text stringlengths 1 55.3k |
|---|
Nhưng tôi nghĩ thầm rằng tôi sẽ không bao giờ lại được ngửi |
vết màu, do đó có thể trực tiếp đặt lên quần áo. |
Màu nào dễ gây chú ý cho mọi người nhất? |
Trong xã hội hiện đại, mạng lưới giao thông thông suốt đã đem lại rất nhiều tiện lợi cho việc đi lại của con người. Nhưng những phương tiện giao thông có tốc độ ngày càng nhanh đã uy hiếp nghiêm trọng tới sự an toàn của người tham gia giao thông. Để giữ gìn an toàn cho mọi người, các thiết bị an toàn, các thiết bị cấp ... |
Cùng với sự phát triển của ngành hàng không, hàng loạt sự cố hàng không đã liên tục xảy ra. Phần lớn những tai nạn hàng không đều đã xảy ra trên biển. |
Do đó khi đi máy bay người ta thường trang bị cho mỗi hàng khách một chiếc áo phao có màu da cam. |
Qua nghiên cứu các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng: trong số các loại ánh sáng do sự tán sắc ánh sáng trắng của mặt trời, thì tế bào cảm quang của mắt người nhạy cảm nhất với ánh sáng màu da cam. Hơn nữa, trong số các loại ánh sáng, ánh sáng màu da cam có sức xuyên thấu mạnh nhất. Vì thế vào ngày có sương mù, các ôtô... |
Ở một số nước, học sinh tiểu học trước khi đi ra đường đều phải đội mũ bảo hiểm có màu da cam để bảo đảm an toàn cho trẻ em. Trên nền áo xanh của các nhân viên vệ sinh môi trường chúng ta cũng thường thấy có những đường kẻ ngang bằng loại vải màu da cam có phát quang, tạo sự chú ý cho các phương tiện giao thông trên đư... |
phố này tràn ngập những tờ báo như vậy. |
"Ông là sự gặp gỡ không bao giờ có thể lặp lại trong đời tôi..." Howard, tôi đã viết bài xã luận đó bốn mươi năm trước. Tôi đã viết nó vào cái đêm tôi mười sáu tuổi và đứng trên sân thượng của một khu chung cư. |
Ông đi tiếp. |
Thêm một khu phố hiện ra trước mắt ông, có một đoạn đường dài đột ngột cắt ngang, trống trải và một chuỗi đèn giao thông màu xanh trải dài đến tận chân trời. |
Như một chuỗi tràng hạt không có điểm kết thúc. Ông nghĩ, nào, hãy đi từ hạt xanh này đến hạt xanh kia. |
Ông nghĩ: không phải là những từ đó; những những từ đó cứ vang lên theo mỗi bước chân ông: Tôi đã mắc tội - tôi đã mắc tội - tôi đã mắc tội lỗi lớn nhất. [170] Ông đi qua cửa sổ một cửa hàng bán giày cũ - đi qua cửa một hội truyền giáo với một chữ thập ở trên - qua một cái áp phích quảng cáo cho ứng cử viên một cuộc bầ... |
Đường phố thu nhỏ lại, các bức tường tiến lại gần nhau hơn. Ông có thể ngửi được mùi của con sông, và có những quầng sương mù phủ lên những ngọn đèn ít ỏi còn lại trên đường. |
Ông đang ở Hell's Kitchen. |
Hiên của những tòa nhà xung quanh ông trông như những bức tường của một khu vườn bí mật bất ngờ hiện ra: mục ruỗng một cách công khai, mục ruỗng mà không cần giấu giếm cũng chẳng đếm xỉa đến danh dự. Ông nghe thấy những tiếng thét từ một quán rượu ở góc phố; ông không thể khẳng định đó là tiếng thét vui vẻ hay là cãi v... |
Ông từ từ nhìn xuống miệng của từng kẽ nứt tăm tối, rồi mắt ông lê dần lên những bức tường loang lổ, tới cửa sổ và tới những mái nhà. |
Ta chưa bao giờ thoát ra khỏi nơi này. Ta chưa từng thoát ra. |
Ta đã đầu hàng người bán hàng rau - đầu hàng những tay phù thủy trên phà - đầu hàng người chủ phòng chơi bi-a. |
Ngươi không phải là chủ ở đây. Ngươi không phải là chủ ở đây. Ngươi chưa bao giờ là chủ ở bất cứ đâu, Gail Wynand. |
Ngươi chỉ thêm bản thân ngươi vào danh sách những thứ mà họ là chủ. |
Rồi ông ngẩng đầu nhìn bao quát cả thành phố, tới hình khối của những tòa nhà chọc trời. Ông nhìn thấy một chuỗi những ánh đèn lơ lửng trong khoảng không mịt mù, một đỉnh nhọn tỏa sáng mà không neo vào bất cứ cái gì, một hình vuông nhỏ, rực sáng treo lơ lửng trên bầu trời. Ông biết chúng thuộc về những tòa nhà nổi tiến... |
Ông nghĩ, các bạn chính là quan tòa và là nhân chứng của tôi. |
Các bạn mọc lên hiên ngang, bên trên những mái nhà xập xệ. Các bạn phóng sức mạnh của mình lên những vì sao, vượt ra ngoài sự nhu nhược, mệt mỏi, và sự tình cờ ngẫu nhiên. |
Những cặp mắt xa một dặm ở ngoài đại dương sẽ chẳng còn nhìn thấy các bạn và các bạn sẽ chẳng còn quan trọng, nhưng các bạn sẽ vẫn là thực tại và là thành phố này. Cũng giống như trong những thế kỷ đã qua, chỉ có vài người duy trì được sự chính trực cô độc và họ khiến chúng ta phải nhìn họ mà nói: có con người tồn tại ... |
Tôi đã phản bội lại các bạn. Bởi vì tôi đã được sinh ra là để trở thành một trong số các bạn. Ông tiếp tục đi. Trời đã khuya. |
Những quầng sáng nằm lặng im dưới những cây đèn đường trên vỉa hè vắng lặng. Thỉnh thoảng những tiếng còi taxi vang lên như tiếng chuông cửa kêu dọc theo hành lang của một căn nhà bỏ trống. Ông nhìn thấy những tờ báo bị vứt đi, khi ông đi qua: ở trên lòng đường, trên ghế công viên, trong sọt rác bằng lưới ở góc phố. |
Rất nhiều trong số đó là tờ Ngọn cờ. Đã có rất nhiều tờ Ngọn cờ được bán trong đêm nay. |
Ông nghĩ, Alvah, chúng ta đang khôi phục lượng phát hành. |
Ông dừng lại. |
Ông nhìn thấy một tờ báo trải rộng trên một vũng nước ở ngay trước mặt; trang đầu của nó lật lên. |
Đó là tờ Ngọn cờ. Ông nhìn thấy ảnh Roark ở đó. Ông nhìn thấy dấu một gót giày màu xám in trên mặt Roark. |
Ông cúi người. Cơ thể ông gập xuống từ từ, với cả hai đầu gối, hai cánh tay, và ông nhặt tờ báo lên. Ông gấp trang đầu lại và nhét nó vào túi áo. Ông đi tiếp. |
Một gót giày không quen, ở đâu đó trong thành phố này, với một bàn chân không quen biết mà chính ta đã giải phóng để có thể diễu hành khắp nơi. |
Ta đã giải phóng tất cả bọn họ. Ta đã đẻ ra tất cả nnhững kẻ mà giờ đây hủy diệt lại ta. Có một con quái vật trên trái đất, bị giam cầm một cách an toàn bởi chính sự bất lực của nó. |
Nhưng ta đã cởi xích cho nó. |
Lẽ ra bọn họ vẫn mãi bất lực. Bọn họ không có khả năng sản xuất ra cái gì cả. |
Ta đã đưa cho họ vũ khí. Ta đưa cho họ sức lực, năng lượng và sức sống của ta. Ta đã tạo ra một giọng nói vĩ đại và để cho chúng đánh vần những ngôn từ được nói ra. |
Người đàn bà đã ném lá củ cải đường vào mặt ta - bà ta có quyền làm điều đó. Ta đã khiến cho bà ta có thể làm như vậy. |
Bất cứ cái gì cũng có thể bị phản bội, bất cứ ai cũng có thể được tha thứ. Trừ những kẻ thiếu lòng dũng cảm để trở nên vĩ đại khi họ có thể trở nên vĩ đại. |
Alvah Scarret có thể được tha thứ. |
Anh ta chẳng có gì để phản bội. |
Mitchell Layton có thể được tha thứ. |
Nhưng ta thì không. Vì ta đã không được sinh ra để làm một kẻ sống thứ sinh. |
XVII. |
Đó là một ngày hè, bầu trời trong và mát mẻ, cứ như thể có một lớp nước mỏng bao phủ quanh mặt trời, và hơi nóng đã được chuyển hóa để làm không khí trong hơn và rõ hơn. |
Các tòa nhà trong thành phố trở nên sắc nét. Trên đường phố, rất nhiều tờ Ngọn cờ nằm rải rác khắp nơi, như những mảnh vụn bọt biển màu xám. |
Cả thành phố đọc bản tuyên bố đầu hàng của Wynand. |
Họ đọc và cười khoái trá. |
"Thế đó," Gus Webb nói, ông ta là chủ tịch hội "Chúng Tôi Không Đọc Wynand." |
Ike nói: "Nghe mới ngọt làm sao." Sally Brent nói: "Giá mà được nhìn thấy, chỉ cần liếc thấy bộ mặt ngài Gail Wynand vĩ đại hôm nay nhỉ." |
Homer Slottern nói: "Cũng đến lúc rồi còn gì." |
Một người phụ nữ có cặp môi mỏng luôn mím chặt nói: "Thật tuyệt phải không? |
Wynand đã phải đầu hàng" - bà ta không biết mấy về Wynand và cũng biết gì về vụ việc, nhưng bà ta thích nghe chuyện ai đó đầu hàng. |
Trong một bếp ăn, một người đàn bà phục phịch trút hết phần thức ăn thừa trên đĩa ra một tờ giấy báo; bà ta chẳng bao giờ đọc trang đầu cả, bà chỉ đọc truyện tình dài kỳ đăng ở phần hai; bà ta bọc những lát hành và xương cừu cắt vụn vào trong một tờ Ngọn cờ. |
"Tuyệt cú mèo," Lancelot Clokey nói, "chỉ có điều là tôi rất bất bình với công đoàn, Ellsworth. Làm sao họ lại dám bán đứng ông như thế?" "Đừng có ngốc thế, Lance," Ellsworth Toohey nói. |
"Ý ông là sao?" |
"Tôi đã bảo họ chấp nhận các điều kiện." "Chính ông?" "Phải." "Nhưng Chúa ơi! Thế còn mục Một tiếng nói nhỏ..." "Ông có thể đợi khoảng một tháng nữa được không? |
Hôm nay tôi đã nộp đơn kiện lên tòa án lao động. Tôi sẽ đòi được khôi phục lại chức vụ của tôi ở tờ Ngọn cờ. Có nhiều cách để vặt lông một con mèo, Lance ạ. Một khi anh đã bẻ gãy xương sống của nó thì chuyện vặt lông kiểu gì sẽ không còn quan trọng nữa." |
Tối đó Roark bấm chuông cửa căn hộ trên mái của Wynand. Người quản gia mở cửa và nói: "Ông Wynand không thể gặp ông được, thưa ông Roark." Từ trên vỉa hè phía bên kia đường, Roark nhìn lên và thấy một ánh đèn ở phía trên những mái nhà, ngay cửa sổ phòng làm việc của Wynand. Buổi sáng, Roark đến văn phòng của Wynand ở t... |
Tôi đã hy vọng là ông có thể thoát được, nhưng bởi vì nó đã buộc phải xảy ra, nên hãy bắt đầu lại từ hiện tại. |
Tôi biết ông đang làm gì với bản thân. Ông không làm việc này vì tôi, nó không tùy thuộc vào tôi, nhưng nếu điều này có thể giúp ông thì tôi muốn nói rằng tôi đang nhắc lại, vào lúc này, tất cả những gì tôi đã nói với ông. Đối với tôi, không có gì thay đổi cả. |
Ông vẫn là những gì ông đã là. Tôi không nói là tôi tha thứ cho ông, bởi vì giữa chúng ta không có những thứ như thế. Nhưng nếu như ông không thể tự tha thứ cho bản thân mình thì hãy để cho tôi làm việc đó, được không? Hãy để cho tôi nói rằng chuyện đó chẳng là gì, nó không phải là phán quyết cuối cùng đối với ông. Hãy... |
Hãy coi nó như một lần truyền máu. Ông cần nó. Hãy nhận lấy. |
Nó còn khó hơn cả việc chống lại vụ đình công. |
Hãy làm việc đó vì tôi, nếu như nó có thể giúp cho ông. Hãy làm việc đó. Hãy trở lại. Sẽ có một cơ hội khác. |
Cái mà ông nghĩ ông mất là cái vốn không bao giờ có thể bị mất cũng không thể đi tìm ở chỗ khác. Đừng buông nó ra." |
Lá thư quay lại chỗ Roark, chưa hề được mở. |
Alvah Scarret điều hành tờ Ngọn cờ. |
Wynand chỉ ngồi trong phòng làm việc của ông. |
Ông đã tháo ảnh Roark khỏi tường. |
Ông giải quyết các hợp đồng quảng cáo, chuyện chi phí, tài khoản ngân hàng. |
Scarret đảm nhiệm phần đường lối chủ trương của tờ báo. |
Wynand không đọc duyệt nội dung của tờ Ngọn cờ nữa. |
Khi Wynand xuất hiện ở bất cứ phòng ban nào trong tòa nhà, các nhân viên tuân lệnh ông như họ đã tuân lệnh ông trước đây. |
Ông vẫn là một cỗ máy và họ biết rằng đó là một cỗ máy nguy hiểm hơn bao giờ hết: một chiếc xe đang lao xuống dốc, không phanh và cũng không người điều khiển. |
Ông ngủ trong căn hộ trên mái của mình. |
Ông chưa gặp lại Dominique. |
Scarret nói với ông rằng cô đã quay về ngôi nhà ở ngoại ô. Có một lần, ông đã ra lệnh cho thư ký gọi điện thoại tới Connecticut. Ông đứng ở cạnh bàn thư ký khi bà ta hỏi người quản gia xem liệu bà Wynand có ở đó. Người quản gia đã trả lời rằng cô ở đó. Người thư ký dập máy và Wynand quay lại phòng làm việc. |
Ông nghĩ ông sẽ cho mình vài ngày. |
Sau đó ông sẽ quay về với Dominique. |
Hôn nhân của họ sẽ trở nên đúng như những gì cô đã từng muốn hồi đầu - "Bà Wynand - Chủ bút." Và ông sẽ chấp nhận nó. |
Khoan đã, ông nghĩ trong cơn bồn chồn khắc khoải, từ từ đã nào. Ngươi phải học cách đối mặt với cô ấy như là ngươi của lúc này đã. Hãy tự đào tạo ngươi thành một kẻ ăn xin đã. |
Nhất thiết không thể có bất cứ sự đòi hỏi nào với những thứ mà ngươi không có quyền. Đứng trước cô ấy, ngươi không có sự bình đẳng, không được kháng cự, không có sự tự trọng nào cả. |
Bây giờ chỉ có chấp nhận. |
Ngươi sẽ đứng trước mặt cô ấy như một người đàn ông không thể đem lại cho cô ấy bất cứ cái gì, một người sống dựa vào những gì cô ấy ban phát cho. Sẽ có sự khinh thường, nhưng là sự khinh thường từ cô ấy và sự khinh thường ấy sẽ là cầu nối giữa hai người. Cho cô ấy thấy ngươi nhận ra điều này. |
Cũng có một chút phẩm giá trong việc một người công khai chấp nhận từ bỏ phẩm giá. |
Hãy học cách làm điều đó. |
Khoan đã... Ông ngồi trong phòng đọc sách ở căn hộ của mình, đầu gục xuống thành ghế. Chẳng có nhân chứng nào trong những căn phòng trống rỗng xung quanh ông... Dominique, ông nghĩ, anh không có gì để nói ngoài việc anh rất cần em. |
Và anh yêu em. |
Có lần anh đã bảo em đừng để ý đến điều đó. Bây giờ thì anh sẽ dùng nó như một cái cốc ăn xin. Nhưng anh sẽ dùng nó. |
Anh yêu em... Dominique nằm dài trên bờ hồ nước. |
Cô nhìn ngôi nhà ở trên đồi, nhìn những cành cây ở trên đầu cô. Cô nằm ngửa, gối đầu lên tay. Cô chăm chú theo dõi chuyển động của những chiếc lá trên nền trời. |
Đó là một công việc nghiêm túc; nó đem lại cho cô cảm giác thỏa mãn trọn vẹn. |
Cô nghĩ, màu xanh lá cây kia thật đáng yêu; có sự khác biệt giữa màu của cây cối và màu của các vật thể, màu này hàm chứa ánh sáng, nó không chỉ màu xanh mà còn biểu hiện cái nguồn sống trong cây; không cần nhìn xuống ta cũng có thể thấy được trong những nhánh cây, thân cây và rễ cây chỉ qua cái màu sắc đó. Cái quầng l... |
Họ không sở hữu mặt đất này. Họ không sở hữu cái gì cả. Họ chưa bao giờ thắng. |
Ta đã nhìn thấy cuộc đời của Gail Wynand, và bây giờ ta đã biết. |
Người ta không thể căm ghét trái đất này chỉ vì những kẻ kia. Trái đất thật là đẹp. |
Và nó là một cái nền, nhưng không phải là cái nền của họ. |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.