text
stringlengths
1
55.3k
– Một nhân chứng đã thấy Nola bước lên xe ô tô của anh ta nhiều lần vào mùa hè trước khi cô ta biến mất.
Ông ta giơ tay lên chỉ vào mặt tôi lên tiếng dọa dẫm.
– Đừng có đánh thức người chết dậy, anh Goldman.
Luther là một người đáng kính, dũng cảm và trung thực.
Tôi không cho phép bất kì ai đến đây làm nhơ bẩn tên anh ta trong khi mà anh ta không còn ở đây để tự bảo vệ nữa. – Anh ta chết rồi ư?
– Đúng vậy, đã từ lâu.
Chắc chắn người ta đã nói với anh rằng anh ta thường xuyên tới Aurora và đó là sự thật: anh ta có nhiệm vụ chăm nom ngôi nhà của tôi khi mà tôi còn cho thuê. Anh ta coi sóc để ngôi nhà ở tình trạng tốt nhất. Đó là một người đàn ông hào phóng và tôi không cho phép anh đến đây để nói xấu người quá cố. Một vài người vô họ...
Trên mọi phương diện.
Anh ta có một hình thức kinh dị: gương mặt biến dạng ghê gớm, cấu tạo xương hàm không đúng vị trí nên khi nói rất khó nghe. Nhưng anh ta có một trái tim nhân hậu, anh ta được trời phú cho một khả năng nhạy cảm đặc biệt.
– Thế ông không nghĩ rằng anh ta có thể liên quan tới việc Nola mất tích sao? – Không. Tôi khẳng định. Tôi cho rằng Harry Quebert chính là thủ phạm. Hình như ông ta hiện đang bị giam trong tù thì phải… – Tôi không tin rằng ông ta có tội.
Chính vì vậy mà tôi đến đây.
– Thôi nào, người ta đã tìm thấy xác của bé gái đó trong vườn nhà ông ta và bản thảo của một trong những cuốn sách của ông ấy bên cạnh xác chết. Một cuốn sách mà ông ta đã viết cho cô bé… Anh còn muốn gì nữa? – Viết không phải là giết, thưa ông. – Cuộc điều tra của anh chắc hẳn phải tắc tị, chẳng thu được gì nên anh mớ...
Ông ta gọi người phục vụ đến để đưa tôi ra ngoài. Tôi rời phòng làm việc của Stern với một cảm giác khó chịu vì cuộc gặp gỡ này chẳng được tích sự gì.
Tôi tiếc là đã không thể đối chất với ông ta bằng lời buộc tội của Nancy Hattaway, nhưng tôi không có đủ bằng chứng để có thể kết tội ông ta. Gahalowood đã báo trước cho tôi: chỉ mỗi bằng chứng này không đủ, lời nói của cô ta đối kháng với lời nói của Stern. Tôi cần phải có một bằng chứng cụ thể.
Và tôi nghĩ có khi phải tham quan ngôi nhà này một chút. Khi đến sảnh vào rộng thênh thang, tôi liền hỏi người giúp việc tôi có thể rẽ qua nhà vệ sinh trước khi ra ngoài không. Cô ta dẫn tôi tới tận khu nhà vệ sinh dành cho khách, ở dưới tầng trệt và chỉ cho tôi, do phép tắc bắt buộc, cô ta sẽ đợi tôi ở cửa vào. Ngay k...
Đây là cơ hội duy nhất để tìm ra một điều gì đó nối liền Stern và Nola. Trống ngực đập thình thịch, tôi mở đại một vài cánh của, cầu chúa phù hộ phía sau những cánh cửa không có ai.
Và tất cả đều vắng bóng người: chỉ là những phòng khách nối tiếp những phòng khách, tất cả đều được trang trí vô cùng cầu kì.
Qua những ô cửa kính to, tôi có thể nhìn thấy một công viên tuyệt đẹp ở đằng sau.
Giỏng tai nghe ngóng những tiếng động nhỏ nhất, tôi tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình.
Một cánh cửa khác mở ra một phòng làm việc nhỏ. Tôi lập tức đột nhập vào bên trong và mở các ngăn kéo tủ: hàng chồng các file lưu tài liệu.
Nhưng tất cả đều chẳng giúp ích gì được cho tôi. Tôi tìm một thứ gì đó: nhưng là cái gì? Cái gì trong căn nhà này, ba mươi năm sau, sẽ có thể bất ngờ xuất hiện trước mắt tôi và giúp đỡ tôi? Thời gian quá gấp rút, người phục vụ chắc chắn sắp đến tìm tôi ở nhà vệ sinh nếu tôi không nhanh chóng quay trở lại. Rốt cuộc tôi ...
Ở đó có những giá vẽ, một vài bức tranh còn dang dở; những chiếc bút lông trên một chiếc bàn. Đây là một xưởng vẽ. Trên tường có treo rất nhiều bức tranh, tất cả đều tuyệt vời.
Một trong số đó liền thu hút ánh mắt của tôi: tôi lập tức nhận ra chiếc cầu treo ngay trước khi tới Aurora, trên bờ biển. Khi đó tôi mới phát hiện thấy tất cả các bức tranh đều là những biểu tượng của Aurora.
Có cả bãi biển Grand, con phố chính, thậm chí cả tiệm Clark’s.
Những bức tranh giống thật một cách kinh ngạc.
Tất cả đều được kí tên L. C. và ngày tháng thì không muộn hơn năm 1975.
Và chính lúc đó, tôi mới chú ý đến một bức tranh to hơn hẳn các bức khác, treo ở một góc: bên dưới có kê một chiếc ghế bành và đó là bức duy nhất có đèn chiếu sáng. Bức chân dung của một cô gái trẻ.
Người ta chỉ nhìn thấy phía trên ngực của cô gái, nhưng đều hiểu rằng nàng không mặc gì.
Tôi tiến lại gần: tôi có cảm giác gương mặt này không hề xa lạ với mình. Tôi ngắm thêm một lúc và bất chợt hiểu ra khiến tôi đứng như trời trồng vì kinh ngạc: đó là một bức chân dung của Nola. Chính là cô ấy, không còn nghi ngờ gì nữa.
Tôi dùng di động chụp lại một vài kiểu rồi lập tức thoát khỏi đó.
Người giúp việc đang sốt ruột dậm chân ở lối vào. Tôi lịch sự chào bà ta và vội vàng đi thẳng, run rẩy toát mồ hôi hột. * * * Nửa tiếng sau phát hiện của mình, tôi khẩn cấp đến phòng làm việc của Gahalowood, trong khu văn phòng chung của cảnh sát Bang. Hiển nhiên là anh ta giận điên tiết vì tôi đã tới nhà Stern mà khôn...
– Anh thật là cứng đầu, nhà văn ạ! Thật là cứng đầu! – Tôi chỉ đi thăm ông ta thôi mà, tôi giải thích. Tôi bấm chuông, tôi yêu cầu được gặp ông ta và ông ta đã mời tôi vào!
Tôi chẳng thấy cái gì xấu cả.
– Tôi đã nói với anh là đợi đã cơ mà! – Nhưng đợi cái gì, trung sĩ? Đợi sự ban phước lành của thần thành ư? Đợi bằng chứng sẽ rơi từ trên trời xuống à?
Anh rên rỉ rằng mình không muốn đối mặt với ông ta, thế thì chính tôi đã ra tay. Anh thì rên rỉ, còn tôi thì hành động! Và hãy xem tôi đã tìm thấy cái gì ở nhà ông ta này! Tôi chỉ cho anh ta xem những bức ảnh tôi chụp bằng di động.
– Một bức tranh à, Gahalowood nói vẻ khinh bỉ. – Nhìn cho kỹ vào. – Chúa ơi… Hình như là… – Nola!
Có một bức tranh của Nola Kellergan ở nhà của Elijah Stern. – Tôi gửi email các bức ảnh cho Gahalowood để anh ta in chúng ra khổ lớn. – Đúng là cô ấy rồi, đúng là Nola, anh ta thừa nhận khi đem so sánh với những bức ảnh vào thời kì đó trong tập hồ sơ. – Tuy chất lượng ảnh không thật sự tốt nhưng rõ ràng không còn nghi ...
– Vậy rõ ràng có mối liên hệ giữa Stern và Nola, tôi nói. Nancy Hattaway khẳng định là Nola có quan hệ với Stern và tôi đã tìm thấy bức chân dung Nola trong xưởng vẽ của ông ấy.
Mà tôi cho anh biết thêm điều này: ngôi nhà của Harry trước kia thuộc về Elijah Stern đến tận năm 1976. Vì thế, trên giấy tờ, vào thời điểm Nola mất tích, chính Stern mới là người sở hữu ngôi nhà ở Goose Cove.
Một sự trùng hợp tuyệt vời, phải không?
Tóm lại, hãy kí lệnh và cho gọi một đội quân: chúng ta sẽ khám nhà Stern kỹ càng và kết thúc mọi chuyện. – Một lệnh khám nhà?
Nhưng anh bạn đáng thương của tôi ơi, anh điên thật rồi!
Dựa trên cơ sở nào?
Từ những bức ảnh của anh à?
Chúng là bất hợp pháp!
Những bằng chứng này không hề có giá trị gì hết: anh đã lục lọi trong nhà người ta mà không được phép.
Tôi không có giải pháp.
Chúng ta cần một bằng chứng khác để tấn công Stern, và từ giờ đến lúc ấy, chắc chắn ông ta sẽ có đủ thời gian để tiêu hủy bức tranh.
– Trừ trường hợp ông ta không biết tôi đã nhìn thấy nó.
Tôi đã nói với ông ta về Luther Caleb, và ông ta đã rất căng thẳng.
Còn về Nola, ông ta giả vờ chỉ biết Nola sơ sơ thế mà ông ta lại có hẳn một bức tranh cô ta gần như là trần truồng.
Tôi không biết ai là người đã vẽ bức tranh này, nhưng những bức khác trong xưởng vẽ đều kí tên LC.
Phải chăng là Luther Caleb?
– Câu chuyện này làm cho sự việc đổi theo hướng mà tôi không lấy gì làm thích thú, nhà văn ạ. Nếu tôi nhắm đến Stern và cứ thế dấn vào điều tra, tôi sẽ gặp rất nhiều trở ngại.
– Tôi biết, thưa trung sĩ. – Vậy hãy kể cho Harry về Stern. Cố gắng biết thêm điều gì đó.
Còn tôi sẽ đào sâu về cuộc đời của tên Luther Caleb này.
Chúng ta cần có những bằng chứng cụ thể.
Trong ô tô, trên đường từ khu văn phòng chung của cảnh sát tới nhà tù, tôi nghe đài được biết rằng toàn bộ các cuốn sách của Harry từ bây giờ sẽ bị rút khỏi chương trình học phổ thông của hầu hết các bang trong cả nước. Đúng là tận cùng của đáy vực: chỉ trong vòng chưa đầy hai tuần, Harry đã trắng tay.
Từ bây giờ, ông là một nhà văn bị cấm, một thầy giáo bị sa thải, một cá nhân bị cả đất nước căm ghét. Dù cho cuộc điều tra và vụ án có kết cục như thế nào thì tên tuổi của ông sẽ bị vấy bẩn mãi mãi từ bây giờ, khi người ta nhắc tới
chế và cơ sở độc quyền được không chỉ những người hưởng lợi mà cả những người bị chúng làm cho đau khổ ủng hộ. Số phận của những người không tuân phục Nếu bạn cảm thấy nghi ngờ tính đạo đức của các thiết chế đó thì người ta sẽ tuyên bố như đinh đóng cột rằng: “Bạn là một nhà cải cách, một người không tưởng, một lí thuy...
chỉ tủm tỉm cười. Tôi chợt hiểu ra. Bất chợt thấy đôi mắt Dũng nhìn mình, lại có chị Lụa ở đấy, tôi nóng bừng cả mặt. - Tôi đắp đấy, ngủ thế có ngày ốm đấy đồng chí ơi! Dũng thốt nói, giọng tự nhiên. Tôi biết Dũng không nỡ để tôi lúng túng. Rồi tôi đi rửa mặt, gặp Dũng đã ở tại lu nước. Anh cầm gáo nước nhường cho tôi ...
Vừa trải qua đoạn đường xa, giờ đang ngủ mê man. Con Thủy tôi, ngay trong lúc ngủ, bao giờ cũng ra tư thế của một đứa chị. Nó nằm yên để thằng Nhã quàng lấy người nó, và bàn tay nó đặt trên mái tóc em. Hình như con bé hiểu nỗi trơ trọi của tôi, ngần tuổi ấy nó đã biết gánh vác em thay tôi rồi.
Thú thật, đứng ngắm chúng nó ngủ tôi không biết chán là gì. Lần trước tôi đã qua phút bịn rịn ấy, lần này có quen hơn một chút, nhưng vẫn buồn quá. Anh ạ, tôi nói về các con tôi chắc là hơi dài dòng phải không? Nếu có dài dòng anh cũng thứ bỏ cho. Anh chưa có vợ con, chừng nào có rồi thì chừng ấy tôi tin có lẽ anh sẽ c...
Lạ quá, trong chiến tranh không biết có người nào như tôi không anh nhỉ?
Chắc cũng có chớ.
Nếu có những người nào na ná như tôi, tôi tin rằng bây giờ nhắc lại, ai cũng chửi sa sả vào cái thời buổi đó cho mà coi. Thời khắc của dạo đó nhiều khi gió giựt phắt đôi môi mình ra khỏi cái gò má của con mình.
Thật nó không nhân nhượng mình một chút nào hết.
- Còn bây giờ thì sao? - Tôi buột miệng hỏi. - Bây giờ thì đỡ hơn, nhưng nó cũng chưa thật ủng hộ tôi.
Chị Hậu nói xong bật cười. Tiếng cười như xí xóa thông qua, nhưng làm tôi bứt rứt thế nào. Gương mặt chị Hậu lúc đó coi như có vẻ giận dỗi ai vậy.
Còn cặp mắt thì vẫn le lói sáng.
Tôi cố ý dò xét, nhưng không hiểu sao hết, đành ngồi im mà không nói gì. Chị lại kể: - Tôi lại hôn con. Hôn một chiếc, bắt đầu muốn hôn chiếc nữa... Gần sáng tôi với Dũng ra đi.
Tai họa lại đến. Tai họa trong kháng
Sachvui.Com Sachvui.Com
và biển, tới mức tối đa có thể, trước khi nhắm mắt xuôi tay.
Tôi đứng dậy, thay đổi ý định và đáng lẽ tiếp tục leo lên núi thì lại hối hả đi về phía bãi biển. Tôi sờ nắn bức thư kia trong túi trên của chiếc áo khoác và không thể đợi thêm nữa. Cái tiền vị ngọt ngào đến độ không chịu nổi của niềm vui này kéo dài thế là đủ. Tôi về tới lều, nhóm lửa, pha ít trà, ăn chút bánh mì với ...
Nửa triệu người Hy Lạp đang lâm nguy ở miền nam nước Nga và vùng Caucasus. Nhiều người trong số đó chỉ nói được tiếng Thổ hoặc tiếng Nga, nhưng trái tim họ nói tiếng Hy Lạp rất nhiệt thành.
Họ thuộc nòi giống ta. Chỉ cần nhìn họ, cái cách mắt họ ánh lên hau háu, soi mói, cái vẻ ranh ma và nhục dục của cặp môi khi họ mỉm cười, những ngón xoay xở của họ để trở thành các ông chủ và khiến được bọn mujich làm việc cho họ trên lãnh thổ mênh mông này của nước Nga - thế cũng đủ để thuyết phục ta rằng - họ là con ...
Thế là ta đi đến chỗ yêu thương họ và không thể để cho họ bị tiêu diệt. "Bởi vì họ đang có nguy cơ bị tiêu diệt. Họ đã mất tất cả những gì họ có, họ đói rách, trần truồng.
Họ bị hành cả hai phía - một đằng là bọn Bôlsêvích, đằng kia là bọn Kurd.
Từ mọi ngả, dân tị nạn lũ lượt đổ về định cư ở tỉnh này tỉnh nọ thuộc Gruzia hoặc Acmêni.
Lương thực, quần áo, thuốc men đều không có.
Họ tụ tập ở các cảng, khắc khoải nhìn về phía chân trời. Họ mong có những con tàu Hy Lạp đến chở họ về đất mẹ Hy Lạp.
Một bộ phận của nòi giống chúng ta - có nghĩa là một phần linh hồn chúng ta - đang trong cơn kinh hoàng. "Nếu chúng ta bỏ mặc họ với số phận, họ sẽ bị tiêu diệt. Chúng ta cần có rất nhiều tình yêu thương, thông cảm, nhiệt tâm và đầu óc thực tiễn (những đức tính mà cậu rất muốn thấy liên kết lại) nếu chúng ta muốn cứu h...
Bởi vì ngay sau khi tới đây, mình liền vẽ một vòng tròn theo cách cậu đã dạy mình và gọi vòng tròn đó là "bổn phận của mình ". Mình nói : "Nếu ta cứu được toàn bộ vòng tròn này ta sẽ được cứu rỗi. bằng không ta sẽ rồi đời".
Vậy mà bên trong vòng tròn đó, là năm mươi vạn người Hy Lạp! Mình đi về các tỉnh, các làng, tập hợp tác cả những người Hy Lạp, viết những bản tường trình, gửi điện tín, cố vận động các quan chức của chúng ta ở Athens gửi tầu thuyền, lương thực, quần áo, thuốc men và chuyển những con người khốn khổ ấy về Hy Lạp.
Nếu như hăng hái và ngoan cường tranh đấu là hạnh phúc, thì mình đang hạnh phúc. Chẳng hiểu là mình có may cắt hạnh phúc theo vóc người của mình không - nói theo ngôn từ của cậu. Cầu trời là có , bởi vì nếu vậy mình ắt là một con người có tầm vóc lớn lao .
Mình những muốn phát triển tầm vóc của mình tới mức có thể làm cho mình hạnh phúc, theo mình nghĩ; nghĩa là tới những đường biên giới xa nhất của Hy Lạp.
Nhưng thôi, lý thuyết như thế là đủ rồi!
Cậu đang nằm trên bãi biển Crete của cậu nghe tiếng biển và tiếng đàn santuri - cậu có thì giờ, còn mình thì không.
Mình ngụp trong hành động và mình lấy thế làm vui thích. Hành động, sư phụ nằm ì của tôi, hành động, không có sự cứu chuộc nào khác đâu. "
Thực ra, đề tài suy tưởng của mình rất đơn giản và nhất phiến.
Mình nghĩ những cư dân này của Pontus và Caucasus, những nông dân vùng Kars, các thương nhân lớn, nhỏ ở Tbilissi, Batum, Novo Rossisk, Rostov, Odessa và Crưm đều là đồng bào ta, họ cùng một dòng máu với ta; đối với họ, cũng như đối với ta, thủ đô Hy Lạp là Constantinople. Tất cả chúng ta có chung một thủ lĩnh.
Người gọi thủ lĩnh đó là Odyssus, kẻ gọi là Consantinos Palaeoiogos ( [40] ) không phải là người đã bị giết dưới chân thành Byzamtium mà là người kia, nhân vật huyền thoại đã hóa thành đá cẩm thạch và vẫn còn đứng sừng sững đợi Thiên Thần Tự Do. Lỗi phép cậu, mình gọi vị thủ lĩnh đó là Acritas ( [41] ).
Mình thích cái tên ấy hơn; nghe nó khắc khổ hơn và hiếu chiến hơn. Hễ nghe thấy cái tên ấy là trong ta nổi dậy hình ảnh Hellene vĩnh cửu, vũ trang khắp mình, chiến đấu không ngừng không nghỉ trên bờ cõi biên giới. Trên mọi biên giới: quốc gia, trí tuệ và tâm tình. Và nếu thêm chữ Digenes vào, ta càng mô tả hoàn hảo hơn...
Hiện nay mình đang ở Kars, mình đến để tập hợp tất cả những người Hy Lạp ở các làng lân cận. Vào hôm mình tới đây bọn Kurd đã bắt một thầy giáo và một linh mục Hy Lạp trong vùng và đóng móng ngựa vào chân họ. Các kỳ mục kinh hãi, trốn vào ngôi nhà mình đang ở. Chúng tôi nghe thấy tiếng đại bác của bọn Kurd mỗi lúc một ...
Tất cả những người Hy Lạp ấy dán mắt vào mình như thể mình là người duy nhất đủ mạnh để cứu họ.
"Mình định ngày mai đi Tbillissi, nhưng giờ đây, trước nguy cơ này bỏ đi thì thật xấu hổ.
Cho nên mình ở lại.
Mình không nói là mình không sợ, mình sợ nhưng mình xấu hổ.
Trong trường hợp tương tự, liệu Chiến Sĩ của Rembrandt, người Chiến Sĩ của mình, có làm như thế không nhỉ?