text
stringlengths
1
55.3k
Onyx là một loại cẩm thạch có nhiều màu dùng để trang trí, còn Eryx là tục cổ thờ Aphrodite, nữ thần tình yêu.
[159] Chính là Quilty. H. H. nhấn mạnh là Quilty “trạc tuổi” mình.
Chi tiết “chiếc ghế bành màu đỏ máu” giống như một điềm chẳng lành.
[160] Hệ thống cửa hiệu thuốc Schwab ở Hollywood (nay không còn) từng là nơi gặp gỡ của các nghệ sĩ điện ảnh.
Vào những năm 30 và 40 của thế kỉ trước, nhiều tài năng (sau này trở thành ngôi sao) đã được phát hiện ở đây, một số - theo truyền thuyết dân gian – được phát hiện trong khi ăn kem trái cây.
[161] Clare là tên của Quilty.
Lại một ám chỉ đến nhân vật đầy ám ảnh này.
[162] Từ ghép kết hợp “motor” và “hotel”, chỉ loại khách sạn thực dụng (functional motel) có chỗ để xe gần nơi ngủ.
Cũng gọi là “court”.
[163] Giáo phái Do Thái cổ đại nổi tiếng là nghiêm cẩn tuân thủ truyền thống, nghi thức nghi lễ.
Ý nói đạo đức giả.
[164] Theo Kinh Thánh, sách Khải huyền, ch. 3; 14-16, đặc điểm của nhà thờ ở xứ Laodicea là “không nóng cũng chẳng lạnh”. [165] Nhại câu mở đầu – cùng là điệp khúc – của bài thơ “Tarantella” (Điệu nhảy Tarantella) của nhà thơ Hilaire Belloc (1870-1953): “Do you remember an Inn,/Miranda?/Do you remember an Inn” (Em còn ...
[167] Nhãn hiệu của một loại thuốc mỡ bôi ngoài da có thật.
[168] Nói lái tên Duncan Hines (1880-1959), tác giả của nhiều cuốn sách hướng dẫn du lịch như Adventures in Good Eating (Phiêu lưu trong ăn ngon)… [169] Nhân vật trong bi kịch Hamlet của đại văn hào Anh W. Shakespeare (1564-1616).
Ông già ba hoa và tự mãn này thường cảnh báo con gái là Ophelia phải đề phòng sự “khó nắm bắt” và ngón “chạy làng” của đàn ông.
[170] Luật ban hành năm 1910 cấm đưa phụ nữ từ bang này sang bang khác vì mục đích vô luân. [171] Luật Mann, tiếng Anh là “Mann Act”. “Mann” đồng âm với “man”, nghĩa là “đàn ông”.
“Act” có nghĩa là “hành động”.
[172] Xem ở chương 15, Phần Một [173] Hang Massabielle ở thành phố Lourdes, tỉnh Hautes-Pyrénées, đục trong một núi đá, nơi mà Bernadette Soubirous nói là đã thấy Đức Mẹ Đồng Trinh hiện hình mười lần vào năm 1868 và theo chỉ dẫn của Người, đã tìm ra một con suối mà người ta đồn rằng nước ở đó có phép màu. Nơi này từ đó...
[174] Dãy Rocky Mountains (Núi Đá) còn gọi là Rockies ở miền Tây của Bắc Mĩ, chạy dài 4.800 km từ phần cực Bắc của British Columbia ở Canada đến bang Mexico thuộc Mĩ, đỉnh cao nhất là Núi Elbert ở bang Colorado (4.401 m) [175] Claude Gellée, biệt danh là Claude Lorain (khoảng 1600-1682), họa sĩ Pháp sống và làm việc ở ...
[176] El Greco (1541?-1614?) họa sĩ , điêu khắc gia và kiến trúc sư Tây Ban Nha gốc Hi Lạp. [177] H. H. phát hiện thấy một bức “Phong cảnh Toledo” của El Greco ở Kansas City và mô tả nó.
[178] Nhà văn Anh (1867-1933), tác giả của bộ tiểu thuyết Saga của dòng họ Forsyte. [179] Nguyên văn: “stone-dead” (chết cứng), một số lần xuất bản đầu tiên in nhầm là “stone-deaf” (điếc đặc).
[180] Tiếng Đức: nhà nghỉ có suối nước khoáng nóng. [181] Mốt thời thượng hồi những năm 40
dễ dàng hơn.
Điều này minh họa một nguyên tắc rất quan trọng – phá vỡ chỉ có thể được diễn đạt trong mối tương quan với mô hình kinh doanh của công ty với đối thủ cạnh tranh của họ.
12.
Bằng chứng xác thực cho điều này được thảo luận trong Amar Bhide, The Origin and Evolution of New Businesses (New York: Oxford University Press, 2000).
13. Mintzberg and Waters, “Of Strategies,” 271.
14.
Trong một loạt phát biểu và bài báo, Tiến sĩ John Seeley Brown đã đưa ra quan điểm này – đó là rất khó để dự đoán trước làm thế nào mọi người sẽ sử dụng các công nghệ đột phá có thể thay đổi cách sống và làm việc của họ. Chúng tôi khuyên các bạn đọc nên tìm hiểu tất cả những bài viết của Tiến sĩ Brown. Ông đã gây ảnh h...
Ví dụ, xem J. S. Brown, ed., Seeing Differently: Insights on Innovation (Boston: Harvard Business School Publishing, 1997); J. S. Brown, “Changing the Game of Corporate Research: Learning to Thrive in the Fog of Reality,” trong Technological Innovation: Oversights and Foresights, eds. Raghu Garud, Praveen Rattan Nayyar...
15.
Một quan điểm quan trọng được gọi là “sự phụ thuộc nguồn lực” khẳng định rằng các đối tượng bên ngoài tổ chức đã kiểm soát những điều mà tổ chức có hoặc không thể làm. Các đối tượng ấy – khách hàng và nhà đầu tư – đã cung cấp cho tổ chức các nguồn lực mà nó cần để phát triển mạnh. Nhà quản lý không thể làm những việc m...
16.
Nhà xã hội học Arthur Stinchcombe đã viết nhiều về tầm quan trọng của điều kiện ban đầu trong việc xác định hệ quả của các quyết định và sự kiện.
17.
Clayton Christensen, “Materials Technology Corp.,” Case 9-694-075 (Boston: Harvard Business School, 1994); and Clayton Christensen, “Linking Strategy and Innovation: Materials Technology Corp.,” Case 9- 696-082 (Boston: Harvard Business School, 1996).
18.
Đối với Christensen, nghiên cứu những vấn đề này đã chỉ rõ rằng công nghệ của MTC là một cải cách bền vững đột phá: công ty đã cố gắng để đưa sản phẩm tốt hơn vào những thị trường được thiết lập sẵn, và công nghệ đột phá kéo theo sự phụ thuộc sâu rộng lẫn nhau trong phát triển và thiết kế sản phẩm. MTC đã đưa ra rất nh...
19.
Xem Rita Gunther McGrath and Ian C. MacMillan, “Discovery-Driven Planning,” Harvard Business Review, July–August 1995, 44–56. Các giáo sư McGrath và MacMillan đã viết những điều rất hữu ích về kiểm soát việc thành lập các doanh nghiệp mới, đại diện là bài báo này. Chúng tôi khuyến khích bạn tìm đọc chúng ở văn phòng tạ...
20.
Chúng tôi lo ngại rằng một khi các công ty đầu tư mạo hiểm đã bị lấn át bởi các nhà phân tích ít kinh nghiệm, những người chỉ biết về chiến lược cẩn trọng trong các khóa học Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh của mình, họ cần nhiều bằng chứng và dữ liệu chặt chẽ hơn nữa để có thể chứng minh một chiến lược là đúng đắn. Sau đó ...
21.
Chúng tôi lo ngại rằng một khi các công ty đầu tư mạo hiểm đã bị lấn át bởi các nhà phân tích ít kinh nghiệm, những người chỉ biết về chiến lược cẩn trọng trong các khóa học Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh của mình, họ cần nhiều bằng chứng và dữ liệu chặt chẽ hơn nữa để có thể chứng minh một chiến lược là đúng đắn. Sau đó ...
1. Nhiều cuốn
khi àoá baån seä coá tiïëng noái, thiïn hûúáng vaâ chuêín mûåc àaåo àûác cuãa riïng mònh. Coá leä baån àaä nhêån ra sûå giöëng nhau giûäa böën khña caånh cuãa tiïëng noái vaâ böën thuöåc tñnh laänh àaåo caá nhên: têìm nhòn, kyã luêåt, àam mï vaâ lûúng têm (xem hònh 5.5). Àam mï vaâ lûúng têm laâ hai trong söë nhûäng th...
gửi đồ của nhà ga Euston. Chúng tôi đưa chiếc va li nhỏ của Carlotta Adams cho viên thừa lại xem và ông ta đã xác nhận.
- Euston!
À phải rồi... Ga quan trọng nằm gần tòa biệt thự của Huân tước Edgware.
Chắc cô ta vào đó để hóa trang trong nhà vệ sinh, rồi gửi lại va li đồ hóa trang tại nhà ga. Đến lúc nào thì chiếc va li ấy được lấy ra? - Mười giờ rưỡi do chính người gửi.
Poirot gật đầu công nhận.
Thanh tra Japp tiếp tục nói: - Một khám phá nữa càng củng cố thêm giả thuyết của tôi về Carlotta Adams là hung thủ, là cô ta có mặt ở Lyons Corner, trong khu vực Strand, vào mười một giờ.
- Chà điều này đáng chú ý đấy!
Nhưng làm sao ông biết? - Thú thật cũng tình cờ thôi. Như ông biết đấy, báo chí đã nói đến chiếc hộp nhỏ bằng vàng trên nắp có hai chữ viết tắt nạm bằng hồng ngọc. Một phóng viên đã dùng cái chi tiết ấy vào một bài báo nói về việc sử dụng ma túy trong giới nghệ sĩ sân khấu. Bài báo này đảng trong báo Phụ Nữ số Chủ Nhật...
- Linh cảm của cô hầu bàn đã giúp cô thấy được nỗi đau khổ của một người phụ nữ... Ông biết cái thứ văn chương ngu xuẩn ấy chứ, ông Poirot?
và vươn người sang phía vợ. Nàng đang cố gắng dịch chuyển ra sát mép giường, tránh xa chàng. Chàng không định để nàng đi. Chàng kéo nàng vào lòng, dịu dàng đẩy nàng nằm ngửa và rồi che phủ nàng từ đầu tới chân bằng thân thể chàng. Chàng chống tay và nhìn nàng, nhíu mày lo âu khi thấy mắt nàng loang loáng nước. “Có phải...
Chàng mỉm cười.
“Cưng ơi, ta đã ham muốn em từ lâu, rất lâu rồi. Và em cũng ham muốn ta” Chàng nghĩ sự thừa nhận của mình sẽ làm hài lòng nàng. Nhưng nàng khiến chàng ngạc nhiên vì cái nhăn mặt. “Ham muốn là một tội lỗi”, nàng thầm thì. “Em thừa nhận chàng rất hấp dẫn nhưng em chắc chắn không muốn chàng ở trên giường cùng em.” “Và thế...
Giờ thì chàng hiểu chưa?” Chàng toét miệng cười, trông có vẻ ngượng. “Chàng biết không, Colin, em vừa làm việc xong với mọi chuyện trong đầu”, nàng thốt lên. “Em không hiểu tại sao em lại cảm thấy yếu đuối nhưng giờ thì em biết lý do rồi và em cảm thấy khá hơn nhiều.” “Cho ta biết nào”, chàng yêu cầu. “Đó là vì sự thân...
Dù cho nó dường như là không thể nhưng thật sự mỗi lần sau lại tốt hơn, thậm chí trọn vẹn hơn.
Cực điểm của khoái cảm dường như giết chết chàng, và khi chàng cảm nhận những giọt nước mắt thấm ướt vai mình thì chàng tin mình thật sự đã làm nàng đau.
Colin thắp nến và quay lại nhìn nàng. Chàng ôm lấy nàng và dỗ dành bằng những lời ngọt ngào. Nàng hứa rằng chàng không làm nàng bị thương nhưng nàng không thể giải thích tại sao lại khóc. Chàng không kéo nàng vào một cuộc nói chuyện khác.
Cái ngáp lớn của nàng như bảo rằng nàng đã kiệt sức. Thật kỳ quặc, nhưng giờ chàng hoàn toàn tỉnh táo. Nỗi sợ hãi rằng chàng có thể đã làm tổn thương nàng vẫn khiến chàng bực bội và biết rằng mình sẽ mất thêm vài phút nữa mới thư giãn được.
Các danh sách kéo sự chú ý của chàng khi chàng định thổi tắt nến.
Trên đầu tờ giấy là hai cái tên.
Tiểu thư Victoria trước tiên, kế tiếp là phu nhân Roberta. Alesandra đặt dấu chấm hỏi sau mỗi cái tên.
Không cần phải nói, tính hiếu kỳ của chàng đã bị tóm gọn.
Nàng chỉ vừa thiếp ngủ khi chàng đẩy nhẹ nàng. “Tất cả những cái này là gì vậy?” Nàng không mở mắt. Colin đọc từng cái tên và yêu cầu nàng giải thích.
“Chúng ta không thể thảo luận chuyện này vào sáng mai sao?” Chàng định chịu thua khi nàng đề nghị nhưng rồi lại nghe nàng thì thầm, “Có thể có mối liên quan giữa hai người này.
Cả hai cùng biến mất.
Sau khi em nói chuyện với chồng của phu nhân Roberta, em sẽ giải thích tất cả.
Ngủ ngon, Colin”. “Em sẽ không nói chuyện với Tử tước.” Âm vực trong giọng nói xuyên qua màn sương ngái ngủ. “Không ư?” “Đúng.
Người đàn ông đó đã có đủ vấn đề để giải quyết rồi.
Anh ta không cần bị tra hỏi thêm bởi các câu hỏi của em.” “Colin, em...” Chàng không để nàng kết thúc câu nói. “Ta cấm đấy, Alesandra. Hứa với ta là em sẽ không làm phiền anh ta.” Nàng kinh ngạc về thái độ gia trưởng của chồng và cũng tức giận. Nàng không phải là một đứa trẻ cần sự cho phép của cha mẹ để theo đuổi mối ...
“Hứa đi, Alesandra”, chàng lặp lại yêu cầu. “Không.” Chàng không thể tin điều chàng vừa nghe. “Không?” Vì khuôn mặt nàng vẫn còn giấu dưới cằm chàng nên không thể thấy vẻ mặt nàng và nàng cảm thấy an toàn để nhăn nhó.
Chúa ơi, chàng lại cáu kỉnh. Đôi tay chàng siết chặt lấy nàng. Nàng cho rằng một người vợ tốt sẽ cố gắng làm nguôi cơn giận của chồng nàng. Nàng đoán mình không có điều đó để trở thành một người vợ tốt, tuy nhiên, đó là vì không có người nào - ngay cả Colin - hướng dẫn cho nàng.
Thế là phải xin phép chàng rồi! Nàng đẩy chàng ra và ngồi dậy. Tóc nàng phủ xuống một bên mặt. Nàng kéo chúng qua một bên vai và gắn chặt tia nhìn vào mắt chàng.
“Hôn nhân còn rất mới mẻ, Colin, vì vậy chàng sẽ lấy được lời hứa của em khi em nói...” “Sửa cho ta nếu ta nói sai nhé, nhưng mà chẳng phải chúng ta đã kết hôn được một thời gian rồi sao?” “Vâng...” “Như vậy hôn nhân cũng rất mới với em, đúng không?” Nàng gật đầu. “Mới hay lâu, Alesandra, thì lời thề không thay đổi. Vợ...
Y học Việt Nam số 3 trang 22 - 27. 23.
Nguyễn Thu Nguyệt, Nguyễn Đăng Quyện (2005).
Nhân 6 trường hợp viêm phổi do pneumocystis carinii (PCP) Tap chí Nghiên cứu Y học, phụ trương 38 (5), trang 103 - 107 149 24.
Lê Thị Kim Nhung (2005).
Gia tảng kháng thuốc của vi khuẩn gây viêm phổi bệnh viện ở bệnh nhân tái phát hoặc thất bại với điều trị trên người lớn tuổi.
Y học thực hành số 6, trang 42-46. 25.
Vũ Đức Định, Nguyễn Tường Vy, Phạm Thành Nhuận (2004).
Một số nhận xét bước đầu về viêm phổi có liên quan đến thở máy qua 41 trường hợp thở máy tại khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện E năm 2004. Y học thực hành (5150) số 7/2005, trang 28 - 30. 26.
Phạm Ngọc Đính, Hoàng Thủy Long, Nguyễn Thị Kim Tiến và c s (2005). Yếu tố nguy cơ của viêm phổi cấp do virus cúm H5N1 tại Việt nam năm 2004.
Tạp chí Y học dự phòng,, tập XV, số 5 (76), trang 5-11.
27.
Ngô Quý Châu, Hoàng Kim Huyền, Nguyễn Thị Đại Phong (2004).
Nghiên cứu về vi khuẩn học bệnh viêm phổi mắc phải ở cộng đồng ở khoa hô hấp Bệnh viện Bạch mai.
Y học thực hành (499) SỐÌ2, trang 4 - 6. 28. Đồng Khắc Hưng (2002).
Viêm phổi cấp tính. Giáo trình Bệnh phổi và Lao, Học viện Quân y, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, trang 73-83.
29.
Đồng Khắc Hưng (2008).
Viêm phổi cấp tính. Giáo trình Bệnh phổi và Lao, Học viện Quân y, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, trang 107-119.
30.
Đồng Khắc Hưng (2009).
Viêm phổi cấp tính. Giáo trình Điều trị nội khoa. Học viện Quân y, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, trang 127-134.
31.