính biên"), trong việc phong chức hàm cho ông ta với quyền hạn "phó vương" tại Bắc Kỳ, thành lập Nha Kinh lược tại đấy, mà thực chất là mất hẳn Bắc Kỳ vào tay Pháp và các cố đạo như Puginier. Trong khi đó, phong trào "Cần vương, bình Tây, sát tả đạo" đã bùng nổ ra khắp cả nước, đặc biệt là ở các tỉnh tả kì (phía trái cửa ngõ vào kinh đô, tức là phía Nam). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, chính Nguyễn Văn Tường đã lãnh nhiệm vụ chỉ đạo tổng quát ở miền đất ấy, trong khi Tôn Thất Thuyết phụ trách các tỉnh hữu kì (phía Bắc) (xem cáo thị khi giặc Pháp bắt Nguyễn Văn Tường bên dưới). Lưu đày và cái chết nơi biệt xứ (1885–1886). Hết hạn hai tháng, đúng vào ngày 27 tháng 7 Ất Dậu (5 tháng 9 năm 1885), Pháp ra lệnh bắt Nguyễn Văn Tường. De Courcy chỉ thị De Champeaux công khai cáo thị khắp nước. Quốc sử quán ghi nhận như sau: Không những người Pháp ở Gia Định đổ một loại hóa chất gây cháy bỏng vào miệng Nguyễn Văn Tường, khi tra tấn (để khỏi la hét, gào rú), De Courcy còn đánh điện tín cho Caffort, chúa đảo Côn Đảo: "Tầm quan trọng của những tù nhân chính trị này đòi hỏi họ phải được giám sát nghiêm ngặt với bất cứ giá nào"; trong đó, Nguyễn Văn Tường là "kẻ thù nguy hiểm nhất" đối với Pháp. Khi ông và hai người bạn tù của ông đã bị giam giữ tại Côn Đảo, chính phủ Pháp lại chuẩn bị lưu đày họ tận Tahiti; bấy giờ, triều Đồng Khánh, dưới sự chỉ đạo của De Courcy, đã "xử án vắng mặt" nhóm chủ chiến triều đình Huế, với nội dung chính là hành trạng của họ từ ngày 5 tháng 7 đến 5 tháng 9 năm 1885. Bản án chung thẩm ấy được xét xử, công bố vào tháng 8 âm lịch Ất Dậu (tháng 9 năm 1885): Lúc khoảng 4 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 7 năm 1886, tại Papeete, một làng trên quần đảo thuộc địa Tahiti của Pháp, Nguyễn Văn Tường mất vì bệnh ung thư cổ họng. Sau một vài tháng quàn giữ, di thể ông được Tôn Thất Đính đưa về Đại Nam. Một số văn bản tài liệu. Lúc sinh thời, ông nổi tiếng là người sắc sảo, cả quyết và mưu trí. Trong khi làm quan, ông đã dâng lên vua nhiều tấu sớ. Hầu hết các tài liệu này đã được vua Tự Đức đích thân phê duyệt, và được các quan lưu giữ tại các nha môn, bộ, viện và tại Quốc sử quán. Số di cảo này đã được Nhóm Tư liệu Hán - Nôm lịch sử cận đại Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và nhóm giảng viên Đại học Sư phạm Huế sưu tầm, dịch thuật. Sáng tác thơ ca. Nguyễn Văn Tường còn có một tâm hồn thơ ca và những bài thơ giàu cảm xúc, đầy trách nhiệm trước vận nước. Nhưng đa số thơ được Nguyễn Văn Tường sáng tác, hiện còn lại, chủ yếu là trong 5 năm tiễu phỉ ở núi rừng phía Bắc và một vài tỉnh gần kề với Lạng Sơn: Chỉ trích của Phan Bội Châu. Phan Bội Châu, nhà đề xướng phong trào Đông du, đã ghi nhận được nguồn dư luận đương thời đối với việc làm mà ông cho là bán nước của ông Tường và bà Thái hậu Từ Dụ và ông đã công phẫn trình bày trong cuốn "Việt Nam vong quốc sử", công khai gọi ông Tường là gian tặc : Vào ngày 3 tháng 6 năm 2007, Hội Khoa học Lịch sử của tỉnh Thừa Thiên-Huế đã đưa ra đề nghị "Tặng bia cho các nhân vật lịch sử" để ghi nhận công lao của các nhân vật lịch sử tại Việt Nam, trong số đó có Nguyễn Văn Tường. Theo thông tin từ trang web của tỉnh Quảng Trị:
Mạc Thái Tổ (chữ Hán: 莫太祖 22 tháng 12, 1483 – 11 tháng 9, 1541) tên húy là Mạc Đăng Dung (莫登庸), là nhà chính trị, hoàng đế sáng lập ra triều Mạc trong lịch sử Việt Nam. Ông đóng vai trò quan trọng trong các sự kiện đánh dẹp các thế lực cát cứ, chống đối triều đình, loại bỏ ảnh hưởng của những người ủng hộ nhà Lê, thành lập nhà Mạc và chống lại những lực lượng trung thành với nhà Lê ở Thanh Hóa. Mạc Đăng Dung bước vào đường quan lộ sau khi thi đậu "Võ trạng nguyên" trong cuộc thi tuyển võ sĩ tại Giảng Võ đường ở Thăng Long dưới triều Lê Uy Mục, rồi được sung quân Túc vệ vác lọng theo hầu vua. Trong khoảng 20 năm, từ một võ quan cấp thấp dưới thời Lê Uy Mục, nhờ tài thao lược và mưu trí, Đăng Dung đã lần lượt được phong chức Đô Chỉ huy sứ vệ Thiên Vũ (hàm chính tam phẩm) ở tuổi 25, rồi tước bá (Vũ Xuyên bá), hầu (Vũ Xuyên hầu), công (Minh quận công rồi Nhân quốc công), vương (An Hưng vương) thời Lê Cung Hoàng. Và trong khoảng thời gian chưa đầy 30 năm, Đăng Dung đã trở thành vua. Với vai trò là người lập ra triều Mạc, ông lần lượt làm vua, thái thượng hoàng, cũng như quyền nhiếp chính khi con trai cả kế ngôi của ông là Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh) đột ngột qua đời. Xuất thân hàn vi, lập thân bằng đường binh nghiệp, Đăng Dung là người có công đầu trong việc tạo lập lại thế ổn định của xã hội cũng như chính trường Đại Việt sau hơn 20 năm hỗn loạn đầu thế kỷ XVI. Những sử thần của nhà Lê trung hưng hay nhà Lê–Trịnh (cũng là những người đã biên soạn bộ "Đại Việt sử ký toàn thư" bản bổ sung ở thế kỷ 17) luôn đánh giá tiêu cực triều Mạc (đặc biệt là với người sáng lập ra triều đại này), bao gồm cả học giả danh tiếng Lê Quý Đôn. Tuy nhiên do ít nhiều vẫn phải tôn trọng tính khách quan trong việc chép sử chuyên nghiệp nên những sử thần của nhà Lê–Trịnh đã không dám loại bỏ những tường thuật khi Đăng Dung phế ngôi nhà Lê rằng "bấy giờ thần dân trong nước đều theo Mạc Đăng Dung, đến đón vào kinh sư", hay "lúc này thần dân phần nhiều xu hướng về Đăng Dung, đều ra đón về kinh đô" ("Đại Việt thông sử" của Lê Quý Đôn). Điều này cho thấy Đăng Dung có sức thu phục nhân tâm cao hơn nhiều so với phản ứng của dân chúng Thăng Long khi Hồ Quý Ly phế ngôi nhà Trần. Đại bộ phận dân chúng Bắc Hà, trong đó đặc biệt là thành Thăng Long có phản ứng tích cực với cuộc đổi ngôi do ông thực hiện. Những người ở vùng khác (đặc biệt ở vùng Thanh–Nghệ, nơi phát tích nhà Lê) có thể phản đối cuộc đổi ngôi này, nhưng đại bộ phận dân chúng vùng Bắc Hà (dân kinh lộ hay dân trung châu theo cách gọi của người vùng Thanh–Nghệ) có thể đã quá chán nản với sự rối ren trong gần 20 năm cuối thời Lê sơ nên không có sự chống đối đáng kể nào với cuộc giành ngôi của Đăng Dung dù trong lòng có thể vẫn tiếc nuối một triều đại nhiều công tích do Lê Thái Tổ và Lê Thánh Tông góp công dựng nên. Tuy nhiên việc đối xử tàn nhẫn với nhà Hậu Lê, việc xin cắt đất cầu hòa, và việc nhận chức An Nam đô thống ti sứ do nhà Minh ban cho (tức là tự hạ thấp chủ quyền dân tộc, coi Đại Việt như một tỉnh của Trung Quốc), đã khiến Mạc Đăng Dung trở thành tâm điểm chỉ trích của các sử gia, tri thức Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Việc Mạc Đăng Dung đối xử tàn nhẫn với nhà Hậu Lê (giết cả 3 mẹ con vua Lê Chiêu Tông, Lê Cung Hoàng và Trịnh thái hậu, sát hại nhiều vị quan trung thành với nhà Hậu Lê) cũng làm tăng thêm sự oán hận của những người vẫn nhớ về nhà Hậu Lê, gián tiếp giúp cho Nguyễn Kim tập hợp lực lượng, xây dựng nhà Lê trung hưng với khẩu hiệu "phù Lê diệt Mạc". Khi bị sát hại, Trịnh Thái hậu đã khấn xin Trời cao trừng phạt kẻ nghịch tặc: "Đăng Dung là kẻ bề tôi, manh tâm cướp ngôi, lại giết mẹ con ta, ngày sau con cháu nó cũng lại bị như thế". Chỉ 65 năm sau thì lời khấn ứng nghiệm: nhà Mạc bị nhà Lê trung hưng tiêu diệt, con cháu họ Mạc bị quân nhà Lê truy sát để báo mối thù giết vua cướp ngôi, trở thành một vương triều yểu mệnh. Quan điểm phê phán Mạc Đăng Dung ở Việt Nam đã có sự thay đổi qua những giai đoạn lịch sử khác nhau. Kể từ đầu thời Nhà Nguyễn cho đến thập kỷ đầu thế kỷ XXI, những nhà nghiên cứu lịch sử và văn hóa như Nguyễn Văn Siêu, Lê Văn Hòe, Phạm Văn Sơn, Trần Quốc Vượng, Trần Khuê, Trần Lâm Biền, Vũ Khiêu, Văn Tạo, Đinh Khắc Thuân, Phan Đăng Nhật, Trần Thị Vinh là những người đi đầu trong việc đánh giá lại vai trò lịch sử của Mạc Đăng Dung theo hướng cởi mở khách quan hơn thời Lê-Trị, kinh tế (như các hoạt động sản xuất, thương mại), văn hóa - tư tưởng, văn học - nghệ thuật, giáo dục, tôn giáo - tín ngưỡ(Mạc Đăng Dung) là phù hợp với bối cảnh khách quan lúc bấy giờ, khi nhà Hậu Lê đã suy sụp không còn trị nước được nữa. Thân thế và giáo dục. Mạc Đăng Dung sinh giờ Ngọ, ngày 23 tháng 11 năm Quý Mão (tức ngày 22 tháng 12 năm 1483) thời vua Lê Thánh Tông, người làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (nay là huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng). Theo Đại Việt sử ký toàn thư, "Đại Việt thông sử": Cụ tổ 7 đời của Mạc Đăng Dung là Mạc Đĩnh Chi, Lưỡng quốc Trạng nguyên thời Trần, quê ở Chí Linh, Hải Dương, làm quan đến chức Nhập nội Hành khiển Thượng thư môn hạ tả Bộc xạ kiêm Trung thư lệnh, Tri quân dân trọng sự, làm quan thanh liêm, tiếng tăm lừng lẫy cả nước. Mạc Đĩnh Chi sinh ra Mạc Dao làm quan Tư hình đại phu, Mạc Dao sinh bốn con là Mạc Địch, Mạc Thoan, Mạc Thúy, Mạc Viễn, người nào cũng có tài năng, sức lực. Nhà Minh xâm lược Đại Ngu, họ Mạc tất cả đều theo nhà Minh, đem quân hàng giặc, dâng địa đồ cho giặc, lại dẫn đường cho giặc, bắt được Hồ Hán Thương ở núi Cao Vọng. Nhà Minh đều cho làm quan, phong tước. Sau đó Mạc Thúy gặp quân Minh dâng sớ xin nhập Đại Ngu thành quận huyện của Trung Quốc. Mạc Thúy sinh ra Mạc Tung, dời đến huyện Thanh Hà. Lúc ấy Lê Lợi đã đánh thắng quân Minh, nghiêm trị ngụy quan (những quan lại người Việt cộng tác với quân Minh). Mạc Tung không dám ra làm quan, ẩn náu nơi thôn xóm. Mạc Tung sinh ra Mạc Bình, dời đến Nghi Dương, Mạc Bình sinh ra Mạc Hịch, ba đời này đều không hiển đạt. Mạc Hịch lấy người con gái họ Đặng trong làng, sinh ra con trưởng là Mạc Đăng Dung, hai con thứ tên Đốc và Quyết. Mạc Đăng Dung thời trẻ nhà nghèo, làm nghề đánh cá, lớn lên dưới thời vua Lê Uy Mục có tuyển võ sĩ, Đăng Dung dự thi môn đánh vật, trúng Đô lực sĩ xuất thân, được sung vào đội túc vệ, giữ việc cầm dù theo xe vua. Theo sách của Viện Sử học Việt Nam, họ đã dùng sách "Công Dư tiệp ký", cuốn sách mang tính truyền kỳ không phải chính sử, để kết luận rằng Mạc Đăng Dung là cháu 7 đời của Mạc Đĩnh Chi mà Mạc Đĩnh Chi lại là cháu 5 đời của Trạng nguyên Mạc Hiển Tích thời Lý Nhân Tông (1086), tức là Mạc Đăng Dung là cháu 11 đời của Mạc Hiển Tích. Gốc gác họ Mạc từ Cơ Chất Khiết - hậu huệ nhà Chu bên Trung Quốc. Sau khi nhà Chu mất, Cơ Chất Khiết làm quan cho nhà Hán, được ban họ Mạc và phong ở Trịnh ấp. Sau này con cháu di cư xuống phía nam rồi tới Đại Việt. Một tích khác, theo sử gia Việt Nam Trần Quốc Vượng, người làm trong Viện Sử học Việt Nam, theo sách đã dẫn, Mạc Đăng Dung là dòng dõi người tộc Đãn ở ven biển từ Phúc Kiến (Trung Quốc) trở xuống, đã Việt hóa ở phương Nam, phỏng đoán rằng gia phả thực của họ Mạc còn chôn trong mộ và họ Mạc là người Đãn man. Mạc Đăng Dung nhận mình là con cháu Mạc Đĩnh Chi chỉ là "thấy người sang bắt quàng làm họ", những nghiên cứu của giáo sư Vượng còn nhiều ý kiến tranh cãi. Triều vua Lê Uy Mục. Năm 1504 vua triều Lê sơ Lê Hiến Tông chết, nhà vua được sử gia Vũ Quỳnh cho là bậc vua hiền, giữ vững cơ đồ, chẳng may chết sớm. Người con thứ lên thay, tức vua Lê Túc Tông cũng mất một năm sau đó, thọ 17 tuổi. Túc Tông mất, người anh lên thay, tức vua Lê Uy Mục. Vua Uy Mục nghiện rượu, hoang dâm, thích ra oai, để cho họ ngoại hoành hành, người bấy giờ gọi là "Quỷ vương", cơ đồ Nhà Lê đi xuống từ đây. Mạc Đăng Dung là người có sức khỏe. Thời trẻ, ông nhà nghèo làm nghề đánh cá. Thời Lê Uy Mục tổ chức thi tuyển dũng sĩ, Mạc Đăng Dung đã trúng Đô lực sĩ xuất thân (còn được gọi là "Võ trạng nguyên"), được sung vào đội quân Túc vệ cầm dù theo vua. Trong hàng ngũ võ quan Nhà Lê, theo sử gia Lê Quý Đôn, Mạc Đăng Dung tỏ ra là người thật thà ngay thẳng. Năm 1508 ở tuổi 25, Mạc Đăng Dung được giao chức Đô Chỉ huy sứ vệ Thiên Vũ (trật chánh tam phẩm). Thời bấy giờ, vua Uy Mục để cho họ ngoại lộng hành, lòng dân căm phẫn; lại nghi kị các quan, các tôn thất, nhiều người tự lo cho thân mình, muốn nổi loạn. Năm 1509, vua xua đuổi người tôn thất và công thần về xứ Thanh Hóa, viên tướng Nguyễn Văn Lang đem quân ba phủ khởi binh ở Tây Đô, giữ cửa biển Thần Phù. Người cháu của Lê Thánh Tông, Giản Tu công Lê Oanh bị bắt, trốn ra, chạy đến Thanh Hóa được Nguyễn Văn Lang phò lập làm minh chủ. Quân của Lê Oanh từ Thanh Hóa tiến ra Thăng Long, vua Uy Mục bị thua, uống thuốc độc tự tử, Lê Oanh lên ngôi tức vua Lê Tương Dực. Sử sách không chép gì về Mạc Đăng Dung trong thời gian này. Triều vua Lê Tương Dực. Vua Tương Dực lên ngôi, ban hành giáo hóa, thận trọng hình phạt, song chơi bời vô độ, xây dựng liên miên, dân nghèo thất nghiệp, trộm cướp nổi lên, nhiều nơi dấy binh làm loạn, dẫn tới sự suy vong của Nhà Lê sơ. Năm 1511 Đăng Dung được thăng làm Vũ Xuyên bá, bây giờ các thuật sĩ, hào kiệt nói với vua rằng phương đông có sắc khí thiên tử. Vua Lê Tương Dực sai đại thần Nguyễn Văn Lang đem thuật sĩ ra Đồ Sơn, Hải Phòng, tức quê của Mạc Đăng Dung trấn yểm. Đăng Dung đi trong chuyến đó mà không ai biết. Thời gian này có năm gặp hạn hán, đói to, các cuộc nổi dậy chống lại triều đình như của Trần Tuân, Nguyễn Nghiễ, triều đình phải vất vả đánh dẹp. Năm 1516, Trần Cảo khởi nghĩa ở Quỳnh Lâm, đem quân chiếm kinh thành. Đích thân vua Tương Dực cầm quân, đánh bại Trần Cảo, Cảo phải chạy về Ngọc Sơn. Viên tướng Trịnh Duy Sản trước kia có mâu thuẫn với nhà vua, nay dùng mưu giết vua Lê Tương Dực ở cửa nhà Thái Học. Cùng năm đó, Trịnh Duy Sản cùng các huân cựu đại thần lập người con mới 14 tuổi của Cẩm Giang vương Lê Sùng tên Lê Y lên ngôi tức vua Lê Chiêu Tông. Triều vua Lê Chiêu Tông. Theo lời bàn của sử thần, thời vua Lê Chiêu Tông, bên ngoài giặc giã nổi lên, bên trong quyền thần chém giết lẫn nhau, kinh sư đẫm máu. Năm 1517 người hai thế lực đương thời họ Thủy Chú (Trịnh) và họ Tống Sơn (Nguyễn) là Nguyễn Hoằng Dụ và Trịnh Tuy đánh lẫn nhau, Trịnh Tuy phải chạy về Lôi Dương, Thanh Hóa. Một thế lực khác là Trần Chân lại tìm cách đánh Nguyễn Hoằng Dụ, khiến Dụ phải tìm cách về Thanh Hóa, từ nay chỉ có Trần Chân làm phụ chính trong triều. Mạc Đăng Dung lúc ấy trấn thủ Sơn Nam, Trần Chân viết thư khuyên Đăng Dung chặn lại, Đăng Dung không nỡ. Nguyễn Hoằng Dụ viết tờ thư và bài thơ gửi cho Đăng Dung, Đăng Dung án binh bất động, Hoằng Dụ chạy thoát về Tống Sơn, Thanh Hóa. Thời ấy có Cù Khắc Xương, Trần Khắc Xương mượn đạo Thiên vũ, Thiên bồng mê hoặc dân, Mạc Đăng Dung dâng sớ xin trị tội, lại hạch một số viên quan mê tín tà thuyết. Nhà vua nghe theo, giết những người ấy. Thiệu quốc công Lê Quảng Độ hàng phe nổi dậy Trần Cảo, Mạc Đăng Dung cũng dâng sớ khuyên nhà vua đem chém vì tội bất trung, vua cũng nghe theo. Từ đấy, nhà vua tin Mạc Đăng Dung là người trung trực, càng thêm ân sủng. Năm 1518, Mạc Đăng Dung được thăng làm Vũ Xuyên hầu, ra trấn thủ Hải Dương. Tại đây Đăng Dung thu thập hương binh, chỉnh đốn quân ngũ, quân số ngày càng đông. Sau khi đánh đuổi được hai thế lực Nguyễn Hoằng Dụ và Trịnh Tuy, quyền thế của Trần Chân ngày càng lớn. Mạc Đăng Dung cũng phải sợ, liền dạm hỏi con gái Trần Chân cho con trai mình là Mạc Đăng Doanh. Bấy giờ, các đại thần bàn mưu với nhà vua, dụ Trần Chân vào cung, sai lực sĩ bắt, Trần Chân chạy đến cổng thành bị người giữ cửa bắt chém đi. Các thủ hạ của Trần Chân là Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Hoàng Duy Nhạc mang quân đánh kinh đô báo thù. Vua Chiêu Tông không chống nổi, đang đêm phải bỏ chạy sang dinh Bồ Đề ở Gia Lâm để tránh. Giúp vua Chiêu Tông đánh dẹp các thế lực chống triều đình. Trịnh Tuy lúc này cầm 1 vạn binh, đóng ở xứ Sơn Nam, nghe tin vua chạy ra ngoài, quân lính tan vỡ cả. Quân của Nguyễn Kính, Nguyễn Áng tha hồ cướp bóc, kinh sư thành chỗ săn bắn, đánh cá. Chiêu Tông gọi Nguyễn Hoằng Dụ lúc này đang ở Thanh Hóa ra đánh Nguyễn Kính, nhưng Hoằng Dụ lưỡng lự không đi. Lê Chiêu Tông bèn triệu Mạc Đăng Dung đang trấn thủ Hải Dương về cứu, rồi sai người đi dụ Nguyễn Kính, nhưng Nguyễn Kính lại càng hoành hành, đóng quân không rút. Mạc Đăng Dung từ Hải Dương về yết kiến vua, đóng thủy quân ở sông Nhị Hà, cho rằng chỗ nhà vua ở là Súc Ý đường hơi, xin vua chuyển về dinh Bồ Đề để tiện theo hầu. Lại sai đi dụ hàng thủ hạ của Trần Chân, những người này nói phải giết những kẻ gièm pha trước kia, rồi sẽ hàng. Vua Chiêu Tông làm theo, nhưng họ đều không hàng, mà càng rông rỡ hoàng hoành, đóng quân không rút. Đăng Dung lại xin nhà vua chuyển nơi ở, hai viên quan can ngăn, Đăng Dung đều cho người giết chết. Theo sách "Đại Việt thông sử", lúc này Đăng Dung thấy triều đình rối loạn, nên nảy ý đồ khác. Ông mượn thế của quân địch để giết hết đại thần, chặt vây cánh của vua Lê Chiêu Tông. Bèn lập ra kế đi dụ quân địch, rồi mạo lời họ, ép triều đình giết chết Đoan quận công Ngô Bính, Thọ quận công Trịnh Hựu và Chử Khải. Lúc này, Trịnh Tuy và các tướng ở Sơn Tây mưu lập người con của Tĩnh Tu công Lộc lên làm vua, sau nửa năm phế, lại lập Lê Do lên. Vua Chiêu Tông lại mời Nguyễn Hoằng Dụ ra đánh Trịnh Tuy, Nguyễn Áng, Nguyễn Kính ở Sơn Tây, Hoằng Dụ đem quân ra cùng với Đăng Dung đi đánh, quân Hoằng Dụ thua to, chết rất nhiều, Hoằng Dụ lại lui quân về Thanh Hóa. Từ đây Mạc Đăng Dung thống lĩnh quân thủy bộ. Tháng 7 năm 1519, Mạc Đăng Dung thống lĩnh các quân thủy bộ vây Lê Do ở Từ Liêm, rồi phá đê cho nước vỡ vào quân Lê Do. Do và Nguyễn Sư chạy đến Ninh Sơn, bị Đăng Dung bắt được, giải về giết chết. Trịnh Tuy bỏ chạy về Thanh Hóa. Các tướng Sơn Tây là Nguyễn Kính, Nguyễn Áng, Hoàng Duy Nhạc đều xin hàng Mạc Đăng Dung. Chiêu Tông phong Mạc Đăng Dung làm "Minh quận công". Ông một mình nhân cầm quân dẹp loạn mà từ đó nắm hết quyền bính, vua hồi Kinh sư, việc thiên hạ tạm yên. Năm 1520, Đăng Dung được vua sai làm Tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh, lấy Phạm Gia Mô làm Tán lý quân vụ. Năm sau, lại được phong làm Nhân quốc công, tiết chế các doanh quân thủy bộ 13 đạo, tháng 7 lại gia phong Đăng Dung làm Thái phó. Năm 1521, sau khi đánh lui được Trịnh Tuy vào Thanh Hóa, Mạc Đăng Dung nắm quyền điều hành triều chính Nhà Lê. Đăng Dung mang quân đánh lực lượng của Trần Cung ở Lạng Nguyên. Trần Cung bại trận, bỏ chạy vào châu Thất Nguyên. Mạc Đăng Dung điều quân tuần tiễu truy nã và bắt được Trần Cung, bị giải về kinh thành giết chết. Lúc này quyền thế của Mạc Đăng Dung rất lớn, kiểm soát toàn bộ triều đình. Ông gây dựng phe cánh gồm thông gia Phạm Gia Mô làm Thượng thư Bộ Lễ, em rể là Quỳnh khê hầu Vũ Hộ làm Hữu đô đốc trấn thủ Sơn Tây; ngoài ra còn có các Thượng thư Trình Chí Sâm và Nguyễn Thì Ung ngả theo ông. Mạc Đăng Dung lại tiến vua một mỹ nhân, giả danh là con gái, vào làm cung tần để dò la tin tức, lại sai em là Mạc Quyết giữ đạo binh Túc vệ, con trai Đăng Doanh giữ điện Kim Quang. Năm 1522, Lê Bá Hiếu nổi dậy chống triều đình ở vùng Đông Ngàn, Gia Lâm. Mạc Đăng Dung lại mang quân đi đánh dẹp được. Mạc Đăng Dung lập nhiều công lớn, dẹp được nhiều lực lượng chống đối triều đình nên quyền lực của ông càng lớn. Sử gia Lê Quý Đôn viết rằng: "công danh ngày càng thịnh, triều đình ai cũng phục". Khi đó Mạc Đăng Dung đi bộ thì lọng phượng giát vàng, đi thủy thì thuyền rồng dây kéo, ra vào cung cấm không kiêng sợ gì. Ông giết thị vệ Nguyễn Cấu, Đô lực sĩ Minh Sơn bá Nguyễn Thọ và Đàm Cử vốn là những người trung thành với Lê Chiêu Tông. Vua Lê Chiêu Tông rời kinh sư, hiệu triệu thiên hạ hỏi tội Đăng Dung. Trước sự lớn mạnh của thế lực Mạc Đăng Dung, vua và các cựu thần Nhà Lê không bằng lòng, nhưng bất lực. Nghe theo lời một số cận thần trung thành, đêm 27 tháng 7 năm 1522, Chiêu Tông rời kinh thành chạy sang Sơn Tây hiệu triệu bốn phương hỏi tội Mạc Đăng Dung. Ngay ngày hôm sau, Mạc Đăng Dung sai Hoàng Duy Nhạc đem quân đuổi theo, trận chiến xảy ra, Hoàng Duy Nhạc tử trận. Trong tình huống kinh thành trống vắng, vua không còn ở Kinh sư, Mạc Đăng Dung đã bàn với các đại thần tạm thời lập Hoàng đệ Xuân (Lê Cung Hoàng) làm vua. Ngày 1 tháng 8 năm 1522, Đăng Dung và một số triều thần Nhà Lê cùng tôn Hoàng đệ Xuân lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thống Nguyên năm thứ 1. Chiêu Tông sai người triệu Vũ Hộ đến giúp, nhưng Vũ Hộ lại mang 3000 quân ngả theo Mạc Đăng Dung. Bấy giờ, các xứ Tây, Nam, Bắc đều theo Lê Chiêu Tông. Mạc Đăng Dung chia các dinh thủy, bộ đánh vào các xứ ở bến Đông Hà, Chiêu Tông sai Lại Thúc Mậu, Nguyễn Dư Hoan, Nguyễn Định, Đàm Khắc Nhượng dàn trận chống giữ và cầm cự, bị Đăng Dung đánh bại. Trịnh Tuy từ Thanh Hóa ra cứu Lê Chiêu Tông. Nghe lời gièm pha, Tuy mang xa giá chạy vào Thanh Hóa, không liên kết với các tướng quanh kinh thành đang giúp Chiêu Tông, do đó lực lượng ủng hộ Chiêu Tông nhiều người giải tán. Bấy giờ, trong một nước có hai vua, vua Lê Chiêu Tông ở Thanh Hóa đại diện cho lực lượng cựu thần Nhà Lê do Trịnh Tuy cầm đầu và Lê Cung Hoàng ngự tại dinh Bồ Đề, mọi việc do Mạc Đăng Dung sắp xếp và đối phó. Sau khi đàn áp một số lực lượng nổi dậy, thế lực Mạc Đăng Dung vô cùng mạnh mẽ, kiểm soát và làm chủ vùng Kinh Bắc, quan lại và quân dân đến quy phục ngày một đông. Năm 1523, Mạc Đăng Dung sai em là Mạc Quyết cùng Vũ Hộ và Vũ Như Quế mang quân đánh Lê Chiêu Tông và Trịnh Tuy ở Thanh Hóa. Cùng lúc, ông nhân danh vua mới Lê Cung Hoàng tuyên bố phế truất Chiêu Tông làm "Đà Dương vương". Năm 1524, Mạc Đăng Dung nắm chức Bình Chương quân quốc trọng sự, Thái phó, tước Nhân quốc công. Tháng 10 năm 1525, Mạc Đăng Dung tiến đánh Trịnh Tuy ở đầu nguồn Thanh Hóa. Trịnh Tuy thất thế rồi qua đời, Chiêu Tông bị bắt giải về Kinh sư. Sau đó Mạc Đăng Dung tiếp tục đánh dẹp các lực lượng trung thành với Lê Chiêu Tông do các tướng Giang Văn Dụ, Hà Phi Chuẩn đứng đầu. Ông tiêu diệt các tướng chống đối. Các lực lượng chống đối đều bị dẹp, mọi quyền lực đều thuộc về Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung lui về Cổ Trai nhưng vẫn chế ngự triều chính. Ngày 18 tháng 12 năm 1526, Mạc Đăng Dung sai Phạm Kim Bảng bí mật giết Chiêu Tông ở chỗ bị giam lỏng là phường Đông Hà. Lên ngôi vua, thành lập Nhà Mạc. Tháng 4 năm 1527, Lê Cung Hoàng sai đình thần cầm cờ tiết đem kim sách, áo mão thêu rồng đen, đai dát ngọc, kiệu tía, quạt vẽ, lọng tía đến Cổ Trai, tấn phong Mạc Đăng Dung làm An Hưng vương, gia thêm cửu tích. Tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung từ Cổ Trai trở lại kinh đô ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi. Sử gia Lê Quý Đôn chép: "lúc này thần dân phần nhiều xu hướng về Đăng Dung, đều ra đón về kinh đô". Ngày 15 tháng 6 năm 1527 Đông các Đại học sĩ Nguyễn Văn Thái soạn tờ chiếu, nội dung như sau: "Nghĩ Thái Tổ ta, thừa thời cách mệnh, có được thiên hạ, các vua truyền nhau, nối giữ cơ đồ, là do mệnh trời lòng người cùng hợp, cùng ứng nên mới được thế. Cuối đời Hồng Thuận, gặp nhiều tai hoạ, Trần Cảo đầu têu gây mầm loạn ly, Trịnh Tuy giả trá lập kế phản nghịch. Lòng người đã lìa, mệnh trời không giúp. Khi ấy thiên hạ đã không phải là của nhà ta. Ta không có đức, lạm giữ ngôi trời, việc gánh vác không kham nổi. Mệnh trời lòng người đều theo về người có đức. Xét Thái sư An Hưng vương Mạc Đăng Dung nhà ngươi, bẩm tính thông minh, sáng suốt, có tài lược văn võ. Bên ngoài đánh dẹp bốn phương, các nơi đều phục tùng; bên trong coi sóc trăm quan, mọi việc đều tốt đẹp. Công to đức lớn, trời cho người theo. Nay ta cân nhắc lẽ phải, nên nhường ngôi cho. Hãy gắng sửa đức lớn, giữ mãi mệnh trời để ức triệu dân lành được yên vui. Mong kính theo đó." Lúc bấy giờ rất nhiều quan lại tử tiết để phản đối nhà Mạc giết vua cướp ngôi, từ đó thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh "phù Lê diệt Mạc". Bấy giờ triều thần có Lại bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ Vũ Duệ, Lại bộ Thượng thư Ngô Hoán, Thị thư viện Hàn lâm Nguyễn Mẫn Đốc, quan Đô ngự sử là Nguyễn Văn Vận, quan Hàn lâm hiệu lý là Nguyễn Thái Bạt, quan Lễ bộ Thượng thư là Lê Tuấn Mậu, quan Lại bộ Thượng thư là Đàm Thận Huy, quan Tham chính sứ là Nguyễn Duy Tường, quan Quan sát sứ là Nguyễn Tự Cường, tước Bình Hồ bá là Nghiêm Bá Ký, quan Đô ngự sử là Lại Kim Bảng, Hộ bộ Thượng thư Nguyễn Thiệu Tri, quan Phó Đô ngự sử là Nguyễn Hữu Nghiêm, quan Lễ bộ tả Thị lang là Lê Vô Cương đều là người khoa giáp; có người thì khởi binh phù Lê thất bại và bị giết, có người thì theo vua Lê không kịp, nhảy xuống sông mà chết, người thì quay đầu về Lam Sơn bái lạy rồi tự tử. Sau này, khi dẹp xong nhà Mạc, nhà Lê được trung hưng lại, vua Lê Huyền Tông và triều đình bàn luận công lao, truy phong tước phúc thần cho 13 vị trung thần tiết nghĩa vì nước hy sinh này, trong đó xếp ông Vũ Duệ đứng đầu trong số 13 người. Mạc Đăng Dung lên ngôi, tức là vua Mạc Thái Tổ, chính thức lập ra Nhà Mạc. Nhà Lê truyền được 100 năm đến đây kết thúc, nhưng công đức vua Lê Thái Tổ và vua Lê Thánh Tông làm cho nhiều người vẫn không quên nhà Lê, cho nên dù Mạc Đăng Dung có cướp được ngôi cũng không được lâu bền. Chẳng bao lâu, khắp nơi nổi lên những đội quân "phù Lê diệt Mạc" muốn diệt trừ Mạc Đăng Dung để khôi phục nhà Lê. Thành lập nhà Mạc. Chính trị - Kinh tế. Ngày 15 tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung xưng Hoàng đế, ban lệnh đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu là năm "Minh Đức" thứ nhất; phế truất vua Cung Hoàng làm Cung vương, giam cùng Thái hậu. Vài tháng sau Mạc Đăng Dung ép cả hai phải tự tử, khi chết rồi Đăng Dung sai người mang xác phơi ở quán Bắc Sứ, sau đem chôn ở lăng. Vào tháng 6, Đăng Dung vào kinh thành, ngự nơi chính điện, tế trời ở đàn Nam giao, dựng tôn miếu, lấy Hải Dương làm Dương Kinh, lập cung điện ở Cổ Trai; truy tôn miếu hiệu, xây dựng mộ phần cho tổ tiên họ Mạc. Lập con trai là Mạc Đăng Doanh làm Thái tử, phong em trai là Quyết làm Tín vương, truy phong em trai là Đốc làm Từ vương, 3 em gái đều phong công chúa, lấy ngày sinh nhật của mình làm ngày "Càn Ninh khánh tiết". Đăng Dung dựng thêm một ngôi điện để ở, gọi là điện Phúc Huy, tại phía tây điện Hưng Quốc ở Dương Kinh, phong cho một người tôn thất họ Mạc làm Tĩnh quốc công, trung quan Nguyễn Thế Ân làm Ly quốc công để giúp rập. Năm 1528, Mạc Đăng Dung muốn đổi tiền làm chính lệnh mới, bèn sai đúc tiền Thông Bảo theo cách đúc tiền cũ, nhưng phần nhiều không thành. Sau lại đúc các loại tiền gián pha kẽm và sắt ban hành các xứ trong nước để thông dụng. Lấy Nguyễn Quốc Hiến làm Phò mã Đô úy Thái bảo Lâm quốc công, ban cho họ Mạc; Mạc Quốc Trinh làm Thái sư Lâm quốc công, Mạc Đình Khoa làm Tả đô đốc Khiêm quận công, Thiếu bảo Thông quận công Nguyễn Thì Ung, Lai quận công Trần Phỉ, Thuần Khê hầu Khuất Quỳnh Cử, ban tước có thứ bậc khác nhau. Tháng 10, 1528, Đăng Dung cho là sau khi bình yên, chế độ dần dần lỏng lẻo, ý muốn đổi thay chấn chỉnh lại, liền sai bề tôi là Nguyễn Quốc Hiến bàn định binh chế, điền chế, lộc chế và đặt bốn vệ Hưng quốc, Chiêu vũ, Cảm y, Kim ngô, năm phủ, các vệ sở trong ngoài, các ty sở thuộc, hiệu ty, tên quan và số lại viên, số người, số lính của các nha môn, phỏng theo quan chế triều trước. Lấy quân trấn giữ xứ Hải Dương cho lệ thuộc vào vệ Hưng quốc, quân trấn giữ xứ Sơn Nam lệ thuộc vào vệ Chiêu vũ, quân trấn xứ Sơn Tây lệ thuộc vào vệ Cẩm y, quân trấn xứ Kinh Bắc lệ thuộc vào vệ Kim ngô. Phân bổ các ty, mỗi ty đặt 1 viên Chỉ huy sứ, 1 viên Chỉ huy đồng tri, 1 viên Chỉ huy thiêm sự, 10 viên Trung hiệu, 1100 Trung sĩ, chia thành 22 phiên để túc trực. Nếu có công lao thì bổ lên chức Thiên hộ, Thống chế, Quản lĩnh, Trung úy. Mỗi vệ đặt 1 viên Thư ký, dùng hạng Ký lục xuất thân khi trước, như là bổ các chức thủ lĩnh mục dân. Còn các Trung sĩ thì theo lệ chia phiên, mỗi phiên thành 5 giáp, mỗi giáp đặt một viên Giáp thủ, quan bản ty chọn lấy hạng trung hiệu người nào đích đáng thì làm bản đưa lên để thăng bổ. Đăng Dung lại mở khoa thi cử nhân, lấy Đỗ Tông và 27 người trúng tuyển. Mùa đông năm 1529, Mạc Đăng Dung đã làm vua được 3 năm, tự thấy mình tuổi già, bèn truyền ngôi cho con trưởng Đăng Doanh, tự xưng là Thái thượng hoàng, ra ở điện Trường Quang, coi nghề đánh cá là thú ngao du tự lạc. Theo sử gia Lê Quý Đôn, Đăng Dung về Cổ Trai ở là để trấn giữ nơi căn bản, làm ngoại viện cho con nhưng vẫn quyết định những việc trọng đại. Đăng Doanh lên làm Hoàng đế, dựng cung điện nguy nga cho cha ở, mỗi tháng vào ngày 8, 22 dẫn bá quan tới triều yết. Đến năm 1532, lại mở khoa thi, lấy đỗ Nguyễn Thiến, Bùi Vinh, Ngô Sơn Khoá, lấy đỗ Nguyễn Bỉnh Khiêm tổng cộng 32 người. Năm 1538 mở khoa thi, lấy đỗ Giáp Hải tổng cộng 36 người. Ra lệnh cấm người các xứ trong, ngoài không được cầm giáo mác và dao nhọn, can qua, cùng những binh khí khác hoành hành trên đường đi. Ai vi phạm thì cho phép ty bắt giữ. Từ đấy, người buôn bán và kẻ đi đường đều đi tay không, ban đêm không còn trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ cần mỗi tháng xem lại một lần, có khi sinh đẻ cũng không biết được là gia súc nhà mình. Trong khoảng vài năm, người đi đường không nhặt của rơi, cổng ngoài không phải đóng, được mùa liên tiếp, trong cõi tạm yên. Nhà Hậu Lê khôi phục chống Mạc. Lúc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, thần dân thất vọng, cả nước hoang mang, Đăng Dung sợ lòng người nhớ vua cũ, để lại sinh biến, nên phải tuân giữ pháp độ của Nhà Lê, không dám thay đổi, phủ dụ thần dân, trấn áp lòng người, che bịt mắt tai họ. Lại lập mưu tìm con cháu các nhà thế gia công thần, nhưng những người ấy vẫn nhớ về nhà Lê, phần nhiều chạy vào rừng núi, phần ẩn náu không chịu ra, kẻ tụ tập làm cướp, kẻ ra nước ngoài làm quan. Năm 1530, cháu ngoại họ Lê tên Lê Ý khởi binh ở Thanh Hóa chống lại họ Mạc, quân số vài vạn người, Mạc Đăng Dung tự thân cầm vài vạn quân thủy bộ giao chiến với Lê Ý ở sông Mã, quân Đăng Dung thường thua luôn, đành dẫn quân về, để Mạc Quốc Trinh ở lại chống giữ. Sau đó Mạc Đăng Doanh từ kinh sư dẫn quân vào, giao chiến với Lê Ý, lại bị đánh bại, dẫn quân trở về. Sau những chiến thắng, Lê Ý chủ quan, quân ít lương hết, đội ngũ rời rạc, Mạc Quốc Trinh nghe tin báo liền dẫn quân tinh nhuệ tập kích, bắt sống Lê Ý về kinh sư sai ngựa xé xác. Lê Ý thất bại nhưng thổ tù các nơi vẫn không quy phục Nhà Mạc, Nguyễn Kim đóng ở Ai Lao, anh em Trịnh Ngung, Trịnh Ngang chiếm cứ xứ Thái Nguyên; Vũ Văn Uyên chiếm xứ Tuyên Quang, các tướng này đều danh nghĩa phục quốc. Suốt một dải ven núi các xứ Thanh, Nghệ, Tuyên, Hưng đều không theo họ Mạc. Năm 1531, viên Bích Khê hầu Lê Công Uyên, người huyện Lôi Dương, cháu của công thần thời vua Lê Thái Tổ là Lê Văn Linh, khởi binh đánh vào cửa Chu Tước, bị thua phải chạy vào Thanh Hóa. Đăng Dung phát binh diệt trừ, Lê Công Uyên bị giết, xứ Thanh Hóa, Nghệ An binh hỏa liên miên, nhân dân lưu tán, vườn ruộng bỏ hoang. Ở Ai Lao, con nhà dòng dõi công thần Nguyễn Đức Trung từ thời vua Lê Thái Tổ là An Thành hầu Nguyễn Kim, con của Nguyễn Hoằng Dụ và cháu của Nguyễn Văn Lang lập con của Lê Chiêu Tông tên Lê Ninh lên làm hoàng đế, khôi phục nhà Lê. Mùa hạ năm 1537, tướng nhà Mạc là Tây An hầu Lê Phi Thừa cai quản bảy huyện Thanh Hoa, thu vét chỗ đinh tam ti mà sang Ai Lao quy thuận nhà Lê. Năm 1539, Trang Tông dùng con rể Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm làm Dực quốc công, cùng Trịnh Công Năng và Lại Thế Vinh cùng xuất quân đánh Mạc. Đăng Dung mang quân đến đánh, bị thua to. Đến năm 1540 Mạc Đăng Doanh chết, Đăng Dung trở về Thăng Long, dựng cháu nội là Phúc Hải lên nối ngôi. Mùa xuân năm 1542, vua Lê Trang Tông đích thân làm tướng ra đánh Thanh Hoa, dùng quận Thụy Hà Thọ Tường làm Ngự doanh đề thống. Nguyễn Kim dẫn quân đi trước, tấn công Thanh - Nghệ, nhiều người hưởng ứng theo, thanh thế rất lẫy lừng. Ngoại giao với Nhà Minh. Việc cắt đất lần thứ nhất. Sau khi lên ngôi được 1 năm, tức năm 1528, Mạc Đăng Dung sai người sang Yên Kinh báo với Nhà Minh với nội dung là "con cháu họ Lê không còn ai thừa tự nữa, dặn cho đại thần họ Mạc tạm trông coi việc nước, cai trị dân chúng". Vua Minh không tin, sai người dò la tin tức, ngầm lập con cháu họ Lê lên. Mạc Đăng Dung sai người trả lời bằng lời lẽ văn hoa, đem nhiều vàng bạc đút lót. Đến khi sứ giả Nhà Minh về, mật tâu với vua Minh là con cháu Nhà Lê đã hết, đã ủy thác cho họ Mạc, người trong nước đều theo phục cả. Vua Minh mắng sứ giả, Đăng Dung sợ vua Minh hỏi tội liền lập mưu cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy, Thuận và hai tượng người bằng vàng, bạc cùng châu báu vật lạ. Vua Minh nhận, từ đó Bắc Nam thông hiếu đi lại. Về việc cắt đất lần thứ hai. Năm 1529, bề tôi cũ của triều Lê là Trịnh Ngung, Trịnh Ngang sang Nhà Minh tố cáo với Nhà Minh việc họ Mạc. Mạc Đăng Dung đem nhiều vàng bạc đút lót để phá; việc không thành, hai anh em chết ở Trung Quốc. Năm 1533, An Thành hầu Nguyễn Kim lập vua Lê Trang Tông ở Ai Lao, sai Trịnh Duy Liêu vượt biển sang Nhà Minh, Duy Liêu tâu rằng, Mạc Đăng Dung tiếm loạn, chiếm kinh thành ngăn trở đường đi nên từ lâu bỏ việc cống. Vua Minh hay tin, bèn sai Hàm Ninh hầu Cừu Loan làm Tổng đốc quân vụ, Binh bộ Thượng thư Mao Bá Ôn làm Tham tán quân vụ đem quân sang đóng gần cửa Nam Quan rồi truyền hịch đi mọi nơi, hễ ai bắt được cha con Mạc Đăng Dung thì thưởng cho quan tước và hai vạn bạc. Lại sai người đưa thư sang cho Mạc Đăng Dung bảo phải đưa sổ ruộng đất nhân dân sang nộp và chịu tội, thì được tha cho khỏi chết. Năm 1536, Nguyễn Kim lại sai Trịnh Viên sang Nhà Minh tâu trình. Năm 1538, triều Mạc sai Nguyễn Văn Thái sang Nhà Minh dâng biểu xin hàng và xin được phân xử. Theo Trần Trọng Kim trong sách Việt Nam sử lược: "Việc định sang đánh họ Mạc không phải là vua Nhà Minh có vị gì họ Lê, nhưng chẳng qua cũng muốn nhân lúc nước Nam có biến, lấy cớ mà sang làm sự chiếm giữ như khi trước sang đánh họ Hồ vậy. Ta phải biết rằng phàm những việc nước nọ giao thiệp với nước kia thì thường là người ta mượn tiếng "vị nghĩa" mà làm những việc "vị lợi" mà thôi." Năm 1540, Mạc Đăng Doanh chết, Mạc Đăng Dung lập cháu Phúc Hải lên nối ngôi. Mùa đông, tháng 11, Mạc Đăng Dung cùng với cháu là Văn Minh và bề tôi là Nguyễn Như Quế, Đỗ Chế Khanh, Đặng Văn Tri, Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Tốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi Trí Vĩnh, qua Trấn Nam Quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây ở cổ, đi chân không đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước để chờ phân xử, dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu. Lại xin ban chính sóc, cho ấn chương, để kính cẩn coi giữ việc nước và chờ lệnh thay đổi hay quyết định khác. Lại sai Văn Minh và Nguyễn Văn Thái, Hứa Tam Tỉnh mang biểu đầu hàng sang Yên Kinh. Tướng Nhà Minh bèn xin với vua Minh ban cho lịch, cho ấn chương và bảo ông giữ cẩn thận để quyết định sau. Năm 1541, Nhà Minh phong làm An Nam đô thống ty sứ, cho ấn bạc, vẫn cho thế tập. Còn 13 lộ cứ để tên cũ, đều lập phủ ty, đặt các chức như Tuyên phủ, Đồng tri, Phó sứ và Thiêm sự, cho chức Đô thống sứ được cai quản, điều khiển và phải triều cống. Sau khi lên biên giới để cắt đất trở về, ngày 22 tháng 8 năm 1541, vua Mạc Thái Tổ băng hà. Trước khi băng hà ông có để lại di chúc "dựng" "đàn chay cúng Phật" và khuyên Mạc Phúc Hải phải "nhanh chóng về kinh sư để trấn an nhân tâm và xã tắc là trọng." Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, những sử quan biên soạn sách đã không chép triều Mạc thành một kỷ như nhiều triều đại khác mà chỉ gọi là phần phụ. Theo sử quan Đăng Bính nhận định: "Lúc bấy giờ, kẻ quyền gian thế lớn, bọn thần hạ khác lòng, thiên tử bị cô lập ở trên, cả triều không một ai có thể ủy thác được, muốn không sụp đổ, có thể được không? Rốt cuộc xảy ra mối hoạ cho Quang Thiệu, Thống Nguyên, bức hiếp lòng người, dối vua đến gò hoang, cướp lấy thiên hạ của triều Lê, tiếm xưng vị hiệu, vào ở nhà vàng, đủ vành giảo quyệt. Lấy một xó đất Hải Dương gọi là Dương Kinh, tự tiện phế bỏ lăng tẩm của Lê triều, chém giết con cháu các công thần đời trước. Xét những việc làm của nó, không khác gì Tào Tháo. Đáng đau xót biết chừng nào!" Đến thế kỷ XVIII, các sử quan Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, khi soạn sách "Đại Việt thông sử", Lịch triều hiến chương loại chí, Kiến văn tiểu lục, với những phần như Quan chức chí, Khoa cử... đều không coi triều Mạc là một triều đại chính thức. Họ đều không chép gì quan chế, khoa cử... triều Mạc trong sách, coi như triều Mạc không tồn tại. Lê Quý Đôn trong phần Nhân vật chí, viết phần về các nhân vật Nhà Mạc là "Nghịch thần truyện", gọi Nhà Mạc là Nguỵ Mạc; Phan Huy Chú trong phần Nhân vật chí gọi là phần Sự tích nhà Nhuận Mạc (Nhuận tức là thừa). Chữ "Nhuận" mà các sử quan dùng để ghi "Nhuận Mạc", tức là Nhuần, là cái phụ thuộc, như tháng "nhuần", ngày "nhuần". Từ này lấy trong sách Lễ ký, "Dĩ tứ thời thành tuế dĩ vi nhuận nguyệt", nghĩa là lấy những ngày thừa trong một thời gian để làm ra tháng nhuần. Như thế có thể hiểu nhuần là chắp vá không chính thức. Địa điểm nơi mà Mạc Đăng Dung lên biên giới cắt đất cho quan Nhà Minh sau được gọi là "Thành Thụ hàng", đến năm 1790 nhà ngoại giao Tây Sơn là Ngô Thì Nhậm đi sứ sang Trung Quốc qua đây đã làm bài thơ "Thành thụ hàng": "Lối qua Mạc Phủ tới Bằng Tường, "Thành Thụ hàng xưa, dấu cố cương". "Núi tựa Lạng Sơn, dòng suối ít", "Mốc nêu hạ Thạch, dặm đường trường". "Tuyết bay tàn pháo, đồn canh khắp", "Sấm chuyển guồng xe, bến nước vang". "Đô thống xin hàng, trò khốn nạn", "Nghìn năm bán nước tiếng Nghi Dương". Đến thế kỷ XX, những nhân vật người Nghệ An, Hà Tĩnh như Trần Trọng Kim hoặc Phan Bội Châu đã phê phán nặng lời việc Mạc Đăng Dung cắt đất, quỳ lạy quan Nhà Minh. Theo Trần Trọng Kim viết trong Việt Nam sử lược: "Mạc Đăng Dung đã làm tôi Nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi, ấy là một người nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ-cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm ông vua mà không giữ được cái danh-giá cho trọn-vẹn, đến nỗi phải cởi trần ra trói mình lại, đi đến quỳ lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú-quí cho một thân mình và một nhà mình, ấy là một người không biết liêm-sỉ. Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc, đối với cách ăn-ở của loài người, là không có nhân-phẩm; một người như thế ai mà kính phục? Cho nên dẫu có lấy được giang-sơn Nhà Lê, dẫu có mượn được thế Nhà Minh bênh-vực mặc lòng, một cái cơ-nghiệp dựng lên bởi sự gian-ác hèn-hạ như thế, thì không bao giờ bền-chặt được. Cũng vì cớ ấy cho nên con cháu họ Lê lại trung-hưng lên được". Phan Bội Châu trong sách "Việt Nam vong quốc sử" đã cho rằng Mạc Đăng Dung với tội trạng cắt đất, nhận Đại Việt làm quận huyện Trung Quốc thì đáng phải chém. Theo học giả Đào Duy Anh chép trong sách địa lý "Đất nước Việt Nam qua các đời": Châu Vĩnh An - chép rằng Lý Thái Tổ đổi trấn Triều Dương làm châu Vĩnh An; châu Vĩnh An đời Lê Thánh Tông có trấn Ngọc Sơn. Chúng ta biết rằng sử chép Mạc Đăng Dung nộp sáu động thuộc châu Vĩnh An, trấn Yên Bang cho Nhà Minh. Có lẽ châu Vĩnh An đời Hồng Đức còn gồm cả miền đông huyện Móng Cái và một dải đất ở phía bắc tương đương với 6 động Mạc Đăng Dung cắt cho Nhà Minh và đến thời Lê Trung hưng thì châu Vĩnh An có lẽ vì việc cắt đất của Nhà Mạc đã bị thu hẹp lại chỉ còn dải đất phía đông huyện Móng Cái, từ địa giới Đông Hưng của Trung Quốc đến Mũi Ngọc và các đảo ở phía tây nam. Theo K.W. Taylor, một sử gia người Mĩ, đã có cuộc xung đột giữa hai trung tâm quyền lực là vùng Đông Kinh tức Hà Nội ngày nay và vùng Thanh Hóa - Nghệ An. Thời Nhà Hồ, việc Hồ Quý Ly, người Thanh Hóa cướp ngôi Nhà Trần đã dẫn tới người Kinh lộ đã ủng hộ Nhà Minh, như gia đình Mạc Thúy - ông tổ của Mạc Đăng Dung đã theo hàng Nhà Minh. Sau hơn 100 năm, Đông Kinh lại hỗn loạn. "Nhân vật tái lập trật tự ở Đông Kinh, Mạc Đăng Dung, là thành viên trong cùng gia đình họ Mạc mà từng ủng hộ Nhà Minh một thế kỷ trước. Ông tập hợp nhóm cận thần mở rộng cửa cho các gia đình Đông Kinh và thành công trong việc huy động sự ủng hộ địa phương. Một chi tiết quan trọng nhưng ít được nhắc tới là Đông Kinh đã trung thành sâu sắc với gia đình họ Mạc trong thế kỷ XVI và Đông Kinh đã cứng rắn chống lại cuộc chinh phục của đoàn quân Thanh Nghệ vào cuối thế kỷ này." Ý kiến nhận định của các sử gia thời hiện đại. Từ những năm thập kỷ 70, các sử gia hiện đại Việt Nam đã phê phán hành động của Mạc Đăng Dung rất kịch liệt, nhưng những năm sau đó, những người ở miền Bắc Việt Nam như Nguyễn Văn Siêu (Hà Nội), Lê Văn Hoè (Hà Đông), Phạm Văn Sơn (Hà Nội), Trần Quốc Vượng (Hà Tây), Trần Gia Phụng, Trần Khuê, Trần Lâm Biền, Vũ Khiêu, Văn Tạo, Đinh Khắc Thuân, Nguyễn Gia Kiểng, Phan Đăng Nhật, Trần Thị Vinh đã có tiếng nói đối lập với các tri thức ở Nghệ An khi cho rằng đất mà Mạc Đăng Dung cắt là đất khống hoặc đất ấy vốn của vua Lê Thái Tổ chiếm nay trả lại, và hành động của Mạc Đăng Dung là để mang lại hòa bình cho đất nước. Những ý kiến ấy được lược trích dưới đây: Các bộ chính sử thời phong kiến của Việt Nam do các triều đại đối địch với Nhà Mạc biên soạn như "Toàn thư" (do nhà Lê-Trịnh sai biên soạn bổ sung ở thế kỷ XVII), "Cương mục" (do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn ở thế kỷ XIX) đều viết về hai sự kiện Mạc Đăng Dung cắt đất cho Nhà Minh. Theo "Đại Việt sử ký toàn thư": "Năm 1528, cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy, Thuận và hai tượng người bằng vàng và bạc cùng châu báu, của lạ, vật lạ. Vua Minh thu nhận". Trong "Cương mục" cũng đặt vấn đề nghi ngờ về sự việc năm 1528 mà "Toàn thư" đã chép. Các sử gia ngày nay xác định rõ rằng hai châu Quy Hóa và Thuận An đã mất sang tay Nhà Tống từ thời Nhà Lý, do hai thủ lĩnh Nùng Trí Hội và Nùng Trí Cao nộp cho Tống. Trong sách "Phương Đình Dư Địa chí", học giả Nguyễn Văn Siêu đầu thời Nguyễn ở thế kỷ XIX, sau khi khảo cứu các sách địa lý Trung Quốc và Việt Nam, đã kết luận: "Mấy động Như Tích thuộc châu Vĩnh An mới có từ niên hiệu Thuận Thiên. Nhà Mạc trả lại cho Nhà Minh đất cũ đã lấn, không phải là cắt đất để đút lót vậy". Các sử gia ngày nay có quan điểm thống nhất với Nguyễn Văn Siêu. Về "nghi án" dâng đất cho ngoại bang của Mạc Đăng Dung, Trần Khuê ("Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Vương triều Mạc", 1991) cũng có những phân tích chi tiết: "Tác giả Đại Việt sử ký toàn thư (do nhà Lê-Trịnh biên soạn bổ sung ở thế kỷ XVII) coi Nhà Mạc là "ngụy triều" nên không thèm chép riêng thành một kỷ và gọi một cách khinh bỉ là "Mạc thị". Lê Quý Đôn thì xếp tất cả các vua Mạc vào loại "nghịch thần". Sử quán triều Nguyễn thì càng khe khắt, khỏi bàn. Sử gia Trần Trọng Kim thì mạt sát hết lờ, rồi ba tỉnh miền Tây Nam kỳ, rồi đầu hàng và dâng cả đất nước Đại Nam cho xâm lược Pháp, thì sử gia Trần Trọng Kim lại chuyển giọng khác." "Sử gia coi đó không phải là chuyện "phản quốc" và "vô liêm sỉ"… mà là chuyện có thể thông cảm được. Vua Tự Đức vẫn là một đấng anh quân đáng kính phục vì dẫu sao ngài vẫn là một ông vua hay chữ và lại rất có hiếu với mẹ ngài." "Khen, chê là thẩm quyền của các sử gia. Điều tôi muốn bàn ở đây là vấn đề sự thật lịch sử. Không cần thiết phải bênh vực cho vua Mạc hay bất cứ thứ vua chúa nào. Nhưng khi thấy sự thật lịch sử bị bóp méo hoặc xuyên tạc thì cần đính chính." "Về chuyện cắt đất cho Nhà Minh, tác giả Đại Việt sử ký toàn thư có ghi hai lần." "...Như thế là tác giả Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép rằng Mạc Đăng Dung nộp cho Nhà Minh 6 động của châu Vĩnh An. Còn Trần Trọng Kim thì chép là Mạc Đăng Dung "xin dâng đất 5 động: là động Tê Phù, động Kim Lạc, động Cổ Xung, động Liễu Cát, động La Phù và đất Khâm Châu"." "Thế là không rõ căn cứ vào tư liệu, văn bản nào mà sử gia Trần Trọng Kim bớt đi một động (An Lương) chép sai tên một động (Cổ Sâm thành Cổ Xung) và đặc biệt là thêm ra một châu (châu Khâm). Chưa cần phải kiểm tra, khảo cứu gì cũng lập lức thấy ngay sử gia Trần Trọng Kim đã bịa thêm ra cái gọi là "Khâm Châu". Khâm Châu là đất thuộc Trung Quốc từ trước đời Nhà Tống và đến đời Minh, và đến tận ngày nay nó vẫn là đất của Trung Quốc; làm sao Mạc Đăng Dung lại có thể cắt đất dâng nộp phần đất không phải của nước mình?" "Về hai châu Quy Thuận cũng thế, học giả Đào Duy Anh đã chứng minh rằng tác giả Đại Việt sử ký toàn thư nhầm. Đó là hai châu của Trung Quốc." "Đào Duy Anh đã khảo chứng và chú giải như sau: "Minh sử quyển 321 chỉ chép: (Cướp ngôi rồi) qua một năm thì (Mạc Đăng Dung) sai sứ sang cống, đến thành Lạng Sơn bị đánh mà trở về chứ không chép việc Đăng Dung dâng đất hai châu Quy Thuận để tạ tội. Vả chăng hai châu Quy Thuận thì Nhà Tống đã chiếm từ thời Lý nước ta rồi." "Hai châu Quy Thuận là châu Quy Hóa và châu Thuận An. Trung Quốc địa danh đại từ điển nói rằng châu Quy Hóa đời Tống trị sở ở tại huyện Nghi Sơn tỉnh Quảng Tây. Nhà Tống đặt châu ấy với đất Vật Dương do Nùng Trí Hội nộp. Châu Thuận An thì Nhà Tống đặt ở đất Vật Ác do Nùng Tôn Đản nộp, và các đất Lôi Hỏa, Kế Thành, Ôn Nhuận. Hai châu ấy về sau trở thành châu Quy Thuận tỉnh Quảng Tây"." "...Còn sử gia Trần Trọng Kim thì vừa xuyên tạc, vừa buông lời mạt sát Nhà Mạc một cách thiếu thận trọng." "Nếu Mạc Đăng Dung có mắc tội thì không phải là cái tội "cắt đất mà dâng cho người" mà "tội" của Mạc Đăng Dung là đã xâm lấn đất của người rồi không giữ nổi lại phải đem nộp trả lại đất đã lấn. Điều đáng buồn là những điều chép sai ngoa trong sử sách như vậy cứ được truyền thấm vào tim óc hết thế hệ này đến thế hệ khác và đáng sợ hơn nữa nó lại thấm cả vào ngòi bút của mấy nhà biên soạn sử của ta dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban KHXH Việt Nam." Nhà nghiên cứu Huệ Thiên trong bài viết "Mạc Đăng Dung có dâng đất cho Nhà Minh hay không?" : "Xưa nay sử chép rằng Thái Tổ Nhà Mạc là Mạc Đăng Dung đã cắt đất Đại Việt dâng cho Nhà Minh để bảo vệ ngôi báu, lưu lại tiếng xấu muôn đời. Sự thật có phải hoàn toàn đúng như thế không và nếu không thì điều ngoa truyền này bắt đầu từ đâu và với ai?" "...Đến năm Chính Hòa thứ 18 (1697) đời Lê Hi Tông, Trịnh Căn (1633-1709) lại sai Lê Hi (1646-1702) tổ chức hiệu đính công trình của nhóm Phạm Công Trứ và chép thêm phần bản kỷ tục biên từ đời Lê Huyền Tông (1662-1671) đến hết đời Lê Gia Tông (1671-1675) để đưa khắc ván in mà "ban bố cho thiên hạ". Phần chép thêm của Đại Việt sử ký toàn thư gồm 24 quyển. Đây chính là bộ Đại Việt toàn thư mà chúng ta đang sử dụng hiện nay." "...Bằng quan điểm chính thống đến mức cực đoan, Phạm Công Trứ không những đã kiệt liệt lên án hành động "tiếm ngôi" của Mạc Đăng Dung mà còn không ngần ngại dùng cả thủ đoạn xuyên tạc sự thật để bôi nhọ nhân vật đã sáng lập ra Nhà Mạc nữa. Chứng cứ về sự xuyên tạc đó là đã hai lần ĐVSKTT chép việc Mạc Đăng Dung dâng đất cho Nhà Minh." "Lần đầu tiên bộ sử này ghi: "Năm Mậu Tí (1528) Mạc tiếm hiệu Minh Đức thứ 2 (…) Đăng Dung sai người sang Yên Kinh báo với Nhà Minh rằng là họ Mạc tạm trông coi việc nước, cai trị dân chúng. Nhà Minh không tin (…) Đăng Dung sợ Nhà Minh đem quân sang hỏi tội, bèn lập mưu cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy, Thuận và hai hình người bằng vàng bạc cũng là châu báu của lạ, vật lạ, Nhà Minh thu nhận. Từ đấy Nam Bắc lại thông sứ đi lại" (ĐVSKTT, Tập IV –trang 121 - 122)." "Việc ghi chép này hoàn toàn sai sự thật. Quy, Thuận chính là Châu Quy Hóa và Châu Thuận An. Hai châu này thuộc về Trung Hoa vào thời Nhà Tống từ những năm 60 của thế kỷ XI." "...Lần thứ hai mà ĐVSKTT ghi chép về việc "dâng đất" của Mạc Đăng Dung là như sau: "Canh Tí (1540) Mạc Đại Chính năm thứ 11 (…) mùa đông, tháng 11, Mạc Đăng Dung (…) dâng tờ biểu xin hàng, biên hết đất đai, quân dân quan chức trong nước để xin xử phân, nộp các động Tê Phù, Lim Lạc, Cổ Sâm, Liêu Cát, An Lương, La Phù của Châu Vĩnh An trấn Yên Quảng xin cho nội thuộc, lệ vào Khâm Châu…"(ĐVSKTT, tập IV, trang 131-132). Đây là tư liệu chính mà các sách lịch sử về sau của ta luôn nhắc đến để kết tội Mạc Đăng Dung. Trước hết cần nói rõ là số lượng và tên gọi các động ghi trong các sách có chỗ đại đồng tiểu dị. Chẳng hạn Lê Thành Khôi thì căn cứ vào ĐVSKTT mà chép là 6 động, nhưng lại ghi Cổ Sâm thành Cổ Xung (Le Viet Nam Histore etcin lisation, Leseditions deminuít, Paris, 1955, P.263); Trần Trọng Kim chỉ chép 5 động - không có An Lương (Việt Nam), Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Phan Quang và Nguyễn Cảnh Minh thì ghi 5 động là: Tư Lẫm, Kim Lạc, Cổ Sâm, Liêu Cát và La Phù (sđd-92, tập 1, Hà Nội, 1971, trang 75). Thực ra, sự việc chỉ liên quan đến 4 động là Tư Lẫm, Cổ Sâm, Liễu Cát, La Phù và có chăng thì chỉ việc Mạc Đăng Dung trả đất chứ không hề có việc Mạc Đăng Dung dâng đất của Đại Việt cho Nhà Minh. Sự thực bốn động nêu trên đều thuộc trấn Như Tích vốn là đất Trung Hoai ít nhất từ đời Tống. Trấn này nằm cách Khâm Châu (Quảng Đông) 160 dặm về phía tây và cách Châu Vĩnh An của Đại Việt 20 dặm. Đây là một vùng núi cao, địa thế hiểm trở. Đầu đời Tống các động này dã đặt các chức động trưởng để trông coi và sang đời Minh, niên hiệu Hồng Vũ năm đầu (1368), vua Minh lại đặt chức Tuần ti ở Như Tích để thống lĩnh các động này một cách chặt chẽ hơn. Như đã trình bày về hai châu Quy, Thuận, các động trưởng dọc biên giới Việt - Trung thường tùy theo tình hình thực tế mà thay đổi thái độ thần phục đối với Trung Hoa hoặc Đại Việt." "...Vậy là ngay một số ghi chép trong ĐVSKTT như đã trích dẫn trên cũng đủ cho thấy hoàn toàn không có chuyện Mạc Đăng Dung cắt đất của Đại Việt để dâng cho Nhà Minh. Có chăng chỉ là các sử thần Lê-Trịnh vì mục đích chính trị đã xuyên tạc sự thật lịch sử để hạ nhục Nhà Mạc mà thôi." Trong bài "Sách lược ngoại giao của Nhà Mạc" (Tạp chí Cửa biển, số 75/2004), tác giả Ngô Đăng Lợi đã trích dẫn sách "Khâm Châu chí" của Trung Quốc cho rằng: "Bảy động Chiêm Lăng, Thi La, Tư Lặc, Liêu Cát, Cổ Lâm, Tư Sẫm, La Phù (tức là những xứ đất dọc biên giới Việt – Trung mà Nhà Minh đòi Nhà Mạc phải trả lại) nguyên là đất quận Thi La, Chiêm Lãng, Như Tích đời Tuyên Đức Nhà Minh, bọn Hoàng Kim Quảng, trưởng động Tư Lẫm làm phản chiếm cứ Tư Lẫm, La Phù, Cổ Sâm, Liêu Cát, nhân đó uy hiếp cả động Tư Lặc cùng tuần ty kênh Phật Đào gồm 9 thôn, đăng dài hơn 200 dặm phụ về nước An Nam…" Về vấn đề quy thuận. Cũng theo "Toàn thư": "[năm] , Mạc Đăng D, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nướ, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châ" (Sử ký) nhưng về việc này có mâu thuẫn với sách "Khâm Châu chí" của Nhà Thanh và "Quảng Yên sách". Về sự việc cắt đất này, còn có nhiều ý kiến khác nhau. Việc cắt đất bị nhiều sử gia về sau lên án gay gắt, nhưng cũng có ý kiến cho rằng ông làm thế là khôn khéo nhất, vì cùng một lúc không thể chia sẻ lực lượng ra để chống lại hai thế lực: Nhà Minh ở phía bắc, liên minh Lê - Nguyễn ở phía nam. Trên thực tế, điều này (dù có hay không) đã ngăn không cho Nhà Minh đem quân vào Đại Việt và kể từ sau khi ông mất thì cháu ông, Mạc Phúc Hải vẫn là người có toàn quyền tối cao điều hành đất nước từ địa phận Ninh Bình ngày nay trở ra. Về sự kiện này, GS Trần Quốc Vượng cho rằng: "Hành động "đầu hàng" của Nhà Mạc do Minh sử chép là một sự phóng đại để khoe khoang, hành động ấy vua Lê sau này cũng lặp lại gần nguyên xi thì lại không bị sử gia Nhà Lê nêu lên để phê phán. Đó (việc làm của vua Mạc) chẳng qua là một hành động "tượng trưng" (quàng dây lụa vào cổ, không phải là tự trói), một sự "nhún mình" (cũng có thể nói là hơi quá đáng) của một nước nhỏ đối với nước lớn trong điều kiện tương quan chính trị ngày xưa (và nên nhớ lúc ấy Mạc Đăng Dung đã thôi ngôi vua được 10 năm rồi và là một ông già sắp chết (từ Nam quan trở về được mấy tháng thì ông qua đời), ông già này gánh nhục cho con, cho cháu và cho cả nước mà cứ bị mang tiếng mãi!). Tất cả ứng xử của Mạc với Minh cũng chỉ nằm trong một chiến lược ngoại giao hằng xuyên của Việt nhỏ Hoa lớn "thần phục giả vờ, độc lập thực sự" (Vassalité fidive, Indépendance réelle). Mà thực sự ở thời Mạc không có bóng một tên xâm lược nào trên đất nước ta, quan bảo hộ, dù hình thức như chức "Đạt lỗ hoa xích" ở Thăng Long triều Trần cũng không. Thế tại sao người này thì khen là khôn khéo, người khác lại chê là hèn hạ?" Tác giả Trần Gia Phụng trong bài viết: "Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử" có đoạn bình luận xác đáng về sự kiện đầu hàng Nhà Minh của Mạc Thái Tổ: "Hành động của vua Lê, kêu gọi người nước ngoài về đánh nước mình, trong đó có ý kiến cố vấn của Nguyễn Kim, không bị một sử gia nào lên án. Việc làm nầy đưa đến kết quả cụ thể là Nhà Minh cử Cừu Loan làm Tổng đốc, Mao Bá Ôn làm Tán lý quân vụ đem 20 vạn binh mã sang ải Nam Quan năm 1540. Ngược lại, trong thế yếu, muốn tránh một cuộc chiến mà mình nắm chắc phần thất bại, đồng thời dân Việt sẽ một lần nữa bị đặt dưới ách thống trị trực tiếp của ngoại nhân như thời Mộc Thạnh, Trương Phụ, Mạc Thái Tổ, lúc đó đã lên làm Thái thượng hoàng, như cố giáo sư Trần Quốc Vượng đánh giá Mạc Đăng Dung đành chấp nhận "đầu hàng giả vờ để giành độc lập thực sự" cho đất nước và chấp nhận hy sinh danh dự cá nhân, lên ải Nam Quan (Lạng Sơn) chịu nhục. Nhờ sự nhẫn nhục của Mạc Thái Tổ... Đại Việt trên danh nghĩa là lệ thuộc Trung Hoa, nhưng trong thực tế vẫn độc lập một phương được Nhà Minh công nhận phong ấn tín,5 đời vua Mạc trị vì 65 năm (1527-1592) ở Thăng Long, vẫn cai trị đất đai từ Lạng Sơn trở xuống, đâu có viên tướng Tàu nào bén mảng sang cai trị. Ai cũng bảo Mạc Đăng Dung đầu hàng Nhà Minh vì quyền lợi gia đình họ Mạc, nhưng giả thiết, một giả thiết không bao giờ có thể quay lại được, Mạc Đăng Dung chống cự quân Minh như họ Hồ, nước ta bị tái đô hộ, thì nhân dân ta còn khổ biết bao nhiêu nữa. Đàng này, Mạc Đăng Dung một mình chịu nhục cho trăm họ bình yên. Người ta ưa ca tụng Hàn Tín khi nghèo khổ đã lòn trôn tên bán thịt chợ Hoài Âm (Trung Hoa) như là một gương nhẫn nhục đáng noi theo, nhưng chẳng một ai chịu chia sẻ với nỗi nhẫn nhục vĩ đại của Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung lúc đó đã là ông già 60 tuổi rất buồn tủi về sự kiện Nam Quan (Lạng Sơn) nên về nhà chưa được một năm, ông nhuốm bệnh từ trần năm 1541."" Đi xa hơn nữa, tác giả còn so sánh hành động này của Mạc Đăng Dung với vua Lê sau ngày trung hưng về Thăng Long: ...(Theo Việt sử Thông giám cương mục) "sau khi trở về Thăng Long, năm 1596 vua Lê Thế Tông (trị vì 1573-1599) cử người đem hình dạng hai quả ấn của Nhà Mạc và vua Lê lên Nam Quan cho đại diện Nhà Minh khám xét, nhưng quan Nhà Minh không chịu, bắt vua Lê phải thân hành đến gặp. Vua Lê phải chấp hành, nhưng khi đến nơi đợi lâu quá không được gặp quan Nhà Minh, vua Lê đành trở về, rối năm sau (1597) lên một lần nữa mới được hội kiến. Sự kiện nầy chẳng khá gì hơn việc Mạc Đăng Dung lên Nam Quan năm " Vai trò, ảnh hưởng và di sản trong tiến trình lịch sử. Mạc Đăng Dung là một trong những nhân vật gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử Việt Nam. Đứng trên quan điểm bảo thủ của Nho giáo, người ta có lý do để phê phán Mạc Đăng Dung bởi vì ông là đại thần của nhà Lê nhưng lại soán ngôi của họ Lê, dòng họ đã để lại những dấn ấn sau đậm với lịch sử Việt Nam từ thời Lê Thái Tổ (Lê Lợi) cho tới Lê Thánh Tông. Tuy nhiên nhìn nhận một cách công bằng nếu chính trường Đại Việt đầu thế kỷ 16 không xuất hiện họ Mạc thì họ Nguyễn và họ Trịnh đã thâu tóm quyền lực sớm hơn chứ không phải đợi tới cuối thế kỷ đó. Từ sau thời Lê Túc Tông,nhà Lê đã suy yếu . Từ những thế kỷ 17 cho tới cuối thế kỷ 18, họ Trịnh và họ Nguyễn mới là những người cai trị có thực quyền trên dải dất Việt Nam trong khi quyền lực họ Lê ngày một bị lấn át. Những nhân vật kiểu như Mạc Đăng Dung (hay Trần Thủ Độ và Hồ Quý Ly) thường xuất hiện trong lịch sử Trung Hoa hơn là Việt Nam. Sử sách triều Lê-Trịnh và triều Nguyễn vốn là đối nghịch với Nhà Mạc nên sau này luôn lên án Mạc Đăng Dung là "thoán nghịch" hay "nghịch thần" đồng thời coi Nhà Mạc là "ngụy triều" nhưng cũng phải ghi lại một thực tế hoàn cảnh lịch sử khi vua Lê đã suy thoái với những "vua quỷ, vua lợn", các thế lực tranh giành, chiến tranh liên miê"bấy giờ thần dân trong nước phần nhiều đều theo Mạc Đăng Dung, đến đón vào kinh sư" (Đại Việt sử ký toàn thư, tr. 118) hay "lúc này thần dân phần nhiều xu hướng về Đăng Dung, đều ra đón về kinh đô" (Đại Việt thông sử, tr. 264). Nhưng dù có khen chê hay định đoạt công tội của Mạc Đăng Dung thì người ta cũng phải thừa nhận ông là một người có tài thao lược, trí dũng hơn người (chỉ trong khoảng 10 năm đã dẹp yên hầu hết các cuộc nổi loạn của nhiều phe phái, thế lực cát cứ khắp nước), là một tay anh hùng lập thân trong thời đại loạn như Đinh Tiên Hoàng thuở trước (xuất thân hàn vi từ tay không mà dựng nên đế nghiệp), một chính khách khôn ngoan, hành xử linh hoạt, kiên nhẫn chờ thời, biết mình biết người, là người có sức thu phục nhân tâm lớn (thu phục đại bộ phận lòng dân trong nước, chiêu nạp dưới trướng nhiều tướng lĩnh có tài và trung thành như Nguyễn Kính, Vũ Hộ, Phạm Tử N). Lời di chúc nổi tiếng của thân vương Mạc Ngọc Liễn có thể xem là bằng chứng lịch sử đáng tin nhất cho chiến lược tồn vong của Nhà Mạc: quyền lợi dòng họ - gia tộc là quan trọng nhưng vẫn phải đặt sau địa vị tối cao của quyền lợi quốc gia - dân tộc. Vì vậy, các thông tin mô tả của ông Lê Xuân Quang được xem là không chính xác, và theo đó các ý kiến đánh giá về niên đại cũng như tính thực chiến của thanh đao này dựa trên thông tin mô tả của ông Lê Xuân Quang (đưa ra trước năm 2019) cũng là không chính xác. Theo nhận định của nhóm chuyên gia Viện Khảo cổ học Việt Nam năm 2019, thanh đao này có các yếu tố để nó có thể được dùng trên chiến trận, và chủ yếu được dùng trên lưng ngựa. Chẳng hạn, chiều dài của thanh đao này (239 cm) là dài hơn loại đao mà các võ sư hiện nay sử dụng để biểu diễn võ thuật đánh bộ dài (chỉ khoảng 170 cm - 180 cm). Do đó, thanh đao này chỉ có thể dùng để đánh trên lưng ngựa. Khi giao chiến, tầm với của đao là khoảng 200 cm và tối đa là khoảng 300 cm khi nghiêng hoặc nhoài người. Chuôi đao được đúc đặc để cân bằng với phần lưỡi đao, nên người sử dụng có thể dùng chuôi đao để đánh tứ phía. Tiết diện cán hình bầu dục giúp việc cầm nắm đao vững chắc, và không bị lật xoay lưỡi đao nếu như cán tiết diện hình tròn. Với tổng trọng lượng ước tính 15 kg và điểm cân bằng trọng lượng cách chuôi đao 107 cm phù hợp với cách đánh đao trên ngựa. Trọng lượng trung bình chia đôi còn 7,5 kg, đủ nặng để ra đòn chém bổ uy lực và thu đao đánh bằng cán. Gia quyến và hậu duệ. Theo các tác giả bộ sách "Hợp biên thế phả họ Mạc’’ (Nhà Xuất bản Văn hóa Dân tộc, 2001) cho biết: Từ cuối thế kỷ XVI (tức sau khi triều Mạc bị mất, vua cuối cùng Nhà Mạc tại kinh đô Thăng Long là Mạc Mậu Hợp bị Trịnh Tùng giết chết vào năm 1592) đến nửa cuối thế kỷ XVII (năm 1677), họ Mạc cát cứ ở Cao Bằng cũng bị nhà Lê trung hưng đánh dẹp, triệt hạ. Do mang mối thù giết vua cướp ngôi nên quân nhà Lê ra sức truy sát con cháu họ Mạc. Những hậu duệ họ Mạc phải di chuyển nhiều nơi, và thay tên đổi họ thành nhiều họ khác để trốn thoát. Theo thống kê của Ban Liên lạc họ Mạc Hà Nội, vào năm 1999, thì con cháu họ Mạc ngày nay có 37 họ với 368 chi ở 25 tỉnh, thành phố. Ngoài ra còn nhiều con cháu họ Mạc hiện nay đang sinh sống ở nước ngoài như: Pháp, Mỹ, Canada, Trung Quốc… Từ một họ đổi ra 37 họ (có thể thống kê chưa đầy đủ), nhưng tên họ mới vẫn có những mật mã, những thông điệp để con cháu sau này vẫn biết tới nguồn gốc tổ tiên, như tên họ mới vẫn giữ bộ "Thảo đầu" (艹) trong họ Mạc (莫) như: họ Phạm (范), Hoàng (黄), Phan (藩), Tô (蘇), Lều…; nếu theo họ mẹ, họ bố nuôi thì giữ tên đệm (Đăng trong tên Mạc Đăng Dung) như: Lê Đăng, Đào Đăng, Nguyễn Đăng, Phan Đăng…, về sau có thể đổi là Phúc, là Đình để khỏi bị truy tích…, ngoại trừ theo tên đất như họ Thái v.v… để hậu duệ biết mà tìm nhau, hỗ trợ nhau, phát huy truyền thống của tổ tiên. Mạc Thái Tổ cũng là tổ tiên bên họ ngoại của các đời chúa Nguyễn kể từ Nguyễn Phúc Lan trở đi (bao gồm cả hoàng tộc nhà Nguyễn tính từ Nguyễn Ánh) thông qua quan hệ hôn phối giữa Nguyễn Phúc Nguyên (con trai của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng) và Mạc Thị Giai (con gái của Khiêm vương Mạc Kính Điển và đồng thời là cháu gái của Mạc Thái Tông). [[Thể loại:Vua nhà Mạc|Thái Tổ, Mạc]] [[Thể loại:Thái thượng hoàng nhà Mạc]] [[Thể loại:Sinh năm 1483]] [[Thể loại:Mất năm 1541]] [[Thể loại:Mất tại Hải Phòng]] [[Thể loại:Người Dương Kinh (thời Mạc)]] [[Thể loại:Họ Mạc gốc xứ Đông]] [[Thể loại:An Nam đô thống sứ]] [[Thể loại:Người tham gia chiến dịch quân sự trong thời kỳ Lê-Mạc phân tranh]] [[Thể loại:Công tước nhà Lê sơ]] [[Thể loại:Vương tước nhà Lê sơ]] [[Thể loại:Thủ khoa võ cử Việt Nam (thời kỳ quân chủ)]] [[Thể loại:Người Hải Phòng]] [[Thể loại:Thái thượng hoàng Việt Nam]]
Vành nhật hoa (hay nhật miện; tiếng Anh: stellar corona) là lớp ngoài cùng của bầu khí quyển sao. Vành nhật hoa bao gồm plasma. Nhật hoa của Mặt Trời nằm phía trên chromosphere và kéo dài hàng triệu km ra ngoài vũ trụ. Nó dễ nhìn thấy nhất trong nhật thực toàn phần, nhưng nó cũng có thể được quan sát bằng coronagraph. Các phép đo quang phổ cho thấy quá trình ion hóa mạnh trong vành nhật hoa và nhiệt độ plasma vượt quá 1.000.000 kelvin, nóng hơn nhiều so với bề mặt của Mặt Trời, được gọi là quang quyển. Đặc điểm vật lý. Nhật hoa của Mặt Trời nóng hơn nhiều so với bề mặt của Mặt Trời: nhiệt độ trung bình của quang quyển là khoảng 5.800 kelvin, so với nhiệt độ từ 1 đến 3 triệu kelvin của vành nhật hoa. Độ dày đặc của vành nhật hoa bằng 10−12 lần so với quang quyển, do đó tạo ra lượng ánh sáng khả kiến ​​bằng khoảng một phần triệu. Nhật hoa được ngăn cách với quang quyển bởi chromosphere tương đối nông. Cơ chế chính xác mà nhật hoa được làm nóng vẫn là chủ đề của một số cuộc tranh luận. Hầu hết ánh sáng Mặt Trời được tán xạ về phía Trái Đất trong nhật thực toàn phần là bởi các electron tự do trong vành nhật hoa. Các electron tự do bị bật ra khỏi các nguyên tử hydro bởi các vụ va chạm. Từ độ sáng của ánh sáng Mặt Trời bị tán xạ, có thể tính được mật độ của electron và của các proton trong vành nhật hoa. Với một phần điển hình của vành nhật hoa, mật độ khí có thể đạt 10−6 mật độ quang quyển, mật độ giảm dần ở phía ngoài. Một phần khác của bức xạ từ vành nhật hoa là sự phát xạ, ở những bước sóng xác định, từ các nguyên tử bị ion hóa cao độ, như các ion sắt mất 8 đến 12 electron. Các nguyên tử bị ion hóa cao như vậy là do nhiệt độ của vành nhật hoa cao hơn 106 K. Gần như tất cả hydro đều bị ion hóa ở nhiệt độ này. Ở nhiệt độ này, hầu hết các photon phát xạ là tia X. Bởi vậy hình ảnh của vành nhật hoa có thể thu được bằng cách sử dụng một camera tia X. Vì tia X không xuyên qua khí quyển Trái Đất nên camera tia X phải được đặt trong vũ trụ.
Mắt hay nhãn là cơ quan của hệ thống thị giác. Cơ quan này cung cấp cho sinh vật sống tầm nhìn, khả năng tiếp nhận và xử lý chi tiết hình ảnh, cũng như cho phép một số chức năng phản ứng ảnh độc lập với tầm nhìn. Mắt phát hiện ánh sáng và chuyển đổi nó thành các xung điện hóa học trong tế bào thần kinh. Ở các sinh vật bậc cao, mắt là một hệ thống quang học phức tạp, thu thập ánh sáng từ môi trường xung quanh, điều chỉnh cường độ của nó thông qua một màng chắn, tập trung nó thông qua một cụm thấu kính có thể điều chỉnh để tạo thành một hình ảnh, chuyển đổi hình ảnh này thành một tập hợp các tín hiệu điện và truyền các tín hiệu này đến não thông qua các con đường thần kinh phức tạp kết nối mắt thông qua dây thần kinh thị giác với vỏ thị giác và các khu vực khác của não. Đôi mắt với sức mạnh phân giải đã có mười dạng cơ bản khác nhau và 96% các loài động vật sở hữu một hệ thống quang học phức tạp. Mắt xử lý hình ảnh có trong động vật thân mềm, hợp âm và động vật chân đốt. "Đôi mắt" đơn giản nhất, chẳng hạn như những con mắt trong vi sinh vật, không làm gì khác ngoài việc phát hiện xem môi trường xung quanh là sáng hay tối, điều này đủ cho sự nhận dạng và điều hòa của nhịp sinh học. Với các đôi mắt phức tạp hơn, các tế bào hạch nhạy cảm võng mạc gửi tín hiệu dọc theo đường võng mạc đến nhân trên chéo để điều chỉnh sinh học và đến khu vực trước sinh để kiểm soát phản xạ ánh sáng đồng tử. Mắt phức tạp có thể phân biệt hình dạng và màu sắc. Các lĩnh vực thị giác của nhiều sinh vật, đặc biệt là động vật ăn thịt, liên quan đến các khu vực lớn của tầm nhìn hai mắt để cải thiện nhận thức về độ sâu. Ở các sinh vật khác, mắt được đặt để tối đa hóa tầm nhìn, chẳng hạn như ở thỏ và ngựa, có tầm nhìn một mắt. Mắt nguyên sinh đầu tiên tiến hóa giữa các loài động vật triệu năm về trước về thời điểm xảy ra vụ nổ Cambri. Tổ tiên chung cuối cùng của động vật sở hữu bộ công cụ sinh hóa cần thiết cho thị lực, và đôi mắt tiên tiến hơn đã tiến hóa ở 96% các loài động vật ở sáu trong số ~ 35 phyla chính. Ở hầu hết các động vật có xương sống và một số động vật thân mềm, mắt hoạt động bằng cách cho phép ánh sáng đi vào và chiếu lên một bảng tế bào nhạy cảm với ánh sáng, được gọi là võng mạc, ở phía sau mắt. Các tế bào hình nón (cho màu sắc) và các tế bào hình que (cho độ tương phản ánh sáng yếu) trong võng mạc phát hiện và chuyển đổi ánh sáng thành tín hiệu thần kinh để nhìn. Các tín hiệu thị giác sau đó được truyền đến não thông qua dây thần kinh thị giác. Đôi mắt như vậy thường có hình cầu, chứa đầy một chất giống như gel trong suốt được gọi là hài hước thủy tinh thể, với một thấu kính hội tụ và thường là mống mắt; sự thư giãn hoặc thắt chặt các cơ xung quanh mống mắt làm thay đổi kích thước của con ngươi, từ đó điều chỉnh lượng ánh sáng đi vào mắt, và giảm quang sai khi có đủ ánh sáng. Mắt của hầu hết các loài chân, cá, động vật lưỡng cư và rắn có hình dạng thấu kính cố định và tầm nhìn tập trung đạt được bằng cách quan sát ống kính ống kính tương tự như cách máy ảnh lấy nét. Mắt đa hợp được tìm thấy trong số các động vật chân đốt và bao gồm nhiều khía cạnh đơn giản, tùy thuộc vào chi tiết giải phẫu, có thể cho một hình ảnh pixel hoặc nhiều hình ảnh trên mỗi mắt. Mỗi cảm biến có ống kính và tế bào cảm quang riêng. Một số mắt có tới 28.000 cảm biến như vậy, được sắp xếp theo hình lục giác và có thể cho tầm nhìn 360° đầy đủ. Mắt hợp chất rất nhạy cảm với chuyển động. Một số động vật chân đốt, bao gồm nhiều loài trong bộ Strepsiptera, có đôi mắt chỉ gồm một vài khía cạnh, mỗi mặt có một võng mạc có khả năng tạo ra một hình ảnh, tạo ra tầm nhìn. Với mỗi mắt nhìn một thứ khác nhau, một hình ảnh hợp nhất từ tất cả các mắt được tạo ra trong não, cung cấp những hình ảnh có độ phân giải cao rất khác nhau. Sở hữu tầm nhìn màu sắc siêu nhạy chi tiết, tôm Mantis đã được báo cáo là có hệ thống thị giác màu phức tạp nhất thế giới. Trilobites, hiện đã tuyệt chủng, có đôi mắt ghép độc đáo. Chúng đã sử dụng các tinh thể canxit trong suốt để tạo thành thấu kính cho mắt. Trong đó, chúng khác với hầu hết các loài động vật chân đốt khác, có đôi mắt mềm mại. Số lượng ống kính trong một mắt như vậy khác nhau; tuy nhiên, một số trilobites chỉ có một và một số có hàng ngàn thấu kính ở một mắt. Trái ngược với mắt ghép, mắt đơn là mắt có một thấu kính. Ví dụ, nhện nhảy có một cặp mắt đơn giản lớn với trường nhìn hẹp, được hỗ trợ bởi một loạt các mắt khác, nhỏ hơn cho tầm nhìn ngoại vi. Một số ấu trùng côn trùng, như sâu bướm, có một loại mắt đơn giản khác nhau thường chỉ cung cấp hình ảnh thô, nhưng (như trong ấu trùng bọ cánh cứng) có thể có khả năng phân giải 4 độ vòng cung, nhạy cảm với phân cực và có khả năng tăng độ nhạy tuyệt đối của nó vào ban đêm theo hệ số từ 1.000 trở lên. Một số mắt đơn giản nhất, được gọi là ocelli, có thể được tìm thấy ở động vật như một số loài ốc, mà thực sự không thể "nhìn thấy" theo nghĩa thông thường. Chúng có các tế bào nhạy sáng, nhưng không có ống kính và không có phương tiện nào khác để chiếu hình ảnh lên các tế bào này. Họ có thể phân biệt giữa ánh sáng và bóng tối, nhưng không còn nữa. Điều này cho phép ốc sên tránh ánh nắng trực tiếp. Trong các sinh vật sống gần các lỗ thông hơi dưới biển sâu, mắt ghép đã được đơn giản hóa và thích nghi với ánh sáng hồng ngoại được tạo ra bởi các lỗ thông hơi nóng bằng cách này, sinh vật có mắt này có thể phát hiện ra suối nước nóng và tránh bị đun sôi. Trong giới động vật có nhiều loại mắt. Ở nhiều loài, chỉ có các tế bào thần kinh nhạy sáng để cảm nhận mức độ sáng tối của môi trường, nhưng không thu được hình ảnh hai chiều hay 3 chiều của môi trường. Ở sên, các tế bào thần kinh nhạy sáng được nằm sâu hơn trong hốc, tạo nên cảm giác về hướng tới của ánh sáng. Ở ốc anh vũ, có sự tiến hoá mạnh hơn khi các tế bào nằm nhạy sáng trải thành võng mạc nằm sau một lỗ nhỏ, giúp tạo ra hình ảnh hai chiều của không gian xung quanh theo cơ chế máy ảnh đục lỗ. Các loài côn trùng thường có mắt đa hợp chứa các ống dẫn ánh sáng đến từng tế bào thần kinh nhạy sáng; tạo ra mảng ảnh. Mỗi ống dẫn sáng có một thấu kính và (các) tế bào nhạy sáng độc lập. Lượng ống dẫn sáng trong một mắt đa hợp có thể lên tới hàng chục nghìn, xếp cạnh nhau theo cấu trúc lục giác, tạo ra hình ảnh chứa toàn bộ không gian xung quanh. Các mắt đa hợp rất nhạy cảm với chuyển động. Ở một số loài, mối ống dẫn sáng có nhiều tế bào nhạy sáng đủ để tạo ra hình ảnh riêng. Các động vật có dây sống và một số loài nhuyễn thể hội tụ hình ảnh xung quanh bằng thấu kính lên một võng mạc chứa các đầu dây thần kinh nhạy cảm với ánh sáng. Các tín hiệu thần kinh từ võng mạc được đưa về não xử lý và tái dựng hình ảnh môi trường. Cá, rắn và một số loài lưỡng cư có thấu kính có hình dạng cố định; việc điều khiển hội tụ ảnh xa gần được thực hiện bằng cách di chuyển thấu kính ra xa hay lại gần võng mạc. Các loài khác điều khiển hội tụ ảnh bằng cách làm biến dạng thấu kính. Lượng ánh sáng thu thập có thể được điều khiển bằng đóng mở đồng tử. Kiểu sắp xếp dây thần kinh cũng khác nhau tuỳ loài, khiến cho mắt động vật có vú có điểm mù, còn mắt bạch tuộc thì không. Đa số các mắt đa hợp được tìm thấy trên các loài chân khớp như côn trùng hay giáp xác. Mỗi mắt đa hợp có hình cầu, được chia làm từ hàng chục đến hàng nghìn múi. Mỗi múi có đường dẫn ánh sáng từ một hướng riêng, qua các thấu kính riêng, tới các tế bào nhạy sáng nằm bên trong, có thể phân biệt được độ sáng tối và đôi khi cả màu sắc hay độ phân cực của ánh sáng. Hình ảnh thu nhận bởi bộ não của các loài chân khớp này được tổng hợp từ các tín hiệu đơn lẻ đến từ các múi, tương ứng với từng hướng nhìn đơn lẻ. Nhược điểm của mắt đa hợp so với mắt đơn là, do không có một thấu kính trung tâm hay võng mạc trung tâm với khả năng điều chỉnh độ hội tụ, việc ghép hình từ các ống dẫn sáng đơn lẻ tạo nên hình ảnh có độ phân giải hai chiều thấp. Tuy nhiên, ưu điểm của mắt đa hợp là quan sát được toàn bộ không gian mà không cần di chuyển đầu hay thay đổi cơ học trong mắt, khiến việc theo dõi các di chuyển nhanh rất dễ dàng, thông qua cảm nhận thay đổi cường độ sáng giữa các ống dẫn tương ứng với các hướng khác nhau. Các ống dẫn có hướng này cũng đôi khi giúp quan sát tốt độ phân cực ánh sáng. Bản thân mắt đa hợp được chia làm hai loại chính và các phân loại nhỏ, cùng với một số ngoại lệ, tuỳ thuộc vào cơ chế quang học trong tạo ảnh (phản xạ, khúc xạ hay hấp thụ), và cơ chế xử lý tín hiệu của não. Các mắt đơn thường có cấu trúc là tạo hình ảnh hai chiều của không gian xung quanh lên một võng mạc chứa các tế bào thần kinh nhạy sáng, thông qua hiện tượng khúc xạ qua thấu kính hội tụ. Việc tạo ảnh trên võng mạc chứa hàng triệu đến hàng trăm triệu tế bào thần kinh, thay vì hàng nghìn ống dẫn như ở mắt đa hợp, làm tăng đáng kể độ phân giải của ảnh hai chiều thu được. Hơn nữa, ảnh thu được có độ sâu, tức là có thông tin ba chiều, tập trung vào các vật thể xa hay gần nhờ vào sự thay đổi sự hội tụ của thấu kính. Mắt của các loài động vật có dây sống tiến hóa khá độc lập với mắt của mực hay bạch tuộc, và hội tụ về một cơ chế hoạt động khá giống nhau.
Phụng Dương Công chúa Phụng Dương Công chúa (chữ Hán: 奉陽公主; 1244 - 1291) là một nữ quý tộc, một Công chúa nhà Trần. Tuy có danh vị Công chúa nhưng bà không phải là một hoàng nữ mà được Trần Thái Tông nhận nuôi, sau được phong làm Công chúa và gả cho con trai thứ hai của ông, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải. Theo "Phụng Dương Công chúa thần đạo bi", một trong những thông tin cổ duy nhất còn sót lại về lai lịch Công chúa, thì bà là con gái của Tướng quốc Thái sư (không rõ tên) và Tuệ Chân phu nhân (không rõ lai lịch). Văn bia không hề ghi rõ tên bà là gì, và cũng không đề cập trực tiếp tên cha bà mà chỉ ghi Tướng quốc Thái sư. Theo nhiều suy đoán ban đầu, vị "Thái sư" này là Trần Thủ Độ, và nhận định Phụng Dương thuộc hàng cô của Trần Quang Khải. Thế nhưng khi tra xét lại, Trần Thủ Độ vào lúc qua đời đã truy phong làm Vương, truy tước ["Thượng phụ Thái sư"], và tuy ông sinh thời từng là Thái sư nhưng có tước danh khác hẳn (là "Thái sư thống quốc hành quân vụ chinh thảo sư" và "Thống quốc thái sư"). Xét trong Đại Việt Sử ký Toàn thư, các kỷ thời đại Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông có đề cập đến Khâm Thiên đại vương Trần Nhật Hiệu, em út cùng mẹ của Trần Thái Tông, sinh thời là "Thái úy", sau khi chết (năm 1269) thì được truy tặng là ["Tướng quốc Thái sư"], hoàn toàn khớp với chức danh của văn bia. Như vậy cha Phụng Dương Công chúa theo lý mà nói nên thì là Trần Nhật Hiệu hơn là Trần Thủ Độ. Như vậy thì Phụng Dương Công chúa là em họ Trần Quang Khải. Từ nhỏ, bà đã nổi tiếng thông minh và rất mực hiền hậu, được Trần Thái Tông đem về cung nhận làm con nuôi, cho phong hiệu Phụng Dương Công chúa. Từ đó Phụng Dương sống trong cung như một hoàng nữ. Gả cho Chiêu Minh vương. Khi trưởng thành, bà được gả cho Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh vương Trần Quang Khải với nghi lễ dành cho hoàng nữ. Nhưng khi đó, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải lại đang say mê một người thiếp nên lạnh nhạt với bà. Biết chuyện, Trần Nhật Hiệu và Tuệ Chân phu nhân từng nổi giận và tính bề đòi bà về lại nhà, nhưng bà kiên quyết từ chối vì cho rằng đó là đạo vợ chồng. Đương khi ấy, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải có nhiều thê thiếp, nhưng danh nghĩa chỉ có Phụng Dương Công chúa là chính thất. Theo văn bia ghi nhận, Phụng Dương Công chúa đối xử với các thê thiếp của chồng hết sức bao dung. Bà cũng quán xuyến công việc, quản lý tiền bạc cho chồng khiến Trần Quang Khải hết sức hài lòng. Cùng với Linh Từ Quốc mẫu, bà là một phụ nữ quý tộc tiêu biểu của nhà Trần và được các sử gia ghi chép lại. Mùa đông năm Giáp Thân (1284), quân Nguyên sang đánh Đại Việt, Chiêu Minh vương xuống thuyền đi lánh giặc, nửa đêm trong thuyền xảy ra hoả hoạn. Lúc ấy Chiêu Minh vương đương ngủ, Công chúa ngờ là giặc đã tới nơi, đánh thức chồng dậy, đưa cho cái lá chắn và lấy mình che cho ông. Từ đó, bà rất được tán dương. Bà hay có lòng nhân từ bác ái, không so sánh suy bì đích thứ, người nào có một chút công lao, thì biểu dương trước mặt Chiêu Minh vương; người nào mắc lỗi thì ghé tai bảo nhỏ, ỉm đi cái lỗi đó. Người đời xem đó là tấm lòng không ghen ghét đố kỵ của bà. Đối với người trong họ, bà thường hay nâng đỡ, nhưng với những người bất tài thì chỉ ban của cải chứ không cho chức gì cả. Cuối đời, Trần Quang Khải về nghỉ ở trang riêng tại phủ Thiên Trường, bà cũng theo ông về đấy. Khoảng năm Tân Mão (1291), ngày 22 tháng 3, Phụng Dương Công chúa qua đời ở Thiên Trường, hưởng thọ 47 tuổi. Thôn Độc Lập, phủ Thiên Trường là nơi chôn cất của Công chúa. Ngày 11 tháng 4 năm Hưng Long nguyên niên (1293), là ngày chôn cất. Người chủ tang Công chúa là con trai thứ của bà Văn Túc vương, đến xin bài minh đem chôn cùng. Bàn về những điều sở đắc của Thượng tướng Thái sư, để làm bài minh là Thiếu bảo Đinh Củng Viên. Nội dung bài minh ấy: "Làm thiện tất hưởng phúc chừ ấy lẽ thường tình, "Có lòng nhân ắt thọ chừ trời sao không linh? "Sống làm người hiền hạnh chừ chết sẽ lưu danh, "Làm dâu cửa nhà tướng chừ đời khen phúc lành. "Thôn tên là Độc Lập chừ nơi đặt mộ xanh, "Văn chẳng xánh Hàn quân chừ dám làm bài minh. Nhân cách bà được chính Thái sư Trần Quang Khải đánh giá: "Làm điều thiện, nói điều nhân, sống nết na, chết lưu danh, vượng phu ích tử". Theo "Gia phả Trần tộc Nguyên Thiên Nghệ Tĩnh" do tác giả Trần Thanh San biên soạn năm 2001, và cũng theo nội dung của văn bia, thì Trần Quang Khải và Phụng Dương Công chúa có bảy người con, 4 trai và 3 gái. Tuy nhiên văn bia thực tế lại liệt kê có sự mâu thuẫn. Cháu của hai người tính cả nội ngoại là 13 người, trai 7 gái 6, đó là từ những người con dòng dõi đích xuất của Chiêu Minh vương Quang Khải. Trong đó Chân Từ Công chúa, không rõ tên, lấy con trai của Phán thủ Thượng vị Vũ Ninh hầu, tên là Chiểu. Thái sư Trần Quang Khải và Công chúa Phụng Dương được thờ tại đình làng Cao Đài, Hội được tổ chức ngày 22 tháng 3 âm lịch (là ngày giỗ bà Phụng Dương) hàng năm ở làng Cao Đài, xã Mỹ Thành, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
Real Club Deportivo Español, S. A. D. (tên chính thức, Real Club Deportivo Espanyol de Barcelona, S. A. D.), hay đơn giản là RCD Espanyol, là câu lạc bộ bóng đá ở thành phố Barcelona, xứ Catalan, Tây Ban Nha. Từ năm 1923 đến năm 1997, Espanyol thi đấu các trận đấu trên sân nhà của đội tại Sân vận động Sarrià thuộc quận Sarrià-Sant Gervasi của Barcelona. Năm 1997, đội chuyển đến Sân vận động Olympic Lluís Companys ở Montjuïc. Từ đầu mùa giải 2009–10, Espanyol chuyển đến Sân vận động RCDE (còn được gọi là Sân vận động Cornellà-El Prat) giữa Cornellà de Llobregat và El Prat de Llobregat. Vô địch (4): 1929,1940,2000,2006 Vô địch (1): 1993-94,2020-21 "Tính đến 31 tháng 8 năm 2015" Đội hình hiện tại. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ. Daniel Jarque "(posthumous honour)" (2002–09) "Competitive, professional matches only." Players with most appearances. "As of ngày 14 tháng 4 năm 2018"
Eo biển là đường biển tự nhiên dài và hẹp nằm ở giữa hai khoảng đất, thường là hai lục địa nối liền hai vùng biển với nhau. Nhiều eo biển rất quan trọng về mặt kinh tế. Eo biển có thể nằm trên những tuyến vận tải biển quan trọng, và có nhiều cuộc chiến đã nổ ra để giành quyền kiểm soát eo biển. Nhiều kênh đào đã được xây dựng để nối hai vùng biển với nhau.
Eo biển Malacca (phiên âm tiếng Việt: Ma-lắc-ca) là eo biển nằm giữa bán đảo Mã Lai và đảo Sumatra, nối Biển Đông và Ấn Độ Dương. Eo biển có tọa độ là 1,43° vĩ Bắc và 102,89° kinh Đông. Eo biển này có chiều dài 805 km (500 dặm Anh) và nơi hẹp nhất chỉ rộng 1,2 km. Vai trò kinh tế của eo biển. Eo biển Malacca nằm trên tuyến giao thông cực kì quan trọng, vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy từ Châu Âu, Châu Phi, Nam Á, Trung Đông đi Đông Nam Á, Đông Á. Đây là nơi chiếm 1/4 lượng giao thông hàng hải thế giới hàng năm. Mỗi năm có khoảng 50 nghìn tàu thuyền qua lại, bao gồm tàu chở dầu, tàu chở container, tàu đánh cá. Trong năm 2003, khoảng 11 triệu thùng dầu (1.700.000 m³) được vận chuyển qua đây mỗi ngày, chủ yếu cung cấp cho Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Kinh tế Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc phụ thuộc nhiều vào tuyến đường biển này. Một nửa số tàu chở nhiên liệu của ba nước trên đi qua đây. Những vụ khủng bố và cướp biển. Do tầm quan trọng của nó cho nên các tàu thuyền qua lại nơi đây từ lâu đã trở thành mục tiêu của các vụ tấn công cướp biển cũng như các vụ khủng bố. Theo thống kê, eo biển Malacca chiếm tới 1/3 các vụ cướp biển trên thế giới. Số lượng các vụ cướp tăng gấp ba lần trong ba thập kỷ qua. Trong năm 1994 xảy ra 25 vụ tấn công thì đến năm 2000 đã có 220 vụ tấn công được ghi nhận. Những tên cướp biển chủ yếu là những người dân Indonesia bị bần cùng hoá sau khủng hoảng tài chính năm 1997, hoặc là những phiến quân của tỉnh Aceh (Indonesia), nằm ở phía Bắc eo biển. Chúng có xu hướng cướp các tàu thuyền cỡ nhỏ hay bắt giữ các thủy thủ đoàn để đòi tiền chuộc.
Eo biển Mozambique là một trong những eo biển dài nhất thế giới, có chiều dài khoảng 1670 km. Eo biển này nằm giữa Đông Nam lục địa Châu Phi và Madagasca. Có chiều rộng trung bình là 450 km, chỗ rộng nhất ở phía Bắc rộng 960 km. Điểm sâu nhất 3.533 m, chỉ thua eo biển Drake (Passage). Eo biển Mozambique là con đường biển quan trọng giữa Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương.
Bộ Ưng (danh pháp khoa học: Accipitriformes) là một bộ chim ăn thịt bao gồm phần lớn các loài chim săn mồi ban ngày như diều hâu, đại bàng, kền kền và nhiều loài khác nữa, với tổng cộng khoảng 263 loài. Bộ Ưng và bộ Cắt. Trong quá khứ người ta có xu hướng thường gộp tất cả các loài chim săn mồi với các loài trong họ Cắt (Falconidae), bao gồm các loài chim cắt và caracara) vào bộ Cắt (Falconiformes). Khi tất cả các loài chim ăn thịt săn mồi ban ngày được coi như là một bộ duy nhất, thì bộ Cắt nghĩa rộng (Falconiformes "sensu lato") bao gồm khoảng 329 loài. Tuy nhiên, một số tác giả vẫn nghi ngờ về tính đơn ngành của bộ Cắt nghĩa rộng và công nhận sự tồn tại của bộ Ưng. Nếu các loài chim cắt và các đồng minh của chúng được cho là đủ khác biệt để tách riêng như một bộ độc lập, thì bộ Cắt nghĩa hẹp (Falconiformes "sensu stricto") chỉ bao gồm khoảng 66 loài chim cắt trong họ Cắt (Falconidae), còn các họ còn lại trở thành một phần của bộ Ưng (Accipitriformes). Nghiên cứu DNA gần đây chỉ ra rằng các loài cắt không có quan hệ họ hàng gần với các loài chim săn mồi còn lại, thay vì thế chúng có quan hệ họ hàng gần với các loài vẹt (Psittaciformes) và sẻ (Passeriformes), trong khi các họ Pandionidae và Sagittariidae là có quan hệ họ hàng gần nhất với họ Accipitridae, và chúng tạo thành một nhánh đơn ngành. Kể từ đó sự tách ra (nhưng không phải là vị trí của cắt cận kề với vẹt và sẻ) đã được các tổ chức có uy tín về điểu học như Ủy ban Phân loại Nam Mỹ (SACC), Ủy ban Phân loại Bắc Mỹ (NACC) trực thuộc Hiệp hội các nhà điểu học châu Mỹ (AOU) và Đại hội Điểu học Quốc tế (IOC) công nhận. Đề xuất dựa trên DNA cũng như các phân loại của NACC và IOC gộp các loài kền kền Tân thế giới vào bộ Accipitriformes. Cách tiếp cận này được tuân theo trong bài này. Phân loại của SACC tách kền kền Tân thế giới thành bộ riêng gọi là Cathartiformes. Vị trí phân loại của kền kền Tân thế giới đã từng không rõ ràng kể từ đầu thập niên 1990, với một số học giả từng đặt kền kền Tân thế giới trong bộ Ciconiiformes; trên cơ sở một số chứng cứ nghiên cứu phân tử, hình thái và hành vi cho thấy chúng có quan hệ họ hàng gần gũi với các loài cò hơn là với họ Accipitridae. Các loài ưng biển có nhiều điểm tương tự như họ Accipitridae và thông thường cũng hay được coi như là các thành viên của họ này. Tuy vậy, do chúng cũng có nhiều điểm khác biệt rõ ràng, nên người ta cũng đặt nó trong một họ riêng là họ Pandionidae. Phát sinh chủng loài. Cây phát sinh chủng loài trong phạm vi bộ Ưng dưới đây vẽ theo Ericson "và ctv." (2006), Hackett "và ctv." (2008). Các loài trong bộ Accipitriformes được biết đến từ Trung Eocen (chi có lẽ là cơ sở "Masillaraptor" từ mỏ đá Messel) và thông thường có mỏ hình móc cong sắc nhọn với da gốc mỏ (khối mềm) trên bề mặt đầu gần lưng, nơi chứa lỗ mũi. Các cánh của chúng dài và khá rộng, phù hợp cho kiểu bay liệng, với 4–6 lông cánh sơ cấp có khía phía ngoài. Accipitriformes có các chân khỏe và bàn chân với các móng vuốt của chim ăn thịt và một vuốt sau mọc ngược. Gần như tất cả các loài trong bộ Accipitriformes đều là chim ăn thịt, săn mồi trong thời gian ban ngày hay vào lúc chạng vạng. Chúng có tuổi thọ cao và phần lớn có tốc độ sinh sản chậm. Chim non có giai đoạn lớn rất nhanh kéo dài, tiếp theo là 3–8 tuần được chim bố mẹ chăm sóc tại tổ sau lần tập bay đầu tiên, và 1 tới 3 năm để thuần thục về mặt sinh dục. Chim trống và mái có kích thước khác biệt rõ nét và đôi khi chim mái to và nặng hơn chim trống tới 2 lần. Dị hình giới tính này đôi khi lên tới cực điểm ở các loài chuyên ăn thịt chim, chẳng hạn như ở các loài ưng thuộc chi "Accipiter", và gần như không thấy có khác biệt ở các loài kền kền (Aegypiinae). Nói chung chúng có kiểu quan hệ một vợ một chồng (đơn phối ngẫu), mặc dù khi một con chết đi thì con còn lại có thể tìm kiếm bạn tình mới. Bộ Accipitriformes thuộc về số các bộ có sự đa dạng nhất về kích thước, từ nhỏ như các loài chim ưng nhỏ cho tới lớn như các loài kền kền Cựu thế giới, còn thần ưng Andes ("Vultur gryphus") là loài chim to lớn nhất còn sinh tồn, nếu như họ Cathartidae được gộp trong bộ này. Đây là một đổi hướng từ một trang đó đã được . Trang này được giữ lại dưới dạng một trang đổi hướng để tránh phá vỡ các liên kết, cả bên trong và bên ngoài, có thể đã được liên kết tới tên trang cũ.