filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
maria trong nghệ thuật.txt | Đức Maria trong nghệ thuật miêu tả về Đức Maria một mình hoặc cùng với con là Chúa Giêsu. Những hình ảnh này là trung tâm biểu tượng cho cả Công giáo và Chính Thống giáo. Từ Madonna xuất phát từ cổ ngữ Ý ma donna (nghĩa là: Mẹ của tôi). Không có một hình ảnh nghệ thuật Kitô giáo lại phổ biến rộng rãi như hình ảnh của Madonna và con là Chúa Giêsu.
Trong khi Maria có thể được gọi là "Madonna" trong một ngữ cảnh khác, trong nghệ thuật từ Madonna được sử dụng đặc biệt để chỉ một tác phẩm nghệ thuật mà Đức Maria là trung tâm, có hoặc không có con trẻ Giêsu. Mẹ Maria và Chúa Giêsu có thể được bao quanh bởi các thiên thần hoặc các thánh.
Hình ảnh sớm nhất về Đức Maria xuất hiện ngày từ thời Giáo hội Kitô giáo sơ khai và được tìm thấy trong các hang toại đạo ở Rôma. Hình tượng của Đức Maria trở nên phổ biến hơn sau khi được công bố là "Đấng cưu mang Thiên Chúa" (Theotokos) tại Công đồng Êphêsô năm 431. Trong hơn một ngàn năm, qua các thời kỳ Byzantine, Trung cổ và Phục hưng Madonna là hình tượng nghệ thuật được sáng tác nhiều nhất. Nhiều hình ảnh về Madonna, trong cả hội họa và điêu khắc, đã đạt được danh tiếng và trở thành biểu tượng của sự tôn kính tôn giáo. Nhiều người trong số đó là các họa sĩ và điêu khắc gia nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật. Những nghệ sĩ này bao gồm Duccio, Leonardo da Vinci, Michelangelo, Raphael, Giovanni Bellini, Caravaggio, Rubens, Salvador Dalí và Henry Moore.
== Hình ảnh ban đầu ==
Hình ảnh xưa nhất về Maria mà ngày nay vẫn còn chính là bức tranh ở trong khu mộ của Priscilla, đường Salaria (Rôma). Bức bích họa này đã có từ đầu thế kỷ thứ 2 hoặc từ cuối thế kỷ thứ nhất, trình bày Đức Maria ngồi ẵm trẻ Giêsu, bên cạnh ngài có ai đó như một vị ngôn sứ, một tay cầm cuốn sách, một tay chỉ vào ngôi sao trên đầu Đức Maria.
Ba bức tranh khác cũng vẽ Đức Maria nằm trong cùng khu mộ Priscilla có niên đại khoảng từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 3: một bức ở trên mộ của một trinh nữ Kitô giáo vẽ Đức Maria ẵm Chúa Hài đồng. Bức hình này trình bày Đức Maria như tiêu biểu và khuôn mẫu của sự đồng trinh. Một bức khác vẽ hoạt cảnh các đạo sĩ đến viếng thăm Bêlem; bức còn lại nằm trong số các tranh Truyền tin ít được biết đến hơn. Các hình ảnh tương tự khác có niên đại từ trước thế kỷ thứ 5 xuất hiện ở trong khu mộ Domitilla, Callistô, mộ của ba thánh Phêrô, Marcellô và thánh Anrê. Trong đó có bức có hình các mẫu tự của chữ Kitô chồng lên nhau ở cả hai mặt của bức tranh; những chữ đó được vẽ quay về phía Chúa hài đồng.
Tranh vẽ và tượng Đức Maria thời kỳ đầu tiên của Kitô giáo thường mô tả quan hệ của Đức Maria với Chúa Giêsu trong tư cách là một trinh nữ và là mẹ của người. Những quan hệ ấy thường được nói đến trong tin mừng qua nhiều hoạt cảnh từ hoạt cảnh truyền tin đến hoạt cảnh Đức Kitô bị đóng đinh hay được mai táng.
== Trong nghệ thuật Byzantine và phương Tây ==
Việc công đồng Êphêsô (431) định tín Đức Maria là Mẹ thiên chúa chống lại Nestoriô đã dẫn đến một hình ảnh mới của Đức Maria trong nghệ thuật.Ban đầu nó xuất hiện ở Đông phương sau đó lan sang Ý, Tây Ban Nha và xứ Gaul. Thay vì được trình bày theo những hoạt cảnh được mô tả trong tin mừng, Đức Maria thường được miêu tả như nữ hoàng thiên quốc, cao sang trong y phục dát vàng ngồi uy nghi trên ngai.
Maria trong nghệ thuật Byzantin được nghệ thuật Rôma tiếp thu nhưng thay vì vẽ Đức Maria trong tư thế cầu nguyện với hai tay giơ lên cao, các họa sĩ và điêu khắc gia Tây Phương thường hay trình bày Đức Maria như "Tòa đấng khôn ngoan". Đây không phải là cách diễn tả những tín lý mới về Đức Maria. Các nghệ sĩ Tây phương đã bỏ những đường nét Á châu lạnh lùng để trình bày hình ảnh Đức Maria một cách dịu dàng hơn, có tính con người hơn.
Từ giữa thế kỷ XII, số lượng các thánh tượng về chủ đề "Truyền tin" xuất hiện ngày càng nhiều. Tác phẩm được biết đến nhiều nhất về chủ đề "truyền tin", chính là tác phẩm của Simone Martini (1284–1344) vẽ năm 1333 cho một bàn thờ trong Đại giáo đường thành Siena, ở Florence, Uffizi. Đây được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nghệ thuật Gothic về chủ đề này. Nhiều tác giả cho rằng, tác phẩm này là sự kế các chuẩn mực của nghệ thuật Byzantine nhưng đã có sự sáng tạo ở sự uyển chuyển tinh tế của hình dáng và đường nét các nhân vật.
Suốt thời Trung cổ, hầu như không có bức họa thể hiện chủ đề "Chúa Giáng sinh" nào còn lại. Chỉ từ thế kỷ XIV, chủ đề "Chúa Giáng sinh" mới quay trở lại trong hội họa. Tác phẩm "Các đạo sĩ đến thờ lạy" sáng tác năm 1423, của Gentile da Fabriano (1370 – 1427). Câu chuyện trong tranh với hình thức lộng lẫy, sang trọng và nghiêm trang… đã toát lên thông điệp: "Thiên Chúa là vua của các vua!". Không thể thiếu được bên cạnh hình ảnh Chúa Hài Đồng là Đức Maria, mẹ Ngài.
== Thời Phục hưng ==
Đến thời kỳ Phục Hưng, chủ đề "Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng" được khai thác đặc biệt nhờ những tên tuổi lớn như Fra Angelico, Leonardo da Vinci, Raphael, Lippi, Botticelli, Correggio, Dolci, Perugino, Titian và Verrocchio ở Ý; Van Eyck, Memling và Rubens ở Flanders; hay như Holbein Trẻ và Durer ở Đức. Trong nghệ thuật Barốc, chủ đề tiêu biểu là Đức Maria "người chiến thắng Xatan".
Tác phẩm "Truyền tin" của Fra Angelico (1395-1455) sáng tác trong khoảng thời gian từ 1438 đến 1445 được xem là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của nghệ thuật Phục Hưng thời kỳ đầu. Trong thời Baroque, khi mà các giáo đường Công giáo ở châu Âu được xây dựng rầm rộ, do các tín điều về sự Thông công của Đức mẹ Maria trong công cuộc Cứu chuộc của Chúa đã được phổ cập rộng rãi, tranh về chủ đề "Truyền tin" xuất hiện nhiều hơn nữa, và được thể hiện như một sự kiện thánh thiêng - mang màu sắc thần thoại. Trong hội họa Rococo, tính chất Thánh thiêng mang màu sắc thần thoại đã có trong nghệ thuật Baroque càng được đẩy xa hơn nữa. Tác phẩm của Paolo de Matteis (1662-1728) là tác phẩm "Truyền tin" tiêu biểu của thời kỳ này.
Các nghệ sĩ lớn của Ý sáng tác về Đức Maria bao gồm: Fra Angelico, Donatello, Sandro Botticelli, Masaccio, Filippo Lippi, Piero di Cosimo Paolo Uccello Antonello da Messina Andrea Mantegna, Piero della Francesca và Carlo Crivelli. Các nghệ sĩ Hà Lan và Đức với tranh Thánh Mẫu như: Jean Bellegambe, Hieronymus Bosch, Petrus Christus, Gerard David (c.1455-1523), Hubert van Eyck, Jan van Eyck, Geertgen tot Sint Jans, Quentin Matsys, Roger van der Weyden, Albrecht Altdorfer, Hans Baldung và Albrecht Dürer. Các họa sĩ người Pháp và Tây Ban Nha như: Jean Fouquet, Jean Clouet, François Clouet, Barthélemy d'Eyck, Jean Hey, Bartolomé Bermejo, Ayne Bru, Juan de Flandes, Jaume Huguet, Paolo da San Leocadio.
== Hiện đại ==
Trong thời hiện đại, chủ đề về Maria được khai thác chủ yếu là "đấng trung gian ân sủng", chủ đề ấy các được ưa chuộc khi người ta liên kết Đức trinh nữ với những mạc khải đã được Hội thánh công nhận như Đức Mẹ La Salette, Đức Mẹ Lộ Đức và Đức Mẹ Fatima.
Bộ ba tác phẩm sáng tác năm 1990, của nữ họa sĩ người Nga Suvorova Olga (1966) được xem là tác phẩm "Truyền tin" tiêu biểu của kỷ nguyên hậu hiện đại.
== Chú thích == |
togoland.txt | Togoland là một xứ bảo hộ của Đức ở Tây Phi 1884-1914, bao gồm tại các quốc gia của Togo và khu vực nay là vùng Volta của Ghana, diện tích khoảng 77.355 km² (29.867 sq mi). Thuộc địa này đã được thành lập trong khoảng thời gian thường gọi là "tranh giành châu Phi". Togoland đã được thành lập vào năm 1884 trong một phần của quá trình Bờ biển nô lệ đã được dần dần mở rộng nội địa. Tại sự bùng nổ của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất vào năm 1914 thuộc địa đã được kéo vào cuộc xung đột. Nó bị xâm lược và nhanh chóng tràn ngập bởi quân đội Anh và Pháp trong chiến dịch Togoland và được đặt dưới sự cai trị quân sự. Năm 1916, lãnh thổ được chia thành các khu hành chính của Anh và Pháp riêng biệt, và điều này đã được chính thức vào năm 1922 với sự thành lập của Togoland thuộc Anh và Togoland thuộc Pháp.
== Lịch sử ==
Thuộc địa này đã được thành lập vào cuối thời kỳ thuộc địa hóa của châu Âu ở châu Phi thường được gọi là "Tranh giành châu Phi". Hai xứ bảo hộ riêng biệt đã được thành lập vào năm 1884. Trong tháng 2 năm 1884, các tù trưởng của thị trấn Aného đã bị bắt giữ các binh sĩ Đức và buộc phải ký một hiệp ước bảo vệ. Tại khu vực Lomé, nhà thám hiểm người Đức, bác sĩ y khoa, lãnh sự của triều đình và ủy viên đối với Tây Phi Gustav Nachtigal là động lực hướng tới việc thành lập các thuộc địa châu Phi Tây Togoland cũng như Kamerun. Từ cơ sở của mình trên đảo thuộc sở hữu Tây Ban Nha Fernando Po trong bờ biển cong Biafra ông đi nhiều nơi trên đất liền của châu Phi. Vào ngày 05 tháng 7 năm 1884 Nachtigal đã ký một hiệp ước với từ trưởng địa phương, Mlapa III, trong đó ông tuyên bố một sự bảo hộ của Đức trên dải lãnh thổ dọc theo bờ biển nô lệ trên bờ biển cong Benin. Với các tàu chiến nhỏ SMS Möwe thả neo, cờ hoàng gia đã được nâng lên lần đầu tiên trên lục địa châu Phi. Lãnh Heinrich Ludwig Randad, Jr., đại lý thường trú của công ty C. Goedelts tại Widah, được bổ nhiệm làm ủy viên đầu tiên cho vùng lãnh thổ này.
Năm 1899, Đức và Anh được giao dịch lãnh thổ ở quần đảo Samoa cho quần đảo Solomon Bắc và kiểm soát ở Tonga, sử dụng Khu vực trung lập Togoland (Yendi) và Tam giác Volta như khoản tiền mặc cả.
== Tham khảo == |
điện ảnh hoa kỳ.txt | Điện ảnh Hoa Kỳ là tên gọi ngành công nghiệp điện ảnh của Mỹ. Được ra đời ngay từ cuối thế kỷ 19, điện ảnh Hoa Kỳ đã nhanh chóng trở thành một trong những nền điện ảnh hàng đầu thế giới cả về số lượng phim và chất lượng nghệ thuật.
Đôi khi người ta thường gọi điện ảnh Hoa Kỳ đơn giản là Hollywood (gọi theo địa danh Hollywood, nơi tập trung các hãng phim và trường quay lớn nhất của Mỹ), tuy vậy cần chú ý rằng rất nhiều bộ phim của điện ảnh nước này được sản xuất bởi các hãng phim độc lập nằm ngoài Hollywood.
== Lịch sử ==
=== Kỹ thuật điện ảnh ra đời ===
Những hình ảnh "chuyển động đầu tiên", tiền thân của kỹ thuật điện ảnh Mỹ là loạt hình chụp ngựa đang phi nước đại của Eadweard Muybridge thực hiện ở Palo Alto, California, ông này đã dùng một máy ảnh thường chụp liên tục để tạo nên một chuỗi hình ảnh mô tả lại chuyển động của con ngựa. Phương pháp của Muybridge đã nhanh chóng được các nhà phát minh Mỹ phát triển để cố gắng ghi lại những hình ảnh chuyển động thực sự, trong đó phải kể tới phát minh kinetoscope của Thomas Alva Edison, tuy vậy do không nhìn thấy được tầm quan trọng của phát minh này mà Edison đã để rơi vị trí cha đẻ của điện ảnh thế giới vào tay anh em Lumière người Pháp.
Sau khi điện ảnh ra đời ở châu Âu, việc trình chiếu các đoạn phim cũng nhanh chóng đến với chương trình tạp kĩ trong các hội chợ ở Mỹ. Các nhà kinh doanh Hoa Kỳ nổi tiếng nhanh nhậy bắt đầu tìm cách làm các bộ "phim" này trở nên đặc sắc hơn bằng cách đưa vào các cảnh quay có kịch bản và diễn viên thay cho những cảnh quay đời sống thường nhật. Thành công lớn nhất của xu hướng này là bộ phim thực hiện năm 1903, The Great Train Robbery của đạo diễn Edwin S. Porter.
=== Sự nổi lên của Hollywood ===
Đầu năm 1910, đạo diễn huyền thoại D.W. Griffith được công ty Biograph Company cử đến bờ biển miền Tây nước Mỹ cùng với đội ngũ diễn viên nổi tiếng của ông như Blanche Sweet, Lillian Gish, Mary Pickford và Lionel Barrymore với nhiệm vụ xây dựng cơ sở điện ảnh mới ở đây. Họ bắt đầu thực hiện các bộ phim ở một khu đất trống gần phố Georgia Street thuộc Los Angeles. Để mở rộng xưởng phim, công ty đã quyết định chuyển về một làng nhỏ cách Los Angeles vài dặm về phía Bắc, họ gọi khu đất mới này bằng cái tên "Hollywood". Cùng năm 1910, bộ phim đầu tiên trong lịch sử Hollywood, In Old California, đã được đạo diễn Griffith thực hiện. Đến năm 1913, sau khi được nghe về vùng đất mới tuyệt vời này, rất nhiều nhà làm phim đã rời bờ biển phía Đông đến đây để tránh phải trả khoản phí khổng lồ khi quay phim cho công ty của Edison, vốn nắm giữ hầu hết các bằng phát minh quan trọng của kỹ thuật điện ảnh lúc này. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tuy cũng có một vài thành phố có các xưởng phim nhưng vùng phía nam California đã nhanh chóng chiếm ưu thế với nhiều cảnh đẹp, khí hậu ôn hòa, nhiều nắng quanh năm thuận lợi cho việc quay các ngoại cảnh và thay đổi bối cảnh phim. Năm 1915, Hollywood bắt đầu khẳng định được vị trí đầu đàn của điện ảnh Mỹ với bộ phim nổi tiếng Birth of a Nation của Griffith.
Sự hình thành và phát triển của Hollywood gắn liền với những nhà kinh doanh và điện ảnh gốc Do Thái. Chính họ là những người nhận ra mối lợi to lớn từ điện ảnh và đi tiên phong trong việc xây dựng các rạp chuyên dụng để chiếu phim, các "nickelodeon" (lấy theo từ nickel - 5 xu, tiền vé thông dụng thời đó). Chính những người gốc Do Thái này đã thành lập các hãng phim lớn đầu tiên của Hollywood, đó là Samuel Goldwyn và Louis B. Mayer (hai đồng sáng lập của hãng phim nổi tiếng Metro-Goldwyn-Mayer), Carl Laemmle (một trong những người khai sinh hãng Universal Studios), Adolph Zukor (đồng sáng lập Paramount Pictures), và Anh em Warner (Harry, Albert, Samuel và Jack, những người thành lập hãng Warner Bros.). Cũng chính vì được thành lập bởi những người Do Thái, trong đó có nhiều người là dân nhập cư, vì vậy ngay từ đầu Hollywood đã thể hiện tính quốc tế hóa rất cao và thu hút nhiều tài năng điện ảnh nước ngoài như ngôi sao điện ảnh người Thụy Điển Greta Garbo, đạo diễn gốc Hungary Michael Curtiz ở thời kì đầu hay nữ diễn viên đoạt giải Oscar người Úc Nicole Kidman, đạo diễn gốc México Alfonso Cuarón ở thời điểm hiện tại. Đây chính là một trong các điểm mạnh nhất của Hollywood khi tính quốc tế cao tạo cho các bộ phim nhiều phong cách nghệ thuật và diễn xuất đa dạng cũng như dễ dàng thu hút được khán giả ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới.
=== Thời hoàng kim của Hollywood ===
Thời kì phát triển và có ảnh hưởng đến xã hội nhất của Hollywood là từ cuối thập niên 1920 đến cuối thập niên 1950. Thời kì này bắt đầu với sự ra đời của phim có tiếng vào cuối thập niên 1920 với bộ phim The Jazz Singer sản xuất năm 1927. Với bước tiến về kỹ thuật này, các bộ phim đã thu hút ngày càng nhiều khán giả và thực sự trở thành hiện tượng văn hóa của xã hội Mỹ. Các bộ phim Hollywood thời kì này thường thuộc thể loại phim miền Tây, phim hài, phim ca nhạc, phim hoạt hình vốn là những đề tài ưa thích của dân Mỹ. Để đáp ứng nhu cầu của công chúng, hàng loạt rạp chiếu phim quy mô được xây dựng. Để cạnh tranh nhau, các hãng phim lớn thường tạo dựng phong cách riêng cho các bộ phim của mình (điều không còn thấy rõ trong thời điểm hiện tại) với các đạo diễn và các ngôi sao được ký hợp đồng độc quyền. Ví dụ, đạo diễn nổi tiếng Cedric Gibbons luôn làm việc cho Metro-Goldwyn-Mayer (MGM), nhà soạn nhạc Alfred Newman trong suốt 20 năm chỉ làm việc cho Twentieth Century Fox, các bộ phim của Cecil B. De Mille luôn được thực hiện tại Paramount Pictures. Hãng MGM thậm chí còn từng tuyên bố số ngôi sao đã ký hợp đồng độc quyền với hãng còn "nhiều hơn cả số sao trên trời".
Nhiều nhà lịch sử điện ảnh cho rằng đây là thời kì hoàng kim về chất lượng nghệ thuật của Hollywood khi rất nhiều bộ phim kinh điển được ra đời, rất có thể vì do thời kì này có rất nhiều phim được sản xuất nên đôi khi các hãng phim cho phép các bộ phim có diễn viên không nổi tiếng, triển vọng doanh thu không cao nhưng có kịch bản tốt, chất lượng nghệ thuật cao ra đời. Năm 1941, hãng RKO Pictures đầu tư cho đạo diễn 26 tuổi Orson Welles thực hiện bộ phim đầu tiên của ông này là Công dân Kane (Citizen Kane), bộ phim không đạt doanh thu cao, không giành nhiều Giải Oscar nhưng sau này được coi là một trong những bộ phim xuất sắc nhất trong lịch sử điện ảnh Hoa Kỳ. Chỉ trong một năm 1939, hàng loạt bộ phim sau này được coi là kinh điển đã ra mắt, đó là The Wizard of Oz, Cuốn theo chiều gió (Gone with the Wind), Mr. Smith Goes to Washington, Đồi gió hú (Wuthering Heights) và Ninotchka. Các bộ phim kinh điển khác của thời kì hoàng kim này có thể kể tới Casablanca (1941), It's a Wonderful Life (1946) hay bộ phim hoạt hình xuất sắc Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn (Snow White and the Seven Dwarfs, 1937). Vì vậy thời kì hoàng kim của Hollywood còn có cái tên khác là thời kì Hollywood kinh điển (Classical Hollywood cinema).
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ hai, Hollywood đón nhận một làn sóng các nhà điện ảnh tài năng của châu Âu đến định cư và làm việc ở Mỹ để tránh chiến tranh và các giai đoạn khủng hoảng kinh tế triền miên. Trong số này phải kể tới các đạo diễn Đức nổi tiếng như Ernst Lubitsch, Fritz Lang, đạo diễn huyền thoại người Anh Alfred Hitchcock, nhà điện ảnh Pháp Jean Renoir. Một số diễn viên người nước ngoài cũng gia nhập Hollywood như Rudolph Valentino, Marlene Dietrich, Ronald Colman, Charles Boyer, họ cùng các diễn viên kịch nổi tiếng ở thành phố New York bị thu hút vì sự ra đời của các bộ phim có tiếng đã tạo nên một trong những thời kì phát triển mạnh mẽ nhất của công nghiệp điện ảnh. Vào thời cao điểm giữa thập niên 1940, các xưởng phim ở Hollywood mỗi năm cho ra đời tới khoảng 400 bộ phim với lượng khán giả mỗi tuần khoảng 90 triệu người.
=== Suy thoái ===
Cuối thập niên 1940, các hãng phim lớn của Hollywood gặp phải hai sự kiện lớn dẫn đến sự suy thoái của công nghiệp điện ảnh, sự kiện đầu tiên là vụ kiện chống độc quyền đối với hãng Paramount Pictures dẫn đến việc các hãng phim không còn được phép sở hữu các rạp chiếu bóng hoặc ký hợp đồng độc quyền với các ngôi sao điện ảnh hay các thành phần khác của việc làm phim, sự kiện thứ hai là sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của truyền hình. Các diễn viên, đạo diễn được giải phóng khỏi hợp đồng độc quyền đã có thể tự chọn lựa bộ phim yêu thích của bất cứ hãng nào, việc này đã làm mất đi bản sắc riêng của các hãng lớn như MGM, Paramount, Universal, Columbia, RKO và Twentieth-Century Fox. Công chúng thay vì đến rạp xem phim đã chọn lựa cách giải trí rẻ tiền và tiện lợi hơn nhiều, đó là ngồi nhà xem truyền hình, hệ quả tất yếu là số phim sản xuất và ngân sách làm phim giảm sút nhanh chóng. Để đối phó với suy thoái, các hãng phim buộc phải thay đổi phong cách thực hiện các tác phẩm của mình, nhấn mạnh đến các yếu tố tạo sự khác biệt với truyền hình như chất lượng hình (dẫn đến việc phát triển các bộ phim màu và các bộ phim khổ rộng), chất lượng tiếng và đặc biệt là chất lượng nghệ thuật. Chính nhờ giai đoạn này mà điện ảnh Mỹ mới được định hình như một môn nghệ thuật thực sự chứ không còn đơn thuần chỉ là một lĩnh vực giải trí.
=== Hollywood mới và các phim bom tấn ===
Điện ảnh hậu cổ điển (hay hậu kinh điển, Post-classical cinema) là cụm từ dùng để chỉ sự thay đổi phong cách dàn dựng và cốt truyện của các đạo diễn Mỹ thuộc thế hệ Hollywood mới (New Hollywood). Các đạo diễn tiêu biểu của thế hệ này là Francis Ford Coppola, George Lucas, Brian de Palma, Martin Scorsese, William Friedkin, Stanley Kubrick và Steven Spielberg. Họ đã đưa đến cho các bộ phim những phong cách mới và kéo khán giả trở lại với màn ảnh lớn bằng những bộ phim bom tấn (blockbuster). Coppola cho ra đời Bố già (The Godfather, 1972) được coi là một trong những bộ phim hay nhất của lịch sử Hollywood, Spielberg có Hàm cá mập (Jaws, 1975) mở đầu cho xu hướng tung ra các bộ phim bom tấn vào mùa hè, còn Lucas tung ra loạt phim Chiến tranh giữa các vì sao (Star Wars) trở thành hiện tượng văn hóa tầm cỡ thế giới.
Bắt đầu từ thập niên 1970, các bộ phim Hollywood được phân chia thành hai hướng khá riêng biệt. Một phía là các bộ phim bom tấn được đầu tư cực lớn với dàn diễn viên nhiều sao, phim nhiều đại cảnh và kỹ xảo đặc biệt, quảng cáo rộng rãi nhằm thu hút thật nhiều khán giả. Các bộ phim bom tấn đôi khi là những canh bạc của các hãng phim vì nó có thể mang loại doanh thu lớn nhưng đôi khi cũng lại thất bại trong việc thu hút khán giả. Phía kia của Hollywood là các bộ phim độc lập kinh phí thấp, mang nhiều thử nghiệm nghệ thuật mới. Những bộ phim này thường được đánh giá cao về mặt nghệ thuật như đạo diễn, diễn xuất và tỉ lệ rủi ro cũng thấp hơn các bộ phim bom tấn vì ngân sách đầu tư nhỏ hơn rất nhiều.
=== Thị trường phim tại nhà ===
Thập niên 1980 và 1990 chứng kiến sự ra đời ồ ạt của các kĩ thuật lưu trữ thông tin như băng từ VCR, CD và DVD. Với các kĩ thuật mới này, người ta có thể mua hoặc thuê một DVD phim để xem tại nhà thay vì phải đến rạp mà chất lượng hình ảnh và âm thanh vẫn đạt tiêu chuẩn. Vì thế thị trường phim tại nhà đang ngày càng được các hãng phim chú ý khai thác và mang lại lợi nhuận lớn không kém gì lợi nhuận đem lại của các rạp phim. Theo một nghiên cứu năm 2000 của ngân hàng ABN AMRO thì chỉ có 26% thu nhập của các hãng phim Hollywood đến từ tiền bán vé, 46% đến từ việc bán và cho thuê băng đĩa và 28% đến từ truyền hình.
== Phim độc lập ==
Phim độc lập là: Những bộ phim được sản xuất bởi những hãng phim nhỏ không nằm trong hệ thống studio của Hollywood mà đứng đầu là sáu hãng phim lớn nhất hiện thời (Big Six): Universal Pictures, Warner Bros, Walt Disney Pictures, Columbia Pictures, 20th Century Fox, Paramount Pictures.
Bên cạnh các hãng phim lớn ở Hollywood, cũng có nhiều bộ phim độc lập được thực hiện bởi các hãng phim nhỏ hơn với kinh phí nhỏ và thường không có các ngôi sao điện ảnh hàng đầu. Các bộ phim này thường tập trung vào chất lượng nghệ thuật như kịch bản, đạo diễn, diễn xuất và thường có những sáng tạo đột phát về sản xuất.
Các bộ phim độc lập bắt đầu phổ biến vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 bên cạnh xu hướng phát triển các bộ phim bom tấn. Một thế hệ các nhà làm phim độc lập thành công đã nổi lên với những tên tuổi như Spike Lee, Steven Soderbergh, Kevin Smith và Quentin Tarantino. Các bộ phim của nhóm đạo diễn này như Do the Right Thing, sex, lies, and videotape, Clerks. và Reservoir Dogs được đánh giá rất cao vì đã có những sáng tạo đi ngược lại các quy tắc thông thường trong thực hiện của các bộ phim Hollywood. Không chỉ thành công về nghệ thuật, các bộ phim trên cũng tương đối thành công về thương mại và đã tạo chỗ đứng vững chắc cho việc sản xuất các bộ phim độc lập khác. Hiện nay các hãng phim độc lập đang ngày càng có vị trí trong nền điện ảnh Mỹ nói chung, thậm chí chính các ông lớn của Hollywood cũng đầu tư thành lập các hãng phim độc lập để phát triển các bộ phim mang phong cách riêng, ví dụ tiêu biểu là Fox Searchlight Pictures, một hãng con của 20th Century Fox.
Bên cạnh sự thành công của các bộ phim độc lập Mỹ, cũng phải kể tới sự tham gia tích cực của các bộ phim nước ngoài vào thị trường Mỹ như Ngọa hổ tàng long của Lý An hay Anh hùng của Trương Nghệ Mưu. Một hướng đi khác là các phim tài liệu có tính thương mại hóa cao như Bowling for Columbine và Fahrenheit 9/11 của Michael Moore.
== Những nhân vật nổi bật ==
=== Các đạo diễn ===
=== Các ngôi sao điện ảnh ===
Jason Staham
== Xem thêm ==
Giải Oscar
Danh sách bình chọn của Viện phim Mỹ
Hollywood
Danh sách phim ăn khách nhất của điện ảnh Hoa Kỳ
Danh sách phim đắt giá nhất của điện ảnh Hoa Kỳ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Rottentomatoes.com - Tập hợp các bài giới thiệu và phê bình phim |
ajax amsterdam.txt | Ajax Amsterdam hay Ajax có tên đầy đủ là Amsterdamsche Football Club Ajax (AFC Ajax), là câu lạc bộ bóng đá ở Amsterdam, Hà Lan. Cùng với Feyenoord Rotterdam và PSV Eindhoven, Ajax đã thống trị giải bóng đá quốc gia Hà Lan, và là một trong năm câu lạc bộ giành đủ ba loại cúp (Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia, Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc gia và Cúp UEFA).
== Lịch sử ==
Câu lạc bộ do Floris Stempel, Carel Reeser, anh em Han và Johan Dade thành lập tại Amsterdam, ngày 18 tháng 3 năm 1900.
== Sân vận động ==
Là sân Amsterdam Arena
== Thành tích ==
==== Quốc tế ====
UEFA Champions League/Cúp C1: 4 (kỷ lục của Hà Lan)
Vô địch: 1971, 1972, 1973, 1995
Vào chung kết: 1969, 1996
UEFA Cup Winners' Cup/Cúp C2: 1
1987
UEFA Cup/Cúp C3: 1
1992
UEFA Super Cup/Siêu cúp bóng đá châu Âu: 2 (kỷ lục của Hà Lan)
1973, 1995
Cúp Liên lục địa: 2 (kỷ lục của Hà Lan)
1972, 1995
Cúp Intertoto: 1
1962
==== Quốc gia ====
Vô địch Hà Lan: 33 (kỷ lục của Hà Lan)
1918, 1919, 1931, 1932, 1934, 1937, 1939, 1947, 1957, 1960
1966, 1967, 1968, 1970, 1972, 1973, 1977, 1979, 1980, 1982
1983, 1985, 1990, 1994, 1995, 1996, 1998, 2002, 2004, 2011
2012, 2013, 2014
Cúp Quốc gia Hà Lan: 18 (kỷ lục của Hà Lan)
1917, 1943, 1961, 1967, 1970, 1971, 1972, 1979, 1983, 1986
1987, 1993, 1998, 1999, 2002, 2006, 2007, 2010
Siêu cúp Hà Lan: 8
1993, 1994, 1995, 2002, 2005, 2006, 2007, 2013
== Cầu thủ ==
=== Đội hình hiện tại ===
Số liệu thống kê chính xác tới 1 tháng 9 năm 2015
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Cầu thủ cho mượn ===
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Tham khảo == |
bệnh tả.txt | Bệnh tả (Cholera) là một bệnh nhiễm trùng đường ruột do vi trùng Vibrio cholerae gây ra, độc tố của vi trùng này gây tiêu chảy nặng kèm theo mất nước và có thể dẫn đến tử vong trong một số trường hợp. Robert Koch là người nhận dạng được vi trùng gây bệnh tả vào năm 1883.
Các triệu chứng chính của bệnh là tiêu chảy mất nước và ói mửa. Bệnh truyền chủ yếu qua nước uống hoặc ăn các thức ăn đã bị nhiễm phân (chất thải) của người bệnh, bao gồm những người không có biểu hiện triệu chứng.
Việc điều trị chủ yếu là điều trị bù nước đường uống để thay thế nước và điện giải. Nếu việc bù nước không chấp nhận hoặc không cung cấp cải tiến đủ nhanh, có thể cung cấp chất lỏng qua đường tĩnh mạch. Thuốc kháng khuẩn đường dùng cho những người có bệnh nặng để rút ngắn thời gian và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Trên toàn thế giới, bệnh tả ảnh hưởng đến 3-5 triệu người và gây ra 100.000-130.000 ca tử vong một năm tính đến năm 2010. Dịch tả là một trong những bệnh nhiễm trùng đầu tiên được nghiên cứu bằng các phương pháp dịch tễ học.
== Lịch sử ==
Bệnh tả có lẽ có nguồn gốc từ tiểu lục địa Ấn Độ; ở vùng châu thổ sông Hằng vào thời cổ đại. Bệnh tả xuất hiện châu Á khoảng 600 năm trước Công nguyên, ghi nhận lần đầu tiên trong y học vào năm 1563 tại Ấn Độ. Dịch xuất hiện đầu tiên từ các tuyến đường thương mại (trên đất liền và trên biển) đến Nga năm 1817, sau đó lan sang các phần còn lại của châu Âu, và từ châu Âu sang Bắc Mỹ. Có 7 trận đại dịch đã xảy ra trong 200 năm.
Năm 1832, gần 40.000 người dân Paris chết, nạn nhân có cả tể tướng.
Dịch tả tấn công nước Anh vào năm 1848-1849 đã làm 70.000 người chết, Đại dịch năm 1854 đã cướp đi sinh mạng 1/8 dân số thành phố Luân Đôn.
Sang thời cận đại, riêng tại Bắc Kỳ thời Pháp thuộc năm 1937 dịch tả giết 75.000 người.
Dịch tả vào Peru vào năm 1991, lan truyền sang Ecuador, Colombia, México và Nicaragua kết quả hơn 12.000 người chết.
== Dấu hiệu và triệu chứng ==
Các biểu hiện chính của bệnh tả là tiêu chảy nhiều, không đau và nôn mửa những chất lỏng trong suốt. Các triệu chứng này thường bắt đầu bất ngờ, từ nửa ngày đến 5 ngày sau khi nhiễm khuẩn bằng đường ăn uống. Tiêu chảy thường được miêu tả như là "nước gạo" và có thể có mùi tanh. Một người bị tiêu chảy chưa được điều trì có thể thải ra 10 đến 20 lít nước chất thải một ngày gây tử vong. Đối với mọi người có triệu chứng, 3 đến 100 người bị nhiễm nhưng không có triệu chứng. Tiêu chảy đã từng được mệnh danh là "cái chết xanh" do da của bệnh nhân chuyển sang sắc xám xanh là kết quả của việc mất quá nhiều nước.
Nếu bị bệnh tiêu chảy nặng mà không điều trị bằng phương pháp bù nước qua tĩnh mạch, có thể đe dọa tính mạng do mất cân bằng điện giải và mất nước. Triệu chứng mất nước đặc trưng như huyết áp thấp, da bàn tay nhăn nheo, mắt trũng, và mạch đập nhanh.
== Nguyên nhân ==
Nguyên nhân gây ra bệnh tả thường là dùng nước nhiễm vi trùng gây bệnh. Vi trùng gây bệnh có nhiều nhất ở trong phân của người bệnh và trong nước thải có chứa phân. Ngoài ra cá và các thực phẩm khác từ nước nhiễm vi trùng gây bệnh cũng có thể là nguồn gây bệnh do nấu ăn không kỹ hoặc ăn hải sản sống. Loài vi khuẩn này có thể sống một cách tự nhiên trong bất kỳ môi trường nào.
=== Tính nhạy cảm ===
Khoảng 100 triệu vi khuẩn phải đi vào đường tiêu hóa mới gây ra bệnh tả ở người lớn có sức khỏe bình thường. Tuy nhiên, liều này thì thấp hơn đối với những người có axit dạ dày bị thấp (ví dụ như những người sử dụng chất ức chế bơm proton). Trẻ em cũng nhạy cảm hơn, đối với trẻ 2 đến 4 tuổi có tỉ lệ mắc bệnh cao nhất. Tính nhạy cảm của mỗi người đối với bệnh tả cũng phụ thuộc vào nhóm máu của họ, trong đó người có nhóm máu O sẽ nhạy cảm nhất. Những người có hệ miễn dịch bị suy giảm, như người mắc bệnh AIDS hay trẻ bị suy dinh dưỡng cũng là những đối tượng dễ bị nhiễm.
=== Truyền bệnh ===
Bệnh tả chủ yếu truyền qua nguồn thức ăn hoặc nguồn nước bị nhiễm khuẩn. Ở các nước phát triển, hải sản thường là nguyên nhân chính, còn ở các nước đang phát triển con đường truyền chủ yếu từ nguồn nước. Ngoài con người bệnh tả chỉ được tìm thấy trên hai nhóm động vật khác đó là: động vật có vỏ cứng và phiêu sinh.
== Cơ chế ==
Khi ăn vào, hầu hết vi khuẩn không sống sót được trong môi trường axit của dạ dày người. Một vài con còn sốt sót bảo tồn năng lượng và thức ăn đã tích trữ trong quá trình đi qua dạ dày bằng cách ngừng sản xuất phần lớn protein. Khi vi khuẩn sống sót đi qua khỏi dạ dày và đến ruột non, chúng cần đẩy mình qua màng nhầy dày của ruột để đến thành ruột, nơi mà chúng có thể phát triển mạnh. Vi khuẩn V. cholerae bắt đầu sản xuất các protein flagellin hình trụ rỗng để tạo roi, chúng là các sợi xoắn xoay để đẩy mình qua chất nhầy của thành ruột non.
Một khi vi khuẩn tả đến được thành ruột non, chúng sẽ không cần roi để di chuyển nữa. Vi khuẩn bắt đầu dừng sản xuất protein flagellin để bảo tồn năng lượng và dinh dưỡng bằng cách trộn các protein mà chúng có được từ các chất hóa học xung quanh bị thay đổi. Khi đến thành ruột, V. cholerae bắt đầu sản xuất các protein có độc làm người bị nhiễm tiêu chảy. Điều này mang các lứa vi khuẩn mới vào nguồn nước uống và sẽ đi vào những vật chủ tiếp theo nếu không có các biện pháp vệ sinh thích hợp và đúng chỗ.
Chất độc vi khuẩn tả (CTX hay CT) là một chất phức tạp gồm 6 đơn vị protein: một bản sao duy nhất của tiểu đơn vị A (phần A), và 5 bản sao của tiểu đơn vị B (phần B), được liên kết với nhau bởi liên kết disulfua. Năm tiểu đơn vị B tạo thành một vòng có 5 thành phần liên kết với các ganglioside GM1 trên bề mặt của các tế bào biểu mô ruột. Tỉ lệ A1 của tiểu đơn vị A là một enzym mà các G protein ADP-ribosylates, trong khi chuỗi A2 khớp với lỗ rỗng trung tâm của vùng tiểu đơn vị B. Tùy thuộc vào liên kết, phức hợp này được đưa vào tế bào thông qua endocytosis hấp thụ trung gian. Khi vào bên trong tế bào, liên kết disulfua bị giảm, và tiểu đơn vị A1 được tự do kết hợp với một protein của người được gọi là ADP-ribosylation factor 6 (Arf6). Sự liên kết thể hiện vị trí hoạt động của nó, cho phép nó ribosylate vĩnh viễn tiểu đơn vị alpha Gs của protein heterotrimeric G. Điều này tạo ra cAMP, chất này sau đó làm tiết ra H2O, Na+, K+, Cl−, và HCO3− trong ruột non và gây mất nước nhanh. Các gen mã hóa độc tố tả được đưa vào V. cholerae bằng cách chuyển gen ngang. Chủng độc lực của V. cholerae mang một biến thể của bacteriophage được gọi là CTXf hay CTXφ.
== Chẩn đoán ==
Một que thử nhanh được dùng để xác định sự hiện diện của V. cholerae. Trong các mẫu này nó cho kết quả dương tính, các thử nghiệm sau đó cần nên tiến hành để xác định sức kháng kháng sinh. Trong các tình huống có dịch, chẩn đoán lâm sàng cần được thực hiện bằng cách lấy lời khai lịch sử bệnh của bệnh nhân và thực hiện các điều tra ngắn. Việc điều trị thường được tiến hành mà không cần hoặc trước khi xác nhận rõ thông tin phân tích từ phòng thí nghiệm.
Mẫu phân và tăm bông được thu thập từ trường hợp bệnh cấp tính, trước khi sử dụng kháng sinh, là hữu ích cho công tác chẩn đoán trong phòng thí nghiệm. Nếu bị nghi ngờ là dịch tả, tác nhân gây bệnh phổ biến là V. cholerae O1. Nếu nhóm V. cholerae serogroup O1 không được cô lập, công tác trong phòng thí nghiệm cần thử V. cholerae O139. Tuy nhiên, nếu các chủng này cũng không được cô lập, cần phải gởi mẫu phân đến phòng thí nghiệm đối chiếu. Nhiễm V. cholerae O139 nên được báo cáo và xử lý theo cách tương tự với bệnh gây ra bởi V. cholerae O1. Bệnh tiêu chảy có liên quan nên được tham chiếu với bệnh tả và phải được báo cáo trong trường hợp ở Hoa Kỳ.
== Phòng tránh ==
Bệnh tả có thể tránh nếu có ý thức với bản thân và cộng đồng, bằng cách ăn chín và uống sôi. Tuyệt đối không ăn: rau sống, hải sản tươi sống, tiết canh, uống nước đá... trái cây phải ngâm nước muối, gọt sạch vỏ trước khi ăn. Tay chân luôn vệ sinh sạch sẽ, rửa tay bằng xà phòng sạch sẽ trước khi ăn uống và sau khi đi vệ sinh. Khi thành dịch thì dịch tả có tốc độ lây lan và gây tử vong khủng khiếp, không như tiêu chảy.
Mặc dù bệnh tả có thể đe dọa đến tính mạng, nhưng việc phòng chống bệnh này sẽ đạt hiệu quả nếu như thực hiện tốt công tác đảm bảo vệ sinh môi trường. Ở những nước phát triển, do hệ thống xử lý nước tiên tiến và việc áp dụng tốt các biện pháp vệ sinh môi trường, bệnh tả không còn là mối đe dọa sức khỏe chính. Đợt bùng nổ bệnh tả lớn gần đây nhất xảy ra ở Hoa Kỳ vào năm 1910–1911. Một số biện pháp hiệu quả về vệ sinh môi trường nếu được thiết lập và thực hiện đúng lúc sẽ ngăn chặn được đại dịch. Một số điểm chính làm gián đoạn con đường lan truyền bệnh có thể thực hiện như:
Khử trùng: Thải các chất thải đúng cách và xử lý nước thải phân của người bệnh tả và tất cả những vật dụng bị nhiễm như quần áo, giường chiếu là cần thiết. Tất cả các vật dụng tiếp xúc với bệnh nhân phải được khử trùng bằng nước nóng hoặc dùng nước javen nếu có thể. Bàn tay chạm vào bệnh nhân hoặc quần áo, giường chiếu của họ nên rửa sạch và khử trùng bằng nước clo hoặc các chất kháng khuẩn có hiệu quả khác.
Nước thải: Xử lý nước thải bằng các chất diệt khuẩn như clo, ôzôn, tia tử ngoại, hoặc các biện pháp khác trước khi thải nước vào nguồn tiếp nhận để ngăn ngừa lây lan bệnh.
Nguồn: Những cảnh báo về khả năng nhiễm khuẩn nên được dán xung quanh các nguồn nước bị nhiễm cùng các hướng dẫn cụ thể cho việc khử trùng (đun sôi, khử trùng bằng clo,...) trước khi sử dụng.
Lọc nước: Tất cả nguồn nước dùng trong uống, giặt giũ, nấu ăn nên được khử trùng như cách đã nêu trên là đun sôi, khử bằng clo, xử lý nước bằng ozon, tia cực tím hoặc lọc kháng khuẩn ở những nơi có thể có mặt bệnh tả.
=== Giám sát ===
Giám sát và báo cáo kịp thời giúp khoanh vùng lây lan dịch bệnh. Bệnh tả phát triển theo mùa ở một số nước có căn bệnh này ở dạng đặc hữu (thường xuyên) chủ yếu vào mùa mưa. Hệ thống giám sát giúp cảnh báo sớm khả năng phát dịch, và có những biện pháp ứng phó kịp thời. Hệ thống giám sát hiệu quả cũng có thể cải thiện việc đánh giá nguy cơ bùng phát dịch tả tiềm năng. Hiểu biết về mùa vụ và vị trí của dịch cung cấp hướng dẫn cho việc cải thiện hoạt động kiểm soát dịch tả cho những vùng dễ bị tổn thương nhất. Để việc phòng chống hiệu quả, điều quan trọng là các trường hợp phát bệnh nên thông báo với cơ quan y tế quốc gia.
=== Tiêm vắc-xin ===
Một lượng lớn vắc-xin tả an toàn và hiệu quả dùng qua đường uống đã có. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo tiêm chủng của các nhóm có nguy cơ cao như trẻ em, người bị nhiễm HIV, ở những quốc gia mà bệnh này là [[đặc hữu. Nếu người dân được tiêm chủng mở rộng, các kết quả miễn dịch đàn, sẽ làm giảm số lượng nhiễm khuẩn trong môi trường.
=== Lọc Sari ===
Một phương pháp tương đối rẻ và hiệu quản đề phòng chống lây truyền vi khuẩn V. cholera là thực hiện gấp vảo sari (một loại vải) nhiều lần để tạo ra một bộ lọc đơn giản đối với nước uống. Vải sari được gấp 4 đến 8 lần có thể tạo ra một màng lọc đơn giản nhằm làm giảm số lượng vi khuẩn V. cholera hoạt động trong nước được lọc. Giáo dục sử dụng bộ lọc sari đúng cách là bắt buộc, vì có mối tương quan thuận giữa việc lạm dụng sari và tỉ lệ trẻ bị tiêu chảy; vải sari bẩn của người phụ nữ mặc là các véc tơ truyền bệnh đường ruột ở trẻ nhỏ. Việc giáo dục những nhóm dân cư có nguy cơ nhiễm bệnh cao sử dụng sari đúng cách có thể giảm các bệnh liên quan đến V. cholera.
== Dịch tễ học ==
Bệnh tả ảnh hưởng khoảng 3-5 triệu người trên khắp thế giới, và gây ra 58.000–130.000 ca tử vong mỗi năm tính đến năm 2010. Các trường hợp này chủ yếu xuất hiện ở các nước đang phát triển. Vào đầu thập niên 1980, tỉ lệ tử vong được tin là có hơn 3 triệu mỗi năm. Rất khó để tính chính xác số ca bệnh, vì nhiều trường hợp không được báo cao do người ta lo ngại rằng nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đếnh hoạt động du lịch của quốc gia. Bệnh tả vẫn còn tồn tại quy mô dịch và đặc hữu ở nhiều khu vực trên thế giới.
Mặc dù biết khá rõ về cơ chế của việc lây lan bệnh tả, nhưng điều này không dẫn đến việc hiểu đầy đủ về việc phát dịch ở một vài nơi nhưng nơi khác lại không. Thiếu xử lý chất thải phân và thiếu xử lý nước uống tạo điều kiện cho bệnh lây lan, nhưng những vùng cung cấp nước như các hồ chứ nước, và hải sản được vận chuyển đến những vùng xa có thể phát tán dịch bệnh. Dịch tả không được biết đến ở châu Mỹ trong hầu hết hết kỷ 20, nhưng nó xuất hiện trở lại vào cuối thế kỷ 20 này.
== Chữa trị ==
Biện pháp chữa trị quan trọng nhất là phải cung cấp lại đầy đủ nước, đường và muối, thường phải được tiêm vào mạch máu để không phải qua đường ruột. Ở các nước Thế giới thứ ba, người ta cũng chữa trị thành công và đơn giản bằng cách cho uống nước thay thế. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyên nên cho uống một dung dịch đường và muối gồm có các thành phần sau:
Gluco (đường nho) 20 g/l
Bicacbonat natri 2,5 g/l
Clorit natri (muối ăn) 3,5 g/l
Clorit kali 1,5 g/l
Với những biện pháp này tỷ lệ tử vong có thể giảm từ 60% xuống còn 1%. Cách phòng bệnh tốt nhất là phải sử dụng nước sạch trong ăn uống và sinh hoạt. Chủng ngừa bệnh chỉ có hiệu lực trong vòng khoảng 6 tháng và chỉ ở khoảng 80% người được tiêm chủng.
== Nhóm máu và bệnh tả ==
Các nghiên cứu gen mới đây cho thấy rằng mức độ dễ bị lây nhiễm của một người đối với bệnh tả phụ thuộc vào nhóm máu của họ. Người có nhóm máu O dễ bị lây nhiễm nhất trong khi người có nhóm máu AB có khả năng kháng cự nhiều nhất, gần như là miễn nhiễm. Giữa hai thái cực này là những người có nhóm máu A và B với nhóm máu A có khả năng kháng cự nhiều hơn nhóm máu B.
== Ca bệnh nổi bật ==
Sadi Carnot, nhà vật lý học, sáng lập ngành nhiệt động học (mất 1832)
Charles X, Vua Pháp (mất 1836)
James K. Polk, tổng thống thứ mười một của Hoa Kỳ (mất 1849)
Carl von Clausewitz, nhà lý thuyết chính trị người Đức (mất 1831)
Maria Agata Szymanowska, nhà soạn nhạc và nhạc công Ba Lan (mất 1831)
== Xã hội và văn hóa ==
Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo nên tập trung phòng ngừa, chuẩn bị và đối phó với sự lan truyền của bệnh tả. Họ cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thống giám sát. Chính quyền có thể đóng vai trò trong tất cả các lĩnh vực này. Điều này có nghĩa là chính quyền của quốc gia sở tại có thể đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa bệnh tả hoặc làm giảm mức độ lây nhiễm của bệnh.
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Colwell RR (tháng 12 năm 1996). “Global climate and infectious disease: the cholera paradigm”. Science 274 (5295): 2025–31. doi:10.1126/science.274.5295.2025. PMID 8953025.
Drasar, B. S.; Forrest, Bruce D. biên tập (1996). Cholera and the ecology of Vibrio cholerae. Springer. p. 355. ISBN 0-412-61220-8.
Echenberg, Myron (2011) Africa in the Time of Cholera. A History of Pandemics from 1817 to the Present, Cambridge University Press, New York (Paperback) ISBN 978-0-521-18820-3
Furuque, Shah M.; Nair, G. Balakrish biên tập (2008). Vibrio Cholerae: Genomics and Molecular Biology. Horizon Scientific Press. p. 218. ISBN 1-904455-33-6.
Gilbert, Pamela K. (2008). “Cholera and Nation: Doctoring the Social Body in Victorian England”. SUNY Press. p. 231. ISBN 0-7914-7343-0.
Henze, Charlotte E. (2011) Disease, Health Care and Government in Late Imperial Russia: Life and Death on the Volga, 1823-1914. Routledge, Oxon, UK 2011. ISBN 9780415547949.
Jermyn, William S.; O'Shea, Yvonne A.; Quirke, Anne Marie; Boyd, E. Fidelma (2006). “Genomics and the Evolution of Pathogenic Vibrio Cholerae”. Trong Chan, Voon L.; Sherman, Philip M.; Bourke, Billy. Bacterial genomes and infectious diseases. Humana Press. p. 270. ISBN 1-58829-496-X.
Johnson, Steven (2006). The Ghost Map: The Story of London's Most Terrifying Epidemic--and How It Changed Science, Cities, and the Modern World. Riverhead Hardcover. ISBN 1-59448-925-4.
McGrew, Roderick (1985) Encyclopedia of Medical History, brief history pp. 59–64.
Mintz ED, Guerrant RL (tháng 3 năm 2009). “A lion in our village--the unconscionable tragedy of cholera in Africa”. N. Engl. J. Med. 360 (11): 1060–3. doi:10.1056/NEJMp0810559. PMID 19279337.
Pardio Sedas, Violeta T. (2008). “Impact of Climate and Environmental Factors on the Epidemiology of Vibrio choerae in Aquatic Ecosystems”. Trong Hofer, Tobias N. Marine Pollution: New Research. Nova Science publishers. p. 448. tr. 221–254. ISBN 1-60456-242-0.
Ryan, Kenneth J.; Ray, C. George biên tập (2003). Sherris medical microbiology: an introduction to infectious diseases (ấn bản 4). McGraw-Hill Professional. tr. 979. ISBN 0-8385-8529-9.
Wachsmuth, Kaye; Blake, Paul A.; Olsvik, Ørjan biên tập (1994). Vibrio cholerae and cholera: molecular to global perspectives. ASM Press. p. 465. ISBN 1-55581-067-5.
== Liên kết ngoài ==
Phẩy khuẩn tả và bệnh tả (Thư viện Khoa học VLOS)
Cholera—World Health Organization
The Attenuation of the Causal Agent of Fowl Cholera, by Louis Pasteur, 1880
What is Cholera?—Centers for Disease Control and Prevention
Cholera Epidemic in NYC in 1832 New York Times ngày 15 tháng 4 năm 2008
The Cholera Timebomb in The DRC—slideshow by The First Post |
nhân quyền.txt | Nhân quyền (hay quyền con người; tiếng Anh: human rights) là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc, nhân quyền là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Thomas Jefferson đã đưa ra một nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho sự thành lập chính phủ dân chủ. Các chính phủ trong thể chế dân chủ không ban phát các quyền tự do cơ bản mà Jefferson đã nêu, mà chính các chính phủ đó được lập ra để bảo vệ các quyền tự do đó – các quyền mà mọi cá nhân hiển nhiên có do sự tồn tại của mình.
== Tổng quan ==
Theo quan điểm của các nhà triết học thời đại khai sáng của thế kỷ 17 và 18 thì các quyền không thể tước bỏ được là các quyền tự nhiên do Tạo hóa ban cho họ. Các quyền này không bị phá hủy khi xã hội dân sự được thiết lập và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ hoặc "chuyển nhượng" các quyền này.
Các quyền không thể tước bỏ bao gồm quyền được sống, quyền tự do (các quyền tự do ngôn luận và thể hiện, quyền tự do tín ngưỡng và nhận thức, quyền tự do lập hội) quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên, đây chưa phải là bản liệt kê đầy đủ các quyền mà các công dân có được trong một nền dân chủ. Các xã hội dân chủ đồng thời thừa nhận các quyền dân sự như quyền được xét xử công bằng, và còn lập nên các quyền chủ chốt mà bất kỳ chính phủ dân chủ nào cũng phải duy trì.
Vì các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào chính phủ, do đó chúng không thể bị luật pháp bãi bỏ cũng như không phụ thuộc vào ý muốn nhất thời của đa số cử tri nào đó. Ví dụ như điều sửa đổi bổ sung đầu tiên của Hiến pháp Hoa Kỳ không đưa ra quyền tự do tín ngưỡng hay tự to báo chí cho dân chúng. Điều sửa đổi bổ sung đó nghiêm cấm Quốc hội thông qua các luật vi phạm tới tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và quyền hội họp ôn hòa. Nhà sử học Leonard Levy đã phát biểu: "Các cá nhân có thể tự do khi chính phủ của họ không tự do".
== Lịch sử nhân quyền ==
=== Thế giới cổ đại ===
Bộ luật cải cách, của Urukagina thành phố Lagash, được biết đến sớm nhất (khoảng năm 2350 TCN) đã nói đến những khái niệm về quyền ở mức độ nào đó, văn bản chính thức bộ luật đó của ông ta vẫn chưa được tìm thấy.
Bộ luật cổ nhất hiện còn ngày nay là Luật Ur-Nammu thời Tân Sumer (khoảng 2050 TCN). Một số bộ luật khác cũng được ban hành ở Mesopotamia, gồm cả Bộ luật Hammurabi (khoảng 1780 TCN) một trong những ví dụ điển hình nhất của loại tài liệu này. Nó có các luật, và hình phạt nếu những luật này bị vi phạm ở nhiều khía cạnh khác nhau, kể cả nữ quyền, quyền trẻ em, và quyền của nô lệ. Lời tựa của những bộ luật này viện dẫn sự đồng ý thiêng liêng của Thần của người Mesopotamian.
Các tài liệu tôn giáo cũng đề cập đến vấn đề nhân quyền. Kinh Vệ đà, Kinh Thánh, Kinh Koran và sách Luận ngữ của Khổng Tử cũng trong số những tài liệu ra đời sớm đã nêu ra những vấn đề về nghĩa vụ, quyền, và bổn phận của con người.
=== Trụ Cyrus ===
Trụ Cyrus (Cyrus Cylinder) được cho là hiến chương đầu tiên của nhân quyền thế giới, " ra đời trước hiến chương Magna Carta hơn một ngàn năm". Một bản mẫu của trụ được Iran tặng cho Liên Hiệp Quốc vào năm 1971. Trụ này có từ thời vua Cyrus II, tức Cyrus Đại đế (559 TCN - 530 TCN) - vị Hoàng đế sáng lập ra Đế quốc Ba Tư hùng mạnh. Tuy là một nhà chinh phạt hiển hách, ông cũng được ca ngợi về vấn đề nhân quyền. Sau khi đánh bại quân Babylon và chinh phạt luôn cả Đế quốc Tân Babylon, ông ghi nhận về chiến công lừng lẫy này qua Trụ Cyrus. Theo Trụ này, Hoàng đế Cyrus Đại Đế luôn tôn trọng các vị Thần trong tín ngưỡng của Babylon, phục hồi những ngôi đền ở kinh đô Babylon và giải phóng những thần dân ngoại lai thoát khỏi ách nô lệ. Những việc làm này của nhà vua đã trở thành biểu tưởng của sự khoan dung và kính trọng các tôn giáo khác. Trong Đế quốc Ba Tư, Hoàng đế Cyrus Đại Đế đặt ra luật pháp trị vì muôn dân, và trăm họ cảm thấy kính mến ông hơn là e sợ ông. Những ý tưởng của nhà vua Ba Tư về chính phủ có ảnh hưởng đến nhân quyền.
=== Hiến chương Magna Carta ===
Hiến chương Magna Carta của người Anh lần đầu tiên được công bố năm 1215. Hiến chương này có ảnh hưởng đến sự phát triển của thông luật (common law) và nhiều tài liệu liên quan đến hiến pháp như bản Hiến pháp Hoa Kỳ, đặc biệt là Đạo luật Nhân quyền (Bill of Rights), và nó được xem là một trong những tài liệu pháp lý quan trọng nhất trong lịch sử dân chủ. Hiến chương này cũng sớm có ảnh hưởng lớn đến quá trình lịch sử dẫn đến hiến pháp hiện nay.
Hiến chương Magna Carta còn là một trong những tài liệu pháp lý đầu tiên tiết chế quyền lực của nhà nước để bảo vệ các quyền của công dân nước đó. Hiện nay, giá trị còn tồn tại lớn nhất của nó là luật bảo thân (habeas corpus - thân xác thuộc về người). Quyền này phát sinh từ các điều 36, 38, 39 và 40 của Hiến chương Magna Carta năm 1215. Nó cũng bao gồm due process of law (luật tôn trọng tất cả các quyền hợp pháp của công dân).
=== Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền ===
Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (tiếng Pháp: Déclaration des droits de l'Homme et du citoyen) là văn bản nền tảng của Cách mạng Pháp, trong đó quy định các quyền cá nhân và quyền tập thể của tất cả các giai cấp là bình đẳng. Chịu ảnh hưởng bởi học thuyết các quyền tự nhiên, các quyền Con người là bình đẳng: có giá trị tại mọi thời điểm và tại mọi không gian, gắn với bản chất con người. Dù văn bản này thiết lập các quyền cơ bản cho tất cả công dân Pháp và tất cả con người không ngoại lệ, nó không hề để cập đến vị trí của phụ nữ cũng như nô lệ; dù vậy, nó vẫn là tiền thân của các phương thức nhân quyền quốc tế.
=== Công ước Genève ===
Các Công ước Genève (phát âm tiếng Việt: Công ước Giơ-ne-vơ) gồm có bốn công ước được viết ở Genève (Thụy Sĩ) đặt tiêu chuẩn luật pháp quốc tế về vấn đề nhân đạo. Những hiệp định này do những đóng góp của Henry Dunant, người đã chứng kiến sự khủng khiếp của chiến tranh ở Trận Solferino năm 1859.
Theo điều khoản 49, 50, 129, và 146 của Công ước Genève I, II, III, và IV, riêng từng cái một, các quốc gia ký Công ước phải thông qua đủ luật pháp để làm những sự vi phạm Công ước Genève thành tội ác phải được trừng phạt.
Tuy nhiên, "Công ước Genève" thực sự chỉ đến một số văn kiện khác:
Công ước Genève thứ nhất "để cải tiến tình trạng của những người bị thương và những người ốm của quân lực tại chiến trường" (được chấp nhận lần đầu tiên năm 1864; được sửa lại lần cuối năm 1949)
Công ước Genève thứ 2 "để cải tiến tình trạng của những người bị thương, những người ốm, và những người bị đắm tàu của quân lực trên biển" (được chấp nhận lần đầu tiên năm 1949, tiếp theo Đoạn X của Hiệp định La Hay năm 1907)
Công ước Genève thứ 3 "về cách đối xử với tù binh" (được chấp nhận lần đầu tiên năm 1929; được sửa lại lần cuối năm 1949)
Công ước Genève thứ 4 "về sự bảo vệ thường dân vào thời chiến" (được chấp nhận lần đầu tiên năm 1949, dựa trên một số phần trong Đoạn IV của Hiệp định La Hay năm 1907)
Ngoài ra, cũng có ba nghị định phụ vào Công ước Genève:
Nghị định I (1977): "Nghị định phụ vào Công ước Genève ngày 12 tháng 8 năm 1949, và nhằm bảo vệ những nạn nhân của xung đột vũ trang quốc tế"
Nghị định II (1977): "Nghị định phụ vào Công ước Genève ngày 12 tháng 8 năm 1949, và nhằm bảo vệ những nạn nhân của xung đột vũ trang không quốc tế"
Nghị định III (2005): "Nghị định phụ vào Công ước Genève ngày 12 tháng 8 năm 1949, và nhằm chấp nhận biểu trưng đặc biệt phụ vào"
=== Các tuyên ngôn hiện đại ===
==== Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền ====
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp. Bản Tuyên ngôn đã được dịch ra ít nhất 375 ngôn ngữ. Tuyên bố phát sinh trực tiếp từ những kinh nghiệm của Chiến tranh thế giới thứ hai và là tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên trên thế giới, trong đó liệt kê các quyền cơ bản mà mọi cá nhân được hưởng. Nó bao gồm 30 điều đã được xây dựng trong các Thỏa ước quốc tế, thỏa ước nhân quyền khu vực, hiến pháp và luật pháp quốc gia. Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế bao gồm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị cùng hai Nghị định thư không bắt buộc I và II. Năm 1966, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua hai Công ước trên, qua đó hoàn thành cơ bản Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế.
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi quốc gia và mọi dân tộc. Tinh thần của bản Tuyên ngôn là dùng truyền đạt và giáo dục để nỗ lực thúc đẩy các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc tôn trọng các quyền con người cơ bản được đưa ra trong Tuyên ngôn.
Điều khoản cuối cùng của bản Tuyên ngôn có viết "Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này".
==== Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN ====
Tuyên bố Nhân quyền ASEAN (tiếng Anh: ASEAN Human Rights Declaration, viết tắt là AHRD) là văn bản tuyên bố chung về nhân quyền của các nước ASEAN trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 21 được tổ chức tại Phnom Penh, Campuchia vào ngày 18 tháng 11 năm 2012 với sự chấp thuận và ký kết của lãnh đạo 10 nước thành viên ASEAN. Đây là văn kiện chính trị đầu tiên của ASEAN nhằm tạo khuôn khổ chung cho tăng cường hợp tác ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trong khu vực.
Tuyên bố Nhân quyền ASEAN gồm 40 điều khoản, khẳng định mọi công dân ASEAN có 4 nhóm quyền căn bản về dân sự và chính trị, về kinh tế, xã hội và văn hóa, quyền phát triển, và quyền hưởng hòa bình. Các quyền này được xây dựng trên những nguyên tắc căn bản là bình đẳng, tôn trọng đặc thù khu vực và sự đa dạng của mỗi quốc gia. Tuy vậy, cũng có một số chỉ trích của các tổ chức nhắm đến tuyên bố này, cho rằng nó vẫn còn mang một số khiếm khuyết nhất định và thậm chí, một số tổ chức nhân quyền phê phán văn bản không đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
== Các tổ chức bảo vệ nhân quyền ==
=== Liên Hiệp Quốc ===
Liên Hiệp Quốc (LHQ) là cơ quan liên chính phủ đa phương duy nhất có quyền xét xử quốc tế được chấp nhận rộng rãi về pháp chế nhân quyền chung. Tất cả các cơ quan của LHQ có chức năng tư vấn cho Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, và có rất nhiều các ủy ban ở trong LHQ có trách nhiệm bảo vệ các hiệp ước nhân quyền khác nhau. Bộ phận có thâm niên nhất của LHQ về nhân quyền là Văn phòng Cao ủy về Nhân quyền. LHQ được quốc tế ủy thác về:
==== Văn phòng Cao ủy về Nhân quyền ====
Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh: Office of High Commissioner for Human Rights) là một cơ quan thuộc Liên Hiệp Quốc do Đại hội đồng thành lập vào ngày 20 tháng 12 năm 1993 có nhiệm vụ thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người được bảo hộ trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và luật quốc tế. ngay sau Hội nghị Thế giới về Nhân quyền tổ chức tại Viên - Áo.
==== Hội đồng Nhân quyền ====
Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc được thành lập tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới 2005 (2005 World Summit) để thay thế cho Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền (United Nations Commission on Human Rights), có nhiệm vụ điều tra sự vi phạm nhân quyền. Hội đồng Nhân quyền là một tổ chức trực thuộc Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và báo cáo trực tiếp với tổ chức này. Nó được xếp dưới Hội đồng Bảo an. Bốn mươi bảy quốc gia trên một trăm chín mươi mốt ghế thành viên trong Hội đồng được bầu thông qua hình thức bỏ hiếu kín theo nguyên tắc đa số tương đối (trên 50%) ở Đại hội đồng. Các thành viên phục vụ tối đa sáu năm và có thể bị đình chỉ nếu vi phạm nhân quyền. Hội đồng này được đặt ở Genève, Thụy Sĩ và họp một năm ba lần; trường hợp khẩn cấp có thể có thêm các cuộc họp bổ sung.
Hội đồng này còn có các chuyên gia độc lập (báo cáo viên) để điều tra các vi phạm nhân quyền và báo cáo lại cho Hội đồng. Hội đồng Nhân quyền có thể yêu cầu Hội đồng Bảo an đưa các vụ kiện ra Tòa án Tội phạm Quốc tế (ICC) ngay cả những vấn đề ngoài quyền hạn của ICC.
=== Hội Hồng Thập Tự Quốc tế ===
Phong trào Chữ thập đỏ – Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế là tổ chức theo nhân đạo chủ nghĩa lớn nhất trên thế giới, thường được gọi là Hội Chữ thập đỏ hay Hội Hồng thập tự, theo biểu trưng đầu tiên của họ. Nó gồm có Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC) ở Genève, Hiệp hội Chữ thập đỏ – Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (IFRC), và 183 hội Chữ thập đỏ hoặc Trăng lưỡi liềm đỏ quốc gia riêng mà hiện nay được là thành viên chính thức của IFRC và được ICRC công nhận. Tất cả những tổ chức này không phụ thuộc nhau theo pháp lý, nhưng có liên quan với nhau do những căn bản, mục đích, biểu trưng, quy chế, và cơ quan giống nhau. Phong trào này tự giác và phi chính phủ. Mục đích đã được tuyên bố là để bảo vệ sự sống và sức khỏe con người, để bảo đảm là con người được tôn trọng, và để tránh và giảm bớt khổ sở, họ không phân biệt theo quốc tịch, dân tộc, tôn giáo hay tín ngưỡng, giai cấp, hoặc quan điểm chính trị.
=== Ân xá Quốc tế ===
Ân xá Quốc tế (tiếng Anh: Amnesty International, viết tắt AI) là một tổ chức phi chính phủ quốc tế, đặt ra mục đích bảo vệ tất cả quyền con người đã được trịnh trọng nêu ra trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và các chuẩn mực quốc tế khác.
Đặc biệt, Ân xá Quốc tế hoạt động nhằm giải thoát tất cả tù nhân lương tâm; nhằm bảo đảm các tù chính trị được xử công bằng và công khai; nhằm bãi bỏ án tử hình, tra tấn, và các hình thức đối xử khác với tù nhân mà họ cho là tàn bạo; nhằm chấm dứt các vụ ám sát chính trị và mất tích cưỡng bức; và chống lại mọi sự vi phạm nhân quyền, bất kể là do chính phủ hay tổ chức khác.
=== Tổ chức Theo dõi Nhân quyền ===
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền được thành lập năm 1978 dưới tên Helsinki Watch để giám sát Liên Xô, thu thập tư liệu về việc Liên Xô thực hiện các quy ước của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) và để giúp đỡ "các nhóm bảo vệ nhân quyền trong Liên bang Xô Viết". Năm 1988 Helsinki Watch hợp nhất với các tổ chức quốc tế khác có cùng chung mục đích trở thành Human Rights Watch. Một trong những người thành lập và giám đốc đầu tiên của tổ chức là Robert L. Bernstein.
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền tập trung vào việc điều tra và tường thuật về những hành động họ cho là vi phạm nhân quyền. Mối quan tâm chính của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền được họ nói là ngăn cản tham nhũng, ngăn cản phân biệt đối xử về giới tính hay về giai cấp xã hội trong chính phủ và chống lạm dụng quyền lực nhà nước (thí dụ như tra tấn hay giam tù biệt lập). Tổ chức Theo dõi Nhân quyền có một bộ phận chuyên về vi phạm quyền con người đối với phụ nữ. Tổ chức ủng hộ hòa bình trong liên kết với những quyền con người cơ bản như quyền tự do tín ngưỡng và tự do báo chí.
== Nội dung nhân quyền ==
Theo Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, con người có ba nhóm quyền cơ bản bao gồm Quyền dân sự, Quyền chính trị và Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa.
=== Quyền dân sự ===
Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận là con người và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi
Quyền sống, tự do và an toàn thân thể, không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch
Quyền không bị tra tấn hay chịu hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm
Quyền được công nhận là con người trước pháp luật
Quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng
Quyền yêu cầu tòa án can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản
Quyền được bảo vệ khỏi bị bắt, giam giữ hay lưu đày tùy tiện
Quyền được xét xử công khai, công bằng bởi tòa án độc lập, không bị kết án và trừng phạt vượt quá khuôn khổ pháp luật
Quyền được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp
Quyền tự do đi lại, cư trú trong lãnh thổ quốc gia
Quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình, và có quyền hồi hương
Quyền tự do tôn giáo; tự do thay đổi tôn giáo, tín ngưỡng; tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng
Quyền được bảo vệ đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, danh dự
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do quan niệm và phát biểu quan điểm
Quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình, không bị cưỡng ép gia nhập hội
Quyền kết hôn với sự thuận tình hoàn toàn tự do của hai bên và bình đẳng trong hôn nhân
Quyền sở hữu riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác, không bị tước đoạt tài sản
=== Quyền chính trị ===
Quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác khi bị đàn áp
Quyền có quốc tịch và không bị tước quốc tịch
Quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình tự do lựa chọn
Quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước
Quyền biểu lộ ý nguyện thông qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự
=== Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa ===
Quyền được hưởng an sinh xã hội và đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết
Quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp
Quyền được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử cho những công việc ngang nhau
Quyền được trả lương đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác
Quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn
Quyền nghỉ ngơi và giải trí, hạn chế số giờ làm việc hợp lý và được hưởng những ngày nghỉ định kỳ có trả lương
Quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình
Quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn
Quyền của sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ, các con (chính thức hay ngoại hôn) đều được hưởng bảo trợ xã hội như nhau
Quyền được hưởng giáo dục, được hưởng chế độ giáo dục miễn phí mang tính cưỡng bách ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản
Quyền được phổ cập giáo dục kỹ thuật, chuyên nghiệp và cao đẳng trên căn bản bình đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn
Quyền được hưởng một nền giáo dục phát huy đầy đủ nhân cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; đề cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo
Quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho các con
Quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy
Quyền được bảo vệ những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình
Quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do có thể được thực hiện đầy đủ
== Vi phạm ==
Vi phạm nhân quyền gây ra bởi các chủ thể nhà nước hoặc phi nhà nước là các hành động lạm dụng, bỏ qua hoặc chối bỏ các quyền cơ bản của con người (bao gồm quyền dân sự, chính trị, văn hóa, xã hội và kinh tế). Vi phạm nhân quyền cũng xảy ra khi các chủ thể trên vi phạm bất cứ điều khoản nào trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hợp Quốc hoặc các luật quốc tế về nhân quyền và nhân đạo khác. Điều 39 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền chỉ định Hội đồng An ninh Liên Hợp Quốc (hay một cơ quan được giao trách nhiệm) là cơ quan có quyền tài phán xét xử các vụ vi phạm nhân quyền.
Hành động vi phạm nhân quyền được Liên Hợp Quốc, các tổ chức quốc gia, các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ độc lập giám sát. Các tổ chức này thu thập bằng chứng và tài liệu về các cáo buộc vi phạm nhân quyền và gây áp lực nhằm thực thi pháp luật về nhân quyền.
Tội ác chiến tranh và tội ác chống lại nhân loại là những sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng nhất.
== Đánh giá ==
Theo CNN, nhân quyền được xem là một trong mười sáng kiến làm thay đổi thế giới, cùng với nông nghiệp, phân tâm học, thuyết tương đối, vắc xin, thuyết tiến hóa, World Wide Web, xà phòng, số 0 và lực hấp dẫn.
== Xem thêm ==
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền
Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị
Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa
Nhà hoạt động nhân quyền
Danh sách các tổ chức hoạt động vì nhân quyền trên thế giới
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Protect Human Rights
Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp Quốc bản lưu
Quyền con người tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Human rights tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) |
north yorkshire.txt | North Yorkshire là một hạt nông thôn nằm trong khu vực Yorkshire và Humber của Anh. Hạt có diện tích km2, dân số người. Thủ phủ hạt đóng ở. North Yorkshire được lập ra vào năm 1974 bởi Đạo luật Chính quyền địa phương 1972, bao gồm một diện tích 8.654 km vuông (3.341 sq mi), làm cho nó hạt nghi lễ lớn nhất ở Anh. Phần lớn các Yorkshire Dales và tất cả nằm North York Moors trong ranh giới Bắc Yorkshire, và khoảng 40% của quận được bao phủ bởi vườn quốc gia.
== Tham khảo == |
thiên sơn.txt | Thiên Sơn (tiếng Trung: 天山, bính âm: tiān shān; có nghĩa là "núi trời", tiếng Duy Ngô Nhĩ: تەڭرىتاغ Tengri Tagh), là một dãy núi nằm ở khu vực Trung Á, về phía bắc và phía tây của sa mạc Taklamakan trong khu vực biên giới của Kazakhstan, Kyrgyzstan và khu tự trị dân tộc Duy Ngô Nhĩ Tân Cương ở phía tây bắc Trung Quốc. Về phía nam, nó nối liền với dãy núi Pamir.
Tên gọi Thiên Sơn được sử dụng rộng rãi hiện nay là sự phiên âm sang tiếng Trung của tên gọi trong tiếng Duy Ngô Nhĩ Tengri Tagh (dãy núi thần linh). Tên gọi trong tiếng Trung để chỉ Thiên Sơn, có thể có nguồn gốc từ tên gọi trong ngôn ngữ của người Hung Nô, Kỳ Liên (祁连) được nói tới trong Sử ký như là nơi cuối cùng nơi họ gặp nhau và sinh con đẻ cái cũng như trong ngôn ngữ của người Nguyệt Chi, mà một số tác giả cho rằng là nói tới Thiên Sơn chứ không phải dãy núi dài 1.500 km xa hơn về phía đông mà hiện nay mang tên gọi này. Một dãy núi cận kề, dãy núi Tannu-Ola (tiếng Tuva: Таңды-Уула Tangdy-Uula), cũng có tên đồng nghĩa là "dãy núi trời/thiên đường" hay "dãy núi thần thánh/thần linh").
Trong bản đồ học phương Tây thì khu vực kết thúc phía đông của nó thường được hiểu là ngay trước Ürümqi, trong khi dãy núi về phía đông thành phố này gọi là dãy núi Bác Cách Đạt (Bogda Shan). Tuy nhiên, trong bản đồ học Trung Quốc, từ thời nhà Hán tới ngày nay, Thiên Sơn được coi là bao gồm cả Bogda Shan và dãy núi Barkol.
Thiên Sơn là một phần của đai kiến tạo sơn Himalaya được hình thành do va chạm của các mảng kiến tạo Ấn Độ và Á-Âu trong đại Tân sinh. Nó là một trong những dãy núi dài nhất ở Trung Á, kéo dài khoảng 2.800 km về phía đông tính từ Tashkent ở Uzbekistan.
Đỉnh cao nhất của dãy núi Thiên Sơn là đỉnh Pobeda với độ cao 7.439 m (24.408 ft), và là đỉnh cao nhất ở Kyrgyzstan, nằm trên biên giới với Trung Quốc. Đỉnh cao thứ hai của Thiên Sơn là đỉnh Khan Tengri (thần linh hồn), có độ cao 7.010 m, nằm trên biên giới Kazakhstan-Kyrgyzstan. Hai đỉnh núi này được phân loại là hai đỉnh cao trên 7.000 m nằm cao nhất về phía bắc của thế giới.
Đèo Torugart, nằm ở độ cao 3.752 m (12.310 ft), nằm trên biên giới giữa Kyrgyzstan và khu tự trị Tân Cương của Trung Quốc.
Dãy núi Alatau có rừng, nằm ở cao độ thấp hơn ở phần phía bắc của Thiên Sơn, có những bộ lạc dân chăn thả gia súc sinh sống. Họ nói tiếng Turk.
Các con sông chính chảy trong khu vực Thiên Sơn là sông Syr Darya, sông Ili và sông Tarim. Hẻm núi Aksu là đặc trưng đáng chú ý tại tây bắc Thiên Sơn.
Một trong những người châu Âu đầu tiên đến Thiên Sơn và có miêu tả về nó chi tiết là nhà thám hiểm người Nga Pyotr Semenov Tyan-Shansky vào thập niên 1850.
== Thư viện ảnh ==
== Xem thêm ==
Hẻm núi Aksu
== Tham khảo ==
The Contemporary Atlas of China. 1988. London: Marshall Editions Ltd. Tái bản 1989. Sydney: Collins Publishers Australia.
The Times Comprehensive Atlas of the World. Ấn bản lần thứ 11. 2003. Times Books Group Ltd. London.
== Liên kết ngoài ==
Russian mountaineering site
== Ghi chú == |
imagine (bài hát của john lennon).txt | "Imagine" là ca khúc do nhạc sĩ-ca sĩ người Anh John Lennon sáng tác và thể hiện. Đây là đĩa đơn bán chạy nhất trong sự nghiệp đơn ca của ca sĩ này. Lời bài hát cổ vũ người nghe hãy tưởng tượng ra một thế giới hoà bình, không có biên giới chia cắt các quốc gia và cũng không có sự chia rẽ giữa các tôn giáo và sắc tộc, cùng với đó thể hiện mong muốn rằng xã hội loài người sẽ sống một cuộc sống không chịu sự chi phối của cải vật chất.
Lennon và Yoko Ono đồng sản xuất đĩa đơn này cũng như album cùng tên với Phil Spector. Quá trình thu âm bắt đầu tại phòng thu tại gia của Lennon tại Công viên Tittenhurst, Anh vào tháng 5 năm 1971. Công đoạn ghi đè cuối cùng diễn ra tại phòng thu Record Plant, ở thành phố New York vào tháng 7. Một tháng sau khi phát hành dưới dạng đĩa than LP vào tháng 9, Lennon cho ra mắt "Imagine" dưới dạng một đĩa đơn tại Hoa Kỳ; ca khúc lên tới vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 còn bản thu trên đĩa than LP đứng đầu bảng xếp hạng Anh quốc vào tháng 11, sau này trở thành album có thành công chuyên môn và thương mại cao nhất trong sự nghiệp solo của Lennon. Mặc dù ban đầu không được phát hành dưới dạng đĩa đơn ở Vương quốc Anh, sau này vào năm 1975 đĩa đơn đã được phát hành để quảng bá cho một đĩa LP tổng hợp và ca khúc đã lên tới vị trí thứ sáu trên bảng xếp hạng cùng năm đó. Ca khúc đã bán được trên 1,6 triệu bản sao tại Anh quốc; đến thời điểm tháng 12 năm 1980 sau khi Lennon qua đời; ca khúc lại một lần nữa vươn lên vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng.
BMI (Broadcast Music, Inc.) thống kê "Imagine" là một trong số 100 ca khúc được biểu diễn nhiều nhất thế kỷ 20. Ca khúc đứng thứ 30 trong danh sách 365 Ca khúc của Thế kỷ có ảnh hưởng lịch sử lớn nhất của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Bài hát giành giải Grammy Hall of Fame Award và được tiến cử vào danh sách "500 ca khúc định hình nên phong cách Rock and Roll" của Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll. Một cuộc điều tra tiến hành tại Anh bởi Sách kỷ lục Guinness về các đĩa đơn hit tại Anh xếp hạng "Imagine" là đĩa đơn hay thứ hai mọi thời đại, tạp chí Rolling Stone cũng xếp hạng ca khúc này đứng thứ 3 trong danh sách "500 bài hát vĩ đại nhất". Kể từ 2005, các nhà tổ chức sự kiện đã cho phát bài hát này ngay trước lễ thả quả cầu Quảng trường Thời đại ở thành phố New York. Hành chục nghệ sĩ đã biểu diễn hoặc thu âm lại ca khúc này, trong đó có Madonna, Stevie Wonder, Joan Baez, Elton John, và Diana Ross. Emeli Sandé cũng đã thu âm ca khúc này cho đài BBC để sử dụng cho video tổng kết tại lễ bế mạc Thế vận hội Mùa hè 2012 vào tháng 8 năm này. "Imagine" sau đó lại một lần nữa vào bảng xếp hạng top 40 tại Anh quốc (đứng ở vị trí thứ 18).
== Bối cảnh và sáng tác ==
Một số bài thơ trong cuốn sách Grapefruit của Yoko Ono xuất bản năm 1964 đã truyền cảm hứng cho Lennon viết nên lời ca khúc "Imagine"—đặc biệt là bài thơ đã được hãng đĩa Capitol Records in lại trên bìa sau của album Imagine gốc trên đĩa than có tên "Cloud Piece", nội dung như sau: "Tưởng tượng những đám mây từ trên trời rơi xuống, đào một cái hố sau vườn mà chôn chúng vào." (Imagine the clouds dripping, dig a hole in your garden to put them in) Lennon sau đó phát biểu rằng ca khúc "nên được đề tên cả Lennon/Ono. Rất nhiều—cả lời ca và ý tưởng—đều đến từ Yoko, nhưng hồi đó tôi hơi ích kỷ, hơi kiêu ngạo, và tôi đã bỏ qua những đóng góp của cô ấy, nhưng đúng là ca khúc từ cuốn Grapefruit mà ra." Khi được hỏi về ý nghĩa của ca khúc trong một buổi phỏng vấn diễn ra vào tháng 12 năm 1980 do nhà báo David Sheff của tạp chí Playboy thực hiện, Lennon nói rằng Dick Gregory đã đưa cho Ono và ông một cuốn sách cầu nguyện của người Cơ-đốc giáo, và cuốn sách đã truyền cảm hứng cho Lennon:
Quan niệm của một người cầu nguyện... Nếu bạn có thể "tưởng tượng" một thế giới hoà bình, không có sự phân biệt giữa các tôn giáo –không phải là không có tôn giáo mà là không có chuyện phân biệt Chúa của tôi cao hơn Chúa của ông – thì mọi thứ sẽ trở nên đúng đắn hơn... Có một lần Nhà thờ Thế giới gọi tôi lại và hỏi, "Chúng tôi có thể sử dụng lời bài hát 'Imagine' nhưng thay bằng 'Tưởng tượng một tôn giáo nào đó không'?" Điều đó cho [tôi] thấy rõ ràng rằng họ không hiểu gì về ca khúc cả. Việc làm này có thể sẽ làm hỏng cả ý nghĩa của bài hát, cả mục đích của nó nữa.
Chịu sự ảnh hưởng của cả bài thơ "Cloud Piece" lẫn cuốn sách cầu kinh của Gregory, Lennon viết ra cái mà tác giả John Blaney gọi là "bài tán ca nhân văn về loài người." Blaney viết, "Lennon cho rằng sự hoà hợp trên cả thế giới nằm trong tầm tay của chúng ta, nhưng điều đó chỉ xảy ra khi chúng ta rũ bỏ những quy luật xã hội đang hạn chế tiềm năng của con người." Theo Blaney, với ca khúc "Imagine", Lennon cố gắng nâng cao nhận thức của mọi người về mối quan hệ giữa họ và những thể chế tác động tới cuộc sống của họ. Nhà báo David Fricke viết cho tạp chí Rolling Stone bình luận: "[Lennon] kêu gọi sự đoàn kết và bình đẳng dựa trên sự loại trừ các trật tự xã hội hiện đại: khoảng cách địa chính trị, tôn giáo có tổ chức, [và] các tầng lớp kinh tế."
Lennon nói rằng: "Ca khúc 'Imagine', trong đó có nói: 'Hãy tưởng tượng không có các tôn giáo, không có các quốc gia, không có các nền chính trị' (Imagine that there was no more religion, no more country, no more politics) gần giống với Tuyên ngôn Cộng sản, mặc dù tôi không phải là người Cộng sản và cũng không theo bất kỳ một cuộc vận động hay chế độ nào." Ông nói với báo NME: "Không có một quốc gia Cộng sản thực sự nào trên thế giới này; anh phải hiểu điều đó. Cái chủ nghĩa xã hội mà tôi nói tới... [không] giống với những gì người Nga hay người Trung Quốc đã làm. Cách họ làm phù hợp với những gì họ muốn. Còn chúng ta, chúng ta nên có một... Chủ nghĩa xã hội Anh quốc tốt đẹp." Ono miêu tả lời bài hát "Imagine" "đúng như những gì John tin tưởng: rằng tất cả chúng ta thuộc cùng một quốc gia, một thế giới, một dân tộc." Rolling Stone miêu tả lời ca khúc này là "22 dòng chữ tràn đầy niềm tin duyên dáng và giản dị, niềm tin vào sức mạnh của một thế giới, đồng lòng sửa chữa và thay đổi chính mình."
Lennon sáng tác ca khúc "Imagine" vào một buổi sáng đầu năm 1971, trên một chiếc đàn piano Steinway, trong một căn phòng ngủ tại ngôi nhà của ông ở Công viên Tittenhurst tại Ascot, Berkshire, nước Anh. Ono đã quan sát khi ông viết giai điệu, cấu trúc hợp âm và gần như toàn bộ lời ca, ông gần như đã hoàn thành cả ca khúc trong một buổi sáng tác ngắn ngủi. "Imagine" là một bản piano ballad trong điệu soft rock. Ca khúc viết ở khoá Đô trưởng. Bốn ô nhịp dạo đầu của ca khúc mở đầu từ hợp âm C (Đô) rồi tới Cmaj7 trước khi sang F (Fa); đoạn đầu bài hát dài 12 ô nhịp cũng theo cách phát triển này, riêng 4 ô nhịp cuối chuyển từ Am/E (La thứ/Mi) sang Dm (Mi thứ) và Dm/C (Mi thứ/Đô), kết thúc bằng G (Son), G11 rồi G7, trước khi quay về hợp âm C (Đô). Đoạn điệp khúc dài 8 ô nhịp phát triển từ F (Fa) sang G (Son) rồi C (Đô), rồi tới Cmaj7 và E (Mi) trước khi kết thúc ở E7, riêng ô nhịp cuối E7 được thay bằng hợp âm C (Đô). Bốn ô nhịp kết bài bắt đầu với F (Fa) rồi G (Son) trước khi quay lại C (Đô). Với độ dài 3 phút 3 giây và nhịp 4/4, tempo của bài hát rơi vào khoảng 75 nhịp một phút.
== Thu âm và phản hồi thương mại ==
Lennon và Ono đồng sản xuất ca khúc và album cùng Phil Spector, ông bình luận về ca khúc này như sau: "Chúng tôi biết những gì chúng tôi sắp làm... Đó sẽ là một tuyên ngôn chính trị của John, nhưng cũng vì lý do thương mại nữa... Tôi luôn cho rằng 'Imagine' giống như một bản quốc ca vậy." Lennon miêu tả quá trình phân công công việc giữa ông và Ono và Spector: "Phil không phối hay làm việc nhiều—[Ono] và Phil chỉ ngồi ở một phòng khác và nêu ý kiến kiểu, 'Sao anh không thử âm thanh này' hay 'Anh chơi piano không tốt lắm'... Tôi sẽ nắm được ý tưởng của họ và... chúng tôi tìm ra các giai điệu khác nhau theo cách như vậy."
Quá trình thu âm bắt đầu tại phòng thu Ascot Sound Studios, phòng thu tại gia mới của Lennon tại Công viên Tittenhurst, vào tháng 5 năm 1971, phần ghi đè cuối cùng được hoàn thành ở phòng thu Record Plant, tại thành phố New York vào tháng 7. Nhẹ nhàng và nhẫn nại, các buổi thu âm bắt đầu vào buổi sáng muộn và kéo dài đến trước bữa ăn tối. Lennon hướng dẫn các nhạc công chơi hợp âm và phối khí cho "Imagine", và bắt họ luyện tập cho tới khi ông cảm thấy các nhạc công đã sẵn sàng để thu âm. Để có được giai điệu như Lennon mong muốn, Spector đã cho thu một số băng trong đó Lennon và Nicky Hopkins chơi piano ở các quãng tám khác nhau. Ông cũng định để Lennon thu âm bằng chiếc grand piano trắng trong căn phòng toàn màu trắng của hai vợ chồng họ. Tuy nhiên, sau khi nhận ra cấu trúc âm học của căn phòng không phù hợp với việc thu âm, Spector đã từ bỏ ý định này và thay vào đó là thu âm trong môi trường tuyệt đối ở phòng thu tại gia của Lennon. Họ hoàn tất buổi thu âm chỉ trong mấy phút, thu được ba lần và chọn bản thu thứ hai để phát hành. Bản thu hoàn chỉnh có sự góp mặt của Lennon với vai trò ca sĩ và nhạc công piano, Klaus Voormann chơi bass guitar, Alan White chơi trống và Flux Fiddlers chơi dàn dây.
Phát hành bởi Apple Records tại Hoa Kỳ vào tháng 10 năm 1971, "Imagine" trở thành đĩa đơn bán chạy nhất trong sự nghiệp solo của Lennon. Ca khúc vươn tới vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Bài hát đứng ở trị thứ nhất tại Canada trên bảng xếp hạng đĩa đơn quốc gia RPM, tiếp tục thống lĩnh vị trí này trong hai tuần. Khi được phát hành, lời bài hát khiến một số nhóm tôn giáo tức giận, đặc biệt là câu: "Tưởng tượng rằng không có thiên đường nào cả" (Imagine there's no heaven). Khi được hỏi về ca khúc này trong một trong những buổi phỏng vấn cuối cùng, Lennon nói rằng ông coi ca khúc này không kém gì các ca khúc từng sáng tác với nhóm The Beatles. Ông miêu tả ý nghĩa của bài hát: "Chống tôn giáo, chống chủ nghĩa dân tộc, chống lại các tục lệ, chống chủ nghĩa tư bản, nhưng bởi sự quyến rũ ấy mà ca khúc được công chúng chấp nhận... Giờ tôi biết cách làm rồi. Phết một ít mật ngọt lên thông điệp chính trị của bạn là xong." Lennon từng nói với Paul McCartney rằng ca khúc "Imagine" chính là ca khúc "Working Class Hero" được đổ thêm đường dành cho những tay bảo thủ như anh". Ngày 30 tháng 11 năm 1971, album đĩa than Imagine lên vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng Anh quốc và trở thành album thành công nhất trong sự nghiệp solo của Lennon cả về thương mại và chuyên môn.
== Phim và các lần phát hành lại ==
Năm 1972, Lennon và Ono phát hành một bộ phim dài 81 phút đi kèm với album Imagine trong đó có hình ảnh hai vợ chồng Lennon trong nhà, vườn và phòng thu Berkshire của họ ở Công viên Tittenhurst cũng như tại thành phố New York. Là một bộ phim tài liệu rock, những cảnh đầu tiên chiếu hình ảnh Lennon và Ono cùng đi qua một đám sương mù dày, vào đến nhà vừa lúc ca khúc "Imagine" bắt đầu. Trước cửa chính nhà họ là một tấm biển đề: "This Is Not Here", đây cũng là tên triển lãm nghệ thuật của Ono được tổ chức sau đó tại New York. Các cảnh tiếp theo là cảnh Lennon ngồi trước một chiếc đàn Grand Piano trong một căn phòng sơn toàn màu trắng, ánh sáng lờ mờ. Ono chầm chậm bước xung quanh, mở tung các rèm cửa để cho ánh sáng vào, khiến cho căn phòng sáng lên theo từng nốt nhạc. Cuối bài hát, Ono ngồi bên cạnh Lennon trước cây đàn piano, họ nhìn nhau và chia sẻ nụ hôn ngắn ngủi.
Một số nhân vật nổi tiếng xuất hiện trong bộ phim, trong đó có Andy Warhol, Fred Astaire, Jack Palance, Dick Cavett và George Harrison. Bị các nhà phê bình chế giễu là "phim gia đình đắt đỏ nhất mọi thời đại", phim ra mắt khán giả Mỹ vào năm 1972. Năm 1986, Zbigniew Rybczyński làm một video âm nhạc cho ca khúc, và năm 1987 nó giành giải tại Silver Lion cho video clip hay nhất tại và giải thưởng khác tại Liên hoan phim quốc tế Rio.
Phát hành dưới dạng đĩa đơn tại Anh quốc vào năm 1975 cùng với album Shaved Fish, "Imagine" vươn tới vị trí thứ sáu trên bảng xếp hạng UK Singles Chart. Sau vụ ám sát Lennon vào năm 1980, ca khúc một lần nữa bước lên bảng xếp hạng ở Anh, giành vị trí số một trong bốn tuần tháng 1 năm 1981. "Imagine" được phát hành lại dưới dạng một đĩa đơn tại Vương quốc Anh vào năm 1988, đứng ở vị trí thứ 45, và lần nữa vào năm 1999, đứng ở vị trí số 3. Đĩa bán được 1.640.000 bản ở Anh quốc tính đến tháng 6 năm 2013, trở thành đĩa đơn bán chạy nhất của Lennon. Năm 1999, vào Ngày thơ quốc gia ở Anh, đài BBC công bố thính giả đã chọn lời bài hát "Imagine" là lời bài hát yêu thích ở Anh. Năm 2003, ca khúc đứng ở vị trí thứ 33 khi được phát hành ở mặt B của đĩa đơn "Happy Xmas (War Is Over)".
== Công nhận và chỉ trích ==
Rolling Stone miêu tả "Imagine" là "món quà âm nhạc xuất sắc nhất của Lennon dành tặng thế giới", ca ngợi "giai điệu yên bình; hợp âm thay đổi một cách mềm mại". Trong một số cuộc thăm dò ca khúc, năm 1999, BMI công bố đây là một trong 100 ca khúc được hát nhiều nhất thế kỷ 20. Cùng năm đó, ca khúc được trao Grammy Hall of Fame Award và được tiến cử vào danh sách 500 ca khúc định hình nên phong cách Rock and Roll của Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll. Triple J xếp hạng ca khúc này đứng thứ 11 trong danh sách Hottest 100 of All Time. "Imagine" đứng thứ 23 trong danh sách đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại ở Vương quốc Anh năm 2000. Năm 2002, một cuộc khảo sát thực hiện ở Anh quốc do Sách kỷ lục Guinness về các đĩa đơn hit tại Anh cho thấy đây là đĩa đơn hay thứ hai mọi thời đại sau "Bohemian Rhapsody" của Queen. Gold Radio xếp ca khúc đứng thứ ba trong danh sách "Gold's greatest 1000 hits" của đài.
Rolling Stone xếp "Imagine" đứng thứ ba trong danh sách "500 bài hát vĩ đại nhất", miêu tả đây là "một bài thánh ca của an ủi và hứa hẹn đã đưa chúng ta qua những nỗi đau tột độ, từ cú sốc sau cái chết của chính Lennon năm 1980 đến sự kinh hoàng không thể nói thành lời của vụ khủng bố 11 tháng 9. Thật khó mà hình dung một thế giới không có 'Imagine', và chúng ta cần ca khúc này hơn chính những gì Lennon đã tưởng tượng." Trái ngược với ý kiến này, đài phát thanh Clear Channel Communications liệt ca khúc vào danh sách ca khúc "không nên phát" sau vụ 11/9.
Vào ngày 1 tháng 1 năm 2005, Canadian Broadcasting Corporation xếp "Imagine" là ca khúc hay nhất trong 100 năm qua do thính giả bình chọn trên chương trình 50 Tracks. Bài hát đứng thứ 30 trong danh sách 365 Ca khúc của Thế kỷ có ảnh hưởng lịch sử lớn nhất của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Virgin Radio tiến hành một cuộc khảo sát ca khúc yêu thích ở Vương quốc Anh vào tháng 12 năm 2005, và thính giả bình chọn "Imagine" là ca khúc số 1. Người Úc bình chọn "Imagine" là ca khúc hay nhất mọi thời đại trên chương trình đếm ngược 20 to 1 của Nine Network vào ngày 12 tháng 9 năm 2006. Trên mạng giới trẻ Triple J ca khúc được bình chọn đứng thứ 11 trong danh sách "Hottest 100 Of All Time" vào ngày 11 tháng 7 năm 2009.
Tổng thống Mỹ Jimmy Carter từng nói, "ở nhiều quốc gia trên thế giới — vợ chồng tôi đã từng tới thăm khoảng 125 nước — bạn có thể thấy ca khúc 'Imagine' của John Lennon được phát nhiều như quốc ca của chính nước họ vậy." Vào ngày 9 tháng 10 năm 2010, sinh nhật lần thứ 70 của Lennon, dàn đồng ca Liverpool Signing Choir biểu diễn ca khúc "Imagine" cùng với một số bài hát khác của Lennon tại lễ khánh thành Tượng đài hòa bình John Lennon ở Công viên Chavasse, Liverpool, Anh. Nhà sản xuất của nhóm The Beatles George Martin ca ngợi sự nghiệp solo của Lennon, đặc biệt là ca khúc này: "Bài hát yêu thích nhất của tôi trong số đó là 'Imagine'". Nhà phê bình âm nhạc Paul Du Noyer miêu tả "Imagine" là ca khúc được "kính trọng" nhất của Lennon thời hậu-Beatles. Urish và Bielen gọi ca khúc này là "ca khúc pop mang tính cách mạng được sáng tác ra để đạt tới mức độ kinh điển." Fricke bình luận: "'Imagine' là ca khúc sẽ hơi gây tranh cãi, tác phẩm xuất sắc nhất của Lennon kết hợp giữa một ca sĩ ballad và một nhà kích động xã hội."
Các tác giả Ben Urish và Ken Bielen chỉ trích phần nhạc đêm của ca khúc là quá đa cảm và thống thiết, so sánh nó với âm nhạc của kỷ nguyên tiền rock và cho rằng giai điệu của ca khúc đã không được nổi bật đúng mức. Theo Blaney, lời ca của Lennon chỉ đưa ra những khả năng chung chung theo lý thuyết chứ chưa có giải pháp nào cụ thể; có chỗ mang màu sắc u ám và mâu thuẫn, bắt người nghe phải từ bỏ các hệ thống chính trị mà lại cổ vũ một loại hình gần giống chủ nghĩa cộng sản. Tác giả Chris Ingham chỉ ra sự giả dối trong Lennon, một ngôi sao nhạc rock có bạc triệu trong tay và ở nhà biệt thự lại cổ vũ khán giả sống một cuộc sống không tư hữu. Số khác lập luận rằng trong bài hát này Lennon muốn truyền cảm hứng cho người nghe tưởng tượng liệu thế giới có thể sống mà không có tư hữu hay không, chứ không phải lời kêu gọi mọi người phải từ bỏ tài sản của mình. Blaney bình luận: "Lennon biết rằng ông ấy không có điều gì cụ thể để nói, do đó ông đã mang tới một giấc mơ, một khái niệm mới để dựa vào."
Blaney coi ca khúc này là một tác phẩm "đầy rẫy những mâu thuẫn. Giai điệu du dương như thánh ca của ca khúc không phù hợp với ý định của tác giả kêu gọi mọi người hãy hình dung một thế giới không có tôn giáo." Urish và Bielen miêu tả cái "thế giới mơ ước" của Lennon, nơi không có thiên đường hay địa ngục là lời kêu gọi mọi người hãy "sống hết mình, bởi thế giới này sẽ là nơi duy nhất chúng ta tồn tại." Theo quan điểm của họ, "bởi vì chúng ta đơn giản được kêu gọi hãy tưởng tượng—giống như chơi một trò chơi 'sẽ làm sao nếu', Lennon có thể tránh được những lời chỉ trích nặng nề nhất". Cựu thành viên the Beatles Ringo Starr biện hộ cho lời bài hát "Imagine" trong một cuộc phỏng vấn năm 1981 với Barbara Walters rằng: "[Lennon] nói 'Imagine', có thế thôi. Hãy tưởng tượng."
== Biểu diễn và các bản hát lại ==
Tháng 12 năm 1971, Lennon và Ono xuất hiện tại Nhà hát Apollo ở Harlem. Lennon trình diễn ca khúc "Imagine" với một chiếc đàn guitar acoustic, đánh dấu lần đầu tiên ca khúc này được hát trực tiếp; bản thu này sau đó xuất hiện trong album John Lennon Anthology (1998). Năm 1975, ông thể hiện "Imagine" trong buổi biểu diễn cuối cùng trước công chúng, đó là lễ kỷ niệm sinh nhật của Lew Grade.
Elton John bểu diễn ca khúc này vào tháng 9 năm 1980 trong buổi hoà nhạc miễn phí của ông tại Công viên Trung tâm, chỉ cách toà nhà Dakota nơi có căn hộ của ông vài căn nhà. Ngày 9 tháng 10 năm 1980, một ngày sau khi Lennon bị giết chết, ban nhạc Queen biểu diễn ca khúc "Imagine" để tưởng nhớ tới ông trong buổi diễn tại Đấu trường Wembley tại Luân Đôn. Ngày 9 tháng 10 năm 1990, hơn một tỷ người nghe buổi phát thanh ca khúc này vào ngày đáng ra sẽ là kỷ niệm 50 năm ngày sinh của Lennon. Ratau Mike Makhalemele hát lại ca khúc trong một album mở rộng (EP) gồm toàn các bản hát lại các ca khúc của Lennon phát hành năm 1990. Stevie Wonder cũng biểu diễn lại ca khúc này cùng với Câu lạc bộ Morehouse College Glee Club tại lễ bế mạc Thế vận hội Mùa hè 1996 để tưởng nhớ các nạn nhân của vụ ném bom Công viên trăm năm Olympic. Năm 2001, Neil Young biểu diễn ca khúc này tại buổi hoà nhạc gây quỹ có tên America: A Tribute to Heroes. Madonna thể hiện "Imagine" trong buổi biểu diễn gây quỹ Tsunami Aid: A Concert of Hope. Peter Gabriel biểu diễn ca khúc tại lễ khai mạc Thế vận hội Mùa đông 2006.
Kể từ 2005, các nhà tổ chức sự kiện đã cho phát bài hát này ngay trước lễ thả quả cầu Quảng trường Thời đại ở thành phố New York. Bắt đầu từ năm 2010, ca khúc được biểu diễn trực tiếp luôn tại sự kiện; năm đầu tiên do Taio Cruz thể hiện, tiếp đó là Cee Lo Green năm 2011 và Train năm 2012. Tuy nhiên, Green bị chỉ trích bởi đã thay đổi lời bài hát từ "and no religion too" (không có tôn giáo nào cả) sang "and all religion's true" (mọi tôn giáo đều đúng), lập tức nhận chỉ trích từ người hâm mộ vì họ cho rằng anh đã thiếu tôn trọng di sản của Lennon thông qua việc sửa lời ca khúc biểu tượng nhất của ông. Green lập luận rằng việc đổi lời bài hát của anh có ý thể hiện "một thế giới nơi mà bạn được tự do tin vào những gì mình muốn".
Trên 160 nghệ sĩ đã thu âm lại ca khúc "Imagine". Joan Baez hát lại bài hát này trong album Come from the Shadows phát hành năm 1972 còn Diana Ross thu âm ca khúc cho album phát hành năm 1973 có tên Touch Me in the Morning. Năm 1995, Blues Traveler thu âm ca khúc cho album Working Class Hero: A Tribute to John Lennon còn Dave Matthews cũng có một màn trình diễn trực tiếp với họ. A Perfect Circle thu âm lại ca khúc cho album eMOTIVe phát hành năm 2004. Nữ ca sĩ người Ý Marco Carta đã hát lại ca khúc này và bản thu lọt vào top 20 ở Ý vào năm 2009 ở vị trí số 13. Seal, Pink, India.Arie, Jeff Beck, Konono Nº1, Oumou Sangaré và một số nghệ sĩ khác đã thu âm ca khúc cho album năm 2010 của Herbie Hancock, The Imagine Project.
Hancock biểu diễn ca khúc này cùng các nghệ sĩ Arie, Kristina Train, and Greg Phillinganes tại Lễ trao giải Nobel hoà bìnămm 2010 diễn ra vào ngày 11 tháng 12. Ngày 13 tháng 2 năm 2011, bản thu âm ca khúc này—với sự tham gia của Pink, Seal, ca sĩ người Mali Oumou Sangaré, India.Arie, và Jeff Beck giành giải Grammy cho Hợp tác giọng pop xuất sắc nhất.
"Imagine" được biểu diễn tại lễ bế mạc Thế vận hội Mùa hè 2012 bởi Dàn đồng ca Thiếu nhi Liverpool (Liverpool Philharmonic Youth Choir) và Dàn đồng ca ngôn ngữ ký hiệu Liverpool (Liverpool Signing Choir), trong đó hai dàn nhạc trên biểu diễn đoạn đầu, đoạn sau là băng thu âm giọng hát của Lennon. Một bản hát lại khác của Emeli Sandé được đài BBC sử dụng cho video tổng kết thế vận hội. "Imagine" sau đó lại một lần nữa vào bảng xếp hạng top 40 tại Anh quốc (đứng ở vị trí thứ 18).
Năm 2015, ca sĩ-nhạc sĩ người Mỹ Lady Gaga biểu diễn ca khúc tại lễ khai mạc Đại hội Thể thao châu Âu 2015. Ca khúc được trình bày trước 70.000 người dân Baku, Azerbaijan, chủ nhà của sự kiện. Vào ngày 14 tháng 11 năm 2015, buổi sáng sau các vụ tấn công Paris tháng 11 năm 2015, một người đàn ông đã tới biểu diễn một bản phối piano không lời của ca khúc bên ngoài nhà hát Bataclan, nơi xảy ra nhiều thương vong nhất.
== Thành phần tham gia ==
John Lennon: hát, piano
Klaus Voormann: bass
Alan White: trống
The Flux Fiddlers: dàn dây
== Xếp hạng và chứng nhận ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Thư mục ==
== Đọc thêm ==
Borack, John (2010). John Lennon: Life Is What Happens. Krause Publications. ISBN 978-1-4402-1391-5.
George-Warren, Holly biên tập (2001). The Rolling Stone Encyclopedia of Rock & Roll . Fireside. ISBN 978-0-7432-9201-6. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
Riley, Tim (2011). Lennon: The Man, the Myth, the Music – The Definitive Life. Hyperion. ISBN 978-1-4013-2452-0.
Tillery, Gary (2009). The Cynical Idealist: A Spiritual Biography of John Lennon. Quest Books. ISBN 978-0-8356-0875-6.
Wenner, Jann (2000). George-Warren, Holly, biên tập. Lennon Remembers. Verso. ISBN 1-85984-600-9.
=== Phim tài liệu ===
Yoko Ono, Phil Spector (Producers) (2000). Gimme Some Truth – The Making of John Lennon's "Imagine" (DVD). Capitol. ASIN B000AYELY2.
Andrew Solt (Director) (2005). Imagine: John Lennon (DVD). Warner Home Video. ASIN B000AYELY2.
== Liên kết ngoài ==
Lời bài hát tại MetroLyrics |
nguyễn phú trọng.txt | Nguyễn Phú Trọng (sinh năm 1944) là một chính khách Việt Nam. Trước khi được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 19 tháng 1 năm 2011, ông từng giữ chức Chủ tịch Quốc hội Việt Nam từ ngày 26 tháng 6 năm 2006 đến ngày 23 tháng 7 năm 2011. Ông cũng là một Giáo sư, Tiến sĩ Chính trị học (chuyên ngành Xây dựng Đảng), Cử nhân Văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông Nguyễn Phú Trọng còn giữ chức vụ Bí thư Quân ủy Trung ương và Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.
== Tiểu sử ==
Ông sinh ngày 14 tháng 4 năm 1944 tại xã Đông Hội, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Từ năm 1957 đến năm 1963, ông học trường cấp II rồi cấp III Nguyễn Gia Thiều đóng tại huyện Gia Lâm nay là quận Long Biên Hà Nội.
Năm 1963, ông học Khoa Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (từ năm 1965 đến năm 1967, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội sơ tán lên huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái - nay là Thái Nguyên). Ông tốt nghiệp bằng Cử nhân Văn chương.
Năm 1967, ông trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông công tác tại tạp chí Học tập (tiền thân của tạp chí Cộng sản), một trong ba cơ quan tuyên truyền quan trọng và chuyên chính nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam (cùng với báo Nhân dân và Quân đội Nhân dân).
Năm 1973, ông được cử đi học lớp nghiên cứu sinh về kinh tế chính trị tại Trường Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh).
Năm 1981, ông được cử sang Liên Xô làm thực tập sinh, học tập và bảo vệ luận án tiến sĩ tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Liên Xô (thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô).
Tháng 8 năm 1983, ông về nước, tiếp tục công tác ở Ban Xây dựng Đảng của tạp chí Cộng sản. Được đề bạt làm Phó trưởng ban (tháng 10 năm 1983), Trưởng ban (tháng 9 năm 1987), Ủy viên Ban biên tập (tháng 3 năm 1989), Phó tổng biên tập (tháng 5 năm 1990) rồi Tổng biên tập tạp chí Cộng sản (tháng 8 năm 1991).
Năm 1992, ông được phong học hàm Phó giáo sư và 10 năm sau (2002) ông được phong học hàm Giáo sư.
Từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 1 năm 1994, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng Cộng sản Việt Nam, họp tại Hà Nội, ông cùng với 19 người khác được bầu bổ sung vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII.
Tháng 8 năm 1996, ông làm Phó bí thư Thành uỷ Hà Nội, kiêm Trưởng ban Đại học, phụ trách công tác tuyên giáo của Thành ủy.
Tháng 2 năm 1998, ông phụ trách công tác tư tưởng - văn hóa và khoa giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương. Hiệu phó trường KHXH và Nhân Văn.
Từ tháng 8 năm 1999 cho tới hết nhiệm kì của Đại hội VIII, ông tham gia Thường trực Bộ Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII; trực tiếp chỉ đạo việc biên soạn Văn kiện Đại hội IX của Đảng.
Tháng 1 năm 2000, ông làm Bí thư Thành uỷ Hà Nội. Tháng 11 năm 2001, ông kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, phụ trách công tác lý luận của Đảng. Từ đầu năm 2003, ông trực tiếp chỉ đạo công tác tổng kết 20 năm đổi mới, chuẩn bị và biên soạn văn kiện Đại hội X của Đảng.
Ngày 26 tháng 6 năm 2006, ông đảm nhận chức vụ Chủ tịch Quốc hội thay ông Nguyễn Văn An, xin từ nhiệm. Hai ngày sau, Bộ Chính trị đã chỉ định ông Phạm Quang Nghị, người vừa được Quốc hội miễn nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, làm Bí thư Thành ủy Hà Nội kế nhiệm.
Tại kì họp đầu tiên của Quốc hội khóa XII, ông tái đắc cử chức Chủ tịch Quốc hội.
Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam XI, ông được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 19 tháng 1 năm 2011. Ông Nguyễn Phú Trọng đã có nhiều nỗ lực trong công tác chỉnh đốn Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, như việc đề ra Nghị quyết Trung ương 4 với phong trào "Phê bình và tự phê bình".
=== 2015: Chuyến đi lịch sử tới Hoa Kỳ ===
Ngày 6 tháng 7 năm 2015, Ông Nguyễn Phú Trọng đến Mỹ để bắt đầu chuyến viếng thăm Hoa kỳ kéo dài đến ngày 10/7. Đây là lần đầu tiên một người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng không giữ chức vụ gì trong bộ máy nhà nước viếng thăm chính thức nước Mỹ, được Tổng thống Hoa Kỳ tiếp đón tại Phòng Bầu dục. Chuyến thăm này trùng hợp với cái mốc 20 năm kể từ khi Hoa Kỳ và Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Cuộc nói chuyện với Tổng thống Obama là về vấn đề nhân quyền, an ninh quốc phòng và Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương.
=== 2016: Đại hội Đảng XII - tái đắc cử Tổng Bí thư ===
Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam XII, ông tái đắc cử Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 27 tháng 1 năm 2016.
== Nhận xét ==
Giáo sư Tương Lai, cựu viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, nói về ông Nguyễn Phú Trọng qua bài diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương 7 của ông này:
Ông Benjamin Ismail, Giám đốc phụ trách Ban Á Châu-Thái Bình Dương thuộc Tổ chức Ký giả Không Biên giới (RSF) nói về xu hướng gia tăng các vụ bắt bớ nhắm vào các bloggers và giới đấu tranh đòi dân chủ hoá ở Việt Nam:
Đặng Xương Hùng, cựu Lãnh sự Việt Nam tại Thụy Sĩ, nguyên Phó Vụ trưởng Bộ Ngoại giao phê bình:
== Các câu nói ==
Về vấn đề đa nguyên, đa đảng (trả lời phỏng vấn báo Express của Ấn Độ nhân chuyến thăm Ấn Độ trên cương vị Chủ tịch Quốc hội, đăng tải trên VTV):
Về vấn đề tham nhũng ở Việt Nam:
Về việc bài trừ, phòng chống tham nhũng:
Ngày 6 tháng 10 năm 2014, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu về vấn đề chống tham nhũng trong cuộc tiếp xúc với cử tri các quận Ba Đình, Tây Hồ, gây nhiều tranh cãi:
Trong một nhận xét về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 2013:
Ngày 28 tháng 01 năm 2016, khi được các phóng viên hỏi "Cảm nghĩ của Tổng Bí thư ra sao khi được bầu là người lãnh đạo cao nhất của Đảng"
Ngày 28 tháng 01 năm 2016, trả lời câu hỏi của AFP: "Thưa Tổng Bí thư, ông có nghĩ rằng dưới sự tiếp tục lãnh đạo của ông và Bộ Chính trị, Việt Nam sẽ là đất nước giàu mạnh hơn và dân chủ hơn không?":
Câu nói này được dịch ra tiếng Anh trên AP
Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát của Đảng năm 2016, triển khai nhiệm vụ công tác năm 2017 diễn ra tại Hà Nội ngày
24-2:
== Xem thêm ==
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tiểu sử tóm tắt ông Nguyễn Phú Trọng trên trang web Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Ông Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Chủ tịch Quốc hội
Đại hội VII của Đảng
Ông Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Chủ tịch Quốc hội |
phú yên.txt | Phú Yên là một tỉnh ven biển thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam.
== Địa lý ==
Phú Yên trải dài từ 12°42'36" đến 13°41'28" vĩ Bắc và từ 108°40'40" đến 109°27'47" kinh Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía Nam giáp Khánh Hòa, phía Tây giáp Đắk Lắk và Gia Lai, phía Đông giáp Biển Đông.
Phú Yên nằm ở miền Trung Việt Nam, tỉnh lỵ Phú Yên là thành phố Tuy Hòa, cách thủ đô Hà Nội 1.160 km về phía Nam và cách Thành phố Hồ Chí Minh 560 km về phía Bắc theo đường Quốc lộ 1A.
Diện tích tự nhiên: 5.045 km², chiều dài bờ biển: 189 km.
=== Địa hình ===
Phú Yên có 3 mặt là núi, phía Bắc có dãy Đèo Cù Mông, phía Nam là dãy Đèo Cả, phía Tây là mạn sườn đông của dãy Trường Sơn, và phía Đông là biển Đông.
Địa hình có đồng bằng xen kẽ núi.
=== Khí hậu ===
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương. Có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8. Nhiệt độ trung bình hằng năm 26,5 °C, lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.600 - 1.700mm.
=== Sông, suối ===
Có hệ thống Sông Đà Rằng, sông Bàn Thạch, sông Kỳ Lộ với tổng diện tích lưu vực là 16.400km2, tổng lượng dòng chảy 11.8 tỷ m3, đảm bảo đủ nước tưới cho nông nghiệp, thủy điện và sinh hoạt.
Phú Yên có nhiều suối nước khoáng nóng như: Phú Sen, Triêm Đức, Trà Ô, Lạc Sanh. Ngoài ra còn có nhiều tài nguyên trong lòng đất như Diatomite (90 triệu m3), đá hoa cương nhiều màu (54 triệu m3), vàng sa khoáng (300 nghìn tấn) (số liệu năm 2006 theo Cẩm nang xúc tiến thương mại du lịch Phú Yên)
== Hành chính ==
Phú Yên bao gồm 1 thành phố tỉnh lỵ, 1 thị xã và 7 huyện:
Tỉnh Phú Yên có 112 đơn vị cấp xã gồm 16 phường, 8 thị trấn và 88 xã.
== Dân số ==
Dân số Phú Yên là 861.993 người (điều tra dân số 1/4/2009) trong đó thành thị 20%, nông thôn 80%, lực lượng lao động chiếm 71,5% dân số.
Phú Yên có gần 30 dân tộc sống chung với nhau. Chăm, Êđê, Ba Na, Hrê, Hoa, Mnông, Raglai là những tộc người đã sống lâu đời trên đất Phú Yên.
Sau ngày miền Nam được giải phóng, sau khi thành lập huyện Sông Hinh (1986) có những dân tộc từ miền núi phía Bắc di cư vào vùng đất Sông Hinh như Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu,...
== Kinh tế ==
Diện tích đất nông nghiệp 72.390 ha, đất lâm nghiệp khoảng 209.377 ha, đất chuyên dùng 12.297 ha, đất dân cư 5.720 ha, đất chưa sử dụng 203.728 ha; có nhiều loại gỗ và lâm sản quý hiếm. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Phú Yên xếp ở vị trí thứ 50/63 tỉnh thành.
Phú Yên nằm ở sườn Đông dãy Trường Sơn, đồi núi chiếm 70% diện tích đất tự nhiên. Địa hình dốc mạnh từ Tây sang Đông, dải đồng bằng hẹp và bị chia cắt mạnh, có hai đường cắt lớn từ dãy Trường Sơn là cánh đèo Cù Mông và cánh đèo Cả. Bờ biển dài gần 200 km có nhiều dãy núi nhô ra biển hình thành các eo vịnh, đầm phá có lợi thế phát triển du lịch, vận tải đường thủy, đánh bắt và nuôi trồng hải sản xuất khẩu.
Ngoài ra còn có Khu bảo tồn thiên nhiên Quốc gia Krông-Trai rộng 20.190 ha với hệ động vật và thực vật phong phú đa dạng.
=== Giao thông ===
Hệ thống giao thông đường bộ trọng yếu gồm có:
Quốc lộ 1A nối với Bình Định và Khánh Hòa.
Quốc lộ 25 nối với Gia Lai.
Quốc lộ 1D nối Thị xã Sông Cầu với thành phố Quy Nhơn.
Quốc lộ 29 nối huyện Đông Hòa (từ Vũng Rô) với thị xã Buôn Hồ Đăk Lăk.
Tỉnh lộ 641 từ Thị trấn Chí Thạnh chạy dọc theo đường sắt Bắc-Nam qua Thị trấn La Hai rồi gặp lại QL1A tại Thị trấn Diêu Trì (Bình Định).
Đường Phước Tân-Bãi Ngà chạy từ khu công nghiệp Hòa Hiệp đến cảng Vũng Rô.
Phú yên cũng có đường sắt Bắc-Nam đi qua với ga chính là ga Tuy Hòa.
Về hàng không, Phú Yên hiện đang vận hành Sân bay Đông Tác (Hoạt động từ tháng 4/2003) với 2 đường bay chính: Tuy Hòa-Hà Nội và Tuy Hòa-Thành phố Hồ Chí Minh.
=== Cơ sở hạ tầng ===
Hệ thống điện: Nhà máy Thủy điện Sông Hinh với công suất 72 MW và hệ thống đường dây 500 KVA Bắc - Nam đi qua tỉnh đảm bảo cung cấp nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất, sinh hoạt.
Hiện đang xây dựng nhà máy thủy điện Sông Ba hạ với công suất lớn gấp 3 lần so với nhà máy thủy điện Sông Hinh hiện nay, đi vào hoạt động năm 2008.
Hệ thống cấp nước: Nhà máy cấp thoát nước Phú Yên với công suất 28.500 m3/ngđ, phục vụ cho khu vực Thanh Pho Tuy Hòa, các vùng lân cận và khu công nghiệp Hòa Hiệp. Đồng thời xây dựng mới một số nhà máy cấp nước cho các thị trấn huyện lỵ với công suất khoảng 13.000 m³/ngđ.
Hệ thống thông tin liên lạc: Phú Yên có mạng lưới viễn thông khá tốt. Bưu điện trung tâm Tỉnh, huyện, xã được trang bị: Vi ba, cáp quang... đảm bảo liên lạc thông suốt.
Hệ thống Internet qua đường truyền ADSL cũng là một kênh liên lạc quan trọng hiện nay đối với sự phát triển của toàn tỉnh.
Tổng số bưu cục, đại lý, kiốt trên toàn Tỉnh là 133 đơn vị, tổng số máy điện thoại 14.716 máy; dịch vụ bưu chính cũng phát triển mạnh.
=== Du lịch ===
Du lịch là một trong những ngành ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong quá trình đi lên của Phú Yên. Mặc dầu có xuất phát điểm thấp, nhưng đến nay du lịch Phú Yên đã vươn lên trở thành một trong những mũi nhọn kinh tế của tỉnh.
Phú Yên được ban tặng cho một hệ thống cảnh quan thiên nhiên khá đa dạng, đầy đủ với núi, cao nguyên, đồng bằng châu thổ, sông, hồ, đầm, vịnh, hải đảo... Một số danh thắng tiêu biểu là Gành Đá Dĩa, Đầm Ô Loan, núi Đá Bia, vịnh Xuân Đài, bãi Môn- mũi Điện, di tích lịch sử cấp quốc gia như vũng Rô, núi Nhạn- sông Đà Rằng,..v.v...
Cơ sở hạ tầng du lịch của Phú yên được đầu tư mạnh.
Phú Yên hiện có 1 khách sạn 5 sao (Cendeluxe), 3 khách sạn 4 sao (Kaya, Sài Gòn- Phú Yên, Long Beach), và nhiều khách sạn khác như Hương Sen, khách sạn Công Đoàn... Cơ sở vui chơi, nghỉ dưỡng thì có khu giải trí- sinh thái Thuận Thảo, khu resort Sao Việt, bãi Tràm hideaway...
=== Nông nghiệp ===
Chủ yếu là lúa, mía,cây hoa màu với trình độ thâm canh khá.
Với cánh đồng Tuy Hòa, cánh đồng lúa rộng nhất miền Trung, lương thực, đặc biệt là lúa, nhân dân đã tự túc và có phần sản xuất ra các tỉnh lân cận. Sản lượng lúa bình quân hàng năm ước trên 320000 tần, đáp ứng nhu cầu địa phương và bán ra tỉnh ngoài. Mặc dù không phải là trọng tâm nhưng dây là ngành kinh tế thu hút nhiều lao động của tỉnh, giải quyết công ăn việc làm cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.
=== Thủy - hải sản ===
Phú Yên có diện tích vùng biển trên 6.900km2 với trữ lượng hải sản lớn: trên 500 loài cá, 38 loài tôm, 15 loài mực và nhiều hải sản quý. Sản lượng khai thác hải sản của Phú Yên năm 2005 đạt 35.432 tấn, tăng bình quân 5%/năm. Trong đó sản lượng cá ngừ đạt 5.040 tấn (thông tin từ Cẩm nang xúc tiến thương mại - du lịch Phú Yên). Nuôi trồng thủy sản là một trong những ngành kinh tế mạnh của tỉnh, với tổng diện tích thả nuôi là 2.950ha, sản lượng thu hoạch 3.570 tấn, bên cạnh đó có nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao như sò huyết, cá ngừ đại dương, tôm sú, tôm hùm.
Các địa phương nuôi trồng hải sản tập trung ở khu vực đầm Cù Mông, Vịnh Xuân Đài (Thị xã Sông Cầu), Đầm Ô Loan (Huyện Tuy An),... Đây là những địa phương nuôi trồng có tình chiến lược của tỉnh, thu hút nhiều lao động. Đặc biệt, ngay tại Đầm Cù Mông, việc nuôi trồng và chế biến được thực hiện khá đầy đủ các công đoạn nhờ Khu công nghiệp Đông bắc Sông Cầu nằm ngay tại đó.
== Môi trường ==
Ngày 26-4, thông tin từ Văn phòng Chính phủ cho biết Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa chỉ đạo Thanh tra Chính phủ kiểm tra, làm rõ các vấn đề báo Tuổi trẻ phản ánh về vấn đề phá rừng phòng hộ ở Phú Yên. Theo đó, hơn 100ha rừng phòng hộ ở Phú Yên đang bị phá để làm sân golf, khách sạn, resort nhưng đến nay vẫn chưa có hồ sơ xin phép Thủ tướng Chính phủ cho chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định. Ngoài ra, Phú Yên còn dành hơn 1.000ha rừng cho 20 dự án đầu tư khác. Phá rừng nhiều nhất là các dự án nuôi bò, thủy điện, trường đua ngựa và nhà máy lọc dầu.
== Giáo dục ==
Phú Yên có hệ thống các trường đại học (Phú Yên, xây dựng số 3) đào tạo 300 SV, Cao đẳng (Công nghiệp) mỗi năm đào tạo khoảng 1200 học viên, 1 chi nhánh học viện ngành tài chính ngân hàng đào tạo trên 300 học viên và các trường và trung tâm đào tạo nghề (mỗi năm đào tạo khoảng 1.400 kỹ thuật viên và trên 800 công nhân có tay nghề cao - từ bậc 3/7 trở lên).
=== Các trường ===
Hệ Đại học:
Đại học Phú Yên
Đại học Xây dựng Miền Trung
Học viện Ngân hàng - Phân viện Phú Yên
Hệ Cao đẳng:
Trường Cao đẳng Nghề Phú Yên
Trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hoà
Trường Cao đẳng Y tế Phú
== Biển số xe 5 số ==
Tp. Tuy Hòa: 78-C1 XXX.XX
Thị xã Sông Cầu: 78-D1 XXX.XX
H. Đông Hòa: 78-G1 XXX.XX
H. Tây Hòa: 78-F1 XXX.XX
H. Tuy An: 78-H1 XXX.XX
H. Phú Hòa: 78-E1 XXX.XX
H. Sơn Hòa: 78-L1 XXX.XX
H. Đồng Xuân: 78-K1 XXX.XX;
H. Sông Hinh: 78-M1 XXX.XX
== Lịch sử ==
Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh cầm quân đánh Chăm Pa đến tận đèo Cả. Tuy nhiên sau đó Lê Thánh Tông chỉ sát nhập vùng đất từ đèo Hải Vân tới đèo Cù Mông (phía bắc Phú Yên) vào lãnh thổ Đại Việt. Vùng đất Phú Yên vẫn thuộc quyền quản lý của Chăm Pa với tên gọi Ayaru
Từ năm 1570, Nguyễn Hoàng là trấn thủ vùng Thuận Hóa và Quảng Nam của Đại Việt. Năm 1578 ông sai tướng dưới quyền Lương Văn Chánh tấn công vào thành Hồ, là thủ phủ của Chăm Pa tại vùng Ayaru (Phú Yến), thành Hồ bị thất thủ, từ đó vùng đất Ayaru là nơi tranh chấp thường xuyên giữa người Việt và người Chăm. Theo chính sách của chúa Nguyễn ông đã chiêu tập và đưa lưu dân từ các vùng Thanh-Nghệ, Thuận-Quảng vào đây để khẩn hoang lập ấp, tạo dựng cơ nghiệp.
Năm 1611, Nguyễn Hoàng sai viên tướng dưới quyền là Văn Phong tấn công vào Aryaru, Chăm Pa thất bại. Nguyễn Hoàng đã sát nhập Ayaru vào lãnh thổ Đàng Trong với tên gọi Phú Yên và giao cho Văn Phong cai quản đất Phú Yên. Tên gọi nầy do chúa Nguyền Hoàng đặt với ước nguyện về một miến đất trù phú, thanh bình trong tương lai.
Tới năm 1629, Văn Phong chống lại chính quyền Đàng Trong, lúc này Nguyễn Hoàng đã chết, người nối nghiệp là Nguyễn Phúc Nguyên đã sai tướng Nguyễn Phúc Vinh vào đánh dẹp. Sau khi đánh bại được Văn Phong, Phúc Vinh được giao cai quản đất Phú Yên
Với một vị trí chiến lược quan trọng, vào thế kỷ 18 Phú Yên là nơi đối đầu quyết liệt giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn; nơi Nguyễn Huệ, vào tháng 7 năm 1775, đã đánh bại 2 vạn quân ngũ dinh (Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ) của Tống Phước Hiệp.
Năm 1976, Phú Yên nằm trong địa phận tỉnh Phú Khánh.
Ngày 1 tháng 7 năm 1989, tỉnh Phú Yên được tái lập và tồn tại cho đến ngày nay. Khi tách ra, tỉnh Phú Yên có 7 đơn vị hành chính gồm thị xã Tuy Hòa và 6 huyện: Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Cầu, Sông Hinh, Tuy An, Tuy Hòa.
Ngày 4 tháng 3 năm 2002, chia thị xã Tuy Hòa thành thị xã Tuy Hòa và huyện Phú Hòa.
Ngày 5 tháng 1 năm 2005, chuyển thị xã Tuy Hòa thành thành phố Tuy Hòa.
Ngày 16 tháng 5 năm 2005, chia huyện Tuy Hòa thành 2 huyện: Đông Hòa và Tây Hòa.
Ngày 27 tháng 8 năm 2009, huyện Sông Cầu được nâng lên thành thị xã Sông Cầu.
== Văn hóa ==
Dân Phú Yên thường được gọi là dân xứ "nẫu", đó là tiếng nói đặc trưng của họ, tiếng nẫu (nẫu = người ta).
Dân Phú Yên còn có thể loại hát chòi, đó là một thể loại hát dân gian từng rất phổ biến ở Phú Yên.
Phú Yên cũng chính là nơi đã phát hiện ra nhiều di sản văn hoá, như bộ trường ca quý giá của các dân tộc thiểu số, bộ đàn đá Tuy An có độ chuẩn về cung bậc thuộc loại chính xác nhất và những chiếc kèn đá có một không hai.
=== Lễ hội ===
Ngoài các lễ hội chung của cả nước, còn có nhiều lễ hội riêng biệt, đặc trưng của vùng, được nhà nước công nhận như là di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam:
Lễ hội đánh bài chòi, với các bài hát chòi dân gian, đậm bản sắc văn hóa của Phú Yên.
Lễ hội đầm Ô Loan được tổ chức tại đầm Ô Loan thuộc huyện Tuy An
Lễ đâm trâu của người Ba Na
Lễ bỏ mả của người Êđê
Lễ cúng đất của người Kinh
Lễ hội cầu ngư của người Kinh
Lịch một số lễ hội ở Phú Yên (cấu trúc: Tên lễ hội: thời gian (âm lịch), địa điểm.)
Hội đua thuyền đầm Ô Loan: 07/01, xã An Cư, huyện Tuy An.
Hội đua thuyền sông Đà Rằng: 07/01, phường 6, Thành phố Tuy Hòa.
Lễ hội Đồng Cam: 08/01, xã Hòa Hội, huyện Phú Hòa.
Hội đua ngựa: 09/01, xã An Xuân, huyện Tuy An.
Lễ hội chùa Từ Quang: 11/01, xã An Dân, huyện Tuy An.
Hội chùa Ông (của người Hoa): 13/01, phường 1, Thành phố Tuy Hòa.
Hội bài chòi: tết nguyên đán, vùng nông thôn Phú Yên.
Lễ hội Sông nước Tam Giang: tết nguyên đán, thị xã Sông Cầu.
Lễ hội cầu ngư: từ tháng 1 đến tháng 6, khắp các vùng ven biển.
Hội thơ đêm nguyên tiêu: rằm tháng giêng hàng năm, Sân tháp Nhạn, phường 1, tp Tuy Hòa.
Lễ hội đền Lê Thành Phương:28/01, xã An Hiệp, huyện Tuy An.
Lễ hội đền Lương văn Chánh: 19/09, xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa.
Lễ hội cầu an: Tháng 3 và tháng 8, ở khắp các chùa.
Lễ hội bỏ mả: tháng 3 đến tháng 5, huyện: Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh.
Lễ hội mừng sức khỏe: tháng 3 đến tháng 5, các huyện Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh.
Lễ hội đâm trâu: từ tháng 2 đến tháng 6: Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh.
Lễ hội mừng nhà mới: từ tháng 3 đến tháng 5, các huyện: Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh
Lễ hội mừng lúa mới: từ tháng 3 đến tháng 5: các huyện Đồng Xuân, Sơn Hòa, Sông Hinh
=== Ẩm thực ở Phú Yên ===
Bánh xèo: Cùng với bánh tráng, bánh xèo món ăn truyền thống của người dân ở Phú Yên. Bánh xèo ở Phú Yên được làm từ bột gạo, giá đỗ, thịt băm và tôm hoặc mực; nếu thực khách có yêu cầu thì chủ quán có thể cho trứng vào để tăng thêm hương vị. Khi khuôn đúc nóng, người ta cho mỡ, sau đó là thịt, tôm, giá đỗ và nước bột gạo xay vào, đậy nắp chờ khoảng 1 phút là bánh chín. Bánh đổ xong vừa mềm, vừa nóng, có hương vị của hải sản biển. Người ta ăn bánh xèo với rau sống bao gồm xà lách, giá đỗ và nhiều loại rau thơm khác. Nước chấm gồm có 2 loại, người địa phương gọi là mắm đục và mắm trong. Mắm đục gần giống như mắm nên, cho thêm gia vị và ớt. Mắm trong là nước mắm bình thường có thêm ớt tỏi,... Công thức pha nước mắm cũng là một bí quyết của các quán ăn ở đây vì nó ảnh hưởng rất nhiều đến hương vị của món ăn. Bánh xèo có thể ăn bằng đĩa hoặc dùng bánh tráng cuốn lại chấm với nước mắm sẽ rất ngon. Ở Phú Yên đặc biệt là tại Thành phố Tuy Hòa, du khách có thể thưởng thức bánh xèo ở nhiều nơi, từ gánh hàng rong của các chị cho đến những địa điểm có danh tiếng bánh xèo ngon lâu năm tại khu Đại nam cũ trên đường Nguyễn Công Trứ.
Bánh canh: Bánh canh là một món ăn bình dân ở Phú Yên, tuy vậy chủng loại bánh canh ở Phú Yên rất phong phú như: bánh canh bột gạo, bánh canh bột lọc, bánh canh chả cá, bánh canh hẹ,... chỉ cần đi lòng vòng 10 phút cũng có thể đếm được tới 4-5 quán bán bánh canh bên vỉa hề, nhiều nhất là xung quanh bưu điện thành phố Tuy Hòa. Mỗi món bánh canh là một loại hương vị khác nhau, không quán nào giống quán nào. Bánh canh có thể được nấu với các vị cá dằm, chả cá là phổ biến, đặc biệt người ta dùng lá hẹ như một loại phụ gia đặc biệt thêm vào bánh canh để tăng thêm mùi vị.
Bánh hỏi, bánh ướt: Đây là 2 món bánh khá quen thuộc của người dân Việt Nam, cách chế miến 2 món ăn này ở Phú Yên không khác lắm so với nhiều vùng khác trên cả nước.
Bánh bèo nóng: Bánh được làm chín xông để nóng trong nồi hơi nước nóng. Nếu thực thách đến ăn thì bánh sẽ dùng với chà bông, bánh mì vụn chung rồi sau đó chan nước mắm có ớt, tỏi.
Bánh ướt ở Phú Yên có cách tráng mỏng tương tự như cách tráng bánh cuốn nóng ở miền Bắc. Bánh ướt thường được phục vụ nóng ngay tại chỗ. Ngoài ra còn có bánh bèo nóng, ăn khi bánh vừa xuống lò. Bánh được hấp cách thủy trong chén nhỏ và được phục vụ tại chỗ. Các loại bánh trên thường được rải chà bông tôm (hay ruốc tôm theo cách gọi người miền Bắc), phục vụ cùng nước mắm ớt pha ngọt và nếu có yêu cầu có thêm lòng lợn đi kèm và cháo lòng.
Bánh ít lá gai: Cũng là một nét văn hóa ẩm thực độc đáo ở Phú Yên vào những ngày giỗ tổ tiên. nhân bánh được làm từ nhiều thứ như: đậu phộng và dừa; đậu xanh; đậu đen...Bánh này được bọc bằng lá gai và khi cho ra lò có màu xanh thẫm và tương tự như bánh gai của miền Bắc. Nhưng người Phú Yên không cho một miếng mỡ vào nhân bánh như bánh gai và bánh ít còn được làm với nhiều loại nhân chứ không chỉ là nhân đậu xanh.
Chả dông: là món chả ram (chả giò) nhưng nguyên liệu làm từ thịt của con dông nên gọi là chả dông. Thịt dông được băm nhuyễn trộn với xã và ớt dùng làm nguyên liệu. Dùng chả dông được ăn với rau sống nước mắm tỏi ớt trộn đâu phụng đăm nhuyễn rất ngon. Món chả dông làm nên dánh tiếng của các cửa hàng ăn trên đường Nguyễn Công Trứ khu Đại Nam cũ ở Thành phố Tuy Hòa. Ở đây thực khách có thể gọi một phần chả dông có thêm nem nướng được phục vụ cùng rau sống và bánh tránh để cuốn ăn kèm.
Các món ăn từ Cá ngừ đại dương(Cá bò gù): Phú Yên là nơi khởi phát nghề câu cá ngừ đại dương từ những đầu của thập kỷ 90 vì vậy các món đặc sản từ cá ngừ ở đây mang những nét rất riêng đặc trưng cho con người miền biển.
- Trong đó có thể kể đến các món: + Cá ngừ cắt lát ăn với mù tạt. Món ngày được chế biến từ các lát cá ngừ sống cắt nhở đường kính 4, 5 cm sau khi được đông lạnh để sắc cá chuyển từ đỏ sang hồng sẽ được dọn ra ăn kèm với các loại rau thường thấy là: cải xanh, ngò tàu, ngổ, é quế, é ta, húng dũi, húng đứng...và cùng món nước chấm đặc biệt được pha bởi xì dầu, mù tạt và tương ớt. Thực khách có thể ăn lát cá với nước chấm kể trên hoặc cuộn lát cá với cải ăn cùng nước chấm. + Mắt cá ngừ chưng cách thủy:(món "đèn biển") Cách chế biến: Mắt cá mua về rửa sạch. Chú ý cát lẫn vào mắt. Ướp các loại gia vị như hành, tiêu, ớt, tỏi, muối, bột ngọt... để cho thấm đều khoảng 15 - 20 phút thì cho vào nồi đất chưng cách thủy độ nửa giờ thì ăn được. Khi chưng cho thêm mấy vị thuốc bắc để khử mùi tanh và tăng chất bổ dưỡng. Ăn món này thường kèm với các loại rau thơm và kèm một vài ly rượu mạnh thì càng hợp khẩu... + Gỏi bao tử cá ngừ: Đây là món hiếm, ít được bày bán ở hàng quán, bởi ngư dân đánh bắt cá ngừ thường dùng món này trong lúc họ còn lênh đênh trên biển hoặc về "lưu hành nội bộ". Chỉ cần rửa sạch bao tử rồi bỏ vào nước lã luộc chín, sau đó rửa lại nước lạnh cho giòn, xắt thành miếng vừa ăn ướp với hành tây, tiêu, ớt, muối đường, mì chính... trộn đều là có món gỏi bao tử cá ngừ. + Cháo đầu cá: Đầu cá mua về rửa sạch, xẻ làm tư rồi cho vào nồi nấu cháo như các loại cá khác. Sau những lúc chén tạc, chén thù với bạn bè mà có được chén cháo đầu cá ngừ đang bốc hơi thì không mấy chốc hơi men sẽ thoát ra khỏi người và có được giấc ngủ sâu, khi dậy cảm thấy người vô cùng khoan khoái... + Ức cá ngừ: Ức cá ngừ sau khi tẩm ướt được hấp, kho và thậm chí xào và có mùi vị như thịt bò hoặc thịt lợn nếu có nhiều mỡ cá.
=== Các truyền thuyết, huyền thoại ===
Phú Yên có rất nhiều câu chuyện truyền thuyết và huyền thoại gắn liền với lịch sử hơn 400 năm của minh.
Một số truyện tiêu biểu:
Chiếc bánh nậm của Nữ Nhi Phù Quốc - nói về tấm lòng nhân hậu của người phụ nữ nông thôn Phú Yên
Gành Đá Đĩa và huyền thoại về kho báu biến thành đá
Truyền thuyết về con lươn ở buôn Đức
== Thắng cảnh- di tích lịch sử ==
Núi Nhạn
Núi Đá Bia
Khu Di tích lịch sử cảng Vũng Rô (Đường Hồ Chí Minh trên biển)
Bãi Môn- Mũi Điện
Đầm Ô Loan
Gành Đá Dĩa
Nhà thờ Mằng Lăng
vịnh Xuân Đài
Đập Đồng Cam
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tỉnh Phú Yên
Các khu Công nghiệp của tỉnh Phú Yên
Báo Phú Yên Điện tử |
cá heo.txt | Cá heo là động vật có vú sống ở đại dương và sông nước có quan hệ mật thiết với cá voi. Có gần 40 loài cá heo thuộc 17 chi sinh sống ở các đại dương, số ít còn lại sinh sống tại một số con sông trên thế giới (sông Dương Tử, sông Amazon, sông Ấn, sông Hằng..). Kích thước của cá heo có thể từ 1,2 m (4 ft) và40 kg (90 lb) (Cá heo Maui), cho tới 9,5 m (30 ft) và 10 tấn (9,8 tấn Anh; 11 tấn thiếu) (Cá heo đen lớn hay Cá voi sát thủ). Cá heo có trên toàn thế giới và thường cư ngụ ở các biển nông của thềm lục địa. Cá heo là loài ăn thịt, chủ yếu là ăn cá và mực. Họ cá voi đại dương Delphinidae là họ lớn nhất trong bộ cá heo và cũng là họ xuất hiện muộn nhất: khoảng 10 triệu năm trước đây, trong thế Trung Tân. Cá heo là một trong số những động vật thông minh và được biết đến nhiều trong văn hóa loài người nhờ hình thức thân thiện và thái độ tinh nghịch.
== Cá heo lai ==
Năm 1933 ba con cá heo lạ xuất hiện ở bờ biển Ireland. Chúng được xem là các cá thể lai giữa cá heo Risso và cá heo mũi chai (Bottlenose) Việc lai tạo này sau đó được thực hiện lại với các cá heo được nuôi trong bể và cũng tạo ra con lai. Trong bể nuôi, người ta lai giữa cá heo mũi chai và cá heo răng cứng (Rough-toothed) và cũng tạo ra con lai. A Common-Bottlenose hybrid lives at SeaWorld California. Các loài lai khác cũng xuất hiện trong bể nuôi trên toàn cầu hoặc được xác nhận là có trên biển như cá heo Mũi chai với cá heo đốm Đại tây dương. Loài lai nổi tiếng nhất có tên gọi Wolphin lai giữa Cá heo ngụy sát thủ và cá heo Mũi chai. Wolphin có khả năng sinh sản. Hiện giờ có một cặp Wolphin tại Công viên hải sinh ở Hawaii; con đầu tiên được sinh ra năm 1985 do cá bố là Cá heo ngụy sát thủ và mẹ là Mũi chai. Người ta cũng thấy Wolphins tự do trên đại dương.
== Tiến hóa và giải phẫu ==
=== Tiến hóa ===
Cá heo, cũng như cá voi, là hậu duệ của động vật có vú trên cạn, và tất có thể thuộc ngành Artiodactyl. Tổ tiên của cá heo hiện đại ngày này có thể đã xuống nước khoảng 50 triệu năm trước ở kỷ Eocene.
Xương cá heo hiện đại có hai xương chậu nhỏ hình cây gậy và được cho hai chân sau đã bị teo đi. Tháng 10 năm 2006, một cá heo Mũi chai lạ bị bắt ở Nhật Bản; con cá này có 2 vây nhỏ ở hai bên khe bộ phận sinh dục và được các nhà khoa học xác định là chân sau phát triển hình thành.
=== Giải phẫu học ===
Cá heo có thân hình thoi suôn tối ưu cho bơi với tốc độ cao. Vây đuôi được sử dụng để tạo sức đẩy còn vây mang và toàn bộ đuôi để điều chỉnh hướng bơi. Vây lưng đối với các loài có vây lưng dùng để ổn định cơ thể khi bơi.
Dù mỗi loài có khác nhau, đặc điểm chung ở hầu hết cá heo là các sắc màu xám với bụng có màu nhạt hơn. Trên da cá heo thường có các đốm với màu tương phản và sắc độ khác..
Đầu cá heo có bộ phận phát sóng rada sinh học ở trán. Nhiều loài có hàm phát triển dài tạo thành một cái mỏ rõ rệt. Một số loài như loài Mũi chai có miệng hình cánh cung như một nụ cười cố định. Một vài loài khác có thể có tới 250 răng. Cá heo thở bằng một lỗ ở trên đầu. Não cá heo phát triển to và phức tạp và có cấu trúc khác hẳn hầu hết động vật có vú trên cạn.
Khác hầu hết động vật có vú khác, cá heo không có lông mao. Trừ một chút lông ở mỏ lúc sinh ra và mất đi nhanh chóng sau đó. The only exception to this is the Boto river dolphin, which has persistent small hairs on the rostrum.
Cơ quan sinh sản của cá heo được đặt ở phần dưới của cơ thể. Cá heo đực có 2 khe, một khe chứa dương vật và một khe chứa hậu môn. Cá heo cái chỉ có một khe sinh dục chứa cả âm vật và hậu môn. Khi chứa vú được đặt ở hai bên khe chứa bộ phận sinh dục.
Nghiên cứu mới đây tại Quỹ động vật có vú hải dương quốc gia Mỹ cho thấy cá heo là loài động vật duy nhất khác loài người mà cũng có biểu hiện tự nhiên của Bệnh béo phì loại 2 và đây là cơ sở để nghiên cứu kỹ hơn bệnh này cũng như phương hướng điều trị cho cả người và cá heo.
=== Giác quan ===
Hầu hết cá heo đều có nhãn lực tinh tường cả trong môi và ngoài môi trường nước và có thể cảm nhận các tần số cao gấp 10 lần tần số người có thể nghe được. Mặc dù cá heo có lỗ tai nhỏ ở hai bên đầu, người ta cho rằng trong môi trường nước, cá nghe bằng hàm dưới và dẫn âm thanh tới tai giữa qua những khe hở chứa mở trong xương hàm. Nghe cũng được dùng để phát sóng rada sinh học, một khả năng tất cả các loài cá heo đều có. Người ta cho rằng răng cá heo được dùng như cơ quan thụ cảm, chúng nhận các âm thanh phát tới và chỉ chính xác vị trí của đối tượng. Xúc giác của cá heo cũng rất phát triển, với đầu dây thần kinh phân bổ dày đặc trên da, nhất là ở mũi, vây ngực và vùng sinh dục. Tuy nhiên cá heo không có các tế bào thần kinh thụ cảm mùi và vì vậy chúng được tin là không có khứu giác. Cá heo cũng có vị giác và thể hiện thích một số thức ăn cá nhất định. Hầu hết thời gian của cá heo là dưới mặt nước, cảm nhận vị của nước có thể giúp cá heo ngửi theo cách là vị nước có thể cho cá biết sự hiện diện của các vật thể ngoài miệng mình.
Dù cá heo không có lông, chúng vẫn có nang lông giúp thực hiện một vài chức năng xúc giác. The small hairs on the rostrum of the Boto river dolphin are believed to function as a tactile sense possibly to compensate for the Boto's poor eyesight.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Carwardine, M., Whales, Dolphins and Porpoises, Dorling Kindersley, 2000. ISBN 0-7513-2781-6
De Rohan, Anuschka. Why dolphins are deep thinkers, The Guardian, 3 tháng 7 năm 2003.
Williams, Heathcote, Whale Nation, New York, Harmony Books, 1988. ISBN 978-0-517-56932-0
== Liên kết ngoài ==
Cá heo tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Dolphin (mammal) trên Encyclopædia Britannica
Conservation, research and news:
The Whale & Dolphin Conservation Society (WDCS)
The Dolphin Institute
The Dolphin research center
Digital Library of Dolphin Development Cetacean origins, Thewissen Lab
The Bottlenose Dolphin Research Institute
The Oceania Project, Caring for Whales and Dolphins
Tursiops.org: Current Cetacean-related news
Whale Trackers - An online educational documentary series about whales, dolphins and porpoises.
World Wide Fund for Nature (WWF) - information on whales, dolphins, and porpoises
Photos:
Red Sea Spinner Dolphin - Photo gallery
PBS NOVA: Dolphins: Close Encounters
David's Dolphin Images
Images of Wild Dolphins in the Red Sea
National Geographic
earthOCEAN Photos of Dolphins |
giải quần vợt pháp mở rộng 2009.txt | Internationaux de France de Roland-Garros 2009 hay Tournoi de Roland-Garros 2009, thường được biết dưới tên gọi phổ biến hơn là Giải quần vợt Pháp Mở rộng 2009 (dịch từ tiếng Anh: French Open 2009) là giải Grand Slam quần vợt thứ hai trong năm 2009 và là giải quần vợt Roland-Garros lần thứ 108, được tổ chức tại Paris, Pháp từ ngày 24 tháng 5 đến 7 tháng 6 năm 2009.
Rafael Nadal và Ana Ivanovic không thể bảo vệ chức vô địch năm trước của mình.
== Sự kiện theo ngày ==
=== Ngày thứ 8 ===
Đương kim vô địch Rafael Nadal thất bại trước tay vợt người Thụy Điển Robin Söderling, kết thúc chuỗi 31 trận thắng liên tiếp ở giải này.
== Tóm tắt ==
Đơn nam
Đơn nữ
== Kết quả thi đấu ==
=== Đơn nam ===
=== Đơn nữ ===
=== Đôi nam ===
=== Đôi nữ ===
=== Đôi nam nữ ===
=== Đơn nam trẻ ===
=== Đơn nữ trẻ ===
=== Đôi nam trẻ ===
=== Đôi nữ trẻ ===
=== Đôi huyền thoại dưới 45 ===
=== Đôi huyền thoại trên 45 ===
=== Đơn nam xe lăn ===
=== Đơn nữ xe lăn ===
=== Đôi nam xe lăn ===
=== Đôi nữ xe lăn ===
== Danh sách hạt giống ==
Các hạt giống không tham dự: David Nalbandian, Richard Gasquet, Katarina Srebotnik, Vera Zvonareva.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chính thức của Giải quần vợt Roland-Garros |
chủ nghĩa nữ quyền.txt | Chủ nghĩa nữ giới hay chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa duy nữ là một tập hợp của các phong trào và ý thức hệ nhằm mục đích xác định, xây dựng và bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội bình đẳng cho phụ nữ. Điều này bao gồm tìm cách thiết lập cơ hội bình đẳng cho phụ nữ trong giáo dục và việc làm. Người theo chủ nghĩa nữ giới là người vận động hoặc ủng hộ các quyền và bình đẳng của phụ nữ.
Các vấn đề thường liên quan với khái niệm quyền của phụ nữ bao gồm, nhưng không giới hạn: cơ thể toàn vẹn và tự chủ; quyền được giáo dục và làm việc; được trả lương như nhau; quyền sở hữu tài sản; tham gia vào các hợp đồng hợp pháp, tổ chức các cơ quan công quyền; quyền bầu cử; quyền tự do kết hôn, bình đẳng trong gia đình và tự do tôn giáo.
Lý thuyết nữ giới chủ nghĩa, nổi lên từ phong trào nữ giới chủ nghĩa, nhằm mục đích để hiểu bản chất của bất bình đẳng giới bằng cách kiểm tra vai trò xã hội của phụ nữ và kinh nghiệm sống; nó đã phát triển lý thuyết trong một loạt các lĩnh vực để đối phó với các vấn đề như xây dựng xã hội về tình dục và giới tính. Một số hình thức trước đó của chủ nghĩa nữ quyền đã bị chỉ trích là chỉ dựa trên quan điểm của những người da trắng có mức thu nhập trung bình và khá. Điều này dẫn đến việc tạo ra các hình thức dân tộc cụ thể hoặc đa văn hóa của chủ nghĩa nữ quyền.
Những nhà hoạt động nữ giới chủ nghĩa vận động cho quyền của phụ nữ - chẳng hạn như trong luật hợp đồng, tài sản, và bỏ phiếu - trong khi cũng thúc đẩy sự toàn vẹn thân thể, quyền tự chủ, và quyền sinh sản cho phụ nữ. Các chiến dịch nữ quyền đã thay đổi xã hội, đặc biệt là ở phương Tây, bằng cách đạt được quyền bầu cử của phụ nữ, trung lập giới tính bằng tiếng Anh, bình đẳng lương cho phụ nữ, quyền sinh sản cho phụ nữ (bao gồm cả quyền tránh thai và phá thai), và quyền được ký kết hợp đồng và tài sản riêng. Những người theo chủ nghĩa nữ giới đã làm việc để bảo vệ phụ nữ và trẻ em gái khỏi bạo lực gia đình, quấy rối tình dục và tấn công tình dục. Họ cũng đã ủng hộ cho các quyền tại nơi làm việc, bao gồm nghỉ thai sản, và chống lại các hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ. Chủ nghĩa nữ quyền chủ yếu tập trung vào các vấn đề của phụ nữ, nhưng tác giả Bell Hooks và những người khác đã lập luận rằng, do chủ nghĩa nữ quyền muốn đạt tới bình đẳng giới nên nó nhất thiết phải bao gồm cả việc giải phóng cho đàn ông vì đàn ông cũng bị xâm hại bởi phân biệt giới tính và vai trò giới.
== Lịch sử ==
Charles Fourier, một triết gia người Pháp chuyên về chủ nghĩa xã hội không tưởng, được coi là người đã đặt ra từ "chủ nghĩa nữ quyền" vào năm 1837. Từ "chủ nghĩa nữ quyền" lần đầu tiên xuất hiện ở Pháp và Hà Lan vào năm 1872, Vương quốc Anh trong những năm 1890, và Hoa Kỳ vào năm 1910, và được Oxford English Dictionary liệt kê năm 1852 - được coi là năm của sự xuất hiện đầu tiên của từ feminist - "người theo nữ quyền" và 1895 cho feminism - "chủ nghĩa nữ quyền". Tùy thuộc vào thời điểm lịch sử, văn hóa và quốc gia, những người theo nữ quyền trên toàn thế giới đã có động lực và mục tiêu khác nhau. Hầu hết các lịch sử về phong trào nữ quyền phương Tây khẳng định rằng tất cả các phong trào được thúc đẩy để thực thi quyền của phụ nữ nên được coi là phong trào nữ quyền, ngay cả khi các phong trào này đã không áp dụng thuật ngữ này để mô tả chúng. Các nhà sử học khác khẳng định rằng thuật ngữ này nên được giới hạn trong các phong trào nữ quyền hiện đại và hậu duệ của nó. Những sử gia này sử dụng nhãn hiệu "protofeminist" để mô tả các phong trào nữ quyền trước đó.
Lịch sử của phong trào nữ quyền phương Tây hiện đại được chia thành ba "làn sóng". Mỗi làn sóng xử lý các khía cạnh khác nhau của các vấn đề nữ quyền giống nhau. Làn sóng đầu tiên bao gồm phong trào quyền bầu cử của phụ nữ ở thế kỷ XIX và XX, thúc đẩy quyền bỏ phiếu của phụ nữ. Làn sóng thứ hai được kết hợp với những ý tưởng và hành động của phong trào giải phóng phụ nữ bắt đầu từ những năm 1960. Làn sóng thứ hai vận động cho bình đẳng pháp lý và xã hội đối với phụ nữ. Làn sóng thứ ba là một sự tiếp nối của, và là phản ứng đối với những thất bại về mặt nhận thức của hai làn sóng nữ quyền trước đó, và được bắt đầu từ những năm 1990.
== Xem thêm ==
Quyền phụ nữ
Phân biệt đối xử theo giới tính
Thể hiện giới tính
== Chú thích ==
Sách
DuBois, Ellen Carol (1997). Harriot Stanton Blatch and the winning of woman suffrage. New Haven, Conn.: Yale University Press. ISBN 978-0-300-06562-0 .
Flexner, Eleanor, Century of Struggle: The Woman's Rights Movement in the United States (The Belknap Press, 1996), ISBN 9780674106539
Mathur, Piyush. "The Archigenderic Territories: Mansfield Park and A Handful of Dust, Women's Writing 5:1,71-81. URL: http://dx.doi.org/10.1080/09699089800200034
Stevens, Doris; O'Hare, Carol (1995). Jailed for freedom: American women win the vote. Troutdale, OR: NewSage Press. ISBN 978-0-939165-25-2 .
Wheeler, Marjorie W. (1995). One woman, one vote: rediscovering the woman suffrage movement. Troutdale, OR: NewSage Press. ISBN 978-0-939165-26-0 .
== Liên kết ngoài ==
FemINist INitiative Canadian effort at building a political party, archived at the Internet Archive
National Organization for Women United States
Sanctuary for Families
ROKS Swedish women's organization
Women's Forum Australia
International Women's Day is a slide show in English of the Brazilian Vinna Mara Fonseca
Feministing Third wave feminist blog
Feminist Housewives Third wave domestic feminist site
Gender Museum |
giải bóng đá vô địch quốc gia 2012.txt | Giải bóng đá vô địch quốc gia 2012 có tên chính thức là Giải bóng đá vô địch quốc gia - Eximbank 2012 (V.League - Eximbank 2012) hoặc Giải bóng đá Ngoại hạng-Eximbank 2012 diễn ra từ ngày 31 tháng 12 năm 2011 đến ngày 19 tháng 8 năm 2012. Đây là giải đấu bóng đá chuyên nghiệp lần thứ 12 và là giải bóng đá vô địch quốc gia lần thứ 29. Sông Lam Nghệ An là đội đương kim vô địch.
Đây là lần đầu tiên giải được điều hành bởi Công ty Cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam. Giải đấu có sự tham gia của 14 câu lạc bộ thi đấu theo thể thức hai lượt trận sân nhà và sân khách.
== Thay đổi trước mùa giải ==
Danh sách các đội bóng có sự thay đổi so với mùa giải 2011:
^[a] Hà Nội ACB hợp nhất với Hoà Phát Hà Nội nên vẫn sẽ tiếp tục thi đấu tại V-League 2012 với tên Hà Nội. Đội xuống hạng là đội hình 2 với tên Trẻ Hà Nội.
== Tên gọi ==
Sau nhiều năm giải bóng đá vô địch quốc gia chuyên nghiệp có tên là V-League, mùa giải 2012 được tổ chức với tên gọi mới là Super League (Giải Ngoại hạng). Tuy nhiên, sau 3 vòng đấu, ngày 2 tháng 2 năm 2012, Tổng cục Thể dục Thể thao đã gửi công văn số 107/TCTDTT-VP tới Liên đoàn Bóng đá Việt Nam (VFF) yêu cầu giữ tên gọi bằng tiếng Việt của giải bóng đá chuyên nghiệp vô địch quốc gia và trong tên tiếng Anh phải có chữ V (viết tắt của từ Việt Nam).
Ngày 7 tháng 2, VFF gửi công văn số 58/LĐBĐVN-PL&TCCT đến Công ty Cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) yêu cầu giữ nguyên tên gọi của giải là "Giải bóng đá Vô địch quốc gia Eximbank 2012" (viết tắt là: V-League Eximbank 2012).
Ngày 8 tháng 2, VPF gửi công văn số 53/VPF-CV-2012 đến VFF và Tổng cục Thể dục Thể thao, đề nghị đổi tên giải Ngoại hạng (Super League Eximbank 2012) thành giải Ngoại hạng Việt Nam (V-Super League Eximbank 2012). Tuy vậy, ngay trong ngày hôm đấy, VFF đã có công văn số 68/2012-CV/LĐBĐVN phúc đáp với nội dung yêu cầu công ty VPF chấp hành đúng tinh thần công văn số 58
Ngày 21 tháng 2, VPF thông báo chấp nhận thay đổi tên giải là Giải bóng đá vô địch quốc gia - Eximbank 2012 - V.League. Mặc dù tên giải thay đổi nhưng chưa thay đổi tên giải trên biểu trưng, trên các bảng quảng cáo cũng như các giấy tờ khác.
== Tranh cãi về bản quyền truyền hình ==
Ngày 28 tháng 12 năm 2011, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tổ chức bóng đá chuyên nghiệp (VPF) Phạm Ngọc Viễn ký công văn số 16/VPF-PPL gửi ông Phạm Nhật Vũ, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Viễn thông và Truyền thông An Viên (AVG) đề nghị thương thảo về về hợp đồng chuyển nhượng thương quyền truyền hình bóng đá đã được ký kết giữa AVG với Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) ngày 8 tháng 12 năm 2010. VPF muốn tách riêng hợp đồng của các giải đấu do VFF tổ chức và hợp đồng của các giải đấu do VPF tổ chức cũng như thay đổi thời hạn hợp đồng từ 20 năm xuống 3 năm và giá trị hợp đồng truyền hình tối thiểu là 10 tỷ đồng một năm.
Để đáp lại, AVG đã bác bỏ sự tồn tại của VPF và khẳng định chỉ làm việc với VFF. Sau buổi làm việc với VFF chiều ngày 28 tháng 11 năm 2011, AVG ra công văn số 1228/TTAV-CV yêu cầu VFF phải tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của AVG liên quan đến hợp đồng bản quyền bóng đá đã được ký kết và VFF phải thống nhất trước với AVG nếu có bất cứ sự thay đổi nào về những điều khoản trong hợp đồng để đảm bảo tính kế thừa, toàn vẹn của hợp đồng đã ký
Trưa ngày 29 tháng 12 năm 2011, VPF và Đài truyền hình Việt Nam (VTV) đã họp để bàn giao về hợp đồng bản quyền truyền hình của giải bóng đá ngoại hạng Việt Nam 2012. Và theo công văn số 20 CV/VPF/2011, VPF cho phép VTV và các đơn vị trực thuộc được tuyên truyền, truyền hình trực tiếp và phát lại các trận bóng đá của các giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam. Theo một thành viên Hội đồng quản trị của VPF, trị giá bản hợp đồng giữa VPF và VTV trong 3 năm là hơn 74 tỷ đồng, riêng năm 2012 là 20 tỉ.
AVG khẳng định việc VPF bàn giao hợp đồng bản quyền truyền hình cho VTV là hành vi vi phạm pháp luật và AVG sẽ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Ngay sau đó, ngày 30 tháng 12 năm 2011, Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) đã có Công văn số 1102/CV-LĐBĐVN về việc nhắc nhở Công ty cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) về bản quyền truyền hình các giải bóng đá chuyên nghiệp mùa giải 2012. Đồng thời, VFF đưa ra Giấy chứng nhận sở hữu thương quyền truyền hình bóng đá năm 2012 xác nhận AVG là đơn vị sở hữu thương quyền và khai thác bản quyền truyền hình các giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam năm 2012. Ông Nguyễn Trọng Hỷ, Chủ tịch VFF khẳng định VFF chưa ký văn bản chính thức chuyển giao hợp đồng bản quyền truyền hình giữa VFF và AVG cho VPF.
Để phản hồi công văn số 1102/CV-LĐBĐVN nói trên, Phó Chủ tịch VPF Nguyễn Đức Kiên đã ký công văn số 23/CV/VPF/2011, trong đó viết: "Việc VFF khẳng định là tổ chức duy nhất sở hữu các quyền liên quan đến các giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam và đã ký hợp đồng độc quyền khai thác bản quyền truyền hình các giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam với AVG từ năm 2011 - 2030 là không phù hợp với quy định của Điều 53 Luật Thể thao và Điều 12 NĐ 112/2007 NĐCP ngày 26.6.2007 của Chính phủ. Công ty VPF cho rằng việc VFF ký hợp đồng bản quyền với AVG khi không được các CLB bóng đá chuyên nghiệp ủy quyền là trái quy định của pháp luật Việt Nam...".
Ngay lập tức, VFF ra công văn số 1105/CV-LĐBĐVN để trả lời công văn số 23 của VPF, trong đó khẳng định việc ký kết hợp đồng giữa VFF và AVG là hoàn toàn đúng pháp luật Việt Nam và giải thích quy trình thương thảo và ký hợp đồng bản quyền truyền hình giữa hai đơn vị này.
Khi chưa giải quyết xong bản quyền truyền hình giữa VFP, VFF và AVG, tối ngày 30 tháng 12 năm 2011, AVG đã thông báo hoàn thành việc thỏa thuận với Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) và một số đài truyền hình khác. Theo thỏa thuận này, VTV được phép tự ghi hình, sản xuất và phát trực tiếp hai trận thuộc vòng 1 giải ngoại hạng.
Ngày 3 tháng 1 năm 2012, AVG gửi công văn số 01/TTAV-CV yêu cầu Đài truyền hình kỹ thuật số (VTC) bồi thường và phải tiếng xin lỗi vi tường thuật trực tiếp trận đấu giữa Xi măng The Vissai Ninh Bình và TĐCS Đồng Tháp ngày 1 tháng 1.
Ngày 4 tháng 1 năm 2012, VFF gửi công văn số 06/CV-LĐBĐVN tới VPF để làm rõ nội dung Nghị quyết số 426/QN-LĐBĐVN ký ngày 28 tháng 12 năm 2011 (về việc giao quyền quản lý, tổ chức, điều hành và khai thác thương quyền các giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam cho VPF). Công văn nói rõ "VFF là chủ sở hữu duy nhất giải bóng đá vô địch quốc gia và các giải bóng đá chuyên nghiệp tại Việt Nam..." và "... việc VPF không thừa nhận quyền sở hữu các giải đấu bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam của VFF như vừa qua là việc cố tình không hiểu các quy định tối thiểu cần thiết của pháp luật thể thao và Điều lệ của Liên đoàn cũng như không tôn trọng Liên đoàn bóng đá Việt Nam.".
Cùng ngày, VPF đáp trả công văn số 06/CV-LĐBĐVN nói trên bằng 2 công văn số 26/CV/VPF/2012 và 29/CV/VPF/2012. Công văn đầu tiên gửi lên 3 Bộ Tư pháp, Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Thông tin và Truyền thông để đề nghị xem xét lại tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng bản quyền truyền hình số 08/HDD2010/VFF-AVG ngày 08/12/2010 của AVG và VFF. Trong đó nói "... VFF chưa có được sự đồng ý của người có thẩm quyền của các câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp về việc ủy quyền cho VFF đại diện các câu lạc bộ đàm phán, ký kết Hợp đồng chuyển nhượng bản quyền truyền hình các giải thi đấu bóng đá chuyên nghiệp" và "... vào thời điểm ký Hợp đồng ngày 08/12/2010, AVG không có giấy phép hoạt động truyền hình theo các quy định của pháp luật". Đồng thời, AVG cũng gửi công văn số 02/TTAV-AV đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam, đề nghị Bộ kiểm tra, làm rõ những vấn đề liên quan đến bản hợp đồng 08/HDD2010/VFF-AVG. Còn công văn thứ hai cho thấy ngày 4 tháng 1, ông Võ Quốc Thắng (Chủ tịch VPF) và ông Nguyễn Đức Kiên (Phó chủ tịch VPF) đã làm việc với Thường trực VFF (gồm Chủ tịch Nguyễn Trọng Hỷ và Phó chủ tịch Lê Hùng Dũng) về vấn đề bản quyền truyền hình và đề nghị VFF 2 việc: 1. "Công ty VPF cho phép các đài truyền hình trung ương và địa phương được phép truyền phát sóng các trận đấu miễn phí các giải đấu bóng đá chuyên nghiệp. và 2."VFF sớm cung cấp cho VPF các văn bản chấp thuận hoặc phê chuẩn hợp đồng số 08 của các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền, các văn bản chấp thuận của các CLB bóng đá chuyên nghiệp và giấy phép hoạt động truyền hình của AVG.".
Ngày 5 tháng 1, Đài truyền hình kỹ thuật số (VTC) trả lời AVG bằng công văn số 11/THKTS và cho rằng "...VTC chỉ dừng việc phát sóng trực tiếp các trận đấu trong khuôn khổ Super League 2012 nếu VPF chính thức có văn bản yêu cầu VTC dừng phát sóng.", "... không liên quan gì đến việc tranh chấp bản quyền giữa VPF và AVG..." và "dự kiến sẽ phát sóng trực tiếp trận đấu giữa hai đội Vicem Hải Phòng và Navibank Sài Gòn trên SVĐ Lạch Tray thành phố Hải Phòng vào ngày 7/1/2012". Tuy nhiên, AVG và VFF cũng cho biết AVG sẽ sản xuất và truyền hình trực tiếp trận đầu này. Và trận đấu giữa 2 đội Vicem Hải Phòng và Navibank Sài Gòn có 2 đơn vị truyền hình trực tiếp dù ban đầu VTC không được phép vào sân làm việc.
Ngày 6 tháng 1 năm 2012, VFF gửi công văn số 14/CV-LĐBĐVN tới đến các câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp yêu cầu các câu lạc bộ thực hiện đúng hợp đồng bản quyền bóng đã giữa VFF và AVG, đồng thời yêu cầu các đài truyền hình chỉ được truyền hình các trận đấu khi AVG cho phép.
Ngày 9 tháng 1 năm 2012, Văn hóa, Thể thao và Du lịch gửi công văn số 65/BVHTTDL-TTr đến VFF và các sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc thực hiện các quy định đối với bản quyền truyền hình giải bóng đá chuyên nghiệp quốc gia. Công văn cho biết Bộ đã thành lập đoàn thanh tra việc ký hợp đồng chuyển nhượng thương quyền bóng đá giữa VFF và AVG, đồng thời Bộ yêu cầu VFF và các sở tôn trọng hợp đồng đó trước khi có kết luận thanh tra.
Ngày 11 tháng 1 năm 2012, lãnh đạo VPF (gồm Chủ tịch Võ Quốc Thắng, 2 Phó chủ tịch Nguyễn Đức Kiên và Đoàn Nguyên Đức, trưởng ban kiểm soát Lê Tiến Anh, Tổng giám đốc Phạm Ngọc Viễn và Phó tổng giám đốc Phạm Phú Hòa) đã lần lượt làm việc với Tổng cục Thể dục Thể thao và Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh về bản quyền truyền hình bóng đá.
Ngày 12 tháng 1 năm 2012, VPF gửi công văn số 38 CV/VPF/2012 tới Thủ tướng đề nghị xem xét và chỉ đạo các bộ, ngành kiểm tra tính pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng bản quyền truyền hình giữa VFF và AVG. Ngay trưa cùng ngày, Văn phòng Chính phủ đã gửi công văn số 268/VPCP - KGVX đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Công văn ghi rõ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo việc thanh tra bản hợp đồng bản quyền truyền hình và đảm bảo giải bóng đá quốc gia được các đài truyền hình truyền hình trực tiếp, liên tục, rộng rãi cả nước, đáp ứng nhu cầu của nhân dân.
Gần 1 tháng sau, ngày 10 tháng 2 năm 2012, Bộ Tư pháp gửi công văn số 791/BTP-PLDSKT cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẳng định VFF có quyền sở hữu thương quyền các giải đấu do đơn vị này tổ chức và thoả thuận về thời hạn 20 năm giữa VFF và AVG là không trái luật.
Chiều ngày 16 tháng 2, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thông báo kết luận thanh tra của Bộ về việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng thương quyền đối với các giải bóng đá thuộc VFF: "Việc ký kết hợp đồng thương quyền bóng đá giữa VFF và AVG đã được thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật, được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, có một số nội dung còn chưa phù hợp nhưng những nội dung này không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại của Hợp đồng."
VPF ngay lập tức gửi công văn đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Thanh tra Chính phủ khiếu nại về kết quả thanh tra nói trên. Ngày 17 tháng 2, 3 đại diện của VFF trong hội đồng quản trị VPF gửi thông báo đến Chủ tịch VPF để phản đối việc VPF tiếp tục khiếu nại bản hợp đồng bản quyền truyền hình giữa VFF và AVG.
Ngày 18 tháng 2, Tổng Công ty Truyền thông Đa phương tiện Việt Nam (VTC) thông báo ngưng phát sóng 2 giải bóng đá Super League và hạng nhất từ vòng 6 đến khi vấn đề bản quyền truyền hình được các bên làm rõ.
Ngày 20 tháng 2, chủ tịch AVG, ông Phạm Nhật Vũ, khẳng định AVG "sẵn sàng rút lui không nhận một xu để nhường lại bản quyền truyền hình cho VPF" nếu VPF bán được bản quyền truyền hình là 70 tỷ đồng cho 3 mùa bóng.
== Các đội bóng ==
^[a] Từ 17 tháng 5, câu lạc bộ Sài Gòn FC lại lấy tên là Sài Gòn Xuân Thành
=== Thay đổi huấn luyện viên trưởng ===
== Bảng xếp hạng ==
=== Vị trí các đội sau mỗi vòng đấu ===
Cập nhật lần cuối: ngày 05 tháng 03 năm 2014
Nguồn: Eximbank V-League
Chú thích: Kết quả vòng 14 tính cả 2 trận đấu bù của vòng 13
== Kết quả ==
Cập nhật lần cuối: ngày 19 tháng 8 năm 2012.
Nguồn: Eximbank V-League
1 ^ Đội chủ nhà được liệt kê ở cột bên tay trái.Màu sắc: Xanh = Chủ nhà thắng; Vàng = Hòa; Đỏ = Đội khách thắng.
== Tốp ghi bàn ==
=== Vua phá lưới ===
=== Cầu thủ đá phản lưới nhà ===
Vicem Hải Phòng: Phạm Xuân Phú (22) – đá phản lưới nhà ở phút 14 trong trận Vicem HP gặp CLB BĐ HN tại vòng 12
Becamex Bình Dương: Danny Val Bakel (83) – đá phản lưới nhà ở phút 41 trong trận gặp CLB BĐ HN tại vòng 14
Tập đoàn Cao Su Đồng Tháp: Nguyễn Thanh Hiền (22) – đá phản lưới nhà ở phút 53 trong trận gặp CLB HAGL tại vòng 24
Thanh Hóa: Lê Xuân Anh (4) – đá phản lưới nhà ở phút 63 trong trận gặp TĐCS Đồng Tháp tại vòng 26
Sông Lam Nghệ An: Âu Văn Hoàn (2) – đá phản lưới nhà ở phút 47 trong trận gặp K.Khánh Hòa tại vòng 26
== Các giải thưởng ==
Huấn luyện viên xuất sắc nhất toàn mùa giải 2012: Lê Huỳnh Đức của SHB Đà Nẵng.
Hội Cổ động viên tốt nhất mùa giải 2012: Hội cổ động viên SHB Đà Nẵng.
Trọng tài xuất sắc nhất mùa giải 2012: Võ Quang Vinh.
Cầu thủ xuất sắc nhất giải: Nguyễn Minh Phương của SHB Đà Nẵng.
Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất: Timothy Anjembe (Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội - 17 bàn)
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Giải bóng đá Cúp Quốc gia 2012
Giải bóng đá hạng nhất quốc gia 2012
Siêu cúp bóng đá Việt Nam 2011
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Công ty Cổ phần Bóng đá Chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) (tiếng Việt)
Trang chủ Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) (tiếng Việt)
Trang chủ flashscore.pl (tiếng Ba Lan) |
giải mai vàng.txt | Giải Mai Vàng là một giải thưởng thường niên nhằm tôn vinh những nghệ sĩ đã có những đóng góp tích cực cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam do báo Người lao động tổ chức từ năm 1995. Tiền thân của Giải Mai Vàng là giải thưởng Bình chọn Văn nghệ sĩ được yêu thích nhất trong năm ra đời vào năm 1991.
== Ra đời ==
Năm 1991, Tổng biên tập báo Người lao động lúc bấy giờ là ông Phan Hồng Chiến muốn có những hoạt động bên lề nhằm quảng bá thương hiệu của tờ báo đến với công chúng cũng như thu hút sự quan tâm của giới nghệ sĩ. Dựa theo ý tưởng đó, Trưởng phòng Văn hóa Nghệ thuật của tờ báo lúc bấy giờ, nhà báo - nhạc sĩ Vũ Hoàng, đã đề xuất tổ chức giải thưởng Bình chọn Văn nghệ sĩ được yêu thích nhất trong năm dành cho độc giả của báo. Và giải thưởng đầu tiên đã được tổ chức vào những tháng cuối năm 1991, lễ trao giải tổ chức ngay tại sân sau cơ quan của tòa báo với khoảng 500 khán giả.
== Chính thức đổi tên ==
Nhận thấy giải thưởng bước đầu đã tạo nên một sức hút nhất định, Ban Biên tập tờ báo muốn nâng giải thường lên một tầm cao hơn. Năm 1995, Ban Biên tập và Ban Tổ chức đã họp bàn và quyết định chính thức đổi tên giải thưởng là Giải Mai Vàng.
Người đưa ra cái tên này là nhạc sĩ Vũ Hoàng. Ý nghĩa của tên gọi này là gợi đến loài hoa mai vàng, một loài hoa nở vào mùa xuân ở miền nam của Việt Nam, chứ không phải là hoa mai bằng vàng như cách dùng từ của các giải thưởng khác. Những nghệ sĩ đạt giải được ví như những bông hoa mai vàng mang đến niềm vui và hạnh phúc cho mọi người khi nở rộ vào mùa xuân.
== Lịch sử ==
Năm 1995, giải lần đầu tiên được tổ chức với tên gọi Giải Mai Vàng. Giải vẫn giữ thể lệ là do bạn đọc báo Người lao động bình chọn giống như giải thưởng Bình chọn Văn nghệ sĩ được yêu thích nhất trong năm trước đó, nhưng có điểm khác là kết quả bình chọn này sẽ được thẩm định lại bởi Hội đồng Nghệ thuật gồm các nghệ sĩ đứng đầu các hội nghệ thuật chuyên ngành, các nghệ sĩ có tên tuổi, uy tín.
Giải Mai Vàng đã được cải tiến chuyên nghiệp hơn ở lần thứ 9 giải được tổ chức vào năm 2003, hình thức bình chọn tiện lợi hơn, đã có phần mềm riêng biệt dùng cho việc kiểm phiếu. Số lượng độc giả tham gia bình chọn lên đến trên 50.000 người. Lễ trao giải cũng đã được dàn dựng chuyên nghiệp hơn. Trung tâm Ca nhạc Lan Anh đã tài trợ khoản sân khấu, âm thanh, ánh sáng cho buổi lễ trao giải thay vì tổ chức phát giải ở sân khấu ngoài trời vào ban ngày như các lần trước đó ở Khu Du lịch Văn hóa Suối Tiên hay Công viên Văn hóa Đầm Sen. Trung tâm Băng nhạc Rạng Đông cũng giúp dàn dựng chương trình hoàn toàn miễn phí. Cùng với đó, ê kíp thực hiện gồm đạo diễn Huỳnh Phúc Điền, nhạc sĩ Lê Quang và họa sĩ Lê Trường Tiếu cũng như các ca sĩ khách mời đều gần như không nhận thù lao. Đây là lần đầu tiên lễ trao giải của Giải Mai Vàng có tổ chức bán vé với hơn 3 ngàn khán giả, các vị khách mời cùng với gần 100 văn nghệ sĩ đã đến tham dự và cũng là lần đầu tiên được Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh truyền hình trực tiếp phục vụ khán giả xem đài.
Trong dịp kỷ niệm 10 năm Giải Mai Vàng, ở Giải Mai Vàng lần thứ 10 - 2004, Ban Tổ chức đã quyết định đổi mới trong khâu bình chọn, lần đầu tiên bạn đọc có thể tham gia bình chọn trên báo Người lao động điện tử bên cạnh hình thức bình chọn thông qua ấn bản báo in phát hành hàng ngày. Bên cạnh đó, Giải Mai Vàng từ lần tổ chức này đã có được logo chính thức. Buổi lễ trao giải có sự hiện diện của hơn 4 ngàn khán giả và hơn 100 nghệ sĩ trong cả nước.
Giải Mai Vàng đã được cải tiến qua từng năm theo hướng chuyên nghiệp hơn trong khâu tổ chức. Tuy nhiên, kết quả bình chọn trong những năm gần đây đã vấp phải không ít những ý kiến không đồng tình từ dư luận với những cá nhân, tác phẩm chưa thật sự nổi bật nhưng vẫn đạt giải.
== Danh sách các cá nhân, tác phẩm và tổ chức đạt giải ==
=== Lĩnh vực Sân khấu ===
==== Nghệ sĩ Kịch nói ====
==== Nghệ sĩ Cải lương ====
==== Diễn viên Sân khấu ====
Từ Giải Mai Vàng lần thứ 16 - 2010, hạng mục Nghệ sĩ Kịch nói và Nghệ sĩ Cải lương đã được gộp chung lại thành hạng mục Diễn viên sân khấu được yêu thích nhất.
==== Nghệ sĩ hài ====
==== Đạo diễn Sân khấu ====
Hạng mục Đạo diễn sân khấu xuất hiện từ Giải Mai Vàng lần thứ 3 - 1997 đến Giải Mai Vàng lần thứ 15 - 2009.
==== Vở diễn sân khấu ====
Từ Giải Mai Vàng lần thứ 16 - 2010 hạng mục Vở diễn sân khấu đã được đưa vào danh sách đề cử.
=== Lĩnh vực điện ảnh - truyền hình ===
==== Diễn viên ====
==== Đạo diễn ====
Hạng mục Đạo diễn Phim điện ảnh - Phim truyền hình được yêu thích nhất xuất hiện từ Giải Mai Vàng lần thứ 3 - 1997 cho đến Giải Mai Vàng lần thứ 15 - 2009 (ngoại trừ lần thứ 4 - 1998 hạng mục này không được trao).
==== Phim ====
Từ Giải Mai Vàng lần thứ 16 - 2010 hạng mục Đạo diễn Phim điện ảnh - Phim truyền hình được yêu thích nhất được thay thế bằng hạng mục Phim được yêu thích nhất.
=== Lĩnh vực Âm nhạc ===
==== Ca sĩ ====
Từ Giải Mai Vàng lần thứ 9 - 2003 hạng mục Ca sĩ được yêu thích nhất được chia thành hai hạng mục Ca sĩ nhạc nhẹ được yêu thích nhất và Ca sĩ âm hưởng dân ca và truyền thống cách mạng được yêu thích nhất.
===== Ca sĩ nhạc nhẹ =====
===== Ca sĩ âm hưởng dân ca và truyền thống cách mạng =====
==== Nhóm nhạc ====
Từ Giải Mai Vàng lần thứ 3 - 1997 xuất hiện hạng mục Nhóm nhạc được yêu thích nhất.
== Tham khảo == |
16 tháng 5.txt | Ngày 16 tháng 5 là ngày thứ 136 (137 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 229 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
290 – Hoàng thái tử Tư Mã Trung kế vị vua cha Tấn Vũ Đế mới qua đời, tức Tấn Huệ Đế.
947 – Khang vương Da Luật Nguyễn kế vị hoàng đế triều Liêu, tức Liêu Thế Tông.
1689 – Matsuo Basho cùng đệ tử là Kawai Sora bắt đầu du hành phía Bắc đảo Honshu, hành trình nổi tiếng nhất trong văn học Nhật Bản.
1929 – Lễ trao Giải Oscar lần đầu tiên được tổ chức tại Hollywood, California, Hoa Kỳ.
1960 – Nhà vật lý học Theodore Maiman tiến hành laser hoạt động đầu tiên tại Phòng thí nghiệm HRL tại Malibu, California, Hoa Kỳ.
1966 – Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ban bố "Thông tri 16/5", Đại Cách mạng vǎn hoá vô sản bắt đầu tại Trung Quốc.
1966 – Ban nhạc The Beach Boys cho phát hành album Pet Sounds. Bob Dylan phát hành album Blonde on Blonde.
1975 – Nhà leo núi Nhật Bản Tabei Junko trở thành người phụ nữ đầu tiên chinh phục đỉnh Everest.
1975 – Sau khi bãi bỏ chế độ quân chủ, Sikkim chính thức trở thành một bang của Ấn Độ.
2007 – Nicolas Sarkozy nhậm chức Tổng thống Cộng hòa Pháp.
== Sinh ==
1825 - Đặng Huy Trứ, quan ngự sử ở triều đình nhà Nguyễn (m. 1874).
1966 - Janet Jackson, nữ ca sĩ Mỹ.
== Mất ==
1999 - Lê Tiến Phục, Thiếu tướng quân đội nhân dân Việt Nam (sinh 1922).
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
khí hậu nhiệt đới gió mùa.txt | Khí hậu nhiệt đới gió mùa hay còn gọi là khí hậu nhiệt đới ẩm là khí hậu tương ứng với nhóm Am theo phân loại khí hậu Köppen. Giống như khí hậu xavan (khí hậu ẩm và khô nhiệt đới), khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình tháng trên 18oC trong mỗi tháng trong năm và có mùa ẩm, khô đặc trưng, lượng mưa trung bình năm khoảng 1.000 - 1.500 mm ở nhiệt đới gió mùa châu Á.
Tuy nhiên, không giống với khí hậu xavan, tháng khô nhất của khí hậu nhiệt đới gió mùa có lượng giáng thủy ít hơn 60 mm/tháng, nhưng lớn hơn (100-[tổng lượng giáng thủy{mm}/25]). Quan trọng hơn, khí hậu nhiệt đới gió mùa thường không có mùa khô đáng kể như khí hậu xavan. Cuối cùng, khí hậu nhiệt đới gió mùa gặp ít sự thay đổi về nhiệt độ trong năm hơn khí hậu xavan. Đối với khí hậu này, mùa khô nhất thường xảy ra vào đông chí (đầu mùa đông) đối với phía đó của đường xích đạo.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa được tìm thấy phổ biến ở Nam Á và Tây Phi. Tuy nhiên, có những vùng của Đông Nam Á như Việt Nam hay Thái Lan, vùng Caribe, Bắc và Nam Mĩ có kiểu khí hậu này.
Nhân tố chính kiểm soát khí hậu nhiệt đới gió mùa là hướng gió mùa. Gió mùa là một loại gió đổi hướng theo mùa. Ở châu Á, vào mùa hè (mùa mặt trời cao), có một luồng không khí vào bờ. Vào mùa đông (mùa mặt trời thấp),luồng không khí ra bờ (thổi từ lục địa ra)thường xuất hiện. Sự thay đổi về hướng là do sự khác biệt trong cách nước và đất nóng lên.
Những cách thay đổi áp suất mà ảnh hưởng đến sự phân bố theo mùa của lượng giáng thủy cũng xuất hiện ở châu Phi; mặc dù thông thường nó khác với sự hoạt động ở châu Á.
== Những thành phố điển hình với khí hậu nhiệt đới gió mùa ==
Miami, Hoa Kỳ
Nassau, Cộng đồng Thịnh vượng Bahamas
San Juan, Puerto Rico
Santo Domingo, Cộng hoà Dominican
Medellín, Colombia
Chittagong, Bangladesh
Surat, Ấn Độ
Kochi, Ấn Độ
Mangalore, Ấn Độ
Quezon City, Philippines
Yangon, Myanma
Phuket, Thái Lan
Abidjan, Côte d'Ivoire(phiên âm: Cốt-đi-voa) (hay Bờ Biển Ngà)
Conakry, Guinée
Freetown, Sierra Leone
Monrovia, Liberia
Cairns, Úc
Huế, Việt Nam
Đà Nẵng, Việt Nam
== Đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ==
Mưa tập trung theo mùa và gió mùa:
+ Mùa mưa: tháng 5 - 10; có gió mùa hạ mát, gây mưa. + Mùa khô: tháng 11 - 4 (năm sau); có gió mùa đông lạnh khô.
Nhiệt độ trung bình trên 20-độ-C.
Mưa trung bình trên 1500mm.
Thời tiết diễn biến thất thường: hạn hán, lũ lụt...
Nhịp điệu mùa ảnh hưởng sâu sắc đến cảnh vật thiên nhiên và đời sống con người.
Thảm thực vật đa dạng: rừng rậm, đồng cỏ cao nhiệt đới, rừng rụng lá vào mùa khô, rừng ngập mặn...
Động vật trên cạn, dưới nước đều phong phú.
Là nơi trồng cây công nghiệp và lương thực.
Là nơi tập trung đông dân trên thế giới.(Nam Á)
== Một số biểu đồ ví dụ ==
== Chú thích == |
tiếng ý.txt | Tiếng Ý (italiano) là một ngôn ngữ thuộc nhóm Rôman của hệ Ấn-Âu và được dùng bởi khoảng 70 triệu người, đa số sinh sống tại Ý. Giọng Ý được xem như chuẩn hiện nay là giọng của vùng Toscana (tiếng Anh: Tuscany, tiếng Pháp: Toscane), nhất là giọng của những người sống tại thành phố Firenze (còn được gọi là Florence). Trên bán đảo Ý và các đảo phụ cận, nó được xem như đứng trung gian giữa các tiếng miền nam (thuộc nhánh phía Nam của nhóm Rôman) và các tiếng miền bắc (thuộc nhóm ngôn ngữ Gaul-Rôman, một phân nhóm của nhóm Rôman). Trong nhóm Rôman, nó là tiếng gần tiếng Latinh nhất và, giống như các ngôn ngữ khác trong nhóm, dùng rất nhiều trọng âm (stress) trong lối phát âm.
== Hệ thống chữ viết ==
Tiếng Ý sử dụng bảng chữ cái Latinh. Trong bảng chữ cái tiếng Ý tiêu chuẩn không có các ký tự J, K, W, X và Y, tuy nhiên chúng vẫn xuất hiện trong các từ tiếng Ý vay mượn như jeans (quần bò), whisky (rượu whisky) hay taxi (taxi). Để thay thế các âm tương ứng của các ký tự kể trên, có thể dùng gi thay cho j, c hoặc ch thay cho k; u hoặc v thay cho w; s, ss, hoặc cs thay cho x và i thay cho y (tùy cách phát âm từng từ). Để đánh dấu cách phát âm và cách đặt trọng âm, tiếng Ý cũng sử dụng dấu sắc và dấu huyền, ví dụ dấu huyền cho các chữ cái A, I, O và U ở cuối từ có nghĩa là trọng âm của từ được đặt vào nguyên âm đó (gioventù, tuổi trẻ).
Chữ cái H nằm ở đầu từ được dùng để phân biệt ho, hai, ha, hanno (thì hiện tại của động từ avere, có) với o, ai, a (các giới từ), anno (năm). Chữ cái này cũng xuất hiện ở đầu một số từ ngoại lai như hotel (khách sạn), trong đa số trường hợp H đều là âm câm (không được phát âm), ví dụ hotel được đọc là /oˈtɛl/.
== Lịch sử ==
Sự biến hóa từ tiếng Latinh sang tiếng Ý hiện đại là một quá trình tương đối phức tạp vì có rất nhiều ngôn ngữ đã được dùng tại bán đảo Ý trước, và trong khi, Đế quốc La Mã hình thành. Tuy tiếng Latinh cổ điển đã được dùng như một loại tiếng chính thức, dân tại các vùng khác nhau của đế quốc này tiếp tục dùng các thứ tiếng địa phương của họ. Khi cần, họ dùng một loại tiếng Latinh đã được đơn giản hóa rất nhiều trong các việc giao dịch với những người cầm quyền: đây là tiếng Latinh bình dân (Vulgar Latin). Trước khi tiếng Latinh bình dân có thể thống nhất hoàn toàn nhiều tiếng địa phương trong lãnh thổ của Đế quốc La Mã thì đế quốc này sụp đổ vào cuối thế kỷ thứ 5. Sự thống nhất "một nửa" này đã tạo ra một nhóm ngôn ngữ được dùng hiện nay tại Tây Âu – nhóm Rôman – mà trong đó tiếng Ý là một. Tiếng Ý, do đó, chịu ảnh hưởng không chỉ từ tiếng Latinh mà còn từ nhiều tiếng địa phương khác nữa.
Văn kiện tiếng Ý sớm nhất còn tồn tại là các mẫu đơn của vùng Benevento vào giữa thế kỷ thứ 10. Tuy nhiên, tất cả phải công nhận rằng tiếng Ý, như chúng ta biết hiện nay, chỉ thật sự ra đời sau khi Dante Alighieri viết tập thơ dài Thần khúc (La Divina Commedia) vào thế kỷ 14.
== Phân loại và các ngôn ngữ liên hệ ==
Tiếng Ý được các nhà ngôn ngữ học xếp vào nhánh Ý-Dalmatia, một phân nhánh của nhánh Ý-Tây thuộc nhóm Rôman của hệ Ấn-Âu.
Các tiếng gần tiếng Ý nhất là tiếng Napoli, tiếng Sicilia và tiếng Ý-Do Thái. Sau đó là các ngôn ngữ tại miền bắc của Ý như các tiếng Liguri, Lombard, Piemont.... Xa thêm tí nữa là các tiếng Romana, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp.
== Phân bổ địa lý ==
Tiếng Ý là ngôn ngữ chính thức tại các nơi sau đây: Ý, San Marino, Vatican, Thụy Sĩ và tại vài vùng của Croatia và Sloven. Các nước có một số người dùng tiếng Ý đáng kể là: Albania, Argentina, Brasil, Canada, Hoa Kỳ, Luxembourg, Malta, Úc và Venezuela. Ngoài ra một vài thuộc địa cũ của Ý như Somalia, Lybia và Eritrea vẫn còn một số người nói tiếng Ý.
=== Các loại và các giọng tiếng Ý ===
Tiếng Ý-Do Thái
Miền Bắc
Giọng Piemontese
Giọng Milanese (Milano)
Giọng Veneto (Venezia)
Giọng Modenese
Vùng Toscana
Giọng Toscana (Firenze, Pisa, Siena)
Giọng đảo Corsica
Trung ương
Giọng Romanesco (Roma)
Giọng Umbro
Giọng Marchigiano
Giọng Cicolano-Reatino-Aquilano
Miền Nam
Giọng Abruzzese
Giọng Campano (Napoli)
Giọng Lucano
Giọng Pugliese (Bari)
Miền cực Nam
Giọng đảo Sardinia
Giọng Salentino (Lecce)
Giọng Calabrese (Calabria)
Giọng Siciliano (Palermo)
== Ví dụ ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Học tiếng Ý bằng tiếng Anh trên BBC
Dizionario d'ortografia e di pronunzia - Từ điển phát âm tiếng Ý |
samsung galaxy fit.txt | Samsung Galaxy Fit S5670 là điện thoại thông minh sản xuất bởi Samsung chạy hệ điều hành Android.
Nó được công bố vào năm 2011 Mobile World Congress một trong bốn điện thoại tầm thấp của Samsung, cùng với Galaxy Ace, Galaxy Gio và Galaxy Mini.
== Tính năng chính ==
Đa chạm
Hỗ trợ Quad-Band GSM và dual-band 3G
7.2Mbit/s HSDPA
Màn hình cảm ứng 3,3in 65K-màu QVGA TFT
Bộ xử lý ARMv6 600 MHz, 286 MB RAM
Adreno 200 GPU
Android OS v2.2.1 (Froyo) với TouchWiz v3.0 UI, nâng cấp lên v2.3.6 (Gingerbread)
160 MB bộ nhớ trong, khe cắm MicroSD, bao gồm thẻ nhớ 2 GB
Máy ảnh 5 MP tự động lấy nét và thẻ địa lý
Thu GPS với A-GPS
FM radio với RDS và Radio Text
Jack cắm tai nghe 3.5 mm
Quick Office
Gia tốc và cảm biến gần
Bàn phím Swype
Cổng MicroUSB (sạc và chuyển dữ liệu) và stereo Bluetooth 2.1
Chỉnh sửa ảnh/video
La bàn
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy S series
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Website chính thức |
trẻ em.txt | Về mặt sinh học, trẻ em là con người ở giữa giai đoạn từ khi sinh và tuổi dậy thì. Định nghĩa pháp lý về một "trẻ em" nói chung chỉ tới một đứa trẻ, còn được biết tới là một người chưa tới tuổi trưởng thành.
Trẻ em cũng có thể được hiểu trong mối quan hệ gia đình với bố mẹ (như con trai và con gái ở bất kỳ độ tuổi nào) hoặc, với nghĩa ẩn dụ, hoặc thành viên nhóm trong một gia tộc, bộ lạc, hay tôn giáo, nó cũng có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi một thời gian, địa điểm cụ thể, hoặc hoàn cảnh, như trong "một đứa trẻ vô tư" hay "một đứa trẻ của những năm sáu mươi ".
== Các định nghĩa pháp lý ==
Hiệp ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ là "mọi con người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi trưởng thành được quy định sớm hơn." hiệp nước này được 192 của 194 nước thành viên phê duyệt. Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em của Việt Nam năm 2004 quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Một số định nghĩa tiếng Anh của từ trẻ em bao gồm thai nhi. Về mặt sinh học, một đứa trẻ là bất kỳ ai trong giai đoạn phát triển của tuổi thơ ấu, giữa sơ sinh và trưởng thành. Trẻ em nhìn chung có ít quyền hơn người lớn và được xếp vào nhóm không để đưa ra những quyết định quan trọng, và về mặt luật pháp phải luôn có người giám hộ.
Công nhận thời thơ ấu như là một trạng thái khác nhau từ bắt đầu tuổi trưởng thành xuất hiện trong các thế kỷ 16 và 17. Xã hội đã bắt đầu liên quan đến trẻ em không phải là một người lớn thu nhỏ nhưng là một người của một cấp dưới của sự trưởng thành cần người lớn bảo vệ, thương yêu và nuôi dưỡng. Sự thay đổi này có thể được xem xét trong các bức tranh: Trong thời Trung cổ, trẻ em được mô tả trong nghệ thuật như người lớn thu nhỏ với không có đặc điểm trẻ con. Trong thế kỷ 16, hình ảnh của trẻ em bắt đầu có sự khác biệt về yếu tố trẻ con. Từ cuối thế kỷ 17 trở đi, trẻ em đã được hiển thị qua các trò chơi. Đồ chơi và văn học cho trẻ em cũng bắt đầu phát triển vào thời điểm này.
== Những thái độ về trẻ em ==
Các thái độ xã hội về trẻ em thay đổi trên khắp thế giới tuỳ theo nền văn hoá. Những thái độ đó đã thay đổi theo thời gian. Một cuộc nghiên cứu năm 1988 về thái độ của châu Âu về tính trung tâm của trẻ em phát hiện rằng Italia là quốc gia đề cao tính trung tâm của trẻ em nhất và Hà Lan ít đề cao nhất, với các quốc gia khác, như Áo, Anh Quốc, Ireland và Tây Đức nằm ở giữa.
== Tuổi chịu trách nhiệm ==
Độ tuổi theo đó trẻ em bị coi là phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình cũng thay đổi theo thời gian, và nó được phản ánh theo cách chúng được đối xử tại các phiên toà của pháp luật. Thời La Mã, trẻ em bị coi là không có lỗi về các tội phạm, một lập trường sau này được Nhà thờ chấp nhận. Ở thế kỷ 19, trẻ em chưa tới bảy tuổi được cho là không phải chịu trách nhiệm về tội lỗi. Trẻ em từ bảy tuổi trở lên bị coi là phải chịu trách nhiệm về hành vi. Vì thế, chúng có thể phải đối mặt với các trách nhiệm tội phạm, bị gửi tới nhà tù của người lớn, và bị trừng trị như người lớn như đánh roi, đóng dấu ô nhục hay treo cổ. Ngày nay, ở nhiều quốc gia như Canada và Hoa Kỳ, trẻ em từ 12 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm cho hành động của chúng và có thể được gởi tới trung tâm giáo dục đặc biệt giống như các trường giáo dưỡng của Việt Nam cho trẻ vị thành niên.
Những cuộc điều tra đã phát hiện ra rằng ít nhất 25 quốc gia trên thế giới không có độ tuổi quy định cho giáo dục phổ cập. Độ tuổi lao động tối thiểu và độ tuổi kết hôn tối thiểu cũng khác biệt. Ở Việt Nam độ tuổi phải tự chịu trách nghiệm cho việc mình làm là từ 12- 18 tuổi. Tại ít nhất 125 quốc gia, trẻ em trong độ tuổi 7-15 có thể bị đưa ra toà và có thể bị bỏ tù vì các hành động tội phạm. Ở một số quốc gia, trẻ em bị buộc phải tới trường cho tới khi 14 hay 15 tuổi, nhưng cũng có thể làm việc trước độ tuổi đó. Quyền tiếp cận giáo dục của trẻ em có thể bị đe doạ vì việc kết hôn sớm, lao động trẻ em và việc bỏ tù.
Tại Việt Nam trẻ em được pháp luật quy định độ tuổi dưới 16, từ 16 đến 18 là vị thành niên.
== Sự hoà nhập xã hội của trẻ em ==
Tất cả trẻ em đều trải qua các giai đoạn phát triển xã hội. Một đứa bé hay một đứa trẻ rất ít tuổi có thể chơi một mình một cách hạnh phúc. Nếu một đứa trẻ khác đi tới, nó có thể bị tấn công thân thể hay bị đẩy đi. Sau đó, đứa trẻ có thể chơi với đứa trẻ khác, dần học cách chia sẻ và chờ đợi. Cuối cùng nhóm phát triển lớn hơn, tới ba hay bốn đứa trẻ. Tới khi đứa trẻ vào trường mẫu giáo, nó thường sẽ vui vẻ gia nhập và có trải nghiệm với nhóm.
Trẻ em với ADHD và không có khả năng học có thể cần sự giúp đỡ đặc biệt để phát triển các khả năng xã hội. Các đặc điểm bốc đồng của một đứa trẻ ADHD có thể dẫn tới quan hệ đồng tuổi kém. Trẻ em có khoảng chú ý kém có thể không hoà nhập vào các quy tắc xã hội trong môi trường của chúng, khiến chúng khó học được các kỹ năng xã hội thông qua kinh nghiệm.
== Các tác giả viết nhiều về trẻ em ==
=== Nhạc sĩ ===
Phạm Tuyên
=== Nhà văn ===
Nhà văn Võ Quảng
Nhà văn Đoàn Giỏi
Nhà văn Trần Hoài Dương
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng
Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh
=== Nhà thơ ===
Nhà thơ Định Hải
Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn
Nhà thơ Phạm Hổ
== Xem thêm ==
Phát triển trẻ em
Elterngeld
Tuổi kết hôn
Bảo vệ trẻ thơ
Quảng cáo trẻ em
Danh sách các chủ đề trẻ em
Quyền trẻ em
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam
Đừng quên quyền vui chơi của trẻ
LHQ thông qua nghị quyết về quyền trẻ em
Một số quy định của pháp luật quốc tế và một số quốc gia về vấn đề quyền của người chưa thành niên phạm tội |
agat.txt | Agat (a-gát), hay đá mã não, là một biến thể dạng vi kết tinh của thạch anh (silica), chủ yếu là canxedon, đặc trưng bởi các hạt mịn và màu sáng. Mặc dù agat có thể được tìm thấy trong nhiều loại đá khác nhau, chúng chủ yếu liên quan đến các đá núi lửa nhưng cũng có thể phổ biến trong một số loại đá biến chất nhất định.
Agat và canxedon có nhiều màu sắc khác nhau đã được sử dụng cách đây hơn 3.000 ở vùng sông Achates, ngày nay là Dirillo, ở Sicilia.
Tên gọi này được nhà triết học và nhà tự nhiên học người Hy Lạp Theophrastus đặt, ông đã phát hiện loại đá này dọc theo bờ sông Achates (tiếng Hy Lạp: Ἀχάτης) vào khoảng thế kỷ thứ 4 và thứ 3 TCN. Agat là một trong những khoáng vật phổ biến nhất được sử dụng trong nghệ thuật khắc đá, và đã được khai quật ở một số điểm khảo cổ, điều đó cho thấy rằng chúng được sử dụng phổ biến trong thế giới cổ đại; như di chỉ khảo cổ ở Knossos, Crete minh họa cho văn hóa Minoa thời kỳ đồ đồng.
== Xem thêm ==
Danh sách khoáng vật
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
The Nomenclature of Silica by Gilbert Hart, American Mineralogist, Volume 12, pages 383-395, 1927
International Colored Gemstone Association
Mindat data
Schumann, Walter. Gemstones of the World. 3rd edition. New York: Sterling, 2006.
Moxon, Terry. "Agate. Microstructure and Possible Origin". Doncaster, S. Yorks, UK, Terra Publications, 1996.
Pabian, Roger, et al. "Agates. Treasures of the Earth". Buffalo, New York, Firefly Books, 2006.
Cross, Brad L. and Zeitner, June Culp. "Geodes. Nature's Treasures". Bardwin Park, California, Gem Guides Book Co. 2005. |
samsung galaxy a7 (2016).txt | Samsung Galaxy A7 (2016) là điện thoại thông minh do Samsung Electronics sản xuất. Dòng điện thoại này được Samsung giới thiệu vào ngày 2 tháng 12 năm 2015, cùng với những dòng điện thoại khác là Samsung Galaxy A3 (2016), Samsung Galaxy A5 (2016) và Samsung Galaxy A9 (2016)
Samsung Galaxy A7 (2016) chạy hệ điều hành Android 5.1.1 Lollipop và có thể nâng cấp lên Android 6.0.1 Marshmallow. Chipset Exynos 7580, với 8 nhân trên nền tảng 64-bit. Chip đồ họa Mali-T720MP2 và RAM 3GB.
Samsung Galaxy A7 (2016) được giới thiệu ở Trung Quốc vào ngày 15 tháng 12 năm 2015, các nước khác vào quý 1 năm 2016. Đến tháng 4 năm 2016, Samsung Galaxy A7 (2016) đã có mặt ở thị trường Đông Âu, Châu Phi, Trung Đông, Mỹ Latinh và Châu Á.
== Chú thích == |
an giang.txt | An Giang là tỉnh có dân số đông nhất và diện tích đứng thứ 4 (sau tỉnh Kiên Giang, tỉnh Cà Mau và tỉnh Long An) ở miền Tây Nam Bộ (còn gọi là vùng đồng bằng sông Cửu Long), Việt Nam. Một phần diện tích của tỉnh An Giang nằm trong vùng tứ giác Long Xuyên.
An Giang là một trong sáu tỉnh đầu tiên ở Nam Kỳ (Nam Kỳ lục tỉnh) vào thời nhà Nguyễn độc lập, thành lập năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Tỉnh An Giang bị giải thể dưới thời Pháp thuộc và sau đó lại được chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập, tồn tại từ cuối năm 1956 cho đến ngày nay.
Tháng 7 năm 2013, An Giang là tỉnh đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long có 2 thành phố trực thuộc tỉnh là Long Xuyên và Châu Đốc. Tháng 4 năm 2015, An Giang là tỉnh đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long có 2 đô thị loại II.Thành phố Long Xuyên nằm bên bờ sông Hậu, có truyền thống văn hóa đặc trưng của một thành phố miền Tây với chợ nổi trên sông và nhiều di tích thắng cảnh khác. Thành phố Châu Đốc là thành phố biên giới, cũng nằm bên bờ sông Hậu, nổi tiếng với cụm di tích và thắng cảnh ở núi Sam. Hiện nay, tỉnh lỵ tỉnh An Giang được đặt tại thành phố Long Xuyên.
== Vị trí địa lý ==
An Giang có diện tích 3.536,7 km², phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp, phía bắc vầ tây bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài gần 104 km, phía tây nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía nam giáp thành phố Cần Thơ.
Điểm cực Bắc trên vĩ độ 10057' (xã Khánh An, huyện An Phú), cực Nam trên vĩ độ 10012' (xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn), cực Tây trên kinh độ 1040 46' (xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn), cực Đông trên kinh độ 105035' (xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới). Chiều dài nhất theo hướng Bắc Nam là 86 km và Đông Tây là 87,2 km.
Với vị trí đó An Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm có 2 mùa rõ rệt gồm mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27 độ C, lượng mưa trung bình năm khoảng 1.130 mm. Độ ẩm trung bình 75 – 80%, khí hậu cơ bản thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.
== Dân cư ==
Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh là 2.151.000 người, mật độ dân số 608 người/km². Đây là tỉnh có dân số đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Toàn tỉnh có 24.011 hộ dân tộc thiểu số, với 114.632 người, chiếm 5,17% tổng dân số toàn tỉnh.
Dân tộc Khmer có 18.512 hộ, 86.592 người, chiếm tỷ lệ 75,54% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 3,9% so tổng dân số toàn tỉnh; trong đó có 16.838 hộ với dân số khoảng 80.000 người (chiếm gần 92% tổng số dân tộc Khmer toàn tỉnh) sống tập trung ở 2 huyện miền núi: Tri Tôn và Tịnh Biên, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn. Hầu hết đồng bào dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông, có mối quan hệ rộng rãi với đồng bào dân tộc Khmer các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer ở Campuchia. Nguồn thu nhập chủ yếu của đồng bào Khmer từ trồng trọt, chăn nuôi gia đình và làm thuê mướn theo thời vụ.
Dân tộc Chăm có 2.660 hộ, 13.722 người, chiếm tỷ lệ gần 12% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,62% so tổng dân số toàn tỉnh, sống tập trung khá đông ở huyện An Phú và thị xã Tân Châu, số còn lại sống rải rác ở các huyện: Châu Phú và Châu Thành. Hầu hết đồng bào Chăm theo đạo Hồi, có mối quan hệ với tín đồ Hồi giáo các nước Ả Rập, Malaysia, Indonesia, Campuchia. Nguồn thu nhập chính bằng nghề chài lưới, buôn bán nhỏ và dệt thủ công truyền thống.
Dân tộc Hoa có 2.839 hộ, 14.318 người, chiếm tỷ lệ 12,50% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 0,65% tổng dân số toàn tỉnh. Đại bộ phận sống ở thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, có mối quan hệ chặt chẽ với người Hoa trong vùng và nhiều nước trên thế giới. Đồng bào người Hoa phần lớn theo Phật giáo Đại thừa, đạo Khổng và tín ngưỡng dân gian. Một bộ phận lớn kinh doanh thương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có cuộc sống ổn định, thu nhập khá hơn so với các dân tộc khác.
Về tôn giáo, An Giang là nơi xuất phát của một số tôn giáo nội sinh như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hòa Hảo... An Giang hiện có 9 tôn giáo được Nhà nước công nhận, gồm: Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Công giáo, Tin Lành, Tịnh Độ Cư sĩ, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hồi giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương, với gần 1,8 triệu tín đồ (chiếm 78% dân số toàn tỉnh), 487 cơ sở thờ tự hợp pháp, 602 chức sắc và trên 3.400 chức việc.
== Lịch sử ==
=== Tỉnh An Giang thời phong kiến ===
Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn thì, đất An Giang (Khmer: ខេត្តមាត់ជ្រូក xưa là đất Tầm Phong Long nước Chân Lạp (vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu). Đến năm 1757 (Đinh Sửu), quốc vương Chân Lạp là Nặc Tôn (Outey II) dâng đất này cho chúa Nguyễn. Từ thời thuộc Chân Lạp cho đến tận đầu nhà Nguyễn, đất An Giang còn hoang hóa, rất ít dân cư. Những năm đầu thời vua Gia Long, nhà Nguyễn mới tổ chức mộ dân đến khai hoang định cư, và cho thuộc vào thuộc trấn Vĩnh Thanh (1 trong 5 trấn của thành Gia Định). Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), Minh Mạng chia trấn Vĩnh Thanh thành hai tỉnh An Giang và Vĩnh Long. Tỉnh An Giang (chữ Hán: 安江), đồng thời chia thành 2 phủ (với 4 huyện): phủ Tuy Biên (gồm 2 huyện: Tây Xuyên, Phong Phú), phủ Tân Thành (gồm 2 huyện: Đông Xuyên và Vĩnh An). Cùng lúc, đặt ra chức An-Hà tổng đốc thống lĩnh cả hai tỉnh An Giang và Hà Tiên, lỵ sở đặt tại tỉnh thành Châu Đốc của tỉnh An Giang. Địa bàn tỉnh An Giang thời bấy giờ tương ứng với An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng và một phần tỉnh Đồng Tháp ngày nay.
Tháng 4 âm năm 1824, Nặc Ông Chân (Ang Chan II), hiến tặng nhà Nguyễn thông qua Nguyễn Văn Thoại (để trả ơn Thoại), 3 vùng Chân Sum (còn gọi là Chân Thành hay Chân Chiêm, nằm giữa Giang Thành và Châu Đốc), Mật Luật (Ngọc Luật, cũng nằm giữa Giang Thành và Châu Đốc), Lợi Kha Bát (Prey Kabbas tỉnh Takeo). Nhà Nguyễn chỉ lấy 2 đất Chân Sum và Mật Luật (Mật Luật sau thành đất huyện Tây Xuyên). Chân Sum sau được phân vào hai huyện Hà Âm và Hà Dương từng thuộc phủ Tĩnh Biên tỉnh Hà Tiên, trước khi chia về cho tỉnh An Giang.
Năm 1833, tỉnh An Giang bị quân Lê Văn Khôi nổi dậy chiếm đóng, nhà Nguyễn phải điều binh đánh dẹp, cuối cùng Án sát An Giang là Bùi Văn Lý lấy lại được tỉnh thành (Châu Đốc) từ tay quân của Khôi. Năm 1833-1834, quân nước Xiêm La, theo cầu viện của Khôi, tiến vào An Giang theo đường sông Cửu Long đánh nhà Nguyễn, bị quân nhà Nguyễn do Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân đánh bại trên sông Vàm Nao.
Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà Nguyễn lấy thêm đất Ba Thắc (Bassac, thuộc Cao Miên) sáp nhập vào An Giang và lập thành phủ Ba Xuyên. Đất Ba Thắc cũ chia thành 2 huyện Phong Nhiêu và Phong Thịnh. Đồng thời nhập thêm huyện Vĩnh Định của tỉnh Vĩnh Long vào phủ Ba Xuyên, khiến phủ Ba Xuyên có 3 huyện: Phong Nhiêu, Phong Thịnh và Vĩnh Định.
Phân chia hành chánh tỉnh An Giang năm 1836:
Phủ Tân Thành:
Huyện Vĩnh An:
Tổng An Hội gồm 1 xã Sùng Văn và 4 thôn: An Tịch, Tân Lâm, Tân Qui Đông, Tân Xuân
Tổng An Mỹ gồm 7 thôn: An Thuận, Phú An, Phú Hựu, Phú Nhơn, Tân An Đông, Tân Hựu, Tân Nhơn;
Tổng An Thạnh gồm 7 thôn: Hội An, Mỹ An, Tân An Trung, Tân Đông, Tân Khánh, Tân Khánh Tây, Tân Mỹ;
Tổng An Thới gồm 5 thôn: Nhơn Qưới, Tân Dương, Tân Long, Tân Thạnh, Vĩnh Thạnh;
Tổng An Tĩnh gồm 3 thôn: Phú An Đông, Tân Thuận, Tân Tịch;
Tổng An Trung gồm 6 thôn: Bình Tiên, Tân Phú Đông, Tân Phú Trung, T6an Phú, Tân Qui Tây, Vĩnh Phước;
Tổng An Trường gồm 8 thôn: Định Hòa, Đông Thành, Đông Thành Trung, Kim Bồn, Mỹ Thuận, Phù Ly, Tân Lộc Trung, Tân Phong;
Huyện Vĩnh Định:
Tổng Định An gồm 3 thôn: Đông Phú, Long Hưng, Phú Mỹ Đông;
Tổng Định Bảo gồm 8 thôn: Nhơn Ái, Tân An, Tân Lợi, Tân Thạnh Đông, Thới Bình, Thường Thạnh, Thường Thạnh Đông, Trường Thành;
Tổng Định Khánh gồm 11 thôn: An Khánh, An Thạnh Nhì, An Thạnh Nhứt, Châu Hưng, Châu Khánh, Đại Hòa, Đại Hữu, Đại Thạnh, Hòa Mỹ, Phong Phú, Phú Hữu;
Tổng Định Thới gồm 6 thôn: Bình Thủy, Phú Long, Tân Lộc Đông, Thới An, Thới An Đông, Thới Hưng;
Phủ Tuy Biên:
Huyện Đông Xuyên:
Tổng An Lương gồm 12 thôn: Bình Thạnh Đông, Hòa Thạnh, Lý Nhơn, Mỹ Hội Đông, Nhơn An, Nhơn Lương, Tân Hưng, Toàn Đức, Vĩnh Hậu, Vĩnh Lộc, Vĩnh Toàn, Mỹ Lương;
Tổng An Phú gồm 7 thôn: An Hòa, Bình Hòa Tây, Nhơn Hòa, Tân Bình, Định An, Long Hậu, Tân Lộc;
Tổng An Thành gồm 10 thôn: Long Hưng, Long Khánh, Long Sơn, Phú Lâm, Tân An, Tân Thiện, Vĩnh Hòa, Vĩnh Lạc, Vĩnh Lợi, Vĩnh Xương;
Tổng An Toàn gồm 9 thôn: Kiến Long, Kiến Thạnh, Mỹ Chánh, Mỹ Hưng, Mỹ Long, Mỹ Phú, Toàn Đức, Toàn Đức Đông, Tú Điền;
Huyện Tây Xuyên:
Tổng Châu Phú gồm 29 thôn: An Nông, An Thạnh, Bình Thạnh, Hưng An, Khánh An, Long Thạnh, Nhơn Hòa, Nhơn Hội, Phú Cường, Thân Nhơn Lý, Thới Hưng, Vĩnh Bảo, Vĩnh Điều, Vĩnh Hội, Vĩnh Khánh, Vĩnh Lạc, Vĩnh Ngươn, Vĩnh Phước, Vĩnh Tế Sơn, Vĩnh Thành, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Thọ, Vĩnh Thông, Vĩnh Trung, Vĩnh Trường, Châu Phú, Vĩnh Gia, Vĩnh Hòa Trung, Vĩnh Lạc Trung;
Tổng Định Phước gồm 9 thôn: Mỹ Phước, Mỹ Thạnh, Tân Thuận Đông, Thạnh Hòa Trung, Thoại Sơn, Thới Thuận, Vĩnh Chánh, Vĩnh Phú, Vĩnh Trinh;
Tổng Định Thành gồm 6 thôn: Bình Đức, Bình Hòa Trung, Bình Lâm, Bình Mỹ, Vĩnh Thạnh Trung, Vĩnh Thuận.
Năm Minh Mạng 20 (1839), nhà Nguyễn đặt thêm huyện An Xuyên (tách từ phần đất huyện Vĩnh An ra) lệ thuộc vào phủ Tân Thành. Cùng năm này, nhà Nguyễn còn cắt đất huyện Chân Thành phủ Chân Chiêm thuộc Trấn Tây Thành (xứ Cao Miên do nhà Nguyễn bảo hộ) hợp với phần đất cắt từ huyện Tây Xuyên để lập hai huyện Hà Dương (ở bờ Nam sông Vĩnh Tế) và Hà Âm (ở bờ Bắc sông Vĩnh Tế) của tỉnh Hà Tiên (sau chuyển sang tỉnh An Giang), nhập thêm thổ huyện Ô Môn (tên gọi cũ của vùng đất thuộc Cao Miên (Trấn Tây Thành) có nhiều người Khmer sinh sống) vào thành huyện Phong Phú, thổ huyện Mật Luật (Ngọc Luật) của Trấn Tây Thành vào huyện Tây Xuyên.
Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), Thiệu Trị trích phủ Tĩnh Biên cùng huyện Hà Dương của tỉnh Hà Tiên, sáp nhập vào An Giang. Năm 1844, trích thêm huyện Hà Âm của tỉnh Hà Tiên nhập vào phủ Tĩnh Biên, lúc này phủ Tĩnh Biên gồm các huyện Hà Âm, Hà Dương. Năm Tự Đức thứ 3 (1850), nhà Nguyễn bỏ phủ Tĩnh Biên, cho nhập 2 huyện Hà Âm và Hà Dương vào phủ Tuy Biên. Vào thời vua Tự Đức tỉnh An Giang gồm có 3 phủ với 10 huyện: Hà Âm, Hà Dương, Phong Phú, Tây Xuyên, Đông Xuyên, Vĩnh An, An Xuyên, Phong Nhiêu, Phong Thịnh, Vĩnh Định.
Phủ Tuy Biên (绥边):
Huyện Hà Âm, trước là đất huyện Châu Thành nước Cao Miên, gồm 2 tổng (có thể là 2 tổng với tên là Thành Tín và Quy Đức, sau này được tổ chức lại thành 2 tổng nằm ngay bên bờ kênh Vĩnh Tế của tỉnh Châu Đốc năm 1901) với 40 làng xã (Vĩnh Thông, Vĩnh Bảo, Vĩnh Lạc, Vĩnh Gia, Vĩnh Điều, Thân Nhơn Lý (Thân Nhân Lý),...), phía tây giáp huyện Hà Châu tỉnh Hà Tiên, phía nam giáp huyện Hà Dương, phía đông giáp huyện Tây Xuyên, phía bắc giáp nước Cao Miên. Theo Đại Nam nhất thống chí: huyện Hà Âm nằm bên trái (tả, tức bờ phía tây bắc) sông Vĩnh Tế. Như vậy, vào thời này, vùng đất huyện Hà Âm thuộc phần đất giáp biên giới của Campuchia với Việt Nam, tức là phần đất huyện Kiri Vong, và có thể cả phần đất các huyện Kaoh Andaet, Bourei Cholsar thuộc tỉnh Takeo Campuchia.
Huyện Hà Dương (河陽), nguyên là đất huyện Chân Thành nước Cao Miên, gồm 4 tổng (Thành Tâm, Thành Ý, Thành Lễ, Thành Ngãi (hay Thành Nghĩa)) với 40 làng xã (Vĩnh Quới, Hưng Nhượng, An Nông, An Thạnh, Phú Thạnh, Nhơn Hòa, Thới Sơn, Tà Đảnh, Thuyết Nạp, Trát Quan, Tu Tế, Văn Giáo, Vĩnh Trung, Xuân Tô, An Cư, Ba Chút, Bích Trì, Bôn Ca, Châu Lăng, Lê Huất, Lương Đô, Phi Yên, Trầm Văn, An Tức, Đôn Hậu, Giai Âm, Nam Qui, Phi Cấm, Tri Tôn, Cô Tô, Nam Chỉ, Ngôn Nạp, Ô Lâm,...), phía tây giáp huyện Hà Châu tỉnh Hà Tiên, phía nam giáp huyện Kiên Giang tỉnh Hà Tiên, phía đông giáp huyện Tây Xuyên, phía bắc giáp huyện Hà Âm. Đất huyện Hà Dương vào thời nay thuộc các huyện Châu Thành, Thoại Sơn và Tri Tôn của tỉnh An Giang.
Huyện Phong Phú (豐富) từng là đất huyện Vĩnh Định và đất thổ huyện Ô Môn (của Cao Miên), gồm 3 tổng với 31 làng xã, phía tây giáp huyện Kiên Giang tỉnh Hà Tiên, phía nam giáp huyện Vĩnh Định (phủ Ba Xuyên), phía bắc giáp 2 huyên Tây Xuyên và An Xuyên (phủ Tân Thành). Đất huyện Phong Phú nay có thể là đất thuộc các quận huyện Thốt Nốt, Ô Môn,... của thành phố Cần Thơ. Đại Nam nhất thống chí chép: "Sông Cần Thơ ở bờ Tây sông Hậu Giang, cách huyện Phong Phú 3 dặm về phía đông,..., bờ phía tây là thủ sở đạo Trấn Giang cũ,..."
Huyện Tây Xuyên (西川) nguyên là đất đạo Châu Đốc cùng huyện Vĩnh Định và thổ huyện Mật Luật (của Cao Miên), nằm ở bờ Tây sông Hậu Giang, gồm 3 tổng (Châu Phú, Định Thành, Định Phước) với 38 làng xã, phía tây giáp huyện Hà Dương, phía nam giáp huyện Long Xuyên tỉnh Hà Tiên, phía đông và phía bắc giáp huyện Đông Xuyên (phủ Tân Thành). Đất huyện Tây Xuyên nay có thể là đất thuộc các huyện thị Châu Đốc, An Phú, Châu Phú, Châu Thành, thành phố Long Xuyên,... của tỉnh An Giang.
Phủ Tân Thành (新成):
Huyện Đông Xuyên nguyên là đất huyện Vĩnh Định (gồm đạo Tân Châu) nằm ở phía đông sông Hậu Giang (giữa sông Tiền và sông Hậu), gồm 4 tổng với 33 làng xã, phía tây và phía nam giáp huyện Tây Xuyên, phía đông giáp các huyện Kiến Đăng, (Kiến Phong) tỉnh Định Tường, phía bắc giáp nước Cao Miên. Đất huyện Đông Xuyên nay có thể là thuộc đất các huyện thị Tân Châu, An Phú, Phú Tân,... của tỉnh An Giang.
Huyện Vĩnh An (永安) gồm 4 tổng với 36 làng xã, phía tây giáp huyện Phong Phú, phía nam và phía đông giáp huyện An Xuyên, phía bắc giáp huyện Kiến Phong tỉnh Định Tường. Đất huyện Vĩnh An có thể nay là đất thuộc huyện Chợ Mới và một số huyện phía nam tỉnh Đồng Tháp (nằm giữa sông Tiền và sông Hậu) là: Lấp Vò, Lai Vung, thị xã Sa Đéc (đạo Đông Khẩu). Theo Đại Nam nhất thống chí thì đạo Đông Khẩu ở bờ Nam sông Sa Đéc thuộc địa phận huyện Vĩnh An.
Huyện An Xuyên (安川) gồm 3 tổng với 25 làng xã, phía tây giáp huyện Phong Phú, phía nam giáp huyện Vĩnh Định, phía đông giáp tỉnh Vĩnh Long, phía bắc giáp tỉnh Định Tường. Đất huyện An Xuyên có thể nay thuộc các huyện thị phía nam tỉnh Đồng Tháp (nằm giữa sông Tiền và sông Hậu) là: Lấp Vò, Lai Vung,Châu Thành,... và có thể là cả đất huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long ngày nay.
Phủ Ba Xuyên (巴川):
Huyện Vĩnh Định (永定) nguyên trước là huyện Vĩnh Định tỉnh Vĩnh Long nhà Nguyễn sau cắt sang An Giang, gồm 4 tổng (Định Thới, Định An, Định Khánh, và Trấn Giang (tức Cần Thơ)) với 19 làng xã, phía tây giáp huyện Phong Nhiêu, phía nam giáp huyện Phong Thịnh, phía đông và phía bắc giáp tỉnh Vĩnh Long nhà Nguyễn. Đất huyện Vĩnh Định nay có thể là vùng đất giáp bờ sông Hậu Giang thuộc các tỉnh Hậu Giang (chủ yếu), Sóc Trăng (một phần).
Huyện Phong Nhiêu (豐饒), gồm 3 tổng với 17 làng xã, phía tây giáp huyện Kiên Giang tỉnh Hà Tiên, phía nam giáp biển Đông, phía đông và phía bắc giáp huyện Vĩnh Định. Nay đất huyện Phong Nhiêu có thể thuộc phần phía tây 2 tỉnh Hậu Giang và Sóc Trăng, cùng phần phía đông hay toàn bộ tỉnh Bạc Liêu.
Huyện Phong Thịnh (豐盛), đến năm Tự Đức thứ 3 (1850) bị nhập vào cùng huyện Vĩnh Định với sự kiêm quản của phủ lỵ nên bị xóa tên. Toàn bộ đất huyện Phong Thịnh có thể là nằm trọn vẹn trong địa bàn tỉnh Sóc Trăng ngày nay.
Các tổng đốc An Giang-Hà Tiên của nhà Nguyễn:
Các Tuần phủ (tỉnh trưởng) An Giang nhà Nguyễn
=== Tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc thời Pháp thuộc ===
Năm 1868, thực dân Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ là An Giang, Vĩnh Long và Hà Tiên. Lúc này, thực dân Pháp dần xóa bỏ tên gọi tỉnh An Giang cùng hệ thống hành chính phủ huyện cũ thời nhà Nguyễn ở khu vực này, đồng thời cũng đặt ra các hạt Thanh tra. Theo đó, tỉnh An Giang bị đổi tên thành tỉnh Châu Đốc, do lấy theo tên gọi nơi đặt lỵ sở của tỉnh là thành Châu Đốc. Tỉnh Châu Đốc khi đó gồm các hạt Thanh tra, vốn lấy tên gọi theo địa điểm nơi đặt lỵ sở như: hạt Châu Đốc (phủ Tuy Biên cũ), hạt Sa Đéc (phủ Tân Thành cũ) và hạt Ba Xuyên (phủ Ba Xuyên cũ):
Hạt Châu Đốc (phủ Tuy Biên cũ), đặt lỵ sở tại Châu Đốc, gồm 2 huyện: Đông Xuyên và Hà Dương
Hạt Sa Đéc (phủ Tân Thành cũ), đặt lỵ sở tại Sa Đéc, gồm 3 huyện: An Xuyên, Vĩnh An và Phong Phú
Hạt Ba Xuyên (phủ Ba Xuyên cũ), đặt lỵ sở tại Sóc Trăng, gồm 3 huyện: Vĩnh Định, Phong Nhiêu và Phong Thạnh
Sau này, hạt Thanh tra Ba Xuyên cũng được đổi tên thành hạt Thanh tra Sóc Trăng. Về sau, hạt Thanh tra Châu Đốc cũng tách ra để thành lập thêm hạt Thanh tra Long Xuyên; hạt Thanh tra Sa Đéc tách ra hợp với một phần đất thuộc tỉnh Vĩnh Long trước đây để thành lập hạt Thanh tra Trà Ôn. Một năm sau, Toà Bố từ Trà Ôn lại dời về Cái Răng.
Ngày 5 tháng 6 năm 1871, hạt Thanh tra Long Xuyên và hạt Thanh tra Châu Đốc nhận thêm phần đất đai thuộc địa bàn tổng Phong Thạnh vốn thuộc huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường vào thời nhà Nguyễn độc lập như sau:
Hạt Châu Đốc: lấy phần đất 3 làng An Bình, An Long và Tân Thạnh thuộc tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong. Phần đất này nằm ở phía tây bắc Đồng Tháp Mười, sau gọi là tổng An Phước thuộc hạt Châu Đốc.
Hạt Long Xuyên: lấy địa phận các làng Tân Phú, Tân Thạnh của tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong để lập tổng mới gọi là tổng Phong Thạnh Thượng thuộc hạt Long Xuyên.
Theo Nghị định ngày 5 tháng 1 năm 1876, thực dân Pháp bỏ hẳn hệ thống Nam Kỳ lục tỉnh thời nhà Nguyễn, đồng thời các hạt Thanh tra được thay bằng hạt tham biện (arrondissement), các thôn đổi thành làng. Vùng đất Nam Kỳ lúc này bị chia thành 4 khu vực hành chính (circonscription) do thực dân Pháp đặt ra, trong đó có khu vực Bassac (Hậu Giang) cai quản các hạt tham biện: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Trà Ôn và Sóc Trăng. Tuy nhiên, hạt tham biện Sa Đéc lại thuộc về khu vực Vĩnh Long. Ngày 23 tháng 2 năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định mới lấy huyện Phong Phú và một phần huyện An Xuyên và Tân Thành để lập hạt Cần Thơ với thủ phủ là Cần Thơ. Hạt Cần Thơ thuộc khu vực Bassac (Hậu Giang).
Năm 1882, thiết lập hạt tham biện Bạc Liêu trên cơ sở tách 3 tổng Quảng Long, Quảng Xuyên và Long Hưng của hạt tham biện Rạch Giá hợp với 2 tổng Thạnh Hòa và Thạnh Hưng tách từ hạt tham biện Sóc Trăng chuyển sang. Lỵ sở Bạc Liêu thuộc địa bàn tổng Thạnh Hòa vốn trước đó thuộc hạt tham biện Sóc Trăng. Như vậy địa bàn tỉnh An Giang cũ gồm các hạt tham biện Sa Đéc, Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng và Bạc Liêu nằm trong 2 khu vực Vĩnh Long và Bassac (Hậu Giang).
Ngày 12 tháng 8 năm 1888, hạt tham biện Rạch Giá bị giải thể, nhập vào hạt tham biện Long Xuyên. Ngày 27 tháng 12 năm 1892, thực dân Pháp lại tái lập hạt tham biện Rạch Giá. Năm 1888, Hà Tiên cho thuộc về hạt tham biện Châu Đốc, đến cuối năm 1892 lại phục hồi hạt tham biện Hà Tiên.
Theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương vào ngày 20 tháng 12 năm 1899 thì kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, đổi tất cả các hạt ở Nam Kỳ thành tỉnh. Địa bàn tỉnh An Giang cũ chia ra thành 6 tỉnh giống như thời kỳ trước đây: tỉnh Châu Đốc, tỉnh Long Xuyên, tỉnh Sa Đéc, tỉnh Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Bạc Liêu. Tình hình đó kéo dài cho đến năm 1956.
Vào thời Pháp thuộc, vùng đất tỉnh An Giang ngày nay (thuộc Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là phần đất thuộc tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên. Phần đất của hai tỉnh này khi đó còn bao gồm cả một phần đất thuộc về tỉnh Đồng Tháp ngày nay.
==== Tỉnh Châu Đốc ====
Năm 1903, tỉnh Châu Đốc ban đầu có 3 quận: Tân Châu, Tri Tôn và Tịnh Biên. Năm 1917, tỉnh Châu Đốc thành lập thêm quận Châu Thành, đến năm 1919 thì đổi tên là quận Châu Phú. Tuy nhiên năm 1939 lại đổi về tên quận Châu Thành như cũ. Ngày 19 tháng 12 năm 1929, thực dân Pháp lập thêm quận Hồng Ngự thuộc tỉnh Châu Đốc do tách ra từ quận Tân Châu cùng tỉnh.
Tỉnh lỵ Châu Đốc đặt tại làng Châu Phú thuộc tổng Châu Phú, quận Châu Thành. Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, tỉnh Hà Tiên bị giải thể, trở thành một quận thuộc tỉnh Châu Đốc. Sau đó, lại tách ra trở thành tỉnh Hà Tiên độc lập như trước.
==== Tỉnh Long Xuyên ====
Năm 1917, thực dân Pháp cho thành lập ở tỉnh Long Xuyên 3 quận trực thuộc: Châu Thành, Chợ Mới và Thốt Nốt. Năm 1953, tỉnh Long Xuyên thành lập thêm hai quận mới là Núi Sập và Lấp Vò. Quận Núi Sập được thành lập do tách tổng Định Phú ra khỏi quận Châu Thành; quận Lấp Vò được thành lập do tách tổng An Phú ra khỏi quận Thốt Nốt cùng tỉnh.
Tỉnh lỵ Long Xuyên thuộc khu vực hai làng Bình Đức và Mỹ Phước cùng thuộc tổng Định Phước, quận Châu Thành. Dựa theo các Sắc lệnh ngày 31 tháng 1 năm 1935 và 16 tháng 12 năm 1938, thị xã Long Xuyên trực thuộc tỉnh Long Xuyên được thành lập bao gồm phần đất nội ô tỉnh lỵ trước đó. Ngày 29 tháng 12 năm 1952, chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp quyết định công nhận đô thị tỉnh lỵ Long Xuyên trở thành thị xã hỗn hợp (commune mixte) Long Xuyên trực thuộc tỉnh Long Xuyên.
=== Giai đoạn 1945-1954 ===
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên nằm trong danh sách 21 tỉnh ở Nam Bộ. Lúc này, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ chủ trương bỏ cấp tổng, bỏ đơn vị làng, thống nhất gọi là xã, đồng thời bỏ danh xưng quận, gọi thay thế bằng huyện. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã, tuy nhiên vẫn gọi là quận cho đến năm 1975.
Ngày 19 tháng 5 năm 1947, Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam Kỳ tự trị thân Pháp quyết định tách đất quận Thốt Nốt để lập thêm quận Lấp Vò ban đầu cùng thuộc tỉnh Long Xuyên; quận lỵ đặt tại Lấp Vò (thuộc làng Bình Đông). Ngày 14 tháng 5 năm 1949, chính quyền Việt Minh lại quyết định tách quận Lấp Vò ra khỏi tỉnh Long Xuyên để nhập vào tỉnh Sa Đéc.
Ngày 12 tháng 9 năm 1947, theo chỉ thị số 50/CT của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ (chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), lúc bấy giờ có sự thay đổi sắp xếp hành chính của tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên, thành lập các tỉnh mới có tên là Long Châu Tiền và Long Châu Hậu như sau:
Tỉnh Long Châu Tiền nằm ở phía bờ trái (tả ngạn) sông Hậu, hai bên sông Tiền, thuộc khu 8 và có 5 huyện: Tân Châu, Hồng Ngự, Chợ Mới, Châu Phú B và Lấp Vò. Ngày 14 tháng 5 năm 1949, huyện Lấp Vò được trả về tỉnh Sa Đéc. Cũng trong năm đó, huyện Tân Châu của tỉnh Long Châu Tiền chia thành 2 huyện mới là Phú Châu và Tân Châu.
Tỉnh Long Châu Hậu nằm ở phía bờ phải (hữu ngạn) sông Hậu và có 6 huyện: Tịnh Biên, Tri Tôn, Thốt Nốt, Thoại Sơn, Châu Phú A và Châu Thành (bao gồm 2 tỉnh lỵ Long Xuyên và Châu Đốc). Năm 1949, chính quyền Cách mạng giao huyện Thốt Nốt về cho tỉnh Cần Thơ, đến năm 1954 lại trả huyện Thốt Nốt về cho tỉnh Long Xuyên quản lý trở lại như trước.
Tháng 10 năm 1950 tỉnh Long Châu Hậu hợp nhất với tỉnh Hà Tiên thành tỉnh Long Châu Hà, gồm 8 huyện: Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú A, Châu Thành, Thoại Sơn, Thốt Nốt, Giang Châu (hợp nhất hai huyện Giang Thành và Châu Thành của tỉnh Hà Tiên cũ), Phú Quốc. Tháng 7 năm 1951, hợp nhất 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên thành huyện Tịnh Biên; hợp nhất 2 huyện Châu Thành và Thoại Sơn thành huyện Châu Thành.
Tháng 6 năm 1951, tỉnh Long Châu Tiền hợp nhất với tỉnh Sa Đéc thành tỉnh Long Châu Sa, gồm 7 huyện: Châu Thành (của tỉnh Sa Đéc cũ), Lai Vung, Cao Lãnh, Tân Hồng, Tân Châu, Phú Châu, Chợ Mới. Trong đó, hai huyện Tân Hồng và Tân Châu vốn là hai huyện Hồng Ngự và Tân Châu của tỉnh Long Châu Tiền trước đó. Tháng 7 năm 1951, nhập huyện Lấp Vò vào tỉnh Long Châu Sa.
Tuy nhiên, tên các tỉnh Long Châu Tiền, Long Châu Hậu, Long Châu Sa và Long Châu Hà không được chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa công nhận.
Ngày 29 tháng 12 năm 1952, chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp quyết định công nhận đô thị tỉnh lỵ Long Xuyên trở thành thị xã hỗn hợp (commune mixte) Long Xuyên trực thuộc tỉnh Long Xuyên.
Năm 1953, chính quyền Quốc gia Việt Nam thân Pháp lại quyết định thành lập thêm tại tỉnh Long Xuyên một quận mới là quận Núi Sập, với quận lỵ đặt tại Núi Sập (thuộc làng Thoại Sơn) do tách tổng Định Phú ra khỏi quận Châu Thành cùng tỉnh.
Năm 1954, chính quyền Việt Minh giải thể các tỉnh Long Châu Sa và Long Châu Hà, đồng thời khôi phục lại tỉnh Châu Đốc, tỉnh Long Xuyên, tỉnh Sa Đéc và tỉnh Hà Tiên như cũ.
=== Tỉnh An Giang giai đoạn 1956-1964 ===
==== Việt Nam Cộng hòa ====
Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc như thời Pháp thuộc.
Năm 1955, tỉnh Châu Đốc có 5 quận gồm: Châu Thành, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, Hồng Ngự trong đó tất cả 70 xã. Tỉnh Long Xuyên có 4 quận gồm: Châu Thành, Chợ Mới, Núi Sập, Thốt Nốt với tổng cộng 47 xã.
Sau năm 1956, các làng gọi là xã. Ngày 17 tháng 2 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tách quận Hồng Ngự (có cả cù lao Tây) ra khỏi tỉnh Châu Đốc và tổng Phong Thạnh Thượng ra khỏi quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên để cùng nhập vào tỉnh Phong Thạnh mới thành lập (sau đó lại đổi tên thành tỉnh Kiến Phong, ngày nay là tỉnh Đồng Tháp).
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh 143/VN để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên được sáp nhập để thành lập tỉnh mới có tên là tỉnh An Giang. Tỉnh lỵ tỉnh An Giang đặt tại Long Xuyên và vẫn giữ nguyên tên là "Long Xuyên", về mặt hành chánh thuộc địa bàn xã Phước Đức, quận Châu Thành. Ngày 14 tháng 1 năm 1959, xã Phước Đức bị giải thể, sáp nhập vào địa bàn hai xã Mỹ Phước và Bình Đức cùng thuộc quận Châu Thành.
Lúc này ở vùng đất cả hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc trước đó đều có quận Châu Thành cả. Tuy nhiên, do tỉnh lỵ tỉnh An Giang có tên là "Long Xuyên" và được đặt ở quận Châu Thành thuộc tỉnh Long Xuyên cũ, cho nên quận Châu Thành thuộc tỉnh Châu Đốc cũ được đổi tên là quận Châu Phú như ở giai đoạn 1919-1939.
Ngày 24 tháng 4 năm 1957, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ấn định các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh. Tỉnh An Giang lúc này gồm 8 quận là Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Tân Châu, Thốt Nốt, Tịnh Biên, Tri Tôn, Núi Sập. Tỉnh lỵ đặt tại Long Xuyên.
Ngày 06 tháng 08 năm 1957, tách 13 xã phía Bắc của quận Châu Phú để thành lập quận mới thuộc tỉnh An Giang có tên là quận An Phú. Ngày 31 tháng 5 năm 1961, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên quận Núi Sập thành quận Huệ Đức.
Quận An Phú: có duy nhất 1 tổng là An Phú (gồm 9 xã) và 4 xã của tổng Châu Phú; quận lỵ: xã Phước Hưng
Quận Châu Phú: có 2 tổng là Châu Phú (gồm 5 xã) và An Lương (gồm 9 xã); quận lỵ: xã Châu Phú
Quận Châu Thành: có 2 tổng là Định Phước (gồm 5 xã) và Định Thành (gồm 7 xã); quận lỵ: xã Phước Đức.
Quận Chợ Mới: có 2 tổng là Định Hòa (gồm 7 xã) và An Bình (gồm 5 xã); quận lỵ: xã Long Điền
Quận Tân Châu: có 2 tổng là An Thành (gồm 5 xã) và An Lạc (gồm 3 xã); quận lỵ: xã Long Phú
Quận Thốt Nốt: có duy nhất 1 tổng là Định Mỹ (gồm 9 xã); quận lỵ: xã Thạnh Hòa Trung Nhứt
Quận Tịnh Biên: có 2 tổng là Quy Đức (gồm 5 xã) và Thành Tín (gồm 3 xã); quận lỵ: xã An Phú
Quận Tri Tôn: có 3 tổng là Thành Lễ (gồm 5 xã), Thành Ngãi (gồm 3 xã), Thành Ý (gồm 7 xã); quận lỵ: xã Tri Tôn
Quận Huệ Đức: có duy nhất 1 tổng là Định Phú (gồm 6 xã); quận lỵ: xã Thoại Sơn
==== Chính quyền Cách mạng ====
Năm 1957, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng giải thể và sáp nhập hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc với nhau để thành lập một tỉnh mới, vẫn lấy tên là tỉnh An Giang như phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã thực hiện vào năm 1956.
Tỉnh An Giang khi đó gồm 9 huyện: Chợ Mới, Thốt Nốt, Núi Sập, Châu Thành, Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn và 2 thị xã: Long Xuyên, Châu Đốc. Chính quyền Cách mạng cũng trả huyện Hồng Ngự về tỉnh Kiến Phong và huyện Lấp Vò về tỉnh Sa Đéc. Năm 1963, lại giao huyện Thốt Nốt về cho tỉnh Cần Thơ quản lý.
=== Tỉnh An Giang và tỉnh Châu Đốc giai đoạn 1964-1975 ===
==== Việt Nam Cộng hòa ====
Ngày 08 tháng 09 năm 1964, Thủ tướng chính quyền mới của Việt Nam Cộng Hoà ký Sắc lệnh 246/NV, quy định kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1964 tái lập tỉnh Châu Đốc trên cơ sở tách đất từ tỉnh An Giang. Phần đất còn lại tương ứng với tỉnh Long Xuyên trước năm 1956, tuy nhiên chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn giữ tên tỉnh An Giang cho vùng đất này đến năm 1975.
Tỉnh Châu Đốc khi đó gồm 5 quận: Châu Phú, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú. Tỉnh lỵ tỉnh Châu Đốc khi đó lại có tên là "Châu Phú", do nằm trong khu vực xã Châu Phú, quận Châu Phú. Phân chia hành chánh tỉnh Châu Đốc năm 1970 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa:
Quận An Phú (quận lỵ: xã Phước Hưng) gồm 11 xã: Đa Phước, Khánh An, Khánh Bình, Nhơn Hội, Phú Hội, Phú Hữu, Phước Hưng, Vĩnh Hậu, Vĩnh Hội Đông, Vĩnh Lộc, Vĩnh Tường;
Quận Châu Phú (quận lỵ: xã Châu Phú) gồm 15 xã: Bình Long, Bình Mỹ, Bình Thạnh Đông, Châu Giang, Châu Phong, Châu Phú, Hiệp Xương, Hòa Lạc, Hưng Nhơn, Khánh Hòa, Mỹ Đức, Thạnh Mỹ Tây, Vĩnh Ngươn, Vĩnh Tế, Vĩnh Thạnh Trung;
Quận Tân Châu (quận lỵ: xã Long Phú) gồm 9 xã: Hòa Hảo, Long Phú, Long Sơn, Phú An, Phú Lâm, Phú Vinh, Tân An, Vĩnh Hòa, Vĩnh Xương;
Quận Tịnh Biên (quận lỵ: xã An Phú) gồm 10 xã: An Nông, An Phú, Ba Chúc, Lạc Qưới, Nhơn Hưng, Tân Khánh Hòa, Thới Sơn, Vĩnh Điều, Vĩnh Gia, Xuân Tô;
Quận Tri Tôn (quận lỵ: xã Tri Tôn) gồm 12 xã: An Cư, An Hảo, An Lạc, An Túc, Cô Tô, Lệ Tri, Lương Phi, Ô Lâm, Tri Tôn, Tú Tề, Văn Giáo, Vĩnh Trung.
Tỉnh An Giang mới sau năm 1964 tức phần đất của tỉnh Long Xuyên trước đó. Cho đến năm 1975, tỉnh An Giang tỉnh lỵ có tên là "Long Xuyên", bao gồm 4 quận: Châu Thành, Huệ Đức, Chợ Mới và Thốt Nốt. Phân chia hành chánh tỉnh An Giang năm 1970 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa:
Quận Châu Thành (quận lỵ: xã Mỹ Phước) gồm 12 xã: Bình Đức, Bình Hòa, Bình Thủy, Cần Đăng, Hòa Bình Thạnh, Mỹ Hòa Hưng, Mỹ Phước, Mỹ Thới, Phú Hòa, Vĩnh Chánh, Vĩnh Hanh, Vĩnh Trạch;
Quận Chợ Mới (quận lỵ: xã Long Điền) gồm 12 xã: An Thạnh Trung, Bình Phước Xuân, Hòa Bình, Hội An, Kiến An, Long Điền, Long Kiến, Mỹ Hiệp, Mỹ Hội Đông, Mỹ Luông, Nhơn Mỹ, Tấn Mỹ;
Quận Huệ Đức (quận lỵ: xã Thoại Sơn) gồm 5 xã: Định Mỹ, Phú Nhuận, Thoại Sơn, Vĩnh Phú, Vọng Thê;
Quận Thốt Nốt (quận lỵ: xã Thạnh Hòa Trung Nhứt, đến năm 1972 đổi lại thành xã Trung Nhứt) gồm 9 xã: Tân Lộc Đông, Tân Lộc Tây, Thạnh An, Thạnh Hòa Trung Nhứt, Thạnh Hòa Trung An, Thạnh Qưới, Thới Thuận, Thuận Hưng, Vĩnh Trinh.
==== Chính quyền Cách mạng ====
Trong giai đoạn 1964-1971, địa bàn tỉnh Châu Đốc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn do tỉnh An Giang của chính quyền Cách mạng quản lý. Năm 1965, chính quyền Cách mạng giao huyện Hà Tiên và huyện Phú Quốc (cùng thuộc tỉnh Rạch Giá) cho tỉnh An Giang quản lý. Đến năm 1967 lại trả hai huyện Hà Tiên và Phú Quốc về cho tỉnh Rạch Giá như trước. Tháng 12 năm 1965, huyện Chợ Mới cũng được giao về cho tỉnh Kiến Phong quản lý. Đến tháng 5 năm 1974, chính quyền Cách mạng đặt huyện Chợ Mới thuộc tỉnh Sa Đéc.
Năm 1971, Trung ương Cục miền Nam quyết định thành lập tỉnh Châu Hà, tách ra từ tỉnh An Giang và tỉnh Rạch Giá, trên phần đất tỉnh Châu Đốc và tỉnh Hà Tiên trước năm 1956. Lúc này tỉnh Châu Hà còn có thêm các huyện Châu Thành A, Hà Tiên và Phú Quốc vốn cùng thuộc tỉnh Rạch Giá trước đó. Tỉnh Châu Hà gồm các huyện: Huệ Đức, Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Thành A, Hà Tiên và Phú Quốc.
Tháng 5 năm 1974, chính quyền Cách mạng lại quyết định giải thể các tỉnh An Giang, Châu Hà và Kiến Phong để tái lập các tỉnh Long Châu Hà, Long Châu Tiền và Sa Đéc:
Tỉnh Long Châu Tiền gồm thị xã Tân Châu và 5 huyện: An Phú, Phú Tân A, Phú Tân B, Hồng Ngự, Tam Nông (nay là huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp).
Tỉnh Long Châu Hà mới gồm thị xã Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và 8 huyện: Châu Thành X, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Huệ Đức, Châu Thành A, Hà Tiên, Phú Quốc.
Tỉnh Sa Đéc gồm thị xã Sa Đéc, thị xã Cao Lãnh và 6 huyện: Châu Thành, Lấp Vò, Lai Vung, Cao Lãnh, Mỹ An, Chợ Mới.
Tuy nhiên, tên các tỉnh Châu Hà, Long Châu Hà và Long Châu Tiền cũng không được chính quyền Việt Nam Cộng hòa công nhận, mà thay vào đó vẫn sử dụng tên gọi tỉnh Châu Đốc và tỉnh An Giang cho đến năm 1975.
Sau sự kiện ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn duy trì các tỉnh Long Châu Hà và Long Châu Tiền như trước đó. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa).
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh trong toàn quốc "nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an, và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước". Theo Nghị quyết này, địa bàn các tỉnh Long Châu Hà và Long Châu Tiền cũ sẽ được chia ra vào sáp nhập vào các tỉnh mới, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên. Cụ thể như sau:
Tỉnh Rạch Giá (ngoại trừ 2 huyện Vĩnh Thuận và An Biên) cùng với toàn bộ diện tích tỉnh Long Châu Hà và huyện Thốt Nốt của tỉnh Cần Thơ sẽ hợp nhất lại thành một tỉnh.
Tỉnh Long Châu Tiền, tỉnh Sa Đéc và tỉnh Kiến Tường sẽ hợp nhất lại thành một tỉnh.
Nhưng đến ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam lại ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam cho sát với tình hình thực tế, theo đó thành lập tỉnh An Giang trên cơ sở hợp nhất tỉnh An Giang và tỉnh Châu Đốc thời Việt Nam Cộng hòa, trừ huyện Thốt Nốt giao cho tỉnh Hậu Giang quản lý.
=== Tỉnh An Giang từ năm 1976 đến nay ===
Tháng 2 năm 1976, tỉnh An Giang chính thức được tái lập trở lại, ban đầu có 8 huyện: Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới, Huệ Đức, Phú Châu, Phú Tân, Tịnh Biên, Tri Tôn cùng với hai thị xã: Long Xuyên, Châu Đốc. Tỉnh lị đặt tại thị xã Long Xuyên.
Ngày 11 tháng 3 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 56-CP về việc hợp nhất một số huyện thuộc tỉnh An Giang như sau:
Hợp nhất huyện Huệ Đức và Châu Thành thành một huyện lấy tên là huyện Châu Thành
Hợp nhất huyện Tri Tôn và Tịnh Biên thành một huyện lấy tên là huyện Bảy Núi.
Ngày 23 tháng 8 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 300-CP về việc phân vạch địa giới một số huyện và thị xã thuộc tỉnh An Giang như sau:
Chia huyện Bảy Núi thành hai huyện lấy tên là huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên,
Chia huyện Châu Thành thành hai huyện lấy tên là huyện Châu Thành và huyện Thoại Sơn.
Ngày 13 tháng 11 năm 1991, huyện Phú Châu được chia thành hai huyện là huyện Tân Châu và huyện An Phú.
Ngày 12 tháng 11 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 669/TTg về việc xác định ranh giới giữa hai tỉnh An Giang và Kiên Giang. Năm 1996, hoàn tất việc xác định ranh giới giữa tỉnh An Giang và các tỉnh lân cận.
Ngày 1 tháng 3 năm 1999, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 09/1999/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Long Xuyên thuộc tỉnh An Giang trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Long Xuyên trước đó.
Ngày 14 tháng 04 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 474/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang.
Ngày 24 tháng 8 năm 2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 40/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc huyện Tân Châu, huyện An Phú, huyện Phú Tân, thành lập thị xã Tân Châu, thành lập các phường thuộc thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Ngày 19 tháng 7 năm 2013, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 86/NQ-CP về việc thành lập thành phố Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang trên cơ sở toàn bộ 10.529,05 ha diện tích tự nhiên, 157.298 nhân khẩu và 7 đơn vị hành chính cấp xã của thị xã Châu Đốc trước đó.
Ngày 15 tháng 4 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 449/NQ-TT về việc công nhận thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang.
Tỉnh An Giang có 353.667 ha diện tích tự nhiên, 2.150.999 nhân khẩu và 11 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm: thành phố Long Xuyên, thành phố Châu Đốc, thị xã Tân Châu và các huyện: An Phú, Phú Tân, Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới.
== Các đơn vị hành chính ==
Tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 02 thành phố, 01 thị xã và 08 huyện, trong đó bao gồm 156 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 16 thị trấn, 21 phường và 119 xã:
== Tài nguyên thiên nhiên ==
An Giang có 37 loại đất khác nhau, hình thành 6 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất phù sa trên 151.600 ha, chiếm 44,5%. phần lớn đất đai điều màu mỡ vì 72% diện tích là đất phù sa hoặc có phù sa, địa hình bằng phẳng, thích nghi đối với nhiều loại cây trồng.
Trên địa bàn toàn tỉnh có trên 583 ha rừng tự nhiên thuộc loại rừng ẩm nhiệt đới, đa số là cây lá rộng, với 154 loài cây quý hiếm thuộc 54 họ, ngoài ra còn có 3.800 ha rừng tràm. Sau một thời gian diện tích rừng bị thu hẹp, những năm gần đây tỉnh đã chú ý nhiều tới việc gây lại vốn rừng. Động vật rừng An Giang cũng khá phong phú và có nhiều loại quý hiếm.
Ngoài ra, An Giang còn có tài nguyên khoáng sản khá phong phú, với trữ lượng khá đá granít trên 7 tỷ m3, đá cát kết 400 triệu m3, cao lanh 2,5 triệu tấn, than bùn 16,4 triệu tấn, vỏ sò 30 – 40 triệu m3, và còn có các loại puzolan, fenspat, bentonite, cát sỏi,…
Với những thế mạnh về đất đai và khí hậu An Giang được xem là tỉnh có tiềm năng du lịch. Du lịch của tỉnh tập trung vào các lĩnh vực văn hoá, du lịch sinh thái, du lịch vui chơi giải trí và du lịch nghỉ dưỡng. Tài nguyên khoáng sản cũng là lợi thế của tỉnh An Giang so với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long khác, nguồn đá, cát, đất sét là nguyên liệu quý của ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, đáp ứng nhu cầu rất lớn của vùng đồng bằng sông Cửu Long về vật liệu xây dựng.
== Danh nhân ==
Liệt kê một số người nổi bật:
=== Chính trị ===
Cố Chủ tịch nước CHXHCNVN Tôn Đức Thắng (Tỉnh Long Xuyên).
Cố thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Ngọc Thơ (Long Xuyên).
Cố Bộ trưởng Bộ y tế Nguyễn Văn Hưởng (Chợ Mới).
Cố Bộ trưởng Bộ ngoại giao Ung Văn Khiêm (Chợ Mới).
Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu (Chợ Mới).
Lãnh tụ phong trào chống Pháp Trần Văn Thành (Phú Tân)
Nguyễn Hoàng Việt - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương
=== Nông nghiệp ===
=== Văn học - Nghệ thuật ===
Ca sĩ: Ưng Hoàng Phúc
Ca sĩ: Quách Tuấn Du
Ca sĩ: Hồ Tuấn Anh
Ca - nhạc sĩ: Vũ Cát Tường
Nghệ sĩ: Huỳnh Lập
=== Giáo dục ===
Nhà giáo Trần Hữu Thường (Tân Châu).
GS. TS. NGND. Võ Tòng Xuân (Tri Tôn).
=== Tôn giáo ===
Đoàn Minh Huyên
Ngô Lợi
Huỳnh Phú Sổ
Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp
=== Quân sự ===
Tướng nhà Nguyễn Nguyễn Văn Nhơn (Vĩnh An, An Giang xưa).
Tướng nhà Nguyễn Thư Ngọc Hầu (Chợ Mới).
Người cộng tác với Pháp Trần Bá Lộc (Chợ Mới).
== Danh lam thắng cảnh - Du lịch ==
An Giang có một số thắng cảnh tiêu biểu như:
Châu Đốc: nổi tiếng với Lễ hội vía Bà Chúa xứ, núi Sam. Khu du lịch núi Sam có nhiều di tích lịch sử, tôn giáo quan trọng như: Lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An, Chùa Phước Điền... Ngoài ra còn có các làng Chăm ven sông Hậu, làng bè Châu Đốc...
Thất Sơn: gồm 1 quần thể 37 ngọn núi thuộc 2 huyện Tịnh Biên & Tri Tôn, nhưng có 7 ngọn tiêu biểu là: 1/ Núi Cấm (Thiên Cẩm Sơn), 2/ Núi Dài Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn), 3/ Núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn), 4/ Núi Dài (Ngọa Long Sơn), 5/ Núi Tượng (Liên Hoa Sơn), 6/ Núi Két (Anh Vũ Sơn), 7/ Núi Nước (Thủy Đài Sơn). Chùa Phật Lớn trên núi Cấm có tượng Phật Di Lặc được sách kỷ lục Việt Nam công nhận lớn nhất cả nước.
Rừng tràm Trà Sư là điểm du lịch sinh thái rộng trên 700 ha, nằm giữa lòng tứ giác Long Xuyên, thuộc xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên.
Hồ Thoại Sơn là một trong những hồ đẹp cách thành phố Long Xuyên 29 km theo đường tỉnh lộ 943.
Búng Bình Thiên (còn gọi là Hồ nước trời) là một hồ nước ngọt đặc biệt tại huyện An Phú, quanh năm xanh ngát cho dù xung quanh các kênh rạch bị vẩn đục phù sa.
Cù lao Giêng (Chợ Mới) nằm giữa sông Tiền với nhiều công trình kiến trúc tôn giáo đặc sắc.
Khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng đã được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt, v.v...
== Đặc sản, ẩm thực ==
Gỏi sầu đâu:
Cây sầu đâu mọc nhiều ở các vùng Tri Tôn, Châu Đốc, Tịnh Biên (An Giang). Món gỏi này được chế biến đơn giản, nhanh gọn. Lá non và hoa sầu đâu được rửa sạch trụng qua nước sôi cho bớt đắng, sau đó để ráo nước. Dưa leo, thơm (dứa) và xoài thái mỏng hoặc xắt sợi. Người miền Tây thường làm món gỏi sầu đâu khô cá lóc hoặc khô cá sặc. Khô cá nướng xé nhỏ, thịt ba chỉ luộc xong thái mỏng, cho thêm ít tôm bóc vỏ.
Cà na đập:
Chợ Châu Đốc chỉ có duy nhất một người bán cà na đập - món ăn được đặt tên theo cách chế biến. Quả cà na tươi, sau khi đập nát, vắt bớt nước và chà xát để ra hết chất chát thì đem dầm đường, chờ khoảng vài tiếng đồng hồ là có thể sử dụng.
Món này phải khéo léo sao cho quả cà na bị đập không quá nát, vẫn giữ màu xanh tươi sau khi chà xát, vắt nước nhưng hương vị còn nguyên, ăn vẫn giòn. Cà na đập ăn chung với muối ớt, vừa ngọt, vừa giòn rất ngon
Tung lò mò:
“Tung lò mò” chính là một tên gọi khác của món lạp xưởng bò. Đây là món ngon độc đáo của người Chăm ở An Giang. Từ lâu, người Kinh cũng ưa thích và chế biến món lạp xưởng bò gần giống như của người Chăm và hiện phổ biến rộng rãi ở phường Núi Sam, Châu Đốc, Tịnh Biên và Tri Tôn.
Khác lạp xưởng lợn, lạp xưởng bò sau khi làm xong chỉ cần phơi cho khô là có thể đem chiên hoặc nướng. Hấp dẫn nhất là lạp xưởng nướng trên bếp than hồng. Khi nướng chín xong cắt ra thành viên có màu đỏ hồng, hương bay thơm phức không còn mùi mỡ bò.
“Tung lò mò” nướng nên chín tới đâu, ăn tới đó. Khi ăn sẽ thấy vị ngọt bùi của thịt và mỡ bò, vị chua chua của cơm nguội lên men hòa cùng gia vị cay của ớt, lại ăn kèm với rau sống, rau cần tươi, vị chua của khế, vị chát của chuối sống. Lạp xưởng bò khi ăn phải chấm muối tiêu chanh hoặc tương ớt. Hấp dẫn hơn là có ăn kèm rau sống và ăn chung với bún hoặc bánh mì.
Cốm dẹp:
Nếp trước lúc thu hoạch khoảng 10 ngày còn chưa già sẽ được gặt về trút lấy hạt ngâm nước nửa ngày vớt ra để ráo.
Ngâm nếp phải canh giờ nếu không ngâm lâu hạt nếp mềm cốm sẽ nhão, ngâm thời gian ngắn thì hạt nếp sẽ khô cứng. Rang nếp phải là người quen tay và rang trong nồi đất nhằm giữ được nhiệt nóng lâu hơn. Một lần rang rất mất thời gian và công sức chỉ một chén nếp, trút vừa đáy nồi đất giúp việc đảo rang được dễ dàng và hạt nếp nở chín dẻo đều.
Bò cạp Bảy Núi:
Bò cạp hay còn gọi là "bù kẹp", có màu đen nhánh, hai càng to kềnh, to cỡ con dế cơm. Thoạt nhìn bò cạp trông giống như con gián bò lổn ngổn. Về vùng Bảy Núi có thể thấy loại này được bán dọc hai bên đường. Để có được những con bò cạp thế này, những người chuyên săn lùng con vật này phải lên núi mới có. Họ trang bị một cây cuốc, một cây kẹp và một cái xô. Tìm thấy tảng đá nào khả nghi, họ chỉ cần lật tảng đá sang một bên, nhìn miệng hang thò kẹp vào.
Sau khi “thu hoạch” xong, họ mang bò cạp về bỏ vào thau vài ngày cho "sạch bụng". Để nguyên con vậy và rửa sạch, cho vào chảo mỡ hoặc dầu đang sôi. Khoảng vài phút sau, bò cạp chín, bốc mùi thơm lạ lùng. Bò cạp dùng kèm rau thơm, cà chua, dưa leo và vài cọng ngò, chấm với muối tiêu chanh. Cắn một miếng, giòn rụm và vị beo béo. Theo những người sành ăn món này, bụng của bò cạp mới là phần ngon nhất.
Món bò cạp này còn được chế biến theo các kiểu khác như bò cạp lăn bột chiên bơ. Một số người Khmer địa phương còn dùng bò cạp ngâm với rượu, uống để chữa các chứng đau lưng, nhức mỏi, đau khớp,...
Mắm Châu Đốc:
Mắm Châu Đốc có bán khắp nơi nhưng tập trung nhiều nhất là ở chợ Châu Đốc. Hình thù mắm cũng vô cùng đa dạng. Vì tùy từng loại cá, cách thức chế biến mà người ta có thể xé nhỏ, để nguyên con, lóc lấy phi lê hoặc để cả xương. Một vài loại mắm dễ ăn mà bạn có thể mua tại chợ là mắm linh, mắm sặt, mắm lóc, mắm trèn, mắm rô, mắm chốt... Những loại này ăn sống hay dùng chưng, nấu mắm (mắm kho, bún, lẩu) đều rất ngon. Đặc biệt khô cá tra ở đây là cá tra từ Biển Hồ (Campuchia), thịt ngọt tự nhiên, lại được phơi khéo, canh vừa nắng nên thịt thơm béo, không bị tanh. Một loại mắm bán nhiều và cũng rất được ưa chuộng ở chợ Châu Đốc là mắm thái. Đó là con mắm lóc ngon được lạng bỏ da bỏ xương xé nhỏ trộn với đu đủ xắt sợi và thịt ba rọi ram, thêm thính gạo, đường, ớt vào. Ở xứ mắm Châu Đốc, đường dùng làm mắm cũng là đường thốt nốt đặc sản, pha thêm ít đường trắng nên mắm có vị ngọt mặn rất thanh, ăn kèm rau sống, chuối chát, thịt ba rọi luộc.
== Biển số xe cơ giới trong tỉnh ==
Biểm kiểm soát xe môtô
Thành phố Long Xuyên: 67-B1
Thành phố Châu Đốc: 67-E1
Thị xã Tân Châu: 67-H1
Huyện Châu Thành: 67-C1
Huyện Châu Phú: 67-D1
Huyện Tịnh Biên: 67-F1
Huyện An Phú: 67-G1
Huyện Phú Tân: 67-K1
Huyện Chợ Mới: 67-L1
Huyện Thoại Sơn: 67-M1
Huyện Tri Tôn: 67-N1
== Một số hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Biên niên sử An Giang
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
uzbekistan.txt | Uzbekistan (phiên âm tiếng Việt: U-dơ-bê-ki-xtan; cũng gọi là Uzbekstan hay Ozbekistan), tên chính thức Cộng hoà Uzbekistan (tiếng Uzbek: O‘zbekiston Respublikasi; Kiril: Ўзбекистон Республикаси; tiếng Nga: Республика Узбекистан), là một quốc gia nằm kín trong lục địa tại Trung Á, trước kia từng là một phần của Liên bang Xô viết. Nước này có chung biên giới với Kazakhstan ở phía tây và phía bắc, Kyrgyzstan và Tajikistan ở phía đông, và Afghanistan cùng Turkmenistan ở phía nam.
== Lịch sử ==
Vùng đất Uzbekistan đã có người ở từ hai nghìn năm trước Công nguyên. Có nhiều di tích về những công cụ và công trình của loài người từ thời kỳ sớm tại các vùng Ferghana, Tashkent, Bukhara, Khorezm (Khwarezm, Chorasmia) và Samarkand.
Alexandros Đại Đế đã chinh phục Sogdiana và Bactria năm 327 trước Công nguyên, cưới Roxana, con gái của vị thủ lĩnh Bactrian địa phương. Tuy nhiên, cuộc chinh phục được cho là không mang lại nhiều kết quả cho Alexandros bởi những cuộc kháng chiến của người dân địa phương khá mãnh liệt, khiến quân đội của Alexandros bị sa lầy trong vùng.
Trong nhiều thế kỷ vùng Uzbekistan nằm dưới quyền cai trị của các Đế chế Iran như Đế chế Parthian và Sassanid.
Ở thế kỷ mười bốn sau Công nguyên, Timur, thường được gọi là Tamerlane ở phía tây, nổi lên thay thế người Mông Cổ và xây dựng một đế chế. Trong các chiến dịch quân sự của mình, Tamerlane đã tiến xa tới tận Trung Đông. Ông đánh bại Hoàng đế Đế chế Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman Bayezid I. Bayezid bị bắt và chết trong khi bị giam cầm. Tamerlane đã tìm cách xây dựng thủ đô đế chế của mình tại Samarkand. Ngày nay Tamerlane được coi là một trong những anh hùng vĩ đại nhất của Ụzbekistan người đóng vai trò quan trọng trong lịch sử và đặc tính quốc gia. Sau sự sụp đổ của Đế chế Timurid, những người du mục Uzbek đã chinh phục vùng này.
Ở thế kỷ 19, Đế chế Nga bắt đầu mở rộng và kéo dài tới tận Trung Á. Giai đoạn "Great Game" nói chung được coii là bắt đầu từ khoảng năm 1813 tới Hiệp ước Anh Nga năm 1907. Sau cuộc cách mạng của những người Bolshevik năm 1917 một thời kỳ ổn định hơn diễn ra. Đầu thế kỷ 19, một vùng đất khoảng 2.000 dặm (3.200 km) chia cắt Ấn Độ thuộc Anh và những vùng xa xôi của nước Nga Sa Hoàng. Đa số vùng đất đệm này còn chưa được vẽ bản đồ.
Tới đầu thế kỷ 20, Trung Á đã hoàn tay rơi vào tay người Nga dù một số cuộc kháng chiến chống người Bolsheviks có xảy ra trong thời kỳ đầu, Uzbekistan và phần còn lại của Trung Á trở thành một phần của Liên bang Xô viết. Ngày 31 tháng 8 năm 1991, Uzbekistan bất đắc dĩ tuyên bố độc lập, và ngày 1 tháng 9 trở thành ngày quốc khánh.
Nước này hiện đang tìm cách dần giảm sự phục thuộc vào nông nghiệp - đây là nước xuất khẩu bông lớn thứ hai thế giới - trong khi vẫn phát triển các nguồn tài nguyên khoáng sản và dầu mỏ.
== Địa lý ==
Uzbekistan xấp xỉ Maroc và có diện tích 447.400 kilômét vuông (172.700 sq mi). Đây là nước lớn thứ 56 trên thế giới.
Uzbekistan trải dài 1.425 kilômét (885 mi) từ tây sang đông và 930 kilômét (578 mi) từ bắc tới nam. Giáp biên giới với Turkmenistan ở phía tây nam, Kazakhstan và Biển Aral ở phía bắc, và Tajikistan cùng Kyrgyzstan ở phía nam và phía đông, Uzbekistan không phải là một trong những nước lớn nhất vùng Trung Á nhưng là quốc gia Trung Á duy nhất giáp biên giới với tất cả bốn nước kia. Uzbekistan cũng giáp biên giới với Afghanistan ở phía nam.
Uzbekistan là một quốc gia nằm kín trong hai lục địa; 10% lãnh thổ nước này được trồng cấy dày đặc nhờ nước tưới tiêu từ các lưu vực sông. Đây là một trong hai quốc gia duy nhất nằm kín giữa hai lục địa - nước kia là Liechtenstein; và dù trường hợp của Uzbekistan không rõ ràng bằng, bởi nó giáp biên giới với hai nước (Kazakhstan ở phía bắc và Turkmenistan ở phía nam) goaớ với Biển Caspian kín trong lục địa nhưng từ đây tàu thủy có thể đi tới Biển Azov và từ đó tới Biển Đen, Địa Trung Hải và các đại dương khác.
Điểm cao nhất tại Uzbekistan là Adelunga Toghi ở độ cao 4.301 mét (14.111 ft).
Khí hậu Cộng hòa Uzbekistan là khí hậu lục địa, với lượng mưa hàng năm khoảng 100-200 milimét, hay 3.9-7.9 inches). Nhiệt độ trung bình mùa hè thường khoảng 400C, mùa đông khoảng -230C. [1]
Các thành phố lớn gồm: Bukhara, Samarqand và Tashkent.
== Tỉnh ==
Uzbekistan được chia thành mười hai tỉnh (viloyatlar, số ít viloyat; viloyati từ ghép, ví dụ Toshkent viloyati, Samarqand viloyati, vân vân), một nước cộng hòa tự trị (respublika; respublikasi từ ghép, ví dụ Qaraqalpaqstan Avtonom Respublikasi, Karakalpakistan Cộng hòa Tự trị, vân vân), và một thành phố độc lập (shahar; shahri từ ghép, ví dụ thành phố Tashkent với một chữ K, Toshkent shahri). Các tên được đặt theo ngôn ngữ Uzbek, dù nhiều biến thể trong khi dịch qua ngôn ngữ khác vẫn tồn tại.
Số thống kế cho Toshkent Viloyati cũng gồm số thống kê của Toshkent Shahri.
== Kinh tế ==
Cùng với nhiều nền kinh tế của các quốc gia thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập khác, kinh tế Uzbekistan gần đây có mức độ phát triển kinh tế rất cao, tới 9.1% trong quý đầu năm 2007, và mức lạm phát thấp 2.9%. [2] Tính đến năm 2016, GDP của Uzbekistan đạt 66.797 USD, đứng thứ 74 thế giới, đứng thứ 26 châu Á và đứng thứ 2 Trung Á sau Kazakhstan.
Uzbekistan là quốc gia có mức GNI trên đầu người đạt US$460 và Sức mua tương đương đạt US$1860 [3]. Sản xuất kinh tế tập trung ở hàng tiêu dùng: Uzbekistan hiện là nước sản xuất lớn thứ tư thế giới và là nước xuất khẩu bông lớn thứ hai thế giới, thứ bảy thế giới về sản xuất vàng. Theo vùng, đây cũng là nước sản xuất khí gas, đồng, than, dầu mỏ, bạc và uranium khá quan trọng [4]. Nông nghiệp đóng góp khoảng 37% GDP và sử dụng 44% nguồn nhân lực [5]. Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm được ước tính dưới 20% [6].
Đối mặt với nhiều thách thức kinh tế từ khi giành lại độc lập, chính phủ đã chấp nhận một chiến lược cải cách mang tính cách mạng, với sự nhấn mạnh trên sự kiểm soát của nhà nước, giảm nhập khẩu và tự cung cấp trong lĩnh vực năng lượng. Từ năm 1994, các phương tiên truyền thông thuộc quản lý của nhà nước đã nhiều lần tuyên bố sự thành công của "Mô hình Kinh tế Uzbek" này [7] coi đó là ví dụ duy nhất về sự chuyển tiếp êm ả sang nền kinh tế thị trường, tránh được tình trạng sốc, sự bần cùng hóa và sự trì trệ.
Chiến lược cải cách dần dần đã khiến nhiều kế hoạch cải cách cơ cấu và kinh tế vĩ mô bị trì hoãn. Chính quyền trong tay giới công chức quan liêu vãn giữ ảnh hưởng mạnh trong nền kinh tế. Tham nhũng lan tràn xã hội: Chỉ số Nhận thức Tham nhũng Uzbekistan năm 2005 là 137 trong số 159 quốc gia. Một báo cáo tháng 2 năm 2006 về nước này của Nhóm Khủng hoảng Quốc tế đã viết về một khía cạnh của tình trạng tham nhũng này:
Đa phần tăng trưởng GDP Uzbekistan xuất phát từ giá cả cao của những loại hàng xuất khẩu quan trọng, đặc biệt là vàng, bông và nguồn thu ngày càng tăng từ khí gas, nhưng nguồn thu này chỉ được phân chia trong một nhóm rất nhỏ cầm quyền, đại đa số nhân dân có rất ít hoặc không một chút nào từ các khoản thu này. [8] [9].
Theo Economist Intelligence Unit, "chính phủ tỏ thái độ kiên quyết không cho phép phát triển một lĩnh vực tư nhân độc lập, lĩnh vực họ không thể kiểm soát" [10]. Vì thế, giới trưởng giả nói chung và tầng lớp trung lưu nói riêng, đang bị cách ly về mặt kinh tế, và vì thế, cả với chính trị.
Các chính sách kinh tế đã làm nản lòng giới đầu tư, với mức đầu tư trên đầu người ở mức thấp nhất trong Cộng đồng các quốc gia độc lập [11]. Trong nhiều năm, rào cản lớn nhất với các công ty nước ngoài muốn vào thị trường Uzbek là sự khó khăn trong chuyển đổi tiền tệ. Năm 2003, chính phủ đã chấp nhận những bắt buộc của Điều VIII của Quỹ Tiền tệ Quốc tế [12], cho phép tự do chuyển đổi tiền tệ. Tuy nhiên, những biện pháp quản lý tiền tệ chặt chẽ và kiểm soát biên giới đã khiến những hiệu quả mang lại của việc này không lớn.
Lạm phát, dù ở mức thấp hơn thời gian giữa thập niên 1990, vẫn còn cao cho tới tận năm 2003 (ước tính 50% năm 2002, 21.9% năm 2003, [13]). Các chính sách kinh tế chặt chẽ năm 2004 đã khiến lạm phát giảm mạnh, xuống còn 3.8% (tuy nhiên những ước tính khác [14] dựa trên rổ thị trường thực ở mức 15%). Tuy nhiên, sự giảm lạm phát dường như chỉ thoảng qua, bởi theo ước tính của IMF về chỉ số giá tiêu thụ dựa trên lạm phát tại Uzbekistan năm 2005 là 14.1% [15].
Chính phủ Uzbekistan hạn chế nhập khẩu bằng nhiều cách, gồm cả đánh thuế nhập khẩu cao. Các loại thuế áp dụng mang tính phân biệt cao để bảo vệ các sản phẩm sản xuất trong nước. Các mức thuế chính thức được công thêm các khoản không chính thức, các khoản phí mang tính phân biệt khiến tổng số tiền phải trả lên tới 100 hay 150 phần trăm giá trị thực của sản phẩm, khiến những sản phẩm nhập khẩu có giá thành không thể chấp nhận với người tiêu dùng [16]. Thay thế xuất khẩu là một chính sách được tuyên bố chính thức và chính phủ đã lấy làm hãnh diện thông báo [17] con số hàng tiêu dùng nhập khẩu đã giảm hai lần. Một số quốc gia thuộc cộng đồng các quốc gia độc lập được chính thức miễn trừ các khoản thuế nhập khẩu của Uzbekistan.
Kinh doanh tại Uzbekistan không đơn giản. Nó đòi hỏi nhiều đầu tư và mối quan hệ với tầng lớp cầm quyền. Tuy nhiên, lợi nhuận hàng năm có thể thu được sẽ ở trong khoảng 30-40%. Lĩnh vực đầu tư mang lại nhiều lợi nhuận nhất hiện tại là bất động sản. Trong năm 2006, bất động sản đã tăng trưởng tới 80%. [18]
== Nhân khẩu ==
Uzbekistan là nước đông dân nhất vùng Trung Á. Dân số nước này ước tính đạt 27.7 triệu người, tập trung tại phía nam và phía đông đất nước, chiếm tới gần một nửa dân số trong vùng. Uzbekistan từng là một trong những nước cộng hòa nghèo nhất thuộc Liên bang Xô viết; đa số dân cư nước này tham gia vào ngành nông nghiệp bông tại các hợp tác xã nhỏ (kolkhozy). Trong những năm gần đây, số lượng dân nông thôn tiếp tục gia tăng [19] hiện ở mức 63.5%. Dân số Uzbekistan rất trẻ: 34.1% dân dưới 14 tuổi.
Người Uzbek chiếm đa số dân (80%). Các nhóm sắc tộc khác gồm người Nga 5.5%, Tajik 5%, Kazakh 3%, Karakalpak 2.5%, và Tatar 1.5%. Cũng có một nhóm sắc tộc người Triều Tiên đã bị buộc phải di dời tới Uzbekistan theo lệnh của Stalin trong thập niên 1930. 88% dân số là tín đồ Hồi giáo (chủ yếu thuộc dòng Sunni, với nhóm thiểu số 5% Shi'a), 9% Nhà thờ chính thống Phương đông và 3% theo những đức tin khác. Theo Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2004 của Bộ ngoại giao Mỹ 0.2% dân số theo Đạo Phật (những người này thuộc cộng đồng Triều Tiên). Tương tự, ước tính 93.000 người Do thái từng sống tại Uzbekistan đầu thập niên 1990 (nguồn Thư viện Quốc hội Nghiên cứu Quốc gia).
Uzbek là ngôn ngữ chính thức duy nhất của quốc gia. Tuy nhiên, tiếng Nga trên thực tế là ngôn ngữ giao tiếp giữa các cộng đồng sắc tộc, gồm cả được sử dụng đa số trong kỹ thuật, khoa học, văn bản chính phủ và công việc kinh doanh hàng ngày. Theo dân tộc học, 49% dân số Uzbekistan nói tiếng Nga.
Tiếng Tajik được sử dụng rộng rãi tại thành phố Samarkand và Bukhara. Có một số tranh cãi liên quan tới số phần trăm dân số Tajik. Trong khi các con số chính thức của Uzbekistan cho rằng số lượng là 5%, một số học giả phương Tây tin rằng con số này cao hơn, lên tới 40%.
Theo những con số của chính phủ khoảng 817.000 người tàn tật được đăng ký tại Uzbekistan năm 2003. Tổ chức Y tế Thế giới ước tính khoảng 10% số dân mỗi nước là người tàn tật.
Cái tên "Uzbek", vừa để chỉ dân tộc vừa để chỉ quốc gia, được cho là có liên quan tới gia đoạn chạm trán đầu tiên với người Nga, câu ozum bek, hay "Tôi là chúa tể (người cai trị)".
Uzbekistan có tỷ lệ biết chữ 99.3% (trong số người lớn hơn 15 tuổi), một phần nhờ hệ thống giáo dục miễn phí và phổ thông thời Liên bang Xô viết.
== Viễn thông ==
Theo số liệu chính thức, tính đến 1 tháng 7 năm 2007, có 3,7 triệu người sử dụng điện thoại di động ở Uzbekistan (nguồn từ Tổ chức Viễn thông và Thông tin Uzbekistan (UzACI) [20] và UzDaily.com [21]). Đơn vị kinh doanh dịch vụ di động lớn nhất (tính theo số khách hàng) là MTS-Uzbekistan [22] (trước là Uzdunrobita và là chi nhánh của Russian Mobile TeleSystems). Tiếp theo là Beeline [23](là một chi nhánh của công ty Beeline của Nga) và Coscom [24] (do US MCT Corp. sở hữu, nhưng có thông tin cho rằng TeliaSonera đang mua lại công ty này [25]).
Tính đến 1 tháng 7 năm 2007, số người sử dụng internet ở Uzbekistan ước tính là 1,8 triệu, theo thống kê của UzACI.
== Vận tải ==
Tashkent, thủ đô và là thành phố lớn nhất nước, có ba đường tàu điện ngầm được xây dựng năm 1977, và mở rộng năm 2001 mười năm sau khi giành lại độc lập từ Liên bang Xô viết. Uzbekistan hiện là quốc gia duy nhất tại Trung Á có hệ thống tàu điện ngầm và được coi là một trong những hệ thống tàu điện ngầm sạch nhất thế giới. Có tàu điện, xe buýt và trolleybus (xe buýt chạy nối với hệ thống dây điện bên trên) do chính phủ điều hành chạy khắp thành phố. Tương tự, có nhiều xe tắc xi cả xe có đăng ký và xe dù. Các nhà máy sản xuất ô tô tại Uzbekistan đang làm ra những chiếc xe hiện đại. Chính phủ hỗ trợ việc sản xuất xe hơi và công ty Daewoo Hàn Quốc. Chính phủ Uzbek có 50% cổ phần của Daewoo năm 2005 với trị giá không được tiết lộ và vào tháng 5 năm 2007 UzDaewooAuto, công ty sản xuất ô tô, đã ký kết thỏa thuận chiến lược với General Motors-Daewoo Auto and Technology (GMDAT) [26]. Chính phủ cũng mua cổ phần của công ty Koc in SamKocAuto, công ty sản xuất xe buýt và xe tải nhỏ Thổ Nhĩ Kỳ. Tiếp đó, chính phủ đã ký thỏa thuận với Isuzu Motors Nhật Bản để sản xuất xe buýt và xe tải [27][28].
Những tuyến đường sắt nối liền các thị trấn bên trong Uzbekistan cũng như với các nước cộng hòa cũ thuộc Liên bang Xô viết. Hơn nữa, sau khi giành lại độc lập hai hệ thống tàu hỏa chạy nhanh đã được thiết lập. Tương tự, đã có một nhà máy chế tạo máy bay lớn thời Xô viết, Nhà máy Sản Xuất Hàng không Tashkent Chkalov, hay ТАПОиЧ trong tiếng Nga. Nhà máy này bắt đầu được xây dựng trong Thế chiến II, khi các cơ sở chế tạo được di dời về phía nam và phía đông để tránh rơi vào tay các lực lượng Phát xít Đức. Cho tới tận cuối thập niên 1980, nhà máy là một trong những trung tâm sản xuất máy bay hàng đầu tại Liên bang Xô viết, nhưng với sự sụp đổ của Liên Xô các thiết bị của nhà máy dần trở nên lỗi thời, và đa số công nhân đã bỏ việc. Hiện nhà máy chỉ sản xuất vài chiếc máy bay mỗi năm, nhưng với sự chú ý từ các công ty Nga tới nhà máy này, hiện có tin đồn rằng các kế hoạch tái khôi phục đang chuẩn bị thực thi.
== Quân đội ==
Uzbekistan sở hữu lực lượng quân sự lớn nhất vùng Trung Á, với khoảng 65.000 quân nhân. Cơ cấu của lực lượng này được thừa kế từ các lực lượng vũ trang Xô viết, dù nó đang nhanh chóng chuyển đổi trở thành một tổ chức đã được tái cơ cấu hoàn toàn, và cuối cùng sẽ được xây dựng xung quanh các lực lượng hạng nhẹ và lực lượng đặc biệt. Trang bị của Các lực lượng vũ trang Uzbek không hiện đại, và công tác huấn luyện, tuy có được cải thiện nhưng không đồng nhất và thích đáng để đáp ứng cho nhiệm vụ bảo vệ an ninh lãnh thổ mới. Chính phủ đã chấp nhận các biện pháp quản lý vũ khí của Liên Xô cũ, thừa nhận Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân (với tư cách nước phi hạt nhân), và ủng hộ một chương trình Cơ quan Giảm nhẹ Đe dọa Quốc phòng (DTRA) của Hoa Kỳ tại tây Uzbekistan (Nukus và Đảo Vozrozhdeniye). Chính phủ Uzbekistan chi khoảng 3.7% GDP cho quân đội nhưng có được viện trợ Tài chính Quân sự Nước ngoài (FMF) cùng khác khoản hỗ trợ an ninh ngày càng lớn khác từ năm 1998. Uzbekistan đã chấp nhận yêu cầu của Sở chỉ huy Trung ương Hoa Kỳ cho phép sử dụng một căn cứ không quân quân sự có vai trò sống còn, Căn cứ không quân Karshi-Khanabad, phía nam Uzbekistan sau các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001. Sau vụ Thảm sát Andijan và phản ứng sau đó của Hoa Kỳ, Uzbekistan đã yêu cầu quân Mỹ rút khỏi các căn cứ không quân này. Những quân nhân Mỹ cuối cùng rời Uzbekistan tháng 11 năm 2005.
== Quan hệ ngoại giao ==
Uzbekistan đã gia nhập Cộng đồng các quốc gia độc lập vào tháng 12 năm 1991. Tuy nhiên, họ phản đối việc phục hồi và rút lui khỏi thỏa thuận an ninh tập thể của cộng đồng năm 1999. Từ thời điểm đó, Uzbekistan đã tham gia vào lực lượng gìn giữ hòa bình của Cộng đồng tại Tajikistan và trong những nhóm do Liên hiệp quốc tổ chức nhằm giải quyết những cuộc xung đột Tajik và Afghan, mà họ coi là những nguy cơ tiềm tàng cho sự ổn định của mình.
Trước kia có quan hệ gần gũi với Washington (mối quan hệ mang lại cho Uzbekistan nửa tỷ dollar viện trợ năm 2004, khoảng một phần tư ngân sách quân sự của họ), chính phủ Uzbekistan đã hạn chế việc sử dụng căn cứ quân sự tại Karshi-Khanabad cho những chiến dịch tấn công vào nước Afghanistan láng giềng của Hoa Kỳ (xem bài viết của AP).
Uzbekistan từng là nước nhiệt thành ủng hộ các nỗ lực của Hoa Kỳ chống chủ nghĩa khủng bố trên thế giới và đã gia nhập liên minh quân sự ở cả Afghanistan và Iraq. Quan hệ giữa Uzbekistan và Hoa Kỳ đã bắt đầu xấu đi sau cái gọi là "những cuộc cách mạng màu" tại Georgia và Ukraina (và ở mức độ thấp hơn là Kyrgystan). Khi Hoa Kỳ lên tiếng cùng cộng đồng đòi hỏi tiến hành một cuộc điều tra quốc tế về những sự kiện đẫm máu tại Andijon, mối quan hệ xấu đi nhanh chóng và Tổng thống Islam Karimov đã thay đổi liên kết chính trị chuyển sang gần gũi hơn với nước Nga và Trung Quốc, những nước đã không chỉ trích những vị lãnh đạo Uzbekistan vì cái gọi là những hành động vi phạm nhân quyền.
Cuối tháng 7 năm 2005, chính phủ Uzbekistan đã ra lệnh cho quân Mỹ rút khỏi một căn cứ không quân tại Karshi-Kanabad (gần biên giới Uzbek với Afghanistan) trong 180 ngày. Karimov đã đề xuất cho phép Hoa Kỳ sử dụng căn cứ này ngay sau vụ khủng bố 11 tháng 9. Một số người Uzbeks cũng tin rằng các cuộc tuần hành tại Andijan có sự ảnh hưởng phía sau của Mỹ và Anh trong vùng Andijan. Vì thế, đây là một lý do khác cho sự thù địch giữa Uzbekistan và phương Tây.
Uzbekistan là một thành viên Liên hiệp quốc (từ ngày 2 tháng 3 năm 1992), Hội đồng Cộng tác Euro-Atlantic, Cộng tác vì Hòa bình, và Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE). Nước này cũng là một thành viên của Tổ chức Hội nghị Hồi giáo (OIC) và Tổ chức Hợp tác Kinh tế (gồm năm quốc gia Trung Á, Azerbaijan, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Afghanistan, và Pakistan). Năm 1999, Uzbekistan gia nhập liên minh GUAM (Georgia, Ukraina, Azerbaijan và Moldova), được thành lập từ năm 1997 (biến nó thành GUUAM), nhưng đã rút lui năm 2005. Uzbekistan cũng là một thành viên của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) và đã đứng ra tổ chức Cơ cấu Chống Khủng bố cấp Vùng (RATS) của SCO tại Tashkent. Uzbekistan cũng đã gia nhập Tổ chức Hợp tác Trung Á (CACO) năm 2002. CACO gồm Uzbekistan, Tajikistan, Kazakhstan, và Kyrgyzstan. Nước này là thành viên sáng lập và hiện vẫn tham gia Liên minh Trung Á, cùng Kazakhstan và Kyrgyzstan, tháng 3 năm 1998 Tajikistan cũng gia nhập tổ chức này.
Tháng 9, UNESCO đã bày tỏ ý định trao cho Islam Karimov một giải thưởng về sự bảo tồn nền văn hóa và truyền thống phong phú của Uzbekistan. Dù vị Tổng thống này vẫn bị phương tây chỉ trích, đây có thể coi là một dấu hiệu cải thiện quan hệ giữa Uzbekistan và phương Tây.
Tháng 10 năm 2006 có lẽ là thời điểm Uzbekistan không còn bị phương Tây cô lập. EU gần đây đã thông báo họ có kế hoạch gửi các đoàn đại biểu tới Uzbekistan để đàm phán về nhân quyền và tự do sau một giai đoạn quan hệ thù địch khá dài giữa hai bên. Dù sự thực về Vụ thảm sát Andijan vẫn chưa được khám phá, EU đã bày tỏ quan tâm tới việc giảm bớt các biện pháp trừng phạt kinh tế chống Uzbekistan. Tuy nhiên, trong cộng đồng dân cư Uzbek quan điểm chung vẫn cho rằng chính phủ sẽ bảo vệ lập trường của mình và giữ quan hệ bền chặt với Liên bang Nga và tiếp tục chỉ trích rằng những cuộc tuần hành phản kháng năm 2004-2005 tại Uzbekistan có bàn tay xúi giục của Hoa Kỳ và Anh Quốc.
== Văn hoá ==
== Tôn giáo ==
Hồi giáo là đến nay là tôn giáo chiếm ưu thế ở Uzbekistan với 90% dân số trong khi 5% dân số theo Chính Thống giáo Nga, và 5% dân số theo tôn giáo khác. Tuy nhiên, một báo cáo nghiên cứu của tổ chức Pew Center vào năm 2009 cho biết có đến 96,3% dân số theo Hồi giáo. Ước tính có khoảng 93.000 người Do Thái giáo đã từng hiện diện trong nước.
Tuy là tôn giáo lớn nhất nước, nhưng sự thực hành đạo Hồi là rất ít. Có nhiều truyền thống Hồi giáo được thực hành tại Uzbekistan đã dẫn đến sự xung đột. Điều này đang làm Hồi giáo ở quốc gia này suy giảm nghiêm trọng. Sự chấm dứt quyền lực của Liên Xô tại Uzbekistan đã không mang lại một sự bùng nổ của trào lưu Hồi giáo chính thống, như nhiều người dự đoán, mà là một sự xa rời dần với giới luật và đức tin Hồi giáo.
Mặc dù hiến pháp duy trì quyền tự do tôn giáo, Uzbekistan vẫn duy trì lệnh cấm tất cả các hoạt động tôn giáo không được sự chấp thuận của nhà nước, đặc biệt là sự đối xử khắc nghiệt của chính quyền với các Kitô hữu, tín đồ Tin Lành là những tôn giáo đang được phổ biến trong người dân.
== Môi trường ==
Tình hình môi trường hiện tại tại Uzbekistan dường như là một mối lo ngại lớn trong cộng đồng quốc tế. Hàng thập kỷ áp dụng các chính sách mang tư duy sai lầm thời Xô viết nhằm mở rộng tối đa diện tích trồng bông đã mang lại một thảm họa thiên nhiên cho nước này. Công nghiệp nông nghiệp dường như là yếu tố chính gây ô nhiễm và xuống cấp không khí, nước trong quốc gia. [29]
Thảm hoạ Biển Aral chính là một ví dụ kinh điển. Một vấn đề còn lại ai là người chịu trách nhiệm cho thảm họa này: các nhà khoa học và chính trị Xô viết những người đã ra lệnh ngăn nước dẫn tới sự bắt đầu thảm họa trong thập niên sáu mươi, hay những chính sách thời hậu Xô viết khi việc thiếu tiền xây dựng các đập chắn và hệ thống tưới tiêu là nguyên nhân. Biển Aral từng là biển nội địa lớn thứ tư trên Trái đất, hoạt động như một yếu tố điều hòa độ ẩm không khí. [30]
Từ thập niên 1960, thập niên của việc sử dụng sai lầm nguồn nước Biển Aral bắt đầu, Biển Aral đã giảm 50% diện tích và kích thước, và giảm thể tích chỉ còn một phần ba. Những dự liệu đáng tín cậy và chính xác nhất vẫn chưa được thu thập, lưu trữ hay cung cấp bởi bất kỳ một tổ chức hay cơ quan chính thức nào. Số lượng con người và động vật bị ảnh hưởng bởi thảm họa này chỉ có thể được ước đoán.
Vì vấn đề Biển Aral, tình trạng tập trung độ mặn cao là điều bình thường tại Uzbekistan. Đa số các nguồn nước của quốc gia này được dùng cho nông ngiệp, chiếm gần 94% sự sử dụng nước. [31] This results in heavy use of pesticides and fertilizers. [32]
== Thể thao ==
Uzbekistan là một trong nhiều nền thể thao đang nổi ở châu Á. Đội tuyển bóng đá quốc gia Uzbekistan đã từng làm nên nhiều chiến tích tuyệt vời khi lọt vào 6 kì AFC Asian Cup liên tiếp vào các năm 1996, 2000, 2004, 2007, 2011 & mới đây là năm 2015.
== Tham khảo ==
Chasing the Sea: Lost Among the Ghosts of Empire in Central Asia by Tom Bissell
A Historical Atlas of Uzbekistan by Aisha Khan
The Modern Uzbeks From the 14th Century to the Present: A Cultural History by Edward A. Allworth
Nationalism in Uzbekistan: Soviet Republic's Road to Sovereignty by James Critchlow
Odyssey Guide: Uzbekistan by Calcum Macleod and Bradley Mayhew
Uzbekistan: Heirs to the Silk Road by Johannes Kalter and Margareta Pavaloi
"Silk Road to Ruin: Is Central Asia the New Middle East?" by Ted Rall
Murder in Samarkand - A British Ambassador's Controversial Defiance of Tyranny in the War on Terror by Craig Murray
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Discover Uzbekistan
Uzbekistan Government
Open Directory Project - Uzbekistan directory category
Library of Congress - A Country Study: Uzbekistan
Uzbekistan Photo Gallery
Travel story about Uzbekistan by Ira Spitzer
Lots of Uzbekistanian Recipes on www.CookBookWiki.com
Uzbek English online dictionary
Radio Free Europe/Radio Liberty News and Features on Uzbekistan in English.
Startpage Uzbekistan
Undercover in Uzbekistan Documentary
Uzbekistan's Ombudsman - Authorized Person for Human Rights of Uzbekistan's Parliament (Oliy Majlis)
Lower House of Uzbek parliament
Upper House of Uzbek parliament
Uzbek news web site
Uzbekistan Daily, news on Uzbekistan
Bản mẫu:Cộng đồng Kinh tế Âu Á Bản mẫu:Vùng nói tiếng Turkic |
microsoft developer network.txt | Mạng Lập trình viên Microsoft (Microsoft Developer Network) thường được gọi tắt là MSDN, là một sản phẩm của Microsoft lập ra để tạo ra mối liên hệ giữa công ty và các nhà phát triển (developer) cũng như các người kiểm thử (tester) quan tâm đến các hệ điều hành (OS), và các nhà phát triển đang phát triển các ứng dụng trong các nền tảng hệ điều hành khác nhau hoặc sử dụng API hoặc ngôn ngữ của Microsoft. Việc quản lý các mối quan hệ nằm trong các phương diện sau: các trang web, bản tin, các hội nghị phát triển, phương tiện truyền thông, các trang blog và các bản phân phối DVD.
== Trang web ==
Trang web chính của MSDN hiện diện tại địa chỉ msdn.microsoft.com là một bộ sưu tập các trang web cho cộng đồng phát triển bằng cách cung cấp thông tin, tài liệu, và các bài thảo luận đã được xác nhận bởi cả Microsoft và cộng đồng. Gần đây, Microsoft nhấn mạnh sự kết hợp của các diễn đàn, thư viện và chú thích để biến MSDN trở thành một trang mở với cộng đồng phát triển thay vì chỉ là một trang thông tin một chiều. Trang chính và hầu hết thành phần ứng dụng của nó đã được dịch sang 56 ngôn ngữ.
=== Thư viện ===
Thư viện MSDN là một thư viện chính thức về các tài liệu kỹ thuật dành cho nhà phát triển đang phát triển ứng dụng cho Microsoft Windows. Tài liệu trong thư viện MSDN nói về những APIs được bán kèm với các sản phẩm của Microsoft. Ngoài ra, thư viện còn có những bài lập trình mẫu cũng như các thông tin khác line quan điến việc lập trình. Nó được phát hành miễn phí trên web và trên các đĩa CD và DVD cho những thành viên đã đăng ký. Ban đầu, phiên bản trên đĩa chỉ là một phần của dịch vụ MSDN và được phát hành mỗi tháng một quý (tháng 1, 4, 7 và tháng 10 hàng năm). Tuy nhiên, trong thời gian gần đây (2006 về sau), người dùng có thể tải miễn phí nội dung thư viện từ Trung tâm Tải về Microsoft (Microsoft Download Center) ở dạng các tập tin ISO vì các đĩa CD và DVD không còn xuất bản theo quý nữa. Thay vào đó, lịch phát hành của thư viện bây giờ trùng với lịch phát hành của những phần mềm lớn (Visual Studio, các bản Windows hay các gói dịch vụ).
Phiên bản Visual Studio Express chỉ tích hợp trong thư viện MSDN Express (một phiên bản nhỏ của MSDN), mặc dù người dùng có thể thoải mái tải và cài đặt nó ở cả hai phiên bản MSDN.
==== Tích hợp với Visual Studio ====
Mỗi phiên bản thư viện MSDN chỉ có thể được truy cập với một chương trình xem trợ giúp (Microsoft Document Explorer hoặc cá phần mềm xem giúp đỡ khác). Ngoài ra, các phiên bản mới của Visual Studio thì không tích hợp các phiên bản cũ của MSDN. Một thư viện MSDN tương thích được phát hành với mỗi phiên bản của Visual Studio và bao gồm trên DVD Visual Studio. Như thế, mỗi phiên bản Visual Studio ra đời thì lại có một phiên bản thư viện MSDN đi kèm, do vậy thường thì những tài liệu cũ/lỗi thời không còn được hỗ trợ (để tập trung cho phiên bản mới). Tuy thế, các thư viện MSDN có thể được cài đặt cùng nhau, nghĩa là người dùng vẫn có thể cài đặt và sử dụng nhiều phiên bản MSDN cùng lúc.
=== Diễn đàn ===
Diễn đàn MSDN là những diễn đàn trực tuyến được sử dụng bởi cộng đồng để thảo luận về một loạt chủ đề khác nhau về việc phát triển phần mềm. Diễn đàn MSDN đã được chuyển qua nền tảng mới trong năm 2008, cung cấp nhiều tính năng mới được thiết kế để cải thiện hiệu quả như kiểm trước nội dung của chủ đề, lọc AJAX, và tính năng biên tập slide-up.
=== Blog ===
Blog MSDN là một loạt các blog của Microsoft lưu ở tên miền blogs.msdn.com. Một số blog được dành riêng cho một sản phẩm – ví dụ như Visual Studio, Internet Explorer, PowerShell – hoặc một phiên bản của một sản phẩm – ví dụ như Windows 7, Windows 8 – trong khi những blog khác thuộc về một nhân viên Microsoft, ví dụ như Michael Howard hoặc Raymond Chen.
=== Social Bookmarking ===
Social bookmarking trên MSDN Social được giới thiệu lần đầu năm 2008, được xây dựng bằng một trang web trên nền tảng mới mà có cơ chế cốt lõi là gắn thẻ người dùng và news feed. Mục tiêu của các ứng dụng đánh dấu xã hội là cung cấp một phương pháp giúp thành viên của cộng đồng phát triển có thể:
Đóng góp vào một cơ sở các liên kết chất lượng trên bất kỳ chủ đề nào trên web. Bằng cách lọc một hoặc nhiều thẻ (ví dụ ".net" và "database") người dùng có thể khám phá các liên kết nổi tiếng hoặc được dùng gần đây và đăng ký để nhận feeds của những liên kết đó.
Tìm kiếm và theo dõi các trang web mà các chuyên gia đề nghị. Mỗi trang hồ sơ bao gồm một chuỗi feeds của các đóng góp của người dùng. Người dùng cũng có thể được tìm kiếm thông qua một menu đổ-xuống trên mỗi đánh dấu.
Chứng minh chuyên môn của họ bằng các đường dẫn trong hồ sơ của họ.
Lưu trữ các link yêu thích của họ.
Việc phát hành ban đầu của ứng dụng cũng cấp các tính năng chuẩn, trong đó có bookmarklet và khả năng nhập. Các trang web MSDN cũng bắt đầu đầu kết hợp feeds của các thẻ từ các chuyên gia và cộng đồng, hiển thị cùng với dữ liệu từ các blogger có liên quan.
Social Bookmarks ngừng hoạt động vào tháng 10 năm 2009.
=== Thư viện ===
Thư viện MSDN là một kho lưu trữ các mẫu mã nguồn và dự án của cộng đồng. Trong năm 2008, mục đích của website vẫn là phát triển để bổ sung cho Codeplex, dự án mã nguồn mở từ Microsoft.
== Đăng ký phần mềm ==
Trong lịch sử MSDN đã cung cấp một gói trong đó các nhà phát triển có quyền truy cập, và có giấy phép sử dụng gần như tất cả các phần mềm mà Microsoft phát hành công khai. Các mẫu đăng ký được bán hàng năm, và chi phí là khoảng từ $2,000 đến $20,000 (USD) mỗi năm cho mỗi đăng ký, đi kèm đó là một số bó buộc. Chủ sở hữu của đăng ký như vậy (mức thấp nhất của thư viện) nhận được các phần mềm mới của Microsoft qua DVD hoặc thông qua việc tải xuống sau mỗi tuần hoặc tháng. Phần mềm nói chung là được đánh dấu đặc biệt trong các đĩa MSDN, nhưng có sự giống nhau trong các đơn hàng bán lẻ và trong volume-license khi nó được phát hành ra công chúng.
Mặc dù trong nhiều trường hợp các phần mềm có chức năng chính xác như các sản phẩm đầy đủ, thỏa thuận người dùng cuối của MSDN cấm sử dụng các phần mềm ở môi trường doanh nghiệp. Đây là một giới hạn hợp pháp, không phải là vấn đề kỹ thuật. Ví dụ, MSDN có chứa các hệ điều hành Windows mới nhất (như Windows 7, Windows 8 và Windows 8.1), các phần mềm máy chủ như QSL Server 2008, các công cụ phát triển như Visual Studio, và các ứng dụng như Microsoft Office và MapPoint. Đối với phần mềm đó yêu cầu một khóa sản phẩm, người dùng có thể lấy khóa bằng cách yêu cầu một trang web của Microsoft. Như một gói cung cấp một máy tính duy nhất đam mê với quyền truy cập vào gần như tất cả mọi thứ Microsoft cung cấp. Tuy nhiên, một doanh nghiệp bắt gặp với một phòng đầy đủ của máy tính và máy chủ chạy phần mềm bao gồm trong một bài dạy kèm thuê bao không thích hợp không bài dạy kèm giấy phép cho những máy này sẽ được đối xử không khác nhau trong một phần mềm cấp phép kiểm toán hơn nếu các phần mềm đã được thông qua vi phạm bản quyền.
Giấy phép thỏa thuận MSDN của Microsoft tạo ra một ngoại lệ cho Microsoft Office, cho phép thuê bao sử dụng nó cho mục đích kinh doanh mà không cần một giấy phép riêng — nhưng chỉ với "bài dạy kèm đăng Ký Cao cấp" và vì vậy, thậm chí chỉ "trực tiếp liên quan đến sự phát triển thử nghiệm và/hoặc tài liệu của dự án phần mềm" như đã nói trong bài dạy kèm cấp phép. Như mong đợi, bất kỳ phần mềm tạo ra bằng các công cụ phát triển (như Visual Studio), cùng với các phần cần thiết để sử dụng nó, không bị giới hạn bởi Microsoft trong bất kỳ trường hợp nào. Giấy phép thỏa thuận đề cập đến một mục khác trong đăng ký và trợ cấp thêm tương tự, trừ khi thích hợp.
Một thuê bao MSDN được kích hoạt bản sao nhiều lần nếu cần thiết cho mục đích phát triển. Do đó, nếu một người đam mê máy tính có 20 máy tính (thực tế hoặc máy ảo) và anh ta sử dụng cho mục đích phát triển phần mềm (tất nhiên anh ta không hành động như là một phần của một doanh nghiệp), một thuê bao sẽ cho phép anh ta cài đặt, kích hoạt và sử dụng Windows, Office và những sản phẩm Microsoft khác trên tất cả 20 máy tính đó. Sau một vài lần cài đặt, khóa kích hoạt ngừng cho phép tự động kích hoạt sản phẩm trên Internet, nhưng sau một cuộc gọi điện thoại để qua đường dây nóng để xác nhận rằng cài đặt có thực sự hợp pháp và phù hợp với những thỏa thuận giấy phép, các cuộc kích hoạt vẫn được thông qua bằng điện thoại.
Mặc dù một thuê bao MSDN có thời hạn một năm (cho các thuê bao đăng ký lẻ — các thuê bao dạng volume có thể có thời hạn kéo dài nhiều năm), giấy phép sử dụng các phần mềm là vĩnh viễn, theo thỏa thuận. Các cá nhân đăng ký lẻ chỉ không thể đòi hỏi bất cứ nâng cấp nào sau khi thuê bao hết hạn. Các thue bao MSDN cũng được phép tải và sử dụng các phần mềm đã lỗi thời của Microsoft. Mặc dù Microsoft không cũng cấp chúng trong đĩa CD /DVD, các thuê bao vẫn có thể tải về phần mềm như MS-DOS 5.0 và Windows 3.1 trong MSDN Subscriber Downloads. Phần mềm như vậy thường nói trong hình thức của ISO hay đĩa mềm hình ảnh các tập tin đó cho phép người để tái tạo sự sắp đặt phương tiện truyền thông sau khi tải.
== Dịch vụ thông tin ==
Sự phân chia này vận hành các dịch vụ thông tin cung cấp bởi Microsoft cho các nhà phát triển. Nó tập trung vào nền tảng .NET của Microsoft, tuy nhiên nó cũng có những bài viết trên lĩnh vực khác chẳng hạn như chương trình thực tiễn, mẫu thiết kế. Rất nhiều nguồn miễn phí trên mạng, trong khi những nguồn khác đang chỉ hiện hữu cho qua thư cho các thuê bao đã đăng ký.
Tùy thuộc vào cấp độ đăng ký, các thuê bao có thể nhận sớm các phiên bản hệ điều hành của Microsoft hoặc các sản phẩm khác (các ứng dụng trong bộ Microsoft Office, Visual Studio,...).
Các trường đại học và trường trung học có thể ghi danh trong DreamSpark Premium, chương trình cho các sinh viên khoa học máy tính hoặc sinh viên kỹ thuật của họ quyền truy cập vào một số phần mềm phát triển của Microsoft (đôi khi sinh viên các khoa khác cũng có quyền lợi tương tự). Một tài khoản DreamSpark Premium không thể được sử dụng để truy cập vào phần riêng của các thuê bao MSDN khác.
== Tạp chí MSDN ==
Microsoft cung cấp các nội dung biên tập cho Tạp chí MSDN (được phát hành hàng tháng). Tạp chí này được xem là sự hợp nhất giữa Microsoft System Journal (MSJ) và Microsoft Internet Internet Developer (MIND)trong tháng 3 năm 2000. MSJ trở lại cung cấp thông tin một cách trực tuyến. Tạp chí MSDN có sẵn dưới dạng tạp chí in giấy tại Hoa Kỳ, và dạng tạp chí trực tuyến trong 11 ngôn ngữ.
== Lịch sử ==
MSDN được phát hành lần đầu tiên vào tháng 6 năm 1992 dạng thường quý, các bài viết kỹ thuật trên CD-ROM, mã nguồn mẫu, các bộ phát triển phần mềm, cũng như tờ báo 16 trang Microsoft Developer Network News, được biên tập bởi Andrew Himes, biên tập viên thành lập của trang tạp chí công nghệ Macintosh MacTech,. Gói thuê bao cấp II được thêm vào tạp chí vào năm 1993, bao gồm MAPI, ODBC, TAPI và VFW SDK.
MSDN2 đã được mở ra trong tháng 11 năm 2004 như một nguồn thông tin cho các API của Visual Studio 2005, đáng chú ý bởi sự khác biệt được cập nhật mã trang web phù hợp hơn với các tiêu chuẩn web và như thế đã hỗ trợ các API của các trình duyệt thay thế cho Internet Explorer. Vào năm 2008, Microsoft cho cụm MSDN gốc nghỉ hưu và dành tên miền msdn.microsoft.com cho MSDN2.
=== Dr GUI và Nhóm Viết bài MSDN ===
Vào năm 1996, Bob Gunderson bắt đầu viết một đề mục trong Microsoft Network News, được biên tập bởi Andrew Himes, sử dụng bí danh "Tiến sĩ GUI (Dr. GUI)". Mục này cung cấp câu trả lời cho câu hỏi được đưa ra bởi các thuê bao MSDN. Các bức tranh biếm họa của Dr. GUI dựa trên một bức ảnh của Gunderson. Khi ông rời đội MSDN, Dennis Crain nắm vị trí của ông và thêm tính hài hước vào các bài viết. Khi ông đi, Tiến sĩ GUI trở thành nhận dạng của nhóm ban đầu, nổi bật nhất là Paul Johns của Developer Technology Engineers đã cung cấp các bài viết chuyên ngành cho thư viện. Các thành viên đầu tiên của nhóm bao gồm Bob Gunderson, Dale Rogerson, Ruediger R. Asche, Ken Lassesen, Nigel Thompson (ngoài ra còn có Herman Rodent), Nancy Cluts, Paul Johns, Dennis Crain, và Ken Bergmann. Nigel Thompson là người quản lý phát triển cho Windows Multimedia Extensions (giúp Windows xử lý các nội dung đa phương tiện). Renan Jeffreis sản xuất hệ thống ban đầu (Panda) để xuất bản MSDN trên Internet và HTML thay vì các công nghệ xem đa phương tiện trước đó. Dale Rogerson, Nigel Thompson và Nancy Cluts xuất bản sách MS Press trong khi vẫn làm việc trong nhóm. Đến tháng 8 năm 2010, chỉ còn Dennis Crain và Dale Rogerson là vẫn còn làm việc cho Microsoft.
== Xem thêm ==
IBM DeveloperWorks
DreamSpark
Microsoft TechNet
The Code Room
== Tham khảo == |
vùng thủ đô tōkyō.txt | Vùng thủ đô Tokyo (kanji: 首都圏 / hiragana: しゅとけん / romaji: shutoken hoặc 東京圏 / とうきょうけん / Tōkyōken) là tên gọi chung của khu vực bao gồm thủ đô Tokyo và các tỉnh lân cận. Theo Luật quy hoạch vùng thủ đô (1956, 首都圏整備法), có sáu tỉnh lân cận Tokyo là Chiba, Gunma, Ibaraki, Kanagawa, Saitama, Tochigi và Yamanashi nằm trong vùng thủ đô. Tuy nhiên, thường chỉ có các cơ quan chính phủ sử dụng phạm vi vùng thủ đô như vậy. Còn quốc dân nói chung coi vùng thủ đô chỉ gồm Tokyo và ba tỉnh lân cận là Chiba, Kanagawa và Saitama. Trong khi đó, Bản tin đặc biệt vùng thủ đô của hãng truyền thông NHK lại xác định vùng thủ đô Tokyo với phạm vi lớn hơn trong cách xác định của Chính phủ và bao gồm cả hai tỉnh Nagano và Niigata.
Khu vực này có nền kinh tế đô thị lớn nhất trên thế giới, với tổng GDP (danh nghĩa) của khoảng 1.900 tỷ USD (165 nghìn tỷ Yên) trong năm 2008. Theo nghiên cứu được công bố bởi Công ty PricewaterhouseCoopers, vùng đô thị Tokyo có GDP tổng cộng 1.479 tỷ USD trong năm 2008 (theo phương pháp tính sức mua ngang giá PPP), xếp hạng nhất về GDP trong các vùng đô thị lớn nhất trên thế giới.
== Xem thêm ==
Vùng Nam Kanto
Vùng đô thị Kinki
Danh sách vùng đô thị châu Á
== Ghi chú == |
16 tháng 4.txt | Ngày 16 tháng 4 là ngày thứ 106 trong mỗi năm thường (ngày thứ 107 trong mỗi năm nhuận). Còn 259 ngày nữa trong năm.
== Sự kiện ==
1917 – Vladimir Ilyich Lenin trở lại Petrograd (ngày nay là Sankt-Peterburg) sau khi bị đày đến Phần Lan.
1919 – Mahatma Gandhi kêu gọi chuẩn bị ngày "cầu nguyện và ăn chay" để đáp lại hành động quân Anh tàn sát người Ấn Độ trong Thảm sát ở Amritsar. Gandhi chuẩn bị ngày này, ông chống chính phủ Anh một cách gián tiếp vì ông đã làm ngừng trệ nền kinh tế (không còn người Hindu làm việc trong ngày đó).
1947 – Bernard Baruch đặt ra từ "chiến tranh lạnh để diễn tả quan hệ giữa Hoa Kỳ và Liên Xô.
1947 - Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo mất tích.
1951 - Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 09 – NQ/TW về "Thành lập các ban và tiểu ban giúp việc"
1972 – Chương trình Apollo: Tàu Apollo 16 đổ bộ xuống Mặt Trăng từ Mũi Canaveral, Florida, Hoa Kỳ.
1972 – Chiến tranh Việt Nam: Tấn công Nguyễn Huệ: Sau tấn công của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, quân Mỹ lại tiếp tục ném bom xuống Hà Nội và Hải Phòng.
1972 – Tiểu thuyết gia người Nhật Bản Kawabata Yasunari tự tử bằng khí đốt trong một căn phòng tại tỉnh Kanagawa.
1975 – Chiến tranh Việt Nam: Ngày Giải phóng tỉnh Ninh Thuận.
2007 – Sinh viên Cho Seung-Hui tiến hành thảm sát tại Đại học Bách khoa Virginia, Hoa Kỳ, khiến hàng chục người thương vong.
2014 – Phà Sewol bị lật tại Hoàng Hải khi đang trên hành trình từ Incheon đến Jeju, Hàn Quốc, khiến hơn 290 người thiệt mạng.
== Sinh ==
1867 – Wilbur Wright, phi công đầu tiên (m. 1912)
1889 – Charlie Chaplin, diễn viên đóng phim, nhà biên kịch, chủ nhiệm phim (m. 1977)
1927 – Giáo hoàng Biển Đức XVI
1940 – Nữ hoàng Đan Mạch Margaret II
== Mất ==
1781 - Đỗ Thanh Nhơn, danh tướng Việt Nam cuối thế kỷ 18
1813 - Kutuzov, Nguyên soái Đế quốc Nga.
== Ngày lễ và ngày kỷ niệm ==
… 1993, 2004, 2015 … – Thứ sáu trong tuần lễ sau Lễ Phục Sinh
Iceland: Ngày sinh của Nữ hoàng
== Tham khảo == |
quân chủ tuyển cử.txt | Quân chủ tuyển cử là một chế độ quân chủ cai trị bởi một vị vua được bầu lên, trái ngược với một chế độ quân chủ cha truyền con nối, trong đó ngôi vua được tự động truyền lại như một di sản gia đình. Cách thức bầu cử, bản chất của trình độ ứng cử viên, và các cử tri khác nhau theo từng trường hợp. Trong lịch sử nó không phải là không phổ biến cho chế độ quân chủ tuyển cử biến đổi thành một chế độ quân chủ cha truyền con nối, hoặc một chế độ quân chủ cha truyền con nối thỉnh thoảng lại có sự lựa chọn.
== Tiến hóa ==
Hầu hết các vương quốc trong lịch sử chính thức lựa chọn nhà vua, mặc dù các ứng viên thường chỉ từ dòng dõi của vị vua quá cố. Tuy nhiên, sau đó đa số các chế độ quân chủ tuyển cử lại chọn quân chủ cha truyền con nối, để đảm bảo các chức tước và ngai vàng thuộc về gia đình mình và nêu rõ, ít nhiều, thứ tự kế vị. Ngày nay, gần như tất cả các chế độ quân chủ là chế độ quân chủ cha truyền con nối, trong đó các quốc vương xuất phát từ một gia đình hoàng gia nơi ngai vàng được chuyền từ một người sang một người khác trong gia đình sau cái chết hoặc do sự thoái vị của người đương nhiệm.
== Chú thích == |
thếp vàng.txt | Thếp vàng là kỹ thuật trang trí dán lớp vàng lá, cũng gọi là vàng quỳ, thật mỏng lên mặt các vật dụng bằng gỗ, đá, và kim loại để tạo màu sắc bằng vàng.
Cách thếp vàng truyền thống là dán vàng bằng tay nhưng sang thời hiện đại thì cũng có thể thếp vàng bằng hóa học và điện lực, tức mạ vàng.
== Việt Nam ==
Tại Việt Nam ngoài các chất liệu gỗ, đá, các mặt hàng sơn mài cũng được dùng thếp vàng, dùng sơn ta làm keo dính. Làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội là làng nghề có tiếng thếp vàng, chủ yếu là đồ thờ tam sự, ngũ sự, hoành phi, câu đối cùng tượng Phật. Làng Sơn Đồng, huyện Hoài Đức cũng là nơi giỏi nghề thếp.
Ở Huế thì làng Tiên Nộn là nơi từng cung cấp các vật dụng thếp vàng cho triều đình nhà Nguyễn. Đối với vua chúa và các nhà quyền quý thì những vật thường dụng kể cả bàn, ghế, sập gỗ, tủ chè cũng được thếp vàng.
== Tham khảo == |
thời kỳ azuchi-momoyama.txt | Thời đại Azuchi-Momoyama (安土桃山時代, azuchi momoyama jidai-An Thổ, Đào Sơn thời đại) ở vào cuối thời Chiến quốc ở Nhật Bản, khi sự thống nhất chính trị trước khi Mạc phủ Tokugawa thành lập. Nó kéo dài từ khoảng năm 1568 đến 1603, khi Oda Nobunaga và người kế thừa ông, Toyotomi Hideyoshi, áp đặt trật tự lên sự hỗn loạn tràn lan từ khi Mạc phủ Ashikaga sụp đổ. Tên của thời kỳ này được lấy theo tên lâu đài của Nobunaga, thành Azuchi, ngày ngay nằm ở thị trấn Azuchi, quận Shiga và lâu đài của Hideyoshi, lâu đài Momoyama (còn được gọi là lâu đài Fushimi), ở Kyoto.
Theo nghĩa rộng, thời kỳ này bắt đầu với việc Nobunaga tiến vào Kyoto năm 1568, khi ông dẫn quân mình đến thủ đô để đặt Ashikaga Yoshiaki lên ngôi vị Shogun thứ 15 của Mạc phủ Ashikaga, cho đến khi Tokugawa Ieyasu nắm quyền sau chiến thắng trước những người trung thành với gia tộc Toyotomi trong trận Sekigahara năm 1600.
== Giai đoạn Oda Nobunaga nổi lên ở khu vực quanh kinh đô ==
Trong nửa cuối thế kỷ 16, một loạt các lãnh chúa Đại danh khác nhau có đủ sức mạnh để vừa điều khiển Mạc phủ Muromachi cho lợi ích của mình, vừa có thể lật đổ họ. Một nỗ lực để lật đổ Mạc phủ diễn ra năm 1560 bởi Imagawa Yoshimoto, người tiến quân đến thủ đô và có một kết cục đầy nhục nhã trong tay Oda Nobunaga ở trận Okehazama. Năm 1565, liên minh giữa Matsunaga và gia tộc Miyoshi làm phản bằng cách ám sát Ashikaga Yoshiteru, Shogun Ashikaga thứ 13. Tuy vậy, đấu đá nội bộ đã cản trở hành động nhanh chóng để hợp pháp hóa việc tuyên bố quyền lực, và cho đến tận năm 1568, họ mới chọn được cháu của Yoshiteru, Ashikaga Yoshihide, làm Shogun tiếp theo. Thất bại trong việc tiến vào Kyoto và được triều đình công nhận, tuy vậy, làm việc thừa kế không còn chắc chắn, và một nhóm những thuộc hạ của Mạc phủ dẫn đầu bởi Hosokawa Fujitaka đàm phán với Nobunaga để ủng hộ em trai của Yoshiteru là Yoshiaki.
Nobunaga, người đã chuẩn bị trong nhiều năm chỉ để có cơ hội này bằng cách lập liên minh với nhà Azai ở phía Bắc tỉnh Omi và sau đó xâm lược tỉnh láng giềng Mino, nay hành quân đến Kyoto. Sau khi đánh bại nhà Rokkaku ở phía Nam Omi, Nobunaga ép Rokkaku đầu hàng và nhà Miyoshi rút lui khỏi Settsu. Ông sau đó tiến vào thủ đô, nơi ông thành công trong việc có được sự công nhận của Nhật hoàng với Yoshiaki, người trở thành Shogun Ashikaga thứ 15.
Nobunaga, tuy vậy, không có ý định phục vụ Mạc phủ Muromachi, và thay vào đó giờ đây chuyển sự chú ý sang việc kiểm soát vùng Kinai. Sự kháng cự từ các daimyo thù địch, các nhà sư không thỏa hiệp, và các thương gia đối nghịch bị đánh bại nhanh chóng và tàn nhẫn, và Nobunaga nhanh chóng bị coi là tàn bạo, độc ác với đối thủ. Để tiếp sức cho những bước đi chính trị và quân sự, ông tiến hành cải cách kinh tế, phá bỏ các rào cản thương mại bằng cách vô hiệu hóa những sự độc quyền truyền thống bởi đền thờ và phường hội và đề xuất các sáng kiến bằng cách thiết lập các chợ tự do được gọi là rakuichi-rakuza.
Năm 1573, ông tiêu diệt liên minh nhà Azai và Asakura đe dọa sườn phía Bắc, xóa sạch quân đội của các nhà sư Thiên Thai tông đặt đầu não ở núi Hiei gần Kyoto, và cũng tránh một cuộc đối đầu tiềm tàng với Takeda Shingen, người bất ngờ bị ốm và qua đời khi quân đội của ông sắp tiêu diệt nhà Tokugawa và xâm nhập lãnh địa nhà Oda trên đường đến Kyoto.
Kể cả sau cái chết của Shingen, vẫn còn vài daimyo hùng mạnh chống lại Nobunaga, nhưng không ai ở đủ gần Kyoto để có thể có một sự đe dọa chính trị, và việc thống nhất dưới ngọn cờ nhà Oda chỉ còn là vấn đề thời gian.
Trong thời gian từ 1576 đến 1579, Nobunaga xây dựng bên bờ hồ Biwa ở Azuchi (ngày nay là quận Shiga) lâu đài Azuchi, một lâu đài bảy tầng tráng lệ với ý định không chỉ là một pháo đài không thể đánh chiếm mà còn là dinh thự xa hoa và tồn tại như một biểu tượng của sự thống nhất.
Đã nắm chặt được vùng Kinai, Nobunaga nay đã đủ mạnh để cử các tướng của mình đi chinh phục các tỉnh xa. Shibata Katsuie được giao nhiệm vụ xâm chiếm gia tộc Uesugi ở Etchū, Takigawa Kazumasa đối đầu với nhà Takeda ở Kai, và Hashiba Hideyoshi được giao nhiệm vụ ghê gớm là đối mặt với nhà Mori ở vùng Chūgoku ở phí Tây đảo Honshū.
Năm 1582, sau một chiến dịch dài hơi, Hideyoshi yêu cầu Nobunaga tăng viện để đè bẹp sự kháng cự. Nobunaga, dừng chân ở Kyoto trên đường hành quân về phía Tây với chỉ có một số nhỏ lính theo hầu, bị tấn công và sát hạt bởi một trong những tướng quân bất mãn với mình, Akechi Mitsuhide.
== Hideyoshi hoàn thành việc thống nhất ==
Tiếp sau đó là sự tranh giành giữa các thuộc hạ hùng mạnh nhất của Nobunaga để báo thù cho chủ và sau đó thiết lập địa vị thống trị bằng cách thương thuyết tái tổ chức lại gia tộc Oda. Tình hình ngày càng trở nên gay cấn khi họ biết rằng con trưởng và người thừa kế của Nobunaga là Nobutada bị giết, khiến cho nhà Oda không còn người thừa kế chắc chắn nữa.
Nhanh chóng ký hòa ước với gia tộc Mori trước khi họ kịp biết đến cái chết của Nobunaga, Hideyoshi đưa quân đội của mình hành quân thẳng đến kẻ thù của mình và tiêu diệt hắn ở trận Yamazaki, chưa đến hai tuần sau.
Mặc dù là một người bình dân đi lên từ lính trơn, Hideyoshi nay ở vị trí thách thức hầu hết những thuộc hạ của nhà Oda, và đề xuất đứa con còn thơ bé của Nobutada, Sanpōshi (sau này là Oda Hidenobu), được đặt làm người kế vị thay vì con thứ ba của Nobunaga là Nobutaka, người được Shibata Katsuie phò trợ. Đã có được sự ủng hộ của vài thuộc hạ cao cấp khác, bao gồm Niwa Nagahide và Ikeda Itsuoki, Sanpōshi được làm người thừa kế và Hideyoshi nhận nhiệm vụ Nhiếp chính.
Tuy vậy, các âm mưu chính trị tiếp diễn cuối cùng dẫn đến sự đối đầu. Sau khi đánh bại Shibata trong trận Shizugatake năm 1583 và cam chịu thế bế tắc đắt giá nhưng vẫn có lợi thế với Tokugawa Ieyasu ở trận Komaki và Nagakute năm 1584, Hideyoshi đã ổn định được việc kế vị, và hoàn toàn nắm quyền kiểm soát ở Kyoto, và trở thành người thống trị không thể bàn cãi được trên các lãnh địa cũ của nhà Oda. Ông được gia tộc Fujiwara nhận làm con nuôi, và lấy họ là Toyotomi, được phong tước Kanpaku kiểm soát toàn bộ mọi việc dân sự và quân sự ở Nhật Bản. Năm sau đó, ông thắt chặt liên minh với 9 daimyo hùng mạnh và phát động cuộc chiến thống nhất Shikoku và Kyūshū. Năm 1590, dẫn đầu đạo quân 200.000 người, Hideyoshi đánh bại nhà Hōjō, kẻ thù ghê gớm cuối cùng ở phía Đông Honshū. Các daimyo còn lại nhanh chóng đầu hàng, và việc tái thống nhất Nhật Bản bằng vũ trang đã hoàn tất.
== Nhật Bản dưới sự lãnh đạo của Hideyoshi ==
=== Khảo sát đất đai ===
Khi tất cả Nhật Bản đã nằm dưới quyền kiểm soát của Hideyoshi, một thiết chế mới được định hình. Đất nước nay đã được thống nhất dưới một lãnh đạo duy nhất, nhưng quyền thống trị người dân vẫn còn phân tán. Đơn vị tính quyền lực giữa các vùng đất được tính bằng số hộc gạo có thể sản xuất được. Năm 1598, việc đo đạc trên toàn quốc được bắt đầu và ước định được sản lượng gạo toàn quốc là 18,5 triệu hộc, với 2 triệu trực tiếp dưới quyền quản lý của Hideyoshi. Ngược lại, Tokugawa Ieyasu, người đã được Hideyoshi chuyển đến vùng Kanto, giữ 2,5 triệu hộc.
Việc đo đạc này được Hideyoshi tiến hành trước và sau khi ông nhận danh hiệu Taiko, do đó được gọi là "Cuộc đo đạc Taikō" (Taikō kenchi). Hideyoshi tiến hành đo đạc đất đai ở những nơi ông chinh phục được và nắm chặt những nơi đó làm cơ sở thống nhất đất nước. Đo đạc Taikō được tiến hành trên quy mô toàn quốc với phương pháp đo đạc thống nhất, từ đó điều chỉnh các loại quan hệ sở hữu đất đai phức tạp trước đó, đổi mới hoàn toàn chế độ ruộng đất. Từ đó, chế độ trang viên cũ hoàn toàn sụp đổ. Ngoài ra, ông còn cho thống nhất thước đo.
=== Các biện pháp kiểm soát ===
Một số các cải cách trong việc quản lý để khuyến khích giao thương và ổn định xã hội. Để cải thiện giao thông, các trạm thu phí và trạm kiểm soát được dựng lên dọc đường phần lớn bị dẹp đi cũng như các pháo đài quân sự không cần thiết. Các phương pháp thực sự phân biệt đẳng cấp được thiết lập, bao gồm cả việc yêu cầu rằng các tầng lớp khác nhau phải sống tách biệt trong các khu vực khác nhau ở thành phố và bị cấm hay sở hữu vũ khí. Hideyoshi ra lệnh trưng thu vũ khí trong một cuộc "thu kiếm" quy mô lớn (katanagari).
=== Thống nhất ===
Hideyoshi củng cố địa vị của mình bằng cách sắp xếp lại đất đai của các daimyo theo cách có lợi cho mình. Đặc biệt là ông bổ nhiệm gia đình Tokugawa đến vùng Kanto, cách xa thủ đô và được vây quanh bởi lãnh địa của các chư hầu đáng tin cậy. Ông cũng tạo ra một hệ thống con tin theo đó vợ và con của các daimyo phải ở lại lâu đài Osaka.
Ông cũng cố tổ chức cho việc thừa kế được suôn sẻ bằng cách tự xưng là Taikō, hay "Kanpaku về hưu" năm 1591 và chuyển chức vụ Nhiếp chính cho cháu trai đồng thời là con nuôi của mình là Toyotomi Hidetsugu. Sau này ông mới chính thức hóa sự cân bằng quyền lực bằng cách thành lập một nhóm những người cai quản. Điều này bao gồm Hội đồng Ngũ Nguyên lão, những người thề sẽ giữ hòa bình và ủng hộ nhà Toyotomi, năm thành viên của hội đồng này nắm quyền chi phối mọi hoạt động của quốc gia.
=== Các chiến dịch ở Triều Tiên ===
Tham vọng lớn cuối cùng của Hideyoshi là xâm lược nhà Minh ở Trung Quốc. Vào tháng 4 năm 1592, sau khi bị từ chối việc mượn đường qua Triều Tiên, một vương triều hưng thịnh vốn liên minh với nhà Minh, ông mang 200.000 quân đến xâm lược và tiến qua lãnh thổ Triều Tiên bằng vũ lực. Trong Những cuộc xâm lược Triều Tiên của Nhật Bản (1592-1598), người Nhật đánh chiếm được Seoul tháng 5 năm 1592, và trong vòng ba tháng đã tiến đến Bình Nhưỡng cùng với một số lượng đông đảo những người Triều Tiên hợp tác với họ, những người ban đầu xem người Nhật như những người giải phóng chống lại chế độ độc tài tham.
Vua của nhà Joseon cầu viện Trung Quốc, và quân đội Nhật buộc phải rút lui xa về phía Nam đến tận Seoul vào tháng 1 năm 1593. Trong khi người Nhật vẫn thắng như chẻ tre trên đất liền thì hai đô đốc Triều Tiên là Won Gyun và Yi Eok-gi bị hải quân Nhật Bản giết chết. Bởi vậy, Hoàng đế Trung Hoa gửi đô đốc Chen Lin đến. Đô đốc Triều Tiên Yi Sun-shin tấn công thành công tàu tiếp tế của quân Nhật, cắt đứt đường tiếp vận. Sự can thiệp của Trung Quốc và thắng lợi của hải quân Triều Tiên đã dẫn đến việc Nhật Bản đề nghị việc đàm phán hòa bình.
Trong suốt cuộc hội đàm, Hideyoshi yêu cầu việc phân chia Triều Tiên, thương mại tự do và một công chúa Trung Quốc để làm thiếp của Hoàng đế Nhật. Tuy vậy, người Trung Quốc chẳng thấy lý do gì để đối xử ngang hàng với những kẻ xâm lược, và những nỗ lực hòa bình lâm vào ngõ cụt. Cuộc xâm lược lần thứ hai bắt đầu năm 1597, nhưng không thành công như lần trước vì người Nhật gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ từ phía Triều Tiên và cuối cùng kết thúc đột ngột với cái chết của Hideyoshi năm 1598, khi các chỉ huy của quân Nhật nhanh chóng thoái lui về nước để phân định ngôi Shogun.
== Trận Sekigahara và sự kết thúc triều đại Toyotomi ==
Hideyoshi khi ở trên giường bệnh đã chỉ định một nhóm các daimyo hùng mạnh nhất Nhật Bản—Tokugawa, Maeda, Ukita, Uesugi, Mori—trở thành Hội đồng Ngũ Nguyên lão cho đến khi đứa con còn nhỏ của ông, Hideyori, đến tuổi trưởng thành. Một nền hòa bình giả tạo kết thúc cùng cái chết của Maeda Toshiie năm 1599. Sau đó, Ishida Mitsunari buộc tội Ieyasu không trung thành với gia tộc Toyotomi, vội vàng tạo ra một cuộc khủng hoảng dẫn đến trận Sekigahara. Nói chung đây được coi là trân đánh lớn cuối cùng của thời Azuchi-Momoyama và sengoku-jidai, chiến thắng của Ieyasu ở Sekigahara đã đánh dấu sự kết thúc của triều đại Toyotomi. Ieysasu nhận tước hiệu Seii Taishogun, và thiết lập Mạc phủ Tokugawa, tồn tại cho đến cuộc Minh Trị Duy Tân năm 1868.
== Phát triển văn hóa và xã hội trong thời Azuchi-Momoyama ==
Thời kì Momoyama là thời kỳ Nhật Bản tích cực giao lưu với thế giới bên ngoài, thời kỳ này cũng chứng kiến sự phát triển của các đô thị rộng lớn và sự đi lên của tầng lớp thương nhân. Kiến trúc lâu đài lộng lẫy và trang hoàng ở bên trong tô điểm bằng sơn và bàng lá phản ánh quyền lực của một daimyo nhưng cũng thể hiện một quan điểm thẩm mỹ mới bằng sự từ bỏ phong cách trang trí u ám và đơn điệu trong suốt thời Muromachi. Một thể loại đặc biệt nữa bùng nổ trong thời đại này được gọi là phong cách Namban—những bức họa từ nước ngoài vào qua tay các nhà truyền giáo châu Âu, thương nhân và những người "dã man phương Nam."
Nghệ thuật trà đạo cũng hưng thịnh trong thời đại này, với cả Nobunaga và Hideyoshi không tiếc tiền bạc và thời gian sưu tầm các bát uống trà và các vật dụng khác, tài trợ cho các sự kiện xã hội hoang phí, tài trợ cho các trà sư bậc thầy như Sen no Rikyū.
Hideyoshi xâm chiếm Nagasaki năm 1587, và sau đó cố kiểm soát giao thương với thế giới và điều chỉnh lại mọi liên hệ với thế giới bên ngoài đều qua thương cản này. Mặc dù Trung Quốc cản trở nỗ lực của ông bằng cách thắt chặt việc nhượng quyền giao thương, các nhiệm vụ thương mại của Hideyoshi đến những vùng đất nay là Malaysia, Philippines, và Thailand trên các con tàu dấu đỏ vẫn thành công. Ông cũng nghi ngờ những người theo đạo Thiên Chúa ở Nhật Bản, theo ông thì họ có âm mưu lật đổ mình và vài nhà truyền giáo đã bị xử tử dưới thời ông.
== Bài thờ Senryu nổi tiếng ==
Tính cách tương phản của ba vị lãnh đạo có công lớn nhất trong việc thống nhất Nhật Bản—Nobunaga, Hideyoshi, and Ieyasu—gói gọn trong seri ba câu thơ senryu nổi tiếng đến nay vẫn được dạy cho học sinh Nhật Bản:
Nakanunara, koroshiteshimae, hototogisu (Nếu con chim cúc cu không hót, hãy giết nó)
Nakanunara, nakashitemiseyou, hototogisu (Nếu con chim cúc cu không hót, hãy vuốt ve nó)
Nakanunara, nakumadematou, hototogisu (Nếu con chim cúc cu không hót, hãy đợi nó.)
Nobunaga, nổi tiếng với sự dã man của mình, là chủ đề của câu thứ nhất; Hideyoshi với tài tháo vát của mình chính là câu thứ hai; và Ieyasu là câu thứ ba với tính kiên nhẫn nổi tiếng.
== Bảng niên đại ==
1568: Nobunaga tiến vào Kyoto, mở đầu thời kỳ Azuchi-Momoyama
1571: Ohama Kagetaka bắt đầu việc cướp biển ở Vịnh Ise, phục vụ như một tướng hải quân cho Takeda Shingen và sau đó là Tokugawa Ieyasu
1573: Nobunaga lật đổ Mạc phủ Muromachi và thiết lập quyền thống trị ở miền Trung Nhật Bản
1575: Nobunaga đánh bại gia tộc Takeda trong trận Nagashino
1580: Các nhà sư Ikkō-ikki cuối cùng đầu hàng ở pháo đài Ishiyama Honganji trước Nobunaga, sau 11 năm vây hãm.
1582: Nobunaga bị Akechi Mitsuhide ám sát, sau đó Akechi bị Toyotomi Hideyoshi đánh bại trong trận Yamazaki.
1584: Hideyoshi giao chiến bất phân thắng bại với Tokugawa Ieyasu trong trận Komaki và Nagakute.
1586: Lâu đài Osaka được Toyotomi Hideyoshi xây dựng.
1590: Hideyoshi đánh bại gia tộc Hōjō, thực sự thống nhất được Nhật Bản.
1592: Hideyoshi xâm lược Triều Tiên.
1598: Hideyoshi qua đời.
1600: Ieyasu chiến thắng trong trận Sekigahara, đánh dấu sự kết thúc của thời đại Azuchi-Momoyama.
== Tham khảo == |
krampus.txt | Tên của Krampus xuất phát từ tiếng Đức "krampen", nghĩa là "móng vuốt". Krampus có hình dạng tương tự những nhân vật nửa người nửa dê khác trong thần thoại Hy Lạp, như là thần rừng Satyr và thần nông Pan.
Trong văn hóa dân gian nước Đức, Krampus được biết đến với hình dáng người sinh vật rậm lông có gương mặt giận dữ, với hai sừng dài cong trên đầu giống con dê, đuôi dài cùng chiếc lưỡi thè dài đỏ lòm, và thường đi với Thánh Nicholas (ở những vùng có cộng đồng người Áo). Krampus thường trừng phạt những trẻ em không ngoan - trái ngược với Nicholas khi đem quà đến trẻ em ngoan trong năm qua. Krampus sẽ đánh đòn những đứa trẻ ấy bằng bó cây bạch dương hay lông đuôi ngựa, ném chúng vào bao tải hay chiếc thúng bện bằng cây liễu gai và đưa xuống địa ngục sống trong một năm.
== Nguồn gốc ==
Lịch sử của Krampus thường được nhắc đến và giai đoạn truyền thống thời kỳ trước Giáng sinh (tiền Ky-tô giáo). Các nhà sử học tuy còn chưa chắc chắn về nguồn gốc chính xác của sinh vật Krampus trong văn hóa dân gian, nhưng họ tin rằng Krampus - cũng giống như Thánh Nicholas đều xuất phát từ tín ngưỡng của người Norse (tức Người Viking hay Danes) ở vùng Bắc Âu và người Đức cổ.
== Sự xuất hiện ==
== Tham khảo ==
== Liên kết khác ==
Bruce, Maurice (1958). “The Krampus in Styria”. Folklore 69: 45. doi:10.1080/0015587X.1958.9717121.
Honigmann, John J. (1977). “The Masked Face”. Ethos 5 (3): 263. doi:10.1525/eth.1977.5.3.02a00020.
Roncero, Michael. "Trailing the Krampus", Vienna Review, ngày 2 tháng 12 năm 2013 |
hội quốc liên.txt | Hội Quốc Liên là một tổ chức liên chính phủ được thành lập vào ngày 10 tháng 1 năm 1920 theo sau Hội nghị hòa bình Paris nhằm kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Đây là tổ chức quốc tế đầu tiên có nhiệm vụ chủ yếu là duy trì hòa bình thế giới. Theo công ước của mình, những mục tiêu chủ yếu của tổ chức gồm có ngăn ngừa chiến tranh thông qua an ninh tập thể và giải trừ quân bị, và giải quyết những tranh chấp quốc tế thông qua đàm phán và trọng tài. Những vấn đề khác trong công ước Hội Quốc Liên và những hiệp định liên quan gồm có điều kiện lao động, đối xử thích đáng với dân cư bản địa, buôn bán người và ma túy, buôn bán vũ khí, y tế toàn cầu, tù nhân chiến tranh, và bảo vệ các nhóm thiểu số tại châu Âu. Trong giai đoạn mở rộng nhất từ ngày 28 tháng 9 năm 1934 đến ngày 23 tháng 2 năm 1935, Hội Quốc Liên có 58 thành viên.
Triết lý ngoại giao của Hội Quốc Liên tiêu biểu cho một sự chuyển đổi căn bản so với hàng trăm năm trước đó. Hội Quốc Liên không có quân đội riêng mà dựa vào những cường quốc để thi hành những nghị quyết của mình. Tuy nhiên, các cường quốc thường thực hiện một cách miễn cưỡng. Sau một số thành công đáng chú ý và một số thất bại ban đầu trong thập niên 1920, Hội Quốc Liên cuối cùng chứng tỏ rằng mình không có khả năng ngăn chặn sự xâm lược của Phe Trục trong thập niên 1930. Đức rút khỏi Hội Quốc Liên, rồi đến Nhật Bản, Ý, Tây Ban Nha và những thành viên khác. Sự khởi đầu của Chiến tranh thế giới thứ hai chứng tỏ rằng mục đích chủ yếu của Hội Quốc Liên là ngăn ngừa thế chiến đã thất bại. Hội Quốc Liên tồn tại trong 26 năm; Liên hiệp Quốc thay thế Hội Quốc Liên sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, kế thừa một số cơ quan và tổ chức do Hội Quốc Liên thành lập.
== Nguồn gốc ==
=== Bối cảnh ===
Khái niệm về một cộng đồng hòa bình gồm các quốc gia được đề xuất ngay từ năm 1795, khi Hướng đến hoà bình vĩnh cửu của Immanuel Kant phác thảo tư tưởng về một liên minh của các quốc gia nhằm kiểm soát xung đột và xúc tiến hòa bình giữa các chính quyền. Kant lập luận về việc thành lập một cộng đồng thế giới hòa bình, không phải là theo tinh thần về một chính phủ toàn cầu, song hy vọng rằng mỗi chính quyền sẽ tuyên bố họ là một chính quyền tự do đại diện cho các công dân của mình và hoan nghênh du khách ngoại quốc những người đồng chí, nhờ đó xúc tiến xã hội hòa bình trên toàn cầu. Hợp tác quốc tế nhằm xúc tiến an ninh tập thể bắt nguồn từ trật tự tại châu Âu phát triển sau Các cuộc chiến tranh của Napoléon trong thế kỷ 19 trong một nỗ lực nhằm duy trì hiện trạng giữa những chính quyền châu Âu và vì thế phải tránh chiến tranh. Luật pháp quốc tế cũng phát triển trong giai đoạn này, công ước Genève đầu tiên thiết lập các pháp luật về cách đối xử với cứu trợ nhân đạo trong thời chiến, và Các công ước Den Haag 1899 và 1907 điều chỉnh các quy tắc chiến tranh và giải quyết hòa bình những tranh chấp quốc tế.
Tiền thân của Hội Quốc Liên là Liên minh liên nghị viện do những nhà hoạt động hòa bình là William Randal Cremer và Frédéric Passy thành lập vào năm 1889. Tổ chức này có phạm vi quốc tế, với một phần ba số thành viên trong các nghị viện (tại 24 quốc gia có nghị viện) là thành viên của Liên minh liên nghị viện vào năm 1914. Mục đích của tổ chức là khuyến khích các chính phủ giải quyết những tranh chấp quốc tế theo các phương thức hòa bình. Những hội nghị thường niên được tổ chức nhằm giúp các chính phủ cải tiến quá trình trọng tài quốc tế. Cấu trúc của tổ chức gồm có một hội chính vụ do một chủ tịch đứng đầu, cấu trúc này sau đó được phản ánh trong cấu trúc của Hội Quốc Liên.
Những năm đầu thế kỷ 20, hai khối quyền lực nổi lên từ các liên minh giữa các cường quốc châu Âu. Sau khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ vào năm 1914, toàn bộ các cường quốc lớn tại châu Âu đều bị cuốn vào xung đột. Đây là chiến tranh lớn đầu tiên tại châu Âu giữa những quốc gia công nghiệp hóa. Chiến tranh công nghiệp hóa dẫn đến hậu quả chưa từng thấy: tám triệu rưỡi quân nhân thiệt mạng, và ước tính có 21 triệu người bị thương, cùng với khoảng 10 triệu thường dân thiệt mạng.
Khi giao tranh kết thúc vào tháng 11 năm 1918, chiến tranh đã có một tác động sâu sắc, ảnh hưởng đến các hệ thống xã hội, chính trị và kinh tế của châu Âu và gây tổn thương về tâm lý và thân thể. Cảm tình phản chiến nổi lên khắp thế giới; Chiến tranh thế giới thứ nhất được mô tả là "chiến tranh để kết thúc tất cả chiến tranh", và nguyên nhân chiến tranh được điều tra một cách sôi nổi. Các nguyên nhân được xác định bao gồm chạy đua vũ trang, liên minh, ngoại giao bí mật, và quyền tự do của các quốc gia có chủ quyền được tham gia chiến tranh vì lợi ích riêng của họ. Một biện pháp khắc phục được đề xuất bao gồm thành lập một tổ chức quốc tế có mục đích ngăn ngừa chiến tranh trong tương lai thông qua giải trừ quân bị, ngoại giao công khai, hợp tác quốc tế, hạn chế quyền tiến hành chiến tranh, và trừng phạt khiến cho chiến tranh không còn sức hấp dẫn.
=== Đề xuất ban đầu ===
Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu, các kế hoạch đầu tiên về tổ chức quốc tế nhằm ngăn ngừa chiến tranh trong tương lai bắt đầu giành được sự ủng hộ đáng kể từ công chúng, đặc biệt là tại Anh Quốc và Hoa Kỳ. Nhà khoa học chính trị người Anh Goldsworthy Lowes Dickinson tạo ra thuật ngữ "Hội Quốc Liên" vào năm 1914 và phác thảo một kế hoạch cho tổ chức này. Cùng với Tử tước James Bryce, ông giữ một vai trò hàng đầu trong việc hình thành nhóm các nhà hòa bình quốc tế mang tên nhóm Bryce, sau trở thành "League of Nations Union". Nhóm này dần có ảnh hưởng lớn hơn trong công chúng và là một nhóm có ảnh hưởng trong Đảng Tự do đang cầm quyền tại Anh Quốc khi đó. Trong cuốn sách nhỏ After the War vào năm 1915 của Dickinson, ông viết về "liên minh hòa bình" của mình về cơ bản là một tổ chức trọng tài và hòa giải. ‘Các đề xuất’ của nhóm Bryce được lưu hành rộng rãi ở cả Anh lẫn Mỹ, tại đây họ có ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào quốc tế mới ra đời.
Năm 1915, một nhóm gồm các cá nhân cúng chí hướng thiết lập một tổ chức tương tự tại Hoa Kỳ, trong đó có William Howard Taft. Tổ chức này được gọi là League to Enforce Peace và về cơ bản dựa theo những đề xuất của nhóm Bryce. Tổ chức chủ trương sử dụng trọng tài trong giải quyết xung đột và áp đặt chế tài với những quốc gia xâm lược. Tuy nhiên, không tổ chức ban đầu nào hình dung về một cơ quan chức năng liên tục; ngoại trừ Hội Fabian tại Anh, họ duy trì một giải pháp pháp lý rằng sẽ hạn chế cơ quan quốc tế trong một tòa án tư pháp. Thành viên của Fabian là những người đầu tiên tranh luận về một "hội chính vụ" gồm các chính quyền, nhất thiết phải có các cường quốc, họ sẽ phân xử các vấn đề thế giới, và thiết lập một văn phòng thư ký thường trực nhằm tăng cường hợp tác quốc tế trên một loạt hoạt động.
Bộ trưởng Ngoại giao Anh Quốc Arthur Balfour được ủy quyền báo cáo chính thức đầu tiên về vấn đề vào đầu năm 1918, theo sáng kiến của Tử tước Robert Cecil. Ủy ban của Anh Quốc cuối cùng được chỉ định vào tháng 2 năm 1918, dưới quyền lãnh đạo của Walter Phillimore (và được gọi là Ủy ban Phillimore), và gồm có cả Eyre Crowe, William Tyrrell, và Cecil Hurst. Những khuyến nghị của Ủy ban Phillimore gồm có thiết lập một "Hội nghị các quốc gia đồng minh" sẽ phân xử tranh chấp và áp đặt chế tài lên các quốc gia vi phạm. Chính phủ Anh Quốc tán thành các đề xuất, và phần lớn những thành quả của ủy ban sau đó được đưa vào trong Công ước của Hội Quốc Liên.
Người Pháp cũng soạn thảo một đề xuất có ảnh hưởng sâu rộng hơn nhiều trong tháng 6 năm đó, họ chủ trương tiến hành các cuộc họp thường niên của một hội chính vụ nhằm giải quyết toàn bộ các tranh chấp, cũng như một "quân đội quốc tế" nhằm thi hành các quyết định của hội chính vụ.
Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson chỉ thị cho Edward House soạn thảo một kế hoạch của Hoa Kỳ mà theo đó phản ánh quan điểm tư tưởng của riêng Woodrow Wilson, cũng như công tác của Ủy ban Phillimore. Thành quả của Edward House, và bản phác thảo đầu tiên của Wilson được đề xuất là kết thúc hành vi "vô đạo đức" ở cấp chính quyền, gồm các hình thức gián điệp và không thành thực. Phương pháp cưỡng bách chống lại các quốc gia ngoan cố gồm các biện pháp khắc nghiệt, như phong tỏa và đóng cửa biên giới, và "sử dụng bất kỳ lực lượng nào cần thiết"
Hai khởi thảo giả và kiến trúc sư chủ yếu của Công ước Hội Quốc Liên là Tử tước Robert Cecil và Jan Smuts. Các đề xuất của Jan Smuts gồm có thiết lập một Hội đồng gồm các cường quốc là các thành viên thường trực, và các thành viên không thường trực được lựa chọn từ những quốc gia nhỏ. Ông cũng đề xuất thiết lập một hệ thống ủy trị cho các thuộc địa chiếm từ trong chiến tranh. Robert Cecil tập trung vào phương diện hành chính, và đề xuất các cuộc họp thường niên của Hội chính vụ và các cuộc họp bốn năm một lần của Đại hội đồng toàn bộ thành viên. Ông cũng lý luận về một ban thư ký lớn và thường trực để thực hiện những phận sự hành chính của Liên minh.
=== Thành lập ===
Tại Hội nghị hòa bình Paris năm 1919, Woodrow Wilson, Robert Cecil, Jan Smuts đều đưa ra những đề xuất dự thảo của họ. Sau những đàm phán kéo dài giữa các phái đoàn, dự thảo của Hurst-Miller cuối cùng được chọn làm cơ sở cho Công ước. Sau các đàm phán và dàn xếp hơn nữa, các phái đoàn cuối cùng tán thành đề xuất thiết lập Hội Quốc Liên vào ngày 25 tháng 1 năm 1919. Công ước Hội Quốc Liên cuối cùng do một ủy ban đặc biệt soạn thảo, và Hội Quốc Liên được thành lập theo Hòa ước Versailles. Ngày 28 tháng 6 năm 1919, 44 quốc gia ký kết Công ước.
Hội Quốc Liên thành lập một Đại hội đồng đại diện cho toàn bộ các thành viên, một Hội đồng hành pháp gồm các thành viên giới hạn với quyền lực lớn, và một ban thư ký thường trực. Các quốc gia thành viên được mong đợi "tôn trọng và bảo hộ khi chống lại xâm lược từ bên ngoài" đến toàn vẹn lãnh thổ của các thành viên khác, và giải trừ quân bị "đến mức thấp nhất phù hợp với an ninh nội địa." Toàn bộ các quốc gia được yêu cầu trình những khiếu nại để phân xử hoặc điều tra tư pháp trước khi tiến đến chiến tranh. Hội đồng hành pháp sẽ thành lập một Tòa thường trực tư pháp quốc tế nhằm xét xử các tranh chấp.
Bất chấp các nỗ lực của Woodrow Wilson nhằm thiết lập và xúc tiến Hội Quốc Liên, mà nhờ đó ông được trao giải Nobel Hòa bình vào tháng 10 năm 1919, Hoa Kỳ không tham dự trong tổ chức này. Phe đối lập trong Thượng nghị viện giành được đảm bảo rằng Hoa Kỳ sẽ không phê chuẩn công ước. Hội nghị hội chính vụ đầu tiên của Hội Quốc Liên được tổ chức tại Paris vào ngày 16 tháng 1 năm 1920, sáu ngày sau khi Hội nghị Versailles và Công ước Hội Quốc Liên có hiệu lực. Ngày 1 tháng 11 năm 1920, trụ sở của Hội Quốc Liên được chuyển từ London đến Genève, tại đây kỳ họp Đại hội đồng đầu tiên được tổ chức vào ngày 15 tháng 11 năm 1920.
== Ngôn ngữ và phù hiệu ==
Các ngôn ngữ chính thức của Hội Quốc Liên là tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha. Hội Quốc Liên dự định chấp thuận Quốc tế ngữ là ngôn ngữ làm việc của tổ chức và tích cực khuyến khích sử dụng ngôn ngữ này, song đề xuất này chưa từng được thông qua. Năm 1921, Tử tước Robert Cecil đề xuất đưa Quốc tế ngữ vào trường học công của các quốc gia thành viên, và một báo cáo được đệ trình. Phản đối mạnh nhất đến từ đại biểu Pháp Gabriel Hanotaux, một phần là vì bảo vệ tiếng Pháp, ngôn ngữ mà ông lý luận rằng đã là một ngôn ngữ quốc tế. Do có phản đối, kiến nghị không được chấp thuận.
Năm 1939, một biểu tượng bán chính thức của Hội Quốc Liên xuất hiện: hai sao năm cánh trong một hình ngũ giác màu lam. Chúng tượng trưng cho năm lục địa của Trái Đất và năm "chủng tộc". Một dòng chữ phía trên hiển thị tên tiếng Anh ("League of Nations"), dòng chữ khác ở phía dưỡi hiển thị tên tiếng Pháp ("Société des Nations").
== Những cơ quan chủ yếu ==
Các cơ quan hiến pháp chính của Hội Quốc Liên là Đại hội đồng, Hội chính vụ, và ban thư ký trường trực. Tổ chức cũng có hai nhánh chủ yếu: Tòa án thường trực công lý quốc tế, và Tổ chức Lao động Quốc tế. Ngoài ra, có một số cơ quan và ủy ban phụ trợ. Ngân sách của mỗi cơ quan do Đại hội đồng cấp (Hội Quốc Liên nhận hỗ trợ tài chính từ các quốc gia thành viên).
Quan hệ giữa Đại hội đồng và Hội chính vụ và chức năng của mỗi cơ quan phần lớn không được định rõ. Mỗi cơ quan có thể giải quyết vấn đề bất kỳ trong phạm vi quyền hạn của Hội Quốc Liên hoặc có tác động đến hòa bình thế giới. Các vấn đề hoặc công việc cụ thể có thể chuyển đến một trong hai cơ quan.
Các quyết định của Đại hội đồng và Hội chính vụ được yêu cầu phải nhất trí, ngoại trừ trong các vấn đề về thủ tục và một số trường hợp riêng biệt khác, như kết nạp thành viên mới. Yêu cầu này phản ánh sự tin tưởng của Hội Quốc Liên về chủ quyền của các quốc gia thành viên; Hội Quốc Liên tìm cách giải quyết thông qua thỏa thuận chứ không phải ra lệnh. Tuy nhiên, trong trường hợp có tranh chấp thì không yêu cầu thỏa thuận giữa các bên tham dự tranh chấp để đạt đến nhất trí.
Ban thư ký thường trực được thiết lập tại trụ sở của Hội Quốc Liên tại Genève, gồm có một cơ quan của các chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau và nằm dưới quyền chỉ đạo của Tổng thư ký. Những lĩnh vực chủ yếu của ban thư ký là: chính trị, tài chính và kinh tế, quá cảnh, thiểu số và quản lý (cai quản Saar và Danzig), ủy nhiệm, giải trừ quân bị, y tế, xã hội (thuốc phiện và buôn bán phụ nữ-trẻ em), hợp tác tri thức và sự vụ quốc tế, pháp lý, và thông tin. Nhân viên của ban thư ký chịu trách nhiệm chuẩn bị chương trình nghị sự của Hội chính vụ và Đại hội đồng và xuất bản các báo cáo về các cuộc họp và những vấn đề thường lệ khác, hoạt động giống như công vụ viên của Hội Quốc Liên. Năm 1931, số nhân viên ban thư ký là 707.
Đại hội đồng gồm đại diện từ toàn bộ các thành viên của Hội Quốc Liên, mỗi quốc gia được phép có ba đại biểu và một phiếu. Đại hội đồng họp tại Genève và sau các phiên họp ban đầu trong năm 1920, cơ quan này hội họp một lần mỗi tháng 9 hàng năm. Những chức năng đặc biệt của Đại hội đồng gồm có kết nạp thành viên mới, bầu cử theo định kỳ các thành viên không thường trực trong Hội chính vụ, cùng với Hội chính vụ bầu ra các thẩm phán của Tòa án thường trực, và kiểm soát ngân quỹ. Trên thực tế, Đại hội đồng là cơ quan quyền lực chỉ đạo tổng thể các hoạt động của Hội Quốc Liên.
Hội chính vụ Hội Quốc Liên đóng vai giò giống một cơ cấu chấp hành chi phối chương trình nghị sự của Đại hội đồng. Cơ cấu bắt đầu với bốn thành viên thường trực (Anh Quốc, Pháp, Ý, Nhật Bản) và bốn thành viên không thường trực được Đại hội đồng bầu ra cho mỗi một nhiệm kỳ ba năm. Các thành viên không thường trực đầu tiên là Bỉ, Brasil, Hý Lạp và Tây Ban Nha. Thành phần của Hội chính vụ có thay đổi một số lần. Số thành viên không thường trực được tăng lên 6 vào ngày 22 tháng 9 năm 1922, rồi lên 9 vào ngày 8 tháng 9 năm 1926. Nhà ngoại giao Đức Werner Dankwort thúc đẩy quốc gia của ông gia nhập Hội Quốc Liên, và Đức cuối cùng gia nhập tổ chức vào năm 1926, trở thành thành viên thường trực thứ năm của Hội chính vụ. Sau khi Đức và Nhật Bản rời Hội Quốc Liên, số ghế không thường trực tăng từ 9 lên 11, và Liên Xô trở thành một thành viên thường trực, Hội chính vụ có tổng cộng 15 thành viên. Trung bình Hội chính vụ họp 5 lần mỗi năm và họp bất thường khi có yêu cầu. Tổng cộng có 107 phiên họp được tổ chức từ năm 1920 đến năm 1939.
=== Các cơ quan khác ===
Hội Quốc Liên giám sát Tòa án thường trực công lý quốc tế và một số cơ quan cùng ủy ban khác được tạo nên nhằm giải quyết những vấn đề quốc tế cấp thiết. Chúng gồm có ủy ban giải trừ quân bị, tổ chức y tế, tổ chức lao động quốc tế (ILO), ủy ban ủy nhiệm, ủy ban quốc tế về hợp tác tri thức (tiền thân của UNESCO), ban thuốc phiện trung ương thường trực, ủy ban về người tị nạn, và ủy ban chế độ nô lệ. Một vài trong số những thể chế này được chuyển giao cho Liên Hiệp Quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai: Tổ chức Lao động Quốc tế, Tòa án thường trực công lý quốc tế (với tên Tòa án Công lý Quốc tế), và Tổ chức y tế (tái tổ chức thành Tổ chức Y tế Thế giới).
Tòa án thường trực công lý quốc tế được quy định theo Công ước, do Hội chính vụ và Đại hội đồng thiết lập. Hội chính vụ và Đại hội đồng lựa chọn các thẩm phán của tòa, và ngân quỹ của tòa do Đại hội đồng cung cấp. Tòa án thụ lý và phân xử mọi tranh chấp quốc tế được các bên quan tâm đệ trình. Tòa án cũng có thể đưa ra một quan điểm cố vấn cho bất kỳ tranh chấp hoặc vấn đề được giao từ Hội chính vụ hoặc Đại hội đồng. Tòa án cũng mở rộng cho toàn bộ các quốc gia trên thế giới theo các điều kiện nhất định.
Tổ chức lao động quốc tế được thành lập vào năm 1919 và dựa trên Phần XIII của Hiệp ước Versailles. Tổ chức này cũng có các thành viên như Hội Quốc Liên và ngân quỹ do Đại hội đồng kiểm soát, là một tổ chức tự quản với ban quản trị riêng, hội nghị toàn thể riêng và ban thư ký riêng. Hiến chương của Tổ chức lao động quốc tế khác biệt với Hội Quốc Liên: các đại biểu không chỉ là của các chính phủ mà còn có các đại biểu của các tổ chức giới chủ và công nhân. Albert Thomas là giám đốc đầu tiên của tổ chức. Tổ chức lao động quốc tế thành công trong việc hạn chế thêm chì vào sơn, và thuyết phục một số quốc gia chấp thuận ngày làm việc 8 giờ và tuần làm việc 48 giờ. Tổ chức cũng tiến hành chiến dịch chất dứt lao động thiếu nhi, tăng quyền của phụ nữ tại nơi làm việc, và khiến chủ tàu phải có trách nhiệm pháp lý với những tai nạn liên quan đến thủy thủ. Sau khi Hội Quốc Liên giải thể, Tỏ chức lao động quốc tế trở thành một cơ quan của Liên Hiệp Quốc vào năm 1946.
Tổ chức y tế của Hội Quốc Liên có ba cơ cấu: Cục y tế gồm có những quan chức thường trực của Hội Quốc Liên; Ủy ban hoặc Hội nghị cố vấn tổng thể là một đơn vị hành chính và gồm các chuyên gia y tế; và Ủy ban y tế. Mục đích của Ủy ban là chỉ đạo những điều tra, giám sát hoạt động của công tác y tế của Hội Quốc Liên, và chuẩn bị công việc trình lên Hội chính vụ Hội Quốc Liên. Thể chế này tập trung vào kết liễu bệnh phong, sốt rét, và sốt vàng, hai bệnh sau tiến hành diệt trừ bằng cách bắt đầu một chiến dịch quốc tế nhằm diệt muỗi. Tổ chức y tế cũng làm việc thành công với chính phủ Liên Xô nhằm ngăn ngừa bệnh dịch sốt Rickettsia, bao gồm cả việc tổ chức một chiến dịch giáo dục lớn.
Từ khi thành lập, Hội Quốc Liên cũng giành sự quan tâm nghiêm túc đối với vấn đề hợp tác tri thức quốc tế. Ủy ban về hợp tác tri thức họp tại Genève vào tháng 8 năm 1922, triết gia người Pháp Henri Bergson trở thành chủ tịch đầu tiên của ủy ban. Công việc của ủy ban gồm: điều tra về hoàn cảnh sinh hoạt tri thức, giúp đỡ các quốc gia có sinh hoạt tri thức gặp nguy hiểm, thiết lập các ủy ban quốc gia về hợp tác tri thức, hợp tác với các tổ chức tri thức quốc tế, bảo hộ tàn sản tri thức, hợp tác liên đại học, phối hợp trong công tác thư mục và trao đổi quốc tế các xuất bản phẩm, và hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khảo cổ học.
Hội Quốc Liên thiết lập Ban thuốc phiện trung ương thường trực nhằm giám sát hệ thống thống kê kiểm soát được thi hành theo Công ước Thuốc phiện quốc tế thứ nhì mà theo đó dàn xếp việc sản xuất, chế tác, giao dịch và bán lẻ thuốc phiện cùng những sản phẩm của nó. Ban cũng thiết lập một hệ thống giấy chứng nhận nhập khẩu và giấy phép xuất khẩu đối với giao dịch quốc tế hợp pháp mặt hàng ma túy.
Ủy ban chế độ nô lệ mưu cầu tiệt trừ chế độ nô lệ và mua bán nô lệ trên khắp thế giới, và đấu tranh với mại dâm cưỡng bách. Thành công lớn của ủy ban là thúc bách các chính phủ quản lý các quốc gia được Hội Quốc Liên ủy nhiệm chấm dứt chế độ nô lệ trong các quốc gia này. Hội Quốc Liên giành được một cam kết từ Ethiopia nhằm kết thúc chế độ nô lệ, một điều kiện để quốc gia này trở thành thành viên vào năm 1926, và làm việc với Liberia nhằm chấm dứt lao động cưỡng bách và chế độ nô lệ liên bộ lạc. Thể chế cũng đạt thành công trong việc giảm tỷ lệ tử vong của công nhân xây dựng đường sắt Tanganyika từ 55% xuống 4%. Các hồ sơ được lưu trữ nhằm kiểm soát chế độ nô lệ, mại dâm, và buôn bán phụ nữ-trẻ em. Một phần do áp lực từ Hội Quốc Liên, Afghanistan bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1923, Iraq vào năm 1924, Nepal vào năm 1926, Transjordan và Ba Tư vào năm 1929, Bahrain vào năm 1937, và Ethiopia vào năm 1942.
Do Fridtjof Nansen lãnh đạo, Ủy ban về người tị nạn được thành lập vào ngày 27 tháng 6 năm 1921 nhằm chăm sóc quyền lợi của những người tị nạn, trong đó có giám sát việc hồi hương của họ, và tái định cư khi cần thiết. Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, có 2-3 triệu cựu tù nhân chiến tranh từ nhiều quốc gia phân tán trên khắp nước Nga; trong vòng hai năm sau khi ủy ban được thành lập, nó đã giúp cho 425.000 người trong số họ trở về nhà. Tổ chức thiết lập các trại tại Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1922 nằm hỗ trợ quốc gia này trong một cuộc khủng hoảng tị nạn đang diễn ra, giúp ngăn ngừa bệnh tật và đói ăn. Tổ chức cũng lập ra hộ chiếu Nansen để làm một phương tiện nhận dạng những người không quốc tịch.
Ủy ban về nghiên cứu địa vị pháp lý của phụ nữ tìm cách điều tra về tình trạng của phụ nữ trên toàn thế giới. Tổ chức được thành lập vào năm 1937, và sau đó trở thành một bộ phận của Liên Hiệp Quốc với tên gọi Ủy ban về địa vị của phụ nữ.
== Thành viên ==
Trong số 42 thành viên sáng lập của Hội Quốc Liên, 23 (24 nếu tính Pháp quốc Tự do) vẫn là thành viên cho đến khi tổ chức giải thể vào năm 1946. Trong năm thành lập, có sáu thành viên khác gia nhập, chỉ hai trong số đó vẫn là thành viên trong suốt thời gian tồn tại còn lại của Hội Quốc Liên. Sau đó có thêm 15 thành viên gia nhập. Số lượng thành viên lớn nhất là 58, từ ngày 28 tháng 9 năm 1934 (khi Ecuador gia nhập) đến ngày 23 tháng 2 năm 1935 (khi Paraguay rút).
Liên Xô trở thành một thành viên vào ngày 18 tháng 9 năm 1934, và bị trục xuất vào ngày 14 tháng 12 năm 1939 vì xâm lược Phần Lan. Trong hành động trục xuất Liên Xô, Hội Quốc Liên phá vỡ nguyên tắc của mình: chỉ có 7 trong số 15 thành viên của Hội chính là vụ bỏ phiếu trục xuất (Anh, Pháp, Bỉ, Bolivia, Ai Cập, Nam Phi, và Cộng hòa Dominica), không đạt đa số quá bán theo yêu cầu của Công ước. Ba quốc gia trong số này trở thành thành viên của Hội chính vụ chỉ một ngày trước khi bỏ phiếu (Nam Phi, Bolivia, và Ai Cập). Đây là một trong những hành động cuối cùng của Hội Quốc Liên trước khi tổ chức ngừng hoạt động trên thức tế do Chiến tranh thế giới thứ hai.
Ngày 26 tháng 5 năm 1937, Ai Cập trở thành quốc gia cuối cùng gia nhập Hội Quốc Liên. Thành viên đầu tiên rút vĩnh viên khỏi Hội Quốc Liên là Costa Rica vào ngày 22 tháng 1 năm 1925; quốc gia này gia nhập vào ngày 16 tháng 12 năm 1920 và trở thành thành viên rút lui nhanh nhất. Brasil là thành viên sáng lập đầu tiên rút lui (14 tháng 6 năm 1926), và Haiti là thành viên cuối cùng rút lui (tháng 4 năm 1942). Iraq gia nhập Hội Quốc Liên năm 1932, là thành viên đầu tiên mà trước dó là một lãnh thổ ủy nhiệm của Hội Quốc Liên.
== Ủy nhiệm ==
Khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các cường quốc Đồng Minh đối diện với vấn dề xử trí những thuộc địa của Đức tại châu Phi và Thái Bình Dương, và một số tỉnh phi Thổ Nhĩ Kỳ của đế quốc Ottoman. Hội nghị hòa bình thông qua nguyên tắc rằng những lãnh thổ này cần được quản lý bởi những chính phủ riêng biệt nhân danh Hội Quốc Liên – một hệ thống trách nhiệm quốc gia chịu sự giám sát của quốc tế. Kế hoạch này được xác định là hệ thống ủy nhiệm thống trị, được "Ủy ban 10" (người đứng đầu chính phủ và bộ trưởng ngoại giao của các cường quốc Đồng Minh: Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Ý, và Nhật Bản) thông qua vào ngày 30 tháng 1 năm 1919 và chuyển đến Hội Quốc Liên.
Các ủy nhiệm thống trị Hội Quốc Liên được thiết lập theo Điều 22 của Công ước Hội Quốc Liên. Ủy ban ủy nhiệm thường trực giám sát những sự ủy nhiệm thống trị, và cũng tổ chức trưng cầu dân ý tại những lãnh thổ tranh chấp để dân cư có thể quyết định quốc gia mà họ sẽ gia nhập. Có ba loại ủy nhiệm thống trị: A, B và C.
Ủy nhiệm thống trị loại A (áp dụng cho các phần nguyên thuộc Đế quốc Ottoman) là "những cộng đồng xác định" mà "đạt đến một giai đoạn phát triển mà sự hiện diện của họ với vị thế là những quốc gia độc lập", quốc gia được ủy nhiệm thống trị cung cấp khuyến nghị và hiệp trợ về hành chính cho đến khi họ có thể tự sinh tồn.
Ủy nhiệm thống trị loại B áp dụng cho những cựu thuộc địa của Đức mà Hội Quốc Liên chịu trách nhiệm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Họ được mô tả là những "dân tộc" mà Hội Quốc Liên cho rằng họ ở trong một giai đoạn cần phải có quốc gia được ủy nhiệm thống trị theo điều kiện đảm bảo quyền tự do lương tâm và tôn giáo, là đối tượng để duy trì trật tự xã hội và đạo đức, cấm chỉ những lạm dụng như buôn bán nô lệ, buôn bán vũ khí và buôn bán rượu, ngăn ngừa sự hình thành của những công sự hoặc căn cứ quân sự cùng việc huấn luyện quân sự đối với người bản địa ngoài mục đích an ninh và phòng thủ lãnh thổ, và cũng đảm bảo cơ hội bình đẳng về mậu dịch và thương nghiệp cho các thành viên khác của Hội Quốc Liên.
Tây Nam Phi và một số quần đảo tại Nam Thái Bình Dương là những lãnh thổ ủy nhiệm loại C của Hội Quốc Liên. Họ được phân loại là "những lãnh thổ" do dân cư thưa thớt, hoặc kích thước nhỏ, hoặc cách biệt với những trung tâm văn minh, hoặc tiếp giáp về địa lý với lãnh thổ của bên được ủy nhiệm thống trị, và những trường hợp khác, có thể được quản lý tốt ưu theo luật pháp của bên được ủy nhiệm thống trị với vị thế những bộ phận tổ thành của lãnh thổ của quốc gia đó."
Mười bốn lãnh thổ ủy nhiệm được phân chia cho bảy cường quốc: Anh Quốc, Liên bang Nam Phi, Pháp, Bỉ, New Zealand, Úc và Nhật Bản. Ngoại trừ Vương quốc Iraq vốn gia nhập Hội Quốc Liên vào ngày 3 tháng 10 năm 1932, các lãnh thổ này chỉ giành được độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong một quá trình kéo dài đến năm 1990. Sau khi Hội Quốc Liên kết thúc, các lãnh thổ ủy nhiệm còn lại trở thành lãnh thổ ủy trị Liên Hiệp Quốc.
Ngoài những lãnh thổ ủy nhiệm, bản thân Hội Quốc Liên quản lý Lãnh thổ Bồn địa Saar trong 15 năm rồi trao trả lãnh thổ này cho Đức theo một cuộc trưng cầu dân ý, và quản lý Thành phố tự do Danzig từ 15 tháng 11 năm 1920 đến 1 tháng 9 năm 1939.
== Giải quyết tranh chấp lãnh thổ ==
Chiến tranh thế giới thứ nhất để lại nhiều vấn đề cần phải giải quyết, bao gồm xác định vị trí chính xác các biên giới quốc gia và quốc gia cụ thể mà các khu vực sẽ gia nhập. Những cường quốc Đồng Minh chiến thắng xử lý hầu hết những vấn đề này thông qua các cơ cấu như Hội đồng Tối cao Đồng Minh. Đồng Minh có xu hướng chỉ chuyển các vấn đề đặc biệt khó khăn cho Hội Quốc Liên. Điều này có nghĩa là, trong thời gian đầu giữa hai thế chiến, Hội Quốc Liên giữ vai trò nhỏ trong giải quyết rối loạn từ chiến tranh. Các vấn đề mà Hội Quốc Liên xem xét trong những năm đầu này gồm có những vấn đề được chỉ định theo các Hiệp định hòa bình Paris.
Khi Hội Quốc Liên phát triển, vai trò của tổ chức được khoách trương, và đến giữa thập niên 1920 thì tổ chức trở thành trung tâm của hoạt động quốc tế. Sự biến đổi này được nhận thấy trong quan hệ giữa Hội Quốc Liên với phi thành viên, như Hoa Kỳ và Nga gia tăng làm việc cùng Hội Quốc Liên. Trong nửa sau của thập niên 1920, Pháp, Anh và Đức đều sử dụng Hội Quốc Liên làm trọng điểm trong hoạt động ngoại giao của họ, và bộ trưởng ngoại giao những quốc gia này tham gia các cuộc họp của Hội Quốc Liên tại Genève trong giai đoạn này. Họ cũng sử dụng cơ cấu của Hội Quốc Liên nhằm cải thiện các quan hệ và giải quyết những bất đồng của họ.
=== Quần đảo Åland ===
Åland là một quần đảo nằm giữa Thụy Điển và Phần Lan, dân cư tại quần đảo hầu như chỉ nói tiếng Thụy Điển. Năm 1809, Thụy Điển để mất Phần Lan và Åland cho Đế quốc Nga. Đến tháng 12 năm 1917, Phần Lan tuyên bố độc lập, song hầu hết dân cư Åland muốn tái gia nhập Thụy Điển. Tuy nhiên, chính phủ Phần Lan cho rằng quần đảo là một bộ phận của Phần Lan, do người Nga hợp nhất Åland trong Đại Công quốc Phần Lan. Đến năm 1920, tranh chấp leo thang đến mức có nguy cơ chiến tranh. Chính phủ Anh Quốc chuyển vấn đề lên Ủy ban của Hội Quốc Liên, song Phần Lan không cho Hội Quốc Liên can thiệp vì cho rằng đây là một vấn đề nội bộ. Hội Quốc Liên thiết lập một nhóm hội thảo nhỏ nhằm quyết định có nên nghiên cứu về vấn đề, kết quả là một ủy ban trung lập được thiết lập. Đến tháng 6 năm 1921, Hội Quốc Liên tuyên bố quyết định của mình: quần đảo vẫn là một bộ phận của Phần Lan, song với sự bảo vệ được bảo đảm dành cho dân cư quần đảo, trong đó có phi quân sự hóa. Với sự chấp thuận miễn cưỡng của Thụy Điển, đây trở thành thỏa thuận quốc tế đầu tiên tại châu Âu được dàn xếp trực tiếp thông qua Hội Quốc Liên.
=== Thượng Silesia ===
Các cường quốc Đồng Minh chuyển vấn đề Thượng Silesia đến Hội Quốc Liên sau khi họ không thể giải quyết tranh chấp lãnh thổ. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Ba Lan đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với Thượng Silesia- một bộ phận của Phổ. Hiệp ước Versailles đề nghị một cuộc trưng cầu dân ý tại Thượng Silesia nhằm xác định lãnh thổ nên trở thành bộ phận của Đức hay Ba Lan. Những than phiền về thái độ của nhà cầm quyền Đức dẫn đến náo động và cuối cùng dẫn đến hai cuộc nổi dậy Silesia (1919 và 1920). Một cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức vào ngày 20 tháng 3 năm 1921, với 59,6% (khoảng 500.000) số phiếu ủng hộ gia nhập Đức, song Ba Lan tuyên bố hoàn cảnh quanh cuộc bỏ phiếu là không công bằng. Điều này dẫn đến cuộc nổi dậy Silesia thứ ba vào năm 1921.
Ngày 12 tháng 8 năm 1921, Hội Quốc Liên được yêu cầu giải quyết vấn đề; Hội chính vụ thiết lập một ủy ban với những đại biểu từ Bỉ, Brasil, Trung Quốc và Tây Ban Nha nhằm nghiên cứu tình hình. Ủy ban đề nghị phân chia Thượng Silesia giữa Ba Lan và Đức theo kết quả từ cuộc trưng cầu dân ý và hai bên nên quyết định các chi tiết về tương tác giữa hai khu vực, như hàng hóa cần phải được thông qua biên giới một cách tự do vì sự phụ thuộc tương hỗ trong kinh tế và công nghiệp của hai khu vực. Đến tháng 11 năm 1921, một hội nghị được tổ chức tại Genève nhằm dàn xếp thỏa thuận giữa Đức và Ba Lan. Hội nghị đạt được một dàn xếp cuối cùng sau năm buổi họp, theo đó hầu hết khu vực được trao cho Đức, song phần thuộc Ba Lan có đa số tài nguyên khoáng sản và nhiều cơ sở công nghiệp của khu vực. Khi thỏa thuận này được công khai vào tháng 5 năm 1922, người Đức oán thán, song hiệp định vẫn được hai quốc gia phê chuẩn. Sự dàn xếp đem lại hòa bình tại khu vực cho đến khu bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ hai.
=== Albania ===
Biên giới của Albania không được xác định trong hội nghị hòa bình Paris năm 1919, vấn đề này được để lại cho Hội Quốc Liên quyết định. Đến tháng 9 năm 1921, vấn đề vẫn chưa được giải quyết, tạo ra một tình thế bất ổn định. Quân đội Hy Lạp tổ chức các chiến dịch quân sự ở phía nam của Albania, còn lực lượng Nam Tư xảy ra xung đột với người Albania ở phía bắc. Hội Quốc Liên phái một ủy ban gồm đại biểu từ nhiều cường quốc đến khu vực. Trong tháng 11 năm 1921, Hội Quốc Liên quyết định rằng biên giới của Albania nên tương đồng như vào năm 1913, với ba biến đổi nhỏ có lợi cho Nam Tư. Lực lượng Nam Tư triệt thoái một vài tuần sau đó.
Biên giới của Albania lại trở thành nguyên nhân gây xung đột quốc tế khi Tướng Enrico Tellini của Ý cùng bốn người phụ tá của ông bị phục kích và sát hại vào ngày 24 tháng 8 năm 1923 trong khi đang vạch biên giới mới được giải quyết giữa Hy Lạp và Albania. Nhà lãnh đạo Ý Benito Mussolini tức giận và yêu cầu về một ủy ban điều tra sự kiện trong vòng năm ngày. Bất chấp kết quả từ việc điều tra, Mussolini yêu cầu chính phủ Hy Lạp trả cho Ý 50 triệu lira tiền bồi thường. Hy Lạp tuyên bố họ sẽ không trả trừ khi chứng minh được rằng người Hy Lạp phạm tội.
Mussolini cử một chiếm hạm bắn phá đảo Corfu của Hy Lạp, và quân Ý chiếm đóng đảo vào ngày 31 tháng 8 năm 1923. Hành động này vi phạm Công ước Hội Quốc Liên, do vậy Hy Lạp yêu cầu Hội Quốc Liên giải quyết tình hình. Tuy nhiên, Đồng Minh đồng thuận rằng (do kiên trì của Mussolini) Hội nghị các đại sứ nên chịu trách nhiệm phân xử tranh chấp do hội nghị bổ nhiệm Tướng Tellini. Hội chính vụ Hội Quốc Liên khảo sát tranh chấp, song sau đó chuyển những phát hiện của họ cho Hội nghị các đại sứ để cơ cấu này ra quyết định cuối cùng. Hội nghị chấp thuận hầu hết đề xuất của Hội Quốc Liên, buộc Hy Lạp trả 50 triệu lira cho Ý mặc dù không thể tìm ra những người phạm tội. Quân Ý triệt thoái khỏi Corfu.
=== Memel ===
Thành phố cảng Memel và khu vực xung quanh có dân cư chủ yếu là người Đức, và nằm dưới quyền quản lý của Đồng Minh theo Điều 99 của Hiệp ước Versailles. Các chính phủ Pháp và Ba Lan ủng hộ chuyển Memel thành một đô thị quốc tế, trong khi Litva muốn sáp nhập khu vực này. Đến năm 1923, số phận của khu vực vẫn chưa được quyết định, thúc đẩy lực lượng Litva xâm chiếm vào tháng 1 năm 1923 và chiếm cảng. Sau khi Đồng Minh thất bại trong việc đạt một thỏa thuận với Litva, họ chuyển vấn đề lên Hội Quốc Liên. Trong tháng 12 năm 1923, Hội chính vụ Hội Quốc Liên chỉ định một ủy ban điều tra. Ủy ban này lựa chọn nhượng Memel cho Litva và trao cho khu vực các quyền tự trị. Công ước Klaipėda được Hội chính vụ Hội Quốc Liên phê chuẩn vào ngày 14 tháng 3 năm 1924, sau đó đến lượt các cường quốc Đồng Minh và Litva.
=== Hatay ===
Dưới sự giám sát của Hội Quốc Liên, huyện Alexandretta tại lãnh thổ ủy trị Syria của Pháp được trao quyền tự trị vào năm 1937. Khu vực đổi tên thành Hatay, và nghị viện của khu vực tuyên bố độc lập với vị thế nước Cộng hòa Hatay trong tháng 9 năm 1938. Thổ Nhĩ Kỳ sáp nhập lãnh thổ với sự tán thành của Pháp vào giữa năm 1939.
=== Mosul ===
Năm 1926, Hội Quốc Liên giải quyết một tranh chấp giữa Vương quốc Iraq và nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ về quyền kiểm soát tỉnh cũ Mosul của Ottoman. Anh được Hội Quốc Liên ủy nhiệm quản lý Iraq vào năm 1920 và do đó đại diện cho Iraq trong đối ngoại, quan điểm của Anh là Mosul thuộc về Iraq; còn Thổ Nhĩ Kỳ thì tuyên bố Mosul là bộ phận của khu vực trung tâm lịch sử của mình. Năm 1924, một ủy ban điều tra của Hội Quốc Liên gồm các thành viên người Bỉ, Hungary và Thụy Điển được phái đến khu vực; ủy ban nhận thấy rằng nhân dân Mosul không muốn trở thành bộ phận của cả Thổ Nhĩ Kỳ lẫn Iraq, song nếu phải lựa chọn thì thì sẽ chọn Iraq. Năm 1925, ủy ban đề nghị rằng khu vực là bộ phận của Iraq, theo các điều kiện nhằm đảm bảo quyền tự trị của người Kurd. Hội chính vụ Hội Quốc Liên thông qua đề nghị và phê chuẩn vào ngày 16 tháng 12 năm 1925 và trao Mosul cho Iraq. Thổ Nhĩ Kỳ bác bỏ quyết định, nghi ngờ thẩm quyền của Hội chính vụ. Vấn đề được chuyển đến Tòa án thường trực công lý quốc tế, tòa phán quyết rằng cần phải chấp thuận khi Hội chính vụ Hội Quốc Liên ra một quyết định nhất trí.
=== Vilnius ===
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Ba Lan và Litva đều giành được độc lập song lại vướng vào các tranh chấp lãnh thổ. Trong Chiến tranh Nga-Ba Lan, Litva ký kết Hòa ước Moskva với Xô viết và trong đó có xác định biên giới của Litva. Thỏa thuận này trao cho Litva quyền kiểm soát thành phố Vilnius, đây là cố đô của Litva song có đa số dân cư là người Ba Lan. Điều này làm gia tăng căng thẳng giữa Litva và Ba Lan và dẫn đến lo ngại rằng hai bên sẽ lại tiếp tục chiến tranh, và vào ngày 7 tháng 10 năm 1920, Hội Quốc Liên dàn xếp Thỏa thuận Suwałki thiết lập một lệnh ngừng bắn và vạch một đường phân giới giữa hai quốc gia. Ngày 9 tháng 10 năm 1920, một đội quân Ba Lan vi phạm thỏa thuận khi chiếm thành phố và thiết lập nước Cộng hòa Trung Litva.
Sau một yêu cầu trợ giúp từ Litva, Hội chính vụ Hội Quốc Liên kêu gọi Ba Lan triệt thaói binh sĩ khỏi khu vực. Chính phủ Ba Lan biểu thị rằng họ sẽ tuân thủ, song lại tăng cường lực lượng trong thành phố với thêm nhiều binh sĩ. Điều này xúc tiến Hội Quốc Liên quyết định rằng tương lai của Vilnius cần do những dân cư địa phương quyết định trong một cuộc trưng cầu dân ý và rằng quân Ba Lan cần triệt thoái và thay thế họ là một lực lượng quốc tế do Hội Quốc Liên tổ chức. Tuy nhiên, kế hoạch gặp phải sự chống đối tại Ba Lan, Litva, và cả Liên Xô vì nước này phản đối bất kỳ lực lượng quốc tế nào hiện diện tại Litva. Trong tháng 3 năm 1921, Hội Quốc Liên bãi bỏ kế hoạch về trưng cầu dân ý. Sau một đề xuất bất thành của Paul Hymans nhằm thiết lập một liên bang giữa Ba Lan và Litva, Ba Lan chính thức sáp nhập Vilnius và khu vực xung quanh trong tháng 3 năm 1922. Sau khi Litva đoạt quyền kiểm soát khu vực Klaipėda, đến ngày 14 tháng 3 năm 1923 thì Hội nghị Đồng Minh thiết lập biên giới giữa Litva và Ba Lan, để Vilnius trong Ba Lan. Nhà cầm quyền Litva từ chối chấp thuận quyết định, và chính thức ở trong tình trạng chiến tranh với Ba Lan cho đến năm 1927. Cho đến tối hậu thư của Ba Lan vào năm 1938 thì Litva mới khôi phục quan hệ ngoại giao với Ba Lan và chấp thuận trên thực tế về biên giới.
=== Colombia và Peru ===
Có một số xung đột biên giới giữa Colombia và Peru vào đầu thế kỷ 20, và đến năm 1922, chính phủ hai bên ký kết Hiệp ước Salomón-Lozano trong một nỗ lực nhằm giải quyết vấn đề. Theo hiệp ước này thì đô thị biên giới Leticia và khu vực xung quanh nó được nhượng từ Peru cho Colombia, khiến Colombia tiếp cận được với sông Amazon. Ngày 1 tháng 9 năm 1932, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cao su và đường của Peru bị mất đất theo hiệp ước đã tổ chức tiếp quản vũ trang đối với Leticia. Chính phủ Peru ban đầu không công nhận tiếp quản quân sự, song Tổng thống Peru Luis Sánchez Cerro quyết định kháng cự một hành động tái chiếm của Colombia. Quân đội Peru chiếm Leticia, dẫn đến một xung đột vũ trang giữa hai quốc gia. Sau nhiều tháng dàn xếp ngoại giao, hai chính phủ chấp thuận để Hội Quốc Liên hòa giải, và đại diện của họ trình bày trước Hội chính vụ Hội Quốc Liên. Một thỏa thuận hòa bình lâm thời được cả hai bên ký kết vào tháng 5 năm 1933, trao cho Hội Quốc Liên trách nhiệm quản lý lãnh thổ tranh chấp trong khi các dàn xếp song phương được tiến hành. Đến tháng 5 năm 1934, một thỏa thuận hòa bình cuối cùng được ký kết, theo đó trao trả Leticia cho Colombia, một xin lỗi chính thức từ Peru cho cuộc xâm chiếm năm 1932, phi quân sự hóa khu vực quanh Leticia, tự do thông hành trên các sông Amazon và Putumayo, và một cam kết không xâm lược.
=== Saar ===
Saar được tạo thành từ các bộ phận nguyên thuộc Phổ và Rhenish Palatinate và được đặt dưới quyền kiểm soát của Hội Quốc Liên theo Hiệp ước Versailles. Một cuộc trưng cầu dân ý sẽ được tổ chức sau 15 năm từ khi Hội Quốc Liên kiểm soát nhằm quyết định khu vực nên thuộc về Đức hoặc Pháp. Trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1935, 90,3% số phiếu ủng hộ trở thành bộ phận của Đức, kết quả nhanh chóng được Hội Quốc Liên phê chuẩn.
== Xung đột khác ==
Ngoài những tranh chấp lãnh thổ, Hội Quốc Liên cũng cố gắng can thiệp trong các xung đột khác giữa và trong các quốc gia. Trong số các thành công của tổ chức, có cuộc đấu tranh chống mậu dịch quốc tế về thuốc phiện và nô lệ tình dục, và công tác của tổ chức trong việc giảm bớt khó khăn của người tị nạn, đặc biệt là tại Thổ Nhĩ Kỳ cho đến năm 1926. Một trong những sáng kiến của tổ chức tại Thổ Nhĩ Kỳ là việc thiết lập hộ chiếu Nansen vào năm 1922, đây là thẻ căn cước được quốc tế công nhận đầu tiên dành cho những người tị nạn không quốc tịch.
=== Hy Lạp và Bulgaria ===
Sau một sự cố giữa lính biên phòng hai bên trong tháng 10 năm 1925, giao tranh bùng nổ giữa hai quốc gia. Ba ngày sau sự cố ban đầu, quân Hy Lạp xâm chiếm Bulgaria. Chính phủ Bulgaria lệnh cho binh sĩ chỉ kháng cự mang tính biểu tượng, và sơ tán 10.00-15.000 người khỏi khu vực biên giới, ủy thác Hội Quốc Liên giải quyết tranh chấp. Hội Quốc Liên lên án cuộc xâm chiếm của Hy Lạp, và kêu gọi Hy Lạp triệt thoái và bối thường cho Bulgaria.
=== Liberia ===
Sau những cáo buộc về lao động cưỡng bách tại đồn điền cao su thuộc sở hữu của công ty Hoa Kỳ Firestone và những cáo buộc của Hoa Kỳ về buôn bán nô lệ, chính phủ Liberia yêu cầu Hội Quốc Liên tiến hành một cuộc điều tra. Ủy ban này được đồng chỉ định bởi Hội Quốc Liên, Hoa Kỳ, và Liberia. Năm 1930, một báo cáo của Hội Quốc Liên xác nhận sự hiện diện của chế độ nô lệ và lao động cưỡng bách. Báo cáo ám chỉ nhiều quan chức chính phủ bán lao động khé ước và đề nghị thay thế họ bằng người châu Âu hoặc Hoa Kỳ, tạo ra sự tức giận tại Liberia và dẫn đến sự từ chức của Tổng thống Charles D. B. King cùng phó tổng thống. Chính phủ Liberia cấm lao động cưỡng bách và chế độ nô lệ, và yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ trong các cải cách xã hội.
=== Sự biến Mãn Châu ===
Sự biến Mãn Châu, còn gọi là "sự biến Cửu Nhất Bát" là một trong những thụt lùi lớn của Hội Quốc Liên và đóng vai trò là xúc tác cho việc Nhật Bản rút khỏi tổ chức. Theo các điều khoản của một hợp đồng cho thuê, chính phủ Nhật Bản được quyền đóng quân tại khu vực quanh đường sắt Nam Mãn tại Mãn Châu của Trung Quốc. Trong tháng 9 năm 1931, một đoạn đường sắt bị quân Quan Đông của Nhật Bản làm hư hại nhẹ nhằm tạo cớ để xâm chiếm Mãn Châu. Quân đội Nhật Bản tuyên bố rằng các binh sĩ Trung Quốc đã phá hoại đường sắt và trả đũa bằng việc chiếm toàn bộ Mãn Châu. Họ lập ra Mãn Châu Quốc, và đến ngày 9 tháng 3 năm 1932 thì thiết lập một chính phủ bù nhìn với cựu hoàng đế Phổ Nghi là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Thực thể mới này chỉ được các chính phủ Ý và Đức công nhận, phần còn lại của thế giới vẫn xem Mãn Châu là bộ phận về pháp lý của Trung Quốc. Trong năm 1932, không quân và hải quân Nhật Bản oanh tạc thành phố Thượng Hải, gây nên sự biến Nhất Nhị Bát.
Hội Quốc Liên chấp thuận một yêu cầu về việc trợ giúp chính phủ Trung Quốc, song hành trình dài bằng tàu trì hoãn các quan chức của Hội Quốc Liên. Khi đến nơi, họ đối diện với khẳng định của Trung Quốc rằng Nhật Bản xâm chiếm phi pháp, trong khi Nhật Bản tuyên bố họ hành động nhằm duy trì hòa bình trong khu vực. Bất chấp vị thế cao của Nhật Bản trong Hội Quốc Liên, Báo cáo Lytton sau đó tuyên bố Nhật Bản là thế lực xâm chiếm và yêu cầu hoàn trả Mãn Châu cho Trung Quốc. Trước khi báo cáo có thể được bỏ phiếu tại Đại hội đồng Hội Quốc Liên, Nhật Bản tuyên bố ý định tiến công hơn nữa vào Trung Quốc. Báo cáo được Đại hội đồng thông qua với kết quả 42–1 vào năm 1933 (chỉ Nhật Bản bỏ phiếu trống), song thay vì triệt thoái binh sĩ khỏi Trung Quốc, Nhật Bản quyết định rút khỏi Hội Quốc Liên.
Theo Công ước, Hội Quốc Liên cần phản ứng bằng các biện pháp chế tài kinh tế hoặc tuyên chiến; song việc này không diễn ra. Đe dọa chế tài kinh tế hầu như vô ích do Hoa Kỳ có thể tiếp tục giao dịch với Nhật Bản vì quốc gia này không phải là thành viên của tổ chức. Hội Quốc Liên có thể tập hợp một đội quân, song các đại cường như Anh và Pháp lại quá bận tâm đến các sự vụ riêng của họ, như duy trì quyền kiểm soát đối với các thuộc địa rộng lớn của họ, đặc biệt là sau rối loạn của Chiến tranh thế giới thứ nhất. Nhật Bản sau đó duy trì quyền kiểm soát đối với Mãn Châu cho đến khi Hồng quân Liên Xô chiếm khu vực và hoàn trả cho Trung Quốc vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai.
=== Chiến tranh Chaco ===
Hội Quốc Liên thất bại trong việc ngăn ngừa chiến tranh giữa Bolivia và Paraguay trong năm 1932 nhằm tranh giành khu vực Gran Chaco khô hạn. Mặc dù khu vực có dân cư thưa thớt song lại có sông Paraguay, và giúp hai quốc gia nội lục này có thể tiếp cận Đại Tây Dương, và cũng là một sự đầu cơ mà sau được chứng minh là không chính xác rằng Chaco sẽ là một nguồn dầu lửa phong phú. Xung đột biên giới qua cuối thập niên 1920 lên đến đỉnh điểm trong một cuộc chiến tranh tổng lực vào năm 1932 khi quân đội Bolivia tiến công Paraguay tại Pháo đài Fort Carlos Antonio López ven hồ Pitiantuta. Paraguay thỉnh cầu Hội Quốc Liên, song Hội Quốc Liên không có hành động khi Hội nghị Liên Mỹ đề nghị làm trung gian thay thế. Chiến tranh là một thảm họa đối với hai bên, gây 57.000 thương vong cho quốc gia 3 triệu dân Bolivia, và lấy đi 36.000 nhân mạng từ quốc gia 1 triệu dân Paraguay. Nó cũng gây thảm họa về kinh tế cho hai quốc gia. Khi một lệnh ngừng bắn được dàn xếp vào ngày 12 tháng 6 năm 1935, Paraguay giành quyền kiểm soát hầu hết khu vực, và sau đó được công nhận theo thỏa thuận đình chiến năm 1938.
=== Ý xâm chiếm Abyssinia ===
Trong tháng 10 năm 1935, nhà lãnh đạo Ý là Benito Mussolini phái 400.000 quân đi xâm chiếm Abyssinia (Ethiopia). Quân đội Ý đánh bại quân Abyssinia được vũ trang nghèo nàn và chiếm Addis Ababa vào tháng 5 năm 1936, buộc Hoàng đế Haile Selassie phải đào tị. Hội Quốc Liên lên án cuộc xâm chiếm của Ý và áp đặt chế tài kinh tế trong tháng 11 năm 1935, song các chế tài phần lớn là vô ích do họ không cấm bán dầu hoặc đóng cửa kênh đào Suez (do Anh kiểm soát). Ché tài của Hội Quốc Liên được bãi bỏ vào ngày 4 tháng 7 năm 1936, song lúc này Ý đã giành quyền kiểm soát các khu vực đô thị của Abyssinia.
Hiệp ước Hoare–Laval vào tháng 12 năm 1935 là một nỗ lực của Bộ trưởng Ngoại giao Anh Samuel Hoare và Thủ tướng Pháp Pierre Laval nhằm kết thúc xung đột tại Abyssinia bằng cách đề xuất phân chia quốc gia thành một khu vực thuộc Ý và một khu vực của Abyssinia. Mussolini chuẩn bị chấp thuận hiệp ước, song các tin tức về thỏa thuận này bị rò rỉ. Công chúng Anh và Pháp kịch liệt phản đối hiệp ước, miêu tả nó là bán rẻ Abyssinia. Hoare và Laval buộc phải từ chức, và các chính phủ Anh và Pháp tách họ khỏi hai nhân vật này. Trong tháng 6 năm 1936, mặc dù chưa có tiền lệ một nguyên thủ quốc gia diễn thuyết trước Đại hội đồng của Hội Quốc Liên, Haile Selassie phát biểu trước Đại hội đồng, kêu gọi sự trợ giúp của tổ chức trong việc bảo vệ quốc gia của ông.
Khủng hoảng Abyssinia biểu thị Hội Quốc Liên có thể bị ảnh hưởng từ tư lợi của các thành viên ra sao; một trong các lý do về việc các chế tài không quá khắc nghiệt là cả Anh và Pháp đều lo ngại về khả năng đẩy Mussolini và Adolf Hitler vào một liên minh.
=== Nội chiến Tây Ban Nha ===
Ngày 17 tháng 7 năm 1936, Lục quân Tây Ban Nha tiến hành đảo chính, dẫn đến một xung đột vũ trang kéo dài giữa những người Cộng hòa (chính phủ quốc gia cánh tả) và những người dân tộc chủ nghĩa (bảo thủ, những phiến quân chống cộng gồm hầu hết sĩ quan của lục quân Tây Ban Nha). Trong tháng 9 năm 1936, Bộ trưởng Ngoại giao Tây Ban Nha Julio Álvarez del Vayo thỉnh cầu Hội Quốc Liên cung cấp vũ trang nhằm bảo vệ tính toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của Tây Ban Nha. Tuy nhiên, các thành viên của Hội Quốc Liên không muốn can thiệp vào Nội chiến Tây Ban Nha và cũng không ngăn chặn can thiệp từ bên ngoài vào xung đột. Adolf Hitler và Mussolini tiếp tục viện trợ cho phe dân tộc chủ nghĩa của Tướng Francisco Franco, trong khi Liên Xô trợ giúp cho phe cộng hòa. Trong tháng 2 năm 1937, Hội Quốc Liên cấm chỉ các tình nguyện viên ngoại quốc, song điều này trên thực tế chỉ là một động thái mang tính biểu trưng.
=== Chiến tranh Trung-Nhật ===
Nhật Bản bắt đầu xâm chiếm toàn diện Trung Quốc từ ngày 7 tháng 7 năm 1937. Ngày 12 tháng 9, đại biểu Trung Quốc là Cố Duy Quân thỉnh cầu Hội Quốc Liên về can thiệp quốc tế. Các quốc gia phương Tây đồng tình với Trung Quốc trong cuộc đấu tranh của họ, đặc biệt là trong phòng thủ Thượng Hải, một thành phố có số lượng đáng kể người ngoại quốc. Tuy nhiên, Hội Quốc Liên không thể cung cấp bất kỳ biện pháp thực tế nào; ngày 4 tháng 10, tổ chức chuyển vấn đề cho Hội nghị Hiệp ước Cửu cường.
== Thất bại trong giải trừ quân bị ==
Điều 8 của Công ước trao cho Hội Quốc Liên nhiệm vụ giảm "vũ trang đến mức tối thiểu phù hợp với an ninh quốc gia và thực thi bằng hành động chung các nghĩa vụ quốc tế." Một lượng đáng kể thời gian và hoạt động của Hội Quốc Liên là dành cho mục tiêu này, mặc dù nhiều chính phủ thành viên không chắc chắn rằng giải trừ quân bị bao quát như vậy có thể hoàn thành hoặc thậm chí là đáng mong đợi. Theo Hiệp ước Versailles, các cường quốc Đồng Minh cũng có bổn phận nỗ lực giảm quân bị, và các hạn chế vũ trang áp đặt đối với các quốc gia chiến bại được mô tả là bước đầu tiên hướng đến giải trừ quân bị toàn cầu. Công ước Hội Quốc Liên phân công Hội Quốc Liên có nhiệm vụ thiết lập một kế hoạch giải trừ quân bị cho mỗi quốc gia, song Hội chính vụ trao cho trách nhiệm này cho một ủy ban đặc biệt thiết lập trong năm 1926 nhằm chuẩn bị cho Hội nghị giải trừ quân bị thế giới 1932–34. Các thành viên của Hội Quốc Liên có những quan điểm khác nhau về vấn đề, Pháp miễn cưỡng giảm vũ trang của họ trong khi không có một đảm bảo trợ giúp quân sự nếu bị tấn công; Ba Lan và Tiệp Khắc cảm thấy dễ bị tấn công từ phía tây và muốn Hội Quốc Liên tăng cường phản ứng đối với hành vi xâm lược chống lại một thành viên trước khi họ giải trừ quân bị. Không có sự đảm bảo này, họ sẽ không giảm vũ trang do nhận thấy nguy cơ tấn công từ Đức là quá lớn. Lo sợ về việc bị tiến công tăng lên khi Đức hồi phục sức mạnh sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, đặc biệt là sau khi Adolf Hitler giành được quyền lực và trở thành thủ tướng Đức vào năm 1933. Những cố gắng của Đức nhằm đạp đổ Hiệp ước Versailles và tái thiết lực lượng quân sự Đức khiến Pháp càng không sẵn lòng giải trừ quân bị.
Hội Quốc Liên triệu tập Hội nghị giải trừ quân bị thế giới tại Genève vào năm 1932, với các đại biểu từ 60 quốc gia. Một lệnh tạm ngưng mở rộng vũ trang trong một năm, sau đó kéo dài thêm một vài tháng, được đề xuất tại đầu hội nghị. Uỷ ban giải trừ quân bị đạt được thỏa thuận ban đầu từ Pháp, Ý, Nhật Bản và Anh nhằm giới hạn quy mô hải quân của họ. Hiệp ước Kellogg–Briand với sự hỗ trợ từ ủy ban trong năm 1928 đã thất bại trong mục tiêu cấm chỉ chiến tranh. Cuối cùng, ủy ban thất bại trong việc ngăn chặn Đức, Ý, Nhật Bản xây dựng quân đội trong thập niên 1930. Hội Quốc Liên hầu như yên lặng khi phải đối diện với các sự kiện lớn dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai, như khi Hitler tái vũ trang hóa Rheinland, chiếm Sudetenland và sáp nhập Áo- hành động bị cấm theo Hiệp ước Versailles. Trên thực tế, các thành viên của Hội Quốc Liên tự tái vũ trang. Năm 1933, Nhật Bản rút khỏi Hội Quốc Liên thay vì tuân theo quyết định của tổ chức, Đức cũng rút khỏi trong cùng năm (sử dụng lý do là thất bại của Hội nghị giải trừ quân bị thế giới trong việc đồng thuận cân bằng vũ trang giữa Pháp và Đức), rồi đến Ý vào năm 1937. Hành động có ý nghĩ cuối cùng của Hội Quốc Liên là trục xuất Liên Xô vào tháng 12 năm 1939 sau khi quốc gia này xâm chiếm Phần Lan.
== Nhược điểm chung ==
Việc Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ chứng minh rằng Hội Quốc Liên đã thất bại trong mục đích chính của tổ chức là ngăn ngừa một thế chiến khác. Có nhiều lý do cho thất bại này, với những liên kết đến những nhược điểm chung trong tổ chức. Ngoài ra, năng lực của Hội Quốc Liên bị hạn chế do Hoa Kỳ từ chối tham dự.
Hội Quốc Liên là một tổ chức được các cường quốc Đồng Minh thành lập như một phần của sự dàn xếp hòa bình nhằm kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất, khiến tổ chức được nhìn nhận là một "Liên minh của những người thắng cuộc". Tính trung lập của Hội Quốc Liên có khuynh hướng biểu thị tổ chức là thiếu quyết đoán. Hội Quốc Liên đòi hỏi một cuộc bỏ phiếu nhất trí của 9, sau đó là 15 thành viên Hội chính vụ để ban hành một nghị quyết; do đó, việc thuyết phục và hành động thực sự là điều khó khăn, nếu không phải là không thể. Tổ chức cũng chậm di đến quyết định của mình khi mà một thành viên nhất định yêu cầu đồng thuận nhất trí của toàn thể Ủy ban. Vấn đề này chủ yếu bắt nguồn từ thực tế rằng các thành viên chủ yếu của Hội Quốc Liên không muốn chấp thuận khả năng số mệnh của họ do các quốc gia khác quyết định, và do thi hành bỏ phiếu nhất trí trên thực tế là trao cho họ quyền phủ quyết.
Mặc dù tổ chức có dự định bao gồm toàn bộ các quốc gia, song nhiều quốc gia chưa từng gia nhập hoặc chỉ có thời kỳ làm thành viên ngắn ngủi, sự khuyết diện đáng chú ý nhất là Hoa Kỳ. Tổng thống Woodrow Wilson từng xúc tiến việc hình thành Hội Quốc Liên và có ảnh hưởng lớn đối với hình thức của tổ chức, song Thượng nghị viện Hoa Kỳ bỏ phiếu không gia nhập tổ chức vào ngày 19 tháng 11 năm 1919. Ruth Henig đưa ra giả thuyết rằng khi Hoa Kỳ trở thành một thành viên thì quốc gia này cũng sẽ cung cấp sự ủng hộ cho Pháp và Anh, có thể khiến cho Pháp cảm thấy an toàn hơn, và do đó khuyến khích Pháp và Anh đi đến hợp tác thêm đầy đủ trong quan hệ với Đức, do đó khiến cho Đảng Quốc xã ít có khả năng lên nắm quyền hơn. Ngược lại, Henig thừa nhận rằng nếu Hoa Kỳ là một thành viên thì sự miễn cưỡng của quốc gia này trong việc tham gia chiến tranh với các quốc gia châu Âu hoặc để ban hành các chế tài kinh tế có thể cản trở năng lực của Hội Quốc Liên trong việc giải quyết các sự biến quốc tế. Cấu trúc của chính phủ liên bang Hoa Kỳ có thể khiến cho vị thế thành viên của quốc gia này trở nên mơ hồ, do các đại biểu của Hoa Kỳ tại Hội Quốc Liên không thể có các quyết định nhân danh nhánh hành pháp mà không được phê chuẩn từ trước của nhánh lập pháp.
Trong tháng 1 năm 1920, khi Hội Quốc Liên khai sinh, Đức không được phép tham dự do được nhìn nhận là một quốc gia đi xâm lược trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Nước Nga Xô viết ban đầu cũng bị loại trừ do các chế độ cộng sản không được hoan nghênh. Hội Quốc Liên trở nên suy yếu thêm khi các đại cường rút khỏi tổ chức trong thập niên 1930. Nhật Bản ban đầu là một thành viên thường trực của Ủy ban, song rút khỏi Hội Quốc Liên vào năm 1933 sau khi Hội Quốc Liên phản đối quốc gia này xâm chiếm Mãn Châu. Ý ban đầu cũng là một thành viên thường trực của Ủy ban, song rút khỏi Hội Quốc Liên vào năm 1937. Năm 1926, Hội Quốc Liên chấp thuận cho Đức gia nhập với vị thế một thành viên thường trực của Hội chính vụ, cho rằng Đức là một "quốc gia yêu chuộng hòa bình", song Adolf Hitler đưa Đức ra khỏi Hội Quốc Liên khi ông lên nắm quyền vào năm 1933.
Những nhược điểm quan trọng khác tăng lên từ mâu thuẫn giữa quan điểm an ninh tập thể vốn dựa trên nền tảng Hội Quốc Liên và quan hệ quốc tế giữa các quốc gia riêng lẻ. Hệ thống an ninh tập thể của Hội Quốc Liên yêu cầu các quốc gia phải hành động nhằm ủng hộ cho các quốc gia mà họ không có mối quan hệ thân thiết bình thường, nếu cần thiết phải chống lại cả những quốc gia mà họ xem là hữu nghị nên có thể gây nguy hiểm cho lợi ích quốc gia. Nhược điểm này được bộc lộ trong khủng hoảng Abyssinia, khi đó Anh và Pháp duy trì sự cân bằng an ninh mà họ nỗ lực thiết lập cho mình tại châu Âu "nhằm bảo vệ chống các kẻ thù của trật tự quốc tế", mà trong đó sự ủng hộ của Ý đóng một vai trò then chốt, với bổn phận của họ với Abyssinia với vị thế là một thành viên Hội Quốc Liên. Cuối cùng, Anh và Pháp đều từ bỏ khái nhiệm an ninh tập thể mà thay vào đó ủng hộ nhân nhượng trong việc đối diện với chủ nghĩa quân phiệt Đức đang phát triển dưới thời Hitler.
Hội Quốc Liên thiếu một lực lượng vũ trang riêng và dựa vào những đại cường để thi hành các nghị quyết của mình, đây là điều mà các đại cường rất không muốn thực hiện. Hai thành viên quan trọng nhất của Hội Quốc Liên là Anh và Pháp đã miễn cưỡng sử dụng các chế tài và thậm chí còn miễn cưỡng hơn trong việc dùng đến phương pháp hành động quân sự nhân danh Hội Quốc Liên. Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, chủ nghĩa hòa bình trở thành một thế lực mạnh trong nhân dân và chính phủ tại cả hai quốc gia. Đảng Bảo thủ Anh đặc biệt lãnh đạm với Hội Quốc Liên, và khi nắm quyền đảng này ưu tiên điều đình các hiệp ước mà không có sự tham dự của tổ chức này. Hơn nữa, sự ủng hộ tích cực của Hội Quốc Liên về việc giải trừ quân bị đối với Anh, Pháp, và các thành viên khác, trong khi đồng thời chủ trương an ninh tập thể, có nghĩa là Hội Quốc Liên đã tự tước đoạt phương thức mạnh duy nhất mà nhờ đó tổ chức mới có thể duy trì quyền uy.
== Sụp đổ và di sản ==
Khi tình hình tại châu Âu leo thang đến chiến tranh, Ủy ban chuyển giao quyền lực đầy đủ cho Tổng thư ký vào ngày 30 tháng 9 năm 1938 và 14 tháng 12 năm 1939 nhằm cho phép Hội Quốc Liên tiếp tục tồn tại về mặt pháp lý và tiến hành giảm bớt các hành động. Trụ sở của Hội Quốc Liên là Cung các Quốc gia không bị chiếm đóng cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.
Tại Hội nghị Tehran năm 1943, các cường quốc Đồng Minh chấp thuận thiết lập một cơ cấu mới nhằm thay thế cho Hội Quốc Liên: Liên Hiệp Quốc. Nhiều cơ quan của Hội Quốc Liên như Tổ chức lao động quốc tế tiếp tục hoạt động và cuối cùng trở thành một thành viên trực thuộc của Liên Hiệp Quốc. Những người phác thảo kết cấu của Liên Hiệp Quốc nhằm mục đích khiến nó trở nên hiệu quả hơn Hội Quốc Liên.
Cuộc họp cuối cùng của Hội Quốc Liên diễn ra vào ngày 12 tháng 4 năm 1946 taị Genève. Đại biểu đến từ 34 quốc gia tham dự kỳ họp Đại hội đồng. Phiên họp này liên quan đến việc thanh lý Hội Quốc Liên: tổ chức chuyển giao tài sản có giá khoảng 22 triệu đô la Mỹ vào năm 1946, cho Liên Hiệp Quốc, hoàn trả kinh phí dự trữ mà các quốc gia từng cung cấp cho tổ chức, và giải quyết các khoản nợ của Hội Quốc Liên.
Đề nghị giải thể Hội Quốc Liên được nhất trí thông qua, ngày kết thúc của Hội Quốc Liên được xác định là ngày sau khi phiên họp kết thúc. Ngày 19 tháng 4 năm 1946, Chủ tịch Đại hội đồng là Carl J. Hambro tuyên bố "phiên họp thứ 21 và cuối cùng của Đại hội đồng Hội Quốc Liên kết thúc". Hội Quốc Liên chấm dứt tồn tại vào ngày hôm sau.
Các quốc gia Đồng Minh chủ chống trong Chiến tranh thế giới thứ hai (Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô, Pháp và Trung Quốc) trở thành những thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc vào năm 1946. Các quyết định của Hội đồng bảo an mang tính rằng buộc với toàn bộ thành viên của Liên Hiệp Quốc; tuy nhiên không yêu cầu về quyết định nhất trí như Hội chính vụ Hội Quốc Liên. Các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an có thể vận dụng quyền phủ quyết để bảo vệ quyền lợi thiết thân của họ.
== Chú thích ==
== Thư mục ==
== Đọc thêm ==
Cooper, John Milton. Breaking the Heart of the World: Woodrow Wilson and the Fight for the League of Nations (2001) 454pp excerpt and text search
Egerton, George W (1978). Great Britain and the Creation of the League of Nations: Strategy, Politics, and International Organization, 1914–1919. University of North Carolina Press. ISBN 0-807-81320-6.
Gill, George (1996). The League of Nations from 1929 to 1946. Avery Publishing Group. ISBN 0-89529-637-3.
Ginneken, Anique H.M. van. Historical Dictionary of the League of Nations (2006) excerpt and text search
Kitsikis, Dimitri (1972). Le rôle des experts à la Conférence de la Paix de 1919. Gestation d'une technocratie en politique internationale (bằng tiếng Pháp). Ottawa: Editions de l'Université d'Ottawa. tr. 227. OCLC 643562008. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) (The founding of the League of Nations).
Kuehl, Warren F; Dunn, Lynne K (1997). Keeping the Covenant: American Internationalists and the League of Nations, 1920–1939.
Malin, James C (1930). The United States after the World War. tr. 5–82.
Marbeau, Michel (2001). La Société des Nations (bằng tiếng Pháp). Presses Universitaires de France. ISBN 2-13-051635-1. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
Pfeil, Alfred (1976). Der Völkerbund (bằng tiếng Đức). Wissenschaftliche Buchgesellschaft. ISBN 978-3-534-06744-2. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
Walters, Francis P. (1952). A History of the League of Nations. Oxford University Press.
== Liên kết ngoài ==
Niên đại biểu Hội Quốc Liên
Lịch sử (1919–1946) từ Văn phòng Liên Hiệp Quốc tại Genève
Tài liệu lưu trữ Hội Quốc Liên từ Văn phòng Liên Hiệp Quốc tại Genève
Thời gian biểu Hội Quốc Liên, worldatwar.net
Lịch sử Hội Quốc Liên
Kho lưu trữ ảnh về Hội Quốc Liên |
vũ khí hạt nhân.txt | Vũ khí hạt nhân (tiếng Anh: nuclear weapon) là loại vũ khí hủy diệt hàng loạt mà năng lượng của nó do các phản ứng phân hạch hạt nhân hoặc/và phản ứng hợp hạch gây ra. Một vũ khí hạt nhân nhỏ nhất cũng có sức công phá lớn hơn bất kỳ vũ khí quy ước nào. Vũ khí có sức công phá tương đương với 10 triệu tấn thuốc nổ có thể phá hủy hoàn toàn một thành phố. Nếu sức công phá là 100 triệu tấn (mặc dù hiện nay chưa thể thực hiện được) thì có thể phá hủy một vùng với bán kính 100 – 160 km. Cho đến nay, mới chỉ có hai quả bom hạt nhân được dùng trong Chiến tranh thế giới thứ hai: quả bom thứ nhất được ném xuống Hiroshima (Nhật Bản) vào ngày 6 tháng 8 năm 1945 có tên là Little Boy và được làm từ uranium; quả sau có tên là Fat Man và được ném xuống Nagasaki, cũng ở Nhật Bản ba ngày sau đó, được làm từ plutonium.
== Lịch sử vũ khí hạt nhân ==
Những vũ khí hạt nhân đầu tiên được Hoa Kỳ chế tạo cùng với sự giúp đỡ của Anh Quốc và Canada trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đó là một phần của dự án Manhattan tối mật. Lúc đầu, việc chế tạo vũ khí hạt nhân là sự lo sợ Đức Quốc xã có thể chế tạo và sử dụng trước quân đội đồng minh. Nhưng cuối cùng thì hai thành phố của Nhật Bản là Hiroshima và Nagasaki lại là nơi chịu đựng sức tàn phá của những quả bom nguyên tử đầu tiên vào năm 1945. Liên Xô cũng đẩy mạnh Dự án vũ khí hạt nhân và chế tạo, thử nghiệm vũ khí hạt nhân đầu tiên vào năm 1949. Cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều phát triển vũ khí hạt nhân nhiệt hạch vào những năm giữa của thập niên 1950. Việc phát minh ra các tên lửa hoạt động ổn định vào những năm 1960 đã làm cho khả năng mang các vũ khí hạt nhân đến bất kỳ nơi nào trên thế giới trong một thời gian ngắn trở thành hiện thực. Hai siêu cường của chiến tranh Lạnh đã chấp nhận một chiến dịch nhằm hạn chế việc chạy đua vũ khí hạt nhân nhằm duy trì một nền hòa bình mong manh lúc đó.
Vũ khí hạt nhân từng là biểu tượng cho sức mạnh quân sự và sức mạnh quốc gia. Việc thử nghiệm hạt nhân thường để kiểm tra các thiết kế mới cũng như là gửi các thông điệp chính trị. Một số quốc gia khác cũng phát triển vũ khí hạt nhân trong thời gian này, đó là Anh Quốc, Pháp, Trung Quốc. Năm thành viên của "câu lạc bộ các nước có vũ khí hạt nhân" đồng ý một thỏa hiệp hạn chế việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở các quốc gia khác mặc dù có ít nhất hai nước (Ấn Độ, Nam Phi) đã chế tạo thành công và một nước (Israel) có thể đã phát triển vũ khí hạt nhân vào thời điểm đó. Vào đầu những năm 1990, nước kế thừa Liên Xô trước đây là nước Nga cùng với Hoa Kỳ cam kết giảm số đầu đạn hạt nhân dự trữ để gia tăng sự ổn định quốc tế. Mặc dù vậy, việc phổ biến vũ khí hạt nhân vẫn tiếp tục. Pakistan thử nghiệm vũ khí đầu tiên của họ vào năm 1998, CHDCND Triều Tiên công bố đã phát triển vũ khí hạt nhân vào năm 2004. Vũ khí hạt nhân là một trong những vấn đề trọng tâm của các căng thẳng về chính trị quốc tế và vẫn đóng vai trò quan trọng trong các vấn đề xã hội từ khi nó được khởi đầu từ những năm 1940. Vũ khí hạt nhân thường được coi là biểu tượng phi thường của con người trong việc sử dụng sức mạnh của tự nhiên để hủy diệt con người.
== Các loại vũ khí hạt nhân ==
Vũ khí hạt nhân đơn giản là lấy năng lượng từ quá trình phân hạch (còn gọi là phân rã hạt nhân). Một vật liệu có khả năng phân rã được lắp ráp vào một khối lượng tới hạn, trong đó khởi phát một phản ứng dây chuyền và phản ứng đó gia tăng theo tốc độ của hàm mũ, giải thoát một năng lượng khổng lồ. Quá trình này được thực hiện bằng cách bắn một mẫu vật liệu chưa tới hạn này vào một mẫu vật liệu chưa tới hạn khác để tạo ra một trạng thái gọi là siêu tới hạn. Khó khăn chủ yếu trong việc thiết kế tất cả các vũ khí hạt nhân là đảm bảo một phần chủ yếu các nhiêu liệu được dùng trước khi vũ khí tự phá hủy bản thân nó. Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom nguyên tử, còn gọi là bom A.
Các loại vũ khí cao cấp hơn thì lấy năng lượng nhiều hơn từ quá trình nhiệt hạch (còn gọi là tổng hợp hạt nhân). Trong loại vũ khí này, bức xạ nhiệt từ vụ nổ phân rã hạt nhân được dùng để nung nóng và nén đầu mang tritium, deuterium, hoặc liti, từ đó xảy ra phản ứng nhiệt hạch với năng lượng được giải thoát lớn hơn rất nhiều. Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom khinh khí, còn gọi là bom hydro, bom H hay bom nhiệt hạch. Nó có thể giải thoát một năng lượng lớn hơn hàng ngàn lần so với bom nguyên tử.
Người ta còn tạo ra các vũ khí tinh vi hơn cho một số mục đích đặc biệt. Vụ nổ hạt nhân được thực hiện nhờ một luồng bức xạ neutron xung quanh vũ khí hạt nhân, sự có mặt của các vật liệu phù hợp (như Coban hoặc vàng) có thể gia tăng độ ô nhiễm phóng xạ. Người ta có thể thiết kế vũ khí hạt nhân có thể cho phép neutron thoát ra nhiều nhất; những quả bom như vậy được gọi là bom neutron. Về lý thuyết, các vũ khí phản vật chất, trong đó sử dụng các phản ứng giữa vật chất và phản vật chất, không phải là vũ khí hạt nhân nhưng nó có thể là một vũ khí với sức công phá cao hơn cả vũ khí hạt nhân.
== Ảnh hưởng của vụ nổ hạt nhân ==
Năng lượng từ vụ nổ vũ khí hạt nhân thoát ra ở bốn loại sau đây:
Áp lực — 40-60% tổng năng lượng
Bức xạ nhiệt — 30-50% tổng năng lượng
Bức xạ ion — 5% tổng năng lượng
Bức xạ dư (bụi phóng xạ) — 5-10% tổng năng lượng
Lượng năng lượng giải thoát của từng loại phụ thuộc vào thiết kế của vũ khí và môi trường mà vụ nổ hạt nhân xảy ra. Bức xạ dư là năng lượng được giải thoát sau vụ nổ, trong khi các loại khác thì được giải thoát ngay lập tức.
Năng lượng được giải thoát bởi vụ nổ bom hạt nhân được đo bằng kiloton hoặc megaton - tương đương với hàng ngàn và hàng triệu tấn thuốc nổ TNT (tri-nitro-toluen). Vũ khí phân hạch đầu tiên có sức công phá đo được là vài ngàn kiloton, trong khi vụ nổ bom khinh khí lớn nhất đo được là 10 megaton. Trên thực tế vũ khí hạt nhân có thể tạo ra các sức công phá khác nhau, từ nhỏ hơn một kiloton ở các vũ khí hạt nhân cầm tay như Davy Crockett của Hoa Kỳ cho đến 54 megaton như Bom Sa hoàng (Tsar-Bomba) của Liên Xô (vào ngày 30/10/1961).
Hiệu ứng quan trọng nhất của vũ khí hạt nhân là áp lực và bức xạ nhiệt có cơ chế phá hủy giống như các vũ khí quy ước. Sự khác biệt cơ bản là vũ khí hạt nhân có thể giải thoát một lượng lớn năng lượng tại một thời điểm. Tàn phá chủ yếu của bom hạt nhân không liên quan trực tiếp đến quá trình hạt nhân giải thoát năng lượng mà liên quan đến sức mạnh của vụ nổ
Mức độ tàn phá của ba loại năng lượng đầu tiên khác nhau tùy theo kích thước của bom. Bức xạ nhiệt suy giảm theo khoảng cách chậm nhất, do đó, bom càng lớn thì hiệu ứng phá hủy do nhiệt càng mạnh. Bức xạ ion bị suy giảm nhanh chóng trong không khí, nên nó chỉ nguy hiểm đối với các vũ khí hạt nhân hạng nhẹ. Áp lực suy giảm nhanh hơn bức xạ nhiệt nhưng chậm hơn bức xạ ion.
== Phóng bom hạt nhân ==
Thuật ngữ vũ khí hạt nhân chiến lược được dùng để chỉ các vũ khí lớn với các mục tiêu phá hủy lớn như các thành phố. Vũ khí hạt nhân chiến thuật là các vũ khí hạt nhân nhỏ hơn được dùng để phá hủy các mục tiêu quân sự, viễn thông hoặc hạ tầng cơ sở. Theo tiêu chuẩn hiện đại thì các quả bom ném xuống Hiroshima và Nagasaki vào năm 1945 có thể được coi là các vũ khí hạt nhân chiến thuật (sức công phá là 13 và 22 kiloton), mặc dù, các vũ khí hạt nhân chiến thuật nhẹ hơn và nhỏ hơn đáng kể.
Các phương pháp phóng vũ khí hạt nhân là:
=== Bom hấp dẫn ===
Không một vũ khí hạt nhân nào đủ tiêu chuẩn là bom gỗ - đó là từ nóng mà quân đội Hoa Kỳ dùng để chỉ một loại bom hoàn thiện, không phải bảo hành sửa chữa, không nguy hiểm dưới mọi điều kiện trước khi cho nổ. Bom hấp dẫn là loại bom được thiết kế để được thả xuống từ các máy bay. Yêu cầu của loại bom này là phải chịu được các dao động và thay đổi về nhiệt độ và áp suất của không khí. Lúc đầu, các vũ khí thường có một cái chốt an toàn ở trạng thái đóng trong quá trình bay. Chúng phải thỏa mãn các yêu cầu về độ ổn định để tránh các vụ nổ hoặc rơi bất ngờ có thể xảy ra. Rất nhiều loại vũ khí có một thiết bị đóng ngắt để khởi động quá trình nổ. Các vũ khí hạt nhân của Mỹ thỏa mãn các tiêu chuẩn an toàn nói trên sẽ được ký hiệu bởi chữ cái "B", và tiếp theo (không có dấu nối) là các ký hiệu vật lý cần thiết. Ví dụ bom B61 là một loại bom như vậy, được Mỹ chế tạo rất nhiều và lưu trữ trong các kho chứa đạn dược trong nhiều thập kỷ.
Có nhiều kỹ thuật ném bom như thả bom tự do trong không khí, thả bom bằng dù với cơ chế cho nổ chậm để máy bay ném bom có thời gian thoát khỏi vùng nguy hiểm khi bom nổ.
Những quả bom hấp dẫn đầu tiên chỉ có thể được mang bằng B-29 Superfortress. Thế hệ bom tiếp theo vẫn rất lớn và nặng, chỉ có các pháo đài bay B-52, máy bay ném bom lớn V mới có thể mang được. Nhưng vào giữa những năm 1950, người ta có thể chế tạo được các vũ khí nhỏ, nhẹ hơn và có thể được mang bằng các máy bay chiến đấu kiêm ném bom bình thường.
=== Tên lửa đạn đạo mang đầu đạn hạt nhân ===
Các tên lửa đạn đạo là các tên lửa có chất nổ, được máy tính hoặc người điều khiển, sau khi phóng thì chúng chỉ chịu ảnh hưởng của lực hấp dẫn và lực cản của không khí gây ra. Tên lửa đạn đạo dùng để mang các đầu đạn với tầm xa từ mười cho đến vài trăm km. Các tên lửa đạn đạo liên lục địa hoặc các tên lửa đạn đạo vượt đại châu được phóng từ các tàu ngầm có thể theo các lộ trình dưới quỹ đạo hoặc quỹ đạo với tầm xa xuyên lục địa. Các tên lửa đầu tiên chỉ có thể mang một đầu đạn, thường với sức công phá khoảng megaton. Các tên lửa như vậy yêu cầu phải có khả năng hoạt động với tính chính xác rất cao để đảm bảo phá hủy mục tiêu.
Từ những năm 1970, các tên lửa đạn đạo hiện đại được phát triển với khả năng nhắm tới mục tiêu với độ chính xác cao hơn nhiều. Điều này làm cho một tên lửa, trong một lần phóng, có thể mang đến hơn một chục đầu đạn và nhắm tới các mục tiêu độc lập với nhau. Mỗi đầu đạn có thể có sức công phá vài kiloton. Đây là một điểm mạnh quan trọng của tên lửa đạn đạo có nhiều đầu đạn. Nó không chỉ cho phép phá hủy các mục tiêu khác nhau, độc lập với nhau mà còn có thể cùng công phá một mục tiêu theo kiểu bủa vây hoặc có thể tác chiến với các vũ khí chiến thuật khác để vô hiệu hóa tất cả các hệ thống phòng thủ của đối phương. Vào những năm 1970, Liên Xô công bố kế hoạch nhằm chế tạo ra các tên lửa đạn đạo nhiều đầu đạn. Số tên lửa như vậy đủ lớn để cứ mỗi 19 giây đến 3 phút thì phóng một tên lửa tới các thành phố lớn của nước Mỹ, và việc đó có thể được thực hiện liên tục trong một giờ đồng hồ.
Tên lửa mang đầu đạn ở trong các kho lưu trữ đạn được của Hoa Kỳ được ký hiệu bằng chữ "W" ở đầu, ví dụ W61 có các tính chất như B61 nói ở trên nhưng có các yêu cầu về môi trường khác hẳn.
=== Tên lửa hành trình mang đầu đạn hạt nhân ===
Tên lửa hành trình có thể mang đầu đạn hạt nhân, bay ở độ cao rất thấp, khoảng cách ngắn và được dẫn đường bởi các hệ thống điều khiển bên trong hoặc bên ngoài (như hệ thống định vị toàn cầu - GPS) làm cho chúng khó có thể bị đối phương phát hiện và ngăn chặn. Tên lửa hành trình mang được trọng lượng nhỏ hơn tên lửa đạn đạo rất nhiều nên sức công phá của đầu đạn mà nó mang thường là nhỏ. Tên lửa hành trình không thể mang nhiều đầu đạn nên không thể công phá nhiều mục tiêu. Mỗi tên lửa như vậy chỉ mang một đầu đạn mà thôi. Tuy nhiên, do gọn nhẹ nên tên lửa hành trình quy ước có thể được phóng đi từ các bệ phóng di động trên mặt đất, từ các chiến hạm hoặc từ các máy bay chiến đấu. Tên của các đầu đạn dành cho tên lửa hành trình của Mỹ không khác biệt với tên của các đầu đạn dành cho tên lửa đạn đạo.
=== Các phương pháp khác ===
Các phương pháp mang đầu đạn hạt nhân khác gồm súng cối, mìn, bom phá tàu ngầm, ngư lôi,... Vào những năm 1950, Hoa Kỳ còn phát triển một loại đầu đạt hạt nhân với mục đích phòng không có tên là Nike Hercules. Sau đó, nó được phát triển thành loại tên lửa chống tên lửa đạn đạo với đầu đạn lớn hơn. Phần lớn các vũ khí hạt nhân phòng không đều không được dùng vào cuối những năm 1960, các bom phá tàu ngầm không được dùng vào năm 1990. Tuy vậy, Liên Xô (và sau đó là Nga) vẫn tiếp tục duy trì tên lửa chống tên lửa đạn đạo với đầu đạn hạt nhân. Một loại vũ khí chiến thuật nhỏ, nhẹ, hai người mang (thường hay bị gọi nhầm là bom xách tay) cũng khá phổ biến mặc dù nó không chính xác và không tiện lợi lắm.
Xem danh sách vũ khí hạt nhân để biết thiết kế các loại vũ khí hạt nhân.
== Sở hữu, kiểm soát và luật pháp về vũ khí hạt nhân ==
Hơn hai ngàn vụ nổ hạt nhân sau đó là do việc thử nghiệm hạt nhân, chủ yếu là do các quốc gia sau đây thực hiện: Hoa Kỳ, Liên Xô, Pháp, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan.
Hiện có một hiệp ước quốc tế để chống việc phổ biến vũ khí hạt nhân là Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, hay được biết đến với tên NPT (viết tắt của tên tiếng Anh: Nuclear Non-Proliferation Treaty).
Các nước hiện nay công bố đang sở hữu vũ khí hạt nhân là Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và CHDCND Triều Tiên. Thêm vào đó, Israel luôn được cộng đồng quốc tế cho là sở hữu bom hạt nhân mặc dù nước này chưa bao giờ chính thức khẳng định hay phủ định. Iran và Syria bị Hoa Kỳ cáo buộc là có sở hữu vũ khí hạt nhân.
Có bốn quốc gia từng sở hữu vũ khí hạt nhân nhưng đã từ bỏ. Kazakhstan, Belarus và Ukraina từng sở hữu một số lớn đầu đạn hạt nhân cũ từ thời Liên Xô, tuy nhiên cả ba quốc gia đã giao nộp lại cho Nga và ký vào NPT. Nam Phi cũng từng sản xuất ít nhất 6 quả bom hạt nhân vào những năm 1980 nhưng đã phá hủy chúng vào đầu thập kỉ 90 của thế kỉ trước và tham gia NPT.
Có năm quốc gia không tự sở hữu và sản xuất vũ khí hạt nhân nhưng đang được chia sẻ bởi Hoa Kỳ, đó là Bỉ, Đức, Italia, Thổ Nhĩ Kỳ và Hà Lan. Trước đây, Canada và Hy Lạp cũng tham gia chương trình này. Các quốc gia này được Hoa Kỳ chia sẻ vũ khí hạt nhân (quyền sở hữu vẫn thuộc Hoa Kỳ) để sử dụng cho huấn luyện và tác chiến trong các chiến dịch của NATO.
Cơ quan quốc tế của Liên Hiệp Quốc giám sát các vấn đề liên quan tới vũ khí hạt nhân là Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế.
== Xem thêm ==
Các bài mang tính kỹ thuật hơn
Thiết kế vũ khí hạt nhân
Vụ nổ hạt nhân
Giải thưởng Nobel về vật lý
Lịch sử
Lịch sử vũ khí hạt nhân
Dự án Manhattan
Dự án vũ khí hạt nhân của Liên Xô
Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos
Thử nghiệm hạt nhân
Ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki
Dự án bom nguyên tử của Liên Xô
Dự án năng lượng hạt nhân của Đức
Chương trình nguyên tử của Nhật
Danh sách các tai nạn hạt nhân (gồm cả các tai nạn về vũ khí hạt nhân)
Các ngành khoa học và công nghệ có liên quan
Vật lý hạt nhân
Phân hạch hạt nhân
Nhiệt hạch hạt nhân
Lò phản ứng hạt nhân
Kỹ thuật hạt nhân
Sự cố bom nguyên tử Goldsboro 1961
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Chú giải 1: p. 54. Bethe, Hans Albrecht. The Road from Los Alamos. Simon and Schuster, New York. (1991 ISBN 0-671-74012-1)
Glasstone, Samuel and Dolan, Philip J., The Effects of Nuclear Weapons (third edition), U.S. Government Printing Office, 1977. PDF Version
NATO Handbook on the Medical Aspects of NBC Defensive Operations (Part I - Nuclear), Departments of the Army, Navy, and Air Force, Washington, D.C., 1996.
Hansen, Chuck. U.S. Nuclear Weapons: The Secret History, Arlington, TX: Aerofax, 1988.
Hansen, Chuck. The Swords of Armageddon: U.S. nuclear weapons development since 1945, Sunnyvale, CA: Chukelea Publications, 1995 [1].
Smyth, Henry DeWolf. Atomic Energy for Military Purposes, Princeton University Press, 1945. (The first declassified report by the US government on nuclear weapons) (Smyth Report)
The Effects of Nuclear War, Office of Technology Assessment (May 1979).
Rhodes, Richard. Dark Sun: The Making of the Hydrogen Bomb. Simon and Schuster, New York, (1995 ISBN 0-684-82414-0)
Rhodes, Richard. The Making of the Atomic Bomb. Simon and Schuster, New York, (1986 ISBN 0-684-81378-5)
Weart, Spencer R. Nuclear Fear: A History of Images. Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1988.
== Liên kết ngoài ==
Vũ trụ trong một vỏ hạt, S. Hawking, Bantam, 2001. Bản dịch tiếng Việt của Dạ Trạch
Nuclear Weapon Archive from Carey Sublette is a reliable source of information and has links to other sources and an informative FAQ.
Nuclear weapon simulator for several major cities
Nuclear Power and Nuclear Weapons: Making the Connections
The Federation of American Scientists provide solid information on weapons of mass destruction, including nuclear weapons and their effects
The Nuclear War Survival Skills is a public domain text and is an excellent source on how to survive a nuclear attack.
Hiroshima Peace Memorial Museum
Hiroshima A-bomb Photo Museum
The Nagasaki Atomic Bomb Museum
Step by step scenario of a 150 kiloton bomb exploding in Manhattan - click on the Next >> button at the bottom of each slide.
NHK Peace Archives reports the program which makes the picture of the importance of the terrible disaster of atomic bomb and peace. |
teshie.txt | Teshie là một thành phố Ghana. Thành phố Teshie thuộc Accra Mở rộng Ghana. Dân số ước tính năm 2007 là 154.513 người. Đây là thành phố lớn thứ 7 Ghana. Pháo đài Augustaborg, được xây bởi người Đan Mạch năm 1787, tọa lạc ở Teshie và bị người Anh chiếm từ năm 1850 đến năm 1957. Trường đào tạo sĩ quan quốc gia và Trung tâm đào tạo gìn giữ hoàn bình Kofi Anna tọa lạc ở thành phố này.
== Tham khảo == |
câu lạc bộ bóng đá long an.txt | Câu lạc bộ bóng đá Long An là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp tại Việt Nam có trụ sở ở Số 40, Quốc lộ 1, Tuyến Tránh Khu Đô thị Trung tâm Hành chính Tỉnh, P. 6, Tp.Tân An, Tỉnh Long An
== Lịch sử ==
Tiền thân của đội là Đội bóng đá Long An, thành lập năm 1976. Là một đội bóng nghiệp dư đại diện cho tỉnh Long An, do Sở Thể dục Thể thao Long An quản lý, kể từ khi thành lập cho đến năm 2000, đội thường xuyên chỉ thi đấu lên xuống giữa giải hạng Nhất và hạng Nhì (sau đổi thành giải đội mạnh và A1), chứ không thể vươn lên tốp đầu của bóng đá quốc gia.
Năm 2001, đội được chuyển sang mô hình chuyên nghiệp, được chuyển giao cho Công ty Cổ phần Đồng Tâm quản lý (từ năm 2002, do Công ty TNHH Thể thao Đồng Tâm quản lý), sáp nhập vào đội bóng của Công ty, thi đấu với tên gọi mới là Câu lạc bộ bóng đá Gạch Đồng Tâm Long An. Được ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Công ty Cổ phần Đồng Tâm, quan tâm đầu tư xây dựng, đội đã có nhiều bước phát triển vượt bậc và trở thành một trong "Tứ đại gia" ở giải V-League cùng với Becamex Bình Dương, SHB Đà Nẵng và đối thủ truyền kiếp Hoàng Anh Gia Lai.
Trong giai đoạn thành công của đội bóng ở giữa thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, những trận thư hùng giữa Đồng Tâm Long An và Hoàng Anh Gia Lai diễn ra rất hấp dẫn và kịch tính, thu hút sự chú ý của người hâm mộ. Đội bóng miền Tây đã vô địch V-League 2 mùa giải liên tiếp trong các năm 2005 và 2006, cũng như vô địch Cúp Quốc gia năm 2005 và đoạt Siêu Cúp Quốc gia năm 2006. Trên đấu trường châu lục, Đồng Tâm Long An thi đấu rất nhiệt tình và hết mình ở AFC Champions League 2006 dù không thể vượt qua vòng bảng, trái ngược với tâm lý buông bỏ như SHB Đà Nẵng đã làm ở cùng giải đấu khi đã từng để thua Gamba Osaka đến 0-15.
Câu lạc bộ cũng xây dựng một đội hình dự bị có tên là Ngói Đồng Tâm Long An để thi đấu ở giải hạng Nhì. Cuối năm 2005, Câu lạc bộ tiếp nhận đội bóng của Câu lạc bộ bóng đá Ngân hàng Đông Á để xây dựng thành đội hình 2 với tên gọi Sơn Đồng Tâm Long An để thi đấu ở Giải bóng đá hạng nhất quốc gia Việt Nam 2006. Tuy nhiên, kết thúc mùa bóng 2006, đội bóng Sơn Đồng Tâm Long An được chuyển nhượng sang cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thể thao Hoàng Phát để làm nòng cốt thành lập Câu lạc bộ bóng đá Xi măng Vinakansai Ninh Bình.
Từ mùa bóng 2007, câu lạc bộ đổi tên thành Câu lạc bộ bóng đá Đồng Tâm Long An (bỏ chữ Gạch).
Tại mùa giải 2011, đội thi đấu không thành công, đứng thứ 13/14 đội, phải xuống thi đấu ở Giải bóng đá hạng nhất quốc gia Việt Nam 2012. Mùa giải 2012 Đồng Tâm Long An giành được quyền thăng hạng với chức vô địch giải hạng nhất.
Ngày 12 tháng 12 năm 2015 với việc ra mắt Công ty cổ phần phát triển bóng đá Long An, đơn vị chủ quản mới của đội bóng, đội được đổi tên thành Câu lạc bộ bóng đá Long An từ mùa giải 2016.
== Án phạt ==
Tại mùa giải 2017, đội bóng đã nhận một án phạt nặng của VFF sau khi toàn đội chủ động không tranh chấp bóng để đội Câu lạc bộ bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh ghi ba bàn liên tiếp ở vòng 6 Giải bóng đá vô địch quốc gia 2017, như là cách để phản đối quyết định của trọng tài Nguyễn Trọng Thư. Án phạt được VFF đưa ra như sau:
- Đối với CLB bóng đá Long An: Cảnh cáo và phạt 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) do có các hành vi: Làm gián đoạn trận đấu; không tôn trọng quyết định của trọng tài, không tôn trọng khán giả, gây thiệt hại đến uy tín, danh dự của Liên đoàn bóng đá Việt Nam, bóng đá Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng tới trách nhiệm của câu lạc bộ khi tham gia giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam.
- Đối với ông Võ Thành Nhiệm- Chủ tịch câu lạc bộ bóng đá Long An: Phạt 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) và cấm tham gia các hoạt động bóng đá do Liên đoàn bóng đá Việt Nam quản lý, tổ chức 36 tháng, do có các hành vi: Phản ứng; kích động các cầu thủ làm gián đoạn trận đấu; không tôn trọng quyết định của trọng tài, gây thiệt hại đến uy tín, danh dự của Liên đoàn bóng đá Việt Nam, bóng đá Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng tới trách nhiệm của câu lạc bộ khi tham gia giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam.
- Đối với ông Ngô Quang Sang- huấn luyện viên trưởng câu lạc bộ bóng đá Long An: Phạt 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) và cấm tham gia các hoạt động bóng đá do Liên đoàn bóng đá Việt Nam quản lý, tổ chức 36 tháng, do có các hành vi: Phản ứng; làm gián đoạn trận đấu; không tôn trọng quyết định của trọng tài, gây thiệt hại đến uy tín, danh dự của Liên đoàn bóng đá Việt Nam, bóng đá Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng tới trách nhiệm của câu lạc bộ khi tham gia giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam.
- Đối với cầu thủ Huỳnh Quang Thanh (số 20) của câu lạc bộ bóng đá Long An: Phạt 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) và cấm tham gia các hoạt động bóng đá do Liên đoàn bóng đá Việt Nam quản lý, tổ chức 24 tháng do có các hành vi: Phản ứng; xúi giục các cầu thủ khác có hành vi phi thể thao; làm gián đoạn trận đấu; không tôn trọng quyết định của trọng tài, gây thiệt hại đến uy tín, danh dự của Liên đoàn bóng đá Việt Nam, bóng đá Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng tới trách nhiệm của câu lạc bộ khi tham gia giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam.
- Đối với cầu thủ Nguyễn Minh Nhựt (số 1) của câu lạc bộ bóng đá Long An: Phạt 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và cấm tham gia các hoạt động bóng đá do Liên đoàn bóng đá Việt Nam quản lý, tổ chức 24 tháng do có các hành vi: Phản ứng; làm gián đoạn trận đấu; không tôn trọng quyết định của trọng tài, gây thiệt hại đến uy tín, danh dự của Liên đoàn bóng đá Việt Nam, bóng đá Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng tới trách nhiệm của câu lạc bộ khi tham gia giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam.
Hành động của CLB Long An đã làm tốn rất nhiều giấy mực của báo chí, nhưng nó cũng giúp người hâm mộ bóng đá nhận ra được nhiều vấn đề nổi cộm còn đang tồn tại trong công tác tổ chức của giải đấu.
== Thành tích ==
V League:
Vô địch (2): 2005, 2006
Á quân (3): 2003, 2007, 2008
Giải phong cách (1): 2005
Cúp bóng đá Việt Nam:
Vô địch (1): 2005
Đồng hạng ba (3): 2013, 2014, 2015
Siêu cúp bóng đá Việt Nam:
Vô địch (1): 2006
Giải hạng nhất:
Vô địch (2): 2002, 2012
=== Các giải giao hữu ===
Cúp BTV:
Vô địch (2): 2004, 2010
== Đội hình hiện tại ==
Tính đến giai đoạn 1 mùa giải V.League 2017.
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Ban huấn luyện hiện tại ==
== Thành viên nổi bật ==
=== Quả bóng vàng Việt Nam ===
Cầu thủ đoạt giải Quả bóng vàng Việt Nam khi đang chơi cho Đồng Tâm Long An:
Phan Văn Tài Em – 2005
Nguyễn Minh Phương – 2010
=== Cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất ===
Cầu thủ đoạt giải Cầu thủ nước ngoài xuất sắc nhất khi đang chơi cho Đồng Tâm Long An:
Fabio dos Santos – 2002
=== Vua phá lưới ===
Cầu thủ đoạt giải Vua phá lưới khi đang chơi cho Long An:
Bùi Sĩ Thành – 1993-94
== Các huấn luyện viên trong lịch sử ==
== Thành tích tại V-League ==
== Thành tích tại các Cúp châu Á ==
== Biểu trưng của câu lạc bộ ==
== Xem thêm ==
Câu lạc bộ bóng đá Xi măng The Vissai Ninh Bình
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Câu lạc bộ bóng đá Đồng Tâm Long An
Diễn đàn những người yêu thích Đồng Tâm Long An
Giới thiệu đội Đồng Tâm Long An |
tuyên ngôn nhân quyền hoa kỳ.txt | Tuyên ngôn nhân quyền Hoa Kỳ là 10 tu chính án đầu tiên cho Hiến pháp Hoa Kỳ. Các tu chính án này đã được James Madison đưa ra trong một loạt các tu chính án hiến pháp vào năm 1789 tại Đại hội thứ nhất. Mười tu chính án này đã được phê chuẩn và trở thành Đạo luật Nhân quyền (hay Mười điều khoản về nhân quyền của Hiến pháp Mỹ) vào năm 1791. Các tu chính án này hạn chế quyền lực của Chính phủ liên bang, bảo vệ quyền của tất cả công dân, những người sinh sống và khách trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Trong các quyền được liệt kê mà các tu chính án này đảm bảo có: tự do ngôn luận, tự do báo chí, và tự do tôn giáo; quyền được mang vũ khí của người dân; tự do hội họp; tự do kiến nghị; và các quyền không bị lục soát và tịch thu vô lý; không bị hình phạt tàn bạo và bất bình thường; và tự buộc tội do bị ép buộc. Tuyên ngôn nhân quyền cũng hạn chế quyền của Quốc hội bằng cách cấm Quốc hội ban hành luật về thành lập tôn giáo và bằng cách cấm Chính phủ liên bang tước quyền sống, quyền tự do hay tài sản của bất cứ người nào mà không thông qua tố tụng pháp luật.
== Xem thêm ==
Nhân quyền tại Hoa Kỳ
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
=== Trang web Chính phủ Hoa Kỳ ===
National Archives: The full text of the United States Bill of Rights
OurDocuments.gov
Library of Congress: Bill of Rights and related resources
Footnote.com (partners with the National Archives): Online viewer with High-resolution image of the original document
=== Tư liệu liên quan ===
Alexander Hamilton, Federalist, no. 84, 575–81, on opposition to the Bill of Rights
Madison's June 1789 speech, "Amending the Constitution to include a Bill of Rights."
United States Bill of Rights tại Dự án Gutenberg
=== Tư liệu lịch sử và phân tích ===
Examining the American Bill of Rights Using the Ethic of Justice
An argument by Amherst College Professor Hadley Arkes, arguing against the Bill of Rights
Bill of Rights Explained |
trường nhạc.txt | Trường nhạc (tiếng Anh: music school) là một cơ sở giáo dục dành riêng cho việc học tập, đào tạo, và nghiên cứu về âm nhạc. Cơ sở giáo dục này còn có thể có tên gọi nhạc viện (conservatory), trường âm nhạc (school of music), học viện âm nhạc (music academy), phân khoa âm nhạc (music faculty), trường đại học âm nhạc (college of music), hay khoa âm nhạc (music department; thuộc một sở sở giáo dục lớn hơn). Các hoạt động ở trường nhạc bao gồm đào tạo học viên trong các lĩnh vực biểu diễn nhạc cụ, thanh nhạc, sáng tác nhạc, và điều khiển dàn nhạc, cũng như những lĩnh vực nghiên cứu và học thuật khác như nhạc học, lịch sử âm nhạc, và lý thuyết âm nhạc.
== Tiểu học và Trung học ==
Nhiều quốc gia có các trường chuyên biệt về âm nhạc (tiếng Anh: specialist music school) với mục đích nhằm nhận diện và hỗ trợ những trẻ em có tiềm năng, thông qua chương trình đào tạo tiên tiến có thể giúp những trẻ em này có thể học lên và phát triển sự nghiệp trong lĩnh vực âm nhạc nếu muốn. Những trường này có thể chính thức hoặc không chính thức có mối quan hệ với một nhạc viện. Trẻ em vào hoặc thường nằm trong độ tuổi từ 8 đến 18, được chọn thông qua thi tuyển. Các trường này có thể là công lập hay độc lập; học sinh ở các trường độc lập có thể nhận được học bổng của chính phủ hay từ những quỹ tư nhân.
Giống như ở các nhạc viện, một số trường có chương trình học rộng hơn và có thể bao gồm cả nghệ thuật trình diễn: nhạc, kịch, và múa.
== Đại học ==
=== Nhạc viện ===
Nhạc viện còn có các tên khác như học viện âm nhạc, trường quốc gia âm nhạc, trường đại học âm nhạc; tiếng Anh: conservatory (ở Hoa Kỳ), conservatoire (chủ yếu ở Anh), conservatorium (ở Úc), academy, hay college. Một số trường hay nhạc viện chỉ tập trung vào âm nhạc. Các cơ sở khác có cả âm nhạc, kịch, và múa. Nhạc viện thích hợp cho sinh viên muốn phát triển khả năng trình diễn, điều khiển dàn nhạc hay ban nhạc, hay sáng tác ở mức độ chuyên nghiệp. Thường thì các cơ sở này dành nhiều thời gian cho đào tạo thực hành, kết hợp với nghiên cứu học thuật và phát triển nghề nghiệp, cho những sinh viên muốn xây dựng sự nghiệp trong các ngành nghệ thuật sáng tạo.
Sinh viên thường xuyên có cơ hội trình diễn, điều khiển, hay cơ hội để tác phẩm của mình được trình diễn, cả trong khung cảnh thân mật và trình diễn chính thức trước công chúng. Sinh viên có thể trình diễn một mình (solo) hay trong dàn nhạc, ban nhạc, hay nhóm hát. Thường thì các nhạc viện tập trung vào nhạc cổ điển Tây phương. Tuy vậy, một số trường chú trọng vào các nhạc cụ truyền thống. Các trường khác có thể có các khoa âm nhạc truyền thống, đào tạo về cá các nhạc cụ truyền thống lẫn cổ điển Tây phương. Hoặc sinh viên có thể tập trung vào nhạc jazz, pop, hay world music.
Thời gian để được cấp bằng thường không khác nhiều so với trong những lĩnh vực khác, tức là khoảng 3-4 năm để lấy bằng Cử nhân Âm nhạc (Bachelor of Music), 1–2 năm để lấy bằng Thạc sĩ Âm nhạc (Master of Music), và 3–5 năm cho bằng Tiến sĩ Nghệ thuật Âm nhạc (Doctor of Musical Arts) hay Tiến sĩ Âm nhạc (Doctor of Music). Bằng Tiến sĩ (Ph.D.) có thể được cấp trong các lĩnh vực như nhạc học, lý thuyết âm nhạc, sáng tác nhạc, hay giáo dục âm nhạc. Một số trường có thể có những bằng cấp không mang tính học thuật (non-academic degree) và chỉ tập trung vào kỹ năng trình diễn, như Artist Diploma (A.D.) ở Hoa Kỳ; bằng này có thể cấp ở bậc đại học và/hoặc sau đại học.
=== Trường nhạc trong các viện đại học ===
Khoa âm nhạc trong các trường đại học và viện đại học trước đây nhấn mạnh hơn đến việc học mang tính học thuật về âm nhạc, thay vì trình diễn. Tuy nhiên, ngày nay sự phân chia không còn rạch ròi như xưa, nhiều khoa âm nhạc nhấn mạnh đến trình diễn hơn trước. Việc cân đối giữa đào tạo mang tính huấn nghệ (vocational training) và học tập mang tính học thuật (academic study) thay đổi tùy theo cơ sở giáo dục và tùy theo quốc gia. Ngoài các bằng cấp tương tự như những bằng cấp mà các nhạc viện cấp, một số viện đại học có các bằng cấp liên quan đến âm nhạc như Cử nhân Âm nhạc (Bachelor of Arts in Music) hay Cử nhân Giáo dục Âm nhạc (Bachelor of Arts in Music Education). Một số nhạc viện trước đây tồn tại độc lập thì nay trở thành một phần của viện đại học.
== Tham khảo == |
singapore.txt | Singapore (phiên âm Tiếng Việt: Xin-ga-po), tên chính thức là nước Cộng hòa Singapore, là một thành bang và đảo quốc tại Đông Nam Á. Đảo quốc nằm ngoài khơi mũi phía nam của bán đảo Mã Lai và cách xích đạo 137 km về phía bắc. Lãnh thổ Singapore gồm có một đảo chính hình thoi, và khoảng 60 đảo nhỏ hơn. Singapore tách biệt với Malaysia bán đảo qua eo biển Johor ở phía bắc, và tách biệt với quần đảo Riau của Indonesia qua eo biển Singapore ở phía nam. Singapore là quốc gia đô thị hóa cao độ, chỉ còn lại ít thảm thực vật nguyên sinh. Lãnh thổ của Singapore liên tục mở rộng thông qua hoạt động cải tạo đất.
Các hòn đảo của Singapore có người định cư vào thế kỷ thứ 2 Công nguyên và sau đó thuộc một số quốc gia bản địa. Năm 1819, chính trị gia Anh Quốc Stamford Raffles thành lập Singapore hiện đại với vai trò là một trạm mậu dịch của Công ty Đông Ấn Anh, hành động này được Vương quốc Johor cho phép. Anh Quốc giành được chủ quyền đối với đảo vào năm 1824, và Singapore trở thành một trong Các khu định cư Eo biển của Anh Quốc vào năm 1826. Với sự phát triển của thương mại và vận tải biển, đến năm 1900, Singapore đã trở thành một thành phố quốc tế hiện đại và phồn thịnh nhất tại khu vực Đông Nam Á.
Nhật Bản chiếm đóng Singapore trong Chiến tranh thế giới thứ hai, và sau chiến tranh Singapore tuyên bố độc lập từ Anh Quốc vào năm 1963, và hợp nhất với các cựu lãnh thổ khác của Anh Quốc để hình thành Malaysia, tuy nhiên Singapore bị trục xuất khỏi Malaysia hai năm sau. Kể từ đó, Singapore phát triển nhanh chóng, được công nhận là một trong Bốn con hổ châu Á.
Singapore là một trong các trung tâm thương mại lớn của thế giới, với vị thế trung tâm tài chính lớn thứ tư và một trong năm cảng bận rộn nhất. Nền kinh tế mang tính toàn cầu và đa dạng của Singapore phụ thuộc nhiều vào mậu dịch, đặc biệt là chế tạo, chiếm 26% GDP vào năm 2005. Theo sức mua tương đương, Singapore có thu nhập bình quân đầu người cao thứ ba trên thế giới. Quốc gia này xếp hạng cao trong các bảng xếp hạng quốc tế liên quan đến giáo dục, chăm sóc sức khỏe, sự minh bạch của chính phủ, và tính cạnh tranh kinh tế.
Singapore là một nước cộng hòa nghị viện đa đảng nhất thể, có chính phủ nghị viện nhất viện theo hệ thống Westminster. Đảng Hành động Nhân dân giành chiến thắng trong tất cả các cuộc bầu cử kể từ khi Singapore tự trị vào năm 1959. Có hơn năm triệu người sống tại Singapore, trong đó xấp xỉ hai triệu người sinh ra tại nước ngoài. Singapore có thành phần dân tộc đa dạng, song các dân tộc châu Á chiếm ưu thế: 75% dân số là người Hoa, các cộng đồng thiểu số đáng kể là người Mã Lai, người Ấn Độ, và người Âu-Á. Quốc gia này có bốn ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh, tiếng Mã Lai, tiếng Hoa và tiếng Tamil, và chính phủ thúc đẩy chủ nghĩa văn hóa đa nguyên thông qua một loạt các chính sách chính thức.
Singapore là một trong năm thành viên sáng lập của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và là nơi đặt Ban thư ký APEC, là một thành viên của Hội nghị cấp cao Đông Á, Phong trào không liên kết, và Thịnh vượng chung các quốc gia. Sự phát triển nhanh chóng của Singapore tạo cho quốc gia này có ảnh hưởng đáng kể trong các vấn đề toàn cầu, khiến một số nhà phân tích nhận định Singapore là một cường quốc bậc trung.
== Từ nguyên ==
Tên gọi tiếng Anh "Singapore" bắt nguồn từ tiếng Mã Lai Singapura (tiếng Phạn: सिंहपुर, nghĩa là thành phố Sư tử). Tuy nhiên, người ta tin rằng sư tử chưa từng sống trên đảo, và loài thú mà Sang Nila Utama (người thành lập và định danh cho Singapore cổ đại) nhìn thấy có lẽ là một con hổ.
== Lịch sử ==
Khu định cư đầu tiên được biết đến tại Singapore là một tiền đồn của Đế quốc Srivijaya có tên là Temasek ('hải trấn'). Hòn đảo vẫn là một phần của Đế quốc Srivijaya khi Hoàng đế Rajendra Chola I của Đế quốc Chola tại Nam Ấn xâm chiếm nó vào thế kỷ 11. Năm 1613, những hải tặc người Bồ Đào Nha đốt khu định cư và hòn đảo chìm trong tăm tối vào hai thế kỷ sau đó.
=== Cảng biển quốc tế lớn nhất Châu Á ===
Đầu thế kỷ 19, đế chế Anh cần có một cảng biển cho toàn vùng. Những thương nhân Anh cần một vị trí chiến lược để nghỉ ngơi và bảo vệ đội thương thuyền của đế chế Anh, cũng như ngăn chặn nguy cơ cạnh tranh của người Hà Lan trong vùng. Singapore được nước Anh nhắm đến nhờ vị trí địa lý then chốt, án ngữ eo biển Malacca của nó.
Năm 1819, chính khách người Anh Quốc Thomas Stamford Raffles đến và thay mặt Công ty Đông Ấn của Anh để ký kết một hiệp định với Quốc vương Hussein Shah của Vương quốc Johor nhằm phát triển phần phía nam của Singapore thành một trạm mậu dịch của Đế quốc Anh. Năm 1824, Anh Quốc có quyền sở hữu đối với toàn bộ đảo theo một hiệp định khác với Quốc vương và Temenggong (thống lĩnh). Năm 1826, Singapore trở thành một phần của Các khu định cư Eo biển, thuộc phạm vi quyền hạn của Ấn Độ thuộc Anh, rồi trở thành thủ đô của lãnh thổ vào năm 1836.
Trước khi Raffles đến, chỉ có xấp xỉ 1.000 người sống trên đảo, hầu hết là người Mã Lai bản địa cùng với một số người Hoa. Rất nhanh chóng, kể từ năm 1830, nước Anh đổ tiền bạc để biến đây trở thành hải cảng thương mại chính ở vùng Đông Nam Á bởi 2 lợi thế then chốt so với những thành phố cảng thuộc địa và những cảng lớn khác ở khu vực. Thứ nhất: vị trí địa lý (hầu hết các thương thuyền qua lại giữa Trung Quốc, Ấn Độ và Châu Âu đều phải đi qua Singapore). Thứ hai: sự liên kết giữa Singapore với đế chế Anh (Trong thế kỷ thứ 19, Anh Quốc là một cường quốc số 1 thế giới cả về kinh tế và số lượng thuộc địa). Sự phồn vinh của Singapore bắt nguồn từ những thuận lợi về địa lý và vị trí của nó trong hệ thống thuộc địa Anh.
Những nhà buôn người Anh bị hấp dẫn bởi mảnh đất này và từ đó những hiệu buôn, những tuyến hàng hải, những công ty dịch vụ liên tiếp mọc lên. Những thương gia người Hoa cũng bị thu hút tới đây vì mật độ buôn bán dày đặc, sự canh phòng của hải quân Anh quốc và vị trí chiến lược của Singapore. Những thương gia người Malay, Ấn Độ và Ả Rập cũng từ những cảng lân cận khác kéo tới Singapore. Singapore nhanh chóng chiếm được một thị phần lớn trong việc giao thương giữa các vùng ở Đông Nam Á, đồng thời cũng trở thành một bến đỗ chính của tàu buôn trên đường tới Trung Quốc và Nhật Bản.
Năm 1860, dân số Singapore đã vượt quá 80.000 và hơn một nửa là người Hoa. Nhiều người nhập cư đến để làm việc trong các đồn điền cao su, và sau thập niên 1870 thì đảo trở thành một trung tâm xuất khẩu cao su toàn cầu. Vị thế là một cảng tự do tạo lợi thế quyết định cho Singapore so với các đô thị cảng thuộc địa khác như Jakarta hay Manila, và nó thu hút nhiều thương nhân người Hoa, Mã Lai, Ấn Độ, và Ả Rập hoạt động tại Đông Nam Á đến Singapore. Việc khánh thành kênh đào Suez vào năm 1869 sẽ thúc đẩy hơn nữa mậu dịch tại Singapore. Năm 1880, trên 1,5 triệu tấn hàng hóa thông qua Singapore mỗi năm, với khoảng 80% hàng hóa được vận chuyển trên những tàu hơi nước. Đến cuối thế kỷ 19, Singapore đã trở thành một cảng biển quốc tế phồn thịnh nhất tại khu vực Đông Nam Á, sánh ngang với Hong Kong và vượt xa các thành phố khác trong khu vực Đông Nam Á.
Tới năm 1900, Singapore đã là một trung tâm tài chính và thương mại quan trọng của thế giới, là cảng trung chuyển các sản phẩm của Đông Á sang châu Âu và ngược lại. Vào thời kỳ trước Chiến tranh Thế giới thứ hai, có hơn 2/3 lượng hàng nhập khẩu và xuất khẩu của Malay đi qua cảng Singapore. Tiền đầu tư đi qua Singapore, thiếc và cao su được xuất khẩu ngang qua Singapore, nó cũng trở thành trung tâm kho vận và phân phối những mặt hàng dành cho những người châu Âu sống ở khắp vùng Đông Nam Á. Nơi đây cũng đã trở thành một căn cứ tài chính và thương mại chủ yếu của các công ty Anh ở vùng Đông Nam Á.
Từ năm 1920, nhiều công ty gia đình rất mạnh của người Hoa bắt đầu nổi lên ở đây, lấn át cả những công ty Anh. Những cơ sở của người Hoa này là những công ty gia đình có sự liên kết với mạng lưới thương mại và tài chính của cộng đồng người Hoa ở Hồng Kông và các nơi trong vùng Đông Nam Á. Điều này càng góp sức giúp Singapore giữ vững ngôi vị thành phố phát triển số 1 Đông Nam Á.
Chiến tranh thế giới thứ nhất không có ảnh hưởng nhiều đến Singapore. Sự kiện quân sự địa phương quan trọng nhất trong thế chiến là binh biến năm 1915 do các binh sĩ sepoy người Hồi giáo Ấn Độ đồn trú tại Singapore tiến hành. Sau khi nghe được những tin đồn về việc có kế hoạch đưa họ đi chiến đấu với Đế quốc Ottoman, các binh sĩ nổi dậy, sát hại những sĩ quan của họ và một vài thường dân Anh Quốc trước khi bị quân đến từ Johor và Miến Điện trấn áp.
Sau thế giới thứ nhất, chính phủ Anh Quốc dành nguồn lực đáng kể để xây dựng một căn cứ hải quân tại Singapore, một sự ngăn chặn đối với tham vọng ngày càng tăng của Đế quốc Nhật Bản. Singapore được nước Anh coi là tài sản thương mại quan trọng nhất tại châu Á, và từ thập niên 1920 nó cũng là căn cứ hải quân chủ lực bảo vệ quyền lợi của nước Anh ở vùng Đông Nam Á và là lá chắn phòng ngự cho Úc và New Zealand. Căn cứ hải quân Anh ở đây được hoàn thành vào năm 1939, có đủ thùng nhiên liệu để hỗ trợ cho toàn bộ hải quân Anh Quốc trong sáu tháng. Thủ tướng Winston Churchill ca ngợi Singapore như là "eo biển Gibraltar của phương Đông"
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Singapore là mục tiêu mà Đế quốc Nhật Bản rất thèm muốn. Quân đội Đế quốc Nhật Bản xâm chiếm Malaya thuộc Anh, đỉnh điểm là trận Singapore. Người Anh chiến bại, và đầu hàng vào ngày 15 tháng 2 năm 1942. Thủ tướng Anh Quốc Winston Churchill gọi đây là "thảm họa tệ nhất và sự đầu hàng lớn nhất trong lịch sử Anh Quốc". Số người Hoa bị thảm sát sau khi Singapore thất thủ ước tính từ 5.000 đến 25.000. Người Anh tái chiếm đảo vào tháng 9 năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng.
Trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên năm 1955, lãnh đạo ủng hộ độc lập của Mặt trận Lao động là David Marshall giành chiến thắng. Ông dẫn đầu một phái đoàn đến Luân Đôn để yêu cầu tự trị hoàn toàn, song người Anh bác bỏ. Sau đó, David Marshall từ chức và Lâm Hữu Phúc trở thành người thay thế, ông thi hành các chính sách nhằm thuyết phục người Anh trao cho Singapore quyền tự trị nội bộ hoàn toàn đối với toàn bộ các vấn đề ngoại trừ quốc phòng và đối ngoại.
=== Tách ra độc lập ===
Trong cuộc bầu cử tháng 5 năm 1959, Đảng Hành động Nhân dân giành chiến thắng vang dội. Singapore trở thành một nhà nước tự trị nội bộ bên trong Thịnh vượng chung và Lý Quang Diệu trở thành Thủ tướng đầu tiên của quốc gia. Tổng đốc William Allmond Codrington Goode giữ vai trò là Yang di-Pertuan Negara ("nguyên thủ quốc gia") đầu tiên, người kế nhiệm là Yusof bin Ishak trở thành Tổng thống Singapore đầu tiên vào năm 1965. Trong thập niên 1950, những người cộng sản gốc Hoa vốn có quan hệ chặt chẽ với các thương hội và các trường tiếng Hoa tiến hành một cuộc nổi dậy vũ trang chống lại chính quyền tại Malaya, dẫn đến Tình trạng khẩn cấp Malaya, và sau đó là cuộc Nổi dậy cộng sản Malaysia (1968-1989). Bạo động phục vụ toàn quốc 1954, bạo động trung học Hoa văn và bạo động xe buýt Phúc Lợi tại Singapore đều có liên hệ với các sự kiện này. Trong giai đoạn này, chính phủ Singapore tiêu diệt những tổ chức chính trị, cá nhân bị liệt vào thành phần có cảm tình với phong trào Cộng sản tại Singapore.
Cuộc trưng cầu dân ý về việc sát nhập Singapore vào Liên bang Mã Lai được tiến hành vào năm 1962, đưa Singapore trở thành một thành viên của Liên bang Malaysia cùng với Malaya, Sabah và Sarawak với vị thế một bang có quyền tự trị vào tháng 9 năm 1963. Singapore bị trục xuất khỏi liên bang vào ngày 7 tháng 8 năm 1965 sau những bất đồng quan điểm chính trị chính phủ của bang và hội đồng liên bang tại Kuala Lumpur. Singapore được độc lập 2 ngày sau đó, vào ngày 9 tháng 8 năm 1965, sau này đã trở thành ngày Quốc khánh của Singapore. Malaysia là nước đầu tiên công nhận nền độc lập của Singapore.
Độc lập đồng nghĩa với tự túc, Singapore đã phải đối mặt với nhiều khó khăn trong giai đoạn này, bao gồm nạn thất nghiệp, thiếu nhà ở, đất đai và tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ. Năm 1962, GDP đầu người của Singapore đạt 516 USD, đây là mức cao nhất ở Đông Nam Á, nhưng vẫn thấp nếu so với các nước châu Âu.
Trong thời kỳ lãnh đạo của mình từ năm 1959 đến 1990, Thủ tướng Lý Quang Diệu từng bước kiềm chế thất nghiệp, lạm phát, tăng mức sống và thực hiện một chương trình nhà ở công cộng với quy mô lớn. Các cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước được phát triển, mối đe dọa của căng thẳng chủng tộc được loại bỏ và một hệ thống phòng vệ quốc gia được thiết lập. Ngoài ra, trong thập niên 1960-1970, kinh tế Singapore cũng được hưởng lợi từ việc cung cấp nhu yếu phẩm, nhiên liệu, vũ khí và phương tiện chiến tranh cho quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam. Riêng xăng dầu và nhiên liệu, mỗi tháng Singapore bán cho Mỹ lượng hàng trị giá 600 triệu đôla, thu nhập từ việc làm hậu cần cho quân đội Mỹ chính là nguồn lực ban đầu giúp Singapore xây dựng kinh tế đất nước..
Singapore từ một nước đang phát triển trở thành một nước phát triển vào cuối thế kỷ 20. Năm 1990, Ngô Tác Đống kế nhiệm chức thủ tướng, đối mặt với nhiều khó khăn bao gồm ảnh hưởng kinh tế từ cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, sự lan tràn của SARS năm 2003 cũng như những đe dọa khủng bố từ Jemaah Islamiah, hậu 11 tháng 9 và các vụ đánh bom ở Bali. Năm 2004, con trai cả của Lý Quang Diệu là Lý Hiển Long trở thành thủ tướng thứ ba.
== Địa lý ==
Singapore là một hòn đảo có hình dạng một viên kim cương được nhiều đảo nhỏ khác bao quanh. Có hai con đường nối giữa Singapore và bang Juhor của Malaysia — một con đường nhân tạo có tên Đường đắp cao Johor-Singapor ở phía bắc, băng qua eo biển Tebrau và Liên kết thứ hai Tuas, một cầu phía tây nối với Juhor. Đảo Jurong, Pulau Tekong, Pulau Ubin và Sentosa là những đảo lớn nhất của Singapore, ngoài ra còn có nhiều đảo nhỏ khác. Vị trí cao nhất của Singapore là đồi Bukit Timah với độ cao 166 m.
Vùng thành thị trước đây chỉ tập trung bao quanh sông Singapore, hiện nay là trung tâm buôn bán của Singapore, trong khi đó những vùng còn lại rừng nhiệt đới ẩm hoặc dùng cho nông nghiệp. Từ thập niên 1960, chính phủ đã xây dựng nhiều đô thị mới ở những vùng xa, tạo nên một Singapore với nhà cửa san sát ở khắp mọi miền, mặc dù Khu vực Trung tâm vẫn là nơi hưng thịnh nhất. Ủy ban Quy hoạch Đô thị là một ban của chính phủ chuyên về các hoạt động quy hoạch đô thị với nhiệm vụ là sử dụng và phân phối đất hiệu quả cũng như điều phối giao thông. Ban đã đưa ra quy hoạch chi tiết cho việc sử dụng đất ở 55 khu vực.
Singapore đã mở mang lãnh thổ bằng đất lấy từ những ngọn đồi, đáy biển và những nước lân cận. Nhờ đó, diện tích đất của Singapore đã tăng từ 581,5 km² ở thập niên 1960 lên 697,25 km² ngày nay, và có thể sẽ tăng thêm 100 km² nữa đến năm 2030.
Singapore có khí hậu xích đạo ẩm với các mùa không phân biệt rõ rệt. Đặc điểm của loại khí hậu này là nhiệt độ và áp suất ổn định, độ ẩm cao và mưa nhiều. Nhiệt độ thay đổi trong khoảng 22°C đến 31 °C (72°–88°F). Trung bình, độ ẩm tương đối khoảng 90% vào buổi sáng và 60% vào buổi chiều. Trong những trận mưa lớn kéo dài, độ ẩm tương đối thường đạt 100%. Nhiệt độ cao nhất và thấp nhất đã từng xuất hiện là 18,4 °C (65,1 °F) và 37,8 °C (100,0 °F).
Sự đô thị hóa đã làm biến mất nhiều cánh rừng mưa nhiệt đới một thời, hiện nay chỉ còn lại một trong số chúng là Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bukit Timah. Tuy nhiên, nhiều công viên đã được gìn giữ với sự can thiệp của con người, ví dụ như Vườn Thực vật Quốc gia. Không có nước ngọt từ sông và hồ, nguồn cung cấp nước chủ yếu của Singapore là từ những trận mưa rào được giữ lại trong những hồ chứa hoặc lưu vực sông. Mưa rào cung cấp khoảng 50% lượng nước, phần còn lại được nhập khẩu từ Malaysia hoặc lấy từ nước tái chế - một loại nước có được sau quá trình khử muối. Nhiều nhà máy sản xuất nước tái chế đang được đề xuất và xây dựng nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu.
== Chính phủ và chính trị ==
Singapore là một nước cộng hòa nghị viện, có chính phủ nghị viện nhất viện theo hệ thống Westminster đại diện cho các khu vực bầu cử. Hiến pháp của quốc gia thiết lập hệ thống chính trị dân chủ đại diện. Freedom House xếp hạng Singapore là "tự do một phần" trong báo cáo Freedom in the World của họ, và The Economist xếp hạng Singapore là một "chế độ hỗn hợp", hạng thứ ba trong số bốn hạng, trong "Chỉ số dân chủ" của họ. Tổ chức Minh bạch Quốc tế liên tục xếp Singapore vào hạng các quốc gia ít tham nhũng nhất trên thế giới.
Quyền hành pháp thuộc về Nội các Singapore, do Thủ tướng lãnh đạo, và ở một mức độ thấp hơn rất nhiều là Tổng thống. Tổng thống được bầu thông qua phổ thông đầu phiếu, và có quyền phủ quyết đối với một tập hợp cụ thể các quyết định hành pháp, như sử dụng dự trữ quốc gia và bổ nhiệm các thẩm phán, song vai trò phần lớn mang tính lễ nghi.
Quốc hội đóng vai trò là nhánh lập pháp của chính phủ. Các thành viên của Quốc hội gồm có các thành viên đắc cử, phi tuyển khu và được chỉ định. Các thành viên đắc cử được bầu vào Quốc hội trên cơ sở "đa số ghế" và đại diện cho các khu vực bầu cử có một hoặc nhóm đại diện. Đảng Hành động Nhân dân giành quyền kiểm soát quốc hội với đa số lớn trong tất cả các cuộc bầu cử kể từ khi Singapore tự trị vào năm 1959.
Hệ thống tư pháp của Singapore dựa trên thông luật Anh, song có các khác biệt địa phương đáng kể. Việc bồi thẩm đoàn xử án bị bãi bỏ vào năm 1970, các phán quyết tư pháp sẽ hoàn toàn nằm trong tay các thẩm phán được chỉ định. Singapore có các hình phạt bao gồm cả trừng phạt thân thể tư pháp dưới dạng đánh đòn hoặc phạt roi nơi công cộng, có thể áp dụng đối với các tội hình như hiếp dâm, gây rối loạn, phá hoại, và các vi phạm di trú nhất định. Tổ chức Ân xá Quốc tế cho rằng một số điều khoản pháp lý của Singapore xung đột với quyền được cho là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội, và rằng Singapore "có thể có tỷ lệ hành quyết cao nhất trên thế giới so với dân số của quốc gia". Chính phủ Singapore bất đồng ý kiến với các tuyên bố của Tổ chức Ân xá Quốc tế. Trong một nghiên cứu vào năm 2008, Singapore và Hong Kong xếp hàng đầu về chất lượng hệ thống tư pháp tại châu Á.
Hiện tại, Singapore vẫn duy trì diện mạo của một nền dân chủ nhưng Đảng Hành động Nhân dân (PAP) cầm quyền đã thống trị nền chính trị kể từ khi nước này giành được độc lập bằng cách tạo ra những rào cản lớn đối với các đảng chính trị đối lập, và hiện nay PAP nắm hơn 90% số ghế trong Quốc hội.
== Quan hệ đối ngoại ==
Chính sách đối ngoại của Singapore có mục đích duy trì an ninh tại Đông Nam Á và các lãnh thổ phụ cận. Một nguyên tắc cơ bản là tính ổn định chính trị và kinh tế trong khu vực. Singapore có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia có chủ quyền. Là một trong năm thành viên sáng lập của ASEAN, Singapore là một quốc gia ủng hộ mạnh mẽ đối với Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) và Khu vực đầu tư ASEAN. Cựu Thủ tướng Ngô Tác Đống đề xuất hình thành một Cộng đồng Kinh tế ASEAN, một bước vượt qua AFTA, đưa Đông Nam Á tiến gần hơn đến một thị trường chung. Singapore duy trì tư cách thành viên trong các tổ chức khu vực khác như Hội nghị Á-Âu, Diễn đàn Hợp tác Đông Á-Mỹ Latinh, Hệ thống các thành phố lớn châu Á 21, và Hội nghị cấp cao Đông Á. Đảo quốc cũng là một thành viên của Phong trào không liên kết và Thịnh vượng chung Các quốc gia.
Về tổng thể, Singapore có quan hệ song phương vững chắc với các thành viên khác trong ASEAN; tuy nhiên, có những bất đồng phát sinh, và quan hệ với Malaysia và Indonesia đôi khi trở nên căng thẳng. Malaysia và Singapore phát sinh mâu thuẫn về vấn đề cung cấp nước sạch đến Singapore, và vấn đề Quân đội Singapore tiếp cận không phận Malaysia. Có những vấn đề biên giới tồn tại với Malaysia và Indonesia, và hai quốc gia này đều cấm bán cát biển đến Singapore do những tranh nghị về hành động cải tạo đất của Singapore. Một số tranh chấp trước đó được giải quyết thông qua Tòa án Công lý Quốc tế. Vấn nạn hải tặc trên eo biển Malacca tạo ra mối quan tâm chung của cả ba quốc gia. Singapore có các quan hệ kinh tế mật thiết với Brunei, và hai quốc gia chia sẻ một giá trị tiền tệ cố định.
Singapore có tiếp xúc ngoại giao đầu tiên với Trung Quốc trong thập niên 1970, và quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa hai quốc gia được thiết lập trong thập niên 1990. Kể từ đó, Singapore và Trung Quốc là những bên chủ yếu trong việc tăng cường quan hệ ASEAN–Trung Quốc. Singapore và Hoa Kỳ có quan hệ mật thiết lâu dài, đặc biệt là trong các lĩnh vực quốc phòng, kinh tế, y tế, và giáo dục. Hoa Kỳ là đối tác mậu dịch lớn thứ ba của Singapore trong năm 2010, sau Trung Quốc (thứ 2) và Malaysia (thứ 1). Hai quốc gia có một hiệp định mậu dịch tự do, và Singapore nhận định quan hệ với Hoa Kỳ là một đối trọng quan trọng với ảnh hưởng của Trung Quốc.
=== Học thuyết đối ngoại ===
==== Ý thức khủng hoảng nước nhỏ ====
Ý thức khủng hoảng nước nhỏ là đặc trưng nổi bật nhất của nền đối ngoại Singapore. Theo đó, giới tinh hoa nước này luôn nhận định rằng Singapore là một "chấm nhỏ đỏ" trên bản đồ thế giới, khan hiếm tài nguyên, nhân lực và thiếu chiều sâu chiến lược. Do nội lực của nước này quá yếu nên Singapore buộc phải chấp nhận chính sách đối ngoại phụ thuộc vào một nước lớn nào đó. Đồng thời, với mối quan hệ thiếu hữu hảo và khác biệt về tôn giáo, chủng tộc với Malaysia và Indonesia, Singapore luôn có cảm giác "bị bao vây" sâu sắc bởi các thế lực thiếu thiện chí. Do đó, việc phụ thuộc vào một nước lớn nào đó khiến Singapore luôn phải đối mặt với nguy cơ trở thành vật hy sinh trong các cuộc tranh bá của các nước lớn. Tất cả chính trị, kinh tế, ngoại giao của Singapore đều dựa trên “văn hóa khủng hoảng” này.
==== Cân bằng nước lớn ====
Cân bằng nước lớn được coi là điểm trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Singapore. Singapore chủ trưởng lợi dụng sự tranh giành giữa các nước lớn để có được hòa bình và ổn định từ đó phát triển nội lực trong nước. Nước này luôn lo sợ sức mạnh của một cường quốc nào đó trong khu vực trở nên quá lớn, lấn át các cường quốc còn lại và khiến Singapore bị lệ thuộc vào cường quốc mạnh nhất. Lý Quang Diệu cho rằng: “Nếu khu vực Đông Nam Á hình thành cục diện đa cực, năng lực ngăn chặn sức ép từ các nước lớn của chúng ta sẽ càng mạnh hơn. Trong tình hình tồn tại cùng lúc nhiều nước lớn, vai trò của mỗi nước lớn sẽ bị giảm đi, hơn nữa bằng cách khéo léo lợi dụng vai trò của các nước lớn, các nước nhỏ có thể tự do vận hành một cách tối đa...vận mệnh của Đông Nam Á sẽ không phải do người Đông Nam Á tự quyết định”. Singapore xuất phát từ tình thế của mình, tranh thủ sự can dự tích cực của nhiều nước lớn vào Singapore và Đông Nam Á để có được viện trợ kinh tế và sự hỗ trợ đa phương về chính trị, nhưng không kết đồng minh, tránh gánh vác nghĩa vụ quân sự và bị cuốn vào xung đột nước lớn. Singapore cho rằng thông qua sự cạnh tranh lẫn nhau giữa hai dòng thế lực để hình thành sự cân bằng lực lượng, nước nhỏ có thể giành được không gian quốc tế của mình trong sự cân bằng giữa các nước lớn, từ đó tránh việc nghe theo một nước mạnh nào đó cuối cùng dẫn đến có hại cho cục diện vốn bất lợi của an ninh và chủ quyền quốc gia.
Trong khái niệm ngoại giao của Lý Quang Diệu, phát triển quan hệ ngoại giao với Mỹ, Nhật Bản là mấu chốt trong việc thực hiện ngoại giao cân bằng nước lớn của Singapore nhưng ông không mong muốn thế lực Mỹ bá quyền độc tài ở Đông Nam Á. Có sự cân bằng nước lớn mang tính định hướng. Lâu nay Singapore đều tự đặt mình vào thế trung lập. Trên thực tế, cân bằng nước lớn của Singapore mang tính chọn lọc và phân cấp, là cân bằng lấy Mỹ làm trung tâm. Bảo vệ an ninh quốc gia, phát triển kinh tế nhà nước là mục tiêu cuối cùng của Singapore. Có thể gạt bỏ được mối lo an ninh của Singapore, mang lại sự thịnh vượng về kinh tế chắc chắn là mục tiêu cao nhất trong hệ thống cân bằng nước lớn của Singapore. Singapore dựa vào đó để ràng buộc lợi ích của mình với lợi ích của Mỹ ở Đông Nam Á, từ đó mưu cầu tối đa hóa lợi ích. Tuy Singapore cũng từng dẫn dắt Liên Xô, Trung Quốc cân bằng sức ảnh hưởng của Mỹ, Nhật Bản, nhưng chỉ là để tránh lực lượng Mỹ quá mạnh khiến Singapore cảm thấy “nghẹt thở”. Thực lực đang không ngừng lớn mạnh của Trung Quốc tại Biển Đông về khách quan đã tạo thành thách thức cho sự cân bằng nước lớn khu vực Đông Nam Á mà Mỹ chủ đạo, động chạm đến bố cục cân bằng mà Singapore lâu nay tạo dựng.
==== Sự tương hỗ giữa ASEAN và Singapore ====
Để bảo đảm lợi ích và an ninh của Singapore cũng như khu vực Đông Nam Á, Singapore khuyến khích các nước ngoài khu vực tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN. Cựu Thủ tướng Ngô Tác Đống so sánh Singapore với một con cá nhỏ, cá nhỏ muốn sống phải đi cùng các con cá khác, hòa mình vào trong đàn cá, dựa vào sự kết thành đàn để tự bảo vệ mình. Chiến lược “đàn cá” trở thành một phần quan trọng trong chiến lược an ninh của Singapore. Dưới sự chỉ đạo của lý luận này, Singapore là một trong những nước đầu tiên không ngừng thúc đẩy hợp tác kinh tế và chính trị các nước ASEAN, đồng thời mở rộng lĩnh vực hợp tác đến an ninh khu vực. ASEAN đem đến sân chơi giao lưu kết nối cho các nhà lãnh đạo các nước Đông Nam Á, phát huy vai trò to lớn trong việc duy trì ổn định khu vực. Đồng thời, ASEAN cũng đem đến một nền tảng ngoại giao vô cùng tốt cho Singapore. Tư cách thành viên của ASEAN khiến Singapore có quyền phát ngôn lớn hơn trong các công việc quốc tế. Lý Hiển Long nói: “Khi Singapore và các nước ASEAN khác trở thành một tập thể, bất cứ nước lớn nào đều sẽ có phần kiêng nể, nhưng khi Singapore không có sự chống đỡ của ASEAN, có thể bị các nước lớn xem nhẹ”. Bộ trưởng Ngoại giao Singapore George Yong-Boon Yeo cũng nói rằng: “Chúng tôi đặt ASEAN ở vị trí quan trọng, Singapore là trung tâm của ASEAN, đó là lý do vì sao lợi ích của ASEAN và lợi ích của Singapore hoàn toàn giống nhau”. Đối với Singapore, chiến lược sinh tồn, an ninh và kinh tế của nước này gắn liền với chiến lược của ASEAN.
== Quân sự ==
Quân đội Singapore tuy nhỏ nhưng được cho là có công nghệ tiến bộ nhất tại Đông Nam Á, gồm có Lục quân Singapore, Hải quân Cộng hòa Singapore, và Không quân Cộng hòa Singapore. Quân đội được nhìn nhận là lực lượng bảo đảm cho độc lập quốc gia. Triết lý quốc phòng của đảo quốc mang tính ngoại giao và răn đe. Nguyên lý này biến thành văn hóa, yêu cầu mọi công dân tham dự phòng thủ quốc gia. Chính phủ dành 4,9% GDP toàn quốc cho quốc phòng, và khoảng 1/4 chi tiêu của chính phủ là dành cho quốc phòng.
Sau khi độc lập, Singapore có hai trung đoàn bộ binh do các sĩ quan người Anh chỉ huy. Lực lượng này được nhận định là quá nhỏ để đáp ứng an ninh hiệu quả cho quốc mới, do vậy việc phát triển quân đội trở thành một điều ưu tiên. Anh đưa quân đội ra khỏi Singapore vào tháng 10 năm 1971, chỉ còn hiện diện tượng trưng bằng một lực lượng nhỏ người Anh, Úc và New Zealand. Quân nhân Anh cuối cùng rời khỏi Singapore vào tháng 3 năm 1976. Các binh sĩ New Zealand là những người cuối cùng rời đi, vào năm 1989.
Singapore nhận được trợ giúp ban đầu trên quy mô lớn từ Israel, một quốc gia không được Malaysia, Indonesia hay Brunei công nhận. Mối lo chính sau khi độc lập là một cuộc xâm chiếm của Malaysia. Các sĩ quan chỉ huy của Lực lượng Phòng vệ Israel được giao nhiệm vụ thiết lập Lực lượng vũ trang Singapore từ con số không, và những giáo viên hướng dẫn người Israel được đưa đến nhằm huấn luyện cho các binh sĩ Singapore. Các khóa huấn luyện quân sự được tiến hành theo khuôn mẫu của Lực lượng Phòng vệ Israel, và Singapore tiếp nhận một chế độ nghĩa vụ quân sự và lực lượng dự bị dựa theo mô hình Israel. Singapore vẫn duy trì các quan hệ an ninh mật thiết với Israel và là một trong những khách hàng lớn nhất của vũ khí Israel.
Lực lượng vũ trang Singapore đang được phát triển nhằm đáp ứng một loạt các vấn đề, trong cả chiến tranh quy ước và phi quy ước. Cục khoa-kỹ Quốc phòng chịu trách nhiệm thu thập tiềm lực cho quân đội. Hạn chế trên phương diện địa lý của đảo quốc có nghĩa là Lực lượng vũ trang Singapore cần phải có kế hoạch đẩy lui hoàn toàn một cuộc tấn công, do họ không thể rút lui rồi tái tập hợp. Quy mô dân số nhỏ cũng tác động đến phương pháp mà Lực lượng vũ trang Singapore trù tính, với một lực lượng tích cực nhỏ song có một lượng dự trữ lớn. Do khan hiếm đất trống tại đảo chính, các hoạt động liên quan đến huấn luyện như bắn đạn thật và diễn tập đổ bộ thường được tiến hành trên các đảo nhỏ hơn, thường cấm chỉ thường dân tiếp cận, nó cũng ngăn ngừa rủi ro tại đảo chính và khu vực đô thị. Tuy nhiên, các cuộc tập trận quy mô lớn được nhận định là quá nguy hiểm khi tiến hành trong khu vực, và chúng được thực hiện tại Đài Loan từ năm 1975. Hoạt động huấn luyện cũng được tổ chức tại nhiều quốc gia khác. Về tổng thể, các cuộc luyện tập quân sự được tổ chức với lực lượng ngoại quốc một hoặc hai lần mỗi tuần.
Do không phận và lãnh thổ hạn chế, Không quân Cộng hòa Singapore duy trì một số căn cứ hải ngoại tại Úc, Hoa Kỳ, và Pháp. Phi đội 130 của Không quân Cộng hòa Singapore đặt tại RAAF Base Pearce, Tây Úc, còn Phi đội 126 đặt tại Trung tâm Hàng không Lục quân Oakey, Queensland. Phi đội 150 đặt tại căn cứ không quân Cazaux tại miền nam Pháp. Không quân Cộng hòa Singapore cũng có một vài phân đội hải ngoại tại Hoa Kỳ, như tại San Diego, Marana, Grand Prairie và căn cứ không quân Luke.
Lực lượng vũ trang Singapore đã phái quân đi hỗ trợ các hoạt động bên ngoài đảo quốc, tại các khu vực như Iraq và Afghanistan, trong cả vai trò quân sự và dân sự. Trong khu vực, Lực lượng vũ trang Singapore giúp ổn định Đông Timor và cung cấp viện trợ đến Aceh tại Indonesia sau Động đất và sóng thần Ấn Độ Dương 2004. Lực lượng vũ trang Singapore cũng tham gia giúp đỡ trong các nỗ lực cứu trợ sau Bão Katrina. Singapore là một bên trong Dàn xếp phòng vệ 5 quốc gia (FPDA), một liên minh quân sự với Anh, Malaysia, New Zealand, và Úc.
== Kinh tế ==
Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập từ bên ngoài. Singapore chỉ có ít than, chì, nham thạch, đất sét; không có nước ngọt; đất canh tác hẹp, chủ yếu để trồng cao su, dừa, rau và cây ăn quả, do vậy nông nghiệp không phát triển, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ở trong nước. Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng đầu châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến và lắp ráp máy móc tinh vi. Singapore có 12 khu vực công nghiệp lớn, trong đó lớn nhất là Khu công nghiệp Jurong. Singapore là nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn. Singapore còn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở châu Á. Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức.
Cựu nhà báo Chin Kah Chongrong cho rằng: "Trong thập niên 1960-1970, kinh tế Singapore được hưởng lợi từ việc cung cấp nhu yếu phẩm, nhiên liệu, vũ khí và phương tiện chiến tranh cho quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam. Riêng khoản xăng dầu và nhiên liệu, mỗi tháng Singapore cung cấp cho Mỹ lượng hàng trị giá 600 triệu đôla, thu nhập từ việc làm hậu cần cho quân đội Mỹ chính là nguồn lực ban đầu giúp Singapore xây dựng kinh tế đất nước". Mỗi tháng Singapore cung cấp cho Mỹ lượng hàng trị giá 600 triệu đôla, liên tục trong gần 10 năm, thì tổng số tiền bán hàng đã lên tới 70 tỷ USD. Tuy nhiên, ông Lý Quang Diệu thì cho rằng Singapore chỉ cung cấp cho quân đội Mỹ xăng dầu và nhớt bôi trơn từ các công ty dầu khí của Mỹ và Anh Quốc, nên lợi nhuận vào tay Singapore là không đáng kể..
Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhập quốc dân). Kinh tế Singapore từ cuối những năm 1980 đạt tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất thế giới: 1994 đạt 10%, 1995 là 8,9%. Tuy nhiên, từ cuối 1997, do ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ, đồng đô la Singapore đã bị mất giá 20% và tăng trưởng kinh tế năm 1998 giảm mạnh chỉ còn 1,3%. Từ 1999, Singapore bắt đầu phục hồi nhanh: Năm 1999, tăng trưởng 5,5%, và năm 2000 đạt hơn 9%. Do ảnh hưởng của sự kiện 11 tháng 9, suy giảm của kinh tế thế giới và sau đó là dịch SARS, kinh tế Singapore bị ảnh hưởng nặng nề: Năm 2001, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt -2,2%, 2002, đạt 3% và 2003 chỉ đạt 1,1%. Từ 2004, tăng trưởng mạnh: năm 2004 đạt 8,4%; 2005 đạt 5,7%; năm 2006 đạt 7,7% và năm 2007 đạt 7,5%. Năm 2009, GDP chỉ tăng 1,2% do tác động của khủng hoảng kinh tế. Hiện tại (2016), nền kinh tế của Singapore đứng thứ năm của ASEAN, đứng thứ 15 châu Á và đứng thứ 40 trên thế giới, GDP đạt 296.642 USD.
Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức. Singapore đang thực hiện kế hoạch đến năm 2018 sẽ biến Singapore thành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế toàn cầu và châu Á và một nền kinh tế đa dạng nhạy cảm kinh doanh.
== Giao thông ==
Hệ thống giao thông công chánh ở Singapore rất phát triển. Chất lượng đường bộ của đảo quốc này được đánh giá là vào loại tốt nhất thế giới. Giao thông tại Singapore được vận hành theo mô hình của Anh, trái với giao thông tay phải của châu Âu lục địa.
Singapore có nhiều loại phương tiện giao thông công cộng, trong đó hai phương tiện phổ biến nhất là xe bus (hơn 3 triệu lượt người mỗi ngày, năm 2010) và tàu điện ngầm mà người Singapore thường gọi là MRT (Mass Rapid Transit) (hơn 2 triệu lượt người mỗi ngày, năm 2010). Người đi xe bus trả tiền mua vé cho từng chặng, ngoại trừ trường hợp họ có thẻ từ tự động EZlink (thẻ này cho phép họ sử dụng dịch vụ của xe bus giá rẻ và trong một thời gian dài). Hệ thống tàu điện ngầm của Singapore có 84 ga với chiều dài 129.9 km và có giờ làm việc là từ 06:00 tới 24:00. Taxi cũng là một phương tiện giao thông khá phổ biến ở Singapore nhưng khá khó bắt và đắt trong giờ cao điểm.
Do Singapore có diện tích rất hẹp, nên chính quyền Singapore thường có những biện pháp đặc biệt để tránh tình trạng nghẽn xe, tắc đường. Hệ thống thuế giờ cao điểm ERP (Electronics Road Pricing) được đưa vào hoạt động trong khu vực trung tâm thành phố để giảm lưu lượng xe lưu thông qua các khu vực này vào giờ cao điểm. Số tiền này được trừ thẳng vào thẻ EZLink cài trên xe hơi. ERP có thể lên đến SGD15 nếu 1 chiếc xe chạy qua 5 trạm ERP trong khu vực nội thành.
Singapore cũng có phương tiện giao thông đường thủy phổ biến là thuyền máy nhỏ, tuy nhiên đa số chúng chỉ được dùng cho mục đích du lịch. Các du khách tới Singapore có thể tham quan thành phố bằng đường thủy trên sông Singapore trong những tour kéo dài khoảng 30 phút.
== Nhân khẩu ==
Năm 2012, dân số Singapore là 5,312 triệu người, trong đó 3,285 triệu (62%) là công dân Singapore và những người còn lại (38%) là những cư dân thường trú hoặc công nhân/học sinh ngoại quốc. 23% công dân Singapore sinh ra bên ngoài Singapore. Có một triệu cư dân thường trú tại Singapore vào năm 2012. Số cư dân này không tính đến 11 triệu du khách tạm thời đến tham quan Singapore mỗi năm.
Tuổi thọ trung bình của người Singapore là 82 tuổi và quy mô hộ gia đình trung bình là 3,5 người. Do khan hiếm đất, 4/5 người Singapore sống trong các căn hộ được trợ cấp, cao tầng, công cộng được gọi là các căn hộ Cục Nhà ở và Phát triển (HDB), theo sau việc cục chịu trách nhiệm đối với nhà ở công tại quốc gia. Có gần 200.000 người giúp việc gia đình tại Singapore.
Năm 2010, tỷ lệ sở hữu nhà tại Singapore là 87,2%. Điện thoại di động thâm nhập với tỷ lệ rất cao là 1.400 điện thoại di động trên 1000 người. Khoảng 1/10 cư dân sở hữu một ô tô.
Tổng tỷ suất sinh được ước tính là 0,79 trẻ em trên mỗi phụ nữ vào năm 2013, đây là tỷ lệ thấp nhất thế giới và thấp hơn tỷ lệ cần thiết là 2,1 để thay thế dân số. Để khắc phục vấn đề này, chính phủ Singapore khuyến khích người ngoại quốc nhập cư đến Singapore trong vài thập niên gần đây. Một lượng lớn người nhập cư giúp cho dân số của Singapore không suy giảm. Singapore có truyền thống là một trong những quốc gia phát triển có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất, tỷ lệ thất nghiệp tại đây không vượt quá 4% trong thập kỷ qua, chạm mức cao 3% trong khủng hoản tài chính toàn cầu 2009 và giảm xuống 1,9% vào 2011.
Năm 2009, khoảng 40% cư dân Singapore là người ngoại quốc, một trong những tỷ lệ cao nhất trên thế giới. Công nhân ngoại quốc chiếm 80% lao động trong ngành xây dựng và chiếm 50% trong ngành phục vụ.
Năm 2009, điều tra dân số của chính phủ báo cáo rằng 74,2% cư dân là người gốc Hoa, 13,4% là người gốc Mã Lai, và 9,2% là người gốc Ấn Độ, người Âu-Á và các nhóm khác chiếm 3,2%. Trước năm 2010, mỗi cá nhân chỉ có thể đăng ký làm thành viên của một chủng tộc, mặc định theo phụ hệ, do đó, những người hỗn chủng được xếp theo nhóm chủng tộc của người cha. Từ năm 2010 trở đi, người dân có thể đăng ký theo phân loại kép, trong đó họ có thể chọn một chủng tộc chính và một chủng tộc thứ, song không quá hai.
=== Tôn giáo ===
Phật giáo là tôn giáo được thực hành phổ biến nhất tại Singapore, với 33% số cư dân tuyên bố bản thân họ là tín đồ đạo Phật trong cuộc điều tra dân số gần đây nhất. Tôn giáo được thực hành phổ biến thứ nhì là Ki-tô giáo, sau đó là Hồi giáo, Đạo giáo, và Ấn Độ giáo. 17% dân số không gia nhập tôn giáo nào. Tỷ lệ tín đồ Ki-tô giáo, Đạo giáo, và người không tôn giáo tăng trong khoảng thời gian giữa năm 2000 và 2010, mỗi nhóm tăng 3%, trong khi tỷ lệ tín đồ Phật giáo thì giảm xuống. Các đức tin khác vẫn ổn định trên quy mô lớn về tỷ lệ dân số.
Tại Singapore có các chùa và trung tâm Phật pháp từ cả ba tông phái truyền thống chính của Phật giáo: Thượng tọa bộ, Đại thừa, và Kim cương thừa. Hầu hết tín đồ Phật giáo tại Singapore là người Hoa và theo truyền thống Đại thừa. Đại thừa Trung Hoa là tông phái Phật giáo chiếm ưu thế nhất tại Singapore, với các hòa thượng truyền giáo đến từ Đài Loan và Trung Quốc trong vài thập kỷ gần đây. Tuy nhiên, Phật giáo Thượng tọa bộ từ Thái Lan ngày càng phổ biến trong cư dân Singapore (không chỉ người Hoa) trong thập niên qua. Học hội Sáng giá Quốc tế là một tổ chức Phật giáo của Nhật Bản, hiện được nhiều người thực hành theo tại Singapore, song hầu hết họ là người gốc Hoa. Phật giáo Tây Tạng cũng xâm nhập chậm vào quốc đảo trong những năm gần đây.
=== Ngôn ngữ ===
Singapore có bốn ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh, tiếng Mã Lai, Quan thoại, và Tamil. Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến tại quốc đảo và là ngôn ngữ của kinh doanh, chính phủ, và là phương tiện giảng dạy trong trường học. Các cơ cấu công cộng tại Singapore quản lý công việc của họ bằng tiếng Anh, và các tài liệu chính thức được viết bằng các ngôn ngữ chính thức khác như tiếng Hoa, tiếng Mã Lai, hay tiếng Tamil thường phải được dịch sang tiếng Anh để việc đệ trình được chấp nhận. Hiến pháp Singapore và toàn bộ các luật được viết bằng tiếng Anh, và người dịch được yêu cầu nếu một người muốn nói chuyện với tòa án bằng một ngôn ngữ không phải tiếng Anh. Tuy nhiên, tiếng Anh chỉ là ngôn ngữ mẹ đẻ của một phần ba người Singapore, với khoảng một phần ba người Singapore gốc Hoa, một phần tư người Singapore gốc Mã Lai và một nửa người Singapore gốc Ấn Độ có ngôn ngữ mẹ đẻ là tiếng Anh. 20% người Singapore không thể đọc hoặc viết bằng tiếng Anh.
Nhiều người Singapore là người song ngữ trong tiếng Anh và ngôn ngữ chính thức khác, với mức độ lưu loát khác nhau. Xếp hạng các ngôn ngữ chính thức về tỷ lệ đọc viết là tiếng Anh (80% biết đọc viết), Quan thoại (65% biết đọc viết), Mã Lai (17% biết đọc viết), và Tamil (4% biết đọc viết). Tiếng Anh-Singapore dựa trên tiếng Anh-Anh, và các dạng tiếng Anh được nói tại Singapore biến thiên từ "tiếng Anh-Singapore chuẩn" đến một thứ tiếng bồi gọi là "Singlish". Singlish bị chính phủ ngăn trở quyết liệt.
Tiếng Hoa là ngôn ngữ mẹ đẻ của nhiều người Singapore nhất, chiếm một nửa trong số họ. Quan thoại Singapore là phương ngôn tiếng Hoa phổ biến nhất tại quốc đảo, với 1,2 triệu người sử dụng nó làm ngôn ngữ nói tại nhà. Gần nửa triệu người nói các phương ngôn tiếng Hoa khác, chủ yếu là tiếng Phúc Kiến, tiếng Triều Châu, và tiếng Quảng Đông, như ngôn ngữ tại nhà của họ, song việc sử dụng các phương ngôn này đang suy giảm khi thế hệ sau này chuyển sang Quan thoại và tiếng Anh.
Chính phủ Singapore chọn tiếng Mã Lai làm ngôn ngữ quốc gia sau khi giành độc lập từ Anh Quốc trong thập niên 1960 nhằm tránh xích mích với các láng giềng — Malaysia và Indonesia — những quốc gia nói tiếng Mã Lai. Việc này mang mục đích biểu tượng hơn là chức năng. Ngôn ngữ này được sử dụng trong quốc ca "Majulah Singapura", trong các trích dẫn của hệ thống thứ bậc và huy chương của Singapore, và trong chỉ huy quân sự. Ngày nay, về tổng thể, tiếng Mã Lai được nói trong cộng đồng người Singapore gốc Mã Lai, chỉ 16,8% người Singapore biết đọc viết tiếng Mã Lai và chỉ 12% sử dụng nó làm ngôn ngữ mẹ đẻ.
Khoảng 100.000, hay 3%, người Singapore nói tiếng Tamil như ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Tamil có địa vị chính thức tại Singapore và không có nỗ lực nào nhằm ngăn cấm việc sử dụng các ngôn ngữ Ấn Độ khác.
== Giáo dục-Y tế ==
Giáo dục các cấp tiểu học, trung học, và đại học hầu hết được nhà nước hỗ trợ. Toàn bộ các tổ chức dù là công hay tư đều phải được đăng ký với Bộ Giáo dục. Tiếng Anh là ngôn ngữ giảng dạy trong toàn bộ các trường học công, và toàn bộ các môn học được dạy và thi bằng tiếng Anh ngoại trừ bài luận bằng "tiếng mẹ đẻ". Trong khi thuật ngữ "tiếng mẹ đẻ" về tổng thể tầm quốc tế là đề cập đến ngôn ngữ thứ nhất, song nó được sử dụng nhằm đề cập đến ngôn ngữ thứ hai trong hệ thống giáo dục của Singapore, do tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất. Các học sinh ở tại nước ngoài trong một thời gian, hoặc gặp khó khăn với "tiếng mẹ đẻ" của họ, được phép có một đề cương giản hóa hoặc bỏ qua môn học.
Giáo dục gồm ba giai đoạn: tiểu học, trung học, và tiền đại học, trong đó chỉ có cấp tiểu học là bắt buộc. Học sinh bắt đầu với 6 năm tiểu học, gồm 4 năm cơ sở và hai năm định hướng, chương trình giảng dạy tập trung vào phát triển Anh ngữ, bản ngữ, toán học, và khoa học. Trung học kéo dài 4-5 năm, và được phân thành các ban Đặc thù, Nhanh, Phổ thông (Học thuật), và Phổ thông (Kỹ thuật) trong mỗi trường, dựa theo trình độ năng lực của mỗi học sinh. Phân loại chương trình cơ bản tương tự cấp tiểu học, song các lớp học chuyên biệt hơn nhiều. Giáo dục tiền đại học diễn ra trong 2-3 năm tại các trường cao đẳng, hầu hết gọi là Học viện sơ cấp. Một số trường học được tự do trong chương trình giảng dạy của mình và được gọi là trường tự chủ. Các trường này tồn tại từ cấp trung học trở lên.
Các kỳ thi quốc gia được tiêu chuẩn hóa trong tất cá các trường học, với một bài kiểm tra được thực hiện sau mỗi giai đoạn. Sau sáu năm giáo dục đầu tiên, học sinh tham gia khảo thí rời tiểu học (PSLE), nó quyết định vị trí của họ tại trường trung học. Cuối giai đoạn trung học, khảo thí GCE trình độ "O" được tiến hành; vào cuối giai đoạn tiền đại học sau đó, khảo thí GCE trình độ "A" được tiến hành. Năm 2005, trong toàn bộ người Singapore 15 tuổi và lớn hơn mà không còn là học sinh, có 18% không có trình độ giáo dục.
Singapore có một hệ thống chăm sóc y tế hiệu quả về tổng thể, dù chi phí y tế tại đây tương đối thấp so với các quốc gia phát triển. Tổ chức Y tế Thế giới xếp hạng hệ thống y tế của Singapore đứng thứ 6 về tổng thể trong Báo cáo Y tế thế giới 2000. Singapore có tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh thấp nhất thế giới trong hai thập niên qua. Tuổi thọ trung bình (năm 2012) tại Singapore là 83, trong khi số liệu toàn cầu là 70. Hầu như toàn bộ dân cư được tiếp cận với nước và điều kiện vệ sinh được cải thiện.
== Văn hóa ==
Singapore là một quốc gia đa dạng và non trẻ, với nhiều ngôn ngữ, tôn giáo, và văn hóa. Khi Singapore độc lập từ Anh Quốc vào năm 1963, hầu hết công dân là những lao động không có học thức đến từ Malaysia, Trung Quốc và Ấn Độ. Nhiều người trong số họ là những lao động ngắn hạn, đến Singapore nhằm kiếm một khoản tiền và không có ý định ở lại. Ngoại trừ người Peranakan (hậu duệ của người Hoa nhập cư vào thế kỷ 15-16) đảm bảo lòng trung thành của họ với Singapore, thì hầu hết người lao động trung thành với quê hương của họ. Sau khi độc lập, quá trình thiết lập một bản sắc Singapore được khởi động.
Các cựu thủ tướng Lý Quang Diệu và Ngô Tác Đồng từng tuyên bố rằng Singapore không thích hợp với mô tả truyền thống về một quốc gia, gọi đây là một xã hội quá độ, chỉ ra thực tế rằng không phải toàn bộ người Singapore nói cùng một ngôn ngữ, chia sẻ cùng một tôn giáo, hoặc có phong tục tương đồng. Mặc dù tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất của quốc gia, song theo điều tra nhân khẩu năm 2010 của chính phủ thì có 20% người Singapore không biết đọc viết bằng tiếng Anh, con số này vào năm 1990 là 40%. Chính phủ nhận định sự hài hòa chủng tộc và tôn giáo là bộ phận quan trọng trong thành công của Singapore, và đóng vai trò quan trọng trong việc kiến thiết một bản sắc Singapore.
Quốc hoa của Singapore là Vanda 'Miss Joaquim', được đặt tên theo một phụ nữ Armenia sinh tại Singapore, bà phát hiện loài hoa này trong vườn nhà tại Tanjong Pagar vào năm 1893. Nhiều phù hiệu quốc gia như quốc huy Singapore và biểu tượng đầu sư tử Singapore sử dụng hình tượng sư tử, do Singapore được mệnh danh là 'Thành phố Sư tử'. Các ngày lễ công cộng tại Singapore bao trùm các lễ chính của người Trung Hoa, Tây phương, Mã Lai, Ấn Độ.
Ở tầm quốc gia, Singapore là một xã hội bảo thủ, song xuất hiện một số sự tự do hóa. Ở cấp độ quốc gia, trọng dụng nhân tài được chú trọng cao độ, mỗi cá nhân được đánh giá dựa trên năng lực của họ.
Ẩm thực cùng với mua sắm được cho là những hoạt động tiêu khiển quốc gia tại Singapore. Sự đa dạng của thực phẩm được quảng cáo là một trong những lý do để đến thăm đảo quốc, và sự đa dạng của thực phẩm đại diện cho các dân tộc khác nhau, chính phủ nhận định đây là một tương trưng cho sự đa dạng văn hóa của đảo quốc. "Quốc quả" của Singapore là sầu riêng.
Từ thập niên 1990, chính phủ xúc tiến các hoạt động nhằm biến Singapore thành một trung tâm nghệ thuật và văn hóa, đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn, và biến đổi quốc gia thành một "cửa ngõ giữa phương Đông và phương Tây".
Các môn thể thao đại chúng tại Singapore gồm có bóng đá, bóng rổ, cricket, bơi, đi thuyền, bóng bàn và cầu lông. Hầu hết người Singapore sống trong các khu chung cư gần các tiện ích như hồ bơi, bên ngoài có sân bóng rổ và khu thể thao trong nhà. Các môn thể thao dưới nước phổ biến tại đảo quốc, trong đó có đi thuyền, chèo thuyền kayak và lướt ván. Lặn biển là một môn thể thao tiêu khiển phổ biến khác, đảo Hantu đặc biệt nổi tiếng với các rạn san hô phong phú. Giải bóng đá của Singapore mang tên S-League được hình thành vào năm 1994, Singapore bắt đầu tổ chức một vòng thi đấu của giải vô địch công thức 1 thế giới, Singapore Grand Prix, vào năm 2008. Singapore tổ chức Thế vận hội trẻ kỳ đầu tiên, vào năm 2010
Các công ty có liên kết với chính phủ kiểm soát hầu hết truyền thông nội địa tại Singapore. MediaCorp vận hành hầu hết các kênh truyền hình và phát thanh phát sóng miễn phí tại Singapore. Có tổng cộng 7 kênh truyền hình phát sóng miễn phí do Mediacorp cung cấp. Các kênh Channel 5 (tiếng Anh), Channel News Asia (tiếng Anh), Okto (tiếng Anh), Channel 8 (tiếng Trung), Channel U (tiếng Trung), Suria (tiếng Mã Lai) và Vasantham (tiếng Ấn). StarHub Cable Vision (SCV) cung cấp dịch vụ truyền hình cáp với các kênh từ khắp thế giới và Mio TV của SingTel cung cấp một dịch vụ IPTV. Tập đoàn Singapore Press Holdings có liên hệ với chính phủ và kiểm soát hầu hết ngành báo chí tại Singapore. Các tổ chức nhân quyền như Freedom House đôi khi chỉ trích ngành truyền thông Singapore chịu quản lý quá mức và thiếu tự do. Năm 2010, Phóng viên không biên giới xếp hạng Singapore thứ 136 trong số 178 trong Chỉ số Tự do Báo chí của mình.
== Giao thông ==
Do Singapore là một đảo quốc nhỏ với mật độ dân số cao, số lượng ô tô cá nhân trên đường bị hạn chế nhằm giảm ô nhiễm và tắc nghẽn. Những người mua ô tô phải trả thuế cao gấp 1,5 lần giá thị trường của phương tiện, và phải đấu giá cho một giấy chứng nhận quyền lợi (COE) để ô tô của họ được phép chạy trên đường trong một thập niên. Giá ô tô tại Singapore thường cao hơn đáng kể so với các quốc gia nói tiếng Anh. Giống như hầu hết các quốc gia trong Khối Thịnh vượng chung, các phương tiện đi trên đường và người đi bộ trên phố theo quy tắc bên trái.
Cư dân Singapore cũng di chuyển bằng cách phương thức đi bộ, xe đạp, xe buýt, taxi và tàu hỏa (MRT hoặc LRT). Hai công ty vận hành xe buýt công cộng và hệ thống giao thông tàu hỏa là SBS Transit và SMRT Corporation. Taxi là hình thức giao thông công cộng phổ biến do chi phí tương đối rẻ so với nhiều quốc gia phát triển khác.
Năm 2010, Singapore sở hữu một hệ thống đường bộ dài tổng cộng 3.356 kilômét (2.085 mi), trong đó có 161 kilômét (100 mi) đường cao tốc. Kế hoạch giấy phép khu vực Singapore được thi hành vào năm 1975, là kế hoạch giải quyết tắc nghẽn thông qua phí đầu tiên trên thế giới, gồm các biện pháp bổ sung như hạn ngạch sở hữu ô tô nghiêm ngặt và cải thiện giao thông công cộng. Năm 1998, nó được nâng cấp và đổi tên thành phí đường bộ điện tử, hệ thống thực hiện thu thuế điện tử, phát hiện điện tử, và giám sát bằng video.
Cảng Singapore là cảng nhộn nhịp hàng đầu thế giới. Singapore là một trung tâm hàng không tại Đông Nam Á, và là điểm dừng chân của tuyến Kangaroo giữa Sydney và Luân Đôn. Singapore có 8 cảng hàng không, Sân bay quốc tế Singapore Changi sở hữu một mạng lưới gồm trên 100 hãng hàng không kết nối Singapore với khoảng 300 thành thị tại khoảng 70 quốc gia và lãnh thổ trên toàn cầu.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Singapore Government Online Portal
Amnesty International's 2005 report on Singapore
CIA World Factbook Entry for Singapore |
whisky.txt | Whisky (tiếng Anh, tiếng Pháp: Whisky, tại Ireland và phần lớn nước Mỹ là Whiskey) là một loại đồ uống có chứa cồn được sản xuất từ ngũ cốc bằng cách lên men và chưng cất.
Từ Whisky được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1736 xuất phát từ usisge beatha trong tiếng Gaelic tại Scotland hay từ uisce beatha trong tiếng Gaelic tại Ireland và có nghĩa là "nước của cuộc sống" (uisge/uisce: "nước", beatha: "sống"). Khái niệm này đã phổ biến ngay từ thế kỷ 16 / thế kỷ 17 nhưng thời đấy người ta hiểu đấy không chỉ riêng là Whisky mà còn là những loại rượu chưng cất khác có thêm đồ gia vị.
== Lịch sử hình thành ==
=== Nguồn gốc ===
Vào thế kỷ thứ 5 các nhà tu Ki-tô giáo, mà trước tiên là thánh Saint Patrick của Ireland, bắt đầu truyền giáo trong xứ sở của người Celt và mang các dụng cụ kỹ thuật cũng như hiểu biết về cách chế tạo dược phẩm và nước hoa đến Ireland và Scotland. Theo truyền thuyết thì họ là những người đầu tiên đã chưng cất một chất lỏng trong suốt: aqua vitae hay uisge beatha. Sự hiểu biết này lan truyền trong các thế kỷ sau nhờ vào các tu viện được thành lập mà vào thời gian đó mà thường là trung tâm của các làng mạc và có mở quán rượu riêng.
Năm 1494 aquavite lần đầu tiên được nhắc đến trong các văn kiện thuế ở Scotland (Exchequer Rolls) khi nhà tu dòng Saint Benedict, John Cor, của tu viện Lindores (thuộc vùng đất phong bá tước Fife) mua 8 boll mạch nha tại thủ đô của Scotland lúc bấy giờ là Dunfermline. Boll là một đơn vị đo lường dùng để đong ngũ cốc cũ của Scotland, tương đương với 210,1 lít hay 62 kg). Lượng 8 boll tương đương với khoảng 500 kg, đủ để sản xuất vào khoảng 400 chai rượu Whisky.
Sau cuộc di dân đến châu Mỹ, Whisky cũng được thử sản xuất từ ngũ cốc. Vì cây lúa mạch (Hordeum) khó trồng ở đây nên những người nông dân ở Bắc Mỹ bắt đầu cho lên men các loại ngũ cốc tăng trưởng tốt ở đấy là lúa mạch đen (Secale) và lúa mì (Triticum). Các lò nấu rượu lâu đời nhất xuất hiện ở Maryland, Pennsylvania và Virginia. Vì không kiếm được than bùn nên không ứng dụng được công thức sản xuất Whisky cổ truyền và vì thế mà rượu nấu ra không được ngon. Thông qua việc đốt thành than vách các thùng đựng rượu người ta cố gắng mang lại hương khói quen thuộc vào phần cất. Mãi cho đến cuối thế kỷ 18 mới có những lò chuyên nấu rượu Whisky.
=== Thuế, đấu tranh và hợp thức hóa ===
Bắt đầu từ 1643 tại Ireland, và từ 1644 tại Scotland, Whisky bị đánh thuế chính thức. Nhưng vì không có ai thi hành nên Whisky bị cấm, đầu tiên ở Ireland vào năm 1661 và sau đấy cũng ở Scotland vào năm 1707, ngoại trừ trường hợp có giấy phép của chính phủ. Trong những năm sau đó đã có những cuộc đụng độ đẫm máu vì thuế giữa những người thu thuế và người buôn lậu.
Whisky cũng bị đánh thuế ở Mỹ: năm 1794 George Washington, người cũng có một lò nấu rượu, ra sắc lệnh thu thuế Whiskey vì nhu cầu tài chính cao của quốc gia trẻ sau khi chấm dứt cuộc chiến tranh giành độc lập. Thế nhưng những người di dân không chấp nhận loại thuế này và ở Pennsylvania đã có Cuộc nổi loạn Whiskey, chỉ được dập tắt bởi một đạo quân 13.000 người dưới quyền chỉ huy của Henry Lee. Những người nấu rượu Whiskey sau đấy tiếp tục đi về miền Tây đến các bang Kentucky và Tennessee, cho đến ngày nay phần lớn sản lượng đều xuất xứ từ những bang này.
Năm 1822 đạo luật về chưng cất trái phép (Illicit Destillation Act) của Scotland ra đời, đơn giản hóa các điều luật về thuế nhưng lại thêm quyền lợi cho đại điền chủ. Lại có những cuộc bạo động. Năm 1823 một đạo luật mới, Act of Excise, được thông qua, cho phép nấu rượu Whisky với lệ phí là 10 Pound Sterling cộng với một khoản tiền không đổi cho mỗi gallon Whisky. George Smith là người đầu tiên xây dựng lò nấu rượu Glenlivet của ông theo luật lệ mới. Nhờ vào đạo luật mới mà cuối cùng là việc sản xuất Whisky công khai bắt đầu mang lại lợi nhuận, trong vòng 10 năm hằng ngàn lò nấu lậu đã biến mất ở Scotland và Ireland.
=== Công nghiệp hóa ===
Năm 1826 Robert Stein đăng ký bản quyền phát minh một phương pháp chưng cất liên tục mới cũng có thể nấu từ hạt ngũ cốc không cần phải gây mạch. Năm 1832 phương pháp này được cải tiến bởi người Ireland là Aeneas Coffey. Với cách thức của Coffey (Coffey still) người ta có thể sản xuất một sản phẩm tinh khiết hơn. Thế nhưng người Ireland không thích loại Whiskey được sản xuất theo kiểu mới này và vì thế Coffey bỏ đi đến Scotland.
Năm 1856 một người Scot là Andrew Usher, Jr. sản xuất loại Blended Whiksy đầu tiên. Cha của ông đã chào mời "Old Vatted Glenlivet" từ năm 1844. Loại Blended đầu tiên với tên "Usher's Green Stripe" vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay trên thị trường. Các thương gia khác pha trộn Whisky từ mạch nha và lúa mì, loại mà có thể được sản xuất nhờ vào phương pháp của Coffey, thành "Blended Scotch". Loại Whisky mới này được tiêu thụ nhiều tại Anh và sau đó là trên toàn thế giới, một phần cũng là nhờ vào tai họa sâu của cây nho từ 1858 cho đến 1863, đã phá hủy gần như toàn bộ cây nho ở Pháp, và vì thế mà rượu vang, Cognac và Brandy trở thành khan hiếm và rất đắt.
Vì đạo luật cấm bán rượu (1920-1933) mà phần lớn các lò nấu rượu nhỏ ở Mỹ phải đóng cửa. Tại Scotland luật này cũng dẫn đến việc nhiều lò nấu rượu phải đóng cửa. Sau khi việc cấm rượu chấm dứt, những tập đoàn lớn kiểm soát việc sản xuất công khai mới. Ngay trong các nước xuất xứ cũng có sự tập trung ngày càng mạnh của các lò nấu rượu và vô chai vào các tập đoàn lớn hoạt động trên toàn thế giới. Chỉ còn riêng lẻ một vài hãng nhỏ là còn vận hành lò nấu rượu riêng.
== Phương pháp sản xuất ==
=== Phương pháp chung ===
Các phương pháp sản xuất Whisky khác nhau rất nhiều, nhưng có một điều mà tất cả các phương pháp đều cùng chung đó là trước tiên ngũ cốc được xay thành hạt tấm và được trộn với nước ấm trong thùng kín (mash tun). Qua đó tinh bột được hóa đường. Tiếp theo đó nước mạch nha được trộn với men trong một thùng lên men (wash back hay fermenters) và được lên men.
Chất lỏng phát sinh có khoảng 5% đến 10% rượu, được gọi là wash, ale hay distiller's beer và quả thật là gợi nhớ đến bia. Trong các thiết bị chuyên môn, chất lỏng này được chưng cất nhiều lần. Hơi phát sinh (rượu, chất tạo hương vị) được ngưng tụ (new make). Sau khi được pha loãng với một ít nước, new make được trữ trong thùng gỗ nhiều năm. Mỗi năm có vào khoảng 2,5% rượu bốc hơi ra khỏi các thùng gỗ đã được đóng kín, được gọi là phần của thiên thần (angels share hay angels'dram). Sau quá trình này thường thì Whisky được pha trộn (blend), làm loãng, lọc (ở loại Whisky đặc biệt thì được bỏ qua giai đoạn này) và đóng vào chai.
=== Các phương pháp đặc biệt ===
Để sản xuất loại Malt-Whisky, lúa mạch được chế biến thành mạch nha bằng cách làm cho ẩm và cho nảy mầm. Nhờ vậy enzyme được tạo thành và tạo khả năng hóa đường tinh bột sau đó. Sau 5 đến 8 ngày mạch nha xanh được hong khô. Tại Scotland người ta dùng một loại lò cổ truyền (kiln) và đốt một lượng than bùn nhất định trong lò. Việc này mang lại hương khói đặc trưng của một số Whisky Scotland. Mặc dầu là phương pháp này vẫn còn được sử dụng lác đác, việc gây mạch nha ngày nay được tiến hành trong các nhà máy lớn chuyên môn.
Để sản xuất Malt-Whisky của Scotland và Pot-Still-Whiskey của Ireland "bia" được chưng cất trong những bình bằng đồng có hình giống củ hành (pot still) có cổ phía trên giống như cổ của thiên nga (swan neck). Phần cất có nồng độ rượu từ 60% đến 75%. Tất cả các thử nghiệm thay thế đồng bằng các kim loại ít bị rỉ sét, dễ gia công và rẻ tiền hơn đều thất bại vì hương vị không đạt của Whisky được sản xuất. Việc chưng cất được tiến hành gián đoạn vì bao giờ cũng chỉ có thể gia công được một phần wash nhất định.
Các loại Whisky khác phần lớn được chưng cất bằng cột chưng cất (patent still, column still hay Coffey still). Loại cột này do một người Scot là Robert Stein phát minh và thử nghiệm vào năm 1826 và được người Ireland là Aeneas Coffey cải tiến trong những năm sau đó. Bằng những cột chưng cất này, phần cất được sản xuất có nồng độ rượu tối đa là 94,8%. Loại cột này làm việc liên tục và đây cũng là một ưu điểm lớn về mặt phí tổn.
Kiểu Lomond (Lomond still) do Alistair Cunningham và Arthur Warren phát triển vào năm 1955, một phương pháp pha trộn giữa pot still và column still với một ống xi lanh có nhiều tấm bằng đồng di động bên trong, không đột phá được. Tuy đã được sử dụng trong nhiều lò nấu rượu, ngày nay phương pháp này chỉ còn được sử dụng tại hãng nấu rượu Whisky Scapa.
Trong Liên minh châu Âu Whisky phải đạt được những tiêu chuẩn được quy định trong chỉ thị số 1576/89 ngày 29 tháng 5 năm 1989:
Được sản xuất bằng cách chưng cất từ nước mạch nha của ngũ cốc.
Được chưng cất đến nồng độ rượu ít hơn 94,8 phần trăm thể tích.
Được lưu trữ ít nhất là 3 năm trong thùng gỗ có thể chứa 700 lít hay ít hơn.
Có nồng độ rượu ít nhất là 40 phần trăm thể tích.
Nếu như sản phẩm không đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu trên thì không được bán trong Liên minh châu Âu như là Whisky.
Các nước khác có những quy định khác đối với những tiêu chuẩn trên, thí dụ như tại Uruguay thời gian lưu trữ ngắn nhất được quy định là 2 năm.
== Tên gọi ==
=== Phân loại theo loại ngũ cốc ===
Whisky được bán trên thị trường dưới nhiều tên khác nhau, trong đó một phần là tên loại ngũ cốc được dùng để sản xuất Whisky:
Malt là loại Whisky được làm từ mạch nha.
Grain là tên loại Whisky được sản xuất từ lúa mạch mà thông thường là sử dụng thiết bị chưng cất cột được gọi là "kiểu Coffey".
Rye là tên gọi loại Whisky chủ yếu được sản xuất từ lúa mạch đen, ít nhất là 51%.
Bourbon là tên gọi loại Whisky chủ yếu được sản xuất từ bắp (ít nhất là 51%) và được chưng cất với tối đa là 81 phần trăm thể tích rượu, đổ vào thùng chứa với tối đa là 63 phần trăm thể tích rượu.
=== Phân loại theo quy trình sản xuất ===
Mặt khác tên gọi một phần cũng thể hiện rõ quy trình sản xuất của từng loại Whisky:
Single là loại Whisky có nguồn gốc chỉ từ một lò nấu rượu riêng lẻ (thường dùng cho Whisky của Scotland: Single-Malt-Whisky).
Straight cũng là loại Whisky có nguồn gốc chỉ từ một lò nấu rượu riêng lẻ (thường dùng cho Whiskey của Mỹ)
Blend là một loại Whisky đã được pha trộn. Trong lúc sản xuất (blending) nhiều loại Whisky khác nhau từ nhiều lò nấu rượu khác nhau được pha vào với nhau. Trong một số sản phẩm có đến 70 loại Whisky khác nhau.
Pot Still là loại Whisky được sản xuất chỉ dùng loại bình nấu cổ điển (thường dùng cho một số loại Whiskey của Ireland).
Pure Pot Still là loại Whisky được sản xuất chỉ dùng mạch nha trong các bình nấu rượu cổ điển (thường dùng cho một số loại Whiskey riêng lẻ của Ireland).
Trước năm 2005 các tên Vatted (pha trộn Malt-Whisky từ nhiều lò nấu rượu khác nhau) hay Pure (tên không thống nhất có nghĩa là Blend hay Vatted) vẫn còn thông dụng.
=== Các tên khác ===
cask strength (độ mạnh thùng): Sau khi được trữ trong thùng người ta không cho thêm nước vào Whisky nữa để đạt đến một nồng độ rượu nhất định. Nồng độ rượu của những loại Whisky này khác nhau vì thay đổi tùy theo thời gian trữ, điều kiện môi trường, chất lượng của thùng chứa và nồng độ rượu của phần cất nguyên thủy.
vintage (năm sản xuất): Loại Whisky được sử dụng có nguồn gốc từ năm được ghi chú.
single cask (thùng riêng lẻ): Loại Whisky này có nguồn gốc từ một thùng rượu riêng lẻ (thường dùng cho Whisky của Scotland).
single barel (thùng riêng lẻ): Loại Whisky này có nguồn gốc từ một thùng rượu riêng lẻ (thường dùng cho Whisky của Mỹ).
Các tên gọi Scotch, Irish hay American tất nhiên là thể hiện xuất xứ của sản phẩm. Một số tên gọi xuất xứ này được luật pháp bảo vệ và gắn liền với một số điều kiện nhất định (thí dụ như tuổi tối thiểu).
== Xuất xứ ==
=== Whisky Scotland ===
Hiện nay Whisky Scotland được sản xuất trong khoảng 90 lò nấu rượu tại Scotland (thời điểm tháng 10 năm 2005). Ngoài ra trong thời gian gần đây còn có hằng trăm lò nấu rượu khác đang ngưng hoạt động hay không còn tồn tại nữa. Để có được một cái nhìn tổng quát, các lò nấu rượu riêng lẻ và các loại Whisky được sản xuất từ các lò nấu rượu này được phân chia theo vùng. Các loại Whisky riêng lẻ của từng vùng cũng được cho là có cùng một khẩu vị đặc trưng. Cho đến nay người ta không đi đến được một cách phân chia thống nhất có sự đồng thuận theo vùng địa phương:
Vùng Highlands trải dài ở phía Bắc của đường thẳng tưởng tượng giữa Edinburgh và Glasgow. Vùng này lại thường được tiếp tục chia ra thành Central Highlands, Northern Highlands, Western Highlands và Eastern Highlands. Các loại Whisky ở đây được cho là mạnh.
Speyside được hiểu là vùng đất dọc theo sông Spey trong các vùng đất bá tước Morayshire và Banffshire và như vậy thật ra là lại nằm trong vùng Highlands. Vùng này được coi là vùng trung tâm của Whisky Scotland với trên 50 lò nấu rượu tập trung trong một diện tích hẹp.
Vùng Lowlands nằm ở phía Nam của đường tưởng tượng giữa Edinburgh và Glasgow. Whisky được sản xuất ở đây "mềm" và nhẹ.
Whisky xuất xứ từ đảo Islay thông thường được xem là "đặc biệt mạnh" bất chấp là có hương khói và hương than nhiều hay ít.
Ngược lại, Whisky từ các đảo khác như Arran, Mull, Jura, Skye, Orkney, và có thể là lúc nào đó cũng từ Shetland, thì đúng ra là không có đặc trưng chung.
Việc chia Campbeltown ra thành một vùng riêng biệt với chỉ còn 3 lò nấu rượu tồn tại thật ra chỉ còn tính chất lịch sử, vì thế mà vùng này cũng được xếp vào vùng Highlands hay vùng đảo.
Bên cạnh các doanh nghiệp là chủ của các lò nấu rượu còn có nhiều hãng đóng chai độc lập bán Whisky trên thị trường. Các hãng này mua từ các nhà sản xuất phần nhiều là các loại Whisky đặc biệt còn trong thùng và bán đi sau khi vô chai dưới nhãn hiệu riêng. Nổi tiếng là các loại chai Whisky của Teacher's, Macallan, Highland Park hay Laphroaig và nhiều hãng khác. Nhưng chủ nhân của các lò nấu rượu, các tập đoàn rượu mạnh lớn, cũng chào bán trên thị trường các xê ri rượu của các năm sản suất hay của các lò nấu rượu đã được lựa chọn. Các xê ri có tiếng thí dụ như là xê ri Teacher's Single Malt hay Blend Scotch Teacher's 25yo.
Phần cất từ mạch nha là nền tảng của Malt-Whisky từ Scotland mà trong đó mạch nha thường còn được hun khói bằng than bùn. Lúa mạch đã nảy mầm được hong khô trong một lò gọi là kiln. Nếu được hong khô bằng cách dùng than bùn Whisky có phảng phất hương khói. Độ hương khói được biểu thị bằng nồng độ ppm (parts per million) của phênol. Các loại Whisky như của hãng Lagavulin (khoảng 30 ppm) hay của hãng Laphroaig (trên 30 ppm) là các loại Whisky có nồng độ phênol cao. Whisky có hương khói than bùn nhiều nhất là Octomore của lò nấu rượu Bruichladdich, được cho là có trên 80 ppm phênol. Những người trong cuộc còn nói là có cả những mẫu của phần cất với nồng độ phênol lên đến 300 ppm.
Một phần cất được phép gọi là Scotch Whisky khi được sản xuất trong một lò chưng cất tại Scotland, có ít nhất 40 phần trăm thể tích rượu và được trữ ít nhất là 3 năm tại Scotland trong những thùng làm từ gỗ sồi có niêm phong của thuế quan. Thời gian trữ thông thường là 8 đến 12 năm nhưng cũng có thể kéo dài đến 15, 20, 25, 30 và 50 năm. Tùy theo lò nấu rượu, sau nhiều năm trữ khác nhau mà Whisky đạt đến được một tối ưu cân bằng giữa đặc tính chưng cất và ảnh hưởng của thời gian lưu trữ. Ở tại đa số các loại Whisky thời gian này nằm giữa 12 và 15 năm. Các Whisky lâu đời thì đặc biệt là hay "mềm" và "nhẹ" nhưng lại trả giá bằng tính chất riêng biệt vì ảnh hưởng của thùng ngày càng chiếm ưu thế. Vì thế quan niệm phổ biến cho rằng Whisky càng lâu đời càng tốt chỉ đúng có giới hạn.
Ngược với Mỹ, gần như không bao giờ những thùng gỗ sồi còn mới được sử dụng để trữ mà chỉ những thùng trước đó chứa Bourbon hay Sherry, trong vài trường hợp riêng lẻ là những thùng chứa rượu Porto hay Rum (trường hợp ngoại lệ duy nhất: "Glenfiddich Solera Reserve" – một phần của loại Whisky này được trữ chín mùi trong một thời gian ngắn trong các thùng mới). Được sử dụng chủ yếu là các thùng gỗ sồi (Quercus alba) từ Mỹ mà vừa trữ Whiskey Mỹ xong. Đầu tiên xuất phát từ nguyên do phí tổn, ngày nay việc này trở thành một phần quan trọng trong truyền thống của Whisky vì việc này mang lại cho tất cả các loại Whisky một phần lớn vị đặc trưng của chúng. Ngoài ra việc trữ trong các thùng mới không khuyến khích đặc tính riêng biệt của một Single-Malts vì vị vanill-caramel đặc trưng của Bourbon Whiskey sẽ phủ trùm lên các tính chất này. Nguyên nhân phí tổn vẫn còn đóng một vai trò quan trọng: giá một thùng từ Mỹ vào khoảng 30 Euro trong khi thùng từ Tây Ban Nha là 300 Euro. Các thùng đã chứa Sherry từ Tây Ban Nha (Quercus robur) rất thích hợp cho loại Whisky "ngọt" của Speyside trong khi loại thùng gỗ sồi Mỹ đã chứa Bourbon được dùng cho Whisky của các đảo vì hương khói. Hãng làm thùng Speyside Cooperage tại Craigellachie đóng hằng năm khoảng 100.000 thùng gỗ sồi và sửa chữa thùng cho những lò nấu rượu lân cận. Trong năm 2004 vào khoảng 18 triệu thùng Whisky được trữ tại Scotland.
Whisky trong thùng, tùy theo độ mạnh lúc vô chai và thời gian trữ theo lệ thường có đến 70 phần trăm thể tích, được pha loãng với nước đến nồng độ uống. Loại vô chai không pha loãng, trực tiếp vô chai với độ mạnh của thùng và vì vậy hay có mùi thơm nồng hơn, ngày càng được ưa chuộng.
Scotland xuất khẩu hằng năm 700 triệu chai Whisky, chủ yếu là sang Mỹ, Pháp, Tây Ban Nha và Nhật.
=== Whiskey Ireland ===
Nhiều yếu tố khác nhau trong quá khứ đã dẫn đến sự tập trung cao độ trong ngành sản xuất Whiskey trên toàn đảo Ireland. Hiện nay người ta chỉ còn sản xuất đáng kể gần 100 loại khác nhau tại 3 địa điểm. Irish Distellers Group, từ 1987 thuộc về nhóm Pernod Ricard của Pháp, sản xuất trong một nhà máy công nghiệp hiện đại tại Midleton, quận Cork ở miền Nam của Cộng hòa và song song với nhà máy này là tại quận Antrim ở Bắc Ireland. Antrim là địa điểm của lò nấu rượu nổi tiếng Old Bushmills, được thành lập năm 1608 hay 1784, là lò nấu rượu lâu đời nhất vẫn còn sản xuất trên thế giới. Tại Midleton nhiều loại Whiskey John Jameson khác nhau được sản xuất từ năm 1780, thí dụ như Paddy và nhiều thương hiệu nhỏ hơn khác cho thị trường Ireland như John Power và Tullamore Dew là nhãn hiệu đặc biệt được biết đến nhiều tại Đức và Đan Mạch. Cooley Distillery, độc lập và sáng tạo, vừa được thành lập năm 1987 tại Riverstown gần Bắc Ireland đóng một vai trò đặc biệt và mới đây vừa qua nhiều thương hiệu cũng được sản xuất tại hãng này.
Khách tham quan có thích thú về Whiskey Ireland có thể đến tham quan lò chưng cất biểu diễn Old Jameson tại Midleton cũng như bắt đầu từ năm 1997 là trong trung tâm thành phố Dublin, tại Smithfield Village, Bow Street. Bên cạnh đó cũng có thể tham quan Lockes Distillery tại Kilbeggan. Các thiết bị lịch sử được trưng bày và thông tin về lịch sử của Whiskey được cung cấp trong lò nấu rượu đã ngưng hoạt động từ năm 1953 này.
Theo lệ thường thì lửa than bùn không được sử dụng cho Whiskey Ireland, vì thế mà Whiskey Ireland nhẹ (gần như ngọt) hơn các Whisky Schottland phần nhiều có hương khói. Whiskey Ireland được chưng cất theo truyền thống 3 lần. Ngược với Whisky Scotland, ngoại trừ một ít trường hợp ngoại lệ, nói chung là được chưng cất 2 lần. Ngược với việc sử dụng cái gọi là Coffey-Still cho việc sản xuất Grain-Whisky, các lượng cần thiết để pha trộn được sử dụng trong những Pot-Stills tại Ireland.
Whiskey Ireland phần nhiều là blend, thế nhưng trong thời gian vừa qua Single Malts cũng được chào mời nhiều hơn. Pure Pot Still là tên gọi chất lượng thêm miêu tả việc sử dụng duy nhất một thiết bị chưng cất pot still.
Việc pha trộn (blend) Whiskey Ireland khác với việc pha trộn Whisky Scotland trước tiên là ở chỗ thông qua việc kết hợp nhiều quy trình làm chín mùi khác nhau trong nhiều loại thùng khác nhau (thùng Sherry, Bourbon, rượu vang Porto để có ảnh hưởng đến khẩu vị. Vì thế mà người ta cũng gọi blend ở Ireland là vatting (từ vat trong tiếng Anh, có nghĩa là "thùng trộn").
Các blend nổi tiếng là:
Crested Ten
Inishowen
Jameson
Midleton Very Rare
Paddy
Tullamore Dew
John Power & Son
Các Single Malt nổi tiếng là:
Bushmills
Connemara
Locke's 8 Year Old
Tyrconnell
Red Breast
=== Whiskey Mỹ ===
Whiskey Mỹ được sản xuất từ lúa mạch đen, bắp, lúa mạch hay hiếm hơn là lúa mì, thành phần của các loại ngũ cốc khác nhau tùy theo vùng.
Bourbon là loại Whiskey phải được sản xuất từ ít nhất là 51% bắp, thường được dùng là một thành phần bắp khoảng 65% đến 75% trong nước ủ rượu. Ngoài ra còn có thời gian lưu trữ được quy định theo pháp luật là 2 năm trong những thùng mới từ gỗ sồi trắng, bên trong được đốt thành than. Việc sử dụng thùng gỗ sồi mới mang lại một phần lớn vị ngon cho Bourbon thật ra không được dùng vì lý do khẩu vị mà là vào đầu thế kỷ 20 chính phủ muốn giúp đỡ kinh tế cho những vùng kém phát triển có nhiều rừng (thí dụ như Arkansas). Bourbon Whiskey có được độ chín mùi chỉ sau vài năm nhờ vào gỗ mới của thùng và điều kiện khí hậu của vùng sản xuất. Tên gọi xuất phát từ quận Bourbon ở Kentucky.
Rye Whiskey hay đơn giản chỉ là Rye là anh em của Bourbon được nhiều người sành điệu diễn tả là mạnh hơn và thơm hơn, nước ủ rượu của Rye phải chứa ít nhất là 51% lúa mạch đen. Rye là Whisky khởi đầu trên toàn Bắc Mỹ. Chỉ đến cuối thời kỳ cấm rượu Rye mới bị Bourbon hay Tennessee Whisky vượt qua về mức độ ưa chuộng và ngày nay gần như là một loại hiếm.
Tennessee Whiskey từ Tennessee có nguồn gốc ít nhất là 51% từ bắp và ít nhất là 20% từ lúa mạch đen, lúa mì hay lúa mạch. Trước khi được đưa vào thùng trữ Tennessee Whiskey được lọc qua than gỗ làm cho Whiskey này rất êm dịu. Phương pháp này được gọi là charcoal mellowing, leaching hay chính xác là Lincoln County Process. Than gỗ này được sản xuất từ cây gỗ thích (Acer)
Corn Whiskey là Whiskey làm từ bắp với ít nhất là 80% phần bắp trong nước ủ rượu. Whiskey được phép chưng cất tối đa đến 80% và phải trữ ít nhất là 2 năm trong thùng gỗ sồi mới hay đã qua sử dụng, không được đốt thành than.
Những hiệu nổi tiếng:
Jim Beam (Bourbon, Rye)
Wild Turkey (Bourbon, Rye)
Bernheim (Bourbon, Rye)
Four Roses (Bourbon)
Buffalo Trace (Bourbon, trước đây là Ancient Age)
Labrot & Graham (Bourbon)
Van Winkel (Bourbon)
Jack Daniel's (Tennessee Whiskey)
George Dickel (Tennessee Whisky)
Maker's Mark (Kentucky Straight Bourbon Whisky)
Maker’s Mark được sản xuất từ năm 1953 ở gần Loretto, Kenticky, từ gia đình nấu rượu Samuels với số lượng tương đối nhỏ (20 đến 40 thùng một ngày). Trong giới những người yêu thích thì đây là loại Bourbon "thanh lịch" nhất.
Southern Comfort, thỉnh thoảng được gọi là Whiskey, thuộc vào các rượu mùi-Whiskey. Đây là một sự pha trộn từ Bourbon và rượu mùi làm từ trái đào có thêm trái đào, chanh và gia vị. Năm 1874 người đứng bar Martin Wilkes Heron ở New Orleans phát minh ra một loại cocktail với tên Cuffs and Buttons như là loại tương phản với Hats and Tails đang được ưa chuộng lúc bấy giờ và bán trên thị trường từ năm 1889 một cải tiến loại cocktail này dưới tên Southern Comfort.
== Yếu tố kinh tế Whisky ==
Tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trong năm 2004 có trên 11.000 người làm việc trong ngành công nghiệp Whisky, thêm vào đó còn khoảng 57.000 người trong công nghiệp cung cấp phụ thuộc trực tiếp. Trên 953 triệu chai Whisky đã được bán, trong đó là 55 triệu chai Single Malt và mang lại cho quốc gia vào khoảng 800 triệu Bảng Anh) thu nhập từ thuế rượu. Doanh thu từ xuất khẩu Whisky là hơn 2 tỉ Bảng Anh, trên 90% là từ Blended Whisky.
== Thưởng thức Whisky ==
Whisky như là một hình thức đặc biệt của rượu mạnh thông thường được uống để thưởng thức. Đóng góp vào đó trước tiên là những chất mang lại vị và hương thơm có bên trong. Vì thế mà nhiều phương pháp khác nhau có thể tham gia vào việc tăng độ thưởng thức của Whisky bằng cách tăng cường giải phóng những chất này.
Có thể đạt đến bằng cách pha loãng với nước. Phần nhiều các Whisky trên thị trường với 40 hay 43 phần trăm thể tích đã được pha loãng với nước trước đó đến độ mạnh có thể uống được. Việc giảm thêm nồng độ rượu trong ly đến khoảng 35% hay được khuyên nhủ, điều mà đặc biệt là tiếp tục giải phóng thêm hương thơm. Các loại Whisky được đong vào chai với độ mạnh của thùng (trong khoảng 60 phần trăm thể tích) thường quá mạnh để có thể uống không thêm nước. Qua việc cho thêm nước độ mạnh của rượu được giảm đi và những chất thơm của Whisky được giải phóng. Ngay người Scot và người Ireland cũng thường uống Whisky của họ với tỉ lệ pha loãng vào khoảng 1:1, việc phục vụ Whisky với một ly/bình nước là bắt buộc ở đấy.
Ngoài ra Whisky cũng thường được uống có thêm nước đá (Whisky on the rocks). Điều này thông thường làm giảm hương thơm vì một phần lớn các chất cho hương thơm (rượu trung bình, este, phênol) bị lắng xuống do nhiệt độ lạnh, Whisky trở nên đục thấy rõ.
Người ta nên dùng Whisky ngon để pha chế cocktail nhưng Single Malts thì gần như là quá phí. Các Whisky này chỉ thích hợp một phần vì đặc tính có mùi khói. Các loại nhẹ hơn như Whisky Canada thích hợp tốt hơn. Bourbon Whisky được sử dụng trong cocktail chua (sour) vì vị những Whisky khác hài hòa không tốt với phụ gia chua.
== Tham khảo ==
Dillmann, Clemens: W wie Whisky (W như Whisky).
Dillmann, Clemens: W wie Whiskey - Irish Whiskey (W như Whisky –Whisky Ireland).
Gabanyi, Stefan: Schumann's Whisk(e)y Lexikon (Thuật ngữ Whisk(e)y của Schumann). Collection Rolf Heyne, Oktober 2002.
Jackson, Michael: Malt Whisky. Heyne-Verlag 2004.
Jackson, Michael: Whisky - Für Genießer und Sammler (Whisky – Dành cho người thưởng thức và người sưu tầm). Verlagsgruppe Weltbild 2005.
Kirsch, Harald: Harry's (in)complete Guide to independent Bottlers of Single Malt Scotch Whisky.
Lüning, Theresia: Das elektronische Whisky-Buch (Sách Whisky điện tử), Seeshaupt 2004.
McLean, Charles: Malt Whisky. Collection Rolf Heyne 2003.
Murray, Jim: Classic Bourbon, Tennessee & Rye Whiskey. Hädecke Verlag 1998.
Murray, Jim: Die großen Whiskys der Wel (Các Whisky lớn của thế giới), Weltbild Verlag 1998
Schobert, Walter: Das Whisky Lexikon (Thuật ngữ Whisky). Verlagsgruppe Weltbild 2004
Schobert, Walter: Single Malt Notebook. Walter Hädecke Verlag 2003.
Setter, Jürgen: Whisk(e)y World Wide. Verlag Friesland 2004.
== Xem thêm ==
Cô nhắc
Vodka
Sâm panh
Rượu vang
Cocktail
Chứng nghiện rượu
== Liên kết ngoài ==
Whisky, by Ulf Buxrud (tiếng Anh)- Trang Web của một nhà sưu tầm người Thụy Điển
Scotland: Hãng rượu và Whisky (tiếng Anh/tiếng Pháp)
Whisky Magazine Online (Tiếng Anh) -- Whiskies of the world...
Rượu Cognac - Brandy
Nói thêm về Rượu
Ngày Xuân kể chuyện Rượu
Văn hóa uống rượu của người Trung Quốc |
wallis và futuna.txt | Wallis và Futuna, tên chính thức Lãnh thổ quần đảo Wallis và Futuna (tiếng Pháp: Wallis-et-Futuna [walis.e.fytyna] hay Territoire des îles Wallis-et-Futuna, tiếng Wallis và tiếng Futuna: Uvea mo Futuna), là một lãnh thổ hải đảo thuộc Pháp tại Thái Bình Dương, giáp Tuvalu về phía tây bắc, Fiji về phía tây nam, Tonga về phía đông nam, Samoa về phía đông, và Tokelau về phía đông nam. Dù đều là lãnh thổ châu Đại Dương thuộc Pháp, Wallis và Futuna được quản lý riêng biệt với Polynésie thuộc Pháp.
Diện tích đất là 142,42 km2 (54,99 sq mi) với dân số trên 12.000. Mata-Utu là thủ phủ và thành phố lớn nhất. Lãnh thổ gồm ba núi lửa nhiệt đới lớn cùng một số đảo nhỏ, được chia thành hai nhóm đảo nằm cách nhau 260 km (160 mi), là quần đảo Wallis (Uvea), và quần đảo Hoorn (tức quần đảo Futuna, gồm đảo Futuna và đảo Alofi).
Từ năm 2003, Wallis và Futuna là một cộng đồng hải ngoại (collectivité d'outre-mer, viết tắt COM) của Pháp. Từ năm 1961 tới 2003, nó là lãnh thổ hải ngoại (territoire d'outre-mer, viết tắt TOM).
== Xem thêm ==
Địa hạt và lãnh thổ thuộc Pháp
Các vùng hành chính thuộc Pháp
Đảo thuộc Pháp ở Đại Tây Dương và Ấn Đọ Dương
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Official website (tiếng Pháp)
Open Directory Project - Wallis and Futuna directory category
Map of Wallis and Futuna, with district boundaries
(tiếng Pháp) Information about Wallis and Futuna
(tiếng Pháp) Uvea mo Futuna Wallis and Futuna online magazine
(tiếng Pháp) Pictures of Wallis |
mclaren f1.txt | McLaren F1 là mẫu xe Ô tô thể thao được thiết kế và sản xuất bởi Gordon Murray và McLaren Automotive. Loại xe này đã thiết lập kỷ lục xe chạy nhanh nhất thế giới vào ngày 31 tháng 3, năm 1998 với vận tốc 391 km/h (240 mph). Kỷ lục này được giữ cho dến tháng 4, năm 2009.
== Khả năng tăng tốc ==
0–48 km/h (30 mph): 1.8 s
0–97 km/h (60 mph): 3.2 s
0– 160 km/h (100 mph): 6.3 s
0–200.01 km/h (124.28 mph): 9.4 s
0–240 km/h (150 mph): 12.8 s
0–320 km/h (200 mph): 28 s
48 km/h (30 mph) - 80 km/h (50 mph): 1.8 s, sử dụng số thứ 3/4 số
48 km/h (30 mph) - 110 km/h (70 mph): 2.1 s, sử dụng số thứ 3/4 số
64 km/h (40 mph) - 97 km/h (60 mph): 2.3 s, sử dụng số thứ 4/5 số
80 km/h (50 mph) - 110 km/h (70 mph): 2.8 s, sử dụng số thứ 5
290 km/h (180 mph) - 320 km/h (200 mph): 7.6 s, sử dụng số thứ 6
0–400 m: sau 11.1 s tại tốc độ 222 km/h (138 mph)
0–1000 m: sau 19.6 s tại tốc độ 285 km/h (177 mph)
== Tốc độ tối đa ==
Hạn chế vòng tua bật: 372 km/h (231 mph)
Không hạn chế số vòng tua: 390 km/h (240 mph)
== Tham khảo == |
người tà ôi.txt | Người Tà Ôi, còn gọi là Tôi Ôi, Pa Cô, Ba Hi hay Pa Hi, là một dân tộc cư trú ở vùng trung Việt Nam và nam Lào.
Người Tà Ôi nói tiếng Tà Ôi, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Ka Tu trong ngữ tộc Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á.
Tại Việt Nam người Tà Ôi là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.
== Dân số và phân bố ==
=== Tại Việt Nam ===
Tại Việt Nam, theo số liệu điều tra dân số năm 1999 thì người Tà Ôi có số dân khoảng 34.960 người sinh sống tập trung ở khu vực miền núi phía Tây miền trung Việt nam, trong địa phận các huyện A Lưới thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế và hai huyện Hướng Hóa và Đa Krông thuộc tỉnh Quảng Trị. Theo ước tính của Ủy ban dân tộc Việt Nam thì dân số năm 2003 khoảng 38.946 người.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Tà Ôi ở Việt Nam có dân số 43.886 người, có mặt tại 39 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Tà Ôi cư trú tập trung tại các tỉnh: Thừa Thiên-Huế (29.558 người, chiếm 67,35% tổng số người Tà Ôi tại Việt Nam), Quảng Trị (13.961 người, chiếm 31,81% tổng số người Tà Ôi tại Việt Nam), Thanh Hóa (37 người), Quảng Nam (33 người)...
=== Tại Lào ===
Tại Lào, theo ước tính của Ethnologue thì có khoảng 30.876 người Tà Ôi (Ethnologue ghi là theo điều tra dân số năm 1995 của Lào) sinh sống tại các huyện Samouay, Ta Oy,... tỉnh Saravan, và huyện Nong tỉnh Savannakhet.
== Tổ chức cộng đồng ==
Làng người Tà Ôi theo truyền thống thường có một ngôi nhà công cộng kiểu nhà rông dựng giữa làng: có vùng lại chỉ có ngôi "nhà ma" dựng ngoài rìa khu gia cư để hội tụ dân làng khi có lễ hội và sinh hoạt chung.
Từng dòng họ người Tà Ôi có riêng tên gọi, có kiêng kỵ nhất định, có truyền thuyết lý giải về tên gọi và điều kiêng cữ ấy. Con cái đều lấy họ theo cha, chỉ con trai được thừa hưởng gia tài. Trưởng họ đóng vai trò quan trọng trong cả việc làng.
Người Tà Ôi trước đây làm rẫy là chính, gần đây ở một số nơi họ làm ruộng nước, có vườn cây ăn quả, đào ao thả cá.
=== Hôn nhân gia đình ===
Thanh niên nam nữ Tà Ôi tự do tìm hiểu nhau qua tục đi "sim" tình tự nơi chòi rẫy. Họ trao vật làm tin cho nhau, rồi nhà trai nhờ người mai mối. Sau lễ cưới, cô dâu trở thành người nhà chồng. Việc kết hôn giữa con trai cô với con gái cậu được khuyến khích, nhưng nếu trai họ A đã lấy vợ ở họ B, thì trai họ B không được làm rể họ A mà phải tìm vợ ở họ C.
=== Tục lệ ma chay ===
Người Tà Ôi có tục người chết được vài năm, dòng họ sẽ tổ chức cải táng, lúc này mới làm nhà mồ đẹp, trang trí công phu và dựng tượng quanh bờ rào mồ.
== Văn hóa ==
Người Tà Ôi có nhiều tục ngữ, ca dao, câu đố, có nhiều truyện cổ kể các chủ đề phong phú: nguồn gốc tộc người, nguồn gốc dòng họ, cuộc đấu tranh giữa kẻ giàu với người nghào, giữa cái thiện với cái ác, tình yêu chung thủy v.v... Dân ca có các điệu Ka-lơi, Ba-boih, Rơin và đặc biệt là điệu cha chấp trữ tình. Chiêng, cồng, đàn, sáo, kèn, trống, khèn là những loại nhạc cụ thường gặp ở vùng của người Tà Ôi.
=== Nhà cửa ===
Nhà ở của người Tà Ôi là nhà sàn dài phổ biến tại nhiều vùng Trường Sơn - Tây Nguyên. Nhìn bề ngoài, nhà Tà Ôi kể cả nhà sàn và nhà đất đều có nó hình mai rùa và đều có "sừng" trang trí hình hai đầu chim cu tượng trưng cho tình yêu quê hương và tâm tính hiền hòa của dân tộc.
Tổ chức mặt bằng sinh hoạt của nhà ở thống nhất trong toàn dân tộc. Trung tâm của ngôi nhà là căn mong: nơi thờ tự, tiếp khách, hội họp chung của mọi thành viên trong nhà. Diện tích còn lại được ngăn thành từng buồng (bài hát của a): chỗ ở và sinh hoạt của các gia đình. Thông thường thì các buồng được bố trí thành hai hàng theo chiều dọc. Ở giữa là hành lang dành để đi lại. Đến nay ở những nhà đất người ta vẫn duy trì bố cục bên trong nhà như vậy.
=== Trang phục ===
Cá tính tộc người không rõ nét, nổi bật mà có sự giao thoa của nhiều yếu tố văn hóa khác trên trang phục. Đồ trang sức bằng đồng, bạc, hạt cườm, xương là phổ biến. Tục cà răng, căng tai, xăm mình, để tóc lá bài trước trán đã phai nhạt đi.
Trang phục nam: Nam giới đóng khố, mặc áo hoặc ở trần.
Trang phục nữ: Phụ nữ có áo, váy, có nơi dùng loại váy dài kéo lên che ngực thay áo.
=== Nhà dài ===
Sau năm 1975 nhà nước Việt Nam có chủ trương xóa bỏ nhà dài, tách thành những hộ riêng biệt vì vậy cho tới nay nhà dài ở vùng người Tà Ôi không còn nữa. Vào năm 1973 khi chuyển cư về Việt Nam làng A Hươr có 3 ngôi nhà dài. Theo lời kể của những người trong làng: trước đây mỗi họ ở một ngôi nhà dài, những họ đông có tới trên 20 hộ sinh sống trong một nhà dài. Mỗi hộ có tới 5-6 người có bếp lửa riêng.
Gian khách được bố trí ở giữa nhà dài, gọi là moong. Hai đầu hồi của nhà đều có cầu thang chính bắc lên nhà. Cầu thang chính thường được dùng để đón khách. Ở mỗi hộ có các cầu thang phụ nhỏ bắc vào sườn nhà đi vào từng hộ. Mỗi hộ có một bếp (apoh) riêng. Tại gian khách cũng bố trí một bếp lửa. Trước đây khi nhà dài có khách đến thăm thì 4 hộ ở xung quanh gian khách là những hộ tiếp khách đầu tiên, sau đó mới đến các hộ tiếp theo lần lượt mang thức ăn đến phòng khách mời khách ăn uống. Đây còn là nơi để cho khách ngủ đêm lại. Những hộ ở gần gian khách có nhiệm vụ thông báo cho các hộ khác để tiếp khách. Khách đến được mời hút thuốc, uống rượu, được mời ăn mía, chuối, lạc, được mang chiếu và gối để ở. Khách ăn cơm có các hộ xung quanh nhà lần lượt mang cơm đến, khách ngủ dậy được mang bầu nước để rửa mặt, sau đó được mời ăn sáng.
Tại những cột nhà dài người ta treo sừng trâu, sừng bò sau mỗi lần gia đình nào đó tổ chức hiến tế. Trước đây người Tà Ôi tại làng có quy định rằng nếu trường hợp một đôi vợ chồng đến thăm làng và nghỉ đêm ở lại chỉ có người chồng được nghỉ ở gian khách còn người vợ sẽ đựợc gửi đến một hộ nào đó để nghỉ. Gian khách của ngôi nhà dài còn là nơi diễn ra các hoạt động chung của làng. Trong phòng khách còn có cây cột to (âr rông mông), nơi để chum rượu lớn buộc vào đó cho chắc chắn.
Tất cả của cải như chum, trống, thanh la, v.v. đều để ở gian khách, không bao giờ xảy ra trường hợp mất hay cầm nhầm. Nếu có việc lớn như tổ chức lễ aja cũng đưa khách về ở gian khách. Gian khách cũng là chỗ thanh niên, ở chỗ đó có chăn chiếu riêng cho thanh niên. Tổ chức việc uống rượu vào dịp khánh thành nhà, cưới xin, mừng con rể, đàn ông vui chơi... đều diễn ra ở gian giữa, đàn bà nấu nướng ở các nơi.
Khi trong nhà có người chết người ta đưa người chết ra bằng lối cửa phụ, không đưa ra lối hành lang vì sợ xui xẻo, bệnh tật ảnh hưởng đến các hộ khác. Khi khách sẽ dọn dẹp đồ đạc trong từng hộ gia đình.
Ở giữa nhà dài là hành lang (ka nang) đi lại dọc theo ngôi nhà dẫn đến từng hộ gia đình. Đây là chỗ thông thoáng không để bất cứ đồ đạc gì trên khoảng không đó, kể cả việc ngồi trên hành lang cũng không được phép, ông già làng là người thường xuyên nhắc nhở công việc đó. Khi một hộ gia đình có con trai lớn lấy vợ mà chưa có điều kiện nối thêm nhà dài thì đôi vợ chồng đó vẫn ở chung với bố mẹ. Ở với cha mẹ chừng một năm khi đã có con cái thì tách khỏi bố mẹ và nối thêm chiều dài của ngôi nhà sau khi xin ý kiến của tập thể. Ví dụ ở ngôi nhà dài hộ A có con lấy vợ, sau đó đôi vợ chồng đó sinh con. Làng sẽ làm thêm một gian ở phía đầu hồi và xin cho hộ kế tiếp với hộ A chuyển dịch ra phía đầu hồi, cứ như thế đối với các hộ tiếp theo. Phụ nữ không được đi theo lối hành lang của ngôi nhà khi vào gian khách trừ khi mang thức ăn cho khách, và không được ăn tại nhà khách.
Ở giữa ngôi nhà dài người Tà Ôi thường làm một cái thang đi lên gian khách. Cầu thang này chỉ có đàn ông và khách mời mới được đi lại, phụ nữ không được phép sử dụng cầu thang này như lối lên.
Phụ nữ khi sinh nở được làm một cái lán nhỏ bằng cách đan một cái sạp bằng tấm liếp quây xung quanh để che chắn gió. Sau khi sinh khoảng một tuần đó cũng là nơi tắm giặt cho sạch sẽ.
Mặt bằng sinh hoạt ngôi nhà dài
Bếp của mỗi hộ sẽ được làm ở giữa nhà, phía trên có một giàn treo, chỗ ngủ của gia đình là sàn nhà. Khi ngủ người ta xoay chân về phía bếp lửa. Cho đến năm 1972 khi làng chuyển về Việt Nam định cư thì cách nằm ngủ của phần lớn người Tà Ôi vẫn như vậy. Củi dùng để nấu nướng hay sưởi ấm được người phụ nữ Tà Ôi kiếm, lượm mỗi khi đi nương rẫy hoặc đi rừng, một vài bó củi đun để xung quanh bếp, phần lớn số củi còn lại để dưới gầm sàn. Sàn nhà cao 1,50 m. Phía dưới sàn người ta quây các chuồng nhỏ để nuôi gia cầm. Kho thóc không được làm gần nhà dài mà được làm ở ngoài bìa rừng, người Tà Ôi sợ hỏa hoạn sẽ làm cho kho thóc cháy sẽ mất nguồn lương thực. Thóc ăn hàng ngày được để trên gác mái nhà dài. Đồ đạc quý hiếm được để trong các Krúh - một loại gùi đan hình trụ có nắp - được đặt gần vách nhà hoặc treo trên mái.
=== Nhà ở ===
Nhà ở theo theo lối truyền thống hiện nay rất hiếm, kiểu nhà truyền thống được người Tà Ôi gọi là doang.
Khi chọn được một mảnh đất ưng ý với các tiêu chí như sau: đất bằng phẳng, gần nguồn nước, gần chỗ ở người dân cùng làng, chủ nhà tiến hành việc xem các thần có cho phép mình ở chỗ đất đó hay không. Người ta chọn từ 6 đến 10 hạt gạo rồi đào trên mảnh đất đó một lỗ nhỏ, bỏ gạo vào lỗ đó và thắp hương. Khi hương cháy hết, chủ nhà lấy hạt gạo ra xem. Nếu các thần cho phép dựng nhà ở chỗ đó thì hạt gạo không bị gãy, bị hỏng, trường hợp không được phép hạt gạo sẽ thành bột, bị gãy, vụn.
Nhà người Tà Ôi được dựng ở phía chếch Mặt Trời, khi Mặt Trời lên cao ánh sáng chiếu thẳng vào hướng cửa nhà là không tốt. Trước đây nhà người Tà Ôi được làm trước tháng 6 để tránh mưa gió. Khi dựng cột nhà phải xem giờ, khoảng 4-5 giờ sáng, lúc Mặt Trời chưa mọc, chưa có chim hoặc hoẵng kêu, người Tà Ôi quan niệm thần nhà không thích nhiều tiếng động của chim thú sẽ gây ra rủi ro.
Ngày dựng cột chính, hương được thắp theo lối dân tộc, người ta dùng một cái giỏ có chân bỏ vào: 6 chén, thịt gà. Khi cúng già làng sẽ là người chủ tế, mọi người đứng ở xung quanh. Các trường hợp chuyển nhượng nhà sau khi mua cũng phải làm lễ cúng, ví dụ: nhà Kê Văn Tham mua của Hồ Viên Pả, khi chuyển về ở phải tổ chức lễ cúng, đồ cúng có: gà sống, tấm rèng, chén rượu.
Nhà được làm theo lối cổ truyền có chiều dài 5,40 m chiều rộng 4,20 m, tổng diện tích của nhà là 22,68 mét vuông. Trên một đơn vị diện tích mặt bằng đó bố trí các công năng của nhà như sau: Hai đầu hồi nhà phía đông và phía tây là phía cửa ra vào với cầu thang (kpong) đi lên, cửa chính có chiều cao 1m30 chiều rộng 70 cm. Phía tây có một bếp lửa hình vuông có chiều rộng 1m vuông làm chỗ nấu nướng, trên bếp có để một gác để ngô, sắn và các loại thức ăn. Đối diện với bếp lửa là chỗ nằm của ông chủ nhà có dải một chiếc chiếu làm nơi nằm ngủ. Nhà có 3 cửa sổ (a loang a be) có chiều cao dài 93 cm chiều rộng 66 cm. Nhà ở có 6 cột chính (non) các xà gắn kết với cột chính theo nguyên tắc ngòam, khi dựng nhà người Tà ôi cũng dựng những cột chính này đầu tiên. Sau đó là các xà dọc liên kết tạo thành khung nhà. Tiếp theo là các bộ kèo cột, các đòn tay (ploi). Mái nhà được lợp tranh, vách nhà (ner) được đan bằng lồ ô đập dập đan vào nhau. Nhà ông Quỳnh Vâng làm năm 1997 tại làng là ngôi nhà duy nhất tính đến thời điểm hiện nay được làm theo phương pháp cổ truyền.
== Tín ngưỡng ==
=== Hồn vía và các siêu linh ===
Người Tà Ôi quan niệm vạn vật đều có linh hồn, tín ngưỡng đa thần chi phối hầu hết các mặt trong cuộc sống của họ. Trong thế giới thần linh của người Tà Ôi trước tiên phải kể đến hồn.
Trước tiên là hồn, hồn được nằm ở khoảng từ ngực cho đến đầu khi người còn sống. Khi người chết rồi thì cũng chỉ có một hồn (avai ving) và hồn đó lang thang ở nghĩa địa. Khi người chết không bằng lòng với gia đình thì hồn này về quấy phá người sống. Trong các dịp cúng lễ hồn của người chết cũng thường về thông qua những giấc mơ (am bo) của người sống. Theo người Tà Ôi thì hồn được hóa thân như tiếng nói, hoặc hồn có thể tạo ra một sức mạnh tác động đến vật thể khác, ví dụ như hồn có thể về gõ cửa. Người Tà Ôi còn cho rằng người chết sau 3 ngày thì có thể quay trở về đòi của cải nếu không được người sống chia cho. Cũng từ cách suy nghĩ trên mà người Tà Ôi còn dùng cách rải tro ở trước cửa để nhìn thấy dấu chân của hồn về sau khi có người nhà chết. Năm 2003 khi ông Võ Dậu mất, bà Ka Dậu là vợ dùng tro rải trước thềm và thấy ông bước chân của ông in trên tro, đúng là ông đã về. Có nhiều người còn thấy hồn về với tiếng động như rót nước hoặc lấy thức ăn trong nồi. Người Tà Ôi nói sau khi chết 3 ngày, người chết mới thật sự biết mình mất, trước đó thì không biết, như một người mơ ngủ không tỉnh không say. Hồn xấu là những người chết thiêng, nhất là đàn bà chết do sinh nở, chết bị hổ vồ, người chết ở dạng này hay hiện ra mộ kêu khóc và trêu chọc người sống. Người chết có thể về xin các đồ vật như quần áo, gùi, dao... Lúc này gia đình của người chết có thể dùng lá chuối cắt thành hình chữ T thay cho áo, cắt hình chữ V thay cho quần. Người giàu có thì dùng 2 tấm vải vứt ra ngoài và nói tôi đã cho, đừng xin thêm và phải phù hộ cho tôi. Trường hợp không bằng lòng hồn có thể về làm cho người sống đau ốm, hoặc làm các công việc bị mắc nợ, không trôi chảy.
Ma (brau briêu) đây là loại ma rừng có thể phù hộ cho người sống tuy nhiên cũng có thể gây ra ốm đau bệnh tật. Theo người Tà Ôi thì ma brau briêu có thể sai khiến được hổ, rắn, muông thú để làm hại người.
Trước đây hàng năm người Tà Ôi có tổ chức cúng các giàng: trời (abang), thần đất (katek) thần rừng (krúm kaek). Tổ chức cúng trời đất phải 10-12 năm một lần, vì khi cúng phải có trâu. Khi làng giàu có, không có người chết, làng được bội thu tổ chức cúng tạ ơn. Các trường hợp làng bị bão lụt, thiên tai cũng tổ chức cúng thần trời, đất, nhà rông, nhà ở. Khi tổ chức đâm trâu cúng cho trời có 12 loại thức ăn, cúng đất là 8 loại thức ăn, cúng cho giàng kmưk là 5 loại thức ăn: trâu, lợn, gà, tiết canh, món nướng, món thái, làm canh làm xôi. Cơm được để trong chén và rót nước đót, có chum nhỏ và chén nhỏ rồi thắp hương.
=== Thần nước (giàng đak) ===
Thần nước được người Tà Ôi hình dung là một người đàn ông thấp, bé nhỏ có râu tóc bạc phơ. Thần nước còn có thể ban cho người dân nhiều cá ăn, trong truyền thuyết người Tà Ôi kể rằng thần nước tạo ra cá bằng cách bỏ hạt gạo vào lá chuối rồi đưa chỗ suối, những hạt gạo sẽ biến thành cá và người ta sẽ bắt được nhiều cá. Khi ở bên Lào các ông Quỳnh Say, Quỳnh Chay đã từng nhìn thấy thần nước ở chỗ đầu ngọn thác, gọi là Avó còn có nghĩa là bác thể hiện tôn trọng của người Tà Ôi (có thể họ chỉ hình dung như vậy). Thần nước có mối liên hệ đặc biệt với lễ khánh thành bến nước, lần đầu tiên khi làm bến nước, nước được dẫn về làng qua các ống lồ-ô, lúc này không người nào được sử dụng nước. Các trưởng họ và già làng đem con gà còn sống cầu mong cho nước ăn không đau bụng, nguồn nước không bao giờ tắt. Sau khi cúng xong giết gà bên nhà rông và lấy máu chôn ở chỗ có nước. Chỗ cột cuối cùng có vòi nước được làm rất đẹp và chôn máu gà (sôl rtang dak) được làm và sửa hàng năm. Nước lần đầu tiên khi sử dụng dân làng phải làm một con gà, một con lợn, một con dê không cho người làng khác được sử dụng. Lúc đó già làng sẽ làm lễ cúng mời thần nước (aul –avó dak).
=== Thần chỗ ở gia đình (giàng an teng) ===
Trước đây người Tà Ôi ở trong những ngôi nhà dài, mỗi gia đình sở hữu một gian trong ngôi nhà dài. Trong khoảng không gian đó người Tà Ôi đều thờ thần chỗ ở gia đình của mình. Thần chỗ ở gia đình thường xuất hiện từ giấc mơ của chủ nhà, khi ngủ người Tà Ôi mơ thấy thần chỗ ở gia đình nhập vào tấm khố, tấm rèng hay bất cứ đồ vật nào thì người ta sẽ bỏ đồ vật đó vào cái kang (một loại gùi được đan đặc biệt) và để ở góc nhà. Chủ nhà sẽ làm một con gà để làm lễ cúng nhập giàng an teng vào hộ gia đình mình. Kể từ thời điểm đó, bất cứ gia đình có công việc gì như đám ma, đám cưới, cúng thần rừng, thần nước thì đều tiến hành cúng thần nhà. Đặc biệt trong mỗi dịp gia đình có hoàn thành một công việc gì người ta đều cho rằng có sự trợ giúp của thần chỗ ở gia đình, trong các dịp bình thường khi cúng thì không cần mở kang có đồ vật mà giàng đã nhập vào. Trong năm chỉ có dịp dân làng tổ chức aja thì hộ gia đình đó mới mở kang để lấy đồ vật ra cúng, thường đồ vật này được mang ra nhà rông để làm lễ cúng. Khi kang-chỗ ngự trị của thần chỗ ở gia đình được đặt ở góc nhà khi làm lễ cúng, chủ nhà thường để cơm, gạo, thịt phía trước kang để cúng.
=== Thần nhà dài (giàng đanh) ===
Trong ngôi nhà dài có nhiều hộ gia đình sinh sống thì thần nhà dài (giàng đeng) ngự ở gian khách. Chủ nhà dài sẽ làm một cái nhà nhỏ để thần nhà ngự ở trong đó và treo ở dưới nóc nhà. Trong gia đình có người bị đau ốm hay xảy ra bất cứ công việc gì người ta cúng thần gia đình xong thì đều cúng thần nhà dài. Khi làng có dịp gì chủ nhà dài đều cúng thần nhà dài, trước đây có quy định các hộ trong nhà dài khi ăn dê, trâu, bò đều phải cầu cúng cho thần nhà dài được biết.
=== Thần hổ (giàng avó) ===
Trong hệ thống thú rừng của người Tà Ôi, con hổ được coi là con vật có sức mạnh nhất. Hổ được người Tà Ôi coi như vị thần bảo hộ cho làng. Việc bắt được hổ theo quan niệm của người Tà Ôi được ví như món quà tặng của thần rừng. Xuất phát từ giấc mơ ngẫu nhiên, trong làng có người làm loại bẫy to (tì hò), người chủ bẫy về đến nhà mơ thấy con hổ (a vó bok) báo mộng, khi đó người chủ bẫy mơ thấy hổ xin ở lại với làng. Khi hổ mắc bẫy người ta tổ chức cúng thần rừng với các đồ vật hiến tế như sôl, leo, chuẩn bị hạt mã não, tấm rèng. Việc tổ chức cúng tạ ơn thần rừng được làm chu đáo, sau đó người ta mới cắt đầu hổ rồi mang về làng. Một nhóm thanh niên làm nhà mồ cho hổ (ping a vó), khi làm xong nhà mồ thì chưa đặt đầu hổ vào bên trong. Làng tổ chức lễ hiến sinh bằng cách giết thịt một con dê, một con gà, một con lợn để khánh thành ngôi nhà mồ đó. Các đồ cúng được đặt trong mâm để trong nhà mồ. Chủ làng sẽ nói: hổ muốn ở lại làng phải bảo vệ làng không được để cho người chết, khi có xung đột, chiến tranh giữa các làng khác phải thông báo sớm qua giấc mơ. Nếu có người phá phách hoặc đốt làng, phải phạt người đó. Khi tiến hành việc cúng đầu hổ không cho phụ nữ mang thai vào nhà mồ, người khách lạ cũng không được vào. Nếu khách ở làng khác đến chơi phải báo trước cho chủ làng.
Hàng năm người ta vẫn đến tiến hành thăm nhà mồ có đầu hổ. Trong các thôn của xã Nhâm chỉ có làng Nhâm I còn có tục thờ thần hổ, làng Ka Linh, Tà Kêu trước đây ở bên Lào cũng có. Từ chiến tranh chống Mỹ cho đến nay người ta không còn giữ thủ tục này.
Vị trí của ngôi nhà mồ dành riêng cho hổ được chôn ở phía trên nhà mồ của người, không ai có quyền vào khu nhà mồ của hổ. Nhà mồ của hổ được rào bằng đá xung quanh. Ở giữa ngôi nhà mồ người ta để hòn đá, trên hòn đá người ta đặt chiếc đầu hổ, người ta cũng chia cho hổ các vật dụng như: vòng tay, bát đựng thức ăn, tấm rèng, sừng trâu, bò, hàm răng lợn. Các loại đồ thờ cúng này ông già làng phải phân bổ cho các hộ chuẩn bị.
Hàng năm khi người Tà Ôi tiến hành tổ chức ăn năm mới, hay cúng khánh thành nhà rông, thần hổ đều được chia phần, khi tuốt lúa mới phải thổi cơm dành phần cho thần hổ ăn. Một năm tổ chức vệ sinh cho khu nhà mồ hổ một lần, khách ngoài làng không được phép vào trong khu nhà mồ đó. Việc thờ đầu hổ xuất phát từ niềm tin rằng hổ sẽ báo mộng cho người ta biết làng sắp gặp chuyện chiến tranh, mất mùa, có dịch bệnh. Các điềm báo xấu đó thông qua giấc mộng đến với người trong làng. Trước đây ở bên Lào có nhiều trường hợp một làng thờ đến 2 đầu hổ.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
== Liên kết ngoài ==
Người Tà Ôi tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
kitô hữu.txt | Kitô hữu hay Cơ Đốc nhân, tín hữu Cơ Đốc là người theo Chúa Giê-su Ki-tô (Giê-xu Cơ Đốc) với niềm xác tín Chúa Giê-xu là Con Thiên Chúa, ngài sống cuộc đời trọn vẹn, không hề phạm tội và đầy dẫy tình yêu thương. Ngài chịu đóng đinh trên thập tự giá, đến ngày thứ ba ngài sống lại từ kẻ chết, sau đó ngài về trời.
Do đó, Cơ Đốc Nhân nên được hiểu là người tiếp nhận Chúa Giê-xu là Cứu Chúa của cuộc đời mình. Vì giá chuộc tội của chính bản thân người ấy đã được trả bằng cái chết, bằng huyết vô tội của Chúa Giê-xu.
Tín hữu Cơ Đốc tin rằng Chúa Giê-xu là con đường duy nhất dẫn đến sự cứu rỗi. Trong thư gởi tín hữu thành Ephesus, Sứ đồ Phao-lô viết, "Ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Thiên Chúa. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình" (Ephesians 2. 8,9). Tín hữu Cơ Đốc tin rằng không thể tự sức mình, hoặc nhờ vào công đức, mà đạt đến sự cứu rỗi, nhưng tiếp nhận sự cứu rỗi như một sự ban cho từ Thiên Chúa. Như vậy, việc lành được xem là kết quả tất yếu của nếp sống mới được soi dẫn bởi Lời Thiên Chúa.
Tín hữu Cơ Đốc xem đức tin của mình là thuộc Độc thần giáo, xác tín rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, ngoài Ngài không có thần linh nào khác. Theo đức tin Cơ Đốc, Thiên Chúa có ba ngôi: Chúa Cha (Nguồn của vũ trụ, Đấng Tể trị Vĩnh cửu); Chúa Con (Ngôi Lời, hóa thân thành người là Giê-xu người Nazareth); và Chúa Thánh Linh (Đấng An ủi hoặc Đấng Biện hộ). Theo ước tính, ngày nay có khoảng 2,1 tỉ tín hữu Cơ Đốc trên khắp thế giới, chiếm 33% dân số toàn cầu. Đại thể, cộng đồng Cơ Đốc giáo chia thành ba nhánh chính: Giáo hội Công giáo Rôma, Chính Thống giáo, và Kháng Cách.
== Từ nguyên ==
Thuật từ Cơ Đốc nhân hoặc Kitô hữu có nguồn gốc từ một danh hiệu của Chúa Giê-xu, Cơ Đốc hoặc Kitô (Christos), nghĩa là đấng chịu xức dầu để làm vua. Danh xưng này được tìm thấy trong Tân Ước, sách Công vụ Các Sứ đồ 11.26: "Ấy là tại thành Antioch, người ta bắt đầu gọi các môn đồ là Cơ Đốc nhân." (Hi văn Χριστιανός hoặc Χρηστιανός, Strong's G5546). Thuật từ này được dùng để chỉ những người được xem là môn đồ của Chúa Cơ Đốc.
Cơ Đốc nhân nghĩa là người thuộc về Chúa Cơ Đốc, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp Χριστός Khristós nghĩa là "Đấng chịu xức dầu", có nguồn gốc từ tiếng Hebrew Moshiach (tiếng Hebrew משיח, cũng được viết là "Messiah") nghĩa là Đấng Cứu thế. Tiếng Hebrew là ngôn ngữ duy nhất không sử dụng thuật từ Cơ Đốc nhân, nhưng thay thế thuật từ này bằng danh xưng người Nazareth (tiếng Hebrew:נוצרי Notzri), bởi vì Chúa Giê-xu đến từ xứ Nazareth, vì vậy ngài thường được gọi là Giê-xu người Nazareth (ישוע הנצרת, Yeshua Ha-Natzerat).
Trong Anh ngữ, Xian hoặc Xtian là hai thuật từ khác được dùng để gọi người theo Chúa Giê-xu; tương tự, nhiều người dùng thuật từ Xmas thay thế cho Christmas; Mẫu tự X hoặc Xt là viết tắt cho "Christ" ("X" từ mẫu tự X (Chi) trong tiếng Hy Lạp, là mẫu tự đầu tiên của danh hiệu Χριστός (Christos) của Chúa Giê-xu.
Thuật từ "Cơ Đốc nhân" được sử dụng trong các nhóm khác nhau, do đó có sự khác biệt đôi chút trong ý nghĩa của thuật từ đối với mỗi nhóm. Tín hữu thuộc Phong trào Tin Lành sử dụng thuật ngữ này theo một định nghĩa hẹp. Họ tin rằng Cơ Đốc nhân là người toàn tâm toàn ý theo Chúa Giê-xu, đức tin của người ấy phải được thể hiện trong đời sống vâng phục và hết lòng tuân giữ các giáo huấn của Kinh Thánh.
Tín hữu Cơ Đốc thường gia nhập một trong số những cộng đồng các giáo hội gọi là giáo phái, mỗi giáo phái có những nét đặc thù trong đức tin, thần học và tổ chức. Các giáo phái chú trọng đến giáo nghi gồm có Chính Thống giáo, Giáo hội Công giáo Rôma và Công giáo phương Đông, Anh giáo và cộng đồng các giáo hội Luther. Những giáo phái khởi nguồn từ cuộc Cải cách Kháng Cách gồm có Trưởng Lão, Giám Lý, Moravia, Baptist..., với niềm xác tín rằng danh xưng Cơ Đốc nhân là niềm vinh dự cho những người tuân giữ mạng lịnh của Chúa Giê-xu "Nếu ai muốn theo ta, phải liều mình vác thập tự giá mình mà theo ta" (Mark 8. 34). Đó là dấu chứng công khai họ là Cơ Đốc nhân, được thể hiện qua việc nhận lễ Báp têm trong danh của Cha, Con và Thánh Linh.
== Lịch sử ==
=== Thiên niên kỷ thứ nhất ===
Từ năm 64 đến 313 CN, Cơ Đốc giáo bùng phát mạnh mẽ trong lãnh thổ Đế quốc La Mã bất kể những nỗ lực từ giới cầm quyền cố trấn áp tôn giáo mới này. Ký thuật đầu tiên về thuật từ Cơ Đốc nhân là của Tacitus, khi ông thuật lại sự kiện Nero qui trách nhiệm cho các "Cơ Đốc nhân" trong vụ hỏa hoạn lớn tàn phá thành La Mã năm 64. Khoảng năm 200, một nhà lãnh đạo Cơ Đốc giáo, Tertullian, đã tuyên bố, "Huyết của những người tử đạo là hạt giống [của Hội thánh]", khi ông nói về hiện tượng săn đuổi và bách hại các tín hữu Cơ Đốc. Năm 313, Chiếu chỉ Milan chính thức chấm dứt sự bách hại. Dưới thời trị vì của Hoàng đế Constantine, giáo hội giành được nhiều ảnh hưởng chính trị. Năm 390, Hoàng đế Theodosius I tuyên bố Cơ Đốc giáo là quốc giáo của Đế quốc La Mã (Codex Theodosianus). Từ đó giáo hội bắt đầu xây dựng hệ thống tăng lữ nhằm củng cố cấu trúc tổ chức của giáo hội trải qua nhiều thế kỷ.
=== Thời kỳ Trung Cổ ===
Tại Âu châu trong thời kỳ Trung Cổ, Giáo hội Công giáo Rôma đạt đến đỉnh cao sức mạnh trong giáo quyền và thế quyền. Giáo hội và các tổ chức của giáo hội không chỉ hoạt động tích cực nhằm truyền bá thông điệp và các giá trị Cơ Đốc giáo qua nỗ lực của những nhà truyền giáo, mà còn sử dụng ảnh hưởng thống trị của giáo hội tại Âu châu để trở nên một thế lực chính trị cạnh tranh với các vương quyền. Hầu hết người dân thời ấy đều tỏ ra sùng tín, nhiều người dâng hiến đất đai, tiền bạc và các hình thức sở hữu khác cho giáo hội. Thời ấy, Giáo hoàng là nhân vật hết sức quan trọng tại châu Âu.
Sự giàu có của giáo hội được biểu thị qua những công trình kiến trúc như các đại giáo đường, trong khi các tu viện trở nên những trung tâm nghiên cứu và học thuật, được xem là tiền thân của các viện đại học đương đại. Tu viện cũng là nơi người dân thường tìm đến để có được những chăm sóc y tế.
=== Đương đại ===
Ở phương Tây, cuộc Cải cách Kháng Cách mang đến cho cộng đồng Cơ Đốc giáo ý niệm về quyền tự do giải thích Kinh Thánh và các giá trị Cơ Đốc khác, cũng như bác bỏ tính phổ thông của hội thánh hữu hình. Trong khi Giáo hội Công giáo Rôma tin rằng giáo hội là thánh thiện, duy nhất, công giáo và tông truyền, thì tín hữu Kháng Cách xác tín rằng đặc điểm của hội thánh chung là vô hình, nghĩa là chỉ bao gồm những người được chuộc bởi huyết của Chúa Giê-xu, và tên của họ được ghi trong "sách sự sống", ngụ ý một sự phân biệt rạch ròi giữa hội thánh vô hình và hội thánh hữu hình (các tổ chức giáo hội với những đặc điểm bất toàn của con người).
Phản ứng trước những áp lực cả từ bên trong (lòng sùng tín bị suy giảm và lãng quên), và từ bên ngoài (Phong trào Khai sáng gây tác hại đáng kể cho hội thánh) là nhân tố khởi phát các cuộc phục hưng tôn giáo phát triển mạnh mẽ tại những khu định cư ở Bắc Mỹ - được gọi là cuộc Đại Tỉnh thức – đã tạo những dấu ấn sâu đậm trên đức tin và sống đạo của các giáo hội thuộc cộng đồng Kháng Cách tại Bắc Mỹ cho đến ngày nay.
Phong trào truyền giáo bùng phát mạnh mẽ trong tất cả các giáo phái thuộc Cơ Đốc giáo nhằm thực thi sứ mạng Chúa Giê-xu phó thác cho hội thánh, được ký thuật trong Phúc âm Matthew 28. 19-20 ("Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh mà làm phép báp têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và này, ta thường ở cùng các ngươi cho đến tận thế"), đã giúp kiến tạo thế giới đương đại với sự hiện diện của tín hữu Cơ Đốc ở khắp mọi nơi trên đất.
Bên trong Cơ Đốc giáo nảy sinh những cộng đồng có các thành viên tham gia tích cực vào hiện tượng "nói tiên tri", và thực hành chữa bệnh bằng phép lạ (cùng những hiện tượng khác mà họ gọi là "ân tứ thuộc linh"), như đã ký thuật trong Kinh Thánh về thời kỳ hội thánh tiên khởi (sách Công vụ các Sứ đồ), và những khả năng đặc biệt của các nhà tiên tri trong Cựu Ước. Những người này được xem là thuộc Phong trào Ân tứ.
Những người bất đồng cho rằng các ân tứ này (được thể hiện bởi sự vận hành của Chúa Thánh Linh) đã chấm dứt kể từ khi vị sứ đồ cuối cùng từ trần, trong khi nhiều người khác tin rằng sự ban cho ân tứ vẫn tiếp tục nhưng chỉ xảy ra trong những tình huống đặc biệt, và chỉ ra những lạm dụng thường xuyên xảy ra trong vòng những người tự nhận mình "có ân tứ" như là minh chứng cho lập luận của họ.
== Bách hại ==
Theo dòng lịch sử của hội thánh, tín hữu Cơ Đốc thường xuyên chịu đựng nhiều sự bách hại. Ngay từ khi hội thánh mới thành lập, Stephen (Tê-pha-nô hoặc Ê-tiên), Phao-lô và mười trong số mười hai sứ đồ (theo những ký thuật ngoài Kinh Thánh) có tên trong số những người tử đạo đầu tiên. Cơ Đốc giáo bị xem là bất hợp pháp tại Đế quốc La Mã cho đến thế kỷ thứ ba, các hoàng đế La Mã buộc mọi thần dân (ngoại trừ người Do Thái) phải tham dự các nghi lễ sùng bái hoàng đế, và hiến dâng sinh tế cho các thần linh La Mã cũng như cho Hoàng đế. Đây là điều đi ngược lại đức tin độc thần của Cơ Đốc giáo. Khước từ tham gia cúng tế đồng nghĩa với tội phản quốc, và án phạt dành cho hành động này là tử hình. Một sự bách hại kéo dài có tổ chức lên đến đỉnh điểm trong thời trị vì của Diocletian và chỉ chấm dứt khi Chiếu chỉ Milan (năm 313) được ban hành.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Christianity, as defined by the Roman Catholic Church
Usage of "Christian" in the Bible
Christianity tại DMOZ
Christian Church in North central london |
phan huỳnh điểu.txt | Phan Huỳnh Điểu (sinh ngày 11 tháng 11 năm 1924 - mất ngày 29 tháng 6 năm 2015) là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu nhất của dòng nhạc cách mạng Việt Nam trong thế kỉ XX. Phần lớn các ca khúc của Phan Huỳnh Điểu là nhạc đỏ, nhưng ông cũng có nhiều ca khúc trữ tình đặc sắc. Ông được mệnh danh là "Con chim vàng của nền âm nhạc Việt Nam" và được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật vì những đóng góp của mình cho sự nghiệp âm nhạc Việt Nam. Rất nhiều các bài hát của ông có lời từ các tác phẩm thơ.
== Tiểu sử ==
Ông sinh ngày 11 tháng 11 năm 1924 tại Đà Nẵng. Ông cũng là người con thứ 11 trong một gia đình cha làm thợ may. Tuy sinh ra và lớn lên ở Đà Nẵng, nhưng nguyên quán gốc của ông ở Điện Bàn, Quảng Nam.
Ông bắt đầu hoạt động âm nhạc từ năm 1940 trong nhóm tân nhạc. Sau ca khúc đầu tay Trầu cau, sáng tác của ông được biết rộng rãi là bài Đoàn giải phóng quân viết cuối 1945. Một nhạc phẩm nổi tiếng khác của ông là Mùa đông binh sĩ được viết khoảng giữa thập niên 1940.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Phan Huỳnh Điểu gia nhập quân đội, công tác ở Liên khu 5. Thời gian này ông viết một số ca khúc như Nhớ ơn Hồ Chủ tịch, Quê tôi ở miền Nam...
Năm 1955, sau khi tập kết ra Bắc, ông công tác ở Ban Nhạc vũ, Hội Văn nghệ Việt Nam. Năm 1957, khi thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam, ông được cử vào Ban chấp hành là Ủy viên Thường vụ và công tác tại Hà Nội. Tháng 12 1964, Phan Huỳnh Điểu vào chiến trường Trung Trung Bộ ở trong Ban văn nghệ Khu. Thời gian đó ông viết bản hành khúc Ra tiền tuyến với bút danh Huy Quang.
Sau 1975, Phan Huỳnh Điểu chuyển về Hội Âm nhạc thành phố Hồ Chí Minh và sống ở đó. Ông đã sáng tác và công bố hơn 100 ca khúc, quá nửa trong số đó là các bài hát phổ thơ.
Âm nhạc của Phan Huỳnh Điểu có giai điệu trau chuốt, trữ tình, ngay cả trong thể loại hành khúc, như Cuộc đời vẫn đẹp sao, Hành khúc ngày và đêm. Phan Huỳnh Điểu còn có nhiều ca khúc về đề tài tình yêu thành công như Tình trong lá thiếp, Những ánh sao đêm, Bóng cây Kơnia, Anh ở đầu sông em cuối sông, Sợi nhớ sợi thương, Ở hai đầu nỗi nhớ, Đêm nay anh ở đâu, Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu, Người ấy bây giờ đang ở đâu, Tình ca Đămbri, Tia nắng... Ông đã phổ nhạc thành công cho rất nhiều bài thơ.
Ngoài ra, ông còn sáng tác một số tác phẩm dành cho thiếu nhi, tiêu biểu là: Đội kèn tí hon, Nhớ ơn Bác...
Những nghệ sĩ thể hiện thành công tác phẩm của ông có thể kể đến Nghệ sĩ Nhân dân Quốc Hương, Nghệ sĩ ưu tú Vũ Dậu và Nghệ sĩ ưu tú Tuấn Phong.
=== Qua đời ===
Sau khi có dấu hiệu không khỏe và sốt nhẹ vào ngày 23 tháng 6 năm 2015, ông được bác sĩ đến khám tại nhà và được thông báo bị thiếu máu. Sau đó, ông được nhập viện vào sáng thứ 26 tháng 6 trong tình trạng còn khỏe và tỉnh táo. Sau 2 ngày nhập viện, ông bị hôn mê sâu và qua đời vào lúc 10 giờ 15 phút sáng ngày 29 tháng 6 tại bệnh viện Thống Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh) vì sốt xuất huyết. Linh cữu của nhạc sĩ được quàn tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, Thành phố Hồ Chí Minh. và lúc 4h30 sáng 10 tháng 7, gia đình, người thân, bạn bè, văn nghệ sĩ... đã rải tro cốt của ông về với sông Hàn (Đà Nẵng) theo di nguyện của cố nhạc sĩ.
=== Tưởng niệm ===
Tối ngày 7 tháng 7 năm 2015, đêm nhạc tri ân, tưởng nhớ hai nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu và nhạc sĩ Phan Nhân do Báo Công an TP.HCM phối hợp với Ngân hàng BIDV và Nhạc viện TPHCM tổ chức đã diễn ra trong không khí hết sức ấm áp. Chương trình mở màn với nét viết hiện trên màn hình: “ngày 29 tháng 6 năm 2015” (ngày mất của hai nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu và Phan Nhân), hình ảnh điện tâm đồ, những trang nhạc, bút ngừng viết…Người thân, đồng nghiệp, bạn bè, những người yêu mến hai nhạc sĩ gạo cội của nền âm nhạc Việt Nam đã được thưởng thức lại ca khúc bất hủ đi cùng năm tháng của hai nhạc sĩ qua những phần trình bày hết sức tuyệt vời của các nghệ sĩ tham gia chương trình.
== Trích dẫn ==
Trong cuộc phỏng vấn đăng báo Thanh Niên ngày 27 tháng 4 năm 2006, nhạc sĩ nói: "Tôi cho rằng thơ phổ nhạc đạt đến mức độ cộng hưởng tâm hồn của nhạc sĩ và thi sĩ. Tìm thấy một bài thơ phù hợp, nhạc sĩ phổ nhạc và gửi gắm tâm trạng mình. Xét đến cùng, chất thơ trong ca từ của một nhạc sĩ thuần túy không thể bằng được chất thơ trong ca từ vốn là bài thơ của một nhà thơ. Nhà thơ chắt chiu từng con chữ, nhạc sĩ chăm chút từng nốt nhạc sẽ cho ra một tác phẩm toàn vẹn và đầy đặn. Bởi vậy, tôi hết sức thích phổ nhạc cho thơ. Thơ và nhạc như cặp anh chị em song sinh, thơ một cánh, nhạc một cánh cho tác phẩm bay lên..."
== Một số tác phẩm ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Nhạc sĩ PHAN HUỲNH ĐIỂU
Ca khúc Phan Huỳnh Điểu
NS Phan Huỳnh Điểu: Con chim vàng rực rỡ "ánh sao đêm"
== Liên kết ngoài == |
nội chiến.txt | Nội chiến là chiến tranh giữa các thành phần trong một nước hay quốc gia, giữa những người đồng bào cùng ngôn ngữ nhưng tranh chấp nhau vì nhiều lý do khác nhau: tôn giáo, chính trị, kinh tế, v.v...
== Nguyên nhân nội chiến theo mô hình Collier-Hoeffler ==
Các học giả điều tra nguyên nhân của cuộc nội chiến tập trung vào 2 lý thuyết đối nghịch nhau tham lam và bất bình (greed versus grievance). Theo đó: nguyên nhân của xung đột từ những người theo những khái niệm về sắc tộc, tôn giáo hoặc các mối quan hệ xã hội khác, hoặc xung đột bắt đầu do sức hấp dẫn kinh tế của những cá nhân và nhóm tiến hành xung đột đó? Phân tích học thuật hỗ trợ kết luận rằng các yếu tố cấu trúc và kinh tế có vai trò quan trọng hơn những yếu tố nhận dạng trong việc dự đoán sự xảy ra của nội chiến.
Các nghiên cứu toàn diện về nội chiến được một nhóm của Ngân hàng Thế giới thực hiện trong đầu thế kỷ 21. Khuôn khổ của nghiên cứu này được đưa ra thành mô hình được gọi là mô hình Collier-Hoeffler Model. Nghiên cứu chi 78 khoảng thời gian 5 năm liên tiếp khi cuộc nội chiến bắt đầu từ 1960 đến 1999, cũng như 1.167 khoảng 5 năm không có nội chiến để so sánh, và các dữ liệu được đưa vào phân tích hồi quy để thấy được ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau. Các yếu tố đã được chứng minh là có một tác động đáng kể đến khả năng một cuộc nội chiến có thể xảy ra trong bất kỳ khoảng thời gian năm năm cho trước:
Sẵn có về tài chính
Tỷ lệ cao hàng hóa thiết yếu trong xuất khẩu của một quốc gia tăng đáng kể nguy cơ của một cuộc xung đột. Một quốc gia tại "cao điểm nguy hiểm", các mặt hàng chiếm 32% GDP, có nguy cơ 22% rơi vào cuộc nội chiến trong khoảng thời gian năm năm cho trước, trong khi một quốc gia không có xuất khẩu hàng hóa cơ bản có rủi ro 1%. Khi phân tách thành các nhóm dầu khí và không có dầu khí cho thấy kết quả khác nhau: một quốc gia có mức độ phụ thuộc tương đối thấp vào xuất khẩu dầu khí có nguy cơ thấp hơn một chút, trong khi các nước có mức độ phụ thuộc cao vào xuất khẩu có nhiều nguy cơ xảy ra cuộc nội chiến hơn là những nước phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn hàng hóa thiết yếu khác. Các tác giả của nghiên cứu giải thích điều này như là kết quả của sự không ràng buộc mà hàng thiết yếu có thể bị chiếm giữ so với các hình thức thịnh vượng khác, ví dụ, rất dễ dàng để thu giữ và kiểm soát đầu ra của một mỏ vàng hay mỏ dầu so một lĩnh vực sản xuất hàng may mặc hoặc dịch vụ khách sạn.
Nguồn tài chính thứ 2 là từ diaspora quốc gia, nguồn này có thể tài trợ cho các cuộc nổi loại và quân nổi dậy từ nước ngoài. Nghiên cứu cho thấy sự chuyển đổi kích thước diaspora của một quốc gia về mặt thống kê từ nhỏ nhất trong nghiên cứu đến lớn nhất làm gia tăng gấp 6 lần cơ hội của một cuộc nội chiến.
Chi phí cơ hội của cuộc nổi loạn
Lợi thế về quân sự
Mức độ cao của sự phân tán dân cư, và ở một mức độ thấp hơn, sự có mặt của địa hình núi tăng nguy cơ xung đột. Cả hai yếu tố hỗ trợ cho cuộc nổi dậy, do vậy khi dân số phân tán về phía biên giới thì khó kiểm soát hơn sự tậo tập trung vào một khu vực trung tâm, trong khi vùng núi có địa hình thuận lợi cho phiến quân có thể hoạt độngg.
Bất bình
Quy mô dân số
Các yếu tố khác nhau đóng góp vào nguy cơ của một cuộc nội chiến tăng theo quy mô dân số. Nguy cơ một cuộc nội chiến tăng tỉ lệ với quy mô dân số của một quốc gia.
Thời gian
Thời gian đã trôi qua càng dài kể từ cuộc nội chiến cuối cùng, thì ít có khả năng một cuộc xung đột sẽ tái diễn. Nghiên cứu có hai cách giải thích cho điều này: một là dựa trên cơ hội, và hai là dựa trên khiếu nại. Thời gian trôi qua có thể đại diện cho khấu hao của bất cứ điều gì về vốn, cuộc nổi dậy đã trôi qua và do đó làm tăng chi phí cơ hội của việc khởi động lại cuộc xung đột. Ngoài ra, thời gian trôi qua có thể đại diện cho quá trình dần dần chữa lành lòng thù hận cũ. Nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của cộng đồng người giảm đáng kể hiệu quả tích cực của thời gian, khi các nguồn tài trợ từ những người di cư bù vào khoản khấu hao chi phí cho cuộc nổi loạn.
== Thời gian của cuộc nội chiến ==
Ann Hironaka, tác giả của Neverending Wars, chia lịch sử nội chiến hiện đại thành giai đoạn trước thế kỷ 19, thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, và cuối thế kỷ 20. Trong thế kỷ 19 ở châu Âu, thời gian cuộc nội chiến là đáng kể, phần lớn là do yếu tố tự nhiên của các xung động khi mà các trận đánh vì trung tâm quyền lực mạnh hơn của quốc gia, sức mạnh chính quyền được tập trung, và sự can thiệp nhanh chóng cũng của các quốc gia khác hỗ trợ chính phủ đó. Theo sau chiến tranh thế giới thứ 2, thời gian của các cuộc nội chiến kéo dài hơn trước đầu thế kỷ 19, phần lớn là do sự yếu kém của các quốc gia hậu thuộc địa và sự can thiệp của các nước mạnh cho cả hai phía xung đột. Sự tương đồng rõ nhất của các cuộc nội chiến là chúng diễn ra ở các quốc gia yếu.
== Xem thêm ==
Sau đây là một số cuộc nội chiến trong lịch sử:
Nội chiến Anh
Nội chiến Hoa Kỳ
Nội chiến Đức
Nội chiến Nga
Nội chiến Tây Ban Nha
Nội chiến Trung Quốc
Tam quốc Triều Tiên
Nội chiến Congo
Trịnh-Nguyễn phân tranh
Năm 2006, chiến tranh Iraq giữa quân liên hiệp Hoa Kỳ và quân bản xứ đang có chiều hướng dần dần trở thành nội chiến Iraq.
== Chú thích ==
== Tài liệu ==
Ali, Taisier Mohamed Ahmed and Robert O. Matthews, eds. Civil Wars in Africa: roots and resolution (1999), 322 pages
Mats Berdal and David M. Malone, Greed and Grievance: Economic Agendas in Civil Wars (Lynne Rienner, 2000).
Paul Collier, Breaking the Conflict Trap: civil war and development policy World Bank (2003) - 320 pages
Collier, Paul; Sambanis, Nicholas biên tập (2005). Understanding Civil War:Evidence and Analysis. 1: Africa. Washington, DC: The World Bank. ISBN 978-0-8213-6047-7.
Collier, Paul; Sambanis, Nicholas biên tập (2005). Understanding Civil War:Evidence and Analysis. 2: Europe, Central Asia, and Other Regions. Washington, DC: The World Bank. ISBN 978-0-8213-6049-1.
Stathis Kalyvas, "'New' and 'Old' Civil Wars: A Valid Distinction?" World Politics 54, no. 1 (2001): 99-118.
David Lake and Donald Rothchild, eds. The International Spread of Ethnic Conflict: Fear, Diffusion, and Escalation (Princeton University Press, 1996).
Roy Licklider, "The Consequences of Negotiated Settlements in Civil Wars, 1945--1993," American Political Science Review 89, no. 3 (summer 1995): pp 681–690.
Andrew Mack, "Civil War: Academic Research and the Policy Community," Journal of Peace Research 39, no. 5 (2002): các trang 515–525.
David T. Mason and Patrick 3. Fett, "How Civil Wars End: A Rational Choice Approach," Journal of Conflict Resolution 40, no. 4 (fall 1996): 546-568.
Patrick M. Regan. Civil Wars and Foreign Powers: Outside Intervention in Intrastate Conflict (2000) 172 pages
Stephen John and others., eds. Ending Civil Wars: The Implementation of Peace Agreements (2002), 729 pages
Monica Duffy Toft, The Geography of Ethnic Violence: Identity, Interests, and the Indivisibility of Territory (Princeton NJ: Princeton University Press, 2003). ISBN 0-691-12383-7.
Barbara F. Walter, Committing to Peace: The Successful Settlement of Civil Wars (Princeton University Press, 2002),
Elisabeth Jean Wood; "Civil Wars: What We Don't Know," Global Governance, Vol.ngày 1 tháng 9 năm 2003 pp 247+ online version |
29 tháng 10.txt | Ngày 29 tháng 10 là ngày thứ 302 (303 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 63 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
555 – Trước áp lực của Trần Bá Tiên, Tiêu Uyên Minh thoái vị hoàng đế của triều Lương, kế vị là Tiêu Phương Trí.
1863 – Hội nghị đa quốc gia tại Genève của Thụy Sĩ kết thúc, thống nhất thành lập Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế.
1911 – Cách mạng Tân Hợi: Sơn Tây tuyên bố độc lập, Diêm Tích Sơn được tôn làm đô đốc, bắt đầu hơn 30 năm thống trị quân phiệt của ông trong tỉnh.
1922 – Quốc vương Vittorio Emanuele III của Ý bổ nhiệm Benito Mussolini làm thủ tướng.
1924 – Quốc hội Mông Cổ thông qua một nghị quyết đổi tên Niislel Khuree sang Ulaanbaatar, và hợp pháp hóa vị thế thủ đô của đô thị này.
1929 – Sở giao dịch chứng khoán New York sụp đổ trong sự kiện có tên Sụp đổ năm '29 hay "Thứ ba đen tối", kết thúc thời kỳ Thị trường đi lên vĩ đại (Great Bull Market) vào cuối thập niên 1920 và bắt đầu thời kỳ Đại suy thoái.
1787 – Nhạc kịch Don Giovanni của Mozart được biểu diễn lần đầu tiên tại Praha, Đế quốc La Mã Thần thánh.
1956 – Khủng hoảng Kênh đào Suez bắt đầu khi quân đội Israel tấn công vào bán đảo Sinai và đẩy lui quân đội Ai Cập về phía kênh đào Suez.
1964 – Cộng hòa Liên hiệp Tanganyika và Zanzibar đổi tên thành Cộng hòa Liên hiệp Tanzania.
1969 – Bằng chiếc máy tính tại Viện nghiên cứu Stanford nằm tại California của Hoa Kỳ, một sinh viên Đại học UCLA gửi tin nhắn đầu tiên qua mạng ARPANET, tiền thân của Internet.
2002 – Xảy ra vụ hỏa hoạn ITC - một trong rất ít vụ cháy được đánh giá là thảm khốc nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh.
== Sinh ==
1017 - Henry III Hoàng đế La Mã cổ đại
1656 (O.S.) - Edmond Halley, Nhà thiên văn học Anh
1682 - Pierre François Xavier de Charlevoix, Sử gia Pháp
1690 - Martin Folkes, Nhà khảo cổ người Anh
1704 - John Byng, Đô đốc Anh
1740 - James Boswell, Người viết tiểu sử của Samuel Johnson
1815 - Daniel Emmett, Nhà soạn nhạc người Mỹ
1822 - Mieczysław Cardinal Ledóchowski, Hồng y Thiên chúa giáo Ba Lan
1827 - Marcellin Berthelot, Nhà hoá học Pháp
1855 - Paul Bruchési, Giám mục Thiên chúa giáo
1861 - Andrei Ryabushkin, Hoạ sĩ Nga
1877 - Wilfred Rhodes, Tuyển thủ cricket Anh
1879 - Alva B. Adams, chính khách Mỹ
1879 - Franz von Papen, Thủ tướng Đức
1880 - Abram Ioffe, Nhà vật lý Xô Viết
1882 - Jean Giraudoux, Nhà văn Pháp
1891 - Fanny Brice, Ca sĩ Mỹ
1894 - Phạm Hán Kiệt, tướng lĩnh người Trung Quốc (m. 1976)
1897 - Joseph Goebbels, Bộ trưởng tuyên truyền Đảng Đức quốc xã
1899 - Akim Tamiroff, Diễn viên Nga
1907 - Edwige Feuillère, Nữ diễn viên điện ảnh Pháp.
1910 - Alfred Ayer, Triết học gia người British
1915 - William Berenberg, Bác sĩ Mỹ
1917 - Eddie Constantine, Diễn viên ca sĩ Mỹ
1917 - Nam Cao, Nhà văn Việt Nam
1920 - Baruj Benacerraf, Nhà nghiên cứu hệ miễn dịch của con người, đạt giải Nobel y học
1920 - Catholicos Baselios Mar Thoma Didymos I, Tín đồ công giáo Indian
1921 - Bill Mauldin, Người vẽ tranh biếm họa Mỹ
1922 - Neil Hefti, Người thổi kèn trompet nhạc Jazz
1923 - Carl Djerassi, Nhà hoá học Úc
1925 - Dominick Dunne, Tác gia Mỹ
1926 - Jon Vickers
1930 - Niki de Saint Phalle, Nhà điêu khắc Pháp
1935 - Takahata Isao, Đạo diễn phim hoạt hình Nhật Bản
1936 - Akiko Kojima, Nhà thiết kế người Nhật Bản
1938 - Ralph Bakshi, Người vẽ tranh biếm hoạ, Israeli
1938 - Ellen Johnson-Sirleaf, Tổng thống Liberia
1940 - Frida Boccara, Ca sĩ Pháp
1940 - Connie Mack
1940 - José Ulises Macías Salcedo, Giám mục Thiên chúa giáo
1944 - Denny Laine, Nhạc sĩ Anh (Moody Blues, Wings)
1944 - Otto Wiesheu, Bộ trưởng Đức
1944 - Claude Brochu
1946 - Peter Green, Nghệ sĩ ghita (Fleetwood Mac)
1947 - Richard Dreyfuss, Diễn viên Mỹ
1948 - Kate Jackson, Nữ diễn viên Mỹ
1953 - Denis Potvin, Tuyển thủ môn khúc côn cầu Canada
1955 - Roger O'Donnell, Nhà soạn nhạc người Anh (The Cure)
1956 - Wilfredo Gomez, Võ sĩ quyền Anh Puerto Rican
1957 - Dan Castellaneta, Nam diễn viên Mỹ
1958 - David Remnick, Nhà văn tổng biên tập của The New Yorker, Mỹ
1959 - Mike Gartner, Tuyển thủ môn khúc côn cầu Canada
1960 - Finola Hughes, Nữ diễn viên người Anh
1961 - Randy Jackson, Nhạc sĩ Mỹ
1961 - Joel Otto, Tuyển thủ hockey quốc tế
1964 - Yasmin Le Bon, Nhà thiết kế Anh
1967 - Joely Fisher, Nữ diễn viên Mỹ
1967 - Rufus Sewell, Nam diễn viên Anh
1968 - Johann Olav Koss, Tay trượt băng tốc độ Na Uy
1970 - Edwin van der Sar, Cầu thủ bóng đá Hà Lan
1970 - Philip Cocu, Cầu thủ bóng đá Hà Lan
1971 - Winona Ryder, Nữ diễn viên Mỹ
1972 - Takafumi Horie, Nhà thầu người Nhật
1972 - Gabrielle Union, Nữ diễn viên Mỹ
1973 - Robert Pirès, Cầu thủ bóng đá Pháp
1974 - Michael Vaughan, Tuyển thủ cricket Anh
1975 - Kelly Lin, Nữ diễn viên Trung Quốc
1976 - Stephen Craigan, Cầu thủ bóng đá Bắc Ireland
1977 - Brendan Fehr, Nam diễn viên Canada
1978 - Travis Henry, Cầu thủ bóng đá Mỹ
1980 - Ben Foster, Nam diễn viên Mỹ
1980 - B.J. Sams, Cầu thủ bóng đá Mỹ
1981 - Amanda Beard, Vận động viên bơi lội Mỹ
1981 - Jonathan Brown, Cầu thủ bóng đá Úc
1982 - Chelan Simmons, Nữ diễn viên Canada
1983 - Maurice Clarett, Cầu thủ bóng đá Mỹ
1983 - Dana Eveland, Tuyển thủ bóng chày Mỹ
1983 - Richard Brancatisano, Nam diễn viên Úc
1984 - Eric Staal, Tuyển thủ hockey Canada
1987 - Makoto Ogawa, Ca sĩ Nhật Bản
== Mất ==
1038 - Aethelnoth, Tổng Giám mục
1138 - Bolesław III Krzywousty, Công tước Ba Lan
1268 - Conradin, Công tước của Swabia
1268 - Frederick I, Bá tước của Baden (chém đầu)
1590 - Dirck Volckertszoon Coornhert, chính khách Hà Lan
1618 - Sir Walter Raleigh, Nhà thám hiểm người Anh
1650 - David Calderwood Sử gia Scotland
1666 - Edmund Calamy the Elder, Lãnh tụ giáo hội Anh
1666 - James Shirley, Nhà viết kịch Anh
1783 - Jean le Rond d'Alembert, Nhà toán học Pháp
1877 - Nathan Bedford Forrest
1901 - Leon Czolgosz, Kẻ ám sát tổng thống Mỹ William McKinley
1905 - Etienne Desmarteau, Lực sĩ Canada
1911 - Joseph Pulitzer
1919 - A. B. Simpson, Người thuyết giáo Canada
1932 - Joseph Babiński, Nhà thần kinh học Ba Lan-Pháp
1933 - Albert Calmette, Bác sĩ Pháp
1933 - Paul Painlevé, Nhà toán học, chính khách Người Pháp.
1940 - Phan Bội Châu, nhà yêu nước Việt Nam
1949 - G. I. Gurdjieff
1950 - Vua Thuỵ Điển Gustaf V
1953 - William Kapell, Nghệ sĩ Piano Mỹ
1957 - Louis B. Mayer, Nhà sản xuất phim người Mỹ
1958 - Zoe Akins, Nhà soạn kịch người Mỹ
1963 - Adolphe Menjou, Nam diễn viên Mỹ
1971 - Duane Allman, Nhà soạn nhạc người Mỹ
1971 - Arne Tiselius, Nhà hoá học Thuỵ Điển, Đạt giải Nobel hoá học
1981 - Georges Brassens, Ca sĩ Pháp
1987 - Woody Herman, Nhà soạn nhạc Người Mỹ
1997 - Anton LaVey, Người sáng lập nhà thờ của quỷ Sa tăng, Mỹ
1998 - Paul Misraki, Nhạc sĩ Pháp
1999 - Michel Regnier, Nghệ sĩ, nhà viết hài kịch người Bỉ (Achille Talon)
2003 - Hal Clement, Nhà văn Mỹ
2003 - Franco Corelli
2004 - Edward Oliver LeBlanc, chính khách Dominican
2004 - Vaughn Meader, Diễn viên hài kịch Mỹ
2004 - Peter Twinn, Nhà toán học Anh
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
minato, tokyo.txt | Minato (港区, Minato-ku, Cảng khu) là một trong 23 khu đặc biệt của Tokyo. Tính đến năm 2010, khu này có dân số 214.823 và mật độ 10.560 người/km². Tổng diện tích 20.34 km².
Minato là nơi đặt trụ sở của 49 đại sứ quán và rất nhiều công ty như Honda, Mitsubishi Heavy Industries, Ltd. và Mitsubishi Motors Corporation, NEC, Sony và Toshiba.
== Lịch sử ==
Khu này được thành lập ngày 15 tháng 3 năm 1947 với sự sát nhập của 3 khu Akasaka, Azabu, và Shiba.
== Địa lý ==
Minato nằm về phía tây nam của Lâu đài Đế quốc và có ranh giới với các khu đặc biệt Chiyoda, Chūō, Koto (trong Odaiba), Shinagawa, Shibuya, và Shinjuku.
=== Các quận ===
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Minato (tiếng Anh) |
hiroshima.txt | Hiroshima (Nhật: 広島県 (Quảng Đảo Huyện), Hiroshima-ken) là một tỉnh của Nhật Bản, nằm ở tiểu vùng Sanyo, vùng Chugoku trên đảo Honshu. Tỉnh lỵ là thành phố Hiroshima, Thành phố này nổi tiếng thế giới trong lịch sử vì Vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
== Địa lý ==
Hiroshima là thành phố đầu tiên của thế giới phải đối mặt với chiến tranh hạt nhân. Hiroshima có diện tích 905,01 km vuông về với dân số 1.160.956. Quận này bao gồm một số dãy núi.. Nó cũng có một số con sông, trong đó có đồng bằng ven biển phong phú. Trong biển nội địa của các quận có nhiều đảo nhỏ.
Khí hậu của Hiroshima là thường nhẹ tất cả trong suốt năm vì sự hiện diện của biển nội địa.
Hiroshima nằm đối diện với biển đảo Seto ở phía Nam và ôm chặt lấy dãy núi Chugoku với các thung lũng và đỉnh núi cao sừng sững
== Hành chính ==
== Lịch sử ==
Tên cũ của tỉnh Hiroshima là tỉnh Aki. Thời kì Muromachi tinh này nằm dưới quyền cai quản của dòng họ Takeda và một số chư hầu. Thời kì thời kì chiến quốc tỉnh này do gia tộc Mori nắm quyền cuối thời Edo tỉnh thuộc Hiroshima miền nắm giữ. Năm 1945, Hirosima bị Mỹ tấn công bằng bom nguyên tử và đã cướp đi mạng sống của gần 500.000 người (kể cả Nagasaki). Đến năm 1951, lại có thêm gần 100.000 người ở Hi-rô-si-ma bị chết do nhiễm phóng xạ nguyên tử. Sau đợt ném bom xuống Hiroshima, học sinh thành phố Hiroshima đã góp tiền xây tượng đài để tưởng nhớ cô bé Xa-da-cô Xa-xa-ki và những nạn nhân bị bom nguyên tử sát hại. Tượng đài cao 9 mét, trên đỉnh là hình một bé gái giơ cao hai tay, nâng một con sếu. Dưới tượng đài khắc dòng chữ: "Chúng tôi muốn thế giới này mãi mãi hòa bình."
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học quốc lập Hiroshima
== Thể thao ==
== Du lịch ==
1.
Shukkeien là một khu vườn rất phổ biến ở Hiroshima, là điểm đến thường xuyên của người dân Hiroshima cũng như khách du lịch. Shukkeien được xây dựng từ rất lâu vào năm 1620.Shukkeien là khu vườn được xây dựng cho gia tộc Asano. Tuy là vẻ đẹp dưới bàn tay của con người nhưng nó lại được ví như những danh lam thắng cảnh ở Nhật Bản. Khu vườn bao gồm các quán trà đạo, các đảo, thung lũng, cầu, đồi nhân tạo và một hồ nước xanh biếc. Vào năm 1945, khi quả bom nguyên tử được thả xuống thành phố Hiroshima – khu vườn đã bị phá hủy. Tuy nhiên, sau đó công việc tái thiết khu vườn được bắt đầu ngay lập tức. Khu vườn này được thiết kế bởi một người nổi tiếng có tên là Soko Ueda.
Ngày nay, hàng ngàn khách du lịch thường xuyên đến tham quan khu vườn này và tận hưởng vẻ đẹp cảnh quan và tự nhiên của nó.Để được vào tham quan khu vườn Shukkeien, bạn phải bỏ ra mức lệ phí là 250 Yên Nhật. Điều này được áp dụng cho người lớn. Tuy nhiên, sẽ có những ưu đãi dành cho sinh viên và cho khách du lịch theo nhóm.Bạn mất 15 phút đi bộ từ nhà ga Hiroshima để tới vườn Shukkeien. Hoặc bạn có thể sử dụng xe điện từ ga Hiroshima, toàn bộ hành trình mất khoảng 15 phút và chi phí 150 yên.
2.
Bảo tàng Nghệ thuật Quận Hiroshima tự hào với một bộ sưu tập đầy ấn tượng của nghệ thuật hiện đại được sáng tác bởi nhiều nghệ sĩ Nhật Bản cũng như châu Âu. Bảo tàng này nằm liền kề với Shukkeien, một khu vườn nổi tiếng ở trung tâm thành phố Hiroshima. Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại thành phố Hiroshima được thành lập vào năm 1989. Đây là bảo tàng nghệ thuật công cộng đầu tiên trong cả nước dành riêng cho nghệ thuật đương đại. Thiết kế bên ngoài của Bảo tàng là sự hòa hợp hoàn hảo với công viên Hijiyama nằm gần nó.Bảo tàng Nghệ thuật này được xây dựng nhằm bày tỏ lời chia buồn đến những nạn nhân trong vụ đánh bom nguyên tử. Ở đây có những bộ sưu tập đầy ấn tượng của các nghệ sĩ Pháp như Van Gogh, Renoir và Picasso.
(Bảo tàng Nghệ thuật Hiroshima này nằm ở Công viên Tưởng niệm Hòa bình Hiroshima là Bảo tàng Nghệ thuật Hiroshima ở trung tâm Hiroshima.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Khu tưởng niệm Hòa Bình Hiroshima được UNESCO đưa vào danh sách di sản thế giới năm 1996.
.
Website chính thức của tỉnh (tiếng Nhật) |
nhà hát chèo việt nam.txt | Nhà hát Chèo Việt Nam được thành lập từ năm 1951 nhưng chính thức được khánh thành vào năm 1964, hiện nằm tại Khu Văn công Mai Dịch, Quận Cầu Giấy, Hà Nội. Nhà hát Chèo Việt Nam được xem là cái nôi của nghệ thuật chèo chuyên nghiệp, là nơi dàn dựng và biểu diễn hàng chục các vở kinh điển nổi tiếng của môn nghệ thuật chèo. Không chỉ vậy, Nhà hát Chèo Việt Nam còn đi biểu diễn ở các địa phương đào tạo thường xuyên cho 16 nhà hát chèo các tỉnh, được xem là anh cả của các nhà hát Chèo. Nhiều nghệ sĩ của Nhà hát Chèo Việt Nam đã được phong tặng danh hiệu nghệ sĩ nhân dân: Chu Văn Thức, Bùi Trọng Đang, Mạnh Tuấn, Diễm Lộc, Mạnh Phóng, Vũ Văn Nghị, Lý Mầm,..; ngoài ra nhà hát còn có những nghệ sĩ ưu tú nổi tiếng như Bạch Tuyết, Thúy Lan, Vũ Thị Tý, Vũ Ngọc Hưng và Thanh Ngoan. Ngoài biểu diễn trong nước, Nhà hát Chèo Việt Nam đã lưu diễn ở nhiều nước Châu Âu và Châu Á. Cơ quan chủ quản của nhà hát là Cục Biểu diễn nghệ thuật, thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
== Lịch sử hình thành ==
Nhà hát Chèo Việt Nam là trung tâm biểu diễn, nghiên cứu và đào tạo nghệ thuật Chèo, tiền thân là Tổ Chèo trong Đoàn Văn công Nhân dân Trung ương, thành lập năm 1951 tại Việt Bắc. Cùng với Nhà hát Chèo Quân đội là 2 nhà hát Chèo chuyên nghiệp hoạt động trên diện rộng.
Ngày 06 tháng 05 năm 1964, Bộ Văn hóa ra Quyết định số: 14-VH-QĐ thành lập Nhà hát Chèo Việt Nam trên cơ sở các đơn vị sau đây:
Đoàn chèo 1;
Đoàn chèo 2.
Ban nghiên cứu chèo;
Khoa chèo thuộc Trường nghệ thuật sân khấu.
Từ ngày đầu thành lập, Nhà hát đã tập hợp các nghệ nhân ưu tú trong một chương trình khai thác và học tập vốn cổ trong nghệ thuật Chèo. Trên cơ sở đó, Nhà hát đã phục hồi, chỉnh lý, cải biên thành công những vở Chèo truyền thống tiêu biểu như: "Quan Âm Thị Kính", "Lưu Bình – Dương Lễ", "Xuý Vân", "Từ Thức", "Trương Viên"…
Với vai trò một đơn vị đầu ngành, Nhà hát Chèo Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nghệ thuật, với những vở diễn luôn theo sát những nhiệm vụ chính trị của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử. Các vở diễn với mục đích đưa nghệ thuật Chèo truyền thống phát triển và thích ứng với thời đại mới. Nhiều vở diễn đã được đánh giá cao về giá trị tư tưởng và nghệ thuật, đã được tặng huy chương vàng, bạc và các giải thưởng cao trong các kì hội diễn, liên hoan sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc: "Chị Trầm", "Con trâu hai nhà", "Cô gái Sông Lam", "Tình rừng", "Lọ nước thần", "Sông Trà Khúc", "Vòng phấn Cáp-ca-dơ", "Thái hậu Dương Vân Nga", "Lý Nhân Tông kế nghiệp", "Tô Hiến Thành", "Hồ Xuân Hương", "Vua Chổm"... Nhà hát đã lưu diễn phục vụ nhân dân khắp mọi miền Việt Nam, đồng thời cũng có mặt ở nhiều nước trên thế giới, giới thiệu nghệ thuật Chèo truyền thống của Việt Nam với bè bạn khắp năm châu.
Nhà hát Chèo Việt Nam đã được Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng ba, hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhì; Huân chương Kháng chiến chống Mĩ hạng nhì và nhiều Huân chương Lao động. Nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ của Nhà hát đã vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu: Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật…
== Các đơn vị trực thuộc ==
Năm 2016, Nhà hát Chèo Việt Nam có tổng số 203 nghệ sĩ, công nhân viên.
Phòng Hành chính tổng hợp.
Phòng Nghệ thuật.
Phòng Tổ chức biểu diễn.
Đoàn nghệ thuật 1.
Đoàn nghệ thuật 2.
Rạp hát Kim Mã: Rạp hát Kim Mã là nơi biểu diễn chính của Nhà hát Chèo Việt Nam, đồng thời là nơi diễn ra nhiều sự kiện văn hóa - nghệ thuật, chính trị - xã hội của thủ đô. Tại đây, hiện nay Nhà hát Chèo Việt Nam thường xuyên biểu diễn phục vụ khán giả với các chương trình song song trên cả sân khấu lớn và sân khấu nhỏ.
== Thành tích ==
Năm 2014, Tại "Cuộc thi tài năng trẻ diễn viên sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc - 2014" diễn ra ở Ninh Bình, Nhà hát Chèo Việt Nam giành 02 HCV (Trần Thị Hiền, Trần Thái Sơn) và 02 HCB (Lê Văn Thơm, Vũ Tất Dũng). Cùng với Nhà hát Chèo Ninh Bình là hai đơn vị về nhất theo thành tích huy chương.
Năm 2013, Tại cuộc thi Nghệ thuật Sân khấu chèo chuyên nghiệp toàn quốc 2013 diễn ra ở Hải Phòng Nhà hát Chèo Việt Nam giành Huy chương bạc vở diễn “Đường trường duyên phận”. Giải cá nhân có 06 Huy chương vàng (Hà Thảo, Bá Dũng,NSƯT Minh Thu, NSƯT Thu Hương, Kim Liên, Bích Ngọc) và 04 Huy chương bạc (Thái Sơn, Bách Hợp, Tuấn Tài, Tất Dũng). Cơ cấu giải thưởng cuộc thi có tổng 03 vở diễn đạt HCV và 06 vở diễn đạt HCB, 42 HCV cá nhân, 68 HCB cá nhân. Nhà hát còn giành các giải Tác giả xuất sắc: Trần Đình Văn; Nhạc sĩ xuất sắc: Nhạc sĩ Đào Tuấn Hải; Họa sĩ thể hiện xuất sắc: Họa sĩ Nguyễn Hồng Long. Xếp thứ 4/17 đoàn tham dự theo thành tích huy chương.
Năm 2011, Tại Liên hoan Sân khấu Chèo về đề tài hiện đại – 2011 diễn ra ở Thái Bình, Chèo Việt Nam giành Huy chương vàng vở diễn “Giếng thơi trong lòng phố”. Giải cá nhân có 04 Huy chương vàng (NSƯT. Văn Bằng, Minh Nhan, Hiền Lương) và 09 Huy chương bạc (Lã Khương, Kim Liên, Mạnh Hùng, Hiền Thảo, Dũng Toàn, NSTNT. Bá Dũng, Thanh Thảo, Trần Hải, Tất Dũng). Giải Nhạc sĩ xuất sắc: Nhạc sĩ Đăng Toàn, vở Giếng thơi trong lòng phố. Cơ cấu giải thưởng cuộc thi có tổng 03 vở diễn đạt HCV và 03 vở diễn đạt HCB, 27 HCV cá nhân, 50 HCB cá nhân. Xếp hạng 1/13 đoàn tham dự theo thành tích huy chương.
Năm 2009, Tại Hội diễn sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc - 2009 diễn ra ở Quảng Ninh Nhà hát Chèo Việt Nam giành Huy chương bạc vở diễn “Mảnh gương nhân sự” (Cơ cấu giải hội diễn có 02 vở diễn đạt Huy chương vàng và 05 vở diễn đạt Huy chương bạc). Giải cá nhân có 04 Huy chương vàng (Lã Khương, Thu Hằng, Thu Hương, Vũ Văn Đông) và 05 Huy chương bạc (NSUT Minh Thu, Kim Liên, Bá Dũng, Văn Hải, NSƯT Phúc Lợi). Xếp thứ 3/17 đoàn tham dự về số lượng huy chương.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website Nhà hát Chèo Việt Nam
Phục dựng chèo cổ - bảo tồn sống nghệ thuật chèo |
cờ vây.txt | Cờ vây (Hán-Nôm: 碁圍), là một trò chơi trên bàn cờ và là môn thể thao trí tuệ dành cho hai người chơi. Ngay từ lúc đầu, cờ vây được đánh giá rất cao vì chú trọng đến phương pháp luận. Nhà vô địch cờ vua Emanuel Lasker đã nói: "Cờ vua chỉ hạn chế cho nhân loại sống trên Trái Đất, trong khi cờ vây vượt khỏi thế giới này. Nếu một hành tinh nào có những sinh vật biết lý luận thì ở đó họ phải biết đánh cờ vây." Cờ vây chủ yếu thịnh hành ở các quốc gia Á Đông, nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Hiện nay nó đã được truyền bá rộng rãi sang phương Tây. Có một điều đáng nói là người phương Tây biết đến cờ vây chủ yếu qua sự tiếp xúc các kỳ sư và tài liệu Nhật Bản, cho nên ở phương Tây các thuật ngữ cờ vây phần nhiều được ghi bằng tiếng Nhật.。
== Giới thiệu ==
=== Mục đích của ván cờ ===
Cờ vây có mục đích duy nhất là chiếm được nhiều "đất", càng rộng càng tốt. Chuyện bắt quân cũng cần nhưng được xem là thứ yếu. Thế trận trên bàn cờ vây có khả năng biến hoá cao với các đám quân và "vùng đất". Người chơi cờ vây thường tính trước nhiều nước không chỉ cho một nhóm quân mà có thể cả chục nhóm quân nằm xen kẽ phức tạp trên bàn cờ. Từ đó, cờ vây còn được nhìn nhận không phải là một chiến trường đánh phá, tiêu diệt mà là một dạng kiến thiết, xây dựng, khai phá, mở rộng phạm vi. Cờ vây khác so với các loại cờ khác là người chơi được phép nhường lượt đi của mình cho đối phương, nhất là lúc tàn cuộc và nhận ra rằng nếu mình đi thì chỉ làm cho mình bị thiệt hại, còn khi nào thấy cần thì đi tiếp. Đến khi cả hai bên đều thấy đi tiếp là vô ích, ván cờ sẽ được thỏa thuận dừng tại đây, hai bên cùng đếm "đất" để xác định thắng thua, mỗi điểm trong vùng đất sẽ được tính là một "mục" và ai nhiều "mục" hơn sẽ thắng. Trước khi đếm "đất" hai bên trao trả "tù binh" (những quân cờ bị bắt) rồi đặt các "tù binh" vào "đất" của mình, như vậy số "mục" của mỗi phe sẽ bị giảm nhiều nếu phe đó có nhiều quân bị bắt làm tù binh. Với bàn cờ chuẩn (19 x 19) thì sau khi đếm xong, bên Trắng được cộng thêm năm mục rưỡi do bên Trắng luôn là bên đi sau.
=== Bàn cờ và quân cờ ===
Theo bàn cờ nguyên thủy đã tìm thấy vào năm 1977 ở Nội Mông, trong một ngôi mộ cổ đời nhà Liêu, có một bàn cờ ngang dọc chỉ có 13x13 tạo thành 169 giao điểm. Năm 1971, bàn cờ đào được ở Hồ Nam, trong một ngôi mộ đời nhà Đường, có bàn cờ lại chia lưới 15x15. Năm 1952, ở Vọng Đô, Hà Bắc, Trung Quốc, trong một ngôi mộ thời Đông Hán có một bàn cờ lại chia lưới 17x17...Tuy những bàn cờ đó khác nhau về số nước đi nhưng tựu chung lại đều chia lưới theo số lẻ (13, 15, 17...). Bàn cờ 19 đường phát hiện sớm nhất vào khoảng đời nhà Tùy.
Quân cờ và bàn cờ vây được sáng tạo trên cơ sở của thuyết Âm Dương và vũ trụ quan của người xưa. Bàn cờ ngày nay có 19 đường kẻ ngang và 19 đường kẻ dọc tạo thành 361 giao điểm tượng trưng cho 361 ngày âm lịch. Bốn góc của bàn cờ tượng trưng cho bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Các quân cờ có hình tròn dẹt, giống hình cúc áo, 181 quân màu đen và 180 quân màu trắng. Quân cờ chỉ được nhấc ra hoặc đặt vào bàn cờ, chứ không dịch chuyển như trong cờ vua hoặc cờ tướng. Trên bàn cờ thường có 9 chấm đen gọi là các sao nhỏ giúp người chơi dễ nhận định hướng vị trí vì bàn cờ quá rộng. Điểm ở chính giữa bàn gọi là "thiên nguyên". Tám điểm ở 4 phía xung quanh bàn cờ gọi là "sao biên" và "sao góc". Vị trí ở gần vùng giữa bàn gọi là "cao" còn vị trí gần biên và góc là "thấp". Trong một ván cờ, số khả năng biến hóa có thể xảy ra là
10
761
{\displaystyle 10^{761}}
. Với số giây trong 3 năm là không đến
10
8
{\displaystyle 10^{8}}
, nếu 10 tỉ người, mỗi người sắp 1 ván cờ trong 1 giây thì số ván cờ sắp được trong 3 năm cũng chỉ là
10
17
{\displaystyle 10^{17}}
. Để so sánh thêm, con số đó trong cờ vua là nằm trong khoảng
10
43
{\displaystyle 10^{43}}
và
10
50
{\displaystyle 10^{50}}
; và những nhà vật lý đã từng ước tính là không có nhiều hơn
10
90
{\displaystyle 10^{90}}
proton trên thế giới hữu hình này.,战国时期的弈秋是见于史籍的第一位棋手,最早的围棋文物可以追溯到战国時期
== Lịch sử ==
Cờ vây là loại cờ cổ, được chơi cách đây khoảng hơn 4000 năm. Khởi thủy của môn cờ bắt đầu từ giấc mơ của vua Nghiêu về việc xem chơi cờ giữa Hoàng Đế (người mở đầu thời Ngũ Đế) với vị tiên Dung Thành. Nhà vua đang thấy tiên Dung Thành chơi một loại cờ gồm một bàn cờ và các quân trắng đen bèn thỉnh cầu tiên dạy cờ cho mình. Đang chơi cờ hay bỗng vua Nghiêu tỉnh lại. Nhà vua ngẫm ra thấy hay quá bèn tìm cách nhớ lại và bổ khuyết thêm các quy tắc, luật lệ và sáng tạo ra môn cờ vây, vì mục đích của nó là vây chiếm lãnh thổ, đất đai. Sau đó, cờ vây được thái tử Đan Chu, con của vua Nghiêu truyền bá khắp thiên hạ. Trong truyện Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, Quan Công đã chơi cờ vây với thuộc hạ trong khi để cho Hoa Đà nạo xương cánh tay chữa vết thương. Vi kỳ ngày xưa gọi là "dịch" (弈), được viết với bộ "củng". Trong những sách cổ của Trung Hoa như Tả Truyện, Luận Ngữ, Mạnh Tử đã nhắc nhiều đến "dịch" nhưng từ đời nhà Hán trở đi, thì cái tên vi kỳ ngày càng thông dụng. Hứa Thuận trong Thuyết Văn Giải Tự có chép "dịch, vi kỳ dã".
Cờ vây hiện nay rất phổ biến ở vùng Đông Á. Nhật Bản hiện nay là nước có số người chơi cờ rất cao. Cờ vây đã tới Nhật vào thế kỷ 7 và tới đầu thế kỷ 13, nó đã được chơi rộng rãi khắp mọi nơi trên đất nước này. Sự phát triển của Internet cũng đã làm cho nó phổ biến hơn trên khắp thế giới và đến nay đã có 36 triệu người yêu thích môn cờ này (thống kê của Hiệp hội cờ Vây nghiệp dư thế giới năm 1999).
Môn cờ vây cũng đã được người Việt Nam biết tới từ lâu, nhưng qua thời gian, chiến tranh nên đã hầu như không còn ai biết cách chơi. Nó được phổ biến lại tại Việt Nam vào năm 1993 nhân dịp có một giảng viên không chuyên từ Trung Quốc sang giảng dạy giúp cho ngành Thể dục thể thao Hà Nội.
Cờ vây có từ xa xưa, nhưng luật của nó lại không hề bị biến đổi theo thời gian như những trò chơi cổ khác. Lý do là luật chơi của cờ vây hết sức đơn giản, người nào cũng có thể chơi được, không cần đến trí thông minh ưu việt. Trong cờ vây, quân nào cũng như quân nào, giá trị y hệt nhau, không quân nào có tên tuổi, không có vua, có tướng. Tướng, vua được biết như chính người chơi cờ vậy. Cờ vây, như đã biết, muốn biết chơi thì quá dễ, nhưng để chơi tới được thành "cao cờ" thì rất khó. Khi chơi cờ vây cũng giống như khi ra trận đánh giặc. Bàn cờ là chiến trường và mục đích là chiếm lấy lãnh thổ. Một kỳ thủ cờ vây thực sự biết quý trọng từng quân cờ và luôn đặt hết tâm quyết vào mỗi nước đi.
== Nguyên tắc chơi ==
Luật chơi cờ vây rất đơn giản, điều chủ chốt chỉ cần nắm vững là ai chiếm được nhiều đất thì người đó thắng.
Khí: Các giao điểm trống nằm ngay cạnh quân cờ gọi là "khí" của quân cờ đó. Quân cờ đứng ở giữa bàn có 4 "khí", đứng ở biên có 3 "khí" và đứng ở góc có 2 "khí". Nếu một quân hoặc một nhóm quân không còn "khí", quân đó hoặc nhóm quân đó sẽ bị bắt và đưa ra khỏi bàn cờ. Nếu quân đó hoặc nhóm quân đó chỉ còn một "khí", điều đó có nghĩa là nó đang bị đe dọa, đang bị "đả cật" và sẽ bị đối phương bắt ngay sau nước đi tiếp theo.
Những chấm trắng và đen ở hình bên là "khí" của quân trắng và quân đen. "Khí" có thể cùng được chia sẻ giữa hai loại quân. Nếu quân trắng được đặt vào nơi có "khí" chung của hai nhóm quân, hai nhóm quân trắng sẽ được nối với nhau thành một. Quân của đối phương sẽ bị bắt khi nó không còn "khí".
Nếu một người chơi đoạt nốt "khí" cuối cùng của một quân hay nhóm quân của đối phương, anh ta sẽ nhấc quân đó ra khỏi bàn cờ và những quân cờ đó dùng để trao đổi tù binh khi tính điểm.
Hình bên chỉ ra một đám quân đen và đám quân trắng. Nếu đang ở trong tình huống này, mà quân trắng được đặt vào điểm A, toàn bộ quân đen sẽ bị bắt và bị đưa ra khỏi bàn cờ. Phần đất có được lúc này thuộc về quân trắng.
Tự tử: Trong luật chơi cũng không cho phép việc chiếm nốt "khí" cuối cùng của chính quân hay nhóm quân của bạn, trừ phi việc này dùng để bắt một vài quân bao vây của đối phương. Những quân chắc chắn đã chết, chạy đến đâu cũng không thoát gọi là quân "chết kỹ thuật" và được bỏ ra lúc hết ván.
Quy tắc Kiếp: Nếu bạn bắt một quân, sẽ có thể xảy ra một trường hợp: bên đen có thể chơi ở điểm b và bắt bên trắng điểm a. Tiếp theo, đến lượt đi của bên trắng. Lúc này, bên trắng lại có thể đặt quân tại điểm a và bắt bên đen, điều này có thể dẫn đến việc quay trở lại như tình huống ban đầu. Trường hợp này được gọi là "kiếp" (劫, コウ, kō). Để tránh việc này xảy ra lặp đi lặp lại, người ta đã đặt ra một quy tắc là "kiếp". Quy tắc này nói rằng, không được phép lặp lại một trạng thái(vị trí quân và lượt đi) đã có trước đây ở bàn cờ, trừ trường hợp 2 người cùng nhường lượt đi. Nếu bên đen bắt bên trắng ở a, bên trắng không được phép bắt lại bên đen ngay lập tức mà cần phải đặt quân ở nơi nào đó khác. Điều này sẽ dẫn tới khả năng là bên đen sẽ đặt tiếp quân tại b để tránh bị bên trắng bắt. Nếu bên đen không đi nước nào khác, bên trắng có thể bắt lại quân đen, bởi vì bây giờ, vị trí trên bàn cờ đã thay đổi, không giống như trước.
Đe dọa kiếp: Đây là một phương thức hay khi bị "kiếp" trong những tình thế quan trọng, liên quan đến sự sống chết của một đám quân lớn. Nếu bị "kiếp" như vậy, hãy đặt quân của bạn vào những ô có thể "đả cật" (chẹt) các đám quân lớn quân đối phương mà thực tế quân của bạn sẽ chết. Đối phương sẽ phải chọn một trong hai trường hợp: Hoặc ăn đám lớn của bạn và bạn ăn đám lớn mà bạn vừa chẹt, hoặc ăn quân mà bạn vừa chẹt để cứu đám quân của mình.
Tạo mắt: Khi một đám quân trong vùng của đối phương và không có đường thoát, để có thể sống, đám quân đó cần tạo ít nhất hai mắt nhỏ. Một mắt nhỏ là có 1 đến 2 khí trống. Một mắt lớn là có nhiều hơn 2 khí và có thể coi là 1 vùng đất. Thông thường, muốn chỉ cần tạo 1 mắt lớn cần tạo trên 5 khí ở góc và biên và trên 6 khí ở trung tâm thì sẽ có nhiêu khả năng sống vì khi bị xâm nhập sẽ dễ dàng tạo mắt nhỏ.
Chấp quân: Các đấu thủ chơi cờ vây có thể đa dạng về trình độ. Người chơi giỏi hơn có thể chơi handicap (chấp quân) với người chơi kém hơn, từ đó có thể khiến cuộc chơi thú vị hơn cho cả hai người chơi, người chơi kém hơn sẽ học được rất nhiều từ cách đi của người chơi giỏi hơn và sẽ giúp họ nâng cao trình độ chơi cờ của mình. Thông thường, số quân chấp nhiều nhất là 9 quân và người chơi kém hơn sẽ chơi quân màu đen. Những quân được chấp thường có một số vị trí xác định trên bàn cờ. Sau khi những quân cờ này được đặt lên bàn cờ, quân trắng bắt đầu nước đi đầu tiên.
== Phân hạng người chơi ==
Đẳng cấp của cờ vây phân biệt trên 2 hệ thống riêng biệt. Đó là hệ thống đẳng cấp nghiệp dư và đẳng cấp chuyên nghiệp:
=== Nghiệp dư ===
Cấp (級): Từ người mới bắt đầu chơi đến người chơi trung bình được chia thành nhiều cấp. Cấp mạnh nhất thường là cấp 1, càng yếu, số cấp càng cao. Chữ "cấp" thường được viết tắt là k
Ví dụ: Nếu thang nghiệp dư có 30 cấp từ 1 đến 30 thì cấp yếu nhất là 30k, cấp mạnh nhất là 1k.
Đẳng (段): Ký hiệu là d; chỉ những người có sức cờ mạnh, phát triển các kĩ năng ở mức độ cao, sử dụng các thao tác nhuần nhuyễn. Trái với kyu, khi càng mạnh số đẳng càng cao. Ví dụ: 2d thì mạnh hơn 1d và 4d mạnh hơn 2d.
Để phân biệt với đẳng chuyên nghiệp, ta gọi đây là đẳng nghiệp dư.
Thực chất sự ra đời của dan không chuyên nhằm phân hóa rõ ràng hơn khoảng cách chênh lệch giữa các trình độ. Không phải nước nào cũng công nhận kì thủ cờ vây chuyên nghiệp nên việc ra đời hệ thống không chuyên trên đáp ứng thực tế là có những kì thủ không chuyên rất mạnh thắng được những tay chuyên nghiệp.
Chênh lệch trình độ của mỗi bậc trong đẳng cấp nghiệp dư là 1 quân chấp, hay còn gọi là Handicap, chênh lệch càng nhiều thì số quân chấp càng nhiều, tuy nhiên tối đa số quân chấp của một trận đấu là 9. Trong cờ vây người cầm quân đen được đánh trước vì vậy để công bằng người cầm quân trắng được cộng tầm 5,5 đến 6,5 điểm tùy theo cách tính theo luật Trung Quốc hay Nhật Bản. Điểm cộng đó gọi là komi.
=== Chuyên nghiệp ===
Cấp: có lẽ chỉ có từ 5k đến 1k (1 là cao nhất). Hệ thống cấp của chuyên nghiệp nhằm chỉ đến những người sắp sửa bước vào thế giới chuyên nghiệp của cờ vây, có thể họ đang rèn luỵện, học tập trong các trường dạy cờ nổi tiếng.
Đẳng: Để phân biệt với đẳng không chuyên, người ta thường ký hiệu là p. Kì thủ được gọi là chuyên nghiệp khi được hiệp hội cờ vây của nước sở tại cấp chứng chỉ khẳng định trình độ chuyên môn.
=== So sánh ===
Ở trình độ không chuyên, sức cờ thể hiện rõ ràng qua con số. Đối với chuyên nghiệp, thứ hạng lại không thể hiện điều đó. Tuy nhiên không có nghĩa là tay cờ vây không chuyên hạng 30k không thể thắng các tay cờ vây 5p. Các kì thủ không chuyên giỏi nhất có thể thắng các kì thủ chuyên nghiệp có cấp hạng cao. Điều này là bình thường, đơn giản: cờ vây cũng là một môn thể thao. Và trong thể thao, không thể nói trước điều gì.
== Các giai đoạn của một ván cờ ==
Sự mềm dẻo, khôn ngoan, nhẫn nại, biết bỏ cái nhỏ để giành cái lớn, biết hy sinh tiểu tiết để giành đại cục nhằm dẫn tới thắng lợi, được đối phương "tâm phục khẩu phục" được xem là cốt lõi của cờ vây.
Ván cờ vây được chia thành 3 giai đoạn, gọi là: Bố cục, Trung bàn (còn gọi là Trung bàn chiến - vì ở giai đoạn này thường xảy ra chiến đấu kịch liệt), và Quan tử.
=== Bố cục (布局) ===
Đây là giai đoạn ra quân trong cờ vây. Đây là giai đoạn quyết định cả bộ mặt của ván cờ sau này. Phần lớn trong khai cuộc, người ta tìm cách "án ngữ" chỉ vùng đất lớn trên bàn cờ bằng 1 đến 2 con; sau đó sẽ phát triển dần. Thông thường, các kì thủ bắt đầu bằng việc chiếm góc mà phần lớn là vào sao.
Khai cuộc cực kì khó, đơn giản vì bàn cờ vây có rất nhiều điểm để đặt quân. Để hỗ trợ cho các kì thủ nghiệp dư, nhiều cao thủ chuyên nghiệp đã nghiên cứu, sáng tác ra các thế khai cuộc gọi là định cục. Định cục liên tục phát triển và đổi mới.
=== Trung bàn chiến ===
Ở phần này, chủ yếu hai bên tập trung vào việc tranh giành đất đai, bắt đầu tính tới các vùng tranh chấp, tìm cách đặt quân như thế nào để hạn chế sự bành trướng của đối phương, chuẩn bị vây bắt quân đối phương. Những quân bị đối phương vây sẽ bị tiêu diệt nếu không tạo được hai mắt. Nếu quân đã bị bao vây, cần phải tìm cách dàn quân bên trong để tạo ra các "mắt".
Trung bàn là nơi thể hiện rõ nhất tinh hoa của trí sáng tạo, trí khôn ngoan và sức cờ dẻo dai. Có những người thậm chí có thể dự đoán được sự quan trọng của quân đến 60 nước cờ. Do kết quả cờ vây được quyết định bởi điểm số mục nên các kì thủ sử dụng nhiều cách thức: hoặc nhảy phá đất đối phương, tiêu diệt quân, hoặc vây chắc đất... để giành phần thắng. Ở trung bàn, nhiều cuộc đuổi bắt lớn tới mức chỉ cần thất bại, người chơi tự chịu thua mà không cần đến giai đoạn Quan tử.
Hầu hết các ván cờ nổi tiếng đều nhờ kĩ năng điêu luyện của các kì thủ thể hiện trong giai đoạn Trung bàn này
=== Thâu quan ===
Sau khi qua trung cuộc, các vùng lãnh thổ của cả hai đấu thủ tạm thời xác định, ít có khả năng tạo ra những thay đổi lớn về tương quan thế lực của 2 bên, việc hoàn chỉnh lãnh thổ chỉ còn là những việc nhỏ chi tiết, đó chính là giai đoạn tàn cuộc gọi là thâu quan. Các quân cờ thường được sắp xếp lại để tạo thành những hình đơn giản, thuận tiện cho việc xác định lãnh thổ và tính điểm.
== Máy tính với cờ vây ==
Do cờ vây có nhiều quân hơn và nhiều ô đi hơn, độ phức tạp của cờ vây vượt xa cờ vua/cờ tướng và chương trình máy tính rất khó để chơi tốt. Sau khi Deep Blue đánh bại nhà vô địch thế giới cờ vua Garry Kasparov, đích tiếp theo của trí tuệ nhân tạo là chương trình cờ vây có thể thắng nhà vô địch.
Tháng 10 năm 2015, chương trình cờ vây DeepMind của Google đã đánh bại Fan Hui, người từng 3 lần vô địch môn cờ vây khu vực châu Âu.
Ngày 9/3/2016 hệ thống trí tuệ nhân tạo AlphaGo của Google đã thách thức kỳ thủ cờ vây người Hàn Quốc Lee Sedol trong một trận đấu 5 ván. Kết quả bất ngờ, trí tuệ nhân tạo đã giành chiến thắng sau khi thắng cả 3 ván đầu tiên. Kì thủ đã vô cùng sốc vì trước đó đã rất tự tin rằng có thể giành chiến thắng mang về giải thưởng 1 triệu USD. Lee gỡ lại ván thứ 4, ván đấu AlphaGo cầm quân đen. Bước sang ván thứ 5, Lee Sedol lại tiếp tục tạo ra bất ngờ khi quyết định cầm quân đen, do anh nhận thấy AlphaGo chơi không tốt khi phải cầm quân đen ở ván thứ 4. Tuy có chiếm được đôi chút lợi thế ở khu phía Nam bàn cờ, nhưng cuối cùng Lee Sedol vẫn phải chịu thất bại chung cuộc 4-1, khi AlphaGo hoàn toàn làm chủ thế trận. Có đôi luồng thông tin về việc AlphaGo thua ở ván thứ 4 do mắc phải lỗi giống con người - Quá tự tin - nhưng thông tin này chưa được kiểm chứng và chưa có nguồn tin chính thức từ đội ngũ thiết kế.
== Một số loại cờ khác gần giống cờ vây ==
Cờ Othello: cờ này có hình dáng quân cờ cũng tương tự như cờ vây, các quân cờ hình tròn dẹt giống hệt nhau, mỗi quân có màu đen và trắng ở mỗi mặt. Các quân cờ được đặt vào những ô cờ, chứ không phải đặt vào những điểm giao nhau như trong cờ vây. Tuy nhiên, cờ này có luật chơi đơn giản hơn và mục đích là biến các quân cờ đối thủ thành quân cờ của mình, càng nhiều càng tốt. Khi bắt được quân cờ của bên kia, quân cờ đó sẽ được lật mặt và trở thành quân cờ bên này.
Gomoku, Pente và Renju (Renju còn gọi là 連珠五子棋, Liên Châu Ngũ Tử Kỳ, Five in a Row...): Những cờ này có hình dáng quân cờ cũng tương tự như cờ vây, có các quân cờ màu trắng và quân cờ màu đen, bàn cờ chia lưới 19x19 hoặc 15x15. Trong những trò chơi này, mục đích là tạo thành một dãy có 5 quân cờ cùng màu, đứng liên tiếp cạnh nhau (tương tự cờ Caro của Việt Nam). Những trò chơi này không có nhiều chiến thuật bằng cờ vây.
Connect6: giống ba trò chơi vừa nêu ở trên, nhưng mục đích có khác, thay vì tạo 5 quân sẽ là tạo được 6 quân liên tục trên cùng một hàng.
== Thành ngữ trong cờ vây ==
Góc vàng, biên bạc, giữa cỏ khô
Vi kì dị học nan tinh (cờ vây dễ học mà khó giỏi)
== Các danh thủ cờ vây ==
=== Quốc tế ===
Ki Young Kim, Hàn Quốc. Ông Kim chỉ là kỳ thủ nghiệp dư bình thường ở Hàn Quốc, nhưng đã đến Việt Nam mở 1 hội quán cờ vây từ năm 1995-1998, địa chỉ 16 Lê Thị Riêng, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Xem danh sách các danh thủ cờ vây
=== Việt Nam ===
Nam kỳ thủ:
Hoàng Nam Thắng, Đà Nẵng, quán quân giải Vô địch Quốc gia năm 2001.
Lê Mai Duy, Thành phố Hồ Chí Minh, quán quân giải Vô địch Quốc gia năm 2002, 2004, 2005, 2006.
Trần Chí Thành, Tp Hồ Chí Minh, á quân giải Vô địch Quốc gia năm 2002.
Trần Anh Tuấn, Tp Hồ Chí Minh, huy chương đồng giải Vô địch Quốc gia năm 2002.
Trần Anh Tuấn, Tp Hồ Chí Minh, quán quân giải Vô địch Quốc gia năm 2003.
Lê Mai Duy, Tp Hồ Chí Minh, á quân giải Vô địch Quốc gia năm 2003.
Trần Trung Tín, Tp Hồ Chí Minh, huy chương đồng, giải Vô địch Quốc gia năm 1999, 2003.
Đoàn Vũ Chung, Hà Nội, nhận được chứng chỉ 2d từ Nihon Kiin năm 1998
Vũ Thiện Bảo, Hà Nội, nhận được chứng chỉ 1d từ Nihon Kiin năm 1998
Nữ kỳ thủ:
Ngô Thị Thanh Thủy, Tp Hồ Chí Minh, vô địch giải Vô địch Quốc gia năm 2001.
Nguyễn Thị Hương, Hà Nội, á quân giải Vô địch Quốc gia năm 2001.
Nguyễn Thị Hương, Hà Nội, quán quân giải Vô địch Quốc gia năm 2002
Nguyễn Thị Hồng Anh, Kiên Giang, á quân giải Vô địch Quốc gia năm 2002, 2006.
Nguyễn Thị Hồng Anh, Kiên Giang, quán quân giải Vô địch Quốc gia năm 2003, 2004, 2005.
Ngô Thị Thanh Thủy, Tp Hồ Chí Minh, á quân giải Vô địch Quốc gia năm 2003.
Trần Thanh Mai, Hà Nội, quán quân giải vô địch quốc gia năm 2006
== Triết lý và giai thoại trong cờ vây ==
Âu Dương Tu đời nhà Tống có viết trong Tân Ngũ Đại Sử:
Việc trị nước cũng không khác gì đánh cờ vây, biết cách dùng, biết cách đặt cho đúng chỗ thì thắng, không biết cách dùng, cách đặt thì thua.
Lục Cửu Uyên, một lý học gia người Trung Hoa, treo bàn cờ trên tường và trầm tư suy nghĩ, sau hai ngày có thốt ra một câu:
Cờ vây so với hà đồ cũng chẳng có khác gì nhau.
Vào đời nhà Tấn, ở núi Tín An, quận Thạch Thất, có một tiều phu tên là Vương Chất. Khi đi vào rừng đốn củi như mọi hôm, ông thấy có hai đứa bé ngồi đánh cờ. Ông được đưa cho một vật nhỏ như hạt táo, ăn vào để không cảm thấy đói. Hai đứa bé thì đánh cờ, còn Vương Chất ngồi chống búa xem. Sau thời gian khá lâu, một đứa bé chỉ vào ông và nói rằng, cán búa của ngươi mục rồi kìa. Sau khi hết ván cờ, Vương Chất trở về quê cũ thì mọi thứ đã thay đổi khác, do lúc này ông đã 100 tuổi. (Lạn Kha tiên khách)
== Cờ vây trong lĩnh vực khác ==
=== Trong thơ ===
...Khi hương sớm khi trà trưa
Bàn Vây điểm nước, đường tơ họa đàn
Khi chén rượu, khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên....
Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
...Tìm nơi tịch mịch, chốn vườn thơm
Xem cuộc cờ vây nơi ngõ ẩn...
Trích thơ của Ngô Thì Nhậm
Vi kỳ nhàn đắc địa,
Đối tửu tuý vi hương.
(Chơi cờ vây, nhàn là nơi đắc địa,
Uống rượu với bạn, say là quê nhà.)
Trích thơ "Thôn quê"-Nguyễn Xưởng-thời nhà Trần
=== Trong ca dao, tục ngữ ===
Nỗi về nỗi ở chưa xong
Bối rối trong lòng như đánh cờ vây.
=== Trong văn xuôi ===
Danh thủ cờ vây của Kawabata Yasunari
Thiếu nữ đánh cờ vây của Sơn Táp (Shan Sa), một nữ nhà văn người Pháp gốc Trung Quốc.
Thiên Long bát bộ, truyện của Kim Dung.
Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung.
=== Trong điện ảnh ===
Tể tướng Lưu gù, phim truyền hình Trung Quốc nhiều tập
Anh hùng (Hero), đạo diễn Trương Nghệ Mưu, Trung Quốc.
A Beautiful Mind, đạo diễn Ron Howard.
Hikaru no Go, phim hoạt hình của Nhật Bản.
Mikan no taikyoku, (1982) của Trung Quốc hợp tác với Nhật Bản.
The Go Master, (2006) của Trung Quốc - về cuộc đời của Go Seigen.
Hồi đáp 1988 (2015), drama Hàn Quốc - về nhân vật kỳ thủ cờ vây Choi Teak.
== Tham khảo ==
== Sách đọc thêm ==
Nguyễn Duy Chính, Cờ vây. Trong tài liệu này có hai bản kỳ phổ hiếm có, Lạn Kha Phổ và Ẩu Huyết Phổ.
Bozulich, Richard (2001), The Go Player's Almanac (ấn bản 2), Kiseido Publishing Company, ISBN 4-906574-40-8
Brooks, E Bruce (2007), Warring States Project Chronology #2, truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2007
Fairbairn, John (1992), A Survey of the best in Go Equipment in Bozulich 2001—pp. 142–155
Fairbairn, John (1995), Go in Ancient China, truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2007
Fairbairn, John (2000), History of Go in Korea, truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2007
Fairbairn, John; Hall, T Mark (2007), The GoGoD Encyclopaedia, Games of Go on Disc
Kim, Janice; Jeong, Soo-hyun (1994), Learn to Play Go, Good Move Press, ISBN 0-9644796-1-3
Lasker, Edward (1960) [1934], Go and Go-Moku, Courier Dover Publications, ISBN 0486206130
Masayoshi, Shirakawa (2005), A Journey In Search of the Origins of Go, Yutopian Enterprises, ISBN 1889554987
Matthews, Charles (tháng 9 năm 2002), Sufficient but Not Necessary: Two Eyes and Seki in Go, University of Cambridge, truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2007
Peng, Mike; Hall, Mark (1996), “One Giant Leap For Go” (PDF), Svenks Go Tidning 96 (2): 7–8, truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2007
Pinckard, William (1989), “The Four Accomplishments”, trong Richard Bozulich, Japanese Prints and the World of Go, truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2007
Potter, Donald L. (1984), “Go in the Classics”, Go World (Tokyo: Ishi Press) (37): 16–18, truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2007
Potter, Donald L. (1985), “Go in the Classics (ii): the Tso-chuan”, Go World (Tokyo: Ishi Press) (42): 19–21, truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2007
== Đọc thêm ==
Sách giới thiệu:
Bradley, Milton N. Go for Kids, Yutopian Enterprises, Santa Monica, 2001 ISBN 978-1-889554-74-7.
Cho, Chikun. Go: A Complete Introduction to the Game, Kiseido Publishers, Tokyo, 1997, ISBN 978-4-906574-50-6.
Cobb, William. The Book of Go, Sterling Publishers, 2002, ISBN 978-0-8069-2729-9.
Iwamoto, Kaoru. Go for Beginners, Pantheon, New York, 1977, ISBN 978-0-394-73331-9.
Kim, Janice, and Jeong Soo-hyun. Learn to Play Go series, five volumes: Good Move Press, Sheboygan, Wisconsin, second edition, 1997. ISBN 0-9644796-1-3.
Matthews, Charles. Teach Yourself Go, McGraw-Hill, 2004, ISBN 978-0-07-142977-1.
Shotwell, Peter. Go! More than a Game, Tuttle Publishing, Boston, 2003. ISBN 0-8048-3475-X.
Lịch sử:
Boorman, Scott A. (1969), The Protracted Game: A Wei Ch'i Interpretation of Maoist Revolutionary Strategy, New York, NY: Oxford University Press, ISBN 9780195014938
De Havilland, Augustus Walter (1910), The ABC of Go: The National War Game of Japan, Yokohama, Kelly & Walsh, OCLC 4800147
Korschelt, Oscar (1966), The Theory and Practice of Go, C.E. Tuttle Co, ISBN 9780804805728
Smith, Arthur (1956), The Game of Go: The National Game of Japan, C.E. Tuttle Co, OCLC 912228
== Xem thêm ==
Cờ úp
Cờ tư lệnh
Cờ cá ngựa
Cờ vua
Cờ tướng
Cờ Othello
Shogi
Renju (Cò cai ro)
== Liên kết ngoài ==
Sách nhập môn cờ vây tiếng Việt - trình độ dưới 2d có thể tham khảo
Lịch sử Cờ vây ở Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật
Cờ thế cờ vây
Thư viện cờ vây tiếng Anh |
kyat.txt | Kyat (tiếng Myanma: kyap; IPA: [dʒɛʔ] hay IPA: [tʃɛʔ]; ISO 4217 mã MMK; đọc là chạt) là đơn vị tiền tệ của Myanma. Nó thường được viết tắt là "K", được đặt trước giá trị ghi bằng số.
== Lịch sử ==
=== Tiền kyat đầu tiên năm 1889 ===
Đồng kyat này là tiền đúc bằng vàng và bạc ở Miến Điện cho đến năm 1889. Nó được chia ra làm 20 pe. Một kyat cũng có thể chia thành 4 pya (5 pe), 10 mu (2 pe), hoặc 5 mat (4 pe). Tỷ số hối đoái đặt 16 kyat bạc bằng 1 kyat vàng. Kyat bạc mang giá trị tương đương với đồng rupee Ấn Độ khi đơn vị tiền tệ này được người Anh dùng thay thế đồng kyat sau khi Miến Điện mất chủ quyền và chịu sự đô hộ của Luân Đôn.
=== Kyat thứ hai 1943-1945 ===
Khi Nhật Bản chiếm Miến Điện năm 1942, họ đã đưa vào sử dụng một đơn vị tiền tệ dựa trên đồng rupee. Đến năm 1943 thì đồng kyat lại được người Nhật cho phát hành lại. Đồng kyat 1943 này được chia ra thành 100 cent nhưng khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc và Nhật Bản bại trận thì đồng kyat này hoàn toàn mất giá. Đồng rupee sau đó được đưa vào sử dụng trở lại.
=== Kyat thứ 3 1952- ===
Đồng tiền kyat hiện nay đã được đưa vào sử dụng ngày 1 tháng 7 năm 1952. Nó thay thế rupee ngang giá. Các đơn vị nhỏ hơn theo số thập phân cũng được thiết lập với việc kyat được chia ra 100 pya.
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng MMK ==
== Tham khảo == |
động cơ điện.txt | Động cơ điện là máy điện dùng để chuyển đổi năng lượng điện sang năng lượng cơ. Máy điện dùng để chuyển đổi ngược lại (từ cơ sang điện) được gọi là máy phát điện hay dynamo. Các động cơ điện thường gặp dùng trong gia đình như quạt điện, tủ lạnh, máy giặt, máy bơm nước, máy hút bụi...
== Ứng dụng ==
Ngày nay động cơ điện được dùng trong hấu hết mọi lĩnh vực, từ các động cơ nhỏ dùng trong lò vi sóng để chuyển động đĩa quay, hay trong các máy đọc đĩa (máy chơi CD hay DVD), đến các đồ nghề như máy khoan, hay các máy gia dụng như máy giặt, sự hoạt động của thang máy hay các hệ thống thông gió cũng dựa vào động cơ điện. Ở nhiều nước động cơ điện được dùng trong các phương tiện vận chuyển, đặc biệt trong các đầu máy xe lửa.
Trong công nghệ máy tính: Động cơ điện được sử dụng trong các ổ cứng, ổ quang (chúng là các động cơ bước rất nhỏ).
== Nguyên tắc hoạt động ==
Phần chính của động cơ điện gồm phần đứng yên (stator) và phần chuyển động (rotor) được quấn nhiều vòng dây dẫn hay có nam châm vĩnh cửu. Khi cuộn dây trên roto và stato được nối với nguồn điện, xung quanh nó tồn tại các từ trường, sự tương tác từ trường của rotor và stator tạo ra chuyển động quay của rotor quanh trục hay 1 mômen.
Phần lớn các động cơ điện hoạt động theo nguyên lý điện từ, nhưng loại động cơ dựa trên nguyên lý khác như lực tĩnh điện và hiệu ứng điện áp cũng được sử dụng. Nguyên lý cơ bản mà các động cơ điện từ dựa vào là có một lực lực cơ học trên một cuộn dây có dòng điện chạy qua nằm trong một từ trường. Lực này theo mô tả của định luật lực Lorentz và vuông góc với cuộn dây và cả với từ trường.
Phần lớn động cơ từ đều xoay nhưng cũng có động cơ tuyến tính. Trong động cơ xoay, phần chuyển động được gọi là rotor, và phần đứng yên gọi là stator.
== Điều khiển động cơ ==
Đa số động cơ điện không đồng bộ có thể điều khiển tốc độ bằng cách đổi kiểu đấu nối (sao, tam giác); Một số có thể điều khiển bằng các biến tần. Các động cơ bước phải sử dụng một bộ điều khiển riêng (được gọi là driver).
== Lịch sử phát triển ==
Năm 1820: nhà hóa học Đan Mạch Hans Christian Ørsted phát hiện ra hiện tượng điện từ.
Nguyên lý chuyển đổi từ năng lượng điện sang năng lượng cơ bằng cảm ứng điện từ được nhà khoa học người Anh là Michael Faraday phát minh năm 1821. Ông công bố kết quả thí nghiệm của ông về chuyển động quay điện từ, gồm chuyển động quay của dây dẫn trong từ trường và chuyển động của nam châm quanh 1 dây dẫn
Năm 1822: Peter Barlow phát triển ra bánh xe Barlow
Năm 1828: động cơ điện đầu tiên sử dụng nam châm điện cho cả rotor và stator được phát minh bởi Ányos Jedlink (nhà khoa học người Hungary), sau đó ông đã phát triển động cơ điện có công suất đủ để đẩy được một chiếc xe.
Năm 1834: Thomas Davenport chế tạo ra động cơ chỉnh lưu
Năm 1838: động cơ điện công suất 220 W được dùng cho thuyền chế tạo bởi Hermann Jacobi
Năm 1866: Werner von Siemens sáng chế ra máy phát điện
== Phân loại ==
Động cơ không đồng bộ
Động cơ đồng bộ
Động cơ điện một chiều
Động cơ điện một chiều kích thích bởi nam châm vĩnh cửu
Động cơ điện một chiều kích thích bởi dòng điện
Động cơ bước
Động cơ giảm tốc
Động cơ rung
Động cơ Servo
== Tham khảo == |
gia phả học.txt | Gia phả học là môn học nghiên cứu về gia phả.
Môn học này đang được phát triển ở khắp nơi trên thế giới. Lý do là ngày càng có nhiều người trong xã hội, trong gia đình nhận thấy gia phả là tài liệu quý báu cho nhiều ngành học. Một Tông đồ, một Gia phả, một Phả ký, một Phổ truyền dù đơn sơ hay súc tích cũng đều trở nên những tài liệu quý báu cho nhà xã hội học, nhà sử học về sau. Nó còn có thể hữu dụng cho những nghiên cứu về tâm lý, về di truyền học, huyết học, y học. Một lý do nữa là với tiến bộ của công nghệ, kỹ thuật ghi chép, sưu tầm những tin tức, tra cứu lịch sử... càng ngày càng thuận lợi hơn.
Việc phổ biến gia phả giới hạn trong vòng gia đình, tông tộc hay mở rộng ra trên Internet cho công chúng trong phạm vi rộng khắp đã làm cho nhiều người băn khoăn về vấn đề bí mật cá nhân. Lợi điểm của việc phổ biến rộng rãi là nhiều người có dịp đọc đến có thể tìm ra một sự nối kết, có ý hướng sử dụng nó vào những mục đích nghiêm chỉnh - hướng thiện, như bổ sung kiến thức cho văn hóa, cho lịch sử.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
nhà nguyễn.txt | Nhà Nguyễn (Chữ Nôm: 家阮, Chữ Hán: 阮朝; Hán Việt: Nguyễn triều) là triều đại cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, năm 1802 đến năm 1804 sử dụng quốc hiệu Nam Việt (Gia Long khi triều cống nhà Thanh tự xưng "Nam Việt Quốc trưởng"), năm 1804 đến năm 1839 sử dụng quốc hiệu Việt Nam, Đại Việt Nam, năm 1839, vua Minh Mạng Nguyễn Phúc Kiểu đổi quốc hiệu là Đại Nam. Nhà Nguyễn được thành lập sau khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và chấm dứt hoàn toàn khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào năm 1945, tổng cộng là 143 năm. Triều Nguyễn là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm của lịch sử, đặc biệt là cuộc xâm lược của người Pháp giữa thế kỷ 19.
Triều Nguyễn trải qua hai giai đoạn chính. Giai đoạn thứ nhất (1802-1858) được coi là giai đoạn độc lập, các vua nhà Nguyễn nắm toàn quyền quản lý đất nước, trải qua 4 đời vua, Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Gia Long và sau đó là vua Minh Mạng đã cố gắng xây dựng Việt Nam trên nền tảng Nho giáo. Từ thập niên 1850, một nhóm trí thức Việt Nam, tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ, đã đặt ra yêu cầu học hỏi phương Tây để phát triển công nghiệp - thương mại, cải cách quân sự - ngoại giao, nhưng họ chỉ là thiểu số. Do đa số quan chức triều Nguyễn và giới sĩ phu không ý thức được sự cần thiết của việc cải cách kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao,...; và mở cửa đất nước nên Tự Đứ không quyết tâm thực hiện những đề xuất này. Giai đoạn thứ hai, (1858-1945) được coi là giai đoạn bị Pháp xâm lăng và đô hộ, kể từ khi quân Pháp đánh Đà Nẵng và kết thúc sau khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị. Tháng 8 năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau đó rút vào xâm chiếm Gia Định. Tháng 6 năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước cắt nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam Kỳ). Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở Bắc Kỳ, đến năm 1884 thì nhà Nguyễn chính thức công nhận quyền cai trị của Pháp trên toàn Việt Nam. Pháp có quyền cai trị, còn các vua nhà Nguyễn chỉ còn là tượng trưng, quân Pháp có thể tùy ý phế lập vua Nguyễn. Giai đoạn này kết thúc khi Bảo Đại tuyên bố thoái vị năm 1945.
== Thời kỳ độc lập ==
=== Thành lập ===
Năm 1778, Nguyễn Ánh quay lại và tập hợp lực lượng chiếm được Gia Định và đến năm 1780, ông xưng vương. Trong mùa hè năm 1781, quân đội của Nguyễn Ánh lên đến khoảng 3 vạn người với 80 chiến thuyền đi biển, 3 thuyền lớn và 2 tàu Bồ Đào Nha do giám mục Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Ánh mời được. Ông tổ chức tấn công Tây Sơn đánh tới tận đất Phú Yên nhưng sau cùng phải rút chạy vì gặp bộ binh rất mạnh của Tây Sơn. Tức giận vì tốn kém nhưng không thu được kết quả, quan lại Gia Định để cho một người phụ việc của Bá Đa Lộc là cai cơ Manuel (Mạn Hòe) lập mưu giết chết các tay lính đánh thuê Bồ Đào Nha và cướp tàu của họ.
Tháng 3 năm 1782, Nguyễn Huệ cùng vua Thái Đức mang quân thuỷ bộ Nam tiến. Tây Sơn đụng trận dữ dội ở sông Ngã Bảy, cửa Cần Giờ với quân Nguyễn do chính Nguyễn Ánh chỉ huy. Dù lực lượng thuyền của Tây Sơn yếu hơn, nhưng nhờ lòng can đảm của mình, họ đã phá tan quân Nguyễn, buộc Manuel tự sát, tuy vậy cũng thiệt hại khá nhiều binh lực. Nguyễn Ánh bỏ chạy về Ba Giồng, rồi có khi trốn sang tận rừng Romdoul, Chân Lạp. Vua Thái Đức khi tấn công Nam bộ do cướp bóc Cù lao Phố nên gặp phải sự chống đối mạnh của người Hoa ủng hộ Nguyễn Ánh tại đây khiến cho một thân tướng là Đô đốc Phạm Ngạn tử trận, binh lính thương vong nhiều, nên ông rất đau đớn rồi nổi giận ra lệnh tàn sát người Hoa ở Gia Định để trả thù. Việc này đã cản chân Tây Sơn trong việc truy bắt Nguyễn Ánh, khiến cho Nguyễn Ánh có cơ hội quay trở về Giồng Lữ, một đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Học đem quân đuổi theo Ánh bị quân Nguyễn bắt giết khiến cho Nguyễn Ánh có được 80 thuyền của Tây Sơn. Nguyễn Ánh thấy vậy định kéo về chiếm lại Gia Định nhưng đụng Nguyễn Huệ dàn binh quay lưng ra sông đánh bại khiến Nguyễn Ánh phải chạy về Hậu Giang, Rạch Giá, Hà Tiên rồi theo thuyền nhỏ trốn ra Phú Quốc.
Sau khi chiến thắng quân Thanh, vua Quang Trung đang chuẩn bị phối hợp với vua anh (Thái Đức) đem quân vào Nam đánh Gia Định thì đột ngột qua đời (1792), con là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, hiệu là Cảnh Thịnh. Loạn lạc liền nổ ra ở Bắc Hà, sĩ phu trung thành với nhà Lê nổi lên tôn Lê Duy Cận làm minh chủ, Duy Cận liên lạc với Nguyễn Ánh để cùng đánh Tây Sơn, việc này góp phần làm cho nhà Tây Sơn nhanh chóng suy yếu. Nội bộ Tây Sơn xảy ra tranh chấp, quyền hành rơi vào tay ngoại thích Bùi Đắc Tuyên. Từ đó, Nguyễn Ánh ra sức mở các đợt tấn công ra Quy Nhơn theo nguyên tắc đã định trước đó: "Gặp nồm thuận thì tiến, vãn thì về, khi phát thì quân lính đủ mặt, về thì tản ra đồng ruộng". Ngoài ra, Nguyễn Ánh còn định cho sứ đi ngoại giao với Trung Quốc, lợi dụng mâu thuẫn và thù hằn của quốc gia này với Tây Sơn, và cả sự có mặt của Lê Chiêu Thống bên đó để khiến Trung Quốc giúp mình nhưng việc không thành do khi sứ của Nguyễn Ánh là Ngô Nhơn Tĩnh và Phạm Thận sang đến nơi thì Lê Chiêu Thống đã mất.
Năm 1793, Nguyễn Ánh cùng các tướng Võ Duy Nguy, Nguyễn Văn Trương, Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Phước Hội, Philippe Vannier, Nguyễn Văn Hòa, Chưởng cơ Cố đem quân đánh Nha Trang, Diên Khánh, Phú Yên rồi tranh thủ đánh tới tận thành Quy Nhơn của Nguyễn Nhạc. Vua Thái Đức cầu cứu Phú Xuân. Cảnh Thịnh sai Ngô Văn Sở, Phạm Công Hưng, đô đốc Hố và Chưởng cơ Thiêm đem 17.000 quân, 80 thớt voi,và 30 chiếc thuyền chia nhiều đường tiến vào cứu, quân Nguyễn Ánh rút lui, trên đường về ông sai quân đắp thành Diên Khánh để lợi dụng địa thế nơi này làm bàn đạp chống Tây Sơn. Cùng thời gian, quân Phú Xuân của Tây Sơn nhân dịp đánh chiếm luôn đất đai, kho tàng của vua Thái Đức. Lúc đó Nguyễn Nhạc đang bệnh trên giường, nghe tin cơ nghiệp của con mình là Quang Bảo bị chiếm mất, uất quá thổ huyết mà qua đời. Quang Toản cho an trí Quang Bảo ra huyện Phù Ly và cai quản toàn bộ đất đai của vua bác.
Từ năm 1794 đến năm 1795, Tây Sơn phản công, họ cho quân nhiều lần vào đánh Phú Yên, vây thành Diên Khánh, quân Nguyễn cũng ra sức chống cự, nhiều lần kìm hãm, thậm chí là đánh lại được quân Tây Sơn. Tuy nhiên nội bộ Tây Sơn lại mâu thuẫn, các tướng tranh quyền. Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở, Quang Toản không làm gì được. Trần Quang Diệu đang đi đánh Nguyễn Ánh, nghe tin đành rút quân về, suýt giao tranh với Vũ Văn Dũng may nhờ có Quang Toản sai quan ra khuyên giải Trần Quang Diệu mới đồng ý hòa. Nhưng sau đó Quang Toản lại nghe lời gièm pha tước mất binh quyền của Trần Quang Diệu, Tây Sơn từ đó cứ lục đục mãi, các quan nghi kị giết hại lẫn nhau tạo điều kiện thuận lợi cho Nguyễn Ánh. Năm 1797, Nguyễn Ánh cho quân ra đánh Phú Yên, riêng ông thì cùng Nguyễn Phúc Cảnh chỉ huy thủy quân ra tận Quy Nhơn giao chiến với tướng Tây Sơn là Lê Trung tại Thị Nại thu được nhiều khí giới, nhưng khi tới Quy Nhơn thấy thế lực Tây Sơn thủ mạnh quá đành vòng lên đánh Quảng Nam nhưng được mấy tháng lại rút về vì thuyền chở quân lương từ Gia Định bị ngược gió không lên kịp.
Nguyễn Ánh chiêu dụ Nguyễn Quang Bảo nhưng việc chưa thành vì Quang Toản ra tay trước, bắt và giết được Quang Bảo. Nhưng Tây Sơn lại rơi vào lục đục, Quang Toản nghi ngờ giết hại nhiều triều thần, võ tướng, khiến cho sức chiến đấu suy giảm, thêm nhiều người sang hàng Nguyễn Ánh. Năm 1799, Nguyễn Ánh cho sứ yêu cầu vua Xiêm La cho một đạo quân Chân Lạp và Vạn Tượng đi đến sát biên giới Nghệ An để nghi binh và vua Xiêm đồng ý làm theo. Cũng trong năm 1799, Nguyễn Ánh tự cầm quân đi đánh thành Quy Nhơn, tướng giữ thành của Tây Sơn là Vũ Tuấn đầu hàng dù trước đó Quang Toản đã sai Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đem quân vào cứu. Sau đó, Nguyễn Ánh đổi tên Quy Nhơn thành Bình Định, rồi cho quân tới trấn giữ thành. Tây Sơn ngay lập tức tìm cách chiếm lại; tháng 1 năm 1800, hai danh tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng kéo đến vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Ánh cho quân ra cứu nhưng bị bộ binh Tây Sơn chặn lại, ông chia quân đi đánh các nơi và thắng nhiều trận, trong đó có một trận lớn ở Thị Nại. Thấy thế Tây Sơn vây Quy Nhơn còn mạnh, Nguyễn Ánh cho người lẻn mang thư đến bảo tướng quân Nguyễn giữ thành là Võ Tánh mở đường máu mà trốn ra nhưng Võ Tánh quyết tử thủ để tạo điều kiện cho Nguyễn Ánh đánh Phú Xuân, việc này khiến thời gian hai danh tướng Tây Sơn bị cầm chân lên hơn một năm. Năm 1801, Nguyễn Ánh nhận thấy tinh binh Tây Sơn đều tập trung cả ở chiến trường Quy Nhơn nên mang quân chủ lực vượt biển ra đánh Phú Xuân. Tháng 5 năm 1801, Nguyễn Ánh kéo quân giao chiến dữ dội với Tây Sơn ở cửa Tư Dung; rồi đụng Quang Toản ở cửa Eo, Quang Toản thua trận bỏ chạy ra Bắc và đến ngày 3 tháng 5 Nguyễn Ánh giành được Phú Xuân.
Cùng thời gian nghe tin Phú Xuân bị tấn công, Trần Quang Diệu đang vây Quy Nhơn sai binh về cứu nhưng bị quân Nguyễn chặn đánh nên quân không về được, ông chỉ còn cách cố gắng đốc binh chiếm thành. Đầu năm 1802, Tây Sơn mới chiếm lại thành Quy Nhơn, Võ Tánh tự vẫn để xin tha mạng cho binh sĩ. Trần Quang Diệu tha cho binh Nguyễn, an táng Võ Tánh và thuộc tướng rồi bỏ thành Quy Nhơn; cùng Vũ Văn Dũng mang quân cứu viện ra Nghệ An, bị quân Nguyễn chặn đường, phải vòng qua đường Vạn Tượng. Lúc tới Nghệ An thì thấy thành đã mất, quân sĩ bỏ chạy gần hết, vợ chồng Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân bị bắt, Vũ Văn Dũng không rõ số phận.
Cũng trong thời gian này, sau khi chiến thắng quân Tây Sơn, hoàn toàn chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế ngày 1 tháng 6 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1802). Để tượng trưng sự thống nhất Nam-Bắc lần đầu tiên sau nhiều năm, Nguyễn Ánh chọn niên hiệu là Gia Long, chữ Gia lấy từ Gia Định và Long lấy từ Thăng Long. Sau đó ông cho người đem toàn bộ ấn sách nhà Thanh trao cho Tây Sơn trả lại và xin phong, rồi sai Lê Văn Duyệt kéo quân tiếp ra Bắc Hà diệt hoàn toàn nhà Tây Sơn.
=== Tổ chức bộ máy ===
==== Quan chế và tổ chức chính quyền trung ương ====
Ngay từ sớm, Nguyễn Ánh đã phong vương, đặt quan lại cho những người theo phò tá mình. Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và trở thành hoàng đế Gia Long, ông lại tiếp tục kiện toàn lại hệ thống hành chính và quan chế của chính quyền mới. Nhà Nguyễn về cơ bản vẫn giữ nguyên hệ thống quan chế và cơ cấu chính quyền trung ương giống như các triều đại trước đó. Đứng đầu nhà nước là vua, nắm mọi quyền hành trong tay. Giúp vua giải quyết giấy tờ, văn thư và ghi chép có Văn thư phòng (năm 1829 đổi là Nội các). Về việc quân quốc trọng sự thì có 4 vị Điện Đại học sĩ gọi là Tứ trụ Đại thần, đến năm 1834 trở thành viện Cơ mật. Ngoài ra còn có Tông nhân phủ phụ trách các công việc của Hoàng gia.
Bên dưới, triều đình lập ra 6 Bộ, đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng thư chịu trách nhiệm chỉ đạo các công việc chung của Nhà nước, các bộ gồm: Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hình và Bộ Công. Bên cạnh 6 Bộ còn có Đô sát viện (tức là Ngự sử đài bao gồm 6 khoa) chịu trách nhiệm thanh tra quan lại, Hàn lâm viện phụ trách các sắc dụ, công văn, 5 Tự phụ trách một số sự vụ, phủ Nội vụ coi sóc các kho tàng, Quốc tử giám phụ trách giáo dục, Thái y viện chịu trách nhiệm về việc chữa bệnh và thuốc thang,... cùng với một số Ti và Cục khác.
Theo Trần Trọng Kim, người ta "thường hiểu mấy chữ quân chủ chuyên chế theo nghĩa của các nước Tây Âu ngày nay, chứ không biết mấy chữ ấy theo cái học Nho giáo có nhiều chỗ khác nhau..." Theo tổ chức của nhà Nguyễn, khi có việc gì quan trọng, thì vua giao cho đình thần các quan cùng nhau bàn xét. Quan lại bất kỳ lớn bé đều được đem ý kiến của mình mà trình bày. Việc gì đã quyết định, đem dâng lên để vua chuẩn y, rồi mới thi hành. Hoàng đế tuy có quyền lớn nhưng lại không được làm điều gì trái phép thường. Khi vua có làm điều gì sai thì các quan Giám Sát Ngự Sử có quyền can ngăn vua và thường là vua phải nghe lời can ngăn của những người này. Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống thuộc về quyền tự trị của dân. Người dân tự lựa chọn lấy người của mình mà cử ra quản trị mọi việc tại đia phương. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng.
Ngạch quan lại chia làm 2 ban văn và võ. Kể từ thời vua Minh Mạng được xác định rõ rệt giai chế phẩm trật từ cửu phẩm tới nhất phẩm, mỗi phẩm chia ra chánh và tòng 2 bậc. Trừ khi chiến tranh loạn lạc còn bình thường quan võ phải dưới quan văn cùng phẩm với mình. Quan Tổng đốc (văn) vừa cai trị tỉnh vừa chỉ huy quân lính của tỉnh nhà. Lương bổng của các quan tương đối ít nhưng quan lại được hưởng nhiều quyền lợi, cha họ được khỏi đi lính, làm sưu và miễn thuế tùy theo quan văn hay võ, hàm cao hay thấp. Ngoài ra con cái các quan còn được hưởng lệ tập ấm. Tuy bộ máy không thật sự cồng kềnh, nhưng tệ tham nhũng vẫn là một trong những vấn đề lớn. Trong bộ luật triều Nguyễn có những hình phạt rất nghiêm khắc đối với tội này.
==== Phân chia hành chính ====
Năm 1802, trong khi đã quyết định Phú Xuân là quốc đô, Nguyễn Ánh vẫn tạm đặt 11 trấn phía Bắc (tương đương khu vực Bắc Bộ ngày nay) thành một Tổng trấn với tên cũ Bắc Thành, do một Tổng trấn đứng đầu.
Đến thời Minh Mạng, để nhất thể hóa các đơn vị hành chính trong cả nước, năm 1831-1832 nhà vua thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, theo đó bỏ các tổng trấn, đổi các dinh, trấn trấn thành tỉnh. Đây là lần đầu tiên đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện ở Việt Nam. Năm 1831, Minh Mạng đổi các trấn từ Quảng Trị trở ra thành 18 tỉnh, và vùng còn lại ở phía Nam được chia làm 12 tỉnh. Thừa Thiên, nơi toạ lạc của kinh đô Phú Xuân, là phủ trực thuộc Trung ương. Cả nước được chia làm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên.
Đứng đầu tỉnh là Tổng đốc (mỗi người phụ trách 2-3 tỉnh và chuyên trách 1 tỉnh) và Tuần phủ (dưới Tổng đốc, phụ trách chỉ 1 tỉnh). Giúp việc có Bố chánh sứ ti lo về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính; Án sát sứ ti lo về an ninh, luật pháp. Phụ trách về quân sự có chức lãnh binh. Các quan chức đứng đầu tỉnh đều do chính quyền trung ương trực tiếp bổ nhiệm, và thường là võ quan cao cấp, về sau mới bổ dụng thêm các quan văn. Hệ thống chính quyền được phân biệt rõ rệt giữa Trung ương và địa phương, và trong hệ thống này nhà vua, người đứng đầu đất nước, nắm nhiều quyền lực hơn hẳn so với các thời kỳ trước.
Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã. Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống do người dân tự lựa chọn cử ra quản trị. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng. Nhìn chung, cơ cấu hành chính của các tổng, xã được tổ chức khá chặt chẽ để triều đình dễ dàng quản lý và phản ứng mau lẹ khi có sự biến xảy ra.
Đối với vùng thượng du và với các khu vực sinh sống của các dân tộc thiểu số, Minh Mạng thực hiện nhất thể hóa về mặt hành chính cùng với các vùng miền xuôi. Năm 1829 ông bãi bỏ chế độ thế tập của các Thổ ti (các tù trưởng của dân tộc thiểu số) mà cho quan lại lựa chọn những thổ hào ở địa phương làm Thổ tri các châu huyện. Sau đó, Minh Mạng còn đặt thêm một chức lưu quan do người Kinh nắm giữ để khống chế các vùng này tốt hơn và tiến hành thu thuế như ở miền xuôi. Tuy nhiên, do phản ứng của người dân địa phương, vua Tự Đức sau đó đã bãi bỏ chế độ lưu quan.
Tính đến cuối thế kỷ 19, Việt Nam có 98 phủ bao gồm 342 huyện và châu.
Đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vua Gia Long từ năm 1816 đã chính thức ra lệnh tiếp thu Hoàng Sa, cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình. Sang triều Minh Mạng, nhà Nguyễn cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương. Từ thập niên 1890 chính quyền Bảo hộ nhân danh triều đình Huế của nhà Nguyễn cũng có dự định dựng ngọn hải đăng để khẳng định chủ quyền của Pháp trên quần đảo Hoàng Sa nhưng đồ án không thực hiện được và mãi đến năm 1938 mới có lực lượng chính thức chiếm đóng quần đảo này. Dù vậy khi nhà Thanh gửi thuyền xâm phạm quần đảo Hoàng Sa vào những năm đầu thế kỷ 20 thì Bộ Ngoại giao Pháp đã có công văn phản đối. Cuộc tranh chấp này kéo dài cho đến khi người Pháp mất chủ quyền ở Đông Dương và vẫn chưa kết thúc.
==== Quân đội ====
Một trong những thành quả Gia Long đạt được sau nhiều năm nội chiến với Tây Sơn là quân đội tương đối mạnh với trang bị và tổ chức kiểu phương Tây. Sau khi quản làm chủ toàn bộ quốc gia, nhà Nguyễn xây dựng quân đội hoàn thiện hơn, chính quy hơn. Để sung binh ngạch mới, vua Gia Long cho thực hiện phép giản binh, theo hộ tịch tuỳ nơi mà định, lấy 3, 5 hay 7 suất đinh tuyển 1 người lính. Quân chính quy đóng tại kinh thành và những nơi xung yếu; các địa phương đều có lực lượng vũ trang tại chỗ làm nhiệm vụ trị an. Quân chính quy có 14 vạn người, ngoài ra còn có quân trừ bị. Quân đội còn được tổ chức thành 4 binh chủng: bộ binh, tượng binh, thủy binh và pháo binh, trong đó bộ binh và thuỷ binh được chú trọng xây dựng để tác chiến độc lập. Trình độ chính quy thống nhất cao. Ngoài vũ khí cổ truyền, quân chính quy được trang bị hoả khí mua của phương Tây như đại bác, súng trường, thuyền máy, thuốc nổ...Các loại súng thần công, đại bác được đúc với kích thước, trọng lượng thống nhất; thành luỹ, đồn to nhỏ cũng được quy định cho từng cấp với số lượng quân nhất định.
Sự quan tâm tới khoa học quân sự phương Tây của Gia Long được xem là do tình thế bắt buộc thì với Minh Mạng lại hoàn toàn tự nguyện. Minh Mạng lấy phương Tây làm kiểu mẫu cho việc tổ chức quân đội, hướng đến việc quân cần tinh nhuệ, không cần nhiều, bỏ bớt số lượng người cầm cờ từ 40 người xuống 2 người trong đội ngũ đơn vị 1 vệ (500 người). Phương thức tác chiến được các học giả Mãn Thanh ghi nhận là giống hệt kiểu Pháp, do trong quân đội Minh Mạng có thuê các sĩ quan huấn luyện Tây Dương. Có thể nói, quân đội nhà Nguyễn thời bấy giờ là lực lượng quân sự tân tiến hiện đại nhất ở khu vực Đông A, vượt xa các nước láng giềng như Trung Hoa, Thái Lan, Campuchia.
Sang thời Tự Đức, công tác quốc phòng của nhà Nguyễn có sự tương phản rõ rệt với các triều trước. Một trong các lý do khiến tình hình quân đội suy sút là vấn đề tài chính. Vũ khí và trang thiết bị làm mới gần như không có. Trang bị bộ binh rất lạc hậu: 50 người mới có 5 súng, mỗi năm chỉ tập bắn 1 lần 6 viên đạn. Vũ khí được bảo trì cũng kém. Về thuỷ binh, không tàu hơi nước nào được đóng mới, thuỷ quân thậm chí không đủ khả năng bảo vệ bờ biển chống hải tặc. Việc giảng dạy binh pháp không chú trọng tới sách vở phương Tây nữa mà quay trở lại với Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo. Đời sống quân lính không được quan tâm thoả đáng, lương thực lại bị ăn bớt. Do đó tinh thần chiến đấu của quân sĩ không cao. Quan điểm khoa học quân sự của vua quan nhà Nguyễn không hề vượt quá khuôn khổ của khoa học quân sự phong kiến. Việc không bắt kịp với thành tựu mới của khoa học phương Tây thời Tự Đức khiến quân sự Việt Nam bị lạc hậu nhiều. Do đó, khi người Pháp vào xâm lược Việt Nam (1858), khoảng cách về trang thiết bị giữa quân đội nhà Nguyễn và quân Pháp đã khá xa.
==== Thuế khóa và lao dịch ====
Việc sinh hoạt quốc gia đòi hỏi phải có đủ tài chính để duy trì bộ máy triều đình nên sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã tổ chức lại vấn đề đăng tịch, bắt buộc mỗi làng xã phải ghi vào sổ đinh trong làng số đàn ông từ 18-60 tuổi. Các đinh bộ không bao giờ kê khai hết tất cả số đàn ông trong làng vì ngoài dân đinh còn có một số người là dân ngoại tịch, dân lậu, những người bần cùng, vô sản, không thể đánh thuế cũng như những người mới tới làng định cư.
Do tổ chức xã hội Việt Nam căn bản dựa trên xã, thôn nên triều đình không đòi hỏi người dân phải trả thuế trực tiếp mà giao cho làng lo việc thuế má và sưu dịch, không cần biết làng sẽ phân chia trách nhiệm giữa các dân làng ra sao. Mỗi làng hưởng quyền tự trị rất lớn, tự họ cai trị theo những tục lệ riêng ghi trong hương ước của làng. Hội đồng Kỳ mục trông coi tất cả công sản (tài sản công) và thuế khóa, đê điều, trị an. họ cũng phải lo phân phối công điền (ruộng công) giữa các dân đinh mỗi kỳ quân cấp và chỉ định thanh niên đi lính.
Về thuế nhân đinh và thuế ruộng, Nhà Nguyễn xoá bỏ tất cả chế độ thuế khoá cũ của Tây Sơn để đặt lại thuế khoá mới nặng hơn thời trước. Vua Gia Long cho sửa lại hộ tịch và điền tịch đã hư hỏng qua thời nội chiến. Hộ tịch phân ra 9 hạng, tuỳ từng hạng mà nộp thuế toàn bộ hay được miễn giảm một nửa hoặc miễn trừ cả sưu thuế lẫn sai dịch. Thuế đinh nhà Nguyễn đặc biệt đánh nặng lên dân Thanh Nghệ và Bắc Hà. Dân công nghệ thì nộp thuế sản vật. Thời Minh Mạng thì định lại thuế điền, chia cả nước ra 3 khu vực để đánh thuế. Thuế điền thì dân Thanh Nghệ và Bắc Hà cũng bị nặng hơn ở các miền khác. Theo thống kê của bộ Hộ thì số đinh năm đầu đời Gia Long là 992.559 người, cuối đời Thiệu Trị là 1.024.380 người. Về điền thổ thì đầu đời Tự Đức có 3.398.584 mẫu ruộng và 502.672 mẫu đất.
Mỗi người dân đinh phải chịu 60 ngày lao dịch cho triều đình. Lao dịch thường là để làm các mục đích, xây sửa hệ thống đê điều, kênh rạch, sông ngòi; xây đắp các thành lũy; xây dựng các cung điện cho hoàng gia. Trên thực tế, người dân phải lao dịch khá nặng trong thời gian vương triều Nguyễn xây dựng các cung điện, lăng tẩm, dinh thự,... Ví dụ năm 1807, ngay khi kinh thành Huế vừa được xây xong, vua Gia Long lại huy động hàng nghìn dân đinh và binh lính tiếp tục sửa chữa và tu bổ thêm trong một thời gian dài. Vua Minh Mạng cũng tiếp tục công việc xây dựng kinh đô. Vua Thiệu Trị thì không tập trung xây dựng kinh đô nữa, nhưng, trong một cuộc tuần du lớn ra Bắc Kỳ năm 1842, người dân đã phải xây 44 hành cung cho một phái đoàn đông đến 17.500 người, 44 con voi và 172 con ngựa của nhà vua. Theo nhận xét của giáo sĩ Pháp Guérard: "...sự bất công và lộng hành làm người ta rên xiết hơn cả thời Tây Sơn: thuế khóa và lao dịch đã tăng lên gấp ba". Trong dân gian đã xuất hiện các bài vè, bài ca miêu tả sự nặng nề của chế độ lao dịch, ví dụ bài "Tố khuất khúc" của dân Sơn Nam Hạ có câu:
Binh tài hai việc đã xong,
Lại còn lực dịch thổ công bao giờ.
Một năm ba bận công trình,
Hỏi rằng mọt sắt dân tình biết bao...
==== Luật pháp ====
Lúc đầu, nhà Nguyễn chưa có một bộ luật rõ ràng, chi tiết. Vua Gia Long chỉ mới lệnh cho các quan tham khảo bộ luật Hồng Đức để rồi từ đó tạm đặt ra 15 điều luật quan trọng nhất. Năm 1811, theo lệnh của Gia Long, tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành đã chủ trì biên soạn một bộ luật mới và đến năm 1815 thì nó đã được vua Gia Long ban hành với tên Hoàng Việt luật lệ hay còn gọi là luật Gia Long. Bộ luật Gia Long gồm 398 điều chia làm 7 chương và chép trong một bộ sách gồm 22 cuốn, được in phát ra khắp mọi nơi. Theo lời tựa, bộ luật ấy hình thành do tham khảo luật Hồng Đức và luật nhà Thanh nhưng kỳ thực là chép luật của nhà Thanh và chỉ thay đổi ít nhiều. Chương "Hình luật" chiếm tỉ lệ lớn, đến 166 điều trong khi những chương khác như "Hộ luật" chỉ có 66 điều còn "Công luật" chỉ có 10 điều. Trong bộ luật có một số điều luật khá nghiêm khắc, nhất là về các tội phản nghịch, tội tuyên truyền "yêu ngôn, yêu thư". Tuy nhiên, bộ luật cũng đề cao việc chống tham nhũng và đặt ra nhiều điều luật nghiêm khắc để trừng trị tham quan. Tất nhiên, đến các đời vua sau Gia Long, bộ luật này cũng được chỉnh sửa và cải tiến nhiều, nhất là dưới thời Minh Mạng.
=== Ngoại giao ===
==== Với các nước lân bang ====
Cũng như các triều đại trước, nước đầu tiên mà Gia Long tiến hành ngoại giao là Trung Quốc. Tháng 5 năm 1802, sau khi lên ngôi vua, Gia Long cho một đoàn sứ giả đem đồ cống sang Quảng Đông cầu phong triều đình Trung quốc. Dẫn đầu đoàn sứ giả là Trịnh Hoài Đức chánh sứ, Ngô Nhân Tĩnh và Hoàng Ngọc Uẩn là phó sứ. Đoàn sứ giả sang Quảng Tây, quan lại nhà Thanh ở đây nhận chuyển đồ cống lên Bắc Kinh, còn giữ đoàn sứ ở lại Quảng Tây chờ lệnh triều đình có cho sứ giả lên Bắc Kinh triều yết hay không. Sứ đoàn này chưa hồi hương thì cuối năm đó vua Gia Long tiếp tục cử Binh bộ Thượng thư là Lê Quang Định sang cầu phong vua Gia Khánh nhà Thanh đổi quốc hiệu là Nam Việt. Sau những tranh luận về tên gọi, vì nhà Thanh ngại nhầm lẫn với nước Nam Việt xưa nằm ở Lưỡng Quảng và cuối cùng đồng ý đảo ngược lại thành Việt Nam, vua Thanh cho Tổng đốc Quảng Tây là Tề Bố Xâm sang làm lễ tấn phong cho Gia Long là Việt Nam quốc vương, ấn định thể lệ tiến cống hai năm một lần và cứ bốn năm một lần Việt Nam sẽ phái sứ bộ sang làm lễ triều kính.
Ngoài Trung Quốc, nhà Nguyễn còn qua lại với Xiêm La. Dù có xung đột từ thời kỳ chúa Nguyễn trước đó, nhưng đến khi Gia Long tị nạn ở Xiêm cho đến lúc lên ngôi, việc giao thiệp giữa triều Gia Long và Xiêm La vẫn giữ được sự hòa hảo. Từ năm 1802 trở đi hai bên vẫn có sự sứ bộ qua lại trao đổi thân thiện và tặng phẩm.
Tại Ai Lao, Việt và Xiêm cùng đặt ảnh hưởng, Quốc vương Ai Lao xin thần phục cả Việt lẫn Xiêm. Dân vùng Cam Lộ, dân ở các vùng cao nguyên hai tỉnh Thanh Nghệ, người Thượng (tức người Rhadé) ở các nước Thủy Xá và Hỏa Xá cũng có cống phẩm đến để tỏ lòng tuân theo chính quyền của triều Nguyễn. Thời vua Minh Mạng, nhiều xứ ở Ai Lao xin thuộc quyền bảo hộ của Việt Nam. Các vùng nay là Sầm Nứa, Trấn Ninh, Cam Môn và Savannakhet giáp với các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, đều xin làm nội thuộc và trở thành các châu, phủ của Việt Nam.
Còn với Chân Lạp, khi vua Gia Long lên ngôi, nước Cao Miên tuy mất Thủy Chân Lạp cho người Việt nhưng vẫn phải chịu thần phục. Thời Minh Mạng, sau khi phá được quân Xiêm, Tướng Trương Minh Giảng và tham tán Lê Đại Cương lập đồn đóng quân ở gần Nam Vang để bảo hộ Chân Lạp.
==== Với phương Tây ====
Năm 1803, Anh Quốc sai sứ là Robert sang xin cho mở cửa hàng buôn bán ở Trà Sơn, thuộc Quảng Nam. Vua Gia Long không nhận đồ, và cũng không cho mở cửa hàng. Sau người Anh còn đưa thư sang hai ba lần nữa, nhưng vẫn bị từ chối. Đối với nước Pháp, vua Gia Long có thiện cảm hơn do khi ông còn gian truân có nhờ ông Bá Đa Lộc giúp đỡ. Khi chiến tranh kết thúc, các ông Chaigneau, Vannier và Despiau làm quan tại triều, Gia Long cho mỗi người 50 lính hầu và khi chầu thì không cần lạy Hoàng đế. Năm 1817, chính phủ Pháp phái tới Việt Nam chiếc tàu Cybèle để thăm dò bang giao. Thuyền trưởng là Achille De Kergariou nói rằng vua Louis XVIII sai sang xin thi hành những điều ước do Bá Đa Lộc ký năm 1787 về việc nhường cửa Đà Nẵng và đảo Côn Lôn. Vua Gia Long sai quan ra trả lời rằng những điều ước ấy nước Pháp trước đã không thi hành thì nay bỏ, không nói đến nữa.
Tuy nhiên, sự bành trướng của Châu Âu ở Đông Nam Á khiến Gia Long e ngại, nhất là sau khi nước Anh chiếm được Singapore. Nhà vua thấy rằng cần phải giao hảo với người Tây phương nhưng không thể biệt đãi một quốc gia đặc biệt nào. Năm 1819, John White, một thương gia Hoa Kỳ tới Gia Định và được hứa hẹn sẽ dành cho mọi sự dễ dàng khi buôn bán ở Việt Nam. Vua Minh Mạng không có cảm tình với người Pháp như thái độ chung của người Á Đông lúc đó, coi người Âu Châu là bọn man di, là quân xâm lược. Ngoài ra ông cũng không thích cả Công giáo của châu Âu. Trong thời kỳ Minh Mạng nắm quyền, tín đồ Công giáo bị đàn áp quyết liệt và các giáo sĩ nước ngoài đã so sánh ông với hoàng đế Nero của Đế quốc La Mã - một hoàng đế từng tàn sát hàng loạt giáo dân Công giáo. Với những người Pháp đã từng giúp vua Gia Long, Minh Mạng tỏ thái độ lạnh nhạt nên khi Chaigneau trở lại Việt Nam không được trọng dụng nữa. Minh Mạng cho Chaigneau hay rằng không cần phải ký thương ước giữa hai chính phủ, người Việt Nam vẫn đối xử tốt đẹp với người Pháp là đủ, ông chỉ thỏa thuận mua bán với người Pháp nhưng không chấp nhận xây dựng đặt quan hệ ngoại giao chính thức với nước Pháp, quốc thư của Pháp xin cho ông Chaigneau làm Lãnh sự Pháp ở Việt Nam không được nhà vua đếm xỉa đến. Cũng theo đường lối của hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị, vua Tự Đức khước từ mọi việc giao thiệp với các nước ngoài, dầu việc giao thiệp chỉ nhằm phục vụ thương mại. Năm 1850 có tàu của nước Mỹ vào cửa Hàn có quốc thư xin thông thương nhưng không được tiếp nhận.
Từ năm 1855 các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha nhiều lần có tàu vào cửa Hàn, cửa Thị Nại và Quảng Yên xin thông thương cũng không được. Sau khi Gia Định bị người Pháp chiếm, việc ngoại giao giữa triều đình với các nước phương Tây khó khăn, Tự Đức mới thay đổi chính sách, đặt ra Bình Chuẩn Ty để lo buôn bán và Thương Bạc Viện để giao dịch với người nước ngoài nhưng không có kết quả vì những người được ủy thác vào các việc này không được học gì về ngoại giao.
=== Kinh tế ===
==== Thương mại ====
Thương mại Việt Nam sau khi đất nước được thống nhất vẫn không phát triển lắm, tổ chức thương mại của người Việt sơ sài, trong phạm vi gia đình. Nếu có những hội buôn lớn thì cũng chỉ là những phường họp vài thương gia hùn vốn với nhau để kinh doanh rồi chia tiền ngay, không liên kết lại thành những hội buôn làm ăn lâu dài. Nhiều người Việt Nam dùng tiền của để mua ruộng đất chứ không đầu tư kinh doanh, khuếch trương thương mại hay công nghệ. Việc buôn bán ở các chợ quy mô lớn do thương nhân Hoa kiều chi phối, dù những người này chỉ là thiểu số. Các mặt hàng tiêu dùng họ kinh doanh gồm có: mua thổ sản như gạo, lúa, bắp, đường, hạt tiêu... và bán và nhập cảng trà, thuốc Bắc, vải, đồ đồng, giấy. Trong vùng nông thôn, hoạt động thương mại cũng chỉ nhằm trao đổi nông sản và hàng tiểu thủ công ở các chợ. Ở đó, ngoài những cửa hàng tạp hóa quy mô nhỏ hay các cửa tiệm bán thuốc Bắc, còn có những nông dân bán thổ sản và nông sản địa phương và một số thương nhân nhỏ bán vải vóc, hàng xén, cau thuốc, đi rong từ chợ này sang chợ khác. Theo sử gia Trần Trọng Kim, người Việt Nam chỉ quanh quẩn trong nước, buôn bán những hàng hóa lặt vặt, nên bao nhiêu mối lợi lớn về tay người ngoài mất.
Nhìn chung, Gia Long không quan tâm đến thương mại. Ông đã nhiều lần từ chối người Anh khi họ đến xin được mua bán, ngay cả người Pháp khi đến mua bán cũng không được thuận lợi mấy, ông không cho phép người phương Tây lập phố buôn trên lãnh thổ Việt Nam, triều Nguyễn dưới thời ông không khuyến khích cũng như không chào mời các thuyền buôn phương Tây. Triều đình bấy giờ không có ý đóng cửa với phương Tây nhưng theo cách nhìn của hàng ngũ Nho sĩ ở Việt Nam, việc giao thương với phương Tây là không đáng tin cậy; cũng đồng thời với đó là sự lo ngại sự xâm lược bằng quân sự và truyền giáo của họ đã dẫn đến chính sách như trên.
Ngoài một số trung tâm thương mại thành thị được phát triển ở các thành phố và cảng biển chính, phần lớn hoạt động mua bán vẫn diễn ra trên các con sông. Triều đình nắm giữ độc quyền thương mại ở các mặt hàng có giá trị cao như ngà voi, sừng nai, bạch đậu khấu, vàng... Mức thuế mua bán cao, việc cấp giấy phép khó khăn trong việc xuất khẩu gạo, muối, và kim loại cũng gây kìm hãm sự phát triển của thương mại. Ngoại thương bị hạn chế, dân chúng bị cấm giao thương bằng đường biển, triều đình cấm xuất khẩu các loại gỗ quý và đánh thuế cảng, thuế xuất khẩu cao; quan hệ thương mại quan trọng với Trung Quốc nằm trong tay các thương gia người Hoa và quan lại, trong khi các thương gia người Việt thì bị hạn chế ở mảng buôn bán trong nước.
Triều đình đã tổ chức nhiều chuyến đi công cán đến các nước trong khu vực để thực hiện giao dịch buôn bán. Năm 1824, Minh Mạng đã sai người đi công cán ở Hạ Châu (Singapore) và Giang Lưu Ba (Indonesia). Năm 1825, vua Minh Mạng phái người sang Hạ Châu mua vải và đồ thủy tinh. Sau đó, mỗi năm đều có quan viên được phái đi tới các trung tâm mậu dịch của người Âu ở khắp Đông Nam Á. Từ 1831-1832 trở đi, các chuyến công cán càng lúc càng nhiều, điểm đến cũng khá đa dạng: Hạ Châu, Lữ Tống (Luzon - Philippines), đảo Borneo, Quảng Đông, Giang Lưu Ba,... Trong khoảng 1835-1840 đã có 21 chiếc được cử đi. Hàng bán ra chủ yếu là gạo, đường, lâm thổ sản quý, hàng mua về là len dạ và vũ khí, đạn dược. Các hoạt động này gần như là độc quyền của triều đình dù tư nhân không bị cấm. Dù vậy, nhiều thương nhân cũng lợi dụng các chuyến buôn bán này để buôn lậu gạo và thổ sản sang Hạ Châu hay Quảng Châu.
Hàng năm, thuyền buôn Trung Hoa thường đi lại giữa Việt Nam và Singapore. Thương nhân người Hoa thường lén chở gạo đi và đem thuốc phiện về. Trong những năm 1820-1830, giao dịch với Singapore rất hạn chế. Nguyên nhân do hàng hóa của Việt Nam phù hợp với thị trường Trung Hoa hơn. Khi người Pháp sắp chiếm hết Nam Kỳ, các bản lược kê tài chính cho thấy quan thuế hàng năm tương đương 3.000.000 france vàng trên tổng ngân sách 40.000.000 mà các quan viên đã giữ lại gấp đôi số tiền thuế kia, như vậy số tiền thu được vượt quá số tiền chuyển về triều đình rất nhiều. Từ thời Thiệu Trị, do xung đột với phương Tây từ nguyên nhân tôn giáo, quan hệ buôn bán với các nước này bị tổn hại. Năm 1850, Tự Đức không phái thuyền đi buôn ở Hạ Châu nữa. Triều đình cũng tìm cách cản trở dân thường buôn bán với người Tây nên cuối cùng, thương gia ngoại quốc chủ yếu là Hoa kiều, Xiêm và Mã Lai, trong đó người Hoa chiếm tỷ lệ lớn nhất.
==== Thủ công nghiệp ====
Thủ công nghiệp Nhà nước thời Nguyễn chế tạo tất cả những đồ dùng cho hoàng gia, tham gia đóng thuyền cho quân đội, đúc vũ khí, đúc tiền,...
Nhà Nguyễn cũng tập trung xây dựng hệ thống các xưởng thủ công Nhà nước, nhất là ở kinh đô và các vùng phụ cận. Năm 1803, Gia Long thành lập xưởng đúc tiền Bắc Thành tiền cục ở Thăng Long. Nhà Nguyễn cũng lập các Ti trông coi các ngành thủ công, như ti Vũ khố chế tạo quản lý nhiều ngành thủ công khác nhau, gồm 57 cục: làm đất, đúc, làm đồ vàng bạc, vẽ tranh, làm ngói, làm đồ pha lê, khắc chữ, đúc súng, làm trục xe, luyện đồng,... Ti Thuyền chịu trách nhiệm về các loại thuyền công và thuyền chiến, gồm 235 sở trên toàn quốc. Ngoài ra còn có các ti Doanh kiến, ti Tu tạo, ti Thương bác hoả dược.
Phần lớn nhân lực trong các xưởng thủ công Nhà nước là do triều đình trưng dụng thợ khéo trong các ngành như khảm xà cừ, kim hoàn, thêu thùa... tới làm việc để cung cấp đồ dùng cho triều đình. Đối với nghề đóng tàu, năm 1820 sĩ quan người Mỹ, John White đã nhận xét: " Người Việt Nam quả là những người đóng tàu thành thạo. Họ hoàn thành công trình của họ với một kỹ thuật hết sức chính xác." Ngoài các thuyền gỗ, người thợ thủ công Việt Nam còn đóng cả các loại tàu lớn bọc đồng.
Ngoài ra họ đã sáng chế được nhiều máy móc tiên tiến và có chất lượng vào thời đó, ví dụ các máy cưa xẻ gỗ, máy tưới ruộng... và cả máy hơi nước.. Trong ngành khai mỏ, đến nửa đầu thế kỷ 19, triều đình đã quản lý 139 mỏ, và năm 1833 có 3.122 nhân công trong các mỏ Nhà nước, tuy nhiên, phương thức khai mỏ thời bấy giờ vẫn kém phát triển so với thế giới.
==== Nông nghiệp ====
Triều Nguyễn có những chính sách ưu đãi để phát triển nông nghiệp, như là cấm mua bán ruộng đất công, lập kho Thường bình, Sở Tịch điền, Sở Diễn canh, kho Bình thiếu, Sở Đồn điền, Đàn Xã tắc,... Năm 1828, Minh Mạng giao cho bộ Lễ soạn thảo chu đáo các điển lễ khôi phục lại nghi lễ Tịch điền và làm thành luật lệ lâu dài, cũng như quy định rất nghiêm túc, cụ thể.
Về vấn đề ruộng đất, ngay khi mới lên ngôi, Gia Long đã phải ra lệnh cấm bán ruộng đất công và quy định chặt chẽ việc cầm cố loại công điền công thổ này để bảo đảm đất cày cho mọi người nông dân. Trải qua nội chiến, nhân dân lại gặp mất mùa liên tiếp. Triều đình thường phải giảm thuế, miễn thuế và phát chẩn. Thời Minh Mạng định lại phép quân cấp ruộng khẩu phần, quan lại, binh lính, công tượng (thợ làm quan xưởng) cùng các hạng dân đinh, không kể phẩm trật cao thấp đều được hưởng một phần khẩu phân nhưng quan lại, cường hào cũng giành được những phần tốt hơn. Người già, người tàn tật thì được nửa phần. Cô nhi, quả phụ được 1/3.
Tại miền Nam, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục việc khai hoang và phục hóa, từ thời các chúa Nguyễn để lại như việc khẩn hoang, mở rộng, phát triển nông nghiệp. Ở Nam Kỳ, người dân đã tự do đến khẩn hoang với tư cách cá nhân hoặc tập thể dưới sự giúp đỡ của triều đình. Hai vị quan tổ chức khẩn hoang nổi tiếng nhất là Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Tri Phương; trong đó Nguyễn Công Trứ nổi lên vì là tác giả của ba chính sách khẩn hoang lớn: đồn điền, doanh điền và khai khẩn ruộng hoang. Đồn điền là chính sách chủ yếu dựa vào việc mộ dân nghèo, đi cùng với tội phạm, binh lính để thực hiện việc khai khẩn đất hoang. Trong thời gian khẩn hoang số dân này sẽ được quản lý theo cung cách đồn điền; sau từ 6-10ời năm để cuộc sống ổn định sẽ chuyển sang hình thức làng xã. Đồn điền xuất hiện nhiều nhất ở vùng Gia Định. Đợt lập đồn điền lớn nhất do Kinh lược sứ Nam Kì là Nguyễn Tri Phương tổ chức vào năm 1853-1854, lập được 21 cơ, 124 ấp phân phối ở cả 6 tỉnh. Doanh điền là hình thức khai hoang có sự kết hợp giữa triều đình và nhân dân, thực hiện di dân để lập ấp mới. Hình thức này bắt đầu được thực hiện từ năm 1828 dưới thời vua Minh Mạng theo đề nghị của Tham tán quân vụ Bắc thành Nguyễn Công Trứ. Theo đó, triều đình sẽ bỏ vốn ban đầu và cử ra một quan chức sẽ dứng ra chiêu mộ và chỉ đạo dân chúng đưa đi khai hoang Chính sách đồn điền và doanh điền được triều đình kèm theo một loạt luật lệ thưởng phạt phân minh để khai thác triệt để đất đã vỡ hoang và ngăn tình trạng bỏ đất nhưng cũng không dứt hẳn được hiện tượng ruộng hoang.
Ngoài ra, triều đình nhà Nguyễn còn khuyến khích nhân dân tự do khai hoang kết hợp phục hóa. Việc đinh điền cũng có chỉnh đốn và kiểm soát chặt chẽ hơn. Ruộng đất ở Nam Việt thời vua Minh Mạng được đo đạc lại, tính ra được 630.075 mẫu. Tổng số đinh toàn quốc là 970.516 suất và 4.063.892 mẫu ruộng đất. Triều đình nhà Nguyễn dành cho việc khai hoang, phục hóa rất nhiều sự quan tâm, họ đã cho tiến hành nhiều chính sách khai khẩn hoang khác nhau và đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp. Diện tích ruộng đất thực trưng tăng lên nhiều: năm 1847 là 4.273.013 mẫu. Tuy nói trên toàn diện, đất công điền không quá 1/5 diện tích canh tác, nhưng phần đất còn lại được phân phối giữa các nông dân mà đa số chỉ làm chủ tới 5 mẫu là nhiều. Hạng người có 100 mẫu trở lên thì rất ít, mỗi tỉnh có nhiều nhất là 5, 3 người.
=== Văn hóa và giáo dục ===
==== Giáo dục ====
Vua Gia Long rất đề cao Nho học, cho lập Văn Miếu ở các doanh, các trấn thờ đức Khổng Tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở Kinh thành Huế để dạy cho các quan và các sĩ tử, mở khoa thi Hương lấy những người có học, có hạnh ra làm quan. Cũng trong năm này, Gia Long cũng cho ban hành hai đạo dụ về việc mở các trường ở các tỉnh, ấn định nhân viên giáo giới và chương trình học chế đồng thời tái lập lại các khoa thi ở các trấn. Ở mỗi trấn có một quan Đốc Học, một phó Đốc Học hay Trợ Giáo. Cứ tháng 10 hàng năm triều đình mở một kỳ thi. Theo thông lệ cứ ba năm triều đình mở khoa thi Hương ở các địa phương. Những người trúng cao ở khoa thi Hương gọi là cử nhân, trúng thấp gọi là tú tài. Năm sau ở Kinh đô mở khoa thi Hội tại bộ Lễ, những cử nhân năm trước khi ứng thí, nếu trúng cách thì được tiếp tục thi Đình ở trong điện nhà vua để lấy các bậc Tiến sĩ.
Trong dân chúng, việc học tập có tính chất tự do hơn. Bất kỳ người nào có học lực kha khá cũng có thể mở trường tư thục để dạy học. Mỗi làng có vài ba trường tư thục, hoặc ở nhà thầy, hoặc ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lân cận đến học. Theo ông Trần Trọng Kim thì người Việt Nam vốn chuộng sự học, cho nên người đi học cũng nhiều. Dù vậy, việc học tập càng lúc càng thoái hóa. Nhiều người học chỉ để ra làm quan. Trần Trọng Kim cho rằng:
Thời vua Minh Mạng, ông muốn canh tân việc học hành thi cử nhưng lại không biết tiến hành ra sao bởi triều thần của ông phần nhiều chỉ là những hủ nho lạc hậu, không giúp đỡ được nhà vua một kế hoạch nào cho quốc phú dân cường, ông nói rằng:
==== Văn học ====
Văn học nhà Nguyễn có thể chia làm các thời kỳ như sau: thời Nguyễn sơ, thời kỳ nhà Nguyễn còn độc lập và thời kỳ nhà Nguyễn thuộc Pháp. Thời Nguyễn sơ là thời kỳ của các nhà thơ thuộc hai nguồn gốc chính là quan của vua Gia Long và các cựu thần nhà Hậu Lê bất phục nhà Nguyễn. Tiêu biểu cho thời kỳ này là các tác giả: Phạm Quy Thích, Nguyễn Du, Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định. Nội dung tiêu biểu cho thời kỳ này là nói về niềm tiếc nhớ Lê triều cũ và một lãnh thổ văn chương Việt Nam mới hình thành ở phương Nam. Thời nhà Nguyễn độc lập là thời của các nhà thơ thuộc đủ mọi xuất thân trong đó có các vua như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, và các thành viên hoàng tộc như Tùng Thiện Vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm. Các nho sĩ thì gồm có Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền, Trương Quốc Dụng, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ. Hai thể kiểu thơ chủ yếu của thời kỳ này là thơ ngự chế của các vị vua và các thi tập của nho sĩ. Thời nhà Nguyễn thuộc Pháp là thời kỳ ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử đương thời tác động rất lớn vào văn chương, các nhà thơ sáng tác nhiều về cảm tưởng của họ đối với quá trình Pháp chiếm Việt Nam. Tác giả tiêu biểu thời kỳ này gồm Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Thông, Nguyễn Khuyến, Dương Lâm, Nguyễn Thượng Hiền.
Thời kỳ nhà Nguyễn, văn học phát triển trong cả Hán văn, lẫn một cách mạnh mẽ ở chữ Nôm với nhiều thành tựu lớn, trong đó tác phẩm chữ nôm tiêu biểu nhất là Truyện Kiều và Hoa Tiên. Hai thể theo được dùng phổ biết ở thời kỳ này là lục bát và lục bát gián cách, sử dụng một thứ tiếng Việt mới có một trình độ rất cao. Ở miền Nam Việt Nam, thành hình một lãnh thổ văn chương mới với nhiều nét độc đáo riêng so với các vùng cũ. Về nội dung, ngoài các nội dung văn chương mang đậm tư tưởng Nho giáo truyền thống thì số phận con người và phụ nữ cũng được đề cập đến.
=== Khoa học, kỹ thuật ===
==== Sử học ====
Ngay từ cuối thế kỷ XVIII, Sử học là một trong những ngành khoa học rất phát triển. Sang đầu thế kỷ XIX, dưới thời nhà Nguyễn, ngành này lại càng phát triển hơn, có thể nói đó là ngành phát triển nhất thời vương triều Nguyễn. Đặc biệt khi cơ quan phụ trách sử học là Quốc sử quán ra đời năm 1820 dưới thời vua Minh Mạng với nhiệm vụ thu thập các bộ sử xưa, in lại Quốc sử thời Lê và biên soạn các bộ sử mới. Quốc sử quán phải nói là được tổ chức kỷ cương, hoạt động một cách đầy hiệu quả. Vương triều Nguyễn đã cho lập các kho tàng lưu trữ các sáng tác từ cổ chí kim.
Sử học nhà Nguyễn có các thành tựu sau:
Tìm kiếm, lưu trữ và cho in lại các tác phẩm sử học của các triều đại trước.
Biên soạn nhiều bộ sử khổng lồ và các công trình sử học có giá trị lớn như: Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam Thực lục - Tiền biên và chính biên, Khâm định tiễu bình lưỡng kỳ phỉ khẩu phương lược, Bản triều bạn nghịch liệt truyện... Các nhà sử học cũng cho ra đời nhiều công trình của cá nhân như Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng, Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bản, Quốc sử dĩ biên của Phan Thúc Trực,... và nhất là Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú. Trong đó, Đại Nam thực lục chính biên có tới 587 quyển.
Các công trình địa phương chí, và gia phả các dòng họ cũng xuất hiện rất nhiều.
Việc biên soạn các bộ địa phương chí gần như thành phong trào: từ các tỉnh lớn cho đến tận các huyện xã cũng có chí. Trong đó có rất nhiều bộ chí được biên soạn khá công phu với nhiều chi tiết quý mà các bộ sử lớn không có. Tiêu biểu cho địa phương chí là Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch
Thể loại Gia Phả thì có Mạc Thị Gia phả của Vũ Thế Dinh.
Ngoài ra còn có các tác phẩm soạn theo kiểu quy cách nhiều vấn đề khác nhau của lịch sử, nổi bật của thể loại này là bô Lịch triều Hiến chương loại chí của ông Phan Huy Chú.
Năm 1942, Giám đốc Nhà lưu trữ Đông Dương Paul Boudet cho biết rằng các tài liệu trước thế kỷ XIX (thời Nguyễn) chỉ còn lưu lại được khoảng 20 bản. Từ triều vua Minh Mạng, công tác lưu trữ mới được quan tâm. Cũng năm 1942, số lượng địa bạ ở Tàng thư lâu giữ được có tới 12.000 quyển.
==== Địa lý và Lịch sử ====
Thời Nguyễn cũng là thời có nhiều tác phẩm địa lý học lớn như bộ Hoàng Việt Nhất thống dư địa chí do Thượng thư Lê Quang Định soạn theo lời của vua Gia Long. Sau đó cơ quan Quốc sử quán triều Nguyễn cũng soạn tiếp nhiều công trình khác gồm Đại Nam nhất thống toàn đồ, Đại Nam nhất thống chí. Ngoài ra, còn có nhiều tác phẩm có giá trị cao khác ngoài Quốc sử quán như Bắc Thành địa dư chí và Hoàng Việt dư địa chí của Phan Huy Chú; Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu; Đại Việt cổ kim duyên cách địa chí khảo và Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức; Nam Hà tiệp lục của Quốc sử quán,... Ngoài ra thời Minh Mạng cũng xuất hiện rất nhiều bản đồ về các địa phương của nước Đại Nam thời kỳ đó.
Nhìn chung, theo nhận xét của Dương Quảng Hàm thì tuy có nhiều giá trị nhưng do vẫn còn thiếu một phương pháp nghiên cứu khoa học tốt nên các tác phẩm về sử học và địa lý thời kỳ này vẫn có nhiều khuyết điểm. Dù vậy, các triều đại trước cũng không khá hơn nhà Nguyễn trong việc này.
==== Kỹ thuật công nghệ ====
Từ các cuộc nội chiến ở Đại Việt trước, kỹ thuật công nghệ của phương Tây đã được các vua chúa đem vào Việt Nam rất nhiều đặc biệt trong lĩnh vực quân sự. Thời nhà Nguyễn vẫn kế thừa những thứ đã du nhập ấy, nhiều công trình được xây dựng theo kiểu kiến trúc Vauban của phương Tây như thành Bát Quái, kinh thành Huế, thành Hà Nội...Thời Gia Long đã từng cho đóng một loại thuyền lớn bọc đồng để tuần tra biển.
Sang đến thời Minh Mạng, nhiều máy móc mang tính mới mẻ đã được chế tạo gồm: máy cưa chạy bằng sức trâu và sức nước, máy xẻ gỗ chạy bằng sức trâu. Cụ thể là, năm 1834, Nguyễn Viết Tuý dưới sự đồng ý của vua Minh Mạng đã chế tạo ra chiếc máy nghiền thuốc súng bằng sức nước mang tên Thuỷ hoả ký tế. Sau đó những năm 1837-38, theo mẫu của phương Tây, thợ thủ công Nhà nước đã chế tạo được máy cưa văn gỗ, xẻ gỗ bằng sức nước, máy hút nước tưới ruộng,... và còn có cả xe cứu hoả. Đặc biệt là năm 1839, dựa theo các kiểu phương Tây, các đốc công Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trịnh cùng các thợ của ông đã đóng thành công chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên, được vua Minh Mạng hết sức khen ngợi. Năm sau, Minh Mạng lại chỉ đạo cho họ đóng một chiếc kiểu mới tân tiến hơn và sửa chữa một chiếc bị hỏng. Điểu đáng tiếc là sau đó mọi việc dường như bị đình lại. Thời Tự Đức, nhiều sách kỹ thuật phương Tây được dịch sang tiếng Hán như Bác Vật tân biên, Khai Môi yếu pháp, Hàng hải Kim châm. Nhưng một điều đáng tiếc là những tiến bộ này vẫn chưa kịp tác động vào quá trình phát triển của xã hội Việt Nam. Đến giữa thế kỷ XIX, Việt Nam vẫn là một quốc gia với nền sản xuất nông nghiệp chậm tiến so với thế giới phương Tây.
==== Kiến trúc ====
Nhà Nguyễn là triều đại có nhiều đóng góp trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt là một kho tàng kiến trúc đồ sộ, mà tiêu biểu là quần thể kinh thành Huế và nhiều công trình quân sự khác
Kinh thành Huế nằm ở bờ Bắc sông Hương với tổng diện tích hơn 500 ha và 3 vòng thành bảo vệ. Kinh thành do vua Gia Long bắt đầu cho xây dựng năm 1805 và được Minh Mạng tiếp tục hoàn thành năm 1832 theo kiến trúc của phương Tây kết hợp kiến trúc thành quách phương Đông. Trải qua gần 200 năm khu kinh thành hiện nay còn hầu như nguyên vẹn với gần 140 công trình xây dựng lớn nhỏ. Kiến trúc cung đình Huế đã tiếp thu và kế thừa kiến trúc truyền thống thời Lý, Trần, Lê đồng thời tiếp thu tinh hoa của Mỹ thuật Trung Hoa nhưng đã được Việt Nam hóa. Huế cũng đã được hiện đại hóa bởi những công trình sư người Pháp phục vụ dưới thời vua Gia Long. Khi xây dựng hệ thống thành quách và cung điện, các nhà kiến trúc dưới sự chỉ đạo của nhà vua đã bố trí trục chính của công trình theo hướng Tây Bắc- Đông Nam. Yếu tố Ngũ hành quan trọng trong bố cục mặt bằng của kiến trúc cung thành tương ứng với ngũ phương.
Thành Gia Định là một công trình là một cồn trình phòng thủ quân sự, được Nguyễn Phúc Ánh ra lệnh xây dựng tại làng Tân Khai, huyện Bình Dương, đất Gia Định, sau này là Sài Gòn, kể từ ngày 4 tháng 2 năm 1790 theo kiến trúc hỗn hợp Đông-Tây, dựa trên một bản thiết kế của một người Pháp là Olivier de Puymanel (Việt danh là Ông Tín). Thành được xây có 8 cạnh nên gọi là "Bát Quái". Thành còn có tên khác là "Thành Quy". Thành có 8 cửa, phía nam là cửa Càn Nguyên và cửa Li Minh, phía bắc là cửa Khôn Hậu và cửa Khảm Hiền, phía đông là cửa Chấn Hanh và cửa Cấm Chí, phía tây là cửa Tốn Thuận và cửa Đoài Duyệt. Thời Minh Mạng đổi tên các cửa: phía nam là cửa Gia Định và cửa Phiên An, phía bắc là cửa Củng Thần và cửa Vọng Thuyết, phía đông là cửa Phục Viễn và cửa Hoài Lai, phía tây là cửa Tĩnh Biên và cửa Tuyên Hóa. Ngày 18 tháng 3 năm 1859, quân Pháp đốt cháy kho tàng, phá hủy thành Sài Gòn và rút ra để tránh quân triều đình nhà Nguyễn tấn công đánh chiếm lại thành. Dấu tích duy nhất ngày nay còn lại là bức tranh vẽ ảnh thực dân Pháp tấn công thành và những tàn tích dọc đường Đinh Tiên Hoàng về phía gần xưởng Ba Son.
=== Các phong trào khởi nghĩa chống triều đình ===
Nhà Nguyễn cũng là triều đại chứng kiến các cuộc nổi dậy của nông dân cũng như các tầng lớp khác bùng nổ dữ đội, nhất là ở Bắc Hà. Các nhà sử học tính rằng số lượng các cuộc nổi dậy nửa đầu thế kỷ 19 còn nhiều hơn toàn thế kỷ 18. Từ năm 1802 cho tới năm 1862, tại Bắc Hà có từ 350 cho tới 400 cuộc nổi dậy của nông dân nổ ra. Trong số đó có 50 cuộc diễn ra dưới thời Gia Long từ 1802-1820, 254 cuộc dưới thời Minh Mạng (1820-1840), 58 cuộc dưới thời Thiệu Trị (1840-1847) và 40 cuộc nổi dậy dưới thời Tự Đức (1847-1862). Dù vậy, trong số này cũng đã tính luôn cả các vụ nổi dậy liên quan tới vấn đề Công giáo, các phong trào phù Lê diệt Nguyễn của dân Bắc Hà, các toán cướp nổi lên hùng cứ địa phương, các toán tàn quân Thái Bình Thiên Quốc vượt biên vào cướp và cả những vụ bạo loạn như của Lê Duy Phụng do thực dân Pháp kích động để rảnh tay xâm chiếm Việt Nam.
Những cuộc nổi dậy ở Bắc Hà dưới thời vua Minh Mạng suốt Trung, Nam, Bắc, kể từ năm 1822 theo sử gia Phạm Văn Sơn đã do nhiều nguyên nhân:
Về phía ngoại bang, nước Xiêm La vẫn giữ thái độ hằn học về vấn đề Chân Lạp nên ngoài mặt tuy êm dịu nhưng bên trong Xiêm La vẫn tìm cơ hội để quấy rối Việt Nam.
Ngoài Bắc, một phần nhân tâm còn luyến tiếc Lê triều, vẫn chờ dịp nổi lên chống lại nhà Nguyễn và để khôi phục lại dòng họ Lê.
Bọn quan lại hay nhũng nhiễu dân chúng, dèm pha nhau, tâng công, nịnh hót mà nhà vua lại thường không minh, nhất là đối với kẻ công thần. Nhiều người trung lương đâm ra chán nản, trái lại phe gian nịnh nẩy nở mỗi ngày một nhiều, nước tất nhiên phải sinh loạn do đó ngoại quốc mới dám nhòm ngó vào.
Nguyên nhân chính làm bùng nổ nhiều cuộc nổi dậy là vấn đề kinh tế và đời sống khó khăn của người dân:
Một giáo sĩ người Pháp tên Guérard nhận xét rằng Gia Long đánh thuế quá nặng lên dân chúng, sự bất công và lộng hành của quan lại làm cho người dân khổ cực hơn ở thời Tây Sơn; thuế khóa và lao dịch thì tăng lên gấp ba lần
Nạn đói thường xuyên đe doạ cuộc sống của người nông dân. Theo lời tâu của Nguyễn Công Trứ vào năm 1833, dân đói đến tỉnh Hải Dương kiếm ăn có tới 27.000 người. Trận bão đổ bộ vào tỉnh Nghệ An 1842 đã làm cho 40.753 ngôi nhà bị đổ, 5.420 người bị chết, cùng với đói kém, mất mùa, lụt lội và bệnh dịch. Trận dịch xảy ra năm 1840, riêng ở Bắc Kì số người chết đã lên tới 67.000.
Các cuộc khởi nghĩa cuối cùng đều bị thất bại, nhưng đã khiến cho nhà Nguyễn suy yếu, lâm vào tình trạng bất ổn triền miên.
==== Tại Bắc Kỳ ====
Ngay từ khi mới cầm quyền, nhà Nguyễn đã gặp phải sự chống đối hết sức quyết liệt từ nhiều lực lượng xã hội khác nhau. Năm 1803, một số tướng lĩnh cũ của nhà Tây Sơn do Nguyễn Văn Tuyết cầm đầu đã nổi dậy ở Kinh Môn, Hải Dương. Sau là cuộc khởi nghĩa của Vũ Đình Lục và Đặng Trần Siêu ở Sơn Nam (Thượng du Thanh Hoá), liên tục hoạt động cho đến năm 1824. Tiếp theo là phong trào nông dân ở miền xuôi, vùng đồng bằng Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ: Nguyễn Đức Khoa, Tổng Thái, Tú Bích ở Kinh Bắc, Trần Lệ Quyên, Đỗ Hoàng Thân ở Sơn Tây, Nguyễn Thế Chung ở Sơn Nam, Nguyễn Trấn, Lê Hữu Tạo, Ninh Đãng Tạo, Phan Bô ở Nghệ An.
Một số cuộc nổi dậy lớn kế tiếp là cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành ở Nam Định (1821-27), Lê Duy Lương ở Ninh Bình (1833-1834), Nông Văn Vân ở Tuyên Quang (1833-35) và của Cao Bá Quát (1854-56) ở Hà Nội, đặc biệt là phong trào bạo loạn do Lê Duy Phụng dẫn đầu (1861-1865) trên khắp lãnh thổ Bắc Kỳ. Ngoài ra vụ nổi dậy của Lê Duy Lương năm 1832 ở Ninh Bình, là con cháu nhà Lê khiến vua Minh Mạng phải yêu cầu Tổng Đốc Nghệ Tĩnh là Tạ Quang Cự cùng với Tổng Đốc Thanh Hóa là Nguyễn Văn Trọng đem quân ra Ninh Bình bắt được Lê Duy Lương giải về Kinh trị tội và tất cả con cháu Lê bị lưu đày ở Quảng Nam, Bình Định. Chính sách "Phù Lê" của nhà Nguyễn đã chấm dứt.
Khi vua Tự Đức lên ngôi đã cử những danh thần của triều đình làm quan Kinh Lược Đại sứ để đi kiểm tra, khám xét công việc ở các nơi trong cả nước. Nguyễn Tri Phương ở Nam Kỳ, Phan Thanh Giản coi ba tỉnh Nam Trung Việt, Nguyễn Đăng Giai kiểm soát ba tỉnh phía Bắc miền Trung. Nhưng từ năm 1851 nhiều cuộc nổi dậy diễn ra ở nhiều nơi, nhất là ở Bắc Kỳ bởi lòng dân ở đây còn tưởng nhớ đến nhà Lê, phá chính quyền triều Nguyễn. Có vài vụ nổi dậy mà người lãnh đạo tự xưng mình thuộc dòng dõi nhà Lê như quân của Lê Duy Phụng, lôi cuốn được khá nhiều người tham gia. Ngoài ra triều đình còn phải lo đối phó dư đảng Thái Bình Thiên Quốc do Hồng Tú Toàn tổ chức chống lại nhà Thanh bị bại tràn sang Việt Nam. Tàn quân Thái Bình Thiên Quốc cướp phá các vùng thượng du khiến quân đội nhà Nguyễn phải đi đánh dẹp rất phiền phức.
Ngoài mục đích chính trị thì một phần cũng do dân chúng phải chịu nhiều thiên tai như lũ lụt liên miên. Đê Văn Giang vỡ liên tiếp 18 năm lại thuộc tỉnh Hưng Yên là nơi đông dân nhất Bắc Kỳ nên làm phát sinh rối loạn. Thời kỳ này còn có quân Tam Đường do ba lãnh tụ: Quảng Nghĩa Đường, Lục Thắng Đường, Đức Thắng Đường nổi lên tại Thái Nguyên được quan Kinh Lược Nguyễn Đăng Giai đến phủ dụ nên đất Bắc được yên ổn. Khi Nguyễn Đăng Giai qua đời (1854), Bắc Kỳ lại mất an ninh, trật tự như cũ.
Khác với các cuộc nổi dậy khác, cuộc nổi dậy của nhóm Lê Duy Cự và Cao Bá Quát không cướp của giết người như những vụ loạn khác mà do sự bất mãn với triều đình, mục tiêu của họ là lật đổ chính quyền nhà Nguyễn. Bởi cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Cự bùng ra cuối năm ấy mà khoảng tháng 5 có châu chấu phá hoại mùa màng dữ dội nên người ta gọi vụ này là "giặc châu chấu".
Những cuộc nổi dậy này nhiều lúc dân nghèo đã phối hợp với quân lưu manh, đạo tặc để chống đối nên tuy làm cho Triều đình khốn đốn nhưng vì không có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, không có hiệu lệnh thống nhất, trước sau đều thất bại.
Ngoài các cuộc nổi dậy của nông dân ở Bắc Kỳ còn có cả những bọn hung đồ nhân cơ hội Triều đình suy yếu, nổi lên tứ tung để cướp phá và lợi dụng dân lưu vong để rủ họ theo. Ngoài ra cũng có cũng có những người bị quân Pháp mua chuộc để quấy rối triều Nguyễn cho họ dễ hành động. Chưa kể còn có quân giặc người Tàu hoành hành ở miền thượng du Bắc Kỳ. Những cuộc biến động này khiến Triều đình phải dụng binh rất lâu, hao tổn binh lực và tài lực rất nhiều.
Năm 1861, với chính sách của Triều đình Huế gia giảm các chương trình phúc lợi, giải tán các cộng đồng Công giáo, gia tăng kiểm soát mua bán lương thực, tăng thuế, cộng với nạn giặc cướp Khách đánh phá mạn ngược và bọn cướp biển Tàu Ô đánh cướp các làng ven biển, khiến tình hình miền bắc càng trở nên nguy hiểm, có thể bùng nổ bất kỳ lúc nào. Các thành phần bị ảnh hưởng nặng nề nhất, dễ nổi lên đối kháng nhất là những nông dân bị nạn lũ lụt, các tộc người thiểu số nghèo khổ và các cộng đồng Công giáo bị ngược đãi. Đây là những nhân tố khiến cho cuộc nổi dậy do Lê Duy Phụng cầm đầu đặc biệt nguy hiểm, khiến triều đình Huế phải hết sức vất vả mới đánh dẹp được.
==== Tại Nam Kỳ ====
Tại Nam Kỳ ít xảy ra các cuộc nổi dậy chống triều đình hơn, nhưng số vụ nổi dậy cũng khá nhiều.
Cuộc Nổi dậy ở Đá Vách đã nổ ra, kéo dài ngay từ buổi đầu triều đại vua Gia Long đến suốt hơn nửa thế kỷ.. Ngay từ khi lên ngôi, vua Gia Long đã ký ban hành các loại thuế đánh vào lâm thổ sản ở vùng này, làm cho "dân Man quanh năm nộp thuế không lúc nào rỗi, hậu quả là: "dân phải nhặt củ rau và quả ở núi để ăn cho no bụng" . Các vua đầu thời Nguyễn còn mắc sai lầm khi cho rằng: Bọn man mọi ngu dại chưa thấm nhuần phong hóa, cần buộc họ cắt tóc, ăn mặc và sinh hoạt giống như người miền xuôi. Tất cả đã làm cho người dân Đá Vách nung nấu căm thù, dẫn đến nhiều cuộc giao chiến suốt hơn 50 năm, bất chấp mọi biện pháp trấn áp và chia rẽ của triều đình nhà Nguyễn. Các vụ nổi dậy vào các năm 1803, 1804, 1806, 1807 đã làm cho quan quân nhà Nguyễn thiệt hại không ít.
Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi là một cuộc nổi dậy xảy ra vào thời vua Minh Mạng ở các tỉnh miền Nam Việt Nam. Lãnh đạo của cuộc nổi dậy này là Lê Văn Khôi nhóm họp những phần tử về phái địa phương phân quyền của Lê Văn Duyệt và những tù nhân Bắc Kỳ bị đi đày để nổi dậy. Được võ quan, binh lính và dân chúng Phiên An vốn cảm tình với Lê Văn Duyệt đi theo rất đông nên quân nổi dậy từng đánh chiếm được 6 tỉnh phía Nam nhưng sau đó triều đình đã nhanh chóng thu phục các tỉnh này, dồn quân nổi dậy vào cố thủ ở thành Phiên An năm 1835 khi thành Phiên An thất thủ.
Ngoài ra, tại Nam Kỳ, chính sách không phù hợp của nhà Nguyễn với người thiểu số, đặc biệt là người Khmer và chính sách đối ngoại với vương quốc Chân Lạp cũng gây bất mãn trong cộng đồng người Khmer, dẫn đến nhiều cuộc nổi dậy chống lại triều đình, như các cuộc nổi dậy Lâm Sâm, Ba Xuyên, Thất Sơn, Hà Tiên.
== Thời kỳ bị Pháp xâm lăng và đô hộ ==
=== Cuộc chiến chống Pháp xâm lăng ===
==== Sự chống trả của nhà Nguyễn ====
Do những việc cấm đạo và tàn sát giáo dân của vua Minh Mạng mà ngay trong năm 1838 đã có sĩ quan Hải quân Fourichon đề nghị nước Pháp gửi Hải quân tới can thiệp nhưng bị Ngoại trưởng Pháp là Guizot bác bỏ. Dư luận Pháp thì sôi động vì sự ngược đãi giáo dân của Minh Mạng nên ủng hộ đề nghị dùng vũ lực. Khi Thiệu Trị nối ngôi có thái độ mềm mỏng hơn, cho thả một số linh mục bị bắt và tỏ ý sẽ cho tàu sang Châu Âu mua bán nhưng sự kiện đụng độ tại Đà Nẵng năm 1847 giữa tàu Pháp và Việt khiến nhà vua tức giận và ông ra lệnh xử tử ngay tại chỗ tất cả người Âu bắt được tại Việt Nam.
Khi Tự Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị tuân theo phong cách Nho giáo. Triều đình không có một biện pháp nào đối phó với phương Tây, ngược lại chỉ cấm đạo và cấm mua bán quyết liệt hơn trước. Nhân vụ An Phong Công Hồng Bảo mưu phản, tìm cách liên hệ với các giáo sĩ để soán ngôi mà nhà vua cho công bố 2 đạo dụ cấm đoán Công giáo các năm 1848 và 1851, từ 1848-1860, đã có hàng vạn giáo dân bị tàn sát hay lưu đày.. Cũng đồng thời lúc này, trước tình hình người Pháp xâm lấn trong triều đình đặt ra vấn đề cải cách: liên tiếp các năm 1864, 1866, 1868, 1867, 1881 các quan là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước nhưng mà vua không quyết dưới sự bàn ra của các đình thần. Mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình cải cách là cho học tiếng nước ngoài, nhưng đình thần vẫn bất đồng và nảy sinh hai phe chủ trương cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa.
Về việc cá nhân, vua Tự Đức không có con nên ông truyền ngôi lại cho một người con của anh mình là vương tử Nguyễn Phúc Ưng Chân. Việc nối ngôi này liên tiếp gặp nhiều rối ren, Nguyễn Phúc Ưng Chân lên làm vua hiệu là Dục Đức được ba ngày thì bị phế bỏ rồi giết chết; một người con khác của vua Thiệu Trị là Nguyễn Phúc Hồng Dật lên nối ngôi tiếp với hiệu Hiệp Hòa tiếp cũng bị ép uống thuốc độc sau năm tháng, vị vua kế là Kiến Phúc cũng đột ngột qua đời (ghi là bệnh, nhưng nghi là bị đầu độc). Việc lập phế liên tiếp này chỉ kết thúc khi vua Hàm Nghi lên ngôi năm 1884.
==== Phong trào Cần Vương ====
Năm 1885, phải chủ chiến trong triều đình dậy tấn công Pháp ở kinh đô Huế nhưng thất bại. Vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết chạy ra Tân Sở thuộc Quảng Trị, tại đây Tôn Thất Thuyệt mượn danh nghĩa vua Hàm Nghi phát chiếu Cần Vương kêu gọi người Việt nổi dậy đánh Pháp giúp vua. Hưởng ứng lời kêu gọi này, nhiều cuộc nổi dậy đã nổ ra trong đó tiêu biểu là những cuộc khởi nghĩa ở Ba Đình của Phạm Bành và Đinh Công Tráng, khởi nghĩa Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật chỉ huy, khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng và Cao Thắng, khởi nghĩa ở Hưng Hóa do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo... Phong trào vẫn tiếp tục phát triển cả sau thời gian vua Hàm Nghi bị Pháp bắt giữ (năm 1888); nó chỉ thực sự chấm dứt khi lãnh đạo cuộc nổi dậy ở Hương Khê là Phan Đình Phùng chết cuối năm 1895.
Nguyên nhân sự thất bại của các phong trào kháng Pháp bởi sự kháng cự của họ chỉ có tính cách địa phương. Các lãnh tụ Cần Vương chỉ có uy tín tại nơi họ xuất thân, tinh thần địa phương mạnh mẽ làm họ chống lại mọi sự thống nhất phong trào trên 1 quy mô lớn hơn. Khi các lãnh tụ bị bắt hay chết thì quân của họ hoặc giải tán hay đầu hàng. Ngoài ra, các đạo quân này không được lòng dân quê nhiều lắm bởi để có phương tiện sống và duy trì chiến đấu, họ phải đi cướp phá dân chúng.
Ngoài những lý do trên, sự thất bại của phong trào này còn bởi những sự tàn sát vô cớ những người Công giáo của quân Cần Vương khiến giáo dân phải tự vệ bằng cách thông báo tin tức cho phía Pháp. Những thống kê của người Pháp cho biết có hơn 20.000 giáo dân đã bị quân Cần Vương giết hại. Chính sách sa thải các quan chức Việt và cho các dân tộc thiểu số được quyền tự trị rộng rãi cũng làm cho các sắc dân này đứng về phía Pháp. Chính người Thượng đã bắt Hàm Nghi, các bộ lạc Thái, Mán, Mèo, Nùng, Thổ đều đã cắt đường liên lạc của quân Cần Vương với Trung Hoa làm cạn nguồn khí giới của họ. Quen thuộc rừng núi, họ cũng giúp quân Pháp chiến tranh phản du kích đầy hiệu quả.
=== Thời Pháp thuộc ===
Theo các Hòa ước Harmand và Hòa ước Patenôtre thì chính sách ngoại giao, quân sự và tài chánh do nước Pháp kiểm soát nhưng không có sự hợp nhất giữa 2 quốc gia Đại Nam và Pháp. Nước Pháp sau khi không mua chuộc được vua Hàm Nghi bèn cho ông đi an trí ở Algérie. Sau đó anh trai vua là Nguyễn Phúc Ưng Biện kế vị, lấy niên hiệu là Đồng Khánh. Vua Đồng Khánh bị trách là đã lên ngôi trong những điều kiện quá nhục nhã đối với quốc gia. Bị cô lập và thiếu kinh nghiệm, ông phải nhượng bộ cho người Pháp để đổi lấy sự giúp đỡ về mặt hành chính và quân sự. Năm 1887, Liên bang Đông Dương được thành lập gồm thuộc địa Nam Kỳ, 2 xứ bảo hộ Trung Kỳ và Bắc Kỳ cùng Lào và Cao Miên đều đặt dưới 1 viên quan Toàn quyền Đông Dương người Pháp. Năm 1888, vua Đồng Khánh còn phải nhường cho nước Pháp mọi quyền hành trên 3 thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng, 3 khu vực này cũng trở thành 3 thuộc địa.
Quyền hành của nhà vua còn bị hạn chế hơn nữa khi Paul Doumer trở thành Toàn quyền Đông Dương. Từ 1897-1902, toàn quyền Paul Doumer đã áp dụng 1 chính sách cai trị độc tài, loại bỏ dần ảnh hưởng của triều Nguyễn. Quan lại cấp tỉnh phải phụ thuộc trực tiếp Thống sứ Pháp, cai trị xứ Bắc Kỳ nhân danh Hoàng đế nhưng lại không cần phải nghe lệnh của vị vua Đại Nam. Các quan cũng phải nhường cho Công sứ Pháp quyền đề cử và bổ nhiệm hương chức. Cơ quan hành chính Pháp cũng phụ trách thu thuế và giao cho ngân khố của triều đình một ngân sách cần thiết cho việc duy trì triều đình. Paul Doumer đã thay thế chế độ bảo hộ bằng chế độ trực trị và triều đình từ lúc đó chỉ còn giữ lại được những hình thức bề ngoài. Vua Thành Thái vào năm 1907 đã bị ép phải thoái vị khi không phê chuẩn việc bổ nhiệm một số quan lại đã được Khâm sứ Lévêque và Hội đồng Thượng thư thỏa thuận. Hoàng tử Nguyễn Phúc Vĩnh San được đưa lên nối ngôi, tức vua Duy Tân. Cũng như vua cha Thành Thái, Duy Tân là người có tư tưởng chống Pháp. Năm 1916, ông liên kết cùng Việt Nam Quang Phục Hội của nhóm Thái Phiên và Trần Cao Vân nổi dậy nhưng thất bại và bị đày ra đảo La Réunion cùng lúc với cha mình.
Năm 1922, vua Khải Định sang Pháp để đòi hỏi nước Pháp phải cho người Việt được tham gia chính trị nhiều hơn nhưng cuộc hành trình này đã không đem lại kết quả nào. Chuyến đi này đã bị Nguyễn Ái Quốc châm biếm trong tác phẩm Vi hành của ông đăng trên báo L'Humanité số ngày 19 tháng 2 năm 1923. Ngày 6 tháng 11 năm 1925, lợi dụng việc vua Khải Định vừa qua đời, Toàn quyền Alexandre Varenne đã ép vị vua mới là Bảo Đại mới 12 tuổi phải ký thỏa ước giao cho quan Khâm sứ Pháp các quyền hạn cuối cùng. Thậm chí nhà vua còn không thể lựa chọn các Thượng thư và quan chức. Nước Đại Nam trên thực tế đã trở thành 3 mảnh có đời sống và thể chế riêng biệt. Nam Kỳ sáp nhập vào Pháp, Bắc Kỳ gần như 1 thuộc địa và Trung Kỳ là nơi mà quy chế bảo hộ chỉ là lý thuyết.
== Sụp đổ ==
Khi trở về nước năm 1932, Bảo Đại đã mong muốn cải cách xã hội Việt Nam nhưng phong trào này đã chết yểu bởi sự đối địch giữa các quan Thượng thư của ông như Phạm Quỳnh và Ngô Đình Diệm cũng như sự chống đối của giới bảo thủ và chính phủ bảo hộ Pháp. Nhà vua nản lòng sớm, chuyển sang tiêu khiển bằng bơi thuyền và săn bắn. Trước thực tế nhà Nguyễn không còn khả năng chống Pháp, nhiều đảng phái cách mạng được tổ chức để đánh đuổi người Pháp. Việt Nam chi bộ của hội Á Tế Á Áp Bức Nhược Tiểu Dân tộc do Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Quảng Đông. Năm 1926, Tân Việt Cách mạng Đảng hoạt động ở Hà Tĩnh và Sài Gòn. Năm 1927, Phạm Tuấn Tài, Hoàng Phạm Trân, Nguyễn Thái Học lập ra Việt Nam Quốc dân Đảng. Năm 1928, Tạ Thu Thâu và Nguyễn An Ninh lập Đệ Tứ Quốc tế. Năm 1930, Việt Nam Cách mạng Đồng Chí Hội đổi ra Đông Dương Cộng sản Đảng.
Năm 1936, Mặt trận Bình dân Pháp giành chiến thắng cho phép không khí chính trị tại Đông Dương mang tính tự do hơn. Tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ, chính phủ Bảo hộ không cho phép đảng phái chính trị nào hoạt động. Dù vậy chính phủ Pháp đã nhượng bộ một phần trước các cuộc bãi công của công nhân. Năm 1937, phong trào đình công và biểu tình lại tái phát vượt quá tính chất nghề nghiệp để mang nhiều tính chính trị hơn. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Nhật Bản mang quân vào đánh chiếm Đông Dương.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Bảo Đại chỉ định Trần Trọng Kim làm thủ tướng thay thế cho Nội các Phạm Quỳnh tại Huế. Nhưng chính phủ Trần Trọng Kim chỉ tồn tại được 4 tháng. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh ngày 15 tháng 8 năm 1945, Mặt trận Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo đã thực hiện thành công Cách mạng tháng Tám, đưa Việt Nam trở thành nước độc lập từ tay người Nhật và người Pháp.
Sau khi Nhật đảo chính Pháp và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, Bảo Đại ra đạo dụ "Tuyên cáo Việt Nam độc lập", tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Trong tuyên bố của Bảo Đại, bãi bỏ các hiệp ước bảo hộ và mất độc lập với Pháp trước đây, độc lập theo tuyên ngôn Đại đông Á, và "ông cũng như Chính phủ Việt Nam tin tưởng lòng trung thực của Nhật Bản và nó được xác định làm việc với các nước để đạt được mục đích" (theo Par Francis AGOSTINI).
Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại đã ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ. Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam.
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Trần Trọng Kim tuyên bố bảo vệ "độc lập" giành được ngày 9 tháng 3 và ngày 18 tháng 8 tạo ra một ủy ban giải phóng dân tộc, nhóm tất cả các đảng phái chính trị để lãnh đạo cuộc chiến này. Theo lời khuyên của ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bảo Đại gửi thông điệp cho Tổng thống Truman, vua nước Anh, Thống chế Tưởng Giới Thạch, Tướng de Gaulle đề nghị công nhận độc lập của Việt Nam. Tuy nhiên đến 24 tháng 8 ông đã thực hiện câu trả lời Hội đồng Cơ mật quyết định thoái vị "để không phải là một trở ngại cho sự giải phóng của đất nước".
Ngày 18 tháng 8, vua Bảo Đại đã xác nhận độc lập của Việt Nam sau khi Nhật đầu hàng, được công bố vào tháng 3 và đồng thời gửi một thông điệp đến De Gaulle yêu cầu công nhận nền độc lập của Việt Nam. Thông điệp này cho rằng sự độc lập của Việt Nam "chỉ có nghĩa là bảo vệ lợi ích của Pháp và ảnh hưởng tinh thần Pháp ở Đông Dương". Tuy nhiên De Gaulle dự kiến sẽ hậu thuẫn cho một chế độ quân chủ mà người đứng đầu không phải là Bảo Đại, người đã thỏa hiệp với Nhật Bản để được "độc lập", mà là Vĩnh San, được xem như là một người "Gaullist".
Ngày 25 tháng 8 năm 1945, vua Bảo Đại đọc bản Tuyên ngôn Thoái vị trước cửa Ngọ Môn. Chính phủ Trần Trọng Kim bị giải tán và Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch chính thức tuyên bố Việt Nam độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Sự kiện Bảo Đại thoái vị chính thức đánh dấu sự sụp đổ của nhà Nguyễn (mặc dù sau đó, Bảo Đại còn tiếp tục làm quốc trưởng của Quốc gia Việt Nam từ ngày 1 tháng 7 năm 1949 đến ngày 26 tháng 10 năm 1955). Sự kiện này cũng đã đánh dấu sự chấm dứt hơn 1000 năm chế độ quân chủ chuyên chế ở Việt Nam. Nhà Nguyễn tồn tại 143 năm, có 13 đời vua thuộc 7 thế hệ.
== Di sản ==
Nhà Nguyễn đã để lại nhiều di sản cho dân tộc Việt Nam, một số di sản đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới như Nhã nhạc cung đình Huế, Quần thể di tích Cố đô Huế hoặc Mộc bản triều Nguyễn. Giáo sư sử học Việt Nam Phan Huy Lê nhận xét rằng:
Nhà Nguyễn cũng để lại hệ thống thư tịch khổng lồ Châu bản triều Nguyễn; hệ thống giáo dục, hàng ngàn đình, chùa miếu, nhà thờ... trải dài từ Nam chí Bắc... Nhiều di sản trong số này có thời kỳ dài bị lãng quên và bị coi như một thứ "tàn dư của phong kiến thối nát".
=== Nhã nhạc ===
Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong năm 2003.
=== Quần thể di tích Cố đô Huế ===
Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào ngày 11 tháng 12 năm 1993. Phần lớn các di tích này hiện nay thuộc sự quản lý của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, công trình xây dựng Kinh thành Huế có lẽ là công trình đồ sộ, quy mô nhất với hàng vạn lượt người tham gia thi công, hàng triệu mét khối đất đá, với một khối lượng công việc khổng lồ như đào hào, lấp sông, di dân, dời mộ, đắp thành... kéo dài từ thời điểm tiến hành khảo sát dưới triều vua Gia Long năm 1803 đến khi hoàn chỉnh triều vua Minh Mạng vào năm 1832. Phong cách kiến trúc và cách bố phòng khiến Kinh thành Huế thực sự là một pháo đài vĩ đại và kiên cố nhất từ trước đến nay ở Việt Nam mà một thuyền trưởng người Pháp là Le Rey khi tới Huế năm 1819 phải thốt lên: "Kinh Thành Huế thực sự là pháo đài đẹp nhất, đăng đối nhất ở Đông Dương, thậm chí so với cả pháo đài William ở Calcutta và Saint Georges ở Madras do người Anh xây dựng".
=== Mộc bản ===
Mộc bản triều Nguyễn được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới đầu tiên tại Việt Nam ngày 31 tháng 7 năm 2009. Bộ Mộc bản này gồm 34.618 tấm, là những văn bản chữ Hán-Nôm được khắc ngược trên gỗ để in ra các sách tại Việt Nam vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, và hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV- Đà Lạt, Lâm Đồng (xưa và nay vẫn là Biệt điện Trần Lệ Xuân - Khu Di tích của TP. Đà Lạt).
=== Bảo vật ===
.
Ngoài những di tích lịch sử như đền đài, dinh thự, thời đại nhà Nguyễn cũng để lại nhiều bảo vật, là dấu tích của mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 18 và 19, trong đó có nhiều kim ấn, ngọc tỷ truyền quốc, bửu tỷ, bảo kiếm, hàng thủ công nghệ và mỹ thuật. Cuối năm 2010, lần đầu tiên sau 50 năm được bảo quản tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, những báu vật này đã được đem ra trưng bày . Riêng quốc ấn (nặng khoảng 10 kg vàng) và quốc kiếm của vua Bảo Đại, trao lại cho Trần Huy Liệu, Trưởng đoàn Đại biểu chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào năm 1945 đã bị mất trộm tại viện bảo tàng Việt Nam và thất lạc . Cả ấn tín của hoàng hậu Nam Phương cũng bị trộm mất
== Lệ bất khả ==
Trong giới sử học hiện nay hình thành 2 luồng ý kiến khác nhau về lệ bất khả của nhà Nguyễn. Nguyễn Phan Quang và Trương Hữu Quýnh cho rằng: để đề cao uy quyền nhà vua và ngăn chặn nạn quyền thần lấn át hoàng đế, vua Gia Long đã đặt ra lệ Tứ bất: Trong triều không lập Tể tướng, thi đình không lấy Trạng nguyên, trong cung không lập Hoàng hậu, không phong tước vương cho người ngoài họ vua.
Lê Nguyễn có ý kiến ngược lại về vấn đề này, tuy nhiên ông chỉ đề cập tới "tam bất" chứ không phải "tứ bất":
"Trong khi triều Nguyễn có một Quốc sử quán làm việc thật hiệu quả, đã cho ra đời những bộ sử... lớn lao, thì không thấy ai viện dẫn một chỉ dụ nào của các vua Nguyễn quy định những điều bất khả đó...".
=== Bất khả trạng nguyên ===
Thực tế là triều Nguyễn không có một trạng nguyên nào. Trạng nguyên là người xếp hạng cao nhất trong số các tiến sĩ dự kỳ thi Đình dưới các triều đại trước. Thời Nguyễn, triều đình tổ chức thi Hội để lấy tiến sĩ và thi Đình để xếp hạng các ông nghè; các tân khoa tiến sĩ dự thi Đình được xếp theo giáp đệ, còn gọi là tam giáp:
Đệ nhất giáp
Đệ nhị giáp gọi là đệ nhị giáp tiến sĩ cập đệ hay tiến sĩ hoàng giáp
Đệ tam giáp là đệ tam đồng tiến sĩ hay tiến sĩ xuất thân
Việc xếp hạng tiến sĩ như trên không phải là sáng kiến mới của nhà Nguyễn nhằm “né tránh” danh hiệu trạng nguyên hay hạ thấp địa vị của người thi đỗ cao nhất, mà việc này từng thực hiện dưới các triều đại trước:
Năm 1232 thời Trần Thái Tông, mở thi Thái học sinh, "lấy Trương Hanh, Lưu Diễm đỗ đệ nhất giáp; Đặng Diễn, Trịnh Phẫu đỗ đệ nhị giáp; Trần Chu Phổ đỗ đệ tam giáp"
Năm 1442 thời Lê Thái Tông, “Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đỗ, Lương Như Hộc ba người đỗ tiến sĩ cập đệ; bọn Trần Văn Huy 7 người đỗ tiến sĩ xuất thân; bọn Ngô Sĩ Liên 23 người đỗ tiến sĩ đồng xuất thân…”.
Năm 1499 thời Lê Hiến Tông, “cho Đỗ Lý Khiêm, Lương Đắc Bằng, Nguyễn Khắc Kiệm ba người đỗ tiến sĩ cập đệ, bọn Hoàng Trưng, Nguyễn Hằng 24 người đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân…”.
Lê Nguyễn khẳng định cách thức xếp hạng tiến sĩ trong thi Đình theo giáp đệ đã xuất hiện trước khi có danh hiệu trạng nguyên và không có gì khác biệt giữa hai cách gọi trên. Do đó, việc triều Nguyễn áp dụng hình thức giáp đệ trong thi đình mà không chọn trạng nguyên là rất bình thường, không xuất phát từ một lệ “bất khả” nào.
=== Bất khả hoàng hậu ===
Trên thực tế sử sách ghi nhận nhà Nguyễn có ít nhất 3 hoàng hậu: 2 hoàng hậu thời Gia Long là Thừa Thiên Cao Hoàng hậu (mẹ hoàng tử Cảnh) và Thuận Thiên Cao Hoàng hậu (mẹ Minh Mạng) và 1 hoàng hậu thời Bảo Đại là Nam Phương hoàng hậu.
Ngoài ra, sử liệu nhà Nguyễn không hề phủ nhận sự tồn tại của ngôi vị hoàng hậu:
Sách Minh Mệnh chính yếu ghi: “Nay châm chước đời xưa vá đời nay, đặt bị quý phi, thần phi vào bậc nhất… trên bậc nhất đặt một vị hoàng quý phí để giúp hoàng hậu điều khiển chính sự trong cung”
Sách Đại Nam điển lệ toát yếu dành hẳn khoản 183 để định nghi thức “tuyên sách văn lập hoàng hậu”
Lê Nguyễn cho rằng: việc các triều vua từ Minh Mạng tới Khải Định không phong hoàng hậu không xuất phát từ lệ nào mà vì chưa tìm được người xứng đáng hoặc chưa thấy cần làm.
=== Bất khả tể tướng ===
Thời Gia Long đặt quan chế trên cơ sở tham khảo thời Hậu Lê. Sang thời Minh Mạng có việc tổ chức lại bộ máy và áp dụng tới hết thời Nguyễn, theo đó đứng đầu bộ máy quan lại là tứ trụ triều đình. Khi tham khảo sử sách các đời trước cũng rất khó tìm thấy chức danh tể tướng trong hàng quan lại đầu triều:
Thời Tiền Lê: Đứng đầu là thái sư, thái úy, tổng quản
Thời Lý: Thái sư, thái phó, thái bảo, tổng quản, tướng công
Thời Trần: lấy ba chức thái, ba chức thiếu (thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo), thái úy, tư đồ, tư mã, tư không. Chức Tể tướng thì thêm danh hiệu Tả hữu tướng quốc bình sự
Thời Hậu Lê, trong quan chế thời Hồng Đức (Lê Thánh Tông) năm 1471 và được áp dụng phổ biến trong các triều vua Hậu Lê sau, không thấy có chức danh tể tướng.
Như vậy việc triều Nguyễn không đặt chức danh tể tướng cũng là điều bình thường như các triều đại trước, không có cơ sở để khẳng định đó là một điều quy định “bất khả tể tướng” của nhà Nguyễn.
Lê Nguyễn cho rằng việc nhà Nguyễn không đặt chức danh tể tướng, áp dụng chế độ khoa cử đỗ tam giáp và nhiều triều vua không phong hoàng hậu không có gì là bất thường và không phải là sự áp dụng riêng biệt của triều đại này, mà nó phù hợp và tiếp thu theo thông lệ từng có ở các triều đại trước.
== Nhận định ==
Nhà Nguyễn là vương triều đã hoàn thành việc chấm dứt chia cắt, phân chia Đàng Trong, Đàng Ngoài dù rằng phong trào Tây Sơn là những người đầu tiên thực hiện quá trình này (thậm chí cuối thời Tây Sơn cũng đang có nguy cơ phân liệt). Triều Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng đều lo củng cố vương quyền đồng thời củng cố chủ quyền dân tộc, chống mọi sự vi phạm, xâm phạm từ bên ngoài và bên trong, kể cả bằng những biện pháp như trấn áp quyết liệt Công giáo thời kỳ Minh Mạng và Tự Đức.
=== Về vấn đề tổ chức hành chính ===
Những thành quả của vương triều Nguyễn trong việc xây dựng nhà nước quân chủ phong kiến tập quyền thống nhất trên toàn lãnh thổ cũng được ghi nhận từ việc quản lý đất nước. Đặc biệt là những thành tựu trong cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng còn có nhiều giá trị. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho rằng:
Triều Nguyễn từng bị Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đánh giá là "Chế độ quân chủ chuyên chế cực kỳ phản động" và cho rằng nhà Nguyễn đã "tăng cường bộ máy đàn áp", "Bộ máy quan lại hủ lậu mục nát". Nhưng nhiều nhà sử học về sau cho rằng bộ máy quan lại triều Nguyễn không thực sự hủ bại, thối nát, rằng từ thời vua Gia Long (1802-1820) đến Minh Mạng (1820-1840), nhà Nguyễn đã "thực hiện công cuộc cải cách hành chính theo xu hướng đơn giản, hợp lý, hiệu quả, chú trọng xây dựng đội ngũ quan lại có năng lực, đáp ứng yêu cầu của đất nước". Sự thay đổi về quan điểm này được cho là do hiện nay các nhà sử học đã có được "nguồn sử liệu toàn diện, phong phú và phương pháp tiếp cận khách quan, khoa học, cộng với độ lùi thời gian cần thiết".
=== Vấn đề cải cách ===
Theo Nguyễn Quang Trung Tiến (Trường Đại học Khoa học Huế), đối với những đề xướng cải cách, thái độ của nhà Nguyễn là tiếp nhận các điều trần chứ không quay lưng. Vua Tự Đức và triều thần dường như đã đọc không bỏ sót một bản điều trần nào của các nhà cải cách gửi về Huế;... đồng thời đã tổ chức thực hiện việc cải cách ở một số lĩnh vực. Tuy nhiên, nhà Nguyễn đã thất bại trong việc cải cách, những công việc tiến hành chưa nhiều và không đồng bộ, không thể tạo ra một cuộc cải cách thực sự như "Minh Trị duy tân" ở Nhật Bản, để rồi dang dở bất thành. Những nguyên nhân cơ bản là:
Cuộc cải cách của triều Nguyễn gặp phải hạn chế khách quan là không hề có những hậu thuẫn quan trọng về xã hội, thiếu hẳn một giai cấp đủ năng lực tiến hành cải cách.
Giai cấp phong kiến Việt Nam chưa có khuynh hướng tư sản hóa nên số đông triều thần nhà Nguyễn đã bị tầm nhìn hạn hẹp và sự thủ cựu chi phối, năng lực bản thân hạn chế.
Không có người biết tổ chức, quản lý, tay nghề không có, kỹ thuật yếu kém.
Sau khi Nam Kỳ mất, tiềm lực quốc gia hao mòn quá lớn, nguồn tài chính cạn kiệt, mất mùa đói kém triền miên, dân chúng nổi lên khắp nơi, nên sự đầu tư cho cuộc canh tân không đủ, nhiều chương trình học nước ngoài bị bỏ dở nửa chừng. Riêng nguyên nhân này còn có tác động từ phía Pháp: không ít lần người Pháp đã ngăn không cho du học sinh Việt Nam ra nước ngoài học; hoặc việc mua tàu máy, vũ khí của nước ngoài cũng bị Pháp phá hỏng...
=== Nguyên nhân mất nước ===
Có những ý kiến khác nhau về trách nhiệm của các vua nhà Nguyễn đối với việc Việt Nam mất vào tay người Pháp.
Trong Việt Sử tân biên, Phạm Văn Sơn cho rằng Việt Nam mất vào tay thực dân Pháp là một tất yếu lịch sử, hoặc ít ra cũng do trình độ dân trí Việt Nam quá thấp kém so với người Pháp. Ngược lại, các nhà sử học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn 1954-1975 có xu hướng quy trách nhiệm hoàn toàn cho các vua Nguyễn đối với việc mất nước rằng Nguyễn Ánh đã "cõng rắn cắn gà nhà" và Tự Đức "bán rẻ đất nước" cho thực dân.
Về phía Pháp, sử gia Gosselin nói rằng các hoàng đế An Nam phải chịu trách nhiệm về sự đổ vỡ và xuống dốc của đất nước họ. Dân xứ này, quan lại, binh lính xứng đáng có được những người cầm đầu có giá trị hơn thế. Chính quyền họ đã mù quáng vì không dự liệu, không chuẩn bị gì hết.
Nguyễn Phan Quang cho rằng triều Nguyễn thua Pháp không phải là tất yếu mà do lúng túng về đường lối chính trị được thể hiện qua mặt quân sự và vấn đề tôn giáo và các mâu thuẫn nội bộ. Việc ngăn cấm Công giáo đồng nghĩa với việc ngăn chặn phương Tây có mặt tại Việt Nam đã gây phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc và là lý do khiến phương Tây nổ súng xâm lược. Suốt hơn 20 năm kể từ khi ký Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), triều Nguyễn đã không thể giải quyết mâu thuẫn giữa cải cách mới có thể chống Pháp thành công và muốn chống Pháp thành công thì phải cải cách nên đã để mất dần lãnh thổ.
=== Quan điểm đánh giá ===
Từ năm 1945 đến trước năm 1975, đã có những ý kiến đánh giá phê phán nhà Nguyễn rất gay gắt ở miền Bắc Việt Nam. Ngay từ năm 1961, ngay trước khi cho ấn hành tập đầu tiên của bộ Đại Nam thực lục, Viện Sử học miền Bắc đã viết nhận định:
Sách Lịch sử Việt Nam do Viện Khoa học Xã hội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bản năm 1971 cũng cho rằng:
Ngoài ra còn các nhận định trong các tiểu mục khác như "Tăng cường bộ máy đàn áp", "Bộ máy quan lại hủ lậu mục nát", "Chế độ áp bức bóc lột nặng nề", "Chính sách kinh tế lạc hậu và phản động", "Chính sách đối ngoại mù quáng", v.v... và trong tập II của bộ Lịch sử Việt Nam xuất bản vào năm 1985, các tác giả thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội còn dùng những từ ngữ như: "triều đình nhà Nguyễn thối nát và hèn mạt", "Vương triều Nguyễn tàn ác và ngu xuẩn", "cực kỳ ngu xuẩn", "tên chúa phong kiến bán nước số 1 là Nguyễn Ánh... Nguyễn Ánh cầu cứu các thế lực ngoại bang giúp hắn thỏa mãn sự phục thù giai cấp", v.v...
Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An thì "Đọc "Lời giới thiệu" trong bản dịch bộ "Đại Nam thực lục" và học các chương mục lịch sử chính thống với những lời lẽ như vừa nêu, độc giả và học sinh sinh viên trong cả nước chắc hẳn đều phải phẫn nộ và căm thù các vua chúa nhà Nguyễn đến tận xương tủy! Có một điều ghi rõ trong "Lời nhà xuất bản" ở tập II của bộ "Lịch sử Việt Nam" là sách này đã được "viết theo đề cương" và "tư tưởng chỉ đạo" từ trên xuống. Nghĩa là các tác giả đã viết theo quan điểm lập trường của lãnh đạo chứ không phải viết theo tư duy sử học của cá nhân..."
Dù vậy, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vào ngay thời điểm đang chỉ đạo việc biên soạn bộ sách lịch sử do Ủy ban Khoa học Xã hội chủ trì đả phá quyết liệt các chúa Nguyễn và triều Nguyễn cũng nhắc nhở những người tham gia biên soạn bộ sử ấy rằng, rồi "đến lúc nào đó" phải đánh giá lại chính những quan điểm của bộ sử này về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn.
GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhận định, thời kỳ các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn từ thế kỷ XVI cho đến thế kỷ XIX là một thời kỳ lịch sử đã trải qua những cách nhìn nhận và đánh giá hết sức khác nhau, có những lúc gần như đảo ngược lại. Triều Nguyễn được đặt trong "khung" lý thuyết hình thái kinh tế xã hội là triều đại suy vong, lâm vào khủng hoảng nặng nề, và chịu nhiều phán xét không công bằng.
Theo ông Nguyễn Đắc Xuân (Hội sử học Thừa Thiên – Huế), nhận định sai về nhà Nguyễn còn có 4 xu hướng: con cháu nhà Lê – Trịnh viết về nhà Nguyễn có những điểm sai; thực dân Pháp, Công giáo và những người nghiên cứu nhà Tây Sơn, thích Tây Sơn đều có những đánh giá sai về nhà Nguyễn.
Quan điểm phê phán nhà Nguyễn chi phối xã hội miền Bắc Việt Nam (từ năm 1954) và miền Nam Việt Nam (từ sau năm 1975) trong một thời gian dài nên nhiều di tích có liên quan bị hủy hoại, xoá bỏ các hình thức ghi nhận như tên đường phố, trường học, các công trình công cộng tại các đô thị, thậm chí ngay cả với những "ông vua chống Pháp" như Duy Tân cũng bị bãi bỏ. Một thời gian dài quần thể di tích cố đô Huế bị bỏ mặc để trở thành phế tích sau những đổ nát của chiến tranh và lụt lội.... Cũng theo ông Phan Thuận An, chỉ trong hai thập niên gần đây (1987-2008), nhiều cuộc hội thảo khoa học và nhiều công trình nghiên cứu đã dần dần đem lại một cái nhìn dễ chịu hơn chứ không còn gay gắt như trước đối với vương triều này.
Tuy nhiên, trong quyển Đại cương Lịch sử Việt Nam tập II do Đinh Xuân Lâm biên soạn gần đây (bản năm 2007) cũng vẫn cho rằng "triều Nguyễn thành lập là sự thắng thế của tập đoàn phong kiến tối phản động trong nước có tư bản nước ngoài ủng hộ". Ông Lâm cũng cho rằng nhà Nguyễn "là 1 nhà nước quân chủ chuyên chế tuyệt đối, tập trung cao độ với 1 chế độ chính trị lạc hậu, phản động". "Mọi chính sách chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội triều Nguyễn ban hành đều nhằm mục đích duy nhất là bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn"... và các biện pháp khai hoang hay mộ dân lập ấp đều "xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị".
Lý giải về thái độ đánh giá trên, giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cho rằng: "nguyên do sâu xa của vấn đề này là do bối cảnh chính trị của đất nước (Việt Nam) thời bấy giờ và cách vận dụng phương pháp luận sử học của các nhà nghiên cứu"... "Khuynh hướng này phát triển ở miền Bắc (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) trong thời gian từ 1954 phản ánh trên một số luận văn trên tạp chí Văn sử địa, Đại học sư phạm, Nghiên cứu lịch sử và biểu thị tập trong những bộ lịch sử, lịch sử văn học, lịch sử tư tưởng Việt Nam..."
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cũng có ý kiến tương tự, cho rằng do chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam mà các nhà biên soạn sách đã có thái độ khắt khe với nhà Nguyễn.. Theo Nguyễn Đình Đầu, việc dùng những khái niệm như đấu tranh giai cấp, giai cấp địa chủ, giai cấp nông dân, giai cấp phong kiến, tập đoàn thống trị, chiến tranh Cách mạng, tước đoạt tư liệu sản xuất, bóc lột sức lao động... lên xã hội nông nghiệp phương Đông trong sách Lịch sử Việt Nam do Viện Khoa học Xã hội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa biên soạn là gượng ép.
Nhà sử học Dương Trung Quốc thì tin là bởi "Bối cảnh chính trị của cuộc cách mạng "phản đế - phản phong" cùng lập trường đấu tranh giai cấp và cải tạo xã hội chủ nghĩa đã kéo dài sự đánh giá một sắc màu tiêu cực về nhà Nguyễn...". Ông cũng cho rằng "Sử học là một khoa học, nhưng nó cũng không thể không mang màu sắc chính trị." và "Trong nhận thức ấy, xin đừng trách nền sử học một thời đã từng lên án nhà Nguyễn với những đánh giá mà ngày nay ta thấy thiếu sự công bằng."
Giáo sư Trần Quốc Vượng là người sớm nhất đưa ra một đánh giá sáng sủa hơn trên tờ "Sông Hương" (Huế) vào năm 1987 "Tôi không thích nhà làm sử cứ theo ý chủ quan của mình, và từ chỗ đứng của thời đại mình mà chửi tràn chửi lấp toàn bộ nhà Nguyễn cho sướng miệng và ra vẻ có lập trường. Có thời nhà Nguyễn chúng ta mới có một Việt Nam hoàn chỉnh như ngày nay".
Hiện nay, theo giáo sư Phan Huy Lê, "cần thiết phải khẳng định công lao của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong việc mở mang bờ cõi, thống nhất đất nước, phát triển giáo dục, văn hóa. Những gì được coi là "tội" của các vua chúa Nguyễn cũng phải được xem xét lại cho thật công bằng".
Và giáo sư Phan Huy Lê cũng đặt câu hỏi "việc Nguyễn Ánh "diệt" Nguyễn Lữ, Nguyễn Nhạc, Quang Toản có phải là phản tiến bộ hay không, khi mà những chính quyền này đã suy yếu và mất lòng dân?" Giáo sư cũng cho rằng "sau Cách mạng tháng Tám-1945 cho đến 1975, trong thời kỳ chiến tranh, công việc nghiên cứu nói chung có bị hạn chế, số lượng công trình nghiên cứu không nhiều. Và cơ bản nhất là đã xuất hiện một khuynh hướng phê phán gay gắt các chúa Nguyễn, đặc biệt là vương triều Nguyễn: chia cắt đất nước, cầu viện ngoại bang, đầu hàng thực dân xâm lược... Thời kỳ nhà Nguyễn bị đánh giá là thời kỳ chuyên chế phản động nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Khuynh hướng đó gần như trở thành quan điểm chính thống trong biên soạn sách giáo khoa đại học và phổ thông." và giai đoạn này "là thời kỳ mà nền sử học Mácxít đang hình thành nên sự ấu trĩ, giáo điều, công thức buổi đầu là không tránh khỏi. Không chỉ nhà Nguyễn mà nhà Mạc, nhà Hồ cũng chịu cái nhìn thiếu khách quan, công bằng tương tự..."
Nhà thơ Nguyễn Duy đã có ý kiến:"Cho đến bây giờ, nhiều người biết rằng nhà Nguyễn có công lớn đối với nước nhà, nhưng không hiểu tại sao và từ lúc nào, lại bị biến dạng, bị hạ thấp một cách oan sai về thang bậc giá trị lịch sử và văn hóa."
Cũng theo Giáo sư Phan Huy Lê thì các nhà sử học tham gia hội thảo quốc gia về "Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX" năm 2008 đều nhận thấy "sự phê phán, lên án đến mức độ gần như phủ định mọi thành tựu của thời kỳ các chúa Nguyễn và triều Nguyễn trước đây là quá bất công, thiếu khách quan, nhất là khi đưa vào nội dung sách giáo khoa phổ thông để phổ cập trong lớp trẻ và xã hội... các nhà sử học dĩ nhiên có trách nhiệm của mình trong vận dụng phương pháp luận sử học chưa được khách quan, trung thực."
== Các vua nhà Nguyễn ==
Trong 143 năm tồn tại kể từ khi thành lập năm 1802 đến khi sụp đổ 1945, nhà Nguyễn có 13 vị vua cai trị thuộc 7 thế hệ. Tính theo Đế hệ thi của Minh Mạng thì dòng họ nhà Nguyễn chỉ truyền đến chữ thứ 5 (Vĩnh) hết dòng thơ thứ nhất, tương đương với thế hệ thứ 5 kể từ các con Minh Mạng.
=== Sơ đồ các vua nhà Nguyễn ===
== Ghi chú ==
== Chú thích ==
sẽ jđn
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Tài liệu lưu trữ Hán – Nôm, do Nha Kinh lược Bắc Kỳ biên soạn. Khối tài liệu này là một trong những nguồn sử liệu gốc có thể phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử về các mặt chính trị, kinh tế, an ninh trật tự, giao thông, tổ chức bộ máy nhà nước, văn hóa xã hội... thời kỳ phong kiến triều Nguyễn. Nó đang được lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.
== Liên kết ngoài ==
Lịch sử tóm tắt nhà Nguyễn
Hình ảnh nhà Nguyễn thời xưa
Nhà Nguyễn - lịch sử thăng trầm của một dòng họ, báo Tuổi trẻ: kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3, kỳ 4, kỳ 5,kỳ 6, kỳ 7, kỳ cuối
Nguyễn Quang Trung Tiến - Triều Nguyễn - cảm nhận đa chiều: kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3
Lần đầu tiên công bố bảo vật Hoàng cung và Ấn, kiếm vàng thời Nguyễn |
bo.txt | Bo là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu B và số hiệu nguyên tử bằng 5, nguyên tử khối bằng 11.
== Thuộc tính ==
Bo là nguyên tố thiếu hụt điện tử, có quỹ đạo p trống. Các hợp chất của bo thông thường có tính chất như các axít Lewis, sẵn sàng liên kết với các chất giàu điện tử.
Các đặc trưng quang học của nguyên tố này bao gồm khả năng truyền tia hồng ngoại. Ở nhiệt độ phòng Bo là một chất dẫn điện kém nhưng là chất dẫn điện tốt ở nhiệt độ cao.
Bo là nguyên tố có sức chịu kéo giãn cao nhất.
Nitrua bo (BN) có thể sử dụng để chế tạo vật liệu có độ cứng như kim cương. Nó có tính chất của một chất cách điện nhưng dẫn nhiệt giống như kim loại. Nguyên tố này cũng có các độ nhớt giống như than chì. Bo cũng giống như cacbon về khả năng của nó tạo ra các liên kết phân tử cộng hóa trị ổn định.
Là một nguyên tố á kim hóa trị +3, bo xuất hiện chủ yếu trong quặng borax. Có hai dạng thù hình của bo; bo vô định hình là chất bột màu nâu, nhưng bo kim loại thì có màu đen. Dạng thù hình kim loại rất cứng (9,3 trong thangon Mohs) và là chất dẫn điện kém ở nhiệt độ phòng. Không tìm thấy bo tự do trong tự nhiên.
== Ứng dụng ==
Hợp chất có giá trị kinh tế nhất của bo là tetraborat decahydrat natri Na2B4O7·10H2O, hay borax, được sử dụng để làm lớp vỏ cách nhiệt cho cáp quang hay chất tẩy trắng perborat natri. Các ứng dụng khác là:
Vì ngọn lửa màu lục đặc biệt của nó, bo vô định hình được sử dụng trong pháo hoa.
Axít boric là hợp chất quan trọng sử dụng trong các sản phẩm may mặc.
Các hợp chất của bo được sử dụng nhiều trong tổng hợp các chất hữu cơ và sản xuất các thủy tinh borosilicat.
Các hợp chất khác được sử dụng như là chất bảo quản gỗ được ưa thích do có độc tính thấp.
Bo10 được sử dụng để hỗ trợ kiểm soát của các lò phản ứng hạt nhân, là lá chắn chống bức xạ và phát hiện nơtron.
Các sợi bo là vật liệu nhẹ có độ cứng cao, được sử dụng chủ yếu trong các kết cấu tàu vũ trụ.
Borohiđrit natri (NaBH4), là chất khử hóa học thông dụng, được sử dụng (ví dụ) trong khử các alđêhit và kếton thành rượu.
Các hợp chất bo được sử dụng như thành phần trong các màng thấm đường, phần tử nhạy cacbonhiđrat và tiếp hợp sinh học. Các ứng dụng sinh học được nghiên cứu bao gồm liệu pháp giữ nơtron bằng bo và phân phối thuốc trong cơ thể. Các hợp chất khác của bo có hứa hẹn trong điều trị bệnh viêm khớp,Ung thư..
Hidrua bo là một chất bị ôxi hóa dễ dàng giải phóng ra một lượng đáng kể năng lượng. Vì thế nó được nghiên cứu để sử dụng làm nhiên liệu cho tên lửa.
== Lịch sử ==
Các hợp chất của bo (tiếng Ả Rập buraq từ tiếng Ba Tư burah) đã được biết đến từ hàng nghìn năm trước. Ở Ai Cập cổ đại, việc ướp xác phụ thuộc vào quặng được biết đến như là natron, nó chứa muối borat cũng như một số muối phổ biến khác. Các loại men sứ từ borax đã được sử dụng ở Trung Quốc từ năm 300, các hợp chất của bo được sử dụng trong sản xuất thủy tinh ở La Mã cổ đại.
Nguyên tố này được phân lập năm 1808 bởi Sir Humphry Davy, Joseph Louis Gay-Lussac và Louis Jacques Thénard, với độ tinh khiết khoảng 50%. Những người này không biết chất tạo thành như là một nguyên tố. Năm 1824 Jöns Jakob Berzelius đã xác nhận bo như là một nguyên tố; ông gọi nó là boron, một từ tiếng Latin có nguồn gốc là burah trong tiếng Ba Tư. Bo nguyên chất được sản xuất lần đầu tiên bởi nhà hóa học người Mỹ W. Weintraub năm 1909.
== Sự phổ biến ==
Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ là hai nước sản xuất bo lớn nhất thế giới. Bo trong tự nhiên tìm thấy ở dạng muối borat, axít boric, colemanit, kernit, ulexit. Axít boric đôi khi tìm thấy trong nước suối có nguồn gốc núi lửa. Ulexit là khoáng chất borat tự nhiên có thuộc tính của cáp quang học.
Nguồn có giá trị kinh tế quan trọng là quặng rasorit (kernit) và tincal (quặng borax), cả hai được tìm thấy ở sa mạc Mojave (California) (với borax là khoáng chất chủ yếu). Thổ Nhĩ Kỳ là nơi mà các khoáng chất borax cũng được tìm thấy nhiều.
Bo tinh khiết không dễ điều chế. Phương pháp sớm nhất được sử dụng là khử ôxít bo với các kim loại như magiê hay nhôm. Tuy nhiên sản phẩm thu được hầu như có chứa borua kim loại. Bo nguyên chất có thể được điều chế bằng việc khử các hợp chất của bo với các halôgen dễ bay hơi bằng hiđrô ở nhiệt độ cao.
Năm 1997 bo kết tinh (99% nguyên chất) có giá khoảng USD 5 cho 1 gam và bo vô định hình giá USD 2 cho 1 gam.
== Đồng vị ==
Bo có 2 đồng vị tự nhiên ổn định là 11B (80,1%) và 10B (19,9%). Sự sai khác về khối lượng tạo ra một khoảng rộng của các giá trị δB-11 trong các loại nước tự nhiên, dao động từ -16 đến +59. Có 13 đồng vị đã biết của bo, chu kỳ bán rã ngắn nhất là 7B, nó phân rã bởi bức xạ prôton và phóng xạ alpha. Chu kỳ bán rã của nó là 3,26500x10−22 s. Sự phân đoạn đồng vị của bo được kiểm soát bởi các phản ứng trao đổi của các chất B(OH)3 và B(OH)4. Các đồng vị của bo cũng phân đoạn trong sự kết tinh khoáng chất, trong các thay đổi pha của H2O trong hệ thống thủy phân, cũng như trong phong hóa các loại đá bởi nước. Hiệu ứng cuối cùng chuyển đổi các ion B10(OH)4 trong đất sét thành B11(OH)3 có thể là nguyên nhân của lượng lớn B11 trong nước biển, điều này có liên quan tới các lớp vỏ của các đại dương và lục địa.
== Cảnh báo ==
Bo nguyên tố và các borat là không độc vì thế không có yêu cầu đặc biệt nào khi làm việc với chúng. Tuy nhiên, một số hợp chất chứa hiđrô của bo là độc và có yêu cầu đặc biệt khi tiếp xúc. Natri orthoborat có thể gây hại cho gan
== Xem thêm ==
Thiếu hụt bo
== Tham khảo ==
Los Alamos National Laboratory – Boron
== Liên kết ngoài ==
Bo tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Boron (B) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
WebElements.com – Boron
EnvironmentalChemistry.com – Boron
It's Elemental – Boron
Boron
Environmental Health Criteria 204: Boron (1998) by the IPCS.
A summary of the previous report by the industry lobbying group GreenFacts. |
giáo dục tuổi ấu thơ.txt | Giáo dục tuổi ấu thơ hay giáo dục cho trẻ nhỏ, là khái niệm chỉ việc giáo dục trong những năm tháng đầu của cuộc đời, từ khi sinh ra đến khi 8 tuổi, một trong những giai đoạn nhạy cảm nhất trong cuộc đời con người.
== Cơ bản về giáo dục trẻ nhỏ ==
Giáo dục tuổi ấu thơ chủ yếu tập trung vào việc học hỏi thông qua chính quá trình trẻ tham gia các trò chơi. Khái niệm, "Giáo dục tuổi ấu thơ," thông thường chỉ các chương trình được thiết kế dành riêng cho những năm tháng trước khi trẻ đến trường.
Những chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực này và các nhà giáo dục cho trẻ nhỏ đều nhất trí rằng các bậc cha mẹ đóng vai trò quan trọng không thể tách rời trong quá trình giáo dục cho trẻ ở tuổi ấu thơ.
2 năm đầu tiên của cuộc sống được dành ra để xây dựng nên "khái niệm về bản thân" của đứa trẻ. Đây là một phần trọng yếu trong sự hình thành nhân cách của trẻ—trẻ nhìn nhận bản thân như thế nào, trẻ nghĩ mình sẽ cư xử như thế nào, trẻ mong muốn người khác sẽ cư xử như thế nào trong mối liên hệ với trẻ. Vì lý do đó, trong giai đoạn này phải chắc chắn rằng ngoài việc cha mẹ cần cẩn trọng và chỉ nhờ cậy những người chăm sóc trẻ được lựa chọn và đào tạo kỹ càng, họ cũng cần phải tập trung vào mối liên kết của trẻ với cha mẹ, họ hàng, văn hóa và ngôn ngữ của gia đình. Những chương trình chăm sóc, người giáo dục... chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ cho gia đình chứ không phải là sự thay thế.
Những năm tiếp theo, từ 3 đến 8 tuổi, là giai đoạn mà tầm quan trọng của việc giáo dục cho trẻ nhỏ thường bị đánh giá thấp một cách sai lầm, bị quy về đồng nghĩa với việc trông giữ trẻ. Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, giai đoạn này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy, nhân cách, và có ảnh hưởng lớn đến suốt cuộc đời. (Ở tuổi lên 5, 50% cấu trúc kết nối của não đã được hoàn thiện, ở tuổi lên 8, con số này là 80%). Sự thực khác là đây cũng chính là giai đoạn trẻ dễ tiếp thu, học hỏi cái mới nhất (Bộ não có khả năng học hỏi nhanh nhất và dễ dàng nhất trong những năm trước và những năm đầu tiên tới trường) . Vì vậy những nhà nghiên cứu đã gọi giai đoạn này là "cửa sổ cơ hội" (window of opportunites) mà trẻ cần phải nhận được sự quan tâm giáo dục, chăm sóc thích đáng để phát huy hết tiềm năng trong tương lai.
== Những lĩnh vực trong giáo dục trẻ nhỏ ==
Xem thêm thông tin: Sự phát triển của trẻ nhỏ
Có 5 lĩnh vực chính trong việc giáo dục trẻ nhỏ và bản thân chúng cũng liên quan chặt chẽ với nhau (SPICE).
Xã hội (Social) - Chỉ khả năng kết nối, chơi với những trẻ khác, hợp tác và chia sẻ, và có khả năng tạo ra những quan hệ lâu dài với người khác.
Thể chất (Physical) - Xây dựng và phát triển hệ thống cơ bắp.
Tư duy (Intellectual) - Quá trình nhận biết và tìm hiểu tới thế giới xung quanh trẻ.
Sáng tạo (Creative) - Phát triển những khả năng đặc biệt và năng khiếu. Âm nhạc, nghệ thuật, viết, đọc, ca hát, tất cả đều là những cách để phát triển sự sáng tạo.
Cảm xúc (Emotional) - Xây dựng khái niệm về bản thân, sự tự tin, tự nhận biết và kiểm soát cảm xúc.
== Lợi ích của giáo dục trẻ nhỏ ==
Những năm 1962–1967, 123 trẻ em Mỹ gốc Phi đã được lựa chọn ngẫu nhiên để tham gia nghiên cứu của HighScope. Một nhóm trong số đó được tham gia vào chương trình giáo dục tuổi ấu thơ trước khi đến trường. Khi những đứa trẻ này 40 tuổi, 97% trong số đó vẫn còn sống và đã được phỏng vấn cùng với việc tổng hợp nhiều tư liệu về cuộc sống của họ. Kết quả cho thấy những người nhận được các chương trình giáo dục trẻ nhỏ có thu nhập cao hơn, ít vi phạm pháp luật hơn, và tỉ lệ tốt nghiệp trung học cao hơn..
Một chương trình giáo dục trẻ ở tuổi nhỏ khác là FasTracKids cũng đã thực hiện các cuộc khảo sát với các phụ huynh của chương trình, và hầu hết đều nhận thấy sự phát triển rõ rệt của trẻ trong các lĩnh vực khác nhau: khả năng giao tiếp: 83%, kỹ năng lãnh đạo và giải quyết vấn đề: 81%, khả năng ngôn ngữ: 69% và các kỹ năng xã hội: 62%.
Như vậy, lợi ích của giáo dục tuổi ấu thơ không chỉ gói gọn trong những gì trẻ thu nhận được trong chương trình mà có ảnh hưởng tới khả năng học tập, phát triển, tư duy, cá tính, khả năng thành công của trẻ trong những năm tháng tiếp theo tại trường học và suốt cả cuộc đời.
== Xem thêm ==
David P. Weikart
Charles Eugene Beatty
Playcentre
Child Development
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Giáo dục tuổi ấu thơ |
ai cập.txt | Ai Cập (tiếng Ả Rập: مِصر Miṣr, tiếng Ả Rập Ai Cập: مَصر Maṣr,), tên chính thức là nước Cộng hòa Ả Rập Ai Cập, là một quốc gia liên lục địa có phần lớn lãnh thổ nằm tại Bắc Phi, cùng với bán đảo Sinai thuộc Tây Á. Ai Cập giáp Địa Trung Hải, có biên giới với Dải Gaza và Israel về phía đông bắc, giáp vịnh Aqaba về phía đông, biển Đỏ về phía đông và nam, Sudan về phía nam, và Libya về phía tây. Ngoài ra, Ai Cập có biên giới hàng hải với Jordan và Ả Rập Saudi qua vịnh Aqaba và biển Đỏ.
Trong số các quốc gia hiện đại, Ai Cập có lịch sử vào hàng lâu đời nhất, trở thành một trong các quốc gia dân tộc đầu tiên trên thế giới vào thiên niên kỷ 10 TCN. Ai Cập cổ đại được nhận định là một cái nôi văn minh, và trải qua một số bước phát triển sớm nhất về chữ viết, nông nghiệp, đô thị hoá, tôn giáo có tổ chức và chính phủ trung ương. Di sản văn hoá phong phú của Ai Cập là bộ phận của bản sắc dân tộc, từng phải chịu ảnh hưởng mà đôi khi là đồng hoá từ bên ngoài như Hy Lạp, Ba Tư, La Mã, Ả Rập, Ottoman, và châu Âu. Ai Cập từng là một trong các trung tâm ban đầu của Cơ Đốc giáo, song trải qua Hồi giáo hoá trong thế kỷ 7 và từ đó duy trì là một quốc gia do Hồi giáo chi phối, song có một thiểu số Cơ Đốc giáo đáng kể.
Ai Cập có trên 92 triệu dân, là quốc gia đông dân nhất tại Bắc Phi và thế giới Ả Rập, là quốc gia đông dân thứ ba tại châu Phi và thứ 15 trên thế giới. Đại đa số cư dân sống gần bờ sông Nin, trong một khu vực có diện tích khoảng 40.000 km², là nơi duy nhất có đất canh tác. Các khu vực rộng lớn thuộc sa mạc Sahara chiếm hầu hết lãnh thổ Ai Cập, song có cư dân thưa thớt. Khoảng một nửa cư dân Ai Cập sống tại khu vực thành thị, các trung tâm dân cư đông đúc là Đại Cairo, Alexandria và các thành phố lớn khác tại đồng bằng châu thổ sông Nin.
Ai Cập hiện đại được nhận định là một cường quốc khu vực và cường quốc bậc trung, có ảnh hưởng đáng kể về văn hoá, chính trị và quân sự tại Bắc Phi, Trung Đông và thế giới Hồi giáo. Kinh tế Ai Cập nằm vào hàng lớn nhất và đa dạng nhất tại Trung Đông, và theo dự kiến sẽ nằm trong số các nền kinh tế lớn nhất thế giới trong thế kỷ 21. Ai Cập là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, Phong trào không liên kết, Liên đoàn Ả Rập, Liên minh châu Phi, và Tổ chức Hợp tác Hồi giáo.
== Nguồn gốc quốc hiệu ==
Tên gọi của Ai Cập trong tiếng Việt bắt nguồn từ tên gọi của Ai Cập trong tiếng Trung. Trong tiếng Trung Ai Cập được gọi là “埃及”. “埃及” có âm Hán Việt là “Ai Cập”.
Miṣr là quốc hiệu chính thức theo tiếng Ả Rập của Ai Cập hiện đại, nó có gốc ngôn ngữ Semit, cùng gốc trực tiếp với tiếng Hebrew מִצְרַיִם (Mitzráyim), có nghĩa là "hai đoạn thẳng" và cũng có thể có nghĩa là "một đất nước" hay "một quốc gia".
Tên cổ của nước này là kemet, hay "miền đất đen," xuất phát từ lớp đất phù sa lắng đọng màu mỡ màu đen do những trận lụt của sông Nil đem đến, khác biệt so với 'miền đất đỏ' (deshret) của sa mạc. Ở giai đoạn sau, cái tên này trở thành keme trong tiếng Copt. Tên Egypt theo tiếng Anh bắt nguồn từ từ Aegyptus trong tiếng Latin và xuất phát từ Αίγυπτος (Aiguptos) trong tiếng Hy Lạp cổ. Từ này có thể lại có nguồn gốc từ câu ḥwt-k3-ptḥ ("Hwt ka Ptah") trong tiếng Ai Cập cổ có nghĩa là "ngôi nhà của Ka (một phần linh hồn) của Ptah," tên của một ngôi đền thánh Ptah tại Memphis (Ai Cập).
Xem thêm Copt
== Lịch sử ==
Những trận lụt đều đặn hàng năm mang theo nhiều phù sa của sông Nil, cùng với tình trạng bán cô lập do sự ngăn cách của sa mạc phía đông và phía tây, dẫn tới sự phát triển của một trong những nền văn minh vĩ đại nhất thế giới. Nước Ai Cập được coi là lập quốc vào khoảng năm 3100 trước Công Nguyên bởi pharaong huyền thoại Menes, người đã cho xây thành Memphis và chọn đây làm kinh đô. Triều đại có nguồn gốc địa phương cuối cùng, được gọi là Vương triều thứ 30, đã sụp đổ trước sức tấn công của người Ba Tư năm 343 TCN và vị pharaong người Ai Cập cuối cùng là Nectanebo II phải thoái vị. Lúc ấy người Ai Cập đã đào nên nền móng đầu tiên của kênh Suez và nối liền Biển Đỏ với Địa Trung Hải. Sau đó, Ai Cập lần lượt bị cai trị bởi người Hy Lạp, La Mã, Đông La Mã (Byzantine) và một lần nữa bởi người Ba Tư.
Chính người Ả Rập Hồi giáo đã đưa Đạo Hồi và tiếng Ả Rập tới Ai Cập trong thế kỷ thứ 7, và người Ai Cập dần tiếp nhận cả hai ảnh hưởng đó. Những vị quan cai trị Hồi giáo do khalip chỉ định ra nắm quyền kiểm soát Ai Cập trong ba thế kỷ tiếp sau. Những triều đại tự chủ bắt đầu với những tổng đốc cha truyền con nối từ năm 868. Ai Cập đạt đến tột đỉnh hùng mạnh với ba triều đại Fatimid (trải từ Maroc đến Syria), Ayyubid (thắng được liên quân các nước Tây Âu), và Mamluk (thắng được Mông Cổ và Tây Âu). Từ năm 1517 Ai Cập bị lệ thuộc vào đế quốc Ottoman của người Thổ Nhĩ Kỳ, rồi lại thêm ảnh hưởng của Pháp và Anh cho đến thế kỷ 20.
Sau khi kênh đào Suez hoàn thành năm 1869, Ai Cập trở thành một đầu mối vận chuyển quan trọng của thế giới; tuy nhiên, nước này cũng có một gánh nặng nợ nần to lớn. Với lý do bảo vệ các khoản đầu tư của mình, Anh Quốc đã chiếm quyền kiểm soát chính phủ Ai Cập năm 1882, nhưng trên danh nghĩa vẫn nó vẫn thuộc Đế chế Ottoman cho đến tận năm 1914.
Sau khi giành lại độc lập hoàn toàn từ tay Anh Quốc năm 1922, Nghị viện Ai Cập phác thảo và áp dụng một hiến pháp năm 1923 dưới sự lãnh đạo của nhà cách mạng nhân dân Saad Zaghlul. Từ 1924 đến 1936, người Ai Cập đã thành công trong việc lập ra một chính phủ hành pháp theo kiểu chính phủ châu Âu hiện đại; được gọi là Cuộc thử nghiệm tự do Ai Cập. Tuy nhiên, người Anh, vẫn giữ một số quyền kiểm soát khiến chính phủ không có độ ổn định cần thiết. Năm 1952, một cuộc đảo chính quân sự buộc vua Farouk, của chính thể quân chủ lập hiến, thoái vị nhường ngôi cho con trai là vua Ahmed Fuad II.
Cuối cùng, nước Cộng hòa Ai Cập được tuyên bố thành lập ngày 18 tháng 6 năm 1953 với Tướng Muhammad Naguib là Tổng thống của nền cộng hoà. Sau đó Naguib cũng bị Gamal Abdel Nasser, kiến trúc sư của phong trào 1952 buộc phải từ chức năm 1954, Nasser lên nắm quyền Tổng thống và quốc hữu hoá kênh Suez dẫn tới cuộc khủng hoảng Suez năm 1956. Nasser ra khỏi chiến tranh với tư cách một anh hùng Ả Rập, và chủ nghĩa Nasser đã lan rộng ảnh hưởng trong vùng dù có gặp phải sự phản ứng từ phía một số người Ai Cập, đa số họ trước đó không hề quan tâm tới chủ nghĩa quốc gia Ả Rập.
Từ 1958 đến 1961, Nasser tiến hành xây dựng một liên minh giữa Ai Cập và Syria được gọi là Cộng hòa Ả Rập Thống nhất. Nỗ lực này cũng gặp phải một số chống đối, và rõ ràng rằng nhiều người Ai Cập không bằng lòng khi thấy rằng cái tên của tổ quốc mình, vốn đã có từ hàng nghìn năm, bỗng nhiên biến mất. Ba năm sau cuộc Chiến tranh sáu ngày năm 1967, trong đó Ai Cập mất bán đảo Sinai vào tay Israel, Nasser chết và được Anwar Sadat kế vị. Sadat bỏ liên minh với Liên Xô từ thời Chiến tranh Lạnh để quay sang Hoa Kỳ, trục xuất các cố vấn Liên Xô năm 1972, và tung ra cuộc cải cách kinh tế Infitah, trong khi tăng cường hành động đàn áp bạo lực đối với các hành động chống đối tôn giáo. Cái tên Ai Cập vẫn được giữ lại.
Năm 1973, Ai Cập cùng với Syria tung ra một cuộc tấn công bất ngờ vào Israel trong cuộc Chiến tranh tháng 10 (cũng được gọi là Chiến tranh Yom Kippur), dù nó hoàn toàn là một thắng lợi quân sự, nhưng về mặt chính trị lại không mang lại kết quả. Cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều can thiệp vào, và đạt tới một thỏa thuận ngừng bắn giữa Ai Cập và Israel. Năm 1979, Sadat ký hiệp ước hòa bình với Israel để đổi lấy bán đảo Sinai, một hành động đã làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong thế giới Ả Rập dẫn tới việc Ai Cập bị loại trừ khỏi Liên đoàn Ả Rập (Ai Cập đã tái gia nhập năm 1989). Sadat bị những kẻ theo tôn giáo chính thống ám sát năm 1981, người kế tục ông là Hosni Mubarak.
== Chính trị ==
Ai Cập đã là một nước cộng hòa từ ngày 18 tháng 6 năm 1953. Tổng thống Mohamed Hosni Mubarak đã làm Tổng thống nền Cộng hoà từ 14 tháng 10 năm 1981, sau vụ ám sát cựu Tổng thống Mohammed Anwar El-Sadat. Ông ta là lãnh đạo đảng cầm quyền Đảng Dân chủ Quốc gia. Mubarak giữ chức vụ cho đến nhiệm kỳ thứ năm thì bị nhân dân Cairo nổi dậy lật đổ vào tháng 2 năm 2011. Thủ tướng Ahmed Nazif lên cầm quyền ngày 9 tháng 7 năm 2004, sau khi Atef Ebeid từ chức.
Chính quyền Ai Cập bị nhiều nước coi là độc tài quân sự. Dù quyền lực trên danh nghĩa được tổ chức theo hệ thống bán tổng thống đa đảng, theo đó quyền hành pháp trên lý thuyết được phân chia giữa Tổng thống và Thủ tướng, trên thực tế hầu như chỉ một mình Tổng thống được bầu ra trong những cuộc bầu cử chỉ có một ứng cử viên trong vòng hơn năm mươi năm qua. Ai Cập cũng có những cuộc bầu cử nghị viện đa đảng thường xuyên. Cuộc bầu cử tổng thống gần đây nhất, trong đó Mubarak thắng cử nhiệm kỳ thứ năm liên tiếp, được tổ chức vào tháng 9 năm 2005 (xem dưới đây).
Cuối tháng 2 năm 2005, Mubarak thông báo trên một chương trình truyền hình rằng ông đã ra lệnh cải tổ luật bầu cử tổng thống của đất nước, dọn đường cho những cuộc bầu cử đa ứng cử viên trong tương lai. Lần đầu tiên kể từ phong trào năm 1952, dân chúng Ai Cập có cơ hội thực sự để bầu ra một nhà lãnh đạo từ một danh sách ứng cử viên. Tổng thống nói rằng ý định này của ông xuất phát từ "nhận thức đầy đủ của tôi về sự cần thiết phải củng cố những nỗ lực để tăng cường hơn nữa tự do và dân chủ." Tuy nhiên, luật mới đặt ra những hạn chế khắc nghiệt đối với người muốn ra tranh cử, và đã được toan tính trước nhằm ngăn chặn các ứng cử viên đã rất nổi tiếng như Ayman Nour không thể ra tranh cử chống lại Mubarak, và dọn đường để ông dễ dàng được tái tranh cử.
Những lo ngại một lần nữa lại dấy lên sau cuộc bầu cử năm 2005 về sự can thiệp của chính phủ vào quá trình bầu cử thông qua việc gian lận và lừa gạt. Hơn nữa, bạo lực do những người ủng hộ Mubarak tiến hành chống lại những người đối lập và sự tàn bạo của cảnh sát đã xảy ra trong quá trình bầu cử. Điều này đặt ra nghi vấn về cam kết mà chính phủ đã loan báo về một quá trình dân chủ.
Vì vậy, đa số người dân Ai Cập vẫn còn hoài nghi về quá trình dân chủ hóa và vai trò của các cuộc bầu cử. Một tỷ lệ rất nhỏ những người đủ tư cách bầu cử trên thực tế đã bị gạt ra khỏi danh sách cuộc bầu cử năm 2005. Tuy nhiên, báo chí đã cho thấy họ ngày càng tự do hơn trong việc chỉ trích tổng thống, và những kết quả của cuộc bầu cử nghị viện gần đây cho thấy những đảng Hồi giáo như đảng hiện bị cấm Anh Em Hồi giáo đã thắng nhiều ghế, việc này chứng tỏ một sự thay đổi thật sự đang diễn ra.
=== Quốc tế ===
Trụ sở thường trực của Liên đoàn Ả rập đóng tại Cairo. Tổng thư ký Liên đoàn từ lâu theo truyền thống đều là người Ai Cập. Cựu Bộ trưởng ngoại giao Ai Cập Amr Moussa hiện là Tổng thư ký Liên đoàn Ả rập. Liên đoàn Ả rập đã rời khỏi Ai Cập sang Siry trong một giai đoạn ngắn năm 1978 để phản đối hiệp ước hòa bình của Ai Cập với Israel nhưng đã quay trở lại năm 1989.
Ai Cập là nước Ả rập đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà nước Israel, sau khi ký kết Hiệp ước hòa bình Ai Cập-Israel theo Thỏa thuận trại David. Ai Cập có ảnh hưởng lớn đối với các quốc gia Ả rập, và từ lâu đã đóng một vai trò quan trọng làm người hòa giải các tranh chấp giữa các nước Ả rập, và tranh chấp Israel-Palestine. Đa số các quốc gia Ả rập vẫn tin tưởng Ai Cập trong vai trò này, dù ảnh hưởng của nó thường bị hạn chế.
Cựu Phó thủ tướng Ai Cập Boutros Boutros-Ghali đã làm Tổng thư ký Liên hiệp quốc từ 1991 đến 1996.
Một tranh chấp lãnh thổ với Sudan về vùng được gọi là Tam giác Hala'ib, khiến quan hệ ngoại giao giữa hai nước vẫn còn nhiều trở ngại.
== Quân đội ==
Quân đội Ai Cập có lẽ là lực lượng quân sự mạnh nhất trên lục địa châu Phi, và là một trong những lực lượng lớn nhất vùng Trung Đông. Các lực lượng quân sự Ai Cập cũng có nhiều kinh nghiệm chiến trường hơn đa số các quân đội khác trong vùng. Quân đội Ai Cập có khoảng 450.000 người phục vụ thường xuyên.
Chỉ huy tối cao là Tổng thống, trong thời chiến kiêm luôn chức Nguyên soái quân đội, Đô đốc hải quân, Nguyên soái (Colonel General) các lực lượng Phòng không và Không quân. Trong thời bình, tước vị Chỉ huy tối cao chỉ là danh nghĩa.
Nghĩa vụ quân sự là bắt buộc đối với đàn ông Ai Cập từ tuổi 19. Những sinh viên có thể lùi thời hạn nhập ngũ tới tuổi 28. Thời gian nghĩa vụ phụ thuộc vào mức độ giáo dục của từng người.
Ai Cập có mối hợp tác quân sự mạnh với Hoa Kỳ, và trong nhiều lĩnh vực chiến lược, gồm quá trình hợp tác đang thực hiện nhằm hiện đại hóa trang bị vũ khí và huấn luyện các lực lượng Ai Cập.
Ai Cập tham gia thường xuyên vào các cuộc tập trận với Hoa Kỳ và các nước châu Âu cũng như các đồng minh Ả rập, gồm những cuộc thao diễn hai năm một lần diễn ra tại Ai Cập.
Ai Cập liên tục tham gia vào các chiến dịch gìn giữ hòa bình của Liên hiệp quốc, gần đây nhất là tại Đông Timor, Sierra Leone, và Liberia.
== Hành chính ==
Ai Cập được chia thành 26 tỉnh và thành phố Al Uqsur (Luxor), được xếp hạng là một thành phố chứ không phải một vùng thủ hiến. Dưới tỉnh là các khu. Dưới khu là các thành phố và các tổng. Dưới thành phố là các quận. Dưới tổng là các xã.
== Kinh tế ==
Ai Cập là một thị trường được các công ty quốc gia xem là trọng điểm trong khu vực Trung Đông và Bắc Phi. Kinh tế Ai Cập phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, môi giới trung gian, xuất khẩu dầu mỏ và du lịch; cũng có hơn 5 triệu người Ai Cập đang làm việc ở nước ngoài, đa số tại Ả rập Xê út, vùng Vịnh như UAE, và Châu Âu. Hoa Kỳ cũng có một lượng lớn dân nhập cư Ai Cập.Ai Cập có thu nhập GDP đầu người ở mức 5800 USD, đứng thứ 133 trên thế giới.Ngoài ra, hiện tại Ai Cập cung cấp khoảng 55% sản lượng vải cotton trên thế giới.
Đập Aswan được hoàn thành năm 1971 và Hồ Nasser được hình thành từ đó đã thay đổi vị trí của dòng sông Nile lâu đời đối với nông nghiệp và sinh thái Ai Cập. Với một dân số tăng trưởng nhanh chóng (đông nhất thế giới Ả rập), hạn chế về đất canh tác, và sự phụ thuộc vào sông Nile khiến các nguồn tài nguyên và kinh tế nước này phải chịu nhiều sức ép lớn.
Chính phủ đã gắng sức đẩy mạnh phát triển kinh tế trong thiên niên kỷ mới thông qua cải cách kinh tế và đầu tư ồ ạt vào viễn thông và hạ tầng cơ sở, đa số nguồn tài chính có được từ viện trợ nước ngoài của Hoa Kỳ (từ 1979, khoảng $2.2 tỷ mỗi năm). Ai Cập là nước nhận viện trợ lớn thứ ba của Hoa Kỳ từ sau chiến tranh Iraq. Các điều kiện kinh tế đang bắt đầu được cải thiện nhiều sau một giai đoạn trì trệ nhờ việc tự do hóa các chính sách kinh tế của chính phủ, cũng như tăng nguồn thu từ du lịch và sự bùng nổ của thị trường chứng khoán. Trong bản báo cáo hàng năm của mình, IMF đã xếp hạng Ai Cập là một trong những nước dẫn đầu thế giới về thực hiện cải cách kinh tế.
== Dân cư ==
Ai Cập là nước đông dân thứ hai ở châu Phi, với khoảng 83 triệu người. Hầu hết dân số tập trung dọc theo hai bờ sông Nile (nhất là tại Alexandria và Cairo) và tại Châu thổ và vùng gần Kênh đào Suez. Gần 90% dân số theo Hồi giáo và đa số còn lại theo Kitô giáo (nhiều nhất là phái Chính thống giáo Copt). Ngoài việc phân chia theo tôn giáo, người Ai Cập có thể được xếp loại theo nhân khẩu thành những người sống ở vùng thành thị và nông dân (fellahin) hay các chủ trại ở các làng nông nghiệp.
Từ thời cổ đại, đặc biệt trước khi Thượng và Hạ Ai Cập thống nhất, những ảnh hưởng từ Bắc Phi và Địa Trung Hải đã trở thành thống trị ở phía bắc, trong khi người Ai Cập ở phía Nam vẫn giữ quan hệ với người Nubians và Ethiopians. Dù có những khác biệt đó, người Ai Cập hiện đại đang ngày càng có quan hệ gần gũi hơn với nhau và đều là con cháu của xã hội Ai Cập cổ, luôn gắn với nông nghiệp và đông đúc so với các vùng xung quanh [1], [2]. Dân Ai Cập đã sử dụng nhiều loại ngôn ngữ từ hệ ngôn ngữ Afro-Asiatic trong suốt lịch sử của họ bắt đầu từ Ai Cập Cổ cho tới Ai Cập Ả rập hiện đại.
Sự Ả Rập hoá Ai Cập là một quá trình văn hóa đã bắt đầu với việc du nhập Đạo Hồi và ngôn ngữ Ả rập sau khi người Ả rập Hồi giáo chinh phục họ vào thế kỷ thứ 7. Trong các thế kỷ tiếp theo, một hệ thống thứ bậc xã hội đã được tạo ra theo đó người Ai Cập đã cải đạo Hồi giáo có được vị trí mawali hay "khách hàng" đối với tầng lớp Ả rập cai trị, trong khi những người vẫn theo Kitô giáo, người Copt, bị gọi là dhimmis. Sự ưu tiên của cộng đồng Ả rập thiểu số tiếp tục biến đổi thành một hình thức mới trong giai đoạn hiện đại ở vùng nông thôn, nơi những tàn tích của các bộ lạc Ả rập Bedouin tồn tại song song với các nông dân Ai Cập. Một tác giả đã miêu tả nhân khẩu học xã hội nông thôn vùng Thượng Ai Cập như sau:
Thượng Ai Cập bao gồm tám vùng thủ hiến xa nhất về phía nam.... lịch sử vùng này là một trong những trung tâm cách biệt nhất khỏi trung tâm đời sống quốc gia. Mối quan hệ địa phương hình thành từ điều kiện đó trong nhiều thế kỷ đã khiến Thượng Ai Cập có một nét riêng biệt bên trong quốc gia Ai Cập hiện đại. Bên cạnh đó, sự hiện diện từ xa xưa của người Copts, những nhóm bộ tộc từ thời chinh phục của người Ả rập đã hình thành nên một tôn ti trật tự đặt hai nhóm [thiểu số], ashraf và Ả rập lên vị trí thống trị. Trật tự này được các bộ tộc nhỏ hơn tuân theo, với người nông dân [Ai Cập] ở vị trí thấp nhất trong xã hội(28) [...] Tôn giáo là trung tâm của sự phát triển xã hội Thượng Ai Cập. Ashraf tuyên bố họ là con cháu trực tiếp của Prophet, trong khi Ả rập cho rằng họ có nguồn gốc từ một nhóm bộ tộc ở Ả rập. Mặt khác, người nông dân (fellahin) vẫn bị cho là con cháu của các cộng đồng tiền Hồi giáo Ai Cập và đã cải sang Hồi giáo, một lịch sử khiến họ không thể vượt lên cả ashraf lẫn Ả rập. [...] Trong các cộng đồng Hồi giáo cũng như Kitô giáo, và đặc biệt ở mức độ kinh tế xã hội thấp hơn, việc thực thi tôn giáo rất quan trọng đối với những yếu tố dân gian không chính thống, một trong những nguồn gốc từ thời pharaoh. [3]
Fellah có nghĩa là "nông dân", "tá điền", trong tiếng Ả rập nó chỉ những người dân vùng nông thôn tại những nơi người Ả rập đã chinh phục được. 60% dân số Ai Cập [4], là fellahin (số nhiều của fellah???) có cuộc sống khổ cực và tiếp tục sống trong những ngôi nhà làm bằng gạch bùn giống như tổ tiên xưa kia của họ. Đầu thế kỷ 20, con số này còn cao hơn, trước khi có làn sóng nhập cư của họ vào các thành thị và thị trấn. Năm 1927, nhà nhân loại học Winifred Blackman, tác giả cuốn Người Fellahin Thượng Ai Cập, đã tiến hành một nghiên cứu dân tộc học về cuộc sống của những người nông dân Thượng Ai Cập và kết luận rằng có một sự tiếp nối giữa các đức tin và sự thi hành văn hóa và tôn giáo trong những người fellahin với những thời Ai Cập cổ đại [5].
Các nhóm dân tộc thiểu số ở Ai Cập gồm một lượng nhỏ bộ tộc Ả rập Bedouin sống ở phía đông và phía tây sa mạc và Bán đảo Sinai, người Siwis ở Ốc đảo Siwa nói ngôn ngữ Berber và các cộng đồng Nubian cổ tụ tập dọc theo sông Nile vùng cực nam Ai Cập. Ai Cập cũng có khoảng 90.000 người tị nạn, đa số là 70.000 người tị nạn Palestine và 20.000 người tị nạn Sudan. Một cộng đồng Do Thái từng rất mạnh mẽ đã hoàn toàn biến mất, hiện chỉ còn một số lượng nhỏ ở lại Ai Cập và những người chỉ tới đó vào các dịp lễ hội tôn giáo. Nhiều địa điểm khảo cổ học và lịch sử quan trọng của Do Thái hiện vẫn còn tại đó.
== Tôn giáo ==
Theo hiến pháp, bất kỳ một thể chế mới nào đều phải tuân theo luật Hồi giáo (tiếng Ả rập: الإسلام). Ai Cập là một nước Hồi giáo với gần 90% dân số theo đạo này, phần lớn thuộc dòng Sunni một nhánh của Hồi giáo [6]. Người theo Cơ Đốc giáo chiếm khoảng 10% dân số, phần lớn là dòng Chính thống giáo Copt với 9%, 1% còn lại gồm Công giáo, Chính thống giáo Hy Lạp, Chính thống giáo Syria, và Chính thống giáo Armenia, phần lớn sống tại Alexandria và Cairo.
Hiện vẫn còn một cộng đồng Do Thái nhỏ, với khoảng 300 người Ai Cập.
Có những người Ai Cập tự coi mình là vô thần và theo thuyết bất khả tri, nhưng không thể biết số lượng của họ vì việc công khai điều này đồng nghĩa với việc bị trừng phạt. Năm 2000, một nhà văn Ai Cập vô thần công khai, kêu gọi thành lập một hiệp hội những người vô thần ở Ai Cập, đã bị kết tội lăng mạ Hồi giáo và những nhà tiên tri trong bốn cuốn sách của ông [7].
Trường phái Hanafi của Hồi giáo Sunni được nhà nước tổ chức rộng rãi thông qua Wizaret Al-Awkaf (Bộ các vấn đề tôn giáo). Al-Awkaf kiểm soát mọi thánh đường và quản lý mọi tu sĩ Hồi giáo. Các Imams được đào tạo trong những trường hướng nghiệp Imam và tại Đại học Al-Azhar. Ủy ban này ủng hộ Hồi giáo Sunni và có nhiệm vụ đưa ra những lời phán quyết Fatwa về các vấn đề. Ai Cập có hai thể chế tôn giáo chính. Đại học Al-Azhar (Arabic: جامعة الأزهر) là thể chế Hồi giáo cổ nhất và là viện nghiên cứu cấp cao nhất (đã được thành lập từ khoảng năm 970 sau Công Nguyên). Ai Cập cũng có nhiều di sản Cơ Đốc giáo với sự hiện diện của Giáo hội Chính thống giáo Copt do Thượng phụ thành Alexandria lãnh đạo, với khoảng từ 12 tới 20 triệu tín đồ trên khắp thế giới (Một trong những Nhà thờ Chính thống giáo Copt là Nhà thờ Thánh Takla Haimanot tại Alexandria).
Bahá'ís ở Ai Cập với số người theo khoảng vài trăm nghìn, nhưng các thể chế và hoạt động cộng đồng của họ bị cấm ngặt; họ cũng không được phép có chứng minh thư. Tháng 4, 2006 một tòa án đã công nhận Đức tin Bahá'í nhưng chính phủ đã quyết định tái thẩm lại trường hợp đó. Một thành viên nghị viện, Gamal Akl của đảng chính trị đối lập Anh Em Hồi giáo, đã nói Bahá'ís là những người vô đạo và phải bị giết trên mảnh đất mà họ đã quyết định thay đổi tôn giáo của mình [8].
Người Ai Cập cổ đại rất tôn sùng thần "Kim ngưu". Các thầy cúng sẽ nuôi dưỡng những chú bò có xuất thân "Kim ngưu" rất cẩn thận, khi chúng được bốn tháng tuổi thì đem tới miếu Kim Ngưu để tiến hành lễ hiến tế. Tại đây, các thiếu nữ phải trút bỏ quần áo và tự nguyện dâng cho thần sự trinh trắng. Đó là trách nhiệm tôn giáo bắt buộc của phụ nữ Ai Cập cổ đại.[9]
== Địa lý ==
Ai Cập có biên giới với Li bi ở phía tây, Sudan ở phía nam, với Israel ở đông bắc. Vai trò địa chính trị quan trọng của Ai Cập xuất phát từ vị trí chiến lược của Ai Cập: là một quốc gia liên lục địa ở cả châu Á và châu Phi, họ sở hữu một cầu nối lục địa (Eo đất Suez) giữa Châu Phi và Châu Á, và một cầu nối đường thuỷ (Kênh Suez) nối giữa Biển Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương thông qua Biển Đỏ.
Các thành phố và thị trấn gồm Alexandria, một trong những thành phố cổ vĩ đại nhất, Aswan, Asyut, Cairo, thủ đô Ai Cập hiện đại, El-Mahalla El-Kubra, Giza, nơi có Kim tự tháp Khufu, Hurghada, Luxor, Kom Ombo, Port Safaga, Port Said, Sharm el Sheikh, Shubra-El-Khema, Suez,nơi có Kênh Suez, Zagazig, và Al-Minya.
Các sa mạc: Ai Cập chiếm một phần Sa mạc Sahara và Sa mạc Libya. Các sa mạc này được coi là "vùng đất đỏ" trong thời Ai Cập cổ đại, và nó bảo vệ Vương quốc của các Pharaohs tránh khỏi các mối đe dọa từ phía tây.
Ốc đảo gồm: Ốc đảo Bahariya, Ốc đảo Dakhleh, Ốc đảo Farafra, Ốc đảo Kharga, Ốc đảo Siwa. Một ốc đảo là một vùng đất xanh tươi và màu mỡ ở giữa sa mạc.
== Văn hoá ==
Thủ đô Cairo của Ai Cập là thành phố lớn nhất châu Phi và từ nhiều thế kỷ đã là một trung tâm học thuật, văn hóa và thương mại. Viện hàn lâm ngôn ngữ Ả rập của Ai Cập chịu trách nhiệm chỉnh lý ngôn ngữ Ả rập (Arabic:اللغة العربية) trên khắp thế giới.
Ai Cập có một nền công nghiệp truyền thông và nghệ thuật phát triển từ cuối thế kỷ 19, hiện nay có hơn 30 kênh truyền hình vệ tinh và 100 phim truyện sản xuất hàng năm. Trên thực tế Cairo từ lâu đã được gọi là "Hollywood của phương Đông." Để phát triển hơn nữa ngành truyền thông của mình, đặc biệt với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ Các quốc gia Ả rập vùng Vịnh và Liban, một thành phố điện ảnh lớn đã được xây dựng. Ai Cập là nước Ả rập duy nhất có nhà hát opera.
Một số người Ai Cập nổi tiếng:
Saad Zaghlul (lãnh đạo cuộc cách mạng hiện đại Ai Cập đầu tiên)
Gamal Abdel Nasser (cựu tổng thống)
Anwar Sadat (cựu tổng thống và là người đoạt giải Nobel Hòa bình)
Boutros Boutros-Ghali (cựu tổng thư ký Liên hiệp quốc)
Naguib Mahfouz (tác giả đoạt giải Nobel)
Umm Kulthum (ca sĩ)
Omar Sharif (diễn viên)
Ahmed Zewail (nhà hóa học đoạt giải Nobel)
Mohamed ElBaradei (Lãnh đạo Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế; đoạt giải Nobel hòa bình năm 2005)
Để biết thêm những người khác, xem Danh sách người Ai Cập
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
=== Chính phủ ===
Egyptian Government Services Portal
Egypt State Information Services
Egypt Information Portal - available in Arabic and English
=== Tin tức ===
Al-Ahram Weekly
AllAfrica – Egypt news
Egypt Today magazine
Business Today Egypt magazine
=== Khái quát ===
Webcams in Egypt
Egypt's location on a 3D globe (Java)
BBC News Country Profile - Egypt
CIA World Factbook - Egypt
US State Department - Egypt includes Background Notes, Country Study and major reports
Congressional Research Service (CRS) Reports regarding Egypt
Human Rights Watch -Egypt
Open Directory Project - Egypt directory category
Joinafrica.com - Egypt
=== Giáo dục ===
Xem: Danh sách các trường đại học tại Ai Cập
Study Destinations in Egypt
Supreme Council of Universities
=== Du lịch ===
Xem: Danh sách các viện bảo tàng tại Ai Cập
Tour Egypt (Association of Egyptian Travel Businesses)
Egypt Hotel & Travel Guide
Journey through Eternal Egypt
Images from Egypt
=== Khác ===
CAIRO - 1001 Years of Islamic Art and Architecture (Video series in four parts)
Egypt Maps - Perry-Castañeda Map Collection
Egypt Photo Galleries Pictures from a visit in tháng 12 năm 2004
Egypt through the ages..
Ancient Egyptian History - A comprehensive & consise educational website focusing on the basic and the advanced in all aspects of Ancient Egypt
Egyptian Mythology
Khnumhotep & Niankhkhnum
Egyptian law from Jurispedia
Photographs of Egypt Pictures from a visit in May/tháng 6 năm 2005
Images of Egypt on Odd-stuff! |
chính sách một con.txt | Chính sách một con (tiếng Hán giản thể: 计划生育政策; bính âm: jìhuà shēngyù zhèngcè) là chính sách kiểm soát dân số, chính sách quốc gia cơ bản của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, được áp dụng từ năm 1979 và được thay thế bằng chính sách hai con vào năm 2015. Tên chính thức do Chính phủ Trung Quốc đặt là "Chính sách kế hoạch hóa gia đình". Kể từ khi ra đời, chính sách này đã có nhiều thay đổi, mở rộng dần số con được phép sinh ra với một số đối tượng. Chính sách này hạn chế mỗi một cặp vợ chồng ở thành thị chỉ được sinh một con, những trường hợp ngoại lệ áp dụng đối với các cặp vợ chồng ở nông thôn có con gái đầu lòng, các dân tộc thiểu số và những cặp vợ chồng là con một. Chính sách một con không áp dụng với đặc khu hành chính Hồng Kông và Macao, nơi được thiết lập chính sách kế hoạch gia đình riêng.
Cuối năm 2013, sau 35 năm thực thi nghiêm khắc chính sách một con, Ủy ban Lập pháp tối cao Trung Quốc đưa ra báo cáo tuyên bố nới lỏng chính sách này, cho phép các cặp vợ chồng được sinh con thứ hai nếu cha hoặc mẹ là con một. Chính sách dân số mới sẽ bắt đầu được thực hiện từ đầu năm 2014.
Những quy định ngặt nghèo của chế độ một con được cho là nguyên nhân dẫn đến nhiều bi kịch xã hội tại Trung Quốc.
== Tổng quan ==
Mục tiêu ban đầu của chính sách một con là kinh tế: làm giảm nhu cầu tài nguyên thiên nhiên, duy trì tỷ lệ lao động ổn định, giảm tỷ lệ thất nghiệp và giảm lao động thặng dư.
Người phát ngôn của Uỷ ban Dân số và Kế hoạch hoá gia đình quốc gia cho biết khoảng 35,9% dân số Trung Quốc nằm trong phạm vi của chính sách một con, 52,9% trong phạm vi của chính sách một con và một nửa, 11% có thể sinh hai con hoặc nhiều hơn.
Tỉ lệ nam nữ sinh ra trong năm 2005 đạt 118,9:100, điều này đồng nghĩa rằng số bé trai nhiều hơn 20% so với bé gái. Sự mất cân bằng nghiêm trọng có thể gây ra các vấn đề xã hội nghiêm trọng trong hai hoặc ba thập kỷ tiếp theo. Theo các thống kê dân số, số dân vẫn tăng tuy nhiên tỉ lệ sinh có sự suy giảm mạnh.
Dân tộc thiểu số có sự tăng nhanh hơn so với người Hán, từ năm 1953 chiếm 6,06% dân số, đến năm 1982 6.7% và 2010 là 8,49%. So sánh kết quả cuộc điều tra dân số toàn quốc lần thứ nhất với lần thứ năm, người Hán tăng 5,74%; trong khi đó dân tộc thiểu số tăng 6,92% (hơn 1,2 lần).
== Lịch sử ==
Những năm 1960, tốc độ dân số Trung Quốc tăng trưởng nhanh chóng đẩy áp lực dân số lên cao.
Đầu những năm 1970, dưới tác động của cuộc Cách mạng Văn hoá, Trung Quốc ban hành chính sách hai con, khuyến khích sinh con thứ hai sau khoảng 4 năm và kêu gọi cưới sinh muộn hơn.
Năm 1978, Đặng Tiểu Bình đề ra mục tiêu: trước năm 2000, dân số Trung Quốc không được vượt quá 1,2 tỷ người.
Năm 1979, chính sách một con được đưa vào áp dụng.
Năm 1982, chính sách một con được đưa vào Hiến pháp.
Năm 1984, cho phép các cặp vợ chồng ở nông thôn sinh con thứ hai nếu con thứ nhất là con gái, các cặp vợ chồng dân tộc thiểu số được phép sinh từ 3-4 con.
Năm 1997, cho phép các cặp vợ chồng sống ở thành thị, có thể có hai con nếu cả hai vợ chồng đều là con một.
Năm 2000, quy định về con thứ tiếp tục được nới lỏng. Các điều kiện phổ biến bao gồm: vợ chồng đều là con một, vợ hoặc chồng là người dân tộc thiểu số, vợ chồng trở về từ nước ngoài, các cặp vợ chồng có con đầu bị khuyết tật.
Từ năm 2002, các cặp vợ chồng muốn có nhiều con phải chịu đóng một khoản tiền phạt cố định. Nhưng đến 1/9/2002, áp dụng Luật dân số và Kế hoạch hoá gia đình, công dân vi phạm còn phải trả thêm một khoản gọi là "phí bảo trì xã hội". Khoản phí này do các tỉnh, khu tự trị và thành phố quy định, căn cứ trên thu nhập bình quân đầu người của cư dân đô thị và nông thôn của địa phương.
Từ năm 2014, các cặp vợ chồng ở thành thị được phép có hai con nếu một trong hai vợ chồng là con một.
== Thực thi ==
Những cặp vợ chồng vi phạm chính sách một con phải đóng một phức phạt cao gấp nhiều lần so với thu nhập bình quân thông thường của họ. Năm 2000, chính quyền Trung Quốc gọi mức phạt sinh con thứ hai là "phí đóng góp cho xã hội" chứ không phải tiền phạt, chi phí này nhằm trang trải những "thiệt hại" cho xã hội do đứa con thứ hai của các gia đình gây ra. Riêng năm 2010, tổng tiền phạt thu về khoảng 20 tỉ nhân dân tệ. Mức phạt cho từng cặp vợ chồng được chính quyền các địa phương tự định ra tính theo thu nhập của gia đình vi phạm và nhiều yếu tố khác.
Nếu gia đình không đóng khoản phí này, những đứa con ngoài chính sách không được đăng ký khai sinh, không có tên trong hộ khẩu, không được cấp chứng minh thư, không được tham gia vào hệ thống bảo hiểm cũng như không được hưởng hệ thống giáo dục, sức khoẻ của nhà nước. Theo số liệu của Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc năm 2011, có 13 triệu người dân Trung Quốc không được xã hội thừa nhận do không có hộ khẩu. Trong trường hợp người mẹ bị phát hiện đang mang thai ngoài chính sách và không có khả năng đóng tiền phạt sẽ bị cưỡng ép phá thai. Một số trường hợp phá thai cưỡng bức dẫn đến thai phụ bị thiệt mạng. Ngoài ra, một số biện pháp khác cũng được thi hành như đặt vòng tránh thai cho phụ nữ có một con, triệt sản cho phụ nữ có hai con. Chính quyền một số tỉnh như Quảng Đông từng đề ra chiến dịch chống "ba không" (không chứng minh thư, không hộ khẩu, không giấy phép tạm trú), bao gồm bắt giữ, đánh đập và giam giữ những người công dân không hộ khẩu.
Riêng ở một số địa phương kém phát triển, khoản tiền phạt này là một trong những khoản thu chủ yếu của chính quyền. Điều này được cho là lý do của việc mạnh tay chống phá thai nhằm buộc người dân đóng tiền phạt.
Một số nghệ sĩ nổi tiếng từng bị phạt như:
Hào Hải Đông: cựu cầu thủ bóng đá, bị phạt 50.000 nhân dân tệ vì sinh con thứ hai.
Tôn Nam: ca sĩ nổi tiếng ở Trung Quốc, bị phạt vì sinh con thứ hai.
Trương Nghệ Mưu: đầu năm 2014, Cục Kế hoạch hóa gia đình huyện Tân Hồ, thành phố Vô Tích, tỉnh Giang Tô tuyên bố mức phạt cho việc sinh đứa con thứ ba của ông là 7,5 triệu nhân dân tệ, được cho là căn cứ vào thu nhập của vợ chồng đạo diễn Trương trong những năm trước. Đây là mức phạt cao nhất từ trước đến nay.
== Tác động ==
Chính sách một con đã tỏ ra có hiệu quả trong việc giảm thiểu tốc độ gia tăng dân số ở Trung Quốc. Tuy nhiên, chính sách cũng bị cho rằng đã thất bại ở khu vực nông thôn và không đủ khả năng để ngăn cản những người có khả năng tài chính. Bên cạnh đó là các chỉ trích về:
Gián tiếp làm gia tăng tỷ lệ nạo phá thai.
Tình trạng mất cân bằng giới tính do tập quán "trọng nam khinh nữ".
Tỷ lệ sinh giảm mạnh gây xáo trộn cấu trúc dân số.
Mở ra khe hở pháp luật tạo điều kiện cho tham nhũng.
Ảnh hưởng đến những người cao tuổi phụ thuộc vào sự chăm sóc và hỗ trợ chi phí y tế của con cháu khi về già, tăng gánh nặng hỗ trợ người già trong xã hội.
Làm giảm lượng dân số trong độ tuổi lao động, ảnh hưởng tới tốc độ phát triển kinh tế.
Đẩy mạnh tệ nạn bắt cóc, buôn bán trẻ em và phụ nữ.
Cản trở mục tiêu thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.
Sau khi đạt đỉnh dân số trong tương lai, dân số sẽ giảm nhanh chóng do bị già đi.
Tỉ lệ dân tộc thiểu số gia tăng.
Các bé gái bị bỏ rơi sau khi sinh nở.
== Các biện pháp đối phó ==
Để đối phó với chính sách một con, một số gia đình chọn các giải pháp như sau:
Sinh con ở nước ngoài, lấy quốc tịch nước ngoài. Vì luật pháp nước Mỹ quy định mọi đứa trẻ sinh ra trên đất Mỹ đều là công dân Mỹ, nên lựa chọn ưu tiên để đến Mỹ (từ Trung Quốc) là đảo Saipan thuộc Quần đảo Bắc Mariana, một quốc gia lệ thuộc vào Mỹ nằm ở Tây Thái Bình Dương, nơi cho phép du khách Trung Quốc nhập cảnh mà không bị hạn chế thị thực. Hòn đảo đang trải qua sự gia tăng lượng trẻ em Trung Quốc sinh nở. Lựa chọn này thường được những người Trung Quốc tương đối giàu có chọn. Ngoài việc tránh né chính sách một con, họ còn có mong muốn khác là con họ khi lớn lên có thể rời khỏi Trung Quốc đại lục hoặc đưa cha mẹ chúng đến Mỹ. Canada là một lựa chọn khó khăn hơn vì quốc gia này từ chối nhiều yêu cầu thị thực. Giải pháp của Trung Quốc cho vấn đề này là thắt chặt hạn chế xuất cảnh với phụ nữ mang thai.
Sử dụng dịch vụ mang thai hộ. Phổ biến là ở Mỹ, nơi việc mang thai hộ hoàn toàn hợp pháp, sau đó nhập quốc tịch Mỹ cho đứa trẻ. Ngoài ra dịch vụ mang thai hộ cũng tồn tại ở một số lãnh thổ lân cận như: Đài Loan, Hàn Quốc,...
Sang Hồng Kông sinh con. Theo quy định của Đặc khu, những đứa trẻ sinh ở Hồng Kông được thừa nhận là cư dân vĩnh viễn của đặc khu này, được hưởng tất cả các quyền lợi của cư dân Hồng Kông như giáo dục, y tế miễn phí và miễn thị thực tới 135 quốc gia trên thế giới. Điều này khiến lượng phụ nữ đại lục sang Hồng Kông sinh con ngày càng tăng cao. Đến 2010, số trẻ do phụ nữ đại lục sinh chiếm 45% lượng trẻ em sinh ra tại Hồng Kông, đẩy các bệnh viện vào mức quá tải và tăng cao chi phí sinh nở. Tình trạng này khiến chính quyền từ việc đề ra các biện pháp hạn chế đến thay đổi Luật Cơ bản của Hồng Kông, không cấp quyền cư trú cho những trẻ em này. Từ đầu năm 2012, các phụ nữ đại lục sinh con thứ hai xong trở về sẽ bị chính quyền địa phương phạt tiền.
Vì không áp dụng xử lý đối với trường hợp sinh một lúc nhiều con (sinh đôi, sinh ba,...), ngày càng có nhiều cặp vợ chồng đang chuyển sang dùng các loại thuốc thai sản để tạo ra song thai. Tuy không có số liệu chính xác, theo một báo cáo ở Trung Quốc vào năm 2006, số lượng các cặp song sinh được sinh ra mỗi năm ở Trung Quốc đã tăng gấp đôi. Tháng 1 năm 2005, Bộ Y tế đã ban hành công văn cấm phụ nữ khỏe mạnh sử dụng thuốc thai sản, khi mua thuốc phải có đơn của bác sĩ.
== Xem thêm ==
Chính sách hai con
Kế hoạch hóa gia đình
== Chú thích == |
hoàng diệu.txt | Hoàng Diệu (chữ Hán: 黃耀; 1829 - 1882) là một quan nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, người đã quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi Pháp tấn công năm 1882.
== Xuất thân ==
Hoàng Diệu tên thật là Hoàng Kim Tích, sau mới đổi là Hoàng Diệu, tự là Quang Viễn, hiệu Tỉnh Trai. Ông sinh ngày 10 tháng 2 năm Kỷ Sửu 14 tháng 3 năm (1829), trong một gia đình có truyền thống nho giáo tại làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay là thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam[1]). Gia đình ông có 7 anh em và họ đều nổi tiếng là những người thông minh trong vùng. Sử chép rằng gia đình Hoàng Diệu có một người đỗ phó bảng, ba người đỗ cử nhân, hai người tú tài trong các kỳ thi dưới thời vua Tự Đức. Một trong những hậu duệ của ông hiện tại là nhà toán học Hoàng Tụy. Hoàng Diệu là hậu duệ của nhà Mạc.
== Sự nghiệp ==
Hoàng Diệu là người nổi bật nhất trong số các anh em trong gia đình. Năm 20 tuổi ông đã đồng đỗ Cử nhân với anh trai Hoàng Kim Giám (khi ấy 23 tuổi) khoa Mậu Thân (1848) trong khoa thi Hương tại Thừa Thiên, năm 25 tuổi đỗ Phó bảng khoa Quý Sửu (1853), thời vua Tự Đức . Năm 1851, ông được vua Tự Đức bổ nhiệm làm Tri huyện Tuy Phước rồi Tri phủ Tuy Viễn (Bình Định).
Năm 1864, xảy ra vụ nổi dậy của Nguyễn Phúc Hồng Tập, con hoàng thân Miên Áo, em chú bác của Hồng Nhậm (tức vua Tự Đức), cùng với một số người khác. Bại lộ, Hồng Tập và Nguyễn Văn Viện bị án chém. Hoàng Diệu đến nhậm chức Tri huyện Hương Trà thay Tôn Thất Thanh bị đổi đi nơi khác, bấy giờ có mặt trong lúc hành quyết đã nghe Hồng Tập nói: "Vì tức giận về hòa nghị mới bị tội, xin chớ ghép vào tội phản nghịch". Sau đó các quan Phan Huy Kiệm, Trần Gia Huệ và Biện Vĩnh tâu lên Tự Đức, đề nghị nhà vua nên theo gương Hán Minh Đế, thẩm tra lại vụ án. Tự Đức phán là vụ án đã được đình thần thẩm xét kỹ, nay nghe Phan Huy Kiệm nói Hoàng Diệu đã kể lại lời trăng trối của Hồng Tập, bèn quyết định giáng chức Phan Huy Kiệm, Trần Gia Huệ, Biện Vĩnh và Hoàng Diệu.
Được phục chức sau vụ "tẩy oan" Hồng Tập, Hoàng Diệu lần đầu ra Bắc năm 1868, làm Tri phủ Đa Phúc, rồi Tri phủ Lạng Giang (Bắc Giang), Án sát Nam Định, Bố chính Bắc Ninh. Trong chín năm ấy, ông lập nhiều quân công, dẹp trộm cướp và an dân, ở đâu ông cũng được sĩ dân quý mến.
Năm 1873 ông được triệu về kinh đô Huế giữ chức Tham tri Bộ Hình rồi Tham tri Bộ Lại, kiêm quản Đô Sát Viện, dự bàn những việc ở Cơ Mật Viện. Năm 1878, đổi làm Tuần phủ Quảng Nam, thăng Tổng đốc An Tịnh (Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay), nhưng vì nguyên Tổng đốc Nguyễn Chính vẫn lưu nhiệm nên ông ở lại Huế, làm Tham tri Bộ Lại (Thực lục của Cao Xuân Dục). Chẳng bao lâu sau, ông được sung chức Phó Toàn quyền Đại Thần đàm phán với Sứ thần Tây Ban Nha một hiệp ước giao thương. Đầu năm 1880, ông làm Tổng đốc Hà Ninh, lãnh chức hàm Thượng thư bộ Binh[2], kiêm quản cả việc thương chính.
Biết rõ dã tâm xâm lược của thực dân Pháp lúc bấy giờ, Hoàng Diệu bắt tay ngay vào việc chuẩn bị chiến đấu, kinh lý, biên phòng. Như Đại Nam chính biên liệt truyện đã nêu, tổng đốc Hà Ninh đã "cùng với tổng đốc tỉnh Sơn Tây Nguyễn Hữu Độ dâng sớ nói về việc bố phòng, lại cùng với Nguyễn Đình Nhuận mật tâu về chước phòng vị sẵn". Vua Tự Đức khen. "Nhưng sau đó - như trong di biểu nêu - vua lại trách cứ lưu binh... vì sợ giặc"... "chế ngự không đúng cách" (?)
Một mặt khác, Hoàng Diệu quan tâm ổn định chăm lo đời sống của dân chúng trong công bằng và trật tự. Ngày nay, ở Ô Quan Chưởng, đầu phố Hàng Chiếu, còn áp ở mặt tường cổng ra vào một phần tấm bia Lệnh cấm trừ tệ (Thân cấm khu tệ), niêm yết năm 1881, của Tổng đốc Hà Ninh Hoàng Diệu và Tuần phủ Hà Nội Hoàng Hữu Xứng, nhằm ngăn chặn các tệ nhũng nhiễu đối với nhân dân trong các dịp ma chay, cưới xin cũng như nạn vòi tiền, cướp bóc trên sông và ở các chợ, kèm theo các quy định cụ thể cần thi hành đến nơi đến chốn. Một di tích quý hiếm nói lên tấm lòng ưu ái của người công bộc mãi mãi còn giá trị của nó.
Từ 1879 đến 1882, Ông làm Tổng đốc Hà Ninh quản lý vùng trọng yếu nhất của Bắc Bộ là Hà Nội và phụ cận. Ông đã chỉ đạo quân dân Hà Nội tử thủ chống lại quân đội Pháp, bất chấp triều đình Huế đã chấp nhận đầu hàng. Ngày 25 tháng 4 năm 1882 (tức ngày 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ), thành Hà Nội thất thủ, Hoàng Diệu đã tự vẫn tại Võ Miếu để không rơi vào tay đối phương.
Người Hà Nội vô cùng đau đớn trước cái chết của ông, ngay hôm sau, nhiều người họp lại, sắm sửa mền nệm tử tế, rước quan tài của Hoàng Diệu từ trong thành ra, tổ chức khâm liệm và mai táng tại khu vườn Dinh Đốc học (nay là địa điểm khách sạn Royal Star ở đường Trần Quý Cáp cạnh chợ Ngô Sĩ Liên, sau ga Hà Nội).
Hơn một tháng sau hai người con trai ông ra Hà Nội lo liệu đưa thi hài thân sinh về an táng ở quê quán vào mùa thu năm ấy.
Khu lăng mộ Hoàng Diệu, theo quyết định ngày 25 tháng 1 năm 1994 của Bộ Văn hóa Thông tin, được công nhận là một di tích lịch sử - văn hóa của Việt Nam.
== Quyết tử với Hà thành ==
Năm 1873, sau khi chiếm được Nam Bộ, Pháp chuẩn bị tiến ra Bắc Bộ. Vua Tự Đức giao phó cho Hoàng Diệu làm Tổng đốc Hà Ninh. Ngay khi tới Hà Nội Hoàng Diệu đã chú tâm tới việc xây dựng thành lũy chuẩn bị lực lượng để chống Pháp. Từ năm 1880 đến 1882, ông đã hai ba lần dâng sớ xin triều đình chi viện để củng cố phòng tuyến chống giặc tại Hà Nội, nhưng không nhận được hồi âm từ Huế.
Đầu năm 1882, lấy cớ Việt Nam không tôn trọng hiệp ước năm 1873 mà lại đi giao thiệp với Trung Hoa, dung túng quân Cờ Đen (một nhánh quân của Thái Bình Thiên Quốc) ngăn trở việc giao thông trên sông Hồng của người Pháp, Đại tá Henri Rivière của Hải quân Pháp cho tàu chiến cùng hơn 400 quân đóng trại tại Đồn Thủy (trên bờ bắc sông Hồng, cách thành Hà Nội 5 km) nhằm uy hiếp Hà Nội. Hoàng Diệu đã hạ lệnh giới nghiêm tại Hà Nội và bố cáo các tỉnh xung quanh sẵn sàng tác chiến, đồng thời yêu cầu viện binh từ triều đình Huế.
Tuy nhiên phái chủ bại của triều đình Huế đã thuyết phục vua Tự Đức chấp nhận mất miền Bắc để giữ an toàn cho ngai vàng. Vua Tự Đức đã hạ chiếu quở trách Hoàng Diệu đã đem binh dọa giặc và chế ngự sai đường. Nhưng Hoàng Diệu đã quyết tâm sống chết với thành Hà Nội. Các quan xung quanh ông Hoàng Diệu lúc bấy giờ có Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, Đề đốc Lê Văn Trinh, Bố chính Phan Văn Tuyển, Án sát Tôn Thất Bá và Lãnh binh Lê Trực đã cùng nhau uống rượu hòa máu tỏ quyết tâm sống chết với Hà thành.
Rạng ngày 25 tháng 4 năm 1882, tức ngày mồng 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ, Henri Rivière cho tàu chiến áp sát thành Hà Nội, đưa tối hậu thơ, yêu sách ba điều:
Phá các tao tác phòng thủ trong thành.
Giải giới binh lính.
Đúng 8 giờ các vị quan văn võ trong thành Hà Nội phải thân đến trình diện với Henri Rivière. Sau đó, quân Pháp sẽ vào thành kiểm kê. Xong sẽ giao trả thành lại.
Hoàng Diệu tiếp tối hậu thư, liền sai Tôn Thất Bá đi điều đình. Nhưng không đợi trả lời, lúc 8 giờ 15, Rivière với 4 tàu chiến là La Fanfare, La Massue, La Hache, La Surprise (tàu này không kịp tới, vì mắc cạn dọc đường Hải Phòng đi Hà Nội) bắn vào thành yểm trợ cho số quân 450 người và một ít thân binh đổ bộ hòng chiếm thành Hà Nội[3].
Ngay trong những phút đầu tiên, hoàng thân Tôn Thất Bá chạy trốn vào làng Mọc (Nhân Mục) ở phía Đông Nam Hà Nội theo Pháp và thông báo tình hình trong thành Hà Nội cho họ. Đồng thời, Bá cũng dâng sớ lên vua Tự Đức đổ tội cho Hoàng Diệu và xin với Pháp cho Bá thay làm Tổng đốc Hà Ninh.
Tuy vậy, quân Pháp vẫn vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân dân Hà thành dưới sự chỉ huy của Hoàng Diệu[4]. Quân Pháp bị thiệt hại nặng và phải rút ra ngoài tầm súng để củng cố lực lượng.
Nhưng trong lúc chiến sự diễn ra khốc liệt thì kho thuốc súng của Hà Nội nổ tung[5], do Việt gian mua chuộc bởi bọn Pháp làm. Một số nhà sử học còn đoán rằng nó liên quan tới phản thần Tôn Thất Bá. dẫn tới đám cháy lớn trong thành làm cho lòng quân hoang mang. Quân Pháp thừa cơ phá được cổng Tây thành Hà Nội và ùa vào thành. Bố chính Nguyễn Văn Tuyển, Đề đốc Lê Văn Trinh và các lãnh binh bỏ thành chạy, còn Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng trốn trong hành cung.
Trong tình thế tuyệt vọng, Hoàng Diệu vẫn tiếp tục bình tĩnh dẫn đầu quân sĩ chiến đấu chống lại quân Pháp dù lực lượng ngày càng yếu đi, không thể giữ được thành nữa. Cuối cùng, Hoàng Diệu đã ra lệnh cho tướng sỹ giải tán để tránh thương vong. Một mình Hoàng Diệu vào hành cung, thảo tờ di biểu, rồi ra trước Võ miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử, hưởng dương 54 tuổi.
Tờ di biểu, ông cắn ngón tay lấy máu viết di biểu tạ tội cho vua Tự Đức:
Thành mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết có quản gì, nguyện xin theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng...[6].
Ông mất ngày 25 tháng 4 năm 1882, thọ 54 tuổi.
== Thương tiếc ==
Hoàng Diệu được đông đảo sĩ phu, nhân dân Hà Nội và Bắc Hà khâm phục thương tiếc. Ông được thờ trong đền Trung Liệt (cùng với Nguyễn Tri Phương) trên gò Đống Đa với câu đối:
Thử thành quách, thử giang sơn, bách chiến phong trần dư xích địa
Vi nhật tinh, vi hà nhạc, thập niên tâm sự vọng thanh thiên
Dịch:
Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần còn thước đất
Là trời sao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh
Vua Tự Đức mặc dầu không ủng hộ Hoàng Diệu trong việc chống đối với quân Pháp tại thành Hà Nội, vẫn phải hạ chiếu khen ông đã tận trung tử tiết, sai quân tỉnh Quảng Nam làm lễ quốc tang[7].
Tôn Thất Thuyết, một đại biểu nổi tiếng của sĩ phu kiên quyết chống Pháp đã ca ngợi ông trong hai câu đối:
Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện
Bình sanh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm
Dịch:
Một chết đã thành danh, đâu phải anh hùng từng nguyện trước
Bình sanh trung nghĩa, đương trường đại cuộc tất lưu tâm
Cụ Phó bảng Nguyễn Trọng Tỉnh có bài thơ điếu Hoàng Diệu, ghi lại trong Lịch sử vua quan nhà Nguyễn của Phạm Khắc Hòe như sau:
Tay đã cầm bút lại cầm binh
Muôn dặm giang sơn nặng một minh
Thờ chúa, chúa lo, lo với chúa
Giữ thành, thành mất, mất theo thành
Suối vàng ắt hẳn mài gươm bạc
Lòng đỏ thôi đành gửi sử xanh
Di biểu nay còn sôi chính khí
Khiến người thêm trọng bút khoa danh.
Trích hai đoạn bút ký:
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường:
Tôi có đi thăm mộ cụ Hoàng Diệu ở giữa cánh đồng Xuân Đài. Mộ không bề thế như tôi tưởng, còn quá nhỏ so với lăng mộ của những viên quan lớn vô tích sự trên triều đình Huế mà tôi vẫn thường thấy. Mộ là một nắm vôi khô nằm vùi giữa đồng cỏ voi, xa khu dân cư...
...Hồi nhỏ nhà nghèo, mẹ chăn tằm dệt lụa nuôi con ăn học. Hoàng Diệu lớn lên bằng tuổi trẻ gian khổ ở làng quê, buổi sáng sớm đi học chỉ súc miệng và nhịn đói, trưa về ăn một chén bắp nấu đậu, đến tối cả nhà chia mỗi người một bát cơm. Ngày nghe tin chồng tuẫn tiết, bà Hoàng Diệu đang cuốc cỏ lá de, ngất xỉu ngay trên bờ ruộng...Làm quan Tổng đốc mà nhà còn nghèo đến thế, huống là nhà dân...
Nhà văn Sơn Nam:
Đi thăm mộ Hoàng Diệu, (nghe) lúc làm quan, có lần ông gửi về cho mẹ một vóc lụa. Bà mẹ không nhận, gửi trả lại cho con, kèm theo một nhánh dâu, tượng trưng cho ngọn roi, để cảnh cáo đứa con đừng nhận quà cáp gì của dân.
== Xem thêm ==
Hà thành chính khí ca
Hoàng Diệu Điện Bàn
== Ghi chú ==
^ Theo phả họ Hoàng thì Hoàng Diệu gốc từ Huệ Trì, huyện Quang Minh, phủ Nam Sách, đạo Hải Dương. Cụ tổ vào lập nghiệp ở vùng Kỳ Lam truyền được mười đời, gốc họ Mạc. Ông là đời thứ 7. [8][9]
^ Đây chỉ là chức hàm, không phải chức vụ.
^ Xem "Corresponance politique du Commanant Henri Riviere au Tonkin", tác giả André Masson.
^ Hoàng Diệu trực tiếp chỉ huy quân sĩ chống cự tại cửa Bắc.
^ Các sử liệu không thống nhất nhau. Có tài liệu cho rằng Pháp thuê Việt gian đốt. Tài liệu khác lại ghi là chính Tôn Thất Bá đã làm nội tuyến cho Pháp.
^ Xem "Việt Sử Toàn Thư", tác giả Phạm Văn Sơn. tr 658.
^ Xem "Việt Sử Toàn Thư", tác giả Phạm Văn Sơn. tr 658.
== Liên kết ngoài ==
Hoàng Diệu cuộc đời và sự nghiệp |
khay cáp.txt | Khay cáp tên tiếng Anh là "cable tray" hoặc "perforated cable tray", là hệ thống đỡ, lắp đặt các loại dây, cáp điện (có bọc cách điện).
Hệ thống khay cáp được dùng trong hệ thống dây, cáp điện trong các tòa nhà, xưởng sản xuất, chung cư...
Hệ thống khay cáp dùng để lắp đặt và bảo vệ các loại dây cáp phân phối điện hoặc dây cáp tín hiệu truyền thông.
Hệ thống khay cáp áp dụng cho việc quản lý cáp trong xây dựng thương mại và công nghiệp. Chúng đặc biệt hữu ích trong trường hợp thay đổi một hệ thống dây điện, vì dây cáp mới có thể được cài đặt bằng cách đặt chúng trong khay cáp thay vì lắp đặt thông qua một đường ống.
Vật liệu thường dùng làm khay cáp bao gồm: Thép sơn tĩnh điện, thép tấm mạ kẽm, thép mạ kẽm nhúng nóng, thép không rỉ (Inox), hợp kim nhôm hoặc composite.
Kích thước khay cáp:
Chiều rộng phổ biến: 75 ÷ 800mm
Chiều cao phổ biến: 50 ÷ 200mm
Chiều dài phổ biến: 2440mm, 2500mm hoặc 3000mm
Độ dày vật liệu phổ biến: 0.8mm, 1.0mm, 1.2mm, 1.5mm, 2.0mm và 2.5mm
Màu sắc phổ biến: Trắng, kem, xám, cam hoặc màu của vật liệu
== Một số thuật ngữ khác ==
=== Máng cáp ===
Máng cáp tên tiếng Anh là "trunking" hoặc "solid bottom cable tray", là hệ thống đỡ, lắp đặt các loại dây, cáp điện (có bọc cách điện). Đôi khi máng cáp còn dùng để đỡ các đường ống nhằm tăng tính thẩm mỹ.
Hệ thống máng cáp được dùng trong hệ thống dây, cáp điện trong các tòa nhà, xưởng sản xuất, chung cư...
Hệ thống máng cáp dùng để lắp đặt và bảo vệ các loại dây cáp phân phối điện hoặc dây cáp tín hiệu truyền thông.
Hệ thống máng cáp áp dụng cho việc quản lý cáp trong xây dựng thương mại và công nghiệp. Chúng đặc biệt hữu ích trong trường hợp thay đổi một hệ thống dây điện, vì dây cáp mới có thể được cài đặt bằng cách đặt chúng trong máng cáp thay vì lắp đặt thông qua một đường ống.
Vật liệu thường dùng làm máng cáp bao gồm: Thép sơn tĩnh điện, thép tấm mạ kẽm, thép mạ kẽm nhúng nóng, thép không rỉ (Inox), hợp kim nhôm hoặc composite.
Kích thước máng cáp:
Chiều rộng phổ biến: 50 ÷ 600mm
Chiều cao phổ biến: 40 ÷ 200mm
Chiều dài phổ biến: 2440mm, 2500mm hoặc 3000mm
Độ dày vật liệu phổ biến: 0.8mm, 1.0mm, 1.2mm, 1.5mm, 2.0mm và 2.5mm
Màu sắc phổ biến: Trắng, kem, xám, cam hoặc màu của vật liệu
Hình ảnh máng cáp: http://www.yenleco.com/images/Trunking_images/trunking-min.jpg
=== Thang cáp ===
Thang cáp tên tiếng Anh là "cable ladder" hoặc "ladder type cable tray", là hệ thống đỡ, lắp đặt các loại dây, cáp điện (có bọc cách điện).
Hệ thống thang cáp được dùng trong hệ thống dây, cáp điện trong các tòa nhà, xưởng sản xuất, chung cư...
Hệ thống thang cáp dùng để lắp đặt và bảo vệ các loại dây cáp phân phối điện hoặc dây cáp tín hiệu truyền thông.
Hệ thống thang cáp áp dụng cho việc quản lý cáp trong xây dựng thương mại và công nghiệp. Chúng đặc biệt hữu ích trong trường hợp thay đổi một hệ thống dây điện, vì dây cáp mới có thể được cài đặt bằng cách đặt chúng trong thang cáp thay vì lắp đặt thông qua một đường ống.
Vật liệu thường dùng làm thang cáp bao gồm: Thép sơn tĩnh điện, thép tấm mạ kẽm, thép mạ kẽm nhúng nóng, thép không rỉ (Inox) hoặc hợp kim nhôm
Kích thước thang cáp:
Chiều rộng phổ biến: 100 ÷ 1000mm
Chiều cao phổ biến: 50 ÷ 200mm
Chiều dài phổ biến: 2440mm, 2500mm hoặc 3000mm
Độ dày vật liệu phổ biến: 1.0mm, 1.2mm, 1.5mm, 2.0mm và 2.5mm
Màu sắc phổ biến: Trắng, kem, xám, cam hoặc màu của vật liệu
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
sân bay manchester.txt | Sân bay Manchester (IATA: MAN, ICAO: EGCC) là sân bay chính của Manchester, Anh. Sân bay này mở cửa cho vận chuyển hàng không tháng 6/1938. Ban đầu được gọi là Sân bay Ringway và trong đệ nhị thế chiến được gọi là RAF Ringway. Từ năm 1975 đến năm 1986, tên gọi Sân bay quốc tế Manchester được sử dụng. Sân bay này nằm ở biên giới giữa Cheshire và Manchester trong hạt đô thị của đô thị Đại Manchester.
Sân bay có hai đường băng song song và 3 nhà ga hành khách gần đó và một nhà ga. Sân bay này thuộc sở hữu của Manchester Airport Group. Sân bay Manchester được xếp hạng là sân bay bận rộn thứ 16 thế giới năm 2004 (về tiêu chí số lượng khách quốc tế vận chuyển). Nếu tính theo tổng số khách, sân bay này xếp thứ 48 thế giới năm 2005, giảm so vơi vị trí 45 năm 2004. Sân bay này có 200 điểm đến khắp thế giới với 95 hãng hàng không. Đây là sân bay bận rộn thứ tư ở Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và là sân bay bận rộn nhất Anh Quốc bên ngoài Luân Đôn tính về lượng khách/năm. Năm 2006, lượng khách của sân bay này là 22,1 triệu, chỉ tăng 0,2% so với cùng kỳ năm trước, so với mức chung cả Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là 3%.
== Các nhà ga và các điểm đến ==
Manchester Airport có 3 nhà ga nối với nhau. Terminals 1 và 3 nằm trong một tòa nhà và được nối bằng một hành lang. Terminal 1 và 2 được nối bằng skywalk, một lối đi băng qua sân bay với băng chuyền giúp hành khách đi bộ xa. Dọc theo skywalk là nhà ga xe lửa, cửa hàng và khách sạn.
=== Nhà ga (Terminal) 1 ===
Terminal 1 là nhà ga quốc tế, có 24 địa điểm đậu máy bay, trong đó có 18 ống lồng đẫn khách lên máy bay. Nhà ga được mở cửa năm 1962 và đã được nâng cấp, mở rộng. Hiện nay nhà ga vẫn đang được nâng cấp tiếp.
Aer Arann (Galway, Kerry, Sligo, Waterford)
Aer Lingus (Cork [Bắt đầu từ tháng 3 năm 2007], Dublin)
Air Atlanta (Orlando-Sanford, Sharm-El-Sheik, Tenerife)
Air Baltic (Riga)
Air Berlin (Berlin-Tegel, Hamburg, London-Stansted, Paderborn)
Air Canada (Toronto-Pearson) - Tạm ngưng
Air Scotland (operated by Greece Airways) (Alicante, Barcelona, Girona, Lanzarote, Las Palmas, Malaga, Palma de Mallorca)
Air Transat (Calgary, Toronto-Pearson, Vancouver)
Aurigny Air Services (Guernsey)
Austrian Airlines (Innsbruck)
Aviajet (Faro, Kefallinia, Naples, Palma, Reus, Zakynthos)
BH Air (Burgas, Plovdiv, Sofia, Varna)
Channel Express (Alicante, Malaga)
City Airline (Gothenburg)
Cyprus Airways (Larnaca, Paphos)
Etihad Airways (Abu Dhabi)
Eurocypria (Heraklion, Larnaca, Paphos)
EuroManx (Isle Of Man)
European Aviation Air Charter (Brescia, Lourdes-Tarbes)
Flybe (Belfast-City, Brest [Từ tháng 3 năm 2007], Exeter, Glasgow Int [Từ tháng 3 năm 2007], Norwich, Rennes [Từ tháng 3 năm 2007], Southampton)
Fly Gibraltar (Gibraltar)
Flyjet (Arrecife, Corfu, Dalaman, Heraklion, Larnaca, Las Palmas, Ovda, Paphos, Rhodes, Sharm-El-Sheik, Tenerife, Thessalonika)
Futura (Alicante, Arrecife, Dalaman, Ibiza, Larnaca, Las Palmas, Mahon, Palma, Reus, Tenerife)
Greece Airways (Alicante, Barcelona, Gerona, Malaga, Palma)
Icelandair (Reykjavik)
Jet2.com (Alicante, Amsterdam, Barcelona, Berlin-Schönefeld [starts ngày 25 tháng 3 năm 2007], Budapest, Chambery, Faro, Geneva, Ibiza, London-Gatwick, Malaga, Milan-Bergamo, Murcia, Nice, Palma, Paris Charles-De-Gaulle, Pisa, Prague, Rome-Fiumicino, Tenerife-South, Toulouse, Valencia, Venice Marco Polo)
Kıbrıs Türk Hava Yolları (Dalaman)
Libyan Airways (Tripoli)
LOT Polish Airlines (Warsaw)
Lufthansa (Dusseldorf, Frankfurt, Hamburg, Munich)
Luxair (Dublin, Luxembourg)
Monarch Airlines (scheduled) (Alicante, Almeria, Arrecife, Barcelona, Faro, Ibiza [Starts Summer 2007], Jerez [Hè 2007], Mahon, Malaga, Palma, Tenerife)
Monarch Airlines (charter) (Arrecife, Calgary, Cancun, Catania, Chania, Corfu, Dalaman, Faro, Fuerteventura, Goa, Grenoble, Heraklion, Ibiza, Kittila, Kos, Las Palmas, Luxor, Mahon, Male, Naples, Orlando-Sanford, Palma, Paphos, Preveza, Punta Cana, Rhodes, Salzburg, Shram-El-Sheik, Skiathos, Sofia, Tenerife, Thessalonika, Venice, Zakynthos)
MyTravel (Agadir, Alicante, Almeria, Antalya, Arrecife, Bergamo, Bodrum, Bucharest-Otopeni, Burgas, Cancun, Corfu, Dalaman, Djerba, Faro, Fuerteventura, Gerona, Goa, Grenoble, Heraklion, Hurghada, Ibiza, Kalamata, Kefallinia, Kos, La romana, Larnaca, Las Palmas, Las Vegas, Luxor, Mahon, Malaga, Malta, Monastir, Montego Bay, Naples, Orlando-Sanford, Palma, Paphos, Puerto Plata, Reus, Rhodes, Rimini, Salvador- Dois De Julho, Salzburg, Sharm-El-Sheik, Tenerife, Toronto-Pearson, Turin, Vancouver, Varadero, Zakynthos)
Norwegian Air Shuttle (Bergen)
Nouvelair (Djerba)
Olympic Airlines (Athens)
PrivatAir (Istanbul-Atatürk)
Ryanair (Dublin, Shannon)
Scandinavian Airlines (Copenhagen, Stockholm-Arlanda)
SAS Braathens (Oslo)
SkyEurope (Bratislava, Krakow, Salzburg)
Spanair (Mahon)
Swiss International Air Lines (Basel/Mulhouse, Zürich)
Thomas Cook Airlines Alicante, Almeria, Antalya, Arrecife, Banjul, Barbados, Bodrum, Burgas, Calgary, Cancun, Catania, Cayo Coco, Corfu, Dalaman, Faro, Fuerteventura, Fuchal, Gerona, Heraklion, Hurghada, Ibiza, Innsbruck, Izmir, Jerez, Kefallinia, Kos, Larnaca, Las Palmas, Lyon, Mahon, Malaga, Malta, Monastir, Montreal, Orlando-Sanford, Palma, Paphos, Preveza, Puerto Plata, Reus, Rohdes, Rovaniemi, Salzburg, Sharm-El-Sheik, Skiathos, Sofia, Split, Tenerife, Thessalonika, Toronto-Pearson, Toulouse, Turin, Vancouver, Verona, Zakynthos)
TUIfly (Cologne-Bonn, Hanover, Stuttgart, Venice)
Turkish Airlines (Istanbul-Atatürk)
=== Nhà ga hành khách quốc tế (Terminal) 2 ===
Terminal 2, được mở cửa năm 1993, được sử dụng bởi các hãng đường dài và thuê bao. Nhà ga có 15 cửa, 14 có ống lồng. Nhà ga đang được nâng cấp để tăng công suất hiện có là 7,5 triệu lên hơn nữa.
Adria Airways (Ljubljana) [Resumes summer 2007]
Air Europa (Arrecife, Paris-Charles de Gaulle, Tenerife)
Air France (Paris-Charles de Gaulle)
Air Malta (Malta)
Astraeus (Agadir, Banjul-Yundum, Brescia, Calvi, Chambery, Dalaman, Innsbruck, Izmir, Kefallinia, Kos, Lourdes-Tarbes, Lyon, Olbia, Palma de Mallorca, Paphos, Pula, Sal, Salzburg, Sharm-El-Sheik, Skiathos, Taba, Tenerife-South, Varna, Verona, Zakynthos)
Atlasjet (Istanbul-Atatürk)
Belavia (Minsk)
Biman Bangladesh Airlines (Dhaka, Jeddah, Rome-Fiumicino)
BritishJet (Malta)
Bulgaria Air (Sofia, Varna)
Continental Airlines (Newark)
Croatia Airlines (Dubrovnik, Pula, Split) [seasonal]
Czech Airlines (Prague)
Delta Air Lines (Atlanta, New York-JFK)
Emirates (Dubai)
First Choice Airways (FCA) (Agadir, Alicante, Almeria, Antalya, Arrecife, Banjul-Yundum, Barbados, Bodrum, Bourgas, Cancun, Cozumel, Cayo Coco, Chania, Colombo, Corfu, Dalaman, Faro, Fuerteventura, Funchal, Geneva, Goa, Grenoble, Hassi Messaoud [Starts in June 2007], Heraklion, Huatulco, Ibiza, Innsbruck, Kefalonia, Kittila, Kos, Las Palmas, Mahon, Malaga, Male, Malta, Mitilini-Lesbos, Mombasa, Monastir, Montego Bay, Naples, Nassau, Orlando-Sanford, Palma de Mallorca, Paphos, Porlamar, Preveza, Puerto Plata, Puerto Vallarta, Punta Cana, Reus, Rhodes, Rovaniemi, Salvador (Dois De Julho), Salzburg, Santorini, Samana, Sharm-El-Sheik, Skiathos, Sri Lanka, Taba, Tenerife, Thessaloniki, Toulouse, Turin, Varadero, Varna, Verona, Zakynthos)
First Choice Airways (DP) (Larnaca, Paphos)
Flyglobespan (Calgary [bắt đầu tháng Năm], Cape Town, Johannesburg [bắt đầu 2/11], Toronto-Hamilton, Vancouver [Starts May])
Free Bird Airlines (Dalaman)
KLM Royal Dutch Airlines (Amsterdam)
LTE International Airways (Arrecife, Palma, Tenerife-South)
Luxor Air (Sharm-El-Sheik)
Mahan Air (Tehran-Imam Khomeini)
Onur Air (Antalya, Bodrum, Dalaman, Ercan)
Pakistan International Airlines (Chicago-O'Hare, Houston-Intercontinental, Islamabad, Karachi, Lahore, New York-JFK)
Pegasus Airlines (Bodrum, Dalaman)
Qatar Airways (Doha)
Singapore Airlines (Singapore)
Syrian Arab Airlines (Damascus)
Thomsonfly (Agadir, Alicante, Antalya, Arrecife, Barbados, Bodrum, Bourgas, Cancun, Chania, Corfu, Dalaman, Dubrovnik, Fort Lauderdale, Faro, Figari, Fuerteventura, Funchal, Geneva, Gerona, Heraklion, Hurghada, Ibiza, Kavala, Kefallinia, Larnaca, Las Palmas, Lisbon [bắt đầu tháng 5 năm 2007], Luxor, Lyon, Mahon, Malaga, Malta, Monastir, Montego Bay, Naples, Orlando-Sanford, Palma, Paphos, Pisa, Puerto Plata, Pula, Punta Cana, Reus, Rhodes, Rovaniemi,Saint Lucia, Salzburg, Samos, Santorini, Sharm-El-Sheik, Skiathos, Sofia, Taba, Tenerife-North, Tenerife-South, Thessaloniki, Toulouse, Turin, Varadero, Varna, Venice, Verona, Zakynthos)
US Airways (Philadelphia)
Viking Airlines (Heraklion, Ivalo, Kuusamo)
Virgin Atlantic Airways (Barbados, Orlando, St Lucia)
Zoom Airlines (Calgary, Toronto-Pearson, Vancouver)
XL Airways (Alicante, Antalya, Arrecife, Barbados, Bodrum, Burgas, Chambery, Chania, Corfu, Dalaman, Faro, Fuerteventura, Funchal, Geneva, Grenoble, Heraklion, Hurghada, Ivalo, Kalamata, Kavala, Kefallinia, Kos, Larnaca, Las Palmas, London-Gatwick, Mahon, Malaga, Mikonos, Mitilini-Lesbos, Monastir, Murcia, Orlando-Sanford, Ovda, Palma, Paphos, Plovdiv, Preveza, Rhodes, Samos, Santorini, Sharm-El-Sheik, Skiathos, Tel Aviv, Tenerife, Volos, Zakynthos)
=== Nhà ga (Terminal) 3 ===
Terminal 3 trước đây được gọi là Nhà ga 1 nội địa và được khánh thành bởi Diana, Công nương xứ Wales quá cố trước khi được sửa chữa và đổi tên. Nhà ga này có 18 cổng, 14 cổng có ống lồng lên máy bay. Hiện nay, nhà ga này đang được nâng cấp để tăng công suất hiện có là 5 triệu khách/năm lên nữa.
Air Southwest (Cardiff, Newquay, Plymouth, Bristol)
American Airlines (Boston [seasonal], Chicago-O'Hare)
bmi (Aberdeen, Antigua, Barbados, Chicago-O'Hare, Edinburgh, Glasgow, Las Vegas, London-Heathrow)
bmibaby (Alicante, Belfast, Bordeaux, Cork, Geneva, Knock, Jersey, Malaga, Newquay, Palma de Mallorca, Perpignan, Prague)
British Airways (London-Gatwick, London-Heathrow, New York-JFK)
BA Connect (Aberdeen, Belfast-City, Berlin-Tegel, Brussels, Düsseldorf, Edinburgh, Frankfurt, Geneva, Glasgow, Hanover, Isle of Man, Jersey, Lyon, Madrid, Milan-Malpensa, Paris-Charles de Gaulle, Salzburg, Southampton, Vienna) [All to be taken over in early 2007 by Flybe]
British Airways operated by GB Airways (Arrecife, Heraklion, Malta, Paphos, Salzburg, Tenerife -South)
British Airways operated by Sun Air of Scandinavia (Billund)
Eastern Airways (Inverness)
Finnair (Helsinki)
SN Brussels Airlines (Brussels)
VLM Airlines (Antwerp, London-City, Rotterdam)
=== Các hãng hàng hóa ===
Cathay Pacific
China Airlines Cargo
Dragonair
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Guardian Article: Eco-warriors win propaganda battle
Guardian Article: Sell-out claim as trust agrees to fell trees
AirportWatch
Manchester Airport Consultative Committee |
tháng mười một.txt | Tháng mười một là tháng thứ mười một theo lịch Gregorius, với 30 ngày.
Tháng mười một trong âm lịch còn được gọi là tháng một.
== Những sự kiện trong tháng 11 ==
6 tháng 11 – Ngày Quốc tế Phòng chống khai thác môi trường trong Chiến tranh và xung đột vũ trang (International Day for Preventing the Exploitation of the Environment in War and Armed Conflict)
12 tháng 11 – Ngày truyền thống công nhân Mỏ Việt Nam
14 tháng 11 – Ngày Bệnh dư đường Thế giới (World Diabetes Day)
16 tháng 11 – Ngày Khoan dung Quốc tế (International Day of Tolerance)
Chủ nhật thứ ba của tháng 11 – Ngày Thế giới tưởng niệm nạn nhân giao thông đường bộ (World Day of Remembrance for Road Traffic Victims)
20 tháng 11 – Ngày Thiếu nhi Thế giới (Universal Children's Day), và Ngày Công nghiệp hóa châu Phi (Africa Industrialization Day)
20 tháng 11 – Ngày Nhà giáo Việt Nam
21 tháng 11 – Ngày Truyền hình Thế giới (World Television Day)
25 tháng 11 – Ngày Quốc tế Xoá bỏ Bạo lực đối với Phụ nữ (International Day for the Elimination of Violence against Women)
== Xem thêm ==
Những ngày kỷ niệm
== Tham khảo == |
hiến pháp hoa kỳ.txt | Hiến pháp Hoa Kỳ là bộ luật tối cao của nước Hoa Kỳ. Nó là bản hiến pháp được soạn thảo ngày 17 tháng 9, 1787 dựa trên tư tưởng tam quyền phân lập giữa ba nhánh lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Tổng thống), tư pháp (tòa án) do Montesquieu, một triết gia người Pháp đề xướng. Nó được phê chuẩn sau các cuộc hội nghị tại 13 tiểu bang đầu tiên.
Cùng với Tuyên ngôn Độc lập viết năm 1776, bản hiến pháp này đã thể hiện tinh thần khoa học, tiến bộ và nhân bản của người Mỹ trong việc xây dựng một nhà nước cộng hòa đầu tiên trên thế giới trong lịch sử cận đại. Nó đã tạo ra một chính quyền thống nhất và tập trung hơn chính quyền dưới Những Điều khoản Liên hiệp.
Hiến pháp Hoa Kỳ là bản hiến pháp lâu đời nhất và nổi tiếng nhất với trên 200 năm lịch sử. Từ khi được hiệu lực năm 1789, nó đã được tham khảo nhiều lần để làm mô hình cho các hiến pháp của những quốc gia khác. Thủ tướng Vương quốc Anh William Ewart Gladstone (1809 – 1898) đã miêu tả Hiến pháp này là "tác phẩm tuyệt vời nhất từng được sản sinh ra vào một thời điểm nhất định bởi trí óc và mục đích của con người".
== Lịch sử ==
Sau Chiến tranh Cách mạng, 13 thuộc địa của Anh đầu tiên tạo ra một chính quyền trung ương với quyền lực thấp kém dưới Những Điều khoản Liên hiệp, với Quốc hội là cơ quan duy nhất. Lúc ấy, Quốc hội không có quyền đánh thuế, và vì không có cơ quan hành pháp và tư pháp, Quốc hội phải dựa vào các chính quyền tiểu bang để thi hành các luật lệ được phê chuẩn. Các chính quyền này đôi khi không thi hành các luật lệ đó. Hơn nữa, Quốc hội không có quyền cao hơn các bang trong việc thuế quan giữa các bang. Các Điều khoản cần có sự đồng thuận nhất trí từ các bang trước khi được sửa đổi và quyền của các bang thường được xem trọng hơn là quyền liên bang. Nhiều đại biểu Quốc hội lại thường xuyên vắng mặt, cho nên Quốc hội thường không làm được gì vì không đủ người.
Tháng 9 năm 1786, các ủy viên từ 5 tiểu bang họp tại Hội nghị Annapolis để bàn thảo về việc tu sửa Những Điều khoản Liên hiệp để cải tiến thương mại. Họ mời các đại biểu từ các tiểu bang khác đến Philadelphia, Pennsylvania để bàn thảo các cách cải tiến Chính phủ liên bang. Sau khi thảo luận, hội nghị này phê chuẩn một dự án để sửa đổi Những Điều khoản Liên hiệp ngày 21 tháng 2 năm 1787. 12 tiểu bang (trừ Rhode Island) nhận lời mời và gửi các đại biểu vào tháng 5 năm 1787. Mục đích tổ chức hội nghị này là để đề xuất các tu chính án vào Những Điều khoản Liên hiệp, nhưng Hội nghị đã đổi ý và bắt đầu việc phác thảo một hiến pháp. Họ biểu quyết giữ bí mật các cuộc bàn cãi và tiến hành việc tạo ra một chính quyền mới. Kết quả của Hội nghị này là một hiến pháp phác thảo, chỉ cần sự phê chuẩn của 9 tiểu bang để thành hiệu lực. Một số người lúc đó đã phản đối các hành động của hội nghị vì họ đã làm nhiều hơn những việc họ được ủy thác. Ngày 17 tháng 9 năm 1787, bản hiến pháp được hoàn tất tại Philadelphia, và chính phủ mới được thành lập vào ngày 4 tháng 3 năm 1789, sau các cuộc tranh luận sôi nổi vệ việc phê chuẩn hiến pháp trong các tiểu bang.
Hiện nay, văn bản nguyên của Hiến pháp được lưu trữ trong Văn khố Quốc gia tại Washington, DC.
== Hiến pháp ==
Các nhà soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ quy định Hiến pháp là "bộ luật tối cao của đất nước". Các tòa án đã cho rằng câu này có nghĩa là khi có các bộ luật được các bang (kể cả hiến pháp từng bang) hay Quốc hội đưa ra mà mâu thuẫn với hiến pháp liên bang, những luật đó không có hiệu lực. Các quyết định của Tòa án Tối cao trong hai thể kỷ qua đã củng cố cách nhìn này.
Hiến pháp đặt quyền người dân trên hết. Quyền hạn của chính phủ được người dân ủy nhiệm. Vì thế, hiến pháp đưa ra nhiều hạn chế quyền hạn của các viên chức này. Các đại biểu chỉ được tiếp tục phục vụ nếu họ được tái bầu cử trong các cuộc bầu cử có định kỳ. Các viên chức bổ nhiệm chỉ phục vụ khi người bổ nhiệm cho phép. Một ngoại trừ của điều này là các thẩm phán của Tòa án Tối cao, được tổng thống bổ nhiệm trọn đời, để tránh các ảnh hưởng chính trị. Hiến pháp còn cho phép người dân thay đổi nó qua các tu chính án.
Hiến pháp Hoa Kỳ được giới luật sư, tòa án, học giả và các nhà nghiên cứu quan tâm trong lãnh vực Luật Hiến pháp Hoa Kỳ.
== Các nguyên tắc chính phủ ==
Tuy Hiến pháp đã được bổ sung nhiều lần từ khi được sử dụng, các nguyên tắc của văn kiện này vẫn được giữ nguyên như của năm 1789.
Chính phủ liên bang được chia ra ba nhánh: lập pháp, hành pháp, và tư pháp, được phân lập và riêng biệt với nhau. Theo lý thuyết, các quyền của mỗi nhánh sẽ được cân bằng và kiểm soát bởi các quyền của hai nhánh kia. Nguyên tắc này được gọi là tam quyền phân lập, được Công tước Montesquieu khởi xướng.
Chính quyền mà Hiến pháp thành lập là một Chính phủ liên bang. Những quyền được nêu ra được trao cho chính phủ liên bang, còn các quyền không nêu ra được giữ lại cho các bang và người dân (đều này được ghi rõ trong Tu chính án thứ 10).
Hiến pháp này, cùng với các bộ luật được thông qua và hiệp định được tổng thống ký (và được Thượng nghị viện phê chuẩn) có vị trí cao hơn tất cả các bộ luật khác. Từ vụ Marbury v. Madison, nhánh tư pháp cũng có quyền xét lại các đạo luật được thông qua. Việc này có nghĩa rằng các tòa án liên bang có thể cho rằng một đạo luật là vi hiến, và khiến nó không còn hiệu lực nữa. Họ cũng có thể điều tra các hành động của các viên chức, kể cả tổng thống.
Từ khi Tu chính án thứ 14 được bổ sung vào Hiến pháp, mọi người dân đều được luật pháp bảo vệ đồng đều. Mọi tiểu bang đều có quyền ngang nhau, không bang nào được Chính phủ liên bang thiên vị. Mỗi tiểu bang phải công nhận và tôn trọng các bộ luật của những tiểu bang khác. Chính quyền tiểu bang, như Chính phủ liên bang, phải theo thể chế cộng hòa, với quyền tối cao được người dân giữ.
Theo Điều khoản V của Hiến pháp, Quộc hội có thể đề xuất các tu chính án hiến pháp. Thêm vào đó, hai phần ba của các tiểu bang cũng có thể tổ chức các hội nghị để đề xuất tu chính án. Sau khi được thông qua theo Hiến pháp, các tu chính án đều được xem là một phần của Hiến pháp.
== Lời mở đầu ==
Lời mở đầu của Hiến pháp nêu ra lý do lập hiến. Nội dung của lời mở đầu là:
Chúng tôi, nhân dân Hợp chúng quốc Hoa Kỳ với mục đích xây dựng một Liên Bang hoàn hảo hơn nữa, thiết lập công lý, đảm bảo an ninh trong nước, tạo dựng phòng thủ chung, thúc đẩy sự thịnh vượng trong toàn khối, giữ vững nền tự do cho bản thân và con cháu chúng ta, quyết định xây dựng Hiến pháp này cho Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ.
Lời nói đầu liệt kê 5 mục đích của Hiến pháp:
Xây dựng một Liên Bang hoàn hảo hơn
Thiết lập công lý khoa học
Tạo dựng phòng thủ chung để chống ngoại xâm
Thúc đẩy sự thịnh vượng trong toàn khối
Giữ vững nền tự do
== Các điều khoản ==
=== Mở đầu ===
=== Mục 1: Quyền lực lập pháp ===
Phần 1: Quyền hành, Quốc hội
Phần 2: Hạ Nghị viện
Phần 3: Thượng Nghị viện
Phần 4: Bầu cử, hội họp.
Phần 5: Tiến hành
Phần 6: Thành viên
Phần 7: Phiếu, quyền bãi của Tổng thống
Phần 8: Quyền lực của Quốc hội
Phần 9: Quyền hành không được công nhận dành cho Quốc hội
Phần 10: Quyền hành không được công nhận dành cho Bang
=== Mục 2: Quyền lực hành pháp ===
Phần 1: Quyền lực, Tổng thống, nhiệm kỳ, bầu cử, tiêu chuẩn, đền bù, tuyên thệ
Phần 2 và 3: Quyền lực và nhiệm vụ của Tổng thống.
Phần 4: Cách chức
=== Mục 3: Quyền lực tư pháp ===
Phần 1: Quyền lực, tòa án, Nhiệm kỳ
Phần 2: Quyền pháp lý
Phần 3: Tội phản quốc
=== Mục 4: Quan hệ giữa các Bang ===
Phần 1: Nhận dạng mối quan hệ với các Bang khác
Phần 2: Giao ước của các Bang
Phần 3: Bang mới và tài sản liên bang
Phần 4: Giao ước của Hoa Kỳ
=== Mục 5: Quá trình tu chính ===
=== Mục 6: Chính phủ liên bang ===
=== Mục 7: Phê chuẩn ===
== Các tu chính án ==
== Tham khảo ==
Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào? - Nguyễn Cảnh Bình dịch và giới thiệu - Nhà xuất bản Thế giới và Sách Alpha xuất bản
== Liên kết ngoài ==
Nguyên văn Hiến pháp Hoa Kỳ tại trang web Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam (tiếng Việt) |
naypyidaw.txt | Naypyidaw (phiên âm: Nây-pi-đô; tiếng Miến Điện: နေပြည်တော်; MLCTS: Nepranytau, chính tả chính thức là Nay Pyi Taw và Naypyitaw; phát âm [nèpjìdɔ̀]) là thủ đô của Myanmar. Theo Hiến pháp năm 2008, thành phố về mặt hành chính được coi là Lãnh thổ Liên bang Naypyidaw. Vào ngày 6 tháng 11 năm 2005, thủ đô hành chính của Myanmar đã chính thức được chuyển tới một vùng đồng quê cách 3,2 km (2,0 mi) về phía tây của Pyinmana, và có khoảng cách xấp xỉ 320 km (200 mi) về phía bắc của cố đô Yangon (Rangoon). Tên gọi chính thức của thủ đô được tuyên bố vào ngày 27 tháng 3 năm 2006, tức ngày các lực lượng vũ trang Myanmar. Đô thị kế hoạch này dự kiến sẽ hoàn tất việc xây dựng vào năm 2012. Năm 2009, thành phố có 925.000 dân, và là thành phố lớn thứ ba của Myanma, sau Yangon và Mandalay. Năm 2011, Naypyidaw là một trong mười thành phố phát triển nhanh nhất trên thế giới.
== Từ nguyên ==
Nay Pyi Daw thường được dịch thành "thủ đô vương thất", "chỗ của vua" hay "nơi ở của các vua". Theo truyền thống, nó đã được sử dụng làm hậu tố trong tên gọi các kinh đô, như Mandalay, được gọi là ရတနာပုံနေပြည်တော် (Yadanabon Naypyidaw). Nghĩa của tên gọi này là "thành phố vương thất của mặt trời" trong tiếng Miến.
== Lịch sử ==
Naypyidaw chỉ có một lịch sử ngắn ngủi, được thành lập ở một nơi đầy cây bụi cách khoảng 3 kilômét (1,9 mi) về phía tây của Pyinmana, và cách xấp xỉ 320 kilômét (200 mi) về phía bắc của Yangon, và bắt đầu được xây dựng từ năm 2002. Chính quyền quân sự đã thuê ít nhất 25 công ty để xây dựng thành phố. Chính quyền quân sự bắt đầu chuyển các bộ trong chính quyền từ Yangon đến Naypyidaw vào ngày 6 tháng 11 năm 2005 vào giờ hoàng đạo theo tính toán của các nhà chiêm tinh là 6:37 sáng. Năm ngày sau đó, 11 giờ trưa ngày 11 tháng 11, một đoàn xe thứ hai gồm 1.100 xe tải quân sự chở 11 tiểu đoàn và đồ của 11 bộ đã dời khỏi Yangon. Người ta mong đợi là các bộ được di dời sẽ bắt đầu hoạt động tại trụ sở mới vào cuối tháng 2 năm 2006; tuy nhiên, việc di chuyển vội vàng đã dẫn đến vấn đề thiếu trường học và các tiện nghi khác nên các viên chức chính phủ đã phải xa gia đình trong một thời gian. Chính phủ ban đầu đã cấm gia đình của các nhân viên chính phủ di chuyển đến thủ đô mới. Cơ quan quân sự đầu não nằm trong một khu vực riêng biệt với các bộ, và dân thường bị cấm vào cả hai khu vực. Những người bán dạo bị giới hạn trong một khu thương mại gần các văn phòng của chính phủ.
Ngày 27 tháng 3 năm 2006, trên 12.000 binh lính đã tuần hành tại thủ đô mới trong sự kiện công cộng đầu tiên: một cuộc diễu hành quân sự lớn để đánh dấu ngày các lực lượng vũ trang Myanma, ngày kỉ niệm cuộc nổi dậy Myanma năm 1945 chống lại quân Nhật chiếm đóng. Cuộc diễu hành có cả ba tác phẩm điêu khắc mô tả các vị vua Myanma gồm Anawrahta, Bayinnaung và Alaungpaya, được coi là ba vị vua quan trọng nhất trong lịch sử Myanma. Thành phố chính thức được đặt tên là Naypyidaw trong những lễ kỉ niệm này.
== Lý do dời đô ==
Naypyidaw có vị trí trung tâm và chiến lược hơn so với thủ đô cũ là Yangon. Đây cũng là một trung tâm giao thông nằm tiếp giáp với các bang Shan, Kayah và Kayin. Cũng có nhận định rằng một sự hiện diện mạnh mẽ hơn của quân đội và chính phủ ở gần đó có thể giúp ổn định các khu vực đã hỗn loạn trong nhiều năm. Những lời giải thích chính thức cho việc dời đô là vì Yangon đã trở nên quá chật hẹp và đông đúc nên sẽ hạn chế việc mở rộng trong tương lai của các văn phòng chính phủ.
Một số nhà ngoại giao Phương Tây suy đoán rằng chính phủ Myanma có lẽ lo ngại về khả năng bị nước ngoài tấn công, còn Yangon thì nằm sát bờ biển và do đó sẽ dễ dàng bị xâm phạm bởi một cuộc xâm lược đổ bộ. Nhiều ngươi dân Myanma cho rằng cảnh báo về việc nước ngoài tấn công đã được một nhà chiêm tinh báo cho giới chức quân sự cầm quyền. Nhà báo Ấn Độ Siddharth Varadarajan, người đến thăm Naypyidaw vào tháng 1 năm 2007, đã mô tả sự rộng lớn của thủ đô mới này là để bảo vệ chống lại "thay đổi chế độ" và "một kiệt tác của quy hoạch đô thị được thiết kế để đánh bại bất kỳ "cách mạng sắc màu" giả định bào– không phải bằng xa tăng và pháo bắn nước, mà bằng hình học và bản đồ".
== Địa lý ==
Naypyidaw nằm giữa các dãy núi Bago Yoma và Shan Yoma. Thành phố có diện tích 7.054,37 km2 (2.723,71 sq mi) và có dân số là 924.608 người theo thống kế chính thức.
Đập Chaungmagyi nằm cách vài km về phía bắc của Naypyidaw, còn đập Ngalaik thì nằm cách vài km về phía nam. Đập Yezin nằm xa hơn về phía đông bắc.
== Cảnh quan thành thị ==
Naypyidaw được tổ chức thành một số phân khu. Đến năm 2011, thành phố vẫn còn thiếu nhiều cơ sở hạ tầng của một thủ đô.
Các khu dân cư được tổ chức một cách cẩn thận, và các căn hộ đều được phân bổ theo các bậc và tình trạng hôn nhân. Năm 2007, thành phố có khoảng 1.200 nhà chung cư bốn tầng. Mái nhà của các tòa chung cư có mã màu dựa theo nghề nghiệp của các cư dân; nhân viên của Bộ Y tế sống trong các ngôi nhà có mái màu lam và nhân viên Bộ Nông nghệp sống trong các ngôi nhà có mái màu lục. Các quan chức cấp cao sinh sống trong các biệt thự. Tuy nhiên, nhiều cư dân của thành phố phải sống trong các khu ổ chuột.
Các quan chức quân sự cấp cao và những viên chức chủ chốt sống cách 11 km (6,8 mi) so với các viên chức bình thường trong một khu phức hợp được cho là gồm có cả các đường hầm và boongke; công chúng bị hạn chế tiếp cận đối với khu vực này. Thành phố cũng có một căn cứ quân sự, các công dân hay cá nhân khác không thể tiếp cận nơi này nếu không có sự cho phép bằng văn bản. Bên trong khu vực quân sự, những con đường có tám làn xe cho phép các máy bay cỡ nhỏ hạ cánh.
Khu vực bộ của thành phố có trụ sở của các bộ trong chính phủ Myanma. Tất cả tòa nhà các bộ đều giống hệt nhau về vẻ bề ngoài. Một tổ hợp nghị viện gồm 31 tòa nhà và một phủ tổng thống có 100 phòng cũng nằm tại đây. Khu vực cũng có tòa thị chính, trong đó có nhiều đặc điểm kiến trúc Stalin, song với một mái nhà kiểu Miến.
Khu vực khách sạn có nhóm các khách sạn theo phong cách biệt thự trên vùng đồi ngoại ô của thành phố. Chợ Myoma Naypyitaw hiện là trung tâm thương mại của Naypyidaw. Các khu vực thương mại khác là Chợ Thapye Chaung và Junction Centre Naypyidaw. Junction Centre Naypyidaw do công Ty Phát triển Shwe Taung xây dựng và hoàn thành vào tháng 8 năm 2009, Junction Centre là trung tâm mua sắm tư nhân hoạt động đầu tiên của thành phố. Naypyidaw cũng có một số chợ địa phương và khu vực nhà hàng.
Công viên hồ Ngalaik là một công viên nước nhỏ nằm dọc theo đập Ngalaik, gần làng Kyweshin trên hồ Ngalaik (xấp xỉ 7 dặm từ trung tâm Naypyidaw). Opened in 2008, cơ sở vật chất của Công viên hồ Ngalaik bao gồm các trượt nước, khu nghỉ dưỡng thiên nhiên, phòng cho thuê và một bãi biển nhân tạo. Công viên mở cửa miễn phí cho công chúng vào lễ Thingyan.
Cũng mở cửa vào năm 2008, Công viên Thảo mộc Quốc gia rộng 200 mẫu Anh (0,81 km2) trưng bày các loài thực vật có tác dụng làm thuốc đến từ tất cả các khu vực chính tại Myanma. Có hàng nghìn cây trong công viên, đại diện cho hàng trăm loài khác nhau.
Phía sau tòa thị chính, có một công viên với một sân chơi và tổ hợp đài phun nước, tại đây sẽ tổ chức trình diễn nhạc nước vào mỗi đêm.
Vườn bách thú Naypyidaw mở cửa vào năm 2008 với khoảng 420 loài động vật và một ngôi nhà chim cách cụt được kiểm soát nhiệt độ. Đây cũng là vườn thú lớn nhất Myanma. Vườn thú hoang dã Naypyidaw chính thức mở cửa vào ngày 12 tháng 2 năm 2011.
Naypyidaw cũng có hai sân golf (Nay Pyi Taw City Golf Course và Yaypyar Golf Course) và một bảo tàng đá quý.
Tương tự như kích thước và hình dạng của chùa Shwedagon tại Yangon, chùa Uppatasanti được hoàn thành vào năm 2009.
Chính phủ đã dành 2 hécta (4,9 mẫu Anh) đất cho mỗi đại sứ quán ngoại quốc và trụ sở của các cơ quan Liên Hiệp Quốc.
== Tham khảo == |
tiên ti.txt | Tiên Ti (tiếng Trung: 鲜卑, bính âm: Xianbei) là tên gọi một dân tộc du mục ở phía bắc Trung Quốc, hậu duệ của người Sơn Nhung. Người Sơn Nhung bị liên quân Tề Yên tiêu diệt vào năm 660 TCN buộc họ chạy lên vùng đông bắc và bị đồng hóa thành người Đông Hồ. Sau thiền vu Hung Nô là Mặc Đốn tiêu diệt Đông Hồ, Đông Hồ bị phân thành người Tiên Ty và Ô Hoàn, tên gọi Tiên Ti có nghĩa là điềm tốt lành (cát tường) và thú thần, có lẽ là chỉ tới loài tuần lộc.
Thời kỳ nhà Hán, sau khi các bộ lạc du mục ở phía đông người Hung Nô bị thiền vu Mặc Đốn đánh bại thì các bộ lạc này phải rút lui về sinh sống tại khu vực núi Ô Hoàn và núi Tiên Ti, từ đó mà có tên gọi hai thị tộc Ô Hoàn và Tiên Ti, được gọi chung là các dân tộc Đông Hồ. Người Tiên Ti khởi nguyên tại vùng núi Tiên Ti trên ranh giới phía bắc Liêu Đông, sau đó chủ yếu hoạt động tại phía đông Nội Mông Cổ, trong khu vực phụ cận sông Cáp Cổ Lặc trong kì Khoa Nhĩ Thấm.
Trong thế kỷ 2 người Tiên Ti chiếm cứ lãnh thổ của Hung Nô, xưng hùng tại vùng tái bắc. Trong thế kỷ 4, sau khi Tây Tấn diệt vong, người Tiên Ti tại phía bắc Trung Quốc ngày nay lần lượt thành lập ra các nước Tiền Yên, Đại, Hậu Yên, Tây Yên, Tây Tần, Nam Lương, Nam Yên và Bắc Ngụy còn ở vùng ranh giới Mạc Bắc thì một chi xa của người Tiên Ti là Nhu Nhiên cũng xưng hùng xưng bá. Năm 439 Bắc Ngụy thống nhất phương bắc, sau đó giữa Bắc Ngụy và Nhu Nhiên thường phát sinh xung đột. Sau đó Bắc Ngụy trải qua Loạn Lục Trấn và bị phân chia thành Đông Ngụy và Tây Ngụy. Sau này Đông Ngụy và Tây Ngụy bị Bắc Tề, Bắc Chu thay thế. Sau đó Bắc Chu thống nhất vùng Hoa Bắc. Tới năm 581 thì Bắc Chu bị Dương Kiên soán vị, lập ra nhà Tùy. Hãn quốc Nhu Nhiên xưng bá ở vùng biên giới phía bắc cho tới năm 552 thì bị hãn quốc Đột Quyết tiêu diệt. Trong thời kỳ Ngũ Hồ thập lục quốc tại khu vực ngày nay là Thanh Hải cũng có một chi xa của người Tiên Ti lập ra hãn quốc Thổ Cốc Hồn. Hãn quốc này tồn tại tới năm 663 thì bị Thổ Phồn tiêu diệt.
== Truyền thuyết ==
Theo truyền thuyết thì người Tiên Ti bắt nguồn từ cháu của Hoàng Đế tên là Thủy Quân. Tấn thư có viết: Mộ Dung Hối là "người Tiên Ti ở Cức thành Xương Lê. Tổ tiên là dòng dõi con cháu thị tộc Hữu Hùng, sau di cư tới phương bắc, gọi là Đông Hồ. Thị tộc Hữu Hùng vốn là bộ lạc của Hoàng Đế. Có thuyết cho rằng tên gọi Tây Bá Lợi Á (Siberi) ngày nay có nguồn gốc từ "Tiên Ti Lợi Á". Cũng có người cho rằng Tích Bá có khả năng là sự chuyển âm từ Tiên Ti, với cách thức chuyển âm là: Simbei biến thành Sibe, Sibe biến thành Sibo (Tích Bá).
== Ngữ hệ ==
Trước đây có thuyết cho rằng ngôn ngữ của người Tiên Ti thuộc hệ thống ngôn ngữ người Turk, song gần đây, có thuyết cho rằng thuộc ngữ hệ Mông Cổ.
== Thời kỳ Tam Quốc ==
Thời kỳ Tam Quốc sau khi người Ô Hoàn bị Tào Tháo chinh phạt và suy yếu đi thì người Tiên Ti nổi lên. Năm 235, thứ sử U châu của Tào Ngụy là Vương Hùng sai thích khách giết Kha Bỉ Năng, lập Tố Lợi làm thủ lĩnh của người Tiên Ti. Giai đoạn này có thể coi là thời kỳ cổ đại của người Tiên Ti, trong Tam quốc chí phần "Ô Hoàn Tiên Ti Đông Di truyện" có thuật lại việc này.
=== Danh sách quân chủ Tiên Ti ===
Đàn Thạch Hòe, khoảng 141-181
Hòa Liên 181-?
Khôi Đầu ?-?
Bộ Độ Căn ?-?
Kha Bỉ Năng ?-235
=== Bắc Tiên Ti ===
Suất Huề vương Ô Luân
Suất Huề hầu Kỳ Chí Kiện
=== Tây Tiên Ti ===
Bồ Đầu
Tiết Quy Nê
=== Đông Tiên Ti ===
Quy Nghĩa vương Tố Lợi
Thành Luật Quy
Suất Nghĩa vương Mạc Hộ Bạt
== Thời kì Ngũ Hồ thập lục quốc ==
Trong thời kỳ từ Tây Tấn tới Đông Tấn và Ngũ Hồ thập lục quốc, người Tiên Ti có thể chia ra làm 3 bộ tộc lớn.
=== Đông Tiên Ti ===
Người Đông Tiên Ti chia ra thành các bộ tộc Đoàn, Mộ Dung và Vũ Văn.
Bộ tộc Đoàn của các vua Đoàn bộ (250-352) xuất nguyên từ đông Tiên Ti từ thời nhà Hán, từng liên hợp cùng Lưu Côn (271-318) ở Tấn Dương, sau bị người Yết Hồ của Hậu Triệu đánh bại và chạy tản mát vào Trung Nguyên rồi bị Hán hóa. Một số chạy sang các nước Tây Yên, Bắc Lương thời Ngũ Hồ thập lục quốc, trong đó có Đoàn Tùy vua duy nhất của nước Tây Yên không mang họ Mộ Dung, Đoàn Nghiệp vua đầu tiên của nước Bắc Lương. Một số nhà nghiên cứu cho rằng bộ tộc Đoàn bộ này còn liên quan tới các vị quân chủ họ Đoàn của Vương quốc Đại Lý sau này. Trong số đó một số hậu duệ di cư sang Việt Nam từ Đại Lý và Trung Nguyên, nhưng chưa có căn cứ chứng minh cho điều đó.
Bộ tộc Mộ Dung với Mộ Dung Hoảng trong thời kỳ đầu của Ngũ Hồ thập lục quốc đã sáng lập nước Đại Yên, sử gọi là Tiền Yên. Sau khi vị quan tài năng là Mộ Dung Khác chết thì Tiền Yên suy yếu, tới thời Mộ Dung Vĩ trị vì thì Tiền Yên bị mất vào tay họ Bồ/Phù của bộ lạc Đê (tức Tiền Tần). Em của Mộ Dung Khác là Mộ Dung Thùy ban đầu hàng Tiền Tần, đến năm 384, sau khi Tiền Tần đại bại trong trận Phì Thủy thì Mộ Dung Thùy phục quốc, lập ra nước Yên, sử gọi là Hậu Yên. Đồng thời, em của Mộ Dung Vĩ là Mộ Dung Hoằng cũng kiến lập ra một nước Yên khác, sử gọi là Tây Yên. Năm 394 Tây Yên bị Hậu Yên tiêu diệt. Sau đó đến lượt Hậu Yên cũng bị thị tộc Thác Bạt của người Tiên Ti (Bắc Ngụy) đánh bại, phải chạy lên phía bắc. Một chi của hoàng tộc Hậu Yên còn lưu lại phía nam do Mộ Dung Đức đứng đầu thành lập ra Nam Yên. Sau đó Nam Yên bị Đông Tấn tiêu diệt.
Bộ tộc Vũ Văn cùng Cao Câu Ly giữ quan hệ tốt đẹp. Cuối thời kỳ Nam Bắc triều, thị tộc Vũ Văn soán ngôi vua nhà nước Tây Ngụy để thành lập Bắc Chu. Bắc Chu sau cũng bị ngoại thích là Dương Kiên soán ngôi để thành lập ra nhà Tùy. Bộ tộc Vũ Văn sau này trải qua nhiều lần thay đổi, di dời cho tới thời kỳ của người Khiết Đan thì trở thành một trong tám bộ của Khiết Đan.
=== Bắc Tiên Ti ===
Người Bắc Tiên Ti trứ danh có bộ tộc Thác Bạt, lập ra Bắc Ngụy và nhiều lần giao chiến với Nhu Nhiên.
Năm 386, hậu duệ của nước Đại là Thác Bạt Khuê tự xưng Đại vương, thành lập Bắc Ngụy. Bắc Ngụy sau đó thống nhất miền bắc Trung Quốc, trong thời kỳ đầu của Nam Bắc triều thì Bắc Ngụy là triều đại đối lập với các triều đại của Nam triều. Năm 535, Bắc Ngụy bị phân chia thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, và 2 nước này sau đó bị Bắc Tề của họ Cao và Bắc Chu của họ Vũ Văn thay thế.
Hãn quốc Nhu Nhiên cùng Bắc Ngụy của họ Thác Bạt, thống trị tại phía bắc Trung Quốc trong thời kỳ Nam Bắc triều, nhiều lần giao chiến. Năm 552, Nhu Nhiên bị hãn quốc Đột Quyết đánh bại, người Nhu Nhiên phân ra thành 2 chi nam bắc. Chi phía nam của Nhu Nhiên chạy tới khu vực thượng nguồn Liêu hà và sau này trở thành tổ tiên của người Khiết Đan. Chi phía bắc chạy tới khu vực phía đông dãy núi Nhã Bố Lạc Nặc Phu và phía nam dãy núi Ngoại Hưng An Lĩnh, trở thành tổ tiên của người Thất Vi. Thất Vi sau này có lẽ là tổ tiên của người Mông Cổ. Xem thêm Nhu Nhiên.
=== Tây Tiên Ti ===
Em của Mộ Dung Hối là Mộ Dung Thổ Cốc Hồn dẫn những người theo mình theo hướng đông bắc tới miền đông Thanh Hải, lập ra nước Thổ Cốc Hồn. Trong thời kỳ cực thịnh của mình thì Thổ Cốc Hồn chiếm cứ khu vực ngày nay là Thanh Hải, Cam Túc, phía nam Tân Cương, phía tây Tứ Xuyên. Năm 663, Thổ Cốc Hồn bị Thổ Phồn tấn công và chiếm đóng. Nước này diệt vong.
Người ta cho rằng các cuộc hôn nhân hỗn chủng giữa người Tiên Ti, Ô Hoàn và Hung Nô đã tạo ra người Thiết Phất. Người Thiết Phất nổi tiếng là Hách Liên Bột Bột đã thành lập ra nước Hạ. Xem thêm Hung Nô.
Tại phía bắc Âm sơn, hôn nhân giữa người Tiên Ti với người Sắc Lặc (Đinh Linh) đã hình thành ra bộ tộc Khất Phục. Năm 383, viên tướng của Tiền Tần là Khất Phục Quốc Nhân sau trận Phì Thủy đã thành lập tại khu vực ngày nay là Du Trung (Cam Túc) nên nước Tần, sử gọi là Tây Tần. Năm 400, Tây Tần bị họ Diêu của người Khương (Hậu Tần) đánh bại, Khất Phục Càn Quy chạy sang hàng Nam Lương. Năm 409 Khất Phục Càn Quy xây dựng lại nước Tây Tần. Năm 431 Tây Tần bị họ Hách Liên của nước Hạ tiêu diệt.
Thị tộc Thốc Phát cùng thị tộc Thác Bạt vốn cùng một gốc. Năm 397, Thốc Phát Ô Cô làm phản Hậu Lương, thành lập Nam Lương. Năm 414 Nam Lương bị họ Khất Phục của Tây Tần tiêu diệt, người của thị tộc Thốc Phát chạy sang hàng Bắc Ngụy, được ban cho họ "Nguyên".
== Hiện đại ==
Người Tiên Ti sau này tản mát và bị đồng hóa hay hỗn huyết để trở thành người Hán, người Mông Cổ cùng các dân tộc khác tại phương bắc Trung Quốc. Người Tích Bá tự nhận là hậu duệ của người Tiên Ti.
== Xem thêm ==
Bắc Ngụy
Nam Bắc triều (Trung Quốc)
Ngũ Hồ thập lục quốc
== Tham khảo == |
thiếu tá.txt | Trong Quân đội Nhân dân Việt Nam và quân đội đa số các nước trên thế giới đây là quân hàm sĩ quan trung cấp, trên cấp Đại úy, dưới cấp Trung tá. Quân hàm này thường đảm nhiệm các chức tiểu đoàn trưởng đến trung đoàn trưởng.
== Xem thêm ==
Quân hàm
Đại úy
Trung tá
Thượng tá
== Tham khảo == |
tự nhiên.txt | Tự Nhiên là một xã ở huyện Thường Tín, Hà Nội.
== Vị trí địa lý ==
Xã Tự Nhiên nằm ở phía Đông huyện Thường Tín, bên sông Hồng, giáp huyện Khoái Châu, Hưng Yên. Xã Tự Nhiên tiếp giáp với:
Phía Đông: sông Hồng
Phía Nam: sông Hồng
Phía Tây: xã Thư Phú và xã Chương Dương
Phía Bắc: sông Hồng và xã Thư Phú
== Di tích lịch sử ==
Xã Tự Nhiên có bãi Tự Nhiên hay còn gọi là bãi Chử Đồng Tử, nằm ở phía Bắc của xã, giáp sông Hồng, là nơi Chử Đồng Tử gặp Tiên Dung.
Đình làng Tự Nhiên (Thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung).
== Lịch sử ==
Trước là xã Hồng Châu, sau đổi tên thành xã Tự Nhiên.
== Tham khảo == |
h. g. wells.txt | Herbert George Wells (21 tháng 9 năm 1866 - 13 tháng 8 năm 1946), thường được biết đến với cái tên H. G. Wells, là một nhà văn người Anh nổi tiếng với những tiểu thuyết khoa học viễn tưởng như The Time Machine, The War of the Worlds, The Invisible Man, The First Men in the Moon và The Island of Dr Moreau. Ông là một nhà văn của nhiều thể loại truyện, tiểu thuyết, bao gồm cả viễn tưởng, phi viễn tưởng hay các bài bình luận về lịch sử và xã hội. Wells cũng là một người theo chủ nghĩa xã hội, các tác phẩm của ông sau này thường nặng tính chính trị và giáo điều. Chỉ có những tác phẩm tiểu thuyết khoa học viễn tưởng của ông là vẫn còn rất được ưu chuộng hiện nay. Wells và Jules Verne thường được coi "cha đẻ của khoa học viễn tưởng".
== Tiểu sử ==
Gần bảy mươi lăm năm trước, một đám trẻ em đang chơi trên đường ngoại ô Luân Đôn, thì một tai nạn xảy ra làm ông bị gãy chân. Trong mấy tháng Bertie nằm quằn quại trên giường, với một vật nặng cột vào chân để làm lành xương nhưng vẫn không lành làm cậu rất đau đớn. Nhưng cậu đã may mắn sống sót và trở thành một trong những nhà văn nổi tiếng trên thế giới. Bút danh của ông là Herbert George Wells, hoặc H. G. Wells. Ông đã viết trên bảy mươi lăm cuốn và chính ông nhận ra rằng tai nạn gãy chân đó có lẽ là điều được trời ban cho ông. Vì tai nạn đó đã buộc ông phải nằm ở nhà nguyên năm, nên ông đành phải đọc sách để giải tỏa nỗi buồn, đọc riết thành ra ông trở thành mê đọc sách. Từ đó ông quyết định đi theo con đường viết tiểu thuyết. Ông đã trở thành một trong những nhà văn nhận được tiền nhuận bút cao nhất. Nhờ viết truyện tiểu thuyết, ông đã kiếm được hai trăm ngàn Mỹ kim là số tiền khổng lồ lúc bấy giờ. Số tiền đó đã giúp ông vượt ra khỏi cảnh nghèo nàn.
Thân phụ ông là một người chơi cầu "Cricket" và có một tiệm đồ gốm, buôn bán thua lỗ vì thế tiệm phải đóng. Nhà ông lúc nhỏ chỉ là một căn nhà nhỏ tối tăm. Sau này nhớ lại tuổi thơ ấu, ông còn nhớ rõ ông hồi đó ngồi trong bếp tối mà nghe tiếng chân người đi qua lại trên lưới sắt ở trên chỗ mình. Sau khi tiệm đồ gốm bị đóng cửa. Thân mẫu ông phải xin làm quản gia cho một điền chủ lớn ở Sussex. Bà phải chịu nhiều tủi nhục. Ông thường thường tới thăm mẹ, và bắt đầu tìm hiểu đời sống của hạng thượng lưu Anh quốc do các người hầu kể lại. Từ mười ba tuổi ông phải đi làm vất vả và thường bị đuổi việc vì bộ dạng. Cuối cùng, ông cũng tìm được việc làm ổn định cho đến khi ông trở thành nhà văn.
== Danh mục tác phẩm ==
Xin xem Danh mục đầy đủ ở đây.
== Các bản dịch tiếng Việt ==
Máy thời gian:
Máy thời gian, Lưu Bằng dịch, Song ngữ Anh Việt, Sài Gòn, 1972.
Máy khám phá thời gian, Tuyết Sinh dịch, Saigon: Sinh xuất bản, 1974.
Máy thời gian, Đắc Lê dịch, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 1987; (tái bản: Hà Nội: Nhà xuất bản Thanh niên, 2000).
Phi thuyền thời gian, Đào Quốc Tuấn dịch, TP.HCM: Nhà xuất bản Trẻ, 1998.
Cỗ máy thời gian, Như Hà dịch, Nhà xuất bản Hà Nội và Công ty cổ phần Sách Tao Đàn, 2017.
Người vô hình:
Người vô hình, Nguyễn Như Mai và Lê Tiến phỏng dịch, Hà Nội: Nhà xuất bản Kim Đồng, 1985.
Người vô hình, Lê Đình Chi dịch, Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học và Công ty cổ phần Sách Tao Đàn, 2016.
Chiến tranh giữa các thế giới, Phạm Văn dịch, Nhà xuất bản Lao động và Công ty cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam, 2015.
Tiên phong lên Mặt Trăng, Nguyễn Thành Long dịch, Nhà xuất bản Văn Học và Bookism, 2016.
== Tham khảo == |
sơn đông.txt | Sơn Đông (giản thể: 山东; phồn thể: 山東; bính âm: ; Wade-Giles: Shan-tung) là một tỉnh ven biển phía đông Trung Quốc. Tên gọi "Sơn Đông" xuất phát từ vị trí của tỉnh này ở phía đông Thái Hành Sơn, giản xưng của tỉnh Sơn Đông là "Lỗ", theo tên nước Lỗ thời cổ.
Trước thời nhà Kim, Sơn Đông về mặt khái niệm địa lý là khu vực lưu vực Hoàng Hà rộng lớn ở phía đông Hào Sơn, Hoa Sơn hoặc Thái Hành Sơn. Thời cổ, trên địa bàn tỉnh Sơn Đông ngày nay có nước Tề và nước Lỗ. Sơn Đông nằm ở duyên hải phía đông Trung Quốc, thuộc hạ du Hoàng Hà, là địa phương cực bắc của vùng Hoa Đông. Tỉnh lị của Sơn Đông là Tế Nam. Ở một nửa phía tây, Sơn Đông giáp với các tỉnh khác tại Trung Quốc, từ bắc xuống nam lần lượt là: Hà Bắc, Hà Nam, An Huy và Giang Tô. Ở trung bộ, địa hình Sơn Đông cao đột ngột với đỉnh Thái Sơn là điểm cao nhất trên địa bàn. Bán đảo Sơn Đông giáp với Hoàng Hải, cách bán đảo Liêu Đông qua eo biển Bột Hải, bảo vệ Bắc Kinh-Thiên Tân và Bột Hải, đối diện với bán đảo Triều Tiên qua Hoàng Hải, đông nam bán đảo là vùng biển Hoàng Hải rộng lớn.
Tỉnh Sơn Đông có lịch sử lâu dài và văn hóa phong phú. Các nhà sáng lập tư tưởng Nho giáo như Khổng Tử và Mạnh Tử, nhà sáng lập tư tưởng Mặc gia là Mặc Tử, các nhà quân sự nổi tiếng như Tôn Tử, Tôn Tẫn, Ngô Khởi đều được sinh ra ở Sơn Đông. Với dân số trên 90 triệu người, Sơn Đông là tỉnh có dân số đông thứ hai Trung Quốc, chỉ sau Quảng Đông. Sơn Đông là một tỉnh lớn công-nông nghiệp, đóng góp một phần chín giá trị của nền kinh tế Trung Quốc, tổng GDP của Sơn Đông đứng thứ ba tại Trung Quốc.
== Lịch sử ==
=== Thời kỳ Cổ đại ===
Ở huyện Nghi Nguyên thuộc Sơn Đông, người ta đã phát hiện ra hóa thạch của người Nghi Nguyên (沂源人, Homo erectus Yiyuanensis) có niên đại từ thế Canh Tân cách nay từ 400.000 đến 500.000 năm trước, là một trong các ví dụ sớm nhất về người đứng thẳng tại Trung Quốc. Ngoài ra, trên địa bàn Sơn Đông đã khai quật thấy một di chỉ tụ cư bộ lạc thị tộc mẫu hệ có niên đại cách nay 7.000-6.000 năm, thuộc thời đại đồ đá, thuộc văn hóa Bắc Tân (北辛文化), có một số đặc điểm gần gũi với văn hóa Ngưỡng Thiều ở Trung Nguyên. Từ khoảng 4300 TCN - 2500 TCN, trên địa bàn Sơn Đông tồn tại văn hóa Đại Vấn Khẩu (大汶口文化) và văn hóa Long Sơn (龍山文化). Hiện nay, các đồ vật khai quật có niên đại sớm nhất có thể dùng để truy nguyên Hán tự là từ các mảnh đồ gốm của văn hóa Long Sơn.
Sơn Đông sở hữu rất nhiều truyền thuyết cổ sử, Thái Hạo, Thiếu Hạo được cho là hoạt động tại khu vực gò đồi ở đông nam của tỉnh. Sau đó, Xi Vưu, Chuyên Húc, Đế Khốc, Ngu Thuấn, Cao Dao, Bá Ích được cho là hoạt động ở vùng bình nguyên tây bắc và ở phần giao giới với các tỉnh lân cận. Sơn Đông nằm ở đông bộ bình nguyên Hoa Bắc, chịu ảnh hưởng của văn minh Hoa Hạ từ rất lâu.
Sau khi nhà Hạ được thành lập tại Trung Nguyên, khu vực Sơn Đông về cơ bản do tộc Đông Di khống chế. Các bộ lạc Đông Di trứ danh có: Hữu Tiết (有薛), Phiên (蕃), Hữu Nhưng (有仍), Hữu Mân (有缗), Tam Phảm (三𦟣), Cố (顧), Hữu Sân (有莘), Hữu Cùng (有窮), Hữu Cách (有鬲), Quá, (過), Hàn (寒), Châm Quán (斟灌), Châm Tầm (斟尋), Phí (費), Tăng (繒), Kỷ (杞), Quan (觀).
Thời kỳ đầu tộc Thương, bộ lạc này lấy tây nam bộ Sơn Đông làm trung tâm hoạt động. Thủy tổ tộc Thương là Khiết từng định đô tại Phiên (蕃)- nay thuộc Đằng Châu, thủ lĩnh Tướng Thổ định đông đô tại chân Thái Sơn. Sau này, tộc Thương phát triển thế lực về hướng đông, vượt quá Tứ Thủy (泗水), Sơn Đông vì thế là một trong những khu vực hoạt động chính của tộc Thương. Đầu thời nhà Thương, triều đình từng định đô tại Bạc (亳)- nay thuộc huyện Tào, sau từng có tám lần thiên đô, trong đó hai lần đầu nằm trên địa phận Sơn Đông, sau đó kinh đô triều Thương từng đặt ở đất Tí (庇)- nay thuộc Vận Thành, đất Yểm (奄)- nay thuộc Khúc Phụ. Khu vực thống trị của triều Thương có diện tích thống trị rộng lớn hơn nhiều so với triều Hạ, số phương quốc (tức nước chư hầu) tăng thêm nhiều. Các phương quốc chủ yếu của triều Thương trên địa bàn Sơn Đông gồm: Yểm (奄), Bạc Cô (薄姑), Chư (諸), Cử (莒), Đàm (郯), Phùng (逢), Họa (畫), Cố (顧), Thục (蜀), Lê (黎), Lai (萊), Kỷ (杞), Tăng (繒), Sân (莘), Nhâm (任).
Thế kỷ 11 TCN, Chu Vũ vương tiêu diệt triều Thương, bắt đầu cai trị Thiên hạ. Sau đó, Vũ vương đã phong cho người phụ tá có công là Khương Tử Nha ở đất Tề, phong cho em trai là Chu Công Đán ở đất Lỗ.
Nước Tề định đô ở Lâm Truy, căn cứ theo "Tả truyện- Hi công tứ niên", cương vực nước này "đông đến biển, tây đến hà (Hoàng Hà), nam đến Mục Lăng (穆陵)- nay ở nơi giao giới giữa Nghi Thủy và Lâm Cù, bắc đến Vô Lệ (無棣)- nay thuộc Diêm Sơn của Hà Bắc. Nước Tề "có nghề công thương thuận lợi, có nguồn lợi muối cá thuận lợi, nên nhiều người dân theo về". Nước Tề dung hợp "văn hóa Đông Di", "cử hiền và thượng công", chuyên tâm cách tân, quốc lực ở mức cao trong số các nước chư hầu. Điền thị nguyên nắm giữ quyền bính tại nước Tề, đến năm 386 TCN thì thay thế Khương thị làm vua nước Tề, sử gọi là Điền Tề.
Năm 567 TCN, một nước chư hầu Đông Di ở Sơn Đông là Lai đã tiến đánh Tề song đã bị Tề Linh công đánh bại hoàn toàn, Lai Cung công Phù Nhu bị giết. Lai là một nước lớn, và Tề đã mở rộng được gấp đôi cương vực của mình sau khi thôn tính nước Lai. Ngành công thương mại và kỹ thuật của Tề như dệt may đã rất phát triển, được khen là "Thiên hạ mũ, dây, áo quần, giày".
Nước Lỗ định đô tại Khúc Phụ, cương vực nước này chủ yếu nằm ở phía nam Thái Sơn, ở khu vực trung tâm và miền tây nam của tỉnh Sơn Đông ngày nay. Nước Lỗ tuân theo phép tắc lễ nhạc triều Chu, nông nghiệp phát triển, tôn trọng nhân nghĩa, truyền thống, luân lý, nhân hòa, là một "lễ nghi chi bang".
Văn hóa Tề Lỗ (齐鲁文化) có cống hiến lớn và ảnh sâu rộng đến sự phát triển, hình thành của văn hóa Trung Hoa. Khổng Phu Tử sinh ra tại đô thành Khúc Phụ của nước Lỗ, là người sáng lập ra tư tưởng Nho gia- sau này trở thành nền tảng của khuôn khổ và giá trị quan của xã hội Trung Quốc. Mạnh Tử, Trang Tử, Tôn Tử, Mặc Tử, Lỗ Ban và nhiều người hai nước Tề Lỗ khác là những đại biểu kiệt xuất có cống hiến trên nhiều phương diện cho văn minh Trung Hoa.
Ngoài Tề và Lỗ ra thì vào thời Xuân Thu, trên địa phận Sơn Đông còn có nhiều tiểu quốc chư hầu khác, chỉ xét theo Tả truyện thì đã nhiều đến 55 nước, trong đó các nước có cương vực và ảnh hưởng lớn là Lai, Cử, Đằng, sau đó đều bị hai nước Tề và Lỗ thôn tính. Đến thời Chiến Quốc, nước Tề bành trướng đến bán đảo Giao Đông, trở thành một trong Chiến Quốc thất hùng. Năm 249 TCN, nước Sở tiêu diệt nước Lỗ, đến năm 223 TCN thì nước Tần công hãm nước Sở. Đến năm 221 TCN, nước Tề trở thành nước chư hầu cuối cùng bị Tần thôn tính.
=== Thời kỳ phong kiến ===
Sau khi thống nhất Trung Quốc, nhà Tần thi hành quận huyện chế trên toàn quốc, các quận chủ yếu nằm trên địa phận Sơn Đông và có một phần thuộc Sơn Đông là: Tề quận, Lang Da quận, Tế Bắc quận, Giao Đông quận, Tiết quận. Để tăng cường thống trị với Sơn Đông, Tần Thủy Hoàng đã hạ lệnh đem cựu quý tộc và phú hào nước Tề trước đây đến các vùng Hàm Dương, Ba Thục, phá bỏ Tề Trường Thành, xây dựng trì đạo (đường ngựa xe chạy) trực thông đến kinh thành Hàm Dương, xúc tiến giao lưu kinh tế và văn hóa giữa Sơn Đông và các khu vực khác. Triều đình Tần tiến hành thống nhất văn tự trên toàn quốc, văn tự cổ của nước Tề bị phế trừ, đẩy nhanh tốc độ thống nhất về văn hóa và ngôn ngữ giữa Sơn Đông và các khu vực khác.
Năm 209 TCN, Trần Thắng và Ngô Quảng đã khởi nghĩa tại Đại Trạch hương (nay thuộc tỉnh An Huy), sau đó Bành Việt tại Xương Ấp (nay thuộc Cự Dã) cũng tiến hành khởi nghĩa phản Tần, là một lực lượng vũ trang trọng yếu thời Tần mạt. Đến khi Lưu Bang khởi nghĩa từ huyện Bái (nay thuộc tỉnh Giang Tô) cũng lấy nam bộ Sơn Đông làm phạm vi hoạt động. Đồng thời, lực lượng phản Tần còn bao gồm thế lực cựu quý tộc của sáu nước trước đây, hậu duệ Điền Tề là Điền Đam đã tự lập làm vương, chiếm lĩnh khu vực nước Tề trước đây. Sau khi Trần Thắng thất bại, quân Tần phản công, Điền Đam bị giết. Sau đó, em Điền Đam là Điền Vinh và Điền Hoành dẫn tàn quân ở Nguỵ về Tề, khôi phục được nước Tề.
Sơn Đông có tiếng tốt là "đất trồng màu mỡ nghìn lý", đã phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp từ sớm, đã trở thành trung tâm kinh tế của Trung Quốc từ thời Tần Hán. Sau khi diệt Tần, Hạng Vũ tự xưng làm Sở Bá Vương, đứng đầu chư hầu, phân phong cho các chư hầu, nước Tề bị chia làm 3: Điền Đô được phong làm Tề vương, đóng đô ở Lâm Truy; Điền Phất làm Giao Đông vương, đóng đô ở Tức Mặc; Điền An được lập làm Tế Bắc vương, đóng đô ở Bắc Dương. Sau khi Hạng Vũ chết, Lưu Bang đã hạ lệnh an táng Hạng Vũ theo lễ Lỗ công tại Cốc Thành- nay thuộc huyện Bình Âm của Sơn Đông. Thời kỳ Tây Hán, khu vực Sơn Đông có khoảng 17 triệu người, 3,9 triệu hộ, chiếm gần một phần ba dân số toàn Đại Hán khi đó, cũng là khu vực có mật độ cao nhất. Thời Hán, Sơn Đông là một nguồn cung sản phẩm quan trọng của con đường tơ lụa, Lâm Truy, Định Đào, Kháng Phụ (nay là Tế Ninh) là ba trung tâm dệt lớn của toàn quốc. Một lượng lớn sản phẩm dệt tinh tế đã được vận chuyển đến Tây Vực từ những nơi này. Thời Hán, ở khu vực Sơn Đông có hai châu (đơn vị hành chính cấp 1): Thanh châu (青州) ở bắc bộ và Duyện châu (兖州) ở nam bộ.
Những năm cuối thời Hán, Tào Tháo, Lưu Đại, Tang Bá, Trương Mạc trước sau đã lấy đất Sơn Đông làm nơi khởi binh. Sang thời Tam Quốc, Sơn Đông thuộc về Tào Ngụy. Sau khi các tộc Ngũ Hồ tràn vào Trung Nguyên, tiêu diệt Tây Tấn, tây bộ Sơn Đông cũng trở thành một chiến trường ác liệt, đã xảy ra nhiều chiến dịch lớn. Vào thời Ngũ Hồ thập lục quốc, Sơn Đông trước sau thuộc về các nước Hậu Triệu, Đông Tấn, Tiền Yên, Tiền Tần, Hậu Yên. Hậu kỳ Ngũ Hồ thập lục quốc, năm 399, hoàng thân Tiên Ti là Mộ Dung Đức đã chiếm được đô phủ của Thanh châu (nay là trung bộ và đông bộ Sơn Đông) thuộc Đông Tấn là Quảng Cố (nay thuộc Thanh Châu), biến Quảng Cố thành kinh đô mới của Nam Yên. Tháng 2 năm 410, tướng Đông Tấn là Lưu Dụ công phá Quảng Cố, Mộ Dung Siêu và 3.000 quan lại quý tộc Nam Yên bị quân Đông Tấn bắt sống, giải về Kiến Khang, sau bị chém đầu. Năm 412, vị cao tăng Đông Tấn Pháp Hiển (法顯) đã dừng chân ở Lao Sơn, thuộc rìa phía nam bán đảo Sơn Đông, rồi tiến đến Thanh Châu để biên dịch các kinh Phật mà ông mang về từ Ấn Độ
Năm 420, nhà Lưu Tống thay thế nhà Đông Tấn, Sơn Đông thuộc cương vực của triều đại này. Tuy nhiên, sau Chiến tranh Lưu Tống-Bắc Ngụy, Sơn Đông đã thuộc về Bắc Ngụy- triều đại đã thống nhất miền Bắc Trung Quốc. Sau khi Bắc Ngụy diệt vong, Sơn Đông lần lượt thuộc về Đông Ngụy và Bắc Tề.
Vào thời gian cực thịnh của triều Tùy, số hộ tại khu vực nay là Sơn Đông chiếm 21% tổng số hộ toàn quốc. Chiến loạn những năm cuối triều Tùy đã phá hoại nặng nề Sơn Đông. Sau Trinh Quán chi trị thời Đường Thái Tông và Vĩnh Huy chi trị thời Đường Cao Tông, Sơn Đông mới có thể khôi phục và phát triển. Thời nhà Đường, khu vực Sơn Đông chủ yếu thuộc về Hà Nam đạo. Những năm Khai Nguyên và Thiên Bảo thời Đường Huyền Tông, mỗi năm đều có hàng triệu thạch lương thực được vận chuyển từ Sơn Đông đến Quan Trung, và ở những nơi như đất Thanh (nay là Thanh Châu) và đất Tề (nay là Tế Nam), vật giá thấp hơn nhiều so với các khu vực khác tại Trung Quốc. Thời Đường, kính hoa lăng (镜花绫) Duyện châu, tiên văn lăng (仙纹绫) Thanh châu, đều là các sản phẩm dệt đẹp và tốt nổi tiếng trên toàn quốc. Đến cuối thời Đường, chiến tranh lại nổi lên khắp nơi. Các Truy Thanh tiết độ sứ từng kế tiếp nhau cát cứ Sơn Đông trong suốt 60 năm (758-819): Hầu Hi Dật (侯希逸), các thành viên họ Lý gồm Lý Chính Kỉ (李正己), Lý Nạp (李纳), Lý Sư Cổ (李师古), Lý Sư Đạo (李师道). Sang thời Ngũ Đại Thập Quốc, Sơn Đông lần lượt thuộc cương vực của năm triều đại ngắn ngủi ở phương Bắc: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu; trong thời gian này kinh tế Sơn Đông hoàn toàn đình trệ.
Triều Tống tái thống nhất Trung Quốc vào cuối thế kỷ 10. Năm 1996, người ta đã tìm thấy hơn 200 bức tượng Phật giáo tại Thanh Châu, nó được ca ngợi là một phát hiện khảo cổ học lớn. Các bức tượng được cho là đã bị chôn vùi khi Tống Huy Tông đàn áp Phật giáo do ông ủng hộ Đạo giáo. Thời Bắc Tống, kinh tế Sơn Đông phục hồi và phát triển nhanh chóng, năm Tuyên Hòa thứ 1 (1119-1120) thời Tống Huy Tông, Tống Giang đã tập hợp 36 người nổi dậy tại Lương Sơn (nay thuộc huyện Bình Hồ), sự việc này được tiểu thuyết hóa trong tác phẩm Thủy Hử truyện. Năm Chí Đạo thứ 3 (997), triều đình Tống chia toàn quốc thành 15 lộ, khu vực Sơn Đông hiện nay thuộc Kinh Đông lộ. Năm Hi Ninh thứ 5 (1072), triều đình Tống chính thức phân Kinh Đông lộ thành hai lộ là Kinh Đông Đông lộ và Kinh Đông Tây lộ, đại bộ phận Sơn Đông thuộc Kinh Đông Đông lộ, còn phần tây nam thuộc Kinh Đông Tây lộ.
Triều Tống đã buộc phải nhượng khu vực phía Bắc Trung Quốc, trong đó có Sơn Đông, cho triều Kim của người Nữ Chân vào năm 1142. Thời Kim, khu vực tỉnh Sơn Đông hiện nay gần như tương ứng với phạm vi của Sơn Đông Đông lộ (trị sở tại Ích Đô) và Sơn Đông Tây lộ (trị sở tại Đông Bình). Những năm Thái Hòa thời Kim Chương Tông là thời cực Thịnh của triều Kim, khi đó tổng nhân khẩu của Sơn Đông Đông lộ và Sơn Đông Tây lộ vượt quá 10 triệu người. Khi đế quốc Mông Cổ xâm lược Kim, Sơn Đông đã bị tàn phá, cả nghìn lý không có một bóng người. Kết quả là đến năm Chí Nguyên thứ 13 (1276) thời Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, Sơn Đông chỉ còn 1,26 triệu người với 38 vạn hộ, giảm tương ứng 87% và 75% so với thời Kim, chưa bằng một phần mười nếu so với thời Tây Hán. Thời Kim và Nguyên, người dân bị bóc lột nghiêm trọng, cùng với sự thống trị hung bạo của ngoại tộc, xã hội và kinh tế Sơn Đông lâm vào tình trạng đình trệ và suy thoái.
Sơn Đông hành tỉnh được thiết lập vào những năm Hồng Vũ thời Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, đương thời Sơn Đông còn bao gồm cả Liêu Đông. Vào khoảng năm Hồng Vũ thứ 1 (1368), Sơn Đông "phần lớn là đất không người", triều đình Minh khuyến khích nhân dân khai khẩn. Đến năm Hồng Vũ thứ 26 (1393), diện tích đất canh tác của Sơn Đông đã đạt trên 72,4 triệu mẫu, đứng thứ ba toàn quốc. Năm Vĩnh Lạc thứ 19 (1421) thời Minh Thái Tông, sau khi triều Minh thiên đô đến Bắc Kinh, những nơi nằm ven tuyến Đại Vận Hà là Tế Ninh và Lâm Thanh thuộc Sơn Đông đã phát triển phồn vinh nhờ tào vận, tức vận chuyển bằng đường thủy. Sơn Đông hành tỉnh thời Minh được phân thành 6 phủ: Tế Nam, Duyện Châu, Đông Xương, Thanh Châu, Lai Châu, Đăng Châu.
Sang thời Thanh, Sơn Đông tỉnh được phân thành ba đạo: Tế Đông Thái Vũ Lâm đạo, Đăng Lai Thanh Giao đạo, Duyện Nghi Tào Tế đạo. Năm Khang Hy thứ 61 (1722) thời Thanh Thánh Tổ, diện tích đất canh tác của Sơn Đông đạt trên 90 triệu mẫu, lại trở thành một trong các tỉnh đông dân nhất nước. Năm 1855, Hoàng Hải đổi dòng, lại chảy qua địa phận Sơn Đông rồi đổ ra biển. Kể từ đó, đoạn Đại Vận Hà qua Sơn Đông dần dần bị ứ tắc, các thành thị Tế Ninh, Lâm Thanh và Đông Xương (Liêu Thành) nhanh chóng suy thoái. Thập niên 1860, Yên Đài trở thành cảng mở cửa đầu tiên của Sơn Đông, đương thời vận chuyển đường biển đã trở thành phương thức giao thông chủ yếu giữa bắc và nam của Trung Quốc, Yên Đài vì thế nhanh chóng phát triển phồn vinh. Năm 1895, trong chiến tranh Giáp Ngọ, quân Nhật công chiếm Uy Hải, toàn hạm đội Bắc Dương bị tiêu diệt. Sơn Đông là một tỉnh trọng yếu trong hoạt động truyền giáo tại Trung Quốc của các giáo sĩ truyền giáo phương Tây. Năm 1899, Nghĩa Hòa Đoàn đã nổi lên từ Sơn Đông, tiến hành tấn công các giáo sĩ truyền giáo trên khắp địa bàn tỉnh. Viên Thế Khải được cử làm tổng đốc Sơn Đông để dập tắt cuộc khởi nghĩa và nắm giữ chức vụ này trong 3 năm.
Năm 1898, Thanh Đảo và Uy Hải phân biệt được triều Thanh cấp cho Đức Quốc và Anh Quốc thuê, Uy Hải luôn chỉ là một căn cứ hải quân, còn Thanh Đảo dưới sự thống trị của Đức và sau này là Nhật đã phát triển thành một thành thị công thương nghiệp trọng yếu của miền Bắc Trung Quốc. Người Đức đã tiến hành xây dựng đường sắt Giao-Tế nối từ Thanh Đảo đến Tế Nam trong giai đoạn 1899-1904, hoàn thành xây dựng đoạn phía bắc của đường sắt Tân-Phố vào năm 1911, đưa Sơn Đông vào phạm vi thế lực của họ. Các nơi ven tuyến đường sắt Giao-Tế là Tế Nam, Duy huyện (Duy Phường), Chu Thôn đều trở thành nơi thông thương buôn bán với nước ngoài, thành thị phát triển lớn lao. Cuối thời Thanh, Nga và Nhật trở thành mối uy hiếp lớn đối với Trung Quốc, triều đình cuối cùng cũng phải mở cửa Đông Bắc cho di dân người Hán, cộng với sự khuyến khích của Trương Tác Lâm vào những năm đầu Dân Quốc, trong vòng 100 năm đã có hàng chục triệu nông dân Sơn Đông theo đường biển và đường bộ để đến Đông Bắc mưu sinh, gọi là Sấm Quan Đông, nay tổ thành một bộ phận quan trọng trong nhân khẩu vùng Đông Bắc.
=== Thời cộng hòa ===
Trong Thế chiến I, năm 1914, quân Nhật đổ bộ lên bắc bộ bán đảo Giao Đông, bao vây Thanh Đảo của Đức. Trải qua giao chiến ác liệt, quân Nhật cuối cùng cũng chiếm được Thanh Đảo. Người Đức không chỉ để mất Thanh Đảo mà còn mất ảnh hưởng của họ trên toàn Sơn Đông. Theo hòa ước Versailles, người Đức nhượng các tô giới tại Sơn Đông cho Nhật Bản thay vì phục hồi chủ quyền cho Trung Hoa Dân Quốc. Sự không hài lòng của công chúng Trung Quốc với vấn đề Sơn Đông trong Hòa ước Versailles đã dẫn đến phong trào Ngũ Tứ. Cuối cùng, theo điều đình của Hoa Kỳ trong Hội nghị Washington, Nhật Bản đã trả lại Thanh Đảo cho Trung Quốc. Đến năm 1930, thông qua đàm phán ngoại giao, Anh Quốc đã trao trả Uy Hải cho Trung Quốc.
Trong Thời kỳ quân phiệt từ năm 1916 đến 1928 trong lịch sử Trung Hoa Dân Quốc, ban đầu Sơn Đông nằm trong tay các quân phiệt Trực hệ, sau từ sau chiến tranh Trực-Phụng lần hai vào năm 1924 thì Sơn Đông rơi vào tay Phụng hệ. Tháng 4 năm 1925, Phụng hệ bổ nhiệm Trương Tông Xương, có biệt danh là "cẩu nhục tướng quân" (tức "tướng quân thịt chó") làm đốc biện Sơn Đông, ông được tạp chí Time gán cho là "quân phiệt đê tiện nhất" Trung Quốc. Trương Tông Xương cai quản Sơn Đông cho đến năm 1928, khi ông bị trục xuất trong Bắc phạt. Trong Bắc phạt, khi Quốc dân Cách mạng quân qua Tế Nam, đã xảy ra xung đột với quân Nhật, được gọi là sự kiện Tế Nam hay "thảm án Ngũ Tam".
Kế nhiệm Trương Tông Xương là Hàn Phúc Củ, người này trung thành với quân phiệt Phùng Ngọc Tường song sau đó đã hướng lòng trung thành của mình sang chính phủ Nam Kinh do Tưởng Giới Thạch đứng đầu. Hàn Phúc Củ cũng trục xuất quân phiệt Lưu Trân Niên (劉珍年), có biệt danh là "Giao Đông vương"- người cai quản đông bộ Sơn Đông, do đó thống nhất cả tỉnh dưới quyền cai quản của mình.
Năm 1937, Nhật Bản bắt đầu tiến hành xâm lược Trung Quốc bản thổ trong Chiến tranh Trung-Nhật, và sau đó trở thành một phần của Mặt trận Thái Bình Dương trong Thế chiến II. Hàn Phúc Củ giữ chức chủ tịch tỉnh Sơn Đông, phó tư lệnh chiến khu V và được giao phụ trách việc phòng thủ hạ du Hoàng Hà. Tuy nhiên, ông đã từ bỏ căn cứ Tế Nam của mình khi quân Nhật băng qua Hoàng Hà và bị hành quyết vì tội không làm theo mệnh lệnh một thời gian ngắn sau đó. Sơn Đông hoàn toàn bị quân Nhật chiếm đóng, hoạt động kháng cự vẫn tiếp tục ở nông thôn, và đây cũng là một trong các tỉnh mà tướng Yasuji Okamura thi hành "chính sách Tam quang" là "giết hết, đốt hết, cướp hết", điều này chỉ kết thúc khi Nhật Bản đầu hàng vào năm 1945.
Sau Thế chiến II, Bát lộ quân của Cộng sản đảng đã nắm trong tay đại bộ phận các khu vực của tỉnh Sơn Đông, thiết lập chính quyền cấp tỉnh ở Lâm Nghi, còn các nhân viên tiếp quản của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc ở Trùng Khánh chỉ kiểm soát được các thành phố lớn. Sau khi bùng phát Nội chiến Quốc-Cộng, quân đội chính phủ Quốc dân từng công hạ một bộ phận huyện thị. Tháng 5 năm 1947, Hoa Đông Nhân dân Giải phóng quân của Trần Nghị tại chiến dịch Mạnh Lương Cố (孟良崮) đã tiêu diệt hoàn toàn sư đoàn 74 gồm bộ đội tinh nhuệ Trung ương quân của Trương Linh Phủ (張靈甫). Ngày 24 tháng 9 năm 1948, quân của Trần Nghị công chiếm Tế Nam, chủ tịch Sơn Đông là Vương Diệu Vũ đã bị bắt làm tù binh ở Thọ Quang khi đang trên đường chạy đến Thanh Đảo. Ngày 2 tháng 6 năm 1949, sau khi quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Thanh Đảo, Giải phóng quân tiến vào đóng quân trong thành phố.
Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, năm 1950, một số phần ở tây bộ Sơn Đông gồm Hà Trạch và Liêu Thành đã bị tách ra để hợp thành tỉnh mới Bình Nguyên, song tỉnh này đã bị triệt tiêu vào năm 1952 và các khu vực này lại trở về Sơn Đông. Từ Châu và Liên Vân Cảng của Giang Tô cũng từng thuộc quyền quản lý của Sơn Đông trong giai đoạn 1949-1952. Trong Nạn đói lớn 1959-1961, Sơn Đông là một trong các tỉnh chịu thiệt hai nghiêm trọng nhất toàn quốc, đặc biệt là vùng có Hoàng Hà chảy qua ở tây bắc bộ. Từ thập niên 1980, Sơn Đông, đặc biệt là vùng duyên hải đông bộ, đã có sự phát triển to lớn về kinh tế, trở thành một trong các tỉnh giàu có nhất của Trung Quốc.
== Địa lý ==
Địa hình chủ yếu của Sơn Đông là đồng bằng. Tây bắc bộ, tây bộ, tây nam bộ của tỉnh đều là một bộ phận của bình nguyên Hoa Bắc rộng lớn. Trung bộ Sơn Đông có địa hình núi non hơn, trong đó Thái Sơn được biết đến nhiều nhất. Đông bộ Sơn Đông là bán đảo Sơn Đông nhiều đồi núi kéo dài ra đến biển; bán đảo này tách Bột Hải ở phía tây bắc với Hoàng Hải ở phía đông và nam. Đỉnh cao nhất ở Sơn Đông là đỉnh Ngọc Hoàng thuộc Thái Sơn với cao độ 1.545 mét (5.069 ft).
Hoàng Hà chảy qua tây bộ Sơn Đông, đổ ra biển ở vùng bờ biển bắc bộ Sơn Đông; đoạn sông chảy qua Sơn Đông được đắp đê hai bên, do bồi tích trong một thời gian dài nên lòng sông cao hơn các khu vực đất đai ngoài đê, ngoài ra một số vùng ở tây bộ Sơn Đông cũng thuộc lưu vực Hải Hà ở phía bắc và lưu vực Hoài Hà ở phía nam. Đại Vận Hà đi vào Sơn Đông ở phía tây bắc và tây nam. Hồ Vi Sơn (微山湖) là hồ lớn nhất Sơn Đông, với diện tích 1266 km². Chiều dài đường bờ biển của Sơn Đông là khoảng 3.000 kilômét (1.900 mi). Bán đảo Sơn Đông có một đường bờ biển nhiều đá với các vách đá, vịnh và hải đảo. Vịnh Lai Châu là vịnh cực nam trong ba vịnh lớn của Bột Hải, nằm ở phía bắc bán đảo, giữa Đông Dinh và Bồng Lai. Vịnh Giao Châu nhỏ hơn nhiều vịnh Lai Châu, nằm ở phía nam bán đảo, cạnh Thanh Đảo. Quần đảo Trường Sơn (长山列岛) kéo dài về phía bắc từ bờ biển phía bắc của bán đảo.
Sơn Đông có khí hậu ôn hòa, nằm ở vùng chuyển giao giữa khí hậu cận nhiệt đới ẩm (Cwa theo phân loại khí hậu Köppen) và khí hậu lục địa ẩm (Köppen Dwa) với bốn mùa phân biệt. Mùa hè nóng và mưa nhiều (ngoại trừ một vài khu vực ven biển), trong khi mùa đông lạnh và khô. Nhiệt độ trung bình của Sơn Đông là −5 đến 1 °C (23 đến 34 °F) vào tháng 1 và 24 đến 28 °C (75 đến 82 °F) vào tháng 7. Lượng mưa bình quân là 550 đến 950 milimét (22 đến 37 in), phần lớn là vào những tháng mùa hè, do ảnh hưởng của gió mùa.
Sơn Đông là một phần của khối phía Đông thuộc nền cổ Hoa Bắc. Bắt đầu vào Đại Trung sinh, Sơn Đông đã trải qua một quá trình mỏng hóa vỏ trái đất, một điều khác thường của một nền cổ và nó đã khiến lớp vỏ trái đất giảm từ 200 km xuống còn 80 km. Sơn Đông do đó đã từng chịu các ảnh hưởng kéo dài của núi lửa trong Phân đại Đệ tam. Một số thành hệ địa chất tại Sơn Đông có nhiều hóa thạch. Ví dụ như tại Chư Thành ở đông nam bộ Sơn Đông, người ta đã phát hiện ra nhiều hóa thạch khủng long. Một phát hiện lớn đã tìm được 7.600 xương khủng long, bao gồm hài cốt của tyrannosaurus và ankylosaurus, được công bố vào năm 2008, và được cho là bộ sưu tập lớn nhất từng được phát hiện.
== Các đơn vị hành chính ==
Sơn Đông được chia thành 17 đơn vị hành chính cấp địa khu, và tất cả đều là thành phố thuộc tỉnh (địa cấp thị):
Các đơn vị hành chính cấp địa khu trên đây được chia thành 140 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 49 quận (thị hạt khu), 31 thị xã (huyện cấp thị) và 108 huyện. Các đơn vị hành chính cấp huyện này lại được nhỏ thành 1941 đơn vị hành chính cấp hương, gồm 1223 thị trấn (trấn), 293 hương, 2 hương dân tộc, và 423 phường (nhai đạo).
== Các trường đại học ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Map of Shandong
Shantung Question
Shandong Association WA (SAWA) |
kon tum (thành phố).txt | Thành phố Kon Tum là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Kon Tum, nằm ở vùng địa hình lòng chảo phía nam của tỉnh này. Nơi này từ xưa đã là địa bàn cư trú của người Ba Na bản địa, dẫn đến tên gọi Kon Tum, nghĩa là "Làng Hồ" theo tiếng người Ba Na. Do nằm ở vị trí đặc biệt, đất đai bằng phẳng và màu mỡ được sông Đắk Bla bồi đắp, và cũng do nhiều yếu tố lịch sử mà vùng đất này dần trở thành nơi định cư của nhiều dân tộc khác nhau, trong đó có người Kinh đến từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Trong những năm 1841-1850, người Pháp trên hành trình lên cao nguyên truyền đạo đã đặt cơ sở Thiên chúa giáo đầu tiên tại đây. Đến năm 1893, chính quyền thực dân Pháp lập Tòa đại lý hành chính Kon Tum do viên linh mục Vialleton cai quản và kể từ đó tên gọi Kon Tum chính thức được sử dụng, đơn vị hành chính cấp tỉnh được thành lập sau đó cũng mang tên gọi này. Kon Tum từ một vùng đất hoang vắng, người thưa thớt trở thành nơi tập trung dân cư, thương mại và hành chính xuyên suốt chiều dài lịch sử của tỉnh Kon Tum. Sau hơn một trăm năm phát triển và đã trải qua không ít khó khăn, Kon Tum hiện đang là đô thị loại III và được công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh.
== Lịch sử ==
=== Thời kì đầu ===
=== Người Kinh đến định cư, lập nghiệp ===
Cuối đời vua Thiệu Trị, rồi kế đến là vua Tự Đức lên ngôi (1847) nhà Nguyễn ra sắc chỉ "Bình Tây Sát Tả" bố ráp đạo Thiên Chúa. Các nhà truyền giáo người Pháp phải chạy đến Bình Định để trốn tránh sự kiểm soát gắt gao của triều Nguyễn, việc truyền giáo trở nên khó khăn. Đứng trước tình thế đó, Đức Giám mục địa phận Qui Nhơn là Stéphan Cue'not đã cử nhiều thừa sai tìm đường lên vùng cao nguyên (lúc đó còn là rừng núi hoang sơ rậm rạp có rất nhiều thú dữ và chưa có sự kiểm soát của nhà Nguyễn) để lánh nạn và đồng thời tiếp tục truyền đạo nhưng đa số là thất bại.
Đến tháng 4 năm 1848, một linh mục người Việt là Nguyễn Do đã tìm ra con đường đi qua trạm Gò ở phía Bắc An Khê để tránh con đường độc đạo qua An Sơn (An Khê) luôn bị quân triều đình nhà Nguyễn canh giữ nghiêm ngặt. Trong vai một người lái buôn, sau đó ông xin làm người giúp việc cho một người lái buôn khác, nhờ vậy ông phát hiện ra được vùng đất Kon Tum. Năm 1850, Nguyễn Do dẫn một phái đoàn gồm có linh mục Hoàng (Fontaine), Phêrô (P.Combe) và bảy linh mục khác cùng một số học trò người Kinh lên Kon Tum. Đến đây, họ bỏ tiền để chuộc một số người Kinh (phần lớn là người Quảng Nam, Quảng Ngãi) là nạn nhân của các cuộc đánh cướp nô lệ đang sống trong các làng người Xê Đăng, rồi chiêu mộ người Kinh theo đạo Thiên Chúa ở đồng bằng muốn tránh sự truy nã của triều đình, để thành lập những làng người Kinh tại đây.
Lớp người đầu tiên này thấy nơi xứ lạ, đất đai phì nhiêu dễ bề sinh nhai nên họ đã liên lạc với người thân ở đồng bằng (Bình Định, Quảng Ngãi) đưa lên lập nghiệp, rồi dần người đông đúc họ lập nên làng người Kinh đầu tiên ở Gò Mít, lấy tên là làng Trại Lý vào năm 1874, sau đổi thành làng Tân Hương, buổi đầu chỉ có 15 hộ và 100 khẩu.
Cho đến năm 1883 ở Kon Tum có 4 làng họ đạo Thiên Chúa giáo và một cộng đồng khoảng 1.500 người Kinh sống cạnh người Ba Na và Rơ Ngao phần lớn quê ở Bình Định, Quảng Ngãi.
Cuộc chuyển cư đông nhất lần hai của người Kinh lên Kon Tum gắn liền với việc mở mang khai thác kinh tế đồn điền cà phê, cao su, lâm thổ sản của người Pháp trong những năm đầu thế kỷ XX.
Đến năm 1933, khu vực xung quanh thành phố Kon Tum ngày nay có 10 làng người Kinh, trong đó có 8 làng theo đạo Thiên Chúa giáo: làng Tân Hương (1874), làng Phương Nghĩa (1882), làng Phương Quý (1887), làng Phương Hòa (1892), làng Phụng Sơn (1924), làng Ngô Thạnh (1925), làng Ngô Trang (1925), và 2 làng không theo đạo: Làng Trung Lương (1914) và làng Lương Khế (1911).
=== Sau năm 1975 ===
Sau năm 1975, thị xã Kon Tum thuộc tỉnh Gia Lai - Kon Tum gồm 4 phường: Quang Trung, Quyết Thắng, Thắng Lợi, Thống Nhất và 11 xã: Đắk Blà, Đắk Cấm, Đắk La, Đắk Uy, Đoàn Kết, Hòa Bình, Ia Chim, Ia Ly, K'roong, Ngọk Bay, Vinh Quang.
Ngày 10 tháng 10 năm 1978, chia Ia Ly thành 2 xã: xã Ia Ly thuộc Gia Lai, phía Nam sông Sê San và phía Bắc là xã Ia Ly thuộc Kon Tum được chuyển về huyện Sa Thầy quản lý. Ngày 17 tháng 8 năm 1981, chia xã Đoàn Kết thành 2 xã: Đoàn Kết và Chư H'reng; chia xã Đắk Cấm thành 2 xã: Đắk Cấm và Ngọk Réo. Ngày 1 tháng 2 năm 1985, chia xã Đắk La thành 2 xã: Đắk La và Hà Mòn. Đầu năm 1991, thị xã Kon Tum có 4 phường: Quang Trung, Quyết Thắng, Thắng Lợi, Thống Nhất và 13 xã: Chư H'reng, Đắk Blà, Đắk Cấm, Đắk La, Đắk Uy, Đoàn Kết, Hà Mòn, Hòa Bình, Ia Chim, K'roong, Ngọk Bay, Ngọk Réo, Vinh Quang.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tái lập tỉnh Kon Tum từ tỉnh Gia Lai - Kon Tum, thị xã Kon Tum trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Kon Tum.
Ngày 24 tháng 3 năm 1994, tách 4 xã: Đắk La, Hà Mòn, Đắk Uy, Ngọk Réo để thành lập huyện Đắk Hà. Ngày 22 tháng 11 năm 1996, chia xã Chư H'reng thành 2 xã: Chư H'reng và Đắk Rơ Wa.
Ngày 3 tháng 9 năm 1998, thành lập phường Lê Lợi; chia phường Quang Trung thành 2 phường: Quang Trung và Duy Tân. Ngày 8 tháng 1 năm 2004, chia xã Hòa Bình thành xã Hòa Bình và phường Trần Hưng Đạo; chia xã Vinh Quang thành xã Vinh Quang và phường Ngô Mây; chia xã Đoàn Kết thành xã Đoàn Kết và phường Nguyễn Trãi; thành lập phường Trường Chinh.
Ngày 7 tháng 10 năm 2005, thị xã Kon Tum được công nhận là đô thị loại 3.
Ngày 9 tháng 6 năm 2008, chia xã Ia Chim thành 2 xã: Ia Chim và Đắk Năng.
Ngày 10 tháng 12 năm 2008, Hội đồng Nhân dân Tỉnh đã thông qua đề án thành lập thành phố Kon Tum trên cơ sở diện tích và dân số hiện tại của thị xã Kon Tum. Ngày 13 tháng 9 năm 2009, thị xã Kon Tum chính thức trở thành thành phố Kon Tum..
Năm 2013, điều chỉnh mở rộng địa giới hành chính phường Ngô Mây trên cơ sở 1.098,43 ha diện tích tự nhiên và 1.628 nhân khẩu của xã Vinh Quang .
== Địa lý ==
Thành phố Kon Tum nằm ở phía nam tỉnh Kon Tum, được uốn quanh bởi thung lũng sông Đăk Bla - vùng đất thấp nhất của tỉnh Kon Tum. Phía tây thành phố giáp huyện Sa Thầy, phía bắc giáp huyện Đắk Hà, phía đông giáp huyện Kon Rẫy và phía nam giáp tỉnh Gia Lai. Thành phố có diện tích tự nhiên 43.298,15ha.
== Dân cư ==
Thành phố có 155.214 người (năm 2013) gồm 20 dân tộc cùng sinh sống.
== Giao thông ==
=== Đường bộ ===
Thành phố có trục huyết mạch kết nối vùng miền là Quốc lộ 14 (đường Phan Đình Phùng) đi các tỉnh Bắc - Nam, và quốc lộ 24 (đường Duy Tân) đi tỉnh Quảng Ngãi cũng như duyên hải Nam Trung Bộ. Ngoài ra, thành phố còn có tỉnh lộ đường 675 (đường Nguyễn Hữu Thọ) kết nối huyện Sa Thầy, đường 671 đi xã Đăk Cấm và huyện Đắk Hà. Các tuyến đường chính nội thị là Phan Đình Phùng, Duy Tân, Nguyễn Huệ, Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Bà Triệu, Trường Chinh, Đào Duy Từ và Trần Văn Hai.
=== Đường hàng không ===
Thành phố từng có sân bay quân sự nằm ở trung tâm, đã chính thức dừng hoạt động vào năm 1975. Theo quy hoạch được ban hành năm 2011 của Bộ Giao thông vận tải, một sân bay mới dùng chung quân sự - dân sự sẽ sớm được xây dựng ở xã Ngọc Bay, phía tây thành phố. Hiện tại, sân bay Pleiku cách trung tâm thành phố khoảng 43 km là sân bay gần nhất, đáp ứng được nhu cầu di chuyển tới các thành phố lớn trong nước.
== Hành chính ==
Thành phố có 21 đơn vị hành chính gồm 10 phường: Duy Tân, Lê Lợi, Ngô Mây, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Quyết Thắng, Thắng Lợi, Thống Nhất, Trần Hưng Đạo, Trường Chinh và 11 xã: Chư Hreng, Đắk Blà, Đắk Cấm, Đắk Năng, Đắk Rơ Wa, Đoàn Kết, Hòa Bình, Ia Chim, Kroong, Ngọk Bay, Vinh Quang.
== Di tích, thắng cảnh ==
Nhà thờ chính tòa Kon Tum (Nhà thờ gỗ) với lối kiến trúc Roman kết hợp với kiến trúc nhà sàn của người Ba Na. Nhà thờ do các cố linh mục người Pháp cho xây dựng vào năm 1913.
Tòa Giám mục Kon Tum (Tiểu Chủng viện Thừa sai) có lối kiến trúc pha trộn giữa bản địa và phương Tây một cách hài hòa, được xây dựng trong giai đoạn 1935-1938.
Chùa Bác Ái được xây dựng vào năm 1932, được vua Bảo Đại ban tấm biển “Sắc tứ Bác Ái Tự” vào năm 1933.
Khu di tích lịch sử cách mạng Ngục Kon Tum. Nơi này từng là quần thể khu nhà lao giam giữ những người Cộng sản thời thực dân Pháp. Khu di tích nằm bên bờ sông Đăk Bla, bao gồm nhà truyền thống trưng bày hiện vật, nhà đón tiếp, cụm tượng đài và ngôi mộ tập thể của các liệt sĩ. Nhà lao được xây dựng trong khoảng từ 1915-1917, tuy quy mô không lớn nhưng lại khét tiếng tàn bạo trong thời kỳ 1930-1931. Tại nhà tù này, ngày 25-9-1930, Ngô Đức Đệ đã triệu tập một cuộc họp bí mật tại phòng biệt giam của mình, tuyên bố thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Kon Tum.
Một số nhà rông của người Ba Na nằm rải rác ở vùng ven thành phố.
Cầu treo Konklor bắc qua sông Đăk Bla.
Cầu Đắk Bla bắc qua sông Đắk Bla.
Hồ thủy điện Yali.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
rudyard kipling.txt | Joseph Rudyard Kipling (30 tháng 12 năm 1865 – 18 tháng 1 năm 1936) là nhà văn, nhà thơ Anh đoạt giải Nobel Văn học năm 1907.
== Tiểu sử ==
Rudyard Kipling sinh tại Mumbai, Ấn Độ. Cha là một chuyên gia Anh về lịch sử nghệ thuật Ấn Độ, giám đốc trường nghệ thuật Mumbai, mẹ là con một gia đình danh giá ở London, cả ông nội và ông ngoại đều là linh mục. Lên sáu tuổi, cậu bé Kipling được gửi sang Anh cho một gia đình theo đạo Calvin chăm sóc. Trong thời gian ở Anh, Kipling đã học tại các trường United Service College, Westward Ho, Bideford. Năm 1882 ông trở về Ấn Độ, viết một số truyện ngắn và làm trợ lý Tổng biên tập cho tờ báo Civil and Military Gazette ở Lahore.
Chàng thanh niên đã khiến xã hội sở tại kinh ngạc bởi những ý kiến sắc sảo trước các vấn đề xã hội và kiến thức về đất nước Ấn Độ. Những chuyến đi hàng năm tới thành phố Shimla trong vùng Hymalaya là nguồn gốc dẫn đến sự ra đời nhiều tác phẩm của nhà văn. Năm 1892 ông sang Mỹ và kết hôn với em gái chủ xuất bản người Mỹ Wolcott Balestier, người viết chung cùng Kipling cuốn tiểu thuyết Naulahka (1892). Năm 1896 họ trở về Anh. Theo lời khuyên của bác sĩ, mùa đông nhà văn sang Nam Phi. Trong Chiến tranh Boer (1899-1902) ông làm phóng viên mặt trận.
Trên đỉnh cao vinh quang và tiền bạc, Ruđyar Kipling tránh công chúng, bỏ qua những phê bình thù nghịch, từ chối nhiều danh hiệu. Năm 1901 ông xuất bản tiểu thuyết Kim như một lời chào giã từ gửi đến đất nước Ấn Độ. Năm 1902 ông lui về sống tại một làng quê hẻo lánh ở Sussex (Anh) cho đến cuối đời.
Năm 1907 Kipling được trao giải Nobel khi mới 42 tuổi – là người trẻ tuổi nhất trong lịch sử giải Nobel Văn học. Ông được trao giải Nobel Văn học khi đã có trong tay 20 tập sách (trong đó có 4 tiểu thuyết, hàng trăm bài thơ, nhiều tập ký, bài báo...). Kipling đến Stockholm nhưng không đọc diễn văn nhận giải.
Ngoài giải Nobel, Kipling được nhận bằng danh dự và phần thưởng của nhiều trường đại học danh tiếng như Đại học Oxford, Đại học Cambridge, Đại học Edinburgh, Đại học Paris, Đại học Athens, Đại học Toronto..., giải Huy chương Vàng Văn học Hoàng gia Anh. Kipling mất tại London.
== Thơ văn ==
Thơ, văn của Kipling phản ánh cuộc sống người lính và nghĩa vụ của họ đối với Đế quốc Anh. Rudyard Kipling nổi tiếng với khả năng quan sát, trí tưởng tượng rực rỡ, độ chín muồi tư tưởng và tài năng thuật truyện xuất sắc. Những tác phẩm được biết đến nhiều nhất của ông có The Jungle Book (Sách rừng) - thấm sâu tư tưởng về sự sống khởi nguyên có tầng bậc giá trị rõ ràng và hết sức đơn giản mà nền văn minh không chạm đến được; và Kim - được coi là cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Anh hay nhất về Ấn Độ và là một trong những tiểu thuyết Anh hay nhất nói chung. Nhân vật chính do dự giữa những giá trị văn hóa Đông – Tây và cuối cùng đã chọn phương Tây nhưng vẫn canh cánh bên lòng một nỗi buồn nhớ phương Đông.
== Về bài thơ Nếu (If) ==
Những bài thơ nổi tiếng nhất của Kipling như: Ballad of East and West (Bài thơ Đông – Tây), Tommy, If (Nếu), Mandalay đã được dịch ra tiếng Việt và in trong quyển Những nhà giải thơ Nobel, Hà Nội, 2006.
Cuối thế kỷ 20, đài BBC đã đề nghị thính giả chọn những bài thơ hay nhất của các nhà thơ Anh. Có hàng nghìn người tham gia và kết quả là bài thơ If được chọn nhiều nhất, mở đầu cho tập Những bài thơ hay nhất của nước Anh. Nhà văn Anh Richard Aldington, trong tiểu thuyết nổi tiếng Death of a Hero (Cái chết của một anh hùng, 1929) viết về một "thế hệ mất mát" trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, đã trích dẫn Kipling để ca ngợi tính cứng rắn của người lính ngoài mặt trận, ca ngợi những ai biết chém giết mà không hề run sợ, và chỉ khi đó "... con trai, con là một Con người!" Nhà đạo diễn người Anh Lindsay Anderson cũng đã dùng tên bài thơ để đặt tên cho một bộ phim nổi tiếng If, giải thưởng Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes, chứng minh rằng sự giáo dục theo những chuẩn mực của Kipling đôi khi cho kết quả ngược lại...
Đấy chỉ là hai ví dụ tiêu biểu nhất trong văn chương và điện ảnh thế giới cho thấy bài thơ mới đọc qua có vẻ tất cả đều rõ ràng, thực ra vẫn ẩn giấu bên trong những ý nghĩa sâu xa mà một vài bản dịch chưa thể nào lột tả hết được… Ban đọc có thể xem chi tiết về bài thơ này ở mục từ Nếu...
Dù sao, dù người đời có trích dẫn theo nhiều vẻ khác nhau càng cho thấy một điều là bài thơ này có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội phương Tây và đã trở thành bất tử. Cuối cùng xin dành một đôi dòng về đối tượng của bài thơ này – con trai của Kipling chết năm 1915 ở mặt trận nước Pháp. Cú sốc này Kipling đã không thể hồi phục cho đến hết đời.
== Tác phẩm ==
Departmental Ditties (Những bài ca ở bộ, 1886), thơ
Plain Tales from the Hills (Truyện kể núi đồi, 1887)
Soldiers Three (Ba người lính, 1888), tập truyện ngắn
The Ballad of East and West (Bài thơ Đông - Tây, 1889), thơ
The Light that Failed (Ánh sáng đã tắt, 1890), tiểu thuyết
The Naulahka - A story of West and East (1892), tiểu thuyết
Barrack-Room Ballads (Những khúc ballad về trại lính, 1892), thơ
Many Inventions (Vô số điều bịa đặt, 1893), tập truyện ngắn
The Jungle Book (Sách Rừng xanh, 1894), tập truyện
The Second Jungle Book (Sách rừng thứ hai, 1895), tập truyện
The Seven Seas (Bảy biển, 1896), thơ
Captains Courageous (Những người đi biển quả cảm, 1897)
The Day's Work (Công việc của ngày, 1898), tập truyện ngắn
The White Man's Burden (Gánh nặng người da trắng, 1899), thơ
Kim (1901), tiểu thuyết
The Five Nations (Năm dân tộc, 1903), thơ
Traffics and Discoveries (Những lối đường và các khám phá, 1904), tập truyện ngắn
Puck of Pook's Hill (Quả bóng từ đồi Pook, 1906), tập truyện ngắn
Actions and Reactions (Hành động và phản ứng, 1909), tập truyện ngắn
Rewards and Fairies (Phần thưởng và các nàng tiên, 1910), tập truyện ngắn
If (Nếu, 1910), thơ
Debits and Credits (Chi và thu, 1926), tập truyện ngắn
Limits and Renewals (Những giới hạn và gia hạn, 1932), tập truyện ngắn
== Một số bài thơ ==
== Xem thêm ==
Bài thơ Đông – Tây
Mandalay (bài thơ)
Nếu
== Tham khảo ==
Nhà thơ giải Nobel 1900 - 2006. Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2006.
== Liên kết ngoài ==
Works
The Works of Rudyard Kipling at The University of Adelaide
Các tác phẩm của Rudyard Kipling tại Dự án Gutenberg, HTML online, text download.
Works by Rudyard Kipling at Archive.org, scanned books viewable online or PDF download.
Các công trình liên quan hoặc của Rudyard Kipling trên các thư viện của thư mục (WorldCat)
KIM free mp3 recording from LibriVox.org.
450 Poems by Rudyard Kipling HTML format, indexed
Works by Rudyard Kipling, HTML online.
Works by Rudyard Kipling (not public domain in USA, so not available on Wikisource)
Many works by Rudyard Kipling available at ReadmeFree
Resources
[1]
Kipling reads 7 lines from his poem France (audio).
Something of Myself, Kipling's autobiography
The Kipling Society website
Rudyard Kipling tại Dự án Gutenberg, by John Palmer, 1915 biography
The Rudyard Kipling Collection maintained by Marlboro College.
Rudyard Kipling: The Books I Leave Behind exhibition, related podcast, and digital images maintained by the Beinecke Rare Book & Manuscript Library, Yale University |
nursultan nazarbayev.txt | Nursultan Abishevich Nazarbayev (sinh ngày 06 tháng 7 năm 1940) là tổng thống Kazakstan. Tổng thống Nursultan Nazarbayev cũng là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và có quyền phủ quyết luật. Ông đã làm tổng thống Kazakhstan từ khi quốc gia này độc lập vào năm 1991, sau sự sụp đổ của Liên Xô. Trong tháng 4 năm 2011, tổng thống Nazarbayev tái đắc cử một nhiệm kỳ năm năm nhận được 95,54% số phiếu bầu với 89,9% cử tri đăng ký tham gia (tăng từ 76,8% trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2005).
Năm 1984, Nazarbayev đã trở thành Chủ tịch của Hội đồng Bộ trưởng, làm việc dưới quyền Dinmukhamed Kunayev, Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Kazakhstan. Ông là Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Kazakhstan 1989-1991. Nazarbayev chỉ trích Askar Kunayev, người đứng đầu của Viện hàn lâm tại kỳ họp thứ 16 của Đảng Cộng sản Kazakhstan tháng 1 năm 1986 không cải cách cơ quan của ông. Dinmukhamed Kunayev, sếp của Nazarbayev và anh trai của Askar, cảm thấy tức giận sâu sắc và bị phản bội. Kunayev đã đến Moskva và yêu cầu sa thải Nazarbayev trong khi những người ủng hộ Nazarbayev thì vận động để miễn nhiệm Kunayev và thăng chức cho Nazarbayev. Mikhail Gorbachev chấp nhận việc từ chức của Kunayev, thay thế ông bằng Gennady Kolbin, một người Nga, gây ra ba bạo loạn được biết đến như Jeltoqsan.
Nazarbayev thay thế Kolbin, mặc dù chức vụ của ông có ít quyền ở Kazakhstan, vào ngày 22 tháng 6 năm 1989. Ông là Chủ tịch Xô Viết tối cao (đứng đầu nhà nước) từ ngày 22 tháng 2, ngày 24 tháng 4 năm 1990. Nazarbayev được bầu làm chủ tịch của Xô viết tối cao Kazakhstan ngày 24 tháng 4.
== Tham khảo == |
tiếng trung quốc.txt | Tiếng Trung (tiếng Trung: 中文; bính âm: Zhōngwén; Hán-Việt: Trung văn), tiếng Hán (giản thể: 汉语; phồn thể: 漢語; bính âm: Hànyǔ; Hán-Việt: Hán ngữ) hay tiếng Hoa (giản thể: 华语; phồn thể: 華語; bính âm: Huáyǔ; Hán-Việt: Hoa ngữ) là một ngôn ngữ hay họ ngôn ngữ gồm các ngôn ngữ thanh điệu thuộc hệ ngôn ngữ Hán-Tạng. Chữ viết Trung Quốc là một hệ chữ tượng hình.
Mặc dù thường được coi là ngôn ngữ duy nhất với lý do văn hoá, trên thực tế mức độ đa dạng giữa các vùng khác nhau có thể sánh với sự đa dạng của các ngôn ngữ Rôman.
Tuy vậy, tất cả mọi người nói các thứ tiếng Trung Quốc khác nhau đều dùng chung một dạng văn viết thống nhất có từ đầu thế kỷ 20 là bạch thoại (nghĩa là thứ tiếng bình dân dựa trên tiếng Quan Thoại) dùng gần như cùng một bộ chữ Trung Quốc.
Khoảng một phần năm dân số thế giới hiện nay dùng một trong những thứ Tiếng Trung Quốc làm tiếng mẹ đẻ, khiến nó trở thành thứ tiếng đứng đầu thế giới về phương diện này.
Tiếng Trung Quốc nói ở thể Quan Thoại chuẩn là ngôn ngữ chính thức của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa dân quốc tại Đài Loan, cũng như là một trong bốn ngôn ngữ chính thức của Singapore, và là một trong sáu ngôn ngữ làm việc chính thức của Liên Hiệp Quốc.
Tiếng Trung Quốc nói ở thể Quảng Đông chuẩn thì là một trong những ngôn ngữ chính thức của Hồng Kông (cùng với tiếng Anh) và của Ma Cao (cùng với tiếng Bồ Đào Nha).
Thuật ngữ và khái niệm và người Trung Quốc sử dụng để phân biệt văn nói và văn viết không giống với phương Tây do những sự khác biệt về phát triển chính trị và xã hội ở Trung Quốc so với châu Âu. Mặc dù châu Âu phân chia thành nhiều nhà nước-quốc gia dựa trên khác biệt về ngôn ngữ sau khi Đế quốc La Mã sụp đổ, Trung Quốc vẫn giữ được thống nhất về văn hoá và chính trị vào cùng thời kỳ đó và duy trì được thứ ngôn ngữ viết chung trong suốt thời kỳ lịch sử của nó dù trên thực tế sự đa dạng trong ngôn ngữ nói của Trung Quốc có thể sánh như châu Âu. Do đó, người Trung Quốc phân biệt rõ giữa "văn viết" (tiếng Trung: 文; bính âm: wén; Hán-Việt: văn) và "văn nói" (giản thể: 语; phồn thể: 語; bính âm: yǔ; Hán-Việt: ngữ). Như vậy, quan niệm về sự thống nhất và khác biệt giữa văn viết và các dạng văn nói ở phương Tây rõ rệt hơn là ở Trung Quốc.
== Các dạng khác nhau ==
Bản đồ thể hiện những dạng khác nhau của tiếng Trung Quốc ("các ngôn ngữ" hoặc "nhóm phương ngữ").
Các phân loại tranh cãi:
== Ảnh hưởng đối với các ngôn ngữ khác ==
Tại Trung Quốc, Quan thoại được sử dụng nhiều nhất. Ngoài ra, còn có tiếng Quảng Đông được sử dụng tại tỉnh Quảng Đông, đặc khu Hồng Kông; tiếng Ngô sử dụng tại tỉnh Chiết Giang; tiếng Mân tại tỉnh Phúc Kiến v.v., đây là những phương ngôn (tiếng địa phương).
Về mặt chữ viết thì chỉ có một loại chữ duy nhất đó là chữ Hán.
Về mặt phát âm những phương ngôn này có nhiều từ ngữ phát âm giống tiếng Quan Thoại hoàn toàn, một số chỉ đọc hơi giống và cũng có những từ phát âm khác xa Quan thoại. Các phương ngôn trên có cách phát âm đa dạng hơn Quan thoại do đó từ đồng âm trong những phương ngôn này cũng ít hơn.
Tiếng Việt có từ Hán Việt, trong tiếng Triều Tiên thì có từ Hán Triều (한자 - 漢字 - "Hán tự") và tiếng Nhật có từ Hán Hòa (かんじ - 漢字 - Hán tự). Tất cả những từ này đều có cách phát âm giống 50%-100% tiếng Quan Thoại hoặc các phương ngôn khác. Ví dụ từ "thủy" phát âm (nguyên âm) giống tiếng Quan Thoại, từ "trúc" lại phát âm (cả từ) giống tiếng Quảng Đông.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Chữ số Trung Quốc
== Liên kết ngoài ==
Hán Việt Tự Điển THIỀU CHỬU
Từ điển Hán Việt trên VDict
Từ điển Giản/Hán Việt |
dana air.txt | Dana Air là một hãng hàng không đóng trụ sở tại Ikeja, bang Lagos, Nigeria.
== Điểm đến ==
Nigeria
Abuja (Sân bay quốc tế Nnamdi Azikiwe)
Calabar (Sân bay quốc tế Margaret Ekpo)
Lagos (Sân bay quốc tế Murtala Muhammed)
Port Harcourt (Sân bay quốc tế Port Harcourt)
Uyo (Sân bay Akwa Ibom)
== Đội máy bay ==
Đội máy bay của Dana Air có các máy bay sau:
4 McDonnell Douglas MD-83
== Tai nạn và sự cố ==
Ngày 3 tháng 6 năm 2012, một chiếc máy bay thương mại McDonnell Douglas MD-83 vận hành bởi DANA Air theo chuyến bay 992 đã rơi vào một tòa nhà hai tầng ở đường ray Iju, Ishaga ở thành phố lớn nhất Nigeria Lagos. Máy bay có 153 hành khách vào thời điểm bị nạn. No one on board survived.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Dana Air
Dana Air Fleet
Bản mẫu:Hãng hàng không Nigeria |
sự tiến hóa lãnh thổ của hoa kỳ.txt | Đây là danh sách liệt kê về Sự tiến hóa biên cương của Hoa Kỳ. Danh sách này liệt kê mọi sự thay đổi về biên cương của Hoa Kỳ cũng như sự thay đổi về tên và tình trạng chính trị. Danh sách này cũng biểu thị các khu vực xung quanh mà sau đó dần dần trở thành một phần lãnh thổ của Hoa Kỳ. Mỗi giai đoạn có một bản đồ để biểu thị những thành phần chi tiết nào hình thành nên Hoa Kỳ trong một thời gian nhất định nào đó.
Sau khi giành được độc lập bằng Hiệp định Paris năm 1783, Hoa Kỳ bành trướng lãnh thổ của mình về phía tây, mở rộng biên cương 7 lần trong đó có 2 lần điều chỉnh biên cương lớn, 1 lần với các thuộc địa của Vương quốc Anh, 1 lần với các thuộc địa của Tây Ban Nha và một số tranh chấp nhỏ. 13 thuộc địa ban đầu phát triển thành 50 tiểu bang, đa số các tiểu bang khởi nguồn từ các lãnh thổ hợp nhất. Mô hình tổng quát được thấy trong danh sách này là từ sự mở rộng lãnh thổ, lập ra các lãnh tổ có tổ chức từ những vùng đất mới thu được, chiếm được, hay mua được, điều chỉnh ranh giới của các lãnh thổ này, và sau đó cho phép chúng gia nhập liên bang để trở thành tiểu bang. Chỉ có hai tiểu bang là Nevada và Missouri phát triển đáng kể sau khi trở thành tiểu bang. Năm tiểu bang là Georgia, Massachusetts, Bắc Carolina, Texas, và Virginia mất đất của mình để tạo ra các tiểu bang mới.
== Ghi chú ==
Bài viết này không bao gồm các lãnh thổ chưa hợp nhất và các quốc gia nằm trong Hiệp ước liên kết tự do. Sự khác biệt cơ bản giữa các lãnh thổ "hợp nhất" (sáp nhập vào Hoa Kỳ) và "chưa hợp nhất" là các lãnh thổ hợp nhất được xem là vĩnh viễn nằm dưới quyền pháp lý của Hiến pháp Hoa Kỳ trong khi đó các lãnh thổ chưa hợp nhất có thể trở thành độc lập. Các lãnh thổ chưa hợp nhất là:
Các quốc gia liên kết tự do: Quần đảo Marshall, Liên bang Micronesia, Palau.
Các lãnh thổ chưa hợp nhất, có tổ chức: Guam, Quần đảo Virgin thuộc Mỹ.
Các thịnh vương chung, một hình thức lãnh thổ chưa hợp nhất nhưng có tổ chức: Quần đảo Bắc Mariana, Puerto Rico (thuật từ này khác ý nghĩa với thịnh vượng chung mà một số tiểu bang Hoa Kỳ sử dụng.)
Samoa thuộc Mỹ chưa được tổ chức nhưng có một hiến pháp và chính quyền tự trị vì thế nó hoạt động rất giống như một lãnh thổ có tổ chức.
Các tiểu đảo xa của Hoa Kỳ là những hải đảo không có cư dân sinh sống, chưa được tổ chức và chưa hợp nhất (trừ Đảo Palmyra là lãnh thổ hợp nhất nhưng chưa được tổ chức).
Các cựu lãnh thổ chưa hợp nhất là Quần đảo Line, Vùng kênh đào Panama, Thịnh vượng chung Philippines, và Quần đảo Phoenix.
Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương, một lãnh thổ ủy thác của Liên Hiệp Quốc được trao cho Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó đã bị giải thể và trở thành Quần đảo Marshall, Liên bang Micronesia, Quần đảo Bắc Mariana, và Palau.
Vô số các lãnh thổ chưa hợp nhất khác mà Hoa Kỳ đã tuyên bố dựa theo Đạo luật đảo phân chim.
"Lãnh thổ chưa tổ chức" không phải là một cái tên; nó đơn giản có nghĩa là Quốc hội Hoa Kỳ chưa thông qua một đạo luật tổ chức cho lãnh thổ đó. Trong đa số trường hợp, mục đích của lãnh thổ chưa tổ chức là để dành đất lập khu định cư cho người bản thổ Mỹ. Sau đó, lãnh thổ chưa tổ chức cuối cùng trong Hoa Kỳ thật sự được gọi là "Lãnh thổ người bản thổ Mỹ" tuy đấy không phải là tên chính thức. Những lãnh thổ cuối cùng mà Hoa Kỳ mua được, chiếm được là Alaska, Hawaii, và Nhượng địa Mexico, bắt đầu là những lãnh thổ chưa tổ chức nhưng những vùng đất này không phải là để dành riêng cho người bản thổ Mỹ nhưng đơn giản là vì chúng chưa được tổ chức. Đảo Palmyra là lãnh thổ hợp nhất nhưng chưa tổ chức duy nhất còn lại của Hoa Kỳ.
Những đường chấm trên biên giới có nghĩa rằng vùng đó là một phần đất của một quốc gia không được biểu thị hoàn toàn trên bản đồ vì nó nằm trọn bên trong biên giới hiện tại của Hoa Kỳ. Một ngoại lệ là Xứ Oregon, vùng đất hiện nay có một phần thuộc Canada, mở rộng ra bên ngoài khu vực bản đồ.
Có một số tranh chấp lãnh thổ xa xưa trong lịch sử Hoa Kỳ không được rõ ràng. Thí dụ như, ranh giới giữa Tây Florida và Đông Florida dường như không rõ ràng. Vì mục đích đơn giản hóa, bài viết này sử dụng ranh giới ban đầu là Sông Apalachicola mặc dù các bản đồ sau đó có chiều hướng di dời biên giới về phía tây đến Sông Perdido. Điều này một phần có lẽ vì Đạo luật Tổ chức cho Florida có ghi chi tiết rằng ranh giới bao gồm những phần đất của cả Tây và Đông Florida; nếu ranh giới là Sông Perdido thì Lãnh thổ Florida sẽ gồm có bất cứ phần đất nào của Tây Florida mà đã được chia cho Louisiana, Mississippi, và Alabama.
Một vài sự thay đổi rất nhỏ cũng được ghi trong danh sách này nhưng không có trong các bản đồ.
Vụ chuyển đổi thêm 2 quận nữa từ Virginia sang Tây Virginia vào cuối Nội chiến Hoa Kỳ.
Tranh chấp biên giới Alaska xảy ra vì hoàn toàn thiếu khảo sát hơn là một cuộc tranh chấp về các đường ranh giới đã được khảo sát; sự tranh chấp này cũng xuất hiện một ít trên bản đồ.
Khi Lãnh thổ Dakota được thành lập, nó cũng gồm có phần đất ở phía nam vĩ tuyến 43° N và phía bắc sông Keya Paha và sông Niobrara. Phần đất này được chuyển cho tiểu bang Nebraska ngày 28 tháng 3 năm 1882.
Có 2 lần điều chỉnh nhỏ đối với Lãnh thổ Indiana.
Vô số các cuộc tranh chấp dọc theo biên giới Rio Grande với México.
Việc thông qua Hiến pháp Hoa Kỳ, sự kiện thành lập liên minh miền Nam Hoa Kỳ và tái thiết sau nội chiến được đơn giản hóa để làm cho bản đồ đơn giản hơn.
== Thế kỷ 18 ==
Ngày 4 tháng 3, 1789
Hiến pháp Hoa Kỳ trở nên có hiệu lực thành lập quốc gia mới. Chú ý rằng các tiểu bang thông qua Hiến pháp vào những thời điểm khác nhau nhưng để đơn giản hóa, kết quả cuối cùng được biểu thị tại đây.
Hoa Kỳ giành được độc lập từ tay Vương quốc Anh bằng Hiệp định Paris vào ngày 3 tháng 9 năm 1783. Hiệp định này củng cố rằng 13 thuộc địa là các quốc gia độc lập và có chủ quyền. Biên giới chung của các quốc gia này (Hoa Kỳ ban đầu thực chất là các quốc gia độc lập liên kết vì một mục đích chung là độc lập khỏi Vương quốc Anh) được thành lập dựa theo Điều khoản 2 của hiệp định đi cùng với một số vấn đề khác nữa. Thứ nhất, biên giới chạy về hướng tây từ hồ Woods đến sông Mississippi - vào thời đó, người ta không biết rằng nước nguồn của sông Mississippi là nằm ở phía nam của đường vạch như thế, vì vậy biên giới kể từ đó đã được tính là chạy về hướng nam từ hồ Woods đến sông Mississippi.
Một chi tiết cần được nhắc lại ở đây cho những ai chỉ biết đến các biên giới hiện tại: nhiều tiểu bang có những vùng đất do hoàng gia Anh ban tặng nằm bên ngoài lãnh thổ của họ và không dễ gì nhượng lại cho bất cứ ai. Họ chỉ nhượng lại cho chính phủ liên bang để trừ nợ Chiến tranh Cách mạng Mỹ. Tuy nhiên, tiểu bang Georgia đã không làm vậy cho đến khá lâu sau đó. Tiểu bang Connecticut nhượng lại phần nhiều đất ban tặng nhưng vẫn giữ vùng Connecticut Western Reserve. Virginia nhượng lãnh thổ phía bắc và tây sông Ohio, và vùng đất này trở thành lãnh thổ chưa tổ chức. Bắc Carolina cũng nhượng các quận phía tây nhưng Quốc hội Hoa Kỳ không chấp thuận chính thức sự việc này cho đến năm 1790. Tiểu bang New York nhượng tuyên bố chủ quyền vùng Erie Triangle cho chính phủ liên bang. Vào thời điểm này trong lịch sử, tất cả các tiểu bang, trừ Georgia và Virginia là có ranh giới như ngày nay, trừ một số vấn đề nhỏ được nhắc đến ở trên.
Tây Florida tuyên bố ranh giới xa về phía bắc hơn những gì Hoa Kỳ nói nó có. Ranh giới của nó từng là vĩ tuyến 31° bắc khi Tây Ban Nha nhượng nó cho Vương quốc Anh. Người Anh sau đó di chuyển ranh giới về phía bắc đến vĩ tuyến 32°38′ nhưng khi Florida thuộc Tây Ban Nha được nhượng lại cho cho Đế quốc Tây Ban Nha theo Hiệp ước Paris thì người Anh nói rằng ranh giới của nó nằm ở vĩ tuyến 31 độ Bắc nhưng Tây Ban Nha tiếp tục tuyên bố chủ quyền ranh giới cao phía trên hơn. Ranh giới tại khu vực phía bắc của Địa khu Maine thuộc tiểu bang Massachusetts và khu vực tây bắc hồ Superior cũng bị tranh chấp.
Khu vực có tên The Wedge, bị tranh chấp từ thế kỷ 17, vẫn là một điểm tranh cãi giữa tiểu bang Delaware và Pennsylvania.
Cộng hòa Vermont là một vấn đề phức tạp vì có nhiều khu vực bị tranh chấp chủ quyền bởi New York và New Hampshire, nhưng vẫn tồn tại như một quốc gia độc lập de facto nhưng chưa được công nhận.
7 tháng 8, 1789
Quốc hội Hoa Kỳ xác nhận việc tổ chức lãnh thổ nằm về phía tây bắc sông Ohio, hay còn gọi là Lãnh thổ Tây Bắc, bằng Sắc lệnh Tây Bắc. Lãnh thổ Tây Bắc bao gồm các tiểu bang ngày nay là Illinois, Indiana, Michigan, đông bắc tiểu bang Minnesota, phần lớn tiểu bang Ohio, và tiểu bang Wisconsin. Lãnh thổ Tây Bắc trước kia được tổ chức dưới Các điều khoản Hợp bang ngày 13 tháng 7 năm 1787, và được sửa đổi chút ít dưới Hiến pháp mới.
2 tháng 4, 1790
Quốc hội Hoa Kỳ chấp nhận nhượng địa từ Bắc Carolina gồm các quận phía tây của tiểu bang này. Ban đầu nó được nhượng lại cho chính phủ liên bang vào ngày 22 tháng 12 năm 1789. Phần đất này trở thành lãnh thổ chưa tổ chức.
26 tháng 5, 1790
Sắc lệnh Tây Nam có hiệu lực tổ chức lãnh thổ nằm về phía nam sông Ohio hay được gọi là Lãnh thổ Tây Nam, tương ứng với tiểu bang Tennessee hiện nay.
4 tháng 3, 1791
Cộng hòa Vermont được chấp thuận gia nhập vào Hoa Kỳ và trở thành tiểu bang thứ 14. Trước đó nó là một quốc gia độc lập trên thực tế mặc dù chưa được Hoa Kỳ công nhận. Nó có một số vùng đất bị tuyên bố chủ quyền bởi tiểu bang New York và New Hampshire
9 tháng 9, 1791
Đặc khu Columbia, đặc khu liên bang của quốc gia, được thành lập từ đất nhượng lại của hai tiểu bang Maryland và Virginia; phần đất của Virginia sau đó được trao trả lại vào năm 1847.
3 tháng 3, 1792
Chính phủ liên bang bán vùng đất Erie Triangle cho tiểu bang Pennsylvania.
1 tháng 6, 1792
Các quận miền tây của Virginia nằm bên ngoài Dãy núi Appalachian tách ra và được chấp nhận vào liên bang để trở thành tiểu bang thứ 15 là tiểu bang Kentucky.
11 tháng 1, 1794
Trong Hội nghị Nootka lần thứ 3, Tây Ban Nha từ bỏ tuyên bố chủ quyền độc tôn của mình đối với toàn bộ duyên hải Thái Bình Dương và nhìn nhận quyền của Vương quốc Anh và các cường quốc khác trong việc sử dụng lãnh thổ chưa chiếm đóng.
27 tháng 10, 1795
Hiệp định Pinckney, cũng được biết đến là Hiệp ước San Lorenzo, được ký vào ngày 27 tháng 10 và được tuyên cáo ngày 3 tháng 8 năm 1796, ấn định ranh giới phía bắc của Tây Florida là vĩ tuyến 31 độ bắc.
1 tháng 6, 1796
Lãnh thổ Tây Nam được phép gia nhập vào Hoa Kỳ thành tiểu bang thứ 16, Tennessee.
7 tháng 4, 1798
Vì vụ tai tiếng đất đai sông Yazoo nên một đạo luật mới ra đời và được Tổng thống Hoa Kỳ John Adams ký, cho phép ông bổ nhiệm các ủy viên để thương thuyết với tiểu bang Georgia về việc nhượng lại vùng đất phía tây của tiểu bang. Đạo luật tạo nên Lãnh thổ Mississippi trong vùng đất mà Tây Florida nhượng lại, tương ứng một phần ba phía nam của tiểu bang Mississippi và Alabama ngày nay trừ những vùng cán chảo thuộc phần đất của Tây Florida.
== Thập niên 1800 ==
4 tháng 7 năm 1800
Lãnh thổ Indiana được thành lập từ phần đất phía tây của Lãnh thổ Tây Bắc. Nó tương ứng với ngày nay Illinois, Indiana, đông bắc Minnesota và Wisconsin, cũng như một nửa phía tây của bán đảo Lower Michigan. Lãnh thổ Tây Bắc chỉ còn lại hầu hết Ohio và phần còn lại của Michigan
10 tháng 7 năm 1800
Connecticut nhượng Western Reserve cho chính phủ liên bang mà sau đó đưa nó vào Lãnh thổ Tây Bắc, hiện nay là phần đất đông bắc của tiểu bang Ohio.
1 tháng 10 năm 1800
Hiệp ước San Ildefonso lần thứ 3 bí mật chuyền tay thuộc địa Louisiana từ Đế quốc Tây Ban Nha sang cho Đế quốc Thực dân Pháp. Ranh giới của nó không được nêu chi tiết và việc kiểm soát nó thực sự không được chuyền tay cho đến khi Hoa Kỳ mua Louisiana.
26 tháng 4 năm 1802
Georgia cuối cùng nhượng phần đất phía tây là Yazoo Lands cho chính phủ liên bang và vùng này trở thành đất chưa tổ chức.
1 tháng 3 năm 1803
Phần phía đông nam của Lãnh thổ Tây Bắc được phép gia nhập Hoa Kỳ thành tiểu bang thứ 17 là Ohio. Phần đất còn lại của Lãnh thổ Tây Bắc được chuyển cho Lãnh thổ Indiana.
30 tháng 4 năm 1803
Hoa Kỳ mua vùng đất Louisiana từ Pháp, mở rộng lãnh thổ Hoa Kỳ về phía tây sông Mississippi. Có tranh chấp với West Florida về vấn đề có bao nhiêu đất nằm ở phía đông sông Mississippi thuộc lãnh thổ của Tây Florida. Miền tây sông Mississippi, được định nghĩa là vùng Lòng chảo Mississippi, mà vùng mở rộng của nó không được biết đến vào thời đó và kéo dài một ít về phía bắc lên đến biên giới Canada-Hoa Kỳ ngày nay. Nó bao gồm toàn thể các tiểu bang ngày nay là Arkansas, Kansas, Iowa, Missouri, Nebraska, và Oklahoma, và một phần các tiểu bang Colorado, Louisiana, Minnesota, Montana, New Mexico, North Dakota, South Dakota, Texas và Wyoming. Nó cũng bao gồm những phần đất gần phía nam nhất của các tỉnh bang ngày nay của Canada là Alberta, Manitoba, và Saskatchewan.
27 tháng 3 năm 1804
Vùng đất chưa tổ chức, được Georgia nhượng lại, được đưa vào Lãnh thổ Mississippi gồm có toàn bộ các tiểu bang ngày nay là Mississippi và Alabama trừ đi các vùng cán chảo vẫn là một phần đất của Tây Florida.
1 tháng 10 năm 1804
Vùng đất mua Louisiana được tách thành Địa khu Louisiana tạm thời được đặt dưới thẩm quyền pháp lý của Lãnh thổ Indiana và Lãnh thổ Orleans có tổ chức chính quyền là một phần đất của tiểu bang Louisiana ngày nay cộng với một phần nhỏ của tiểu bang Texas. Ranh giới phía tây của Lãnh thổ Orleans gây ra thêm xung đột với Tân Tây Ban Nha, đặc biệt là vùng nằm giữa sông Sabine trên phía tây và Arroyo Hondo (sông) trên phía tây. Vùng đất này được biết đến như là Quốc gia Tự do Sabine. Vùng này sau đó được xác nhận là lãnh thổ của Hoa Kỳ bằng Hiệp ước Adams-Onís năm 1819.
11 tháng 1, 1805
Lãnh thổ Michigan tách ra từ Lãnh thổ Indiana, gồm có toàn bộ bán đảo hạ của tiểu bang Michigan ngày nay nhưng chỉ mũi phía đông của bán đảo thượng vẫn còn thuộc Lãnh thổ Tây Bắc sau khi Lãnh thổ Indiana tách ra từ nót.
4 tháng 7 năm 1805
Địa khu Louisiana được tổ chức thành Lãnh thổ Louisiana.
1 tháng 3h, 1809
Lãnh thổ Illinois tách ra từ Lãnh thổ Indiana. Lãnh thổ Illinois bao gồm tiểu bang Illinois, đông bắc tiểu bang Minnesota, và Wisconsin ngày nay. Lãnh thổ Indiana gồm có ranh giới ngày nay của tiểu bang Indiana với ranh giới phía tây và phía đông kéo dài lên phía bắc; vì thế nó cũng bao gồm phần trung tâm bán đảo thượng của tiểu bang Michigan cũng như bán đảo Door của tiểu bang Wisconsin ngày nay.
== Thập niên 1810 ==
Tháng 4 năm 1810
Quần đảo Hawaii thống nhất thành Vương quốc Hawaii.
27 tháng 10 năm 1810
Qua tuyên cáo của Tổng thống James Madison, Hoa Kỳ sáp nhập Baton Rouge và các Địa khu Mobile của Tây Florida, tuyên bố chúng là một phần của Cấu địa Louisiana. Các vùng này trước đó 90 ngày đã tuyên bố độc lập với tên gọi là Cộng hòa Tây Florida.
30 tháng 4 năm 1812
Phần lớn Lãnh thổ Orleans được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 18 là Louisiana. Phần còn lại của lãnh thổ này (chóp tây bắc) được nhượng lại cho Lãnh thổ Louisiana.
12 tháng 5 năm 1812
Chính phủ liên bang sáp nhập một phần đất của Tây Florida, Địa khu Mobile vào Lãnh thổ Mississippi, biến lãnh thổ này tương ứng với tiểu bang Alabama và Mississippi ngày nay.
4 tháng 6 năm 1812
Lãnh thổ Louisiana trùng tên với một tiểu bang là tiểu bang Louisiana nên nó được đặt tên lại là Lãnh thổ Missouri.
17 tháng 4 năm 1813
Quân đội Cộng hòa miền Bắc (nhóm quân viễn chinh gây loạn hỗn hợp gồm người Mexico và Mỹ chống chính quyền Texas thuộc Tây Ban Nha) chiếm được San Antonio, Texas, giết chết thống đốc Manuel María de Salcedo, tuyên bố Texas là một quốc gia độc lập và ban hành hiến pháp đầu tiên của Texas vào ngày hôm đó. Các lực lượng Tây Ban Nha tái chiếm tỉnh này sau đó trong năm và hành quyết bất cứ người Texas nào bị tố cáo là có đầu óc Cộng hòa. Đến năn 1820, có ít hơn 2000 công dân nói tiếng Tây Ban Nha còn lại tại Texas thuộc Tây Ban Nha.
11 tháng 12 năm 1816
Phần phía nam của Lãnh thổ Indiana được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 19 là tiểu bang Indiana. Phần còn lại trở thành lãnh thổ chưa tổ chức.
3 tháng 3 năm 1817
Lãnh thổ Alabama tách ra từ Lãnh thổ Mississippi; cả hai tương ứng với hai tiểu bang cùng tên ngày nay.
10 tháng 12 năm 1817
Lãnh thổ Mississippi được gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 20 là tiểu bang Mississippi.
20 tháng 10 năm 1818
Hiệp định 1818 thiết lập vĩ tuyến 49 độ Bắc ở phía tây hồ Woods làm ranh giới với những phần đất do người Anh nắm giữ, và Xứ Oregon được thành lập như một vùng đất chung giữa Hoa Kỳ và Vương quốc Anh. Xứ Oregon bao gồm phần lớn tiểu bang Idaho và tiểu bang Oregon, toàn bộ tiểu bang Washington, và một phần tiểu bang Montana cũng như phần phía nam của tỉnh bang British Columbia của Canada ngày nay. Hiệp định chuyển Lòng chảo Sông Red sang cho Hoa Kỳ bao gồm tây bắc tiểu bang Minnesota, đông bắc North Dakota, và mũi đông bắc South Dakota.
3 tháng 12 năm 1818
Phần phía nam của Lãnh thổ Illinois được gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 21 là tiểu bang Illinois. Phần còn lại được đưa sang cho Lãnh thổ Michigan. Những vùng đất chưa tổ chức mà là một phần của Lãnh thổ Indiana trước khi Indiana gia nhập liên bang thành một tiểu bang cũng được chuyển sang cho Lãnh thổ Michigan.
2 tháng 3 năm 1819
Phần phía nam của Lãnh thổ Missouri được tổ chức thành Lãnh thổ Arkansaw, bao gồm tiểu bang Arkansas ngày nay cũng như một phần của tiểu bang Oklahoma. It was not officially spelled Arkansas until later.
14 tháng 12 năm 1819
Lãnh thổ Alabama được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 22 là tiểu bang Alabama.
== Thập niên 1820 ==
16 tháng 3 năm 1820
Địa khu Maine của Massachusetts tách ra và được gia nhập vào liên bang thành tiểu bang thứ 23 là Maine. Đây là một phần của Thỏa hiệp Missouri.
10 tháng 7 năm 1821
Hiệp ước Adams-Onís hay còn gọi là Hiệp ước Liên lục địa trở thành có hiệu lực thiết lập đường ranh giới rõ ràng giữa Hoa Kỳ và Tân Tây Ban Nha. Qua hiệp ước này, Tây Ban Nha chuyển nhượng quyền tuyên bố chủ quyền đối với Xứ Oregon sang cho Hoa Kỳ và đổi lại Hoa Kỳ chuyển nhượng quyền tuyên bố chủ quyền đối với Texas sang cho Tây Ban Nha; chuyển những phần mà ngày nay là Colorado, Oklahoma, và Wyoming, và toàn bộ New Mexico và Texas cho Tân Tây Ban Nha; và tất cả Florida thuộc Tây Ban Nha cho Hoa Kỳ. Các ranh giới mới lấn vào Quận Miller thuộc Lãnh thổ Arkansas được thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1820. Quận này kéo dài xuống phía dưới sông Red và lấn vào phần đất lúc đó được nhượng lại cho Tây Ban Nha. Tuy nhiên, vùng đất xa xôi hẻo lánh này không gây ra một cuộc xung đột trầm trọng nào với Tây Ban Nha.
10 tháng 8 năm 1821
Góc đông nam của Lãnh thổ Missouri được phép gia nhập thành tiểu bang thứ 24 là Missouri. Phần còn lại trở thành vô tổ chức. Missouri không bao gồm tam giác tây bắc của nó vào thời điểm đó. Vùng này được đưa vào tiểu bang sau này bằng Thương vụ Platte.
16 tháng 9 năm 1821
Năm 1821, Nga ra tuyên cáo nhằm ngăn cản các tàu thuyền không phải của Nga tiến vào duyên hải Tây Bắc. Nga chỉ thi hành cưỡng chế lệnh này là sự kiện họ bắt giữ tàu Pearl của Hoa Kỳ năm 1822. Hoa Kỳ phản ứng bằng Học thuyết Monroe năm 1823.
27 tháng 9 năm 1821
Phó vương quốc Tân Tây Ban Nha giành được độc lập trở thành México. Texas thuộc Tây Ban Nha trở thành Texas thuộc Mexico.
30 tháng 3 năm 1822
Đông Florida và một phần Tây Florida chưa là bộ phận nào của quốc gia nào nên được kết hợp lại và được tổ chức thành Lãnh thổ Florida, tương ứng với tiểu bang Florida ngày nay.
15 tháng 11 năm 1824
Lãnh thổ Arkansas bị thu hẹp, phần phía tây trở thành vùng chưa tổ chức.
12 tháng 1, 1825
Hiệp ước Nga-Mỹ 1824 trao khu vực Nga tuyên bố chủ quyền nằm ở phía nam vĩ tuyến 54°40′ Bắc cho Hoa Kỳ. Hiệp ước này cùng với Hội nghị Anh-Nga 1825 trao cho Anh và Hoa Kỳ quyền tuyên bố chủ quyền đối với Xứ Oregon. Nga giữ lại Đồn Ross tại California cho đến năm 1841.
6 tháng 5 năm 1828
Lãnh thổ Arkansas bị thu hẹp thêm nữa, chỉ còn lại phần mà ngày nay là tiểu bang Arkansas, phần còn lại trở thành chưa tổ chức, trừ vùng đất mà lãnh thổ này vẫn tuyên bố chủ quyền là Quận Miller.
== Thập niên 1830 ==
30 tháng 6 năm 1834
Một phần đất rộng chưa tổ chức được đưa vào Lãnh thổ Michigan, tương ứng với tiểu bang Iowa, tây Minnesota, và đông North Dakota và South Dakota ngày nay.
2 tháng 3 năm 1836
Cộng hòa Texas giành được độc lập từ México mặc dù có một phần đất rộng còn bị tranh chấp. Cộng hòa này kiểm soát phân nửa phía đông của tiểu bang Texas ngày nay, và tranh chấp chủ quyền phân nửa phía tây cũng như những vùng đất thuộc Colorado, Kansas, New Mexico, và Wyoming. Quận Miller trong Lãnh thổ Arkansas lúc đó nằm bên trong ranh giới của Cộng hòa Texas, và người dân tại đó bắt đầu nhìn nhận họ là người Texas, khiến cho cả hai chính quyền đều có đại diện của mình từ quận này.
15 tháng 6 năm 1836
Lãnh thổ Arkansas gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 25 là Arkansas. Tiểu bang mới này tiếp tục tuyên bố chủ quyền đối với Quận Miller.
4 tháng 7 năm 1836
Lãnh thổ Wisconsin được tách ra khỏi Lãnh thổ Michigan. Nó bao gồm tiểu bang Wisconsin, Minnesota, Iowa, đông North Dakota và đông South Dakota. Toàn bộ bán đảo thượng được trao cho Lãnh thổ Michigan để đổi lại việc lãnh thổ này từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với Toledo Strip của Ohio. Lãnh thổ Michigan sau khi có thêm bán đảo thượng tương đương với ranh giới của tiểu bang Michigan ngày nay.
26 tháng 1, 1837
Lãnh thổ Michigan gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 26 là Michigan.
28 tháng 3 năm 1837
Vùng đất mua Platte được đưa vào Missouri và là ranh giới hiện nay của tiểu bang này.
4 tháng 7 năm 1838
Lãnh thổ Iowa được tách ra từ Lãnh thổ Wisconsin, gồm có Iowa, tây Minnesota, đông North Dakota và đông South Dakota, để lại cho Lãnh thổ Wisconsin chỉ còn lại phía đông Minnesota và Wisconsin.
== Thập niên 1840 ==
10 tháng 11 năm 1842
Hiệp ước Webster-Ashburton giải quyết vấn đề ranh giới giữa Hoa Kỳ và những phần đất do Vương quốc Anh giữ nằm ở phía đông Rặng Thạch Sơn, kết thúc các tranh chấp ranh giới phía bắc của tiểu bang Maine và ranh giới đông bắc của Lãnh thổ Wisconsin mà ngày nay nằm trong tiểu bang Minnesota.
3 tháng 3 năm 1845
Lãnh thổ Florida gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 27 là Florida.
29 tháng 12 năm 1845
Cộng hòa Texas được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 28 là Texas. Quốc hội Hoa Kỳ thông qua nghị quyết chung sáp nhập Texas vào ngày 1 tháng 3 năm 1845, nhưng Texas không đồng ý gia nhập liên bang trong một khoảng thời gian sau đó. Tuy nghị quyết sáp nhập tránh nói đến chi tiết ranh giới của Texas nhưng Hoa Kỳ nhận thừa kế những tuyên bố chủ quyền chưa được thực thi của Texas đối với Nam Texas, Tây Texas, đối với phân nửa New Mexico, một phần ba Colorado, và một số vùng đất nhỏ của Oklahoma, Kansas và Wyoming. Với sự kiện Texas gia nhập liên bang, Arkansas cuối cùng từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với quận Miller.
18 tháng 6 năm 1846
Hiệp ước Oregon thiết lập vĩ tuyến 49 nằm phía tây hồ Woods làm biên giới lục địa (tuy nhiên không bao gồm Đảo Vancouver) với những vùng đất do Vương quốc Anh giữ. Việc cùng chia sẻ chủ quyền Xứ Oregon chấm dứt, và phần đất Mỹ trở thành lãnh thổ chưa tổ chức.
15 tháng 8 năm 1846
Lục quân miền Tây (1846) của Hoa Kỳ dưới quyền chỉ huy của Stephen Kearny chiếm được New Mexico và tuyên bố chủ quyền vùng này cho Hoa Kỳ. Ông dựng lên chính quyền quân sự của Hoa Kỳ tại New Mexico và sau đó là chính quyền lâm thời New Mexico, chịu sự điều hành của chính phủ liên bang.
28 tháng 12 năm 1846
Phần đông nam của Lãnh thổ Iowa được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 29 là Iowa. Phần đất còn lại trở thành chưa tổ chức.
13 tháng 1, 1847
Cuộc phản kháng của người Californio chống các lực lượng Hoa Kỳ tại California kết thúc bằng Hiệp ước Cahuenga.
13 tháng 3 năm 1847
Đặt khu Columbia trả lại phần đất của nó nằm ở phía nam sông Potomac về cho Virginia. Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật trả lại đất vào ngày 9 tháng 7 năm 1846. Virginia lấy lại phần đất này ngày hôm đó.
2 tháng 2 năm 1848
Hiệp ước Guadalupe Hidalgo kết thúc Chiến tranh Mỹ-Mexico. Mexico nhượng lại các vùng đất mà Texas tuyên bố chủ quyền cũng như một vùng đất rộng lớn khác bao gồm tất cả California, Nevada, và Utah ngày nay, phần lớn Arizona, và những phần đất của Colorado, New Mexico, và Wyoming ngày nay.
29 tháng 5 năm 1848
Phần đông nam của Lãnh thổ Wisconsin được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 30 là Wisconsin. Phần còn lại trở thành chưa tổ chức.
14 tháng 8 năm 1848
Lãnh thổ Oregon được tổ chức, bao gồm Idaho, tây bắc Montana, Oregon, tiểu bang Washington, và tây Wyoming ngày nay.
3 tháng 3 năm 1849
Lãnh thổ Minnesota được tổ chức, bao gồm Minnesota, những phần phía đông của North Dakota và South Dakota ngày nay.
== Thập niên 1850 ==
9 tháng 9 năm 1850
Thỏa ước 1850 chia tách Nhượng địa Mexico và đất đai mà Texas tuyên bố chủ quyền nhưng nhượng lại cho chính phủ liên bang để chính phủ liên bang lãnh nợ cho mình. Phần phía tây được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 31 là California, phần lớn còn lại được tổ chức thành Lãnh thổ Utah và Lãnh thổ New Mexico, và một phần nhỏ trở thành chưa tổ chức. Lãnh thổ New Mexico bao gồm phần lớn tiểu bang Arizona và New Mexico ngày nay cũng như phần phía nam tiểu bang Colorado và mũi phía nam của tiểu bang Nevada. Lãnh thổ Utah bao gồm tiểu bang Utah, và phần lớn tiểu bang Nevada, và những phần đất của tiểu bang Colorado và tiểu bang Wyoming ngày nay.
2 tháng 3 năm 1853
Lãnh thổ Washington được tách ra từ Lãnh thổ Oregon, gồm có tiểu bang Washington, bắc Idaho, và rìa phía tây tiểu bang Montana ngày nay, để lại Lãnh thổ Oregon với phần đất gồm toàn bộ Oregon, miền Nam Idaho và một phần Wyoming ngày nay.
30 tháng 12 năm 1853
Vùng đất mua Gadsden được thêm vào Lãnh thổ New Mexico, tương ứng với khu vực cực nam của Arizona và New Mexico ngày nay.
30 tháng 5 năm 1854
Lãnh thổ Kansas và Lãnh thổ Nebraska được tổ chức; phần đất còn lại chưa tổ chức được biết như là Lãnh thổ người bản thổ Mỹ. Lãnh thổ Kansas bao gồm Kansas và đông Colorado ngày nay. Lãnh thổ Nebraska bao gồm Nebraska, và những phần đất của Colorado, Montana, North Dakota, South Dakota, và Wyoming ngày nay. Lãnh thổ người bản thổ Mỹ tương ứng với phía đông tiểu bang Oklahoma ngày nay.
Có một tình trạng dị biệt xảy ra vào thời điểm này khi một dải đất nhỏ phía bắc Texas không được chính thức trao cho bất cứ tiểu bang nào hay lãnh thổ nào; nó được gọi tên là Dải Trung lập hay "Đất không chủ" tương ứng với vùng cán chảo ngày nay của Oklahoma.
11 tháng 5 năm 1858
Phần phía đông của Lãnh thổ Minnesota được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 32 là Minnesota. Phần còn lại trở thành chưa tổ chức.
14 tháng 2 năm 1859
Phần phía tây của Lãnh thổ Oregon được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 33 là Oregon. Phần còn lại được giao cho Lãnh thổ Washington.
== Thập niên 1860 ==
8 tháng 2 năm 1860
Texas bắt đầu tuyên bố chủ quyền quận Greer, lúc đó do chính phủ liên bang kiểm soát như lãnh thổ chưa tổ chức và ngày nay nằm trong tiểu bang Oklahoma.
29 tháng 1, 1861
Phần phía đông Lãnh thổ Kansas được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 34 là Kansas. Lại 1 tình trạng dị thường xảy ra đối phần phía tây. Nó được đưa vào Lãnh thổ Colorado ngày 28 tháng 2 năm 1861; tuy nhiên, trong tháng giữa lúc Kansas trở thành tiểu bang và Lãnh thổ Colorado được thành lập, nó vẫn không có địa vị chính thức nào.
4 tháng 2 năm 1861
Liên minh miền Nam Hoa Kỳ (CSA) được thành lập. Các tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ ly khai vào những thời điểm khác nhau và gia nhập Liên minh miền Nam vào các thời gian khác nhau; để đơn giản hóa bản đồ, thành phần của Liên minh miền Nam cuối cùng được biểu thị ở đây. Có các chính quyền phản loạn cũng như các chính quyền thuộc phe Liên bang tại Kentucky và Missouri. Liên minh miền Nam Hoa Kỳ kiểm soát hoàn toàn Lãnh thổ người bản thổ Mỹ. Để xem bản đồ hoạt cảnh chi tiết mô tả những tiểu bang khác nhau ly khai, xin xem Tiến hóa của các tiểu bang Liên minh miền Nam Hoa Kỳ.
28 tháng 2 năm 1861
Lãnh thổ Colorado được tổ chức với đất đai từ Lãnh thổ Utah, Lãnh thổ New Mexico, và Lãnh thổ Nebraska cũng như phần đất còn lại từ Lãnh thổ Kansas; ngày nay tương ứng với tiểu bang Colorado. góc nhọn phía đông của Lãnh thổ Washington được chuyển sang cho Lãnh thổ Nebraska.
2 tháng 3 năm 1861
Lãnh thổ Dakota được tách ra từ Lãnh thổ Nebraska. Nó bao gồm đất chưa tổ chức còn xót lại từ Lãnh thổ Minnesota. Lãnh thổ Dakota bao gồm cả Bắc Dakota và Nam Dakota cũng như phần lớn Montana và miền bắc Wyoming. Lãnh thổ Nebraska gồm có toàn bộ tiểu bang Nebraska và đông nam Wyoming ngày nay. Lãnh thổ Nevada được tách ra từ Lãnh thổ Utah, tương ứng với tây bắc Nevada ngày nay; ranh giới phía đông là đường kinh tuyến 39 độ phía tây Washington, D.C. (lưu ý lấy Washington D.C. làm kinh tuyến 0 độ, không phải Greenwich)
1 tháng 8 năm 1861
Liên minh miền Nam Hoa Kỳ thiết lập Lãnh thổ Arizona (CSA) trong nữa phía nam Lãnh thổ New Mexico của phe liên bang. Lãnh thổ này được tổ chức vào ngày 14 tháng 2 năm 1862. Nó tương ứng phân nửa phía nam của hai tiểu bang Arizona và New Mexico ngày nay.
14 tháng 7 năm 1862
Vì bản chất là một khu vực khai mỏ và đồng cỏ chăn nuôi nên đất đai được đưa thêm vào Lãnh thổ Nevada để phục vụ những hoạt động này. Ranh giới phía đông của lãnh thổ này được di chuyển về phía đông từ kinh tuyến 39 độ đến kinh tuyến 38 độ tây (lấy Washington D.C làm kinh tuyến chuẩn 0 độ) và chuyển đất đai từ Lãnh thổ Utah sang.
24 tháng 2 năm 1863
Phe Liên bang thành lập Lãnh thổ Arizona cho riêng mình, tách nó ra khỏi Lãnh thổ New Mexico. Hai lãnh thổ này tương ứng với cả hai tiểu bang ngày nay, trừ Lãnh thổ Arizona gồm có phần mũi phía nam của tiểu bang Nevada ngày nay.
4 tháng 3 năm 1863
Lãnh thổ Idaho được thành lập từ những phần đất của Lãnh thổ Washington, Lãnh thổ Dakota, và Lãnh thổ Nebraska, bao gồm Idaho, Montana, và phần lớn Wyoming ngày nay. Lãnh thổ Nebraska và Lãnh thổ Washington còn sót lại tương ứng với các tiểu bang cùng tên ngày nay.
20 tháng 6 năm 1863
Các quận tây bắc Virginia không muốn là bộ phận của Liên minh miền Nam Hoa Kỳ tách ra khỏi Virginia và được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 35 là West Virginia.
26 tháng 5 năm 1864
Lãnh thổ Montana được tách ra từ Lãnh thổ Idaho. Lãnh thổ Idaho cũng có một số đất bị chuyển sang Lãnh thổ Dakota. Lãnh thổ Montana tương ứng với tiểu bang Montana ngày nay. Lãnh thổ Idaho bao gồm Idaho và phía tây Wyoming ngày nay. Lãnh thổ Dakota bao gồm cả Bắc Dakota và Nam Dakota, và phần lớn Wyoming ngày nay.
31 tháng 10 năm 1864
Lãnh thổ Nevada được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 36 là Nevada; nó nhỏ hơn chút ít so với ngày nay vì thiếu khu vực ở phía đông và phía nam.
9 tháng 4 năm 1865
Liên minh miền Nam Hoa Kỳ đầu hàng. Tiến trình tái kiến thiết và tái gia nhập liên bang mất thời gian vài năm; để đơn giản hóa bản đồ, những tiểu bang này được biểu thị khi chúng đã được tái gia nhập liên bang. Để xem bản đồ hoạt cảnh chi tiết mô tả sự tái gia nhập liên bang của các tiểu bang cựu Liên minh miền Nam Hoa Kỳ trong suốt thời kỳ tái kiến thiết sau nội chiến, xin xem Sự tiến hóa của các tiểu bang thuộc Liên minh miền Nam Hoa Kỳ.
5 tháng 5 năm 1866
Ranh giới phía đông của Nevada được dịch chuyển từ kinh tuyến 38 độ sang kinh tuyến 37 độ phía tây kinh tuyến chuẩn là thủ đô Washington D.C., lấy đất từ Lãnh thổ Utah.
18 tháng 1, 1867
Góc tây bắc của Lãnh thổ Arizona được chuyển cho tiểu bang Nevada, cho nó ranh giới như ngày nay.
1 tháng 3 năm 1867
Lãnh thổ Nebraska được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 37 là Nebraska.
11 tháng 10 năm 1867
Hoa Kỳ mua Alaska từ Nga; nó được đặt tên là Department of Alaska, tương ứng với tiểu bang Alaska ngày nay, trừ chút ít phần đất bị tranh chấp.
25 tháng 7 năm 1868
Lãnh thổ Wyoming được thành lập từ các phần đất của Lãnh thổ Dakota, Lãnh thổ Idaho, và Lãnh thổ Utah, tương ứng với ranh giới hiện nay của tiểu bang Wyoming.
== Thập niên 1870 ==
21 tháng 10 năm 1872
Quần đảo San Juan được Vương quốc Anh giao cho Hoa Kỳ, chính thức kết thúc Chiến tranh Pig.
1 tháng 8 năm 1876
Lãnh thổ Colorado được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 38 là Colorado.
== Thập niên 1880 ==
28 tháng 3 năm 1882
Phần đất của Lãnh thổ Dakota ở phía nam vĩ tuyến 43° bắc và ở phía bắc sông Keya Paha và sông Niobrara được giao cho tiểu bang Nebraska.
17 tháng 5 năm 1884
Department of Alaska, trước đây nằm dưới quyền kiểm soát của chính phủ liên bang và quân đội, được đặt tên là Địa khu Alaska và được tổ chức với chính quyền địa phương.
2 tháng 11 năm 1889
Lãnh thổ Dakota được tách ra thành hai. Cả hai được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 39 là Bắc Dakota và tiểu bang thứ 40 là Nam Dakota.
8 tháng 11 năm 1889
Lãnh thổ Montana được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 41 là Montana.
11 tháng 11 năm 1889
Lãnh thổ Washington được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 42 là tiểu bang Washington.
== Thập niên 1890 ==
2 tháng 5 năm 1890
Lãnh thổ Oklahoma được tổ chức từ phần phía tây của Lãnh thổ người bản thổ Mỹ bao gồm Dải Neutral, tương ứng phân nửa phía tây của Oklahoma ngày nay.
3 tháng 7 năm 1890
Lãnh thổ Idaho được phép gia nhập thành tiểu bang thứ 43 là Idaho.
10 tháng 7 năm 1890
Lãnh thổ Wyoming được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 44 là Wyoming.
4 tháng 7 năm 1894
Vương quốc Hawaii trở thành Cộng hòa Hawaii.
4 tháng 1, 1896
Lãnh thổ Utah được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 45 là Utah.
4 tháng 5 năm 1896
Một phán quyết của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ chính thức đưa quận Greer vào Lãnh thổ Oklahoma.
12 tháng 8 năm 1898
Cộng hòa Hawaii bị Hoa Kỳ sáp nhập.
== Thế kỷ 20 ==
14 tháng 6 năm 1900
Quần đảo Hawaii, bị Hoa Kỳ sáp nhập, được tổ chức thành Lãnh thổ Hawaii, tương ứng với tiểu bang Hawaii ngày nay trừ Đảo Palmyra bị tách ra.
20 tháng 10 năm 1903
Tranh chấp biên giới Alaska được giải quyết bằng phân xử, tổng quát là theo hướng có lợi cho Hoa Kỳ.
16 tháng 11 năm 1907
Lãnh thổ Oklahoma và Lãnh thổ người bản thổ Mỹ được kết hợp lại và được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 46 là Oklahoma.
6 tháng 1 năm 1912
Lãnh thổ New Mexico được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 47 là New Mexico.
14 tháng 2 năm 1912
Lãnh thổ Arizona được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 48 là Arizona.
24 tháng 8 năm 1912
Địa khu Alaska được tổ chức thành Lãnh thổ Alaska.
28 tháng 3 năm 1921
Cuộc tranh chấp 1 dặm vuông Anh giữa Delaware và Pennsylvania về vùng The Wedge cuối cùng được giải quyết theo hướng có lợi cho Delaware.
3 tháng 1 năm 1959
Lãnh thổ Alaska được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 49 là Alaska.
21 tháng 8 năm 1959
Lãnh thổ Hawaii được phép gia nhập liên bang thành tiểu bang thứ 50 là Hawaii. Đạo luật trao quyền trở thành tiểu bang của Hawaii đã tách Đảo Palmyra ra khỏi tiểu bang mới thành lập; như thế đảo này trở thành đất chưa tổ chức. Vì nó là đất đã được hợp nhất khi còn là một phần đất của Lãnh thổ Hawaii nên Đảo Palmyra trở thành lãnh thổ hợp nhất duy nhất còn lại của Hoa Kỳ cho đến nay.
14 tháng 1 năm 1963
Tranh chấp Chamizal với Mexico đối với vùng đất rộng 600 mẫu Anh (2,4 km2) trên biên giới Hoa Kỳ-Mexico giữa thành phố El Paso, Texas và Ciudad Juárez, Chihuahua được giải quyết. Tranh chấp này gây ra bởi sự sai khác giữa thềm sông Rio Grande được khảo sát năm 1852 và dòng chảy hiện tại của con sông.
Năm 1970
Thành phố Rio Rico, Texas bị nhượng lại cho México theo Hiệp ước biên giới 1970. Lễ bàn giao chính thức xảy ra vào năm 1977 và thành phố này được đưa vào tiểu bang của Mexico là Tamaulipas.
== Xem thêm ==
Địa lý Hoa Kỳ
Lịch sử Hoa Kỳ
Danh sách các tiểu bang Hoa Kỳ theo ngày trở thành tiểu bang
Sự tiến hóa của các tiểu bang Hoa Kỳ:
Sự tiến hóa lãnh thổ của Arizona
Sự tiến hóa lãnh thổ của California
Sự tiến hóa lãnh thổ của Colorado
Sự tiến hóa lãnh thổ của Idaho
Sự tiến hóa lãnh thổ của Montana
Sự tiến hóa lãnh thổ của Nevada
Sự tiến hóa lãnh thổ của New Mexico
Sự tiến hóa lãnh thổ của North Dakota
Sự tiến hóa lãnh thổ của Oregon
Sự tiến hóa lãnh thổ của South Dakota
Sự tiến hóa lãnh thổ của Utah
Sự tiến hóa lãnh thổ của Washington
Sự tiến hóa lãnh thổ của Wyoming
Lãnh thổ thu được của Hoa Kỳ
Lãnh thổ Hoa Kỳ
Tiểu bang Hoa Kỳ
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Stein, Mark, How the States Got Their Shapes, New York: Smithsonian Books/Collins, 2008. ISBN 9780061431388
== Liên kết ngoài ==
States of the United States from Statoids.com.
The 50 State Quarters Program at the United States Mint, listing dates of statehood.
Acquisition Process of Insular Areas - lists all insular areas.
Boundary Commission between Canada and the U.S. (archived from International the original on 2007-12-23) |
ninja sentai kakuranger.txt | Ninja Sentai Kakuranger (忍者戦隊カクレンジャー, Ninja Sentai Kakurenjā), tạm dịch là Chiến đội Nhẫn giả Kakuranger, là seri Super Sentai thứ 18 của Toei Company. Tên quốc tế của seri này là Những chiến binh Ninja.
Bộ phim được sử dụng ở Mĩ là Mighty Morphin Alien Rangers.
Khẩu hiệu của họ là:
"Ẩn giấu khỏi người đời và trảm cái ác! Ninja Sentai Kakuranger, Kiến Giám!"
== Cốt truyện ==
Bốn trăm năm trước đây, các ninja và Youkai đã có một cuộc chiến tranh lớn. Các huyền thoại Sarutobi Sasuke và bốn ninja khác niêm phong Youkai Commander Nurarihyon và tất cả năng lượng Youkai mình đi trong một hang động được bảo vệ bởi "Seal Door". Trong hiện tại, một trong số ít còn lại Youkai, Kappa, thủ đoạn của chúng làm hậu duệ của Sarutobi Sasuke và Kirigakure Saizo là Sasuke và Saizo chẳng may giải phóng các Youkai bằng cách mở "Seal Door". Bây giờ hai người và với sự tham gia của ba hậu duệ ninja khác, trở thành các Kakuranger để chiến đấu chống lại Youkai hồi sinh với sự trợ giúp của các Sanshinshou.
== Nhân vật ==
=== Các chiến binh Kakurangers ===
Sasuke/Ninja Red (サスケ/ニンジャレッド, Sasuke/Ninja Reddo) Ông là hậu duệ của Sarutobi Sasuke.Ông và Saizou đã bị lừa bởi Kappa vào mở cửa của Seals, nhả Youkai vào thế giới của con người. Sandayuu theo dõi chúng xuống và đưa hai người đến nơi thanh kiếm tổ tiên của họ đã được đặt trong trái đất, nơi họ gặp Tsuruhime. Khi kéo ra thanh kiếm của mình, tinh thần của tổ tiên của Sasuke xuất hiện trước mặt ông, đã cho ông ta một bài giảng, và giao cho ông với một Doron Changer, cho phép Sasuke trở thành NinjaRed.
Tsuruhime/Ninja White (鶴姫/ニンジャホワイト, Tsuruhime/Ninja Howaito) Là người lãnh đạo của Kakurangers và là nhà lãnh đạo nữ đầu tiên của một Sentai.Người bảo vệ hai mươi bốn cánh cửa phong ấn, mà tổ chức Youkai và có hiểu biết hơn về Youkai và tổ tiên của họ hơn so với các thành viên khác trong nhóm của mình. Tsuruhime là một cô gái mạnh mẽ những người đang tìm kiếm người cha mất tích của mình, Hakumenrou. Mặc dù không phải là chiến binh đỏ, cô là người lãnh đạo thực sự của Kakuranger vì kỹ năng lãnh đạo lớn hơn cô hơn Sasuke. Mặc dù scoldings thường xuyên, Tsuruhime dường như được tôn trọng cho Sasuke như hàng loạt các tiến triển. Trước khi trở thành một Kakuranger, cô đã từng chiến đấu bên cạnh hai cô gái khác, Yukiyo & Tsukiyo, là một trong những 'Punishment Sailor Sisters'.Trong số tất cả 5 Kakurangers, Tsuruhime là người duy nhất để lấy các nhiệm vụ của mình như là một Kakuranger nghiêm túc khi nhóm cuối cùng cũng đã đến với nhau. Bởi đến nay trưởng thành nhất của đội, cô thường bị buộc phải xử lý trong những trò hề của ninja đồng nghiệp của cô, khi thường gặp với sự thất vọng lớn. Khi nhóm này đã tăng gần như một đội, Tsuruhime lớn để trân trọng bạn bè của cô. Cô thường xuyên nhất có dịp làm việc cùng với Sasuke.
Saizou/Ninja Blue (サイゾウ/ニンジャブルー, Saizō/Ninja Burū) Ông là hậu duệ của Saizou Kirigakure. Ông và Sasuke đã bị lừa bởi Kappa vào mở cửa của Seals, nhả Youkai vào thế giới của con người. Sandayuu theo dõi chúng xuống và đưa hai người đến nơi thanh kiếm tổ tiên của họ đã được đặt trong trái đất, nơi họ gặp Tsuruhime. Khi kéo ra thanh kiếm của mình, tinh thần của tổ tiên Saizou của xuất hiện trước mặt anh, đã cho anh ta một bài giảng, và giao cho anh ta với một Doron Changer, cho phép Saizou để trở thành NinjaBlue.
Seikai/Ninja Yellow (セイカイ/ニンジャイエロー, Seikai/Ninja Ierō) Là hậu duệ của Seikai Miyoshi.Seikai đầu tiên gặp phải những Youkai khi một người bạn của mình đã bị bắt cóc bởi Rokurokubi, người nghĩ rằng ông là con trai đã mất của cô. Seikai chạy trốn với người bạn của mình và đã được cứu sống bởi Tsuruhime, Sasuke, và Saizou. Họ đã đưa ông đến nơi mà tổ tiên mình kiếm được đặt ở Trái Đất. Khi kéo ra thanh kiếm của mình, tinh thần của tổ tiên Seikai đã xuất hiện trước mặt ông, đã cho anh ta một bài giảng, và giao cho ông với một Doron Changer, cho phép Seikai để trở thành NinjaYellow.
Jiraiya/Ninja Black (ジライヤ/ニンジャブラック, Jiraiya/Ninja Burakku) Ông là hậu duệ của Jiraiya. 20 tuổi, ông là một ninja Nhật kiều Mỹ từ Los Angeles được đào tạo qua người giám hộ Gali sau khi cha mình bị giết.tổ tiên của gia tộc của Jiraiya lâu chuyển sang Mỹ, và đã được ra khỏi tiếp xúc với Nhật Bản trong nhiều năm.
Khi Jiraiya là một cậu bé, cha ông đã bị giết bởi những gì anh nghĩ lúc đó là một Youkai. Kể từ đó, ông được nuôi dưỡng bởi Gali, một người bạn của cha mình và sensei của mình.
Ông lần đầu tiên gặp Kakurangers khi ông đang giả vờ để giúp các Youkai Oboroguruma. Ông là, trên thực tế, cố gắng yêu cầu cuộn sếp Oboroguruma của, Azukiarai, đã bị đánh cắp nhiều thế kỷ trước. Những cuộn sẽ cho phép ông và các Kakurangers khác để trở thành khổng lồ quái thú tướng. Hành động nầy chỉ khiến ông bị bắt và bị tống vào một ngọn núi lửa. Ông đã được cứu bởi tổ tiên của mình, người đã cho anh ta một bài giảng và giao cho anh ta với một Doron Changer, cho phép Jiraiya trở thành NinjaBlack. Sau đó ông tham gia bốn Kakurangers khác, hoàn thành các đội. Trong khi việc tìm kiếm của mình Shinobi Scroll, Jiraiya đã buộc phải chiến đấu Gali, người đã tiết lộ mình là người đã giết cha của Jiraiya và bây giờ là phục vụ cho việc Yokai. Sau trận chiến đẫm máu giữa chúng, Jiraiya học được tại sao Gali đã làm nó, cũng như hy vọng Jiraiya sẽ giết anh ta như dự định. Cả hai cái chết 'của Zashiki-warashi và hai người đàn ông, ông đã được biết đến từ thời thơ ấu cho Jiraiya lý do của mình để chống lại Youkai.
Ninjaman (ニンジャマン Ninjaman, Ninjaman) Là một đồng minh của Kakurangers. Ông là học trò của Sanshinshou - người bí ẩn trong áo giáp xanh dương là sự trừng phạt một thiên niên kỷ trước cho phép mình bị lừa bởi Daimaou để tấn công con người. Ngay khi ra mắt bởi Tsuruhime, Ninjaman trở thành một đồng minh với Kakurangers và đi kèm để hỗ trợ họ khi cần thiết. Là một bậc thầy ninja, Ninjaman cầm một thanh kiếm katana, và đã có một mảng rộng của Ninja-Arts tại lệnh của ông, bao gồm mở rộng để hỗ trợ cố vấn của ông trong chiến đấu của họ. Ông cưỡi trên một đám mây được gọi là Kintou Cloud. Bất cứ khi nào một Youkai gọi ông "Blue Squirt" hoặc "Novice" (青二才Ao Nisai ?), ông nhận được giận dữ đến mức thay đổi vào Samuraiman (サムライマンSamuraiman ?), Ai kết nối vũ khí của mình với vỏ để tạo thành một cái lao mạnh mẽ. Trong trạng thái này, Samuraiman tạo ra quả cầu năng lượng nổ hình thành từ cơn giận dữ của mình trong cuộc tấn công cuối cùng của ông, Samurai Rage Bomber. Sau khi Youkai được phong ấn, Ninjaman là bây giờ với thầy của mình và nói lời tạm biệt với các Kakurangers.
== Các tập ==
It's Ninja (忍者でござる, Ninja de Gozaru)
A Dangerous Lady (危ないオバサン, Abunai Obasan)
American Ninja (アメリカン忍者, Amerikan Ninja)
The Apparition Policeman (妖怪ポリスマン, Yōkai Porisuman)
The Uneven Strange Gamers (凸凹珍ゲーマー, Dekoboko Chin Gēmā)
The Eyeball Prince! (目玉の王子様!, Medama no Ōjisama!)
This Guy is Huge (こいつぁデカい, Koitsa Dekai)
The Disguised Cat Shop!! (化猫ショップ!!, Bake Neko Shoppu!!)
The Shocking Live Broadcast (ドッキリ生中継, Dokkiri Namachūkei)
The Old Man's Baby-Cry (子泣き爺いぢゃ, Ko Naki Jijii dja)
Rags are the Best! (ボロこそ最高!!, Boro Koso Saikō!)
They Came Foorth!! New Juushou (出たァ!! 新獣将, Detaa!! Shin Jūshō)
Drive Away the Sadness (ブッとばせ不幸, Buttobase Funō)
I'm the Young Noble!! (俺は貴公子だ!!, Ore wa Kikōshi da!!)
Argh! Awesome Guys (げえッ!! 凄い奴, Geē!! Sugoi Yatsu)
The Red Monkey's Oni Extermination (赤猿の鬼退治, Aka Saru no Oni Taiji)
The Demon Sword and Underwear!! (魔剣とパンツ!!, Maken to Pantsu!!)
Hello, Mushroom-kun (ハローきのこ君, Harō Kinoko-kun)
The Hellish Trap in Darkness!! (暗闇の地獄罠!!, Kurayami no Jigoku Wana!!)
The Flowery Kunoichi Team (花のくノ一組!!, Hana no Kunoichi Gumi)
The Monkey Mimic's Finishing Move (サルマネ必殺技, Saru Mane Hissatsu-waza)
I'll Make You Laugh (笑って頂きます, Waratte Itadakimasu)
Blitzkrieg!! The Strange White Bird (電撃!! 白い怪鳥, Dengeki!! Shiroi Kai Tori)
Ah, The End of Volume 1 (あァ一巻の終り, Aa Ikkan no Owari)
A New Departure! (新たなる出発!!, Aratanaru Shuppatsu!!)
The Tsuruhime Family's Super Secret (鶴姫家の超秘密, Tsuruhime-ka no Chō Himitsu)
The End of the Invincible Shogun (無敵将軍の最期, Muteki Shōgun no Saigo)
A Super Big Figure Coming to Japan!! (超大物・来日!!, Chō Dai Mono - Rainichi!!)
History's First Super Showdown (史上初の超対決, Shijō Hatsu no Chō Taiketsu)
Reunion With a Traitorous Father (再会 裏切りの父, Saikai Uragiri no Chichi)
Behold!! A New Shogun (見たか!! 新将軍, Mita ka!! Shin Shōgun)
Don't Lick Me, Face Thief (ナメんな顔泥棒, Namen na Kao Dorobō)
The Perverse Village (あまのじゃく村, Amanojaku Mura)
The Bride's Sandy Hell!! (花嫁砂地獄!!, Hanayome Suna Jigoku!!)
The Three Punishment Sisters (おしおき三姉妹(シスターズ), Oshioki San Shisutāzu)
Abarenbo Ninja!! (暴れん坊忍者!!, Abarenbō Ninja!!)
The Paper Umbrella Dance Queen (唐傘ダンス女王, Karakasa Dansu Joō)
Mooo~! A Repulsive Cow (モオ~ッ嫌な牛, Mō~- Iya na Ushi)
Iit's a Special Compilation!! (特別編だよっ!!, Tokubetsu Hen Da yō!!)
The Heisei Fox Battle (平成キツネ合戦, Heisei Kitsune Kassen)
The Stray Ghost (はぐれゴースト, Hagure Gōsuto)
The Plundered Ninja Power (強奪忍者パワー, Gōdatsu Ninja Pawā)
The Last Day of the Sanshinshou (三神将最期の日, Sanshinshō Saigo no Hi)
The Wound-Filled Great Reversal (傷だらけ大逆転, Kizu Darake Dai Gyakuten)
The Confused Santa (慌てん坊サンタ, Awatenbō Santa)
The New Spring Manga Hell (新春まんが地獄, Shinshun Manga Jigoku)
The 100-Burst Human Fireworks (人間花火百連発, Ningen Hanabi Hyaku Renpatsu)
The Great Snow Woman's Snowball Fight (大雪女の雪合戦, Ōyuki Onna no Yukigassen)
Suddenly!! Poor (突然!! ビンボー Totsuzen!! Binbō, Suddenly!! Poor)
Special Selection!! The Youkai Inn (特選!! 妖怪の宿, Tokusen!! Yōkai no Yado)
Hero Elimination (英・雄(ヒーロー)・失・格, Hīrō Shikkaku)
Finale!! Father and Daughter (大団円!! 父と娘(こ), Daidan'en!! Chichi to Ko)
Sealing!! (封印!!, Fūin!!)
=== Phim ===
Ninja Sentai Kakuranger (Movie version)
Super Sentai World
Chouriki Sentai Ohranger: Ohre vs. Kakuranger
== Diễn viên ==
Ogawa Teruaki (小川 輝晃, Ogawa Teruaki Tiểu Xuyên Huy Hoảng): Sasuke / NinjaRed
Hirose Satomi (広瀬 仁美, Hirose Satomi Quảng Lại Nhân Mỹ): Tsuruhime / NinjaWhite
Inoue Mao: Tsuruhime (hồi nhỏ)
Kawai Shū (河合 秀, Kawai Shū Hà Cáp Tú): Seikai / NinjaYellow
Tsuchida Hiroshi (土田 大, Tsuchida Hiroshi Thổ Điền Đại): Saizo / NinjaBlue
Kane Kosugi (ケイン・コスギ, Kein Kosugi): Jiraiya / NinjaBlack
Yao Kazuki: Ninjaman (voice)
Sakamoto Akira: Momochi Sandayu
Tsuchiya Daisuke: Tarou
Tsuchiya Keisuke: Jirou
Handa Takao: Announcer
Endō Ken'ichi: Junia / Gasha Dokuro
Hiyama Nobuyuki: Gasha Dokuro (voice)
Shibata Hidekatsu: Daimao (voice)
Hotta Tomoyuki: Muteki Shogun (voice)
Hayase Keiko: Sakura
Koizumi Hiroshi: Kappa (1-2)
Shinoda Kaoru: Kanedama (13), Older Hitotsume Kozou (Movie)
Watabe Takeshi - Younger Hitotsume Kozou (Movie)
Kawai Ami: Amikiri (17)
Chiba Reiko: Reika (25)
Kosugi Sho: Gali (28-29)
Genda Tesshō: Nue (Voice; 27-29)
Ōtomo Ryūzaburō: Noppera-bō (Voice; 39)
=== Trang phục ===
Takaiwa Seiji: NinjaRed
Murakami Rie: NinjaWhite
Miyazaki Takeshi: NinjaBlue
Ishigaki Hirofumi: NinjaYellow
Kitagawa Tsutomu: NinjaBlack
Kusaka Hideaki: Muteki Shogun, NinjaMan
== Bài hát ==
Đầu
"Secret Kakuranger" (シークレット カクレンジャー, Shikuretto Kakurenjā)
Lời: Fuyamori Hanadaiko (冬杜 花代子, Fuyamori Hanadaiko Đông Đỗ Hoa Đại Tử)
Sáng tác: Tsushimi Takeshi (都志見 隆, Tsushimi Takeshi Đô Chí Kiến Long)
Biên tập: Yamamoto Kenji
Thể hiện: Tu Chi Chen
Kết
"Ninja! Skyscraper Kids" (ニンジャ!摩天楼キッズ, Ninja! Mantenro Kizzu)
Lời: Fuyamori Hanadaiko
Sáng tác: Tsushimi Takeshi
Biên tập: Yamamoto Kenji
Thể hiện: Tu Chi Chen
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Ninja Sentai Kaku Ranger tại Internet Movie Database
Ninja Sentai Kakuranger winning techniques list. (In Japanese)
Monster Conversion Guide |
văn lang.txt | Văn Lang (chữ Hán: 文郎) là nhà nước đầu tiên của Việt Nam trong lịch sử. Nhà nước Văn Lang được cai trị bởi các vua Hùng.
== Nguồn gốc tên gọi Văn Lang ==
Tên nước Văn Lang, cũng là tên bộ tộc mạnh nhất đã thống nhất 15 bộ tộc, chắc hẳn có nguồn gốc từ tiếng Việt cổ Blang hay Klang, mà nhiều dân tộc miền núi ở cao nguyên Trung Bộ chỉ một loại chim họ tôn kính như vật tổ. Trong truyền thống của người Mường, tổ tiên của họ là hai con chim Ay và Ua (hay Klang và Klao). Một cách tương tự, Mê Linh, có nguồn gốc là Mling, cũng chỉ một loài chim. Cách giải thích này phù hợp với tên gọi của vùng đất: Bạch Hạc, "con hạc trắng", - Mê Linh năm trong vùng đất này, - đồng thời cũng phù hợp với bức họa trình bày chim cao cẳng và người nhảy múa mặc bộ đồ bằng lông chim, trên các trống đồng. Một điểm khác chữ "Hồng" trong từ Hồng Bàng, thời kỳ thượng cổ của Kinh Dương Vương, chỉ một con chim nước thuộc họ diệc.
== Truyền thuyết khởi đầu ==
Theo bộ sử ký Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) - phần ngoại kỷ do sử gia Ngô Sĩ Liên viết ở thế kỷ 15 chép rằng: Đế Minh, thuộc dòng dõi Thần Nông, sinh ra Lộc Tục, tức Kinh Dương Vương, Lộc Tục lấy con gái Long Vương hồ Động Đình, sinh ra Lạc Long Quân (theo truyền thuyết Lạc Long Quân là cháu 5 đời của Thần Nông). Kế tiếp Lạc Long Quân và vợ là Âu Cơ (con gái Đế Lai) sinh được 100 người con trai, 50 người theo Lạc Long Quân theo cha về bờ biển Đông, 50 người theo mẹ về núi và suy tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Bạch Hạc - Phú Thọ.
Nước Văn Lang được hình thành vào khoảng năm 2879 TCN và kết thúc vào năm 258 TCN bởi An Dương Vương Thục Phán. Từ đây hình thành quan niệm dân gian coi nước Văn Lang đời Hùng Vương ra đời cách ngày nay khoảng hơn 4000 năm và thường được sách báo nói tới 4000 năm văn hiến.
Tuy nhiên theo bộ sử ký xuất hiện còn sớm hơn bộ ĐVSKTT là bộ Đại Việt sử lược vào thế kỷ 13 thì chép nước Văn Lang được thành lập bởi thủ lĩnh bộ tộc Văn Lang thu phục các bộ tộc Việt (15 bộ) khác vào khoảng thế kỷ 7 TCN cùng thời với vua Chu Trang Vương của nhà Chu - Trung Quốc. Ông lên ngôi xưng hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô tại Văn Lang. Về sau các sử gia nước ta bị ảnh hưởng của các sử gia Trung Quốc nên gọi kinh đô thời Văn Lang là Phong Châu. Trong bộ Việt sử lược có dành những dòng sau cho các vua Hùng
"Đến đời Trang Vương nhà Chu (696-682 trước Công nguyên), ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu, chất phác, chính sự dùng lối kết nút."
== Cương vực ==
Theo "Lĩnh Nam chích quái" (嶺南摭怪), quyển 1, Hồng Bàng thị truyện (鴻龐氏傳) thì nước Văn Lang:
đông giáp Nam Hải (南海), tức biển Đông
tây tới Ba Thục (巴蜀)
bắc tới hồ Động Đình (洞庭)
nam tới nước Hồ Tôn Tinh (狐猻精), còn gọi là nước Hồ Tôn (胡孫). Hồ Tôn Tinh về sau trở thành nước Chiêm Thành (占城).
Nước được chia thành 15 bộ (部), còn gọi là quận (郡), bao gồm:
Việt Thường (越裳)
Giao Chỉ (交趾)
Chu Diên (朱鳶)
Vũ Ninh (武寧)
Phúc Lộc (福祿)
Ninh Hải (寧海)
Dương Tuyền (陽泉)
Lục Hải (陸海)
Hoài Hoan (懷驩)
Cửu Chân (九真)
Nhật Nam (日南)
Chân Định (真定)
Văn Lang (文郎)
Quế Lâm (桂林)
Tượng Quận (象郡)
Theo "Việt sử lược" (越史略), quyển thượng, Quốc sơ duyên cách (國初沿革) thì nước Văn Lang gồm 15 bộ lạc (部落) là:
Giao Chỉ (交趾)
Việt Thường Thị (越裳氏)
Vũ Ninh (武寧)
Quân Ninh (軍寧)
Gia Ninh (嘉寧)
Ninh Hải (寧海)
Lục Hải (陸海)
Thang Tuyền (湯泉)
Tân Xương (新昌)
Bình Văn (平文)
Văn Lang (文郎)
Cửu Chân (九真)
Nhật Nam (日南)
Hoài Hoan (懷驩)
Cửu Đức (九德)
Kinh đô đặt tại bộ Văn Lang.
Trong "Đại Việt sử ký toàn thư" (大越史記全書), Ngoại kỉ (外紀), quyển 1, Hồng Bàng thị kỉ (鴻厖氏紀), cương vực và tên gọi 15 bộ của nước Văn Lang được chép gần như tương tự với "Lĩnh Nam chích quái" chỉ khác là không có bốn bộ Nhật Nam, Chân Định, Quế Lâm và Tượng Quận mà thay vào đó là bốn bộ Vũ Định (武定), Bình Văn (平文), Tân Hưng (新興) và Cửu Đức (九德). Bộ Văn Lang là nơi vua đóng đô. 15 bộ của nước Văn Lang theo "Đại Việt sử ký toàn thư" bao gồm:
Giao Chỉ (交趾)
Chu Diên (朱鳶)
Vũ Ninh (武寧)
Phúc Lộc (福祿)
Việt Thường (越裳)
Ninh Hải (寧海)
Dương Tuyền (陽泉)
Lục Hải (陸海)
Vũ Định (武定)
Hoài Hoan (懷驩)
Cửu Chân (九真)
Bình Văn (平文)
Tân Hưng (新興)
Cửu Đức (九德)
Văn Lang (文郎)
Các tài liệu nghiên cứu sau này cho rằng lãnh thổ nước Văn Lang bao gồm khu vực Bắc Bộ và ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay, thậm chí kéo dài tới Quảng Trị, dựa trên các di tích văn hóa đồ đồng đã được phát hiện, thời kỳ Văn Lang của các vua Hùng tương ứng với thời kỳ văn hoá Đông Sơn (từ năm 696 TCN - 682 TCN)
== Tổ chức nhà nước ==
Đứng đầu nhà nước là Hùng Vương, trong triều đình có các quan giúp việc là Lạc Hầu, quan Lạc Tướng cai quản các bộ địa phương, dưới Lạc Tướng là các quan Bồ Chính cai quản từng khu vực nhỏ (làng). Theo các tư liệu cổ, các vị vua cai trị nước Văn Lang có tất cả 18 đời (hoặc dòng) vua.
Xã hội có giai cấp có lẽ chưa xuất hiện, nhưng chắc chắn đã xuất hiện sự phân tầng. Theo Lĩnh Nam chích quái, tôi tớ được gọi là xao nếu là nữ, và xung nếu là nam, kẻ bề dưới là hôn. Xao có thể được gắn với sao trong tiếng Thái: con gái, hôn của tiếng Chăm và ho hun của tiếng Jarai và côn huon trong tiếng Thái là những từ dùng để gọi các nô lệ lo việc nhà.
Quan điểm về đặc tính của nhà nước Văn Lang rất đa dạng. Có nhiều quan điểm khác nhau trong đó có quan điểm của GS. Hà Văn Tấn cho rằng nhà nước Văn Lang chỉ là một cái làng lớn (Hà Văn Tấn, Làng, liên làng và siêu làng (Mấy vấn đề về phương pháp), Tạp chí Khoa học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 1, 1987, in lại trong Một số vấn đề Lý luận Sử học, Nhà xuất bản ĐHQGHN, 2007); quan điểm của tác giả Nguyễn Minh Tuấn cho rằng: Nhà nước Văn Lang thực chất là một "nhà nước siêu làng", thể hiện cả ở sự liên kết giữa làng và nước, chứ không chỉ là sự liên kết giữa các làng với nhau. Theo tác giả, tính chất "siêu làng" thể hiện ít nhất ở ba khía cạnh: Thứ nhất, về nội dung, nhà nước mang dáng dấp của một cái làng lớn có tính liên kết mạnh, tính đại diện cao và tính giai cấp yếu. Thứ hai, về phạm vi và tính chất liên kết, quan hệ làng nước mang tính hoà đồng, lưỡng hợp, chưa có sự phân định rạch ròi về chức năng, thẩm quyền giữa làng và nước. Thứ ba, về thời gian, nhà nước Văn Lang dần được hình thành trong một quá trình rất lâu dài (Nguyễn Minh Tuấn, Nhà nước Văn Lang - nhà nước siêu làng, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà nội, chuyên san Kinh tế - Luật, Tập 23, Số 3, năm 2007).
== Kết thúc ==
Cuối thời Hồng Bàng, theo ĐVSKTT cũng như theo Đại Việt sử lược, do nhiều lần bị vua Thục sang đánh nhưng nhờ binh cường tướng giỏi nên đều thắng nên vua Hùng sinh ra kiêu ngạo, chểnh mảng võ bị, ngày chỉ uống rượu ăn tiệc làm vui. Năm 258 TCN, cháu vua Thục là Thục Phán sang đánh, vua còn mải mê uống rượu, khi quân Thục đến gần vua nhảy xuống giếng chết, quân lính đầu hàng. Thục Vương chiếm lấy nước, sát nhập và thành lập nước Âu Lạc.
== Tham khảo ==
Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên
Đại Việt sử lược, khuyết danh - Trần Quốc Vượng dịch
Chú thích
== Xem thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Văn minh Đông Sơn |
động hương tích.txt | Hương Tích là một động đẹp, trọng tâm của khu du lịch quốc gia Hương Sơn thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, nay thuộc thành phố Hà Nội, Việt Nam. Động Hương Tích cách Hà Nội gần 70 km về phía Tây Nam.
Trông động như là con rồng chúa đang há miệng vờn ngọc. Tháng ba năm Canh Dần(1770), Chúa Trịnh Sâm từng tham quan động và đặt tên cho động là "Nam Thiên đệ nhất động" tức động đẹp nhất trời Nam. Trong động có pho tượng Phật bà Quan Âm làm bằng đá xanh tạc thời Tây Sơn và hàng vạn nhũ đá nhấp nhô với biết bao hình thù kỳ lạ: Bầu Sữa Mẹ, Hoa Phiền Não, Đụn Gạo, đụn Tiền, núi Cậu, núi Cô, Cây Vàng, Cây Bạc,...
== Đường lên động ==
Động còn có "đường lên trời" và "lối xuống âm phủ". Đường lên trời là một sườn đá dốc càng leo cang cao, lối xuống âm phủ là một cái khe đưa xuống hang sâu dưới đất.
== Không gian động Hương Tích ==
Động Hương Tích như một cái hàm rồng rộng lớn, thênh thang, hun hút. Bên dưới, bên trên, bên phải, bên trái, cân đối nhau chằn chặn. Hòn thạch nhũ có tên là Đụn Gạo, nằm ở chính giữa, gần lối cửa vào, giống như lưỡi trong miệng rồng. Sâu vào trong cổ họng rồng.... Trong lòng động, nhũ đá trên trần và cả nhũ đá mọc lên từ sàn động đều rất giống với sự vật hiện thực, tưởng như người xưa đã đem những thứ ấy vào đây để thưởng ngoạn, và cất giữ cho muôn đời cho con cháu. Đó là lợn mẹ, lợn con, đụn rơm, đụn gạo, quả bòng trái bưởi, cây bạc, cây vàng, khánh đá, cà sa nhũ Phật...Lại còn có cả dòng sữa mẹ ngày đêm tí tách rơi nhỏ giọt, tặng người vãn cảnh, làm cho lòng hang ẩm mát như được mưa ngoài trời:
"Cửa chùa cách một bước chân
Trong mưa ngoài tạnh như ngăn nửa trời"
Động Hương Tích là đích đến cuối cùng, sau thời gian khá dài leo núi, người hành hương đặt chân vào động như lạc vào cõi bồng lai tiên cảnh. Động gắn liền với rất nhiều bài thơ nổi tiếng:
Đường vào Hương Tích lượn quanh
Nước non gấm dệt, màu xanh phủ màn
Người Niệm Phật, khách tham quan,
Suối thanh tịnh rửa nhẹ nhàng trần duyên...
Động Hương tích đã trở thành nơi thờ phật lớn nhất của di tích Chùa Hương. Nói đến Trẩy hội chùa Hương tức là nói đến chùa trong động này. Chùa có nhiều tượng quý, Đặc biệt là tượng Phật Bà Quan Âm bằng đá xanh, tạc vào thời Tây Sơn Cảnh Thịnh năm thứ hai(1793). Tượng do viên quan võ tên là Nguyễn Huy Nhật cúng tiến. Vào mùa hội tháng giêng, tháng hai hàng năm, động Hương Tích xanh um màn khói hương tỏa ra và rì rào những âm thanh hỗn hợp trầm trầm của khách hành hương.
== Tham khảo == |
cẩm phả.txt | Cẩm Phả là một thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Ninh, nằm ở vùng Đông Bắc Bộ Việt Nam. Cẩm Phả là thành phố lớn thứ hai của tỉnh Quảng Ninh. Thành phố Cẩm Phả là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Quảng Ninh.
== Vị trí địa lý ==
Cẩm Phả nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 200 km về phía đông bắc, cách trung tâm thành phố Hạ Long 30 km, có toạ độ địa lý từ 20o58'10 - 21o12' vĩ độ bắc, 107o10' - 107o23'50 kinh độ đông. Phía đông của thành phố giáp với huyện Vân Đồn, phía tây giáp huyện Hoành Bồ và thành phố Hạ Long, phía nam giáp thành phố Hạ Long và huyện Vân Đồn, và phía bắc giáp huyện Ba Chẽ và huyện Tiên Yên.
== Điều kiện tự nhiên ==
Cẩm Phả có diện tích tự nhiên 486,45 km², địa hình chủ yếu đồi núi. Đồi núi chiếm 55,4% diện tích, vùng trung du 16,29%, đồng bằng 15,01% và vùng biển chiếm 13,3%. Ngoài biển là hàng trăm hòn đảo nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23oC, độ ẩm trung bình 84,6%, lượng mưa hàng năm 2.307 mm, mùa đông thường có sương mù.
== Lịch sử ==
Đầu thế kỷ 19, Cẩm Phả là một xã thuộc tổng Hà Môn châu Tiên Yên. Năm 1831, vua Minh Mệnh tách Cẩm Phả làm một tổng thuộc huyện Hoành Bồ, gồm 5 phố và 3 xã, trong đó 5 phố là Hạ Lâm, Núi Trọc, Ngã Hai, Mông Dương, Vạn Hoa và 3 gồm có Cẩm Phả, Đại Lộc, Quang Hanh.
Năm 1884, Vua Tự Đức ký hiệp ước Patenotre công nhận sự bảo hộ của Pháp. Thay mặt triều đình nhà Nguyễn tổng đốc Tôn Thất Bật đã ký kết hiệp ước, bán vùng Đông Triều, Uông Bí, Hòn Gai, Cẩm Phả cho Pháp với giá 25 vạn đồng. Ngày 24 tháng 8 năm 1886, Bavieaupour thành lập công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ (Société Francais des Charbonnages du Tôn Kin) độc quyền chiếm đoạt và khai thác than vùng Hòn Gai, Cẩm Phả, Mông Dương. Năm 1888, Pháp cho tiến hành thăm dò khai thác than trên cơ sở những lò cũ của dân bản xứ là người Sán Dìu, Thanh Phán, Kinh, Tày, Hoa...
Năm 1936, Pháp lập châu Hà Tu bao gồm cả tổng Cẩm Phả và Hà Tu, tách khỏi Hoành Bồ trực thuộc tỉnh Quảng Yên.
Năm 1940, Pháp bỏ châu Hà Tu, lập châu Cẩm Phả bao gồm phía đông Hoành Bồ, phần lớn huyện Ba Chẽ và đảo Cái Bầu.
Ngày 27 tháng 9 năm 1945, chính quyền nhân dân hai thị xã Cẩm Phả, Cửa ông được thành lập. Lúc này Cẩm Phả và Cửa Ông trực thuộc khu đặc biệt Hòn Gai.
Tháng 11 năm 1946, quân Pháp quay lại chiếm đóng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hai thị xã Cẩm Phả, Cửa Ông hợp thành liên thị xã.
Tháng 12 năm 1948 Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định tách một phần thị xã Cẩm Phả để thành lập huyện Cẩm Phả (sau được đổi tên thành huyện Vân Đồn vào năm 1994).
Ngày 22 tháng 4 năm 1955, Pháp rút khỏi Cửa Ông, thị xã Cẩm Phả được hoàn toàn giải phóng.
Ngày 12 tháng 11 năm 1956, thị xã Cẩm Phả trực thuộc khu Hồng Quảng, gồm 7 phường: Cẩm Đông, Cẩm Sơn, Cẩm Tây, Cẩm Thạch, Cẩm Thành, Cẩm Thủy, Cẩm Trung; 3 thị trấn: Cọc 6, Cửa Ông, Mông Dương và 3 xã: Cẩm Bình, Quang Hanh, Thái Bình.
Ngày 16 tháng 1 năm 1979, chuyển xã Dương Huy thuộc huyện Hoành Bồ và xã Cộng Hòa của huyện Cẩm Phả về thị xã Cẩm Phả quản lý.
Ngày 10 tháng 9 năm 1981, chia thị trấn Mông Dương thành phường Mông Dương và xã Cẩm Hải; chuyển thị trấn Cửa Ông thành phường Cửa Ông; chuyển thị trấn Cọc 6 thành phường Cẩm Phú; chuyển xã Thái Bình thành phường Cẩm Thịnh..
Ngày 16 tháng 8 năm 2001, chuyển 2 xã Cẩm Bình và Quang Hanh thành 2 phường có tên tương ứng.
Năm 2005, thị xã Cẩm Phả được công nhận là đô thị loại III.
Ngày 21 tháng 2 năm 2012, thị xã Cẩm Phả chính thức trở thành thành phố Cẩm Phả .
Ngày 17 tháng 4 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 505/QĐ-TTg công nhận thành phố Cẩm Phả là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Quảng Ninh.
== Hành chính ==
Thành phố Cẩm Phả có 16 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 13 phường: Cẩm Bình, Cẩm Đông, Cẩm Phú, Cẩm Sơn, Cẩm Tây, Cẩm Thạch, Cẩm Thành, Cẩm Thịnh, Cẩm Thủy, Cẩm Trung, Cửa Ông, Mông Dương, Quang Hanh và 3 xã: Cẩm Hải, Cộng Hòa, Dương Huy.
== Dân cư ==
Tính đến ngày 21 tháng 02 năm 2012, dân số tại thành phố Cẩm Phả có 195.800 người, với mật độ dân số đạt 403 người/km², dân số nam chiếm 59% dân số nữ chiếm 47%. Hầu hết dân số ở đây là người Kinh chiếm 95,2% dân số, còn lại đáng kể là người Sán Dìu với 3,9%, các dân tộc khác sống xen kẽ rải rác trong địa bàn toàn thành phố. Người Cẩm Phả phần lớn là công nhân ngành than, có nguồn gốc từ vùng đồng bắc Bắc Bộ.
== Giao thông ==
Quốc lộ 18 từ thành phố Hạ Long qua đèo Bụt chạy suốt lòng thành phố đến cực đông là cầu Ba Chẽ và đường nội thành kéo dài từ phường Cẩm Thạch tới phường Cẩm Đông là tuyến đường song song trục giao thông chính của Cẩm Phả. Đường 326 thường gọi là đường 18B từ Ngã Hai đến Mông Dương chạy ở phía tây dài 25 km chủ yếu dùng cho lâm nghiệp và vận tải mỏ. Tuyến xe buýt 01 chạy xuyên suốt thành phố. Cẩm Phả cũng có đặc thu đường sắt để vận chuyển than rất riêng biệt. Cẩm Phả trước kia có bến phà Vần Đồn nhưng sau khi xây cầu Vân Đồn bến ngừng hoạt động. Cẩm Phả có cảng Cửa Ông phục vụ các tàu lớn chủ yếu là tàu than và các bến tàu nhỏ phục vụ cho du lịch, tham quan vịnh Bái Tử Long. Ngoài ra còn có dự án đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long - Móng Cái đi qua hiện đang được đầu tư.
== Kinh tế ==
Thành phố Cẩm Phả có rất nhiều tiềm năng về phát triển kinh tế như công nghiệp khai thác chế biến than, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, chế tạo thiết bị điện, máy mỏ, xe tải nặng, công nghiệp đóng tàu, thương mại dịch vụ, du lịch...Năm 2014, tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 14%, thu ngân sách thành phố là trên 1000 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 4.700 USD.
Trữ lượng khoáng sản chủ yếu của Cẩm Phả là than đá, với tổng tiềm năng ước tính trên 3 tỷ tấn trong tổng số 8,4 tỷ tấn trữ lượng than của toàn tỉnh Quảng Ninh. Cẩm Phả có hệ thống đường sắt dùng chuyên chở than chạy dọc thành phố chở than đến Nhà máy Tuyển Than Cửa Ông Các mỏ than lớn như Cọc Sáu, Ðèo Nai, Cao Sơn, Mông Dương, Khe Chàm, Dương Huy, Thống Nhất. Ngoài ra, các khoáng sản khác như antimon, đá vôi, nước khoáng đều là những tài nguyên quý hiếm. Vùng núi đá vôi ở Cẩm Phả là nguồn nguyên liệu dồi dào cho việc phát triển các ngành sản xuất xi măng, nhiệt điện và vật liệu xây dựng, với Nhà máy xi măng Cẩm Phả. Thành phố Cẩm Phả có nghề khai thác hải sản với hơn 50 km bờ biển, nhưng chủ yếu là đánh bắt trong bờ, sản lượng thấp.
== Du lịch ==
Cẩm Phả là thành phố với nhiều cảnh thiên nhiên đẹp, Đền Cửa Ông hàng năm thường mở hội vào tháng Giêng, thu hút hàng vạn khách tham quan, chiêm bái. Động Hang Hanh có cửa vào từ vịnh đi thuyền suốt lòng núi chưa được khai thác. Khu đảo Vũng Đục có nhiều hang động thích hợp cho việc tham quan. Ngoài Hòn Hai, đảo Nêm trong vịnh Bái Tử Long đã hình thành một khu nghỉ ngơi của công nhân mỏ còn có đảo Rều, một cơ sở nuôi thả hàng nghìn con khỉ vừa là nguồn nguyên liệu cho y dược vừa là một địa chỉ tham quan rất hấp dẫn.Cẩm Phả còn có một số di tích và thắng cảnh nổi tiếng như đảo Thẻ Vàng, Hòn Hai, di tích Vũng Đục, động Hang Hanh...
== Các địa danh, đường phố, công trình công cộng tại Cẩm Phả ==
== Hình ảnh ==
== Chú thích == |
masukawa toshihide.txt | Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Masukawa. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Masukawa Toshihide (hay Maskawa) (益川 敏英, Masukawa Toshihide, sinh 7 tháng 2 năm 1940 tại Nagoya, Nhật Bản) là một nhà vật lý lý thuyết người Nhật nổi tiếng với nghiên cứu về vi phạm CP, nhờ đó ông đã được trao giải thưởng Nobel Vật lý năm 2008 "vì khám phá ra nguồn gốc của phá vỡ đối xứng cho phép tiên đoán sự tồn tại của ít nhất ba họ hạt quark trong tự nhiên."
== Chú thích == |
ramires.txt | Ramires Santos do Nascimento (sinh ngày 24 tháng 3 năm 1987 tại Barra do Piraí, Rio de Janeiro), thường gọi là Ramires, là cầu thủ bóng đá người Brasil thi đấu ở vị trí tiền vệ trung tâm cho câu lạc bộ Trung Quốc Giang Tô Tô Ninh và Đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil. Anh là một cầu thủ đa năng, có thể lực sung mãn, tốc độ và khả năng tranh chấp bóng tốt cũng như khả năng dứt điểm như một tiền đạo.
Ramires bắt đầu sự nghiệp tại Joinville và Cruzeiro. Năm 2009, anh chuyển đến Bồ Đào Nha thi đấu cho Benficavà giành được cú đúp giải quốc nội. Từ mùa hè 2010 cho đến tháng 1 năm 2016, anh thi đấu cho Chelsea và giành được nhiều danh hiệu cùng câu lạc bộ, trong đó có UEFA Champions League vào năm 2012.
Ramires có trận đấu đầu tiên cho tuyển Brasil vào tháng 6 năm 2009, đã từng hai lần dự World Cup và cùng đội bóng nước này vô địch FIFA Confederations Cup 2009.
== Sự nghiệp câu lạc bộ ==
Chào đời gần thành phố Rio de Janeiro, Ramires bắt đầu sự nghiệp cầu thủ ở vị trí hậu vệ cánh trái. Sau đó anh tới khu vực phía nam Brasil để thi đấu chuyên nghiệp, ký hợp đồng với câu lạc bộ hạng ba Joinville Esporte Clube năm 2005.
=== Cruzeiro ===
Tháng 1 năm 2008, Ramires đã đồng ký hợp đồng có thời hạn 5 năm với Cruzeiro với phí chuyển nhượng 300.000 $, trong đó Cruzeiro nắm 70% quyền lợi kinh tế từ anh, Joinville sẽ được lợi 30% từ bất kì vụ chuyển nhượng nào của anh trong tương lai. Tại Cruzeiro, anh có biệt danh là "Queniano Azul", hay "Người Kenya xanh". Biệt danh này vừa có ý nghĩa giới thiệu màu áo của đội bóng, vừa có ý nghĩa nói về khả năng thi đấu dai sức như các vận động viên điền kinh người Kenya của anh.
Năm 2008, Ramires đã có một mùa giải thành công với Cruzeiro khi cùng đội nhà vô địch Campeonato Mineiro, lọt vào đến vòng 16 đội ở Copa Libertadores trước khi bị loại bởi Boca Juniors và đứng hạng 3 ở Campeonato Brasileiro. Anh được chọn vào Đội hình xuất sắc nhất mùa giải của theo bình chọn của tạp chí uy tín ở Nam Mỹ Placar.
=== Benfica ===
Ngày 21 tháng 5 năm 2009, Ramires đã gia nhập câu lạc bộ Bồ Đào Nha Sport Lisboa e Benfica với phí chuyển nhượng 7,5 triệu € cùng với bản hợp đồng kéo dài 5 năm. Mức phí giải phóng hợp đồng tối thiểu là 30 triệu €.
Trận đấu đầu tiên của anh tại Giải Ngoại hạng Bồ Đào Nha (Portuguese Liga) là trận đấu với Vitória Guimarães ngày 23 tháng 8 năm 2009. Khi thời gian trận đấu không còn nhiều, Ramires đã ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu giúp đội nhà có được 3 điểm trọn vẹn. Trong 4 trận tiếp theo tại giải, anh đã có thêm 3 bàn thắng cho câu lạc bộ. Trong suốt một năm ở Bồ Đào Nha, Ramires đã thi đấu 26 trận ở Portuguese Liga, góp công lớn giúp Benfica lên ngôi vương giải vô địch quốc gia Bồ Đào Nha Liga Sagres với năm điểm nhiều hơn đội á quân Sporting Clube de Braga. Ngoài ra, trong mùa giải này, Benfica còn giành luôn Cúp Quốc gia Bồ Đào Nha.
Tại UEFA Europa League, Ramires đạt phong độ tốt trong trận lượt đi vòng tứ kết thắng Liverpool 2-1, nhưng anh bỏ lỡ một cơ hội tốt có thể giúp đội tới sân khách với lợi thế cách biệt hai bàn. Trong trận lượt về, anh chơi không thành công. Liverpool giành chiến thắng đậm 4-1 ở trận lượt về và 5-3 chung cuộc, trong đó có hai bàn của Fernando Torres.
=== Chelsea ===
==== Mùa bóng 2010–11 ====
Ngày 4 tháng 8 năm 2010, Benfica thông báo họ đã đạt được thoả thuận với câu lạc bộ tại Premier League là Chelsea và đối tác thứ ba (ngoài Benfica, Ramires còn được sở hữu bởi một nhà đầu tư khác) phí chuyển nhượng Ramires vào khoảng 17 triệu £. Tuy nhiên, các nhà chức trách của Premier League đã lên tiếng cảnh báo khả năng của thương vụ này khi gặp một số vấn đề pháp lý có thể phá vỡ quy tắc chuyển nhượng trong luật bóng đá Anh. Ngoài ra, anh còn phải chờ đợi được Sở Lao động Anh đồng ý cấp giấy phép lao động vì theo quy định, các cầu thủ ngoài EU sẽ chỉ được cấp giấy phép lao động nếu thỏa mãn điều kiện là đã chơi 75% số trận cho đội tuyển quốc gia trong vòng hai năm gần nhất. Dù Ramires không thoả mãn điều kiện này, nhưng anh đã được đặc cách. Cuối cùng, ngày 13 tháng 8, Ramires đã chính thức trở thành cầu thủ của Chelsea với bản hợp đồng 4 năm và Chelsea đã phải trả cho Benfica số tiền khoảng 18,3 triệu bảng (tương đương 22 triệu euro). Tại Stamford Bridge, anh sẽ khoác chiếc áo số 7, số áo trước đây thuộc về tiền đạo người Ukraina Andriy Shevchenko.
Anh có trân đấu đầu tiên cho Chelsea vào ngày 28 tháng 10 năm 2010 trong trận đấu với Stoke City, khi vào sân thay Michael Essien ở phút 84. Ngày 11 tháng 9, Ramires lần đầu tiên được thi đấu trọn vẹn 90 phút tại Premier League trong trận đấu với West Ham. Tuy nhiên, anh đã sa sút phong độ rất nhiều trong nửa đầu mùa giải đầu tiên cùng Chelsea.
Ramires có bàn thắng đầu tiên cho Chelsea trong chiến thắng 4-0 trước Bolton Wanderers tại Premier League ngày 25 tháng 1 năm 2011. Ngày 20 tháng 3, anh ghi bàn ấn định chiến thắng 2-0 của Chelsea trước Manchester City sau khi lần lượt đi bóng qua cả Joleon Lescott lẫn Aleksandar Kolarov trước khi dứt điểm hạ gục thủ môn Joe Hart. Bàn thắng này của anh được bầu chọn là Bàn thắng của năm của Chelsea.
==== Mùa bóng 2011–12 ====
Ngày 24 tháng 9 năm 2011, anh lập một cú đúp trong trận thắng 4-1 của Chelsea trước câu lạc bộ Swansea City. Ngày 15 tháng 10, anh ghi bàn trong chiến thắng 3-1 trước Everton, trận đấu thứ 50 của anh trong màu áo The Blues nhưng 3 phút sau khi ghi bàn, anh phải rời sân vì chấn thương. Ngày 1 tháng 11, Ramires có bàn thắng đầu tiên tại Champions League trong trận hòa 1-1 với Racing Genk.
Ramires có bàn thắng thứ năm trong mùa giải trong trận đấu quyết định tấm vé vào vòng đấu loại trực tiếp Champions League với Valencia. Chung cuộc Chelsea thắng 3–0. Ngày 2 tháng 1 năm 2012, anh được đánh giá là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu trong chiến thắng 2-1 trước Wolverhampton Wanderers với bàn thắng mở tỉ số. Ramires lập được cú đúp ngay trong trận đấu đầu tiên của Chelsea tại Cúp FA 2011-12 trong chiến thắng 4-0 trước Portsmouth. Tuy nhiên trong trận đấu ngay vòng sau đó của cúp FA với Queens Park Rangers, Ramires gặp phải chấn thương nặng sau một pha va chạm rất mạnh và buộc phải rời sân bằng cáng cứu thương và buộc phải nghỉ thi đấu 4 tuần.
Ngày 5 tháng 3 năm 2012, anh ký hợp đồng mới có thời hạn 5 năm với Chelsea. Ngày 15 tháng 4 năm 2012, Ramires tiếp tục ghi bàn trong chiến thắng 5-1 của Chelsea trước Tottenham Hotspur ở bán kết cúp FA tại sân Wembley.
Trong trận lượt đi bán kết UEFA Champions League với Barcelona, sau khi nhận đường chuyền dài từ Frank Lampard, Ramires có pha ngoặt bóng lại trước khi chuyền ngang cắt mặt khung thành cho Didier Drogba ghi bàn ở những phút bù giờ của hiệp 1. Sau đó trong trận lượt về ngày 24 tháng 4, sau khi Chelsea đã bị dẫn trước 2-0, Ramires có pha bứt tốc độ thoát xuống phần sân đối phương từ khoảng cách hơn 60 mét và nhận được đường chuyền chọc khe từ Frank Lampard. Trong tư thế không bị ai kèm, anh đã có pha sục bóng điệu nghệ và tinh tế qua người thủ môn Victor Valdes, rút ngắn tỉ số xuống còn 2-1. Chung cuộc Chelsea hòa Barcelona 2-2 và giành quyền vào chung kết gặp Bayern München. Tuy nhiên, chiếc thẻ vàng do pha phản ứng thái quá với trọng tài về thẻ đỏ của John Terry đã khiến cho Ramires không thể có mặt trong trận chung kết.
Trong trận chung kết cúp FA với Liverpool, Ramires bứt tốc ghi bàn mở tỉ số cho Chelsea từ đường chuyền của Juan Mata. Tại lễ công bố và trao các danh hiệu cá nhân của Chelsea mùa giải 2011-12, Ramires không giành được danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm (thuộc về Juan Mata) nhưng đã giành danh hiệu Cầu thủ của năm 2012 do người hâm mộ bầu chọn và cũng là năm thứ hai liên tiếp, anh là tác giả của bàn thắng đẹp nhất mùa giải của The Blues.
Ramires kết thúc mùa bóng 2011-12 với 12 bàn thắng, 6 đường chuyền thành bàn sau 44 trận đấu.
==== Mùa bóng 2012–13 ====
Trong trận đấu đầu tiên ở mùa bóng 2012-13 là trận tranh Siêu cúp Anh 2012, Ramires đã có một đường kiến tạo thành bàn cho Fernando Torres nhưng Chelsea chung cuộc đã để thua Manchester City 2-3. Anh có bàn thắng đầu tiên trong mùa giải tại lượt trận thứ hai vòng bảng của UEFA Champions League 2012-13 với Nordsjælland ấn định chiến thắng 4-0.
Ngày 28 tháng 10, Ramires ghi bàn gỡ hòa 2-2 trong thất bại 2-3 trước Manchester United tại vòng 9 Ngoại hạng Anh. Ba ngày sau, trong trận đấu vòng 4 Cúp liên đoàn cũng với Manchester United, anh tiếp tục ghi bàn ở hiệp phụ giúp Chelsea thắng chung cuộc 5-4. Ngày 23 tháng 12, Ramires lập được cú đúp trong chiến thắng 8-0 trước Aston Villa, sau khi vào sân từ băng ghế dự bị. Ngày 10 tháng 3 năm 2013, Ramires lại ghi bàn vào lưới Manchester United, lần này là tại vòng 6 cúp FA 2012-13 với bàn thắng ấn định tỉ số 2-2 của trận đấu tại Old Trafford.
==== Mùa bóng 2013–14 ====
Ngày 30 tháng 8 năm 2013, Ramires bị truất quyền thi đấu ở phút 85 trận Siêu cúp châu Âu 2013 với Bayern München, với kết quả cuối cùng Chelsea thất bại ở loạt sút luân lưu. Anh có bàn thắng đầu tiên trong mùa giải với pha ghi bàn ấn định chiến thắng 2-0 trước Swindon Town tại vòng ba Cúp liên đoàn ngày 24 tháng 9. Ngày 28 tháng 9, anh có trận đấu thứ 100 tại Premier League cho Chelsea trong trận hòa 1-1 với Tottenham Hotspur. Tại lượt trận thứ hai vòng bảng UEFA Champions League 2013-14 gặp Steaua Bucureşti, Ramires đã lập cú đúp đem về chiến thắng 4-0 cho Chelsea.
Ramires có bàn thắng đầu tiên tại Premier League 2013-14 vào ngày 14 tháng 12, đem về chiến thắng 2-1 cho Chelsea trước Crystal Palace.
=== Giang Tô Tô Ninh ===
Ngày 27 tháng 1 năm 2016, Ramires đến Trung Quốc để chơi cho câu lạc bộ Giang Tô Tô Ninh theo hợp đồng có thời hạn bốn năm với phí chuyển nhượng ước tính 25 triệu £, giá trị chuyển nhượng cao nhất trong lịch sử bóng đá Trung Quốc..
== Sự nghiệp đội tuyển quốc gia ==
Ngày 21 tháng 7 năm 2008, Ramires đã được huấn luyện viên Dunga chọn để thay thế tiền đạo Robinho trong danh sách đội tuyển U-23 Brasil tham dự Olympic Bắc Kinh 2008 vào phút chót. Tại giải này, đội tuyển Brasil đã giành được huy chương đồng.
Ngày 21 tháng 5 năm 2009, anh đã được gọi vào đội tuyển Brasil để chuẩn bị cho vòng loại World Cup 2010 và FIFA Confederations Cup 2009. Ramires có trận đấu đầu tiên cho đội tuyển vào ngày 6 tháng 6 năm 2009 trong trận đấu tại vòng loại World Cup 2010 với Uruguay khi vào sân thay cho Elano.
Ngày 12 tháng 5 năm 2010, Ramires đã được huấn luyện viên Dunga chọn vào danh sách 23 cầu thủ Brasil tham dự World Cup 2010 tại Nam Phi. Anh có được bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển quốc gia với cú đúp trong chiến thắng 5-1 trước Tanzania vào ngày 7 tháng 6 năm 2010, trận đấu tập dượt cuối cùng của đội tuyển Brasil cho World Cup 2010.
=== World Cup 2010 ===
Tại World Cup 2010, Ramires đã được đưa vào sân thay cho Felipe Melo ở phút 84 trong trận đấu đầu tiên ở vòng bảng gặp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Anh phải nhận thẻ vàng ở phút 88 sau một pha vào bóng thô bạo. Ở hai trận đấu còn lại ở vòng bảng với Côte d'Ivoire và Bồ Đào Nha, anh đều được vào sân ở những phút cuối trận đấu.
Chấn thương của Melo đã tạo điều kiện cho Ramires được ra sân ngay từ đầu trong trận đấu tại vòng 2 với Chile. Ở phút 59, Ramires cướp bóng từ giữa sân, tăng tốc vượt qua ba cầu thủ Chile trước khi chuyền ngang cho Robinho ghi bàn. Anh được Goal.com đánh giá là cầu thủ chơi hay nhất trận với 8,5 điểm. Tuy nhiên, đến trận tứ kết với Hà Lan, Ramires đã bị treo giò và cầu thủ thay thế anh là Melo đã mắc sai lầm nghiêm trọng dẫn đến trận thua 2-1 của đội tuyển Brasil.
== Thống kê sự nghiệp ==
=== Câu lạc bộ ===
Số liệu thống kê chính xác tới ngày 11 tháng 4 năm 2016
1Bao gồm 2012 FA Community Shield và 2015 FA Community Shield.
=== Đội tuyển quốc gia ===
Số liệu thống kê chính xác tới 9 tháng 9 năm 2015
=== Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia ===
== Danh hiệu ==
=== Club ===
Cruzeiro
Campeonato Mineiro: 2008, 2009
Joinville
Campeonato Catarinense: 2005, 2006
Benfica
Portuguese Liga: 2009–10
Taça da Liga: 2009–10
Chelsea
FA Cup: 2012
UEFA Champions League: 2012
UEFA Europa League: 2013
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Bồ Đào Nha) Thông tin về Ramires trên zerozero.pt
(tiếng Bồ Đào Nha)Thông tin về Ramires trên ESPN
Những màn trình diễn thuyết phục của Ramires |
đảng dân chủ tự do (đức).txt | Đảng Dân chủ Tự do (tiếng Đức: Freie Demokratische Partei), viết tắt: FDP, là một đảng phái chính trị trung hữu ở Đức. Lãnh đạo đảng hiện nay là ông Philipp Rösler (thay Guido Westerwelle từ 6 tháng 4 2011), đảng này là một đối tác đối với liên minh CDU/CSU (Liên minh Dân chủ Cơ đốc Đức và Liên minh Xã hội Cơ đốc Bayern) trong chính phủ liên bang Đức. FDP là đảng lớn thứ 3 trong Bundestag với 93 thành viên.
Đảng này được thành lập năm 1948 bởi những thành viên của hai đảng tự do tồn tại ở Đức trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng Dân chủ Đức và Đảng Nhân dân Đức. Từ đó, FDP đã tồn tại trong chính phủ liên bang Đức lâu hơn bất cứ đảng nào, với tư cách là đối tác với liên minh CDU/CSU (1949–56, 1961–66, 1982–98, và từ 2009) hay với Đảng Dân chủ Xã hội (1969–82).
FDP ủng hộ mạnh mẽ nhân quyền, quyền tự do công dân và quốc tế hóa, nhưng đã chuyển đổi từ khuynh hướng ôn hòa sang trung hữu qua thời gian. Từ thập niên 1980, đảng này đã thúc đẩy tư tưởng về tự do kinh tế, thị trường tự do và tư nhân hóa. Đảng này là thành viên của Quốc tế Tự do, Đảng Dân chủ Tự do và Cải cách châu Âu.
== Bầu cử Quốc hội Đức 2013 ==
Trong cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 22.09.2013, đảng FDP chỉ đạt được 4,8% (năm 2009:14,6%) và như vậy họ sẽ mất tất cả các ghế trong Bundestag (Quốc hội) Đức.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Kirchner, Emil; Broughton, David (1988). “The FDP in the Federal Republic of Germany”. Trong Kirchner, Emil. Liberal Parties in Western Europe. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 62–93. ISBN 9780521323949.
Roberts, Geoffrey K. (1997). Party Politics in the New Germany. London: Continuum International Publishing Group. ISBN 9781855673113.
Aguilera de Prat, Cesáreo R.; Rosenstein, Jed (2009). Political Parties and European Integration. New York: Peter Lang. ISBN 9789052015354.
== Liên kết ==
Official website |
michel chasles.txt | Michel Floréal Chasles (1793-1880) là nhà toán học người Pháp. Chasles là sinh viên của Trường Bách khoa Paris. Ông là tác giả của hệ thức Chasles. Hệ thức này có nội dung như sau:
Với ba tia Ox, Oy, Oz tùy ý, ta có: sđ(Ox, Oy)+k2π=sđ(Ox, Oz)+sđ(Oz, Oy) với k thuộc Z
(số đo của cung tròn tạo bới Ox và Oy, dù có quay bao nhiêu vòng đi nữa, cũng bằng số đo cung tròn tạo bởi Ox và Oz và tạo bởi Oz và Oy).
Đây là hệ thức quan trọng, giúp chúng ta có thể tính toán số đo của góc lượng giác. Nhờ những cống hiến cho toán học, ông giành được huy chương Copley năm 1865. Đồng thời tên của ông được ghi trên tháp Eiffel. Ngoài ra, tên ông còn được dùng để đặt tên cho tiểu hành tinh 18510 Chasles.
== Chú thích == |
huddersfield and district association football league.txt | Huddersfield and District Association League là một giải bóng đá Anh nằm ở Huddersfield. Giải đấu được thành lập năm 1898, có tổng cộng 4 hạng đấu chính và 4 hạng đấu dự bị. Hạng đấu chính cao nhất, Division One, nằm ở Cấp độ 14 trong Hệ thống các giải bóng đá ở Anh, góp đội cho West Riding County Amateur Football League. Các giải dự bị không nằm trong hệ thống.
Hiện tại giải đấu có 49 đội bóng và bước vào mùa giải 2015–16 với Newsome giành chức vô địch Division One. Heyside, Marsden và Salendine Nook là các nhà vô địch của Division Two, Three và Four.
Đội bóng thành công nhất trong một hạng đấu từ năm 2000, là Brackenhall United với 4 chức vô địch từ năm 2000 đến năm 2003. Đội bóng thành công trong tất cả các hạng đấu là Newsome, với 6 chức vô địch, khởi nghiệp từ hạng đấu Division Five đã bị hủy bỏ giai đoạn 1999–2000 và kết thúc với việc vô địch Division One trong mùa giải 2006–07. Newsome một lần nữa vô địch First Division mùa giải 2009–10 và 2014-15.
Thông thường các đội bóng đến từ Huddersfield ở West Yorkshire, tuy nhiên cũng có một số đội ở vùng Greater Manchester như Diggle, Uppermill 'A' và 3D Dynamos. Họ tham gia vào giải đấu vì khu vực mà các đội bóng có xuất phát điểm theo lịch sử từng là một phần của West Yorkshire.
== Lịch sử ==
Giải đấu được thành lập năm 1898. Năm 1919, có 42 đội chính và 78 đội trẻ trong giải. Trong suốt lịch sử giải đấu, số cầu thủ nhiều nhất trong giải đấu tại một thời điểm là 3,000. Trong mùa giải 2007–08, có 41 hạng đấu cho đội trẻ ở Huddersfield RCD Junior Football League, có trụ sở tại khu vực tương tự, với một số đội tiếp tục với HDAFL.
== Các câu lạc bộ mùa giải 2015–16 ==
Giải đấu có một hệ thống lên xuống hạng. Hai đội cuối bảng ở First Division sẽ được thay bởi hai đội nhất ở Second Division. Ba đội cuối bảng Second Division bị thay thế bởi top 3 đội mạnh nhất. Ba đội cuối bảng Third Division bị thay thế bởi top 3 đội mạnh nhất ở Fourth Division. Hệ thống cho phép các đội bóng từ hạng thấp lên các hạng cao hơn trong vài năm. Newsome đang thi đấu trong Fifth Division đã bị hủy bỏ ở mùa giải 2000–01, nhưng lại chơi ở Huế vì có cả First Division,về việc thăng hạng từ First Division ở 2006–07 sau khi thi đấu 3 mùa giải ở Second Division.
Các câu lạc bộ mùa giải 2015–16:
=== Division One ===
Berry Brow
Britannia Sports
Diggle
Hepworth United
Heyside
Heywood Irish Centre
Holmbridge
Holmfirth Town Dự bị
Newsome Dự bị
Shelley Dự bị
Shepley
Skelmanthorpe
=== Division Two ===
Aimbry
AFC Lindley
Cumberworth
Holme Valley Academicals
Honley Dự bị
Kirkheaton Rovers
KKS Spartans
Linthwaite Athletic
Marsden
Meltham Athletic
Netherton
Scholes
=== Division Three ===
Brook Motors
Colne Valley
Flockton
Grange Moor
Hade Edge
Lepton Highlanders Dự bị
Moorside
Paddock Rangers
Scissett
Slaithwaite United
Uppermill 'A'
Wooldale Wanderers
=== Division Four ===
3D Dynamos
Almondbury Woolpack
Almondbury Working Mens Club
Black Horse
Brighouse Athletic
Cartworth Moor
Golcar United 'A'
Junction
Lindley Saddle
Mount
Railway Berry Brow
Storthes Hall
Thornhill United
== Đội vô địch ==
== Ghi chú ==
Cựu Phó Chủ tịch Giải đấu Sir Amos Brook Hirst (OBE) đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch FA giai đoạn 1941–1955.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Official website
Soccer Weekend
3D Dynamo's
Uppermill FC Official Website |
saint-pierre và miquelon.txt | 46°47′B 56°12′T
Vùng lãnh thổ cộng đồng Saint-Pierre và Miquelon (tiếng Pháp: Collectivité territoriale de Saint-Pierre-et-Miquelon, phát âm tiếng Pháp: [sɛ̃.pjɛʁ.e.mi.klɔ̃]) là một quần đảo nhỏ - trong đó đảo chính Saint Pierre và Miquelon, nằm ở ngoài khơi phía Đông Canada gần Newfoundland.
Một phần lãnh thổ của Saint-Pierre và Miquelon được đặt trong quyền kiểm soát của Pháp và Liên minh châu Âu (EU), nhưng do quy định thủ tục nhập cảnh đặc biệt, các nước trong EU đã không cho phép công dân Pháp được tự do đi lại, tổ chức buôn bán trên quần đảo này [1].
== Ghi chú và Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Community, culture and history
Municipal Government of St-Pierre (tiếng Pháp)
History of Saint-Pierre and Miquelon
St Pierre & Miquelon Online Community
The liberation of St Pierre & Miquelon December 24th 1941 by the Free French Naval Forces
CIA World Factbook entry for Saint-Pierre and Miquelon
History of French submarine telegraph cables
Miquelon and St. Pierre history site produced by Newfoundland's Memorial University
Tourism
Tourist Office Official web site st-pierre-et-miquelon.info
Tourism and Travel Resources for St Pierre & Miquelon
Frequently Asked Questions Tourism and Travel
Maps of Towns in Saint-Pierre & Miquelon
Territorial issues
Saint-Pierre & Miquelon Continental Plate - "Defend Saint-Pierre & Miquelon" |
thiết bị bán hàng.txt | POS hay PoS là một thuật ngữ viết tắt của Point of Sale (hay point-of-sale, hoặc point of service). Nó sử dụng cho các shop bán lẻ (retail shop), tại quầy thanh toán tiền (check out counter) trong shop, hay là một vị trí có thể thay đổi được khi mà giao dịch xuất hiện trong loại của môi trường kiểu này. Thêm nữa, point of sale thỉnh thoảng đáp ứng giống như một hệ thống tính tiền (electronic cash register system). PoS được sử dụng trong các nhà hàng ăn uống, khách sạn, sân vận động, casino, nói chung nó thích hợp cho môi trường bán lẻ- tóm lại, nó là thứ phục vụ cho việc bán hàng, một điểm bán hàng trong một hệ thống bán hàng (point of sale system)
== Các cửa hàng truyền thống ==
Một quầy tính tiền (check-out counter), checkstand(USA), hay check-out(UK) là khu vực được chọn để thu tiền cho cửa hàng (store), như trong siêu thị hay một khu vực các cửa hàng. Ở đó có một nhân viên thu ngân (Cashier) thực hiện việc thu tiền, hàng hoá phải qua đây, được kiểm tra, sau đó khách hàng trả tiền và mang hàng hoá về.
== Kỹ thuật POS ==
Là sự kết hợp sử dụng giứa phần cứng và phần mềm cho quầy tính tiền, và có thể đó là một vị trí lưu động, với các hệ thống không dây (wireless systems)
Hệ thống POS phát triển từ là một loại máy tính tiền cơ khí sử dụng các thanh ghi dịch(mechanical cash registers) vào đầu thế kỷ 20. Những ví dụ của loại máy tính tiền này như là sử dụng thanh ghi NCR(crank) và loại cao hơn đó là thanh ghi Burrough.Các thanh ghi này ghi lại dữ liệu vào các cuộn băng từ(journal tapes) và đòi hỏi phải sao chép lại các thông tin này vào hệ thống của người quản lý bán lẻ. Bước tiếp theo trong quá trình phát triển là việc sử dụng điện cho các máy tính tiền. Một thí dụ cho loại này là thanh ghi NCR Class 5. Vào năm 1973 một loại máy mới ra đời được dẫn hướng bằng máy tính được giới thiệu, là IBM 3653 Store System và NCR 2150. Một số loại khác dựa trên sự cơ sở máy tính như là Regitel, TRW, và Datachecker. Vào năm 1973 lần đầu tiên giới tiệu máy đọc mã vạch UPC/EAN có trong hệ thống POS. Năm 1986, các hệ thống POS chủ yếu dựa trên kỹ thuật máy tính với sự ra đời của IBM 4683.
Suốt trong những năm 1980 đến 90 các thẻ tín dụng hoạt động độc lập được tích hợp phát triển xử lý các thẻ tín dụng có trong hệ thống POS có thể dễ dàng và an toàn Model được giới thiệu ở đay là VeriFone Tranz 330, Hypercom T7 Plus, hay Lipman Nurit 2085. Nó là các thiết bị đơn giản. Một số hệ thống POS không dây sử dụng cho các cửa hàng ăn không chỉ cho phép xử lý thanh toán di động, chúng còn cho phép server xử lý chính xác tất cả các món ăn. Vào năm 2005, hệ thống POS dùng cho bán lẻ không những phục vụ muc đích bán lẻ mà cho khả năng kết nối mạng sử dụng trong thương mại. Trên thực tế, rất nhiều hệ thống bán lẻ POS hoạt động hơn là một "point of sale". Khi chỉ phục vụ cho 4&5 nhà bán lẻ, có nhiều hệ thống POS tích hợp nhiều account, quản lý thông minh, mở dự báo bán hàng, quản lý quan hệ khách hàng (customer relation management CRM), quản lý dịch vụ, số tiền thuê, và số tiền phải trả cho nhân viên.
Với những tuỳ chọn phong phù, một điều trở nên phổ biến mà dễ dàng ta sẽ phải nghe tới đó là các sản phẩm phần mềm cho POS như: retail management software, business management software, POS system, and point of sale software.
== Một phần mềm POS đơn giản ==
Một ECR đầu tiên được chương trình hoá bằng phần mềm và giới hạn về chức năng và khả năng kết nối được giới thiệu vào năm 1973 bởi IBM, IBM 3650 và 3660 Store, điều khiển128 IBM 3653/3663 Point of Sale Registers. Hệ thống này là bản thương mại đầu tiên sử dụng kỹ thuât client-server technology, peer to peer communications, Local Area Network (LAN) đồng thời backup, and remote initialization. Vào giữa nhưng năm 1974, nó được sử dụng trong Pathmark Stores tại New Jersey và Dillards Department Stores. Khả năng lập chương trình cho phép các nhà bán lẻ rất linh hoạt. Vào năm 1979 Gene Mosher's Old Canal Cafe tại Syracuse, New York sử dụng phần mềm POS viết bởi Mosher chạy trên máy Apple II giúp cho khách hàng tiện lợi trong quán ăn, và nó còn cho phép gửi thông báo tới nhà bếp Năm 1985 Mosher giới thiệu loại có màn hình cảm ứng (touchscreen-driven), màu, giao diện POS. Phần mềm này chạy trên Atari ST, là sản phẩm máy tính đồ hoạ đầu tiên trên thế giới. Cuối thế kỷ 20 Mosher phát triển phàn mềm này cho các nhà sản xuất máy tính tiền và phần mềm phát triển POS, và nó được coi như là chuẩn của hệ thống phần mềm POS.
== Các chuẩn phần cứng POS ==
Có 2 chuẩn dành cho thiết bị phần cứng của POS là OPOS và JavaPOS, cả hai đều tương thích với UnifiedPOS, chuẩn bởi tổ chức bán lẻ quốc tế (The National Retail Foundation). OPOS (OLE for POS) là chuẩn phổ biến đầu tiên được giới thiệu bởi Microsoft, NCR Corporation, Epson, và Fujisu-ICL. OPOS dựa trên chuẩn giao tiếp cổng COM, cho phép sử dụng các chương trình ngôn ngữ của Microsoft. OPOS phát hành năm 1996, JavaPOS được giới thiệu bởi Sun Microsoftsystem, IBM và NCR Corporation năm 1997.
Về sau, cùng với sự phát triển ồ ạt của mô hình "chuỗi POS", nhu cầu quản lý tập trung được đặt ra. Một số hãng sản xuất phần mềm đã đưa ra giải pháp thay thế các POS chuyên dụng bằng các phần mềm "POS" chạy trên máy PC. Với một PC, người dùng có thể gắn thêm các thiết bị có liên quan (thông thường là Barcode Reader - thiết bị đọc mã vạch - và Bill Printer - máy in Bill chuyên dụng) - cùng với việc cài đặt một POS software - người dùng có thể sở hữu một máy POS hoàn chỉnh với độ tùy biến cao; đồng thời, có thể tận dụng ưu điểm của các giao thức truyền thông trên PC để giải quyết tốt vấn đề tích hợp dữ liệu bán lẻ từ các POS về cơ sở dữ liệu trung tâm, cũng như tiếp nhận các dữ liệu mang tính "chính sách" được phân phối từ trung tâm đến các POS.
== Giao thức truyền thông POS ==
Có nhiều giao thức truyền thông trong các hệ thống POS sử dụng để điều khiển thiết bị ngoại vi. Ta có thể nói tới
EPSON Esc/POS
UTC Standard
UTC Enhanced
AEDEX
ICD 2002
Ultimate
CD 5220
DSP-800
IBM dumb terminal
ADM 787/788.
Chúng được tạo ra bởi những công ty chế tạo các thiết bị ngoại vi khác nhau. EMAX, sử dụng EMAX international, kết hợp giữa thiết bị của AEDEX và IBM. Rất nhiều thiết bị, như hiển thị và máy in, hỗ trợ giao thức để hoạt động với các thương hiệu khác nhau của thiết bị POS và máy tính.
== Xem thêm ==
Máy bán hàng
== Tham khảo == |
nhiệt dung.txt | Nhiệt dung là lượng nhiệt vật hoặc một khối chất thu vào hay tỏa ra để tăng hoặc giảm 1K hoặc 1 °C.
== Công thức tính ==
C=(độ thay đổi nhiệt lượng)/(dT)
Trong biểu thức nhiệt lượng, nếu nhiệt độ của vật chỉ thay đổi đi một đơn vị thì biểu thức cho biết nhiệt lượng cần thiết để làm tăng nhiệt độ của một vật có khối lượng nào đó lên một độ. Nhiệt lượng này gọi là Nhiệt Dung của vật đó.
== Nhiệt dung riêng ==
Nhiệt dung riêng của một chất là một đại lượng vật lý có giá trị bằng nhiệt lượng cần truyền cho một đơn vị khối lượng chất đó để làm tăng nhiệt độ lên 1 °C. Trong hệ thống đo lường quốc tế, đơn vị đo của nhiệt dung riêng là Joule trên kilôgam trên Kelvin, J•kg−1•K−1 hay J/(kg•K), hoặc Joule trên mol trên Kelvin.
Các công thức tính:
Công thức 1: Gọi C là nhiệt dung riêng.khi đó một vật có khối lượng M ở nhiệt độ T1 cần truyền một nhiệt lượng là Q để nhiệt độ vật tăng lên T2 khi đó C có giá trị bằng:
C
=
Q
M
(
T
2
−
T
1
)
{\displaystyle C={\frac {Q}{M(T_{2}-T_{1})}}}
Công thức 2: Giả sử vật rắn khảo sát có khối lượng M, nhiệt độ T và nhiệt dung riêng C.
Cho vật rắn vào nhiệt lượng kế (có que khuấy) chứa nước ở nhiệt độ T1.
Gọi: m1 là khối lượng của nhiệt lượng kế và que khuấy.
C1 là nhiệt dung riêng của chất làm nhiệt lượng kế.
m2 là khối lượng nước chúa trong nhiệt lượng kế.
C2 là nhiệt dung riêng của nước.
Nếu T >T1 thì vật rắn tỏa ra một nhiệt lượng Q và nhiệt độ vật giảm từ T xuống T2.
Q=M.C.(T – T2)
Đồng thời nhiệt lượng kế que khuấy và nước nhận số nhiệt lượng ấy để tăng nhiệt từ T1 đến T2.
Q=(m1.C1+m2.C2)(T2–T1)
Suy ra:
C
=
(
m
1
.
C
1
+
m
2
.
C
2
)
.
(
T
2
−
T
1
)
M
(
T
−
T
2
)
{\displaystyle C={\frac {(m_{1}.C_{1}+m_{2}.C_{2}).(T_{2}-T_{1})}{M(T-T_{2})}}}
- Nếu thể tích của hệ là một mol thì ta có nhiệt dung phân tử (tạm ký hiệu là Cmol)
+ Nhiệt dung mol đẳng tích (ký hiệu Cv) là nhiệt dung tính trong quá trình biến đổi mà thể tích của hệ không đổi và được tính bằng δ.Qv chia cho n.dT
+ Nhiệt dung mol đẳng áp (ký hiệu Cp) là nhiệt dung tính trong quá trình biến đổi mà áp suất của hệ không đổi và được tính bằng δ.Qp chia cho n.dT
Hai nhiệt dung trên nếu tính cho một đơn vị khối lượng thì được nhiệt dung riêng đẳng tích và nhiệt dung riêng đẳng áp (giá trị của nhiệt dung riêng trong các bài tập vật lý phổ thông thường là nhiệt dung riêng đẳng áp vì trong các bài tập đó áp suất của hệ là không đổi và bằng áp suất khí quyển và ở phổ thông người ta chỉ gọi nó đơn giản là nhiệt dung riêng thôi). Nếu tính cho một mole thì được nhiệt dung phân tử (nhiệt dung mol) đẳng tích và đẳng áp, giá trị của các nhiệt dung này cho khí lý tưởng
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
phan thị thanh nhàn.txt | Phạn Thị Thanh Nhàn (sinh năm 1943) là một nhà thơ nữ nổi tiếng của Việt Nam.
== Tiểu sử ==
Phan Thị Thanh Nhàn sinh năm 1943 tại phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội. Bà làm thơ từ sớm, đầu thập niên 1960 đã có thơ đăng báo. Năm 1969, bài thơ Hương thầm của bà đoạt giải nhì cuộc thi thơ của báo Văn nghệ. Bà là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Uỷ viên Ban chấp hành Hội trong giai đoạn 2001-2005. Ngoài làm thơ, bà còn viết báo, truyện ngắn, truyện cho thiếu nhi. Phan Thị Thanh Nhàn kết hôn với nhà thơ Thi Nhị, đã mất năm 1979. Hiện nay, bà đang sống cùng con gái duy nhất tại Hà Nội.
Phan Thị Thanh Nhàn được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.
== Tác phẩm ==
Tháng giêng hai (thơ, 1969)
Hương thầm (thơ, 1973)
Chân dung người chiến thắng (thơ, 1977)
Bông hoa không tặng (thơ, 1987)
Nghiêng về anh (thơ, 1992)
Xóm đê ngày ấy (truyện thiếu nhi, 1977)
Hoa mặt trời (1978)
Ánh sáng của anh (1978)
Tuổi trăng rằm (truyện thiếu nhi, 1982)
Bỏ (truyện thiếu nhi, 1995).
== Thành tựu nghệ thuật ==
Phan Thị Thanh Nhàn viết nhiều thơ tình, theo năm tháng, những bài thơ tình của bà từ nhẹ nhàng, tươi tắn chuyển sang giàu trải nghiệm, trăn trở nhưng độ lượng hơn. Nhưng dù thế nào, những bài thơ của bà vẫn rất chân thành, gần gũi và vì thế chiếm được chỗ trong lòng người đọc. Bài thơ Hương thầm của bà đã được nhạc sĩ Vũ Hoàng phổ nhạc năm 1984 và cũng trở nên nổi tiếng, cái Hương thầm ấy vẫn sẽ còn lan toả:
Cửa sổ hai nhà cuối phố
Chẳng hiểu vì sao không khép bao giờ
Đôi bạn ngày xưa học chung một lớp
Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa
Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay
Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm...
== Một số bài thơ tiêu biểu ==
Hương thầm
Con đường
Không đề
Trời và đất
Làm anh
== Các cuộc thi tham gia với cương vị Giám khảo ==
=== Cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU (Việt Nam) ===
Từ năm 2000 đến nay, Phan Thị Thanh Nhàn đã tham gia làm giám khảo nhiều cuộc thi, mà nổi bật nhất là cuộc thi Viết thư Quốc tế UPU dành cho Thiếu nhi (do Việt Nam tổ chức). Bà là một trong 10 Giám khảo Chung kết có công lao lớn nhất trong việc chọn lựa những tác phẩm văn học có chất lượng nhất, đại diện Việt Nam dự thi Quốc tế và đoạt nhiều giải thưởng danh giá. Qua hơn 15 năm liên tục tham gia cuộc thi với cương vị là Giám khảo, Phan Thị Thanh Nhàn cùng một số nhà văn nổi tiếng khác như Tạ Duy Anh, Lê Phương Liên, Phong Điệp, v.v... đã góp phần không nhỏ trong việc giúp học sinh Việt Nam thể hiện tài năng, bản lĩnh của mình trên trường Quốc tế với 11 giải Quốc tế do UPU và UNESCO trao tặng (trong hơn 25 năm Việt Nam tham gia). Hiện tại, bà vẫn tiếp tục nhận lời mời trở thành Giám khảo Quốc gia cuộc thi lần thứ 44-2016.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phan Thị Thanh Nhàn trên Facebook |
cam ranh.txt | Cam Ranh tiếng Chăm, tiếng J'rai hoặc tiếng Êđê là: Kăm M'ran; Kăm có nghĩa là: Dồn một chỗ, một đống, tập trung lại, hay gọi là bến; M'ran có nghĩa là: tàu, thuyền, đò; nghĩa chung là nơi Tàu, thuyền tập trung hay gọi là bến Tàu, thuyền, sau này phiên âm sang tiếng Việt từ Kăm M'ran đọc thành Cam Ranh (Nghĩa của từ Kăm M'ran gần giống như từ Vũng Tàu vậy) là một thành phố thuộc tỉnh Khánh Hòa. Thành phố Cam Ranh cách Nha Trang (tỉnh lỵ tỉnh Khánh Hòa) 45 km về phía Nam, nằm bên Quốc lộ 1A, tọa lạc bên bờ Vịnh Cam Ranh, một vịnh biển tự nhiên được xem là vịnh tự nhiên tốt nhất Đông Nam Á, nơi hội tụ những điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi cho phát triển dịch vụ cảng biển và du lịch.
== Lịch sử ==
Kể từ năm 1653, khi chúa Nguyễn Phúc Tần lập ra dinh Thái Khang với 2 phủ và 5 huyện, qua các đời vua Minh Mạng, Thành Thái, Duy Tân đến Bảo Đại sau này với nhiều cách phân định ranh giới, lập các đơn vị hành chính khác nhau. Cho đến giữa năm 1939, Cam Ranh ngày nay vẫn là một phần đất của huyện Vĩnh Xương (gồm các tổng Thủy Triều, Cam Linh, Thịnh Xương và 6 tổng miền núi) giáp với tỉnh Ninh Thuận.
Giữa năm 1939, với nghị định ngày 8 tháng 6 của Toàn quyền Đông Dương Georges Catroux và chỉ dụ số 17 của Bảo Đại, tách một phần đất của Ninh Thuận và huyện Vĩnh Xương lập một đơn vị hành chính tương đương cấp huyện, trực thuộc tỉnh Khánh Hòa gọi là Nha đại lý hành chính Ba Ngòi, năm 1947 đổi thành quận Cam Lâm.
Từ năm 1965 - 1972, Hoa Kỳ đóng quân ở đây và gọi là Căn cứ không quân Cam Ranh (hay Quân cảng Cam Ranh). Năm 1978, Liên Xô - mà sau này do Nga kế tục - thuê lại căn cứ Cam Ranh với thời hạn đến năm 2004, nhưng đã kết thúc sớm hơn hai năm.
Tháng 10 năm 1965, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ký sắc lệnh số 206 ngày 25 tháng 1, lấy các xã Suối Vĩnh, Suối Hải, Suối Hoà, Cam Phúc, Cam Ranh, Cam Bình, Cam Linh, Cam Lộc của quận Cam Lâm và phần đất đã nhập vào quận Du Long (tỉnh Ninh Thuận) trước đó là các thôn Hoà Diêm, Trại Láng, Ma Dù, Sông Cạn, Mỹ Thạnh thành lập thị xã Cam Ranh (trực thuộc trung ương). Đến ngày 6 tháng 7 năm 1966, Nghị định số 620 BNV/NC/NĐ đổi các xã thuộc thị xã Cam Ranh thành khu phố. Sắc lệnh số 17-SL/NV ngày 20 tháng 2 năm 1968, lấy thêm xã Cam Sơn và một phần xã Cam Phú, Cam Thượng của quận Cam Lâm sáp nhập vào thị xã Cam Ranh. Nghị định số 1048-NĐ/NV ngày 7 tháng 11 năm 1970, chia thị xã Cam Ranh thành hai quận là quận Bắc và quận Nam. Quận Bắc gồm các khu phố: Suối Hòa, Suối Vĩnh, Suối Hải, Suối Cam; quận Nam gồm các khu phố: Cam Phúc, Cam Bình, Cam Ranh, Cam Phú, Cam Lộc, Cam Sơn, Cam Thịnh.
Dưới chính quyền phía Cộng sản (đóng tại Khánh Sơn), để thuận tiện cho sự chỉ đạo từng thời kỳ, địa giới hành chính huyện Ba Ngòi cũng có một số thay đổi. Cuối năm 1949, nhập tổng Hòa Tân vào huyện Ba Ngòi, đầu năm 1951, tách huyện Ba Ngòi thành 2 khu: khu đặc biệt Cam Ranh và huyện Khánh Sơn. Ngày 10 tháng 5 năm 1977, nhập lại thành một huyện lấy tên chung là huyện Cam Ranh. Huyện Cam Ranh ban đầu gồm 18 xã: Ba Cụm, Cam An, Cam Bình, Cam Đức, Cam Hải, Cam Hiệp, Cam Hòa, Cam Lập, Cam Nghĩa, Cam Phúc, Cam Phước, Cam Tân, Cam Thành, Cam Thịnh, Sơn Hiệp, Sơn Tân, Thành Sơn, Trung Hạp.
Ngày 23 tháng 10 năm 1978, thị trấn Ba Ngòi (huyện lị) được thành lập theo Quyết định số 268-CP.
Ngày 30 tháng 9 năm 1981, chia xã Cam Thành thành hai xã lấy tên là xã Cam Thành Bắc và xã Cam Thành Nam; chia xã Cam Phúc thành hai xã lấy tên là xã Cam Phúc Bắc và Cam Phúc Nam.
Đến ngày 27 tháng 6 năm 1985, huyện Cam Ranh lại tách thành 2 huyện: Cam Ranh và Khánh Sơn. Huyện Cam Ranh khi đó gồm có thị trấn Ba Ngòi và 16 xã: Cam An, Cam Bình, Cam Đức, Cam Hải, Cam Hiệp, Cam Hòa, Cam Lập, Cam Nghĩa, Cam Phúc Bắc, Cam Phúc Nam, Cam Phước, Cam Tân, Cam Thành Bắc, Cam Thành Nam, Cam Thịnh, Sơn Tân.
Ngày 13 tháng 9 năm 1985, chia xã Cam An thành 2 xã lấy tên là xã Cam An Bắc và xã Cam An Nam; chia xã Cam Phước thành 2 xã lấy tên là xã Cam Phước Đông và xã Cam Phước Tây; chia xã Cam Thịnh thành 2 xã lấy tên là xã Cam Thịnh Đông và xã Cam Thịnh Tây; chia xã Cam Hải thành 2 xã lấy tên là xã Cam Hải Đông và Cam Hải Tây.
Ngày 16 tháng 4 năm 1988, chia xã Cam Hiệp của huyện Cam Ranh thuộc tỉnh Phú Khánh thành hai xã lấy tên là xã Cam Hiệp Nam và xã Cam Hiệp Bắc.
Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tái lập tỉnh Khánh Hòa từ tỉnh Phú Khánh, huyện Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Cuối năm 1999, huyện Cam Ranh có 22 đơn vị hành chính gồm thị trấn Ba Ngòi và 21 xã: Cam An Bắc, Cam An Nam, Cam Bình, Cam Đức, Cam Hải Đông, Cam Hải Tây, Cam Hiệp Bắc, Cam Hiệp Nam, Cam Hòa, Cam Lập, Cam Nghĩa, Cam Phúc Bắc, Cam Phúc Nam, Cam Phước Đông, Cam Phước Tây, Cam Tân, Cam Thành Bắc, Cam Thành Nam, Cam Thịnh Đông, Cam Thịnh Tây, Sơn Tân.
Ngày 7 tháng 7 năm 2000, huyện Cam Ranh được nâng lên thành thị xã Cam Ranh, gồm 9 phường: Ba Ngòi, Cam Linh, Cam Lộc, Cam Lợi, Cam Nghĩa, Cam Phú, Cam Phúc Nam, Cam Phúc Bắc, Cam Thuận và 18 xã: Cam Bình, Cam Lập, Cam Phước Đông, Cam Thành Nam, Cam Thịnh Đông, Cam Thịnh Tây, Cam Tân, Cam Hòa, Sơn Tân, Cam Hải Tây, Cam Đức, Cam Hiệp Bắc, Cam Hiệp Nam, Cam Thành Bắc, Cam An Bắc, Cam An Nam, Cam Phước Tây, Cam Hải Đông. Trong đó, 6 phường: Ba Ngòi, Cam Linh, Cam Lộc, Cam Lợi, Cam Phú, Cam Thuận được thành lập trên cơ sở giải thể thị trấn Ba Ngòi; 3 phường: Cam Nghĩa, Cam Phúc Bắc, Cam Phúc Nam được thành lập trên cơ sở giữ nguyên trạng 3 xã có tên tương ứng.
Ngày 11 tháng 4 năm 2007, theo nghị định số 65/2007/NĐ-CP của Chính phủ cắt các xã: Cam Tân, Cam Hòa, Sơn Tân, Cam Hải Tây, Cam Đức, Cam Hiệp Bắc, Cam Hiệp Nam, Cam Thành Bắc, Cam An Bắc, Cam An Nam, Cam Phước Tây, Cam Hải Đông của thị xã Cam Ranh và các xã Suối Tân, Suối Cát của huyện Diên Khánh để thành lập huyện Cam Lâm.
Ngày 17 tháng 9 năm 2009, thị xã Cam Ranh được công nhận là đô thị loại 3 . Ngày 23 tháng 12 năm 2010, thị xã Cam Ranh được chính phủ chính thức công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh Khánh Hòa
== Hành chính ==
Các đơn vị hành chính bao gồm 9 phường và 6 xã:
== Giao thông ==
=== Đường hàng không ===
Thành phố Cam Ranh có Sân bay quốc tế Cam Ranh đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh Khánh Hòa nói riêng và khu vực Nam Trung Bộ nói chung. Cũng là sân bay lớn thứ 4 Việt Nam tính theo số lượng khách thông quan
=== Đường Sắt ===
Cam Ranh nằm trên tuyến đường sắt Bắc Nam thuận lợi cho việc liên kết với các tỉnh còn lại của Việt Nam. Tuy nhiên trên địa bàn thành phố chỉ có một ga nhỏ là ga Ngã Ba, một ga cũ từng bị bỏ hoang trong hơn 20 năm và từ năm 2007 mới được phục dựng lại để đón khách . Các tàu Thống Nhất có đi qua Cam Ranh nhưng không đổ lại ga Ngã Ba đón, trả khách. Hiện tại ga chỉ đón khách của các chuyến tàu SN1-2, SN3-4 chạy tuyến Sài Gòn - Nha Trang. Tương lai ga sẽ được nâng cấp để đón các tàu chạy tuyến Thống Nhất
=== Đường thủy ===
Trên địa bàn thành phố có hai cảng lớn:
Cảng Cam Ranh (tiền thân là Cảng Ba Ngòi), đóng ở phường Cam Linh (khu vực Ba Ngòi trước đây), trực thuộc cảng vụ Nha Trang. Đây là cảng thương mại quốc tế quan trọng nằm trong vịnh Cam Ranh, nơi hội tụ những điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi cho phát triển dịch vụ cảng biển như mực nước sâu, kín gió, diện tích lớn, nằm gần đường hàng hải quốc tế và sân bay Cam Ranh, cách Quốc lộ 1A 1,5 km và tuyến đường sắt Bắc – Nam 3 km nên từ lâu cảng đã là đầu mối giao thông đường biển quan trọng cho khu vực Nam Khánh Hòa và các tỉnh lân cận.
Quân cảng Cam Ranh là một cảng quân sự lớn nằm ở phía Nam, Bán đảo Cam Ranh, nơi đóng trụ sở Bộ chỉ huy vùng D Hải Quân. Đây từng căn cứ phức hợp quan trọng của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam
=== Đường bộ ===
Cam Ranh cách Nha Trang khoảng 60 km về phía Nam, cách Phan Rang 40 km về phía Bắc. Cam Ranh còn có hệ thống giao thông đường bộ rất thuận lợi: Quốc lộ 1A đi ngang qua thành phố trên 40 km, tỉnh lộ 9 nối trung tâm thành phố với thị trấn Tô Hạp, huyện Khánh Sơn. Và đại lộ Nguyễn Tất Thành nối thành phố với sân bay Cam Ranh và thành phố Nha Trang. Bến xe Cam Ranh phục vụ hầu hết các tuyến nội tỉnh và liên tỉnh cho thành phố.
Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Nha Trang – Phan Thiết đi qua đang được xây dựng.
== Kinh tế ==
Công nghiệp là ngành kinh tế chủ lực và là động lực cho nền kinh tế phát triển của Cam Ranh. Tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực đóng tàu, sản xuất xi măng và chế biến nông-thủy sản. Trên địa bàn thành phố có hai khu công nghiệp đa ngành là Nam Cam Ranh và Bắc Cam Ranh. Đi đôi với phát triển ngành công nghiệp là kinh tế thương mại - dịch vụ - du lịch với mức tăng trưởng bình quân 12,1%. Giá trị xuất khẩu của thành phố năm 2008 đạt 30 triệu USD, doanh số bán hàng và thương mại dịch vụ đạt 1.110 tỷ đồng. Ngành nông nghiệp, kinh tế nông thôn của thành phố ngày càng chuyển dịch theo hướng nâng cao giá trị ngành chăn nuôi và giá trị ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi. Khuyến khích phát triển kinh tế trang trại với quy mô khép kín; kết hợp trồng trọt, chăn nuôi và chế biến.
== Danh thắng ==
- Chùa Từ Vân. - Lăng Ông,đền bà Cam Xuân (tọa lạc tại phường Cam Phúc Nam,Tp.Cam Ranh). - Danh thắng Hòn Cò trên đảo Bình Ba. Từ bến Cầu Cá của trung tâm thành phố Cam Ranh đi bằng thuyền máy mất khoản một tiếng ba mươi phút, du khách sẽ tới đảo Bình Ba. Cái tên gọi Bình Ba đã trở nên quen thuộc và thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước biết tới bởi vị trí độc đáo của nó. Nằm án ngữ nơi cửa biển, Bình Ba như người mẹ hiền hòa chở che sóng gió cho ngư dân vùng đảo này (Bình: Bức Bình Phong, Ba: phong ba bảo tố; Bình Ba: bức bình phong chen chắn gió).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Cổng thông tin điện tử thành phố Cam Ranh
Cam Ranh tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Cam Ranh tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) |
nhà thiết kế thời trang việt nam.txt | Project Runway Vietnam: Nhà thiết kế thời trang VIệt Nam là 1 chương trình truyền hình thực tế nhằm tìm kiếm các nhà thiết kế tiềm năng của Việt Nam do công ty sản xuất Multimedia JSC.
== Mùa phát sóng ==
== Mùa 1 ==
Vòng tuyển chọn diễn ra vào tháng 3/2013 tại Hà Nội và TP.HCM. Tập đầu tiên chiếu vào lúc 20h ngày 28/4/2013 trên VTV3.
Top 3 xuất sắc nhất sẽ được tạp chí Harper's Bazaar đến kinh đô thời trang Paris.
=== Nhà thiết kế ===
=== Người mẫu ===
Người mẫu chiến thắng sẽ nhận được 100 triệu đồng từ mỹ phẩm Maybeline New York. 12 người mẫu gồm
Hồng Nhung
Phương Thảo trước Vietnam's Next Top Model (cycle 4)
Minh Thi thí sinh bán kết từ Vietnam's Next Top Model (cycle 3)
Thanh Thảo từ Vietnam's Next Top Model (cycle 3)
Kate
Linh Ngân thí sinh bán kết từ Vietnam's Next Top Model (cycle 3)
Lê Phương từ Vietnam's Next Top Model (cycle 2)
Ngọc Thúy từ Vietnam's Next Top Model (cycle 3)
Đỗ Hà từ Vietnam's Next Top Model (cycle 3)
Nhã Trúc từ Vietnam's Next Top Model (cycle 3)
Lam Giang
Lệ Quyên trước Hoa khôi áo dài 2014
=== Thử thách ===
Phần thi Casting chỉ chiếu ngắn gọn 5 phút trước khi vào thử thách của chưong trình.
Trong tập 3, Chấn Hưng, Như Lan và Bá Tùng được có bản thảo đẹp nên trở thành nhóm trưởng. Nhóm 1: Như Lan, Minh Hà & Hoàng Minh; nhóm 2: Chấn Hưng, Tiến Mạnh, Bảo Loan & Diễm My; nhóm 3: Bá Tùng, Gia Khang & Hải Yến. Theo phần đánh giá, nhóm Chấn Hưng giành chiến thắng thử thách, và do Hưng là nhóm trưởng nên phần thưởng chỉ trao cho anh. 2 nhóm còn lại lọt top nguy hiểm. Mỗi nhóm sẽ có 1 thí sinh bị loại, kết quả Bá Tùng & Hoàng Minh ra về.
Kết quả
Nhà thiết kế trở thành nhà vô địch của cuộc thi.
Nhà thiết kế thắng thử thách.
Nhà thiết kế đánh giá cao thứ nhì.
Nhà thiết kế đánh giá cao thứ 3.
Nhà thiết kế là một trong 3 thí sinh nguy hiểm, nhưng không loại.
Nhà thiết kế là một trong 2 thí sinh nguy hiểm, nhưng không loại.
Nhà thiết kế bị loại khỏi cuộc thi.
^1 : Trong tập 6, các NTK sẽ thiết kế theo yêu cầu của khách hàng nên người mẫu không tham gia.
^2 : Cuối tập 7, nhà thiết kế và người mẫu cùng bị loại để chọn ra top 3 NTK & người mẫu sẽ trình diễn đêm chung kết.
Người mẫu chiến thắng cuộc thi.
Người mẫu mặc bộ thiết kế do NTK chiến thắng phần thử thách.
Người mẫu mặc bộ thiết kế do NTK bị loại khỏi cuộc thi.
Người mẫu không được chọn bởi các NTK trước khi vào thử thách tiếp theo.
Ký tự
Minh Hà: MH
Chấn Hưng: CH
Gia Khang: GK
Bảo Loan: BL
Như Lan: NL
Tiến Mạnh: TM
Hải Yến: HY
Diễm My: DM
Hoàng Minh: HM
Bá Tùng: BT
Trúc Phương: TP
Tùng Lâm: TL
== Mùa 2 ==
Vòng tuyển chọn mùa 2 diễn ra vào giữa tháng 3. Tập đầu phát sóng vào 11/5/2014 trên VTV3.
Nhà vô địch mùa giải này sẽ nhận được thiết kế trang phục lên trang bìa tạp chí Harper's Bazaar trị giá 200,000,000 ₫, 1 suất học bổng từ Atelier Chardon Savard, tiền mặt trị giá 300,000,000 ₫ từ Canifa và tham gia đội ngũ thiết kế từ Canifa, 1 giải thưởng f200,000,000 ₫ từ Nokia Vietnam, a 450,000,000 ₫ 1 years Ceturyon member ship từ California Fitness & Yoga Center.
Top 3 xuất sắc nhất sẽ được tạp chí Harper's Bazaar đến kinh đô thời trang Paris và thương hiệu thời trang Elise đưa top 5 đến Seoul.
=== Nhà thiết kế ===
=== Người mẫu ===
12 người mẫu tranh tài để có cơ hội diễn thời trang tại New York Couture Fashion Week gồm:
Kim Thoa từ Vietnam's Next Top Model (cycle 4)
Lý Mỹ Dinh
Văn Kiên từ Vietnam's Next Top Model (cycle 4)
Phạm Công Toàn trước Vietnam's Next Top Model (cycle 5)
Tùng Anh
Nguyễn Quyên
Quang Đại từ Vietnam's Next Top Model (cycle 4)
Cao Ngân trước Vietnam's Next Top Model (cycle 5)
Nguyễn Thanh từ Vietnam's Next Top Model (cycle 4)
Thúy Hạnh
Anh Thư trước Hoa khôi Áo dài 2014
Quỳnh Châu trước Vietnam's Next Top Model (cycle 5)
=== Thử thách ===
Tập 1 là tập casting, cuối tập các thí sinh bắt đầu vào nhà chung và bắt đầu thử thách.
Tập 4 là thử thách làm nhóm, Giám Tiền, Diệu Linh & Minh Quân xuất sắc phần thử thách trước được làm nhóm trưởng. Nhóm 1: Giám Tiền, Minh Công & Tuấn Vũ, nhóm 2: Diệu Linh, Nguyên Phong, Nguyễn Thảo, Hồng Lam, nhóm 3: Minh Quân, Thùy Nga & Đình Chiến. Nhóm Giám Tiền thắng thử thách, nhưng do là nhóm trưởng nên phần thưởng chỉ trao cho duy nhất Tiền. Nhưng đánh giá theo cá nhân: Minh Công, Nguyên Thảo, Diệu Linh, Đình Chiến lọt top nguy hiểm. BGK quyết định, Chiến & Thảo bị loại.
Tập 6, Hồng Lam và Thùy Nga lọt vào top 2 nguy hiểm, tuy nhiên không loại ai.
Tập 7, Thùy Nga ban đầu là thí sinh bị loại cùng với Nguyên Phong & Diệu Linh. Tuy nhiên giám khảo khách mời, bà Lưu Nga muốn tạo điều kiện cho Thùy Nga có cơ hội tham quan nền thời trang ở Seoul cùng với các thí sinh khác. Điều này khiến cho các BGK tranh cãi, và cuối cùng cô được giữ lại trong cuộc thi.
^1 : Ban đầu, Giám Tiền chiến thắng thử thách thứ 2, Diệu Linh & Minh Quân đứng nhì & ba. Tuy nhiên trong tập sau, anh bị cáo buộc bởi các thí sinh khác vì Tiền gian lận do dùng số tiền cá nhân để mua vật liệu để thiết kế trang phục, đồng nghĩa vượt quá số tiền mà BTC đưa ra cho các thí sinh. Dù bộ trang phục của Tiền xứng đáng chiến thắng nhưng vì phạm luật, anh bị tước phần thắng thử thách tập trước, và nhường giải thưởng cho NTK đứng nhì Diệu Linh. Dù vậy, trong tập 4, Giám Tiền vẫn thắng thử thách và là nhóm trưởng nên được đoạt giải.
^2 : Nguyên Phong được khen đây là bộ thiết kế đẹp nhưng anh bị cáo buộc bởi Minh Công do giống bộ thiết kế của Balenciaga trên tạp chí Harper's Bazaar và cùng lọt top nguy hiểm với Tuấn Vũ, cuối cùng Phong lọt vòng trong.
Kết quả
Nhà thiết kế trở thành nhà vô địch của cuộc thi.
Nhà thiết kế thắng thử thách.
Nhà thiết kế đánh giá cao thứ nhì.
Nhà thiết kế đánh giá cao thứ 3.
Nhà thiết kế là một trong 3 thí sinh nguy hiểm, nhưng không loại.
Nhà thiết kế là một trong 2 thí sinh nguy hiểm, nhưng không loại.
NTK ban đầu bị loại tại phòng đánh giá nhưng được cứu lại sau đó
Nhà thiết kế bị loại khỏi cuộc thi.
^1 : Do Giám Tiền bị phạm luật do dùng thêm số tiền quá mức theo yêu cầu, Diệu Linh được coi là thắng thử thách. Do vậy, người mẫu Nguyễn Thanh mặc bộ trang phục thắng phần thử thách tập 3.
^2 : Sau khi công bố top 3 NTK xuất sắc, họ phải chọn người mẫu cuối cùng, để trở thành ve-đét trong trình diễn đêm chung kết.
Người mẫu chiến thắng cuộc thi.
Người mẫu mặc bộ thiết kế do NTK chiến thắng phần thử thách.
Người mẫu mặc bộ thiết kế do NTK bị loại khỏi cuộc thi.
Người mẫu không được chọn bởi các NTK trước khi vào thử thách tiếp theo.
Ký tự
Giám Tiền: GT
Hồng Lam: HL
Minh Quân: MQ
Minh Công: MC
Thùy Nga: TN
Diệu Linh: DL
Nguyên Phong: NP
Tuấn Vũ: TV
Đình Chiến: ĐC
Nguyễn Thảo: NT
Đặng Khánh: ĐK
Lan Anh: LA
== Mùa 3 ==
Nhà vô địch Project Runway Vietnam mùa giải thứ 3 để nhận được những phần thưởng giá trị sau:
Được ký hợp đồng làm việc với một thương hiệu thời trang trong vòng 2 năm trị giá 300 triệu đồng.
Được xuất học bổng tại Học viện thời trang hàng đầu Paris Atelier Chardon Savard.
Top 3 thí sinh xuất sắc nhất sẽ có một chuyến học hỏi, khám phá kinh đô thời trang Nhật Bản cùng tạp chí thời trang Harper’s Bazaar Việt Nam
Đặc biệt, nhà vô địch Project Runway Vietnam 2015 sẽ được trình diễn bộ sưu tập mới nhất tại Tuần lễ thời trang quốc tế lớn nhất Việt Nam - Vietnam International Fashion Week 2016. Cùng rất nhiều phần thưởng hấp dẫn khác.
Tập đầu tiên phát sóng lúc 20h ngày 19/12/2015 trên VTV3.
=== Nhà thiết kế ===
=== Người mẫu ===
Khác so với 2 mùa giải, các người mẫu có thể thay đổi theo từng tập nên không có giải thưởng cho người mẫu chiến thắng. Thay vào đó, người mẫu (hoặc là người nổi tiếng, khách hàng...) sẽ tham gia phần thử thách cho các NTK.
=== Thử thách ===
==== Bảng nhà thiết kế loại trừ ====
Phần thi Casting chỉ chiếu ngắn gọn 5 phút trước khi vào thử thách của chưong trình.
Trong tập 4, lần đầu tiên lịch sử của NTK thời trang Việt Nam, không có nhà thiết kế nào chiến thắng thử thách. Giang Tú là thí sinh ban đầu bị loại nhưng Tùng Leo sử dụng quyền cứu thí sinh, với tổng số 3/5 phiếu đồng ý của BGK, Giang Tú được giữ lại cuộc thi và cuộc thi vẫn còn top 9.
Trong tập 5, là thử thách làm nhóm: Nhóm 1: Tiến Tuyển, Giang Tú & Trần Hùng, nhóm 2: Châu Kha, Ngọc Bích & Anh Minh, nhóm 3: Hà Thông, Quốc An, Tuấn Phương. Nhóm Tiến Tuyển, Giang Tú & Trần Hùng chiến thắng thử thách và không có ai bị loại, nhóm đứng nhì loại 1 người và nhóm cuối cùng loại 2 người. Kết quả, Ngọc Bích, Tuấn Phương & Quốc An ra về.
Kết quả
Nhà thiết kế trở thành nhà vô địch của cuộc thi.
Nhà thiết kế được đánh giá cao nhưng là một trong 3 thí sinh nguy hiểm.
Nhà thiết kế được đánh giá cao nhất nhưng không chiến thắng thử thách.
Nhà thiết kế thắng thử thách.
Nhà thiết kế đánh giá cao.
Nhà thiết kế là một trong nhóm thí sinh nguy hiểm, nhưng không loại.
NTK ban đầu bị loại tại phòng đánh giá nhưng được cứu lại sau đó
Nhà thiết kế bị loại khỏi cuộc thi.
==== Bảng lựa chọn người mẫu ====
Tập 3 thiết kế cho những người nổi tiếng (ca sĩ, diễn viên..)
=== Thi đấu quốc tế ===
Project Runway Asia |
man'yōgana.txt | Man'yōgana (万葉仮名, まんようがな) là một hệ thống chữ viết cổ sử dụng các ký tự tiếng Hán để diễn đạt tiếng Nhật. Hiện chưa rõ chính xác hệ thống chữ viết này được bắt đầu sử dụng vào thời gian nào, tuy nhiên chắc chắn vào giữa thế kỷ thứ 7 sau CN nó đã được đưa vào sử dụng. Tên "man'yōgana" có nguồn gốc từ tập Man'yōshū (Vạn diệp tập), một tuyển tập thơ tiếng Nhật được viết vào thời kỳ Nara bằng man'yōgana.
== Nguyên tắc ==
Man'yōgana thường sử dụng kanji để biểu âm (shakuon 借音: "tá âm" tức mượn âm) hơn là biểu ý (shakkun 借訓: "tá huấn" tức "mượn nghĩa"). Nhiều từ kanji có thể được dùng để diễn đạt cùng một âm tiết, được tùy chọn phụ thuộc vào văn phong cụ thể. Ví dụ, bài thơ 17/4025 Man'yōshū được viết như sau:
Các âm mo (母, 毛) và shi (之, 思) được biểu diễn bằng nhiều ký tự. Trong khi tất cả các tiểu từ và hầu hết các từ được diễn đạt theo ngữ âm (多太 ứng với tada, 安佐 ứng với asa), các từ umi (海) và funekaji (船梶) lại được diễn tả theo mặt ngữ nghĩa.
Trong một số trường hợp, những âm tiết đặc thù trong những từ đặc thù được biểu diễn nhất quán bằng những ký tự đặc thù. Cách dùng này có tên là Jōdai Tokushu Kanazukai. Điều này là cơ sở lịch sử về ngôn ngữ học cho quan điểm rằng một số âm sắc riêng biệt trong tiếng Nhật cổ được biểu diễn bởi các tập hợp ký tự khác nhau trong man'yōgana, đã hợp nhất từ thời gian đó.
== Các kiểu mẫu man'yōgana ==
Ở hệ thống man'yōgana, mỗi ký tự kanji biểu đạt một số lượng các âm tiết khác nhau tùy từng kiểu mẫu, một số trong đó tương đối dễ hiểu, nhưng nhìn chung khá rắc rối và phức tạp.
Shakuon kana (借音仮名 - tá âm giả danh), dựa trên cách đọc on'yomi
Một ký tự diễn đạt một âm tiết
Sử dụng toàn bộ: 以 (い), 呂 (ろ), 波 (は)
Sử dụng một phần: 安 (あ), 楽 (ら), 天 (て)
Một ký tự diễn đạt hai âm tiết: 信 (しな), 覧 (らむ), 相 (さが)
Shakkun kana (借訓仮名 - tá huấn giả danh), dựa trên cách đọc kun'yomi
Một ký tự diễn đạt một âm tiết
Sử dụng toàn bộ: 女 (め), 毛 (け), 蚊 (か)
Sử dụng một phần: 石 (し), 跡 (と), 市 (ち)
Một ký tự diễn đạt hai âm tiết: 蟻 (あり), 巻 (まく), 鴨 (かも)
Một ký tự diễn đạt ba âm tiết: 慍 (いかり), 下 (おろし), 炊 (かしき)
Hai ký tự diễn đạt một âm tiết: 嗚呼 (あ), 五十 (い), 可愛 (え), 二二 (し), 蜂音 (ぶ)
Ba ký tự diễn đạt hai âm tiết: 八十一 (くく), 神楽声 (ささ)
== Phát triển ==
Các ký tự Kanji sử dụng trong man'yōgana sau này đã dẫn đến sự ra đời của hiragana và katakana. Hiragana được phát triển từ man'yōgana theo phong cách viết thảo; còn katakana được các nhà sư Phật giáo phát triển nên dựa trên các phần của các ký tự man'yōgana khi được dùng như một dạng tốc ký. Trong một số trường hợp, một ký tự man'yōgana này cho ra đời một ký tự hiragana ngày nay, nhưng một ký tự katakana có ngữ âm tương đương lại có nguồn gốc từ một ký tự man'yōgana khác; ví dụ, ký tự hiragana る (ru - rự) có nguồn gốc từ man'yōgana 留, trong khi ký tự katakana ル (ru - rự) lại bắt nguồn từ man'yōgana 流.
Việc sử dụng nhiều từ kanji diễn đạt cho một âm tiết cho ra đời hentaigana (変体仮名 - biến thể giả danh) một hình thức trước của hiragana. Hentaigana chính thức không được sử dụng từ những năm 1900.
Man'yōgana ngày nay vẫn còn xuất hiện trong một số tên địa danh ở Nhật Bản, đặc biệt như Kyūshū (九州). Một hệ thống tương tự man'yōgana, gọi là ateji (当て字), ngày nay vẫn tồn tại, với một số từ (gồm cả các từ mượn) được phát âm sử dụng kanji để biểu âm: ví dụ như, 倶楽部 (kurabu - câu lạc bộ), 珈琲 (kōhii - cà phê).
== Xem thêm ==
Tiếng Nhật
Kana
Kanji
Hiragana
Katakana
Rōmaji
Hentaigana
Furigana
Okurigana
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Nhật) Danh sách các man'yōgana |
chỉ số giá tiêu dùng.txt | Chỉ số giá tiêu dùng (hay được viết tắt là CPI, từ các chữ tiếng Anh Consumer Price Index) là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian. Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vào một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng.
Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá và sự thay đổi của mức giá chính là lạm phát (một chỉ tiêu khác để phản ánh mức giá chung là Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong nước hay Chỉ số điều chỉnh GDP).
== Phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng ==
Để tính toán chỉ số giá tiêu dùng người ta tính số bình quân gia quyền theo công thức Laspeyres của giá cả của kỳ báo cáo (kỳ t) so với kỳ cơ sở. Để làm được điều đó phải tiến hành như sau:
1. Cố định giỏ hàng hóa: thông qua điều tra, người ta sẽ xác định lượng hàng hoá, dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua.
2. Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng hoá tại mỗi thời điểm.
3. Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hoá bằng cách dùng số lượng nhân với giá cả của từng loại hàng hoá rồi cộng lại.
4. Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu dùng bằng công thức sau:
Thời kỳ gốc sẽ được thay đổi trong vòng 5 đến 7 năm tùy ở từng nước.
CPI được dùng để tính chỉ số lạm phát theo thời kỳ. Chẳng hạn, tính chỉ số lạm phát CPI năm 2011 so với năm 2010 theo công thức sau:
Trên thực tế người ta có thể xác định quyền số trong tính toán chỉ số giá tiêu dùng bằng cách điều tra để tính toán tỷ trọng chi tiêu của từng nhóm hàng hoá, dịch vụ so với tổng giá trị chi tiêu. Sau đó quyền số này được dùng để tính chỉ số giá tiêu dùng cho các thời kỳ sau. CPI thường được tính hàng tháng và hàng năm. CPI còn được tính toán cho từng nhóm hàng hóa hoặc một số nhóm hàng hóa tùy theo mục đích sử dụng. Ngoài CPI người ta cũng tính toán chỉ số giá bán buôn là mức giá của giỏ hàng hóa do các doanh nghiệp mua vào, khác với CPI là giá do người tiêu dùng mua vào (giá bán lẻ). Lưu ý chỉ số giá tiêu dùng năm gốc luôn bằng 1
== Các vấn đề gặp phải khi tính toán chỉ số giá tiêu dùng ==
Do sử dụng giỏ hàng hoá cố định nên khi tính toán CPI có ba vấn đề chính dẫn đến hạn chế của CPI sau đây:
1. CPI không phản ánh được độ lệch thay thế vì nó sử dụng giỏ hàng hoá cố định. Khi giá cả một mặt hàng này tăng nhanh hơn so với các mặt hàng khác thì người tiêu dùng sẽ có xu hướng ít tiêu dùng những mặt hàng đã trở nên quá đắt đỏ mà tiêu dùng nhiều những hàng hoá đỡ đắt đỏ hơn. Yếu tố này làm CPI đã đánh giá cao hơn thực tế mức giá.
2. CPI không phản ánh được sự xuất hiện của những hàng hoá mới vì nó sử dụng giỏ hàng hoá cố định trong khi nếu có hàng hoá mới xuất hiện thì một đơn vị tiền tệ có thể mua được các sản phẩm đa dạng hơn. CPI không phản ánh được sự gia tăng sức mua này của đồng tiền nên vì thế lại đánh giá mức giá cao hơn thực tế.
3. Không phản ánh được sự thay đổi của chất lượng hàng hoá vì nếu mức giá của một hàng hoá cụ thể nào đó tăng nhưng chất lượng cũng tăng tương ứng thậm chí tăng hơn thì trên thực tế mức giá không tăng. Chất lượng hàng hoá dịch vụ nhìn chung đều có xu hướng được nâng cao nên CPI cũng đã phóng đại mức giá.
== Tính toán chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam ==
Việc tính toán CPI ở Việt Nam do Tổng cục Thống kê đảm nhiệm. Quyền số để tính CPI được xác định năm 2000 và bắt đầu áp dụng từ tháng 7 năm 2001. Quyền số này dựa trên kết quả của hai cuộc điều tra là Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1997-1998 và Điều tra kinh tế hộ gia đình năm 1999. Điều đáng chú ý là quyền số của nhóm hàng Lương thực - Thực phẩm chiếm tới 47,9% trong khi Văn hoá - Thể thao - Giải trí chỉ chiếm 3,8%.
== Xem thêm ==
Chỉ số giá sản xuất
Lạm phát
== Tham khảo ==
Kinh tế vĩ mô - Chương trình sau đại học và phát triển kinh tế địa phương, Trường Đại học kinh tế quốc dân năm 2005.
Kinh tế vĩ mô của Gregory Mankiw, Nhà xuất bản Thống kê và Đại học kinh tế quốc dân năm 1994
== Liên kết ngoài ==
Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam (góc dưới bên trái) |
trận roßbach.txt | Trận Roßbach là trận đánh diễn ra vào ngày 5 tháng 11 năm 1757 gần làng Roßbach (vùng tây Sachsen) trong cuộc Chiến tranh Bảy năm, giữa quân đội Phổ do Friedrich Đại đế thống lĩnh với liên minh Pháp – quân đội Đế quốc La-Đức dưới sự chỉ huy của vương tước Soubise và vương công Joseph xứ Sachsen-Hildburghausen. Chỉ sau 1 tiếng rưỡi giao chiến, hơn 2 vạn quân Phổ đã đánh tan lực lượng đông gần gấp đôi của liên quân Pháp – quân đội La-Đức và gây cho họ thiệt hại gấp gần 20 lần phe mình. Đây được xem là một trong những thắng lợi quân sự lớn nhất của Phổ thời Chiến tranh Bảy năm.
Mùa hè năm 1757, vương quốc Phổ bị quân đội Nga, Pháp, Thụy Điển, Áo và các chư hầu trong Đế quốc La Mã Thần thánh (gọi tắt là La-Đức) tấn công từ nhiều phía. Trong tình thế nguy khốn đó, vua Phổ Friedrich II ("Đại đế") quyết định đem quân chủ lực vào trung bộ Đức để giải quyết cánh quân Pháp–La-Đức của Soubise và Joseph trước tiên. Ngày 5 tháng 11, 3 đội hình hàng dọc hùng hậu của quân Pháp – La-Đức tiến về phía đông hòng đánh vòng sườn trái quân Phổ. Nắm bắt được vận động của đối phương, Friedrich giả vờ triệt binh nhưng thật ra là di chuyển toàn bộ lực lượng của mình sang cánh trái dưới sự yểm trợ của đồi núi. Khi quân Pháp và quân đội La-Đức quành lên mạn bắc để bọc kín sườn địch, họ đụng phải hỏa lực pháo binh dữ dội và lực lượng bộ binh đã đổi chỗ của Phổ. Đồng thời, thuộc tướng của Friedrich là Friedrich Wilhelm von Seydlitz sai 38 khối kỵ binh tỏa ra phía đông và đánh mạnh vào sườn phải quân địch. Sau đó, bộ binh Phổ được tổ chức theo đội hình bậc thang đã tiến lên phá vỡ trận đồ liên quân Pháp-Áo. Trận chiến chấm dứt khi quân Pháp và La-Đức cuống cuồng tháo chạy khỏi chiến địa.
Kết quả của trận Roßbach đã xóa sổ mối nguy cơ trước mắt từ phía tây đối với Phổ, dọn đường cho Friedrich Đại đế điều đại quân về Schlesien đặng đương đầu với những đạo quân lớn của Áo tấn công từ mạn nam. Sau khi hội với quân bản bộ ở Schlesien, Friedrich đại phá gần 7 vạn quân Áo trong trận Leuthen ngày 5 tháng 12. Mặc dù chiến thắng Leuthen thường được giới sử học quân sự Phổ-Đức đánh giá cao hơn Roßbach, trận Roßbach có ảnh hưởng sâu sắc hơn đối với trào lưu chủ nghĩa dân tộc Đức sau này vì đây là thắng lợi đầu tiên của một đội quân thuần Đức trước đoàn quân bất bại của Pháp. Đồng thời, cuộc thất trận tại Roßbach đã góp phần đẩy mạnh sự suy vong của chế độ quân chủ Bourbon và đặt nền tảng cho cách mạng Pháp bùng nổ năm 1789.
== Bối cảnh ==
Sau khi quân đội Áo đánh bại cuộc tấn công của Phổ vào Böhmen tháng 6 năm 1757, vua Phổ Friedrich Đại đế phải rút hơn 6 vạn quân chủ lực về giữ phần biên ải Sachsen-Böhmen và chuyển sang thế phòng ngự bị động. Chớp lấy thời cơ, liên minh Áo-Nga-Pháp-Thụy Điển xua quân vây đánh Phổ từ nhiều hướng: từ hướng đông, quân Nga tấn công và phá được 3 vạn quân của trấn thủ Đông Phổ Hans von Lehwaldt trong trận Gross-Jägersdorf; quân Thụy Điển tràn từ phương bắc xuống đánh phá vùng Pommern; từ hướng nam, vương công Karl xứ Lothringen và thống chế Leopold Joseph von Daun đem khoảng 84 nghìn quân chủ lực Áo đánh thốc vào Schlesien; và từ hướng tây, quân đội Pháp tiến công Sachsen và các nước đồng minh của Phổ ở miền Tây Đức. Quân Pháp chia làm 2 cánh: cánh thứ nhất (66 nghìn quân) do quận công d'Estrées chỉ huy đánh bại quân nước Hannover trong trận Hastenbeck, biến Hannover thành bàn đạp xâm nhập Phổ; cánh thứ hai (24 nghìn quân của vương tước Soubise vượt qua Hessen-Kassel và Thüringen tiến vào vùng tây bắc Sachsen. Cùng lúc đó, vương công Joseph xứ Sachsen-Hildburghausen chiêu mộ 25 nghìn quân Áo và các nước chư hầu trong Đế quốc La-Đức tại thượng lưu sông Rhine hòng chuẩn bị hợp lực với quân Pháp đánh chiếm Berlin ép Phổ đầu hàng.
Friedrich Đại đế nhận định phải chiến thắng đối phương trong một trận đánh quy ước vì đây là cách duy nhất có thể cứu Phổ thoát khỏi hiểm họa này. Sau khi phân tích cục diện chiến trường, Friedrich đánh giá 3 binh đoàn của Pháp và quân đội La-Đức trên hướng tây là mắt xích nguy hiểm nhất, vì tổng quân số của d'Estrées, Soubise và Hildburghausen lên tới xấp xỉ 12 vạn người – nhiều nhất so với quân liên minh trên các hướng khác. Do đó, cuối tháng 8 Friedrich quyết định giao 4 vạn quân cho một bộ tướng kìm chân đại quân Áo ở Schlesien, về phần mình Friedrich trực tiếp chỉ huy hơn 2 vạn quân tinh nhuệ tiến sang hướng tây hòng đánh dứt điểm quân Pháp và quân đội La-Đức ở Thüringen. Ông ta dự định chia cắt 3 cánh quân Pháp-La-Đức đặng dễ bề đánh diệt từng cánh một; nhưng tại thời điểm Friedrich xuất chinh về phía tây, Soubise và Hildburghausen đã dần dần hội quân ở Sachsen. Friedrich chỉ còn hy vọng duy nhất là hợp lực với quân Hannover nhằm chia cắt đạo quân của d'Estrées với Soubise và Hildburghausen. Quân Phổ của Friedrich đã hành quân được 274 km trong 2 tuần đầu tháng 9. Sử gia Dennis E. Showalter nhận định đây là một kỷ lục thần tốc hiếm có trong nền quân sự phương Tây giữa thế kỷ 18. Ngày 17 tháng 9, Friedrich hay tin Hannover ký hiệp định đầu hàng Pháp. Dù vậy, d'Estrées vẫn không có hành động kiên quyết để hội quân với Soubise và Hildburghausem. Thấy quân mình kém kỷ luật và tinh thần chiến đấu thấp, hai tướng này chủ trương rút quân tránh giao chiến với địch, làm Friedrich phải thực hiện hàng loạt cuộc rút lui chiến thuật để dụ họ tấn công. Những động thái này của vua Phổ đều vô ích.
Ngày 10 tháng 10 năm 1757, Friedrich nhận tin một đơn vị khinh kỵ binh Áo đã chọc thủng hệ thống phòng thủ yếu ớt của quân Phổ ở Berlin và tiến vào thành phố. Friedrich vội vã chuyển hướng hành quân sang phía đông bắc để giải nguy cho kinh đô. Đến ngày 20 tháng 10, khi được biết khinh kỵ Áo chỉ cướp phá Berlin rồi rút đi nhanh, Friedrich điều quân trở lại hướng tây bắc Sachsen. Ngày 24 tháng 10, vua Phổ đến Torgau, tại đây ông ta được báo cáo rằng quân liên minh Pháp-Đức đã vượt sang bờ đông sông Saale và tiến dần về mạn tây. Friedrich lập tức gọi viện binh từ Magdeburg và Berlin đến giúp sức, và vào ngày 28 tháng 10 ông tập trung 31 tiểu đoàn bộ binh cùng 45 khối kỵ binh ở Leipzig để chuẩn bị nghênh chiến. Đến ngày 30 tháng 10 Soubise, Hildburghausen lại đổi ý lui quân sang bờ tây, nhưng lần này họ thiết lập một hệ thống phòng thủ vững chắc chứ không rút lui tránh giao tranh nữa. Ngày 31 tháng 10, Friedrich đánh chiếm thị trấn Weißenfels và bắt gọn 300 đồn binh La-Đức; rồi từ đây ông dẫn 22 nghìn quân cùng 80 đại bác vượt sông Saale ngày 3 tháng 11. Khi đi trinh sát cùng một toán khinh kỵ binh vào buổi sáng hôm sau, Friedrich nhận thấy các vị trí phòng ngự của liên minh Pháp – quân đội La-Đức rất vững chắc và ông ước tính quân số của họ gồm 6 vạn người, đông gấp 3 lần số quân Friedrich hiện có. Friedrich cũng tiên liệu rằng lương thảo của quân Pháp và quân đội La-Đức đang cạn kiệt, nên sớm muộn họ sẽ phải tiến ra tấn công quân Phổ. Friedrich quyết định nhường thế chủ động cho quân đội đối phương, ông cho đóng quân doanh giữa 2 làng Bedra và Roßbach.
== Diễn biến ==
Ngày 5 tháng 11 năm 1757 vương tước Soubise và Hildburghausen quyết định tấn công quân doanh Phổ. Hai ông lên kế hoạch chia quân làm 3 hàng dọc hành tiến ngang qua chính diện quân địch, sau đó vòng sang uy hiếp bao vây sườn trái của họ. Cả hai viên tướng đều không tính đến khả năng quân Phổ phát giác đối phương hành tiến trước mặt mình và có biện pháp đối phó mạnh mẽ. Tại thời điểm này, Soubise và Hildburghausen có 41.500 quân gồm 34.000 bộ binh, 7.500 kỵ binh và 114 đại bác – không quá đông như Friedrich ước tính, nhưng vẫn đông gần gấp đôi đạo quân 22.000 người của vua Phổ. Quân Pháp là lực lượng chủ lực chiếm hơn 73% quân số liên minh. Mặc dù chiếm ưu thế về quân số, quân đội Pháp và quân đội Đế quốc La-Đức đều khá yếu kém về mặt tổ chức, huấn luyện và tiếp tế. Nước Pháp từng là cường quốc quân sự hàng đầu phương Tây đầu thế kỷ 18, nhưng đã dần dần suy thoái sau khi Louis XIV chết (1715). Trái lại, quân đội Phổ đã được công nhận rộng rãi là lực lượng thiện chiến và kỷ cương nhất châu Âu kể từ cuộc chiến tranh Schlesien 1740–1745.
Trưa ngày 5 tháng 11, quân Pháp và quân đội Đế quốc La-Đức bắt đầu di chuyển vềo hướng nam theo đường song song với chính diện quân Phổ. Dù gặp một số trục trặc trong việc duy trì kỷ luật hành quân, lực lượng liên quân đã rẽ sang phía đông và leo dần lên một quả đồi trống trải nằm cạnh sườn trái quân Phổ. Cùng lúc đó vua Phổ Friedrich đang ăn trưa cùng các võ quan tại sở chỉ huy của mình ở phía nam Roßbach. Căn nhà sở chỉ huy của Friedrich được sử gia Christopher Duffy mô tả như "một hòn đảo đứng giữa vùng đồng bằng trống trải", và người đứng trên lầu cao của căn nhà này dễ dàng nhìn toàn cảnh ngọn đồi mà trên đó liên quân đang di chuyển. Trong khi Friedrich đang ăn ở tầng trệt, một thị vệ của nhà vua là Friedrich Wilhelm von Gaudi đã leo lên gác thượng của ngôi nhà và từ đây Gaudi nhìn thấy rất nhiều tướng sĩ liên quân đang hành tiến. Sau đó Gaudi bẩm báo với Friedrich về những gì ông ta nhìn thấy. Dù ban đầu Friedrich không tin lời Gaudi, các nguồn tin xác thực khác đã đến đủ sớm để thuyết phục Friedrich rằng quân đồng minh đang tấn công. Ngay lập tức, nhà vua bắt tay vào việc đón đầu và tấn công các đội hình liên quân trong hành tiến: ông ta lên kế hoạch cho quân sĩ tiến ra hướng đông bắc theo đường vòng qua đồi Janus (đồi này tọa lạc sau lưng quân doanh Phổ, được Friedrich lợi dụng để che đội hình hành quân của mình khỏi tầm mắt đối phương); tiếp theo đó, quân đội Phổ sẽ quành sang hướng tây và nam theo một vòng cung rộng lớn đặng đón đánh, tiêu diệt liên quân.
Lúc hơn 2h, Friedrich cho nhổ trại khởi hành về phía đông. Quân Phổ hoàn tất triển khai đội hình hành quân chỉ sau 2 phút, khiến tài liệu của Bộ Tổng tham mưu Đức thế kỷ 19 phải nhận xét là "không khác gì thay cảnh trên sân khấu trong nhà hát". Friedrichh lấy 38 khối thiết kỵ binh làm lực lượng xung kích đi đầu đoàn quân, và giao cho viên thiếu tướng 36 tuổi Friedrich Wilhelm von Seydlitz chỉ huy đội kỵ binh này. Theo sau đạo quân thiết kỵ là 24 tiểu đoàn bộ binh được một số khối quân khinh kỵ che sườn và được một khẩu đội gồm 18 đại pháo yểm trợ; khẩu đội này được triển khai trên đỉnh dãy Janus. Đến khoảng 2h15, quân tuần tiễu Pháp-Đức phát hiện quân địch đã rời bỏ quân doanh. Tin chắc rằng quân Phổ đã tháo chạy do sợ bị áp đảo về quân số, Soubise và Hildburghausen thúc quân ào lên truy kích. Trên đường truy sát, quân đồng minh Pháp-Đức đã bộc lộc nhiều thiếu sót trong việc duy trì trật tự và kỷ luật của mình. Do truy kích quá hăng nên đạo kỵ binh tiền vệ Áo trong quân đội La-Đức đã bỏ xa lực lượng bộ binh chủ lực liên quân đến 2000 bước. Đến 3h15, khi kỵ binh Áo đi vào tầm bắn của đại bác địch, các chỉ huy pháo binh Phổ huy động 18 khẩu đại pháo từ trên dãy Janus nã dồn dập vào hàng ngũ đối phương. Quân kỵ binh Áo chịu nhiều thiệt hại, nhưng họ vẫn gắng sức lao thật nhanh qua vùng hỏa lực của pháo địch.
Càng cố chạy qua vùng bắn của pháo binh Phổ, lực lượng kỵ binh tiên phong Áo càng trở nên náo loạn hơn. Chớp lấy thời cơ, tướng Phổ Seydlitz triển khai 38 khối kỵ binh thành đội hình chiến đấu gồm 2 tuyến. Quân kỵ binh Phổ giảm dần tốc độ di chuyển cho đến khi ra tới đầu phía đông dãy Janus, sau đó họ dừng lại chờ kỵ binh Áo rơi vào tầm đánh sở trường của mình. Khoảng 3h30, khi kỵ binh Áo đến cách đỉnh dãy Janus 2000 bước, Seydlitz xua kỵ binh tuyến đầu xung phong vào hàng ngũ đối phương. Quân Áo ban đầu bị choáng ngợp, nhưng 2 trung đoàn thiết kỵ Bretlach và Trautmannsdorf của họ đã kịp triển khai đội hình chiến đấu và chặn đánh quân Phổ rất dữ dội. Trung đoàn khinh kỵ Szecheny của Áo cùng 3 trung đoàn kỵ binh của quân đội Đế quốc La-Đức cũng kéo đến tiếp sức cho quân tiên phong, và cản được đà tiến của kỵ binh Phổ.. Seydlitz bèn xua 18 khối kỵ binh trên tuyến thứ hai của ông xông lên cùng tuyến đầu đánh bọc hai bên sườn kỵ binh Áo. Quân kỵ mã Áo thất thế phải rút chạy về hậu cứ. Trên đường rút, kỵ binh Áo đâm sầm vào 3 trung đoàn bộ binh La-Đức, và đến lượt 3 trung đoàn này cũng nháo nhào tháo chạy. Khối quân La-Đức này lại chạy thẳng vào đội hình 2 khối kỵ binh Pháp vốn đang xông tới đánh chặn kỵ binh Phổ, gây rối loạn rất lớn trong hàng ngũ kỵ mã Pháp. Các đợt phản xung phong của kỵ binh Pháp đều bị đập tan, nhiều kỵ binh liên minh phải đầu hàng quân Phổ. Số kỵ binh còn lại cuống cuồng chạy xuống phía đông nam trận địa, cô lập hoàn toàn lực lượng bộ binh và pháo binh liên quân. Thay vì nghỉ ngơi hoặc truy sát kỵ binh địch theo thông lệ của kỵ binh Phổ, Seydlitz cho quân dừng lại chỉnh đốn hàng ngũ, sau đó vòng sang bên sườn và lưng bộ binh Pháp-Đức hòng chuẩn bị thanh toán lực lượng này.
Trong lúc kỵ binh 2 bên quầng nhau, bộ binh Phổ vẫn đang đi vòng qua sườn đồi đó theo chiều thuận kim đồng hồ. Sau khi được tâu rằng Seydlitz đã loại kỵ binh Pháp-Đức khỏi vòng chiến đấu, Friedrich nhận định thời cơ đã đến để tập trung 3 binh chủng đánh dứt điểm nhanh bộ binh địch. Nhà vua lệnh cho 20 tiểu đoàn bộ binh quẹo sang bên phải tấn công đối phương, trong khi 4 tiểu đoàn bộ binh còn lại tiếp tục hành tiến theo lối cũ. Thực thi mệnh lệnh, 20 tiểu đoàn Phổ vượt dãy Janus theo đội hình bậc thang, sau đó triển khai thế trận tác chiến. Thay vì bố trí bộ binh thành 2 tuyến song song theo binh pháp thông thường của thế kỷ 18, Friedrich tập trung tối đa hỏa lực bằng cách dùng tuyến thứ 2 kéo dài sườn trái của tuyến thứ nhất, khiến đội hình tác chiến của bộ binh Phổ trông giống như một góc tù. Để đối phó, các sĩ quan liên quân Pháp-Đức không dàn trận tuyến bắn nhau với địch, nhưng họ cho bộ binh giương lê tiến thẳng về phía quân Phổ, nhằm đánh đổi hỏa lực bằng tốc độ di chuyển và uy hiếp tinh thần địch quân. Lực lượng tiên phong của liên minh Pháp-Đức là 8 tiểu đoàn Pháp thuộc 2 trung đoàn Piemont và Mailly được tổ chức thành các đội hình dọc - mỗi hàng dọc có 52 lính đứng đầu hàng. Trên đường di chuyển, lực lượng Pháp-Đức bị thương vong rất nặng nề do pháo binh Phổ luôn tận dụng mọi cơ hội để cày phá các đội hình liên quân dày đặc. Khi bộ binh Pháp-Đức đến sát trận địa "góc tù" của đối phương, lính Phổ trên cả 2 tuyến khai hỏa bắn xối xả vào chính diện và sườn trái liên quân. Quân tiên phong Pháp nhanh chóng tan vỡ và tháo chạy tứ tung. Họ chạy thẳng vào hàng ngũ một số đơn vị bộ binh hậu tuyến, làm đến lượt các đơn vị này cũng hoảng hốt thục mạng và mọi nỗ lực chấn chỉnh hàng ngũ của các sĩ quan Pháp đều bị phá sản. Thừa cơ, Seydlitz xua kỵ binh xung phong chém giết hàng loạt quân liên minh, làm 3 trung đoàn đến từ vùng Franken của quân đội La-Đức cùng nhiều nhóm quân Pháp nữa phải quăng súng chạy thoát thân. Quân bộ binh Phổ cũng tiến lên truy kích, và họ thực hiện bài bản chiến thuật vừa di chuyển, vừa bắn diệt các khối quân hỗn loạn của liên minh. Không những thế, quân liên minh còn hứng chịu những đợt bắn phá không ngừng nghỉ của pháo binh Phổ.
Trước các đòn tấn công phối hợp của bộ binh, kỵ binh và pháo binh Phổ, đội quân liên minh Pháp-Đức đã hoàn toàn vỡ tan. Soubise và Hildburghausen phải cho rút toàn bộ lực lượng về mạn tây. Quân Phổ truy đuổi tàn quân Pháp-Đức đến đêm thì mới thôi.
== Kết cục ==
Trận Roßbach chấm dứt với thất bại toàn diện của liên minh Pháp – quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh. Thiệt hại nhân lực của liên quân rất lớn, gồm 3.000 người chết, bị thương và 5.000 người bị bắt làm tù binh. Trong số quân bị bắt có 8 tướng và 300 sĩ quan. Trái lại, tổn thất của quân đội Phổ chỉ bao gồm 541 sĩ quan và binh lính – trong đó 165 thiệt mạng và 374 bị thương. Điều đó có nghĩa là quân liên minh bị thương vong gấp gần 20 lần quân Phổ, và đây là một chênh lệch rất hiếm có trong các cuộc chiến tranh tại châu Âu thế kỷ 18. Quân Phổ cũng tịch thu 72 đại bác, 14 chiến kỳ và 15 hiệu kỳ của quân đội Đồng minh.
Đối với người Phổ, chiến thắng Roßbach đã loại bỏ mối đe dọa từ Pháp trên hướng tây, tạo điều kiện cho Friedrich II tập trung lực lượng đương đầu với các mũi tấn công khác của liên quân chống Phổ. Quân Nga đã rút khỏi Đông Phổ từ tháng 9, và quân bản bộ Phổ tại Pommern đủ sức kìm hãm đà tiến công của quân Thụy Điển. Tuy nhiên, thừa cơ Friedrich đang mãi đánh quân Pháp, 84.000 quân chủ lực của Áo và một số chư hầu Đức đã chinh phục hầu hết Schlesien, một tỉnh trù phú mà Phổ đã đoạt mất của Áo năm 1740. Bởi vậy, chỉ 2 ngày sau trận Roßbach, Friedrich bắt tay vào việc chuẩn bị tiến quân từ Sachsen về chiếm lại Schlesien. Ngày 2 tháng 12, Friedrich hội quân với lực lượng bản bộ vừa thua trận ở Schlesien, và ngày 5 tháng 12 ông ta phá tan đạo quân chủ lực của Áo trong trận Leuthen. Mặc dù không thể đưa đến sự chấm dứt cho cuộc chiến, những thắng lợi ở Roßbach và Leuthen đã cứu Phổ khỏi nguy cơ bị liên minh Pháp-Áo-Nga-Thụy Điển thôn tính ngay trong năm 1757, và tạo động lực cho người Phổ đương đầu với các đợt tấn công tiếp theo của liên minh.
Bất chấp sự hiện diện của khoảng 11.000 quân chư hầu Đức trong đội quân thua trận Roßbach, kết quả của trận đánh đã làm dấy lên một làn sóng phân khích trong các nước thuộc Đế quốc La-Đức. Dân Đức coi sự thảm bại này là quả báo cho người Pháp vì họ đã gây nhiều tội ác chiến tranh ở Rheinland và Pfalz trong các cuộc chinh phục của Louis XIV. Các nhà dân tộc chủ nghĩa Đức thế kỷ 19 đã tô vẽ trận Roßbach thành một chiến thắng của người Đức theo Kháng Cách trước các đội quân Công giáo bất bại của vương triều Bourbon bên Pháp. Bên cạnh đó, chiến thắng Roßbach không làm cải thiện mối quan hệ giữa Phổ với các chư hầu của Áo trong Đế quốc La-Đức.
Thảm bại ở Roßbach đã kéo theo một chuỗi thất bại khác của quân đội Pháp trong Chiến tranh Bảy năm. Được cổ vũ bởi chiến thắng của Friedrich II, vua Hannover là Georg II đã xé bỏ hiệp định đầu hàng và tuyên bố tái chiến với Pháp. Một đội quân liên minh giữa Hannover với các đồng minh khác của Phổ ở Tây Đức đã được hình thành dưới sự chỉ huy của thống chế Phổ Ferdinand. Từ năm 1758 đến năm 1762, Ferdinand đã đánh bại nhiều đợt tấn công của quân Pháp vào mạn Tây Đức, khiến người Pháp không còn cơ hội tiến sâu vào lãnh thổ phía tây Phổ nữa.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Black, Jeremy M. (2015). Other Pasts, Different Presents, Alternative Futures. Indiana University Press. ISBN 0253017068.
Duffy, Christopher (2015). Frederick the Great: A Military Life. Routledge. ISBN 13174084973 .
Davis, Paul (2013). Masters of the Battlefield: Great Commanders from the Classical Age to the Napoleonic Era. OUP USA. ISBN 0195342356.
Redman, Herbert J. (2014). Frederick the Great and the Seven Years' War, 1756-1763. McFarland. ISBN 0786476699.
Ritter, Gerhard (1968). Frederick the Great; a Historical Profile. University of California Press.
Tucker, Spencer C. (2009). A Global Chronology of Conflict: From the Ancient World to the Modern Middle East [6 volumes]: From the Ancient World to the Modern Middle East. ABC-CLIO. OCLC 1851096728.
Williamson, David G. (2015). Germany Since 1789: A Nation Forged and Renewed. Palgrave Macmillan. ISBN 1137350067.
Wilson, Peter (2002). German Armies: War and German Society, 1648-1806. Routledge. ISBN 1135370532. |
balboa (huyện).txt | Huyện Balboa là một huyện (distrito) thuộc tỉnh Panamá ở Panama. Theo điều tra dân số năm 2000, huyện này có dân số 2336 người. Huyện Balboa có diện tích 400 km². Huyện lỵ đóng tại San Miguel.
== Tham khảo ==
Bản mẫu:Huyện của Panama |
máy tính cá nhân ibm.txt | Máy tính cá nhân IBM, thường được gọi là máy tính IBM, là phiên bản gốc và là tổ tiên của nền tảng phần cứng tương thích IBM PC. Đây là mô hình số 5150 của IBM và đã được giới thiệu vào ngày 12 tháng 8 năm 1981. Nó được tạo ra bởi một nhóm kỹ sư và nhà thiết kế dưới sự chỉ đạo của Don Estridge thuộc Phòng IBM Entry Systems ở Boca Raton, Florida.
Thuật ngữ chung "máy tính cá nhân" đã được sử dụng trước năm 1981, được áp dụng vào đầu năm 1972 cho Alto của Xerox PARC, nhưng do sự thành công của Máy tính cá nhân của IBM, khái niệm "PC" có nghĩa là máy tính để bàn tương thích với máy vi tính Các sản phẩm PC của IBM. Trong thời gian ngắn giới thiệu, các nhà cung cấp bên thứ ba các thiết bị ngoại vi, thẻ mở rộng và phần mềm đã tăng nhanh; Ảnh hưởng của IBM PC trên thị trường máy tính cá nhân là đáng kể trong việc chuẩn hóa một nền tảng cho máy tính cá nhân. "Tương thích với IBM" đã trở thành một tiêu chí quan trọng cho tăng trưởng doanh thu; Chỉ có gia đình Apple Macintosh giữ thị phần đáng kể mà không có khả năng tương thích với máy tính cá nhân của IBM.
== Lịch sử ==
Tin đồn
Các máy kinh doanh quốc tế (IBM), một trong những công ty lớn nhất thế giới, đã có 62% thị phần máy tính lớn vào năm 1981. [1] Tuy nhiên, thị phần của thị trường máy tính nói chung đã giảm từ 60% năm 1970 xuống còn 32% vào năm 1980. [2] Có lẽ bị phân tâm bởi vụ kiện chống độc quyền kéo dài, "Colossus of Armonk" hoàn toàn quên mất thị trường máy tính mini đang phát triển nhanh trong thập kỷ 70, [3] [4] [5] và đứng sau các đối thủ như Wang, Hewlett-), Và Kiểm soát dữ liệu ở các khu vực khác [2].
Năm 1979, BusinessWeek hỏi, "Liệu IBM có phải là một công ty khác trưởng thành?" Đến năm 1981 giá cổ phiếu của nó đã giảm 22%. [2] Thu nhập của IBM trong nửa đầu năm tăng 5,3% - một phần ba tỷ lệ lạm phát - trong khi doanh thu của hãng sản xuất máy tính mini (DEC) tăng hơn 35% [6]. Công ty bắt đầu bán máy tính cá nhân, nhưng vào tháng 1 năm 1982, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã chấm dứt vụ kiện chống độc quyền bởi vì theo báo The New York Times, chính phủ "công nhận những gì các chuyên gia máy tính và các nhà phân tích chứng khoán từ lâu đã kết luận: IBM không còn thống lĩnh hoạt động kinh doanh "[1] [7]
IBM muốn tránh những kết quả tương tự với ngành công nghiệp máy tính cá nhân mới, [5] chi phối bởi Commodore PET, gia đình 8 gia đình Atari, Apple II, TRS-80 của Tandy Corporation, và các máy CP / M khác nhau [8]. Với doanh thu 150 triệu đô la vào năm 1979 và dự báo tăng trưởng hàng năm trên 40% vào đầu những năm 1980, thị trường vi tính đã đủ lớn để IBM chú ý. Các công ty công nghệ lớn khác như HP, Texas Instruments, và Data General đã nhập nó, và một số khách hàng lớn của IBM đã mua Táo, [9] [2] [10] vì vậy công ty đã giới thiệu máy tính cá nhân của mình như là một thử nghiệm Một thị trường mới và một sự phòng vệ chống lại các đối thủ lớn và nhỏ [11] [3].
Trong những năm 1980 và 1981, những tin đồn lan truyền trên một máy tính cá nhân của IBM, có lẽ là một phiên bản thu nhỏ của IBM System / 370, [12] trong khi Matsushita thừa nhận đã thảo luận với IBM về khả năng sản xuất máy tính cá nhân cho công ty Mỹ [ Dự án của Nhật có tên mã "Go" đã kết thúc trước khi phát hành năm 1981 của máy tính IBM có tên mã là "Chess" của Mỹ, nhưng hai dự án đồng thời lại làm nhầm lẫn tin đồn về sản phẩm sắp tới [14].
Quá muộn?
Các máy tính nhỏ của Data General và Texas Instruments không thành công lắm, nhưng các nhà quan sát dự đoán AT & T sẽ sớm bước vào ngành công nghiệp máy tính và các công ty lớn khác như Exxon, Montgomery Ward, Pentel và Sony đang thiết kế các máy vi tính của riêng mình. ] Cho dù IBM đã đợi quá lâu để bước vào một ngành công nghiệp mà Apple và những người khác đã thành công thì không rõ ràng. [6] [2] [16]
Một nhà quan sát đã nói rằng "IBM đưa ra một máy tính cá nhân sẽ giống như dạy một con voi để nhảy khiêu vũ". [17] Công ty vi tính thành công Doanh thu năm tài chính 1980 của Vector Graphic là 12 triệu USD [10]. Một máy tính IBM duy nhất vào đầu những năm 1960 có chi phí 9 triệu USD, chiếm một phần tư diện tích không gian máy lạnh, và có 60 nhân viên, [17] vào năm 1980 máy tính đắt tiền nhất của hãng là 5120 vẫn còn giá khoảng 13.500 đô la. [18] Công ty chỉ bán được thông qua các nhân viên bán hàng nội bộ, không có kinh nghiệm với các đại lý hoặc cửa hàng bán lẻ, [19] [5] [20] [21] và không giới thiệu sản phẩm đầu tiên được thiết kế để làm việc với các thiết bị không phải của IBM cho đến năm 1980. [ 6]
Một nhà quan sát khác cho rằng IBM đã đưa ra quyết định rất chậm khi kiểm tra "những gì họ tìm thấy là phải mất ít nhất chín tháng để gửi một chiếc hộp rỗng". [22] Cũng như các công ty máy tính lớn khác, các sản phẩm mới của nó thường được yêu cầu khoảng 4 đến 5 năm để phát triển [10] [23] [24] [19] IBM đã phải học cách nhanh chóng phát triển, sản xuất hàng loạt và tiếp thị máy tính mới. Trong khi công ty truyền thống cho phép những người khác đi tiên phong trong một thị trường mới- IBM phát hành máy tính thương mại đầu tiên của mình một năm sau khi UNIVAC của Remington Rand năm 1951, nhưng trong vòng 5 năm lại có tới 85% thị trường-sự phát triển máy tính cá nhân và chu kỳ định giá nhanh hơn nhiều so với Máy tính lớn, với các sản phẩm được thiết kế trong vài tháng và đã lỗi thời nhanh chóng. [10] [2] [4]
Rất nhiều người trong ngành công nghiệp vi mô phản đối quyền lực và sự giàu có của IBM, và không thích nhận thức rằng một ngành công nghiệp được thành lập bởi các công ty mới thành lập cần một người chậm trễ nên tạm thời rằng nó có một quy tắc nghiêm ngặt về trang phục và bài hát của nhân viên. [25] [22] Tầm quan trọng tiềm tàng đối với các máy vi tính của một công ty có uy tín, một câu nói phổ biến trong các công ty Mỹ nói rằng "Không ai bị đuổi việc mua IBM", tuy nhiên rõ ràng là rõ ràng [14] [26] [22] [27] InfoWorld, mô tả chính nó là "Newsweekly for Microcomputer Users", đã nói rằng "đối với bà tôi, và cho hàng triệu người như cô ta, IBM và máy tính là đồng nghĩa". [28] Byte ("Tạp chí Hệ thống Nhỏ") đã tuyên bố trong một bài xã luận [14] ngay trước khi thông báo của IBM PC:
Nhiều tin đồn về các máy tính cá nhân xuất phát từ những người khổng lồ như Tổng công ty Thiết bị Kỹ thuật số và Công ty General Electric. Nhưng không có cuộc thi. Máy tính cá nhân mới của IBM... là ngôi sao truyền thông xa, không phải vì tính năng của nó, mà bởi vì nó tồn tại. Khi số 8 trong Fortune 500 vào lĩnh vực này, tức là tin tức... Ảnh hưởng của một máy tính cá nhân do một công ty mà tên của họ mang nghĩa là "máy tính" đến hầu hết mọi người trên thế giới thì rất khó để chiêm ngưỡng.
Các bài xã luận thừa nhận rằng "một số phe phái trong ngành công nghiệp của chúng tôi đã coi IBM là" kẻ thù "nhưng kết luận với sự lạc quan:" Tôi muốn xem máy tính cá nhân có một bước tiến khổng lồ. "
Người tiền nhiệm
Máy tính xách tay có thể lập trình bằng máy tính của Hewlett Packard đã được phát triển thành máy tính ngôn ngữ HP 9830 BASIC vào năm 1972. Trong những năm 1972-1973, một nhóm do Tiến sĩ Paul Friedl làm việc tại Trung tâm Khoa học IBM Los Gatos phát triển một mẫu máy tính xách tay mang tên SCAMP Portable) dựa trên bộ vi xử lý IBM PALM với một ổ băng cassette nhỏ gọn của Philips, CRT nhỏ và bàn phím đầy đủ chức năng. SCAMP mô phỏng một chiếc máy tính mini của IBM 1130 để chạy APL \ 1130. [29] Vào năm 1973, APL thường chỉ có trên các máy tính lớn, và hầu hết các máy tính để bàn cỡ nhỏ như Wang 2200 hoặc HP 9800 chỉ cung cấp BASIC. Bởi vì nó là mô phỏng đầu tiên để mô phỏng hiệu suất của APL 1130 trên một máy tính xách tay, một người dùng, Tạp chí PC năm 1983 đã chỉ định SCAMP là "khái niệm cách mạng" và "máy tính cá nhân đầu tiên trên thế giới" [29] [30]. Nguyên mẫu là ở Viện Smithsonian. Mô hình thiết kế công nghiệp không hoạt động cũng đã được tạo ra vào năm 1973 để minh hoạ làm thế nào mà mẫu nguyên mẫu kỹ thuật SCAMP có thể được biến đổi thành một thiết kế sản phẩm có thể sử dụng cho thị trường. Nhà quản lý của IBM, Bill Lowe, đã sử dụng mô hình thiết kế và mẫu thiết kế kỹ thuật trong những nỗ lực ban đầu của ông để chứng minh tính khả thi của việc tạo ra một máy tính người dùng đơn lẻ.
Các cuộc biểu tình thành công của nguyên mẫu SCAMP năm 1973 đã dẫn đến chiếc máy vi tính xách tay IBM 5100 vào năm 1975. Vào cuối những năm 1960, một loại máy như vậy có thể lớn bằng hai bàn và nặng khoảng nửa tấn. 5100 là một hệ thống máy tính hoàn chỉnh có thể lập trình được trong BASIC hoặc APL, với một màn hình CRT tích hợp, bàn phím và ổ băng để lưu trữ dữ liệu. Nó cũng rất đắt, lên đến 20.000 đô la Mỹ; Máy tính được thiết kế cho các khách hàng chuyên nghiệp và khoa học, chứ không phải là người dùng kinh doanh hay những người sở thích. [32] BYTE năm 1975 đã công bố 5100 với tiêu đề "Chào mừng, IBM, đến máy tính cá nhân", [33] nhưng tạp chí PC Magazine năm 1984 đã mô tả 5100s là "máy tính lớn nhỏ" và tuyên bố rằng "như máy tính cá nhân, những máy này đã thất bại thảm hại... Phản đối của người sử dụng thân thiện ", mà không có sự hỗ trợ của IBM cho phần mềm của bên thứ ba [20]. Mặc dù báo cáo cho biết đây là sản phẩm đầu tiên của IBM mà không có số model, khi PC được giới thiệu vào năm 1981, nó được gọi là IBM 5150, đặt nó trong "5100" series [34] mặc dù kiến trúc của nó không trực tiếp xuất phát từ IBM 5100. Các mô hình sau này theo sau xu hướng: Ví dụ: Máy tính cá nhân di động IBM, PC / XT và PC AT là các loại máy IBM 5155, 5160 và 5170. [35]
Sau SCAMP, IBM Boca Raton Laboratory đã tạo ra một số khái niệm thiết kế máy tính người dùng đơn lẻ để hỗ trợ nỗ lực không ngừng của Lowe để thuyết phục IBM có một cơ hội chiến lược trong kinh doanh máy tính cá nhân. Một trong những khái niệm như vậy vào năm 1977, có tên Aquarius, là một nguyên mẫu làm việc sử dụng các tính năng tiên tiến của IBM Bong bóng bộ nhớ. Mặc dù thiết kế này mạnh hơn và nhỏ hơn so với Apple II ra mắt cùng năm, công nghệ bong bóng tiên tiến đã được coi là không ổn định và không sẵn sàng cho sản xuất hàng loạt. [31]
Chess dự án
Một số nhân viên phản đối IBM xâm nhập thị trường. [36] Một người nói, "Tại sao bạn phải quan tâm đến máy tính cá nhân trên trái đất? Nó không liên quan gì đến tự động hóa văn phòng." "Bên cạnh đó", ông nói thêm, "tất cả những gì nó có thể làm là gây bối rối cho IBM". [37] Công ty đã xác định từ nghiên cứu thị trường trong nhiều năm, và xây dựng các nguyên mẫu trong những năm 1970, rằng IBM đã không thể xây dựng được một máy tính cá nhân bên trong [19] [2] [31]
Chủ tịch IBM John Opel không nằm trong số những người hoài nghi về máy tính cá nhân. Ông và Giám đốc điều hành Frank Cary đã tạo ra hơn một chục "bán độc lập" (IBU) bán tự trị để khuyến khích đổi mới; [5] [21] Fortune gọi họ là "Làm thế nào để bắt đầu công ty của riêng bạn mà không cần rời IBM". [4] Sau khi Lowe trở thành giám đốc đầu tiên của IBU tại Boca Raton [21], nhóm của ông đã nghiên cứu thị trường. Các đại lý máy tính rất quan tâm đến việc bán một sản phẩm của IBM, nhưng nói với Lowe rằng công ty không thể thiết kế, bán hoặc sử dụng nó như IBM đã làm trước đây. Theo họ, máy vi tính của IBM phải bao gồm các bộ phận tiêu chuẩn để lưu giữ nhân viên có thể sửa chữa. [16] Mặc dù các đại lý không thích các hoạt động kinh doanh của Apple, bao gồm cả sự thiếu hụt của Apple II, trong khi công ty tập trung vào Apple III phức tạp hơn, họ không thấy gì thay đổi vì họ nghi ngờ rằng các phương pháp bán hàng truyền thống của IBM và bộ máy quan liêu sẽ thay đổi.
Atari năm 1980 đề xuất rằng nó hoạt động như nhà sản xuất thiết bị gốc cho một máy vi tính IBM. Nhận thấy rằng công ty cần tham gia thị trường một cách nhanh chóng [38] - ngay cả các trường học ở Hạt Broward, gần Boca Raton, đã mua Táo [39] -trong tháng 7 năm 1980 Lowe gặp Opel, Cary và những người khác trong Ủy ban Quản lý Quan trọng. [19] [2] Lowe đã trình bày đề xuất này bằng một mô hình thiết kế công nghiệp dựa trên nền tảng Atari 800 và đề nghị mua lại Atari bởi vì chúng ta không thể làm điều này trong nền văn hoá của IBM [31] [36] [17] [16]
Cary đã đồng ý về nền văn hoá, quan sát rằng IBM cần "bốn năm và ba trăm người" để phát triển máy tính cá nhân; Lowe, tuy nhiên, đã hứa trong một năm nếu được thực hiện mà không có phương pháp truyền thống của IBM [22]. Thay vì nhận được Atari, ủy ban cho phép ông thành lập một nhóm nhân viên độc lập - "Dirty Dozen", do kỹ sư Bill Sydnes-dẫn đầu, theo lời hứa của Lowe, có thể thiết kế mẫu thử trong 30 ngày. Nguyên mẫu thô đã làm việc khi ông trình diễn nó vào tháng Tám, nhưng Lowe đã trình bày kế hoạch kinh doanh chi tiết đề xuất rằng máy tính mới này có kiến trúc mở, sử dụng các thành phần và phần mềm không phải là sở hữu và được bán thông qua các cửa hàng bán lẻ,. [31] [36] [17] [16]
Ủy ban đồng ý rằng cách tiếp cận của Lowe rất có thể sẽ thành công. Với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Opel, vào tháng 10, nó đã thông qua việc chuyển nhóm thành một IBU có tên mã là "Project Chess" để phát triển "Acorn" với kinh phí lớn bất thường để giúp đạt được mục tiêu giới thiệu sản phẩm trong vòng một năm kể từ cuộc trình diễn tháng 8. Sau khi sự thăng tiến của Lowe Don Estridge trở thành người đứng đầu Chess, [40] [21] [36] và vào tháng 1 năm 1981, nhóm đã trình diễn lần đầu tiên chiếc máy tính trong IBM [ Các thành viên chủ chốt khác bao gồm Sydnes, Lewis Eggebrecht, David Bradley, Mark Dean, David O'Connor. [45] Nhiều người đã sở hữu máy tính cá nhân riêng của họ [23] bao gồm cả Estridge, người có Apple II. [46] Sau khi nhóm được phép mở rộng lên 150 vào cuối năm 1980, nó đã nhận được hơn 500 cuộc gọi trong một ngày từ các nhân viên của IBM quan tâm đến việc gia nhập IBU [2]
Các tiêu chuẩn mở
IBM thường được tích hợp theo chiều dọc, phát triển nội bộ tất cả phần cứng và phần mềm [23] và không khuyến khích khách hàng mua các sản phẩm của bên thứ ba tương thích với các sản phẩm IBM [28]. Đối với máy tính, công ty tránh làm càng nhiều càng tốt; Ví dụ như để cấp giấy phép cho Microsoft BASIC mặc dù BASIC của riêng nó dành cho máy tính lớn [47] Mặc dù công ty đã phủ nhận việc làm như vậy, nhiều nhà quan sát kết luận rằng IBM đã cố tình giả lập Apple khi thiết kế máy tính cá nhân [25] [45] [20] Nhiều chủ sở hữu của Apple II trong nhóm đã ảnh hưởng đến quyết định thiết kế máy tính với kiến trúc mở và công bố thông tin kỹ thuật để những người khác có thể tạo ra phần mềm và thiết bị ngoại vi khe cắm mở rộng [5].
Mặc dù công ty biết rằng nó không thể tránh khỏi sự cạnh tranh từ phần mềm của bên thứ ba về phần cứng độc quyền-nghiên cứu kỹ thuật số phát hành CP / M-86 cho IBM Displaywriter, ví dụ [6] - được xem xét sử dụng bộ xử lý IBM 801 RISC và hệ điều hành của nó, Được phát triển tại Trung tâm Nghiên cứu Thomas J. Watson ở Yorktown Heights, New York. Bộ vi xử lý 801 đã có sức mạnh lớn hơn Intel 8088 và hệ điều hành tiên tiến hơn hệ điều hành PC DOS 1.0 từ Microsoft. Xét một giải pháp tại chỗ làm cho công việc của đội trở nên dễ dàng hơn và có thể tránh được sự chậm trễ trong kế hoạch, nhưng hậu quả cuối cùng của quyết định này đối với IBM là sâu rộng.
Gần đây, IBM đã phát triển máy tính vi tính kinh doanh Datamaster, sử dụng bộ vi xử lý và các chip khác từ Intel; Quen thuộc với họ và sự sẵn có ngay lập tức của 8088 là một lý do để chọn nó cho máy PC. Các khe xe buýt mở rộng 62 chân đã được thiết kế để tương tự với khe Datamaster. Sự khác biệt giữa Datamaster bao gồm việc tránh thiết kế tất cả trong một, đồng thời hạn chế kích thước của máy tính để nó vẫn có thể phù hợp với máy tính để bàn chuẩn với bàn phím (cũng tương tự như Datamaster) và 5,25 "ổ đĩa thay vì 8". Trì hoãn do phát triển phần mềm Datamaster trong nhà là lý do tại sao IBM đã chọn Microsoft BASIC - đã có sẵn cho 8088 và công bố các thông tin kỹ thuật sẵn có để khuyến khích các nhà phát triển của bên thứ ba. [43] [21] IBM đã chọn 8088 so với 8086 tương tự nhưng tốt hơn bởi vì Intel đã cung cấp một mức giá tốt hơn trước đây và có thể cung cấp nhiều đơn vị hơn, và xe buýt 8-bit 8088 giảm chi phí cho phần còn lại của máy tính. [43]
Thiết kế cho máy tính cơ bản hoàn thành vào tháng 4 năm 1981, khi nhóm sản xuất tiếp quản dự án [17]. IBM không chỉ sử dụng phần cứng riêng của mình và có lợi nhuận với "Acorn". Để tiết kiệm thời gian và tiền bạc, IBU đã chế tạo máy này với các bộ phận thương mại từ các nhà sản xuất thiết bị ban đầu bất cứ khi nào có thể, với việc lắp ráp xảy ra tại Boca Raton. IBU sẽ quyết định xem mỗi bước sản xuất sẽ mang lại hiệu quả kinh tế hơn cho việc "mua hay mua". [2] [5] Các bộ phận của IBM lần đầu tiên cạnh tranh với những người bên ngoài để xây dựng các bộ phận của máy tính mới; Một nhà máy của IBM ở Bắc Carolina đã xây dựng được bàn phím, nhà máy của Endicott, New York phải hạ giá thành bảng mạch in, và một công ty Đài Loan xây dựng màn hình. [36] [40] IBU đã chọn một màn hình hiện tại của IBM Nhật Bản và một máy in Epson. Bởi vì các bộ phận off-the-shelf chỉ có đơn vị hệ thống và bàn phím có các yếu tố thiết kế độc đáo của IBM, bản quyền của IBM xuất hiện chỉ trong ROM BIOS và trên logo của công ty, [49] [5] và công ty này không nhận được bằng sáng chế Trên PC. [28]
Bởi vì sản phẩm mang logo của IBM, bộ phận doanh nghiệp duy nhất của IBU không thể bỏ được là Đơn vị đảm bảo chất lượng. [23] [40] Một khía cạnh khác của IBM mà không thay đổi là nhấn mạnh vào bí mật [39]. Những người làm việc trong dự án tuân theo các thỏa thuận chặt chẽ về bảo mật. Khi một cá nhân đã đề cập công khai vào thứ bảy rằng công ty của ông đang làm việc về phần mềm cho một máy tính IBM mới, bảo mật IBM xuất hiện tại công ty vào thứ hai để điều tra sự rò rỉ [50]. Các nhà phát triển đã nhận được các máy tính nguyên mẫu trong các hộp được lót dẫn đến tia X và đóng kín bằng hàn, và phải giữ chúng trong các phòng bị khóa, không có cửa sổ [51] để phát triển phần mềm Microsoft mô phỏng máy tính bằng máy tính mini vào tháng 12 và sử dụng nguyên mẫu để gỡ lỗi. [21] Sau khi PC ra mắt, nhân viên IBM Boca Raton tiếp tục giảm để thảo luận về công việc của họ trước công chúng. Một nhà văn đã so sánh "im lặng" sau khi hỏi về vai trò của anh tại công ty để "chạm vào bức tường tại Marathon Boston: cuộc trò chuyện đã chấm dứt" [39].
Khởi đầu
IBM tự hào công bố một sản phẩm mà bạn có thể có lợi ích cá nhân. Đây là một công cụ có thể sớm xuất hiện trên bàn làm việc, trong nhà bạn hoặc trong phòng học của con bạn. Nó có thể tạo ra một sự khác biệt đáng ngạc nhiên trong cách bạn làm việc, học hỏi hay tiếp cận những phức tạp (và một số thú vui đơn giản) của cuộc sống.
Đó là máy tính mà chúng tôi đang thực hiện cho bạn.
- Quảng cáo trên máy tính IBM, 1982 [52] Sau khi phát triển nó nhanh hơn 12 tháng so với bất kỳ sản phẩm phần cứng khác trong lịch sử của công ty, IBM đã công bố máy tính cá nhân vào ngày 12 tháng 8 năm 1981. Giá khởi điểm là 1.565 USD (tương đương với 4.123 USD vào năm 2016) cho cấu hình với RAM 16K, Và không có ổ đĩa. Công ty này đã cố ý định giá cho nó và các cấu hình khác so với của Apple và các đối thủ khác, [53] [23] [5] [36] [17] một nhà phân tích nói rằng IBM "đã găng tay" 1] trong khi công ty nói rằng "chúng tôi đề nghị [giá PC] mời gọi so sánh". [54] Microsoft, Phần mềm Cá nhân và Phần mềm Peachtree nằm trong số các nhà phát triển gồm chín tiêu đề khởi chạy, bao gồm EasyWriter và VisiCalc. [53] Ngoài các lực lượng bán hàng hiện có của công ty IBM mở riêng của Trung tâm sản phẩm cửa hàng bán lẻ. Sau khi nghiên cứu mạng lưới phân phối thành công của Apple, công ty lần đầu tiên được bán thông qua những người khác, ComputerLand và Sears Roebuck [53] [19] [4] [20] [5] Vì các cửa hàng bán lẻ nhận được doanh thu từ sửa chữa máy tính và cung cấp dịch vụ bảo hành, IBM đã phá vỡ truyền thống 70 năm bằng cách cho phép và đào tạo các nhân viên dịch vụ không phải là IBM để sửa chữa máy tính. [2]
BYTE mô tả IBM là có "tổ chức tiếp thị mạnh nhất trên thế giới", [6] nhưng tiếp thị của máy tính cá nhân cũng khác với các sản phẩm trước đó. Công ty đã nhận thức được danh tiếng của công ty mạnh mẽ trong số các khách hàng tiềm năng; Một quảng cáo sớm đã bắt đầu "Trình bày IBM của máy tính cá nhân". [52] [55] [5] Các quảng cáo nhấn mạnh tính mới của một cá nhân sở hữu một máy tính IBM, mô tả "một sản phẩm bạn có thể có lợi ích cá nhân" [52] và yêu cầu độc giả suy nghĩ về "máy tính IBM của riêng tôi." Hãy tưởng tượng rằng "... của bạn. Đối với công việc kinh doanh, dự án, bộ phận của bạn, lớp học của bạn, gia đình và, thực sự, cho chính mình. "
The Little Tramp
Sau khi xem xét Alan Alda, Beverly Sills, Kermit the Frog, và Billy Martin trong vai trò người bán hàng nổi tiếng [57] IBM đã chọn Billy Scudder của Charlie Chaplin - nhân vật Little Little Tramp - cho một loạt các quảng cáo dựa trên các bộ phim của Chaplin [58] [59] ] Chiến dịch quảng cáo trị giá 36 triệu đô la đã giành được giải thưởng đã làm nên ngôi sao của Modern Times - một bộ phim thể hiện sự phản đối của Chaplin đối với hoạt động kinh doanh, cơ giới hóa và hiệu quả công nghệ lớn - như (The Creative Computing mô tả ông) "linh vật" ấm cúng của một Của các công ty lớn nhất thế giới [60] [59] [58] [5] [61]
Chaplin và nhân vật của ông đã liên kết rộng rãi với IBM-Time đã nói rằng "The Tramp... đã cho khuôn mặt người đó" [60] - những người khác sử dụng mũ và mía của mình để đại diện hoặc châm biếm công ty [62]. ] [63] [64] [65] [59] Mặc dù bất động sản của Chaplin đã kiện những người như Otrona đã sử dụng nhãn hiệu này mà không được phép, tạp chí PC Magazine tháng 4 năm 1983 đã có 12 quảng cáo liên quan đến Little Tramp [58].
Sản phẩm của bên thứ ba
"Chúng tôi khuyến khích các nhà cung cấp phần ba [cho máy tính cá nhân]... chúng tôi rất vui khi có chúng", IBM tuyên bố [28]. Nó không bán phần mềm máy tính nội bộ phát triển cho đến tháng 4 năm 1984, [66] thay vì dựa vào các công ty phần mềm đã được thành lập [53]. Công ty này đã liên lạc với Microsoft ngay cả trước khi có sự chấp thuận chính thức của Chess, [19] và nó và những người khác đã nhận được sự hợp tác, một nhà văn nói, "không nghe thấy" của IBM [67]. Sự mở rộng như vậy gây ngạc nhiên cho các nhà quan sát [45] BYTE đã gọi nó là "nổi bật" [53] và "giật mình", [6] và một nhà phát triển báo cáo rằng "IBM rất khác". Một người khác nói: "Họ rất cởi mở và hữu ích khi đưa cho chúng tôi tất cả những thông tin kỹ thuật mà chúng tôi cần. Cảm giác thật khác biệt - giống như bước ra khỏi một làn gió ấm". Ông kết luận: "Sau nhiều năm chống lại thái độ Không Phát minh ở đây - chúng tôi là những vị thần". [34]
Ví dụ, Texas Instruments đã cố tình phát triển phần mềm TI 99 / 4A của bên thứ ba khó khăn, [68] [69] thậm chí đòi hỏi một chip khóa trong hộp mực [ 70] Chính IBM đã giữ công nghệ máy tính lớn của mình quá bí mật mà các đối thủ đã bị truy tố vì gián điệp công nghiệp. [28] Tuy nhiên, đối với máy tính cá nhân, IBM đã tiết lộ thông tin chi tiết. Tài liệu tham khảo kỹ thuật về máy tính IBM của US $ 36 bao gồm các sơ đồ mạch hoàn chỉnh, nhận xét về mã nguồn ROM BIOS và các thông tin kỹ thuật và lập trình khác cho tất cả phần cứng máy tính của IBM, cùng với các hướng dẫn về thiết kế các thiết bị ngoại vi của bên thứ ba. Nó hoàn chỉnh đến mức một nhà tổng quan gợi ý rằng cuốn cẩm nang có thể đóng vai trò như một cuốn sách giáo khoa đại học, và rõ ràng rằng một nhà phát triển đã tuyên bố rằng ông có thể thiết kế một card mở rộng mà không nhìn thấy máy tính vật lý [
IBM đưa ra thị trường sách hướng dẫn kỹ thuật trong các trang quảng cáo in màu đầy đủ, nói rằng "câu chuyện phần mềm của chúng tôi vẫn đang được viết, có lẽ bởi bạn" [72]. Sydnes nói rằng "Định nghĩa của một máy tính cá nhân là phần cứng và phần mềm của bên thứ ba". Estridge nói rằng IBM đã không giữ quyền sở hữu phần mềm phát triển bởi vì nó sẽ phải "ra VisiCalc VisiCorp và Peachtree Peachtree-và bạn không thể làm điều đó", [45] và không giống như phiên bản riêng của IBM "Microsoft BASIC đã có hàng trăm Hàng ngàn người dùng trên khắp thế giới, bạn sẽ tranh cãi với điều đó như thế nào? "[47]
Một sự quảng cáo khác nói với các nhà phát triển rằng công ty sẽ xem xét việc xuất bản phần mềm cho "Education.Entertainment.Films cá nhân.Quản trị dữ liệu.Công nghệ tự cải tiến.Giải trí.Và vâng, kinh doanh." "[73] Estridge đã mời một cách độc lập nhỏ" tiểu thủ " Các nhà phát triển chuyên nghiệp để tạo ra sản phẩm [53] "với", ông nói, "biểu tượng của chúng tôi và hỗ trợ của chúng tôi". [74] IBM đã bán máy tính cá nhân với mức giảm giá lớn cho nhân viên, khuyến khích họ viết phần mềm và phân phối một phần mềm giá rẻ do các cá nhân viết ra mà không được công khai xuất hiện. [75] [76]
== Tham khảo == |
cầu thủ xuất sắc nhất năm của fifa.txt | Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA là danh hiệu hàng năm của FIFA dành cho nam và nữ cầu thủ bóng đá xuất sắc nhất do tất cả các huấn luyện viên trưởng và đội trưởng các Đội tuyển bóng đá quốc gia bầu chọn. Giải thưởng này bắt đầu năm 1991 đối với nam và 2001 đối với nữ. Kể từ mùa bóng 2010-2011, giải này được hợp nhất với giải quả bóng vàng châu Âu thành quả bóng vàng FIFA.
== Cầu thủ đoạt giải ==
=== Danh sách các nam cầu thủ đoạt giải ===
==== Xếp hạng theo cầu thủ ====
==== Xếp hạng theo quốc gia ====
Bảng dưới được liệt kê theo quốc tịch của cầu thủ (không phải theo nơi anh ta chơi bóng).
* Đồng giải
==== Xếp hạng theo câu lạc bộ ====
*Cầu thủ là thành viên của câu lạc bộ trong nửa cuối năm dương lịch (Lượt đi mùa giải mới - từ tháng 8 đến tháng 12)
**Cầu thủ là thành viên của câu lạc bộ trong nửa đầu năm dương lịch (lượt về của mùa giải - từ tháng 1 đến tháng 5)
***Cầu thủ giải nghệ vào nửa cuối năm dương lịch do đó chỉ là thành viên của câu lạc bộ trong nửa đầu năm dương lịch (lượt về của mùa giải - từ tháng 1 đến tháng 5)
== Danh sách các nữ cầu thủ đoạt giải ==
=== Xếp hạng theo cầu thủ ===
=== Xếp hạng theo quốc gia ===
Bảng dưới được liệt kê theo quốc tịch của cầu thủ (không phải theo nơi cầu thủ chơi bóng).
=== Xếp hạng theo câu lạc bộ ===
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Quả bóng vàng châu Âu
Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFPro |
chùa thầy.txt | Chùa Thầy là một ngôi chùa ở chân núi Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây cũ, nay là xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km về phía Tây nam, đi theo đường cao tốc Láng - Hòa Lạc. Sài Sơn có tên Nôm là núi Thầy, nên chùa được gọi là chùa Thầy. Chùa được xây dựng từ thời nhà Đinh. Đây từng là nơi tu hành của Thiền sư Từ Đạo Hạnh, lúc này núi Thầy còn gọi là núi Phật Tích.
== Lịch sử ==
Cùng với chùa Tây Phương và Chùa Hương, Chùa Thầy là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất Hà Nội. Nếu như Chùa Láng gắn liền với giai đoạn đầu của cuộc đời Từ Đạo Hạnh, thì chùa Thầy lại chứng kiến quãng đời sau cùng cho đến ngày thoát xác của vị sư thế hệ thứ 12 thuộc dòng Thiền Ti-ni-đa-lưu-chi này.
Ban đầu chùa Thầy chỉ là một am nhỏ gọi là Hương Hải am, nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh trụ trì. Vua Lý Nhân Tông đã cho xây dựng lại gồm hai cụm chùa: chùa Cao (Đỉnh Sơn Tự) trên núi và chùa Dưới (tức chùa Cả, tên chữ là Thiên Phúc Tự). Đầu thế kỷ 17, Dĩnh Quận Công cùng hoàng tộc chăm lo việc trùng tu, xây dựng điện Phật, điện Thánh; sau đó là nhà hậu, nhà bia, gác chuông. Theo thuyết phong thủy, chùa được xây dựng trên thế đất hình con rồng. Phía trước chùa, bên trái là ngọn Long Đẩu, lưng chùa và bên phải dựa vào núi Sài Sơn. Chùa quay mặt về hướng Nam, trước chùa, nằm giữa Sài Sơn và Long Đẩu là một hồ rộng mang tên Long Chiểu hay Long Trì (ao Rồng). Sân có hàm rồng.
== Truyền thuyết Hóa thân chuyển thế ==
Đây là một khái niệm trong Phật giáo liên quan tới luân hồi, tuy nhiên chỉ được hiện thực hóa rõ ràng trong phái Kim Cang Thừa tại Tây Tạng khởi nguyên của việc hóa thân này cũng là thế kỷ 11 cùng thời với Tổ Từ Đạo Hạnh. Có ít nhất 2 vị vua được cho là hóa thân của Từ Đạo Hạnh:
Lý Thần Tông (1116-1138)
Lê Thần Tông(1607-1662)
Lê Hiển Tông (do mẹ cầu tự tại chùa Thầy và sinh năm 1461)
== Kiến trúc ==
Phần chính của chùa Thầy gồm ba tòa song song với nhau gọi là chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng. Giữa chùa Hạ và chùa Trung có ống muống nối với nhau, tạo thành thế hạ công thượng nhất.
Chùa Hạ là nhà tiền tế, bày các tượng Đức Ông, Thánh hiền. Ống muống để tượng Bát bộ Kim Cương. Chùa Trung bày bàn thờ Phật, hai bên có hai tượng Hộ pháp, tượng Thiên vương. Chùa Thượng hay chùa trên tách biệt hẳn, ở vị trí cao nhất, biển đề Đại hùng Bảo điện, đồng thời là nhà thánh, để tượng Di Đà tam tôn,Thích Ca, tượng ba kiếp của thiền sư Từ Đạo Hạnh, ban thờ Lý thần Tông còn có 1 đôi Phượng Hoàng gỗ, 2 tượng Phỗng thế kỷ 18 đời vua Lê Ý Tông,
Xung quanh chùa có hai dãy hành lang phía sau có lầu chuông, lầu trống. tương truyền do bà Chúa Chè Tuyên Phi Đặng Thị Huệ xin với chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm xây dựng khi về thăm chùa,
Phía trước chùa là một sân rộng nhìn ra hồ Long Chiểu, tạo thành hàm của rồng trước trồng hai cây gạo, nhưng hiện tại hai cây gạo đã chết, được thay bởi cây đa. Từ sân này có hai cầu là Nhật tiên kiều và Nguyệt tiên kiều nối sang hai bên, tạo thành hai râu rồng. Hai cầu này do Phùng Khắc Khoan xây vào năm 1602. Cầu Nhật Tiên nối sang một hòn đảo nhỏ, trên đảo có đền thờ Tam phủ. Cầu Nguyệt Tiên nối vào đường lên núi.
Giữa ao Long Chiểu có thủy đình là viên ngọc giữa miệng rồng. Đây cũng là nơi diễn ra trò múa rối nước. Từ Đạo Hạnh được cho là ông tổ của hình thức biểu diễn dân gian này.
== Điêu khắc trong chùa ==
Tại chùa Hạ có các pho tượng Đức Ông khá đẹp, và một bức bình phong lớn mô tả cảnh địa ngục.
Các pho Kim Cương đứng trong những tư thế võ mạnh mẽ, sống động. Tại chùa Trung có hai pho tượng Hộ pháp được cho là lớn nhất trong các ngôi chùa Việt Nam, cao gần 4m. Tượng Hộ pháp đắp bằng đất thó, giấy bản giã nhỏ trộn với mật, trứng,..., nên sau hơn ba trăm năm vẫn còn rất tốt.
Các pho tượng đẹp nhất của chùa Thầy tập trung tại chùa Trên.
Trên cao nhất là tượng Di Đà Tam tôn được tạc vào đời Mạc. Phật A Di Đà ngồi giữa dáng vẻ phúc hậu. Pho tượng Quán Thế Âm bên phải ngồi buông chân trái xuống, chân phải co lên, tay cầm một cây phất trần, dáng vẻ ung dung. Pho Đại Thế Chí ngồi xếp bằng, hai tay bắt ấn mật phùng. Ba pho tượng mỗi pho một vẻ không giống nhau, tạo thành một bộ tượng đẹp đặc biệt.
Dưới đó, chính giữa là tượng Thiền sư Từ Đạo Hạnh trong kiếp Phật. Tượng được tạc vào thế kỉ 19, khuôn mặt khắc khổ, nổi rõ mạch máu, ngồi xếp bằng tròn trên một bệ hoa sen còn lại từ đời Lý. Bệ hoa sen đặt trên một con sư tử cuộn tròn, dưới con sư tử là một bệ bát giác. Hiện nay tượng được đội mũ hoa sen và khoác áo vàng.
Toàn bộ ba pho Di Đà và tượng Từ Đạo Hạnh đặt trên một bệ đá hai tầng, được làm vào thời nhà Trần. Bệ đá chạm những cánh hoa sen, bốn mặt chạm hình rồng và hoa lá, bốn góc có hình thần điểu Garuda.
Bên phải là tượng Thiền sư ở kiếp Vua. Tương truyền Từ Đạo Hạnh sau khi đã hóa, đầu thai làm con trai của Sùng Hiền Hầu và trở thành nhà vua Lý Thần Tông. Tượng Lý Thần Tông đầu đội mũ bình thiên, mình khoác long bào, ngồi trên ngai vàng. Bên trái có tượng Từ Đạo Hạnh trong kiếp Thánh, ngồi trong một khám gỗ chạm trổ cầu kì. Tượng này có cốt bằng tre, có thể cử động. Tương truyền xưa kia mỗi khi mở cửa khám thì tượng tự động nhỏm dậy chào. Sau một vị quan triều Nguyễn nói rằng "Thánh thì không phải chào ai cả", nên tháo hệ thống khớp nối, từ đó tượng ngồi yên. Pho tượng này thể hiện nghệ thuật làm rối nước của dân gian.
Trong chùa còn có tượng ông Từ Vinh và bà Tăng Thị Loan là cha mẹ Từ Đạo Hạnh và hai bạn đồng đạo thân thiết của Ngài là Thiền sư Minh Không và Thiền sư Giác Hải.
Trước tượng Từ Đạo Hạnh ở chính giữa có một bàn thờ gỗ chạm trổ rất đẹp. Xưa kia nền đất còn thấp, người thắp hương vịn vào bàn thờ tạo thành một chỗ hõm rất lớn. Trong chùa Thượng còn có hai cây cột làm bằng loại gỗ quý là gỗ Ngọc am.
== Hệ thống chùa trên núi ==
Qua cầu Nguyệt Tiên nối với con đường lên núi. Trên núi có chùa Cao, vốn là Hiển Thụy am, còn có tên là Đỉnh Sơn Tự, là nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh đến tu đầu tiên. Trên vách chùa còn khắc những bài thơ tức cảnh của Nguyễn Trực và Nguyễn Thượng Hiền. Tương truyền rằng động Phật Tích ở sau chùa là nơi Ngài Từ Đạo Hạnh thoát xác để đầu thai làm vua Lý Thần Tông, nên còn gọi là hang Thánh Hóa.
Phía trên chùa Cao, trên đỉnh núi có một mặt bằng gọi là chợ Trời với nhiều tảng đá hình bàn ghế, kệ bày hàng, ly rượu,... trong đó có một phiến đá nhẵn lì được gọi là bàn cờ tiên. Có lẽ nơi đây ngày xưa các bậc trích tiên vẫn ngồi chơi cờ, uống rượu, thưởng trăng và ngâm thơ.
Từ chùa Cao, đi vòng ra phía sau là hang Cắc Cớ, là nơi tình tự của trai gái ngày xưa trong những ngày hội hè, như ca dao đã ghi lại:
Gái chưa chồng trông hang Cắc Cớ,
Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy.
Đi ngược lên trên là đến đền Thượng. Gần đền Thượng có hang Bụt Mọc với nhiều tảng đá được thời gian bào mòn trông như tượng Phật. Tiếp đó là hang Bò với lối vào âm u. Cách một đoạn là đến hang Gió với những ngọn gió thổi thông thốc cả hai đầu.
Ở chân núi phía Tây còn có chùa Bối Am, còn gọi là chùa Một Mái, chùa có tên như vậy là vì chùa chỉ có một mái ngói, mặt sau chùa dựa vào vách núi. Truyền thuyết ở khu vực chùa Bối Am, thuộc phạm vi căn cứ Đỗ Động Giang xưa cho biết: Trước kia có một toán quân của Lã Đường tự Lã Tá Công, một trong Thập nhị sứ quân, bị vây hãm trong hang núi và bị chết đói hết cả. Điều này chứng tỏ đã có một cuộc tấn công của sứ quân Lữ Đường tới lãnh địa sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, chiếm đóng tại đây.
Như vậy, quanh núi Thầy, ngoài chùa Thầy còn có cả một cụm kiến trúc Phật giáo được xây dựng trong những khoảng thời gian khác nhau.
Trong một bài ký ghi trên vách núi, Chúa Trịnh Căn đã phác họa cảnh chùa Thầy "như viên ngọc nổi lên giữa đám sỏi đá, rạng vẻ xuân tươi khắp cả bốn mùa. Động trên hệt như cõi thanh hư, bên vách còn in mây ráng. Ao rồng thông sang bến siêu độ, cầu tiên Nhật Nguyệt đôi vầng. Hình tựa bình phong, sông như dải lụa".
== Di sản văn hóa ==
Nằm ở xứ Đoài, nơi ít bị ảnh hưởng trong suốt hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm, là một trong những trung tâm phật giáo cổ và lớn nhất gần Kinh đô Thăng Long, với quan hệ đặc biệt với các Hoàng gia triều Lý, hậu Lê nên chùa Thầy có số lượng di sản văn hóa vừa nhiều về số lượng vừa trải đều qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, Nguyễn. Đây là ngôi chùa có tính bảo lưu một cách liên tục nhất các di vật văn hóa, nghệ thuật từ thời Lý.
== Lễ hội và văn hóa ==
Hội chùa Thầy diễn ra từ ngày mùng 5 đến ngày mùng 7 tháng ba Âm lịch hàng năm. Trong ngày hội, nhiều tăng ni từ các nơi khác trong vùng cùng về đây dự lễ trong những bộ cà-sa trang trọng, tay cầm gậy hoa, miệng tụng kinh trong tiếng mõ trầm đều. Lễ cúng Phật và trai đàn - một diễn xướng có tính chất tôn giáo - được thực hiện có sự phối hợp của các nhạc cụ dân tộc.
Nhưng hội chùa Thầy không chỉ có những nghi thức tôn giáo. Ở đây còn có trò múa rối nước mang đậm sắc thái dân gian mà ngày nay có tiếng vang ở nhiều nước. Trai thanh gái lịch gần xa tìm đến hội chùa Thầy còn để thỏa mãn tính mạo hiểm khi leo núi và khao khát bày tỏ tình yêu trong một khung cảnh thiên nhiên rộng mở:
Rủ nhau lên núi Sài Sơn
Ai làm đá ướt đường trơn hỡi mình?
Hỏi non, non những làm thinh
Phải rằng non đã vô tình với ai?
Nước non ví chẳng chiều đời
Mắt xanh đâu lẽ phụ người tình chung?
Yêu nhau ta dắt nhau cùng
Non bao nhiêu đá nặng lòng bấy nhiêu.
(Á Nam Trần Tuấn Khải)
Về văn hóa, Chùa thầy có truyền thống nghìn năm về văn hóa. Nơi đây đã sinh ra Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Phan Huy Ích, Phan Huy Chú làm sáng danh lịch sử nước nhà. Tiếp theo truyền thống quê hương, Câu lạc bộ Văn Nghệ thuật Sài Sơn đang tập hợp những người con yêu văn hóa, thơ ca và đã xuất bản nhiều tập thơ, với sự cho phép của nhà xuất bản Hội Nhà Văn. Núi Thầy là ấn phẩm của CLB Văn học Nghệ thuật Sài Sơn. Đây là những tác phẩm của những người con Quê hương Sài Sơn, mang trong mình hồn cốt của một vùng quê giàu truyền thống văn hóa. Hiện nay, các tập 1, 2, 3, 4 của Núi thầy đã được xuất bản. Bạn đọc có thể load những sản phẩm trên tại:
http://independent.academia.edu/N%C3%9AITH%E1%BA%A6Y
== Các đời trụ trì ==
Thánh Tổ Từ Đạo Hạnh Thiền sư
Đại sa môn Huệ Hưng
Sư Lan Hương trụ trì: 1897-1900
Hoà Thượng Minh Tâm trụ trì:1900 - 1906
Sơn Tăng Như Tùng - Thích Thanh Thi (1900 - 1945)
Hoà Thượng Thích Viên Thành (1950 - 2002) trụ trì:1985 - 2002
Đại đức Thích Đạo Vĩnh, Đại đức Thích Minh Đạo, Đại đức Thích Minh hà Thượng Toạ Thích Trường Xuân
== Liên kết ngoài ==
Khu danh thắng chùa Thầy
Lễ hội
Du lịch chùa Thầy |
khánh trắng.txt | Khánh "Trắng", tên thật là Dương Văn Khánh, là một nhân vật cầm đầu băng đảng xã hội đen gồm 19 tội phạm khét tiếng Hà Nội trong những năm cuối của thế kỷ 20. Khánh sinh năm 1956 tại Hà Nội; bị bắt chiều ngày 24 tháng 5 năm 1996 ngay tại nhà riêng của Khánh ở số nhà 31/10 phố Nguyễn Thiệp - Hà Nội, đem ra xét xử, bị lãnh án tử hình ngày 13 tháng 10 năm 1998 tại trường bắn Cầu Ngà - Hà Nội.
Theo bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm thì Khánh "Trắng" phạm 4 tội: "giết người", "cướp tài sản công dân", trốn thuế và "che giấu tội phạm". Khánh phải nhận án tử hình và phải nộp cho Nhà nước gần 3,9 tỷ đồng, trong đó có hơn 3,5 tỷ đồng tiền phạt, 350 triệu đồng tiền thuế, tiền án phí, bồi thường cho các bị hại....
Khánh "Trắng" có vẻ ngoài nho nhã, thư sinh song lại được xem là một sát thủ máu lạnh đội lốt một ông đội trưởng bốc xếp. Với vẻ ngoài hào hoa lịch lãm và làm nhiều công tác từ thiện đều là để che mắt thiên hạ.
Tuy nhiên, Khánh "Trắng" từng có lần bị tạt acid cực nặng và vụ này do trùm dao búa Nguyễn Việt Dũng ở Hải Phòng thực hiện. Giới giang hồ đồn đại rằng: theo đơn đặt hàng của trùm Dũng, đàn em của Dung Hà từ Hải Phòng lên Hà Nội tạt acid Khánh Trắng, đội trưởng đội bốc xếp chợ Đồng Xuân. Thế nhưng, sau khi bỏ cả núi tiền chữa sẹo mà không hết, Khánh vẫn không dám dọa hoặc chơi lén lại Dũng.
Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc, nguyên Cục trưởng Cục Cảnh sát Điều tra Tội phạm về trật tự xã hội (C14), Bộ Công an chính là Trưởng ban chuyên án vụ bắt trùm tội phạm Khánh "trắng" và đồng đảng ở Hà Nội năm 1996. Ông Quắc cho rằng, xét về mặt tổng kết các nghiệp vụ của ngành công an, thì vụ án băng nhóm của Khánh "trắng" vẫn là một cái mốc quan trọng đánh giá sự tiến hóa nguy hiểm của tội phạm hình sự ở Việt Nam, từ chỗ hoạt động theo kiểu các ổ nhóm nhỏ lẻ bắt đầu liên kết với nhau thành những băng nhóm tội phạm quy mô lớn, có tổ chức chặt chẽ với các hoạt động bảo kê, móc nối theo kiểu xã hội đen, đâm thuê chém mướn và đòi nợ thuê.
== Tham khảo ==
== Xem thêm == |
hồ sơ về nhân quyền tại hoa kỳ.txt | Hồ sơ về nhân quyền tại Hoa Kỳ, hay còn được gọi một cách không chính thức là "Báo cáo của Trung Quốc về nhân quyền Hoa Kỳ" là hồ sơ tập hợp các báo cáo hàng năm về tình trạng nhân quyền tại Hoa Kỳ do Trung Quốc xuất bản. Báo cáo đầu tiên được Trung Quốc công bố năm 1998 để đáp trả lại bản báo cáo thường niên của Quốc hội Hoa Kỳ về tình hình nhân quyền ở Trung Hoa đại lục. Bắt đầu từ năm 2000, báo cáo này được công bố định kỳ hàng năm.
Các báo cáo tập trung vào sự bất bình đẳng, quan hệ chủng tộc, tình trạng tội phạm và cách đối xử với tù nhân trên lãnh thổ Hoa Kỳ hoặc những nơi có sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ, như trường hợp nhà tù Abu Ghraib, Trại giam Vịnh Guantánamo...
== Xem thêm ==
Nhân quyền tại Hoa Kỳ
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
=== tiếng Anh ===
Trung Quốc công bố báo cáo về nhân quyền Hoa Kỳ hàng năm
Trung Quốc đáp trả bằng báo cáo nhân quyền CNN
Trung Quốc công bố Hồ sơ nhân quyền Hoa Kỳ (năm 1998) Website đại sứ quán Trung Quốc
Trung Quốc: Báo cáo về nhân quyền Hoa Kỳ năm 1999
Trung Quốc: Báo cáo về nhân quyền Hoa Kỳ năm 2000
Full text of Human Rights Record of the United States in 2001
Summary of The Human Rights Record of the United States in 2002
Full text of Human Rights Record of the United States in 2003
Full text of Human Rights Record of the United States in 2004
Full text of Human Rights Record of the US in 2005
Human Rights Record of the U.S. in 2006
Human Rights Record of the U.S. in 2007
Human Rights Record of the U.S. in 2008
Human Rights Record of the U.S. in 2009 |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.