text stringlengths 1 55.3k |
|---|
Ông nói y như vậy với Eisner và Litvack mặc dù rõ ràng đó là điều mà Eisner không muốn nghe. Nhưng Eisner với Litvack vẫn nhất trí để Ovitz tiếp tục xử lý vụ việc và họ sẵn sàng giải quyết hợp đồng này với khoản tiền 80 triệu đô la. Ovitz cho rằng chỉ cần khoản tiền dưới 100 triệu đô la cũng đã là giá hời cho Disney rồ... |
Ông liên tục cập nhật với Eisner và Litvack “mọi chi tiết về phương án giải quyết; tôi nói rõ với họ mọi việc tôi đang làm.” Geffen và Ovitz gặp nhau đôi ba lần và thảo luận nhiều hơn qua điện thoại. Geffen rất thẳng thắn: Katzenberg muốn 100 triệu đô la, còn Eisner thì nói rằng khi đi khỏi công ty Disney thì coi như K... |
Ovitz dành 45 phút để báo cáo quá trình thương thảo với Eisner và Litvack. Eisner muốn nghe mọi thông tin chi tiết. Khi Ovitz báo cáo xong, Eisner nhìn Litvack, Litvack nhìn Eisner. “Tôi không muốn giải quyết việc này,” Eisner nói. Ovitz không tin vào tai mình. “Tôi không phải luật sư,” ông nói. |
“Có thể tôi không thông thái như ông nhưng ông có thể giải thích rõ lý do được không? |
Nếu ra tòa, ông sẽ phải mất 20 triệu đô la phí tranh tụng. Thậm chí ông có thể phải trả 200 triệu đô la vì ông đuối lý hơn ông ta đấy.” Katzenberg “hiểu sai hợp đồng,” Litvack nói. “Ông ta không được hưởng quyền gì hết.” Ovitz tức phát điên vì Litvack lại chống đối ông trước mặt Eisner. |
“Được rồi, cứ cho là tôi hiểu sai hợp đồng đi. Nhưng ông được hưởng lợi tức và tôi cũng được hưởng lợi tức. Chẳng lẽ ý hai ông là ông ta khác chúng ta sao?” Ovitz nói. |
“Khác chứ,” Litvack trả lời. |
Ovitz càng lúc càng tức hơn. Ông quay sang Eisner. “Dù ông muốn nói thế nào thì ông ta cũng đã làm việc cật lực cho ông. Không lẽ bây giờ ông muốn ông ta phải nghênh chiến với ông để có được khoản lợi tức của ông ta sao? |
Việc đó sẽ gửi đi thông điệp gì?” Eisner nói rằng việc đó kết thúc rồi; ông sẽ không giải quyết và sẽ không trả cho Katzenberg đồng nào. Sau này, Ovitz nhớ lại rằng, sau khi đã gần đạt được thỏa thuận, “Tôi không thể có được sự chấp thuận của Eisner. |
Litvack rất kiên quyết về vấn đề này. |
Ban đầu ông ta ủng hộ tôi tìm phương án giải quyết, nhưng khi nói đến tiền bạc thì hai người bọn họ không ai muốn thảo luận gì nữa.” Ovitz cảm thấy mọi hy vọng tiêu tan. Ông gọi cho Geffen và Katzenberg để nói rằng ông không thể chốt phương án với Eisner và Litvack. |
Ông cảm thấy hai người đó rất bình tĩnh đón nhận tin nhưng lời nói của họ khiến ruột gan Ovitz rối tung. |
“Rõ ràng ông phải báo cáo với Sandy Litvack,” Geffen nói. |
“Ông không còn là ông ngày trước nữa. Trước kia ông có thể chốt mọi phương án. Ông có thể xử lý mọi vấn đề. |
Bây giờ ông chả còn chút tín nhiệm nào cả.” Katzenberg có vẻ rất cảm thông. |
“Đây mới chỉ là khởi đầu thôi,” ông ta nói. |
“Ông không biết mình đang đâm đầu vào đâu đâu.” Những lời cáo buộc đó khiến Ovitz rối bời bởi sự thật đúng là như vậy. |
“Suốt 30 năm làm đại diện, tôi chưa từng thất bại trong việc chốt hợp đồng, dù chỉ là một lần. 100% hợp đồng đều được đàm phán ổn thỏa,” sau này ông nói. |
Theo quan điểm của Ovitz, thật khó để biết Eisner muốn ông làm gì, vì gần như mọi sáng kiến của ông đều bị ngăn cản bởi Eisner, Litvack hoặc Bollenbach, hoặc bởi những người lẽ ra phải có nghĩa vụ báo cáo với ông. Sau này Ovitz nói rằng, “cứ mỗi khi tôi định làm gì đó, luôn có người cản trở tôi.” Ngay cả tinh thần làm ... |
Có lần ông nhận được điện thoại của Jane Eisner. |
“Tôi muốn ông đến Disney làm việc để Michael không phải vất vả quá như vậy nữa,” bà nói với giọng vô cùng buồn thảm. |
“Tôi đang gắng hết sức,” Ovitz nói, “nhưng thật không dễ chút nào. Eisner không giao việc rõ ràng.” “Ông đi làm cả thứ Bảy và Chủ nhật. |
Ông ấy không làm sao theo kịp,” bà nói. “Ý bà là sao? Ông ấy đâu cần phải theo kịp tôi.” “Ông ấy căng thẳng lắm,” bà nói. “Ông đi làm ngày nghỉ khiến ông ấy nghĩ ông ấy cũng phải đi làm ngày nghỉ.” “Jane này, hãy nói với ông ấy rằng nghĩ vậy thì nực cười quá,” Ovitz nói. |
Nhưng ông nhận ra rằng nó sẽ chẳng thay đổi gì cả. |
Eisner coi Ovitz là đối thủ để ông ta đánh bại, thay vì là một đồng minh, một người bạn hay “đối tác.” *** Ovitz không biết rằng ngay cả trước khi ông về Disney làm việc, Eisner đã nghĩ ông ta mắc sai lầm lớn khi thuê Ovitz và ông ta đã quyết định sẽ sa thải ông. Eisner đã nói vậy với Sid Bass chỉ năm tuần trước khi Ov... |
Trong mấy tháng đầu làm việc, ông ta thảo ra một loạt hợp đồng tiềm năng, ví như hợp đồng mua lại Seattle Seahawks, Los Angeles Lakers và công ty thu âm EMI. Tôi miễn cưỡng phải làm ông ta cụt hứng trước bản năng doanh nhân đó, nhưng trong mỗi trường hợp, khi chúng tôi rà soát |
thoảng có thể gây ra cho bà chỉ là một ngọn lửa rơm chóng tàn, do thiếu chất nuôi dưỡng, bởi Eulalie không ở trong nhà. Những nghi ngờ liên quan đến Françoise không như vậy, cô tôi cảm thấy bác suốt đời ở cùng nhà với mình, còn mình, vì sợ cảm lạnh nếu ra khỏi giường, nên không dám xuống bếp để xem các nghi ngờ ấy có c... |
“Nhưng giờ đây Françoise phải biết chứ vì bà đã cho chị ta một cỗ xe mà. – Ta đã cho ả một cỗ xe ư! cô tôi kêu lên. – A! |
nhưng cháu có biết đâu, cháu tưởng thế, cháu đã nhìn thấy chị ta giờ đây ngồi xe, oai như cóc 57, để tới chợ Roussainville. Cháu cứ tưởng bà Octave đã cho chị ta cỗ xe.” Dần dần Françoise và cô tôi, giống như con thú và người đi săn, kẻ nọ không ngừng cố gắng phòng ngừa các mưu kế của kẻ kia. Mẹ tôi sợ rằng không khéo ... |
Và như vậy – trong khi một nghệ sĩ nào đó, đọc các Hồi ký thế kỷ XVII, và muốn đến gần Đức vua vĩ đại, tưởng mình đi đúng đường bằng cách tự bày đặt một phả hệ khiến mình xuất thân từ một dòng họ lịch sử hoặc bằng cách duy trì thư tín với một trong các vị đế vương đương thời của châu Âu, chính là đang quay lưng lại với... |
Một Chủ nhật, hôm cô tôi có cha xứ và Eulaiie đến thăm đồng thời, và sau đó đã nghỉ ngơi, tất cả chúng tôi lên chào bà buổi tối và mẹ ngỏ lời chia buồn với bà về sự không may luôn đưa khách đến thăm bà vào cùng một giờ. Mẹ dịu dàng bảo bà: “Chị Léonie, em biết là vừa rồi chuyện lại không ổn, tất cả mọi người đã đến thă... |
Trở về sau một cuộc dạo chơi dài, chúng tôi nhìn thấy Legrandin gần Cầu Cũ, ông ta lưu lại Combray nhiều ngày, vì lễ hội. Ông chìa bàn tay tiến lại phía chúng tôi: “Này quý cậu ưa đọc sách, cậu có biết hay không, câu thơ này của Paul Desjardins 59: Rừng cây đã tối đen, bầu trời còn xanh thẳm… Đó chẳng phải lời ghi lại ... |
Hãy đọc ông ta, cậu bé ạ; họ bảo tôi là giờ đây ông ta chuyển thành thầy dòng thuyết giáo, nhưng một thời gian dài ông từng tạo nên những bức tranh màu nước trong vắt… Rừng cây đã tối đen, bầu trời còn xanh thẳm… Sao cho bầu trời cứ mãi thẳm xanh với cậu, người bạn trẻ của tôi ạ; và ngay cả vào giờ khắc, lúc này đây đa... |
Vào cái giờ tôi thường xuống tìm hiểu thực đơn, thì bữa tối đã được khởi đầu rồi và Françoise, chỉ huy các lực lượng thiên nhiên trở thành phụ tá cho mình giống như các vị khổng lồ vào làm đầu bếp trong thế giới thần tiên, đang đập than, hấp khoai và nấu chín vừa tới trên lửa những kiệt tác ẩm thực thoạt tiên được soạn... |
Vì cô Léonie của tôi hiểu – điều tôi còn chưa biết – rằng Françoise có thể hy sinh mạng sống không phàn nàn một lời cho con gái bác, cho các cháu của bác, lại đặc biệt nhẫn tâm đối với những sinh thể khác. Bất kể điều đó cô tôi vẫn giữ bác, bởi nếu như bà biết sự tàn ác của bác, thì bà lại tán thưởng sự phục dịch của b... |
vào mặt anh ta. Pembry cố đánh Lecter nhưng không kết quả vì bị cắn nát cả mũi và môi trên. Người tù lắc lia lịa và giật được cây dùi cui ra khỏi thắt lưng của Pembry. Trong xà lim, Boyle ngồi dưới sàn nhà, hét inh ỏi, trong khi bàn tay tìm một cách vô vọng cái chìa khóa còng, tìm được rồi nhưng lại để rớt nó, rồi lượm... |
Pembry ngồi xuống được, và cũng hét. |
Bác sĩ Lecter nhìn anh với ánh mắt đỏ ngầu. |
Tôi đã sẵn sàng rồi nếu anh cũng thế Pembry . Cái dùi cui tạo một hình vòng cung trong tiếng rít và giáng thật mạnh ngay ót của Pembry, làm cho thân hình anh giựt liền mấy cái trước khi té nhào xuống như một con cá bị đập đầu. |
Mạch của bác sĩ Lecter, nhảy vọt lên hơn một trăm trong sự vận động này, mau chóng hạ xuống mức bình thường lại. |
Ông tắt nhạc để nghe ngóng. Ông bước lại gần cầu thang và lắng tai nghe nữa. |
Ông lấy hết đồ trong túi của Pembry ra, tìm thấy chìa khóa của bàn làm việc và mở hết các ngăn tủ ra. |
Trong ngăn cuối cùng có súng của hai người này, hai khẩu P 38. Hay hơn nữa, trong túi của Boyle, ông tìm thấy một con dao nhíp. |
37 Trong hành lang cảnh sát phải chen chân nhau. |
Đã mười tám giờ ba mươi và người ta vừa đổi toán gác bên ngoài, được thay ca mỗi hai giờ đồng hồ. |
Những cảnh sát viên đến sưởi ấm trên các lò sưởi điện. |
Vài người cá độ kết quả trận bóng rổ tại Memphis nên muốn biết tình hình hiện giờ ra sao. |
Trung sĩ Tate không muốn nghe tiếng radio trong hành lang, nhưng một cảnh sát viên có một máy nhỏ cầm tay. |
Thỉnh thoảng anh ta cho biết điểm số, nhưng không đủ theo ý muốn của những người cá độ. |
Có tất cả bốn mươi nhân viên cảnh sát có vũ trang, cộng thêm hai nhân viên của nhà tù đến thay phiên cho Boyle và Pembry lúc mười chín giờ. |
Cả Trung sĩ Tate cũng chờ thay ca. |
Quang cảnh thật yên lặng. Những tiếng hét cầu cứu chống lại Lecter không có kết quả nào. |
Đến mười chín giờ bốn mươi lăm, Tate nghe chiếc thang máy đi lên. |
Ông thấy cái mũi tên phản quang quay trên mặt số và ngừng tại số bốn. Ông nhìn quanh. - Sweeney lên đó lấy mâm chưa? - Chưa trung sĩ, tôi vẫn đang ở đây. Ông vui lòng gọi điện hỏi xem họ xong chưa? Đến giờ tôi phải về rồi. |
Viên trung sĩ quay ba số và nghe. - Máy bận rồi, anh hãy lên đó xem sao. - Và ông bắt đầu viết báo cáo cho toán sau. |
Sweeney nhấn nút gọi thang máy nhưng nó không khởi động. |
- Có món sườn cừu cho bữa ăn tối là điều không bình thường rồi. Thế các người đoán xem ông ta sẽ đòi ăn món gì cho buổi điểm tâm sáng mai đây, một trứng đà điểu chắc? Và ai sẽ đi phục vụ đây, nói xem? Sweeney chứ còn ai vào đây! Mũi tên trên mặt số đứng im tại số bốn. |
Sweeney chờ thêm một phút nữa. |
- Mẹ kiếp, chuyện gì nữa đây? - Anh cằn nhằn. |
Trên kia đột nhiên có phát súng nổ đâu đó, gây tiếng dội trong cầu thang, rồi hai tiếng nổ khác tiếp theo và thêm một tiếng thứ tư. Trung sĩ Tate, đứng lên khi có phát súng thứ ba, la lên trong micro: - Trạm chỉ huy đây, có tiếng súng trong tháp. Các nhân viên trực hãy cảnh giác, chúng tôi lên đó đây. Tate nhìn thấy mũ... |
Toán trực ở lại với tôi. |
Barry, Howard, canh chừng cái thang máy chết tiệt này, nếu nó xuống... - Mũi tên ngừng lại tại số hai. - Toán đầu lên đường. Mỗi khi qua một cánh cửa, nhớ phải kiểm tra bên trong. |
Bobby, đi lấy khẩu súng trường và các áo chống đạn và đem lên đó cho chúng tôi. |
Tate phóng nhanh lên các bậc thang, tâm trí sôi sục. |
Sự cẩn trọng của ông ta đang đấu tranh với ý muốn đi cứu giúp những cảnh sát viên bị kẹt trên đó. Mẹ kiếp, cầu mong sao cho hắn không trốn thoát. |
Không có người nào có áo chống đạn cả. |
Mấy tên nhà tù chết tiệt kia! |
Theo nguyên tắc, tầng một, hai và ba trống không và các cửa đều được khóa. Khi đi ngang qua những tầng đó, người ta có thể đi từ tháp đến tòa nhà chính, nhưng ở tầng trên cùng thì không được. |
Tate có theo học một khóa tại trường SWAT nổi tiếng, trường đào tạo Biệt đội phản ứng nhanh chống khủng bố, tại bang Tennessee nên biết rõ phải hành động ra sao. |
Ông lên đến tầng một và chỉ đạo sát sao đám nhân viên trẻ. Thật mau chóng nhưng cũng hết sức cẩn thận, họ lên tầng trên, người này che chắn cho người kia và từ tầng dưới lên tầng trên. - Nếu các người quay lưng vào cánh cửa mà không kiểm tra, tôi sẽ đá đít các người đấy. |
Không có đèn ở lầu một và cửa đều được khóa kỹ. Bây giờ đến tầng hai mà cái hành lang nhỏ thì ánh sáng lù mù. Một khung sáng nơi cửa thang máy. |
Tate đi dọc theo vách tường đối diện. Ngón tay trên cò súng, ông ngó vào bên trong. Buồng thang máy trống không. |
Tate hét vào trong đó: - Boyle, Pembry! Mẹ kiếp. |
- Ông cho người đứng canh ở lầu này và tiếp tục lên trên. Tiếng đàn dương cầm, từ tầng trên, tràn xuống đến tầng này. Cánh cửa phòng làm việc bật tung khi ông đẩy nó ra. Ở cuối hành lang, tia sáng của đèn pin ông chiếu vào một cánh cửa lớn được mở toang trước căn phòng tối đen sau đó. |
- Boyle! Pembry! |
Ông để hai nhân viên tại bậc nghỉ chân. - Hãy canh chừng cửa này, các áo giáp sẽ đến trong giây lát. Đừng xoay mông lại cánh cửa. |
Tate bước lên các bậc thang theo tiếng nhạc. Bậc nghỉ chân của tầng cuối cùng và hành lang cũng không sáng lắm. Ánh đèn hất ra phía sau cửa kính mờ mang hàng chữ ỦY BAN LỊCH SỬ CỦA QUẬN SHELBY. |
Tate khum người xuống và đi qua phần dưới |
www.Sachvui.Com www.Sachvui.Com |
lần mút cho Rudy. |
Mười lần mút cho Liesel. |
Cứ như thế. |
“Đây,” bỗng Rudy tuyên bố, với một nụ cười toe toét khoe hàm răng xỉn màu kẹo, “là một cuộc sống tốt đẹp,” và Liesel không thể phản đối nó được. |
Khi chúng đã mút xong viên kẹo, mồm cả hai đứa đều đỏ lòm, và trên đường về nhà, chúng nhắc nhau nhớ là phải để mắt tìm kiếm, nhỡ đâu lại tìm thấy một đồng xu nữa. |
Dĩ nhiên là chúng chả tìm thấy gì hết. |
Không ai có thể may mắn đến thế hai lần trong một năm, chứ đừng nói gì đến một buổi chiều. |
Dù vậy, với những cái lưỡi và hàm răng đỏ lòm, chúng bước đi trên phố Thiên Đàng, vừa đi vừa đưa mắt tìm kiếm trên mặt đất một cách hạnh phúc. |
Ngày hôm ấy thật là tuyệt, và nước Đức Quốc xã là một nơi thật tuyệt vời. |
NGƯỜI ĐẤU TRANH, TIẾP THEO Giờ thì chúng ta sẽ chuyển sang một cuộc vật lộn với màn đêm lạnh giá. Ta sẽ để kẻ trộm sách đuổi theo sau. |
Hôm đó là ngày 3 tháng Mười một, và sàn tàu hỏa như bám dính lấy đôi bàn chân anh. |
Trước mặt anh là quyển Mein Kampf . Cứu tinh của anh. Mồ hôi túa ra khỏi lòng bàn tay anh. Những dấu ngón tay bấu chặt lấy quyển sách. |
NHÀ XUẤT BẢN KỀ TRỘM SÁCH CHÍNH THỨC GIỚI THIỆU Mein Kampf (Cuộc đấu tranh của tôi) Tác giả Adolf Hitler Đằng sau Max Vandenburg, thành phố Stuttgart dang rộng vòng tay với vẻ chế giễu. |
Anh không được chào đón ở đó, và anh cố không ngoái nhìn lại trong lúc miếng bánh mì cũ phân rã trong dạ dày anh. Chốc chốc, anh lại cựa mình và nhìn những ngọn đèn chỉ còn nhỏ xíu bằng nắm tay rồi cùng nhau biến mất. |
Hãy ra dáng vào, anh tự khuyên mình như thế. |
Mày không thể trông có vẻ sợ hãi được. |
Hãy đọc quyển sách. |
Cười với nó. |
Đó là một quyển sách tuyệt vời - quyển sách tuyệt vời nhất mà mày từng đọc. |
Hãy lờ người đàn bà ở bên kia đi. |
Đằng nào thì bà ta cũng ngủ rồi. |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.