text stringlengths 1 55.3k |
|---|
Trong vai trò chuyển tải thông điệp, NỖI BUỒN CHIẾN TRANH là một tiểu thuyết vô cùng giá trị. Trôi dạt giữa thời gian và không gian, chuyển dịch nhuần nhuyễn giữa những ký ức của những ngày tháng trước chiến tranh với nhũng mô tả về các trận đánh, cuốn tiểu thuyết mang trong mình sự bình yên và nỗi đau buồn, chất thơ c... |
Bất kỳ nhà chính trị hoặc nhà hoạch định chính sách nào của Mỹ cũng cần nên đọc cuốn sách này. |
Nó lẽ ra phải được giải Pulitzer, nhưng đã không được. Nó quá hấp dẫn để xứng đáng được thế. |
THE GUARDIAN Nhân vật chính trong tiểu thuyết NỖI BUỒN CHIẾN TRANH không phải là một con người hành động; anh không mô tả, kể, tái hiện lại đời sống xã hội của một con người (tồn tại trong xã hội, tiếp xúc với những nhân vật khác, xung đột và giải quyết xung đột…) để từ đó khái quát những vấn đề nhân sinh. Trái lại, an... |
Phạm Xuân Thạch Cái may của NỖI BUỒN CHIẾN TRANH là ở chỗ nó ra đời vào thời hội nhập. Nhiều khách phương xa đặt chân đến đây với cuốn truyện của Bảo Ninh. |
Trong chừng mực mà ở nhiều nơi, hai tiếng Việt Nam mới có nghĩa một cuộc chiến tranh - nó đã trở thành nguời đại sứ duy nhất |
thể đợi một ngày”, vị bác sĩ mệt mỏi nói. |
“Tôi biết Carrie ghét cay ghét đắng khi phải chịu ơn ai đó. Cô ấy sẽ không nhận đồ từ thiện, và các bệnh viện cũng không thích tặng bừa bãi. |
Nếu có người ở lại, cho cô ấy u ốn g thuốc, u ốn g nước, được giữ ấm, thì tôi có thể đợi một ngày. |
Những bệnh ki ể u này thường phản ứng với các loại kháng sinh r ấ t nhanh chóng”. |
“Tôi sẽ ở lại”, Maggie nói. “Lần trước chúng t ô i đã chăm sóc cho cô ấy”. |
“Không”, Gabriel bình tĩnh. |
“Tôi sẽ ở lại”. “Nhưng con bé c ầ n một người phụ nữ lo cho...” “Tôi không nghĩ cô ấy quá x ấ u hổ trong trường hợp này đâu, Maggie”, bác sĩ Bro w ning n ó i. “Và cậu Gabriel đây kh ỏ e mạnh hơn cô r ấ t nhiều. Hơn nữa, người đó cần xử lý t ì nh trạng nước nôi. Cô thì đang cho con bú, n ế u là tôi, tôi không đời nào và... |
Maggie đã thua, chị biết điều đó. Chị ngoan ngoãn ch ấ p nhận. “Chúng tôi sẽ mang b ữ a tối đến”, chị nói với Gabriel. |
“Và Lars có thế giúp giải quyết đám ố ng nước”. |
Gabriel gật đầu, vẫn nhìn chằm chằm cơ thể b ấ t động của Carrie. |
Hai gò má cô ử ng đỏ vì sốt, trong khi phần còn lại của cô như c ẩ m thạch trắng, và gã đã phải cố hết s ứ c kìm nén cơn giận cũng như nỗi sợ hãi của mình. |
Cô không thể chết, mẹ kiếp! Gã không buông tha cho cô. Không phải vì lo cho sự b ấ t d iệt của gã. Gã đã chấp nhận sự thật gã xứng đáng với địa ngục và chắc chắn kết cục của gã sẽ ở đó. |
Nhưng Carrie lại là chuyện khác. Cô chắc chắn sẽ khô ng phải dừng chân ở trạm trung chuy ể n linh hồn. Cô sẽ ở tr ê n chuy ế n tàu cao t ố c hướng thẳng đến thiên đường, còn gã sẽ không bao giờ được gặp lại cô. Thế nên tuyệt đối gã sẽ không để cô ra đi quá sớm. |
Bác sĩ đang lục lọi trong túi da mang theo. “ Ban đầu tôi sẽ k ê li ề u penicillin g ấ p đôi, sau đó tùy thuộc vào quá trình hồi phục mà anh theo dõi. |
Sáu tiếng một lần, hãy cho cô ấy uống trà th ả o dược, nước ép trái cây, và nước gừng. Tuy ệ t đối không ca f ein, nó sẽ càng làm cô ấy háo nước hơn nữa . |
Anh có làm được không?” Ông ta ghim cái nhìn v à o Gabriel. |
“Tôi làm được”. Browning gật đầu, thỏa mãn. |
“Rồi cái thị tr ấ n này sẽ rơi vào tình trạng chết tiệt nào khi không có tôi ở đây?” Ông ta cảm khái thốt lên. “Ông sắp đi sao?” Gabriel hỏi. |
“Cả thị tr ấ n đang chết dần. |
Tôi không đủ khả năng làm một bác sĩ cho hàng trăm con người, tôi phải đến nơi nào đó cần tôi nữa. |
Trong một tháng Carrie chưa bình phục, cậu phải lái xe đưa cô ấy đến phòng cấp cứu” .Ô ng ta đứng dậy, nhìn Carrie. |
“Chúng tôi rất vui vì ông vẫn ở đây, bác sĩ”, Maggie nói. |
“Quỷ tha ma bắt!” Người đàn ông già bùng nổ. |
“Tôi đã cảnh cáo cô ấy. Cô ấy sẽ tự giết bản thân nếu cứ tiếp tục như thế. Chẳng chịu lo lắng cho mình, không ăn uống đủ b ữ a, không ngủ đủ gi ấ c. Cô ấy đang dần kiệt sức, gầy trơ c ả xương, và ngôi nhà này gió lùa chẳng khác nào một cái nhà hoang. Không ngạc nhiên khi cô ấy bị ố m”. |
“Tôi sẽ để ý ngôi nhà”, Gabriel nói. “Và để ý cả cô ấy nữa”. Vị bác sĩ nhìn g ã . Rồi ông ta m ỉ m cười, một nụ cười hơi ả m đạm. |
“Tôi tin tưởng cậu. Đi nào, Maggie. Chúng ta đã gửi gắm cô ấy vào một đôi tay an toàn”. |
Gabriel không dám đảm bảo. |
Khi nước trong ấ m đun tan ra và bắt đ ầ u sôi thì gã đã chất c ủ i đầy vào thùng, đ ủ duy trì lò sưởi trong vài ngày. Nhiệt độ tăng lên dễ ch ịu , và gã mang chi ế c lò sưởi đi ệ n vào nhà tắm cho đám ố ng nước trước khi pha một ấm trà táo quế. Carrie đang nóng dần lên lúc gã mang cho cô một tách trà pha th ê m mật on... |
Gã quỳ bên cạnh cô trên sàn, vòng tay đỡ cô |
lấy một phút”, Ben nói. Anh ta liếm lại. |
“Theo tôi phỏng đoán thì nước trái cây. Tuy nhiên không nói được là vị gì.” “Rồi, bổ sung vào danh sách chứng cứ đi, Thom.” Rhyme hất đầu chỉ chiếc máy tách hợp chất. “Chúng ta hãy xem kết quả phân tích mảnh vải quần, tiếp theo chạy chỗ đất cát lấy từ phần gấu.” Chiếc máy nhanh chóng cho họ biết các chất bám trên quần ... |
Lượng dầu hoả rất đáng kể. |
Thom bổ sung chúng vào danh sách chứng cứ và mấy người đàn ông cũng xem xét kỹ lưỡng. |
TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP – CỐI XAY Sơn nâu dây trên quần Cây gọng vó Đất sét Rêu nước Nước trái cây Sợi giấy Viên chua làm mồi câu Camphene Chất cồn Dầu hoả Men nở Tất cả những cái này có ý nghĩa như thế nào? Rhyme băn khoăn tự hỏi. Quá nhiều manh mối. Anh không thể nhận ra các mối quan hệ giữa chúng. |
Liệu đường là từ nước trái cây hay từ một địa điểm riêng biệt mà gã trai từng đến? Liệu gã đã mua dầu hoả hay gã chỉ tình cờ trốn trong một trạm xăng hay trong một kho chứa nơi người chủ cất dầu hoả? |
Chất cồn thì được tìm thấy trong ba nghìn sản phẩm gia dụng và công nghiệp phổ biến - từ các loại dung môi tới nước thơm xoa mặt sau khi cạo râu. |
Men nở chắc chắn bị dây vào tại cối xay, đó là nơi ngũ cốc được xay thành bột. |
Sau vài phút, ánh mắt Lincoln Rhyme lướt sang bảng chứng cứ khác. * * * TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP - PHÒNG RIÊNG CỦA GARRETT Xạ chồn hôi Lá thông bị cắt rời khỏi cành Các bức vẽ côn trùng Ảnh chụp gia đình Ảnh chụp mary Beth Các sách về côn trùng Dây câu Tiền Chìa khoá chưa xác định Dầu hoả Ammonia Nitrate Camp... |
Các bức vẽ côn trùng cứng nhắc của gã trai được lật nhanh qua: bọ gạo, nhện nước, gọng vó. Rhyme nhớ Sachs đã bảo anh rằng, ngoại trừ chiếc lọ đựng ong bắp cày – cái két an toàn của Garrett – tất cả các loài côn trùng trong bộ sưu tập của gã đều được nuôi trong những chiếc lọ đựng nước. “Tất cả bọn chúng đều là các loà... |
Anh nhìn Ben. |
“Và loại đầu mối câu đó? Cậu nói nó dùng để câu bọn cá ăn sát đáy à?” “Viên chua ạ? Phải rồi.” “Nước mặn hay nước ngọt?” “Chà, nước ngọt. Tất nhiên rồi.” “Và dầu hỏa – thuyền cũng chạy bằng dầu hoả, đúng không nhỉ?” “Nhiên liệu đốt đèn”, Ben trả lời. “Loại thuyền nhỏ gắn động cơ bên ngoài thân vốn vẫn sử dụng nó.” Rhym... |
Ben nói: “Có lý đấy, ông Lincoln. |
Và tôi cuộc rằng lượng dầu hoả nhiều vậy vì hắn đã nạp lại nhiên liệu nhiều lần – phải chạy qua chạy lại giữa Tanner’s Corner và nơi hắn giữ Mary beth. |
Chuẩn bị sẵn sàng các thứ cho cô ấy”. “Tư duy tốt đấy. Gọi Jim Bell vào đây, được không?” Vài phút sau, Bell quay lại và Rhyme trình bày giả thuyết cảu anh. Bell nói: “Những con bọ dưới nước đem đến cho anh cái ý tưởng ấy đấy hả?”. Rhyme gật đầu. |
“Nếu chúng ta biết về côn trùng, chúng ta sẽ biết về Garrett.” “Nó chẳng điên rồ hơn những điều khác tôi đã nghe ngày hôm nay”, Jim Bell nói. |
Rhyme hỏi: “Các anh có thuyền cảnh sát không?” “Không. |
Nhưng dù sao thì nó cũng không hữu ích gì cho chúng ta đâu. |
Anh không biết sông Paquo. |
Trên bản đồ nó trông giống như bất cứ con sông nào – cũng có hai bờ, cũng có cái nọ cái kia, đủ cả. tuy nhiên nó còn có đến nghìn cái vịnh nhỏ và sông nhánh nối các đầm lầy. |
Nếu Garrett đi theo sông Paquo hắn sẽ không đi theo dòng chảy chính, tôi đảm bảo với anh điều này. Sẽ chẳng tài nào tìm thấy hắn được.” Ánh mắt Rhyme đưa theo sông Paquenoke về phía tây. “Nếu hắn đã vận chuyển các đồ dự trữ tới địa điểm giữ Mary Beth thì nghĩa là chỗ đó có lẽ không quá xa con sông. Hắn sẽ phải đi về ph... |
“Đó là phía bắc sông Paquo, không ai sinh sống ở đó cả. |
Phía nam con sông thì khá đông dân cư. |
Hắn chắc chắn sẽ bị phát hiện.” “Vậy ít nhất phải chừng mười dặm về phía tây?” “Anh đúng đấy”, Bell nói. “Cái cầu kia?” Rhyme hất đầu chỉ tấm bản đồ. |
Anh đang nhìn ô E-8. |
“Cầu Hobeth ấy à?” “Dốc lên cầu như thế nào? Chính là một đoạn quốc lộ?” “Xung quanh toàn bãi rác. |
Nhưng cầu cao chừng bốn mươi feet nên dốc lên cầu dài. Ồ, hẵng khoan… Anh đang cho rằng Garrett sẽ phải quay lại dòng chảy chính để đi qua phía dưới cầu?” “Đúng. Vì các kỹ sư hẳn đã lấp những nhánh sông nhỏ toả ra hai bên khi họ xây dựng dốc lên cầu.” Bell gật đầu. |
“Ờ. Tôi hiểu rồi.” “Cử Lucy và những người khác tới đó bây giờ đi. Tới chỗ cái cầu. |
Và, Ben này, hãy gọi cho nhân vật kia – Henry Davett. |
Bảo rằng chúng ta lấy làm tiếc lại cần đến sự giúp đỡ của ông ta”. Chúa sẽ làm gì… Một lần nữa nghĩ tới Davett, Rhyme thầm nhẩm một lời cầu nguyện – tuy nó không nhắm đến bất cứ vị thần nào. |
Nó nhắm đến Amelia Sachs: Ôi, Sachs, hãy cẩn thận. |
Chỉ còn là vấn đề thời gian, sớm muộn gì Garrett cũng sẽ có cớ xin em tháo còng cho hắn. Rồi dẫn em tới nơi nào đó hoang vắng. Rồi tìm cách cướp súng của em… Đừng để những tiếng đồng hồ đang trôi qua ru em vào sự tin tưởng hắn, Sachs ạ. Đừng mất cảnh giác. Hắn có độ kiên nhẫn của loài bọ ngựa đấy. |
CHƯƠNG HAI MƯƠI TÁM G arrett thông thạo các luồng nước ở đây y như một tay hoa tiêu đường sông lão luyện, gã lái cho con thuyền đi vào những chỗ có vẻ là những nhánh sông cụt nhưng rốt cuộc luôn luôn tìm thấy những lạch nước, mảnh tựa tơ nhện, dẫn họ vững vàng tiến về phía tây xuyên qua cái mê cung này. Gã lưu ý Sachs ... |
“Nhìn kìa!”, Garrett kêu to. “Cái gì?” Gã chỉ một cái gì đó mà Sachs không trông thấy được. |
Gã nhìn chằm chằm vào một điểm gần bờ, lẫn giữa biết bao nhiêu vở kịch hết sức ngắn ngủi đang diễn ra dưới nước. Tất cả những gì Sachs có thể trông thấy là một con bọ gì đó nhảy trên mặt sông. “Gọng vó”, Garrett bảo Sachs rồi ngồi ngả người lại khi họ bơi lướt qua. |
Bộ mặt gã trở nên nghiêm trang. |
“Côn trùng, nói chung, quan trọng hơn chúng ta nhiều. |
Ý tôi là đối với việc giữ cho hành tinh này tiếp tục tồn tại. hãy tưởng tượng – tôi đã đọc được điều này ở đâu đó – rằng nếu ngày mai tất cả mọi người trên trái đất biến mất, thế giới vẫn tiếp tục tồn tại bình thường. Nhưng nếu côn trùng biến mất thì đời sống sẽ kết thúc nhanh chóng – nói chung, trong vòng một thế hệ. ... |
Gã tiếp tục: “Phải, một số loài côn trùng gây hại. |
nhưng chỉ một số thôi, một hay hai phần trăm gì đó”. |
Bộ mặt gã trở nên sinh động và gã tự hào nói: “Và những loài phá hoại mùa màng, chà, tôi có cái ý tưởng này. Nó khá thú vị đấy. |
Tôi muốn nuôi loài rệp mắt vàng đặc biệt ấy, để kiềm chế các loại gây hại, thay thế cho các hoá chất độc - như vậy các loài côn trùng hữu ích và các loài động vật khác không bị tiêu diệt. Rệp mắt vàng là lựa chọn tốt nhất. |
Chưa ai từng làm việc này.” “Cậu nghĩ là cậu có thể làm à, Garrett?” “Tôi chưa biết chính xác phải làm thế nào. Nhưng tôi sẽ học |
Walt Disney Blind ambition Charlie Boswell has always been one of my heroes. He has inspired me and thousands of others to rise above hard circumstances and live our true passion. |
Charlie was blinded during World War II while rescuing his friend from a tank that was under fire. |
He was a great athlete before his accident and in a testimony to his talent of sports and determination of overcoming his fate, he decided to try a brand new sport, a sport he never imagined playing, even with his eyesight... golf! Through determination and a deep love for the game he did a miracle - becoming the Natio... |
sự thật? Làm cách nào để chứng minh?" |
Ðức Phật nói: "Các người đã biết ta hơn sáu năm. |
Có bao giờ ta dối gạt các người điều gì không?" Họ nói: "Không". |
Rồi Ðức Phật nói "Hãy nghe một thời pháp của ta". Các vị đạo sĩ bằng lòng. Nói cách khác là họ đồng ý cho Ðức Phật một cơ hội. Họ sửa 140 soạn chỗ ngồi cho Ðức Phật trong vườn nai Isipatanna, ngoại ô Benares và ở đó với Ðức Phật một tuần. |
Mỗi ngày họ thay nhau đi khất thực. |
Lúc đó Ðức Phật bắt đầu thuyết giảng bài kinh đầu tiên sau khi Giác Ngộ - Kinh Chuyển Pháp Luân. Ðức Phật bắt đầu chuyển bánh xe Pháp với bài giảng đầu tiên và may mắn làm sao, cho tới ngày nay bánh xe Pháp vẫn còn luân chuyển. Cũng có nhiều thời mạt Pháp xảy ra, lúc đó thật là khó khăn. |
Thí dụ đã có những lúc ở Sri Lanka người ta không thấy bóng dáng một nhà tu. Phật Pháp thường bị đe dọa, chống đối vì nó đi ngược lại với bản năng con người. |
Ngược với dòng chảy, ngược triều lưu. |
Khi Ðức Phật kết thúc bài Pháp, một trong năm vị đạo sĩ đã chứng đắc. |
Ðức Phật nói: "Anna Kondanno thấy, Anna Kondanno biết". Thấy và biết. |
Biết thôi chưa đủ. |
Thấy là cái thấy của nội tâm, bản tánh của tâm, làm thay đổi hoàn toàn cái nhìn và quan điểm của con người. |
Anna Kondanno (A-nhã Kiều-Trần-Như) là vị A-la-hán đầu tiên và cũng là vị tu sĩ Phật giáo đầu tiên. Ðức Phật cũng được gọi là một vị A-la-hán: "Namo tassa bhagavato arahato samma sambuddhassa". Ngài là A-la-hán mà cũng là Phật. Ðiều khác biệt là Ðức Phật tự tìm ra Tứ Thánh đế và Bát chánh đạo, không có thầy dẫn dắt, tr... |
Ðó là một khả năng hiếm có. |
Có các Ðức Phật được gọi là Paccekabuddha (Ðộc Giác Phật, Bích Chi Phật, Duyên Giác Phật). |
Họ đạt Giác Ngộ nhưng họ không có tài giảng Pháp. |
Khi chúng ta đọc tụng kinh pháp, ta thường ngỡ ngàng trước việc Ðức Phật nhiều lần lập lại cùng những từ ngữ. Dầu trong tiếng Pali ta nghe du dương, nhưng được lập đi, lập lại nhiều lần, ta không khỏi tự hỏi tại sao. |
Nhưng không có gì đáng ngạc nhiên cả. |
Khi nói, ai cũng thường lập đi, lập lại. |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.