filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
chiến tranh algérie.txt
Chiến tranh Algérie hay còn được gọi là chiến tranh giành độc lập Algérie hoặc là cách mạng Algerie (tiếng Ả Rập: الثورة الجزائرية Ath-Thawra Al-Jazā’iriyya; tiếng Pháp: Guerre d'Algérie, "Chiến tranh Algerie") là một cuộc chiến tranh giữa Pháp và các lực lượng đòi độc lập cho Algerie, diễn ra từ 1954 đến 1962, kết quả là Algerie đã giành độc lập từ Pháp. Đây là một cuộc chiến tranh tổng hợp, là điển hình của hình thức chiến tranh du kích, khủng bố dân thường và tra tấn từ cả hai bên, và các hoạt động chống khủng bố của quân đội Pháp. Đây thực chất cũng là một cuộc nội chiến giữa những người Algerie trung thành với Pháp và những người Algerie hồi giáo muốn độc lập. Bắt đầu vào ngày 1 tháng 11 năm 1954 với việc Mặt trận Giải phóng Quốc gia (National Liberation Front-FLN) thực hiện vụ tấn công Toussaint Rouge ("lễ Các Thánh đỏ"), cuộc chiến đã làm đệ tứ Cộng hòa Pháp (1946-1958) lung lay và cuối cùng là sụp đổ. == Bối cảnh: Algerie thuộc Pháp == === Pháp xâm lược Algerie === Lấy cớ người Algerie không tôn trọng quan tổng tài Pháp, Pháp đã xâm chiếm Algiers năm 1830. Cuộc xâm lược đẫm máu của Pháp được Marshall Bugeaud, sau này là toàn quyền Pháp đầu tiên ở Algerie, chỉ huy. Nhằm làm suy yếu Dey (tiếng Ả Rập: داي, tiếng Thổ: Dayı) (chế độ nhiếp chính ở Algerie thuộc Ottoman khi đó), quân Pháp đã áp dụng chính sách tiêu thổ, bao gồm cả thảm sát, cướng hiếp quy mô lớn và những tội ác khác. Đồng tình với phương pháp của Bugeaud, nhà tư tưởng theo chủ nghĩa tự do Alexis de Tocqueville đã tuyên bố: "Chiến tranh ở châu Phi là một ngành khoa học. Mọi người đều quen với các nguyên tắc của nó và mọi người có thể áp dụng những nguyên tắc đó và gần như chắc chắn thành công. Một trong những đóng góp vĩ đại nhất mà Field Marshal Bugeaud đã dâng hiến cho đất nước của mình là đã mở rộng, hoàn thiện và khiến cho mọi người nhận ra ngành khoa học mới mẻ này." Năm 1834, Algerie trở thành một thuộc địa quân sự của Pháp.Năm 1848, thông qua Hiến pháp 1848 của Pháp, Algerie được tuyên bố trở thành một phần không thể tách rời của lãnh thổ Pháp và được chia thành ba tỉnh: Algiers, Oran và Constantine. Từ đó, nhiều người Pháp và nhiều người từ các nước châu Âu khác (Tây Ban Nha, Italy, Malta,...) đã đến Algerie định cư. === Giữa hai cuộc chiến tranh === Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai, Algérie đóng vai trò quan trọng. Đây vốn là nơi cung cấp người và khí tài quân sự cho Pháp trong cả hai cuộc chiến. Nhiều người Algérie tham chiến cho quân đội Pháp và là lực lượng trọng điểm cho người Pháp trong nhiều trận đánh. Algérie chính là xứ Bắc Phi còn lại được giải phóng trong Thế chiến II, nhưng thay vì giấc mơ độc lập sớm, Hoa Kỳ và Anh lại trao nó lại cho Pháp, gây nên xích mích sau này. === Tác động từ Việt Nam === Chiến tranh Đông Dương bùng nổ đã khiến Pháp phải huy động một lực lượng lớn binh sĩ tham chiến tại Đông Dương, trong đó, Algérie và Maroc là hai quốc gia đóng góp nhiều người nhất. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian gần 10 năm tham chiến, những người lính Algérie đã bị tác động mạnh bởi tinh thần ái quốc của người dân Việt Nam, khiến nhiều binh lính Hồi giáo nảy sinh ý định nổi loạn như vậy sau khi về nước. Sự tham chiến của những binh lính Algérie cũng làm giới chức Pháp lo ngại, do thái độ gần như cộng tác với phe Việt Minh về mặt tình cảm của họ. Tại Algérie, những diễn biến bất lợi liên tiếp của quân đội Pháp càng khiến nhiều người dân địa phương chán ghét sự cai trị của Pháp. Nhiều người thậm chí còn công khai lên tiếng ủng hộ Việt Minh và Hồ Chí Minh khi cần. Tại thủ đô Algiers, một số tu sĩ Hồi giáo (Imam) đã kêu gọi mở "trưng cầu dân ý" và đòi quyền tự trị. ==== Điện Biên Phủ - ngọn lửa châm ngòi chiến sự ==== Năm 1954, Trận Điện Biên Phủ giữa Pháp và Việt Nam bùng nổ và kéo dài trong hai tháng đẫm máu. Mặc dù Điện Biên Phủ được xây kiên cố và được phòng thủ ngặt nghèo, tuy nhiên với việc thiếu đường tiếp liệu và thua thiệt quân số, người Pháp đã thất thủ vào ngày 7/5/1954. Sự kiện này gây ra cú sốc lớn, khi lần đầu tiên quân đội một nước thuộc địa đánh bại quân đội thực dân thiện chiến. Điều này dẫn tới Hội nghị Genève, mà tại đó, Việt Nam, cùng Lào và Campuchia, được coi như là các nước độc lập. Tại Algérie, thất bại nhục nhã của Pháp ở Điện Biên Phủ đã làm thổi bùng sự phẫn nộ của người dân về sự cai trị của Pháp. Nhiều người Algérie lấy Việt Nam như một hình mẫu để kháng lại. Tác động của trận Điện Biên Phủ đã khiến nhiều thuộc địa Pháp tại Phi châu rập rình tham vọng độc lập, mà Algérie chịu tác động mạnh nhất. Tại Algiers, nhiều người Algérie đã kêu gọi sự ủng hộ với một nền độc lập và xóa sổ sự cai trị của Pháp tại đây. Chính Hồ Chí Minh sau này cũng thể hiện sự ủng hộ với người dân Algérie. == Chiến sự == Cuối tháng 10 năm 1954, một nhóm thanh niên Hồi giáo người Algérie đã lập nên FLN, một tổ chức du kích với mục đích giành lại độc lập từ Pháp. Họ tổ chức một số cuộc nổi dậy đẫm máu trong những năm sau đó, và đến năm 1956, FLN đã gần như tràn ngập khắp các thành phố thuộc địa, nơi ở của khá đông người châu Âu đến cai trị. Ở Pháp, chính quyền mới của Thủ tướng Guy Mollet hứa hẹn sẽ dập tắt cuộc nổi loạn Hồi giáo này và gửi 50 vạn quân Pháp đến để nghiền nát FLN. Để cô lập phiến quân và khu vực hoạt động của họ, Pháp cho phép Tunisia và Morocco được độc lập, và biên giới của họ với Algérie được quân sự hóa bằng dây kẽm gai và hàng rào điện. Khi các nhà lãnh đạo FLN cố gắng tới Tunisia hồi tháng 10 năm 1956 để thảo luận về Chiến tranh Algérie, quân đội Pháp đã làm trệch hành trình bay và bắt giữ họ. Để đáp trả, FLN phát động một chiến dịch khủng bố mới ở thủ đô Algiers. Đại tướng Jacques Massu, chỉ huy lực lượng lính dù của Pháp, đã được trao quyền hạn đặc biệt để hoạt động trong thành phố, và bằng cách tra tấn và ám sát, sự hiện diện của FLN ở Algiers đã hoàn toàn biến mất. Đến cuối năm 1957, phiến quân bị đẩy lùi về khu vực nông thôn, và dường như tình thế đã đổi chiều trong Chiến tranh Algérie. Tuy nhiên, đến tháng 5 năm 1958, một cuộc khủng hoảng mới bắt đầu khi những người châu Âu ở Algérie phát động một cuộc biểu tình lớn nhằm kêu gọi sáp nhập Algérie vào Pháp và cho sự trở lại nắm quyền của cựu Tổng thống Charles de Gaulle. Ở Pháp, dư luận đã chia thành hai phe tách biệt về vấn đề Chiến tranh Algérie, và rất nhiều người lo ngại nước này đang đứng trên bờ vực của một cuộc nổi dậy của quân đội hay nội chiến. Ngày 1 tháng 6, de Gaulle, cựu Thủ tướng Pháp sau Thế chiến II, được Quốc hội tái bổ nhiệm làm thủ tướng và được ủy quyền soạn thảo một bản hiến pháp mới. Ít ngày sau khi trở lại nắm quyền, de Gaulle đến thăm Algiers, và dù đã được những người châu Âu ở Algérie chào đón nồng nhiệt, ông lại không mấy nhiệt tình với vấn đề sáp nhập Algérie. Thay vào đó, ông trao cho người Hồi giáo mọi quyền lợi như của công dân Pháp, và vào năm 1959, ông công khai tuyên bố rằng người Algérie có quyền tự quyết định tương lai của chính họ. Trong hai năm sau đó, bạo lực đẫm máu nhất ở Algérie chủ yếu là do những người châu Âu ở Algérie, chứ không phải do FLN gây ra, nhưng những cuộc khởi nghĩa và khủng bố rải rác đã không ngăn được Pháp và Chính phủ lâm thời do FLN đứng đầu của Cộng hòa Algérie mở ra những cuộc đàm phán hòa bình năm 1961. Ngày 16 tháng 3 năm 1962, một thỏa thuận hòa bình được ký tại Evian-les-Bains, Pháp, hứa hẹn trả lại độc lập cho Algérie sau một cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề này. Pháp sẽ tiếp tục viện trợ, và người châu Âu có thể hồi hương, tiếp tục ở lại với tư cách người nước ngoài ở Algérie, hoặc nhận quốc tịch Algérie. Ngày 1 tháng 7 năm 1962, đa số người Algérie chấp nhận thỏa thuận hòa bình, và gần 1 triệu người châu Âu ở Algérie đã rời bỏ đất nước này. Hơn 10 vạn chiến binh Hồi giáo và 10 ngàn binh sĩ Pháp đã thiệt mạng trong cuộc Chiến tranh Algérie kéo dài 7 năm, chưa kể đến hàng ngàn thường dân Hồi giáo và hàng trăm thường dân châu Âu khác Ngày 18 tháng 3 năm 1962, Pháp và các nhà lãnh đạo của Mặt trận Giải phóng Quốc gia Algérie (FLN) đã ký một thỏa thuận hòa bình nhằm chấm dứt cuộc Chiến tranh Algérie kéo dài 7 năm, kết thúc 130 năm Pháp đô hộ Algérie. == Tham khảo == 8. http://nghiencuuquocte.net/2015/03/19/chien-tranh-algerie-cham-dut/
phân lớp (vỏ nguyên tử).txt
Phân lớp electron trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học là một tập hợp các nhóm lân cận nhau. Các electron năng lương cao nhất tương ứng trong một nguyên tố trong cùng một phân lớp thì thuộc cùng một kiểm obitan nguyên tử. Mỗi phân lớp được đặt tên theo tính chất của orbitan của nó; do đó, các phân lớp bao gồm: phân lớp s phân lớp p phân lớp d phân lớp f phân lớp g (giả thiết) Tên phân lớp (s, p, d, f và g) xuất phát từ ký hiệu quang phổ của obitan nguyên tử tương ứng: sharp, principal, diffuse và fundamental, và cuối cùng g theo sau ký hiệu f trong bảng chữ cái. == Tham khảo ==
người la ha.txt
Dân tộc La Ha còn được gọi với một số tên khác nhau như La Ha, Klá, Phlạo, Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa. Là một dân tộc được CHXHCN Việt Nam chính thức công nhận. == Nhóm ngôn ngữ == Tiếng La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Kadai của hệ ngôn ngữ Tai-Kadai. == Dân số và địa bàn cư trú == Người La Ha cư trú tại hai tỉnh Sơn La và Lào Cai. Theo kết quả điều tra dân số năm 1999, tổng số người La Ha tại Việt Nam khoảng 5.686 người. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người La Ha ở Việt Nam có dân số 8.177 người, cư trú tại 20 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Tuyệt đại đa số người La Ha cư trú tập trung tại tỉnh Sơn La (8.107 người, chiếm 99,14% tổng số người La Ha tại Việt Nam). Ngoài ra người La Ha còn sinh sống tại Hà Nội (thống kê được 13 người), Đắk Nông (12 người). == Đặc điểm kinh tế == Người La Ha sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy theo lối du canh, do đó việc hái lượm đóng vai trò quan trọng hơn so với săn bắn và đánh cá. Ngày nay nhiều bản đã làm ruộng lúa nước. Người La Ha biết đắp bờ chống xói mòn nương; có nơi đã biết dùng phân bón. Người La Ha thường nuôi heo, gà. Họ cũng nuôi trâu, bò để cày kéo. == Hôn nhân gia đình == Trai gái La Ha được tự do tìm hiểu nhau, không bị cha mẹ ép buộc cưới gả. Tuy nhiên việc cưới gả phải được cha mẹ ưng thuận. Để tỏ tình chàng trai phải đến nhà cô gái và dùng sáo, nhị, lời hát trước khi trò chuyện bình thường. Sau lễ dạm hỏi, nếu nhà gái không trả lại trầu do bà mối của nhà trai đưa tới thì chàng trai tổ chức lễ xin ở rể. Chàng trai phải ở rể từ 4 đến 8 năm. Hết hạn đó, lễ cưới được tiến hành. Cô dâu được về ở nhà chồng và đổi theo họ chồng. == Tang chế == Người La Ha làm tang lễ theo tục cũ. Người chết được chôn với tiền và thóc. == Nhà cửa == Bản của người La Ha thường có khoảng chục nóc nhà. Người La Ha ở nhà sàn, có hai cửa ra vào với thang lên xuống tại hai đầu nhà, một cửa vào chỗ để tiếp khách và một cửa vào chỗ dành cho sinh hoạt trong gia đình. == Trang phục == Người La Ha không dệt vải, chỉ trồng bông và đem bông trao đổi với người Thái lấy vải mặc. Do đó, trang phục của người La Ha giống trang phục của người Thái đen. == Chỉ dẫn == == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói == Liên kết ngoài ==
thạch anh.txt
Thạch anh (silic điôxít, SiO2) hay còn gọi là thủy ngọc là một trong số những khoáng vật phổ biến trên Trái Đất. Thạch anh được cấu tạo bởi một mạng liên tục các tứ diện silic - oxy (SiO4), trong đó mỗi oxy chia sẻ giữa hai tứ diện nên nó có công thức chung là SiO2. Thạch anh được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: điện tử, quang học,... và trong ngọc học. Các tinh thể thạch anh trong suốt có màu sắc đa dạng: tím, hồng, đen, vàng,... và được sử dụng làm đồ trang sức từ rất xa xưa. Ametit loại biến thể màu tím của thạch anh được coi là đá quý của tháng hai và là loại được ưa chuộng nhất của họ thạch anh. == Từ nguyên == Thạch anh là tên gọi theo phiên âm Hán - Việt có nguồn gốc là "石英". Trong tiếng Anh nó được gọi là Quartz. Theo một trong những giả thiết, từ Quartz trong tiếng Đức xuất phát từ từ Queretz gần với từ Querkluftertz trong tiếng Sachsen - Đức, nghĩa là "vân ngang", vì khi quan sát trên bề mặt của tinh thể thạch anh người ta thấy có nhiều sọc nằm trong mặt phẳng ngang vuông góc với phương dài nhất của tinh thể này. ====== Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể ====== Trong thành phần của thạch anh ngoài thành phần chính còn có thể chứa một số chất hơi, chất lỏng: CO2, H2O, NaCl, CaCO3,... Các khoáng vật của nhóm thạch anh có công thức rất đơn giản SiO2, là một loạt biến thể đa hình gồm 3 biến thể độc lập: thạch anh, tridimit và cristobalit và tuỳ thuộc vào nhiệt độ, chúng sẽ tồn tại ở các dạng nhất định. Biến thể nhiệt độ cao của thạch anh kết tinh trong hệ lục phương, biến thể thạch anh vững bền ở nhiệt độ dưới 573 °C kết tinh trong hệ tam phương. Dạng tinh thể thường hay gặp là dạng lưỡng tháp lục phương với các mặt lăng trụ rất ngắn hoặc không có. Thạch anh chỉ thành những tinh thể đẹp trong các hỗng hoặc các môi trường hở, có trường hợp gặp các tinh thể nặng tới một vài tấn có khi tới 40 tấn. Dạng tinh thể của thạch anh khá đa dạng nhưng đặc trưng là thường gặp các mặt m [0111], và có vết khía ngang trên mặt, mặt khối thoi r [1011] và z [0111], lưỡng tháp phức tam phương s [1121], khối mặt thang x [5161]... Ngoài hai biến thể kết tinh thạch anh còn có loại ẩn tinh có kiến trúc tóc: canxedon và thạch anh khác nhau chỉ do quang tính. Trong thạch anh thường gặp các bao thể thể khí lỏng tạo thành bao thể hai pha. Các bao thể rắn thường gặp nhất là các bao thể kim que của rutin tạo thành những đám bao thể dạng búi tóc hay "tóc thần vệ nữ" cùng với các bao thể tourmalin , actinolit dạng sợi, clorit màu lục, gơtit, hematit màu nâu đỏ và màu cam và một số các bao thể khác nữa. == Các tính chất vật lý và quang học == Tính đa sắc: Thay đổi tuỳ thuộc vào màu của viên đá Tính phát quang: Loại rose quartz phát quang màu tím lam nhạt, các biến thể của thạch anh trơ dưới tia cực tím. Màu sắc của thạch anh rất đa dạng nhưng phổ biến nhất là những loại không màu, màu trắng sữa và màu xám và theo màu sắc thạch anh mang các tên khác nhau như: Pha lê trong suốt; Amethyst☃☃: màu tím; Citr: m☃☃ Màu vàng; Smoky quartz: màu ám khói, khi rất tối gọi là "Morion" ; Rose quartz: màu đỏ; Aventurin quartz: màu lục; Dumortierit quartz: màu lam đậm hoặc lam tím; Milky quartz: màu trắng tới màu xám; Siderit hoặc sapphire quartz rất ít gặp, chúng thường có màu lam pha chàm. Các hiệu ứng quang học đặc biệt: Hiệu ứng mắt hổ (tiger’s eye): Là một hiệu ứng đặc biệt thường thấy ở các biến thể của thạch anh và đặc trưng cho các biến thể có màu từ vàng nâu nhạt tới nâu và đỏ nhạt, lam nhạt hoặc thậm chí màu đỏ và ở các loại bán trong. Nguyên nhân của hiện tượng này là do sự sắp xếp có định hướng của các bao thể dạng sợi bên trong viên đá. Khi viên đá được mài cabochon sự phản xạ của ánh sáng trên bề mặt sẽ cho ta hiệu ứng "mắt hổ" rất đẹp. Hiệu ứng mắt mèo "cat’s eye": Cũng giống như hiệu ứng mắt hổ nhưng chúng thể hiện đẹp hơn và rõ nét hơn và thường gặp trong các biến thể bán trong và có màu trắng tới màu xám nâu vàng lục nhạt, đen hoặc màu lục oliu tối. Hiệu ứng sao: Thạch anh hồng và một số biến thể màu xám hoặc màu sữa thường có hiện tượng sao 6 cánh giống như hiệu ứng sao trong ruby và saphia. == Đặc điểm một số biến thể chính == === Ametit === Các loại thạch anh có màu tím tới tím phớt hồng trong tiếng Anh được gọi là amethyist, từ amethyist xuất phát từ chữ Hy Lạp "amethystos" có nghĩa là không say bởi vì ngày xưa người ta tin rằng khi đã đeo ametit thì không giờ bị say. Amethyist đã từng một thời rất được ưa chuộng và nó có giá trị cao nhất trong các loại thạch anh khác. === Citrin === Các biến thể màu vàng của thạch anh được gọi là citrin, có một thời người ta gọi nó là thạch anh topaz vì màu của nó giống với màu của topaz vàng. Màu của citrin thay đổi từ vàng tinh khiết tới vàng tôi hay vàng mật ong hoặc vàng nâu nhạt, không như ametit màu thường tập trung thành từng dải, đám, màu của citrin thường đồng đều hơn. === Rose quartz === Do sự có mặt của các bao thể nhỏ li ti thạch anh hồng thường có xu thế bán trong hơn là trong suốt. === Pha lê === Là loại thạch anh phổ biến và phân bố rộng rãi nhất đã được biết đến từ thời tiền sử, tên Hy Lạp "crystal" hoặc băng do họ tin rằng nó được đông cứng quá mạnh trong vỏ Trái Đất. == Thạch anh tóc == Là loại thạch anh có chứa các bao thể kim,que thường tạo bởi các khoáng thể tuamalin,hematit,actinolit,clorit...nhiều màu,ngoằn nghèo bên trong thạch anh.Thạch anh tóc cũng được cho có tác dụng chữa bệnh,phong thuỷ. Các mẫu đẹp được tìm thấy ở Australia, Brazil, Pakistan, Madagascar, Mỹ, Na Uy và Indonesia. == Các phương pháp xử lý và tổng hợp == Xử lý nhiệt Dưới tác dụng của nhiệt độ cao ametit, citrin, thạch anh ám khói và thạch anh hồng đều có khuynh hướng chuyển sang không màu. Bằng phương pháp xử lý nhiệt có thể chuyển các loại thạch anh có chất lượng thấp màu tím và ám khói sang loại có màu vàng nhạt hoặc cam đỏ nhạt với chất lượng cao hơn và được thị trường ưa chuộng hơn. Ametit khi xử lý nhiệt ở nhiệt độ 878 - 1.382 độ C sẽ cho màu vàng sáng, nâu đỏ hoặc màu lục hoặc không màu. Một số loại ametit bị mất màu ở ánh sáng bình thường và màu sẽ khôi phục khi chiếu xạ tia X. Thạch anh ám khói khi nung ở nhiệt độ 572 - 752 độ C màu sẽ bị nhạt đi. Citrin tự nhiên khá hiếm trên thương trường và lượng chủ yếu citrin là do ametit hoặc thạch anh ám khói bị xử lý nhiệt. Ametit chuyển sang vàng nhạt ở nhiệt độ 470 độ C và màu vàng tối tới màu nâu nhạt ở nhiệt độ 550 - 560 độ C. Thạch anh ám khói chuyển sang màu vàng sớm hơn ở nhiệt độ khoảng 300 - 400 độ C. Đa số citrine tự nhiên có màu vàng rất nhạt và khi bị xử lý sẽ không còn tính đa sắc, trong khi đó citrine tự nhiên có tính đa sắc yếu. Chiếu xạ Bằng phương pháp chiếu xạ có thể chuyển loại thạch anh không màu sang có màu. Tổng hợp Thạch anh cũng được tổng hợp trong công nghiệp với các tinh thể lớn dùng trong công nghiệp. Mài cắt Thạch anh có thể được mài cắt ở các dạng khác nhau từ những dạng nguyên thuỷ nhất cho tới những dạng mới nhất hiện nay. Citrin và ametit thường được mài ở dạng bậc, kiểu kim cương hay kiểu hỗn hợp khi đó màu của viên đá có xu hướng trở nên đậm hơn. Kiểu cabochon thường dùng cho aventurin, rose quartz, mắt hổ và mắt mèo. Thạch anh mắt hổ cũng thường được chạm khắc ở dạng "cameo". Đối với ametit màu của chúng thường không đều do vậy trong quá trình mài ta phải chú ý định hướng sao cho phần màu đẹp nhất nằm tại pavilion gần culet. == Nguồn gốc và phân bố == Thạch anh là khoáng vật rất phổ biến trong tự nhiên và là thành phần của rất nhiều loại đá và khoáng sản quặng. Thạch anh thường gặp ở dạng thành phần chính của nhiều loại đá magma axit xâm nhập và phun trào ở dạng hạnh nhân như mã não và onix, một số đá trầm tích cơ học như cát kết thạch anh, đá biến chất từ các loại đá trên như quartzit. Trong các quá trình biến chất thạch anh hình thành do sự khử nước của các đá trầm tích chứa opal để thành tạo ngọc bích. Trong các quá trình ngoại sinh thạch anh và conxedon thành tạo do sự khử nước và tái kết tinh của keo silic. Ngoài ra còn gặp các tinh thể lớn của thạch anh trong các hỗng pegmatit cộng sinh với fenspat, muscovit, topaz, beryl, tuamalin và một số khoáng vật khác, và là khoáng vật phổ biến trong các khoáng sàng nhiệt dịch. Các tinh thể thạch anh xuất hiện trong tự nhiên có độ tinh khiết cao thường dùng trong công nghiệp bán dẫn thì cực kỳ đắc và hiếm. Các mỏ thạch anh có độ tinh khiết cao như mỏ đá quý Spruce Pine ở Spruce Pine, Bắc Carolina. Bên cạnh đó, loại citrin được khai thác chủ yếu ở Brasil (Minas Gerais), Mỹ (Colorado), Nga (Ural), Pháp và Scotland. Còn ametit được khai thác chủ yếu ở Brasil, Uruguay...đặc biệt kết tinh trong các tinh hốc với kích thước rất lớn. Ở Việt Nam thạch anh tinh thể đẹp gặp rất nhiều ở nam Thanh Hoá , Pia oắc, miền sông Đà ở Vạn Yên có những tinh thể lặng trụ rất dài, thạch anh tím được khai thác nhiều ở Kontum, thạch anh tinh thể, pha lê gặp nhiều ở Bảo Lộc, Gia Nghĩa... == Các đá giống thạch anh và phương pháp nhận biết == Với giá trị chiết suất dao động trong khoảng 1,54 - 1,55 và tỷ trọng 2,65 - 2,66 thạch anh rất dễ phân biệt với các loại đá quý khác. Để phân biệt với canxedon người ta dùng dung dịch tỷ trọng 2,62 khi đó canxedon sẽ nổi còn thạch anh chìm; với topaz và saphia bởi giá trị chiết suất; với thuỷ tinh bởi đặc tính quang học; với aventurin màu lục thường nhầm với nefrit hoặc jadeit nhưng chúng có tỷ trọng và giá trị chiết suất thấp hơn. Trong chiến tranh thế giới thứ 2 khi hồng ngọc và xa-phia tổng hợp mới xuất hiện trên thị trường và đang còn khan hiếm người ta thường dùng thạch anh để làm giả chúng khi đó thạch anh thường được xử lý để cho màu lam đậm và giả hình dạng của xa-phia, đối với loại này bằng việc xác định chiết suất và giám định dưới kính ta sẽ phân biệt được chúng. Ametit rất dễ nhầm với beryl, fluorit, thuỷ tinh, corindon tổng hợp, kunzit, spinen, topaz và tuamalin, và dạng tổng hợp không không phục vụ cho ngành trang sức. Thạch anh ám khói rất dễ nhầm với andalusit, sanidin, tourmalin. Citrin rất dễ nhầm với beryn màu vàng, Orthoclas, topaz vàng và tuamalin vàng. == Ứng dụng == Một đặc tính quan trọng của tinh thể thạch anh là nếu tác động bằng các dạng cơ học đến chúng (âm thanh, sóng nước...) vào tinh thể thạch anh thì chúng sẽ tạo ra một điện áp dao động có tần số tương đương với mức độ tác động vào chúng, do đó chúng được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực. Chẳng hạn kiểm soát những sự rung động trong các động cơ xe hơi để kiểm soát sự hoạt động của chúng và được ứng dụng nhiều trong các ngành công nghệ như: làm vật cộng hưởng, vật liệu áp điện hiệu ứng phát quang âm cực, Những tinh thể thạch anh đầu tiên được sử dụng bởi chúng có tính chất "áp điện", có nghĩa là chúng chuyển các dao động cơ khí thành điện áp và ngược lại, chuyển các xung điện áp thành các dao động cơ khí. Tính chất áp điện này được Jacques Curie phát hiện năm 1880 và từ đó chúng được sử dụng vào trong các mạch điện tử do tính chất hữu ích này. Lần đầu tiên Walter G. Cady ứng dụng thạch anh vào một bộ kiểm soát dao động điện tử vào năm 1921. Ông công bố kết quả vào năm 1922 và đến năm 1927 thì Warren A. Marrison đã ứng dụng tinh thể thạch anh vào điều khiển sự hoạt động của các đồng hồ. Thạch anh ở dạng hạt (cát, bột) được sử dụng làm vật liệu đánh bóng, là vật liệu quan trọng trong công nghệ bán dẫn. == Thư viện ảnh == == Xem thêm == Thủy tinh Pha lê == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
hàng hóa.txt
Về hàng hóa hữu hình, xem Vật phẩm Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi hay buôn bán. == Hàng hóa và Kinh tế chính trị == Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa cũng được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa có thể là hữu hình như sắt thép, quyển sách hay ở dạng vô hình như sức lao động. Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó. Để đồ vật trở thành hàng hóa cần phải có: Tính ích dụng đối với người dùng Giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm David Ricardo cho rằng hàng hóa có hai thuộc tính cơ bản là: giá trị sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng của hàng hóa là ích dụng của hàng hóa thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Ví dụ, công dụng của một cái kéo là để cắt nên giá trị sử dụng của nó là để cắt; công dụng của bút để viết nên giá trị sử dụng của nó là để viết. Một hàng hóa có thể có một công dụng hay nhiều công dụng nên nó có thể có nhiều giá trị sử dụng khác nhau. Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Cả quần áo và thóc lúa đều là sản phẩm của quá trình sản xuất thông qua lao động, là sản phẩm của lao động, có lao động kết tinh vào trong đó. Có sự chi phí về thời gian, sức lực và trí tuệ của con người khi sản xuất chúng. Khi đưa ra ngoài thị trường để trao đổi, mua bán thì giá trị của hàng hóa thể hiện qua giá trị trao đổi hay giá cả của hàng hóa. Ví dụ một cái tủ có thể trao đổi được với hai lượng bạc, trong khi một cái bàn có thể trao đổi được một lượng bạc. Như vậy giá trị của cái tủ lớn hơn giá trị của cái bàn. == Khái niệm hiện tại về hàng hóa == Sự thay đổi và phát triển nhận thức đối với đời sống kinh tế dẫn đến cách hiểu hàng hóa không như các nhà kinh tế cổ điển xác định. Phạm trù hàng hóa mất đi ranh giới của sự hiển hiện vật lý của vật thể và tiến sát đến gần phạm trù giá trị. Tiền, cổ phiếu, quyền sở hữu nói chung, quyền sở hữu trí tuệ nói riêng, sức lao động, v.v. được xem là hàng hóa trong khi chúng không nhất thiết có những tính chất như đã liệt kê trên. Theo luật giao thông đường bộ: Hàng hóa là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng, động vật sống và các động sản khác được vận chuyển bằng phương tiện giao thông đường bộ. Theo luật thương mại thì hàng hóa bao gồm: Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai. == Chú thích == == Xem thêm == Lao động Giá trị Nhu cầu
josef bican.txt
Josef Bican hay Josef "Pepi" Bican (25/ 9/ 1913 - 12/ 12/ 2001) là tiền đạo vĩ đại người Áo-Hung(cũ). Ông là tiền đạo huyền thoại trong lịch sử bóng đá thế giới thi đấu cho 2 đội tuyển quốc gia là Áo và Tiệp Khắc.Trong sự nghiệp của mình,ông đã ghi 1468 bàn thắng trong 918 trận. == Phong cách chơi bóng == Bican giống với Sir Stanley Matthews,họ đều là những cầu thủ có lối sống chuẩn mực nên nền tảng thể lực sung mãn giúp ông có thể chơi bóng đến 45 tuổi.'Pepibican' thực sự là nỗi khiếp sợ của mọi hàng thủ với tốc độ như một vận động viên điền kinh (100m/10.8s),kĩ thuật và những cú sút như búa bổ.Nguồn == Cuộc đời và sự nghiệp == Bican được sinh ra trong một gia đình nghèo ở Vienna. Mẹ ông là Ludmila và bố là František Bican. Ông là con thứ hai trong ba người con. [2] Ludmila là người Viennese lai Séc còn František lại đến từ Sedlice ở miền Nam Bohemia. František, cha của Josef cũng là một cầu thủ từng chơi cho Hertha Vienna. Ông đã đi chiến đấu trong Thế chiến I và trở về mà không bị thương tật gì. Tuy nhiên, František mất lúc mới 30 tuổi vào năm 1921 bởi vì ông đã từ chối điều trị chấn thương thận trong một trận đấu bóng đá. Mẹ của ông làm việc trong một nhà bếp nhà hàng. Vì nhà nghèo, thuở nhỏ Bican chơi bóng đá mà không có bất cứ đôi giày nào, tuy nhiên điều này đã giúp ông trau dồi kỹ năng kiểm soát bóng của mình. Bican học tại trường Jan Amos Komenský, một trường học Cộng hòa Séc tại Vienna. Bốn năm sau cái chết của cha mình vào năm 1925, mười hai tuổi Bican bắt đầu chơi cho đội trẻ Hertha Vienna, Hertha Vienna II. Năm 18 tuổi, Rapid Vienna - một câu lạc bộ lớn trong thành phố vào thời điểm đó - phát hiện ra tài năng của ông và đưa ông về == Chuyên nghiệp == Năm 1937, Bican rời Vienna để tham gia câu lạc bộ Séc Slavia Prague [2]. Ông chơi cho Slavia trong suốt chiến tranh thế giới thứ II. Trong 8 mùa giải đấu, ông ghi được 328 bàn, bao gồm 57 bàn trong 24 trận đấu một năm. Ba lần trong sự nghiệp của mình, Bican ghi được bảy bàn thắng trong một trận đấu [3] Trong một trận đấu 1939/40 so với Zlín, Bican chọc thủng bảy 7 lần vào lưới của Slavia trong chiến thắng 10-1. [3] Trong mùa giải 1940-1941, một lần nữa Bican ghi đến 7 bàn vào lưới của Zlín để rồi chiến thắng với tỉ số 12-1. [3] 1947/48 trước khi Bican đạt mốc trận đấu thứ ba bảy mục tiêu của mình, như Slavia đánh bại České Budějovice với tỉ số 15-1. [3] Bican là vua phá lưới 12 lần trong sự nghiệp cầu thủ 27 năm của mình và cầu thủ ghi bàn hàng đầu của châu Âu trong 5 mùa liên tiếp, từ 1939/40 1943/44. Trong châu Âu bị tàn phá sau chiến tranh, một số các câu lạc bộ lớn nhất của châu Âu nên đã muốn Bican. Juventus đã chủ động mời Bican, nhưng ông từ chối, cho là sau khi ông được thông báo rằng Cộng sản có thể mất hơn Italy. Ông ở lại Prague, và trớ trêu thay, những người Cộng sản lên nắm quyền vào năm 1948. Bican từ chối gia nhập Đảng cộng sản, cũng như ông đã từ chối gia nhập Đảng Quốc xã tại Áo. Bican đã cố gắng để cải thiện vị thế của họ với Cộng sản bằng cách tham gia thép hoạt động Železárny Vítkovice. Năm 1951, ông gia nhập FC Hradec Králové, nhưng, ngày 01 tháng năm 1953, Đảng Cộng sản đã buộc ông phải rời khỏi thành phố và, do đó, câu lạc bộ. Sau khi bị buộc phải rời khỏi, ông trở về với Slavia Prague, hoặc, như nó đã được biết đến sau đó, Dynamo Prague. Cuối cùng ông đã nghỉ hưu từ chơi, vẫn còn ở Slavia, ở tuổi 42 vào năm 1955. Ông là người chơi lâu đời nhất trong liên minh tại thời điểm đó. Trong thời gian này Bican một thời gian ngắn được quản lý Hradec Králové và Slavia và sau đó được bổ nhiệm làm HLV của Pilsen. == Sự nghiệp Quốc tế == Ngày 29 Tháng Mười Một năm 1933, từ 20 năm và 64 ngày, Bican xuất hiện lần đầu của mình cho Áo trong một trận hòa 2-2 trước Scotland. Ông đã chơi bóng cho họ tại World Cup năm 1934, khi Wunderteam Áo đã tới vòng bán kết. Mục tiêu đơn độc của mình trong giải đấu thêm thời gian trong chiến thắng Áo 3-2 trước Pháp. Đồng thời Bican được chơi cho Slavia Prague, ông nộp đơn xin quốc tịch Séc. Tuy nhiên, khi ông cuối cùng đã trở thành một công dân Cộng hòa Séc, ông phát hiện ra rằng một lỗi văn thư có nghĩa là ông không thể chơi tại World Cup vào năm 1938. Tổng cộng, anh ghi được 34 bàn trong 34 trận đấu quốc tế trong 3 đội (Áo, Tiệp Khắc và Bohemia và Moravia). Cuối cùng xuất hiện đội tuyển quốc gia của ông đã cho Tiệp Khắc trong trận thua 3-1 trước Bulgaria vào ngày 4 tháng 9 năm 1949. [4] Tuy nhiên, thành công của ông cũng là con dao 2 lưỡi. Các thành viên khác của đội bóng trở nên ghen tị với những thành công, vẻ hào nhoáng của Bican. Ông thường được gọi là "kẻ cơ hội". [5] == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bản mẫu:Austria Squad 1934 World Cup Bản mẫu:Czechoslovak First League top scorers Bản mẫu:SK Slavia Prague managers
userkaf.txt
Userkaf (nghĩa là Linh hồn của ngài mạnh mẽ) là vị pharaon đã sáng lập Vương triều thứ 5 của Ai Cập cổ đại và là vị pharaon đầu tiên bắt đầu truyền thống xây dựng ngôi đền mặt trời ở Abusir. Tên của ông có nghĩa là "Ka của ngài (hoặc linh hồn) mạnh mẽ". Ông cai trị từ năm 2494-2487 TCN và đã cho xây dựng phức hợp kim tự tháp Userkaf ở Saqqara. == Gia đình == Userkaf có thể là một người cháu ngoại của Djedefre thông qua người con gái của ông ta, Neferhetepes. Cha của ông không được biết đến, trong khi một số tin rằng mẹ của ông là Khentkaus I (hoặc là vợ của ông trước khi ông lên ngôi). Một trong những người vợ của Userkaf cũng có tên tương tự là nữ hoàng Neferhetepes, và là mẹ của Sahure. Userkaf cũng có thể là cha của Neferirkare Kakai, một người con trai của Khentkaus I. Một quan điểm khác ít phổ biến hơn nhằm phù hợp với một câu chuyện trong cuộn giấy cói Westcar, đó là ba vị vua đầu tiên của vương triều thứ năm là anh em ruột của nhau-họ là con trai của một người phụ nữ tên là Raddjedet. == Chú thích == == Đọc thêm == Mariette, Auguste (1889). Les mastabas de l’Ancien Empire. Paris. AM. ; Sethe, Kurt Heinrich (1903). Urkunden des Alten Reich 1. Leipzig: J.C. Hinrichs'sche Burchhandlung. KHS. ; Jean-Philippe Lauer & Audran Labrousse (2000). Les complexes funéraires d'Ouserkaf et de Néferhétepès. IFAO. LL. . Breasted, James Henry (1906). Ancient records of Egypt historical documents from earliest times to the persian conquest, collected edited and translated with commentary. The University of Chicago press. JHB. Daressy, Georges (1916). La Pierre de Palerme et la chronologie de l'Ancien Empire. Cairo: BIFAO. GD. Hellouin de Cenival, Jean-Louis; Paule Posener-Krieger (1968). The Abusir Papyri, Series of Hieratic Texts. London: British Museum. ; Posener-Krieger, Paule (1976). Les Archives du temple funéraire de Néferirkarê-Kakai (Les Archives d'Abousir). IFAO. ; Hawass, Zahi, "The Head of Userkaf" in "The Splendour of the Old Kingdom" in The Treasures of the Egyptian Museum, Francesco Tiradritti (editor), The American University in Cairo Press, 1999, p. 72-73. Magi, Giovanna. Saqqara: The Pyramid, The Mastabas and the Archaeological Site, Casa Editrice Bonechi, 2006 Mahfouz, Naguib. "King Userkaf's Forgiveness" in Voices from the Other World (translated by Robert Stock), Random House, 2003. Verbrugghe, Gerald and Wickersham, John. Berossos and Manetho, University of Michigan Press 2001 (ISBN 0-472-08687-1)
cộng hòa.txt
Theo nghĩa rộng nhất, một nền cộng hòa là một bang hay một quốc gia được lãnh đạo bởi những người không dựa sức mạnh chính trị của họ vào bất kỳ một quy luật nào vượt khỏi tầm kiểm soát của Nhân dân trong bang hay nước đó. Một vài định nghĩa, bao gồm cả 1911 Encyclopædia Britannica, nhấn mạnh sự quan trọng của sự tự trị và Luật pháp như là một phần của những điều kiện cần cho một cộng hòa. Cộng hòa là nói đến một hệ thống chính trị hay một hình thái chính phủ trong đó người dân chọn người đại diện cho mình để điều hành đất nước và mọi người dân có quyền tự do và bình đẳng chọn lựa những người đại diện cho mình thì gọi là dân chủ. Tổ chức chi tiết của các Nhà nước cộng hòa có thể rất khác nhau. Từ "republic" ("cộng hòa") bắt nguồn từ thành ngữ Latinh res publica, có thể dịch là "một việc công cộng". == Các đặc điểm của các thể chế cộng hòa == === Người đứng đầu nhà nước === Trong hầu hết nền cộng hòa hiện đại ở các nước tư bản chủ nghĩa, người đứng đầu nhà nước được gọi là tổng thống còn các nước theo đuổi ý tưởng xây dựng xã hội chủ nghĩa là chủ tịch nước. Các danh xưng khác được sử dụng là consul, doge, archon và nhiều danh xưng khác. Trong các nền cộng hòa và cũng là dân chủ người đứng đầu nhà nước được xác định theo kết quả của một cuộc bầu cử. Cuộc bầu cử này có thể là gián tiếp, chẳng hạn như nếu một hội đồng theo một dạng nào đó được bầu lên bởi người dân, và hội đồng này sau đó sẽ bầu ra người đứng đầu nhà nước hoặc là trực tiếp. Trong các nền cộng hòa này nhiệm kì thông thường của tổng thống kéo dài trong khoảng bốn đến sáu năm. Trong một số nước, hiến pháp giới hạn số nhiệm kì một người có thể được bầu lên vị trí tổng thống. Nếu như người đứng đầu nhà nước của một cộng hòa đồng thời là người đứng đầu chính phủ, thể chế này được gọi là tổng thống chế (ví dụ: Hoa Kỳ). Trong bán tổng thống chế, người đứng đầu nhà nước không phải là cùng một người với người đứng đầu chính phủ, người sau thường được gọi là thủ tướng. Tuỳ theo nghĩa vụ cụ thể của tổng thống (ví dụ, vai trò cố vấn trong việc thành lập chính phủ sau một cuộc bầu cử), và các quy ước khác nhau, vai trò của tổng thống có thể dao động từ chỉ mang tính lễ nghi và phi chính trị cho đến ảnh hưởng lớn và đầy tính chính trị. Thủ tướng có trách nhiệm trong việc điều hành các chính sách và nhà nước trung ương. Có những quy định cho việc chỉ định tổng thống và người đứng đầu chính phủ, một số nền cộng hòa cho phép sự chỉ định một tổng thống và một thủ tướng thuộc 2 đảng đối lập: ở Pháp, khi những thành viên của Chính phủ đương nhiệm và tổng thống thuộc các đảng phái đối lập nhau, tình huống này gọi là sống chung chính trị. Tuy nhiên trong một số nước như Đức và Ấn Độ, tổng thống bắt buộc phải là không theo đảng phái nào. Trong một số nước, như Thụy Sĩ và San Marino, đứng đầu nhà nước không phải là một người mà là một ủy ban (hội đồng) của một vài người đang nắm văn phòng đó. === Vai trò của tôn giáo === Trước khi một số phong trào Cải cách đem lại ảnh hưởng ở châu Âu, những thay đổi trong địa hạt tôn giáo hiếm khi có liên hệ đến dạng nhà nước đang được sử dụng ở nước đó. Ví dụ sự chuyển đổi từ đa thần giáo sang Thiên chúa giáo trong La Mã cổ đại có thể tạo ra tầng lớp thống trị mới, nhưng không gây ra thay đổi trong ý nghĩ rằng Chế độ quân chủ là một cách thức hiển nhiên để quản lý đất nước. Một cách tương tự, các chế độ cộng hòa thời trung cổ sau này, như Venezia, nổi lên mà không chất vấn những tiêu chuẩn về tôn giáo đưa ra bởi nhà thờ Công giáo Rôma. Điều này đã thay đổi, chẳng hạn như, bởi cuius regio, eius religio từ Hiệp ước Augsburg (1555): hiệp ước này, áp dụng trong Đế chế La Mã và ảnh hưởng đến nhiều bang khác của Đức, buộc công dân phải đi theo tôn giáo của người thống trị, bất kì nhánh nào của Thiên chúa giáo được nhà thống trị chọn - ngoại trừ tông phái Calvin (bị cấm bởi cùng một hiệp ước). Ở Pháp nhà vua bãi bỏ những thỏa hiệp tương đối đối với các tôn giáo không phải là Công giáo kết quả từ Sắc lệnh Nantes (1598), Sắc lệnh Fontainebleau (1685). Ở Anh và ở Tây Ban Nha những triều đình tương ứng đã thiết lập nhánh Thiên chúa giáo được ưa thích nhất của họ, do vậy vào thời điểm của thời đại Khai sáng ở châu Âu (bao gồm luôn cả các thuộc địa) không có một chế độ quân chủ tuyệt đối nào chấp nhận một tôn giáo khác với tôn giáo chính thức của nước đó. === Các nền cộng hòa giảm đi ảnh hưởng của tôn giáo vào nhà nước === Một lý do quan trọng tại sao người dân chọn xã hội của họ được tổ chức như là một "cộng hòa" là khả năng được tự do khỏi tôn giáo của nhà nước: trong cách tiếp cận này sống dưới một chế độ quân chủ được xem là dễ tạo ra một tôn giáo thuần nhất. Tất cả các chế độ quân chủ lớn đều có tôn giáo của nhà nước, kể cả trường hợp của các pharaoh và một số hoàng đế điều này có thể dẫn đến một tôn giáo mà quốc vương (hoặc hoàng gia) được phong cho một địa vị giống như thượng đế (xem ví dụ như Sùng bái Hoàng gia). Trên một mức độ khác, các nền quân chủ có thể vướng vào một dạng đặc biệt nào đó của tôn giáo: Công giáo ở Bỉ, Anh giáo ở Anh, Chính Thống giáo Đông phương ở Nga dưới chế độ Nga hoàng, Thần đạo ở Nhật Bản,... Trong sự vắng mặt của chế độ quân chủ, sẽ không có một vị vua nào thúc đẩy về một tôn giáo duy nhất. Bởi vì điều này là cảm nhận chung vào thời gian của thời đại Khai sáng, không là điều đáng ngạc nhiên khi các cộng hòa được nhận thấy bởi các nhà tư tưởng thời Khai sáng như là một dạng tổ chức nhà nước thích hợp nhất, nếu như người ta muốn tránh những điều xuống cấp bởi việc sống dưới một tôn giáo nhà nước có ảnh hưởng quá lớn. Jean-Jacques Rousseau, một ngoại lệ, tiên liệu một nền cộng hòa với một "tôn giáo dân sự" với nhiều đòi hỏi: Ví dụ ở Hoa Kỳ: những vị Cha Sáng lập, nhận thấy rằng sẽ không có một tôn giáo duy nhất nào sẽ được theo bởi tất cả người Mỹ, đã theo một nguyên tắc là nhà nước liên bang sẽ không ủng hộ một tôn giáo truyền thống nào, như Massachusetts và Connecticut đã theo. === Những khái niệm của dân chủ === Các cộng hòa thường liên hệ với dân chủ, có vẻ là lẽ tự nhiên nếu như người ta thừa nhận ý nghĩa của cụm từ bắt nguồn của từ "cộng hòa" (xem: res publica). Tuy nhiên sự liên kết giữa "cộng hòa" và "dân chủ" này là rất xa đối với hiểu biết chung, ngay cả nếu như đã thừa nhận là có một vài dạng khác nhau của dân chủ. Phần này cố gắng đưa ra những tóm tắt về các khái niệm dân chủ nào liên hệ với kiểu cộng hòa nào. Chú ý rằng khái niệm "một phiếu bầu bằng nhau cho mỗi người trưởng thành" đã không được chấp nhận rộng rãi trong các nền dân chủ cho đến khoảng giữa thế kỉ 20: trước đó trong tất cả các nền dân chủ quyền được bầu cử của một người phụ thuộc vào điều kiện tài chính, giới tính, Chủng tộc, hay là một tổ hợp những thứ đó và những yếu tố khác. Nhiều dạng nhà nhà nước trong các thời đại trước được mệnh danh là "dân chủ", bao gồm ví dụ như Dân chủ Athena, khi đem vào đầu thế kỉ 21 sẽ được liệt kê là plutocracy hay là một dạng quả đầu chế (quyền lực nắm bởi thiểu số) mở rộng, bởi vì những luật lệ về những phiều bầu được đếm như thế nào. Trong cách tiếp cận phương Tây, được khuyến cáo về những nguy hiểm có thể xảy ra và sự không thực tế của dân chủ trực tiếp mô tả từ thời cổ đại, có một sự hội tụ về phía dân chủ đại diện, cho các thể chế cộng hòa cũng như các thể chế quân chủ, từ thời Khai sáng trở đi. Một phương tiện dân chủ như là Trưng cầu dân ý vẫn về cơ bản là không đáng tin cậy trong nhiều nước theo kiểu dân chủ đại diện. Tuy vậy, một số nước cộng hòa như Thụy Sĩ có một phần lớn dân chủ trực tiếp trong cách tổ chức nhà nước của họ, với thông thường một vài vấn đề được đưa ra trước nhân dân bằng trưng cầu dân ý hàng năm. === Ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng hòa === Cũng giống như chủ nghĩa chống quân chủ và khác biệt tôn giáo, chủ nghĩa cộng hòa không đóng vai trò bằng nhau trong sự nổi lên của nhiều nền cộng hòa thực sự. Cho đến các cộng hòa bắt nguồn từ cuối thời trung cổ, ngay cả nếu như, từ những gì chúng ta biết về họ, họ cũng có thể đạt tiêu chuẩn "cộng hòa" trong cách hiểu hiện đại của từ này, thiết lập loại và lượng của "chủ nghĩa cộng hòa" dẫn đến sự nổi lên của họ thường giới hạn vào các phỏng đoán mang tính giáo dục, dựa trên những nguồn nhìn chung là được công nhận như có một phần chỉ là xây dựng hư cấu. Qua thời gian có một pha trộn các loại chủ nghĩa cộng hòa khác nhau theo cùng với các lý thuyết dân chủ của các quyền cá nhân, mà chúng (chẳng hạn trong Thời Khai sáng) sẽ tìm thấy biểu diễn trong sự hình thành của các đảng tự do và đảng xã hội. Thứ mà Chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa xã hội cùng chia sẻ là niềm tin vào sự tự quyết của con người, và niềm tin vào danh dự cá nhân từng người. Nhưng họ không đồng ý và tiếp tục không đồng ý liệu là thứ này có cần thiết cho một nền cộng hòa hay không, thế nào sử dụng "chính xác" của từ "cộng hòa", và đời sống kinh tế nên được tổ chức như thế nào. Mâu thuẫn này thường được diễn tả theo ngôn ngữ của chủ nghĩa xã hội (như là một hệ thống kinh tế) đối chọi với Chủ nghĩa tư bản (hệ thống kinh tế được khuếch trương bởi người theo chủ nghĩa tự do). Sự hòa hoãn giữa dân chủ và có một người đứng đầu nhà nước cha truyền con nối được gọi là Quân chủ lập hiến. Tuy nhiên, chẳng hạn không ai nghi ngờ là chủ nghĩa cộng hòa là lý tưởng thành lập Hoa Kỳ và vẫn còn là cốt lõi của những giá trị chính trị Mỹ. Xem Chủ nghĩa cộng hòa ở Mỹ. ==== Trong thời cổ đại ==== Trong Ấn Độ cổ đại, một số Maha Janapadas được thiết lập như là những cộng hòa vào Thế kỉ thứ 6 trước Công nguyên[1]. Vaishali, cổ xưa nhất trong các cộng hòa đó, được xem như là nền cộng hòa đầu tiên trên thế giới. Trong vùng Cận Đông cổ đại, một số thành phố của Levant đã được một cách điều hành tập thể. Arwad đã được dẫn ra như là một ví dụ khác về nước cộng hòa xưa nhất được biết, trong đó người dân, chứ không phải vua, được miêu tả là có quyền tự chủ. Những bản sách quan trọng về triết học chính trị thời cổ đại sống sót cho đến thời trung cổ hiếm khi có một ảnh hưởng nào lên sự nổi lên hay làm mạnh thêm những nền cộng hòa vào thời điểm mà chúng được viết ra. Khi Plato viết những đối thoại mà sau này, trong các nước nói tiếng Anh, trở nên được biết đến như là The Republic (một bản dịch không chính xác theo một số người), nền dân chủ xứ Athena đã được thiết lập, và không bị ảnh hưởng bởi luận thuyết đó (nếu nó đã bị ảnh hưởng, nó sẽ trở nên "ít" bản chất cộng hòa hơn theo hiểu biết hiện đại). Những thí nghiệm của Plato với những nguyên tắc chính trị của ông ở vùng Syracuse là một thất bại. De re publica của Cicero, rất xa trong khả năng định nghĩa lại nhà nước Cộng Hòa La Mã cổ đại trong việc củng cố dạng nhà nước cộng hòa của họ, mà đúng hơn nên được xem là tiền thân của Đế chế La Mã thật sự đã thành hình sau khi Cicero qua đời. ==== Trong thời Phục hưng ==== Sự nổi lên của thời Phục hưng, mặt khác, được đánh dấu bằng sự chấp thuận của nhiều tác phẩm từ thời Cổ đại này, không nhiều thì ít dẫn đến một quan điểm chặt chẽ, quay lại với "Chủ nghĩa cộng hòa cổ điển". Tuy nhiên những khác biệt vẫn tồn tại về việc loại "hỗn hợp" nào trong một kiểu nhà nước hỗn hợp của một nước lý tưởng sẽ được gọi là "cộng hòa". Đối với những thể chế cộng hòa nổi lên sau sự xuất bản của các triết lý Phục hưng về cộng hòa, như là Liên hiệp các tỉnh Hà Lan, luôn luôn không rõ ràng là vai trò chính xác của chủ nghĩa cộng hòa - trong một loạt các lý do khác - dẫn đến chọn lựa "cộng hòa" như là một dạng nhà nước ("các lý do khác" đã được nói đến đâu đó trong bài này, không tìm được người kế vị xứng đáng cho ngôi vua, chống lại Catholicism; Một tầng lớp trung lưu cố gắng có ảnh hưởng chính trị). ==== Chủ nghĩa cộng hòa khai sáng ==== Thời đại Khai sáng đã đem lại một thế hệ các nhà tư tưởng chính trị mới, cho thấy rằng, giữa nhiều thứ khác, "triết học" chính trị đang ở trong quá trình tập trung trở lại vào "khoa học" chính trị. Lần này thì ảnh hưởng của những nhà tư tưởng chính trị, như John Locke, vào sự nổi lên của những nền cộng hòa ở Mỹ và Pháp sớm xảy ra sau đó là không thể sai được: sự phân tách của quyền lực, sự phân tách của nhà thờ và nhà nước, v.v. được giới thiệu với một mức thành công nào đó trong các nước cộng hòa mới, cùng với những tư tưởng khác của nhà chính trị lớn khác của thời đại đó. Thật ra, thời Khai sáng đã đặt ra tiêu chuẩn cho những nền cộng hòa, cũng như là nhiều trường hợp khác cho các chế độ quân chủ, trong thế kỉ tiếp theo. Những nguyên tắc quan trọng nhất được thiết lập lúc kết thúc thời Khai sáng là Luật pháp, là điều kiện rằng các nhà nước phản ánh Lợi ích cá nhân phải theo pháp luật, rằng các nhà nước hành xử theo lợi ích quốc gia, trong những cách thức hiểu được bởi đại chúng, rằng phải có một số phương tiện cho quyền tự quyết định. ==== Chủ nghĩa cộng hòa vô sản ==== Phân nhánh chính tiếp theo trong tư tưởng chính trị được Karl Marx thúc đẩy đó là ông cho rằng các giai cấp (vô sản, tư sản,...), chứ không phải là toàn bộ quốc gia là có những ưu thế về quyền và lợi ích trong mỗi nước. Marx tranh luận rằng các chính phủ nên là đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, và vì vậy cuối cùng thì các quốc gia trong thời đại của ông trong tương lai sẽ bị thống trị bởi giai cấp vô sản . Một lần nữa hình thành nên nền cộng hòa theo đường lối triết lý chính trị mới nhanh chóng theo sau sự nổi lên của triết học. Từ đầu Thế kỷ 20, các nền cộng hòa dạng "cộng sản" được thiết lập. Nhiều nước trong số đó đứng vững cả thế kỷ - nhưng có sự căng thẳng đẫu tranh đang gia tăng giữa họ với những nước kế thừa trực tiếp (trong triết lý của Karl Marx) hơn là từ ý tưởng của Phong trào Khai sáng. === Các yếu tố kinh tế === Khái niệm cổ xưa của Res publica, khi áp dụng vào chính trị, luôn luôn suy diễn rằng công dân trên một mức độ nào đó "tham gia" vào việc điều hành đất nước: ít nhất là công dân không thờ ơ với những quyết định được quyết bởi những người đứng đầu điều hành đất nước, và có thể tham gia tranh luận vào các vấn đề của chính trị - xã hội. Một ý thường được theo đuổi bởi các sử gia là các công dân, dưới những hoàn cảnh thông thường, chỉ trở nên hoạt động về chính trị nếu như họ có thời gian rãnh rỗi trên và vượt khỏi những cố gắng thường ngày chỉ để duy trì sự tồn tại. Nói một cách khác, một lớp trung lưu đủ đông (mà không bị ảnh hưởng về mặt chính trị bởi một vị vua như tầng lớp quý tộc đã bị) thường được xem là những điều kiện cần trước khi thành lập một dạng nhà nước cộng hòa. Trong cách suy luận này, trong những thành phố của Hanseatic League, lẫn Catalonia của thế kỉ 19, cũng như Hà Lan trong thời hoàng kim của họ, sự hình thành của một nền cộng hòa không là điều đáng ngạc nhiên, bởi tấ cả họ đều ở mức đỉnh của tài sản tích lũy được qua thương mại và những xã hội với một tầng lớp trung lưu giàu có và nhiều ảnh hưởng. === Sự sáp nhập của các nhà nước === Khi một nước hay nhiều bang được tổ chức trên nhiều tầng khác nhau (nghĩa là: một vài nước "liên kết" với nhau trong một "cấu trúc lớn hơn", hay một nước được chia ra thành nhiều tiểu bang với một dạng độc lập tương đối) một vài khuôn mẫu tồn tại: Cả cấu trúc phía trên và các tiểu bang phía dưới đều có dạng cộng hòa (ví dụ: Hoa Kỳ) Cấu trúc phía trên là một cộng hòa, trong khi các nước thành viên không nhất thiết là cộng hòa (Ví dụ: Liên minh châu Âu); Cấu trúc phía trên không phải là một cộng hòa, trong khi các nước thành viên có thể là cộng hòa (Ví dụ: Đế chế La mã Thần thánh (Holy Roman Empire), sau sự nổi lên của các nền cộng hòa, như là của Liên minh Hanse, bên trong đế chế). == Các nền cộng hòa == Trong đầu thế kỷ 21, hầu hết các nước không quân chủ đều tự gọi là cộng hòa hoặc là trong tên chính thức hoặc là trong Hiến pháp. Có một vài ngoại lệ: nước Libya Ả Rập Jamahiriya, Nhà nước Israel, Nhà nước Palestine, Myanmar và Liên bang Nga. Israel, Nga, ngay cả Myanmar và Libya, tuy vậy vẫn thỏa mãn nhiều Định nghĩa của từ "cộng hòa". Bởi vì từ "cộng hòa" bản thân là mơ hồ, rất nhiều nước cảm thấy cần thêm vào những từ hạn định (qualifiers) để làm rõ loại cộng hòa nào mà họ đang có để xưng hiệu quốc gia. Đây là danh sách của các từ hạn định đó và các dạng khác nhau của từ "cộng hòa": Không cần thêm vào từ hạn định nào ngoài "Cộng hòa" - ví dụ Pháp. Cộng hòa liên bang - một liên bang của tiểu bang nhỏ với một dạng nhà nước cộng hòa – Hoa Kỳ, Úc, Brasil, Đức, Ấn Độ là những nước cộng hòa được điều hành bởi một nền dân chủ đại diện, trong đó các tiểu bang đóng một vai trò quan trọng. Cộng hòa Hiến pháp – một dạng của dân chủ tự do nơi mà công dân bầu lên người đứng đầu nhà nước cũng như các đại diện điều hành nhà nước theo luật định trong hiến pháp hiện hành có bảo vệ quyền lợi cá nhân. Hoa Kỳ là một ví dụ. (So sánh với Quân chủ lập hiến và dạng dân chủ tự do gọi là dân chủ trong chế độ quân chủ). Confederation (Một hội đồng) quyền lực được trao cho các đơn vị thành viên trong hội đồng VD: Serbia và Montenegro (không còn tồn tại) và Thụy Sĩ. Liên bang – nhiều quyền lực hơn được trao cho nhà nước liên bang, ví dụ Nga. Cộng hòa Hồi giáo – những nước như Afghanistan, Pakistan, Iran là những cộng hòa được điều hành theo những luật Hồi giáo. (Ghi chú: Thổ Nhĩ Kỳ là một ngoại lệ khác và không được đưa vào danh sách này; trong khi dân số chủ yếu là Hồi giáo, nhà nước là cộng hòa không tôn giáo). Cộng hòa Ả Rập – ví dụ, Syria phản ánh trong tên nước là một nhà nước theo lý thuyết pan-Arab Ba'athist. Cộng hòa nhân dân – Những nước như Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên vì ý nghĩa là chính quyền do dân và vì dân, nhưng nói chung là không có bầu cử trực tiếp (mà quy định do các ứng viên là các đảng viên ứng cử trước quốc hội). Do vậy, họ sử dụng cụm từ "Cộng hòa nhân dân", được dùng chung bởi nhiều nước cộng sản trước đây. Dân chủ cộng hòa – thường được sử dụng bởi các nước với các mong muốn nhấn mạnh tuyên bố của họ là các nước dân chủ; Những nước này thường là các nước cộng sản hoặc trước là thuộc địa. Các ví dụ bao gồm Cộng hòa dân chủ Đức (không còn tồn tại), Cộng hòa Dân chủ Congo, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (trước năm 1976). Cộng hòa xã hội chủ nghĩa – như nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính quyền với ý nghĩa do dân và vì dân, nhân dân được bầu cử nhưng kết quả lại được giám định kín trong nhà nước, có thể nói không có bầu cử trực tiếp (giống Trung Quốc). Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa là nhà nước của cộng sản. Thịnh vượng chung (Commonwealth, Rzeczpospolita) – sử dụng ở Ba Lan cho nước Cộng hòa Ba Lan hiện tại, và Rzeczpospolita của các quý tộc trong lịch sử. Nước tự do – đôi khi được sử dụng như một nhãn để chỉ sự thi hành, hoặc là chuyển tiếp từ một nước quân chủ sang một dạng nhà nước cộng hòa. Sử dụng cho Nước tự do Ireland dưới nhà nước cộng hòa Ireland, trong khi vẫn là một phần của Đế quốc Anh. Các từ hạn lượng khác có gốc trong truyền thống và lịch sử thường là không có ý nghĩa thực sự về chính trị. San Marino, ví dụ, là "Cộng hòa bình yên nhất" trong khi Uruguay là "Cộng hòa phía Đông". == Cộng hòa trong lý thuyết chính trị == Trong lý thuyết chính trị và khoa học chính trị, từ "cộng hòa" nhìn chung được áp dụng cho một nước nơi mà sức mạnh chính trị của nhà nước chỉ phụ thuộc vào sự đồng ý, bất kì trên danh nghĩa nào, của người dân bị cai trị. Việc sử dụng này dẫn đến hai tập hợp phân loại đều có vấn đề. Thứ nhất là các nước được cầm quyền bởi một nhóm thiểu số, nhưng không phải là cha truyền con nối, giống như nhiều nước độc tài, thứ hai là các nước mà tất cả, hay là gần như tất cả, quyền lực chính trị thực sự được nắm bởi các thể chế dân chủ, nhưng vẫn có một vua/nữ hoàng như người đứng đầu nhà nước trên danh nghĩa, được biết chung như là Quân chủ lập hiến. Trường hợp thứ nhất làm cho nhiều người bên ngoài từ chối xem nước đó như là một nước cộng hòa thực sự. Trong nhiều nước loại thứ hai có một số phong trào "cộng hòa" vẫn hoạt động để khuếch trương việc kết thúc một chế độ quân chủ chỉ tồn tại trên danh nghĩa, và vấn đế ngữ nghĩa thường được giải quyết bằng cách gọi đó là một nước dân chủ. Nhìn chung, các nhà khoa học chính trị cố gắng phân tích hiện thực ẩn bên trong hệ thống, chứ không phải bằng danh nghĩa mà nước đó tự xưng: mặc cho một lãnh tụ chính trị tự xưng là "hoàng đế" hay "tổng thống", và nhà nước ông ta đang lãnh đạo được gọi là một nhà nước "quân chủ" hay "cộng hòa" không phải là đặc điểm quan trọng, liệu là ông ta sử dụng quyền lực như người chuyên quyền hay là không mới là quan trọng. Trong nghĩa này những phân tích gia về chính trị có thể nói rằng Chiến tranh thế giới thứ nhất, trong nhiều khía cạnh, là điểm cáo chung cho chế độ quân chủ, và sự thiết lập của chủ nghĩa cộng hòa, hoặc là trên thực tế hay là de jure, như là những thiết yếu cho một nhà nước hiện đại. Đế chế Áo-Hung và Đế chế Đức cả hai đều bị xóa bỏ bởi những điều khoản trong hiệp định hòa bình ký kết sau đó, Đế quốc Nga bị lật đổ bởi Cách mạng Nga năm 1917. Ngay cả trong các nước thắng trận, các hoàng gia đã dần dần bị tước bỏ quyền lực và đặc quyền, và càng nhiều hơn nhà nước là ở trong tay của các cơ quan được bầu lên và các đảng chiếm đa số nắm quyền hành pháp. Tuy nhiên trong nước Đức sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một cộng hòa de jure, phát triển thành một chế độ chuyên chế trên thực tế vào giữa Thập niên 1930: một hiệp ước hòa bình mới, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cẩn thận hơn trong việc soạn ra các điều khoản để cho nước Đức trên thực tế (phần Tây) vẫn là một nước cộng hòa. == Ý nghĩa khác == === Triết học chính trị === Thuật ngữ cộng hòa có nguồn gốc từ những tác giả của thời Phục hưng như một thuật ngữ mô tả về về một quốc gia không có chế độ quân chủ. Những tác giả này, như Machiavelli, cũng đã viết những tác phẩm quan trọng mô tả làm thế nào để các chính phủ như vậy thực hiện chức năng của mình. Những ý tưởng về việc một chính phủ và xã hội nên được xây dựng như thế nào là cơ sở cho một hệ tư tưởng được gọi là Chủ nghĩa cộng hòa cổ điển. Tư tưởng này dựa trên Cộng hòa La Mã và các thành bang của Hy Lạp cổ đại và tập trung vào những ý tưởng như đạo đức công dân, quy định của luật pháp và chính phủ hỗn hợp. == Tham khảo và chú thích == == Xem thêm == Jean-Jacques Rousseau, Du Contrat Social, ou Principes de Droit Politique (1762) William R. Everdell, The End of Kings: A History of Republics and Republicans, 1983, 2nd ed., Chicago: U. of Chicago Press, 2000 Martin van Gelderen & Quentin Skinner, eds., Republicanism: A Shared European Heritage, v1, Republicanism and Constitutionalism in Early Modern Europe, Cambridge: Cambridge U.P., 2002 Martin van Gelderen & Quentin Skinner, eds., Republicanism: A Shared European Heritage, v2, The Values of Republicanism in Early Modern Europe, Cambridge: Cambridge U.P., 2002 Philip Pettit, Republicanism: A Theory of Freedom and Government, NY: Oxford U.P., 1997, ISBN 0-19-829083-7; Oxford: Clarendon Press, 1997. Frédéric Monera, L'idée de République et la jurisprudence du Conseil constitutionnel - Paris: L.G.D.J., 2004 [2]-[3];
devon and exeter football league.txt
Devon and Exeter Football League là một giải bóng đá Anh, được chia làm 10 hạng đấu, hạng cao nhất là Premier Division, nằm ở Cấp độ 12 trong Hệ thống các giải bóng đá ở Anh == Devon & Exeter Football League == == Cấu trúc giải đấu mùa giải 2015–16 == === Devon & Exeter Football League === II = Reserve Team / III = A Team / IV = B Team / V = C Team == Đội vô địch Premier Division == === Các đội vô địch gần đây === == Lên hạng và xuống hạng == ==Tham khảo==
lê thụy hải.txt
Lê Thụy Hải (sinh năm 1946) còn có biệt danh là "Hải lơ", quê ở Hà Tây (nay là Hà Nội), là một cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá Việt Nam. Ông từng đá cho đội Đường Sắt thuộc Tổng cục Đường sắt và là tuyển thủ quốc gia Việt Nam. Sau khi nghỉ thi đấu, ông là huấn luyện viên của nhiều câu lạc bộ bóng đá Việt Nam như Ninh Bình, Becamex Bình Dương, Đà Nẵng, Thể Công, Hải Phòng, Thanh Hóa. == Sự nghiệp cầu thủ == Ông Lê Thụy Hải tham gia đội bóng đá Đường Sắt từ cuối năm 1965, và kết thúc sự nghiệp những năm đầu thập niên 80. == Sự nghiệp huấn luyện viên == Ông bắt đầu cầm quân những năm 90 và dấu ấn giúp Becamex Bình Dương vô địch 3 năm 2007, 2008, 2014. Ông được xem là "người đặc biệt" và ông cũng là một trong những huấn luyện viên có mức lương cao nhất Việt Nam. Theo đánh giá của giới chuyên môn ông là huấn luyện viên có cá tính mạnh mẽ nên đạt được khá nhiều thành công.. == Thành tích huấn luyện viên == Với SHB Đà Nẵng Á quân (1): V-League 2005 Với Becamex Bình Dương Vô địch (3): V-League 2007, V-League 2008, V-League 2014 Á quân (1): V-League 2006 Á quân (2): Cúp bóng đá Việt Nam 2008, Cúp bóng đá Việt Nam 2014 == Chú thích == == Tham khảo ==
tây bán cầu.txt
Tây bán cầu (viết hoa) là một thuật ngữ địa chính trị để chỉ châu Mỹ và các đảo gần đó. Nó có nguồn gốc từ thuật ngữ địa lý tây bán cầu, là một nửa của bề mặt Trái Đất nằm ở phía tây của kinh tuyến gốc, nhưng việc sử dụng đã được thay đổi để thuật ngữ này chỉ nói tới Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ và các đảo của vùng Caribe. Nó cũng được sử dụng trong ý nghĩa dân số học nhiều hơn, để chỉ những người (và nhà nước hay chính quyền) sống hay tồn tại trong khu vực này. Sự khác biệt cơ bản giữa ý nghĩa địa lý và địa chính trị là sự loại bỏ các phần của châu Phi, châu Âu và châu Nam Cực (cũng như mỏm phía đông của châu Á) khi nói đến nó theo nghĩa sau. Từ bán cầu là một thuật ngữ hình học có nghĩa văn chương là "nửa quả cầu" và trong địa lý thì thuật ngữ được sử dụng khi phân chia Trái Đất thành hai nửa. Đường phân chia rõ ràng nhất là đường xích đạo, tạo ra Bắc bán cầu và Nam bán cầu. Các bán cầu này dựa trên các điểm tham chiếu rõ ràng là Bắc cực và Nam cực, được định nghĩa theo trục tự quay của Trái Đất và theo đó người ta định nghĩa đường xích đạo. Bất kỳ định nghĩa nào của đông bán cầu hay tây bán cầu đòi hỏi việc chọn lựa kinh tuyến một cách tùy hứng (cộng với kinh tuyến tương ứng ở đầu kia của Trái Đất). Thông thường kinh tuyến gốc được sử dụng, nó chạy qua Greenwich, London để xác định đường đổi ngày quốc tế ở đầu kia của Trái Đất ở đường có kinh độ 180°. Người nào đó có thể cho rằng sự lựa chọn này có tính thiên vị mang đặc trưng châu Âu rõ nét, điều này dẫn tới là thuật ngữ địa chính trị phổ biến của 'châu Mỹ' là có tính chất tương tự như thế. Thuật ngữ đông bán cầu nói chung không phải là phổ biến trong ý nghĩa địa chính trị như từ này. == Xem thêm == Đường đổi ngày quốc tế Đông bán cầu Bắc bán cầu Nam bán cầu == Tham khảo ==
everland.txt
Everland Resort là một công viên tại Yongin, một thành phố thuộc tỉnh Gyeonggi-do, Hàn Quốc. Everland là công viên chủ đề lớn nhất của Hàn Quốc. Trong năm 2007, Everland được xếp hạng thứ mười trên thế giới trong các công viên giải trí. Cùng với các điểm tham quan chính của nó, Everland cũng bao gồm một sở thú và một công viên nước Caribbean Bay. Everland được điều hành bởi Samsung Everland, là một chi nhánh của Tập đoàn Samsung. Everland thường được so sánh ngang với Disneyland về số lượt người đến vui chơi giải trí, kiến trúc, quy mô, chủ đề và bầu không khí.[1] Tên của công viên là "Everland" xuất xứ tiếng Anh. Tại Hàn Quốc, tên là tương đương là "Ebeoraendeu" nói cách khác, không có tên Hàn Quốc đích thực cho công viên. Công viên này trước đây được gọi là "Ja Yeon Nông Won." Everland được chia thành 5 khu riêng biệt; Global Fair, Zoo-Topia, Mạo hiểm châu Âu, Magic Land và Mạo hiểm Mỹ. === Global Fair === Global Fair chủ yếu là một nơi dành cho ẩm thực, đồ lưu niệm. Có rất nhiều cửa hàng, và nhà hàng cũng như các dịch vụ đặc biệt như xe đẩy cho thuê và tủ khóa. === Zoo-Topia === Zoo-Topia là một phần động vật theo chủ đề. Có một vườn bách thú, khu cưỡi ngựa và biểu diễn thú. Ngoài ra còn có một sở thú nhỏ với chịu cực, sư tử biển, cụt, chịu, hổ và linh trưởng. Một xe bus safari có sẵn trong đó cho thấy động vật như liger và gấu chuyển vùng trong một môi trường sống kín. Du khách ngồi trong xe ngắm nhìn động vật. Amazon Express là một chuyến đi bè, nơi mà hầu hết du khách bị ướt đến mức độ khác nhau. Vườn bách thú cung cấp động vật như dê và cừu để làm thú nuôi. Kosik, một trong Zoo-topia của voi, thực hiện các tiêu đề khi ông đã chứng tỏ một khả năng bắt chước từ Hàn Quốc. === European Adventure === Adventure châu Âu có nhiều nhà hàng trong các phong cách khác nhau của châu Âu. Việc bắt chước phong cách kiến trúc khác nhau của châu Âu. Có một vườn hoa bao quanh bởi một huấn luyện, trò chơi và vườn. Một điểm thu hút yêu thích ở đây là Mystery Mansion, trong đó du khách có thể chụp ở những hồn ma. Trong tháng 3 năm 2008, một xe mới đặt tên là "T Express" đã được bổ sung. Đây là roller coaster-đầu tiên tại Hàn Quốc được xây dựng trên gỗ. === Magic Land === Magic đất là một mảng xây dựng của tòa nhà và rides. Có một phần gọi là Aesop's Village, nơi các nhân vật và chủ đề chủ yếu được rút ra từ những truyện ngụ ngôn của Aesop. Các Ferris bánh xe ở đây cung cấp một cái nhìn ngoạn mục của toàn bộ công viên. Ngoài ra còn có một chuyến đi đăng nhập, đi xe bay của tương lai, và robot đi xe, cùng với các nhà hàng và mái vòm. === American Adventure === Chủ đề từ lịch sử nước Mỹ được trưng bày trong khu vực này của công viên. Có rides Tây cũ, bao gồm "Eagle của Fortress đi xe thrill", và các hội chọi (trâu, bò). Trong Rock Ville chủ đề là những năm 1950 và âm nhạc của mình. Các đôi Rock Spin là một điểm thu hút chính là ban nhạc sống chơi gần Rolling X-Train, một roller coaster. == Everland Speedway == Everland Speedway là trường đua môtô đầu tiên của Hàn Quốc. Các trường đua thường xuyên tổ chức các sự kiện đua xe quy mô khác nhau. Từ đó đem đến những cơ hội được trải nghiệm và tận hưởng cuộc đua xe lái xe cho những người bình thường không có kinh nghiệm đua trước đó. Điều đó thể hiện rõ khi người ta thưởng thức các hoạt động này sẽ thấy những khuôn mặt hạnh phúc ở khắp mọi nơi. Các trường đua còn được biết đến là có nhiều tay đua khét tiếng tham gia đua xe vào ban đêm. == Caribbean Bay == Caribbean Bay là Công viên nước lớn nhất Hàn Quốc (2009). Khu vực ngoài trời không mở cả năm(không mở vào mùa đông và mùa mưa). Khu vực bên trong mở cả năm. Nó được chia thành 5 khu riêng biệt. === Wild River === Wild River (mở tại mùa hè năm 2008) là khu vực với các trò chơi nước cảm giác mạnh. Nó có 6 đường ống nước trượt bao gồm Tower Bumerango (thu hút người chơi nhất tại Caribbean Bay) === Sea Wave === Thu hút chính trong khu vực sóng biển nhân tạo. Nó tạo ra sóng biển nhân tạo cao 2,4m. Nó cũng có khu nghỉ ngơi đầy cát trắng. === Aquatic Center === Trung tâm Thủy sản là nhà ở khu vực Caribbean Bay. Nó có một số hồ bơi bình thường, 3 trượt nước, hồ bơi sóng trong nhà, spa, và phòng tắm hơi. Nó mở ra tất cả các năm. === Fortress === Fortress là nước để chơi vui vẻ. Nó có streaming hồ bơi (tên 'lười bơi'), Lướt sóng Ride, Phiêu lưu hồ bơi và spa. === Bay Slide === Bay Slide là cho đi xe nước. Nó có rides 6 ống và 3 xe trượt nước. == Thư viện ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Everland Official Homepage Everland: Official Seoul City Tourism
silesis hanoiensis.txt
Silesis hanoiensis là một loài bọ cánh cứng trong họ Elateridae. Loài này được Ôhira miêu tả khoa học năm 1973. == Chú thích == == Tham khảo == Dữ liệu liên quan tới Silesis hanoiensis tại Wikispecies
phi thanh vân.txt
Phi Thanh Vân (sinh năm 1982 tại Hà Nội) là một nữ diễn viên Việt Nam. == Tiểu sử == Phi Thanh Vân sinh tại Hà Nội. Đến năm 1990, gia đình cô chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Vì phẫu thuật thẩm mỹ nhiều can thiệp đến sắc đẹp nên cô có biệt danh là "nữ hoàng dao kéo". == Gia đình riêng == Phi Thanh Vân lấy chồng đầu hơn cô tới 15 tuổi. Chồng cô là người Pháp có tên Thierry Blanc sinh năm 1967. Trước khi cưới Thanh Vân, ông từng có một cuộc hôn nhân và con riêng. Trong cuộc hôn nhân này, Phi Thanh Vân vài lần bị sẩy thai và không có con với chồng. Năm 2012 hai người ly hôn. Năm 2014 Phi Thanh Vân công khai mối tình với bạn trai Nguyễn Bảo Duy trẻ hơn 2 tuổi. Anh này cũng từng lập gia đình và đã ly dị. Tháng 8 năm 2014 cô thông báo đã có thai với bạn trai, tuy nhiên tiếp tục bị sẩy. Năm 2014 hai người kết hôn. Đến tháng 2 năm 2016 hai người có con trai. == Phim đã tham gia == === Phim điện ảnh === Cô dâu đại chiến (2011) Long Ruồi (2011) Cột mốc 23 (2011) Thiên mệnh anh hùng (2012) Hiệp sĩ guốc vông (2013) Lửa Phật (2013) Bí mật lại bị mất (2014) Mất xác (2014) Trúng số (2015) === Phim truyền hình === KTX (2007) Cô gái xấu xí (2008) Những thiên thần áo trắng (2009) Kính thưa Osin (2010) Thẩm mỹ viện (2010) Nợ đa tình (2011) Chữ hiếu thời @ (2012) == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
các điều khoản hợp bang.txt
Các điều khoản Hợp bang (tiếng Anh: Articles of Confederation and Perpetual Union thông thường được gọi là Articles of Confederation) là hiến pháp định chế của liên hiệp gồm 13 tiểu quốc độc lập và có chủ quyền với cái tên chung là "Hoa Kỳ." Việc thông qua các điều khoản này (được đề nghị vào năm 1777) được hoàn thành vào năm 1781, chính thức kết hợp các tiểu quốc nhỏ bé này thành "Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ" với một chính quyền liên hiệp. Dưới các điều khoản này, các tiểu quốc này vẫn giữ lại tất cả các chức năng chính quyền mà họ chưa chịu từ bỏ để giao lại cho chính quyền trung ương. Bản thảo cuối cùng của Những Điều khoản được viết vào mùa hè năm 1777 và được Đệ nhị Quốc hội Lục địa phê chuẩn vào ngày 15 tháng 11 năm 1777 tại York, Pennsylvania sau một năm thảo luận. Trên thực tế thì bản thảo cuối cùng của Những Điều khoản đã được quốc hội sử dụng như hệ thống trên thực tế của chính phủ liên hiệp cho đến khi nó trở thành hợp pháp vào lúc được thông qua vào ngày 1 tháng 3 năm 1781. Những Điều khoản đã ấn định ra các luật lệ để điều hành liên hiệp các tiểu quốc mà sau này thành Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ. Liên hiệp này có khả năng gây chiến, thương lượng những thỏa ước ngoại giao, và giải quyết các vấn đề có liên quan đến các lãnh thổ nằm về phía tây; liên hiệp này không thể đúc tiền (mỗi tiểu quốc có đồng tiền riêng của mình) hoặc không thể mượn tiền cho dù mượn ở trong hay ngoài Hiệp chúng quốc. Một yếu tố quan trọng trong Những Điều khoản này là Điều khoản XIII quy định rằng "các quy định của chúng phải được mọi tiểu bang thi hành triệt để" và "Liên hiệp sẽ mãi là vĩnh viễn". Những Điều khoản này được các đại biểu được tuyển chọn từ các tiểu quốc của Đệ nhị Quốc hội Lục địa viết ra trong một hoàn cảnh cần thiết để có được "một kế hoạch liên hiệp nhằm bảo vệ nền tự do, chủ quyền và độc lập của Hiệp chúng quốc." Mặt dù nó đóng góp một vai trò quan trọng trong sự chiến thắng của cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ nhưng một nhóm nhà cải cách, được biết đến như là những người theo chủ nghĩa liên bang, cảm nhận rằng Những Điều khoản này thiếu những quy định cần thiết cho một chính phủ đủ hiệu quả. Đó chính là lý do chính dẫn đến việc chính thể liên bang được người ta tìm cách mang ra để thay thế chính thể liên hiệp. Lập luận chính yếu của những người ủng hộ một chính phủ trung ương mạnh hơn là rằng chính phủ liên hiệp thiếu thẩm quyền thu thuế và vì vậy chính phủ này phải yêu cầu đóng góp quỹ từ các tiểu quốc. Cũng như một số nhóm theo chủ nghĩa liên bang khác thì muốn một chính phủ mà có thể áp đặt các sắc thuế đồng bộ, quyền ban phát đất đai, và nhận trách nhiệm trả nợ chiến tranh còn thiếu. Một lập luận khác chống đối Các điều khoản Hợp bang là rằng chúng không giải quyết được tình trạng mất cân bằng giữa các tiểu quốc lớn và nhỏ trong tiến trình đưa ra quyết định ở ngành lập pháp. Vì hệ thống một tiểu quốc một phiếu bầu sơ đẳng nên các tiểu quốc lớn hơn được trông mong đóng góp nhiều hơn nhưng cũng chỉ được có một phiếu bầu. Các điều khoản Hợp bang được thay thế bởi Hiến pháp Hoa Kỳ. == Bối cảnh == Sự cấp bách mang tính chính trị đối với các thuộc địa gia tăng sự hợp tác bắt đầu kể từ khi có các cuộc chiến tranh giữa người bản thổ Mỹ và Pháp trong nữa thập niên 1750. Sự khởi đầu của cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ vào năm 1775 đã lôi kéo những thuộc địa khác nhau hợp tác trong nỗ lực ly khai khỏi Đế quốc Anh. Đệ nhị Quốc hội Lục địa bắt đầu vào năm 1775 đã hành động như bộ phận liên hiệp để điều hành cuộc chiến. Quốc hội đệ trình Những Điều khoản này cho các tiểu quốc thông qua vào năm 1777 trong lúc tiến hành cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ chống Vương quốc Anh. == Sự phê chuẩn == Quốc hội Lục địa bắt đầu tiến hành phê chuẩn Những Điều khoản vào năm 1777: Tài liệu này đã không thể chính thức trở thành có hiệu quả cho đến khi nó được phê chuẩn bởi tất cả mười ba thuộc địa. Tiểu bang đầu tiên phê chuẩn tài liệu này là Virginia vào ngày 16 tháng 12 năm 1777. Tiến trình thông qua tài liệu này bị kéo lê trong khoảng mấy năm vì bị một số tiểu bang từ chối phê chuẩn khi họ bị bắt buộc phải hủy bỏ tuyên bố chủ quyền trên các vùng đất ở phía tây. Maryland là tiểu bang cuối cùng không chịu phê chuẩn cho đến khi Virginia và New York đồng ý nhân nhượng tuyên bố chủ quyền của họ tại thung lũng sông Ohio. Hơn ba năm trôi qua trước khi Maryland phê chuẩn những điều khoản vào ngày 1 tháng 3 năm 1781. == Tóm tắt những điều khoản == Mặc dù Các điều khoản Hợp bang và Hiến pháp Hoa Kỳ được nhiều người tương tự xây dựng nên nhưng hai tài liệu rất khác nhau. Các điều khoản Hợp bang gốc dài năm trang gồm có 13 điều khoản, một kết luận, và một phần dành cho chữ ký. Danh sách sau đây gồm có những tóm tắt ngắn gọn cho mỗi điều khoản trong 13 điều khoản. Thiết lập tên của liên hiệp là "Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ." Khẳng định quyền của các tiểu bang trên quyền của chính phủ liên hiệp. Thí dụ "mỗi tiểu bang vẫn giữ chủ quyền, sự tự do và độc lập của mình, và mọi quyền lực, phạm vi quyền hạn, và quyền lợi mà không thuộc quyền đặc biệt của chính phủ liên hiệp." Thiết lập Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ như một hiệp hội gồm các tiểu bang thống nhất". . . vì lý do phòng vệ chung, bảo toàn sự tự do và phúc lợi tổng thể và hỗ tương của nhau, gắn kết với nhau để giúp đỡ nhau, cùng nhau chống lại mọi lực lượng chia rẽ hay tấn công họ. . . ." Xây dựng phong trào tự do–mọi người có thể đi lại tự do giữa các tiểu bang, trừ "người nghèo, giang hồ và những kẻ đào phạm." Tất cả mọi người đều được hưởng quyền lợi mà tiểu bang họ đi đến đã lập ra. Nếu ai gây ra tội ác tại một tiểu bang và bỏ trốn sang tiểu bang khác thì người đó sẽ bị dẫn độ về và bị xử tội tại nơi tiểu bang mà họ gây án. Dành cho mỗi tiểu bang một phiếu bầu tại Quốc hội Liên hiệp. Một tiểu bang có thể có một đoàn đại biểu từ 2 đến 7 thành viên. Các thành viên của quốc hội được bổ nhiệm bởi ngành lập pháp của tiểu bang; các cá nhân không thể phục vụ hơn 3 năm trong mỗi 6 năm. Chỉ có chính phủ trung ương mới được phép tiến hành quan hệ ngoại giao và tuyên chiến. Không tiểu bang nào có thể lập hải quân, quân đội hiện dịch hoặc tiến hành chiến tranh mà không được phép của quốc hội (mặt dù dân quân của tiểu bang được khuyến khích). Khi một quân đội được thành lập vì lý do tự vệ chung thì các đại tá và các cấp bậc quân sự khác dưới cấp đại tá sẽ do ngành lập pháp tiểu bang đề bạt. Chi tiêu của Hiệp chúng quốc sẽ được trả bằng ngân quỹ do lập pháp các tiểu bang quyên góp và nguồn quỹ này được tính theo tỉ lệ của từng tiểu bang dựa trên giá trị bất động sản. Ấn định quyền lực của chính phủ trung ương: tuyên chiến, ấn định về đo lường (gồm có tiền tệ), và quốc hội phục vụ như tòa án sau cùng đối với những vụ tranh chấp giữa các tiểu bang. Ấn định một Hội đồng Liên hiệp đóng vai trò như một chính phủ khi quốc hội không trong phiên họp. Cần có 9 tiểu bang đồng thuận để chấp nhận một tiểu bang mới gia nhập vào liên hiệp; chấp thuận trước Canada nếu như Canada xin phép gia nhập. Tái sát nhận rằng liên hiệp chấp nhận tiền nợ chiến tranh mà quốc hội chi dùng trước khi có Các điều khoản Hợp bang. Tuyên bố rằng Những Điều khoản là vĩnh viễn, và chỉ có thể thay đổi khi được quốc hội chấp thuận và được tất cả các ngành lập pháp ở tất cả các tiểu bang phê chuẩn. Vì đang còn chiến tranh với Vương quốc Anh, những người thực dân đã không muốn thiết lập một chính phủ quốc gia khác mạnh hơn. Đố kị nhau về vấn đề bảo vệ nền độc lập mới của mình nên các thành viên của Quốc hội Lục địa đã xây dựng nên một quốc hội độc viện lỏng lẻo để bảo vệ nền tự do cho từng tiểu bang riêng biệt, chớ không phải là toàn thể một khối thống nhất các tiểu bang. Thí dụ, trong khi kêu gọi quốc hội ra quyết định về chính sách tiền tệ và tuyển quân, Các điều khoản Hợp bang đã không cho ra một cơ chế nào để cưỡng bách các tiểu bang tuân thủ lệnh tuyển quân hoặc quyên góp tiền quỹ. Có những lúc, điều này đã làm cho quân đội nằm trong hoàn cảnh bất ổn như George Washington có viết trong một bức thư gởi thống đốc Massachusetts là John Hancock vào năm 1781. == Kết thúc chiến tranh == Hiệp định Paris (1783) kết liễu sự thù địch với Vương quốc Anh nhưng làm suy giảm quyền lực của quốc hội trong nhiều tháng vì có nhiều đại biểu từ các tiểu bang không đến dự các buổi họp của quốc hội. Tuy nhiên quốc hội không có thực lực để bắt buộc họ tham dự các buổi họp. Viết thư cho George Clinton vào tháng 9 năm 1783, George Washington phàn nàn: Quốc hội đã chưa đi đến quyết định tôn trọng lực lượng thời bình hay không và tôi cũng không thể biết được là khi nào họ sẽ quyết định. Vừa qua tôi đã có một cuộc họp với một ủy ban về vấn đề này và tôi đã lập lại ý kiến của tôi, nhưng xem ra không có đủ đại biểu để thảo luận các vấn đề trọng đại của quốc gia. == Chức năng == Các điều khoản Hợp bang giúp quốc hội điều hành Quân đội Lục địa, và cho phép 13 tiểu bang hợp thành một mặt trận thống nhất khi đối phó với các thế lực châu Âu. Tuy nhiên với vai trò là công cụ để xây dựng một chính phủ trung ương thời chiến thì chúng hoàn toàn là một sự thất bại: Sử gia Bruce Chadwick viết: George Washington là một trong những người đầu tiên cổ võ cho một chính phủ liên bang mạnh mẽ. Quân đội gần như bị giải tán trong nhiều lần suốt những mùa đông chiến tranh vì sự yếu kém của Quốc hội Lục địa.... Những đại biểu quốc hội không thể tuyển quân và phải gởi yêu cầu tuyển quân chính quy và dân quân đến các tiểu bang. Quốc hội có quyền ra lệnh sản xuất và mua quân dụng cho binh sĩ, nhưng không thể bắt buộc bất cứ ai thật sự cung cấp quân dụng và quân đội gần như bị bỏ đói trong mấy mùa đông chiến tranh. Vì chiến tranh du kích là một chiến thuật hiệu quả trong một cuộc chiến chống Đế quốc Anh nên một chính phủ trung ương được cho là không cần thiết để giành độc lập. Cùng lúc đó, Quốc hội Lục địa nhận lấy tất cả trách nhiệm cố vấn, và được George Washington lưu ý khi chỉ huy quân đội. Có thể nói rằng chính phủ thực sự đã hoạt động theo thể thức của một chính phủ liên bang trong suốt thời chiến và vì vậy đã che giấu những vấn đề mà Những Điều khoản hạn chế cho đến khi chiến tranh kết thúc Theo Những Điều khoản, Quốc hội có thể quyết định, nhưng không có quyền lực để bắt thực thi nghiêm túc. Có một điều kiện nhất thiết là phải được nhất trí chấp thuận trước khi Những Điều khoản này có thể được sửa đổi. Vì phần lớn việc làm luật xảy ra ở các tiểu bang cho nên chính phủ trung ương cũng bị giới hạn về quyền lực. Quốc hội bị từ chối quyền áp đặt thuế: nó chỉ có thể xin tài chính từ các tiểu bang. Các tiểu bang thông thường không bao giờ đáp ứng đầy đủ lời thỉnh cầu xin tài chánh, khiến cho Quốc hội Lục địa và Quân đội Lục địa thường xuyên bị thiếu hụt ngân quỹ. Quốc hội cũng bị từ chối quyền lực quy định về thương mại. Kết quả là các tiểu bang tiếp tục kiểm soát chính sách thương mại của mình. Các tiểu bang và cả quốc hội đều mắc nợ trong suốt cuộc chiến tranh. Cách làm sao để trả nợ đã trở thành một vấn đề lớn sau chiến tranh. Có một số tiểu bang đã trả xong tiền nợ của họ; tuy nhiên những người theo chủ nghĩa trung ương tập quyền muốn rằng chính phủ liên hiệp phải nhận lấy trách nhiệm hết số tiền nợ của các tiểu bang. Tuy nhiên, Quốc hội Lục địa đã thực hiện được hai động thái có tác dụng lâu dài. Sắc lệnh về đất đai năm 1785 đã tạo ra các điều khoản nói về quyền tư hữu và thị sát tổng thể đất đai. Nó được sử dụng trong suốt thời kỳ mở rộng lãnh thổ Mỹ sau này. Sắc lệnh Tây Bắc năm 1787 đã ghi nhận thỏa thuận của 13 tiểu bang ban đầu là từ bỏ việc tuyên bố chủ quyền đất đai nằm về phía tây, giúp mở đường cho các tiểu bang mới gia nhập liên hiệp. Khi cuộc chiến kết thúc thắng lợi, phần lớn Quân đội Lục địa bị giải tán. Một lực lượng quốc gia nhỏ được duy trì để giữ các tiền đồn biên giới và bảo vệ chống các cuộc tấn công của người bản thổ Mỹ. Trong lúc đó, mỗi tiểu bang lại có một quân đội riêng (hoặc dân quân), và 11 trong số các tiểu bang có lực lượng hải quân. Những lời hứa thời chiến tranh về việc trao giải thưởng và ban phát đất đai vì phục vụ trong quân đội đã không được đáp ứng. Năm 1783, George Washington đã xoa dịu được một âm mưu phản loạn ở Newburgh, New York nhưng những vụ náo loạn của các cựu chiến binh Pennsylvania không được trả lương buộc Quốc hội tạm thời rời thành phố Philadelphia. == Chủ tịch quốc hội == Danh sách sau đây là những người đã lãnh đạo Quốc hội Lục địa dưới Các điều khoản Hợp bang với tư cách là chủ tịch quốc hội. Theo Những Điều khoản, chủ tịch là một viên chức cầm quyền tại quốc hội, nắm giữ nội các (Hội đồng Liên hiệp) khi quốc hội không nhóm họp, và thực hiện các chức năng hành chánh khác. Tuy nhiên ông ta không phải là một viên chức hành chánh trưởng như các Tổng thống Hoa Kỳ sau này đã và đang làm. Tất cả những phận sự mà chủ tịch thực hiện là nằm dưới sự quản lý và phục vụ quốc hội. Samuel Huntington (1 tháng 3 năm 1781– 9 tháng 7 năm 1781) Thomas McKean (10 tháng 7 năm 1781–4 tháng 11 năm 1781) John Hanson (5 tháng 11 năm 1781– 3 tháng 11 năm 1782) Elias Boudinot (4 tháng 11 năm 1782– 2 tháng 11 năm 1783) Thomas Mifflin (3 tháng 11 năm 1783– 31 tháng 10 năm 1784) Richard Henry Lee (30 tháng 11 năm 1784– 6 tháng 11 năm 1785) John Hancock (23 tháng 11 năm 1785– 29 tháng 5 năm 1786) Nathaniel Gorham (6 tháng 6 năm 1786– 5 tháng 11 năm 1786) Arthur St. Clair (2 tháng 2 năm 1787– 4 tháng 11 năm 1787) Cyrus Griffin (22 tháng 1 năm 1788– 2 tháng 11 năm 1788) == Hình ảnh == == Xem thêm == Lịch sử Hoa Kỳ (1776-1789) Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ Hiến pháp Hoa Kỳ Tuyên ngôn nhân quyền Hoa Kỳ == Ghi chú == == Tham khảo == R. B. Bernstein, "Parliamentary Principles, American Realities: The Continental and Confederation Congresses, 1774-1789," in Inventing Congress: Origins & Establishment Of First Federal Congress ed by Kenneth R. Bowling and Donald R. Kennon (1999) pp 76–108 Burnett, Edmund Cody. The Continental Congress: A Definitive History of the Continental Congress From Its Inception in 1774 to March, 1789 (1941) Chadwick, Bruce. George Washington's War. (2005) Farber, Daniel. Lincoln's Constitution. (2003) ISBN 0-226-23793-1 Barbara Feinberg, The Articles Of Confederation (2002). [for middle school children.] Hendrickson, David C., Peace Pact: The Lost World of the American Founding. (2003) ISBN 0-7006-1237-8 Robert W. Hoffert, A Politics of Tensions: The Articles of Confederation and American Political Ideas (1992). Lucille E. Horgan. Forged in War: The Continental Congress and the Origin of Military Supply and Acquisition Policy (2002) Jensen, Merrill (1959), The Articles of Confederation: An Interpretation of the Social-Constitutional History of the American Revolution, 1774-1781 Jensen, Merrill (1943), The Idea of a National Government During the American Revolution 58 (3), Political Science Quarterly, tr. 356–79, ISSN 0032-3195 Calvin Jillson and Rick K. Wilson. Congressional Dynamics: Structure, Coordination, and Choice in the First American Congress, 1774-1789. (1994) McDonald, Forrest (1986), Novus Ordo Seclorum: The Intellectual Origins of the Constitution, University Press of Kansas, ISBN 0700603115 Andrew C. Mclaughlin, A Constitutional History of the United States (1935) online version Pauline Maier, American Scripture: Making the Declaration of Independence (1998). Jackson T. Main, Political Parties before the Constitution. University of North Carolina Press, 1974 Phelps, Glenn A. "The Republican General" in "George Washington Reconsidered." edited by Don Higginbotham. (2001) ISBN 0-8139-2005-1 Pressly, Thomas J., "Bullets and Ballots: Lincoln and the ‘Right of Revolution’" The American Historical Review, Vol. 67, No. 3. (Apr., 1962) Jack N. Rakove, The Beginnings of National Politics: An Interpretive History of the Continental Congress (1982). Jack N. Rakove, "The Collapse of the Articles of Confederation," in The American Founding: Essays on the Formation of the Constitution. Ed by J. Jackson Barlow, Leonard W. Levy and Ken Masugi. Greenwood Press. 1988. pp 225–45 ISBN 0-313-25610-1 Remini, Robert V. Andrew Jackson and the Course of American Democracy, 1833-1845. (1984) ISBN 0-06-015279-6 == Đọc thêm == Klos, Stanley L. (2004). President Who? Forgotten Founders. Pittsburgh, Pennsylvania: Evisum, Inc. tr. 261. ISBN 0-9752627-5-0. == Liên kết ngoài == Text Version of the Articles of Confederation Articles of Confederation and Perpetual Union Articles of Confederation and related resources, Library of Congress Today in History: November 15, Library of Congress United States Constitution Online - The Articles of Confederation Free Download of Articles of Confederation Audio Audio narration (mp3) of the Articles of Confederation at Americana Phonic The Articles of Confederation, Chapter 45 (see page 253) of Volume 4 of Conceived in Liberty by Murray Rothbard, in PDF format.
silvisaurus.txt
Silvisaurus là một chi khủng long, được Eaton mô tả khoa học năm 1960. == Xem thêm == Danh sách khủng long == Chú thích ==
biển đỏ.txt
Nếu Hồng Hải chuyển hướng về đây, xin xem các mục từ khác có cùng tên ở Hồng Hải (định hướng). Biển Đỏ còn gọi là Hồng Hải hay Xích Hải (tiếng Ả Rập البحر الأحم Baḥr al-Aḥmar, al-Baḥru l-’Aḥmar; tiếng Hêbrơ ים סוף Yam Suf; tiếng Tigrigna ቀይሕ ባሕሪ QeyH baHri) có thể coi là một vịnh nhỏ của Ấn Độ Dương nằm giữa châu Phi và châu Á. Biển này thông ra đại dương ở phía nam thông qua eo biển Bab-el-Mandeb và vịnh Aden. Tại phía bắc là bán đảo Sinai, vịnh Aqaba và vịnh Suez (nối vào kênh đào Suez). Biển này dài khoảng 1.900 km và chỗ rộng nhất là trên 300 km. Đáy biển có độ sâu tối đa 2.500 m ở điểm giữa rãnh trung tâm và có độ sâu trung bình 500 m, nhưng nó cũng có thềm lục địa nông và lớn về diện tích, là đáng chú ý đối với các sinh vật biển và san hô. Diện tích bề mặt khoảng 438.000–450.000 km². Biển này là nơi sinh sống của trên 1.000 loài động vật không xương sống và 200 loại san hô cứng và mềm. Biển này là một phần của Đại Thung Lũng. Hồng Hải là biển nhiệt đới nằm cao nhất về phía bắc của thế giới. == Tên gọi == Biển này đã từng được gọi là "vịnh Ả Rập" trong phần lớn các tài liệu của người châu Âu cho đến tận thế kỷ 20. Chúng có nguồn gốc từ các nguồn tài liệu Hy Lạp cổ. Cả Herodotus, Straban và Ptolemy đều gọi vùng nước này là "Arabicus Sinus", trong khi giữ thuật ngữ "biển Erythrias" (Hồng Hải) cho các vùng nước xung quanh phía nam bán đảo Ả Rập, mà ngày nay người ta biết nó là Ấn Độ Dương. Tên gọi của biển này không phải để thể hiện màu nước của nó. Nó có thể là sự thể hiện cho sự nở rộ theo mùa của một loại tảo lam có màu đỏ Trichodesmium erythraeum gần với nước bề mặt. Một số người khác cho rằng nó dùng để chỉ các dãy núi giàu khoáng chất màu đỏ gần đó được gọi là "הרי אדום" (harei edom). Edom, có nghĩa là "nước da hồng hào", cũng là một tên gọi khác trong tiếng Do Thái để chỉ khuôn mặt có màu đỏ của Esau trong Kinh Thánh (anh của Jacob) và dân tộc là hậu duệ của ông, người Edom, và điều này lại đưa ra một khả năng khác của tên gọi Hồng Hải. Cũng có sự suy đoán là tên gọi Hồng Hải có được là do dịch sai của cái mà nó gọi là Hồng Hải trong câu chuyện Sách Xuất Hành của Kinh Thánh. == Các đặc trưng tự nhiên == Nhiệt độ của nước bề mặt được duy trì tương đối ổn định ở mức 21-25°C và tầm nhìn cũng như nhiệt độ được duy trì rất tốt cho đến độ sâu khoảng 200 m, nhưng biển này còn được biết đến như là có những trận gió mạnh và các dòng chảy khu vực hay thay đổi. Biển này được hình thành cách đây khoảng 30 triệu năm trước do sự tách ra của châu Phi khỏi bán đảo Ả Rập. Biển này hiện nay vẫn đang mở rộng ra và ở đây có các núi lửa ngầm nhỏ ở các phần sâu nhất, người ta còn cho rằng biển này đến một lúc nào đó sẽ trở thành đại dương (như mô hình của Tuzo Wilson giả lập). Theo các nhà địa chất thì đôi khi trong thời gian của phân đại đệ tam eo biển Bab el Mandeb đã từng bị đóng kín và Hồng Hải khi đó đã là một đầm lầy nước mặn khô và nóng. == Du lịch == Biển này được biết đến vì các khu vực dưới đáy biển rất ngoạn mục mà du khách có thể lặn xuống để xem, chẳng hạn như Ras Mohammed, Elphinstone, the Brothers và đảo Rocky ở Ai Cập, và các khu vực ít nổi tiếng hơn ở Sudan như Sanganeb, Abington, Angarosh và Shaab Rumi (xem ảnh trên đây). Hồng Hải được "phát hiện" như là một điểm đến cho các du khách thích lặn bởi Hans Hass trong những năm thập niên 1950, và bởi Jacques-Yves Cousteau sau này. == Các nước ven bờ == Các nước ven bờ Hồng Hải có: Bờ biển phía bắc: Ai Cập Israel Jordan Bờ biển phía tây: Sudan Ai Cập Bờ biển phía đông: Ả Rập Saudi Yemen Bờ biển phía nam: Djibouti Eritrea Somalia == Các thành phố == Các thành phố, thị xã trên bờ Hồng Hải có: Assab, Massawa, Hala'ib, Port Sudan, Port Safaga, Hurghada, El Suweis, Sharm el Sheikh, Eilat, Aqaba, Dahab, Jeddah, Al Hudaydah, Marsa Alam. == Xem thêm == Chuyến đi vượt Hồng Hải – viết về chuyến đi của Moses và những người Do Thái trong Sách Xuất hành Periplus Maris Erythraei – viết về cuốn sách miêu tả tuyến hàng hải và các cơ hội buôn bán dọc Hồng Hải của người Ai Cập gốc La Mã cổ đại. == Tham khảo ==
vàng.txt
Vàng là tên nguyên tố hoá học có ký hiệu Au (L. aurum) và số nguyên tử 79 trong bảng tuần hoàn. Là kim loại chuyển tiếp (hoá trị 3 và 1) mềm, dễ uốn, dễ dát mỏng, màu vàng và chiếu sáng, vàng không phản ứng với hầu hết các hoá chất nhưng lại chịu tác dụng của nước cường toan (aqua regia) để tạo thành axit cloroauric cũng như chịu tác động của dung dịch xyanua của các kim loại kiềm. Kim loại này có ở dạng quặng hoặc hạt trong đá và trong các mỏ bồi tích và là một trong số kim loại đúc tiền. Vàng được dùng làm một tiêu chuẩn tiền tệ ở nhiều nước và cũng được sử dụng trong các ngành trang sức, nha khoa và điện tử. Mã tiền tệ ISO của nó là XAU. == Các đặc tính đáng lưu ý == Vàng là nguyên tố kim loại có màu vàng khi thành khối, khi dạng bột vàng nguyên chất 100% có màu đen, hồng ngọc hay tía khi được cắt nhuyễn. Nó là kim loại dễ uốn dát nhất được biết. Thực tế, 1 g vàng có thể được dập thành tấm 1 m², hoặc 1 ounce thành 300 feet². Là kim loại mềm, vàng thường tạo hợp kim với các kim loại khác để làm cho nó cứng thêm. Vàng có tính dẫn nhiệt và điện tốt, không bị tác động bởi không khí và phần lớn hoá chất (chỉ có bạc và đồng là những chất dẫn điện tốt hơn). Nó không bị ảnh hưởng về mặt hoá học bởi nhiệt, độ ẩm, ôxy và hầu hết chất ăn mòn; vì vậy nó thích hợp để tạo tiền kim loại và trang sức. Các halogen có tác dụng hoá học với vàng, còn nước cường toan thì hoà tan nó. Tuy nhiên, axit selenic đậm đặc nóng ăn mòn vàng tạo thành vàng selenat. Màu của vàng rắn cũng như của dung dịch keo từ vàng (có màu đậm, thường tía) được tạo ra bởi tần số plasmon của nguyên tố này nằm trong khoảng thấy được, tạo ra ánh sáng vàng và đỏ khi phản xạ và ánh sáng xanh khi hấp thụ. Vàng tự nhiên có chứa khoảng 8 đến 10% bạc, nhưng thường nhiều hơn thế. Hợp kim tự nhiên với thành phần bạc cao (hơn 20%) được gọi là electrum. Khi lượng bạc tăng, màu trở nên trắng hơn và trọng lượng riêng giảm. Vàng tạo hợp kim với nhiều kim loại khác; hợp kim với đồng cho màu đỏ hơn, hợp kim với sắt màu xanh lá, hợp kim với nhôm cho màu tía, với bạch kim cho màu trắng, bitmut tự nhiên với hợp kim bạc cho màu đen. Đồ trang sức được làm bằng các kết hợp vàng nhiều màu được bán cho du khách ở miền Tây nước Mĩ được gọi là "vàng Black Hills". Trạng thái ôxi hoá thường gặp của vàng gồm +1 (vàng (I) hay hợp chất aurơ) và +3 (vàng (III) hay hợp chất auric). Ion vàng trong dung dịch sẵn sàng được khử và kết tủa thành vàng kim loại nếu thêm hầu như bất cứ kim loại nào khác làm tác nhân khử. Kim loại thêm vào được ôxi hoá và hoà tan cho phép vàng có thể được lấy khỏi dung dịch và được khôi phục ở dạng kết tủa rắn. == Đồng vị == Vàng trong tự nhiên có 1 đồng vị ổn định là 197Au. == Sử dụng và Ứng dụng == Vàng nguyên chất quá mềm không thể dùng cho việc thông thường nên chúng thường được làm cứng bằng cách tạo hợp kim với bạc, đồng và các kim loại khác. Vàng và hợp kim của nó thường được dùng nhiều nhất trong ngành trang sức, tiền kim loại và là một chuẩn cho trao đổi tiền tệ ở nhiều nước. Vì tính dẫn điện tuyệt vời, tính kháng ăn mòn và các kết hợp lý tính và hóa tính mong muốn khác, vàng nổi bật vào cuối thế kỷ 20 như là một kim loại công nghiệp thiết yếu. === Trao đổi tiền tệ === Vàng đã được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới như một phương tiện chuyển đổi tiền tệ, hoặc bằng cách phát hành và công nhận các đồng xu vàng hay các số lượng kim loại khác, hay thông qua các công cụ tiền giấy có thể quy đổi thành vàng bằng cách lập ra bản vị vàng theo đó tổng giá trị tiền được phát hành được đại diện bởi một lượng vàng dự trữ. Tuy nhiên, số lượng vàng trên thế giới là hữu hạn và việc sản xuất không gia tăng so với nền kinh tế thế giới. Ngày nay, sản lượng khai thác vàng đang sụt giảm. Với sự tăng trưởng mạnh của các nền kinh tế trong thế kỷ 20, và sự gia tăng trao đổi quốc tế, dự trữ vàng thế giới và thị trường của nó đã trở thành một nhánh nhỏ của toàn bộ các thị trường và các tỷ lệ trao đổi tiền tệ cố định với vàng đã trở nên không thể duy trì. Ở đầu Thế chiến I các quốc gia tham gia chiến tranh đã chuyển sang một bản vị vàng nhỏ, gây lạm phát cho đồng tiền tệ của mình để có tiền phục vụ chiến tranh. Sau Thế chiến II vàng bị thay thế bởi một hệ thống tiền tệ có thể chuyển đổi theo hệ thống Bretton Woods. Bản vị vàng và tính chuyển đổi trực tiếp của các đồng tiền sang vàng đã bị các chính phủ trên thế giới huỷ bỏ, bị thay thế bằng tiền giấy. Thụy Sĩ là quốc gia cuối cùng gắn đồng tiền của mình với vàng; vàng hỗ trợ 40% giá trị của tiền cho tới khi Thụy Sĩ gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tế năm 1999. Hàm lượng vàng trong hợp kim được xác định bằng kara (k). Vàng nguyên chất được định danh là 24k. Các đồng xu vàng được đưa vào lưu thông từ năm 1526 tới thập niên 1930 đều là hợp chất vàng tiêu chuẩn 22k được gọi là vàng hoàng gia, vì độ cứng. === Đầu tư === Nhiều người sở hữu vàng và giữ chúng dưới hình thức các thỏi nén hay thanh như một công cụ chống lại lạm phát hay những đợt khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên, một số nhà kinh tế không tin việc giữ vàng là một công cụ chống lạm phát hay mất giá tiền tệ. Mã tiền tệ ISO 4217 của vàng là XAU. Các thỏi vàng hiện đại cho mục đích đầu tư hay cất trữ không yêu cầu các tính chất cơ khí tốt; chúng thường là vàng nguyên chất 24k, dù American Gold Eagle của Mỹ, gold sovereign của Anh, và Krugerrand của Nam Phi tiếp tục được đúc theo chất lượng 22k theo truyền thống. Đồng xu Canadian Gold Maple Leaf phát hành đặc biệt có chứa lượng vàng nguyên chất cao nhất so với bất kỳ thỏi vàng nào, ở mức 99,999% hay 0,99999, trong khi đồng xu Canadian Gold Maple Leaf phát hành phổ thông có độ nguyên chất 99,99%. Nhiều đồng xu vàng nguyên chất 99,99% khác cũng có trên thị trường. Australian Gold Kangaroos lần đầu tiên được đúc năm 1986 như là Australian Gold Nugget nhưng đã thay đổi thiết kế mặt trái vào năm 1989. Ngoài ra, có nhiều đồng xu thuộc loạt Australian Lunar Calendar và Austrian Philharmonic. Năm 2006, Sở đúc tiền Hoa Kỳ bắt đầu sản xuất đồng xu vàng American Buffalo với độ nguyên chất 99,99%. === Nữ trang === Vì tính mềm của vàng nguyên chất (24k), nó thường được pha trộn với các kim loại căn bản khác để sử dụng trong công nghiệp nữ trang, làm biến đổi độ cứng và tính mềm, điểm nóng chảy, màu sắc và các đặc tính khác. Các hợp kim với độ cara thấp, thường là 22k, 18k, 14k hay 10k, có chứa nhiều đồng, hay các kim loại cơ bản khác, hay bạc hoặc paladi hơn trong hỗn hợp. Đồng là kim loại cơ sở thường được dùng nhất, khiến vàng có màu đỏ hơn. Vàng 18k chứa 25% đồng đã xuất hiện ở đồ trang sức thời cổ đại và đồ trang sức Nga và có kiểu đúc đồng riêng biệt, dù không phải là đa số, tạo ra vàng hồng. Hợp kim vàng-đồng 14k có màu sắc gần giống một số hợp kim đồng, và cả hai đều có thể được dùng để chế tạo các biểu trưng cho cảnh sát và các ngành khác. Vàng xanh có thể được chế tạo bởi một hợp kim với sắt và vàng tía có thể làm bằng một hợp kim với nhôm, dù hiếm khi được thực hiện trừ khi trong trường hợp đồ trang sức đặc biệt. Vàng xanh giòn hơn và vì thế khó chế tác hơn trong ngành trang sức. Các hợp kim vàng 18 và 14 carat chỉ pha trộn với bạc có màu xanh-vàng nhất và thường được gọi là vàng xanh. Các hợp kim vàng trắng có thể được làm với paladi hay niken. Vàng trắng 18 carat chứa 17,3% niken, 5,5% kẽm và 2,2% đồng có màu bạc. Tuy nhiên, niken là chất độc, và độ giải phóng của nó bị luật pháp quản lý ở châu Âu. Các loại hợp kim vàng trắng khác cũng có thể thực hiện với paladi, bạc và các kim loại trắng khác, nhưng các hợp kim paladi đắt hơn các hợp kim dùng niken. Các hợp kim vàng trắng có độ nguyên chất cao có khả năng chống ăn mòn hơn cả bạc nguyên chất hay bạc sterling. Hội tam điểm Nhật Mokume-gane đã lợi dụng sự tương phản màu sắc giữa màu sắc các hợp kim vàng khi dát mỏng để tạo ra các hiệu ứng kiểu thớ gỗ. === Y học === Thời Trung Cổ, vàng thường được xem là chất có lợi cho sức khoẻ, với niềm tin rằng một thứ hiếm và đẹp phải là thứ tốt cho sức khoẻ. Thậm chí một số người theo chủ nghĩa bí truyền và một số hình thức y tế thay thế khác coi kim loại vàng có sức mạnh với sức khoẻ. Một số loại muối thực sự có tính chất chống viêm và đang được sử dụng trong y tế để điều trị chứng viêm khớp và các loại bệnh tương tự khác. Tuy nhiên, chỉ các muối và đồng vị của vàng mới có giá trị y tế, còn khi là nguyên tố (kim loại) vàng trơ với mọi hoá chất nó gặp trong cơ thể. Ở thời hiện đại, tiêm vàng đã được chứng minh là giúp làm giảm đau và sưng do thấp khớp và lao. Các hợp kim vàng đã được sử dụng trong việc phục hồi nha khoa, đặc biệt là răng, như thân răng và cầu răng vĩnh viễn. Tính dễ uốn của các hợp kim vàng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo bề mặt kết nối răng và có được các kết quả nói chung tốt hơn các loại khác làm bằng sứ. Việc sử dụng thân răng vàng với các răng có số lượng nhiều như răng cửa đã được ưa chuộng ở một số nền văn hoá nhưng lại không được khuyến khích ở các nền văn hoá khác. Sự pha chế vàng keo (chất lỏng gồm các phân tử nano vàng) trong nước có màu rất đỏ, và có thể được thực hiện với việc kiểm soát kích cỡ các phân tử lên tới một vài phần chục nghìn nanomét bằng cách giảm vàng clorua với các ion citrat hay ascorbat. Vàng keo được sử dụng trong nghiên cứu y khoa, sinh học và khoa học vật liệu. Kỹ thuật miễn dịch vàng (immunogold) khai thác khả năng của các phần tử vàng hấp thụ các phân tử protein lên các bên mặt của chúng. Các phần tử vàng keo được bao phủ với các kháng thể riêng biệt có thể được dùng để phát hiện sự hiện diện và vị trí của các kháng nguyên trên bề mặt của tế bào. Trong các phần siêu mỏng của mô được quan sát bởi kính hiển vi electron, các đoạn immunogold xuất hiện với mật độ cực lớn bao quanh các điểm ở vị trí của kháng thể. Vàng keo cũng là hình thức vàng được sử dụng như sơn vàng trong ngành gốm sứ trước khi nung. Vàng, hay các hợp kim của vàng và paladi, được áp dụng làm lớp dẫn cho các mẫu sinh học và các vật liệu phi dẫn khác như nhựa dẻo tổng hợp và thủy tinh để được quan sát trong một kính hiển vi electron quét. Lớp phủ, thường được tạo bởi cách phun tia bằng một luồng plasma agon, có ba vai trò theo cách ứng dụng này. Tính dẫn điện rất cao của vàng dẫn điện tích xuống đất, và mật độ rất cao của nó cung cấp năng lượng chặn cho các electron trong chùm electron, giúp hạn chế chiều sâu chùm electron xâm nhập vào trong mẫu. Điều này cải thiện độ nét của điểm và địa hình bề mặt mẫu và tăng độ phân giải không gian của hình ảnh. Vàng cũng tạo ra một hiệu suất cao của các electron thứ hai khi bị bức xạ bởi một chùm electron, và các electron năng lượng thấp đó thường được dùng làm nguồn tín hiệu trong kính hiển vi quét electron. Đồng vị vàng-198, (bán rã 2,7 ngày) được dùng trong một số phương pháp điều trị ung thư và để điều trị một số loại bệnh. === Thực phẩm và đồ uống === Vàng có thể được sử dụng trong thực phẩm và có số E 175. Vàng lá, bông hay bụi được dùng trên và trong một số thực phẩm cho người sành ăn, đáng chú ý nhất là các đồ bánh kẹo và đồ uống như thành phần trang trí. Vàng lá đã được giới quý tộc thời châu Âu Trung Cổ sử dụng như một thứ đồ trang trí cho thực phẩm và đồ uống, dưới dạng lá, bông hay bụi, hoặc để thể hiện sự giàu có của chủ nhà hay với niềm tin rằng một thứ có giá trị và hiếm sẽ có lợi cho sức khoẻ con người. Lá vàng và bạc thỉnh thoảng được dùng trong các đồ bánh kẹo ở Nam Á như barfi. Goldwasser (nước vàng) là một đồ uống thảo mộc truyền thống được sản xuất tại Gdańsk, Ba Lan, và Schwabach, Đức, và có chứa những bông vàng lá. Cũng có một số loại cocktail đắt giá (~$1.000) có chứa bông vàng lá. Tuy nhiên, bởi vàng kim loại trơ với mọi chất hoá học trong cơ thể, nó không mang lại hương vị cũng không có hiệu quả dinh dưỡng nào và không làm thay đổi gì cho cơ thể. === Công nghiệp === Hàn vàng được dùng để gắn kết các thành phần vàng trang sức bằng hàn cứng nhiệt độ cao hay hàn vảy cứng. Nếu tác phẩm nghệ thuật đòi hỏi dấu xác nhận tiêu chuẩn chất lượng, tuổi của vàng hàn phải trùng khớp với tuổi vàng của tác phẩm, và công thức hợp kim hầu hết được chế tạo theo tiêu chuẩn tuổi vàng công nghiệp để màu sắc phù hợp với vàng vàng và vàng trắng. Hàn vàng thường được thực hiện ở ít nhất ba khoảng nhiệt độ nóng chảy được gọi là Dễ, Trung bình và Khó. Bằng cách đầu tiên sử dụng vàng hàn khó có điểm nóng chảy cao, sau đó là các loại vàng hàn có điểm nóng chảy thấp dần, thợ vàng có thể lắp ráp các đồ vật phức tạp với nhiều điểm hàn tách biệt. Vàng có thể được chế tạo thành sợi chỉ và được dùng trong thêu thùa. Vàng mềm và có thể uốn, có nghĩa nó có thể được chế tạo thành sợi dây rất mỏng và có thể được dát thành tấm rất mỏng gọi là lá vàng. Vàng tạo màu đỏ sâu khi được dùng làm tác nhân màu trong sản xuất thủy tinh nam việt quất (hay thủy tinh rubi vàng). Trong nhiếp ảnh, các chất liệu màu bằng vàng được dùng để chuyển đổi màu của các điểm trắng và đen trên giấy ảnh thành màu xám và xanh, hay để tăng sự ổn định của chúng. Được dùng trong in tông nâu đỏ, chất màu vàng tạo ra các tông đỏ. Kodak đã công bố các công thức cho nhiều kiểu tông màu từ vàng, trong đó sử dụng vàng như một loại muối clorua. Bởi vàng là một chất phản xạ tốt với bức xạ điện từ như hồng ngoại và ánh sáng nhìn thấy được cũng như các sóng radio, nó được dùng làm lớp phủ bảo vệ cho nhiều vệ tinh nhân tạo, trong các tấm bảo vệ nhiệt hồng ngoại và mũ của các nhà du hành vũ trụ và trên các máy bay chiến tranh điện tử như EA-6B Prowler. Vàng được dùng như lớp phản xạ trên một số đĩa CD công nghệ cao. Ô tô có thể sử dụng vàng để tản nhiệt. McLaren sử dụng vàng lá trong khoang động cơ model F1 của mình. Vàng có thể được sản xuất mỏng tới mức nó dường như trong suốt. Nó được dùng trong một số cửa sổ buồng lái máy bay để làm tan băng hay chống đóng băng bằng cách cho một dòng điện chạy qua đó. Nhiệt tạo ra bởi kháng trở của vàng đủ để khiến băng không thể hình thành. === Điện tử === Mật độ electron tự do trong vàng kim loại là 5,90×1022 cm−3. Vàng có tính dẫn điện rất cao, và đã được dùng làm dây dẫn điện trong một số thiết bị tiêu thụ nhiều điện năng (bạc thậm chí có độ dẫn điện trên thể tích cao hơn, nhưng vàng có ưu điểm chống ăn mòn). Ví dụ, các dây dẫn điện bằng vàng đã được sử dụng trong một số thực nghiệm nguyên tử thuộc Dự án Manhattan, nhưng những dây dẫn bạc dòng lớn cũng được sử dụng trong các nam châm tách đồng vị calutron của dự án này. Dù vàng bị clo tự do tấn công, tính dẫn điện tốt của nó và khả năng chống ôxi hoá và ăn mòn nói chung trong các môi trường khác (gồm cả khả năng kháng axít không clo) đã khiến nó được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp điện tử bởi chỉ một lớp phủ vàng mỏng có thể đảm bảo kết nối điện mọi dạng, vì thế đảm bảo độ kết nối tốt. Ví dụ, vàng được dùng làm thiết bị nối của các dây dẫn điện đắt đỏ, như audio, video và cáp USB. Lợi ích của việc sử dụng vàng làm kim loại kết nối so với kim loại khác như thiếc đang bị tranh luận dữ dội. Các kết nối vàng thường bị các chuyên gia nghe nhìn chỉ trích là không cần thiết với hầu hết khách hàng và bị coi chỉ đơn giản là một trò marketing. Tuy nhiên, việc sử dụng vàng trong các thiết bị điện tử kiểu trượt khác trong các môi trường rất ẩm ướt và ăn mòn, và cho các tiếp xúc với chi phí hư hỏng lớn (một số máy tính, thiết bị thông tin, tàu vũ trụ, động cơ máy bay phản lực) vẫn rất phổ biến. Bên cạnh tiếp xúc điện kiểu trượt, vàng cũng được dùng trong tiếp xúc điện bởi nó có khả năng chống ăn mòn, độ dẫn điện, mềm và không độc. Các công tắc kiểu bấm nói chung dễ bị ăn mòn hơn công tắc trượt. Các dây dẫn bằng vàng mỏng được dùng để kết nối các thiết bị bán dẫn với gói thiết bị của chúng qua một quá trình được gọi là kết nối dây. === Hoá học === Vàng bị tấn công và hoà tan trong các dung dịch kiềm hay natri xyanua, và xyanua vàng là chất điện phân được dùng trong kỹ thuật mạ điện vàng lên các kim loại cơ sở và kết tủa điện. Các dung dịch vàng clorua (axit cloroauric) được dùng để chế tạo vàng keo bằng cách khử với các ion citrat hay ascorbat. Vàng clorua và vàng oxit được dùng để chế tạo thuỷ tinh màu đỏ hay thuỷ tinh nam việt quất, mà giống như huyền phù vàng keo, có chứa các hạt vàng nano hình cầu với kích cỡ đồng đều. === Đơn vị đo lường === Xem thêm Hệ đo lường kim hoàn Trong ngành kim hoàn ở Việt Nam, khối lượng của vàng được tính theo đơn vị là lượng (lượng hay lạng) hoặc chỉ. Một lượng vàng nặng 37,50 g. Một chỉ bằng 1/10 lượng vàng. Trên thị trường thế giới, vàng thường được đo lường theo hệ thống khối lượng troy, trong đó 1 troy ounce (ozt) tương đương 31,1034768 gam. Tuổi (hay hàm lượng) vàng được tính theo thang độ K (kara). Một kara tương đương 1/24 vàng nguyên chất. Vàng 99,99% tương đương với 24K. Khi ta nói tuổi vàng là 18K thì nó tương đương với hàm lượng vàng trong mẫu xấp xỉ 75%. Hiện nay ở Việt Nam người ta thường kinh doanh vàng dưới dạng các bánh, thỏi, nhẫn, dây chuyền, vòng, lắc với hàm lượng vàng chủ yếu là 99,999%; 99,99%; 99,9%; 99% hay 98%. Vàng dùng trong ngành trang sức thông thường còn gọi là vàng tây có tuổi khoảng 18K. == Lịch sử == Vàng đã được biết tới và sử dụng bởi các nghệ nhân từ thời đồng đá. Các đồ tạo tác bằng vàng ở Balkan xuất hiện từ thiên niên kỷ 4 trước Công Nguyên, như những đồ vật được tìm thấy tại Varna Necropolis. Các đồ tạo tác bằng vàng như những chiếc mũ vàng và đĩa Nebra xuất hiện ở Trung Âu từ thiên niên kỷ 2 trước Công Nguyên tại Thời đồ đồng. Chữ tượng hình Ai Cập ngay từ năm 2600 TCN đã miêu tả vàng, mà vua Tushratta của Mitanni tuyên bố là "nhiều hơn cát bụi" tại Ai Cập. Ai Cập và đặc biệt là Nubia có các nguồn tài nguyên để biến họ trở thành các trung tâm chế tạo vàng trong hầu hết lịch sử. Bản đồ sớm nhất được biết tới là Bản đồ giấy cói Turin và thể hiện sơ đồ của một mỏ vàng tại Nubia cùng với những chỉ dẫn địa lý địa phương. Các phương thức chế biến ban đầu đã được Strabo miêu tả và gồm cả việc nung chảy. Những mỏ lớn cũng hiện diện trên khắp Biển Đỏ ở nơi hiện là Ả Rập Saudi. Truyền thuyết về bộ lông cừu vàng có thể để cập tới việc dùng lông cừu để khai thác bụi vàng từ trầm tích cát vàng ở thế giới cổ đại. Vàng thường được đề cập tới trong Cựu ước, bắt đầu với Khải huyền 2:11 (tại Havilah) và gồm trong với các quà tặng của magi trong những chương đầu tiên của Tân ước của Matthew. Sách Khải huyền 21:21 đã miêu tả thành phố Jerusalem Mới có các đường phố "làm bằng vàng nguyên chất, sáng như pha lê". Góc tây nam của Biển Đen nổi tiếng với vàng. Việc khai thác được cho là đã bắt đầu từ thời Midas, và vàng ở đây đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cái có thể là đồng tiền đúc đầu tiên tại Lydia khoảng năm 610 trước Công Nguyên. Từ thế kỷ 6 hay 5 trước Công Nguyên, nhà Chu đã cho sử dụng dĩnh viên, một kiểu đồng tiền xu vàng. Người La Mã đã phát triển các kỹ thuật mới để khai thác vàng ở quy mô lớn bằng các phương pháp khai mỏ thuỷ lực, đặc biệt tại Hispania từ năm 25 trước Công Nguyên trở đi và tại Dacia từ năm 150 trở đi. Một trong những mỏ lớn nhất nằm tại Las Medulas ở León (Tây Ban Nha), nơi bảy cống dẫn nước cho phép tháo hầu hết trầm tích bồi tích lớn. Các mỏ tại Roşia Montană ở Transilvania cũng rất lớn, và cho tới tận gần đây, vẫn được khai thác bằng các phương thức khai mỏ lộ thiên. Các mỏ nhỏ hơn tại Anh cũng được khai thác, như các sa khoáng cát vàng và khoáng sàng đá cứng tại Dolaucothi. Nhiều phương pháp họ sử dụng đã được Pliny Già miêu tả kỹ lưỡng trong bách khoa toàn thư của mình (Naturalis Historia) được viết vào khoảng cuối thế kỷ 1. Đế quốc Mali tại châu Phi nổi tiếng khắp Cựu thế giới về trữ lượng vàng lớn của mình. Mansa Musa, nhà cai trị đế chế (1312–1337) trở nên nổi tiếng khắp Cựu thế giới về cuộc hành hương của mình tới Mecca năm 1324. Ông đã đi qua Cairo tháng 7 năm 1324, và được mô tả là đã được tháp tùng bởi một đoàn lạc đà với hàng nghìn người và gần một trăm con lạc đà. Ông đã cho đi rất nhiều vàng tới mức vàng giảm giá ở Ai Cập trong hơn một thập niên. Một sử gia Ả Rập đương thời đã bình luận: Cuộc thám hiểm châu Mỹ của người châu Âu đã được kích thích một phần lớn bởi những báo cáo về các đồ trang sức bằng vàng được trưng bày khắp nơi bởi người bản xứ châu Mỹ, đặc biệt tại Trung Mỹ, Peru, Ecuador và Colombia. Người Aztec coi vàng theo nghĩa đen là sản phẩm của thần thánh, gọi nó là "phân của thánh" (teocuitlatl trong tiếng Nahuatl). Dù giá của một số nhóm kim loại platin cao hơn nhiều, vàng từ lâu đã được coi là kim loại đáng thèm muốn nhất trong các kim loại quý, và giá trị của nó đã được sử dụng làm bản vị cho nhiều tiền tệ (được gọi là bản vị vàng) trong lịch sử. Vàng đã được sử dụng như một biểu tượng cho sự thanh khiết, giá trị, sự vương giả, và đặc biệt các vai trò phối hợp cả ba đặc tính đó. Vàng như một dấu hiệu của sự giàu sang và danh vọng đã bị Thomas More đem ra chế nhạo trong chuyên luận Utopia. Trên hòn đảo tưởng tượng đó, vàng quá dư thừa tới mức nó được dùng làm xiềng xích cho nô lệ, đồ ăn và đồ cho nhà vệ sinh. Khi các đại sứ từ các quốc gia khác tới, đeo những bộ đồ trang sức bằng vàng, người dân Utopia tưởng họ là những kẻ hầu hạ, và chỉ tỏ lòng kính trọng với những người ăn mặc xoàng xĩnh nhất trong đoàn. Có một truyền thống từ lâu là việc cắn vàng để thử nó. Dù đây chắc chắn không phải là một cách chuyên nghiệp để thử vàng, việc cắn để thử có thể để lại dấu vết vì vàng là một kim loại mềm, như được chỉ ra bởi điểm của nó trong bảng độ cứng khoáng vật Mohs. Vàng càng nguyên chất thì càng dễ tạo dấu. Chì được sơn có thể đánh lừa việc thử này bởi chì mềm hơn vàng (và có thể gây ra một nguy cơ ngộ độc chì nhỏ nếu một lượng chì đủ lớn bị hấp thụ trong lần cắn). Vàng thời cổ đại về mặt địa chất khá dễ để có được; tuy nhiên 75% tổng lượng vàng từng được khai thác đã được khai thác từ năm 1910. Ước tính rằng tổng lượng vàng từng được khai thác sẽ tạo ra một khối 20 m (66 ft) mỗi cạnh (tương đương 8.000 m3). Một mục đích chính của các nhà giả kim thuật là tạo ra vàng từ các chất khác, như chì — được cho là qua tương tác với một chất bí ẩn được gọi là đá của nhà hiền triết. Dù họ không bao giờ thành công trong nỗ lực này, các nhà giả kim thuật đã khiến người ta quan tâm hơn vào cái có thể thực hiện được với các chất, và điều này đã đặt ra nền tảng cho ngành hóa học ngày nay. Biểu tượng của họ cho vàng là vòng tròn với một điểm ở tâm (☉), cũng là biểu tượng chiêm tinh và chữ cái Trung Quốc cổ cho Mặt Trời. Với việc tạo ra vàng nhân tạo thời hiện đại bằng cách bắt neutron, xem Tổng hợp vàng. Trong thế kỷ 19, những cuộc đổ xô đi tìm vàng đã xảy ra bất kỳ khi nào những trầm tích vàng lớn được phát hiện. Lần khám phá đầu tiên ra vàng tại Hoa Kỳ được ghi lại là tại Mỏ Vàng Reed gần Georgeville, Bắc Carolina năm 1803. Cuộc đổ xô đi tìm vàng đầu tiên ở Hoa Kỳ diễn ra tại một thị trấn nhỏ phía bắc Georgia tên là Dahlonega. Những cuộc đổ xô đi tìm vàng khác diễn ra tại California, Colorado, Black Hills, Otago, Australia, Witwatersrand, và Klondike. Bởi giá trị cao từ trong lịch sử của nó, đa số vàng đã được khai thác trong suốt lịch sử vẫn đang được lưu chuyển dưới hình thức này hay hình thức khác. == Sự phổ biến == Số nguyên tử 79 của vàng khiến nó là một trong những nguyên tố có số nguyên tử lớn nhất có mặt trong tự nhiên. Giống mọi nguyên tố với các số nguyên tử lớn hơn sắt, vàng được cho là đã hình thành từ một quá trình tổng hợp hạt nhân sao siêu mới. Những vụ nổ sao siêu mới tung bụi có chứa kim loại (gồm cả các nguyên tố nặng như vàng) vào trong vùng không gian sau này đặc lại thành hệ mặt trời và Trái Đất của chúng ta. Trên Trái Đất, vàng thường xuất hiện như là kim loại tự nhiên, thường là trong dung dịch đặc của vàng và bạc (nghĩa là hợp kim của vàng với bạc). Các hợp kim này thường có hàm lượng bạc 8–10%. Electrum là vàng nguyên tố với hơn 20% bạc. Màu sắc của quặng vàng bạc thay đổi từ màu vàng-bạc tới bạc, phụ thuộc vào hàm lượng bạc. Càng nhiều bạc, nó càng có trọng lượng riêng thấp. Vàng được tìm thấy trong quặng được tạo ra từ đá với các phần từ vàng rất nhỏ hay cực nhỏ. Quặng vàng này thường được tìm thấy cùng thạch anh hay các khoáng chất sulfua, như Fool's Gold (vàng của thằng ngốc), vốn là một pyrit. Chúng được gọi là khoáng sản "mạch". Vàng tự nhiên cũng có dưới hình thức các bông tự do, các hạt hay những quặng vàng lớn đã bị ăn mòn khỏi đá và kết thúc trong các trầm tích phù sa (được gọi là trầm tích cát vàng). Những loại vàng tự do đó luôn nhiều hơn tại bề mặt các mạch có vàng do ôxi hoá các khoáng chất kèm theo bởi thời tiết, và việc rửa trôi bụi vào các con suối và dòng sông, nơi nó tụ tập lại và có thể được hoạt động của nước liên kết lại với nhau để hình thành nên các cục vàng. Vàng thỉnh thoảng được tìm thấy cùng telua như là các khoáng vật calaverit, krennerit, nagyagit, petzit và sylvanit, và như khoáng vật bitmutua hiếm maldonit (Au2Bi) và antimonua aurostibit (AuSb2). Vàng cũng phát sinh trong các hợp kim hiếm với đồng, chì, và thủy ngân: các khoáng vật auricuprid (Cu3Au), novodneprit (AuPb3) và weishanit ((Au, Ag)3Hg2). Nghiên cứu gần đây gợi ý rằng các vi sinh vật đôi khi có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các trầm tích vàng, vận chuyển và kết tủa vàng để hình thành các hạt và cục được thu thập trong các trầm tích phù sa. Các đại dương trên Trái Đất có chứa vàng. Hàm lượng vàng ước tính trong Đại Tây Dương và Đông Bắc Thái Bình Dương là 50–150 fmol/L hay 10-30 phần trên triệu luỹ thừa bốn. Nói chung, hàm lượng vàng trong các mẫu ở nam Đại Tây Dương và trung Thái Bình Dương là tương đương (~50 fmol/L) nhưng ít chắc chắn hơn. Những vùng nước sâu Địa Trung Hải có hàm lượng vàng lớn hơn (100–150 fmol/L) do bụi do gió thổi và/hoặc do các con sông. Ở mức 10 phần trên triệu luỹ thừa bốn các đại dương của Trái Đất sẽ chứa 15.000 tấn vàng. Những con số này nhỏ bằng một phần ba số ước tính trong tài liệu trước năm 1988, cho thấy các vấn đề với dữ liệu trước đó. Một số người đã tuyên bố có khả năng khai thác vàng một cách kinh tế từ nước biển, nhưng tất cả họ đều hoặc gặp sai lầm hoặc là có ý đồ lừa gạt. Prescott Jernegan đã cho hoạt động một chiếc máy khai thác vàng ở Hoa Kỳ trong những năm 1890. Một kẻ bịp bợm người Anh cũng có một chiếc máy tương tự ở Anh đầu những năm 1900. Fritz Haber (nhà phát minh người Đức với quy trình Haber) đã nghiên cứu việc tách vàng từ nước biển trong một nỗ lực giúp nước Đức bồi thường chiến phí sau Thế chiến I. Dựa trên các giá trị được công bố là 2 tới 64 ppb vàng trong nước biển thì sự tách vàng thành công về mặt thương mại ra khỏi nước biển dường như là có thể. Sau những phân tích 4.000 mẫu nước biển với hàm lượng trung bình 0,004 ppb mọi việc trở nên rõ ràng rằng việc tách vàng sẽ không thể trở thành hiện thực và ông đã dừng dự án. Không một cơ cấu thương mại thực sự nào cho việc tách chiết vàng từ nước biển đã từng được xác nhận. Tổng hợp vàng không có tính kinh tế và dường như cũng sẽ luôn như vậy trong tương lai. Các mẫu vàng tự nhiên == Sản xuất == Khai thác vàng có tính kinh tế nhất khi thực hiện tại các mỏ lớn, có trầm tích dễ khai thác. Các cấp quặng thấp ở mức 0,5 mg/kg (0,5 phần trên triệu, ppm) có thể có tính kinh tế. Các cấp quặng thông thường tại các mỏ lộ thiên là 1–5 mg/kg (1–5 ppm); các cấp quặng ngầm dưới đất hay mỏ đá cứng thường ít nhất đạt 3 mg/kg (3 ppm). Bởi phải có các cấp quặng 30 mg/kg (30 ppm) để vàng có thể được quan sát bằng mắt thường, tại hầu hết các mỏ thì vàng không thể nhìn thấy được. Từ những năm 1880, Nam Phi đã là một nguồn chiếm tỷ lệ lớn nguồn cung vàng thế giới, với khoảng 50% tất cả lượng vàng từng được sản xuất có nguồn gốc từ Nam Phi. Sản lượng năm 1970 chiếm 79% nguồn cung thế giới, sản xuất khoảng 1.480 tấn. Sản lượng toàn thế giới năm 2008 là 2.260 tấn và năm 2011 là 2.700 tấn. Năm 2007 Trung Quốc (với 276 tấn) đã vượt qua Nam Phi trở thành nước sản xuất vàng lớn nhất, lần đầu tiên từ năm 1905 mất ngôi vị số một. Thành phố Johannesburg ở Nam Phi đã được thành lập sau Cuộc đổ xô đi tìm vàng Witwatersrand dẫn tới sự phát hiện một trong những trầm tích vàng lớn nhất thế giới từng có. Các mỏ vàng nằm trong châu thổ các tỉnh Free State và Gauteng rộng về strike and dip đòi hỏi một trong những mỏ sâu nhất thế giới, với các mỏ Savuka và TauTona hiện là những mỏ vàng sâu nhất thế giới với độ sâu 3.777 m. Cuộc chiến tranh Boer lần thứ hai giai đoạn 1899–1901 giữa Đế chế Anh và người Boer Afrikaner ít nhất một phần vì các quyền khai mỏ và sở hữu các mỏ vàng ở Nam Phi. Các nhà sản xuất vàng lớn khác gồm Hoa Kỳ, Australia, Nga và Peru. Các mỏ ở Nam Dakota và Nevada cung cấp hai phần ba lượng vàng sử dụng tại Hoa Kỳ. Ở Nam Mỹ, dự án Pascua Lama gây tranh cãi có mục tiêu khai thác các mỏ vàng giàu trữ lượng tại những dãy núi cao ở Sa mạc Atacama, tại biên giới giữa Chile và Argentina. Ngày nay một phần tư sản lượng vàng thế giới ước tính có nguồn gốc từ các mỏ vàng khai thác thủ công hay mỏ cỡ nhỏ. Sau khi sản xuất ban đầu, vàng thường được tinh chế theo cách công nghiệp bằng quá trình Wohlwill dựa trên điện phân hay bằng quá trình Miller, khử clo cho dung dịch. Quá trình Wohlwill mang lại độ tinh khiết cao hơn, nhưng phức tạp hơn và thường áp dụng cho các cơ sở quy mô nhỏ. Các phương pháp khác để phân tích và tinh luyện vàng gồm thủy phân và tách bạc cũng như phương pháp cupell, hay các phương pháp tinh luyện dựa trên việc hoà tan vàng trong aqua regia. Ở thời điểm cuối năm 2006, ước tính tất cả lượng vàng từng được khai thác là 158.000 tấn và trong ấn bản tháng 1 năm 2009 của mình, National Geographic viết: "Trong toàn bộ lịch sử, chỉ 161.000 tấn vàng đã được khai thác, chỉ đủ để lấp đầy hai bể bơi dùng trong Olympic." Nó có thể được thể hiện bằng một khối với chiều dài cạnh khoảng 20,28 mét. Giá trị của nó rất hạn chế; với giá $1.000 trên ounce, 161.000 tấn vàng sẽ chỉ có giá trị 5,2 nghìn tỷ dollar. Trung bình chi phí để khai thác vàng khoảng US$317/oz năm 2007, nhưng nó có thể khác biệt rất lớn phụ thuộc vào kiểu mỏ và chất lượng quặng; sản lượng sản xuất tại các mỏ toàn cầu đạt 2.471,1 tấn. Vàng rất ổn định và có giá trị tới mức nó luôn được thu lại và tái sử dụng. Không có việc tiêu thụ vàng thực sự theo nghĩa kinh tế; việc lưu giữ vàng vẫn là điều thiết yếu khi quyền sở hữu chuyển từ bên này qua bên khác. == Tiêu thụ == Tỷ lệ tiêu thụ vàng được sản xuất trên thế giới ước khoảng 50% trong lĩnh vực trang sức, 40% để đầu tư và 10% trong công nghiệp. Cho tới năm 2013, Ấn Độ là nước tiêu thụ vàng nhiều nhất thế giới. Người Ấn Độ mua khoảng 25% lượng vàng của thế giới, xấp xỉ 800 tấn mỗi năm. Ấn Độ cũng là nhà nhập khẩu kim loại vàng. Năm 2008 Ấn Độ nhập khẩu khoảng 400 tấn vàng. Theo Hội đồng Vàng Thế giới (World Gold Council), Trung Quốc là nước tiêu thụ vàng nhiều nhất thế giới vào năm 2013 và lần đầu tiên vượt qua Ấn Độ, với mức tiêu thụ của Trung Quốc tăng 32% chỉ trong một năm, trong khi Ấn Độ chỉ tăng 13% và toàn thế giới tăng 21%. Không giống như Ấn Độ, nơi vàng được sử dụng chủ yếu trong ngành kim hoàn, Trung Quốc chủ yếu sử dụng vàng để sản xuất và bán lẻ. == Hoá học == Dù vàng là một kim loại quý, nó hình thành nhiều hợp chất. Số oxi hóa của vàng trong các hợp chất của nó thay đổi từ −1 đến +5, nhưng Au(I) và Au(III) chi phối tính chất hóa học của nó. Au(I), thường được gọi là ion aurơ, là trạng thái ôxi hoá phổ biến nhất với các phối tử mềm như các thioether, thiolat, và phosphin ba. Các hợp chất Au(I) thường có đặc trưng tuyến tính. Một ví dụ điển hình là Au(CN)2−, là hình thức hoà tan của vàng trong khai mỏ. Đáng ngạc nhiên, các phức chất với nước khá hiếm. Các vàng halogen nhị phân, như AuCl, tạo nên các chuỗi polyme zíc zắc, một lần nữa thể hiện phối trí tuyến tính tại Au. Đa số thuốc dựa trên vàng là các dẫn xuất Au(I). Au(III) (auric) là một trạng thái ôxi hoá phổ biến và được thể hiện bởi vàng(III) clorua, Au2Cl6. Các trung tâm nguyên tử vàng trong các phức chất Au(III), giống như các hợp chất d8 khác, nói chung là phẳng vuông, với các liên kết hóa học có các đặc trưng cả cộng hóa trị lẫn ion. Aqua regia, một hỗn hợp 1:3 gồm axit nitric và axit clohydric, hoà tan vàng. Axit nitric ôxi hoá vàng kim loại thành các ion +3, nhưng chỉ với những khối lượng nhỏ, thường không thể phát hiện trong axit tinh khiết bởi trạng thái cân bằng hoá học của phản ứng. Tuy nhiên, các ion bị loại bỏ khỏi trạng thái cân bằng bởi axit clohydric, hình thành các ion AuCl4−, hay axit cloroauric, vì thế cho phép sự tiếp tục ôxi hoá. Một số halogen tự do phản ứng với vàng. Vàng cũng phản ứng với các dung dịch kiềm của kali xyanua. Với thuỷ ngân, nó hình thành một hỗn hống. === Các trạng thái ôxi hoá ít phổ biến khác === Các trạng thái ôxi hoá ít phổ biến của vàng gồm −1, +2 và +5. Trạng thái ôxi hoá −1 xảy ra trong các hợp chất có chứa anion Au−, được gọi là aurua. Ví dụ, xêzi aurua (CsAu), kết tinh theo kiểu xêzi clorua. Các aurua khác gồm các aurua của Rb+, K+, và tetramethylammoni (CH3)4N+. Các hợp chất vàng(II) thường nghịch từ với các liên kết Au–Au như [Au(CH2)2P(C6H5)2]2Cl2. Sự bay hơi của một dung dịch Au(OH)3 trong H2SO4 cô đặc tạo ra các tinh thể đỏ của vàng(II) sulfat, AuSO4. Ban đầu được cho là một hợp chất có hoá trị hỗn hợp, nó đã được chứng minh có chứa một số cation Au4+2. Một phức chất vàng(II) đáng chú ý, và chính thống là cation tetraxenon vàng(II), có chứa xenon như một phối tử, được tìm thấy trong [AuXe4](Sb2F11)2. Vàng pentaflorua và anion dẫn xuất của nó, AuF−6, là ví dụ duy nhất về vàng(V), trạng thái ôxi hoá cao nhất được kiểm tra. Một số hợp chất vàng thể hiện liên kết ái vàng, miêu tả khuynh hướng của các ion vàng phản ứng ở các khoảng cách quá xa để là một liên kết Au–Au thông thường nhưng ngắn hơn khoảng cách liên kết van der Waals. Tương tác được ước tính có thể so sánh về độ mạnh với liên kết hydro. === Các hợp chất hoá trị hỗn hợp === Các hợp chất cụm được định nghĩa rõ có rất nhiều. Trong những trường hợp đó, vàng có một trạng thái ôxi hoá phân đoạn. Một ví dụ đại diện là loại tám mặt {Au(P(C6H5)3)}62+. Các hợp chất vàng chalcogenua, như vàng sulfua, có đặc trưng là có các lượng tương đương của Au(I) và Au(III). == Độc tính == Kim loại (nguyên tố) vàng nguyên chất không độc và không gây kích thích khi ăn vào và thỉnh thoảng được dùng để trang trí thực phẩm dưới dạng vàng lá. Vàng kim loại cũng là một thành phần của các loại đồ uống có cồn Goldschläger, Gold Strike, và Goldwasser. Vàng kim loại đã được cho phép như một phụ gia thực phẩm tại EU (E175 trong Codex Alimentarius). Dù ion vàng độc, việc chấp nhận kim loại vàng như một phụ gia thực phẩm bởi tính chất trơ tương đối với hoá học của nó, và khả năng chống ăn mòn hay biến thành một loại muối hoà tan (các hợp chất vàng) bởi bất kỳ một quá trình hoá học nào đã được biết có thể xảy ra bên trong cơ thể người. Các hợp chất hoà tan (các muối vàng) như gold chloride độc hại với gan và thận. Các muối cyanide thông thường của vàng như vàng cyanide kali, được dùng trong việc mạ điện, độc hại cả về tình chất cyanide cả về hàm lượng vàng có trong nó. Đó là những trường hợp hiếm về ngộ độc vàng nguy hiểm từ vàng cyanide kali. Ngộ độc vàng có thể được chữa trị bằng một liệu pháp chelation với một tác nhân như Dimercaprol. Vàng kim loại đã được bầu là Chất gây dị ứng của Năm năm 2001 bởi American Contact Dermatitis Society. Dị ứng do tiếp xúc với vàng hầu hết ảnh hưởng tới phụ nữ. Dù vậy, vàng là một chất gây dị ứng do tiếp xúc không mạnh, so với các kim loại như nickel. == Giá cả == Như mọi kim loại quý khác, vàng được tính theo trọng lượng troy và bằng gam. Khi nó kết hợp với các kim loại khác, thuật ngữ kara hay karat được sử dụng để chỉ hàm lượng vàng có bên trong, với 24 kara là vàng nguyên chất và các tỷ lệ thấp hơn thể hiện bằng các con số thấp hơn. Độ tinh khiết của một thỏi vàng hay đồng xu vàng cũng có thể được thể hiện bằng một con số thập phân từ 0 tới 1, được gọi là tuổi vàng theo phần nghìn, như 0,995 là rất tinh khiết. Giá vàng được xác định qua giao dịch tại các thị trường vàng và phái sinh, nhưng một quy trình được gọi là Định giá Vàng tại Luân Đôn, bắt đầu từ tháng 9 năm 1919, cung cấp một giá chuẩn cho ngành công nghiệp. Việc định giá vào buổi chiều được đưa ra năm 1968 để cung cấp giá vàng khi các thị trường Mỹ mở cửa. Trong lịch sử tiền xu vàng được sử dụng rộng rãi làm tiền tệ; khi tiền giấy xuất hiện, nó thường là một chứng nhận có thể chuyển đổi sang đồng xu vàng hay nén vàng. Trong một hệ thống kinh tế được gọi là bản vị vàng, một trọng lượng vàng nào đó sẽ được lấy làm tên đơn vị tiền tệ. Trong một giai đoạn dài, chính phủ Hoa Kỳ quy định giá trị của đồng dollar Mỹ để một troy ounce tương đương với $20,67 ($664,56/kg), nhưng vào năm 1934 đồng dollar bị phá giá xuống còn $35,00 trên troy ounce ($1.125,27/kg). Tới năm 1961, nước Mỹ đã không còn khả năng duy trì giá này nữa, và một nhóm các ngân hàng Mỹ và châu Âu đồng ý thao túng thị trường để ngăn chặn sự phá giá tiền tệ hơn nữa trước nhu cầu đang gia tăng với vàng. Ngày 17 tháng 3 năm 1968, các bối cảnh kinh tế đã gây nên sự sụp đổ của khối thị trường vàng, và một mô hình giá hai tầng được hình thành theo đó vàng vẫn được dùng để quy định các tài khoản quốc tế ở mức cũ $35,00 trên troy ounce ($1.130/kg) nhưng giá vàng trên thị trường tư nhân được cho phép biến động; hệ thống giá hai tầng này đã bị huỷ bỏ vào năm 1975 khi giá vàng được để theo mức của thị trường tự do. Các Ngân hàng trung ương vẫn giữ dự trữ vàng lịch sử như một sự lưu trữ giá trị dù mức độ nói chung đã sụt giảm. Dự trữ vàng lớn nhất trên thế giới là kho dự trữ của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ tại New York, nắm giữ khoảng 3% lượng vàng từng được khai thác, xấp xỉ lượng vàng chứa trong Kho vàng thỏi Hoa Kỳ tại Fort Knox. Năm 2005 Hội đồng Vàng Thế giới ước tính tổng nguồn cung thế giới là 3.859 tấn và nhu cầu là 3.754 tấn, với thặng dư cung 105 tấn. Từ năm 1968 giá vàng đã thay đổi mạnh, từ mức cao $850/oz ($27.300/kg) ngày 21 tháng 1 năm 1980, xuống mức thấp $252,90/oz ($8.131/kg) ngày 21 tháng 6 năm 1999 (Định giá Vàng Luân Đôn). Giai đoạn từ năm 1999 tới năm 2001 đánh dấu "Đáy Brown" sau một thị trường giá giảm kéo dài 20 năm. Giá đã tăng lên nhanh chóng từ năm 1991, nhưng đỉnh cao năm 1980 mãi tới ngày 3 tháng 1 năm 2008 mới bị vượt qua khi mức giá mới $865,35 trên troy ounce được thiết lập (Định giá Vàng Luân Đôn buổi sáng). Một mức giá kỷ lục khác được lập ngày 17 tháng 3 năm 2008 ở mức $1.023,50/oz ($32.900/kg)(Định giá Vàng Luân Đôn buổi sáng). Mùa thu năm 2009, các thị trường vàng tiếp tục đi vào giai đoạn tăng giá vì sự gia tăng nhu cầu và sự suy yếu của đồng dollar Mỹ. Ngày 2 tháng 12 năm 2009, Vàng vượt qua ngưỡng quan trọng ở mức US$1.200 trên ounce và đóng cửa ở mức $1.215. Giá vàng tiếp tục tăng mạnh và đạt tới những kỷ lục mới trong tháng 5 năm 2010 sau khi cuộc khủng hoảng nợ ở Liên minh châu Âu khiến giới đầu tư đổ xô vào mua vàng như một tài sản an toàn. Từ tháng 4 năm 2001 giá vàng đã tăng gấp ba so với đồng dollar Mỹ, dẫn tới suy đoán rằng thị trường giá giảm muôn thuở từ lâu này đã chấm dứt và một thị trường giá tăng đã quay trở lại. Trong quý 3 của năm 2011, thị trường vàng thế giới lại chứng kiến một đợt tăng giá của vàng do sự suy yếu của kinh tế Mỹ và khu vực đồng Euro. Giá vàng lập kỷ lục lên đến gần $1.900/oz. == Tính biểu tượng == Trong suốt các thời kỳ lịch sử của nhiều xã hội vàng luôn được đánh giá cao. Đi cùng với nó vàng luôn có một ý nghĩa biểu tượng mạnh liên kết chặt chẽ với các giá trị cao nhất trong các xã hội. Vàng có thể biểu tượng cho quyền lực, sự giàu có, sự nhiệt tình, hạnh phúc, tình yêu, hy vọng, sự lạc quan, thông minh, công lý, cân bằng, sự hoàn hảo, mùa hè, mùa thu hoạch và mặt trời. Các thành tựu vĩ đại của con người thường được trao tặng bằng vàng, dưới hình thức các huy chương vàng, các cúp và vật trang trí khác màu vàng. Những người giành chiến thắng trong các sự kiện thể thao và những cuộc thi được xếp hạng khác thường được trao huy chương vàng (ví dụ, Olympic Games). Nhiều giải thưởng như Giải Nobel cũng được làm bằng vàng. Những bức tượng và giải thưởng khác được thể hiện bằng vật liệu vàng hay được mạ vàng (như Giải Oscar, Giải Quả cầu Vàng, Giải Emmy, Cành Cọ Vàng, và Giải thưởng Viện hàn lâm Phim ảnh Anh). Aristotle trong các cuốn sách của mình đã sử dụng tính biểu tượng của vàng khi đề cập tới cái mà hiện thường được nhận thức là "trung bình vàng". Tương tự, vàng gắn liền với các nguyên tắc hoàn hảo hay thần thánh, như trong trường hợp của Phi, thỉnh thoảng được gọi là "tỷ lệ vàng". Vàng thể hiện giá trị to lớn. Những người được tôn trọng được đối xử với quy tắc có giá trị nhất, "quy tắc vàng". Một công ty có thể trao cho các khách hàng quan trọng nhất của mình các "thẻ vàng" hay biến họ thành các "thành viên vàng". Chúng ta đề cao các khoảnh khắc yên tĩnh và vì thế chúng ta nói: "im lặng là vàng". Trong thần thoại Hy Lạp có "bộ lông cừu vàng". Vàng còn gắn liền với sự sáng suốt của tuổi tác và sự thành thục. Lễ kỷ niệm ngày cưới lần thứ 50 là đám cưới vàng. Những năm tháng quý giá đó của chúng ta thỉnh thoảng được gọi là "những năm tháng vàng". Đỉnh cao của một nền văn minh được gọi là "thời đại vàng son". Trong Kitô giáo vàng thỉnh thoảng được liên kết với những thái cực của sự quỷ quái nhất và sự thánh thiện tối cao. Trong Sách Xuất Hành, con bò vàng là một biểu tượng của sự thờ ngẫu tượng. Trong Sách Khải Huyền, Abraham được miêu tả có nhiều vàng và bạc, và Moses được dạy che phủ Nắp Xá Tội của Hòm Giao Ước bằng vàng nguyên chất. Trong nghệ thuật Kitô giáo các quầng hào quang của Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các vị thánh đều bằng vàng. Các vị vua thời Trung Cổ lên ngôi dưới các dấu hiệu của dầu thánh và một vương miện vàng, vương miện thể hiện ánh sáng chiếu vĩnh cửu của thiên đường và vì thế một vị vua Kitô giáo là người nắm chính quyền theo ý nguyện của thần thánh. Nhẫn cưới từ lâu đã được làm bằng vàng. Nó tồn tại lâu dài và không bị ảnh hưởng bởi thời gian và có thể mang tính biểu tượng của lời thề nguyền bất tử trước chúa và/hay Mặt Trời và Mặt Trăng và sự biểu thị hoàn hảo của hôn nhân. Trong Chính Thống giáo Đông phương, các cặp vợ chồng kết hôn được trao một vương miện vàng trong buổi lễ, một sự pha trộn các nghi lễ biểu tượng. Trong văn hoá đại chúng vàng có nhiều ý nghĩa nhưng nổi bật nhất nó liên hệ với các ý nghĩa như tốt hay vĩ đại, như trong các câu: "có một trái tim vàng", "thời khắc vàng" và "chú bé vàng" v.v. Vàng vẫn duy trì được vị thế của nó như một biểu tượng của sự giàu có và thông qua nó, trong nhiều xã hội, là sự thành công. == Biểu tượng quốc gia == Năm 1965, Cơ quan lập pháp California đã định danh vàng là "Khoáng vật bang và biểu tượng khoáng vật học". Năm 1968, Cơ quan lập pháp Alaska gọi tên vàng là "khoáng vật chính thức của bang." == Xem thêm == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Getting Gold 1898 book, www.lateralscience.co.uk Technical Document on Extraction and Mining of Gold, www.epa.gov Picture in the Element collection from Heinrich Pniok, www.pniok.de WebElements.com — Gold n www.webelements.com Chemistry in its element podcast (MP3) from the Royal Society of Chemistry's Chemistry World: Gold www.rsc.org
andorra.txt
Andorra (tiếng Catala: Andorra, phiên âm tiếng Việt: "An-đô-ra"), tên đầy đủ là Thân vương quốc Andorra (còn dịch là Công quốc Andorra, tiếng Catala: Principat d'Andorra) là một nước trong lục địa nhỏ ở tây nam Châu Âu, nằm ở phía đông dãy Pyrenees, tiếp giáp với Tây Ban Nha và Pháp. Ngay cả khi bị cô lập, nó vẫn là một đất nước thịnh vượng nhờ vào du lịch và chính sách miễn thuế. Người dân ở đây có tuổi thọ cao nhất thế giới, khoảng 83.52 tuổi (thống kê 2007). == Lịch sử == Theo truyền thuyết thì Charles Đại đế (Charlemagne) công nhận một đặc quyền cho người Andorra đền đáp việc họ chiến đấu chống người Maroc. Chúa tể của vùng Urgell trở thành người đứng đầu Andorra và sau đó vùng đất lại được dâng cho Giám mục của Urgell. Vào thế kỷ 11, một cuộc tranh chấp nảy sinh giữa Giám mục và vùng đất phía bắc Andorra. Cuộc tranh chấp được giải quyết năm 1278 bằng một paréage, chia sẻ quyền cai trị Andorra giữa bá tước Foix (sau đó chuyển thành người đứng đầu nước Pháp) và Giám mục của La Seu d'Urgell, ở Catalonia, Tây Ban Nha. Andorra được xác nhập vào Aragon hai lần, vào 1396 và 1512. Sau khi Henry xứ Navarre trở thành vua Henry IV của Pháp, ông ta ban hành một sắc lệnh (1607) theo đó người đứng đầu nhà nước Pháp và Giám mục xứ Urgell là đồng vương Andorra. Ngày nay các Tổng thống dân cử của Pháp vẫn nhận danh vị là Đồng vương Andorra. == Chính trị == Mới đây, hệ thống chính trị của Andorra còn chưa có sự phân chia quyền lực rõ ràng giữa các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp. Bản Hiến pháp được công nhận và chấp thuận vào năm 1993 đã lập nên một nhà nước Andorra dân chủ đại nghị có chủ quyền, tuy vẫn chịu sự cai quản của hai đồng quốc vương, nhưng người đứng đầu Chính phủ có quyền hành pháp. Các đồng quốc vương được trao một số quyền nhất định nhưng không có quyền phủ quyết các hoạt động của Chính phủ. Họ cử đại diện thường trực tại Andorra, chủ yếu mang tính chất lễ tân. Hội đồng toàn dân gồm 28 thành viên, được bầu thông qua tuyển cử phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 4 năm. Từ năm 1981, Hội đồng toàn dân bầu ra Hội đồng hành pháp, tức là Chính phủ. Hai đồng quốc vương hiện nay của Andorra là Tổng thống Pháp và Tổng Giám mục xứ Catalan Tây Ban Nha. Thủ tướng Chính phủ hiện nay là ông Antoni Martí (thuộc đảng Dân chủ). Đảng Xã hội Dân chủ là đảng đối lập. == Hành chính == Andorra được chia thành 7 giáo xứ là: Andorra la Vella Canillo Encamp Escaldes-Engordany La Massana Ordino Sant Julià de Lòria == Dân cư == Dân số của Andorra được ước tính là 85.082 người (tháng 7 năm 2011). Dân số đã tăng từ 5.000 người trong năm 1900. Andorra là một nước đa sắc tộc gồm 31.363 người Andorra bản xứ chiếm 33% dân số, 27.300 người Tây Ban Nha chiếm 23% dân số, người Bồ Đào Nha 13,794 (21%), người Pháp 5213 (17%), 1085 người Anh và người Ý. Người thuộc các sắc tộc khác không có quyền biểu quyết (bỏ phiếu) trong cuộc bầu cử xã. Hơn nữa, họ không được phép để được bầu làm thủ tướng hay sở hữu hơn 33% vốn cổ phần của một công ty tư nhân. == Địa lý == Andorra là thân vương quốc nhỏ ở Tây Âu, nằm ở phía sườn Nam của dãy Pyrénées, giữa biên giới nước Pháp và Tây Ban Nha. Andorra là xứ sở tuyệt đẹp nhờ các hẻm núi và các thung lũng có sông Valira chảy qua và được bao bọc bởi các đỉnh núi cao. == Kinh tế == Du lịch là ngành kinh tế chủ yếu của Andorra, đóng góp tới 80% GDP của đất nước. Andorra lôi cuốn khách du lịch nhờ môn trượt tuyết và hàng hóa miễn thuế. Hàng năm có khoảng 9 triệu khách du lịch đến Andorra. Dịch vụ ngân hàng cũng đóng góp nhiều cho nền kinh tế. Nông nghiệp kém phát triển, chỉ có khoảng 2% diện tích là đất trồng trọt. Thực phẩm chủ yếu là nhập khẩu. == Tôn giáo == Dân số của Andorra là chủ yếu là Công giáo Rôma (90%). Vị thánh bảo trợ của đất nước là Đức Mẹ Meritxell. Mặc dù nó không phải là một tôn giáo chính thức của quốc gia, nhưng hiến pháp thừa nhận một mối quan hệ đặc biệt với Giáo hội Công giáo, cung cấp một số ưu đãi đặc biệt cho Giáo hội. Cộng đồng Hồi giáo chủ yếu được tạo thành từ những người nhập cư Bắc Phi. Giáo phái Kitô giáo khác bao gồm Anh giáo, Giáo hội Thống Nhất, Nhà thờ Tông đồ mới, Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô, và Nhân chứng Giê-hô-va. Có một cộng đồng nhỏ của người Hindu và Bahá'ís. Khoảng 100 người Do Thái giáo sống ở Andorra. == Ngôn ngữ == Ngôn ngữ chính thức và được sử dụng trong lịch sử là Catalan, thuộc Nhóm ngôn ngữ Rôman. Chính phủ Andorran khuyến khích việc sử dụng tiếng Catalan. Do sự nhập cư, các liên kết lịch sử, và khoảng cách địa lý gần, tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp cũng được sử dụng phổ biến. Hầu hết dân cư Andorra có thể nó một hoặc nhiều hơn trong các thứ tiếng này, ngoài Catalan. Tiếng Anh ít phổ biến hơn, tuy nhiên nó cũng được sử dụng ở những khu nghỉ dưỡng. Andorra là một trong 4 nước châu Âu (cùng với Pháp, Monaco, và Thổ Nhĩ Kỳ) that have never signed the Hiệp ước của Hội đồng châu Âu về dân tộc thiểu số. Theo Observatori Social d'Andorra, các ngôn ngữ được sử dụng ở Andorra gồm: == Tham khảo ==
strabo.txt
Strabo (tiếng Hy Lạp: Στράβων; sinh khoảng năm 63/64 trước Công nguyên – chết khoảng năm 24 sau Công nguyên) là một sử gia, nhà địa lý và triết gia Hy Lạp cổ đại. == Cuộc đời == Strabo sinh trong 1 gia đình giàu có ở Amaseia vùng Pontus (nay là Amasya, Thổ Nhĩ Kỳ),, thời đó thuộc Đế quốc La Mã. Mẹ của Strabo là người Gruzia. Strabo theo học nhiều nhà địa lý và triết gia khác nhau; ban đầu học với Aristodeme of Nysa, gia sư dạy các con của Pompey, ở Caria (miền tây nam Tiểu Á), sau đó học nhà địa lý Tyrannion ở Roma. Năm 25 hoặc 24 trước Công nguyên, ông ta đi theo viên thái thú Ælius Gallus của Đế quốc La Mã du hành dọc sông Nil của Ai Cập. Sau đó Strabo còn du hành nhiều nơi, trong đó có Kush. Về triết học, Strabo là người theo chủ nghĩa khắc kỷ (Stoicism); về chính trị, ông ta theo chủ nghĩa đế quốc La Mã. == Tác phẩm == Sau nhiều chuyến du lịch, Strabo trở về quê và bắt đầu viết Bộ sách "Lịch sử" (tiếng Hy Lạp cổ: Ἱστορικὰ Ὑπομνήματα / Historika Upomnếmata) gồm 43 quyển, tiếp nối tác phẩm của sử gia Polybe. Bộ Lịch sử này ngày nay hầu như đã bị thất lạc hoàn toàn, dù chính ông ta có đề cập tới tác phẩm này và các tác giả cổ điển khác cũng nói tới nó. Phần duy nhất còn sót lại là mảnh rời bằng giấy papyrus, hiện do trường Đại học Milano sở hữu. (renumbered [Papyrus] 46). == Bộ sách Địa lý == Sau đó ông ta viết Bộ sách "Địa lý" (tiếng Hy Lạp cổ: Γεωγραφικά / Geôgraphiká), được coi như bổ túc cho Bộ Lịch sử nói trên, gồm 17 quyển. Bộ Địa lý này hầu như còn nguyên vẹn, chỉ thiếu vài phần trong quyển thứ 7. Bộ sách Địa lý được chia như sau: Các quyển I và II gồm phần dẫn nhập dài, trong đó Strabon tìm cách chứng minh là sử gia Ératosthène đã sai lầm, khi bác bỏ tác phẩm của Homere về góc độ địa lý. Các quyển III tới X mô tả châu Âu, và đặc biệt Hy Lạp cổ đại (các quyển VIII-X) Các quyển XI tới XIV mô tả vùng Tiểu Á Các quyển XV, XVI mô tả Đông phương; Quyển XVII mô tả châu Phi (Ai Cập và Libya). Một số người cho rằng bản thảo đầu tiên được viết khoảng năm 7 sau Công nguyên, một số khác cho là khoảng năm 18. Ngày tháng đề cập tới lần chót là về cái chết của Juba II, vua của Maurousia (Mauretania), chết năm 23, trong đó nói là "vừa mới chết". Căn cứ theo điều được cho là đúng, thì từ "vừa mới" nói trên, có nghĩa là xảy ra trong cùng năm (23), thì tác phẩm của Strabo kết thúc năm 23 hoặc năm sau, tức năm 24, có thể do ông ta từ trần. Có nhiều giả thuyết về ngày tháng từ trần của Strabo, phần lớn đều cho rằng ông ta chết ngay sau năm 23. Trong thời Dế quốc La Mã, tác phẩm của Strabo không được biết đến. Mãi đến thế kỷ thứ 5, mới được biết đến, và Strabo trở thành mẫu mực cho các nhà địa lý. Thế kỷ thứ 15, học giả người Ý Guarino Veronese đã dịch toàn bộ tác phẩm của Strabo. Các sử gia cổ điển như Wilamowitz đã nhìn nhận lợi ích của tác phẩm này. Nhờ có việc du hành nhiều nơi, Strabon cũng đã tham gia việc lập danh sách 7 kỳ quan thế giới. Ông ta mô tả như sau: « Babylone nằm ở [...] trong 1 vùng đồng bằng. Các bờ thành của nó dài 365 stades (mỗi stade khoảng 180 m), dày 32 pieds (1 pied: hơn 30 cm) và cao 50 coudées (mỗi coudée khoảng 55 cm), xen vào là các tháp canh cao khoảng 60 coudées. Bên trên các tường thành có 1 lối đi rộng để 2 xe tứ mã có thể vượt qua nhau. Người ta biết rằng 1 tác phẩm như thế đã được xếp vào số 7 Kỳ quan thế giới. » == Chú thích & tham khảo == Meineke, Augustus (Editor) (1877). Strabonis Geographica. Lipsiae: B.G. Teubneri. Strabo in Greek, Teubner Edition. Downloadable Google Books at [1]. "Biography of Strabo", Tufts, webpage: Bio-Strabo. Strabon, Géographie, éd. en grec et trad. en français sous la dir. de François Lasserre, Paris, depuis 1966, 9 t. parus (CUF) ISBN 2-251-00314-2. Bản mẫu:Commentaire biblio The geography of Strabo, éd. en grec et trad. en anglais par Horace Leonard Jones et John Robert Sitlington Sterrett, Londres, Cambridge (MA), New York, 1917-1932, 8 vol. (The Loeb classical library, 49, 50, 182, 196, 211, 223, 241 et 267); repr. 1968-1989 ISBN 0-434-99267-4.Bản mẫu:Commentaire biblio Các bản dịch và xuất bản phẩm khác Strabons Geographika: mit Übersetzung und Kommentar, éd. en grec et trad. en allemand par Stefan Lorenz Radt, Göttingen, depuis 2002, 7 t. parus (détail). Géographie de Strabon, trad. en français par Amédée Tardieu, Paris, 1867-1890, 4 vol. (en ligne). Strabonis Geographica: graece cum versione reficta, éd. en grec et trad. en latin par Karl Müller et Jean-Frédéric Dübner, Paris, 1853, 2 vol. (Scriptorum Graecorum bibliotheca) (en ligne). Strabonis Geographica, éd. en grec par Augustus Meineke, Leipzig, 1852-1853 (Bibliotheca Scriptorum Graecorum et Romanorum Teubneriana) (en ligne). == Liên kết ngoài == Biography of Strabo Germaine Aujac, Strabon et son temps, dans Geographie und verwandte Wissenschaften, sous la dir de Wolfgang Hübner, Stuttgart, 2000, p. 103-139. Editions of Strabo’s Geography, Sarah Pothecary, 2005.
djibouti.txt
Cộng hòa Djibouti (Tiếng Việt: Cộng hòa Gi-bu-ti; tiếng Ả Rập: جمهورية جيبوتي Jumhuriyaa Jibuti; tiếng Pháp: République de Djibouti) là một quốc gia ở Đông Châu Phi (sừng châu Phi). Quốc gia này giáp Eritrea về phía bắc, Ethiopia về phía tây và nam, và Somalia về phía đông nam. Phần còn lại của biên giới là Biển Đỏ và vịnh Aden. == Lịch sử == Khoảng thế kỉ thứ 3 TCN, người Ablé từ bán đảo Ả Rập di cư sang vùng lãnh thổ hiện nay của Djibouti. Con cháu họ là người Afar, một trong hai nhóm sắc tộc chính ở quốc gia này. Sau đó, người Somal Issa cũng đến định cư ở đây. Hồi giáo được truyền bá vào vùng này từ năm 825. Việc khai thông kênh đào Suez (1869) đã làm tăng tầm quan trọng của cảng Obock xưa mà người Pháp giành quyền sở hữu từ năm 1862. Năm 1896, vùng Bờ biển Soomaaliya thuộc Pháp được thành lập do Ethiopia nhượng lại cho Pháp để đổi lấy việc xây dựng đường sắt nối liền Adis Abeba đến cảng Djibouti, trở thành lãnh thổ hải ngoại năm 1946 và hưởng quyền tự trị năm 1956. Ethiopia và Soomaaliya đòi lại chủ quyền lãnh thổ, nhưng sau cuộc trưng cầu ý dân năm 1967, vùng này trở thành lãnh thổ của người Afar và Issa thuộc Pháp. Djibouti giành độc lập năm 1977 nhưng vẫn còn duy trì một căn cứ quân sự của Pháp. Năm 1991, xung đột giữa người Afar và Chính phủ do người Issa cầm quyền đã bùng nổ, cuộc chiến kéo dài đã tàn phá đất nước. Năm 1999, Tổng thống Hassan Gouled Aptidon, nhà lãnh đạo từ ngày độc lập, rút khỏi chính trường, nhường chức cho Ismail Omar Guelleh. Tháng 3 năm 2000, phe nổi dậy thuộc sắc tộc Afar ký hiệp ước hòa bình với Chính phủ. Bất ổn từ phía cộng đồng người thiểu số Afars dẫn đến nội chiến trong suốt thập kỷ 90 và kéo dài đến năm 2001 khi một hiệp định hòa bình được ký kết giữa phe nổi loạn người Afars và chính quyền do người Issa nắm. Năm 1999, Djibouti tiến hành bầu cử và thành lập Chính phủ do Tổng thống Ismail Omar Guelleh đứng đầu. Ông tái đắc cử một nhiệm kỳ nữa năm 2005. == Chính trị == Djibouti là một nước cộng hòa bán tổng thống, với quyền hành pháp nằm trong tay chính phủ, và quyền lập pháp được trao cho chính phủ và Quốc hội. Vào tháng 4 năm 2010, một hiến pháp quốc gia mới đã được phê duyệt. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước, và được dân bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm. Chính phủ đứng đầu là thủ tướng, người được bổ nhiệm bởi Tổng thống và Hội đồng Bộ trưởng. Quốc hội có 65 thành viên đại biểu, được bầu với nhiệm kỳ năm năm. Hiện nay Djibouti tham gia nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Liên minh châu Phi AU, Tổ chức Lương thực Thế giới FAO, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, Tổ chức Cảnh sát Quốc tế Interpol, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNESCO, Liên minh Bưu chính Quốc tế UPU, Tổ chức Y tế Thế giới WHO, Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. == Tôn giáo == Hồi giáo được tuân thủ bởi 94% dân số Djibouti (khoảng 740.000 người theo ước tính năm 2012), trong khi số còn lại 6% theo Kitô giáo. Hiến pháp của Djibouti công nhận Hồi giáo là quốc giáo duy nhất, nhưng cũng bảo đảm quyền bình đẳng của công dân thuộc tất cả các tôn giáo (Điều 1) và tự do thực hành tôn giáo (Điều 11). == Vùng và khu hành chính == Djibouti được chia thành 5 quận là: Ali Sabih, Dikhil, Djibouti, Obock, và Tadjoura. Sau đó được chia tiếp thành 11 huyện. == Địa lý == Djibouti nằm ở khu vực Đông Phi, ở vào vị trí chiến lược bên vịnh Aden, gần lối vào biển Đỏ và có chung biên giới với Ethiopia, Eritrea, Somalia. Lãnh thổ Djibouti phần lớn là sa mạc, địa hình gồm núi và cao nguyên, ven biển là những đồng bằng hẹp. Tài nguyên thiên nhiên ở Djibouti chỉ có các vùng địa nhiệt, ngoài ra không hề có nguồn tài nguyên nào khác. Do chịu ảnh hưởng của sa mạc Sahara nên Djibouti có khí hậu sa mạc, khô và nóng, nhiệt độ trung bình 27-32 độ, lượng mưa trung bình năm chỉ khoảng 100–150 mm. == Kinh tế == Nền kinh tế Djibouti dựa trên các hoạt động dịch vụ khai thác từ lợi thế vị trí địa lý có tính chiến lược và quy chế thương mại tự do tại vùng Sừng châu Phi. 2/3 dân số Djibouti sinh sống tại thành phố thủ đô cùng tên Djibouti. Số còn lại chủ yếu là dân du mục sinh sống bằng nghề chăn thả. Lượng mưa ít làm hạn chế sản xuất nông nghiệp, chỉ còn một số loại cây rau quả cho thu hoạch trong khi phần lớn lương thực phải nhập khẩu. Ngành dịch vụ mà Djibouti cung cấp chủ yếu là quá cảnh hàng hóa qua cảng cho toàn khu vực cũng như tự biến thành trung tâm chuyển tải và tiếp liệu cho tàu bè. 70% hoạt động cảng container Djibouti là liên quan đến xuất nhập khẩu của nước láng giềng Ethiopia. Djibouti cũng là nước có rất ít tài nguyên nên các ngành công nghiệp không phát triển. Thực tế, Djibouti phụ thuộc nặng nề vào trợ giúp bên ngoài để cân bằng ngân sách và tài trợ cho các dự án phát triển. Tuy tỷ lệ lạm phát không cao nhờ việc neo bản tệ vào đồng đo la Mỹ phần nào giúp xã hội tương đối ổn định nhưng lại làm cho giá trị đồng tiền cao hơn thực tế và khiến cho tình hình cân bằng tài khoản vãng lai thêm trầm trọng. Tỷ lệ thất nghiệp cao, lên đến 60% khu vực thành thị là một vấn đề Chính phủ Djibouti phải giải quyết. Tiêu dùng thực tế giảm sút khoảng 35% trong thời gian từ năm 1999 đến năm 2006 vì các lý do nền kinh tế suy thoái, nội chiến và dân số tăng nhanh (bao gồm cả tăng dân số cơ học). Ngoài ra, Djibouti chủ yếu sống nhờ tiền cho thuê đất làm căn cứ quân sự (Mỹ, Pháp, Ý, Nhật, Trung Quốc đã có căn cứ tại đây, còn Ả Rập Saudi cũng khẳng định sẽ sớm có mặt) thu về gần 160 triệu USD mỗi năm. Tháng 4 năm 2005, Chương trình lương thực thế giới Liên Hiệp Quốc khuyến cáo rằng 30.000 người ở Djibouti phải đối mặt với nạn thiếu hụt lương thực nghiêm trọng sau 3 năm ít mưa. == Nhân khẩu == Dân số của Djibouti hiện nay là 476.703 người với mật độ dân số khoảng 21 người/km², gồm các sắc tộc chính là người Somali chiếm 60%, người Afar chiếm 35%, các dân tộc khác 5% (bao gồm người Pháp, người Ả Rập, người Ethiopia, và người Ý). Hơn 2/3 dân số Djibouti sống ở Thành phố Djibouti. Djibouti là một quốc gia đa chủng tộc. Hai nhóm dân tộc lớn nhất là Somalia (60%) và Afar (35%). 5% còn lại của dân số Djibouti chủ yếu bao gồm người Ả Rập, Ethiopia và châu Âu (Pháp và Ý). Khoảng 76% dân số sống ở đô thị, phần còn lại là những người du mục chăn gia súc. Ngoài ra, Djibouti còn là một quốc gia đa ngôn ngữ. Theo Ethnologue, đa số người dân nói tiếng Somali (297.000 người) và tiếng Afar (99.200 người) như một ngôn ngữ mẹ đẻ. Có hai ngôn ngữ khác được chính thức tại Djibouti: tiếng Ả Rập và tiếng Pháp. Tiếng Ả Rập có tầm quan trọng xã hội, văn hóa và tôn giáo. Khoảng 36.000 người dân nói tiếng Ả Rập phương ngữ Ta'izzi-Adeni, còn được gọi là tiếng Ả Rập Djibouti. Tiếng Pháp được thừa hưởng từ thời kỳ thuộc địa và là ngôn ngữ giảng dạy chính thức. Khoảng 10.200 người nói nó như một ngôn ngữ thường dùng. Ngôn ngữ của người nhập cư bao gồm tiếng Ả Rập Oman (38.900 người), tiếng Amhara (1.400 người), tiếng Hy Lạp (1000 người) và tiếng Hindi (600 người). == Giáo dục == Giáo dục là một ưu tiên trong các chính sách của chính phủ Djibouti. Từ năm 2009, 20,5% ngân sách hàng năm được dùng cho giáo dục. Hệ thống giáo dục của Djiboutian ban đầu được xây dựng để phục vụ cho các học sinh thuộc tầng lớp thượng lưu và tiếp nhận đáng kể từ mô hình giáo dục của thực dân Pháp, và nó không thích hợp với hoàn cảnh và nhu cầu của đất nước. Trong những năm cuối thập niên 90, các nhà chức trách Djiboutian đã điều chỉnh chiến lược giáo dục quốc gia và đưa ra một quá trình tham vấn rộng rãi dựa trên sự tham gia của các cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh, đại biểu quốc hội và các tổ chức phi chính phủ. Chủ động xác định các lĩnh vực cần quan tâm và các khuyến nghị cụ thể để đi đến việc cải thiện ngành giáo dục nước này. Chính phủ sau đó đã chuẩn bị một kế hoạch cải cách toàn diện nhằm mục đích hiện đại hóa lĩnh vực giáo dục trong giai đoạn 2000-2010. Vào tháng 8 năm 2000, chính phủ đã thông qua đạo luật Kế hoạch giáo dục chính thức và dự thảo kế hoạch phát triển trung hạn cho năm năm tiếp theo. Hệ thống giáo dục cơ bản được tái cấu trúc đáng kể và việc thực hiện giáo dục là bắt buộc, với năm năm tiểu học và bốn năm trung học. Các trường trung học cũng đòi hỏi phải có Chứng chỉ Giáo dục cơ bản để nhập học. Ngoài ra, luật mới được giới thiệu hướng dẫn dạy nghề cấp cơ sở và các trường đại học được thành lập trong cả nước. Kết quả của Luật Kế hoạch giáo dục chính thức và dự thảo kế hoạch phát triển trung hạn cho năm năm tiếp theo, đã đạt được các tiến bộ đáng với toàn ngành giáo dục. Trong đó, tỷ lệ nhập học, tham dự và tỷ lệ duy trì việc học đều đặn tăng lên, với một số thay đổi trong khu vực. Từ 2004-2005 đến 2007-2008, học sinh nữ trong trường tiểu học tăng 18,6%; học sinh nam tăng lên 8,0%. Tuyển sinh trong trường trung học so với cùng kỳ tăng 72,4% cho nữ sinh và 52,2% cho nam sinh. Ở cấp trung học, tỷ lệ tăng trong tuyển sinh ròng là 49,8% cho nữ sinh và 56,1% cho các nam sinh. Chính phủ Djiboutian đã đặc biệt tập trung vào phát triển và cải thiện cơ sở hạ tầng cũng như các thể chế giáo dục và tài liệu giảng dạy, trong đó có xây dựng lớp học mới và cung cấp sách giáo khoa. Có một trường đại học trong cả nước là Đại học Djibouti. == Xem khác == == Đọc thêm == == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
hoàng hà.txt
Hoàng Hà (tiếng Hán: 黃河; pinyin: Huáng Hé; Wade-Giles: Hwang-ho, nghĩa là "sông màu vàng"), là con sông dài thứ 3 châu Á xếp sau sông Trường Giang (Dương Tử) và sông Yenisei, với chiều dài 5.464 km sông Hoàng Hà xếp thứ 6 thế giới về chiều dài. Sông Hoàng Hà chảy qua 9 tỉnh của CHND Trung Hoa, bắt nguồn từ núi Bayan Har thuộc dãy núi Côn Lôn trên cao nguyên Thanh Tạng phía tây tỉnh Thanh Hải. Hoàng Hà đổ ra Bột Hải ở vị trí gần thành phố Đông Dinh thuộc tỉnh Sơn Đông. == Tên gọi == Trong các văn liệu chữ Trung Quốc cổ gọi Hoàng Hà đơn giản là 河 (Tiếng Trung cổ: *C.gˤaj), nghĩa là "Hà" hay sông. Tên gọi 黃河 (tiếng Trung cổ: *N-kʷˤaŋ C.gˤaj; tiếng Hán trung đại: Hwang Ha) nghĩa là Hoàng Hà được đề cập đầu tiên trong Hán thư viết về thời kỳ nhà Tây Hán (206 TCN - 9). Chữ Hoàng có nghĩa là màu vàng ám chí nước màu vàng do dòng sông mang nhiều vật liệu có nguồn gốc từ đất vàng (hay hoàng thổ). Một trong những tên gọi cổ hơn trong tiếng Mông Cổ là "Hắc Hà", do dòng sông trong trước khi chảy vào cao nguyên Hoàng Thổ, nhưng tên hiện tại của con sông ở vùng Nội Mông là Ȟatan Gol (Хатан гол, "Queen River"). Ở Mông Cổ, nó có tên là Šar Mörön (Шар мөрөн, "Hoàng Hà"). Ở Thanh Hải, tên sông trong tiếng Tây Tạng là "Sông Công" (tiếng Tây Tạng: རྨ་ཆུ།, Ma Chu; tiếng Trung: giản thể 玛曲, phồn thể 瑪曲, p Mǎ Qū). Tên tiếng Anh Hwang Ho là tên ghi trên bản đồ được latin hóa của sông trong tiếng Quan thoại. == Lưu vực == Hoàng Hà bắt nguồn từ dãy núi Côn Lôn ở phía tây bắc tỉnh Thanh Hải, từ độ cao 4.500 m trong vùng lòng chảo Yekuzonglie nằm ở phía bắc của dãy núi Bayankara (hay Ba Nhan Khách Lạp) trên cao nguyên Thanh Tạng. Từ đầu nguồn của nó, con sông chảy theo hướng nam, sau đó tạo ra một chỗ uốn cong về hướng đông nam và sau đó lại chảy theo hướng nam một lần nữa cho đến khi tới thành phố Lan Châu, thủ phủ của tỉnh Cam Túc, là nơi mà điểm uốn cong lớn về phía bắc, bắt đầu. Con sông chảy về phía bắc qua Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ tới khu tự trị Nội Mông, đoạn cong này gọi là Hà Sáo. Sau đó con sông này lại đổi hướng, chảy gần như thẳng về phía nam, tạo ra ranh giới của hai tỉnh Thiểm Tây và Sơn Tây. Khoảng 130 km về phía đông bắc của thành phố Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây, Hoàng Hà lại đổi hướng để chảy về phía đông. Nó chảy tới những vùng đất trũng ven biển ở miền đông Trung Quốc gần thành phố Khai Phong. Sau đó chảy qua Tế Nam, thủ phủ của tỉnh Sơn Đông và đổ ra biển Bột Hải (vịnh Bột Hải). === Chi lưu === == Các đập thủy điện == Dưới đây là danh sách các nhà máy thủy điện được xây dựn trên Hoàng Hà, xếp theo năm vận hành đầu tiên: Đập Sanmenxia (1960; Tam Môn Hiệp, Hà Nam) Nhà máy thủy điện Sanshenggong (1966) Đập Qingtong, nhà máy thủy điện (1968; Thanh Đồng Hạp, Ninh Hạ) Đập Liujiaxia (Liujia Gorge) (1974; Vĩnh Tĩnh, Cam Túc) Đập Lijiaxia (1997) (Jainca, Thanh Hải) Đập Yanguoxia (Yanguo Gorge), nhà máy thủy điện (1975; Yongjing County, Cam Túc) Nhà máy thủy điện Tianqiao (1977) Đập Bapanxia (Bapan Gorge) (1980; Tây Cố, Lan Châu, Cam Túc) Đập Longyangxia (1992; Cộng Hòa, Thanh Hải) Đập Da Gorge, nhà máy thủy điện (1998) Đập Li Gorge, nhà máy thủy điện (1999) Đập Wanjiazhai (1999; Thiên Quan, Thiểm Tây và Nội Mông) Đập Xiaolangdi (2001) (Tế Nguyên, Hà Nam) Đập Laxiwa (2010) (Quý Đức, Thanh Hải) Theo một báo cáo năm 2000, 7 nhà máy thủy điện lớn nhất (Longyangxia, Lijiaxia, Liujiaxia, Yanguoxia, Bapanxia, Daxia và Qinglongxia) có tổng công suất lắp máy là 5.618 MW. == Ảnh hưởng đến dân sinh == Nó tưới tiêu cho một khu vực rộng 944.970 km vuông (364.417 dặm vuông), nhưng do tính chất khô cằn chủ đạo của vùng này (không giống như phần phía đông thuộc Hà Nam và Sơn Đông) nên lưu lượng nước của nó tương đối nhỏ. Tính theo lưu lượng nó chỉ bằng 1/15 của sông Trường Giang và 1/5 của sông Châu Giang, mặc dù khu vực tưới tiêu của con sông cuối (Châu Giang) chưa bằng một nửa của Hoàng Hà. Trong lịch sử hàng ngàn năm của Trung Quốc, Hoàng Hà vừa đem lại lợi ích vừa đem lại tai họa cho người dân, vì thế nó còn được coi là "Niềm kiêu hãnh của Trung Quốc" (pinyin: Zhōngguó de Jiāoào) và "Nỗi buồn của Trung Quốc" (pinyin: Zhōngguó de Tòng). Các ghi chép chỉ ra rằng, từ năm 602 đến ngày nay, con sông này đã ít nhất 5 lần đổi dòng và các con đê bao bọc đã vỡ không dưới 1.500 lần. Lần thay đổi dòng năm 1194 đã phá vỡ hệ thống tưới tiêu của sông Hoài trong gần 700 năm sau. Phù sa Hoàng Hà đã ngăn chặn dòng chảy của sông Hoài và làm hàng ngàn người mất nhà ở. Mỗi lần đổi dòng nó khi thì đổ ra Hoàng Hải, khi thì ra vịnh Bột Hải. Hoàng Hà có dòng chảy như ngày nay từ năm 1897 sau lần đổi dòng cuối cùng năm 1855. Trong suốt thế kỷ 20, Hoàng Hà mang ra biển khoảng 0,9x10⁹ tấn trầm tích/năm. Màu nước vàng của con sông là do phù sa mà nó mang theo. Hàng thế kỷ của việc bồi đắp và sự bao bọc của các con đê đã làm con sông này chảy ở độ cao lớn hơn so với đất nông nghiệp hai bên bờ, làm cho việc ngập lụt trở nên nguy hiểm hơn. Ngập lụt của Hoàng Hà đã gây ra sự chết chóc khủng khiếp trong lịch sử như năm 1887 Hoàng Hà đã giết chết khoảng 900.000-2.000.000 người và năm 1931 nó đã giết chết khoảng 1.000.000-3.700.000 người. Năm 1938, trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai, quân đội của Tưởng Giới Thạch đã phá đê bao bọc Hoàng Hà để ngăn cản bước tiến của quân Nhật và làm ngập lụt một vùng rộng lớn làm chết khoảng 500.000-900.000 người. Đôi khi người ta còn gọi nó là 濁流 (Trọc Lưu), nghĩa là dòng nước đục. Thành ngữ Trung Quốc "Khi nước Hoàng Hà trong" ám chỉ điều không bao giờ xảy ra. Hiện nay, tình trạng khô hạn do có quá nhiều đập nước trên Hoàng Hà đã trở thành một vấn đề cho nông nghiệp và hệ sinh thái của khu vực đồng bằng Hoa Bắc. Hai tỉnh Hà Bắc và Hà Nam được đặt tên theo con sông này. Tên của hai tỉnh này có nghĩa là "bắc" và "nam" của Hoàng Hà. Các thành phố chính dọc theo Hoàng Hà tính từ đầu nguồn bao gồm: Lan Châu (thuộc tỉnh Cam Túc), Ô Hải, Bao Đầu, Khai Phong, và Tế Nam. == Hình ảnh == == Đọc thêm == Bằng tiếng Anh: Sinclair, Kevin. 1987. Hoàng Hà: 5.000 năm du lịch qua Trung Quốc. (Dựa trên các tư liệu truyền hình). Child & Associates Publishing, Chatswood, Sydney, Australia. ISBN 0-86777-347-2 == Xem thêm == Đại Vận Hà Địa lý Trung Quốc Đồng bằng Hoa Bắc Cao nguyên hoàng thổ Danh sách các sông lớn của châu Á Danh sách các sông Trung Quốc == Chú thích == == Tham khảo == Sinclair, Kevin. 1987. The Yellow River: A 5000 Year Journey Through China. (Based on the television documentary). Child & Associates Publishing, Chatswood, Sydney, Australia. ISBN 0-86777-347-2 == Liên kết ngoài == Thủy kinh chú sớ
quy tắc markovnikov.txt
Trong hóa học, quy tắc Markovnikov là một quan sát dựa trên quy tắc Zaitsev. Nó được nhà hóa học người Nga V. V. Markovnikov phát biểu năm 1870 . Trong các phản ứng hóa học được thấy cụ thể trong hóa hữu cơ, quy tắc này phát biểu rằng với sự bổ sung (cộng) của H-X vào anken, thì nguyên tử hiđrô (H) sẽ gắn với nguyên tử cacbon nào có ít thành phần thay thế gốc ankyl hơn (nguyên tử cacbon bậc thấp) còn nhóm halua (X) sẽ gắn với nguyên tử cacbon nào có nhiều thành phần thay thế gốc ankyl hơn (nguyên tử cacbon bậc cao). Điều tương tự là đúng khi anken phản ứng với nước trong một phản ứng cộng để tạo thành rượu. Nhóm hydroxyl (OH) liên kết với nguyên tử cacbon với số lượng liên kết cacbon-cacbon cao hơn, trong khi nguyên tử hiđrô liên kết với nguyên tử cacbon ở đầu kia của liên kết đôi (với nhiều liên kết cacbon-hiđrô hơn). Nền tảng hóa học của quy tắc Markovnikov là sự hình thành của cacbocation ổn định nhất trong phản ứng cộng. Sự bổ sung của hiđrô vào một nguyên tử cacbon trong anken tạo ra một điện tích dương trên nguyên tử cacbon kia, tạo ra một cacbocation trung gian. Cacbocation càng bị thay thế nhiều hơn (các liên kết mà nó có với cacbon hay với các thành phần thay thế cung cấp điện tử là nhiều hơn) thì nó càng ổn định, do cảm ứng. Sản phẩm chính của phản ứng cộng sẽ là chất được tạo thành từ chất trung gian ổn định hơn. Vì thế, sản phẩm chính của phản ứng cộng HX (trong đó X là nguyên tử nào đó có độ âm điện cao hơn H) vào anken sẽ có nguyên tử hiđrô ở vị trí ít bị thay thế hơn và thành phần X ở vị trí bị thay thế nhiều hơn. Tuy nhiên, một điều quan trọng cần lưu ý là cacbocation ít bị thay thế và kém ổn định hơn cũng được tạo ra ở một mức độ nào đó và sẽ được dùng để tạo ra sản phẩm phụ với trật tự gắn của hiđrô và X là ngược lại. Quy tắc này có thể phát biểu nôm na như sau: "Kẻ giàu càng giàu thêm còn kẻ nghèo càng nghèo hơn". Nguyên tử cacbon giàu thành phần thay thế sẽ thu được nhiều thành phần thay thế hơn còn nguyên tử cacbon với nhiều hiđrô sẽ nhận thêm hiđrô trong nhiều phản ứng cộng của các hợp chất hữu cơ. == Ngữ cảnh lịch sử == Một trong những phản ứng mà Markovnikov dựa quy tắc của ông vào đó (thực hiện lần đầu tiên năm 1865) là phản ứng của iodua hiđrô (HI) với brômua vinyl (CH2=CH-Br). Trong biểu lộ khác của quy tắc của ông, ông đã quan sát thấy nguyên tử halogen (I) bổ sung thêm vào nguyên tử cacbon đã có sẵn nguyên tử halogen. Phản ứng thủy phân halua của sản phẩm tạo ra từ phản ứng ban đầu với ôxít bạc (Ag2O) ẩm để tạo ra etanal chứng minh cho kiểu thay thế 1,1. Người ta nhận thấy rằng ấn bản ban đầu năm 1870 của Markovnikov là cẩu thả và tự bản thân ông cũng không thực hiện nhiều công việc thực nghiệm. Bản thân quy tắc này chỉ xuất hiện như là chú giải trong trang thứ tư của bài báo 26 trang, điều đó lý giải tại sao quy tắc của ông phải mất 60 năm để trở nên nổi tiếng. == Phản quy tắc Markovnikov == Cơ chế tránh cacbocation trung gian có thể phản ứng thông qua cơ chế khác, đó là chọn lọc cấu trúc, ngược lại với những gì mà quy tắc Markovnikov dự đoán, chẳng hạn như phản ứng cộng gốc tự do. Những phản ứng như thế được gọi là phản Markovnikov', do nguyên tử halogen sẽ bổ sung vào nguyên tử cacbon có ít thành phần thay thế hơn. Một lần nữa, tương tự như điện tích dương, gốc tự do là ổn định nhất khi nằm ở vị trí được thay thế nhiều hơn. Cách thức phản ứng phản Markovnikov được mở rộng cho các phản ứng hóa học khác hơn là chỉ có trong mỗi phản ứng cộng cho các anken. Một biểu thị của phản Markovnikov được quan sát trong phản ứng hydrat hóa của phenyl axetylen, trong đó với xúc tác là vàng (Au) sẽ cho sản phẩm là axetophenon thông thường, nhưng với xúc tácđặc biệt là ruteni thì đồng phân cấu trúc khác là 2-phenylaxetalđehyt: Cách thức phản ứng phản Markovnikov cũng có thể được biểu lộ trong các phản ứng tái sắp xếp nhất định nào đó. Trong xúc tác clorua titan (IV) (TiCl4) phản ứng thế ái lực hạt nhân chính thức tại đồng phân lập thể (enantiomer) 1 trong sơ đồ dưới đây thì hai sản phẩm racemic được tạo ra là 2a và 2b : Sự phân bố sản phẩm này có thể được giải thích bằng giả thuyết cho rằng sự mất đi nhóm hydroxy trong 1 tạo ra cacbocation A bậc ba và nó được sắp xếp lại thành cacbocation bậc hai B dường như ít thu hút hơn. Clo có thể tiếp cận trung tâm này từ hai mặt dẫn tới sự tạo ra hỗn hợp được ghi nhận lại của các đồng phân. == Tham khảo ==
các tông phái phật giáo.txt
Đạo Phật có một lịch sử phát triển rất thăng trầm trong suốt hơn 2500 năm và nó lan toả từ Ấn Độ ra khắp nơi. Do đó, việc hình thành các bộ phái khác nhau có phương pháp tu học và cách giải thích khác nhau về giáo lý cho thích hợp với tình hình của mỗi xã hội mỗi thời điểm là chuyện tất yếu. Tuy vậy, bản thân giáo lý Phật giáo không hề có sự phân chia tông phái này. Sự phân chia thành bộ phái rõ nét đã bắt đầu xảy ra vào thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ II (tức là khoảng 100 năm sau khi Tất-đạt-đa Cồ-đàm mất). Lần phân chia đầu tiên là do sự bất đồng về yêu cầu thay đổi 10 điều giới luật. Các điều này tuy không phải là những thay đổi lớn lao nhưng đủ để gây ra sự tách biệt tăng đoàn thành Đại Chúng bộ (Mahàsamghika) mà đa số là các tì kheo trẻ muốn thay đổi. Số còn lại bảo thủ các giới luật nguyên thuỷ hình thành Thượng tọa bộ (Theravada). Các cuộc phân phái về sau trở nên phức tạp và đa dạng hơn. == Sự phân phái ở Ấn Độ. == === Các phái bộ trong Đại Chúng bộ === Đại Chúng bộ có trung tâm hoạt động tại Amgotara, thuộc vùng Trung Ấn. Đại Chúng bộ vốn có hệ tư tưởng cấp tiến nên đã xảy ra việc phân hoá trước. Các cuộc phân hoá này tất cả đều tách ra từ Đại Chúng Bộ và hình thành tổng cộng thành 9 bộ phái trong đó quan trọng về mặt lý luận bao gồm: Nhất Thuyết bộ (Ekavyavahàrikah) cho rằng mọi sự vật, hiện tương đều là giả không có thực tính. Thuyết Xuất Thế bộ, hay Chế Đa Sơn bộ, (Lokuttaravàdinàh) quan niệm sự vật, hiện tượng là do vọng tưởng mà ra, từ đó sinh phiền não, phiền não tạo nghiệp, do nghiệp mới có quả báo. Do đó, các sự vật, hiện tượng đều là hư vọng. Bộ phái này thừa nhận các sự vật, hiện tượng là thật có. Kê Dận bộ (Kankkutikàh) cho rằng Kinh tạng và Luật tạng là giáo lý do Đức Phật thuyết tùy căn cơ và hoàn cảnh, chỉ có Luận tạng mới là giáo lý chân thật vì nó giải thích ý nghĩa của Kinh và Luật. Đa Văn bộ (Bàhusrutiyàh), do Yajnavalkya cổ xuý, cho rằng chỉ có ngũ uẩn (vô thường, khổ, không, vô ngã và Niết Bàn) và Bát chánh đạo mới là pháp xuất thế; những lời dạy khác của Thích Ca là thế gian pháp. Thuyết Giả bộ (Prajnàptivadinàh), do Mahakatyayana chủ xướng, phân biệt giáo lý thành nhiều cấp độ: giả lập, chân thật, có ý nghĩa tương đối, ý nghĩa tuyệt đối; các sự vật, hiện tượng và xuất thế gian đều có một phần là giả thuyết. Các bộ phái khác là Chế Đa Sơn bộ (Caityasailàh), Tây Sơn Trú bộ (Aparasailàh) và Bắc Sơn Trú bộ (Uttarasailàh). === Các phái bộ trong Thượng tọa bộ === Sự thay đổi về điều kiện xã hội và địa lý và sự phân hoá trong Đại Chúng bộ có thể là nguyên nhân gây ra sự chia phái của Thượng tọa bộ thành tổng cộng hơn 10 bộ. Các phái có sự chuyển hoá về lý luận bao gồm: Nhất Thiết Hữu bộ (Saivàstivàdàh), hay Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ, Thuyết Nhân bộ (Hetuvàdàh), đề cao Luận tạng và cho rằng tất cả các pháp đều là thực hữu. Sarva là tất cả (nhất thiết), asti là hữu, vādah là thuyết Từ khi phân phái Thượng tọa bộ yếu thế hơn, chuyển căn cứ đến Kashmir (Tuyết Sơn) đổi tên thành Tuyết Sơn bộ (Haimavàtàh). Độc Tử bộ (Vatsipatriyàli) tách ra từ Nhất Thiết Hữu bộ. Bộ này vẫn đề cao Luận tạng, nhưng điểm khác biệt là chỉ dựa vào Pháp uẩn túc luận (tương truyền do ngài Xá-lợi-phất (Sariputra) soạn). Sau đó, Độc Tử bộ phân hóa và thành bốn bộ phái là Pháp Thượng bộ (Dharmottariyàh), Hiền Trú bộ (Dhadrayàniyàh), Chánh Lượng bộ (Sammitiyàh) và Mật Lâm Sơn bộ (Sandagirikàh). Hóa Địa bộ (Mahìsarakàh). Hình thành từ Nhất Thiết Hữu bộ, sau khi Phật nhật tịch khoảng 300 năm, và do sư Hóa Địa, nguyên là một bà-la-môn thông thạo Vệ Đà, chủ xướng. Ông thường vận dụng hiểu biết của mình để giảng giải kinh Phật. Pháp Tạng bộ (Dharmaguptakàh), do Pháp Tạng chủ xướng. Pháp Tạng (Dharmagupta) là đệ tử của Tôn giả Mục-kiền-liên (Moggallàna). Pháp Tạng đã kết tập những lời giảng của thầy và lập thành bộ phái mới, tách ra từ Hoá Địa bộ, chia giáo lý thành năm tạng là Kinh, Luật, Luận, Chú và Bồ tát tạng. Ẩm Quang bộ (Kàsyapiyàh), do sư Ẩm Quang (Kàsyapa) tách ra từ Nhất Thiết Hữu bộ, cho rằng những lời Phật dạy gồm hai dạng: một nhằm đối trị phiền não, và còn lại là để chỉ ra những bất ổn của các học thuyết ngoại đạo. Ngoài ra, lần phân hoá cuối cùng của Nhất Thiết Hữu bộ cũng tạo ra Kinh Lượng bộ (Sautràntikàh), hay còn gọi là Thuyết Chuyển bộ (Samkràntivàdàh), xem Kinh tạng mới là giáo lý quan trọng nhất. == Các nguyên do dẫn đến sự phân phái == Từ thời Tất-đạt-đa Cồ đàm còn sống, ông đã dùng rất nhiều biện pháp, cách thức và công cụ khác nhau để tuỳ theo trình độ, khả năng liễu đạo và tuỳ theo hoàn cảnh của đối tượng để truyền giảng. Ngôn ngữ chỉ là phương tiện được mượn để Tất-đạt-đa Cồ đàm chỉ rõ chân lý cho người nghe. Chính vì sự linh hoạt, mềm dẻo và phong phú trong Phật giáo đã dẫn đến nhiều lý giải khác nhau về các lời truyền giảng. Phật giáo đã tồn tại trong thời gian rất dài và lan toả ra nhiều địa bàn khác nhau. Các đặc điểm của tôn giáo này sẽ chuyển vận để thích nghi môi trường và phù hợp với phong tục tập quán của từng con người, từng cộng đồng khác nhau trong xã hội cũng như các nền văn minh riêng biệt. Cốt tuỷ của đạo Phật không phải là các hình thức cứng nhắc của lễ đạo hay các lời sấm giảng mà là các phương pháp thực hành đôi khi dị biệt để dẫn dắt hành giả chứng ngộ được chân lý tối thượng. Sự hiện hữu của sự phân hoá về cách tu học, lý giải và chứng đạo cũng là một phản ánh thực tế đặc điểm của đạo Phật. Sự khác biệt này không chỉ tìm thấy được qua số lượng (lên đến vài trăm) các bộ phái trong Phật giáo mà còn có thể thấy được qua các hình thức bề ngoài chẳng hạn như là các kiến trúc, tác văn và các tượng Phật ở từng nơi, từng thời kỳ. Ngoài ra, khi số lượng người trong tăng đoàn thực sự đủ lớn thì việc khác biệt nhau về quan điểm hầu như là thực tế tất yếu. Các quan điểm khác nhau về giới luật hay hình thức tu học dù chỉ là những điểm nhỏ cũng là một nguyên nhân đủ để tạo được các cuộc phân phái. Những cuộc phân phái xảy ra thời vua Asoka phần lớn là vì sự sai biệt về giáo luật dù chỉ là các điểm nhỏ nhặt. Ngay trong thời kì đầu của giáo hội, việc chuyên biệt hoá đã xảy ra cho từng nhóm tu học. Mỗi nhóm chuyên biệt có thể giữ một trọng trách để ghi nhớ một bộ phận khác nhau của giáo lý. Những nhóm này thường chỉ nghiên cứu, học hỏi sâu trong các chuyên phần mà họ có trách nhiệm. Đây cũng là nguyên nhân đưa đến phân phái sau này. Trong mấy trăm năm đầu hình thành giáo hội, thì việc ghi chép lại giáo lý chưa được tiến hành. Giáo lý chỉ được truyền miệng và đọc tụng bằng trí nhớ và thiếu hệ thống ghi chép chặt chẽ. Kinh văn do từ các cá nhân nhớ, hiểu và đọc lại rất có thể nảy sinh các dị biệt. Trong toàn bộ giáo hội không phải lúc nào cũng hoàn toàn trong sạch, có nhiều thời kì vì lòng tham một số cá nhân đã tìm cách giành quyền lãnh đạo (dù rằng điều này hoàn toàn đi ngược với giáo lý) cũng là nguyên nhân gây chia rẽ và phân phái. Dù rằng Phật giáo đã có nhiều phân nhóm, nhưng tựu trung đây vẫn là tôn giáo ít bạo động nhất. Chủ trương một cuộc sống hoà hợp với môi trường. Trong hơn 2500 lịch sử, Phật giáo đã chứng minh rằng đây là một tôn giáo của hòa bình. == Các bộ phái chính ngày nay == === Sthaviravāda === Sthaviravāda còn gọi là Phật giáo Nguyên thuỷ (khác với Theravada, hay Phật giáo Nam tông, Theravada do Moggaliputta-Tissa thành lập vào thời vua A-Dục). Tông phái Sthaviravāda hình thành ngay trong thế kỷ đầu tiên sau khi Tất-đạt-đa Cồ đàm viên tịch. Chữ Sthaviravāda có nghĩa là "Bộ phái kết tập kinh điển bởi các Bậc Trưởng lão" (Theo kinh điển, lần kết tập Tam tạng này chỉ có sự tham gia của các Bậc A-ra-hán mà thôi, không có sự tham dự của các vị Tỳ kheo phàm nhân), do đó nhiều sách còn gọi nhóm này là Trưởng Lão bộ, hay còn gọi là Phái Bảo Thủ, Phái Nguyên Thủy, nghĩa là có chủ trương thống nhất là hoàn toàn tôn trọng và bảo toàn tất cả những lời dạy ban đầu của Tất-đạt-đa Cồ đàm, không thêm và cũng không bớt những gì mà ông đã thuyết giảng trong Tam tạng kinh điển. Trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ 3, hội đồng tham gia kết tập Tam tạng với Moggaliputta-Tissa đã coi Bộ phái Theravada là Trưởng lão bộ, tức là là tương đương với Trưởng Lão bộ thời nguyên thuỷ Sthaviravāda mà không nêu ra bằng chứng xác đáng. Sau đó, người con trai của vua Asoka (A Dục vương) là Mahinda đã xuất gia cùng với một người em gái, sau đó cả hai đã vâng lời ý nguyện của vua cha, đã cùng với một phái bộ hùng hậu đem tất cả Tam tạng kinh điển đến truyền bá ở vương quốc Tích Lan. Vào thời kỳ đó, Phật giáo Theravada đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của vua và dân chúng nước này nên đã có thời kỳ hưng thịnh rực rỡ như chưa từng thấy. Tam tạng kinh điển bằng tiếng Tích Lan sau đó đã được chuyển dịch lại sang tiếng Pàli và các tạng kinh này đã được Phật giáo Nguyên thủy (Theravada) duy trì và sử dụng cho đến tận ngày nay. (Tiếng Pali còn gọi là tiếng Nam Phạn để phân biệt với tiếng Sanskrit Bắc Phạn là ngôn ngữ mà Tất-đạt-đa Cồ đàm dùng để thuyết pháp giảng đạo). Các bộ kinh chính của Theravada là Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya), Trung Bộ Kinh (Majjiima Nikàya), Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya), Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikàya), Tiểu Bộ Kinh (Khudaka Nikàya). Chính xứ Tích Lan (Sri Lanka ngày nay) là nơi bảo tồn được truyền thống của Theravada mặc dù đạo Phật tại đó là một kế thừa từ trung tâm Ấn Độ. Phật giáo ở Ấn Độ đã bị suy tàn và biến mất từ cuối thế kỉ thứ 11 do việc lan tràn của Hồi giáo và Ấn Độ giáo. === Mahayana === Mahayana có tên gọi khác là Phật giáo Đại thừa hay Phật giáo Bắc tông. Từ thế kỉ thứ 1 TCN các tư tưởng Đại thừa đã bắt đầu xuất hiện và thuật ngữ Mahayana, hay Đại thừa, chỉ thực sự có khi nó được đề cập trong bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharma pundarika sutra). Nói chung, ý tưởng Mahayana là có xu hướng rộng rãi và tự do hơn là các phép tắc ràng buộc của Theravada. Đến thế kỉ thứ 3 khái niệm Mahayana mới được xác định rõ ràng qua các trước tác của bồ tát Long Thọ (Nagarjuna) trong Trung Luận (hay Trung Quán Luận), chứng minh tính không của vạn vật. Các ý này đã được Long Thọ khai triển dựa trên khái niệm "Vô ngã" và "Duyên sinh" đã có từ trong các kinh điển Pali. Vài đặc điểm chính của Mahyana bao gồm: Nhấn mạnh đặc điểm vị tha và giác ngộ để trở thành bồ tát hay thành phật mà độ cho chúng sinh thành phật. Từ bi và trí huệ trở thành hai điểm song song tồn tại và hỗ trợ nhau. Bồ tát đạo (Bodhisattva path): bao gồm việc thực hiện rốt ráo các đức tính bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ. Nhiều hình ảnh phật ngoài Phật Thích Ca cũng đã được nêu lên và các vị phật này thị hiện ở nhiều nơi trong nhiều dạng khác nhau. Chẳng hạn như Phật A Di Đà (Amitabha). Như là sự phát triển của các tư tưởng có sẵn trong Phật giáo, Mahayana cho rằng Phật hiện hữu 3 ứng thân: hoá thân, pháp thân và báo thân. Triết học về tính không (shunyata) của vạn vật. Các kinh điển chính bao gồm: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharma Pundarika Sutra), Kinh Kim Cang (Vajara Sutra), Kinh Bát Nhã (Prajnà), Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahàparinirvàna-sùtra), Kinh Lăng Nghiêm (Suramgama-sùtra), Kinh Viên Giác, Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Mahàprajnàpàramità-hridaya-sùtra), Kinh Duy Ma Cật (Vimalakirti Sutra), Kinh A Di Đà (Amitabha Sutra), v.v. Sự hình thành tư tưởng Đại thừa là một thể hiện của đặc tính mềm dẻo sáng tạo trong đạo Phật của các vị đạo sư để giúp cho tư tưởng Phật giáo được phổ biến một cách thích hợp hơn với thời đại. Chính vì các ưu điểm của mình mà Mahayana tồn tại và có số người tu học cao nhất. Bên trong Đại thừa, lại có các trường phái khác như là Madhymaka, Yogacara. === Vajrayana (Mật giáo) === Varayjana còn có tên gọi là Tantra, Mật tông, Kim cương thừa. Khác với các bộ phái khác, Mật tông thường có khuynh hướng giữ bí mật các thông tin nên khó xác định được chính xác thời điểm ra đời của tông này. Nó xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ 6, hay chắc chắn hơn là thế kỉ thứ 7 ở Ấn Độ. Phái này chia sẻ chung nhiều tư tưởng với Đại thừa nhưng có nhấn mạnh trong việc thực hành. Mật tông đã được phổ biến về hướng Bắc Ấn độ để sang Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật Bản và về hướng Nam để qua mấy xứ Tích Lan, Miến Điện, Nam Dương, Cao Miên, Lào… hình thành 2 nhánh Mật Giáo chính: Mật tông Nam Tông và Mật tông Bắc Tông. Các truyền giảng được tập trung vào nhiều phương pháp tu học thực nghiệm mãnh liệt để đẩy nhanh việc thăng tiến và có thể ngay trong cuộc sống hiện tại sẽ đạt được giác ngộ các thực nghiệm này thường được gọi là phương tiện. Trong Mật tông, việc tu tập không thể tự tiến hành theo sách vở mà phải có một đạo sư đã giác ngộ gọi là "guru" để chỉ dẫn thực hành. (Chữ guru này nay đã trở thành phổ biến trong Anh ngữ và có nghĩa là người thấu triệt toàn bộ một việc gì đó). Mật tông có rất nhiều phương tiện trong đó bao gồm cả những kỹ thuật được nhiều người biết đến là Mandala: Mật tông cho rằng có sự tương đương giữa bản thể người và vũ trụ. Đó là hệ thống đại vũ trụ (macrocosm) và hệ thống tiểu vũ trụ (microcosm). Về hình thức thì mandala là các đồ hình nghệ thuật bao gồm các hoa văn tròn hay vuông đồng tâm được làm hoàn toàn bằng tay với cát màu do nhiều người họp lại và tiến hành trong vài ngày. Về ý nghĩa thì các vòng hoa văn là các hành trình tinh thần và sự quan sát hoàn tất các hành trình làm thức tỉnh các năng lực tinh thần đang bị chôn sâu trong tàng thức của hành giả. Mandala được xem là nghệ thuật độc đáo của Phật giáo. Mantra: Đây là các chú (hay thần chú). Nội dung trong các chú được viết nguyên gốc tiếng Phạn (Sanskrit) được tin là có chứa đầy đặc các ý nghĩa thâm sâu và năng lực huyền diệu. Chúng có thể được đọc, minh họa hình, hay viết ra. Thần chú nổi tiếng nhất là "Om Mani Padme Hum". Theo Mật tông, mantra sẽ hiệu nghiệm nếu như hành giả theo đúng các quy luật của nó. Mudra: Là các thủ ấn (hay nôm na là "bắt ấn"). Thủ ấn được coi là một biểu tượng cho phật hay bồ tát. Số lượng thủ ấn là không đếm được vì nó ứng với số lượng phật hay bồ tát. Thủ ấn không chỉ là biểu tượng mà còn có khả năng phát huy năng lực tinh thần. Tuy nhiên, muốn tiến hành một thủ ấn thì phải đồng bộ quá trình này với tâm. Các pháp môn hành trì khác ít được biết đến hơn là Chân ngôn, Thần thể, Đại thủ ấn, Ngũ Trí Như Lai, Kim cương chử và Kiền trùy. Khối lượng kinh điển Mật tông rất khổng lồ chưa được biết hết. Trong đó cần kể đến đại Nhật, Kim Cang Đảnh, Tô tất địa, Du ký, Yếu lược niệm tụng,... Nếu như Đại thừa có nhiều tính chất thiên về triết lý, tư duy thì Mật tông đi xa hơn về mặt thực nghiệm và cũng thể hiện sự thích ứng linh hoạt của Phật giáo. Vì Đại thừa phát triển mạnh về hướng Bắc, nên Mật tông Bắc Tông nặng về kinh điển, triết lý nhưng thiếu đi tính thực nghiệm. Còn Mật tông Nam Tông thì nặng về thực nghiệm mà lại thiếu đi triết lý, kinh điển. === Tịnh Độ tông === Tịnh Độ Tông (Pure Land) xuất hiện vào giữa thế kỉ thứ 4 từ sự truyền bá của sư Huệ Viễn (Hui-yuan). Tư tưởng về Tịnh Độ thì có sẵn trong Phật giáo Ấn Độ nhưng tới khi sang Trung Hoa thì nó phát triển thành một tông phái. Tịnh Độ tông cũng được xem là một nhánh của Đại thừa song tông này không có sự truyền thừa như các tông phái khác mà chỉ do sự đóng góp công sức để phát huy giáo lý Tịnh Độ. Kinh điển phái này phần chính là các kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà, cộng với luận Vãng sinh Tịnh độ. Theo sự tích thì Phật A Di Đà đã có phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh nào muốn vãn sinh cõi Cực Lạc. Nguyên lý của tông phái dựa vào nguyện lực (tha lực) của Phật A Di Đà và sự nhất tâm niệm danh hiệu Phật. Phương pháp tu học có 3 nguyên tắc Tín: Phải có niềm tin tuyệt đối rằng Phật Di Đà và Cực Lạc quốc tồn tại. Nguyện: Các biểu hiện về tâm, khẩu và ý phải hướng về cõi Tịnh độ và làm suy giảm các nghiệp khác bằng cách dẹp bỏ các ham muốn về vật chất, tình cảm, tư tưởng trong đời sống. Hành: Tập trung, tích cực và chủ động tâm khẩu ý một cách liên tục để có thể đạt trạng thái định và giải thoát. Hình thức tu học phổ biến là: Niệm danh hiệu Phật A Di Đà, tập trung nhìn tượng Phật và quán các tướng tốt của Phật, quán tưởng đến hình ảnh Phật, hay là tập niệm Phật cho đến khi đạt tới mức vô niệm. Đây là một trong các tông phái tương đối dễ tu học nên ở Đông và Nam Á có rất nhiều Phật tử trong vùng theo tông này, nhất là các người lớn tuổi. === Thiền tông === Thiền tông (Dhyana) còn có các tên khác là ZEN, ch'an, tên cũ là Thiền na. Thiền là một phương tiện căn bản đã được đạo Phật sử dụng ngay từ khởi thủy. Nhưng cho đến khi thiền sư sơ tổ của môn phái thiền Trung Hoa là Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) du hành sang Trung Hoa (năm 520) và truyền lại thì Thiền tông bắt đầu trở thành một tông phái riêng biệt. Đến đời thứ 6, sư Huệ Năng (Hui-neng) đã đưa Thiền tông dần dà phát triển và nó đã thịnh hành hơn tất cả các tông phái Phật giáo khác ở Trung Hoa. Huệ Năng cũng là người đã hủy bỏ thông tục truyền thừa, nghĩa là không có sư tổ đời thứ 7 của Thiền Tông, thay vào đó là hàng loạt các thiền sư có khả năng mở thành các phái thiền khác dựa theo sự phân biệt về cung cách luyện tập và cách để đưa thiền giả đến chỗ chứng ngộ chân lý. Ngày nay, Thiền tông là một trong những pháp môn được tu tập nhiều nhất ở các nước phương Tây. Theo nhiều nhà phân tích thì Thiền tông là một phân nhánh của Mahayana. Vài đặc điểm của Thiền tông: Thiền giả sẽ rèn luyện sự tập trung tư tưởng mãnh liệt không để cho phân tán bằng cách áp dụng các cách thức thích hợp (định). Một khi tâm ý đã đạt được trạng thái định thì tùy theo căn cơ, thì thiền giả có thể mở tung được sự trói buộc của tâm lý và đạt được trí huệ hay ngộ (satory) thường dưới sự hướng dẫn của một thiền sư. Khác với các tông phái khác, Thiền tông đòi hỏi thiền giả phải thực nghiệm với nỗ lực của chính bản thân để chứng và không cần tới lý thuyết hay văn tự (bất lập văn tự). Trong thiền thì các kinh nghiệm, các lề lối tư duy logic truyền thống, các chấp trước, các định kiến đều bị phá đổ để giúp hiển lộ sự sáng suốt nội tại sẵn có (Phật tính của vạn vật - Buddha nature). Đặc biệt theo quan điểm của Thiền tông, hành giả có thể trực tiếp chứng ngộ chân lý trong đời sống hiện tại gọi là "đốn ngộ". Thiền không có nghĩa là phải ngồi thiền (hay toạ thiền) mà có thể dùng các hình thức để tập trung tâm ý khác. Huệ Năng có nói: "Thiền là tâm tọa" (chứ không phải thân tọa). Đây cũng là một đặc điểm rất uyển chuyển đã biến Thiền tông thành nhiều dạng nghệ thuật khác như trà thiền (hay trà đạo), vườn thiền và tranh vẽ thiền (hay hoạ thiền). Các hình thức luyện tập chính của Thiền tông là: Mặc chiếu là phương pháp trong đó thiền giả buông bỏ hết mọi tìm kiếm, mọi ràng buộc gắn bó, mọi mong đợi; buông bỏ tất cả mọi bận rộn về trí não, mọi niệm phân biệt. Tỉnh thức lặng lẽ, chấp nhận tất cả mọi chuyện một cách đầy đủ. Không mong đợi bất cứ gì, cũng không trụ tâm vào điều gì. Tham vấn thoại đầu hay công án (koan) Thoại đầu (những câu nói ngắn) hay công án (các mẫu đối thoại nhỏ) được thiền giả dùng để đặt hết tâm trí vào đó nhằm tìm ra chiết khúc bên trong. Những câu đối đáp hay câu hỏi thường không có một luật logic nào hết nhằm phá bỏ các chấp trước nảy sinh trong dòng suy tư của thiền giả. Khi giải quyết được thoại đầu hay công án này thì thiền sinh có thể giác ngộ. Thường chỉ khi nào thiền sinh đã đạt đến mức giữ được tâm ý không động loạn thì mới dùng đến phương tiện này. Ngoài ra, trong Thiền tông không có một chừng mực hay phương pháp tuyệt đối nào. Thiền sư có thể dùng các phương pháp rất khó hiểu và kì lạ như là đánh, hét, ra dấu, mời ăn cơm, uống nước trà hay lặng thinh để kích hoạt cho việc đốn ngộ của những thiền sinh đạt được mức độ chín mùi. Các kinh văn: Hầu hết các kinh văn Phật giáo đều có thể được dùng trong Thiền tông để lý giải hay giáo huấn, đặc biệt là các loại kinh điển Đại thừa. Những bộ kinh được xem là rất quan trọng bao gồm kinh Kim Cang, kinh Lăng Già, kinh Lăng Nghiêm... Ngoài ra, Thiền tông còn lưu truyền các bản kinh, luận riêng của tông phái như là kinh Pháp Bảo Đàn (của Huệ Năng), và luận Tín Tâm Minh (của Tăng Xán -- Seng-t'san). Nghệ thuật liên quan tới thiền Tranh thiền tông, đây là một loại tranh vẽ khó thực hiện vì đòi hỏi người vẽ có sức tập trung cao. Vì được vẽ trên loại giấy rất mỏng dễ rách nên nét vẽ không thể dừng lâu ở một chỗ và cũng không thể bôi sửa vì sẽ làm rách giấy. Mỗi một nét vẽ cần có sự định thần và nét đi cọ phải dứt khoát đều đặn mới có thể thành công trong một bức hoạ. Đây là một phương pháp để các thiền sinh hay thiền sư thể nghiệm sức định của tâm trí. Liên quan đến nghệ thuật này thì nổi tiếng nhất là loại tranh "Thập Mục Ngưu Đồ" miêu tả 10 giai đoạn tu tập. Trà đạo, nghệ thuật dùng trà thiền có nguồn gốc từ Trung Hoa nhưng đến khi truyền sang Nhật từ các sư Eisai và sư Senno Rikyu (1522-1591) thì nó mới thực sự trở thành một nghệ thuật gắn liền với đời sống thiền hay của nhiều người thích thưởng thức. == Sự phân chia theo trường phái triết học == Vì các giáo lý Phật giáo đều tuỳ theo tâm cảnh của người tu học mà có những sự khác biệt nên không thể xét Phật giáo như là một loại triết học như định nghĩa triết học kiểu Tây phương. Tuy nhiên, khi tiếp cận với cách thức giải thích giáo lý Phật giáo của các bộ phái, nhiều nhà phân tích vẫn muốn chia Phật giáo thành nhiều trường phái triết lý. Theo đó, 4 trường phái chính là: === Sarvāstivādin (Nhất Thiết Hữu bộ) === Trường phái này ra đời khoảng thế kỷ thứ 3 TCN và đã phát triển ở Tây Bắc Ấn trong thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ IV. Sau đó trở nên vững mạnh trong cả vùng Bắc và Tây Bắc xứ Ấn trong khoảng một ngàn năm sau. Nó mở ra tới Kashmir, Trung Á và cả Trung Hoa. Abhidharmakośa (Đại Tỳ Bà Sa luận) của đạo sư Thế Thân là tác phẩm quan trọng nhất của phái này. Trường phái này nhấn mạnh lời dạy của Phật rằng "bản chất đạo đức của các hành vi sẽ quyết định những kinh nghiệm tương lai của người làm các hành vi ấy" (theo Andrew Skilton). Phái này cho rằng các yếu tố không thể giản lược của hiện hữu (dharmas) cũng thể hiện trong quá khứ và tương lai. Do đó, những dharmas đã tạo nên hành vi trong quá khứ có thể tạo được ảnh hưởng ở một thời điểm sau đó. Sarvāstivādin căn cứ trên tiền đề duyên khởi (Pratityasamutpàda) là: bởi có cái này nên có cái kia để giải thích về các nhận thức tri thức. Vì phải có đối tượng (cảm nhận hay nhận thức) mới có tri thức nên nếu thừa nhận hoạt động của tri thức thì cần chấp nhận sự tồn tại của đối tượng. Xa hơn, phái này còn chỉ ra rằng mọi ảo giác không thực đều phải dựa trên các chi tiết thực mà nhận thức đã có trước đó và do đó công nhận sự thực hữu của mọi cảm nhận (kể cả giấc mộng). Học thuyết này còn tách biệt Phật bảo với Pháp bảo và cho rằng Phật bảo là tập họp của những dharmas làm nên Phật các hiểu biết và các cảm-hoạt (hay uẩn bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức -- scandhas) của Phật. Phái này đã đặt ra nhiều nền móng tư tưởng cho Đại thừa sau này. === Sautrāntika (Kinh Lượng bộ) === Tông phái này ra đời vào khoảng năm 50 TCN cho đến cuối thế kỷ thứ 1. Phái này bác bỏ quan điểm dharmas của Sarvāstivādin và cho rằng mọi dharmas chỉ hiện hữu tức thời. Để giải thích các vấn đề về nghiệp (karma), trường phái này đưa ra tư tưởng về các bījas, hay hạt giống. Hạt giống được trồng bởi những hành vi với đặc tính đạo đức nhất định, sau này mới đâm chồi, và khi điều kiện cho phép sẽ cho quả phù hợp với hành vi tạo tác. Đối với phái này thì giáo lý của tạng Kinh thường tồn sẽ tạo thành hạt giống trong tâm thức để khi có dịp sẽ phát huy tính năng (Tên Kinh Lượng cũng do việc đề cao vai trò của tạng Kinh mà có). Một hệ quả của lập luận này là ngoài tâm có pháp. Một cách diễn dịch dễ hiểu hơn là chân lý nằm bên ngoài tâm thức. Họ cũng thừa nhận về lý duyên khởi (vì có cái này nên có cái kia) nhưng cho rằng tính không được thể hiện trong mọi tình huống của nhận thức. === Yogācārin (Duy Thức Tông) === Phái Duy thức ra đời vào khoảng đầu thế kỉ thứ 4 do đạo sư Vô trước (Asaṅga) (khoảng 310-390) sáng lập. Trường phái này nhấn mạnh rằng "vạn pháp duy tâm" (nghĩa là mọi vật đều do tâm). Từ kinh nghiệm thiền định, thuyết này chỉ ra sự sai lầm của nhận thức về các đối tượng đối với sự hiện hữu thực sự của chúng. Điều mà trường phái muốn nói không phải là mọi sự đều được làm thành bởi cái tâm, nhưng muốn nói rằng toàn thể kinh nghiệm đều lệ thuộc vào hay nhờ vào tâm của chúng ta. Mọi sự vật mà chúng ta biết, mọi yếu tố của nhận thức của chúng ta, cơ bản đều là một thành phần của một quy trình của tâm. Trường phái này cho rằng tâm thực sự hiện hữu (khác với Trung quán). Như vậy, tâm thì trống rỗng theo nghĩa là tâm không có phân biệt chủ thể và khách thể. === Mādhyamika (Trung Quán Tông) === Phái này do đạo sư Long Thọ (150-250) (Nāgārjuna, నాగార్జునా) sáng lập. Phái Trung quán tập trung vào chủ đề tính không. Đây là thuộc tính của vạn vật. Vạn vật chỉ do nhân duyên sinh ra, cho nên những sự vật hiện thấy có là không thực sự tồn tại. Phái này có tên là Trung quán là vì nó chỉ ra con đường ở giữa chủ nghĩa hằng cửu (mọi vật tồn tại vĩnh viễn) và chủ nghĩa hư vô (không có gì tồn tại). Chủ thuyết này nhìn nhận sự hiện hữu thông thường của các đối tượng xuất hiện trong dòng chảy liên tục của các nhân duyên. Không vật gì có thể tồn tại một cách độc lập với mọi điều kiện bên ngoài (tính hỗ tương tồn tại). Đồng thời, có sự liên hệ phụ thuộc giữa thành phần và toàn thể trong mỗi sự vật. Thêm vào đó, do tính chất vô thường trên từng khoảnh khắc, không vật gì có thể hiện hữu tuyệt đối kể cả tâm và thế giới vật lý bởi vì chúng thiếu vắng đối tượng thực sự của sự hiện hữu. Như vậy tính không ở đây so với trường phái Duy Thức, đã được nới rộng áp dụng lên vạn vật. == Xem thêm == Lịch sử Phật giáo Phật giáo == Tham khảo == 10 Tông Phái Phật giáo ở Trung Hoa --Thích Thiện Hoa Các Bộ phái Phật giáo ở Ấn Độ -- Tiến sĩ Nalinaksha Dutt, Thích Nguyên Tạng dịch Lý do phân phái và tình hình phân phái trong đạo Phật -- Minh Chi Đưa vào Mật Tông -- Lama Thubten Yeshe Mật Tông - Thích Thiện Hoa Kiến Thức Căn Bản Phật giáo -Chương 6: Tông Phái Phật giáo -- Thích Bảo Lạc Sơ lược lịch sử Phật giáo Ấn Độ sau thời đức Phật -- Thích Tâm Hải Bareau, "Les Sectes Du Petit Vehicule" (BEFEO., 1956) pp. 16f Đại Cương Lịch sử Phật giáo Thế giới (A Concise History Of Buddhism) -- Andrew Skilton (Dharmacari Sthiramati)-- Thiện Minh dịch Giới thiệu đường lối tu thiền của Phật giáo -- Thích Thanh Từ Tinh Hoa và Sự Phát triển của Đạo Phật (Buddhism- Its Essence and Development) -- Edward Conze - Nguyễn Hữu Hiệu dịch Lợi Ích của Thiền Tập và Quan Điểm của Phật giáo về Thiền -- Thích Trí Châu Vào cõi tranh thiền -- Lê Anh Minh Tư Tưởng Phật giáo Đối Diện Với Hư Vô -- Tuệ Sỹ Thiền Tập -- Nguyên Giác biên dịch SẮC TƯỚNG VÀ THẬT TƯỚNG, Vấn đề Nhị Đế Trong Tứ Đại Thuyết Phái của Phật giáo -- Guy Newland -- Tâm Hà Lê Công Đa dịch == Tham khảo ==
chữ nôm.txt
Chữ Nôm (字喃), còn gọi là Quốc âm (chữ Hán: 國音), là một hệ chữ ngữ tố từng được dùng để viết tiếng Việt, gồm các từ Hán-Việt và các từ vựng khác. Nó bao gồm bộ chữ Hán tiêu chuẩn và các chữ khác được tạo ra dựa theo quy tắc. == Tên gọi == Cả hai từ chữ và nôm trong chữ nôm đều là từ Hán Việt cổ. Từ chữ bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán thượng cổ của chữ “tự” 字 (có nghĩa là chữ). Từ nôm bắt nguồn từ cách phát âm trong tiếng Hán trung cổ của chữ “nam” 南 (có nghĩa là phía nam). Ý của tên gọi chữ Nôm là đây là thứ chữ dùng để ghi chép tiếng nói của người phương Nam (tức người Việt, xưa kia người Việt tự xem mình là người phương Nam, còn người Trung Quốc là người phương Bắc). Tên gọi chữ Nôm khi viết bằng chữ Nôm có thể viết bằng rất nhiều cách khác nhau: 字喃,𫳘(⿰字宁)喃,𪧚(⿰字守)喃,𡨸喃,茡喃,芓喃,𫿰(⿰字文)喃,𡦂喃,佇喃,宁喃 字諵,𫳘(⿰字宁)諵,𪧚(⿰字守)諵,𡨸諵,茡諵,芓諵,𫿰(⿰字文)諵,𡦂諵,佇諵,宁諵 == Lịch sử == === Các quan điểm về sự hình thành === Cách cấu tạo chữ Nôm có thể đã manh nha ló dạng từ những năm đầu khi người Hán chinh phục đất Giao Chỉ (Miền Bắc Việt Nam) và đặt nền đô hộ trên các bộ lạc người Việt vào đầu Công Nguyên. Vì ngôn ngữ khác biệt, những "chữ Nôm" đầu tiên xuất hiện vì nhu cầu ghi địa danh, tên người hoặc những khái niệm không có trong Hán văn. Song chứng cứ còn lưu lại hết sức ít ỏi, khó kiểm chứng được một cách chính xác. Phạm Huy Hổ trong "Việt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào?" thì cho rằng chữ Nôm có từ thời Hùng Vương. Văn Đa cư sĩ Nguyễn Văn San lại cho rằng chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp cuối đời Đông Hán thế kỷ thứ 2. Nguyễn Văn Tố dựa vào hai chữ "bố cái" trong danh xưng "Bố Cái đại vương" do nhân dân Việt Nam suy tôn Phùng Hưng mà cho rằng chữ Nôm có từ thời Phùng Hưng thế kỷ thứ 8. Ý kiến khác lại dựa vào chữ "cồ" trong quốc hiệu "Đại Cồ Việt" (大瞿越) để cho rằng chữ Nôm có từ thời Đinh Tiên Hoàng. Trong một số nghiên cứu vào thập niên 1990, các học giả căn cứ vào đặc điểm cấu trúc nội tại của chữ Nôm, dựa vào cứ liệu ngữ âm lịch sử tiếng Hán và tiếng Việt, so sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán Việt đã đi tới kết luận rằng âm Hán Việt (âm của người Việt đọc chữ Hán) ngày nay bắt nguồn từ thời nhà Đường-nhà Tống thế kỷ 8-9. Và nếu âm Hán Việt có từ thời Đường, Tống thì chữ Nôm không thể ra đời trước khi cố định cách đọc Hán Việt (nếu xét chữ Nôm với tư cách hệ thống văn tự) và chỉ có thể ra đời sau khoảng thế kỷ thứ 10 khi người Việt thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng của Ngô Quyền vào năm 938. Về văn bản thì khi tìm chứng tích trước thời nhà Lý, văn tịch hoàn toàn không lưu lại dấu vết chữ Nôm nào cả. Sang thời Lý thì mới có một số chữ Nôm như trong bài bi ký ở chùa xã Hương Nộn, huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ (tạc năm 1173 niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 11) hay bia chùa Tháp Miếu, huyện Yên Lãng (nay thuộc Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (tạc năm 1210 triều vua Lý Cao Tông). Trước tác thì phải sang thời nhà Trần mới có dấu tích rõ ràng. Hàn Thuyên là người có công lớn phát triển thơ Nôm thời kỳ này với việc mở đầu thể Hàn luật. === Phát triển === Ban đầu khi mới xuất hiện, chữ Nôm thuần túy mượn dạng chữ Hán y nguyên để ghi âm tiếng Việt cổ (mượn âm để chép tiếng Quốc âm). Phép đó gọi là chữ "giả tá". Dần dần phép ghép hai chữ Hán lại với nhau, một phần gợi âm, một phần gợi ý được dùng ngày càng nhiều và có hệ thống hơn. Phép này gọi là "hài thanh" để cấu tạo chữ mới. Kể từ thời Lê về sau số lượng sáng tác bằng chữ Nôm tăng dần trong suốt 500 năm từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19. Dồi dào nhất là các áng thi văn có tính cách cảm hứng, tiêu khiển, và nặng phần tình cảm. Những tác phẩm Nôm này rất đa dạng: từ Hàn luật (thơ Nôm (tiếng Việt) theo luật Đường), đến văn tế, truyện thơ lục bát, song thất lục bát, phú, hát nói, tuồng, chèo. Thi ca chữ Nôm đã diễn tả đầy đủ mọi tình cảm của dân tộc Việt, khi thì hào hùng, khi bi ai; khi thì trang nghiêm, khi bỡn cợt. ==== Trước thế kỷ 15 ==== Một số di tích còn lưu lại dấu vết chữ Nôm trước thế kỷ 15 nhưng số lượng không nhiều ngoài vài văn bia. Tuy nhiên có thuyết cho rằng một tác phẩm quan trọng là tập Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, dịch Nôm là Phật nói cả trả ơn áng ná cực nặng đã ra đời vào thời nhà Lý khoảng thế kỷ 12. Đây cũng là đặc điểm vì tập này là văn xuôi, một thể văn ít khi dùng chữ Nôm. Nhà Trần cũng để lại một số tác phẩm chữ Nôm như mấy bài phú của vua Trần Nhân Tông: "Cư trần lạc đạo phú" (居塵樂道賦) và "Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca" (得趣林泉成道歌). ==== Thế kỷ 15–17 ==== Thời kỳ này phần lớn thi văn lưu truyền biết tới nay là thơ Hàn luật bát cú hoặc tứ tuyệt. Một số là trước tác cảm hứng riêng như: Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), Hồng Đức quốc âm thi tập (Lê Thánh Tông), Bạch Vân am thi tập (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Ngự đề hoà danh bách vịnh (Chúa Trịnh Căn), Tứ thời khúc vịnh (Hoàng Sĩ Khải), Ngọa long cương (Đào Duy Từ); nhưng cũng không thiếu những tác phẩm theo dạng sử ký như: Thiên Nam Minh giám, Thiên Nam ngữ lục. Thơ lục bát cũng xuất hiện với tác phẩm "Cảm tác" của Nguyễn Hy Quang, được sáng tác năm 1674. Thế kỷ 17 cũng chứng kiến sự xuất hiện nhưng đã sớm nở rộ của văn học Nôm Công giáo, với những tác giả tên tuổi như nhà truyền giáo Girolamo Maiorica (chủ trì biên soạn hơn 45 tác phẩm nhiều thể loại), thầy giảng Gioan Thanh Minh (viết tiểu sử các danh nhân và thánh nhân), thầy giảng Lữ-y Đoan (viết Sấm truyền ca, truyện thơ lục bát phỏng tác từ Ngũ Thư). ==== Thế kỷ 18–19 ==== Thơ Hàn luật của những thế kỷ kế tiếp càng uyển chuyển, lối dùng chữ càng tài tình, hóm hỉnh như thơ của Hồ Xuân Hương hay Bà Huyện Thanh Quan. Ngược lại thể thơ dài như Ai tư vãn của Ngọc Hân Công chúa cùng thể song thất lục bát trong Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm lưu danh những nữ sĩ biệt tài thời trước. Riêng Chinh phụ ngâm được xem là một tuyệt tác, có phần trội hơn nguyên bản chữ Nho. Thể song thất lục bát cũng lưu lại tác phẩm Cung oán ngâm khúc, lời văn cầu kỳ, hoa mỹ nhưng thể thơ phổ biến nhất là truyện thơ lục bát, trong đó phải kể Truyện Kiều (Nguyễn Du) và Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu). Văn từ truyện thơ bình dị hơn nhưng lối hành văn và ý tứ không kém sâu sắc và khéo léo. Những tác phẩm truyện Nôm khuyết danh khác như Thạch Sanh, Trê Cóc, Nhị độ mai, Phan Trần, Tấm Cám, Lưu Bình Dương Lễ, Ngư tiều vấn đáp y thuật, Nữ tú tài, Tô Công phụng sứ, tất cả được phổ biến rộng rãi khiến không mấy người Việt lại không biết vài câu, nhất là Truyện Kiều. Dưới triều đại nhà Tây Sơn, do sự hậu thuẫn của Quang Trung hoàng đế, toàn bộ các văn kiện hành chính bắt buộc phải viết bằng chữ Nôm trong 24 năm, từ 1788 đến 1802. Thời kỳ cuối của chữ Nôm xuất hiện nhiều tác phẩm thi ca theo thể hát nói như của Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Tú Xương v.v. Những thể cũ song thất lục bát và lục bát (các truyện Nôm) vẫn góp mặt song thêm vào đó là những vở tuồng hoặc chèo dân gian cũng được soạn bằng chữ Nôm như Kim Thạch kỳ duyên, Chàng Lía (Văn Doan diễn ca), Quan Âm Thị Kính. Đối ngược lại tài liệu văn học thì triết học, sử học, luật pháp, y khoa và ngữ học tuy có được ghi lại bằng chữ Nôm nhưng tương đối ít. Văn vần thì có Đại Nam quốc sử diễn ca (thời Nguyễn). Đặc biệt là cuốn từ điển song ngữ Hán Nôm Đại Nam Quốc ngữ do Văn Đa Nguyễn Văn San soạn năm Tự Đức thứ 30 (1877). Song sử liệu, nhất là chính sử cùng các văn bản hành chính của triều đình thì nhất thể đều bằng chữ Hán. Ngoại lệ là những năm tồn tại ngắn ngủi của nhà Hồ (thế kỷ 15) và nhà Tây Sơn (thế kỷ 18). Những văn bản hành chính như sổ sách, công văn, giấy tờ, thư từ, khế ước, địa bạ v.v. chỉ đôi khi xen chữ Nôm nếu không thể tìm được một chữ Hán đồng nghĩa để chỉ các danh từ riêng (như tên đất, tên làng, tên người), nhưng tổng thể vẫn là văn bản Hán Việt. ==== Suy giảm ==== Dưới chính quyền thuộc địa và bảo hộ của Pháp, vào cuối thế kỷ 19 tại Nam Kỳ và đầu thế kỷ 20 tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ, vị thế của chữ Hán và chữ Nôm bắt đầu giảm sút. Kỳ thi Hương cuối cùng tại Nam Kỳ được tổ chức vào năm 1864, tại Bắc Kỳ là năm 1915, tại Trung Kỳ là năm 1918 và kỳ thi Hội sau cùng được tổ chức vào năm 1919. Trong chừng mực nào đó, chữ Hán vẫn tiếp tục được dạy trong thời Pháp thuộc. Học chính Tổng quy (Règlement général de l'Instruction publique) do Toàn quyền Albert Sarraut ban hành năm 1917 quy định ở cấp tiểu học, mỗi tuần dạy Hán tự một giờ rưỡi và dạy tiếng Pháp (lớp nhì và lớp nhất) ít nhất 12 giờ. Ở cấp trung học, mỗi tuần quốc văn (gồm Hán tự và quốc ngữ) dạy 3 giờ trong khi Pháp văn và lịch sử Pháp dạy 12 giờ. Bên cạnh bộ Quốc-văn giáo-khoa thư của nhóm Trần Trọng Kim, Nha Học chính Đông Pháp còn tổ chức và cho sử dụng bộ Hán-văn tân giáo-khoa thư xuất bản lần đầu năm 1928 do Lê Thước và Nguyễn Hiệt Chi biên soạn, đều được dùng rộng rãi cho tới trước năm 1949. Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dừng việc dạy chữ Hán trong nhà trường kể từ năm 1950. Còn tại miền Nam, Giáo dục Việt Nam Cộng hòa quy định dạy chữ Hán cho học sinh trung học đệ nhất cấp. Sau tái thống nhất, chương trình giáo dục phổ thông của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không giảng dạy chữ Hán. == Chữ Nôm và chữ Quốc ngữ == Chữ Nôm và chữ Quốc ngữ là hai hệ chữ dùng để viết tiếng Việt, chúng có vai trò khác nhau trong dòng lịch sử và văn hóa. Chữ Quốc ngữ được các nhà truyền giáo Dòng Tên tại Việt Nam sáng chế dựa trên ký tự Latinh vào nửa đầu thế kỷ 17 và suốt một thời gian dài tới cuối thế kỷ 19 chỉ được lưu hành trong giới Công giáo. Tuy nhiên, trái với nhiều người lầm tưởng, trong thời kỳ này, lượng văn thư Kitô giáo chữ Nôm vượt xa chữ Quốc ngữ, và sách chữ Nôm vẫn được người Công giáo sử dụng cho đến giữa thế kỷ 20. Thời Pháp thuộc, chính quyền thuộc địa muốn tăng cường ảnh hưởng của tiếng Pháp và hạn chế ảnh hưởng của Hán học cùng với chữ Hán. Sự giảm sút của chữ Hán cũng dẫn đến sự suy giảm của chữ Nôm. Về văn tự thay thế để viết tiếng Việt, họ bất đắc dĩ phải chấp nhận sự hiện hữu của chữ Quốc ngữ do các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha chế tạo. Bất chấp việc chính quyền Pháp cổ súy chữ Quốc ngữ cho mục đích của họ, các sĩ phu vận động ủng hộ chữ Quốc ngữ trong công cuộc phổ biến tân học và lan truyền tư tưởng yêu nước. Các phong trào cải cách như Hội Trí Tri, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và ngành báo chí mới hình thành đã góp phần quan trọng vào việc truyền bá chữ Quốc ngữ. Ngày nay, tiếng Việt hầu như được viết hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ, trong khi đó chỉ rất ít người, chủ yếu là các học giả, có thể đọc viết được chữ Nôm. Một số người cho rằng chữ Quốc ngữ đã làm lu mờ vị thế của chữ Nôm nhưng một số khác thì nhấn mạnh rằng về mặt kỹ thuật, hai hệ chữ này không loại trừ nhau, nghĩa là, người ta vẫn có thể biết chữ Quốc ngữ đồng thời học chữ Nôm vì điều này không ai ngăn cấm cả. == Những cách tạo chữ Nôm == === Mượn cả âm và nghĩa của chữ Hán === Mượn cả âm đọc (âm Hán Việt) và nghĩa của chữ Hán để ghi lại các từ từ Hán Việt. Âm Hán Việt có ba loại là: Âm Hán Việt tiêu chuẩn: bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán thời Đường. Ví dụ: "ông" 翁, "bà" 婆, "thuận lợi" 順利, "công thành danh toại" 功成名遂. Âm Hán Việt cổ: bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán trước thời Đường. Ví dụ: "mùa" 務 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là"vụ"), "bay" 飛 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "phi"), "buồng" 房 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "phòng"). Âm Hán Việt Việt hoá: là các âm gốc Hán bị biến đổi cách đọc do ảnh hưởng của quy luật ngữ âm tiếng Việt. Ví dụ: "thêm" 添 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "thiêm"), "nhà" 家 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "gia"), "khăn" 巾 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "cân"), "ghế" 几 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "kỉ"). Ba loại âm Hán Việt kể trên đều được dùng trong chữ Nôm. === Mượn âm chữ Hán, không mượn nghĩa === Mượn chữ Hán đồng âm hoặc cận âm để ghi âm tiếng Việt. Âm mượn có thể là âm Hán Việt tiêu chuẩn, âm Hán Việt cổ hoặc âm Hán Việt Việt hoá. Khi đọc có thể đọc giống với âm mượn hoặc đọc chệch đi. Ví dụ: Đọc giống như âm Hán Việt tiêu chuẩn: chữ "một" 沒 có nghĩa là "chìm" được mượn dùng để ghi từ "một" trong "một mình", chữ "tốt" 卒 có nghĩa là "binh lính" được mượn dùng để ghi từ "tốt" trong "tốt xấu", chữ "xương" 昌 có nghĩa là "hưng thịnh" được mượn dùng để ghi từ "xương" trong "xương thịt", chữ "qua" 戈 là tên gọi của một loại binh khí được mượn dùng để ghi từ "qua" trong "hôm qua". Đọc chệch âm Hán Việt tiêu chuẩn: "gió" 這 (mượn âm "giá"), "cửa" 舉 (mượn âm "cử"), "đêm" 店 (mượn âm "điếm"), "chạy" 豸 (mượn âm "trãi"). Đọc giống như âm Hán Việt cổ: chữ "keo" 膠 ("keo" trong "keo dán", âm Hán Việt tiêu chuẩn là "giao") được dùng để ghi lại từ "keo" trong "keo kiệt", chữ "búa" 斧 ("búa" trong "cái búa", âm Hán Việt tiêu chuẩn là "phủ") được dùng để ghi lại từ "búa" trong "chợ búa" ("búa" trong "chợ búa" là âm Hán Việt cổ của chữ "phố" 鋪). === Mượn nghĩa chữ Hán, không mượn âm === Mượn chữ Hán đồng nghĩa hoặc cận nghĩa để ghi lại âm tiếng Việt. Ví dụ: chữ "dịch" 腋 có nghĩa nghĩa là "nách" được dùng để ghi lại từ "nách" trong "hôi nách", chữ "năng" 能 có nghĩa là "có tài, có năng lực" được dùng để ghi lại từ "hay" trong "văn hay chữ tốt". === Tạo chữ ghép === Chữ ghép, còn gọi chữ là chữ hợp thể, là chữ được tạo ra bằng cách ghép hai hoặc nhiều hơn chữ khác thành một chữ. Các chữ cấu thành nên chữ ghép có thể đóng vai trò là thanh phù (bộ phận biểu thị âm đọc của chữ ghép) hoặc nghĩa phù (bộ phận biểu thị ý nghĩa của chữ ghép) hoặc vừa là thành phù vừa là nghĩa phù hoặc dùng làm phù hiệu chỉnh âm chỉ báo cho người đọc biết chữ này cần phải đọc chệch đi. Chúng có thể được viết nguyên dạng hoặc bị viết tỉnh lược mất một phần hoặc thay bằng chữ giản hóa. Thanh phù luôn có âm đọc giống hoặc gần giống với âm đọc của chữ ghép. Phù hiệu chỉnh âm được dùng trong chữ Nôm là bộ "khẩu" 口 (đặt ở bên trái chữ ghép), dấu "cá" 亇 (bắt nguồn từ chữ "cá" 个 viết theo thể thảo thư, đặt ở bên phải chữ ghép), dấu nháy "𡿨" (đặt ở bên phải chữ ghép), bộ "tư" 厶 (đặt ở bên trên hoặc bên phải chữ ghép), dấu "冫" (đặt bên trái chữ ghép, chỉ thấy dùng trong các bản văn bản Nôm ở vùng Nam Bộ Việt Nam). Một số ví dụ về chữ ghép: "chân" 蹎 ("chân" trong "chân tay"): chữ này được cấu thành từ chữ "túc" 足 và chữ "chân" 真. "Túc" 足 có nghĩa là "chân" được dùng làm "nghĩa phù" biểu thị ý nghĩa của chữ ghép. Trong chữ ghép chữ "túc" 足 khi đứng ở bên trái phải viết dưới dạng biến thể gọi là "bàng chữ túc" ⻊. Chữ "chân" 真 ("chân" trong "chân thành") đồng âm với "chân" trong "chân tay" được dùng làm thanh phù biểu thị âm đọc của chữ ghép. "gạch" 𥗳 ("gạch" trong "gạch ngói"): chữ này được cấu thành từ chữ "thạch" 石 và chữ "ngạch" 額. "Thạch" 石 có nghĩa là "đá" được dùng làm nghĩa phù, ý là gạch thì được làm bằng đất đá. "Ngạch" 額 dùng làm thanh phù. "khói" 𤌋: chữ này được cấu thành từ chữ "hỏa" 火 và chữ "khối" 塊 bị tỉnh lược một phần (tỉnh lược bộ "thổ" 土 ở bên trái chữ "khối" 塊). "Hỏa" 火 có nghĩa là lửa, gợi ý nghĩa của chữ ghép (lửa cháy tạo ra khói), "khối" 塊 gợi âm đọc của chữ ghép. "ra" 𦋦: chữ này được cấu thành từ chữ "la" 羅 giản hóa và chữ "xuất" 出. "Xuất" 出 có nghĩa là "ra" biểu thị ý nghĩa của chữ ghép. "trời" 𡗶: chữ này được cấu thành từ chữ "thiên" 天 có nghĩa là "trời" và chữ "thượng" 上 có nghĩa là "trên", ý là "trời" thì nằm ở trên cao. "lử" 𠢬 ("lử" trong "mệt lử") gồm chữ "vô" 無 có nghĩa là "không có" và chữ "lực" 力 có nghĩa là "sức, sức lực", ý là "lử" là không còn sức lực gì nữa. Tiếng Việt hiện đại không có phụ âm kép nhưng trong tiếng Việt từ giai đoạn trung đại trở về trước thì lại có phụ âm kép. Trong chữ Nôm hợp thể để biểu thị các phụ âm kép người ta dùng một hoặc hai chữ làm thanh phù. Nếu dùng hai chữ làm thanh phù thì một chữ sẽ dùng để biểu thị phụ âm thứ nhất của phụ âm kép, chữ còn lại biểu thị phụ âm thứ hai của phụ âm kép. Ví dụ: "blăng" 𣎞: "Blăng" hiện nay đã biến đổi thành "trăng, giăng". Chữ "blăng" 𣎞 được cấu thành từ chữ "ba" 巴, chữ "lăng" 夌 và chữ "nguyệt" 月. "Ba" 巴 biểu thị phụ âm thứ nhất "b" của phụ âm kép "bl", "lăng" 夌 biểu thị phụ âm thứ hai "l" và phần vần của từ "blăng", "nguyệt" 月 có nghĩa là "mặt trăng" biểu thị ý nghĩa của chữ ghép này. "mlời" 𠅜: "Mlời" hiện nay đã biến đổi thành "lời, nhời" ("lời" trong "lời nói"). Chữ "mlời" 𠅜 được cấu thành từ chữ "ma" 麻 (bị tỉnh lược thành "亠") và chữ "lệ" 例. "Ma" 麻 biểu thị phụ âm thứ nhất "m" của phụ âm kép "ml", "lệ" 例 biểu thị phụ âm thứ hai "l" và phần vần cửa từ "mlời". "tlòn" 𧷺: "Tlòn" hiện nay đã biến đổi thành "tròn". Chữ này được cấu thành từ chữ "viên" 圓 (bị tỉnh lược bộ "vi" 囗 ở phía ngoài thành "員") và chữ "lôn" 侖. "Viên" 圓 có nghĩa là "tròn" được dùng làm nghĩa phù. "Lôn" 侖 là thanh phù, biểu thị phụ âm thứ hai "l" của phụ âm kép "tl" và phần vần của từ "tlòn". "krông" 滝: "Krông" hiện nay đã biến đổi thành "sông". Chữ này được cấu thành từ bộ "thủy" 水 và chữ "long" 竜. "Thủy" có nghĩa là "sông" biểu thị ý nghĩa của chữ ghép. "Long" 竜 biểu thị phụ âm thứ hai "r" của phụ âm kép "kr" và phần vần của từ "krông". "sláu" 𦒹: "sláu" hiện nay đã biến đổi thành "sáu". Chữ này được cấu thành từ chữ "lão" và chữ "lục". "Lục" 六 là nghĩa phù, có nghĩa là "sáu". "Lão" 老 là thanh phù, biểu thị phụ âm thứ hai "l" của phụ âm kép "sl" và phần vần của từ "sláu". === Lược bớt nét của chữ Hán để biểu thị phải đọc chệch đi === Lược bớt ít nhất là một nét của một chữ Hán nào đó để gợi ý cho người đọc biết rằng chữ này phải đọc chệch đi. Ví dụ: chữ "ấy" 𧘇: lược nét chấm "丶" trên đầu chữ "ý" 衣. Việc lược bớt nét bút này gợi ý cho người đọc biết rằng chữ này không đọc là "y" hay "ý" (chữ 衣 có hai âm đọc là "y" và "ý") mà cần đọc chệch đi. "khệnh khạng" 𠀗𠀖: chữ "khệnh 𠀗 là chữ "cộng" 共 bị lược bớt nét phẩy "㇒", chữ "khạng" 𠀖 là chữ "cộng" 共 bị lược bớt nét mác "㇔". "khề khà" 𠀫𠀪: chữ "khề" 𠀫 là chữ "kỳ" bị lược bớt nét phẩy "㇒", chữ "khà" 𠀪 là chữ "kỳ" bị lược bớt nét mác "㇔". === Mượn âm của chữ Nôm có sẵn === Dùng chữ Nôm có sẵn để ghi lại từ tiếng Việt đồng âm hoặc cận âm nhưng khác nghĩa hoặc đồng nghĩa nhưng khác âm với chữ được mượn. Khi đọc có thể đọc giống với âm đọc của chữ được mượn hoặc đọc chệch đi. Ví dụ: Đọc giống với âm đọc của chữ được mượn: chữ "chín" 𠃩 ("chín" trong "chín người mười ý") được dùng để ghi từ "chín" trong "nấu chín". Đọc chệch âm: chữ "đá" 𥒥 ("đá" trong "hòn đá") được dùng để ghi từ "đứa" trong "đứa bé". == Nhược điểm == Nhìn chung chữ Nôm thường có nhiều nét hơn, phức tạp hơn chữ Hán (do phần lớn là những chữ buộc phải ghép 2 chữ Hán lại) nên khó học, khó nhớ hơn cả chữ Hán vốn cũng đã khó nhớ. Để đọc viết được chữ Nôm đòi hỏi phải có vốn hiểu biết chữ Hán nhất định. Hệ chữ Nôm cũng không có sự thống nhất: có thể có nhiều chữ dùng để ghi cùng một âm tiết, hoặc ngược lại, một chữ có thể có nhiều cách đọc khác nhau. Tình trạng này còn do "tam sao thất bản", phần vì trình độ người thợ khắc chữ ngày xưa, phần vì khâu in mộc bản có chất lượng không cao (chữ bị nhòe, mất nét). Do đó có người nói "chữ Nôm phải vừa đọc vừa đoán", "nôm na là cha mách qué". Về mặt ngữ học thì do âm trong tiếng Việt nhiều hơn số âm trong tiếng Hán (tiếng Việt có 4500 đến 4800 âm; tiếng Hán Quan thoại có khoảng 1280 âm) nên người viết phải dùng dấu nháy [»] hoặc chữ khẩu [口] đặt cạnh một chữ để biểu thị những chữ cận âm. Người đọc vì vậy phải giỏi mà đoán cho trúng âm, khiến chữ Nôm rất khó đọc. == Chữ Nôm của các dân tộc khác == Ở Việt Nam, không chỉ có dân tộc Kinh chế tạo ra chữ Nôm, một vài dân tộc thiểu số khác như Tày, Dao, Ngạn,... cũng tạo ra chữ Nôm dựa trên chữ Hán để lưu lại ngôn ngữ của họ. === Chữ Nôm Tày === === Chữ Nôm Dao === === Chữ Nôm Ngạn === Người Ngạn, một nhóm cư dân ở tỉnh Cao Bằng tự nhận thuộc dân tộc Tày nhưng về mặt ngôn ngữ thì gần với người Giáy, từng sử dụng chữ Nôm Ngạn trộn với chữ Hán trong các bài mo (khấn cúng). === "Chữ nôm" của các nước khác === Do 喃 nôm = 口 khẩu + 南 nam nên chữ "喃 nôm" trong tên gọi "chữ Nôm" thường được hiểu với ý nghĩa là "ngôn ngữ của người Nam". Tuy nhiên, nếu mở rộng khái niệm "chữ nôm" ra cho tất cả các hệ chữ được sáng tạo dựa trên chữ Hán thì có người còn gọi những chữ được các dân tộc phương bắc như Nhật Bản, Triều Tiên là "chữ nôm Nhật", "chữ nôm Triều", hay gọi những hệ thống chữ của các dân tộc thuộc Trung Quốc như Tráng, Đồng, v.v. là "chữ nôm Choang", "chữ nôm Đồng", v.v. Kokuji (国字 Quốc tự) trong hệ thống Kanji của người Nhật cũng được tạo thành từ chữ Hán để ghi lại những từ và khái niệm riêng trong tiếng Nhật. Ví dụ: 畑 hatake = 火 hoả + 田 điền, nghĩa là cánh đồng khô, để phân biệt với 田 là ruộng trồng lúa nước; 鮭 sake = 魚 ngư + 圭 khuê, nghĩa là cá hồi Nhật Bản; 瓩 kiloguramu = 瓦 ngoã + 千 thiên, nghĩa là kílô-gam. Trong hệ thống Kanji hiện đại, cũng có nhiều chữ không có trong các tự điển Trung Quốc nhưng không phải là Kokuji vì đó chỉ là cách đơn giản hoá những chữ Hán đã có sẵn theo kiểu của người Nhật. Ví dụ: 円 là giản thể của 圓 viên; 売 là giản thể của 賣 mại. Tương tự như Kokuji của người Nhật, người Triều Tiên cũng dùng chữ Hán để tạo thành một số chữ biểu ý riêng trong hệ thống Hanja của họ. Ví dụ: 畓 dap = 水 thuỷ + 田 điền, nghĩa là ruộng nước, để phân biệt với 田 là đồng khô; 巭 bu = 功 công + 夫 phu, nghĩa là người lao động. Chữ Choang vuông Sawndip của người Tráng ở cực nam Trung Quốc được phát triển dựa trên chữ Hán và thường được so sánh với chữ Nôm của dân tộc Kinh ở Việt Nam do có nhiều điểm tương đồng giữa hai hệ thống chữ viết này. Tuy nhiên, ngoài những cách tạo chữ tương tự với cách tạo chữ Nôm là giả tá, hình-thanh và hội ý, còn có những chữ vuông Choang được tạo ra bởi những cách sơ khai hơn là tượng hình và chỉ sự (xem Lục thư). Tuy nhiên, cũng nên phân biệt những "chữ nôm" này với những bộ chữ biểu âm như Kana và Hangul trong tiếng Nhật và tiếng Hàn hiện đại. == Trên máy tính == Có nhiều phần mềm máy tính tạo ra ký tự chữ Nôm bằng cách gõ chữ Quốc ngữ. HanNomIME là phần mềm chạy trên Windows hỗ trợ cả chữ Hán và chữ nôm. Vietnamese Keyboard Set hỗ trợ gõ chữ Nôm và chữ Hán trên Mac OS X. WinVNKey là bộ gõ đa ngôn ngữ trên Windows hỗ trợ gõ chữ Hán và chữ Nôm bằng âm Quốc ngữ. Weasel Hannom là bộ gõ của Ủy ban phục sinh Hán Nôm được xây dựng trên cơ sở bộ gõ Weasel. Phông chữ Nôm nằm trong cơ sở dữ liệu Unihan. VietUnicode là phông Unicode chứa các ký tự chữ Nôm. Nó là một dự án trên SourceForge [1]. Phông TrueType có thể tải về từ [2]. Một số từ điển chữ Nôm trên mạng Internet có Từ điển ở Viện Việt học (tiếng Việt) Nom character index (Tiếng Anh). == Chú thích == == Xem thêm == Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa Nam Việt-Dương Hiệp Tự vị == Liên kết ngoài == Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm Tiểu Tự điển chữ Nôm Văn phòng Nôm Na Hà Nội Phần mềm gõ chữ Nôm ChuNom.org Ủy ban Phục sinh Hán Nôm Việt Nam, có bách khoa toàn thư wiki
gian băng.txt
Gian băng là một thời kỳ nhiệt độ trung bình của Trái Đất ấm hơn làm tan băng ở các vùng cực và xen kẽ với các thời kỳ băng hà trong một kỷ băng hà. Thời kỳ gian băng Holocen hiện tại đã bắt đầu vào cuối Pleistocen muộn cách đây khoảng 11.400 năm. == Các thời kỳ gian băng trong Pleistocen == Trong suốt khoảng thời gian 2,5 triệu năm của thế Pleistocen có một số thời kỳ băng hà hình thành các lớp băng lục địa ở Bắc Mỹ và châu Âu diễn ra trong khoảng 40.000 đến 100.000 năm. Xen kẽ các thời kỳ băng hà này là các thời kỳ gian băng ngắn hơn và nhiệt độ cao hơn. Trong các kt2 gian băng, khí hậu ấm hơn hoặc thấp hơn so với nhiệt độ toàn cầu ngày nay và lãnh nguyên phát triển về phía địa cực. Rừng phát triển đến các khu vực đã từng hỗ trợ các thảm thực vật lãnh nguyên. Thông thường, các thời kỳ gian băng được xác định trên đấn liền hoặc trên các biển thềm lục địa nông bởi các đặc điểm cổ sinh vật học. Các loài động thực vật hóa thạch liên quan đến nhiệt độ khí hậu cổ và tuổi tuyệt đối được dùng để xác định các thời kỳ gian băng đặc trưng. Hầu hết chúng là các loài động vật có vú và động vật thân mềm, bào tử phấn và mẫu thực vật lớn. Ngoài ra, còn các hóa thạch khác được sử dụng như: côn trùng, ostracod, foraminifera, tảo cát... Gần đây, các mẫu lõi băng và mẫu trầm tích đại biển sâu đã cung cấp các dấu hiệu định lượng và định tuổi tốt hơn về nhiệt độ và thể tổng thể tích băng. Các thời kỳ gian băng là công cụ hữu ích giúp cho việc lập bản đồ địa chất cũng như nghiên cứu nhân loại học, chúng được dùng như một phương pháp định tuổi đối với các hóa thạch của con người. == Xem thêm == Quả cầu tuyết Trái Đất Chu kỳ Milankovitch == Tham khảo ==
robert oppenheimer.txt
Julius Robert Oppenheimer (22 tháng 4 năm 1904 – 18 tháng 2 năm 1967) là một nhà vật lý lý thuyết người Mỹ, giáo sư Đại học California tại Berkeley. Là lãnh đạo thời chiến của Phòng thí nghiệm Los Alamos, ông là một trong số những "cha đẻ của bom nguyên tử" với vai trò trong Dự án Manhattan, dự án thời chiến tranh Thế giới thứ II phát triển các vũ khí hạt nhân đầu tiên. Sau chiến tranh, Oppenheimer trở thành chủ tịch của Ủy ban Tư vấn chung đầy ảnh hưởng thuộc Hội đồng Năng lượng Nguyên tử Hoa Kỳ, và sử dụng vị trí đó nhằm vận động cho việc kiểm soát quốc tế về năng lượng hạt nhân để ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân cũng như một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân với Liên Xô. Sau khi làm nhiều chính trị gia nổi giận với các quan điểm thẳng thắn của mình, ông đã bị tước quyền miễn trừ an ninh trong một phiên điều trần được biết đến rộng rãi vào năm 1954. Dù thực tế đã mất ảnh hưởng chính trị trực tiếp, Oppenheimer vẫn tiếp tục giảng dạy, viết, và làm việc trong ngành vật lý. Chín năm sau, Tổng thống John F. Kennedy trao tặng Giải Enrico Fermi như là một dấu hiệu phục hồi uy tín chính trị cho ông. Ông là giám đốc của Viện Nghiên cứu Cao cấp ở Princeton trong gần 20 năm. Các thành tựu nổi bật của Oppenheimer trong vật lý bao gồm phép xấp xỉ Born-Oppenheimer cho hàm sóng phân tử, nền tảng lý thuyết về electron và positron, quy trình Oppenheimer-Phillips trong phân hạch hạt nhân, và tiên đoán đầu tiên về xuyên hầm lượng tử. Cùng với những học trò của mình ông cũng có những đóng góp quan trọng vào lý thuyết hiện đại về sao neutron và hố đen, cũng như cơ học lượng tử, lý thuyết trường lượng tử, và tương tác của các tia vũ trụ. Là một nhà sư phạm và người cổ vũ cho tiến bộ khoa học, ông được xem như một trong những nhà sáng lập của trường phái vật lý lý thuyết của Hoa Kỳ bắt đầu nổi bật lên trong giới khoa học thế giới những năm 1930. == Những năm đầu đời == === Tuổi thơ và việc học tập === Oppenheimer sinh ra tại thành phố New York vào ngày 22 tháng 4 năm 1904, trong một gia đình Do Thái, cha là Julius Oppenheimer, một nhà nhập khẩu hàng dệt may giàu có di cư từ Đức tới Hoa Kỳ năm 1888, mẹ là họa sĩ Ella Friedman. Julius tới Mỹ với bàn tay trắng, không có bằng cấp, không biết chút gì về tiếng Anh. Ông nhận vào làm trong một công ty dệt may, và chỉ trong vòng một thập kỷ đã trở thành người điều hành công ty. Ella có gốc từ Baltimore. Năm 1912 gia đình chuyển về một căn hộ trên tầng 11 tòa nhà số 155 phố Riverside Drive, Manhattan, một khu vực nổi tiếng với những biệt thự xa hoa và những ngôi nhà hiện đại. Bộ sưu tập nghệ thuật của họ bao gồm các họa phẩm của Pablo Picasso và Édouard Vuillard, cùng ít nhất ba bản tranh gốc của Vincent van Gogh. Robert có một người em trai tên Frank, người về sau cũng trở thành nhà vật lý. Oppenheimer đầu tiên đi học ở trường Alcuin, sau vào năm 1911 nhập học tại Trường Xã hội Văn hóa Đạo đức (nay là Trường Văn hóa Đạo đức Fieldston, một trường danh giá thuộc hệ thống Ivy League cho các trường dự bị). Trường được thành lập bởi nhà cải cách xã hội Felix Adler để khuyến khích lối đào tạo luân lý dựa trên phong trào Văn hóa Đạo đức, với khẩu hiệu "Deed before Creed" (tạm dịch: Thành tích đi trước Tín điều). Cha Oppenheimer là một thành viên lâu năm của Hội Văn hóa Đạo đức, và thành viên ban quản trị từ 1907 tới 1915. Oppenheimer là một cậu học trò đa tài, quan tâm tới văn học ngôn ngữ Anh và Pháp, và nhất là yêu thích khoáng vật học. Ông hoàn thành lớp 3 và lớp 4 trong vòng 1 năm, và nhảy cóc nửa năm lớp 8. Vào năm cuối trung học, ông bắt đầu quan tâm tới hóa học. Ông vào học trường Harvard ngành hóa muộn một năm, ở tuổi 18, bởi mắc chứng viêm loét đại tràng khi đang khảo sát khoáng vật trong chuyến đi nghỉ mùa hè của gia đình tại Jáchymov (Tiệp Khắc). Để ông sớm lành bệnh, cha ông thuê giáo viên tiếng Anh của ông, Herbert Smith, đưa ông tới New Mexico tĩnh dưỡng, nơi Oppenheimer trở nên yêu mến môn cưỡi ngựa và cuộc sống miền tây nam Hoa Kỳ. Bên cạnh chuyên ngành hóa, quy định của Harvard cũng yêu cầu ông phải học lịch sử, văn học, và triết học hoặc toán học. Ông bù đắp cho việc nhập học muộn bằng cách học mỗi kỳ 6 khóa trình và được nhận vào hội danh dự Phi Beta Kappa. Ngay trong năm đầu ông đã được nhận dự thính sau đại học về vật lý dựa trên kết quả tự học, nghĩa là ông không phải qua các khóa cơ bản và có thể học luôn các khóa chuyên sâu. Một khóa về nhiệt động lực học do Percy Bridgman đứng lớp đã lôi cuốn ông đến với vật lý thực nghiệm. Ông tốt nghiệp loại ưu chỉ trong 3 năm. === Nghiên cứu ở châu Âu === Năm 1924 Oppenheimer nhận tin được nhận vào Christ's College thuộc Đại học Cambridge. Ông viết thư cho Ernest Rutherford xin phép được làm việc tại Phòng thí nghiệm Cavendish. Bridgman viết thư giới thiệu, trong đó nói rằng tính vụng về của Oppenheimer trong phòng thí nghiệm khiến cho mọi người thấy rằng thế mạnh của ông không phải thực nghiệm mà là vật lý lý thuyết. Rutherford không lấy làm ấn tượng lắm, nhưng Oppenheimer vẫn tới Cambridge, hy vọng rằng sẽ nhận được một vị trí khác. Cuối cùng J. J. Thomson nhận ông với điều kiện ông phải hoàn thành khóa đào tạo thực nghiệm cơ bản. Ông xung khắc với người đào tạo phụ trách ông, Patrick Blackett, người chỉ hơn ông vài tuổi. Khi trong kỳ nghỉ, như bạn ông Francis Fergusson có nhắc lại, Oppenheimer từng thú nhận rằng ông từng để một quả táo có tẩm hóa chất độc hại trên bàn Blackett. Trong khi tường thuật của Ferguson là phiên bản duy nhất chi tiết về sự kiện này, cha mẹ của Oppenheimer được giới chức trường đại học cảnh báo rằng họ đang đặt ông vào thời gian thử thách (chưa kỷ luật nhưng còn theo dõi), cha mẹ ông đã vận động thành công cho ông ở lại. Là một người cao, gầy, nghiện thuốc lá nặng, thường bỏ ăn trong những thời kỳ tập trung suy nghĩ căng thẳng, Oppenheimer thường khiến bạn bè chú ý lo lắng vì khuynh hướng tự hủy hoại bản thân. Một sự kiện gây xáo động xảy ra khi ông có một kỳ nghỉ ở Paris để thăm bạn ông Francis Fergusson. Fergusson nhận thấy Oppenheimer không khỏe và để giúp ông vơi bớt ưu phiền bèn kể cho Oppenheimer rằng mình sắp kết hôn với bạn gái Frances Keeley. Oppenheimer không đón nhận tin đó một cách bình thường. Ông chồm lên Fergusson và định bóp cổ ông này. Mặc dù Fergusson dễ dàng đẩy người bạn ra, câu chuyện này khiến ông nghĩ rằng Oppenheimer thực sự có những vấn đề nghiêm trọng về tâm lý. Suốt cả đời liên tục gặp những đợt trầm uất, Oppenheimer từng nói với em mình, "Anh cần vật lý hơn bạn bè". Năm 1926 ông rời Cambridge đến Đại học Göttingen để nghiên cứu dưới sự dẫn dắt của Max Born. Göttingen là một trong những trung tâm hàng đầu về vật lý lý thuyết bấy giờ của thế giới. Oppenheimer kết bạn với những người thành công rực rỡ sau này, bao gồm Werner Heisenberg, Pascual Jordan, Wolfgang Pauli, Paul Dirac, Enrico Fermi và Edward Teller. Người ta còn nhắc lại rằng ông có vẻ quá hăng hái trong các buổi thảo luận, đôi khi đến độ chiếm luôn các buổi seminar. Điều này làm cho một số học trò khác của Born khó chịu đến nỗi Maria Goeppert đưa cho Born một thư thỉnh cầu có chữ ký của bà cùng những người khác đe dọa tẩy chay lớp học trừ khi ông làm Oppenheimer im tiếng. Born cố ý đặt lá thư trên bàn của mình để Oppenheimer có thể đọc được, và nó tỏ ra hiệu quả mà ông không cần nói một lời nào. Oppenheimer nhận bằng tiến sĩ tháng 3 năm 1927 ở tuổi 23 dưới sự hướng dẫn của Born. Sau phần vấn đáp, James Franck, giáo sư chủ trì hội đồng bảo vệ, được cho là đã nói rằng, "Tôi lấy làm may là [buổi bảo vệ] đã xong rồi. Anh ta đang đặt lại câu hỏi với tôi." Oppenheimer công bố hơn một tá bài báo ở Göttingen, bao gồm nhiều công hiến quan trọng cho lĩnh vực cơ học lượng tử đang hình thành. Ông và Max Born công bố bài báo nổi tiếng về xấp xỉ Born–Oppenheimer, tách chuyển động hạt nhân khỏi chuyển động electron khi xem xét phân tử bằng toán học, cho phép loại trừ chuyển động hạt nhân để giảm việc tính toán. Đó vẫn là công trình được trích dẫn nhiều nhất của ông. == Khởi đầu sự nghiệp == === Giảng dạy === Oppenheimer nhận được học bổng nghiên cứu của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ tại Viện Công nghệ California (Caltech) tháng 9 năm 1927. Bridgman cũng muốn ông tới Harvard, nên cuối cùng các bên thỏa hiệp để ông chia niên khóa 1927-1928 làm đôi, năm 1927 ở Harvard và năm 1928 ở Caltech. Tại Caltech ông kết thân với Linus Pauling, và họ dự định tiến hành đột phá nghiên cứu về bản chất của liên kết hóa học, lĩnh vực mà bấy giờ Pauling đang tiên phong, với Oppenheimer cung cấp giải pháp toán học và Pauling diễn giải kết quả. Cả mối cộng tác lẫn tình bạn của họ tan vỡ ngay từ trứng nước khi Pauling bắt đầu nghi ngờ Oppenheimer trở nên quá gần gũi với vợ ông, Ava Helen Pauling. Một lần, khi Pauling đang ở chỗ làm, Oppenheimer đến nhà riêng của vợ chồng Pauling và mời Ava Helen hẹn hò ở Mexico. Mặc dù bà từ chối và kể lại chuyện cho chồng, thái độ dường như thờ ơ của bà về việc đó làm cho Pauling hết chịu nổi và chấm dứt quan hệ với Oppenheimer. Oppenheimer sau này có mời Pauling làm lãnh đạo Sư đoàn Hóa học của Dự án Manhattan, nhưng Pauling từ chối, nói rằng mình theo chủ nghĩa hòa bình. Mùa thu năm 1928, Oppenheimer thăm viện nghiên cứu của Paul Ehrenfest ở Đại học Leiden, Hà Lan, nơi ông gây ấn tượng bằng việc giảng bài bằng tiếng Hà Lan, mặc dù ít sử dụng tiếng này trước đó. Chính tại đây ông bắt đầu có biệt hiệu Opje, về sau chuyển ngữ sang tiếng Anh thành "Oppie". Từ Leiden ông tiếp tục chuyển tới ETH ở Zurich để làm việc với Wolfgang Pauli về cơ học lượng tử và phổ liên tục. Oppenheimer rất kính trọng và quý mến Pauli và có lẽ đã bắt chước phong cách cá nhân cũng như cách tiếp cận có phê phán đối với các vấn đề của Pauli. Trở lại Hoa Kỳ, Oppenheimer chấp nhận ghế phó giáo sư tại Đại học California tại Berkeley, nơi Raymond T. Birge mong mỏi ông tới đến nỗi sẵn sàng chịu chia sẻ ông với Caltech. Trước khi trở thành giáo sư ở Berkeley, Oppenheimer bắt đầu nhiễm lao nhẹ, và quyết định sống vài tuần cùng em mình Frank tại một trại chăn nuôi ở New Mexico, nơi ông thuê và cuối cùng mua lại. Khi nghe tin rằng trang trại đó có thể thuê được, ông kêu lên, "Hot dog!", và sau này gọi nó bằng tên Perro Caliente, có nghĩa là "hot dog" trong tiếng Tây Ban Nha. Về sau ông thường nói rằng "vật lý và miền quê vắng vẻ" là "hai tình yêu lớn" của mình. Ông khỏi bệnh lao và trở lại Berkeley, nơi ông nổi danh như một người hướng dẫn và cộng tác với một thế hệ những nhà vật lý, những người ngưỡng mộ trí tuệ uyên bác và những quan tâm rộng rãi của ông. Nhiều sinh viên và đồng nghiệp thấy ở ông có gì mê hoặc: nồng nhiệt đến độ thôi miên trong đối thoại nơi riêng tư, nhưng thường tỏ ra lạnh băng ở những nơi đông người. Những người liên hệ với ông chia làm hai phái: một số thấy ông là một người khắc kỷ, một thiên tài lạnh lùng và ấn tượng, số còn lại thấy ông như một kẻ điệu bộ màu mè và bất an. Hầu hết các học trò của ông thuộc nhóm thứ nhất, thần tượng và tiếp thu luôn các cách đi đứng, nói năng và những điệu bộ khác, kể cả khuynh hướng đọc các tác phẩm lớn bằng ngôn ngữ gốc của ông. Hans Bethe nói về ông: Có lẽ yếu tố quan trọng nhất ông mang tới việc giảng dạy là khiếu nhận biết tinh nhạy của ông. Ông luôn luôn biết nơi đâu là những vấn đề quan trọng, thể hiện trong lựa chọn chủ đề của ông. Ông luôn sống với những vấn đề đó, nỗ lực tìm ra lời giải, và ông trình bày mối quan tâm của mình với nhóm nghiên cứu. Vào thời đỉnh cao, có khoảng 8 tới 10 nghiên cứu sinh trong nhóm của ông, bên cạnh khoảng 6 nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ. Ông gặp nhóm này mỗi lần một ngày ở văn phòng, và thảo luận với từng người và tình hình nghiên cứu của sinh viên đó. Ông quan tâm tới mọi thứ, và một buổi chiều họ có thể thảo luận điện động lực học lượng tử, tia vũ trụ, tạo cặp electron và vật lý hạt nhân. Ông hợp tác chặt chẽ với Ernest Lawrence và những nhà tiên phong về cyclotron làm việc cho Lawrence, giúp đỡ họ diễn giải dữ liệu mà những thiết bị của họ tạo ra tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley. Năm 1936 ông được thăng chức lên học hàm giáo sư đầy đủ với mức lương hậu hĩnh 3300 đôla một năm. Đổi lại Berkeley yêu cầu ông chấm dứt dạy ở Caltech, nên cuối cùng một thỏa thuận đạt được theo đó trường cho ông 6 tuần mỗi năm ở Caltech, vừa đủ để dạy chương trình một học kỳ. === Nghiên cứu === Oppenheimer thực hiện những khám phá quan trọng về thiên văn học lý thuyết (đặc biệt là về thuyết tương đối tổng quát và lý thuyết hạt nhân), vật lý hạt nhân, phổ học, và lý thuyết trường lượng tử, mở rộng lý thuyết này vào điện động lực học lượng tử. Hình thức luận toán học của cơ học lượng tử tương đối tính cũng thu hút sự quan tâm của ông, mặc dù ông nghi ngờ tính khả thi của nó. Công trình của ông tiên đoán nhiều phát hiện về sau, bao gồm neutron, meson và sao neutron. Ban đầu, mối quan tâm chính của ông là về lý thuyết phổ liên tục và bài báo đầu tiên của ông (1926) liên quan tới lý thuyết lượng tử về phổ dải phân tử. Ông phát triển một phương pháp để thực hiện tính toán về xác suất chuyển vị. Ông tính toán hiệu ứng quang điện cho hydrogen và tia X, thu được hệ số hấp thụ tại bờ năng lượng mức K. Tính toán của ông phù hợp những quan sát về hấp thụ tia X ở Mặt Trời, nhưng không khớp cho trường hợp hydrogen. Nhiều năm về sau người ta nhận ra rằng Mặt Trời phân lớn cấu tạo từ hydrogen và hóa ra tính toán của ông thực sự đã chính xác. Oppenheimer cũng có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực lý thuyết về phơi chiếu tia vũ trụ và bắt đầu công trình mà về sau dẫn tới mô tả về xuyên hầm lượng tử. Năm 1931 ông đồng tác giả một bài báo về "Lý thuyết tương đối tính về Hiệu ứng quang điện" với học trò của mình Harvey Hall, trong đó, dựa trên bằng chứng thực nghiệm, ông đã bác bỏ chính xác khẳng định của Dirac rằng hai mức năng lượng của nguyên tử hydrogen có cùng năng lượng. Theo sau đó, một nghiên cứu sinh của ông, Willis Lamb, xác định rằng đây là hệ quả của thứ về sau biết tới dưới tên Dịch chuyển Lamb, nhờ đó Lamb giành giải Nobel Vật lý năm 1955. Oppenheimer cùng với nghiên cứu sinh tiến sĩ đầu tiên của ông, Melba Phillips, nghiên cứu về tính toán độ phóng xạ nhân tạo dưới bắn phá deuteron. Khi Ernest Lawrence và Edwin McMillan bắn phá hạt nhân với deuteron họ tìm thấy kết quả gần phù hợp với tiên đoán của George Gamow, nhưng khi thử với năng lượng cao hơn và các hạt nhân nặng hơn, kết quả không còn tương thích. Năm 1935 Oppenheimer và Phillips hoàn thành một lý thuyết mà ngày nay được gọi là quá trình Oppenheimer-Phillips để giải thích các kết quả, một lý thuyết còn được sử dụng tới ngày nay. Ngay từ 1930, Oppenheimer đã viết một bài báo về cơ bản tiên đoán được sự tồn tại của positron, sau khi Paul Dirac đề xuất rằng electron có thể có điện tích dương và năng lượng âm. Bài báo của Dirac đưa ra phương trình Dirac, thống nhất cơ học lượng tử, thuyết tương đối hẹp và khái niệm spin còn mới mẻ bấy giờ để giải thích Hiệu ứng Zeeman. Oppenheimer, dựa trên bằng chứng thực nghiệm, đã bác bỏ ý kiến cho rằng các electron được tiên đoán có điện tích dương là proton. Ông lập luận rằng chúng phải có cùng khối lượng như electron, trong khi thí nghiệm cho thấy proton nặng hơn nhiều. Hai năm sau, Carl David Anderson phát hiện ra positron và nhận giải Nobel Vật lý năm 1936. Vào cuối những năm 1930 Oppenheimer bắt đầu quan tâm tới thiên văn vật lý, có thể nhờ qua tình bạn với Richard Tolman, dẫn tới một loạt các bài báo. Bài đầu tiên trong số đó, cùng viết với Robert Serber mang tựa đề "Về tính ổn định của các nhân sao Neutron", Oppenheimer khám phá các đặc tính của sao lùn trắng. Sau đó ông viết một bài khác với một trong các sinh viên của mình, George Volkoff, "Về các nhân Neutron khối lượng lớn", trong đó họ chứng minh rằng có một giới hạn, gọi là Giới hạn Tolman-Oppenheimer-Volkoff, đối với khối lượng của các sao mà vượt quá đó chúng sẽ không tồn tại ổn định như những sao neutron nữa mà sẽ trải qua sự sụp đổ hấp dẫn. Cuối cùng, năm 1939, Oppenheimer và một sinh viên khác của ông, Hartland Snyder, viết bài báo "Về sự co hấp dẫn liên tục", tiên đoán sự tồn tại của thứ mà ngày nay được gọi là hố đen. Đây là bài báo được trích dẫn nhiều thứ hai của ông sau bài về xấp xỉ Born–Oppenheimer, và những bài báo này là yếu tố quan trọng trong việc làm mới lại ngành nghiên cứu vật lý thiên văn ở Hoa Kỳ những năm 1950, chủ yếu bởi John A. Wheeler. Các bài báo của Oppenheimer bị cho là khó hiểu ngay cả so với tiêu chuẩn của các chủ đề trừu tượng mà ông là chuyên gia. Ông yêu thích sử dụng những kỹ thuật toán học tao nhã, nhưng hết sức phức tạp, để chứng minh các nguyên tắc vật lý, mặc dù ông thường bị chỉ trích là có những lỗi về toán, thường là do vội vàng. Snyder nói, "vật lý thì ông ấy tuyệt, nhưng số học thì tồi tệ". Oppenheimer chỉ công bố có 5 bài báo khoa học, một trong số đó về lý sinh học, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, và không bài nào sau năm 1950. Murray Gell-Mann là nhà khoa học khách mời tại Viện Nghiên cứu Cao cấp Princeton năm 1951 từng làm việc với ông, nhận xét rằng: Ông ấy không có Sitzfleisch, hay 'khúc thịt ngồi,' như khi bạn ngồi trên ghế. Theo như tôi biết, ông ấy không bao giờ viết một bài báo dài hay làm một tính toán dài, không bất cứ thứ gì kiểu đó. Ông không có kiên nhẫn cho chúng; công trình của riêng ông chỉ bao gồm những aperçus-bài tổng quan ngắn, nhưng là những bài khá xuất chúng. Nhưng ông gây cảm hứng cho người khác làm việc, và ảnh hưởng của ông thật siêu phàm. Những mối quan tâm trải khắp của Oppenheimer đôi khi cản trở sự tập trung của ông vào những dự án cụ thể. Chẳng hạn năm 1933 ông học tiếng Phạn và gặp nhà Ấn Độ học Arthur W. Ryder ở Berkeley. Ông đọc Bhagavad Gita trong tiếng Phạn gốc và sau đó coi đó là một trong những cuốn sách hình thành nên triết học nhân sinh của mình. Một người bạn và đồng nghiệp thân thiết của ông, Isidor Rabi, đưa ra cách lý giải của riêng mình: Oppenheimer quá mức am hiểu những lĩnh vực này, vốn nằm ngoài truyền thống khoa học, ví dụ như mối quan tâm của ông tới tôn giáo, nhất là tôn giáo Hindu, dẫn tới một cảm giác về sự thần bí của vũ trụ bao quanh ông như một đám sương mù. Ông nhìn vào vật lý sáng rõ, hướng về thứ đã được thực hiện, nhưng ở biên cương của nó ông có khuynh hướng thấy có nhiều hơn những thứ huyền bí và mới mẻ hơn là thực sự có … [Ông quay lưng] khỏi những phương pháp cứng nhắc, thô thiển của vật lý lý thuyết để đi vào lĩnh vực thần bí của trực giác rộng mở. Bất chấp điều đó, nhiều nhà quan sát chẳng hạn như Luis Alvarez nhận xét rằng giá như ông sống đủ lâu để chứng kiến những tiên đoán của mình được thực nghiệm chứng minh, Oppenheimer hẳn phải giành một giải Nobel với công trình về sụp đổ hấp dẫn, liên quan tới sao neutron và hố đen. Ngày nay nhìn lại, một số nhà vật lý và sử gia xem đây là cống hiến quan trọng nhất của ông, nhưng những nhà khoa học cùng thời với ông không đánh giá như vậy. Nhà vật lý đồng thời là sử gia khoa học Abraham Pais từng hỏi Oppenheimer rằng ông tự xem điều gì là cống hiến khoa học đáng kể nhất của mình; chính Oppenheimer đã nêu công trình về electron và positron chứ không phải sụp đổ hấp dẫn. Oppenheimer được đề cử giải Nobel Vật lý 3 lần, vào các năm 1945, 1951 và 1967, nhưng không đoạt giải. == Đời sống cá nhân và hoạt động chính trị == Trong những năm 1920, Oppenheimer tỏ ra thờ ơ với những vấn đề trần thế. Ông nói rằng ông không đọc báo hay nghe radio, và chỉ tình cờ biết về sự sụp đổ Phố Wall (1929) 6 tháng sau khi nó xảy ra nhờ trò chuyện với Ernest Lawrence trong một chuyến đi dạo. Ông từng nhận xét rằng ông chưa từng bỏ một lá phiếu nào cho tới trước cuộc bầu cử năm 1936. Tuy nhiên, từ 1934 trở đi, ông ngày càng trở nên quan tâm tới chính trị và sự vụ quốc tế. Năm 1934-1935, ông để dành 3% số lương của mình-tính ra 100 đô la mỗi năm—để ủng hộ những nhà vật lý trốn chạy khỏi Đức Quốc xã. Trong cuộc tổng bãi công của thủy thủ San Francisco năm 1934, ông và một số học trò, trong đó có Melba Phillips và Bob Serber, tham dự một buổi tuần hành của những người thủy thủ. Ông thường xuyên muốn giúp Serber có một vị trí ở Berkeley nhưng bị Birge ngăn chặn, ông này cảm thấy "một tay Do Thái trong khoa là đủ lắm rồi". Mẹ Oppenheimer mất năm 1931, và ông trở nên thân thiết với cha mình, người tuy vẫn sống ở New York nhưng thường xuyên tới thăm California. Khi cha ông mất năm 1937, gia tài để lại 392602 đô la (tức khoảng 6,5 triệu đô la theo giá trị 2015) chia giữa Oppenheimer và em trai Frank, Oppenheimer ngay lập tức viết một chúc thư để lại gia sản của ông cho Đại học California làm học bổng cho nghiên cứu sinh. Như nhiều trí thức trẻ những năm 1930, ông ủng hộ những cải cách xã hội mà về sau bị quy mang hơi hướng cộng sản. Ông hiến tặng tiền cho các nỗ lực cải cách mà về sau bị coi là cánh tả dưới thời McCarthy. Đa số trong những việc làm được cho là cấp tiến của ông bao gồm việc tổ chức quyên tiền cho phái Cộng hòa trong Nội chiến Tây Ban Nha và các hoạt động chống phát xít khác. Ông chưa bao giờ công khai gia nhập Đảng Cộng sản Mỹ, dù ông có chuyển tiền cho những thành viên phái tự do qua những người quen bị cho là đảng viên cộng sản. Năm 1936, Oppenheimer quen biết Jean Tatlock, con gái của một giáo sư văn học ở Berkeley và là sinh viên trường Y Đại học Stanford. Hai người có quan điểm chính trị tương đồng; Tatlock viết cho Western Worker, một tờ báo của Đảng Cộng sản Mỹ. Tatlock chia tay với Oppenheimer năm 1939, sau một mối quan hệ đầy sóng gió. Tháng 8 năm đó ông gặp Katherine ("Kitty") Puening Harrison, một sinh viên cấp tiến, cựu đảng viên cộng sản. Harrison đã kết hôn 3 lần trước đó. Đám cưới đầu tiên kéo dài chỉ vài tháng. Người chồng thứ hai của cô là một đảng viên cộng sản tích cực tham gia và bị giết trong Nội chiến Tây Ban Nha. Cô cưới một bác sĩ và chuyển đến California năm 1939, đăng ký vào học thạc sĩ ở UCLA. Oppenheimer tạo ra một vụ lùm xùm nhỏ khi ngủ với cô ngay sau một bữa tiệc ở nhà người bạn Tolman. Mùa hè năm 1940 Kitty tới ở với Oppenheimer tại trang trại ở New Mexico và chỉ ly hôn với người chồng bác sĩ khi nhận ra mình có thai. Oppenheimer và Kitty kết hôn ngày 1 tháng 11 năm 1940. Đứa con đầu tiên hai người có là Peter sinh vào tháng 5 năm 1941, tiếp đó là Katherine ("Toni"), sinh tại Los Alamos, New Mexico, ngày 7 tháng 12 năm 1944. Trong thời gian này, Oppenheimer lại tiếp tục đi lại với Jean Tatlock. Về sau mối quan hệ liên tục này trở thành vấn đề trong những buổi điều trần về ông vì những mối quan hệ trong Đảng Cộng sản của Tatlock. Nhiều người thân thiết với Oppenheimer hoạt động tích cực trong Đảng Cộng sản những năm 1930 và 1940, bao gồm cả em trai ông, vợ Frank Jackie, Kitty, Jean Tatlock, chủ đất của ông Mary Ellen Washburn, và một số nghiên cứu sinh của ông ở Berkeley. Khi ông tham gia Dự án Manhattan năm 1942, Oppenheimer viết trong bảng điều tra an ninh cá nhân của mình rằng ông là "thành viên của hầu như mọi tổ chức thuộc Mặt trận Cộng sản ở miền West Coast". Nhiều năm sau ông nói rằng ông không hề nhớ mình có nói điều đó, và rằng nó không đúng, và nếu thực ông có nói gì kiểu như vậy, nó phải là một "sự khuếch đại nửa đùa cợt". Ông có đăng ký nhận báo của tờ People's World, một cơ quan của Đảng Cộng sản, và ông có xác nhận năm 1954, "Tôi có liên hệ với phong trào Cộng sản." Từ 1937 tới 1942, Oppenheimer là thành viên của một "nhóm thảo luận" (theo lời của ông) ở Berkeley mà sau đó những thành viên khác, Haakon Chevalier và Gordon Griffiths, gọi là một đơn vị bí mật của Đảng Cộng sản trong giới giáo sư ở Berkeley. Cục Điều tra Liên bang (FBI) đã ghi chép về một buổi họp tại nhà của đảng viên tự nhận Haakon Chevalier có Oppenheimer tham gia, có xuất hiện lãnh tụ Cộng sản ở California William Schneiderman, và Isaac Folkoff, người liên lạc ở miền West Coast giữa Đảng Cộng sản Mỹ và NKVD (mật vụ Liên Xô), vào khoảng mùa thu năm 1940, trong thời kỳ Hiệp ước Xô-Đức. Ít lâu sau đó, FBI thêm tên Oppenheimer vào danh sách Chỉ mục Bắt giam, tức cần bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp toàn quốc, và liệt kê ông vào hạng "Khuynh hướng Dân tộc chủ nghĩa: Cộng sản". Tranh luận về việc Oppenheimer có phải là đảng viên cộng sản bấy lâu đã rẽ sang những vấn đề tỉ mỉ; nhìn chung hầu hết mọi sử gia tin rằng ông có sự cảm thông mạnh mẽ với cánh tả trong thời kỳ này và liên hệ với nhiều đảng viên cộng sản, mặc dù vẫn có tranh cãi liệu ông đã chính thức nhận thẻ đảng chưa. Năm 1954 ông phủ nhận mình là một đảng viên, nhưng tự xem mình là một người đồng hành (tiếng Anh: "fellow traveler") mà ông định nghĩa là người đồng ý với phần lớn mục đích của chủ nghĩa cộng sản, nhưng không bằng lòng tuân thủ mù quáng những mệnh lệnh từ bất cứ cơ quan cộng sản nào. Trong suốt thời kỳ phát triển bom nguyên tử, Oppenheimer nằm dưới sự điều tra bởi cả FBI lẫn đơn vị an ninh nội bộ của Dự án Manhattan vì những liên hệ với cánh tả trong quá khứ của ông. Ông bị đặc vụ thuộc quân đội bám đuôi trong một chuyến đi tới California vào tháng 6 năm 1943 để thăm người bạn gái cũ của mình, Jean Tatlock, đang bị trầm uất nghiêm trọng. Ông ở lại căn hộ của bà qua đêm. Tin Tatlock tự tử vào ngày 4 tháng 1 năm 1944 khiến cho Oppenheimer hết sức sầu muộn. Vào tháng 8 năm 1943, ông tự khai báo cho đặc vụ của Dự án Manhattan biết rằng George Eltenton, người ông không quen biết, đã gạ gẫm lấy bí mật hạt nhân ở ba người dưới quyền ông ở Los Alamos nhân danh Liên Xô. Khi bị truy vấn về vấn đề này về sau, Oppenheimer thú nhận rằng người duy nhất tiếp cận ông về chuyện này là bạn ông Haakon Chevalier, một giáo sư văn học tiếng Pháp ở Berkeley, người đã đề cập vấn đề một cách riêng tư tại một bữa tối ở nhà Oppenheimer. Chuẩn tướng Leslie Groves, người phụ trách Dự án Manhattan, cho rằng Oppenheimer quá quan trọng đối với dự án để có thể loại bỏ dựa trên hành vi đáng ngở của ông. Ngày 20 tháng 7 năm 1943, ông viết cho Khu vực Công trình Manhattan: Tương ứng với mệnh lệnh miệng của tôi ngày 15 tháng 7, quyền miễn trừ an ninh phải được cấp cho Julius Robert Oppenheimer không được chậm trễ bất kể những thông tin mà các anh quan ngại về ông Oppenheimer. Ông ta đặc biệt cần thiết cho dự án. == Dự án Manhattan == === Los Alamos === Ngày 9 tháng 10 năm 1941, ít lâu trước khi Hoa Kỳ chính thức tham chiến vào Chiến tranh thế giới thứ hai, Tổng thống Franklin Roosevelt phê chuẩn một chương trình khẩn cấp phát triển bom nguyên tử. Tháng 5 năm 1942, Chủ tịch Ủy ban Nghiên cứu Quốc phòng James Bryant Conant, người khi còn là giảng viên ở Harvard có dạy Oppenheimer, mời ông tới đảm nhận công việc tính toán neutron nhanh, một nhiệm vụ mà Oppenheimer nỗ lực hết sức làm. Ông nhận được biệt danh "Người điều phối Đứt gãy Nhanh", ám chỉ tới sự lan truyền của một phản ứng dây chuyền neutron nhanh trong một quả bom nguyên tử. Một trong số những hành động đầu tiên của ông là tổ chức một khóa giảng mùa hè về lý thuyết bom ở tòa nhà ông làm việc ở Berkeley. Một nhóm những nhà vật lý châu Âu cùng với sinh viên theo học ông—bao gồm trong số đó là Robert Serber, Emil Konopinski, Felix Bloch, Hans Bethe và Edward Teller—những người bận bịu tính toán những thứ cần thiết phải thực hiện, và thực hiện theo trình tự nào, để chế tạo quả bom. Tháng 6 năm 1942, Lục quân Hoa Kỳ thiết lập Khu vực Công trình Manhattan để đảm trách phần việc liên quan tới dự án bom nguyên tử, bắt đầu với việc chuyển giao trách nhiệm từ Văn phòng Nghiên cứu và Phát triển sang cho quân đội. Vào tháng 9, tướng Groves được bổ nhiệm làm chỉ huy chương trình được gọi là Dự án Manhattan. Groves chọn Oppenheimer để lãnh đạo phòng thí nghiệm vũ khí bí mật của dự án, một lựa chọn khiến nhiều người ngạc nhiên, bởi Oppenheimer có tiếng là không gần gũi về mặt chính trị với nhánh quân đội bảo thủ, cũng không phải là một nhà lãnh đạo của một dự án lớn. Groves có phần quan ngại rằng Oppenheimer không có giải Nobel, do đó có thể không có đủ danh vọng uy tín lãnh đạo những nhà khoa học khác (nhiều trong số họ, nhất là những người chạy từ châu Âu sang, đều có giải Nobel). Tuy nhiên, Groves ấn tượng với sự nắm rõ những khía cạnh thực tế trong việc thiết kế và xây dựng bom nguyên tử của Oppenheimer, cũng như hiểu biết uyên bác về nhiều lĩnh vực của ông. Là một kỹ sư thuộc quân đội, Groves biết rằng những tố chất đó là thiết yếu trong một lĩnh vực đa ngành sẽ liên quan không chỉ tới vật lý, mà cả hóa học, luyên kim, đạn dược, và kỹ thuật. Groves cũng thấy ở con người Oppenheimer điều mà người khác không thấy, đó là một "tham vọng choáng ngợp" mà Groves cho là sẽ cung cấp động lực cần thiết để thúc đẩy dự án đi tới thành công. Isidor Rabi xem sự bổ nhiệm này "thực sự là một nước đi thiên tài của tướng Groves, người thông thường không được thiên tài cho lắm". Oppenheimer và Groves quyết định rằng để đảm bảo an ninh và sự liền lạc, họ cần đặt phòng thí nghiệp tập trung, bí mật tại một địa điểm hẻo lánh. Trong khi đi tìm một vị trí như vậy cuối năm 1942, Oppenheimer bị thu hút tới New Mexico, ở một nơi không xa trang trại chăn nuôi của ông. Ngày 16 tháng 11 năm 1942, Oppenheimer, Groves và những người khác đi thăm một địa điểm có triển vọng. Oppenheimer lo rằng những rặng núi cao có thể khiến người của ông cảm thấy bức bối về không gian, trong khi nhóm kỹ sư quan ngại về khả năng xảy ra lụt. Sau đó ông bèn đề xuất và cổ vũ cho một địa điểm mà ông biết rõ: một núi phẳng gần Santa Fe, New Mexico, nơi có một trường nam sinh tư nhân gọi là Trường Trại chăn nuôi Los Alamos. Nhóm kỹ sư lo lắng về đường sá khó khăn và nguồn cấp nước, tuy nhiên về những yếu tố khác thì họ thấy rất lý tưởng. Kết quả Phòng thí nghiệm Los Alamos được xây ở vị trí trường học, lấy luôn những nhà sở của trường đồng thời dựng một loạt các tòa nhà khác một cách khẩn trương. Tại đây Oppenheimer lập nên một nhóm những nhà vật lý hàng đầu của thời đại, mà ông gọi là "những ngôi sao sáng". Ban đầu Los Alamos được xem là một phòng thí nghiệm quân sự, và Oppenheimer cùng các nhà nghiên cứu khác được lệnh phiên chế vào Lục quân. Ông hăng hái đến nỗi ra lệnh đặt cho mình một bộ trang phục trung tá và tự nguyện đi khám sức khỏe "nhập ngũ", tuy nhiên trượt các bài kiểm tra. Các bác sĩ quân đội cho rằng ông bị thiếu cân, chỉ 128 pound (58 kg), xác định chứng ho kinh niên của ông là bệnh lao và lo ngại về chứng đau đuôi cột sống mãn tính của ông. Kế hoạch phiên chế các nhà khoa học thành đơn vị quân đội cũng phải bãi bỏ khi Robert Bacher và Isidor Rabi tỏ ra bất bình. Conant, Groves, và Oppenheimer tìm ra thỏa hiệp theo đó phòng thí nghiệm làm việc về danh nghĩa dưới sự vận hành của Đại học California theo hợp đồng với Bộ Chiến tranh. Oppenheimer ban đầu đã đánh giá thấp quá mức quy mô của dự án; Los Alamos lớn lên từ chỗ vài trăm người năm 1943 thành hơn 6000 người năm 1945. Oppenheimer ban đầu có khó khăn với việc tổ chức phân ra thành nhóm lớn, nhưng nhanh chóng học được nghệ thuật quản lý quy mô lớn sau khi ông quyết định dời đến ở trong đơn vị. Ông được người ta chú ý bởi khả năng nắm bắt mọi khía cạnh khoa học của dự án và những nỗ lực kiểm soát những mâu thuẫn về văn hóa không thể tránh khỏi giữa những nhà khoa học và quân đội. Ở vai trò người quản lý khoa học, ông là một nhân vật thần tượng của những nhà khoa học cộng sự, hầu như một biểu tượng của thứ mà họ đang việc vì. Victor Weisskopf diễn đạt điều này như sau: Oppenheimer lãnh đạo những nghiên cứu này, cả lý thuyết và thực nghiệm, theo đúng nghĩa của những từ đó. Ở đây khả năng nắm bắt điểm chính của bất kỳ chủ đề nào nhanh một cách đáng sợ của ông là một nhân tố quyết định; ông có thể làm quen với những chi tiết cốt yếu của mọi phần công việc. Ông không hề điều khiển từ phòng chỉ huy. Ông hiện diện ở mỗi bước quan trọng. ÔNg có mặt ở phòng thí nghiệm hoặc trong phòng hội thảo, nơi một hiệu ứng mới được đo đọc, khi một ý tưởng mới hình thành. Không phải là ông đưa ra quá nhiều ý tưởng hay gợi ý; mặc dù ông đôi khi có làm điều đó, mà ảnh hưởng chính của ông đến từ thứ khác. Chính sự hiện diện liên tục cường độ cao tạo ra một cảm giác tham gia trực tiếp ở tất cả chúng tôi; nó tạo ra một bầu không khí độc đáo đầy nhiệt tình cùng thử thách đã lan tỏa trong suốt khoàng thời gian đó. Trong năm 1943 nỗ lực phát triển của dự án hướng vào một vũ khí phân hạch dạng súng dùng plutonium được gọi là "Thin Man". Những nghiên cứu ban đầu về tính chất của plutonium sử dụng plutonium-239 sinh ra từ cyclotron, vốn hết sức tinh khiết nhưng chỉ có thể chế tạo ở những lượng rất nhỏ. Khi Los Alamos nhận những mẫu plutonium từ Lò phản ứng Than chì X-10 ở Oak Ridge, người ta nhận ra một vấn đề: plutonium từ lò phản ứng có nồng độ plutonium-240 cao hơn, khiến cho nó không dùng làm thiết bị dạng súng được. Tháng 7 năm 1944, Oppenheimer bỏ thiết kế dạng súng để chuyển sang thiết bị nổ khép. Sử dụng những thấu kính nổ hóa học, một khối cầu dưới điểm tới hạn chứa vật liệu phân hạch có thể hội tụ thành một dạng nhỏ hơn và đặc hơn. Vật liệu chỉ cần dịch chuyển một khoảng cách rất ngắn, do đó tốn ít thời gian hơn nhiều để đạt khối lượng tới hạn. Tháng 8 năm 1944 Oppenheimer ban hành một cuộc tái tổ chức rộng khắp ở Los Alamos để hướng vào phương án nổ khép. Ông tập trung nỗ lực phát triển thiết bị dạng súng vốn đơn giản hơn và chỉ phải làm việc với uranium-235, vào một nhóm duy nhất, và thiết bị này trở thành Little Boy tháng 2 năm 1945. Sau một nỗ lực nghiên cứu khổng lồ, thiết kế phức tạp hơn sử dụng phương án nổ kép, được gọi là "thiết bị Christy" theo tên Robert Christy, một sinh viên của Oppenheimer, được chính thức hoàn thành và phê duyệt trong một cuộc họp tại văn phong Oppenheimer ngày 28 tháng 2 năm 1945. Tháng 5 năm 1945 Ủy ban Lâm thời được thành lập, đứng đầu bởi Bộ trưởng Chiến tranh H.L. Stimson, để cố vấn và tường trình cho Tổng thống về chính sách thời chiến và hậu chiến về việc sử dụng năng lượng hạt nhân. Ủy ban Lâm thời tạo nên một hội đồng khoa học bao gồm Compton, Fermi, Lawrence và Oppenheimer để cố vấn họ về các vấn đề khoa học. Trong bài thuyết trình trước Ủy ban Lâm thời, hội đồng khoa học đã đề xuất những ý kiến liên quan không những đến tác động vật lý của bom nguyên tử, mà cả ảnh hưởng quân sự và chính trị có thể có của nó. Điều này bao gồm ý kiến về những vấn đề nhạy cảm như liệu Liên Xô nên được biết trước về sự sử dụng vũ khí nguyên tử chống lại Nhật Bản hay không. === Vụ thử Trinity === Nỗ lực của các nhà khoa học ở Los Alamos được hiện thực hóa trong vụ thử hạt nhân đầu tiên gần Alamogordo vào ngày 16 tháng 7 năm 1945, một nơi Oppenheimer đặt cho mật danh "Trinity" vào giữa năm 1944. Về sau ông nói đã lấy tên này từ một bài trong tập Thánh Ca của John Donne. Theo nhà sử học Gregg Herken, cách đặt tên này có thể ám chỉ tới Jean Tatlock, người vừa tự vẫn ít tháng trước đó và là người trong những năm 1930 đã giới thiệu tác phẩm của Donne cho Oppenheimer. Oppenheimer về sau nhắc lại rằng khi chứng kiến vụ nổ, ông có liên tưởng tới một dòng thơ từ thánh kinh Hindu Bhagavad Gita (XI,12): Nếu ánh sáng của ngàn thái dương bùng lên một lúc trên bầu trời, nó sẽ giống như sự huy hoàng của đấng vĩ đại ... Về sau ông cũng nhắc đến một khổ thơ khác, thường được trích dẫn nhiều hơn: "kālo'smi lokakṣayakṛtpravṛddho lokānsamāhartumiha pravṛttaḥ" (XI,32), mà ông dịch sang tiếng Anh thành "I am become Death, the destroyer of worlds" (tạm dịch: "Và ta trở thành Tử thần, kẻ hủy diệt hoàn vũ") Năm 1965, trong một buổi truyền hình, ông có nhắc lại câu thơ trên, đồng thời thêm rằng: "Chúng tôi biết thế giới sẽ không còn như cũ nữa. Vài người cười, vài người khóc. Hầu hết mọi người im lặng...". Theo em trai ông, vào lúc đó Oppenheimer đơn giản chỉ thốt lên "Thành công rồi". Chuẩn tướng Thomas Farrelll, người có mặt ở cùng boong-ke chỉ huy với Oppenheimer, viết lại rằng ông nhận thấy Oppenheimer nín hơi, mặt trở nên cực kỳ căng thẳng vào những giây cuối cùng, và sau khi quầng lửa bừng lên mặt ông giãn ra một vẻ khuây khỏa lớn lao. Isidor Rabi ghi nhận vẻ hân hoan chiến thắng khó ưa của Oppenheimer: "Tôi sẽ không bao giờ quên được lối đi của ông ta; tôi sẽ không bao giờ quên được cách ông ta bước ra khỏi xe ô tô... ông ta bước đi như thể trong High Noon... kiểu đi khệnh khạng như thế đó. Ông đã thành công." Tại một phiên họp toàn thể tại Los Alamos vài ngày 6 tháng 8 (đêm quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima), Oppenheimer bước lên sân khấu xiết hai tay mình lại "như thể một tay đấm quyền Anh được giải" trong khi đám đông reo mừng. Ông phát biểu nói lấy làm tiếc rằng quả bom đã không kịp để sử dụng chống lại Đức Quốc xã. Tuy nhiên, ông và nhiều thành viên dự án khác đã cảm thấy rất buồn về vụ ném bom Nagasaki sau đó 3 ngày, bởi họ cảm thấy quả bom thứ hai là không cần thiết từ quan điểm quân sự. Ông đi tới Washington ngày 17 tháng 8 để đưa tận tay một lá thư tới Bộ trưởng Chiến tranh Henry L. Stimson bày tỏ sự bất mãn của ông cũng như ước vọng cấm vũ khí hạt nhân. Tháng 10 năm 1945 Oppenheimer được phép gặp gỡ Tổng thống Harry Truman. Buổi gặp diễn ra tệ hại, sau khi Oppenheimer nói rằng ông cảm thấy "bàn tay tôi vấy máu". Nhận xét đó làm Truman nổi giận và chấm dứt cuộc gặp. Sau đó Truman nói với Thứ trưởng Ngoại giao Dean Acheson, "Tôi không muốn nhìn thấy thằng chó đẻ đó (nguyên văn: son-of-a-bitch) trong văn phòng này thêm một lần nào nữa." Tuy vậy, vì thành tích lãnh đạo ở Los Alamos, ông nhận được Huân chương Công trạng (danh dự dân sự cao nhất ở Hoa Kỳ) từ Truman năm 1946. == Hoạt động hậu chiến == Sau vụ ném bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki, dự án Manhattan bước khỏi màn bí mật; Oppenheimer trở thành một người phát ngôn quốc gia về khoa học, biểu tượng của một loại quyền lực kỹ trị mới. Ông đột nhiên trở thành người có danh vọng được công chúng biết tới, và tên ông xuất hiện trên trang bìa các tạp chí như Life và Time. Vật lý hạt nhân trở thành một thế lực hùng mạnh khi tất cả các nước trên thế giới bắt đầu nhận ra sức mạnh chính trị và chiến lược đi kèm với vũ khí hạt nhân. Như nhiều nhà khoa học cùng thời, ông nghĩ rằng an ninh hạt nhân chỉ có thể đến từ một tổ chức đa quốc gia như Liên Hợp quốc (vừa mới thành lập), để ban hành một chương trình ngăn chặn chạy đua vũ trang hạt nhân. === Viện Nghiên cứu Cao cấp === Tháng 11 năm 1945, Oppenheimer rời Los Alamos để quay lại Caltech, nhưng sớm nhận ra rằng mình không còn lòng dạ gì với việc giảng dạy. Năm 1947, ông nhận lời để nghị từ Lewis Strauss để đảm nhiệm vị trí Viện trưởng của Viện Nghiên cứu Cao cấp tại Princeton, New Jersey. Điều này có nghĩa là ông phải di cư về miền đông và bỏ lại Ruth Tolman, vợ của bạn ông Richard Tolman, người mà ông bắt đầu có quan hệ sau khi rời Los Alamos. Chỗ làm mới đi kèm với lương 20 nghìn đô/năm, cộng với chỗ ở miễn phí trong tòa nhà viện trưởng, một biệt thư thế kỉ 17 có cả đầu bếp và người làm, trong một khuôn viên bao quanh bởi 265 mẫu Anh (107 ha) rừng. Oppenheimer đưa tới viện mới thành lập nhiều trí thức ở thời hoàng kim sự nghiệp từ nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết những vấn đề bức thiết nhất trong thời đại đó. Ông chỉ đạo và khuyến khích nhiều nhà khoa học nổi tiếng nghiên cứu, bao gồm Freeman Dyson, cặp đôi Dương Chấn Ninh và Lý Chính Đạo, những người nhận giải Nobel nhờ khám phá sự phá vỡ bảo toàn tính chẵn lẻ. Ông cũng cấp quyền thành viên tạm thời cho nhiều học giả bên ngành nhân văn, như T. S. Eliot và George F. Kennan. Một vài người khoa toán lấy làm bất bình bởi điểu này, họ muốn viện phải là một thành trì cho nghiên cứu khoa học thuần túy. Abraham Pais có nói rằng chính Oppenheimer từng cho rằng một trong những thất bại của ông trong thời gian ở viện là không thể nào đem những học giả từ hai nhánh khoa học tự nhiên và nhân văn lại với nhau. Một chuỗi những hội nghị ở New York từ 1947 tới 1949 chứng kiến các nhà vật lý chuyển từ công việc thời chiến về các vấn đề lý thuyết. Dưới sự dẫn dắt của Oppenheimer, các nhà vật lý đã giải quyết những vấn đề lớn nhất còn tồn tại những năm trước chiến tranh: vô hạn, phân kỳ, và những biểu hiện không xác định được trong điện động lực học lượng tử của các hạt cơ bản. Julian Schwinger, Richard Feynman và Shin'ichiro Tomonaga giải quyết bài toán về hiệu chỉnh (tiếng Anh:regularization), và phát triển những kỹ thuật mà về sau được gọi là tái chuẩn hóa. Freeman Dyson thành công trong việc chứng minh những quy trình của họ đem lại kết quả tương tự. Vấn đề hấp thụ meson và định lý Hideki Yukawa về vai trò hạt tải lực hạt nhân mạnh của meson cũng được giải quyết. Đi theo những câu hỏi gợi ý từ Oppenheimer, Robert Marshak đưa ra "giả thiết hai meson": rằng thực ra có hai loại meson, pion và muon. Điều này dẫn tới đột phá của Cecil Frank Powell trong việc khám phá ra pion về sau nhận được giải Nobel. === Hội đồng Năng lượng Nguyên tử === Là một thành viên của Hội đồng tư vấn cho Ủy ban Lâm thời tường trình với Truman, Oppenheimer có ảnh hưởng quan trọng lên Báo cáo Acheson–Lilienthal. Trong báo cáo này, ủy ban kêu gọi thành lập một Cơ quan Phát triển Nguyên tử Quốc tế, nắm giữ mọi vật liệu phân hạch cũng như phương pháp sản xuất chúng, chẳng hạn như các mỏ phóng xạ và phòng thí nghiệm, cũng như các nhà máy điện hạt nhân để phục vụ sản xuất năng lượng hòa bình. Bernard Baruch được chỉ định để dịch báo cáo này thành một đề xuất tới Liên Hợp Quốc thành Kế hoạch Baruch năm 1946. Kế hoạch Baruch đưa thêm vào nhiều điều khoản liên quan tới việc bắt buộc thi hành, đặc biệt là đòi hỏi thẩm tra tài nguyên uranium của Liên Xô. Kế hoạch Baruch bị xem như một nỗ lực nhằm duy trì độc quyền hạt nhân của Hoa Kỳ và bị Liên Xô bác bỏ. Khi điều này xảy ra, Oppenheimer thấy rõ rằng chạy đua vũ trang trở nên không thể tránh khỏi, do sự nghi ngờ lẫn nhau giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, đất nước mà ngay cả Oppenheimer cũng bắt đầu e dè. Sau khi Ủy ban Năng lượng Nguyên tử (tiếng Anh: Atomic Energy Commission, viết tắt AEC) ra đời năm 1947 như một cơ quan dân sự kiểm soát các vấn đề nghiên cứu và vũ khí hạt nhân, Oppenheimer được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Tư vấn chung (GAC). Ở vị trí này ông đã cố vấn trên một số vấn đề liên quan tới hạt nhân, bao gồm việc cấp quỹ nghiên cứu, xây dựng phòng thí nghiệm và cả chính sách quốc tế-mặc dù những lời khuyên của Hội đồng không phải lúc nào cũng được lắng nghe. Là Chủ tịch hội đồng, Oppenheimer đã nỗ lực vận động cho việc kiểm soát vũ khí quốc tế và đầu tư cho khoa học cơ bản, và thử tìm cách ảnh hưởng đưa chính sách ra khỏi một cuộc chạy đua vũ trang nóng bỏng. Khi chính phủ đặt câu hỏi liệu có nên theo đuổi một chương trình cấp tốc phát triển vũ khí hạt nhân dựa trên tổng hợp hạt nhân—tức bom hiđrô—Oppenheimer ban đầu khuyến nghị bác bỏ nó, mặc dù ông từng ủng hộ phát triển một vũ khí như vậy thời còn ở trong Dự án Manhattan. Ý kiến này một phần có động lực là những lo ngại về đạo đức, bởi ông cảm thấy một vũ khí như vậy chỉ có thể sử dụng làm vũ khí chiến lược nhắm vào mục tiêu dân sự, dẫn đến cái chết của nhiều triệu sinh mạng. Ông cũng có lo ngại không kém bởi lo ngại về mặt ứng dụng, bởi ở thời điểm đó không có một thiết kế bom hiđrô tỏ ra khả dĩ. Oppenheimer cảm thấy tốt hơn là nên dành nguồn lực để chế tạo một lực lượng lớn các vũ khí phân hạch. Ông và những người khác đặc biệt quan ngại về việc các lò phản ứng hạt nhân chuyển từ sản xuất plutonium sang tritium. Tuy nhiên họ bị gạt ra ngoài lề bởi Truman, người công bố chương trình khẩn cấp sau khi Liên Xô thử quả bom nguyên tử đầu tiên của họ năm 1950. Oppenheimer và những người khác trong Hội đồng phản đối dự án này, đặc biệt là James Conant, cảm thấy mình bị hắt hủi và cân nhắc việc từ chức rút lui khỏi hội đồng. Cuối cùng họ chọn ở lại, nhưng quan điểm của họ về bom hiđrô được biết đến rộng rãi. Tuy nhiên vào năm 1951, Edward Teller và nhà toán học Stanislaw Ulam thiết kế thành công thứ về sau gọi là thiết kế Teller-Ulam cho bom hiđrô. Thiết kế mới này tỏ ra khả dĩ về mặt kĩ thuật và Oppenheimer thay đổi ý kiến của mình về nó. Sau này ông nhớ lại: Chương trình mà chúng tôi có năm 1949 là một thứ vẹo vọ mà bạn có thể lập luận rằng sẽ không có mấy ý nghĩa [để thực hiện]. Do đó có thể lập luận rằng bạn không muốn nó kể cả bạn có thể có nó. Chương trình năm 1951 ngon lành tới nỗi bạn không thể bàn cãi gì về điều đó nữa. Vấn đề đã thuần túy trở thành những vấn đề quân sự, chính trị và nhân đạo về chuyện bạn sẽ làm gì với nó một khi bạn có nó. === Điều trần an ninh === FBI dưới quyền J. Edgar Hoover đã theo dõi Oppenheimer kể từ trước chiến tranh, do cảm tình với cộng sản của ông lúc còn là giáo sư tại Berkeley và gần gũi với nhiều thành viên Đảng Cộng sản, bao gồm vợ và em trai ông. Ông nằm dưới sự theo dõi chặt chẽ từ đầu những năm 1940, cả nhà và văn phòng của ông có gắn thiết bị thu âm, điện thoại của ông bị nghe lén và thư từ của ông bị lục mở. FBI cung cấp cho những đối thủ chính trị của Oppenheimer với những bằng chứng có thể quy tội về những mối quan hệ cộng sản của ông. Trong số những đối thủ này có Strauss, một ủy viên khác của AEC người từ lâu mang nặng sự căm giận đối với Oppenheimer bởi thái độ phản đối bom hiđrô của ông cũng như bởi Oppenheimer từng làm bẽ mặt Strauss trước Quốc hội mấy năm trước đó: khi Strauss phản đối xuất khẩu các đồng vị phóng xạ cho các nước khác vì cho chúng có vai trò chiến lược, Oppenheimer chế giễu rằng các đồng vị này "ít quan trọng hơn các thiết bị điện tử nhưng quan trọng hơn, xem nào, chẳng hạn vitamin." Ngày 7 tháng 6 năm 1949, Oppenheimer ra làm chứng trước Ủy ban về các hoạt động phi Mỹ Hạ viện (tiếng Anh:House Un-American Activities Committee, viết tắt HUAC), thừa nhận mình có những mối liên hệ với Đảng Cộng sản những năm 1930. Ông làm chứng rằng một số học trò của mình, bao gồm David Bohm, Giovanni Rossi Lomanitz, Philip Morrison, Bernard Peters và Joseph Weinberg, từng là đảng viên thời gian họ làm việc ới ông ở Berkeley. Frank Oppenheimer và vợ là Jackie làm chứng trước HUAC và thừa nhận họ từng là đảng viên cộng sản. Sau đó Frank bị sa thải khỏi Đại học Minnesota. Sau nhiều năm liền không tìm được công việc liên quan tới vật lý, ông đành trở thành một người chăn gia súc ở Colorado. Về sau ông dạy vật lý ở một trường trung học và quan tâm tới cải cách giáo dục, sáng lập Exploratorium ở San Francisco. Oppenheimer vướng vào không ít những tranh cãi và tranh giành quyền lực những năm 1949 tới 1953. Edward Teller, người hết sức không hứng thú với nghiên cứu về bom nguyên tử ở Los Alamos thời chiến đến nỗi Oppenheimer cho phép ông dành thời gian nghiên cứu dự án riêng về bom hiđrô, cuối cùng đã rời Los Alamos năm 1951 để góp phần sáng lập nên một phòng thí nghiệm thứ hai (về sau trở thành Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore). Ở đây, ông được thoát khỏi sự kiềm chế ở Los Alamos để phát triển bom hiđrô (tức bom nhiệt hạch). Những vũ khí nhiệt hạch "chiến lược" tầm xa sẽ cần tới máy bay ném bom phản lực, do đó đương nhiên thuộc quyền quản lý của Không quân Hoa Kỳ. Oppenheimer trong một vài năm đã vận động cho những vũ khí hạt nhân "chiến thuật" sẽ hữu dụng hơn ở một mặt trận hạn chế nhằm chống lại quân đối phương và do đó thuộc quyền của Lục quân. Hai nhánh của quân đội tranh giành nhau quyền kiểm soát vũ khí hạt nhân, trong quá trình đó kết cánh với các đảng phái khác nhau. Không quân, mà Teller dựa vào, giành được quyền lực dưới chính quyền Cộng hòa sau khi Dwight D. Eisenhower đắc cử Tổng thống năm 1952. Strauss và Thượng nghị sĩ Brien McMahon, tác giả của Luật McMahon năm 1946, thúc đẩy Eisenhower tước bỏ quyền miễn trừ an ninh của Oppenheimer. Ngày 21 tháng 12 năm 1953, Strauss nói riêng với Oppenheimer rằng quyền miễn trừ an ninh của ông đã bị ngưng, đang chờ một kết luận từ những cáo buộc được nêu lên trong một bức thư, và nói với Oppeheimer chuyện nên từ chức. Tuy nhiên ông chọn không từ chức mà yêu cầu một buổi điều trần. Các cáo buộc này đến từ Kenneth D. Nichols, Tổng quản lý của AEC và nguyên là một trong những sĩ quan cấp cao phụ trách Dự án Manhattan. Buổi điều trần diễn ra vào tháng 4 và tháng 5 năm 1954, ban đầu có tính bí mật không được công khai, nhưng thông tin được báo chí thường xuyên đăng tải, tập trung vào những mối quan hệ với cộng sản trong quá khứ của Oppenheimer và những mối liên hệ với những nhà khoa học bị nghi ngờ là không trung thành hoặc theo cộng sản trong Dự án Manhattan. Bộ Năng lượng chỉ công khai toàn văn ghi chép buổi điều trần vào tháng 10 năm 2014. Đại diện công tố là Roger Robb, người đã rỉ tin cho báo chí, bất chấp lời hứa ban đầu là giữ bí mật phiên điều trầnStern 1969, tr. 238, 257–260; ông này cũng vi phạm một số nguyên tắc tố tụng, chẳng hạn đọc lớn những văn bản đóng dấu tuyệt mật và ngăn cản luật sư đại diện cho Oppenheimer trước phiên điều trần hoặc tiếp cận các văn bản liên quanStern 1969, tr. 247, 269, 295Stern 1969, tr. 254 Một trong những yếu tố chính trong phiên điều trần này những lời khai trước đó của Oppeheimer rằng George Eltenton tiếp cận một số nhà khoa học ở Los Alamos, một câu chuyển mà Oppenheimer thú nhận là đã dựng nên để bảo vệ bạn mình là Haakon Chevalier. Oppenheimer không biết là cả hai phiên bản mâu thuẫn nhau trong những lần thẩm tra ông một thập kỷ trước đó đều bị khi lại. Ông lấy làm ngạc nhiên khi nhân chứng đưa ra biên bản thẩm tra mà khi đó ông không đó không được quyền xem lại. Thực tế, Oppenheimer chưa từng nói vơi Chevalier rằng ông cuối cùng đã nêu tên ông này, và lời làm chứng này cuối cùng đã làm Chevalier mất việc. Cả Chevalier và Eltenton xác nhận đã từng đề cập rằng họ có cách để đưa thông tin tới Liên Xô, Eltenton còn thú nhận ông đã nói điều này cho Chevalier và Chevalier thú nhận đã đề cập cho Oppeheimer, nhưng chỉ trong lúc tán gẫu và phủ nhận bất kỳ suy nghĩ hay gợi ý phản quốc hay ý tưởng về gián điệp, dù là lập kế hoạch hay làm thực. Cả hai ông không ai bị kết tội hình sự. . Teller làm chứng rằng ông cho rằng Oppenheimer trung thành với đất nước, nhưng thêm rằng: Trong rất nhiều trường hợp, tôi đã thấy Oppenheimer hành xử-theo một cách mà theo tôi quá khó để hiểu nổi. Tôi hoàn toàn không tán thành ông ấy trong nhiều vấn đề và thành thực và nói những hành động của ông ấy đối với tôi có vẻ khó hiểu và phức tạp. Ở mức độ đó tôi cảm thấy tôi muốn thấy những lợi ích sống còn của quốc gia nằm trong tay những người mà tôi hiểu rõ hơn, và do đó tin tưởng hơn. Trong nghĩa rất hạn chế này tôi muốn bày tỏ cảm giác rằng cá nhân tôi cảm thấy an toàn hơn nếu những vấn đề nhà nước ở trong những bàn tay khác. Những lời này ảnh hưởng nghiêm trọng tới Oppenheimer và khiến cả cộng đồng khoa học tức giận và về sau hầu như tẩy chay Teller khỏi giới học học thuật hàn lâm. Groves, bị FBI đe dọa rằng ông đang có thể bị truy cứu như là một phần của kế hoạch che đậy liên hệ với Chevalier năm 1943, cũng làm chứng chống lại Oppenheimer một cách tương tự. Ngoại trừ Teller, nhiều nhà khoa học hàng đầu, cũng như các nhân vật trong chính phủ và quân đội, đã làm chứng bảo vệ Oppenheimer. Sự không nhất quán trong lời khai và những hành vi thiếu cân nhắc của ông khi điều trần - có lúc ông nói rằng ông bị ghép vào "một câu chuyện bịa đặt" ("cock-and-bull story"), rằng đó là bởi vì ông "là một thằng ngốc"-chỉ làm cho một số người trong hội đồng tin rằng ông thất thường, không đáng tin cậy và do đó có thể là một đe dọa an ninh. Cuối cùng, quyền miễn trừ an ninh của Oppenheimer bị tước bỏ một ngày trước khi nó hết hạn. Isidor Rabi bình luận rằng dù gì thì Oppenheimer chỉ thuần túy là một cố vấn của chính phủ (và không phải lúc nào cũng được lắng nghe), nên nếu chính quyền "không muốn tham vấn anh ta, thì thôi đừng tham vấn nữa." Trong phiên điều trần, Oppenheimer đã tự nguyện khai về hành vi thiên tả của nhiều đồng nghiệp của mình. Giả sử quyền miễn trừ an ninh của Oppenheimer không bị tước bỏ, hẳn ông sẽ bị nhớ như một tên "chỉ điểm" bạn bè để cứu danh tiếng bản thân. Nhưng với kết cục của ông, hầu hết cộng đồng khoa học trở nên xem ông như một thánh tử đạo chịu nạn bởi chủ nghĩa McCarthy, một người tự do chiết trung bị tấn công một cách bất công bởi những kẻ thù cổ vũ chiến tranh. Wernher von Braun khi tường trình trước một ủy ban Quốc hội đã châm biếm: "Nếu mà ở Anh, Oppenheimer đáng ra phải được phong tước hiệp sĩ." Trong một buổi thuyết trình ở Viện Woodrow Wilson ngày 20 tháng 5 năm 2009, dựa trên các sổ ghi chép lấy từ hồ sơ KGB, John Earl Haynes, Harvey Klehr và Alexander Vassiliev xác nhận rằng Oppenheimer chưa từng dính líu tới hoạt động gián điệp cho Liên Xô. KGB đã liên tục tìm cách chiêu mộ ông nhưng chưa từng thành công; Oppenheimer chưa từng phản bội Hoa Kỳ. Hơn nữa, ông đã cho sa thải vài người trong dự án Manhattan có cảm tình với Liên Xô. Haynes, Klehr và Vassiliev cũng khẳng định rằng Oppenheimer "thực tế từng là một thành viên bí mật của Đảng cộng sản Mỹ cuối những năm 1930s". Theo nhà viết tiểu sử Ray Monk: "Ông từng là, theo nghĩa thực tiễn, là một người ủng hộ Đảng Cộng sản. Hơn nữa, xét về thời gian, nỗ lực và tiền bạc cho các hoạt động của Đảng, ông là một người ủng hộ phải nói là rất tích cực". == Những năm cuối đời == Từ năm 1954, hàng năm Oppenheimer dành vài tháng sống ở đảo Saint Johhn thuộc quần đảo Virgin. Năm 1957, ông mua một miếng đất rộng 2 mẫu Anh (0,81 ha) ở Bãi biển Gibney, nơi ông xây một ngôi nhà chênh vênh gần vách đá bờ biển. Ông dành nhiều thời gian đi thuyền buồm cùng con gái Toni và người vợ Kitty. Ngày càng quan ngại về mối nguy hiểm tiềm tàng cho nhân loại nảy sinh từ những phát kiến khoa học, Oppenheimer tham gia cùng với Albert Einstein, Bertrand Russell, Joseph Rotblat và những nhà khoa học và học giả nổi tiếng khác thành lập thứ về sau trở thành Viện hàn lâm Khoa học Nghệ thuật Thế giới năm 1960. Đáng chú ý là từ sau vụ điều trần hủy hoại ảnh hưởng, ông không ký tham gia thư phản đối quan trong nào chống vũ khí hạt nhân những năm 1950, như Tuyên ngôn Russell–Einstein năm 1955, cũng như không tham gia, dù được mời, vào Hội nghị Pugwash về Khoa học và các Vấn đề Toàn cầu lần thứ nhất vào năm 1957. Trong các diễn văn và bài viết thời gian này, Oppenheimer không ngừng nhấn mạnh khó khăn trong việc quản lý sức mạnh của tri thức trong một thế giới trong đó tự do trao đổi ý tưởng khoa học ngày càng bị cản trở bởi những lo ngại chính trị. Oppenheimer tham gia Bài giảng Reith, một chương trình của BBC năm 1953, về sau được in thành bài viết Science and the Common Understanding (tạm dịch: Khoa học và Hiểu biết chung. Năm 1955 Oppenheimer xuất bản The Open Mind (tạm dịch: Tư duy mở), tập hợp 8 bài giảng của ông kể từ 1946 về đề tài vũ khí hạt nhân và văn hóa đại chúng. Oppenheimer bác bỏ ý tưởng về một chính sách ngoại giao pháo hạm dựa trên vũ khí hạt nhân. "Những mục đích của quốc gia này trong lĩnh vực chính sách ngoại giao", ông viết, "không thể nào đạt được, theo bất kỳ cách nào thực tiễn hoặc lâu dài, bằng áp bức." Năm 1957 hai khoa triết học và tâm lý ở Harvard mời Oppenheimer thuyết trình tại Khóa giảng William James. Một nhóm các cựu sinh viên nhiều ảnh hưởng của Harvard dẫn đầu bởi Edwin Ginn và bao gồm Archibald Roosevelt phản đối quyết định này nhưng không thành công. Chừng 1200 người đã tới Hội trường Sanders để nghe 6 bài giảng của Oppenheimer, có tựa đề "The Hope of Order" (tạm dịch: Hy vọng về Trật tự). Oppenheimer trình bày Khóa giảng Whidden tại Đại học McMaster năm 1962, sau đó công bố năm 1964 dưới tựa đề The Flying Trapeze: Three Crises for Physicists (tạm dịch: Dây đu bay: Ba cuộc khủng hoảng của các nhà vật lý). Bị tước mất quyền lực, Oppenheimer tiếp tục giảng dạy, viết và nghiên cứu vật lý. Ông du hành châu Âu và Nhật Bản để thuyết trình về lịch sử khoa học, vai trò của khoa học trong xã hội, và bản chất vũ trụ. Tháng 9 năm 1957, nước Pháp trao tặng ông Bắc Đẩu bội tinh, và ngày 3 tháng 5 năm 1962, ông được bầu chọn làm thành viên ngoại quốc của Hội Hoàng gia Anh. Dưới sự thúc giục của những thân hữu Oppenheimer bấy giờ nắm nhiều vị trí quyền lực, Tổng thống John F. Kennedy quyết định trao tặng Oppenheimer Giải Enrico Fermi năm 1963 như một cử chỉ phục hồi danh dự chính trị cho ông. Edward Teller, người nhận giải năm trước, cũng đề nghị Oppenheimer được nhận giải này, hy vọng làm lành với ông. Vì Kennedy bị ám sát ít lâu sau đó, Tổng thống Lyndon Johnson là người trao tặng giải, "dành cho những cống hiến cho vật lý lý thuyết như một bậc thầy và người sáng tạo những ý tưởng, và cho sự lãnh đạo phòng thí nghiệm Los Alamos và chương trình năng lượng nguyên tử trong những năm quan trọng." Oppenheimer nói với Johnson: "Tôi nghĩ có thể lắm, thưa ngài Tổng thống, rằng phải cần khá nhiều lòng nhân đức và dũng cảm ông mới trao giải này hôm nay." Sự phục hồi danh dự bởi giải thưởng ít nhiều chỉ có tính biểu tượng, bởi Oppenheimer vẫn không có quyền miễn trừ an ninh và không có chút ảnh hưởng nào lên chính sách chính thức, nhưng đi kèm với giải thưởng là 50 nghìn đô la tiền thưởng miễn thuế, và sự kiện khiến nhiều nhân vật đảng Cộng hòa ở Hạ viện tức tối. Vợ góa của cố Tổng thống Kennedy Jacqueline, bấy giờ vẫn sống trong Nhà Trắng, có một cử chỉ chính trị khi gặp Oppenheimer để nói rằng chồng bà đã tha thiết muốn ông nhận được huy chương như thế nào. Khi còn là thượng nghị sĩ năm 1959, Kennedy từng đóng vai trò quan trọng trong phiên bỏ phiếu sít sao bác bỏ ghế Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ mà kẻ thù của Oppenheimer, Lewis Strauss, khao khát, về cơ bản chấm dứt sự nghiệp chính trị của Strauss. Đây một phần là kết quả vận động hành lang của cộng đồng khoa học để báo thù cho Oppenheimer. Vào cuối 1965 bác sĩ phát hiện Oppenheimer bị ung thư vòm họng và sau một cuộc phẫu thuật không có tính quyết định, ông phải trải qua xạ trị và hóa trị cuối năm 1966 nhưng không thành công. Ông rơi vào hôn mê ngày 15 tháng 2 năm 1967, và qua đời ở tư gia tại Princeton, New Jersey vào ngày 18 tháng 2, hưởng thọ 62 tuổi. Buổi mặc niệm được tổ chức tại Hội trường Alexander tại Đại học Princeton một tuần sau đó, với sự có mặt của hơn 600 người là cộng sự trong giới khoa học, chính trị và quân đội, bao gồm Bethe, Groves, Kennan, Lilienthal, Rabi, Smyth và Wigner. Em trai ông Frank và gia quyến cũng ở đó, cũng như nhà sử học Arthur M. Schlesinger, Jr., nhà văn John O'Hara, và George Balanchine, giám đốc của một trường múa ba lê ở New York. Bethe, Kennan và Smyth đọc những bài điếu văn ngắn. Thi hài Oppenheimer được hỏa táng, tro táng được Kitty mang tới St. John và thả xuống biển cạnh ngôi nhà của ông. == Di sản == Khi Oppenheimer ra khỏi vòng quyền lực năm 1954, đối với nhiều người ông biểu tượng cho sự khờ khạo của những nhà khoa học nghĩ rằng mình có thể kiểm soát cách người khác (chính quyền) sử dụng nghiên cứu của họ ra sao. Ông cũng được xem như biểu tượng về nan đề liên quan tới trách nhiệm đạo đức của nhà khoa học trong thế giới thời đại hạt nhân. Các phiên điều trần có cả động cơ chính trị, vì Oppenheimer được xem như một đại diện của chính quyền cũ (đảng Dân chủ), lẫn động cơ cá nhân từ mối hiềm khích của ông với Lewis Strauss. Lý do bề ngoài cho phiên điều trần và chính là vấn đề đã đặt Oppenheimer vào hàng ngũ các trí thức tự do, tức sự phản đối của Oppenheimer với bom nhiệt hạch, là dựa trên cả nền tảng kỹ thuật lẫn đạo đức. Một khi các vấn đề kỹ thuật được giải quyết, ông quay ra ủng hộ bom nhiệt hạch của Teller bởi ông tin rằng nếu không thì Liên Xô cuối cùng cũng sẽ xây dựng được bom nhiệt hạch. Thay vì nhất quán chống lại phong trào đàn áp cánh tả bị quy là "đỏ" (cộng sản) cuối những năm 1940 đầu 1950, Oppenheimer cũng từng khai nhận chống lại những đồng nghiệp và học trò cũ, cả trước và trong phiên điều trần. Trong một trường hợp cá biệt, lời khai kết tội học trò cũ của ông là Bernard Peters đã được lộ một cách có chọn lọc ra báo chí. Các sử gia diễn giải điểu này như một nỗ lực của Oppenheimer để làm hài lòng những cộng sự của ông trong chính phủ và có lẽ để làm chệch hướng chú ý khỏi những mối quan hệ cánh tả trước đây của ông và em trai ông. Cuối cùng điều đó lại hóa ra báo hại cho Oppenheimer vì người ta cho rằng nếu ông thực sự nghi ngờ lòng trung thành của Peters, việc ông giới thiệu Peters vào Dự án Manhattan là liều lĩnh, hoặc ít nhất là mâu thuẫn. Mô tả đại chúng về Oppenheimer xem những cuộc đấu tranh liên quan tới ông như một sự đụng độ giữa những nhà quân phiệt cánh hữu (tượng trưng bởi Teller) và những trí thức cánh tả (tượng trưng bởi Oppenheimer) trên vấn đề đạo đức về sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt. Câu hỏi về trách nhiệm của nhà khoa học đối với nhân loại gây cảm hứng cho vở kịch Galileo (1955) của Bertolt Brecht, để lại dấu ấn lên Die Physiker (Những nhà vật lý) của Friedrich Dürrenmatt, và là cơ sở cho vở opera Doctor Atomic (Tiến sĩ Nguyên tử) bởi John Adams (2005), minh họa Oppenheimer như một Faust thời hiện đại. Vở kịch của Heinar Kipphardt In the Matter of J. Robert Oppenheimer (Về vấn đề của J. Robert Oppenheimer), sau khi xuất hiện trên truyền hình Tây Đức, được trình diễn ở Berlin và Munich tháng 10 năm 1964. Sự phản đối của Oppenheimer dẫn đến cuộc trao đổi qua thư với Kipphardt, trong đó nhà soạn kịch đề xuất đưa ra những chỉnh sửa nhưng bảo vệ tinh thần của vở kịch. Nó khởi diễn ở New York tháng 6 năm 1968, với Joseph Wiseman thủ vai Oppenheimer. Nhà phê bình sân khấu của tờ New York Times Clive Barnes gọi nó là "một vở kịch giận dữ và một vở kịch có tính đảng phái" tỏ ra ủng hộ Oppenheimer nhưng theo hướng minh họa ông như một "tên ngốc bi kịch và thiên tài". Oppenheimer cảm thấy khó chịu với cách minh họa này. Sau khi đọc kịch bản Kipphardt sau khi nó biểu diễn, Oppenheimer đe dọa sẽ kiện nhà soạn kịch, chỉ trích "những ứng tấu trái ngược với lịch sử và bản chất những con người liên quan." Về sau khi trả lời phỏng vấn Oppenheimer từng nói: Toàn bộ thứ chết tiệt đó [tức buổi điều trần an ninh] là một trò hề, và những con người đó lại cố nặn ra một bi kịch từ nó... Tôi chưa bao giờ nói rằng tôi lấy làm tiếc vì đã tham gia một cách có trách nhiệm vào việc tạo ra quả bom. Tôi nói rằng có lẽ ông ta [Kipphardt] đã quên mất Guernica, Coventry, Hamburg, Dresden, Dachau, Warsaw, và Tokyo; nhưng tôi thì không, và nếu ông ta thấy điều đó quá khó hiểu, ông ta nên viết kịch về thứ gì đó khác. Series truyền hình Oppenheimer của BBC năm 1980, với Sam Waterston thủ vai chính, giành ba giải BAFTA cho mảng truyền hình. The Day After Trinity (Ngày sau Trinity), một phim tài liệu năm 1980 về Oppenheimer và công cuộc xây dựng bom nguyên tử, nhận được một đề cử giải Oscar và nhận một giải Peabody. Mới đây nhất cuộc đời Oppenheimer được thể hiện trong Oppenheimer (2015) bởi Tom Morton-Smith. Bên cạnh ngành nghệ thuật, cũng có nhiều tiểu sử về ông, bao gồm American Prometheus: The Triumph and Tragedy of J. Robert Oppenheimer (Prometheus nước Mỹ: Vinh quang và bi kịch của J. Robert Oppenheimer, 2005) bởi Kai Bird và Martin J. Sherwin thắng giải Pulitzer về mảng tiếu sử năm 2006. Một hội nghị và triển lãm kỉ niệm 100 năm ngày sinh của ông tổ chức năm 2004 tại Berkeley, với các tiểu luận tham gia được in thành sách năm 2005 dưới tên Reappraising Oppenheimer: Centennial Studies and Reflections (Đánh giá lại Oppenheimer: Những nghiên cứu và suy ngẫm kỷ niệm 100 năm). Các bài báo của ông được lưu trữ tại Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ. Là một nhà khoa học, Oppenheimer được học trò và đồng nghiệp nhớ đến như một nhà nghiên cứu xuất chúng, một người thầy tận tâm, nhà sáng lập của vật lý lý thuyết hiện đại của Hoa Kỳ. Bời vì mối quan tâm khoa khọc của ông thường thay đổi nhanh chóng, ông không bao giờ nghiên cứu một chủ để nào đủ lâu và đạt đến thành tựu đủ để nhận giải Nobel, mặc dù những đóng góp nền tảng của ông cho lý thuyết về lỗ đen đáng ra có thể xứng đáng một giải nếu ông sống đủ lâu để chứng kiến chúng gặt hái được kết quả bởi những nhà vật lý thiên văn. Một tiểu hành tinh, 67085 Oppenheimer, mang tên ông, cũng như hố va chạm trên Mặt Trăng Oppenheimer. Là một cố vấn quân sự và chính sách công, Oppenheimer được xem như một nhà lãnh đạo kỹ trị trong thời kỳ chuyển giao trong mối tương tác giữa khoa học và quân sự và sự nổi lên của "Big Science" (Khoa học đại quy mô). Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà khoa học bắt đầu liên quan vào nghiên cứu quân sự ở một mức độ chưa từng thấy. Bởi mối đe dọa phát xít đặt ra trước văn minh phương Tây, số đông họ đã tự nguyện giúp đỡ về mặt công nghệ và tổ chức cho nỗ lực của Đồng minh, dẫn tới những công cụ quan trọng như ra đa, kíp nổ gần hay vận trù học. Từ một nhà vật lý lý thuyết thông thái, giàu văn hóa trở thành một nhà tổ chức quân sự có kỷ luật, Oppenheimer đại diện cho sự thay đổi của ý tưởng rằng những nhà khoa học thường có "đầu óc để trên mây" và rằng kiến thức về những chủ đề trước đó có vẻ xa xôi bí hiểm như cấu tạo hạt nhân nguyên tử không có ứng dụng "đời thực" nào. Hai người trước vụ thử Trinity, Oppenheimer bày tỏ những niềm hy vọng và lo sợ của mình trong một trích đoạn từ Bhagavad Gita: Ở trận chiến, trong rừng sâu, trên những vách núi, Trên biển cả đen tối vĩ đại, giữa rừng tên đao, Trong giấc ngủ, trong nỗi băn khoăn, trong thẳm sâu nhục nhã, Những việc tốt đẹp một người từng làm bảo vệ anh ta. == Tác phẩm == Oppenheimer, J. Robert (1954). Science and the Common Understanding. New York: Simon and Schuster. OCLC 34304713. Oppenheimer, J. Robert (1955). The Open Mind. New York: Simon and Schuster. OCLC 297109. Oppenheimer, J. Robert (1964). The Flying Trapeze: Three Crises for Physicists. London: Oxford University Press. OCLC 592102. Oppenheimer, J. Robert; Rabi, I.I (1969). Oppenheimer. New York: Scribner. OCLC 2729. (posthumous) Oppenheimer, J. Robert; Smith, Alice Kimball; Weiner, Charles (1980). Robert Oppenheimer, Letters and Recollections. Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press. ISBN 0-674-77605-4. OCLC 5946652. (posthumous) Oppenheimer, J. Robert; Metropolis, N.; Rota, Gian-Carlo; Sharp, D. H. (1984). Uncommon Sense. Cambridge, Massachusetts: Birkhäuser Boston. ISBN 0-8176-3165-8. OCLC 10458715. (posthumous) Oppenheimer, J. Robert (1989). Atom and Void: Essays on Science and Community. Princeton, New Jersey: Princeton University Press. ISBN 0-691-08547-1. OCLC 19981106. (posthumous) == Tham khảo == Chú thích Trích dẫn == Thư mục == == Liên kết ngoài == J. Robert Oppenheimer (American physicist) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Robert Oppenheimer tại Internet Movie Database J. Robert Oppenheimer Centennial - Tiểu sử và trưng bày online nhân dịp 100 năm ngày sinh của Oppenheimer Ghi âm phỏng vấn năm 1965 bởi Stephane Groueff The Trials of J. Robert Oppenheimer. American Experience. WGBH | PBS / Phim tài liệu Phiên tòa J. Robert Oppenheimer trên CBS Robert Oppenheimer tại Internet Movie Database J. Robert Oppenheimer (Character) trên Internet Movie Database Oppenheimer có từng là đảng viên Cộng sản? tập hợp tư liệu về câu hỏi này On Atomic Energy, Problems to Civilization file ghi âm bài nói chuyện tại UC Berkeley tháng 11 năm 1946 Video phỏng vấn Oppenheimer về trải nghiệm vụ thử bom đầu tiên Các tài liệu giả mật của chính phủ liên quan tới vụ điều trần Oppenheimer Hearings và quyết định về bom H "Freedom and Necessity in the Sciences" file ghi âm và văn bản từ một bài giảng ở Đại học Dartmouth, tháng 4 năm 1959
angela merkel.txt
Angela Dorothea Merkel (IPA: /ˈaŋɡela doroˈteːa ˈmɛɐkəl/; sinh tại Hamburg, Đức, ngày 17 tháng 7 năm 1954) là Thủ tướng đương nhiệm của nước Đức. Trong cương vị chủ tịch Đảng Liên minh Dân chủ Kitô giáo (Christlich Demokratische Union Deutschlands - CDU), Merkel thành lập chính phủ liên hiệp với đảng anh em, Liên minh Xã hội Kitô giáo Bayern (Christlich-Soziale Union in Bayern - CSU) và Đảng Dân chủ Xã hội Đức (Sozialdemokratische Partei Deutschlands - SPD), sau những cuộc đàm phán kéo dài hai tháng nối tiếp cuộc bầu cử liên bang năm 2005. Merkel, trúng cử vào Quốc hội Đức từ bang Mecklenburg-Vorpommern, là chủ tịch đảng CDU từ năm 2000, chủ tịch nhóm đảng CDU-CSU tại quốc hội từ năm 2002 đến năm 2005. Bà là phụ nữ đầu tiên đảm nhận chức vụ Thủ tướng Đức, cũng là công dân đầu tiên của Cộng hoà Dân chủ Đức (Đông Đức) vươn đến vị trí lãnh đạo nước Đức thống nhất, và là phụ nữ đầu tiên lãnh đạo nước Đức kể từ khi xứ sở này trở thành một quốc gia hiện đại năm 1871. Tính đến năm 2006, bà cũng là thủ tướng trẻ tuổi nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Theo bình chọn của tạp chí Forbes năm 2006, Angela Merkel thế chỗ của Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Condoleezza Rice, để đứng đầu danh sách 100 phụ nữ nhiều quyền lực nhất thế giới, và liên tục giữ vị trí này trong mười năm kế tiếp sau đó. Năm 2015, bà được tạp chí Time bầu chọn là nhân vật của năm do vai trò lãnh đạo của bà trong cuộc khủng hoảng nợ công, khủng hoảng người nhập cư châu Âu cũng như cuộc khủng hoảng tại Ukraine. == Xuất thân == Angela Dorothea Kasner sinh tại Hamburg, Đức, con gái của Horst Kasner, một mục sư Giáo hội Luther, vợ ông, Herlind (nhũ danh Jentzsch), là giáo viên. Năm 1954, Horst Kasner đến quản nhiệm một nhà thờ ở Quitzow, gần Perleberg, và gia đình dời đến ở Templin. Merkel lớn lên ở vùng quê chỉ 80 km phía bắc Berlin, thuộc lãnh thổ của Cộng hoà Dân chủ Đức. Giống hầu hết học sinh khác, Merkel là đoàn viên Đoàn Thanh niên Tự do Đức. Về sau cô trở thành uỷ viên quận đoàn và bí thư chuyên trách dân vận và tuyên truyền tại Viện Hàn lâm Khoa học (viện nghiên cứu khoa học quan trọng nhất của Cộng hoà Dân chủ Đức, thành lập năm 1946, tiếp nối truyền thống 250 năm của Viện Hàn lâm Khoa học Phổ). Bà Angela Merkel trong một cuộc nói chuyện trên truyền hình ngày 19 tháng 5 năm 2009 kể rằng mật vụ Stasi của chính quyền Cộng sản Đông Đức từng muốn tuyển mộ bà khi bà xin việc trong Đại học Bách khoa Ilmenau nhưng bị Merkel từ chối hồi thập niên 70. Sau đó bà không được nhận vào làm việc ở trường đại học. Merkel theo học vật lý tại Đại học Leipzig từ năm 1973 đến năm 1978. Cô làm việc và nghiên cứu tại Viện Hóa Lý Trung ương thuộc Viện Hàn lâm Khoa học từ năm 1978 đến năm 1990. Sau khi tốt nghiệp với học vị tiến sĩ vật lý, Merkel làm việc trong lĩnh vực hoá lượng tử (quantum chemistry). Thủ tướng Angela Merkel từng muốn vượt biên sang phương Tây và có cơ hội khi thăm thân ở Hamburg (Tây Đức) năm 1986 nhưng cuối cùng vì cha mẹ ở Đông Đức và các mối ràng buộc gia đình, bạn bè, bà đã quyết định trở về. Merkel cũng nói rằng bà đã mở một lon bia uống mừng khi bức tường Berlin sụp đổ năm 1989. Năm 1989, sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, Merkel tham gia phong trào dân chủ, gia nhập đảng Demokratischer Aufbruch mới thành lập. Sau cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên ở Đông Đức, bà trở thành phụ tá phát ngôn của chính quyền lâm thời tiền thống nhất dưới quyền lãnh đạo của Lothar de Maizeiere. Trong cuộc tổng tuyển cử tổ chức vào tháng 12 năm 1990, sau khi đất nước thống nhất, Merkel đắc cử vào Bundestag (Quốc hội), từ một hạt bầu cử bao gồm hai quận Nordvorpommern và Rugen cùng thành phố Stralsund. Đảng của bà sáp nhập với đảng CDU của Tây Đức và Merkel trở nên Bộ trưởng Phụ nữ và Thanh niên trong nội các của thủ tướng Helmut Kohl. Năm 1994, Merkel được bổ nhiệm vào chức vụ Bộ trưởng Môi trường và An toàn Lò Phản ứng Hạt nhân, vị trí này giúp bà trở nên một nhân vật được nhiều người biết đến và cung cấp một diễn đàn giúp bà xây dựng sự nghiệp chính trị. Là một trong những chính khách được Kohl ưu ái và là bộ trưởng nội các trẻ tuổi nhất, Kohl thường gọi Merkel là "das Madchen" ("cô gái"). Với khả năng nói tiếng Anh gần như hoàn hảo, khi nhận xét về xuất thân của mình là một "Ossi" (biệt danh chỉ các công dân Đông Đức), bà nói: "Bất cứ ai thực sự có một điều gì đó để bộc lộ thì không cần đến trang điểm". Không chỉ thông thạo Anh ngữ, Angela còn nói tiếng Nga lưu loát. Năm 1977, bà kết hôn với Ulrich Merkel, một nhà vật lý, rồi ly dị năm 1982. Từ năm 1998, bà kết hôn với một giáo sư hoá học ở Berlin tên Joachim Sauer. Bà không có con. == Lãnh tụ phe Đối lập == Khi chính phủ Kohl thất bại trong cuộc tổng tuyển cử năm 1998, Merkel được bổ nhiệm làm Tổng Thư ký Đảng CDU. Trong cương vị này, chỉ trong năm 1999 Merkel điều hành dẫn đến một chuỗi thắng lợi cho đảng của bà tại sáu trong bảy cuộc bầu cử cấp bang, phá vỡ thế đa số của liên minh SPD-Đảng Xanh tại Bundesrat (Hội đồng Liên bang), thiết chế lập pháp đại diện cho các bang. Sau vụ bê bối tài chính bên trong đảng liên quan đến nhiều nhân vật lãnh đạo đảng CDU (kể cả Kohl và chủ tịch đảng Wolfgang Schauble, người được chọn để kế nhiệm Kohl), Merkel chỉ trích người đỡ đầu trước đây của bà và xúc tiến một khởi đầu mới cho đảng mà không có Kohl. Ngày 10 tháng 4 năm 2000, bà được bầu chọn để thay thế vị trí của Shaube, trở nên người phụ nữ đầu tiên giữ ghế chủ tịch đảng, gây kinh ngạc cho nhiều nhà quan sát khi cá tính của bà đối nghịch với đảng đã chọn bà vào vị trí lãnh đạo; Merkel là một phụ nữ và là tín hữu Kháng Cách, xuất thân từ miền đông nước Đức đa số chấp nhận đức tin Kháng Cách, trong khi CDU vẫn có tập quán lãnh đạo bởi nam giới, bảo thủ và chịu ảnh hưởng sâu đậm truyền thống Công giáo, với hậu thuẫn vững chắc ở miền tây và nam nước Đức. Tháng 10 năm 2001, mặc dù những cam kết làm trong sạch đảng, Merkel từ chối đào sâu vào vụ tai tiếng về tài chính. Sau khi trở nên lãnh tụ đảng, Merkel nhận được sự ủng hộ đáng kể từ người dân Đức để trở nên nhân vật thách thức Thủ tướng Gerhard Schroder trong cuộc bầu cử năm 2002. Tuy vậy, bà không được ưa thích ngay bên trong đảng, đặc biệt trong đảng anh em, Liên minh Cơ Đốc Xã hội Bavaria – CSU, sau đó bị loại bởi lãnh đạo CSU, Edmund Stoiber, người trở nên đối thủ của Schroder nhưng lại không biết tận dụng vị trí dẫn đầu trong các cuộc thăm dò dư luận để thua cuộc trong gang tấc. Sau thất bại của Stoiber trong năm 2002, bên cạnh vai trò chủ tịch đảng, Merkel nhận lãnh trách nhiệm lãnh đạo phe bảo thủ đối lập ở hạ viện tại Quốc hội Đức, Bundestag. Đối thủ của bà, Friedrich Merz, giữ vị trí này ở quốc hội trước cuộc bầu cử năm 2002, rút lui để nhường đường cho Merkel. === Diễn đàn chính trị === Merkel ủng hộ nghị trình cải cách liên quan đến hệ thống xã hội và kinh tế nước Đức, bà được xem là thiên về thị trường tự do; bà vận động sửa đổi luật lao động, dỡ bỏ những rào cản trong quy trình sa thải nhân viên và gia tăng số giờ làm việc trong tuần, bà cho rằng luật lệ hiện hành làm suy giảm tính cạnh tranh bởi vì các công ty không thể kiểm soát giá thuê mướn nhân công khi công việc kinh doanh đình trệ. Merkel cho rằng chương trình cắt giảm năng lượng hạt nhân của nước Đức nên theo một lộ trình chậm hơn so với kế hoạch của chính phủ Schroder. Merkel ủng hộ mối quan hệ mật thiết giữa Đức và Hoa Kỳ. Mùa xuân năm 2003, ngược lại lập trường chống đối quyết liệt của công luận, Merkel tỏ ý đồng tình với cuộc xâm lăng Iraq của Hoa Kỳ, miêu tả nó là "không thể tránh khỏi" và kết án Gerhard Schroder là có khuynh hướng chống Mỹ. Động thái này khiến bà bị những người chỉ trích gọi là kẻ xu nịnh nước Mỹ. Bà phê phán lập trường của chính phủ ủng hộ Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập Liên minh châu Âu, thay vào đó bà ủng hộ quy chế "đối tác đặc quyền" cho quốc gia này. Do đó, bà được xem là có quan điểm phù hợp với tuyệt đại đa số người dân Đức, xuất phát từ nỗi lo làn sóng nhập cư có thể trở nên gánh nặng quá sức cho nước Đức, cùng với sự hiện diện của quá nhiều ảnh hưởng Hồi giáo bên trong Liên minh châu Âu. === So sánh === Là một nữ chính khách đến từ một đảng trung hữu, và là một khoa học gia, Merkel thường được so sánh bởi các nhà báo Đức cũng như Anh, với cựu Thủ tướng Anh Margaret Thatcher. Nhiều người thích gọi bà với biệt danh "Iron Lady" hay "Iron Girl"; song ngoại trừ biệt danh, các nhà bình luận chính trị nhận thấy ít có sự tương đồng giữa các nghị trình chính sự của hai nữ chính khách này. == Ứng cử Thủ tướng == Ngày 30 tháng 5 năm 2005, Merkel giành được sự đề cử của liên minh CDU/CSU để trở nên đối thủ của Thủ tướng Gerhard Schroder của đảng SPD trong cuộc tổng tuyển cử năm 2005. Đảng của bà bắt đầu chiến dịch vận động tranh cử, dẫn trước với tỷ lệ 21% theo các cuộc thăm dò dư luận, mặc dù uy tín cá nhân của Merkel thấp hơn của thủ tướng đương nhiệm. Đã vậy, Merkel làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn khi hai lần lẫn lộn giữa lợi tức gộp và lợi tức ròng (gross income và net income) khi bà đem khả năng cạnh tranh của nền kinh tế làm trọng điểm cho lập trường của CDU trong một cuộc tranh luận trên truyền hình. Tuy vậy, bà giành lại lợi thế khi tuyên bố sẽ bổ nhiệm Paul Kirchhof, cựu thẩm phán tại Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức và là một chuyên gia về chính sách tài chính, vào chức vụ bộ trưởng tài chính. Kết quả cuộc bầu cử toàn quốc ngày 18 tháng 9 năm 2005 là bất phân thắng bại cho liên minh CDU/CSU của Merkel và đảng SPD của Schroder, với CDU/CSU dành 35,2% phiếu bầu (CDU 27,8% và CSU 7,4%) trong khi SPD chiếm 34,2%. Cả liên minh SPD-đảng Xanh và liên minh CDU/CSU với đảng Dân chủ Tự do đều không có đủ số ghế cần thiết để chiếm thế đa số tại Bundestag, nên Schroder và Merkel đều không thể tuyên bố chiến thắng. Một đại liên minh giữa CDU/CSU và SPD gặp trở ngại là cả hai đều muốn nắm giữ cho mình chức thủ tướng. Tuy nhiên, sau ba tuần lễ thương thảo, hai đảng đi đến thoả thuận theo đó Merkel sẽ là thủ tướng trong khi SPD nắm giữ 8 trong số 16 vị trí trong nội các. Thoả hiệp này được chuẩn thuận bởi hai đảng vào ngày 14 tháng 11. Merkel được bầu vào chức vụ thủ tướng bởi đa số phiếu của đại biểu (397-217) trong kỳ họp của Bundestag ngày 22 tháng 11, song có đến 51 thành viên của liên minh cầm quyền bỏ phiếu trắng hoặc phiếu chống. Những bản tường trình chỉ ra rằng chính phủ liên hiệp sẽ theo đuổi chính sách hỗn hợp, có một số khía cạnh mâu thuẫn với lập trường chính trị của Merkel trong cương vị lãnh đạo phe đối lập và ứng cử viên thủ tướng, với chủ trương cắt giảm chi tiêu công trong khi tăng thuế giá trị gia tăng (VAT), tiền bảo hiểm xã hội và nâng mức trần của thuế lợi tức. Luật bảo vệ nhân dụng không còn có giá trị cho nhân viên trong hai năm đầu làm việc, lương hưu sẽ bị đóng băng và các khoản trợ cấp dành cho người mua nhà lần đầu sẽ bị cắt giảm. Về đối ngoại, nước Đức sẽ duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Pháp và các quốc gia Đông Âu, nhất là Nga, sẽ tiếp tục ủng hộ Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập Liên minh châu Âu (EU). Tuy nhiên, không chắc là Đức sẽ vận động dỡ bỏ lệnh cấm vận của EU bán vũ khí cho Trung Quốc khi nhiều lần Merkel đã bày tỏ sự chống đối về điều này. Merkel cho biết mục tiêu chính của chính phủ là giảm tỷ lệ thất nghiệp, và chính phủ nên được đánh giá qua sự thành bại trong nỗ lực này. == Thủ tướng == Chuyến công du nước ngoài đầu tiên của Merkel sau khi tuyên thệ nhậm chức là chuyến viếng thăm Paris để hội kiến với Tổng thống Pháp Jacques Chirac. Trong bài diễn văn của mình, Chirac nhấn mạnh đến tầm quan trọng của mối quan hệ đối tác Pháp-Đức đối với Âu châu. Sau đó, Merkel đến Bỉ để gặp gỡ các nhà lãnh đạo EU và Tổng thư ký NATO, Jaap de Hoop Scheffer, rồi đến Luân Đôn hội kiến với Thủ tướng Anh Tony Blair. Ngày 28 tháng 11 bà tiếp kiến quốc khách đầu tiên, Tổng thống Pohamba của Namibia, một cựu thuộc địa của Đức ở Phi châu. Ngày 30 tháng 11 năm 2005, trong bài diễn văn chính phủ đầu tiên, Merkel công bố mục tiêu cải thiện nền kinh tế Đức và hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp. Ngày 13 tháng 1 năm 2006, bà đến Hoa Kỳ trong chuyến viếng thăm đầu tiên trong cương vị thủ tướng. Đầu năm 2006, các cuộc thăm dò dư luận cho thấy Angela Merkel, sau 100 ngày cầm quyền, giành được sự ủng hộ cao nhất trong vòng các thủ tướng lãnh đạo nước Đức kể từ năm 1949. Nhiều nhà phê bình kinh tế thường nhắc đến thuật ngữ "nhân tố Merkel" như là nguyên nhân của sự gia tăng nhanh chóng trong mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng và mức chi tiêu trong thị trường. Sau hai năm liên tiếp (2006 và 2007) giữ vị trí quán quân trong danh sách 100 phụ nữ quyền lực nhất thế giới, tháng 8 năm 2008, Angela Merkel lại tiếp tục là nhân vật số một theo bình chọn của Tạp chí Forbes kèm theo nhận xét, Với GDP 3, 3 ngàn tỷ USD, Đức là nền kinh tế lớn nhất châu Âu. Nỗ lực cải tổ của Merkel đã giúp phục hồi kinh tế và làm giảm tỷ lệ thất nghiệp (dù niềm tin của người tiêu dùng ở mức thấp nhất trong vòng 5 năm). Bà nâng cao tuổi về hưu, bổ nhiệm thêm phụ nữ vào các vị trí quan trọng trong chính quyền, tăng phụ cấp cho người chịu sinh thêm con. Có quan điểm cứng rắn trong các cuộc tranh luận, bà tiếp kiến Dalai Lama, trừng trị Mugabe, và muốn đồng euro thủ giữ vai trò quan trọng hơn trong thị trường tài chính trong lúc đồng đô-la đang suy yếu. Bà cũng cố biến nước Đức thành một quốc gia thân thiện hơn với môi trường bằng các biện pháp cắt giảm khí đốt nhà kính. Người dân Âu châu đã bỏ phiếu chọn bà là chính trị gia có nhiều ảnh hưởng nhất. – Tatiana Serafin. === Lập chính phủ === Ngày 28 tháng 9 năm 2009, Merkel hứa sẽ sớm thành lập tân chính phủ có khuynh hướng trung-hữu chỉ trong vài tuần tới, nói rằng việc cắt giảm thuế có thể xảy ra năm 2011 và bác bỏ đòi hỏi phải giảm chi vì cho rằng sẽ gây nguy hại cho việc phục hồi kinh tế. Cử tri Ðức ngày 27 tháng 9 đã chấm dứt liên minh tả khuynh-hữu khuynh nhiều bế tắc của Merkel và cho bà thế đa số thoải mái trong phía trung-hữu-nhờ vào chiến thắng của đồng minh mới là đảng Dân chủ Tự do với khuynh hướng thân giới doanh nghiệp. "Ðức sẽ phải sớm có một chính phủ mới," Merkel nói, nói rằng quốc gia này chỉ mới thoát ra cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Sau đó bà có cuộc họp với lãnh đạo đảng Dân chủ Tự do là Guido Westernwelle. Nước Ðức kỷ niệm 20 năm bức tường Berlin sụp đổ ngày 9 tháng 11/2009, và Merkel muốn chào đón các nhà lãnh đạo thế giới ngày 9 tháng 11 với thành phần chính phủ mới. Kết quả cuộc bầu cử ngày 27/9, 2009 đưa quốc gia với nền kinh tế lớn nhất châu Âu về hướng thiên hữu, nhưng với người lãnh đạo là bà Merkel có tính thận trọng và luôn tìm sự thỏa thuận với mọi phe nhóm. Hiện không có chỉ dấu nào cho thấy sẽ có sự thay đổi lớn lao trong chính sách. Một trong những điểm căn bản trong lập trường tranh cử của Merkel là lời hứa hẹn đưa ra việc giảm thuế cho giới trung lưu. Ðảng Dân chủ Tự do muốn có sự thay đổi sâu rộng trong hệ thống thuế khóa, cắt thuế lợi tức cho cả thành phần giàu và nghèo. Merkel nói việc cắt giảm thuế có thể được thi hành vào năm 2011 hay 2012, nhưng không cho biết chi tiết rõ ràng vào lúc này. == Chuyện nhỏ == Trong văn phòng thủ tướng, Merkel cho treo bức tranh Nữ hoàng Nga Ekaterina II, một công chúa sinh ở Đức, người được Merkel miêu tả là "một phụ nữ mạnh mẽ". Angela Merkel cũng là lãnh đạo cấp quốc gia đầu tiên của Đức đi thăm nhà tù Hohenschoenhausen nơi Stasi, cơ quan an ninh Đông Đức Xã hội chủ nghĩa giam người một cách bí mật, đồng thời bà cũng lên án chủ nghĩa cộng sản và cho rằng: "Đây là ví dụ cho thấy sự tàn bạo vi phạm nhân phẩm của con người". Angela Merkel được tờ báo Anh Times chọn là "Người của năm 2014" với vai trò trung gian giữ Đông và Tây, qua những trao đổi với tổng thống Nga Putin. Theo tờ báo "bà là người mà chúng ta cần, trong một thế giới của những người đàn ông nguy hiểm" và "bà đã giúp đỡ Tây Âu tập trung vào những giá trị quan trọng nhất." == Quan điểm == Trong một buổi nói chuyện với sinh viên tại đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh vào ngày 8 tháng 7 năm 2014: Trong bài thuyết trình ở Sydney, Úc tại viện chính trị quốc tế Lowy có tiếng (16.11.2014) mà chỉ dành cho những nhân vật xuất sắc, Merkel sau khi nói chuyện tay đôi với Putin nhân dịp hội nghị thượng đỉnh G-20 tại Brisbane, nói: Trong chuyến công du Hungary vào ngày 02/02/2015, Merkel trong một cuộc họp báo cùng với thủ tướng Hung Orbán Viktor đã phê bình chính sách của ông, nhấn mạnh sự quan trọng của tự do báo chí, và tự do ngôn luận: == Tác phẩm == Merkel, Angela; Ilka Böger, Hans Joachim Spangenberg, Lutz Zülicke (1982). “Berechnung von Hochdruck-Geschwindigkeitskonstanten für Zerfalls- und Rekombinationsreaktionen einfacher Kohlenwasserstoffmoleküle und -radikale (Calculation of High Pressure Velocity Constants for Reactions of Decay and Recombinations of simple Hydrocarbon Molecules and Radicals)”. Zeitschrift für Physikalische Chemie 263 (3): 449–460. Merkel, Angela; Lutz Zülicke (1985). “Berechnung von Geschwindigkeitskonstanten für den C-H-Bindungsbruch im Methylradikal (Calculation of Velocity Constants for the Break of the Carbon-Hydrogen-Bond in the Methyl Radical)”. Zeitschrift für Physikalische Chemie 266 (2): 353–361. Merkel, Angela; Lutz Zülicke (1987). “Nonempirical parameter estimate for the statistical adiabatic theory of unimolecular fragmentation carbon-hydrogen bond breaking in methyl”. Molecular Physics 60 (6): 1379–1393. Merkel, Angela; Zdenek Havlas, Rudolf Zahradník (1988). “Evaluation of the rate constant for the SN2 reaction fluoromethane + hydride: methane + fluoride in the gas phase”. Journal of American Chemical Society 110 (25): 8355–8359. Merkel, Angela (1998). “The role of science in sustainable development”. Science 281 (5375): 336–337. == Chú thích == == Liên kết ngoài == (tiếng Đức) The Office of the Chancellor (tiếng Đức) Angela Merkel's Homepage - Merkel's personal website. English version of CDU website - Official party website. Các tác phẩm của Angela Merkel lưu trong catalogue Thư viện quốc gia Đức Angela Merkel Sworn in as German Chancellor - DW 22.11.2005 report from Deutsche Welle.
windows vista.txt
Windows Vista (tên mã là Longhorn) là một hệ điều hành của Microsoft sử dụng cho máy tính cá nhân, trong đó có máy tính để bàn của các gia đình và doanh nghiệp, máy tính xách tay, máy tính bảng và máy tính giải trí gia đình. Trước khi có thông báo chính thức ngày 22 tháng 7 năm Windows Vista được biết đến với tên mã "Longhorn". Quá trình phát triển hoàn tất vào ngày 8 tháng 11 năm 2006, và trong ba tháng sau đó, Windows Vista được phát hành lần lượt cho các hãng sản xuất phần cứng và phần mềm máy tính, các người dùng doanh nghiệp và các kênh bán lẻ. Vào ngày 30 tháng 1 năm 2007, hệ điều hành này được phát hành trên toàn cầu và có thể đăng ký mua và tải về từ trang web của Microsoft. Windows Vista được phát hành năm năm sau khi người tiền nhiệm của nó, khoảng cách dài nhất giữa hai hệ điều hành Microsoft Windows cho máy tính cá nhân liên tiếp. Các tính năng mới của Windows Vista bao gồm giao diện người dùng đồ họa cải tiến với một kiểu giao diện mới có tên gọi Aero, một công cụ tìm kiếm mới có tên Windows Search, kết nối mạng âm thanh, in ấn và hiển thị được thiết kế lại, và một số tiện ích đa phương tiện mới trong đó có Windows DVD Maker. Vista hướng tới mục tiêu cải tiến việc giao tiếp giữa các máy tính trong một mạng gia đình lên một tầm cao mới, sử dụng công nghệ ngang hàng để đơn giản hoá việc chia sẻ các tập tin và phim ảnh giữa các máy tính và thiết bị. Windows Vista ngoài ra còn có .NET Framework phiên bản 3.0, cho phép các nhà phát triển phần mềm viết ứng dụng mà không cần đến bộ Windows API truyền thống. Mục tiêu chủ yếu của hệ điều hành Windows Vista được Microsoft tuyên bố là cải thiện khả năng bảo mật của hệ điều hành Windows. Một trong những vấn đề bị chỉ trích về Windows XP và các hệ điều hành trước đó là các lỗ hổng bảo mật dễ bị khai thác và khả năng chống chọi yếu kém nói chung với malware, virus và sự tràn bộ đệm. Đáp lại những chỉ trích này, đầu năm 2002, chủ tịch Microsoft Bill Gates đã tuyên bố "kế hoạch Trustworthy Computing" trên toàn công ty, nhằm tích hợp các vấn đề bảo mật vào mọi khía cạnh của việc phát triển phần mềm. Microsoft tuyên bố họ ưu tiên của thiện vấn đề bảo mật của Windows XP và Windows Server 2003 trên việc hoàn thiện Windows Vista, khiến dự án hệ điều hành mới này hoàn thành muộn hơn. Trong khi các tính năng mới kể trên và các cải tiến bảo mật nhận được những phản hồi tích cực, Vista cũng trở thành mục tiêu của nhiều chỉ trích và các nhận xét tiêu cực của báo chí. Những lời chỉ trích về Windows Vista nhắm vào yêu cầu cấu hình hệ thống cao, các điều khoản trong giấy phép chặt chẽ hơn, việc đưa vào một số công nghệ quản lý quyền kỹ thuật số nhằm hạn chế việc sao chép các dữ liệu đa phương tiện kỹ thuật số được bảo vệ, tương thích kém với các thiết bị phần cứng và phần mềm trước Vista, và các thông báo uỷ quyền của công cụ User Account Control. Do những rắc rối này và một số vấn đề khác, Windows Vista có tỷ lệ sử dụng và hài lòng ban đầu thấp hơn Windows XP. Tuy nhiên, với ước tính 330 triệu người dùng Internet sử dụng tính đến tháng 1 năm 2009, hãng đã thông báo rằng số người sử dụng Vista đã vượt qua dự kiến ban đầu hai năm trước của Microsoft là đạt con số 200 triệu người dùng. Tính đến thời điểm ra mắt Windows 7 (tháng 10 năm 2009), Windows Vista (với khoảng 400 triệu người dùng) là hệ điều hành được sử dụng nhiều thứ hai trên Internet với thị phần đạt khoảng 19%, trong khi đó Windows XP được sử dụng nhiều nhất với thị phần 63%. Tính đến tháng 5 năm 2010, thị phần của Windows Vista nằm ở mức từ 15% đến 26%. Vào ngày 22 tháng 10 năm 2010, Microsoft giảm dần doanh số bán lẻ Windows Vista, và số bản bán cho các hãng sản xuất cũng giảm dần một năm sau đó. Tính đến tháng 4 năm 2014, thị phần của Vista là 2.78%. == Quá trình phát triển Vista == === Dưới tên gọi Longhorn === Microsoft bắt đầu phát triển Windows Vista, được biết đến với tên mã Longhorn lúc bấy giờ, vào tháng 5 năm 2001, năm tháng trước khi phát hành Windows XP. Ban đầu nó được hy vọng sẽ bắt đầu bán ra vào cuối năm 2003 như một bước đệm nhỏ giữa Windows XP và Blackcomb, thời đó được dự kiến sẽ là hệ điều hành quan trọng tiếp theo của công ty. Dần dần, "Longhorn" được tích hợp nhiều tính năng và công nghệ quan trọng dự kiến cho Blackcomb, khiến thời điểm phát hành của nó bị lùi lại vài lần. Nhiều nhà phát triển của Microsoft được điều chuyển lại để phát triển các bản cập nhật bảo mật cho Windows XP và Windows Server 2003. Đối mặt với nhiều lần trì hoãn và lo ngại về vấn đề tràn tính năng, Microsoft tuyên bố vào ngày 27 tháng 8 năm 2004 rằng họ đã thay đổi kế hoạch. Dự án Longhorn ban đầu, dựa trên mã nguồn của Windows XP, bị huỷ bỏ, và quá trình phát triển Longhorn bắt đầu lại từ đầu, dựa trên cơ sở mã của Windows Server 2003 Service Pack 1, và chỉ đưa vào các tính năng được dự kiến cho một lần ra mắt hệ điều hành chính của hãng. Một số tính năng từng được tuyên bố trước đó như WinFS bị loại bỏ hoặc trì hoãn, và một phương pháp phát triển phần mềm mới có tên gọi Security Development Lifecycle được tích hợp nhằm giải quyết các vấn đề với cơ sở mã của Windows, vốn được lập trình bằng ngôn ngữ C, C++ và Assembly. Các giai đoạn phát triển ban đầu của Longhorn được miêu tả là các bản cập nhật và cải tiến cho Windows XP. Trong thời gian này, Microsoft khá kín tiếng về dự án này, bởi việc quảng cáo và tiếp thị chủ yếu tập trung vào Windows XP và Windows Server 2003, phát hành tháng 4 năm 2003. Các bản build của Longhorn thỉnh thoảng bị rò rỉ trên các mạng chia sẻ tập tin như IRC, BitTorrent, eDonkey và nhiều trang newsgroup, và do đó phần lớn những gì công chúng biết được về các bản build trước khi quá trình phát triển dự án Longhorn được chính thức phê chuẩn vào tháng 5 năm 2003 là dựa vào các bản build này. Sau vài tháng tương đối ít tin tức từ Microsoft về Longhorn, Microsoft phát hành bản Build 4008, xuất hiện trên Internet khoảng ngày 28 tháng 2 năm 2003. Nó cũng được bí mật chuyển đến một số nhà phát triển phần mềm có chọn lọc. Là phiên bản mang tính cách mạng so với build 3683, Build 4008 có nhiều cải tiến nhỏ, bao gồm giao diện "Plex" xanh cải tiến và một trình cài đặt hệ điều hành giản tiện hơn dựa trên ảnh đĩa Windows (Windows Image) vốn hoạt động trong chế độ đồ hoạ ngay từ đầu, và thời gian cài đặt chỉ bằng khoảng một phần ba so với Windows XP trên máy tính có cùng cấu hình phần cứng. Một "taskbar mới" tuỳ chọn được giới thiệu, vốn có bề rộng nhỏ hơn các bản build trước đây và hiển thị thời gian cũng khác biệt. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất cả về giao diện và chức năng lại nằm ở Windows Explorer. Việc tích hợp giao diện Plex khiến xanh nước biển trở thành gam màu chủ đạo của cả ứng dụng. Thanh công cụ bên trái theo phong cách của Windows XP hầu như bị thay thế hoàn toàn bằng một thanh ngang lớn nằm ngay dưới các thanh công cụ (thanh địa chỉ và thanh tìm kiếm). Giao diện tìm kiếm mới cũng được giời thiệu cho phép lọc kết quả tìm kiếm, tìm kiếm trong danh mục trợ giúp Windows và các chuỗi tìm kiếm ngôn ngữ tự nhiên vốn dự định tích hợp với WinFS. Nhân vật tìm kiếm hoạt hình (chú chó) cũng bị loại bỏ. Thanh tuỳ chọn "chế độ xem" (view) cũng bị thay thế bằng một thanh trượt duy nhất cho phép thay đổi kích cỡ các biểu tượng trong thời gian thực; hoặc xem kiểu danh sách, kiểu chi tiết hay kiểu biểu tượng thumbnail, tuỳ thuộc vào vị trí của thanh trượt. Metadata của các tập tin cũng dễ thấy hơn và dễ sửa đổi hơn, cho phép thêm các thông tin còn thiếu một cách chủ động và đơn giản. Một điểm đáng chú ý khác là sự chuyển đổi Windows Explorer thành một ứng dụng .NET. Hầu hết các bản build của hệ điều hành Longhorn và Vista đều có thể nhận ra bởi một dòng chữ luôn xuất hiện ở góc dưới bên phải màn hình. Một dòng chữ điển hình như vậy thường có dạng "Longhorn Build 3663.Lab06_N.020728-1728". Không phải cứ số build cao có nghĩa là phiên bản đó chứa tất cả các tính năng mới nhất từ mọi nhóm phát triển của Microsoft. Thông thường, mỗi nhóm làm việc với một tính năng hay một hệ con khác nhau sẽ tự tạo ra số build của riêng họ, và khi mã nguồn của tính năng đó đã ổn định, tính năng sẽ được tích hợp trở lại bộ khung gốc của hệ điều hành. Tại Microsoft có một số "phòng thí nghiệm build", ở đó sẽ có một nhóm ghép nối các tính năng, công cụ khác nhau thành một phiên bản Windows hoàn chỉnh. Tên phòng thí nghiệm sản xuất ra bản build đó được đưa vào dòng chữ này, theo sau đó là ngày giờ bản build được tạo ra. Một số bản build (như Beta 1 và Beta 2) chỉ hiển thị dòng chữ tên build trong hộp thoại thông tin phiên bản (Winver). Các biểu tượng sử dụng trong các bản build này vẫn lấy từ Windows XP. === Reset để phát triển === Đến năm 2004, Vista đã trở nên rõ ràng để các nhóm Windows tại Microsoft rằng họ đã mất đi tầm nhìn về những gì cần phải được thực hiện để hoàn thành các phiên bản tiếp theo của Windows. Về nội bộ, một số nhân viên của Microsoft đã mô tả các dự án như Longhorn "Một Cairo khác" hoặc "Cairo.NET", đề cập đến dự án phát triển Cairo mà công ty bắt tay vào làm trong nửa đầu của năm 1990 và đã không thểt tạo nên một hệ điều hành thực thụ (mặc dù gần như tất cả các công nghệ được phát triển trong thời gian đó đã được đưa vào Windows 95 và Windows NT. Microsoft đã thật sự bị sốc vào năm 2005 do sự phát hành Mac OS X Tiger của Apple. Nó chỉ có một tập hợp hạn chế về các tính năng trên Longhorn, đặc biệt là tìm kiếm tập tin nhanh, đồ họa tích hợp và xử lý âm thanh, nhưng dường như có độ tin cậy và hiệu suất ấn tượng hơn nhiều so với Longhorn lúc đó. Hầu hết các build của Longhorn đã rò rỉ file Explorer.exe đã khiến hệ điều hành gặp một loạt lỗi, thêm vào đó, các build về sau lại chứa rất nhiều mã đang được phát triển nhưng không đạt được sự ổn định như mong đợi. Vào ngày 23 Tháng chín 2005 ở bài báo trang nhất trên The Wall Street Journal, Microsoft đồng chủ tịch Jim Allchin, người có trách nhiệm tổng thể cho sự phát triển và phân phối của Windows, giải thích việc sự phát triển của Longhorn "sa vào vũng lầy" như thế nào, do phần lớn các phương pháp đều lộn xộn bởi những tính năng đã được giới thiệu và tích hợp vào lõi của hệ điều hành mà không hề có một mục tiêu rõ ràng là tạo ra một sản phẩm cuối cùng. Allchin đã tới để giải thích việc làm thế nào mà trong tháng 12 năm 2003, ông lại tranh thủ được sự giúp đỡ của hai giám đốc điều hành khác cao cấp, Brian Valentine và Amitabh Srivastava, các cựu nhân viên có kinh nghiệm với phần mềm tại Microsoft, đáng chú ý nhất là Windows Server 2003, và sau khi đã trải sự nghiệp của mình tại Microsoft, nghiên cứu và phát triển các phương pháp sản xuất các hệ thống kiểm tra chất lượng cao. Srivastava đã thuê một đội ngũ kiến ​​trúc cốt lõi để vạch ra toàn bộ kế hoạch về Windows, và chủ động làm việc với mục đích quá trình phát triển đó sẽ thúc đẩy chất lượng mã, đồng thời làm giảm sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành phần, và nói chung, "không làm cho mọi việc tồi tệ hơn với Vista". Kể từ khi Microsoft quyết định rằng Longhorn cần được tiếp tục thành phần hóa, công việc bắt đầu vào dự án Omega-13, nơi họ sẽ thành phần hóa mã nguồn Windows Server 2003, sau đó thêm dần dần các tính năng vào. Longhorn tương lai sẽ được xây dựng bằng cách bắt đầu từ Windows Server 2003 Service Pack 1. Sự thay đổi này, công bố trong nội bộ để nhân viên của Microsoft vào ngày 26 Tháng Tám năm 2004, bắt đầu một cách nghiêm túc vào tháng Chín, mặc dù nó sẽ mất vài tháng nữa trước khi quá trình phát triển mới và xây dựng phương pháp sẽ được sử dụng bởi tất cả các đội phát triển. Một số lời phàn nàn đến từ các nhà phát triển cá nhân, và Bill Gates mình, rằng quá trình phát triển mới sẽ là tốn khó khăn để làm việc bên trong. === Chính thức mang tên Windows Vista === Đến đầu tháng 7 năm 2005, công ty đã xem xét một số tên gọi cho phiên bản chính thức, từ đơn giản đến kỳ lạ và sáng tạo. Cuối cùng, Microsoft đã chọn Windows Vista và xác nhận vào ngày 22 tháng 7 năm 2005, tin rằng đó là một "giao lộ tuyệt vời của những sản phẩm thực sự, là những gì Windows đại diện cho, và những gì tạo ra tiếng vang với khách hàng, với nhu cầu của họ. "Nhóm dự án Quản lý Greg Sullivan nói với Paul Thurrott- "Bạn muốn máy tính thích ứng với bạn và giúp bạn lướt qua những gì lộn xộn để tập trung vào những gì quan trọng với bạn. Đó là tất cả về Windows Vista:".. Mang sự rõ ràng đến thế giới của bạn "(một trong ba điểm tiếp thị của Vista- Sạch Sẽ, Kết Nối, Tự Tin), vì vậy bạn có thể tập trung vào những gì quan trọng với bạn. " Đồng chủ tịch Microsoft Jim Allchin cũng yêu cái tên đó và nói rằng "Vista" tạo ra các hình ảnh phù hợp với các khả năng sản phẩm mới, đồng thời truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng với tất cả các khả năng của những gì có thể được thực hiện với Windows, làm cho niềm đam mê của người dân trở nên sống động. "[33 ] Sau khi Longhorn được đặt tên là Windows Vista vào tháng 7 năm 2005, một chương trình beta-test được bắt đầu, lôi kéo đến hàng trăm ngàn công ty và các tình nguyện viên. Trong tháng 9 năm đó, Microsoft bắt đầu phát hành thường xuyên dịch vụ Community Technology Previews (CTP) để thử nghiệm bản beta từ tháng 7 năm 2005 đến tháng 2 năm 2006. Việc đầu tiên là phân phối tại Microsoft Professional Developers Conference 2005, và sau đó đã được phát hành để thử nghiệm beta và thuê bao mạng Microsoft Developer. Được xây dựng theo sau đó kết hợp hầu hết các tính năng lên kế hoạch cho sản phẩm cuối cùng, cũng như một số thay đổi về giao diện người dùng, chủ yếu dựa trên thông tin phản hồi từ người thử nghiệm beta. Windows Vista đã được coi là đầy đủ tính năng với việc phát hành của "Tháng Hai CTP", phát hành vào ngày 22 tháng 2 năm 2006, và phần lớn thời gian còn lại của công việc giữa xây dựng và phát hành bản cuối cùng của sản phẩm tập trung vào ổn định, hiệu suất, ứng dụng và khả năng tương thích với các trình điều khiển, và tài liệu. Beta 2, phát hành vào cuối tháng Năm, là build đầu tiên được cung cấp cho công chúng thông qua của Microsoft Chương trình cho khách hàng trước. Nó đã được tải về bởi hơn năm triệu người. Hai ứng cử viên phát hành tiếp theo trong tháng Chín và tháng Mười, cả hai đều đã được thực hiện có sẵn cho một số lượng lớn người sử dụng. Tại Diễn đàn phát triển Intel vào ngày 09 Tháng Ba năm 2006, Microsoft đã công bố một sự thay đổi trong kế hoạch của họ để hỗ trợ EFI trong Windows Vista. Các đặc điểm kỹ thuật UEFI 2.0 (thay EFI 1.10) đã không hoàn thành cho đến đầu năm 2006, và tại thời điểm công bố của Microsoft, có nhà sản xuất phần mềm đã hoàn thành việc triển khai sản xuất mà có thể được sử dụng để thử nghiệm. Kết quả là, đã quyết định hoãn việc giới thiệu hỗ trợ UEFI để Windows; hỗ trợ UEFI trên các nền tảng 64-bit đã được hoãn lại cho đến khi Vista Service Pack 1 và Windows Server 2008 và 32-bit UEFI sẽ không được hỗ trợ, như Microsoft không mong đợi nhiều hệ thống như vậy để xây dựng thành thị trường dao động với bộ xử lý 64-bit. Trong khi Microsoft đã ấp ủ hy vọng rằng sẽ có các phiên bản tiêu dùng của hệ điều hành sẽ sẵn sàng trên toàn thế giới trước Giáng sinh năm 2006, họ đã phải thông báo tháng 3 năm 2006 rằng ngày phát hành sẽ được dời lại đến tháng 1 năm 2007 để cung cấp cho các công ty và các phần cứng và phần mềm công ty Microsoft phụ thuộc vào việc cung cấp trình điều khiển thiết bị thêm thời gian để chuẩn bị. Bởi vì một bản phát hành để sản xuất (RTM) xây dựng là phiên bản cuối cùng của mã vận chuyển đến các nhà bán lẻ và nhà phân phối khác, mục đích của một pre-RTM build là để loại bỏ bất kỳ cuối cùng "show-stopper" lỗi mà có thể ngăn chặn các mã từ trách nhiệm đang được vận chuyển cho khách hàng, cũng như bất cứ điều gì khác mà người tiêu dùng có thể thấy khó chịu. Vì vậy, nó là không có bất cứ tính năng chính mới sẽ được giới thiệu; thay vào đó, công việc sẽ tập trung vào "phù hợp và sự hoàn thiện" của Vista. Chỉ trong một vài ngày, nhà phát triển đã cố gắng giảm số lượng lỗi của Vista từ hơn 2470 vào ngày 22 tháng Chín để chỉ hơn 1400 bởi thời gian RC2 vận chuyển trong đầu tháng Mười. Tuy nhiên, họ vẫn có một con đường để đi trước khi Vista đã sẵn sàng để RTM. Các quy trình nội bộ của Microsoft yêu cầu số lỗi của Vista giảm xuống 500 hoặc ít hơn trước khi sản phẩm có thể đi vào quỹ cho RTM. [37] Đối với hầu hết các pre-RTM xây dựng, những phiên bản 32-bit chỉ được phát hành. Vào ngày 14 tháng 6 năm 2006, nhà phát triển Windows Philip Su đăng một blog chỉ trích quá trình phát triển của Windows Vista, cho rằng "cách thức quá phức tạp, và thấy tốc độ mã hóa đã được rất chậm lại bởi quá trình overbearing." Các bài cùng cũng mô tả Windows Vista là có khoảng 50 triệu dòng mã, với khoảng 2.000 nhà phát triển làm việc trên các sản phẩm. Trong một cuộc biểu tình của nhận dạng giọng nói đặc trưng mới cho Windows Vista tại Hội nghị phân tích tài chính của Microsoft vào ngày 27 Tháng Bảy năm 2006, phần mềm nhận ra cụm từ "Dear mom" như "Dear aunt". Sau nhiều nỗ lực để sửa lỗi, câu cuối cùng trở thành "Dear aunt, let's set so double the killer delete select all". Một nhà phát triển với đội ngũ nhận dạng giọng nói của Vista sau đó giải thích rằng có một lỗi với các build của Vista đã gây ra việc tăng mức microphone lên rất cao, dẫn đến những âm thanh được nhận bởi các phần mềm nhận dạng giọng nói là "vô cùng méo mó". Windows Vista build 5824 (17 tháng 10 năm 2006) được cho là phiên bản RTM, nhưng một lỗi đã phá hủy bất kỳ hệ thống nào nếu nó được nâng cấp từ Windows XP, ngăn cản này, gây thiệt hại cho phát triển và làm giảm cơ hội tạo cú hích của Vista vào hạn chót tháng 1 năm 2007 của mình. Sự phát triển của Windows Vista kết thúc khi Microsoft thông báo rằng nó đã được hoàn tất vào ngày 08 Tháng Mười Một 2006, và là kết luận của đồng chủ tịch phát triển Windows, Jim Allchin. Mã build của RTM cũng đã nhảy vọt lên 6000 để phản ánh số hiệu phiên bản nội bộ của Vista, NT 6.0. Mã build RTM nhảy vọt là thực tế phổ biến trong số các phiên bản của người tiêu dùng theo định hướng Windows, như Windows 98 (build 1998), Windows 98 SE (build 2222), Windows Me (build 3000) hoặc Windows XP (build 2600), so với các phiên bản định hướng kinh doanh như Windows 2000 (build 2195) hoặc Server 2003 (build 3790). Ngày 16 tháng 11 năm 2006, Microsoft đã đảm bảo rằng build chính thức đã có sẵn cho các tài khoản MSDN và Technet Plus. Một phiên bản Enterprise mang định hướng kinh doanh đã được tạo ra cho một khối lượng lớn license cho khách hàng vào ngày 30 tháng Mười Một. Cuối cùng, Windows Vista được chính thức tung ra cho khách hàng vào ngày 30 tháng 1 năm 2007. == Các tính năng bị loại bỏ == Một số tính năng và thành phần đáng chú ý của Windows XP đã được thay thế hoặc gỡ bỏ trong Windows Vista, bao gồm cả một số shell và tính năng của Windows Explorer, các tính năng đa phương tiện, mạng chức năng liên quan, Windows Messenger, NTBackup, Windows Messenger, HyperTerminal, MSN Explorer, Active Desktop, và sự thay thế của NetMeeting bằng Windows Meeting Space. Windows Vista cũng loại bỏ Windows XP "Luna", hay hầu hết các theme màu cổ điển mà đã là một phần của Windows kể từ thời kỳ Windows 3.x. Các "cấu hình phần cứng" tính năng khởi động cũng đã được gỡ bỏ, cùng với sự hỗ trợ cho các công nghệ bo mạch chủ cũ như bus, APM và cổng game hỗ trợ EISA (mặc dù trên các phiên bản trò chơi 32-bit hỗ trợ cổng có thể được kích hoạt bằng cách sử dụng một trình điều khiển cũ). IP qua FireWire (TCP / IP trên IEEE 1394) đã được gỡ bỏ vĩnh viễn. IPX/SPX cũng đã được gỡ bỏ, mặc dù nó có thể được kích hoạt bằng một plug-in của bên thứ ba. == Các phiên bản == Windows Vista được phát hành trong sáu phiên bản khác nhau, tạm chia thành hai thị trường mục tiêu: người tiêu dùng và doanh nghiệp, với các phiên bản khác nhau để phục vụ cho con cụ thể thị trường. Đối với người tiêu dùng, có ba phiên bản, với hai bản có sẵn cho các nước kinh tế phát triển hơn. Windows Vista Starter Edition được nhắm cho các máy tính cấu hình thấp ở các thị trường mới nổi. Windows Vista Home Basic dành cho người dùng có ngân sách kha khá hơn. Windows Vista Home Premium dành cho phần lớn các thị trường tiêu dùng, và chứa các ứng dụng cho việc tạo ra và sử dụng đa phương tiện. Các phiên bản nhà không thể tham gia vào domain của Windows Server. Với các doanh nghiệp, họ cũng có ba phiên bản Vista. Windows Vista Business được thiết kế đặc biệt cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong khi Windows Vista Enterprise chỉ có sẵn cho khách hàng tham gia chương trình Software Assurance của Microsoft. Windows Vista Ultimate chứa toàn bộ những tính năng của cả hai bản Home and Business (sự kết hợp của cả hai Home Premium và Enterprise), cũng như một tập hợp tính năng Windows Ultimate Extras, và nhằm vào sự cảm hứng của người dùng. Tất cả ngoại trừ Windows Vista Starter hỗ trợ cả hai cấu trúc xử lý 32-bit (x32) và 64-bit (x64). Tại Liên minh châu Âu, cũng có các bản Home Basic N và Business N. Chúng không kèm theo Windows Media Player, do lệnh trừng phạt của EU chống lại Microsoft vi phạm luật chống độc quyền. Biện pháp trừng phạt tương tự tồn tại ở Hàn Quốc. == Giao diện == Windows Vista có bốn phong cách trực quan rõ rệt. ==== Windows Aero ==== Mặc định phong cách trực quan của Vista, Windows Aero, được xây dựng trên một công cụ phần máy tính để bàn mới gọi là Desktop Window Manager. Windows Aero giới thiệu hỗ trợ cho các hiệu ứng mờ (Glass), thu nhỏ sống, hình động cửa sổ, và hiệu ứng hình ảnh khác (ví dụ Windows Flip 3D), và là dành cho dòng chính và cao cấp card video. Để kích hoạt tính năng này, các nội dung của tất cả các cửa sổ đang mở sẽ được lưu trong bộ nhớ video để tạo điều kiện cho phong trào rách-miễn phí của cửa sổ. Như vậy, Windows Aero có yêu cầu phần cứng cao hơn đáng kể so với những người tiền nhiệm của nó. Các yêu cầu tối thiểu là 128 MB bộ nhớ đồ họa, tùy thuộc vào độ phân giải sử dụng. Windows Aero (bao gồm cả Windows Flip 3D) không được bao gồm trong các phiên bản Starter và Home Basic. ==== Windows Vista chuẩn ==== Phong cách này là một biến thể của Windows Aero mà không có tác dụng thủy tinh, hình động cửa sổ, và các hiệu ứng đồ họa tiên tiến khác như Windows Flip 3D. Giống như Windows Aero, nó sử dụng Desktop Window Manager, và có chung các yêu cầu phần cứng video giống như Windows Aero. Phong cách hình ảnh này được bao gồm trong phiên bản Home Basic chỉ như là một "giá rẻ" thay thế của Windows Aero phong cách. ==== Windows Vista Basic ==== Phong cách này có những khía cạnh tương tự như "Luna" phong cách trực quan của Windows XP với việc bổ sung các hình ảnh động tinh tế như những người được tìm thấy trên thanh tiến trình. Nó không sử dụng các Desktop Window Manager, như vậy, nó không có tính năng suốt hoặc mờ, hoạt hình, Windows Flip 3D hoặc bất kỳ của các chức năng được cung cấp bởi các DWM. Các chế độ cơ bản không yêu cầu mới Windows Display Driver Model (WDDM) cho trình điều khiển hiển thị, và có yêu cầu card màn hình tương tự như Windows XP. Đối với máy tính với card video mà không đủ mạnh mẽ để hỗ trợ Windows Aero, đây là chế độ đồ họa mặc định. Trước khi Service Pack 1, một máy tính mà không xác nhận Windows Genuine Advantage cũng sẽ mặc định để hình ảnh phong cách này. ==== Windows Standard ==== Windows Standard (hoặc Windows Classic) phong cách hình ảnh là tương tự như của Windows 9x, Windows 2000 và Microsoft của Windows dòng máy chủ của hệ điều hành. Nó không sử dụng các Desktop Window Manager, và không đòi hỏi một trình điều khiển WDDM. Như với các phiên bản trước của Windows, phong cách trực quan này hỗ trợ phối hợp màu sắc, đó là bộ sưu tập các thiết lập màu sắc. Windows Vista bao gồm sáu màu: bốn đề màu tương phản cao và màu sắc chương trình mặc định từ Windows 95 / Windows 98 (mang tên "Windows Classic") và Windows 2000 / Windows Me (mang tên "Windows Standard"). == Yêu cầu phần cứng == Máy tính có khả năng chạy Windows Vista được phân loại là Vista Capable và Vista Premium Ready. Vista Capable PC hoặc tương đương là những máy có khả năng chạy tất cả các phiên bản của Windows Vista mặc dù một số tính năng đặc biệt và các tùy chọn đồ họa cao cấp có thể yêu cầu bổ sung hoặc thêm phần cứng tiên tiến. Một Vista Premium Ready PC có thể tận dụng lợi thế của các tính năng cao cấp của Vista cơ bản Windows Vista và giao diện cổ điển làm việc với hầu như bất kỳ phần cứng đồ họa có hỗ trợ Windows XP hoặc 2000. cho phù hợp, nhất thảo luận xung quanh các yêu cầu đồ họa của Vista trung vào những người cho giao diện Windows Aero. Như của Windows Vista Beta 2, NVIDIA GeForce 6 series và sau đó, ATI Radeon 9500 và sau đó, GMA 950 và sau đó là đồ họa tích hợp của Intel, và một số ít các chipset VIA và S3 Graphics chip rời rạc được hỗ trợ. Mặc dù ban đầu được hỗ trợ, các GeForce FX 5 series đã được giảm từ trình điều khiển mới từ NVIDIA. Các trình điều khiển mới nhất từ ​​NVIDIA để hỗ trợ các dòng GeForce FX trên Vista là 96,85. Microsoft cung cấp một công cụ gọi là Windows Vista Upgrade Advisor để hỗ trợ Windows XP và Vista người dùng trong việc xác định những gì các phiên bản của Windows máy tính của họ là khả năng chạy. Các kết nối máy chủ cần thiết cho tiện ích này không còn có sẵn. Mặc dù các phương tiện truyền thông cài đặt bao gồm trong gói bán lẻ là một DVD 32-bit, khách hàng cần một đĩa CD-ROM hoặc những khách hàng mong muốn một 64-bit cài đặt phương tiện truyền thông có thể có được phương tiện truyền thông này thông qua các chương trình thay thế truyền thông Windows Vista. [107] Các phiên bản Ultimate bao gồm cả phương tiện truyền thông 32-bit và 64-bit. [108] Các phiên bản tải về kỹ thuật số của Ultimate chỉ bao gồm một phiên bản, hoặc 32-bit hoặc 64-bit, từ Windows Marketplace. ==== Yêu cầu phần cứng của Windows Vista ==== === Giới hạn lượng RAM vật lý === Lượng RAM tối đa mà Windows Vista có thể hỗ trợ tùy thuộc vào cả phiên bản của nó và kiến trúc vi xử lý của nó, thể hiện trong bảng. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ Windows Vista Windows Vista Việt Nam Trang chủ Microsoft tiếng Việt Windows Vista từ A đến Z Tải miễn phí giao diện tiếng Việt cho Windows Vista và Office 2007 tại đây
con mắt thứ ba.txt
Xem các nghĩa khác tại Con mắt thứ ba (định hướng). Từ xa xưa, người phương Đông cổ đại thường cho rằng, năng lượng được phát ra từ một bộ phận trung tâm của con người và vùng trung tâm đó chính là "con mắt thứ ba". Hình ảnh con mắt thứ ba được thể hiện trên trán của các vị thần trong các tác phẩm điêu khắc cổ đại ở đền chùa Phật giáo. Người ta tin rằng, con mắt nhìn thấu mọi điều đã được Thượng đế ban tặng cho các vị thần để họ có những năng lực siêu phàm nhìn thấu những vật vô hình. Theo đạo Cao Đài, người tu hành khi đoạt được Pháp sẽ có thêm con mắt thứ ba và con mắt này được gọi là Huệ nhãn, sẽ thấy được cõi vô hình. Trong Yoga, việc luyện tập Marantha để có được một vài năng lực tâm linh thần bí như khai sáng được "con mắt thứ ba" mà người khác không có. Người Ấn Độ thường chấm một điểm trên trán giữa hai con mắt để diễn tả con mắt thứ ba, chính là thần nhãn, để thấy được những gì mà hai con mắt trần vẫn nhìn mà không thể thấy được. Nhiều giả thuyết khác lại cho rằng, do từ thời xa xưa, Adam và Eva đã phạm luật thiên đàng nên hạch tuyến Pituitary và Pineal nằm ở khoảng giữa hai con mắt đã dần bị hạn chế khả năng nhìn nhận ánh sáng. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của một số nhà khoa học thì thông thường mỗi sinh vật có một con mắt thứ ba nằm ở trung tâm não có tên là tuyến tùng. Nó cảm nhận giống như một con mắt vì tuyến tùng phản ứng lại với những thay đổi của ánh sáng. Một khám phá gần đây cho thấy mắt thường cũng có thể sản xuất được chất melatonin, làm cho vai trò của tuyến tùng trong con người càng ít quan trọng hơn nữa. Lobsang Rampa, một tăng sĩ nổi tiếng của Phật giáo Tây Tạng đã có viết một quyển sách "Tây Tạng huyền bí" (The Third Eye), trong đó miêu tả chi tiết về cách khai mở con mắt thứ ba, là con mắt trí tuệ, giúp cho hành giả thấy rõ được quá khứ và vị lai. Vị trí của con mắt thứ ba theo cách gọi của tử vi Trung Hoa, được gọi là nơi Ấn đường. == Một số thử nghiệm == Tiến sĩ Vitaly Pravdivstev đã thực hiện một số thử nghiệm và kết luận rằng, con mắt thứ ba này có thể tìm thấy ở thời kỳ phôi thai và sẽ mất đi khi thai nhi tiếp tục lớn lên. Nó chỉ để lại mấu trên não (epiphysis) ở tuyến yên phía trước tiểu não. Epiphysis có đặc điểm tương tự như mắt, chịu sự điều khiển của tuyến yên và nhãn cầu. Nó cũng có một thuỷ tinh thể và các chức năng cảm nhận màu sắc giống mắt. Trong quá trình tiến hoá hàng nghìn năm của con người, epiphysis từ kích cỡ bằng quả anh đào đã bị nhỏ đi bằng hạt đậu do thiếu hoạt động. Ở Việt Nam, nhiều cuộc thử nghiệm về đề tài này cũng đã được tiến hành. Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải đã từng nhắc đến cô gái Việt Nam có khả năng kỳ lạ trên và chương trình "Những chuyện lạ Việt Nam" cũng đã ghi hình và cho phát toàn bộ cuộc thử nghiệm khả năng đặc biệt của cô gái này. Mặc dù 2 mắt bịt kín nhưng cô vẫn đi lại, hoạt động và đọc chính xác sách báo như bình thường. == Xem thêm == Vô thức Thôi miên == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cô gái Việt nhìn bằng 'con mắt thứ ba' Con người có mắt thứ ba? Con người có mắt thứ ba? (phần cuối) Khoa học gia "khám phá lại" mắt thứ ba Con người có tồn tại con mắt thứ ba?
vi xử lý.txt
Vi xử lý (viết tắt là µP hay uP), đôi khi còn được gọi là bộ vi xử lý, là một linh kiện điện tử máy tính được chế tạo từ các tranzito thu nhỏ tích hợp lên trên một vi mạch tích hợp đơn. Khối xử lý trung tâm (CPU) là một bộ vi xử lý được nhiều người biết đến nhưng ngoài ra nhiều thành phần khác trong máy tính cũng có bộ vi xử lý riêng của nó, ví dụ trên cạc màn hình (video card) chúng ta cũng có một bộ vi xử lý. Trước khi xuất hiện các bộ vi xử lý, các CPU được xây dựng từ các mạch tích hợp cỡ nhỏ riêng biệt, mỗi mạch tích hợp chỉ chứa khoảng vào chục tranzito. Do đó, một CPU có thể là một bảng mạch gồm hàng ngàn hay hàng triệu vi mạch tích hợp. Ngày nay, công nghệ tích hợp đã phát triển, một CPU có thể tích hợp lên một hoặc vài vi mạch tích hợp cỡ lớn, mỗi vi mạch tích hợp cỡ lớn chứa hàng ngàn hoặc hàng triệu tranzito. Nhờ đó công suất tiêu thụ và giá thành của bộ vi xử lý đã giảm đáng kể. Sự tiến hóa của các bộ vi xử lý một phần nhờ vào việc chạy theo Định luật Moore và hiệu suất của nó tăng lên một cách ổn định sau hàng năm. Định luật này phát biểu rằng sự phức tạp của một mạch tích hợp sẽ tăng lên gấp đôi sau mỗi chu kỳ 18 tháng. Và thực tế, sự phát triển của các bộ vi xử lý đã bám sát định luật này từ những năm 1970. Nhờ đó, từ máy tính mẹ (mainframe computer) lớn nhất cho đến các máy tính xách tay hiện nay đều sử dụng một bộ vi xử lý nhỏ nhắn tại trung tâm của chúng. == Lịch sử == === Những vi mạch tích hợp đầu tiên === Với những tiến bộ của công nghệ, vi xử lý đã ra đời và phát triển theo thời gian. Ba hãng sản xuất chíp Intel, Texas Instruments (TI) và Garrett AiResearch đã cho ra đời ba bộ vi xử lý cùng một thời điểm với các tên gọi lần lượt là Intel 4004, TMS 1000 và Central Air Data Computer. Đây là ba dự án đầu tiên cho ra đời các bộ vi xử lý hoàn chỉnh. Năm 1968, hãng Garrett đã được mời chế tạo một máy tính số để đua tài với các hệ thống cơ điện tử và sau đó nó được phát triển để làm bộ điều khiển chính của máy bay chiến đấu Tomcat F-14 của Hải quân Mỹ. Sản phẩm này đã hoàn thiện vào năm 1970 và nó sử dụng một chíp được xây dựng bằng công nghệ MOS đóng vai trò là lõi của CPU. Sản phẩm này có kích thước nhỏ hơn và hoạt động tin cậy hơn nhiều lần so với các hệ thống cơ điện tử và nó được dùng cho những mô hình máy bay Tomcat đầu tiên. Tuy nhiên, hệ thống này tân tiến đến mức Hải quân Mỹ đã từ chối việc cấp phép công bố sản phẩm cho đến tận năm 1997. TI đã phát triển bộ vi xử lý 4-bits TMS 1000 và tập trung vào các ứng dụng nhúng lập trình trước. Sau đó, TI đã tiếp tục công bố một phiên bản khác gọi là TMS1802NC vào ngày 17 tháng 9 năm 1971. TMS1802NC tích hợp trên nó một bộ tính toán nhằm hỗ trợ khả năng xử lý toán học của vi xử lý. Tiếp đến, ngày 15 tháng 11 năm 1971, Intel đã công bố vi xử lý 4-bits Intel 4004 được phát triển bởi Federico Faggin. == Ứng dụng == Là bộ xử lý trung tâm trong: máy tính (PC, Laptop, mini computer, super computer), thiết bị smartphone, thiết bị nhúng,...và đặc biệt trong công nghiệp ngành Điện - chuyên ngành Tự động hóa: bộ điều khiển khả trình PLC và Vi điều khiển để ứng dụng điều khiển các dây chuyền, hệ thống tự động... == Xem thêm == Vi điều khiển Định luật Moore AMD Intel == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
music (bài hát của madonna).txt
"Music" là một bài hát của ca sĩ người Mỹ Madonna nằm trong album phòng thu thứ 8 cùng tên của cô (2000). Nó được phát hành làm đĩa đơn đầu tiên trích từ album vào ngày 21 tháng 8 năm 2000, bởi Maverick Records. Bài hát cũng xuất hiện trong hai album tuyệt phẩm của Madonna là GHV2 (2001) and Celebration (2009). Được sáng tác và sản xuất bởi Madonna và Mirwais Ahmadzaï, nội dung của "Music" nói về việc vui vẻ tiệc tùng với nhau, và nữ ca sĩ tuyên bố rằng âm nhạc giúp mọi người đến gần nhau hơn. Về mặt âm nhạc, "Music" là một bản dance-pop và electropop, trong đó giọng người đàn ông ở phần đầu bài hát thực ra là giọng của Madonna đã được biến đổi bằng công cụ điện tử. Bài hát nhận được những phản ứng tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, trong đó họ đánh giá cao tính bắt tai và thích hợp để chơi tại các câu lạc bộ của nó, giống như những tác phẩm trước đó của Madonna. "Music" đạt vị trí số một tại 25 quốc gia, bao gồm Úc, Canada, Ý, New Zealand, Vương quốc Anh. Đây là đĩa đơn quán quân thứ 12 của cô trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 và là bài hát giữ ngôi vị quán quân lâu nhất trên Hot Dance Club Songs của thập niên 2000, với 5 tuần ở hạng nhất. Ngoài ra, nó cũng là đĩa đơn thành công thứ 2 thập kỷ trên bảng xếp hạng nhạc Dance khắp Hoa Kỳ, chỉ đứng sau "Hung Up" (2005) của chính Madonna. Video ca nhạc của "Music" do Jonas Åkerlund làm đạo diễn, trong đó Madonna và những người bạn tụ tập tiệc tùng trên chiếc xe limousine, do diễn viên hài Ali G cầm lái. Madonna đã biểu diễn bài hát tại Giải Âm nhạc châu Âu của MTV năm 2000 và lễ trao giải Grammy một năm sau đó. Ngoài ra, "Music" cũng được thể hiện trong 4 chuyến lưu diễn của Madonna. Năm 2012, "Music" xuất hiện trong danh sách trình diễn của show giữa hiệp Super Bowl XLVI. Bài hát nhận đề cử giải Grammy ở hạng mục "Thu âm của năm" và Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất vào năm 2001. == Video ca nhạc == Video cho ca khúc được quay tại Los Angeles, California. Trong video Madonna ăn mặc như một cao bồi quý tộc với đầy trang sức trên người, đi vào các vũ trường nhảy múa và xem các vũ nữ múa cột. == Danh sách bài hát == == Xếp hạng == === Thành công trên các bảng xếp hạng === == Chứng nhận == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Madonna – "Music" (music video) trên YouTube
hiệp ước san francisco.txt
Hiệp ước San Francisco hay Hiệp ước hòa bình San Francisco giữa các lực lượng Đồng Minh và Nhật Bản được chính thức ký kết bởi 49 quốc gia vào ngày 8 tháng 9 năm 1951 tại San Francisco, California. Hiệp ước có hiệu lực từ ngày 28 tháng 4 năm 1952. Hiệp ước này chính thức kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai và cũng chấm dứt địa vị cường quốc của Đế quốc Nhật Bản. Hiệp ước bắt Nhật Bản phải bồi thường cho các nước Đồng Minh từng phải chịu thiệt hại chiến tranh do Nhật gây ra. Hiệp ước này đã tận dụng tối đa Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền để nêu rõ mục đích của các lực lượng đồng minh. == Tham khảo ==
15 tháng 6.txt
Ngày 15 tháng 6 là ngày thứ 166 (167 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 199 ngày trong năm. == Sự kiện == 1215 - Đại Hiến chương Magna Carta được ký tại Anh, lần đầu giảm quyền lực của nhà nước quân chủ tập trung và bảo vệ các quyền tự do cá nhân. 1219 – Theo truyền thuyết, quốc kỳ Đan Mạch được sử dụng lần đầu trong trận Lyndanisse, đây là quốc kỳ cổ nhất vẫn còn được sử dụng. 1389 – Đế quốc Ottoman đánh bại lực lượng của người Serbia và người Bosnia trong trận Kosovo. 1527 – Mạc Đăng Dung lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Minh Đức. 1846 – Hiệp định Oregon xác định vĩ tuyến 49 độ Bắc từ dãy núi Rocky đến eo biển Juan de Fuca là biên giới tự nhiên giữa Hoa Kỳ và Canada. 1896 – Động đất Sanriku tại Nhật Bản khiến hơn 22.000 người thiệt mạng. 1944 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hải quân Hoa Kỳ bắt đầu đánh chiếm đảo Saipan từ Nhật Bản. 1949 – Chính phủ tỉnh Đài Loan của Trung Hoa Dân Quốc công bố chính thức phát hành Tân Đài tệ. 1954 – Liên đoàn bóng đá châu Âu được thành lập tại Basel, Thụy Sĩ. 2001 – Nguyên thủ của sáu quốc gia gồm Trung Quốc, Nga, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Uzbekistan ký vào tuyên ngôn thành lập Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. == Sinh == 1932 - Nguyễn Quang Riệu, giáo sư người Pháp gốc Việt 1946 - Noddy Holder, ca sĩ Anh 1984 - Tim Lincecum, cầu thủ bóng chày Mỹ == Mất == 1888 – Friedrich III, Hoàng đế Đức (s. 1831) 1889 - Mihai Eminescu, nhà thơ România (s. 1850) == Ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
nguyên soái.txt
Nguyên soái, hoặc Thống chế, là danh xưng quân hàm sĩ quan cao cấp nhất trong quân đội của một số quốc gia, trên cả Đại tướng. Quân hàm này thường được xem là tương đương với quân hàm Thống tướng trong quân đội của một số quốc gia theo hệ thống cấp bậc quân sự Mỹ, dù nguyên nghĩa của chúng không thực sự đồng nhất. == Nguồn gốc lịch sử == Thời đầu Trung Cổ, các vua Pháp thường trao quyền chỉ huy quân sự của hải lục quân và cảnh sát, cho một viên chức gọi là Connétable (tiếng Anh: Constable); người này thường thuộc giới quý tộc hoàng thân. Về ngữ nghĩa từ nguyên thì "connétable" có gốc từ "comes stabuli" tiếng Latin, là người phụ trách chăm sóc ngựa (quản mã) cho lãnh chúa, cùng là người thân tín. Giúp việc cho connétable là các viên chức chuyên môn, được gọi chung là các maréchal (tiếng Anh: marshal), mà quan trọng nhất là phụ tá chỉ huy quân sự được gọi là Maréchal de camp (tiếng Anh: Field marshal). Chức vụ Connétable sau càng rộng quyền phát triển dần theo quy mô quân đội; trong 600 năm, viên chức này nắm vai trò quan trọng trong chính quyền Pháp. Để thay đổi cán cân quyền lực, năm 1627, Hồng y Richelieu bất ngờ ra quyết định bãi bỏ chức vụ Connétable trong quân đội, giao quyền chỉ huy lại cho viên chức phụ tá là Maréchal de France. Kể từ đó, chức vụ này trở thành danh xưng của cấp bậc quân sự cao nhất của các quốc gia châu Âu. == Nguyên soái hay Thống chế? == Nếu như trong các ngôn ngữ châu Âu, thuật ngữ này hầu như thống nhất: Maréchal (Pháp), Marshal (Anh), Маршал (Nga), Marschall (Đức)... thì trong tiếng Việt, danh xưng Nguyên soái và Thống chế lại không đồng nhất dù chúng thường được dùng để chuyển ngữ một cấp bậc duy nhất. Trong lịch sử thời phong kiến của các quốc gia Đông Á, chức vụ Nguyên soái (元帥) với ý nghĩa thống soái tối cao của quân đội, do hoàng đế bổ nhiệm có tính thời vụ trong những chiến dịch lớn, quan trọng. Trong khi đó, chức vụ Thống chế (統制) chỉ thuần túy mang tính chất một chức vụ võ quan cao cấp trong triều đình. Dù 2 danh xưng này hoàn toàn không tương ứng nhưng cũng có thể thấy danh hiệu Nguyên soái cao hơn danh hiệu Thống chế. Mãi đến năm 1872, lần đầu tiên cấp bậc Nguyên soái được thành lập trong hệ thống cấp bậc của Lục quân Đế quốc Nhật Bản. Danh xưng quân hàm này dù sau đó không tồn tại trong quân đội Nhật Bản kể từ sau năm 1945, nhưng nó vẫn được sử dụng tại các nước Đông Á khác như Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Đại Hàn Dân quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa... Không rõ danh xưng Thống chế được dùng trong tiếng Việt từ khi nào, và vì sao được xem là tương đồng với danh xưng Nguyên soái? Nhưng dù sao, một thông lệ không rõ ràng được dùng chuyển ngữ trong các tài liệu Việt Nam ở quốc nội như sau: Thuật ngữ "Thống chế" được dùng để chuyển ngữ các quân hàm tương tự Field Marshal (Anh) hoặc Maréchal (Pháp) của các nước phương Tây; Thuật ngữ "Nguyên soái" được dùng để chuyển ngữ các quân hàm tương tự Маршал (Marshal) của Liên Xô và các nước thuộc cộng đồng Xã hội chủ nghĩa trước kia. Có lẽ đây là do sự ảnh hưởng của Chiến tranh lạnh chăng? Điều này dẫn đến nhiều nhầm lẫn khi chuyển ngữ, đặc biệt như cấp bậc Wonsu của Hàn Quốc dịch nguyên nghĩa là Nguyên soái, chuyển ngữ lại là Thống chế, theo hệ thống cấp bậc thì lại dịch là Thống tướng. Tất nhiên, chẳng có cái nào sai nhưng cũng chỉ đúng tương đối. Nhưng dù sao, thuật ngữ Nguyên soái là chính xác nhất khi dùng chuyển ngữ cho cấp bậc Marshal. == Một số cấp bậc "nguyên soái" trong lịch sử == Như đã nêu trên, Maréchal là những chuyên viên giúp việc cho các Connétable, do đó nảy sinh nhiều chức vụ maréchal với những vai trò khác nhau. Trong lịch sử quân đội Pháp, ngoài chức vụ Maréchal de camp giúp việc cho Connétable trong việc chỉ huy quân đội, còn có các chức danh cấp thấp như Maréchal des logis, Maréchal ferrant, hoặc cấp cao như Maréchal général. Ngày nay chỉ còn mỗi cấp bậc Maréchal de France còn tồn tại và mang ý nghĩa là cấp bậc cao nhất trong quân đội. Mặc dù xuất phát từ một gốc, cách dùng danh xưng này cũng có sự dị biệt giữa các quốc gia châu Âu. Nếu như người Anh chỉ dùng Field Marshal thì người Đức lại dùng Generalfeldmarschall, người Pháp và người Nga thì chỉ ngắn gọn là Maréchal (Pháp) hay Маршал (Nga). Chức vụ Magister militum của Đế quốc La Mã cổ cũng được xem là tương đương với Nguyên soái hoặc Thống chế. Trong Không quân Anh, các cấp bậc từ Thiếu tướng đến Đại tướng đều có chữ Marshal: Air Vice-Marshal (nghĩa đen: Phó Thống chế Không quân, tương đương Thiếu tướng), Air Marshal (nghĩa đen: Thống chế Không quân, tương đương Trung tướng), Air Chief Marshal (nghĩa đen: Chánh Thống chế Không quân, tương đương Đại tướng). Thống chế Không quân thực sự của Anh là Marshal of the Royal Air Force (Thống chế Không quân Hoàng gia Anh). Quân đội Liên Xô từng có bậc Nguyên soái quân binh chủng, tương đương với Đại tướng: Nguyên soái không quân (маршал авиации), Nguyên soái pháo binh (маршал артиллерии), Nguyên soái công binh (маршал инженерных войск), Nguyên soái bộ đội tăng thiết giáp (маршал бронетанковых войск), Nguyên soái bộ đội thông tin liên lạc (маршал войск связи). Sau khi Liên Xô tan rã, các hàm này cũng bị bãi bỏ. Trong quân đội Trung Hoa Dân quốc không tồn tại quân hàm Nguyên soái dù chúng từng tồn tại với tư cách là một danh hiệu chức vụ thống lĩnh quân sự tối cao. Trong lịch sử Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa chỉ có một lần đầu tiên và duy nhất phong quân hàm Nguyên soái 元帥 ngày 23 tháng 9 năm 1955 cho 10 quân nhân loại Khai quốc công thần là Chu Đức, Bành Đức Hoài, Lâm Bưu, Lưu Bá Thừa, Hạ Long, Trần Nghị, La Vinh Hoàn, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn và Diệp Kiếm Anh; quân hàm này tồn tại đến 1965 thì bị bãi bỏ hoàn toàn. Năm 1988, khi chế độ Quân hàm được khôi phục đã khằng định rằng quân hàm Nguyên soái năm 1955 là có hiệu lực. == Một số Nguyên soái/Thống chế tiêu biểu thời hiện đại == Trong lịch sử đã có rất nhiều người mang cấp bậc Thống chế hay Nguyên soái này, một phần lớn là do địa vị chính trị hay quyền lực của những người này. Nhưng trong số các Thống chế của thế giới cũng có các nhà quân sự với nhiều thành tích nổi tiếng. Một vài người tiêu biểu trong thế kỷ 20: Paul von Hindenburg (1847 - 1934), Đế quốc Đức August von Mackensen (1849 - 1945), Đế quốc Đức Herbert Kitchener, Bá tước Kitchener thứ nhất (1850 - 1916), Anh Ferdinand Foch (1851 - 1829), Đệ tam Cộng hòa Pháp Joseph Joffre (1852 - 1931), Đệ tam Cộng hòa Pháp Sir Harold Alexander (1891-1969), Anh Sir Bernard Law Montgomery (1887-1976), Anh Erwin Rommel (1891-1944), Đức Quốc xã Günther von Kluge (1882-1944), Đức Quốc xã Erich von Manstein (1887 - 1973), Đức Quốc xã Fedor von Bock (1880-1945), Đức Quốc xã Wilhelm Ritter von Leeb (1876-1956), Đức Quốc xã Ivan Stepanovich Koniev (1897-1973), Liên Xô Georgi Konstantinovich Zhukov (1896-1974), Liên Xô Aleksandr Mikhailovich Vasilevsky (1895-1977), Liên Xô Fyodor Ivanovich Tolbukhin (1894-1949), Liên Xô Konstantin Konstantinovich Rokossovsky (1896-1968), Liên Xô và Ba Lan Rodion Yakovlevich Malinovsky (1898-1967), Liên Xô Ivan Khristoforovich Bagramyan (1897-1982), Liên Xô Philippe Leclerc de Hauteclocque (1902-1947), Pháp (truy phong) Jean de Lattre de Tassigny (1889-1952), Pháp (truy phong) == Xem thêm == Thống tướng == Chú thích ==
đô la.txt
Đô la (phiên âm tiếng Việt từ dollar), ký hiệu là $, là đơn vị tiền tệ chính thức ở một số quốc gia, khu vực và vùng phụ thuộc trên thế giới. Trong tiếng Việt, chữ "đô la" một mình thường được dùng để chỉ đến đô la Mỹ, đơn vị tiền tệ phổ biến nhất trên thế giới. Tên gọi "đô la" liên quan đến các đơn vị tiền trong quá khứ như Tolar ở Bohemia, Thaler hay Taler ở Đức, Daalder ở Hà Lan, và Daler ở Thụy Điển, Đan Mạch và Na Uy. Tên thaler (từ Thal, nay được viết là tal có nghĩa là "thung lũng") có nguồn gốc từ đồng Guildengroschen ("gulden vĩ đại", được đúc bằng bạc nhưng có giá trị bằng đồng guilden bằng vàng) được đúc từ bạc từ một mỏ ở Joachimsthal tại Bohemia (lúc đó một phần của Đế quốc Habsburg). Tên gọi "đô la Tây Ban Nha" (Spanish dollar) được sử dụng cho một đồng tiền bạc của Tây Ban Nha, tên thật là peso, có giá trị tám real, được thịnh hành trong thế kỷ 18 ở các thuộc địa của Tây Ban Nha tại Tân Thế giới. Việc sử dụng của đô la Tây Ban Nha và thaler Maria Theresa làm tiền tệ chính thức trong những năm đầu tiên của Hoa Kỳ là lý do đơn vị tiền tệ của nước này có tên đó. Từ "dollar" đã được sử dụng trong tiếng Anh để chỉ đồng thaler khoảng 200 năm trước Cách mạng Hoa Kỳ. Đồng đô la Tây Ban Nha, còn được gọi là "tám phần" (pieces of eight), được phổ biến ở 13 thuộc địa sau này trở thành Hoa Kỳ, và cũng là tiền tệ chính thức của Virginia. Trong thế kỷ 17, đồng đô la cũng được sử dụng ở Scotland, và có người cho rằng nó được phát minh tại Đại học St. Andrews. Tại Trung Quốc, đơn vị tiền tệ (đồng Nhân dân tệ) tên là "Yuan" (元 hay 圆, có khi được viết với ký hiệu ¥). Đồng "yuan" thật sự là tên gọi dân gian của "đô la", dùng để chỉ đến đồng đô la Tây Ban Nha được phổ biến ở Trung Quốc trong thế kỷ 19. Khi đơn vị tiền tệ quốc gia được thành lập năm 1914, nó có số lượng bạc bằng đồng đô la Tây Ban Nha. == Các đơn vị tiền tệ có tên là đô la == Đô la Barbados Đô la Bahamas Đô la Belize Đô la Bermuda Đô la Brunei Đô la Canada Đô la Đài Loan mới Đô la Đông Caribbe Đô la Fiji Đô la Guyana Đô la Hồng Kông Đô la Jamaica Đô la Liberia Đô la Mỹ Đô la Namibia Đô la New Zealand Đô la Quần đảo Cayman Đô la Quần đảo Solomon Đô la Quốc tế Đô la Singapore Đô la Suriname Đô la Trinidad và Tobago Đô la Tuvalu Đô la Úc Đô la Zimbabwe == Các đơn vị tiền tệ dùng ký hiệu đô la ($) == escudo (Bồ Đào Nha) peso (Argentina, Boliva, Chile, Colombia, Cuba, Cộng hòa Dominican, México, Uruguay) real (Brasil) == Tham khảo ==
xuân đỉnh.txt
Xuân Đỉnh là một phường thuộc quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Vị trí địa lý: phía Đông xã giáp với phường Xuân La thuộc quận Tây Hồ, phía Tây giáp đường Phạm Văn Đồng lên cầu Thăng Long, phía bắc giáp phường Phú Thượng của quận Tây Hồ. Phường Xuân Đỉnh được thành lập ngày 27 tháng 12 năm 2013 trên cơ sở 352,20 ha và 33.659 nhân khẩu của xã Xuân Đỉnh cũ. Phần kia của xã Xuân Đỉnh trở thành phường Xuân Tảo. == Sản vật địa phương == Xuân Đỉnh nổi tiếng với hồng xiêm. Hồng xiêm Xuân Đỉnh có hương thơm và vị ngọt đặc biệt. Hồng được trồng ở đất Xuân Đỉnh hình phễu, quả to từ trên xuống dưới, da hồng, bổ ra có mùi thơm dịu, cát mịn, ăn có vị ngọt mát, phân biệt với hồng xiêm nơi khác cát to, có vị ngọt đậm, quả lớn hơn, hình dạng quả không đồng nhất. Bên cạnh cam Canh, bưởi Diễn, quất Quảng Bá, đào Nhật Tân, cốm Vòng... hồng xiêm Xuân Đỉnh cũng là niềm tự hào, món quà quý của người Hà Nội. Những năm về trước hầu như nhà nào trong xã cũng trồng hồng xiêm, với số lượng cây lên đến hàng vạn, khiến xã trở thành một lãnh địa của hồng xiêm ngon nổi tiếng miền Bắc. Tuy nhiên, với tốc độ đô thị hóa quá nhanh hiện nay, hồng xiêm Xuân Đỉnh cũng đang thu hẹp diện tích và mất dần. == Kinh tế == Phường Xuân Đỉnh có nghề làm bánh mứt kẹo truyền thống, đặc biệt là mứt tết và bánh trung thu. Những năm trước đây việc ít chú trọng vệ sinh an toàn thực phẩm và nhãn mác bao bì đã khiến bánh mứt kẹo Xuân Đỉnh trở thành đối tượng phản ánh của các phương tiện truyền thông. Bánh mứt kẹo Xuân Đỉnh hiện không thể cạnh tranh với những mặt hàng xa xỉ của những hãng sản xuất có tên tuổi, tuy nhiên một số người vẫn biết và tìm đến mua hàng của một số gia đình nghệ nhân có uy tín như cơ sở Sinh Hùng; Đinh Tỵ, HAVICO Những nhà sản xuất quy mô nhỏ lẻ đang dần rút lui để chuyển nghề còn số khác đang chuyển dần sang làm ăn công nghiệp, đề cao vệ sinh an toàn thực phẩm hơn trước. Từ dịp tết nguyên đán 2009, theo báo chí, công tác vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở sản xuất bánh, mứt, kẹo tại làng nghề Xuân Đỉnh đã bước đầu được thực hiện nghiêm ngặt ngay từ khâu chế biến. == Di tích lịch sử, văn hóa == Xuân Đỉnh có di tích đền Sóc được xếp hạng di tích cấp quốc gia. Đền Sóc thờ Thánh Gióng. Theo truyền thuyết, sau khi đánh tan giặc Ân, trên đường về Thánh Gióng đã nghỉ chân tại nơi đây và từ đó dân làng đã lập đền thờ ngài! Lễ hội Đền Sóc diễn ra vào mùng sáu tháng giêng âm lịch hàng năm và hội lớn được tổ chức 5 năm một lần. Tại Xuân Đỉnh còn có di tích Đình làng Giàn, Cây Đa Tân Xuân. Ở Thôn Nhang - Xuân Đỉnh, còn có các di tích như Chùa Táo, Miếu Vũ, và Đền thờ Quận công Nguyễn Công Cơ == Giáo dục == Phường Xuân Đỉnh có một trường cấp 3, một cấp 2, một cấp 1, và một số cơ sở mầm non khác. Trường Trung học Phổ thông Xuân Đỉnh được thành lập năm 1960. == Đơn vị đóng trên địa bàn == Y tế: Bệnh viện Nam Thăng Long. Địa chỉ 40 Tân Xuân, Xuân Đỉnh Chính trị: Ủy ban nhân dân Xã Xuân Đỉnh. Địa chỉ: Thôn Trung, Xuân Đỉnh, Từ Liêm, HN. Website: http://xuandinh.gov.vn/ == Chú thích ==
kinh tế đức.txt
Với 3,405 ngàn tỷ euro tổng sản phẩm quốc nội, nước Đức có nền kinh tế đứng hàng thứ tư trên thế giới và lớn nhất châu Âu. Đức xuất khẩu nhiều nhất thế giới. Vì tương đối nghèo về nguyên liệu nên kinh tế Đức tập trung vào các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Tuy vậy một diện tích lớn của Đức cũng được dùng trong nông nghiệp (nhưng chỉ vào khoảng 2% đến 3% tổng dân số lao động làm việc trong nông nghiệp). Trong thời gian gần đây mức tăng trưởng yếu đi và nền kinh tế Đức đã có những biểu hiện đuối kém đối với các ảnh hưởng bên ngoài, các vấn đề trong nước và các vấn đề trong việc hội nhập các tiểu bang mới. == Đặc trưng == Nền kinh tế Đức thường được miêu tả là một nền kinh tế thị trường xã hội. Nhà nước Đức có nhiều chính sách xã hội rộng lớn. Mặc dù chính phủ có giúp đỡ một số lĩnh vực thông qua trợ cấp, cạnh tranh và kinh tế thị trường vẫn là cột trụ trong chính sách kinh tế. Nhà nước Đức đã tư nhân hóa một số doanh nghiệp như Công ty đường sắt Đức, Công ty viễn thông Đức, Công ty bưu điện Đức; thúc đẩy tư nhân hóa các công ty khác tạo thêm cạnh tranh. Với tỷ lệ xuất khẩu hơn 1/3 sản phẩm quốc nội, kinh tế Đức có chiều hướng xuất khẩu cao và xuất khẩu luôn luôn là yếu tố chủ chốt cho tăng trưởng kinh tế của Đức. Vì thế nước Đức ủng hộ nhiều cho một hợp tác kinh tế mạnh mẽ trên bình diện châu Âu. == Lịch sử == === Từ Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến tái thống nhất === Sau Chiến tranh thế giới thứ hai kinh tế và xã hội Đức nằm ở đáy thấp. Sau cuộc cải cách tiền tệ năm 1948 việc tái xây dựng kinh tế đã thành công trong cái gọi là điều huyền diệu kinh tế (Wirtschaftswunder), đồng thời người dân được bảo vệ bởi một nhà nước xã hội. Nước Đức trở thành nước xuất khẩu đứng đầu; năng suất và chất lượng các sản phẩm Đức, đặc biệt là của ngành chế tạo máy, đã và vẫn luôn là tốt trên thế giới. Suốt cho đến đầu thập niên 1970 kinh tế Tây Đức hầu như tăng trưởng liên tục nhưng bắt đầu từ suy thoái kinh tế đầu thập niên 1980 mức tăng trưởng ngày càng kém đi. Sau đấy là 8 năm liền tăng trưởng, được giữ ở mức trung bình là 1,5% từ sau khi tái thống nhất. Tỷ lệ thất nghiệp nằm không ngừng ở mức độ cao. === Từ khi tái thống nhất === Sau khi tái thống nhất nước Đức tạm thời phải gánh vác thêm nền kinh tế suy tàn của các tiểu bang mới. Việc này chủ yếu được trang trải bằng cách mượn thêm nợ mới và chuyển một số khoản phí tổn vào các hệ thống bảo vệ xã hội. Sau mười năm tái thống nhất Đức, có thể nhận ra được nhiều tiến bộ to lớn trong việc nâng cao mức sống của người dân Đông Đức, một nền kinh tế thị trường được thiết lập và hệ thống hạ tầng cơ sở được cải tiến. Nhưng đồng thời quá trình cân bằng giữa Đông và Tây kéo dài lâu hơn là dự định ban đầu, theo một số thước đo nhất định quá trình này đã dừng lại từ giữa thập niên 1990. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Đông Đức thấp hơn ở Tây Đức, tỷ lệ thất nghiệp cao gấp hai lần, vì thế nhiều lao động có tay nghề đi tìm việc làm ở Tây Đức. Năng suất lao động ở Đông Đức vẫn ở mức thấp. Lượng tiêu dùng ở Đông Đức phụ thuộc trực tiếp vào số tiền chi viện từ Tây Đức, hằng năm vào khoảng 65 tỷ $ hay hơn 4% tổng sản phẩm quốc nội của Tây Đức. == Các vấn đề == Mặc dù chịu ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài, đa số các chuyên gia đều cho rằng các vấn đề cơ cấu nội địa mới là lý do chính cho tình trạng kinh tế đang suy yếu. Một thị trường lao động với các luật lệ cứng nhắc được một số chuyên gia nêu ra như là lý do chính cho tỷ lệ thất nghiệp cao. Được khuyến khích bằng khả năng chiết khấu thuế hay bằng tài trợ, các chủ doanh nghiệp Đức ngay trong những thời kỳ phát triển mạnh cũng ưu tiên đầu tư ở nước ngoài hay vào máy móc thay vì tạo việc làm mới trong nước. Cũng như ở tất cả các nước châu Âu khác, tỷ lệ sinh đẻ ở Đức giảm xuống ở mức thấp. Kết quả của việc này, các thay đổi về kết cấu dân số (ngày càng ít người trẻ tuổi chi cấp cho người già ngày càng nhiều thêm), là các thử thách mới cho những hệ thống bảo vệ xã hội. Toàn cầu hóa ngày một gia tăng từ thập niên 1980 cũng như các nền kinh tế vững mạnh hơn ở châu Á và từ thập niên 1990 ở Đông Âu dẫn đến việc các chỗ làm trong công nghiệp phải trả nhiều lương nhưng lại không cần tay nghề cao bị cắt giảm đi ở Đức. Thiếu hụt của các hệ thống bảo vệ xã hội lại được cân đối qua một thời gian dài bằng cách tăng các phí tổn phụ của lương ở các lao động còn lại. Điều này lại càng làm cho vấn đề trầm trọng thêm. == Đối tác thương mại == Trong năm 2004 – cũng như năm trước đó – Pháp đứng đầu trong danh sách các nước Đức xuất khẩu sang, trước Mỹ và Anh. Trong năm 2004 tổng giá trị hàng hóa Đức xuất sang Pháp là 75,3 tỷ euro (chiếm tỷ lệ 10,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu), sang Mỹ là 64,8 tỷ euro (8,8%) và sang Anh 61,1 tỷ euro (8,3%). Về nhập khẩu ba nước đứng đầu – cũng như năm trước đó – là Pháp (52,2 tỷ euro; chiếm tỷ lệ 9,0% trong tổng kim ngạch nhập khẩu), Hà Lan 47,9 tỷ euro; 8,3%) và Mỹ (40,3 tỷ euro; 7,0%). Nguồn: Tổng cục thống kê liên bang Đức == Số liệu thống kê == Nguồn: Tổng cục thống kê liên bang Đức == Chú thích ==
giải thuật tìm kiếm.txt
Trong ngành khoa học máy tính, một giải thuật tìm kiếm là một thuật toán lấy đầu vào là một bài toán và trả về kết quả là một lời giải cho bài toán đó, thường là sau khi cân nhắc giữa một loạt các lời giải có thể. Hầu hết các thuật toán được nghiên cứu bởi các nhà khoa học máy tính để giải quyết các bài toán đều là các thuật toán tìm kiếm. Tập hợp tất cả các lời giải có thể đối với một bài toán được gọi là không gian tìm kiếm. Thuật toán thử sai (brute-force search) hay các thuật toán tìm kiếm "sơ đẳng" không có thông tin sử dụng phương pháp đơn giản nhất và trực quan nhất. Trong khi đó, các thuật toán tìm kiếm có thông tin sử dụng heuristics để áp dụng các tri thức về cấu trúc của không gian tìm kiếm nhằm giảm thời gian cần thiết cho việc tìm kiếm. == Tìm kiếm không có thông tin == Một giải thuật tìm kiếm không có thông tin là giải thuật không tính đến bản chất cụ thể của bài toán. Khi đó, các giải thuật dạng này có thể được cài đặt tổng quát, và cùng một cài đặt có thể được sử dụng trong một diện rộng các bài toán (do sử dụng trừu tượng hóa). Nhược điểm của các giải thuật này là phần lớn các không gian tìm kiếm kích thước cực kì lớn, và một quá trình tìm kiếm (đặc biệt tìm kiếm theo cây) sẽ cần một khoảng thời gian đáng kể cho các ví dụ nhỏ. Do đó, để tăng tốc độ quá trình tìm kiếm, đôi khi chỉ có thể dùng giải thuật tìm kiếm có thông tin. === Tìm kiếm trên danh sách === Có lẽ các giải thuật tìm kiếm trên danh sách là loại giải thuật tìm kiếm cơ bản nhất. Mục đích là tìm trong một tập hợp một phần tử chứa một khóa nào đó. Do đây là một bài toán thường gặp trong khoa học máy tính, nên độ phức tạp tính toán của các thuật toán này đã được nghiên cứu kỹ càng. Thuật toán đơn giản nhất là tìm kiếm tuyến tính. Thuật toán này kiểm tra từng phần tử trong danh sách theo thứ tự của danh sách đó. Nó có thời gian chạy khá lớn: O(n), trong đó n là số phần tử trong danh sách, nhưng có thể sử dụng thẳng cho một danh sách bất kỳ mà không cần tiền xử lý. Tìm kiếm nhị phân là một thuật toán cao cấp hơn với thời gian chạy là O(log n). Đối với các danh sách lớn, thuật toán này tốt hơn hẳn tìm kiếm tuyến tính, nhưng nó đòi hỏi danh sách phải được sắp xếp từ trước (xem thuật toán sắp xếp) và đòi hỏi khả năng truy nhập ngẫu nhiên (random access). Tìm kiếm nội suy (Interpolation search) tốt hơn tìm kiếm nhị phân đối với các danh sách rất lớn với phân bố gần đều. Giải thuật Grover là một thuật toán lượng tử cho phép tăng tốc độ gấp 4 lần so với tìm kiếm tuyến tính truyền thống trên các danh sách chưa được sắp xếp. Bảng băm (hash table) cũng được dùng cho tìm kiếm trên danh sách. Nó đòi hỏi thời gian hằng số trong trường hợp trung bình, nhưng lại cần nhiều phụ phí về không gian bộ nhớ và thời gian chạy O(n) cho trường hợp xấu nhất. Một phương pháp tìm kiếm khác dựa trên các cấu trúc dữ liệu chuyên biệt sử dụng cây tìm kiếm nhị phân cân bằng (self-balancing binary search tree) và đòi hỏi thời gian chạy O(log n); các giải thuật loại này có thể coi là mở rộng của tư tưởng chính về tìm kiếm nhị phân để cho phép chèn và xóa nhanh. Xem mảng liên kết (associative array) để biết thêm về các cấu trúc dữ liệu tìm kiếm trên danh sách. Đa số các giải thuật tìm kiếm trên danh sách, chẳng hạn tìm kiếm tuyến tính, tìm kiếm nhị phân, và cây tìm kiếm nhị phân cân bằng, có thể được mở rộng với một chút chi phí bổ sung để tìm tất cả các giá trị nhỏ hơn hoặc lớn hơn một khóa cho trước - một phép toán được gọi là tìm kiếm khoảng (range search). Bảng băm là ngoại lệ, các tìm kiếm khoảng không thể được thực hiện một cách hiệu quả trên bảng băm. === Tìm kiếm trên cây === Tìm kiếm trên cây là trung tâm của các kỹ thuật tìm kiếm. Các thuật toán này tìm kiếm trên các cây gồm các nút, cây này có thể là cây tường minh hoặc được xây dựng dần trong quá trình tìm kiếm. Nguyên lý cơ bản là: một nút được lấy ra từ một cấu trúc dữ liệu, các nút con của nó được xem xét và bổ sung vào cấu trúc dữ liệu đó. Bằng cách thao tác trên cấu trúc dữ liệu này, cây tìm kiếm được duyệt theo các thứ tự khác nhau, chẳng hạn theo từng mức (tìm kiếm theo chiều rộng) hoặc đi tới một nút lá trước rồi quay lui (tìm kiếm theo chiều sâu). Các ví dụ khác về tìm kiếm trên cây bao gồm: tìm kiếm lặp sâu dần, tìm kiếm chiều sâu giới hạn, tìm kiếm hai chiều và tìm kiếm chi phí đều. === Tìm kiếm trên đồ thị === Nhiều bài toán về lý thuyết đồ thị có thể được giải quyết bằng các thuật toán tìm kiếm, chẳng hạn thuật toán Dijkstra, thuật toán Kruskal, giải thuật láng giềng gần nhất và giải thuật Prim. Các thuật toán này có thể được coi là các mở rộng của các thuật toán tìm kiếm trên cây. == Tìm kiếm có thông tin == Trong tìm kiếm có thông tin, người ta sử dụng một đánh giá heuristic đặc thù cho bài toán cần giải quyết với vai trò hướng dẫn cho quá trình tìm kiếm. Một cách đánh giá heuristic tốt sẽ làm cho quá trình tìm kiếm có thông tin hoạt động hiệu quả hơn hẳn một phương pháp tìm kiếm không có thông tin bất kỳ. Có một vài thuật toán tìm kiếm có thông tin nổi trội dành cho danh sách. Một trong số đó là một bảng băm với một hàm băm là một heuristic dựa trên bài toán đang được giải. Đa số các thuật toán tìm kiếm có thông tin đều là tìm kiếm trên cây. Trong đó có tìm kiếm theo lựa chọn tốt nhất và A*. Cũng như các thuật toán không có thông tin, các thuật toán này có thể được mở rộng để làm việc trên cả các đồ thị. == Tìm kiếm đối kháng == Trong các trò chơi như cờ vua hay cờ tướng, có một cây trò chơi bao gồm tất cả các nước đi có thể của cả hai đấu thủ và các cấu hình bàn cờ là kết quả của các nước đi đó. Ta có thể tìm kiếm trên cây này để có được một chiến lược chơi hiệu quả. Dạng bài toán này có đặc điểm độc nhất vô nhị là ta phải tính đến mọi nước đi mà đối thủ của ta có thể sử dụng. Để làm điều này, các chương trình máy tính chơi cờ, cũng như các dạng khác của trí tuệ nhân tạo như lập kế hoạch tự động (machine planning), thường sử dụng các thuật toán tìm kiếm như thuật toán minimax, tỉa cây tìm kiếm, và tỉa cây alpha-beta (alpha-beta pruning). == Thỏa mãn ràng buộc == Đây là một loại tìm kiếm để giải quyết các bài toán thỏa mãn ràng buộc mà trong đó, thay vì tìm một đường đi, lời giải chỉ đơn giản là một tập các giá trị được gán cho một tập các biến. Do các biến có thể được xử lý theo thứ tự tùy ý, các thuật toán thông thường dành cho tìm kiếm trên cây rất không hiệu quả. Các phương pháp giải các bài toán ràng buộc bao gồm tìm kiếm tổ hợp và quay lui, cả hai đều tận dụng các đặc điểm tự do có liên quan đến các bài toán ràng buộc. == Các loại khác == Các thuật toán tìm xâu ký tự (String searching algorithm) tìm kiếm các mẫu trong các xâu ký tự; cây hậu tố (suffix tree) là một cấu trúc dữ liệu thông dụng có tác dụng làm tăng hiệu quả của các thuật toán này Giải thuật di truyền hay thuật toán gien sử dụng ý tưởng tiến hóa để làm các heuristic cho việc giảm không gian tìm kiếm Các thuật toán sắp xếp cần thiết cho việc thực thi một số thuật toán tìm kiếm nhất định Giả lập luyện thép là một thuật toán tìm kiếm xác suất Tìm kiếm Tabu là một kỹ thuật tránh việc các quá trình tìm kiếm rời rạc bị tắc trong các cực tiểu địa phương Tìm kiếm liên bang (Federated search) Giải thuật Minimax được tối ưu hóa bằng kỹ thuật tỉa cây alpha-beta là một thuật toán dành cho tìm kiếm các nước đi tốt trong các trò chơi tổng bằng không == Tham khảo ==
polynésie thuộc pháp.txt
Polynésie thuộc Pháp hay Polynesia thuộc Pháp (tiếng Pháp: Polynésie française, phát âm tiếng Pháp: [pɔlinezi fʁɑ̃sɛz]; tiếng Tahiti: Pōrīnetia Farāni) là một xứ hải ngoại (pays d'outre-mer) của Cộng hòa Pháp. Lãnh thổ này được tạo thành từ một vài nhóm đảo của quần đảo lớn Polynésie, hòn đảo nổi tiếng nhất là Tahiti thuộc nhóm quần đảo Société, đây cũng là đảo đông dân nhất và có thủ phủ của lãnh thổ-Papeete. Mặc dù không phải là một phần đầy đủ của lãnh thổ, đảo Clipperton được quản lý từ Polynésie thuộc Pháp cho đến năm 2007. == Lịch sử == Các nhóm đảo hình thành nên Polynésie thuộc Pháp chưa được chính thức thống nhất cho đến khi thành lập vùng bảo hộ thuộc Pháp vào năm 1889. Người Polynésie bản địa là những người định cư đầu tiên trên các hòn đảo này, tại quần đảo Marquises vào năm 300 SCN và tại quần đảo Société vào năm 800 SCN. Những người Polynésie được tổ chức thành các cộng đồng lỏng lẻo có tù trưởng lãnh đạo. Người châu Âu bắt đầu tiếp xúc với các nhóm đảo vào năm 1521 khi nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan đã nhìn thấy đảo Pukapuka tại quần đảo Tuāmotu-Gambier. Một người Hà Lan tên là Jakob Roggeveen đã đi qua đảo Bora Bora thuộc quần đảo Société vào năm 1722, và nhà thám hiểm người Anh Samuel Wallis đã viếng thăm Tahiti vào năm 1767. Nhà thám hiểm người Pháp Louis Antoine de Bougainville đã viếng thăm Tahiti vào năm 1768, và nhà thám hiểm người Anh James Cook thăm đảo vào năm 1769. Các đoàn truyền giáo Ki-tô cùng với các linh mục người Tây Ban Nha đã ở tại Tahiti trong một năm từ 1774; những người Tin Lãnh từ Hội Truyền giáo Luân Đôn đã định cư lâu dài tại Polynésie vào năm 1797. Vua Pōmare II của Tahiti đã buộc phải chạy trốn đến Mo'orea vào năm 1803; ông và các thần dân của mình đã cải đạo sang Tin Lành vào năm 1812. Những người truyền đạo Công giáo Pháp đã đến Tahiti vào năm 1834; việc trục xuất họ vào năm 1836 đã khiến Pháp cử một tàu chiến đến vào năm 1838. Năm 1842, Tahiti và Tahuata được tuyên bố là một vùng bảo hộ của Pháp, nhằm để cho phép những nhà truyền giáo Công giáo làm việc mà không bị ảnh hưởng. Thủ phủ Papeetē được thành lập vào năm 1843. Năm 1880, người Pháp sáp nhập Tahiti, đổi vị thế của đảo từ vùng bảo hộ thành thuộc địa. Vào thập niên 1880, Pháp tuyên bố chủ quyền với quần đảo Tuamotu, nơi này trước đây thuộc về Vương triều Pomare. Sau khi tuyên bố bảo hộ đối với Tahuata vào năm 1842, người Pháp coi toàn bộ quần đảo Marquises là của mình. Năm 1885, Pháp đã bổ nhiệm một thống sứ và một đại hội đồng, do đó đã thiết lập một cơ cấu chính quyền của một thuộc địa. Các đảo Rimatara và Rūrutu đã vận động không thành công để nằm dưới quyền bảo hộ của Anh vào năm 1888, do đó đến năm 1889 hai đảo đã bị Pháp sáp nhập. Tem bưu chính lần đầu tiên được phát hành ở thuộc địa vào năm 1892. Tên gọi chính thức đầu tiên của thuộc địa là Établissements de l'Océanie (Các thuộc địa tại châu Đại Dương); năm 1903 đại hội đồng đã chuyển thành một hội đồng cố vấn và tên của thuộc địa được đổi thành Établissements Français de l'Océanie (Các thuộc địa của Pháp tại châu Đại Dương). Năm 1940, chính quyền Polynésie thuộc Pháp đã công nhận Lực lượng Pháp tự do và nhiều người Polynésie đã phục vụ cho Lực lượng này trong Chiến tranh thế giới thứ 2. Không có thời gian cho người Pháp và người Polynésie, nội các Konoe Fumimaro của Đế quốc Nhật Bản vào ngày 16 tháng 9 năm 1940 đã tính cả Polynésie thuộc Pháp trong số các lãnh tổ sẽ trở thành vùng đất sở hữu của Nhật Bản thời hậu chiến – mặc dù vậy, trên mặt trận Thái Bình Dương, Nhật Bản đã không thể khởi động một cuộc xâm lược trên thực tế vào các đảo của Pháp. Năm 1946, người Polynésie đã được cấp quyền công dân Pháp và vị thế các hòn đảo được chuyển thành một cộng đồng hải ngoại; năm 1957, tên của lãnh thổ được đổi thành Polynésie Française (Polynésie thuộc Pháp). Năm 1962, bãi đất tiến hành thử hạt nhân trên mặt đất đầu tiên của Pháp đã không còn sử dụng được do Algeria độc lập và rạn san hô vòng Maruroa tại quần đảo Tuamotu đã được lựa chọn làm địa điểm tiến hành các vụ thử nghiệm mới; các vụ thử nghiệm đã được tiến hành dưới lòng đất sau năm 1974. Năm 1977, Polynésie thuộc Pháp đã được trao quyền tự trị nội địa một phần; năm 1984, quyền tự trị đã được mở rộng. Polynésie thuộc Pháp trở thành một cộng đồng hải ngoại đầy đủ trong lòng nước Pháp vào năm 2004. Tháng 12 năm 1995, Pháp đã khuấy động các cuộc biểu tình rộng khắp khi nối lại việc thử nghiệm hạt nhân ở rạn san hô vòng Fangataufa sau một lệnh tạm ngừng ba năm. Vụ thử nghiệm cuối cùng được tiến hành vào ngày 27 tháng 1 năm 1996. Ngày 29 tháng 1 năm 1996, Pháp tuyên bố rằng họ sẽ tham gia Hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện, và không còn thử nghiệm vũ khí hạt nhân. == Hành chính == Từ năm 1946 đến 2003, Polynésie thuộc Pháp có tình trạng là một lãnh thổ hải ngoại (tiếng Pháp: territoire d'outre-mer, hay TOM). Năm 2003, Polynésie thuộc Pháp trở thành một cộng đồng hải ngoại (tiếng Pháp: collectivité d'outre-mer, hay COM). Điều luật ban hành vào ngày 27 tháng 2 năm 2004 đã trao cho Polynésie thuộc Pháp địa vị đặc biệt xứ hải ngoại bên trong nước Cộng hòa (tiếng Pháp: pays d'outre-mer au sein de la République, hay POM), song không có sự sửa đổi về tình trạng của nó trong luật pháp. === Đơn vị hành chính === Polynésie thuộc Pháp được chia thành năm đơn vị hành chính (tiếng Pháp: subdivisions administratives): Quần đảo Marquises (tiếng Pháp: (les) (Îles) Marquises hay chính thức là la subdivision administrative des (Îles) Marquises) Quần đảo Sous-le-Vent (tiếng Pháp: (les) Îles Sous-le-Vent hay chính thức là la subdivision administrative des Îles Sous-le-Vent) (hai subdivisions administratives Quần đảo du Vent và Quần đảo Sous-le-Vent là một phần của quần đảo Société) Quần đảo du Vent (tiếng Pháp: (les) Îles du Vent hay chính thức là la subdivision administrative des Îles du Vent) (the two subdivisions administratives Tuāmotu-Gambier (tiếng Pháp: (les) (Îles) Tuamotu-Gambier hay chính thức là la subdivision administrative des (Îles) Tuamotu-Gambier) (Tuamotu và quần đảo Gambier) Quần đảo Australes (tiếng Pháp: (les) (Îles) Australes hay chính thức là la subdivision administrative des (Îles) Australes) (bao gồm quần đảo Bass) == Địa lý == Các hòn đảo của Polynésie thuộc Pháp có tổng diện tích là 4.167 km² (1.622 mi²), nằm rải rác trên vùng biển rộng 2.500.000 km² (965,255 mi²). Polynésie thuộc Pháp có khoảng 130 hòn đảo. Đỉnh cao nhất là núi Orohena tại Tahiti. Polynésie thuộc Pháp được hợp thành từ sáu nhóm đảo. Đảo lớn nhất và đông dân cư nhất là Tahiti, tại quần đảo Société, Quần đảo Marquises Quần đảo Société Quần đảo Tuamotu Quần đảo Gambier thường được coi là một phần của quần đảo Tuamotu Quần đảo Australes Quần đảo Bass thường được coi là một phần của quần đảo Australes Bên cạnh Tahiti, một số rạn san hô vòng, đảo và nhóm đảo quan trọng khác tại Polynésie thuộc Pháp là: Ahē, Bora Bora, Hiva 'Oa, Huahine, Mai'ao, Maupiti, Meheti'a, Mo'orea, Nuku Hiva, Raiatea, Taha'a, Tetiaroa, Tupua'i, và Tūpai. == Kinh tế == GDP danh nghĩa của Polynésie thuộc Pháp vào năm 2006 là 5,65 triệu Đô la Mỹ, và là nền kinh tế lớn thứ năm ở châu Đại Dương sau Úc, New Zealand, Hawaii, và Nouvelle-Calédonie. GDP danh nghĩa trên đầu người 21.999 Đô la Mỹ vào năm 2006, thấp hơn Hawai'i, Úc, New Zealand, và Nouvelle-Calédonie, song cao hơn tất cả các đảo quốc độc lập khác tại châu Đại Dương. Polynésie thuộc Pháp có một nền kinh tế tương đối phát triển, song phục thuộc vào hàng hóa nhập khẩu, du lịch và hỗ trợ tài chính từ Mẫu quốc Pháp. Các cơ sở cho du lịch phát triển tốt và có sẵn trên các đảo chính. Ngoài ra, do người ta dã khám phá ra quả nhàu từ những hòn đảo này có thể sử dụng với mục đích y tế, người dân có thể tìm được công việc liên quan đến ngành nông nghiệp. Đơn vị tiền tệ của Polynésie thuộc Pháp là Franc CFP. Nông nghiệp: dừa, vani, rau, quả. Tài nguyên thiên nhiên: gỗ, cá, coban. Năm 2008, Polynésie thuộc Pháp nhập khẩu lượng hành hóa trị giá 2,2 tỷ đô la Mỹ và xuất khẩu một lượng hàng hóa trị giá 0,2 tỷ đô la Mỹ. Mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Polynésie thuộc Pháp là ngọc trai đen Tahiti nổi tiếng, chiếm tới 55% giá trị xuất khẩu trong năm 2008. == Nhân khẩu == Tổng dân số Polynésie thuộc Pháp vào ngày 1 tháng 1 năm 2010 là 267.000 người, cao hơn so với 259.596 theo đièu tra tháng 8 năm 2007. Trong cuộc điều tra năm 2007, 68,6% cư dân của Polynésie thuộc Pháp sống trên hòn đảo Tahiti. Khu vực đô thị Papeetē, thành phố thủ phủ, có 131.695 cư dân theo điều tra dân số năm 2007. Theo điều tra dân số năm 2007, 87,3% cư dân sinh sống tại Polynésie thuộc Pháp được sinh ra bên ngoài lãnh thổ này, 9,3% sinh ra tại Mẫu quốc Pháp, 1,4% sinh ra tại các khu vực hải ngoại khác, và 2,0% sinh ra tại ngoại quốc. Theo điều tra dân số năm 1988, cuộc điều tra dân số cuối cùng có câu hỏi về dân tộc, 66,5% cư dân là người Polynésie thuần chủng, 7,1% là người Polynésie có pha trộn, 11,9% là người Âu (chủ yếu là người Pháp), 9,3% có nguồn gốc pha trộn Polynésie và Âu, gọi là Demis (nghĩa là "nửa"), và 4,7% cư dân là người Đông Á (chủ yếu là người Hoa). Người Pháp, người Demis và người Hoa về cơ bản tập trung tại đảo Tahiti, đặc biệt là tại khu vực đô thị Papeetē, nơi họ có tỷ lệ lớn hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình tại lãnh thổ. Mặc dù có một lịch sử lâu dài của quá trình hỗn huyết dân tộc, song trong những năm gần đây đã gia tăng các căng thẳng sắc tộc, các chính trị gia có các phát biểu mang tính bài ngoại và thổi bùng ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa. === Lịch sử dân cư === === Ngôn ngữ === Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức duy nhất tại Polynésie thuộc Pháp. Một luật tổ chức vào 12 tháng 4 năm 1996 đã nói rõ rằng "Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức, tiếng Tahiti và các ngôn ngữ Polynésie khác có thể được sử dụng." Theo cuộc điều tra dân số năm 2007, song số những người bằng hoặc trên 15, 68,5% bày tỏ rằng họ hay sử dụng tiếng Pháp nhất tại nhà, 29,9% bày tỏ rằng thứ tiếng họ nói nhiều nhất tại nhà là một ngôn ngữ Polynésie (bốn phần năm trong đó là tiếng Tahiti), 1,0% nói rằng đó là tiếng Trung Quốc (một nửa trong đó là tiếng Khách Gia), và 0,6% là các ngôn ngữ khác. Cũng trong cuộc điều tra dân số đó, 94,7% số người 15 tuổi hoặc hơn bày tỏ rằng họ có thể nói, đọc và viết tiếng Pháp, chỉ có 2,0% bảy tỏ rằng họ không có kiến thức về tiếng Pháp. 74,6% số người 15 hoặc lớn hơn bày tỏ rằng họ có kiến thức ở một mức độ nào đó về một trong các ngôn ngữ Polynésie, trong khi 13,6% bảu tỏ rằng họ không có kiến thức về bất kỳ một ngôn ngữ Polynésie nào. === Tôn giáo === Ki-tô giáo là tôn giáo chính tại Polynésie: một phần lớn (54%) thuộc các nhóm Tin Lành khác nhau và một thiểu số lớn (30%) là tín hữu Công giáo La Mã. Hơn 50% cư dân Polynésie thuộc Pháp thuộc Giáo hội Tin Lành Maohi, giáo phái Tin Lành lớn nhất. Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô có 20.282 thành viên vào năm 2009. Nhân Chứng Giê-hô-va có 2.656 tín đồ tại Tahiti vào năm 2011. == Giao thông == Có 53 sân bay tại Polynésie thuộc Pháp; trong đó 46 có đường băng được lát. Sân bay quốc tế Faaa là sân bay quốc tế duy nhất tại Polynésie thuộc Pháp. Mỗi hòn đảo có sân bay của mình để có thể tiến hành các chuyến bay tới các hòn đảo khác. Air Tahiti là hãng hàng không chính, thực hiện các chuyến bay khắp các đảo. == Du lịch == Không hào nhoáng và tráng lệ với những công trình đồ sộ, nổi bật, nơi đây chỉ là những túp lều tranh đơn sơ nhưng lại cuốn hút bao lòng người. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên và con người, giữa cuộc sống thực tại và tương lai, một Bora Bora năng động, hay Huahine truyền thống hoặc chỉ là mê hoặc của lứa đôi ở Moorea… Bora Bora cách Việt Nam 12.000 km theo đường chim bay. Là một địa điểm du lịch quốc tế thu hút nhiều du khách. == Hình ảnh == == Tham khảo == == Thư mục == Danielsson, Bengt (1965). Work and Life on Raroia: An Acculturation Study from the Tuamotu Group, French Oceania. London: G. Allen & Unwin. Danielsson, Bengt; Marie-Thérèse Danielsson (1986). Poisoned Reign: French Nuclear Colonialism in the Pacific. New York: Penguin Books. ISBN 0-14-008130-5. Hough, Richard (1995). Captain James Cook. W W Norton. ISBN 0-393-03680-4. Pollock, Nancy J.; Ron Crocombe, eds. (1988). French Polynesia: A Book of Selected Readings. Suva, Fiji: Institute of Pacific Studies of the University of the South Pacific. ISBN 982-02-0032-6. Thompson, Virginia; Richard Adloff (1971). The French Pacific Islands: French Polynesia and New Caledonia. Berkeley: University of California Press. Aldrich, Robert (1990). The French Presence in the South Pacific, 1842–1940. Sydney. Aldrich, Robert (1993). France and the South Pacific since 1940. Sydney. James Rogers and Luis Simón. The Status and Location of the Military Installations of the Member States of the European Union and Their Potential Role for the European Security and Defence Policy (ESDP). Brussels: European Parliament, 2009. 25 pp. == Liên kết ngoài == Chính quyền Chính quyền Polynésie thuộc Pháp Thống đốc Polynésie thuộc Pháp Phân cấp hành chính của Polynésie thuộc Pháp Thông tin chung (tiếng Pháp) Encyclopédie collaborative du patrimoine culturel et naturel polynésien Mục “French Polynesia” trên trang của CIA World Factbook. French Polynesia at UCB Libraries GovPubs Polynésie thuộc Pháp tại DMOZ Wikimedia Atlas của French Polynesia, có một số bản đồ liên quan đến French Polynesia. Du lịch Trang thông tin du lịch chính thức South Seas island guide
phục hưng phương bắc.txt
Phục Hưng phương Bắc là các phong trào văn hóa Phục Hưng đã xảy ra tại các quốc gia châu Âu phía bắc của Dãy Alps. Trước năm 1497 Chủ nghĩa nhân văn Phục hưng Ý ít có ảnh hưởng bên ngoài nước Ý. Từ cuối thế kỷ 15, những ý tưởng lan rộng khắp châu Âu. Điều này ảnh hưởng đến Phục Hưng ở Đức, Phục Hưng ở Pháp, Phục Hưng ở Anh, Phục Hưng ở Hà Lan, Phục Hưng ở Ba Lan và các phong trào quốc gia và địa phương hóa khác, khác nhau đặc điểm và thế mạnh ở mỗi vùng. Ở Pháp, vua Francis I nhập khẩu nghệ thuật Ý, các nghệ sĩ Venice (bao gồm cả Leonardo da Vinci), và xây dựng cung điện lộng lẫy chi phí rất lớn, bắt đầu cho phong trào Phục Hưng ở Pháp. Thương mại và trao đổi tại các thành phố như Bruges trong thế kỷ 15 và Antwerp trong thế kỷ 16 làm gia tăng các trao đổi văn hóa giữa Ý và Hà Lan, tuy nhiên trong nghệ thuật, và đặc biệt là kiến trúc, ảnh hưởng Hậu Gothic vẫn còn hiện diện cho đến khi sự xuất hiện của Baroque mặc dù là các họa sĩ ngày càng bị thu hút bởi các mô hình Ý Đại học và các cuốn sách in đã giúp lan truyền tinh thần của thời đại qua Pháp, các nước thuộc Hà Lan và Đế quốc La Mã Thần thánh, và sau đó đến Scandinavia và cuối cùng là Vương quốc Anh vào cuối thế kỷ thứ 16. Các nhà văn và nhà nhân văn như Rabelais, Pierre de Ronsard và Desiderius Erasmus đã chịu ảnh hưởng rất lớn bởi mô hình Phục hưng Ý và là một phần của phong trào trí tuệ tương tự. Trong Phục hưng ở Anh (mà chồng chéo với kỷ nguyên Elizabethan), các nhà văn như William Shakespeare và Christopher Marlowe, đã đóng góp các tác phẩm mà có ảnh hưởng lâu dài. Phục Hưng cũng đã được đưa đến Ba Lan trực tiếp từ Ý bởi các nghệ sĩ từ Florence và từ Hà Lan, khởi đầu thời kỳ Phục hưng ở Ba Lan. == Ghi chú == == Sách chuyên khảo == Chipps Smith, Jeffrey (2004). The Northern Renaissance. Phaidon Press. ISBN 978-0-7148-3867-0. Campbell, Gordon biên tập (2009). The Grove Encyclopedia of Northern Renaissance Art. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-533466-1.
phạt góc (bóng đá).txt
Quả Phạt góc là một hình thức bắt đầu lại trận đấu trong Bóng đá. Nó được phát minh ra lần đầu tiên tại Sheffield trong bộ luật Sheffield năm 1867. Quả phạt góc được thông qua bởi Liên đoàn bóng đá Anh vào ngày 17 tháng 2 năm 1872. Một quả phạt góc được trao cho đội tấn công khi quả bóng đã hoàn toàn vượt qua hẳn đường biên ngang trên sân phía ngoài khung cầu môn, dù ở mặt đất hay trên không do người chạm bóng cuối cùng là cầu thủ đội phòng ngự (kể cả thủ môn). Từ quả đá phạt góc, nếu bóng được đá vào cầu môn, bàn thắng sẽ được tính. Trong phần lớn các trường hợp, Trợ lý Trọng tài là người thông báo một quả phạt góc sẽ được thức hiện bằng cách sử dụng lá cờ của mình chỉ vào cung đá phạt góc (vòng cung mỗi góc sân) ở phần sân phía bên họ. Tuy vậy phần sân mà quả phạt góc sẽ được thực hiện chỉ xác định khi trọng tài chỉ vào cung đá phạt góc liên quan. == Quy định == Bóng đặt trong cung đá phạt góc tại điểm gần cột cờ góc nhất. Không được di chuyển cột cờ góc. Cầu thủ đối phương phải đứng cách xa bóng tối thiểu 9m15 đến khi bóng được đá vào cuộc. Người đá phạt góc là cầu thủ của đội tấn công. Bóng vào cuộc ngay sau khi được đá và di chuyển. Cầu thủ đá phạt góc không được chạm bóng lần thứ 2 khi bóng chưa chạm cầu thủ khác. == Những vi phạm và xử phạt == === Cầu thủ đá phạt góc không phải là thủ môn === Nếu sau khi đá bóng vào cuộc, cầu thủ đó lại chạm bóng tiếp lần thứ 2 (không phải bằng tay) khi bóng chưa chạm cầu thủ khác: Đội phòng ngự được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi. Nếu sau khi đá bóng vào cuộc, cầu thủ đó lại cố tình dùng tay chơi bóng khi bóng chưa chạm cầu thủ khác: Đội phòng thủ được hưởng quả phạt trực tiếp tại nơi phạm lỗi. Đội phòng thủ sẽ được hưởng quả phạt đền nếu vị trí phạm lỗi ở trong khu phạt đền của cầu thủ đó. === Cầu thủ đá phạt góc là thủ môn === Nếu sau khi đá bóng vào cuộc, thủ môn lại chạm bóng (không phải bằng tay) lần thứ 2 khi bóng chưa chạm một cầu thủ khác: Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi. Nếu sau khi đá bóng vào cuộc, thủ môn lại cố tình dùng tay chơi bóng khi bóng chưa chạm cầu thủ khác: Đội đối phương được hưởng quả phạt trực tiếp tại nơi phạm lỗi nếu hành vi phạm lỗi xảy ra ở ngoài khu phạt đền của thủ môn đó. Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi, nếu hành động phạm lỗi xảy ra trong khu phạt đền của thủ môn đó. Đối với bất kỳ vi phạm luật khác quả phạt góc sẽ được thực hiện lại. == Chiến thuật đá phạt góc == === Chiến thuật tấn công khi đá phạt góc === Phối hợp tấn công trong đá phạt góc được chia thành: chuyền ngắn phối hợp tấn công, chuyền dài phối hợp tấn công và đá thẳng vào khung thành. Chuyền ngắn phối hợp tấn công được thực hiện thông qua sự phối hợp đơn giản và thuần thục của 2 hoặc 3 cầu thủ ở gần khu đá phạt góc để lật bóng từ đường biên vào khu trung lộ hoặc dẫn bóng tới sát đường biên ngang rồi bất ngờ ngoặt lại và chuyền bóng vào khu trung lộ. Hình thức chiến thuật này thường được áp dụng khi toàn bộ đội hình của đối phương đều đã tập trung ở trước cầu môn, khi khả năng đánh đầu của các cầu thủ tấn công kém hoặc khi không thể thực hiện được những đường chuyền dài chuẩn xác, đặc biệt là ở trong những trường hợp như: ngược gió, mặt sân lầy lội, bóng nặng... Chuyền dài phối hợp tấn công thường được thực hiện khi trong đội có chuyên gia đá phạt góc và cầu thủ tấn công có khả năng tranh cướp bóng trên không tốt. Điểm rơi của bóng thông thường là ở 3 khu vực: sát cột dọc gần, ở khu vực giữa chấm phạt đền và đường cầu môn hoặc ở sát cột dọc xa. Để thu được hiệu quả cao khi thực hiện chiến thuật này các cầu thủ phải có tư duy chiến thuật cao, phải lựa chọn chính xác thời cơ và điểm rơi của bóng để lao lên đánh đầu, đồng thời phải có sự phân công rõ ràng về chức năng và nhiệm vụ của mỗi người. Đá thẳng vào khung thành là từ quả đá phạt góc, cầu thủ thực hiện sút bóng trực tiếp thẳng vào khung thành của đối phương. Đảm nhận nhiệm vụ này phải là cầu thủ có cú sút và kĩ thuật đá phạt tốt để có thể đưa bóng trực tiếp bay vào góc gần hoặc góc xa của cầu môn đối phương. Khi thực hiện chiến thuật này các cầu thủ khác cũng vẫn phải triển khai đội hình tiếp ứng để đánh thọc sườn nhằm phân tán sự chú ý của hàng phòng ngự, đặc biệt là thủ môn đối phương, đồng thời phòng khi bóng không vào lưới thì vẫn có thể kịp thời phối hợp tấn công. === Chiến thuật phòng thủ khi đối phương đá phạt góc === Khi đối phương đá phạt góc, thông thường bên phòng thủ chỉ cắm duy nhất một tiền đạo ở lại gần đường giữa sân, còn các cầu thủ khác nhanh chóng rút về để kịp thời tổ chức hoạt động phòng ngự. Các cầu thủ cao lớn đánh đầu tốt phải kèm chặt các cầu thủ tương ứng của đối phương hoặc rút về phòng thủ ở khu vực nguy hiểm trước khung thành, các cầu thủ khác phải chia nhau bắt người, thủ môn phải đứng ở gần đường cầu môn cách cột dọc phía xa khoảng 2m và phải luôn chuẩn bị sẵn sàng để lao ra, một hậu vệ phải đứng ở sát cột dọc gần để đề phòng đối phương sút bóng vào vị trí đó. Cũng có thể bố trí một hậu vệ đứng sát cột dọc xa để có thể kịp thời bổ sung vị trí khi thủ môn đã lao ra. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể trong thi đấu có thể bố trí thêm một cầu thủ tiền đạo cánh đứng sát đường biên ngang cách bóng 9,15m, để đề phòng đối phương thực hiện quả đá phạt góc bằng chuyền bóng ngắn và chuyền thấp ngang vào trung lộ, đồng thời quấy rối và gây ức chế về tâm lý cho cầu thủ đá phạt làm ảnh hưởng tới chất lượng quả đá phạt góc của đối phương. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Toàn văn Luật bóng đá Việt Nam The current Laws of the Game (FIFA) Liên đoàn Bóng đá Việt Nam Văn bản pháp quy về bóng đá tại Việt Nam Văn bản sửa đổi, bổ sung luật thi đấu bóng đá năm 2005 Văn bản sửa đổi, bổ sung luật thi đấu bóng đá năm 2006 Quy định về kỷ luật của FIFA (FDC)
trương đức giang.txt
Trương Đức Giang (chữ Hán: 张德江, sinh ngày 4 tháng 11 năm 1946) là một chính khách cấp cao của Trung Quốc. Ông hiện là nhân vật đứng thứ 3 trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, một trong 7 người nắm quyền lãnh đạo tối cao tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ông hiện là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, người đứng đầu Quốc hội Trung Quốc. == Thân thế == Sinh tháng 11 năm 1946, tại Đài An, tỉnh Liêu Ninh, Trương được xem là một "hoàng tử đỏ". Cha Trương là Trương Chí Nhất, một Thiếu tướng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, từng là Phó tư lệnh pháo binh tại Quân khu Quảng Châu. == Sự nghiệp chính trị == Cũng như Tập Cận Bình, thời thanh niên, Trương từng được điều về nông thôn để lao động tại trấn La Tử Câu (Luozigou), huyện Diên Biên tỉnh Cát Lâm. Vào đầu những năm 1970, Trương làm việc tại phòng tuyên truyền huyện trước khi đi học tiếng Triều Tiên tại Đại học Diên Biên. Sau đó, Trương làm Bí thư Đoàn tại Liêu Ninh trước khi học kinh tế 2 năm tại Đại học Kim Nhật Thành tại Bình Nhưỡng. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1971. Những năm 1980, ông trở lại Diên Biên, nơi ông giữ chức vụ cấp cao trong đảng trước khi làm Phó giám đốc Sở Công an. Sau đó ông lần lượt giữ các chức vụ trong đảng tại Tứ Liên cho đến khi chuyển tới Chiết Giang để trở thành Bí thư Tỉnh ủy Chiết Giang. Vào năm 2002, ông vào Bộ Chính trị và trở thành Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông. Trong thời kỳ lãnh đạo Quảng Đông, Trương cũng gặp một số vấn đề, như nạn dịch SARS năm 2002, bị chỉ trích vì đã phản ứng quá chậm. Ông cũng bị cho là quá nặng tay với người biểu tình và giới báo chí. Năm 2008, Trương được bổ nhiệm vào chức vụ Phó Thủ tướng, chuyên trách năng lượng, viễn thông và giao thông. Năm 2012, kiêm chức Bí thư Thành ủy Trùng Khánh thay Bạc Hy Lai. Trương được xem như là một chuyên gia về Bắc Triều Tiên, đồng minh lâu năm nhất của Trung Quốc. Trương cũng được cho là thành viên của nhóm ủng hộ cựu chủ tịch Giang Trạch Dân. Ông được xem là nhân vật không theo đường lối cải cách, và phản đối việc cho giới doanh nhân gia nhập Đảng. Ngày 14 tháng 3 năm 2013, ông được bầu làm Chủ tịch Nhân đại toàn quốc (Quốc hội Trung Quốc). == Đời tư == Vợ của ông Trương Đức Giang là bà Tân Thụ Sâm (辛树森), từng giữ vị trí cấp cao tại Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc và là thành viên của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Zhang's page on Xinhua (tiếng Trung) Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc bế mạc Zhang Dejiang Denies Chongqing Model China's next leaders: Who's who Zhang Dejiang, Phó Thủ tướng của Hội đồng Nhà nước, Khuyến khích Geely tốt hơn Tình Hình ở Hồng Kông Không Như Bạn Nghĩ | Trung Quốc Không Kiểm Duyệt
bad (quận mathura).txt
Bad là một thị trấn thống kê (census town) của quận Mathura thuộc bang Uttar Pradesh, Ấn Độ. == Nhân khẩu == Theo điều tra dân số năm 2001 của Ấn Độ, Bad có dân số 14.690 người. Phái nam chiếm 53% tổng số dân và phái nữ chiếm 47%. Bad có tỷ lệ 76% biết đọc biết viết, cao hơn tỷ lệ trung bình toàn quốc là 59,5%: tỷ lệ cho phái nam là 82%, và tỷ lệ cho phái nữ là 69%. Tại Bad, 13% dân số nhỏ hơn 6 tuổi. == Tham khảo ==
trung tâm vũ trụ kennedy.txt
Trung tâm Vũ trụ John F. Kennedy là nơi phóng các tàu vũ trụ của NASA gần Mũi Canaveral trên đảo Merritt, Florida, Hoa Kỳ. Nơi này nằm giữa Miami và Jacksonville, Florida. Nó dài khoảng 34 dặm và rộng khoảng 6 dặm, bao phủ 219 dặm vuông. Khoảng 17.000 người làm việc tại nơi này. Có một trung tâm cho khách ghé thăm và những tuyến tham quan dành cho dân chúng và trung tâm là một địa điểm du lịch cho du khách ghé thăm Florida. Bởi vì đa số khu vực của trung tâm nằm ngoài các dự án phát triển, nơi này cũng được sử dụng như là một khu bảo tồn đời sống hoang dã quan trọng, với chỉ khoảng 9% đất đã được phát triển. Các chuyến bay hiện tại được điều khiển từ khu vực phóng 39, địa điểm của tòa nhà Lắp ráp Tàu vũ trụ. Bốn dặm về phía đông của tòa nhà lắp ráp là hai bệ phóng; năm dặm về phía nam là Khu Công nghiệp KSC, nơi rất nhiều phương tiện hỗ trợ của trung tâm tọa lạc và là khu nhà quản lý trung tâm. Các cuộc phóng tại Trung tâm vũ trụ Kennedy diễn ra tại Khu phóng 39. Tất cả các cuộc phóng khác tiến hành ở Trạm không quân Mũi Canaveral (CCAFS) được điều hành bởi Không quân Hoa Kỳ. == Lịch sử == Khu vực này đã được sử dụng bởi nhà nước từ 1949 khi Tổng thống Harry Truman thiết lập Bãi thử liên hợp tầm xa (Joint Long Range Proving Grounds) tại Mũi Canaveral để thử tên lửa. Địa điểm này là lý tưởng cho mục đích đó vì nó cho phép phóng về phía Đại Tây Dương, và nó gần đường xích đạo hơn hầu hết các phần khác của Hoa Kỳ cho phép tên lửa nhận thêm một sức đẩy từ chuyển động xoay của Trái Đất. Vào 1951 Không quân Hoa Kỳ thiết lập Trung tâm thử tên lửa của Không quân cạnh căn cứ không - hải quân trên sông Banana. Theo sau việc phóng vệ tinh Sputnik của Liên Xô, vệ tinh quỹ đạo đầu tiên, tên lửa Vanguard của Hải quân Hoa Kỳ phát nổ vào ngày 6 tháng 12 năm 1957. NASA được thành lập vào 1958 và nơi này được biến đổi thành một nơi phóng tên lửa chính. Redstone, Jupiter IRBM, Jupiter-C, Pershing, Polaris, Thor, Atlas, Titan và Minuteman tất cả đều được thử nghiệm ở địa điểm này, tên lửa Thor trở thành cơ sở cho thiết bị phóng có thể bỏ đi (expendable launch vehicle - ELV) tên lửa Delta, đã phóng lên vệ tinh Telstar 1 vào tháng 7 1962. Sự thông báo của chương trình lên Mặt Trăng dẫn đến một sự mở rộng các hoạt động từ Mũi Canaveral đến đảo Merritt gần đó. NASA bắt đầu việc mua đất trong năm 1962, sở hữu 131 mi² bằng mua ngay là thương lượng với bang Florida để có thêm 87 mi². Vào tháng 7 năm 1962 toàn bộ nơi này được đặt tên là Trung tâm Phóng. Nó được đặt tên lại là Trung tâm Vũ trụ John F. Kennedy vào tháng 11 năm 1963, tôn vinh Tổng thống John F. Kennedy vừa bị ám sát. Mũi đất xung quanh Mũi Canaveral cũng được đặt tên lại là Mũi Kennedy, nhưng tên này không được thông dụng đối với dân địa phương và do vậy tên cũ đã được phục hồi vào năm 1973. Chương trình lên Mặt Trăng có 3 giai đoạn —Mercury, Gemini và Apollo. Mục đích của Mercury đưa lên quỹ đạo một phi thuyền có người điều khiển. Chương trình bắt đầu tháng 10 năm 1957 sử dụng tên lửa liên lục địa Atlas như là cơ sở để mang lên những thứ của Mercury. Nhưng các thử nghiệm đầu tiên sử dụng tên lửa Redstone cho một loạt các chuyến bay lên quỹ đạo bao gồm chuyến bay 15 phút của Alan Shepard vào 5 tháng 5 và Virgil Grissom vào 21 tháng 7 năm 1961. Người đầu tiên được đưa lên bởi tên lửa Atlas là John Glenn vào 20 tháng 2 năm 1962. Từ những kiến thức thu được từ Mercury một phi thuyền 2 chỗ ngồi phức tạp hơn cho Chương trình Gemini được chuẩn bị cũng như một tên lửa phóng mới dựa trên tên lửa liên lục địa Titan II. Chuyến bay có người đầu tiên diễn ra vào 23 tháng 3 năm 1965 với John Young và Virgil Grissom. Gemini 4 có các hoạt động bên ngoài phi thuyền, bởi Edward H. White. Có tổng cộng 12 lần phóng thuộc Gemini từ Trung tâm Kenedy. Chương trình Apollo có một tên lửa phóng mới— tên lửa 3 tầng Saturn V (cao 111 m và với đường kính 10 m), đóng bởi Boeing (tầng thứ nhất), North American Aviation (động cơ và tầng thứ hai) và Douglas Aircraft (tầng thứ ba). North American Aviation cũng đóng đơn vị điều khiển và dịch vụ trong khi Grumman Aircraft Engineering xây dựng bộ phận hạ xuống Mặt Trăng. IBM, MIT và GE cung cấp các máy móc. Tại Trung tâm Kenedy một trung tâm phóng lớn mới trị giá $800 triệu được xây dựng cho tên lửa phóng mới này—Khu vực phóng 39. Nó bao gồm một hangar có khả năng chứa đựng bốn tên lửa Saturn V, Khu nhà lắp ráp Vehicle Assembly Building (VAB, 130 million ft³); một hệ thống chuyên chở từ hangar đến bệ phóng, có khả năng chuyên chở 5440 tấn; một cấu trúc dịch vụ cao 446 foot có khả năng di chuyển và một trung tâm điều khiển. Việc xây dựng bắt đầu vào tháng 11 năm 1962, các bệ phóng được hoàn thành vào tháng 10 năm 1965, và VAB được hoàn thành tháng 6 năm 1965, và các hạ tầng cơ sở hoàn thành cuối năm 1966. Từ 1967 cho đến 1973, có 13 lần phóng tên lửa Saturn V từ Khu phóng 39. Trước các vụ phóng tên lửa Saturn V có một loạt phóng các tên lửa nhỏ hơn Saturn I và IB để thử con người và thiết bị từ Khu 34 trên Mũi Canaveral site. Cái chết của 3 phi hành gia do lửa trên Apollo-Saturn 204 (sau này được đặt tên là Apollo 1), xảy ra ngày 27 tháng 1 năm 1967, đã xảy ra tại Khu 34. Lần phóng thử Saturn V đầu tiên, Apollo 4 (Apollo-Saturn 501) bắt đầu đếm lui 104 giờ vào 30 tháng 10 năm 1967 và, sau các lần hoãn, được phóng lên vào 9 tháng 11. Apollo 7 là chuyến bay thử có người đầu tiên vào 11 tháng 10 năm 1968. Apollo 8 bay 10 vòng quanh Mặt Trăng vào 24-25 tháng 12 năm 1968. Apollo 9 và Apollo 10 thử nghiệm bộ phận đáp xuống Mặt Trăng. Apollo 11 được phóng vào ngày 16 tháng 7 năm 1969 và con người bước lên Mặt Trăng vào lúc 10.56 giờ đêm ngày 20 tháng 7. Chương trình Apollo tiếp tục tại Trung tâm Kenedy cho đến Apollo 14 (1971), chuyến bay có người lái thứ 24 của Mỹ (thứ 40 của thế giới), cho đến Apollo 17 vào tháng 12 năm 1972. Phát triển tên lửa ELV cũng tiếp tục tại trung tâm này—trước Apollo, một tên lửa Atlas-Centaur phóng từ Khu phóng 36 đã đặt trạm thăm dò Surveyor đầu tiên của Mỹ hạ xuống nhẹ nhàng trên Mặt Trăng vào ngày 30 tháng 5 năm 1966. Sau đó năm trong bảy trạm thăm dò Surveyor được đưa lên Mặt Trăng thành công. Từ 1974 đến 1977 tên lửa Titan-Centaur trở thành thiết bị phóng có khả năng mang các thiết bị nặng cho NASA, phóng lên một loạt các tàu vũ trụ thuộc Chương trình Viking và Voyager từ Khu phóng 41, một nơi phóng NASA mượn của Không quân Hoa Kỳ. Khu phóng 41 sau này trở thành nơi phóng cho hầu hết các tên lửa cực mạnh không mang người, tên lửa Titan IV, phát triển cho Không quân. Tên lửa Saturn V cũng được sử dụng để đưa các trạm không gian Skylab vào quỹ đạo vào năm 1973. Bệ phóng 39B được sửa chữa một ít cho việc sử dụng tên lửa Saturn IB, và phóng ba phi vụ có người lái lên Skylab vào năm 1973, cũng như các thành phần Apollo của Chương trình thí nghiệm Apollo-Soyuz vào năm 1975. Trung tâm Kenedy cũng là nơi phóng các tàu con thoi, sử dụng lại Khu 39 dành cho các thiết bị của Apollo. Một nơi đáp cho tàu con thoi, dài 4,6 km. Lần phóng đầu tiên là tàu con thoi Columbia vào ngày 12 tháng 4 năm 1981. Tuy nhiên, lần đáp tàu con thoi đầu tiên sau khi hoàn thành nhiệm vụ là ngày 11 tháng 2 năm 1984, khi tàu con thoi Challenger hoàn thành phi vụ STS-41-B; nơi hạ cánh chính trước thời điểm đó là Căn cứ Không quân Edwards ở California. Hai mươi lăm chuyến bay đã hoàn thành tính đến tháng 9 năm 1988, với một giai đoạn ngưng trệ dài (từ 28 tháng 1 năm 1986 đến 29 tháng 9 năm 1988) theo sau thảm họa tàu con thoi Challenger (cũng là tàu con thoi đầu tiên phóng lên từ bệ phóng 39B). == Khu dành cho khách ghé thăm == Khu du khách của Trạm Vũ trụ Kennedy, điều hành bởi công ty Delaware North không phụ thuộc vào tiền người dân đóng thuế, là nơi của một số bảo tàng, hai rạp chiếu phim IMAX, và các tuyến du lịch bằng xe bus khác nhau cho phép du khách có một cái nhìn gần hơn đến nhưng những khu vực cấm khác nhau mà người ngoài không thể vào. Bao gồm trong việc cho vào căn cứ là một chuyến xe bus đến khu vực giới hạn với một đài quan sát vào trong sân của Khu phóng 39, và vào Trung tâm Apollo-Saturn V. Đài quan sát cho phép một tầm nhìn không bị che khuất vào cả hai bệ phóng và toàn bộ khuôn viên của Trung tâm Vũ trụ Kennedy. Trung tâm Apollo-Saturn V là một bảo tàng lớn xây dựng xung quanh đối tượng triển lãm chính của nó, một tên lửa phóng Saturn V được phục hồi, và có các triển lãm khác liên quan đến không gian, bao gồm một phi thuyền Apollo. Hai rạp chiếu phim cho phép du khách sống lại những khoảnh khắc của Chương trình Apollo. Một mô phỏng lại môi trường ở trong một phòng điều khiển thời Apollo trong quá trình phóng một tàu Apollo, và rạp thứ hai mô phỏng việc đổ bộ của tàu Apollo 11. Khu dành cho du khách cũng bao gồm những cấu trúc điều hành bởi Hội Tưởng niệm Phi hành gia. Cấu trúc dễ thấy nhất là Đài tưởng niệm Phi hành gia, cũng được biết đến như là Gương Không gian, một tấm gương khổng lồ bằng đá granite đen khắc tên các tên các phi hành gia đã tử nạn trong khi thi hành nhiệm vụ. Các nơi khác trong khu du khách là Trung tâm Giáo dục Không gian, với nhiều tài liệu cho giáo viên, giữa các kiến trúc khác. == Xem thêm == List of Merritt Island launch sites Crawlerway == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Kennedy Space Center Home Page Visitor Complex Home Page Astronauts Memorial Foundation Home Page John F. Kennedy Space Center from Encyclopedia Astronautica Cape Canaveral 45th Spacewing Home Page Launch Complex 39A (Google Maps) Vehicle Assembly Building (Google Maps)
manga.txt
Manga (kanji: 漫画; hiragana: まんが; katakana: マンガ; ; tiếng Anh /ˈmæŋɡə/ or /ˈmɑːŋɡə/) là một cụm từ trong tiếng Nhật để chỉ các loại truyện tranh và tranh biếm họa nói chung của các nước trên thế giới. == Ý nghĩa tên gọi == Chữ manga là chữ Nhật Bản, dịch tạm là nghĩa là "hình ảnh di động hay biến động". Chữ đầu tiên được công bố và sử dụng một cách thông dụng vào thế kỷ thứ 18 như các tác phẩm truyện hình tên Shiji no yukikai (1798) của Santō Kyōden và trong đầu thế kỷ 19 với những tác phẩm Manga hyakujo (năm 1814) của Aikawa Minwa và nghệ sĩ nổi tiếng Hokusai Manga đã phân loại các hình vẽ từ sách vẽ của tác phẩm nổi tiếng ukiyo-e của nhà họa sĩ Hokusai. Rakuten Kitazawa (1876–1955) là người đầu tiên đã sử dụng chữ "manga" trong cách nhìn của thế giới hiện đại. Thay vì dùng từ manga như các nước khác trên thế giới, để chỉ chính xác riêng truyện tranh xuất phát từ Nhật Bản, người Nhật dùng từ 日本の漫画 (Nhật Bản mạn họa hay truyện tranh của Nhật Bản). Từ Manga-ka tương ứng với Họa sĩ truyện tranh, người chuyên về viết vẽ manga. == Lịch sử == Lịch sử manga bắt đầu từ rất sớm. Ở Nhật, người dân đã sớm có hứng thú với một loại nghệ thuật về tranh ảnh (sau này là manga) Manga thời kì này vẫn chỉ đơn giản là những dải truyện tranh ngắn. Tuy vậy, giá trị giải trí của nó là điều không ai có thể phủ nhận. Không những thế, manga còn giữ một vị trí quan trọng và đầy quan trọng xuyên suốt lịch sử mỹ thuật Nhật Bản. Manga phát triển từ ukiyo-e theo kiểu vẽ tranh. Nó phát triển nhanh chóng sau thế chiến thứ 2. Manga được hầu hết các hạng người đọc ở Nhật. Do hầu hết các danh từ trong tiếng Nhật không ở dạng số nhiều nên manga có thể dùng để chỉ nhiều loại truyện tranh, đôi khi trong tiếng Anh cũng được viết là mangas. Vào khoảng giữa thế kỷ thứ VI và VII, những vị thầy tu đã sử dụng những cuộn giấy da có khắc hình như một loại lịch cho việc theo dõi thời gian. Những cuộn giấy này bao gồm những ký hiệu biểu tượng đại diện cho thời gian, và thường được trang trí bằng hình ảnh động vật như cáo, gấu trúc,... với những cử động y như người (được gọi là giga, hay chính xác hơn là choju-jinbutsu-giga tranh vui về thú vật và con người). Đây có thể được coi là tiền đề của Manga. Đến cuối thế kỉ XVIII thì thuật ngữ "manga" mới thật sự được dùng để chỉ loại hình nghệ thuật này với sự xuất hiện của các tác phẩm đầu tiên như "Mankaku zuihitsu" của Suzuki Kankei, tập tranh "Shijino Yukikai" của Santo Kyoden. Đến đầu thế kỉ XIX, có "Manga hyakujo" của Aikawa Minwa cùng tuyển tập tranh Houkusai (manga được tổng hợp và phân loại từ những tác phẩm của nghệ sĩ tranh gỗ màu nổi tiếng Houkusai). Thuật ngữ Manga được hoàn thiện bởi nghệ nhân Hokusai (đây không phải là tên thật), một họa sĩ sống với triết lý hội họa hoàn toàn khác so với nền nghệ thuật này lúc bấy giờ. Với tính cách đôi phần nổi loạn, Hokusai được biết đến với việc sẵn sàng cãi lại thầy giáo của mình, liên tục thách thức những phương pháp làm việc của họ. Về sau, ông tự tạo ra khoảng 30.000 tác phẩm, một vài trong số đó tập trung thành những tuyển tập hoặc sách đem đi xuất bản. Theo Hokusai, "manga" không phải là nghệ thuật vẽ nhân vật trong một câu chuyện nào đó, hay là chú ý tỉ mỉ đến từng chi tiết một để có thể tạo ra những bức họa có tính giải trí và đầy ý nghĩa. Thay vào đó, thuật ngữ "manga" (mà theo nghĩa đen có thể dịch là "bức tranh kỳ quái") được Hokusai dùng để chỉ phương pháp vẽ một bức tranh dựa theo nét bút đưa hoặc vẽ vài vật chất lướt ngang trang hoàn toàn theo ngẫu hứng (điều này giải thích chữ "kỳ quái"). Tuy chúng hầu hết đều trở thành những bức tranh phong cảnh, người dân Nhật lại nhận ra, ẩn trong những nét vẽ thiên nhiên thoải mái nhưng rất chi tiết ấy, một cái gì đó khác hẳn với những bức họa trước đó, khi mà những người họa sĩ phải nhận thức được họ muốn vẽ gì trước khi đặt bút xuống. Lối tiếp cận vấn đề một cách tự nhiên của Hokusai, mặc dù có thể chính ông cũng không nhận ra điều đó, đã trở thành nền tảng cơ bản cho sự đa dạng của các mangaka hiện nay: họ không gắn mãi với một công thức nào mà luôn hướng theo những loại hình nhân vật, những cốt truyện khác nhau. Tuy nhiên, cho dù Hokusai đã tạo ra một bước đột phá mới bằng phong cách vẽ tranh này (một trong những phong cách ông sử dụng), những cuốn truyện "manga" thực sự đầu tiên vẫn chưa xuất hiện cho đến tận đầu thế kỷ XX. Bước vào thế kỷ XX, cánh cửa ngoại giao Nhật Bản một lần nữa mở ra thế giới. Một trong số đó, những "dải truyện tranh ngắn"cũng được du nhập, trở thành chất xúc tác làm nên manga, một bộ phận thống trị của thị trường xuất bản Nhật hiện nay. Manga thời kỳ này được gọi là Ponchi-e. Nhật bắt đầu cho xuất bản những tờ tạp chí với nội dung biếm họa với độ dày từ 1-4 trang, đồng thời thuê những họa sĩ nước ngoài để dạy cho học sinh của họ về đường nét, màu sắc, dáng điệu. Trong thời gian chiến tranh, truyện tranh Nhật và tranh biếm họa được sáng tác nhằm phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Chúng có tính hài hước, tính giải trí, cũng như những truyện phương Tây, nhưng đồng thời chúng cũng được sử dụng với mục đích tuyện truyền hoặc châm biếm nhằm phục vụ lợi ích quốc gia, cổ vũ tinh thần binh lính. Tuy nhiên, dưới thất bại nặng nề dưới tay quân Đồng Minh vào cuối chiến tranh thế giới lần II, rất nhiều truyện tranh Nhật phải chịu sự kiểm duyệt nặng nề của phe chiến thắng, và sự phát triển của cái sẽ trở thành "manga" Nhật Bản dường như bị hoãn lại vô thời hạn. May mắn thay, sau khi chiến tranh kết thúc, đã có một người đứng lên vực dậy nền nghệ thuật manga, đem đến cho nền văn hóa Nhật và đến thế giới, một thể loại manga hoàn toàn mới. Con người đó, Osamu Tezuka (với việc áp dụng phong cách vẽ của hoạt hình Disney và kỹ thuật điện ảnh của Đức và Pháp) đã góp phần định hình nên kiểu mẫu manga thực sự đầu tiên, và bắt đầu một nền công nghiệp mà đến giờ vẫn giữ vị trí chiến lược trong nền văn hóa Nhật Bản hiện đại. Vào năm 2007, manga chiếm lĩnh một thị trường toàn cầu nhiều tỷ đôla. == Giải thưởng == Ngành công nghiệp manga Nhật Bản được thừa nhận với một số lượng lớn các giải thưởng, hầu hết được tài trợ bởi các nhà xuất bản, và các giải thưởng này thường bao gồm việc công bố những vị trí chiến thắng trên các tạp chí manga được phát hành bởi các nhà xuất bản. Danh mục các giải thưởng về manga bao gồm bên dưới: Akatsuka Award: giải thưởng dành cho các manga khôi hài. Dengeki Comic Grand Prix: giải thưởng dành cho các one-shot manga. Japan Cartoonists Association Award: giải thưởng dành cho nhiều phạm trù đa dạng. Kodansha Manga Award (nhiều danh mục giải thưởng) Seiun Award: giải thưởng dành cho manga khoa học viễn tưởng tốt nhất của năm. Shogakukan Manga Award (nhiều danh mục giải thưởng) Tezuka Award: giải thưởng dành cho loạt manga sáng tác mới tốt nhất. Tezuka Osamu Cultural Prize (nhiều danh mục giải thưởng) Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã tổ chức trao tặng giải thưởng International Manga Award bắt đầu từ tháng 5/2007. == Các thể loại == Ngoài các thể loại như Anime, Manga gồm các thể loại khác Doujinshi: Truyện tranh được fan chế tác lại dựa theo nguyên tác (original) từ truyện phóng tác do fan hay có thể cả những Mangaka khác với tác giả truyện gốc. Tác giả vẽ Doujinshi thường dựa trên những nhân vật gốc để viết ra những câu chuyện theo sở thích của mình. Full Color là thể loại tất cả trang truyện được tô màu hoàn toàn. Gekiga (kịch họa): Tiểu thuyết bằng hình (graphic novel) One-shot: Những truyện ngắn, thường là 1 chapter. === Các thể loại nhạy cảm === Smut: Những truyện có nội dung liên quan đến tình dục == Manga trên toàn thế giới == Những tác giả như Takahashi Rumiko, đã góp phần truyền bá Manga trên toàn thế giới, thu hút được lượng người hâm mộ đông đảo. Manga được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau như Hàn Quốc, tiếng Pháp, tiếng Ý. Ở Mỹ, manga chỉ là một ngành công nghiệp nhỏ, đặc biệt là khi nó được so sánh với sự du nhập của phim hoạt hình Nhật đã làm ở Mỹ. Manga có số lượng phát hành đứng đầu ở Mỹ là Viz, của nhà xuất bản Shogakukan và nhiều tác phẩm khác nữa của Rumiko Takahashi. Vì người Nhật đọc từ phảI sang trái, manga được vẽ và xuất bản theo cách này ở Nhật. Tuy nhiên khi được dịch sang các thứ tiếng khác, hình ảnh và canh lề được lật ngược lại, vì thế có thể đọc từ trái sang phải. Tuy nhiên, nhiều tác giả không chấp nhận tác phẩm bị sửa đổi theo cách trên và đề nghị vẫn giữ nguyên hình thức đọc từ phải sáng trái trong phiên bản nước ngoài. Chẳng bao lâu, vì nhu cầu của fan và vì quyền lợi của tác giả, nhiều nhà xuất bản bắt đầu đề nghị sự chọn lựa hình thức in từ phải qua trái, bây giờ cách in này đã trở nên phổ biến ở Bắc Mỹ. Hình thức in từ trái qua phải dần dần được loại bỏ. Ở Việt Nam, nhà xuất bản Kim Đồng đã từng thử nghiệm với manga "Ninja loạn thị"nhưng không được hưởng ứng. Đến năm 2008, TVM Comics - một công ty chuyên mua bản quyền và xuất bản manga lại một lần nữa giới thiệu tới bạn đọc trong nước manga với hình thức in từ phải qua trái với bộ manga Yotsuba&!. Khác với lần thử nghiệm thất bại lần trước của nhà xuất bản Kim Đồng, hình thức in này lần này lại được đón nhận sau vài tranh cãi về ảnh hưởng của nó tới đọc giả Việt Nam. Kéo theo việc nhà xuất bản Trẻ và Kim Đồng cùng áp dụng cách in này cho manga. Hiện nay, giới trẻ châu Âu đang nổi lên phong trào đọc manga và có xu hướng lấn át comic truyền thống. Thật khá ngạc nhiên đối với đọc giả phương Tây khi các họa sĩ manga không biết rằng, các nhân vật và câu chuyện của họ đã ăn sâu vào người đọc. Các họa sĩ nước ngoài cũng có xu hướng bắt chước phong cách manga. === Tại Việt Nam === Manga xuất hiện Việt Nam từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 thế kỷ XX bằng nhiều con đường, hầu hết là in ấn và dịch lậu hay xách tay mang về. Còn con đường du nhập chính thức là thông qua sách, báo và tạp chí nhập khẩu, dịch và xuất bản ở Việt Nam với sự đồng ý của tác giả và của nhà xuất bản phía Nhật Bản nhờ vào chính sách đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986). Manga đầu tiên được mua bản quyền tại Việt Nam là Doraemon năm 1996, tiếp theo đó là Thám tử lừng danh Conan năm 2000; cả hai đều được Nhà xuất bản Kim Đồng phát hành hợp pháp tại Việt Nam. Nhưng mãi cho đến năm 2003 khi Việt Nam ký Công ước Bern, vấn đề bản quyền truyện tranh mới bắt đầu được quan tâm. Tính đến năm 2013, Việt Nam có 4 đơn vị xuất bản truyện tranh hợp pháp bao gồm Nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Trẻ, TVM Comics và Vàng Anh Comics; trong đó 3/4 đơn vị có trụ sở đóng tại thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, số lượng truyện tranh lậu tại Việt Nam vẫn chiếm áp đảo vì việc siết chặt khâu cấp giấy phép truyện tranh vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Điển hình cho các nhà xuất bản phát hành truyện lậu là Việt Mỹ, Hồng Đức, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin cùng nhiều đơn vị lớn nhỏ khác, phần lớn có trụ sở ở miền Bắc. Tính đến năm 2013, giữ kỷ lục số lượng bản in mỗi tập lớn nhất cho tựa truyện chưa kết thúc thuộc về Conan với 100.000 bản in mỗi tập. == Chương trình giáo dục == === Giáo dục Đại Học === Trường Đại Học Kyoto Seika tại Nhật Bản đã đưa ra một khóa học có tính cạnh tranh cao trong manga từ năm 2000. Sau đó, một số các trường đại học có uy tín và các trường vocational schools (専門学校: Semmon gakkou) đã chính thức thành lập một chương trình đào tạo. Satō Shūhō, người viết Umizaru và Say Hello to Black Jack, đã tạo nên một số cuộc bút chiến trên Twitter. Sato nói rằng: "Trường học Manga là vô nghĩa bởi vì những ngôi trường đó có tỉ lệ thành công rất thấp. Trong khi đó, tôi có thể hướng dẫn cho những người mới các kỹ năng cần thiết cho công việc trong ba tháng. Vẫn thời điểm đó, các sinh viên những ngôi trường này phải bỏ ra vài triệu Yên Nhật, và bốn năm học tập, nhưng họ là những con người tốt nhất cho không một thứ gì cả", và một nhận định khác "Ví dụ như trường hợp Keiko Takemiya, sau khi là một giáo sư trường đại học Seika University, đã nhận xét trong Hội đồng Chính phủ rằng 'Một người hoàn toàn mới sẽ có thể hiểu được nơi nào là "Tachikiri" (tức là: các trình bày bản thảo) trong khoảng thời gian bốn năm.' Mặt khác, tôi sẽ tưởng tượng ra điều đó: Nó ngốn mất khoảng ba mươi phút để hoàn toàn hiểu những thứ này tại nơi làm việc". === Manga học tập - Dự án khám phá thế giới === Tổ chức phi lợi nhuận Nippon Foundation Nhật Bản tiến hành dự án "This is Also a Learning Manga ~ World Discovery Project" sử dụng 100 bộ manga như những cuốn sách giáo khoa đặc biệt cho người trẻ; đặc biệt trong phạm vi học sinh và sinh viên. Các bộ manga bao gồm nhiều chủ đề đa dạng với nhiều cấp độ đối tượng khác nhau: như văn hóa, cuộc sống, lịch sử, nghề nghiệp, khoa học, nghệ thuật, chiến tranh, thể thao. Dự án được bảo trợ bởi bảy chuyên gia, bao gồm giáo sư Fujimoto Yukari thuộc trường đại học Meiji, giáo sư Nakamura Ichiya thuộc trường đại học Keio, mangaka Satonaka Machiko,... == Doanh thu == Với con số 2,26 tỉ ấn bản mỗi năm (trung bình 17 quyển/người), chiếm trung bình 40% tổng số ấn bản sách báo, tạp chí, Manga đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho thị trường xuất bản ở Nhật Bản. Theo số liệu thống kê năm 2006 của The Research Institute for Publications, doanh thu từ ngành công nghiệp xuất bản Manga là 481 tỉ yên (Trung bình mỗi người Nhật bỏ ra 3.777 yên/năm - tương đương 30USD - để mua Manga). == Hình thức phân bố == Một manga có thể được thực hiện trong rất nhiều năm, vì vậy dẫn đến sự xuất hiện của các loại tạp chí chuyên đề manga, dùng để đăng các chương mới nhất của các tác phẩm. Các chương này sau đó được tập hợp lại và in thành cuốn gọi là tankobon. Tạp chí manga thường có nhiều kỳ, mỗi kỳ xuất bản từ 30 đến 40 trang. Những tạp chí manga hoặc những bộ tạp chí hợp tuyển này, khi đã nổi tiếng có thể xuất bản từ 200 đến 850 trang dài. Tạp chí manga cũng bao gồm những truyện ngắn và nhiều manga chỉ có 4 khung tranh (tương đương với cột tranh). Các seri manga có thể bán trong nhiều năm, nếu chúng thành công trong việc thu hút độc giả. Những người đam mê Manga tại Nhật Bản thường đến Mandarake, khu vực tập trung nhiều cửa hàng bán đủ các loại truyện tranh và các sản phẩm Manga đầy trí tưởng tượng. Ngoài hàng ngàn tạp chí, ở đây còn bán cả búp bê, trang phục, đồ cổ.Tất cả đều mô phỏng theo các nhân vật truyện tranh được sáng tạo ở Nhật trong 50 năm qua. Các hình thức phân bố manga phổ biến khác là qua chợ internet bằng hình thức scanlation. Trong hình thức này, các tay nghiệp dư scan manga khi còn là tiếng Nhật và sau đó tiến hành dịch chúng, cung cấp lượng lớn manga trên mạng miễn phí cho đến khi các manga này thuộc sự uỷ quyền của nhà phân phối nào đó. Nếu scan trái phép, sẽ bị phạt rất nặng. Một số họa sĩ manga xuất bản thêm những phần phụ, đôi khi không liên quan đến cốt truyện trước, người ta gọi đó là omake (phần thêm). Họ cũng có thể xuất bản tuyển tập các bản phác thảo của họ, gọi là oekaki. Những fan hâm mộ sáng tác nên manga theo đường lối không chính thức gọi là doujinshi. Một vài doujinshi tiếp tục các câu truyện hoặc viết một câu chuyện mới trong đó sử dụng các nhân vật mà họ yêu thích hoặc hâm mộ do các mangaka xây dựng nên, hình thức này cũng tương tự như fan fiction. Cũng có doujinshi khác được sản xuất bởi các nhà xuất bản không chuyên ngoài thị trường == Đánh giá. == Mặc dù hình thức khá giống truyện tranh ở Mỹ, nhưng manga nắm một vị trí khá quan trọng trong văn hoá Nhật hơn là vai trò của truyện tranh trong văn hoá Mỹ. Manga được đánh giá cao cả về phương diện văn hoá lẫn nghệ thuật. Cũng tương ứng với truyện tranh Mỹ, manga cũng bị phê phán về tính bạo lực và sex; tuy nhiên, không có yêu cầu thẩm quyền hay luật lệ nào cố gắng giới hạn những gì được vẽ trong manga, ngoại trừ những khuôn khổ đạo đức mờ nhạt được áp đặt trên trang giấy, phát biểu rằng "những văn hoá phẩm thiếu đứng đắn ấy không nên được phổ biến". Chính sự tự do này đã cho phép các họa sĩ manga mặc sức sáng tác cho đủ các nhóm tuổi với vô số các đề tài, thể loại. Nó có quy mô lớn đến nỗi làm lu mờ cả thị trường truyện tranh phương Tây. Có nhiều người trên thế giới đã học tiếng Nhật để có thể đọc được manga. Tại Nhật Bản, các thể loại manga khác nhau được chia ra theo đối tượng mà chúng sẽ giúp phát triển tâm lý tối đa như shōnen manga dành cho thanh niên chủ yếu là robot, du hành không gian, khoa học giả tưởng, khoa học kỹ thuật... Sự hoàn thiện cá nhân, kỷ luật thép, hy sinh vì sứ mệnh và vinh dự phục vụ xã hội, cộng đồng, gia đình và bạn bè. Còn shojo dành cho thiếu nữ thì tập trung vào cuộc sống nội tâm của nhân vật nữ chính với các hình ảnh vừa nhẹ nhàng vừa phức tạp và thường bỏ qua ranh giới của các khuôn hình để tạo ra một mạch thời gian liên tục mà không hề có sự tự sự. Thể loại Kodomo dành cho thiếu nhi mang tính giáo dục rất cao nói về đạo đức, lẽ phải của cuộc sống, cách cư xử như những người tốt và chu đáo... Về vấn đề bạo lực trong truyện tranh, có những ý kiến phản cho rằng những nhận định tiêu cực về truyện tranh bắt nguồn tự sự thiếu hiểu biết về loại hình văn hóa này. Những người phê phán truyện tranh đã không để ý đến sự phân cấp về lứa tuổi trong thể loại truyện tranh, về xu hướng hình thành phát triển của các truyện tranh dành cho người lớn tuổi, và về các truyện tranh miêu tả sự chuyển biến tâm lý của thanh thiếu niên, một lứa tuổi nằm giữa lằn ranh "trẻ con" và "người lớn". == chú thích == == Xem thêm == Anime == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Manga tại Wikimedia Commons
23 tháng 8.txt
Ngày 23 tháng 8 là ngày thứ 235 (236 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 130 ngày trong năm. == Sự kiện == 476 – Sau khi phế truất hoàng đế La Mã Romulus Augustus, thủ lĩnh người Germain Odoacer được binh lính tôn là rex Italiae (Vua Ý). 634 – Omar bin Khattab kế vị khalip của Abu Bakar, ông là một trong các khalip hùng mạnh và có ảnh hưởng nhất. 1765 – Chiến tranh Xiêm-Miến bắt đầu khi hai vạn tinh binh Konbaung xuôi dòng sông Wang xâm chiếm Ayutthaya. 1866 – Chiến tranh Áo-Phổ kết thúc bằng Hòa ước Praha, theo đó Bang liên Đức tan rã, Áo bị mất vị thế trong các quốc gia Đức. 1939 – Liên Xô và Đức Quốc xã ký kết Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau, trong đó bao gồm việc phân chia ảnh hưởng tại Đông Âu. 1944 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quốc vương Romania Mihai I giải tán chính phủ thân Đức Quốc xã, Romania chuyển từ phe Trục sang phe Đồng Minh, bắt đầu cuộc khởi nghĩa tháng 8. 1958 – Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bắt đầu pháo kích Kim Môn, khởi đầu Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần 2. 1989 – Khoảng hai triệu người cùng nắm tay tạo thành một chuỗi qua Latvia, Litva và Estonia, biểu thị mong muốn độc lập khỏi Liên Xô. == Sinh == == Mất == 1363 - Trần Hữu Lượng, Hoàng đế Đại Hán bị quân của Chu Nguyên Chương (sau này là Minh Thái Tổ) giết chết ở hồ Bà Dương. 1907 - Đào Tấn, nhà soạn tuồng, ông tổ hát bội Việt Nam (s. 1845). 234 - Gia Cát Lượng, nhà quân sự cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc (s. 181) qua đời vì bệnh tại Gò Ngũ Trượng == Những ngày lễ và kỷ niệm == Ngày Âu Châu tưởng niệm các nạn nhân của chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Quốc xã. Ngày Quốc kỳ tại Ucraina (từ năm 2004). Kỷ niệm Khởi nghĩa tháng 8 năm 1944 tại Romania. == Tham khảo ==
karaoke.txt
Karaoke là một hình thức giải trí bằng cách đệm nhạc theo lời bài hát trên màn hình. Từ karaoke có gốc từ 空 kara (không, cũng như trong môn võ karate - từ kara có nghĩa là không) và oke オーケストラ (ōkesutora có nghĩa là "dàn nhạc", có gốc từ tiếng Anh orchestra) trong tiếng Nhật. Thông thường một bài hát được ghi âm bao gồm người hát và nhạc đệm. Thay vì bài hát có cả nhạc đệm và xướng âm, các video karaoke có nhạc của bài hát. Phần xướng âm sẽ được người tham gia hát trực tiếp (và không phải là chuyên nghiệp), người sẽ cầm microphone hát theo những dòng chữ lời bài hát hiện trên màn hình trên nền nhạc giai điệu của bài hát. == Lịch sử == Nguồn gốc của karaoke ở Nhật Bản không thể tách rời khỏi các quán bar chơi piano và guitar truyền thống vốn là địa điểm giải trí chủ yếu của các doanh nhân Nhật từ nhiều năm về trước. Karaoke do ông Inoue Daisuke người Nhật phát minh vào năm 1971, khi ông 31 tuổi. Lúc ấy Inoue là một người chơi keyboard trong một câu lạc bộ. Karaoke lần đầu tiên được biết đến tại một quầy bar ở thành phố Kobe của Nhật Bản. Tại Nhật Bản thời đó, hình thức giải trí âm nhạc đã khá phổ biến trong những buổi tiệc. Theo như một câu chuyện được kể lại rằng, tại một quán bar, trong một buổi biểu diễn, khi cây ghi ta không đến chơi được vì bị ốm, người chủ cửa hàng đã chuẩn bị những bǎng nhạc thu thanh sẵn và ca sĩ lại hát theo bǎng. Hình thức này đã được nhiều khách hưởng ứng và thậm chí họ cũng muốn thử hát. Nhận thấy đó là một thị trường đầy tiềm năng, chủ cửa hàng đã cho sản xuất những máy karaoke được đặt tại các cửa hàng, các khách sạn, và được ghi sẵn nhiều bài hát. Karaoke sẽ tiếp tục có những bước tiến xa hơn trong cả hai phát triển công nghệ và phổ biến. Ngày nay karaoke đã phổ biến hầu như khắp thế giới. Năm 2004, Inoue được trao giải Ig Nobel về hòa bình do phát minh của mình. Người phát minh karaoke không đăng ký bản quyền. == Xu hướng mới đến từ Tây Nhật Bản == Có một câu nói ở Nhật Bản rằng "xu hướng mới đến từ phương Tây của Nhật Bản." Siêu thị và phòng tắm hơi đầu tiên của Nhật Bản đã được thành lập tại khu vực Kansai, và Kansai đã liên tục tạo ra các doanh nghiệp độc đáo và các sản phẩm như một mì ăn liền hoặc cửa bán vé tự động. Đặc biệt trong số các thành phố trong khu vực Kansai, Kobe có bầu không khí đô thị đầu tiên. Có một câu nói rằng "thời trang đến từ Kobe." Người ta nói rằng thời trang của phụ nữ trẻ được công nhận đầu tiên tại Kobe và trở nên phổ biến ở Tokyo sau đó. Kể từ cảng Kobe được mở cửa cho thương mại quốc tế trong năm 1868, vào đêm trước của Minh Trị Duy tân, Kobe đã dẫn đường hướng đến giao lưu quốc tế, và thu hút nhiều người nước ngoài đến đây sinh sống và làm việc. Khu dân cư kiểu phương Tây, trong đó người nước ngoài sử dụng để sống là nằm ở Kitano-cho, nơi một lễ hội nhạc jazz được tổ chức hàng năm, cho thấy Kobe là một thánh địa cho người hâm mộ nhạc jazz. Ngoài ra, nhiều người nước ngoài tham gia "Liên hoan Kobe", được biết đến với cuộc diễu hành của mình sinh động với nhịp điệu samba và khiêu vũ. như vậy khuynh hướng âm nhạc có thể nằm đằng sau sự ra đời của karaoke. == Công nghệ đổi mới sáng tạo và dàn karaoke == Mặc dù karaoke là lần đầu tiên một giải trí chủ yếu cho những người kinh doanh, nó đã phát triển được một giải trí trên toàn quốc, nhờ sự phát triển công nghệ và kinh doanh mới được gọi là "dàn karaoke" Ban đầu trong hình thức của băng đệm một bài hát nổi tiếng, karaoke tiến hóa để các đĩa nhỏ gọn, có thể xác định vị trí bắt đầu của một bài hát ngay lập tức. Sự phát triển này cũng có thể tăng cường cảnh video để tạo ra một bầu không khí thích hợp cho mỗi bài hát được thực hiện, hiển thị trên một màn hình TV cùng với các từ. Sử dụng đổi mới công nghệ như đĩa video, đĩa laser, và CD-G, karaoke đã phát triển được một ngành công nghiệp giải trí lớn. Bộ gia đình sử dụng karaoke cũng đã trở nên phổ biến, làm cho vui chơi giải trí trước đây là hạn chế đến tối các điểm có thể có trong nhà. Tuy nhiên, có một trở ngại cho mục tiêu này của doanh nghiệp: vì hầu hết các ngôi nhà Nhật Bản đứng gần nhau và vẫn đang được xây dựng bằng gỗ, cách âm kém, nó sẽ rất khó chịu của những người hàng xóm hát vào micro vào ban đêm. Nắm bắt khi cơ hội được tạo ra bởi vấn đề này, các nhà doanh nghiệp tạo ra các dàn karaoke, một cơ sở bên đường có chứa đóng cửa phòng cách nhiệt cho ca hát. Chúng được quảng cáo như là một nơi mà bạn có thể hát với nội dung trái tim của bạn. Dàn karaoke đầu tiên xuất hiện vào năm 1984 tại một cánh đồng lúa ở vùng nông thôn của tỉnh Okayama, phía Tây của khu vực Kansai (nay là Kinki). Nó được xây dựng từ một chiếc xe vận tải hàng hóa chuyển đổi. Kể từ đó, các dàn karaoke được xây dựng trên cơ sở trống khắp Nhật Bản, và trong các khu vực đô thị, phòng karaoke, trong đó bao gồm các khoang được thực hiện bởi phòng phân vùng và cách âm trong một tòa nhà, đã được giới thiệu và thiết lập một. Như các cơ sở này đã được thành lập chủ yếu để cung cấp chỗ để vui chơi ca hát, họ đã trở thành phổ biến rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực dân số - lao động nữ văn phòng, bà nội trợ, sinh viên đại học, và thậm chí cả học sinh trung học. Từ dàn karaoke được cơ sở đóng cửa, họ đã trở thành một đối tượng của công chúng quan tâm như nơi trú ẩn tiềm năng cho những hành động xấu trong giới trẻ. Mặt khác, tuy nhiên, vì không phải một vài gia đình thích hát với nhau trong dàn karaoke. Dàn karaoke cũng đóng một vai trò như là một nơi để giao tiếp trong gia đình qua việc ca hát. Điều này là rất quan trọng tại một thời điểm khi khoảng cách thế hệ và sự tan vỡ gia đình là một mối quan tâm trên toàn quốc. Làm thế nào, sự bùng nổ karaoke đã lan rộng ra nước ngoài, được hưởng không chỉ ở Hàn Quốc và Trung Quốc mà còn ở khu vực Đông Nam Á, Mỹ và châu Âu. Kể từ khi hát karaoke sẽ hiển thị những từ và những cảnh của một bài hát trên một màn hình, nó cũng đã được thu hút sự chú ý của các nước đang cố gắng để cải thiện tỷ lệ biết chữ của họ, như là một công cụ giáo dục tốt. == Kỷ lục Karaoke == Phần Lan phá kỷ lục thế giới về số người cùng hát karaoke 1 lần với hơn 80 ngàn người cùng hát "Hard Rock Hallelujah" vào ngày 26 tháng 5 năm 2006 tại Helsinki sau khi ban nhạc Lordi thắng giải Eurovision Song Contest. Hungary đã giữ kỷ lục về thời gian hát karaoke lâu nhất với thời gian 1011 giờ 1 phút, trong khoảng thời gian từ 20 tháng 7 năm 2011 đến 31 tháng 8 năm 2011. Mỗi bài hát có ít nhất 3 phút và ngăn cách giữa 2 bài không quá 30 giây. Không có bài nào lặp lại trong 2 giờ. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Người phát minh ra Karaoke
diệt chủng.txt
Diệt chủng được định nghĩa là "sự phá hủy có chủ ý và có hệ thống, toàn bộ hoặc một phần, của một dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, hay quốc gia", mặc dù những gì tạo đủ của một "phần" để hội đủ điều kiện như nạn diệt chủng đã là chủ đề nhiều cuộc tranh luận của các học giả pháp lý. Trong khi một định nghĩa chính xác thay đổi giữa các học giả diệt chủng, một định nghĩa pháp lý được quy định trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Ngăn ngừa và Trừng phạt Tội ác Diệt chủng (CPPCG) 1948. Điều 2 của quy ước này định nghĩa diệt chủng là "trong các hành vi sau đây đã cam kết với ý định tiêu diệt, toàn bộ hoặc một phần, một quốc gia, chỉ về nhân chủng, nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, chẳng hạn như: giết chết thành viên của nhóm, gây ra cơ thể nghiêm trọng hoặc tâm thần gây tổn hại cho các thành viên của nhóm; cố ý gây thương trên nhóm các điều kiện của cuộc sống, tính toán để mang lại phá hủy vật lý của nó trong toàn bộ hoặc một phần, áp đặt các biện pháp nhằm ngăn chặn sinh trong nhóm, [và] buộc chuyển giao trẻ em từ nhóm này sang nhóm khác". == Những cuộc diệt chủng đã xác định == Những cuộc diệt chủng nổi tiếng hiện đã xác định gồm có: Diệt chủng người da đỏ: Theo một ước tính, khoảng 95 triệu tới 114 triệu người da đỏ bản xứ đã bị tiêu diệt trong hơn 300 năm lãnh thổ Bắc Mỹ bị người da trắng xâm chiếm để lập nên nước Mỹ Diệt chủng Armenia 1915 - 1917, khoảng 1 triệu người Armenia bị quân đội của Đế quốc Ottoman giết chết. Holocaust, khoảng 4 - 6 triệu người Do Thái bị Đức Quốc xã giết hại Diệt chủng Bangladesh năm 1971 Diệt chủng Campuchia năm 1975-1980 Diệt chủng Bosnia Diệt chủng người Kurd Diệt chủng Rwanda == Những cuộc tàn sát còn tranh cãi == Thảm sát người Ba Lan ở Volhynia và Đông Galicia, xảy ra hồi Chiến tranh thế giới thứ 2, do lực lượng dân tộc chủ nghĩa người Ukraina thực hiện . == Tham khảo == == Đọc thêm == == Liên kết ngoài == Ethnocide Ethnocide by Barbara Lukunka in the encyclopedia of mass violence http://www.channel4.com/news/sri-lanka-execution-video-new-war-crimes-claims Bản mẫu:International Criminal Law Bản mẫu:Racism topics
người bắc kinh.txt
Người Bắc Kinh, trước đây gọi là người vượn Bắc Kinh (danh pháp hai phần: Homo erectus pekinensis, đồng nghĩa: Sinanthropus pekinensis), là một phân loài người đứng thẳng (Homo erectus). Các dấu vết khảo cổ học của phân loài này được tìm thấy lần đầu vào giai đoạn năm 1923-27 trong một cuộc khai quật tại Chu Khẩu Điếm, về phía tây nam Bắc Kinh, Trung Quốc. Năm 2009 các phát hiện này được xác định có niên đại khoảng 750.000 năm trước và xác định niên đại mới bằng 26Al/10Be cho rằng chúng có niên đại khoảng 680.000–780.000 năm. Trong giai đoạn từ năm 1929 tới năm 1937, 15 hộp sọ không đầy đủ, 11 hàm dưới, nhiều răng, một vài bộ xương và một lượng lớn công cụ đá đã được phát hiện tại hang Hạ ở Vị trí 1 của Di chỉ người Bắc Kinh tại Chu Khẩu Điếm, gần Bắc Kinh, Trung Quốc. Độ tuổi của chúng được ước tính là khoảng từ 500.000 tới 300.000 năm. Một lượng lớn các hóa thạch của người hiện đại cũng được phát hiện tại hang Thượng cùng di chỉ này vào năm 1933. Các hóa thạch hoàn chỉnh nhất, tất cả đều là nắp hộp sọ, bao gồm: Sọ II, phát hiện tại Điểm D năm 1929 nhưng chỉ được công nhận năm 1930, là nắp hộp sọ của người trưởng thành hoặc thanh niên, với kích thước bộ não khoảng 1.030 cm3. Sọ II Sọ III, phát hiện tại Điểm E năm 1929 là nắp hộp sọ của một thanh niên hay trẻ vị thành niên với kích thước bộ não khoảng 915 cm3. Sọ III Các sọ X, XI và XII (đôi khi gọi là LI, LII và LIII) được phát hiện tại Điểm L năm 1936. Chúng được cho là thuộc về một người đàn ông trưởng thành,một người đàn bà trưởng thành và một người trẻ, với kích thước bộ não tương ứng khoảng 1.225 cm3, 1.015 cm3 và 1.030 cm3Sọ X Sọ XI Sọ XII Sọ V: Hai mảnh vỡ sọ được phát hiện năm 1966 khớp với bản đúc của hai mảnh vỡ khác được tìm thấy năm 1934 và 1936 để tạo thành phần lớn của một nắp hộp sọ với kích thước bộ não 1.140 cm3. Các mảnh vỡ này được tìm thấy ở độ sâu nhỏ hơn, và dường như là hiện đại hơn so với các nắp hộp sọ khácSọ V. Phần lớn nghiên cứu về các hóa thạch này được Davidson Black thực hiện cho tới khi ông mất năm 1934. Pierre Teilhard de Chardin tiếp tục công việc cho đến khi Franz Weidenreich thay thế, và ông này tiếp tục nghiên cứu các hóa thạch cho đến khi rời Trung Quốc năm 1941. Các hóa thạch gốc đã biến mất năm 1941, nhưng các bản đúc chất lượng tốt và các mô tả thì vẫn còn. == Phát hiện và nhận dạng == Nhà địa chất người Thụy Điển là Johan Gunnar Andersson và nhà cổ sinh vật học người Mỹ là Walter W. Granger đã tới Chu Khẩu Điếm, Trung Quốc để nghiên cứu các hóa thạch tiền sử vào năm 1921. Hoj đã được các công nhân mỏ đá đưa tới Long Cốt Sơn, nơi Andersson đã nhận ra các trầm tích thạch anh không phải là bản địa của khu vực này. Ngay lập tức sau khi nhận thức được tầm quan trọng của phát hiện này ông đã quay sang các đồng nghiệp và thông báo "Ở đây có người nguyên thủy; bây giờ tất cả mọi điều chúng ta cần làm là tìm kiếm ông ấy!". Công cuộc khai quật đã được trợ lý của Andersson là nhà cổ sinh vật học người Áo Otto Zdansky tiến hành ngay lập tức, và ông đã tìm thấy cái dường như là răng hàm người hóa thạch. Ông trở lại di chỉ này vào năm 1923, và các vật liệu đã khai quật trong 2 cuộc đào bới kế tiếp nhau đã được gửi tới Đại học Uppsala ở Thụy Điển để phân tích. Năm 1926, Andersson thông báo về việc tìm thấy 2 răng hàm người trong các vật liệu này, và Zdansky đã công bố các phát hiện của mình. Nhà giải phẫu học người Canada là Davidson Black thuộc Viện Y học Hiệp hòa Bắc Kinh (北京协和医学院), được kích thích bởi phát hiện của Andersson và Zdansky, nhận được tài trợ của quỹ Rockefeller và khởi động lại các công cuộc khai quật tại di chỉ vào năm 1927 cùng các nhà khoa học phương Tây và Trung Quốc. Nhà cổ sinh vật học người Thụy Điển là Anders Birger Bohlin đã đào được một chiếc răng rơi ra, và Black đặt nó trong một trái tim bằng vàng trên sợi dây đeo đồng hồ của ông Black công bố phân tích của ông trong tạp chí Nature, nhận dạng phát hiện của mình là thuộc về một loài và một chi mới mà ông đặt tên là Sinanthropus pekinensis, nhưng nhiều nhà khoa học đương thời giữ thái độ hoài nghi về nhận định như vậy trên cơ sở chỉ của một chiếc răng, và quỹ Rockefeller đã yêu cầu phải có thêm nhiều mẫu vật nữa trước khi quỹ này có thể đồng ý cấp thêm tiền tài trợ. Một quai hàm dưới, vài chiếc răng và các bộ phận của hộp sọ được khai quật năm 1928. Black đã trình các phát hiện này cho quỹ và được tài trợ $80.000 mà ông đã dùng vào việc thành lập Phòng thí nghiệm Nghiên cứu đại Tân Sinh (新生代地质与环境研究室). Các khai quật tại di chỉ dưới sự giám sát của các nhà khảo cổ học Trung Quốc Dương Chung Kiện (杨钟健, Yang Zhongjian), Bùi Văn Trung (裴文中, Pei Wenzhong) và Giả Lan Pha (贾兰坡, Jia Lanpo) đã phát hiện 200 hóa thạch người (bao gồm 6 nắp hộp sọ gần như hoàn chỉnh) từ trên 40 mẫu vật riêng lẻ. Các cuộc khai quật này kết thúc vào năm 1937 khi chiến tranh Trung-Nhật nổ ra. Công cuộc khai quật tại Chu Khẩu Điếm được tiến hành trở lại sau khi chiến tranh kết thúc. Di chỉ Người Bắc Kinh tại Chu Khẩu Điếm đã được UNESCO liệt kê là Di sản thế giới năm 1987. Các công cuộc khai quật mới lại được tiến hành tại di chỉ này vào tháng 6 năm 2009. == Các kết luận cổ sinh vật học == Các mẫu vật đầu tiên của Homo erectus đã được Eugene Dubois tìm thấy trên đảo Java vào năm 1891, nhưng bị nhiều người gạt bỏ do chỉ coi đó là di cốt của vượn lớn bị biến dạng. Sự phát hiện với chất lượng tốt các di cốt tại Chu Khẩu Điếm đã kết thúc nghi ngờ này và người Java, nguyên được đặt tên là Pithecanthropus erectus, đã được chuyển sang chi Homo cùng với người Bắc Kinh. Các phát hiện lân cận của các di cốt động vật và chứng cứ về việc sử dụng lửa và công cụ, cũng như việc chế tạo các công cụ, đã được dùng để hỗ trợ cho H. erectus như là những thợ thủ công đầu tiên. Phân tích các di cốt của người Bắc Kinh đã dẫn tới tuyên bố cho rằng các hóa thạch ở Chu Khẩu Điếm và Java là các ví dụ của cùng một giai đoạn rộng trong tiến hóa của loài người. Diễn giải này bị Lewis Binford thách thức năm 1985, khi ông cho rằng người Bắc Kinh chỉ là người ăn xác động vật chết chứ không phải thợ săn. == Quan hệ với người hiện đại == Franz Weidenreich cho rằng người Bắc Kinh là tổ tiên của người hiện đại và cụ thể là của người Hán, như nhìn nhận trong học thuyết nguồn gốc đa vùng của người hiện đại gốc của ông năm 1946. Các tài liệu Trung Quốc về tiến hóa loài người trong thập niên 1950 nói chung coi chứng cứ là không đủ để xác định xem người Bắc Kinh có phải là tổ tiên của người hiện đại hay không. Một quan điểm cho rằng người Bắc Kinh theo một cách nào đó trông có vẻ giống như người châu Âu hiện đại hơn là với người châu Á hiện đại, nhưng theo Barry Sautman thì cuộc tranh cãi về nguồn gốc này đôi khi bị phức tạp hóa do các vấn đề của chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc. Vào năm 1952, người Bắc Kinh được một số tác giả cho là tổ tiên trực tiếp của người hiện đại. Một số nhà cổ sinh vật học đã lưu ý về tính liên tục dễ nhận thấy trong các di cốt này. == Tình trạng hiện tại == Các hóa thạch của người Bắc Kinh từng được lưu giữ tại Viện Y học Hiệp hòa Bắc Kinh. Những người tận mắt chứng kiến nói rằng vào năm 1941, khi Bắc Kinh đang dưới sự chiếm đóng của người Nhật, ngay trước khi nổ ra chiến sự giữa Nhật Bản và lực lượng Đồng minh trong Thế chiến 2 thì các hóa thạch đã được đóng vào 2 thùng to và được đưa lên xe quân sự của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ khởi hành đến cảng Tần Hoàng Đảo ở miền bắc Trung Quốc, gần với căn cứ hải quân tại trại Holcomb. Từ đây chúng được chuyển bằng tàu thủy tới Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ ở New York, nhưng các hóa thạch đã biến mất trên đường đi. Nhiều cố gắng các loại đã được thực hiện để xác định xem các hóa thạch này ở đâu, nhưng đều không thu được kết quả gì. Năm 1972 một nhà tài chính người Mỹ là Christopher Janus đã treo thưởng $5.000 cho các hộp sọ bị thất lạc này; một phụ nữ đã liên lạc với ông và đề nghị số tiền $500.000,nhưng sau đó người naydf cũng mất tăm. Tháng 7 năm 2005, trùng với lễ kỷ niệm 60 năm ngày kết thúc Thế chiến 2, chính quyền Trung Quốc đã thành lập một ủy ban để tìm kiếm những chiếc xương này. Các thuyết về số phận của những chiếc xương này như từ cho rằng chúng từng ở trên boong tàu Nhật Bản Awa Maru hay tàu Hoa Kỳ nhưng đã bị chìm, cho tới cho rằng chúng đã bị nghiền nhỏ để dùng trong y học truyền thống Trung Hoa. Tuy nhiên, 4 chiếc răng vẫn còn thuộc sở hữu của Bảo tàng Cổ sinh vật học Đại học Uppsala . == Thư viện ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == == Xem thêm == Jake Hooker - The Search for the Peking Man (tạp chí Archaeology, tháng Ba/Tư năm 2006) Danh sách các hóa thạch tiến hóa của con người Tiến trình tiến hóa loài người
salsa.txt
Salsa là sự kết hợp của những điệu nhảy bắt nguồn từ khu vực Caribbean (đặc biệt là Cuba và Puerto Rico), Latin và Bắc Mỹ. Điệu nhảy này là sự pha trộn của điệu Mambo, Danzón, Guaguancó, Cuban Son, và những điệu nhảy đặc trưng khác của Cuba. Salsa được nhảy với nhạc Salsa. Có thể dễ dàng nhận thấy ảnh hưởng rất rõ nét của Châu Phi trong cả điệu nhảy và âm nhạc Salsa. Salsa thường được nhảy đôi; tuy nhiên, điệu nhảy này cũng có những bước nhảy solo và các bài nhảy của một nhóm nhiều đôi và khi đó giữa các đôi sẽ có sự trao đổi bạn nhảy mà thuật ngữ của Sal sa gọi là (Rueda de Casino). Sự ngẫu hứng và các bước nhảy cởi mở là những yếu tố quan trọng hàng đầu của Salsa những đồng thời Salsa cũng là một hình thức khiêu vũ trình diễn. Tên gọi "Salsa" vốn có nghĩa là nước sốt trong tiếng Tây Ban Nha và được hiểu là nước sốt cay trong tiếng Tây Ban Nha ở Mỹ. Điệu nhảy này đam mê và cuốn hút hơn tiền thân của nó là điệu Son của Cuba. Bản thân từ salsa cũng được xem như mà một sự pha trộn của nhiều thứ gia vị tuy nhiên trong hầu hết các cách lý giải về nguồn gốc của tên gọi Salsa cho điệu nhảy lại không đề cập đến ý nghĩa này. == Nhịp và các bước nhảy == Điệu Salsa dựa trên một nhịp điệu gốc bao gồm 2 bước nhảy trong đó mỗi điệu có 4 nhịp nhỏ. Bước cơ bản thì có chỉ dùng 3 nhịp trong mỗi bước. Bước nhảy này có thể theo nhịp nhanh-nhanh-chậm, trong đó, 2 nhịp dùng để chuyển trọng tâm cơ thể; hoặc, nhanh-nhanh-nhanh cho phép người nhảy dậm nhẹ hay thêm thắt vào những ngẫu hứng của riêng mình trong nhịp bỏ trống. Cũng có những tranh cãi cho rằng có rất nhiều đặc điểmtrong Salsa, 2 bước nhảy nên được xem là một và theo đó thì nhịp nhảy sẽ được đếm từ 1 đến 8 kéo dài hai nhịp nhạc. Thông thường, nhạc để nhảy Salsa là một phức hợp của những giai điệu từ bộ gõ châu Phi dựa trên Son clave hay Rumba clave. Âm nhạc thích hợp để nhảy Salsa cũng rất phong phú: có thể là loại nhạc chậm khoảng 70 nhịp/phút hay loại nhạc nhanh khoảng 140 nhịp/phút. Thông thường thì nhạc Salsa sẽ ở vào khoảng 80-120 nhịp/phút. == Không gian nhảy == Salsa là một hình thức spot dance, có nghĩa là người nhảy không cần phải đi hết sàn nhảy mà thường nhảy xung quanh một khu vực cố định trên sàn, xoay quanh nhau và đổi chỗ cho nhau. Di chuyển quanh sàn cũng không bị cấm tuy nhiên hình thức này thường được dùng trong biểu diễn hơn. Trong một buổi nhảy salsa bình thường, nếu người nhảy chiếm quá nhiều không gian trên sàn nhảy bằng cách di chuyển quá rộng cũng không phải là một điều tốt. == Lịch sử == Lịch sử của điệu nhảy Salsa gắn liền với những tranh cãi và đồn đoán. Mặc dù vẫn có một số ít người không đồng tình rằng âm nhạc và các bước nhảy của Salsa bắt nguồn chủ yếu từ điệu Son của Cuba, phần lớn đều nhất trí cho rằng điệu Salsa mà chúng ta biết ngày nay là một biến thể của những điệu nhảy xưa. Cộng đồng Latin ở New York đã từng có một dạng khiêu vũ và âm nhạc rất sôi động trong thập niên 50 nhưng lại không mấy thành công với dòng chính là 'Anglo'. Và trong thập niên 70, khi cụm từ "Salsa" được chấp nhận đã rút ngắn khoảng cách về ngôn ngữ và văn hoá, dỡ bỏ những rào cản đối với sự công nhận và phổ biến của âm nhạc cũng như khiêu vũ xuất phát từ Mỹ Latin. Những cách tân trong điệu nhảy Mambo vào những năm 1950 đã dần hình thành nên cái gọi là salsa ngày hôm nay. Người ta vẫn bàn cãi xem là điệu Salsa bắt nguồn từ Cuba hay Puerto Rico. Những ảnh hưởng của Cuba đã bị hạn chế từ sau cuộc Cách mạng của Fidel Castro dẫn đến sự cấm vận về thương mại giữa hai nước. Cộng đồng Latin ở New York chủ yếu là người Puerto-Rico. Trong khi đó, Salsa lại là một trong những điệu nhảy chính của cả hai quốc gia và được phổ biến trên toàn thế giới. === Nguồn gốc của những bước nhảy Salsa === Những bước nhảy Salsa hiện nay bắt nguồn từ điệu son nhưng chịu ảnh hưởng của nhiều điệu nhảy Cuba khác như là Mambo, Cha cha cha, Guaracha, Changuí, Palo Monte, Rumba, Abakuá, Comparsa và thậm chí cả Mozambique. Những bước nhảy đơn (solo) được gọi là "Shines" vốn là một thuật ngữ bắt nguồn từ nhảy clacket. Salsa cũng tích hợp trong nó điệu swings. Có thể nói salsa là một điệu nhảy vô cùng ngẫu hứng cho phép vận dụng bất cứ điệu nhảy nào mà người nhảy muốn. Salsa hiện đại còn hàm chứ những yếu tố của Jazz, funk reggae, hip-hop và samba. == Nền tảng của Salsa == === Bước cơ bản === Bước cơ bản phổ biến nhất trong tất cả các biến thể salsa khác nhau là bước nhanh-nhanh-chậm 2 lần trong 2 bước nhảy 4 nhịp (hay 1 bước nhảy 8 nhịp). Bước nhanh sẽ nằm ở nhịp 1 và nhịp 2 và bước chậm thật ra là một bước nhanh ở nhịp 3 theo sau là một khoảng nghỉ hay bước dậm ở nhịp 4. Người nhảy sẽ bước như sau: trái-phải-trái-nghỉ/dậm rồi phải-trái-phải-nghỉ/dậm. Những ngoại lệ đáng chú ý là kiểu nhảy Mambo, Power On2 và Colombia sẽ bắt đầu chuỗi các bước nhảy ở nhịp 2; và kiểu Cuba là kiểu nhảy có thể bắt đầu ở bất cứ nhịp đếm nào. New York Mambo là kiểu nhảy rất đặc trưng vì nó bắt đầu ở nhịp 1 và nghỉ ở nhịp 2 có nghĩ là thay vì người nhảy bước chân trái về phía trước ở nhịp 1, dậm chân trái tại chỗ ở nhịp 2 và sau đó bước chân phải về lại vị trí ban đầu, người nhảy sẽ dậm chân trái ở nhịp 1, bước chân phải về sau rồi chuyển trọng tâm về chân trái. === Rock step/break step === Rock step là một bước rất quan trọng trong tất cả các kiểu nhảy Salsa. Bước này có 2 chức năng: thứ nhất, break step sẽ xuất hiện ở cùng một nhịp trong suốt các bước nhảy cho phép người nhảy tạo được sự liên kết và tìm được điểm tương đồng với nhau để có được sự hoà hợp về nhịp cũng như là các bước nhảy; thứ hai, nhờ có bước này mà người nhảy có thể giữ được lực cánh tay và tạo điều kiện để chuyển sang các bước nhảy khác. Những kiểu nhảy Salsa khác nhau được phân biệt căn cứ trên việc break step được thực hiện ở nhịp nào. == Bước cơ bản nhịp 1 (On 1) == Ở nhịp 1,2 và 3, người dẫn bước lên trước, chuyển trọng tâm, và bước trở lại vị trí ban đầu. Ở nhịp 5,6 và 7, người dẫn bước lùi về, chuyển trọng tâm và bước trở lại vị trí ban đầu. Người theo cũng bước tương tự nhưng khi người dẫn bước lên thì người theo phải lùi lại để cả hai người có thể bước nhịp nhàng với nhau thành một thể thống nhất. Bước cơ bản này là một phần của rất nhiều những bước đi khác. Chẳng hạn như người dẫn có thể đi bước cơ bản trong khi cho người theo xoay. Bước cơ bản có những biến thể sau, thường được gọi là các "break". Forward break: có thể bắt đầu từ cả hai chân: bước lên trên, chuyển trọng tâm, trở về vị trí ban đầu trong khi đếm 1,2,3 hay là 5,6,7. Back break: có thể bắt đầu từ cả hai chân: bước lùi lại, chuyển trọng tâm, trở về vị trí ban đầu trong khi đếm 1,2,3 hay là 5,6,7. Side break: có thể bắt đầu từ cả hai chân: bước sang trái hay phải, chuyển trọng tâm, trở về vị trí ban đầu trong khi đếm 1,2,3 hay là 5,6,7. == Bước cơ bản nhịp 2 (On 2) == Trong nhiều trường phái khiêu vũ cổ điển theo kiểu "mambo cơ bản", người dẫn sẽ bắt đầu bằng cách bước chân sang trái ở nhịp 1 và thực hiện break step ở nhịp 2 trong khuông nhạc thừ nhất. Nếu break step được thực hiện ở nhịp 2 và nhịp 6 khi đó sẽ gọi là bước cơ bản nhịp 2. Ở Bắc Mỹ, có 2 cách d8ể nhảy bước cơ bản nhịp 2 như sau: Power-On2 thực hiện bước break step ở nhịp 2 và 6 và đứng thẳng người ở nhịp 1 và 5. Eddie-Torres-On2 thực hiện bước break step ở nhịp 2 và 6 và đứng thẳng người ở nhịp 4 và 8. === Eddie-Torres-On2 === Người dẫn bước nhẹ về phía sau bằng chân trái ở nhịp 1, sau đó thực hiện break step chuyển trọng tâm sang chân phải ở nhịp 2. Ở nhịp 3, chân trái sẽ bước trở về vị trí ban đầu và trọng tâm đồng thời cũng được chuyển về chân trái trong nhịp 3 và 4. Nhịp 5, người dẫn bước về phia trước bằng chân phải rồi chuyển trọng tâm sang chân trái ở nhịp 6. Ở nhịp 7, chân phải sẽ bước trở về vị trí ban đầu và trọng tâm đồng thời cũng được chuyển về chân phải trong nhịp 7 và 8 chuẩn bị cho nhịp 1 của bước nhảy tiếp theo. Sở dĩ cách nhảy này được gọi là Kiểu Eddie Torres là vì nó đã được Eddie Torres chuẩn hoá và phổ biến rộng khắp cho dù Eddie không phải là người sáng tạo ra cách nhảy này. Eddie Torres là người đã mang đến một phương pháp giảng dạy rõ ràng thông qua rất nhiều những băng video giúp rất nhiều người New York đến với Salsa. Trong những băng video này, Eddie Torres gọi kiểu này này là "Night Club Style". === Phân tích bước nhảy cơ bản nhịp 2 === Cũng cần lưu ý rằng hầu hết những người nhảy theo kiểu Torres thường lướt nhanh qua nhịp 1 và 5. Điều đó có nghĩa là người nhảy bắt đầu bước sớm hơn một chút trước khi nghe thấy nhạc chơi ở nhịp 1 và 5. Điều này có thể thấy được rất rõ khi xem họ nhảy và nghe họ đếm [1]. Có thể điều này thoạt nghe hơi lạ nhưng nếu phân tích bước nhảy sẽ thấy dễ hiểu hơn. Tiếng đếm "một" sẽ rơi vào khoảng giữa nhịp 8 và nhịp 1 của bài nhạc cũng như tiếng đếm "năm" thì giữa nhịp 4 và nhịp 5 của nhạc. Như thế, khoảng cách giữa nhịp 1 (sớm) và nhịp 2 sẽ bằng khoảng cách giữa nhịp 3 và nhịp 5 (sớm) và bằng đúng một nốt đen chấm. Chính vì điều này mà mô hình "nhanh-nhanh-chậm" của bước nhảy cơ bản nhịp 1 đã được chuyển thành "chậm-nhanh-chậm" trong bước nhảy cơ bản nhịp 2 và làm giả, bớt sự khác biệt giữa các nhịp nhanh (bằng 1 nốt đen) và các nhịp chậm (bằng 1 nốt đen chấm) giúp cho cách nhảy này có được sự trôi chảy và lả lướt. Nếu chú ý vào từng nhịp nhảy, sẽ thấy rằng trong bước cơ bản nhịp 2, mỗi nhịp nhảy đòi hỏi có sự di chuyển của chân sẽ đều rơi vào nhịp đếm "chậm" trong khi việc chuyển trọng tâm vốn đơn giản hơn sẽ rơi vào nhịp đếm "nhanh" và đều đó làm cho bước nhảy này trở nên tự nhiên và thoải mái hơn. == So sánh hai bước nhảy cơ bản nhịp 1 và nhịp 2 == Xem xét một cách chi tiết, rõ ràng, hai người bạn nhảy sẽ không thể nào mỗi người mỗi nhảy theo một ước cơ bản riêng vì bước break step của mỗi bước được thực hiện ở các nhịp đếm khác nhau. Khi nhảy theo kiểu On 2, bước break step sẽ diễn ra cùng lúc với nhịp vỗ mạnh (accented slap) từ tumbao của conga, trong khi đó nhảy theo kiểu On 1, bước break step sẽ diễn ra cùng lúc với nhịp đầu tiên. Vì lý do này, bước On 2 được xem là thiên về nhịp điệu hơn trong khi bước On 1 thì thiên về giai điệu hơn. Cần lưu ý rằng, bước On 2 phổ biến có người dẫn bước lùi trước và người theo bước tiến tương ứng trong khi bước On 1 thì ngược lại. == Các bước xoay cơ bản == Các bước sau sau đây được dùng trong tất cả các trường phái nhảy Salsa. Spot Turn (xoay tại chỗ) – một hay cả hai người nhảy xoay 360° nhưng vẫn giữ nguyên vị trí ban đầu sau khi xoay. Extension – hai người nhảy hướng về hai phía ngược nhau tạo nên một lực căng cánh tay. Bước xoay này thường dẫn đến một bước xoay tại chỗ hay in-and-out. In-and-Out (Copa) - từ vị trí chéo tay (tay trái phía trên tay phải), người dẫn thực hiện một bước extension, sau đó kéo người nữ lại bằng tay phải đồng thời vòng tay trái qua đầu người nữ để chuyển tay sang phía bên kia làm người nữ xoay 180° sang bên trái. Người nữ sau đó sẽ được đẩy ra lại hay ít nhất phải thực hiện một nửa cú quay trái khác để có thể quay lại đối diện với người dẫn. Cross Body Lead – người theo sẽ được hướng dẫn để hoán chuyển vị trí với người dẫn bằng cách cả hai di chuyển ngược chiều kim đồng hồ. Bước này cũng xuất hiện trong các điệu nhảy Latin khác như là Cha-cha-cha. Reverse Cross Body Lead – giống như Cross Body Lead nhưng sẽ di chuyển theo chiều kim đồng hồ. Basket – Là một kiểu của extension nhưng người dẫn đứng sau người theo và giữa tay người theo vòng quanh vai người theo trong khi người theo bước về phía trước và người dẫn bước về phía sau. == Các phong cách Salsa == Có rất nhiều đặc điểm để xác định một kiểu nhảy salsa thuộc phong cách nào: có thể căn cứ trên cách đi các bước nhảy, nhịp của các bước nhảy, những chuyển động đặc trưng trên sàn nhảy, cách người nhảy xoay hoặc là di chuyển, phong thái và nhiều đặc điểm khác nữa. Tuy nhiên, sự hiện diện một vài đặc trưng của phong cách nào đó trong một kiểu nhảy cũng không đồng nghĩa rằng kiểu nhảy đó thuộc phong cách đó hoàn toàn. Chẳng hạn như có rất nhiều phong cách nhảy theo kiểu On 1, nhưng cũng có những phong cách có thể nhảy theo cả hai kiểu On 1 và On 2. Dưới đây là những diễn giải cơ bản của một vào phong cách tạm gọi là "có thể nhận biết". === Phong cách Cuba === Nhảy Salsa phong cách Cuba (còn gọi là Casino) là kiểu nhảy phù hợp với cả downbeat ("a tiempo") hay upbeat ("a contratiempo"). Nhịp 1,3,5,7 là downbeat còn nhịp 2,4,6,8 là upbeat. Một yếu tố quan trọng của phong cách nhảy này chính là "bước nhảy Cuba" (thường gọi là Guapea). Trong bước nhảy này, người dẫn sẽ thực hiện đi lùi vào nhịp 1-2-3 và tiến lên vào nhịp 5-6-7. Thông thường, người ta không đếm nhịp 4. Người theo cũng thực hiện tương tự người dẫn và như thế hai người như là hình ảnh phản chiếu của nhau qua từng bước nhảy. Một đặc điểm khác của phong cách nhảy này chính là có rất nhiều bước nhảy mà người dẫn và người theo di chuyển thành vòng tròn quanh bạn nhảy. Bước cross body lead cũng là một bước nhảy quan trọng trong phong cách này nhất là trong kiểu Salida Cubana hay Dile que no in Rueda de Casino vì từ nó đã dẫn đến rất nhiều những bước di chuyển khác trong kiểu Rueda hay là khiêu vũ xoay vòng, trong đó nhiều cặp nhảy sẽ đổi bạn nhảy với nhau và tiến hành các bước di chuyển đồng bộ bởi một caller. === Phong cách Los Angeles === Phong cách L.A. style là kiểu nhảy On 1. Phong cách này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi điệu Mambo và Swing. Phong cách L.A. chú trọng vào sự gợi cảm, tính trình diễn, nhịp điệu và quan trọng hơn cả là nhạc tính. Hai yếu tố cơ bản của phong cách này cũng là bước nhảy lên xuống và bước cross-body lead. Trong phong cách này, để thực hiện bước cross body lead, người dẫn bước về trước ở nhịp 1 rồi bước sang phải ở nhịp 2,3 đồng thời xoay 90 độ ngược chiều kim đồng hồ và mặt hướng về bên trái. Người theo sẽ thực hiện bước xoay ở nhịp 5-6-7 trong khi người dẫn bước và xoay 90 độ một lần nữa ngược chiều kim đồng hồ. Kết thúc bước này, hai người bạn nhảy đã hoán chuyển vị trí cho nhau. Phong cách L.A. được biết đến rộng rãi như ngày hôm nay chính là nhờ vai trò tiên phong của rất nhiều vũ sư thành công và nổi tiếng. Albert Torres, Laura Canellias và Joe Cassini xứng đáng là những người được vinh danh vì sự đóng góp của họ cho những bước phát triển ban đầu của phong cách này. Sau này, những vũ sư như Alex Da Silva, Joby Martinez, Uri Man, Edie Lewis, Tomas Montero, Rogelio Moreno, Josie Neglia, Francisco Vazquez (cùng với hai người em là Luis và Johnny), Jose Luis Gutierrez và Janette Valenzuela được ghi nhận là những người có công phát triển thêm phong cách này thành những gì mà chúng ta biết ngày nay. Ngày nay chúng ta có thể tìm thấy buổi trình diễn Salsa rất dễ dàng ở rất nhiều nơi tại Los Angeles. === Phong cách New York === Phong cách New York chú trọng đến tính hiệu quả của chuyển động, sự thanh lịch và khoảng cách chừng mực giữa hai người bạn nhảy. Bằng cách tập trung vào việc kiểm soát bước nhảy, thời gian và sự chính xác của các kỹ thuật nhảy, người nhảy hướng tới mục tiêu là thực hiện thật uyển chuyển những bước di chuyển phức tạp. Phong cách New York đặc biệt chỉ được thực hiện bằng bước nhảy On 2 mặc dù những người nhảy Salsa trên khắp thế giới vẫn thường vận dụng phóng cách này vào rất nhiều những bước nhảy On 1. Để canh thời gianh chuẩn xác trong bước On 2, người nhảy phải cú tâm đến âm thanh của trống conga nên phong cách này đòi hỏi người nhảy phải lắng nghe được những âm thanh của bộ gõ. Những người cổ xuý phong cách này thì cho rằng nó phản ánh chính xác hơn nguồn gốc Afro-Caribbean của âm nhạc. Nhiều người cho rằng phong cách này là "Mambo" vì bước break step được thực hiện ở nhịp 2 mặc dù có nhiều kiểu nhảy khác có căn c71 xác thực hơn để được gán cho tên gọi này. (Xem thêm Mambo.) Khi nhảy giao tiếp, phong cách New York chặt chẽ hơn phong cách LA. Phép lịch sự trong phong cách này rất nghiêm ngặt đòi hỏi người nhảy duy trì vị trí nhảy và tránh di chuyển quá xa. Phong cách New York có xu hướng đặc biệt đòi hỏi người nhảy phải thể hiện các "shine" trong các đoạn solo. Người nhảy theo phong cách này đặc biệt rất chú trọng đến nhạc tính và việc kiểm soát thời gian của các bước nhảy. Họ đặc biệt để tâm đến âm thanh của bộ gõ và dàn nhạc hơn là giọng hát. Phong cách này chính là phong cách chủ đạo ở bờ Đông của Bắc Mỹ và được rất nhiều những vũ công Salsa chuyên nghiệp cũng như các vũ sư trên khắp thế giời yêu thích nên chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp nó ở khắp mọi nơi. ==== Những vũ công nổi tiếng theo kiểu On 2 ==== Eddie Torres là nhà vô địch đầu tiên và nổi tiếng nhất của phong cách New York. Ông đã bắt đầu khiêu vũ từ năm 1962 và giảng dạy từ năm 1970. Không thể kể hết đã có bao nhiêu những bước Salsa kinh điển được thực hiện bởi những vũ công của Eddie như là Seaon Bristol (còn gọi là Seaon Stylist), Amanda Estilo, Eric Baez, April Genovese de la Rosa, Jai Catalano và nhiều người khác nữa. Những nhân vật khác nổi bật với bước cơ bản On 2 là Frankie Martinez, Moshe Rasier, Gabriel Romero, Ismael Otero, Tomas Guererro, Osmar Perrones, Griselle Ponce, Milo, Ana và Joel Masacote, Jimmy Anton, Jesse Yip, Joe Burgos, v.v. === Phong cách Venezolana (Dominica) === Đây là phong cách Salsa phổ biến ở Venezuela và Dominica. === Phong cách Colombia === Đây là phong cách chủ đạo ở Nam và Trung Mỹ. Trong phong cách Columbia, khi nhảy những bước cơ bản, người nhảy sẽ nhảy bước side step và nhảy giống hệt nhau. Bước break nằm ở nhịp 3 và nhịp 4 bỏ trống luôn được dùng để dậm nhẹ chân hay thực hiện những biến tấu riêng của người nhảy. Phong cach này có thể nhảy được với không chỉ nhạc Salsa music mà cũng phù hợp với nhạc Cumbia vốn rất phổ biến ở các câu lạc bộ Latin. Người nhảy phong cách này ở trình độ chuyên sâu sẽ giữ cho phần thân trên cố định, thăng bằng và thoải mái trong khi thực hiện liên tục những chuyển động chân phức tạp. Phong cách Columbia đặc biệt phù hợp để nhảy ở các câu lạc bộ đông đúc. hấu hết các bước nhảy của điệu Merengue, một điệu nhảy Latin khác rất phổ biến ở các câu lạc bộ Salsa đều được ứng dụng trong phong cách này. Có người cho rằng phong cách Colombian salsa sinh ra từ thời kỳ big band swing, khi mà những bước nhảy swing được thực hiện trên nền nhạc Cumbia. Cumbia vốn là một hình thức đồng diễn dân gian mà trong đó người nhảy không nắm tay bạn nhảy. === Mambo === Mambo (hay còn gọi là Palladium hay Power-2 là kiểu khiêu vũ phổ biến tại Palladium Ballroom trong thập niên 50 và sau đó phát triển rộng khắp Hoa Kỳ trong thời kỳ cực thịnh của Mambo. Phong cách này tương tự với phong cách L.A nhưng nó lại bắt đầu ở nhịp 2. Và bước cơ bản do đó sẽ là 2-3-4 và 6-7-8 với bước break step thực hiện ở nhịp 2 và nhịp 6. Phong cách này được giảnh dạy bởi công ty khiêu vũ Razz M'Tazz ở of New York và Angel Rodriguez, giám đốc công ty chính laàngười tìm ra thuật ngữ "Power 2." Điều cần chú ý là dù phong cách này cũng được xem là khiêu vũ "En Clave" thì việc canh nhịp của các bước nhảy không nhất thiết phải tuân thủ theo nhịp điệu của Clave mà chỉ có nghĩa rằng người nhảy thực hiện bước đầu tiên ở nhịp 2 khi nhịp clave trong nhịp 2-3 bắt đầu. === Phong cách Puerto Rico === Đây là phong cách phù hợp với cả bước On 1 và On 2. Khi nhảy theo bước On 2, người dẫn bước về phí trước bằng chân trái ở nhịp 2. Bước cơ bản sau đó được thực hiện như phong cách New York. Ở Puerto Rico, người ta tổ chứ một Đại hội Salsa quy tụ các nhóm Salsa khắp thế giới về tham dự tranh tài. Đại hội này đã được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1997. === La Rueda === Vào thập niên 50 Salsa Rueda (Rueda de Casino) được phát triển tại La Habana, Cuba. Các cặp bạn nhảy sẽ tạo thành một vòng tròn (tiếng Tây Ban Nha là Rueda) và thực hiện các bước nhảy được hô to bởi một người. Rất nhiều các bước nhảy của phong cách này có thực hiện việc trao đổi bạn nhảy giữa các cặp nhảy. tại Philippines vào năm 2005, khiêu vũ đã trở thành sở thích của nhiều thanh niên và dẫn đến một sự hợp nhất giữa salsa và khiêu vũ cộng đồng, sau này được gọi là Ronda de Salsa. Đây là một hình thức tương đối giống Rueda nhưng trong đó các bước nhảy salsa được dàn dựng theo phong cách địa phương và được đặt tên theo tiếng Philippines. Các tên gọi phổ biến trong Ronda là: Gising, Pule, Patria, Dolorosa, Lakambini và La Antonio. Có hai dạng chính của Rueda de Casino: Kiểu Cuba - "Rueda de Cuba" (Kiểu gốc của Rueda, hơi kém trang trọng) Kiểu Miami - "Rueda de Miami" (Kiểu trang trọng, rất nhiều quy luật, đặt nền tảng trên mộtsự phối hợp giữa Rueda de Cuba và Salsa phong cách L.A) === Salsa Disco === Đây là một phong cách mà thực chất chính là một phiên bản vũ trường của khiêu vũ giao tiếp. Sự khác biệt chính của phong cách này chính là đây là một phong cách rất cuồng nhiệt. Trong phong cáchnày có các bước nhảy của các phong cách khác như L.A., Puerto-Rico, Casino, v.v. Salsa Disco cũng thường có bước dậm là đặc trưng của phong cách Venezuela cũng như các đặc điểm của rock-and-roll vốn không được cho phép trong Salsa Cuba gốc. Disco Salsa là phong cách mà chúng ta thường thấy: có mặt ở khoảng 80-90% những khu vực có salsa xuất hiện; điều đó cũng có nghĩa là chỉ khoảng 10-20% là thực sự khiêu vũ những điệu nhảy Salsa tinh tuyền với đam mê ấp ủ, mạnh mẽ và rất khó quên. Salsa Disco có một lợi thế là rất dễ học và thực hành trong khi để đạt được trình độ tương tự với phong cách L.A đòi hỏi người học phải nỗ lực hơn rất nhiều. == Tạo dáng trong Salsa == Vận dụng những kỹ thuật tạo dáng vào các phong cách của Salsa ngàynay đã trở nên rất phổ biến. Đối với các shine của cả nam lẫn nữ, tạo dáng bước chân, tạo dáng tay, chuyển động của cơ thể, xoay, khoảng cách cơ thể, rung và lắc vai hay thậm chí là tạo dáng cho bàn tay đã trở thành một trào lưu trong salsa. Có những bài học riêng dành cho tạo dáng. Hip hop, jazz, flamenco, múa bụng, ballroom, break-dancing/pop and rock, phong cách Afro Cuba và Bhangra đều được ứng dụng trong nghệ thuật tạo dáng trong salsa. === Shines === Thông thường Salsa là một điệu nhảy đôi và khi nhảy, hai người bạn nhảy sẽ giữ tay nhau. Tuy nhiên, salsa cũng có các shines được thực hiện solo. Shine thực chất là những bước "thể hiện" thường là những bước chân ngoạn mục hay chuyển động uyển chuyển của cơ thể. Shine thường là những bước ngẫu hứng nhưng đã được tập hợp thành rất nhiều các bước shine chuẩn. Ngoài ra, dù các bước shine phù hợp nhất là trong đoạn mambo của giai điệu nhưng chúng cũng có thể được thực hiện bất cứ khi nào mà người nhảy thấy thích hợp. Đây là một cách rất hữu hiệu để khắc phục khi người nhảy bị lỡ nhịp hay mất liên kết với bạn nhảy sau các bước nhảy quá phức tạp hay đơn giản hơn chỉ là để thở lấy hơi. Một lý giải tương đối hợp lý cho nguồn gốc của từ shine xuất phát từ giai đoạn mà những người nhảy clacket không phải là người Mỹ Latin hay lui tới các câu lạc bộ ở New York vào thập niên 50. Khi nhảy clacket, khi một người nhảy trình diễn một bước solo tự do thì thời điểm đó được gôi là "khoảnh khắc toả sáng" ("moment to shine"). Khi người nhảy salsa thực hiện các bước nhảy tương tự, thuật ngữ này đã được dùng để gọi và từ đó "shine" ra đời. == Xem thêm == Palladium Ballroom Rueda de Casino Dance Bước nhảy Nhạc Salsa Nhảy đôi Casino (salsa khiêu vũ) Hector Lavoe El Gran Combo de Puerto Rico Celia Cruz == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Salsa tại DMOZ Salsa Wiki (hosted by wikia) Free guide to salsa dancing and events Salsa Videos,Photos,Podrobnější informace XSalsa Club
nhà hạ.txt
Nhà Hạ hay triều Hạ (tiếng Trung: 夏朝; bính âm: Xià Cháo; Hán-Việt: Hạ triều, khoảng thế kỷ 21 TCN-khoảng thế kỷ 16 TCN) là triều đại Trung Nguyên đầu tiên theo chế độ thế tập được ghi chép trong sách sử truyền thống Trung Quốc. Một số người cho rằng triều Hạ là liên minh nhiều bộ lạc hoặc quốc gia có hình thức tù bang phức tạp. Căn cứ theo ghi chép trong sách sử thì Tam Đại gồm Hạ, Thương, Chu đều là vương triều phong kiến, quân chủ và chư hầu chia nhau mà cai trị, và triều Hạ là vương triều phong kiến thị tộc thế tập đầu tiên. Trong các văn vật thời kỳ Hạ, có số lượng nhất định lễ khí làm bằng đồng thanh hoặc ngọc, niên đại của chúng ước tính là vào cuối Thời đại đồ đá mới, đầu Thời đại đồ đồng. Mặc dù ghi chép liên quan đến triều Hạ trong các văn hiến truyền thống Trung Quốc là khá nhiều, song các sách này được hoàn thành khá muộn sau đó, cho đến nay vẫn chưa phát hiện được chứng cứ trực tiếp để có thể công nhận sự tồn tại của triều Hạ, như văn tự đồng thời kỳ, do đó trong giới lịch sử học cận hiện đại có người nghi ngờ tính chân thực về sự tồn tại của triều Hạ. Văn hóa Nhị Lý Đầu phát hiện được ở tây bộ Hà Nam và nam bộ Sơn Tây có các điều kiện cơ bản về niên đại và vị trí địa lý của văn hóa Hạ, song do chưa khai quật được các ghi chép văn tự giống như giáp cốt bốc từ ở Ân Khư, do vậy tính tồn tại của triều Hạ vẫn không thể chứng thực được. Nhiều học giả trong và ngoài Trung Quốc nhận định rằng di chỉ Nhị Lý Đầu ở Yển Sư thuộc Hà Nam có khả năng là di tích đô thành của triều Hạ ít nhất là trong thời kỳ thứ nhất và thứ nhì, song hiện vẫn đang phải tìm kiếm căn cứ xác thực để làm rõ. Căn cứ theo ghi chép trong sử sách, Vũ truyền vị cho con là Khải, cải biến thiện nhượng chế bộ lạc nguyên thủy, khởi đầu tiền lệ thế tập vương vị kéo dài 4000 năm trong lịch sử Trung Quốc. Triều Hạ tổng cộng truyền được 14 đời với 17 vua, kế tục trong khoảng 471 năm, bị triều Thương tiêu diệt. Triều Hạ được xem là vương triều đầu tiên theo lịch sử truyền thống Trung Quốc, có địa vị lịch sử khá cao, người Hán đời sau thường tự xưng là "Hoa Hạ", trở thành danh từ đại diện cho Trung Quốc. == Quốc hiệu == Trong lịch sử, triều Hạ được gọi quen là "Hạ" (夏) Liên quan đến nguồn gốc tên gọi "Hạ", trong giới học giả chủ yếu có 10 loại thuyết, trong đó quan điểm có độ khả tín cao nhất nhận định rằng "Hạ" là chữ tượng hình tượng trưng cho vật tổ của tộc Hạ. Tư Mã Thiên chép chữ "Hạ" (夏) là danh hiệu bộ lạc do 12 thị tộc tổ thành: Tự tính Hạ hậu thị, Hữu Hỗ thị, Hữu Nam thị, Châm Tầm thị, Đồng Thành thị, Bao thị, Phí thị, Kỉ thị, Tăng thị, Tân thị, Minh thị, Châm Quán thị Vua Hạ là thủ lĩnh của bộ lạc, do vậy sau khi kiến lập triều Hạ, lấy tên bộ lạc làm quốc hiệu. Trương Thủ Tiết thời Đường thì nhận định "Hạ" là do Đại Vũ thụ phong tại Dương Trạch làm "Hạ Bá", sau lấy làm tên. Lại có thuyết nói "Hạ" bắt nguồn từ địa danh "Hữu Hạ chi cư", "Đại Hạ" diễn biến thành tên bộ lạc, rồi trở thành quốc hiệu. == Lịch sử == === Khởi nguyên === Theo ghi chép trong văn hiến Trung Quốc cổ đại, trước khi Hạ hậu thị kiến lập, xuất hiện chiến tranh thường xuyên giữa bộ tộc Hạ và các bộ tộc khác xung quanh để tranh đoạt địa vị thủ lĩnh liên minh. Trong truyền thuyết cổ sử Trung Quốc, bộ tộc Hạ dần dần hưng khởi từ thời Chuyên Húc về sau. Có không ít văn hiến cổ đại truy nguyên Hạ tộc đến Chuyên Húc. Trong "Sử ký-Hạ bản kỉ" và "Đại đái lễ ký-Đế hệ", nói rằng Cổn là con của Chuyên Húc. Tuy nhiên, cũng có một số văn hiến thì nói rằng Cổn là cháu năm đời của Chuyên Húc. Các văn hiến này cho thấy rằng Hạ tộc rất có khả năng là một chi hậu duệ của Chuyên Húc. Có thuyết cho rằng Hạ tộc khởi nguyên tại khu vực dãy núi Mân Sơn trên thượng du Mân giang thuộc nơi giao giới giữa ba tỉnh Tứ Xuyên-Cam Túc-Thanh Hải hiện nay. Sau đó, họ dần theo thượng du Hán Thủy cổ, qua trung hạ du Vị Thủy, dời về phía đông đến lưu vực Y-Lạc tại nam bộ Sơn Tây-tây bộ Hà Nam. === Cổn-Vũ trị thủy === Thành viên Hạ tộc đầu tiên được văn hiến ghi chép là Cổn. Trong "Quốc ngữ-Chu ngữ" có ghi rằng Cổn là thủ lĩnh của Hạ tộc, được phong tại Tung, cho nên được gọi là "Tung bá Cổn". Sau này, Vũ kế thừa Cổn làm "Tung bá Vũ". Điều này thể hiện rằng Hạ tộc hoạt động ở phụ cận Tung Sơn. Đương thời, nước sông gây lụt, có không ít các bộ lạc hình thành liên minh bộ lạc nhằm chống lại nước lụt, Cổn được Tứ Nhạc cử làm lãnh đạo trị thủy, trải qua chín năm song cuối cùng thất bại. Nguyên nhân trị thủy thất bại có khả năng là do ông không giỏi trong việc đoàn kết tộc nhận cùng các bộ lạc khác. "Thượng thư-Ngiêu Điển" chép rằng Nghiêu ngay từ đầu tiên đã nhận định rằng Cổn trái mệnh hại tộc, hủy hại người thiện lương nên phản đối Cổn lãnh đạo trị thủy, điều này thể hiện rằng trong thời gian Cổn lãnh đạo trị thủy có không ít bộ lạc bất mãn đối với ông. Trong "Thượng thư-Hồng phạm" và "Quốc ngữ-Lỗ ngữ" lại đề cập thêm rằng "Cổn chướng hồng thủy", cho thấy phương pháp trị thủy của Cổn chủ yếu là dùng đất, gỗ ngăn trở để chặn nước lụt, có thể đây cũng là một nguyên nhân của việc Cổn trị thủy chín năm thất bại. Sau khi trị thủy thất bại, Cổn bị giết tại Vũ Sơn nằm ven biển Hoàng Hải. Vũ là con của Cổn, sau khi Cổn mất, Vũ thụ mệnh của Thuấn làm công tác trị thủy. Vũ cải tiến phương pháp trị thủy của cha, nạo vét dòng sông, đoàn kết tộc nhân các bộ lạc, cuối cùng chế ngự được nước lụt. "Sử ký-Hạ bản kỉ" có chép rằng khi Vũ trị thủy "lao thân tiêu tư, 13 năm sống ở ngoài, qua cửa nhà không dám vào", tinh thần khắc khổ này được hậu thế truyền tụng, trong quá trình trị thủy có khả năng cũng đã xúc tiến đoàn kết giữa tộc nhân các bộ lạc. "Mạnh tử-Đằng Văn công" đề cập đến phương pháp trị thủy của Vũ: "khai thông chín sông, đào thông Tể, Tháp ra Chư Hải, khơi Nhữ, Hán; tháo nước Hoài, Tứ vào Giang" Vũ cũng đề xướng nông nghiệp, nhấn mạnh "tự thân trồng trọt mà có thiên hạ". Hàn Phi Tử-Ngũ đố" khen ngợi Vũ "thân cầm cày xẻng mà lãnh đạo dân, đùi và cẳng chân không mọc được lông, nhọc nhằn của nô lệ cũng không bằng của ông". Do Vũ có công trị thủy và xúc tiến sản xuất nông nghiệp, thế lực của bộ tộc Hạ tăng cường. Sau đó, Thuấn cũng phái Vũ đi thảo phạt Tam Miêu. Vũ nhiều lần đánh bại Tam Miêu, xua đuổi Tam Miêu đến lưu vực Đan Giang và Hán Thủy, củng cố quyền vua. Trong "Mặc Tử-Phi công" có viết về việc sau khi Vũ thắng Tam Miêu "biệt vật thượng hạ, khanh chế đại cực, nhi thần dân bất vi, thiên hạ nãi tĩnh", qua đó có thể thấy rằng sau khi Vũ trị thủy và thắng lợi trước Tam Miêu, bộ tộc Hạ trở thành thủ lĩnh liên minh bộ tộc. Thuấn đem đế vị thiện nhượng cho Vũ, Vũ tại Đồ Sơn triệu tập hội minh bộ lạc, một lần nữa chinh thảo Tam Miêu. Trong Tả truyện có chép "người vạn quốc đem theo ngọc lụa" tham gia Đồ Sơn hội minh., có thể thấy khả năng hiệu triệu của bộ lạc Hạ. Có một lần tại Cối Kê tổ chức hội minh bộ lạc, thủ lĩnh Phòng Phong thị đến muộn nên bị Vũ xử tử. Trong văn hiến cổ còn viết về việc Vũ căn cứ vào đường đi xa gần của các bộ lạc chư hầu mà phân biệt nạp cống nhiều hay ít, có thể thấy bộ tộc Hạ khống chế về mặt kinh tế của các bộ lạc xung quanh. Vũ từng tiến cử thủ lĩnh họ Yển là Cao Dao có thanh thế ở phía đông làm người kế thừa, thể hiện tôn trọng truyền thống thiện nhượng. Tuy nhiên, chưa đến khi thiện nhượng thì Cao Dao lại mất trước Vũ. Vũ lại mệnh thủ lĩnh Đông Di là Ích làm người kế thừa, tuy nhiên có rất nhiều bộ lạc không ủng hộ việc này, ngược lại họ ủng hộ con của Vũ là Khải. === Gia thiên hạ === Sau khi Vũ mất, Ích không có được quyền vị, ngược lại Khải được dân chúng ủng hộ nên đoạt được quyền vị. Ghi chép về giai đoạn lịch sử này không giống nhau. Theo Trúc thư kỉ niên cổ bản, sau khi Ích tức vị, Khải giết Ích mà đoạt lấy quân vị. Lại có thuyết nói sau khi Ích kế vị, có một số bộ tộc không thần phục Ích mà lại ủng hộ Khải, họ triển khai chiến tranh với bộ tộc của Ích, cuối cùng Khải thắng và đoạt được quyền vị. Sau đó, Ích suất lĩnh liên minh Đông Di thảo phạt Khải. Trải qua mấy năm đấu tranh, Khải xác lập địa vị thủ lĩnh trong liên minh bộ tộc. Văn hiến Tiên Tần ghi chép về sự việc này cùng cho là "công thiên hạ" biến thành "gia thiên hạ", tức thiên hạ là của chung biến thành thiên hạ của một nhà, khu vực Trung Nguyên từ đây xuất hiện khái niệm "quốc gia". Không ít học gia lịch sử nhận định đây là khởi thủy của triều Hạ-vương triều thế tập đầu tiên của Trung Quốc. Sau đó, không ít bộ tộc theo khuynh hướng thiện nhượng truyền thống nghi vấn về quyền vị của Khải. Hữu Hỗ thị vốn ở vùng ngoài kinh đô của Khải, trượng nghĩa khởi binh, suất lĩnh liên minh bộ tộc hướng đến thảo phạt kinh đô của Khải, cùng quân của Khải đại chiến tại Cam Trước khi chiến, Khải tuyên bố quyền vị của ông là "cung hành thiên", tức là theo ý trời. Điều này trở thành nguyên mẫu của thiên tử luận của triều Chu sau này. Khải nhận được sự tán đồng của dân chúng Trung Nguyên, do vậy chiếm tuyệt đại ưu thế về phương diện số người, cuối cùng đánh bại Hữu Hỗ thị, trừng phạt bằng cách giáng họ làm mục nô. Đây là thắng lợi thứ hai đại diện cho việc quan niệm xã hội chủ lưu của khu vực Trung Nguyên đi từ chế độ thiện nhượng nguyên thủy chuyển hướng sang chế độ thế tập. Thị tộc Hạ có nguyên mang họ (tính) Tự, song từ thời Khải trở đi chuyển sang dùng quốc danh "Hạ" làm họ. Đồng thời, Khải không tiếp tục sử dụng xưng hiệu "bá" mà đổi sang dùng "hậu", tức "Hạ hậu Khải". Khải có tài ca hát, giỏi múa, thường cử hành thịnh yến. Trong đó, một lần lớn nhất là tại Quân Đài ấy là Quân Đài chi hưởng, còn tại "Thiên Mục chi dã" biểu diễn ca vũ. "Sơn Hải kinh-Hải ngoại tây kinh" chép rằng Khải khi múa "tay trái giữ ế, tay phải cầm vòng, đeo ngọc hoàng". Văn hiến nhạc vũ cổ xưa của Trung Quốc như "Cửu biện", "Cửu ca" và "Cửu thiều" đều nhận Khải là tác giả gốc. Trong thời gian Khải thống trị, con là Vũ Quan thường làm loạn. "Hàn Phi Tử-Thuyết nghi" chép rằng người này "hại nước hại dân bại pháp", cuối cùng bị giết. === Thái Khang thất quốc === Sau khi Hạ Khải mất, con là Thái Khang kế thừa hậu vị, Thái Khang chỉ để tâm vào du ngoạn, không lo chính sự. Trong thời gian Thái Khang tại vị, quyền uy của bộ tộc Hạ suy yếu, các bộ lạc Đông Di là Thái Hạo và Thiếu Hạo thừa cơ tây tiến. Thủ lĩnh Nghệ của tộc Đông Di là người giỏi bắn cung, ông suất quân từ đất Từ。 Sau khi Trung Khang mất, con là Tướng kế vị. Sau đó, Tướng chạy trốn hướng về hai thị tộc Châm Tầm, Châm Quán Từ đó, Nghệ một mình đảm đương vương vị. Nghệ giỏi săn bắn, không thạo trị lý, sau khi đoạt quyền thì cũng giống như Thái Khang khi trước, ham săn bắn mà bỏ bê quốc sự. Ông loại bỏ các trung thần như Vũ La, Bá Khốn, Long Ngữ, trọng dụng Hàn Trác. Hàn Trác vào thời niên thiếu do bịa đặt dối gạt mọi người nên bị quân chủ của Bá Minh thị đuổi đi, sau được thủ lĩnh Hữu Cùng thị là Hậu Nghệ thu dưỡng, trở thành một người của Hữu Cùng thị, được trọng dụng Thế lực của Hàn Trác ngày càng lớn mạnh, về sau thừa cơ hội Nghệ ra ngoài săn bắn, Hàn Trác giết Nghệ và gia nhân, đoạt quyền lực và thê của Nghệ, sinh hai con trai là Ế và Kiêu Hàn Trác đem đất Qua phong cấp cho Ế, đem đất Quá phong cấp cho Kiêu. Kiêu nhận mệnh của cha, suất binh trước sau diệt Châm Quán thị và Châm Tầm thị vốn thân Hạ, giết Tướng đang ẩn náu tại Châm Tầm. Thê tử của Tướng là Hôn đương thời có mang con của Tướng, bà theo lỗ tường đào tẩu đến quê nhà mẹ là Hữu Nhưng thị tị nạn. Không lâu sau, bà sinh hạ di phúc tử Thiếu Khang === Thiếu Khang trung hưng === Sau khi trưởng thành, Thiếu Khang giữ chức mục chính của Hữu Nhưng thị. Sau khi biết chuyện, Kiêu phái người truy sát, Thiếu Khang không đối phó nổi nên chạy đến Hữu Ngu thị (hậu duệ của Thuấn), được giữ chức bào chính. Thủ lĩnh Hữu Ngu thị là Ngu Tư không có con trai mà chỉ có hai con gái, Ngu Tư đem hai người con gái hứa phối cho Thiếu Khang, ban ruộng một thành, người một lữ đồng thời đem Luân Ấp giao cho Thiếu Khang quản lý. Thiếu Khang lấy Luân Ấp làm căn cứ địa, tổ chức dân chúng Hạ tộc còn lại, thiết quan phân chức. Thiếu Khang phái Nữ Ngải đến triều đình của Kiêu mật thám, chuẩn bị khôi phục Hạ thất. Đương thời, di thần của Hạ thất là Mĩ ẩn náu tại Hữu Cách thị biết được việc Thiếu Khang chuẩn bị đoạt lại chính quyền, đích thân dẫn tàn dư dân chúng Châm Quán thị, Châm Tầm thị cùng Thiếu Khang hội sư, liên hiệp đánh bại Hàn Trác, phục lập Thiếu Khang là Hạ hậu. Sau khi Thiếu Khang diệt Kiêu ở đất Quá, lại phái con là Trữ đi diệt Ế ở đất Qua. Đến lúc này, Hữu Cùng thị bị hủy diệt sau gần 100 năm khống chế Trung Nguyên, kết thúc thời kỳ "vô vương" 40 năm. Hạ do đó phục quốc, hậu thế gọi là "Thiếu Khang trung hưng". Thông qua giai đoạn từ Thái Khang thất quốc đến Thiếu Khang trung hưng, có thể thấy được lịch trình Hoa Hạ tộc bình định bộ lạc phương quốc Trung Nguyên (nhất là Đông Di tộc). Sau khi con của Thiếu Khang là Trữ kế thừa hậu vị, ông hiểu rõ sự bất mãn của Đông Di đối với Hạ thất, nhằm củng cố thế lực tại phía đông, ông dời đô thành từ Nguyên về phía đông đến Lão Khâu Trữ xem trọng phát triển vũ khí và chế tạo binh giáp. Trong văn hiến thường xuất hiện "Trữ tác giáp", "Trữ tác mâu". Ông còn phái người thảo phạt Đông Di ở khu vực duyên hải Đông Nam (nay là khu vực nam bộ Sơn Đông, đông bộ An Huy, Giang Tô). Theo truyền thuyết, ông bắt được vật cát tường là cửu vĩ hồ. Bản đồ triều Hạ trong thời gian thống trị của Trữ khoách trương đến bờ Đôn Hải (nay là Hoàng Hải). Thời kỳ Trữ tại vị cũng là lúc triều Hạ hưng thịnh nhất. Người Hạ đắc biệt tôn trọng đối với Trữ, vì Trữ mà cử hành "báo tế". Thời con của Trữ là Hòe tại vị, hai tộc Đông Di và Hoa Hạ bắt đầu cùng tồn tại hòa bình. Trong đó chín bộ lạc cư trú tại lưu vực Hoài Hà-Tứ Thủy là Quyến Di, Vu Di, Phương Di, Hoàng Di, Bạch Di, Xích Di, Huyền Di, Phong Di, Dương Di (tức Cửu Di) thông thường hướng Hạ hậu nạp cống chúc hạ. Sau khi Hòe mất, con là Mang kế vị, con của Mang là Tiết kế vị sau khi Mang mất, trong thời gian này hai tộc Đông Di và Hoa Hạ dần đồng hóa. Trong thời gian Tiết tại vị, Đông Di tộc về cơ bản đã đồng hóa, do vậy ông bắt đầu phát triển về phía tây. Đồng thời, ông bắt đầu phong đất phong hiệu cho các phương quốc bộ lạc thuận theo Hạ thất, việc này bắt đầu chư hầu chế kéo dài trong nhiều thế kỷ sau. Sau khi Tiết mất, con là Bất Giáng kế vị, từng nhiều lần suất binh chinh thảo Cửu Uyển ở phía tây. === Thương Thang diệt Kiệt === Khi Bất Giáng già yếu, nội thiện cho đệ là Quynh. Sau khi Quynh mất, con là Cần kế vị. Sau khi kế vị không lâu, Cần bệnh mất, đường huynh là Khổng Giáp- con của Bất Giáng- kế vị. Khổng Giáp tiến hành cải biến truyền thống tế tự tổ tông trong Hạ lễ, bắt đầu tế tự Thiên Đế. "Sử ký-Hạ bản kỉ" thuật rằng Khổng Giáp "ham thích thuật quỷ thần, làm việc dâm loạn". Không ít phương quốc bộ lạc bắt đầu bất mãn đối với Hạ thất, song quan hệ giữa Hoa Hạ tộc và Đông Di tộc vẫn hữu hảo, có khả năng là do độ đồng hóa giữa hai tộc đã khá cao. Từ thời Khổng Giáp, Hạ hậu thị bắt đầu ngày càng suy lạc. Khi Khổng Giáp mất, con là Cao kế vị. Khi Cao mất, con là Phát kế vị. Trong giai đoạn này, quan hệ giữa phương quốc bộ lạc và Hạ thất xấu đi, tranh chấp trong nội bộ thị tộc mãnh liệt hơn. Từ thời Khổng Giáp qua Cao và Phát, đến Lý Quý (biệt danh Hạ Kiệt), nội loạn không ngừng. Sau khi Phát mất, con là Lý Quý (Kiệt) kế vị. Kiệt là người giỏi võ, "Sử ký-Luật thư" chép rằng Kiệt "tay đánh sài lang, chân truy tứ mã" Trong thời gian Kiệt tại vị, quan hệ giữa Hạ thất và phương quốc bộ lạc đã bị phá vỡ, số bộ lạc cống nạp cho Hạ không ngừng giảm thiểu, Kiệt do vậy thường thảo phạt bộ lạc không quy phục. Trong văn hiến có ghi rằng Kiệt tham sắc, sau khi đánh bại mỗi bộ lạc thì tuyển chọn phi tử trong số các nữ giới. Hữu Thi thi đề cập trong "Quốc ngữ-Tấn ngữ"; Mân Sơn thị, Mạt Hỉ thị đề cập trong "Trúc thư kỷ niên" đều có kết cục như vậy. Trong đó, Muội Hỉ của Mạt Hỉ thị kết giao với Y Doãn Kiệt nhiều lần chinh phục chọc giận không ít bộ tộc khá có quyền uy. Hữu Mân thị do không phục tùng Kiệt mà bị diệt. Bộ tộc Thương mang tính Tử, hoạt động tại khu vực nay là tây nam bộ tỉnh Sơn Đông, bắt đầu trở nên hưng vượng chính là trong thời loạn này của triều Hạ. Kiệt cũng nhân việc Thương không phục làm lý do để thảo phạt, đánh bại thủ lĩnh của Thương là Thang. Thang bị cầm tù tại Hạ Đài, sau đó được phóng thích. Ngoài việc đề cập đến quan hệ đối ngoại xấu đi, trong các văn hiến còn đề cập đến việc Kiệt dùng người không thích hợp trong triều đình. Kiệt chỉ quan tâm đến hưởng lạc, không màng tới khổ cực của dân gian. Theo truyền thuyết, dân Hạ nguyền rủa cho Kiệt sớm ngày quy thiên, Kiệt biết được thì nói đùa rằng bản thân là Thái Dương trên trời, Thái Dương bất tử thì ông cũng tử bất, dân Hạ liền chỉ Thái Dương trách, hỏi Thái Dương khi nào thì phá diệt, tình nguyện cùng diệt vong. Khoảng cuối thế kỷ 17 TCN và đầu thế kỷ 16 TCN, thủ lĩnh bộ tộc Thương là Thang lợi dụng tâm lý dân Hạ hận Kiệt, liên kết phương quốc bộ lạc thảo phạt Kiệt. Liên minh diệt trừ các bộ tộc thân Hạ là Vi, Cố, Côn Ngô, sau đó khai chiến với Kiệt. Thế lực của Khang lớn, Kiệt ngăn chặn không được, vừa chiến vừa trốn, cuối cùng chiến bại tại đất cũ của Hữu Tung thị. Kiệt trốn đến Minh Điều Thang đuổi kịp, triển khai đại chiến tại đây. Kiệt một lần nữa bị đánh bại, bị Thang đuổi đày tại Lịch Sơn cùng sống với Mạt Hỉ thị, cuối cùng đến núi ở Nam Sào thì mất ở đó. "Hoài Nam Tử-Tu Vũ huấn" thì viết có chút bất đồng, theo đó Thang "chỉnh binh ở Minh Điều, bao vây quân Hạ tại Nam Sào, trách mắng việc đã qua (của Kiệt), đầy đến Lịch Sơn". Trong truyền thuyết của hậu thế, Hạ hậu Kiệt bị miêu tả là một bạo quân, hậu nhân thường đem Hạ hậu Kiệt và Thương Trụ Vương, Chu Lệ Vương và Chu U Vương gọi chung là các bạo quân họa quốc ương dân, nhưng trong các văn hiến khá sớm thì Kiệt được ghi chép rất giản lược. "Thượng Thư-Thang thệ" có ghi rằng khi Thang phạt Kiệt có nêu ra tội trạng của Kiệt chỉ là "suất át chúng lực, suất cát Hạ ấp". Trong trận Minh Điều, Hạ thất bị lật đổ, Thang nhận được sự ủng hộ của phương quốc bộ lạc mà xưng vương tại Bạc, kiến lập Thương vương triều, trở thành lần thay đổi triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Chính quyền thế tập đầu tiên tại Trung Quốc là Hạ triều truyền được 14 đời, 17 vua, trải qua 471 năm. === Hậu duệ === Sau khi Hạ diệt vong, thế lực còn lại chủ yếu lưu cư Trung Nguyên song cũng có hai chi phân biệt thiên di hướng bắc và hướng nam. Kiệt đem theo không ít dân chúng Hạ tộc từ Lịch Sơn nam thiên đến Nam Sào, chính là chi phía nam. Chi phía bắc tiến vào cao nguyên Mông Cổ, cùng các tộc bản địa dung hợp, có người nhận định đấy chính là dân tộc được hậu nhân gọi là Hung Nô. "Sử ký-Hung Nô liệt truyện" có chép rằng "tiên tổ của Hung Nô cũng là hậu duệ của Hạ hậu thị, gọi là Thuần Duy". "Quát địa phả" cho biết chi tiết hơn " con (Hạ Kiệt) là Huân Dục có thê là thê thiếp của Kiệt, tị cư ở Bắc Dã, di dời theo thú nuôi, Trung Quốc gọi là Hung Nô". Thương Thang phong một chi của Hạ thất mang họ Tự tại Kỷ quốc để phụng tự tông miếu tổ tiên. "Sử ký-Trần Kỉ thế gia" ghi rằng hậu duệ Hạ tộc tại "Ân thời hoặc phong hoặc tuyệt" Sau khi Chu Vũ Vương diệt Thương và trở thành vương, ông phong hậu duệ của Đại Vũ là Đông Lâu công tại đất Kỷ, tiếp tục quốc tộ Kỉ quốc, chủ quản việc tế tự đối với Vũ. Mạt kỳ Xuân Thu, Khổng Tử do sùng thượng Hạ lễ nên còn đặc biệt đến Kỷ quốc phỏng vấn khảo sát Tại thôn Vũ Lăng ở Cối Kê Sơn thuộc Thiệu Hưng của Chiết Giang, đời sau họ Tự của Hạ Vũ đến nay vẫn giữ lăng của Vũ Quách Mạt Nhược, Hồ Hậu Tuyên, Trình Cảnh nhận định Thổ phương trong Giáp cốt văn chính là Hạ sau khi chiến bại. Căn cứ ghi chép trên Bốc từ, Thổ phương là một phương quốc lớn mạnh ở tây bắc của Ân, là đối tượng mà Vũ Đinh và các vua Thương trước đó trường kỳ chinh thảo. Sau khi Vũ Đinh chinh phục Thổ phương, tại "Đường thổ" trong nội địa của Thổ phương cho kiến thiết nên thành ấp lớn là "Đường", khống chế nhân dân Thổ phương, về sau không lại thấy có ghi chép Thổ phương bạn biến. Thời Chu sơ, Thành Vương phong quân chủ đầu tiên của Tấn quốc là Đường Thúc Ngu ở nơi đó. Sau khi vua Thiếu Khang trung hưng vương thất, phong cho con thứ là Vô Dư làm vua nước Việt ở đất Cối Kê (nay thuộc huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang) để lo việc phụng thờ. Do ở nơi man hoang nên giai đoạn sau nhà Hạ và nhà Thương cho đến Tây Chu nước này không có ảnh hưởng gì lớn để sử sách ghi chép, đến cuối thời Xuân Thu, Việt vương Câu Tiễn giành ngôi bá chủ Trung Nguyên nước Việt mới được chú ý đến. Đến giữa thời Chiến Quốc, nước Việt suy yếu bị nước Sở đánh bại. Con thứ hai của Việt vương Vô Cương là Minh Di được vua Sở cho cai quản vùng đất Ngô Thành (nay ở huyện Ngô Hưng tỉnh Chiết Giang), nằm ở phía nam Âu Dương Đình, được đặt tên như vậy bởi vì nó được xây dựng ở phía nam và là phía dương (mặt trời) của núi Âu Dương, vì thế ông được đặt danh hiệu là Âu Dương Đình Hầu. Năm 223 TCN, tướng nước Tần là Vương Tiễn tiến vào vùng đất Việt. Các thủ lĩnh người Việt ở đây (là hậu duệ của Câu Tiễn) đều quy phục. Vương Tiễn bèn lấy đất Việt lập quận Cối Kê. Con cháu họ tiếp tục giữ họ Âu, Âu Dương hay Âu Hầu để tưởng nhớ chức tước ngày xưa của tổ tiên. Năm 334 TCN, một nhánh khác của nước Việt bị nước Sở đánh bại đã chạy đến vùng Phúc Kiến xây dựng nước Mân Việt. Quốc gia này bị nhà Tần khuất phục, tuy nhiên chẳng bao lâu "nhà Tần mất hươu khiến thiên hạ cùng đuổi", cháu 7 đời của Vô Cương là Vô Chư vì có công chống Tần nên được Hán Cao Tổ cho phép phục quốc và phong làm Mân Việt Vương. Mân Việt bị chiếm đóng một phần bởi nhà Hán vào cuối thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Tuy nhiên, do địa hình được bao bọc bởi núi non, nhà Hán lúc đó không thể hoàn toàn kiểm soát được vùng này. Mân Việt bị thôn tính bởi Nam Việt từ năm 183 TCN đến 135 TCN, nhưng họ phục quốc chưa bao lâu thì bị xâm chiếm bởi nhà Hán năm 110 trước Công Nguyên. Một phân nhóm dân tộc tên là Huệ An Nữ tự nhận họ là con cháu của những người Mân Việt xưa. Ngày nay, theo phân loại dân tộc của Trung Quốc, nhóm Huệ An Nữ được xếp làm một nhánh của dân tộc Hán. Năm 472 TCN, sau khi tiêu diệt nước Ngô, Việt vương Câu Tiễn phong cho con trai thứ (chưa rõ tên) ở Đông Âu tộc (nay thuộc Ôn Châu và Thai Châu tỉnh Chiết Giang. Tuy nước Việt bị Sở sát nhập nhưng bộ phận Đông Âu tộc vẫn được quyền tự trị, thủ lĩnh bộ tộc tự xưng là Đông Âu vương. Năm 220 TCN, Tần Thủy Hoàng hạ lệnh phế truất thủ lĩnh đời thứ sáu Đông Âu tộc là An Chu, Đông Âu tộc bị sát nhập với Mân Việt thành quận Mân Trung, chấm dứt sau 252 năm tồn tại. Năm 209 TCN, con trai An Chu là Sô Giao nhân nhà Tần đại loạn cũng vùng lên phục quốc, năm 200 TCN được Hán Cao Tổ phong làm Hải Dương Tề Tín Hầu. Năm 191 TCN, Hán Huệ Đế cải phong Giao làm Đông Hải vương, tuy nhiên thế tục vẫn gọi ông này là Đông Âu vương. Năm 138 TCN, Đông Âu quốc chính thức bị nhà Hán sát nhập, quân chủ cuối cùng là Sô Vọng bị Hán Vũ Đế giáng phong làm Quảng Vũ hầu. == Phạm vi thế lực và phân chia hành chính == Triều Hạ tồn tại trong khoảng thời gian quá độ từ liên minh thành bang bộ lạc tới quốc gia phong kiến, do đó không có cương vực rõ ràng. Quan hệ giữa thị tộc Hạ và các thành bang bộ lạc khác khá giống với kiểu quan hệ giữa nước tông chủ và nước triều cống. Tuy nhiên, có một ít phương quốc được Hạ thất phân phong, giống như nước chư hầu. Do vậy, chỉ có thể lấy phạm vi thế lực để biểu thị lực ảnh hưởng của triều Hạ. 11 chi họ Tự của Hạ tộc và vương thất trung ương Hạ hậu thị về dòng máu có quan hệ tông pháp, về chính trị có quan hệ phân phong, về kinh tế có quan hệ cống phú, nói chung cấu thành phạm vi lãnh thổ lõi của vương triều Hạ. Hạ bắt đầu từ tây bộ Hà Nam và nam bộ Sơn Tây ở phía tây; phía đông đến nơi giao giới giữa ba tỉnh Hà Nam, Sơn Đông, Hà Bắc; phía nam đến bắc bộ tỉnh Hồ Bắc; phía bắc lên tới nam bộ tỉnh Hà Bắc. Khu vực này có trung tâm địa lý nay là dải Yển Sư, Đăng Phong, Tân Mật, Vũ Châu. Đương thời, thế lực của Hạ kéo dài ra nam bắc Hoàng Hà, thậm chí là đến lưu vực Trường Giang. Vào tảo kỳ triều Hạ, Hạ tộc chủ yếu sinh hoạt tại vùng đất Hà Nội ở trung nam bộ Sơn Tây, men theo Phần Thủy, Hà Thủy dời đến phía đông nam, vãn kỳ đến lưu vực Y-Hà ở trung bộ Hà Nam. "Quốc ngữ-Chu ngữ thượng" viết rằng "xưa Y Lạc khô cạn nên Hạ mất", có thể thấy sông Y-Lạc mang tính trọng yếu đối với vùng thủ đô thời vãn kỳ của Hạ. === Chín châu trong truyền thuyết === Về phân chia hành chính, triều Hạ chọn thi hành cửu châu chế. Căn cứ theo ghi chép trong "Thượng Thư-Vũ cống", sau khi Đại Vũ trị thủy thành công, đem Trung Thổ phân thành chín châu là Ký, Duyện, Thanh, Từ, Dự, Dương, Kinh, Lương, Ung, và chiếm lấy đồ kim thuộc và thạch khoáng từ chín châu, đúc ra cửu đỉnh để tượng trưng cho quyền lợi quốc gia, do vậy "Cửu Châu" trở thành danh từ đại diện cho quốc gia Trung Quốc, và ý "định đỉnh" là kiến lập chính quyền. Theo "Vũ cống", chín châu phân chia như sau: Ký châu (冀州), giáp bên phải Kiệt Thạch đến Hà, ba mặt cách Hà, là nơi đường cống nạp của các châu đều đi qua. Nay thuộc các tỉnh Sơn Tây, Hà Bắc và tây bộ Liêu Ninh. Duyện châu (兗州), thuận theo Tể, Tháp, cho đến Hà. Nay là tây bộ Sơn Đông, góc đông nam của Hà Bắc. Thanh châu (青州), thuận theo Vấn, cho đến Tể. Nay là khu vực bán đảo Sơn Đông phía đông Thái Sơn. Từ châu (徐州), thuận theo Hoài, Tứ, cho đến Hà. Nay là khu vực phía bắc Hoài Hà của Giang Tô, An Huy và nam bộ Sơn Đông. Dương châu (揚州), men theo Giang, Hải, cho đến Hoài, Tứ. Nay là khu vực phía nam Hoài Hà của Giang Tô, An Huy và bắc bộ hai tỉnh Chiết Giang, Giang Tây. Kinh châu (荊州), thuận theo Giang, Đà, Tiềm, Hán, vượt qua Lạc, cho đến Nam Hà. Nay là Hồ Bắc, vùng phía bắc Hành Sơn của Hồ Nam và phần cực tây bắc của Giang Tây. Dự châu (豫州), thuận theo Lạc, cho đến Hà. Nay là Hà Nam, bắc bộ Hồ Bắc, đông nam bộ Thiểm Tây, góc tây nam của Sơn Đông. Lương châu (梁州), thuận theo Tiềm, vượt qua Miện, tới Vị, loạn với Hà. Nay là Tứ Xuyên, cực nam của Thiểm Tây và Cam Túc. Ung châu (雍州), thuận theo Tích Thạch, đến Long Môn Tây Hà, hội ở Vị, Nhuế. Nay là Thiểm Tây, Cam Túc, Ninh Hạ, Thanh Hải. Cửu châu mượn danh từ công việc của Đại Vũ, kỳ thực là do người thời Chiến Quốc ước đoán phân chia Thiên hạ. Quốc gia thời Hạ nằm ở giai đoạn manh nha, bức xạ chính trị nhìn chung không vượt khỏi thành ấp nội địa, ở ngoài kinh kì thì thông qua phong bang kiến quốc theo thị tộc chế cùng với thông hôn kết minh mà đạt thành quan hệ. Do lãnh thổ nhỏ hẹp, chính quyền trung ương đơn nhất không cần thiết hay không có năng lực phân chia khu vực hành chính. === Đô thành === Thời kỳ viễn cổ, chưa có khái niệm rõ ràng về đô ấp, xã hội trong giai đoạn nửa chăn nuôi đi săn, nửa trồng trọt định cư, dân của bộ tộc Hạ theo thủ lĩnh và tráng đinh trong tộc thiên di. Sau khi tài nguyên đương địa đã tận, họ liền thiên di đến đất khác, không thường trú tại một nơi. Vùng đất Hạ hậu cư trú gọi là "Đại Ấp" hoặc "Hạ Ấp", đó là khái niệm nguyên thủy của thủ đô quốc gia. Văn hiến ghi chép thủ lĩnh Hạ tộc trước sau định cư tại 17 xứ: Đại Hạ, Hạ Khư Cao Mật Dương Thành, Dương Trạch, Tấn Dương, Bình Dương, Ký, An Ấp, Hạ Ấp, Châm Tầm, Đế Khâu, Luân, Nguyên, Lão Khâu, Tây Hà, Hà Nam. Vị trí cụ thể của các đô ấp này đều dĩ nhiên không có cách nào khảo chứng, trong đó một số có khả năng là biệt danh của cùng một thành ấp. === Bộ lạc phương quốc === Phương quốc là quốc gia quy mô nhỏ được chuyển hóa hình thành từ thị tộc bộ lạc nguyên thủy. Các bang quốc này nằm bên ngoài cương giới, không chịu sự quản lý trực tiếp của Hạ hậu. Một số phương quốc chỉ là bộ tộc lớn, song có một số phương quốc khá lớn, thiết lập nên tổ chức quốc gia, quy mô thậm chí còn lớn hơn Hạ hậu thị Hữu Cùng thị từng có một thời gian thay thế cầm quyền, Thiếu Khang từng chạy đến Hữu Nhưng thị, Hữu Ngu thị, giữ các chức mục chính và bào chính. Hữu Nhưng thị còn có tên là Hữu Nhâm thị, mang họ Phong, cư trú bên bờ hồ Vi Sơn ở Sơn Đông, là hậu duệ của Thái Hạo, Thiếu Hạo. Giữa Hữu Nhưng thị và Hạ hậu thị có qua lại mật thiết, có hiện tượng thông hôn, trong đó thê của Tướng là Mân đến từ Hữu Nhưng thị. Khi Tướng bị Hàn Trác sát hại, Mân đang mang thai, bà lánh nạn tại cố hương, sinh hạ Thiếu Khang tại Hữu Nhưng. Sau khi Thiếu Khang phục hưng Hạ thất, phong tộc nhân của Hữu Nhưng ở Nhâm quốc. Hữu Ngu thị là hậu duệ của Ngu Mạc, Đế Thuấn, họ hoạt động tại lưu vực Phần Thủy cổ tại tây bắc Hà Nam và nam Sơn Tây. Khi Thuấn già, nhận thấy con mình là Thương Quân không tài không đức, do vậy thiện vị cho Vũ. Lúc trước, Nghiêu truyền vị cho Thuấn, Thuấn sau lại nhượng vị cho con Nghiêu là Đan Chu, Vũ muốn làm theo họ mà nhượng vị cho Thương Quân. Tuy nhiên, do dân chúng ủng hộ Vũ mà không đếm xỉa đến Thương Quân, do vậy Vũ kế thừa đế vị, phân phong cho Thương Quân ở phụ cận Ngu Thành, Hà Nam ngày nay. Bốn đời sau, Hạ thất trung suy, Thiếu Khang chạy đến Hữu Ngu tị nạn, được thủ lĩnh Ngu Tư đại lực hiệp trợ nên mới xoay chuyển được thế cục cho Hạ thất, Hữu Ngu thị có quan hệ trực tiếp đến tồn vong của Hạ hậu thị. Có thuyết nói họ Yển là hậu duệ của Cao Dao. Khi Vũ già có tiến cử Cao Dao làm người kế thừa, song Cao Dao lại mất trước Vũ, Vũ lại tiến cử Bá Ích. Sau khi Vũ mất, con Vũ là Khải thu phục được sự ủng hộ của dân chúng, Bá Ích mất quyền rồi chiến bại trước Khải và bị giết. Hậu duệ của Cao Dao được phong ở ba đất Lục, Anh, Hứa ở đông nam. Hữu Hỗ thị là bộ lạc cùng họ với Hạ. Khi Khải đoạt quyền của Ích, Hữu Hỗ thị không phục lấy danh nghĩa "Nghiêu Thuấn chọn người hiền tài còn Vũ thì độc chiếm" mà phản đối Khải thống trị, kết quả chiến bại trong trận chiến Cam, bộ chúng thì bị giáng làm mục nô. Con của Dận là Bá Mĩ nguyên là thủ lĩnh bộ lạc thần phục Hạ hậu, khi Thái Khang mất nước thì quy phục Hậu Nghệ, khi Hàn Trác giết Nghệ thì chạy đến Hữu Cách thị. Mĩ biết việc Thiếu Khang chuẩn bị phục hưng Hạ thất thì tổ chức binh dân Hữu Cách và nhị Châm hội sư với Thiếu Khang. Châm Quán thị, Châm Tầm thị được gọi chung là "nhị Châm", cùng mang họ Tự. là thị tộc thân Hạ trọng yếu vào tảo kỳ thời Hạ. Trong quá trình Hạ hậu thị thiên di về phía đông nam, với hai thị tộc có sự dung hợp, đến vãn kỳ thời Hạ thì vùng đất của Châm Tầm trở thành đô ấp của Hạ hậu, di chỉ Nhị Lý Đầu tại Yển Sư có khả năng chính là Châm Tầm. Thời kỳ "vô vương", Hàn Trác mệnh con là Kiêu suất binh diệt nhị Châm, đồng thời giết Hạ hậu Tướng đang tị nạn tại Châm Tầm. Thế lực còn lại của nhị Châm một số năm sau gia nhập vào liên quân của Thiếu Khang và Bá Mĩ, phục hưng Hạ thất. Hữu Hôn thị cũng là một chi hậu duệ khác của Thiếu Hạo, là một phương quốc lớn mạnh vào vãn kỳ thời Hạ. Khi Hạ Kiệt triệu tập hội minh tại Hữu Nhưng, thủ lĩnh Hữu Hôn thị do bất mãn với sự thống trị của Kiệt nên định về nước, bị Kiệt diệt trừ. Hữu Sân thị là hậu duệ của Đế Khốc Cao Tân thị. Thời Khải, phong quốc cho Chi Tử. Giao thời Hạ-Thương, dưới sự bang trợ của Y Doãn, Hữu Sân thị và Thương Thang kết minh tại Bắc Bạc, Thang còn cưới phi từ Hữu Sân thị. "Sơn Hải kinh-Hải ngoại tứ kinh" chép rằng ngoại biên Hạ hậu thị có rất nhiều phương quốc mang tên có chữ "quốc", có khả năng chỉ là thần thoại song cũng có khả năng là danh xưng sai lệch của các bộ lạc viễn cổ.。 == Ngoại tộc == === Tam Miêu === Trong Hán ngữ thời Thượng Cổ, "Miêu" và "Man" đồng âm đồng ý, Tam Miêu và "Nam Man" của hậu thế có thể có cùng nguồn gốc. "Chiến Quốc sách-Ngụy sách" chép rằng vị trí của Tam Miêu: phía đông Động Đình, phía tây Bành Lễ, bắc đến Văn Sơn, nam tiếp Hành Sơn. Thời kỳ Nghiêu Thuấn, nước lụt tràn ngập, Miêu thừa cơ "nổi loạn" tại Đông Nam, cùng với Hoan Đâu, Cộng Công, và Cổn gọi chung là Thiên hạ "tứ tội". Thuấn phái Vũ đi hàng phục dân Miêu song không đạt được kết quả. Thuấn trong những năm cuối từng tự thân nam chinh, trên đường bệnh mất tại Thương Ngô. Vũ kế tục sự nghiệp chinh Miêu, phát ra lời thệ sư "Vũ thệ", cùng quân Miêu triển khai đại chiến kéo dài trong 70 ngày, chế phục quân Miêu, bình định Tam Miêu. Từ đó, Tam Miêu suy lạc không dừng, biến mất khỏi vũ đài lịch sử. === Đông Di === Người Di sống ở phía đông của Trung Nguyên, cho nên gọi là Đông Di, nổi tiếng về tài cung tên. Tộc Đông Di ban đầu phân bố tại khu vực huyện Dịch, Bảo Định, Hà Bắc cho đến chân núi phía nam của Yên Sơn, vào thời kỳ Hạ-Thương, họ phân ra làm bốn phần, một chi lưu cư tại trung bộ Hà Bắc, chi phía bắc đi vòng qua vịnh Bột Hải để đến Liêu Đông và bán đảo Triều Tiên, chi phía nam qua Sơn Đông nam hạ đến khu vực Giang Hoài, còn chi phía tây trải khắp hai tỉnh Sơn Tây và Hà Nam ở tây bộ bình nguyên Hoa Bắc, xa nhất đến tận Thiểm Tây. Chi phía tây vào tảo kỳ thời Hạ xảy ra mâu thuẫn với Hạ hậu thị, trong giai đoạn từ Thái Khang đến Trữ trở thành mối uy hiếp không nhỏ đối với chính quyền Hạ hậu thị. Hữu Cùng thị là hậu duệ của Thiếu Hạo người Đông Di, nổi lên ở Cùng Tang, sau đó bắc thiên đến Cách ven bờ Bột Hải, dần lớn mạnh tại đây. Thời kỳ Tam Hoàng, liên minh bộ lạc của Hữu Ngu thị hiệp đồng Thuấn Đế xua đuổi các bộ lạc nghịch minh Đại Phong, Thập Nhật, Cửu Anh, Tạc Xỉ, Phong Hy, Tu Xà. Đầu thời Hạ, Hữu Cùng thị tây thiên đến Tư, sát gần khu vực trung tâm của Hạ hậu thị. Thời Thái Khang, Hạ thất trung suy, thủ lĩnh Nghệ của Hữu Cùng thị thừa cơ tây tiến. Nghệ dẫn người nam vượt Hoàng Hà, diệt bốn thuộc quốc của Hạ hậu, chiếm cứ vùng chân núi phía bắc của Tung Sơn. Sau đó, Hậu Nghệ đoạt được Hạ đô Châm Tầm, đày Thái Khang ra đông bộ Hà Nam, lập Trung Khang làm quân chủ. Trung Khang mất, con là Tướng được lập, Nghệ bèn thay thế nắm quyền. Tám năm sau, Nghệ bị nghĩa tử Hàn Trác sát hại, Hàn Trác nấu thịt Nghệ và cưỡng bách con Nghệ ăn, con Nghệ không chịu nên cũng bị Hàn Trác sát hại. Hàn Trác lấy thê của Nghệ, sinh ra Ế và Kiêu. Hàn Trác tàn bạo hôn dung, Hạ hậu Thiếu Khang liên hiệp với hàng thần Mĩ của Hữu Cách thị, Hữu Ngu, Hữu Nhưng, Châm Quán, Châm Tầm diệt Ế, Kiêu và Hàn Trác. Tộc nhân của Hữu Cùng thị từ đó rời khỏi khu vực Lạc Hà, dời về phía tây nam. Phân chi Đông Nam của tộc Đông Di có chín tộc, gọi chung là "Cửu Di". "Trúc thư kỉ niên" ghi rằng vào thời Tướng, "Vu Di đến quy thuận", nhưng thời Thiếu Khang phục quốc chỉ có Phương Di quy phụ, tám tộc còn lại tiếp tục chống lại Hạ tộc. Trong thời gian Trữ tại vị, quân Hạ nhiều lần chiến thắng trước tộc Di, giúp khoách trương thế lực của Hạ hậu đến bờ biển Hoa Đông. Đến thời Hòe, Cửu Di lần lượt quy phụ Hạ hậu, sau đó Di và Hạ hòa hảo. === Thương === Thương tộc mang họ Tử, nguyên là Đông Di, thủy tổ là Tiết do Giản Dịch thuộc Hữu Tung thị sinh. Tiết là nhân vật sống cùng thời kỳ với Vũ, sống tại hạ du Hoàng Hà, từng hiệp trợ Đại Vũ trị thủy. Trải qua năm vị tiên công là Chiêu Minh, Tướng Thổ, Xương Nhược, Tào Ngữ, Minh, Thương tộc phát triển từ đông bộ Hà Bắc đến bắc bộ Hà Nam. Minh nhậm chức thủy quan của Hạ hậu, mất trong quá trình trị thủy. Trong thời gian con của Minh là Vương Hợi tại vị, kinh tế Thương tộc đạt đến đỉnh cao mới, bốc từ ghi rằng Vương Hợi trong một lần tế tự có thể dùng nhiều đến 50 đầu bò. Thủ lĩnh Miên Thần của Hữu Dịch thị cưỡng bách Vương Hợi giao ra gia súc và nhân khẩu, Vương Hợi cự tuyệt, Miên Thần liền sát hại Vương Hợi và đoạt lấy bò dê. Về sau, đệ của Vương Hợi là Vương Hằng đoạt về bò dê từ trong tay của Miên Thần. Con của Vương Hằng là Thượng Giáp Vi liên hiệp với Hà Bá thị thảo phạt Hữu Dịch thị, giết Miên Thần. Thương tộc bắt đầu lớn mạnh đồng thời với việc Hữu Cùng thị suy lạc. Thời kỳ Chủ Nhâm, Chủ Quý, thế lực của Thương tộc không ngừng tăng lên, họ tập hợp các thị tộc bộ lạc ở hạ du Hoàng Hà, từng bước một tiến gần đến khu vực Trung Nguyên của Hạ hậu thị. Sau khi Thiên Ất Thang kế vị, Thương thu thập nhân tài, dưới sự hiệp đồng của Y Doãn, Trọng Hủy, Nữ Cưu, Nữ Phòng, bắt đầu chinh Cát, lại trước sau tiêu diệt các thị tộc thân Hạ như Vi, Cố, Côn Ngô, làm suy yếu thế lực của Hạ hậu, "mười một cuộc chiến mà thành vô địch thiên hạ". Thang thừa cơ đất Hạ phát sinh hạn tai mà khởi binh tây tiến, triển khai chiến đấu với Hạ Kiệt tại Minh Điều, Kiệt không chặn nổi nên phải chạy đến Nam Sào. Thang xưng vương tại Tây Bạc, Hạ triều hoàn toàn sụp đổ, Thương triều thành lập. == Thể chế chính trị == Thời Hạ, về mặt xã hội đã xuất hiện một số cơ cấu và chế độ quốc gia mang tính đại biểu. Cơ cấu quốc gia của triều Hạ bắt nguồn trực tiếp từ cơ cấu liên minh bộ lạc, có đặc trưng là: Phạm vi quốc gia trực tiếp quản lý chỉ giới hạn trong nội bộ của thị tộc. Vượt ra ngoài bộ lạc Hạ tộc, các thủ lĩnh bộ lạc khác có được quyền quản lý và quyền thống trị tương đối độc lập trên lãnh địa của mình; đối với Hạ hậu, họ sử dụng phương thức thần phục và nạp cống để biểu thị quan hệ tương hỗ. Trên phương diện hình thức chính quyền và chế độ quản lý, có hai bản chất lớn là chuyên chế và dân chủ, thể hiện rõ chế độ quốc gia bắt đầu quá độ từ chính thể thị tộc dân chủ hướng đến chính thể quân chủ. Đương thời, tồn tại liên minh phương quốc bộ lạc theo phương pháp lấy vương triều Hạ của Hạ hậu thị làm trung tâm, các phương quốc bộ lạc này đều hình thành dưới chế độ thị tộc phong kiến của Hạ hậu thị, và sau đó duy trì quan hệ không thay đổi với Hạ hậu, đồng thời nhận được sự bảo hộ của Hạ hậu. "Thi Kinh" trong phần giảng thuật về thời kỳ chiến tranh giữa Thang và Kiệt có nói "Vi, Cố ký phạt, Côn Ngô, Hạ Kiệt" cho thấy Thỉ Vi thị và Cố thị hiệp đồng với Côn Ngô thị, Hạ hậu thị tham dự chiến tranh. Tuy nhiên Hậu Nghệ thuộc Hữu Cùng thị Đông Di có thể "dựa vào dân Hạ để kế thừa Hạ chính", qua đó cũng có thể thấy quan hệ thân cận giữa Hữu Cùng thị và Hạ hậu thị. Trong các ghi chép trong văn hiến, nguyên nhân Thái Khang thất quốc và Thiếu Khang phục quốc được quy kết là do Thái Khang, Tướng, Hàn Trác ra ngoài săn bắn thường nhật, không quan tâm đến dân sự. Tuy nhiên vào tiền kỳ Hạ triều, nông nghiệp chưa phát triển, nhiệm vụ săn bắn đều do các cường đinh tráng nam trong nội bộ bộ lạc đảm nhiệm, việc quân chủ săn bắn bên ngoài do vậy là hoạt động sản xuất bình thường, không phải là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất quyền mất nước. Vào sơ kỳ Hạ triều tồn tại cảnh tượng tạp cư đan xen giữa Hạ tộc và ngoại tộc, giữa các bầy người xảy ra đấu tranh liên miên. Uy hiếp lớn nhất của Hạ tộc đến từ Di tộc phía đông, hai tộc triển khai chiến tranh hơn 100 năm, đến thời Trữ, Hòe thì mới hạ màn. Thời kỳ "vô vương" kéo dài bốn mươi năm từ khi Thái Khang thất quốc đến Thiếu Khang phục quốc chứng minh rằng Đông Di tộc khi ấy có thế lực cường thịnh, cũng phản ánh cơ sở của chính quyền Hạ hậu không chắc chắn. Nghệ thuộc Di tộc song lại được Hạ dân tán thành, thông qua hình thức xua đuổi Thái Khang mà đoạt được quyền vị Hạ hậu, cho thấy vẫn còn tồn tại đặc trưng dân chủ thiện nhượng của xã hội nguyên thủy "đức suy thì thay thế". Sau khi Thái Khang thất quốc, Thiếu Khang từng chạy đến chỗ Hữu Ngu thị. Thủ lĩnh Hữu Ngu thị là Ngu Tư gả hai con gái cho Thiếu Khang, lại ban điền ấp cho Thiếu Khang, Thiếu Khang đang lúc khốn nan nay có được một địa vị nhất định. Tuy nhiên, Hữu Ngu thị và Hạ hậu thị không có quan hệ huyết thống trực tiếp, song thủ lĩnh Hữu Ngu thị có vẻ như đại lực ủng hộ Hạ hậu thị, thể hiện rõ rằng bộ lạc thần thuộc Hạ hậu thị bắt đầu chấp thuận sự thống trị "gia thiên hạ" của Hạ hậu thị, thừa nhận rằng sự thống trị của Hạ hậu thị mới là chính thống. Quốc gia mà chính quyền Hạ hậu kiến lập là một quốc gia phôi thai nguyên thủy, do vậy sức sản xuất ở mức thấp, cơ cấu chính trị không hoàn thiện, hệ thống giao thông lạc hậu, do vậy thế lực của Hạ hậu giới hạn trong khu vực vương kỳ rộng chừng 100 lý. Khu vực ngoài cương giới của Hạ, Hạ hậu chỉ có thể thông qua phương thức kết minh hòa hiếu để duy trì ảnh hưởng của mình. Kiểu cục thế này là đặc trưng quốc gia chung của Tam Đại thượng cổ là Hạ, Thương và Tây Chu. === Thể hệ quan chức === "Lễ ký-Tế nghĩa" viết rằng "thời xưa, Hữu Ngu thị quý đức và thượng xỉ, Hạ hậu thị quý tước và thượng xỉ", phản ánh người Hạ xem trọng quan vị, cũng qua đây có thể nói chức quan đời Hạ có phân biệt đẳng cấp cao thấp rõ ràng. Trong văn hiến hậu kỳ có chép rằng thời Hạ đã lập chuỗi quan chức lớn nhỏ. Trong "Thượng thư-Cam thệ" có ghi "đại chiến ở Cam, bèn triệu lục khanh, Vương nói: Ôi!, lục sự chi nhân, ta thệ cáo ngươi"; còn trong "Mặc tử-Minh quỷ" có viết "tả hữu lục nhân"; lục khanh, lục sự chi nhân, lục nhân có khả năng giống như giống như lục khanh thời Chu, sáu vị đại quan giúp đỡ Hạ hậu quản lý sự vụ quốc gia. "Lễ ký-Minh đường vị" có nói đến "Hạ hậu thị quan bách" chỉ là quan viên hạ cấp của lục sự chi nhân. Từ "bách" trong "quan bách" chỉ số nhiều, cũng không phải là số tròn chục, có rất ít ghi chép về chức vị của quan bách. Thời Hạ, có nhiều chức quan gọi là "chính", có "mục chính" quản lý việc chăn thả gia súc, bào chính quản lý việc nấu ăn nhà bếp, xa chính chuyên quản lý việc chế tạo xe. Bên dưới quan "chính" còn tồn tại tiểu lại gọi là "công". "Hạ thư" viết "tù nhân dĩ mộc đạc tuẫn vu lộ".”, quan viên mà Hạ hậu cho đi tứ xứ tuần chinh thi ca và ý kiến gọi là "tù nhân". "Hạ thư" có viết "Thần bất tập ư phòng, mậu tấu cổ, sắc phu trì, thứ nhân tẩu", tự thuật về một khoảng thời gian xảy ra nhật thực, có "mậu" quan đánh trống lớn để báo cho mọi người, mỗi quan lại và thứ dân tự chạy vội vàng báo cho nhau. "Tù nhân", "mậu", "sắc phu" đều thuộc tiểu lại cấp "công" Hạ hậu có khả năng còn có "quan chiêm" chuyên lo việc bói toán bằng mai rùa và cỏ thi (tức bốc thệ). "Mặc Tử-Canh trú" chép rằng Hạ hậu Khải đúc đỉnh ở Côn Ngô, từng thông qua bốc quan dưới quyền là Ông Nan Ất để cầu vấn thiên thần Ngũ phục cống phú từ Cửu châu là nguồn kinh tế chủ yếu của Hạ hậu thị, trong số các "quan bách" của Hạ hậu thị có nhiều người chuyên lo việc trưng thu phú dịch. Trong "Thượng thư-Hạ thư", liên quan đến quá trình thiết quan phân chức về đại lược, có viết "phú nạp dĩ ngôn, minh thí dĩ công, xa phục dĩ dung. === Chế độ phú nạp === Chế độ thị tộc phong kiến thời Hạ cũng có sự thể hiện về mặt kinh tế. Thượng thư viết "Tứ hải hội đồng, lục phủ khổng tu. Thứ thổ giao chính, để thận tài phú, hàm tắc tam nhưỡng thành phú, trung bang tích thổ, tính, chi đài đức tiên, bất cự trẫm hành", tức nói thị tộc bộ lạc trong tứ hải đều quy phụ Hạ hậu, sáu loại vật chất kim mộc thủy hỏa thổ cốc đều chịu trị lý, phân biệt rõ ràng ruột đất tốt xấu các xứ, đem phân vào ba hạng để quyết định số lượng phú nạp, khiến cho việc phú nạp được hợp lý mà không thiên lệch, việc ban đất, ban họ căn cứ vào quan hệ giữa phương quốc bộ lạc và Hạ hậu mật thiết hay xa cách để định ra thứ tự phong kiến trước sau. Thiên "Vũ cống" cũng liệt ra tình hình cụ thể về vật phẩm mà Cửu châu phú nạp, đem số lượng vật phẩm phân thánh 9 hạng: thượng thượng, trung thượng, hạ thượng, thượng trung, trung trung, hạ tủng, thượng hạ, trung hạ, hạ hạ. Ngoài ra, còn căn cứ vào cự ly địa lý xa gần so với đô ấp của Hạ hậu thị mà phân ra "Ngũ phụ" điện, hầu, tuy, yêu, hoang. Điện phục gồm các phương quốc bộ lạc có cự ly dưới 500 lý tính từ đô thành của Hạ, là khu vực cung ứng lương thực chủ yếu của đô thành Hạ. Trong 100 lý phú nạp bó lúa, trong 100-200 lý thì phú nạp bông lúa, trong 200-300 lý thì phú nạp hạt lúa nguyên trấu, trong 300-400 lý thì phú nạp gạo thô, trong 400-500 lý thì phú nạp gạo tinh. Hầu phục gồm các phương quốc bộ lạc có cự lý từ 500-1000 lý tính từ đô thành của Hạ, là phong địa của thị tộc chư hầu của Hạ hậu thị. Từ 500-600 lý là thải địa (tức phong địa của khanh đại phu), từ 600-700 lý là tiểu quốc của nam tước, từ 700-1000 lý là đại quốc của hầu bá. Tuy phục là khu vực có cự ly 1000-1500 lý tính từ đô thành Hạ, là khu vực ven nằm trong phạm vi thế lực của Hạ hậu. Trong ba trăm lý đầu thi hành quản lý văn hóa giáo dục, trong hai trăm lý còn lại tiến hành phát huy vũ lực để phòng vệ. Yêu phục là khu vực có cự ly 1500-2000 lý tính từ đô thành Hạ, là khu vực mà Hạ hậu phải thông qua phương pháp kết minh giao thiệp để gia tăng ảnh hưởng. Trong ba trăm lý đầu thì thông qua đồng minh sống chung hòa bình, hai trăm lý còn lại là nơi lưu đày dân Hạ. Hoang phục là khu vực có cự ly 2000-2500 lý tính từ đô thành Hạ, là cương vực của dị tộc, chỉ có liên hệ gián tiếp với Hạ hậu thị. Trong ba trăm lý đầu là các dân tộc thiểu số, hai trăm lý ngoài là nơi lưu đày. Miêu tả về Cửu đẳng và Ngũ phục là theo cách nhìn của người thời Chu đối với kinh tế phú nạp của triều Hạ, không nhất định là thực tế vào thời Hạ. Như thép, thép cứng không có nhiều khả năng là vật phẩm thời Hạ, tước vị chư hầu thời kỳ Hạ cũng không có cách nào khảo chứng. Tuy nhiên, trong đó phản ảnh một số quan điểm, như Hạ hậu căn cứ đường đi xa gần và tình hình sản xuất các nơi để định ra các sản vật phải nộp khác nhau, có thể đúng là thực tế vào thời Hạ. Luận thuật về chế độ phú nạp của triều Hạ, "Mạnh Tử" viết "Hạ hậu thị năm mươi mà cống, người Ân bảy mươi mà trợ, người Chu trăm mẫu mà triệt, kỳ thực đều đánh thuế thập phân", ý là chế độ "cống" thời Hạ, "trợ" thời Ân và "triệt" thời Chu thực tế đều buộc dân hộ nộp một phần mười vật phẩm làm ra mỗi năm, và chế độ điền phú Tam Đại Hạ-Thương-Chu một mạch nối tiếp nhau, Cố Viêm Vũ dựa vào đó mà nhận định "chế độ điền phú từ thời cổ đến nay, thực tế bắt đầu từ Vũ". Chế độ thập phân của triều Chu lấy tổng thu hoạch bình quân trong vài năm của một dân hộ, sau đó thu một số trung dung không đổi làm số lượng thuế phải nộp., với sức sản xuất và sức bức xạ của chính quyền thời Hạ thì vẫn chưa đủ khả năng thi hành chế độ địa tô thực vật như vậy. Mạnh Tử viết chữ "cống", mang nghĩa thể hiện là giữa dân chúng và quý tộc không có yếu tố cưỡng chế quá lớn, mà có khả năng tồn tại tính tự nguyện ở một mức độ nhất định. Chế độ phú cống mang tính chất dân chúng tự chủ này phù hợp với thời Hạ, vốn có sức sản xuất thấp kém và chính quyền của Hạ hậu thị có cơ cấu không hoàn chỉnh, cũng gần gũi với trật tự kinh tế dân chủ của thị tộc bộ lạc nguyên thủy. Vào mạt kỳ triều Hạ, quan hệ giữa Hạ hậu thị và phương quốc bộ lạc xấu đi, Hạ hậu Kiệt thảo phạt tứ xứ, ông tăng số điền phú quy định để sung cho quân phí, tăng thêm gánh nặng cho nhân dân, kích thích tâm lý bất mãn, khiến họ phản lại Hạ hậu mà chạy sang với Thương Thang. Trong lúc chinh Hạ, Thang từng thề trước mọi người "tội Hạ như thế nào? Hạ vương làm hại đến sức của mọi người, chia cắt Hạ ấp, có dân chúng mệt mà chẳng giúp" để trách tội trạng chủ yếu của Kiệt. Ngoài việc cống thập phân, Kiệt còn bắt dân binh chinh dịch, sau đó dân chúng bất mãn nên chọn thái độ bất hợp tác. Nhìn sang chế độ "trợ" thời Ân-Thương, bình dân bách tính ngoài nghĩa vụ sản xuất nông nghiệp còn có trách nhiệm lao dịch với binh dịch là chính, kết quả là Thương tộc có thể động viên binh lực lớn hơn so với Hạ hậu. === Chế độ hình pháp === Văn hiến cổ chép rằng vào thời kỳ Hạ đã có chế độ hình pháp khá hoàn thiện. "Thượng thư-Lã hình" có viết "Mục vương theo Thục hình thời Hạ mà chế ra Lã hình", tức là chỉ việc Chu Mục vương lấy Thục hình của triều Hạ để chế định chế độ hình pháp của Chu quốc, là tham khảo trọng yếu của "Lã hình". "Thục hình" được viết trong văn bản có nhiều khả năng là một loại với "Vũ hình" trong Tả truyện "Hạ hữu loạn chính, nhi tác Vũ hình" Nhưng Thục hình, Vũ hình có phải là hình pháp vào thời Hạ hay không, nội dung cụ thể ra sao, đến nay vẫn chưa khảo được. Trong Tả truyện có dẫn thuật từ "Hạ thư" về hình pháp thời Hạ "hôn, mặc, tặc, sát", nghĩa là người phạm vào ba loại tội hôn, mặc, tặc này thì sẽ bị phán tử hình. Thúc Hướng nước Tấn gọi loại hình pháp này là "Cao Dao chi hình". Tuy quan niệm tử hình đã sản sinh từ thời đại đồ đá mới, song lý quan của Vũ là Cao Dao có khả năng là nhân vật đầu tiên pháp luật hóa tử hình. "Hoàn thổ" của Hạ hậu Hòe, nơi Thương Thang bị Hạ kiệt giam giữ là "Hạ đài" chính là nhà giam thời Hạ, nhà giam được ghi chép sớm nhất trong sách sử Trung Quốc. Hoàn thổ là một loại nhà giam nguyên thủy, có hình tròn được đào bên dưới lòng đất, trên mặt đất dựng bờ rào vây quanh thổ lao. "Đại Vũ mô" viết "giới chi dụng hưu, đổng chi dụng uy, khuyến chi dĩ "Cửu ca", tỉ vật hoại", đánh giá rằng việc Hạ hậu lập ra hình pháp là một loại thủ đoạn trong việc tiến hành trị lý dân chúng. == Chế độ quân sự == Do thiếu thốn sử liệu, tình hình cụ thể về chế độ quân sự triều Hạ khó mà khảo chứng được, chỉ có thể rút ra từ sử sách về chiến tranh. Trong "Cam thệ" có chép đến chiến tranh giữa Khải và Hữu Hổ thị, đề cập đến chi tiết Hạ hậu triệu lệnh Lục khanh, lục khanh là gọi chung tướng lĩnh sáu lộ quân đội, mỗi người trong đó lãnh đạo một đội quân, Hạ hậu có quân quyền tối cao, chỉ huy lục khanh, có thể thấy vào thời Hạ đã có chế độ quân quyền tập trung. "Cam thệ" có ghi rằng Hạ hậu ban hành lệnh động viên khi chuẩn bị thảo phạt Hữu Hổ thị, đây là ghi chép quân pháp sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc, rằng "tả bất công vu tả, nhữ bất cung mệnh; hữu bất công vu hữu, nhữ bất cung mệnh; ngự phi kì mã chi chính, nhữ bất cung mệnh. Dụng mệnh, thưởng vu tổ; phất dụng mệnh, thưởng vu xã. Dữ tắc nô lục nhữ"”, phản ánh quân pháp vào thời Khải tương đối nghiêm khắc.. "Tư Mã pháp-Thiên tử chi nghĩa ghi "kì, Hạ hậu thị huyền thủ, nhân chi chấp dã. Chương, Hạ hậu thị dĩ nhật nguyệt, thượng minh dã", có vẻ nói đến việc quân đội của Hạ hậu trên chiến trường có người cầm cờ sử dụng cờ đen để chỉ huy, binh tốt dựa vào dấu hiệu hình nhật nguyệt mà nhận biết. Kết hợp các ghi chép trong văn hiến và phát hiện khảo cổ có thể biết rằng thời Hạ có hai loại binh chủng là xa binh và bộ binh, đương thời còn chưa có kị binh. Thời Hạ đã có mã chiến xa làm bằng gỗ, binh sĩ trên xe phân thành tả, hữu, ngự, ngự giả điều khiển chiến xa và chỉ huy tác chiến, còn binh sĩ tả hữu bảo vệ cho ngự giả. Nhưng dựa theo sức sản xuất thời viễn cổ mà nói, việc chế tạo xe ngựa rất hạn chế, chỉ có thể cung ứng cho Hạ hậu hoặc tướng lĩnh chỉ huy thượng cấp sử dụng, xa binh không phải là chủ lực trên chiến trường. Bộ binh là bộ phận tổ thành chủ yếu của quân đội thời Hạ. Đương thời, binh sĩ và nông dân hợp nhất, chưa có quân đội chuyên nghiệp hóa, vào thời bình họ tham gia hoạt động nông nghiệp và súc mục nghiệp như thường, trong thời kỳ chiến tranh thì họ biến thành lực lượng quân sự. Binh khí thời viễn cổ bắt nguồn từ công cụ lao động sản xuất, đa số công cụ có thể sử dụng cho cả chiến tranh và lao động. Căn cứ vào các di vật khai quật được tại di chỉ văn hóa Nhị Lý Đầu, binh khí thời Hạ chủ yếu làm từ gỗ, đá, xương, ngoài ra sau kỳ thứ ba phát hiện được một ít binh khí bằng đồng thanh. Binh khí làm bằng gỗ chủ yếu là thù, bổng (gậy), cung, song do lõi gỗ dễ mục, số dụng cụ còn lại khá ít. Binh khí làm bằng đá có rất nhiều chủng loại, đại biểu có búa đá, rìu đá, mác đá, cầu đá, đầu mũi tên làm từ đá, đầu mâu làm từ đá. Vỏ trai dùng nhiều trong chế tạo đầu mũi tên, cũng như là vật phụ trợ để tăng cường tính sát thương cho thù gỗ hay gậy gỗ. Từ kỳ thứ ba về sau xuất hiện binh khí bằng đồng thanh, song chỉ là số ít, có khả năng là để Hạ hậu, tướng lĩnh và nhân sĩ thuộc thượng tầng trong xã hội đeo. Ngoài ra, còn có binh khí lễ nghi làm bằng đồng thanh và ngọc thạch, dùng làm vật phẩm tùy táng cho quý tộc. == Nhân khẩu == Nhân khẩu triều Hạ là vấn đề chưa thể xác định, do niên đại xa cách, chỉ có thể thông qua suy tính số học tiến hành nghiên cứu. "Hậu Hán thư-Quận quốc chí" bổ chú, dẫn từ "Đế vương thế kỷ" của Hoàng Phủ Mật (215-282) nói rằng: "đến khi Vũ bình thủy thổ, hoàn thành Cửu châu,...,dân khẩu 1.3553.923 người", song thực tế con số này là do Hoàng Phủ Mật căn cứ vào nhân khẩu thời Tần, Hán, Tây Tấn mà suy tính ngược ra. Học giả hiện đại Tống Trấn Hào căn cứ việc khi Thiếu Khang cát cứ Luân ấp "hữu chúng nhất lữ" cùng với chủ giải của Đỗ Dự "500 người là một lữ", tiến hành suy tính và nhận định 500 người chỉ là binh số có thể phái đi, cộng thêm người già, phụ nữ, trẻ nhỏ thì Luân Ấp có nhân khẩu 1500-2500 người, là số nhân khẩu một thành ấp hạng trung tiểu thời Hạ. Tuy nhiên, "chúng nhất lữ" chưa hẳn là một đơn vị số lượng chính xác, cũng có thể lý giải là mang ý một quần thể người, chỉ có thể nói rằng vào thời kỳ Thiếu Khang đã có khái niệm về số lượng nhân khẩu nhất định. Do không có văn hiến ghi chép truyền thế đến nay, ngay cả việc thời Hạ đã từng tồn tại chế độ điều tra nhân khẩu, hiện cũng không thể thảo luận. Thống kê nhân khẩu chỉ có ý nghĩa trong giới hạn phạm vi không gian cụ thể, song nay không thể phục nguyên chính xác phạm vi thế lực cụ thể của triều Hạ, do vậy cũng không thể tham khảo nghịch suy. "Thượng thư đại truyện- Ngu truyện" giảng thuật là vào thời Thuấn "tám nhà xưa là một lân, ba lân thành một bằng, ba bằng thành một lý năm lý thành một ấp, mười ấp thành một đô, mười đô thành một sư, châu gồm mười hai sư". Vương Dục Dân căn cứ theo ghi chép này, giả sử mỗi nhà có năm khẩu, tính rằng thời Ngu Hạ có 432.000 hộ, 2,16 triệu người. Cuối cùng, dựa theo di chỉ khảo cổ văn hóa Nhị Lý Đầu để suy tính, Tống Trấn Hào thống kê rằng có ba thành ấp có nhiều đến 5000 cư dân, một chỗ có 4000-5000 nhân khẩu, 4 chỗ có 3000 nhân khẩu, 9 chỗ có 1.000 hay 2.000 nhân khẩu, 9 chỗ có 500-900 nhân khẩu, 5 chỗ có dưới 300 nhân khẩu. 27 thành ấp dạng mẫu bình quân nhân khẩu 1.000-1800 người, do vậy ước tính tổng nhân khẩu trong khoảng 2,4-2,7 triệu người. == Xã hội == Triều Hạ nằm trong khoảng thời gian manh nha quá độ từ thị tộc bộ lạc đến quân chủ quốc gia, lễ học gia cổ đại xác định triều Hạ là kết thúc của thời kỳ "Đại đồng", bắt đầu thời kỳ "Tiểu khang". Toàn thiên "Lễ ký-Lễ vận" mô tả toàn diện về xã hội "Tiểu khang" bắt đầu từ thời Vũ, thời kỳ Đại đồng "Thiên hạ là của chung, tuyển dụng người hiền năng", song về thời kỳ "Tiểu khang" thì viết rằng "nay đại đạo đã ẩn, Thiên hạ là của triều đình", giảng thuật là thời Vũ Khải "công thiên hạ" biến thành "gia thiên hạ", không truyền cho người tài đức mà truyền cho con. Biến đổi này là bước ngoặt trong quá trình phát triển chính trị xã hội Trung Quốc, nguyên nhân chính là hình thức sản xuất vật chất phát triển nhanh chóng trong xã hội vãn kỳ thời đại đồ đá mới. Trong khi sản lượng vật phẩm dư thừa nhiều lên, thì quyền lợi của quý tộc thị tộc cũng tăng cao, theo sau đó là mâu thuẫn nội bộ thị tộc trở nên mãnh liệt và một thiểu số quý tộc thượng tầng lũng đoạn đối với của cải vật chất. Dưới tình hình này, chế độ thiện nhượng dân chủ trong thị tộc bộ lạc không thể thích ứng với hình thế xã hội mới và bị chế độ quân chủ thế tập thay thế. Chế độ thế tập sản sinh cạnh tranh tranh đoạt quyền lực trong nội bộ thị tộc, bào tộc, cuối cùng xuất hiện vấn đề quân sự. Tình hình này ngay từ thời kỳ Thuấn Vũ đã cấu thành vấn đề, vì vậy Vũ mới có thể phá lệ thiện vị cho con. Hoặc nói là Vũ trước tiên muốn nhượng cho Cao Dao tuổi đã cao, rồi lại nhượng cho Ích song người này không được lòng người, đối với việc này người thời Chiến Quốc nói rằng Vũ bề ngoài là truyền Thiên hạ cho Ích, song kỳ thực lệnh cho Khải tự đoạt lấy. "Lễ ký-Đàn cung hạ" nói rằng "tích giả Hữu Ngu thị quý đức nhi thượng xỉ Hạ hậu thị quý tước nhi thượng xỉ, Ân nhân quý phú nhi thượng xỉ; lại nói rằng "Hạ hậu thị vị thi kính vu dân nhi dân kính chi". Trước thời Hạ, thời kỳ Thuấn thực hành chế độ thiện vị, quân chủ dựa theo phẩm hạnh mà thoái nhượng, coi trọng đức tính của người kế tục. Đến thời kỳ nhà Thương, sức sản xuất được nâng cao đáng kể, các hộ gia đình có sản phẩm dư thừa, nhân dân bắt đầu xem trọng việc tích lũy của cải. Thời Hạ thuộc giai đoạn quá độ giữa xã hội thị tộc nguyên thủy và xã hội phong kiến thế tập, hình thành quan niệm đẳng cấp, giá trị của con người dần được định vị dựa theo đẳng cấp của họ trong xã hội, sự khác biệt đẳng cấp này được truyền cho nhau theo phương thức thế tập cha chết con nối, anh chết em kế tục. Một cá nhân trong xã hội được đãi ngộ theo lễ tiết, căn cứ theo đẳng cấp xã hội của họ chứ không phải theo đức tính phẩm cách của họ. Triều Hạ nằm ở giai đoạn quá độ giữa hậu kỳ của thời đại đồ đá mới và thời đại đồng thanh, về sinh hoạt xã hội thì kỹ thuật sản xuất được nâng cao, thực hiện trung ương tập quyền đồng thời có sự biến hóa về chất. == Kinh tế == === Nông nghiệp === Vào thời Hạ, văn minh nông nghiệp có sự phát triển khá lớn. "Luận ngữ-Thái bá" ghi rằng "Vũ tận lực vào ngòi lạch", biến thủy tai thành thủy lợi, phục vụ trồng cấy. Kỳ thực việc ứng dụng kỹ thuật thủy lợi là do nhân dân lưu vực Hoàng Hà trong quá trình lao động thực tiễn dần tích lũy được, không phải chỉ do Đại Vũ tiến hành Theo truyền thuyết, đại thần của Vũ là Nghi Địch bắt đầu cất rượu, Hạ hậu Thiếu Khang cũng phát minh ra phương pháp cất rượu nếp. Vào hậu kỳ thời đại đồ đá mới, văn hóa Long Sơn thuộc văn hóa Trung Nguyên đã có tập quán cất rượu, đến thời Hạ khi mà sức sản xuất cao hơn thì cất rượu ngon, uống rượu ngon trở thành một cách để tượng trưng cho quyền lực và tài lực. Trong văn hiến cổ có ghi chép đến các truyền thuyết "Đỗ Khang làm rượu", "Nghi Địch làm rượu", "Thái Khang làm rượu nếp", "Thiếu Khang làm rượu nếp", chúng là những bằng chứng về tầm quan trọng của rượu trong thời kỳ này. Thời kỳ Hạ-Thương-Tây Chu, rượu đều cất từ lương thực và có số độ không cao, cũng không nồng mạnh. Trong "Lễ ký-Ngọc tảo" có chép rằng cổ nhân uống ba chén (túc) rượu xong thì đầu óc vẫn tỉnh táo. Để đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp, người ta khám phá ra quy luật các mùa của nông sự, loại nông lịch vẫn được lưu hành đến nay từng được gọi là Hạ lịch- có khả năng được biên thành vào thời Hạ. Súc mục nghiệp có sự phát triển nhất định, còn có một số thị tộc bộ lạc chuyên môn chăn nuôi, như Hữu Hỗ thị sau khi thua Hạ hậu trong trận chiến tại Cam bị biếm làm mục nô làm việc chăn nuôi. Thức ăn chủ yếu của thứ dân Tam đại là cháo, cơm nấu từ các loại hạt. Đem các loại kê, gạo nấu thành cháo loãng, cháo đặc dùng để ăn, xã hội thượng tầng thì ăn nhiều cơm, có khi còn ăn rau xanh. Chỉ khi cử hành hoạt động tế tự quy mô lớn thì mới giết thịt gia súc để tế, thịt cúng đặt ở trong chiếc đỉnh trữ dưới lòng đất. Tại nhiều điểm di chỉ văn hóa Nhị Lý Đầu phát hiện được các mẫu vật vỏ kê, vỏ thóc. === Thủ công nghiệp === "Khảo công ký" có viết rằng "Hạ hậu thị thượng tượng", thể hiện rằng Hạ hậu xem trọng sản xuất thủ công nghiệp. Triều Hạ thành công trong việc đưa văn minh Trung Nguyên từ thời đại đồ đá quá độ sang thời đại đồ đồng. Các đồ vật thời đại đồ đá mới như đồ đá tinh xảo, đồ xương sừng, đồ vỏ trai dần bị đồ gốm, đồ sơn mài, đồ ngọc thạch, đồ ngọc lam, đồ đồng, đồ đồng thanh thay thế. Tương truyền, vào thời kỳ Nghiêu Thuấn đã sử dụng đồ sơn, sang thời kỳ Hạ Vũ được sử dụng làm đồ tế, "mặc nhiễm kỳ ngoại, nhi chu họa kỳ nội". Thời kỳ viễn cổ, nhân dân sử dụng rộng rãi đồ gỗ và sơn, song đồ làm bằng gỗ dễ dàng bị mục, không dễ bảo tồn, hiện nay khai quật được khá ít. Tại di chỉ Nhị Lý Đầu khai quật được một cái bàn nhỏ được sơn, lớp gỗ đều đã mục nát, song vẫn có thể phân tích ra hình dạng. Từ việc nghiên cứu hình dạng, phát hiện ra có nhiều loại như ống sơn, trống sơn, bát sơn, hộp sơn đáy bằng, hay quan tài sơn. Chế tạo đồ ngọc thạch thời Hạ đã có trình độ tương đối, "Tả truyện" viết rằng vào thời Chu sơ phân phong Lỗ quốc công Bá Cầm, ban cho bảo ngọc truyền thế, "Hạ hậu thị chi hoàng" Tại di chỉ Nhị Lý Đầu khai quật được nhiều loại đồ ngọc như qua ngọc, đao ngọc, khuê ngọc, tông ngọc, bản ngọc, việt ngọc. Các loại đồ ngọc này dùng làm vật phẩm trang trí trong lễ nghi, không phải là công cụ dùng trong thực tiễn. Trong số văn vật khai quật thuộc kỳ thứ ba của văn hóa Nhị Lý Đầu có binh khí làm bằng đồng thanh sớm nhất của Trung Quốc, ứng với ghi chép "Vũ huyệt chi thời, dĩ đồng vi binh". Có nhiều chủng loại đồ đồng như qua, đao, đục, chùy, móc câu. Ngoài ra, còn phát hiện vết tích của việc chế tạo đồ đồng như than gỗ, vụn đồng đỏ, mảnh khuôn đúc, mảnh nồi nấu. Vào thời kỳ đồ đá mới, nghề xe sợi dệt vải có tiến bộ, xuất hiện khung cửi nguyên thủy, nguyên liệu xe sợi dệt vải trong xã hội hạ tầng phần nhiều là từ sắn dây, đay, còn trong xã hội thường tầng thì dùng nhiều lông, da, đương thời đã có tập quán nhuộm y phục. Mặc dù đến nay vẫn chưa phát hiện ra chứng cứ khảo cổ chứng tỏ văn hóa Nhị Lý Đầu sử dụng lụa, song đã có phát hiện khảo cổ liên quan trong văn hóa Long Sơn, văn hóa Đại Vấn Khẩu, văn hóa Lương Chử có niên đại sớm hơn, kết hợp với ghi chép trong "Hạ tiểu chính" là "tam nguyệt,... nhiếp tang. Tang nhiếp nhi ký chi, cấp tang dã....thiếp, tử thủy tàm, thì việc người Hạ từng sử dụng sản phẩm tơ lụa cũng có tình có lý. === Thương nghiệp === "Diêm thiết luận" có viết rằng "Hạ hậu dùng sò đen", cho thấy người thời Hán nhận định triều Hạ dùng tiền vỏ sò. Nhiều nền văn hóa viễn cổ trên thế giới dùng vỏ sò vỏ trai trong thiên nhiên làm tiền tệ, tiền đề của việc này là phải đủ về số lượng, đồng thời có thể cung ứng vỏ sò biển trong một thời gian dài. Tuy nhiên, Hạ hậu thị là văn minh sông nước, phạm vi thế lực chỉ giới hạn trong trung hạ du Hoàng Hà, đến trung vãn kỳ mới khoách trương đến bờ Hoàng Hải, trước đó Hạ hậu thị từng đối địch một thời gian dài với tộc Di ở phía đông, không có nhiều khả năng dự trữ được nhiều vỏ sò vỏ trai. Thương nghiệp giao dịch vào thời Hạ có khả năng thông qua hạt lương thực và gia súc còn sống để hoàn thành. Tại di chỉ Nhị Lý Đầu phát hiện vỏ sò thiên nhiên và nhân tạo, chúng có khả năng đảm đương nhiệm vụ tiền tệ. == Giao thông và kiến thiết == Trong quá trình trị thủy, Đại Vũ mở núi thông sông, có tác dụng lớn đối với sự phát triển giao thông đường thủy và đường bộ thời cổ đại. "Sử ký-Hạ bản kỷ" có viết thời Vũ trị thủy "đi đường bộ ngồi xe, đi đường thủy ngồi thuyền, đi qua bùn dùng khiêu (橇), qua núi dùng cúc (檋),... để mở mang cửu châu, thông cửu đạo, vượt cửu trạch, qua cửu sơn,... khi đem đồ cống tương ứng từ địa phương, đến chỗ sông núi thì có tiện lợi" thể hiện khi Đại Vũ trị thủy thì việc thông hành hết sức bất tiện, Đại Vũ lợi dụng các công cụ giao thông như xe, thuyền, khiêu để vượt sông suối bùn cát. Ông suất lĩnh quần chúng xây đắp đường bộ liên thông cửu châu, hỗ trợ việc thực thi chế độ cống nạp, cũng tạo điều kiện cho giao lưu kinh tế giữa các nơi. Khu vực giao thông của Hạ hậu chiều đông tây ít là 500-600 lý, chiều nam-bắc ít là 300-400 lý. "Quốc ngữ-Chu ngữ" có chép "Hạ ra lệnh nói rằng tháng 9 mở đường, tháng 10 xong cầu", tháng 9 nông lịch là sau mùa mưa, sửa sang đường bộ, tháng 10 nông lịch là sang mùa đông khô hạn thì xây cầu. Di chỉ Nhị Lý Đầu tại Yển Sư có quy mô lớn chưa từng thấy trong lưu vực Hoàng Hà thời viễn cổ, trong văn hóa khảo cổ cùng thời kỳ cũng không có. Tại trung tâm địa lý của khu vực văn hóa Nhị Lý Đầu có thể là một tòa đô ấp hoặc thành thị lớn thời Hạ. Đã xác nhận có hai tòa cung điện số 1 và 2, riêng tại tường phía bắc của cung điện số 2 còn có nền móng số 6 có kích thước đồng đẳng thuộc kỳ thứ 4. Hai quần thể kiến trúc này thể hiện bố cục trục tuyến giữa. Cung điện số 1 có hình hơi vuông, khuyết một góc đông bắc, chiều đông tây tổng cộng rộng 96,2 mét, chiều nam bắc tổng cộng dài 107 mét, tổng diện tích mặt đất là 9585 m². Điện đường chính nằm ở phía bắc trông về phía nam, mặt rộng 8 gian, vào sâu 3 gian. Bốn phía có tường vách bao quanh, trong có lang vũ hành đạo, tường đông có một phòng bên. Trên trục tuyến giữa hướng về chính nam có cửa lớn mở rộng, phân thành ba môn đạo, mỗi phía bắc và đông có một cửa bên. Cung điện số 2 đông tây rộng 58 m, bắc nam dài 72,8 m, có tường bao quanh bốn mặt và hồi lang ba mặt đông, nam, tây. Cung điện số 1 và 2 đều có đường ống thoát nước làm từ gốm, song hệ thống ở cung điện số 2 được bảo tồn tương đối hoàn chỉnh, đường ống cấu thành từ nhiều phần ống gốm liên tiếp. Mỗi phần có đường kính từ 16,5–22 cm, dài 52–58 cm, dày khoảng 2 cm, đặt trong một rãnh được đào trước sâu 1 mét dưới đất nhằm đề phòng thấm nước. Bản đá dày 5–7 cm được gác phía trên ống gốm, rãnh, nhằm đề phòng người đi tạo sức ép làm vỡ ống gốm. óng gốm có xu thế tây cao đông thấp, thông qua chênh lệch độ cao để đưa nước mưa từ trong cung điện đình viện ra bên ngoài. Ngoài khu cung điện có đường đất dọc ngang đan xen, xưởng thủ công, tường thành đất nện. == Văn hóa == === Nghệ thuật === Thời Hạ, xã hội bắt đầu hình thành giai cấp trên dưới, sản phẩm nghệ thuật cũng theo đó mà phân hóa. Đồ vật mà nhân dân hạ tầng sử dụng có tạo hình thực dụng, hoa văn trang trí giản đơn, phát triển theo phương hướng thẩm mỹ chất phác. Lễ khí của quý tộc vương thân thượng tầng có hoa văn trang trí phức tạp, diễn biến phương hướng tạo hình biến hóa đa dạng. Khí cụ dùng để đựng đồ vật của hạ tầng có hoa văn phần nhiều là các dạng hình học, hoặc có hoa văn gia súc, hoa văn cá và một số đề tài khác có liên quan đến sản xuất nông nghiệp. Lễ khí thượng tầng có hoa văn trang trí thường thấy là hình mây sấm phức tạp, hình mắt, hình con rắn, hình mặt thú, đề tài phần nhiều có quan hệ với quỷ thần. Chế tạo đồ gồm tại văn hóa vãn kỳ Long Sơn và văn hóa tảo kỳ Nhị Lý Đầu có giá trị nghệ thuật tương đối cao. Đồ gốm kỳ thứ hai, thứ ba khai quật từ Nhị Lý Đầu có bề mặt phần nhiều được trang trí bằng các loại hoa văn trang sức như vân màu lam, vân dây, vân hình vuông, đôi khi thấy chạm khắc các loại vân hình móng tay, nét vạch, lông chim, vòng tròn. Thời Tam đại chỉ có nghệ thuật trang sức cho các đồ vật thực dụng, thiếu tác phẩm nghệ thuật vì nghệ thuật. === Âm nhạc === Trung Quốc vào 9000 năm trước, tức sơ kỳ thời đại đồ đá mới, đã có xuất hiện nhạc khí. Về khởi thủy của âm nhạc tại Trung Quốc, các văn hiến ghi chép khác nhau. "Lã thị Xuân Thu-Cổ nhạc thiên" và "Thượng thư-Ích tắc" ghi rằng vào thời kỳ Đế Khốc, Đế Thuấn đã có nhiều loại nhạc khí, trong đó danh xưng một số loại nhạc khí nói chưa rõ. "Sơn Hải kinh-Đại hoang tây ký" ghi rằng "khai thượng tam tần vu thiên, đắc 'cửu biện' dữ 'cửu ca' dĩ hạ. Thử thiên mục chi dã, cao nhị thiên nhận, khai yên đắc thủy ca 'cửu thiều'", nói lại rằng Hạ hậu Khải cưỡi rồng làm khách Thiên cung, trộm lấy 'cửu ca', 'cửu thiều' 'cửu biện' của Thiên Đế để tự mình hưởng dụng, do vậy mà nhân gian có ca nhạc. "Lã thị Xuân Thu-Âm sơ" ghi rằng khi Đại Vũ tuần thị đông nam thì gặp gỡ nữ nhi của Đồ Sơn thị, Đồ Sơn thị sáng tác một bài ca "Hậu nhân hề y", đấy là tình ca sớm nhất được ghi chép trong văn hiến, có thuyết cho là khởi điểm của Nam âm thời Hán. "Chu Lễ-Đại ty nhạc" ghi rằng người thời Hạ vì ca tụng công lạo trị thủy của Đại Vũ nên biểu diễn "Đại Hạ", dùng làm nhạc vũ tế tự núi sông, đến thời Chiến Quốc còn được Lỗ quốc dùng làm vũ nhạc diễn xuất cung đình. "Lễ ký-Tế thống" ghi rằng "bát dật dĩ vũ Hạ", tám người thành một dật, tám dật là 64 người tổ thành đội hình biểu diễn có chiều dọc ngang đều nhau, dựa theo lễ pháp thời Chu thì chỉ có thiên tử triều Chu mới có thể dùng đội hình lớn như vậy, có thể thấy "Đại Hạ" có đẳng cấp cao. Nhạc khí thời kỳ Hạ được chế tác từ xương, gỗ, đá, da, gốm; chủng loại bao gồm dụng cụ diêu hưởng, hưởng cầu, địch, tiêu, cổ, khánh, chung, linh, huân, sừng hiệu lệnh. So với các nền văn hóa khảo cổ xung quanh, nhạc khí khai quật thuộc văn hóa Nhị Lý Đầu rất thiếu thốn. Năm 1960, tại tầng kỳ thứ ba của di chỉ Nhị Lý Đầu tại Yển Sư đã khai quật được một huân gốm màu tro, tâm rỗng, hình quả trám, phần đầu có một miệng thổi nhỏ, một bên phần thân giữa có lỗ âm có đường kính 0,4 cm, qua thử nghiệm thì nó có thể phát ra hai âm: la thăng thứ, đô thứ. Cũng phát hiện được thạch khánh làm bằng đá, dài 55,5 cm, cao 28,5 cm, dày 4,8 cm, tạo hình đã tiếp cận khánh lễ làm bằng đồng thanh thời kỳ Thương-Chu. === Văn học === Nhân dân thời Hạ chủ yếu sử dụng hình thức văn học truyền miệng trong sáng tác văn học. Đề tài ca dạo và sinh hoạt lao động có liên hệ mật thiết, và thần thoại được sử dụng để giải thích một số sự vật khó hiểu trong thế giới tự nhiên. Tuy nhiên, những văn học truyền khẩu này không được truyền bá đến nay, nên trước khi có thể phát hiện tài liệu văn tự đồng thời kỳ với triều Hạ, thì không thể có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về văn học thời Hạ. Có thể gọi nó là thời gian nghệ thuật xưa của văn học nghệ thuật Trung Quốc. Người thời Chu súng kính văn hóa triều Hạ, trong tất cả các phương diện đều phỏng theo người thời Hạ mà tạo nên. Trên phương diện ngôn ngữ, người thời Chu nhận định ngôn ngữ thông dụng của triều Hạ là "Hạ ngôn" Thời Thượng cổ, "Hạ" 夏, "Nhã" 雅 tương thông, "Hạ ngôn" cũng gọi là "nhã ngôn", là ngôn ngữ được sử dụng trong giao lưu giữa nhân sĩ thuộc thượng tầng xã hội triều Chu, "Thi Kinh" thời Chu chính là sử dụng nhã ngôn để sáng tác === Kỹ thuật === Nghề đúc đồng là thủ công nghiệp mới nổi trọng yếu của triều Hạ. Trong các văn vật thời kỳ thứ nhất và thời kỳ thứ nhì của di chỉ Nhị Lý Đầu, xuất hiện đồ lễ làm bằng ngọc, thể hiện nó có một trình độ văn hóa tương đối. Ngoài ra, nghề làm đồ gốm thời Hạ có khả năng đã trở thành một ngành công nghiệp độc lập rất trọng yếu. Đối với đồ đồng thanh, Trung Quốc đã phát hiện ra dao đồng của văn hóa Nhị Lý Đầu. Nếu như văn hóa Nhị Lý Đầu được xác nhận là văn hóa thời kỳ Hạ, thì đây là đồ đồng thanh của thời kỳ triều Hạ. Công cụ mà người thời Hạ sử dụng được nhận định chủ yếu là đồ đá. "Chu thư" chép rằng vào thời Hạ Kiệt, Côn Ngô thị đem phôi bùn nung thành ngói, cho thấy kiến trúc cuối thời Hạ đã bắt đầu sử dụng ngói.。 Trong văn hiến thời Tiên Tần có ghi chép về việc quan triều hạ là Hề Trọng tạo ra xe, viễn tổ nước Tiết là Hề Trọng được Hạ Hậu bổ nhiệm làm 'xa chính', quản lý sự vụ chế tạo xe. "Sử ký-Hạ bản kỉ" cũng ghi chép rằng trong thời Hạ Vũ trị thủy "đi đường bộ ngồi xe, đi đường thủy ngồi thuyền", cho thấy xe đã xuất hiện ngày từ thời Đại Vũ. "Tả truyện" chép rằng "minh thí dĩ công, xa phục dĩ dung", rằng Hạ hậu đem xe làm vật thưởng công cho hạ quan. Ngoài ra, "Thế bản" có chép rằng "Hợi tác phục ngưu,Tướng Thổ tác thừa mã”, và có bốc từ Ân khư làm chứng, chứng minh bộ tộc Thương đồng thời kỳ đã có xe ngựa. Bè và thuyền độc mộc xuất hiện sớm nhất là vào trung kỳ văn hóa Long Sơn thuộc thời đại đồ đá mới, người Hạ trong một thời gian dài đã cư trú nương nhờ Hoàng Hà, Y Thủy, Lạc Thủy, thuyền bè do vậy trở thành công cụ vượt sông phổ biến. Thời Hạ vào trung hậu kỳ bước vào thời đại đồng thanh, sự xuất hiện của công cụ thuộc kim tạo điều kiện để chế tạo thuyền độc mộc, có thể nói thuyền mộc bản xuất hiện sớm nhất tại Trung Quốc là vào thời Hạ. Tộc Đông Di cư trú ven bờ Hoàng Hải, sở hữu kỹ thuật hàng hải khá cao, đây là lĩnh vực mà Hạ hậu thị với văn minh dòng sông không thể theo kịp. "Luận ngữ-Hiến vấn" chép rằng "Nghệ thiện xạ, Ngạođãng chu”, Ngạo tức là con của Hàn Trác tên Kiêu, rằng ông là một nhân vật giỏi điều khiển thuyền, và lại có chữ "đãng" nên có thể nói đây là một kiểu đi thuyền có mục đích, dùng nhân lực điều khiển khống chế, không phải để trôi dạt như trước. "Vũ cống" nói "triêu tịch nghênh chi, tắc toại hành nhi thượng”, rằng người Hạ biết lợi dụng quy luật thủy triều sáng tối để đi thuyền. === Thiên văn lịch pháp === Người thời Hạ có khả năng đã sở hữu nhiều tri thức về thiên văn, lịch pháp. "Tả truyện-Chiêu công thập thất niên" dẫn từ "Thượng thư-Hạ thư" chép rằng "thần bất tập vu phòng", chỉ việc Mặt Trời không xuất hiện hoàn chỉnh ở phía trên không của ngôi nhà, đây là ghi chép về nhật thực sớm nhất của Trung Quốc được biết đến "Trúc thư kỉ niên" ghi rằng vào năm Hạ Kiệt thứ 15 "Dạ trung tinh vẫn như vũ" (trong đêm sao rơi như mưa), là ghi chép sớm nhất về mưa sao băng. "Thái bình ngự lãm" dẫn "Hiếu kinh câu mệnh quyết" viết "(Vũ thời, ngũ) sao chồng chất như quán châu, rõ như liên bích。", chép về việc vào sơ kỳ thời Hạ từng xảy ra hiện tượng thiên văn hiếm thấy "ngũ tinh tụ" của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Thời ba vị quân chủ vãn kỳ triều Hạ là Dận Giáp (Cận), Khổng Giáp, Lý Quý (Kiệt), đều lấy thiên can làm tên, cách làm này gần như phương thức mệnh danh của quân chủ triều Thương, nếu quả thực là xưng vị thời Hạ chứ không phải biệt danh người thời Ân-Chu thêm vào, thì có thể nói phép ghi ngày Can Chi đã xuất hiện vào vãn kỳ triều Hạ. Căn cứ "Trúc thư kỉ niên", lúc thay thế Hạ-Thương, có viết về các hiện tượng kỳ dị "hoàng sắc đích thanh oa, hôn ám đích điều dưỡng, tam cá thái dương, thất nguyệt kết sương hòa ngũ cốc điêu linh" (sương mù màu vàng, một mặt trời mờ, sau đó ba mặt trời, sương giá trong tháng bảy, ngũ cốc tàn rụng), có học giả nhận định đó là ghi chép về phun trào núi lửa Minoa tại khu vực nay thuộc Hy Lạp。   Trong "Luận ngữ", Khổng Tử chủ trương "hành Hạ chi thời", đến nay nông lịch truyền thống Trung Quốc còn có biệt danh là "Hạ lịch", dựa theo những dấu tích này có thể nói rằng vào thời Hạ do nhu cầu sản xuất nông nghiệp, kết hợp tri thức thiên văn tích lũy được mà biên thành lịch pháp giản đơn. "Hạ lịch" đều có ghi chép trong các văn hiến thời Tiên Tần như "Thi Kinh", "Tả truyện", "Trúc thư kỉ niên", ít nhất là thông dụng trong nội bộ nước Đường (tức nước Tấn) thời Chu sơ. "Hạ tiểu chính" nguyên là một thiên của "Đại đái lễ ký", kinh văn này có một bộ phận câu văn giản ước thâm sâu, không như văn phong Đông Chu, chậm nhất là hoàn thành vào tảo kỳ Xuân Thu, là lịch thư sớm nhất của Trung Quốc, có ghi chép giản đơn về vật hậu, khí hậu, tinh tượng các tháng. "Hạ tiểu chính" căn cứ theo sự đầy khuyết của Mặt Trăng mà phân một năm thành 12 tháng, song không có dấu hiệu 5 năm đặt hai tháng nhuận, cũng không phân biệt bốn mùa. Trong ghi chép tháng 5 có "thời hữu dưỡng nhật", trong ghi chép tháng 10 có "thời hữu dưỡng dạ", "Tả truyện" chú giải "dưỡng giả trường dã", nói rằng tháng 5 của "Hạ tiểu chính" có ngày dài nhất (tức Hạ chí", tháng 10 có đêm tối dài nhất (tức Đông chí), tuy nhiên Đông chí tại bình nguyên Hoa Bắc ứng vào tháng 11 thay vì tháng 10, cho thấy rằng loại lịch pháp này không chuẩn xác, niên đại chế thành tương đối nguyên thủy. === Tôn giáo === Sức sản xuất thời kỳ viễn cổ thấp kém, ngay cả trong điều kiện thời tiết thuận lợi cũng không thể hoàn toàn tránh được nguy hiểm thiếu lương thực. Nhân dân nhận thấy bất lực trước tình hình, tìm cách thông qua lực lượng tự nhiên siêu việt để đạt đến nguyện vọng chi phối tự nhiên nhằm đảm bảo được mùa. Do đó hi sinh người và động vật để làm hài lòng thiên thần, thử lợi dụng hoạt động tế tự nhằm thoát khỏi áp lực của thế giới tự nhiên đối với sinh tồn của nhân loại. Tế người tại lưu vực Hoàng Hà sớm nhất được biết đến là trong văn hóa Tề Gia tại thượng du, đương thời thường là vợ tuẫn táng theo chồng, sau phát triển thành nô bộc tuẫn táng, cho rằng linh hồn của thê thiếp và nô bộc có thể phục vụ chủ nhân trong thế giới sau khi chết. Văn hóa Nhị Lý Đầu cũng có dấu tích của việc tế người, song quy mô rất nhỏ so với số lượng tế tự hàng trăm người thời Thương. Mộ táng tại di chỉ Nhị Lý Đầu thuộc Yển Sư phân thành hai loại là mộ có huyệt và mộ không có huyệt. Mộ đất một người có huyệt chiếm đa số, người được chôn nằm ngửa và thẳng, hiện tượng bồi táng khá ít. Ngoài ra, còn có một thiểu số là mộ không huyệt, không có đồ tùy táng, đôi khi có mảnh vỡ đồ gốm, thậm chí có khi đồng táng với thú vật, có thể thấy người được chôn có địa vị xã hội thấp kém, khi còn sống có khả năng là tội nhân, tù binh chiến tranh, hoặc nô bộc. Nhiều người được chôn trong mộ không huyệt thể hiện dấu hiệu tử vong không bình thường. Thân thể người được chôn có tư thế cực kỳ không tự nhiên, có các dấu hiệu bị trói trước khi chết như hai tay bắt chéo giơ quá đỉnh đầu, đặt trước ngực, hoặc cong về sau lưng, thậm chí còn có một số sọ bị vỡ, thân và đầu tách rời. Có khả năng là chứng cứ về nhân tế, nhân tuẫn thời kỳ Hạ. Trừ tế người, tế ruộng, thời Hạ còn có hoạt động tế nhà, xung quanh cung điện số 1 kỳ thứ ba của di chỉ Nhị Lý Đầu có một số hố tế tự, phát diện xương các loài thú như chó, lợn Còn có năm ngôi mộ táng tại khu sân và hành lang, người được chôn đều tử vong không bình thường, không có vật phẩm tùy táng, huyệt mộ chật hẹp, phá vỡ nền móng cung điện, không xác định được là tế tự dựng móng hay tế tự hoàn thành。 Nhân dân viễn cổ khi nướng thịt thú thì phát hiện hiện tượng xương bị vỡ, tạo thành những vết nứt vỡ với hình dạng khác nhau, có phần khó hiểu, khiến người xưa chú ý. Sau này, khi đạt được kết quả viên mãn trong các hoạt động như săn thú, chiến tranh, mọi người bắt đầu liên hệ hai thứ với nhau, xem đó là điềm trước của thần linh với sự vật, tích lũy thành tri thức gọi là chiêm bốc. Do trình tự phức tạp, tri thức nhiều và sâu, nên trong bộ lạc có vu sư chuyên việc xem bói, độc quyền giải thích bốc cốt. Lưu vực Hoàng Hà trong thời kỳ văn hóa Long Sơn bắt đầu hưng thịnh chiêm bốc. "Tả truyện" chép rằng triều Hạ có quan lại chiêm bốc. Toàn kỳ thứ 4 văn hóa Nhị Lý Đầu đều khai quật được bốc cốt bả vai bò, dê, lợn. Những bốc cốt này chỉ bị đốt cháy ở mặt sau, không đâm không đục, chưa khắc chữ, tương đối nguyên thủy hơn so với bốc từ Ân Khư。 == Danh sách quân chủ == == Chú thích == == Tư liệu tham khảo == Ghi chú === Thư mục tham khảo ===
sắc lệnh 13769.txt
Sắc lệnh 13769 hay Sắc lệnh bảo vệ quốc gia khỏi nhập cư của khủng bố nước ngoài vào Hoa Kỳ, còn được gọi là "Muslim ban" (cấm Hồi giáo), là một sắc lệnh do Tổng thống Mỹ Donald Trump ký vào ngày 27 tháng 1 năm 2017. Sắc lệnh hạn chế cả việc đi lại và cư trú của người từ một số quốc gia ở Trung Đông và châu Phi. Sắc lệnh này, một phần của các cam kết liên quan đến di trú trong chiến dịch tranh cử tổng thống của Trump, thiết lập một số quy định về nhập cảnh vào Hoa Kỳ, trên cơ sở rằng chính phủ đã không thể ngăn chặn tất cả các cuộc tấn công của các công dân nước ngoài được nhận vào Hoa Kỳ. Các quy định nổi bật nhất của sắc lệnh là quy định về việc đình chỉ việc nhập cảnh của công dân nước ngoài từ một số quốc gia nhất định vào Hoa Kỳ. Cụ thể, lệnh đình chỉ chương trình Tiếp nhận người tị nạn Hoa Kỳ (USRAP) trong 120 ngày, sau đó chương trình sẽ tiếp tục có điều kiện cho từng nước riêng rẽ trong khi ưu tiên người tị nạn của các tôn giáo thiểu số. Lệnh cũng ngưng vô thời hạn đình chỉ việc nhập cảnh của những người tị nạn chạy trốn khỏi ISIS và cuộc nội chiến ở Syria. Hơn nữa, lệnh này đình chỉ nhập cảnh bất kể thị thực phi ngoại giao còn hiệu lực, mà có tất cả đều bị thu hồi, đối với công dân nước ngoài từ bảy quốc gia trong 90 ngày, sau đó danh sách các quốc gia sẽ được cập nhật. Bảy nước ban đầu là Iraq, Iran, Libya, Somalia, Sudan, Syria và Yemen, vốn đã bị ảnh hưởng trước đây bởi một hành động của Quốc hội trong chính quyền Obama. Lệnh này cho phép ngoại lệ đối với các hệ thống treo trên từng trường hợp cụ thể. Căn cứ vào số lượng cho phép này, Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ miễn thường trú nhân hợp pháp (người có thẻ xanh), trích dẫn các quy định lợi ích quốc gia trong lệnh thi hành. == Hậu quả == Sắc lệnh này đã có những tác động trước mắt và lâu dài khác. Ngay sau khi ban hành lệnh này, hàng chục du khách bị tạm giữ trong nhiều giờ mà không được tiếp xúc với gia đình, bạn bè, hoặc trợ giúp pháp lý. Theo The Washington Post, đình chỉ đi lại có thể gây ảnh hưởng đến khoảng 90.000 người, những người có thị thực nhập cư và không di dân cấp cho người từ bảy quốc gia bị ảnh hưởng trong năm tài chính 2015. Ngày 03 tháng 2, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ nói rằng ít nhất 100.000 thị thực đã bị thu hồi trong tuần đầu tiên theo lệnh này, để đáp ứng với một câu thẩm vấn của một thẩm phán tại tòa án. Trong cùng ngày, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra con số "ít hơn 60.000 người". == Tranh cãi với ngành Tư pháp == Sắc lệnh đã gây ra các ý kiến tranh cãi. Đã có một số đơn kiện đệ trình lên tòa án, cho rằng sắc lệnh vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ, nhiều đạo luật liên bang, và nghĩa vụ hiệp ước của Hoa Kỳ. Để phản ứng lại, một số tòa án liên bang đã ban hành lệnh khẩn cấp ngăn chặn bắt giữ và trục xuất tạm treo các phán quyết chính thức. Một lệnh cấm bảy ngày do một tòa án ở Boston, cho phép người nhập cư hợp pháp từ bảy quốc gia bị cấm được thông báo rằng họ có thể vào Hoa Kỳ qua sân bay quốc tế Logan, được thiết lập để hết hạn vào ngày 05 tháng 2 năm 2017. Sau phán quyết của tòa Boston, Bộ An ninh Nội địa Mỹ cho biết sẽ tiếp tục thực thi tất cả các sắc lệnh và "những trường hợp cấm đi lại vẫn bị cấm." Các nguyên đơn trong một phán quyết của tòa án ở Virginia nói rằng chính phủ khinh thường tòa án và bất tuân lệnh tòa. Ở trong nước, sắc lệnh cũng nhận những lời chỉ trích từ các thành viên đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa trong Quốc hội và các trường đại học của Mỹ, các nhà lãnh đạo kinh doanh, các giám mục Công giáo, và các tổ chức của người Do Thái. Khoảng 1.000 nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã ký một bức điện phản đối ​​chống lại sắc lệnh này, thiết lập một kỷ lục. Dư luận đã bị chia rẽ về chủ đề này, với các cuộc thăm dò quốc gia ban đầu mang lại kết quả không phù hợp. Các cuộc biểu tình chống lại sắc lệnh nổ ra ở một số sân bay và các thành phố của Hoa Kỳ. Ngày 3/2, Thẩm phán liên bang ở Seattle (bang Washington) ra phán quyết hiệu lực toàn quốc về chặn tạm thời lệnh cấm nhập cư của Tổng thống Trump với người dân 7 nước Hồi giáo. Ngay sau đó, Bộ An ninh Nội địa thông báo cơ quan này đã tạm dừng mọi hoạt động thực thi sắc lệnh này. Bộ Ngoại giao Mỹ cũng thông báo đã "chấp nhận trở lại" hơn 60.000 visa vốn "tạm thời bị thu hồi" do lệnh cấm nhập cảnh áp đặt với công dân 7 nước. Ngày 4-2, Bộ Tư pháp đã đệ đơn kháng cáo phán quyết của ông Robart lên Tòa phúc thẩm liên bang Mỹ khu vực 9, song tòa bác bỏ lời đề nghị của Bộ Tư pháp về việc tiếp tục thực hiện lệnh cấm người dân 7 nước Hồi giáo nhập cảnh vào Mỹ, đồng thời cho Bộ Tư pháp Mỹ hạn chót là ngày 6-2 để đưa ra câu trả lời cho quyết định này. Ngày 6/2, Bộ Tư pháp Mỹ đệ trình lên Tòa phúc thẩm liên bang Mỹ một bản báo cáo 15 trang nêu rằng sắc lệnh về di trú mà ông Donald Trump ký hôm 27/1 là "việc thực thi quyền của tổng thống một cách đúng luật" và không phải là lệnh cấm nhằm vào cộng đồng Hồi giáo. Theo kế hoạch, Tòa phúc thẩm Liên bang khu vực 9 tại San Francisco sẽ mở phiên tranh luận vào chiều 7/2 để quyết định về việc có khôi phục lệnh hạn chế nhập cảnh của ông Trump hay không. Phiên tranh luận dự kiến kéo dài vài giờ với sự tham gia của các luật sư đại diện 2 bang Minnesota và Washington, những bang đệ đơn kiện sắc lệnh "vi hiến", cùng luật sư của Bộ Tư pháp. Sáng 10/2 (giờ Hà Nội) Toà Phúc thẩm Khu vực Tư pháp thứ 9 vừa ra phán quyết về việc giữ nguyên kết quả mà toà án liên bang ở Seattle đã đưa ra hồi tuần trước. Theo đó, Các thẩm phán không khôi phục sắc lệnh cấm nhập cư theo đề nghị của chính quyền Tổng thống Trump. Do đó, người dân từ 7 nước Hồi giáo có điều kiện nhập cảnh hợp pháp sẽ được tiếp tục đi vào Mỹ. == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
donald knuth.txt
Donald Ervin Knuth (sinh ngày 10 tháng 1, năm 1938) là một nhà khoa học máy tính nổi tiếng hiện đang là giáo sư danh dự tại Đại học Stanford. Knuth được biết đến nhiều nhất là tác giả của bộ sách Nghệ thuật lập trình máy tính (The Art of Computer Programming, TAOCP), một trong những sách tham khảo được coi trọng nhất trong ngành khoa học máy tính. Ông đã tạo ra ngành phân tích thuật toán và đã đem lại nhiều cống hiến nền tảng cho ngành khoa học máy tính lý thuyết. Ông đã tạo ra hệ thống sắp chữ TEX và hệ thống phát họa phông chữ METAFONT, và cũng là người khởi xướng khái niệm lập trình học thức (literate programming) == Nền tảng giáo dục và hoạt động học thuật == Sinh ra tại Milwaukee, Wisconsin, ông nhận bằng cử nhân và thạc sĩ ngành Toán học năm 1960 tại Học viện Kỹ thuật Case (nay là một phần của trường Đại học Bách khoa Case Western). Năm 1963, ông lấy bằng tiến sĩ Toán tại Học viện Kỹ thuật California, nơi ông trở thành giáo sư và bắt đầu viết cuốn Nghệ thuật lập trình máy tinh, thoạt tiên được dự tính là một bộ bảy tập. Năm 1968, ông xuất bản tập thứ nhất. Cùng năm đó, ông vào dạy tại trường Stanford. Năm 1971, ông là người đầu tiên nhận giải Grace Murray Hopper do Hiệp hội Máy tính (ACM) trao tặng. Ông đã nhận được nhiều giải khác, trong đó có giải Turing, Huy chương Khoa học Quốc gia, Huy chương John von Neumann, và giải Kyoto. Sau khi xuất bản tập thứ ba của bộ sách mình, ông tỏ vẻ bực tức với các dụng cụ xuất bản cổ lỗ sĩ của thời đó và tự tay tạo ra các dụng cụ TEX và METAFONT. Vì các đóng góp của ông vào lĩnh vực khoa học máy tính, trong năm 1990 ông được tặng chức vị đặc biệt Giáo sư Nghệ thuật lập trình máy tính và sau này được đổi thành Giáo sư danh dự Nghệ thuật lập trình máy tính. Năm 1992 ông trở thành một thành viên trong Viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Trong năm đó ông ngừng giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Stanford để hoàn tất bộ Nghệ thuật Lập trình Máy tính. Năm 2003 ông được bầu vào Học hội Hoàng gia Anh (Royal Society). Đến năm 2004, ba quyển đầu của bộ sách của ông đã được tái bản, và ông đang viết cuốn thứ tư, bản thảo được thường xuyên cập nhật trên trang web của ông. Trong thời gian này, mỗi năm ông có những buổi diễn giảng không chính thức tại Đại học Stanford. Ông cũng là giáo sư thỉnh giảng tại Phòng thực nghiệm tính toán của Đại học Oxford, vương quốc Anh. Ngoài những tác phẩm về Khoa học máy tính, Knuth cũng là tác giả của cuốn 3:16 Bible Texts Illuminated (1991), ISBN 0-89579-252-4, trong đó ông cố gắng nghiên cứu Kinh Thánh bằng phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên, tức là phân tích dòng 16, chương 3 trong mỗi quyển kinh. Mỗi dòng này được đi kèm với một minh họa bằng nghệ thuật viết chữ do nhóm các nhà thư pháp đứng đầu là Hermann Zapf đóng góp. == Tính hài hước của Knuth == Knuth là người lập trình nổi tiếng và được biết đến cả trong tính hài hước. Ông trả một tờ séc mang tên giải thưởng Knuth trị giá 2,56 đô-la cho mỗi phát hiện lỗi sai trong các quyển sách của ông, bởi vì "256 xu là một đô-la theo hệ thập lục phân". (tuy nhiên trong cuốn 3:16 Bible Texts Illuminated, ông hào phóng tăng lên thành 3,16 đô-la). Theo một bài báo trong tạp chí Technology Review của Viện Công nghệ Masachusetts thì những tấm séc này "nằm trong những chiến lợi phẩm cao quý nhất của giới tin học". Phiên bản của phần mềm TeX được đánh số tiến dần đến số siêu việt π, tức là phiên bản tăng dần 3, 3.1, 3.14 và cứ thế. Tương tự phiên bản của Metafont được đánh số dần đến hằng số toán học e. Ông đã từng cảnh báo những người sử dụng phần mềm của ông là Cẩn thận với lỗi trong các dòng lệnh trên; Tôi mới chỉ chứng minh là nó đúng chứ chưa thử". Tất cả các phụ lục trong các tùng thư về Máy tính và xếp chữ đều có tiêu đề bắt đầu với ký tự nhận dạng phụ lục. Nghệ thuật lập trình máy tính tập 3 (1973) có chỉ mục "Tiền nhuận bút, việc sử dụng, 405". Trang 405 không hề đề cập đến tiền hoa hồng mà chỉ có một lược đồ của một "sắp xếp kiểu đàn ống" ở hình 2. Có vẻ đàn ống trong nhà ông (xem phần Cá nhân dưới đây) được mua bằng tiền nhuận bút từ Nghệ thuật lập trình máy tính. Trong lời tựa của quyển Concrete Mathematics: Khi Knuth lần đầu tiên dạy lớp Concrete Mathematics tại Stanford, ông đã giải thích tiêu đề hơi lạ bằng cách chơi chữ. (Concrete Mathematics có thể được hiểu là "toán học cụ thể" hoặc "toán học bê tông".) Ông nói rằng đó chính là việc ông thử dạy một môn Toán khó (hard – "cứng") chứ không dễ dàng (soft – "mềm"). Ông nói rằng trái với sự mong chờ của các đồng sự, ông sẽ không dạy Lý thuyết tập hợp lẫn Định lý nhúng của Stone (Stone embedding theorem – "định lý khảm Ngọc") và compact hóa của Stone-Čech. (Một vài sinh viên ngành xây dựng dân dụng đã đứng dậy và lặng lẽ rời khỏi phòng.) Knuth công bố bài báo "khoa học" đầu tiên ở một tạp chí trường học vào năm 1957 dưới tiêu đề "Hệ thống cân đo Potrzebie." Trong đó, ông định nghĩa đơn vị cơ bản của độ dài như là độ dày của số 26 của tạp chí hài hước MAD, và đặt tên đơn vị cơ bản của lực là "tôi-sợ-gì-ư" (whatmeworry). Tạp chí MAD đã mua bài báo này và xuất bản trong số 33 vào tháng 6 năm 1957. Bài báo "toán học" đầu tiên của Knuth là một bài ngắn gửi vào cuộc thi "tìm kiếm tài năng khoa học" cho học sinh cấp 3 năm 1955, và xuất bản năm 1960, trong đó ông thảo luận về những hệ số của cơ số âm. Về sau ông mở rộng chúng thành những hệ số có cơ số là số phức. Đặc biệt ông định nghĩa hệ số một phần tư ảo, trong đó sử dụng số 2i làm nền tảng, có đặc trưng không giống bình thường là mọi số phức đều có thể biểu diễn với các chữ số 0, 1, 2 và 3 mà không cần dấu. Bài báo của Knuth về độ phức tạp thuật toán của các bài hát truyền thống và hiện đại được tái bản hai lần dưới tên Độ phức tạp của các bài hát trong các tạp chí khoa học máy tính. Để chỉ rõ khái niệm phép tính vòng tròn, Knuth cố tình làm Circular definition và Definition, circular chỉ đến nhau trong chỉ mục Nghệ thuật lập trình máy tính tập 1. == Cá nhân == Một trong các sở thích riêng của Knuth là chơi nhạc, đặc biệt là chơi đàn ống. Trong nhà ông có một cái đàn ống. Knuth phủ nhận việc mình có tài năng trong nhạc cụ. Ông không dùng thư điện tử và nói rằng ông sử dụng nó từ khoảng năm 1975 đến tận tháng 1 năm 1990 và như thế là đã quá đủ cho một cuộc đời. Ông cảm thấy việc trả lời thư theo "chế độ lô" hiệu quả hơn, ví dụ chọn ra một ngày trong ba tháng để gửi thư theo đường bưu điện. Vợ ông là Jill Knuth viết một cuốn sách nghi thức tế lễ với tiêu đề Biểu ngữ không lời được xuất bản bởi Resource Publications vào năm 1986. Họ có hai con. Ông là thành viên hội bằng hữu Theta Chi. Knuth sử dụng chương trình soạn thảo Emacs. == Giải thưởng == Giải Grace Murray Hopper đầu tiên của hiệp hội ACM - 1971 Giải Turing - 1974 Huy chương Khoa học Quốc gia - 1979 Huy chương John von Neumann - 1995 Giải Kyoto - 1996 Ông có một tên Trung Quốc 高德納 (âm Hán Việt: Cao Đức Nạp; bính âm: Gāo Dénà), do Frances Yao đặt năm 1977 ngay trước chuyến thăm đầu tiên của ông tới Trung Quốc. == Tác phẩm == Danh sách ngắn các tác phẩm của ông: Donald E. Knuth, Nghệ thuật lập trình máy tính, Tập 1–4, Addison-Wesley Professional Tập 1: Những thuật toán cơ bản (bản in lần thứ 3), 1997. Addison-Wesley Professional, ISBN 0-201-89683-4 Tập 2: Những thuật toán bán số trực (bản in lần thứ 3), 1997. Addison-Wesley Professional, ISBN 0-201-89684-2 Tập 3: Sắp xếp và tìm kiếm (bản in lần thứ 2), 1998. Addison-Wesley Professional, ISBN 0-201-89685-0 Tập 4: Những thuật toán tổ hợp, đang viết Tập 5: Những thuật toán về cú pháp, đang chuẩn bị, dự kiến ra mắt vào năm 2015 Donald E. Knuth, Nghệ thuật lập trình máy tính, fascicles: Volume 1, Fascicle 1: MMIX — A RISC Computer for the New Millennium, 2005. ISBN 0-201-85392-2 Volume 4, Fascicle 2: Generating All Tuples and Permutations, 2005. ISBN 0-201-85393-0 Volume 4, Fascicle 3: Generating All Combinations and Partitions, 2005. ISBN 0-201-85394-9 Volume 4, Fascicle 4: Generating All Trees—History of Combinatorial Generation, 2006. ISBN 0-321-33570-8 Donald E. Knuth, The TeXbook (Reading, Massachusetts: Addison-Wesley), 1984. ISBN 0-201-13448-9 Donald E. Knuth, The METAFONTbook (Reading, Massachusetts: Addison-Wesley), 1986. ISBN 0-201-13444-6 Ronald L. Graham, Donald E. Knuth, Oren Patashnik, Concrete Mathematics: A Foundation for Computer Science, 2nd edition (Reading, Massachusetts: Addison-Wesley), 1994. ISBN 0-201-55802-5 Selected papers series: Donald E. Knuth, Literate Programming (Center for the Study of Language and Information - Lecture Notes), 1992. ISBN 0-937073-80-6 Donald E. Knuth, Selected Papers on Computer Science (Stanford, California: Center for the Study of Language and Information - CSLI Lecture Notes, no. 59), 1996. ISBN 1-881526-91-7 Donald E. Knuth, Digital Typography (Stanford, California: Center for the Study of Language and Information - CSLI Lecture Notes, no. 78), 1999. ISBN 1-57586-010-4 Donald E. Knuth, Selected Papers on Analysis of Algorithms (Stanford, California: Center for the Study of Language and Information - CSLI Lecture Notes, no. 102), 2000. ISBN 1-57586-212-3 Donald E. Knuth, Selected Papers on Computer Languages (Stanford, California: Center for the Study of Language and Information - CSLI Lecture Notes, no. 139), 2003. ISBN 1-57586-381-2 (cloth), ISBN 1-57586-382-0 (paperback) Donald E. Knuth, Selected Papers on Discrete Mathematics (Stanford, California: Center for the Study of Language and Information - CSLI Lecture Notes, no. 106), 2003. ISBN 1-57586-249-2 (cloth), ISBN 1-57586-248-4 (paperback) Donald E. Knuth, Selected Papers on Design of Algorithms (scheduled for publication in 2007) Donald E. Knuth, Selected Papers on Fun and Games (scheduled for publication in 2007) Donald E. Knuth, 3:16 Bible Texts Illuminated (Madison, Wisconsin: A-R Editions), 1990. ISBN 0-89579-252-4 Donald E. Knuth, Things a Computer Scientist Rarely Talks About (Center for the Study of Language and Information - CSLI Lecture Notes no 136), 2001. ISBN 1-57586-326-X == Tham khảo == == Liên kết bên ngoài == Donald Knuth trong trang mạng của trường Đại học Stanford
ăn mòn.txt
Ăn mòn là sự phá hủy dần dần các vật liệu (thường là kim loại) thông qua phản ứng hóa học với môi trường. Theo nghĩa phổ biến nhất, ăn mòn có nghĩa là quá trình oxy hóa điện hóa học của kim loại trong phản ứng với các chất oxy hóa như oxy. Gỉ sắt - sự hình thành của các oxit sắt - là một ví dụ nổi tiếng của ăn mòn điện hóa. Đây là loại tổn thương thường tạo ra oxit hoặc muối của các kim loại ban đầu. Ăn mòn cũng có thể xảy ra trong các vật liệu phi kim loại, chẳng hạn như đồ gốm hoặc các polyme, mặc dù trong bối cảnh này, sự xuống cấp theo thời gian là từ phổ biến hơn. Ăn mòn làm giảm các tính chất hữu ích của vật liệu và kết cấu bao gồm sức mạnh, ngoại hình và khả năng thấm chất lỏng và chất khí. Nhiều cấu trúc hợp kim chỉ bị ăn mòn khi tiếp xúc với độ ẩm trong không khí, nhưng quá trình này có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi việc tiếp xúc với các chất nhất định. Ăn mòn có thể được tập trung tại một vị trí để tạo thành lỗ thủng hoặc vết nứt, hoặc nó có thể mở rộng trên một diện tích rộng hơn hay ăn mòn bề mặt theo mọi hướng. Bởi vì ăn mòn là một quá trình kiểm soát khuếch tán, nó xảy ra trên bề mặt tiếp xúc. Kết quả là các phương pháp để làm giảm hoạt động của các bề mặt tiếp xúc như thụ động hóa và cromat hóa, có thể làm tăng sức đề kháng ăn mòn của vật liệu. Tuy nhiên, một số cơ chế ăn mòn khó nhìn thấy hơn và khó dự đoán hơn. == Ăn mòn điện ly == Ăn mòn điện ly xảy ra khi hai kim loại khác nhau có những tiếp xúc vật lý hoặc điện với nhau và được đặt chìm trong một chất điện phân thông thường, hoặc khi các kim loại tương tự cũng được tiếp xúc với chất điện phân với nồng độ khác nhau. Trong một cặp kim loại như vậy, kim loại hoạt động hơn (anode) bị ăn mòn với tốc độ nhanh và các kim loại ít hoạt động hơn (cathode) bị ăn mòn với tốc độ chậm. Khi bị nhúng vào chất điện ly một cách riêng biệt thì mỗi kim loại bị ăn mòn ở tốc độ của riêng mình. Loại kim loại để sử dụng được dễ dàng xác định bằng cách dựa theo chuỗi kim loại hoạt động. Ví dụ, kẽm thường được sử dụng như một anode hy sinh cho các kết cấu thép. Ăn mòn điện ly là mối quan tâm lớn đối với các ngành công nghiệp hàng hải và bất cứ nơi nào có nước (chứa muối) trong đường ống hoặc các kết cấu kim loại. Các yếu tố như kích thước tương đối của anode, các loại kim loại, và các điều kiện hoạt động (nhiệt độ, độ ẩm, độ mặn, v.v...) ảnh hưởng đến ăn mòn điện ly. Tỷ lệ diện tích bề mặt của các anode và cathode trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ lệ ăn mòn của vật liệu. Ăn mòn điện ly thường được ngăn ngừa bằng cách sử dụng các anốt hy sinh. == Tham khảo == == Đọc thêm == Jones, Denny (1996). Principles and Prevention of Corrosion (ấn bản 2). Upper Saddle River, New Jersey: Prentice Hall. ISBN 0-13-359993-0. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) == Liên kết ngoài == Corrosion Prevention Association NACE International -Professional society for corrosion engineers (NACE) Working Safely with Corrosive Chemicals efcweb.org – European Federation of Corrosion Metal Corrosion – Corrosion Theory Electrochemistry of corrosion A 3.4-Mb pdf handbook "Corrosion Prevention and Control", 2006, 296 pages, US DoD How do you remove and prevent flash rust on stainless steel? Article about the preventions of flash rust
acura.txt
Acura là một nhãn hiệu xe cao cấp của hãng sản xuất Honda, Nhật Bản . Được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1986 tại thị trường Bắc Mỹ và Hồng Kông, nhãn hiệu này chủ yếu sản xuất những xe hạng sang và xe thể thao. Năm 2004 nhãn hiệu xe này được giới thiệu và bán tại Mexico, năm 2006 tại Trung Quốc và Nga, và trong những năm tới hãng Honda dự tính sẽ đưa nhãn hiệu này vào thị trường Nhật Bản. Với chiến lược tương tự như của hai hãng sản xuất đồng hương là Toyota và Nissan với những dòng sản phẩm xe hạng sang là Lexus và Infiniti, hãng Honda giới thiệu nhãn hiệu Acura để nhắm vào thị trường xe cao cấp. Với chiến lược này các công ty mẹ sẽ tận dụng những tài nguyên, công nghệ, và nhà máy đang có nhưng tạo ra một sản phẩm với tên gọi hoàn toàn mới. Qua đó tạo ấn tượng cho khách hàng rằng đây là một nhãn hiệu mới, không liên quan đến những sản phẩm khác có giá cả bình dân hơn của công ty mẹ. Vì lý do này nên các nhãn hiệu này thường được giới thiệu ở những thị trường mới và khác với những thị trường mà công ty mẹ đã tạo nên danh tiếng và thương hiệu của mình. Sự ra đời của nhãn hiệu Acura gắn liền với chiến lược bán hàng của Honda, khi hãng này cho ra đời những cửa hàng chuyên bán xe hơi hạng sang. Honda Verno vào năm 1978, Honda Clio vào năm 1984 và Honda Primo năm 1985. Acura là hãng xe hạng sang của Nhật đầu tiên tại thị trường Mỹ, các nhãn hiệu như Lexus và Infiniti đều xuất hiện sau tại thị trường này. Vào những năm đầu mới ra đời, Acura là dòng xe hạng sang bán chạy nhất tại thị trường Mỹ và thống trị danh hiệu này cho đến tận những năm giữa thập kỷ 90. === Các dòng xe hiện hành === TSX (USA, Canda) TL (USA, Canda, Mexiko, Trung Quốc) TL Type-S (USA, Canda) RL (USA, Canda, Mexiko, Hồng Kông, Trung Quốc) RDX (USA, Canda, Mexiko) MDX (USA, Canda, Mexiko, Trung Quốc) CSX (nur in Canda) CSX Type-S (nur in Canda) ZDX === Các dòng xe không còn được sản xuất === Integra Vigor Legend CL NSX (dòng xe này vẫn được sản xuất nhân diệp kỉ niệm hoặc những sự kiện đặc biệt, tiêu biểu là chiếc 2017 Acura NXS, xe này được xản suất nhân diệp kỉ niệm 50 năm Honda) RSX SLX EL == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Acura USA Acura Canada Acura Mexico Acura Hồng Không Acura Trung Quốc
chính quyền dân tộc palestine.txt
Chính quyền Dân tộc Palestine (PNA hay PA; tiếng Ả Rập: السلطة الوطنية الفلسطينية Al-Sulṭa Al-Waṭaniyyah Al-Filasṭīniyyah) là tổ chức hành chính được lập ra để cai quản các vùng của lãnh thổ Palestine gồm Bờ Tây và Dải Gaza. Chính quyền Dân tộc Palestine được thành lập năm 1994, theo Hiệp định Oslo giữa Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) và chính phủ Israel, như một cơ cấu tạm thời có thời hạn 5 năm trong đó các cuộc đàm phán về vị thế cuối cùng giữa hai bên dự định sẽ diễn ra nhưng chưa từng có trong thực tế. Theo Hiệp định Oslo, Chính quyền Palestine được trao quyền kiểm soát về cả các vấn đề liên quan tới an ninh và dân sự tại các khu vực đô thị Palestine (được gọi là "Khu vực A"), và chỉ được quyền quản lý dân sự tại các khu vực nông thôn Palestine ("Khu vực B"). Các lãnh thổ còn lại, gồm cả các khu định cư Israel, vùng Thung lũng Jordan, và những con đường nối giữa các cộng đồng Palestine, vẫn nằm hoàn toàn dưới quyền kiểm soát của Israel ("Khu vực C"). Đông Jerusalem không được đề cập trong Hiệp định. == Tổng quan == Chính quyền Dân tộc Palestine (PNA) là một cơ quan hành chính lâm thời được thành lập theo Thỏa thuận Gaza-Jericho sau Hiệp định Oslo để đảm nhiệm những trách nhiệm của cơ quan hành chính quân sự Israel tại các trung tâm dân cư Palestine (Khu vực A) tại Bờ Tây và Dải Gaza cho tới khi những cuộc đàm phán về vị thế cuối cùng với Israel được ký kết. Các trách nhiệm hành chính được thỏa thuận dành cho PNA bị giới hạn ở những sự việc dân sự và an ninh nội địa và không bao gồm an ninh đối ngoại và ngoại giao. Người Palestine tại cộng đồng Do Thái và bên trong Israel không bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử cho các chức vụ bên trong Chính quyền Dân tộc Palestine. Không nên nhầm lẫn PNA với Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) là tổ chức tiếp tục được quốc tế công nhận là đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân Palestine, đại diện cho họ tại Liên hiệp quốc dưới cái tên "Palestine". PNA đã nhận được hỗ trợ tài chính từ Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ (xấp xỉ USD $1 tỷ tổng cộng năm 2005). Tất cả viện trợ trực tiếp đã bị ngưng lại ngày 7 tháng 4 năm 2006 sau thắng lợi của Hamas trong cuộc bầu cử nghị viện. Một thời gian ngắn sau đó, những khoản viện trợ được nối lại, nhưng được trao trực tiếp cho các văn phòng của Mahmoud Abbas ở Bờ Tây. Xung đột giữa Hamas và Fatah diễn ra sau đó năm 2006 dẫn tới việc Hamas nắm toàn quyền kiểm soát hành chính với toàn bộ các định chế của Chính quyền Nhà nước Palestine tại Dải Gaza. Từ ngày 9 tháng 1 năm 2009, khi nhiệm kỳ Tổng thống của Mahmoud Abbas chấm dứt và cuộc bầu cử khác cần diễn ra, những người ủng hộ Hamas và nhiều người ở Dải Gaza đã rút lui sự công nhận với chức vụ Tổng thống của ông và thay vào đó coi Aziz Dweik, người phát ngôn của viện bên trong Hội đồng Lập pháp Palestine, là Tổng thống tạm quyền cho tới khi cuộc bầu cử mới có thể được tổ chức. Không sự hỗ trợ tài chính nào của phương Tây được trao cho các cơ quan của PNA tại Gaza và các chính phủ phương Tây không công nhận bất kỳ ai ngoài Abbas là Tổng thống. Sân bay Quốc tế Gaza được PNA xây dựng tại thành phố Rafah, nhưng chỉ hoạt động trong một giai đoạn ngắn trước khi bị Israel phá hủy sau cuộc bùng phát của Al-Aqsa Intifada năm 2000. Một cảng biển cũng được xây dựng tại Gaza nhưng chưa bao giờ hoàn thành (xem bên dưới). Sự thành lập một lực lượng cảnh sát Palestine đã được kêu gọi trong Hiệp định Oslo. Lực lượng cảnh sát Palestine đầu tiên gồm 9,000 người đã được triển khai tại Jericho năm 1994, và sau đó tại Gaza. Các lực lượng này ban đầu đã phải đấu tranh để giành quyền kiểm soát anh ninh tại những khu vực mà họ có quyền kiểm soát một phần và được Israel sử dụng như một lý do để trì hoãn mở rộng khu vực quản lý hành chính của PNA. Tới năm 1996, các lực lượng an ninh PNA được ước tính trong khoảng 40.000 tới 80.000 người. sử dụng một số xe thiết giáp, và một lượng vũ khí tự động hạn chế. Nhiều người Palestine phản đối hay chỉ trích quá trình hoà bình coi các lực lượng an ninh Palestine chỉ là con rối của Nhà nước Israel. Nhiều người Palestine phụ thuộc vào thị trường lao động Israel. Trong những năm 1990, Israel bắt đầu thay thế người Palestine bằng lao động nước ngoài. Quá trình này được cho là gây ra những lo ngại về kinh tế và cả an ninh. Nó gây ảnh hưởng tới nền kinh tế Palestine, đặc biệt tại Dải Gaza, nơi 45.7% dân số sống dưới ngưỡng nghèo khổ theo CIA World Factbook, nhưng cũng ảnh hưởng tới cả Bờ Tây. == Các quan chức == == Công nhận Nhà nước Palestine == Ngày 15/5/1948, Nhà nước Israel tuyên bố thành lập. Một số nước Ả Rập đã bác bỏ Nghị quyết chia cắt 181/II và tuyên bố chiến tranh chống Israel (1948-1949). Qua 4 cuộc chiến tranh (1948 – 1949, 1956, 1967 và 1973), Israel chiếm đóng toàn bộ phần đất chia cho Nhà nước Palestine (theo NQ 181), Đông Jerusalem, cao nguyên Golan của Syria, Nam Liban và bán đảo Sinai của Ai Cập (đã được Israel trao trả theo Hiệp định Trại David ký năm 1979). Nghị quyết 242 (11/1967) và 338 (10/1973) của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc quy định Israel rút quân ra khỏi các lãnh thổ bị chiếm, chấm dứt tình trạng chiến tranh ở Trung Đông, bảo đảm sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ của tất cả các quốc gia khu vực (hàm ý công nhận sự tồn tại của Israel), giải quyết vấn đề người tỵ nạn. Tuy nhiên 2 Nghị quyết này chưa đầy đủ vì không đề cập đến quyền tự quyết của nhân dân Palestine. Năm 1958, Tổ chức Al-Fatah, Tổ chức Cách mạng đầu tiên của nhân dân Palestine được thành lập. Tháng 5/1964, Hội đồng dân tộc Palestine (PNC) lần thứ nhất đã họp ở Đông Jerusalem tuyên bố thành lập Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO). Từ đó PLO là người đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân Palestine. Năm 1975 tại khóa họp 30 của Liên Hiệp Quốc, Đaị Hội đồng đã mời PLO tham gia với Liên Hiệp Quốc tư cách quan sát viên. Ngày 15/11/1988, Nhà nước Palestine được tuyên bố thành lập. Ngày 11/11/2004, Chủ tịch Y. Arafat qua đời. Ngày 09/01/2005, ông M. Abbas được bầu làm người đứng đầu PLO và PNA thay thế Chủ tịch Arafat, mở ra thời kỳ mới cho tiến trình hòa bình. Ngày 25/01/2006, bầu cử Hội đồng lập pháp Chính quyền Palestine với thắng lợi bất ngờ của Phong trào Hồi giáo Hamas (76/132 ghế), Fatah chỉ chiếm được 46 ghế. Mỹ, phương Tây và IIsrael gây sức ép đòi Hamas từ bỏ đấu tranh vũ trang, công nhận Nhà nước Do Thái và tôn trọng các thỏa thuận và Hiệp định đã ký với Israel. Tuy nhiên Hamas vẫn giữ lập trường cứng rắn. Hamas tích cực tiến hành chiến dịch vận động các nước Ả Rập ủng hộ về mặt chính trị và hỗ trợ tài chính. Thành phần chính phủ mới do Thủ tướng Ismail Hanyah lãnh đạo gồm 24 thành viên chủ yếu là người của Hamas. Phong trào Fatah, lực lượng nòng cốt trong PLO, phản đối và không hợp tác với Chính phủ của Hamas. Ngày 15/6/2007, Hamas làm cuộc chính biến, dùng vũ lực chiếm toàn bộ dải Gaza, đẩy lực lượng Fatah về khu Bờ Tây, làm mâu thuẫn nội bộ Palestine trở nên gay gắt hơn. Ngay sau đó Tổng thống M. Abbas tuyên bố giải tán chính phủ do phe Hamas chiếm đa số và thành lập chính phủ khẩn cấp do ông S. Fayad làm Thủ tướng. Ngày 21/09/2011 Chính Quyền Palestine đứng đầu là Tổng thống Abbas đã nộp đơn xin gia nhập LHQ với tư cách là một quốc gia thành viên. Ngày 29/11/2012, Đại hội đồng Liên hợp quốc chính thức nâng quy chế của Palestine lên "nhà nước quan sát phi thành viên" với 138 phiếu thuận, 9 phiếu chống và 41 phiếu trắng. == Lịch sử == Về lịch sử các lãnh thổ hiện do PNA quản lý trước khi tổ chức này được thành lập, xem Lịch sử Palestine và Lịch sử các lãnh thổ Palestine. Hiệp định Oslo được ký kết ngày 13 tháng 9 năm 1993 giữa Tổ chức Giải phóng Palestine và Israel. Thoả thuận Gaza–Jericho được ký kết ngày 4 tháng 5 năm 1994 và quy định chi tiết việc thành lập Chính quyền Palestine. Đây là một tổ chức lâm thời được lập ra để quản lý một hình thức hạn chế của việc người Palestine tự quản tại các lãnh thổ Palestine trong giai đoạn 5 năm trong thời gian đó các cuộc đàm phán về vị thế cuối cùng sẽ diễn ra. Hội đồng Trung ương Palestine, hoạt động thay mặt cho Hội đồng Quốc gia Palestine của Tổ chức Giải phóng Palestine, thực hiện thoả thuận này, biến Chính quyền Dân tộc Palestine trở thành tổ chức chịu trách nhiệm cho Uỷ ban Hành pháp PLO trong một cuộc họp được tổ chức tại Tunis từ 10-11 tháng 10 năm 1993. Cuộc tổng tuyển cử được tổ chức để bầu ra cơ quan lập pháp đầu tiên của nó, Hội đồng Lập pháp Palestine, ngày 20 tháng 1 năm 1996. Thời điểm chấm dứt nhiệm kỳ của tổ chức này là ngày 4 tháng 5 năm 1999, nhưng cuộc bầu cử không được tổ chức vì "tình hình bắt buộc". Từ khi phong trào Intifada lần thứ hai bắt đầu, Chính quyền Palestine (PA) đã suy yếu cả trong các lãnh thổ Palestine bị chiếm đóng (Dải Gaza và Bờ Tây) và ở nước ngoài. Ariel Sharon và chính quyền George W. Bush từ chối đàm phán với Yasser Arafat, lãnh đạo của Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) và là tổng thống khi đó của PA, người họ cho là tạo ra "một phần vấn đề" (liên quan tới Xung đột Israel-Palestine) và không phải là giải pháp của nó — điều này diễn ra mặc dù Arafat là người đại diện ký kết vào Hiệp định Oslo năm 1993. Tháng 1 năm 2006, Hamas giành chiến thắng trong cuộc bầu cử lập pháp, và vì thế thay thế đảng Fatah của Arafat trở thành đảng lãnh đạo nhân dân Palestine. Israel đã buộc tội Chính quyền Palestine làm ngơ và ngầm tài trợ hành động bạo lực chống lại người Israel. Quan điểm này đã được Hoa Kỳ chính thức chấp nhận vào mùa hè năm 2002, nước này sau đó quyết định cản trở hầu hết các hình thức đàm phán với chính quyền Palestine hiện thời, chờ đợi một sự thay đổi tổ chức mang tính nền tảng. Nhóm chuyên gia cố vấn của Hội đồng Quan hệ Nước ngoài Hoa Kỳ đã tuyên bố Chính quyền Palestine dưới sự lãnh đạo của Arafat là một thiên đường cho chủ nghĩa khủng bố. Trong phong trào Intifada, Israel thường nhắm vào các quan chức và các nguồn tài nguyên của Chính quyền Palestine. Đặc biệt, nhiều người đã bị bắt giữ, ám sát hay giết hại khi đang thực thi nhiệm vụ vì cái gọi là các hoạt động khủng bố của họ, những người này đều là các nhân viên của các lực lượng an ninh của Chính quyền Palestine hay chiến binh du kích. Trong Chiến dịch Lá chắn Phòng thủ Israel đã bắt giữ được các tài liệu được cho là bằng chứng rằng Chính quyền Palestine chính thức tài trợ cho các hoạt động khủng bố, được tiến hành bởi các nhân viên của họ như là những công việc "trong bóng tối". Ví dụ, Israel đã bắt giữ và kết án Marwan Barghouti, một lãnh đạo nổi bật của Fatah, vì vai trò lãnh đạo Lữ đoàn các chiến binh tử vì đạo Al-Aqsa. Barghouti vẫn bảo vệ sự vô tội của mình, và bác bỏ sự công bằng của các toà án Israel. Israel cũng đã nhắm vào cơ sở hạ tầng của Chính quyền Palestine; đặc biệt họ đã đóng cửa nhiều phần cảng biển và cảng hàng không của Palestine, mà Israel coi là đã được sử dụng để vận chuyển những kẻ khủng bố và trang bị của chúng. Những cuộc tấn công của Israel trong thời gian diễn ra phong trào Intifada cũng đã dẫn tới sự huỷ hoại một số cơ sở hạ tầng máy tính của Palestine. Những động thái này đã bị người Palestine chỉ trích, họ cho rằng Chính quyền Palestine đã ở tình trạng gần sụp đổ, và không còn có khả năng thực thi các nhiệm vụ cả đối nội và đối ngoại. Liên hiệp quốc phản đối khi tuyên bố rằng đó là "một thứ tốt". Điều này bởi những sự xuống cấp thường xuyên của các nguồn tài nguyên và cơ sở hạ tầng của Chính quyền Palestine đã dẫn tới những phàn nàn của PA và một số nhà tài trợ của họ từ Liên minh châu Âu rằng Israel có chủ tâm gây khó khăn cho PA để hạn chế quyền lực của họ trong việc bắt buộc tuân thủ pháp luật nhằm đưa ra một hình ảnh về chủ nghĩa khủng bố và vô chính phủ tại các lãnh thổ Palestine. Ngày 7 tháng 7 năm 2004, Nhóm bộ tứ các nhà trung gian hoà giải về Trung Đông đã thông báo cho Ahmed Qurei, Thủ tướng Nhà nước Palestine từ 2003 tới 2006, rằng họ đã "chán ngán và mệt mỏi" với sự thất bại của người Palestine trong việc thực thi những cải cách đã hứa hẹn: "Nếu những cải cách an ninh không được thực hiện, sẽ không có (thêm) sự hỗ trợ quốc tế và không có khoản tiền nào từ cộng đồng thế giới" Ngày 18 tháng 7 năm 2004, Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush nói rằng việc thành lập một nhà nước Palestine vào cuối năm 2005 dường như vì sự bất ổn và bạo lực trong Chính quyền Palestine. Để có được một nhà nước Palestine, điều mấu chốt với các lãnh đạo của nó là thái độ cởi mở với cải cách và sự cống hiến với nhân dân. Vấn đề của người dân Palestine là vấn đề về lãnh thổ - họ không có nhà nước và không có những người lãnh đạo. Người Palestine muốn có sự thay đổi cần yêu cầu thành lập một lực lượng an ninh. Vấn đề thực sự là không có sự lãnh đạo có khả năng nói 'hãy giúp chúng tôi thành lập một nhà nước và chúng tôi sẽ chiến đấu chống khủng bố và đáp ứng các yêu cầu của người dân Palestine'. Sau cái chết của Arafat ngày 11 tháng 11 năm 2004, Rawhi Fattuh, lãnh đạo Hội đồng Lập pháp Palestine trở thành Tổng thống tạm quyền của Chính quyền Palestine theo Điều 54(2) của Luật Căn bản của Chính quyền. Nếu chức vụ Tổng thống của Chính quyền Quốc gia bị bỏ trống vì bất kỳ trường hợp nào trong những trường hợp trên, Người phát ngôn Hội đồng Lập pháp Palestine sẽ nắm các quyền lực và trách nhiệm của chức vụ Tổng thống Chính quyền Quốc gia, tạm thời trong một giai đoạn không vượt quá (60) sáu mươi ngày, trong đó cuộc bầu cử tự do và trực tiếp để lựa chọn một tổng thống mới sẽ diễn ra theo Luật Bầu cử Palestine. Ngày 19 tháng 4 năm 2005, Vladimir Putin tổng thống Nga đồng ý giúp đỡ Chính quyền Palestine khi nói rằng, "Chúng tôi ủng hộ những nỗ lực của Tổng thống Abbas để cải cách lĩnh vực an ninh và chiến đấu chống lại chủ nghĩa khủng bố [...] Nếu chúng tôi đang chờ đợi Tổng thống Abbas chiến đấu chống lại chủ nghĩa khủng bố, ông ta không thể làm việc đó với những nguồn tài nguyên mình có hiện tại. [...] Chúng tôi sẽ trao cho Chính quyền Palestine sự giúp đỡ kỹ thuật bằng cách gửi trang bị, huấn luyện nhân viên. Chúng tôi sẽ trao cho Chính quyền Palestine các trực thăng và cả thiết bị viễn thông." Chính quyền Palestine trở thành chịu trách nhiệm về quản lý dân sự tại một số khu vực nông thôn, cũng như cả về an ninh tại các thành phố lớn ở Bờ Tây và Dải Gaza. Mặc dù giai đoạn lâm thời 5 năm đã kết thúc năm 1999, thoả thuận về vị thế cuối cùng vẫn chưa được ký kết dù có những nỗ lực như Hội nghị thượng đỉnh Trại David năm 2000, Hội nghị thượng đỉnh Taba, và Hiệp định không chính thức Geneva. Tháng 8 năm 2005, Thủ tướng Israel Ariel Sharon bắt đầu đơn phương rút quân của ông khỏi dải Gaza, nhượng lại toàn bộ quyền kiểm soát bên trong Dải Gaza cho Chính quyền Palestine nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát các biên giới của nó gồm cả không phận và hải phận (ngoại trừ biên giới với Ai Cập).. Điều này đã làm gia tăng phần trăm lãnh thổ tại dải Gaza nằm dưới quyền quản lý trên danh nghĩa của PNA từ 60% lên 100%. Cuộc bầu cử lập pháp Palestine diễn ra ngày 25 tháng 1 năm 2006. Hamas giành chiến thắng và Ismail Haniyeh được chỉ định làm Thủ tướng ngày 16 tháng 2 năm 2006 và tuyên thệ nhậm chức ngày 29 tháng 3 năm 2006. Tuy nhiên, khi một chính phủ dưới sự lãnh đạo của Hamas được thành lập, Israel, Hoa Kỳ, Canada, và Liên minh châu Âu ngừng mọi khoản viện trợ cho Chính quyền Palestine, sau khi Hamas từ chối công nhận quyền tồn tại của Israel, từ chối từ bỏ bạo lực, và đồng ý với những thoả thuận trong quá khứ. Những ngước này coi Hamas như một tổ chức khủng bố. Tháng 12 năm 2006, Ismail Haniyeh, Thủ tướng Chính quyền Palestine tuyên bố rằng PA sẽ không bao giờ công nhận Israel: "Chúng tôi không bao giờ công nhận chính quyền chiếm đoạt Do Thái và sẽ tiếp tục phong trào kiểu jihad của chúng tôi cho tới khi giải phóng được Jerusalem." Trong một nỗ lực nhằm giải quyết thế bế tắc tài chính và ngoại giao, chính phủ Hamas cùng với Chủ tịch Fatah Mahmoud Abbas đã đồng ý thành lập một chính phủ thống nhất. Haniyeh từ chức ngày 15 tháng 2 năm 2007 như một phần của thoả thuận. Chính phủ thống nhất cuối cùng được hình thành ngày 18 tháng 3 năm 2007 dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Ismail Haniyeh và gồm các thành viên từ Hamas, Fatah và các đảng cùng các chính trị gia độc lập khác. Sau khi Hamas chiếm Gaza ngày 14 tháng 6 năm 2007, Chủ tịch Chính quyền Palestine Abbas giải tán chính phủ và vào ngày 15 tháng 6 năm 2007 chỉ định Salam Fayad làm Thủ tướng để hình thành một chính phủ mới. Dù quyền lực của chính phủ mới được tuyên bố bao trùm mọi lãnh thổ Palestine, trên thực tế nó bị hạn chế ở những khu vực do Chính quyền Palestine kiểm soát ở Bờ Tây. Chính phủ Fayad đã giành được sự ủng hộ quốc tế. Ai Cập, Jordan, và Ả Rập Saudi nói vào cuối tháng 6 năm 2007 rằng Chính phủ ở Bờ Tây do Fayad thành lập là chính phủ hợp pháp duy nhất của Palestine, và Ai Cập chuyển đại sứ của họ từ Gaza tới Bờ Tây. Hamas, vốn đã hoàn toàn kiểm soát Dải Gaza, phải đối mặt với sự cô lập ngoại giao và kinh tế của quốc tế. Một thoả thuận ngừng bắn sáu tháng giữa Hamas và Israel chấm dứt ngày 19 tháng 12 năm 2008. Hamas tuyên bố rằng Israel phá vỡ thoả thuận ngày 4 tháng 11 năm 2008, và rằng Israel đã không dỡ bỏ phong toả Dải Gaza, và Israel cáo buộc Hamas về những vụ bắn tên lửa vào các thị trấn và thành phố miền nam Israel. Cuộc Xung đột Israel-Gaza năm 2008–2009 bắt đầu ngày 27 tháng 12 năm 2008 (11:30 a.m. giờ địa phương; 9:30 a.m. UTC) khi Các lực lượng phòng vệ Israel tung ra một chiến dịch quân sự có mã hiệu Chiến dịch Cast Lead (tiếng Hebrew: מבצע עופרת יצוקה‎, Mivtza Oferet Yetzuka) để trả đũa vụ bắn tên lửa từ khu vực này, nhắm vào các thành viên và cơ sở hạ tầng của Gaza dưới quyền quản lý của Hamas. == Chính trị và cơ cấu bên trong == Chính quyền Dân tộc Palestine (PNA) được tạo dựng bởi, và về cơ bản có trách nhiệm với, và trong lịch sử có liên kết với Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO), là tổ chức mà Israel cùng đàm phán Hiệp định Oslo. Chủ tịch PLO, Yasser Arafat, được bầu làm tổng thống của PNA trong một thắng lợi vang dội năm 1996. Cuộc bầu cử sau đó đã bị trì hoãn, chủ yếu bởi sự bùng phát của Al-Aqsa Intifada và tình trạng khẩn cấp quân sự của Israel là hậu quả của nó. Tuy nhiên, cuộc tranh giành nội bộ Palestine cũng là một lý do dẫn tới sự tan rã của chính phủ. Sau cái chết của Arafat năm 2004, các cuộc bầu cử tổng thống và địa phương mới đều được tổ chức. Tuy tới 80% nhân viên của PA là người Palestine địa phương, các chức vụ cao hầu hết đều do các quan chức PLO trở về từ nước ngoài khi PNA được thành lập năm 1994 nắm giữ. Với nhiều người Palestine địa phương, những "người quay trở về" đó là một nguồn gốc tạo ra quan liêu và tham nhũng. Chính quyền Arafat bị chỉ trích vì thiếu dân chủ, tham nhũng lan tràn trong giới quan chức, và sự phân chia quyền lực giữa các gia đình và nhiều cơ quan chính phủ với các chức năng chồng chéo. Ông đã thành lập hơn mười tổ chức an ninh riêng biệt thông qua nhiều bộ máy trong một cái gọi là mô hình phân chia và mệnh lệnh, thứ đã bị coi là đảm bảo một không khí đấu tranh quyền lực bên trong Chính quyền cho phép ông giữ quyền kiểm soát tổng thể. Cả Israel và Hoa Kỳ tuyên bố họ đã mất lòng tin vào Arafat như một đối tác và từ chối đàm phán với ông, coi ông có liên kết với chủ nghĩa khủng bố. Arafat bác bỏ điều này, và đã được các lãnh đạo trên khắp thế giới tới thăm cho tới khi ông chết. Tuy nhiên, điều này bắt đầu một tác động đòi thay đổi trong giới lãnh đạo Palestine. Năm Arafat đầu hàng trước sức ép trong nước và quốc tế và chỉ định Mahmoud Abbas (Abu Mazen) làm thủ tướng PNA. Abbas từ chức bốn tháng sau đó vì thiếu sự ủng hộ từ Israel, Hoa Kỳ và chính Arafat. Sau này ông được chọn làm ứng cử viên tổng thống PNA năm 2004 của đảng Fatah của ông sau cái chết của Arafat. Ông thắng cử tổng thống ngày 9 tháng 1 năm 2005 với 62% phiếu bầu. Theo "Luật Căn bản" của Palestine được Arafat ký năm 2002 sau một sự trì hoãn kéo dài, cơ cấu hiện tại của PA dựa trên ba nhánh quyền lực riêng biệt: hành pháp, lập pháp và tư pháp. Nhánh tư pháp vẫn chưa được hình thành đầy đủ. Tổng thống Nhà nước Palestine do dân trực tiếp bầu ra, và người giữ chức vụ này cũng được coi là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Trong một sửa đổi Luật Căn bản được thông qua năm 2003 (và đó có thể sẽ hay không trở thành hiến pháp Palestine một khi nền độc lập được thiết lập), tổng thống chỉ định một "thủ tướng" người cũng là lãnh đạo của nhánh an ninh quốc gia. Thủ tướng lựa chọn một nội các gồm các bộ trưởng và điều hành chính phủ, báo cáo trực tiếp với tổng thống. Cựu thủ tướng Ahmed Qureia đã thành lập chính phủ của mình ngày 24 tháng 2 năm 2005 với sự ca ngợi rộng rãi của quốc tế bởi, lần đầu tiên, hầu hết các bộ đều do những chuyên gia trong lĩnh vực nó nắm giữ trái ngược với sự chỉ định chính trị. Hội đồng Lập pháp Palestine (PLC) là một cơ quan được bầu ra với 132 đại biểu và hoạt động như một nghị viện. PLC phải thông qua mọi vị trí trong nội các do thủ tướng đề xuất, và cũng phải xác nhận cho cả thủ tướng khi ông được tổng thống chỉ định. Trái ngược với các quốc gia Ả Rập, PLC trong lịch sử đã có khá nhiều quyền lực, và thường gây ra những thay đổi trong việc chỉ định chính phủ thông qua các đe doạ bỏ phiếu bất tín nhiệm. Nhiều cuộc bầu cử quan trọng thường có kết quả với sự ưu ái dành cho chính phủ mà không có một đa số hoàn toàn. Từ khi Arafat qua đời, PLC đã tăng cường lại hoạt động của mình, và thường triệu tập các quan chức hành pháp cao cấp tới giải trình trước cơ quan này. Cuộc bầu cử nghị viện đã được tiến hành tháng 1 năm 2006 sau sự thông quan gần đây của một luật xét lại bầu cử tăng số lượng ghế từ 88 lên 132. === Các đảng chính trị và bầu cử === Bản mẫu:Elect Từ khi thành lập Chính quyền Palestine năm 1993 cho tới khi Yasser Arafat chết hồi cuối năm 2004, chỉ một cuộc bầu cử diễn ra. Tất cả các cuộc bầu cử khác đã bị trì hoãn vì nhiều lý do khác nhau. Một cuộc bầu cử tổng thống và lập pháp duy nhất diễn ra năm 1996. Cuộc bầu cử tổng thống và lập pháp tiếp theo được dự định vào năm 2001, nhưng đã bị trì hoãn sau khi Al-Aqsa Intifada diễn ra. Sau cái chết của Arafat, cuộc bầu cử tổng thống chính quyền được thông báo vào ngày 9 tháng 1 năm 2005. Lãnh đạo PLO Mahmoud Abbas giành 62.3% phiếu bầu, trong khi Tiến sĩ Mustafa Barghouti, một nhà vật lý và là ứng cử viên độc lập giành 19.8% phiếu. Bản mẫu:Bầu cử tổng thống Palestine năm 2005 Ngày 10 tháng 5 năm 2004 Nội các Palestine thông báo rằng cuộc bầu cử thành phố sẽ lần đầu tiên diễn ra. Cuộc bầu cử được thông báo vào tháng 8 năm 2004 tại Jericho, tiếp sau đó là một số khu vực đô thị ở Dải Gaza. Tháng 7 năm 2004 những cuộc bầu cử đó đã bị trì hoãn. Các vấn đề với việc đăng ký cử tri được cho là đã góp phần vào sự trì hoãn. Cuộc bầu cử thành phố cuối cùng diễn ra để bầu các quan chức hội đồng tại Jericho và 25 thị trấn và làng mạc khác ở Bờ Tây ngày 23 tháng 12 năm 2004. Ngày 27 tháng 1 năm 2005, vòng một cuộc bầu cử thành phố diễn ra tại Dải Gaza để bầu các quan chức tại 10 hội đồng địa phương. Những vòng tiếp sau tại Bờ Tây diễn ra tháng 5 năm 2005. Cuộc bầu cử Hội đồng Lập pháp Palestine (PLC) được dự định vào tháng 7 năm 2005 bởi Tổng thống tạm quyền Chính quyền Palestine Rawhi Fattuh tháng 1 năm 2005. Những cuộc bầu cử đó đã bị Mahmoud Abbas trì hoãn sau những thay đổi lớn với Luật bầu cử được PLC thông qua đòi hỏi thêm thời gian cho Hội đồng Bầu cử Trung ương Palestine được hình thành và chuẩn bị. Trong số những thay đổi có sự mở rộng số thành viên nghị viện từ 88 lên 132, với một nửa số ghế được cạnh tranh tại 16 địa phương, và nửa kia được bẩu theo tỷ lệ theo bầu cử đảng phái từ một cuộc thăm dò các ứng cử viên trên phạm vi quốc gia. Bản mẫu:Bầu cử lập pháp Palestine năm 2006 Các tổ chức sau, được liệt kê theo vần abc, đã tham gia vào cuộc bầu cử gần đây bên trong Chính quyền Dân tộc Palestine: Mặt trận Dân chủ vì sự Giải phóng Palestine (Al-Jabhah al-Dimuqratiyah Li-Tahrir Filastin) Fatah hay Phong trào Giải phóng Palestine (Harakat al-Tahrâr al-Filistini) Hamas hay Phong trào Kháng chiến Hồi giáo (Harakat al-Muqawamah al-Islamiyah) Liên minh Dân chủ Palestine (al-Ittihad al-Dimuqrati al-Filastini, FiDA) Sáng kiến Quốc gia Palestine (al-Mubadara al-Wataniya al-Filistiniyya) Đảng Nhân dân Palestine (Hizb al-Sha'b al-Filastini) Mặt trận Nhân dân vì sự Giải phóng Palestine (Al-Jabhah al-sha'abiyah Li-Tahrir Filastin) Các cuộc thăm dò năm 2006 đã cho thấy Fatah và Hamas có sức mạnh tương đương. Ngày 14 tháng 6 năm 2007, sau Trận Gaza (2007), tổng thống Palestine Mahmoud Abbas đã giải tán chính phủ do Hamas lãnh đạo, để lại chính phủ dưới sự kiểm soát của ông trong 30 ngày, sau đó chính phủ lâm thời sẽ được Hội đồng Lập pháp Palestine thông qua. == Luật pháp == === Bạo lực chống lại dân sự === Nhóm Giám sát Nhân quyền Palestine thông báo "những sự bất bình và xung đột hàng ngày giữa nhiều phe phái chính trị, gia đình và các thành phố là một bức tranh tổng thể về xã hội Palestine. Những sự chia rẽ đó trong thời điểm al Aqsa Intifada đang diễn ra cũng dẫn tới một sự gia tăng bạo lực ‘Intrafada’. Trong giai đoạn 10 năm từ 1993 tới 2003, 16% thiệt hại nhân mạng dân sự Palestine là do các cá nhân hay các nhóm Palestine gây ra." Erika Waak thông báo trong The Humanist "Trong tổng số thường dân Palestine bị giết hại trong giai đoạn này bởi cả các lực lượng an ninh Israel và Palestine, 16% là nạn nhân của các lực lượng an ninh Palestine." Những cáo buộc hợp tác với Israel đã được sử dụng để nhắm tới và giết hại các cá nhân Palestine: "Những người bị buộc tội hoặc bị phát hiện giúp đỡ người Israel, công khai phản đối Arafat, hay tham gia vào các băng đảng tội phạm đối lập, và những cá nhân đó đã bị treo cổ sau những phiên toà ngắn ngủi. Arafat đã tạo ra một môi trường nơi bạo lực tiếp tục diễn ra trong khi làm câm lặng những lời chỉ trích có thể xuất hiện, và mặc dù ông ta có thể khiến bạo lực không thể diễn ra, ông ta không ngăn cản nó." Nghiên cứu hàng năm của Freedom House về quyền chính trị và các quyền tự do dân sự, Freedom in the World 2001-2002, báo cáo "Các quyền tự do dân sự đã sụt giảm bởi: những vụ bắn chết các thường dân Palestine bởi các nhân viên Palestine; các phiên toà ngắn ngủi và những vụ hành quyết những người bị cho là cộng tác với Chính quyền Palestine (PA); những vụ giết hại phi luật pháp những người bị nghi ngờ cộng tác của những chiến binh du kích; và sự khuyến khích công khai thanh niên Palestine đối đầu với các chiến binh Israel, vì thế trực tiếp đặt họ vào con đường nguy hiểm." Các lực lượng an ninh Palestine, ở thời điểm tháng 3 năm 2005, không thực hiện bất cứ một vụ bắt giữ nào với vụ giết hại tháng 10 năm 2003 ba thành viên người Mỹ của một phái đoàn ngoại giao tại Dải Gaza. Moussa Arafat, lãnh đạo Cơ quan Tình báo Quân sự Palestine và là một người em họ của Chủ tịch Chính quyền Palestine Yasser Arafat đã nói rằng, về áp lực của Mỹ đòi bắt giữ những kẻ giết người; "Họ biết rằng chúng tôi đang ở trong một tình thế rất nghiêm trọng và rằng xung đột với bất kỳ bên nào của Palestine với sự hiện diện chiếm đóng là một vấn đề sẽ tạo ra nhiều rắc rối cho chúng tôi". Từ vụ tấn công tháng 10 năm 2003, các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã bị cấm vào Dải Gaza. Có tuyên bố rằng một số đường hầm buôn lậu nối Ai Cập và Dải Gaza thuộc sự quản lý của một trong các cơ quan an ninh của Chính quyền Palestine dưới sự chỉ huy của Moussa Arafat. Ông ta bị cáo buộc nhận một phần lợi nhuận có được từ các đường hầm buôn lậu. Trong năm 2007 nhiều mục tiêu phương Tây và Thiên chúa đã bị tấn công ở Bờ Tây và Gaza. Các thành viên của các băng đảng địa phương và các nhóm khủng bố đã phá hoại và tiêu huỷ các định chế liên kết với văn hoá phương Tây như các trường Mỹ, các thư viện của nhà thờ và hàng chục tiệm càphê internet. Những sự kiện này phần lớn đã bị truyền thông bỏ qua. === Bạo lực chống lại các quan chức (2003-2004) === Ngày 15 tháng 10 năm 2003, ba thành viên của một phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ đã bị giết hại và một số thành viên khác bị thương ba kilômét phía nam đoạn giao cắt Erez vào Dải Gaza bởi một quả bom khủng bố. Những kẻ thủ phạm vẫn chưa bị bắt giữ. Tháng 2 năm 2004 Ghassan Shaqawa (thị trưởng Nablus) đã đưa đơn từ chức để phản đối việc Chính quyền Palestine không có nhiều hành động chống lại các du kích vũ trang đang tiến hành các hoạt động bạo lực trong thành phố và nhiều nỗ lực của một số người Palestine nhằm ám sát ông. Lãnh đạo cảnh sát Gaza, Tướng Saib al-Ajez, sau này nói: "Cuộc xung đột nội bộ này giữa cảnh sát và các chiến binh du kích không thể diễn ra. Nó bị ngăn cấm. Chúng ta là một quốc gia và nhiều người biết lẫn nhau và sẽ không dễ dàng để giết một ai đó mang vũ khí để bảo vệ quốc gia của mình." Trong ba tháng đầu năm 2004, một số vụ tấn công các nhà báo ở Bờ Tây và Dải Gaza đã bị cáo buộc do Lữ đoàn Tử vì đạo Al-Aqsa, rõ ràng nhất là vụ tấn công vào các văn phòng ở Bờ Tây của đài truyền hình Ả Rập Al-Arabiya của những người đeo mặt nạ tự nhận là các thành viên của Lữ đoàn. Các nhà báo Palestine tại Gaza đã kêu gọi một cuộc tổng đình công ngày 9 tháng 2 để phản đối sự gia tăng bạo lực này chống lại các nhà báo. Karen Abu Zayd, chỉ huy Cơ quan Giảm nhẹ và Việc làm Liên hiệp quốc tại Dải Gaza đã nói ngày 29 tháng 2 năm 2004: "Điều đã bắt đầu ở mức rõ ràng hơn là sự khởi đầu của sự tan rã của luật pháp và trật tự, tất cả các nhóm đều có các chiến binh của riêng mình, và họ được tổ chức rất tốt. Các nhóm của họ đang tìm cách thực thi quyền lực của mình." Ghazi al-Jabali, Lãnh đạo Cảnh sát Dải Gaza từ năm 1994 đã là mục tiêu của nhiều vụ tấn công của người Palestine. Tháng 3 năm 2004, văn phòng của ông bị bắn súng. Tháng 4 năm 2004, một quả bom phát nổ phá hoại phần phía trước ngôi nhà của ông. Ngày 17 tháng 7 năm 2004, ông bị bắt cóc trong một cuộc mai phục vào đoàn xe của ông và làm hai vệ sĩ bị thương. Ông đã được thả vài giờ sau đó. Chưa tới sáu giờ sau, Thiếu tá Khaled Abu Aloula, giám đốc phối hợp an ninh ở phần phía nam Dải Gaza bị bắt cóc. Tối ngày 17 tháng 7, các thành viên phong trào Fatah đã bắt cóc 5 công dân Pháp (3 nam và 2 nữ) và giữ con tin tại toà nhà của Hiệp hội Chữ thập Đỏ ở Khan Yunis: các quan chức an ninh Palestine đã nói rằng vụ khủng bố do Lữ đoàn Abu al-Rish tiến hành, lữ đoàn này bị cáo buộc liên hệ với Chủ tịch phái Fatah của Chủ tịch Chính quyền Palestine Yasser Arafat. Ngày 18 tháng 7, Arafat đã thay thế Ghazi al-Jabali, bằng người cháu của mình là Moussa Arafat, gây ra những vụ bạo loạn tại Rafah và Khan Yunis trong đó các thành viên của Lữ đoàn Tử vì đạo al-Aqsa đã đốt cháy các văn phòng của PA và nổ súng vào cảnh sát Palestine. Trong những cuộc bạo loạn ít nhất một người Palestine đã thiệt mạng và hàng chục người bị thương nặng. Ngày 20 tháng 7 năm 2004 David Satterfield, người đứng thứ hai tại văn phòng Cận Đông Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong một buổi điều trình trước Thượng viện đã nói rằng Chính quyền Palestine đã không thành công trong việc bắt giữ những kẻ khủng bố Palestine, những kẻ đã giết hại ba thành viên của một phái đoàn ngoại giao Mỹ đang trên đường tới Dải Gaza ngày 15 tháng 10 năm 2003. Satterfield nói: Không có giải pháp thích đáng cho vụ việc này. Chúng ta chỉ có thể kết luận rằng đã có một quyết định chính trị do chủ tịch (Yasser Arafat) đưa ra nhằm cản trở sự tiếp tục của cuộc điều tra này. Ngày 21 tháng 7, Nabil Amar, cựu Bộ trưởng Thông tin và một thành viên của nội các cũng như thành viên của Hội đồng Lập pháp Palestine, đã bị các tay súng đeo mặt nạ bắn, sau một cuộc phỏng vấn với một kênh truyền hình trong đó ông chỉ trích Yasser Arafat và kêu gọi những cuộc cải cách bên trong PA. Về sự rơi vào hỗn loạn Bộ trưởng nội các Qadura Fares đã nói ngày 21 tháng 7 năm 2004: Mọi người trong chúng ta đều có trách nhiệm. Arafat là người chịu trách nhiệm lớn nhất về sự thất bại. Tổng thống Arafat đã thất bại và chính phủ Palestine đã thất bại, các phe nhóm chính trị Palestine thất bại. Ngày 22 tháng 7 năm 2004, Liên hiệp quốc đã gia tăng mức độ cảnh báo đe doạ cho Dải Gaza lên "Mức độ Bốn" (chỉ kém mức độ tối đa "Mức độ Năm" một bậc) và lập kế hoạch di tản các nhân viên nước ngoài không thật cần thiết khỏi Dải Gaza. Vụ bắn các tên lửa Qassam từ Dải Gaza vào Israel đã bị những người sống gần nơi phóng tên lửa phản đối kịch liệt bởi những cuộc trả đũa thường xuyên của quân đội Israel vào nơi phóng. Ngày 23 tháng 7 năm 2004, một chú bé người Ả Rập đã bị những kẻ khủng bố Palestine thuộc Lữ đoàn Tử vì đạo Al-Aqsa bắn và giết chết sau khi cậu và gia đình phản đối khi họ định lắp đặt một bệ phóng tên lửa Qassam bên ngoài ngôi nhà của họ. Năm cá nhân khác đã bị thương trong vụ việc. Ngày 25 tháng 7 năm 2004, 20 thành viên của Lữ đoàn Tử vì đạo Al-Aqsa đã chiếm văn phòng thống đốc tại thị trấn Khan Yunis thuộc Dải Gaza. Trong số những yêu cầu cua rhọ có việc, cháu của Yasser Arafat, Moussa Arafat phải bị bãi chức lãnh đạo an ninh tại Gaza. Trong một vụ tấn công riêng biệt, những người chưa được xác định đã tấn công một đồn cảnh sát và phá huỷ ngôi nhà này gây ra nhiều thiệt hại. Ngày 31 tháng 7, những kẻ bắt cóc người Palestine tại Nablus đã bắt giữ 3 người mang quốc tịch nước ngoài, một người Mỹ, một người Anh và một người Ireland. Sau này họ đã được thả. Tương tự, một trụ sở của lực lượng an ninh PA đã bị đốt cháy tại Jenin bởi Lữ đoàn Tử vì đạo al Aqsa. Một lãnh đạo của Lữ đoàn Tử vì đạo Al Aqsa đã nói họ đốt toà nhà này bởi vị thị trưởng mới Qadorrah Moussa, do Arafat chỉ định, đã từ chối trả lương cho các thành viên Al Aqsa hay hợp tác với nhóm này. Ngày 8 tháng 8 năm 2004 Bộ trưởng Tư pháp Nahed Arreyes đã từ chức và nói rằng ông đã bị tước đoạt đa số quyền lực với hệ thống pháp lý. Năm trước đó, Yasser Arafat đã tạo ra một cơ quan đối trọng với Bộ Tư pháp và đã bị cáo buộc tiếp tục kiểm soát luật pháp và đặc biệt là các công tố viên nhà nước. Ngày 10 tháng 8 năm 2004, một báo cáo của một uỷ ban điều tra của Hội đồng Lập pháp Palestine về những lý do của tình trạng vô chính phủ và hỗn loạn bên trong Chính quyền Palestine đã được tờ nhật báo Haaretz xuất bản. Báo cáo đưa ra cáo buộc chính với Yasser Arafat và các lực lượng an ninh PA, "đã không thể tạo lập một quyết định chính trị rõ ràng để chấm dứt nó". Báo cáo viết, "Lý do chính của sự thất bại của các lực lượng an ninh Palestine và sự thiếu hành động của họ trong việc tái lập luật pháp và trật tự"... "là sự thiếu hụt hoàn toàn một quyết định chính trị rõ ràng và không có định nghĩa về những vai trò của họ, kể cả trong ngắn và dài hạn." Báo cáo cũng kêu gọi ngừng bắn tên lửa Qassam và bắn pháo vào các khu định cư Israel bởi nó làm hại đến "các quyền lợi của Palestine". Hakham Balawi nói: "... Cấm phóng tên lửa và bắn súng từ các ngôi nhà, và đó là lợi ích tối cao của Palestine và không thể bị xâm phạm bởi kết quả là sự trả đũa dã man của quân đội chiếm đóng và toàn thể người dân không thể chấp nhận những vụ bắn phá như vậy. Những người thực hiện điều đó chắc chắn là một nhóm không đại diện cho người dân và quốc gia, thực hiện điều đó mà không nghĩ gì tới lợi ích chung và ý kiến cộng đồng trên thế giới và tại Israel. Không có tầm nhìn hay mục đích với các tên lửa; lợi ích của Palestine là quan trọng hơn" Dù có sự chỉ trích chống lại Yasser Arafat, những vụ việc vẫn tiếp tục. Ngày 24 tháng 8 Thiếu tá cơ quan Tình báo Chung Palestin tại Dải Gaza, Tareq Abu-Rajab, đã bị một nhóm người có vũ trang bắn. Ông bị thương nặng. Ngày 31 tháng 8, Lữ đoàn Tử vì đạo Jenin, cánh vũ trang của Uỷ ban Kháng chiến Nhân dân, đã đe doạ giết hại Bộ trưởng Nabil Shaath vì đã tham gia vào một hội nghị ở Italia có sự hiện diện của Bộ trưởng Ngoại giao Israel Silvan Shalom, tuyên bố "ông ta sẽ bị kết án tử hình nếu tham gia. Quyết định này không thể được huỷ bỏ, chúng tôi kêu gọi các vệ sĩ của ông rời bỏ phái đoàn để bảo vệ tính mạng của họ." Ngày 8 tháng 9, Thủ tướng Ahmed Qurei, đã một lần nữa đe doạ từ chức. Đã ba tuần trôi qua từ khi ông rút lại tuyên bố từ chức, vốn ban đầu từng được đưa ra sáu tuần trước đó. Ngày 12 tháng 10, Moussa Arafat, cháu của Yasser Arafat và là một viên chức an ninh cao cấp tại Dải Gaza, đã thoát khỏi một âm mưu ám sát bằng bom xe. GẦn đây Uỷ ban Kháng chiến Nhân dân đã đe doạ Moussa Arafat để trả đũa cho một cái gọi là âm mưu của ông nhằm ám sát lãnh đạo của họ, Mohammed Nashabat. Ngày 14 tháng 10, Thủ tướng Palestine Ahmed Qurei nói rằng Chính quyền Palestine không có khả năng ngăn chặn sự lan tràn của tình trạng vô chính phủ. Tuy hàng ngày vẫn cáo buộc Israel về các vấn đề của PA, ông đã chỉ ra rằng nhiều lực lượng an ninh của PA đã bị ảnh hưởng bởi nạn tham nhũng và bè phái phong kiến. Vì thiếu các biện pháp cải cách chính phủ do các nhà trung gian hoà bình quốc tế đề xuất, các nhà lập pháp Palestine đã yêu cầu Qurei đệ trình một báo cáo về vấn đề ngày 20 tháng 10, vào thời điểm đó họ sẽ quyết định về việc có tổ chức một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm hay không. Ngày 19 tháng 10, một nhóm các thành viên của Lữ đoàn Tử vì đạo Al-Aqsa, dưới sự chỉ huy của Zakaria Zubeidi, đã chiếm các toà nhà thuộc Bộ Tài chính Palestine và nghị viện Palestine tại Jenin. === Các biện pháp hiện nay của Palestine nhằm duy trì luật pháp và trật tự === Năm 2006, sau chiến thắng của Hamas, bộ trưởng nội vụ Palestine đã lập ra một Lực lượng Hành pháp cho cảnh sát. Tuy nhiên, tổng thống Chính quyền Palestine đã bác bỏ và sau những xung đột giữa Hamas và Fatah, một sự tái triển khai lực lượng đã được thực hiện và những nỗ lực bắt đầu để sáp nhập nó với lực lượng cảnh sát. == Phân chia hành chính == Sau khi ký kết Hiệp định Oslo, Bờ Tây và Dải Gaza được chia thành các khu vực (A, B, và C) và các vùng thủ hiến. Vùng A chỉ khu vực nằm dưới sự kiểm soát an ninh và dân sự của Chính quyền Palestine. Vùng B chỉ khu vực nằm dưới sự kiểm soát dân sự của người Palestine và kiểm soát an ninh của Israel. Vùng C chỉ khu vực hoàn toàn dưới quyền kiểm soát của Israel như các khu định cư. Từ Trận Gaza (2007) hầu hết Dải Gaza thuộc quyền kiểm soát của Hamas và Chính quyền Palestine tuyên bố rằng họ không còn chính thức kiểm soát Dải Gaza. PNA chia lãnh thổ Palestine thành 16 vùng thủ hiến Vùng thủ hiến Jenin Vùng thủ hiến Tubas Vùng thủ hiến Nablus Vùng thủ hiến Tulkarm Vùng thủ hiến Salfit Vùng thủ hiến Qalqilya Vùng thủ hiến Ramallah và al-Bireh Vùng thủ hiến Jericho Vùng thủ hiến Jerusalem Vùng thủ hiến Bethlehem Vùng thủ hiến Hebron Vùng thủ hiến Bắc Gaza Vùng thủ hiến Gaza Vùng thủ hiến Deir el-Balah Vùng thủ hiến Khan Yunis Vùng thủ hiến Rafah , == Kinh tế == Xem thêm thông tin: Kinh tế Palestine Sau cuộc bầu cử lập pháp năm 2006, với thắng lợi của Hamas, Israel đã ngừng chuyển giao $55 triệu tiền thuế cho Chính quyền Palestine; bởi Chính quyền Palestine không có điểm tiếp cận (cảng, sân bay...) để thu thuế, chính Israel đảm nhiệm điều này. Những khoản tiền đó chiếm một phần ba ngân sách của PA, hai phần ba ngân sách riêng của họ, và đảm bảo trả lương bổng cho 160.000 nhân viên dân sự Palestine (trong số đó có 60.000 nhân viên an ninh và cảnh sát), là số tiền mà một phần ba dân số Palestine sống phụ thuộc vào nó. Israel cũng đã tăng việc kiểm soát tại các điểm gác, là một lý do chính dẫn tới cuộc giảm phát kinh tế 2001-2002 từ đầu cuộc Intifada lần thứ hai, mà Ngân hàng Thế giới đã so sánh với cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929. Hơn nữa, Hoa Kỳ và EU đã ngừng viện trợ trực tiếp cho PA, trong khi Hoa Kỳ áp đặt một lệnh phong toả tài chính với các ngân hàng của PA, treo một số khoản tiền của Liên đoàn Ả Rập (ví dụ Ả Rập Saudi và Qatar) được chuyển cho PA. Ngày 6 và 7 tháng 5 năm 2006, hàng trăm người Palestine đã biểu tình tại Gaza và Bờ Tây yêu cầu được trả lương. Căng thẳng giữa Hamas và Fatah đã gia tăng với sự "túng quẫn kinh tế" của PA. Tổ chức Liên hiệp quốc đã lưu ý rằng thất nghiệp, được ước tính ở mức 23% năm 2005, sẽ tăng lên thành 39% năm 2006, trong khi tỷ lệ nghèo khổ, được ước tính ở mức 44%, sẽ tăng lên 67% năm 2006. === Viện trợ nước ngoài và thâm hụt ngân sách === Vì những điều kiện trong lãnh thổ mà họ quản lý, Chính quyền Palestine (PA) đã nhận được khoản hỗ trợ tài chính chưa từng có từ cộng đồng quốc tế. Theo Ngân hàng Thế giới, USD $929 triệu đã được cộng đồng quốc tế trao cho Chính quyền Dân tộc Palestine (PNA) năm 2001, $891 triệu năm 2003 và $1.1 tỷ năm 2005 (chiếm 53% ngân sách năm 2005). Các mục đích chính là hỗ trợ cho ngân sách, viện trợ phát triển và y tế công cộng. Năm 2003, Hoa Kỳ cung cấp $224 triệu, EU $187 triệu, Liên đoàn Ả Rập $124 triệu, Na Uy $53 triệu, Ngân hàng Thế giới $50 triệu, Anh Quốc $43 triệu, Italia $40 triệu và $170 triệu cuối cùng bởi các quốc gia và tổ chức khác. Theo Ngân hàng Thế giới, thâm hụt ngân sách là khoảng $800 triệu năm 2005, với gần một nửa số này được các nhà tài trợ cung cấp. "Tình hình tài chính của PA đã ngày càng trở nên mất ổn định chủ yếu bởi sự chi tiêu không kiểm soát của chính phủ, đặc biệt tăng nhanh trong khoản chi trả lương, mở rộng các cơ cấu di chuyển xã hội và tăng cho vay thực," báo cáo của Ngân hàng thế giới cho biết. Tham nhũng chính phủ được nhiều người coi là nguyên nhân của hầu hết tình hình tài chính khó khăn của Chính quyền Palestine. === Trừng phạt kinh tế sau cuộc bầu cử lập pháp tháng 1 năm 2006 === Sau cuộc bầu cử lập pháp tháng 1 năm 2006, với thắng lợi của Hamas, Nhóm bộ tứ (Hoa Kỳ, Nga, Liên minh châu Âu và Liên hiệp quốc) đã đe doạ cắt những khoản viện trợ cho Chính quyền Palestine. Ngày 2 tháng 2 năm 2006, theo AFP, PNA đã cáo buộc Israel "tiến hành trừng phạt tập thể sau khi họ không quan tâm tới những kêu gọi của Hoa Kỳ nhằm giải toả các khoản tiền thuộc sở hữu của người Palestine." Thủ tướng Ahmed Qorei "nói ông hy vọng tìm kiếm được những khoản tiền thay thế khác để đáp ứng sự thiếu hụt ngân sách khoảng 50 triệu dollar, cần thiết để trả lương các nhân viên công, và số tiền này đáng lẽ đã phải được Israel trao cho PA vào ngày đầu tiên của tháng." Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã chỉ trích Israel vì không nhanh chóng dỡ bỏ phong toả khoản tiền. Khoản tiền này sau đó đã được dỡ bỏ phong toả. Tuy nhiên, tờ New York Times đã công bố vào ngày 14 tháng 2 năm 2006 rằng một "kế hoạch bất ổn hoá" của Hoa Kỳ và Israel, với mục đích chống Hamas, bên giành chiến thắng trong cuộc bầu cử lập pháp tháng 1 năm 2006, tập trung "chủ yếu vào tiền bạc" và cắt mọi khoản tiền cho PA một khi Hamas lên nắm quyền lực, để làm họ mất tính hợp pháp trong con mắt người dân Palestine. Theo bài báo, "Chính quyền Palestine có khoản thâm hụt tiền mặt hàng tháng khoảng $60 triệu tới $70 triệu sau khi họ nhận khoảng $50 triệu tới $55 triệu mỗi tháng từ Israel về các khoản thuế và phí hải quan do các quan chức Israel thu tại biên giới nhưng thuộc sở hữu của người Palestine." Bắt đầu từ tháng 3 năm 2006, "Chính quyền Palestine sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt tiền mặt ít nhất $110 triệu mỗi tháng, hay hơn $1 tỷ mỗi năm, là khoản tiền cần thiết để trả đủ lương cho 140.000 nhân viên, là những người lao động chính cung cấp cho ít nhất một phần ba dân số Palestine. Con số nhân viên gao gồm khoảng 58.000 thành viên các lực lượng an ninh, chủ yếu trong số đó thuộc về phong trào Fatah vừa thất bại trong cuộc bầu cử." Từ cuộc bầu cử ngày 25 tháng 1, "thị trường chứng khoán Palestine đã giảm khoảng 20%", trong khi "Chính quyền đã cạn kiệt khả năng vay mượn với các ngân hàng địa phương." === Sử dụng hỗ trợ của Liên minh châu Âu === Tháng 2 năm 2004, có thông báo rằng văn phòng chống gian lận của Liên minh châu Âu (EU) (OLAF) đang nghiên cứu các tài liệu cho thấy Yasser Arafat và Chính quyền Palestine đã chuyển hướng hàng triệu dollar từ các khoản tài trợ của EU tới các tổ chức liên quan tới các cuộc tấn công khủng bố, như Lữ đoàn Tử vì đạo Al-Aqsa. Tuy nhiên, vào tháng 8 năm 2004, một đánh giá tạm thời nói rằng "Tới thời điểm hiện tại, chưa có bằng chứng rằng những khoản tiền từ khoản Ngân sách Hỗ trợ Trực tiếp không mục tiêu của EU cho Chính quyền Palestine đã bị sử dụng cung cấp cho các hoạt động bất hợp pháp, gồm cả khủng bố." Một "Nhóm Làm việc" riêng biệt của EU cũng đã ra một báo cáo vào tháng 4 năm 2004, được thông qua với số phiếu 7-6, đề cập tới giai đoạn từ cuối năm 2000 tới cuối năm 2002, nói rằng viện trợ của EU đã không bị chuyển tới cho các chiến binh Palestine đang tiến hành các cuộc tấn công vào người dân Israel: "Không có bằng chứng xác định, cho tới thời điểm hiện tại, rằng khoản hỗ trợ ngân sách trực tiếp không mục tiêu của EU đã bị sử dụng cung cấp cho các hoạt động bất hợp pháp, gồm cả cung cấp cho chủ nghĩa khủng bố". Hơn nữa, EU đã thay đổi cách thức tài trợ cho người Palestine và hiện sử dụng viện trợ có mục đích cho các mục đích cụ thể. Từ tháng 4 năm 2003, tiền chỉ được chuyển nếu nhiều điều kiện được đáp ứng, như việc xuất trình các hoá đơn cho các khoản người Palestine cần trả. EU vẫn là nhà tài trợ lớn nhất cho Chính quyền Palestine. === Các khoản chi trả cho các tù nhân Palestine tại các nhà tù của Israel === Ngày 22 tháng 7 năm 2004, Salam Fayyad, Bộ trưởng Tài chính PNA, trong một bài báo trên tờ tuần báo Palestine, The Jerusalem Times, đã chỉ rõ các khoản chi trả sau cho những người Palestine bị chính quyền Israel giam giữ: Các khoản trợ cấp cho tù nhân đã tăng trong giai đoạn từ tháng 6 năm 2002 tới tháng 6 năm 2004 lên $9.6 triệu mỗi tháng, tăng 246% so với tháng 1 năm 1995-tháng 6 năm 2002. Từ tháng 6 năm 2002 tới tháng 6 năm 2004, 77 triệu shekel đã được chuyển cho các tù nhân, so với 121 triệu shekel từ tháng 1 năm 1995 tới tháng 6 năm 2002, gia tăng 16 triệu shekel mỗi năm. Sự gia tăng chi tiêu hàng năm giữa hai giai đoạn là 450%, cao hơn rất nhiều số phần trăm tù nhân tăng thêm. Từ 2002 tới 2004, PNA đã trả 22 triệu shekel cho các khoản phí khác — phí luật sư, tiền phạt, và trợ cấp cho những tù nhân được thả. Con số này bao gồm phí luật sư do PNA trả trực tiếp và các khoản phí trả thông qua Câu lạc bộ Tù nhân. == Nhân khẩu == === Bờ Tây === Các thống kê nhân khẩu sau lấy từ CIA World Factbook, trừ khi được chú thích khác. ==== Dân số ==== Dân số tại Bờ Tây là 2.407.681, không tính người định cư Israel.[1] Con số này bao gồm 209.000 người Ả Rập ở Đông Jerusalem, cũng được tính là người cư trú Israel (và trong thống kê dân số Israel), bởi 98% người Palestine ở đông Jerusalem hoặc có vị thế cư trú Israel hay quyền công dân Israel. Tổng dân số 2.771.681, gồm 187.000 người định cư Israel ở Bờ Tây và 177.000 ở đông Jerusalem (ước tính tháng 7 năm 2008) ==== Cơ cấu độ tuổi ==== 0–14 tuổi: 38% (nam 469.754, nữ 445.999) 15–64 tuổi: 58.3% (nam 719.267, nữ 684.790) từ 65 trở lên: 3.6% (nam 36.606, nữ 51.265) (ước tính 2008) World fact book ==== Tỷ lệ tăng trưởng dân số ==== 2.225% (ước tính 2008)[2] ==== Tỷ lệ sinh ==== 25.95 ca sinh trên 1,000 dân (ước tính 2008) ==== Tỷ lệ tử ==== 3.85 chết trên 1,000 dân (ước tính 2006) === Dải Gaza === Thống kê nhân khẩu sau lấy từ CIA World Factbook, trừ khi được chú thích khác. ==== Dân số ==== 1.482.406 (tháng 6 năm 2007) ==== Cơ cấu độ tuổi ==== 0–14 tuổi:44.7% (nam 343.988, nữ 325.856) 15–64 tuổi:52.7% (nam 403.855, nữ 386.681) từ 65 tuổi trở lên:2.7% (nam 16.196, nữ 23.626) (ước tính năm 2008) ==== Tỷ lệ tăng trưởng dân số ==== 3.422% (ước tính năm 2008, xem thêm: Bẫy dân số) ==== Tỷ lệ sinh ==== 39.45 ca sinh trên 1,000 dân (ước tính 2006) ==== Tỷ lệ tử ==== 3.8 tử trên 1,000 dân (ước tính 2006) == Xem thêm == Hội đồng Lập pháp Palestine CÁc đề xuất về một nhà nước Palestine Các vùng thống đốc của Chính quyền Dân tộc Palestine Vùng thống đốc Bethlehem Vùng thống đốc Hebron Vùng thống đốc Jenin Vùng thống đốc Jericho Vùng thống đốc Jerusalem Vùng thống đốc Nablus Vùng thống đốc Ramallah và al-Bireh Vùng thống đốc Salfit Vùng thống đốc Tubas Vùng thống đốc Tulkarm Danh sách các thành phố tại các vùng Chính quyền Dân tộc Palestine Quân đội Giải phóng Palestine Xung đột Israel-Palestine Bạo lực trong cuộc xung đột Israel-Palestine Bạo lực chính trị Palestine Trẻ em và trẻ nhỏ trong cuộc xung đột Israel-Palestine PLO và Hamas Hiệp hội Hướng đạo sinh Palestine Tem bưu chính và lịch sử bưu chính Chính quyền Dân tộc Palestine == Ghi chú và tham khảo == == Thư mục == == Liên kết ngoài == Chính phủ State Information Service Ministry of Planning Ministry of Information Ministry of Education and Higher Education Ministry of Labor (Archive) The Palestinian Legislative Council (Arabic) Ministry of the National Economy Negotiations Affairs Department pecdar Palestine Media Center Thông tin chung The Palestinian Basic Law - A collection of various propsals and amendments to the Basic Law of Palestine Columbia University Libraries - Palestine directory category of the WWW-VL Palestinian Territory Government tại DMOZ Yahoo! - Palestinian Authority directory category Council on Foreign Relations - Palestinian Authority British Foreign & Commonwealth office - Palestine National Authority What is the "Palestinian Authority"? - Institute for Middle East Understanding Khác PA President Yasser Arafat memorial site Israeli Institute for Combatting Terrorism - The Palestinian Security Services: Between Police and Army MEMRI - Daily Life in the Palestininian Authority MEMRI - Special Dispatch / Inquiry and Analysis Series for Palestinian Authority The 'Intra'fada or 'Chaos of the Weapons', An Analysis of Internal Palestinian Violence by the Palestinian Human Rights Monitoring Group The Palestinian Security Services: Between Police and Army Mideast Review of International Affairs Volume 3, No. 2—tháng 6 năm 1999 US-Israel.org - Palestinian Authority Threatens Cameraman Prevents Broadcast of Palestinians Celebrating Attack on U.S. (September 11-13, 2001) Israeli Intelligence - Peace Against Truth: When Peace Movements Reinforce Evil On funding sources of uses by the Palestinian Authority and PLO Jerusalem Post - Engineering civilian casualties (registration required) (reprint free access) China Daily - Mediators Tell Palestinians to Reform or Lose Aid Daily Star - Time has come for a long, hard look inside the Palestinian Authority (Lebanese Daily Newspaper) The EU's new Palestine dilemma by Khaled Diab Palestinian Authority Profile on Ynet News, Real-time news about the Israeli Palestinian conflict, cập nhật daily Occupation Magazine Mutasarriflik (Governorship) of Jerualem in the History Bản mẫu:Các lãnh thổ phụ thuộc và các lãnh thổ khác tại châu Á Bản mẫu:Nói tiếng Afro-Asiatic Bản mẫu:Nói tiếng Semitic Bản mẫu:Bộ tứ về Trung Đông Bản mẫu:Xung đột Ả Rập-Israel
1973.txt
Theo lịch Gregory, năm 1973 (số La Mã: MCMLXXIII) là một năm bắt đầu từ ngày thứ hai. Bản mẫu:Tháng trong năm 1973 == Sự kiện == === Tháng 1 === 1 tháng 1: Roger Bonvin trở thành tổng thống liên bang Thụy Sĩ 1 tháng 1: Angola, Mozambique, Cabo Verde, Timor, São Tomé và Príncipe và Macao nhận quyền tự trị từ Bồ Đào Nha 1 tháng 1: Đan Mạch trở thành thành viên của Cộng đồng châu Âu 1 tháng 1: Anh, Đan Mạch và Ireland trở thành thành viên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu 7 tháng 1: Thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Phần Lan. 15 tháng 1: Hoa Kỳ tuyên bố ngưng ném bom miền Bắc Việt Nam. 22 tháng 1: Kano, Nigeria. Một chiếc Boeing 707 của Nigerian Airlines rơi. Tất cả 176 hành khách và phi hành đoàn đều chết 27 tháng 1: Việt Nam và Hoa Kỳ ký kết Hiệp định Paris. === Tháng 3 === 29 tháng 3: Hoa Kỳ rút hoàn toàn quân khỏi miền Nam Việt Nam === Tháng 5 === 14 tháng 5: Trạm vũ trụ Skylab khởi hành. === Tháng 7 === 10 tháng 7: Bahamas độc lập === Tháng 8 === 1 tháng 8: Gambia trở thành thành viên trong UNESCO 20 tháng 8: Đảo chính tại Lào thất bại 24 tháng 8: Vua Mohammed Sahir Schah của Afghanistan thoái vị === Tháng 9 === 2 tháng 9: Quân đội Pháp rút khỏi Madagascar 11 tháng 9: Đảo chính quân sự trong Chile dưới sự lãnh đạo của Augusto Pinochet 18 tháng 9: Bahamas trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc 23 tháng 9: Argentina: Juan Peron trở thành tổng thống === Tháng 10 === 16 tháng 10: OPEC quyết định tăng giá dầu 70%; bắt đầu cuộc khủng hoảng dầu đầu tiên. === Tháng 11 === 12 tháng 11: Tưởng Kinh Quốc đề xuất kế hoạch thập đại kiến thiết. === Tháng 12 === 20 tháng 12: Thủ tướng Tây Ban Nha Luis Carrero Blanco chết vì bị đánh bom trong Madrid 21 tháng 12: Thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Hungary và Bulgaria == Sinh == 1 tháng 1: DJ Shadow, nhà sản xuất nhạc 2 tháng 1: Lucy Davis, nữ diễn viên Anh 10 tháng 1: Markus Ortmanns, doanh nhân Đức 13 tháng 1: Nikolai Ivanovich Khabibulin, vận động viên khúc côn cầu trên băng Nga 13 tháng 1: Juan Diego Flórez, ca sĩ opera Peru 19 tháng 1: Wang Junxia, nữ vận động viên điền kinh Trung Hoa, huy chương Thế Vận Hội 19 tháng 1: Karen Lancaume, nữ diễn viên Pháp (mất 2005) 19 tháng 1: Silvio Meißner, cầu thủ bóng đá Đức 20 tháng 1: Mathilde d'Udekem d'Acoz, hoàng hậu Bỉ 26 tháng 1: Rupert Ursin, nhà vật lý học Áo 27 tháng 1: Daniel Amor, tác giả Thụy Sĩ 27 tháng 1: José Luis Rubiera, tay đua xe đạp Tây Ban Nha 28 tháng 1: Tomislav Marić, cầu thủ bóng đá Croatia 31 tháng 1: Portia de Rossi, nữ diễn viên Úc 2 tháng 2: Bürger Lars Dietrich, nhạc sĩ Đức 2 tháng 2: Anna Jakubczak, nữ vận động viên điền kinh Ba Lan 12 tháng 2: Gianni Romme, vận động viên chạy đua trên băng Hà Lan 14 tháng 2: Andreas Schmidt, cầu thủ bóng đá Đức 14 tháng 2: Oliver Schmidt, cầu thủ bóng đá Đức 14 tháng 2: Deena Kastor, nữ vận động viên điền kinh Mỹ 16 tháng 2: Cathy Freeman, nữ vận động viên điền kinh 17 tháng 2: Stefan Kretzschmar, vận động viên bóng ném Đức 18 tháng 2: Claude Makélélé, cầu thủ bóng đá Pháp 19 tháng 2: Magnus Arvidsson, cầu thủ bóng đá Thụy Điển 21 tháng 2: Paolo Rink, cầu thủ bóng đá 22 tháng 2: Archil Arveladze, cầu thủ bóng đá 26 tháng 2: Jenny Thompson, nữ vận động viên bơi lội Mỹ 28 tháng 2: Eric Lindros, vận động viên khúc côn cầu trên băng Canada 1 tháng 3: Jack Davenport, diễn viên Anh 1 tháng 3: Chris Webber, cầu thủ bóng rổ Mỹ 2 tháng 3: Max van Heeswijk, tay đua xe đạp Hà Lan 2 tháng 3: Dejan Bodiroga, cầu thủ bóng rổ Serbia 5 tháng 3: Špela Pretnar, nữ vận động viên chạy ski Slovenia 9 tháng 3: Jakob Piil, tay đua xe đạp Đan Mạch 11 tháng 3: Christian Carstensen, chính trị gia Đức 11 tháng 3: Thomas Christiansen, cầu thủ bóng đá 11 tháng 3: Martin Hiden, cầu thủ bóng đá Áo 18 tháng 3: Max Barry, nhà văn Úc 19 tháng 3: Wolfgang Ivens, diễn viên Đức 19 tháng 3: Simmone Jade Mackinnon, nữ diễn viên Úc 19 tháng 3: Sergey Makarov, vận động viên điền kinh Nga 21 tháng 3: Christian Nerlinger, cầu thủ bóng đá Đức 21 tháng 3: Andrei Kiwiljow, tay đua xe đạp (mất 2003) 23 tháng 3: Jerzy Dudek, cầu thủ bóng đá Ba Lan 23 tháng 3: Jason Kidd, cầu thủ bóng rổ Mỹ 24 tháng 3: Johan Micoud, cầu thủ bóng đá Pháp 25 tháng 3: Michaela Dorfmeister, nữ vận động viên chạy ski Áo 26 tháng 3: Larry Page, người đồng thành lập Google 27 tháng 3: Rui Jorge, cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha 30 tháng 3: Jan Koller, cầu thủ bóng đá Séc 3 tháng 4: Matthew Ferguson, diễn viên Canada 4 tháng 4: Loris Capirossi, người đua mô tô Ý 5 tháng 4: Élodie Bouchez, nữ diễn viên Pháp 6 tháng 4: Niels Annen, chính trị gia Đức 6 tháng 4: Miyazawa Rie, nữ diễn viên Nhật Bản 7 tháng 4: Carole Montillet, nữ vận động viên chạy ski Pháp 7 tháng 4: Sandra Minnert, nữ cầu thủ bóng đá Đức 11 tháng 4: Jennifer Esposito, nữ diễn viên Mỹ 12 tháng 4: Christian Panucci, cầu thủ bóng đá Ý 14 tháng 4: Roberto Ayala, cầu thủ bóng đá Argentina 14 tháng 4: Adrien Brody, diễn viên Mỹ 17 tháng 4: Joël Lautier, kiện tướng cờ vua Pháp 17 tháng 4: Doug Ast, vận động viên khúc côn cầu trên băng Canada 19 tháng 4: Michael Schefts, diễn viên Áo 21 tháng 4: Nadeshda Brennicke, nữ diễn viên Đức 22 tháng 4: Max Herre, nam ca sĩ Đức 25 tháng 4: Brigitte Traeger, nữ ca sĩ Đức 25 tháng 4: Barbara Rittner, nữ vận động viên quần vợt 26 tháng 4: Stephanie bá tước, nữ vận động viên điền kinh Áo 28 tháng 4: Pauleta, cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha 29 tháng 4: Michael Gerard Hogan, thành viên của ban nhạc The Cranberries 29 tháng 4: Roland Heintze, chính trị gia Đức 29 tháng 4: Martin Kesici, nhạc sĩ nhạc pop Đức 1 tháng 5: Oliver Neuville, cầu thủ bóng đá Đức 2 tháng 5: Jarred Blancard, diễn viên Canada 5 tháng 5: Björn Glasner, tay đua xe đạp Đức 5 tháng 5: Brooke Ashley, nữ diễn viên phim khiêu dâm 5 tháng 5: Tina Yothers, nữ diễn viên Mỹ 6 tháng 5: Patrick Döring, chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang 7 tháng 5: Paolo Savoldelli, tay đua xe đạp Ý 10 tháng 5: Rüştü Reçber, cầu thủ bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ 11 tháng 5: Sabine Völker, nữ vận động viên chạy đua trên băng Đức 11 tháng 5: Jenny Elvers-Elbertzhagen, nữ diễn viên Đức 16 tháng 5: Tori Spelling, nữ diễn viên Mỹ 17 tháng 5: Josh Homme, nhạc sĩ nhạc rock Mỹ, nhà sản xuất nhạc 17 tháng 5: Matthew McGrory, diễn viên Mỹ (mất 2005) 22 tháng 5: Nikolaj Lie Kaas, diễn viên Đan Mạch 22 tháng 5: Joey Woody, vận động viên điền kinh Mỹ 24 tháng 5: Vladimír Šmicer, cầu thủ bóng đá Séc 24 tháng 5: Ruslana Lyschytschko, nữ ca sĩ Ukraina 24 tháng 5: Jill Johnson, nữ ca sĩ Thụy Điển 28 tháng 5: Alberto Berasategui, vận động viên quần vợt Tây Ban Nha 1 tháng 6: Anna Thalbach, nữ diễn viên Đức 1 tháng 6: Adam Garcia, nam diễn viên kiêm vũ công Úc 1 tháng 6: Heidi Klum, người mẫu Đức 4 tháng 6: André Korff, tay đua xe đạp Đức 8 tháng 6: Lexa Doig, nữ diễn viên Canada 10 tháng 6: Damian Kallabis, vận động viên điền kinh Đức 12 tháng 6: Daron Rahlves, vận động viên chạy ski Mỹ 13 tháng 6: Kasia Kowalska, nữ ca sĩ Ba Lan 15 tháng 6: Silke Scheuermann, nhà văn nữ Đức 17 tháng 6: Paulina Rubio, nữ ca sĩ Mexico, nữ diễn viên 18 tháng 6: Alexandra Meissnitzer, nữ vận động viên chạy ski Áo 19 tháng 6: Jörg Widmann, nhà soạn nhạc Đức 20 tháng 6: Silke Andrea Schuemmer, nhà văn nữ Đức, sử gia về nghệ thuật, nhà báo 21 tháng 6: Juliette Lewis, nữ diễn viên Mỹ 24 tháng 6: Claude Chabrol, đạo diễn phim Pháp 24 tháng 6: Alexander Beyer, diễn viên Đức 28 tháng 6: Adrián Annus, vận động viên điền kinh Hungary 29 tháng 6: George Hincapie, tay đua xe đạp 30 tháng 6: Frank Rost, cầu thủ bóng đá Đức 2 tháng 7: Christian Baretti, chính trị gia Đức 3 tháng 7: Ólafur Stefánsson, vận động viên bóng ném 5 tháng 7: Róisín Murphy, nữ ca sĩ Anh 5 tháng 7: Marcus Allbäck, cầu thủ bóng đá Thụy Điển 7 tháng 7: Kyung-Shin Yoon, cầu thủ bóng ném Hàn Quốc 7 tháng 7: Troy Garity, diễn viên Mỹ 10 tháng 7: Dida, cầu thủ bóng đá Brasil 11 tháng 7: Konstantinos Kenteris, vận động viên điền kinh Hy Lạp, huy chương Thế Vận Hội 12 tháng 7: Christian Vieri, cầu thủ bóng đá Ý 15 tháng 7: Brian Austin Green, diễn viên Mỹ 16 tháng 7: Katherina Reiche, nữ chính trị gia Đức 16 tháng 7: Stefano Garzelli, tay đua xe đạp Ý 18 tháng 7: René Rydlewicz, cầu thủ bóng đá Đức 19 tháng 7: Ailton, cầu thủ bóng đá Brasil 19 tháng 7: Elke Wosik, nữ vận động viên bóng bàn Đức 20 tháng 7: Peter Forsberg, vận động viên khúc côn cầu trên băng Thụy Điển 20 tháng 7: Haakon von Na Uy, hoàng tử kế vị của Na Uy 20 tháng 7: Claudio Reyna, cầu thủ bóng đá Mỹ 21 tháng 7: Mandy Wötzel, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức 23 tháng 7: Omar Epps, diễn viên Mỹ 25 tháng 7: Igli Tare, cầu thủ bóng đá Albania 25 tháng 7: Kenny Roberts jr., người đua mô tô Mỹ 25 tháng 7: Deniz Çelik, nữ ca sĩ Thổ Nhĩ Kỳ 26 tháng 7: Kate Beckinsale, nữ diễn viên Anh 26 tháng 7: Christina Oswald, nữ vận động viên khúc côn cầu trên băng Đức 29 tháng 7: Marian Christow, cầu thủ bóng đá Bulgaria 29 tháng 7: Stephen Dorff, diễn viên Mỹ 30 tháng 7: Markus Näslund, vận động viên khúc côn cầu trên băng Thụy Điển 30 tháng 7: Ümit Davala, cầu thủ bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ 2 tháng 8: Daniele Nardello, tay đua xe đạp Ý 3 tháng 8: Daniel Stephan, vận động viên bóng ném Đức 6 tháng 8: Stuart O'Grady, tay đua xe đạp Úc 6 tháng 8: Asia Carrera, nữ diễn viên phim khiêu dâm Mỹ 9 tháng 8: Filippo Inzaghi, cầu thủ bóng đá Ý 10 tháng 8: Javier Zanetti, cầu thủ bóng đá Argentina 10 tháng 8: Ziska Riemann, nữ họa sĩ vẽ tranh cho truyện comic, tác giả kịch bản 12 tháng 8: Joseba Beloki, tay đua xe đạp Tây Ban Nha 14 tháng 8: Jared Borgetti, cầu thủ bóng đá Mexico 14 tháng 8: Jay-Jay Okocha, cầu thủ bóng đá 15 tháng 8: Nebojša Krupniković, cầu thủ bóng đá Serbia 16 tháng 8: Ana Galindo Santolaria, nữ vận động viên chạy ski Tây Ban Nha 17 tháng 8: Franziska Petri, nữ diễn viên Đức 22 tháng 8: Howie Dorough, nam ca sĩ Mỹ, thành viên của ban Backstreet Boys 24 tháng 8: Inge de Bruijn, nữ vận động viên bơi lội Hà Lan, ba lần huy chương Thế Vận Hội 25 tháng 8: Fatih Akın, đạo diễn phim Đức, diễn viên, nhà sản xuất 27 tháng 8: Dietmar Hamann, cầu thủ bóng đá Đức 30 tháng 8: Toni Greis, họa sĩ vẽ tranh cho truyện comic Đức, họa sĩ vẽ tranh minh họa 31 tháng 8: Björn Bobach, ca sĩ opera Đức 1 tháng 9: Savo Milošević, cầu thủ bóng đá Serbia 3 tháng 9: Mirja Boes, nữ ca sĩ Đức, nữ diễn viên 3 tháng 9: Fred Rodriguez, tay đua xe đạp Mỹ 4 tháng 9: Lidia Simon, nữ vận động viên điền kinh Romania 5 tháng 9: Rose McGowan, nữ diễn viên Mỹ 7 tháng 9: Anja-Christina Carstensen, nữ nghệ nhân Đức 7 tháng 9: Shannon Elizabeth, nữ diễn viên Mỹ 8 tháng 9: Lorraine Graham, nữ vận động viên điền kinh Jamaica 11 tháng 9: Tô Hữu Bằng, nam diễn viên, ca sĩ Đài Loan 11 tháng 9: Tanya Hansen, nữ diễn viên phim khiêu dâm Na Uy 12 tháng 9: Darren Campbell, vận động viên điền kinh Anh 12 tháng 9: Hongbo Zhao, vận động viên trượt băng nghệ thuật Trung Hoa 12 tháng 9: Martina Ertl, nữ vận động viên chạy ski Đức 12 tháng 9: Paul Walker, diễn viên Mỹ 13 tháng 9: Christine Arron, nữ vận động viên điền kinh Pháp 13 tháng 9: Kelly Chen, nữ ca sĩ Trung Hoa, nữ diễn viên 13 tháng 9: Fabio Cannavaro, cầu thủ bóng đá Ý 17 tháng 9: Anastacia, nữ ca sĩ Mỹ 18 tháng 9: Dario Frigo, tay đua xe đạp Ý 18 tháng 9: Mark Shuttleworth, doanh nhân Nam Phi, người du lịch vũ trụ thứ nhì 19 tháng 9: José Azevedo, tay đua xe đạp Bồ Đào Nha 20 tháng 9: Olaf Pollack, tay đua xe đạp Đức 23 tháng 9: René Lohse, vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức 29 tháng 9: Eddy Mazzoleni, tay đua xe đạp Ý 2 tháng 10: Ferris MC, nhạc sĩ Đức, diễn viên 3 tháng 10: Keiko Agena, nữ diễn viên Mỹ 4 tháng 10: Dennis Gansel, đạo diễn phim Đức 5 tháng 10: Daniel Eschbach, cầu thủ bóng đá Đức 6 tháng 10: Ioan Gruffudd, diễn viên 7 tháng 10: Sami Hyypiä, cầu thủ bóng đá Phần Lan 8 tháng 10: Torben Wosik, vận động viên bóng bàn Đức 9 tháng 10: Axel Lawaree, cầu thủ bóng đá Bỉ 11 tháng 10: Takeshi Kaneshiro, diễn viên 11 tháng 10: Tomáš Konečný, tay đua xe đạp Séc 21 tháng 10: Lera Auerbach, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ dương cầm, nữ tác giả 22 tháng 10: Andrés Palop Cervera, cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha 23 tháng 10: Christian Dailly, cầu thủ bóng đá Scotland 24 tháng 10: Levi Leipheimer, tay đua xe đạp Mỹ 29 tháng 10: Robert Pires, cầu thủ bóng đá Pháp 1 tháng 11: Dimo Wache, cầu thủ bóng đá Đức 1 tháng 11: Aishwarya Rai, nữ diễn viên Ấn Độ 1 tháng 11: Igor González de Galdeano, tay đua xe đạp Tây Ban Nha 9 tháng 11: Zisis Vryzas, cầu thủ bóng đá Hy Lạp 9 tháng 11: Nick Lachey, nam ca sĩ Mỹ, diễn viên 10 tháng 11: Miroslav Baranek, cầu thủ bóng đá Séc 10 tháng 11: Patrik Berger, cầu thủ bóng đá Séc 15 tháng 11: Albert Portas, vận động viên quần vợt Tây Ban Nha 18 tháng 11: Jan Mücke, chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang 20 tháng 11: Silke Lichtenhagen, nữ vận động viên điền kinh Đức 22 tháng 11: Chad Trujillo, nhà thiên văn học Mỹ 27 tháng 11: Vratislav Lokvenc, cầu thủ bóng đá Séc 29 tháng 11: Gabi Rockmeier, nữ vận động viên điền kinh Đức 29 tháng 11: Birgit Rockmeier, nữ vận động viên điền kinh Đức 29 tháng 11: Dick van Burik, cầu thủ bóng đá Hà Lan 29 tháng 11: Ryan Giggs, cầu thủ bóng đá 2 tháng 12: Jan Ullrich, tay đua xe đạp Đức 2 tháng 12: Monica Seles, nữ vận động viên quần vợt 3 tháng 12: Holly Marie Combs, nữ diễn viên Mỹ 4 tháng 12: Tyra Banks, người mẫu Mỹ 9 tháng 12: Vénuste Niyongabo, vận động viên điền kinh Burundi, huy chương Thế Vận Hội 12 tháng 12: Babacar N'Diaye, cầu thủ bóng đá 14 tháng 12: Mandy Mystery, nữ diễn viên phim khiêu dâm Đức 14 tháng 12: Boris Henry, vận động viên điền kinh Đức 15 tháng 12: Mirko Lüdemann, vận động viên khúc côn cầu trên băng Đức 15 tháng 12: Stephan Mayer, chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang 15 tháng 12: Surya Bonaly, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Pháp 16 tháng 12: Kristie Boogert, nữ vận động viên quần vợt Hà Lan 17 tháng 12: Regina Häusl, nữ vận động viên chạy ski Đức 17 tháng 12: John Abraham, diễn viên Ấn Độ 18 tháng 12: Fatuma Roba, nữ vận động viên điền kinh, huy chương Thế Vận Hội 25 tháng 12: Nova Meierhenrich, nữ diễn viên Đức 27 tháng 12: Bert Appermont, nhà soạn nhạc Bỉ, nhạc sĩ 28 tháng 12: Ids Postma, vận động viên chạy đua trên băng Hà Lan, huy chương Thế Vận Hội 29 tháng 12: Christophe Rinero, tay đua xe đạp Pháp 30 tháng 12: Ato Boldon, vận động viên điền kinh Trinidad, Tobago 30 tháng 12: Maureen Flannigan, nữ diễn viên Mỹ == Mất == 1 tháng 1: František Běhounek, nhà vật lý học Séc, nhà văn (sinh 1898) 5 tháng 1: Paul Alexandre Arnoux, nhà văn Pháp (sinh 1884) 8 tháng 1: Eugen Schuhmacher, nhà động vật học (sinh 1906) 13 tháng 1: Fernando Cento, nhà ngoại giao Tòa thánh Vatican, Hồng y Giáo chủ (sinh 1883) 14 tháng 1: Cuno Fischer, họa sĩ Đức, nhà thiết kế (sinh 1914) 14 tháng 1: Hanna Klose-Greger, nhà văn nữ, nữ nghệ sĩ tạo hình, nữ họa sĩ (sinh 1892) 16 tháng 1: Monique de La Bruchollerie, nghệ sĩ dương cầm Pháp (sinh 1915) 20 tháng 1: Lorenz Böhler, bác sĩ phẫu thuật Áo (sinh 1885) 22 tháng 1: Lyndon B. Johnson, chính trị gia Mỹ, tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ (sinh 1908) 23 tháng 1: Kid Ory, nhạc sĩ Mỹ (sinh 1886) 25 tháng 1: Elinor Hubert, nữ chính trị gia Đức (sinh 1900) 28 tháng 1: John Banner, diễn viên Áo (sinh 1910) 31 tháng 1: Johannes Semler, chính trị gia Đức (sinh 1898) 31 tháng 1: Ragnar Anton Kittil Frisch, nhà kinh tế học Na Uy (sinh 1895) 2 tháng 2: Max Brauer, chính trị gia Đức (sinh 1887) 8 tháng 2: Wilhelm Urban, chính trị gia Đức (sinh 1908) 11 tháng 2: J. Hans D. Jensen, nhà vật lý học Đức (sinh 1907) 12 tháng 2: Benjamin Frankel, nhà soạn nhạc Anh (sinh 1906) 14 tháng 2: Otto Leichter, nhà báo, tác giả (sinh 1897) 14 tháng 2: Hans Kmoch, người đánh cờ Áo (sinh 1894) 15 tháng 2: Tim Holt, diễn viên Mỹ (sinh 1918) 15 tháng 2: Achille Liénart, Hồng y Giáo chủ (sinh 1884) 16 tháng 2: Georg Ferdinand Duckwitz, nhà ngoại giao Đức (sinh 1904) 17 tháng 2: Pixinguinha, nhạc sĩ Brasil (sinh 1897) 18 tháng 2: Max Mack, đạo diễn phim Đức (sinh 1884) 20 tháng 2: Brigitte Reimann, nhà văn nữ Đức (sinh 1933) 24 tháng 2: Eugen Rosenstock-Huessy, luật gia, nhà sử học, nhà xã hội học (sinh 1888) 6 tháng 3: Pearl S. Buck, nhà văn nữ Mỹ (sinh 1892) 10 tháng 3: Robert Siodmak, đạo diễn phim Đức (sinh 1900) 15 tháng 3: Hermann Veit, chính trị gia Đức (sinh 1897) 17 tháng 3: Giuseppe Antonio Ferretto, Hồng y Giáo chủ (sinh 1899) 21 tháng 3: Dieter Leisegang, triết gia Đức, tác giả, dịch giả (sinh 1942) 26 tháng 3: Noel Coward, diễn viên Anh, nhà văn, nhà soạn nhạc (sinh 1899) 27 tháng 3: Mikhail Kalatozov, đạo diễn phim (sinh 1903) 28 tháng 3: Ernst Wolfgang Lewicki, kĩ sư xây dựng, nhà khoa học (sinh 1894) 31 tháng 3: Kurt Thomas, nhà soạn nhạc Đức, người chỉ huy đội hát thờ (sinh 1904) 31 tháng 3: Ota Pavel, nhà văn Séc, nhà báo (sinh 1930) 2 tháng 4: Joseph-Charles Lefèbvre, Hồng y Giáo chủ (sinh 1892) 7 tháng 4: Paul Luchtenberg, chính trị gia Đức, nhà sư phạm (sinh 1890) 8 tháng 4: Pablo Picasso, họa sĩ Tây Ban Nha (sinh 1881) 8 tháng 4: Viktor de Kowa, diễn viên, đạo diễn phim (sinh 1904) 10 tháng 4: Kurt Wehlte, họa sĩ Đức (sinh 1897) 12 tháng 4: Fritz Neumayer, chính trị gia Đức (sinh 1884) 14 tháng 4: Karl Kerényi, nhà ngữ văn (sinh 1897) 16 tháng 4: István Kertész, người điều khiển dàn nhạc Hungary (sinh 1929) 20 tháng 4: Elisabeth Hauptmann, nhà văn nữ (sinh 1897) 21 tháng 4: Arthur Fadden, chính trị gia, thủ tướng của Úc (sinh 1895) 28 tháng 4: Carlos Menditéguy, tay đua Công thức 1 Argentina (sinh 1915) 28 tháng 4: Jacques Maritain, triết gia Pháp (sinh 1882) 30 tháng 4: Hermann A. Eplée, chính trị gia Đức (sinh 1908) 1 tháng 5: Asger Jorn, họa sĩ Đan Mạch (sinh 1914) 4 tháng 5: César Pérez Sentenat, nghệ sĩ dương cầm Cuba, nhà soạn nhạc (sinh 1896) 5 tháng 5: Helmut Bazille, chính trị gia Đức (sinh 1920) 7 tháng 5: Arcadio María Larraona Saralegui, Hồng y Giáo chủ (sinh 1887) 11 tháng 5: Lex Barker, diễn viên Mỹ (sinh 1919) 14 tháng 5: Hans Haas, vận động viên cử tạ Áo (sinh 1906) 16 tháng 5: Albert Paris Gütersloh, họa sĩ Áo, nhà văn (sinh 1887) 18 tháng 5: Jeannette Rankin, nữ chính trị gia Mỹ (sinh 1880) 20 tháng 5: Philipp Keller, bác sĩ Đức, nhà văn (sinh 1891) 21 tháng 5: František Bartoš, nhà soạn nhạc (sinh 1905) 21 tháng 5: Vaughn Monroe, nam ca sĩ Mỹ (sinh 1911) 26 tháng 5: Karl Löwith, triết gia Đức (sinh 1897) 4 tháng 6: Maurice René Fréchet, nhà toán học Pháp (sinh 1878) 7 tháng 6: Christine Lavant, nữ nghệ nhân Áo, nhà văn nữ (sinh 1915) 10 tháng 6: Erich von Manstein, thống chế Đức (sinh 1887) 16 tháng 6: Karl Hamann, chính trị gia Đức (sinh 1903) 18 tháng 6: Theodor Krancke, đô đốc Đức (sinh 1893) 23 tháng 6: Hans Reese, cầu thủ bóng đá đội tuyển quốc gia Đức (sinh 1891) 26 tháng 6: John Cranko, nghệ sĩ múa Anh, biên đạo múa (sinh 1927) 27 tháng 6: Arthur P. Jacobs, nhà sản xuất phim Mỹ (sinh 1922) 30 tháng 6: Nancy Mitford, nhà văn nữ Anh (sinh 1904) 2 tháng 7: Ferdinand Schörner, thống chế Đức (sinh 1892) 2 tháng 7: Betty Grable, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1916) 2 tháng 7: Georg Richard Kinat, chính trị gia Đức (sinh 1888) 3 tháng 7: Karel Ancerl, người điều khiển dàn nhạc Séc (sinh 1908) 3 tháng 7: Laurens Hammond, nhà kinh doanh Mỹ (sinh 1895) 4 tháng 7: Leonid Stein, người đánh cờ Xô Viết (sinh 1934) 7 tháng 7: Max Horkheimer, triết gia Đức, nhà xã hội học (sinh 1895) 7 tháng 7: Veronica Lake, nữ diễn viên (sinh 1919) 11 tháng 7: Robert Ryan, diễn viên Mỹ (sinh 1909) 11 tháng 7: Cesare Zerba, Hồng y Giáo chủ (sinh 1892) 12 tháng 7: Alexander Vasilievich Mosolov, nhà soạn nhạc Nga (sinh 1900) 13 tháng 7: Marţian Negrea, nhà soạn nhạc Romania (sinh 1893) 14 tháng 7: Rudolf Bella, nhà soạn nhạc Hungary (sinh 1890) 20 tháng 7: Bruce Lee, diễn viên (sinh 1940) 26 tháng 7: Hans Albert Einstein, kĩ sư xây dựng, giáo sư, con trai của Albert Einstein (sinh 1904) 29 tháng 7: Henri Charrière, nhà văn Pháp (sinh 1906) 29 tháng 7: Roger Williamson, tay đua Công thức 1 Anh (sinh 1948) 1 tháng 8: Gian Francesco Malipiero, nhà soạn nhạc Ý (sinh 1882) 2 tháng 8: Jean-Pierre Melville, đạo diễn phim Pháp (sinh 1917) 4 tháng 8: Hans Jensen, nhà ngôn ngữ học Đức (sinh 1884) 6 tháng 8: Fulgencio Batista, tổng thống, nhà độc tài của Cuba (sinh 1901) 8 tháng 8: Vilhelm Moberg, nhà văn Thụy Điển (sinh 1898) 8 tháng 8: Memphis Minnie, nữ nhạc sĩ nhạc blues Mỹ (sinh 1897) 12 tháng 8: Walter Rudolf Hess, nhà sinh lý học Thụy Sĩ (sinh 1881) 17 tháng 8: Jean Barraqué, nhà soạn nhạc Pháp (sinh 1928) 17 tháng 8: Conrad Aiken, nhà văn Mỹ (sinh 1889) 25 tháng 8: Karl-Hermann Flach, nhà báo, chính trị gia (sinh 1929) 29 tháng 8: Stringer Davis, diễn viên Anh (sinh 1896) 30 tháng 8: Herbert Kranz, nhà văn Đức (sinh 1891) 31 tháng 8: John Ford, đạo diễn phim Mỹ (sinh 1894) 1 tháng 9: J. Ridley Stroop, nhà tâm lý học Mỹ (sinh 1897) 2 tháng 9: J. R. R. Tolkien, nhà văn Anh, nhà ngữ văn (sinh 1892) 3 tháng 9: Rufino Jiao Santos, Hồng y Giáo chủ (sinh 1908) 4 tháng 9: Willy Haas, nhà xuất bản Đức, nhà phê bình văn học (sinh 1891) 5 tháng 9: Hans Demmelmeier, chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (sinh 1887) 7 tháng 9: Hans Lorbeer, nhà văn Đức (sinh 1901) 9 tháng 9: Samuel Nathaniel Behrman, nhà văn Mỹ (sinh 1893) 11 tháng 9: Salvador Allende, bác sĩ, tổng thống của Chile (sinh 1908) 12 tháng 9: Otto Nebel, họa sĩ Đức, thi sĩ, diễn viên (sinh 1892) 15 tháng 9: Max Zimmering, nhà văn Đức (sinh 1909) 16 tháng 9: William Theodore Heard, Hồng y Giáo chủ (sinh 1884) 17 tháng 9: Oskar Halecki, nhà sử học Ba Lan (sinh 1891) 19 tháng 9: Mary Wigman, nữ nghệ sĩ múa Đức, nữ biên đạo múa (sinh 1886) 19 tháng 9: Gram Parsons, nhạc sĩ (sinh 1946) 20 tháng 9: Jim Croce, nam ca sĩ Mỹ, nhà soạn nhạc (sinh 1943) 20 tháng 9: Ben Webster, nhạc sĩ jazz Mỹ (sinh 1909) 23 tháng 9: Pablo Neruda, nhà văn Chile (sinh 1904) 25 tháng 9: Rudolf Bäumer, chính trị gia Đức (sinh 1901) 26 tháng 9: Anton Schnack, nhà văn Đức (sinh 1892) 26 tháng 9: Anna Magnani, nữ diễn viên Ý (sinh 1908) 29 tháng 9: W. H. Auden, nhà văn Anh (sinh 1907) 30 tháng 9: Walter Abendroth, nhà soạn nhạc Đức, biên tập báo (sinh 1896) 2 tháng 10: Paavo Nurmi, vận động viên điền kinh Phần Lan (sinh 1897) 8 tháng 10: Gabriel Marcel, triết gia Pháp (sinh 1889) 10 tháng 10: Ludwig von Mises, nhà kinh tế học Áo (sinh 1881) 11 tháng 10: Fritz Schröter, nhà vật lý học Đức (sinh 1886) 17 tháng 10: Tur-Sinai, nhà ngữ văn Israel (sinh 1886) 17 tháng 10: Ingeborg Bachmann, nhà văn nữ Áo (sinh 1926) 18 tháng 10: Leo Strauss, triết gia (sinh 1899) 18 tháng 10: Hans Schwippert, kiến trúc sư (sinh 1899) 25 tháng 10: Eduard Leuze, chính trị gia Đức (sinh 1906) 27 tháng 10: Semyon Mikhailovich Budyonny, thống chế Xô Viết, (sinh 1883) 28 tháng 10: Taha Hussein, nhà văn (sinh 1889) 1 tháng 11: Ezra Pound, thi sĩ Mỹ (sinh 1885) 4 tháng 11: Karl Heinrich Waggerl, nhà văn Áo (sinh 1897) 4 tháng 11: Marc Allégret, đạo diễn phim Pháp (sinh 1900) 13 tháng 11: Elsa Schiaparelli, nhà nữ thiết kế y phục thời trang (sinh 1890) 17 tháng 11: Wilhelm Kling, chính trị gia Đức (sinh 1902) 18 tháng 11: Alois Hába, nhà soạn nhạc Séc (sinh 1893) 18 tháng 11: Thomas Peter McKeefry, tổng Giám mục Wellington, Hồng y Giáo chủ (sinh 1899) 23 tháng 11: Kiichi Aichi, chính trị gia Nhật Bản (sinh 1907) 24 tháng 11: Nikolay Ilyich Kamov, kĩ sư Xô Viết (sinh 1902) 28 tháng 11: Charles Crodel, họa sĩ Đức (sinh 1894) 29 tháng 11: Felix Braun, nhà văn Áo (sinh 1885) 1 tháng 12: David Ben Gurion, chính trị gia Israel (sinh 1886) 1 tháng 12: Willem Hesselink, cầu thủ bóng đá Hà Lan (sinh 1878) 4 tháng 12: Lauri Lehtinen, vận động viên điền kinh Phần Lan, huy chương Thế Vận Hội (sinh 1908) 13 tháng 12: Giuseppe Beltrami, Hồng y Giáo chủ (sinh 1889) 14 tháng 12: Josef Magnus Wehner, nhà văn Đức (sinh 1891) 16 tháng 12: Hans Stübner, họa sĩ, nghệ nhân (sinh 1900) 16 tháng 12: Franz Xaver Fuhr, họa sĩ Đức (sinh 1898) 20 tháng 12: Bobby Darin, nhạc sĩ nhạc pop Mỹ (sinh 1936) 20 tháng 12: Luis Carrero Blanco, đô đốc Tây Ban Nha, chính trị gia (sinh 1903) 22 tháng 12: Joseph Illerhaus, chính trị gia Đức (sinh 1903) 23 tháng 12: Otto Montag, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1897) 23 tháng 12: Gerard Peter Kuiper, nhà thiên văn học Mỹ (sinh 1905) 28 tháng 12: Rudi Schuricke, nam ca sĩ Đức, diễn viên (sinh 1913) 29 tháng 12: Willy Birgel, diễn viên Đức (sinh 1891) 30 tháng 12: Henri Busser, nhà soạn nhạc Pháp (sinh 1872) == Giải thưởng Nobel == Hóa học - Ernst Otto Fischer, Geoffrey Wilkinson Văn học - Patrick White Hòa bình - Henry A. Kissinger, Lê Đức Thọ Vật lý - Leo Esaki, Ivar Giaever, Brian David Josephson Y học - Karl von Frisch, Konrad Lorenz, Nikolaas Tinbergen Kinh tế - Wassily Leontief == Xem thêm == Thế giới trong năm 1973, tình trạng thế giới trong năm này == Tham khảo ==
các lãnh thổ chưa hợp nhất của hoa kỳ.txt
Các lãnh thổ chưa hợp nhất (tiếng Anh: Unincorporated territories) là thuật ngữ hoa mỹ pháp lý trong luật của Hoa Kỳ để chỉ một khu vực do chính phủ Hoa Kỳ kiểm soát mà "nơi đó các quyền pháp lý cơ bản được áp dụng nhưng thiếu vắng các quyền hiến định khác". Các luật lệ hiến định chọn lọc được áp dụng rất khác nhau túy thuộc vào các đạo luật tổ chức của Quốc hội Hoa Kỳ và các phán quyết pháp lý dựa theo thực tiễn Hiến pháp Hoa Kỳ, luật lệ và truyền thống địa phương. Tất cả năm lãnh thổ hiện đại có người sinh sống có tổ chức chính quyền nhưng chưa được hợp nhất vào Hoa Kỳ (hợp nhất có nghĩa vĩnh viễn không thể chia cắt khỏi Hoa Kỳ). Có chín lãnh thổ phụ thuộc của Hoa Kỳ không có người sinh sống trong đó chỉ có Đảo Palmyra là lãnh thổ hợp nhất của Hoa Kỳ. Xem Các lãnh thổ của Hoa Kỳ và Lãnh thổ chưa tổ chức. Vì các lý do tiện ích về luật pháp, tất cả các lãnh thổ hiện đại có người sinh sống đang nằm dưới quyền quản lý của chính phủ liên bang có thể được xem là một phần của "Hoa Kỳ" như đã được định nghĩa trong luật chi tiết. Nhưng thuật ngữ pháp lý "chưa hợp nhất" đã được tạo ra để hợp thức hóa các lãnh thổ mà Hoa Kỳ thu được bằng vũ lực hay mua được vào cuối thế kỷ 19. Người dân tại các lãnh thổ này không có quyền công dân Hoa Kỳ và chính quyền của họ tại đây tạm thời cũng không được Hiến pháp Hoa Kỳ bảo vệ cho đến khi Quốc hội tạo ra các điều khoản luật lệ khác dành cho họ. Từ 1901 đến 1905, trong một loạt quan điểm được biết đến như "các trường hợp của vùng quốc hải", Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ nêu rằng Hiến pháp Hoa Kỳ được nới rộng ex proprio vigore đến các lãnh thổ lục địa. Tuy nhiên, tòa án trong các trường hợp này cũng thiết lập ra học thuyết về sự hợp nhất lãnh thổ mà theo đó Hiến pháp chỉ áp dụng hoàn toàn tại các lãnh thổ hợp nhất thí dụ như Lãnh thổ Alaska và Lãnh thổ Hawaii, và chỉ một phần tại các lãnh thổ chưa hợp nhất như Puerto Rico, Guam và Philippines. == Danh sách của lãnh thổ chưa hợp nhất == === Hiện tại === ==== Có người ở ==== Samoa thuộc Mỹ Guam Quần đảo Bắc Mariana Puerto Riconote 1 Quần đảo Virgin thuộc Mỹ Đảo Wake ==== Không người ở ==== Đảo Baker Đảo Howland Đảo Jarvis Đảo Johnston Đảo đá Kingman Đảo Midway (được quản lý như một khu hoang dã quốc gia) Đảo Navassa (tranh chấp với Haiti) === Cựu lãnh thổ === Khu kênh đào Panama — cùng kiểm soát với Panama từ năm 1979 đến 1999; trả lại hoàn toàn cho Panama từ 31 tháng 12 năm 1999. Philippines — độc lập từ 1946 Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương bao gồm các quốc gia sau trừ Quần đảo Bắc Mariana. Quần đảo Marshall — độc lập từ 1986 Liên bang Micronesia — độc lập từ 1986 Palau — độc lập từ 1994 == Lịch sử == 11 tháng 4 năm 1899 Hiệp định Paris năm 1898 có hiệu lực bàn giao Guam, Philippines, và Porto Rico từ tay Tây Ban Nha sang cho Hoa Kỳ. Cả ba vào lúc đó trở thành các lãnh thổ chưa hợp nhất và chưa được tổ chức. 2 tháng 4 năm 1900 Đạo luật Foraker ra đời nhằm mục đích tổ chức Puerto Rico. 7 tháng 6 năm 1900 Hoa Kỳ chiếm giữ một phần Quần đảo Samoa được trao cho Hoa Kỳ theo Hiệp ước Berlin năm 1899, thành lập lãnh thổ chưa hợp nhất và chưa tổ chức Samoa thuộc Mỹ. 1 tháng 4 năm 1901 Emilio Aguinaldo, lãnh tụ của Philippines trong Chiến tranh Philippine-Mỹ, đầu hàng. Việc này đã giúp cho Hoa Kỳ thành lập một chính quyền dân sự. 29 tháng 8 năm 1916 Đạo luật tự trị Philippine hay còn gọi là Luật Jones được ký kết với lời hứa cho phép Philippines độc lập. 2 tháng 3 năm 1917 Đạo luật Jones-Shafroth tái tổ chức Puerto Rico. Đạo luật này trao quyền công dân Hoa Kỳ cho tất cả công dân của Puerto Rico. 31 tháng 3 năm 1917 Hoa Kỳ tiếp quản Quần đảo Virgin thuộc Mỹ theo các điều khoản của một hiệp ước ký kết với Đan Mạch. 17 tháng 5 năm 1932 Tên Porto Rico được đổi sang Puerto Rico. 24 tháng 3 năm 1934 Đạo luật Tydings-McDuffie được ký kết cho phép thành lập Thịnh vượng chung Philippines. 4 tháng 7 năm 1946 Hoa Kỳ công nhận nền độc lập của Philippines. 14 tháng 7 năm 1947 Liên hiệp quốc trao Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ. Lãnh thổ này bao gồm phần lớn nhiều quần đảo có xảy ra trận chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai, gồm có các đảo mà ngày nay là Quần đảo Marshall, Liên bang Micronesia, Quần đảo Bắc Mariana, và Palau. Đây là phần đất ủy thác, không phải là một lãnh thổ. 1 tháng 7 năm 1950 Đao luật tổ chức Guam có hiệu quả tổ chức Guam thành một lãnh thổ chưa hợp nhất. 25 tháng 7 năm 1952 Puerto Rico trở thành một Thịnh vượng chung của Hoa Kỳ, một lãnh thổ có tổ chức nhưng chưa hợp nhất, với việc thông qua bản hiến pháp riêng của nó. 22 tháng 7 năm 1954 Đạo luật tổ chức cho Quần đảo Virgin thuộc Mỹ có hiệu lực và quần đảo trở nên một lãnh thổ được tổ chức nhưng chưa hợp nhất của Hoa Kỳ. 1 tháng 7 năm 1967 Hiến pháp của Samoa thuộc Mỹ có hiệu lực. Mặc dù không có Đạo luật tổ chức nào được thông qua nhưng việc chuyển sang chính quyền tự quản đã biến Samoa thuộc Mỹ tương tự như một lãnh thổ có tổ chức. 1 tháng 1 năm 1978 Quần đảo Bắc Mariana rời Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương để trở thành một thịnh vượng chung của Hoa Kỳ và nó trở thành một lãnh thổ có tổ chức nhưng chưa hợp nhất. 21 tháng 10 năm 1986 Quần đảo Marshall được độc lập khỏi Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương mặc dù việc ủy thác của Liên hiệp quốc theo kỹ thuật chưa kết thúc cho đến ngày 22 tháng 12 năm 1990. 3 tháng 11 năm 1986 Liên bang Micronesia được độc lập khỏi Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương, và vẫn giữ liên kết tự do với Hoa Kỳ. 22 tháng 12 năm 1990 Liên hiệp quốc chấm dứt Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương đối với tất cả ngoài khu Palau. 25 tháng 5 năm 1994 Liên hiệp quốc chấm dứt Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương đối với khu Palau, kết thúc lãnh thổ và giúp cho Palau trên thực tế gần như độc lập vì nó không còn là một lãnh thổ của Hoa Kỳ. 1 tháng 10 năm 1994 Palau được độc lập de jure nhưng vẫn duy trì liên kết tự do với Hoa Kỳ. == Tham khảo == == Xem thêm == Các lãnh thổ phụ thuộc Mỹ Các đơn vị hành chính Hoa Kỳ Vùng quốc hải Hoa Kỳ Bang thứ 51 Đế quốc Mỹ
dubstep.txt
Dubstep /ˈdʌbstɛp/ là một thể loại nhạc điện tử bắt nguồn từ Nam Luân Đôn, Anh Quốc. Được hình thành vào cuối thập niên 90 như một thể loại nhạc có nhiều điểm tương đồng với 2-step garage, broken beat, drum and bass, jungle, dub và reggae. Ở Anh, sự bắt nguồn của Dubstep được cho là từ sự phát triển của hệ thống âm thanh party Jamaican cuối thập niên 80. Đặc điểm âm nhạc của nó là tiếng trống rất to và tiếng bass vô cùng nổi bật. Cho cuối thập niên 2000 và đầu thập niên 2010, thể loại nhạc này bắt đầu trở nên thành công hơn về mặt thương mại ở Anh, với nhiều hơn những đĩa đơn và các bản remix được lọt vào các bảng xếp hạng âm nhạc. Các nhà báo và nhà phê bình cũng nhận thấy những ảnh hưởng của dubstep lên nhiều nghệ sĩ nhạc pop. Trong khoảng thời gian này, các nhà sản xuất bắt đầu kết hợp các yếu tố của dubstep với những sự ảnh hưởng khác, tạo ra nhiều thể loại pha tạp gồm future garage, post-dubstep mang chậm hơn và tính thể nghiệm cao hơn, và brostep được ảnh hưởng bởi electro house với heavy metal mà với đó dubstep đã trở thành một dòng nhạc đại chúng ở Hoa Kỳ. == Đặc điểm == === Nhịp điệu === Nhịp điệu của dubstep thường là đảo phách, và thường xáo trộn hoặc kết hợp với tuplets. Tempo (số nhịp trên phút) thường trong khoảng 138-142 nhịp trên một phút, với tiếng clap hoặc snare được thêm vào mỗi phách thứ ba của 1 nhịp. === Wobble bass === Một đặc điểm nổi bật của dubstep là wobble bass, hay "wub". Đàn synthesizer tạo ra âm sắc của wobble bass, cách làm là lấy LFO (sóng dao động tần số thấp) để điều chỉnh các thông số như volume, distortion hay filter cutoff.. Kết quả là tạo ra âm thanh với âm sắc được nhấn mạnh bởi nhịp điệu trong volume, distortion hay filter cutofff. Phong cách bass này này là nhân tố thúc đẩy trong một số biến thể của dubstep, đặc biệt là ở các chi tiết cuối câu lạc bộ thân thiện và quang phổ. == Lịch sử == === 1999–2002:khơi nguồn === === 2002–05: sự phát triển === === 2005–08: tăng trưởng === === 2009–nay: ảnh hưởng tới đại chúng === == Phát triển xa hơn == === Post-dubstep === === Brostep và sự phát triển của người Mỹ === == Xem thêm == Danh sách các nhạc sĩ nhạc dubstep == Tham khảo == == Liên kết ngoài == GetDarker Tạp chí online với các bài phỏng vấn, bài viết, ảnh về sự kiện và video 10 Years of ... Dubstep A week dedicated to the movement by Drowned in Sound The Month In: Grime/Dubstep Columns by Martin Clark on Pitchfork Media BBC Collective dubstep documentary filmed at DMZ 1st Birthday, 2005. Interviews with Mala, Loefah, Skream, Kode9, Youngsta ...
ám tiêu.txt
Ám tiêu là một thuật ngữ phức tạp dùng trong hàng hải, địa chất học và sinh thái học với ý nghĩa không thống nhất. Trong ngành hàng hải, ám tiêu là một bãi đá ngầm hoặc một vùng cát ngầm dưới mặt nước nhưng đủ nông để có thể làm tàu thuyền mắc cạn, thường là có độ sâu từ 10 fathom (hơn 18 m) trở xuống. Về mặt địa chất, ám tiêu là một cấu tạo cản sóng cứng chắc được tạo nên bởi canxi cácbônát (CaCO3) có nguồn gốc từ các sinh vật dưới đại dương; tuy nhiên, tính "cản sóng" cũng không hẳn là tính chất phổ quát của ám tiêu. Dù có nhiều ám tiêu được hình thành do các quá trình phi sinh học (lắng đọng cát, sóng đánh mòn các vùng đá hoặc các quá trình tự nhiên khác) nhưng loại ám tiêu được biết đến nhiều nhất là các ám tiêu san hô (rạn san hô) thuộc các vùng biển nhiệt đới, phát triển nhờ các quá trình sinh học của san hô và tảo tạo canxi. == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
truyền thần.txt
Tranh truyền thần là một thể loại hội họa mà người họa sĩ truyền lại cái "thần" của người được vẽ, tức là truyền đạt được cảm xúc, thần thái thông qua tác phẩm. Để vẽ lại một bức ảnh đòi hỏi người họa sĩ phải có ý chí kiên trì, cần mẫn, tập trung cao độ, bức ảnh sau khi hoàn thành không chỉ giống với ảnh được chụp mà còn phải truyền được thần thái của con người đó. Quan trọng nhất đó chính là đôi mắt của người được vẽ mà người họa sĩ gọi là điểm nhãn, đó chính là nét độc đáo trong các bức tranh truyền thần mà không một loại tranh nào khác thực hiện được. == Chú thích == == Liên kết ngoài == "Lão kỳ nhân" truyền thần ở Sài Gòn Tranh truyền thần sống "thoi thóp" giữa thời số hoá "Sợ tranh truyền thần thất truyền, mỗi năm tôi đều giữ một bức vào phòng trưng bày" Người vẽ truyền thần cuối cùng giữa Sài Gòn Người vẽ truyền thần cuối cùng giữa Sài Gòn Sài Gòn kỳ nhân - kỳ sự (Kỳ 11): Bậc thầy truyền thần
nhà nước việt nam.txt
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa", theo Điều 2, Hiến pháp 2013. Đây là sự kết hợp của hai kiểu Nhà nước: Nhà nước xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền. == Bản chất == Nhà nước mang bản chất giai cấp, là tổ chức để thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị. Cho đến nay đã có các kiểu Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là kiểu Nhà nước xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở: Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước Việt Nam thông qua quyết định các chủ trương, đường lối và thông qua việc đưa đảng viên của mình vào nắm giữ các chức danh quan trọng của Nhà nước. Điều 4 của Hiến pháp Việt Nam 2013 khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng lên Nhà nước và xã hội. Cũng là Nhà nước pháp quyền, nên Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mang các bản chất chung của Nhà nước pháp quyền, đó là: Các cơ quan Nhà nước được thiết kế, hoạt động trên cơ sở pháp luật. Bản thân Nhà nước đặt mình trong khuôn khổ pháp luật. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 có quy định rõ địa vị pháp lý, chức năng, thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước bao gồm Quốc hội (chương V Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội Việt Nam), Chủ tịch nước (chương VI Hiến pháp), Chính phủ (chương VII Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ), Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân (chương VIII Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân), Chính quyền địa phương (chương IX Hiến pháp, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân),Hội đồng bầu cử quốc gia và kiểm toán nhà nước. Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, ban quản lý các khu kinh tế, thì có các Nghị định của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của họ. Các bản chất khác của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là: Dân chủ tập trung Không có sự phân chia giữa 3 ngành lập pháp, hành pháp, và tư pháp, mà là sự thống nhất, phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền này. Là Nhà nước đơn nhất và tập quyền: Ở Việt Nam chỉ có một Hiến pháp chung. Các địa phương không có quyền lập hiến và lập pháp mà ban hành các VBQPPL theo luật định. Ngoài ra, theo Hiến pháp, Nhà nước Việt Nam còn có bản chất sau: "Nhà nước của dân, do dân và vì dân". == Tổ chức == Nhà nước Việt Nam là hệ thống 4 cơ quan. Đó là: Cơ quan quyền lực hay còn gọi là các cơ quan đại diện (lập pháp): bao gồm Quốc hội ở cấp trung ương và Hội đồng nhân dân các cấp địa phương do nhân dân trực tiếp bầu ra và thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước. Cơ quan hành chính (hành pháp): bao gồm Chính phủ ở cấp trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp địa phương do cơ quan quyền lực tương ứng bầu ra. Cơ quan xét xử (tư pháp): bao gồm Tòa án Nhân dân Tối cao ở cấp trung ương và Toà án nhân dân các cấp địa phương. Cơ quan kiểm sát (công tố): bao gồm Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao ở cấp trung ương và Viện kiểm sát nhân dân các cấp địa phương. Dưới đây là Sơ đồ tổ chức của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2015: === Quốc hội === Quốc hội Việt Nam theo mô hình đơn viện và là cơ quan hành chính quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc hội Việt Nam có 3 nhiệm vụ chính: 1. Lập hiến, Lập pháp 2. Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước 3. Giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước Thành phần nhân sự của cơ quan này là các đại biểu, do cử tri Việt Nam bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Các đại biểu được bầu chịu trách nhiệm trước cử tri bầu ra mình và trước cử tri cả nước, có nhiệm kỳ 5 năm. Hiện nay Quốc hội có 500 đại biểu. Đứng đầu Quốc hội Việt Nam là Chủ tịch Quốc hội do các đại biểu bầu ra. === Chính phủ === Chính phủ Việt Nam là cơ quan chấp hành của Quốc hội Việt Nam và được xem là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Chính phủ chịu sự giám sát của Quốc hội và Chủ tịch nước. Chính phủ phải chấp hành: 1. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội 2. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước Chính phủ Việt Nam được thành lập trong kỳ họp thứ nhất của Quốc hội mỗi khóa và có nhiệm kỳ là 5 năm. Đứng đầu Chính phủ Việt Nam là Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ do Chủ tịch nước đề cử và Quốc hội phê chuẩn. Các Phó thủ tướng do Thủ tướng chỉ định. Các thành viên Chính phủ do Chủ tịch nước chỉ định theo đề xuất của Thủ tướng và được Quốc hội phê chuẩn. === Tòa án Tối cao === Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam là cơ quan xét xử nhà nước cao nhất. Tòa án Nhân dân Tối cao có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. Hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử của các Tòa án 2. Giám đốc việc xét xử của các Tòa án các cấp; giám đốc việc xét xử của Tòa án đặc biệt và các Tòa án khác, trừ trường hợp có quy định khác khi thành lập các Tòa án đó 3, Trình Quốc hội dự án luật và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự án pháp lệnh theo quy định của pháp luật Đứng đầu Tòa án Tối cao là Chánh án Tối cao. Chánh án Tối cao do Chủ tịch nước đề cử và Quốc hội phê chuẩn. === Viện Kiểm sát Tối cao === Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao là cơ quan kiểm sát và công tố nhà nước cao nhất. Viện kiểm sát có thẩm quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp: 1. Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Đứng đầu Viện Kiểm sát Tối cao là Viện trưởng Kiểm sát Tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm theo Hiến pháp. == Chủ tịch nước == Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là người đứng đầu Nhà nước Việt Nam và thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số đại biểu Quốc hội với nhiệm kỳ 5 năm. Chủ tịch nước có các quyền hạn như sau: 1. Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua; nếu pháp lệnh đó vẫn được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất 2. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ 3. Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ 4. Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát Nhân dân tối cao 5. Quyết định đặc xá 6. Quyết định các chính sách đối nội và đối ngoại của Chính phủ 7. Có quyền triệu tập, tham dự và đồng thời là chủ tọa các phiên họp của Chính phủ 8. Có quyền triệu tập các tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang nhân dân để thảo luận, nghe báo cáo các vấn đề về Quốc phòng, An ninh 9. Có quyền bác bỏ các văn bản của Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ trái với Hiến pháp và pháp luật 10. Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước 11. Quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam 12. Tổng Tư lệnh lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và An ninh, quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương 13. Trưởng ban Ban chỉ đạo cải cách Tư pháp Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; quyết định chủ trương, định hướng về cơ chế, chính sách, giải pháp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ cải cách tư pháp. Yêu cầu các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng đoàn, ban cán sự đảng và đảng uỷ trực thuộc Trung ương cung cấp thông tin, tham gia ý kiến đối với các văn bản về lĩnh vực tư pháp và báo cáo kết quả việc triển khai thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị và các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, kết luận về lĩnh vực cải cách tư pháp của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư 14. Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ; quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước == Tổ chức Nhà nước tại địa phương == Việt Nam hiện nay có 3 cấp địa phương là cấp tỉnh (tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận và huyện) và cấp xã (xã, phường và thị trấn). Tại mỗi cấp có các cơ quan tương ứng là Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. === Hội đồng nhân dân === Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực tại cấp tỉnh, huyện và xã. Đại biểu HDND do cử tri khu vực đó bầu lên với nhiệm kỳ 5 năm. Đứng đầu HDND là Chủ tịch HDND do các đại biểu bầu ra. === Ủy ban nhân dân === Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính tại cấp tỉnh, huyện và xã. Đứng đầu UBND là Chủ tịch UBND do Hội đồng Nhân dân cấp đó bầu ra. === Tòa án nhân dân === Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử tại cấp tỉnh và huyện. Đứng đầu TAND là Chánh án do Chánh án Tối cao bổ nhiệm. == Đánh giá == Bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay thể hiện được sự hiệu quả tương đối trong công tác quản lý cũng như vận hành đất nước tuy nhiên còn một số tồn tại như: cồng kềnh, yếu kém và trì trệ ở tại một số địa phương cũng như các cơ quan bộ. Bên cạnh đó, bộ máy hành chính có quá nhiều ban bệ, thứ trưởng, vụ trưởng, nhiều cấp phó. Theo quy định, mỗi bộ chỉ được có tối đa 4 thứ trưởng, nhưng các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương đều có lúc có tới 10 thứ trưởng. == Tham khảo == == Tham khảo == Giáo trình Đại cương Nhà nước và Pháp luật, TA VAN THIEN, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, tháng 4/2008. Giáo trình Pháp luật Đại cương,TA VAN THIEN, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2006. Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
độ bền uốn.txt
Độ bền uốn của vật liệu hay là điểm cong vênh là khái niệm dùng trong ngành cơ khí và khoa học vật liệu để chỉ trang thái giới hạn bị cong vênh khi vật liệu đó chịu ứng suất uốn. Trước khi đến giới hạn uốn, vật liệu sẽ bị biến dạng đàn hồi, và trạng thái đó trở lại trạng thái ban đầu khi mà tải trọng bị loại bỏ. Khi vượt qua điểm cong vênh, một vài tổ chức nhỏ xuất hiện biến dạng vĩnh viễn, không thể phục hồi trạng thái ban đầu khi tải trọng bị loại bỏ. Sự hiểu biết về độ bền uốn giúp ta thiết kế hệ thống chịu tải trong các lĩnh vực kết cấu, như cầu, cần cẩu, cầu trục, các hệ thống chịu tải trọng trong xây dựng và thuỷ lợi... cũng như giúp ích cho việc thiết kế các thiết bị gia công biến dạng: cán (vật liệu), uốn (vật liệu). Trong lĩnh vực xây dựng, điểm cong vênh dẫn đến việc biến dạng mềm, trừ khi vật liệu hoàn toàn bị sụp đổ. Xem thêm độ bền nén. == Tham khảo ==
tháp luân đôn.txt
Cung điện và pháo đài của Nữ hoàng, tên thường gọi là Tháp Luân Đôn, là một di tích lịch sử nằm ở trung tâm Luân Đôn, Anh, trên bờ Bắc của sông Thames. Chức năng chính của tháp là một pháo đài, cung điện hoàng gia, và nhà tù (dành cho các tù nhân hoàng gia có địa vị cao, chẳng hạn Nữ hoàng Elizabeth I từng bị giam tại đây). Nơi đây còn có một khu vực để hành hình và tra tấn, một kho vũ khí, một kho bạc, một vườn thú, Royal Mint - xưởng đúc tiền của hoàng gia Anh, một đài quan sát, và từ năm 1303 là nơi lưu giữ Các vương miện của Vương quốc Anh. Năm 1988, UNESCO đã công nhận tháp Luân Đôn là di sản thế giới. == Các bóng ma bí ẩn == Tháp Luân Đôn là một tòa nhà bị ma ám kinh hoàng ở nước Anh. Hồn ma của hoàng hậu Anne Boleyn, bị chặt đầu trong năm 1536 do chống lại vua Henry VIII, được nhìn thấy ở nơi bà được chôn cất, và đi quanh tháp, không đầu, mặc áo trắng xóa. Các hồn ma khác bao gồm Henry VI, Lady Jane Grey, Margaret Pole, và một vài hoàng tử. == Tham khảo ==
kỷ neogen.txt
Kỷ Neogen hay kỷ Tân Cận là một kỷ địa chất của đại Tân Sinh bắt đầu từ khoảng 23,03 ± 0,05 triệu năm trước (Ma). Kỷ Neogen diễn ra sau khi kỷ Paleogen kết thúc kéo dài 20,4 triệu năm đến trước khi bắt đầu kỷ Đệ Tứ (từ 2,58 triệu năm trước). Theo Ủy ban quốc tế về địa tầng học (ICS) thì kỷ Neogen được chia thành 2 thế là Miocen, Pliocen. Thuật ngữ hệ thống Neogen (chính thức) và hệ thống Thượng đệ Tam (không chính thức) miêu tả các loại đá trầm tích trong kỷ Neogen. == Môi trường == Vào đầu Neogen, Trái Đất trông giống như hiện tại, nhưng có nhiều sự biến đổi lớn như các dãy núi nâng lên, mực nước biển hạ thấp, khí hậu lạnh và khô nên sinh vật phải trải qua sự thích nghi. Các lục địa tiếp tục va nhau, Hymalaya tiếp tục nâng cao, vùng đất của Ý va vào châu Âu tạo Anpơ..., hình thành các mũ băng dày ở Bắc Cực, mực nước biển hạ thấp mạnh làm lộ ra các vùng đất hay còn gọi là các "cầu đất" nối liền giữa châu Phi và Á-Âu; giữa Á-Âu và Bắc Mỹ, và Nam Mỹ chuyển động về phía bắc hợp nhất với Bắc Mỹ tạo thành eo đất Panama. Khi các vùng đất này nối với nhau tạo điều kiện thuận lợi để các loài được tiến hóa khi di chuyển sang các vùng đất mới. Trong các đại dương, những loài tảo nâu lớn hay tảo bẹ, báo vào đá và san hô ở những vùng nước nông lạnh tạo ra môi trường sống mới cho rái cá và Dugong. Trong khi đó trên cạn, khỉ châu Á và Phi bắt đầu phân nhánh tiến hóa vài triệu năm sau đó, tông người chia thành các nhánh có tổ tiên gần nhất với nó là chimpanzees. Thích nghi với đứng trên 2 chân, các loài hominin thời kỳ đầu không còn sống trên cây và đắt đầu dùng tay cầm nắm thức ăn và công cụ. Các loài mới này sẵn sàng để thay đổi hành tinh không như bất kỳ loài nào khác trong các thế kỷ sau đó. == Vấn đề == Theo truyền thống thì kỷ Neogen kết thúc vào cuối thế Pliocen (khoảng 1,8 Ma), ngay trước khi bắt đầu của kỷ đệ Tứ theo định nghĩa cũ trong nhiều niên biểu địa chất. Tuy nhiên, hiện nay đang có xu hướng trong số các nhà địa chất (cụ thể là các nhà địa chất hải dương kỷ Neogen) về việc gộp cả kỷ đang diễn tiến (kỷ đệ Tứ cũ) vào trong kỷ Neogen, trong khi những người khác (cụ thể là các nhà địa chất đất liền kỷ đệ Tứ) lại cho rằng kỷ đệ Tứ cần phải là một kỷ tách biệt với các hồ sơ hóa thạch khác biệt rõ ràng. Các thuật ngữ dễ gây lẫn lộn và sự bất đồng giữa các nhà địa chất về việc rạch ròi ranh giới theo thứ bậc như thế nào là do sự chia tương đối nhỏ các đơn vị thời gian khi thời gian đạt tới cận kề ngày nay và do sự bảo tồn địa chất đã làm cho các mẫu địa chất trầm tích trẻ nhất được bảo tồn trên một khu vực rộng lớn hơn nhiều và phản ánh nhiều về môi trường hơn so với các mẫu địa chất cổ hơn một chút. Bằng cách phân chia đại Tân Sinh ra thành hai (có thể là ba) kỷ địa chất (kỷ Paleogen, kỷ Neogen, kỷ đệ Tứ) thay vì 7 thế, thì các kỷ là có thể mang tính so sánh được tương đối gần gũi với khoảng thời gian của các kỷ trong đại Trung Sinh và đại Cổ Sinh. ICS đã đề nghị rằng kỷ đệ Tứ cũ nên được coi là một phân đại và chứa một phần của kỷ Neogen, với sự bắt đầu của nó vào khoảng 2,588 Ma, trùng với khi bắt đầu tầng Gelasia. Tuy nhiên, Hiệp hội quốc tế về nghiên cứu kỷ đệ Tứ (INQUA) lại đưa ra đề nghị ngược lại cho rằng kỷ Neogen và thế Pliocen kết thúc tại thời điểm khoảng 2,588 Ma, tầng Gelasia cần được chuyển sang thế Pleistocen và kỷ đệ Tứ cần được công nhận là kỷ thứ ba của đại Tân Sinh bằng việc viện dẫn các thay đổi cơ bản trong khí hậu, đại dương và vùng sinh vật của Trái Đất đã diễn ra vào thời điểm 2,588 Ma và sự tương ứng của nó với ranh giới địa từ học Gauss-Matuyama. Kỷ Neogen (theo ICS) bao gồm khoảng 23 triệu năm. Trong kỷ Neogen thì động vật có vú và chim đã tiến hóa đáng kể. Phần lớn các dạng sự sống khác ít thay đổi. Một số chuyển động lục địa cũng dỉễn ra, sự kiện đáng kể nhất là sự nối liền của Bắc Mỹ và Nam Mỹ vào cuối thế Pliocen. Khí hậu lạnh đi một chút trong toàn kỷ Neogen và lên tới cực điểm trong các sự đóng băng lục địa trong phân đại đệ Tứ (hay kỷ đệ Tứ trong một số niên biểu) đang diễn ra cũng như bình minh của kỷ nguyên con người (chi Homo). == Phân cấp == === Theo ICS === Phân đại đệ Tam (T) Kỷ Paleogen Thế Paleocen Thế Eocen Thế Oligocen Kỷ Neogen Thế Miocen Thế Pliocen trừ tầng Gelasia: Kết thúc vào khoảng 2,588 Ma khi bắt đầu tầng Gelasia. Phân đại đệ Tứ (Q) Kỷ Neogen Thế Miocen khi bắt đầu tầng Gelasia. Tầng Gelasia của thế Pliocen. Kỷ Neogen Thế Pleistocen Thế Holocen === Theo INQUA === Kỷ đệ Tam (T) Phân kỷ đệ Tam Hạ = kỷ Paleogen Thế Paleocen Thế Eocen Thế Oligocen Phân kỷ đệ Tam Thượng = kỷ Neogen (cũ) Thế Miocen Thế Pliocen: Kỷ Neogen truyền thống kết thúc vào khoảng 1,8 Ma, nhưng INQUA đề nghị kỷ Neogen kết thúc vào khoảng 2,588 Ma, ngay khi bắt đầu tầng Gelasia và đưa tầng này vào thế Pleistocen. Kỷ đệ Tứ (Q) Thế Pleistocen Thế Holocen == Khoáng sản == Than được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới trong các trầm tích giai đoạn Paleogen-Neogen các loại than gồm bitum, bán bitum và than nâu, đặc trưng bởi các vỉa than mỏng, có sự thay đổi nhỏ về cấu tạo chủ yếu được sử dụng để phát (nhiệt) điện. Giai đoạn Paleogen-Neogen là một trong 3 thời kỳ tạo than chính trên Trái đất, thời kỳ đầu tiên trong Paleozoi (từ cuối kỷ Carbon đến đầu kỷ Permi); thời kỳ thứ 2 trong Jura-Creta. == Lưu ý ==
doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh việt nam.txt
Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam thành lập ngày 15/3/1953 là đơn vị doanh nghiệp đầu tiên của ngành Văn hoá ra đời trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp đánh dấu sự ra đời của nền Điện ảnh Cách mạng Việt Nam với nhiệm vụ chính là tuyên truyền, biểu dư­ơng và giáo dục nhân dân thông qua chiếu bóng và chụp ảnh. Những nhiệm vụ này đã chi phối toàn bộ hoạt động của điện ảnh Việt Nam trong một thời gian dài. Từ năm 2010 ngày 15/3 hằng năm được chọn là Ngày Điện ảnh Việt Nam. == Hoàn cảnh lịch sử == Ngày 2-9-1945 Chính phủ Cách mạng lâm thời nư­ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, với bản Tuyên ngôn Ðộc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại vư­ờn hoa Ba Ðình ở Hà Nội. Những hình ảnh về ngày lịch sử đó đã được một ống kính quay phim bí mật ghi lại (mãi đến năm 1974, nhân có đoàn làm phim của đạo diễn Phạm Kỳ Nam sang Pháp làm bộ phim tài liệu Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, những thư­ớc phim trên mới được trao lại cho những ng­ời làm điện ảnh Việt Nam nh­ư món quà tặng của một nhà quay phim vô danh nào đó cho đến nay vẫn dấu tên). Những bộ phim tài liệu đầu tiên trong giai đoạn này do ngư­ời Việt Nam quay (có tiếng thuyết minh, có âm nhạc phụ hoạ) là các phim Hồ Chủ tịch tại Pháp, Hội nghị Fontainebleau, Phái đoàn Phạm Văn Ðồng tại Pháp do một nhóm sinh viên Việt Nam học tại Pháp lúc bấy giờ thực hiện nhân chuyến thăm Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào giữa năm 1946 cùng diễn biến của Hội nghị Fontainebleau của hai phái đoàn Việt Pháp để bàn về quan hệ giữa 2 nước trong bối cảnh mới. Từ những năm tháng đầu tiên hoạt động của mình, chính quyền Cách mạng trong muôn vàn công việc đầy khó khăn, bề bộn đã sớm quan tâm đến điện ảnh với những việc làm cụ thể và thiết thực như: Cho phép các rạp chiếu bóng được tiếp tục hoạt động, để chiếu phim cho nhân dân xem. Tại lệnh số 18/SL ngày 31/1/1946 về việc lưu chuyển văn hoá phẩm, có quy định phải nộp cho Nhà nước cả phim chiếu bóng (được hiểu là phim điện ảnh). Có điện ảnh là thành viên của bộ phận Vô tuyến điện - điện ảnh - nhiếp ảnh trong Bộ Thông tin Tuyên truyền của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - ra mắt quốc dân đồng bào ngày 28/8/1945. Nhận thức tác dụng to lớn của việc tuyên truyền bằng hình ảnh, tháng 3 năm 1946 Chính phủ mới đã thành lập một bộ phận gọi là Ðiện - Nhiếp ảnh nằm trong Bộ Thông tin Tuyên truyền. Khi Nha Tổng Giám đốc Thông tin, Tuyên truyền được thành lập - ngày 13/5/1946 (đến ngày 27/11/1946 đổi tên là Nha Thông tin), Nhiếp ảnh và Ðiện ảnh là một tổ thuộc phòng 5. Tổ này do Phan Nghiêm phụ trách. Vốn liếng của Bộ phận điện ảnh này chỉ có một máy chiếu bóng nhãn hiệu Debri 16mm và mấy bộ phim tài liệu do kiều bào bên Pháp gửi về tặng. Tuy vậy người ta cũng tổ chức một toa xe lửa lư­u động để đem những phim trên đi chiếu suốt từ Bắc chí Nam dọc theo con đ­ường sắt xuyên Việt. Ðội chiếu bóng lưu động đầu tiên (gồm Chánh văn phòng Nha Thông tin, tuyên truyền Trần Kim Xuyến và Phan Nghiêm, Hoàng Thái, Phạm Ðình Măng....), di chuyển từng chặng bằng tàu hoả từ Bắc vào Nam - cuối mùa Thu sang đầu mùa Ðông năm 1946, chiếu các phim phóng sự cỡ 16mm do nhóm Việt kiều yêu nước mang tên Sao Vàng của hoạ sĩ Mai Trung Thứ thực hiện. Sau một tuần lễ chiếu ở Hà Nội, Ðội chiếu bóng lưu động lần lượt chiếu tại Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Ðà Nẵng, Hội An, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Do Pháp đã tấn công vào Tuy Hoà (Phú Yên), Ðội chiếu bóng lưu động không thể đi tiếp vào Nam Bộ, phải quay trở ra Hà Nội, ngược theo Đường 1 lên chiếu tại thị xã Lạng Sơn. Tại đây, vì quân Pháp gây hấn và bao vây thị xã, Ðội chiếu bóng lưu động buộc phải rút khỏi vòng vây, trở về Hà Nội. == Sự thành lập == Sau ngày toàn quốc kháng chiến, các cơ quan Trung ương duy chuyển lên căn cứ địa Việt Bắc. Bộ Phận Ðiện ảnh, Nhiếp ảnh cùng các cơ quan trực thuộc Nha Thông tin rút từ Hà Nội ra Chùa Trầm (Sơn Tây), rồi lên Việt Bắc khu vực cây số 3 (Bắc Cạn). Sau một vài lần chuyển địa điểm, bộ phận Ðiện ảnh, Nhiếp ảnh đến Công Bằng, Sơn Dương, Tuyên Quang, tại đây, tháng 7/1950, Phòng Ðiện, Nhiếp ảnh được thành lập do Nguyễn Hùng phụ trách. Ít lâu sau đó Phòng Ðiện, Nhiếp ảnh, lúc này do Phạm Văn Khoa phụ trách, dời về xây dựng cơ sở ổn định tại khu rừng cọ ở Bản Bắc, Ðiềm Mạc, Ðịnh Hoá, Thái Nguyên. Và chính tại nơi này, trên cơ sở phòng Ðiện, Nhiếp ảnh được tăng cường về một số văn nghệ sĩ, cán bộ chính trị, công nhân, học sinh trung học các trường ở vùng tự do và có thêm một số máy móc, phim ảnh (do Trung Quốc, Liên Xô, Tiệp Khắc viện trợ). Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam thuộc Nha tuyên Truyền và văn nghệ (trước là nha Thông tin) đã ra đời –theo sắc lệnh số 147/SL ngày 15/3/1953 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh, với 4 nhiệm vụ: 1.Tuyên truyền chính sách, chủ trương của Chính phủ. 2.Nêu cao những thành tích, những gương đấu tranh anh dũng của quân và dân Việt Nam 3.Giới thiệu đời sống và thành tích đấu tranh, kiến thiết của nhân dân các nước bạn 4.Giáo dục văn hoá và chính trị cho nhân dân == Tổ chức và mục tiêu ban đầu == Nhà hoạt động văn hoá nghệ sĩ Phạm Văn Khoa được giao trọng trách đứng đầu Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam. Trong ban phụ trách đầu tiên của Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam còn có Lê Viên, Nguyễn Hùng, Phan Nghiêm, Phan Trọng Quang, Mai Lộc, Vũ Phạm Từ, Trần Quốc Phi. Thời gian này có người từng ở trong Ban phụ trách Phòng Ðiện-Nhiếp ảnh đã đi học trường Ðảng (Nguyễn Ngọc Trung). 15 tháng 3 năm 1953 trở thành ngày khai sinh chính thức Ðiện ảnh Cách mạng Việt Nam, đồng thới đó cũng là ngày ghi cột mốc đánh dấu sự ra đời của tổ chức phổ biến phim thuộc lực lượng điện ảnh cách mạng nước ta. Và khu đồi cọ ở Bản Bắc, xã Ðiềm Mạc, huyện Ðịnh Hoá từ đó được coi là cái nôi của điện ảnh cách mạng Việt Nam. Cũng chính tại khu rừng cọ bản Bắc này, trước ngày doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam ra đời, vào cuối năm 1951 có một cuộc hội tụ của những người kháng chiến hoạt động về Ðiện ảnh ở chiến khu Việt Bắc và Nam Bộ Thành đồng tổ quốc, với sự có mặt của một số gương mặt tiêu biểu của điện ảnh kháng chiến Nam Bộ là Nguyễn Phụ Cấn, Võ Thành Tắc, Nguyễn Công Son (điện ảnh khu 8), Lê Minh Hiền, Nguyễn Thế Ðoàn (Ðiện ảnh khu 9). Nhà quay phim kiêm đạo diễn Mai Lộc. Ngay sau đó được bổ sung vào Ban phụ trách của Phòng Ðiện - Nhiếp ảnh - Tổ chức tiền thân của Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam. Từ thời điểm ấy, năm 1951, trên thực tế phòng Ðiện - Nhiếp ảnh mặc nhiên đã trở thành cơ quan chăm lo chung cho mọi hoạt động Ðiện ảnh của nước ta. Với sự ra đời của Doanh nghiệp quốc gia Chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam, từ đấy, ở nước ta có thêm một thành viên tích cực trong đội ngũ của những người xây dựng nền văn hoá mới của Việt Nam với ba tính chất của dân tộc, khoa học và đại chúng, chung sức chung lòng thực hiện lời chỉ dạy của Hồ Chủ tịch tại Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ nhất (24/11/1946): Văn hoá phải hướng dẫn quốc dân thực hiện Ðộc lập, Tự cường và Tự chủ; phải lấy hạnh phúc của đồng bào, lấy sự nghiệp đấu tranh của dân tộc làm đối tượng phản ánh; đồng thời phải tiếp thu những kinh nghiệm quý báu của nền văn hoá xưa và nay == Sự phát triển và mở rộng trong chiến tranh == Ði đôi với việc cử các đoàn chiếu bóng lưu động đến các nơi phục vụ bộ đội, dân công trong chiến dịch Ðiện Biện, thanh niên xung phong và các vùng mới được giải phóng, từ năm 1953 Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam bắt đầu tiến hành thí điểm hoạt động kinh doanh với tư cách là một doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Chính phủ. Ngoài vốn cố định là số máy móc, thiết bị chiếu phim có trong tay, vốn lưu động của Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam buổi ban đầu chỉ gồm có vài chục bộ phim truyện, tài liệu, hầu hết là phim của Liên Xô, Trung Quốc viện trợ và 5 tấn thóc do Bộ Tài chính cấp theo đề nghị của Nha Truyên truyền và văn nghệ. Ðoàn chiếu bóng lưu động số một (Trưởng đoàn Phạm Ðình Măng) dưới sự chỉ đạo trực tiếp của anh Phan Trọng Quang, được giao nhiệm vụ làm thí điểm bán vé thu tiền (vé người lớn 1 hào, vé trẻ em 5 xu). Rồi lần lượt các đoàn khác cùng tham gia thực hiện. Trong nửa năm cuối 1953 các đoàn đã chiếu 120 buổi chiếu 752.000 lượt người xem. Thành công của đợt chiếu thí điểm này khẳng định chủ trương đúng đắn về doanh thu chiếu bóng, làm giảm bớt phần kinh phí do Nhà nước phải cấp phát và làm rõ khả năng lấy thu bù chi trở thành hiện thực và tiến tới kinh doanh có lãi, hỗ trợ cho khâu sản xuất phim, tạo điều kiện cho ngành phát triển. Do hoạt động theo phương thức kinh doanh đạt hiệu quả tốt, Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam có điều kiện phát triển nhanh, quy mô hơn. Chỉ trong một thời gian ngắn, từ cuối năm 1953 đến mùa thu năm 1954, các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ về phổ biến phim chính thức bắt đầu hình thành và làm việc chuyên trách: Bảo quản và tu sửa phim, tài vụ..... Cơ sở sửa chữa, bảo quản máy móc, thiết bị chiếu phim phát triển thành Ban Xưởng Máy. Ban điều hành của Ban gồm Nguyễn Việt Tường (Trưởng ban), Ðinh Quang An (Phó ban), Phi Công Quảng, Trần Ðức Nhung (Uỷ viên). Ban Xưởng máy vừa làm việc tại cơ quan, vừa đi đến từng đoàn chiếu bóng lưu động để sửa chữa, lại mở chỗ đào tạo công nhân kỹ thuật chiếu phim. Năm 1954, trên toàn miền Bắc riêng lực lượng chiếu bóng quốc doanh thực hiện được 6.425 buổi chiếu cho 15.200.000 lượt người xem. Chỉ mới năm thứ hai hoạt động theo phương thức kinh doanh, đi đôi với việc phục vụ quân, dân ta đánh thắng giặc Pháp xâm lược, Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam đã tự trang trải được mọi chi phí thực hiện của mình. Thời kỳ này Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam được đặc biệt ưu tiên trong việc tuyển chọn người và đào tạo đội ngũ cán bộ, kỹ thuật viên chuyên ngành. Nhờ vậy, ở bất kỳ khâu chuyên môn, nghiệp vụ nào điện ảnh cũng có đủ số người tay nghề vững và tận tụy với công việc. Trong số những người hoạt động điện ảnh thời kỳ ở chiến khu Việt Bắc có những người ở các thời kỳ sau này có nhiều cống hiến quan trọng cho ngành. Nhiều người trở thành nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà kỹ thuật điện ảnh có công lao lớn, nhà biên kịch có uy tín. Một số trở thành những người lãnh đạo Cục điện ảnh và Hội điện ảnh Việt Nam. Một số khác trở thành những người lãnh đạo chủ chốt ở các lĩnh vực đào tạo, sản xuất phim, kỹ thuật in tráng phim, cơ khí điện ảnh và phổ biến phim. Phần lớn trong số đó, hoặc ít hoặc nhiều năm, đều đã từng có mặt trong Đội quân chiếu bóng thủa ban đầu. Năm 1956, tổ chức điện ảnh được tách riêng làm hai bộ phận: Xưởng phim Việt Nam và Quốc doanh phát hành phim và chiếu bóng Việt Nam. Các chi nhánh mở rộng ra các tỉnh thành và tiếp tục hoạt động đến Thời kỳ Đổi mới. == Chú thích ==
trận barnet.txt
Trận Barnet là một trận đánh quyết định trong chiến tranh Hoa Hồng, một cuộc nội chiến ở Anh thế kỷ 15. Các hành động quân sự cùng với trận Tewkesbury, đã giúp vua Edward IV ngồi vững trên ngai vàng. Ngày 14 tháng 4 năm 1471, tại Barnet, một thị trấn nhỏ cách Luân Đôn không xa, đội hùng binh do Edward IV thống lĩnh đã chạm trán với quân đội nhà Lancaster, đang ủng hộ Henry VI lên ngai vàng nước Anh. Quân đội nhà Lancaster được thống lĩnh bởi Richard Neville, bá tước Warwick thứ 16, người đóng vai trò quyết định tới số phận của mỗi vị vua.
tiếng catalunya.txt
Tiếng Catalunya (català, phát âm: [kətəˈla] hay [kataˈla]) là một ngôn ngữ Rôman, ngôn ngữ dân tộc và là ngôn ngữ chính thức của Andorra, và là một ngôn ngữ đồng chính thức ở cộng đồng tự trị Tây Ban Nha là Catalunya, quần đảo Baleares và cộng đồng Valencia, nơi người ta gọi là Valencià ("tiếng València"), cũng như ở thành phố Alghero trên đảo thuộc Ý là Sardegna. Ngôn ngữ này cũng được nói ở cộng đồng tự trị Aragón (ở La Franja) và Murcia (ở Carche) thuộc Tây Ban Nha, và về mặt chính thức cũng được công nhận ở một mức độ nào đó ở vùng lịch sử Roussillon phía nam nước Pháp, gần như tương đương với tỉnh Pyrénées-Orientales (Bắc Catalunya). Tiếng Catalunya phát triển từ tiếng Latinh bình dân ở cả hai phía ở khu vực phía đông dãy núi Pyrénées (các hạt Rosselló, Empúries, Besalú, Cerdanya, Urgell, Pallars và Ribagorça). Ngôn ngữ này có các đặc điểm chung với các ngôn ngữ Gallo-Romance, Ibero-Romance, và các loại ngôn ngữ nói Gallo-Ý ở miền Bắc Italia. Do một hệ quả của các cuộc chinh phục của người Aragón và Catalunya vào Al-Andalus (bán đảo Iberia thuộc Hồi giáo ngày xưa) ở phía nam và phía tây, ngôn ngữ này lan rộng đến phần lớn khu vực ngày nay là Catalunya, quần đảo Baleares và phần lớn cộng đồng Valencia. Trong suốt thế kỷ 15, trong thời kỳ vàng son Valencia, tiếng Catalunya đã đạt đến đỉnh cao văn hóa của nó, một đỉnh cao mà sau này chỉ đến thời La Renaixença ("Phục Hưng"), bốn thế kỷ sau mới lại có được. == Lịch sử == Bài khảo chứng đầu tiên bằng tiếng Catalunya viết có từ thế kỷ 9, dù bài đầu tiên được coi là tài liệu văn chương bằng tiếng Catalunya là Homilies d'Organyà từ thế kỷ 13. Tiếng Catalunya được mở rộng và văn học phát triển với tác giả như Ramon Llull (thế kỷ 13-14), Ausiàs March và Joanot Martorell (thế kỷ 15) đến thế kỷ 16 và 17, lúc sự suy giảm bắt đầu vì sự mở rộng của tiếng Tây Ban Nha. Sử dụng tiếng Catalunya trong lĩnh vực chính thức bị cấm tại vùng València năm 1707, tại Mallorca và Ibiza năm 1715, còn tại công quốc Catalunya kể từ bản án Nueva Planta (năm 1716). Ở miền Bắc của Catalunya một quyết định tương tự đã tồn tại từ năm 1700 rồi. Đảo Menorca thì thuộc Anh kể từ năm 1713. Luật cấm này sẽ ở lại luôn, ngoại trừ khoảng thời gian ngắn lúc Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hoà Tây Ban Nha, đến lúc lặp cộng đồng tự trị giữa năm 1978 và 1983. Kể từ phần giữa thế kỷ 13 đến cuối thế kỷ 14, có người nói tiếng Catalunya tại vương quốc Murcia, vì có quân đội thuộc Vương quốc Aragón và dân cư Catalunya tại đó. Thứ tiếng này cũng là thứ tiếng thường ở thành phố Cagliari trên đảo Sardegna đến thế kỷ 18. Vào thế kỷ 19 có một vài chỗ có dân cư nói tiếng Catalunya tại Saint Augustine, Hoa Kỳ, và tại Algérie, mà ở đó người ta nói thổ ngữ tên là patuet. Thế kỷ 19 là thời kỳ phục hưng ("Renaixença") của tiếng Catalunya như thứ tiếng của văn hoá, và kể từ lúc ấy có nhiều sự nỗ lực tiêu chuẩn hoá thứ tiếng, với một vài cột mốc như tác phẩm của Pompeu Fabra và viện Institut d'Estudis Catalans ("Viện Nghiên cứu về Catalunya"). Trong thế kỷ 19 nhiều người coi tiếng Catalunya là thổ ngữ thuộc tiếng Occitan mà thời kỳ Reconquista trải ra hướng nam hay lúc người Hồi giáo từ Septimania rút lại. Friedrich Christian Diez là một trong nhà ngữ văn học đầu tiên coi tiếng Catalunya và tiếng Provence là hai ngôn ngữ khác biệt với nhau. == Phân loại và liên hệ với ngôn ngữ nhóm Rôman khác == Theo Pierre Bec, phải phân loại tiếng Catalunya như vậy: Rôman Ý-Tây Rôman phía Tây Gallia-Iberia Gallia Rôman (cũng có thể phân loại trong nhóm Iberia-Rôman) Occitan-Rôman (cũng có thể phân loại trong nhóm Iberia phía đông) tiếng Catalunya === Liên hệ với ngôn ngữ nhóm Rôman khác === Tiếng Catalunya có nhiều đặc điểm chung với ngôn ngữ nhóm Rôman lân cận (Ý, Sardegna, Occitan và Tây Ban Nha). Tuy nhiên, dù đa phần của người nói thứ tiếng này có ở bán đảo Iberia, nhưng tiếng Catalunya có một vài sự khác biệt rõ rệt với nhóm ngôn ngữ Iberia-Rôman (tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha) về mặt phát âm, ngữ pháp và từ vựng. Ngôn ngữ gần nhất là tiếng Occitan và nhóm Gallia-Rôman (tiếng Pháp, Arpitan và Gallia-Ý). Theo Ethnologue, sự giống nhau về từ vựng giữa tiếng Catalunya và ngôn ngữ thuộc nhóm Rôman là: 87% với tiếng Ý, 85% với tiếng Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, 76% với tiếng Ladin, 75% với tiếng Sardegna và 73% với tiếng România. Phần lớn của lịch sử, và nhất là thời kỳ độc tài Franco (1939–1975), tiếng Catalunya hay bị coi là thổ ngữ thuộc tiếng Tây Ban Nha. Quan điểm này tựa và suy nghĩ chính trị và tư tưởng nhưng không có giá trị nào về ngôn ngữ học. Hai thứ tiếng này có sự khác biệt quan trọng về đặc điểm âm vị, từ vựng và ngữ pháp, để tiếng Catalunya gần tiếng Occitan (và Pháp) hơn về một số khía cạnh. Có sự chứng minh rằng, ít nhất từ thế kỷ 2, từ vựng và âm vị học của tỉnh La Mã Tarraconensis khác biệt với vùng khác của xứ Hispania thuộc La Mã. Sự khác biệt nảy sinh và tiếng Tây Ban Nha, Asturias và tiếng Gallia-Bồ Đào Nha cùng có một vài từ cổ ngoại vi (như "đun sôi": Tây Ban Nha hervir, Asturias/Bồ Đao Nha ferver đối lập với Catalunya bullir, Occitan bolir) và từ địa phương cách tân ("bò thiến": TBN novillo, Ast nuviellu đối lập Cat torell, Oc taurèl). Ảnh hưởng của ngôn ngữ German cũng khác biệt nếu so sánh tiếng Catalunya và tiếng Tây Ban Nha. Ví dụ, từ tiếng Catalunya fang "bùn" và rostir "nướng" có gốc German, còn tiếng Tây Ban Nha lodo và asar có gốc Latinh. Tiếng Catalunya filosa "guồng quay tơ" và pols "thái dương" có gốc Latinh, còn tiếng Tây Ban Nha rueca và sien có gốc German. Từ mượn từ tiếng Ả Rập cũng vậy. Từ tiếng Catalunya alfàbia "vại bằng đất nung" và rajola "ngói" có gốc Ả Rập, đối lập với tiếng Tây Ban Nha tinaja và teja có gốc Latinh. Tiếng Catalunya oli "dầu" và oliva "ô liu" có gốc Latinh, khác với tiếng Tây Ban Nha aceite và aceituna. Tiếng Tây Ban Nha có nhiều từ mượn từ tiếng Ả Rập hơn nhiều. Vì vị trí giữa hai khối ngôn ngữ (Iberia-Rôman và Gallia-Rôman) nên tiếng Catalunya có nhiều từ độc đáo, như enyorar "nhớ", apaivagar "làm yên" và rebutjar "đoạn tuyệt". == Phân phối địa lý == === Vùng nói tiếng Catalunya === Các khu vực này đôi khi được gọi là Països Catalans ("các nước của tiếng Catalunya"). === Tổng số người nói === Số người biết nói tiếng Catalunya tuỳ vào tài liệu. Một sự khảo sát năm 2004 ước tính tổng số là 9–9,5 triệu người. Số này là tổng số người biết nói; số người nói tiếng Catalunya như ngôn ngữ mẹ đẻ ở vùng Catalunya chỉ là 35,6% tổng dân số. Theo Ethnologue ấn bản thứ 17 thì (vào năm 2010) có 7,2 triệu người nói tiếng Catalunya như ngôn ngữ mẹ đẻ và (vào năm 1994) 5 triệu người nói như ngôn ngữ thứ hai. Một đặc điểm xã hội của tiếng Catalunya là nơi nào người ta nói tiếng Catalunya cũng có thứ tiếng thứ hai được sử dụng: tiếng Pháp ở Bắc Catalunya ở Pháp, tiếng Ý ở Alghero ở Ý, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha ở Andorra, tiếng Tây Ban Nha ở vùng nói tiếng Catalunya khác. 1.^ Số người hiểu tiếng Catalunya gồm có những người mà biết nói. 2.^ Số này là số người bày tỏ mình biết nói, không chỉ là người bản xứ. == Ngôn ngữ địa phương == Các ngôn ngữ địa phương của tiếng Catalunya khá thống nhất — nhất là nếu so sánh với ngôn ngữ Rôman khác — cả về từ vựng, ngữ nghĩa học, cú pháp, hình thái học và âm vị học. Trình độ người địa phương khác biệt với nhau sẽ hiểu nhau rất là cao, được ước tính là giữa 90% và 95%. Ngoại lệ duy nhất là thổ ngữ đặc tính cô lập là tiếng Alghero. Tiếng Catalunya bao gồm hai khối địa phương chính: tiếng Catalunya phía đông và tiếng Catalunya phía tây. Sự khác biệt chính là cách phát âm của âm a và e nếu không mang trọng âm: cả hai được pháp âm /ə/ trong thổ ngữ miền đông, nhưng vẫn là /a/ và /e/ trong thổ ngữ miền tây. Cũng có thêm một vài sự khác biệt về cách phát âm, hình thái động từ và từ vựng. Khối tiếng Catalunya phía tây bao gồm hai ngôn ngữ địa phương là tiếng Catalunya tây bắc và tiếng València. Khối phía đông bao gồm bốn ngôn ngữ địa phương: tiếng Catalunya miền trung, tiếng Baleares, tiếng Catalunya phía bắc (tiếng Roussillon) và tiếng Alghero. Các ngôn ngữ địa phương có thể được chia thành ngôn ngữ địa phương con. === Phát âm === Tiếng Catalunya thừa kế hệ thống tiêu biểu của tiếng Latinh bình dân, bao gồm bảy âm vị nguyên âm có trọng âm: /a ɛ e i ɔ o u/. Tiếng Baleares cũng có âm /ə/ có thể mang trọng âm. Các ngôn ngữ địa phương không đồng nhất về quý trình rút gọn nguyên âm, và sự phân phối của cặp đôi /ɛ e/. Trong tiếng Catalunya phía đông (ngoại trừ Mallorca), nguyên âm không mang trọng âm bị rút gọn làm ba cái: [ə i u]. Tiếng Mallorca rút gọn nguyên âm làm bốn cái: [ə i o u]. Tiếng Catalunya phía tây thì có năm nguyên âm không trọng âm: [a e i o u]. Tiếng Ý và Bồ Đào Nha cũng có cách rút gọn nguyên âm tương tự, thừa kế từ tiếng Rôman nguyên thuỷ. Tiếng Catalunya miền trung, tây và Baleares cũng phân phố hai âm /e/ và /ɛ/ mang trọng âm một cách khác biệt với nhau. Nói chung, từ nào có /ɛ/ ở miền trung sẽ có /ə/ trong tiếng Baleares và /e/ trong tiếng Catalunya phía tây. === Hình thái === Trong động từ, hậu từ của ngôi thứ nhất thì hiện tại trình bày có thể là -o, -i hay không gì, tuỳ vào địa phương và lớp chia động từ. === Từ vựng === Dù khá thống nhất về từ vựng, nhưng hai khối đông và tây vẫn có một vài sự khác biệt. Bình thường tiếng Catalunya miền trung là thổ ngữ có từ vựng cách tân. === Chuẩn === Tiếng Catalunya chuẩn dựa vào tiếng Catalunya miền đông, là loại tiếng Catalunya phổ biết nhất. Tuy nhiên, các ngôn ngữ chuẩn của València và quần đảo Baleares chấp nhận dạng từ khác mà ở miền đông của Catalunya người ta không dùng. Sự khác biệt đáng kể nhất giữa các ngôn ngữ chuẩn là dấu trên một và chữ cái ⟨e⟩ mang trọng âm, như francès, anglès (Catalunya) – francés, anglés (València) (nghĩa là "thuộc Pháp, thuộc Anh"). Tuy nhiên, ngôn ngữ chuẩn của València của viện AVL giữ dấu huyền ⟨è⟩ với phát âm /e/ trong một vài từ như què ("cái gì") hay València. Sự khác biệt khác là sử dụng ⟨tl⟩ (tại València) tại vì ⟨tll⟩ trong một vài từ như ametla/ametlla ("quả hạnh"), espatla/espatlla ("lưng"), sử dụng từ chỉ định lướt (este "này", eixe "ấy") thay vì từ chỉ định gia cường (aquest, aqueix) và sử dụng dạng động từ phổ biến ở València và miền tây Catalunya như sử dụng hậu tố -e thay vì -o trong ngôi thứ nhất hiện tại trình bày của động từ lớp -ar: jo compre thay vì jo compro ("tôi mua"). Trong quần đảo Baleares, ngôn ngữ chuẩn của Catalunya được chấp nhận, nhưng do bộ phân Ngữ văn của Đại học Quần đảo Baleares sửa đổi cho hợp với ngôn ngữ địa phương Baleares. Ví dụ, viện IEC của Catalunya báo rằng có thể viết cantem ("(chúng tôi/ta) hát") thành cantam, còn trong quần đảo Baleares luôn phải viết cantam. Một đặc điểm khác của ngôn ngữ chuẩn Baleares là hậu tố không trong ngôi thứ nhất hiện tại trình bày: jo compr ("tôi mua"), jo tem ("toi sợ"), jo dorm ("tôi ngủ"). Đối với Alghero thì viện sửa ngôn ngữ chuẩn cho hợp với tiếng Alghero hơn. Trong chuẩn này có mạo từ hạn định lo thay vì el, đại từ và từ chỉ định sở hữu đặc biệt như lo tou/ta tua ("cái của bạn"), luôn sử dụng -v- /v/ trong thì quá khứ chưa hoàn thành (cantava, creixiva, llegiva, "đã hát, lớn lên, đọc"), sử dụng nhiều từ cổ xưa (manco thày vì menys "ít hơn", calqui u thay vì algú "ai đó") và đại từ yếu khác biệt. === Địa vị của tiếng València === Các nhà ngôn ngữ học, bao gồm nhà ngôn ngữ học València, coi tiếng Catalunya và València là một thứ tiếng, và người nói tiếng Catalunya miền trung và tiếng València sẽ hiểu 90% đến 95% của ngôn ngữ địa phương của nhau. Viện Acadèmia Valenciana de la Llengua (AVL) tuyên bố rằng tiếng València và Catalunya là một. Tuy nhiên, cuộc thăm dò được tổ chức giữa năm 2001 và 2004 chỉ ra rằng đa phần của người València coi tiếng València khác biệt với tiếng Catalunya. Sự không đồng nhất này gây nhiều tranh luận. Ví dụ, lúc hiến pháp của Liên minh châu Âu được phác thảo, chính phủ Tây Ban Nho cho Liên minh châu Âu ban dịch của bài sang tiếng Basque, Galicia, Catalunya và València, nhưng bài bằng tiếng Catalunya và València giống hệt nhau. == Âm vị == Hệ thống âm vị của tiếng Catalunya tuỳ vào địa phương. Một vài đặc điểm là: Một sự đối chiếu rõ giữa cặp nguyên âm /ɛ e/ và /ɔ o/, như trong những ngôn ngữ thuộc nhánh phía tây nhóm Rôman khác, ngoại trừ tiếng Tây Ban Nha. Không có nguyên âm mũi hoá, khác biệt với tiếng Bồ Đào Nha hoặc Pháp. Không âm đôi hoá nguyên âm ngắn ĕ, ŏ của tiếng Latinh, như tiếng Galicia và Bồ Đào Nha, và khác với tiếng Pháp, Tây Ban Nha và Ý. Nhiều nguyên âm đôi chứa /w/, như tiếng Galicia và Bồ Đào Nha. Khác với những ngôn ngữ nhóm Rôman khác, tiếng Catalunya có nhiều từ đơn âm tiết, và nhiều loại phụ âm và cụm phụ âm có thể có mặt ở cuối từ. Thêm hơn nữa, tiếng Catalunya có hiện tượng vô thanh hoá phụ âm cản cuối, nên có nhiều đôi cặp như amic "bạn nam" đối với amiga "bạn nữ". Tiếng Catalunya miền trung được coi là cách phát âm chuẩn, nên sự mô tả bên dưới nói chung mô tả giọng này. === Nguyên âm === Tiếng Catalunya thừa kế hệ thống nguyên âm tiêu biểu của tiếng Latinh bình dân bao gồm bảy âm vị nguyên âm trong âm tiết có trọng âm: /a ɛ e i ɔ o u/. Hệ tống này phổ biến trong ngôn ngữ Rôman Tây ngoại trừ tiếng Tây Ban Nha. Giọng của đảo Baleares cũng cho phép có âm /ə/ trong âm tiết có trọng âm. Các giọng khác biệt không đồng nhất về mức độ giảm nguyên âm và về sự phân phối hai nguyên am /ɛ e/. Trong tiếng Catalunya miền Trung nguyên âm nào không có trọng âm sẽ bị giảm để chỉ còn có ba nguyên âm nữa: /a e ɛ/ > [ə]; /o ɔ u/ > [u]; /i/ vẫn riêng. Những giọng khác có trình độ giảm nguyên âm khác biệt. === Phụ âm === Hệ phụ âm của tiếng Catalunya hơi bảo thủ, và giống hệ của đa phần ngôn ngữ Rôman phía Tây hiện đại. /l/ có tha âm vị vòm mềm hoá ở vị trí đuôi vần trong đa phần các giọng. Tuy nhiên, /l/ được vòm mềm hoá ở mọi vị trí trong giọng phía đông như tiếng Mallorca và tiếng Catalunya phía đông chuẩn. /v/ có mặt trong tiếng Baleares, Alghero, València chuẩn và một vài vùng ở miền nam Catalunya. Nó bị sát nhập vào /b/ ở vùng khác. Phụ âm cản bị vô thanh hoá ở vị trí cuối âm tiết: /b/ > [p], /d/ > [t], /ɡ/ > [k]. Phụ âm tắc bị nhược hoá thành âm tiếp cận ở vị trí thanh mẫu sau âm liên tục: /b/ > [β], /d/ > [ð], /ɡ/ > [ɣ]. Ngoại lệ bao gồm vị trí sau âm cạnh, và /b/ ngay sau /f/. Ở vị trí đuôi vần âm này là âm tắc, ngoại trừ một vài giọng València mà cũng nhược hoá âm này ở vị trí đuôi vần. Có chút sự lộn xộn trong tài liệu về đặc trưng chính xác của /ʃ ʒ tʃ dʒ/. Một vài tài liệu mô tả chúng là âm "chân răng sau". Tài liệu khác báo chũng là âm "chân răng vòm sau", hạm ý rằng viết ⟨ɕ ʑ tɕ dʑ⟩ sẽ chính xác hơn. Sự phân phối của hai âm R /r ɾ/ giống sự phân phối của chúng trong tiếng Tây Ban Nha. Hai âm này đối chiếu giữa hai nguyên âm, nhưng ở vị trí khác chúng có sự phân phối bổ sung. Ở thanh mẫu luôn có [r] ngoại trừ nếu có phụ âm trước. Các thổ ngữ không đồng nhất về âm R ở đuôi vần, mà giọng phía tây bình thường có [ɾ] và giọng miền trung có [r] rung một chút ngoại trừ ngay trước từ bắt đầu bằng nguyên âm, mà trong trường hợp này sẽ có [ɾ]. Khi nói kỹ thì những âm /n m l/ có thể sắp thành đôi. Âm /ʎ/ đôi cũng có thể có mặt. Một vài tài liệu phân tích [r] giữa hai nguyên âm là một vị âm R đôi, theo một cách phân tích âm R của tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha phổ biến. == Ngữ pháp == Ngữ pháp của tiếng Catalunya giống ngữ pháp của những ngôn ngữ Rôman khác. Một vài đặc điểm là: Sử dụng mạo từ hạn định và bất định. Danh từ, tính từ, đại từ và mạo từ chia theo giống (cái hay đức) và số (ít hay nhiều). Các từ không chia theo cách, ngoài trừ đại từ. Động từ chia theo ngôi và số của chủ ngữ, thì, thức, và trạng. === Chia theo giống và số === Về chia theo giống thì một điểm đặc trưng (nếu so sánh với tiếng Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha hay Ý) là sự biến mất của hậu tố giống đực -o tiêu biểu. Vậy nên sự xen kẽ hậu tố -o/-a bị hai hậu tố ø/-a thay thế. Một vài sự xen kẽ hình thái có thể xảy ra, như: Tắc sát hoá: boig/boja ("điên") nhưng lleig/lletja ("xấu") Mất n: pla/plana ("bằng phẳng") nhưng segon/segona ("thứ nhị") Vô thanh hoá phụ âm cản cuối: sentit/sentida ("cảm thấy", phân từ quá khứ) nhưng dit/dita ("nói", phân từ quá khứ) === Từ hạn định === Chia từ hạn định thì phức tạp, nhất là vì có nhiều dạng lược, như trong những ngôn ngữ xung quanh. Tiếng Catalunya có nhiều dạng giới từ + mạo tự bị rút gọn hơn tiếng Tây Ban Nha, như dels ("của" + mạo từ giống đực số nhiều), nhưng không nhiều bằng tiếng Ý (mà cũng có sul, col, nel…). === Đại từ nhân xưng === Hình thái của đại từ tiếng Catalunya phức tạp, nhất là về dạng không mang trọng âm, mà có nhiều dạng như vậy (13 dạng riêng biệt, so sánh với 11 dạng trong tiếng Tây Ban Nha hay 9 dạng trong tiếng Ý). Đặc điểm là từ ho không giống, và tự do lớn khi kết hợp đại từ không trọng âm khác biệt với nhau (65 dạng kết hợp). Đại từ nhân xưng của tiếng Catalunya có phân biệt hai cách xưng hô, như mọi ngôn ngữ Rôman khác (và nhiều ngôn ngữ châu Âu khác). Thêm hơn nữa, tiếng Catalunya miền trung gần như không dùng đại từ sở hữu không trọng âm (mon v.v.) nữa, và thay chúng bằng kết cấu mạo từ + dạng đại từ sở hữu có trọng âm (el meu v.v.), như trong tiếng Ý. === Động từ === Như trong mọi ngôn ngữ Rôman, cách chia động từ của tiếng Catalunya phức tạp hơn cách chia danh từ. Có rất nhiều hậu tố, còn sự xen kẽ hình thái thì có ít. Có sự xen kẽ nguyên âm, và cũng có trung tố và sự bổ thể, nhưng chỉ trong một vài động từ bất quy tắc (khác với tiếng Tây Ban Nha). Hệ thống động từ của tiếng Catalunya rất giống hệ thống của mọi ngôn ngữ Rôman tây khác. Sự khác biệt đáng chú ý nhất là sự thay thế thì quá khứ trình bày phân tích (bằng hậu tố) bằng kết cấu dạng của ir ("đi") + dạng vô định. === Cú pháp === Cú pháp của tiếng Catalunya theo gương của ngôn ngữ Rôman tây khác. Thứ tự từ chính là chủ ngữ–động từ–bổ ngữ. == Từ vựng == Dù khá thống nhất về từ vựng, nhưng hai khối địa phương của tiếng Catalunya (đông và tây) có một vài sự khác biệt về từ. Trong văn chương thì có thể dùng từ của các ngôn ngữ địa phương khác biệt, mặc dù có một vài từ rất ít phổ biến. Tuy nhiên, kể từ thế kỷ 19 người ta dùng từ của ngôn ngữ địa phương miền bắc hơn. === Từ uyên bác từ tiếng Latinh và Hy Lạp === Giống như nhiều ngôn ngữ châu Âu khác, tiếng Catalunya mượn nhiều từ uyên bác từ tiếng Hy Lạp và Latinh. Quá trình này bắt đầu rất sớm, và có nhiều ví dụ trong tác phẩm của Ramon Llull. Trong thế kỷ 14 và 15, tiếng Catalunya có số từ uyên bác từ tiếng Latinh và Hy Lạp cao hơn những ngôn ngữ Rôman khác nhiều, như có thể xem trong tác phẩm của Roís de Corella. === Cấu tạo từ === Quá trình cấu tạo từ trong tiếng Catalunya theo cùng nguyên lý với ngôn ngữ Rôman khác, mà có nhiều sự chắp dính. Nhiều khi, một vài phụ tố được chấp vào từ vị nào đó, và có một vài sự xen kẽ âm có thể xảy ra, như elèctric [ə'lɛktrik] ("thuộc điện") đối với electricitat [ələktrisi'tat] ("điện"). Động từ có thể có tiền tố, như preveure ("dự kiến trước"). Quá trình cấu tạo từ phức có quy tắc, và có nhiều từ phức lắm. == Chữ viết == Tiếng Catalunya dùng chữ cái Latinh với thêm một vài ký hiệu và chữ ghép (hai chữ cái làm một âm). Chính tả của tiếng Catalunya nói chung có hệ thống và tựa vào âm vị. == Ghi chú == == Tham khảo == == Nguồn tham khảo == Acadèmia Valenciana de la Llengua (9 tháng 2 năm 2005), Dictamen sobre els principis i criteris per a la defensa de la denominació i l'entitat del valencià [Báo cáo về nguyên tắc và tiêu chí để bảo vệ sự đặt tên và thực thể của tiếng València] (bằng tiếng Catalunya) Bảo trì CS1: Ngày và năm (link) Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Bonet, Eulàlia; Mascaró, Joan (1997). “On the Representation of Contrasting Rhotics” [Về sự biểu diễn âm R đối chiếu]. Trong Martínez-Gil, Fernando; Morales-Front, Alfonso. Issues in the Phonology and Morphology of the Major Iberian Languages (bằng tiếng Anh). Georgetown University Press. ISBN 978-0-87840-647-0. Bourciez, Édouard (1910). Éléments de linguistique romane [Khái luận về ngôn ngữ học Rôman] (bằng tiếng Pháp). Bulletin Hispanique. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Burke, Ulrik Ralph (1900). A History of Spain from the Earliest Times to the Death of Ferdinand the Catholic [Sách sử học Tây Ban Nha từ thời sớm nhất đến cái chết của vua Fernando Công giáo] (bằng tiếng Anh). Longmans, Green, and co. tr. 154. Carbonell, Joan F.; Llisterri, Joaquim (1992). “Catalan” [Tiếng Catalunya]. Journal of the International Phonetic Association (bằng tiếng Anh) 22 (1–2): 53. doi:10.1017/S0025100300004618. Carbonell, Joan F.; Llisterri, Joaquim (1999). “Catalan” [tiếng Catalunya]. Handbook of the International Phonetic Association: A Guide to the Usage of the International Phonetic Alphabet (bằng tiếng Anh). Cambridge: Cambridge University Press. tr. 54–55. ISBN 978-0-521-63751-0. Carbonell, Joan F.; Llisterri, Joaquim (1999). “Catalan” [Tiếng Catalunya]. Handbook of the International Phonetic Association: A Guide to the usage of the International Phonetic Alphabet (bằng tiếng Anh). Cambridge: Cambridge University Press. tr. 61–65. ISBN 0-521-63751-1. Colón, Germà (1993). El lèxic català dins la Romània [Từ vựng tiếng Catalunya trong tiếng Rôman]. Biblioteca Lingüística Catalana (bằng tiếng Catalunya). València: Universitat de València. ISBN 84-370-1327-5. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Costa Carreras, Joan; Yates, Alan (2009). The Architect of Modern Catalan: Selected Writings/Pompeu Fabra (1868–1948) [Người thiết kế tiếng Catalunya hiện đại: Tác phẩm chọn lọc/Pompeu Fabre (1868–1948)] (bằng tiếng Anh). Instutut d'Estudis Catalans & Universitat Pompeu Fabra & Jonh Benjamins B.V. tr. 6–7. ISBN 978 90 272 3264 9. Fabra, Pompeu (1926). Gramàtica Catalana [Ngữ pháp của tiếng Catalunya] (bằng tiếng Catalunya) (ấn bản 4). Barcelona: Institut d'Estudis Catalans. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Feldhausen, Ingo (2010). Sentential Form and Prosodic Structure of Catalan [Dạnh liên tiếp và kết cấu ngôn điệu của tiếng Catalunya] (bằng tiếng Anh). John Benjamins B.V. ISBN 978 90 272 5551 8. Ferrater và đồng nghiệp (1973). “Català”. Enciclopèdia Catalana Volum 4 [Bách khoa Toàn thư Catalunya Tập 4] (bằng tiếng Catalunya) . Barcelona: Enciclopèdia Catalana. tr. 628–639. ISBN 84-85-194-04-7. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Gallego, Rosa; Sanz, Juan Carlos (2001). Diccionario Akal del color [Từ điển Akal của màu sắc] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Akal. ISBN 978-84-460-1083-8. Hualde, José (1992). Catalan [Tiếng Catalunya] (bằng tiếng Anh). Routledge. ISBN 978-0-415-05498-0. Jud, Jakob (1925). Problèmes de géographie linguistique romane [Vấn đề về địa lý ngôn ngữ về ngôn ngữ nhóm Rôman] (bằng tiếng Pháp). Paris: Revue de Linguistique Romane. Koryakov, Yuri (2001). Atlas of Romance languages [Tập bản đồ của ngôn ngữ Roman]. Moscow. Lledó, Miquel Àngel (2011). “26. The Independent Standardization of Valencia: From Official Use to Underground Resistance” [Sự chuẩn hoá độc lập của tiếng València: Từ sử dụng chính thức đến sự chống cự ẩn nấp]. Handbook of Language and Ethnic Identity: The Success-Failure Continuum in Language and Ethnic Identity Efforts (Volume 2). New York: Oxford University Press. tr. 336–348. ISBN 978-0-19-539245-6. Lloret, Maria-Rosa (tháng 4 năm 2003). Soạn tại Amsterdam & Philadelphia. Auger, Julie; Clements, J. Clancy; Vance, Barbara, biên tập. “Contemporary Approaches to Romance Linguistics: Selected Papers from the 33rd Linguistic Symposium on Romance Languages”. Language (Bloomington, Indiana: John Benjamins) 83 (2): 278. doi:10.1353/lan.2007.0098. Bảo trì CS1: Ngày và năm (link) Marfany, Marta (2002). Els menorquins d'Algèria [Các người Menorca ở Algerie] (bằng tiếng Catalunya). Barcelona: Abadia de Montserrat. ISBN 84-8415-366-5. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Martínez Arrieta, Santiago; Sumien, Domergue (2006). “Els lligams entre català i occità” [Những liên hệ giữa tiếng Catalunya và Occitan]. Trong Veny, Joan. Miscel•lània (bằng tiếng Catalunya). l'Abadia de Monserrat. ISBN 8484157938. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Melchor, Vicent de; Branchadell, Albert (2002). El catalán: una lengua de Europa para compartir [Tiếng Catalunya: một thứ tiếng của châu Âu mà cần chia sẻ] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bellaterra: Universitat Autònoma de Barcelona. tr. 71. ISBN 84-490-2299-1. Meyer-Lübke, Wilhelm (1890). Grammatik der romanischen Sprachen [Ngữ pháp của các ngôn ngữ Rôman] (bằng tiếng Đức). Reisland. Moll, Francesc de B. (1958). Gramàtica Històrica Catalana [Ngữ pháp của tiếng Catalunya qua lịch sử] (bằng tiếng Catalunya (nguyên bằng tiếng Tây Ban Nha)) . Universitat de València. tr. 47. ISBN 978-84-370-6412-3. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Moran, Josep (1994). Treballs de lingüística històrica catalana [Tác phẩm về ngôn ngữ học lịch sử về tiếng Catalunya] (bằng tiếng Catalunya). Barcelona: Publicacions de l'Abadia de Monsterrat. tr. 55–93. ISBN 84-7826-568-6. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Moran, Josep (2004). Estudis d'història de la llengua catalana [Nghiên cứu lịch sử của tiếng Catalunya] (bằng tiếng Catalunya). Barcelona: Publicacions de l'Abadia de Montserrat. tr. 37–38. ISBN 84-8415-672-9. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Padgett, Jaye (2003). Systemic Contrast and Catalan Rhotics [Sự đối chiếu hệ thống cả âm R của tiếng Catalunya] (bằng tiếng Anh). University of California, Santa Cruzp=2. Recasens, Daniel (1993). “Fonètica i Fonologia” [Ngữ âm học và âm vị học]. Enciclopèdia Catalana (bằng tiếng Catalunya). Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Recasens, Daniel; Fontdevila, Jordi; Pallarès, Maria Dolors (1995). “Velarization Degree and Coarticulatory Resistance for /l/ in Catalan and German” [Trình độ vòm mềm hoá và sức cản đồng cấu âm cho /l/ trong tiếng Catalunya và Đức]. Journal of Phonetics (bằng tiếng Anh) 23 (1): 288. doi:10.1016/S0095-4470(95)80031-X. Recasens, Daniel (1996). Fonètica descriptiva del català: assaig de caracterització de la pronúncia del vocalisme i el consonantisme català al segle XX [Ngữ âm học miêu tả về tiếng Catalunya: thử mô tả đặc điểm phát âm của hệ nguyên âm và hệ phụ âm của tiếng Catalunya trong thế kỷ 20] (bằng tiếng Catalunya) (ấn bản 2). Barcelona: Institut d'Estudis Catalans. tr. 75–76,128–129. ISBN 9788472833128. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Recasens, Daniel; Pallarès, Maria Dolors (2001). De la fonètica a la fonologia: les consonants i assimilacions consonàntiques del català [Từ ngữ âm học đến âm vị học: các phụ âm và sự đồng hoá phụ âm của tiếng Catalunya] (bằng tiếng Catalunya). Barcelona: Editorial Ariel. ISBN 978-84-344-2884-3. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Recasens, Daniel; Espinosa, Aina (2005). “Articulatory, positional and coarticulatory characteristics for clear /l/ and dark /l/: evidence from two Catalan dialects” [Đạc điểm về cấu âm, vị trí và đồng cấu âm cho /l/ rõ và /l/ tối: chứng từ hai ngôn ngữ địa phương thuộc tiếng Catalunya]. Journal of the International Phonetic Association (bằng tiếng Anh) 35 (1): 1, 20. doi:10.1017/S0025100305001878. Recasens, Daniel; Espinosa, Aina (2007). “An Electropalatographic and Acoustic Study of Affricates and Fricatives in Two Catalan Dialects” [Nghiên cứu âm tắc sát và sát bằng biểu đồ vòm điện và âm học trong hai ngôn ngữ địa phương thuộc tiếng Catalunya]. Journal of the International Phonetic Association (bằng tiếng Anh) 37 (2): 145. doi:10.1017/S0025100306002829. Riquer, Martí de (1964). “Vol.1”. Història de la Literatura Catalana [Lịch sử của văn hoá bằng tiếng Catalunya] (bằng tiếng Catalunya). Barcelona: Ariel. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Schlösser, Rainer (2005). Die romanischen Sprachen [Các ngôn ngữ Rôman] (bằng tiếng Đức). Munich: C.H. Beck. Swan, Michael (2001). Learner English: A Teacher's Guide to Interference and Other Problems, Volume 1 [Sách chỉ dẫn giảng viên về sự chồng chéo và vấn đề khác, tập 1] (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. ISBN 9780521779395. Thomas, Earl W. (1962). “The Resurgence of Catalan” [Sự sống lại của tiếng Catalunya]. Hispania (bằng tiếng Anh) 45 (1): 43–8. doi:10.2307/337523. JSTOR 337523. Wheeler, Max; Yates, Alan; Dols, Nicolau (1999). Catalan: A Comprehensive Grammar [Tiếng Catalunya: Ngữ pháp toàn diện] (bằng tiếng Anh). London: Routledge. Wheeler, Max (2003). “5. Catalan” [5. Tiếng Catalunya]. The Romance Languages [Các ngôn ngữ Rôman] (bằng tiếng Anh). London: Routledge. tr. 170–208. ISBN 0-415-16417-6. Wheeler, Max (2005). The Phonology Of Catalan [Hệ âm vị của tiếng Catalunya] (bằng tiếng Anh). Oxford: Oxford University Press. tr. 54. ISBN 978-0-19-925814-7. Wheeler, Max (2006). Encyclopedia of Language and Linguistics [Bách khoa toàn thư về ngôn ngữ và ngôn ngữ học] (bằng tiếng Anh). Wheeler, Max (2010). “Catalan” [tiếng Catalunya]. Concise Encyclopedia of Languages of the World [Bách khoa toàn thư ngắn gọn về các ngôn ngữ trên thế giới] (bằng tiếng Anh). Oxford: Elsevier. tr. 188–192. ISBN 978-0-08-087774-7. Veny, Joan (1997). “Greuges de Guitard Isarn, Senyor de Caboet (1080–1095)” [Lời trách của Guitard Isarn, chúa tế của Caboet (1080–1095)]. Homenatge a Arthur Terry [Kính trọng Arthur Terry] (bằng tiếng Catalunya). Barcelona: Publicacions de l'Abadia de Montserrat. tr. 9–18. ISBN 84-7826-894-4. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) Veny, Joan (2007). Petit Atles lingüístic del domini català [Tập bản đồ nhỏ của các vùng nói tiếng Catalunya] (bằng tiếng Catalunya). 1 & 2. Barcelona: Institut d'Estudis Catalans. tr. 51. ISBN 978-84-7283-942-7. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link) == Liên kết ngoài == === Thể chế === Consorci per a la Normalització Lingüística Institut d'Estudis Catalans Acadèmia Valenciana de la Llengua Secretaria de Política Lingüística de la Generalitat de Catalunya === Về tiếng Catalunya === Gramàtica de la Llengua Catalana (ngữ pháp) verbs.cat (chia động từ) === Từ điển tiếng Catalunya === Diccionari de la Llengua Catalana, của viện Institut d'Estudis Catalans Gran Diccionari de la Llengua Catalana, thuộc Enciclopèdia Catalana Diccionari Català-Valencià-Balear d'Alcover i Moll Diccionari Valencià online Diccionari de la Llengua Catalana Multilingüe thuộc Enciclopèdia Catalana (Catalunya ↔ Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha)
đảng bharatiya janata.txt
Bản mẫu:Infobox Indian political party Đảng Bharatiya Janata viết tắt là BJP hay còn gọi là Đảng Nhân dân Ấn Độ là một chính đảng đối lập ở Ấn Độ của người Hindu và dành thắng lợi lớn trong cuộc Tổng tuyển cử Ấn Độ, 2014 để thành lập Chính phủ do ông Narendra Modi làm thủ tướng. == Mục tiêu == Mục tiêu của đảng là tập trung vào các vấn đề kinh tế và thương mại, không chú trọng các vấn đề xã hội và tôn giáo. == Bầu cử năm 2014 == Trong cuộc bầu cử năm 2014, Đảng Bharatiya Janata đối lập giành chiến thắng lớn. Đảng này giành được thế đa số tại hạ viện với 286/543 ghế. Liên minh do BJP dẫn đầu có được tới 325 ghế để lập chính phủ mới. Đây là chiến thắng vang dội nhất của BJP trong một cuộc tổng tuyển cử ở Ấn Độ trong vòng 30 năm qua. Đảng BJP đã chiếm được đa số, giúp ông không phải đàm phán liên minh với các đảng nhỏ và thành lập chính phủ liên hiệp do đó họ có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc tự quyết các chính sách. Đây là lần đầu tiên trong vòng 25 năm một chính đảng tại Ấn Độ giành đủ đa số tuyệt đối để có thể thành lập chính phủ độc lập. == Một số đảng viên == Syama Prasad Mookerjee: Người sáng lập Deendayal Upadhyaya Atal Bihari Vajpayee Narendra Modi J. Krishna Palemar C. C. Patil Laxman Savadi == Tham khảo == Elst, K. (1997). Bharatiya Janata Party vis-à-vis Hindu resurgence. New Delhi: Voice of India. Gurdas M. Ahuja. BJP and the Indian Politics: Policies & Programmes of the Bharatiya Janata Party (1994) Pratap Chandra Swain. Bharatiya Janata Party: Profile and Performance. (2001) ISBN 8176482579 Yogendra K. Malik & V.B. Singh. Hindu nationalists in India: The rise of the Bharatiya Janata Party (1994). ISBN 0813388104. G. N. S. Raghavan. New Era in the Indian Polity, A Study of Atal Bihari Vajpayee and the BJP. (1996). ISBN 978-81-212-0539-9. Dr. C.P. Thakur. India Under Atal Behari Vajpayee: The BJP Era.(1999). ISBN 978-81-7476-250-4 Madhusudan Mishra. Bharatiya Janata Party and India's foreign policy. (1997) ISBN 8185565791 Chandra Prakash Bhambhri. Bharatiya Janata Party: Periphery to Centre (2001) ISBN 8175410787 Gurdas M. Ahuja. Bharatiya Janata Party and Resurgent India (2004) ISBN 900534-4-2
kawabata yasunari.txt
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Kawabata. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau). Kawabata Yasunari (tiếng Nhật: 川端 康成, かわばた やすなり; 14 tháng 6 năm 1899 – 16 tháng 4 năm 1972) là tiểu thuyết gia người Nhật đầu tiên và người châu Á thứ ba, sau Rabindranath Tagore (Ấn Độ năm 1913) và Shmuel Yosef Agnon (Israel năm 1966), đoạt Giải Nobel Văn học năm 1968, đúng dịp kỷ niệm 100 năm hiện đại hóa văn học Nhật Bản tính từ cuộc Duy Tân của Minh Trị Thiên Hoàng năm 1868. Những sáng tác văn chương, những tiểu luận mỹ học và phê bình văn học của Kawabata Yasunari, qua thời gian vẫn luôn đem lại hấp lực mạnh mẽ đối với nhiều nhà phương Đông học trên khắp các châu lục, có sức lôi cuốn rộng rãi độc giả trên thế giới, phản ảnh nhiều phương diện của văn hóa Nhật cũng như những rung cảm đầy đam mê mà tinh tế của tâm hồn Nhật. == Tiểu sử == Kawabata sinh ở Osaka, mồ côi từ năm lên 2, từ đó cậu bé và chị sống cùng ông bà ngoại. Khi cậu lên 7 thì bà ngoại qua đời, lên 9 thì mất chị, được 14 tuổi thì mất cả ông ngoại, cậu phải về Tokyo sống với gia đình người dì. Đứa trẻ ốm yếu lại côi cút Kawabata chỉ còn biết tựa mình vào năng lực sáng tạo, phong kín vết thương tâm hồn của mình bằng cuộc tìm kiếm mê mải cái đẹp trong cuộc đời. Ở tuổi đôi mươi, Kawabata lại đánh mất một người mà ông hết lòng yêu thương, một thiếu nữ ông gọi là Chiyo. Ông đã cùng nàng hứa hôn nhưng khi mọi việc chuẩn bị xong, nàng bất ngờ từ hôn, không một lời giải thích. "Không bao giờ tôi trút được ám ảnh rằng mình là một người lang thang ưu sầu. Luôn luôn mơ mộng tuy rằng chẳng bao giờ chìm đắm hoàn toàn trong mơ, mà vẫn luôn tỉnh thức giữa khi mơ..." Cảm thức cô đơn trong văn phẩm Kawabata thường phản ánh từ chính cuộc sống thời thơ ấu và tuổi trẻ của ông. Cái cô đơn ấy bắt đầu với tập Nhật ký tuổi mười sáu. Khi nó được xuất bản vào năm 1925, tác phẩm đầu tay này có lẽ đã được viết lại dù trong đó, ấn tượng của một thiếu niên trước cái chết của người thân (ông ngoại) vẫn còn rõ nét. Những ngày cuối cùng khốn khổ của một người già yếu mù loà, cuộc sống cô độc của một thiếu niên nhỏ bé đối diện với sinh ly tử biệt được thể hiện chân thực. Hồi nhỏ, Kawabata vẫn mơ ước vẽ tranh. Nhưng đến tuổi mười lăm, ông cảm thấy mình có tài viết hơn là vẽ, nên quyết định chọn con đường văn chương. Do đó mà trong văn xuôi Kawabata, những phong cảnh thiên nhiên và thế giới tâm hồn không ngớt mở ra trước mắt ta những màu sắc tinh tế. Bên cạnh viết văn, Kawabata còn làm phóng viên cho một số tờ báo mà đáng chú ý nhất là tờ Mainichi Shimbun ở Osaka và Tokyo. Mặc dù đã từ chối tham gia vào sự hăng hái quân phiệt trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ông cũng thờ ơ với những cải cách chính trị của Nhật Bản sau chiến tranh, nhưng rõ ràng chiến tranh là một trong những ảnh hưởng quan trọng nhất đối với ông (cùng với cái chết của cả gia đình khi ông còn trẻ); một thời gian ngắn sau đó ông nói rằng kể từ đó ông chỉ còn khả năng viết những tác phẩm bi ca mà thôi. Năm 1972 Kawabata tự tử bằng khí đốt trong một căn phòng ở Hayama, Kamakura. Nhiều giả thuyết đã được đưa ra, nào là sức khoẻ kém, nào là một cuộc tình bị cấm đoán, nào là cú sốc do vụ tự tử của bạn ông, nhà văn Mishima Yukio năm 1970. Tuy nhiên, khác với Mishima, Kawabata không để lại thư tuyệt mệnh, và vì trong các tác phẩm của ông không có gợi ý gì, đến nay không ai biết được nguyên nhân thật sự. == Văn nghiệp == Thơ ca và truyện ngắn của Kawabata được ấn hành ngay từ lúc ông còn là học sinh trung học. Tình yêu thơ ca thấm đượm trong từng trang văn của ông, đặc biệt với loại truyện rất ngắn mà ông gọi là truyện ngắn trong lòng bàn tay, loại truyện mà ông luôn thích viết trong suốt cuộc đời mình, như ông giải thích: "Tuổi trẻ trong đời nhiều nhà văn thường dành cho thơ ca; còn tôi, thay vì thơ ca, tôi viết những tác phẩm nhỏ gọi là truyện ngắn trong lòng bàn tay... Hồn thơ những ngày trẻ tuổi của tôi sống sót trong những câu chuyện ấy..." Vào Đại học Tokyo, Kawabata nghiên cứu cả văn học Anh lẫn văn học Nhật. Ông say mê thơ văn cổ điển dân tộc như Truyện kể Genji của Murasaki Shikibu, Sách gối đầu của Sein Shonagon lẫn các tác giả hiện đại Tây phương như Marcel Proust, James Joyce... Khi còn là sinh viên ông đã cùng với Yokomitsu Riichi lập ra tờ Văn nghệ thời đại (Bungei jidai) làm cơ quan ngôn luận cho trường phái văn học tân cảm giác (shinkankaku-ha) nhằm thực hiện một "cuộc cách mạng văn học đối đầu với làn sóng văn học cách mạng đương thời". Chọn con đường riêng cho mình, Kawabata tự bạch: "Tôi đã tiếp nhận nồng nhiệt văn chương Tây phương hiện đại và tôi cũng đã thử bắt chước nó, nhưng chủ yếu tôi là một người Đông phương và suốt mười lăm năm qua tôi chưa từng đánh mất phong cách ấy của mình." Một thời gian ngắn sau khi tốt nghiệp, ông bắt đầu được công nhận nhờ một số truyện ngắn, và được khen ngợi với truyện Vũ nữ xứ Izu (伊豆の踊り子) năm 1926, nói về những quyến rũ mới chớm của tình yêu tuổi trẻ. Các tác phẩm sau này của ông sẽ đi vào những chủ đề tình yêu tương tự. Các nhân vật của ông thường là các cô gái rất đẹp và trẻ, ông luôn hướng đến một vẻ đẹp vẹn toàn, ông cũng là người tôn sùng vẻ đẹp mỏng manh và luôn sử dụng ngôn ngữ đầy hình ảnh u ẩn về cuộc sống thiên nhiên và số phận con người. Xứ tuyết (雪国), tiểu thuyết đầu tiên của Kawabata, được bắt đầu năm 1934, đăng nhiều kỳ từ 1935 đến 1937, và chỉ hoàn tất năm 1947. Chuyện tình giữa một tay chơi từ Tokyo và một nàng ca kỹ (geisha) tỉnh lẻ diễn ra tại một thị trấn xa xôi đâu đó phía tây rặng Alps Nhật Bản (dãy núi chia đôi đảo Honshu). Vẻ đẹp của tuyết, của các mùa, của người nữ hòa quyện trên từng trang sách, đẹp như thơ, đưa tác phẩm ngay lập tức trở thành cổ điển, và như lời Edward G. Seidensticker, "có lẽ là kiệt tác của Kawabata", đã đưa Kawabata vào số những nhà văn hàng đầu nước Nhật. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ông tiếp tục thành công với những tiểu thuyết như Ngàn cánh hạc (千羽鶴, một chuyện tình bất hạnh trong khung cảnh trà đạo), Tiếng rền của núi (山の音), Người đẹp say ngủ (眠れる美女) và Cái đẹp và nỗi buồn (美しさと哀しみと, tiểu thuyết cuối cùng của ông, lại một câu chuyện đam mê với kết cuộc buồn). Bản thân Kawabata cho rằng tác phẩm hay nhất của mình là Danh thủ cờ vây (名人, 1951), truyện ngắn này tương phản rõ rệt với những tác phẩm khác. Truyện kể lại (có hư cấu thêm) một ván cờ vây năm 1938, mà ông đã tường thuật cho báo Mainichi. Đó là ván cờ cuối cùng của danh thủ Shūsai, ông này đã thua người thách đấu trẻ hơn mình, rồi qua đời một năm sau. Mặc dù truyện có vẻ hời hợt, chỉ là thuật lại một cuộc đấu tranh lên đến đỉnh điểm, một số độc giả cho rằng đó là ẩn dụ thất bại của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai, số khác lại coi là cuộc đấu tranh giữa truyền thống và hiện đại. Năm 1968, Kawabata được trao tặng giải Nobel với lời ca ngợi của Viện Hàn lâm Thụy Điển: "Ông là người tôn vinh cái đẹp hư ảo và hình ảnh u uẩn của hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con người" (diễn văn của tiến sĩ Anders Usterling trong lễ trao giải). Là chủ tịch Hội Văn Bút Nhật Bản trong nhiều năm sau chiến tranh, Kawabata đã thúc đẩy việc dịch văn học Nhật sang tiếng Anh và các thứ tiếng phương tây khác. == Một số tác phẩm chính == Lễ chiêu hồn, truyện ngắn (Shokonsai ikkei, 1921) Vũ nữ Izu (伊豆の踊り子 Izu no Odoriko 1926) Hồng đoàn Asakusa (Asakusa Kurerai dan, 1930) Thuỷ tinh huyền tưởng (Suisho genso, 1931) Cầm thú (Kinju, 1933) Xứ tuyết (雪国 Yukiguni, 1935-37, 1947) Ngàn cánh hạc (千羽鶴 Sembazuru, 1949-52) Danh thủ cờ vây (名人 Meijin, 1951-54) Tiếng rền của núi (山の音 Yama no Oto, 1949-54) Hồ (Mizuumi, 1955) Người đẹp say ngủ (眠れる美女 Nemueru bijo, 1961) Cố đô (古都 Koto, 1962) Đẹp và buồn (美しさと哀しみと Utsukushisa to Kanashimi to, 1964) Cánh tay, truyện ngắn (1965) Tôi ở đất Phù Tang xinh đẹp, diễn từ nhận giải Nobel (Utsukushii Nihon no watakushi, 1968) Tóc dài (Kani wa Nagaku, 1970) Truyện ngắn trong lòng bàn tay (掌の小説 Tenohira no shosetsu, 1971) === Các bản dịch tiếng Việt === Vũ nữ Izu: Cô đào miền Izu, Vũ Thư Thanh trích dịch, Tạp chí Văn, số 122, số đặc biệt về Kawabata, Sài Gòn, 1969 Vũ nữ Izu, Thái Hà dịch, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1986 Vũ nữ Izu, Huyền Không dịch, Trình Bày, Sài Gòn 1969. Vũ nữ Izu, Nguyễn Lương Hải Khôi dịch. Xứ tuyết: Xứ tuyết, Vũ Thư Thanh trích dịch, Tạp chí Văn, số 122, số đặc biệt về Kawabata, Sài Gòn, 1969 Xứ tuyết, Chu Việt dịch, Trình Bầy xuất bản, Sài Gòn, 1969 Vùng băng tuyết, Giang Hà Vỵ dịch, Nhà xuất bản Mũi Cà Mau, 1988 Xứ tuyết, Ngô Văn Phú và Vũ Đình Bình dịch, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 1995 Ngàn cánh hạc: Ngàn cánh hạc, Trùng Dương dịch, Trình Bầy xuất bản, Sài Gòn, 1969 Rập rờn cánh hạc, Nguyễn Tường Minh dịch, Sông Thao, Sài Gòn, 1970, 1974 Ngàn cánh hạc, Tuấn Minh dịch, Sống Mới, Sài Gòn, 1971 Ngàn cánh hạc, Giang Hà Vị dịch, Nhà xuất bản Tổng hợp Kiên Giang, 1988 Tiếng rền của núi: Tiếng núi rền, Vũ Thư Thanh trích dịch, Tạp chí Văn, số 122, số đặc biệt về Kawabata, Sài Gòn, 1969 Tiếng rền của núi, Ngô Quý Giang dịch, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội, 1989 Người đẹp say ngủ: Người đẹp say ngủ, Vũ Đình Phòng dịch, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1999 Người đẹp ngủ mê, Quế Sơn dịch, Nhà xuất bản Thời Đại, Hà Nội, 2010 Cố đô, Thái Văn Hiếu dịch, Nhà xuất bản Hải Phòng, 1988 Diễn từ Nobel văn chương 1968: Đất Phù Tang, cái đẹp và tôi, Cao Ngọc Phượng dịch, Lá Bối xuất bản, Sài Gòn, 1969 Tôi thuộc về vẻ đẹp Nhật Bản trong "phần I:Văn chương quan niệm và tư tưởng", sách Những bậc thầy văn chương thế giới – tư tưởng và quan niệm, Nhà xuất bản Văn học, H. 1995 Sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản, Đoàn Tử Huyến dịch từ bản tiếng Nga Красотой Японии рожденный của T. P. Grigorievich, đăng trên Talawas tháng 8/2005 Truyện ngắn trong lòng bàn tay, nhiều dịch giả Tuyển tập tác phẩm Yasunari Kawabata, tập hợp 6 truyện ngắn; 46 truyện 'trong lòng bàn tay' và 6 tiểu thuyết, Nhà xuất bản Lao động, H. 2005 Đẹp và buồn, Mai Kim Ngọc dịch, Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, 2009 Hồ, Uyên Thiểm dịch, Nhà xuất bản Văn học và Công ty cổ phần Văn hóa Truyền thông Nhã Nam, 2016 == Đọc thêm == Tạp chí Văn, số 140, số đặc biệt về Kawabata, Sài Gòn, ngày 15 tháng 10 năm 1969 N.T.Fedorenko, "Kawabata - Con mắt nhìn thấu cái đẹp" (1974), Thái Hà dịch, tạp chí Văn học nước ngoài, số 4/1999 Lưu Đức Trung, Yasunari Kawabata cuộc đời và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1997 Nhật Chiêu, "Thế giới Kawabata Yasunari (hay là cái đẹp: hình và bóng)", tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học, số 3/2000. Tuyển tập Văn chương 6 - Đọc Kawabata, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội, 2000 Khương Việt Hà, "Mỹ học Kawabata Yasunari", tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học, số 6/2006. Hoàng Long, "Những đặc điểm thi pháp của truyện ngắn trong lòng bàn tay", Yasunari Kawabata, Tuyển tập tác phẩm, Nhà xuất bản Lao động và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2006. Đào Thị Thu Hằng, Văn hóa Nhật Bản và Yasunari Kawabata, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2007 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Tiếng Việt: Kỷ niệm 105 năm ngày sinh Kawabata Diễn văn của tiến sĩ Anders Usterling trong lễ trao giải Nobel Sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản, Diễn từ Nobel văn chương 1968 Đẹp và buồn, bản dịch tiếng Việt của Mai Kim Ngọc Tiểu sử Kawabata Tiếng Anh: Hanami Web - Kawabata Yasunari Trang web giải Nobel năm 1968 Yasunari Kawabata, trang web của người hâm mộ
thánh giá trong rừng.txt
Thánh giá trong rừng (Tiếng Anh:Cross in the Woods) là một địa điểm hành hương nổi tiếng tọa lạc tại địa chỉ: 7078 M-68, Indian River, hạt Cheboygan, phía bắc bang Michigan, Hoa Kỳ. Nơi đây mở cửa suốt 365 ngày trong năm, mỗi ngày đều cử hành thánh lễ trong nhà nguyện hoặc ngoài trời. Nơi tôn nghiêm này hàng năm đón tiếp hơn ba trăm ngàn người đến chiêm bái và cầu nguyện. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cross in the Woods Website Cross in the Woods Shrine at RoadsideAmerica.com. ngày 19 tháng 4 năm 2007. Followers Urge Cross in the Woods to Change Name at RoadsideAmerica.com (Published ngày 13 tháng 7 năm 1997; Retrieved ngày 4 tháng 5 năm 2007). Big Foot Museum - Largest Crosses Collection in India World Record
papua new guinea.txt
Papua New Guinea (tiếng Tok Pisin: Papua Niugini; Hiri Motu: Papua Niu Gini, thường gọi trong tiếng Việt: Pa-pua Niu Ghi-nê), tên đầy đủ là Quốc gia Độc lập Pa-pua Niu Ghi-nê là một quốc gia ở Thái Bình Dương, gồm phía Đông của đảo Tân Ghi-nê và nhiều đảo xa bờ biển (phía Tây của New Guinea là hai tỉnh Papua và Tây Papua của Indonesia). PNG nằm vào phía Tây Nam Thái Bình Dương, ở một vùng được gọi là Mélanésie (Mêlanêdi) từ đầu thế kỷ 19. Thủ đô của nước này, Port Moresby, là một trong vài thành phố lớn trong nước. Papua New Guinea là một trong những quốc gia có nhiều dân tộc nhất trên thế giới, có hơn 850 ngôn ngữ thổ dân và nhiều dân tộc như vậy, nhưng chỉ có vào khoảng 5 triệu người. Đây cũng là một trong những nước nông thôn nhất, chỉ 18% người sống ở những trung tâm thành thị. Đây là nước ít được thám hiểm nhất trên thế giới, không chỉ về địa lý mà còn về văn hóa, và nhiều loài động thực vật được cho là chỉ có ở Papua New Guinea. == Từ nguyên == Papua' là một từ ngữ dùng để chỉ dạng tóc xoăn tít của dân bản xứ, Nouvelle Guinée có nghĩa là Ghi-nê mới. Một nhà thám hiểm đã tình cờ phát hiện ra thổ dân trên hòn đảo này, nhưng ông lại ngạc nhiên vì ngờ ngợ đây là thổ dân da đen ở Guinée với mái tóc xoăn tít (người Guinea không có tóc xoăn như thế) và lại ở rất xa Guinea, nên ông đặt tên cho thổ dân mới phát hiện là Papua Tân Ghi-nê (người Ghi-nê tóc xoăn tít). Và các tên đó trở thành tên quốc gia. == Lịch sử == Những di cốt con người đã được tìm thấy có niên đại từ khoảng 50,000 năm trước. Những cư dân cổ xưa này có lẽ có nguồn gốc ở Đông Nam Á, người Đông Nam Á lại có nguồn gốc từ châu Phi 50,000 tới 70,000 năm trước. Tân Ghi-nê là một trong những vùng đất đầu tiên sau châu Phi và Âu Á là nơi có người hiện đại sinh sống, với cuộc di cư đầu tiên ở cùng khoảng thời gian cuộc di cư của Australia. Nông nghiệp độc lập phát triển tại các vùng cao nguyên Tân Ghi-nê khoảng năm 7,000 trước Công Nguyên, khiến đây là một trong số ít khu vực thực hiện thuần hoá thực vật nguyên thuỷ của thế giới. Một cuộc di cư lớn của những người nói ngôn ngữ Austronesia tới các vùng ven biển khoảng 2,500 năm trước, và nó trùng khớp với sự xuất hiện của đồ gốm, lợn, và một số kỹ thuật đánh cá. Gần đây hơn, khoảng 300 năm trước, khoai lang đã du nhập vào Tân Ghi-nê từ Moluccas từ Nam Mỹ bởi đế chế thuộc địa thống trị vùng đất này khi ấy, Bồ Đào Nha. Sản lượng thu hoạch cao hơn rất nhiều từ khoai lang đã biến đổi toàn bộ nền nông nghiệp truyền thống, khoai lang đã chiếm hầu hết chỗ của khoai sọ, sản phẩm chủ yếu trước đó, và khiến dân cư tại các vùng cao nguyên tăng lên đáng kể. Trước thế kỷ 19 người phương Tây ít biết về hòn đảo này, dù các thương gia từ Đông Nam Á đã tới New Guinea từ 5,000 trước để mua lông chim seo cờ làm bút, và các nhà thám hiểm Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã tới hòn đảo này ngay từ thế kỷ 16 (1526 và 1527 Dom Jorge de Meneses). Tên kép của nước này là những kết quả của lịch sử hành chính phức tạp của nó trước khi giành độc lập. Từ papua xuất phát từ pepuah một từ tiếng Malay miêu tả mái tóc quăn của người Melanesia, và "New Guinea" (Nueva Guinea) là cái tên do nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Yñigo Ortiz de Retez đặt ra, vào năm 1545 ông đã lưu ý thấy sự tương đồng giữa người dân ở đây với những người ông từng thấy trước đó dọc theo bờ biển Guinea của châu Phi. Nửa phía bắc nước này rơi vào tay người Đức năm 1884 với tên gọi New Guinea Đức. Trong Thế chiến I, nó bị Australia chiếm đóng, nước đã bắt đầu quản lý New Guinea Anh, phần phía nam, được đổi tên lại là Papua năm 1904. Sau Thế chiến I, Australia được Hội quốc liên uỷ quyền cai quản New Guinea Đức cũ. Trái lại Papua, được coi là một Lãnh thổ Bên ngoài của Khối thịnh vượng chung Australia, dù theo pháp luật nó vẫn thuộc sở hữu của người Anh, một vấn đề có tầm quan trọng lớn với hệ thống pháp lý của đất nước sau khi độc lập năm 1975. Sự khác biệt này trong vị thế pháp lý có nghĩa Papua và New Guinea có cơ quan hành chính hoàn toàn riêng biệt, nhưng cả hai đều do Australia kiểm soát. Chiến dịch New Guinea (1942-1945) là một trong những chiến dịch quân sự lớn thời Thế chiến II. Xấp xỉ 216,000 binh sĩ, thuỷ thủ và phi công Nhật, Australia và Mỹ đã chết trong Chiến dịch New Guinea. Hai vùng lãnh thổ đã được gộp vào trong Lãnh thổ Papua và New Guinea sau Thế chiến II, và sau đó được gọi đơn giản là "Papua New Guinea". Bộ máy hành chính của Papua được mở cho sự giám sát của Liên hiệp quốc. Tuy nhiên, một số vị thế đã tiếp tục (và đang tiếp tục) chỉ được áp dụng ở một vùng lãnh thổ. một vấn đề rất phức tạp ngày nay bởi sự điều chỉnh biên giới của Papua tại các tỉnh liền kề với sự chú tâm tới đường bộ tiếp cận và các nhóm ngôn ngữ, vì thế những vị thế được áp dụng ở một phía biên giới vốn đã không còn tồn tại nữa. Quá trình giành độc lập một cách hoà bình từ Australia, quyền lực đô thị trên thực tế, diễn ra ngày 16 tháng 9 năm 1975, và hai bên vẫn có quan hệ gần gũi (Australia vẫn là nhà cung cấp viện trợ song phương lớn nhất cho Papua New Guinea). Một cuộc nổi dậy ly khai diễn ra năm 1975-76 trên đảo Bougainville đã dẫn tới sự thay đổi kéo dài 11 giờ với bản thảo Hiến pháp Papua New Guinea để cho phép Bougainville và mười tám quận khác của Papua New Guinea thời tiền độc lập có vị thế trong liên bang như là các tỉnh. Cuộc nổi dậy lại diễn ra và làm thiệt mạng 20,000 người từ năm 1988 tới khi nó được giải quyết năm 1997. Sau cuộc nổi dậy, Bougainville tự trị đã bầu Joseph Kabui làm tổng thống, nhưng ông đã được vị phó là John Tabinaman kế vị. Tabinaman vẫn là lãnh đạo cho tới khi một cuộc bầu cử nhân dân mới diễn ra tháng 12 năm 2008, với James Tanis là người giành chiến thắng. Cuộc nổi dậy chống người Trung Quốc, có sự tham gia của hàng chục nghìn người, nổ ra tháng 5 năm 2009. == Chính trị == Papua New Guinea là một thành viên Khối thịnh vượng chung, và Nữ hoàng Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia. Theo thoả ước hiến pháp, chuẩn bị cho bản thảo hiến pháp, và được Australia, bên đã chấm dứt quyền quản lý mẫu quốc, hy vọng, Papua New Guinea sẽ lựa chọn việc duy trì liên kết của mình với chế độ quân chủ Anh. Tuy nhiên, những người sáng lập, cho rằng các nghi lễ hoàng gia có một dấu ấn khiến nhà nước mới độc lập sẽ không thể có được một hệ thống nghi lễ bản xứ - vì thế Chế độ quân chủ vẫn được giữ lại. Nữ hoàng được đại diện bởi Toàn quyền Papua New Guinea, hiện là Sir Paulias Matane. Papua New Guinea và Quần đảo Solomon là các quốc gia bất thường trong Khối thịnh vượng chung bởi các Toàn quyền của họ thực tế bởi nhánh lập pháp lựa chọn chứ không phải bởi hành pháp, như tại một số nền dân chủ nghị viện. Quyền hành pháp thực tế nằm trong tay Thủ tướng, người lãnh đạo nội các. Thủ tướng hiện nay là Sir Michael Somare. Nghị viện quốc gia đơn viện có 109 ghế, trong số đó 20 ghế thuộc các thống đốc của 19 tỉnh và Quận thủ đô quốc gia (NCD). Các ứng cử viên thành viên nghị viện được bầu khi thủ tướng kêu gọi một cuộc bầu cử quốc gia, tối đa 5 năm sau cuộc bầu cử quốc gia trước đó. Trong những năm đầu độc lập, sự bất ổn định của hệ thống đảng khiến những cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm thường xảy ra trong nghị viện khiến các chính phủ thường xuyên sụp đổ và lại cần tới các cuộc bầu cử quốc gia, theo các điều khoản của dân chủ nghị viện. Trong những năm gần đây, các chính phủ nối tiếp nhau đã thông qua điều luật ngăn chặn những cuộc bỏ phiếu đó được diễn ra sớm hơn 18 tháng từ cuộc bầu cử quốc gia. Điều này được cho là đã dẫn tới sự ổn định lớn hơn, dù có lẽ đã làm giảm tín nhiệm của nhánh hành pháp của chính phủ. Các cuộc bầu cử tại PNG thu hút rất nhiều ứng cử viên. Sau khi độc lập năm 1975, các thành viên được bầu theo hệ thống first past the post, với người thắng cuộc thường giành chưa tới 15% phiếu. Các cuộc cải cách bầu cử năm 2001 đưa ra hệ thống Bầu cử Ưu đãi Giới hạn (LPV), một phiên bản của Bỏ phiếu Lựa chọn. bầu cử toàn quốc năm 2007 là cuộc bầu cử đầu tiên sử dụng LPV. == Luật pháp == Nghị viện đơn viện ban hành pháp luật theo cùng cách như tại các hệ thống pháp lý khác có "nội các," "chính phủ chịu trách nhiệm," hay "nghị viện dân chủ": nó được nhánh hành pháp đề xuất với nhánh lập pháp, được tranh luận và, nếu được thông qua, sẽ trở thành luật khi nhận được sự đồng ý của hoàng gia thông qua Toàn quyền. Hầu hết luật pháp hiện thực tế là những quy định do phe quan liêu áp dụng theo luật trao quyền đã được Nghị viện thông qua từ trước. Mọi điều luật thông thường được Nghị viện ban hành phải tương thích với Hiến pháp. Các toà án có quyền phán xử về tình trạng hợp hiến của các điều luật, cả trong các cuộc tranh luận trước toà và về một sự tham khảo khi không có tranh cãi mà chỉ là một câu hỏi về sự khó hiểu của pháp luật. Khá bất thường trong số các nước đang phát triển, nhánh tư pháp của chính phủ tại Papua New Guinea vẫn khá độc lập, và những chính phủ hành pháp tiếp nối nhau vẫn tiếp tục tôn trọng quyền lực của nó. "Luật bên dưới" — có nghĩa là, luật phong tục của Papua New Guinea — gồm luật phong tục Astralia như nó bắt đầu có hiệu lực ngày 16 tháng 9 năm 1975 (ngày độc lập), và sau đó là các quyết định của các toà án của PNG. Các toà án hoạt động tuân theo Hiến pháp, và gần đây, Underlying Law Act, để có xem xét tới "phong tục" của các cộng đồng truyền thống, với một quan điểm để xác định xem các phong tục nào là chung cho toàn bộ đất nước và có thể được tuyên bố là một phần của luật bên dưới. Trên thực tế, điều này đã cho thấy rất khó khăn, và hầu như đã bị lờ đi. Các điều luận chủ yếu được phỏng theo luật của các quốc gia khác, nhất là Australia và Anh. Sự biện hộ trong các toà án giống với mẫu hình đối lập của các quốc gia luật phong tục khác. == Vùng, tỉnh và quận == Papua New Guinea được chia thành bốn vùng, mục tiêu phân chia chủ yếu không phải về quản lý hành chính mà khá quan trọng trong nhiều lĩnh vực khác như quản lý, thương mại, thể thao và các hoạt động khác. Quốc gia này có 20 khu vực phân chia có vị thế cấp tỉnh: 18 tỉnh, Vùng Tự trị Bougainville và Quận Thủ đô Quốc gia. Mỗi tỉnh được chia thành một hay nhiều quận, và chúng lại được chia thành một hay nhiều khu vực Quản lý Cấp Địa phương. Các tỉnh là các đơn vị hành chính cấp thứ nhất của quốc gia. Các chính quyền tỉnh là các chi nhánh của chính phủ quốc gia — Papua New Guinea không phải là một liên bang gồm các tỉnh. Các khu vực phân chia cấp tỉnh gồm như sau: Nghị viện đã thông qua việc thành lập hai tỉnh nữa vào năm 2012: Tỉnh Hela, sẽ gồm một phần của Tỉnh Cao nguyên phía Nam hiện tại, và Tỉnh Jiwaka, sẽ được thành lập bằng cách chia Tỉnh Cao nguyên phía Tây. == Địa lý == Với diện tích 462,840 km2, Papua New Guinea là nước rộng thứ 54 trên thế giới. Papua New Guinea chủ yếu là núi non (đỉnh cao nhất là Núi Wilhelm độ cao 4,509 m; 14,793 ft) và chủ yếu được bao phủ bởi những cánh rừng mưa nhiệt đới, cũng như những khu vực đất ướt rất rộng bao quanh các con sông Sepik và Fly. Papua New Guinea được bao quanh bởi các rặng san hô ngầm đang được quản lý chặt chẽ để bảo tồn. Nước này nằm trên Vành đai Núi lửa Thái Bình Dương, ở điểm va chạm của nhiều đĩa kiến tạo. Có một số núi lửa đang hoạt động, và những vụ phun trào thường xuyên xảy ra. Động đất cũng là điều thường thấy, thỉnh thoảng đi kèm với các trận sóng thần. Vùng lục địa của quốc gia là nửa phía đông của đảo New Guinea, nơi có các thị trấn lớn nhất, gồm cả thủ đô Port Moresby và Lae; các hòn đảo lớn khác của Papua New Guinea gồm New Ireland, New Britain, Manus và Bougainville. Papua New Guinea là một trong số ít khu vực gần xích đạo có tuyết rơi, xảy ra ở những nơi có độ cao lớn trong lục địa. == Sinh thái == Papua New Guinea là một phần của vùng sinh thái Australasia, gồm cả Australia, New Zealand, đông Indonesia, và nhiều nhóm đảo Thái Bình Dương, gồm cả Quần đảo Solomon và Vanuatu. Về địa lý, hòn đảo New Guinea là nhánh mở rộng phía bắc của đĩa kiến tạo Indo-Australian, hình thành một phần của một lục địa duy nhất Australia-New Guinea (cũng được gọi là Sahul hay Meganesia). Nó được nối với mảng Australia bởi một thềm lục địa nông qua Eo biển Torres, ở những thời cổ đại còn nổi lên như một cầu lục địa — đặc biệt trong những kỷ băng hà khi mực nước biển thấp hơn hiện tại. Vì thế, nhiều giống chim và thú có vú ở New Guinea có những quan hệ gene chặt chẽ với các giống loài tương tự ở Australia. Đặc trưng chung nhất của hai phía là sự tồn tại của nhiều loài động vật có vú có túi, gồm kangaroo và possum, không có ở bất kỳ nơi nào khác. Nhiều hòn đảo khác bên trong lãnh thổ PNG, gồm cả New Britain, New Ireland, Bougainville, Đảo Đô đốc, Đảo Trobriand, và Quần đảo Louisiade, chưa bao giờ được kết nối với New Guinea bằng những cầu lục địa, và chúng không có nhiều loài động vật có vú và những loài chim không bay được vốn thường thấy tại New Guinea và Australia. Australia và New Guinea là những phần của siêu lục địa cổ Gondwana, bắt đầu tan rã thành những lục địa nhỏ hơn ở thời kỳ Cretaceous, 65-130 triệu năm trước. Australia cuối cùng tách hoàn toàn khỏi Nam Cực khoảng 45 triệu năm trước. Toàn bộ các vùng đất của Australasia là nơi sinh sống của quần thực vật Nam Cực, có nguồn gốc từ quần thực vật của nam Gondwana, gồm cả podocarps họ tùng bách và các loài thông Araucaria, và sồi miền nam (Nothofagus) lá rộng. Những họ cây này vẫn hiện diện tại Papua New Guinea. Bởi đĩa kiến tạo Indo-Australian (gồm các lục địa Ấn Độ, Australia, và thềm Ấn Độ Dương ở giữa) trôi về phía bắc, nó va chạm với Đĩa Âu Á, và sự va chạm của hai đĩa đã đẩy lên dãy Himalayas, các đảo Indonesia và Rặng Trung tâm của New Guinea. Rặng Trung tâm trẻ và cao hơn các ngọn núi của Australia, cao tới mức nó có một số sông băng hiếm ở xích đạo. New Guinea là một phần của chí tuyến ẩm, và nhiều loài thực vật thuộc rừng mưa nhiệt đới Indomalaya, trải dài suốt các eo biển hẹp từ châu Á, pha trộn với hệ thực vật Australia và Antarctic cổ. === Các vùng sinh thái trên cạn === Papua New Guinea gồm một số vùng sinh thái trên cạn: Rừng nhiệt đới đất thấp Đảo Đô đốc Rừng mưa núi Rặng Trung tâm Rừng mưa núi Bán đảo Huon Rừng mưa Quần đảo Louisiade Rừng mưa đất thấp New Britain-New Ireland Rừng mưa núi New Britain-New Ireland Đước New Guinea Rừng đầm lầy nước ngọt và rừng mưa đất thấp Bắc New Guinea Rừng mưa núi Bắc New Guinea Rừng mưa Quần đảo Solomon (gồm Bougainville và Buka) Rừng mưa Đông Nam Papuan Rừng đầm lầy nước ngọt Nam New Guinea Rừng mưa đất thấp Nam New Guinea Rừng mưa Đảo Trobriand Đồng cỏ và savanna Xuyên Fly Đồng cỏ sub-alpine Rặng Trung tâm == Kinh tế == Papua New Guinea có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhưng việc khai thác gặp khó khăn vì điều kiện địa hình, chi phí cao cho việc phát triển hạ tầng, nhiều vấn đề nghiêm trọng về luật pháp và quy định, và hệ thống đứng tên đất đai khiến việc xác định các chủ sở hữu đất cho mục đích đàm phán thoả thuận khai thác khó khăn. Nông nghiệp là nguồn sống cho khoảng 85% dân số. Các trầm tích khoáng sản, gồm dầu mỏ, đồng, và vàng, chiếm 72% nguồn thu từ xuất khẩu. Nước này cũng có một ngành công nghiệp cà phê đáng chú ý. Cựu thủ tướng Sir Mekere Morauta đã tìm cách tái lập tính toàn thể của các định chế nhà nước, ổn định đồng tiền tệ kina, tái lập sự ổn định của ngân sách quốc gia, tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước thích hợp, và đảm bảo tình trạng hoà bình tại Bougainville sau thoả thuận năm 1997 chấm dứt tình trạng bất ổn đòi ly khai tại Bougainville. Chính phủ Morauta có những thành công đáng chú ý trong việc thu hút sự giúp đỡ của quốc tế, đặc biệt giành được sự ủng hộ của IMF và Ngân hàng Thế giới trong việc tìm kiếm các khoản cho vay hỗ trợ phát triển. Những thách thức lớn nhất phải đối mặt của Thủ tướng hiện nay, Sir Michael Somare, gồm tạo được lòng tin hơn nữa của nhà đầu tư, tiếp tục các nỗ lực tư nhân hoá tài sản chính phủ, và duy trì sự ủng hộ của các thành viên Nghị viện. Tháng 3 năm 2006 Hội đồng vì Chính sách Phát triển của Liên hiệp quốc đã kêu gọi chuyển Papua New Guinea từ danh sách quốc gia đang phát triển xuống danh sách quốc gia kém phát triển bởi tình trạng trì trệ kinh tế và xã hội kéo dài. Tuy nhiên, một cuộc đánh giá của Quỹ Tiền tệ Quốc tế vào cuối năm 2008 thấy rằng "một sự tổng hợp của các chính sách tiền tệ và thuế khoá thận trọng, và giá cả các mặt hàng khoáng sản xuất khẩu cao trên thế giới, đã củng cố cho tình trạng tăng trưởng kinh tế và ổn định vi mô gần đây của Papua New Guinea. Tăng trưởng GDP thực, ở mức hơn 6% năm 2007, có nền tảng vững và được trông đợi sẽ tiếp tục cao trong năm 2008." === Sở hữu đất đai === Chỉ khoảng 3% đất đai của Papua New Guinea nằm trong tay tư nhân; nó được giữ trong tay tư nhân theo luật Cho thuê Nhà nước 99 năm, hay nó thuộc Nhà nước. Rõ ràng không có quyền sở hữu toàn quyền; một số ít chủ sở hữu toàn quyền được tự động chuyển đổi sang Cho thuê Nhà nước khi chúng được chuyển giao giữa người bán và người mua. Đất đai không chuyển nhượng thuộc sở hữu phong thục bởi các chủ sở hữu truyền thống. Tình trạng chính thức của seisin thay đổi theo từng nền văn hoá. Nhiều tác gia cho rằng đất đai thuộc sở hữu cộng đồng của các dòng họ truyền thống; tuy nhiên, những cuộc nghiên cứu gần hơn thường cho thấy rằng những mảnh đất nhỏ nhất mà người sở hữu nó không thể chia nhỏ tiếp thuộc người đứng đầu một đại gia đình và các con cháu của họ, hay chỉ riêng các con cháu của họ nếu họ đã chết đi gần đây. Đây là một vấn đề tối quan trọng bởi một vấn đề phát triển kinh tế là xác định thành viên của các nhóm và chủ sở hữu đất đai theo phong tục. Những tranh cãi giữa các công ty khai mỏ và lâm nghiệp và các nhóm chủ sở hữu thường biến thành vấn đề liệu các công ty có tham gia vào mối quan hệ hợp đồng về việc sử dụng đất với chủ sở hữu thực sự không. Tài sản phong tục - thường là đất đai - không thể được phân chia bởi ý chí; nó chỉ có thể được thừa hưởng theo phong tục của người đã mất. == Nhân khẩu == Papua New Guinea là một trong những quốc gia hỗn tạp nhất thế giới. Có hàng trăm nhóm sắc tộc bản xứ tại Papua New Guinea, đa số thuộc nhóm được gọi là Papuans, tổ tiên của họ đã tới vùng New Guinea từ hàng chục nghìn năm trước. Nhiều bộ tộc Papuan tại các vùng xa xôi vẫn chỉ có tiếp xúc ban đầu với thế giới bên ngoài. Các nhóm khác là người Austronesian, tổ tiên của họ đã tới vùng này chưa tới bốn ngàn năm trước. Cũng có nhiều người từ các vùng khác của thế giới hiện sinh sống tại đây, gồm cả người Trung Quốc, người châu Âu, người Australia, người Phillippines, Polynesian và Micronesian. Ở thời điểm đầu độc lập năm 1975, có 40,000 người nước ngoài (chủ yếu là người Australia và người Trung Quốc) tại Papua New Guinea. Papua New Guinea có nhiều ngôn ngữ hơn bất kỳ một quốc gia nào khác, với hơn 820 ngôn ngữ bản địa, chiếm 12% tổng số ngôn ngữ của thế giới. Các ngôn ngữ bản địa được xếp hạng thành hai nhóm lớn: các ngôn ngữ Austronesian và phi Austronesian (hay các ngôn ngữ Papuan). Có ba ngôn ngữ chính thức tại Papua New Guinea. tiếng Anh là một ngôn ngữ chính thức và là ngôn ngữ của chính phủ và hệ thống giáo dục, nhưng không được sử dụng rộng rãi. Ngôn ngữ chung chủ yếu của đất nước là Tok Pisin (thường được gọi trong tiếng Anh là New Guinea Pidgin hay Melanesian Pidgin), nhiều cuộc tranh cãi trong Nghị viện, nhiều chiến dịch thông tin và quảng cáo, và mãi đến gần đây, một tờ báo quốc gia Wantok, được xuất bản bằng ngôn ngữ này. Nơi duy nhất Tok Pisin không có vị thế chủ chốt là vùng phía nam Papua, nơi người dân thường sử dụng ngôn ngữ chính thức thứ ba, Hiri Motu. Dù nằm trong vùng Papua, Port Moresby có dân số đa dạng và chủ yếu sử dụng Tok Pisin, và ở một mức độ nhỏ hơn là tiếng Anh, với Motu được dùng như ngôn ngữ bản xứ tại các làng lân cận. Với con số trung bình chỉ 7,000 người sử dụng trên mỗi ngôn ngữ, Papua New Guinea có sự đa dạng ngôn ngữ lớn hơn bất kỳ một quốc gia nào khác trên thế giới ngoại trừ Vanuatu. == Sức khoẻ == Chi tiêu công ở mức 3% GDP năm 2004, trong khi chi tiêu tư ở mức 0.6% GDP. PNG có tỷ lệ mắc HIV và AIDS cao nhất vùng Thái Bình Dương và là nước thứ tư tại vùng châu Á Thái Bình Dương đáp ứng tiêu chí để HIV/AIDS trở thanh bệnh dịch. Thiếu nhận thức về HIV/AIDS là một vấn đề lớn, đặc biệt tại các vùng nông thôn. Có 5 bác sĩ trên 100,000 dân vào đầu những năm 2000. Hệ thống chăm sóc sức khỏe được mở rộng trên toàn quốc bệnh nhân chỉ phải trả một khoản tiền nhỏ cho việc khám, chữa bệnh và thuốc men. Mỗi tỉnh đều có bệnh viện, nhưng thường thiếu thốn trang thiết bị y tế. Các phương thuốc và cách chữa bệnh dân gian được người dân sử dụng nhiều. Các căn bệnh như sốt rét, lao, sởi... còn khá phổ biến. == Tôn giáo == Các toà án và chính chính phủ thực hiện tán thành quyền theo hiến pháp về tự do ngôn luận, tư tưởng và tín ngưỡng, và không điều luật nào vi phạm vào những quyền đó từng được thông qua, dù Sir Arnold Amet, cựu Trưởng Công tố Papua New Guinea một người công khai ủng hộ Pentecostal Christianity, thường hối thúc cơ quan lập pháp và những định chế khác ngăn cản các hoạt động của Hồi giáo bên trong đất nước. Cuộc điều tra dân số năm 2000 cho thấy 96% nhân dân là thành viên của một Giáo hội Kitô giáo; tuy nhiên, nhiều công dân kết hợp niềm tin Kitô giáo của họ với một số hình thức tín ngưỡng bản xứ truyền thống. Các tỷ lệ phần trăm tín đồ từ cuộc điều tra như sau: Giáo hội Công giáo Rôma (27.0%) Giáo hội Lutheran Tin Lành Papua New Guinea (19.5%) Giáo hội Thống nhất (11.5%) Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm (10.0%) Phong trào Ngũ Tuần (8.6%) Phong trào Tin Lành (5.2%) Giáo hội Anh giáo Papua New Guinea (3.2%) Baptist (0.5%) Baha'i (0,3%) Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (0.4%) Nhân chứng Giê-hô-va (0.3%) Cứu thế quân (0.2%) Các phái Kitô giáo khác (8.0%) Các tôn giáo nhỏ như Đức tin Bahá'í (15,000 hay 0.3%), trong khi Hồi giáo tại Papua New Guinea chiếm xấp xỉ 1,000 tới 2,000 người hay khoảng 0.04%, (chủ yếu là người nước ngoài định cư có nguồn gốc châu Phi và Đông Nam Á nhưng một số người tại các thị trấn đã cải đạo). Các giáo hội phi Kitô giáo truyền thống và các nhóm tôn giáo phi Kitô giáo có hoạt động trên khắp đất nước. Hội đồng các Giáo hội Papua New Guinea đã nói rằng có cả các nhà truyền giáo của Hồi giáo và Khổng giáo hoạt động, và hoạt động truyền giáo từ nước ngoài nói chung khá mạnh. Các tôn giáo truyền thống, như Korowai, thường là vật linh. Một số thường có các yếu tố của sự thờ cúng tổ tiên, dù sự tổng quát bị hoài nghi bởi sự đặc biệt hỗn tạp của các xã hội Melanesian. Chiếm ưu thế trong các truyền thống bộ lạc là đức tin vào masalai, hay các linh hồn ma quỷ, được cho là "đầu độc" con người, gây ra thiên tai và cái chết, và việc thực hiện Puri Puri tại các cao nguyên. == Văn hoá == Ước tính có hơn một nghìn nhóm văn hoá khác nhau tại Papua New Guinea. Vì sự đa dạng này, nhiều phong cách thể hiện văn hoá đã xuất hiện; mỗi nhóm đã tạo ra các hình thức thể hiện riêng của mình trong nghệ thuật, nhảy múa, vũ khí, trang phục, ca hát, âm nhạc, kiến trúc và những thứ khác. Đa phần các nhóm văn hoá khác nhau đó sở hữu ngôn ngữ riêng. Người dân thường sống tại các làng theo kiểu tự cung tự cấp. Tại một số vùng người dân sắn bắn và hái lượm các loại thực vật hoang dã (như khoai lang) để phụ thêm vào bữa ăn. Những người có kỹ năng săn bắn, trồng cấy và đánh cá rất được tôn trọng. Trên sông Sepik, có truyền thống khắc gỗ, thường dưới hình thức cây cối hay động vật, thể hiện các tinh thần của tổ tiên. Vỏ sò không còn được dùng làm tiền tệ tại Papua New Guinea nữa, như tại một số khu vực khác — vỏ sò bị huỷ bỏ vị thế tiền tệ năm 1933. Tuy nhiên, di sản này vẫn hiện diện trong một số phong tục địa phương; trong một số nền văn hoá, để có được cô dâu, chú rể phải mang đến một số vỏ trai cạnh vàng như đồ dẫn cưới. Tại các cùng khác, đồ dẫn cưới được trả theo chiều dài của tiền vỏ sò, lợn, cassowaries hay tiền mặt; ở những nơi khác, đồ dẫn cưới không được sử dụng, và các cô dâu phải trả của hồi môn. Người dân tại các vùng cao nguyên có các lễ nghi địa phương nhiều màu sắc được gọi là "sing sings". Họ sơn mình và mặc lông chim, đeo ngọc trai và da thú để thể hiện tinh thần của các loài chim, cây hay núi non. Thỉnh thoảng một sự kiện quan trọng, như một trận đánh huyền thoại, được thể hiện tại buổi lễ âm nhạc đó. == Giáo dục == Hệ thống giáo dục phổ thông của Papua New Guinea gồm tiểu học 7 năm, trung học 3 năm và trung học cao (lớp 11 và 12). Trẻ em đến trường từ năm 7 tuổi. Tuy nhiên, việc đóng học phí ở tất cả các cấp đã khiến cho nhiều trẻ không thể đến trường và nhiều học sinh phải bỏ dở chương trình học. Những học sinh tốt nghiệp trung học sẽ được nhận học bổng của Nhà nước và vào học một trong hai viện đại học hoặc các trường kĩ thuật và sư phạm. Papua New Guinea có sáu viện đại học cùng một số định chế giáo dục cấp ba khác. Hai viện đại học có vị thế ngay từ khi thành lập là Đại học Papua New Guinea tại Quận Thủ đô Quốc gia, và Đại học Kỹ thuật Papua New Guinea ở bên ngoài Lae, tại Tỉnh Morobe. Bốn viện đại học khác trước kia là trường đại học, được thành lập gần đây sau khi được chính phủ công nhận. Chúng là Đại học Goroka ở Tỉnh cao nguyên phía Đông, Đại học Ngôi Lời (do Dòng Truyền giáo Ngôi Lời của Giáo hội Công giáo điều hành) tại Tỉnh Madang, Đại học Vudal ở Tỉnh Đông New Britain và Đại học Phục lâm Thái Bình Dương (do Giáo hội Phục lâm An thất nhật điều hành) ở Quận Thủ đô Quốc gia. == Thể thao == Thể thao là một phần quan trọng của văn hoá Papua New Guinean và rugby league là môn thể thao phổ biến nhất. Tại một quốc gia nơi các cộng đồng tác xa nhau và nhiều người sống với mức độ tồn tại tối thiểu, rugby đã được miêu tả như là một sự thay thế cho chiến tranh bộ lạc như một cách giải thích sự cuồng nhiệt của người dân địa phương với môn này (như một vấn đề của sống và chết). Nhiều người Papua New Guinea đã trở nên nổi tiếng khi đại diện cho quốc gia của mình hay chơi ở một giải chuyên nghiệp nước ngoài. Thậm chí các cầu thủ liên đoàn rugby Australia từng chơi ở giải (Australia) State of Origin, được cổ vũ mạnh mẽ hàng năm ở PNG, thuộc trong những người nổi tiếng nhất quốc gia này. State of Origin là sự kiện quan trọng trong năm của hầu hết người dân Papua New Guinea, dù sự cổ vũ nhiệt tình tới mức nhiều người đã thiệt mạng sau những cuộc đụng độ bạo lực khi cổ vũ cho đội của mình. Đội tuyển rugby quốc gia Papua New Guinea thường đấu với Đội tuyển rugby quốc gia Australia mỗi năm tại Port Moresby. Sức chứa giới hạn của sân vận động trong sự kiện này thường gây ra những vụ bạo loạn; các khán giả xung đột với cảnh sát chống bạo động trong trận đấu năm 2006. Hơn 50% dân số nam dưới 20 tuổi chơi rugby. Các môn thể thao chính khác tại Papua New Guinea là bóng đá, rugby union, Aussie rules và, ở đông Papua, cricket. == Vận tải == Vận tải tại Papua New Guinea bị hạn chế nhiều bởi địa hình núi non của nước này. Port Moresby không được kết nối bằng đường bộ với bất kỳ một thị trấn lớn khác nào, và nhiều làng ở xa xôi chỉ có thể được tiếp cận bằng máy bay hạng nhẹ hoặc đi bộ. Vì thế, giao thông đường không là hình thức giao thông quan trọng duy nhất. Papua New Guinea có 578 đường băng, đa số chúng chưa được trải nhựa. == Xem thêm == Hệ thống trao thưởng của Papua New Guinea Các nỗ lực bảo vệ đa dạng sinh thái tại Papua New Guinea Viễn thông Papua New Guinea Giáo dục Papua New Guinea Quan hệ nước ngoài Papua New Guinea Danh sách các phái bộ ngoại giao tại Papua New Guinea Danh sách nhân vật Papua New Guinea Các danh sách thành phố & thị trấn tại Papua New Guinea theo dân số Danh sách quận và các Khu vực Quản lý cấp Địa phương Papua New Guinea Quân đội Papua New Guinea Du lịch Papua New Guinea == Ghi chú == == Tham khảo == Swadling, Pamela (1996). Plumes from Paradise. Papua New Guinea National Museum. ISBN 9980-85-103-1. == Liên kết ngoài == Chính phủ Prime Minister of Papua New Guinea Chief of State and Cabinet Members General information Mục “Papua New Guinea” trên trang của CIA World Factbook. Papua New Guinea at UCB Libraries GovPubs Papua New Guinea tại DMOZ Wikimedia Atlas của Papua New Guinea, có một số bản đồ liên quan đến Papua New Guinea. Papua New Guinea Business Directory PNG Links & Search Languages of PNG PNG Government Website Links GoPNG Who's Who PNG News Media Links Blogs, Forums Etc Linkages Provincial Factsheet PNG Online Business Directory http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/cn_vakv/ Bản mẫu:Quốc gia và vùng lãnh thổ châu Đại Dương Bản mẫu:Đảo Papua New Guinea Bản mẫu:Nói tiếng Austronesian Bản mẫu:Quân chủ Bản mẫu:Quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Nam Á Bản mẫu:Quốc gia thuộc quần đảo Malay
trận denain.txt
Trận Denain là một trận đánh trong cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, diễn ra vào ngày 24 tháng 7 năm 1712 giữa quân đội Pháp và quân Đồng minh Áo-Hà Lan. Kết quả trận đánh này là một chiến thắng toàn diện của quân Pháp khi cánh phải do quân Hà Lan nắm giữ bị đánh sập, còn quân Áo của Tổng thống lĩnh Vương công Eugène xứ Savoie cũng bị ngăn chặn và phải rút lui. Là một thắng lợi dễ dàng và bất ngờ, chiến công của Thống chế Pháp là Claude de Villars tại Denain đã mang lại lợi thế lớn cho vua Pháp là Louis XIV trong cuộc chiến. Sau thất bại, Eugène phải bỏ vây Landrecies, trong khi kế hoạch tấn công Pháp của ông đã vị đổ vỡ. Trong khi sự rời bỏ của quân Anh đã khiến cho quân Hà Lan bị mất hứng khí và thất vọng, Eugène thua trận này là do hai đạo quân Liên minh bị chia rẽ (ông lại không có thời gian và chẳng thế nào ứng cứu được quân Hà Lan), và chiến công táo bạo này của Villars đã nêu bật hiệu quả của lưỡi lê trong chiến tranh thời đó. Vận động của Villars lừa địch và dẫn đến thắng lợi này cũng được xem là một trong những cuộc vận động sáng tạo nhất trong chiến tranh, trong khi đại thắng này cũng chứng tỏ tài đánh trận của ông vì ông đã xông pha giữa làn đạn cùng ba quân vào diệt địch. Với chiến thắng mang ý nghĩa trọng đại này, ông đã đánh bật và đập vỡ hoàn toàn quân Liên minh, cứu nguy cho nước Pháp và tái chiếm lại các pháo đài trong tay quân Liên minh. Trong khi Pháp Quốc vững tồn, đại thắng vẻ vang cũng khiến ông rửa hận cho thất bại trong trận Malplaquet vào năm 1709, và viên chỉ huy quân Hà Lan đã bị bắt sống trong đại bại. Quân Pháp thắng thế đã đe dọa nghiêm trọng đến nguồn tiếp tế của Eugène. Đây được coi là thắng lợi quyết định cuối cùng của ông nói riêng và của quân Pháp nói chung trong cuộc chiến tranh. Ngoài ra, thắng lợi này với tính chất quyết định của nó cũng tạo tiền đề cho quân Pháp tổng tấn công thắng lợi ở Hà Lan thuộc Tây Ban Nha cuộc chiến chấm dứt không lâu sau đó, bằng một nền hòa bình dễ dãi cho nước Pháp đã kiệt quệ, chứ không chỉ định đoạt cho sự hưng vong của Pháp Quốc. Không chỉ khép lại chiến dịch được khen là tột đỉnh vinh quang của Thống chế Villars, trận phá Đồng minh này là trận đánh cuối cùng và cũng là thắng lợi cuối cùng của Louis XIV. Ngoài ra, ý nghĩa to lớn của trận này cũng khiến cho nó được xem là chiến thắng lớn nhất của Villars, cũng như sự hồi đáp của ông đối với mệnh lệnh "quyết chiến" của Louis XIV ba tháng trước đó. == Bối cảnh == Ba tháng trước đại thắng ở Denain, vua Pháp là Louis XIV triệu Thống chế Claude de Villars vào cung điện Versailles, rồi phán: Villars liền tâu: Nhà vua nói: Thế rồi, Villars lên đường chinh chiến. Tổng thống lĩnh quân Áo là Eugene vượt qua sông Escaut với 10 vạn 5 nghìn quân và chuẩn bị tiến công 12 vạn quân Pháp của Villars. Không lâu sau đó, Eugene chiếm Denain, biến nơi này thành một cứ điểm và là căn cứ hậu cần của quân Đồng minh. Tuy nhiên, theo mật lệnh từ thủ đô Luân Đôn, quân Anh do Công tước Ormonde chỉ huy đã đột ngột triệt thoái và rời bỏ phe Liên minh, điều này khiến kế hoạch hành binh của Eugene phải ngừng lại giữa chừng. == Diễn biến == Quân Pháp đến đóng trại ở Đông Nam của Le Cateau thuộc Mazinghien. Sau khi trinh sát kĩ lưỡng các vị trí đóng quân của liên minh, Thống chế Villars quyết định tổ chức một cuộc tấn công bất ngờ vào Denain. Kị binh Pháp được điều đến chiếm giữ các đầu cầu vượt sông Selle chạy xuyên qua le Cateau theo hướng Bắc-Bắc-Tây và hợp lưu với sông Escaut đối diện với Denain. Trong buổi chiều một đội binh cũng chiếm giữ các cứ điểm ở nhà máy xay ngũ cốc tại Haspres, chặn luôn đường vượt sông ở đó. Đêm 23 tháng 7, quân Pháp kéo tới nơi đóng trại của Eugene tại Landrecies (ở Sambre, Đông-Bắc-Đông le Cateau) để nghi binh, vờ như sắp tấn công vào đây. Eugene cắn câu và vì vậy ông đã thuyên chuyển binh lực tăng cường cho mặt trận Landrecies, điều này khiến cánh phải của quân Đồng minh - lực lượng đồn trú Hà Lan ở Denain - do Bá tước Albemarle chỉ huy bị suy yếu. Vốn quân Hà Lan đã mất hứng khí nghiêm trọng do quân Anh từ bỏ Liên minh làm cho mọi kế hoạch của họ bị đổ vỡ. Tuy nhiên, vào sáng sớm hôm sau, Villars bí mật cho quân đi vòng qua cánh phải của quân Đồng minh và, dưới sự che chở của sông Selle, đã sắp xếp đại quân thành ba hàng dọc nhằm thẳng vào Denain. Vào lúc năm giờ sáng, Villars và các tướng sĩ của ông quyết định sẽ đánh vào Avesnes-le-Sec, chiếm lĩnh một cối xay gió ở đấy làm tiền đồn thuận lợi cho việc quan sát vùng chiến trường thấp phía trước mặt. Đến bảy giờ sáng, quân Pháp đã tiến tới Neuville-sur-Escaut và nhanh chóng chiếm lĩnh các đầu cầu vượt sông Escaut. Vào lúc tám giờ sáng, lực lượng liên quân tại Denain bất ngờ nhìn thấy một đạo quân Pháp khổng lồ ngay trước mặt mình. Hoảng hốt, Albermarle yêu cầu Eugene tăng viện nhưng Eugene lúc này vẫn chưa nhận thức được tình thế nguy hiểm của quân mình. Đến một giờ chiều, quân Pháp đã tiến tới sát đồn lũy của quân Liên minh tại Denain và bắt đầu công kích. Các mũi tiến công của quân Pháp, dẫn đầu bởi lực lượng công binh trang bị rìu trong tay, đã ào ạt xung phong giữa làn mưa đạn của kẻ địch, vượt qua các dãy rào và đánh chiếm các phòng tuyến của đối phương sau những trận ác chiến bằng lưỡi lê. Trước sức tấn công mãnh liệt của quân Pháp với Villars ở phía trước, quân Đồng minh tại Denain nhanh chóng rơi vào hoảng loạn và tháo chạy tứ tán. Một chiếc cầu gần cối xay gió do không chịu nổi sức nặng của vô số lính Đồng minh chạy qua nên đã bị sập, khiến hàng trăm binh sĩ rơi xuống sông chết đuối. Eugene xứ Savoie hay tin cánh phải bị tập kích bất ngờ đã điều binh sang cứu viện nhưng không thành công. Quân Pháp đóng giữ ở một chiếc cầu băng qua sông Escaut tại Prouvy do Vương công xứ Tingry chỉ huy đã chận đứng quân của Eugene, khiến ông không thể nào vượt sông để ứng cứu cho Albemarle. Quân Áo nhiều lần tấn công dữ dội nhưng các đợt tấn công của họ đều bị bẻ gãy. Cuối cùng, quân Pháp quyết định đặt mìn phá tung luôn cây cầu, thế là Eugene kẹt cứng bên bờ kia sông mà không qua được. Khi đạo quân của Eugene bị con sông Escaut chặn đường thì số phận của Denain coi như đã được định đoạt. Như là thắng lợi quyết định của đạo quân cuối cùng của phong kiến Pháp, đại bại này đã mang lại cái kết chẳng vinh quang gì cho cuộc tiến chiếm nước Pháp của quân Đồng minh vốn gây hoang mang khắp kinh thành Paris. Trong thảm họa, Albermarle đã bị quân Pháp bắt làm tù binh. Quân Pháp bắt được 40 Sư đoàn Đồng minh, chiếm được năm trọng điểm và thu được cả trăm cỗ pháo cùng với 40 vạn pao đạn dược - đó là lời đáp trả của Villars cho mệnh lệnh ban đầu của Louis XIV. Sau trận này, các chiến sĩ Kỵ binh Pháp xuống ngựa. Thống chế Villars đi dọc theo các tuyến quân trong hoan hỉ, và nói chuyện với các binh sĩ một Trung đoàn ở bên phải: "Đấy, hỡi binh lính, chúng ta đã đập tan giặc !" Một số sĩ tốt hô to: "Đức Vua vạn tuế !", và vung mũ ra giữa trời. Phần còn lại của tuyến quân chỉnh đốn lại và bắt đầu tung hô, vung mũ ra giữa trời và nổ súng, và quân Kỵ binh cũng tham gia ăn mừng với họ. Điều ấy làm cho các chiến mã hoảng sợ và chúng đã tháo chạy tán loạn. Sự cố này làm nhiều binh sĩ bị thương và nhiều quân nhu bị mất, mà nếu có 4 binh sĩ đứng trước chúng, thế nào những chiến mã ấy sẽ dẫn họ vào lòng quân địch. == Kết quả == Vậy là, Eugène đã thua trận do hai đạo quân Đồng minh bị phân rẽ (mà ông lại không có thời gian và chẳng thể nào cứu được quân Hà Lan), làm đổ vỡ kế hoạch tấn công Pháp của ông. Ban đầu, chưa ai nhận ra tầm quan trọng lớn của thắng lợi dễ dàng của quân Pháp trong trận Denain vì cánh quân của Eugène vẫn rút lui an toàn khỏi trận địa, bảo toàn được phần lớn lực lượng. Tuy nhiên, những gì diễn ra sau đó cho thấy quân Liên minh sau thất bại quyết định này đã bắt đầu sụp đổ và chỉ trong vòng mấy tháng sau đó, người Pháp đã chiếm lại được phần lớn các thành trì bị mất trước kia. Quân Pháp thắng thế đã đe dọa nghiêm trọng đến đường tiếp tế của Eugène, buộc ông phải triệt binh và bỏ vây Landrecies sau thất bại này. Qua đó, với chiến công của Villars, nước Pháp đã được giải cứu và củng cố vị thế của mình trong bối cảnh đó, quân Liên minh đã hoàn toàn bị đánh bật và tan rã và chiến dịch được ca ngợi là vinh quang tột đỉnh của ông (1712) đã khép lại ở đây. Eugène sau đại bại này đã căm tức người Anh, vì theo ông chính sự từ bỏ của họ đã mang lại chiến bại của liên quân. Ông cho là người Anh "xứng đáng bị treo cổ". Thực vậy, thất bại của quân Đồng minh ở trận Denain - sự bất thành của việc "tự lực cánh sinh" của vị Tổng thống lĩnh - chứng tỏ họ không thể nào tiếp tục chiến tranh sau khi người Anh không còn sát cánh với họ nữa. Chiến thắng Denain qua đó được xem là một thắng lợi bất ngờ mà có ý nghĩa trọng đại, quyết định đến một cuộc chiến tranh hoặc là sự hưng vong của một quốc gia. Cũng với chiến thắng vẻ vang phá Đồng minh ấy, Villars đã làm nên một trong những cuộc vận động sáng tạo nhất trong cuộc chiến, đánh lừa đối phương. Do ý nghĩa to lớn vầy, trận này được xem thắng lợi lớn nhất của vị Thống chế. Trong khi Pháp Quốc vững tồn, đại thắng này cũng khiến cho Villars rửa được cái mối hận chiến bại trong trận Malplaquet hồi năm 1709. Sau thắng lợi quyết định này, với lợi thế trong tay Louis XIV, người Pháp đã có thể tổng tấn công thắng lợi ở Hà Lan thuộc Tây Ban Nha và đàm phán một nền hòa bình dễ dãi cho họ. Trận này cũng chính là trận đánh cuối cùng và là thắng lợi cuối cùng của Louis XIV, và chiến công táo bạo ấy của Villars đã chứng tỏ hiệu quả của lưỡi lê trong can qua buổi ấy. Ngoài ra, đại thắng ấy cũng chứng tỏ tài đánh trận của Villars vì ông đã xông pha giữa làn đạn mà cùng ba quân vào diệt địch. == Chú thích == == Tham khảo == Nancy Mitford, Frederick the Great, Dutton, 30-11-1984. Thomas Raphael Phillips, Roots of Strategy: The 5 Greatest Military Classics of All Time, Stackpole Books, 1940. ISBN 0811721949. Chandler, David G. Marlborough as Military Commander. Spellmount Ltd, (2003). ISBN 1-86227-195-X Lynn, John A. The Wars of Louis XIV, 1667–1714. Longman, (1999). ISBN 0-582-05629-2 Linda Frey, Marsha Frey, The treaties of the War of the Spanish Succession: an historical and critical dictionary, Greenwood Publishing Group, 1995. ISBN 0313278849. Henry White, History of Great Britain and Ireland, Oliver and Boyd, 1849. James B. Collins, The State in Early Modern France, Cambridge University Press, 28-09-1995. ISBN 0521387248. Robert Cowley, Geoffrey Parker, The Reader's Companion to Military History, Houghton Mifflin Harcourt, 10-07-2001. ISBN 0618127429, Geoffrey Parker, The Cambridge History Of Warfare, Cambridge University Press, 29-08-2005. ISBN 0521853591. David J. Sturdy, Louis XIV, Palgrave Macmillan, 30-08-1998. ISBN 0312214286. Émile Saillens, Facts about France: brief answers to recurring questions, Librairie Hachette, 1918. George Savage, Seventeenth and eighteenth century French porcelain, Barrie & Rockliff, 1960. The Saturday Review of Politics, Literature, Science, Art, and Finance, Tập 10, Saturday Review, Limited, 1860. George Ripley, Charles Anderson Dana, The American cyclopaedia: a popular dictionary of general knowledge, Appleton, 1874. Dale Miquelon, New France, 1701-1744: a supplement to Europe, McClelland and Stewart, 1987. Charles Maurice Davies, History of Holland, from the beginning of the tenth to the end of the eighteenth century: By C. M. Davies..., J. W. Parker, 1844. Miss Pardoe (Julia), Louis the Fourteenth, and the court of France in the seventeenth century, Tập 6, J. Potts, 1905. Geoffrey Treasure, The making of modern Europe, 1648-1780, Routledge, 1985. ISBN 0415051363. John A. Lynn, The French Wars 1667-1714: The Sun King at War, Osprey Publishing, 18-09-2002. ISBN 1841763616. Ian Littlewood, The Rough Guide Chronicle France, Rough Guides, 26-11-2002. ISBN 1858288266. John Edgecombe Daniel, Journal of an officer in the commissariat department of the army: comprising a narrative of the campaigns under his Grace the Duke of Wellington, in Portugal, Spain, France, and the Netherlands, in the years 1811, 1812, 1813, 1814, & 1815: and a short account of the army of occupation in France, during the years 1816, 1817, & 1818, Printed for the author, by Porter and King, 1820. Hilaire Belloc, A shorter history of England, MacMillan, 1934. Sir Basil Henry Liddell Hart, Strategy: the indirect approach, Faber, 1967. J.E. Darras, A General History of the Catholic Church: from the commencement of the christian era until the present time..., O.Shea, 1865. René Chartrand, Francis Back, Louis Xiv's Army, Osprey Publishing, 24-11-1988. ISBN 0850458501. Leitch Ritchie, The romance of history: France, Tập 2, Harper, 1831. Anne Commire, Historic World Leaders: Europe (A-K), Gale Research Inc., 1994. ISBN 0810384108.
số chỉ nhịp.txt
Số chỉ nhịp (nhiều khi chỉ được gọi là nhịp, tiếng Anh: time signature, meter signature, metre signature, hoặc measure signature) là những ký hiệu quy ước được sử dụng để xác định có bao nhiêu phách trong mỗi ô nhịp và giá trị nốt nhạc nào được gán cho mỗi phách. == Chú thích ==
địa lý nhật bản.txt
Nhật Bản là một đảo quốc ở Đông Bắc Á. Các đảo Nhật Bản là một phần của dải núi ngầm trải dài từ Đông Nam Á tới Alaska. Nhật Bản có bờ biển dài 37.000 km, có đá lớn và nhiều vịnh nhỏ nhưng rất tốt và đẹp. Đồi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên cả nước, trong đó không ít núi là núi lửa, có một số đỉnh núi cao trên 3000 mét, hơn 532 ngọn núi cao hơn 2000 mét. Ngọn núi cao nhất là núi Phú Sĩ (Fujisan 富士山) cao 3776 mét. Giữa các núi là các cao nguyên và bồn địa. Nhật Bản có nhiều thác nước, suối, sông và hồ. Đặc biệt, ở Nhật Bản có rất nhiều suối nước nóng, là nơi hàng triệu người Nhật thường tới để nghỉ ngơi và chữa bệnh. Vì nằm ở tiếp xúc của một số đĩa lục địa, nên Nhật Bản hay có động đất gây nhiều thiệt hại. Động đất ngoài khơi đôi khi gây ra những cơn sóng thần. Vùng Hokkaido và các cao nguyên có khí hậu á hàn đới, các quần đảo ở phương Nam có khí hậu cận nhiệt đới, các nơi khác có khí hậu ôn đới. Mùa đông, áp cao lục địa từ Siberi thổi tới khiến cho nhiệt độ không khí xuống thấp; vùng Thái Bình Dương có hiện tượng foehn- gió khô và mạnh. Mùa hè, đôi khi nhiệt độ lên đến trên 30 độ C, các khu vực đô thị có thể lên đến gần 40độ C. Không khí mùa hè ở các bồn địa nóng và ẩm. Vùng ven Thái Bình Dương hàng năm chịu một số cơn bão lớn. Nhật Bản được chia làm 9 vùng địa lý lớn. == Vị trí == Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương, do bốn quần đảo độc lập hợp thành. Bốn quần đảo đó là: quần đảo Kuril (Nhật Bản gọi là quần đảo Chishima), quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, và quần đảo Izu-Ogasawara. Những quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản là Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc; ở vùng biển Đông Hải là Trung Quốc, Đài Loan; đi xa hơn về phía Nam là Philippines và quần đảo Bắc Mariana. Vì là một đảo quốc, nên xung quanh Nhật Bản toàn là biển. Nhật Bản không tiếp giáp quốc gia hãy lãnh thổ nào trên đất liền. Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên và bán đảo Sakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách các đảo chính của Nhật Bản vài chục km. Xét theo kinh độ và vĩ độ, các điểm cực của Nhật Bản như sau: Điểm cực Đông: 24°16′59″B 153°59′11″Đ. Điểm cực Tây: 24°26′58″B 122°56′1″Đ. Điểm cực Bắc: 45°33′21″B 148°45′14″Đ. Điểm cực Nam: 20°25′31″B 136°04′11″Đ. Trên biển, Nhật Bản có vùng đặc quyền kinh tế với đường viền danh nghĩa cách bờ biển 200 hải lý, song trên thực tế ở các vùng biển Nhật Bản và biển Đông Hải thì phạm vi hẹp hơn nhiều do đây là các biển chung. Tương tự, vùng lãnh hải của Nhật Bản không phải hoàn toàn có đường viền cách bờ biển 12 hải lý. Đường bờ biển của Nhật Bản có tổng chiều dài là 33.889 km. == Diện tích == Trên đất liền: 379067 km², rông thứ 62 trên thế giới. (Xem thêm Danh sách quốc gia theo diện tích) Lãnh hải: 3091 km². == Tự nhiên == Theo lý thuyết đĩa lục địa (plate tectonics), Nhật Bản nằm trên chỗ tiếp xúc giữa 4 đĩa lục địa là Á-Âu, Bắc Mỹ, Thái Bình Dương và biển Philippines. Các quần đảo của Nhật Bản hình thành do vài đợt vận động tạo núi và có từ cách đây lâu nhất là 2,4 triệu năm. Xét về mặt địa chất học, như vây là rất trẻ. Chính vì vậy, Nhật Bản có hai đặc trưng tự nhiên khiến cho nó nổi tiếng thế giới đó là nhiều núi lửa, lắm động đất. Mỗi năm Nhật Bản chịu vào khoảng 1000 trận động đất. Các hoạt động địa chấn này đặc biệt tập trung vào vùng Kanto, nơi có thủ đô Tokyo và người ta cho rằng cứ 60 năm Tokyo lại gặp một trận động đất khủng khiếp. Động đất với mức 7 hoặc 8 trong thang Richter đã từng xảy ra ở Nhật Bản. Động đất cấp 3, 4 xảy ra thường xuyên. Trận động đất xảy ra vào ngày 1 tháng 9 năm 1923, với cường độ 8,2 trên thang Richter, đã tàn phá phần lớn hai thành phố Tokyo và Yokohama. Động đất là mối đe dọa lớn nhất đối với Nhật Bản nên chính phủ Nhật mỗi năm đã phải bỏ ra hàng tỉ Yên Nhật để tìm kiếm một hệ thống báo động sớm về động đất, và khoa học địa chấn tại Nhật Bản được coi là tiến bộ nhất trên thế giới nhưng kết quả của các nghiên cứu và các dụng cụ báo động cho tới nay chưa được coi là đáng tin cậy. Nhật Bản có 186 núi lửa còn hoạt động trong đó có núi Phú Sĩ. Đi kèm với núi lửa là các suối nước nóng cũng có rất nhiều ở Nhật Bản. == Địa hình == Địa hình núi chiếm 73% diện tích tự nhiên của Nhật Bản. Giữa các núi có những bồn địa nhỏ, các cao nguyên và cụm cao nguyên. Số lượng sông suối nhiều, nhưng độ dài của sông không lớn. Ven biển có những bình nguyên nhỏ hẹp là nơi tập trung dân cư và các cơ sở kinh tế nhất là phía bờ Thái Bình Dương. Điểm cao nhất ở Nhật Bản là đỉnh núi Phú Sĩ, cao tuyệt đối 3776m. Điểm thấp nhất ở Nhật Bản là một hầm khai thác than đá ở Hachinohe, -135m. === Núi non === Nhật Bản có nhiều dãy núi lớn, nổi tiếng nhất là ba dãy núi thuộc Alps Nhật Bản. Các dãy núi phần nhiều là từ đáy biển đội lên và có hình cánh cung. Núi cao trên 3000m ở Nhật Bản có đến hơn một chục ngọn. Trên Alps Nhật Bản tập trung khá nhiều đỉnh có độ cao trên 2500m. Số núi lửa đang hoạt động có khoảng gần 200. Một số núi sau ở Nhật Bản cao từ 3000 hoặc hơn. Đó là các đỉnh núi: Núi Phú Sĩ (tiếng Nhật: 富士山, độ cao tuyệt đối: 3776m) Kitadake (北岳, 3193m) Hotakadake (穂高岳, 3190m) Ainodake (間ノ岳, 3189m) Yarigatadake (槍ヶ岳, 3180) Akaishidake (赤石岳, 3120m) Núi Ontake (御嶽山, 3067m) Shiomidake (塩見岳, Đỉnh phía Đông 3047m, Đỉnh phía Tây 3052m) Arakawadake (荒川岳, 3141m) Shenjougatake (仙丈ヶ岳, 3033m) Notoridake (農鳥岳, 3026m) Norikuradake (乗鞍岳, 3026m) Tateyama (立山, 3015m) Hijiridake (聖岳, 3013m) === Bình nguyên === Nhật Bản có gần 60 bình nguyên nằm ở ven biển (đồng bằng ven biển), nơi có sông đổ ra. Tổng diện tích các bình nguyên bằng khoảng 20% diện tích cả nước. Các bình nguyên nhìn chung đều hẹp. Bình nguyên lớn nhất là bình nguyên Kanto. === Bồn địa và cao nguyên === Nhật Bản có trên 60 bồn địa- những vùng đất trũng giữa các núi, và khoảng gần 40 cao nguyên và cụm cao nguyên (những cao nguyên liền kề nhau). === Sông hồ === ==== Sông ==== Các sông chính ở Nhật Bản từ Bắc xuống Nam là: Vùng Hokkaidō Ishikari (tiếng Nhật: 石狩川) - sông dài thứ ba Teshio (天塩川) Tokachi (十勝川) Chitose (千歳川) Bifue (美笛川) Okotanpe (オコタンペ川) Ninaru (ニナル川) Vùng Tohoku Mogami (最上川) Omono (雄物川) Yoneshiro (米代川) Iwaki (岩木川) Oirase (奥入瀬川) Mabechi (馬淵川) Kitakami (北上川) Abukuma (阿武隈川) Vùng Kanto Tone (利根川) - sông có lưu vực rộng nhất và đồng thời là sông dài thứ hai Arakawa (荒川) Tama (多摩川) Sagami (相模川) Vùng Chubu Sông chảy vào biển Nhật Bản: Agano (阿賀野川) Shinano (信濃川) hoặc Chikuma (千曲川) - sông dài nhất Nhật Bản Seki (関川) Hime (姫川) Kurobe (黒部川) Jōganji (常願寺川) Jinzū (神通川) Shō (庄川) Oyabe (小矢部川) Tedori (手取川) Kuzuryū (九頭竜川) Sông đổ ra Thái Bình Dương: Fuji (富士川) Abe (安倍川) Ōi (大井川) Tenryū (天竜川) Toyokawa (豊川) Yahagi (矢作川) Shōnai (庄内川) Kiso (木曽川) Nagara (長良川) Ibi (揖斐川) Vùng Kansai Yodo (淀川), Seta (瀬田川) hoặc Uji (宇治川) Yamato (大和川) Kinokawa (紀ノ川) Mukogawa (武庫川) Vùng Chugoku Sendai (千代川) Gōnokawa (江の川) Takahashi (高梁川) Ōta (太田川) Vùng Shikoku Yoshino (吉野川) Shimanto (四万十川) Vùng Kyushu Chikugo (筑後川) Kuma (球磨川) ==== Hồ ==== Sau đây là danh sách một số hồ lớn nhất ở Nhật Bản xếp theo diện tích từ lớn xuống nhỏ. (Đây chưa phải là danh sách đầy đủ toàn bộ hồ ở Nhật Bản) == Biển và bờ biển == Xung quanh Nhật Bản là một loạt các biển thông nhau. Phía Đông và phía Nam là Thái Bình Dương. Phía Tây Bắc là biển Nhật Bản. Phía Tây là biển Đông Hải. Phía Đông Bắc là biển Okhotsk. Vùng biển xung quanh các quần đảo Izu, Ogasawara, Nansei của Nhật Bản chính là biển Philippines theo cách gọi của thế giới, song các văn kiện của chính phủ Nhật Bản vẫn chỉ gọi đó là Thái Bình Dương. Vùng biển nằm giữa Honshu và Shikoku gọi là biển Seito Naikai. Từ phía Nam, Nhật Bản có hải lưu Kuroshio chảy qua. Từ phía Bắc xuống có hải lưu Oyashio. Nhật Bản có bờ biển dài với nhiều loại địa hình. Bờ biển Sanriku, Shima, Wakasa, Seto Naikai, Tây Kyushu nhiều chỗ ăn sâu vào đất liền và có nhiều cửa sông. Trong khi đó bờ biển Hokkaido, Shimokitahonto, Kashimanada, Enshunada, và bờ biển Nhật Bản lại ít thay đổi, có nhiều bãi cát và cồn cát. == Khí hậu == Do địa thế và lãnh thổ trải dài 25 độ vĩ tuyến, khí hậu của Nhật Bản cũng phức tạp. Tại miền bắc của đảo Hokkaido, mùa hè ngắn nhất, mùa đông dài với tuyết rơi nhiều; trong khi đó, đảo Ryukyu (Lưu Cầu) có khí hậu bán nhiệt đới; và do ở gần lục địa châu Á, Nhật Bản cũng chịu các ảnh hưởng thời tiết của lục địa này. Vào mùa đông từ tháng 12 tới tháng 2, gió lạnh và khô của miền Siberia thổi về hướng Nhật Bản, đã gặp không khí ẩm và nóng của Thái Bình Dương, tạo ra các trận tuyết lớn trên các phần đất phía tây. Miền đông của Nhật Bản ít bị tuyết hơn nhưng cũng rất lạnh. Vào tháng giêng, thành phố Tokyo lạnh hơn thành phố Reykjavik của Iceland nhưng tuyết rơi ít hơn. Phía nam của đảo Kyushu và các đảo Nansei vào mùa đông ít lạnh hơn, đây là nơi mùa xuân tới trước tiên với hoa Anh Đào, một sự kiện rất quan trọng đối với người Nhật Bản. Vào cuối tháng 3, hoa Anh Đào bắt đầu nở trên đảo Kyushu và nở dần lên tới phía bắc của đảo Hokkaido vào tuần lễ thứ hai của tháng 5. Mùa hoa Anh Đào là mùa tốt đẹp nhất để du khách viếng thăm Nhật Bản. Sau khi hoa đã tàn là các trận mưa thất thường trước khi mùa mưa (tsuyu) đến và kéo dài trong hai tháng. Mùa hè tại Nhật Bản bắt đầu từ tháng 6 tới tháng 8 với các luồng khí từ Thái Bình Dương thổi tới, làm cho phần lớn lãnh thổ Nhật Bản nóng và ẩm. Đầu mùa hè cũng có các trận mưa, bắt đầu từ miền nam và lâu vài tuần lễ rồi chuyển dần lên mạn bắc. Độ nóng của mùa hè cao nhất vào tháng 8 với thời tiết ngột ngạt, rất khó chịu, khiến cho nhiều người trốn sức nóng mà chạy lên miền núi mát mẻ hơn. Vào cuối mùa hè, Nhật Bản gặp khoảng 3 tới 4 trận cuồng phong lớn vào tháng 9 và các trận nhỏ vào tháng 8. Tại miền nam và tại miền bờ biển Thái Bình Dương, nhiều trận gió mạnh làm đổ nhà cửa, lật úp tàu thuyền. Nhật Bản còn chịu ảnh hưởng của gió mùa, chịu các trận sóng thần (tsunami) do các vụ động đất ngầm dưới đáy biển. Tới tháng 10 và tháng 11, thời tiết trở nên dịu đi, lá cây bắt đầu đổi màu, đây cũng là thời gian tốt đẹp cho khách du lịch. Mùa hè và mùa đông tại Nhật Bản là hai thái cực trong khi mùa xuân và mùa thu có thời tiết tương đối dịu hơn, với ít mưa và các ngày quang đãng. Thủ đô Tokyo của Nhật Bản nằm trên cùng vĩ độ với các thành phố Athena của Hy Lạp, Tehran của Iran và Los Angeles của Hoa Kỳ. Vào mùa đông tại Tokyo, trời lạnh vừa với độ ẩm thấp và đôi khi có tuyết, trái với mùa hè có nhiệt độ và độ ẩm cao. == Động vật, thực vật và tài nguyên == Các hải đảo Nhật Bản trải dài 25 vĩ độ vì thế đất nước này có nhiều loại thực vật và động vật. Tại nhóm hải đảo Ryukyu và Ogasawara ở về phía nam, thời tiết thuộc loại bán nhiệt đới nên động vật và thực vật giống như của bán đảo Mã Lai; trong khi tại phần đất chính của Nhật Bản hay tại các đảo Honshu, Kyushu và Shikoku, thời tiết giống như Trung Hoa và Triều Tiên; còn miền trung và miền bắc của đảo Hokkaido có khí hậu gần cực, rất lạnh nên có nhiều rừng thông loại lá lớn. Thực vật và động vật tại Nhật Bản qua nhiều thế kỷ đã bị ảnh hưởng do sự du nhập từ các quốc gia khác. Trong thời kỳ Minh Trị (Meiji 明治, 1858-1912), đã có từ 200 tới 500 loại cây được đưa vào Nhật Bản, phần lớn từ châu Âu rồi về sau này từ Hoa Kỳ. Ngày nay do nạn phá rừng và mở mang các thành phố, rừng cây của Nhật Bản đã bị ảnh hưởng xấu, thêm vào là sự ô nhiễm và các trận mưa axít. Nhật Bản vào thời cổ xưa đã được nối với châu Á nhờ thế đã có các thú vật di cư từ Triều Tiên và Trung Hoa qua. Nhật Bản có các loại thú đặc biệt, chẳng hạn như loài gấu nâu (higuma 羆) của đảo Hokkaido cao tới 2 mét và nặng 400 kilôgam và loài gấu nâu châu Á (tsukinowaguma ツキノワグマ) nhỏ hơn, cao tới 1,4 mét và nặng 200 kilôgam. Một giống thú đặc biệt khác là loài khỉ cỡ trung bình, cao khoảng 60 phân và có đuôi ngắn, thường thấy trên các đảo Honshu, Shikoku và Kyushu. Nhật Bản là quốc gia có rất ít tài nguyên thiên nhiên. Trên các đảo Hokkaido và Kyushu có các mỏ than và kỹ nghệ khai mỏ lên tới cực điểm vào năm 1941, ngày nay hầu như các hầm mỏ này không hoạt động. Tất cả khoáng sản khác, kể cả dầu thô, đều phải nhập cảng từ nước ngoài. Tại Nhật Bản, cây rừng cũng là một nguồn tài nguyên. Gỗ được dùng cho kỹ nghệ xây nhà và làm giấy nhưng việc sản xuất nội địa đã giảm hẳn vì Nhật Bản ưa nhập cảng loại gỗ rẻ tiền hơn từ các quốc gia nhiệt đới thuộc vùng Đông Nam Á. Một tài nguyên khác của Nhật Bản là cá biển. Nhật Bản có các hạm đội tàu đánh cá rất lớn, hoạt động trong các hải phận quốc tế. Nhật Bản cũng khai thác mạnh ngành du lịch với các khách sạn, các sân golf và loại kỹ nghệ này càng bành trướng, lại càng làm ô nhiễm môi trường sống trong khi người dân Nhật vẫn quý trọng thiên nhiên. Do sự phát triển đô thị, do các loại kĩ nghệ và việc bành trướng du lịch, môi trường sống của một số sinh vật đã bị ảnh hưởng xấu. Loại hạc (tancho タンチョウ) rất đẹp của hòn đảo Hokkaido đã từng làm đề tài cho các bức danh họa nhiều thế kỷ trước, nay đã bị tuyệt chủng. Sự ô nhiễm các dòng sông đã làm chết đi các loại cá chép và cá hồi. Loại gấu màu nâu cũng biến đi dần. Loại khỉ macaca chỉ còn thấy tại khu vực Nagano. Các khu giải trí dưới mặt nước cũng làm hư hỏng các vùng biển san hô thiên nhiên. Để bảo vệ môi trường thiên nhiên, Nhật Bản có 28 công viên quốc gia (kokuritsu koen 国立公園) và 55 công viên bán công (kokutei koen 国定公園) với công viên Iriomote tại phía cực nam và công viên Sarobetsu ở mỏm cực bắc của hòn đảo Hokkaido. Các công viên quốc gia được quản trị trực tiếp và các công viên bán công được cai quản gián tiếp bởi Cơ quan Môi trường thuộc Văn phòng Thủ tướng. Miền phía bắc đảo Honshu và đảo Hokkaido là hai nơi thưa dân, nên có nhiều công viên quốc gia lớn trong khi công viên lớn nhất là Công viên Quốc gia Nội Hải (Seto Naikai Kokuritsu Koen 瀬戸内海国立公園) trải dài 400 kilômét từ đông sang tây, nơi rộng nhất 70 kilômét và bao gồm hơn 1000 đảo nhỏ. == Các vùng địa lý của Nhật Bản == Nhật Bản được chia làm chín vùng địa lý, gồm: Hokkaido, Tohoku, Kanto, Chubu, Kinki, Chugoku, Shikoku, Kyushu và Ryukyu. == Xem thêm == Nhật Bản Lịch sử Nhật Bản Nhật hoàng Văn hóa Nhật Bản Chính quyền địa phương ở Nhật Bản Tỉnh Nhật Bản Kinh tế Nhật Bản == Tham khảo ==
tượng đài quốc gia (hoa kỳ).txt
Một Tượng đài Quốc gia (tiếng Anh: National Monument) tại Hoa Kỳ là một khu vực được bảo vệ tương tự như một Vườn quốc gia, ngoại trừ là Tổng thống Hoa Kỳ có thể nhanh chóng công bố một khu vực nào đó của Hoa Kỳ là một Tượng đài Quốc gia mà không cần có sự chấp thuận của Quốc hội Hoa Kỳ. Các tượng đài quốc gia nhận được ít kinh phí hơn và đời sống hoang dã của nó cũng ít được bảo vệ hơn so với các vườn quốc gia. Tuy nhiên, các khu vực nằm bên trong và mở rộng ra bên ngoài các vườn quốc gia, các tượng đài quốc gia và các khu rừng quốc gia có thể là một phần của những khu hoang dã. Những khu hoang dã như thế có một cấp độ bảo vệ thậm chí cao hơn so với một vườn quốc gia đơn độc cho dù các khu hoang dã được Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ và Cục Quản lý Đất Hoa Kỳ quản lý thường cho phép săn bắn. Các tượng đài quốc gia có thể được một trong các cơ quan liên bang sau đây quản lý: Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ, Cục Kiểm lâm Hoa Kỳ, Cục Hoang dã và Cá Hoa Kỳ, hay Cục Quản lý Đất Hoa Kỳ. Quyền lực lập nên các tượng đài quốc gia có được là nhờ Đạo luật Antiquities năm 1906. Tổng thống Theodore Roosevelt sử dụng đạo luật này để tuyên bố tượng đài quốc gia đầu tiên tại Hoa Kỳ là Tượng đài Quốc gia Devils Tower tại Wyoming. Ông nghĩ rằng Quốc hội Hoa Kỳ phản ứng quá chậm chạp và tượng đài này có thể bị hư hại theo thời gian trước khi Quốc hội chấp thuận biến khu vực tượng đài này thành một công viên quốc gia. == Lịch sử == Đạo luật Antiquities năm 1906 là kết quả của những điều quan ngại về việc bảo vệ phần lớn các phế tích và những đồ vật khảo cổ của người bản thổ Mỹ thời tiền sử (được gọi tên chung là "antiquities" có nghĩa là đồ cổ) trên đất liên bang tại miền Tây Hoa Kỳ. Đạo luật cho phép cấp giấy phép cho các cuộc điều tra khảo cổ học hợp pháp và định mức xử phạt đối với các cá nhân chiếm dụng hay phá hủy các đồ vật cổ mà không xin phép. Đạo luật cũng cho phép các tổng thống tuyên bố "các danh lam lịch sử, các công trình xây dựng lịch sử và tiền sử, và các vật thể khác mang tính chất lịch sử hay có ý nghĩa đối với khoa học" thành các tượng đài quốc gia. Nó cũng cho phép tổng thống tuyên bố "khu vực giới hạn mà theo đó trong mọi trường hợp, tượng đài phải được thu gọn vào trong một khu đất nhỏ nhất tương xứng với sự chăm sóc và quản lý thích đáng đối với các mẫu vật cần được bảo vệ bên trong đó." Như vậy các tượng đài quốc gia ban đầu được tuyên bố với mục đích là để bảo vệ các sắc thái văn hóa tiền sử hay các cổ vật và thường thì các tượng đài này nhỏ. Tuy nhiên, văn từ trong đạo luật có nói đến "các vật thể...có ý nghĩa đối với khoa học" đã giúp cho Tổng thống Theodore Roosevelt lấy cả một khối địa chất tự nhiên là Devils Tower (nghĩa là tháp quỷ) ở tiểu bang Wyoming làm tượng đài quốc gia đầu tiên ba tháng sau đó. Trong số 3 tượng đài kế tiếp mà ông tuyên bố vào năm 1906 là Rừng Petrified tại Arizona, cũng là một khối địa chất tự nhiên khác (Quốc hội Hoa Kỳ sau đó biến nó thành một công viên quốc gia). Sự trông mong rằng các tượng đài quốc gia là nhỏ nhắn chẳng bao lâu không còn ý nghĩa nữa. Năm 1908, Roosevelt một lần nữa đã dùng đạo luật để tuyên bố hơn 800.000 mẫu Anh (3.200 km²) của Grand Canyon thành một tượng đài quốc gia, đây là một "vật thể có ý nghĩa đối với khoa học" rất to lớn. Năm 1918, Tổng thống Woodrow Wilson tuyên bố Tượng đài Quốc gia Katmai tại Alaska là khu vực rộng hơn 1 triệu mẫu Anh (4.000 km²). Katmai sau đó được mở rộng gần 2,8 triệu mẫu Anh (11.000 km²) theo sau những tuyên bố sau đó dựa theo đạo luật Antiquities và trong nhiều năm trời nó là đơn vị lớn nhất trong hệ thống công viên quốc gia tại Hoa Kỳ. Rừng Petrified, Grand Canyon, và Katmai nằm trong số nhiều tượng đài quốc gia sau này được Quốc hội Hoa Kỳ chuyển đổi thành các công viên quốc gia. Không có bất cứ sự chống đối đáng kể nào từ Quốc hội đối với việc nới rộng sử dụng Đạo luật Antiquities tại Arizona và Alaska - có lẽ một phần vì Arizona và Alaska khi đó vẫn là các lãnh thổ chưa có đại diện tại Quốc hội Hoa Kỳ. Không có phản đối lớn nào xảy ra cho đến năm 1943, khi Tổng thống Franklin D. Roosevelt tuyên bố Tượng đài Quốc gia Jackson Hole tại Wyoming. Ông làm vậy để tiếp nhận đất mà John D. Rockefeller, Jr. đã mua và hiến tặng cho liên bang rồi đưa vào Công viên Quốc gia Grand Teton sau khi Quốc hội từ chối cho phép mở rộng công viên này. Lời tuyên bố của Roosevelt đã gây ra một trận cuồng phong chỉ trích ông trong việc sử dụng Đạo luật Antiquities để qua mặt Quốc hội. Một đạo luật hủy bỏ Tượng đài Quốc gia Jackson Hole được Quốc hội thông qua nhưng bị Roosevelt phủ quyết. Các cuộc đối đầu tại tòa án và quốc hội về quyền tuyên bố của tổng thống được mang ra tranh cãi. Năm 1950, Quốc hội cuối cùng hợp nhất phần lớn khu vực tượng đài này vào Công viên Quốc gia Grand Teton nhưng đạo luật hợp nhất này cũng nghiên cấm việc sử dụng quyền tuyên bố của tổng thống trong tương lai tại Wyoming. Từ năm 1943, quyền tuyên bố tượng đài của tổng thống được sử dụng rất tằn tiện, và ít khi sử dụng nếu không có sự hỗ trợ và hội ý với Quốc hội. Năm 1949, chẳng hạn, Tổng thống Harry S. Truman tuyên bố Tượng đài Quốc gia Effigy Mounds để nhận đất hiến từ tiểu bang Iowa theo lời yêu cầu của đoàn đại biểu của tiểu bang Iowa. Trong những lần hiếm hoi thế, Quốc hội lại trả đũa khi quyền tuyên bố được sử dụng có vẽ như muốn thách thức ý kiến địa phương và quốc hội. Ngay trước khi ông rời chức tổng thống năm 1961, Tổng thống Dwight D. Eisenhower tuyên bố Tượng đài Quốc gia Kênh Chesapeake và Ohio sau khi Quốc hội từ chối có động thái đối với luật công viên lịch sử quốc gia có liên hệ. Chủ tịch Ủy ban Đối nội Hạ viện là Wayne Aspinall từ tiểu bang Colorado phản ứng bằng cách ngăn chặn không đưa các đạo luật sau này có liên quan đến Công viên Kênh Chesapeake và Ohio ra bàn thảo cho đến cuối thập niên đó. Việc sử dụng nổi bật nhất quyền tuyên bố đã xảy ra vào năm 1978 khi Tổng thống Jimmy Carter tuyên bố 15 tượng đài quốc gia mới tại tiểu bang Alaska sau khi Quốc hội Congress hoản họp mà không thông qua một đạo luật đất đai chính yếu của Alaska vì bị phản đối mạnh mẽ tại tiểu bang đó. Quốc hội thông qua một phiên bản tu chính của đạo luật vào năm 1980 để hợp nhất phần lớn các tượng đài quốc gia này vào các khu bảo tồn và công viên quốc gia. Ngoài ra đạo luật cũng còn tước đi việc sử dụng thêm nữa quyền tuyên bố của tổng thống tại Alaska. Quyền tuyên bố của tổng thống không còn được sử dụng nữa tại bất cứ nơi đâu cho đến năm năm 1996 khi Tổng thống Bill Clinton tuyên bố Tượng đài Quốc gia Grand Staircase-Escalante tại Utah. Hành động này không được rộng rải dân chúng tại Utah chấp nhận, và các đạo luật đã được đưa ra nhằm hạn chế hơn nữa việc sử dụng quyền tuyên bố của tổng thống. Cho đến nay, không có đạo luật hạn chế nào được thi hành. Đa số 16 tượng đài quốc gia, do Tổng thống Clinton tuyên bố, được quản lý không chỉ bởi Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ mà còn có Cục Quản lý Đất đai Hoa Kỳ như là một phần của Hệ thống Bảo tồn Phong cảnh Quốc gia Hoa Kỳ. Các tượng đài mới do Cục Công viên Quốc gia quản lý là Tượng đài Quốc gia Governors Island, Tượng đài Quốc gia Virgin Islands Coral Reef, và, trước kia, Tượng đài Quốc gia Minidoka Internment (từ năm 2008 trở thành Địa danh Lịch sử Quốc gia Minidoka). George W. Bush tuyên bố hai tượng rất đài rất khác nhau vào năm 2006, kỷ niệm 100 năm Đạo luật Antiquities. Tượng đài Quốc gia African Burial Ground là một khu khảo cổ rất nhỏ trong Thành phố New York. Tượng đài Quốc gia Quần đảo Tây Bắc Hawaii bảo vệ khoảng chừng 140.000 dặm vuông (360.000 km²) trong Thái Bình Dương, lớn hơn tất cả các công viên quốc gia của Mỹ cộng lại (nó được đổi tên thành Tượng đài Quốc gia Papahānaumokuākea Marine vào năm 2007). Các tổng thống Hoa Kỳ đã sử dụng quyền tuyên bố của Đạo luật Antiquities không chỉ nhằm tạo thêm các tượng đài quốc gia mới mà còn để mở rộng những tượng đài đang có. Chẳng hạn như Tổng thống Franklin D. Roosevelt mở rộng đáng kể Tượng đài Quốc gia Dinosaur năm 1938, Tổng thống Lyndon B. Johnson đưa Đảo Ellis vào trong Tượng đài Quốc gia Tượng Nữ thần Tự do năm 1965, và Tổng thống Jimmy Carter đưa thêm nhiều phần đất lớn vào trong các tượng đài quốc gia Glacier Bay và Katmai năm 1978. Tháng 1 năm 2009, Tổng thống George W. Bush sử dụng Đạo luật Antiquities để tạo ra Tượng đài Quốc gia Mariana Trench Marine, Tượng đài Quốc gia Pacific Remote Islands Marine, và Tượng đài Quốc gia Rose Atoll Marine. == Danh sách các tượng đài quốc gia Hoa Kỳ == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == National Monument Proclamations under the Antiquities Act (public domain text) Congressional Research Service (CRS) Reports regarding National Monuments
cúp bóng đá thành phố hồ chí minh.txt
Cúp bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh là giải bóng đá quốc tế hàng năm do Liên đoàn bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Liên đoàn bóng đá Việt Nam tổ chức trên Sân vận động Thống Nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh. Từ 1999 đến 2005, Công ty Điện tử LG tài trợ cho giải và Cúp bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh mang tên Cúp LG. Năm 2006, giải mang tên Cúp Bách Việt 2006 hay BV Cup. Năm 2008, giải đấu có hai nhà tài trợ nên giải đấu mang tên Cúp SJC-Eximbank. Năm 2009, giải lại mang tên mới Cúp SJC. Năm 2011, là năm cuối cùng giải đấu này được tổ chức với tên gọi Cúp Eximbank. Ra đời năm 1995, giải có sự tham dự của các đội bóng quốc tế từ khu vực và châu lục. Lần lượt các năm 2001 và 2005, Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á (AFF) và Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) đã công nhận Cúp bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh là một giải đấu chính thức của khu vực Đông Nam Á và châu Á. == Các đội tham dự == 1995: Việt Nam, Tuyển TP. Hồ Chí Minh, Tuyển Miền Tây, Tuyển Hà Nội, Singapore, KookminBank. 1996-1998: không tổ chức 1999: Tuyển TP. Hồ Chí Minh, Tuyển Đồng bằng sông Cửu Long, Campuchia, Tiên Phong Hoàn Đảo. 2000: Việt Nam, Tuyển TP. Hồ Chí Minh, Đại học Korea, Parramatta Power, Sri Lanka, Yunnan Hongta 2001: Tuyển TP. Hồ Chí Minh, Sông Lam Nghệ An, Đại học Kyun Hee, Olympic Malaysia, Melbourne Knights, PSM Makassar 2002: Việt Nam, Olympic Việt Nam, Olympic Ấn Độ, Petrokimia Club, Olympic Singapore, U20 Thái Lan 2003: U23 Việt Nam, Tuyển TP. Hồ Chí Minh, KookminBank, Pra PON Papua, Olympic Singapore, U21 Thái Lan 2004: Ấn Độ, Myanmar, Sinh viên Hàn Quốc, Malaysia, Việt Nam và Tuyển TP. Hồ Chí Minh [1] 2005: U23 Việt Nam, U23 Bulgaria, U21 Syria và Tuyển Sinh viên Hàn Quốc. 2006: Olympic Việt Nam, Olympic Cameroon, Olympic Indonesia, Olympic Phần Lan. 2008: Việt Nam, Myanmar, Sinh viên Hàn Quốc, Turkmenistan. 2009: Việt Nam, Singapore, Sinh viên Hàn Quốc, Turkmenistan. 2010: Olympic Việt Nam, Olympic Iran, Olympic Malaysia, Olympic Singapore 2011: U-23 Việt Nam, Sinh viên Hàn Quốc, U-17 Học viện Aspire, U-23 Singapore == Các đội đoạt huy chương == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ Liên đoàn bóng đá TP. Hồ Chí Minh LG Cup 2002 Cúp bóng đá Bách Việt 2006 trên trang chủ của Liên đoàn bóng đá Việt Nam.
bò rừng bison.txt
Bò rừng bison là một nhóm phân loại có danh pháp khoa học là bison, bao gồm 6 loài động vật guốc chẵn to lớn trong phạm vi phân họ Trâu bò (Bovinae) của họ Trâu bò (Bovidae). Hiện tại, chỉ có 2 loài còn sinh tồn là: bò bison châu Mỹ (B. bison) và bò bison châu Âu (B. bonasus). Bò tót, một loài bò to lớn, lông dày, tìm thấy ở châu Á, đôi khi cũng được gọi là bò bison Ấn Độ, nhưng không thuộc về chi này, mà thuộc về chi Bos và như thế nó không phải là một loài bò bison thật sự. Hai loài bò rừng bison thật sự vừa đề cập trên đây là các loài thú to lớn, sinh sống trên đất liền ở Bắc Mỹ và châu Âu. Giống như các họ hàng trâu bò khác, bò rừng bison là các động vật gặm cỏ sống du cư và di chuyển theo bầy đàn, ngoại trừ một số con đực sống riêng lẻ (hay hợp thành nhóm nhỏ) trong phần lớn thời gian của năm. Bò rừng bison Bắc Mỹ sinh sống tại khu vực Great Plains (Đại bình nguyên). Cả hai loài này đã từng bị săn bắn đến mức cận kề với nguy cơ tuyệt chủng trong thế kỷ 19 và 20, nhưng đã được hồi phục trở lại, mặc dù bò rừng bison châu Âu vẫn được đánh giá ở tình trạng đang nguy cấp. Không giống như trâu rừng châu Á, bò rừng bison chưa bao giờ được thuần hóa một cách thực sự, mặc dù chúng thỉnh thoảng cũng xuất hiện tại các trang trại. Hiện nay, chúng được nuôi chủ yếu tại các trại nuôi gia súc lớn ở Hoa Kỳ và Canada để lấy thịt. Các đàn hoang dã được tìm thấy ở Vườn quốc gia Yellowstone, đảo Antelope ở Utah, vườn tiểu bang Custer ở South Dakota, Alaska, và phía bắc của miền trung Canada. Bò rừng bison sống khoảng 20 năm và khi sinh ra không có sừng hay "bướu" đặc trưng của chúng. Chúng trở thành trưởng thành khi đạt độ tuổi 2-3 năm với sự phát triển của sừng, mặc dù những con đực còn tiếp tục phát triển chậm cho tới khi đạt 7 năm tuổi. Các con đực trưởng thành thể hiện tính thống lĩnh cao trong mùa sinh sản. Ngày 16 tháng 3 năm 2007, 15 con bò rừng bison Bắc Mỹ đã được tái đưa vào Colorado, nơi mà chúng đã từng sinh sống cách đó khoảng 1 thế kỷ. Chúng được thả tại Rocky Mountain Arsenal National Wildlife Refuge trên diện tích khoảng 17.000 mẫu Anh (khoảng 6.880 ha). == Xem thêm == Bò bison châu Mỹ Bò bison châu Âu Bò bison cổ đại == Liên kết ngoài == Village Earth's Adopt-A-Bison Campaign
ngữ chi việt.txt
Ngữ chi Việt là một nhánh của hệ ngôn ngữ Nam Á. Trước đây người ta còn gọi ngữ chi này là Việt-Mường, Annam-Muong, Vietnamuong, nhưng hiện nay nói chung các tên gọi này được dùng để chỉ phân nhánh của ngữ chi Việt Mường, trong đó chỉ bao gồm tiếng Việt và tiếng Mường. == Nguồn gốc == Dựa trên cơ sở sự đa dạng ngôn ngữ, người ta cho rằng ngữ chi Việt có thể đã xuất hiện tại các địa điểm mà ngày nay là các tỉnh Bolikhamsai, Khammouane của Lào và Nghệ An, Quảng Bình của Việt Nam. Tiếng Việt đã được nhận dạng là một ngôn ngữ Nam Á vào giữa thế kỉ 19 và có chứng cứ mạnh mẽ ủng hộ cho phân loại này. Ngày nay, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn âm tiết giống như tiếng Quảng Đông hay tiếng Thái Lan và đã mất nhiều đặc điểm của âm vị và hình vị tiền Nam Á. Tiếng Việt cũng vay mượn nhiều từ thuộc vốn từ vựng của tiếng Trung và các thứ tiếng Thái. Vì vậy, nhiều người vẫn không đồng ý với ý kiến cho rằng tiếng Việt gần gũi với tiếng Khmer hơn là với tiếng Trung và tiếng Thái. Tuy nhiên, những đặc điểm này chỉ là bề ngoài, là kết quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ. Trong hàng ngàn năm Bắc thuộc và vai trò của Hán học vào thời kỳ phong kiến sau đó, tiếng Việt chịu ảnh hưởng nhiều từ tiếng Trung, thậm chí cả trong chữ viết, tiếng Việt đã sử dụng chữ Nôm trong hàng trăm năm. Nhiều ngôn ngữ thuộc ngữ chi Việt có hệ thống thanh điệu và phát âm trung gian giữa tiếng Việt-Mường với các nhánh khác của hệ ngôn ngữ Nam Á mà không bị ảnh hưởng bởi tiếng Trung và tiếng Thái. == Phân loại == Ngữ chi Việt được phân loại như sau, do Chamberlain đề xuất (2003:422), được dẫn trong Sidwell (2009:145). Không giống các hệ thống phân loại trước đây, nay nhánh thứ sáu ("Nam") có thêm tiếng Kri. Ngữ chi Việt Nhánh bắc (Việt-Mường) Tiếng Việt Tiếng Mường Tiếng Nguồn Nhánh tây bắc Tiếng Toum Tiếng Liha Tiếng Phong Nhánh tây (tiếng Aheu) (Thavưng) Ahoe Ahao Ahlao Nhánh đông nam (Tiếng Chứt) Tiếng Chứt Tiếng Rục Tiếng Sách Tiếng Mày Tiếng Mã Liềng (Tiếng Arem ?) (Tiếng Kata) Nhánh tây nam Tiếng Atel Tiếng Thémarou Tiếng Arao Tiếng Makang Tiếng Malang Tiếng Maleng Tiếng Tơe Nhánh nam Tiếng Kri Tiếng Phóng Tiếng Mlengbrou == Các ngôn ngữ trong ngữ chi Việt == == Chú thích == == Tham khảo == Chamberlain, J.R. 2003. Eco-Spatial History: a nomad myth from the Annamites and its relevance for biodiversity conservation. In X. Jianchu and S. Mikesell, eds. Landscapes of Diversity: Proceedings of the III MMSEA Conference, 25-ngày 28 tháng 8 năm 2002. Lijiand, P. R. China: Center for Biodiversity and Indigenous Knowledge. pp. 421–436. Sidwell, Paul (2009). Classifying the Austroasiatic languages: history and state of the art. LINCOM studies in Asian linguistics, 76. Munich: Lincom Europa. SEAlang Project: Mon-Khmer languages. The Vietic Branch Sidwell (2003) Endangered Languages of Mainland Southeast Asia Ethnologue == Xem thêm == Alves, Mark J. (2003). and Other Minor Vietic Languages: Linguistic Strands Between Vietnamese and the Rest of the Mon-Khmer Language Family. In Papers from the Seventh Annual Meeting of the Southeast Asian Linguistics Society, ed. by Karen L. Adams et al.. Tempe, Arizona, 3-19. Arizona State University, Program for Southeast Asian Studies. Barker, M. E. (1977). Articles on Proto-Viet-Muong. Vietnam publications microfiche series, no. VP70-62. Huntington Beach, Calif: Summer Institute of Linguistics. Nguyễn, Tài Cẩn. (1995). Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo) (Textbook of Vietnamese historical phonology). Hà Nội: Nhà Xuất Bản Gíao Dục. Trần Trí Dõi (2011). Một vài vấn đề nghiên cứu so sánh - lịch sử nhóm ngôn ngữ Việt - Mường [A historical-comparative study of Viet-Muong group]. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại Học Quốc gia Hà nội. ISBN 978-604-62-0471-8 Ngữ tộc Môn-Khmer == Liên kết ngoài ==
nhà thờ hàm long.txt
Nhà thờ Hàm Long là một nhà thờ của Giáo hội Công giáo Rôma, thuộc Tổng giáo phận Hà Nội, Việt Nam. Đây là một trong những nhà thờ lớn ở Hà Nội. Nhà thờ tọa lạc ở số 21 phố Hàm Long, quận Hoàn Kiếm, công trình do kiến trúc sư người Việt, Doctor Thân (quê ở Hạ Hồi, Thường Tín, Hà Tây) du học ở Pháp thiết kế. Nhà thờ hoàn thành tháng 12/1934, cao 17m. Đáng chú ý là ở đây người ta dùng nhiều chất liệu xây dựng trong dân gian như: rơm hồ vôi, nứa, giấy bản... để tạo các vòm cuốn, gây hiệu quả phản âm khi hành lễ mà không cần đến những thiết bị âm thanh hiện đại. Trên các cột và bàn thờ được trang trí bằng các hoạ tiết dây thừng như kiểu dây áo dòng Phanxicô. Nhà thờ lấy thánh Antôn thành Padova làm quan thầy. Một số linh mục phục vụ ở đây trong những thập niên vừa qua đã trở thành hồng y và Giám mục như: Hồng y Trịnh Như Khuê, Hồng y Trịnh Văn Căn, Hồng y Phạm Đình Tụng, Giám mục Giáo phận Hải Phòng Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương, Giám mục Thái Bình Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang. == Chú thích ==
phú xuyên.txt
Phú Xuyên là một huyện phía Nam của Hà Nội. == Lịch sử == Đời Trần, huyện có tên là Phù Lưu, vào thời Lê sơ đổi thành Phù Vân, sau lại đổi thành Phù Nguyên. Đến đời nhà Mạc, vì kỵ húy vua Mạc Phúc Nguyên nên đã đổi thành Phú Xuyên. Năm 1888, tỉnh Cầu Đơ (sau này là Hà Đông) được thành lập, huyện Phú Xuyên được cắt sang thuộc tỉnh Hà Đông. Khi Hà Đông sáp nhập với Sơn Tây, Phú Xuyên thành tỉnh Hà Tây, sau đó khi Hà Tây sáp nhập với Hòa Bình thì Phú Xuyên thuộc Hà Sơn Bình, khi Hà Sơn Bình tách ra thì Phú Xuyên lại thuộc tỉnh Hà Tây. Từ ngày 1-8-2008, theo quy hoạch mở rộng địa giới hành chính thủ đô, toàn bộ tỉnh Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội, huyện Phú Xuyên thuộc Hà Nội. Huyện Phú Xuyên khi đó gồm có 27 xã: Bạch Hạ, Châu Can, Chuyên Mỹ, Đại Thắng, Đại Xuyên, Hoàng Long, Hồng Minh, Hồng Thái, Khai Thái, Liên Hòa, Minh Tân, Nam Phong, Nam Triều, Phú Túc, Phú Yên, Phúc Tiến, Phượng Dực, Quang Lãng, Quang Trung, Sơn Hà, Tân Dân, Thụy Phú, Tri Thủy, Tri Trung, Văn Hoàng, Văn Nhân, Vân Từ. Ngày 6-9-1986, chuyển xã Liên Hòa thành thị trấn Phú Xuyên - thị trấn huyện lị huyện Phú Xuyên; thành lập thị trấn Phú Minh từ một phần xã Văn Nhân. Từ đó, huyện có 2 thị trấn và 26 xã, giữ ổn định cho đến nay. == Địa lý == Huyện Phú Xuyên là đơn vị hành chính cấp huyện của Thủ đô, nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô 40 km; phía Bắc giáp huyện Thường Tín; phía Tây giáp huyện Ứng Hòa; phía Nam giáp huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; phía Đông giáp sông Hồng và huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Với diện tích đất tự nhiên 17.104,6ha; trong đó, đất canh tác trồng trọt là 11.329,9ha chiếm 66,24%; đất ở 1.120,9ha chiếm 6,95%; đất chuyên dùng chiếm 3.235,9ha chiếm 18,92%; còn lại là đất chưa sử dụng. Phú Xuyên là huyện trũng nhất của tỉnh Hà Tây, có sông Nhuệ chảy từ bắc xuống Nam. Trước đây Phú Xuyên là vùng đất trũng, có cốt đất thấp so với một số đơn vị lân cận, phía Đông cao hơn phía Tây, nên về mùa mưa bão hay bị ngập úng, lụt lội. Một số xã giáp sông Hồng có đất pha cát, còn gọi là đất màu, diện tích khoảng 2000 ha. Trên địa bàn huyện có trên 30 km sông chảy qua đó là sông Hồng, sông Nhuệ, sông Duy Tiên, sông Lương, sông Vân Đình. Phú Xuyên cũng có hệ thống giao thông rất thuận lợi, có tuyến đường sắt Bắc-Nam dài gần 12 km chạy qua, tuyến đường thủy sông Hồng dài 17 km, tuyến đường cao tốc Pháp Vân-Cầu Giẽ dài 7 km, điểm đầu đường Cầu Giẽ-Ninh Bình, đường Quốc lộ 1A dài 12 km trên địa bàn huyện, đó là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế-xã hội của Phú Xuyên. == Khái quát == Diện tích tự nhiên: 170,8 km2 Dân số: 186,452 người Đơn vị hành chính: 2 thị trấn và 26 xã Địa chỉ: Thị trấn Phú Xuyên, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Điện thoại: 04.33854258 == Hành chính == Phú Xuyên có 2 thị trấn và 26 xã, được chia thành 2 vùng là phía Tây và phía Đông phân cách bởi Quốc lộ 1A: 2 thị trấn: Phú Xuyên, Phú Minh. 26 xã: Bạch Hạ, Châu Can, Chuyên Mỹ, Đại Thắng, Đại Xuyên, Hoàng Long, Hồng Minh, Hồng Thái, Khai Thái, Minh Tân, Nam Phong, Nam Triều, Phú Túc, Phú Yên, Phúc Tiến, Phượng Dực, Quang Lãng, Quang Trung, Sơn Hà, Tân Dân, Thụy Phú, Tri Thủy, Tri Trung, Văn Hoàng, Văn Nhân, Vân Từ. == Kinh tế == Kinh tế Phú Xuyên hiện tại chủ yếu vẫn là nông nghiệp, dịch vụ và công nghiệp đang phát triển, Phú Xuyên có nhiều làng nghề tiểu thủ công nghiệp tiêu biểu như Chuyên Mỹ là làng nghề khảm trai truyền thống; thêu ren ở Sơn Hà, Dân Chủ (Phúc Tiến), Nam Tiến; nghề làm giấy ở Hồng Minh; nghề may mặc ở, Vân Từ; nghề đóng giày ở Phú Yên; nghề dệt lụa ở Quang Trung; nghề mây tre đan ở Phú túc, Minh Tân; nghề mộc dân dụng ở Tân Dân... Tiếp tục phát huy vốn nghề thủ công truyền thống, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng khá, đạt 252,03 tỷ đồng năm 2003, tăng 7,7% so với năm 2002. Trong đó, các ngành hàng đạt mức tăng trưởng cao là: may mặc 51%, hàng mây tre đan xuất khẩu 22,1%, khảm, sơn mài 24,5%, cơ khí và công nghiệp khác 43,4%... == Làng nghề == Những năm qua, huyện uỷ, UBND huyện Phú Xuyên đã có nhiều chủ trương, biện pháp để phát triển kinh tế nông nghiệp; tuyên truyền vận động nhân dân dồn điền đổi thửa, xây dựng các mô hình kinh tế trang trại. Từ thực tế cho thấy, hiệu quả kinh tế từ sản xuất trang trại cao hơn gấp 2 đến 5 lần so với cấy lúa. Các mô hình trang trại được phát triển mạnh mẽ ở các xã vùng trũng như: Quang Lãng, Khai Thái, Tri Trung… Bên cạnh sản xuất nông nghiệp, huyện đặc biệt quan tâm đến việc duy trì, bảo tồn và phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp làng nghề. Ngoài các nghề truyền thống như: Guột tế Phú Túc, khảm trai Chuyên Mỹ, Giầy da Phú Yên, May comlê Vân Từ; nghề mộc xã Tân Dân, Văn Nhân, Tò he - Xuân La xã Phượng Dực…Các địa phương trong huyện còn phát triển thêm nghề mới như: May màn xuất khẩu Đại Thắng, Cơ kim khí Thị trấn Phú Minh, may túi xách Sơn Hà xã Thao Nội, giết mổ trâu bò Quang Lãng …đã phát triển mạnh, đem lại thu nhập đáng kể cho người lao động, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, giảm tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới năm 2011 là 7%. Ngành nghề ở Phú Xuyên không chỉ phát triển mạnh ở các xã miền Tây, Trung tây của huyện mà đã và đang được nhân rộng, phát triển ở các xã miền Đông vốn trước đây độc canh cây lúa. Để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững, Phú Xuyên triển khai chương trình xây dựng và phát triển làng nghề truyền thống huyện giai đoạn 2011 - 2015. Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 có 100% làng có nghề. Đây là cơ hội để ngành nghề Phú Xuyên phát triển. Vừa qua, UBND thành phố Hà nội đã có quyết định công nhận làng Dệt lưới chã thôn Văn Lãng, xã Quang Trung là làng nghề truyền thống. Như vậy, đến nay Phú Xuyên có 38 làng nghề truyền thống đã được thành phố công nhận. Thế mạnh của Phú Xuyên là có nhiều làng nghề, có vị trí địa lý thuận lợi, diện tích đất nông nghiệp rộng và đang được chuyển đổi, khai thác theo hướng nâng cao hiệu quả, năng suất cây trồng. Thời gian này, huyện Phú xuyên tiếp tục cụ thể hóa nghị quyết Đảng bộ huyện khóa XXIII, tập trung quy hoạch xây dựng các khu, cụm điểm công nghiệp làng nghề, xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn./. == Danh nhân == Phú Xuyên còn là một trong những huyện có nhiều tướng nhất trong cả nước: Có tới 9 vị tướng trong một huyện. Đó là: Thượng tướng Phùng Thế Tài, Trung tướng Nguyễn Phúc Thanh, Trung tướng Nguyễn Đức Soát, Trung tướng Nguyễn Đức Sơn, Thiếu tướng Nguyễn Đình Ngọc, Thiếu tướng Hoàng Văn Hoặc, Thiếu tướng Mai Văn Lý, Thiếu tướng Phùng Thế Quảng và Thiếu tướng Nguyễn Kim Cách. Cựu phó thủ tướng Vũ Khoan Ông tổ nghề báo Nguyễn Văn Vĩnh ở Phượng Dực Tiến sĩ Tạ Đăng Vọng, thủy tổ họ tạ ở Nam Quất == Chú thích == == Liên kết ngoài == Cổng thông tin điện tử huyện Phú Xuyên
kinh tế mông cổ.txt
Kinh tế Mông Cổ phản ánh tình hình và các hoạt động kinh tế tại quốc gia này. Kinh tế Mông Cổ có truyền thống và thế mạnh trong nông nghiệp, được biết đến nhiều bởi ngành chăn nuôi với đồng cỏ mênh mông rộng lớn và đàn gia súc còn đông hơn cả dân số của con người, trong khi đó trồng trọt không có thế mạnh vì thảo nguyên Mông Cổ có lớp đất mỏng, không dồi dào nguồn nước, thổ nhưỡng không phong phú, không phù hợp cho việc canh tác, trồng trọt. Quốc gia này cũng được chú ý bởi các hoạt động khai khoáng, hầm mỏ. Mặc dù vậy, nền kinh tế Mông Cổ cũng phụ thuộc lớn vào Trung Quốc, là đối tác xuất khẩu chính của họ. == Quy mô == Kinh tế Mông Cổ tập trung vào nông nghiệp và khai thác mỏ. Mông Cổ có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, và đồng, than, môlípđen, kẽm, tungsten, và vàng chiếm một phần lớn sản phẩm công nghiệp. Nhờ vào nhu cầu khoáng sản không ngừng tăng của láng giềng Trung Quốc. Việc xuất khẩu khoáng sản đã giúp Mông Cổ trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới. Đa số dân cư bên ngoài các khu vực đô thị sinh sống bằng chăn thả tự cấp tự túc; các loại gia súc chủ yếu gồm cừu (cừu Mông Cổ), dê, trâu bò, ngựa (ngựa Mông Cổ), và lạc đà hai bướu. Các sản phẩm lương thực gồm bột mì, lúa mạch, khoai tây, các loại rau, cà chua, dưa hấu, sea-buckthorn cỏ cho gia súc. GDP trên đầu người năm 2006 là $2,100. Hơn một thập kỷ trước, đất nước này xơ xác và bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự sụp đổ của Liên Xô. Phần lớn người dân nước này, ngoài những lúc chăn nuôi gia súc và ủ men cho sữa chua, không biết làm gì khác mặc dù đất nước này có tiềm năng của những mỏ khoáng sản rộng lớn, Người Mông Cổ từ trước tới nay vốn sống trên một kho than đá, đồng và vàng khổng lồ. Dù GDP đã tăng ổn định từ năm 2002 ở tốc độ 7.5% theo một ước tính chính thức năm 2006, nước này vẫn đang phải cố gắng để giải quyết một khoản thâm hụt thương mại khá lớn. Một khoản nợ nước ngoài lớn ($11 tỷ) với Nga đã được chính phủ Mông Cổ giải quyết năm 2004 với một khoản chi trả $250 triệu. Dù có tăng trưởng, tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo khổ ước tính là 35.6% năm 1998, 36.1% năm 2002–2003, 32.2% năm 2006, và cả tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát đều khá cao ở mức 3.2% và 6.0%, (năm 2006) Đối tác thương mại lớn nhất của Mông Cổ là Trung Quốc. Ở thời điểm năm 2006, 68.4% xuất khẩu của Mông Cổ là sang Trung Quốc và Trung Quốc cung cấp 29.8% nhập khẩu của Mông Cổ. Thị trường Chứng khoán Mông Cổ, được thành lập năm 1991 tại Ulan Bator, là thị trường chứng khoán nhỏ nhất thế giới xét theo tư bản hoá thị trường. Hiện có hơn 30,000 doanh nghiệp độc lập tại Mông Cổ, chủ yếu tập trung quanh thành phố thủ đô. Tuy vậy, kinh tế Mông Cổ đang trải qua thời kỳ lạm phát cao nhất trong hơn 1 thập kỷ, với sự gia tăng chi phí của nhiên liệu và thực phẩm ngày càng tăng. Nga cung cấp cho Mông Cổ 95% lượng dầu khí sử dụng trong nước cũng như một con số khổng lồ về điện năng và hơn 70% xuất khẩu của Mông Cổ sang Trung Quốc đã khiến nền kinh tế Mông Cổ chịu nhiều nợ nần, phụ thuộc vào các nước láng giềng. == Công nghiệp == Công nghiệp hiện chiếm 21.4% GDP, xấp xỉ tương đương với lĩnh vực nông nghiệp (20.4%). Các ngành công nghiệp gồm vật liệu xây dựng, khai mỏ (than, đồng, môlípđen, fluorspar, kẽm, tungsten, và vàng), dầu, thực phẩm và đồ uống, chế biến các sản phẩm từ gia súc, và casơmia và sản xuất sợi tự nhiên. Tỷ lệ tăng trưởng sản xuất công nghiệp ước tính ở mức 4.1% năm 2002. Khai mỏ tiếp tục phát triển như một ngành công nghiệp chính của Mông Cổ với bằng chứng ở số lượng công ty Trung Quốc, Nga và Canada có mặt và tiến hành kinh doanh tại Mông Cổ. Sản xuất thực phẩm trong nước, đặc biệt thực phẩm đóng gói đã tăng nhanh cùng tốc độ đầu tư từ các công ty nước ngoài. Một số công ty cộng nghệ từ các quốc gia láng giềng, như Hàn Quốc và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã bắt đầu mở văn phòng tại Mông Cổ. Những công ty này có ý định tập trung vào phát triển phần mềm hơn là sản xuất phần cứng. Một số công ty viễn thông và nhà cung cấp dịch vụ internet đã được thành lập dẫn tới sự cạnh tranh lớn trên thị trường internet và điện thoại, đặc biệt là điện thoại di động như Mobicom Corporation và Magicnet, đây là những nhà điều hành điện thoại di động và ISP lớn nhất ở Mông Cổ. == Dịch vụ == Sau những cú sốc chuyển tiếp đầu thập niên 1990, sản xuất nội địa Mông Cổ đã tăng trở lại. Theo CIA World Factbook, năm 2003, lĩnh vực dịch vụ chiếm 58% GDP, với 29% lực lượng lao động và 1.488 triệu người tham gia. Đầu tư nước ngoài từ các quốc gia khác (gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức và Nga) đã giúp làm gia tăng số lượng đường sá. Quan trọng nhất là một con đường theo hướng nam bắc dài 1000 km dẫn từ biên giới Nga ở Sükhbaatar tới biên giới Trung Quốc tại Zamyn-Üüd. Có nhiều công ty vận tải tại Mông Cổ, gồm MIAT, Aero Mongolia, và Eznis Airways. Các sản phẩm dầu mỏ chủ yếu (80%) được nhập khẩu từ Nga, khiến Mông Cổ dễ bị ảnh hưởng bởi các cú sốc từ phía nhà cung cấp. Đây là một ví dụ cụ thể về ảnh hưởng của các quốc gia láng giềng trên nền kinh tế của họ. == Mức sống == Có sự chênh lệch về mức sống giữa các bộ phận dân cư. Giữa các khu nhà đổ nát và các cao ốc mới toanh, thủ đô Ulan Bator nhà của một nửa trong số 2,7 triệu dân Mông Cổ. Ulan Bator cũng vừa hoàn thành việc xây dựng công trình cao nhất thành phố, tích hợp hệ thống khách sạn với mức giá 300 USD cho một đêm. Sự giàu lên nhanh chóng của một bộ phần người dân cũng song song với các vấn đề của những người không theo kịp. Tốc độ phát triển của ngành công nghiệp khai khoáng thu hút hàng nghìn nông dân từ các thảo nguyên chạy trốn mùa đông giá rét ở nông thôn. Họ đến và sống ở ngoại ô thành phố trong các khu ổ chuột đông đúc. Tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng, điện nước thiếu thốn. Thậm chí những người thiếu may mắn phải chấp nhận qua đêm ở gầm cầu và cống thoát nước. Một số người Mông Cổ đang bắt đầu cảm nhận thấy quyền lợi của họ từ ngành công nghiệp khai khoáng. Công nhân viên chức được tăng lương tới 50%. Những người giàu có bây giờ phải đi một chiếc xế hộp hạng sang, dùng túi Louis Vuitton và sở hữu các món đồ nghệ thuật Hiện nay, 36% người dân Mông Cổ sống dưới mức nghèo khổ, không có khả năng mua được thực phẩm cơ bản và các hàng hóa cần thiết để sinh sống và hầu như không thay đổi kể từ khi chính phủ mới thành lập từ năm 1990. Những gia đình ở đây sống chủ yếu bằng nghề nhặt lượm chai lọ nhựa, thủy tinh để mang về bán cho các trung tâm tái chế. Mỗi sáng trung bình họ nhặt được 100 chai mà họ có thể nhận lại 1000 Tugrik, tương đương với 1 USD. Với số tiền này và một chút để dành từ hôm trước, họ vào các trung tâm bán thực phẩm địa phương nơi họ sẽ không mua thức ăn mà là rượu vodka giá rẻ của Nga. Rượu giúp họ cầm cự được với cái lạnh của buổi sáng mùa đông trên cao nguyên Mông Cổ và một ngày mới của họ lại bắt đầu bằng việc thu thập vỏ chai, uống vodka, tìm kiếm thức ăn và ngủ trên những ống nước nóng. == Giải cứu tài chính năm 2017 == Mông Cổ là một quốc gia có dân số ít và trẻ, có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc nền kinh tế lớn thứ 2 toàn cầu. Nền kinh tế Mông Cổ bắt đầu tăng tưởng đột biến gần đây, dựa chủ yếu vào khai thác khoáng sản, năm 2011 ước tính tăng trưởng kinh tế của Mông Cổ đạt 17%, nhưng năm 2016 thì nền kinh tế đã chạm đến đáy khi tăng trưởng chỉ còn 1% vì giá cả các loại hàng hóa sụt giảm và tăng trưởng kinh tế Trung Quốc - khách mua chính mặt hàng đồng và than đá xuất khẩu của nước này - giảm tốc. Đầu tư nước ngoài vào Mông Cổ cũng giảm mạnh sau vụ tranh chấp mỏ đồng Oyu Tolgoi của hãng Rio Tinto. Trước khả năng sẽ vỡ nợ, “Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB) và nhiều đối tác song phương khác trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc dự kiến sẽ cung cấp thêm đến 3 tỉ USD vào ngân sách và khoản hỗ trợ dự án. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc thì dự kiến mở rộng chương trình hoán đổi tiền tệ 15 tỉ nhân dân tệ, tương đương 2,2 tỉ USD, với Ngân hàng Trung ương Mông Cổ thêm ít nhất ba năm nữa”. Tổng cộng, gói tài trợ tài chính từ nước ngoài cho Mông Cổ vào khoảng 5,5 tỉ USD. == Chú thích ==
đội tuyển bóng đá quốc gia serbia.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Serbia, còn có biệt danh là "Orlovi", là đội tuyển của Hiệp hội bóng đá Serbia và đại diện cho Serbia trên bình diện quốc tế. Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Serbia là trận gặp đội tuyển Cộng hòa Séc vào năm 2006 sau khi Montenegro tuyên bố độc lập từ Serbia và Montenegro. Đội tuyển Serbia cũng được cả FIFA và UEFA chọn là thành viên tách ra từ Nam Tư cũ kế thừa thành tích của tuyển Nam Tư. == Danh hiệu == Do Serbia là quốc gia kế tục Nam Tư nên tất cả các danh hiệu này thuộc về đội tuyển Serbia. Vô địch thế giới: 0 Hạng tư: 1930; 1962 Vô địch châu Âu: 0 Á quân: 1960; 1968 Hạng tư: 1976 Bóng đá nam tại Olympic: 1960 1948; 1952; 1956 1984 Hạng tư: 1980 == Thành tích quốc tế == === Giải vô địch bóng đá thế giới === === Giải vô địch châu Âu === == Lịch thi đấu == === 2017 === == Đội hình hiện tại == Đây là đội hình triệu tập cho vòng loại World Cup 2018 gặp Gruzia ngày 24 tháng 3 năm 2017.Số lần ra sân và bàn thắng tính đến ngày 24 tháng 3 năm 2017 sau trận gặp Gruzia. === Triệu tập gần đây === Các cầu thủ dưới đây được triệu tập trong vòng 12 tháng. == Kỷ lục == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Đội tuyển bóng đá quốc gia Serbia trên trang chủ của FIFA
văn hóa nhị lý đầu.txt
Văn hóa Nhị Lý Đầu (giản thể: 二里头文化; phồn thể: 二里頭文化; bính âm: Èrlǐtóu Wénhuà) là tên gọi được các nhà khảo cổ học đặt cho một xã hội đô thị đầu thời đại đồ đồng có niên đại xấp xỉ từ 1900 TCN đến 1500 TCN. Nền văn hóa này được đặt tên theo một di chỉ được phát hiện tại thôn Nhị Lý Đầu thuộc thành phố Yển Sư, tỉnh Hà Nam. Nền văn hóa này phổ biến rộng rãi trên địa bàn nay thuộc hai tỉnh Hà Nam và Sơn Tây, và sau đó lan đến địa bàn nay thuộc các tỉnh Thiểm Tây và Hồ Bắc. Các nhà khảo cổ học Trung Quốc thường xác định văn hóa Nhị Lý Đầu thuộc văn hóa triều Hạ, song không có các bằng chứng, như văn tự, để xác nhận mối liên hệ này. == Di chỉ Nhị Lý Đầu == Văn hóa Nhị Lý Đầu có thể phát triển trên nền tảng văn hóa Long Sơn. Ban đầu, nền văn hóa này tập trung tại khu vực hai tỉnh Hà Nam và Sơn Tây, sau đó lan đến các tỉnh Thiểm Tây và Hồ Bắc. Sau khi văn hóa Nhị Lý Cương nổi lên, di chỉ Nhị Lý Đầu suy giảm về quy mô song vẫn có người cư trú. Di chỉ Nhị Lý Đầu được Từ Húc Sinh phát hiện vào năm 1959, đây là di chỉ lớn nhất có liên hệ với văn hóa Nhị Lý Đầu, với các tòa cung điện và xưởng luyện đồng. Nhị Lý Đầu là nơi duy nhất sản xuất bình tế bằng đồng thanh vào đương thời. Đô thị nằm ven sông Y, một chi lưu của sông Lạc- đổ vào Hoàng Hà. Đô thị có kích thước 2,4 km × 1,9 km; tuy nhiên do lũ lụt tàn phá nên chỉ còn lại 3 km2 (1,2 sq mi). Văn hóa Nhị Lý Đầu được chia thành 4 thời kỳ, mỗi thời kỳ kéo dài khoảng 1 thế kỷ. Trong thời kỳ thứ nhất, với diện tích 100 ha (250 mẫu Anh), Nhị Lý Đầu phát triển nhanh chóng, trở thành một trung tâm khu vực, song chưa phải là nền văn minh đô thị. Đô thị hóa bắt đầu trong thời kỳ thứ 2, với diện tích mở rộng lên 300 ha (740 mẫu Anh). Một khu vực cung điện rộng 12 ha (30 mẫu Anh) được bốn con đường phân định. Nó bao gồm Cung điện số 3 có kích thước 150x50 m, gồm ba sân dọc theo một trục dài 150 mét, và Cung điện số 5. Một xưởng đúc đồng được thiết lập ờ phía nam tổ hợp cung điện. Khu đô thị đạt đến đỉnh cao vào thời kỳ thứ 3, và có thể có từ 18.000-30.000 cư dân. Tổ hợp cung điện được bao quanh bằng một bức tường đắp bằng đất dày 2 mét, các Cung điện 1, 7, 8, 9 được xây dựng. Các cung điện 3 và 5 bị bỏ và bị thay thế bằng 4200 m² Cung số 2 và Cung số 4. Thời kỳ thứ 4 trước dây được xem là thời kỳ suy giảm, song các khai quật gần đây thể hiện rằng việc xây dựng vẫn tiếp tục. Cung điện số 6 được xây dựng như một phần mở rộng của Cung điện số 2, các Cung điện số 10 và 11 được xây dựng. Thời kỳ thứ 5 gối lên hạ kỳ của văn hóa Nhị Lý Cương (1600–1450 TCN). Khoảng 1600 TCN, một khu đô thị có tường bao bọc được xây dựng tại Yển Sư, cách Nhị Lý Đầu khoảng 6 km về phía đông bắc. Việc sản xuất đồ bằng đồng và các mặt hàng tinh hoa khác chấm dứt vào cuối thời kỳ thứ 4, đồng thời với việc khu đô thị ở Trịnh Châu thuộc văn hóa Nhị Lý Cương được hình thành, cách đó 85 km (53 mi) về phía đông. Không có bằng chứng sự phá hủy là do hỏa hoạn hoặc chiến tranh, song vào thượng kỳ văn hóa Nhị Lý Cương (1450–1300 BCE) tất cả các cung điện bị bỏ, và Nhị Lý Đầu suy giảm thành một thôn rộng 30 ha (74 mẫu Anh). == Liên quan với các ghi chép cổ == Một mục tiêu chính của ngành khảo cổ học Trung Quốc là tìm kiếm thủ đô của các triều đại Hạ và Thương, vốn được mô tả trong các thư tịch cổ là nằm ở thung lũng Hoàng Hà. Những điều này được ghi chép trong các thư tịch rất lâu sau đó như Trúc thư kỷ niên (khoảng 300 TCN) và Sử ký (thế kỷ 1 TCN), và tính lịch sử của chúng, đặc biệt là phần liên quan đến triều Hạ, bị nhiều học giả nghi ngờ. Việc phát hiện ra giáp cốt văn ở Ân Khư thuộc An Dương khẳng định rằng đây là kinh đô cuối cùng của triều Thương, song những chứng cứ như vậy không được tìm thấy trong các di chỉ có niên đại trước đó. Khi Từ Húc Sinh lần đầu phát hiện ra di chỉ Nhị Lý Đầu, ông khẳng định đó là Bạc, thủ đô đầu tiên của triều Thương dưới thời vua Thang trong thư tịch cổ. Từ cuối thập niên 1970, sự nghiên cứu trong giới khảo cổ học Trung Quốc tập trung vào mối liên hệ giữa văn hóa Nhị Lý Đầu và triều Hạ. Việc triều Thương lật đổ triều Hạ trong thư tịch cổ được các tác giả khác nhau xác định tương ứng với mốc kết thúc của mỗi một trong số 4 thời kỳ. Hạ Thương Chu đoạn đại công trình xác định toàn bộ bốn thời kỳ của văn hóa Nhị Lý Đầu là văn hóa triều Hạ, và việc xây dựng thành Yển Sư có tường bao bọc là mốc triều Thương thành lập. Các học giả khác, đặc biệt là ở bên ngoài Trung Quốc, chỉ ra việc thiếu một bằng chứng vững chắc cho nhận định như vậy, và cho rằng sự tập trung vào sử học của khảo cổ học Trung Quốc là sự hạn chế thái quá. == Chú thích == == Tham khảo == Allan, Sarah (2007). “Erlitou and the Formation of Chinese Civilization: Toward a New Paradigm”. The Journal of Asian Studies (Cambridge University Press) 66 (2): 461–496. doi:10.1017/S002191180700054X. Lee, Yun Kuen (2002). “Building the chronology of early Chinese history”. Asian Perspectives: the Journal of Archaeology for Asia and the Pacific 41 (1): 15–42. doi:10.1353/asi.2002.0006. Li, Jinhui (ngày 10 tháng 11 năm 2003). “Stunning Capital of Xia Dynasty Unearthed”. China Through a Lens. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009. Liu, Li (2004). The Chinese neolithic: trajectories to early states. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-81184-2. Liu, Li; Xu, Hong (2007). “Rethinking Erlitou: legend, history and Chinese archaeology”. Antiquity 81 (314): 886–901. Truy cập 2009. Liu, Li; Chen, Xingcan (2012). The Archaeology of China: From the Late Paleolithic to the Early Bronze Age. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-64310-8. == Đọc thêm == Fairbank, John King and Merle Goldman (1992). China: A New History; Second Enlarged Edition (2006). Cambridge: MA; London: The Belknap Press of Harvard University Press. ISBN 0-674-01828-1 == Liên kết ngoài == Bronze Age China, The Golden Age of Chinese Archaeology: Exhibition brochure, National Gallery of Art.
alpina tundrana.txt
Alpina tundrana là một loài bướm đêm trong họ Geometridae. == Chú thích == == Tham khảo == Dữ liệu liên quan tới Alpina tundrana tại Wikispecies
ngân hàng thế giới.txt
Ngân hàng Thế giới (World Bank) là một tổ chức tài chính quốc tế nơi cung cấp những khoản vay nhằm thúc đẩy kinh tế cho các nước đang phát triển thông qua các chương trình vay vốn. Ngân hàng Thế giới tuyên bố mục tiêu chính của mình là giảm thiểu đói nghèo. Ngân hàng Thế giới khác với Nhóm Ngân hàng Thế giới, trong đó Ngân hàng Thế giới bao gồm hai cơ quan: Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển (IBRD) và Hội Phát triển Quốc tế (IDA), trong khi Nhóm Ngân hàng Thế giới còn bao gồm thêm ba cơ quan khác: Công ty Tài chính Quốc tế (IFC), Trung tâm Quốc tế Giải quyết Mâu thuẫn Đầu tư (ICSID) và Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa phương (MIGA). == Lịch sử == Ngân hàng Thế giới được thành lập tại hội nghị Bretton Woods năm 1944 cùng 3 tổ chức khác trong đó có Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Cả WB và IMF đều có trụ sở tại Washington DC, và có mối quan hệ gần với nhau. Mặc dù có nhiều nước tham dự Hội nghị Bretton Woods Conference, nhưng Hoa Kỳ và Liên Hiệp Anh là có quyền lực nhất và chiếm ưu thế trong các cuộc đàm phán. Thông thường, người đứng đầu WB là một người Mỹ trong khi đó đứng đầu IMF là người châu Âu. == Danh sách các giám đốc kinh tế == Hollis B. Chenery (1972–1982) Anne Osborn Krueger (1982–1986) Stanley Fischer (1988–1990) Lawrence Summers (1991–1993) Michael Bruno (1993–1996) Joseph E. Stiglitz (1997–2000) Nicholas Stern (2000–2003) François Bourguignon (2003–2007) Justin Yifu Lin (tháng 6 năm 2008 – 2012) Kaushik Basu (tháng 9 năm 2012-) == Thành viên == Các thành viên của Ngân hàng Thế giới gồm: Không phải thành viên Vào năm 2010, chỉ những quốc gia Andorra, Cuba, Liechtenstein, Monaco, Nauru, Triều Tiên, Tuvalu và Thành Vatican không phải là thành viên của Ngân hàng Thế giới. Đài Loan cũng không phải là một thành viên. == Chú thích == == Đọc thêm == Transforming the Rural Nonfarm Economy: Opportunities and Threats in the Developing World. Edited by Steven Haggblade, Peter B. R. Hazell, and Thomas Reardon (2007). Johns Hopkins University Press. Markwell, Donald (2006), John Maynard Keynes and International Relations: Economic Paths to War and Peace, Oxford & New York: Oxford University Press. == Liên kết ngoài == World Bank site World Bank Data and Analysis on Poverty and Economic Growth in South Asia Ease of Doing Business Index Partnership for Disaster reduction and recovery The World Bank Centre for Financial Reporting Reform Arno Tausch (2005) ‚World Bank Pension reforms and development patterns in the world system and in the "Wider Europe". A 109 country investigation based on 33 indicators of economic growth, and human, social and ecological well-being, and a European regional case study’. A slightly re-worked version of a paper, originally presented to the Conference on "Reforming European pension systems. In memory of Professor Franco Modigliani. 24 and ngày 25 tháng 9 năm 2004", Castle of Schengen, Luxembourg Institute for European and International Studies GVEP International Ý kiến phê bình Essential Action DC Indymedia CADTM IFIwatchnet: an international network of independent organisations monitoring the World Bank and other International Financial Institutions The Bank Information Center The Bretton Woods Project
nguyên âm.txt
Trong ngữ âm học, nguyên âm hay mẫu âm là một âm thanh trong ngôn ngữ nói, như trong tiếng Việt a hay e, được phát âm với thanh quản mở, do đó không có sự tích lũy áp suất không khí trên bất cứ điểm nào ở thanh môn. Đối lập với nguyên âm là phụ âm, như t [t], có vài vị trí bị thắt lại hoặc bị đóng trên thanh quản. Theo nghĩa âm tiết, một âm mở tương đương nhưng không phải là âm tiết được gọi là bán nguyên âm. Về mặt chữ viết, có 12 nguyên âm trong tiếng Việt là a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y. Còn về mặt ngữ âm, có mười một nguyên âm được ghi nhận trong tiếng Việt là /i e ɛ ɐ a ə ɔ ɤ o ɯ u/ (ký âm IPA). == Xem thêm == Phụ âm == Tham khảo == Handbook of the International Phonetic Association, 1999. Cambridge University ISBN 978-0-521-63751-0 Johnson, Keith, Acoustic & Auditory Phonetics, second edition, 2003. Blackwell ISBN 978-1-4051-0123-3 Korhonen, Mikko. Koltansaamen opas, 1973. Castreanum ISBN 978-951-45-0189-0 Ladefoged, Peter, A Course in Phonetics, fifth edition, 2006. Boston, MA: Thomson Wadsworth ISBN 978-1-4130-2079-3 Ladefoged, Peter, Elements of Acoustic Phonetics, 1995. University of Chicago ISBN 978-0-226-46764-1 Bản mẫu:SOWL Ladefoged, Peter, Vowels and Consonants: An Introduction to the Sounds of Languages, 2000. Blackwell ISBN 978-0-631-21412-0. Lindau, Mona. (1978). “Vowel features”. Language 54 (3): 541–563. doi:10.2307/412786. Stevens, Kenneth N. (1998). Acoustic phonetics. Current studies in linguistics (No. 30). Cambridge, MA: MIT. ISBN 978-0-262-19404-4. Stevens, Kenneth N. (2000). “Toward a model for lexical access based on acoustic landmarks and distinctive features”. The Journal of the Acoustical Society of America 111 (4): 1872–1891. doi:10.1121/1.1458026. PMID 12002871. Watt, D. and Tillotson, J. (2001). A spectrographic analysis of vowel fronting in Bradford English. English World-Wide 22:2, 269–302. Available at http://www.abdn.ac.uk/langling/resources/Watt-Tillotson2001.pdf == Liên kết ngoài == IPA chart with MP3 sound files IPA vowel chart with AIFF sound files Vowel charts for several different languages and dialects measuring F1 and F2 Materials for measuring and plotting vowel formants Vowels and Consonants Online examples from Ladefoged's Vowels and Consonants, referenced above.
nguyễn thị tâm chính.txt
Nguyễn Tâm Chính (sinh năm 1945) là nghệ sĩ xiếc nổi tiếng với tiết mục "Cô hàng giải khát". Bà là giám đốc nữ đầu tiên của Liên Đoàn Xiếc Việt Nam từ năm 1987 đến 2004. Bà được nhận danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân vào đợt 4 năm 1997. == Chú thích == == Tham khảo == Nhọc nhằn nghiệp xiếc, Quân đội Nhân dân Xiếc Việt còn chưa "nuột nà" về nghệ thuật Những đóng góp và thành tích tiêu biểu
1 tháng 10.txt
Ngày 1 tháng 10 là ngày thứ 274 (275 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 91 ngày trong năm. == Sự kiện == 331 TCN – Alexandros Đại đế của Macedon đánh bại Darius III của Achaemenes tại trận Gaugamela, sau được tôn làm "Vua của châu Á". 1367 – Tướng Từ Đạt của Chu Nguyên Chương chiếm được thành Bình Giang, bắt giữ Ngô vương Trương Sĩ Thành 1553 – Mary I của Anh đăng quang quân chủ Anh. 1843 – Báo lá cải News of the World bắt đầu được phát hành tại London. 1847 – Nhà đầu tư và công nghiệp người Đức Werner von Siemens thành lập Siemens AG & Halske. 1868 – Chulalongkorn trở thành vị quân chủ thứ năm của Vương triều Chakri, là một trong những quốc vương vĩ đại nhất của Xiêm. 1890 – Quốc hội Hoa Kỳ thành lập Vườn quốc gia Yosemite ở California. 1891 – Đại học Stanford mở cửa tại California, Hoa Kỳ. 1936 – Francisco Franco được chỉ định làm người đứng đầu chính phủ quốc gia Tây Ban Nha. 1938 – Đức sáp nhập Sudetenland. 1942 – Thành lập Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội. 1949 – Nội chiến Trung Quốc: Nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh. 1955 – Khu tự trị Tân Cương tại Trung Quốc được thành lập. 1957 – In God we trust xuất hiện lần đầu tiên trên giấy bạc Hoa Kỳ. 1959 – Cộng hòa Dân chủ Đức đưa thêm thiết kế quốc huy của vào trong quốc kỳ, quốc kỳ hai nước Đức không còn đồng nhất. 1960 – Nigeria giành độc lập từ Anh Quốc. 1961 – Đông và Tây Cameroon hợp nhất thành Cameroon. 1964 – Dịch vụ đường sắt cao tốc Shinkansen từ Tokyo đến Osaka tại Nhật Bản bắt đầu hoạt động. 1979 – Hoa Kỳ chuyển giao chủ quyền Kênh đào Panama cho Panama. 1989 – Đan Mạch hợp pháp hóa kết hợp dân sự đồng tính hiện đại đầu tiên trên thế giới 1992 – Cartoon Network bắt đầu phát sóng trên các hệ thống truyền hình cáp tại Hoa Kỳ. 1994 – Palau giành độc lập từ Liên Hiệp Quốc (lãnh thổ ủy trị do Hoa Kỳ Hoa Kỳ quản lý). 2012 – Vụ đắm phà Nam Nha ở ngoài khơi Hồng Kông khiến 38 người thiệt mạng và 102 người khác bị thương. == Sinh == 1881 - William E. Boeing, kỹ sư người Mỹ (m. 1956) 1893 - Diệp Vấn chuyên gia võ thuật người Trung Quốc (m. 1972) 1913 - Học giả Hoàng Văn Chí (m. 1988) 1914 - Lê Trọng Tấn, Đại tướng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1978–1986) 1908 - Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn (m. 1956) 1926 - Trần Bảng, Giáo sư, Nghệ sĩ nhân dân (Vĩnh Bảo, Hải Phòng) là đạo diễn, soạn giả và nhà nghiên cứu chèo 1928 - Chu Dung Cơ, chính khách người Trung Quốc; Thủ tướng thứ năm của Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ năm 1998 đến 2003. 1936 - Duncan Edwards, cầu thủ bóng đá người Anh (m. 1958) 1937 - Trầm Tử Thiêng, nhạc sĩ người Việt (m. 2000) 1966 - George Weah, chính khách và là cầu thủ bóng đá người Liberia 1971 - Song Il Gook, diễn viên người Hàn Quốc 1987 - Aiba Hiroki, diễn viên, ca sĩ người Nhật == Mất == 1499 - Marsilio Ficino, triết gia người Ý (s. 1433) 1684 - Pierre Corneille, tác giả người Anh (s. 1606) 1764 - Robert Simson, nhà toán học người Scotland (s. 1687) == Những ngày lễ và kỷ niệm == Ngày Quân lực Hàn Quốc 1949 – Quốc khánh Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 1960 – Ngày Độc lập Cộng hòa Síp 1991 – Ngày quốc tế người cao tuổi == Tham khảo ==
bầu cử tổng thống nigeria, 2011.txt
Bản mẫu:Chính trị Nigeria Một cuộc bầu cử tổng thống được tổ chức tại Nigeria ngày 16 tháng 4 năm 2011, bị trì hoãn từ ngày 9 tháng 4 năm 2011. Theo sau bầu cử là cuộc tranh cãi về việc liệu một tín hữu Hồi giáo hay Thiên Chúa giáo nên được phép trở thành tổng thống cho thấy truyền thống giữ chức luân phiên giữa các tôn giáo và theo sau cái chết của Umaru Yar'Adua, một tín hữu Hồi giáo, và Goodluck Jonathan, một Kitô hữu, trở thành tổng thống lâm thời. Theo sau bầu cử, bạo động quy mô lớn xảy ra ở miền bắc quốc gia. Goodluck Jonathan được tuyên bố chiến thắng ngày 19 tháng 4. == Tham khảo ==
edmund spenser.txt
Edmund Spenser (khoảng 1552 – 13 tháng 1 năm 1599) – nhà thơ Anh, tác giả của Nữ hoàng Tiên (The Faerie Queene) nổi tiếng và các thiên sử thi khác, cùng với William Shakespeare và John Milton, được coi là một trong những nhà thơ Anh lớn nhất. == Tiểu sử == Edmund Spenser sinh ở London (điều này được tác giả nói đến trong trường ca Prothalamion), ngày sinh không rõ. Học ở Merchant Taylors' School và Pembroke College, Cambridge. Trong nhiều năm Spenser làm thư ký cho một số địa chủ. Từ năm 1579 – 1580 Spenser phục vụ quan đội Hoàng gia. Mùa hè năm 1580 sang Ai-len làm thư ký cho nhà quý tộc Arthur Lord Grey de Wilton và năm 1587 được cấp một trang trại rộng 1200 ha, trở thành một trong những địa chủ giàu có. Điều này cho phép Spenser theo đuổi nghiệp văn chương mà không phải vất vả với cuộc mưu sinh. Năm 1598 cuộc khởi nghĩa ở Ai-len buộc Spenser bỏ về London và mất ngày 13 tháng 1 năm 1599. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Edmund Spenser là Nữ hoàng Tiên. Đề tài chính của kiệt tác này là cuộc đấu tranh giữa Tình yêu (với lòng khát khao muôn thuở giữ gìn cái đẹp, niềm vui và lòng tốt) và những sức mạnh hủy hoại của Thời gian và Sự thay đổi. Những sức mạnh này đi liền với những ý tưởng lừa dối và cuối cùng Spenser đi đến kết luận: không thể sống một cuộc đời đạo đức mà không học cách phân biệt những cái cứ ngỡ như là tốt từ thực tế. Edmund Spenser đã sử dụng một thể loại thơ mà ngày nay được mang tên ông. Thể thơ này sau đó được Lord Byron, Percy Bysshe Shelley, John Keats tiếp tục phát triển trong sáng tạo của mình. Do kỹ thuật thơ phức tạp và ngôn ngữ thơ cổ kính nên Edmund Spenser đến thời điểm hiện tại hầu như chưa được dịch ra tiếng Việt. == Tác phẩm == The Shepheardes Calender (1579) The Faerie Queene (1590, 1596, 1609) Complaints Containing sundrie small Poemes of the Worlds Vanitie (1591) The Ruines of Time The Teares of the Muses Virgil's Gnat Prosopopoia, or Mother Hubberds Tale Ruines of Rome: by Bellay Muiopotmos, or the Fate of the Butterflie Visions of the worlds vanitie The Visions of Bellay The Visions of Petrarch Daphnaïda. An Elegy upon the death of the noble and vertuous Douglas Howard, Daughter and heire of Henry Lord Howard, Viscount Byndon, and wife of Arthure Gorges Esquier (1594) Colin Clouts Come home againe (1595) Astrophel. A Pastoral Elegie upon the death of the most Noble and valorous Knight, Sir Philip Sidney (1595) Amoretti (1595) Epithalamion (1595) Four Hymns (1596) Prothalamion (1596) Dialogue on the State of Ireland (vers 1598) == Một bài thơ == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Các tác phẩm của Edmund Spenser tại Dự án Gutenberg Edmund Spenser at Luminarium.org The Edmund Spenser Home Page at the Cambridge University A View of the Present State of Ireland Project Gutenberg edition of Biography of Edmund Spenser by John W. Hales Poetry Archive: 154 poems of Edmund Spenser The Spenser Encyclopedia by A. C. Hamilton in Google Books Preview
manhattan.txt
Manhattan, có khi Việt hóa thành ''Mã Nhật Tân", là một trong 5 quận (borough) của thành phố New York, chủ yếu nằm trên phần cửa sông Hudson. Hạt New York (tiếng Anh: New York County, không nên nhầm lẫn với thành phố cùng tên) có đường ranh giới trùng với khu Mahattan là nơi có mật độ dân số cao nhất Hoa Kỳ với 1.620.867 dân sống trong 59,47 km² tức là 27.255 người/km² (số liệu năm 2007). Mahattan có số dân đông thứ 3 trong 5 khu của New York, nhưng diện tích lại nhỏ nhất. Bao gồm đảo Manhattan và một vài đảo nhỏ: đảo Roosevelt, đảo Randall, đảo Ward, đảo Governor, đảo Liberty, một phần của đảo Ellis, và đảo U Thant; ngoài ra còn bao gồm Marble Hill, một phần nhỏ của Bronx. == Tầm quan trọng == Manhattan là khu vực giàu có nhất của Hoa Kỳ, năm 2005 thu nhập bình quân đầu người tại Mahattan là hơn 100.000 USD. Nơi đây là trung tâm của thương mại, tài chính, văn hóa của Hoa Kỳ và cả thế giới. Hầu hết các đài phát thanh, truyền hình, viễn thông và các công ty lớn ở Hoa Kỳ đặt trụ sở chính, cũng như nhiều báo, tạp chí, nhà xuất bản, và các phương tiện truyền thông khác. Ngoài ra là nơi đặt trụ sở đầu não của Liên Hợp Quốc. Manhattan có các trung tâm thương mại lớn nhất ở Hoa Kỳ, là nơi đặt trụ sở của cả 2 sàn giao dịch New York Stock Exchange và NASDAQ. == Dân cư == Năm 2000, có 56.4% dân số tại Manhattan là người da trắng, 27.18% người Mỹ Latin, 17.39% người gốc Phi, 14.14% là các chủng tộc khác, 9.40% người châu Á, 0.5% người Mỹ bản xứ và 0.07% người bản xứ tại các đảo Thái Bình Dương, 4.14% người lai. Ngoài tiếng Anh, có 24.93% người dân sử dụng tiếng Tây Ban Nha tại nhà, 4.12% tiếng Hoa, và 2.19% tiếng Pháp. == Tham khảo ==
ivan craig.txt
Ivan Craig (Walter Ivan Sackville Craig, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1912 tại Edinburgh - mất ngày 7 tháng 3 năm 1995 tại Surrey) là diễn viên người Anh, con trai của Dr. Eric S. Craig và Dorothy Gertrude Meldrum. Năm 1940, ông kết hôn với Lilian May Davies (một người mẫu thời trang, người sau này đã trở thành Công nương Lilian của Thụy Điển), tuy nhiên đến ngày 7 tháng 11 năm 1947 thì ly hôn. == Những phim tham gia == The Story of Robin Hood and His Merrie Men (1952) - Merry man. == TV work == The Gay Cavalier (1957) - Major Mould. Ivanhoe (1958) - Lord Blackheath. == Chú thích ==
dấu hỏi.txt
Dấu hỏi trong tiếng Việt là một dấu thanh nằm ở trên một số nguyên âm. Khi viết ở trên nguyên âm thì đọc nguyên âm đó với giọng xuống rồi lên. Nó viết gần giống với dấu chấm hỏi nhưng ngắn hơn và không có chấm nhỏ ở dưới. Ngoài ra, dấu chấm hỏi thuộc về các dấu chấm câu và chỉ được đặt ở cuối những câu hỏi. == Xem thêm == Dấu huyền == Tham khảo ==
danh sách điểm cực trị của trái đất.txt
Danh sách điểm cực trị của Trái Đất bao gồm các địa điểm được ghi nhận và công nhận có trị số đạt điểm cực trị (tiếng Anh: Maxima and minima) về vị trí trên bề mặt Trái Đất. == Toàn thế giới == === Tọa độ === === Cao độ === ==== Điểm cao nhất ==== ==== Điểm thấp nhất ==== Nhân tạo Tự nhiên === Nhiệt độ === == Châu Á == == Châu Âu == == Bắc Cực == == Châu Đại Dương == == Châu Mỹ == == Châu Nam Cực == == Châu Phi == == Châu Úc == == Xem thêm == Cực bất khả tiếp cận == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
tổ chức sở hữu trí tuệ.txt
Tổ chức sở hữu trí tuệ là một tổ chức quốc tế liên chính phủ liên quan đến việc hợp tác trong các lĩnh vực quyền tác giả, thương hiệu và bằng sáng chế. == Các tổ chức chung == World Intellectual Property Organization (WIPO) African Regional Industrial Property Organization (ARIPO) Organisation Africaine de la Propriété Intellectuelle (OAPI) hay African Intellectual Property Organization == Các tổ chức chuyên môn == === Các tổ chức liên quan đến bằng sáng chế === European Patent Organisation (EPO hay EPOrg) Eurasian Patent Organization (EAPO) Patent Office of the Cooperation Council for the Arab States of the Gulf (GCC) === Các tổ chức liên quan đến thương hiệu === Office for Harmonization in the Internal Market (OHIM) Benelux Trademarks Office European Trademark Office === Các tổ chức liên quan đến thiết kế === Benelux Designs Office (BDO) == Xem thêm == Sở hữu trí tuệ Danh sách các tổ chức Thư ký xét bằng sáng chế == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang web của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới Cơ quan Sáng chế Châu Âu Tổ chức APEC
1964.txt
1964 (số La Mã: MCMLXIV) là một năm nhuận bắt đầu vào thứ Tư trong lịch Gregory. Âm lịch tính là năm Giáp Thìn. == Sự kiện == === Tháng 1 === 18 tháng 1: tại Đài Loan xảy ra động đất. 21 tháng 1: tại Đài Loan xảy ra Hồ khẩu binh biến. 30 tháng 1: Tại Sài Gòn, tướng Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm đảo chính lật đổ Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn. === Tháng 8 === 5 tháng 8: sự kiện vịnh Bắc Bộ 25 tháng 8: Nổ ra cuộc biểu tình phản đối Nguyễn Khánh. === Tháng 9 === 13 tháng 9: Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh nhưng thất bại. === Tháng 12 === 2 tháng 12:Trận Bình Giã tại Bà Rịa 19 tháng 12: Nguyễn Khánh, Nguyễn Chánh Thi làm chính biến. == Sinh == 4 tháng 5: Rocco Siffredi 19 tháng 5: Samuel Okwaraji, cầu thủ Nigeria (mất 1989) 7 tháng 8: Nobita (trong truyện tranh Doraemon) 10 tháng 9: Jack Ma, tỷ phú, doanh nhân thương mại điện tử người Trung Quốc 12 tháng 11: Dương Nguyên Khánh, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của tập đoàn Lenovo 27 tháng 11: Roberto Mancini, huấn luyện viên người Italy 8 tháng 12: Teri Hatcher, diễn viên người Mỹ == Mất == == Giải Nobel == Vật lý - Charles Hard Townes, Nicolay Gennadiyevich Basov, Aleksandr Prokhorov Hóa học - Dorothy Crowfoot Hodgkin Y học - Konrad Bloch, Feodor Lynen Văn học - Jean-Paul Sartre Hòa bình - Martin Luther King Jr == Xem thêm == == Tham khảo ==
apartheid.txt
Apacthai (tiếng Hà Lan: Apartheid, tiếng Afrikaan: ɐˈpartɦɛit) là một từ Afrikaan, nghĩa là chính sách phân biệt chủng tộc trước đây đã được tiến hành ở Nam Phi. Từ apartheid trong tiếng Hà Lan dùng ở châu Phi có nghĩa là sự riêng biệt, nó miêu tả sự phân chia chủng tộc giữa thiểu số người da trắng và phần đông dân số người da đen. Đảng Quốc gia Nam Phi đã tiến hành chính sách Apacthai như một phần trong chiến dịch tranh cử của họ cho cuộc bầu cử năm 1948. Với sự thắng cử của Đảng Quốc gia Nam Phi, Apacthai đã trở thành chính sách chính trị tại Nam Phi từ năm 1948 tới năm 1990. Theo apacthai, các quyền, các hiệp hội và các phong trào của đa số dân da đen và các nhóm dân tộc thiểu số khác đã bị cắt giảm và luật thiểu số của người da đen được duy trì. Apartheid được phát triển sau chiến tranh thế giới II do Đảng Quốc gia do người Afrikaner thống trị và các tổ chức Broederbond. Hệ tư tưởng này cũng được thể chế hóa tại Tây Nam Phi, nơi các quốc gia được Nam Phi quản lý theo một nhiệm vụ tập đoàn các quốc gia (được thu hồi vào năm 1966 thông qua Nghị quyết 2145 của Liên Hợp Quốc), cho đến khi vùng này giành được độc lập với cái tên Namibia vào năm 1990. Nói rộng ra, thuật ngữ này hiện đang được sử dụng cho các hình thức phân biệt chủng tộc có hệ thống, được thành lập bởi các cơ quan nhà nước trong một quốc gia, chống lại các quyền và xã hội dân sự của một nhóm nào đó của công dân, do định kiến về dân tộc. Phân biệt chủng tộc ở Nam Phi đã bắt đầu vào thời thuộc địa thời đế quốc Hà Lan, cho đến năm 1795 khi người Anh chiếm Mũi Hảo Vọng. Apartheid với tư cách như một chính sách cấu trúc chính thức được giới thiệu sau khi cuộc tổng tuyển cử năm 1948. Pháp luật phân loại người dân thành bốn nhóm chủng tộc - "đen", "màu trắng", "màu", và "Ấn Độ", hai chủng tộc cuối cùng được chia thành nhiều tiểu phân loại—và các khu vực dân cư đã được tách ra. Từ năm 1960 đến năm 1983, 3,5 triệu người Nam Phi không phải da trắng đã bị đuổi khỏi nhà của họ, và buộc phải vào các khu dân cư tách biệt. Đây là một trong những vụ di chuyển dân cư số lượng lớn nhất trong lịch sử hiện đại. Đại diện chính trị cho những chủng tộc không phải da trắng đã bị bãi bỏ vào năm 1970, và bắt đầu từ năm đó người da đen bị tước quyền công dân, trở thành một công dân của một trong mười vùng tự trị được gọi là bantustans, bốn trong số đó đã trở thành quốc gia độc lập trên danh nghĩa. Chính phủ tách rời giáo dục, chăm sóc y tế, bãi biển, và các dịch vụ công cộng khác; chỉ cung cấp người da đen với các dịch vụ thường là kém hơn so với người da trắng. Apartheid gây ra sự phản kháng và bạo lực mạnh mẽ trong nước, đồng thời làm quốc tế thực hiện cấm vận vũ khí và thương mại lâu dài đối với Nam Phi. Từ những năm 1950, một loạt các cuộc nổi dậy và phản đối đã được đáp trả bằng việc cấm và bỏ tù các nhà lãnh đạo chống phân biệt chủng tộc. Khi tình trạng bất ổn lan rộng và trở nên căng thẳng hơn, hoạt động quân sự tiếp tục leo thang, các tổ chức nhà nước đã đáp trả bằng đàn áp và bạo lực. Cùng với các biện pháp trừng phạt được cộng đồng quốc tế áp dụng cho Nam Phi, điều này đã làm cho chính phủ ngày càng khó khăn để duy trì chế độ. Cải cách phân biệt chủng tộc trong những năm 1980 đã không dập tắt nổi sự chống đối, và vào năm 1990 Tổng thống Frederik Willem de Klerk bắt đầu đàm phán để chấm dứt phân biệt chủng tộc, mà đỉnh cao là cuộc bầu cử dân chủ đa sắc tộc vào năm 1994, với chiến thắng của Đại hội Dân tộc Phi do Nelson Mandela lãnh đạo. Tuy vậy những hệ lụy của phân biệt chủng tộc vẫn còn ảnh hưởng đến chính trị và xã hội Nam Phi. De Klerk đã bắt đầu quá trình xóa bỏ phân biệt chủng tộc với việc trả lại tự do cho người cố vấn của Mandela và một số tù nhân chính trị khác trong tháng 10 năm 1989. Mặc dù việc bãi bỏ chính thức apartheid được thực hiện trong năm 1991 với bãi bỏ cuối cùng của luật phân biệt chủng tộc còn lại, những người không phải da trắng vẫn không được phép bỏ phiếu cho đến năm 1993 và kết thúc thực sự của apartheid được coi là kể từ năm 1994 với cuộc tổng tuyển cử dân chủ. Mặc dù, cơ sở pháp lý cho chủ nghĩa Apacthai không còn nhưng sự bất bình đẳng về chính trị, kinh tế và xã hội giữa những người da trắng và người da đen ở Nam Phi vẫn tiếp tục tồn tại. == Lịch sử == Ban đầu, luật Aparthai sắp xếp người dân theo ba nhóm chủng tộc chính: người da trắng, người BanTu hay người châu Phi da đen, và người da màu hay người có nguồn gốc lai. Về sau, người châu Á, Ấn Độ và Pakistan cũng được bổ sung thêm thành nhóm người thứ tư. Luật lệ Apacthai xác định quyền hạn, nghề nghiệp và nền giáo dục mà mỗi nhóm người được hưởng. Bộ luật ngăn cấm sự giao thiệp xã hội giữa các chủng tộc, cho quyền phân biệt các điều kiện cộng đồng và phủ nhận bất cứ sự đại diện nào của những người không thuộc nhóm người da trắng trong chính phủ quốc gia. Người nào công khai chống lại Apacthai sẽ bị coi là người cộng sản. Chính phủ đã ban bố những thiết chế an ninh khắc nghiệt khiến nhà nước Nam Phi trở thành một nhà nước cảnh sát. Trước khi Apacthai trở thành luật chính thức, Nam Phi đã có lịch sử lâu dài về sự phân biệt chủng tộc và quyền uy của người da trắng. Năm 1910, đã có hạn chế rằng các thành viên ở quốc hội phải là người da trắng. Và khi bộ luật được thông qua vào năm 1913, số đất của người da đen bị giới hạn xuống chỉ còn 13% tổng diện tích Nam Phi. Rất nhiều người Nam Phi phản đối những hạn chế này. Năm 1912, tổ chức Đại hội dân tộc châu Phi ANC được thành lập để chống lại những chính sách không công bằng của chính phủ. Trong những năm 1950, sau khi Apacthai trở thành bộ luật chính thức, ANC tuyên bố rằng "Nam Phi thuộc về tất cả những người sống trên mảnh đất này, cả người da đen và người da trắng" và đấu tranh đòi bãi bỏ luật Apacthai. Sau những cuộc nối loạn chống Apacthai ở Sharpevill vào tháng 3 năm 1960, chính phủ đã cấm tất cả tổ chức chính trị của người Phi da đen, trong đó có ANC. Từ năm 1960 đến giữa những năm 1970, chính phủ đã cố gắng tạo ra Apacthai như một chính sách "tách biệt sự phát triển". Người da đen bị đưa tới những vùng mới thiết lập và những làng quê bị bần cùng hoá - những nơi đã được trù tính để mãi mãi trở thành những khu vực "hạng hai". Người da trắng tiếp tục quản lý hơn 80% số đất. Sự gia tăng bạo lực, đình công, tẩy chay và biểu tình phản đối chống lại Apacthai và sự lật đổ luật thuộc địa của người da đen ở Mozambique và Angola đã buộc chính phủ Nam Phi phải buông lỏng các giới hạn. Từ giữa những năm 1970 và 1980, chính phủ Nam Phi đã thi hành một loại các cải cách và chấp nhận những người lao động da đen liên kết để tổ chức và thừa nhận những hoạt động chính trị của phe đối lập. Hiến pháp năm 1984 cho phép người gốc châu Á và người da màu có mặt trong nghị viện, nhưng vẫn loại trừ người da đen gốc Phi - những người chiếm 75% dân số. Apacthai tiếp tục bị quốc tế lên án và nhiều nước, trong đó có Hoa Kỳ, áp đặt trừng phạt kinh tế đối với Nam Phi. Các cuộc nổi dậy nổ ra ngày càng nhiều tại các thành phố đã làm tăng thêm sức ép đối với chính quyền Nam Phi. Chính sách Apacthai của chính phủ bắt đầu được dỡ bỏ. Năm 1990, vị tổng thống mới lên là F. W. de Klerk tuyên bố chính thức xoá bỏ luật Apacthai, trả tự do cho nhà lãnh đạo ANC, Nelson Mandela, và hợp pháp hóa các tổ chức chính trị của người Phi da đen. == Xem thêm == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Understanding Apartheid Learner's Book The evolution of the white right History of the freedom charter SAHO Apartheid Museum in Johannesburg The African Activist Archive Project website has material on the struggle against apartheid South Africa: Cuba and the South African Anti-Apartheid Struggle by Nicole Sarmiento Interview with Dr. Ranginui Walker about the 'No Maoris' tours to South Africa under apartheid RadioLIVE interview on the exclusion of Maori from the All Blacks during the tours of South Africa under apartheid. The International Centre for Transitional Justice (ICTJ) provides resources on the legacy of apartheid and transitional justice in South Africa. JSTOR's Struggles for Freedom digital archive on www.aluka.org Collection of primary source historical materials about apartheid South Africa
phan văn tài em.txt
Phan Văn Tài Em (sinh năm 1982) là một cựu cầu thủ bóng đá hiện đã giải nghệ. Anh cũng là thành viên của Việt Nam từ năm 2002 và là đội trưởng đội tuyển bóng đá Olympic (U-23). Anh được các chuyên gia bóng đá đánh giá là một trong những tiền vệ trung tâm hay nhất Việt Nam trong khoảng mười năm trở lại đây, cùng với cầu thủ khác của Việt Nam là tiền vệ Nguyễn Minh Phương (đã giã từ đội sự nghiệp thi đấu quốc tế). Tài Em sinh ra tại xã An Lục Long, huyện Châu Thành, Long An. Anh cao 1,70 m, nặng 65 kg. == Các câu lạc bộ đã và đang thi đấu == Đội bóng đá năng khiếu huyện Châu Thành, Long An (1994-1998) Đội bóng đá năng khiếu tỉnh Long An, (1998-2001) Gạch Đồng Tâm Long An (2001-2011) Navibank Sài Gòn (2011- 2012) Sài Gòn Xuân Thành (2012- 2013) Đồng Tâm Long An (2013-) == Thành tích == Với đội tuyển Việt Nam Vô địch giải bóng đá Đông Nam Á 2008 (AFF Suzuki Cup 2008) Huy chương đồng Tiger Cup năm 2002 Huy chương bạc SEA Games năm 2003 và 2005 Với Đồng Tâm Long An Vô địch Việt Nam 2005 và 2006 Vô địch Cúp bóng đá Việt Nam 2005 Vô địch Siêu cúp bóng đá Việt Nam 2006 Danh hiệu cá nhân Quả bóng vàng Việt Nam 2005 Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất 2004 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Câu lạc bộ Persija (Indonesia) muốn có Tài Em Câu chuyện bóng đá: Tài Em trở về mái nhà xưa!