filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
nam định (thành phố).txt | Thành phố Nam Định là một trong những thành phố được Pháp lập ra đầu tiên ở Bắc Kỳ, Việt Nam. Hiện nay Nam Định là thành phố trực thuộc tỉnh và là tỉnh lỵ của tỉnh Nam Định. Nằm ở phía nam và là thành phố trung tâm tiểu vùng nam đồng bằng sông Hồng, Nam Định đã sớm trở thành một trung tâm văn hoá và tôn giáo ngay từ những thời kỳ đầu thế kỷ XIII trong lịch sử Việt Nam. Năm 1262, nhà Trần cho xây dựng phủ Thiên Trường, đặt dấu mốc đầu tiên cho một đô thị Nam Định sau này. Trong suốt thời kỳ lịch sử từ Thiên Trường cho đến Nam Định ngày nay, trải qua các triều đại Trần, Hồ, Lê, Mạc, Tây Sơn, Nguyễn vùng đất này đã nhiều lần đổi tên như Thiên Trường, Vị Hoàng, Sơn Nam, Thành Nam rồi Nam Định. Danh xưng Nam Định chính thức có từ năm 1822, gọi là Trấn Nam Định, sau đến 1831 gọi là tỉnh Nam Định dưới thời vua Minh Mạng. Năm 1921, người Pháp đã phá Thành Nam quy hoạch lại và thành lập thành phố Nam Định.Lúc đó là thành phố cấp 2 (ngang một tỉnh).
Trải qua hai cuộc kháng chiến, vai trò của thành phố Nam Định lại có thêm những lần thay đổi và ngày nay trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Nam Định, đã được thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận là đô thị loại I ngày 28/11/2011. Trước đó, ngày 22/11/2011 thành phố Nam Định cũng đã được thủ tướng Chính phủ ký quyết định phê duyệt điều chỉnh quy hoạch xây dựng thành phố Nam Định thành trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học và xã hội của tỉnh Nam Định và của tiểu vùng Nam đồng bằng sông Hồng; đây cũng là một thành phố của vùng duyên hải Bắc Bộ.
Thành phố Nam Định cũng thường được gọi là Thành Nam hay Thành phố Dệt.
== Lịch sử ==
Đây là thành phố lâu đời có lịch sử hơn 750 năm (ngang với Bắc Kinh và Mátxcơva). Ngay từ thời Nhà Trần đã xây dựng Nam Định thành phủ Thiên Trường dọc bờ hữu sông Hồng, có 7 phường phố. Năm 1262, Trần Thánh Tông đổi hương Tức Mặc (quê gốc của nhà Trần) thành phủ Thiên Trường, sau đó phủ được nâng thành lộ. Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), nhà Lê gọi là thừa tuyên Thiên Trường. Năm 1469 dưới thời vua Lê Thánh Tông, lần đầu tiên có bản đồ Đại Việt, Thiên Trường được đổi làm thừa tuyên Sơn Nam. Năm 1741, Thiên Trường là một phủ lộ thuộc Sơn Nam Hạ, bao gồm 4 huyện Nam Chân (Nam Trực), Giao Thủy, Mỹ Lộc, Thượng Nguyên. Năm 1831, là một phủ thuộc tỉnh Nam Định. Ngày nay là các huyện Giao Thuỷ, Xuân Trường, Nam Trực, Trực Ninh, Mỹ Lộc đều thuộc tỉnh Nam Định.
Dưới thời Nguyễn, Nam Định là một thành phố lớn cùng với Hà Nội và Huế. Thời đó Nam Định còn có trường thi Hương, thi Hội, có cả Văn Miếu như Hà Nội.
Nam Định được công nhận là thành phố dưới thời Pháp thuộc ngày 17 tháng 10 năm 1921, đã gần 100 năm, còn sớm hơn cả Vinh, Mỹ Tho, Quy Nhơn, Cần Thơ, hay thậm chí là Huế (1929). Về quy mô dân số nội thành so với các thành phố ở miền Bắc chỉ đứng sau Hà Nội và Hải Phòng (đã có hơn 300.000 dân, mật độ dân số đạt 17.221 người/km2 vào năm 2011). Từng có liên hiệp nhà máy dệt lớn nhất Đông Dương nên Nam Định còn được gọi là "Thành phố Dệt". Đây là thành phố có nhiều tên gọi chính và văn học: Thiên Trường, Vị Hoàng, Sơn Nam Hạ, Thành Nam, Non Côi sông Vị, thành phố Hoa Gạo, thành phố Dệt, thành phố lụa và thép (theo cách gọi của các nhà văn Ba Lan thời kỳ chiến tranh Việt Nam), thành phố bên sông Đào, Nam Định...
Nam Định là một trong số ít thành phố ở miền Bắc còn giữ lại được ít nhiều nét kiến trúc thời Pháp thuộc, có quán hoa, nhà Kèn, nhà thờ Lớn, các khu phố cổ từ thế kỷ 18-19, trong khi các tỉnh lỵ khác hầu hết được xây dựng và quy hoạch mới lại sau chiến tranh. Thành phố cũng từng có một cộng đồng Hoa kiều khá đông đảo vào giữa thế kỷ 19 chủ yếu đến từ tỉnh Phúc Kiến, đến nay con cháu họ vẫn sinh sống ở khu vực phố cổ: Hoàng Văn Thụ (Phố Khách), Lê Hồng Phong (Cửa Đông), Hai Bà Trưng (Hàng Màn, Hàng Rượu), Hàng Sắt, Bến Ngự, Bắc Ninh, Hàng Cau, Hàng Đồng, Hàng Đường...
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định trong Sắc lệnh số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945, Nam Định là thành phố đặt dưới quyền cấp kỳ (Bắc Bộ). Từ năm 1945 đến năm 1956, Nam Định là thành phố trực thuộc Trung ương.
Ngày 3 tháng 9 năm 1957, sáp nhập thành phố Nam Định vào tỉnh Nam Định, là tỉnh lỵ tỉnh Nam Định.
Ngày 8 tháng 8 năm 1964, chuyển 5 xã: Lộc An, Lộc Hạ, Lộc Hòa, Lộc Vượng, Mỹ Xá về huyện Mỹ Lộc quản lý.
Năm 1965, hai tỉnh Hà Nam và Nam Định sáp nhập thành tỉnh Nam Hà, thành phố Nam Định trở thành tỉnh lỵ tỉnh Nam Hà.
Ngày 13 tháng 6 năm 1967, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 76/CP về việc sáp nhập toàn bộ huyện Mỹ Lộc vào thành phố Nam Định.
Năm 1975, hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình sáp nhập thành tỉnh Hà Nam Ninh, thành phố Nam Định là tỉnh lỵ tỉnh Hà Nam Ninh, gồm 10 phường: Cửa Bắc, Năng Tĩnh, Nguyễn Du, Phan Đình Phùng, Quang Trung, Trần Đăng Ninh, Trần Hưng Đạo, Trần Tế Xương, Trường Thi, Vị Xuyên và 15 xã: Lộc An, Lộc Hạ, Lộc Hòa, Lộc Vượng, Mỹ Hòa, Mỹ Hưng, Mỹ Phúc, Mỹ Tân, Mỹ Thắng, Mỹ Thành, Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Trung, Mỹ Xá.
Ngày 27 tháng 4 năm 1977, sáp nhập 9 xã: Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Thành, Mỹ Hà, Mỹ Thắng, Mỹ Phúc, Mỹ Hưng, Mỹ Trung vào huyện Bình Lục.
Ngày 12 tháng 1 năm 1984, sáp nhập 2 xã Mỹ Trung và Mỹ Phúc thuộc huyện Bình Lục vào thành phố Nam Định.
Ngày 23 tháng 4 năm 1985, chia phường Trường Thi thành 2 phường: Trường Thi và Văn Miếu; chia phường Năng Tĩnh thành 2 phường: Năng Tĩnh và Ngô Quyền; chia phường Cửa Bắc thành 2 phường: Cửa Bắc và Bà Triệu; chia phường Vị Xuyên thành 2 phường: Vị Xuyên và Vị Hoàng; chia phường Trần Tế Xương thành 2 phường: Trần Tế Xương và Hạ Long.
Những năm 1991-1996, tỉnh Hà Nam Ninh tách thành 2 tỉnh Hà Nam và Ninh Bình, thành phố Nam Định trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Nam Hà.
Từ ngày 6 tháng 11 năm 1996, tỉnh Nam Hà tách thành 2 tỉnh Nam Định và Hà Nam, thành phố Nam Định tiếp tục là tỉnh lỵ tỉnh Nam Định (chuyển 7 xã: Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Thành, Mỹ Hưng, Mỹ Hòa, Mỹ Thắng thuộc huyện Bình Lục của tỉnh Hà Nam về thành phố Nam Định quản lý).
Ngày 2 tháng 1 năm 1997, sáp nhập 2 xã Nam Phong và Nam Vân của huyện Nam Ninh (nay là 2 huyện Nam Trực và Trực Ninh) vào thành phố Nam Định.
Ngày 26 tháng 2 năm 1997, tách 11 xã: Mỹ Trung, Mỹ Hưng, Mỹ Hà, Mỹ Thắng, Mỹ Thịnh, Mỹ Tiến, Mỹ Thuận, Mỹ Thành, Mỹ Tân, Lộc Hòa để tái lập huyện Mỹ Lộc.
Ngày 6 tháng 9 năm 1997, chuyển xã Lộc Hòa của huyện Mỹ Lộc vào thành phố Nam Định.
Ngày 9 tháng 1 năm 2004, thành lập phường Lộc Vượng trên cơ sở 420,07 ha diện tích tự nhiên và 7.962 nhân khẩu của xã Lộc Vượng; thành lập phường Lộc Hạ trên cơ sở 349,50 ha diện tích tự nhiên và 6.931 nhân khẩu của xã Lộc Hạ; thành lập phường Thống Nhất trên cơ sở 36,53 ha diện tích tự nhiên và 1.200 nhân khẩu còn lại của xã Lộc Vượng; 0,60 ha diện tích tự nhiên và 221 nhân khẩu còn lại của xã Lộc Hạ; 13,70 ha diện tích tự nhiên và 1.464 nhân khẩu của phường Quang Trung; 18 ha diện tích tự nhiên và 4.193 nhân khẩu của phường Vị Hoàng; thành lập phường Cửa Nam trên cơ sở 127,60 ha diện tích tự nhiên và 4.828 nhân khẩu của xã Nam Phong; 50 ha diện tích tự nhiên và 1.300 nhân khẩu của xã Nam Vân; thành lập phường Trần Quang Khải trên cơ sở 90,60 ha diện tích tự nhiên và 8.489 nhân khẩu của phường Năng Tĩnh.
Ngày 29 tháng 9 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 183/1998/QĐ-TTG công nhận thành phố Nam Định là đô thị loại 2.
Ngày 28 tháng 11 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 2106/QĐ-TTG công nhận thành phố Nam Định là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Nam Định.
== Địa lý ==
=== Vị trí ===
Thành phố Nam Định nằm ở phía bắc của tỉnh Nam Định. Phía bắc, đông bắc giáp tỉnh Thái Bình, phía tây bắc giáp huyện Mỹ Lộc, phía tây nam giáp huyện Vụ Bản, phía đông nam giáp huyện Nam Trực.
Thành phố Nam Định cách Thủ đô Hà Nội 90 km về phía tây bắc, cách thành phố Thái Bình - Tỉnh Thái Bình 18 km và cách thành phố Cảng Hải Phòng 90 km về phía đông bắc, cách thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình 28 km về phía tây nam.
=== Địa hình ===
Thành phố Nam Định tương đối bằng phẳng, trên địa bàn thành phố không có ngọn núi nào. Thành phố có hai con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Nam Định. Trong đó sông Nam Định (sông Đào) nối từ sông Hồng chảy qua giữa lòng thành phố đến sông Đáy làm cho thành phố là một trong những nút giao thông quan trọng về đường thuỷ cũng như có vị trí quan trọng trong việc phát triển thành phố trong tương lai. Như vậy thực ra Nam Định cũng là một thành phố ở ngã ba sông.
== Giao thông ==
Giao thông qua thành phố Nam Định dày đặc và thuận tiện: quốc lộ 10 từ Hải Phòng, Thái Bình đi Ninh Bình chạy qua và Quốc lộ 21B nối Nam Định với Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 38B từ Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam xuống Nam Định, Ninh Bình. Quốc lộ 37 nối Hưng Yên với Nam Định, Thái Bình. Quốc lộ 21A đi Sơn Tây và các huyện Hải Hậu, Giao Thuỷ, Xuân Trường và bãi biển Quất Lâm, Đại lộ Thiên Trường đi Hà Nội. Quốc lộ 39 B Hưng Yên, Thái Bình Nam Định. Tỉnh lộ 490 (đường 55) đi Nghĩa Hưng và bãi biển Thịnh Long. Từ ngoài có 13 tuyến đường xuyên tâm đi đến thành phố. Thành phố Nam Định còn có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua. Ga Nam Định là một trong những ga lớn trên tuyến đường sắt Bắc Nam, thuận tiện cho hành khách vùng nam đồng bằng đi đến các thành phố lớn trong cả nước như Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Nam Định nằm bên hữu ngạn sông Hồng, thuận tiện cho giao thông đường thủy và thuộc tỉnh có 72 km bờ biển.
== Hành chính ==
Thành phố Nam Định năm 2017 có 22 phường: Bà Triệu, Cửa Bắc, Cửa Nam, Hạ Long, Lộc Hạ, Lộc Vượng, Năng Tĩnh, Ngô Quyền, Nguyễn Du, Phan Đình Phùng, Quang Trung, Thống Nhất, Trần Đăng Ninh, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Tế Xương, Trường Thi, Văn Miếu, Vị Hoàng, Vị Xuyên, Lộc An, Lộc Hòa, và 3 xã ngoại thành là: Mỹ Xá, Nam Phong, Nam Vân.
== Đặc điểm và kiến trúc ==
Các phố lớn của Nam Định là Đại lộ Thiên Trường, Đông A, Trần Hưng Đạo, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Trần Phú, Trường Chinh, Giải Phóng, Lê Hồng Phong, Điện Biên, Hàng Tiện, Nguyễn Du, Hùng Vương, Nguyễn Công Trứ, Phù Nghĩa... Tượng đài Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn được đặt trước Nhà hát 3/2, bên bờ hồ Vị Xuyên của Thành phố. Cột cờ Thành Nam là một trong 3 cột cờ ở Việt Nam, mặt chính quay ra phố Tô Hiệu, mặt sau là đường Cột Cờ, được xây dựng từ thời Nguyễn vào năm 1833, đã được xếp hạng Di tích lịch sử Quốc gia năm 1962.
Gắn liền với lịch sử phát triển của Nam Định, cầu Đò Quan là một trong những điểm giao thông quan trọng nối hai bờ sông Đào. Bến Đò Quan đã từng là hải cảng lớn của xứ bắc (trước khi người Pháp xây dựng cảng Hải Phòng). Tàu của hãng Bạch Thái Bưởi chạy nhiều từ Nam Định đi khắp miền Bắc: Hà Nội, Hải Phòng, Vinh... và cả Sài Gòn. Hiện nay thay cho bến Đò Quan ngày xưa cây Cầu Đò Quan nối đôi bờ sông Đào. Từ cầu Đò Quan, về phía thượng lưu có cầu Tân Phong, phía hạ lưu có cầu Nam Định, hai cây cầu to lớn khép kín một vòng tròn đường vành đai S2 (bao gồm một phần QL10, một phần QL21B và đường Lê Đức Thọ). Nối liền với Thái Bình bằng cầu Tân Đệ qua sông Hồng.
Thành phố Nam Định có sự giao thoa giữa kiến trúc cổ điển Việt Nam, kiến trúc nhà liền kề mặt phố của đô thị cổ, kiến trúc Trung Hoa, kiến trúc phương Tây và kiến trúc hiện đại. Có thể chia thành phố Nam Định ngày nay thành ba khu vực: khu phố cổ, khu phố Pháp và các khu mới quy hoạch (Hòa Vượng, Hòa Xá, Cửa Nam, Thống Nhất, Mỹ Trung, khu TĐC Trầm Cá, khu TĐC Đồng Quýt, khu TĐC Phúc Trọng - Bãi Viên...).
=== Khu phố cổ ===
nhỏ|phải|250px|Phố cổ Thành Nam hiện nay. Ảnh chụp phố Hoàng Văn Thụ.
Thành phố đã từng có 40 phố cổ mang tên "Hàng" như Hàng Sắt, Hàng Đồng, Hàng Cau, Hàng Rượu, Hàng Thao, Hàng Mâm, Hàng Bát...
Thành phố Nam Định chủ yếu nằm ở phía bắc sông Đào (còn gọi là sông Nam Định).Nam Định là thành phố cổ thứ hai chỉ sau Hà Nội, có lịch sử xây dựng trước cả Phố Hiến và Hội An, nay đã hơn 750 tuổi. Nếu như Hà Nội xưa có 36 phố phường thì TP Nam Định cũng có 40 phố cổ. Những con phố nhỏ nằm ven bờ sông Đào mang dáng vẻ riêng gắn liền với hơn 750 năm phát triển của Thành Nam. Những phố cổ của Nam Định cũng như Hà Nội là các phố nghề như: Hàng Vàng, Hàng Bát, Hàng Kẹo, Hàng Mâm, Hàng Tiện, Hàng Nâu,Hàng Thao, Hàng Ghế, Hàng Sắt, Hàng Đồng, Hàng Vải Màn, Hàng Rượu, Hàng Sũ v.v... Hiện nay, một số phố không còn giữ lại được tên cổ như ở Hà Nội, và cũng không còn buôn bán những mặt hàng truyền thống tuy nhiên nó vẫn còn phần nào giữ được dáng vẻ cổ kính của nó. Hiện tại ở TP Nam Định còn một số phố mang tên gọi cổ là Hàng Tiện, Hàng Cấp, Hàng Cau, Hàng Thao, Hàng Đồng, Hàng Sắt, Bến Thóc, Bến Ngự, Cửa Trường, Tràng Thi... còn lại phần lớn đã được đổi tên thành Hai Bà Trưng, Hoàng Văn Thụ, Bắc Ninh... Thành phố đang phát triển mạnh lên phía bắc sông Vĩnh Giang và phía nam sông Đào.
=== Khu phố Pháp ===
Từ sau khi thành lập chính phủ Đông Dương năm 1890, người Pháp ở Nam Định đã tách lãnh thổ hành chính thành phố Nam Định ra khỏi huyện Mỹ Lộc, tổ chức thành 12 phố rồi đặt lại tên cho các đường phố.
Năm 1921, Pháp lập ra Thành phố Nam Định, quy hoạch thành 10 khu phố với 40 phố. Khi ấy, Pháp đã lập thêm phố mới sau khi bạt thành lấp hào như:
Avenue Clémenceau (nay là Trần Phú)
Boulevard Galliéni (nay là Hoàng Hoa Thám)
Rue Francis Garnier (nay là Máy Tơ)
Avenue Brière L isle (nay là Trần Quốc Toản)
Boulevard Paul Bert (nay là Trần Hưng Đạo)
=== Kiến trúc hiện đại ===
Ngày nay chính quyền và nhân dân Nam Định đang xây dựng nhiều dự án đó là: khu đô thị mới Hoà Vượng, khu đô thị mới Thống Nhất, khu đô thị mới Mỹ Trung, khu đô thị mới Dệt may Nam Định, khách sạn 4* Nam Cường Nam Định, tổ hợp trung tâm thương thương mại chung cư cao cấp Nam Định Tower... đã nâng cấp công viên Vị Xuyên, Cung đường S2 nối tiếp 1/4 vòng tròn cùng cầu Tân Phong để hoàn thành đường vành đai hình tròn ôm gọn 50 km2 nội đô thành phố hiện nay và các khu đô thị mới...
Giai đoạn 2017-2020: Xây dựng đường trục đô thị phía Nam sông Đào. Đoạn từ tỉnh lộ 490C đến cầu Tân Phong, hoàn thành khu đô thị dệt may, xây dựng khu hành chính trung tâm thành phố,...
== Văn hóa ==
TP. Nam Định có những nét riêng như những con phố nhỏ vào mùa hoa gạo, món ăn đặc sản địa phương hay tiếng còi tầm của nhà máy dệt. Cùng với các con phố cổ, hoa gạo được coi là loài cây đặc trưng của đất và người Nam Định. Khi nhắc đến thành phố Nam Định là nhắc tới những địa điểm văn hoá nổi bật như Hồ Vị Xuyên, ngã tư Cửa Đông, Văn Miếu, đền Trần, phố hoa Nguyễn Du, cửa hàng hoa Cửa Đông... tất cả đã tạo cho Thành Nam một dáng vẻ quyến rũ vào tháng ba.
== Ẩm thực ==
Ẩm thực Nam Định được biết đến với món phở Nam Định nổi tiếng. Ngoài ra còn có các món đặc sản, ẩm thực được sản xuất từ Thành Nam như: bánh gai bà Thi, chuối Ngự, kẹo Sìu Châu, bánh mì Ba Lan, bánh đậu xanh Hanh Tụ, nem nắm, bánh nhãn, bánh cuốn làng Kênh, canh cá rô, xôi xíu, bánh xíu páo, bánh gối, sủi cảo, bánh xu kem...
== Du lịch ==
=== Khu điểm tham quan du lịch ===
Quần thể di tích lịch sử - văn hóa Trần, Bảo tàng tỉnh Nam Định, cột cờ thành Nam Định, nhà số 7 phố Bến Ngự, khu chỉ huy sở nhà máy Dệt, bảo tàng Dệt - May Việt Nam, cửa hàng ăn uống dưới hầm, cửa hàng cắt tóc dưới hầm, tượng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đặt trước Nhà hát 3/2, công viên Vị Xuyên, công viên văn hóa Tức Mặc...
== Các ngành công nghiệp ==
Thành phố Nam Định có nhà máy Dệt Nam Định. Trong chiến tranh Việt Nam, nơi đây là một trong các mục tiêu tấn công của không quân Hoa Kỳ. Nam Định đã bắn rơi nhiều máy bay và bắt sống nhiều phi công Hoa Kỳ, nên đã được gọi là "Thành phố dệt anh hùng"
Hiện nay Nam Định được biết đến như là một khu trọng tâm phát triển chiến lược của ngành Dệt - May Việt Nam và công nghiệp điện tử, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến thực phẩm, đóng tàu... Với trên 20 doanh nghiệp dệt may đang hoạt động trên địa bàn, bạn có thể bắt gặp những doanh nghiệp có tiềm lực lớn và có thương hiệu đó là: Công ty TNHH Dệt Nam Định, Công ty CP may Sông Hồng, Công ty CP may Nam Định [1], Công ty TNHH Youngone (Hàn Quốc)...
Có hẳn một trường chuyên đào tạo lao động kỹ thuật cao cho ngành Dệt May là Trường Cao đẳng Nghề Công nghiệp Dệt May Nam Định với trang thiết bị hiện đại hàng đầu so với các trường đào tạo nghề Dệt May tại VN. Các khu cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố: KCN Hòa Xá diện tích 300 ha, KCN Mỹ Trung 150 ha, cụm công nghiệp An Xá hoàn thành giai đoạn một là 52 ha, giai đoạn hai là 42 ha. Một số KCN sẽ được hình thành trong thời gian tới khi thành phố được mở rộng.
== Kinh Tế ==
Từ năm 2008 đến nay, tốc độ phát triển kinh tế năm sau cao hơn năm trước, đạt bình quân 14,32%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng (98,69%), tỷ trọng nông nghiệp (1,31%), tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu của thành phố chiếm 95% xuất khẩu của tỉnh, tăng bình quân 19%/năm. Năm 2013, tổng thu ngân sách đạt hơn 1.313 tỷ đồng (tăng gấp hai lần so với năm 2011). Năm 2016, thu nhập bình quân đầu người gần 69 triệu đồng/người.
== Tài chính ngân hàng ==
Trên địa bàn thành phố hiện nay có rất nhiều ngân hàng đang hoạt động, tạo điều kiện giao dịch thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân như những ngân hàng sau đây: Ngân hàng HDBank, ngân hàng Á Châu ACB, ngân hàng Vietin Bank, BIDV, Techcom Bank, Vietcom Bank, ngân hàng quân đội MB, Agri Bank, VP Bank, Đông Á Bank, Liên Việt Post Bank, quỹ tín dụng nhân dân Thiên Trường......
== Thương mại ==
=== Chợ ===
Vốn là một đô thị đã có từ lâu đời, thành phố Nam Định được biết đến như một đầu mối giao thương hàng hoá ở Bắc bộ. Trong quá trình lịch sử phát triển trên địa bàn thành phố Nam Định đã hình thành một hệ thống chợ đầy đủ và quy mô phục vụ cho phát triển thương mại ở nơi đây. Tiêu biểu nhất phải kể đến là chợ Rồng và chợ Mỹ Tho nằm ở trung tâm thành phố, cũng là hai chợ cấp 1 của tỉnh Nam Định.
Chợ Rồng là một trong những chợ lớn và có lịch sử lâu đời ở Bắc Kỳ (cùng với chợ Đồng Xuân - Hà Nội, chợ Sắt - Hải Phòng). Chợ Rồng được xây dựng từ năm 1922 do kỹ sư người Pháp từng thiết kế tháp Eiffel và cầu Long Biên thiết kế. Năm 1991 chợ Rồng bị cháy lớn (trước đó từng bị ảnh hưởng của bom Mỹ) và bị hư hỏng nặng, phải phá bỏ hoàn toàn để xây dựng lại ngay trên nền xưa. Theo Quyết định số 012/2007/QĐ-BCT về việc quy hoạch tổng thể phát triển mạng lưới chợ Việt Nam, Chợ Rồng Nam Định có diện tích 10 000 m2.
Chợ Mỹ Tho là một trung tâm buôn bán lớn của tỉnh Nam Định. Đây là chợ đầu mối chuyên doanh các mặt hàng thực phẩm, công nghệ phẩm và hàng tiêu dùng.
Ngoài ra trên địa bàn thành phố còn có các chợ đầu mối như: Chợ Nguyễn Trãi, chợ Phạm Ngũ Lão, chợ Lý Thường Kiệt; và các chợ dân sinh cấp 2: chợ Hoàng Ngân, chợ Cửa Trường, chợ Phù Long, chợ Đồng Tháp, chợ Năng Tĩnh, chợ Diên Hồng, chợ Văn Miếu, chợ Mỹ Trọng, chợ Kênh, chợ Năm Tầng, chợ Hạ Long, chợ Cầu Ốc, chợ Đò Quan, chợ Nam Vân, chợ Lộc An...
=== Trung tâm thương mại ===
Ngoài hệ thống chợ đã có từ lâu đời, trong phát triển theo hướng hiện đại, thành phố Nam Định đã quy hoạch và xây dựng các siêu thị, trung tâm thương mại đồng bộ đáp ứng nhu cầu mua sắm hiện đại của người dân.
Tiêu biểu như trung tâm thương mại Big C Nam Định, trung tâm thương mại Nam Định Tower, Micom Nam Định, các chuỗi siêu thị khác như Thế giới di động, siêu thị điện máy Media mart, Pico, Trần Anh, Điện máy xanh... tương lai là trung tâm thương mại Vincom Nam Định.
== Thể thao ==
Thành phố Nam Định là trung tâm thể thao lớn vùng Nam đồng bằng sông Hồng với cơ sở hạ tầng phục vụ cho thể thao khá quy mô và đồng bộ chỉ sau Hà Nội (ở miền Bắc), đã từng được chọn là một trong những điểm thi đấu của SeaGames 22 với số môn thi đấu nhiều thứ 3 (sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh). Từ năm 1941 đội Cotonkin của Nam Định đã vô địch Đông Dương trong giải đầu tiên. Câu lạc bộ bóng đá Nam Định đã nhiều lần thi đấu thành công ở giải Vô địch quốc gia Việt Nam (V.league 1) một lần vô địch năm 1985. Sân vận động Thiên Trường từng được giới thể thao đánh giá cao về quy mô và vẻ đẹp thẩm mỹ chỉ đứng sau SVĐ quốc gia Mỹ Đình. Ngoài ra còn có nhà thi đấu Trần Quốc Toản, bể bơi Trần Khánh Dư, trường đào tạo VĐV, Cung thể thao cấp vùng với nhà thi đấu đa năng 4000 chỗ ngồi và bể bơi có mái che với 1000 chỗ ngồi đạt tiêu chuẩn quốc tế. Nam Định cũng là nơi đăng cai chính, tổ chức nhiều môn thể thao nhất tại Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ VII - 2014.
== Thành phố kết nghĩa ==
Trong nước: Thành phố Mỹ Tho.
Nước ngoài: Prato, Ý
Để thể hiện tình hữu nghị giữa hai thành phố, hai đất nước Ý - Việt. Nam Định đã đặt tên cho một công viên khang trang hiện đại tại cửa ngõ thành phố là "Công viên Prato". Ở thành phố Prato cũng có con đường mang tên Nam Định với 4 làn xe dài 1,8 km.
Thành phố Nam Định có tên đường Mỹ Tho (khu đô thị mới Thống Nhất), chợ Mỹ Tho và ở thành phố Mỹ Tho cũng có một ngôi trường mang tên trường THCS Nam Định.
== Hình ảnh thành phố Nam Định ==
== Xem thêm ==
Xe buýt nội tỉnh Nam Định
Hành cung Thiên Trường
Đền Trần (Nam Định)
Chùa Phổ Minh
Phố cổ Thành Nam
Thành Nam Định
Cột cờ Nam Định
== Chú thích ==
Cộng đồng Giao Thủy Online |
blues.txt | Nhạc Blues (/bluːz/) có nguồn gốc từ những điệu hát của miền tây Phi Châu được các nô lệ da đen mang sang Bắc Mỹ, đặc biệt là vùng châu thổ sông Mississippi (Mississippi Delta) tại miền nam Hoa Kỳ. Tại vùng đất mới, điệu nhạc thô sơ này được phát triển thêm với các nhạc khí mới và trở nên rất phổ thông trong các cộng đồng nô lệ người Mỹ gốc Phi khi họ tụ tập với mục đích làm việc, gặt hái, tín ngưỡng hay tiêu khiển. Dần dần nhạc Blues cũng được ưa chuộng bởi giới trẻ da trắng Hoa Kỳ. Từ đó nó đã có ảnh hưởng đến hầu hết các loại nhạc tại Bắc Mỹ: nhạc Jazz, Big bands, Ragtime, Rhythm & Blues (R&B), Soul, Rock and roll, nhạc Pop, nhạc đồng quê và ngay đến nhạc cổ điển của thế kỷ 20.
Motif blues, dùng phổ biến trong nhạc jazz, blues và rock and roll, được đặc trưng bởi các gam tiến, trong đó blues mười hai thanh là phổ biến nhất. Các nốt nhạc blues, với mục đích biểu cảm, được hát hoặc chơi ngang hoặc chuyển dần (từ cung thứ 3 đến cung trưởng thứ 3) trong giọng tương ứng. Đây cũng là một phần đặc trưng quan trọng của loại nhạc này.
Blues là một thể loại nhạc có những đặc điểm khác như lời bài hát, dòng âm bass, và các nhạc cụ riêng. Blues có các loại nhạc blues nhỏ hơn bao gồm blues đồng quê, chẳng hạn như nhạc blues Delta, blues Piedmont và blues Texas, và blues phong cách đô thị như Chicago blues và West Coast blues. Thế chiến II đánh dấu sự chuyển đổi từ blues acoustic sang blues điện và giới thiệu nhạc blues cho một đối tượng công chúng rộng lớn hơn, đặc biệt là những người da trắng. Trong năm 1960 và 1970, một hình thức lai tạo gọi là blues-rock đã phát triển và định hình.
Ngày nay, nhạc Blues được thưởng thức hay trình diễn bởi nhiều sắc dân của các văn hóa khác nhau trên khắp thế giới: từ Nhật sang đến Anh, từ Đông Âu cho đến Nam Mỹ, từ Nga xuống đến Úc.
== Từ nguyên học ==
Từ này có thể xuất phát từ thuật ngữ blue devils - "quỷ xanh", có nghĩa là u sầu và buồn bã. Việc sử dụng đầu tiên của blues theo ý nghĩa này được thực hiện trong một màn hài kịch một hồi Blue Devils của George Colman (1798). Mặc dù trong âm nhạc người Mỹ gốc Phi từ trước đó đã có thể sử dụng từ này, nó đã được chứng thực từ năm 1912, khi "Dallas Blues" Hart Wand đã trở thành tác phẩm nhạc blues có bản quyền đầu tiên. Trong lời bài hát blues thường được sử dụng để mô tả một tâm trạng chán nản.
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
Barlow, William (1993). “Cashing In”. Split File: African Americans in the Mass Media: 31.
Bransford, Steve. "Blues in the Lower Chattahoochee Valley" Southern Spaces 2004
Clarke, Donald (1995). The Rise and Fall of Popular Music. St. Martin's Press. ISBN 978-0-312-11573-9.
Lawrence Cohn biên tập (1993). Nothing But the Blues: The Music and the Musicians. Abbeville Publishing Group (Abbeville Press, Inc.). ISBN 978-1-55859-271-1.
Dicaire, David (1999). Blues Singers: Biographies of 50 Legendary Artists of the Early 20th Century. McFarland. ISBN 978-0-7864-0606-7.
Ewen, David (1957). Panorama of American Popular Music. Prentice Hall. ISBN 978-0-13-648360-1.
Ferris, Jean (1993). America's Musical Landscape. Brown & Benchmark. ISBN 978-0-697-12516-3.
Garofalo, Reebee (1997). Rockin' Out: Popular Music in the USA. Allyn & Bacon. ISBN 978-0-205-13703-9.
Herzhaft, Gérard, Paul Harris and, Brigitte Debord (1997). Encyclopedia of the Blues. University of Arkansas Press. ISBN 978-1-55728-452-5.
Komara, Edward M. (2006). Encyclopedia of the blues. Routledge. ISBN 978-0-415-92699-7.
Kunzler, Martin (1988). Jazz Lexikon (bằng tiếng Đức). Rohwolt Taschenbuch Verlag. ISBN 978-3-499-16316-6. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
Morales, Ed (2003). The Latin Beat. Da Capo Press. ISBN 978-0-306-81018-3.
Paul Oliver and Richard Wright (1990). Blues Fell This Morning. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-37793-5.
Palmer, Robert (1981). Deep Blues. Viking. tr. 310 pages. ISBN 978-0-670-49511-5.
Schuller, Gunther (1968). Early Jazz: Its Roots and Musical Development. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-504043-2.
Southern, Eileen (1997). The Music of Black Americans. W. W. Norton & Company. ISBN 978-0-393-03843-9.
Curiel, Jonathan (ngày 15 tháng 8 năm 2004). “Muslim Roots of the Blues”. SFGate. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2005.
== Đọc thêm ==
Brown, Luther. "Inside Poor Monkey's", Southern Spaces, ngày 22 tháng 6 năm 2006.
Dixon, Robert M.W., and John Godrich (1970). Recording the Blues. London: Studio Vista. 85 p., amply ill. SBN 289-79829-9
Oakley, Giles (1976). The Devil's Music: a History of the Blues. London: BBC. tr. 287. ISBN 978-0-563-16012-0.
Keil, Charles (23 tháng 4 năm 1991). Urban Blues. Chicago, IL: University of Chicago Press. tr. 255 + ix + 8pp of plates. ISBN 978-0-226-42960-1.
Oliver, Paul (1998). The Story Of The Blues . Northeastern University Press. tr. 212. ISBN 978-1-55553-355-7.
Oliver, Paul (1965). Conversation with the Blues, Volume 1. New York: Horizon Press. tr. 217. ISBN 978-0-8180-1223-5.
Rowe, Mike (1973). Chicago Breakdown. Eddison Press. tr. 226 pages. ISBN 978-0-85649-015-6.
Titon, Jeff Todd (1994). Early Downhome Blues: a Musical and Cultural Analysis (ấn bản 2). University of North Carolina Press. tr. 318 pages. ISBN 978-0-8078-4482-3.
Welding, Peter, and Toby Brown, jt. eds. (1991). Bluesland: Portraits of Twelve Major American Blues Masters, in series, Dutton Book[s]. New York: Penguin Group. 253, [2] p., ill., chiefly with b&w photos. ISBN 0-525-93375-1
== Liên kết ngoài ==
Blues tại DMOZ
The American Folklife Center's Online Collections and Presentations
American Music: An almost comprehensive collection of historical blues recordings.
The Blue Shoe Project - Nationwide (U.S.) Blues Education Programming
"The Blues", documentary series by Martin Scorsese, aired on PBS
The Blues Foundation
The Delta Blues Museum
The Music in Poetry – Viện Smithsonian lesson plan on the blues, for teachers
American Music: Archive of artist and record label discographies |
sông hằng.txt | Sông Hằng (tiếng Hindi: गंगा, tiếng Bengal: গঙ্গা, tiếng Phạn: गङ्गा / Ganga, Hán-Việt: 恒河 / Hằng hà) là con sông quan trọng nhất của tiểu lục địa Ấn Độ. Sông Hằng dài 2.510 km bắt nguồn từ dãy Hymalaya của Bắc Trung Bộ Ấn Độ, chảy theo hướng Đông Nam qua Bangladesh và chảy vào vịnh Bengal. Tên của sông được đặt theo tên vị nữ thần Hindu Ganga. Sông Hằng có lưu vực rộng 907.000 km², một trong những khu vực phì nhiêu và có mật độ dân cao nhất thế giới.
Sông Hằng là sông linh thiêng nhất đối với Ấn Độ Giáo. Con sông là nguồn sống của hàng triệu người Ấn Độ sống dọc theo nó và phụ thuộc vào nó hàng ngày. Con sông có vai trò quan trọng về lịch sử với nhiều thủ đô, thủ phủ của các đế quốc trước đây (như Pataliputra, Kannauj, Kara, Kashi, Allahabad, Murshidabad, Munger, Baharampur, Kampilya, và Kolkata) nằm dọc theo bờ sông này.
Sông Hằng được xếp thứ 5 trên thế giới về mức độ ô nhiễm năm 2007. Sự ô nhiễm đe dọa không chỉ đối với con người mà còn hơn 140 loài cá, 90 loài lưỡng cư và cá heo sông Hằng. Chương trình Hành động sông Hằng với mục tiêu nhằm cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường của sông hầu như thất bại hoàn toàn, do thiếu chuyên môn kỹ thuật, thiếu quy hoạch môi trường tốt, và thiếu sự hỗ trợ của các chức sắc tôn giáo.
== Dòng chảy ==
=== Thượng lưu ===
Sông Hằng được tạo thành ở nơi hợp lưu hai con sông đầu nguồn là sông Bhagirathi và sông Alaknanda ở dãy núi Himalaya của bang Uttaranchal thuộc Ấn Độ. Nguồn nước thường được mọi người thừa nhận là sông Bhagirathi, một con sông bắt nguồn từ động băng Gomukh tại độ cao 3.892 m ở tận cùng của sông băng Gangotri và là con sông nhỏ hơn trong hai phụ lưu chính ở đầu nguồn của sông Hằng. Sông Alaknanda được tạo thành từ những khối băng tuyết tan ra từ các đỉnh núi như Nanda Devi(7,816 m/25,643 ft),Trisul(7,120 m/23,360 ft) và Kamet (7.756 m/25.446 ft), hai sông nhánh này chảy về phía Nam qua trung độ Haymalaya đến nơi hội tụ của chúng để tạo nên sông Hằng.
Ngoài sông Bhagirathi và sông Alaknada, còn có bốn sông khác cũng được coi là các nguồn của sông Hằng là sông Dhauliganga, sông Nandakini, sông Pindar và sông Mandakini. Năm chỗ hợp lưu của chúng gọi là Prayag Panch, tất cả đều nằm dọc theo sông Alaknanda, theo thứ tự từ thượng nguồn trở xuống là:
Sông Alaknanda hợp lưu với sông Dhauliganga ở Vishnuprayag;
Sông Alaknanda hợp lưu với sông Nandakini ở Nandprayag;
Sông Alaknanda hợp lưu với sông Pindar ở Karnaprayag;
Sông Alaknanda hợp lưu với sông Mandakini ở Rudraprayag;
Sông Alaknanda hợp lưu với sông Bhagirathi ở Devprayag tạo thành sông Hằng.
=== Trung lưu ===
Sau khi chảy hơn 200 km (125 dặm), sông Hằng đến thành phố Haridwar (độ cao 310 m/1.020 ft), nơi nó xẻ dọc Dãy núi Siwalik và bắt đầu chảy theo hướng nhìn chung là Đông-Nam qua Đồng bằng sông Hằng. Tại Haridwar, một con đập đã chuyển hướng nước đến Kênh thượng lưu sông Hằng.
Chảy qua thành phố Haridwar, sông Hằng tiếp tục chảy thêm một khoảng cách gần 800 km (500 dặm) qua các thành phố Kannauj, Farukhabad và Kanpur một cách ngoằn ngoèo và không thể lưu thông bằng tàu thuyền được do có nhiều chỗ nông và thác ghềnh. Ở đoạn này, sông Hằng hợp lưu với sông Ramganga, một con sông có lưu lượng trung bình khoảng 500 m³/s(18,000 cu ft/s) chảy xuống từ dãy Hymalaya.
Tại thành phố Allahabad, sông Hằng được sông Yamuna, phụ lưu lớn nhất của nó theo chiều dài, bắt nguồn từ sông băng Yamunotri ở Hymalaya nhập vào từ hướng Tây Nam. Hai dòng sông này hợp lưu ở Triveni Sangam- Prayag ở giữa Allahabad, đây cũng là một chỗ hợp lưu linh thiêng đối với Hindu giáo giống như các chỗ hợp lưu ở thượng nguồn sông Hằng. Ở chỗ hợp lưu, sông Yamuna thậm chí còn rộng hơn cả sông Hằng với làn nước màu xanh lục, tỉnh lặn và sâu thẳm, có lưu lượng khoảng 2,950 m3/s (104,000 cu ft/s), chiếm tới khoảng 58.5% tổng lưu lượng sông Hằng ở đây; còn sông Hằng thì nông cạn hơn, chảy xiết hơn và nước trong hơn.
Sông Hằng chảy theo hướng Đông, hợp lưu với sông Tamsa(còn được gọi là sông Ton), một con sông có lưu lượng khoảng 190 m3/s (6,700 cu ft/s) chảy từ dãy núi Kaimur lên phía Bắc. Sau khi hợp lưu với sông Tamsa, sông Hằng tiếp tục hợp lưu với sông Gomti, một con sông có lưu lượng khoảng 234 m3/s (8,300 cu ft/s) chảy từ dãy Hymalaya xuống phía Nam.
Sau đó, sông Hằng hợp lưu với phụ lưu lớn nhất của nó tính theo lưu lượng và lớn thứ hai tính theo độ dài là sông Ghaghara, có lưu lượng khoảng 2,990 m3/s (106,000 cu ft/s), nhập vào sông Hằng ở tả ngạn. Sông Ghaghara được tạo thành ở nơi hợp lưu của hai con sông đầu nguồn là sông Karnali bắt nguồn từ sông băng Mapchachungo ở Tây Tạng và sông Sarda bắt nguồn ở Hymalaya. Cả hai con sông này cùng cắt xẻ dãy Hymalaya rồi chảy xuống đồng bằng Ấn-Hằng nhập lại thành sông Ghaghara.
Sau khi hợp lưu với sông Ghaghara, sông Hằng được sông Son, phụ lưu lớn nhất của nó chảy từ phía Nam lên với lưu lượng khoảng 1,000 m3/s (35,000 cu ft/s) nhập vào. Sông Hằng tiếp đó được sông Gandaki, một con sông có lưu lượng khoảng 1,654 m3/s (58,400 cu ft/s), bắt nguồn ở biên giới Tây Tạng(Trung Quốc)-Nepal trên dãy Hymalaya chảy theo xuống phía nam hợp lưu với sông Hằng. Sau khi sông Gandaki hợp lưu với sông Hằng, Sông Kosi, phụ lưu lớn thứ ba của sông Hằng sau sông Yamuna và sông Ghaghara, bắt nguồn từ Tây Tạng, có lưu lượng khoảng 2,166 m3/s (76,500 cu ft/s) hợp lưu với sông Hằng.
Từ thành phố Allahabad đến thành phố Malda của bang West Bengal, sông Hằng lần lượt chảy qua các thành phố khác như Chunar, Mirzapur, Varanasi, Ghazipur, Patna, Bhagalpur, Ballia, Buxar, Simaria, Sultanganj, và Saidpur.
=== Hạ lưu ===
Qua Bhagalpur, sông chạy quanh dãy đồi Rajmahal tại biên giới Bangladesh và bắt đầu chảy theo hướng Nam-Đông Nam. Ở đây, qua hướng Nam là Đồng bằng châu thổ sông Hằng, cách Allahabad khoảng 900 km về phía thượng lưu và cách Vịnh Bengal 450 km về phía hạ lưu. Gần Pakaur, Ấn Độ, sông Hằng chia nhánh. Nhánh Bhagirathi-Hooghly chảy về hướng Nam để tạo nên sông Hoogly, là nhánh cực Tây của đồng bằng châu thổ, cũng như là kênh vận chuyển đường thủy chính của khu vực đồng bằng này. Các tàu biển có thể chạy vào Hoogly từ cửa sông Hằng ở Vịnh Bengal đến thành phố Kolkata nằm cách cửa sông khoảng 130 km phía thượng lưu. Từ giữa thập niên 1970, Ấn Độ đã chuyển hướng nước vào sông Hoogly hay lắng bùn để tăng khả năng vận chuyển đến thành phố Kolkata nhưng điều này đã dẫn đến tranh chấp về quyền sử dụng nước với quốc gia láng giềng Bangladesh. Sông Hoogly được tạo thành từ sự hợp lưu của sông Bhagirathi-Hoogly và sông Jalangi ở thành phố Nabadwip. Con sông cũng có những phụ lưu riêng của nó, trong đó lớn nhất là sông Damodar dài 541 km (336 mi) và có lưu vực rộng 25,820 km² (9,970 sq mi). Nơi sông Hoogly đổ vào vịnh Bengal nằm ở gần đảo Sagar. Từ thành phố Malda đến cửa sông Hoogly, con sông này đã lần lượt chảy qua các thị trấn và thành phố như Murshidabad, Nabadwip, Kolkata and Howrah.
Nhánh chính của sông Hằng tiếp tục chảy qua Bangladesh, nơi có đoạn nó được gọi là sông Padma. Sông Hằng đã tạo ra nhiều nhánh sông tạo thành một mạng lưới đường thủy cũng như tạo ra một trong những đồng bằng châu thổ rộng lớn và phì nhiêu nhất thế giới. Do sông Hằng mang theo trong mình lượng phù sa lớn nên vùng đồng bằng châu thổ do nó tạo ra tiếp tục mở rộng về phía vịnh. Ở phía nam đồng bằng là quần đảo Sundarbans-một trong ba quần đảo lớn của Ấn Độ, gồm một hệ thống các đảo do phù sa sông Hằng tạo nên và được rừng ngặp mạn bao phủ. Sundarbans đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới.
Sông Padma tiếp tục chảy theo hướng Nam và được nhận thêm nước từ sông Jamuna đổ vào. Đây là phân lưu lớn nhất của sông Brahmaputra, một con sông hùng mạnh bắt nguồn từ sông băng Angsi ở sơn nguyên Tây Tạng, nó đã tạo thành nên hẻm núi lớn nhất thế giới- hẻm núi Yarlung-Tsangpo trên sơn nguyên này rồi cắt xẻ dãy Hymalaya trước khi chảy xuống đồng bằng Ấn-Hằng. Sông Jamuna là một con sông lớn, rộng khoảng 8–13 km (5–8 miles) từ bờ này sang bờ kia vào mùa mưa lũ và khoảng 3.2–4.8 km (2–3 miles) vào mùa khô, độ sâu trung bình của sông là khoảng 38 m, lưu lượng của nó thậm chí còn lớn hớn cả sông Padma tại chỗ hợp lưu, vào khoảng 19,300 m3/s (681,600 cu ft/s). Sau khi hợp lưu với sông Jamuna, sông Padma đã mở rộng ra rất nhiều, sâu khoảng vài trăm mét, lưu lượng trung bình lên đến 35,000 m³/s (1,200,000 cu ft/s).
Sau khi hợp lưu với sông Jamuna, sông Padma tiếp tục hợp lưu từ sông Meghna. Giống như sông Padma, sông Meghna cũng được nhận thêm nước từ sông Brahmaputra thông qua các phân lưu khác của nó như sông Brahmaputra cũ, sông Sitaiakhya và sông Dhaleshwari. Ngoài các phân lưu của sông Brahmaputra trên, sông Meghna còn có những phụ lưu khác, tiêu biểu là sông Gumti, sông Feni,... Sau khi hợp lưu, sông Padma được đổi tên thành sông hạ Meghna. Do nhận được nước từ cả ba hệ thống sông lớn là hệ thống sông Hằng, hệ thống sông Brahmaputra-Yarlung Tsangpo, hệ thống sông sông Meghna-Surma-Barak nên sông hạ Meghna là con sông lớn nhất đổ vào vịnh Bengal, nó rộng 30 km và có lưu lượng rất lớn là 42,470 m3/s (1,499,814 cu ft/s), đứng thứ ba thế giới sau sông Amazon và sông Congo vào mùa cạn và đứng thứ hai thế giới chỉ sau sông Amazon vào mùa lũ. Sông hạ Meghna đổ vào vịnh Bengal qua bốn cửa sông: Tetulia, Shahbazpur, Hatia, and Bamni.
== Thủy lợi và Thủy điện ==
Sông Hằng và các chi lưu của nó, đặc biệt là sông Yamuna, đã được sử dụng cho tưới tiêu từ thời cổ đại. Các đập và kênh đào đã phổ biến ở đồng bằng sông Hằng từ thế kỷ 4 TCN. Lưu vực sông Hằng-Brahmaputra-Meghna có tiềm năng thủy điện rất lớn, ước tính vào khoảng 200.000 đến 250.000 MW, gần phân nửa trong số đó dễ dàng khai thác. Đến năm 1999, Ấn Độ đã khai thác khoảng 12% tiềm năng thủy điện của sông Hằng và chỉ 1% tiềm năng to lớn của Brahmaputra.
== Tầm quan trọng về kinh tế ==
Lưu vực sông Hằng là khu vực đông dân nhất, sản xuất nông nghiệp lớn nhất và rộng lớn nhất ở Ấn Độ. Ở châu Á, chỉ có vùng Bình nguyên Hoa Bắc của Trung Quốc và đồng bằng sông Hồng của Việt Nam là có mật độ dân cư tương tự ở lưu vực này. Ở phần phía Tây của đồng bằng sông Hằng, con sông này cung cấp nước tưới và một hệ thống kênh rạch chằng chịt với các kênh huyết mạch chính là Kênh Thượng lưu sông Hằng và Kênh Hạ lưu sông Hằng. Các loại lương thực và hoa màu trồng trọt và thu hoạch ở khu vực này có: lúa, mía đường, đậu lăng, hạt có dầu, khoai tây và lúa mỳ. Hầu như cả khu vực đồng bằng sông Hằng đã bị khai hoang hết rừng cây và cỏ để phục vụ cho nông nghiệp.
Thông thường, hai bên bờ sông Hằng có các vùng đầm lầy và các hồ nước. Ở các khu vực đầm lầy và các khu vực ao hồ này, người ta trồng rau, lúa, ớt, cây mù tạc, vừng (mè) và cây đay. Một số khu vực khác có rừng đước và có cá sấu sinh sống.
Do sông Hằng được cấp nước từ các đỉnh núi phủ băng tuyết, lượng nước của nó vẫn giữ mức cao quanh năm và dòng sông vẫn được sử dụng làm thủy lợi thậm chí vào mùa khô và nóng từ tháng 4 đến tháng 6. Vào mùa mưa mùa Hè, lượng mưa lớn có thể gây lũ lụt hoành hành, đặc biệt là vùng đồng bằng châu thổ.
== Tầm quan trọng về tôn giáo ==
Những người dân tộc Hindu, dân tộc chiếm đa số trong dân số Ấn Độ, xem sông Hằng là một dòng sông thiêng: Ganga là con gái của thần núi Himavan hay Himalaya. Theo tín ngưỡng Hindu, tắm trên sông Hằng được xem là gột rửa mọi tội lỗi, và nước sông được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ thờ cúng. Uống nước sông Hằng trước khi chết là một điềm lành và nhiều người Hindu đã yêu cầu được hỏa thiêu dọc hai bên sông Hằng và lấy tro thiêu của họ rải lên dòng sông.
Những người hành hương Hindu hành hương đến các thành phố thánh Varanasi, nơi các nghi lễ tôn giáo thường được cử hành; Haridwar được tôn sùng vì nó là nơi sông Hằng rời dãy Himalaya; còn Allahabad, nơi dòng sông Saraswati huyền thoại được người ta tin là chảy vào sông Hằng. Mỗi 12 năm, một lễ hội Purna Kumbha (Vạc Đầy) được tổ chức ở Haridwar và Allahabad mà trong các lễ hội này hàng triệu người đến để tắm trong sông Hằng. Những người hành hương cũng đến các địa điểm linh thiêng khác gần các thượng nguồn sông Hằng, bao gồm đền thờ dưới núi băng Gangotri.
== Ô nhiễm ==
Sông Hằng đang gánh chịu các mức ô nhiễm cực kỳ cao, với sự ảnh hưởng của 400 triệu dân sống gần con sông. Nước cống từ các thành phố dọc theo các đoạn sông, chất thải công nghiệp và vật dâng hiến tôn giáo bao gọc bởi các túi nhựa không thể phân hủy là những nguồn gây ô nhiễm chính đối với con sông khi nó chảy qua các khu đông dân cư. Vấn đề càng trầm trọng hơn bởi một thực tế rằng nhiều người nghèo phụ thuộc vào con sông từ các nhu cầu thiết yếu như tắm giặt và nấu nướng. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới chi phí chăm sóc sức khỏe từ nguồn nước ô nhiễm ở Ấn Độ bằng 3% GDP của Ấn Độ. Cũng có nhận định rằng 8% tất cả các bệnh ở Ấn Độ và 1/3 ca tử vong có thể là do các bệnh liên quan đến nguồn nước.
Varanasi, thành phố 1 triệu dân có nhiều người hành hương đến để tắm nước tháng trong sông Hằng, đã thải ra khoảng 200 triệu lít nước cống rãnh mỗi ngày của con người chưa qua xử lý, làm cho làm lượng vi khuẩn faecal coliform tăng cao. Theo các tiêu chuẩn hiện hành, nước an toàn cho tắm không chứa quá 500 con F. Coli trên 100ml nước, tuy vậy, thượng nguồn các ghat (bậc thang xuống sông) ở Varanasi nước sông đã chứa lượng vi khuẩn F. Coli gấp 120 lần vào khoảng 60.000 faecal coliform/100 ml.
Sau khi hỏa táng những người hóa cố ở các bậc đá của Varanasi, xương và tro được ném xuống sông Hằng. Tuy nhiên, trong quá khứ từng có hàng ngàn xác không được hỏa táng ném xuống sông trong các trận dịch tả, làm phát tán dịch bệnh. Thậm chí ngày nay, holy men, phụ nữ mang thai, người có bệnh phong/thủy đậu, người bị rắn cắn, người tự tử, người nghèo và trẻ em dưới 5 tuổi không được hỏa táng tại các bậc đá nhưng được thả trôi để phân hủy trong nước. Ngoài ra, những người không có đủ một lượng gỗ lớn để hỏa táng toàn bộ thi thể, bỏ lại nhiều phần cơ thể bị đốt phân nửa.
Sau khi đi qua Varanasi, và tiếp nhận 32 dòng nước thải chưa xử lý của thành phố, hàm lượng F. Coli trong sông tăng lên từ 60.000 đến 1,5 triệu, với giá trị đỉnh quan sát được là 100 triệu/100 ml. Uống và tắm trong dòng nước này có nguy cơ bị lây nhiễm rất cao.
Trong khoảng năm 1985 và 2000, 10 tỉ Rs. tương đương 226 triệu USD được tiêu tốn cho chương trình hành động sông Hằng, đây là một sáng kiến môi trường trong nỗ lực làm sạch một dòng sông ô nhiễm nhất trên thế giới." Chương trình hành động sông Hằng đã được miêu tả theo nhiều cách khác nhau là một sự thất bại hoặc một thất bại lớn.
Sự thất bại của chương trình này từ nhiều lý do khác nhau như "quy hoạch môi trường mà không hiểu đúng những mối tương tác giữa con người-môi trường," "tập quán và tín ngưỡng" của người Ấn Độ," "tham nhũng và thiếu kiến thức về công nghệ" và "thiếu sự hỗ trợ từ các cơ quan tôn giáo."
Tháng 12 năm 2009, Ngân hàng Thế giới đồng ý cho Ấn Độ vay 1 tỉ USD trong vòng 5 năm tới để giúp cứu vãn con sông. Theo ước tính của Ủy ban Kế hoạch, cần số vốn đầu tư 70 tỉ Rs (tương đương 1,5 tỉ USD) để làm sạch con sông.
Tháng 11 năm 2008, sông Hằng là sông duy nhất của Ấn Độ được công nhận là "Sông quốc gia", nhằm mở đường so sự hình thành Cơ quan quản lý lưu vực sông Hằng, là một cơ quan có quyền cao hơn trong việc quy hoạch, thực hiện và giám sát các biện pháp bảo vệ con sông.
Tỷ lệ mắc bệnh từ nước và ruột - chẳng hạn bệnh đường tiêu hóa, tả, lỵ, viêm gan A và thương hàn - trong số những người người sử dụng nước sông để tắm, rửa bát và đánh răng là cao, khoảng 66% mỗi năm.
Nghiên cứu gần đây của Hội đồng nghiên cứu y học Ấn Độ (ICMR) nói rằng sông như vậy là đầy đủ các chất ô nhiễm giết người mà những người sống dọc theo các bờ sông ở bang Uttar Pradesh, Bihar và Bengal dễ bị ung thư hơn so với bất cứ nơi nào khác trong cả nước. Thực hiện bởi Chương trình Đăng ký ung thư quốc gia thuộc ICMR, nghiên cứu đưa ra những phát hiện gây sốc cho thấy sông chứa đầy kim loại năng và các hóa chất gây chết người gây ra ung thư. Theo Phó Tổng Giám đốc NCRP A. Nandkumar, tỷ lệ mắc bệnh ung thư cao nhất trong cả nước ở những khu vực thóa nước từ Sông Hằng và nói rằng vấn đề sẽ được nghiên cứu sâu sắc và với những phát hiện được trình bày trong một báo cáo của Bộ Y tế nước này.
== Sinh thái và môi trường ==
=== Cá heo sông Hằng ===
Cá heo sông Hằng từng được sử dụng trong các trường học lớn ở các trung tâm đô thị ở cả sông Hằng và sông Brahmaputra, hiện nay bị đe dọa nghiêm trọng do ô nhiễm và việc xây đập. Số cá thể của chúng hiện giảm xuống còn 1/4 so với số lượng cách đây 15 năm, và hiện đã tuyệt chủng ở một số nhánh chính của sông Hằng. Một cuộc khảo sát gần đây của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên chỉ thấy còn 3000 cá thể thuộc lưu vực của hai sông này.
Cá heo sông Hằng là một trong 4 loài cá heo nước ngọt trên thế giới. Ba loài khác là cá heo sông Dương Tử (Lipotes vexillifer) sống trên sông Dương Tử ở Trung Quốc, hiện có thể đã tuyệt chủng; bhulan của sông Ấn ở Pakistan; và boto của sông Amazon ở Brazil. Có nhiều loài cá heo biển mà dãi phân bố của chúng cũng bao gồm các môi trường nước ngọt, nhưng 4 loài này là các loài chỉ có thể sống trong môi trường nước ngọt ở sông hoặc hồ.
=== Cạn kiệt nguồn nước ===
Cùng với sự gia tăng ô nhiễm chưa từng thấy, sự cạn kiệt nguồn nước ngày càng trở nên tê ở ở dòng sông này. Một số đoạn sông đã cạn kiệt hoàn toàn. Khu vực quanh Varanasi, dòng sông từ có độ sâu trug bình 60 mét (200 ft), nhưng ở một số nơi hiện nay chỉ sâu 10 mét (33 ft).
== Xem thêm ==
Sông Ấn
Brahmaputra
Nữ thần sông Hằng
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Berwick, Dennison. A walk along the Ganges. Dennison Berwick. ISBN 978-0-7137-1968-0.
Cautley, Proby Thomas (1864). Ganges canal. A disquisition on the heads of the Ganges of Jumna canals, North-western Provinces. London, Printed for Private circulation.
Fraser, James Baillie (1820). Journal of a tour through part of the snowy range of the Himala Mountains, and to the sources of the rivers Jumna and Ganges. Rodwell and Martin, London.
Hamilton, Francis (1822). An account of the fishes found in the river Ganges and its branches. A. Constable and company, Edinburgh.
Hydrology and water resources of India. Springer. 2007. ISBN 978-1-4020-5180-7.
== Liên kết ngoài ==
ON THINNER ICE 如履薄冰: signs of trouble from the Water Tower of Asia, where headwaters feed into all the great rivers of Asia (by GRIP, Asia Society and MediaStorm)
Ganges in the Imperial Gazetteer of India, 1909
Melting Glaciers Threaten Ganges
An article about the land and the people of the Ganges |
1787.txt | Năm 1787 (MDCCLXXXVII) là một năm thường bắt đầu vào thứ hai theo lịch Gregory (hoặc năm thường bắt đầu vào thứ sáu theo lịch Julius chậm hơn 11 ngày).
== Sự kiện ==
=== Tháng 4 ===
Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền tại Hà Bắc không nghe lệnh Tây Sơn.
=== Tháng 5 ===
Nguyễn Hữu Chỉnh đánh bại và giết Dương Trọng Tế.
=== Tháng 8 ===
Nguyễn Ánh về nước đóng quân tại Nước Xoáy Sa Đéc.
Nguyễn Hữu Chỉnh đánh bại Hoàng Phùng Cơ.
=== Tháng 11 ===
Ngày 25: Vũ Văn Nhậm đánh bại Nguyễn Hữu Chỉnh tại sông Thanh Quyết
== Sinh ==
Juana Galán
== Mất ==
== Tham khảo == |
cộng hòa sakha.txt | Cộng hòa Sakha (Yakutia) (tiếng Nga: Республика Саха (Якутия), chuyển tự. Respublika Sakha (Yakutiya), IPA [rʲɪsˈpublʲɪkə sɐˈxa jɪˈkutʲɪjə]; tiếng Sakha: Саха Өрөспүүбүлүкэтэ, Saxa Öröspüübülükete, IPA: [saˈxa øɾøsˈpyːbylykete]) là một chủ thể liên bang của Nga (một nước cộng hòa). Nước này có dân số 958.528 (thống kê 2010), chủ yếu gồm người Yakut và người Nga.
Chiếm khoảng một nữa Vùng liên bang Viễn Đông, đây là vùng phân cấp hành chính lớn nhất thế giới với diện tích 3.083.523 kilômét vuông (1.190.555 sq mi) và là lãnh thổ lớn thứ tám thế giới, nếu hệ thống chủ thể liên bang của Nga được xem ra so sánh. Nó lớn hơn Argentina và nhỏ hơn Ấn Độ (3.287.590 kilômét vuông (1.269.350 sq mi)). Thủ đô là thành phố Yakutsk. Cộng hòa Sakha là một trong mười nước cộng hòa của các dân tộc Turk thuộc Liên bang Nga. Cộng hòa Sakha được biết đến vì khí hậu khắc nghiệt, với nhiệt độ thấp nhất Bắc bán cầu được ghi nhận tại Verkhoyansk và Oymyakon (nhiệt độ trung bình mùa đông thường xuyên thấp dưới −35 °C (−31 °F) ở nhiều điểm dân cư, gồm cả Yakutsk). Tuy vậy, mùa hè tại đây lại rất ấm.
== Lịch sử ==
Người Turk Sakha (người Yakut) đến này vào khoảng thời gian khá gần đây là thế kỷ 13 từ khu vực Trung Á. Họ có nguồn gốc hỗn hợp Turk (Đột Quyết) và Mông Cổ. Họ đã tiến hành chinh phục các bộ lạc Altai săn bắn-hái lượm bản địa và bắt đầu tự gọi mình là "Sakha", nguồn gốc của từ này chưa rõ ràng và có nhiều tranh luận.
Người Evenk gọi người Sakha là "Yako" và thuật ngữ này được người Nga sử dụng khi họ đến khu vực vào thế kỷ thứ 17. Tygyn, một vị vua của người Yakut Khangalassky, đã chấp thuận việc người Nga định cư để đổi lấy hiệp ước quân sự mà trong đó bao gồm cả chiến tranh chống lại các cuộc nổi loạn của người bản địa tại toàn bộ vùng phía Đông của Bắc Á (Magadan, Chukotka, Kamchatka và Sakhalin). Vua của người Yakut Megino-Khangalassky, Kull bắt đầu một âm mưu bằng cách cho xây dựng các hàng rào phòng thủ đầu tiên. Vào tháng 8 năm 1638, triều đình ở Moskva cho thành lập một đơn vị hành chính mới với trọng tâm là Lensky Ostrog.
Có nhiều điều bí ẩn về việc di cư đến và nguồn gốc của những người định cư Nga tại Russkoye Ustye, là nơi cực kỳ biệt lập tại đồng bằng Indigirka, họ được biết đến với nét văn hóa cổ xưa. Hầu hết các sử gia nghiên cứu rằng họ đến nơi này vào một khoảng thời gian nào đó trong thế kỷ 17
Người Nga hình thành nên một nền nông nghiệp tại lưu vực sông Lena. Các thành viên của các nhóm tôn giáo bị lưu đày đến Sakha vào nửa sau thế kỷ 19 bắt đầu trồng lúa mì, yến mạch và khoai tây. Buôn bán lông thú hình thành một nền kinh tế dùng tiền mặt. Công nghiệp và giao thông bắt đầu phát triển vào cuối thế kỷ 19 và khi bắt đầu thời kỳ Xô viết. Ngoài ra, người ta cũng bắt đầu các hoạt động thăm dò địa chất, khai mỏ và sản xuất chì tại địa phương. Những chiếc tàu và xà lan sử dụng đầu máy hơi nước cũng được đưa đến.
Vào ngày 27 tháng 4 năm 1922, vùng đất Yskytskaya được tuyên bố trở thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tự trị Yakut, tuy vậy trên thực tế vùng phía đông của nó, bao gồm cả thành phố Yakutsk, do phe Bạch vệ kiểm soát. Năm 1992, sau khi Liên Xô tan rã, Yakutia được công nhận là Cộng hòa Sakha (Yakutia) thuộc phạm vi Liên bang Nga.
Yakutia là vùng xa xôi cách trở, ngay cả khi so sánh với phần còn lại của Siberi, vì vậy nơi đây đã được triều đình Sa hoàng và chính quyền cộng sản lựa chọn để lưu đày tù nhân. Những người bị lưu đày nổi tiếng nhất thời Sa hoàng là nhà văn dân chủ Nikolai Chernyshevsky, người từ chối nhập ngũ Doukhobor, nhà cách mạng xã hội và nhà văn Vladimir Zenzinov, ông đã để lại các mô tả đáng chú ý về những từng trải của mình tại vùng Bắc Cực.
== Địa lý ==
Biên giới:
Nội địa: Khu tự trị Chukotka (Đ), Magadan Oblast (Đ/ĐN), Vùng Khabarovsk (ĐN), Amur Oblast (N), Chita Oblast (N), Irkutsk Oblast (N/TN), Vùng Krasnoyarsk (T).
Đường biển: Bắc Băng Dương (gồm Biển Laptev và Biển Đông Siberi) (B).
Đỉnh cao nhất: Đỉnh Pobeda (3.003 m), Đỉnh Mus-Khaya (2.959 m or 3.011 m)
Khoảng cách tối đa từ Bắc tới Nam: 2.500 km (1.600 mi)
Khoảng cách tối đa từ Đông sang Tây: 2.000 km (1.200 mi)
Sakha trải dài từ quần đảo Henrietta ở xa về phía bắc và giáp với các biển Laptev và Đông Siberi thuộc Bắc Băng Dương. Những vùng nước này là những nơi lạnh nhất và băng giá nhất trong tất cả các biển tại Bắc Bán cầu và bị băng bao phủ trong khoảng từ 9-10 tháng trong năm. Quần đảo Tân Siberi là một phần lãnh thổ của nước cộng hòa. Sau khi Nuvanut được tách ra khỏi Lãnh thổ Tây Bắc của Canada, Sakha trở thành thực thể dưới quốc gia lớn nhất trên thế giới, với diện tích 3.103.200 km² (1.198.200 mi²), nhỏ hơn một chút so với lãnh thổ Ấn Độ.
Sakha được phân thành ba vành đai thực vật lớn. Khoảng 40% Sakha năm trên Vòng cực bắc và tất cả chúng bị tầng đất đóng băng vĩnh cứu bao phủ, điều này ảnh hưởng rất lớn tới sinh thái của vùng, ngoài ra có các khu rừng hạn chế ở vùng phía nam. Lãnh nguyên Bắc cực và cận Bắc cực nằm ở khu vực trung tâm, tại đây địa y và rêu phát triển thành các tấm thảm xanh và là loại thức ăn cho tuần lộc. Ở phía nam của vãnh đai lãnh nguyên, có lác đác các cây thông và thông rụng lá Siberia lùn được trồng dọc theo các sông. Bên dưới lãnh nguyên là các vùng rừng taiga rộng lớn. Các cây thông rụng lá thống trị ở phía bắc và linh sam và thông bắt đầu xuất hiện ở phía nam. Rừng taiga chiếm khoảng 47% diện tích của Sakha và trong đó có 90% là rừng thông rụng lá.
=== Sông ===
Sông Lena (4.310 km), chảy theo hướng bắc, bao gồm nhiều nhánh sông nhỏ nằm ở Dãy núi Verkhoyansk. Các con sông lớn bao gồm:
Sông Vilyuy (2.650 km) nhánh sông Lena
Sông Olenyok (2.292 km)
Sông Aldan (2.273 km) nhánh sông Lena
Sông Kolyma (2.129 km)
Sông Indigirka (1.726 km)
Sông Alazeya (1.590 km)
Sông Amga (1.462 km) nhánh sông Aldan
Sông Olyokma (1.320 km) nhánh sông Lena
Sông Markha (1.181 km) nhánh sông Vilyuy
Sông Tyung (1.092 km) nhánh sông Vilyuy
Sông Maya (1.053 km) nhánh sông Aldan
Sông Anabar (939 km)
Sông Yana (872 km)
Sông Morkoka (812 km) nhánh sông Markha
Sông Uchur (812 km) Aldan River tributary
Sông Linde (804 km) nhánh sông Lena
Sông Nyuya (798 km) nhánh sông Lena
Sông Selennyakh (796 km) nhánh sông Indigirka
== Khí hậu ==
Sakha được biết đến với khí hậu khắc nghiệt, trong đó Dãy núi Verkhoyansk là vùng lạnh nhất ở bắc bán cầu. Cực giá lạnh ở Bắc bán cầu nằm ở Verkhoyansk, nơi đây nhiệt độ xuống tới mức −67.8 °C (−90 °F) năm 1892 và tại Oymyakon, nơi nhiệt độ từng xuống đến −67.7 °C (−89.9 °F) năm 1933.
Nhiệt độ trung bình tháng Một: −28 °C (−18,4 °F) (bờ biển) tới −47 °C (−52,6 °F) (Cực giá lạnh).
Nhiệt độ trung bình tháng tháng Bảy: ++2 °C (35,6 °F) (bờ biển) tới ++19 °C (66,2 °F) (vùng trung tâm).
Lượng mưa trung bình: 200 mm (vùng trung tâm) tới 700 mm (những ngọn núi ở vùng Đông Sakha).
== Giao thông ==
Giao thông đường thủy chiếm ưu thế tại Sakha. Ở nước cộng hòa có sáu cảng sông, hai cảng biển (Tiksi và Zelyony Mys). Sakha có bốn công ty vận chuyển tàu thuyền hoạt động. Tuyến đường thủy chính của nước cộng hòa là sông Lena, kết nối Yakutsk với ga xe lửa Ust-Kut ở tỉnh Irkutsk.
Giao thông đường không là quan trọng đối với việc vận chuyển hành khách. Các tuyến bay kết nối Sakha với hầu hết các khu vực khác của nước Nga. Sân bay Yakutsk là nơi đón khách quốc tế đến nước cộng hòa.
Có hai tuyến đường liên bang đi qua Sakha: Yakutsk-Bolshoy Never và Yakutsk-Magadan. Tuy nhiên, do có tầng đất đóng băng vĩnh cửu, việc sử dụng nhựa đường là không thực tế, bởi vậy các tuyến đường làm bằng đất sét. Khi có các trận mưa lớn đổ xuống khu vực, đường sẽ bị biến thành bãi bùn, đôi khi sẽ cản trở việc đi lại của hành khách.
Tuyến đường sắt Berkakit-Tommot hiện vẫn đang hoạt động. Tuyến đường kết nối Tuyến chính Baikal Amur với các trung tâm công nghiệp tại miền nam Sakha.
== Nhân khẩu ==
Dân số
958.528 (điều tra dân số năm 2010 kết quả sơ bộ); 949.280 (điều tra dân số năm 2002); 1.081.408 (điều tra dân số năm 1989).
=== Thống kê dân số ===
Source: Russian Federal State Statistics Service
=== Dân tộc ===
Theo điều tra năm 2010, thành phần dân tộc của nước cộng hòa là:
466.492 người Yakut (49,9%)
353.649 người Nga (37,8%)
20.341 người Ukraina (2,2%)
21.080 người Evenk (2,2%)
15.071 người Even (1,6%)
8.122 người Tatar (0,9%)
== Tôn giáo ==
Trước khi rơi vào tay đế quốc Nga, phần lớn cư dân tại địa phương theo đức tin Tengri giáo (những người nói tiếng Turk có nguồn gốc từ Trung Á) hay Shaman giáo (những người Cổ châu Á bản địa) với các shaman "sáng" (lãnh đạo cộng đồng) và "tối" (chữa bệnh bằng các yếu tố tâm linh). Dưới sự kiểm soát của người Nga, người dân địa phương đã cải sang Chính Thống giáo Nga và nhận tên gọi Kitô giáo Chính Thống, song trên thực tế hầu hết cư dân vẫn theo các tôn giáo truyền thống. Dưới thời Xô viết, hầu hết hay tất cả các shaman đã qua đời mà không có người kế tục.
Hiện nay, trong khi Kitô giáo Chính Thống vẫn được ủng hộ, vẫn có các mối quan tâm và hoạt động theo hướng khôi phục lại các tôn giáo truyền thống. Năm 2008, lãnh đạo Chính Thống giáo đã mô tả thế giới quan của người dân bản địa tại nước cộng hòa là "dvoyeverie" (hệ thống tín ngưỡng kép) hay một khuy hướng hướng đến thuyết hổ lốn, do trong các sự kiện chuyển tiếp trong cuộc đời, các cư dân bản địa đôi khi mời các shaman trước, sau đó một linh mục Chính Thống giáo tiến hành nghi lễ.
Theo trung tâm Thông tin Tổng thống Cộng hòa Sakha (Информационный центр при Президенте РС(Я)), nhân khẩu học tại nước cộng hòa như sau:
Chính Thống giáo: 44,9%
Shaman giáo: 26,2%
Không tôn giáo: 23,0%
Phong trào Tân Giáo: 2,4%
Hồi giáo: 1,2%
Phật giáo: 1,0%
Tin Lành: 0,9%
Công giáo: 0,4%
== Kinh tế ==
Công nghiệp đóng góp trên 50% tổng sản phẩm quốc nội của Sakha, chủ yếu dựa vào khai thác khoáng sản. Các hoạt động kinh doanh tập trung chủ yếu tại thủ đô Yakutsk, cũng như ở Aldan, Mirny, Neryungri, Pokrovsk và Udachny. Các ngành khai khoáng kim cương, vàng và thiếc là trung tâm trong nền kinh tế. Quặng Uranium cũng đã bắt đầu được khai thác Người Sakha nói tiếng Turk tham gia vào các hoạt động chính trị, chính quyền, tài chính, kinh tế và chăn nuôi gia súc. Còn người bản địa Cổ châu Á thì chủ yếu là thợ săn, người đánh cá và chăn nuôi tuần lộc.
== Tài nguyên ==
Sakha có nguồn tài nguyên phong phú. Ở đây có nguồn dự trữ lớn các tài nguyên như dầu, chất khí, than, kim cương, vàng, bạc, thiếc, wolfram và nhiều tài nguyên khác. 99% kim cương của Nga được khai thác ở Sakha.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Nga) Official website of the government of Sakha Republic
(tiếng Nga) Sakhalife - Live news
(tiếng Nga) Photo gallery at the site of the Ministry of Construction of the Sakha Republic with pictures of residential buildings, schools, colleges, hospitals, theaters, stadiums, etc. constructed in Yakutia
(tiếng Anh) (tiếng Nga) Official website of the Ministry of Foreign Relations of Sakha (in development)
(tiếng Sakha) Orto Doydu — Samples of music, songs and video in Sakha
(tiếng Sakha) Kyym — weekly newspaper
(tiếng Anh) Yakutia Organized — Independent Travelogues, Photo Blogs, General Info
(tiếng Nga) Official website of the Yakutsk State University
(tiếng Anh) Information on Sakha from Scott Polar Research Institute
(tiếng Nga) History of Yakutia
(tiếng Anh) Anthem of Sakha
(tiếng Anh) Independent Guide to the Republic of Sakha
(tiếng Anh) Ask Yakutia
(tiếng Anh) Today's Guide in english |
cát kết.txt | Cát kết hay sa thạch (đá cát) là đá trầm tích vụn cơ học với thành phần gồm các hạt cát chủ yếu là fenspat và thạch anh được gắn kết bởi xi măng silic, canxi, oxit sắt... Tuỳ theo từng loại xi măng mà cát kết có màu sáng, xám, lục đỏ. Cát kết là loại đá nằm giữa đá vôi và đá bùn.Do cát kết thông thường tạo ra các vách đá dễ nhận thấy và các hình khối tự nhiên bằng đá khác nên màu sắc của đá cát có thể coi giống hệt như là màu sắc của khu vực đó. Vì các phân tử của cát kết có sắc tố phụ bị biến dạng theo màu sắc của khu vực. Ví dụ, phần lớn khu vực miền tây Bắc Mỹ được biết đến là có màu đỏ do đá cát màu đỏ ở đây.
Cát kết thông thường tương đối mềm và dễ gia công, vì thế chúng là loại vật liệu xây dựng và vật liệu lát đường phổ biến. Do độ cứng của các hạt riêng rẽ và tính đồng nhất của kích thước hạt, cũng như bản chất dễ vụn của đá cát nên nó là khoáng chất được ưa chuộng để sản xuất đá mài (làm sắc lưỡi dao và các dụng cụ khác).
Các hình khối tự nhiên bằng đá mà chủ yếu chứa cát kết thông thường cho nước thấm qua và là đủ xốp để lưu trữ một lượng lớn nước, điều này làm cho chúng trở thành lớp ngậm nước quan trọng. Các lớp ngậm nước hạt mịn, chẳng hạn như đá cát, là thích hợp để lọc bỏ các chất gây ô nhiễm từ bề mặt hơn nhiều so với các loại đá có các vết nứt và các kẽ hở như đá vôi hay các loại đá khác bị nứt nẻ do các hoạt động địa chấn.
== Nguồn gốc ==
Cát kết là đá trầm tích mảnh vụn khác với các loại đá hữu cơ, như đá phấn hay than. Chúng được tạo thành từ các hạt bị gắn kết mà các hạt này lại có thể là các mảnh vỡ của đá đã tồn tại trước đó hoặc là đơn tinh thể của các khoáng vật. Các chất kết dính hay còn gọi là xi măng gắn kết có tác dụng gắn các hạt này với nhau chủ yếu là canxit, các khoáng vật sét và các khoáng vật silica. Kích thước các hạt cát trong đá cát nằm trong khoảng 0,1 mm tới 2 mm. Các loại đá với kích thước hạt nhỏ hơn, bao gồm bột kết và sét kết. Các loại đá có kích thước hạt lớn hơn, bao gồm đá dăm kết và sỏi kết và được gọi chung là cuội kết.
Cát kết được hình thành qua hai giai đoạn. Đầu tiên là quá trình lắng đọng các hạt cát thành các lớp trầm tích. Các trầm tích cát này có thể được lắng đọng trong các môi trường như sông, hồ, biển hay không khí. Sau khi lắng đọng, các hạt cát bị nén ép bởi các lớp đất nằm bên trên và được liên kết với nhau bởi các vật liệu khác (xi măng) lắng đọng cùng lúc với chúng. Các loại xi măng phổ biến nhất là silica và cacbonat canxi vì chúng được tạo ra từ sự hòa tan hoặc thay thế của cát khi chúng bị chôn vùi. Cát kết nằm ở trong vỏ trái đất khoảng giữa lớp Đá Bùn & Đá Vôi.
Môi trường trầm tích sẽ quyết định các đặc trưng của đá cát được tạo ra như kích thước hạt, độ chọn lọc, thành phần ở mức độ vi mô (kiến trúc) và cấu tạo của đá ở mức độ vĩ mô như tính phân lớp... Các môi trường chủ yếu của quá trình trầm tích là môi trường lục địa (lục nguyên) và môi trường biển, được chia ra thành các nhóm chủ yếu sau:
Môi trường lục địa
Sông (đê tự nhiên, doi cát)
Nón phóng vật
Băng tích (các trầm tích lắng đọng do băng tan chảy)
Hồ
Sa mạc (cồn cát)
Môi trường biển
Cát bờ biển
Châu thổ
Turbidit
Bãi triều
Đê cát ngầm
== Các loại cát kết ==
Cát kết được phân thành một số nhóm chính dựa trên thành phần khoáng vật và cấu trúc như sau:
Cát kết Acco, có hàm lượng fenspat lớn hơn >25%. Độ mài tròn và chọn lọc kém so với cát kết thạch anh. Các loại đá cát kết giàu fenspat thường có nguồn gốc từ sự phong hóa cơ học hoặc phong hóa hóa học các đá granit và đá biến chất.
Cát kết thạch anh, có hàm lượng thạch anh trên >90%, có độ mài tròn và chọn lọc tốt. Cát chỉ toàn thạch anh thường được hình thành trong môi trường xa nguồn cung cấp thạch anh, do thạch anh là một khoáng vật bền nhất. Đôi khi cát kết thuộc loại này được gọi là cát kết "dạng quartzit", ví dụ Quartzit Tuscarora của các khu vực thuộc dãy núi An pơ.
Cát kết lithic được hình thành từ các mảnh vụn của các đá hạt mịn như đá phiến sét, đá núi lửa và đá biến chất hạt mịn.
Đá xám greywacke, là gồm các mảnh vụn đá, thạch anh và fenspat góc cạnh. Các hạt này thường được bao bọc bên ngoài bởi cấu trúc hạt mịn giống sét phong hóa từ đá phiến sét và một số đá núi lửa
Cát kết Aeolian là loại đá thường được hình thành từ trầm tích gió trong môi sa mạc.
Đá dholpur màu be, rajpura màu hồng, marson màu đồng và khatu màu gỗ tếch là một số loại đá cát.
== Xem thêm ==
Sa thạch đỏ cổ đại
Đá bagat
Địa chất học
Danh sách khoáng vật
Danh sách các loại đá
Bồn trũng trầm tích
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
ngân hàng nhật bản.txt | Ngân hàng Nhật Bản (tiếng Nhật: 日本銀行 Nippon Ginkō, thường hay được gọi tắt là 日銀 Nichigin / Nyat Ngan; tiếng Anh: Bank of Japan) là ngân hàng trung ương của Nhật Bản.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (tiếng Nhật))
== Xem thêm ==
Hệ thống ngân hàng của Nhật Bản
Nhật Bản |
akutagawa ryūnosuke.txt | Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Akutagawa. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Akutagawa Ryunosuke (芥川 龍之介, Akutagawa Ryunosuke, Giới Xuyên Long Chi Giới) (sinh năm 1892, tự sát năm 1927) là nhà văn cận đại Nhật Bản nổi tiếng với thể loại truyện ngắn, là thủ lĩnh của văn phái Tân hiện thực (shingenjitsushugi) Nhật Bản, một khuynh hướng dung hòa được những tinh hoa lý trí của chủ nghĩa tự nhiên (shizenshugi) và sắc màu lãng mạn phóng túng của chủ nghĩa duy mỹ (tanbishugi), thể hiện một phong cách riêng biệt hòa trộn giữa hiện thực và huyền ảo bằng bút pháp hoa mỹ mà súc tích. Akutagawa cũng đồng thời là cây bút chủ đạo của tạp chí Tân tư trào (Shinshichō) cùng những cộng sự như Kikuchi Kan (1888-1948), Kume Masao (1891-1952), Yamamoto Yuzō (1887-1974), Toyoshima Yoshio (1890-1955), một tạp chí với tôn chỉ và hành động nhằm thúc đẩy việc thiết lập chế độ dành mọi ưu tiên về tự do và no ấm cho giai cấp bình dân.
== Đầu đời ==
Akutagawa Ryūnosuke sinh tại Tokyo ngày 1 tháng 3 năm thứ 25 thời Minh Trị (1868-1912), là con thứ ba của cha Niihara Toshizō và mẹ Niihara Fuku (nhũ danh Akutagawa), trong một gia đình người Nhật vẫn giữ nguyên nề nếp gia phong cũ thời Tokugawa (1603-1868), xa lạ với những đổi thay theo mô hình phương Tây đang là trào lưu của xã hội Nhật Bản đương thời. Tên gọi Ryūnosuke được đặt cho ông có chữ Ryū (龍, Long), do ông sinh vào giờ Thìn, ngày Thìn, tháng Thìn và năm Thìn. Mới 9 tháng tuổi, mẹ đẻ ông mắc bệnh tâm thần, ông được người bác bên họ mẹ ở miền Tây nước Nhật là Akutagawa Dōshō nhận nuôi và mang họ Akutagawa, và từ đây ông đã lớn lên trong một môi trường thủ cựu còn ham chuộng đạo Khổng, văn hóa Trung Quốc hơn những tiến bộ khoa học kỹ thuật châu Âu.
Thời tiểu học của nhà văn được thấm đẫm trong văn chương Nhật Bản và Trung Quốc cổ điển và cận đại với những tác giả như Ikkyu, Suikoden, Saiyu-ki, Chikamatsu Monzaemon, Izumi Kyoka v.v. Học xong tiểu học, vào trung học ông đã tỏ rõ sở trường của bản thân là sự am hiểu sâu sắc về văn hóa cổ điển Hoa-Nhật, có đủ trình độ để đọc được nguyên tác thơ văn của Trung Quốc. Tuy nhiên, dần dần sự hiểu biết văn chương cận đại của ông ngày càng mở rộng với việc tiếp cận tác phẩm của những nhà văn Nhật Bản đương thời như Mori Ogai (1862-1922), Natsume Soseki (1867-1916) và các nhà văn Tây phương như Anatole France, Baudelaire, Strindberg v.v.
Ông vào học trường Trung học số 1 năm 1910, và bắt đầu phát triển quan hệ với những bạn học như Kikuchi Kan, Kume Masao, Yūzō Yamamoto và Bunmei Tsuchiya, tất cả những người này sau đó đều trở thành nhà văn. Năm 1913 Akutagawa Ryūnosuke vào học Đại học văn khoa Tokyo ban văn học Anh.
Khi còn đang là sinh viên, ông đã dự định kết hôn cùng người bạn thời thơ ấu của mình, Yoshida Yayoi, nhưng không được gia đình chấp thuận. Năm 1916, Akutagawa đính hôn cùng Tsukamoto Fumi và kết hôn vào năm 1918. Họ có ba đứa con: Akutagawa Hiroshi (1920–1981), một diễn viên; Akutagawa Takashi (1922–1945), bị giết khi đang là học viên phục vụ trong quân đội ở Myanmar và Akutagawa Yasushi (1925–1989), một nhạc sĩ.
Trong năm 1916 Akutagawa tốt nghiệp cử nhân văn chương và đi dạy tiếng Anh tại trường Kĩ thuật Cơ khí Hải quân, trước khi từ bỏ công việc và dấn thân vào nghiệp văn chương.
== Sự nghiệp ==
Từ năm 1914 những hoạt động văn nghệ của ông manh nha với việc dịch tác phẩm của Anatole France và Yeats, đồng thời bắt đầu xuất hiện trên văn đàn qua những tác phẩm viết cho tạp chí Shinshichō. Truyện ngắn đầu tiên của ông được đăng trên tạp chí này là Tuổi già (Ronen, 1914). Liền sau đó, ông xuất hiện với hai tác phẩm mang lại cho ông tiếng tăm lớn, được nhà văn Natsume Soseki mà tên tuổi đã lừng danh trong những cây bút trẻ giai đoạn này ca ngợi hết sức, truyện Lã Sinh Môn (Rashomon, 1915) và Cái mũi (Hana, 1916). Cảm hứng và năng khiếu viết văn bột phát với một loạt tác phẩm được ông đăng liên tiếp sau đó như Một cảnh địa ngục quạnh hiu, Cháo khoai (Imogayu, 1916), Chiếc khăn tay, v.v.
Trong năm 1916, sau khi tốt nghiệp và đi dạy, vì không thích công việc này nên Akutagawa chuyển sang cộng tác với tờ Osaka Mainichi và trong năm 1921 ông được tòa báo phái đi Trung Quốc. Ở đây, ông đã có những chuyến viễn du đến rất nhiều nơi trong lục địa. Những năm này ông cho đăng nhiều tác phẩm, trong đó hay nhất là những truyện Ảo thuật (Majutsu, 1919), Tấm lòng trinh bạch của Otomi, Sợi tơ nhện (Kumo no ito, 1918), Phong cảnh núi thu (Shuzanzu, 1921), Trong rừng trúc (Yabu no naka, 1922).
Sức khỏe suy sụp với rất nhiều bệnh tật như suy nhược thần kinh có lẽ ảnh hưởng di truyền từ người mẹ đã bị hóa điên, bệnh ung thư dạ dày, đường ruột, bệnh tim v.v. nhưng Akutagawa Ryūnosuke vẫn thể hiện một bút lực mạnh mẽ. Từ năm 1923 giọng văn của ông thay đổi, chuyển hướng từ khuynh hướng lấy đề tài và tài liệu trong quá khứ với sáng tác chủ yếu do trí tưởng tượng của ông làm sống lại sang khuynh hướng hiện thực sát với đời sống, và thường là tự truyện như Cuốn sổ tay của Yasukichi, Một mảnh đất, Cuộc sống đầu đời của Daidōji Shinsuke (Daidōji Shinsuke no hansei, 1925).
Trong năm 1926, Akutagawa Ryūnosuke viết ít và thay đổi chỗ ở thường xuyên để an dưỡng. Năm 1927 ông như bừng dậy với sức sáng tạo mạnh mẽ khi viết Cuộc đời một kẻ ngốc (Aru ahō no isshō, 1927), Mùa thu (Aki, 1927), Biệt thự Genkaku (Genkaku sanbo, 1927) và truyện vừa trào phúng nổi danh Kappa viết về loài thủy nhân không có thật Kappa, nhưng chủ yếu ngầm ý nhằm đả kích mặt trái của xã hội chủ nghĩa dạng bầy đàn và chính sách kiểm duyệt mà xã hội này thực thi.
Vào cuối cuộc đời của mình, mệt mỏi với nỗi bất an thường trực do dao động trước những biến cố xã hội dưới sức ép chủ nghĩa Marx ảnh hưởng sâu rộng trong giới trí thức Nhật Bản đương thời, phần do sức khỏe suy sụp vì suy nhược thần kinh, Akutagawa bắt đầu bị ảo giác thị giác và rơi vào lo lắng vì nỗi sợ hãi rằng ông đã thừa hưởng chứng rối loạn tâm thần của mẹ mình. Năm 1927, ông đã cố gắng tìm tới cái chết cùng với một người bạn của vợ mình nhưng không thành. Ông cuối cùng đã tự tử bằng cách uống quá liều Veronal, một loại thuốc ngủ được Mokichi Saitō đưa cho ông, vào rạng sáng ngày 24 tháng 7 cùng năm, khi mới chỉ 35 tuổi. Những lời cuối cùng trong di chúc của ông nói rằng ông cảm thấy một sự "bất an mơ hồ" (ぼんやりした不安, bon'yari shita fuan) về tương lai. Ông để lại một loạt những di cảo như Những thư gửi cho một người bạn thâm giao, Bộ bánh xe răng cưa (Haguruma, được xuất bản sau khi ông mất), Người phương Tây. Cái chết của ông ít nhiều phản ánh thân phận bi thảm của giới trí thức trong xã hội Nhật Bản đầy bất trắc đương thời, gây xúc động sâu xa trong văn giới. Hàng loạt bài trên trang nhất các báo chí Nhật Bản đã đăng tin về cái chết của ông.
== Thành tựu nghệ thuật ==
Là một cây bút kiệt xuất với trên 140 tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn và các bài phê bình, trong khoảng mười năm trước khi tự tử ở tuổi 35, Akutagawa Ryūnosuke đã đưa ra những sáng tác hiện thực mà sự đa dạng về nội dung và hình thức của chúng lớn hơn bất cứ tác phẩm của nhà văn nào cùng thời với ông, phản ánh sự nhạy cảm nội tâm và chiều sâu tri thức của một người am hiểu sâu sắc văn chương Nhật Bản truyền thống, văn học Trung Hoa cổ điển và tư tưởng phương Tây hiện đại. Những sáng tác của Akutagawa trải rộng đề tài trên rất nhiều bình diện xã hội:
Cái mũi (Hana, 1916), Tuổi già (Ronen, 1914), Bức bình phong địa ngục (Jigokuhen, 1918), Cháo khoai (Imogayu, 1916), và truyện ngắn sau này chuyển thể thành kịch bản điện ảnh cùng tên La Sinh Môn (Rashomon, 1915) lấy bối cảnh và đề tài từ truyền thống;
Tiệc khiêu vũ (Butokai, 1920), Con nộm (Hina, 1923) nói về sự tiếp thu văn minh Âu Tây thời kỳ Minh Trị;
Cái chết của một con chiên (Hōkyonin no shi, 1918), Truyện thánh Christopher (Kirishitohoro shōninren, 1919) viết về thời người ngoại quốc đến truyền giáo;
Hứng sáng tác (Gesaku sammai, 1917), Cánh đồng khô (Karenoshō, 1918) tái họa đời sống sáng tạo của các nghệ sĩ;
Tập truyện Sợi tơ nhện (Kumo no ito, 1918), Cậu bé Đỗ Tử Xuân (Toshishun, 1920) mượn đề tài Phật giáo Ấn Độ và Trung Hoa đời Đường;
Tiểu thuyết trào phúng Kappa (Kappa, 1927), truyện ngắn Ngôn từ của người lùn (Shuju no kotoba, 1923-1925) phê phán các chính sách kiểm soát báo giới của nhà cầm quyền đương thời;
Cuộc sống đầu đời của Daidōji Shinsuke (Daidōji Shinsuke no hansei, 1925), Cuộc đời một kẻ ngốc (Aru ahō no isshō) sử dụng phong cách tự thuật v.v.
Những sáng tác trên, với khả năng trực giác nhạy bén, phạm vi quan tâm rộng lớn, phần lớn mang văn phong mỉa mai và gợi tả sâu sắc theo khuynh hướng tân hiện thực, phản ánh tinh thần chống chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa quốc gia và tự do chủ nghĩa của tác giả. Sau khi ông mất, những nhà văn kế tục sự nghiệp của văn phái, đã dần hướng những sáng tác tân hiện thực đến những thành tựu mới, quan tâm sâu sắc hơn đến những người cần lao, góp phần hình thành khuynh hướng văn học Nhật Bản vị nhân sinh ở giai đoạn sau.
== Giải thưởng Akutagawa Ryunosuke ==
Năm 1935, một người bạn của Akutagawa Ryūnosuke, nhà văn kiêm chủ xuất bản tạp chí Shinshichō tên là Kikuchi Kan (1888-1948), đã sáng lập ra giải thưởng văn chương thường niên mang tên Akutagawa Ryūnosuke trao cho các nhà văn trẻ sáng tác được những tác phẩm có giá trị văn học cao. Giải thưởng mang tên ông từ hơn 50 năm nay vẫn là một danh dự tối cao đối với người cầm bút Nhật Bản.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Lời tựa, trong cuốn Lã Sinh môn, bản dịch của Vũ Minh Thiều, Nhà sách Gió bốn phương, Sài Gòn 1967.
== Liên kết ngoài ==
Các tác phẩm của Akutagawa Ryunosuke tại Dự án Gutenberg
Akutagawa Ryunosuke trên aozora.gr.jp (hoàn chỉnh văn bản với furigana)
Con số văn chương từ Kamakura
Mộ Akutagawa Ryunosuke
Tiểu sử của Petri Liukkonen |
hạ viện hoa kỳ.txt | Viện Dân biểu Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States House of Representatives), còn gọi là Hạ viện Hoa Kỳ, là một trong hai viện của Quốc hội Hoa Kỳ; viện kia là Thượng viện Hoa Kỳ. Thành phần và quyền lực của Thượng viện và Hạ viện được thiết lập trong Điều I Hiến pháp Hoa Kỳ. Mỗi tiểu bang có số đại diện tại Hạ viện theo tỉ lệ dân số nhưng theo luật định mỗi tiểu bang được có ít nhất một dân biểu. Tiểu bang đông dân nhất, California, hiện thời có 53 dân biểu. Tổng số dân biểu có quyền biểu quyết hiện tại là 435. Mỗi dân biểu phục vụ một nhiệm kỳ hai năm. Viên chức đứng đầu Hạ viện là Chủ tịch Hạ viện, và được các thành viên của Hạ viện bầu lên.
Vì thành viên của Hạ viện thông thường được bầu từ các khu vực nhỏ hơn (các khu vực này có dân số trung bình khoảng 693.000 cư dân) và thường thường đồng nhất hơn so với các khu vực bầu cử lớn hơn và phức tạp hơn của Thượng viện nên Hạ viện được xem là một viện quốc hội thiên về đảng phái hơn. Hạ viện có quyền lực đặc biệt: quyền đưa ra các đạo luật về thu nhập, truất phế các viên chức, và bầu tổng thống nếu như đại cử tri đoàn không quyết định được ai thắng cử.
Hạ viện họp ở cánh phía nam của Tòa Quốc hội Hoa Kỳ.
== Lịch sử ==
Dưới Những Điều khoản Liên hiệp, Quốc hội là một bộ phận độc viện quốc hội trong đó mỗi tiểu bang có một phiếu bầu. Sự vô hiệu quả của chính phủ liên bang dưới Những Điều khoản Liên hiệp đưa đến việc Quốc hội triệu tập một Hội nghị Hiến pháp năm 1787; tất cả các tiểu bang, trừ Rhode Island nhận lời gởi đại biểu đến dự họp. Vấn đề Quốc hội được thiết lập như thế nào là một trong những điều gây chia rẽ nhất đối với những người khai sinh ra Hoa Kỳ trong suốt đại hội. Kế hoạch Virginia của James Madison kêu gọi thành lập một quốc hội lưỡng viện: hạ viện sẽ là "của nhân dân", được trực tiếp bầu lên bởi người dân của Hoa Kỳ và đại diện cho ý kiến chung của cộng đồng, và một thượng viện thiên về bàn thảo hơn sẽ đại diện cho các tiểu bang thành viên, và sẽ ít bị các ý kiến khác nhau của dân chúng làm ảnh hưởng, sẽ được hạ viện bầu lên.
Hạ viện thường được xem là "lower house" trong khi thượng viện là "upper house" trong ngữ cảnh tiếng Anh của Hoa Kỳ mặc dù Hiến pháp Hoa Kỳ không có sử dụng ngôn ngữ như vậy để diễn tả. Sự chấp thuận của cả hai viện là cần thiết để thông qua một bộ luật. Kế hoạch Virginia được sự ủng hộ của các đại biểu từ các tiểu bang lớn như Virginia, Massachusetts, và Pennsylvania vì nó kêu gọi số đại biểu được tính theo tỉ lệ dân số. Tuy nhiên các tiểu bang nhỏ hơn thì thích Kế hoạch New Jersey vì nó kêu gọi thành lập một quốc hội độc viện trong đó số đại biểu cho từng tiểu bang là ngang nhau.
Sau cùng, đại hội đạt đến Thỏa hiệp Connecticut, hay Đại Thỏa hiệp, theo đó một viện của Quốc hội (viện dân biểu hay hạ viện) sẽ có số đại biểu được tính theo tỉ lệ dân số của mỗi tiểu bang trong khi viện khác (thượng viện) sẽ có số đại biểu bằng nhau cho mỗi tiểu bang. Hiến pháp được phê chuẩn theo quy định có số tiểu bang cần thiết (9 thuận trong 13 tổng số) vào năm 1788, nhưng việc thi hành được ấn định là vào ngày 4 tháng 3 năm 1789. Hạ viện bắt đầu làm việc lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 4 năm 1789 khi nó đạt được đủ số lượng thành viên theo yêu cầu.
Trong suốt nữa đầu thế kỷ 19, Hạ viện luôn xung đột với Thượng viện về các vấn đề gây chia rẽ của các vùng, trong đó có chế độ nô lệ. Miền Bắc có dân số đông hơn miền Nam nhiều, và vì vậy chi phối Hạ viện. Tuy nhiên, miền Bắc không có lợi thế tại Thượng viện nơi có số đại biểu bằng nhau cho tất cả các tiểu bang.
Xung đột giữa các vùng trầm trọng nhất là về vấn đề liên quan đến chế độ nô lệ. Thí dụ một dự luật liên tục được Hạ viện thông qua nhưng vẫn bị Thượng viện ngăn cản đó là Dự luật Wilmot. Dự luật này được đưa ra nhằm nghiêm cấm chế độ nô lệ tại vùng đất chiếm được trong Chiến tranh Mexico-Mỹ. Xung đột về vấn đề chế độ nô lệ và những vấn đề khác kéo dài cho đến Nội chiến Hoa Kỳ (1861–1865) sau khi một số tiểu bang miền Nam tìm cách rút ly khai khỏi liên bang. Cuộc nội chiến kết thúc với sự bại trận của miền Nam và đưa đến việc bãi bỏ chế độ nô lệ. Vì tất cả các Thượng nghị sĩ miền Nam, trừ Andrew Johnson từ chức lúc bắt đầu xảy ra chiến tranh nên Thượng viện không có cán cân quyền lực giữa miền Nam và miền Bắc trong suốt nội chiến.
Những năm tái thiết theo sau đã chứng kiến được sự lớn mạnh và đa số của Đảng Cộng hòa vì có sự liên hệ đến sự chiến thắng của phe liên bang trong nội chiến. Thời kỳ tái thiết kết thúc vào năm 1877; thời đại tiếp theo, được gọi là "Gilded Age" (thời đại vàng), được đánh dấu bởi những sự chia rẽ chính trị trầm trọng tại quốc hội. Cả Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa thay phiên nhau nắm đa số tại Hạ viện ở nhiều thời điểm khác nhau.
Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, có một sự gia tăng đáng kể quyền lực của Chủ tịch Hạ viện. Tầm ảnh hưởng của Chủ tịch Hạ viện nổi lên bắt đầu vào thập niên 1890 trong thời gian Đảng viên Cộng hòa Thomas Brackett Reed làm chủ tịch. "Sa hoàng Reed," như người ta gọi bí danh của ông như vậy, đã tìm cách tạo ảnh hưởng đối với quan điểm của ông rằng "Hệ thống tốt nhất là có một đảng cai trị và đảng kia theo dõi." Cơ cấu lãnh đạo của Hạ viện cũng được phát triển trong cùng thời kỳ này với các chức danh như Lãnh tụ đa số và Lãnh tụ thiểu số được tạo ra vào năm 1899. Trong khi Lãnh tụ thiểu số là lãnh tụ của đảng thiểu số thì Lãnh tụ đa số vẫn là thuộc cấp của Chủ tịch Hạ viện. Vai trò của Chủ tịch Hạ viên đạt đỉnh cao trong nhiệm kỳ của đảng viên Cộng hòa Joseph Gurney Cannon, 1903 đến 1911. Quyền lực của Chủ tịch Hạ viện gồm có vai trò làm chủ tịch của Ủy ban Luật pháp đầy ảnh hưởng và khả năng bổ nhiệm các thành viên cho các ủy ban Hạ viện khác. Tuy nhiên những quyền lực này bị phong tỏa trong "cuộc cách mạng 1910" vì những nỗ lực của các đảng viên Dân chủ và các đảng viên bất mản thuộc Đảng Cộng hòa chống đối những chiến thuật được cho là quá mạnh tay của Cannon.
Đảng Dân chủ thống lĩnh Hạ viện trong thời Tổng thống Franklin D. Roosevelt (1933–1945), thường chiếm được 2/3 ghế trong Hạ viện. Cả Cộng hòa và Dân chủ thay phiên nhau nắm quyền ở các thời điểm khác nhau trong thập niên kế tiếp. Đảng Dân chủ duy trì nắm giữ Hạ viện từ năm 1954 đến năm 1995. Giữa thập niên 1970, có những cuộc cải cách lớn trong Hạ viện, tăng thêm quyền lực của các tiểu ủy ban (sub-committee) trong lúc giảm bớt quyền lực của chủ tịch ủy ban và cho phép các lãnh tụ đảng chỉ định các chủ tịch ủy ban. Những hành động này nhằm giảm quyền lực hệ thống cao cấp, và giảm khả năng của một số nhỏ các thành viên cao cấp cản trở các dự luật mà họ không thích.
Đảng Cộng hòa chiếm quyền kiểm soát Hạ viện năm 1995 dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hạ viện Newt Gingrich. Gingrich tìm cách thông qua một kế hoạch lập pháp lớn có tên là "Contract with America" (hợp đồng với nước Mỹ) mà nhờ vào đó Đảng Cộng hòa đã được bầu lên và chiếm đa số tại Hạ viện. Kế hoạch này đã tạo ra một số cải cách lớn tại Hạ viện, giảm thiểu đáng kể việc nắm giữ chức vụ của các chủ tịch ủy ban xuống còn 3 nhiệm kỳ hai năm. Nhiều chi tiết của "Hợp đồng với nước Mỹ" đã không được thông qua ở Quốc hội, bị Tổng thống Bill Clinton phủ quyết hoặc bị thay đổi rất nhiều trong lúc thương thảo với Clinton. Đảng Cộng hòa nắm giữ Hạ viện cho đến bầu cử quốc hội năm 2006 thì bị Đảng Dân chủ giành lại quyền kiểm soát cả Hạ viện lẫn Thượng viện Hoa Kỳ. Nancy Pelosi sau đó được Hạ viện bầu làm nữ Chủ tịch Hạ viện đầu tiên.
== Thành viên Hạ viện và tiêu chuẩn ==
=== Phân chia ghế tại Hạ viện ===
Theo Điều I, Phần 2 Hiến pháp Hoa Kỳ, các ghế trong Hạ viện Hoa Kỳ được chia theo tỉ lệ dân số của các tiểu bang, dựa theo kết quả điều tra dân số được tiến hành mỗi 10 năm một lần. Tuy nhiên, mỗi tiểu bang được luật định cho phép có ít nhất một dân biểu hay hạ nghị sĩ nếu trường hợp tổng dân số của tiểu bang đó dưới mức trung bình dân số để có một dân biểu. Thí dụ dân số của tiểu bang Wyoming là 532.668, dưới mức dân số trung bình được ấn định để có một dân biểu đại diện là 693.000 người nhưng tiểu bang này được bảo đảm có một dân biểu theo Hiến pháp Hoa Kỳ.
Hiến pháp không có nói đến việc phân chia ghế tại Hạ viện cho Đặc khu Columbia hay các vùng lãnh thổ (lãnh thổ là vùng đất phụ thuộc của Hoa Kỳ nhưng chưa trở thành tiểu bang). Tuy nhiên, các nơi đó có thể bầu các đại biểu không quyền biểu quyết hoặc trong trường hợp của Puerto Rico một ủy viên cư dân. Đặc khu Columbia và các lãnh thổ Samoa thuộc Mỹ, Guam, và Quần đảo Virgin thuộc Mỹ mỗi nơi có một đại biểu. Puerto Rico bầu một Ủy viên Cư dân. Ngoài việc có nhiệm kỳ kéo dài 4 năm ra, vai trò của ủy viên cư dân này cũng tương tự như các đại biểu không quyền biểu quyết khác của các lãnh thổ. Quần đảo Bắc Mariana bầu đại biểu đầu tiên của họ vào tháng 11 năm 2008 và nhậm chức vào tháng 1 năm 2009. Các đại biểu và ủy viên cư dân có thể tham dự vào các buổi tranh luận và biểu quyết tại các ủy ban của Hạ viện. Họ có thể biểu quyết tại Ủy ban Hạ viện khi phiếu bầu của họ không có tính quyết định.
=== Tái phân chia các khu (quốc hội) ===
Các tiểu bang có hơn một dân biểu được phân chia thành các khu quốc hội mà theo đó mỗi khu quốc hội chỉ bầu ra một dân biểu. Điều này là quy định chính thức của liên bang kể từ năm 1967. Trước khi có quy định này thì một số tiểu bang đã dùng hình thức bầu đại diện trên toàn tiểu bang. Theo hình thức, các tiểu bang sẽ vẽ lại ranh giới khu quốc hội sau mỗi lần điều tra dân số mặc dù họ có thể làm điều này vào dịp khác. Mỗi tiểu bang quyết định về ranh giới giữa các khu quốc hội của mình, bằng cách thông qua luật hoặc qua các ban đặc trách không đảng phái. "Phân chia khu quốc hội sai" là bất hợp hiến và các khu quốc hội phải gần bằng nhau theo dân số. Đạo luật về quyền bầu cử nghiêm cấm các tiểu bang cố biến đổi các khu quốc hội để giảm sức mạnh đầu phiếu của các nhóm dân thiểu số.
=== Tiêu chuẩn thành viên Hạ viện ===
Điều I, Phần 2 của Hiến pháp Hoa Kỳ ấn định ba tiêu chuẩn cho vai trò dân biểu: mỗi dân biểu phải ít nhất là 25 tuổi, phải là công dân Hoa Kỳ trong 7 năm qua, và phải là (vào thời điểm bầu cử) một cư dân của tiểu bang mà họ đại diện.
Hiến pháp không yêu cầu thành viên Hạ viện sống trong khu quốc hội mà họ đại diện. Các tiêu chuẩn về tuổi và tính công dân đối với các dân biểu thì không khắt khe lắm so với các thượng nghị sĩ.
Hơn nữa, theo Tu chính án 14, bất cứ viên chức tiểu bang hoặc liên bang nào tuyên thệ trước đây là ủng hộ Hiến pháp Hoa Kỳ nhưng sau đó tham dự vào các hành động phản loạn hay giúp đỡ kẻ địch của Hoa Kỳ thì sẽ bị loại không được trở thành một dân biểu. Điều luật này, trở thành có hiệu lực chẳng bao lâu sau khi kết thúc Nội chiến Hoa Kỳ, có ý định ngăn cản không cho những ai từng sát cánh bên Liên hiệp các tiểu bang miền nam Hoa Kỳ phục vụ trong chính phủ. Tuy nhiên, Tu chính án này cho phép một người bị loại có thể phục vụ nếu như họ giành được sự ủng hộ của 2/3 thành viên Quốc hội Hoa Kỳ ở cả hai viện.
=== Bầu cử ===
Các cuộc bầu cử để chọn dân biểu được tổ chức cứ mỗi năm chẵn một lần, vào ngày thứ ba đầu tiên sau ngày thứ hai đầu tiên trong tháng 11. Thường thường các đảng Dân chủ và Cộng hòa sẽ chọn ra các ứng cử viên của họ tại mỗi khu quốc hội bằng các cuộc bầu cử sơ bộ được tổ chức vài tháng trước đó. Các luật lệ ứng cử dành cho các đảng viên độc lập hoặc đảng viên thuộc Đảng phái thứ ba thì thật khác nhau theo từng tiểu bang.
Từ năm 1967, luật liên bang bắt buộc rằng các cuộc đua vào Hạ viện phải sử dụng hệ thống đầu phiếu đa số thắng để bầu ra duy nhất một người cho mỗi khu quốc hội, có nghĩa là nghiêm cấm việc sử dụng hình thức đại diện tỉ lệ. Louisiana trước đây là tiểu bang duy nhất sử dụng hình thức tổ chức "bầu cử sơ bộ" toàn đảng phái vào ngày tổng tuyển cử và sau đó tổ chức một cuộc bầu cử lần hai cho hai người ở vị trí hàng đầu nếu như không có ứng cử viên nào giành được đa số phiếu trong cuộc bầu cử sơ bộ. Hiện tại tiểu bang này có một hệ thống đầu phiếu tương tự như đa số các tiểu bang khác - mỗi đảng sẽ chọn các ứng cử viên trong những cuộc bầu cử sơ bộ kín. Các ghế trống trong 1 nhiệm kỳ sẽ được tìm người thay thế qua các cuộc bầu cử đặc biệt. Một thành viên được chọn trong một cuộc bầu cử đặc biệt thường nhận chức ngay lập tức như có thể.
=== Nhiệm kỳ ===
Các dân biểu và đại biểu phục vụ nhiệm kỳ của họ dài 3 năm trong khi Ủy viên Cư dân phục vụ 4 năm. Một khi được bầu, một dân biểu tiếp tục phục vụ cho đến khi hết hạn nhiệm kỳ của người đó, chết hoặc từ chức. Hơn nữa, Hiến pháp Hoa Kỳ cho phép Hạ viện có quyền trục xuất bất cứ thành viên nào bằng một cuộc biểu quyết với kết quả 2/3 số phiếu bầu. Trong lịch sử Hoa Kỳ, chỉ có năm thành viên đã bị trục xuất khỏi Hạ viện; ba trong số đó là John Bullock Clark (Dân chủ-Missouri), John William Reid (Dân chủ-Missouri), và Henry Cornelius Burnett (Dân chủ-Kentucky), bị trục xuất vào năm 1861 vì ủng hộ các tiểu bang miền Nam Hoa Kỳ ly khai, dẫn đến Nội chiến Hoa Kỳ. Michael Myers (Dân chủ-Pennsylvania) bị trục xuất vì nhận hối lộ năm 1980, và James Traficant (Dân chủ-Ohio) bị trục xuất năm 2002 sau vụ ông bị kết tội tham nhũng. Hạ viện cũng có quyền lực chính thức khiển trách các thành viên; khiển trách chỉ đòi hỏi một đa số đơn giản, nhưng không trục xuất một thành viên khỏi Hạ viện.
== So sánh với Thượng viện ==
Nhiều người sáng lập ra nước Mỹ có ý định lập ra Thượng viện (ban đầu thành viên Thượng viện được chọn bởi các ngành lập pháp tại các tiểu bang) làm đối trọng giám sát Hạ viện dân cử cũng như Hạ viện làm đối trọng giám sát Thượng viện. Quyền lực "tư vấn và ưng thuận" (như quyền chấp thuận những hiệp ước) chỉ được trao cho Thượng viện. Tuy nhiên, Hạ viện có thể đề xuất các dự luật về chi tiêu và có quyền hạn đặc biệt truất phế các viên chức và chọn Tổng thống Hoa Kỳ trong trường hợp đại cử tri đoàn gặp bế tắc. Thượng nghị sĩ có uy thế hơn Hạ nghị sĩ vì các Thượng nghị sĩ phục vụ nhiệm kỳ dài hơn (6 năm), ít về số lượng hơn (luôn là 100 người), và (luôn luôn ngoài 7 tiểu bang) đại diện cho cộng đồng lớn hơn - đại diện cho toàn tiểu bang hơn là các Hạ nghị sĩ chỉ đại diện cho các khu quốc hội nhỏ. Ngoài ra, Thượng viện theo truyền thống được xem là một viện ít đảng phái hơn; các thượng nghị sĩ có tiềm năng lớn hơn trong việc tìm kiếm giải pháp thỏa hiệp và hành động đồng bộ hơn các dân biểu, và vì thế giữ tầm vóc quốc gia lớn hơn.
== Lương bổng ==
Tính đến 1 tháng 1 năm 2008, tiền lương hàng năm của mỗi dân biểu là $169.300. Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ và Lãnh tụ đa số và Lãnh tụ thiểu số kiếm được nhiều tiền hơn. Chủ tịch Hạ viện được $212.100 một năm vào thời điểm Quốc hội Hoa Kỳ lần thứ 109 (4 tháng 1 năm 2005-3 tháng 1 năm 2007) trong khi các lãnh tụ đảng được $183.500 (bằng tiền lương của các lãnh tụ Thượng viện Hoa Kỳ). Tiền lương được điều chỉnh vì giá sinh hoạt tăng sẽ được tăng lên hàng năm trừ khi Quốc hội biểu quyết không chấp nhận. Quốc hội Hoa Kỳ ấn định mức lương của các thành viên; tuy nhiên, Tu chính án 27 Hiến pháp Hoa Kỳ cấm việc tăng lương (nhưng không phải là tăng lương kiểu điều chỉnh vì giá sinh hoạt tăng) có hiệu lực đến sau tổng tuyển cử sắp tới. Các dân biểu được hưởng quyền lợi trọn đời sau khi phục vụ 5 năm, trong số đó có tiền hưu bổng, quyền lợi chăm sóc y tế và quyền lợi an sinh xã hội.
== Các ủy ban Hạ viện ==
Hạ viện sử dụng các ủy ban (cũng như các tiểu ủy ban trong ủy ban) cho nhiều mục đích trong đó có việc xem xét các dự luật và theo dõi ngành hành pháp. Việc bổ nhiệm các thành viên ủy ban được chính thức thực hiện bởi toàn Hạ viện, nhưng việc lựa chọn các thành viên thật sự thường do các đảng phái chính trị thực hiện. Thông thường, mỗi đảng xem xét theo từng cá nhân dân biểu, chọn lựa dựa theo tiêu chuẩn thâm niên. Theo lịch sử mà nói thì đảng nào mạnh hơn thì sẽ chi phối các ủy ban Hạ viện nói chung, trừ hai ủy ban: đảng đa số được 9 trong số 13 ghế trong Ủy ban Pháp luật Hạ viện; mỗi đảng có bằng số ghế trong Ủy ban Đạo đức Hạ viện. Tuy nhiên, khi sự kiểm soát của đảng tại Hạ viện gần như chia sẻ đồng đều thì một số ghế phụ trong các ủy ban đôi khi được thêm vào cho đảng đa số (thí dụ tại Quốc hội lần thứ 109, Đảng Cộng hòa kiểm soát khoảng 53% toàn Hạ viện, nhưng chỉ có 54% thành viên trong Ủy ban đặc trách chi tiêu (appropriations committee), 55% thành viên trong Ủy ban Thương mại và Năng lượng, 58% thành viên trong Ủy ban Tư pháp và 69% thành viên trong Ủy ban Luật pháp).
Ủy ban lớn nhất của Hạ viện là Ủy ban Hạ viện Hoa Kỳ (committee of the whole). Như tên của nó nói rõ là gồm toàn thể thành viên của Hạ viện. Ủy ban họp trong phòng họp Hạ viện; ủy ban có thể xem xét và sửa đổi các dự luật nhưng không có thể thông qua các dự luật như quyết định sau cùng. Thường thường, các cuộc thảo luận của ủy ban toàn hạ viện linh động hơn các cuộc thảo luận của chính Hạ viện. Một thuận lợi của Ủy ban Hạ viện Hoa Kỳ là khả năng cho phép các thành viên không quyền biểu quyết của Quốc hội Hoa Kỳ tham dự các phiên họp.
Đa số công việc ủy ban được 20 ủy ban đặc trách trông coi, mỗi ủy ban có thẩm quyền trên một loạt vấn đề đặc biệt, thí dụ như các vấn đề liên quan đến nông nghiệp hoặc ngoại giao. Mỗi ủy ban đặc trách xem xét, sửa đổi, và báo cáo các dự luật nằm trong thẩm quyền của mình. Các ủy ban có quyền lực nới rộng trong việc xem xét các dự luật; họ có thể ngăn cản một dự luật không cho đến Hạ viện để được biểu quyết. Các ủy ban đặc trách cũng trông coi theo dõi hoạt động của các bộ và ban ngành của ngành hành pháp. Để tước quyền của các viên chức chính phủ sai phạm, các ủy ban đặc trách có quyền lực triệu tập các cuộc điều trần và ra trác đòi các nhân chứng và bằng chứng.
Hạ viện cũng có một ủy ban thường trực không phải là ủy ban đặc trách, đó là Ủy ban Thường trực Hạ viện Hoa Kỳ đặc trách về Tình báo. Tùy theo thời điểm ủy ban này có thể thiết lập các ủy ban phục vụ tạm thời và cho mục đích cảnh báo, thí dụ như Ủy ban Chọn lọc đặc trách Độc lập Năng lượng và Cảnh báo sự nóng lên của Địa cầu. Hạ viện cũng bổ nhiệm thành viên phục vụ trong những ủy ban hỗn hợp mà gồm có các thành viên của hai viện Quốc hội. Một số ủy ban hỗn hợp trông coi các bộ phận độc lập của chính phủ; thí dụ như Ủy ban Hỗn hợp đặc trách về Thư viện trông coi Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ. Các ủy ban hỗn hợp khác phục vụ để làm các báo cáo về tư vấn; thí dụ, có Ủy ban Hỗn hợp Quốc hội đặc trách về Thuế. Các dự luật và các viên chức được đề cử vào các chức vụ không được đưa lên các ủy ban hỗn hợp. Vì thế quyền lực của các ủy ban hỗn hợp tương đối thấp hơn quyền lực của các ủy ban đặc trách.
Mỗi ủy ban thuộc Hạ viện và các tiểu ủy ban do một chủ tịch lãnh đạo (luôn là thành viên của đảng đa số). Từ năm 1910 đến thập niên 1970, các chủ tịch của các ủy ban có rất nhiều quyền lực và họ luôn là những người thâm niên tại Hạ viện. Năm 1995, Đảng Cộng hòa dưới thời Newt Gingrich làm Chủ tịch Hạ viên đã đưa ra quy định hạn chế nhiệm kỳ của các chủ tịch ủy ban là 3 nhiệm kỳ hai năm. Đảng Dân chủ khi nắm được Hạ viện vào năm 2007 chưa có ra quyết định là có nên tiếp tục luật lệ thời Gingrich.
== Chức năng lập pháp ==
Các dự luật có thể được giới thiệu cả tại Thượng hay Hạ viện. Tuy nhiên, Hiến pháp Hoa Kỳ nói rằng "Tất cả các dự luật nhằm tăng tiền thế thu nhập phải bắt đầu từ Hạ viện." Kết quả là Thượng viện không có quyền đưa ra sáng kiến về các dự luật ấn định mức thuế. Hơn nữa, Hạ viện cũng muốn bảo đảm rằng Thượng viện không có quyền khởi sự các dự luật về chi tiêu của chính phủ hay các dự luật cho phép chi tiêu ngân quỹ liên bang. Trong lịch sử, Thượng viện đã từng tranh chấp sự dẫn giải mà Hạ viện chủ trương. Tuy nhiên, bất cứ khi nào Thượng viện khởi sự một dự luật về chi tiêu thì Hạ viện từ chối xem xét nó ngay, qua đó giải quyết được sự tranh chấp trong thực tế. Luật định của Hiến pháp ngăn cản Thượng viện giới thiệu các dự luật thu thuế là dựa theo Quốc hội Vương quốc Anh, theo đó Hạ viện Vương quốc Anh mới có thể khởi sự những dự luật như vậy.
Mặc dù Hiến pháp cho Hạ viện quyền khởi sự các dự luật thu thuế nhưng trong thực tế Thượng viện ngang bằng Hạ viện trong các mối quan tâm về thuế và chi tiêu. Như Woodrow Wilson có viết:
Việc chấp thuận của cả Hạ viện và Thượng viện là bắt buộc đối với bất cứ dự luật nào, bao gồm dự luật về thu thuế, để chúng trở thành luật. Cả hai viện phải thông qua cùng phiên bản giống như của dự luật; nếu có khác biệt, chúng có thể được giải quyết bởi một ủy ban hội nghị mà trong đó có cả thành viên của hai viện.
Tổng thống có thể phủ quyết bất cứ dự luật nào mà cả Hạ viện và Thượng viện thông qua; nếu Tổng thống làm vậy thì dự luật không thể thành luật cho đến khi cả hai viện xem xét lại và với 2/3 đa số phiếu tại mỗi viện để giúp thông qua dự luật đó bất chấp sự phản đối của Tổng thống.
== Kiểm tra và cân bằng quyền lực ==
Hiến pháp có nói rằng quyền tư vấn và ưng thuận của Thượng viện là cần thiết cho Tổng thống khi Tổng thống quyết định bổ nhiệm và phê chuẩn các hiệp ước trong khi đó, Hạ viện phải phê chuẩn một người được đề nghị thay thế chức Phó Tổng thống Hoa Kỳ theo Tu chính án 25 Hiến pháp Hoa Kỳ. Vì thế, theo các thuật từ có tính tiềm năng làm hỏng việc bổ nhiệm của Tổng thống thì quyền lực của Thượng viện to lớn hơn quyền lực của Hạ viện.
Hiến pháp cho quyền Hạ viện Hoa Kỳ luận tội các viên chức liên bang vì lý do "phản quốc, hối lộ, hoặc các tội đại hình và tội phi pháp khác" và cho phép Thượng viện quyền xử những vụ luận tội như thế. Nếu Tổng thống Hoa Kỳ hiện thời bị xét xử, Thẩm phán trưởng Hoa Kỳ chủ tọa phiên xử. Trong bất cứ vụ xử luận tội nào, các thượng nghị sĩ được hiến pháp yêu cầu đến chứng kiến lời thề hoặc xác nhận lời khai. Để kết án trong một vụ luận tội cần phải có 2/3 đa số các thượng nghị sĩ có mặt. Viên chức bị kết án sẽ tự động bị sa thải khỏi chức vụ đang giữ; ngoài ra, Thượng viện có thể quy định rằng bị cáo đó sẽ bị cấm giữ chức vụ trong tương lại. Không có hình phạt nào khác nữa được phép đưa ra trong suốt thời gian tiến hành luận tội; tuy nhiên, bị cáo có thể đối diện với các hình phạt khác tại một tòa án luật pháp bình thường.
Trong lịch sử Hoa Kỳ, Hạ viện đã luận tội 16 viên chức trong đó 6 viên chức bị kết tội (một từ chức trước khi Thượng viện có thể tiến hành xử tội.) Chỉ có hai Tổng thống Hoa Kỳ từng bị luận tội: Andrew Johnson năm 1868 và Bill Clinton năm 1998. Cả hai vụ xử kết thúc bằng việc tha bổng; trong trường hợp của Tổng thống Johnson, Thượng viện thiếu một phiếu để được 2/3 đa số để kết tội.
Theo Tu chính án 12 Hiến pháp Hoa Kỳ, Thượng viện có quyền bầu Phó Tổng thống Hoa Kỳ nếu như không có ứng cử viên Phó Tổng thống nào nhận được đa số phiếu đại cử tri. Tu chính án 12 đòi hỏi Thượng viện chọn lựa từ hai ứng cử viên có số phiếu đại cử tri cao nhất. Sự bế tắc không thể quyết định được đối với đại cử tri đoàn thì rất hiếm; trong lịch sử Hoa Kỳ, Thượng viện phải giải quyết sự bế tắc như thế chỉ có một lần vào năm 1837 khi Thượng viện bầu cho Richard Mentor Johnson. Quyền bầu Tổng thống Hoa Kỳ trong trường hợp bế tắc của đại cử tri đoàn thuộc trách nhiệm của Hạ viện.
=== Kết quả bầu cử năm 2010 ===
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
=== Khảo sát ===
MacNeil, Neil (1963). Forge of Democracy: The House of Representatives. New York, New York: D. McKay.
Peters, Ronald M., Jr (1997). The American Speakership: The Office in Historical Perspective (ấn bản 2). Baltimore, Maryland: Johns Hopkins University Press. ISBN 0-8018-5758-9. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
Polsby, Nelson W. (2004). How Congress Evolves: Social Bases of Institutional Change. New York, NY: Oxford University Press. ISBN 0-19-516195-5.
Poole, Keith T.; Howard Rosenthal (1997). Congress: A Political-Economic History of Roll Call Voting. New York, NY: Oxford University Press. ISBN 0-19-514-242-X.
Remini, Robert V. (2006). The House: The History of the House of Representatives. New York, NY: HarperCollins. ISBN 0-06-088434-7.
Sinclair, Barbara (1983). Majority Leadership in the U.S. House. Baltimore, MD: Johns Hopkins University Press. ISBN 080182933X.
Julian E. Zelizer biên tập (2004). The American Congress: The Building of Democracy. New York, NY: Houghton Mifflin. ISBN 0-618-17906-2.
=== Trước năm 1945 ===
David W. Brady and Mathew D. McCubbins. Party, Process, and Political Change in Congress: New Perspectives on the History of Congress (2002)
Brady, David W. Congressional Voting in a Partisan Era: A Study of the McKinley Houses and a Comparison to the Modern House of Representatives. U. Pr. of Kansas, 1973. 273 pp.
Cooper, Joseph. The Origins of the Standing Committees and the Development of the Modern House. Rice U. Press, 1970. 167 pp.
Linda Grant de Pauw, Charlene Bangs Bickford, and Kenneth R. Bowling, eds. Documentary History of the First Federal Congress of the United States of America, 4 tháng 3, 1789-3 tháng 3, 1791 (1992- 2006) 14 volumes of primary documents
Ronald L. Hatzenbuehler, "Party Unity and the Decision for War in the House of Representatives in 1812," William and Mary Quarterly 29 (1972): 367-90;
Henig, Gerald S. Henry Winter Davis: Antebellum and Civil War Congressman from Maryland. 1973. 332 pp. Radical leader in Civil War era
Klingman, Peter D. Josiah Walls: Florida's Black Congressman of Reconstruction. U. Press of Florida, 1976. 157 pp.
Lowitt, Richard. George W. Norris: The Making of a Progressive, 1861-1912 Vol. 1. Syracuse U. Press, 1963. leader of Republican insurgents in 1910
Margulies, Herbert F. Reconciliation and Revival: James R. Mann and the House Republicans in the Wilson Era. Greenwood, 1996. 242 pp.
Patterson, James. Congressional Conservatism and the New Deal: The Growth of the Conservative Coalition in Congress, 1933-39 (1967)
Robert V. Remini. Henry Clay: Statesman for the Union (1992). Speaker for most of 1811-1825
Strahan, Randall; Moscardelli, Vincent G.; Haspel, Moshe; and Wike, Richard S. "The Clay Speakership Revisited" Polity 2000 32(4): 561-593. ISSN 0032-3497 uses roll call analysis
Stewart, Charles H., III. Budget Reform Politics: The Design of the Appropriations Process in the House of Representatives, 1865-1921. Cambridge U. Press, 1989. 254 pp.
Story, Joseph. (1891). Commentaries on the Constitution of the United States. (2 vols). Boston: Brown & Little.
Trefousse, Hans L. Thaddeus Stevens: Nineteenth-Century Egalitarian (1997) majority leader in 1860s
Waller, Robert A. Rainey of Illinois: A Political Biography, 1903-34. U. of Illinois Press, 1977. 260 pp. Democratic Speaker 1932-34
Wilson, Woodrow. (1885). Congressional Government. New York: Houghton Mifflin.
=== Từ năm 1945 ===
Abramowitz, Alan I. and Kyle L. Saunders. 1998. Ideological Realignment in the US Electorate. Journal of Politics 60(3):634-652.
Adler, E. Scott. Why Congressional Reforms Fail: Reelection and the House Committee System. Univ. of Chicago Press, 2002.
Albert, Carl and Goble, Danney. Little Giant: The Life and Times of Speaker Carl Albert. U. of Oklahoma Press, 1990. 388 pp. Speaker in 1970s
Barone, Michael, and Grant Ujifusa, The Almanac of American Politics 2006: The Senators, the Representatives and the Governors: Their Records and Election Results, Their States and Districts (2005). Published every two years since 1975; enormous detail on every state and district and member.
Barry, John M. The Ambition and the Power: The Fall of Jim Wright. A True Story of Washington. Viking, 1989. 768 pp. Speaker in 1980s
Berard, Stanley P. Southern Democrats in the U.S. House of Representatives. U. of Oklahoma Press, 2001. 250 pp.
Berman, Daniel M. (1964). In Congress Assembled: The Legislative Process in the National Government. London: The Macmillan Company.
"Biographical Directory of the United States Congress, 1774-2005." Washington: Government Printing Office, 2005. Prepared by the Office of the Clerk, Office of History and Preservation, United States House of Representatives. Contains biographical entries for every Member of Congress. Also online at Biographical Directory.
Congressional Quarterly Congress and the Nation: 2001-2004: A Review of Government and Politics: 107th and 108th Congresses (2005); massive, highly detailed summary of Congressional activity, as well as major executive and judicial decisions; based on Congressional Quarterly Weekly Report and the annual CQ almanac.
Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1997-2001 (2002)
Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1993-1996 (1998)
Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1989-1992 (1993)
Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1985-1988 (1989)
Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1981-1984 (1985)
Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1977-1980 (1981)
Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1973-1976 (1977)
Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1969-1972 (1973)
Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1965-1968 (1969)
Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1945-1964 (1965), the first of the series
Congressional Quarterly's Guide to Congress, 5th ed. (2000). Washington, D.C.: Congressional Quarterly Press.
Cox, Gary W. and McCubbins, Mathew D. Legislative Leviathan: Party Government in the House. U. of California Press, 1993. 324 pp.
C-SPAN. (2003). "Capitol Questions."
Currie, James T. The United States House of Representatives. Krieger, 1988. 239 pp short survey
DeGregorio, Christine A. Networks of Champions: Leadership, Access, and Advocacy in the U.S. House of Representatives. U. of Michigan Press, 1997. 185 pp.
Dierenfield, Bruce J. Keeper of the Rules: Congressman Howard W. Smith of Virginia U. Press of Virginia, 1987. 306 pp. leader of Conservative coalition 1940-66
Farrell, John A. Tip O'Neill and the Democratic Century Little, Brown, 2001. 776 pp. Democratic Speaker in 1980s
Gertzog, Irwin J. Congressional Women: Their Recruitment, Treatment, and Behavior Praeger, 1984. 291 pp.
Hardeman, D. B. and Bacon, Donald C. Rayburn: A Biography. Texas Monthly Press, 1987. 554 pp.
Hechler, Ken. Toward the Endless Frontier: History of the Committee on Science and Technology, 1959-79. Washington: Government Printing Office, 1980. 1073 pp.
Hibbing, John R. Congressional Careers: Contours of Life in the U.S. House of Representatives. U. of North Carolina Press, 1991. 213 pp.
Jacobs, John. A Rage for Justice: The Passion and Politics of Phillip Burton. U. of California Press., 1995. 578 pp. leader of liberal Democrats in 1970s
Jacobson, Gary C. The Electoral Origins of Divided Government: Competition in U.S. House Elections, 1946-1988. Westview, 1990. 152 pp.
Kiewiet, D. Roderick and McCubbins, Mathew D. The Logic of Delegation: Congressional Parties and the Appropriations Process. U. of Chicago Press, 1991. 286 pp.
Merriner, James L. Mr. Chairman: Power in Dan Rostenkowski's America. Southern Illinois U. Pr., 1999. 333 pp.
Price, David E. The Congressional Experience: A View from the Hill. Westview, 1992. 194 pp. Political scientist who served in House.
Rohde, David W. Parties and Leaders in the Postreform House. U. of Chicago Press, 1991. 232 pp.
Rohde, David W. and Kenneth A. Shepsle, "Leaders and Followers in the House of Representatives: Reflections on Woodrow Wilson's Congressional Government," Congress & the Presidency 14 (1987): 111-33
Schooley, C. Herschel. Missouri's Cannon in the House. Marceline, Mo.: Walsworth, 1977. 282 pp. Chaired Appropriations in 1960s
Schickler, Eric. Disjointed Pluralism: Institutional Innovation and the Development of the U.S. Congress (2001)
Shelley II, Mack C. The Permanent Majority: The Conservative Coalition in the United States Congress (1983)
Sinclair, Barbara. Legislators, Leaders, and Lawmaking: The U.S. House of Representatives in the Postreform Era. Johns Hopkins U. Press, 1995. 329 pp.
Sinclair, Barbara. Congressional Realignment, 1925-1978. U. of Texas Press, 1982. 201 pp.
Steinberg, Alfred. Sam Rayburn: A Biography. Hawthorn, 1975. 391 pp. popular biography
Strahan, Randall. New Ways and Means: Reform and Change in a Congressional Committee. U. of North Carolina Press, 1990. 218 pp.
VanBeek, Stephen D. Post-Passage Politics: Bicameral Resolution in Congress. U. of Pittsburgh Press, 1995. 227 pp.
Zelizer, Julian E. On Capitol Hill: The Struggle to Reform Congress and its Consequences, 1948-2000 (2006)
== Liên kết ngoài ==
United States House of Representatives
Chief Administrator Office of the House
Clerk of the House of Representatives
Kids in the House- Educational Site for Children
Office of the Majority Leader
Office of the Speaker of the House
Official list of current members
Rules of the House
A New Nation Votes: American Election Returns 1787-1825
Biographical Directory of the United States Congress, 1774 to Present
Complete Downloadable List of U.S. Representative Contact Information
Congressional Research Service (CRS) Reports regarding the House
Legislative information and archives for US House and Senate |
pop art.txt | Pop art (viết tắt của chữ popular art tức nghệ thuật đại chúng) là trào lưu mỹ thuật xuất phát từ nghệ thuật đại chúng của thời đại công nghiệp. Nó ra đời vào giữa thập niên 1950 và gắn liền với các thị trường lớn, đặc biệt với những hình thức thông tin mới như truyền hình, điện ảnh, quảng cáo, truyện tranh. Từ năm 1960, Pop art từ Mỹ lan sang Châu Âu và biển đổi thành nhóm Tượng hình mới (Nouvelle Figuration), Hiện thực mới (Nouveau Réalisme).
Các nghệ sĩ Pop art nổi tiếng là Andy Warhol, Roy Lichtenstein, Robert Rauschenberg, David Hockney, Jasper Johns, Tom Wesselmann, Alex Katz.....
== Tham khảo == |
trà sen.txt | Trà sen hay chè sen là tên gọi chỉ loại trà ướp hương sen. Trà sen được coi là một loại trà đại diện của văn hóa trà Việt Nam, đóng góp vào nền văn hóa trà thế giới.
Trà sen trở thành một tinh thần đặc trưng của văn hóa trà Việt Nam, mang trong đó nhiều triết lý, lịch sự và lòng kính trọng.
Một nơi lý tưởng để thưởng thức trà sen cổ truyền là dưới mái hiên. Người uống trà ngồi xếp bằng trên sập gỗ. Cảnh quan nếu có thì trông ra hồ sen xanh ngát mênh mang gió. Người uống trà có thể ngắm cảnh, làm thơ, hàn huyên tâm sự hay trầm ngâm tự tại.
=== Ướp sen ===
Muốn có trà ngon, chỉ hái những búp trà loại "một tôm hai lá" và phải hái nhanh, nhẹ nhàng, không để búp bị nhàu nát. Loại trà ngon là sau khi sao phải còn lại một lượng nước nhất định từ 5-7%. Trà hái xong không ướp hương ngay mà phải để trong chum đất, trên ủ lá chuối, để từ 2-3 năm nhằm làm giảm độ chát và để cánh trà phồng lên hút được nhiều hương. Một cân trà ướp hương sen cần có 800-1000 bông sen, mà phải đúng loại sen ở đầm Đồng Trị, Thuỷ Sứ, làng Quảng Bá, Hồ Tây (sen ở đây to và thơm hơn sen những nơi khác).
Hoa sen phải hái trước lúc bình minh. Bông sen còn đẫm sương được tách lấy phần hạt gạo rồi rải đều, cứ một lớp trà một lớp gạo sen. Sau cùng phủ một lớp giấy bản. Ướp như vậy liên tục 5-6 lần, mỗi lần ướp xong lại sấy khô rồi mới ướp tiếp. Công phu là thế nên một ấm trà sen có thể uống hàng chục tuần trà. Nước trong rồi, hương sen còn ngan ngát.
=== Sen sớm ===
Có lẽ đây là cách ướp trà độc đáo có một không hai trên thế giới. Khi hoàng hôn dải nắng vàng lên mặt hồ sen, các thiếu nữ chèo thuyền ra chọn những bông sen đang còn hé nụ lén bỏ vào một dúm trà nhỏ. Sớm hôm sau khi ánh bình chưa chạm tới chúng thì các thiếu nữ lại chèo thuyền ra lấy lại những dúm trà đó. Trà rất thơm hương tự nhiên của đất trời trong suốt đêm dài. Cũng thế, nước pha trà được hứng từ những lá sen còn đọng vương sớm. Đây chính là thiên cổ đệ nhất trà.
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
"Chén trà trong sương sớm", trích tập truyện "Vang bóng một thời" của Nguyễn Tuân
Cách uống chè trích tập truyện Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ
== Liên kết ngoài ==
Văn hóa trà - Giá trị ẩm thực Việt Nam
Vẻ đẹp văn hóa trà Việt Nam |
doha.txt | Doha (tiếng Ả Rập: الدوحة, chuyển tự: Ad-Dawḥah hay Ad-Dōḥah), dân số 400.051 (số liệu điều tra năm 2005 ), là thủ đô của Qatar có tọa độ 25.3°B 51.5333°Đ / 25.3; 51.5333, bên Vịnh Ba Tư. Doha nằm ở Ad Dawhah municipality, đôi lúc được gọi là capital municipality. Đây là thành phố lớn nhất của quốc gia này với 80% dân số của quốc gia này sống ở Doha và ngoại ô của nó. Đây cũng là trung tâm kinh tế của Qatar. Đây cũng là nơi có Thành phố đại học.
== Lịch sử ==
Năm 1850, thành phố Doha được thành lập dưới tên gọi Al-Bida. Năm 1882, al Rayyan đã xây pháo đài Al Wajbah ở Tây Nam Doha. Năm sau, Sheikh Qassim đã lãnh đạo quân đội Qatar chiến thắng Đế quốc Ottoman.
Thành phố này trở thành thủ đô của bảo hộ Anh Qatar năm 1916, và khi quốc gia này giành được độc lập năm 1916, Doha vẫn là thủ đô của Qatar. Năm 1917, pháo đài Al Kout nằm ở trung tâm thành phố được xây bởi Sheikh Abdulla Bin Qassim Al-Thani. Năm 1949, việc khai thác dầu mỏ bắt đầu ở Qatar. Ngày nay, cả quốc gia này sản xuất hơn 800 000 thùng dầu mỗi ngày. Năm 1969, Government House đã mở ra. Ngày nay, đây là một địa điểm nổi bật ở Qatar.
Năm 1973 Đại học Qatar được khai trương, và năm 1975 Bảo tàng quốc gia Qatar được mở ra ở nơi trước đây là dinh của thực dân Anh năm 1912. Kênh tin tức truyền hình vệ tinh tiếng Ả Rập Al Jazeera bắt đầu phát năm 1996 với trụ sở và trung tâm phát sóng ở Doha. Sheikh Hamad Bin Khalifa Al-Thani gần đây rules in what some consider to be Qatar's most beautiful city.
== Cơ cấu dân số ==
Cơ cấu dân số của Doha thật khác thường vì đa số dân số là ngoại kiều, với dân dân tộc Qatar là cộng đồng thiểu số. Dân số ngoại kiều đông nhất là từ các nước Đông Nam Á, với số lượng lớn ngoại kiều đến từ các nước Ả Rập Levant Đông Á. Doha cũng là nơi ở của ngoại kiều từ Hoa Kỳ, Nam Phi, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Na Uy và nhiều nước khác. Trong quá khứ, ngoài kiều ở Qatar không được phép sở hữu đất đai, bây giờ dân không phải là công dân Qatar cũng thể mua nhiều đất ở Doha, bao gồm West Bay Lagoon và Qatar Pearl. Việc sở hữu đất ở Doha của người nước ngoài cho phép họ gia hạn giấy phép cư trú và sống và làm việc ở Qatar.
== Kinh tế ==
Phần lớn dầu mỏ và khí thiên nhiên hiện hữu ở Doha, là trung tâm kinh tế của Qatar. Doha là nơi có các trụ sở của các công ty dầu khí lớn của quốc gia này, bao gồm Qatar Petroleum, Qatar Gas và RasGas. Nền kinh tế của Doha được xây trên thu nhập từ ngành công nghiệp dầu khí và chính phủ Qatar đang nhanh chóng cố gắng đa dạng hóa nề kinh tế Qatar giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ. Kết quả là, Doha gần đây đang trải qua một giai đoạn bùng nổ lớn, thành phố phát triển rất nhanh, phần lớn là nhờ chương trình hiện đại hóa của Sheikh Hamad bin Khalifa.
Giống như thành phố Dubai gần đó ở Các Tiểu Vương quốc Ả Tập Thống nhất, nề kinh tế của Doha đang thoát khỏi phụ thuộc vào ngành công nghiệp dầu mỏ và khí thiên nhiên, dù không giống như Dubai, trọng tâm của Doha không hướng vào ngành du lịch. Doha đang chứng kiến một sự tăng trưởng nhanh với dân số thành phố tăng hơn 60.000 giữa 2004-2006 điều này dẫn đến sự bùng nổ lĩnh vực bất động sản, với giá bất động sản tăng vọt. Theo BBC cuối tháng 1 năm 2007, Doha là thành phố đắt đỏ hơn Dubai về giá bất động sản. Tỷ lệ tăng giá này đã dẫn đến các dự án như dự án Thành phố Lusail được xây phía Bắc của Doha và khi hoàn thành sẽ cấp nơi ở cho 200.000 người.Việc xây dựng cũng bùng nổ ở Doha, một kết quả của sự gia tăng hoạt động kinh doanh và thương mại ở Doha; điều này có thể nhận thấy thông qua sự thay đổi chiều cao kiến trúc của thành phố khi Doha có 40 tháp cao ốc đang được xây, trong đó lớn nhất là cao ốc Tháp Dubai.
== Giáo dục ==
Doha là nơi có Đại học Qatar, được thành lập năm 1973, cũng như nhiều trường đại học khác nằm ở Thành phố đại học của Doha. Thành phố đại học là nơi có nhiều trường đại học danh tiếng như Đại học Georgetown, Weill Medical College của Đại học Cornell, Đại học Virginia Commonwealth, Đại học Texas A&M và Đại học Carnegie Mellon. Doha cũng là nơi có nhiều trường phổ thông quốc tế được thành lập cho các cộng đồng ngoại kiều với hàng chục trường khác nhau đang hoạt động trong thành phố. Giáo dục là một trọng tâm lớn của chính phủ Qatar và điều này dẫn đến sự phát triển của các tổ chức như Qatar Foundation quản lý Thành phố đại học.
== Kiến trúc ==
Như phần lớn các thành phố giàu có ở Trung Đông khác, Doha đang trải qua một thời kỳ bùng nổ xây dựng. Thành phố đã mời các công ty kiến trúc quốc tế thiết kế các tòa nhà mới. Các dự án mới ở Doha nổi bật bao gồm:
Doha Villa y Kathyrn Findlay
Qatar Sports Tower
== Thể thao ==
trong dịp Lễ khai mạc Đại hội Thể thao châu Á 2006
Doha có một số sân vận động thểt thao trong đó có nhiều sân được cải tạo để chuẩn bị cho 15th Asian Games, được tổ chức tháng 12 năm 2006. Doha cũng tổ chức 3rd West Asian Games tháng 12 năm 2005. Các địa điểm tổ chức thể thao ở Doha và ngoại ô của thành phố bao gồm:
Sân vận động Al Ahli
Sân vận động Al Gharrafah
Câu lạc bộ thể thao Al Itihad
Sân vận động Jassim Bin Hamad (Sân Al Sadd)
Sân vận động Grand Hamad
Trung tâm nước Hamad
Sân vận động Quốc tế Khalifa - Nơi tổ chức chính tổ chức Thế vận hội châu Á 2006.
Sân tennis Khalifa
Câu lạc bộ thể thao Markhiya
Sân vận động Câu lạc bộ thể thao Qatar
ASPIRE Academy, khánh thành năm 2004, là một học viện thể thao có mục tiêu đào tạo các vận động viên đẳng cấp thế giới. Học viện này nằm ở Phức hợp Thành phố thể thao. Giải MotoGP grand prix Doha được tổ chức hàng năm tại Vòng đua quốc tế Losail, nằm ở phía Bắc thành phố.
Doha đang mong đợi chạy đua đăng cai Olympic 2016.
== Giao thông ==
=== Đường bộ ===
Doha có hệ thống xe bus nhưng chỉ có nhóm người thu nhập thấp sử dụng. Dân thu nhập cao thích đi xe hơi riêng hơn và điều này đã dẫn đến sự tắc nghẽn gia tăng trong thành phố dù chính quyền thành phố đã đầu tư nâng cấp đường sá. Hàng loạt đường cao tốc, nút giao thông đã được xây dựng. Doha có hàng loạt taxi đang hoạt động.
=== Hàng không ===
Sân bay quốc tế Doha là sân bay quốc tế duy nhất của Qatar. Đây là trung tâm hoạt động của hãng Qatar Airways, và có nhiều hãng hàng không quốc tế đang hoạt động. Do sự tăng trưởng nhanh của thành phố và của hãng Qatar Airways, nhiều người nói sân bay này là quá chật hẹp và không thể phục vụ tốt các hãng hàng không qua đây. Một sân bay mới Sân bay quốc tế Doha mới đang được xây dựng để giải quyết tình trạng này.
== Khí hậu ==
Doha nằm ở Bán đảo Ả Rập do đó khi hậu rất nóng. Nhiệt độ trung bình hơn 40 độ C từ tháng 5 đến tháng 9 và độ ẩm rất cao. Vào các tháng mùa Hè, thành phố hầu như không có mưa, ít hơn một inch một tháng trong các tháng khác.
== Một vài hình ảnh ==
Gallery of Photos of Khalifa International Stadium
Qatar Corniche Fish Market
== Xem thêm ==
Tuyên bố Doha
Vòng đàm phán Doha của Tổ chức thương mại thế giới
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Qatar, Doha PhotoGallery
Weill Cornell Building
Interactive Map Site A map site for the city of Doha using Google satellite imagery
Qatar's main portal website
Information and History of Doha
15th Asian Games, Doha 2006
ILoveQatar.net – Photos, Information and History of Qatar
http://www.diaoc360.vn/kien-truc-phong-thuy/ve-dep-bat-ngo-cua-thanh-pho-doha/247/1686
Qatar Links
Planning Council
Bản đồ từ from Multimap hoặc GlobalGuide hoặc Google Maps
Hình ảnh từ trên không trung lấy từ TerraServer
Hình ảnh chụp từ vệ tinh lấy từ WikiMapia |
jane austen.txt | Jane Austen (16 tháng 12 năm 1775 – 18 tháng 7 năm 1817) là một nữ văn sĩ người Anh, tác giả của những tác phẩm nổi tiếng như Sense and Sensibility, Pride and Prejudice, Mansfield Park, Emma, Northanger Abbey, và Persuasion. Những bình phẩm về các vấn đề xã hội cùng văn phong tuyệt kỹ trong nghệ thuật dẫn chuyện và xây dựng những tình huống oái ăm đã đem tên tuổi của Austen vào trong số những nhà văn có nhiều ảnh hưởng nhất và được trọng vọng nhất trên văn đàn nước Anh. Những tác phẩm của bà lấy bối cảnh trong Thời kỳ Nhiếp chính (Regnecy Era) – từ năm 1795 đến 1830, nổi bật với những đặc thù trong chính trị, văn hóa và trang phục. Trong suốt cuộc đời mình, Janes Auten không bao giờ kết hôn. Nhưng những câu chuyện tình yêu lãng mạn phần nào được nhà văn khai thác từ chính cuộc tình của mình với Tom Lefroy.
== Tiểu sử ==
Chào đời ngày 16 tháng 12 năm 1775 tại Steventon, Hampshire, Anh, Jane Austen là con thứ bảy trong gia đình có tám người con của Mục sư George Austen (1731-1805), cai quản giáo xứ Steventon, và bà Cassandra (nhũ danh Leigh) (1739-1827). Người thân thiết nhất trong cuộc đời Jane Austen là cô chị Cassandra; cả hai không bao giờ kết hôn. Người cha là một học giả luôn khuyến khích con cái tính ham học hỏi. Tuy thế, Jane không được tiếp thu nhiều giáo dục từ nhà trường mà chủ yếu được người cha dạy học, và cũng có điều kiện đọc nhiều sách vở. Không khí gia đình sinh động, đầm ấm và đầy ắp tình yêu thương, cộng thêm những mối quan hệ rộng rãi với họ hàng và bạn hữu, đã cung cấp bối cảnh cho các tác phẩm của tác giả. Đây là môi trường tốt giúp phát triển năng khiếu văn chương của cô. Gia đình Austen thường cùng nhau diễn kịch, điều này giúp Jane có cơ hội ra mắt các sáng tác của mình. Họ cũng thường mượn các tác phẩm văn học từ thư viện địa phương, và những cuốn tiểu thuyết này đã ảnh hưởng đến văn phong của cô. Các thành viên trong gia đình thường khuyến khích Jane sáng tác, nhất là ông anh Henry, người cũng viết lách chút ít.
Từ tuổi nhỏ, Jane Austen đã bắt đầu viết những vở kịch ngắn và tiểu phẩm nhằm tạo vui thú trong gia đình, tiếp theo là một ít thơ và văn xuôi. Cô viết tác phẩm đầu tay từ năm 1789. Jane Austen đã sử dụng khung cảnh đời sống của mình - vùng nông thôn, giáo xứ, láng giềng và những thị trấn miền quê, cùng những chuyến thăm viếng đến các thành phố Bath và London để lấy chất liệu cho những tình huống, cá tính và đề tài trong các tác phẩm của mình.
Tác phẩm Sense and Sensibility được viết vào năm 1784 dưới tựa đề Elinor and Marianne, qua nhiều bổ sung và chuyển thể đến năm 1811 mới được xuất bản, chỉ ghi tác giả là "một phụ nữ", và với chi phí tác giả tự bỏ ra. Tương tự, truyện Pride and Prejudice được phác thảo trong thời gian 1796-1797 và xuất bản lần đầu tiên năm 1813. Thêm truyện Mansfield Park được xuất bản năm 1814, và Emma năm 1816. Một nhà phê bình văn học có uy tín đã ca ngợi "tác giả không tên" là ngòi bút tuyệt diệu của "tiểu thuyết hiện đại" trong truyền thống mới về hiện thực. Tất cả tác phẩm xuất bản lúc Jane Austen còn sống vẫn đề tên tác giả vô danh. Sau khi qua đời, lần đầu tiên tên thật của Jane Austen mới xuất hiện năm 1818, trên truyện Persuasion.
Năm 1802, Jane Austen dường như nhận lời kết hôn với Harris Bigg-Wither, 21 tuổi, nhưng cô thay đổi ý định. Không ai biết rõ về cuộc đời tình ái của cô ngoại trừ những mẩu chuyện mâu thuẫn nhau. Cô chị Cassandra luôn muốn bảo vệ chi tiết đời tư của em gái mình, nên sau khi tác giả qua đời, cô đã tiêu hủy rất nhiều thư từ của tác giả để lại. Nhưng các tác phẩm cho thấy tác giả thông hiểu kinh nghiệm của tình yêu và của tình tuyệt vọng.
Sau khi cha bà qua đời năm 1805, Austen cùng chị gái và mẹ đến sống tại Southampton với gia đình Frank, anh trai của Jane, trong vài năm trước khi dời đến Chawton trong năm 1809. Tại đây, Jane cùng mẹ và các chị gái sống tại một điền trang có nhà nghỉ thôn dã là tài sản của ông anh Edward giàu có. Ngôi nhà này, nay trở thành viện bảo tàng, là địa điểm thu hút nhiều khách du lịch và những người yêu thích văn học. Trong những ngày sống ở đây, Austen đã viết những tác phẩm sau cùng của bà.
Năm 1816, Austen bắt đầu mắc bệnh. Tháng 5 năm 1817, bà đến sống ở Winchester để tiện cho bác sĩ chăm sóc. Tình trạng sức khỏe của bà ngày càng tồi tệ, đến ngày 18 tháng 7 năm 1817, mới 41 tuổi, Austen từ trần do bệnh Addison (thoái hóa tuyến thượng thận). Bà được an táng tại Đại giáo đường Winchester.
== Tác phẩm chính ==
=== Pride and Prejudice ===
Pride and Prejudice có lẽ là truyện được yêu thích nhất trong số các tác phẩm của Jane Austen. Truyện kể về cuộc đối đầu giữa Elizabeth Bennet, con gái của một gia đình trung lưu, và Fitzwilliam Darcy, một địa chủ giàu có. Mặc dù họ để tâm tìm hiểu lẫn nhau, tác giả đã đảo ngược ý niệm thông thường về "thuở ban đầu": tính kiêu hãnh về giai cấp và tài sản của mình cùng định kiến về vị thế thấp kém của gia đình Elizabeth khiến anh Darcy lúc đầu muốn tránh xa cô, trong khi cô Elizabeth cũng kiêu hãnh vì lòng tự trọng của mình và có định kiến về cung cách trưởng giả của Darcy, trở nên một người con gái không giống như những người con gái khác chung quanh anh Darcy. Elizabeth, với cá tính nhậy bén, dí dỏm và cứng cỏi, được xem là một trong những nhân vật lôi cuốn nhất trong nền văn học Anh.
Sách này đã được dịch sang tiếng Việt với tựa đề Kiêu hãnh và Định kiến, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản.
=== Sense and Sensibility ===
Sense and Sensibility xoay quanh hai chị em Elinor và Marianne. Trong khi cô chị Elinor chủ yếu sống dựa vào lý trí (nhận thức), luôn cẩn trọng, biết cách tự kiềm chế vui buồn; cô em Marianne hành xử theo cách vô cùng lãng mạn theo ý tình của mình, buông thả vào những cảm nhận đến mức khinh suất - một tố chất tạo cho tác giả phạm trù rộng rãi để châm biếm và cảm thông. Giọng văn châm biếm xã hội trong truyện này đã đạt tầm mức cao hơn những tác phẩm khác của Jane Austen. Làm thế nào mỗi cô thiếu nữ ứng phó với bất hạnh trong tình cảm và rút tỉa được những bài học cho mình đã tạo nên mấu chốt cho câu chuyện. Mặc dù Marianne, với thái độ bất cần quy ước xã hội có thể trở nên hấp dẫn với người đọc trong thời đại phóng khoáng, tác giả có ý đề cao nhân vật Elinor. Ảnh hưởng của cha mẹ đối với con cái (hoặc quá nuông chiều hoặc quá khe khắt) trong giai đoạn này ở Anh Quốc cũng được trình bày khá rõ nét. Qua cách đan kết hai chị em có tố chất khác hẳn nhau qua mỗi biến động tâm tư và những nhu cầu thực tế cùng hạn chế của nữ giới trong khung cảnh xã hội Anh Quốc vào thế kỷ 18, Jane Austen đã xây dựng nên tiền đề rằng chỉ có thể đạt được hạnh phúc khi có sự hài hòa giữa nhận thức và cảm nhận (hay ta thường nói là giữa lý trí và tình cảm).
Sách này đã được dịch sang tiếng Việt với tựa đề Lý trí và tình cảm, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản.
=== Emma ===
Cùng với truyện Kiêu hãnh và định kiến và Lý trí và tình cảm, Emma tạo nên một bộ ba tiểu thuyết đặc sắc của Jane Austen, mỗi tiểu thuyết có nét độc đáo riêng tuy có cùng điểm chung: mỗi truyện trình bày một "nữ anh hùng". Trong khi nhân vật chính trong Kiêu hãnh và định kiến là người cứng cỏi, đầy kiêu hãnh; trong Lý trí và tình cảm là người phóng khoáng, sống toàn tâm cho tình cảm; thì Emma là người khác hẳn: giàu có hơn, độc đoán hơn, cứ mãi suy đoán hàm hồ rồi dựa trên những suy đoán này mà cố làm mai cho hết người này qua người khác trong khi nhất quyết mình sẽ không bao giờ kết hôn.
Sách này đã được dịch sang tiếng Việt với tựa đề Emma, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản.
=== Persuasion ===
Trong khi Pride and Prejudice thường được xem là truyện nổi tiếng nhất của Jane Austen, một số người đọc cho biết họ thích nhất Persuasion trong số các tác phẩm của tác giả. Điều này cho thấy Persuasion có một chỗ đứng nhất định trong văn học. Câu chuyện xoay quanh cô Anne Elliot, con gái thứ hai của Tòng nam tước Walter Elliot, bị người cha và chị khinh rẻ (có ý kiến so sánh như là Cinderella!). Tám năm về trước, Anne và anh Wentworth tha thiết yêu nhau trong khi anh này còn nghèo, không có gia sản, chưa có sự nghiệp. Vì nghe theo lời thuyết phục của Phu nhân Russell, người đóng vai trò mẹ đỡ đầu của cô, cho rằng Wentworth không xứng đáng, Anne cắt đứt quan hệ tình cảm với Wentworth. Bây giờ, Wentworth trở về sau khi hòa bình được tái lập, trong tư cách một đại tá với chiến công hiển hách và một gia sản to tát nhờ tiền thưởng trong cuộc chiến. Cùng lúc, người cha đang lâm vào cảnh nợ nần do chi tiêu phung phí. Trong khi ấy, người thừa kế tài sản và tước vị của Ngài Wentworth là anh Elliot bắt lại mối quan hệ với gia đình ông và có ý muốn cưới Anne. Liệu Anne sẽ bị thuyết phục bởi viễn cảnh làm Phu nhân một tòng nam tước và cũng là bà chủ một gia sản to tát, hay cô lại bị Phu nhân Russell thuyết phục nhầm lẫn, hay cô sẽ thuyết phục anh Wentworth kiềm chế sự ghen tị và mặc cảm đối với anh Elliot mà nối lại cuộc tình?
Sách này đã được dịch sang tiếng Việt với tựa đề Thuyết phục, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản.
== Đánh giá ==
Để thấu hiểu ý nghĩa văn học của Jane Austen, nên nhìn qua bối cảnh chung. Vào thời của tác giả, phụ nữ không có mấy cơ may thăng tiến trong xã hội Anh: những nghề chuyên môn, các đại học, giới chính trị, quân ngũ... đều khép kín đối với phụ nữ. Nhiều cô ít được đến trường, mà chủ yếu được cha mẹ hoặc gia sư dạy học ở nhà (tác giả cũng thế). Một số ít ngành nghề phụ nữ có thể tham gia (như nhận chân dạy học cho trẻ em và sống cùng gia chủ) thì không được coi trọng. Phụ nữ con nhà "gia giáo" chỉ có thể mong được vị thế xã hội tốt qua việc hưởng thừa kế hoặc qua hôn nhân. Nhưng việc thừa kế toàn bộ bất động sản lại dành cho nam giới theo thứ tự liên hệ gia tộc; phụ nữ thường chỉ nhận thừa kế những đồ dùng trong nhà, cùng lắm là một khoản tiền nho nhỏ.
Chỉ còn con đường duy nhất để đảm bảo tương lai cho người con gái: lấy chồng giàu! Do vậy mà phát sinh mối ưu tư lớn lao của những bà mẹ có con gái, đến nỗi các bà mẹ trong truyện của Jane Austen không giáo huấn cho con gái nhiều về tình yêu và hôn nhân, với chủ kiến con gái chỉ cần đẹp để lấy chồng giàu! Mặt khác, các chàng trai con nhà giàu cũng chịu áp lực gia đình là nên lấy vợ có gia thế tương xứng. Những bối cảnh này đã tạo nên tiền đề cho tác giả châm biếm và cảm thông.
Con gái chưa chồng còn phải chịu nhiều hạn chế do phong tục thời ấy: muốn cưỡi ngựa phải có gia nhân cưỡi ngựa đi theo (lại thêm chi phí!), khi đi xa nếu không có bậc trưởng thượng thì phải có người bảo mẫu có tư cách tốt để kèm cặp, không được viết thư cho chàng trai nào khi chưa hẹn ước... Và đã là con gái nhà gia giáo thì chỉ học văn chương, nghệ thuật, nữ công... trong khi chờ hôn nhân!
Cuộc sống trong giới trung lưu (thường là địa chủ) còn phiền toái ở chỗ, vì không phải làm lụng nhiều, các gia đình trung lưu thường tổ chức họp mặt, dạ vũ, dã ngoại... rồi chuyện phiếm với nhau, từ đấy hay bàn tán cợt đùa về chuyện riêng tư lẫn nhau. Hậu quả là các cô gái chưa chồng phải chịu thêm sức ép của dư luận vốn rất bảo thủ trong xã hội chủ yếu còn sống về nông nghiệp. Có lẽ vì thế mà Jane Austen lúc còn sống không muốn đề tên mình trên các tác phẩm, vì với cách châm biếm thói đời, cô khó có thể được yên ổn với xã hội chung quanh nếu tung tích bị tiết lộ!
Cũng là con nhà trung lưu gia giáo, Jane Austen hẳn phải thấm thía với thân phận của phụ nữ như thế, nên đã dựng nên những mẫu người mà các nhà phê bình văn học gọi là "nữ anh hùng" (heroine). Đấy là những cô gái trẻ thuộc gia đình có vật chất kém, nhưng lại cứng cỏi hoặc ương ngạnh, không màng đến các anh trai trẻ giàu sang hoặc bất chấp những lễ nghi và thành kiến. Họ muốn biểu hiệu là chính mình: tự chủ - ngay cả kiêu hãnh - chứ không phải lo tìm kiếm hôn nhân giàu sang cho bằng được, dù bà mẹ có gây sức ép hoặc có phiền hà! Có người trở nên phóng khoáng, sống cho tình cảm của mình chứ không muốn gượng ép theo "đất lề quê thói". Trong tình yêu, các cô được hướng dẫn bảo ban rất ít, mà phải tự khám phá, rồi tự hành xử mà giải quyết vấn đề của riêng mình.
Điều tốt đẹp sau cùng của những "nữ anh hùng" này là họ cũng vấp ngã, nhưng cũng biết nhìn nhận lầm lỗi của mình và tha thứ cho lầm lỗi của người khác.
Tuy được một số nhà phê bình văn học đương thời tán thưởng, tác giả chỉ được công chúng chú ý chút ít khi còn sống. Khoảng ba thập kỷ sau khi tác giả qua đời, công luận thế giới bắt đầu có những nhận xét nghiêm túc và nồng nhiệt hơn, và từ bấy giờ đến nay Jane Austen đều được đánh giá như là một trong những tác giả tiểu thuyết đặc sắc nhất của nền văn học Anh. Nhiều câu lạc bộ của những người yêu thích Jane Austen đã được thành lập ở Argentina, Úc, Nhật, Mỹ... và dĩ nhiên là ở Anh.
Jane Austen được xem là nhà văn đã mang đến cho nền tiểu thuyết tính cách hiện đại độc đáo qua văn phong hài hước để phê phán thói hư tật xấu trong đời thường. Các nhà phê bình văn học ca ngợi tiểu thuyết của tác giả về giá trị đạo đức lẫn tính chất giải trí; họ cũng yêu mến việc tả chân cá tính con người và đánh giá cao tính hiện thực giản đơn. Những phong cách này đem đến cho người đọc một thay đổi sảng khoái so với cách viết cường điệu lãng mạn đang thịnh hành thời bấy giờ. Trong khi nền tiểu thuyết của Anh phát sinh vào đầu thế kỷ 18, các tác phẩm của Jane Austen tạo ra không khí mới mẻ qua việc tả chân những con người trung bình trong những bối cảnh thông thường.
Đặc biệt, Jane Austen đã dựng lên bộ khung khôi hài của giới trung lưu Anh quốc vào thời đại của mình, mở đầu xu hướng cho nền "tiểu thuyết gia đình" khi xói vào cung cách, nhân phẩm, và sự căng thẳng giữa các nhân vật nữ và xã hội mà họ đang sống. Jane Austen đã thoát khỏi mô-típ văn học thời đại cô sống, vốn vẫn đưa ra nhân vật nữ luôn có đức độ, truyện tình luôn thơ mộng, và những sự kiện ngẫu nhiên gây đột biến cho câu chuyện. Đặc điểm này đã khiến tiểu thuyết của tác giả có mối tương quan gần gũi với thế giới đương đại hơn là những truyền thống của thế kỷ 18.
Tóm lại, qua các tác phẩm của Jane Austen, người đọc có thể nhận ra những mẫu người "trần thế", không tuyệt vời mà cũng không tồi tệ, nhưng phức tạp, trong bối cảnh tình yêu và lãng mạn bị chi phối bởi kinh tế và bản chất thật của con người, qua đấy họ thể hiện "tài" và "tật" mà gia đình và xã hội đã góp phần đúc khuôn họ.
== Bình chọn ==
Trong cuộc bình chọn dân chúng Anh năm 2005 do đài BBC tổ chức, Jane Austen được chọn là nhà văn nữ người Anh được ưa thích nhất mọi thời đại. Riêng quyển Pride and Prejudice được chọn là tác phẩm của người Anh được ưa thích thứ nhì mọi thời đại (chỉ thua Lord of the Ring – Chúa tể của Chiếc nhẫn – do ảnh hưởng của điện ảnh.)
== Điện ảnh ==
Truyện Pride and Prejudice đã được dựng thành phim truyền hình 6 tập do hãng BBC thực hiện năm 1995. Kế đến ít nhất là hai phim dài. Phim Bride and Prejudice (đọc trại ra một chút, có nghĩa "Cô dâu và thành kiến") của đạo diễn người Ấn Độ Gurinder Chadha ra mắt năm 2004, được đón nhận một cách thuận lợi. Phim Pride and Prejudice năm 2005 do Joe Wright làm đạo diễn được đề cử giải Oscar năm 2006 cho nữ diễn viên chính, chỉ đạo nghệ thuật, trang phục và nhạc nền.
Dựa theo truyện Sense and Sensibility, phim Sense and Sensibility của đạo diễn Lý An (hay Ang Lee) được thực hiện năm 1995, gồm Emma Thompson trong vai Elinor, Kate Winslet vai Marianne, Hugh Grant vai Edward. Emma Thompson cũng là người viết kịch bản phim. Phim được Hội đồng Phê bình Quốc gia Hoa Kỳ (National Board of Review), Hiệp hội các Đạo diễn Mỹ (Directors Guild of America) và các Hiệp hội Phê bình Điện ảnh của Thành phố New York, Los Angeles, Boston... trao các giải thưởng phim hay nhất, đạo diễn, nữ diễn viên chính và kịch bản phim. Phim đoạt giải Quả cầu vàng về phim hay nhất và kịch bản phim hay nhất. Với giải Oscar năm 1995, phim được đề cử trong 7 thể loại, và đoạt giải kịch bản phim hay nhất.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tác phẩm của Jane Austen tại Project Gutenberg
Các tác phẩm của Jane Austen
Các tác phẩm của Jane Austen (dạng HTML)
Bảo tàng Jane Austen
The Republic of Pemberley, kho tàng Jane Austen lớn nhất trên web
Jane Austen và mối tình duy nhất trong đời |
wasabi.txt | Wasabi (tiếng Nhật: わさび, ワサビ, 山葵, nguyên thủy viết là 和佐比; danh pháp hai phần: Eutrema japonicum, đồng nghĩa: Cochlearia wasabi, Wasabi japonica, Lunaria japonica, Wasabia wasabi, Wasabia pungens) là một thành viên của họ Cải (Brassicaceae), có họ hàng với các loài cải bắp, cải ngựa, cải dầu và mù tạt. Được biết đến như là "cải ngựa Nhật Bản", rễ (củ) của nó được dùng làm gia vị và có vị cay cực mạnh. Vị cay của nó giống như của mù tạt hơn là vị cay của capsaicin trong ớt, sinh ra hơi có tác dụng kích ứng mũi hơn là tác dụng lên lưỡi. Loài cây này mọc tự nhiên dọc theo lòng suối trong các thung lũng triền sông miền núi ở Nhật Bản. Các loài khác trong chi này như W. koreana và W. tetsuigi cũng dược sử dụng làm gia vị. Hai giống cây trồng chính trên thương trường là W. japonica var. Daruma và var. Mazuma, nhưng còn có nhiều giống khác.
== Sử dụng ==
Wasabi nói chung hoặc là được bán dưới dạng củ (wasabi tươi), và nó phải được nạo (mài) mịn trước khi dùng hoặc dưới dạng bột nhão có thể dùng ngay, thường trong tuýp với kích thước và hình dáng tương tự như tuýp thuốc đánh răng dùng khi đi du lịch. Khi ở dạng tuýp dùng ngay nó phải được che đậy kín cho đến khi dùng để tránh mất mùi và vị do bay hơi. Vì lý do này, trong món sushi và sashimi người ta thường cho wasabi vào giữa cá và cơm.
Lá non của wasabi cũng có thể ăn được và có vị cay gần giống như của rễ wasabi. Nó có thể được dùng dưới dạng xà lách wasabi bằng cách ngâm qua đêm với muối ăn và dấm hay trần qua với một chút xì dầu. Ngoài ra, lá có thể làm thành bột nhão và rán thành các miếng mỏng.
Cảm giác cay và nóng do nó sinh ra là ngắn ngủi khi so với các tác động của ớt, đặc biệt là khi người ta dùng nước để loại bỏ vị của gia vị.
Wasabi thường được dùng cùng các món như sushi hay sashimi, nói chung hay được kèm với xì dầu. Hai loại này cũng hay được trộn lẫn cùng nhau để tạo ra một loại nước xốt ngâm, gọi là wasabi-joyu.
Kem wasabi là phát kiến gần đây nhưng có độ phổ biến ngày càng gia tăng.
Nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng wasabi chứa các hóa chất tự nhiên có tác dụng chống lại một số tế bào ung thư nhất định. Loài rau ăn củ này cũng có thể sử dụng trong vệ sinh và phòng chống nhiễm trùng đường miệng. Người ta cho rằng wasabi có thể ngăn ngừa các bệnh tim mạch như đột quỵ, tăng huyết áp và đau tim. Nó cũng có thể có tác dụng tốt trong phòng chống tiêu chảy, loãng xương, hen suyễn, viêm khớp và dị ứng.
== Wasabi và giả mạo ==
Gần như mọi quầy bán sushi tại châu Mỹ và Nhật Bản đều sử dụng wasabi giả (seiyō) (xem phần Từ nguyên học dưới đây) do wasabi thật sự là khá đắt tiền. Wasabi mất phần lớn hương vị của nó khi bị lộ ra ngoài không khí trong một thời gian ngắn, vì thế bột nhão wasabi trên thực tế thông thường chứa cải ngựa và các thành phần khác để tạo ra gần giống sự kích thích đường mũi như của wasabi tươi. Do điều này, phần lớn bột nhão không sử dụng wasabi thật sự mà thay vào đó là cải ngựa, mù tạc và chất tạo màu thực phẩm màu xanh lục (đôi khi có Spirulina). Dù là thật sự hay làm giả nhưng bột đều được trộn lẫn với một lượng nước tương đương để tạo thành bột nhão. Rất ít người, ngay cả ở Nhật Bản, nhận ra rằng phần lớn wasabi mà họ sử dụng trên thực tế chỉ là hàng giả mạo. Trong khi không được coi là tương đương với sản phẩm từ mài củ tươi, nhưng wasabi bảo quản cũng có ở dạng tuýp và khi ở lượng lớn là trong các túi đông lạnh. Giống như bột, các tuýp wasabi nói chung thường không chứa wasabi thật sự, vì thế việc kiểm tra thành phần là cần thiết.
Để phân biệt giữa sản phẩm wasabi thật sự và sản phẩm giả mạo thì wasabi thật sự tại Nhật Bản gọi là hon-wasabi (本山葵, bổn (bản) sơn quỳ), nghĩa là wasabi thật sự hay nguyên bản. Các quán ăn có món sushi thường thay thế nó bằng cải ngựa.
== Hóa học ==
Các hóa chất có tự nhiên trong wasabi để tạo ra hương vị đặc trưng duy nhất của nó là các isothiocyanat, bao gồm:
6-metylthiohexyl isothiocyanat,
7-metylthioheptyl isothiocyanat,
8-metylthiooctyl isothiocyanat.
Nghiên cứu chỉ ra rằng các isothiocyanat có các tác động có lợi như ngăn ngừa sự phát triển của vi khuẩn, nấm men và nấm mốc.
== Gieo trồng ==
Chỉ có một số ít khu vực là thích hợp để gieo trồng wasabi ở quy mô lớn và việc gieo trồng nó là rất khó, ngay cả trong điều kiện lý tưởng. Tại Nhật Bản, wasabi được gieo trồng chủ yếu trong các khu vực sau:
Bán đảo Izu, nằm tại Shizuoka
Nagano
Shimane
Yamanashi
Iwate
Cũng có một số khu gieo trồng nhân tạo ở xa về phía bắc tới Hokkaidō và xa về phía nam tới Kyūshū. Nhu cầu về wasabi thật sự là rất cao. Nhật Bản lại là quốc gia nhập khẩu một lượng lớn wasabi từ Trung Hoa đại lục, A Lý Sơn ở Đài Loan và New Zealand.
Tại Bắc Mỹ, một số công ty và trang trại nhỏ cũng gieo trồng Wasabia japonica. Trong khi chỉ có vùng tây bắc ven Thái Bình Dương và một số khu vực tại dãy núi Blue Ridge là có sự cân bằng thích hợp giữa khí hậu và lượng nước để gieo trồng tự nhiên sawa wasabi (wasabi trồng trong nước) thì việc sử dụng các nhà kính và kỹ thuật trồng cây trong nước đã cho phép mở rộng diện tích gieo trồng. Hiện tại nó được gieo trồng tại một số nơi thuộc British Columbia (Canada) và Bắc Carolina (Hoa Kỳ).
Trong khi sawa wasabi tốt nhất được trồng trong các dòng suối nước sạch và chảy đều, không dùng phân bón hay thuốc trừ dịch hại thì một số nơi gieo trồng lại sử dụng phân bón như phân gà và đây có thể là nguồn gây ra ô nhiễm ở cuối dòng nếu như không được quản lý tốt.
== Sản xuất và chế biến ==
Wasabi thường được mài bằng oroshigane (おろし金, 下ろし金 hay 下ろし器) kim loại, nhưng một số người lại ưa chuộng việc sử dụng một công cụ truyền thống hơn, được làm từ da cá mập khô (鮫皮, giao bì) vớt một mặt mịn và mặt kia thô ráp. Dụng cụ mài thủ công với các răng không đều cũng có thể được sử dụng.
== Từ nguyên học ==
Hai từ kanji 山 và 葵 không tương ứng với cách phát âm của chúng: như thế chúng là ví dụ của gikun (義訓). Hai ký tự này thực tế là chỉ tới cây "thục quỳ núi", do lá của nó trông tương tự như lá của các thành viên trong họ Cẩm quỳ (Malvaceae), bên cạnh khả năng trồng nó trên các sườn đồi, núi có bóng râm. Cụm từ dưới dạng 和佐比, lần đầu tiên xuất hiện vào năm 918 trong 本草和名 Honzō Wamyō (Bổn thảo hòa danh). Phát âm theo cách này, kanji cụ thể chỉ được dùng với ý nghĩa ngữ âm, gọi là ateji (当て字 hay 宛字 hoặc あてじ).
Trong tiếng Nhật, cải ngựa được biết đến như là 西洋わさび (seiyō wasabi hay "wasabi Tây Dương").
== Thư viện ảnh ==
== Xem thêm ==
Cải ngựa
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Wasabi trên www.mangajin.com
Wasabi tại www.hort.purdue.edu
Thông tin kỹ thuật về wasabi
Wasabi tại sushi.pro
www.wasabia.com
Wasabi tại www.herbalwiseguy.com
Shin IS, Masuda H, Naohide K. "Bactericidal activity of wasabi (Wasabia japonica) against Helicobacter pylori" Intl. J Food Microbiol. ngày 1 tháng 8 năm 2004; 94(3):255–61.
Công ty Wasabi Interactive |
phú quang.txt | Phú Quang (sinh ngày 13 tháng 10 năm 1949, tại Phú Thọ), tên đầy đủ là Nguyễn Phú Quang là một nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam.
Nhạc của Phú Quang chủ yếu là tình ca, những bài hát trữ tình viết về Hà Nội. Ngoài ra, ông còn sáng tác khí nhạc (nổi bật là "Khát vọng") và nhạc phim (Bao giờ cho đến tháng Mười,...).
== Cuộc đời ==
Nhạc sĩ Phú Quang sinh năm 1949 tại Phú Thọ, quê gốc ở Hà Nội, có nhà ở phố Khâm Thiên. Phú Quang không biết chính xác ngày sinh của mình bởi sau khi sinh ông được khoảng 3 tháng, mẹ ông mới đi làm "Giấy khai sinh" cho ông và lấy ngày 13/10/1949 là ngày sinh. Về sau này, Phú quang đã sáng tác bài "Sinh nhật đen" để nói về ngày sinh nhật của chính mình.
Năm lên 5 tuổi, ông theo gia đình về Hà Nội.
37 tuổi vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và năm 2008 (59 tuổi) trở lại Hà Nội.
Nhạc phẩm đầu tay của ông là Ballad "Niềm tin" viết cho violoncello và piano (năm 1967)
Năm 1967: Tốt nghiệp hệ Trung cấp kèn cor tại Nhạc viện Hà Nội.
Từ năm 1967 đến 1978: Công tác tại Nhà hát Giao hưởng - Hợp xướng - Nhạc vũ kịch Việt Nam.
Năm 1978: Học tại Nhạc viện Hà Nội, chuyên ngành chỉ huy dàn nhạc.
Năm 1982: Tốt nghiệp, về công tác tại Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam.
Năm 1986: Chuyển về Phòng ca múa nhạc, Sở Văn hóa - Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1994: Chuyển về Nhà hát Giao hưởng Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2004: Thành lập Công ty Hỗ trợ và Phát triển Nghệ thuật Phú Quang.
Phú Quang có 3 đời vợ và 3 người con.
== Câu nói ấn tượng ==
Kinh doanh
Vinh quang và Lao động
Phụ nữ
Hạnh phúc
== Các nhạc phẩm ==
Niềm tin (Sáng tác năm 1967) là tác phẩm âm nhạc không lời đầu tiên, viết cho đàn violoncello và piano.
Em ơi Hà Nội phố
Đâu phải bởi mùa thu
Điều giản dị
Khúc mùa thu
Im lặng đêm Hà Nội
Thương lắm tóc dài ơi
Trong ánh chớp số phận
Mơ về nơi xa lắm
Nỗi nhớ
Nỗi nhớ mùa đông
Hà Nội ngày trở về
Biển nỗi nhớ và em
Ngày mai
Chiều phủ Tây Hồ
Chuyện kể về tình yêu
Khúc mưa
Sinh nhật đen
Ca khúc "Mẹ"
Lãng đãng chiều đông Hà Nội (thơ Tạ Quốc Chương)
Về lại phố xưa
Chiều đông Moskva
Khúc mưa (thơ Đỗ Trung Quân)
Bâng quơ
Một dại khờ một tôi (thơ Nguyễn Trọng Tạo)
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phỏng vấn nhạc sĩ Phú Quang website chính thức của nhạc sĩ phú quang |
người briton celt.txt | Briton là một nhóm người Celt cổ đã từng sống tại Đảo Anh từ thời đại đồ sắt qua thời kỳ Đế chế La Mã và La Mã hóa. Họ nói một ngôn ngữ hiện giờ được gọi là Cổ Briton. Bằng chứng sớm nhất về sự tồn tại của người Briton và ngôn ngữ của họ dựa trên các nguồn sử liệu có niên đại từ thời đại đồ sắt. Sau cuộc chinh phục Britannia của La Mã vào thế kỷ 1, nổi lên một nền văn hóa La-Anh, và tiếng Latinh cùng thứ tiếng Latinh gốc Anh cùng tồn tại với tiếng Briton. Suốt và sau thời kỳ La Mã hóa, người Briton sống trên khắp nước Anh về phía nam Vịnh Forth. Mối quan hệ của họ với người Pict, giống dân sống ở phía bắc Vịnh Forth, một thời từng là đề tài của nhiều cuộc thảo luận, dù hầu hết giới học giả đều chấp nhận rằng ngôn ngữ của người Pict có liên quan tới thứ tiếng Cổ Briton.
Chính sự khởi đầu việc định cư của người Anglo-Saxon vào thế kỷ 5, nền văn hóa và ngôn ngữ của người Briton dần bị phân rã và nhiều vùng lãnh thổ của họ bị người Anglo-Saxon chiếm mất. Mức độ từ sự thay đổi văn hóa và ngôn ngữ này gắn liền với những thay đổi về việc buôn bán trong cư dân vẫn còn là vấn đề của những cuộc thảo luận hiện nay. Trong thời gian này một số người Briton đã di cư sang châu Âu lục địa và thành lập các khu định cư quan trọng ở Bretagne (nay là một phần của nước Pháp) cũng như Britonia ở khu vực nay là Galicia, Tây Ban Nha. Đến thế kỷ 11, thành phần dân cư nói tiếng Celt còn lại đã tách thành các nhóm riêng biệt: người Wales xứ Wales, Người Cornwall miền Cornwall, người Breton ở Bretagne, và người dân vùng Hen Ogledd ("Bắc Cổ") ở miền nam Scotland và miền bắc nước Anh. Tiếng Cổ Briton đã phát triển thành các thứ tiếng Briton riêng biệt: Wales, Cumbria, Cornwall và Breton.
== Tên gọi ==
Nguồn tài liệu tham khảo được biết đến sớm nhất về cư dân nước Anh xem chừng bắt nguồn từ những bản chép tay trong cuộc hành trình của Pytheas, một nhà địa lý Hy Lạp đã thực hiện một chuyến thăm dò quanh quần đảo Anh khoảng từ năm 330 đến 320 TCN. Dù một trong số tác phẩm của ông chẳng còn lại bao nhiêu, các nhà văn trong thời kỳ Đế chế La Mã hầu như đều có xem qua. Pytheas gọi chung quần đảo này là ἁι Βρεττανιαι (hai Brettaniai), được dịch thành Quần đảo Brittania, và các dân tộc trên quần đảo Prettanike này được gọi là Πρεττανοί (Prettanoi), Priteni, Pritani hoặc Pretani. Nhóm này bao gồm Ireland, thường gọi bằng cái tên Ierne (Insula sacra "hòn đảo thiêng liêng" như người Hy Lạp diễn tả) "nơi sinh sống của chủng tộc Hiberni" (gens hiernorum), và đảo Anh gọi là insula Albionum, "hòn đảo của người Albion". Thuật ngữ Pritani có thể là do Pytheas góp nhặt từ người Gaul sử dụng theo ngôn ngữ của họ để gọi tên cư dân của hòn đảo này.
Biên niên sử Anglo-Saxon mà ban đầu được biên soạn theo lệnh của vua Alfred Đại đế vào khoảng năm 890, và về sau được các thế hệ những nhà sao chép vô danh gìn giữ và bổ sung dần cho đến giữa thế kỷ 12, bắt đầu bằng câu: "Đảo Anh dài 800 dặm và rộng tới 200 dặm và có đến năm dân tộc trên đảo: Anh, Wales, Scot, Pict và Latinh. Những cư dân đầu tiên là người Briton xuất xứ từ Armenia và lần đầu tiên cư trú tại miền nam nước Anh." ("Armenia" có thể là sự phiên âm nhầm lẫn của Armorica, một khu vực vùng Tây Bắc xứ Gaul.)
Tên gọi Latinh vào đầu thời kỳ Đế chế La Mã là Britanni hoặc Brittanni, sau cuộc chinh phục của quân đội La Mã vào năm 43 SCN. Từ tiếng Wales Brython được John Rhys đưa vào sử dụng trong tiếng Anh năm 1884 như một thuật ngữ rõ ràng để chỉ những người nói tiếng P-Celt trên Đảo Anh, nhằm bổ sung cho Goidel; do đó tính từ Brythonic đề cập đến nhóm ngôn ngữ này. "Các ngôn ngữ Briton" được đặt ra gần đây nhiều hơn (được chứng nhận lần đầu tiên năm 1923 theo quyển từ điển Oxford English Dictionary) nhằm mục đích gợi nhớ đến người Briton thời cổ đại một cách riêng biệt.
== Ngôn ngữ ==
Người Briton nói một thứ tiếng Celt hải đảo được gọi là tiếng Cổ Briton. Ngôn ngữ này được người dân nói khắp đảo Anh. Theo truyền thuyết lịch sử thời kỳ đầu Trung cổ, chẳng hạn như Giấc mơ của Macsen Wledig, những người nói tiếng Celt thời hậu La Mã của Armorica đều là dân thuộc địa đến từ đảo Anh, kết quả là tiếng Breton, một thứ ngôn ngữ có liên quan đến tiếng Wales và giống hệt tiếng Cornwall trong giai đoạn đầu và vẫn được sử dụng đến nay. Do vậy mà khu vực đó hiện nay được gọi là Brittany (Br. Breizh, Fr. Bretagne, bắt nguồn từ Britannia).
Tiếng Cổ Briton được phát triển từ nhánh đảo của thứ tiếng Celt nguyên thủy đã phát triển tại quần đảo Anh sau khi đến từ châu lục này. Ngôn ngữ này cuối cùng bắt đầu trở nên khác biệt, một số nhà ngôn ngữ học đã phân loại quá trình phát triển tiếp theo thành các thứ tiếng Tây và Tây Nam Briton. Tây Briton thì phát triển thành tiếng Wales ở xứ Wales và tiếng Cumbria ở vùng Hen Ogledd hoặc miền "Bắc Cổ" nước Anh, trong khi phương ngữ Tây Nam trở thành tiếng Cornwall ở Cornwall và Tây Nam nước Anh và tiếng Breton ở Armorica. Tiếng Wales và Breton vẫn còn tồn tại đến ngày nay; Cumbria đã bị mai một vào thế kỷ 12. Cornwall cũng bị mai một vào thế kỷ 19 nhưng đã là một ngôn ngữ phục hồi từ thế kỷ 20.
== Khảo cổ học và nghệ thuật ==
Các ý tưởng về sự phát triển nền văn hóa nước Anh thời đại đồ sắt đã thay đổi một cách phi thường trong thế kỷ 20, và vẫn còn đang trong quá trình phát triển. Nhìn chung sự giao lưu văn hóa có xu hướng thay thế di cư từ châu lục được coi là lời giải thích cho những thay đổi, mặc dù đồ gốm Aylesford-Swarling và nền văn hóa Arras miền Yorkshire là những ví dụ của sự phát triển vẫn được cho là có liên quan đến di cư.
Dù phong cách La Tène định nghĩa những gì được gọi là nghệ thuật Celt trong thời đại đồ sắt, vốn đã muộn màng khi đặt chân lên đất Anh, sau năm 300 TCN, người Anh cổ thời đại dường như đã có tập quán văn hóa nhìn chung có nét tương tự như các nền văn hóa Celt gần họ nhất trên lục địa. Có sự khác biệt đáng kể trong phong cách nghệ thuật, và khoảng thời gian lớn nhất của những gì được gọi là phong cách "Đảo La Tène", còn sót lại chủ yếu bằng đồ kim khí trong thế kỷ này hoặc lâu hơn trước cả cuộc chinh phục của La Mã, và có lẽ những thập kỷ sau đó. Đến thời điểm này phong cách Celt có vẻ như đã bị suy giảm ở lục địa châu Âu, ngay trước khi quân La Mã xâm lược đảo Anh.
Một làn sóng ngầm ảnh hưởng Anh được tìm thấy trong một số đồ tạo tác từ thời kỳ La Mã, đơn cử như cái Nồi Moorland Staffordshire và nó xuất hiện từ chỗ này rồi băng qua Ireland vào thời kỳ La Mã và hậu La Mã, nghĩa là yếu tố "Celt" bắt nguồn từ nghệ thuật đảo quốc đầu thời Trung cổ.
== Lãnh thổ ==
Trong suốt sự tồn tại của họ, lãnh thổ sinh sống của người Briton gồm có nhiều khu vực luôn thay đổi nằm dưới quyền kiểm soát của các bộ tộc. Phạm vi lãnh thổ của họ trước và trong thời kỳ La Mã vẫn còn mơ hồ, nhưng đa số đều tin rằng bao gồm toàn bộ đảo Anh, xa đến tận miền bắc eo biển Clyde-Forth. Vùng lãnh thổ miền bắc này phần lớn là nơi sinh sống của người Pict; ít bằng chứng trực tiếp về sự tách rời của tiếng Pict, nhưng địa danh và tên cá nhân Pict được ghi lại trong biên niên sử Ireland cho thấy nó có liên quan đến thứ tiếng Cổ Briton; quả thực cái tên Goidelic bằng tiếng Ireland của họ là Cruithne lại có cùng nguồn gốc với Priteni trong tiếng Brython. Một phần vùng lãnh địa của người Pict cuối cùng đã bị hấp thụ vào bên trong vương quốc Dál Riata của người Gael. Đảo Man ban đầu cũng là nơi sinh sống của người Briton nhưng sau cùng nó trở thành lãnh thổ của người Gael.
Năm 43 sau Công nguyên, Đế chế La Mã chính thức khởi binh xâm chiếm Britannia. Các bộ tộc bản xứ ban đầu ra sức chống đối các đạo quân lê dương La Mã, nhưng tới năm 84 người La Mã quyết tâm chinh phục miền nam nước Anh và đã đánh tràn vào vùng mà nay là miền nam Scotland. Năm 122 họ cho củng cố tuyến biên giới phía Bắc bằng dãy tường thành Hadrian kéo dài nguyên cả khu vực mà ngày nay là miền Bắc nước Anh. Năm 142 quân La Mã lại đánh tràn lên phía bắc một lần nữa và bắt đầu xây dựng tường thành Antonine, chạy dọc giữa eo biển Forth-Clyde, nhưng họ rút lui trở lại tường thành Hadrian chỉ sau hai mươi năm. Mặc dù người Briton bản địa phần lớn đều giữ được đất đai của mình đổi lại họ bị lệ thuộc vào các thống đốc La Mã. Đế chế La Mã vẫn giữ được quyền kiểm soát "Britannia" cho đến khi triệt thoái vào khoảng năm 410.
Trong khoảng thời gian quân La Mã rời khỏi đảo, người Anglo-Saxon nói tiếng Germa bắt đầu cuộc di cư đến bờ biển phía Đông của nước Anh, nơi họ thành lập các vương quốc của riêng mình. Cuối cùng, ngôn ngữ Brython tại các khu vực này đã được thay thế bằng tiếng Cổ Anh của người Anglo-Saxon. Đồng thời, một số người Briton đã tự thiết lập chỗ dựa của họ ở vùng ngày nay gọi là Brittany. Tại đây, họ dựng lên các vương quốc nhỏ của riêng mình và tiếng Breton được phát triển từ thứ tiếng Celt đậm chất đảo quốc hơn là tiếng Gaul. Họ còn giữ được quyền kiểm soát xứ Cornwall và Tây Bắc nước Anh mà những vương quốc như Dumnonia và Rheged đã tồn tại trong một thời gian. Một thuộc địa xa xôi khác nữa là Britonia được thành lập tại Gallaecia ở phía tây bắc xứ Hispania. Đến cuối thiên niên kỷ 1, người Anglo-Saxon và Gael đã chinh phục hầu hết lãnh địa Briton ở Anh và ngôn ngữ cùng văn hóa của người Briton bản địa phần lớn đều bị hủy bỏ, chỉ còn lại duy nhất ở xứ Wales, Cornwall, vùng miền xứ Cumbria và Đông Galloway.
== Nhân vật Briton ==
Vua Arthur – nhà lãnh đạo chiến tranh người La Mã gốc Anh gây tranh cãi trong lịch sử.
Ambrosius Aurelianus (Emrys Wledig) - nhà lãnh đạo chiến tranh người La Mã gốc Anh.
Boudica – Nữ hoàng dân Iceni, người đứng đầu cuộc nổi dậy bất thành chống lại sự chiếm đóng của quân La Mã vào năm 60 SCN.
Bonosus - tướng lĩnh và kẻ đòi ngôi người La Mã gốc Anh vào năm 280 SCN.
Cadwallon ap Cadfan - Vua xứ Gwynedd, chiến đấu chống lại người Anglo-Saxon.
Caratacus – nhà lãnh đạo một cuộc phòng ngự chống lại cuộc chinh phục Britannia của La Mã.
Cartimandua – Nữ hoàng của người Brigante trong và sau cuộc xâm lược của quân La Mã.
Cassivellaunus – nhà lãnh đạo một cuộc phòng ngự chống lại chuyến viễn chinh Britannia lần thứ hai của Julius Caesar vào năm 54 TCN.
Conan Meriadoc - người sáng lập huyền thoại xứ Bretagne.
Coel Hen - "Vua Già Cole" trong những vần thơ thiếu nhi nổi tiếng.
Cogidubnus – vị vua Briton của một xứ lệ thuộc, sau thành công dân La Mã và được trao tặng Cung điện La Mã Fishbourne.
Commius – Vua xứ Belgic trong lịch sử của người Atrebates, lúc đầu ở Gaul, sau chuyển sang Britannia, trong suốt thế kỷ 1 TCN.
Cunedda – vị vua hậu La Mã và là tổ tiên của Vương quốc Gwynedd.
Cunobelinus – vị vua trong lịch sử miền nam nước Anh giữa đợt xâm lăng đầu tiên và thứ hai của quân La Mã, nắm quyền cai trị từ thành Camulodunon (nay là Colchester). Được sử gia Suetonius gọi bằng danh hiệu "Vua của người Briton". Làm nền tảng cho vở kịch Cymbeline của Shakespeare.
Gratianus - một quý tộc người La Mã gốc Anh và là kẻ cướp ngôi hoàng đế vào năm 407.
Vua Lot - ông nội của St Kentigern, và vị vua cùng tên xứ Lothian.
Mailoc - Giám mục xứ Britonia (Galicia) vào thế kỷ 6.
Marcus Cunomorus - Vua Mark xứ Cornwall và Bretagne.
Thánh Patrick - người Briton-La Mã và là nhà truyền đạo Thiên Chúa giáo, vị thánh bảo trợ được đa số công nhận của xứ Ireland hặc các Tông đồ Ireland.
Pelagius – một tu sĩ và nhà thần học Kitô giáo, mà tư tưởng được gắn nhãn dị giáo vào cuối đời.
Prasutagus – chồng của Boudica.
Togodumnus – nhà lãnh đạo sự phòng ngự chống lại cuộc chinh phục Britannia của La Mã.
Urien – Vua xứ Rheged (nay là Lancashire và Cumbria).
Vortigern – lãnh chúa và vua trong thế kỷ 5. Nổi tiếng với lời mời người Jutes đến Kent.
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Forsyth, Katherine (1997). Language in Pictland (PDF). De Keltische Draak. ISBN 90-802785-5-6.
Koch, John T. (2006). Celtic Culture: A Historical Encyclopedia. ABC-CLIO.
Biên niên sử Anglo-Saxon.
== Liên kết ngoài ==
BBC - Lịch sử - Các bộ tộc bản địa đảo Anh
DNA của dân tộc Briton được tìm thấy ở Ireland |
mops midas.txt | Mops midas là một loài động vật có vú trong họ Dơi thò đuôi, bộ Dơi. Loài này được Sundevall mô tả năm 1842.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
hoa hậu thế giới 1972.txt | Là cuộc thi Hoa hậu Thế giới lần thứ 22 trong lịch sử, được tổ chức vào ngày 01 tháng 12 năm 1972 tại Royal Albert Hall và được truyền hình trực tiếp trên kênh BBC. 53 thí sinh đã tham dự cuộc thi và Belinda Green từ Úc. Green là người thứ 2 từ Úc giành chiến thắng tại cuộc thi Hoa hậu Thế giới và chỉ cách người đồng hương có 4 năm.
== Các kết quả ==
== Các thí sinh ==
== Ghi nhận ==
=== Lần đầu tham dự và sự trở lại của một số quốc gia ===
Singapore tham dự Hoa hậu Thế giới lần đầu tiên.
Honduras lần cuối tham dự là năm 1968.
Costa Rica lần cuối tham dự là năm 1969.
Hồng Kông và Liberia lần cuối tham dự là năm 1970.
== Liên kết ==
Trang chủ của cuộc thi Hoa hậu Thế giới
== Tham khảo == |
chữ hán phồn thể.txt | Chữ Hán phồn thể hay chữ Hán chính thể là một trong hai bộ chữ in tiêu chuẩn của tiếng Trung. Dạng chữ viết phồn thể hiện nay đã xuất hiện lần đầu cùng với các văn bản ghi chép thời nhà Hán và ổn định từ thế kỷ 5 trong thời Nam Bắc triều. Thuật ngữ phồn thể hoặc chính thể được sử dụng để phân biệt với giản thể, một hệ thống chữ viết tiếng Trung được giản lược nét hoặc điều chỉnh bộ do chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định áp dụng từ năm 1949.
Chữ Hán phồn thể hiện vẫn được sử dụng chính thức tại Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Hồng Kông và Ma Cao. Trong số các cộng đồng Hoa kiều hải ngoại (ngoại trừ Hoa kiều ở Singapore và Malaysia) thì chữ phồn thể được sử dụng phổ biến nhất. Chữ Hán giản thế chủ yếu được sử dụng ở Trung Quốc đại lục, Singapore và Malaysia trong các ấn bản chính thức. Việc sử dụng chữ chính thể hay giản thể vẫn là một vấn đề tranh cãi kéo dài trong cộng đồng người Hoa.
Tham khảo Ân đềm oán trả
== Liên kết ngoài dịch câu " Ân đền oán trả " sang chữ hán việt ==
Chuyển đổi trực tuyến giữa hai loại chữ giản thể và phồn thể. |
live at the royal albert hall (video của adele).txt | Live at the Royal Albert Hall là đĩa DVD/Blu-ray/CD của ca sĩ-người viết bài hát người Anh Adele, phát hành ngày 25 tháng 11 năm 2011 ở Úc, 28 tháng 11 tại Anh và 29 tháng 11 tại Mỹ. Album video này là bản ghi hình buổi biểu diễn trực tiếp tại nhà hát Royal Albert Hall ở Luân Đôn, Anh, là một phần trong tour lưu diễn thế giới Adele Live trong năm 2011 của cô. Tại buổi biểu diễn, Adele đã hát các ca khúc trong hai album phòng thu đạt thành công rực rỡ trước đó 19 và 21.
Tính đến tháng 11 năm 2012, Live at the Royal Albert Hall đã tiêu thụ được 1 triệu bản tại Mỹ và 3 triệu bản trên toàn thế giới. Nó cũng đạt doanh số 1 triệu bản tại Brasil vào năm 2014, được chứng nhận 6 đĩa Kim cương tại đây.
Phiên bản hát trực tiếp bài hát "Set Fire to the Rain", trích từ album này đã đoạt giải Grammy cho Trình diễn đơn ca pop xuất sắc nhất tại Giải Grammy lần thứ 55.
== Danh sách ca khúc ==
== Bảng xếp hạng và doanh số chứng nhận ==
=== Lượng tiêu thụ ===
== Tham khảo == |
pháo.txt | Pháo hay đại pháo, hoả pháo, là tên gọi chung của các loại hỏa khí tập thể có cỡ nòng từ hai mươi mi-li-mét trở lên. Có uy lực dùng trong quân đội các nước để tiêu diệt sinh lực và phương tiện của đối phương hoặc làm những nhiệm vụ khác như tạo khói, chiếu sáng... Pháo là một cấu thành của hệ vũ khí quân dụng và là cấu thành chính của một binh chủng rất quan trọng trong quân đội có tên là binh chủng pháo binh.
Trong tiếng Việt pháo có tục xưng là "đại bác". Cách gọi này bắt nguồn từ việc đọc sai âm Hán-Việt của chữ "pháo" 礮 trong từ "đại pháo" 大礮. "礮" là chữ hình thanh, hình bàng "thạch" 石 gợi nghĩa của chữ, thanh bàng "bác" 駮 gợi âm đọc. Một số người căn cứ theo thanh bàng "bác" 駮 đã ngộ nhận âm đọc của chữ "礮" là "bác", từ đó dẫn đến đọc sai 大礮 là "đại bác".
== Lịch sử ==
Lần sử dụng pháo với đạn đẩy bằng thuốc nổ trên chiến trường đã được ghi lại lần đầu là vào ngày 28 tháng 1 năm 1132 khi tướng Hàn Thế Trung của Nam Tống dùng thang mây và hoả pháo để đánh thành Kiến Châu (nay là Kiến Âu). Loại vũ khí nhỏ thô sơ này đã du nhập vào vùng Trung Đông rồi đến châu Âu vào thế kỷ 13.
Pháo xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ 13. Lịch sử hình thành pháo gắn liền với lịch sử phát minh ra thuốc súng. Những khẩu pháo đầu tiên được chế tạo bằng đồng, nòng nhẵn, bắn đạn bằng đá hoặc bằng gang hình cầu. Ban đầu pháo được dùng để công thành, mở đường tấn công cho bộ binh hoặc kỵ binh.
Đến thế kỷ 15 xuất hiện thêm pháo bắn đạn ria để bảo vệ lực lượng phòng ngự.
Ở thế kỷ 16, pháo bắn đạn sắt đã bắt đầu phổ biến. Đã bắt đầu xuất hiện các khẩu pháo nòng ngắn, đạn đi theo đường cầu vồng và pháo nòng dài đặt trên thuyền chiến.
Sang thế kỷ 17, pháo được sử dụng rộng rãi trong cả tấn công lẫn phòng ngự.
Vào thế kỷ 18, Vallière, người Pháp đã dùng từ cannon để chỉ tất cả những loại súng không xách tay được. Trong giai đoạn này cũng xuất hiện pháo có khương tuyến cho phép bắn xa hơn 2 - 2,5 lần, và chính xác hơn đến 5 lần so với pháo nòng nhẵn.
Đến thế kỷ 19 xuất hiện pháo nạp đạn bằng khoá nòng từ phía sau. Kỹ thuật chế tạo thuốc súng ngày càng tân tiến, với việc chế tạo thuốc súng không khói (1884) trọng lượng đạn pháo đã tăng thêm 20%, vận tốc đầu nòng (sơ tốc đạn) tăng 40%. Đầu thế kỷ 20 xuất hiện thêm nhiều loại pháo mới như pháo cối, pháo lựu, pháo phòng không,...
Trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, 6 cường quốc Áo-Hung, Anh, Đức, Hoa Kỳ, Pháp và Nga đã chế tạo và sử dụng gần 63.000 khẩu pháo các loại trong đó khoảng 50% là lựu pháo. Chiến tranh thế giới thứ hai có nhiều thay đổi đáng kể về chiến thuật, kỹ thuật, trang bị cho nhiều loại pháo. Giai đoạn này đã xuất hiện radar phục vụ việc bắn pháo, xuất hiện pháo tự hành, dàn phóng phản lực, pháo chống tăng,...
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai mặc dù xuất hiện tên lửa nhưng pháo vẫn có vai trò vô cùng quan trọng. Sự phát triển của pháo cũng gắn liền với sự phát triển của đạn. Từ năm 1970 đã xuất hiện các loại đạn pháo có điều khiển điển hình là đạn 155 mm Copperhead dùng cho lựu pháo tự hành M110 trong Chiến tranh vùng Vịnh vào năm 1991.
Pháo khác với súng ở chỗ cỡ nòng của pháo lớn hơn nhiều cỡ nòng súng (nòng súng đại liên cỡ lớn là đến 14.5 mm còn nòng pháo cỡ nhỏ nhất cũng đã là 20 mm và loại lớn có thể đến trên 800 mm như là khẩu Gustav) nhưng đặc điểm quan trọng nhất của pháo là đầu đạn pháo có thể nổ để tiêu diệt mục tiêu còn đầu đạn của súng thường không nổ khi bắn vào mục tiêu. Do vậy pháo là hoả lực cơ bản của lục quân.
== Pháo thời hiện đại ==
.
Pháo thời nay rất dễ phân biệt bởi cỡ nòng lớn, bắn ra đầu đạn có thể nổ hoặc rocket và có kích thước cũng như khối lượng khác nhau để phù hợp với yêu cầu tương thích với xe đặc dụng cho chiến đấu và cho việc vận chuyển. Tuy nhiên, đặc điểm quan trọng nhất của pháo thời hiện đại là sử dụng cách bắn gián tiếp, tức mục tiêu không nhất thiết phải nằm trong tầm nhìn. Cách bắn gián tiếp xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 là một bước tiến vượt bậc nhờ vào sự phát triển của phương pháp dự đoán hỏa lực trong thế chiến thứ nhất. Bắn gián tiếp sử dụng tập hợp dữ liệu hỏa lực (firing data set) trong tầm nhìn, phương pháp dự đoán hỏa lực đảm bảo dữ liệu này chính xác và phù hợp với sự sai khác khi so với điều kiện chuẩn cho vận tốc đầu đạn, nhiệt độ, gió và mật độ không khí.
Vũ khí với tên 'pháo hiện đại' bao gồm pháo "cannon" như lựu pháo, súng cối, pháo dã chiến và pháo hoả tiễn. Một số pháo loại mortar với cỡ nòng nhỏ hơn thường được thiết kế với hỏa lực nhỏ hơn pháp, mặc dù vẫn dùng cách bắn gián tiếp.
Từ "pháo" lúc đầu không được sử dụng cho vật thể phóng đi với hệ thống đẫn đường bên trong, mặc dù một số đơn vị pháo binh sử dụng tên lửa đất đối đất. Những tiến bộ trong hệ thống dẫn đường cho vũ khí loại nhỏ đã giúp cho vật thể với cỡ nòng lớn được phát triển, nhờ thế xóa dần đi sự phân biệt này.
Trong Thế chiến I, những loại pháo cỡ nhỏ, có thể bắn tự động được phát minh để trang bị cho máy bay và để chống máy bay. Ngày nay, các loại pháo tự động đã thay thế các pháo phòng không cỡ lớn trên mặt đất, thay thế súng đại liên nhỏ trên máy bay, được đặt trên xe cộ một cách phổ biến. Pháo tự động là các loại súng có nhịp bắn cao nhất hiện nay, có thể lên tới 10000 phát/ phút.
Từ Thế chiến II, một số loại "pháo xách tay", cỡ nòng thường là 20mm, đã xuất hiện. Các pháo nhỏ này được trang bị cho bộ binh để chống tăng, phá hoại xe cộ, máy bay.
== Phân loại ==
Có thể phân loại pháo theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau như: Tính năng chiến đấu, tầm bắn, uy lực của đạn, độ chính xác bắn, tốc độ bắn, khả năng cơ động (về hỏa lực và di chuyển pháo)... Thông dụng nhất là phân loại theo các tiêu chuẩn sau:
Theo nơi đặt và mục tiêu bắn có: Pháo mặt đất, pháo trên máy bay, pháo trên xe tăng, pháo trên tàu chiến, pháo trên tàu hỏa, pháo phòng không, pháo chống tăng, pháo đa năng...
Theo kết cấu nòng có: Pháo rãnh xoắn, pháo nòng trơn
Theo cỡ nòng có: Pháo cỡ nhỏ (20 - 75mm), pháo cỡ trung (76 - 155mm), pháo cỡ lớn (trên 155mm)
Theo khả năng cơ động có: Pháo cố định, pháo xe kéo, pháo tự hành, pháo tự di chuyển, pháo mang vác...
Theo kết cấu có: Pháo nòng dài, pháo lựu, pháo không giật, cối...
Theo thao tác bắn có: Pháo tự động, pháo bán tự động, pháo không tự động
Theo nguyên lý có: Thuật phóng trong (pháo, cối). Thuật phóng ngoài (pháo phản lực, hỏa tiễn)
== Một số loại pháo ==
=== Pháo không giật (khoảng 1910) ===
Được Davis, người Mỹ, phát minh vào đầu thế kỷ 20, được sử dụng ngắn ngủi trên một vài máy bay của Anh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, loại pháo này có hai nòng ngược nhau và một buồng ở giữa để nạp đẩy. Vào cuối thập niên 1930, các hãng Krupp và Rheinmetal của Đức đã chế tạo nhiều mẫu pháo không giật với cỡ 75 mm, mà một mẫu đã được thử nghiệm cùng với lính nhảy dù Đức ở Crete.
== Xem thêm ==
Pháo binh
Sơn pháo
Lựu pháo
Súng cối
Pháo phản lực
Pháo tự hành
== Tham khảo == |
whole foods market.txt | Whole Foods Market Inc. là một chuỗi siêu thị Hoa Kỳ chuyên về thực phẩm không chất bảo quản, màu sắc, hương vị, chất làm ngọt và chất béo hydro hóa. Đây là tiệm tạp hóa hữu cơ được chứng nhận đầu tiên ở Hoa Kỳ, nghĩa là nó bảo đảm các tiêu chuẩn của Chương trình Hữu cơ Quốc gia. Nó mở cửa vào ngày 20 tháng 9 năm 1980, ở Austin, Texas, cũng là trụ sở hiện tại. Tính đến thời điểm tháng 9 năm 2015, nó có 91.000 nhân viên và 431 siêu thị ở Hoa Kỳ, Canada, và Anh Quốc, và có văn phòng mua sắm sản phẩm chính tại Watsonville, California.
== Xem thêm ==
Siêu thị
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
365 By Whole Foods Market
Whole Planet Foundation |
plazas de soberanía.txt | Plazas de soberanía từng được gọi là "África Septentrional Española" (Bắc Phi thuộc Tây Ban Nha) hay "África Española" (Bắc Phi Tây Ban Nha) là những lãnh thổ thuộc Tây Ban Nha nằm ở Bắc Phi giáp với Maroc, ngoại trừ hai thành phố tự trị Ceuta và Melilla.
Từ thời kỳ Reconquista, quân đội Tây Ban Nha đã chinh phục và duy trì nhiều căn cứ quân sự tại Bắc Phi như là một khu vực phòng thủ trước Bắc Phi. Rất nhiều lãnh thổ, trong đó có Oran, đã bị mất. Ngày nay, với dân số xấp xỉ 145.000 người, chỉ còn Islas Chafarinas, Peñón de Alhucemas và Peñón de Vélez de la Gomera là vẫn thuộc sự quản lý của Tây Ban Nha.
== Tham khảo == |
thời kỳ edo.txt | Thời kỳ Edo (江戸時代, Edo-jidai, "Giang Hộ thời đại"), còn gọi là thời kỳ Tokugawa (徳川時代 Tokugawa-jidai, "Đức Xuyên thời đại’’), là một giai đoạn trong lịch sử Nhật Bản từ năm 1603 đến năm 1868. Thời kỳ này đánh dấu bằng sự thống trị của Edo hay Mạc phủ Tokugawa, chính thức thành lập năm 1603 bởi Chinh di Đại tướng quân Edo đầu tiên Tokugawa Ieyasu. Thời kỳ chấm dứt với cuộc Minh Trị Duy Tân, sự phục hồi của Đế quyền và Tướng quân thứ 15 và cuối cùng Tokugawa Yoshinobu thoái vị. Thời kỳ Edo cũng được coi là mở đầu cho thời kỳ cận đại ở Nhật Bản.
== Sự thống trị của Tướng quân và lãnh chúa ==
Thế cân bằng giữa triều đình với Mạc phủ, hình thành từ thời kỳ Kamakura và phát triển lên đến đỉnh cao vào thời kỳ Edo, mà như nhà sử học Edwin O. Reischauer đã gọi là thể chế phong kiến trung ương tập quyền. Đến thời kỳ này, tầng lớp võ sỹ Nhật Bản mà đại diện là Mạc phủ Tokugawa trở thành kẻ thống trị không gì lay chuyển nổi. Mạc phủ mới của Tokugawa Ieyasu thành lập trên cơ sở những thành quả của Oda Nobunaga và Toyotomi Hideyoshi. Vốn đã hùng mạnh, Ieyasu hưởng lợi từ việc chuyển đến vùng Kantō giàu có. Ông giữ đến 2,5 triệu koku đất, đặt trụ sở ở Edo, một tòa thành có vị trí chiến lược (sau này trở thành Tokyo), và có thêm 2 triệu koku đất nữa và 38 chư hầu dưới trướng. Sau khi Hideyoshi qua đời, Ieyasu nhanh chóng nắm quyền kiểm soát gia đình Toyotomi.
Chiến thắng của Ieyasu trước các đại danh miền Tây trong trận Sekigahara năm 1600 đã khẳng định quyền lực của ông trên toàn cõi Nhật Bản. Ông nhanh chóng thủ tiêu nhiều gia đình đại danh đối địch, giảm bớt quyền thế của một số khác, ví dụ như nhà Toyotomi, và chia chiến lợi phẩm cho gia đình mình và các đồng minh. Ieyasu vẫn không thể hoàn toàn kiểm soát được các đại danh phía Tây, nhưng việc ông nhận được tước vị Chinh di Đại tướng quân đã củng cố hệ thống đồng minh. Sau khi xây dựng vững chắc hơn nữa nền tảng quyền lực của mình, Ieyasu đặt con trai mình là Hidetada (1579-1632) lên ngôi Tướng quân và tự mình làm Tướng quân nghỉ hưu năm 1605. Nhà Toyotomi vẫn là một mối đe dọa lớn, và Ieyasu đã dành cả thập kỷ tiếp theo để tận diệt gia tộc này. Năm 1615, thành lũy của nhà Toyotomi tại Osaka bị quân đội Tokugawa tiêu diệt.
Thời kỳ Tokugawa (hay Edo) mang lại 250 năm ổn định cho Nhật Bản. Hệ thống chính trị phát triển thành thứ được các nhà sử học gọi là Mạc phiên, sự kết hợp giữa thuật ngữ Mạc phủ và phiên (han) để miêu tả chính quyền và xã hội thời kỳ này. Trong hệ thống Mạc phủ, Tướng quân có quyền lực quốc gia và các đại danh có quyền lực tại địa phương. Điều đó thể hiện sự thống nhất mới trong cơ cấu phong kiến, được miêu tả là một chế độ hành chính ngày càng lớn để quản lý sự kết hợp giữa tập quyền và tản quyền. Nhà Tokugawa ngày càng mạnh hơn trong thế kỷ thống trị đầu tiên: việc tái phân phối đất mang lại cho họ gần 7 triệu koku, kiểm soát các thành phố quan trọng nhất, và hệ thống địa tô mang lại khoản thu to lớn.
Hệ thống thứ bậc phong kiến được hoàn thiện với rất nhiều đẳng cấp đại danh. Những người họ hàng với nhà Tokugawa gọi là shinpan, hay "thân phiên". Họ là 23 đại danh bao quanh đất đai nhà Tokugawa; các đại danh này đều có họ trực tiếp với Ieyasu. Shinpan giữ các tước hiệu vinh dự nhất và các vị trí cố vấn quan trọng nhất ở Mạc phủ. Đẳng cấp thứ hai là fudai, hay "Phổ Đại", được ban đất đai ở gần lãnh địa nhà Tokugawa cho sự phục vụ trung thành của mình. Vào thế kỷ 18, 145 fudai kiểm soát các "han’’ nhỏ hơn, cái lớn nhất có 250.000 koku. Thành viên của tầng lớp fudai giữ phần lớn các chức vụ lớn trong Mạc phủ. 97 han chia thành ba nhóm là các đại danh tozama, đối thủ cũ hay đồng minh mới. Tozama phần lớn đều nằm ở ngoại biên quần đảo và thu được khoảng gần 10 triệu koku sản lượng. Vì Tozama ít trung thành với đại danh nhất, họ luôn bị quản lý một cách chặt chẽ và đối xử một cách hào phóng, mặc dù họ không được giữ các vị trí ở chính quyền trung ương.
Nhà Tokugawa không chỉ củng cố quyền kiểm soát của mình với nước Nhật mới được tái thống nhất, họ cũng có một quyền lực chưa từng có với Thiên hoàng, triều đình, tất cả các đại danh, và các trật tự tôn giáo. Thiên hoàng đóng vai trò như một giá đỡ quan trọng cho quyền lực chính trị của Tướng Quân, người bề ngoài là bầy tôi của Hoàng gia. Nhà Tokugawa giúp Hoàng gia lấy lại vinh quang của mình bằng cách xây dựng lại cung điện của mình và nhận thêm đất đai. Để đảm bảo mối quan hệ bền chặt giữa Hoàng gia và nhà Tokugawa, cháu gái của Tokugawa được đặt lên ngôi Hoàng hậu năm 1619.
Hàng loạt các bộ luật được ban hành để điều chỉnh các gia đình đại danh. Tập hợp các quy tắc xã hội hoàn thiện đạo đức cá nhân, hôn nhân, trang phục, và các loại vũ khí và quân đội được sử dụng; yêu cầu các lãnh chúa phong kiến phải ở Edo cách niên (hệ thống sankin kōtai); cấm đóng các con tàu vượt đại dương; đặt Thiên Chúa Giáo ra ngoài vòng pháp luật; hạn chế số thành với mỗi lãnh địa (Phiên bang) và quy định các quy tắc của Mạc phủ là luật quốc gia. Mặc dù các đại danh không được thu thuế, họ thường xuyên được thu sưu để xây dựng quân đội, hậu cần và các công việc công cộng như các dự án thành, đường, cầu, và cung điện. Rất nhiều quy tắc và các thứ thuế khác nhau không chỉ củng cố quyền lực của nhà Tokugawa mà còn suy yếu sự giàu có của các đại danh, do đó giảm mối đe dọa đối với chính quyền trung ương. Các "phiên", một thời là các lãnh địa tập trung quân sự, trở thành các đơn vị hành chính địa phương. Các đại danh thực hiện mọi quyền hành hành chính ở trong lãnh địa của mình và hệ thống thuộc tướng, chế độ quan lại và dân thương phức tạp. Lòng trung thành cũng đòi hỏi đối với các thể chế tôn giáo, vốn đã bị suy yếu đi nhiều nhờ Nobunaga và Hideyoshi, và rất nhiều biện pháp để kiểm soát máy.
== Từ mở cửa đến bế quan tỏa cảng ==
Cũng giống như Hideyoshi, Ieyasu khuyến khích ngoại thương nhưng cũng nghi ngờ người nước ngoài. Ông muốn biến Edo thành một thương cảng quan trọng, nhưng khi ông biết rằng người châu Âu thích các bến cảng ở Kyūshū và rằng Trung Quốc đã từ chối kế hoạch giao thương chính thức của ông, ông kiểm soát những việc giao thương đã có và chỉ định bến cảng nào mới được buôn bán các mặt hàng đặc biệt.
Đầu thời kỳ Edo trùng với những thập kỷ cuối của thời kỳ giao thương Nanban trong đó diễn ra sự ảnh hưởng to lớn của sức mạnh Âu châu với kinh tế và tôn giáo. Vào đầu thời Edo, người Nhật đã đóng chiếc tàu chiến vượt đại dương kiểu phương Tây đầu tiên, ví dụ như San Juan Bautista, một chiếc thuyền buồm 500 tấn đã trở đoàn sứ thần Nhật Bản do Hasekura Tsunenaga dẫn đầu đến châu Mỹ và sau đó là châu Âu. Cũng trong thời kỳ này, Mạc phủ đã cho tổng cộng 350 Châu ấn thuyền ba cột buồm và có trang bị vũ khí ra khơi, cho các chuyến giao thương với châu Á. Những nhà thám hiểm Nhật Bản, như Yamada Nagamasa, đã sử dụng những chiếc thuyền này để đi khắp châu Á.
"Vấn đề Cơ Đốc giáo", thực tế, là vấn đề kiểm soát các đại danh theo Công giáo ở Kyūshū và việc giao thương của họ với châu Âu. Năm 1612, các thuộc hạ của Shogun và những người sinh sống trên đất đai của nhà Tokugawa đã bị ép phải thề bỏ Công giáo. Sự cấm đoán nghiêm ngặt hơn được ban bố năm 1616 (cấm ngoại thương đến Nagasaki và Hirado, hoàn đảo ở phía Tây Bắc Kyūshū), 1622 (xử tử 120 người truyền giáo và người cải đạo), 1624 (trục xuất người Tây Ban Nha), và 1629 (xử tử hàng ngàn người Công giáo). Cuối cùng, chiếu chỉ Tỏa Quốc được ban bố cấm bất kỷ người Nhật nào rời khỏi nước Nhât hay, nếu ai đó đã ra đi, thì cấm họ quay lại. Năm 1636 người Hà Lan bị cấm đến Dejima, một hòn đảo nhân tạo nhỏ — và như vậy, không hoàn toàn là đất Nhật — ở bến cảng Nagasaki.
Mạc phủ nhận thấy Công giáo là một nhân tố gây bất ổn lớn; điều này dẫn đến việc cấm Công giáo. Nổi loạn Shimabara năm 1637-38, các samurai và nông dân Cơ đốc giáo bất mãn đã nổi dậy chống lại Mạc phủ — và Edo kêu gọi các con tàu Hà Lan vào bắn phá thành lũy của quân phiến loạn — đánh dấu sự chấm dứt của phong trào Công giáo, mặc dù vài người Công giáo vẫn sống sót bằng cách dấu niềm tin của mình vào trong, gọi là Kakure Kirishitan. Ngay sau đó, người Bồ Đào Nha bị trục xuất vĩnh viễn, thành viên của đoàn sứ thần Bồ Đào Nha bị xử tử, tất cả thần dân được yêu cầu phải đến chùa và đền Thần đạo, người Hà Lan và người Trung Quốc bị hạn chế một cách tương đối, đến Dejima và đến vùng đặc biệt ở Nagasaki. Bên cạnh các thương vụ nhỏ của các đại danh ở vùng xa với Cao Ly và các đảo Ryukyu, với các vùng Tây Nam các đảo chính ở Nhât, năm 1641, quan hệ với nước ngoài bị giói hạn bởi chính sách Tỏa Quốc đến Nagasaki.
Năm 1650, người Cơ Đốc giáo về cơ bản đã bị thủ tiêu, và ảnh hưởng kinh tế, chính trị và tôn giáo với Nhật Bản đã trở nên khá mờ nhạt. Chỉ có Trung Quốc, và Công ty Đông Ấn Hà Lan, và một giai đoạn ngắn là người Anh, có quyền đến Nhật Bản trong thời kỳ này, nhưng chỉ với mục đích thương mại, và họ bị hạn chế ở bến cảng Dejima ở Nagasaki. Tất cả những người châu Âu khác khi đặt chân lên bờ biển Nhật Bản đều bị giết chết mà không cần xét xử.
== Xã hội ==
Sau một giai đoạn nội chiến kéo dài, mục đích đầu tiên của chính quyền Tokugawa mới được thiết lập là ổn định đất nước. Mạc phủ đã tạo ra một thế cân bằng quyền lực kéo dài trong vòng 250 năm sau đó, chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về trật tự xã hội. Phần lớn các samurai mất quyền chiếm hữu trực tiếp với đất đai của mình: tất cả quyền sở hữu tập trung trong tay của khoảng 300 đại danh. Chiến binh Samurai có một sự lựa chọn: từ bỏ thanh kiếm và trở thành nông dân, hay rời đến các thành phố của lãnh chúa phong kiến và trở thành thuộc hạ được trả lương. Chỉ một vài lãnh địa samurai còn được duy trì ở các tỉnh biên giới phía Bắc, hay đó là chư hầu trực tiếp của Tướng Quân- tức 5000 người gọi là hatamoto. Đại danh bị đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của Mạc phủ. Gia đình của họ phải ở lại Edo; bản thân đại danh cũng phải ở Edo một năm và ở tỉnh nhà năm tiếp theo đó. Hệ thống này được gọi là sankin kotai.
Dân chúng được chia thành bốn đẳng cấp trong một hệ thống được gọi là mibunsei (身分制, "Thân phận chế’’): samurai ở trên đỉnh (khoảng 5% dân số) và nông dân (hơn 80% dân số) ở cấp thứ hai. Thấp hơn nông dân là thợ thủ công, và thấp nhất, ở cấp thứ tư, là thương nhân. Chỉ nông dân mới sống ở các vùng thôn dã. Samurai, thợ thủ công và thương nhân sống ở thành phố được xây dựng ở quanh thành của daimyo, mỗi loại hạn chế ở khu vực của mình.
Có những người ở trên hệ thống này, các kuge, hậu duệ của Hoàng gia ở Kyoto. Mặc dù họ lấy lại được sự huy hoàng của mình sau những năm tháng chiến tranh nghèo đói, ảnh hưởng chính trị của họ gần như là số không.
Ngoài bốn đẳng cấp trên còn có tầng lớp eta và hinin, những người mà nghề nghiệp của họ phải vi phạm vào những điều cấm kỵ của Phật giáo. Eta là đồ tể, thợ thuộc da và người làm dịch vụ lễ tang. Hinin làm người gác thành, quét đường và đao phủ. Những người ở ngoài hệ thống này còn bao gồm ăn xin, người làm trò tiêu khiển và gái lầu xanh. Chữ eta có thể dịch là "dơ dáy’’ và "hinin" là "không phải là người", một thuật ngữ phản ánh hoàn toàn thái độ của bốn đẳng cấp còn lại với eta và hinin, thậm chí không coi họ là người. Hinin không được cho phép đến những khu vực đặc biệt của thành phố. Các diễn viên thường đi theo đoàn từ làng này đến làng khác, biểu diễn ở mỗi thành phố rồi chuyển đến noiw khác. Hoàn toàn hợp pháp khi giết một hinin mà chẳng cần lý do gì. Đôi khi các làng eta còn không được in lên các bản đồ chính thức.
Mỗi cá nhân không có quyền pháp lý ở thời Tokugawa. Gia đình là thực thể pháp lý nhỏ nhất, và duy trì địa vị và đặc quyền của mỗi gia đình là công việc quan trọng nhất ở mọi tầng lớp xã hội. Ví dụ như thời Edo luật hình sự quy định các "lao động phải trả phí" hay nô lệ cho các gia đình có tử tội trong Điều 17 của Gotōke reijō (Gia Quy nhà Tokugawa), nhưng việc thực thi chưa bao giờ được tiến hành. Bộ luật năm 1711 Gotōke reijō được soạn thảo từ hơn 600 điều lệ được ban hành từ năm 1597 đến năm 1696.
== Phát triển kinh tế ==
Phát triển kinh tế dưới thời Tokugawa bao gồm đô thị hóa, phát triển vận chuyển hàng hóa, nội thương, và ban đầu là cả ngoại thương phát triển vượt bậc, việc buôn bán và thủ công nghiệp trở nên phổ biến. Nghề xây dựng phát đạt cùng với ngân hàng và liên đoàn thương nhân. Chính quyền ở các phiên giám sát việc tăng sản lượng nông nghiệp và mở rộng nghề thủ công.
Cho đến giữa thế kỷ 18, Edo có dân số hơn 1 triệu người, còn Osaka và Kyoto có khoảng 400.000 cư dân. Rất nhiều thành khác cũng phát triển tốt. Nhật Bản hầu như không tăng trưởng dân số từ năm 1720 (26.100.000 dân) đến 1820 (27.200.000 dân), thường là do tỉ lệ sinh thấp mà nạn đói lại tràn lan, nhưng một số nhà sử học lại đưa ra các giả thuyết khác, ví dụ như tỉ lệ sát hại trẻ em để kiểm soát số dân cao . Osaka và Kyoto trở thành những trung tâm thương mại và thủ công nghiệp tấp nập, trong khi Edo là trung tâm cung cấp lương thực và các loại hàng hóa cho đô thị.
Gạo là nền tảng của kinh tế, vì đại danh thu thuế của nông dân bằng gạo. Thuế cao, khoảng 40% mùa vụ. Gạo được bán ở các chợ fudasashi ở Edo. Để sớm thu tiền, các đại danh sử dụng các hợp đồng tương lai để bán gạo chưa được thu hoạch. Những hợp đồng này tương tự như loại hợp đồng tương lai thời hiện đại.
Trong thời Edo, Nhật Bản đã phát triển một chính sách bảo vệ rừng tiên tiến. Nhu cầu gỗ tăng cho xây dựng, đóng tàu và làm củi đun đã dấn đến việc phá rừng tràn lan, dẫn đến những vụ cháy rừng, lũ lụt và lở đất. Để đối phó với tình trạng này, Tướng quân, bắt đầu từ khoảng năm 1666 đã ban hành lệnh giảm đốn gỗ và gia tăng trồng mới cây. Chính sách này cũng nêu rõ chỉ Tướng quân và đại danh mới được cho phép sử dụng gỗ. Cho đến thế kỷ 18, Nhật Bản đã phát triển những tri thức cặn kẽ về lâm học và lâm nghiệp.
== Nghệ thuật và phát triển tri thức ==
Dưới thời này, Nhật Bản dần dần tiếp thu khoa học và công nghệ phương Tây (gọi là Lan học, hay "rangaku", "học vấn của người Hà Lan") qua thông tin và những cuốn sách của thương nhân Hà Lan ở Dejima. Lĩnh vực học tập chính là địa lý, dược học, khoa học tự nhiên, thiên văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, cơ học ví dụ như nghiên cứu về các hiện tượng điện, và khoa dược học, với ví dụ về sự phát triển của đồng hồ Nhật Bản, hay wadokei, chịu ảnh hưởng của kỹ thuật phương Tây.
Sự hưng thịnh của Tân Nho giáo là sự phát triển tri thức quan trọng dưới thời Tokugawa. Nho học vẫn hoạt động tích cực ở Nhật Bản nhờ các nhà sư, nhưng dưới thời Tokugawa, Nho giáo đã thoát ra khỏi sự kiểm soát của Phật giáo. Hệ tư tưởng này đã thu hút được sự chú ý về một cái nhìn thế tục về con người và xã hội. Chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa duy lý, và viễn cảnh lịch sử của học thuyết Tân Nho giáo hấp dẫn giới quan lại. Cho đến giữa thế kỷ 17, Tân Nho giáo là hệ thống triết học hợp pháp thống trị nước Nhật và đóng góp lớn cho sự phát triển các hệ tư tưởng kokugaku ("Quốc học").
Các nghiên cứu sâu và ứng dụng rộng rãi của Tân Nho đóng góp lớn trong việc thay đổi trật tự chính trị xã hội từ các quy tắc phong kiến đến đẳng cấp và các quy tắc định hướng cho những nhóm lớn trong xã hội. Luật lệ của nhân dân và các nhà Nho dần được thay thế bằng luật pháp. Các luật mới được phát triển, và các thể chế hành chính mới ra đời. Luận thuyết về chính quyền mới và cái nhìn mới về xã hội nổi lên với một sự cai trị toàn diện của Mạc phủ. Mỗi người có một vị trí riêng trong xã hội và phải làm việc để hoàn thành nhiệm vụ của đời mình. Cai trị nhân dân bằng nhân đức của những người có trách nhiệm thống trị. Chính quyền có quyền lực tuyệt đối những có trách nhiệm và lòng nhân. Mặc dù hệ thống đẳng cấp do ảnh hưởng của Tân Ngo, chúng không hề giống nhau. Trong khi binh lính và tăng lữ ở dưới cùng của hệ thống tầng lớp Trung Hoa, thì với Nhật Bản, thành viên của tầng lớp này được coi là giai cấp thống trị.
Thành viên của tầng lớp samurai tôn trọng triệt để truyền thống bushi (võ sỹ) với một sự quan tâm mới trong lịch sử Nhật Bản và đỉnh cao là tư tưởng của các nhà Nho đang nắm quyền, dẫn đến sự ra đời của khái niệm bushido ("võ sỹ đạo). Một lối sống khác --chōnindō—cũng ra đời. Chōnindō (lối sống của người thành thị) là nét văn hóa riêng biệt nổi lên ở các thành phố như Osaka, Kyoto, và Edo. Nó khuyến khích lòng khao khát đạt đến những chuẩn mực bushido—-siêng năng, trung thực, trọng danh dự, trung thành và thanh đạm –trong khi pha trộn niềm tin của Thần đạo, Tân Nho và Phật giáo. Nghiên cứu về toán học, thiên văn học, bản đồ học, kỹ sư, và nghề y cũng được khuyến khích. Người ta nhấn mạnh đến tài hoa của người thợ, đặc biệt là trong nghệ thuật. Lần đầu tiên, người dân đô thị có được khả năng vật chất và tinh thần để theo đuổi những hình thức văn hóa đại chúng mới. Họ kiếm tìm thú vui, hay còn gọi ukiyo ("phù thế"), quan niệm về thế giới của thời trang, giải trí, và khám phá đẳng cấp mỹ học trong các vật dụng và hoạt động thường ngày, bao gồm tình dục (shunga, "xuân họa"). Những phụ nữ giải trí chuyên nghiệp (geisha), âm nhạc, kịch nghệ, Kabuki và bunraku (múa rối), thi ca, văn học, và nghệ thuật, ví dụ như những bản khắc gỗ tuyệt đẹp (còn gọi là ukiyo-e), là tất cả những mảng của bức tranh nghệ thuật đang nở hoa. Văn học huy hoàng với những ví dụ về tài năng kịch nghệ Chikamatsu Monzaemon (1653-1724) và nhà thơ, nhà văn tiểu luận, và du ký Matsuo Bashō (1644-94).
Tranh in Ukiyo-e bắt đầu được sản xuất từ cuối thế kỷ 17, nhưng năm 1764 Harunobu sản xuất bản in nhiều màu đầu tiên. Thế hệ họa sĩ tranh in tiếp theo, gồm có Torii Kiyonaga và Utamaro, vẽ những bức tranh thanh nhã và đôi khi sâu sắc về các cô gái thanh lâu. Trong thế kỷ 19, nhân vật nổi bật nhất là Hiroshige, người tạo ra những bản in phong cảnh lãng mạn và có gì đó ủy mị. Hình dạng và góc nhìn lạ lùng về phong cảnh qua cái nhìn của Hiroshige với các tác phẩm của Kiyonaga và Utamaro, nhấn mạnh các mặt phẳng và phác thảo bằng những đường kẻ mạnh mẽ, sau này có ảnh hưởng sâu sắc đến các họa sĩ phương Tây như Edgar Degas và Vincent van Gogh (xem Japonism).
Phật giáo và Thần đạo đều quan trọng dưới thời Edo. Phật giáo, kết hợp với Tân Nho giáo, đưa ra tiêu chuẩn cho lối ứng xử trong xã hội. Mặc dù không có quyền lực chính trị hùng mạnh nhưng trong quá khứ, Phật giáo vẫn được tầng lớp trên tin theo. Lệnh cấm Công giáo giúp Phật giáo hưởng lợi vì Mạc phủ yêu cầu tất cả mọi người đăng ký tại các chùa. Sự phân chia cứng nhắc của xã hội thời Tokugawa thành các phiên, làng, phường và hộ gia đình đã giúp tái lập lại sự gắn bó với Thần đạo ở các địa phương. Thần đạo đưa ra chỗ dựa tinh thần cho những mệnh lệnh chính tị và là sợi dây buộc chặt cá nhân với cộng đồng. Thần đạo cũng giúp bảo tồn văn hóa dân tộc.
Thần đạo cuối cùng được cho là sự xáp nhập của chủ nghĩa duy lý Tân nho và chủ nghĩa duy vật. Phong trào kokugaku nổi lên từ sự tương tác của hai hệ thống niềm tin này. Kokugaku đóng góp vào chủ nghĩa dân tộc coi Thiên hoàng là trung tâm ở Nhật Bản hiện đại và sự phục sinh của Thần đạo với vai trò quốc giáo trong hai thế kỷ 18 và 19. Kojiki, Nihongi, và Man'yōshū đều được làm mới theo tinh thần Nhật Bản. Một số người theo chủ nghĩa thuần túy trong phong trào kokugaku, như Motoori Norinaga, thậm chí còn chỉ trích ảnh hưởng Nho giáo và Phật giáo—và thực tế là các ảnh hưởng từ bên ngoài—vì đã làm ô uế lối sống cổ xưa của nước Nhật. Nhật Bản là đất nước của kami và như vậy, có một định mệnh đặc biệt.
== Mạc phủ sụp đổ ==
=== Nhà Tokugawa suy sụp ===
Hậu kỳ thời đại này thường được gọi là Mạc mạt. Lý do về sự chấm dứt của thời kỳ này vẫn còn gây tranh cãi nhưng nó được cho là do sức ép với nước Nhật phải mở cửa với thế giới nhờ Phó đề đốc Matthew Perry của Hải quân Hoa Kỳ, với hạm đội của mình (người Nhật gọi là "Hắc thuyền") nã pháo vào vịnh Tokyo. Vài đảo nhân tạo được đắp để cản trở tầm pháo của hạm đội, và vùng đất này ngày nay gọi là quận Odaiba.
Nhà Tokugawa cuối cùng sụp đổ đơn giản vì những thất bại tự bên trong. Sự xâm nhập từ bên ngoài làm mối quan hệ chính trị phức tạp giữa Mạc phủ và liên minh đối lập thêm trầm trọng. Phong trào chống Mạc phủ tiếp diễn vào giữa thế kỷ 19 cuối cùng sẽ lật độ nhà Tokugawa. Từ khởi đầu, nhà Tokugawa cố hạn chế các gia đình tích trữ tài sản và khuếch trương cho chính sách "trở lại với ruộng đồng", theo đó người nông dân, nhà sản xuất sau cùng, là con người lý tưởng trong xã hội.
Bất chấp những nỗ lực hạn chế sự giàu có và một phần là vì một thời kỳ hòa bình dài đến không tưởng, tiêu chuẩn sống của cư dân đô thị và nông thôn trở nên rất giống nhau dưới thời Tokugawa. Các phương thức canh tác, vận chuyển, xây nhà, các loại thực phẩm, các hình thức giải trí luôn sẵn sàng, vì có nhiều thời gian rỗi hơn, ít nhất là với cư dân thành thị. Tỉ lệ biết chữ là cao so với một xã hội tiền công nghiệp, và giá trị văn hóa được định giá lại và được phổ biến rộng rãi trong tầng lớp chiến binh samurai và chōnin ("đinh nhân")/ Bất chấp sự tái xuất hiện của các phường hội, hoạt đồng kinh tế vẫn tiến triển tốt đẹp cho dù có sự hạn chế tự nhiên của các phường hội, thương mại thông suốt và một nền kinh tế tiền tệ phát triển. Mặc dù chính quyền hạn chế thương nhân rất nhiều và xem họ như những người không sản xuất mà lại lấy lãi cắt cổ, nhưng các samurai, những người dân dần xa rời sự gắn bó với nông thôn, ngày càng phụ thuộc vào thương nhân và thợ thủ công để có hàng hóa tiêu dùng, hàng thủ công yêu thích, và các khoản vay. Theo cách đó, ý thức lờ mờ về việc lật đổ tầng lớp samurai của dân chōnin bắt đầu hình thành.
Một cuộc đấu tranh nổi lên trên bề mặt của chính trị vốn bị hạn chế khi Chinh di Đại tướng quân đánh thuế tầng lớp thầu khoán. Ý tưởng của chính quyền về một xã hội ruộng đất thất bại trong việc điều chỉnh thực tế trong phân phối thương mại. Hệ thống quan lại khổng lồ phát triển, nay trở thành trì trệ vì sự trái ngược với một trật tự xã hội mới đang phát triển. Tình hình tồi tệ hơn khi dân số gia tăng nhanh chóng trong nửa đầu thời Tokugawa. Mặc dù tầm rộng lớn và tỉ lệ tăng vẫn còn không chắc chắn, nhưng có ít nhất 26 triệu dân thường và khoảng 4 triệu thành viên của các gia đình samurai và thuộc hạ cuộc tổng điều tra dân số lần đầu tiên diễn ra năm 1721. Hạn hán, theo đó là thiếu lương thực và nạn đói, dẫn đến 20 nạn đói lớn trong khoảng từ 1675 đến 1837. Sự bất ổn trong giới nông dân gia tăng, và cho đến cuối thế kỷ 19, sự phản đối lại thuế cao và nạn thiếu lương thực trở thành chuyện thường ngày. Các gia đình nông dân mất đất mới trở thành nông dân tá điền, trong khi những người nghèo không nhà cửa rời ra thành phố. Khi các gia đình trước kia vốn sung túc nay trở nên sa sút, những người khác chuyển đến các vùng đất thừa tự, và một tầng lớp nông dân giàu có mới nổi lên. Những người hưởng lợi này có thể phân biệt hóa được sản phẩm của mình và thuê lao động, trong khi những người khác bất bình. Rất nhiều samurai rơi vào tình cảnh khốn khó và bị ép phải làm những việc thủ công và làm công nhật cho giới thương nhân.
Mặc dù Nhật Bản có thể tiếp thu và cải tiến tri thức khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhác, sự công nghiệp hóa nhanh chóng của phương Tây trong suốt thế kỷ 18 lần đầu tiên tạo ra hố sâu ngăn cách về trình độ công nghệ và vũ khí giữa Nhật Bản và phương Tây (thứ thật ra không tồn tại vào đầu thời Edo), buộc nước Nhật phải từ bỏ chính sách bế quan tỏa cảng và góp phần vào sự sụp đổ của triều đại Tokugawa.
Sự xâm nhập của phương Tây gia tăng vào đầu thế kỷ 19. Các tàu chiến của Nga và thương nhân xâm lấn Karafuto (được gọi là Sakhalin dưới sự kiểm soát của Nga và Liên Xô) ở quần đảo Kuril, cực Nam của nó được người Nhật coi là những hòn đảo ở phía Bắc Hokkaidō. Một tàu chiến Anh tiến vào cảng Nagasaki để tìm kiếm tàu Hà Lan đối địch năm 1808, và các tàu chiến và tàu săn cá voi khác ngày càng được trông thấy thường xuyên hơn ở lãnh hải Nhật Bản trong những năm 1810 và 1820. Tàu săn cá voi và tàu buôn từ Hoa Kỳ cũng cập bờ Nhật Bản. Mặc dù người Nhật đã có vài sự nhượng bộ nho nhỏ và cho phép xuống đất liền, họ vẫn cố giữ khoảng cách với người nước ngoài, đôi khi dùng cả vũ lực. Lan học trở thành yếu tố quyết định không chỉ để hiểu được những "kẻ dã man" từ bên ngoài mà còn để sử dụng tri thức có được từ phương Tây để chống lại họ.
Cho đến những năm 1830, có vài dấu hiệu chung của sự khủng hoảng. Nạn đói và thiên tai tấn công mãnh liệt, và sự bất mãn dẫn đến những cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại quan lại và thương gia ở Osaka năm 1837. Mặc dù nó chỉ kéo dài một ngày, cuộc khởi nghĩa đã để lại ấn tượng sâu sắc. Phương thuốc thường là các giải pháp truyền thống cố cải cách lại tình trạng đạo đức suy đồi thay vì chú tâm đến vấn đề từ thiện. Các mưu sỹ của Tướng quân thúc đẩy việc quay lại tinh thần võ sỹ, cấm đoán gắt gao hơn việc giao thiệp và buôn bán với người nước ngòi, đàn áp Lan học, kiểm duyệt văn chương, và cấm ngặt sự "xa hoa" ở trong chính quyền và tầng lớp samurai. Những người khác cố lật đổ nhà Tokugawa và đi theo học thuyết chính trị sonnō jōi (Tôn Hoàng, Nhương Di), kêu gọi đoàn kết dưới Đế quyền và chống lại sự xâm phạm từ bên ngoài. Mạc phủ vẫn kiên trì giữa lúc ngày càng có nhiều lo ngại về việc phương Tây thiết lập thành công các vùng đất thuộc địa ở Trung Quốc sau Chiến tranh nha phiến lần thứ nhất năm 1839–1842. Nhiều cải cách hơn được tiến hành, đặc biệt là trong lính vực kinh tế, để làm nước Nhật mạnh hơn trước mối đe dọa phương Tây.
Nhật Bản bác bỏ yêu của người Mỹ, theo đó mở rộng đáng kể sự hiện diện của họ ở Châu Á Thái Bình Dương, và thiết lập quan hệ ngoại giao khi Phó đề đốc James Biddle hiện diện ở vịnh Edo với hai tàu chiến vào tháng 7 năm 1846.
=== Chấm dứt bế quan tỏa cảng ===
Khi bốn chiếc tàu của Phó đề đốc Matthew Calbraith Perry xuất hiện ở vịnh Edo tháng 7 năm 1853, Mạc phủ rơi vào vòng hỗn loạn. Chủ tịch hồi động cao cấp, Abe Masahiro (1819–1857), chịu trách nhiệm thương thuyết với người Mỹ. Chưa hề có kinh nghiệm xử lý môi đe dọa an ninh quốc gia, Abe cố cân bằng giữa mong muốn của hội đồng tối cao là thương thảo với người nước ngoài, và của các damiyo muốn dùng vũ lực. Thiếu sự đồng lòng, Abe quyết định thương thuyết bằng cách chấp nhận yêu cầu mở cửa Nhật Bản cho ngoại thương của Perry trong khi vẫn chuẩn bị động binh. Tháng 3 năm 1854, Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị (Hiệp ước Kanagawa) mở cửa hai bến cảng cho tàu Mỹ mua hàng tiếp tế, bảo đảo đối xử tốt với các thủy thủ Mỹ bị đắm tàu, và cho phép lãnh sự Mỹ mở cửa ở Shimoda, một hải cảng ở bán đảo Izu, Tây Nam Edo. Mạc phủ bị ép phải ký một hiệp ước thương mại, mở cửa thêm nhiều vùng đất nữa cho thương nhân Hoa Kỳ 5 năm sau đó.
Tác hải của việc này đối với Mạc phủ là rất to lớn. Tranh cãi về chính sách của chính phủ là không bình thường và gây ra sự chỉ trích công khai Mạc phủ. Với hy vọng tranh thủ sự ủng hộ của các đồng minh mới, Abe, trong sự sửng sốt của các lãnh chúa đại danh fudai, đã tham nghị với các đại danh shinpan và tozama, càng làm xói mòn thêm Mạc phủ vốn đã suy yếu. Trong cải cách Ansei (1854–1856), Abe sau đó cố củng cố chế độ bằng cách đặt các tàu chiến và vũ khí ở Hà Lan và xây dựng các hải cảng quân sự. Năm 1855, một trường hải quân với hướng dẫn viên Hà Lan khởi công ở Nagasaki, và một trường võ bị kiểu phương Tây được thành lập ở Edo; cho đến năm sao đó, chính quyền dịch các sách phương Tây. Sự phản đối Abe tăng lên trong nhóm các fudai, chống lại việc mở cửa hội đồng Mạc phủ với các tozama, ông bị thay thế vị trí Chủ tịch Hội đồng cao cấp năm 1855 bởi Hotta Masayoshi (1810–1864).
Đứng đầu phe chống đối là Tokugawa Nariaki, người đã từ lâu nắm phái quân sự trung thành với Thiên Hoàng và tình cảm chống phương Tây, người được đặt lên vị trí đảm nhiệm phòng vệ quốc gia năm 1854. Trường Mito —dựa trên các nguyên tắc Tân Nho giáo và Thần đạo—với tôn chỉ phục hồi Đế quyền, quay lưng lại với phương Tây, và lập ra một đế chế mới dưới triều đại Yamato thần thánh.
Trong những năm cuối thời Tokugawa, sự tiếp xúc với người nước ngoài gia tăng khi có thêm nhiều nhượng bộ. Hiệp ước mới với Hoa Kỳ năm 1859 cho phép mở cửa thêm nhiều cảng cho đại diện ngoại giao, không kiểm tra hàng hóa tại bốn cảng nữa, và người nước ngoài được định cư ở Osaka và Edo. Nó cũng tiêu biểu cho định nghĩa về đặc quyền ngoại giao (người nước ngoài là đối tượng của luật nước họ chứ không phải luật Nhật Bản). Hotta mất đi sự ủng hộ của các lãnh chúa đại danh quan trọng, và khi Tokugawa Nariaki chống lại Hiệp ước mới, Hotta tìm kiếm sự phê chuẩn của Hoàng gia. Các quan trong triều, đã nhận thấy sự suy yếu của Mạc phủ, từ chối yêu cầu của Hotta và do đó lôi kéo Kyoto và Thiên Hoàng vào việc chính trị nội bộ Nhật Bản lần đầu tiên sau hàng trăm năm. Khi Tướng quân qua đời mà không có người thừa kế, Naraki khẩn khoản yêu cầu triều đình ủng hộ con trai ông, Tokugawa Yoshinobu (hay Keiki), nhậm chức Chinh di Đại tướng quân, một ứng cử viên được các đại danh shinpan và tozama ưa chuộng. Tuy vậy, fudai đã thắng trong cuộc đối đầu quyền lực, lập Tokugawa Yoshitomi làm Chinh di Đại tướng quân, bắt giam Nariaki và Keiki, xử tử Yoshida Shoin (1830–1859, nhà tư tưởng Tôn Hoàng, Nhương Di hàng đầu chống lại Hiệp ước với Hoa Kỳ và âm mưu một cuộc cách mạng chống lại Mạc phủ), ký Hiệp ước với Hoa Kỳ và năm quốc gia khác, do đó chấm dứt 200 năm bế quan tỏa cảng.
=== Hiện đại hóa và xung đột thời Mạc mạt ===
Trong những năm cuối của Mạc phủ, hay thời kỳ Mạc mạt, Mạc phủ đã thi hành những chính sách mạnh mẽ để tái lập sự thống trị của mình, mặc dù việc có dính líu đến hiện đại hóa và thế lực nước ngoài biến nó trở thành đối tượng của tình cảm chống phương Tây trên toàn đất nước.
Hải quân và lục quân được hiện đại hóa. Một trường huấn luyện hải quân được thành lập ở Nagasaki năm 1855. Học viên hải quân được gửi đến các trường hải quân phương Tây vài năm, bắt đầu truyền thống các lãnh đạo tương lai đi du học ở nước ngoài, ví dụ như Đô đốc Enomoto. Kỹ sư hải quân Ohaps được thuê để đóng kho vũ khí hải quân ví dụ như Yokosuka và Nagasaki. Cho đến lúc Mạc phủ Tokugawa sụp đổ năm 1867, Hải quân Nhật Bản của Chinh di Đại tướng quân đã sở hữu 8 tàu chiến kiểu phương Tây ở xung quanh kỳ hạm Kaiyō Maru, được sử dụng để chống lại quân đội bảo hoàng trong chiến tranh Boshin dưới sự chỉ huy của Đô đốc Enomoto. Một đoàn sứ thần quân sự Pháp đã được thành lập để giúp hiện đại hóa quân đội Mạc phủ.
Phục hồi đế quyền như là biểu tượng của sự thống nhất, những người cực đoan sử dụng bạo lực và ám sát để chống lại Mạc phủ, chính quyền các Phiên bang và người nước ngoài. Sự trả đũa của hải quân nước ngoài trong chiến tranh Anh-Satsuma dẫn đến một hiệp ước thương mại mang tính nhượng bộ mới năm 1865, nhưng Yoshitomi không thể thực hiện được Hiệp ước với phương Tây. Quân đội Mạc phủ bị đánh bại khi được gửi đến để đàn áp sự chống đối tại hai phiên bang Satsuma và Chōshū năm 1866. Cuối cùng, năm 1867, Thiên hoàng Hiếu Minh qua đời và người con trai thứ Thiên hoàng Minh Trị lên ngôi.
Keiki miễn cưỡng trở thành người đứng đầu nhà Tokugawa và Tướng quân. Ông cố tái cơ cấu lại chính quyền ở dưới Thiên hoàng trong khi bảo vệ vị trí lãnh đạo của Tướng quân. Lo sợ thế lực ngày càng tăng của đại danh phiên Satsuma và Chōshū, các đại danh khác kêu gọi Chinh di Đại tướng quân trả lại quyền lực chính trị cho Thiên hoàng và một hội đồng các damiyo do cựu Tướng quân đứng đầu. Keiki chấp nhận phương án này năm 1867 và thoái vị, thông báo việc "phục hồi Đế quyền". Tuy vậy, lãnh đạo Satsuma, Chōshū, và các "phiên" khác và các trọng thần khác trong triều lại nổi loạn, chiếm giữ Hoàng cung, và thông báo việc phục hồi của riêng mình vào ngày 3 tháng 1 năm 1868.
Sau chiến tranh Boshin (1868–1869), Mạc phủ bị giải thể, và Keiki bị giáng xuống làm một đại danh thông thường. Sự kháng cự vẫn tiếp diễn ở phía Bắc trong suốt năm 1868, và Hải quân Mạc phủ dưới quyền của Đô đốc Enomoto Takeaki vẫn tiếp tục cầm cự thêm 6 tháng nữa ở Hokkaidō, với việc thành lập một nước Cộng hòa Ezo.
== Các sự kiện ==
1600: Trận Sekigahara. Tokugawa Ieyasu đánh bại liên minh các đại danh phía Tây, khẳng định quyền bá chủ phần lớn Nhật Bản.
1603: Thiên hoàng phong cho Tokugawa Ieyasu chức Tướng quân, ông chuyển chính quyền của mình đến Edo (Tokyo), lập ra Mạc phủ Tokugawa.
1605: Tokugawa Ieyasu thôi làm Chinh di Đại tướng quân và để con trai mình Tokugawa Hidetada thừa kế.
1607: Nhà Yi ở Triều Tiên gửi sứ thần đến Mạc phủ Tokugawa.
1611: Quần đảo Ryūkyū trở thành chư hầu của lãnh địa Satsuma.
1614: Tokugawa Ieyasu cấm Công giáo ở Nhật Bản.
1615: Trận Osaka. Tokugawa Ieyasu bao vây thành Osaka, tất cả những người ở phía bên kia đều trung thành với gia đình Toyotomi. Nhà Tokugawa nắm quyền lực tối cao ở Nhật Bản.
1616: Tokugawa Ieyasu chết.
1623: Tokugawa Iemitsu trở thành Tướng quân thứ ba.
1633: Tokugawa Iemitsu cấm đi ra bên ngoài và đọc sách nước ngoài.
1635: Tokugawa Iemitsu chính thức hóa hệ thống bắt buộc thay phiên chỗ ở tại Edo (sankin kotai).
1637: Nổi loạn Shimabara (1637-38) do nông dân phải chịu thuế quá cao.
1638: Tokugawa Iemitsu cấm đóng thuyền.
1639: Chiếu chỉ bế quan hoàn thành (Sakoku Rei). Tất cả người phương Tây, trừ người Hà Lan không được phép vào Nhật.
1641: Tokugawa Iemitsu cấm tất cả người nước ngoài, trừ người Trung Quốc và Hà Lan vào Nhật Bản.
1650: Ra đời tầng lớp samurai cao thượng và có học mới gọi là bushido ("võ sĩ đạo").
1657: Vụ hỏa hoạn Meireki thiêu hủy phần lớn Edo.
1700: Kabuki và ukiyo-e được hâm mộ.
1707: Núi Fuji phun trào.
1774: Cuốn sách về giải phẫu học Kaitai shinsho, bản dịch hoàn chỉnh đầu tiên một tác phẩm y học phương Tây của Nhật Bản, được Sugita Gempaku và Maeno Ryotaku xuất bản.
1787: Matsudaira Sadanobu trở thành cố vấn cao cấp cho Chinh di Đại tướng quân và tiến hành Cải cách Kansei.
1792: Sứ thần Nga Adam Laxman đến Nemuro ở phía Đông Ezo (ngày nay là Hokkaidō).
1804: Sứ thần Nga Nikolai Rezanov đến Nagasaki và không thể thiết lập quan hệ thương mại với Nhật Bản.
1837: Nổi loạn Oshio Heihachiro
1841: Cải cách Tempo
1854: Hoa Kỳ ép Nhật phải ký hiệp ước thương mại ("Hiệp ước Kanagawa") theo đó Nhật Bản phải mở cửa cho người nước ngoài sau hai thế kỷ bế quan.
1855: Nhật – Nga thiết lập quan hệ ngoại giao.
1864: Tàu chiến Anh Quốc, Pháp, Hà Lan, Hoa Kỳ bắn phá Shimonoseki và mở thêm các thương cảng Nhật Bản với người nước ngoài.
1868: Tokugawa Yoshinobu thoái vị, triều đại Tokugawa chấm dứt, và Thiên hoàng Minh Trị phục hồi Đế quyền, đóng đô ở Edo/Tokyo và là biểu tượng thần thánh.
== Thời Edo trong văn hóa đại chúng ==
Carried by the Wind: Tsukikage Ran – một seri anime dựa trên thời kỳ này.
Ganbare Goemon – video game của Konami xảy ra vào thời Edo.
Lone Wolf and Cub - manga dựa trên thời kỳ này.
Ninja Scroll - anime lấy bối cảnh thời Edo.
Samurai X và Rurouni Kenshin - anime về cuộc Minh Trị Duy Tân dẫn đến sự sụp đổ của nhà Tokugawa và dựa trên những sự kiện mở đầu thời kỳ Minh Trị
Samurai Champloo – anime vào cuối thời Edo.
Peacemaker Kurogane – anime về một cậu bé gia nhập Shinsengumi
== Xem thêm ==
Hình phạt ở thời kỳ Edo, Nhật Bản
Edomoji – phong cách thư pháp Nhật Bản ra đời vào thời Edo.
Ee ja nai ka – sự bùng nổ chứng cuồng loạn vào cuối thời Edo.
Jidaigeki kịch chương hồi Nhật Bản, trở thành thị hiếu vào thời Edo.
Jitte (vũ khí), vũ khí để buộc phải thi hành luật lệ độc đáo của thời kỳ này.
Karakuri, máy tự động Nhật Bản
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Lewis, James Bryant. (2003). Frontier Contact Between Choson Korea and Tokugawa Japan. London: Routledge. 10-ISBN 0-7007-1301-8
Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc Library of Congress Country Studies. |
hoang mạc mojave.txt | Về một bộ lạc người bản thổ Mỹ, xem Mohave.
Hoang mạc Mojave, người địa phương thường gọi là High Desert (có nghĩa là Hoang mạc trên cao), chiếm một phần lớn vùng đông nam California và những phần nhỏ hơn của trung California, nam Nevada, và tây bắc Arizona ở Hoa Kỳ. Nó được đặt tên của bộ lạc Mohave, một bộ lạc người bản thổ Mỹ và trải rộng trên một diện tích trên 22.000 dặm vuông Anh (57.000 km2) trong một địa hình gồm lòng chảo và dãy núi.
Các ranh giới của Hoang mạc Mojave về tổng thể được xác định bởi sự hiện diện của loài cây Joshua (thuộc nhóm xương rồng)— chúng được xem là một loài cây đặc điểm của vùng hoang mạc này. Các ranh giới địa hình gồm có dãy núi Tehachapi cùng với dãy núi San Gabriel và dãy núi San Bernardino. Các ranh giới núi khá rõ rệt vì chúng là nơi gặp nhau của hai vết gãy lớn nhất tại California: vết nứt San Andreas và vết nứt Garlock. Thảo nguyên Đại Bồn địa nằm về phía bắc; Hoang mạc Sonoran ấm hơn nằm về phía nam và phía đông. Người ta tin rằng Hoang mạc này có chứa từ 1.750 đến 2.000 loài thực vật.
== Khí hậu ==
Hoang mạc Mojave nhận ít hơn 10 inch (250 mm) nước mưa mỗi năm. Độ cao của hoang mạc là khoảng từ 3.000 đến 6.000 ft (1.000 đến 2.000 mét). Bên trong Hoang mạc Mojave gồm có Khu bảo tồn Quốc gia Mojave cũng như nơi nóng nhất và thấp nhất Bắc Mỹ là Công viên Quốc gia Thung lũng Chết nơi nhiệt độ bình thường lên đến 120 °F (49 °C) vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8. Công viên Quốc gia Zion ở tiểu bang Utah nằm ở nơi giao tiếp của Hoang mạc Mojave, Đại Bồn địa, và Cao nguyên Colorado.
Hoang mạc Mojave là một hoang mạc có nhiệt độ khắc nghiệt và bốn mùa rõ rệt. Những tháng mùa đông nhiệt độ xuống dưới 20 °F (-7 °C) tại nền các thung lũng, và dưới 0 °F (-18 °C) tại các nơi cao hơn. Bão di chuyển từ Tây Bắc Thái Bình Dương có thể mang mưa và tuyết khắp vùng - thường thường, vùng bị chắn mưa gây ra bởi Sierra Nevada hoặc các rặng núi cao trong hoang mạc như Dãy núi Spring chỉ có mây và gió. Trong những giai đoạn lâu hơn giữa các cơn bão, nhiệt độ mùa đông trong các Thung lũng có thể lên đến 80 °F (27 °C).
Thời tiết mùa xuân tiếp tục bị ảnh hưởng bởi các trận bão Thái Bình Dương nhưng mưa thì lan rộng hơn và ít khi xuất hiện sau tháng tư. Vào đầu tháng sáu, hiếm có một cơn bão Thái Bình Dương nào gây ảnh hưởng lớn đến thời tiết của vùng. Nhiệt độ bình thường sau giữa tháng năm là trên 90 °F (32 °C) và thường xuyên trên 100 °F (38 °C).
Thời tiết mùa hè thì nóng - nhiệt độ trong các nền Thung lũng có thể lên đến trên 120 °F (49 °C) và trên 130 °F (54 °C) tại các nơi thấp nhất — và có sự hiện diện của gió mùa Bắc Mỹ. Độ ẩm thấp, nhiệt độ cao và áp suất thấp kéo theo hơi ẩm từ vịnh Mexico tạo nên các trận bão sấm khắp tây nam hoang mạc.
Mùa thu thường thường thì dễ chịu nhờ một đến hai trận bão Thái Bình Dương mang mưa đến vùng. Tháng mười là một trong những tháng nắng và khô nhất tại hoang mạc Mojave, và nhiệt độ thường ở giữa 70 °F (21 °C) và 90 °F (32 °C) tại các nền thung lũng.
Sau nhiệt độ, gió là hiện tượng thời tiết nổi bật nhất tại hoang mạc Mojave. Khắp vùng, những ngày gió là thường xuyên. Những nông trường gió trong vùng được xây dựng để tạo năng lượng từ gió.
Đỉnh cao nhất trong hoang mạc Mojave là Đỉnh Charleston cao 11.918 ft (3.633 mét) trong khi Badwater tại Thung lũng Chết là 282 ft (86 mét) dưới mặt nước biển.
== Các thành phố và các vùng ==
Trong khi chính hoang mạc Mojave có dân cư thưa thớt thì trong những năm gần đây nó càng được đô thị hóa. Las Vegas, Nevada là thành phố lớn nhất trong hoang mạc Mojave, với dân số đô thị khoảng 1.9 triệu vào năm 2006. Palmdale là thành phố lớn nhất của California nằm trong hoang mạc. Trên 850.000 người sống trong các khu vực hoang mạc Mojave mà gắn liền vào vùng đô thị Đại Los Angeles trong đó có Palmdale và Lancaster (được gọi là Thung lũng Antelope); Victorville và Hesperia (được gọi là Thung lũng Victor) gắn liền với vùng đô thị Inland Empire là vùng đô thị lớn thứ 14 tại Hoa Kỳ. Các thành phố nhỏ hơn trong hoang mạc còn có St. George; Lake Havasu City; Kingman; Laughlin; Bullhead City; và Pahrump. Tất cả các thành phố này đã và đang trải qua sự gia tăng dân số nhanh chóng từ năm 1990.
Các thị trấn có ít hơn 30.000 người trong hoang mạc Mojave gồm có Barstow, California; Rosamond, California; Needles, California; Ridgecrest, California; Mesquite, Nevada; Hurricane, Utah; Moapa Valley, Nevada; California City, California; Twentynine Palms, California; Joshua Tree, California; Pioneertown, California; và Mojave, California. Phần California của hoang mạc còn có Căn cứ Không quân Edwards.
Hoang mạc Mojave có một số phố ma như Calico, California, Kelso.
== Du lịch ==
Hoang mạc Mojave là một trong những nơi du lịch ưa chuộng nhất tại Bắc Mỹ, chính yếu vì là điểm đến cờ bạc Las Vegas. Hoang mạc cũng nổi tiếng vì cảnh đẹp, với bốn công viên quốc gia - Công viên Quốc gia Thung lũng Chết, Công viên Quốc gia Joshua Tree, Công viên Quốc gia Zion và Công viên Quốc gia Grand Canyon. Tất cả nằm bên trong hoang mạc hoặc tiếp giáp hoang mạc. Các hồ Mead, Mohave và Havasu mang đến sự giải trí thể thao trên nước. Đập Hoover là một nơi đến du lịch ưa chuộng. Du khách có dịp nhìn thấy hình thể của đập, nhà máy thủy điện, và nghe lịch sử lừng danh về việc xây đập trong thời Đại Khủng hoảng.
Ngoài các công viên quốc gia chính còn có các khu vực du lịch hấp dẫn được nhận dạng trong hoang mạc như Khu bảo tồn Big Morongo Canyon trải rộng qua hoang mạc Mojave và hoang mạc Colorado, Khu bảo tồn Quốc gia Red Rock Canyon cách phía tây Las Vegas 17 dặm Anh (27 km). Cả hai được Cục quản lý đất Hoa Kỳ trông coi.
Trong số những điểm du lịch hấp dẫn ưa thích và có một không hai tại hoang mạc là nhiệt kế được cho là cao nhất thế giới được đặt dọc theo Xa lộ Liên tiểu bang 15 tại Baker, California cao 134 ft (40.8 m).
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Mojave Desert images at bioimages.vanderbilt.edu (slow modem version)
== Đọc thêm ==
Miller, D.M. and Amoroso, L. (2007). Preliminary surficial geology of the Dove Spring off-highway vehicle open area, Mojave Desert, California [U.S. Geological Survey Open-File Report 2006-1265]. Reston, VA: U.S. Department of the Interior, U.S. Geological Survey.
Mojave Desert Wildflowers, Jon Mark Stewart, 1998, pg. iv |
đệ tứ cộng hòa pháp.txt | Đệ Tứ Cộng hòa Pháp (tiếng Pháp: Quatrième République) là chính phủ cộng hòa tại Pháp từ năm 1946 tới năm 1958, được quy định bởi hiến pháp cộng hòa thứ tư. Đệ Tứ Cộng hòa được thành lập sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc để thay thế cho Đệ Tam Cộng hòa Pháp. Hiến pháp của nền cộng hòa thứ tư được thông qua vào ngày 13 tháng 10 năm 1946.
Nền cộng hòa thứ tư chứng kiến thời đại tăng trưởng kinh tế tại Pháp và sự hồi phục của các thiết chế xã hội và nền công nghiệp quốc gia sau chiến tranh thế giới thứ hai, cũng như đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển quá trình hội nhập châu Âu, điều đã thay đổi lục địa này một cách lâu dài. Thành tựu đáng kể nhất của nền Đệ Tứ Cộng hòa là cuộc cải cách xã hội và phát triển kinh tế. Vào năm 1946, chính phủ thành lập một hệ thống an sinh xã hội toàn diện để đảm bảo bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp cho người tàn tật và người già, cũng như dịch vụ chăm sóc sức khỏe tới tất cả mọi người.
Một số nỗ lực được tạo ra để tăng cường ngành hành pháp của chính phủ để đối phó với tình trạng bất ổn từng diễn ra trước chiến tranh, tuy nhiên sự bất ổn vẫn tiếp diễn và dẫn tới một số thay đổi trong chính phủ – đã có 21 chính quyền hiện diện trong 12 năm lịch sử của nó. Thêm vào đó, chính phủ không thể đưa ra các quyết định hiệu quả trong vấn đề giải phóng thuộc địa tại nhiều nước thuộc địa của Pháp. Sau nhiều khủng hoảng liên tiếp, đặc biệt là khủng hoảng Algérie 1958, nền Đệ Tứ Cộng hòa Pháp chính thức sụp đổ. Tướng Charles de Gaulle trở lại để chỉ đạo chính quyền chuyển tiếp nhằm xây dựng Hiến pháp của nước cộng hòa Pháp. Nền cộng hòa thứ tư giải thể bởi cuộc trưng cầu công khai vào ngày 5 tháng 10 năm 1958, mở đường cho sự thành lập Đệ ngũ Cộng hòa Pháp như ngày nay với quyền lực Tổng thống được củng cố.
== Tham khảo == |
thời đại đồ đồng đá.txt | Thời đại đồ đồng đá hay thời đại đồng đá, thời kỳ đồ đồng đá, thời kỳ đồng đá, nguyên gốc từ cụm từ trong tiếng Hy Lạp χαλκόςλίθος (khalkoslithos nghĩa là đồng đá), tại một số nước châu Âu được gọi là Copper Age (Anh)/Edad del Cobre (Tây Ban Nha)/Aevum cupri (La tinh)/Kupfersteinzeit (Đức)/Медный век (Nga) v.v đều có nghĩa là thời kỳ /đại đồ đồng [kim loại]. Tuy nhiên cụm từ thời đại đồ đồng trong tiếng Việt lại được dùng để chỉ giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn này. Trong các văn bản khoa học còn có thể gọi là Eneolithic (Æneolithic). Nó là một giai đoạn trong sự phát triển các nền văn hóa của con người, trong đó việc sử dụng các công cụ bằng kim loại đã xuất hiện, cùng với việc sử dụng các công cụ bằng đá.
Thời kỳ này là giai đoạn chuyển tiếp bên ngoài hệ thống ba thời đại kinh điển, và nó diễn ra giữa thời đại đồ đá mới và thời đại đồ đồng. Nó biểu hiện ở chỗ đồng chưa được khai thác nhiều và các cố gắng đầu tiên trong việc tạo hợp kim của đồng với thiếc và các kim loại khác đã diễn ra khá sớm, làm cho việc phân biệt các nền văn hóa và/hoặc thời kỳ đồng đá khác biệt là rất khó.
Sự xuất hiện của nghề luyện kim đã diễn ra đầu tiên ở Vùng lưỡi liềm màu mỡ (bao gồm Levant, Lưỡng Hà cổ đại, Ai Cập cổ đại), nơi các nền văn hóa đã chuyển vào thời đại đồ đồng từ thiên niên kỷ 4 TCN. Sự phát minh độc lập và hạn chế của luyện kim tại Trung Mỹ tiền-Columbus hình thành trong thế kỷ 7 không được coi là gắn liền với giai đoạn "đồng đá".
Thời đại đồng đá ở Trung Đông và Kavkaz bắt đầu vào cuối thiên niên kỷ 5 TCN và kéo dài khoảng một thiên niên kỷ trước khi chuyển qua giai đoạn đồ đồng sớm. Sự chuyển tiếp của thời đại đồng đá sang thời đại đồ đồng ở châu Âu diễn ra khoảng 1 thiên niên kỷ muộn hơn, vào khoảng cuối thiên niên kỷ 4-3 TCN.
Theo Parpola, các nét tương đồng đồ gốm của văn minh sông Ấn, miền nam Turkmenistan và miền bắc Iran trong giai đoạn 4300–3300 TCN của thời đại đồng đá cho thấy tính lưu động và thương mại đáng kể.
== châu Âu ==
Kiến thức về việc sử dụng đồng phổ biến hơn nhiều so với chính kim loại này. Nền văn hóa Rìu chiến châu Âu sử dụng các rìu đá được tạo mẫu trên các rìu đồng, với sự mô phỏng các "dấu đúc" được khắc trên đá.
Nền văn hóa Cốc vại ở châu Âu thông thường được coi là thuộc thời đại đồng đá giống như các nền văn hóa khác lần đầu tiên đã chấp nhận quá trình đô thị hóa tại tây nam châu Á. Nhiều cự thạch tại châu Âu được dựng lên trong thời kỳ này và người ta cũng cho rằng sự đồng nhất ngôn ngữ Tiền Ấn-Âu có niên đại vào khoảng cùng thời gian này. Các ví dụ về văn hóa đồng đá tại châu Âu bao gồm Los Millares trên bán đảo Iberia tại Tây Ban Nha ngày nay
Người băng Ötzi, được tìm thấy tại Ötztaler Alps và các dấu tích còn lại của người cổ này có niên đại tới khoảng năm 3300 TCN, mang theo một chiếc rìu đồng và một con dao bằng đá lửa. Hàm lượng đồng cao tìm thấy trong tóc của người này đã dẫn tới sự ức đoán cho rằng ông ta là một người thợ làm việc với kim loại, có thể đã bị chết trong khi đi thăm dò để tìm quặng trong vùng núi này.
== Nam Á ==
Các cư dân Nam Á ở Mehrgarh đã tạo hình các công cụ bằng quặng đồng tại khu vực trong giai đoạn từ khoảng 7000 tới 3300 TCN
== Đông Á ==
Các cổ vật bằng đồng có niên đại khoảng thiên niên kỷ 5 TCN bắt đầu xuất hiện tại Đông Á, chẳng hạn như trong giai đoạn Khương Trại (姜寨) của văn hóa Ngưỡng Thiều và văn hóa Hồng Sơn, nhưng các đồ tạo tác kim loại này đã không được sử dụng rộng rãi.
== Trung Mỹ ==
Ít phổ biến hơn, thuật ngữ này cũng được áp dụng cho các nền văn minh châu Mỹ đã biết sử dụng đồng và các hợp kim đồng vào thời gian người châu Âu đặt chân tới đây. Tổ hợp đồng cổ, nằm tại khu vực ngày nay là Michigan và Wisconsin ở Hoa Kỳ sử dụng đồng làm các công cụ, vũ khí và các đồ dùng khác. Các cổ vật từ các di chỉ này có niên đại từ 4000 tới 1000 TCN, làm cho chúng trở thành một trong những di chỉ đồng đá cổ nhất trên thế giới.
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
Bogucki, Peter (2007), “Copper Age of Eastern Europe”, The Atlas of World Archaeology, London: Sandcastle Books, tr. pp. 66 Bảo trì CS1: Văn bản dư (link).
== Xem thêm ==
Hệ thống ba thời đại
== Liên kết ngoài ==
Mục từ về kỷ nguyên đồng đá trong Encyclopaedia Iranica. |
mỹ thuật.txt | Mỹ thuật hiểu nôm na là "nghệ thuật của cái đẹp" ("mỹ", theo tiếng Hán-Việt, nghĩa là "đẹp"). Đây là từ dùng để chỉ các loại nghệ thuật tạo hình chủ yếu là
hội hoạ
đồ hoạ
điêu khắc
Theo cách nhìn khác, từ "mỹ thuật" (đẹp + nghệ thuật) chỉ cái đẹp do con người hoặc thiên nhiên tạo ra mà mắt người nhìn thấy được. Vì lý do này người ta còn dùng từ "nghệ thuật thị giác" để nói về mỹ thuật. Ví dụ: vẻ đẹp của một bức tranh, giá trị mỹ thuật của một công trình kiến trúc.
== Theo nghĩa hàn lâm ==
Có nhiều cấp độ thưởng thức cái đẹp, phụ thuộc vào sự hiểu biết, khiếu thẩm mỹ và ý thích của riêng từng người. Do đó, quan niệm về mỹ thuật cũng chưa nhất quán theo một chuẩn mực nào.
Tuy nhiên, một tác phẩm được đánh giá là có phần mĩ thuật biểu hiện tốt thì ít nhiều tác phẩm đó phải có âm vang về tính kinh viện, hàn lâm.
Theo từ điển từ vựng mỹ học của Étienne Souriau - 1990, tiêu chuẩn mỹ thuật mang tính kinh viện gồm có: nhạy cảm, mang tới cho người thưởng thức nhiều cảm xúc; diễn đạt tốt không gian trong tranh, thời gian; mức độ diễn tả đạt tới một trong các loại hình mỹ học. Ví dụ: thông qua ngôn ngữ tạo hình, tác giả diễn đạt thành công một tác phẩm mang tính triết lý sâu sắc, cho dù các hình tượng trong tranh mang tính trừu tượng hoặc tượng trưng.
Mỹ thuật là môn nghệ thuật có ngôn ngữ riêng, muốn học hay hiểu đúng về môn này cần phải hiểu ngôn ngữ của nó.
== Theo nghĩa rộng ==
Đôi khi ta còn gặp thuật ngữ "mỹ thuật" trên sân khấu và trong cuộc sống hằng ngày.
Từ "mỹ thuật" còn được dùng khi phân biệt những ngành lớn của hội hoạ: mỹ thuật ứng dụng, mỹ thuật công nghiệp, mỹ thuật trang trí...; mỗi ngành có một đặc thù riêng về kỹ thuật thể hiện và giá trị sử dụng.
Trên thế giới, và ở cả Việt Nam, những người hoạt động trong ngành thường chỉ thừa nhận khái niệm mỹ thuật theo nghĩa hàn lâm và có sự phân biệt rõ rệt giữa mỹ thuật với thủ công mỹ nghệ và mỹ thuật ứng dụng. và dơn giản hơn:mỹ thuật là những đường nét được con người tự quy ước với nhau theo cảm nhận được sử dụng để biểu lộ thế giới thực tại gián tiếp qua 1 chất liệu nào dó theo một cách riêng của mỗi nguoi cho là đẹp
== Các lĩnh vực mỹ thuật ==
Mỹ thuật bao gồm một số lĩnh vực nghệ thuật thị giác như:
Hội họa: nghệ thuật tạo hình trên bề mặt 2 chiều một cách trực tiếp. Các tác phẩm hội họa mang tính độc bản. Hội họa được coi là mảng quan trọng của mỹ thuật.
Đồ họa: là nghệ thuật tạo hình trên bề mặt 2 chiều một cách gián tiếp qua các kỹ thuật in ấn, vì vậy một tác phẩm đồ họa thường có nhiều bản sao.
Điêu khắc: là nghệ thuật tạo hình trong không gian ba chiều (tượng tròn) hoặc hai chiều (chạm khắc, chạm nổi).
Đây là khái niệm theo nghĩa hàn lâm, là khái niệm cơ bản nhất và là cơ sở để đánh giá các tác phẩm mỹ thuật [1].
Hiểu rộng ra, cái gì thuộc nghệ thuật thị giác thì cũng được coi là thuộc mỹ thuật. Đặc biệt những xu hướng mỹ thuật đương đại xuất hiện từ khoảng thập niên 1960 bao gồm:
Nghệ thuật Sắp đặt (Installation art)
Nghệ thuật Trình diễn (Performance art)
Nghệ thuật Hình thể (Body art)
Nghệ thuật Đại chúng (Popart)
...và nhiều loại hình khác nữa.
Lưu ý, tên gọi các môn nghệ thuật thị giác này chưa thực sự thống nhất trong tiếng Việt.
== Tham khảo ==
Từ điển thuật ngữ Mỹ thuật phổ thông, Nhà xuất bản Giáo dục 2003
== Liên kết ngoài ==
Sự khác nhau giữa "Mỹ thuật" và "Nghệ thuật thị giác" giữa "Hoạ sĩ" và "Nghệ sĩ thị giác"
== Xem thêm ==
Mỹ học
Nghệ thuật
Hội họa
Đồ họa in ấn
Điêu khắc
Mỹ thuật ứng dụng
Nhiếp ảnh
Các môn thuộc mỹ thuật đương đại
Mỹ nghệ |
hệ thống đơn đảng.txt | Quốc gia đơn đảng hay hệ thống độc đảng hay hệ thống đơn đảng hay chế độ đảng trị là hình thức chính quyền có hệ thống đảng do một đảng chính trị thành lập chính quyền và không cho các đảng khác được phép đưa ứng cử viên của mình ra tranh cử. Thỉnh thoảng cụm từ "Nhà nước đơn đảng không được chính thức thiết lập" (de facto single-party state) được dùng cho hệ thống đảng thống trị để chỉ nơi luật hay việc làm bất bình đẳng để ngăn chặn các đảng đối lập nắm chính quyền. Một số nước đơn đảng chỉ đặt các đảng đối lập, các đảng liên minh dưới quyền ngoài vòng pháp luật và tồn tại như một phần của mặt trận tổ quốc. Tùy theo mức độ kiểm soát người dân, người ta chia nó ra làm chế độ hỗn hợp, chính thể đầu sỏ, chế độ quân phiệt...
Không nên lẫn lộn hệ thống đơn đảng khác với nền dân chủ không đảng phái, nơi cấm tất cả các đảng hoạt động. Ngoài ra, một số quốc gia đơn đảng có thể cho phép các thành viên không đảng phái điều hành các ghế lập pháp như trường hợp phong trào Đảng Ngoại của Đài Loan vào những thập niên 1970 và 1980.
Trong hầu hết các trường hợp, các quốc gia đơn đảng đã phát triển từ tư tưởng chủ nghĩa phát xít, Xã hội chủ nghĩa, hoặc chủ nghĩa dân tộc, đặc biệt trong quá trình giành độc lập từ sự cai trị của thực dân. Hệ thống đơn đảng thường xuất phát từ quá trình phi thực dân hóa, vì đảng ấy đã có vai trò lãnh đạo trong các cuộc đấu tranh giải phóng hay giành độc lập.
Những nguyên nhân dẫn đến chế độ đơn đảng ở các quốc gia không giống nhau. Theo lý thuyết những người theo chủ nghĩa phát xít sự cầm quyền của một đảng phát xít là tất yếu của vận động xã hội, một nhà nước mạnh để bảo đảm chủ nghĩa quốc gia, chống chủ nghĩa quốc tế. Những người cộng sản chính thống cho rằng chế độ một đảng cộng sản là tất yếu của quá trình xóa bỏ chủ nghĩa tư bản để tiến lên chủ nghĩa cộng sản, đảng dẫn dắt nhân dân lao động làm chủ và khi quyền làm chủ của nhân dân lao động được thể hiện đảng cũng sẽ tiêu vong. Nhiều nước có chế độ một đảng sau độc lập thường được xem là tất yếu của một phong trào giải phóng dân tộc duy nhất hay phong trào giải phóng dân tộc chủ yếu. Tuy nhiên không phải nước nào sau độc lập cũng có chế độ một đảng (nhiều nước sau một quá trình lịch sử mới chuyển sang chế độ một đảng, thường là do sự lớn mạnh của chủ nghĩa cộng sản và xã hội và ở chiều đối nghịch để chống lại). Một số nước chế độ đa đảng yếu đã đưa đến chế độ một đảng (ở đây không tính hệ thống đa đảng trong một mặt trận chung mà một đảng có vị trí lớn). Ngoài ra chế độ một đảng có thể xuất hiện trước yêu cầu bảo vệ đất nước (thường là một đảng dân tộc).
Những nơi đảng cầm quyền tán thành Chủ nghĩa Marx-Lenin, hệ thống nhà nước đơn đảng thường được gọi là xã hội chủ nghĩa. Những nước như vậy cũng được mô tả như những nước cộng sản, mặc dù họ không dùng thuật ngữ "cộng sản" để nói về họ. Những nền cộng hòa xã hội như Cuba chẳng hạn, vai trò của Đảng Cộng sản được tôn vinh trong hiến pháp, và không đảng nào được vận động hay điều hành các ứng cử viên trong bầu cử, bao gồm cả đảng cộng sản. Các ứng cử viên được bầu trên cơ sở trưng cầu dân ý cá nhân mà không có sự can dự của đảng một cách chính thức dù cho các hội đồng lập pháp được bầu ra chủ yếu bao gồm các thành viên của đảng thống trị cùng với các ứng cử viên không liên kết.
== Điển hình ==
=== Các quốc gia đơn đảng hiện nay ===
Từ khi khối Xã hội chủ nghĩa Đông Âu bị sụp đổ, số quốc gia có hệ thống độc đảng đã sụt giảm. Danh sách sau đây gồm một số nước đơn đảng được thành lập hợp pháp và tên của đảng nắm quyền (đây là danh sách không đầy đủ, một số quốc gia đơn đảng không được nhắc tới):
Cuba (Đảng Cộng sản Cuba)
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Đảng Cộng sản Trung quốc lãnh đạo Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc), về mặt pháp lý có 08 đảng tham gia chính trị - ngoại trừ hai đặc khu hành chính Hồng Kông và Macau.
Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Đảng Lao động Triều Tiên lãnh đạo Mặt trận Dân chủ Thống nhất Tổ quốc, về mặt pháp lý có 03 đảng tham gia chính trị)
Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (Đảng Cách mạng Nhân dân Lào lãnh đạo Mặt trận Xây dựng Tổ quốc Lào)
Việt Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)
Syria (Đảng Baath lãnh đạo Mặt trận Tiến bộ Quốc gia, về mặt pháp lý có nhiều đảng tham gia chính trị)
Eritrea (Mặt trận Nhân dân vì Dân chủ và Công lý)
Turkmenistan (Đảng Dân chủ Turkmenistan)
Sahrawi Arab Democratic Republic Mặt trận Polisario
Iran (Hội đồng bảo vệ Cách mạng Hồi giáo), thực chất không phải một đảng
Singapore (mặc dù Hiến pháp không quy định nhưng hơn 90% số ghế Quốc hội đơn viện thuộc về Đảng Nhân dân Hành động)
Ngoài ra có một số quốc gia có hệ thống đa đảng, nhưng có 1 đảng nắm vai trò then chốt trong thời gian dài (ví dụ như Singapore, Nga, Campuchia, Cameroon, Gabon, Tanzania...). Điều này cũng từng xảy ra ở Ấn Độ, Mexico, Nhật Bản, Thụy Điển,.v.v.
Trong chế độ thuộc địa, các chính quốc thường ngăn chặn các đảng cánh tả mà họ cho là có hơi hướng độc lập đi đến đại đồng, nhưng lại hay chấp nhận các đảng cánh hữu ủng hộ chế độ thuộc địa, bảo hộ hay đấu tranh tự trị, hay độc lập từ từ mà không tổn hại đến lợi ích nước bảo hộ. Gabon, Bờ Biển Ngà,... là các ví dụ chế độ một đảng thân Pháp sau khi độc lập. Nhiều thuộc địa được phép lập đảng, và sau khi chuyển các chế độ quản lý, vẫn hình thành chế độ đa đảng như Réunion, New Caledonia, Puerto Rico, Turks và Caicos, Gibraltar... hay ở Hồng Công trước đây. Tại các vùng này thường các đảng cánh hữu vẫn ủng hộ cho liên kết chặt chẽ với "chính quốc" cũ, các đảng cánh tả có xu hướng tăng quyền tự trị, hoặc đi đến độc lập. Phần lớn các vùng này hầu hết là dân di cư.
=== Các quốc gia đơn đảng trước đây ===
Các quốc gia điển hình bao gồm:
Nhiều chính phủ các nước Châu Phi ở vùng phụ cận sa mạc Sahara sau độc lập, ngoại trừ Eritrea, đã chuyển sang hệ thống đa đảng
Những nước xã hội chủ nghĩa tại Đông Âu trước khi Liên Xô sụp đổ.
Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết
== Tham khảo == |
sân bay bạch mai.txt | Sân bay Bạch Mai là một sân bay đã qua sử dụng, tọa lạc tại phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Sân bay có một đường băng bêtông dài khoảng 980m nằm giữa hồ Phương Liệt và hồ Định Công.
== Lịch sử ==
Sân bay Bạch Mai trước thuộc làng Khương Trung. Năm 1919, thực dân Pháp chiếm để xây dựng sân bay Bạch Mai
=== Trận đánh sân bay Bạch Mai ===
Đêm 17 rạng sáng 18/1/1950, một số đặc công tiểu đoàn 108 của Quân đội nhân dân Việt Nam có sự giúp đỡ hỗ trợ của du kích Tam Kim dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Trần Hải đã chia làm 3 mũi bí mật luồn vào sân bay Bạch Mai đặt mìn, phá hủy và đốt cháy 25 máy bay, 60 vạn lít xăng dầu, 32 tấn vũ khí và trang bị của Không quân Pháp. Sau trận này, Tiểu đoàn 108 được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba.
== Hiện nay ==
Sau khi quân giải phóng tiếp quản Hà Nội, sân bay Bạch Mai tiếp tục trở thành sân bay quân sự. Trong chiến dịch Sấm Rền (Rolling Thunder) của Không quân Mỹ, sân bay Bạch Mai bị ném bom hư hại đường băng. Từ đó đến nay, sân bay này bị bỏ hoang.
Hiện nay, một phần của sân bay được chuyển thành Bảo tàng Phòng không Không quân. Nơi đây cũng có những sân bóng của các trường Đại học gần đấy. Theo một quyết định được ban hành vào đầu tháng 3 năm 2007, sân bay Bạch Mai sẽ được đưa trở lại hoạt động, biến Hà Nội thành một thành phố có ba sân bay lớn vào năm 2020 là Nội Bài, Gia Lâm, và Bạch Mai. Tuy nhiên, hiện nay đã giải phóng mặt bằng cho đơn vị thi công hạng mục đường giao thông đô thị và thành đường Lê Trọng Tấn. Chỉ còn lại nhà hangar cũ trông khuông viên sân bay cũ.
== Tham khảo == |
30 tháng 12.txt | Ngày 30 tháng 12 là ngày thứ 364 (365 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 1 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1075 – Khâm Châu thất thủ trong Chiến dịch đánh Tống, 1075-1076 của quân Đại Việt.
1408 – Chiến tranh Minh-Việt: Quân Hậu Trần giành thắng lợi trước quân Minh trong Trận Bô Cô tại Nam Định ngày nay.
1896 – Nhà yêu nước và chủ trương cải cách Philippines José Rizal bị chính quyền Tây Ban Nha hành hình tại Manila vì tội nổi loạn.
1918 – Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản của nước Đức bắt đầu tổ chức tại Berlin.
1922 – Đại diện của bốn nước cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết là Nga, Ngoại Kavkaz, Ukraina, Belorussia ký vào bản hiệp định thành lập nên Liên Xô tại Moskva.
1945 – Hội xúc tiến dân chủ Trung Quốc được thành lập tại Thượng Hải.
1965 – Ferdinand Marcos trở thành Tổng thống Philippines, chức vụ mà ông tiếp tục nắm giữ trong 21 năm sau đó.
1972 – Chiến tranh Việt Nam: Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon tuyên bố chấm dứt Chiến dịch Linebacker II- chiến dịch ném bom miền bắc Việt Nam.
1993 – Quân đội Nga rút khỏi Mông Cổ.
2006 – Cựu lãnh đạo Iraq Saddam Hussein bị hành hình sau khi bị tòa án kết luận phạm tội ác chống nhân loại.
2011 – Samoa và Tokelau quyết định chuyển đổi múi giờ từ UTC-11 thành UTC +13, tại hai quốc gia này sau ngày 29 tháng 12 là ngày 31 tháng 12.
== Sinh ==
39 – Titus, hoàng đế của Đế quốc La Mã (m. 81)
159 – Biện thị, thái hậu của triều Tào Ngụy, tức ngày Kỉ Tị (3) tháng 12 năm Kỉ Hợi (m. 230)
1673 – Ahmed III, sultan của Đế quốc Ottoman (m. 1736)
1809 – Wilhelm von Tümpling, tướng lĩnh quân đội người Đức (m. 1884)
1822 – Hans Lothar von Schweinitz, tướng lĩnh quân đội người Đức (m. 1901)
1838 – Émile Loubet, chính trị gia người Pháp, tổng thống của Pháp (m. 1929)
1851 – Asa Griggs Candler, doanh nhân, chính khách người Mỹ (m. 1929)
1865 – Rudyard Kipling, nhà văn người Anh, đoạt giải Nobel (m. 1936)
1884 – Hideki Tojo, tướng lĩnh và chính trị gia người Nhật Bản, thủ tướng của Nhật Bản (m. 1948)
1910 – Hoàng Như Tiếp, kiến trúc sư người Việt Nam (m. 1982)
1933 – Trần Thị Lý, nhà hoạt động vũ trang người Việt Nam (m. 1992)
1935 – Omar Bongo, chính trị gia người Gabon, tổng thống của Gabon
1937 – Gordon Banks, cầu thủ bóng đá người Anh
1945 – Davy Jones, ca sĩ và diễn viên người Anh (m. 2012)
1946 – Berti Vogts, cầu thủ bóng đá người Đức
1948 – Randy Schekman, nhà sinh học người Mỹ, đoạt giải Nobel
1950 – Bjarne Stroustrup, nhà khoa học máy tính người Đan Mạch
1954 – Lê Thanh Cung, chính trị gia người Việt Nam
1961 – Nguyễn Thị Diệu Thảo, nhà ẩm thực, nhà nghiên cứu giáo dục người Việt Nam
1962 – Alessandra Mussolini, diễn viên, người mẫu, chính trị gia người Ý
1974 – Kim Sul-song, quân nhân và chính trị gia người Triều Tiên
1975 – Tiger Woods, vận động viên golf người Mỹ
1980 – Quan Trí Bân, ca sĩ, diễn viên người Philippines-Hồng Kông
1981 – K.Will, ca sĩ, vũ công và diễn viên người Hàn Quốc
1982 – Kristin Kreuk, diễn viên người Canada
1986 – Ellie Goulding, ca sĩ và nhà sản xuất âm nhạc người Anh
1989 – Ryan Sheckler, vận động viên trượt ván người Mỹ
1989 – Dương Thị Việt Anh, vận động viên điền kinh người Việt Nam
1995 – Kim Taehyung (nghệ danh: V), ca sĩ và diễn viên người Hàn Quốc
== Mất ==
274 – Giáo hoàng Fêlix I
1591 – Giáo hoàng Innôcentê IX (s. 1519)
1644 – Johan Baptista van Helmont, nhà hóa học sinh tại lãnh thổ nay là Bỉ (s. 1577)
1886 – Hans Alexis von Biehler, tướng lĩnh quân đội người Đức (s. 1818)
1896 – José Rizal, nhà hoạt động chính trị người Philippines (b. 1861)
1919 – Karl von Wedel, quân nhân người Đức (s. 1842)
1940 – Robert Anderson, danh nhân và tướng người Úc (s. 1865)
1944 – Romain Rolland, nhà văn người Pháp, đoạt giải Nobel (s. 1866)
1968 – Kirill Meretskov, tướng lĩnh quân đội tại Liên Xô (s. 1897)
2000 – Nguyễn Xuân Huy, nhà báo, nhà văn và nhà thơ người Việt Nam (s. 1915)
2003 – Mai Diễm Phương, ca sĩ và diễn viên người Hồng Kông (s. 1963)
2006 – Saddam Hussein, chính trị gia người Iraq, tổng thống của Iraq (s. 1937)
2010 – Bùi Danh Lưu, chính trị gia người Việt Nam (s. 1935)
2012 – Rita Levi-Montalcini, nhà thần kinh học người Ý, đoạt giải Nobel (s. 1909)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
wireless zero configuration.txt | Wireless Zero Configuration (WZC), hay còn gọi là Wireless Auto Configuration, hoặc WLAN AutoConfig là một trình tiện ích quản lý kết nối không dây đi kèm với các phiên bản hiện đại của Microsoft Windows như một dịch vụ của Windows tự động chọn mạng không dây để kết nối dựa trên sở thích của người dùng và nhiều thiết lập mặc định. Cái này có thể dùng thay cho, hoặc không cần dùng đến, các tiện ích quản lý mạng không dây từ nhà sản xuất thiết bị.
== Miêu tả ==
Wireless Zero Configuration được ra mắt lần đầu cùng với Windows XP. Trong Windows Vista nó được đổi tên thành "WLAN AutoConfig".
== Bất lợi ==
WZC bị chỉ trích bởi nó tự động kiểm tra các kết nối thường trực, thỉnh thoảng tự ngắt kết nối và kết nối lại. Các hoạt động không được công nhận như là trình duyệt web, đây được xem là vấn đề không liên quan đến Microsoft, nhưng đối với các kết nối thường trực và liên tục, như MMORPG và tin nhắn tức thời, nó có thể làm mất các gói truyền tải, và nó có thể tắt bằng cách vào Services trong Control Panel.
Một khi đã tắt nó, phải chắc rằng bộ kết nối không dây đã tạo được kết nối bằng chính nó.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Wireless Zero Configuration application programming interface
Active Directory Schema Extensions for Windows Vista Wireless and Wired Group Policy Enhancements
The Cable Guy: Wireless Group Policy Settings for Windows Vista
Windows Wireless Zero Configuration: Five Steps to Sanity |
microsoft lumia 430.txt | Microsoft Lumia 430 là một chiếc điện thoại di động được phát triển bởi Microsoft Mobile Oy dành cho các thị trường mới nổi. Nó được giới thiệu vào tháng 3 năm 2015 để cạnh tranh với Android One của Google. Chiếc điện thoại được cài đặt sẵn bản cập nhật Lumia Denim và ứng dụng chụp ảnh Lumia Selfie.
== Sự đón nhận ==
Sean Cameron từ TechRadar nói rằng chiếc điện thoại có thiết kế mạnh mẽ, thoải mái, bắt mắt và đó đã gây ấn tượng đầu tiên, nhưng lại không thích ở những điểm màn hình kém, máy ảnh tồi và hiệu năng thấp.
== Xem thêm ==
Microsoft Lumia
Microsoft Lumia 540
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
[1] |
alata.txt | Alata là một xã của tỉnh Corse-du-Sud, thuộc vùng Corse, trên đảo Corse ở Pháp.
== Dân số ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
www.mairie-alata.fr (bằng tiếng Pháp) |
huỳnh quang thanh.txt | Huỳnh Quang Thanh (sinh ngày 10 tháng 10 năm 1984) là một cầu thủ bóng đá Việt Nam, hiện đang chơi cho câu lạc bộ Đồng Tâm Long An và đội tuyển quốc gia Việt Nam ở vị trí hậu vệ cánh. Anh có thể chơi cả hậu vệ cánh phải và trái và được giới chuyên môn đánh giá cao nhờ lối chơi thầm lặng, quyết liệt, không ngại va chạm và khả năng tạt bóng tốt. Ở AFF cup, anh thi đấu ở vị trí hậu vệ trái và là một trong những hậu vệ trái hay nhất giải và hiện anh cũng là một trong những hậu vệ cánh hàng đầu khu vực.
Ngày 19/2/2017, sau khi Long An bỏ trận để Thành phố Hồ Chí Minh ghi bàn liên tiếp, anh và các một số đồng đội đã bị cấm thi đấu.
== Đội Olympic ==
Capital SHBank Cup 2006 (vô địch)
BV Cup 2006 (Hạng ba)
== Đội tuyển quốc gia ==
LG Cup 2005 (Vô địch)
Agribank cup 2006 (Hạng nhì)
VTV-T&T Cup 2006 (Hạng ba)
AFF National Cup 2006 (Hạng ba)
Vô địch AFF Suzuki Cup 2008
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Thông tin tại Becamex Bình Dương.
Thông tin trên www.tuoitredatquang.com (in vietnamese)
Thông tin trên national-football-teams.com |
hà đông (tỉnh).txt | Bài này nói về một tỉnh cũ của Việt Nam. Xem các nghĩa khác tại Hà Đông (định hướng)
Hà Đông là một tỉnh cũ của Việt Nam. Tên gọi tỉnh Hà Đông thay thế cho tên gọi cũ là tỉnh Cầu Đơ vào ngày 6 tháng 12 năm 1904. Địa bàn tỉnh Cầu Đơ nguyên là tỉnh Hà Nội, được đổi tên sau khi cắt phần thành Hà Nội cho Pháp làm nhượng địa và tỉnh lỵ chuyển về Cầu Đơ.
Đơn vị này tồn tại từ năm 1904 đến 1965 thì xóa tên.
== Vị trí địa lý ==
Hà Đông là một tỉnh đồng bằng thấp trũng, nếu không có đê thì sẽ thường ngập lụt, phía tây bắc giáp tỉnh Sơn Tây, phía tây nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía nam giáp tỉnh Hà Nam, phía đông nam giáp tỉnh Hưng Yên, đông bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía bắc giáp tỉnh Phúc Yên. Trừ phần phía tây nam nơi thuộc phủ Mỹ Đức là có đồi núi (bao gồm cả vùng Hương Sơn), đều bắt nguồn từ mạn Đà Giang chạy xuống. Sông ngòi phần nhiều làm giới hạn tỉnh như: sông Hồng (ranh giới phía đông), sông Đáy tức Hát Giang (ranh giới phía tây với Sơn Tây), phía nam có sông Giè (tức sông Giẽ hay Màn Giang), giữa có sông Nhuệ (Nhuệ Giang) chảy qua tỉnh lỵ. Diện tích Hà Đông khoảng 1250 km2.
Vào đầu thế kỷ 20 (những năm 1920) dân số tỉnh Hà Đông ước trừng 786000 người, trong đó đa phần là người Kinh, cùng với khoảng 4500 người Mường ở vùng Chợ Bến phủ Mỹ Đức.
== Thương mại ==
Vào thời Pháp thuộc Hà Đông là tỉnh nổi tiếng với nhiều sản vật nông nghiệp, lại nhiều làng nghề thủ công nghiệp (công nghệ phát đạt), nên thương mại cũng rất phát triển. Toàn tỉnh có hơn 150 chợ, to nhất là chợ Đơ (nay là chợ Hà Đông), thứ đến là các chợ: chợ Bằng ở phủ Thường Tín, chợ Canh (làng Vân Canh), chợ Mỗ (làng Đại Mỗ), chợ Chuông thuộc làng Chuông ở phía Nam làng Đôn Thư, chợ Đình làng Phương Đình, chợ Bến phủ Mỹ Đức (giáp Hòa Bình), chợ Gôi, chợ Mơ (làng Hoàng Mai), chợ Sét. Chợ Chuông (thuộc thôn Chung Chính, ở giữa làng Chuông) chợ Chuông họp mỗi tháng 6 phiên chính vào các ngày 4,10,14,20,24,30 âm lịch, nếu vào tháng thiếu thì họp vào ngày mồng 1 thuộc tháng tiếp theo. Chợ Chuông thuộc xã Phương Trung, huyện Thanh Oai. Chợ Chuông có Bia lập thị từ thời cổ,
== Phân chia hành chính ==
Tỉnh Hà Đông gồm 4 phủ: Hoài Đức (có thêm huyện Đan Phượng của tỉnh Sơn Tây nhập vào), Phủ Mỹ Đức, Phủ Thường Tín và Phủ Ứng Hòa.
Tỉnh lỵ tỉnh Hà Đông là thị xã Hà Đông, mà tên gọi cũ là Cầu Đơ.
Năm 1915, Khu vực ngoại thành Hà Nội của thành phố Hà Nội đổi thành huyện Hoàn Long trực thuộc tỉnh Hà Đông.
Năm 1961, huyện Thanh Trì và một phần xã Kiến Hưng được chuyển về thành phố Hà Nội; 5 xã thuộc huyện Đan Phượng là Tân Dân (Thượng Cát), Tân Tiến (Liên Mạc), Trần Phú (Phú Diễn), Trung Kiên (Tây Tựu), Minh Khai và 3 xã: Hữu Hưng (Tây Mỗ và Đại Mỗ), Kiên Cương (Trung Văn), Xuân Phương, một phần các xã Vân Canh, Di Trạch thuộc huyện Hoài Đức cùng với một phần xã Vạn Phúc thuộc thị xã Hà Đông, được cắt chuyển về huyện Từ Liêm mới được thành lập.
Trước khi sáp nhập, tỉnh Hà Đông có tỉnh lị là thị xã Hà Đông và 8 huyện: Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa.
Ngày 1 tháng 7 năm 1965, hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây sáp nhập thành tỉnh Hà Tây. Ngày 27 tháng 12 năm 1975, hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình sáp nhập thành tỉnh Hà Sơn Bình, để rồi đến năm 1991 lại tách ra thành tỉnh Hà Tây và Hòa Bình. Ngày 1 tháng 8 năm 2008, Hà Đông cùng với Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội.
== Chú thích và trích dẫn ==
== Tham khảo ==
Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ, Ngô Vi Liễn, năm 1924. |
tiến sĩ hội thánh.txt | Danh hiệu Tiến sĩ Hội Thánh (tiếng Latinh từ chữ docere, giảng dạy) trong Giáo hội Công giáo Rôma dành cho các vị Thánh mà các bài viết được toàn thể Giáo hội công nhận là có ảnh hưởng và lợi ích lớn, cũng như "sự hiểu biết nổi bật" và "sự thánh thiện rộng lớn" đã được tuyên bố bởi Giáo hoàng hoặc một bởi một Công đồng đại kết. Vinh dự này ít được trao ban, chỉ người ấy đã chết và đã được tuyên thánh. Chưa có một Công đồng đại kết nào sử dụng đặc quyền để tuyên bố tước hiệu Tiến sĩ Hội Thánh. Một vài Giáo hội khác cũng dùng danh hiệu này, với nghĩa gần tương tự nhưng thường không đưa ra danh sách chính thức nào như Giáo hội Công giáo.
Thánh Ambrôsiô, Thánh Augustinô, Thánh Giêrônimô và Thánh Giáo hoàng Grêgôriô I là những vị được phong Tiến sĩ Hội Thánh tiên khởi vào năm 1298. Các ngài được biết đến như các Đại Tiến sĩ Hội Thánh của Giáo hội Tây phương. Bốn Đại Tiến sĩ Hội Thánh của Giáo hội Đông phương - Thánh Gioan Kim Khẩu, Thánh Basiliô Cả, Thánh Grêgôriô thành Nazianzus và Thánh Athanasiô - được tuyên bố tước hiệu vào năm 1568 bởi Thánh Giáo hoàng Piô V.
Tính đến năm 2015, Giáo hội Công giáo có 36 Tiến sĩ Hội Thánh, trong số đó có 17 người qua đời trước khi cuộc Đại Ly giáo năm 1054 diễn ra (được đánh dấu * trong bảng dưới đây) cũng được tôn kính trong Chính thống giáo Đông phương (Grêgôriô thành Narek thuộc Giáo hội Tông truyền Armenia khi đó không còn hiệp thông với Kitô giáo Chalcedon). Trong số 36 vị đó có 27 người từ Tây phương và 9 người từ Đông phương; có 4 phụ nữ; có 18 giám mục, 12 linh mục, 1 phó tế, 3 nữ tu và 1 trinh nữ thánh hiến.
== Tham khảo == |
22 tháng 2.txt | Ngày 22 tháng 2 là ngày thứ 53 trong lịch Gregory. Còn 312 ngày trong năm (313 ngày trong năm nhuận).
== Sự kiện ==
705 – Sau cuộc chính biến tại Trường An, Hoàng đế Võ Tắc Thiên bị buộc phải truyền vị cho con là Thái tử Lý Hiển, Lý Hiển lên ngôi vào hôm sau, tức Đường Trung Tông, tức ngày Ất Tị (24) tháng 1 năm Ất Tị.
903 – Sau một thời gian dài bị bao vây, Phượng Tường tiết độ sứ Lý Mậu Trinh buộc phải giao Đường Chiêu Tông cho Tuyên Vũ tiết độ sứ Chu Toàn Trung.
1909 – Mười sáu thiết giáp hạm của Hạm đội Great White trở về đến Hoa Kỳ sau một hành trình vòng quanh thế giới.
1916 – Người tự xưng Hoàng đế Việt Nam là Phan Xích Long bị hành hình theo phán quyết của tòa án vì tội tấn công vào dinh Thống đốc và Khám Lớn Sài Gòn tại Nam Kỳ.
1940 – Tenzin Gyatso, vị Đạt-lại Lạt-ma thứ 14, được tấn phong.
1943 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Đức bắt đầu rút quân trong trận đèo Kasserine tại Tunisia, sau khi khiến Hoa Kỳ chịu một trong các thất bại tệ nhất trong lịch sử quân sự của họ.
1996 – Bénin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.
1997 – Tại làng Roslin, Scotland các nhà khoa học thông báo đã nhân bản vô tính thành công một con cừu trưởng thành có tên Dolly.
1998 – Thế vận hội Mùa đông XVIII bế mạc tại Nagano, Nhật Bản.
2007 – Saint-Martin và Saint-Barthélemy tách khỏi Guadeloupe và trở thành các cộng đồng hải ngoại riêng biệt của Pháp.
2011 – Một trận động đất mạnh 6,3 độ richter xảy ra tại Christchurch, New Zealand, làm 185 người thiệt mạng.
== Sinh ==
910 - Phạm Bạch Hổ, một sứ quân trong loạn 12 sứ quân trong lịch sử Việt Nam (m. 972)
1066 - Lý Nhân Tông, Hoàng đế thứ tư của triều Lý, Việt Nam (m. 1128)
1403 – Charles VII, vua Pháp (m. 1461).
1732 – George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ (m. 1799).
1810 – Frédéric Chopin, nhà soạn nhạc Ba Lan (m. 1849).
1857 – Robert Baden-Powell, người sáng lập ra Phong trào Hướng đạo vào năm 1907 (m. 1941).
1861 – Katō Tomosaburō, thủ tướng Nhật Bản (m. 1923).
1889 – Olave Baden-Powell, vợ của Robert Baden-Powell và là Nữ Hướng đạo trưởng Thế giới (m. 1977).
1897 – Leonid Aleksandrovich Govorov, Nguyên soái Liên Xô (m. 1955).
1918 – Robert Pershing Wadlow, người đoạt kỷ lục cao nhất (m. 1940).
1921 – Jean-Bédel Bokassa, hoàng đế Đế quốc Trung Phi (m. 1996).
1922 – Hoàng Cầm, nhà thơ Việt Nam.
1943 – Horst Köhler, tổng thống Đức.
1968 – Đinh Đồng Phụng Việt, Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ.
1969 – Brian Laudrup, cầu thủ bóng đá Đan Mạch.
1974 – James Blunt, ca sĩ, nhạc sĩ Anh.
1975 – Drew Barrymore, diễn viên điện ảnh Mỹ.
1981 – Jeanette Biedermann, ca sĩ, diễn viên truyền hình Đức.
1984 – Branislav Ivanović, cầu thủ bóng đá Serbia.
== Mất ==
1512 – Amerigo Vespucci, nhà thám hiểm Ý (s. 1454).
1799 – Hòa Thân, đại thần nhà Thanh (s. 1750).
1875 - Jean-Baptiste-Camille Corot, họa sĩ Pháp (s. 1796)
1913 – Ferdinand de Saussure, nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ (s. 1857).
1939 – Aleksandr Ilyich Yegorov, nguyên soái Liên Xô (s. 1883).
1942 – Stefan Zweig, nhà văn Áo (s. 1881).
1976 – Florence Ballard, ca sĩ Mỹ, thành viên sáng lập The Supremes (s. 1943).
1987 – Andy Warhol, họa sĩ Mỹ (s. 1928).
1988 – Đôminicô Nguyễn Văn Lãng, Nguyên giám mục chính tòa Giáo phận Xuân Lộc (s. 1921).
1995 - Louis Hà Kim Danh, Nguyên Giám mục chính tòa Giáo phận Phú Cường (sinh 1913)
2009 – Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, hồng y Việt Nam (s. 1919).
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
nhân quyền tại việt nam.txt | Nhân quyền tại Việt Nam là tổng thể các mối quan hệ xã hội liên quan đến việc thực thi quyền con người tại Việt Nam và cũng là các vấn đề liên quan đến các quyền con người (bao hàm các quyền chính trị) vốn gây rất nhiều tranh cãi giữa chính phủ Việt Nam và một số tổ chức nhân quyền quốc tế chính phủ các nước phương Tây như Hoa Kỳ.
Theo Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, chính phủ một quốc gia cần đảm bảo các quyền con người cơ bản (như các quyền dân sự và chính trị, quyền tự do tư tưởng, quyền tự do phát ngôn, quyền lập hội...). Sự phát triển văn minh của con người đó là các quyền đó càng ngày phải càng được đảm bảo. Trong quá trình phát triển chung của nhân loại, Việt Nam không thể nằm ngoài xu hướng đó. Cho tới gần đây, Việt Nam vẫn luôn khẳng định mình vẫn tuân thủ đầy đủ các thỏa thuận đã ký kết, đồng thời nói dân chủ của Việt Nam có bản sắc riêng, là dân chủ xã hội chủ nghĩa, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chỉ đạo. Trong khi đó, các nước như Mỹ, châu Âu phê phán việc Việc Nam không tuân thủ đầy đủ các hiệp ước đã ký, vì theo họ đã ký có nghĩa là nên tuân thủ.
Mặc dù luôn đề cập đến đặc thù của đất nước, nhưng Chính phủ Việt Nam vẫn công nhận Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là giá trị phổ dụng, và đã ký cam kết tuân thủ Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trịcũng như Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa. Chính phủ Việt Nam luôn khẳng định thực thi đầy đủ các công ước họ đã ký. Và với những kết quả được cho là tích cực trong lĩnh vực nhân quyền, Trong năm 2011, Chính phủ Việt Nam đã ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc nhưng thất bại. Tuy nhiên, tới năm 2013, Việt Nam đã chính thức được bầu là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2013-2016.
Điều 4, Chương 1 của Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khẳng định vai trò "lãnh đạo Nhà nước và xã hội" của Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó không có tranh cử giữa các đảng phái. Chính quyền của Đảng Cộng sản luôn diễn giải Điều 4 theo hướng có lợi cho mình, và đặt các đảng phái khác ngoài vòng pháp luật, mặc dù Hiến pháp không cấm thành lập đảng phái khác Đảng Cộng sản. Chính quyền Việt Nam liên tục khẳng định không chấp nhận có đa đảng ở Việt Nam. Theo đó duy nhất có một Đảng Cộng sản hợp pháp hoạt động. Theo điều 25 Hiến pháp năm 2013, công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Tuy nhiên, việc xây dựng các văn bản luật về việc lập hội vẫn đang được thảo luận.
Theo báo cáo nhân quyền của Mỹ về Việt Nam gần nhất (năm 2012), các vấn đề nhân quyền nghiêm trọng nhất tiếp tục là hạn chế của chính quyền đối với quyền chính trị của công dân, đặc biệt là quyền thay thế chính phủ, tăng cường hạn chế tự do dân sự của công dân, tham nhũng trong ngành tư pháp và công an/cảnh sát. Ngày 12 tháng 11 năm 2013, Việt Nam lại trúng cử với số phiếu cao nhất trong số 14 nước thành viên mới (với 184 phiếu thuận trên tổng số 192 phiếu) và lần đầu tiên trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đây được Việt Nam coi là một đòn đả kích mạnh mẽ nhằm vào các đối tượng vu cáo về nhân quyền Việt Nam.
== Nhân quyền Việt Nam trong lịch sử ==
Nhân quyền nếu hiểu theo nghĩa là quyền tự nhiên, là các quyền tự có của mỗi cá nhân, không ai có thể ban cho hay tước đoạt thì đã tồn tại từ lâu trong lịch sử Việt Nam. Bảo vệ nhân quyền và thực hành nhân ái là những phẩm chất đã từng tồn tại hàng nghìn năm trong cuộc sống đời thường của người Việt.
Trong lịch sử, người Việt Nam luôn phải đấu tranh giành quyền được sống trong độc lập tự do (một nhân tố cơ bản trong nhân quyền), và xây dựng cuộc sống nhân ái (yêu thương đùm bọc lẫn nhau giữa người và người). Trong hiện thực xã hội Việt Nam, hai phạm trù nhân quyền và nhân ái luôn gắn bó với nhau. Trong nhân quyền có nhân ái và ngược lại trong nhân ái có nhân quyền. Một số ý kiến còn khẳng định rằng: "tổ tiên người Việt chúng ta đã tiến gần những tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế ngày nay"
Trong thời kỳ cổ, đã có một số sự tích nói lên quyền tự do của con người cho dù chỉ là manh nha như sự tích về Tiên Dung và Chử Đồng Tử nói lên quyền tự do luyến ái của nam nữ, sự tích về Mai An Tiêm nêu lên quyền và khát vọng tồn tại của người Việt cổ. Nhiều truyện cổ tích, thần thoại hay truyền thuyết khác đều có nội dung ca ngợi quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc của con người
Một số câu ca dao, tục ngữ cũng đề cập đến nhân quyền như: Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng. hay Bầu ơi thương lấy bí cùng/Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn hoặc là thương người như thể thương thân.
Trong thời kỳ phong kiến, ở một số triều đại nhất định, quyền con người cũng được tôn trong và được pháp luật bảo vệ, điều này có thể do ảnh hưởng của triết lý Phật giáo vốn thịnh hành vào thời kỳ phong kiến. Trong luật pháp của Nhà Lê mà đặc biệt là Bộ Luật Hồng đức thì quyền bình đẳng đã được quy định trong tương quan nam và nữ (các bà có quyền làm nữ quan, với ưu đãi trong thủ tục thiết triều; vợ bình quyền với chồng về quyền dân sự và tài sản, trách nhiệm dân sự...), trong tương quan giữa các chủng tộc (người thiểu số được xét xử theo tục lệ của họ, được tự trị về hành chánh) hay một số chính sách kinh tế xã hội: nhà nước có nghĩa vụ giúp ngươi nghèo khó,tật nguyền, cô nhi, quả phụ về lương thực, nơi ở, thuốc men; binh sĩ, tội nhân đang giam cầm, dân đinh đi sưu dịch cũng được săn sóc... Đó là những quy định bảo vệ quyền của phụ nữ, bảo vệ quyền sống đối với người vô gia cư, người già, trẻ em (nhất là trẻ em gái), quyền được bảo vệ thân thể… sớm hơn tư tưởng nhân quyền của nhiều quốc gia phương Tây.
Nhân quyền còn được thể hiện qua một số chính sách ngoại giao, đối xử với tù binh chiến tranh của các triều đại phong kiến Việt Nam, ở triều Trần, sau khi chiến thắng quân Nguyên - Mông, nhà Trần cũng đã tha cho nhiều tù binh, hàng tướng về nước, bảo toàn mạng sống cho họ (trừ trường hợp của Ô Mã Nhi), thời nhà Lê, thông qua hội thề Đông Quan, nghĩa quân Lam Sơn đã tha bổng và tạo điều kiện cho quân Minh trở về nước an toàn với chủ trương lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường đạo. Thời Tây Sơn, sau khi đánh thắng quân Thanh, Quang Trung đã cho phép trao trả tù binh, thông thương giữa hai nước, cho Hoa kiều lập đền thờ các binh sĩ đã tử trận (Đền Sầm Nghi Đống, Gò Đống Đa...)
Một khía cạnh khác là quyền tự do thân thể, trong lịch sử, nên chế độ chiếm hữu nô lệ đã không tồn tại sâu đậm trong dân tộc Việt Nam. Những gia nô, nô tỳ tuy tồn tại đến tận thời Lý, Trần nhưng họ vẫn có thân phận con người, có quyền sống và có cơ hội để thành đạt như Dã Tượng, Yết Kiêu, từng là gia nô, trở thành danh tướng. Trần Hưng Đạo đã đề cao những con người đại diện cho tầng lớp này. Năm 1292 vua Trần Nhân Tông đã ban hành một đạo chiếu với nội dung "Những ngưòi mua dân lương thiện làm nô tỳ thì phải cho chuộc lại". Năm 1401, nhà Hồ ban hành phép hạn nô, các quý tộc bị hạn chế số nô tì, số thừa ra (những nô tì không có chúc thư 3 đời) bị sung công, bồi thường cho chủ 5 quan một người. Cho dù còn có những hạn chế nhưng chính sách này đã góp phần làm giảm lượng người lệ thuộc trong xã hội.
Có thể nói, Việt Nam tuy không phải là nơi sản sinh ra thuật ngữ nhân quyền nhưng rất giàu truyền thống nhân đạo, nhân văn và khái nhiệm nhân quyền đi liền với tinh thần nhân đạo, tình cảm yêu thương con người, tính nhân nghĩa, nhân ái. Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình và các giá trị nhân văn, cởi mở với sự đa dạng và dung hợp trong tiếp nhận giá trị từ bên ngoài. Tư tưởng nhân quyền ở Việt Nam bắt nguồn từ tinh thần nhân đạo. Điều này đã tồn tại từ rất sớm trong lịch sử thành văn của dân tộc
== Quan điểm của Chính phủ Việt Nam ==
Chính phủ Việt Nam khẳng định rằng quyền con người luôn được bảo vệ và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam và người dân đã chiến đấu trong các cuộc chiến chống ngoại xâm trước 1975 chính là để giành lại quyền con người. Chính phủ Việt Nam luôn lên án các hành động lợi dụng danh nghĩa nhân quyền để can thiệp, xâm phạm chủ quyền, độc lập của Việt Nam, coi "dân chủ", "nhân quyền" thực chất là một "chiêu bài" của các nước phương Tây để can thiệp vào công việc nội bộ, quyền tự quyết của Việt Nam, là sự áp đặt trắng trợn, ngạo nghễ những giá trị không phù hợp của Mỹ và phương Tây vào tình hình cụ thể và truyền thống của Việt Nam.
Theo Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Nguyễn Trung Thành, Trưởng phái đoàn Thường trực Việt Nam bên LHQ, Tổ chức Thương mại Thế giới và các tổ chức khác tại Geneve, Thụy Sĩ cách tiếp cận của chính phủ Việt Nam là lấy con người làm trung tâm của sự nghiệp đổi mới, phát triển, dựng và giữ nước; Thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là một trong những mối quan tâm lớn của Việt Nam
Theo Báo cáo Quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế kiểm định kỳ phổ cập (UPR) chu kỳ II: "Nhà nước Việt Nam luôn xác định việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản của con người là nguyên tắc cơ bản của mọi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời là sự hiện thực hóa các cam kết đối với các khuôn khổ pháp lý và thể chế quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có các khuyến nghị UPR mà Việt Nam đã chấp thuận".
Trong phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Khóa 22 Hội đồng Nhân quyền LHQ, Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đã nhấn mạnh:
Theo Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc:
Chính phủ Việt Nam cho rằng mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, và nền văn hóa đều có những luật pháp khác nhau dựa trên những hoàn cảnh xã hội đặc thù khác nhau, nhất là về tình hình an ninh quốc phòng cụ thể của mỗi nước. Do đó không thể đòi hỏi và áp đặt luật pháp và cách làm của nước nào cũng giống nước nào.
Họ cho rằng chính phủ Hoa Kỳ đã gây ra nhiều tội ác tại Việt Nam, gây ra nhiều vụ thảm sát, rải chất độc hóa học và để lại nhiều hội chứng tai hại cho con người và môi trường Việt Nam đến ngày nay, vì vậy Hoa Kỳ và các tổ chức của nước này không có tư cách phê phán, chỉ trích và áp đặt Việt Nam về đề tài này.
Về những nhân vật bị bắt, chính phủ Việt Nam cho rằng họ là những tội phạm hình sự đã hoạt động tuyên truyền chống Nhà nước, kích động lật đổ chính quyền, nhiều người trong số đó có nhận tiền, liên lạc với các thế lực chống đối ngoài Việt Nam, trong đó có tổ chức Việt Tân, bị Việt Nam liệt vào danh sách các tổ chức khủng bố. Tại Việt Nam không có ai chỉ vì có chính kiến riêng, quan điểm chính trị khác, hay ủng hộ dân chủ mà bị bắt Họ cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam và người dân trong nước chính là nạn nhân của đàn áp dân chủ và nhân quyền trước năm 1975 vì vậy họ hiểu rõ giá trị của dân chủ, nhân quyền và luôn ủng hộ những giá trị này.
Ngày 4 tháng 5 năm 2009, phúc đáp về Báo cáo nhân quyền, phần liên quan tới Việt Nam của Tổ chức Theo dõi nhân quyền, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng nói: "Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Right Watch) thường xuyên đưa ra những thông tin sai lệch về Việt Nam. Báo cáo ngày 4/5/2009 của tổ chức này là thiếu khách quan và không phản ánh đúng tình hình thực tế ở Việt Nam".
Báo cáo nhân quyền của chính phủ Việt Nam khẳng định Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin của người dân Việt Nam được thể hiện rõ qua sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của các phương tiện thông tin đại chúng. Tính đến năm 2008, cả nước có hơn 700 cơ quan báo chí in với 850 ấn phẩm, gần 15.000 nhà báo được cấp thẻ, 68 đài phát thanh, truyền hình 80 báo điện tử và hàng nghìn trang tin điện tử trên mạng Internet, 55 nhà xuất bản.
Về vấn đề pháp lý quốc tế và các công ước quốc tế về nhân quyền, ông luật sư Nguyễn Văn Hậu viết: Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), khoản 3 Điều 19 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị đã quy định việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm (quy định tại khoản 2 Điều 19) đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này có thể bị giới hạn pháp luật vì nhu cầu: Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý.
Quyền hội họp bất bạo động cũng có thể bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu cầu cần thiết trong một xã hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý hay những quyền tự do của người khác (Điều 21).
Điều 20 của Công ước Quốc tế về quyền dân sự, chính trị cũng nghiêm cấm mọi hình thức tuyên truyền, cổ vũ chiến tranh, cũng như mọi hình thức gieo rắc căm hờn, xúi giục kỳ thị, hiềm khích, kích thích bạo động giữa các quốc gia, các chủng tộc, tôn giáo.
Tuyên bố của Hội nghị Thế giới về Nhân quyền tại Viên, Áo năm 1993 ghi rằng cần phải tính đến các đặc thù quốc gia và khu vực cũng như những nền tảng khác nhau về văn hóa, lịch sử và tôn giáo của mỗi quốc gia trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Một hành vi, phát ngôn ở quốc gia này có thể không bị coi là hành vi đe dọa an ninh quốc gia và vi phạm trật tự an toàn xã hội nhưng hoàn toàn có thể bị coi như vậy ở một quốc gia khác.
Chính phủ Việt Nam khẳng định luôn quan tâm đến vấn đề nhân quyền và luôn bảo vệ và phát triển nhân quyền ở Việt Nam, tuy nhiên họ nhìn nhận rằng Hoa Kỳ và các nước phương Tây đang sử dụng vấn đề nhân quyền làm một công cụ, chiêu bài trong chiến lược Diễn biến hòa bình nhằm mục đích chuyển hóa, lật đổ, thay thế các chế độ xã hội chủ nghĩa.
Theo Báo cáo Quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế kiểm định kỳ phổ cập (UPR) chu kỳ II, công tác nhân quyền của Việt Nam trong thời gian tới tập trung vào:
Tăng cường công tác kiện toàn hệ thống pháp luật trên nguyên tắc phát huy nhân tố con người, bảo đảm thực hiện tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân, đảm bảo hệ thống pháp luật quốc gia hài hòa và phù hợp với các chuẩn mực pháp luật quốc tế, đẩy lùi quan liêu, tham nhũng.
Xây dựng các chính sách để tăng khả năng tiếp cận của các nhóm yếu thế vào hệ thống an sinh xã hội, nghiên cứu khả năng phát triển loại hình bảo hiểm nông nghiệp.
Chính phủ đã đưa ra các chính sách quốc gia và sẽ tiếp tục đầu tư hơn nữa cho hệ thống giáo dục hướng đến hai mục tiêu: (i) tăng tỉ lệ nhập học đúng tuổi ở mọi cấp giáo dục; và (ii) nâng cao chất lượng giáo dục. Giáo dục về quyền con người là hướng ưu tiên đặc biệt nhằm nâng cao nhận thức của người dân và năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật trong việc đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân.
Xây dựng và cải thiện các chính sách và chiến lược nhằm tăng cường nhận thức về bình đẳng giới, thay đổi thái độ và tư tưởng về giới vốn là định kiến trong xã hội; thúc đẩy hợp tác quốc tế trong việc giải quyết vấn đề bình đẳng giới, đặc biệt là ở các nhóm yếu thế và trong các lĩnh vực có tính chiến lược như giáo dục, y tế, việc làm.
Chăm sóc sức khỏe cộng đồng, hướng đến một xã hội khỏe mạnh và được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đầy đủ cả về thể chất và tinh thần.
Tiếp tục tăng cường hợp tác với tất cả các quốc gia, các cơ chế và tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc có liên quan đến quyền con người; tham gia tích cực và có trách nhiệm vào công việc của Hội đồng Nhân quyền, hợp tác đầy đủ và xây dựng với các Thủ tục đặc biệt, trong đó có việc xem xét tích cực các đề nghị vào thăm; thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ đối với các Công ước nhân quyền quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tăng cường hiệu quả các cơ chế đối thoại song phương thường kỳ về quyền con người.
== Nhân quyền tại Việt Nam đánh giá theo các tiêu chí của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền ==
Sau năm 1975 và đến trước 1990, vấn đề nhân quyền của Việt Nam tương đối nhức nhối, đặc biệt là đối với một số tầng lớp dân ở miền Nam Việt Nam, dẫn tới hàng triệu người bỏ nước tị nạn. Năm 1986, Việt Nam bắt đầu quá trình Đổi mới, hội nhập với thế giới. Việt Nam ký kết các hiệp ước về quyền con người khi tham gia vào các tổ chức quốc tế và theo đó lần lượt thay đổi các chính sách nhân quyền của mình.
Chính phủ Việt Nam cho rằng "Hiến pháp Việt Nam bảo đảm mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe... không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo." Tuy nhiên một số tổ chức nước ngoài lại cho rằng có khoảng cách xa giữa những điều ghi trong hiến pháp và thực tế. "Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền này bị cắt giảm, thậm chí vô hiệu hóa, bởi hệ thống quy định pháp luật để đảm bảo "các chính sách và lợi ích của Quốc gia.
Trong báo cáo năm 2009, Tổ chức UNPO nói rằng nhìn chung, mặc dù vẫn còn nhiều bất cập trong thực hiện nhưng chính quyền Việt Nam nên được khen ngợi vì đã đưa một số quyền cơ bản như tự do tôn giáo vào trong hiến pháp quốc gia và đã phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền con người.
Trong báo cáo của mình giải trình tại Hội thảo của Hội đồng liên hợp quốc về nhân quyền, Chính phủ Việt Nam liệt kê những thành quả đã đạt được cũng như các mặt chưa đạt được trong vấn đề nhân quyền của Việt Nam.
Tuy nhiên báo cáo cũng thừa nhận ở Việt Nam vẫn còn những bất cập, khó khăn tồn tại cần giải quyết, trong đó hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, có chỗ còn chồng chéo mâu thuẫn, chưa theo kịp thực tiễn, dẫn đến khó khăn, thậm chí hiểu sai làm ảnh hưởng đến việc đảm bảo tính hợp hiến, tính khả thi và minh bạch trong qua trình đảm bảo quyền con người. Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã thông qua báo cáo này của Việt Nam dù có một số ý kiến phản đối việc thông qua này do nội dung các phản đối chứa đựng những thông tin sai lệch về tình hình nhân quyền Việt Nam, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản và luật pháp, chính sách của Nhà nước Việt Nam trên nhiều lĩnh vực.
Theo Phúc trình Toàn cầu 2013 của Human Rights Watch, Phó giám đốc phụ trách khu vực châu Á của Human Rights Watch, ông Phil Robertson nói: "Chúng ta thấy một xu hướng nhân quyền tiếp tục xuống cấp nghiêm trọng tại Việt Nam. Thật hết sức quan ngại khi nhìn thấy Hà Nội tiếp tục bỏ tù các blogger, đàn áp các cuộc tụ tập ôn hòa, và sách nhiễu các sinh hoạt tôn giáo. Điểm đáng chú ý trong năm qua là ngày càng có nhiều nhà hoạt động bị kết án, càng có nhiều phiên xử hàng loạt, và các bản án nặng nề cũng gia tăng nhằm đàn áp mạnh tay quyền tự do ngôn luận của công dân".
== Các quyền dân sự và chính trị ==
Chính phủ Việt Nam khẳng định nhân quyền luôn được bảo vệ và phát triển, đồng thời tuyên bố sẵn sàng hợp tác và đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế, trong đó có cả Hoa Kỳ để tăng cường hiểu biết lẫn nhau về những khác biệt, kể cả vấn đề nhân quyền.
Bộ Ngoại giao Anh có những nhận xét khá khái quát về tình hình nhân quyền Việt Nam, theo đó thì trong thời gian gần đây (năm 2010) đã có những thay đổi trong vấn đề nhân quyền tại Việt Nam đang đi theo quỹ đạo tích cực. Tuy nhiên, những năm gần đây nhiều diễn biến đáng lo ngại mới nảy sinh và vẫn tồn tại một số vấn đề đáng quan ngại, chủ yếu là các vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí và án tử hình".
Trong báo cáo năm 2009 về nhân quyền thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ có phần nhân quyền tại Việt Nam, với nội dung ở Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề vi phạm nhân quyền. Theo báo cáo này, Chính quyền Việt Nam đã "tiếp tục kiểm soát chặt chẽ tự do báo chí, ngôn luận, đi lại, tụ họp và lập hội, đi ngược lại với những hiệp ước Nhân quyền đã ký kết". Mặc dù vậy, một số ý kiến từ phía nước Mỹ cũng cho rằng tình hình nhân quyền ở Việt Nam vẫn đạt được những tiến bộ nhất định. Đại sứ Mỹ tại Việt Nam là Peterson trong một cuộc phỏng vấn đã cho biết, những tiến bộ đạt được của Việt Nam về nhân quyền trong 15 năm qua là rất quan trọng, Khi ông đến Việt Nam làm đại sứ, các cơ sở hành đạo tại gia hoàn toàn bị cấm, hiện tại nhiều cơ sở được cho phép hoạt động và nhiều áp lực đã được dỡ bỏ. Hay nói cách khác Việt Nam đã có những tiến bộ. Ông cũng bày tỏ chính kiến khi cho rằng "không thể đánh giá tình hình nhân quyền của một quốc gia trên chuẩn 100% hài lòng. Hoa Kỳ cũng như không một quốc gia nào khác có thể đáp ứng nhu cầu đó. Thang điểm 100% hài lòng về mặt nhân quyền là điều không thể đạt được tại một quốc gia".
=== Tự do tư tưởng ===
Điều 66, Hiến pháp Việt Nam quy định rằng thanh niên được Nhà nước bồi dưỡng về lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp quy định Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng chủ đạo, tất cả mọi tầng lớp nhân dân phải tuân theo. Thực tế cho thấy các phát ngôn, hành động đi ngược lại các tư tưởng này đều bị dẹp bỏ. Những ví dụ điển hình như: Vụ án Xét lại Chống Đảng trong quá khứ, các vụ bắt bớ và bỏ tù các thành phần chống đối (như Cù Huy Hà Vũ, Trần Hoàng Duy Thức,...) trong thời gian gần đây. Chính phủ Việt Nam liên tục khẳng định không có đa nguyên đa đảng tại Việt Nam.
Ở Việt Nam có ban Tư tưởng và Văn hóa Trung ương trực thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam làm nhiệm vụ tuyên truyền.
Hiện tại, giáo dục chính trị được lồng vào trong nhà trường phổ thông và đại học thông qua các môn thời lượng lớn như Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Chủ nghĩa Xã hội Khoa học, Lịch sử Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam liên tục vận động các phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Theo nhìn nhận của đài BBC, những chiến dịch như vậy là công cụ ý thức hệ truyền thống của người cộng sản, nhằm đề cao tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thúc đẩy và duy trì lòng trung thành yêu nước-yêu Đảng của người dân.
Các chính phủ phương Tây và các tổ chức nhân quyền quốc tế tại phương Tây một số nước trong Liên Hợp Quốc và EU vẫn luôn phê phán Việt Nam về vấn đề tư do tư tưởng và tự do ngôn luận. Theo định nghĩa dân chủ của đa số các quốc gia trên thế giới, công dân trong quốc gia có quyền tự do quyết định tư tưởng đảng phái chính trị mà mình theo, họ có quyền phê phán trực tiếp nhà nước chính phủ. Nhưng Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc vẫn thông qua báo cáo nhân quyền do Việt Nam soạn về tình hình trong nước.
=== Tự do ngôn luận ===
Điều 69, Hiến pháp Việt Nam quy định "Công dân có quyền tự do ngôn luận".
Hiện tại, Việt Nam chưa có một tờ báo tư nhân. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ra chỉ thị nghiêm cấm tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức. Ông cũng khẳng định rằng Pháp luật Việt Nam cấm báo chí tư nhân, và chỉ thị hợp với nguyện vọng nhân dân.
Tuy nhiên, theo Tổ chức Ân xá Quốc tế, trong hai năm vừa qua, (2009-2010), Chính Quyền Việt Nam "tích cực trấn áp các phong trào đòi quyền tự do dân chủ, bắt một số các cá nhân và nhóm đối lập". Một số Blogger có tiếng nói phê phán Chính phủ cũng bị bắt giam với tội danh "lợi dụng quyền tự do dân chủ để chống phá nhà nước (như Blogger Điếu cày, Basam...) Đồng thời nhiều website ở nước ngoài không thể truy cập được từ trong nước tại một hoặc nhiều thời điểm và ISP khác nhau (nhưfacebook, bbcvietnamese.com, talawas, rfa.org..., tuy nhiên Chính quyền Việt Nam đã phủ nhận việc chặn Facebook. Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam cũng ra quyết định 97 kèm theo Danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ, và không cho phép các nhóm tư nhân nghiên cứu đánh giá về chính sách của nhà nước, dẫn tới sự tan rã của Viện nghiên cứu Phát triển. Theo tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên viện trưởng viện Nghiên cứu phát triển thì không một nước nào ban hành danh sách hạn chế các lĩnh vực được phép nghiên cứu, và "Dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, Quyết định 97/2009/QĐ-TTg...vi phạm nghiêm trọng về thủ tục và nội dung, vi phạm Nghị định thư gia nhập WTO và vì thế là không hợp pháp. Nếu không hủy bỏ Quyết định 97/2009/QĐ-TTg, thì những người chỉ đạo, tham gia vào việc soạn thảo, thẩm định dự thảo quyết định và ký quyết định có thể bị tố cáo phạm pháp, Chính phủ Việt Nam có thể có khả năng bị kiện ra WTO". Và ông gọi đây là một "đòn giáng mạnh vào quyền tự do tri thức".
Ngày 23/10/2010, Lê Nguyễn Hương Trà, một blogger với biệt danh Cogaidolong bị cơ quan công an TP Hồ Chí Minh bắt giữ vì hành vi "lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân" theo 258 BLHS. Việt Nam được xếp thứ 6 trong danh sách những nước đối xử tàn tệ nhất với các blogger.
Ngày 5/11/2010, Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ đã bị bắt vì tội "Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam" theo điều 88 – BLHS. Ông Vũ được cho là một người có tiếng nói đối nghịch lại Chính phủ Việt Nam, phủ nhận công cuộc thống nhất đất nước trong giai đoạn 1954 - 1975, người đã từng hai lần kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong vụ Bauxit và về một nghị định cấm khiếu kiện tập thể, yêu cầu xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp và đứng ra bào chữa cho một số vụ án nhạy cảm. Ông cũng có nhiều bài phê phán chính phủ Việt Nam không kiên quyết chống tham nhũng và ngăn chặn tiếng nói của báo chí trên một số phương tiện truyền thông nước ngoài.
Nhân ngày Nhân quyền Quốc tế 10/12/2010, Đại sứ Mỹ tại Hà Nội Michael Michalak nói nước ông vẫn lo ngại về thực trạng nhân quyền của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam "tiếp tục trừng phạt tự do ngôn luận và phản kháng, và gắn nhãn 'khủng bố' cho những đảng chính trị khác Đảng Cộng sản". Đại sứ Mỹ ghi nhận trong năm 2010, "hơn 24 người bị bắt, và 14 người khác bị kết án vì biểu lộ quan điểm theo phương cách hòa bình". Ông Michalak gọi năm 2010 là năm chứng kiến "sa sút lớn về tự do internet". Ông trích dẫn việc chặn Facebook, tin tặc đánh phá các trang web, hạn chế gia tăng đối với các quán cà phê internet và blog, dùng phần mềm để theo dõi đối kháng.
Tổ chức Theo Dõi Nhân quyền ra tuyên bố nhân dịp Đại hội Đảng CSVN lần thứ 11. "Ðảng CSVN cần từ bỏ chủ trương xiết chặt kiểm soát các nhà bất đồng chính kiến ôn hòa trước khi diễn ra đại hội đảng lần thứ 11, trả tự do cho những người đang bị cầm tù, giam giữ và bị kiểm duyệt". Ông Phil Robertson, phó giám đốc phụ trách châu Á của HRW phát biểu "Việc trấn áp những người phê phán chính quyền một cách ôn hòa không phải là điều gì mới lạ ở Việt Nam"
Theo báo cáo của UNPO và Human Rights Watch, Chính phủ Việt Nam tiếp tục giữ tù nhân chính trị, những người đã bày tỏ quan điểm bất đồng với chính sách của chính phủ. Việt Nam không có tư pháp độc lập, và không có quyền được xét xử công bằng và nhanh chóng. Các tổ chức nhân quyền không được phép hoạt động. Chính phủ đang cố gắng giải quyết vấn đề lao động trẻ em.
Trên thực tế, không chỉ ở Việt Nam mới có một số chế tài đối với hành vi lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để vi phạm pháp luật, mà ở Hoa Kỳ, CHLB Ðức, Pháp, Hàn Quốc, Singapore,... đều có luật và điều khoản luật xử lý nghiêm khắc hành vi lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí.
=== Tự do thông tin-báo chí ===
Điều 69, Hiến pháp Việt Nam quy định "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin".
Tuy nhiên, trên lĩnh vực tự do báo chí, Chính phủ Việt Nam công khai tuyên bố áp đặt sự lãnh đạo tư tưởng và nội dung lên tất cả các báo chí xuất bản tại Việt Nam. Đảng CSVN cho biết báo chí là công cụ của Đảng, để "tích cực tuyên truyền, hướng dẫn, cổ vũ nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng...", "kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc".
Ngày 06/01/2011, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ban hành Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực hoạt động báo chí, xuất bản", theo đó sẽ xử phạt "các hành vi như không viện dẫn nguồn tin, không ghi rõ tên họ thật hay bút danh tác giả; hoặc sử dụng tin bài nhưng không biết rõ tên thật, địa chỉ của tác giả..". Tổ chức Theo dõi Nhân quyền gọi đây là "đòn giáng mạnh vào quyền tự do ngôn luận", "là tiền đề cho một sự tự kiểm duyệt nặng nề". Tổ chức này cũng cho biết thêm rằng với việc Việt Nam nằm trong số những quốc gia tham nhũng nhất thế giới (xếp 116/178 nước trong bảng danh sách Minh bạch năm 2010) thì quy định này sẽ hạn chế cơ hội tham gia chống tham nhũng của báo chí và người dân.
Việt Nam là nước nằm trong nhóm 20 nước dùng internet nhiều nhất thế giới.
Tổ chức theo dõi tự do báo chí Phóng viên không biên giới giữ tên Việt Nam lại trong danh sách Kẻ thù của mạng internet, bên cạnh Trung Quốc, Cuba, Ai Cập, Iran, Miến Điện, CHDCND Triều Tiên, Ả Rập Saudi, Syria, Tunisia, Turkmenistan vàUzbekistan. Tổ chức này cũng từng ra đánh giá thường niên xếp Việt Nam ở vị trí thứ 165 trên tổng số 178 nước trong bảng danh sách tự do báo chí.
Báo cáo thường niên của Bộ ngoại giao Anh lần thứ 11 cũng nói rằng Việt Nam đã đạt được một số tiến bộ trong việc củng cố các quyền dân sự và chính trị của công dân, nhưng bên cạnh đó cũng có những bước thụt lùi nhất định như báo chí bị thắt chặt kiểm soát trong năm 2008. Nhưng nhìn chung quá trình củng cố các quyền kinh tế và xã hội của công dân rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, Việt Nam khó có thể đạt được những tiến triển xa hơn trong lĩnh vực này nếu không thực hiện cải cách các quy định quan liêu và chống tham nhũng.
Chính phủ Việt Nam báo cáo rằng Người dân Việt Nam ngày càng tiếp cận tốt hơn với công nghệ thông tin hiện đại, đặc biệt là Internet, với khoảng 20 triệu người truy cập, chiếm 23,5% dân số, cao hơn mức trung bình của châu Á (18%). người dân Việt Nam còn được tiếp cận với hàng chục hãng thông tấn, báo chí và kênh truyền hình nước ngoài, như Reuters, BBC, VOA, AP, AFP, CNN và nhiều báo, tạp chí quốc tế lớn khác.
Đối với internet chính phủ Việt Nam cũng có biện pháp kiểm soát nội dung những trang web và blogtrong cũng như ngoài nước. Ngày 5 tháng 5 năm 2010 thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam Vũ Hải Triều xác nhận hơn 300 trang web và blog "không phù hợp" đã bị đánh sập. Đề tài bị ngăn cấm vì cho là "nhạy cảm" như vụ nông dân khiếu kiện vì truất hữu đất, vụ dân khai thác bauxite ở Tây Nguyên, vấn đề tranh chấp biên giới với Trung Quốc. Số người bị bắt tù vì phát biểu trên internet tính vào đầu năm 2011 là 17 người, đông thứ nhì trên thế giới.
=== Tự do lập hội và hội họp ===
Điều 69, Hiến pháp Việt Nam đảm bảo quyền tự do lập hội, hội họp và biểu tình của công dân. Tuy nhiên, hiện tại, người dân bị cấm thành lập Đảng phái khác, bị cấm thành lập các tổ chức có tư tưởng đa nguyên, bị cấm có tư tưởng đi ngược lại chế độ xã hội chủ nghĩa.
Các cuộc biểu tình của sinh viên, giới trí thức về Hoàng Sa, Trường Sa thời gian đầu cho phép nhưng sau đó bị ngăn cấm, một số người tham gia, vì nhiều lý do khác nhau, bị giam giữ, cảnh cáo hoặc đi tù (như Người Buôn gió, Điếu cày, Phạm Thanh Nghiên, Mẹ Nấm...). Chính quyền Việt Nam cũng không cho phép việc khiếu kiện với nhiều chữ ký cùng một đơn, gây khó khăn cho việc khiếu kiện tập thể.
Nổi bật nhất trong năm 2009, luật sư Lê Công Định là người Việt Nam được công chúng biết đến trong phong trào đòi dân chủ - đa nguyên, và đã nhiều năm trước đó phục vụ thành công cho chính phủ trong một vụ kiện nông dân nuôi cá da trơn chống lại Mỹ, đã bị bắt và bị tòa án kết tội với tội danh hoạt động lật đổ chính quyền, vi phạm điều [2] và bộ luật hình sự. Ông Lê Công Định đã lên truyền hình nhận tội là đã vi phạm luật pháp của Chính phủ Việt Nam và xin được khoan hồng. Ông bị kết án 5 năm tù giam và 3 năm quản chế. Một số người khác trong nhóm đấu tranh nhân quyền của ông cũng bị đi tù từ 17 năm đến 3 năm. Bộ ngoại giao Hoa Kỳ quan ngại về việc bắt luật sư Lê Công Định, cho rằng việc này đi ngược lại với cam kết của chính phủ Việt Nam trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền và pháp quyền và yêu cầu chính phủ Việt Nam thả ông.
Chính quyền bắt một loạt người biểu tình chống Trung Quốc hôm 21/08/2011 và buộc tội Gây rối trật tự công cộng và Chống người thi hành công vụ, nhưng theo một số người thì do chính phủ quan ngại Trung Quốc sẽ có động thái chống Việt Nam. Đại sứ quán Hoa Kỳ kêu gọi trả tự do cho những người này: "Chúng tôi quan ngại về việc bắt giữ các cá nhân dường như chỉ vì họ đã bày tỏ chính kiến của mình một cách ôn hòa". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh lên tiếng rằng ông không tán thành hành vi can thiệp, giải tán, bắt bớ người biểu tình yêu nước chống Trung Quốc và phản bác một số báo chí trong nước. Tướng Vĩnh khẳng định người dân có quyền biểu tình theo Hiến pháp, và cho rằng các cuộc biểu tình, tuần hành chống Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông vừa qua có tác động như một "nhân tố cộng hưởng với Chính quyền" vốn theo ông cũng "phản đối Trung Quốc."
Tình hình người dân muốn tụ tập và phát biểu chính kiến tuy được bảo đảm trong Hiến pháp không chấp hành nên mãi đến cuối tháng 9 năm 2011 chính phủ mới đưa ra dự án "Luật biểu tình". Dự án này được giao cho Bộ Công an soạn.
=== Tự do tôn giáo ===
Điều 70, Hiến pháp Việt Nam quy định Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Chính phủ về nguyên tắc cho phép tự do tôn giáo và công nhận Phật giáo, Công giáo, Tin Lành,Hòa Hảo, Cao Đài, và Hồi giáo.
Bác cáo của chính phủ Việt Nam cho biết khoảng 20 triệu người theo các tôn giáo khác nhau và 80% người dân có đời sống tín ngưỡng. Nhà nước Việt Nam nhìn nhận tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu chính đáng của con người và không ngừng phấn đấu đảm bảo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân.
Tính đến 2008, ở Việt Nam có 12 tôn giáo, trong đó một số tôn giáo có đông tín đồ như Phật giáo, Công giáo, Tin lành... Các sinh hoạt tôn giáo, đặc biệt các ngày lễ lớn hàng năm của nhiều tôn giáo được tổ chức trọng thể với hàng trăm nghìn tín đồ tham gia. Đặc biệt, Đại lễ Phật đản LHQ năm 2008 được tổ chức trọng thể tại Hà Nội với sự tham dự của hơn 4.000 tăng ni, phật tử trong đó có khoảng 2.000 chức sắc, tín đồ đến từ 74 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Các cơ sở thờ tự liên tục được cải tạo hoặc xây mới. Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam chủ động tham gia nhiều hoạt động y tế, văn hoá, xã hội, nhân đạo…
Theo AFP, Hạ viện Hoa Kỳ ngày 16/12/2010 thông qua một nghị quyết có tính biểu tượng, để tăng sức ép với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phải đưa Việt Nam vào danh sách CPC, tức danh sách các nước đặc biệt đáng quan tâm về tự do tôn giáo, là các nước đã có những "vi phạm nghiêm trọng các quyền tự do tôn giáo". Ngày 05/01/2011, ngày làm việc đầu tiên của Quốc hội Hoa Kỳ khóa 112, một dự luật có tên "Đạo luật Chế tài Nhân quyền Việt Nam" (Vietnam Human Rights Sanctions Act) do Dân biểu Ed Royce soạn thảo đã được đề xuất lên Hạ viện, trong đó cấm không cho các giới chức chính phủ Việt Nam vi phạm nhân quyền được vào nước Mỹ hoặc làm ăn với các công ty của Mỹ.
Ngày 06 tháng 01 năm 2011, Đại sứ Michael W.Michalak đã có cuộc họp báo kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam và trao đổi thêm về nhân quyền, theo đó ông khẳng định "về lĩnh vực nhân quyền, chúng ta đã thấy những tiến bộ, nét tích cực từ phía Việt Nam như việc Việt Nam đã đạt được những bước tiến lớn trong việc giảm nghèo hoặc mở rộng hoạt động của các nhóm tôn giáo". Ông cũng không quên nói thêm là "cũng còn những điều quan ngại".
Phong trào đấu tranh vì nhân quyền hoạt động ngầm tại Việt Nam, trong đó có phong trào dưới sự hỗ trợ của Giáo hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam. Bởi vì điều này, nhà sư Phật giáo Thích Quảng Độ được trao giải thưởng Nhân quyền Rafto vào ngày 21 tháng 9 năm 2006 cho quá trình đấu tranh lâu dài của ông cho dân chủ tại Việt Nam. Các nhân vật bất đồng chính kiến điển hình cho tù nhân chính trị bao gồm Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Văn Lý, Phan Văn Bàn, Nguyễn Chí Thiện và Nguyễn Văn Đài. Báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền và UNPO cũng nhận xét về tình hình vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Cao ủy Nhân quyền Liên hợp Quốc có một số khuyến cáo để Việt Nam tiếp tục nâng cao những thành tựu về tự do tôn giáo. Nghị viện châu Âu bày tỏ sự lo ngại về tình hình "đàn áp những nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam", kêu gọi Chính phủ Việt Nam thả ngay lập tức vô điều kiện "những người hoạt động nhân quyền và tù chính trị", tuân thủ các hiệp ước đã ký về quyền con người, giải quyết hòa bình vụ mâu thuẫn ở tu viện Bát Nhã.
Phía Chính phủ Việt Nam cho rằng bức tranh tôn giáo ở Việt Nam thường bị xuyên tạc, bôi nhọ bởi các tổ chức hoạt động với động cơ chính trị chứ không phải động cơ tôn giáo. Bất cứ tổ chức tôn giáo nào thật sự hoạt động vì mục đích tôn giáo đều được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân nhưng Chính phủ không bao giờ công nhận những tổ chức mang danh nghĩa tôn giáo hoạt động vì mục đích khác nhằm phá hoại độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia, mê tín dị đoan, xâm phạm đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tính mạng, tài sản, sức khỏe của nhân dân. Các hoạt động lợi dụng tôn giáo để bạo loạn lật đổ, chia rẽ, ly khai bị cấm ở Việt Nam. Hoạt động lợi dụng chiêu bài “tự do tôn giáo” để chống phá chủ nghĩa xã hội, chống phá Việt Nam không được Chính phủ và nhân dân Việt Nam ủng hộ. Việc phát tán tài liệu và truyền đạo trái phép, kể cả dùng biện pháp mua chuộc bằng vật chất, họ kích động chia rẽ các tôn giáo, móc nối với các phần tử đội lốt tôn giáo đã có nhiều hành vi trái pháp luật bị nghiêm cấm ở Việt Nam.
Cho đến nay, ở Việt Nam có nhiều hình thức tôn giáo từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây, nội sinh và ngoại nhập. Bên cạnh những tín ngưỡng dân tộc: thờ vua Hùng, thờ thành hoàng, thờ tổ tiên và các tôn giáo: Phật giáo (hơn 7,5 triệu tín đồ), Thiên Chúa giáo (hơn 6 triệu), Hồi giáo (hơn 10 vạn). Tín ngưỡng tôn giáo bản địa cũng như các tôn giáo ngoại nhập đều chung sống hòa bình với nhau, ít nhiều giao thoa, ảnh hưởng bởi truyền thống văn hóa Việt Nam, tuy có tranh chấp nhưng chưa bao giờ có xung đột, chiến tranh dưới lá cờ tôn giáo. Hòa hợp tôn giáo, tự do tôn giáo là một đặcđiểm có tính truyền thống của văn hóa Việt Nam.
Từ năm 1975 đến nay, số lượng tăng ni Phật giáo tăng hơn gấp đôi (thơ 15.000 tới 33.000), nhiều vị có học hàm, học vị. Số linh mục Thiên chúa giáo được phong trước năm 1975 là 1.178, từ năm 1975 đến nay là 1.222, như vậy toàn bộ số linh mục tại Việt Nam hiện nay là 2.400 (2.025 triều và 375 dòng). Số lượng kinh sách được xuất bản ở Việt Nam rất lớn: chỉ trong hai năm 2000-2001, riêng Nhà xuất bản Tôn giáo đã cho ra 400 đầu sách tôn giáo với hàng chục vạn bản và đã được giới thiệu ở Hội chợ sách TP. Hồ Chí Minh năm 2002. Trong cả nước Việt Nam có tới 21.000 cơ sở thờ tự của các tôn giáo lớn (14.000 nơi thờ tự của Phật giáo, 5.399 nhà nguyện của Thiên Chúa giáo, 440 nhà thờ Tin lành, 500 thánh thất Cao Đài…) chưa kể hàng vạn cơ sở thờ tự của các tín ngưỡng, tâm linh khác. Cơ sở thờ tự được phép xây dựng khang trang quy mô, có bảo đảm cho những buổi lễ hội đông đến hàng chục vạn người như lễ hội La Vang. Bất cứ tổ chức tôn giáo nào thật sự hoạt động vì mục đích tôn giáo đều được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân. Nhưng Chính phủ không bao giờ công nhận những tổ chức mang danh nghĩa tôn giáo hoạt động vì mục đích khác nhằm phá hoại độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia, mê tín dị đoan, xâm phạm đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tính mạng, tài sản, sức khỏe của nhân dân.
=== Tự do di chuyển ===
Ðiều 68, Hiến pháp quy định Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật. Thực tế, ở Việt Nam hiện nay vẫn còn duy trì hệ thống hộ khẩu với các loại địa chỉ "thường trú", "tạm trú", "nguyên quán". Tuy nhiên, trên thế giới, không chỉ có Việt Nam thực thi chế độ hộ khẩu mà còn có Đài Loan, Nhật Bản. Với mỗi quốc gia, việc đăng ký thường trú của công dân tại địa phương là cần thiết, không chỉ để quản lý cư trú mà còn để công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ và hưởng các quyền lợi của mình tại địa phương đăng ký. Phải có đăng ký cư trú thì chính quyền địa phương mới biết mình đang quản lý ai, dân số bao nhiêu, lực lượng lao động như thế nào…, từ đó có cơ sở xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng. Và cũng chính quy định này, dẫn đến nhiều bất cập trong thực tế. Tuy nhiên, quản lý theo hình thức hộ khẩu hiện nay có một số điểm chưa phù hợp. Để khắc phục tình trạng này chính quyền đã áp dụng các các tiến bộ công nghệ thông tin.
=== Tự do lương tâm ===
Trong năm năm gần đây (2006-2010) báo cáo của chính phủ Ủy ban Nhân quyền của quốc hội Mỹ cho rằng Chính quyền Việt Nam vẫn cầm giữ nhiều tù nhân tôn giáo và chính trị trong nhà tù và đã tăng cường chiến dịch đàn áp của mình lên những người bất đồng chính kiến. Hơn một chục "nhà hoạt động dân chủ" đã bị bắt giữ kể từ tháng 11 năm 2006
Theo người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lê Hải Bình: "Ở Việt Nam không có cái gọi là tù nhân lương tâm. Mọi người vi phạm pháp luật đề sẽ bị xét xử theo quy định của pháp luật". Theo lời Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Phương Nga, những người bị phía Hoa Kỳ gọi là tù nhân lương tâm hay tù nhân tôn giáo và chính trị đều là những người vi phạm pháp luật và Việt Nam xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam và hoàn toàn phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị. Bà Nga cũng khẳng định Nhà Việt Nam là một Nhà nước pháp quyền, luôn bảo vệ quyền con người, những nhận định thiếu khách quan về tình hình Việt Nam là sự can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ, độc lập, chủ quyền của Việt Nam.
Theo phía các phương tiện thông tin ở Việt Nam cho hay từ năm 1945 đến năm 2007, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện 40 lần đặc xá cho hàng nghìn người phạm tội bị kết án phạt tù. Riêng năm 2007, Chủ tịch nước Việt Nam đã quyết định đặc xá tha tù trước thời hạn cho 8.066 phạm nhân, trong đó có 13 phạm nhân người nước ngoài. và cũng trong năm 2007, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Đặc xá, đây là một bước thể chế hóa quan trọng (quy định thành Luật) với đối việc đặc xá ở Việt Nam, quy định rõ đối tượng, điều kiện, trình tự, thủ tục cũng như các ngoại lệ trong việc đặc xá.
=== Tra tấn và hành hung ===
Điều 71, Hiến pháp Việt Nam quy định "Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân."
Tuy nhiên, đài BBC đưa tin rằng Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã có "hồ sơ về 19 vụ tàn bạo của cảnh sát Việt Nam trong năm 2010 khiến 15 người chết". Tuy nhiên, về mặt tổng thể, các quyền lợi của phạm nhân, người bị tạm giam, tạm giữ vẫn được đảm bảo. Đặc biệt, trong năm 2016, phạm nhân và người bị tạm giam, tạm giữ vẫn được tham gia bầu cử.
Trong các đợt biểu tình chống sự xâm chiếm của Trung quốc lên Biển Đông tháng 7/2011, công an tiến hành bắt bớ những người biểu tình. Giới nhân quyền quốc tế đã phản đối hành động trấn áp này. Tuy nhiên, đây là những người quá khích hoặc những người lợi dụng lòng yêu nước để gây mất trật tự xã hội.
=== Quyền của các nhóm thiểu số ===
Chính phủ Việt Nam có các chính sách ưu tiên hỗ trợ các nhóm dân tộc thiểu số. Con cái các gia đình dân tộc được hưởng điểm ưu tiên khi thi đại học, hưởng hỗ trợ tài chính khi học. Đề án 135 được ban hành nhằm mục đích nâng cao cuộc sống của các gia đình vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Quan điểm của chính quyền Việt Nam nhấn mạnh việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số, nhất là quyền phát triển, luôn là ưu tiên cao của Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam sẽ tiếp tục hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm với các nước và Liên Hiệp quốc về vấn đề này.
Liên Hiệp quốc cũng đánh giá cao Việt Nam về bảo đảm quyền con người, đặc biệt là quyền của nhóm dân tộc thiểu số. Ngày 15-3-2011, tại Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc tại Geneva, chuyên gia độc lập về các vấn đề của người thiểu số, bà Gay McDougall đã có báo cáo hoan nghênh quyết tâm chính trị, các chính sách, biện pháp và chương trình của Chính phủ Việt Nam nhằm đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số trên mọi lĩnh vực. Bà cho rằng Việt Nam đã có các kinh nghiệm tốt về xóa đói giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số.
Theo Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam chu kỳ I:
Ngày 31/3/2011, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch (HRW) ra phúc trình cáo buộc chính phủ Việt Nam gia tăng đàn áp người Thượng ở Tây Nguyên, theo đó từ 2001 tới nay, 350 người Thượng đã nhận các án tù giam vì tội vi phạm an ninh quốc gia, thông qua các hoạt động biểu tình và làm lễ tại các địa điểm thờ tự không được pháp luật công nhận. HRW kêu gọi Chính phủ Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia gây quan ngại về nhân quyền và tự do tôn giáo (CPC).
== Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ==
Đề cập tới tự do kinh tế, báo cáo viết ""Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định, bình quân 7,5%/năm. Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế, đặc biệt trong vấn đề tạo việc làm và cải thiện đời sống của người dân."
Báo cáo cho rằng Việt Nam đã đạt được sự phát triển nhanh chóng, đa dạng về các loại hình thông tin đại chúng, đời sống tín ngưỡng sinh động và phong phú trong xã hội Việt Nam, cũng như việc đảm bảo quyền của phụ nữ, trẻ em và người tàn tật.
Tháng 8 năm 2010, Chính phủ Việt Nam lần đầu tiên cho phép một đoàn chuyên gia độc lập của Liên Hợp Quốc được vào nghiên cứu về quyền con người, sau nhiều năm từ chối. Việt Nam từng tuyên bố: "Không cho phép bất cứ cá nhân và tổ chức đến để điều tra tự do tôn giáo hay quyền con người" (theo Báo cáo Liên hợp quốc) Chuyên gia độc lập của Liên hợp quốc sau cuộc điều tra nói Việt Nam còn phải làm nhiều để cải thiện đời sống nhân dân.
Tình trạng tham nhũng, cửa quyền còn rất nặng nề, ảnh hưởng tới sự tiếp cận công bằng đối với các cơ hội kinh doanh. Kinh doanh ở Việt Nam quan trọng cần quan hệ. Xã hội vẫn còn nhiều bất công cần phải khắc phục.
=== Hoạt động công đoàn ===
Ở Việt Nam, mọi hoạt động công đoàn do nhà nước quản lý và không có công đoàn độc lập tự phát. Tuy nhiên, khi Việt Nam thực hiện cam kết về lao động trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), người lao động có thể chọn tham gia công đoàn hoặc tổ chức đại diện khác nếu thấy công đoàn hoạt động không hiệu quả.
=== Giáo dục ===
Điều 59, Hiến pháp Việt Nam đảm bảo quyền học tập của công dân. Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.
=== Quyền của người tàn tật ===
Theo Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam chu kỳ I:
=== Quyền phụ nữ ===
Điều 63, Hiến pháp Việt Nam quy định "Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình".
Trên thực tế, Việt Nam đứng thứ hai trong khối châu Á Thái Bình Dương và đứng thứ chín về tỷ lệ phụ nữ làm việc trong chính phủ trên 135 nước.
Theo Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam chu kỳ I, Việt Nam coi bình đẳng giới là một trong các trụ cột để phát triển bền vững và là công cụ để tiến tới công bằng xã hội. heo Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á, "Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới... là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xoá bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á". Trong thời gian tới, Nhà nước Việt Nam quyết tâm khắc phục một số vấn đề còn tồn tại như tình trạng phân biệt đối xử, ngược đãi và bạo hành đối với phụ nữ, nạn mại dâm và nâng cao tỷ lệ phụ nữ tham chính ở các cấp.
=== Quyền trẻ em ===
Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990.
Theo Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam chu kỳ I:
=== Quyền LGBT ===
==== Quyền với Người đồng tính ====
Hiện tại, luật Việt Nam chưa công nhận hôn nhân đồng giới và chưa có các luật về quyền LGBT liên quan như: quyền nhận con nuôi, giải quyết các vấn đề nhân thân, tài sản, con cái...với người đồng tính.
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 trong "Điều 10 - Những trường hợp cấm kết hôn" có quy định "Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính" Năm 2002, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam từng liệt kê đồng tính luyến ái trong các "tệ nạn xã hội" cần phải bài trừ như mại dâm và ma túy.
Ngày 16/05/2012, một đám cưới đồng tính nam ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang được gia đình tổ chức đã bị chính quyền giải tán và xử phạt hành chính.
Tháng 7 năm 2012, Bộ Tư pháp Việt Nam đưa ra đề xuất sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình, trong đó có thể công nhận hôn nhân đồng tính. Trong công văn gửi các ban, ngành, đoàn thể, Bộ Tự pháp nói rằng "Từ thực tế việc chung sống giữa những người đồng tình dẫn tới các vấn đề phát sinh về nhân thân, tài sản, con cái… nếu không thừa nhận hôn nhân của người đồng tính thì cũng phải có cơ chế pháp lý điều chỉnh để giải quyết những hệ quả liên quan khi họ quyết định chấm dứt cuộc sống chung". Dự Thảo luật Hôn nhân gia đình sửa đổi 2014 ban đầu được các nhà chuyên môn soạn thảo có điều 16 quy định về giải quyết hệ quả pháp lý khi hai người cùng giới sống chung với nhau về tài sản, con cái. Tuy nhiên, bản Dự thảo cuối cùng đã bị Ủy ban thường vụ Quốc hội loại bỏ Điều 16 trước khi đến tay các đại biểu quốc hội với lý do "Để phù hợp với quy định không thừa nhận hôn nhân đồng giới".
Ngày 12/11/2013, nghị định số 110/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực đã bỏ "kết hôn đồng tính" ra khỏi các hành vi bị cấm và xử phạt. Theo đó, các trường hợp tổ chức đám cưới đồng tính sẽ không bị xử phạt hành chính như trước kia nữa..
Tháng 6/2014, Bộ luật dân sự 2014 được thông qua đã bỏ quy định "cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính" nhưng Điều 8 về “Điều kiện kết hôn” lại quy định "Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể tổ chức đám cưới và chung sống, nhưng sẽ không được pháp luật bảo vệ nếu có tranh chấp xảy ra khi chung sống. Ngoài ra các nhu cầu phát sinh về nhân thân, tài sản, con cái... của người đồng tính khi chung sống cũng sẽ không được giải quyết.
==== Quyền với Người chuyển giới ====
Hiện tại, Luật Việt Nam đã công nhận các trường hợp người chuyển giới đã phẫu thuật chuyển giới nhưng chưa có luật cụ thể thi hành.
Trước tháng 11 năm 2015, Pháp luật Việt Nam cấm chuyển đổi giới tính đối với người chuyển giới. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 chỉ cho phép thực hiện phẫu thuật xác định lại giới tính "trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính". Mặt khác, theo nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 5/8/2008 thì việc "thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính" là hành vi bị cấm.
Quy định cấm trên khiến những người Việt Nam phải sang các nước như Thái Lan, Hàn Quốc để phẫu thuật chuyển giới. Theo ước tính của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE), có hơn một nghìn người Việt Nam ra nước ngoài để phẫu thuật chuyển giới mỗi năm..
Năm 2009, một trường hợp người chuyển giới đầu tiên ở Việt Nam được chính quyền địa phương cấp giấy công nhận. Phạm Lê Quỳnh Trâm - một cô giáo chuyển giới tên khai sinh là Phạm Văn Hiệp, đã thực hiện chuyển giới ở Thái Lan. Khi về nước, sau khi thực hiện các thủ tục xét nghiệm y khoa, dịch thuật hồ sơ phẫu thuật chuyển giới, xác nhận của cơ quan tư pháp, công an, UBND tỉnh, thị trấn… đã được chính quyền địa phương - UBND huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước cấp giấy quyết định công nhận giới tính mới từ "nam" sang "nữ", và công nhận tên mới là Phạm Lê Quỳnh Trâm. Sau 4 năm được công nhận, đến ngày 21/1/2013, UBND tỉnh Bình Phước đã đề nghị Sở Tư pháp thu hồi và hủy bỏ hai quyết định của UBND huyện Chơn Thành về việc xác định lại giới tính, thay đổi hộ tịch đã cấp cho Quỳnh Trâm.. Tuy nhiên sau đó, quyết định trên không bị thu hồi vì Bộ Y tế và Bộ Tư pháp Việt Nam xác định đây là "do lỗi của cơ quan chức năng".
Đến năm 2015,Bộ Y tế Việt Nam cho biết đã nhận được gần 600 hồ sơ cá nhân đề xuất sửa đổi giới tính mới trên giấy tờ pháp lý sau khi họ đã thực hiện phẫu thuật chuyển giới và quyền chuyển giới được đưa vào Dự thảo Bộ luật dân sự sửa đổi..
Ngày 24 tháng 11 năm 2015, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 được thông qua công nhận quyền chuyển đổi giới tính và quyền thay đổi nhân thân, hộ tịch sau chuyển đổi với người đã chuyển đổi giới tính được Quốc hội Việt Nam thông qua với 429/446 phiếu tán thành. Cụ thể, Điều 37 Bộ luật quy định: "Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan” được thông qua với 399/446 phiếu tán thành (chiếm hơn 80%).
=== Vấn đề tham nhũng ===
Tham nhũng làm tình trạng nhân quyền của Việt Nam xấu đi, đặc biệt là ảnh hưởng tới cơ hội tiếp cận bình đẳng các lợi ích kinh tế của mọi người dân. Tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp Việt Nam ở thứ 116/178 quốc gia trong danh sách Minh bạch năm 2010. Theo một cuộc khảo sát năm 2010, ngành cảnh sát được người dân cho là tham nhũng nhất, rồi đến giáo dục, y tế, hải quan.
Bộ Ngoại giao Anh cũng nhận định rằng phát triển kinh tế xã hội là thành tựu lớn của Việt Nam trong những năm gần đây và khi trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, Việt Nam sẽ đối mặt với những thách thức mới trong việc bảo đảm các tiêu chuẩn về kinh tế - xã hội tiếp tục được cải thiện. Để duy trì những thành tựu tích cực đã đạt được, việc cần thiết là giải quyết vấn nạn tham nhũng, nâng cao tính minh bạch bao gồm tăng cường việc tiếp cận thông tin và người dân được chia sẻ ý kiến và thông tin một cách tự do. Bản thân chính phủ Anh cũng đã có những hợp tác tích cực với Việt Nam trong lĩnh vực này
== Tổ chức nhân quyền ==
=== Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam ===
Do chính các nhà bất đồng chính kiến nữ hoặc gia đình lập ra vào ngày 15 tháng 11 năm 2013 với tuyên bố là nhằm "bảo vệ nhân quyền Phụ nữ Việt Nam" sau khi chính họ đã phải trải qua những gì mà họ coi là "sự đàn áp của chính quyền Việt Nam". Ban điều hành hiện thời là Dương Thị Tân (người vợ của Điếu Cày - đã bị bắt vì tội danh tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam), blogger Huỳnh Thục Vy, luật sư Lê Thị Công Nhân, Trần Thị Hài, Trần Thị Nga.
=== Hội Cựu Tù nhân Lương tâm Việt Nam ===
Hội Cựu Tù nhân Lương tâm Việt Nam (CTNLTVN) được thành lập ở Sài Gòn vào ngày 18 tháng 2 năm 2014 bởi 68 cựu tù nhân, mà họ cho mình là Tù nhân Lương tâm (Chính phủ Việt Nam cho là ở Việt Nam không có tù nhân chính trị). Đồng chủ tịch là Bác sĩ Nguyễn Đan Quế và linh mục Phan Văn Lợi. Mục đích của hội là để "đấu tranh cho một nền pháp chế biết đề cao nhân phẩm, tôn trọng nhân quyền, thăng tiến tự do, xây dựng dân chủ theo các chuẩn mực quốc tế, văn minh của nhân loại, được biểu đạt trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và hai Công ước Quốc tế về các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội."
== Giáo dục nhân quyền ==
Giáo dục nhân quyền đã được đưa vào dạy trong một số trường đại học.
== Tình hình nhân quyền theo năm ==
=== 2013 ===
Theo báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Thế giới (HRW) cho biết trong một cuộc họp báo diễn ra ở Bangkok hôm 21/1/2014 tình hình nhân quyền ở Việt Nam đã ‘xấu đi nghiêm trọng’ trong năm 2013.
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 68 hôm 12/11/2013 đã bỏ phiếu bầu 14 nước thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016 và Việt Nam trúng cử với số phiếu cao nhất (184/192).
=== 2014 ===
Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nói Việt Nam đã đáp ứng 80% trong 123 khuyến nghị về nhân quyền mà các nước đưa ra cho Hà Nội năm 2009.
== Xem thêm ==
Định nghĩa Nhân quyền
Luật Nhân quyền quốc tế
Thể loại:Nhân quyền theo quốc gia
Bất đồng chính kiến ở Việt Nam
Dân chủ tại Việt Nam
Tham nhũng tại Việt Nam
Diễn biến hòa bình
Giáo dục nhân quyền
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Việt Nam)
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Việt) Pháp luật Việt Nam về nhân quyền Trung tâm nghiên cứu nhân quyền và dân quyền, ĐH Quốc gia Hà Nội.
(tiếng Việt) Báo điện tử Nhân quyền Việt Nam
(tiếng Việt) Đào tạo thạc sĩ luật Nhân quyền đầu tiên tại Việt Nam
(tiếng Việt) Ra mắt tạp chí Nhân quyền Việt Nam
(tiếng Việt) Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người
(tiếng Việt) BÁO CÁO QUỐC GIA KIỂM ĐIỂM ĐỊNH KỲ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI Ở Việt Nam
(tiếng Việt) Việt Nam UPR Việt Nam trong tiến trình UPR.
(tiếng Anh) Bộ Ngoại giao Mỹ - Báo cáo Nhân quyền Việt Nam 2009
(tiếng Anh) UNPO - Báo cáo Nhân quyền Việt Nam 2009 |
biểu trưng.txt | Biểu trưng hay logo (từ tiếng Anh, vắn tắt từ logotype) là một yếu tố đồ họa (ký hiệu, chữ biểu thị, biểu tượng, hình tượng...) kết hợp với cách thức thể hiện nó tạo thành: một nhãn hiệu hay thương hiệu, hình ảnh đại diện cho một công ty hay các tổ chức phi thương mại, hình ảnh biểu thị một sự kiện, một cuộc thi, một phong trào hay một cá nhân nào đó. Thông thường, biểu trưng được chủ thể công nhận ngay sau khi nó được thiết kế xong và mặc nhiên có bản quyền, ít xảy ra trường hợp một biểu trưng tồn tại một thời gian dài mà không hoặc chưa có bản quyền. Trong hoạt động quảng bá, biểu trưng không phải là thương hiệu, tuy nhiên nó là ấn tượng bên ngoài để dễ nhận ra thương hiệu.
== Thiết kế ==
=== Yêu cầu ===
Theo Al Ries và Laura Ries (1998), Alycia Perry (2003), cũng như một số chuyên gia thương hiệu khác thì biểu trưng của thương hiệu thường phải đảm bảo một số yêu cầu.
Khác biệt: có những dấu hiệu đặc biệt gây ấn tượng thị giác mạnh, dễ phân biệt. Đây là chức năng quan trọng của biểu trưng, giúp phân biệt thương hiệu hay sản phẩm với thương hiệu hay sản phẩm cạnh tranh. Sự khác biệt cũng làm cho thương hiệu dễ đi vào tâm trí của khách hàng hơn. Tính khác biệt cao cũng làm tăng khả năng được pháp luật bảo hộ.
Đơn giản, dễ nhớ: tạo khả năng dễ chấp nhận, dễ suy diễn. Trong vài chục giây quan sát, người xem có thể hình dung lại đường nét biểu trưng trong trí nhớ. Trong bối cảnh nhiều sản phẩm cạnh tranh cùng được khuếch trương trên các phương tiện thông tin đại chúng, biểu trưng của thương hiệu sẽ không được khách hàng biết đến nếu nó phức tạp và khó nhớ, dù là bằng tên gọi, ký hiệu hay chữ viết. Hầu hết các thương hiệu nổi tiếng thế giới đều sử dụng những dấu hiệu thương hiệu rất đơn giản. Kodak sử dụng chữ K được viết cách điệu, McDonald sử dụng chữ M hình cánh cổng màu vàng, Nike sử dụng nét phết, IBM sử dụng tên thượng hiệu viết cách điệu. Hầu như những dấu hiệu thương hiệu này chỉ sử dụng 1 hoặc 2 màu cơ bản như màu vàng của Kodak, McDonald, màu xanh da trời của IBM, hay màu đỏ của Coca Cola.
Dễ thích nghi: có khả năng thích nghi trong các thị trường thuộc khu vực khác nhau, các nền văn hoá hay ngôn ngữ khác nhau. Trên thực tế, khách hàng ở các nước khác nhau, có nền văn hoá khác nhau và ngôn ngữ khác nhau thường có cách hiểu khác nhau đối với các hình ảnh hay ký hiệu. Do đó các biểu trưng thương mại quốc tế ít dùng hình ảnh mang ý nghĩa sẵn có theo một nền văn hoá hay ngôn ngữ nào mà sử dụng những hình ảnh mới rồi gắn chúng với các liên tưởng về sản phẩm.
có ý nghĩa: biểu thị được những nét đặc trưng cho sản phẩm hay các chủ đề liên quan. Thực tế là những biểu trưng có ý nghĩa tự thân về sản phẩm lại thường không tạo nên cảm giác khác biệt. Hơn nữa, sản phẩm ngày nay thường quá phức tạp khiến tên gọi hay hình ảnh có ý nghĩa thì lại khó khác biệt, dễ nhớ và đảm bảo tính tượng trưng. Cho nên trong thực tế tính ý nghĩa này thường được tạo ra qua các liên tưởng về thương hiệu hơn là tự thân thương hiệu.
=== Hình dáng ===
Một số nhà thiết kế biểu trưng coi trọng hình dạng giản dị, dễ đọc vì biểu trưng phức tạp thường khó nhận biết.
Có thể kết hợp ký hiệu với tên thương hiệu. Khá nhiều doanh nghiệp chọn một ký hiệu đặc thù kết hợp với tên thương hiệu để tạo thành biểu trưng. Khi thương hiệu đã trở nên nổi tiếng, ký hiệu có thể đứng độc lập để tạo nên sự nhận biết về thương hiệu. Tuy nhiên, những tác giả như Al Ries và Laura Ries (1998) và Alycia Perry (2003) cho rằng ký hiệu thường chỉ có tác dụng khi nó đi cùng tên thương hiệu trong biểu trưng. Những thương hiệu mà bản thân ký hiệu có thể đứng một mình đại diện cho thương hiệu như Nike hoặc Mercedes là rất hiếm và thường chỉ có ở những thương hiệu xuất hiện từ rất sớm, khi số lượng trên thị trường là rất nhỏ.
Cách khác để tạo ra ấn tượng là dùng kiểu chữ đặc thù của tên thương hiệu. Đây là hình thức cách điệu tên thương hiệu bằng cách sử dụng kiểu chữ đặc thù bao gồm việc sử dụng phông chữ, chữ hoa - chữ thường, thay đổi độ đậm nhạt hoặc cách viết cách điệu. Khi thiết kế biểu trưng theo cách này, doanh nghiệp có thể sử dụng thiết kế đặc thù của tên thương hiệu đầy đủ hoặc viết tắt.
=== Màu sắc ===
Màu sắc cũng có xu hướng đơn giản, dễ dàng được nhận thấy và ghi nhớ. Các nhà thiết kế có thể ưu tiên vẽ màu trắng và đen trước khi tô màu. Một vài ví dụ diễn giải màu sắc:
đen: trang trọng, đặc biệt, mạnh mẽ, quyền lực, tinh tế, truyền thống.
xanh dương: uy quyền, đỉnh đạc, an toàn, đáng tin cậy, truyền thống, ổn định, trung thành.
nâu/vàng: cổ điển, lợi ích, trần tục, giàu sang, truyền thống, bảo thủ.
xám/bạc: ảm đạm, quyền lực, thực tế, tâm linh, tin tưởng.
xanh lá cây: yên tĩnh, lành mạnh, khoẻ khoắn, ổn định, thèm muốn.
hồng: nữ tính, ngây thơ, dịu dàng, khoẻ mạnh, trẻ trung.
tím: tinh tế, tâm lý, giàu sang, hoàng tộc, trẻ trung, bí ẩn.
đỏ: hung hăng, mạnh mẽ, bền bỉ, đầy sức sống, kinh sợ,
cam: là màu phối hợp giữa màu đỏ và vàng, chỉ điềm lành được hưởng cuộc sống yên vui, nhiều quyền hành.
== Xem thêm ==
Nhãn hiệu
Thương hiệu
Kiểu dáng công nghiệp
Sở hữu trí tuệ
== Tham khảo == |
cacbon điôxít.txt | Cacbon điôxít hay điôxít cacbon (các tên gọi khác thán khí, anhiđrít cacbonic, khí cacbonic) là một hợp chất ở điều kiện bình thường có dạng khí trong khí quyển Trái Đất, bao gồm một nguyên tử cacbon và hai nguyên tử ôxy. Là một hợp chất hóa học được biết đến rộng rãi, nó thường xuyên được gọi theo công thức hóa học là CO2. Trong dạng rắn, nó được gọi là băng khô.
Cacbon điôxít thu được từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả khí thoát ra từ các núi lửa, sản phẩm cháy của các hợp chất hữu cơ và hoạt động hô hấp của các sinh vật sống hiếu khí. Nó cũng được một số vi sinh vật sản xuất từ sự lên men và sự hô hấp của tế bào. Các loài thực vật hấp thụ điôxít cacbon trong quá trình quang hợp, và sử dụng cả cacbon và ôxy để tạo ra các cacbohyđrat. Ngoài ra, thực vật cũng giải phóng ôxy trở lại khí quyển, ôxy này sẽ được các sinh vật dị dưỡng sử dụng trong quá trình hô hấp, tạo thành một chu trình. Nó có mặt trong khí quyển Trái Đất với nồng độ thấp và tác động như một khí gây hiệu ứng nhà kính. Nó là thành phần chính trong chu trình cacbon.
== Các thuộc tính hóa-lý ==
Cacbon điôxít là một khí không màu mà khi hít thở phải ở nồng độ cao (nguy hiểm do nó gắn liền với rủi ro ngạt thở) tạo ra vị chua trong miệng và cảm giác nhói ở mũi và cổ họng. Các hiệu ứng này là do khí hòa tan trong màng nhầy và nước bọt, tạo ra dung dịch yếu của axít cacbonic.
Tỷ trọng riêng của nó ở 25 °C là 1,98 kg m−3, khoảng 1,5 lần nặng hơn không khí. Phân tử cacbon điôxít (O=C=O) chứa hai liên kết đôi và có hình dạng tuyến tính. Nó không có lưỡng cực điện. Do nó là hợp chất đã bị ôxi hóa hoàn toàn nên về mặt hóa học nó không hoạt động lắm và cụ thể là không cháy.
Ở nhiệt độ dưới -78 °C, cacbon điôxít ngưng tụ lại thành các tinh thể màu trắng gọi là băng khô. Cacbon điôxít lỏng chỉ được tạo ra dưới áp suất trên 5,1 barơ; ở diều kiện áp suất khí quyển, nó chuyển trực tiếp từ các pha khí sang rắn hay ngược lại theo một quá trình gọi là thăng hoa.
Nước sẽ hấp thụ một lượng nhất định cacbon điôxít, và nhiều hơn lượng này khi khí bị nén. Khoảng 1% cacbon điôxít hòa tan chuyển hóa thành axít cacbonic. Axít cacbonic phân ly một phần thành các ion bicacbonat (HCO3-) và cacbonat (CO3−2).
Khi một nguồn lửa được đưa vào ống thử có chứa cacbon điôxít thì ngọn lửa sẽ tắt ngay lập tức do cacbon điôxít không duy trì sự cháy. (Một số loại bình cứu hỏa chứa cacbon điôxít hay các chất khi phản ứng với nhau sẽ tạo ra nó dùng để dập lửa). Để xác nhận tiếp theo là khí này là cacbon điôxít thì khí được dẫn qua dung dịch hiđrôxít canxi (Ca(OH)2) trong. Dung dịch hiđrôxít canxi sẽ chuyển thành màu sữa do sự tạo thành của cacbonat canxi.
== Sử dụng ==
Cacbon điôxít lỏng và rắn là chất làm lạnh quan trọng, đặc biệt là trong công nghiệp thực phẩm, trong đó chúng tham gia vào quá trình lưu trữ và vận chuyển các loại kem và các thực phẩm đông lạnh.
Cacbon điôxít được sử dụng để sản xuất nước giải khát cacbonat hóa và nước sôđa. Theo truyền thống, quá trình cacbonat hóa trong bia và vang nổ có được do lên men tự nhiên, nhưng một số nhà sản xuất cacbonat hóa các đồ uống này một cách nhân tạo.
Bột nở sử dụng trong các loại bánh nướng tạo ra khí cacbonic làm cho khối bột bị phình to ra, do tạo ra các lỗ xốp chứa bọt khí. Men bánh mì tạo ra khí cacbonic bằng sự lên men trong khối bột, trong khi các loại bột nở hóa học giải phóng ra khí cacbonic khi bị nung nóng hoặc bị tác dụng với các axít.
Cacbon điôxít thông thường cũng được sử dụng như là khí điều áp rẻ tiền, không cháy. Các áo phao cứu hộ thông thường chứa các hộp nhỏ chứa cacbon điôxít đã nén để nhanh chóng thổi phồng lên. Các ống thép chứa cacbonic nén cũng được bán để cup cấp khí nén cho súng hơi, bi sơn, bơm lốp xe đạp, cũng như để làm nước khoáng xenxe. Sự bốc hơi nhanh chóng của cacbon điôxít lỏng được sử dụng để gây nổ trong các mỏ than.
Cacbon điôxít dập tắt lửa, và một số bình cứu hỏa, đặc biệt là các loại được thiết kể để dập cháy do điện, có chứa cacbon điôxít lỏng bị nén. cacbon điôxít cũng được sử dụng như là môi trường khí cho công nghệ hàn, mặc dù trong hồ quang thì nó phản ứng với phần lớn các kim loại. Nó được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp ô tô mặc dù có chứng cứ đáng kể cho thấy khi hàn trong môi trường này thì mối hàn giòn hơn so với các mối hàn trong môi trường các khí trơ, và các mối hàn này theo thời gian sẽ giảm phẩm cấp do sự tạo thành của axít cacbonic. Nó được sử dụng làm việc này chủ yếu là do nó rẻ tiền hơn nhiều so với các khí trơ như agon hay hêli.
Cacbon điôxít lỏng là một dung môi tốt cho nhiều hợp chất hữu cơ, và được dùng để loại bỏ cafêin từ cà phê. Nó cũng bắt đầu nhận được sự chú ý của công nghiệp dược phẩm và một số ngành công nghiệp chế biến hóa chất khác do nó là chất thay thế ít độc hơn cho các dung môi truyền thống như các clorua hữu cơ. (Xem hóa học xanh.)
Thực vật cần có cacbon điôxít để thực hiện việc quang hợp, và các nhà kính có thể được làm giàu bầu khí quyển của chúng bằng việc bổ sung CO2 nhằm kích thích sự tăng trưởng của thực vật. Người ta cũng đề xuất ý tưởng cho cacbon điôxít từ các nhà máy nhiệt điện đi qua các ao để phát triển tảo và sau đó chuyển hóa chúng thành nguồn nhiên liệu điêzen sinh học. Nồng độ cao của cacbon điôxít trong khí quyển tiêu diệt có hiệu quả nhiều loại sâu hại. Các nhà kính được nâng nồng độ CO2 tới 10.000 ppm (1%) trong vài giờ để tiêu diệt các loại sâu bệnh như rầy trắng (họ Aleyrodidae), nhện v.v.
Trong y học, tới 5% cacbon điôxít được thêm vào ôxy nguyên chất để trợ thở sau khi ngừng thở và để ổn định cân bằng O2/CO2 trong máu.
Một dạng phổ biến của laser khí công nghiệp là laser cacbon điôxít, sử dụng cacbon điôxít làm môi trường.
Cacbon điôxít cũng hay được bơm vào hay gần với các giếng dầu. Nó có tác dụng như là tác nhân nén và khi hòa tan trong dầu thô dưới lòng đất thì nó làm giảm đáng kể độ nhớt của dầu thô, tạo điều kiện để dầu chảy nhanh hơn trong lòng đất vào các giếng hút. Trong các mỏ dầu đã hoàn thiện thì một hệ thống ống đồ sộ được sử dụng để chuyển cacbon điôxít tới các điểm bơm.
== Băng khô ==
Băng khô là thương hiệu cho cacbon điôxít rắn (đóng băng). Thuật ngữ này được Prest Air Devices tạo ra năm 1925 (công ty thành lập năm 1923 tại thành phố Long Island, New York).
Băng khô dưới áp suất thường không nóng chảy thành cacbon điôxít lỏng mà thăng hoa trực tiếp thành dạng khí ở -78,5 °C (-109,3 °F). Vì thế nó được gọi là "băng khô" như là cách gọi để so sánh với băng "ướt" (nước đá thông thường).
Băng khô được sản xuất bằng cách nén khí cacbon điôxít thành dạng lỏng, loại bỏ nhiệt gây ra bởi quá trình nén (xem định luật Charles), và sau đó cho cacbon điôxít lỏng giãn nở nhanh. Sự giãn nở này làm giảm nhiệt độ và làm cho một phần CO2 bị đóng băng thành "tuyết", sau đó "tuyết" này được nén thành các viên hay khối.
=== Sử dụng ===
Làm lạnh thực phẩm, các mẫu sinh học và các mặt hàng mau hỏng khác.
Sản xuất "sương mù băng khô" để tạo các hiệu ứng đặc biệt. Khi băng khô tiếp xúc với nước thì cacbon điôxít đóng băng thăng hoa thành hỗn hợp khí cacbon điôxít lạnh và không khí lạnh ẩm ướt. Điều này sinh ra sự ngưng tụ và hình thành sương mù; xem thêm máy tạo sương mù. Hiệu ứng sương mù của hỗn hợp băng khô với nước được tạo ra tốt nhất là với nước ấm.
Các viên nhỏ băng khô (thay vì cát) được bắn vào bề mặt cần làm sạch. Băng khô không cứng như cát, nhưng nó tăng tốc quá trình bằng sự thăng hoa để "không còn gì" tồn tại trên bề mặt cần làm sạch và gần như không tạo ra nhiều bụi gây hại phổi.
Tăng gây mưa từ các đám mây hay làm giảm độ dày của mây nhờ sự kết tinh nước trong mây.
Sản xuất khí cacbon điôxít do cần thiết trong các hệ thống như thùng nhiên liệu hệ thống trơ trong các máy bay B-47.
Các ống lót trục bằng đồng thau hay kim loại khác được cho vào băng khô để làm chúng co lại sao cho chúng sẽ khớp với kích thước trong của lỗ trục. Khi các ống lót này ấm trở lại, chúng nở ra và trở nên cực kỳ khít nhau.
=== Tiếp xúc ===
Do các đặc trưng cụ thể của mình, băng khô đòi hỏi phải có sự phòng ngừa đặc biệt khi tiếp xúc. Nó cực lạnh vì vậy không nên cho tiếp xúc trực tiếp với da (nghĩa là cần đeo găng cách nhiệt thích hợp). Nó thường xuyên thăng hoa thành khí cacbonic, vì thế nó không thể lưu trữ trong các thùng chứa có nắp đậy do áp suất tạo ra sẽ nhanh chóng phá vỡ thùng do bị nổ. Khí thăng hoa cần thông gió tốt; nếu không nó có thể tràn ngập không gian quanh đó và làm cho người ta nghẹt thở. Sự quan tâm đặc biệt đối với các thiết bị thông gió là cần thiết. Những người tiếp xúc với băng khô cần phải được cảnh báo là cacbon điôxít nặng hơn không khí và sẽ chìm xuống dưới sàn. Một số thị trường đòi hỏi những người mua băng khô phải từ 18 tuổi trở lên.
== Sinh học ==
Cacbon điôxít là sản phẩm cuối cùng trong cơ thể sinh vật có sự tích lũy năng lượng từ việc phân hủy đường hay chất béo với ôxy như là một phần của sự trao đổi chất của chúng, trong một quá trình được biết đến như là sự hô hấp của tế bào. Nó bao gồm tất cả các loài thực vật, động vật, nhiều loại nấm và một số vi khuẩn. Trong các động vật bậc cao, cacbon điôxít di chuyển trong máu từ các mô của cơ thể tới phổi và ở đây nó bị thải ra ngoài.
Hàm lượng cacbon điôxít trong không khí trong lành là khoảng 0,04%, và trong không khí bị thải ra từ sự thở là khoảng 4,5%. Khi thở trong không khí với nồng độ cao (khoảng 5% theo thể tích), nó là độc hại đối với con người và các động vật khác.
Hemoglobin, phân tử chuyên chở ôxy chính trong hồng cầu, có thể chở cả ôxy và cacbon điôxít, mặc dù theo các cách thức hoàn toàn khác nhau. Sự suy giảm liên kết với ôxy trong máu do sự tăng mức cacbon điôxít được biết đến như là hiệu ứng Haldane, và nó là quan trọng trong việc vận chuyển cacbon điôxít từ các mô tới phổi. Ngược lại, sự tăng áp suất thành phần của CO2 hay pH thấp hơn sẽ sinh ra sự rút bớt ôxy từ hemoglobin. Hiệu ứng này gọi là hiệu ứng Bohr.
Theo nghiên cứu của USDA [1], sự thở của một người trung bình mỗi ngày sinh ra khoảng 450 lít (khoảng 900 gam) cacbon điôxít.
CO2 được vận chuyển trong máu theo ba cách khác nhau. Phần lớn trong chúng (khoảng 80%–90%) được các enzym cacbonic anhyđraz chuyển hóa thành các ion bicacbonat HCO3− trong các tế bào hồng cầu. 5%–10% được hòa tan trong huyết tương và 5%–10% liên kết với hemoglobin thành các hợp chất cacbamin. Phần trăm chính xác phụ thuộc vào đó là máu ở động mạch hay tĩnh mạch.
Hemoglobin liên kết với CO2 không giống như liên kết với ôxy; CO2 liên kết với các nhóm chứa N trên 4 chuỗi globin. Tuy nhiên, do các hiệu ứng khác khu vực hoạt hóa trên phân tử hemoglobin, liên kết của CO2 làm giảm lượng ôxy được liên kết đối với áp suất thành phần nhất định của ôxy.
Cacbon điôxít có thể là một trong các chất trung gian để tự điều chỉnh việc cung cấp máu theo khu vực. Nếu nồng độ của nó cao thì các mao mạch nở ra để cho nhiều máu hơn đến các mô.
Các ion bicacbonat là chủ yếu trong việc điều chỉnh pH của máu. Do tần suất thở có ảnh hưởng tới mức CO2 trong máu, nên nhịp thở quá chậm hay quá nông sẽ sinh ra hiện tượng nhiễm axít hô hấp,trong khi nhịp thở quá nhanh sinh ra trong các chứng thở quá nhanh sẽ dẫn đến nhiễm kiềm hô hấp.
Một điều thú vị là mặc dù ôxy là chất cần thiết của quá trình trao đổi chất của cơ thể, nhưng không phải nồng độ thấp của ôxy kích thích sự hô hấp mà lại là nồng độ cao của cacbon điôxít. Kết quả là, sự hô hấp trong không khí loãng (áp suất thấp) hay hỗn hợp khí không có ôxy (ví dụ nitơ nguyên chất) dẫn đến sự bất tỉnh mà không cần có các vấn đề về hệ hô hấp của cá thể đó. Nó là đặc biệt nguy hiểm cho các phi công lái máy bay chiến đấu bay ở cao độ lớn, và nó cũng là lý do giải thích tại sao các hướng dẫn tại các máy bay thương mại trong trường hợp sụt áp suất trong khoang thì người ta cần phải sử dụng mặt nạ thở ôxy cho chính mình trước khi giúp người khác—nếu không thì chính người đó sẽ chịu rủi ro bất tỉnh mà không hề được cảnh báo trước về nguy hiểm sắp xảy ra.
Thực vật hấp thụ cacbon điôxít từ khí quyển trong quá trình quang hợp. Cacbon điôxít được thực vật (với năng lượng từ ánh sáng Mặt Trời) sử dụng để sản xuất ra các chất hữu cơ bằng tổ hợp nó với nước. Các phản ứng này giải phóng ra ôxy tự do. Đôi khi cacbon điôxít được bơm thêm vào các nhà kính để thúc đẩy thực vật phát triển. Thực vật cũng giải phóng ra CO2 trong quá trình hô hấp của nó, nhưng tổng thể thì chúng làm giảm lượng CO2.
Các giới hạn của OSHA cho nồng độ cacbon điôxít tại nơi làm việc là 0,5% cho thời gian dài, tối đa tới 3% cho phơi nhiễm ngắn (tối đa 10 phút). OSHA cho rằng các nồng độ trên 4% là "nguy hiểm ngay lập tức đối với sức khỏe và sự sống". Những người thở không khí chứa trên 5% cacbon điôxít trên 30 phút có các triệu chứng tăng anhiđrít cacbonic máu cấp tính, trong khi việc thở với nồng độ cacbon điôxít từ 7%–10% có thể làm bất tỉnh trong vài phút. Cacbon điôxít, dù là dạng khí hay dạng rắn, chỉ được tiếp xúc trong các môi trường/khu vực thông gió tốt.
Xem thêm: Khí trong máu động mạch.
== Khí quyển Trái Đất ==
Vào thời điểm năm 2004, khí quyển Trái Đất chứa khoảng 0,038% theo thể tích (380 µL/L hay ppmv) hoặc 0,053% theo trọng lượng là CO2. Nó tương đương với 2,7 × 1012 tấn CO2. Do có nhiều đất đai hơn (và vì thế nhiều thực vật hơn) nên ở bắc bán cầu khi so với nam bán cầu có sự dao động hàng năm vào khoảng 5 µL/L, sự dao động này lên tới đỉnh vào tháng 5 và xuống tối thiểu vào tháng 10 khi kết thúc mùa sinh trưởng ở bắc bán cầu, khi mà khối lượng các chất sinh học trên hành tinh là lớn nhất.
Mặc dù nồng độ thấp nhưng CO2 là một thành phần cực kỳ quan trọng trong khí quyển Trái Đất, do nó hấp thụ bức xạ hồng ngoại và làm tăng hiệu ứng nhà kính.
Cacbon điôxít nguyên thủy trong khí quyển của Trái Đất được tạo ra trong hoạt động của các núi lửa; nó là cốt yếu để làm ấm và ổn định khí hậu dẫn đến sự sống. Hoạt động núi lửa ngày nay giải phóng khoảng 130-230 triệu tấn cacbon điôxít mỗi năm. Lượng khí này xấp xỉ 1% lượng cacbon điôxít do các hoạt động của con người tạo ra.
Từ đầu thời kỳ cách mạng công nghiệp, nồng độ CO2 trong khí quyển đã tăng khoảng 110 µL/L hay khoảng 40%, phần lớn trong số này được giải phóng từ năm 1945 đến nay. Các đo đạc hàng tháng tại Mauna Loa [2] từ năm 1958 chỉ ra sự tăng từ 316 µL/L trong năm đó tới 376 µL/L năm 2003, tổng thể tăng 60 µL/L trong lịch sử 44 năm đo đạc. Các nhiên liệu hóa thạch như than và dầu mỏ bị đốt là nguyên nhân chính trong sự gia tăng của CO2 do con người tạo ra; Sự tàn phá rừng là nguyên nhân thứ hai. Năm 1997, các đám cháy than bùn ở Indonesia có thể giải phóng tới 13%–40% lượng điôxít cacbon do nhiên liệu hóa thạch tạo ra. Nhiều công nghệ khác nhau đã được giới thiệu nhằm làm giảm lượng cacbon điôxít dư thừa khỏi khí quyển. Không phải toàn bộ lượng CO2 được giải phóng ra tồn tại trong không khí; một số được các đại dương hoặc sinh quyển hấp thụ. Tỷ lệ CO2 tỏa ra trên sự tăng của CO2 trong khí quyển được biết đến như là tỷ lệ bay lên (Keeling và những người khác, 1995); nó dao động theo các trung bình ngắn hạn nhưng thông thường là 57% cao hơn đối với các chu kỳ dài hơn (5 năm).
Thuyết "sự ấm toàn cầu" (GWT) dự báo là sự gia tăng lượng CO2 trong khí quyển có xu hướng làm trầm trọng thêm hiệu ứng nhà kính và vì thế góp phần vào sự ấm toàn cầu. Hiệu ứng của cacbon điôxít tạo ra từ sự cháy đối với khí hậu được gọi là hiệu ứng Callendar.
=== Thay đổi trong quá khứ ===
Phương pháp trực tiếp nhất để đo nồng độ cacbon điôxít trong khí quyển cho các thời kỳ trước việc lấy mẫu trực tiếp là đo các bọt khí bị giữ lại trong các chỏm băng ở Nam Cực hay Greenland. Nghiên cứu được chấp nhận rộng rãi nhất là từ các loại lấy từ Nam Cực và chỉ ra rằng mức CO2 trong khí quyển là khoảng 260–280µL/L ngay trước khi khí thải công nghiệp bắt đầu và nó không dao động nhiều với mức này trong khoảng 10.000 năm trước đó.
Ghi chép về lõi băng dài nhất đến từ Đông Nam Cực, tại đó băng được lấy mẫu đến niên đại khoảng 650.000 năm trước. [3] Trong thời gian này, nồng độ cacbon điôxít trong khí quyển đã dao động trong khoảng 180–210 µL/L trong các thời kỳ băng hà, tăng lên tới 280–300 µL/L trong các thời kỳ giữa các kỷ băng hà ấm áp hơn.
Một số nghiên cứu đã gây tranh luận về sự ổn định của mức CO2 trong thời kỳ giữa các kỷ băng hà gần đây nhất (10.000 năm cuối). Dựa trên phân tích các lá hóa thạch, Wagner và những người khác cho rằng mức CO2 trong thời kỳ 7–10.000 năm trước là cao hơn một cách đáng kể (~300 µL/L) và chứa các thay đổi đáng kể mà có thể có tương quan với các thay đổi khí hậu. Các tuyên bố khác gây tranh cãi là giả thiết cho rằng chúng có lẽ phản ánh các vấn đề định cỡ hơn là các thay đổi thực sự của CO2. Liên quan đến tranh cãi này là các quan sát lõi băng ở Greenland thông thường cho các giá trị của CO2 cao hơn và biến đổi nhiều hơn so với các phép đo tương tự tại Nam Cực. Tuy nhiên, các nhóm chịu trách nhiệm cho các đo đạc này (ví dụ Smith và những người khác tin rằng các thay đổi trong lõi băng Greenland được tạo ra do sự phân hủy tại chỗ (in situ) của bụi canxi cacbonat tìm thấy trong băng. Khi mức độ bụi trong các lõi băng Greenland là thấp gần như bằng mức ở lõi băng Nam Cực thì các báo cáo của các nhà nghiên cứu cũng gần như cho một kết quả giữa các phép đo tại hai nơi này.
Trên biểu thời gian dài hơn, các phép đo đại diện khác nhau được sử dụng để cố gắng xác định mức cacbon điôxít trong khí quyển hàng triệu năm trước. Các phép đo này bao gồm các tỷ lệ đồng vị bo và cacbon trong các dạng trầm tích đại dương nào đó cũng như số lượng khí khổng quan sát được trên các lá hóa thạch. Trong khi các phép đo này ít chính xác hơn về nồng độ cacbon điôxít so với việc đo lõi băng thì ở đây có chứng cứ cho thấy các nồng độ CO2 rất cao (>3.000 µL/L) trong khoảng 600- 400 triệu năm trước và trong khoảng 200-150 triệu năm trước.[4]. Trên biểu thời gian dài, hàm lượng CO2 khí quyển được xác định theo cân bằng giữa các quá trình địa hóa học (bao gồm cacbon hữu cơ bị chôn vùi trong các trầm tích, đá silicat phong hóa) và tác động của núi lửa. Hiệu ứng ròng của sự không cân bằng nhẹ trong chu trình cacbon trên hàng chục đến hàng trăm triệu năm đã làm giảm CO2 khí quyển. Các tốc độ của các quá trình này là cực chậm; vì thế chúng có mối tương quan bị giới hạn đối với các phản ứng của CO2 khí quyển trong việc thoát ra trong hàng trăm năm sau. Trong thời gian gần đây, nồng độ CO2 khí quyển vẫn tiếp tục theo đà suy giảm kể từ khoảng 60 triệu năm trước, và ở đây cũng có chứng cứ địa hóa học cho thấy nồng độ đã nhỏ hơn 300 µL/L vào khoảng 20 triệu năm trước. Nồng độ CO2 thấp có thể đã là tác nhân kích thích cho sự tiến hóa của các thực vật [[Sự cố định cacbon C4|C4]], là những loài đã tăng đáng kể về số lượng trong khoảng 7-5 triệu năm trước. Mặc dù các nồng độ CO2 thời đó đã vượt quá trong vòng các kỷ nguyên địa chất diễn ra sớm hơn, các nồng độ cacbon điôxít hiện nay có lẽ là cao hơn so với bất kỳ thời gian nào trong vòng 20 triệu năm qua [5] nhưng lại là thấp hơn so với bất kỳ thời gian nào trong lịch sử nếu ta nhìn vào thang thời gian dài hơn 50 triệu năm.
== Thủy quyển Trái Đất ==
Các đại dương của Trái Đất chứa một lượng khổng lồ cacbon điôxít trong dạng các ion bicacbonat và cacbonat—nhiều hơn rất nhiều so với lượng CO2 trong khí quyển. Bicacbonat được tạo ra trong các phản ứng của đá, nước và cacbon điôxít. Dưới đây là ví dụ về sự hòa tan canxi cacbonat:
CaCO3 + CO2 + H2O ⇌ Ca2+ + 2 HCO3-
Các phản ứng tương tự như thế có xu hướng tạo ra các thay đổi đệm của CO2 khí quyển. Các phản ứng giữa cacbon điôxít và các loại đá không cacbonat cũng bổ sung thêm bicacbonat vào biển cả, chúng sau đó phản ứng theo chiều ngược lại của phản ứng trên để tạo ra các loại đá cacbonat và giải phóng một nửa các bicacbonat thành CO2. Hàng trăm triệu năm qua chúng đã tạo ra một lượng lớn đá cacbonat. Nếu tất cả các loại đá cacbonat trong lớp vỏ Trái Đất được chuyển hóa ngược lại thành cacbon điôxít thì lượng khí này sẽ nặng gấp 40 lần toàn bộ khí quyển.
Phần chủ yếu của CO2 được bổ sung vào khí quyển cuối cùng sẽ bị các đại dương hấp thụ trong dạng các ion bicacbonat, nhưng quá trình này phải mất hàng trăm năm do phần lớn nước biển lại không ở gần bề mặt.
== Trong vũ trụ ==
Cacbon điôxít là thành phần chính của khí quyển Sao Hỏa, và là một thành phần quan trọng của khí quyển Sao Kim. Có giả thuyết cho rằng vào thời kỳ hệ Mặt Trời mới hình thành, các hành tinh nằm ở vòng trong (Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Kim) đều có khí quyển khá giống nhau và chứa nhiều thán khí. Thán khí cũng có mặt ở dạng băng khô trên các sao chổi.
Chất khí này đã được quan sát là có mặt ở khoảng không vũ trụ, gần những sao thuộc thế hệ 2 hoặc thế hệ 3, nơi mà sản phẩm của quá trình phản ứng nhiệt hạch trong các sao đã tích tụ nhiều cácbon và ôxy. Có thể đặt giả thuyết rằng chất khí này có mặt trong khí quyển của các hành tinh thuộc vòng trong bay quanh các sao thuộc thế hệ từ 2 trở đi.
== Lịch sử ==
Cacbon điôxít là một trong các khí đầu tiên được miêu tả như là chất hiện hữu trong không khí. Vào thế kỷ 17, nhà hóa học người Flanders là Jan Baptist van Helmont đã quan sát thấy khi ông đốt than củi trong bình kín thì khối lượng còn lại của tro là thấp hơn so với khối lượng nguyên thủy của than củi. Diễn giải của ông là phần còn lại của than củi đã được biến tố thành chất không nhìn thấy mà ông gọi là "khí" hay "linh hồn hoang dã" (spiritus sylvestre).
Các thuộc tính của cacbon điôxít được nhà vật lý người Scot là Joseph Black nghiên cứu nhiều hơn trong thập niên 1750. Ông phát hiện ra là đá vôi (canxi cacbonat) có thể nung nóng hay xử lý bằng các axít để sinh ra khí mà ông gọi là "không khí cố định". Ông quan sát thấy không khí cố định nặng hơn không khí và không hỗ trợ sự cháy cũng như sự sống của động vật. Ông cũng phát hiện là nó có thể, khi cho chạy qua dung dịch nước của vôi tôi (canxi hiđrôxít) làm kết tủa canxi cacbonat và sử dụng hiện tượng này để minh họa rằng cacbon điôxít là sản phẩm của sự hô hấp của động vật và lên men vi sinh vật. Năm 1772, Joseph Priestley sử dụng cacbon điôxít tạo ra từ phản ứng của axít sulfuric với đá vôi để điều chế nước sôđa, ví dụ đầu tiên được biết của đồ uống cacbonat hóa nhân tạo.
Cacbon điôxít được Humphrey Davy và Michael Faraday hóa lỏng lần đầu tiên năm 1823 bằng tăng áp suất. Mô tả đầu tiên về cacbon điôxít rắn là của Charles Thilorier, là người năm 1834 đã mở thùng chứa điôxít cacbon lỏng bị nén, chỉ để tìm sản phẩm được tạo ra do bị làm lạnh vì sự bay hơi nhanh của điôxít cacbon lỏng và thấy "tuyết" của CO2 rắn.
== Xem thêm ==
Khí thiên nhiên
Nhiên liệu hóa thạch
Khí nhà kính
Chu trình cacbon
== Tham khảo ==
Friederike Wagner, Bent Aaby và Henk Visscher (2002) Rapid atmospheric CO2 changes associated with the 8,200-years-B.P. cooling event, PNAS 99 (19): 12011-12014 DOI: 10.1073/pnas.182420699
Andreas Indermühle, Bernhard Stauffer, Thomas F. Stocker (1999) Early Holocene Atmospheric CO2 Concentrations, Science 286 (5446): 1815 DOI: 10.1126/science.286.5446.1815a Early Holocene Atmospheric CO2 Concentrations Science URL truy cập 26 tháng 5 năm 2005
H.J. Smith, M Wahlen và D. Mastroianni (1997) The CO2 concentration of air trapped in GISP2 ice from the Last Glacial Maximum-Holocene transition, Geophysical Research Letters 24(1) 1-4
Joseph Priestley (1772) Observations on Different Kinds of Air, Philosophical Transactions 62: 147-264
Humphry Davy (1823) On the Applicatin of Liquids Formed by the Condensation of Gases as Mechanical Agents, Philosophical Transactions 113: 199-205
== Liên kết ngoài ==
Thẻ an toàn hóa chất số 0021
CID280 từ PubChem
Thông tin về băng khô
Bassam Z. Shakhashiri: Hóa chất trong tuần: Cacbon điôxít
Keeling, C.D. and T.P. Whorf: Ghi chép về điôxít cacbon trong khí quyển tại Mauna Loa, 2002
Cập nhật Mauna Loa 2004
CO2 Cacbon điôxít Thuộc tính, Sử dụng, Ứng dụng
Wiki hóa điện toán
Biểu đồ pha theo áp suất-nhiệt độ của điôxít cacbon |
kim loại vô định hình.txt | Kim loại vô định hình hay thủy tinh kim loại là một hợp kim có cấu trúc vô định hình.
Hầu hết kim loại đều có cấu trúc định hình, với các nguyên tử bố trí rất chặt chẽ. Kim loại vô định hình có cấu trúc vô định hình giống như chất lỏng và thủy tinh. Nhưng không giống như thủy tinh thông thường không dẫn điện, kim loại vô định hình có độ dẫn điện tốt.
Để tạo kim loại vô định hình có thể dùng các phương pháp: công nghệ nguội nhanh, ngưng tụ vật lý, phản ứng trạng thái rắn, chiếu xạ ion và hợp kim cơ khí.
Loại vật liệu này có độ chống chịu gấp 3 lần và đàn hồi gấp 10 lần thép công nghiệp. Hơn nữa chúng còn có điểm nóng chảy thấp.
== Lịch sử ==
Khi kim loại đông đặc thì nó sẽ kết tinh lại và các nguyên tử sẽ tự động sắp xếp lại thành các hàng ngay ngắn. Để làm ra kim loại vô định hình, cần phải ngăn chặn kết tinh của kim loại. Nếu làm lạnh với tốc độ cực nhanh thì quá trình kết tinh sẽ không kịp xảy ra.
Gần đây, các khoa học thuộc Công ty Liquidmetal Technologies ở California do William Johnson thành lập đã tìm ra cách đó. Khi đấy Johnson cố nghĩ cách để làm ra những thanh kim loại vô định hình dày hơn 1 milimét. Ông bất ngờ được nghe nói tới một phát minh của Akihisa Inoue làm việc tại Viện Nghiên cứu vật liệu ở Tohoku Nhật Bản. Inoue đã phát hiện ra rằng, khi thêm nguyên tử kim loại lớn hơn vào một hợp kim sẽ làm chậm lại đi quá trình kết tinh và điều quan trọng là kết hợp các nguyên tử lớn và nhỏ với tỷ lệ phù hợp để cho khi hợp kim nóng chảy được làm đông đặc, các nguyên tử nhỏ hơn sẽ vây quanh những nguyên tử lớn hơn. Các nguyên tử nhỏ khác lấp đầy các lỗ hổng giữa các nhóm trên và kết quả là một hợp kim có cấu trúc vô định hình.
Vào đầu những năm 1990, Johnson cùng đồng nghiệp cuối cùng cũng tạo thành công kim loại vô định hình với phương pháp trên và nó chính là nền móng để ông thành lập Công ty Liquidmetal. Họ đã gọi vật liệu này là Vitreloy. Vitreloy chứa các nguyên tử lớn: zircon, titan, đồng và niken, cùng các nguyên tử nhỏ là berili. Vitreloy đàn hồi hơn so với thép và rất dễ uốn cong ở nhiệt độ 400 độ C so với thép là trên 1.000 độ C. Khả năng này làm cho Vitreloy có giá thành sản xuất thấp hơn.Tuy nhiên mọi việc không theo đúng dự tính. Sản phẩm đầu tiên làm bằng vật liệu mới là gậy đánh gôn. Do độ đàn hồi cao nên gậy có thể đánh quả bóng đi xa hơn so với các loại gậy đánh gôn khác. Vấn đề ở đây là thủy tinh kim loại rất giòn, mặc dù chúng bền. Giống như kính cửa sổ, chúng sẽ nứt và vỡ thành từng mảnh nếu bị tác dụng đủ lực vì kim loại thông thường thường chậm chạp nứt dọc theo các ranh giới thớ nhưng còn thủy tinh kim loại vỡ một cách bất ngờ. Do vậy, những cây gậy đánh gôn này không bao giờ được bán trên thị trường. Sản phẩm nguyên mẫu thường vỡ vụn sau 40 lần đánh.
Nghiên cứu của Liquidmetal cho thấy thủy tinh kim loại giòn là do các dải hình thành ở những điểm căng trong vật liệu. Ở vật liệu kết tinh, những dải này mở rộng một đoạn ngắn dọc theo ranh giới thớ rồi ngừng lại khi chúng gặp tinh thể nhưng ở thủy tinh kim loại thì các dải vẫn tiếp tục phát triển. Johnson và nhóm của ông đã khắc phục bằng cách cho thêm các hạt tinh thể vào Vitreloy nhưng đây không phải là giải pháp hợp lý nhất. Johnson muốn tìm ra một loại thủy tinh kim loại cứng song không cần tinh thể. Để làm điều đó, ông phải làm nóng nhiều thành phần với nhau rồi thử chúng. Vào năm ngoái, nỗ lực của họ cũng đã thành công. Nhóm đã chế tạo thành công kim loại vô định hình không giòn, là hợp kim của platin, đồng, nicken và phốt pho. Khi họ tác dụng một lực vào vật liệu, nhiều dải xuất hiện nhưng mỗi dải rất nhỏ và mỏng. Những dải này làm tăng độ dai tổng thể bằng cách tác động lẫn nhau để không một dải nào mở rộng thành một vết nứt dài.
Do platin chiếm gần 60% trong loại vật liệu mới nên giá thành của nó khá cao, không thể sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, chẳng có điều gì làm các nhà khoa học chùn bước, nhiều nghiên cứu đã giúp họ tìm ra cách để tạo ra các loại thủy tinh kim loại nhanh hơn và rẻ hơn.
Một bước tiến quan trọng nữa là khả năng làm ra thủy tinh kim loại bằng cách dùng các kim loại rẻ tiền như sắt và đồng. Joseph Poon và Gary Shiflet tại Đại học Virginia đã tuyên bố tạo ra loại thủy tinh thép đầu tiên chứa carbon, sắt và một chút mangan. Do mangan không có từ tính nên thủy tinh thép là một trong những loại thép không từ tính đầu tiên. Đây có thể là một bước đột phá lớn, vì các con tàu được chế tạo bằng thép không từ tính sẽ tàng hình trước con mắt soi mói của hệ thống radar. Vật liệu của họ vẫn tương đối giòn, song các nhà nghiên cứu khác đang đạt được tiến bộ nhanh chóng trong lĩnh vực này. John đang chuẩn bị công bố một loại hợp kim dễ uốn, dựa trên đồng.
== Ứng dụng ==
Do cứng và có điểm nóng chảy thấp nên kim loại vô định hình đang dần được quan tâm. Điểm nóng chảy thấp kiến chúng dễ được chế tác cộng với độ bền cao. Liquidmetal đang dùng thủy tinh kim loại dựa trên platin để làm thiết bị y tế, lưỡi dao và vợt tennis chuyên nghiệp. Còn các nhà khoa học ở Nhật Bản đã sử dụng thủy tinh kim loại để chế tạo một chiếc động cơ thu nhỏ. Độ bền của các loại kim loại vô định hình là một điều kiện lý tưởng để chúng được sử dụng vào việc tạo ra các bộ phận máy bay và thân tàu. Bộ Quốc phòng Mỹ cũng đang xem xét xem có nên sử dụng chúng thay thế urani trên mũi của các viên đạn xuyên áo giáp chống đạn. Liquidmetal cũng đã ký hợp đồng với Samsung để chế tạo các linh kiện điện thoại di động bằng kim loại vô định hình.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Liquidmetal Design Guide
"Metallic glass: a drop of the hard stuff" at New Scientist
Glass-Like Metal Performs Better Under Stress Physical Review Focus, ngày 9 tháng 6 năm 2005
"Overview of metallic glasses"
New Computational Method Developed By Carnegie Mellon University Physicist Could Speed Design and Testing of Metallic Glass (2004) (the alloy database developed by Marek Mihalkovic, Michael Widom, and others)
Materials Today: The case for bulk metallic glass
New tungsten-tantalum-copper amorphous alloy developed at the Korea Advanced Institute of Science and Technology [1]
Amorphous Metals in Electric-Power Distribution Applications
Amorphous and Nanocrystalline Soft Magnets
glass transition temperatures of bulk metallic glasses |
bún thang.txt | Bún thang là một đặc sản ẩm thực của người Hà Nội.
== Cách làm ==
Làm bún thang là một quá trình cầu kỳ, từ phần chuẩn bị đến nấu. Ước tính phải cần đến 20 nguyên liệu mới đủ để làm bún thang.
Rau răm, mùi tàu, trứng gà rán mỏng, lườn gà xé, giò lụa thái sợi rải đều trên nền bún trắng. Bún phải là loại bún sợi nhỏ. Trên rắc tôm bông và rải vài lát lạp xưởng.
Nước dùng phải là loại nước trong, nóng chan vừa bát. Ăn bún thang kèm gia vị như giấm, ớt, tỏi, hạt tiêu hoặc thêm chút mắm tôm. Để có nồi nước dùng ngon cũng là một sự tổng hợp có chọn lọc từ xương gà và một con mực khô (để ngọt nước).
Sẽ vô cùng thiếu sót nếu viết về bún thang Hà Nội mà không nhắc đến phần đặc biệt nhất của nó: tinh dầu cà cuống. Chỉ cần một chút đầu tăm điểm vào bát bún thang sẽ dậy mùi thơm đặc biệt. Tiếc là hiện nay cà cuống đã không còn nhiều nữa, người ta đã dùng hóa chất thay thế song mùi thơm hơi hắc hơn.
Một bát bún thang đầy đủ sẽ không thể thiếu củ cải ngâm, hay còn được biết dưới cái tên gốc Tàu là ca-la-thầu.
Một dị bản của bún thang là bún thang khô: nước dùng không chan cùng bát mà chỉ tráng qua bún cho nóng. Vẫn đầy đủ các vị kể trên song không húp như khi ăn bún nước.
== Tham khảo ==
Cách làm Bún thang bởi CandyCanCook (tiếng Anh)
Hoài niệm bún thang xưa
Bún thang phố cổ trong ngày se lạnh |
danh sách hat-trick cricket one day international.txt | Hat-trick trong cricket là trường hợp khi bowler ghi được 3 wickets liên tục trong các deliveries, dismissing và loại được 3 batsmen khác nhau với 3 balls bowled liên tiếp. Nó rất hiếm gặp trong One Day International (ODI) cricket mới chỉ xảy ra 29 lần trong khoảng 3,000 trận ODI kể từ lần đầu tiên Australia gặp Anh vào ngày 5 tháng 1 năm 1971. Hat-trick đầu tiên được thực hiện bởi Jalal-ud-Din của Pakistan khi đối đầu với Australia tại sân vận động Niaz vào tháng 9 năm 1982; lần gần đây nhất được thực hiện bởi Lasith Malinga của Sri Lanka trong trận đấu với Kenya ngày 1 tháng 3 năm 2011.
Pakistan là đội đang giữ kỉ lục về số ODI hat-tricks, trong đó có 2 hat-tricks được thực hiện bởi Wasim Akram và Saqlain Mushtaq, người còn lại là Chaminda Vaas của Sri Lanka. Hat-tricks thường được thực hiện bởi fast bowlers và Saqlain của Pakistan cùng với Razzaq của Bangladesh là 2 người duy nhất ném kiểu spinners có được ODI hat-trick. 5 hat-tricks được thực hiện trong các kì World Cup, giải đấu ODI quan trọng nhất. Lần cuối được thực hiện trong kì 2011 World Cup bởi Lasith Malinga của Sri Lanka có 3 wickets trong 3 balls với đội Kenya. Wasim Akram của Pakistan và Mohammad Sami cùng có được hat-tricks trong ODI và Test cricket. Brett Lee là người duy nhất có hat-trick trong ODI và Twenty20 International cricket.
== Hat-tricks ==
Key
== Ghi chú ==
A. 1 2 3 4 5 6 7 3 wickets cuối của innings
B. 1 Aaqib Javed kết thúc với 7–37, thành tích tốt nhất của bowling figures 1 ODI.
C. 1 2 4 wickets trong 5 deliveries
D. 1 2 3 3 wickets đầu tiên của innings
E. 1 Vaas ghi được 8–19;đây là lần duy nhất (as of August 2010) 1 bowler có được 8 wickets trong 1 trận ODI.
F. 1 3 deliveries của trận đấu
G. 1 4 wickets trong 4 deliveries
H. 1 Hat-trick trong 2 overs
== Liên kết khác ==
Tổng quá
“One Day Internationals - Hat-tricks”. Cricinfo. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2009.
Cụ thể
Bản mẫu:Cricket records |
tháng mười.txt | Tháng mười là tháng thứ mười theo lịch Gregorius, có 31 ngày.
== Những sự kiện trong tháng 10 ==
1:Ngày Người Cao niên Quốc tế (International Day for Older Persons)
4 - 10:Tuần lễ Không gian Thế giới (World Space Week)
5: Ngày Nhà giáo Thế giới (World Teacher's Day)
Thứ hai đầu tháng: Ngày Cư ngụ Thế giới (World Habitat Day)
Thứ tư thứ nhì: Ngày Hạn chế Thiên tai Thế giới (International Day for Natural Disaster Reduction)
9: Ngày Bưu điện Thế giới (World Post Day)
16: Ngày Lương thực Thế giới (World Food Day)
17: Ngày Quốc tế xóa nghèo (International Day for the Eradication of Proverty)
20: Ngày Phụ Nữ Việt Nam (VietNam Women's Day)
24: Ngày Liên hợp Quốc (United Nations Day) và Ngày Phát triển Thông tin Thế giới (World Development Information Day)
24 - 30: Tuần lễ Giải trừ quân bị (Disarmament Week)
31: Ngày Halloween
== Xem thêm ==
Những ngày kỷ niệm
== Tham khảo == |
mangan.txt | Mangan, là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Mn và số nguyên tử 25. Nó được tìm thấy ở dạng tự do trong tự nhiên (đôi khi kết hợp với sắt), và trong một số loại khoáng vật. Ở dạng nguyên tố tự do, mangan là kim loại quan trọng trong các hợp kim công nghiệp, đặc biệt là thép không gỉ.
Mangan phosphat được dùng để xử lý gỉ và chống ăn mòn trên thép. Tùy theo trạng thái ôxy hóa của nó, càc ion mangan có nhiều màu khác nhau và được dùng làm thuốc nhuộm trong công nghiệp. Các permanganat với các kim loại kiềm và kiềm thổ là các chất ôxy hóa mạnh. Mangan điôxít được dùng làm vật liệu catốt trong các pin và pin khô kiềm và tiêu chuẩn.
Các ion mangan(II) có chức năng làm cofactor trong một số enzyme ở sinh vật bậc cao, có vai trò quan trọng trong sự giải độc của các gốc peoxit tự do. Nguyên tố này cần thiết ở dạng vết trong các sinh vật sống. Khi hít phải Với lượng lớn hơn, mangan có thể gây hội chứng nhiễm độc ở động vật, gây tổn thương thần kinh mà đôi khi không thể phục hồi được.
== Tính chất ==
=== Tính chất vật lý ===
Mangan là kim loại màu trắng xám, giống sắt. Nó là kim loại cứng và rất giòn, khó nóng chảy, nhưng lại bị ôxi hóa dễ dàng. Mangan kim loại chỉ có từ tính sau khi đã qua xử lý đặc biệt. Kim loại mangan và các ion phổ biến của nó có tính chất thuận từ.
=== Đồng vị ===
Mangan tự nhiên là bao gồm 1 đồng vị bền 55Mn. 18 đồng vị phóng xạ đã được miêu tả đặc điểm trong đó đồng vị phóng xạ ổn định nhất là 53Mn có chu kì bán rã 3,7 triệu năm, 54Mn có chu kì bán rã 312,3 ngày, và 52Mn là 5,591 ngày. Tất cả các đồng vị phóng xạ còn lại có chu kì bán rã nhỏ hơn 3 giờ và phần lớn trong số này có chu kì bán rã nhỏ hơn 1 phút. Nguyên tố này cũng có 3 trạng thái meta state.
Mangan là một phần trong nhóm các nguyên tố sắt, chúng được cho là đã được tổng hợp trong các sao lớn trong thời gian ngắn trước khi xảy ra vụ nổ siêu tân tinh.53Mn phân rã thành 53Cr với chu kì bán rã 3,7 triệu năm. Do nó có chu kì bán rã tương đối ngắn, 53Mn chỉ có một ít trong các đá do phản ứng của các tia vũ trụ lên sắt. Các thành phần đồng vị mangan đặc biệt kết hợp với các hợp phần đồng vị crom và đã có những ứng dụng trong địa chất đồng vị và định tuổi đồng vị phóng xạ. Tỉ số đồng vị Mn–Cr cùng với bằng chứng từ 26Al và 107Pd về lịch sử ban đầu của Hệ Mặt Trời. Sự biến động về tỉ số 53Cr/52Cr và Mn/Cr trong một số thiên thạch ám chỉ tỉ số 53Mn/55Mn ban đầu rằng thành phần đồng vị Mn–Cr phải là kết quả tại chỗ của việc phân rã 53Mn trong các thiên thể phân dị. Do đó 53Mn cung cấp bằng chứng bổ sung cho quá trình tổng hợp hạt nhân tức thì trước sự hóa hợp của Hệ Mặt Trời.
Các đồng vị của mangan xếp theo khối lượng nguyên tử từ 46 u (46Mn) đến 65 u (65Mn). Cơ chế phân rã ban đầu trước đồng vị bền phổ biến nhất 55Mn, là bắt electron và cơ chế phân rã ban đầu sau đó là phân rã beta.
=== Tính chất hóa học ===
Trạng thái ôxi hóa phổ biến của nó là +2, +3, +4, +6 và +7, mặc dù trạng thái ôxi hóa từ +1 đến +7 đã được ghi nhận. Mn2+ thường tương tác với Mg2+ trong các hệ thống sinh học, và các hợp chất có mangan mang trạng thái ôxi hóa +7 là những tác nhân ôxi hóa mạnh như Mn2O7. Các hợp chất có trạng thái ôxy hóa +5 (lam) và +6 (lục) là các chất ôxy hóa mạnh.
Trạng thái ôxy hóa ổn định nhất là mangan +2, nó có màu hồng nhạt, và một số hợp chất mangan (II) đã được biết như mangan(II) sulfat (MnSO4) và manganese(II) clorua (MnCl2). Trạng thái ôxy hóa này cũng được gặp trong khoáng rhodochrosit, (mangan(II) carbonat). Trạng thái ôxy hóa +2 là trạng thái được sử dụng trong các sinh vật sống cho chức năng cảm giác; các trạng thái khác đều là chất độc đối với cơ thể con người.
== Ứng dụng ==
Mangan có vai trò quan trọng trong sản xuất sắt thép vì có tác dụng khử lưu huỳnh, khử ôxi, và mang những đặc tính của hợp kim. Luyện thép, và cả luyện sắt, sử dụng nhiều mangan nhất (chiếm khoảng 85-90% tổng nhu cầu). Trong những mục đích khác, mangan là thành phần chủ yếu trong việc sản xuất thép không rỉ với chi phí thấp, và có trong hợp kim nhôm. Nó còn được thêm vào dầu hỏa để giảm tiếng nổ lọc xọc cho động cơ. Mangan đioxít được sử dụng trong pin khô, hoặc làm chất xúc tác. Mangan được dùng để tẩy màu thủy tinh (loại bỏ màu xanh lục do sắt tạo ra), hoặc tạo màu tím cho thủy tinh. Mangan ôxít là một chất nhuộm màu nâu, dùng để chế tạo sơn, và là thành phần của màu nâu đen tự nhiên. Kali pemanganat là chất ôxi hóa mạnh, dùng làm chất tẩy uế trong hóa học và y khoa. Phốtphát hóa mangan là phương pháp chống rỉ và ăn mòn cho thép. Nó thường hay được dùng để sản xuất tiền xu. Những loại tiền xu duy nhất có sử dụng mangan là đồng xu niken "thời chiến" ("Wartime" nickel) từ năm 1942 đến 1945, và đồng xu đôla Sacagawea (từ năm 2000 đến nay). Trình độ ứng dụng mangan ở Hoa Kỳ vẫn không có nhiều thay đổi. Hiện nay, không có giải pháp công nghệ thực tế nào có thể thay thế mangan bằng chất liệu khác hay sử dụng các trầm tích trong nước hoặc các công nghệ làm giàu khác để giảm hoàn toàn sự phụ thuộc của Hoa Kỳ vào các quốc gia khác đối với quặng mangan.
Chất liệu thay thế: Mangan không có chất liệu thay thế thỏa mãn nào trong những ứng dụng lớn. Trong những ứng dụng nhỏ, kẽm hoặc vanađi có thể thay thế được cho phương pháp phốtphát hóa mangan.
Các hợp chất mangan được sử dụng để làm chất tạo màu và nhuộm màu cho gốm và thủy tinh. Màu nâu của gốm đôi khi dựa vào các hợp chất mangan. Trong ngành công nghiệp thủy tinh, các hợp chất mangan được dùng cho 2 hiệu ứng. Mangan(III) phản ứng với sắt(II) để tạo ra màu lục đậm trong thủy tinh bằng cách tạo ra sắt(III) ít màu hơn và màu hồng nhạt của mangan(II) kết hợp với màu còn lại của sắt (III).
== Phân bố và sản xuất ==
Mangan chiếm khoảng 1000 ppm (0,1%) trong vỏ Trái Đất, đứng hàng thứ 12 về mức độ phổ biến của các nguyên tố ở đây. Đất chứa 7–9000 ppm mangan với hàm lượng trung bình 440 ppm. Nước biển chỉ chứa 10 ppm mangan và trong khí quyển là 0,01 µg/m3. Mangan có mặt chủ yếu trong pyrolusit (MnO2), braunit, (Mn2+Mn3+6)(SiO12), psilomelan (Ba,H2O)2Mn5O10, và ít hơn trong rhodochrosit (MnCO3).
Quặng mangan quan trọng nhất là pyrolusit (MnO2). Các quặng quan trọng khác thường có sự phân bố liên quan đến các quặng sắt. Các nguồn trên đất liền lớn nhưng phân bố không đồng đều. Khoảng 80% nguồn tài nguyên mangan đã được biết trên thế giới được tìm thấy ở Nam Phi, các mỏ mangan khác ở Ukraina, Úc, Ấn Độ, Trung Quốc, Gabonvà Brasil. Năm 1978, người ta đã tính có 500 tỉ tấn mangan dạng thận ở đáy biển. những nỗ lực tìm phương pháp có hiệu quả kinh tế để thu hồi mangan dạng thận này đã bị bỏ lửng trong thập niên 1970.
Mangan được khai thác ở Nam Phi, Úc, Trung Quốc, Brasil, Gabon, Ukraine, Ấn Độ, Ghana và Kazakhstan. Nguồn nhập khẩu của Hoa Kỳ (1998–2001) từ: 1/ quặng mangan: Gabon, 70%; Nam Phi, 10%; Úc, 9%; Mexico, 5%; và nguồn khác, 6%. 2/ Ferromangan: Nam Phi, 47%; Pháp, 22%; Mexico, 8%; Úc, 8%; và nguồn khác, 15%. Mangan chứa trong các nguồn nhập khẩu gồm: Nam Phi, 31%; Gabon, 21%; Úc, 13%; Mexico, 8%; và nguồn khác, 27%.
Về sản xuất ferromangan, quặng mangan được trộn với quặng sắt và cacbon, sau đó khử hoặc trong lò cao hoặc trong lò điện hồ quang. Ferromangan được tạo ra có hàm lượng mangan từ 30 đến 80%. Mangan tinh khiết được dùng để sản xuất các hợp kim không chứa sắt, được sản xuất bằng cách cho quặng mangan đã được ngâm chiết với axit sulfuric và tiếp theo là xử lý bằng điện triết.
== Vai trò sinh học ==
Mangan là nguyên tố đóng vai trò thiết yếu trong tất cả dạng sống. Các lớp enzyme có các đồng yếu tố mangan rất rộng bao gồm oxidoreductases, transferases, hydrolases, lyases, isomerases, ligases, lectins, và integrins. Sao chép ngược của một số retrovirus (không phải lentivirus như HIV) chứa mangan. Polypeptitde chứa mangan nổi tiếng có thể là arginase, diphtheria toxin, và superoxide dismutase (Mn-SOD) chứa Mn.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
National Pollutant Inventory - Manganese and compounds Fact Sheet
WebElements.com – Manganese
International Manganese Institute
Parkinson's Disease and Manganese
Neurotoxicity of inhaled manganese: Public health danger in the shower?
Welder's Disease
Los Alamos National Laboratory – Manganese |
bob iger.txt | Robert A. "Bob" Iger (sinh ngày 10 tháng 2 năm 1951), là chủ tịch và CEO của tập đoàn Walt Disney từ năm 2000. Năm 2005, sau nỗ lực thành công của Roy E. Disney nhằm vực dậy cơ chế quản lý của công ty, ông nối tiếp Michael Eisner ở vị trí giám đốc điều hành. Iger giám sát việc mua lại Pixar vào năm 2006, kéo theo sau một giai đoạn quan hệ căng thẳng với xưởng phim hoạt hình. Ông đã lãnh đạo công ty giành được công ty giải trí Marvel Entertainment vào năm 2009, mở rộng và khẳng định đặc quyền tên tuổi của Disney.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tiểu sử công ty |
13 tháng 7.txt | Ngày 13 tháng 7 là ngày thứ 194 (195 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 171 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
884 - Cuộc khởi nghĩa Hoàng Sào kết thúc khi thủ lĩnh Hoàng Sào bị sát hại (hoặc tự sát), thủ cấp của ông được đưa đến chỗ quân Đường, tức ngày Bính Ngọ (17) tháng 6 năm Giáp Thìn.
1402 – Quân của Yên vương Chu Lệ tiến vào kinh sư Ứng Thiên phủ của triều Minh, kết thúc triều đại của Kiến Văn Đế.
1787 - Quốc hội Lục địa Hoa Kỳ ban hành Sắc lệnh Tây Bắc nhằm thiết lập chính quyền cai quản tại Lãnh thổ Tây Bắc.
1866 – Chiến tranh Áo-Phổ: Quân Phổ giành chiến thắng trước quân Hesse trong trận Laufach-Frohnhofen.
1930 – Giải vô địch bóng đá thế giới đầu tiên khai mạc tại Montevideo, Uruguay.
1977 – Ethiopia và Somalia khai chiến do tranh chấp khu vực Ogaden có cư dân là người Somali tại phía đông Ethiopia.
2009 – Dịch vụ mạng xã hội Yahoo! 360° chấm dứt hoạt động.
== Người sinh ==
100 TCN - Julius Caesar nhà lãnh đạo quân sự và chính khách người Ý (m. 44 TCN)
1793 - John Clare, nhà thơ người Anh (m. 1864)
1977 - Saigon, rapper người Mỹ
== Người chết ==
884 - Hoàng Sào, thủ lĩnh nổi dậy người Trung Quốc, tức ngày Bính Ngọ (17) tháng 6 năm Giáp Thìn
1793 - Jean-Paul Marat bị Charlotte Corday ám sát, trong khi đang ngâm mình trong bồn tắm.
1970 - Thịnh Thế Tài, tướng lĩnh người Trung Quốc (s. 1897)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
samsung galaxy s5 mini.txt | Samsung Galaxy S5 Mini là một smartphone Android được phát triển bởi Samsung Electronics. Nó được công bố vào tháng 5 năm 2014 và phát hành vào ngày 1 tháng 7 năm 2014. S5 Mini là phiên bản tầm trung của chiếc điện thoại thông minh chủ lực Galaxy S5 và là thiết bị kế nhiệm của Galaxy S4 Mini. Nó cạnh tranh trực tiếp với HTC One Mini 2 và Sony Xperia Z1 Compact. Nó có thiết kế và tính năng phần mềm tương tự như phiên bản Galaxy S5 cao cấp.
== Thông số kĩ thuật ==
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy S series
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
thủ tướng quốc vụ viện trung quốc.txt | Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung văn giản thể: 中华人民共和国国务院总理; bính âm: Zhōnghuá Rénmín Gònghéguó Guówùyuàn Zŏnglĭ; Hán-Việt: Trung Hoa Nhân dân Cộng hòa quốc Quốc vụ viện Tổng lý), còn được gọi là Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc, là người đứng đầu Chính phủ Trung Quốc (Quốc vụ viện). Chức vụ Tổng lý Quốc vụ viện do Chủ tịch nước chỉ định và phải được sự phê chuẩn chính thức của Quốc hội Trung Quốc (Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc). Là quốc gia lãnh đạo bởi Đảng cộng sản, Tổng lý Quốc vụ viện luôn phải là Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Tổng lý Quốc vụ viện chịu trách nhiệm tổ chức và điều hành hệ thống quản lý dân sự trên toàn lãnh thổ Trung Quốc. Đặc biệt, Tổng lý không có thẩm quyền đối với Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Trong những năm gần đây, có sự phân chia công việc giữa Tổng lý và Chủ tịch nước: Tổng lý chịu trách nhiệm thực hiện đường lối, chính sách cụ thể của Chính phủ, Chủ tịch nước là người tập hợp sự ủng hộ chính trị để triển khai đường lối, chính sách đề ra ở trên.
== Danh sách Tổng lý Quốc vụ viện Trung Quốc ==
Chu Ân Lai (1949-1976)
Hoa Quốc Phong (1976-1980)
Triệu Tử Dương (1980-1987)
Lý Bằng (1987-1998)
Chu Dung Cơ (1998-2003)
Ôn Gia Bảo (2003-2013)
Lý Khắc Cường (2013-nay)
Phương tiện liên quan tới Premiers of the People's Republic of China tại Wikimedia Commons
== Tham khảo == |
văn miếu - quốc tử giám.txt | Văn Miếu - Quốc Tử Giám (chữ Hán: 文廟 - 國子監) là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội, nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long. Hiện nay, nơi đây đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách xếp hạng 23 di tích quốc gia đặc biệt. Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám và vườn Giám và kiến trúc chủ thể là Văn Miếu - nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám có tường gạch vồ bao quanh, phía trong chia thành 5 lớp không gian với các kiến trúc khác nhau. Mỗi lớp không gian đó được giới hạn bởi các tường gạch có 3 cửa để thông với nhau (gồm cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên). Từ ngoài vào trong có các cổng lần lượt là: cổng Văn Miếu, Đại Trung, Đại Thành và cổng Thái Học. Với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Nay, Văn Miếu-Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng là nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc và còn là nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến "cầu may" trước mỗi kỳ thi.
== Lịch sử ==
Văn Miếu được xây dựng từ năm (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông (Đại Việt sử ký toàn thư. Nhà xuất bản. Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 1, tr.234) chép: "Mùa thu tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng, Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến đấy học." . Như vậy Văn miếu ngoài chức năng thờ các bậc Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho, còn mang chức năng của một trường học Hoàng gia mà học trò đầu tiên là Thái tử Lý Càn Đức, con trai vua Lý Thánh Tông với Nguyên phi Ỷ Lan, lúc đó mới 5 tuổi, đến năm 1072 tức là năm 8 tuổi lên ngôi trở thành vua Lý Nhân Tông
Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh Văn Miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử, người học đầu tiên là hoàng tử Lý Càn Đức). (Việt sử thông giám cương mục. Nhà xuất bản. Văn sử địa. 1957) chép: "Bính Thìn, năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 1 tháng 4... lập nhà Quốc Tử Giám; tuyển trong các văn thần lấy những người có văn học, bổ vào đó". Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử.
Năm Nguyên Phong thứ 3 1253, vua Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học viện cho mở rộng và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc. Chức năng trường Quốc học ngày càng nổi bật hơn chức năng của một nơi tế lễ "Quý Sửu năm thứ ba(1253)... Tháng 6 lập Quốc Học viện tô tượng Khổng Tử,Chu công và Á Thánh, vẽ tượng 72 người hiền để thờ... Tháng 9 xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước đến Quốc học viện giảng học tứ thư, ngũ kinh" (ĐVSKTT). Lấy Phạm Ứng Thần giữ chức Thượng thư kiêm chức Đề điệu Quốc Tử viện để trông nom công việc học tập tại Quốc Tử Giám.
Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử.
Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành. Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia của những người thi đỗ tiến sĩ từ khoa thi 1442 trở đi (chủ trương đã đề ra năm 1442 nhưng chưa thực hiện được). Mỗi khoa, một tấm bia đặt trên lưng rùa. Tới năm đó, nhà Lê đã tổ chức được 12 khoa thi cao cấp, Lê Thánh Tông (1460 - 1497) đã tổ chức đều đặn cứ ba năm một lần, đúng 12 khoa thi.
Không phải khoa thi nào tiến hành xong đều được khắc bia ngay, không phải bia đã dựng thì vĩnh tồn, không hư hỏng, không mất mát. Từng thời có những đợt dựng, dựng lại lớn, như năm 1653 (Thịnh Đức năm thứ nhất, năm 1717 (Vĩnh Thịnh năm thứ 13).
Cuối triều Lê, thời Cảnh Hưng, bia vẫn được khắc đều đặn. Dù không còn giữ được đủ bia, nhà công trình điêu khắc giá trị và tư liệu lịch sử quý báu.
Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám - cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình.
Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử giám lập tại Huế. Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu - Hà Nội. Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành cho xây thêm Khuê Văn Các bên cạnh giếng vuông. Như vậy vào đầu thời Nguyễn, Văn miếu Thăng Long đã một lần được sửa sang chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc Thành, sau đổi thành Văn Miếu Hà Nội. Còn Quốc Tử Giám thì đổi thành học đường của phủ Hoài Đức và sau đó tại khu vực này xây đền Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử.
Đầu năm 1947, thực dân Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay toàn bộ khu Thái Học được xây dựng với diện tích 1530m² trên tổng diện tích 6150m² gồm các công trình kiến trúc chính là Tiền đường, Hậu đường, Tả vu, Hữu vu, nhà chuông, nhà trống được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nền đất xưa của Quốc Tử Giám.
== Kiến trúc ==
Văn Miếu-Quốc Tử Giám nằm ở phía Nam thành Thăng Long, xưa thuộc thôn Minh Giám, tổng Hữu Nghiêm, huyện Thọ Xương; thời Pháp thuộc làng Thịnh Hào, tổng Yên Hạ, huyện Hoàng Long, tỉnh Hà Đông. Nay thuộc thành phố Hà Nội. Bốn mặt đều là phố, cổng chính là phố Quốc Tử Giám (phía Nam), phía Bắc là phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức Thắng, phía Đông là phố Văn Miếu. Quần thể kiến trúc này nằm trên diện tích 54331m² bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám và vườn Giám mà kiến trúc chủ thể là Văn Miếu nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám, trường học cao cấp đầu tiên của Việt Nam.
Nhà Thái học sinh đời Lý - Trần quy mô thế nào, hiện chưa khảo được, vì các tư liệu lịch sử không thấy ghi lại. Thời thuộc Minh, nhiều di tích lịch sử văn hoá bị đốt hoặc đưa về Yên Kinh, (Bắc Kinh), nhưng Văn Miếu vẫn được người Minh tôn trọng. Năm Giáp Ngọ (1414) Hoàng Phúc xin với vua nhà Minh cho lập Văn Miếu ở các châu, huyện trong cả nước.
Năm Quý Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 14 (1483) Lê Thánh Tông, đã thực hiện một đợt đại trùng tu, được ghi lại trong Đại Việt sử ký toàn thư như sau: Tháng Giêng, mùa xuân sửa nhà Thái học...Đằng trước nhà Thái học dựng Văn Miếu. Khu cũ của Văn Miếu có điện Đại Thành để thờ Tiên Thánh, Đông vũ và Tây vũ chia ra thờ các Tiên hiền, Tiên nho; điện Canh Phục để làm nơi túc yết, Một kho để chứa đồ tế khí và một phòng để làm nhà bếp; đằng sau nhà Thái học, dựng cửa Thái học, nhà Minh luân. Giảng đường phía đông và giảng đường phía tây thì để làm chỗ giảng dạy các học sinh. Lại đặt thêm kho Bí thư để chứa ván gỗ khắc thành sách; bên đông bên tây nhà Thái học làm nhà cho học sinh trong ba xá, mỗi bên ba dãy, mỗi dãy 25 gian để làm chỗ nghỉ ngơi của học sinh
Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết vào tháng 11 niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3 (1511) vua Lê Tương Dực: Sai Nguyễn Văn Lang sửa lại điện Sùng Nho ở Quốc Tử Giám và 2 giải vũ, 6 nhà Minh Luân, phòng bếp, phòng kho, cùng làm mới 2 nhà bia bên đông bên tây, mỗi gian tả hữu đều để 1 tấm bia
Văn Miếu - Quốc Tử Giám nhà Lê đã được Lê Quý Đôn miêu tả trong Kiến văn tiểu lục (sách viết năm 1777) thì: Văn Miếu; Cửa Đại Thành Nhà 3 gian 2 chái, lợp bằng ngói đồng (ngói ống), Đông Vũ và Tây Vũ 2 dãy đều 7 gian, đằng sau cửa nhỏ 1 gian, điện canh phục 1 gian 2 chái, nhà bếp 2 gian, kho tế khí 3 gian 2 chái, cửa Thái học 3 gian, có tường ngang lợp bằng ngói đồng (ngói ống), nhà bia phía đông và tây đều 12 gian, kho để ván khắc sách 4 gian, ngoại nghi môn 1 gian, xung quanh đắp tường, cửa hành mã ngoài tường ngang 3 gian, nhà Minh Luân 3 gian 2 chái, Cửa nhỏ bên tả và bên hữu đều 1 gian, có tường ngang. nhà giảng dạy ở phía đông và phía tây 2 dãy, mỗi dãy đều 14 gian. Phòng học của học sinh tam xá ở phía đông và phía tây đều ba dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian 2 người.
Toàn bộ kiến trúc Văn Miếu hiện nay đều là kiến trúc thời đầu nhà Nguyễn. Khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch vồ (đây là sản phẩm của nhà Hậu Lê)
Hiện nay quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám được chia làm ba khu vực chính: 1 là Văn hồ, 2 vườn Giám và 3 là khu nội tự Văn Miếu - Quốc Tử Giám đây là khu chủ thể, bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn, kiến trúc đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc Việt Nam (từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19).
=== Hồ Văn ===
Phía nam, trước mặt Văn Miếu là hồ Minh Đường hay Văn hồ, dân gian thường gọi là hồ Giám. Chính quyền thành phố Hà Nội đã cố gắng giải tỏa, nhưng hiện nay diện tích cũng chỉ còn được 12297 m², giữa hồ có gò Kim Châu, trên gò dựng Phán Thủy đường (là nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của nho sĩ kinh thành xưa). Theo ý đồ kiến trúc, đây vốn là cái "tiểu minh đường" của Văn Miếu, là một bộ phận khăng khít của toàn bộ công trình kiến trúc chung. Năm 1863, trong dịp sửa nhà bia Văn Miếu, Văn Hồ đã được một lần tu sửa. Sự việc này còn ghi lại rõ ràng trên tấm bia đá dựng ở gò giữa hồ: Trước miếu có hồ lớn, trong hồ có gò Kim Châu, vào khoảng niên hiệu Cảnh Trị (1668-1671), Tham tụng họ Phạm (Phạm Công Trứ) làm 10 bài thơ vịnh Phán thủy để ghi lại cảnh đẹp... Mùa thu năm Quý Hợi niên hiệu Tự Đức (1863) tôi cùng Cao đài Đặng Lương Phủ (Đặng Tá) dựng đình bia Tiến sĩ và sửa sang khu hồ... Mùa thu năm Ất Sửu (1865), Đặng sứ quân lại xuất tiền nhà xây một đình trên gò Kim Châu. Đình làm xong gọi là Văn hồ đình.... .
Ngày 12 tháng 2 năm 1998, trong khi nạo vét cải tạo hồ Văn đã tìm thấy tấm bia Hoàn Văn hồ bi, soạn năm Bảo Đại thứ 17 (1942), do cử nhân khoa Quý Mão Hoàng Huân Trung soạn. Điều đặc biệt là mặt sau của bia khắc bản dịch chữ Hán ra chữ Quốc ngữ do đốc học Trần Trọng Kim và Nguyễn Quang Oánh dịch. Cho biết hồ này và cả giải đất chạy suốt chiều dài mé tây của Văn Miếu đều thuộc quần thể khu vực Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Đến cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 20 do phân cách địa giới hành chính, khu vực Văn Miếu thuộc đất tỉnh Hà Đông. Khi đất Văn Miếu - Quốc Tử Giám trao lại cho tỉnh Hà Nội thì bỏ sót lại khu hồ Văn, vì thế năm 1939 các văn thân nho sĩ tỉnh Hà Nội đệ đơn trình Thị trưởng Hà Nội xin Công sứ toàn quyền Bắc Kỳ trả lại hồ Văn vào địa phận Văn Miếu, văn bia có đoạn viết: Hồ này ở ngoài tường cửa thứ ba Văn Miếu tên là hồ Minh Đường hay là Văn hồ. Hồ rộng 1 vạn chín trăm thước vuông tây, trong hồ có gò tròn tên gọi Kim Châu rộng hai trăm thước vuông tây
Một hồ nước trong, quanh bờ cây cối râm mát, một gò đất nổi giữa hồ trên có một kiến trúc nhỏ đẹp lẩn dưới cành lá sum suê, cảnh này mở đầu cho một khu kiến trúc sẽ trở thành một tấm gương soi, nhân đôi cảnh trí, có tác dụng gây cho khách tham quan cảm giác mát mẻ dịu dàng ngay từ khi mới đặt chân vào khu kiến trúc.
Khu nội tự Văn Miếu - Quốc Tử Giám tôn nghiêm, được ngăn cách với vườn Giám và không gian bên ngoài bằng tường gạch vồ và được chia làm 5 lớp không gian khác nhau, mỗi lớp được giới hạn bởi các tường gạch và có các cửa thông nhau: một cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên với các kiến trúc chủ thể là: cổng Văn Miếu, cổng Đại Trung, Khuê Văn các, cổng Đại Thành, khu điện thờ, cổng Thái Học và kết thúc là khu Thái Học.
=== Văn Miếu Môn ===
Phía trước Văn Miếu môn là tứ trụ (nghi môn) và hai tấm bia Hạ mã (下馬)hai bên đó là mốc ranh giới chiều ngang phía trước mặt cổng. Xưa kia dù công hầu hay khanh tướng, dù võng lọng hay ngựa xe hễ đi qua Văn Miếu đều phải xuống đi bộ ít nhất từ tấm bia Hạ mã bên này sang tới tấm bia Hạ mã bên kia mới lại được lên xe lên ngựa. Thế đủ biết Văn Miếu có vị trí tôn nghiêm tới chừng nào. Tứ trụ được xây bằng gạch, hai trụ giữa xây cao hơn trên có hình 2 con nghê chầu vào. Quan niệm tâm linh cho rằng đây là vật linh thiêng có khả năng nhận ra kẻ ác hay người thiện. Hai trụ ngoài đắp nổi 4 con chim phượng xoè cánh chắp đuôi vào nhau. Tứ trụ có đôi câu đối chữ Hán:
Đông, tây, nam, bắc do tư đạo
Công, khanh, phu sĩ, xuất thử đồ
Tạm dịch là:
Đông, tây, nam, bắc cùng đạo này (đạo Nho)
Công, khanh, phu sĩ xuất thân từ đường này
Văn Miếu môn tức là cổng tam quan phía ngoài. Cổng có ba cửa, cửa giữa cao to và xây 2 tầng. Tầng trên có ba chữ 文廟門 (Văn miếu môn). Kiểu dáng kiến trúc Văn Miếu môn nhiều nét độc đáo rất đáng lưu ý trong khi nghiên cứu kiến trúc cổ Việt Nam. Nhìn bên ngoài tam quan là 3 kiến trúc riêng biệt. Cửa chính giữa thực chất xây 2 tầng. Mặt bằng hình vuông. Tầng dưới to, tầng trên nhỏ chồng lên giữa tầng dưới. Ngày 18 tháng 3 năm Khải Định thứ 3, vua Khải Định bắc tuần có đến chiêm bái Văn Miếu Hà Nội và làm hai bài thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán, rồi phán cho tỉnh thần Hà Đông khắc vào bia dựng trên gác tam quan. (rất tiếc bia hiện nay không còn, chỉ còn lại bệ bia, hai mặt bệ là hình hổ phù rất đẹp) Nguyên văn hai bài thơ như sau:
Bài thứ nhất
Hóa thành nam quốc ái văn hoa,
Thánh đạo chân truyền quán bách gia,
Tằng vi Bắc phương danh giáo địa,
Nghi hồ miếu mạo vĩnh nguy nga.
Tạm dịch là:
Giáo hoá lan tràn khắp nước ta,
Đạo Thánh đứng đầu cả bách gia,
Nghe nói Bắc phương văn vật thịnh,
Thảo nào Văn Miếu vẫn nguy nga.
Bài thứ hai
Thời trung văn giáo nhập Viêm đô,
Bách thế tôn sùng đệ nhất Nho,
Thử đặc Lý triều lưu cổ tích.
Kinh kỳ tự hữu hảo quy mô
Tạm dịch là:
Thời trung đạo ấy tới Viêm đô,
Trăm thủa đề cao nhất đạo Nho,
Triều Lý vẫn còn lưu dấu cũ,
Kinh thành riêng để một quy mô.
Phía trước cổng tam quan là đôi rồng đá cách điệu thời Lê, bên trong là đôi rồng đá thời Nguyễn. Hai mặt cổng tam quan Phía ngoài có hai câu đối nề (không rõ niên đại)
Câu đối thứ nhất
Chữ Hán
大 國 不 易 教 不 變 俗 且 尊 崇 之 亦 信 斯 文 原 有 用
吾 儒 要 通 經 要 識 時 無 拘 固 也 尚 思 聖 訓 永 相 敦
Phiên âm
Đại quốc bất dịch giáo, bất biến tục, thả tôn sùng chi, diệc tín tư văn nguyên hữu tự
Ngô Nho yếu thông kinh, yếu thức thời, vô câu cố dã, thượng tư thánh huấn vĩnh tương đôn.
Tạm dịch nghĩa là:
Nước lớn trong giáo dục, giữ thuần phong, đạo được tôn sùng, tin tưởng tư văn nguyên có gốc.
Nhà Nho phải thông kinh, phải thức thời, chớ nên cố chấp, những lời thánh huấn phải ghi lòng.
Câu đối thứ hai
Sĩ phu báo đáp vị hà tai! Triều đình tạo tựu chi ân, quốc gia sùng thượng chi ý
Thế đạo duy trì thử nhi! Lễ nhạc y quan sở tụy, thanh danh văn vật sở đô.
Tam dịch nghĩa là:
Sĩ phu có nhiều báo đáp, ơn triều đình đào tạo, ý nhà nước tôn sùng.
Thế đạo nhờ đó duy trì, chốn lễ nhạc y quan, nơi thanh danh văn vật.
=== Đại Trung Môn ===
Từ cổng chính Văn Miếu môn, vào không gian thứ nhất gọi là khu Nhập đạo, theo đường thẳng tới cổng thứ hai là Đại Trung môn. Ngang hàng với Đại Trung môn bên trái có Thành Đức môn, bên phải có Đạt Tài môn. Theo văn bản của ông Đỗ Văn Ninh trước đây hai cổng tả môn và hữu môn ở phía trước và bằng Đại Trung môn, Thánh Đức môn và Đại tài môn ở phía sau. Hiện nay hai bên là không gian cây xanh và thảm cỏ Bức tường ngang nối ba cửa vươn dài ra hai bên tới tận tường vây dọc bên ngoài. Hai bên tả hữu của cả khu Văn Miếu, cùng với tường ngang nơi Văn Miếu môn tạo thành một khu hình gần vuông có tường vây khép kín ra vào bằng Văn Miếu môn. Trong khu vực này trồng cây bóng mát gần kín mặt bằng. Hai chiếc hồ chữ nhật nằm dài sát theo chiều dọc bên ngoài. Cảnh này gây nên cảm giác tĩnh mịch, thanh nhã của nơi "văn vật sở đô". Cửa Đại Trung môn làm kiểu 3 gian, xây trên nền gạch cao, có mái lợp ngói mũi hài, có hai hàng cột hiên trước và sau, ở giữa là hàng cột chống nóc. Gian giữa cổng treo một tấm biển nhỏ đề 3 chữ sơn then Đại Trung môn.
Con đường thẳng từ Văn Miếu môn tới Đại Trung môn lại vươn tiếp thẳng tới Khuê Văn Các. Từ hai cửa Đạt Tài và Thành Đức ở hai bên cửa Đại Trung, hai con đường nhỏ hơn song song chạy thẳng với con đường trục giữa, chia khu vực thứ hai này thành 4 dải khá cân bằng. Hai hồ nước được đào ở vị trí tương tự như hai hồ nước ở khu vực thứ nhất. Việc lặp lại một khu vực chỉ có cây có cỏ, việc làm thêm dãy tường ngăn và làm thêm lớp cửa ra vào, được các nhà kiến trúc cho là rất thành công trong ý đồ tạo nên cảnh thâm nghiêm, tĩnh mịch của khu vực kiến trúc.
=== Khuê Văn Các ===
Khuê Văn Các (nghĩa là "gác vẻ đẹp của sao Khuê") là một lầu vuông tám mái, bao gồm bốn mái thượng và bốn mái hạ, cao gần chín thước, do Tổng trấn Nguyễn Văn Thành triều Nguyễn đương thời cho xây dựng vào năm 1805. Gác dựng trên một nền vuông cao cân xứng có lát gạch Bát Tràng mỗi bề có chiều dài là 6,8 mét. Để bước lên được nền vuông này phài đi qua ba bậc thang đá. Kiểu dáng kiến trúc Khuê Văn Các rất hài hòa và độc đáo. Tầng dưới là 4 trụ gạch vuông, mỗi cạnh của trụ có chiều dài một mét và trên các mặt trụ đều có chạm trổ các hoa văn rất tinh vi và sắc sảo. Tầng trên là kiến trúc gỗ sơn son thếp vàng trừ mái lợp và những phần trang trí góc mái hoặc trên bờ nóc là bằng chất liệu đất nung hoặc vôi cát có độ bền cao.
Sàn gỗ có chừa 2 khoảng trống để bắc thang lên gác. Bốn cạnh sàn có diềm gỗ chạm trổ tinh vi. Bốn góc sàn làm lan can con tiện cũng bằng gỗ. Bốn mặt tường bịt ván gỗ, mỗi mặt đều làm một cửa tròn có những thanh gỗ chống tỏa ra bốn phía. Cửa và những thanh gỗ chống tượng trưng cho sao Khuê và những tia sáng của sao . Mé trên sát mái phía cửa ngoài vào treo một biển sơn son thiếp vàng 3 chữ 奎文閣 (Khuê Văn Các). Mỗi mặt tường gỗ đều chạm một đôi câu đối chữ Hán thiếp vàng. Cả bốn đôi câu đối này đều rất có ý nghĩa.
Khuê tinh thiên lãng nhân văn xiển - Bích thuỷ xuân thâm đạo mạch trường.
Hy triều phấn sức long văn trị - Kiệt các trân tàng tập đại quan
Thành lâm Bắc đẩu hồi nguyên khí - Nguyệt tế thu đàm chiếu cổ tâm.
Thánh hiền nhất thống đồ thư phủ - Văn hiến thiên thu lễ nghĩa bang.
Tạm dịch nghĩa như sau:
Sao Khuê trời sáng, văn minh rộng - Sông Bích xuân sâu, mạch đạo dài
Triều ta tô điểm nhiều văn trị - Gác đẹp văn hay đón khách xem
Bắc Đẩu soi thành nhiều khí tốt - Đầm thu bóng nguyệt sáng lòng xưa
Nước lễ nghĩa nghìn năm văn hiến - Phủ đồ thư một mối thánh hiền
Gác Khuê Văn vốn là nơi xưa kia dùng để họp bình những bài văn hay của các sĩ tử đã thi trúng khoa thi hội. Gác nhỏ, kiến trúc giản dị nhưng tao nhã, đặc biệt lại được chọn dựng giữa những cây cổ thụ xanh tốt, cạnh giếng Thiên Quang đầy nước trong in bóng gác.
Phân tích. Theo Kinh dịch những con số lẻ (1, 3, 5, 7, 9) thuộc về dương, biểu hiện sự sinh sôi nảy nở và phát triển, Khuê Văn Các có 8 mái là bát quái, có thêm 1 nóc ở trên là 9, số cửu trù, số cực dương. Theo quan niệm của người xưa, giếng Thiên quang hình vuông tượng trưng cho mặt đất, cửa sổ hình tròn của gác Khuê Văn tượng trưng cho bầu trời, có ý nói nơi đây là nơi tập trung mọi tinh hoa của trời đất, có ý tưởng đề cao trung tâm giáo dục văn hoá Nho học Việt Nam. Ngày nay, Khuê Văn Các ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội.
Cửa Bi văn kết thúc con đường lát gạch nhỏ chạy từ cửa Thành Đức bên trái Bi văn có nghĩa là trang sức nên vẻ đẹp. Ý nói văn chương trau chuốt sáng sủa, có sức truyền cảm thuyết phục con người.
Cửa Súc văn kết thúc con đường lát gạch nhỏ chạy từ cửa Đạt Tài bên phải Súc Văn có nghĩa là văn chương hàm súc phong phú, có khả năng nuôi dưỡng vẻ đẹp của tâm hồn.
Hai cửa này cùng với gác Khuê Văn đồng thời mở đầu cho khu vực thứ hai, khu vực giếng Thiên Quang và hai vườn bia Tiến sĩ.
=== Giếng Thiên Quang, bia Tiến sĩ ===
Thiên Quang tỉnh (tức "giếng soi ánh sáng bầu trời") còn được gọi là Văn Trì (Ao Văn). Thiên Quang nghĩa là ánh sáng bầu trời. Đặt tên này cho giếng, người xây dựng có ý muốn nói con người thu nhận được tinh túy của vũ trụ, soi sáng tri thức, nâng cao phẩm chất, tô đẹp nền nhân văn. Giếng hình vuông, quanh bờ đều xây hàng lan can tới độ ngang lưng. Người xưa còn có quan niệm giếng hình vuông tượng trưng cho đất, cửa tròn gác Khuê Văn tượng trưng cho trời. Tinh hoa của cả trời cả đất đều được tập trung ở trung tâm văn hóa giáo dục uy nghiêm giữa chốn đế đô này. Một con đường nhỏ lát gạch bao quanh giếng cho phép người ta có thể dạo quanh giếng, lên gác Khuê Văn, vào cửa Đại Thành hoặc rẽ sang 2 vườn bia đá ở 2 bên.
Nhưng có lẽ di tích có giá trị bậc nhất ở đây là 82 tấm bia Tiến sĩ dựng ở hai bên phải trái của giếng Thiên Quang, mỗi bên 41 tấm dựng thành 2 hàng ngang, mặt bia đều quay về phía giếng. Cả hai bên, giữa mỗi vườn bia xây một tòa đình vuông, 4 mặt bỏ trống, nền cao, giữa nền có bệ, cửa đều trông thẳng xuống giếng. Đây là hai tòa đình thờ bia. Xưa kia hàng năm xuân thu nhị kỳ trong Văn Miếu làm lễ tế thì ở đây cũng sửa lễ vật cúng bái các vị tiên nho của nước ta mà quý tính cao danh còn khắc trên bia đá. Trong 82 tấm bia còn lại tới ngày nay, tấm sớm nhất dựng vào năm 1484, khắc tên các vị tiến sĩ đỗ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442) tấm cuối cùng dựng vào năm 1780, khắc tên các Tiến sĩ đỗ khoa Kỷ Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 40 (1779). Từ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 tới khoa cuối cùng là khoa Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống năm thứ nhất 1787 tính cho đủ phải tới 124 khoa thi đình, nếu chỉ kể các khoa thi Tiến sĩ, không kể các khoa Đông Các và Chế khoa thì cũng phải 117 khoa, vậy nếu theo đúng điển lệ triều Hậu Lê thì phải lập đủ 117 tấm bia đề tên Tiến sĩ. Thế nhưng trải qua bao cơn binh lửa, vật đổi sao dời, số bia chỉ còn là 82 tấm. Nhiều tấm bia nọ lắp vào rùa kia, nhiều tấm nứt vỡ phải gắn chắp lại.
Khi quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long đã làm hư hại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Nông dân trại Văn Chương xin Nguyễn Huệ dựng lại bia đề tên Tiến sĩ trong nhà Giám viết rằng:
Bia Tiến sĩ dựng trong Văn Miếu
Khởi từ năm Đại Bảo thứ ba
Xí vào Nhâm Tuất hội khoa
Thái Tông ngự trị thuộc nhà Hậu Lê
Rồi từ đó lệ về Quốc Giám
Trải ba trăm ba mươi tám năm ròng
Đến năm thứ 40 niên hiệu Cảnh Hưng vua Hiển Tông
Là khoa Kỷ Hợi cuối cùng hết bia
Tính gồm lại số bia trong Giám
Cả trước sau là tám mươi ba
Dựng theo thứ tự từng khoa
Bia kia sáu thước cách xa bia này
Nhà bia đủ đông tây 10 nóc
Vuông bốn bề ngang dọc bằng nhau
Mỗi bề hai chục thước tàu
Cột cao mười thước có lầu chồng diêm
Coi thể thế tôn nghiêm có một
Cửa ra vào then chốt quan phòng
Bốn quan nhất phẩm giám phong
Ba cơ, bảy vệ canh trong canh ngoài
Bia mới dựng đầy 2 nóc trước
Tám nóc sau còn gác lưu không
Năm năm chờ đợi bảng rồng
Các quan bộ Lễ, bộ Công chiếu hành
Tháng 4 năm 1976 Viện Khảo cổ học phối hợp với phòng Bảo tồn bảo tàng, sở Văn hóa Thông tin Hà Nội đã khai quật được một con rùa đá đế bia chìm sâu dưới lòng hồ cạnh Khuê Văn Các. Thân bia chưa thấy, song sự việc này đã nâng số bia Tiến sĩ lên con số 83. Những năm thực dân Pháp xâm lược rồi tạm chiếm Hà Nội, 2 vườn bia có lúc hoang vắng, cỏ cao lút đầu. Hiện nay 2 vườn bia đã được tu sửa lại theo mẫu sửa nhà bia cuối cùng vào niên hiệu Tự Đức năm thứ 16 (1863), do Bố chính Hà Nội là Lê Hữu Thanh cùng với thự Hậu quân Đô thống, Tổng đốc Hà Ninh là Tôn Thất Hân và Án sát Hà Nội là Đặng Tá khởi xướng làm 2 nhà bia mỗi nhà 11 gian để che mưa nắng cho các di vật quý giá này. Nội dung được ghi rõ trong 2 tấm bia dựng ở bên trái sân Đền Khải Thánh - Quốc Tử Giám (xem phần trích trong mục Đền Khải Thánh - Quốc Tử Giám)
=== Đại Thành Môn, khu điện thờ ===
Qua cửa Đại Thành là vào không gian thứ ba, khu vực chính của di tích Quốc Tử Giám - Văn Miếu. Cũng như cửa Đại Trung, cửa Đại Thành là một kiến trúc 3 gian với hai hàng cột hiên trước sau và một hàng cột giữa. Chính giữa, trên giáp nóc có treo một bức hoành khắc 3 chữ 大成門 (Đại thành môn) theo chiều ngang, đọc từ phải sang trái. Bên phải hai hàng chữ nhỏ dọc khắc Lý Thánh Tông, Thần Vũ nhị niên, Canh Tuất thu, bát nguyệt phụng kiến có nghĩa là: "Tháng 8 mùa thu năm Canh Tuất, niên hiệu Thần Vũ năm thứ 2 đời Lý Thánh Tông vâng sắc xây dựng" . Bên trái một hàng chữ dọc khắc: Đồng Kháng tam niên, Mậu Tý trọng đông đại tu có nghĩa là "Tháng 11 năm Mậu Tý niên hiệu Đồng Khánh năm thứ 3 đại tu". Bức hoành sơn thiếp giản dị, là sản phẩm của năm 1888, song nó là minh chứng cho một lần tu sửa lớn vào thời Đồng Khánh nhà Nguyễn, và cũng là một bằng cứ gián tiếp cho năm khởi dựng Văn Miếu vào thời vua Lý Thánh Tông.
Cửa Đại Thành (cửa của sự thành đạt lớn lao), mở đầu cho khu vực của những kiến trúc chính, nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối, Thất thập nhị hiền v.v... và cũng là nơi giảng dạy của trường giám thời xưa, mang một cái tên đầy ý nghĩa tưởng không còn có thể chọn một tên nào có ý nghĩa hay hơn.
Hai cửa nhỏ theo văn bản của ông Đỗ Văn Ninh là Kim Thành bên phải và Ngọc Thành bên trái, hiện nay là Kim Thanh môn và Ngọc Chấn môn nằm ngang với cửa Đại Thành, song 2 cửa này không mở vào thẳng khu vực chính, mà để đi qua con đường lát gạch phía sau 2 dãy Tả Vu và Hữu Vu để tiếp tục qua sang khu Khải Thánh phía cuối cùng của di tích.
Bước qua cửa Đại Thành là tới một sân rộng mênh mang lát gạch Bát Tràng. Hai bên phải trái của sân là 2 dãy Hữu Vu và Tả Vu. Chính trước mặt là tòa Đại Bái Đường rộng rãi, to lớn và thâm nghiêm trải suốt chiều rộng của sân nối giáp với đầu hồi của Tả Vu, Hữu Vu 2 bên, tạo thành cụm kiến trúc hình chữ U cổ kính và thuyền thống. Sau Đại Bái Đường, song song với Đại Bái Đường là tòa Thượng Điện, có quy mô tương tự cả về chiều cao lẫn bề rộng. Đại Bái Đường nối với Thượng Điện bằng một Tiểu Đình hình vuông. Nếu tách riêng cụm 3 kiến trúc này ra mà nói thì chúng được xây dựng theo hình chữ công mà Tiểu đình chính là nét sổ giữa và Đại Bái Đường, Thượng Điện là 2 nét ngang trên và dưới.
Thượng Điện ở phía sau 9 gian, tường xây 3 phía, phía trước có cửa bức bàn đóng kín 5 gian giữa, 4 gian đầu hồi có cửa chấn song cố định. Nhìn chung Thượng Điện kín đáo và do đó cũng tối hơn Đại Bái, đó cũng là ý đồ của công trình sư muốn tạo cho nơi đây một không khí thâm nghiêm, u tịch và họ đã thành công mỹ mãn. Nơi đây là nơi thờ những vị tổ đạo Nho. Gian chính giữa có cái khám và ngai lớn để trên một bệ xây, trong có bài vị Chí thánh tiên sư Khổng Tử. Cách 2 gian 2 bên tới những gian khác cũng có bệ xây và cũng có khám, trong khám có ngai và bài vị. Bên trái có 2 ngai thờ Tăng Tử và Mạnh Tử; bên phải có 2 ngai thờ Nhan Tử và Tử Tư. Bốn vị được thờ trên đây tức là Tứ phối được quy định thờ từ ngày mới xây dựng Văn Miếu. Ngoài bài vị ra cả 4 vị đều có tượng gỗ sơn thiếp rất uy nghi.
Hai gian đầu hồi cũng có 2 khám lớn xếp chầu vào gian giữa, thờ Thập Triết gồm những vị: Mẫu tử, Nhiễm tử, Đoan mộc tử, Trang Tử, Bốc tử, Hữu tử, Tề tử, Ngân tử, Suyền Tôn tử, Chu tử.
Tòa Đại Bái bên ngoài cũng xây 9 gian, nhưng chỉ xây 2 tường hồi còn mặt trước mặt sau để trống. Tòa Đại Bái này có chức năng hành lễ trong những kỳ tế tự xuân thu. Chỉ gian chính giữa có hương án thờ còn các gian khác đều bỏ trống. Tại đây treo khá nhiều hoành phi câu đối. Bức hoành gian giữa khắc 4 chữ Khang Hi ngự thư và Đồng Khánh Mậu Tý trọng đông thuận đề (1888)
Cũng như Thượng Điện, Đại Bái đường mang đậm phong cách kiến trúc thời Hậu Lê, kẻ bảy giản đơn không chạm trổ cầu kỳ, chồng đấu làm theo kiểu đấu đỡ cột chồng rất Việt Nam, khác hẳn với phong cách kiến trúc đồng thời của những công trình ở các nước láng giềng.
=== Đền Khải Thánh - Quốc Tử Giám ===
Khu Khải Thánh là khu sau cùng của di tích. Từ Văn Miếu sang đến Khải Thánh người ta có thể đi theo 2 con đường lát gạch phía sau Tả Vu và Hữu Vu, hoặc cũng có thể từ sau lưng Thượng Điện qua cửa tam quan. Cửa này là cửa chính cũng xây 3 gian, có mái lợp và cánh cửa đóng mở. Từ bên ngoài vào đền Khải Thánh cũng có thể qua một cổng nhỏ có cánh mở ở góc Đông Nam nơi tiếp giáp với bức tường ngăn 2 khu Văn Miếu và Khải Thánh.
Đền Khải Thánh là nơi thờ cha mẹ Khổng Tử tức là Thúc Lương Ngột và Nhan Thị. Phần nửa diện tích của khu này là sân phía trước. Sân bị con đường lát gạch ngăn đôi dẫn từ cửa tam quan lên chính giữa đền thờ. Nửa sân bên trái có 2 tấm bia ghi đại lược như sau: Thăng Long là nơi đô thành cũ; là nhà Thái Học xưa. Hai bên cửa Văn Miếu có dựng bia đề tên Tiến sĩ, bắt đầu từ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo, tới khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng, nay hiện còn 82 tấm, đó chỉ là một số nhỏ. Trong thời gian từ đó tới nay gió táp mưa sa, cỏ lấp rêu phong, có tới hơn 10 tấm chữ khắc bị mòn, lỏng chỏng mỗi nơi mỗi tấm, phần nhiều sứt mẻ không thể đọc được hết (十 面 餘 零 星 散 立, 多 斑 駁 不 可 卒 讀. Thập diện dư linh tinh tán lập, đa ban bác bất khả tốt độc)
Tôi là Thanh đến làm quan ở đây, vẫn thường muốn làm việc ấy. Mùa thu năm nay, công việc đỡ bận, tôi bàn với quan tổng đốc và quan án sát, bàn cách làm nhà ngói mỗi bên 2 tòa nhà, mỗi tòa 11 gian. Tấm bia nào đổ lỏng chỏng thì đem xếp lại, mặt bia nào bị sứt sở thì đem so sánh mà khắc lại. Cất giữ lấy vết tích xưa vậy.... Thật sự 2 tấm bia này cũng là những tư liệu quý.
Kiến trúc đền Khải Thánh sơ sài hơn song cũng có Tả Vu, Hữu Vu 2 bên và đền thờ ở giữa. Đền Khải Thánh xưa vốn là Quốc Tử Giám, nơi rèn đúc nhân tài cho nhiều triều đại. Năm 1946 quân Pháp đã bắn đại bác phá hủy sạch không còn lại một kiến trúc nào. Kiến trúc ngày nay là hoàn toàn mới. Toàn bộ mái đều được lợp hai lớp ngói lót, trên là một lớp chì dày 1,5mm rồi đến một lớp ngói lót nữa, và trên cùng là ngói mũi hài. Phần giữa các cột nhà với chân đá tảng cũng đặt một tấm chì dày 1,5mm để chống ẩm từ dưới lên. Nền sân đều được lát gạch bát kích thước 30x30x4cm. Xung quanh nhà đều được bó vỉa bằng đá xanh. Quy mô kiến trúc khu Thái Học mới rất bề thế, trang nghiêm và hài hoà với kiến trúc cảnh quan của khu Văn Miếu phía trước.
=== Nhà Tiền đường, Hậu đường ===
Đây là công trình xây dựng hoàn toàn do Trung tâm thiết kế tu bổ di tích - Bộ Văn hoá Thông tin thiết kế kỹ thuật, nằm trong công trình trùng tu khu Thái Học khởi công xây dựng ngày 13 - 7 - 1999.
Nhà Tiền đường 9 gian với 40 cột gỗ lim chống mái, đầu hồi xây tường bằng gạch 30x30x7cm mặt ngoài để trần không trát. Gian đầu hồi và gian thứ ba mặt trước, mặt sau đều có cửa bức bàn chấn song con tiện dẫn sang nhà Hậu đường.
So với nhà Bái đường của khu Văn Miếu, cột cái của nhà Tiền đường đều to và cao hơn, đường kính cột là 0,48m, chiều cao cột là 7m. Tiền đường là nơi trưng bày truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo ngày nay, đồng thời cũng là nơi tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, văn hoá nghệ thuật dân tộc. Ống muống nối Tiền đường với Hậu đường vào với nhau và có hai cửa sang nhà chuông, nhà trống.
Hậu đường là kiến trúc gỗ hai tầng, tầng 1 gồm 9 gian, 2 chái với 72 cột gỗ lim, trong đó 8 cột cái cao 11,5m đường kính 0,56m. Hai đầu hồi xây tường bằng gạch 30x30x7cm mặt ngoài cũng để trần không trát. Phía trước là cửa bức bàn chấn song con tiện, xung quanh là vách đố lụa. Gian đầu hồi mặt sau, gian thứ 3 và gian thứ 7 mặt trước là cửa sổ chấn song con tiện.
Tầng một là nơi tôn vinh Danh sư Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An và là nơi trưng bày về Văn Miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long và nền giáo dục Nho học Việt Nam giới thiệu khái quát lịch sử hình thành và phát triển của Văn Miếu - Quốc Tử Giám cùng những giá trị sâu sắc của truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học, đề cao nhân tài, thừa kế và phát huy di sản văn hoá dân tộc.
Tầng 2 có 5 gian xung quanh là vách đố lụa, mặt trước có 5 cửa và mặt sau có 4 cửa để ra lan can phía trước và sau.
Tầng 2 là nơi tôn thờ các danh nhân đã có công xây dựng Văn Miếu - Quốc Tử Giám và đóng góp vào sự nghiệp giáo dục Nho học của Việt Nam. Đó là các vị Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và Lê Thánh Tông
=== Những tu bổ sau năm 1954 ===
Năm 1954 sau ngày tiếp quản Thủ đô, cơ quan chủ quản ngành văn hoá Hà Nội trùng tu lại hai dãy Đông vu, Tây vu ở hai bên sân Đại bái.
Ngày 28 - 4 - 1962, Bộ văn hoá đã công nhận xếp hạng là khu di tích lịch sử cấp Nhà nước.
Ngày 25 - 4 - 1988, thành lập Trung tâm hoạt động văn hoá khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám có chức năng quản lý tu bổ, tôn tạo di tích cho xứng đáng với danh tiếng và vai trò trong lịch sử phát triển nền văn hoá giáo dục của dân tộc.
Năm 1991: Tu bổ điện Đại Thành và cải tạo toàn bộ hệ thống thoát nước.
Năm 1992: Nạo vét cạp lại 4 hồ nhỏ ở khu vực thứ nhất và thứ hai.
Năm 1993: Tu bổ thảm cỏ cây xanh, thay đất trồng lại cỏ, xây dựng nhà vệ sinh, nhà kho ở sau dãy hữu vu phía Tây.
Năm 1994: Xây dựng lại 8 nhà che bia, sắp xếp bia Tiến sĩ, mỗi bên 4 dãy, mỗi dãy 10 bia. Đặt bia của 2 khoa thi 1442 và 1448 vào giữa hai toà đình bia, đồng thời sửa chữa toàn bộ đường đi trong khu di tích, nạo vét giếng Thiên Quang.
Năm 1995: Lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng, tu bổ tường bao từ khu thứ nhất đến khu thứ tư của Văn Miếu, Tu sửa nhà Bái đường, Cổng Đại Trung, cổng Đại Thành, Khuê Văn Các, cổng Thái Học, sơn son thiếp vàng toàn bộ các cột, cổng, hoành phi câu đối của khu di tích.
Ngày 13 - 7 - 1999 Khởi công xây dựng khu Thái Học làm nơi tôn vinh truyền thống văn hoá dân tộc. Đây là công trình kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội
Ngày 8 - 10 - 2000 làm lễ khánh thành.
Trong đợt đại trùng tu (1990-2000) hai đơn vị thi công là: Công ty Tu bổ di tích và thiết bị văn hoá Trung ương và Công ty xây dựng và phục chế công trình văn hoá Hà Nội. Đã làm theo mẫu thiết kế của Công trình xây dựng khu Thái Học, Trung tâm thiết kế tu bổ di tích- Bộ Văn hoá Thông tin thiết kế mỹ thuật. Đã tham khảo Khổng Miếu Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, quê hương Khổng Tử. Thiết kế quy hoạch theo ý nghĩa là một nơi di tích trung tâm văn hoá nho học.
=== Đánh giá ===
Khổng Tử là người Trung Quốc, Nho giáo là sản phẩm bắt nguồn từ Trung Quốc. Chế độ dựng Văn Miếu thờ Khổng Tử cũng do người Trung Quốc chế định. Việc dựng Văn Miếu ở Việt Nam tất không thể không phỏng theo chế độ Trung Hoa. Song sự khác biệt giữa Văn Miếu Việt Nam và Văn Miếu Trung Quốc lại rất lớn và rất rõ ràng. Văn Miếu Hà Nội vai trò của nó không chỉ là một điện thờ mà nó còn là một trường học.
So sánh với kiến trúc thờ Khổng Tử ở Khúc Phụ, Trung Quốc, ta dễ thấy những điểm dị đồng. Cả 2 nơi Khúc Phụ và Hà Nội đều có những kiến trúc mang tên chung như Đại Trung môn, Đại Thành môn, Khuê Văn Các v.v... Thế nhưng điểm giống nhau chỉ là tên gọi mà thôi.
Nhìn chung bố cục kiến trúc ở Khúc Phụ quy mô lớn hơn, Kiến trúc chủ thể sắp xếp trên trục Bắc Nam là: Kim Thanh Ngọc Chấn phường, Linh Tinh môn, Thánh Thời môn, cầu Bích Thủy, Hoằng Đạo môn, Đại Trung môn, Khuê Văn các, Đại Thành môn, Hạnh đàn, Đại Thành điện, Tẩm điện, Thánh Tích điện, đối xứng hai bên là các cổng nhỏ, lầu gác, Thi Lễ đường và các nhà bia... Khải Thánh điện ở bên Tây của điện Đại Thành... với kiểu dáng kiến trúc chồng diêm, chồng rường đòn bẩy tô vẽ màu sắc rực rỡ, kiến trúc rậm rì hơn. Kiến trúc ở Hà Nội quy mô nhỏ hơn, đi từ đầu tới cuối chỉ qua 5 cổng, kiến trúc thoáng hơn song cảnh trí xung quanh như cây cối, hồ nước, thanh nhã, phong quang thì rõ ràng hơn hẳn.
Nếu đi sâu vào từng kiến trúc từ cột kèo, chồng đấu, cho tới những bức ván chạm trổ thì một Trung Quốc, một Việt Nam không sao lẫn nổi.
Cho dù bóng dáng kiến trúc thời Lý, Trần nay không còn dấu vết nơi đâu, phần lớn kiến trúc đều là sản phẩm của thời Lê mạt, song Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội vẫn giữ được trọn vẹn giá trị của một khu di tích kiến trúc cổ Việt Nam xứng đáng được bảo tồn mãi mãi.
Vào ngày 9 tháng 3 năm 2010, UNESCO đã chính thức công nhận 82 tấm bia tại Văn miếu - Quốc Tử Giám, là Di sản tư liệu thế giới
== Ý nghĩa ==
Về mặt di tích mà nói thì 2 nhà bia Tiến sĩ ở 2 bên giếng Thiên Quang là nơi bảo tồn những di tích quý nhất của cả khu di tích lịch sử này. 82 tấm bia Tiến sĩ hiện còn có giá trị về nhiều mặt. Đây là những tư liệu văn tự bản gốc duy nhất được lưu giữ tại chỗ, liên tục kể từ khi được dựng.
nhà sử học có thể tìm thấy ở đây những tư liệu về lịch sử giáo dục, về những tên tuổi gắn bó với lịch sử dân tộc, quê quán, danh tính những bậc nhân tài được ghi cụ thể, chính xác thông qua đó có thể xác định tuổi cho nhiều di tích ở những nơi không ghi niên đại.
nhà địa lý có thể tra cứu những địa danh cũ để tìm ra những vùng đất cổ liên quan đến thời hiện tại.
nhà nghiên cứu triết học có thể tìm ở đây những chứng cứ để xác định vai trò của Nho giáo ở Việt Nam
những người Việt Nam ở khắp nơi cũng tới đây tìm tên họ một vị tổ nào đó thuộc dòng họ nhà mình xưa đã có tên trong khoa bảng
đây còn là những tư liệu có hệ thống liên tục, ít nhất cũng trong vòng 3 thế kỷ (từ 1484 tới 1780) về kỹ thuật điêu khắc đá. Nhà nghiên cứu mỹ thuật và các nghệ sĩ tạo hình có thể từ những hình dáng bia, rùa, hoa văn và các mô típ chạm khắc trên bia mà tìm ra tinh hoa của nghệ thuật dân tộc để phát huy, áp dụng vào những sáng tạo hiện đại.
đã có nhiều bài nghiên cứu viết về bia Tiến sĩ, song việc khai thác tư liệu của 2 nhà bia vẫn còn tiếp tục. Các nhà khoa học đều cho rằng văn bia tiến sĩ xứng đáng là pho "sử đá" có nhiều giá trị độc đáo và hiếm có về văn hóa, lịch sử, nghệ thuật chế tác... không chỉ với Việt Nam mà cả thế giới.
== Ghi chú ==
== Xem thêm ==
Văn miếu Xích Đằng
Văn miếu
Quốc tử giám
Văn miếu Bắc Ninh
Trạng nguyên Việt Nam
== Tham khảo ==
Kiến trúc cổ Việt Nam của Vũ Tam Lang, Nhà xuất bản Xây dựng, năm 1991.
Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, nhà xuất bản sử học, Hà Nội 1962
Đại Việt sử ký toàn thư, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1973
Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 46, tháng 1 năm 1963
Nguyễn Quang Lộc, Phạm Thuý Hằng; Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Thăng Long - Hà Nội, năm 2009
== Liên kết ngoài ==
Bia Văn miếu Hà Nội - Viện nghiên cứu Hán Nôm
Ông Nghè Tây học và Văn Miếu Quốc Tử Giám
Văn miếu - Quốc Tử Giám nhìn từ vệ tinh |
danh sách các quốc gia theo thủ đô và thành phố lớn nhất.txt |
== Các quốc gia có công nhận hạn chế ==
== Vùng lãnh thổ ==
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Danh sách các thành phố
Danh sách các thành phố lớn nhất thế giới
Danh sách các quốc gia theo thành phố lớn nhất và thành phố lớn thứ hai
== Liên kết ==
Compare with Most populous city of each country |
tortilla.txt | Bánh Tortilla hay Torrilla là một loại bánh mì dạng dẹt được làm từ bột bắp hoặc bột mỳ có xuất xứ từ Mexico và các nước Nam Mỹ. Bánh mì bắp Torrilla là một nét độc đáo của ẩm thực Mexico. Mặc dù chúng được gọi là bánh mì nhưng nguyên liệu chính lại làm từ bột bắp.và nên ăn cx trứng và guacamole
== Tổng quan ==
Loại bánh mì được dùng chủ yếu ở vùng Trung Mỹ này đã được làm từ hàng trăm năm trước. Tortilla bắt nguồn từ tiếng Tây Ban Nha Torta có nghĩa là bánh tròn. Tortilla đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ ở Mexico, và được tiêu thụ quanh năm với hơn 104 triệu dân đất nước này ăn Tortilla mỗi ngày. Gần đây các nước khác đã bắt đầu sản xuất Tortilla để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thực phẩm ở thị trường Mexico, đặc biệt là ở Bắc Mỹ, Âu Châu và Đông Á.
Tortilla rất phổ biến ở các món được làm sẵn với các loại thịt như Tacos, burritos, và enchiladas. Bột bắp sau khi hòa với nước sẽ được gia giảm thêm một số loại gia vị rồi đem nướng vàng. Bánh được ăn kèm với các loại nhân như cá hồi hay thịt lợn băm nhỏ. Miếng bánh Tortilla nóng hổi thơm ngọt vị ngô, kết hợp với nhiều nguyên liệu khác như súp, cà ri, cá hồi xông khói...
== Tham khảo ==
Growing Corn in Mexico, Pan-American Adventure: Tepotzotlán, Mexico, by Don Lotter, ngày 3 tháng 8 năm 2004.
The real taste of Mexico, by Jesse Fanciulli, Greeley Tribune, ngày 24 tháng 11 năm 2002.
Hernam Cortes: From Second Letter to Charles V, 1520, From: Oliver J. Thatcher, ed., The Library of Original Sources (Milwaukee: University Research Extension Co., 1907), Vol. V: 9th to 16th Centuries, pp. 317–326.
Bernardino de Sahagún, by James Mooney, Transcribed by Joseph E. O'Connor, The Catholic Encyclopedia, Volume XIII.
General History of the Things of New Spain (Historia general de las cosas de Nueva Espana), by the Franciscan friar Bernardino de Sahagun (1450–1590)
Danh sách các loại bánh mì |
asem.txt | Diễn đàn hợp tác Á–Âu (tiếng Anh: The Asia-Europe Meeting, viết tắt ASEM), còn gọi là Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu, được chính thức thành lập vào năm 1996 trong hội nghị cấp cao đầu tiên tại Bangkok. ASEM là một diễn đàn liên khu vực bao gồm Ủy ban châu Âu và 27 nước thành viên của Liên minh châu Âu (EU) và 14 thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và ASEAN+3
Những tiến trình chính hợp thành ASEM bao gồm:
Đối thoại chính trị.
An ninh và kinh tế.
Văn hóa và giáo dục.
hay còn gọi là 3 cuộc đối thoại nòng cốt.
Nhìn chung, các tiến trình đều được xem xét và đồng thuận của các bên liên quan phụ thuộc vào các mối quan hệ giữa châu Âu và châu Á ở các cấp. Điều này được xem là cần thiết cho sự bình đẳng toàn cầu trong chính trị và kinh tế. Các tiến trình được các nhà lãnh đạo của các nước hội thảo 1 năm 2 lần, luân phiên tại các nước thành viên, ngoài chính trị, kinh tế, văn hóa còn có nhiều hội thảo khác.
Tháng 2 năm 1997, các nước thành viên ASEM đã sáng lập Tổ chức Á - Âu (ASEF - Asia-Europe Foundation) có trụ sở tại Singapore nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa người dân hai châu lục qua các cuộc giao lưu tri thức, văn hóa, và con người. Tổ chức hoạt động bằng sự đóng góp của chính phủ các nước thành viên, nhưng ngân sách hoạt động của nhiều dự án còn được đảm nhận bởi nhiều tổ chức và tập đoàn tài chính khác trong các nước ASEM. ASEF đã đưa ra nhiều dự án khác nhau, như kêu gọi thành lập Diễn thuyết Á - Âu, cuộc thi và trưng bài tranh của các nghệ sĩ trẻ Á - Âu, Hội nghị chuyên đề về quyền con người, mạng hợp tác Á - Âu....
Các hội nghị đã được tổ chức tại:
1996 ASEM 1, Bangkok, Thái Lan
1998 ASEM 2, London, Anh
2000 ASEM 3, Seoul, Hàn Quốc
2002 ASEM 4, Copenhagen, Đan Mạch
2004 ASEM 5, Hà Nội, Việt Nam
2006 ASEM 6, Helsinki, Phần Lan (Ấn Độ, Mông Cổ và Pakistan cũng được mời tham gia trong các hội nghị sau.[1])
2008 ASEM 7, Bắc Kinh, Trung Quốc vào ngày 24, 25 tháng 10 năm 2008.
2010 ASEM 8: Brussels, Bỉ, ngày 4-5 tháng 10 năm 2010
2012 ASEM 9: Vientiane, Lào, ngày 5 đến 6 tháng 1 năm 2012
2014 ASEM 10: Milan, Italy vào ngày 16-17 tháng 10 năm 2014
2016 ASEM 11: Ulan Bator, Mông Cổ
Hội nghị ASEM lần thứ 8 giữ các Bộ trưởng Ngoại giao được tổ chức vào 28,29 tháng 5 năm 2007 tại Hamburg, Đức với sự tham gia của 10 nước ASEAN, 27 thành viên EU, Ủy ban châu Âu, châu Âu đại nghị Javier Solana, Tổng Thư ký ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Pakistan, và Mông Cổ. Hội nghị ASEM lần thứ 9 giữ các Bộ trưởng Ngoại giao sẽ được tổ chức vào năm 2009 tại Việt Nam.
== Xem thêm ==
ASEAN.
APEC
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Diễn đàn ASEM, NCIEC
ASEM: Mục tiêu - Nguyên tắc hoạt động
Nhịp cầu thương mại Á - Âu
Tổ chức ASEF
Diễn đàn con người Á - Âu
ASEM Infoboard |
lực lượng phòng vệ trên không nhật bản.txt | Lực lượng Phòng vệ Trên không Nhật Bản (航空自衛隊 Kōkū Jieitai, Lực lượng Phòng vệ Trên không Nhật Bản hay JASDF – viết tắt của Japan Air Self-Defense Force), là bộ phận không quân của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản chịu trách nhiệm về việc bảo vệ không phận Nhật Bản và hoạt động hàng không vũ trụ khác. Lực lượng này thực hiện tuần tra chiến đấu không phận xung quanh Nhật Bản, trong khi vẫn duy trì một mạng lưới rộng lớn các hệ thống radar mặt đất và cảnh báo phòng không sớm.
Lực lượng này có khoảng 45.000 người vào năm 2005, và năm 2013 có 769 máy bay, trong đó có khoảng 350 máy bay chiến đấu. Trước khi thành lập Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản sau Thế chiến II, Nhật Bản đã không có một lực lượng không quân riêng. Các hoạt động hàng không đã được thực hiện bởi Đội hàng không Không lực Lục quân Đế quốc Nhật Bản và Không lực Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Sau Thế chiến II, Quân đội Đế quốc Nhật Bản đã được giải thể và thay thế bằng Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản với việc thông qua Luật Lực lượng Phòng vệ năm 1954, và JASDF là bộ phận không quân của lực lượng này.
== Tham khảo == |
phạm thành lương.txt | Phạm Thành Lương (sinh ngày 10 tháng 9 năm 1988 tại Thôn Phù Lưu Hạ, xã Phù Lưu, Ứng Hòa, Hà Tây, nay thuộc Hà Nội) là một cầu thủ bóng đá Việt Nam. Anh là cầu thủ của câu lạc bộ Hà Nội, từng là thành viên của đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam và cũng từng là đội trưởng đội tuyển bóng đá U-23 quốc gia Việt Nam.
== Sự nghiệp ==
Phạm Thành Lương từng tham gia tập luyện trong đội bóng đá Hà Tây. Năm 15 tuổi, Phạm Thành Lương gia nhập đội trẻ của câu lạc bộ bóng đá Hà Nội - ACB. Năm 2005, Lương cùng Hà Nội - ACB tham dự giải vô địch bóng đá U21 Việt Nam tại Bình Định và đoạt hạng nhì cùng với danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất giải.
Sau giải U21 đó, Phạm Thành Lương được chuyển lên đội 1 Hà Nội - ACB và tham dự giải vô địch bóng đá Việt Nam. Năm 2008, mặc dù câu lạc bộ Hà Nội - ACB thi đấu không thành công tại giải vô địch bóng đá Việt Nam và phải xuống hạng, Lương và câu lạc bộ lại đoạt cúp quốc gia. Riêng Lương được huấn luyện viên Henrique Calisto gọi vào đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam chuẩn bị cho Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008. Tại giải đấu này, Lương thi đấu khá thành công và ghi 2 bàn thắng vào lưới Malaysia và Lào, góp phần cùng đội tuyển Việt Nam đoạt chức vô địch.
Anh là đội trưởng đội tuyển U23 Việt Nam tại SEA Games 26. Trong trận bán kết với Indonesia, anh bị thương ở đầu trong một pha tranh chấp bóng, được đưa nhập viện khẩn cấp sau khi trận đấu kết thúc và phải khâu 8 mũi.
Sau kì AFF Cup 2016 đáng thất vọng của đội tuyển Việt Nam (thất bại trước Indonesia với tổng tỉ số sau lượt trận bán kết là 3-4), Phạm Thành Lương chính thức chia tay đội tuyển Việt Nam sau 8 năm gắn bó, tổng cộng anh đã thi đấu 78 trận và ghi được 7 bàn thắng.
== Thành tích ==
Với đội tuyển Việt Nam
Vô địch giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008
Với Hà Nội - ACB
Đoạt cúp bóng đá Việt Nam 2008
Hạng nhì giải vô địch bóng đá U21 Việt Nam 2005
Cầu thủ xuất sắc nhất giải vô địch bóng đá U21 Việt Nam 2005
=== Danh hiệu cá nhân ===
Quả bóng vàng Việt Nam 2009, 2011, 2014, 2016
Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất Việt Nam 2008
=== Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia ===
Cập nhật đến ngày 6 tháng 10 năm 2016
== Chú thích == |
đạo diễn phim.txt | Đạo diễn là người chịu trách nhiệm chỉ đạo quá trình thực hiện một tác phẩm nghe nhìn, thường là điện ảnh hoặc truyền hình. Khi bắt đầu với một kịch bản, người đạo diễn sẽ định hướng những hiệu quả hình ảnh và nghệ thuật cho bộ phim. Lúc khởi quay, đạo diễn sẽ dàn cảnh, chỉ đạo diễn xuất và các phương tiện kĩ thuật. Tùy theo các điều khoản trong hợp đồng mà người đạo diễn có thể tham gia vào quá trình dựng phim hoặc không (thường là các đạo diễn ở châu Âu, ít hơn ở Mĩ). Đây là khâu cuối cùng sau khi quay xong một bộ phim, thường được gọi là "final-cut" (hiểu nôm na là khâu cắt bỏ các cảnh không ưng ý). Khi dự định cho ra lò một bộ phim, nhà sản xuất phim tìm đến các đạo diễn và người đạo diễn có trách nhiệm đảm bảo là tính ăn khách cho bộ phim. Người đạo diễn phải thực hiện quay đúng tiến độ và không được vượt quá ngân sách đã cho.
Ngày nay các đạo diễn hoạt động trong rất nhiều lĩnh vực:
- Phim viễn tưởng dài (trên 2500 mét) và ngắn (300 - 600 mét)(phim điện ảnh hoặc phim truyền hình)
- Phim tài liệu và phim động vật.
- Phim dựa trên chuyện thực (gần với nghệ thuật tạo hình).
- Phim quảng cáo
- Phim truyền thông nghe nhìn
- Chương trình truyền hình trực tiếp (thể thao, gameshow...)
== Đạo diễn điện ảnh ==
Công việc của một đạo diễn
Công việc của một đạo diễn rất phức tạp. Tùy theo dự án, nó có thể bao gồm những nhiệm vụ khác nhau, nhưng cơ bản có những công việc như sau:
- Chuẩn bị
+ Định hình khuynh hướng nghệ thuật cho bộ phim
+ Thống nhất kịch bản
+ Phân cảnh thành các lớp (dựng theo ảnh chụp và gióng khung)
+ Tổ chức và chọn địa điểm quay
- Quay phim
+ Chỉ đạo diễn xuất (vị trí diễn viên, giọng, thể hiện cảm xúc, cử động)
+ Chịu trách nhiệm chọn vị trí đặt máy quay, khung cảnh, cú máy...
+ Chọn ánh sáng cho khung cảnh (cùng với đạo diễn hình ảnh)
+ Đảm bảo thời gian quay và cân đối ngân sách đã chi.
+ Tất cả những hoạt động khác như chỉ đạo nghệ thuật, kĩ thuật cho bộ phim và nhất là quản lý ê-kíp làm phim.
- Hậu kì
+ Giám sát dựng phim
+ Âm nhạc cho phim
Trên thực tế, người đạo diễn giao cho các chuyên gia kỹ thuật trong ê-kíp làm phim sắp xếp các chi tiết trong phim theo hướng đã định. Một đạo diễn chịu trách nhiệm kiến tạo bộ phim, cũng như chỉ đạo ê-kíp làm phim bao gồm: đạo diễn hình ảnh, thiết kế mĩ thuật, quay phim, xử lý âm thanh.... Đạo diễn là người phối hợp những hiệu ứng từ nhiều lĩnh vực khác nhau với sự giúp đỡ của một hoặc nhiều trợ lý.
Phương pháp đạo diễn: Đạo diễn có các quyền hạn nhiều ít tùy theo phim, và một số trong các quyền đó phải dưới sự điều khiển của ê-kíp sản xuất. Nhưng càng ngày đạo diễn càng có nhiều quyền hơn trong việc quyết định kinh phí sản xuất phim. Điều này đặc biệt được thấy rõ trong những năm 1930 đến những năm 1950.
Cũng có những đạo diễn có quyền rất lớn, đó là người chỉ đạo nghệ thuật của một bộ phim. Đây là phương pháp của họ:
- Xây dựng một kết cấu kịch tổng quát, chọn diễn viên phù hợp với vai diễn. Những người này gồm các đạo diễn như Christopher Guest, Spike Lee, Robert Altman…
- Điều hành các mặt khác của dự án: lời thoại, diễn xuất, hình ảnh. Họ nói về quan điểm của tác giả.
- Tự viết kịch bản để có thể gắn kết mình với toàn bộ câu chuyện. Trong số những người này có các đạo diễn: Stanley Kubrick, Paul Thomas Anderson, Woody Allen, Charlie Chaplin, Billy Wilder, Pedro Almodóvar, Kevin Smith, Quentin Tarantino, Andrew Niccol, Oliver Stone, Hayao, Miyazaki, M.Night Shyamalan, Robert Rodriguez, Alejandro González Iñárritu …
- Luôn hợp tác với một nhà biên kịch duy nhất để nắm được phong cách và hiểu được những trăn trở của họ trong các câu chuyện. Có rất nhiều cặp đôi như thế: Wes Anderson và Owen Wilson với biên kịch Noah Baumbach, Martin Scorsese và Nicholas Pileggi với Paul Shrader, hay Robert Zemeckis với Bob Gale…
- Đạo diễn đồng thời là chủ nhiệm quay phim và dựng phim như Sreven Soderbergh, Don Coscarelli, Robert Rodriguez…
- Đạo diễn vừa là diễn viên (thường là những vai nhỏ) như Martin Scorsese, Mel Gibson, Woody Allen, Alfred Hitchcock…
Đạo diễn cũng có thể hợp tác chặt chẽ với nhà sản xuất, thường là trong những vấn đề không liên quan đến nghệ thuật như kinh phí tổ chức hay quảng cáo… Nhiều đạo diễn cũng tự mình đầu tư cho các dự án phim để có thể chủ động với những trách nhiệm lớn hơn. Orson Welles là một ví dụ, ông nổi tiếng với tư cách là một nhà biên kịch, một đạo diễn và là một nhà sản xuất. Những người khác như Alice Guy Blaché – cha đẻ của phim câm đồng thời cũng là nhà sản xuất.
Cơ cấu
Ở Mĩ, phần lớn các đạo diễn đều tham gia vào "Hội đạo diễn Hoa Kỳ", một tổ chức bảo vệ quyền tác giả cho các đạo diễn. Ở Canada cũng có một tổ chức tương tự, gọi là "Hội đạo diễn Canada". Một đạo diễn mới cát-xê vào khoảng 20 000 USD cho một phim, còn một đạo diễn thành danh thì được trả từ 500 000 USD cho tới hàng triệu đô mỗi phim.
Dựng cảnh, nhà làm phim
Trong tiếng Anh, thuật ngữ "đạo diễn" xuất hiện sớm để chỉ những người chỉ đạo các diễn viên, lựa chọn bối cảnh và địa điểm đặt máy quay. Sau đó công việc của người đạo diễn được phân hóa và chuyên biệt, nhường chỗ cho những chuyên gia kĩ thuật. Nhà sản xuất trở thành người có ảnh hưởng lớn nhất đến dự án phim.
Hai nhiệm vụ
Sau năm 1945, một thế hệ mới trưởng thành…
Điện ảnh trở nên ít hão huyền hơn và ngày càng đi sâu vào thực tế. Ban đầu, trong suốt thời kì điện ảnh cũ cho đến thập niên 50, đạo diễn áp đặt quan điểm của mình cho khán giả nhưng ngày nay, khi một tác phẩm điện ảnh chuẩn bị ra lò gây rất nhiều quan tâm của dư luận.
== Đạo diễn truyền hình ==
Công việc của một đạo diễn truyền hình khác hẳn với công việc của một đạo diễn điện ảnh, họ phải chịu một lúc rất nhiều áp lực như kinh phí hạn hẹp và thời lượng phát sóng ngắn ngủi, đồng thời vẫn phải đảm bảo chất lượng nghệ thuật cho tác phẩm.
Đối với những chương trình truyền hình như gameshow, thể thao, phóng sự…, họ không thể làm chủ hoàn toàn các hành động của nhân vật, vai trò của người đạo diễn truyền hình chủ yếu là dựng hình, biên tập nội dung hình ảnh làm sao cho người xem dễ hiểu và hài lòng nhất.
Công việc đạo diễn truyền hình (hay Đạo diễn các chương trình truyền hình) hiện nay đang dần trở thành một nghề nghiệp được công nhận và thậm chí còn trở nên phổ biến hơn cả Đạo diễn Điện ảnh (chủ yếu chỉ làm phim truyện nhựa và tài liệu nhựa)
Nghề đạo diễn các chương trình truyền hình bao gồm một chuyên môn khá đa dạng. Có thể là họ đạo diễn một talkshow, hoặc gameshow, hoặc phim phóng sự, tài liệu truyền hình, các chương trình tường thuật trực tiếp, các chương trình biểu diễn nghệ thuật hoặc các chương trình truyền hình thực tế khác...
Nghề đạo diễn truyền hình gần như có thể được coi là một nghề nghiệp cụ thể tại Việt Nam từ khoảng những năm đầu thế kỷ 21 khi các chương trình truyền hình bắt đầu nở rộ trên các kênh truyền hình Việt Nam.
== Đào tạo ==
Ở Pháp, các trường cao đẳng công lập mở có các khóa đào tạo về nghề đạo diễn. La Fémis - trường cao đẳng truyền thanh truyền hình, L’École Louis-Lumière cũng như vài trường khác đào tạo đạo diễn bậc Bac + 5. Nhưng bạn cũng có thể học ngành này ở các trường đại học, chẳng hạn bạn có thể học bằng IUP de l’information et de la communication về sản phẩm nghe nhìn.
+ Trường cao đẳng quốc gia truyền thanh truyền hình
+ Trường cao đẳng quốc gia Louis-Lumière
+ Đại học Toulouse
+ ĐH Bordeux
+ ĐH Poitiers
+ ĐH Paris
+ Trường Le Fresnoy
Nhiều trường tư cũng đào tạo ngành này nhưng học phí khá cao. Ngoài ra có các khóa học lấy bằng đạo diễn như bằng IUP, MST, DESS. Trường tư nổi tiếng nhất về nghe nhìn và điện ảnh là Học viện truyền thanh truyền hình quốc tế (l’Institut international de l’image et du son). Các trường khác là ESRA, EICAR, CLCF…
Yêu cầu
Trong suốt dự án, mỗi ngày người đạo diễn phải đối mặt với những trách nhiệm hết sức nặng nề trước các nhà sản xuất. Điều đó buộc người đạo diễn phải trở nên khéo léo, nhẫn nại và phải chịu đựng được sự căng thẳng kéo dài. Đặc biệt người đạo diễn còn phải biết các phương pháp âm thanh và hình ảnh, dựng cảnh và điều hành. Khả năng phân tích là yêu cầu đầu tiên khi bắt tay vào làm phim để có thể lựa chọn diễn viên phù hợp, cách quay hay phân bố thời gian.
Ở Việt Nam, trước đây, công việc đạo diễn nói chung (bao gồm cả đạo diễn điện ảnh và đạo diễn truyền hình) trường có nguồn đào tạo từ Trường Đại học Sân khấu và điện ảnh Hà Nội (và Thành phố Hồ Chí Minh). Gần đây, có khoa Phát Thanh Truyền hình của Học viện Báo chí Tuyên truyền hoặc Khoa Báo chí của Trường Đại học KHXH&NV đào tạo cử nhân Báo chí, cũng có thể tham gia và công việc đao diễn truyền hình. Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn chưa có một trường Đại học nào chuyên đào tạo về nghề Đạo diễn các chương trình truyền hình một cách chuyên nghiệp.
Các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực loại này hiện nay vẫn phải chấp nhận sử dụng nguồn nhân lực từ các nguồn đào tạo khác nhau.
== Ngoài ==
Các đạo diễn như Anthony Minghella, Paul Greengrass, Ken Loach, Sydney Lunet, hay Steven Spielberg đều khởi nghiệp là đạo diễn truyền hình trước khi rẽ sang điện ảnh.
== Danh sách các đạo diễn nổi tiếng và các bộ phim của họ ==
Bài này được dịch từ tiếng Pháp trên trang http://fr.wikipedia.org/wiki/Realisateur
== Tham khảo == |
rial iran.txt | Rial (tiếng Ba Tư: یال; mã ISO 4217 IRR) là đơn vị tiền tệ chính thức của Iran. Một rial bằng 100 dinar, tuy nhiên đồng rial ngày nay có giá trị quá thấp nên phần lẻ của rial không còn được dùng trong kế toán.
Trên thực tế, ngày nay người Iran sử dụng đơn vị toman có giá trị tương đương 10 rial.
Tiền kim loại đang lưu hành có các mệnh giá: 5, 10, 50, 100, 250, và 500 rial. Đồng 5 và 10 rial vẫn có giá trị lưu hành, nhưng không được phát hành mới nữa.
Tiền giấy đang lưu hành có các mệnh giá: 100, 200, 500, 1000, 2000, 5000, 10.000, 20.000 và 50.000 rial.
Vào ngày 8 tháng 4, 2008, 1 đôla Mỹ đổi được 9.052,5 rial Iran. (Xem tỷ giá hiện hành)
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng IRR ==
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Tiền Iran tại Wikimedia Commons |
indiana.txt | Indiana (phát âm như In-đi-a-na, hay giống In-đi-e-nơ trong tiếng Anh) là một tiểu bang ở miền Trung Tây Hoa Kỳ.
== Địa lý ==
Indiana giáp với hồ Michigan và tiểu bang Michigan về phía bắc, với Ohio về phía đông, với Kentucky về phía nam theo đường chảy của sông Ohio, và với Illinois về phía tây. Indiana thuộc về vùng Ngũ Đại Hồ.
Sông Wabash, một nhánh của sông Ohio dài 764 kilômét (475 dặm), cắt đôi tiểu bang từ phía đông bắc tới phía tây nam, và nó đã dẫn đến hai bản nhạc tiêu biểu cho Indiana, tiểu bang ca On the Banks of the Wabash ("Trên bờ sông Wabash") và The Wabash Cannonball ("Đạn trọng pháo Wabash"). Sông Trắng (White River), một nhánh của sông Wabash, chảy theo đường ngoằn ngoèo qua miền trung Indiana. Indianapolis và Muncie là hai thành phố lớn nằm trên sông này. Evansville, thành phố lớn thứ ba của Indiana, nằm trên sông Ohio.
Phần nhiều của miền bắc Indiana là đất chăn nuôi; tuy nhiên, góc tây bắc của tiểu bang thuộc về khu vực đô thị lớn của Chicago nên nó đông người hơn. Gary, một thành phố trên bờ hồ Michigan, thực sự là một ngoại ô của Chicago, tuy nó thuộc về Indiana.
Các thành phố South Bend, Mishawaka, Elkhart, và Goshen đã mở mang thành một khu vực đô thị trải qua hai quận trong vòng 20 năm nay. Sông Kankakee uốn qua miền bắc Indiana và đại khái là đường biên giới giữa vùng nông thôn và vùng ngoại ô của miền tây bắc Indiana.
Miền nam Indiana pha trộn đất chăn nuôi và rừng. Rừng Quốc gia Hoosier là khu vực cấm săn trải qua 80.900 hecta (200.000 mẫu Anh) gần Bedford. Nói chung, miền nam Indiana có nhiều đồi và biến đổi địa mạo hơn miền bắc.
Các vùng dưới quyền sở hữu và bảo vệ của Dịch vụ Vườn Quốc gia (NPS) bao gồm:
Công viên lịch sử Quốc gia George Rogers Clark tại Vincennes
Bờ hồ Quốc gia Indiana Dunes gần Porter
Khu kỷ niệm Quốc gia Thời trẻ Lincoln (Lincoln Boyhood National Memorial) tại Thành phố Lincoln
=== Các thành phố quan trọng ===
Thủ phủ:
Indianapolis
Các thành phố ở trung tâm của khu vực đô thị:
Anderson
Bloomington, vị trí chính của Đại học Indiana
Columbus
Elkhart và Goshen
Evansville, vào miền tây nam trên sông Ohio, vị trí của Đại học Evansville và Đại học Nam Indiana
Fort Wayne, vào miền đông bắc
Gary, vào miền tây bắc
Indianapolis, thủ phủ gần trung tâm địa lý của tiểu bang
Kokomo
Lafayette
Thành phố Michigan và La Porte
Muncie, vị trí của Đại học Ball State
South Bend, vị trí của Đại học Notre Dame, và Mishawaka
Terre Haute, vị trí của Đại học Tiểu bang Indiana và Học viện Kỹ thuật Rose-Hulman
Các thành phố ở trung tâm của khu vực tiểu đô thị (micropolitan area):
=== Múi giờ ===
Trước năm 2006, phần lớn của Indiana chưa áp dụng quy ước giờ mùa hè (DST). Tuy nhiên, một số quận ở tiểu bang này, nhất là Floyd, Clark, và Harrison gần Louisville, Kentucky, và hai quận Ohio và Dearborn gần Cincinnati, vẫn áp dụng quy ước giờ mùa hè không chính thức và bất hợp pháp theo tục lệ địa phương.
Ngoài ra, các quận Lake, Porter, LaPorte, Newton, và Jasper ở miền tây bắc và các quận Gibson, Posey, Vanderburgh, Warrick, và Spencer ở miền tây nam thuộc về giờ Trung Mỹ nên họ áp dụng quy ước giờ mùa hè.
Vì những người ở tiểu bang khác vị lẫn lộn hễ khi thăm Indiana, chính phủ tiểu bang thông qua một đạo luật [1] vào năm 2005, bắt đầu áp dụng quy ước giờ mùa hè ở cả tiểu bang, bắt đầu từ tháng 4 năm 2006.
Vào ngày 2 tháng 4 năm 2006, Bộ Vận tải Hoa Kỳ bắt đầu áp dụng giờ Trung Mỹ ở các quận Starke, Pulaski, Knox, Daviess, Martin, Pike, Dubois, và Perry, nhưng các quận Martin, Dubois, Daviess, và Knox đã biểu quyết áp dụng giờ Đông Mỹ không chính thức và yêu cầu trở lại múi giờ đó chính thức, trong khi những người ở Quận Pulaski vẫn sử dụng giờ Đông Mỹ không chính thức, họ gọi giờ đó là "giờ thương mại". [2][3][4]
== Lịch sử ==
Vùng Indiana đã được người đến ở mãi trước thời Văn hóa Hopewell (vào khoảng 100–400 CN). Nó là một phần của văn hóa Mississippi từ khoảng năm 1000 đến kết thúc truyền thống của văn hóa Mississippi, khi gặp người Âu Châu. Các nhóm thổ dân chính ở vùng này vào lúc đó là Miami và Shawnee. Đất này bị Pháp đòi quyền cho Tân Pháp vào thế kỷ 17, được sang tay Vương quốc Anh là một phần của hiệp ước vào cuối Chiến tranh Pháp và người Da đỏ, và được sang tay Hoa Kỳ sau Cách mạng Mỹ. Gần sau đó, nó được trở thành một phần của Lãnh thổ Tây Bắc, sau đó được chia thành Lãnh thổ Indiana và gia nhập Liên bang vào năm 1816 là tiểu bang thứ 19.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
accessIndiana – chính phủ tiểu bang Indiana (tiếng Anh)
IndianaWiki – wiki về tiểu bang Indiana (tiếng Anh)
Bản đồ múi giờ Indiana mới – Phòng Thương mại Indiana (PDF; tiếng Anh; được cập nhật ngày 2 tháng 4 năm 2006) |
phóng viên không biên giới.txt | Phóng viên không biên giới hay Ký giả không biên giới (tiếng Pháp: Reporters sans frontières) là một tổ chức phi chính phủ hoạt động toàn cầu, với mục đích bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Tổ chức hoạt động dựa trên điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Phóng viên không biên giới do nhà báo người Pháp Robert Ménard thành lập năm 1985. Tên của nó được chọn dựa theo tên của tổ chức Bác sĩ không biên giới.
Ngoài tên chính thức tiếng Pháp Reporters sans frontières (RSF), tổ chức này còn có tên chính thức tiếng Anh: Reporters Without Borders hay RWB, và tiếng Tây Ban Nha: Reporteros Sin Fronteras
== Tổ chức và tài chính ==
Tổ chức Phóng viên không biên giới có văn phòng quốc tế tại Paris, 9 phân hội quốc gia tại châu Âu và 5 văn phòng quốc gia tại Bắc Mỹ và châu Á. Ngoài ra tổ chức còn hoạt động chung với 130 thông tín viên trên khắp các châu lục cũng như với 14 tổ chức đảng phái độc lập với chính phủ.
Tổ chức Phóng viên không biên giới có ngân sách hằng năm vào khoảng 4 triệu Đô la Mỹ, công bố thu nhập trong năm 2006 bao gồm:
57% từ những nguồn tự tạo như bán đấu giá, bán lịch và bán 3 sách ảnh.
24% có nguồn gốc từ các cơ quan, công ty, quỹ hỗ trợ và giới truyền thông đại chúng như sanofi-aventis, Benetton, Zeta Group, Center for a Free Cuba, National Endowment for Democracy và Fondation de France.
9% là hỗ trợ từ văn phòng của Thủ tướng Pháp, của Bộ Ngoại giao Pháp và từ Cộng đồng Pháp ngữ.
9% có nguồn gốc từ phí hội viên và tiền quyên góp.
Thuộc vào trong số những nhà tài trợ là nhà công nghiệp vũ khí và "ông hoàng" truyền thông đại chúng của Pháp Serge Dassault, tập đoàn truyền thông đại chúng Vivendi và nhà tỉ phú François Pinault. Ngoài ra công ty quảng cáo nổi tiếng Saatchi & Saatchi tại New York đều thực hiện miễn phí toàn bộ các hoạt động chung quanh quan hệ công chúng cho tổ chức này.
Hằng năm, vào Ngày Nhân quyền, tổ chức Phóng viên không biên giới trao tặng Giải Nhân quyền cho những phóng viên nổi bật. Năm 2002 giải được trao cho nhà báo người Nga Grigori Pasko, năm 2004 cho nhà báo và họa sĩ biếm họa Maroc Ali Lmrabet, Michèle Montas từ Haiti và nhật báo châu Phi Daily News. Năm 2005 giải được trao cho Massoud Hamid (Syria), nhà báo Trung Hoa Zhao Yan (赵岩), đài truyền hình độc lập Tolo TV tại Afganistan và Liên minh Quốc gia của các nhà báo Somalia. Năm 2006 là cho nhà báo Win Tin từ Myanma, tờ báo Nga Novaya gazeta, tổ chức nhà báo Congo Journaliste en danger và người bất đồng chính kiến Guillerm Farinas Hernández từ Cuba.
== Ấn phẩm ==
Phóng viên Không Biên giới phát hành các thông cáo báo chí, tường thuật những dữ kiện tìm thấy, và các ấn phẩm định kỳ. Nó xuất bản các tường thuật nhiệm vụ định kỳ về phát triển ở các nước hoặc các vùng riêng lẻ hoặc về một chủ đề cụ thể. Mỗi tháng 12 nó xuất bản một cái nhìn tổng quan hàng năm về các sự kiện liên quan đến quyền tự do thông tin và an ninh của các nhà báo. Nó bảo quản một trang web (www.rsf.org) có thể truy cập bằng 6 ngôn ngữ (tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả rập, Trung Quốc, và Ba Tư).
=== Predators of Press Freedom (Những nhà lãnh đạo khống chế tự do báo chí) ===
Bắt đầu từ năm 2001 Phóng viên Không Biên giới đã xuất bản danh sách Predators of Press Freedom hàng năm đăng lên tên những người, nó cảm thấy là, vi phạm tồi tệ nhất về tự do báo chí.
Trong tháng 5 năm 2013 RSF nêu tên 39 nhà lãnh đạo hoặc các nhóm đã kềm kẹp Tự Do Thông tin:
== Giải thưởng ==
Trong nhiều năm RSF đã nhận được một số giải thưởng trong đó có:
2013: Giải Tự do Ngôn luận "Freedom of Speech Award" từ International Association of Press Clubs (Hiệp hội Quốc tế của các Câu lạc bộ Báo chí), ở Warsaw.
2012: Giải "Club Internacional de Prensa" ở Madrid.
2009: Giải "Roland Berger Human Dignity Award".
2009: Giải "Médaille Charlemagne" cho truyền thông châu Âu.
2008: Giải "Kahlil Gibran Award for Institutional Excellence" từ Arab American Institute Foundation (Quỹ viện Ả Rập Hoa Kỳ).
2007: Giải "Asia Democracy and Human Rights Award" (Giải Dân chủ và Nhân quyền Á châu) của Taiwan Foundation for Democracy Quỹ Đài Loan cho Dân chủ và giải "Dawit Isaak Prize" từ Swedish Publicists' Association (Hội Nhà báo Thụy Điển).
2006: Giải International Emmy Award từ International Academy of Television Arts and Sciences.
2005: được Quốc hội châu Âu tặng Giải Sakharov về "Tự do Tư tưởng", là giải thưởng dành cho cá nhân hay tổ chức đã tích cực hoạt động bảo vệ nhân quyền.
1997: Giải “Journalism and Democracy Prize" (giải Báo chí và Dân chủ) của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE).
1992: Giải "Lorenzo Natali Prize" của Ủy ban châu Âu vì bảo vệ nhân quyền và dân chủ.
== Chỉ số tự do báo chí ==
Tổ chức Phóng viên không biên giới công bố hằng năm Chỉ số tự do báo chí, một danh sách xếp hạng tự do báo chí trên thế giới. Chỉ số này được công bố lần đầu tiên năm 2002. Chỉ số được lập thành dựa trên những khảo cứu được trả lời từ các tổ chức liên kết, thông tín viên của tổ chức cũng như là từ những nhà báo, nhà nghiên cứu, luật gia và nhà hoạt động nhân quyền trên toàn thế giới.
Phóng viên không biên giới hỏi những cuộc tấn công dùng bạo lực, giết người hay bắt bớ nhưng cũng điều tra về áp lực gián tiếp chống lại tự do báo chí trong 167 nước trên thế giới. Tổ chức nhấn mạnh rằng chỉ số này chỉ đo độ tự do báo chí chứ không so sánh chất lượng của báo chí của từng nước một. Chỉ số cũng thẩm định áp lực từ những tổ chức phi chính phủ như ETA ở Tây Ban Nha.
Dưới đây là danh sách 10 nước đứng đầu và 10 nước đứng cuối trong Chỉ số tự do báo chí năm 2007. Có thể tham khảo danh sách đầy đủ tại đây.
== Phê phán, Chỉ trích và tranh cãi ==
Những nhà phê bình cáo buộc tổ chức Phóng viên không biên giới đã tường trình về việc phân biệt đối xử nhà báo một cách có chọn lọc trước. Việc chọn lọc các nước mang định hướng của sự chọn lọc từ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, bỏ qua tất cả các tường trình về những hoạt động chống lại nhà báo trong những nước đồng minh của Hoa Kỳ (Philippines, Ả Rập Saudi) hay chính trong Hoa Kỳ..
Tổ chức đã im lặng nhiều năm trong vụ người quay phim của Al Jazeera, Sami Al-Haj, đã bị bắt cóc trong Pakistan lúc đang trên đường công tác đến Afghanistan, bị tra tấn và vào ngày 13 tháng 6 năm 2002 đã bị dẫn về Guantánamo.
Tổ chức hoàn toàn không nói gì về vụ của nhà báo người da đen Mumia Abu-Jamal.
Việc 16 nhà báo bị giết chết trong lần NATO không kích đài truyền hình Nam Tư RTS cũng không được nhắc đến trong bất cứ một bản tường trình hằng năm nào của tổ chức..
Ngày 25/03/2014, Báo Quân đội Nhân dân có bài viết với tiêu đề: ""Cái nhìn thiếu thiện chí của RSF về tự do báo chí ở Việt Nam"" nhằm lên án và chỉ trích Phóng viên không biên giới vì cái nhìn thiếu khách quan về tự do báo chí ở Việt Nam. ("Cái nhìn thiếu thiện chí của Phóng viên không biên giới về tự do báo chí ở Việt Nam")
Ngày 1 và ngày 5 tháng 8 năm 2016, Báo Nhân Dân có bài viết với tiêu đề "RSF và cái gọi là Bảng xếp hạng tự do báo chí" (xem mục Chỉ số tự do báo chí) cũng lên án tổ chức RSF vì cái nhìn thiếu khách quan về tự do báo chí ở Việt Nam. Cụ thể là tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã bị đưa vào danh sách 35 nhà khống chế tự do báo chí từ năm 2011 cho đến nay (2016)
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phóng viên không biên giới
Reporters Without Borders. Chỉ số tự do báo chí 2002.
Reporters Without Borders. Chỉ số tự do báo chí 2003.
Reporters Without Borders. Chỉ số tự do báo chí 2004.
Reporters Without Borders. Chỉ số tự do báo chí 2005;
Reporters Without Borders. Chỉ số tự do báo chí 2006.
Reporters Without Borders. Chỉ số tự do báo chí 2007. |
sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.txt | Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, thường được gọi là 30 tháng Tư, ngày giải phóng miền Nam, Thống nhất Đất nước (tên gọi tại Việt Nam) hoặc ngày Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, Chính quyền Sài Gòn thất thủ (cách gọi của báo chí phương Tây), hoặc Ngày Quốc Hận và Tháng Tư Đen trong cộng đồng người Việt chống Cộng ở nước ngoài, là sự kiện chấm dứt Chiến tranh Việt Nam khi tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh cùng nội các bị bắt tại chỗ và phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện các lực lượng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày này là kết quả trực tiếp của Chiến dịch Mùa Xuân năm 1975 và là một mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam.
Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh, theo tên của cố Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh. Sự kiện 30 tháng 4 diễn ra sau khi tất cả công dân và lính Mỹ cùng với hàng ngàn người Việt ở miền Nam Việt Nam di tản khỏi Sài Gòn. Vì nhiều người đã di tản và chính phủ Việt Nam Xã hội chủ nghĩa đã áp dụng quy định mới về hộ khẩu góp phần làm cho dân số thành phố giảm xuống sau đó, tuy nhiên tỷ lệ giảm không nhiều (tốc độ giảm trung bình là 10.000 người mỗi năm trong khi dân số Sài Gòn là gần 4 triệu người, nhưng đến năm 1979, dân số lại bắt đầu tăng trở lại).
== Các sự kiện dẫn đến 30 tháng 4 ==
Sau Hiệp định Paris tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng hòa suy giảm nghiêm trọng nhất là sau khi Richard Nixon từ chức vì vụ Watergate, vào tháng 8 năm 1974. Sự suy sụp này còn do các mục tiêu tác chiến không thể hoàn thành như đã định cũng như những thất bại liên tiếp trên chiến trường.
=== Hoa Kỳ giảm viện trợ ===
Sau khi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa đã dần bị cắt giảm:
Tài khóa 1973: 2,1 tỷ USD
Tài khóa 1974: 1,4 tỷ USD
Tài khóa 1975: 0,7 tỷ USD
Theo lời kể của ông Nguyễn Tiến Hưng, Tổng trưởng Kế hoạch của chính phủ Việt Nam Cộng hòa lúc bấy giờ, thì Giáo sư Warren Nutter là cựu Phụ tá Tổng trưởng quốc phòng, đặc trách phần tài chính của chương trình "Việt Nam hóa". Khi dự điểm tâm với Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu vào sáng ngày 23 tháng 8 năm 1974 tại Dinh Độc Lập, ông Thiệu bày tỏ sự lo ngại về viện trợ:
Mới vài ngày trước đây là một tỷ, bây giờ còn 700 triệu, tôi làm gì được với số tiền này? Như là chuyện cho tôi 12 đô la và bắt tôi mua vé máy bay hạng nhất từ Sài gòn đi Tokyo.
Giáo sư Nutter cũng rất bối rối và giải thích hành động của Quốc hội:
Quốc hội Hoa Kỳ đôi khi hành động vô trách nhiệm như vậy… Cái Trung tâm Tài nguyên Đông Dương (Indochina Resource Center, 1 trung tâm của những người phản chiến) đang hết sức tìm cách tiêu diệt quý quốc.
Nền kinh tế và chi tiêu của Việt Nam Cộng hòa duy trì được chủ yếu nhờ viện trợ Mỹ. Nền công nghiệp miền Nam nhỏ bé, nông nghiệp bị chiến tranh tàn phá. Lạm phát phi mã xảy ra cùng với tệ tham nhũng, lợi dụng chức quyền càng làm cho nền kinh tế thêm tồi tệ. Ông Bùi Diễm, đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ, nhận định tình hình kinh tế và quân sự của miền Nam Việt Nam rất xấu khiến người dân không hài lòng với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, tiền lương quân nhân không đủ sống do đó tình hình chính trị cũng xấu theo. Nạn đào ngũ là một vấn đề nghiêm trọng đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Riêng từ tháng 4 tới tháng 12/1974, có 176.000 lính đào ngũ. Tại các lực lượng tinh nhuệ của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, biệt động quân có tỷ lệ đào ngũ lớn nhất (55%), tiếp theo là các đơn vị dù (30%) và thủy quân lục chiến (15%). Trong khi đó, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã duy trì một lợi thế tâm lý mạnh mẽ, với những người lính tràn đầy tinh thần sẵn sàng hy sinh hy sinh mục đích cá nhân để cống hiến cho nỗ lực chiến tranh của tập thể, đó là ưu thế quyết định của họ.
=== Sự suy yếu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ===
Sau này, trong tập hồi ký Mùa Xuân Đại Thắng, Đại tướng Văn Tiến Dũng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã viết: một trong những động cơ thúc đẩy Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mở cuộc tổng tấn công ở miền Nam là do Mỹ đã giảm viện trợ, khiến cho lực lượng quân lực Việt Nam Cộng hòa (vốn được tổ chức rập khuôn theo lối đánh tốn kém của Mỹ) đã không thể có đủ tài chính để duy trì số lượng lớn vũ khí. Đó là vì "hỏa lực không quân đã sút giảm gần 60% vì thiếu bom, đạn; khả năng di động cũng giảm đi 50% vì thiếu máy bay, xe cộ, và nhiên liệu."
Sự suy yếu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn do yếu tố tâm lý khi tinh thần của binh lính xuống rất thấp, số lượng đào ngũ tăng mạnh. Tại các lực lượng tinh nhuệ của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, Biệt động quân có tỷ lệ đào ngũ lớn nhất (55%), tiếp theo là các đơn vị dù (30%) và Thủy quân Lục chiến (15%)
Tuy nhiên, quân số và vũ khí của Quân lực Việt Nam Cộng hòa vẫn có những sự vượt trội nhất định khi có 1.351.000 quân, 383 xe tăng (162 M48A3, 221 M41) và 1.691 Thiết giáp chở quân M-113, không quân vượt trội hoàn toàn với 550 phi cơ A-1H, A-37 và F-5, 23 Phi đoàn trực thăng, trang bị khoảng 1.000 phi cơ UH-1 và CH-47, khoảng 200 phi cơ O1, O2 và U17, khoảng 150 phi cơ C7, C-47, C-119 và C-130), 1 Không đoàn tân trang chế tạo, 4 Phi đoàn hỏa long, trang bị phi cơ AC-119, AC-130 Spectre Gunship. Ngoài ra còn có Phi đoàn Trắc giác (tình báo kỹ thuật), Phi đoàn Quan sát RC-119L và Biệt đoàn Đặc vụ 314, trong khi đó Quân Giải phóng không thể triển khai lực lượng không quân ở miền Nam.
Theo hồi ký của Đại tướng Văn Tiến Dũng thì cục diện chiến trường đang chuyển biến ngày càng bất lợi cho quân lực Việt Nam Cộng hoà. Tại Khu 9, các cuộc hành quân lấn chiếm bị thất bại, hơn 2.000 đồn bốt bị phá, 400 ấp chiến lược với gần 800.000 dân bị quân Giải phóng xóa bỏ. Khu 8 có hơn 200 ấp chiến lược với hơn 130.000 dân bị xóa bỏ. Tại Khu 5, quân Giải phóng đã chuyển lên thế tiến công ngày càng mạnh, mở rộng bàn đạp vùng giáp ranh (Nông Sơn, Thượng Đức, Tuy Phước, Minh Long, Giá Vụt), xoá hẳn gần 800 đồn bốt, giải phóng 250 ấp với 200.000 dân.
Trong hồi ký của mình, Đại tướng Văn Tiến Dũng cho rằng tinh thần và sức chiến đấu của quân lực Việt Nam Cộng hoà giảm sút rõ rệt. Do Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ, nhiều binh sĩ mất chỗ dựa tinh thần từ lâu nay (được cường quốc số 1 hỗ trợ), nền kinh tế thì ngày càng khó khăn do kinh tế khủng hoảng và nạn lạm phát 300% trong năm 1974. Có 170.000 lính đào ngũ, rã ngũ trong năm 1974, dù tăng cường thêm lính quân dịch thì tổng số quân vẫn giảm 20.000 so với năm 1973. Cuối 1974, quân Giải phóng chủ lực của miền Đông Nam Bộ phối hợp với lực lượng của địa phương mở chiến dịch Đường 14 - Phước Long giành thắng lợi lớn. Trong hơn 20 ngày quân Giải phóng đã diệt và bắt trên 5.400 lính, thu 3.000 súng các loại, giải phóng thị xã Phước Long và toàn tỉnh Phước Long. Chiến bại này đánh dấu một bước suy sụp mới của quân Sài Gòn. Quân chủ lực của VNCH đã không còn đủ sức hành quân giải toả quy mô lớn để lấy lại các vùng, các căn cứ và thị xã quan trọng trên các địa bàn giáp ranh, dù Phước Long chỉ cách Sài Gòn 50 km.
Ngay sau thất bại Phước Long, cố vấn Mỹ John Pilger đã tiên liệu trước về sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn sẽ diễn ra trong nay mai. Ông viết:
Sài Gòn đang sụp đổ trước mắt, một Sài Gòn được người Mỹ hậu thuẫn, một thành phố được coi là "thủ đô tiêu dùng" nhưng chẳng hề sản xuất được một mặt hàng nào ngoài chiến tranh. Trong hàng ngũ của quân đội lớn thứ tư thế giới vào thời điểm đó, binh lính đang đào ngũ với tốc độ cả nghìn người trong một ngày...
== Diễn biến chính trị và quân sự ==
=== Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam Cộng hòa ===
Tổng thống Gerald Ford không thuyết phục được Quốc hội Hoa Kỳ chi thêm ngân sách cho chiến trường Việt Nam. Theo Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa, đầu năm 1975, sau hai năm ký hiệp định đình chiến, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã huy động gần như toàn bộ lực lượng của mình lực lượng chủ lực 270 ngàn người của mình bất chấp quân lực Việt Nam Cộng hòa có hơn 1,3 triệu quân, mở cuộc tấn công lớn trên toàn miền Nam Việt Nam, bắt đầu là ở Tây Nguyên. Buôn Ma Thuột thất thủ gây chấn động hệ thống phòng thủ của quân đội Việt Nam Cộng hòa và là khởi đầu của những chiến dịch nối tiếp nhau.
Ngày 23 tháng 3, Tổng thống Thiệu nhận được thư của Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.
Nhà Trắng
Ngày 22 tháng 3 năm 1975
Thưa Tổng thống,
Cuộc tấn công hiện nay của Bắc Việt Nam chống lại quý quốc thật vô cùng xáo trộn khiến riêng cá nhân tôi lo âu. Theo quan điểm của tôi, thì cuộc tấn công của Hà Nội tượng trưng cho một sự việc không kém gì sự huỷ bỏ Hiệp định Paris bằng vũ lực.
Biến chuyển này mang theo hậu quả nghiêm trọng nhất cho cả hai dân tộc chúng ta. Đối với Ngài và nhân dân Ngài thì đây là lúc hy sinh lớn nhất, nó sẽ quyết định chính số phận quý quốc. Tôi tin tưởng rằng dưới quyền lãnh đạo của Ngài, quân lực và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ tiếp tục công cuộc bảo vệ kiên trì chống lại vụ xâm lược mới này. Tôi cũng tin tưởng chắc chắn rằng nếu có được sự yểm trợ bổ túc từ bên ngoài vào thì quý quốc sẽ thắng thế trong cuộc đấu tranh giành quyền tự quyết của mình.
Riêng đối với Hoa Kỳ thì vấn đề cũng không kém phần cấp bách.
Khi hành động như thế này, Hà Nội đang tìm cách huỷ diệt tất cả những gì mà chúng ta đã chiến đấu để thành đạt, với phí tổn vô cùng to lớn, suốt mười năm qua
Sự quyết tâm của Hoa Kỳ để yểm trợ một người bạn đang bị các lực lượng (Bắc Việt) với vũ khí hùng mạnh tấn công, hoàn toàn vi phạm một thoả ước quốc tế (đã được ký kết) long trọng, là một điều hết sức cần thiết.
Riêng tôi, tôi quyết tâm rằng Hoa Kỳ sẽ đứng vững sau lưng Việt Nam Cộng hòa trong giờ phút tối quan trọng này. Với mục đích tôn trọng những bổn phận của Hoa Kỳ trong tình thế này, tôi đang theo dõi những biến chuyển với chủ tâm cao độ nhất và đang khẩn cấp tham khảo ý kiến các cố vấn của tôi về những hành động mà tình thế có thể đòi hỏi và pháp luật cho phép. Về việc cung ứng viện trợ quân sự đầy đủ cho quân đội Ngài, xin Ngài yên tâm là tôi sẽ cố tâm nỗ lực để thoả mãn những nhu cầu vật chất của Ngài trên chiến trường.
Trước khi chấm dứt, tôi xin được nhắc lại một lần nữa lòng cảm phục liên tục của tôi đối với quyết tâm của Ngài và đối với sức bền bỉ và sự anh dũng của nhân dân Việt Nam Cộng Hòa.
Kính thư,
(ký) Gerald R. Ford
Dù là nói tới quyết tâm ủng hộ nhưng người thảo bức thư đã khôn khéo gài vào: "(tôi) đang khẩn cấp tham khảo ý kiến các cố vấn về những hành động mà tình thế có thể đòi hỏi và pháp luật cho phép".
Ngày 23 tháng 3, Huế rơi vào tay Quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong khi ở Đà Nẵng, hàng ngàn binh lính tìm cách chạy thoát một cách thiếu tổ chức bằng đường biển khỏi thành phố đang bị bao vây và nã pháo. Trong 4 sư đoàn bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, 4 liên đoàn Biệt động quân, lữ đoàn thiết giáp, sư đoàn không quân, tổng cộng 12 vạn quân và hàng ngàn nhân viên quân sự và địa phương quân, chỉ có 16.000 rút được. Trong số gần 2 triệu dân thường dồn lại tại Đà Nẵng từ cuối tháng 3, chỉ có hơn 50.000 sơ tán được bằng đường thủy. Còn lại là 70.000 binh sĩ VNCH bị bắt làm tù binh. Ngoài ra 33 máy bay phản lực A-37 còn nguyên vẹn cùng gần 60 máy bay khác tại căn cứ không quân Phù Cát cũng bị bỏ lại. Trong cuộc sụp đổ của Đà Nẵng, không có một trận chiến nào. Khi Quân Giải phóng tiến vào thành phố, không mấy binh sĩ VNCH đóng quanh thành phố chống cự. Các trung tâm phòng thủ còn lại dọc theo bờ biển cũng nhanh chóng tan vỡ dây chuyền: Quảng Ngãi ngày 24 tháng 3; Quy Nhơn và Nha Trang ngày 1 tháng 4; và cảng Cam Ranh ngày 3 tháng 4.
Ngày 28/3/1975, Tổng tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ, tướng Frederick C. Weyand, bay sang Sài Gòn khảo sát tình hình để báo cáo cho Tổng thống Mỹ. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ là James R. Schlesinger đã chỉ đạo Weyand không được hứa gì nhiều với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vì không thể đảo ngược được tình thế, ông ta thấy tình hình của quân Việt Nam Cộng hòa đã trở nên quá tồi tệ.
Sau khi tướng Weyand về Mỹ, Bộ trưởng quốc phòng Schlesinger tuyên bố một giả thuyết giật gân, rằng "nếu cộng sản nắm chính quyền thì có thể 200.000 người Việt Nam sẽ bị tàn sát”. Sáng hôm sau, tờ báo Pacific Starsand Stripes (tờ báo của quân đội Mỹ), xuất bản ở Sài Gòn, đăng lại lời tuyên bố ấy bằng chữ đậm. Nhiều người dân ở miền Nam Việt Nam tin lời Schlesinger và hoảng sợ, bỏ nhà cửa để tìm cách chạy trốn.
Thấy rõ sự thất bại không thể cứu vãn nổi, sau khi xem báo cáo của Weyand, Ngoại trưởng Henry Kissinger đã nguyền rủa: “Sao bọn chúng (Việt Nam Cộng hòa) không chết quách đi. Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là chúng cứ sống vất vưởng hoài”. Phần lớn nhân vật trong Quốc hội và Chính phủ Mỹ phản đối việc đưa quân Mỹ trở lại Việt Nam. Vấn đề cấp bách hơn lúc này là phải đưa người Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.
=== Các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa bỏ ra nước ngoài ===
Trong nửa đầu tháng 4, với Quân đoàn 2 của quân Giải phóng từ phía bắc tiến vào và quân đoàn 3 từ Tây Nguyên đổ xuống, các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa lần lượt rơi vào tay Quân Giải phóng.
Ngày 9 tháng 4, Quân đoàn 4 Quân giải phóng định đánh chiếm huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai trên hành tiến - tuyến phòng thủ từ xa cuối cùng của Sài Gòn - nhưng Sư đoàn 18 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã kháng cự ác liệt có tổ chức để giữ vững được thị xã. Đây là trận đánh dài ngày có tổ chức cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Trận Xuân Lộc đã gây thương vong rất lớn cho cả hai bên.
Ngày 17 tháng 4, Thượng viện Hoa Kỳ từ chối khoản viện trợ khẩn cấp trị giá 722 triệu Mỹ kim mà chính phủ Gerald Ford đề nghị. Tuy không ai tin rằng viện trợ Mỹ có thể xoay chuyển tình thế, một số chuyên viên như Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger hy vọng rằng ngân khoản đó có thể giúp Việt Nam Cộng Hòa lấy lại được đủ vị thế về quân sự để thuyết phục đối phương ngừng tiến quân và đàm phán. Hai ngày sau phán quyết này của Thượng viện, giám đốc CIA William Colby nói với tổng thống Ford: "Nam Việt Nam đang đối mặt với thất bại hoàn toàn và nhanh chóng". Các chuyến bay di tản do CIA tổ chức đã bắt đầu đưa các cộng tác viên người Việt rời Việt Nam, và Sứ quán Mỹ đã bắt đầu đốt tài liệu mật từ trước đó. Ngày 20 tháng 4 các thủ tục pháp luật được đơn giản hóa cho việc sơ tán người Việt bắt đầu có hiệu lực. Việc sơ tán này được thực hiện tại sân bay quân sự Tân Sơn Nhất, do tướng Homer Smith chỉ huy. Các máy bay C-130 và C-140 liên tục lên xuống vào ban ngày; công việc giấy tờ được tiếp tục suốt đêm. Tướng Smith đã phải dùng đến toàn bộ trung đội Thủy quân lục chiến số 43 của Mỹ để giữ trật tự tại Tân Sơn Nhất.
Ngày 20 tháng 4, lực lượng phòng thủ bỏ Xuân Lộc của Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị buộc phải rút lui. Khi Xuân Lộc thất thủ, không còn gì có thể cứu vãn chế độ Sài Gòn nữa. Việc bỏ Xuân Lộc khiến Sài Gòn gần như bỏ ngỏ, không còn phòng thủ từ xa nữa; Quân giải phóng áp sát thành phố ở các tuyến ngoại vi. Cùng ngày 20 tháng 4, Đại sứ Mỹ Martin đến phủ Tổng thống thuyết phục Nguyễn Văn Thiệu từ chức, bởi phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã liên tục tuyên bố sẽ không đàm phán với tổng thống Thiệu.
Do sức ép lớn từ các tướng dưới quyền như Trần Văn Đôn, Cao Văn Viên, thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn, bộ trưởng kinh tế Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào tối ngày 21 tháng 4 năm 1975. Khi từ chức, Nguyễn Văn Thiệu đã xuất hiện trên truyền hình phát biểu suốt 3 giờ đồng hồ để trách móc việc thoái thác trách nhiệm của chính phủ Mỹ. Ông Thiệu đổ lỗi thất bại là do người Mỹ bằng những lời lẽ nửa tức giận, nửa thách thức: “Mỹ đánh không lại Cộng sản nên bỏ mặc Việt Nam Cộng hòa đánh một mình thì làm sao ăn nổi. Có giỏi thì Mỹ vô đây lần nữa…”. Ông Thiệu lên án thẳng Hoa Kỳ là "một đồng minh vô nhân đạo với những hành động vô nhân đạo."
Cũng trong bài diễn văn từ chức, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố mạnh mẽ rằng ông ta sẽ không bỏ chạy mà sẽ tiếp tục cầm súng chiến đấu: "Dù mất một tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, quân đội vẫn còn trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kề bên anh em chiến sĩ...". Tuy nhiên, những tuyên bố đó đã không được Nguyễn Văn Thiệu thực hiện. Sau khi từ chức, ông Thiệu về nhà, đề nghị Mỹ thu xếp một chuyến bay để đưa ông ta và gia đình ra nước ngoài. Chỉ 4 ngày sau, Nguyễn Văn Thiệu đã bí mật lên máy bay thoát khỏi Sài Gòn vào đêm ngày 25/4/1975. Cuộc ra đi của Nguyễn Văn Thiệu diễn ra bí mật trong đêm tối, dưới sự sắp đặt của Thomas Polgar - trưởng CIA ở Sài Gòn Để cho việc ra đi danh chính ngôn thuận, Trần Văn Hương ký quyết định cử Nguyễn Văn Thiệu là đặc sứ của Việt Nam Cộng hòa đến Đài Bắc để phúng điếu Tưởng Giới Thạch (dù thực ra Tưởng Giới Thạch đã chết từ trước đó 3 tuần).
Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay nhưng phía Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam không chấp nhận nói chuyện với ông. Thời điểm 21 tháng 4 khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức có ý nghĩa quyết định. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói rằng "chìa khóa là ngày 21 tháng 4, khi Thiệu từ chức. Khi đó tôi biết rằng chúng tôi phải tấn công ngay lập tức, cướp lấy thời cơ, tất cả chúng tôi cũng đồng ý như vậy." Đêm hôm đó, tại sở chỉ huy tiền phương tại Lộc Ninh, cách Sài Gòn 75 dặm, tướng Văn Tiến Dũng, người chỉ huy các cánh quân Giải phóng tiến về thành phố, ra lệnh bắt đầu cuộc tổng tiến công.
Để đảm bảo áp đảo chắc thắng, Quân Giải Phóng đưa thêm cả Quân đoàn 1 (hay còn gọi là Binh đoàn Quyết thắng) bằng tàu biển và hàng không vào chiến trường cho trận cuối cùng có tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh. Lực lượng tiến công Sài Gòn tương đương 20 sư đoàn, tổ chức thành 5 quân đoàn.
Trong nỗ lực cuối cùng, tướng Nguyễn Cao Kỳ phát biểu trước khoảng 6 nghìn người Thiên Chúa giáo hữu khuynh vào xế trưa ngày 25/4 về chuyện phòng thủ Sài Gòn, rằng "ông ta sẽ ở lại Sài Gòn và chiến đấu cho tới chết, những kẻ chạy theo Mỹ là hèn nhát". Phụ nữ và trẻ con sẽ được gửi đi đảo Phú Quốc, còn người dân Sài Gòn "sẽ ở lại chiến đấu". Thậm chí Nguyễn Cao Kỳ còn tuyên bố rằng: Sài Gòn "sẽ trở thành một Leningrad thứ hai" (Leningrad là nơi quân dân Liên Xô đã cầm cự 900 ngày trong vòng vây hãm của kẻ thù). Việc phân phối vũ khí sẽ được ông ta cho làm ngay, mọi người nên ở lại Sài Gòn để chiến đấu. Nhưng tất cả chỉ là những lời nói suông và chẳng được thực hiện một chút nào. Sau khi phát biểu xong, Nguyễn Cao Kỳ bỏ vào sân bay Tân Sơn Nhất để sắp xếp cho các máy bay di tản sang Thái Lan và đồng thời cũng bí mật ra lệnh cho một trực thăng đến đón mình. Sáng ngày 29/4/1975, Nguyễn Cao Kỳ đã dùng trực thăng chạy ra ngoại quốc, bỏ lại sau lưng những lời thề hứa chiến đấu quyết tử mà ông từng hùng hồn tuyên bố trước đó bốn ngày.
== Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn ==
Lúc 17 giờ ngày 26 tháng 4, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu nổ súng với 5 quân đoàn ở 5 hướng tấn công: hướng Bắc với Quân đoàn 1, hướng Tây Bắc với Quân đoàn 3, hướng Tây và Tây Nam với Đoàn 232, hướng Đông với Quân đoàn 4 và hướng đông nam với Quân đoàn 2.
Ngày 27 tháng 4, sân bay quân sự Tân Sơn Nhất tại Sài Gòn chịu 3 loạt hỏa tiễn của Quân giải phóng, lần đầu tiên trong hơn 40 tháng làm nhiều người chết và bị thương, nhà cửa đổ nát. Hai lính Mỹ thiệt mạng do hỏa tiễn, là những lính thiệt mạng cuối cùng của Mỹ trong cuộc chiến
Tại mặt phía Nam của Sài Gòn, ngay từ ngày 28 tháng 4, 1975, Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ Ðô của chính quyền Sài Gòn không còn quân trừ bị để phòng thủ. Họ buộc phải rút 1 liên đoàn Biệt Ðộng Quân đang hành quân về quận lỵ Cần Đước và đặt dưới quyền điều động của Bộ tư lệnh Biệt Khu Thủ Ðô. Liên tỉnh lộ nối liền Chợ Lớn và Cần Đước cũng bị cắt nhiều đoạn nên các lực lượng VNCH không thể phá vỡ được các chốt chận của Quân giải phóng tại cầu Nhị Thiên Đường vốn đã bị chiếm từ rạng sáng ngày 29 tháng 4, 1975.
Các đơn vị Nhảy Dù phòng ngự tại phòng tuyến khu vực từ ngã tư Quân Vận (gần Trung tâm Huấn luyện Quang Trung) đến cầu Tham Lương Bà Quẹo, khu Bình Thới - Ngã ba Bà Quẹo, khu Bảy Hiền - Lăng Cha Cả đã cố gắng ngăn chận đối phương. Một chiến đoàn thuộc Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù tại vòng đai Bộ Tổng Tham mưu do Thiếu tá Phạm Châu Tài chỉ huy đã dàn quân và từ 8 giờ sáng đến 10 giờ sáng, chiến đoàn này đã bắn cháy 6 chiến xa và đánh bật đối phương ra khỏi trận địa.
Tuy nhiên các nỗ lực kháng cự lẻ tẻ này không làm chậm quân Giải phóng được bao nhiêu. Đến cuối ngày 28 tháng 4, tất cả các tuyến phòng thủ đã bị chọc thủng ở mọi hướng, quân Giải phóng có thể tiến ngay vào thành phố nhưng họ dừng lại để có thêm thời gian cho giải pháp đàm phán. Các lực lượng chính trị thứ ba dàn xếp để đưa Đại tướng Dương Văn Minh lên làm tổng thống trong ngày 28 tháng 4 năm 1975. Ngay khi nhậm chức để tiến hành đàm phán Tổng thống Dương Văn Minh yêu cầu người Mỹ ra đi.
4 giờ sáng ngày 29/4 tức 16 giờ theo giờ Washington, hỏa tiễn và đạn pháo Quân giải phóng đã nã tới tấp xuống Phi trường Tân Sơn Nhứt, phá hủy nhiều phi cơ trên mặt đất, vô hiệu hóa phi trường này và gây cho số người Việt đang tụ tập ở đấy sợ hãi trốn chạy, một sự hỗn loạn thực sự.
Tổng thống Ford triệu tập Hội đồng An ninh Quốc gia họp khẩn cấp lúc 19h 30, ông đã yêu cầu Đại sứ Graham Martin phải di tản ngay những người Mỹ còn lại và cả những người Việt Nam càng nhiều càng tốt.
Ở Sài Gòn và phần còn lại của Việt Nam Cộng Hòa, hàng triệu người dân Việt Nam bắt đầu tự đặt cho mình 1 câu hỏi mấu chốt: họ có thể ở lại sống dưới chế độ mới hay là tự tìm cách bỏ ra nước ngoài bằng đường biển.
Trong các ngày 28, 29 tháng 4 từ các hàng không mẫu hạm của Hạm đội số 7 ngoài khơi Thủy quân lục chiến Mỹ dùng trực thăng di tản người nước ngoài và một số người Việt đã từng cộng tác chặt chẽ với họ, trong đó có chiến dịch Babylift. Cuộc di tản đã diễn ra trong hỗn loạn vì rất nhiều người muốn ra đi nhưng không thể đáp ứng hết được. Các điểm đỗ của trực thăng náo loạn. Lính Thuỷ quân lục chiến Mỹ đã phải cố gắng mới duy trì được trật tự. Người Mỹ đã phải bỏ lại nhiều người Việt để ưu tiên người Mỹ vì số lượng phương tiện có hạn. Hình ảnh di tản đã in đậm trong trí óc nhiều người Mỹ và Việt như một kỷ niệm rất buồn. Đại sứ Graham Martin là một trong những người Mỹ cuối cùng ra đi. Trong số 120.000 người Việt và 20.000 người Mỹ được di tản trong đợt này, không có một người nào bị thiệt mạng do hoạt động quân sự của quân Giải phóng.
Quân giải phóng dừng lại bên ngoài thành phố 1 ngày để cho người Mỹ di tản hết mới vào. Theo lời tướng Trần Văn Trà, cánh quân của ông đã đợi vì mục đích chính là để giải phóng Sài Gòn chứ không phải để giết người Mỹ và sỉ nhục họ. Ở một cánh quân khác, theo hồi ký của tướng Hoàng Cầm, cánh quân của Quân đoàn 4 mà ông chỉ huy gặp rất nhiều kháng cự trên đường tiến về Sài Gòn và chỉ đánh được đến nơi vừa kịp sáng ngày 30 tháng 4.
Theo hồi ký các tướng tá của quân lực Việt Nam Cộng hòa như Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Chánh Thi, và cựu dân biểu Lý Quý Chung, thì sáng ngày 28/4, tướng tình báo Pháp Francois Vanussème đã tới gặp tổng thống Dương Văn Minh và đề nghị Việt Nam Cộng hòa kêu gọi Trung Quốc đem quân can thiệp để cứu quân lực Việt Nam Cộng hòa đang trong cơn nguy kịch. Một nhân viên ngoại giao Trung Quốc đề nghị quân lực Việt Nam Cộng hòa hãy cố thủ, án ngữ Vùng 4 Chiến thuật, hứa hẹn Trung Quốc sẽ đem quân đánh vào biên giới miền Bắc Việt Nam để giải vây. Dương Văn Minh vốn đã được Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam thông qua em trai là Dương Thanh Nhựt (bí danh Mười Ty, đại tá Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam) và gia đình đã thuyết phục từ trước, đã từ chối và nói:
Theo tác giả Trần Viết Đại Hưng, một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hòa, thì Nguyễn Cao Kỳ còn tính làm một cuộc đảo chính chính phủ Dương Văn Minh mới thành lập để nắm quyền và ra lệnh cố thủ. Người Mỹ biết chuyện đó và giám đốc CIA ở Sài Gòn lúc đó là Polgar đã cảnh cáo Kỳ là không được manh động. Nguyễn Cao Kỳ nghe vậy thì dẹp bỏ kế hoạch vì ông ta hiểu rằng: nếu chống lại sách lược của Mỹ thì sẽ mang họa vào thân.
== Ngày 30 tháng 4 ==
Ngày 29 tháng 4, sau sự giận dữ của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Schlesiger và cố vấn Henry Kissinger ở Washington vì sự nấn ná của Đại sứ Graham Martin ở Sài Gòn để cố tạo ra vẻ "người Mỹ đàng hoàng ra đi", Tổng thống Mỹ Gerald Ford ra lệnh dứt khoát: "Chấm dứt cuộc di tản vào 3 giờ 30 phút, giờ địa phương, sáng 30 tháng 4". Tuy nhiên, lệnh vẫn không thi hành kịp do sự chần chừ của Martin, "cuộc tháo chạy" đã diễn ra cho tới khi chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng rời Sài Gòn vào lúc 5 giờ 24 phút ngày 30 tháng 4.
8 giờ sáng 30 tháng 4 Tổng thống Dương Văn Minh và Bộ tổng tham mưu quân đội Việt Nam Cộng hòa hạ lệnh đơn phương ngừng chiến sẵn sàng đón quân đối phương vào Sài Gòn để bàn giao chính quyền. Ông tuyên bố "Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng vì chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào.". Theo phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, lệnh này trên thực tế cũng không còn tác dụng do phần lớn quân lực Việt Nam Cộng Hòa lúc đó đã tan rã, phần nhiều ra hàng hoặc vứt bỏ vũ khí về với gia đình. Do đó khi Quân giải phóng tiến vào Sài Gòn hầu hết chỉ gặp những ổ kháng cự nhỏ lẻ, thiếu tổ chức. Việc đại úy Phạm Xuân Thệ yêu cầu Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh đầu hàng thay vì phương án thành lập chính phủ liên hiệp ba thành phần nhằm buộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa trên khắp chiến trường buông súng, tránh thương vong không cần thiết cho cả hai bên lẫn dân thường. Theo Tổng trưởng Thương mại - Kinh tế Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Diệp, trước khi Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn, tướng tình báo Pháp là Francois Vanuxem của Pháp (lúc đó mới đeo hàm Đại tá) đến gặp các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền - Chủ tịch Thượng viện Sài Gòn và Vũ Văn Mẫu vào sáng 30/4 để đề nghị chính quyền Việt Nam Cộng hòa tiến hành hoãn binh, không đầu hàng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam mà tiếp tục đưa ra yêu sách thành lập chính phủ liên hiệp. Nếu chính phủ liên hiệp được thành lập, Pháp sẽ giúp chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhận được sự bảo trợ của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Tuy nhiên, Tổng thống Dương Văn Minh ngay lập tức từ chối do không muốn thêm một lần làm tay sai cho nước ngoài. Động cơ của Pháp lúc đó là muốn chính quyền Sài Gòn ngừng bắn để bảo vệ các tài sản của Pháp tại Sài Gòn tránh khỏi sự tàn phá của việc giao tranh, việc bảo vệ chính quyền Sài Gòn chính là bảo vệ các lợi ích của Pháp. Pháp muốn thiết lập lại ảnh hưởng của họ trên thuộc địa cũ. Trong Bộ Ngoại giao Pháp và các cố vấn ở Phủ Tổng thống có hai xu hướng giải quyết đối với vấn đề Sài Gòn. Một thì ra sức hoạt động cho một sự thu xếp ngừng bắn, một thì chủ trương nên tính chuyện làm ăn với Chính phủ Cách mạng lâm thời. Thậm chí, Quân Giải phóng bắt đầu chiến dịch giải phóng Đà Nẵng, Pháp đã cử Đại sứ Pháp tại Hà Nội Philippe Richer tới gặp Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phạm Văn Đồng để bàn cách lật đổ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu để dựng lên một chính quyền có thể nói chuyện được với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Tổng thống Dương Văn Minh đã nhìn ra ý đồ của Pháp và không muốn Trung Quốc can thiệp vào quá trình tái thống nhất Việt Nam nên đã từ chối, chấp nhận đầu hàng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để nhanh chóng có hòa bình và thống nhất.
9 giờ sáng cùng ngày, đúng 3 tiếng đồng hồ sau khi chiếc trực thăng cuối cùng của Mỹ rời nóc tòa Đại sứ quán, tướng Trần Văn Trà lệnh cho quân Giải Phóng tiến vào Sài Gòn từ năm hướng. Họ đã tiến nhanh mà không gặp một sự kháng cự có tổ chức nào.
Đại đội 9, Lữ đoàn 273, Quân đoàn 3 gồm 4 xe tăng T-54 nhận nhiệm vụ thần tốc tiến về trung tâm Sài Gòn. Dọc đường, 4 xe tăng gặp nhiều chốt chặn. Sau 30 phút, 4 chiếc xe tăng của đại đội 9 đã tiêu diệt 12 xe tăng - thiết giáp của địch, 12 chiếc khác ra đầu hàng, phía quân Giải phóng bị bắn cháy 1 xe tăng. Sau khi đánh bại quân địch tại các trạm chốt ở khu vực Cầu Sài Gòn, Hàng Xanh, cầu Thị Nghè, 2 xe tăng số hiệu 843 và 390 tiến về Dinh Độc Lập. Xe 843 đi trước do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy.
10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4, xe tăng mang số hiệu 843 húc nghiêng cổng phụ của Dinh Độc Lập và bị kẹt tại đó. Bùi Quang Thận - Đại đội trưởng, chỉ huy xe 843 - nhảy xuống xe, cầm lá cờ chạy bộ vào. Xe tăng 390 dưới quyền chỉ huy của Vũ Đăng Toàn húc tung cánh cửa chính của dinh.
11 giờ 30 phút cùng ngày, Trung úy Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam Bùi Quang Thận đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng hòa trên nóc dinh xuống, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên.
Cùng lúc này, đại úy trung đoàn phó Trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ cùng lực lượng đột kích thọc sâu của Quân đoàn 2 và biệt động thành Sài Gòn tiến vào dinh Độc Lập bắt Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là ông Dương Văn Minh cùng toàn bộ những nhân vật chủ chốt của nội các chính quyền Sài Gòn. Dương Văn Minh nói: "Tôi chờ các ông tới để bàn giao chính quyền", Phạm Xuân Thệ trả lời: "Các ông đã không còn gì để bàn giao. Thay mặt Cách mạng, tôi đề nghị ông ra lệnh đầu hàng vô điều kiện để tránh đổ máu không cần thiết". Dương Văn Minh đồng ý.
Khoảng 12 giờ trưa, đại úy Phạm Xuân Thệ đưa tổng thống Dương Văn Minh, thủ tướng Vũ Văn Mẫu lên xe Jeep để đến đài phát thanh. Chiếc xe thứ hai chở trung tá chính ủy lữ đoàn xe tăng 203 Bùi Văn Tùng cùng hai nhà báo Borries Gallasch (người Đức, báo Der Spiegel) và Hà Huy Đỉnh. Tại đài phát thanh, tổng thống Dương Văn Minh thay mặt toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn đã đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện với quân đội cách mạng (tức quân Giải phóng miền Nam Việt Nam). Thay mặt các đơn vị Quân giải phóng đánh chiếm dinh Độc Lập, trung tá Bùi Văn Tùng đọc lời tiếp nhận đầu hàng. Chiến tranh kết thúc.
Ông Nguyễn Văn Tàu (sinh năm 1928 ở Bà Rịa - Vũng Tàu), biệt danh Tư Cang, nguyên Chính ủy Lữ đoàn Biệt động 316, người trực tiếp chiếm giữ, bảo vệ cầu Rạch Chiếc để xe tăng tiến vào giải phóng Sài Gòn năm 1975 kể lại: "Điều kỳ diệu là thành phố còn nguyên vẹn, điện nước đầy đủ. Theo tôi có được điều ấy là do nhân dân. Lòng dân hướng về cách mạng, các đoàn thể được tổ chức chặt chẽ. Khi các cánh quân tiến vào thì quần chúng đã đứng lên diệt ác ôn, giải phóng phường, treo cờ cách mạng. Đó là sự chuẩn bị, gây dựng quần chúng từ mấy chục năm. Phong trào quần chúng ví như thùng thuốc nổ, khi có ngòi nổ đủ sức công phá thì sức mạnh quần chúng bung ra không gì cản nổi. Quân đội như chúng tôi chỉ đóng vai trò ngòi nổ đủ mạnh".
Trước giờ cáo chung, Chính quyền Sài Gòn còn tuyên truyền là quân giải phóng sẽ "dìm Sài Gòn trong biển máu". Nhưng cuối cùng thì không có cuộc tắm máu nào như thế cả. Ngược lại, những binh sĩ đã hạ vũ khí được tự do đi lại trên đường phố mà không bị truy sát. Các hình ảnh do chính phóng viên ảnh và quay phim nước ngoài ghi lại đã cho thấy nhiều người dân đã đón chào và dẫn đường cho quân giải phóng đánh chiếm các mục tiêu trong trưa 30/4/1975 tại Sài Gòn.
Sau khi tin đầu hàng phát đi từ Sài Gòn có năm vị tướng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã tự sát vào ngày 30 Tháng Tư, là Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ và Trần Văn Hai
Theo Jean Louis Margolin, tác giả này xác nhận là không có giết chóc trong ngày quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn nhưng ông đã đưa ra con số 200 ngàn tù binh bị giam giữ theo xác nhận của Phạm Văn Đồng.. Ngược lại, một số quan chức Việt Nam Cộng hòa đã cộng tác với chính phủ Cách mạng lâm thời và được giữ chức vụ trong chính phủ mới như Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh... Khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, nhiều cựu binh sĩ VNCH đã được Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam gọi tái ngũ để giúp vận hành các loại vũ khí thu được của Mỹ.
Tom Polgar, nhân viên cao cấp tòa Đại sứ Mỹ ở Việt Nam, một trong những người Mỹ cuối cùng di tản, đã ghi lại cảm tưởng của mình vào ngày hôm ấy:
"Đó là một cuộc chiến tranh (chiến tranh Việt Nam) lâu dài và khó khăn mà chúng ta đã thua. Thất bại độc nhất của lịch sử Hoa Kỳ chắc sẽ không báo trước sức mạnh bá chủ toàn cầu của nước Mỹ đã chấm dứt. Nhưng... Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải lặp lại sai lầm trong lịch sử".
Trong trưa ngày 30/04, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã liên lạc với quân Giải phóng và tuyên bố trên Đài Phát thanh Sài Gòn sau lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh:
Trước đó, chính quyền Sài Gòn đã tuyên truyền về một cuộc tắm máu của Việt Cộng khi Sài Gòn thất thủ. Do đó, trong sáng 30/04, rất ít người dám ra đường mà chỉ ở trong nhà nghe radio. Tuy nhiên, theo quan sát của các nhà báo quốc tế, tại Sài Gòn và nhiều thành phố khác của miền Nam Việt Nam đã không hề có bất kỳ một cuộc tắm máu nào xảy ra nhưng những gì bộ máy tuyền truyền của chính quyền Việt Nam Cộng hòa cảnh báo. Hoàn toàn không có việc bắn giết, cướp bóc, bạo lực.
=== Hoạt động nổi dậy dân sự ===
Song song với các hoạt động quân sự của Quân Giải phóng là hoạt động nổi dậy giành chính quyền của quần chúng nhân dân. Phía Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã có những hoạt động chuẩn bị để quần chúng nổi dậy ngay từ tháng 3/1975, trong đó xác định lực lượng thanh niên là nòng cốt. Hoạt động nổi dậy sẽ diễn ra ở 05 khu vực, bao gồm:
Khu vực 1 gồm: Ngã Bảy, Bàn Cờ, Vườn Chuối (quận 3) do lực lượng sinh viên học sinh các trường Kỹ thuật Cao Thắng, Gia Long và cơ sở sĩ quan Việt Nam Cộng hòa do Quân Giải phóng đã thực hiện binh vận thành công đã trở thành cở sở cách mạng.
Khu vực 2 gồm: Khánh Hội - Xóm Chiếu thuộc quận 4 và một phần quận Nhì do lực lượng các trường đại học Y, Nha, Dược và Nông súc sản phụ trách.
Khu vực 3 gồm Cầu Kiệu - Võ Dung Nghiệp, ngã tư Phú Nhuận (nay là Phan Đình Phùng) do Đoàn Công tác xã hội sinh viên học sinh Sài Gòn phụ trách.
Khu vực 4 gồm Cầu Bông - chợ Bà Chiểu (nay là đường Đinh Tiên Hoàng) do các cơ sở của các trường nữ, khối trung học tư thục phụ trách.
Khu vực 5 gồm vùng ven Tân Sơn, Tân Phú, Bà Điểm thuộc quận Tân Bình do là nơi quy tụ nhiều đồng bào công giáo nên thanh niên công giáo cùng với các sở, cha xứ... phụ trách
Để chuẩn bị cho nổi dậy thành công, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã lập các chốt phòng vệ để ngăn cản lực lượng Cảnh sát Việt Nam Cộng hòa biết tin. Đặc biệt, trước khi nổi dậy, một số lượng lớn cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã được may cùng với nhiều khẩu hiệu, trong đó nội dung hướng tới là lực lượng Việt Nam Cộng hòa cần đầu hàng ngay để hưởng khoan hồng, Chính phủ Cách mạng lâm thời sẽ bảo đảm đầy đủ tính mạng và tài sản của người dân. Ngay sau khi Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, không còn tiếng súng thì người dân bắt đầu đổ ra đường. Lúc này, lực lượng thanh niên tự vệ Giải phóng nhanh chóng giúp Quân Giải phóng tiếp quản các cơ sở chính quyền của Việt Nam Cộng hòa và ổn định trật tự. Bên cạnh đó, người dân Sài Gòn cũng bắt đầu đổ ra đường để chào đón, cầm cờ và dẫn đường cho Quân Giải phóng tiến về Dinh Độc Lập.
== Chiến dịch Gió lốc ==
Chiến dịch Gió lốc là chiến dịch của không quân Mỹ nhằm di tản bằng trực thăng người Mỹ và các quan chức, tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa ra khỏi Sài Gòn, miền Nam Việt Nam, từ 29 đến 30 tháng 4 năm 1975, những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam. Hơn 50.000 người đã di tản từ nhiều điểm ở Sài Gòn.
Có 50.493 người (trong đó có 2.678 trẻ mồ côi Việt Nam) được di tản từ Tân Sơn Nhất. Các phi công đã bay tổng cộng 1.054 giờ và 682 chuyến bay trong suốt chiến dịch. Đây là chiến dịch cuối cùng của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.
== Kết quả ==
Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 có vai trò rất quan trọng và lâu dài trong lịch sử Việt Nam với kết quả:
Chấm dứt Chiến tranh Việt Nam và Chiến tranh Đông Dương, một quá trình chiến tranh hao người tốn của kéo dài 30 năm với những thương vong, tổn thất rất lớn: khoảng 400.000 quân nhân Mỹ và các đồng minh của Mỹ đã chết, khoảng 1,5 triệu lính khác bị thương (trong đó riêng quân Mỹ có 58.191 chết và 304.000 bị thương). Phía Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam có khoảng 1 triệu quân nhân chết (trong đó 240.000 người đến nay vẫn còn trong diện mất tích), 600.000 quân nhân bị thương. Gần 2 triệu dân thường Việt Nam bị chết, hơn 2 triệu dân thường bị thương tật, khoảng 2 triệu người bị phơi nhiễm các loại hóa chất độc hại (ví dụ như chất độc da cam).
Kết thúc sự tồn tại của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Sự kiện này đã chứng tỏ sự thất bại của phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa trong cuộc chiến tại Việt Nam.
Chấm dứt việc các cường quốc thế giới can thiệp trực tiếp bằng quân sự vào Việt Nam.
Là điều kiện để thống nhất lãnh thổ Việt Nam. Thực hiện quyết định của Hội nghị Hiệp thương chính trị của đại biểu Miền Bắc và Miền Nam họp ở Sài Gòn tháng 11 năm 1975, ngày 25 tháng 4 năm 1976 toàn quốc tiến hành tổng tuyển cử bầu quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất. Quốc hội thống nhất họp tại Hà Nội từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 1976 đã quyết định tên nước là: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và đã bầu các thành viên của cơ quan chính quyền nhà nước. Việt Nam đã bước ra khỏi chiến tranh và thực sự trở thành một quốc gia thống nhất.
Bắt đầu hiện tượng người Việt bỏ ra nước ngoài vì các lý do như chiến tranh biên giới, chính trị hoặc kinh tế. Khoảng 150.000 người đã ra đi năm 1975, trong đó có 140.000 người đi cuối tháng 4. Hàng trăm nghìn quân nhân thuộc chế độ Việt Nam Cộng hòa phải học tập cải tạo trong các trại cải tạo với thời hạn khác nhau từ vài ngày đến 10 năm.
Trên phương diện quốc tế, sự chấm dứt Chiến tranh Việt Nam với thắng lợi của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đánh dấu sự thắng thế của phe Xã hội chủ nghĩa trên thế giới trong thập niên 1970 và kết quả là một loạt các phong trào cánh tả thắng thế hoặc lên cầm quyền ở một số nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh hướng tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
Bắt đầu mâu thuẫn giữa Việt Nam và Campuchia, Trung Quốc về vấn đề tranh chấp lãnh thổ.
== Nhận định ==
=== Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam ===
"Đây là thắng lợi của cả dân tộc, không phải của riêng ai" - Lê Duẩn
"Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc" - Lê Duẩn
Trong thời đại ngày nay, khi các lực lượng cách mạng thế giới ở thế tiến công, một dân tộc nước không rộng, người không đông, song đoàn kết chặt chẽ và đấu tranh kiên quyết dưới sự lãnh đạo của một đảng Mác-Lê-nin, có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, được sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới, thì hoàn toàn có thể đánh thắng mọi thế lực đế quốc xâm lược, dù đó là tên đế quốc đầu sỏ" (nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng cộng sản Việt Nam).
"Toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 đã đưa Việt Nam tới đỉnh cao của giải phóng dân tộc và uy tín của quốc tế. Thắng lợi của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ không chỉ là một tác nhân đưa đến những thay đổi rất quan trọng trong chiến lược của các nước lớn mà còn làm chuyển đổi cục diện chính trị khu vực Đông Nam Á." (Trần Quang Cơ)
"Thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 là một thắng lợi vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mở ra một kỷ nguyên mới đầy hứa hẹn cho Tổ quốc ta." (Văn Tiến Dũng)
"Quân đội Nhân dân Việt Nam ở cả miền Bắc và miền Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là một quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng, có tinh thần quyết chiến rất cao, thông minh và sáng tạo. Còn vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ" (Võ Nguyên Giáp).
"Ngày 30 tháng 4, không có chuyện miền Bắc chiến thắng hay miền Nam chiến bại, mà chỉ có Đế quốc Mỹ thất bại trước nhân dân Việt Nam mà thôi." (Bùi Tín)
"Giữa chúng ta không có kẻ thua người thắng, mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta chiến thắng đế quốc Mỹ" (Thượng tướng Trần Văn Trà, Tư lệnh quân quản Sài Gòn, nói với Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh)
"Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là một trang sử hào hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc ta. Chúng ta đã hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang là giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa nước ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập, thống nhất và cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa - dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh - Nguyễn Tấn Dũng
=== Hoa Kỳ ===
"Không còn nghi ngờ gì nữa đối với các ý đồ của Bắc Việt Nam. Họ sẽ tấn công Nam Việt Nam khi nào có thời cơ thuận lợi; nhưng lần này sẽ là 1 cuộc tấn công quân sự với khí thế áp đảo!" (William Colby)
"Chiến tranh Việt Nam, theo phân tích cuối cùng, là một trận đấu giữa Mỹ và người được họ bảo vệ và trợ cấp dồi dào với phong trào cách mạng mà gốc rễ giai cấp và cơ sở tư tưởng đưa lại cho họ một sức bật và một sức mạnh to lớn... Nguồn sức mạnh quan trọng nhất của Đảng Cộng sản trên ba mươi lăm năm qua là quan niệm của họ về một đạo đức cách mạng xã hội chủ nghĩa và sự nhấn mạnh của họ đối với ý nghĩa hàng đầu của mọi hành động và giá trị đưa đến một xã hội xã hội chủ nghĩa. Khả năng của Đảng phát triển một tổ chức mà cuộc sống của những thành viên phù hợp với những nguyên tắc nói trên, đã làm cho họ đạt được mục tiêu của họ". Gabriel Kolko
"Chiến thắng của họ (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam) là chiến thắng của dân tộc Việt Nam - người Bắc cũng như người Nam. Khác xa với một cuộc nội chiến, cuộc đấu tranh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là một sự khẳng định nguyên tắc thống nhất dân tộc mà chính quyền Sài Gòn đã tuyên bố ủng hộ rồi phản bội" - Frances Fitzgerald
"Sau những năm dài tìm cách khuất phục những dân tộc nghèo khổ bằng sự tàn bạo của sức mạnh kỹ thuật của mình, nước Mỹ, một nước giàu mạnh nhất trên quả đất này, cuối cùng có thể bị những người cộng sản Việt Nam đuổi ra khỏi bán đảo Đông Dương. Nếu đúng như vậy, thì thắng lợi của người Việt Nam sẽ là một thí dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối với máy móc" (Neil Sheehan).
"Chính quyền Việt Nam Cộng hoà sụp đổ chỉ sau 55 ngày kể từ khi quân giải phóng bắt đầu tấn công. Điều này cũng chứng minh cho căn bệnh mà chính quyền này đã bị nhiễm phải ngay từ khi thành lập: sự manh mún về chính trị; thiếu các nhà lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng và có năng lực; một tầng lớp trên mệt mỏi và tham nhũng không có khả năng điều chỉnh cho thích nghi đã tạo nên một cơ sở quốc gia yếu kém đến mức nguy hiểm... Trước những thực tế khắc nghiệt này, nỗ lực nhằm tạo nên một thành trì chống cộng ở ngay phía nam vĩ tuyến 17 đã có mầm mống thất bại ngay từ đầu." George C. Herring.
"Đó là một cuộc chiến tranh (chiến tranh Việt Nam) lâu dài và khó khăn mà chúng ta đã thua. Thất bại độc nhất của lịch sử Hoa Kỳ chắc sẽ không báo trước sức mạnh bá chủ toàn cầu của nước Mỹ đã chấm dứt. Nhưng... Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải lặp lại sai lầm trong lịch sử" (Tom Polgar, nhân viên cao cấp tòa Đại sứ Mỹ ở Việt Nam).
"Sao chúng (Việt Nam Cộng hoà) không chết phứt đi cho rồi? Điều tệ hại nhất có thể xảy ra là chúng cứ sống dai dẳng hoài" - Henry Kissinger, nói trên chuyến bay ngày 9/4/1975
"Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975, chính là mối đe dọa chiến lược to lớn đối với Trung Quốc còn hơn đối với Mỹ." - Henry Kissinger
=== Việt Nam Cộng hòa ===
"Họ (Hoa Kỳ) đã đâm sau lưng chúng tôi" - Cựu Tổng thống của Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu
"Người Mỹ họ có đường lối của họ: đó là họ phải nắm chỉ huy ở miền Nam này. Họ chỉ huy trong mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế tới ngoại giao... Mỹ nắm hết. Rồi chính Mỹ đã từ bỏ miền Nam Việt Nam." - Tướng Nguyễn Hữu Hạnh
"Ngày 10 tháng 3 năm 1975, Quân đội Bắc Việt Nam đánh chiếm Ban Mê Thuột. Đến ngày 30-4 đã tiến vào Sài gòn. Tốc độ như vũ bão, vỏn vẹn chỉ có 52 ngày... Nói tới cung cách ra đi, sao thật quá thê thảm. Trong trường kỳ, việc bỏ rơi, nhất là "cung cách tháo chạy" đã làm tổn hại rất nhiều tới "mức độ tin cậy" của chính sách ngoại giao cũng như uy tín Hoa Kỳ. Bạn thì hết tin tưởng, kẻ thù thì hết kính sợ... - Cựu Bộ trưởng kinh tế của Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Tiến Hưng
"Thống nhất xứ sở là nhiệm vụ lịch sử của mỗi một người con Việt Nam nhưng chúng tôi đã không làm được. Nhưng những người anh em phía bên kia đã làm được, phải chấp nhận đó là lịch sử và đất nước đã được thống nhất rồi. Vậy mà còn quay ra nói phục quốc? Nước Việt Nam có mất cho tây cho tàu đâu mà phục quốc?" - Cựu Thủ tướng của Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Cao Kỳ (nhận xét về việc các cựu quan chức Việt Nam Cộng hòa lưu vong ở hải ngoại gọi ngày 30/4 là "quốc hận" và đòi "phục quốc")
=== Học giả, chính trị gia khác ===
Yuriko Koike, cựu Bộ trưởng Quốc phòng và cố vấn an ninh quốc gia Nhật Bản, Chủ tịch Hội đồng Đảng Dân chủ Tự do (LDP), hiện là thành viên của Quốc hội Nhật Bản: "Chiến thắng của nước này (Việt Nam) trước Pháp và Hoa Kỳ đã trở thành định nghĩa cho những cuộc chiến giành độc lập trong thời kỳ hậu thực dân".
== Kỷ niệm ==
Xem thêm thông tin: Ngày lễ 30 tháng 04
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Việt:
Loi keu goi cua Trinh Cong Son tren dai phat thanh Sai Gon ngay 30.04.1975 trên YouTube Xuất bản ngày 5 tháng 4 năm 2012
Surrender or April-1975 Event of South Vietnam (part 2) trên YouTube Đã tải lên vào ngày 27 tháng 4 năm 2007
30 năm sau chiến tranh: Từ BBC tiếng Việt của chính phủ Anh
Phim tài liệu: "30 năm ngày ấy – bây giờ": Từ Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh của chính phủ Việt Nam
Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?: Bài viết của giáo sư Lê Xuân Khoa đăng trên BBC Vietnamese 15/2/2005
Báo Tiền Phong Chuyện những người vợ 4 anh lính xe tăng húc đổ cửa chính Dinh Độc lập ngày 30/4 Vũ Bão, 07:55 ngày 09 tháng 04 năm 2005
Bùi Văn Tùng (Đại tá – Nguyên Trung tá, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203), Vì sao tôi thảo lời đầu hàng cho Tổng thống ngụy Sài Gòn? Báo Nhân dân 27/04/2004 - 04:00 PM (GMT+7)
Tiếng Anh:
Fall of Saigon Video trên YouTube Đã tải lên vào ngày 20 tháng 9 năm 2007
White Christmas - The Fall of Saigon by Dirck Halstead - The Digital Journalist Các hình ảnh về những ngày cuối cùng trước khi Saigon sụp đổ của các PV Nước ngoài
George J. Church, SAIGON: THE FINAL 10 DAYS. A look at the storm before the long quiet -- through the eyes of the victors, the losers, the ones who got out and the ones who didn't, George J. Church, TIME, ngày 24 tháng 4 năm 1995 Volume 145, No. 17 (số báo kỉ niệm 20 năm sự kiện 30-4). Xem toàn bộ nội dung tại đây
Trang tư liệu của báo The New York Times |
1763.txt | Năm 1763 (số La Mã: MDCCLXIII) là một năm thường bắt đầu vào thứ bảy trong lịch Gregory (hoặc một năm thường bắt đầu vào thứ Tư trong lịch Julius chậm hơn 11 ngày).
== Sự kiện ==
15 tháng 2: Hiệp định Hubertusburg kết thúc cuộc Chiến tranh Bảy năm ở châu Âu. Nhà vua nước Phổ Friedrich II Đại Đế giữ được nước.
== Sinh ==
== Mất ==
== Tham khảo == |
đông nam á.txt | Đông Nam Á là một khu vực của châu Á, bao gồm các nước nằm ở phía nam Trung Quốc, phía đông Ấn Độ và phía bắc của Úc, rộng 4.494.047 km² và bao gồm 11 quốc gia: Việt Nam, Campuchia, Đông Timor, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanma, Philippines, Singapore, Thái Lan và Brunei cũng có chỗ ở Papua New Guinea. Vào năm 2014, dân số của cả khu vực lên đến 612.7 triệu người (số liệu năm 2015), trong đó hơn 1/6 sống trên đảo Java (Indonesia). Hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đều gia nhập ASEAN (Association Southeast Asia Nation) trừ Timor Leste.
== Địa hình ==
Đông Nam Á là chỗ giao nhau của nhiều mảng địa chất có núi lửa và động đất hoạt động mạnh. Các quốc gia của khu vực được chia ra làm hai nhóm chính: Myanma, Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam nằm ở Đông Nam Á lục địa, còn gọi bán đảo Trung Ấn, trong khi đó các nước còn lại tạo nên Quần đảo Mã Lai. Quần đảo này được hình thành bởi nhiều cung đảo thuộc về Vành đai núi lửa Thái Bình Dương và là một trong những khu vực có hoạt động núi lửa mạnh nhất thế giới.
Trong 11 nước Đông Nam Á, thì có 10 quốc gia có hải giới, trừ Lào. Philippines và Singapore là 2 nước trong khu vực này không có địa giới chung với bất kỳ quốc gia nào.
== Tên gọi ==
Ý niệm về Đông Nam Á như một khu vực riêng biệt đã có từ lâu. Song cùng với thời gian, khái niệm này ngày càng được hiểu một cách đầy đủ và chính xác hơn. Người Trung Quốc xưa kia thường dùng từ "Nam Dương" để chỉ những nước nằm trong vùng biển phía nam. Người Nhật gọi vùng này là "NanYo". Người Ả Rập xưa gọi vùng này là "Qumr", rồi lại gọi là "Waq - Waq" và sau này chỉ gọi là "Zabag". Còn người Ấn Độ từ xưa vẫn gọi vùng này là "Suvarnabhumi" (đất vàng) hay "Suvarnadvipa" (đảo vàng). Tuy nhiên đối với các lái buôn thời bấy giờ, Đông Nam Á được nhìn nhận là một vùng thần bí, nơi sản xuất hương liệu gia vị và những sản phẩm kì lạ khác, còn sinh sống ở đây là những con người thành thạo và can đảm.
Tên gọi "Đông Nam Á" được các nhà nghiên cứu chính trị và quân sự của Hà Lan, Anh, Mỹ đưa ra từ những năm đầu khi nổ ra Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng chính thức đi vào lịch sử với ý nghĩa là một khu vực địa - chính trị, và quân sự được bắt đầu từ khi Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston Churchill tại Hội nghị Québec lần thứ nhất vào tháng 8 năm 1943 nhất trí thành lập Bộ chỉ huy tối cao quân Đồng Minh ở Đông Nam Á. Trước đó, để chỉ khu vực này, người ta đã dùng nhiều tên gọi khác nhau cho những mục đích riêng biệt.
Lúc bấy giờ cũng có sự khác nhau về cách viết từ Đông Nam Á bằng tiếng Anh. Một số nhà nghiên cứu như Victor Purcell, E.G.H. Dobby, dùng từ Southeast thay cho South East hay South-East, vốn được dùng từ lâu. Bộ tư lệnh tối cao Đông Nam Á (SEAC) vẫn dùng từ Southeast, . Như thế có thể thấy rằng từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, từ "Đông Nam Á" mới xuất hiện trên bản đồ chính trị thế giới như một khu vực riêng biệt và có tầm quan trọng đặc biệt. Song nếu như trước đây, người ta mới chỉ nhìn thấy tính khu vực Đông Nam Á thể hiện ở vị trí địa lý - chính trị và quân sự của nó thì đến nay nhiều người đã khẳng định rằng ít nhất cho đến thế kỉ 16, Đông Nam Á đã nổi lên như một trong những trung tâm văn minh, một khu vực địa lý - lịch sử - văn hóa truớc khi trở thành một khu vực địa lý - chính trị.
== Văn minh Đông Nam Á ==
Trong quá trình phát triển lịch sử, Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của các nền văn minh bên ngoài, song sự tác động ấy không vì thế mà biết vùng này thành khu vực "Ấn Độ hóa" hay "Hán hoá". Nó đã lựa chọn những gì thích hợp trong văn hóa Dravid, đồng thời phục tùng các đặc điểm của mình, chứ không phải tiếp thu tất cả những gì xa lạ với nó.
Do điều kiện địa lý của mình, Đông Nam Á chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa, tạo nên hai muà tương đối rõ rệt: mùa khô lạnh, mát và mùa mưa tương đối nóng và ẩm. Vì thế, Đông Nam Á còn được gọi là khu vực "Châu Á gió mùa". Nếu theo khái niệm này thì ranh giới địa lý khu vực Đông Nam Á còn bao gồm cả miền Nam Trường Giang và vùng Đông Bắc của Ấn Độ nữa. Chính gió mùa và khí hậu biển làm cho khí hậu vùng Đông Nam Á đáng lẽ có thể trở nên khô cằn như một số khu vực lục địa khác có cùng vĩ độ đã trở nên xanh tốt và trù phú với những đô thị đông đức và thịnh vượng như Kuala Lumpur, Singapore, Jakarta... Gió mùa kèm theo những cơn mưa nhiệt đới đã cung cấp đủ nước cho con người dùng trong đời sống và sản xuất hằng năm, tạo nên những cánh rừng nhiệt đới phong phú về thảo mộc và chim muông. Đông Nam Á từ lâu đã trở thành quê hương của những cây gia vị, cây hương liệu đặc trưng như hồ tiêu, sa nhân, đậu khấu, hồi, quế, trầm hương... và cây lương thực đặc trưng là lúa nước.
Theo một số nhà nghiên cứu thì cư dân Đông Nam Á có những nét chung thống nhất về mặt văn hóa, vì cư dân ở đây có chung một nền tảng văn hóa Đông Nam Á, lấy sản xuất nông nghiệp lúa nước làm phương thức hoạt động kinh tế chính. Đông Nam Á được coi là "cái nôi" của cây lúa nước và là một trong 5 trung tâm cây trồng lớn trên thế giới. Văn hóa Hòa Bình đã chứng minh cư dân ở đây đã thuần hóa nhiều giống lúa, thực vật khác nhau, xuất hiện nền nông nghiệp sơ khai với các loại cây trồng, đặc biệt là các loại cây có củ và bầu bí, các cây họ đậu ở vùng thung lũng chân núi. Có nhà nghiên cứu còn cho rằng chủ nhân văn hóa Hoà Bình là người biết trồng trọt đầu tiên trên thế giới; niên đại nông nghiệp ở đây có thể lên đến hơn 1 vạn năm TCN. Vì thế, Đông Nam Á đã là một trong những nơi có cuộc cách mạng nông nghiệp sớm nhất trên thế giới. Đến thời đại đồ đồng, trong điều kiện của vùng nhiệt đới, cư dân Đông Nam Á đã bước sang kinh tế trồng lúa khô ở nương rẫy và lúa nước ở vùng thung lũng hẹp châu thổ. Cây lúa đầu tiên được thuần dưỡng ở vùng vùng thung lũng theo chân núi dần dần được chuyển xuống vùng châu thổ thích nghi với vùng ngập nước. Cùng với việc trồng lúa nước, người ta đã thuần dưỡng trâu bò làm sức kéo, xuất hiện các nghề thủ công, đặc biệt là nghề sông biển. Từ đó, nông nghiệp lúa nước đã trở thành một cơ sở quan trọng của nền văn minh khi vực. Đó là một nền văn minh mang đủ các sắc thái của những nền văn minh đồng bằng, biển, nửa đồi núi, nửa rừng với đủ các dạng kết cấu đan xen phức tạp... cơ sở chung của nền văn minh này là nông nghiệp trồng lúa nước, văn hóa xóm làng.
Đến khoảng nửa đầu thế kỷ 15, hầu hết các quốc gia tiền thân ở Đông Nam Á đã ra đời, và bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ mà điển hình là nhà nước Đại Việt dưới triều nhà Lê. Đây là nhà nước hoàn thiện và hùng mạnh nhất ở Đông Nam Á thời bấy giờ. Nhưng đến nửa đầu thế kỷ 18, các nhà nước trên bắt đầu suy yếu và rơi vào sự xâm lược hoặc lệ thuộc vào phương Tây, bắt đầu chịu ảnh hưởng của văn hóa châu Âu.
== Tự nhiên ảnh hưởng đến khu vực ==
Phải nói rằng gió mùa không chỉ đem lại thuận lợi cho con người mà còn là những yếu tố tự nhiên tác động và tạo nên sự thất thường cho khí hậu trong vùng, với biên độ không lớn lắm. Mưa nhiệt đới trên địa bàn tự nhiên của khu vực tạo ra những vùng nhỏ, xen kẽ giữa rừng nhiệt đới, đồi núi, bờ biển, và đồng bằng, tạo nên những cảnh quan đa dạng. Thực tế đó khiến cho Đông Nam Á thiếu những không gian rộng cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên quy mô lớn, thiếu những điều kiện tự nhiên cho sự phát triển những kĩ thuật tinh tế, phức tạp. Ở đây không có những đồng bằng rộng lớn như vùng châu thổ sông Ấn, sông Hằng hay Hoàng Hà; cũng không có những đồng cỏ mênh mông như vùng thảo nguyên. Không gian sinh tồn ở đây tuy nhỏ hẹp nhưng lại rất phong phú, đa dạng. Con người có thể khai thác ở thiên nhiên đủ loại thức ăn để sinh tồn. Vì thế có người gọi Đông Nam Á là khu vực khai thác thức ăn theo nghĩa rộng. Những điều kiện đó rất thuận lợi cho cuộc sống con người trong buổi đầu, nhưng không khỏi ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của một nền sản xuất lớn, tạo nên một khối lượng sản phẩm lớn trong những giai đoạn phát triển sau này của khu vực. Đồng thời, sự đa dạng, đan xen của những địa bàn sinh tụ nhỏ trong văn hóa tộc người của cả khu vực và trong mỗi quốc gia.
== Kinh tế biển của khu vực Đông Nam Á ==
Do vị trí địa lý nằm án ngữ trên con đường hàng hải nối liền giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Đông Nam Á từ lâu vẫn được coi là cầu nối giữa Trung Quốc, Nhật Bản với Ấn Độ, Tây Á và Địa Trung Hải. Thậm chí đến gần đây, một số nhà nghiên cứu vẫn gọi khu vực này là "ống thông gió" hay "ngã tư đường".
Việc đi lại bằng thuyền ở đây đã có từ thời rất xa xưa. Có thể nói cư nơi đây đã biết đóng thuyền bè mảng và thuyền đi biển rất sớm. Dựa trên các tài liệu cổ học, W. Solheime đã nhận định rằng kỹ thuật đi biển xuất hiện sớm nhất ở vùng duyên hải quần đảo Sulu, giữa Mindanao, Borneo và đảo Celebes khoảng 8000 - 9000 năm trước. Kĩ thuật hàng hải cổ đạt đến đỉnh cao vào khoảng thế kỉ 5 TCN khi những hình thuyền cỡ dáng to lớn, kiểu cong mũi, cong lái được khắc trên nhiều trống đồng Đông Sơn. Các thư tịch cổ Trung Quốc từ thế kỷ 3 cũng xác nhận rằng các sư tăng Trung Hoa sang Ấn Độ đều đi trên những thuyền gọi là "Côn Luân bản", dài đến 50m, trọng tải đến 600 tấn, có thể trở hàng trăm người, có buồm lớn, buồm con... của các nước thương nghiệp Đông Nam Á. Những con thuyền này đều có cột, giương buồm đã vượt khơi nối liền Đông Nam Á với Trung Quốc và Ấn Độ, chở người và hàng hóa, từ đầu Công nguyên cho đến thế kỉ 15-16. Trong cuộc hành trình này, một số thuyền bị đắm. P.Y. Manguin đưa ra một danh mục 10 thuyền bị đắm đã được khảo cổ học dưới nước phát hiện và nghiên cứu trong đó có 2 thuyền ở Pahang (Malaysia) và Agusan (Philippines) có niên đại từ thế kỉ 3-5; 3 thuyền thuộc thế kỉ 5-6 và những thuyền khác thuộc thế kỉ 7-14. Trên tường khu đền Borobudur còn có phù điêu hình con thuyền buồm lớn nhiều mái chèo, gần giống với những hạm thuyền của La Mã cổ đại.
Việc buôn bán bằng đường biển với Đông Nam Á đã khá nhộn nhịp từ thế kỉ 2. Đến thế kỉ 7, thuyền buôn Ả Rập đã thường xuyên đến vùng này để mua hương liệu, gia vị. Không phải ngẫu nhiên mà ở đây đã có mặt những nhà địa lý hay du lịch, nhà truyền giáo hay ngoại giao của cả phương Đông và phương Tây. Trong suốt chiều dài của cuộc hàng trình nổi lên những nhà thám hiểm như Claudius Ptolemaeus, Khang Thái, Nghĩa Tình, Pháp Hiển, Trịnh Hòa, Marco Polo, Chu Đạt Quang... Họ đã đến đây xem xét, ghi chép và để lại những tài liệu quý giá cho đời sau. Cũng không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu coi Đông Nam Á là một bộ phận của hế thống mậu dịch thế giới, nối liền hai thế giới Đông - Tây, có từ thời truyền bá đạo Phật, đạo Hindu cho đến tận ngày nay.
Đông Nam Á là khu vực văn hóa lâu đời, có nguồn gốc và bản sắc riêng của mỗi dân tộc, bên cạnh những nét chung do mối quan hệ từ lâu đời trên nhiều lĩnh vực. Dù có chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, văn hóa Ấn Độ, nền văn hóa Đông Nam Á vẫn mang tính riêng biệt độc đáo.
== Các thống kê ==
==== Thống kê chung ====
=== Chỉ số tự do 2015 ===
Dưới đây là bảng thống kê chỉ số tự do của các nước khu vực Đông Nam Á 2015, dựa trên các tiêu chí tự do công dân (quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí) và tự do chính trị.
== Cơ quan lập pháp ==
Cơ quan lập pháp tại các quốc gia Đông Nam Á được tổ chức theo 2 hệ thống: Hệ thống lưỡng viện gồm các quốc gia: Thái Lan, Campuchia, Myanmar, Malaysia, Indonesia và Philippines. Hệ thống đơn viện gồm các quốc gia: Việt Nam, Lào, Singapore, Brunei và Đông Timor. Quốc hội Indonesia được xem là nghị viện có số đại biểu đông nhất Đông Nam Á, với 692 thành viên (132 ở thượng viện và 560 ở hạ viện). Quốc hội Brunei có số thành viên ít nhất, chỉ có 36 nghị sĩ.
== Tỷ giá hối đoái tiền nội tệ của các quốc gia Đông Nam Á ==
Tỷ giá hối đoái tiền nội tệ của các quốc gia Đông Nam Á được so sánh với dollar Mỹ qua các năm 2009, 2010 và 2011 (theo tỷ giá hối đoái ngày đầu năm ngày 1.1).
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Lịch sử Đông Nam Á
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Các quốc gia Đông Nam Á |
cầu mây.txt | Cầu mây là một môn thể thao có nguồn gốc từ Đông Nam Á, cũng tương tự như bóng chuyền, ngoại trừ việc cầu mây sử dụng loại cầu làm bằng cây mây và chỉ cho phép cầu thủ sử dụng chân, đầu gối, ngực và đầu để chạm bóng. Đây là một môn thể thao nổi tiếng tại Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Lào, Philippines và Indonesia. Thái Lan là quốc gia rất mạnh ở bộ môn cầu mây tại các đại hội thể thao. Gần đây, Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc để tranh giành huy chương vàng với Thái Lan tại các giải đấu lớn.
== Nguồn gốc ==
Môn thể thao Takraw xuất hiện cách đây 500 năm về trước, nay là môn bóng đá của người Xiêm La, đã vun đắp mối liên hệ mở rộng tầm quốc tế một cách chậm rãi qua lối tấn công đầy xông xáo và luôn luôn biểu hiện hành động di chuyển nhanh nhẹn. Có môn thể thao Takraw đơn giản hơn mệnh danh Luk Takraw sử dụng quả bóng đan bằng cây mây, cũng ẩn chứa tinh thần sôi động vẫn tiềm tàng trong quá khứ của quốc gia. Môn thể thao Luk Takraw diễn ra khắp các vùng đất nước, dành cho đàn ông cùng nhau tụ tập rèn luyện thân thể, sau khi công việc đồng áng kết thúc hay thời gian rảnh rỗi. Lối chơi môn này:trừ hai tay, sử dụng toàn bộ cơ phận thân thể – hai chân, đầu gối, cùi chỏ, hai vai và đầu giữa quả bóng di chuyển trên không lần luợt qua các vận động viên, bằng lối chuyền bóng uyển chuyển.
== Cách chơi ==
Có hai hình thức chính của môn thể thao Takraw. Môn thể thao Takraw thứ nhất có lưới với hình thức tranh tài, rất giống quy tắc chơi bóng chuyền. Môn thể thao Takraw thứ hai với biệt danh Regus, đội chơi bóng có bốn cầu thủ tranh tài với nhau – ba người chơi chuyền bóng cho nhau, trong lúc người thứ tư chờ đợi thay thế, có sự khác biệt giữa môn thể thao Takraw có lưới và môn như bóng chuyền là mỗi bên được phép ba lần tiếp xúc bóng, sự kiện này có thể giữ bóng liên tiếp đối với bất kỳ cầu thủ nào. Lưới cao một mét rưỡi, phân cách hai đội bóng trong lúc phát bóng đi gồm hai cầu thủ. Đấu thủ phát bóng đi đứng cách xa làn trung tâm của sân bóng ba mét, còn môn Takraw – cầu thủ phát bóng đứng quay về phía lưới, dùng chân đá quả bóng bay đi chính xác, giúp cầu thủ phát bóng gần chân đá của mình, di chuyển nhanh nhẹn. Thái Lan và Mã Lai chiếm ưu thế về môn thể thao này. Bằng nhịp độ chơi tiến triển chớp nhoáng hai quốc gia đã cùng nhau giao đấu chiếm vị trí tối cao về môn thể thao này trong nhiều năm qua.
== Tham khảo == |
thị trấn (việt nam).txt | Thị trấn là một đơn vị hành chính cấp xã tại Việt Nam. Tất cả thị trấn tại Việt Nam đều trực thuộc các huyện. Thị trấn có thể là huyện lị nếu các cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện được đặt tại thị trấn đó. Tuy nhiên, không phải thị trấn nào cũng là huyện lỵ, và không phải huyện nào cũng có thị trấn. Đặc biệt, có nhiều huyện lỵ không đặt ở thị trấn cùng tên với chính mình, chủ yếu do giao thông không thuận lợi với các xã khác trong huyện, điển hình như huyện Tam Đảo. Duy nhất ở Việt Nam có 1 huyện lên đến 4 thị trấn, đó là huyện Châu Thành A, Hậu Giang, một vài huyện có tới 3 thị trấn, chẳng hạn là huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên, huyện Phụng Hiệp, Hậu Giang, huyện Đức Hòa, Long An huyện Tịnh Biên, An Giang, huyện Kinh Môn, Hải Dương, huyện Hải Hậu, Nam Định, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định, huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc, huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Trước năm 1996, huyện Từ Liêm của thủ đô Hà Nội từng có đến 5 thị trấn. Hầu hết những huyện không có thị trấn nào là những huyện mới chia tách.
== Các đơn vị hành chính tương đương ==
Thị trấn tương đương với:
Tại các thành phố trực thuộc trung ương (TPTTTW):
Phường (phần nội thành hay nội thị (nếu có thị xã trực thuộc TPTTTW)).
Xã (phần ngoại thành của TPTTTW hay ở các huyện trực thuộc TPTTTW).
Tại các tỉnh:
Phường (trong phần nội thành của các Thành phố trực thuộc tỉnh (nếu có) hay của các thị xã (nếu có)), cũng như xã ở phần ngoại thành (ngoại thị) của các đơn vị hành chính này.
Xã ở các huyện.
Một thị trấn bao gồm các khu, tiểu khu, cụm hay tổ.
Sự so sánh trên đây là so sánh về cấp hành chính. Một thị trấn có thể là trung tâm hành chính của một huyện, nhưng một phường nào đó tại một thị xã nào đó thì không thể coi là trung tâm hành chính của một thị xã, trong khi một huyện và một thị xã là hai đơn vị hành chính tương đương về cấp.
== Thống kê ==
Tỉnh có nhiều thị trấn nhất là Thanh Hóa với 30 thị trấn, tiếp theo là thành phố Hà Nội với 22 thị trấn. Tỉnh Bình Dương chỉ có 2 thị trấn còn thành phố Đà Nẵng là đơn vị hành chính cấp tỉnh duy nhất không có thị trấn nào..
Tính đến ngày 11 tháng 5 năm 2015, Việt Nam có 11257 đơn vị hành chính cấp xã (gồm xã, phường, thị trấn) trong đó có 609 thị trấn.
== Phân loại đô thị ==
Đa số thị trấn tại Việt Nam được xếp vào đô thị loại V. Một số thị trấn lớn được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại II, III, IV như:
== Phân biệt với xã ==
Tiêu chí để xét một khu vực dân cư là thị trấn hay xã thông thường gắn với tỷ lệ ngành nghề. Tại khu vực xã, tỷ lệ dân số làm nông nghiệp (lâm nghiệp, ngư nghiệp) cao hơn so với một thị trấn. Tại địa bàn một huyện, mật độ dân số tại các thị trấn thông thường cũng cao hơn so với mật độ dân số tại các xã. Các tiêu chí khác như số lượng dân số, đóng góp cho ngân sách (qua thuế chẳng hạn), diện tích đất đai không rõ nét trong trường hợp này. Một thị trấn có thể đông dân và nộp ngân sách nhiều hơn một xã, song cũng không ít trường hợp ngược lại.
== Thị tứ ==
Bài chính: Thị tứ
Các sách báo gần đây đề cập nhiều đến khái niệm thị tứ. Tuy nhiên, thị tứ không phải là một đơn vị hành chính nhà nước chính thức. Một thị tứ thông thường được hiểu là trung tâm của một tiểu vùng kinh tế (bao gồm phạm vi nhiều xã với lượng dân cư khoảng 4-5 nghìn người, nhưng không phải trong phạm vi toàn huyện), trong đó các ngành nghề như thương mại; dịch vụ; công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển hơn so với các vùng phụ cận. Dân cư sống trong khu vực đó cũng sống tập trung và có mật độ cao hơn. Một thị tứ được hình thành khi ở khu vực đó có sự thuận lợi về các điều kiện hạ tầng cơ sở hơn so với khu vực phụ cận. Nó có thể nằm trong khu vực thuộc nhiều xã giáp ranh. Nó là tiền đề để hình thành nên các thị trấn mới trong tương lai, khi nó phát triển đủ lớn để chính quyền có thể công nhận.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Phân cấp hành chính Việt Nam
Thành phố (Việt Nam)
Tỉnh (Việt Nam)
Thành phố trực thuộc trung ương (Việt Nam)
Danh sách đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam
Quận (Việt Nam)
Thành phố trực thuộc tỉnh (Việt Nam)
Thị xã (Việt Nam)
Huyện (Việt Nam)
Phường (Việt Nam)
Danh sách thị trấn tại Việt Nam
Thị trấn nông trường
Xã (Việt Nam)
== Liên kết ngoài ==
Nghị định 72/2001/NĐ-CP về Phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị
Nghị định 159/2005/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. |
bất động sản.txt | Bất động sản là một thuật ngữ pháp luật (ở một số nước như Liên hiệp Anh, Canada, Úc, Mỹ và Bahama) có ý nghĩa bao gồm đất đai và những gì dính liền vĩnh viễn với mảnh đất. Những thứ được xem là dính liền vĩnh viễn như là nhà cửa, ga ra, kiến trúc ở trên hoặc dầu khí, mỏ khoáng chất ở dưới mảnh đất đó. Những thứ có thể dỡ ra khỏi mảnh đất như nhà di động,lều, nhà tạm thì không được xem là bất động sản.
Bất động sản ("real estate" hay "real property") có nghĩa ngược với động sản ("personal property").
Người sở hữu bất động sản được phép sử dụng, mua bán, cho thuê, làm quà tặng, dùng để ký quỹ, để di chúc lại cho người được thừa hưởng, hoặc để yên bất động sản của mình. Thị trường bất động sản có liên hệ mật thiết với thị trường vốn, thị trường tài chính.
== Nguồn gốc thuật ngữ ==
Từ "real" có nguồn gốc từ từ "res" trong tiếng Latinh có nghĩa là "vật", để phân biệt với "người". Vì vậy, pháp luật thường phân biệt rất rõ ràng giữa bất động sản ("real property") và động sản ("personal property"): ví dụ, quần áo, đồ nội thất, v.v...). Sự khác biệt về khái niệm giữa "bất động sản" và "động sản" là ở chỗ: bất động sản được chuyển nhượng cùng với đất đai, con động sản thì không.
Một số tài liệu lịch sử đã xác nhận lần đầu tiên thuật ngữ "bất động sản" được sử dụng vào năm 1666. Điều này chứng tỏ sự coi trọng của giai cấp phong kiến đối với đất đai cũng như quyền sử dụng đất.
== Phân loại bất động sản ==
Bất động sản có thể phân thành ba loại:
Bất động sản có đầu tư xây dựng: bất động sản nhà đất (bao gồm đất đai và các tài sản gắn liền với đất đai), bất động sản nhà xưởng và công trình thương mại - dịch vụ, bất động sản hạ tầng, bất động sản trụ sở làm việc, v.v... Nhóm bất động sản nhà đất là nhóm cơ bản, tỷ trọng rất lớn, tính chất phức tạp cao, chiếm tuyệt đại đa số các giao dịch trên thị trường bất động sản của một nước.
Bất động sản không đầu tư xây dựng: Đất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất hiếm, đất chưa sử dụng, v.v...
Bất động sản đặc biệt: các công trình bảo tồn quốc gia, di sản văn hóa vật thể, nhà thờ họ, đình chùa, miếu mạo, nghĩa trang, v.v...
Nói cách khác, Bất động sản được xem là đất đai và những gì dính liền vĩnh viễn với mảnh đất đó. Người sở hữu Bất động sản được phép sử dụng, mua bán, cho thuê, làm quà tặng, dùng để ký quỹ, để di chúc lại cho người được thừa hưởng, hoặc để yên Bất động sản của bản thân.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Real and personal property tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
SỞ HỮU ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
chạy đua vào không gian.txt | Cuộc chạy đua vào vũ trụ hay cuộc chạy đua vào không gian là cuộc cạnh tranh thám hiểm vũ trụ giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, kéo dài từ khoảng 1957 đến 1975. Nó liên quan đến các nỗ lực thám hiểm không gian bằng vệ tinh nhân tạo và việc đưa con người vào vũ trụ và lên Mặt Trăng.
Mặc dù bắt nguồn từ các vấn đề về kỹ thuật tên lửa và không khí chính trị quốc tế căng thẳng theo sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc chạy đua vào vũ trụ chỉ chính thức bắt đầu sau khi Liên Xô phóng vệ tinh Sputnik 1 lên quỹ đạo vào ngày 4 tháng 10 năm 1957. Cuộc chạy đua này giống như cuộc chạy đua vũ trang. Cuộc tranh đua này đã trở thành một phần quan trọng của cạnh tranh về văn hóa, kỹ thuật và ý thức hệ giữa Hoa Kỳ và Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh. Kỹ thuật vũ trụ đã trở thành một khía cạnh quan trọng trong cuộc đối đầu này, bởi các ứng dụng quân sự cũng như tác động tâm lý đối với công chúng.
== Bối cảnh ==
Tên lửa đã là niềm say mê của các khoa học gia cũng như các tay chơi nghiệp dư trong nhiều thế kỷ. Người Trung Quốc đã sử dụng chúng như một loại vũ khí từ thế kỷ 11, và các vũ khí tên lửa làm bằng sắt, đơn giản, không chính xác đã được sử dụng trên tàu chiến cũng như đất liền vào thế kỷ 19. Nhà khoa học người Nga, Konstantin Eduardovich Tsiolkovsky đã đưa ra mô hình lý thuyết về tên lửa nhiều tầng sử dụng nhiên liệu lỏng trong thập niên 1880 có thể đạt đến độ cao vũ trụ và thiết lập nền tảng cho khoa học tên lửa. "Phương trình tên lửa" của ông để tính ra vận tốc bay của tên lửa vẫn đang được sử dụng trong quá trình thiết kế các tên lửa hiện đại. Tsiolkovsky cũng là người đầu tiên vẽ ra mô hình lý thuyết của vệ tinh nhân tạo.
Vào năm 1926, Robert Goddard, người Mỹ đã thiết kế một tên lửa sử dụng nhiên liệu lỏng. Nghiên cứu về tên lửa của Goddard ít được cộng đồng khoa học cũng như công chúng quan tâm. Sau khi chiến tranh nổ ra, nghiên cứu tên lửa trở nên một ngành khoa học quan trọng. Điều đó báo hiệu rằng, bản chất khoa học và hòa bình của các cuộc chạy đua vào không gian luôn đi kèm với các tham vọng quân sự của các nước tham gia.
=== Đóng góp của người Đức ===
Vào giữa thập niên 1920, các nhà khoa học Đức đã bắt đầu những thí nghiệm các tên lửa đẩy, dùng nhiên liệu lỏng có khả năng đạt được độ cao và tầm xa khá lớn. Vào năm 1932, các lãnh đạo của Reichswehr, tiền thân của Wehrmacht, đã muốn dùng tên lửa để phục vụ cho các loại pháo tầm xa. Nhà khoa học tên lửa Wernher von Braun đã tham gia vào các nỗ lực phát triển các loại vũ khí cho Đức Quốc xã, sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Von Braun dựa vào nhiều ý tưởng ban đầu của Robert Goddard đã nghiên cứu và cải tiến các loại tên lửa của Goddard.
Tên lửa A-4 của Đức, phóng vào năm 1942, đã trở thành tên lửa đầu tiên đạt đến không gian. Vào năm 1943, Đức bắt đầu sản xuất loại kế tiếp của nó. Tên lửa V-2 đạt tầm xa 300 km (185 dặm), mang theo đầu đạn nặng 1.000 kg (2.200 lb). Wehrmacht đã phóng hàng ngàn tên lửa V-2 vào các quốc gia Đồng Minh, gây nhiều tổn thất và thương vong cho đối phương. Tuy thế, V-2 còn gây nhiều tử vong đối với những người lao động khổ sai trong các nhà máy chế tạo vũ khí như ở nhà máy chế tạo bom tại Trại tập trung Mittelbau Dora nhiều hơn là số người bị chết bởi các vụ tấn công.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai gần kết thúc, quân đội Hoa Kỳ, Anh và Liên Xô tranh giành công nghệ cũng như các kỹ thuật viên của chương trình tên lửa của Đức ở Peenemünde. Quân đội Anh và Liên Xô có một vài thành công, nhưng Hoa Kỳ hưởng lợi nhiều nhất. Hoa Kỳ đã mang đi một số lượng lớn các nhà nghiên cứu tên lửa; nhiều người là đảng viên Đảng Quốc xã, trong đó Von Braun cũng được sang Hoa Kỳ trong Chiến dịch Kẹp giấy (tiếng Anh: Operation Paperclip). Các khoa học gia Mỹ đã cải tiến các tên lửa Đức và phát triển thêm một số khác. Các khoa học gia sau chiến tranh, kể cả von Braun, sử dụng tên lửa để nghiên cứu các điều kiện nhiệt độ và áp suất ở thượng tầng của khí quyển Trái Đất, tia vũ trụ và nhiều đề tài khác.
=== Chiến tranh Lạnh ===
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ và Liên Xô bắt đầu tham gia vào Chiến tranh Lạnh với các vụ do thám và tuyên truyền. Thám hiểm không gian và kỹ thuật vệ tinh có thể cung cấp cho Chiến tranh Lạnh ở cả hai mặt trận này. Các thiết bị đặt trên vệ tinh có thể do thám các quốc gia khác, trong khi các thành công trong vũ trụ được dùng để đánh bóng cho sự phát triển khoa học ở nước đó cũng như các ứng dụng vào quân sự. Tên lửa có khả năng đưa người vào vũ trụ hay hạ xuống một điểm nào đó trên Mặt Trăng cũng có thể mang bom hạt nhân tới một thành phố của đối phương. Các phát triển kĩ thuật phục vụ du hành vũ trụ có thể được ứng dụng trực tiếp vào các tên lửa thời chiến như tên lửa liên lục địa (ICBM). Cùng với các khía cạnh khác của chạy đua vũ trang, phát triển trong khoa học không gian là dấu hiệu của sự thống trị về kĩ thuật và kinh tế, biểu hiện dấu hiệu của siêu cường quốc. Nghiên cứu không gian có hai mục đích: phục vụ hòa bình và đóng góp vào các mục tiêu quân sự.
== Các vệ tinh nhân tạo ==
=== Sputnik ===
Vào 4 tháng 10 năm 1957, Liên Xô đã phóng thành công Sputnik 1, vệ tinh nhân tạo đầu tiên vào quỹ đạo Trái Đất, khởi đầu cuộc chạy đua vào vũ trụ. Vì các tiềm năng quân sự và kinh tế, Sputnik đã gây nên hoảng sợ và các tranh luận về chính trị ở Hoa Kỳ, làm cho chính quyền Eisenhower đưa ra một số chương trình, trong đó có cả việc thành lập NASA. Cùng lúc đó, sự kiện Sputnik được nhìn nhận tại Liên Xô như một dấu hiệu quan trọng về khả năng khoa học kỹ thuật của quốc gia.
Ở Liên Xô, vụ phóng Sputnik và chương trình thám hiểm vũ trụ kế tiếp đã thu hút được sự ủng hộ của công chúng. Đối với một đất nước chỉ vừa hồi phục sau chiến tranh đó là một điều quan trọng và đầy khích lệ để thấy được sức mạnh khoa học kĩ thuật trong thời đại mới.
Trước sự kiện Sputnik, người Mỹ tin rằng Hoa Kỳ là vượt trội trong mọi lĩnh vực kĩ thuật. Để đáp lại Sputnik, Hoa Kỳ đã bắt đầu một cố gắng vượt bậc để lấy lại thế thượng phong về khoa học kĩ thuật, kể cả việc cải cách chương trình giáo dục. Các thành công của Liên Xô trong việc đưa lên không gian một vệ tinh viễn thông nặng 184 pound và ngay một tháng sau, một tên lửa nặng nửa tấn mang theo chó Laika lên vũ trụ đã buộc Hoa Kỳ phải hành động ở tầm cỡ quốc gia. Chỉ trong một năm, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Giáo dục Quốc phòng (National Defense Education Act), một chương trình giáo dục liên bang có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử của quốc gia này. Đạo luật này đã cho phép chi ra hơn một tỷ đô la cho các cải cách giáo dục khác nhau, bao gồm việc xây dựng thêm nhiều trường mới, các học bổng và các khoản tiền cho mượn để các học sinh giỏi có thể học lên cao hơn, những cố gắng mới trong giáo dục ngành nghề để đáp ứng những nhu cầu về nhân lực của ngành công nghiệp quốc phòng, và nhiều chương trình khác. Phản ứng này ngày nay được biết đến với tên gọi khủng hoảng Sputnik.
Gần bốn tháng sau vụ phóng Sputnik 1, Hoa Kỳ đã tiến hành phóng vệ tinh đầu tiên Explorer I. Một số vụ phóng tại Cape Canaveral đã thất bại.
Những vệ tinh đầu tiên đã được sử dụng cho các mục đích khoa học. Sputnik đã giúp cho việc xác định mật độ của thượng tầng khí quyển, và dữ liệu của Explorer I dẫn đến việc khám phá ra vành đai Van Allen bởi James Van Allen.
=== Vệ tinh viễn thông ===
Vệ tinh viễn thông đầu tiên của Mỹ, Project SCORE, được phóng vào 18 tháng 12 năm 1958, đã giúp chuyển đi lời chúc mừng Giáng sinh từ Tổng thống Dwight D. Eisenhower ra toàn cả thế giới. Các ví dụ khác của liên lạc vệ tinh sản sinh từ Cuộc đua vũ trụ bao gồm:
1962: Telstar: vệ tinh liên lạc "chủ động" đầu tiên (vượt đại dương)
1972: Anik 1: vệ tinh liên lạc nội địa đầu tiên (Canada)
1974: Westar: vệ tinh liên lạc nội địa đầu tiên của Mỹ
1976: Marisat: vệ tinh liên lạc di động đầu tiên
Hoa Kỳ đã phóng vệ tinh địa tĩnh (geosynchronous) đầu tiên, Syncom-2, vào 26 tháng 7 năm 1963. Thành công của loại vệ tinh này nghĩa là một ăngten đĩa vệ tinh đơn giản không cần phải theo dõi quỹ đạo của vệ tinh vì vệ tinh là đứng yên so với Trái Đất.
== Sinh vật sống vào vũ trụ ==
=== Động vật vào vũ trụ ===
Ruồi giấm đã được phóng thử bởi Hoa Kỳ trên tên lửa V-2 của Đức vào năm 1946 và được xem là động vật đầu tiên vào vũ trụ cho việc nghiên cứu khoa học. Động vật đầu tiên vào quỹ đạo Trái Đất, con chó tên là Laika (tiếng Anh, "Barker"), du hành trong vệ tinh Sputnik 2 của Liên Xô vào năm 1957. Con chó đã chết vì quá tải và nhiệt độ quá cao ngay khi đạt đến vũ trụ. Vào năm 1960 hai chú chó Liên Xô khác Belka và Strelka bay vòng quanh Trái Đất và trở về an toàn. Chương trình không gian của Hoa Kỳ đã nhập khẩu vượn từ châu Phi và gửi lên ít nhất là hai con vào không gian trước khi phóng lên nhà du hành đầu tiên vào quỹ đạo. Liên Xô phóng lên rùa vào năm 1968 trên Zond 5, trở thành những động vật đầu tiên bay quanh Mặt Trăng.
=== Con người vào vũ trụ ===
Nhà du hành vũ trụ Liên Xô Yuri Alekseievich Gagarin trở thành con người đầu tiên vào vũ trụ khi ông vào quỹ đạo Trái Đất trên con tàu Vostok 1 của Liên Xô vào 12 tháng 4 1961, ngày này bây giờ trở thành một ngày lễ ở Nga và một số nước. Ông bay vòng quanh Trái Đất trong 108 phút. 23 ngày sau đó, trên phi vụ Freedom 7, Alan Shepard là người Mỹ đầu tiên bay vào không gian (nhưng chưa vào quỹ đạo Trái Đất), và John Glenn, trong Friendship 7, trở thành người Mỹ đầu tiên bay vòng quanh quỹ đạo Trái Đất, bay được 3 vòng vào ngày 20 tháng 2 năm 1962.
Chuyến bay đầu tiên có 2 người lái cũng bắt nguồn từ Liên Xô, vào 11 tháng 8 - 15 tháng 8 năm 1962. Valentina Vladimirovna Tereshkova của Liên Xô trở thành người phụ nữ đầu tiên trong vũ trụ vào ngày 16 tháng 6 năm 1963 trên tàu Vostok 6. Sergey Pavlovich Korolyov ban đầu đã lên kế hoạch cho các phi vụ Vostok dài ngày hơn, nhưng theo sau công bố về Chương trình Apollo, Tổng bí thư Khrushchyov yêu cầu trước tiên là thêm người ở mỗi chuyến bay. Chuyến bay đầu tiên với hơn một phi hành gia là Voskhod 1, một cải tiến của tàu Vostok, bay lên vào 12 tháng 10 năm 1964 mang theo Vladimir Mikhailovich Komarov, Konstantin Petrovich Feoktistov và Boris Borisovich Yegorov. Chuyến bay này cũng là chuyến bay đầu tiên một phi hành gia không cần mặc áo phi hành gia.
Aleksei Arkhipovich Leonov, từ Voskhod 2, phóng lên bởi Liên Xô vào 18 tháng 3 năm 1965, đã tiến hành cuộc đi bộ trong vũ trụ đầu tiên. Phi vụ này gần như đã kết thúc với thảm họa; Leonov suýt nữa thì không về lại được tàu vũ trụ và, vì tên lửa đẩy lùi khai hỏa yếu, con tàu đã hạ cánh chệch đi 1.600 km (1.000 dặm) khỏi mục tiêu định trước. Vào thời điểm đó Khrushchyov rời nhiệm sở, và lãnh đạo Liên Xô mới không muốn cố gắng hạ cánh lên Mặt Trăng.
== Các phi vụ lên Mặt Trăng ==
Mặc dù các thành công bởi cả Hoa Kỳ và Liên Xô đã đem nhiều niềm hãnh diện lớn đến cho hai quốc gia, không khí cạnh tranh của Cuộc đua vũ trụ vẫn tiếp tục cho đến khi người đầu tiên bước đi trên Mặt Trăng. Trước khi đạt được điều đó, các tàu không người lái phải thám hiểm Mặt Trăng bằng không ảnh trước và chứng tỏ là có thể hạ cánh an toàn lên đó.
=== Tàu thám hiểm không người lái ===
Theo sau thành công của Liên Xô đặt vệ tinh đầu tiên vào quỹ đạo, người Mỹ tập trung sức lực vào việc gửi một tàu thám hiểm lên Mặt Trăng. Họ gọi cố gắng đầu tiên là Chương trình Pioneer. Chương trình thám hiểm Mặt Trăng của Liên Xô đi vào hoạt động với vụ phóng Luna 1 vào 4 tháng 1 năm 1959, và Luna 1 trở thành tàu thám hiểm đầu tiên đạt đến vùng lân cận của Mặt Trăng. Tàu đầu tiên hạ cánh lên bề mặt Mặt Trăng là Luna 2, phóng lên vào 12 tháng 9 năm 1959. Thêm vào chương trình Pioneer, có thêm 3 chương trình của Mỹ: chương trình Ranger, chương trình Lunar Orbiter và chương trình Surveyor với các robot tự động, với mục tiêu những địa điểm hạ cánh cho Apollo trên Mặt Trăng.
=== Hạ cánh lên Mặt Trăng ===
Sau các thành công của Liên Xô, đặc biệt là chuyến bay của Gagarin, Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy và Phó tổng thống Lyndon B. Johnson đi tìm một chương trình của Mỹ có thể thu hút được trí tưởng tượng của dân chúng. Chương trình Apollo đạt được tất cả những mục đích này và sẽ thỏa mãn được các nhà chính trị cánh tả (thường ủng hộ các chương trình xã hội) và cánh hữu (ủng hộ các chương trình quân sự). Lợi thế của chương trình Apollo:
lợi ích kinh tế cho một số tiểu bang quan trọng trong bầu cử kế tiếp;
đóng lại "khoảng cách tên lửa" tuyên bố bởi Kennedy trong bầu cử 1960 thông qua tính hai mặt của ứng dụng kỹ thuật;
các lợi ích khoa học kỹ thuật phát sinh từ chương trình.
Trong một cuộc nói chuyện với giám đốc của NASA lúc đó là James E. Webb, Kennedy nói:
Tất cả những gì chúng ta làm phải liên quan chặt chẽ tới việc đi tới Mặt Trăng trước người Nga... nếu không chúng ta không nên tiêu mất số tiền đó, bởi vì tôi không hứng thú với vũ trụ... Lý lẽ duy nhất (cho khoản chi phí) là bởi chúng ta hy vọng đánh bại Liên Xô để chứng minh rằng thay vì ở sau họ vài năm, nhờ Chúa, chúng ta đã vượt qua họ.
Kennedy và Johnson đã thành công trong việc tranh thủ công chúng: tới 1965, 58% người Mỹ ủng hộ Apollo, tăng từ 33% trong năm 1963. Sau khi Johnson trở thành Tổng thống vào năm 1963, các ủng hộ của ông ta giúp cho chương trình thành công.
Liên Xô tỏ vẻ mập mờ về các chuyến bay có người lái lên Mặt Trăng. Khrushchyov chẳng muốn "thất bại" bởi siêu cường khác, nhưng cũng không muốn tiêu tốn quá nhiều tiền cho một dự án như vậy. Vào tháng 10 năm 1963 ông nói Liên Xô "vào thời điểm hiện tại không dự định đưa phi hành gia lên Mặt Trăng", trong khi thêm rằng họ vẫn chưa muốn chịu thua trong cuộc đua vũ trụ. Một năm trôi qua trước khi Liên Xô thử một vụ hạ cánh xuống Mặt Trăng.
Vào tháng 12 năm 1968, Hoa Kỳ lại dẫn đầu trong Cuộc đua vũ trụ khi James Lovell, Frank Borman và Bill Anders bay vòng quanh Mặt Trăng. Họ trở thành những người đầu tiên ăn mừng Giáng sinh trong không gian và vài ngày sau đó hạ cánh an toàn.
Kennedy đề nghị các chương trình hợp tác, chẳng hạn như hạ cánh xuống Mặt Trăng bởi phi hành gia Mỹ và Liên Xô và cải tiến các vệ tinh theo dõi thời tiết. Khrushchyov, nhận thấy đó là cố gắng đoạt lấy kỹ thuật vũ trụ của Nga, đã từ chối những ý tưởng đó. Sergey Pavlovich Korolyov, công trình sư trưởng của Cơ quan vũ trụ Nga, người thiết kế tên lửa R-7 đã đưa Sputnik vào quỹ đạo, bắt đầu cổ vũ cho tàu Soyuz và hệ thống tên lửa phóng N1 có khả năng đưa người lên Mặt Trăng. Khrushchyov ra lệnh cho cơ quan của Korolyov trước tiên là đi xa hơn nữa vào không gian bằng cách cải tiến kỹ thuật của Vostok, trong khi một đội thứ hai bắt đầu việc thiết kế một tên lửa và một tàu vũ trụ hoàn toàn mới, tên lửa đẩy Proton và tàu vũ trụ Zond, cho các chuyến bay quanh Mặt Trăng có người lái vào năm 1966. Vào năm 1964 lãnh đạo mới của Liên Xô đã ủng hộ Korolyov cho các cố gắng hạ cánh lên Mặt Trăng và các dự án có người lái khác do ông lãnh đạo. Với cái chết của Korolyov và thất bại của chuyến bay Soyuz đầu tiên vào năm 1967, việc tổ chức chương trình hạ cánh lên Mặt Trăng của Liên Xô nhanh chóng lung lay. Chọn lựa đầu tiên của Korolyov cho hạ cánh lên Mặt Trăng là Vladimir Mikhailovich Komarov, nhưng với cái chết của Komorov trên tàu Soyuz 1 vào năm 1967, Yuri Alekseyevich Gagarin và Aleksei Arkhipovich Leonov trở thành các ứng cử viên chắc chắn. Tuy nhiên, với cái chết của Gagarin và các thất bại sau đó của vụ phóng tên lửa đẩy N1 vào năm 1969, các dự án hạ cánh lên Mặt Trăng ban đầu bị đình trệ sau đó bị hủy bỏ.
Trong khi các tàu thám hiểm không người lái của Liên Xô đã lên tới Mặt Trăng trước bất kì tàu nào của Hoa Kỳ, người Mỹ Neil Armstrong trở thành người đầu tiên bước trên bề mặt của Mặt Trăng vào 21 tháng 7 năm 1969, sau khi hạ cánh ngày hôm trước đó. Chỉ huy trưởng của phi vụ Apollo 11, Armstrong nhận sự trợ giúp của phi công module chỉ huy Michael Collins và phi công module Mặt Trăng Buzz Aldrin trong một sự kiện được theo dõi bởi 500 triệu người khắp thế giới. Những bình luận viên xã hội đều công nhận hạ cánh lên Mặt Trăng là một trong những khoảnh khắc định hình của thế kỉ 20, và lời của Armstrong khi đầu tiên bước lên Mặt Trăng đã được ghi vào lịch sử: "Đây là bước chân nhỏ bé của một người, nhưng là bước tiến khổng lồ của nhân loại"
Không giống như những cạnh tranh quốc tế khác, Cuộc đua vũ trụ không bắt nguồn từ các tham vọng mở rộng lãnh thổ. Sau khi hạ cánh thành công lên Mặt Trăng, Hoa Kỳ tuyên bố rõ ràng là không sở hữu một phần đất nào trên Mặt Trăng.
== Các thành công khác ==
=== Các phi vụ lên các hành tinh khác ===
Liên Xô lần đầu tiên gửi lên các tàu vũ trụ liên hành tinh lên cả Sao Kim và Sao Hỏa vào năm 1960. Tàu đầu tiên thành công trong việc bay gần Sao Kim là Mariner 2 của Mỹ, vào 14 tháng 12 năm 1962. Nó gửi về các thông tin kinh ngạc về nhiệt độ bề mặt khá cao và mật độ không khí đậm đặc của Sao Kim. Vì nó không có máy ảnh, những khám phá này không được công chúng chú ý lắm vì những ảnh từ các tùa vũ trụ vượt khỏi khả năng của bất kì viễn vọng kính nào đặt trên Trái Đất.
Tàu Venera 7 của Liên Xô, phóng vào năm 1971, trở thành tàu đầu tiên hạ cánh trên Sao Kim. Venera 9 sau đó gửi về những bức ảnh đầu tiên từ bề mặt của một hành tinh khác. Những thành công này đại diện cho hai trong chuỗi các tàu Venera; một số tàu vũ trụ Venera trước đó chỉ bay ngang qua và cố gắng hạ cánh. Bảy tàu Venera đã hạ cánh sau đó.
Hoa Kỳ phóng lên Mariner 10, bay ngang qua Sao Kim trên đường bay tới Sao Thủy, vào năm 1974. Nó trở thành tàu vũ trụ duy nhất bay ngang qua Sao Thủy.
Mariner 4, phóng năm 1965 bởi Hoa Kỳ, trở thành tàu vũ trụ đầu tiên bay ngang qua Sao Hỏa; nó gửi về những hình ảnh không ai ngờ tới. Tàu vũ trụ đầu tiên hạ cánh lên Sao Hỏa, Mars 3, phóng vào năm 1971 bởi Liên Xô, đã không gửi về ảnh nào cả. Tàu Viking hạ cánh năm 1976 đã gửi về những ảnh đầu tiên.
=== Phóng lên/Lắp ghép ===
Hai chuyến bay Gemini 7 và Gemini 6 của Mỹ thực hiện phi vụ lắp ghép của hai phi thuyền có người điều khiển đầu tiên vào ngày 15 tháng 12 năm 1965. Hai phi thuyền tiến sát cách nhau chỉ 1 mét và đứng yên so với nhau trong một vài vòng bay trên quỹ đạo.
Phi thuyền Gemini 8 của Mỹ, tiến hành lắp ghép trên quỹ đạo lần đầu tiên vào 16 tháng 3 năm 1966. Cuộc lắp ghép tự động đầu tiên nối 2 tàu Cosmos-186 và Cosmos-188 của Liên Xô(hai chuyến của phi thuyền Soyuz) không người lái vào 30 tháng 10 năm 1967.
Vụ phóng lên từ mặt biển đầu tiên là với tên lửa Scout B của Mỹ, vào 26 tháng 4 năm 1967. Trạm không gian đầu tiên, trạm Salyut 1 của Liên Xô, bắt đầu hoạt động vào 7 tháng 6 năm 1971.
== Cạnh tranh về quân sự ==
Ít được biết đến, nhưng cũng là một cuộc cạnh tranh không kém khốc liệt, là các phát triển kỹ thuật không gian cho mục tiêu quân sự. Rất lâu trước khi phóng Sputnik 1, cả Hoa Kỳ và Liên Xô bắt đầu phát triển các vệ tinh do thám. Vệ tinh Zenit, được thiết kế với hai mục đích sử dụng bởi Sergey Pavlovich Korolyov cuối cùng trở thành tàu vũ trụ Vostok, bắt đầu như là một vệ tinh chụp ảnh từ trên không. Nó cạnh tranh với chuỗi vệ tinh Discoverer của Không quân Hoa Kỳ. Discoverer XIII thực hiện phi vụ chuyên chở từ không gian về lại Trái Đất lần đầu tiên vào tháng 8 năm 1960—một ngày trước chuyến tương tự của Liên Xô.
Cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều phát triển các chương trình quân sự trong không gian, thông thường là Hoa Kỳ chỉ hoàn thành mô hình trước khi chương trình kết thúc, trong khi Liên Xô đã đóng, hoặc là bay luôn vào quỹ đạo những thiết kế của họ:
Tên lửa siêu thanh liên lục địa có điều khiển (Supersonic Intercontinental Cruise Missile): Navaho (chương trình thử nghiệm bị dừng lại) vs. tên lửa điều khiển Buran (dự tính)
Phi thuyền cánh nhỏ (Small Winged Spacecraft): X-20 Dyna-Soar (mô hình) vs. MiG-105 (bay thử)
Vệ tinh trinh thám (Satellite Inspection Capsule): Blue Gemini (mô hình) vs. vệ tinh đánh chặn Soyuz(dự tính)
Trạm không gian quân sự (Military Space Station) MOL (dự tính) vs. Almaz (cải tiến và phóng lên như là Salyut 2, 3, và 5)
Tàu quân sự với khoang bảo vệ nhiệt (Military Capsule with hatch in heat shield): Gemini B (bay thử không người lái) vs. VA TKS, cũng được biết như là phi thuyền Merkur (bay thử không người lái như là một phần của TKS)
Phà vận chuyển lên Trạm không gian quân sự (Ferry to Military Space Station) Gemini Ferry (plan) vs. TKS (bay không người trong không gian, lắp ghép với Salyut)
== "Kết thúc" của Cuộc đua vũ trụ ==
Trong khi vụ phóng Sputnik 1 có thể được gọi là bắt đầu của Cuộc đua vũ trụ, kết thúc của nó có nhiều tranh cãi. Cạnh tranh khốc liệt nhất là trong thập niên 1960, Cuộc đua vũ trụ tiếp tục cho đến cuộc đổ bộ lên Mặt Trăng của Apollo vào năm 1969. Mặc dù họ tiếp theo Apollo 11 với thêm 5 lần đổ bộ lên Mặt Trăng, các nhà khoa học không gian của Mỹ chuyển sang nghiên cứu các lãnh vực khác. Skylab để thu thập dữ liệu, và tàu con thoi được thiết kế để tàu vũ trụ có thể quay lại nguyên vẹn sau chuyến bay vào vũ trụ. Người Nga nói rằng bằng cách gửi người đầu tiên vào không gian họ đã thắng trong "cuộc đua" không chính thức, tuy nhiên người Mỹ nói rằng bằng cách đưa người lên Mặt Trăng họ đã chiến thắng. Trong bất kì sự kiện nào, khi Chiến tranh Lạnh không còn, và khi các quốc gia khác bắt đầu phát triển chương trình không gian của riêng họ, khái niệm về "cuộc đua" giữa hai siêu cường trở nên ít thực tế hơn.
Cả hai quốc gia đều phát triển các chương trình quân sự trong không gian có người điều khiển. Không quân Mỹ đã đề nghị sử dụng tên lửa phóng Titan để phóng lên Dyna-Soar hypersonic glider dùng để đánh chặn vệ tinh của kẻ thù. Dự định của Phòng thí nghiệm có người lái trên quỹ đạo (Manned Orbiting Laboratory, sử dụng thiết bị dự trên chương trình Gemini để tiến hành các phi vụ do thám) đã bao gồm cả Dyna-Soar, nhưng chương trình này cũng bị hủy bỏ. Liên Xô cũng cho thi hành chương trình Almaz với các trạm không gian quân sự tương tự, sau hợp nhất với chương trình Salyut.
Cuộc đua vũ trụ đã chậm lại sau cuộc đổ bộ của Apollo, mà nhiều quan sát viên cho đó là cực đỉnh hay là điểm kết thúc. Những người khác, kể cả sử gia chuyên về vũ trụ Carole Scott và Florin Pop tác giả Cold War Project, cảm thấy kết thúc rõ ràng hơn với sự hợp tác của phi vụ Apollo-Soyuz vào năm 1975. Tàu Soyuz 19 của Liên Xô đã gặp và lắp ghép với tàu Apollo, cho phép phi hành gia của hai quốc gia đối nghịch nhau đi vào tàu của nhau và tham gia vào các cuộc thí nghiệm chung. Mặc dù cố gắng về không gian của mỗi quốc gia vẫn duy trì, họ đi theo các hướng khác nhau, và khái niệm về cuộc đua giữa hai quốc gia là lỗi thời sau Apollo-Soyuz.
Tuy nhiên, lãnh đạo Liên Xô cảnh giác khi thấy Không quân Hoa Kỳ có tham gia chương trình tàu con thoi và bắt đầu chương trình Buran và Energia. Vào đầu những năm 1980 việc bắt đầu Sáng kiến phòng thủ chiến lược (Strategic Defense Initiative) đã làm cạnh tranh tăng lên và chỉ tan đi sau sự sụp đổ của Đông Âu vào năm 1989.
== Niên biểu (1957-1975) ==
== Tổ chức, ngân sách và ảnh hưởng kinh tế ==
Ngân sách khổng lồ và hệ thống hành chính cần thiết để tổ chức thám hiểm vũ trụ thành công đã dẫn đến việc thành lập các cơ quan vũ trụ quốc gia. Hoa Kỳ và Liên Xô đều phát triển những chương trình tập trung vào các yêu cầu khoa học và công nghiệp cho các cố gắng này.
Vào 29 tháng 7 năm 1958, Tổng thống Eisenhower ký Đạo luật vũ trụ và không gian quốc gia (National Aeronautics and Space Act), thiết lập ra một cơ quan quản trị hàng không và không gian quốc gia (National Aeronautics and Space Administration) thường được gọi là NASA). Khi bắt đầu hoạt động vào 1 tháng 10 năm 1958, NASA chỉ gồm có 4 phòng thí nghiệm vào khoảng 8000 nhân viên nhà nước của cơ quan nghiên cứu không gian với 46 tuổi đời National Advisory Committee for Aeronautics (NACA). Tổ chức tiền thân NACA chỉ hoạt động với ngân sách 5 triệu đô la hàng năm, ngân sách cho NASA đã tăng nhanh lên đến 5 tỷ đô la hàng năm, bao gồm luôn cả số tiền khổng lồ để thuê mướn các công ty hợp đồng từ khu vực kinh tế tư nhân. Chuyến hạ cánh lên Mặt Trăng của Apollo 11, đỉnh cao của thành công của NASA, tốn kém vào khoảng 20 đến 25 tỷ đô la.
Thiếu các thống kê chính xác đã làm khó so sánh khoảng chi tiêu cho chương trình vũ trụ của Mỹ và của Liên Xô, đặc biệt là trong những năm dưới thời Khrushchyov. Tuy nhiên vào năm 1989, Chánh văn phòng Quân đội Liên Xô (Chief of Staff of the Soviet Armed Services), Tướng Mikhail Moiseyev, báo cáo rằng Liên Xô để tiêu tốn khoảng 6.9 tỷ rúp (khoảng US$ 4 tỷ) cho chương trình vũ trụ của họ. Các quan chức Liên Xô khác ước tính tổng số tiền đó đã được tiêu tốn trong suốt toàn chương trình, với một số ước tính không chính thức là khoảng 4.5 tỷ rúp. Thêm vào sự mập mờ của các con số, các so sánh cũng cần phải tính thêm đến hiệu ứng tuyên truyền của Liên Xô, làm cho Liên Xô có vẻ vững mạnh và làm rối các phân tích của phương Tây.
Các vấn đề tổ chức, đặc biệt là tranh đấu trong nội bộ, cũng ảnh hưởng đến cố gắng của Liên Xô. Liên Xô không có cơ quan tương ứng với NASA (Cơ quan hàng không và vũ trụ Nga chỉ thành lập trong những năm 1990). Quá nhiều vấn đề chính trị trong khoa học và quá nhiều ý kiến cá nhân đã làm chậm đi tiến bộ của Liên Xô. Mỗi tổng công trình sư Liên Xô phải bảo vệ ý tưởng riêng của họ, tìm kiếm người bảo trợ trong Đảng Cộng sản Liên Xô. Vào năm 1964, giữa các công trình sư khác nhau, Liên Xô phát triển khoảng 30 chương trình khác nhau cho các tên lửa phóng và thiết kế các tàu vũ trụ. Theo sau cái chết của Korolyov, chương trình không gian của Liên Xô ít hoạt động hơn, chỉ cố gắng để cân bằng với Hoa Kỳ. Vào năm 1974 Liên Xô tổ chức lại chương trình không gian của họ, tạo ra chương trình Energia để cạnh tranh với chương trình tàu con thoi của Mỹ với tàu con thoi Buran.
Liên Xô cũng hoạt động với các bất lợi về kinh tế. Mặc dù kinh tế Liên Xô lớn thứ hai trên thế giới, kinh tế Mỹ vẫn là lớn nhất trên thế giới. Cuối cùng thì cách tổ chức không hiệu quả và việc thiếu ngân sách đã làm họ mất đi lợi thế ban đầu trong cuộc chạy đua. Một số quan sát viên cho rằng giá thành của cuộc chạy đua vũ trụ, cùng với cuộc chạy đua vũ trang cũng hết sức đắt, cuối cùng đã làm hệ thống kinh tế Liên Xô rơi vào khủng hoảng cuối thập niên 1970 và thập niên 1980 và là một trong những yếu tố dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô.
== Mốc thời gian đáng nhớ ==
=== Những cái chết ===
Khi tàu Apollo 15 của Hoa Kỳ rời khỏi Mặt Trăng, các phi hành gia đã để lại một đài tưởng niệm các phi hành gia của cả hai quốc gia đã hy sinh trong các cố gắng đạt tới Mặt Trăng. Ở Hoa Kỳ, những phi hành gia đầu tiên đã hy sinh trong quá trình du hành hãy chuẩn bị vào không gian là của Apollo 1: phi công chỉ huy "Gus" Grissom, phi công Ed White và phi công Roger Chaffee. Cả ba người này hy sinh trong một thử nghiệm trên mặt đất vào 27 tháng 1 năm 1967.
Các chuyến bay của Soyuz 1 và Soyuz 11 của Liên Xô cũng kết thúc với sự hy sinh của các phi hành gia. Soyuz 1, phóng lên quỹ đạo vào 23 tháng 4 năm 1967, mang theo duy nhất một phi hành gia, đại tá Vladimir Mikhailovich Komarov, ông đã hy sinh khi tàu vũ trụ rơi xuống mặt đất vì dù không mở ra. Vào năm 1971, các phi hành gia Soyuz 11 là Georgi Timofeyevich Dobrovolski, Viktor Ivanovich Patsayev và Vladislav Nikolaevich Volkov asphyxiated trong quá trình tái nhập lại vào khí quyển. Từ năm 1971, chương trình vũ trụ của Liên Xô không bị tổn thất nào nữa.
Các phi hành gia khác đã tử nạn trong các phi vụ liên quan, bao gồm bốn người Mỹ hy sinh khi máy bay T-38 của họ bị rơi. Yuri Alekseyevich Gagarin, con người đầu tiên vào vũ trụ, hy sinh một cách tương tự khi máy bay chiến đấu MiG-15 'Fagot' của ông bị rơi vào năm 1968.
Nhiều người tin rằng thảm họa tồi tệ nhất của ngành tên lửa là thất bại R-16 vào năm 1960, khi các thủ tục điều khiển và đóng van không đúng cách trong các sửa chữa vội vã trên bệ phóng đã làm tầng thứ hai của tên lửa khai hỏa và phóng thẳng vào bình chứa nhiên liệu của tầng thứ nhất vẫn còn dính vào bệ phóng. Nhiên liệu độc hải và lửa đã giết 100 kỹ thuật viên và sĩ quan cao cấp của quân đội Liên Xô.
=== Tiến bộ trong kỹ thuật và giáo dục ===
Kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật vũ trụ và ngành điện tử viễn thông, đã tiến bộ vượt bậc trong giai đoạn này. Các hiệu ứng của cuộc đua vũ trụ đã vượt khỏi khoa học tên lửa, vật lý và thiên văn. "Kỹ thuật thời đại không gian" đã mở rộng tới tất cả các ngành khác nhau như kinh tế gia đình và nghiên cứu việc đốn phá rừng, và quyết tâm chiến thắng cuộc đua đã làm thay đổi cách học sinh học các môn khoa học.
Hoa Kỳ lo sợ sẽ tụt hậu sau Liên Xô trong cuộc đua vũ trụ đã đẩy tới việc các nhà lập pháp và các nhà giáo dục đặt nặng toán và các khoa học vật lý trong các trường học ở Mỹ. Đạo luật Giáo dục quốc phòng ở Mỹ năm 1958 đã tăng ngân sách cho những mục tiêu đó từ giáo dục phổ thông đến giáo dục sau đại học. Cho đến nay trên 1.200 trường trung học Mỹ có planetarium (phòng triển lãm mô phỏng Thái Dương Hệ) riêng, một tình huống không giống bất kì nước nào trên thế giới và là kết quả trực tiếp của cuộc đua vũ trụ.
Ngày nay trên một ngàn vệ tinh nhân tạo đang bay vòng quanh Trái Đất, trung chuyển dữ liệu thông tin vòng quanh hành tinh và làm việc theo dõi thời tiết, hoa quả và di chuyển của con người dễ dàng hơn. Thêm vào đó, các kỹ thuật vi mạch ngày nay được sử dụng trong đồng hồ điện tử và các máy nghe nhạc là kết quả của các nghiên cứu từ thời cuộc đua vũ trụ.
Và với những tiến bộ từ thời Sputnik được phóng lên, tên lửa R-7 của Liên Xô trước đây, đánh dấu bắt đầu của cuộc đua vũ trụ, vẫn còn được sử dụng tới hôm nay, để tải hàng lên Trạm vũ trụ quốc tế.
== Các sự kiện gần đây ==
Mặc dù nhịp độ đã chậm lại, thám hiểm không gia vẫn tiếp tục tiến tới sau giai đoạn chạy đua vào vũ trụ. Hoa Kỳ đã phóng lên tàu vũ trụ có thể tái sử dụng đầu tiên (tàu con thoi) kỉ niệm 20 năm chuyến bay của Gagarin, 12 tháng 4 năm 1981. Vào 15 tháng 11 năm 1988, Liên Xô phóng tàu con thoi Buran, tàu vũ trụ tái sử dụng đầu tiên của họ. Các quốc gia khác tiếp tục phóng lên những tàu thám hiểm, vệ tinh đủ các loại, và các kính viễn vọng không gian khổng lồ.
Khả năng của cuộc đua vũ trụ thứ hai ở mức độ quốc tế xảy ra vào cuối thế kỉ 20, với việc cơ quan vũ trụ châu Âu (ESA) đã dẫn đầu trong việc phóng tên lửa thương mại với Ariane 4, và cạnh tranh các phi vụ thám hiểm vũ trụ không người lái với NASA. Các cố gắng của ESA đã dồn vào các dự án đầy tham vọng như Aurora Programme dự định đưa người lên Sao Hỏa không quá năm 2030 và đặt ra nhiều phi vụ khác nhau để đạt tới mục đích này. Tổng thống Mỹ George W. Bush cũng đưa ra tuyên bố tương tự vào năm 2004, đưa ra một thời gian biểu cho việc đóng Crew Exploration Vehicle (để quay lại Mặt Trăng vào sau đó lên Sao Hỏa trước năm 2030), hai cơ quan vũ trụ lớn cũng có những dự tính tương tự. Cơ quan ESA hợp tác với Nga. Họ có thể sẽ cùng cung cấp ngân sách để phát triển phiên bản riêng của Crew Exploration Vehicle, với tên gọi Kliper, dự tính sẽ phóng vào năm 2011, nhiều năm sớm hơn đối thủ Mỹ, đang ở trong giai đoạn vẽ bản thiết kế. Cho tới 2006 cơ quan ESA vẫn chưa cấp tiền nghiên cứu Kliper.
Các quốc gia khác cũng có khả năng tăng cường tính cạnh tranh trong thám hiểm không gian, đáng kể nhất là Nhật, Trung Quốc, và Ấn Độ. Mặc dù ngân sách của Trung Quốc không nhiều như của ESA hay NASA, với những chuyến bay có người lái thành công của Shenzhou 5 và Shenzhou 6 và các dự án cho một trạm vũ trụ bởi chương trình không gian Trung Quốc đã chứng tỏ Trung Quốc có khả năng đạt được điều đó. Quân đội Hoa Kỳ rõ ràng là theo dõi các tham vọng không gian của Trung Quốc, với việc Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đưa ra một bản báo cáo năm 2006 đưa ra chi tiết quan tâm về sự lớn mạnh của khoa học không gian Trung Quốc. Vào đầu năm 2007 Trung Quốc phóng lên một tên lửa liên lục địa để tiêu diệt một vệ tinh nhân tạo, đã làm nản lòng các quan sát viên vì điều này đã vi phạm một thỏa thuận chung là không tiến hành những thử nghiệm mang tính quân sự như vậy trên không gian. Điều này chứng tỏ là cuộc đua vũ trụ vẫn không bao giờ chấm dứt mà nó thực ra là mở rộng thêm. Thêm vào Trung Quốc, Ấn Độ cũng có những chương trình không gian khá mạnh, với cơ quan không gian của Ấn Độ, ISRO, dự tính phóng một tàu vũ trụ tự động lên Mặt Trăng, Chandrayaan-1, đầu năm 2008. India cũng có dự tính cho các chuyến bay vào vũ trụ có người lái và những chuyến bay không người lái tới Sao Hỏa vào năm 2012.
=== Cuộc đua vào vũ trụ mang tính thương mại ===
Một kiểu cuộc đua khác có thể về bản chất là khác cuộc cạnh tranh Xô-Mỹ, bởi vì nó xảy ra giữa các công ty thương mại về kỹ thuật không gian. Những cố gắng ban đầu thường được gọi là du lịch vào không gian, để tổ chức những chuyến du lịch có tính thương mại đầu tiên vào không gian, nổi bật là vào 28 tháng 4 năm 2001, khi người Mỹ Dennis Tito trở thành du khách trả tiền đầu tiên khi ông ta viếng thăm Trạm Vũ trụ Quốc tế trên tàu Soyuz TM-32 của Nga. Giải thưởng Ansari X, một giải thưởng cho những phi thuyền tư nhân bay vào quỹ đạo thấp, cũng đã phát động một cuộc đua vũ trụ khác giữa các công ty tư nhân. Cuối năm 2004, nhà tài chính người Anh Richard Branson tuyên bố thành lập Virgin Galactic, một công ty sẽ sử dụng kỹ thuật SpaceShipOne với hy vọng đưa lên những chuyến bay quỹ đạo thấp vào trước năm 2008.
== Ghi chú ==
== Chú thích ==
An Unfinished Life: John F. Kennedy, 1917-1963, Robert Dallek (2003). ISBN 0-316-17238-3
Arrows to the Moon: Avro's Engineers and the Space Race , Chris Gainor (2001). ISBN 1-896522-83-1
Fallen Astronauts: Heroes Who Died Reaching for the Moon, Colin Burgess, Kate Doolan, Bert Vis (2003). ISBN 0-8032-6212-4
Light This Candle: The Life & Times of Alan Shepard--America's First Spaceman, Neal Thompson (2004). ISBN 0-609-61001-5
The New Columbia Encyclopedia, Col. Univ.Press (1975).
The Right Stuff, Tom Wolfe (pbk ed. 2001). ISBN 0-553-38135-0 ISBN 0-613-91667-0
Russia in Space: The Failed Frontier?, Brian Harvey (2001). ISBN 1-85233-203-4
The Soviet Space Race With Apollo, Asif A. Siddiqi (2003). ISBN 0-8130-2628-8
Soyuz: A Universal Spacecraft, Rex Hall, David J. Shayler (2003). ISBN 1-85233-657-9
Space for Women: A History of Women With the Right Stuff, Pamela Freni (2002). ISBN 1-931643-12-1
Space Exploration, Carole Scott, Eyewitness Books, 1997
Sputnik and the Soviet Space Challenge, Asif A. Siddiqi (2003). ISBN 0-8130-2627-X
Stages to Saturn: A Technological History of the Apollo/Saturn Launch Vehicles, Roger E. Bilstein (2003). ISBN 0-8130-2691-1
Yeager: An Autobiography, Chuck Yeager (1986). ISBN 0-553-25674-2
== Liên kết ngoài ==
CORE/NSF Arrows to the Moon synopsis
Artwork representing the cold war in space
The 1st and 2nd Space Races Compared: Bi vs. Multi-polarity Jagiellonian University, 2006
Cuộc chạy đua vào vũ trụ, triển lãm tại Viện bảo tàng Hàng không Vũ trụ Quốc gia Smithsonian
TheSpaceRace.com – Mercury, Gemini, and Apollo space programs
Timeline of the Space Race to the Moon 1960 - 1969
570Kb PDF file containing a scan of a letter from Wernher Von Braun to Vice President Johnson, dated 29 tháng 4 1961, responding to a memorandum from President Kennedy to Johnson. Von Braun provides a personal assessment (rather than an official view in his then-capacity as director of NASA's Marshall Space Flight Center) of United States and Soviet capability. The analysis includes the opinion that the U.S. has "an excellent chance" of beating the Russians to a manned lunar landing, adding "with an all-out crash program I think we could accomplish this objective in 1967/68."
Communications Satellites article by NASA
Vì sao Liên Xô thua cuộc trong cuộc chạy đua vào vũ trụ? Pravda Online, ngày 3 tháng 12 năm 2002
Những bóng đen trong thời đại vũ trụ Xô Viết, Paul Lucas
Lịch trình cuộc chạy đua lên Mặt Trăng
Buzz Aldrin's Race Into Space: a game that simulates the Space Race |
chu kỳ nguyên tố 5.txt | Chu kỳ nguyên tố 5 là hàng thứ 5 trong bảng tuần hoàn (tiêu chuẩn), tương tự chu kỳ 4 nó gồm 18 nguyên tố: 8 ở các nhóm chính, 10 trong nhóm phụ.
== Tham khảo == |
nhà hồ.txt | Nhà Hồ (chữ Hán: 胡朝, Hồ Triều) là triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi Hồ Quý Ly lên ngôi năm 1400 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Trần và chấm dứt khi Hồ Hán Thương bị quân Minh bắt vào năm 1407 – tổng cộng là 7 năm. Quốc hiệu Đại Việt đã đổi thành Đại Ngu năm 1400.
== Thành lập ==
Nhà Hồ do Hồ Quý Ly, một đại quý tộc và đại thần nhà Trần thành lập. Từ năm 1371, Hồ Quý Ly, khi đó mang họ Lê, được tham gia triều chính nhà Trần, được vua Trần Dụ Tông cho làm Trưởng cục Chi hậu. Sau, vua Trần Nghệ Tông đưa ông lên làm Khu mật đại sứ, lại gả em gái là công chúa Huy Ninh.
Nhà Trần, sau biến cố Dương Nhật Lễ, cái chết của Trần Duệ Tông và sự cướp phá của Chiêm Thành, ngày càng suy sụp. Thời hậu kỳ nhà Trần, mọi việc chính sự do thượng hoàng Trần Nghệ Tông quyết định. Trần Nghệ Tông lại rất trọng dụng Hồ Quý Ly nên khi về già thường ủy thác mọi việc cho Quý Ly quyết định. Dần dần binh quyền của Quý Ly ngày một lớn, Nghệ Tông tuổi cao sức yếu cũng không kìm chế nổi.
Năm 1394 Trần Nghệ Tông mất, Hồ Quý Ly được phong làm Phụ chính Thái sư nhiếp chính, tước Trung tuyên Vệ quốc Đại vương, nắm trọn quyền hành trong nước.
Sau khi bức vua Trần dời đô từ Thăng Long vào Thanh Hóa và giết hàng loạt quần thần trung thành với nhà Trần, tháng 2 năm Canh Thìn 1400, Hồ Quý Ly truất ngôi của cháu ngoại là Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua lấy quốc hiệu là Đại Ngu, lập nên nhà Hồ.
== Kinh tế-xã hội ==
Tiền giấy được phát hành lần đầu tiên năm 1396 dưới thời vua Trần Thuận Tông, tuy nhiên người quyết định khi đó có lẽ là Hồ Quý Ly. Sau này, trong thời đại của mình, nhà Hồ đã có một số cải cách về hành chính, kinh tế, xã hội như: làm sổ hộ tịch, hạn chế gia nô, lập kho dự trữ thóc gạo, định lại quan chế và hình luật, thuế và tô ruộng, di dân khẩn hoang, lập cơ quan chăm sóc y tế v.v Tuy nhiên, các cải cách của nhà Hồ hầu như không giành được thành công, do những thủ đoạn mà Hồ Quý Ly đã làm để lên ngôi khiến dân chúng xa lánh nhà Hồ.
=== Hành chính ===
Dưới triều Hồ Hán Thương, năm 1401 đã cho làm sổ hộ tịch trong cả nước, lập phép hạn chế gia nô. Năm 1403, di dân không có ruộng đến Thăng Hoa (vùng đất mới thu được sau khi Chiêm Thành dâng nộp năm 1402, gồm 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa tức là đất các huyện Thăng Bình, Tam Kỳ, Quế Sơn, Duy Xuyên thuộc tỉnh Quảng Nam ngày nay, huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay). Cùng năm đặt Quảng tế (cơ quan coi về mặt y tế).
=== Luật pháp ===
Cuối năm 1401, định quan chế và hình luật nhà nước Đại Ngu. Sử sách không nói rõ là nhà Hồ đã sửa đổi như thế nào so với thời trước của nhà Trần.
=== Kinh tế ===
Việc đổi tiền được Hồ Quý Ly khởi xướng thực hiện từ trước khi nhà Hồ được chính thức thành lập (1400). Năm 1396, tháng 4, Hồ Quý Ly khi đó nắm toàn quyền điều hành nhà Trần bắt đầu phát tiền giấy Thông bảo hội sao. Cứ 1 quan tiền đồng đổi lấy 1 quan 2 tiền giấy. Cấm tuyệt tiền đồng, không được chứa lén, tiêu vụng, tất cả thu hết về kho Ngao Trì ở kinh thành và trị sở các xứ. Kẻ nào vi phạm cũng bị trị tội chết như làm tiền giả.
Thể thức tiền giấy: tờ 10 đồng vẽ rong, tờ 30 đồng vẽ sóng, tờ 1 tiền vẽ mây, tờ 2 tiền vẽ rùa, tờ 3 tiền vẽ lân, tờ 5 tiền vẽ phượng, tờ 1 quan vẽ rồng. Kẻ làm tiền giả bị tội chết, ruộng đất, tài sản tịch thu.
Về việc này, nhiều sử gia có những đánh giá rất khác nhau. Có người cho rằng Hồ Quý Ly cần thu đồng để đúc vũ khí. Cũng có người đánh giá cao cải cách tiền giấy của Hồ Quý Ly tuy rằng nó đã thất bại. Sau này, Hồ Nguyên Trừng là một chuyên gia rất giỏi trong đúc súng thần công.
Năm 1400, đánh thuế thuyền buôn, định 3 mức thượng, trung, hạ. Mức thượng đánh thuế mỗi thuyền 5 quan, mức trung 4 quan, mức hạ 3 quan. Năm 1402 định lại các lệ thuế và tô ruộng. Trước đây, mỗi mẫu thu 3 thăng thóc, nay thu 5 thăng. Bãi dâu, trước thu mỗi mẫu 9 quan hoặc 7 quan tiền, nay thu hạng thượng đẳng mỗi mẫu 5 quan tiền giấy, hạng trung đẳng mỗi mẫu 4 quan tiền giấy, hạng hạ đẳng 3 quan tiền giấy. Tiền nộp hằng năm của đinh nam trước thu 3 quan, nay chiếu theo số ruộng, người nào chỉ có 5 sào ruộng thì thu 5 tiền giấy; từ 6 sào đến 1 mẫu thì thu 1 quan; 1,1 mẫu đến 2 mẫu thu 2 quan; từ 2,1 mẫu đến 2,5 mẫu thu 2 quan 6 tiền; từ 2,6 mẫu trở lên thu 3 quan. Đinh nam không có ruộng hay trẻ mồ côi, đàn bà góa thì dẫu có ruộng cũng không thu.
Như vậy, có thể thấy việc đánh thuế của nhà Hồ có sự phân biệt, phân loại rõ ràng hơn so với trước đây.
Năm 1401, lập kho thường bình dự trữ thóc để ổn định kinh tế.
Năm 1403, ban hành cân, thước, thưng, đấu, định giá tiền giấy, cho dân mua bán với nhau.
=== Ngoại giao ===
Xem thêm: Chiến tranh Việt-Chiêm 1400-1407
Quan hệ của nhà Hồ với nhà Minh ở Trung Quốc và Chiêm Thành lúc bấy giờ khá phức tạp. Nhà Minh sau khi thống nhất Trung Quốc năm 1368 bắt đầu có ý định nhòm ngó xuống phương nam. Trên mặt trận này, nhà Hồ đã phải nhún nhường hết mức, thậm chí năm 1405 đã phải cắt 59 thôn ở Lộc Châu (tỉnh Lạng Sơn ngày nay) để mong tránh được họa binh đao nhưng cuối cùng cũng không tránh khỏi họa xâm lăng của nhà Minh năm 1406.
Đối với Chiêm Thành, quan hệ vẫn là giữa nước lớn (Đại Ngu) và nước nhỏ (Chiêm Thành). Trong suốt thời kỳ đầu (1400-1403) nhà Hồ liên tục đem quân tấn công Chiêm Thành và đã mở mang được lãnh thổ tới tận tỉnh Quảng Ngãi ngày nay.
=== Việc thi cử ===
Từ cuối thời Trần (1396), Hồ Quý Ly đã thay đổi chế độ thi cử nhân, bỏ cách thi ám tả cổ văn chuyển sang tứ trường văn thể.
Năm 1404, Hồ Hán Thương định thể thức thi chọn nhân tài: Cứ tháng 8 năm trước thi Hương, ai đỗ thì được miễn tuyển bổ; lại tháng 8 năm sau thi Hội, ai đỗ thì thi bổ thái học sinh. Rồi năm sau nữa lại bắt đầu thi hương như hai năm trước. Phép thi phỏng theo lối văn tự ba trường của nhà Nguyên nhưng chia làm 4 kỳ, lại có kỳ thi viết chữ và thi toán, thành ra 5 kỳ. Quan nhân, người làm trò, kẻ phạm tội đều không được dự thi.
Tháng 8 năm 1400, Hồ Quý Ly mở khoa thi thái học sinh. Lấy đỗ Lưu Thúc Kiệm, Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Hoàng Hiến, Nguyễn Thành, Nguyễn Nhữ Minh (Nguyễn Quang Minh) v.v gồm 20 người. Tháng 8 năm 1405, Hồ Hán Thương sai bộ Lễ thi chọn nhân tài, đỗ được 170 người. Lấy Hồ Ngạn, Lê Củng Thần sung làm thái học sinh lý hành; Cù Xương Triều và 5 người khác sung làm Tư Thiện đường học sinh.
=== Tôn giáo ===
Nhà Hồ không tôn sùng đạo Phật như trước mà tôn trọng Nho giáo hơn. Năm 1396, theo lời Hồ Quý Ly, vua Trần Thuận Tông đã xuống chiếu sa thải các tăng đạo chưa đến 50 tuổi trở xuống, bắt phải hoàn tục. Lại thi những người thông hiểu kinh giáo, ai đỗ thì cho làm Đường đầu thủ (Tăng đường đầu mục), tri cung, tri quán, tri tự, còn thì cho làm kẻ hầu của người tu hành.
== Cuộc xâm lăng của nhà Minh ==
=== Tổng động viên, xây thành lũy ===
Trước họa xâm lăng của nhà Minh, nhà Hồ đã phải lo củng cố quân sự.
Năm 1404, Hồ Hán Thương cho đóng thuyền đinh sắt, có hiệu là Trung tàu tải lương, Cổ lâu thuyền tải lương, nói là chở lương, nhưng trên có đường đi lại để tiện chiến đấu, dưới thì hai người chèo một mái chèo. Năm 1405, Hồ Hán Thương lệnh cho những nơi đầu nguồn ở các trấn nộp gỗ làm cọc. Châu Vũ Ninh thì cho lấy gỗ ô mễ ở lăng Cổ Pháp đưa đến cho quân đóng cọc ở các cửa biển và những nơi xung yếu trên sông Cái (sông Hồng) để phòng giặc phương Bắc. Tháng 6, đặt bốn kho quân khí. Không kể là quân hay dân, hễ khéo nghề đều sung vào làm việc.
Tháng 7, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đi tuần tra xem xét núi sông và các cửa biển, ở kinh lộ, để kiểm tra xem xét thế hiểm yếu của các nơi, tháng 9 tổ chức lại quân đội. Định quân Nam ban và Bắc ban chia thành 12 vệ; quân Điện hậu đông và tây chia thành 8 vệ; mỗi vệ 18 đội, mỗi đội 18 người; đại quân thì 30 đội, trung quân thì 20 đội, mỗi doanh là 15 đội, mỗi đoàn là 10 đội; cấm vệ đô thì 5 đội. Đại tướng quân thống lĩnh cả.
Nhà Hồ sai Hoàng Hối Khanh đốc suất dân phu đắp thành Đa Bang (huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây ngày nay), sai quân vệ Đông Đô đóng cọc chặn cửa sông Bạch Hạc (ngã ba sông Hồng chảy qua thành phố Việt Trì ngày nay) để chống thủy quân giặc từ Tuyên Quang xuống.
Tháng 7 năm 1406, Hồ Hán Thương ra lệnh cho các lộ đóng cọc gỗ ở bờ phía nam sông Cái, từ thành Đa Bang đến Lỗ Giang và từ Lạng Châu đến Trú Giang Giang để làm kế phòng thủ.
=== Bại trận trước địch mạnh ===
Trong khi đó, tháng 4 năm 1406, nhà Minh sai Hàn Quan và Hoàng Trung đem 10 vạn quân ở Quảng Tây sang, mượn cớ đưa con cháu nhà Trần là Trần Thiêm Bình về làm vua. Qua một số trận giao tranh nhỏ, quân Hồ thắng trận, quân Minh phải giao nộp Thiêm Bình mới được rút lui.
Tháng 9 năm ấy, nhà Minh sai Trương Phụ, Trần Húc, đem 40 vạn quân đánh vào cửa ải Pha Lũy (cửa khẩu Hữu Nghị ngày nay), Mộc Thạnh, Lý Bân cũng đem 40 vạn quân đánh vào cửa ải Phú Lệnh (gần thị xã Hà Giang ngày nay), hai đạo quân tổng cộng là 80 vạn
Tháng 10, quân Minh hội ở sông Bạch Hạc, bày doanh trại bờ bắc sông Cái, đến tận Trú Giang. Ngày 2 tháng 12, người Minh chiếm được Việt Trì, bờ sông Mộc Hoan và chỗ đóng cọc ở sông Bạch Hạc. Tướng chỉ huy quân Tả Thánh Dực là Hồ Xạ không giữ nổi, phải dời hàng trận sang phía nam sông Cái.
Đêm mùng 7, người Minh cho khiêng thuyền ra bờ phía bắc bãi sông Thiên Mạc. Tướng quân Trần Đĩnh đánh bại quân Minh. Đêm ngày mùng 9, quân Minh đánh úp quân họ Hồ ở bãi Mộc Hoàn. Tướng chỉ huy quân Nguyễn Công Khôi, không phòng bị, thuyền bị cháy gần hết, toàn quân bị tiêu diệt. Thủy quân ở phía trên và phía dưới không ai đến cứu, chỉ từ xa xin Hồ Nguyên Trừng xem ai có thể thay giữ chỗ đó. Quân Minh liền vượt sông làm cầu phao để sang.
Sáng ngày 12, Trương Phụ cùng Hoàng Trung, Thái Phúc tiến công phía tây bắc thành Đa Bang. Mộc Thạnh cùng Trần Tuấn tiến công phía đông nam thành. Nguyễn Tông Đỗ, chỉ huy quân Thiên Trường đào thành cho voi ra. Người Minh dùng hỏa tiễn bắn voi. Voi lui lại, người Minh theo voi đánh vào. Thành bị hạ. Quân ở dọc sông tan vỡ, lui giữ Hoàng Giang. Người Minh vào Đông Đô.
Theo Minh sử: quân Minh dùng hỏa khí công kích mạnh mẽ để hỗ trợ cho binh lính trèo lên chiếm mặt thành, quân Minh thừa thế ồ ạt kéo vào thành. Tướng nhà Hồ trong thành dùng voi chiến phản kích, nhưng quân Minh tung kỵ binh ứng chiến, ngựa của quân Minh đều có trùm da hổ, voi trông thấy tưởng hổ thật, hoảng sợ tháo lui, quân nhà Hồ tan vỡ, thành bị chiếm.
Năm 1407, ngày 20 tháng 2, Hồ Nguyên Trừng tiến quân đến sông Lô, quân Minh giữ hai bên bờ sông đánh kẹp lại, quân Hồ thất bại, lui giữ Muộn Khẩu (cửa sông Hồng ở Giao Thủy, Nam Định ngày nay). Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đều trở về Thanh Hóa. Hồ Đỗ, Hồ Xạ bỏ Bình Than qua Thái Bình, Đại Toàn đến Muộn Khẩu, hợp sức đắp lũy, đúc hỏa khí, đóng thuyền chiến để chống lại. Quân Minh đối lũy với quân Hồ, ngày đêm đánh nhau, vì nắng mưa, dịch bệnh, bùn lầy ẩm uớt khó ở, bèn dời đến đóng ở Hàm Tử, lập doanh trại phòng bị nghiêm ngặt. Hồ Nguyên Trừng và Hồ Đỗ cũng dời quân đến Hoàng Giang, lại đón Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương từ Thanh Hóa tới.
Ngày 13 tháng 3, Hồ Nguyên Trừng cùng Hồ Đỗ, Đỗ Mãn tiến quân đến cửa Hàm Tử đánh quân Minh song thất bại. Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương dẫn các tướng và quan lại vượt biển trở về Thanh Hóa. Hồ Đỗ, Hồ Xạ chạy về vùng Tổng Vạn Xuân, của sông Hóa Thái Bình. Ngày 23 tháng 4, quân Minh đánh vào Lỗi Giang, quân Hồ không đánh mà tan. Ngày 29, quân Minh đánh vào cửa biển Điển Canh, thủy quân nhà Hồ tự tan vỡ.
Ngày 5 tháng 5, quân Minh đánh vào cửa biển Kỳ La (huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay). Ngày 11, quân Minh đánh vào Vĩnh Ninh. Quân Minh bắt được Hồ Quý Ly ở bãi Chỉ Chỉ; Hồ Nguyên Trừng ở cửa biển Kỳ La. Ngày 12, bắt được Hồ Hán Thương và thái tử Nhuế ở núi Cao Vọng (Kỳ Anh, Hà Tĩnh). Nhà Hồ sụp đổ.
Trương Phụ, Mộc Thạnh sai Liễu Thăng, Lỗ Lân, Trương Thăng, Du Nhượng, Lương Định, Thân Chí bắt giải Hồ Quý Ly và các con cháu cùng các tướng Hồ Đỗ, Nguyễn Ngạn Quang, Lê Cảnh Kỳ; Đoàn Bổng, Trần Thang Mông, Phạm Lục Tài cùng ấn tín đến Kim Lăng. Tháng 8, Trương Phụ và Mộc Thạnh đem quân về, lưu lại Lữ Nghị, Hoàng Phúc trấn giữ. Biết tin nhà Hồ sụp đổ, nông dân đã nổi dậy khởi nghĩa, cụ thể:
Trần Nguyệt Hồ
Trần Ngỗi
Phạm Chấn
Phạm Tất Đại
Phạm Ngọc
Trần Quý Khoáng
Lê Ngã
Trần Nguyên Thôi
Trần Nguyên Khang
== Nhận định ==
Công cuộc cải cách của nhà Hồ thực hiện chỉ được trong thời gian quá ngắn ngủi. Cũng như nhiều cuộc cải cách khác trong lịch sử, cuộc cải cách của Hồ Quý Ly vấp phải sự phản đối trong nước, nhưng không phải vì vậy mà nhìn nhận cuộc cải cách hoàn toàn tiêu cực. Như trường hợp "Biến pháp Thương Ưởng" đời Chiến quốc ở nước Tần trong lịch sử Trung Quốc, thời kỳ đầu cũng gây sốc mạnh trong xã hội nước Tần, nhưng sau đó vẫn được duy trì và nhờ vậy mà nước Tần trở thành một nước hùng mạnh, tạo tiền đề cho sự thống nhất toàn quốc. Sự phản ứng của dân chúng nước Tần cũng lắng dần theo thời gian. Vấn đề của cuộc cải cách nhà Hồ là nó chưa đủ thời gian để phát huy tác dụng. Mặt khác, các nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng các chính sách cải cách đó chủ yếu phục vụ cho lợi ích chiến tranh; hơn thế nữa cuộc cải cách được thực hiện dồn dập trong thời gian ngắn: dùng chữ Nôm để đề cao ý thức dân tộc, dùng tiền giấy tuy tiết kiệm nhưng dân chúng chưa thích nghi thói quen tiêu dùng mới, hạn điền và hạn nô làm giảm lợi ích của địa chủ, quý tộc cũ... Cuộc cải cách gây xáo trộn lớn trong tâm lý mọi người và sự bất bình, chia rẽ sâu sắc trong xã hội. Sự bất bình còn chưa kịp lắng xuống thì đã có bàn tay lớn thò vào cùng tiếng hô hào "lật đổ" khiến số đông người trong nước Đại Ngu đồng tình.
Việc dời đô từ Thăng Long, nơi trung tâm đô hội, quy tụ nhân tâm trong nước, vào Thanh Hoá cũng cho thấy một phần biểu hiện của sự mất lòng dân ở vùng căn bản Bắc Bộ. Khi không có được sự ủng hộ rộng rãi của quần chúng trong nước, nhà Hồ gặp vô vàn khó khăn khi phải chống ngoại xâm và đã thất bại nhanh chóng, không thể duy trì được cuộc kháng chiến trường kỳ mà nhà Lý, nhà Trần từng làm chống phương Bắc.
Trước nguy cơ can thiệp dùng chiêu bài "phù Trần diệt Hồ" của nhà Minh, nhà Hồ không kịp thời có những điều chỉnh cần thiết để quy tụ lòng người và có biện pháp ngoại giao mềm dẻo hơn để duy trì hòa bình cần thiết. Trái lại nhà Hồ chủ trương dùng biện pháp cứng rắn để đối phó với kẻ địch mạnh hơn nhiều trong khi mình chưa đủ thực lực và "chân đứng" trong nước và hơn nữa khả năng quân sự của các nhà cầm quyền triều Hồ lại chỉ là sở đoản.
Còn một nguyên nhân khác dẫn đến thất bại của nhà Hồ. Đối với vấn đề Chiêm Thành, nhà Hồ cũng mắc sai lầm tương tự. Trước đây khi gặp giặc mạnh, nhà Trần chủ trương liên minh với Chiêm chứ không gây hấn; vua Đại Hành nhà Tiền Lê rất giỏi về quân sự nhưng cũng chỉ phát binh đánh Chiêm sau khi đã làm nhà Tống thua tơi tả phải chùn tay ở phía bắc; nhà Hồ ngược lại vừa lập nước đã liên tiếp đánh Chiêm, tuy đất đai có được mở nhưng sức lực hao mòn, chỗ đất mới chưa đứng vững chân được để làm nơi dung thân khi bị phương bắc ép xuống, nước Chiêm khi đó đã thành cừu thù không thể xin nhờ cậy.
Như vậy nhà Hồ chẳng những tự cô lập mình trong chính sách đối nội mà trong chính sách đối ngoại cũng tự cô lập nốt. Trong không được lòng dân, ngoài không có liên minh, kẻ địch mạnh hơn gấp bội, nhà Hồ thất bại là tất yếu. Thất bại của nhà Hồ là bài học sâu sắc trong việc giữ nước mà nhà Hậu Lê (tạm lập Trần Cảo) và nhà Mạc (đầu hàng nhà Minh trên danh nghĩa) sau này đã rút ra kinh nghiệm để không mắc phải sai lầm tương tự, gây ra cảnh "nước mất nhà tan".
Sau 500 năm giành được quyền tự chủ, Việt Nam lại mất về tay Trung Quốc. Sau Khúc Thừa Mỹ, tới đầu thế kỷ 15, người cai trị Việt Nam lại bị bắt làm tù binh. Cha con Hồ Quý Ly chỉ có phong thái của những ông vua văn trị, những ông quan mũ cao áo dài mà không phải là những chiến tướng khi có chiến sự, do đó đều chịu trói về bắc mà không dám chọn lấy cái chết oanh liệt khi đại cuộc không thể cứu vãn. Việc mất nước của nhà Hồ để lại hậu quả tổn thất không nhỏ cho nước Đại Việt, nhất là về văn hoá.
== Các vua nhà Hồ ==
== Thế phả nhà Hồ ==
== Xem thêm ==
Nhà Trần
Hồ Quý Ly
Hồ Hán Thương
Hoàng Hối Khanh
Chiến tranh Đại Ngu - Minh
Chiến tranh Việt-Chiêm 1400-1407
Nhà Tây Sơn
== Tham khảo ==
Đại Việt sử ký toàn thư - Bản điện tử
Khâm định Việt sử Thông giám cương mục - Bản điện tử
Văn Tạo (2006), Mười cuộc cải cách, đổi mới trong lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học sư phạm
Viện sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
== Chú thích == |
avex trax.txt | Avex Trax (エイベックス トラックス, Eibekkusu Torakkusu) (các điệu là avex trax) là một hãng thu âm thuộc sở hữu của tập đoàn giải trí Nhật Bản Avex Group. Nhãn hiệu được giới thiệu vào tháng 9 năm 1990, và là nhãn hiệu đầu tiên của Tập đoàn.
== Nghệ sĩ ==
Hãng gồm có các nghệ sĩ Nhật Bản như AAA, Ai Otsuka, Namie Amuro, Do As Infinity, Every Little Thing, Gackt, moumoon, Girl Next Door, Ayumi Hamasaki, Mai Oshima, Seikima-II, DREAM5, S2nd và Tokyo Girls' Style, và các nghệ sĩ nước ngoài như BoA, TVXQ, Super Junior, EXO, f(x), After School, O-Zone, U-KISS và Lights Over Paris.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Official website (tiếng Nhật)
Parent Company website (tiếng Nhật)
Avex Trax tại từ điển bách khoa của Anime News Network
IMDb company trên trang Internet Movie Database |
dominika cibulková.txt | Dominika Cibulková (sinh ngày 6 tháng 5 năm 1989 ở Bratislava, Slovakia) là một vận động viên quần vật chuyên nghiệp người Slovakia. Cô hiện đang xếp ở thứ hạng 29 của WTA ở nội dung đánh đơn (14 tháng 4 năm 2008). Cô còn từng xếp thứ hạng 3 thế giới ở lứa tuổi trẻ (thứ hạng đạt được vào tháng 5 năm 2005).
Cibulková từng vào đến tứ kết của cả bốn Grand Slam, trong đó thành tích tốt nhất là chung kết Giải quần vợt Úc Mở rộng 2014, thua Lý Na. Với kết quả này, Cibulkova là tay vợt nữ Slovakia đầu tiên lọt vào đến chung kết một Grand Slam.
== Chung kết WTA đơn ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang cá nhân của Dominika Cibulková
Dominika Cibulková tại Hiệp hội quần vợt nữ |
lịch sử liên bang xô viết.txt | Lịch sử Nga Xô viết và Lịch sử Liên Xô được thể hiện trong loạt bài sau.
Lịch sử Nga Xô viết và Lịch sử Liên Xô (1917–1927), từ Cách mạng Tháng Mười tới khi Stalin củng cố quyền lực
Lịch sử Liên bang Xô viết (1927-1953), thời kỳ Stalin
Lịch sử Liên bang Xô viết (1953-1985), từ khi phi Stalin hoá tới cải tổ
Lịch sử Liên bang Xô viết (1985-1991), giai đoạn của những nỗ lực không thành công nhằm duy trì Liên bang Xô viết, chấm dứt khi nó bị giải tán
== Xem thêm == |
ninh ích.txt | Ninh ích là một xã thuộc thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam.
Xã Ninh ích có diện tích 60,72 km², dân số năm 1999 là 8280 người, mật độ dân số đạt 136 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
real sexy!bad boys.txt | Real Sexy!/BAD BOYS là thằng nghiện quay tay của nhóm nhạc nam Sexy Zone. Và được phát hành vào ngày 01/05/2013.
== Thông tin ==
Tiếp nối với đĩa đơn thứ ba của nhóm, khoảng 7 tháng sau, đĩa đơn thứ tư của nhóm được phát hành và mang tên Real Sexy!/BAD BOYS
Đĩa đơn thứ 4 này được phát hành gồm 1 phiên bản thường, 3 phiên bản giới hạn A, B và C, 1 phiên bản giới hạn hội trường(?)và 6 phiên bản Sexy Zone shop.
Bài hát Real Sexy được chọn làm bài hát chủ đề cho TV Show Real Scope Hyper.
Bài hát BAD BOYS được chọn làm bài hát chủ đề cho bộ phim truyền hình BAD BOYS J do chính Nakajima Kentou thủ vai nhân vật chính
Bài hát High!! High!! People ~movie remix~ trong phiên bản thông thường được chọn làm bài hát chủ đề cho phim điện ảnh Kodomo Keisatsu do Marius Yo thủ vai nhân vật.
== Ca khúc trong đĩa ==
=== CD ===
==== Phiên bản giới hạn ====
Real Sexy
Lời: Maitsu Gorou, Nhạc: Makaino Kouji
BAD BOYS
Lời: ENA☆, Nhạc: DAICHI, Kinboom
Just Ima shikanai
Lời: Maitsu Gorou, Nhạc: Makaino Kouji
==== Phiên bản thường ====
Real Sexy
BAD BOYS
High!! High!! People ~movie remix~
Lời: Sakuta Masaya, Nhạc: Takuya Harada
Just Ima shikanai
Real Sexy (Inst)
BAD BOYS (Inst)
High!! High!! People ~movie remix~ (Inst)
Just Ima shikanai (Inst)
==== Phiên bản hội trường ====
Real Sexy
BAD BOYS
High!! High!! People ~movie remix~
Just Ima shikanai (Inst)
==== Phiên bản Sexy Zone Shop ====
Real Sexy
BAD BOYS
Just Ima shikanai
=== DVD ===
Phiên bản giới hạn A
Real Sexy! (PV)
Phiên bản giới hạn B
Special Movie in New York
Phiên bản giới hạn C
Real Sexy! (Making)
== Chú thích == |
dmoz.txt | Dự án thư mục mở (Open Directory Project,ODP), còn được biết tới với tên Dmoz (viết tắt của directory.mozilla.org, - tên miền gốc của dự án), là một dự án thư mục website đa ngôn ngữ mở. Dự án này vốn là của Netscape nhưng lại được điều hành và hoạt động bởi cộng đồng các tình nguyện viên làm nhiệm vụ biên tập nội dung.
Dmoz sử dụng việc một hệ thống phân cấp thư mục để liệt kê các website. Các website có chủ đề tương tự nhau có thể được liệt kê vào các thư mục mà có thể chứa các thư mục nhỏ hơn.
== Xem thêm ==
Danh sách thư mục website
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
The Open Directory Project
Open Directory Project Blog
Bản mẫu:Netscape |
bàn tay.txt | Bàn tay là một bộ phận của con người, có chức năng cầm nắm. Bàn tay nằm ở cuối một cánh tay (đối với con người) hoặc ở cuối chi trước của động vật linh trưởng và một số động vật có xương sống khác.
Bàn tay là một trong những bộ phận quan trọng nhất của cơ thể con người. Nó hỗ trợ cho các hoạt động đơn giản (như nắm một vật thể lớn) hoặc các hoạt động phức tạp hơn (như nhặt một viên sỏi nhỏ). Các ngón tay là nơi tập trung dày đặc các dây thần kinh, là nơi nhận nhiều phản hồi xúc giác nhất, và là nơi định vị lớn nhất trên cơ thể người. Vì vậy, ý thức liên lạc của con người liên hệ mật thiết với hai bàn tay.
Giống như các bộ phận khác (tai, mắt, chân), mỗi bàn tay được điều khiển bởi một bán cầu não đối lập. Bàn tay phải được bán cầu não trái chỉ huy và ngược lại. Do đó, việc thuận tay nào (thói quen viết bút, dùng tay nào nhiều vào các hoạt động khác nhau) phản ánh rõ đặc điểm của cá nhân mỗi người.
Mỗi con người có hai bàn tay. Nhưng loài khỉ thường được biết có bốn bàn tay vì các ngón chân dài hệt như các ngón tay. Cấu tạo như thế cho phép khỉ có thể dùng chân để làm những nhiệm vụ của bàn tay. Ngoài ra, một số linh trưởng khác có ngón chân dài hơn ngón tay của con người.
== Giải phẫu học ==
Bàn tay người bao gồm năm ngón tay, nối liền với cẳng tay bằng một phần gọi là cổ tay. Bàn tay lật ngược lại được gọi là lưng của bàn tay.
=== Những ngón tay ===
Bốn ngón tay ngoài cùng của bàn tay (không kể ngón cái) có thể nắm lại để bắt hoặc cầm lấy vật thể. Mỗi ngón tay, bắt đầu từ ngón gần ngón cái nhất trở ra đều có một cái tên để phân biệt với các ngón khác:
Ngón tay cái (hay ngón cái) là ngón đầu tiên (tính từ trái sang phải của bàn tay phải đang đặt úp lại hoặc từ phải sang trái của bàn tay trái đang đặt úp lại).
Ngón tay trỏ (hay ngón trỏ) là ngón gần ngón cái nhất.
Ngón tay giữa là ngón tiếp theo sau ngón trỏ.
Ngón tay đeo nhẫn (hay ngón áp út) là ngón tiếp theo sau ngón tay giữa.
Ngón tay út (hay ngón út) là ngón cuối cùng và cũng là ngón nhỏ nhất trong năm ngón tay.
Trong các ngón tay, ngón tay cái có thể dễ dàng xoay 900. Trong khi đó, các ngón còn lại chỉ có thể xoay 450. Một điều đáng tin cậy rằng để phân biệt tay thật và tay giả, ta có thể xem xét đến tính linh hoạt của ngón cái. Đối với tay thật, ngón cái có thể dễ dàng xoay chuyển và đối diện được với các ngón còn lại.
=== Hệ thống xương ===
Hai bàn tay người có 27 cái xương: khối xương cổ tay có 8 cái xương; các xương bàn tay hoặc lòng bàn tay có 5 cái xương; 14 cái xương còn lại thuộc về các ngón tay (kể cả ngón cái).
Tám xương cổ tay được xếp làm hai hàng bốn. Những cái xương này gắn chặt vào một ổ xương không sâu được hình thành bởi các xương cẳng tay.
Lòng bàn tay có năm cái xương được gọi là xương bàn tay, mỗi xương bàn tay của một ngón tay. Mỗi xương bàn tay có một đầu, một trục, và một chân.
Con người có 14 xương ngón tay, còn gọi là các đốt ngón tay hay đốt xương ngón tay. Hai xương ở hai ngón tay cái (ngón tay cái không có đốt xương giữa (đốt xương màu xanh dương trong hình, tiếng Anh: Intermediate phalanges)) và ba xương ở mỗi ngón tay còn lại (mỗi ngón tay có ba xương).
=== Khớp tay ===
Khớp tay của người tinh vi và phức tạp, cũng như linh hoạt hơn so với các loài động vật khác. Nếu không có các khớp tay này, bàn tay chúng ta không thể hoạt động và làm những động tác phức tạp với các vật thể hay công cụ. Mặc khác, nhờ các khớp tay mà bàn tay chúng ta có thể nắm lại hay thả ra một cách linh hoạt hoặc làm những cử chỉ ở tay một cách dễ dàng.
Các khớp tay bao gồm:
Khớp gian đốt ngón tay (Interphalangeal articulations of hand): là khớp nối giữa các đốt ngón tay.
Khớp nối xương bàn tay (Metacarpophalangeal joints).
Khớp gian xương cổ tay (Intercarpal articulations).
Cổ tay (Wrist) (khớp nối để bàn tay có thể cử động): đây cũng là khớp có thể được xem là thuộc về cẳng tay).
=== Cơ và dây chằng ===
Các động tác của bàn tay con người được thực hiện bởi hai bộ của mỗi mô. Chúng có thể được chia thành hai nhóm: các nhóm cơ ngoại và các nhóm cơ nội. Các nhóm cơ ngoại gồm các cơ gấp dài và cơ duỗi (bao gồm cơ cẳng tay). Được gọi tên là nhóm cơ ngoại vì các cơ này nằm ở cẳng tay.
== Một số hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Vân tay tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Xương bàn tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Xương cổ tay tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Xương quay tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Hand (anatomy) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Hand injuries and diseases (Handuniversity.com)
Hand anatomy (eMedicine) |
shimane.txt | Shimane (Nhật: 島根県 (Đảo Căn Huyện), Shimane-ken) là một tỉnh của Nhật Bản nằm ở vùng Chūgoku trên đảo Honshū. Thủ phủ là thành phố Matsue.Đây là tỉnh có dân số ít thứ hai ở Nhật sau tỉnh giáp ranh ở phía đông Tottori. Quần đảo Oki trên biển Nhật Bản cũng trực thuộc tỉnh Shimane, tỉnh này cũng khẳng định chủ quyền với hòn đảo Hàn Quốc đang nắm thực quyền Liancourt Rocks (Takeshima).
== Địa lý ==
Tỉnh này có địa hình trải dài từ Đông sang Tây đối mặt với dãy núi Chūgoku ở phía Nam và biển Nhật Bản ở phía Bắc. Phần lớn các thành phố nằm ở gần bờ biển Nhật Bản.
== Lịch sử ==
Phía Đông của tỉnh là vùng Izumo, nằm trong vùng phát triển rực rỡ của nước Nhật thời kỳ Cổ đại.
== Hành chính ==
=== Các thành phồ ===
Shimane có 8 thành phố, lớn nhất là Matsue (thủ phủ) nằm ở phía Đông và nhỏ nhất là Gotsu. Các thành phố Masuda, Unnan, Yasugi, và Gotsu đã có sự gia tăng dân số nhỏ do sự sáp nhập vào đầu những năm 2000.
=== Thị trấn và làng ===
Số lượng các thị trấn và làng mạc giảm đáng kể sau sự hợp nhất. Tuy nhiên, chúng chiếm khoảng một phần ba dân số của tỉnh.
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Shimane
== Du lịch ==
Đền Izumo Taisha tại thành phố Izumo là một trong những ngôi đền thần đạo Shinto cổ nhất nước Nhật.
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh (tiếng Nhật)
Trang chủ chương trình tham gia Shimane JET
Lưu trữ quốc gia Nhật Bản Bản đồ Shimane (1891)
Bảo tàng Nghệ thuật Adachi
Tham quan website Thành phố Masuda bằng tiếng Anh
== Ghi chú == |
windows 98.txt | Windows 98 (tên mã Memphis) là một hệ điều hành giao diện đồ họa được Microsoft giới thiệu vào ngày 25 tháng 6 năm 1998.
Hệ điều hành này là một phiên bản nâng cấp của Windows 95. Cũng như Windows 95, hệ điều hành này là một hệ thống pha trộn 16-bit/32-bit. Hệ điều hành này hỗ trợ tốt hơn các thiết bị phần cứng AGP, USB... Giống với phiên bản Windows 95 trước đó, Internet Explorer tiếp tục được tích hợp vào trong giao diện Windows Explorer (đây là thành phần được gọi là Active Desktop).
== Windows 98 Second Edition ==
Windows 98 Second Edition (thường gọi "Windows 98 SE") là phiên bản nâng cấp của Windows 98. Windows 98 Second Edition được Microsoft giới thiệu vào ngày 5 tháng 5 năm 1999. Internet Explorer 5.0 đã được đưa vào Windows 98 Second Edition thay thế cho Internet Explorer 4.0 của Windows 98.
== Xem thêm ==
Windows
Microsoft
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
http://www.microsoft.com/windows98/ Trang web về Windows 98 của Microsoft. |
thịnh vượng chung anh.txt | Thịnh vượng chung của các quốc gia (tiếng Anh: Commonwealth of Nations, thường gọi là Thịnh vượng chung (trước đây là Thịnh vượng chung Anh - British Commonwealth),[1] là một tổ chức liên chính phủ của 53 quốc gia thành viên hầu hết từng là lãnh thổ của cựu Đế quốc Anh. Thịnh vượng chung hoạt động theo sự nhất trí liên chính phủ của các quốc gia thành viên được tổ chức thông qua Ban thư ký Thịnh vượng chung, và các tổ chức phi chính phủ được tổ chức thông qua Quỹ Thịnh vượng chung.
Thịnh vượng chung bắt nguồn từ giữa thế kỷ 20 với sự phi thuộc địa hóa của Đế quốc Anh thông qua tăng quyền tự quản cho các lãnh thổ. Tổ chức chính thức thành lập bằng Tuyên ngôn Luân Đôn năm 1949, trong đó xác định các quốc gia thành viên là "tự do và bình đẳng". Biểu tượng của liên kết tự do này là Nữ vương Elizabeth II, bà là nguyên thủ của Thịnh vượng chung. Nữ vương cũng là quân chủ của 16 thành viên trong Thịnh vượng chung, được gọi là "các vương quốc Thịnh vượng chung". Các thành viên khác trong Thịnh vượng chung có những nhân vật khác nắm giữ vị thế nguyên thủ quốc gia: 32 thành viên theo chế độ cộng hòa và năm thành viên có quân chủ là một nhân vật khác.
Các quốc gia thành viên không có nghĩa vụ pháp lý với nhau. Thay vào đó, họ liên hiệp thông qua ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa, và chia sẻ những giá trị về dân chủ, nhân quyền và pháp trị. Những giá trị này được ghi trong Hiến chương Thịnh vượng chung và được xúc tiến thông qua Đại hội thể thao Thịnh vượng chung.
Thịnh vượng chung bao phủ hơn 29.958.050 km2 (11.566.870 sq mi), gần một phần tư diện tích đất liền thế giới, và trải trên mọi lục địa. Với dân số ước tính là 2,328 tỷ vào năm 2013, gần một phần ba dân số thế giới, Thịnh vượng chung vào năm 2014 có GDP danh nghĩa là 10.450 tỷ USD, chiếm 14% GDP danh nghĩa toàn cầu.
== Lịch sử ==
Trong khi công du Úc vào năm 1884, Bá tước Archibald Primrose mô tả Đế quốc Anh đang biến hóa là một "Thịnh vượng chung của các quốc gia", trong khi một số thuộc địa trở nên độc lập hơn. Những hội nghị của các thủ tướng Anh Quốc và thuộc địa diễn ra định kỳ kể từ lần đầu tiên vào năm 1887, dẫn đến thiết lập các Hội nghị Đế quốc vào năm 1911.
Thịnh vượng chung phát triển từ các hội nghị đế quốc. Jan Smuts trình một đề xuất cụ thể vào năm 1917 khi ông đặt ra thuật ngữ "Thịnh vượng chung Anh của các quốc gia" và hình dung "các quan hệ hiến pháp tương lai và điều chỉnh về bản chất" tại Hội nghị Versailles năm 1919 bởi các đại biểu đến từ các quốc gia tự trị cũng như Anh Quốc. Thuật ngữ lần đầu được công nhận pháp lý tầm đế quốc trong Hiệp định Anh-Ireland năm 1921, khi "Thịnh vượng chung Anh của các quốc gia" thay thế cho "Đế quốc Anh" trong lời tuyên thệ của các thành viên nghị viện Quốc gia Tự do Ireland.
Theo Tuyên ngôn Balfour tại Hội nghị Đế quốc năm 1926, Anh Quốc và các quốc gia tự trị đồng ý rằng họ "bình đẳng về vị thế, quyết không lệ thuộc một bên vào bên khác trong bất kỳ phương diện đối nội và đối ngoại, tuy nhiên liên hiệp bằng lòng trung thành chung với quân chủ, và liên kết tự do với vị thế các thành viên của Thịnh vượng chung Anh của các quốc gia." Những phương diện về quan hệ được chính thức hóa theo Pháp lệnh Westminster năm 1931, áp dụng cho Canada không cần phê chuẩn, song Australia, New Zealand, và Newfoundland buộc phải phê chuẩn để nó có hiệu lực. Newfoundland chưa từng thực hiện điều này, do vào ngày 16 tháng 2 năm 1934, chính phủ Newfoundland tự nguyện kết thúc và nhiệm vụ cai trị trở lại dưới quyền kiểm soát trực tiếp từ Luân Đôn. Newfoundland sau đó gia nhập Canada với vị thế một tỉnh vào năm 1949. Australia và New Zealand lần lượt phê chuẩn Pháp lệnh vào năm 1942 và 1947.
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Đế quốc Anh dần tan vỡ cho đến khi Anh Quốc còn lại 14 lãnh thổ hải ngoại. Trong tháng 4 năm 1949, sau Tuyên ngôn Luân Đôn, từ "Anh" bị bỏ khỏi danh hiệu của Thịnh vượng chung nhằm phản ánh biến hóa về bản chất của nó. Myanmar (1948) và Aden (1967) là những quốc gia duy nhất là thuộc địa của Anh trong thế chiến song không gia nhập Thịnh vượng chung khi độc lập. Những lãnh thổ bảo hộ và được ủy thác cũ của Anh song không trở thành thành viên của Thịnh vượng chung là Ai Cập (độc lập năm 1922), Iraq (1932), Transjordan (1946), Palestine thuộc Anh (bộ phận trở thành quốc gia Israel năm 1948), Sudan (1956), Somaliland thuộc Anh (thống nhất với Somaliland thuộc Ý cũ vào năm 1960 để hình thành Cộng hòa Somali), Kuwait (1961), Bahrain (1971), Oman (1971), Qatar (1971), và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (1971).
Ngày 18 tháng 4 năm 1949, Ireland chính thức trở thành một nước cộng hòa theo Đạo luật Cộng hòa Ireland năm 1948, do vậy tự động loại trừ khỏi Thịnh vượng chung. Trong khi Ireland không tích cực tham dự trong Thịnh vượng chung kể từ đầu thập niên 1930 và sẵn lòng rời Thịnh vượng chung, thì các quốc gia tự trị khác mong muốn trở thành các nước cộng hòa mà không mất liên kết Thịnh vượng chung. Vấn đề lên đến đỉnh điểm vào tháng 4 năm 1949 trong một hội nghị các thủ tướng Thịnh vượng chung tại Luân Đôn. Theo Tuyên ngôn Luân Đôn, Ấn Độ chấp thuận rằng khi họ trở thành một nước cộng hòa trong tháng 1 năm 1950, họ sẽ chấp thuận quân chủ Anh như một "biểu trưng của liên kết tự do của các quốc gia thành viên độc lập trong Khối và bởi thế là nguyên thủ của Thịnh vượng chung. Khi nghe về điều này, Quốc vương George VI nói với chính trị gia người Ấn Độ Krishna Menon: "Thế là tôi thành 'bởi thế'". Các quốc gia Thịnh vượng chung khác công nhận Ấn Độ duy trì tư cách thành viên của tổ chức. Do Pakistan kiên trì, Ấn Độ không được nhìn nhận là một trường hợp đặc biệt và các quốc gia khác sẽ được đối xử tương tự như Ấn Độ.
Tuyên ngôn Luân Đôn thường được nhận định là sự khởi đầu của Thịnh vượng chung hiện đại. Sau tiền lệ của Ấn Độ, các quốc gia khác trở thành nước cộng hòa, hoặc quân chủ lập hiến với quân chủ của mình, trong khi một số quốc gia duy trì quân chủ tương tự Anh Quốc, trong chế độ quân chủ của họ phát triển khác biệt và ngay sau đó trở nên hoàn toàn độc lập với chế độ quân chủ Anh Quốc.
== Lãnh tụ ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Văn phòng Khối Thịnh vượng chung
Viện Khối Thịnh vượng chung, Luân Đôn
Hội Khối Thịnh vượng chung Hoàng gia
Hội Khối Thịnh vượng chung Hoàng gia (của Canada)
Hội Đại học Khối Thịnh vượng chung |
láng hạ.txt | Láng Hạ là một phường thuộc quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Phường Láng Hạ có diện tích 0,95 km², dân số năm 1999 là 25369 người, mật độ dân số đạt 26704 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
jack nicholson.txt | John Joseph Nicholson (sinh ngày 22 tháng 4 năm 1937), thường được biết tới với cái tên Jack Nicholson, là một nam diễn viên nổi tiếng của điện ảnh Hoa Kỳ, ông được coi là một trong những diễn viên xuất sắc nhất trong lịch sử Hollywood và nổi tiếng với việc vào vai những nhân vật bị thần kinh hoặc gặp vấn đề về tâm lý.
Nicholson đã được đề cử giải Oscar Nam diễn viên chính xuất sắc nhất và Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất 12 lần và đã giành chiến thắng 3 lần. Ông và Walter Brennan là hai diễn viên nam đoạt nhiều giải Oscar nhất, hai người cũng chỉ xếp sau nữ diễn viên nổi tiếng Katharine Hepburn về tổng số lần đoạt giải Oscar cho diễn xuất (Hepburn đã có 4 giải). Jack Nicholson cũng là một trong hai diễn viên nam duy nhất (người còn lại là Michael Caine) được đề cử giải Oscar cho diễn xuất trong mọi thập kỷ kể từ thập niên 1960. Ông cũng đã có tới 7 giải Quả cầu vàng. Nicholson được biết đến nhiều nhất qua vai diễn của ông trong các phim Chinatown, Bay trên tổ chim cúc cu, The Shining, Batman, As Good as It Gets và mới đây nhất là vai diễn trong phim The Departed (Điệp vụ Boston) của đạo diễn Martin Scorsese.
== Tiểu sử ==
Nicholson sinh ngày 22 tháng 4 năm 1937 tại bệnh viện Jersey Shore Medical Center ở thành phố Neptune, tiểu bang New Jersey, mẹ ông, June Frances Nicholson, làm nghề ca múa (showgirl) với nghệ danh June Nilson. 6 tháng trước đó, cô June đã cưới một ông bầu gốc Ý tên là Donald Furcillo (nghệ danh Donald Rose) tại Elkton, Maryland. Tuy nhiên Furcillo là một người đã lập gia đình, và mặc dù ông này vẫn đề nghị được nuôi Jack, mẹ của cô June là bà Ethel đã quyết định sẽ nuôi dưỡng cháu mình để June có thể tiếp tục làm việc. Thực tế thì tuy Donald Furcillo tuyên bố mình là bố của Nicholson nhưng theo nhà viết tiểu sử Patrick McGilligan, người đã viết cuốn Jack's Life (Cuộc đời của Jack) thì rất có thể bố của Nicholson lại là Eddie King, người quản lý của mẹ ông, hơn nữa thì có thể chính cô June cũng không chắc về việc ai là cha của con trai mình. Nicholson đã từ chối thử ADN để xác định vấn đề này.
Nicholson lớn lên mà vẫn tin rằng ông bà ngoại John J. Nicholson và Ethel May Rhoads là bố mẹ mình còn cô June là chị gái mình. Mãi đến năm 1974, một nhà báo của tạp chí TIME trong khi viết bài về Jack Nicholson mới tiết lộ cho ông sự thật về bố mẹ (thực chất là ông bà ngoại) và chị gái (thực chất là mẹ đẻ) của Jack. Khi đó thì cả mẹ và bà ngoại của ông đều đã qua đời, Nicholson, trước đó đã không biết cha mình là ai, nói "Chỉ có Ethel và June biết được người đó và họ đã không nói cho bất kỳ ai".
Nick là tên bạn bè thường gọi Jack Nicholson khi ông học cấp III tại trường Manasquan High School, tại đây năm 1954 cậu được cả lớp bầu là "class clown" (dịch nghĩa: Chú hề của lớp). Sau này một rạp hát và một giải thưởng kịch ở trường đã được mang tên ông. Năm 2004, bạn học của Jack đã rất ngạc nhiên và vui mừng khi Nicholson đã quay về tham dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày khóa học của ông ra trường.
== Sự nghiệp ==
=== Khởi đầu (1958-1967) ===
Khi mới tới Hollywood, Jack Nicholson làm việc cho hãng phim hoạt hình nổi tiếng Hanna-Barbera. Nhận thấy ông có năng khiếu họa sĩ, hãng đã đề nghị Nicholson học nghề họa sĩ hoạt hình ở đây, tuy nhiên Jack đã từ chối với lý do là ông muốn trở thành diễn viên.
Nicholson bắt đầu sự nghiệp điện ảnh với vai trò diễn viên, biên kịch và nhà sản xuất cho Roger Corman. Vai diễn đầu tiên của ông là trong phim The Cry Baby Killer (1958), đó là vai một đứa trẻ vị thành niên hoảng loạn sau khi bắn hai đứa trẻ khác. Nhưng sau đó, do khó tìm được vai diễn, Nicholson tham gia viết kịch bản phim nhiều hơn. Trong số này có các phim như Thunder Island (1963), Flight to Fury (1964) hay Ride in the Whirlwind (1965). Ông cũng tham gia hai tập của loạt phim truyền hình The Andy Griffith Show năm 1966-1967.
=== Nổi tiếng ===
Sau khi khởi đầu sự nghiệp diễn viên chẳng đi đến đâu, Nicholson đã có vẻ định từ bỏ nó và chuyển hẳn sang làm biên kịch hoặc đạo diễn đứng sau máy quay. Thành công đầu tiên trong vai trò biên kịch của ông là khi một cảnh trong phim The Trip (1967), bộ phim này có sự tham gia của Peter Fonda và Dennis Hopper. Tuy nhiên, trong bộ phim tiếp theo của chính hai diễn viên nổi tiếng này, Jack Nicholson lại có được vai diễn lớn đầu tiên của mình, đó là vai luật sư nghiện rượu George Hanson, vai diễn này đã mang lại cho ông đề cử Oscar đầu tiên.
Một đề cử giải Oscar Nam diễn viên chính xuất sắc nhất đến với ông trong năm tiếp theo với vai diễn định hình phong cách diễn sau này của Nicholson, một vai diễn trong phim Five Easy Pieces (1970). Sau đó Jack tiếp tục thành công trong các phim The Last Detail (1973) và bộ phim hình sự kinh điển của đạo diễn Roman Polanski Chinatown (1974) (Jack được đề cử giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất cho vai diễn trong cả hai phim này).
=== Thần tượng nước Mỹ ===
Nicholson giành giải Oscar đầu tiên cho vai diễn Randle P. McMurphy trong bộ phim của đạo diễn Miloš Forman, Bay trên tổ chim cúc cu (One Flew Over the Cuckoo's Nest) (1975). Đây là một trong 3 bộ phim duy nhất đoạt đủ bộ 5 giải Oscar quan trọng nhất (phim hay nhất, đạo diễn xuất sắc nhất, nam nữ diễn viên chính xuất sắc nhất và kịch bản xuất sắc nhất). Nicholson cũng được đề nghị vào vai Michael Corleone trong phim Bố già nhưng ông từ chối.
Sau đó, Nicholson bắt đầu nhận nhiều hơn những vai diễn khác thường. Ông chỉ đóng một vai nhỏ trong The Last Tycoon, đối đầu với nhân vật do Robert De Niro thủ vai. Ông cũng đóng một vai trong bộ phim miền Tây The Missouri Breaks chủ yếu để làm việc với Marlon Brando. Tiếp theo bộ phim này, Jack Nicholson quay bộ phim đầu tiên do ông đạo diễn, Goin' South.
Tuy vai diễn tiếp theo của Jack Nicholson trong phim The Shining (1980) của đạo diễn nổi tiếng Stanley Kubrick, dựa theo tiểu thuyết của Stephen King không được đề cử giải Oscar, vai diễn này vẫn được coi là một trong những vai diễn đáng chú ý nhất của Nicholson. Đến năm 1983, ông giành giải Oscar thứ hai, giải Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất cho vai Garrett Breedlove, một phi hành gia vũ trụ đã về hưu, trong bộ phim Terms of Endearment.
Trong thập niên 1980, Nicholson tiếp tục tham gia đóng nhiều phim, trong đó có The Postman Always Rings Twice (1981), Reds (1981), Prizzi's Honor (1985), The Witches of Eastwick (1987) và Ironweed (1987). Các vai diễn trong Reds, Prizzi's Honor và Ironweed đã mang lại cho ông ba đề cử Oscar tiếp theo.
Năm 1989 bộ phim Batman (Người Dơi), trong đó Nicholson vào vai tên tội phạm The Joker, đã đạt doanh thu rất cao, riêng Jack Nicholson sau bộ phim này đã thu về 60 triệu USD. Nhân vật Joker do Jack Nicholson thể hiện trong phim đứng thứ 45 trong Danh sách 100 anh hùng và kẻ phản diện của Viện phim Mỹ ("AFI's 100 Years...100 Heroes & Villains"),
Jack Nicholson lại nhận được một đề cử Oscar với vai diễn đại tá nóng tính Nathan R. Jessep trong bộ phim A Few Good Men (Chỉ có vài người tốt) (1992). Trong tác phẩm này, câu thoại của Nicholson "You can't handle the truth!" (Không thể điều khiển được sự thật!) đã trở nên rất nổi tiếng và đã được bắt chước trong nhiều bộ phim khác.
Không phải mọi vai diễn của Nicholson đều được đánh giá cao. Ông thậm chí đã được đề cử giải Mâm xôi vàng cho nam diễn viên dở nhất cho vai diễn trong các phim Man Trouble (1992) và Hoffa (1992). Tuy nhiên nghịch lý là cũng chính vai diễn của Nicholson trong Hoffa lại được đề cử giải Quả cầu vàng.
Giải Oscar Nam diễn viên chính xuất sắc nhất thứ hai đến với Nicholson nhờ vai Melvin Udall, một nhà văn bị hội chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế trong bộ phim tình cảm As Good as It Gets (1997).
=== Những năm gần đây ===
Trong phim About Schmidt (2002), Nicholson đóng vai một chuyên viên thống kê đã nghỉ hưu đặt câu hỏi với chính cuộc đời mình và về cái chết của người vợ ít lâu sau đó. Diễn xuất kìm nén và lặng lẽ trong bộ phim này của ông tương phản rõ nét với rất nhiều vai diễn trước đó, và nhận được thêm một đề cử Oscar.
Năm 2006, Nicholson đánh dấu sự trở lại với một vai "kẻ ác", Frank Costello, một trùm băng đảng gốc Ireland tàn bạo ở Boston trong bộ phim giành nhiều giải Oscar của đạo diễn Martin Scorsese Điệp vụ Boston (The Departed).
Tháng 11 năm 2006, Nicholson bắt đầu quay bộ phim tiếp theo của ông, The Bucket List, ông đã phải cạo trọc đầu để vào vai cùng diễn viên Morgan Freeman, bộ phim sẽ được ra rạp vào cuối năm 2007.
== Cuộc sống riêng ==
Khi còn trẻ, Nicholson thậm chí đã được bầu vào danh sách "10 huyền thoại tình dục hàng đầu" (Top 10 Living Legends of Sex) của tạp chí khiêu dâm Maxim khi tuyên bố ông đã từng ngủ với 2.000 phụ nữ. Nicholson có 5 đứa con với 4 người phụ nữ khác nhau, trong khi ông chỉ mới cưới vợ một lần:
Jennifer Nicholson (sinh năm 1963), con của ông với người vợ cũ Sandra Knight (cưới năm 1962, ly dị năm 1968).
Caleb Goddard (sinh năm 1970), con của ông với with Susan Anspach
Honey Hollman (sinh năm 1981), con của ông với with người mẫu Đan Mạch Winnie Hollman
Lorraine Nicholson (sinh năm 1990) và Raymond Nicholson (sinh năm 1992), con của ông với Rebecca Broussard.
Trong vài thập kỷ, ông đã từng có quan hệ tình ái với nhiều diễn viên và người mẫu, trong đó mối quan hệ kéo dài lâu nhất là 17 năm với nữ diễn viên Anjelica Huston, con gái của đạo diễn John Huston. Tuy nhiên, mối quan hệ này cũng chấm dứt khi báo chí đưa tin Rebecca Broussard đang mang thai đứa con của Nicholson.
Jack là bạn thân của đạo diễn Roman Polanski và đã giúp đỡ đạo diễn này vượt qua rất nhiều khủng hoảng cá nhân trong đó có cái chết của vợ Polanski, Sharon Tate. Nicholson còn là hàng xóm trong vài năm với Marlon Brando ở khu Beverly Hills, sau khi Brando qua đời năm 2004, Nicholson đã mua căn nhà gỗ của ông với giá 6,1 triệu USD với mục đích thiêu hủy nó để tỏ lòng kính trọng của Jack với Brando.
Jack Nicholson nổi tiếng là người hâm mộ thể thao, ông là cổ động viên của đội bóng chày New York Yankees và bóng rổ Los Angeles Lakers. Trong suốt 25 năm, Nicholson luôn đến xem các trận đấu bóng rổ của đội Lakers ở hàng ghế đầu tiên sát với sân thi đấu. Năm 2001, Nicholson thậm chí còn phản đối trọng tài nhiều tới mức ông bị phạt lỗi kỹ thuật và đuổi khỏi sân. Cũng vì Jack không muốn bỏ lỡ những trận đấu sân nhà của Lakers mà các hãng phim phải sắp xếp kế hoạch quay phim ở gần sân đấu của đội này mỗi khi có trận đấu diễn ra.
Nicholson hâm mộ truyện tranh Người Dơi (Batman) từ năm 12 tuổi, nhân vật yêu thích của ông là nhân vật phản diện The Joker, ông đã vào vai chính nhân vật này trong bộ phim Batman năm 1989. Khi còn nhỏ, thậm chí ông còn mang tiền mua thức ăn để đi mua truyện tranh.
== Phim đã đóng ==
The Wild Ride (1960)
Back Door to Hell (1964)
The Shooting (1966)
Ride in the Whirlwind (1966)
Hells Angels on Wheels (1967)
Psych-Out (1968)
Easy Rider (1969)
Five Easy Pieces (1970)
Carnal Knowledge (1971)
The King of Marvin Gardens (1972)
The Last Detail (1973)
Chinatown (1974)
The Fortune (1975)
Bay trên tổ chim cúc cu (1975)
The Passenger (1975)
The Missouri Breaks (1975)
Tommy (1975)
The Last Tycoon (1976)
Goin' South (1978)
The Shining (1980)
The Postman Always Ring Twice (1981)
Reds (1981)
The Border (1982)
Terms of Endearment (1983)
Prizzi's Honor (1985)
Heartburn (1986)
The Witches of Eastwick (1987)
Ironweed (1987)
Batman (1989)
A Few Good Men (1992)
Hoffa (1992)
Wolf (1994)
The Crossing Guard (1995)
Blood and Wine (1996)
Mars Attacks! (1996)
As Good as it Gets (1997)
The Pledge (2001)
About Schmidt (2002)
Anger Management (2003)
Something's Gotta Give (2003)
The Departed (2006)
== Giải thưởng và đề cử ==
Tính cho đến năm 2008, Jack Nicholson đã có 12 đề cử giải Oscar, nhiều thứ hai trong lịch sử giải thưởng này chỉ sau nữ diễn viên Meryl Streep (15 đề cử) và bằng với Katharine Hepburn (12 đề cử). Nicholson cùng với Paul Newman và Michael Caine là 3 nam diễn viên được đề cử ở hạng mục diễn xuất trong 5 thập niên (với Nicholson và Caine là 1960, 1970, 1980, 1990 và 2000; với Newman là 1950, 1960, 1980, 1990 và 2000). Ông cũng là nam diễn viên giành được nhiều tượng vàng Oscar nhất (3 lần, ngang bằng với Walter Brennan) với 2 chiến thắng ở hạng mục Vai nam chính và 1 ở hạng mục Vai nam phụ. Có một sự trùng hợp là cứ mỗi phim Nicholson giành giải Oscar thì nữ diễn viên đóng vai nữ chính trong phim đó cũng giành được giải Oscar (Louise Fletcher trong Bay trên tổ chim cúc cu, Shirley MacLaine trong Terms of Endearment và Helen Hunt trong As Good as It Gets). Tính cho đến năm 2007, Jack Nicholson đã xuất hiện trong 7 bộ phim giành giải Oscar Phim hay nhất vào các năm 1972, 1977, 1978, 1990, 1993, 2006 và 2007.
== Chuyện ngoài lề ==
Khác với nhiều diễn viên từ chối vai diễn vì cho rằng bộ phim sẽ không thành công, Nicholson lại nổi tiếng với việc từ chối vai diễn khi cho rằng bộ phim đó sẽ rất thành công và ăn khách.
Jack Nicholson là người lồng tiếng trong đoạn quảng cáo "there's a thing in my pocket" cho điện thoại di động N95 của hãng Nokia.
== Tham khảo ==
{{Tham khảo
}}
== Liên kết ngoài ==
Jack Nicholson trên IMDb
Jack Nicholson trên Yahoo Movies
Jack Nicholson Online
Trang web người hâm mộ Jack Nicholson |
remix os.txt | Remix OS là một hệ điều hành máy tính cho máy tính cá nhân. Nó được dựa trên Cấu trúc ARM và được cài đặt sẵn trên một số thiết bị bên thứ nhất và bên thứ ba. Vào tháng 1 năm 2016 Jide công bố một phiên bản Beta của hệ điều hành của họ gọi là Remix OS for PC, được dựa trên Android-x86 — một phiên bản x86 của hệ điều hành Android — và có thể dược tải về miễn phí. từ website của họ. Remix OS for PC cho phép người dùng chạy các ứng dụng Android trên bất cứ PC Intel tương thích nào. Phiên bản beta của Remix OS for PC cho phép cài đặt trên ổ đĩa cứng, hỗ trợ 32-bit, hỗ trợ UEFI và cập nhật qua OTA. Ngoại trừ các bộ phận có giấy phép phần mềm tự do đều có mã nguồn được tải lên Github., không giống như Android-x86, mã nguồn của Remix OS không được công bố công khai.
Google Mobile Services (GMS) đã bị loại bỏ khỏi Remix Mini sau bản cập nhật Remix OS: 2.0.307 mà Jide cho rằng là để 'đảm bảo một trải nghiệm đồng nhất khắp tất cả các thiết bị Android.' Các bình luận sau đó cho rằng có một vấn đề tương thích với một số ứng dụng khiến Google yêu cầu không cài đặt sẵn GMS.
== Lịch sử phiên bản ==
Lịch sử các phiên bản Remix OS được chia thành 3 thể loại chính. Remix OS for PC, Remix OS for Remix Ultratablet và Remix OS for Remix Mini:
Remix OS for PC:
Remix Ultratablet:
Remix Mini:
Một thiết bị Remix OS 3.0, máy tính bảng Remix Pro 2-in-1, cũng đã được công bố. Tuy nhiên, chưa có tính năng nào mới được thể hiện.
Phiên bản cuối cùng là 3.0.207.
== Tham khảo == |
trung âu.txt | Trung Âu là khu vực nằm giữa Tây Âu, Đông Âu, Bắc Âu, Nam Âu, và Đông Nam Âu bao gồm các nước:
Áo
Cộng hòa Séc
Đức
Hungary
Liechtenstein
Ba Lan
Slovakia
Slovenia
Thụy Sĩ
Trong Chiến tranh Lạnh, cuộc chiến phân chia châu Âu thành 2 vùng chính trị khác nhau: Đông Âu và Tây Âu. Trung Âu bị chia làm hai phần.
== Tham khảo == |
nhà minh.txt | Nhà Minh (chữ Hán: 明朝, Hán Việt: Minh triều; 23 tháng 1, năm 1368 - 25 tháng 4, năm 1644 ) là triều đại cuối cùng do người Hán kiến lập trong lịch sử Trung Quốc. Năm 1368, Chu Nguyên Chương sau khi tiêu diệt các thế lực quần hùng, tại phủ Ứng Thiên đăng cơ, quốc hiệu Đại Minh, do hoàng thất họ Chu, nên còn được gọi là Chu Minh. Đầu thời kiến quốc, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương định đô tại phủ Ứng Thiên (nay là Nam Kinh), đến năm Vĩnh Lạc thứ 19 (1421), Minh Thành Tổ Chu Đệ dời đô đến phủ Thuận Thiên (nay là Bắc Kinh), kinh sư cũ đổi thành Nam Kinh.
Thời kỳ đầu triều Minh, qua chính sách nghỉ ngơi lại sức của Chu Nguyên Chương, quốc lực triều Minh khôi phục nhanh chóng, sử xưng Hồng Vũ chi trị. Đến thời kỳ Minh Thành Tổ Chu Đệ, quốc thế đạt đỉnh, những năm Vĩnh Lạc khoa trương lãnh thổ, còn phái khiển Trịnh Hòa bảy lần hạ Tây Dương, học giả hiện đại gọi là Vĩnh Lạc thịnh thế. Sau đó, thời kỳ Nhân Tông và Tuyên Tông cũng là thời hưng thịnh, sử xưng Nhân Tuyên chi trị. Tuy nhiên, thời kỳ Anh Tông và Cảnh Thái Đế, trải qua sự biến Thổ Mộc bảo, quốc lực trung suy. Sau khi Thế Tông đăng cơ, phát sinh tranh chấp Đại lễ nghị, sau khi thanh trừ thế lực hoạn quan và quyền thần hoàng đế tổng quản triều cương, thực hành Gia Tĩnh tân chính, song sau này không quan tâm triều chính. Sau khi Minh Thế Tông từ trần, trải qua Long Khánh tân chính và Vạn Lịch trung hưng, quốc lực được khôi phục. Trung kỳ thời Thần Tông, hoàng đế dần lơ đãng triều chính, sử xưng Vạn Lịch đãi chính, bắt đầu chính trị hỗn loạn thời vãn Minh. Thời Hi Tông, đám hoạn quan làm loạn triều cương, sau khi Tư Tông kế vị thì bị diệt trừ. Tuy nhiên, do Tư Tông có quyết sách sai lầm, cùng với nội ưu ngoại hoạn, triều Minh cuối cùng mất vào tay Lý Tự Thành vào năm 1644. Sau đó, chính quyền Nam Minh rồi Minh Trịnh tiếp tục tồn tại trong mấy thập niên, kết thúc khi triều Thanh chiếm lĩnh Đài Loan.
Lãnh thổ triều Minh bao quát khu vực phía nam Vạn Lý Trường Thành và tỉnh Liêu Ninh hiện nay. Trong những năm đầu, quyền tông chủ của nhà Minh mở rộng đến biển Nhật Bản, Ngoại Hưng An Lĩnh và lưu vực Hắc Long Giang, sau đó suy giảm còn khu vực Liêu Hà. Triều Minh từng đặt cơ cấu ki mi tại Đông Bắc Trung Quốc ngày nay, đông bộ Tân Cương và Tây Tạng. Tuy nhiên, tồn tại tranh nghị lớn về vấn đề triều Minh thực tế thống trị Tây Tạng. Thời kỳ Minh Thành Tổ, triều Minh từng chinh phục và thống trị An Nam (nay là miền bắc Việt Nam) trong một thời gian ngắn. Căn cứ theo "Minh thực lục", nhân khẩu triều Minh đạt đỉnh vào năm Thành Hóa thứ 15 (1479) với hơn 70 triệu người, song có nhiều học giả cho rằng đương thời tồn tại giấu giếm hộ khẩu với số lượng lớn, do đó nhận định đỉnh cao nhân khẩu thực tế là trên 100 triệu. Thời Minh, thủ công nghiệp và kinh tế thương phẩm phồn vinh, xuất hiện tập trấn thương nghiệp và manh nha tư bản chủ nghĩa, văn hóa nghệ thuật hiện ra xu thế thế tục hóa.
== Lịch sử ==
=== Kiến quốc và thống nhất ===
Cuối thời Nguyên, quan viên tham ô, quý tộc hủ hóa, triều chính hủ bại. Nhằm loại trừ thâm hụt ngân sách, triều đình tăng nặng thu thuế, đồng thời in tùy tiện lượng lớn tiền mới "Chí chính bảo sao". Kết quả gây nên lạm phát, cộng thêm các loại thiên tai diễn ra thường xuyên khiến dân chúng khó mà sinh tồn. Năm 1351, Nguyên Thuận Đế phái Giả Lỗ trị lý Hoàng Hà, trưng dụng 20 vạn người từ các địa phương. Tháng năm cùng năm, tín đồ Bạch Liên giáo là Hàn Sơn Đồng và Lưu Phúc Thông kích động dân chúng chịu nhiều tổn thất do thiên tai và bị đốc công ngược đãi tiến hành phản Nguyên khởi sự. Họ lập nên Quân Khăn Đỏ, hay Hồng Cân quân, chiếm cứ các khu vực Hà Nam và An Huy. Quân Khăn Đỏ cùng nghĩa quân các địa phương liên tiếp khởi sự, thế lực khuếch trương đến khu vực Hoa Trung, Hoa Nam. Sang năm 1352, Quách Tử Hưng thuộc Quân Khăn Đỏ tập hợp dân chúng khởi nghĩa, công chiếm Hào Châu (nay là Phượng Dương, An Huy). Không lâu sau, một người Phượng Dương xuất thân nông dân là Chu Nguyên Chương đi theo Quách Tử Hưng, nhiều lần lập chiến công, được Quách Tử Hưng trọng thị và tín nhiệm. Sau đó, Chu Nguyên Chương rời Hào Châu, phát triển thế lực riêng.
Năm 1356, Chu Nguyên Chương suất binh chiếm lĩnh Kim Lăng (nay là Nam Kinh, Giang Tô), đổi thành Ứng Thiên phủ, đồng thời chiếm cứ một số địa điểm quân sự trọng yếu nằm quanh đó. Chu Nguyên Chương chấp thuận kiến nghị "cao trúc tường, quảng tích lương, hoãn xưng vương" của mưu sĩ Lý Thiện Trường, trải qua vài năm nỗ lực, thực lực quân sự và kinh tế nhanh chóng lớn mạnh. Năm 1360, Chu Nguyên Chương và một thủ lĩnh khởi nghĩa khác là Trần Hữu Lượng tiến hành giao chiến tại Long Loan thuộc tây bắc Tập Khánh, thế lực Trần Hữu Lượng đại bại và phải đào thoát đến Giang Châu (nay thuộc Cửu Giang, Giang Tây). Năm 1363, thông qua Thủy chiến tại hồ Bà Dương, thế lực Trần Hữu Lượng về cơ bản bị tiêu diệt. Năm 1367, Chu Nguyên Chương tự xưng Ngô Vương, suất quân chiếm lĩnh Bình Giang (nay là Tô Châu, Giang Tô), diệt một thủ lĩnh khởi nghĩa lớn mạnh khác là Trương Sĩ Thành. Cùng năm, Chu Nguyên Chương tiêu diệt Phương Quốc Trân cát cứ tại duyên hải Chiết Giang.
Tháng 1 năm 1368, Chu Nguyên Chương xưng đế tại Nam Kinh, tức Minh Thái Tổ, niên hiệu Hồng Vũ, triều Minh được kiến lập. Sau đó, thừa cơ triều đình Nguyên có xung đột nội bộ, quân Minh tiến hành Bắc phạt và Tây chinh, trong cùng năm công chiếm Đại Đô (nay là Bắc Kinh) của Nguyên, triều Nguyên triệt thoát khỏi Trung Nguyên, sử xưng Bắc Nguyên. Sau đó, quân Minh tiêu diệt thế lực Minh Ngọc Trân tại Tứ Xuyên vào năm 1371, đến năm 1381 thì tiêu diệt Lương vương của Nguyên vẫn chiếm cứ Vân Nam. Cuối cùng, đến năm 1368, quân Minh xâm nhập Mạc Bắc (phía bắc sa mạc Gobi) tấn công Bắc Nguyên. Trung Quốc đến đây ổn định.
=== Hoàng quyền tập trung và Kiến Văn tước phiên ===
Sau khi bình định thiên hạ, Minh Thái Tổ đại phong công thần, song do tính cách đa nghi nên ông có nghi kị với những công thần này. Minh Thái Tổ dựa vào đại án Hồ Duy Dung và Lam Ngọc, gần như đem toàn bộ công thần diệt trừ. Thừa tướng Hồ Duy Dung rất được Chu Nguyên Chương sủng tín, song ngày càng hống hách, tấu chương đại sự trong triều trước tiên phải qua tay ông. Năm 1380, Minh Thái Tổ lấy tội danh chuyên quyền làm càn để giết Hồ Duy Dung cùng những người khác như Ngự sử đại phu Trần Ninh. Năm 1390, có người tố cáo Lý Thiện Trường và Hồ Duy Dung có quan hệ mật thiết, Lý Thiện Trường do đó bị ban chết. Tổng cộng, số người liên lụy là hơn ba vạn người, sử xưng "Hồ Duy Dung án". Sau đó, Minh Thái Tổ lấy tội danh ngông cuồng hống hách để giết Đại tướng quân Lam Ngọc, hơn một vạn năm nghìn người mất mạng trong tru di diệt tộc, sử xưng "Lam Ngọc án". Cùng với Không ấn án và Quách Hoài án, gọi chung là Minh sơ tứ đại án. Đến lúc này, ngoại trừ Thang Hòa và Cảnh Bỉnh Văn, gần như toàn bộ công thần đã bị giết. Minh Thái Tổ thông qua một loạt phương thức như đả kích công thần, cho đặc vụ đi giám thị mà tăng cường hoàng quyền, khiến trình độ chuyên chế của hoàng đế triều Minh vượt trên các triều đại trước đó tại Trung Quốc.
Đầu thời gian kiến quốc, có bộ phận địa chủ và văn nhân không muốn làm quan cống hiến cho triều đình mới, do đó chọn các cách thức như tự sát, tự hủy hoại thân thể, đi lên Mạc Bắc, ẩn cư thâm sơn, hay chém ngón tay, thề không xuất sĩ. Do đó Chu Nguyên Chương thiết lập hình phạt mới, tuyên cáo rằng các sĩ đại phu không phục vụ triều đình là phạm tội, sát hại nhiều học giả không muốn phụng sự triều Minh và đang làm quan cho tân triều, khiến cho các sĩ đại phu có tài năng còn lại rất ít. Minh Thái Tổ sau khi tức vị một mặt giảm nhẹ gánh nặng cho nông dân, khôi phục sản xuất kinh tế, cải cách lại trị từ thời Nguyên, trừng trị tham quan, kinh tế xã hội được khôi phục và phát triển, sử xưng Hồng Vũ chi trị.
Minh Thái Tổ phân phong cho các hoàng tử làm vương, để tăng cường biên phòng, che chắn cho hoàng thất. Trong đó, các phiên vương tại phương bắc có thế lực khá mạnh, lớn nhất là thế lực của Tần vương Chu Sảng, Tấn vương Chu Cương và Yên vương Chu Đệ. Nhằm đề phòng trong triều đình có gian thần làm càn, Minh Thái Tổ quy định chư vương có thể dâng thư cho trung ương tróc nã gian thần, khi cần thiết nhận được mật chiếu của hoàng đế, lĩnh binh "tĩnh nạn" (ý là "bình định quốc nạn"). Đồng thời, nhằm đề phòng chư vương quá mạnh khó chế ngự, Minh Thái Tổ cũng đồng ý hoàng đế kế vị sau này khi cần thiết có thể hạ lệnh "tước phiên".
Năm 1398, Minh Thái Tổ từ trần, do Thái tử Chu Tiêu mất sớm nên Hoàng thái tôn Chu Doãn Văn tức vị, niên hiệu Kiến Văn, tức Minh Huệ Tông. Nhằm củng cố hoàng quyền, Minh Huệ Tông cùng với các đại thần thân tín như Tề Thái, Hoàng Tử Trừng mật mưu tước phiên. Chu vương Chu Túc, Đại vương Chu Quế, Tề vương Chu Phù, hay Tương vương Chu Bách trước sau bị phế trừ làm thứ nhân, hoặc bị giết. Đồng thời, Minh Huệ Tông lấy danh nghĩa biên phòng để điều động tinh binh của Yên vương đi, chuẩn bị tước trừ Yên vương. Kết quả là Yên vương Chu Đệ theo kiến nghị của Diêu Quảng Hiếu lấy danh nghĩa "thanh quân trắc, tĩnh nội nạn" để khởi binh, cuối cùng nam hạ chiếm lĩnh kinh sư, đó là Tĩnh Nan chi biến. Chu Đệ tức vị, tức Minh Thành Tổ, niên hiệu Vĩnh Lạc. Minh Huệ Tông không rõ tung tích giữa đám cháy lớn trong cung thành.
=== Vĩnh Lạc thịnh thế và Nhân-Tuyên chi trị ===
Sau Hồng Vũ chi trị, Vĩnh Lạc thịnh thế thời Thành Tổ và Nhân-Tuyên chi trị thời Nhân Tông và Minh Tông là một ttrong các thời kỳ hưng thịnh của triều Minh. Thời kỳ Minh Thành Tổ, quân sự hưng thịnh, trước tiên tiến công An Nam, đưa An Nam vào bản đồ triều Minh, thiết lập Giao Chỉ bố chính ty. Sau đó, Minh Thành Tổ năm lần tự dẫn quân vào Mạc Bắc tiến công Thát Đát và Ngõa Lạt (hai thế lực Mông Cổ sau khi Bắc Nguyên phân liệt). Minh Thành Tổ sách phong Ngõa Lạt tam vương, khiến họ đối lập với Thát Đát, chờ đến sau khi Ngõa Lạt hưng thịnh lại trợ giúp Thát Đát thảo phạt Ngõa Lạt, không để cho bên nào chiếm ưu thế. Đồng thời, Minh Thành Tổ loại bỏ Đại Ninh đô ty, đem Ninh vương Chu Quyền nội thiên Nam Xương, trao cho ba vệ sở Ngột Lương Cáp Mông Cổ là Đóa Nhan, Thái Ninh và Phúc Dư quyền tự trị, song không chấp thuận cho người tam vệ Mông Cổ này dời về phía nam đến khu vực Đại Ninh chăn thả. Minh Thành Tổ tiến hành trấn áp Ngột Lương Cáp Mông Cổ vào năm 1406 và 1422, nhằm duy trì ổn định trong khu vực. Nhằm an phủ các bộ lạc Nữ Chân ở phía đông bắc, Minh Thành Tổ đặt vệ sở tại Hải Tây Nữ Chân (thượng du sông Tùng Hoa) và Kiến Châu Nữ Chân (giữa sông Tùng Hoa, sông Mẫu Đơn) đã quy phụ, đồng thời phái Diệc Thất Cáp an phủ Dã Nhân Nữ Chân tại hạ du Hắc Long Giang. Năm 1407, Diệc Thất Cáp tại khu vực Nô Nhi Can bờ đông hạ du Hắc Long Giang đặt Nô Nhi Can đô ty, khuếch trương cương vực phía đông Đại Minh. Năm 1413, Diệc Thất Cáp thị sát đảo Khố Hiệt (Sakhalin), tuyên bố quyền tông chủ của triều Minh với khu vực này. Minh Thành Tổ thay đổi sách lược ngoại giao bế quan tự thủ của Minh Thái Tổ, từ năm 1405 bắt đầu phái hoạn quan Trịnh Hòa hạ Tây Dương, giao thiệp với các quốc gia, tuyên thị uy đức và kiến lập thể chế triều cống, cũng có thuyết cho là nhằm bao vây ngăn chặn Đế quốc Timur tại Tây Á. Trịnh Hòa hạ Tây Dương tổng cộng bảy lần, sáu lần trước trong những năm Vĩnh Lạc và do Minh Thành Tổ phái khiển, thuyền đội Trịnh Hòa ghi dấu trên khắp khu vực Đông Nam Á và Nam Á, còn lập căn cứ tại Malacca. Quy mô của thuyền đội là chưa từng có trước đó, đi xa nhất đến khu vực Somali tại Đông Phi, khuếch đại sức ảnh hưởng của triều Minh đối với các quốc gia Đông Nam Á và ven Ấn Độ Dương..
Trên phương diện văn trị, Minh Thành Tổ cho biên soạn "Vĩnh Lạc đại điển" có quy mô lớn, công trình này có 22.877 quyển, số chữ ước tính có hơn 370 triệu. Căn cứ theo ghi chép, thời Minh chỉ có Hiếu Tông và Thế Tông duyệt đại điển. Ngoài ra, Minh Thành Tổ cũng không cho sao chép khắc in "Vĩnh Lạc đại điển", quyết định chỉ chế tác một phần bản sao, đến năm 1409 thì hoàn thành. Năm 1405, Minh Thành Tổ đổi Bắc Bình thành Bắc Kinh, gọi là 'hành tại', đồng thời thiết lập các nha môn như Bắc Bình quốc tử giám. Năm 1409, Minh Thành Tổ tuần thị Bắc Kinh, tại Bắc Kinh thiết lập lục bộ và đô sát viện, đồng thời thiết lập lăng tẩm cho Từ hoàng hậu tại Bắc Kinh, hiển thị dấu hiệu thiên đô. Trải qua mười mấy năm quy hoạch, Bắc Kinh sơ bộ đạt được phồn vinh. Năm 1416, Minh Thành Tổ công bố ý kiến thiên đô, nhận được tán đồng, năm sau bắt đầu kiến thiết Bắc Kinh trên quy mô lớn. Năm 1420, tuyên cáo hoàn thành công trình, năm sau thiên đô. Vì trong những năm Vĩnh Lạc thiên hạ đại trị, đồng thời lại tận lực khai thác giao lưu hải ngoại, do vậy có học giả gọi giai đoạn này là Vĩnh Lạc thịnh thế. Tuy nhiên, Minh Thành Tổ cho giết nhiều người bất đồng quan điểm, như các cựu thần Hoàng Tử Trừng, Tề Thái đều bị giết.
Sau khi Minh Thành Tổ từ trần, trưởng tử là Chu Cao Sí tức vị, tức Minh Nhân Tông, niên hiệu Hồng Hi. Minh Nhân Tông tuổi đã cao, trị vì được gần một năm thì từ trần. Ông thống trị theo thiên hướng bảo thủ, ủy nhiệm các hiền thần như "Tam Dương" (Dương Sĩ Kỳ, Dương Vinh, Dương Phổ) phụ tá triều chính, đình chỉ Trịnh Hòa hạ Tây Dương và chiến tranh đối ngoại để tích lũy dân lực, khích lệ sản xuất, độ lượng trong xét xử, nỗ lực thi hành tiết kiệm. Sau khi Minh Nhân Tông từ trần, trưởng tử là Chu Chiêm Cơ tức vị, là Minh Tuyên Tông, niên hiệu Tuyên Đức. Nhân Tông về cơ bản kế thừa phương châm của phụ thân, thực thi đức chính trị quốc, đồng thời cho tiến hành hạ Tây Dương lần cuối. Minh Tuyên Tông cực kỳ yêu thích mĩ thuật, có tác phẩm truyền thế. Tuy nhiên, trong thời gian ông chấp chính cũng có những điều tệ hại. Do Minh Tuyên Tông thích nuôi dế mèn (tên Hán cổ là "xúc chức"), nhiều quan lại do vậy tranh nhau nịnh hót, nên ông bị gọi là "Xúc Chức thiên tử". Đồng thời, Minh Tuyên Tông đả phá quy củ hoạn quan không được can chính do Thái Tổ truyền lại, một số thái giám như Vương Chấn bắt đầu can chính, là mầm họa của thái giám chuyên quyền thời Minh Anh Tông. Năm 1435, Minh Tuyên Tông từ trần, con là Chu Kỳ Trấn kế vị khi mới chín tuổi, tức Minh Anh Tông, niên hiệu Chính Thống.
=== Thổ Mộc chi biến và Hoằng Trị trung hưng ===
Minh Anh Tông từ nhỏ đã sủng tín hoạn quan Vương Chấn, khởi đầu hành vi hoạn quan chuyên quyền nghiêm trọng của triều Minh. Năm 1442, người hạn chế quyền thế của Vương Chấn là Trương thái hoàng thái hậu từ trần, đương thời Minh Anh Tông gần 15 tuổi, Vương Chấn càng thêm chuyên quyền. Sau khi nguyên lão trọng thần "Tam Dương" từ trần, Vương Chấn chuyên quyền hống hách, triệt hạ biển sắt ghi sắc mệnh cấm chỉ hoạn quan can chính do Thái Tổ lưu lại, Minh Anh Tông đối với nhân vật này càng tín nhiệm hơn.
Năm 1435, bộ lạc Ngõa Lạt của tộc Mông Cổ dần lớn mạnh, thường sinh sự tại khu vực biên cảnh của triều Minh. Năm 1449, thủ lĩnh Ngõa Lạt là Dã Tiên suất quân nam hạ phạt Minh. Vương Chấn khuyến khích khiến Minh Anh Tông lĩnh 50 vạn binh sĩ ngự giá thân chinh. Sau khi đại quân rời khỏi kinh thành, binh sĩ thiếu lương kiệt sức. Đầu tháng tám, đại quân mới đến Đại Đồng. Vương Chấn được báo các lộ quân tiền tuyến đều chiến bại, sợ không dám giao chiến, bèn ra lệnh triệt thoái toàn bộ binh lực. Quân Minh kéo về đến Thổ Mộc bảo (nay thuộc huyện Hoài Lai, Hà Bắc) thì bị quân Ngõa Lạt đuổi kịp, binh sĩ tử thương quá nửa, đại thần tùy tòng cũng có hơn 50 người trận vong. Minh Anh Tông đột vây bất thành và bị bắt, Tướng quân Phàn Trung tức giận giết Vương Chấn, sử xưng Thổ Mộc bảo chi biến, là một bước ngoặt chuyển từ thịnh sang suy của triều Minh.
Sau khi tin tức từ Thổ Mộc bảo truyền đến Bắc Kinh, triều đình hỗn loạn. Một số đại thần yêu cầu thiên đô đến Nam Kinh Ứng Thiên phủ song bị Binh bộ thị lang Vu Khiêm bác bỏ. Cùng năm, đại thần tôn em của Anh Tông là Chu Kỳ Ngọc tức vị, tức Minh Cảnh Đế (hay Minh Đại Tông), niên hiệu Cảnh Thái. Vu Khiêm được thăng làm Binh bộ thương thư, chỉnh đốn biên phòng tích cực chuẩn bị chiến tranh, đồng thời quyết định kiên quyết bảo vệ Bắc Kinh, các lộ quân cần vương từ các địa phương liên tiếp tiến đến. Tháng mười cùng năm, quân Ngõa Lạt đến sát bên thành Bắc Kinh. Vu Khiêm lãnh đạo các lộ quân Minh kháng cự, Dã Tiên suất quân triệt thoái. Triều Minh giành thắng lợi trong trận bảo vệ Bắc Kinh, Vu Khiêm phản bác các ý kiến khác, tăng cường củng cố quốc phòng, cự tuyệt cầu hòa, đến năm sau liên tiếp đánh lui quân Ngõa Lạt nhiều lần xâm phạm.
Dã Tiên nhận thấy giữ Minh Anh Tông đã thành vô nghĩa, vào năm 1450 cho phóng thích ông. Tuy nhiên, do vấn đề hoàng quyền nên Minh Đại Tông không muốn tiếp nhận Minh Anh Tông, ban đầu không muốn khiển sứ nghênh giá, rồi giam lỏng Minh Anh Tông trong Nam cung, đồng thời phế hoàng thái tử Chu Kiến Thâm (con của Minh Anh Tông), lập con mình là Chu Kiến Tế làm thái tử. Không lâu sau, Kiến Tế bệnh mất, Đại Tông không còn con trai song do dự không muốn tái lập Chu Kiến Thâm làm thái tử; huynh đệ Anh Tông và Đại Tông do đó đối lập nghiêm trọng.
Năm 1457, đám Thạch Hanh, Từ Hữu Trinh liên minh nhằm phục vị cho Minh Anh Tông, họ thừa cơ Minh Đại Tông mắc trọng bệnh mà phát động binh biến. Từ Hữu Trinh suất quân công nhập Tử Cấm Thành, đám Thạch Hanh chiếm lĩnh Đông Hoa Môn, lập Minh Anh Tông tại Phụng Thiên điện, cải nguyên Thiên Thuận. Họ giam giữ Minh Đại Tông, bắt giết Vu Khiêm và Đại học sĩ Vương Văn, sử xưng Đoạt Môn chi biến. Do hai lần tức vị, Minh Anh Tông trở thành hoàng đế duy nhất trong số các hoàng đế Minh-Thanh cai trị Trung Nguyên sử dụng hai niên hiệu. Sau khi phục vị, Minh Anh Tông thi hành tân chính, phế trừ chế độ tuẫn tàng từ thời Minh Thái Tổ. Sau đó, Minh Anh Tông cho lưu đày Từ Hữu Trinh do chính biến nội bộ, nhân biến Tào Thạch mà giết đám Thạch Hanh, Tào Cát Tường; đồng thời cho đám hiền thần Lý Hiền nắm quyền. Năm 1464, sau khi Minh Anh Tông từ trần, con ông là Chu Kiến Thâm tức vị, tức Minh Hiến Tông, niên hiệu Thành Hóa.
Để rửa oan cho Vu Khiêm, Minh Hiến Tông khôi phục đế hiệu cho Minh Đại Tông, xét lại án oan Đoạt Môn, khiến nhiều người hài lòng. Tuy nhiên, Minh Hiến Tông nói lắp, do vậy rất ít khi tiếp đại thần, suốt ngày say đắm với Vạn quý phi, sủng tín đám hoạn quan Uông Trực, Lương Phương, những năm cuối còn yêu thích thuật thần tiên. Đến đây đám gian nịnh nắm quyền, Tây xưởng hoành hành, triều cương hủ bại, dân chúng khổ sở. Hoạn quan Uông Trực nhận được sủng tín của Minh Hiến Tông, ngông cuồng hống hách, thông qua Tây xưởng giết oan bừa bãi phổ thông dân chúng và quan viên. Không lâu sau, do dân chúng phẫn uất khởi nghĩa khắp nơi, Tây xưởng bị bãi, song Uông Trực vẫn nắm giữ đại quyền, đến năm 1482 mới bị giáng chức. Thời Thành Hóa có nhiều nhóm quyền lực: nữ sủng, ngoại thích, nịnh hạnh, gian hoạn, tăng đạo, kết thành bè đảng làm loạn triều chính. Năm 1487, Minh Hiến Tông từ trần, con là Chu Hữu Đường kế vị, tức Minh Hiếu Tông, niên hiệu Hoằng Trị.
Minh Hiếu Tông từ nhỏ xuất thân bần hàn, còn từng gặp nguy hiểm bị Vạn quý phi hại. Trong thời gian tại vị, ông tiến hành canh tân triều chính, khiến thói xấu từ thời Minh Anh Tông trở đi được loại trừ, được tán tụng là "Trung hưng chi lệnh chủ". Minh Hiếu Tông trước tiên đem toàn bộ đám quan lại gian nịnh và dư thừa từ thời Hiến Tông để lại loại bỏ hoặc bắt giữ trị tội. Đồng thời, Hiếu Tông tuyển chọn sử dụng người hiền tài, ủy nhiệm việc quan trọng cho người có tài. Minh Hiếu Tông chăm lo chính sự, mỗi ngày hai lần thị triều. Minh Hiếu Tông kiểm soát nghiêm ngặt hoạn quan, Cẩm y vệ và Đông xưởng cũng cẩn thận hành sự, dùng hình nhẹ bớt. Minh Hiếu Tông dốc sức thi hành tiết kiệm, không xây dựng công trình lớn, giảm miễn thuế phú. Bản thân Minh Hiếu Tông thi hành chế độ một vợ một chồng, ngoài Trương hoàng hậu thì không có phi tần nào. Thời kỳ Hoằng Trị là thời kỳ tốt đẹp nhất từ trung kỳ triều Minh trở đi, Minh sử viết Minh Hiếu Tông "cung kiêm hữu chế, cần chính ái dân", được gọi là Hoằng Trị trung hưng. Tuy nhiên, vào trung hậu kỳ Minh Hiếu Tông không còn nghiêm túc lắng nghe can gián, đồng thời bắt đầu phung phí vô độ, khiến quốc gia bước vào tình cảnh khủng hoảng ngân khố, tệ chính vốn bị loại trừ vào sơ kỳ Hoằng Trị không những khôi phục toàn bộ mà còn trầm trọng hơn. Năm 1505, Minh Hiếu Tông từ trần, con là Chu Hậu Chiếu tức vị, đó là Minh Vũ Tông, niên hiệu Chính Đức.
=== Nội loạn và Bắc Lỗ Nam Oa ===
Đến thời Minh Vũ Tông, thế lực hoạn quan lại trỗi dậy, được quy là do Vũ Tông ham chơi mà lười chính sự. Tuy nhiên, bản thân họa này chưa uy hiếp đến hoàng quyền, tuy có Bát hổ như Lưu Cẩn làm càn, song cuối cùng không như tình hình hoạn quan chuyên quyền cuối thời Đường, đám Lưu Cẩn cuối cùng vẫn bị Vũ Tông xử cực hình. Vũ Tông ham chơi, cuối cùng khiến dòng Hiếu Tông tuyệt tự, khiến thống hệ Đại Minh lần thứ hai có việc dòng thứ nhập thành dòng chính. Minh Vũ Tông đắm chìm trong vui thú khiến cho trong thời Chính Đức nhiều lần phát sinh chiến sự, các sự kiện trọng đại như Đại Diên Hãn của Thát Đát đem quân xâm phạm, An Hóa vương Chu Trí Phiên tại Ninh Hạ mưu phản, khởi nghĩa Lưu Lục-Lưu Thất tại Sơn Đông, Ninh vương Chu Thần Hào tại Giang Tây mưu phản. Năm 1520, Minh Vũ Tông lấy cớ xuất chinh Giang Tây để xuống phương nam du ngoạn, trên đường về kinh thì bị rơi xuống nước khi đang đi thuyền nên nhiễm bệnh, sang năm 1521 thì từ trần.
Sau khi Minh Vũ Tông từ trần, cháu họ của Minh Hiếu Tông là Chu Hậu Thông kế thừa đại thống, đó là Minh Thế Tông, niên hiệu Gia Tĩnh. Trong khoảng thời điểm đăng cơ, nhiều quyền thần như Dương Đình Hòa, Mao Trừng buộc Minh Thế Tông tôn thân sinh phụ mẫu làm hoàng thúc phụ mẫu, khiến Minh Thế Tông phản cảm, đó là tranh chấp Đại lễ nghị. Cuối cùng, Minh Thế Tông tôn phụ mẫu làm hoàng đế và hoàng hậu, lập bài vị trong Thái Miếu trên Vũ Tông, ghi vào hoàng đế thực lục.
Sau năm 1534, Minh Thế Tông dù không thị triều song vẫn tường tận quốc sự, mọi sự lớn nhỏ vẫn do Minh Thế Tông quyết đoán. Minh Thế Tông sùng tín Đạo giáo, tin dùng phương sĩ, trong cung ngày đêm cầu cúng. Ban đầu, ông đưa Đạo sĩ Thiệu Nguyên Tiết nhập kinh, phong làm chân nhân và lễ bộ thượng thư. Sau khi Thiệu Nguyên Tiết từ trần, ông rất sủng Phương sĩ Đào Trọng Văn. Tháng mười năm 1542, Càn Thanh cung phát sinh sự kiện hơn mười cung nữ như Dương Kim Anh, và Ninh tần Vương thị thừa cơ Minh Thế Tông đang ngủ say mà mưu đồ bóp chết ông, song không thành công, tức Nhâm Dần cung biến. Sau sự kiện này, cho đến trước khi từ trần, Minh Thế Tông dời Đại Nội đến sống tại Tây Nội. Minh Thế Tông sủng tín quyền thần Nghiêm Tung, nhân vật này do đó bài xích người bất đồng quan điểm, kết đảng nhằm mưu cầu tư lợi. Con của Nghiêm Tung là Nghiêm Thế Phiền hiệp trợ phụ thân. Triều thần mặc dù không ngừng có người hạch hỏi Nghiêm Tung kết đảng mưu cầu tư lợi, song đều thất bại. Cuối thời Thế Tông, Nghiêm Tung do tuổi đã cao nên Từ Giai bắt đầu thay thế vị trí của Nghiêm Tung. Năm 1562, Từ Giai kích động ngôn quan luận tội Nghiêm Tung, Nghiêm Tung từ quan hồi hương. Năm 1565, Nghiêm Thế Phiền bị xử trảm vì tội thông Oa, Nghiêm Tung bị giáng làm thứ dân, hai năm sau bệnh mất.
Thời Gia Tĩnh, Đại Minh liên tiếp có ngoại hoạn. Tại phương bắc, Thát Đát thừa cơ triều Minh suy nhược mà chiếm cứ Hà Sáo. Năm 1550, thủ lĩnh Thát Đát là Yêm Đáp xâm phạm Đại Đồng, Tổng binh Cừu Loan đem lượng lớn kim tiền mua chuộc Yêm Đáp để chuyển sang mục tiêu khác. Kết quả, Yêm Đáp chuyển sang đánh thẳng Bắc Kinh, sau khi cướp bóc quanh thành thì dời về phía tây, quân Minh chiến bại trong quá trình truy kích, đó là Canh Tuất chi biến. Do trong thời kỳ Minh Thế Tông, triều đình tuyên bố hải cấm, Oa khấu có thành phần là lãng nhân Nhật Bản và hải tặc Trung Quốc hợp tác với cư dân duyên hải buôn lậu, trước sau tập kích quấy nhiễu Sơn Đông, Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông. Các tướng lĩnh như Chu Hoàn, Trương Kinh nhận lệnh của triều đình song không thể bình định Oa khấu. Sau đó, Binh bộ thượng thư Hồ Tông Hiến tạm thời giữ chức Chiết Giang tuần phủ kiêm Chiết Trực tổng đốc toàn lực tiêu diệt Oa khấu, chiêu phủ thế lực mạnh nhất tại Chiết Giang là Uông Trực. Thích Kế Quang và Du Đại Du bình định Oa khấu tại các địa phương Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, tạo bối cảnh tốt cho Long Khánh khai quan về sau. Ngoài ra, người Bồ Đào Nha vào năm 1557 bắt đầu di dân đến Áo Môn, song đến khi triều Minh mất người Bồ Đào Nha và Áo Môn vẫn thuộc quyền quản trị của huyện Hương Sơn thuộc Quảng Đông. Năm 1566, Minh Thế Tông từ trần, Hoàng thái tử Chu Tái Hậu tức vị, tức Minh Mục Tông, niên hiệu Long Khánh.
=== Cải cách trung hưng ===
Sau khi tức vị, Minh Mục Tông trước sau tín nhiệm trọng dụng các danh thần như Từ Giai, Cao Củng và Trương Cư Chính. Năm 1567, cựu thần từ thời Minh Thế Tông là Từ Giai khích động triều quan buộc tội Cao Củng, buộc Cao Củng từ quan hồi hương. Cao Củng không cam tâm, năm sau khích động triều quan buộc tội Từ Giai, Từ Giai bị buộc chính thức thoái hưu. Chính vụ thực tế trong triều dần rơi vào tay Trương Cư Chính. Những năm cuối Long Khánh, Cao Củng hồi triều, nhậm chức đại học sĩ đứng đầu nội các. Tướng lĩnh triều Minh và thủ lĩnh Thát Đát là Yêm Đáp Hãn đạt thành hòa nghị, sử xưng Yêm Đáp phong cống. Về hàng hải, triều đình mở cửa mậu dịch dân gian, sử xưng Long Khánh khai quan. Do thi hành hai điều này cùng các cải cách khác, triều Minh bắt đầu tiến vào thời kỳ Trung hưng, sử xưng Long Khánh tân chính. Năm 1572, Minh Mục Tông đột nhiên từ trần, Hoàng thái tử Chu Dực Quân kế vị khi mới gần 9 tuổi, tức Minh Thần Tông, niên hiệu Vạn Lịch..
Do Minh Thần Tông còn nhỏ tuổi, Lý thái hậu nhiếp chính. Cao Củng do đối kháng với hoạn quan Phùng Bảo vốn được Thái hậu tín nhiệm nên bị bãi quan, còn Trương Cư Chính được Phùng Bảo hết sức ủng hộ. Trương Cư Chính phụ chính mười năm, thi hành cải cách, trên phương diện nội chính đề xuất "tôn chủ quyền, khóa lại chức, hành thưởng phạt, nhất hiệu lệnh", thi hành "khảo thành pháp", cắt giảm triệt tiêu quan viên dư thừa trong cơ cấu chính phủ, chỉnh đốn việc truyền tin và tuyển chọn quan lại. Trên phương diện kinh tế, tiến hành đo đạc cụ thể ruộng đất toàn quốc, ức chế hào cường địa chủ, cải cách chế độ phú dịch, thi hành "nhất điều tiên pháp", giảm nhẹ gánh nặng của nông dân. Năm 1393, vào thời kỳ Minh Thái Tổ, đất ruộng canh tác trên toàn quốc có 3.660.007 khoảnh, đến năm 1502 thời kỳ Minh Hiếu Tông chỉ tăng lên 4.228.058 khoảnh. Trải qua Trương Cư Chính trị lý, đến năm 1581 đạt đến 7.003.976 khoảnh. Trên phương diện quân sự, tăng cường chỉnh đốn vũ bị, bình định rối loạn tại tây nam, cho danh tướng Thích Kế Quang bảo vệ Kế Châu- trọng trấn cho Bắc Kinh, cho Lý Thành Lương an phủ các bộ lạc Nữ Chân, cho Vương Sùng Cổ, Phương Phùng Thì an phủ Thát Đát, các trọng thần khác như Lưu Hiển tại Tứ Xuyên, Ân Chính Mậu và Lang Vân Dực tại Lưỡng Quảng, Trương Giai Dận tại Chiết Giang, Trương Cư Chính rất tín nhiệm bọn họ. Trương Cư Chính còn cho Phan Quý Tuần trị lý Hoàng Hà, biến thủy hoạn thành thủy lợi. Đồng thời, Trương Cư Chính trừng trị nghiêm khắc tham quan ô lại, cắt bỏ người vô dụng. Trương Cư Chính chỉnh đốn triều chính, cải cách thể chế, sử xưng Vạn Lịch trung hưng.
Năm 1577, cha của Trương Cư Chính từ trần, theo lệ thường ông phải giải chức hồi hương chịu tang trong ba năm, tức 'đinh ưu', song vì sự nghiệp cải cách chưa thành nên không muốn thực hiện. Địch thủ chính trị của ông nhân đó mà làm lớn chuyện, đó là "Đoạt Tình chi tranh". Cuối cùng, được Minh Thần Tông và hai vị thái hậu ủng hộ, Trương Cư Chính được miễn chịu tang tại gia, tức Đoạt tình khởi phục, do đó cải cách của ông không bị gián đoạn. Tuy nhiên, điều này trở thành một cớ để địch thủ chính trị của ông lợi dụng. Đồng thời, Trương Cư Chính lợi dụng chức quyền của bản thân để tạo thuận lợi cho con mình vượt qua khoa cử tiến vào Hàn lâm viện. Sau khi Trương Cư Chính từ trần, các địch thủ chính trị phản đối cải cách lập tức thanh toán. Một số người trong Trương phủ không kịp trốn bị giam bên trong, hơn chục người chết đói. Quan tước của Trương Cư Chính khi còn sống cũng bị tước.
=== Vạn Lịch đãi chính và đảng tranh ===
Thời gian đầu sau khi Trương Cư Chính từ trần, Minh Thần Tông vẫn có thể duy trì hứng thú với triều chính, song cùng với việc triều dã thanh toán thế lực của Trương Cư Chính, Minh Thần Tông bắt đầu ít thượng triều. Sau Quốc bản chi tranh, ông thậm chí còn có thái độ đãi chính tiêu cực. Trong thời gian Minh Thần Tông tại vị, về đối nội có các sự kiện nghiêm trọng như Đông Lâm đảng tranh, Quốc bản chi tranh và Vạn Lịch đãi chính; đối ngoại có các chiến dịch lớn như Vạn Lịch tam đại chinh và Hậu Kim quật khởi. Triều đại Vạn Lịch là thời kỳ chuyển đổi từ thịnh sang suy của triều Minh. Quốc bản chi tranh là một sự kiện chính trị trọng đại kéo dài suốt từ trung kỳ đến vãn kỳ thời gian Minh Thần Tông trị vì, chủ yếu là xung quanh tranh chấp kế thừa hoàng vị giữa Hoàng trưởng tử Chu Thường Lạc và Phúc vương Chu Thường Tuân (con của Trịnh quý phi). Do Vương hoàng hậu không có con trai, Minh Thần Tông đặc biệt yêu mến hoàng tử thứ ba là Chu Thường Tuân, không muốn lập hoàng tử thứ nhất là Chu Thường Lạc làm thái tử, quan viên trong triều do đó phân thành hai phái khác biệt. Đến năm 1601, dưới áp lực của Hoàng thái hậu, Chu Thường Lạc mới được phong làm thái tử, còn Chu Thường Tuân được phong làm Phúc vương. Tuy nhiên, Phúc vương chậm rời kinh thành đi nhậm chức vị phiên vương. Đến khi phát sinh "Đĩnh kích án", dư luận bất lợi với Trịnh quý phi, Phúc vương mới rời kinh tới phiên, địa vị thái tử của Chu Thường Lạc nhờ vậy mà được vững chắc.
Do tranh chấp lập thái tử, Minh Thần Tông bất mãn cực độ đối với đại thần, năm 1587 bắt đầu lấy việc không thượng triều để trả đũa, chỉ xử lý một số sự kiện trọng yếu. Minh Thần Tông không thị triều vào ngày đầu năm, sáng sớm không thị triều, cả ngày đắm chìm trong tửu sắc, mỗi năm lại tiến hành tuyển mỹ nữ, thường thích xây cất, hay cho xây công trình quy mô lớn. Đại lý tự tả bình sự dâng sớ, nói Minh Thần Tông đắm chìm trong tửu, sắc, tài, khí, kết quả bị giáng làm dân. Trung hậu kỳ thời Minh Thần Tông, tình hình tài chính nguy nan, do đó Minh Thần Tông phái thái giám làm khoáng giám và thuế giám trên toàn quốc để tăng thêm ngân khố. Tuy nhiên, khoáng giám và thuế giám đại đa số lấy danh nghĩa để vơ vét tài sản dân gian, nhiễu loạn quốc gia. Do Minh Thần Tông không quản lý triều chính, hiện tượng khuyết quan viên rất nghiêm trọng. Năm 1602, Nam-Bắc lưỡng kinh tổng cộng khuyết ba thượng thư, mười thị lang, các địa phương khuyết ba tuần phủ, 66 bố chính sứ hay án sát sứ, 25 tri phủ. Bên trên Minh Thần Tông chán trường, bên dưới triều thần tranh chấp, triều đình Minh hoàn toàn bước vào trong tình trạng không hoạt động. Do vậy, Minh sử viết rằng có nhà bình luận nói triều Minh thực tế mất từ thời Thần Tông, bộ phận sử gia nhận định triều Minh từ đây bắt đầu hướng đến diệt vong.
Do triều chính hỗn loạn, một bộ phận quan lại cấp trung và thấp chịu bài xích về chính trị, liên tiếp yêu cầu cải cách chính trị, đồng thời nhấn mạnh tiêu chuẩn đạo đức. Năm 1593, Đông Lâm đảng hình thành, danh xưng bắt nguồn từ Đông Lâm thư viện do Cố Hiến Thành sáng lập. Chủ trì kinh sát là Tôn Lung, Lý Thế Đạt và Triệu Nam Tinh, lợi dụng kinh sát để giáng chức bãi quan các quan lại không hợp với tiêu chuẩn của họ và không thuộc Đông Lâm đảng. Trải qua nhiều lần kinh sát, nhiều đảng phản đối như Tuyên đảng, Côn đảng, Tề đảng, Chiết đảng đứng lên và xung đột với Đông Lâm đảng. Từ đó, họa bè phái không dẹp nổi, triều chính đình đốn nội loạn. Sang thời Minh Hy Tông, phái hoạn quan chuyên quyền, Đông Lâm đảng chịu đả kích nghiêm trọng, đến đầu thời Minh Tư Tông mới lại được sử dụng.
Trên phương diện quân sự đối ngoại, Vạn Lịch tam đại chinh là nổi danh nhất, đó là Ninh Hạ chi dịch nhằm bình định Bột Bái người Mông Cổ làm phản, Triều Tiên chi dịch nhằm kháng kích chính quyền Toyotomi Nhật Bản xâm nhập vương triều Triều Tiên, Bá Châu chi dịch nhằm binh định Thổ ty Dương Ứng Long làm phản, ba cuộc chiến trường kỳ này gần như đồng thời phát sinh, song tính chất không tương đồng. Triều Minh giành thắng lợi trong ba đại chiến này giúp củng cố biên cương, bảo hộ vương triều Triều Tiên, song làm tiêu hao lượng lớn nhân lực vật lực, là một trong các nguyên nhân trọng yếu khiến quốc khố trống rỗng, tài chính nguy khốn. Năm 1617, thủ lĩnh Hậu Kim là Nỗ Nhĩ Cáp Xích lấy thất đại hận làm cớ tiến hành phản Minh, hai năm sau đại thắng quân Minh trong trận Tát Nhĩ Hử, triều Minh đến lúc này chọn sách lược phòng ngự làm chủ yếu để ứng phó với Hậu Kim.
Năm 1620, Minh Thần Tông từ trần. Thái tử Chu Thường Lạc đăng cơ, tức Minh Quang Tông, niên hiệu Thái Xương, tại vị chỉ được một tháng. Ông ban thưởng cho quân Minh tại tiền tuyến Liêu Đông, trọng dụng người thuộc Đông Lâm đảng khiến triều chính chuyển nguy thành an, đồng thời ông bãi trừ khoáng giám thuế sứ. Sinh mẫu của Phúc vương là Trịnh quý phi nhằm lung lạc Minh Quang Tông nên tiến hiến tám vị mỹ nữ. Minh Quang Tông ham mê quá độ nên không lâu thì đổ bệnh, Thái giám Thôi Văn Thăng dâng thuốc xổ khiến ông đi ngoài quá độ, lại do sử dụng 'hồng hoàn' của Lý Khả Chước mà đột tử, sử xưng "Hồng hoàn án". Sau khi Minh Quang Tông từ trần, sủng phi của ông là Lý Tuyền Thị muốn ở lại Càn Thanh cung, nhằm đề phòng bà can dự triều chính nên triều thần buộc bà đến Uyết Loan cung thuộc Nhân Thọ điện, tức Di cung án. Hoàng trưởng tử Chu Do Hiệu cuối cùng kế vị, tức Minh Hi Tông, niên hiệu Thiên Khải. "Đĩnh kích án", "Hồng hoàn án" và "Di cung án" gọi chung là "Minh mạt tam đại án", là kế tục của Quốc bản chi tranh, khiến đấu tranh chính trị trong triều đình Minh càng thêm kịch liệt, cũng đánh dấu bắt đầu thời kỳ Minh mạt suy vong.
=== Nguy cơ kinh tế và Nội ưu ngoại hoạn ===
Trong thời gian Minh Hi Tông tại vị, chính trị càng hủ bại đen tối. Minh Hi Tông do mất mẹ từ nhỏ nên có cảm tình đặc biệt với nhũ mẫu Khách thị. Khách thị và hoạn quan Ngụy Trung Hiền hợp tác với nhau làm càn. Thời kỳ ban đầu, Minh Hi Tông sử dụng lượng lớn người của Đông Lâm đảng, kết quả khiến Đông Lâm đảng và các đảng khác đấu tranh không ngừng, Minh Hi Tông do đó mất kiên nhẫn với triều chính, Ngụy Trung Hiền nhờ cơ hội này mà can dự chính trị, tập kết thế lực các đảng Tề-Sở-Chiết, hiệu là Yêm đảng. Năm 1624, Yêm đảng khống chế nội các, Ngụy Trung Hiền càng thêm ngông cuồng, móng vuốt của ông ta trải khắp trung ương và địa phương. Khi quyền thế tối thịnh, dưỡng tử của Ngụy Trung Hiền có thể thay thế hoàng đế tế Thái Miếu. Toàn quốc đều có miếu thờ sống Ngụy Trung Hiền, còn có học giả Quốc tử giám thuộc Yêm đảng đề xuất Ngụy Trung Hiền sánh ngang Khổng Tử, cha của Ngụy Trung Hiền sánh ngang Khải Thánh công. Ngụy Trung Hiền ra sức đả kích Đông Lâm đảng, mượn tam án "Đĩnh kích, Hồng hoàn, Di cung" làm cớ, sai đồng đảng ngụy tạo "Đông Lâm đảng điểm tướng lục" thượng báo triều đình. Năm 1625, Minh Hi Tông hạ chiếu thiêu hủy thư viện toàn quốc, lượng lớn người thuộc Đông Lâm đảng bị vào tù, thậm chí bị xử tử. Do yêm đảng có trình độ thấp kém, chính trị không được chỉnh trị, trong nước thường xuyên xảy ra mất mùa đói kém, dân biến không ngừng, ngoại hoạn vẫn tiếp tục, triều Minh bước vào tình cảnh hiểm nghèo. Năm 1626, kho thuốc nổ của vương cung xưởng thuộc Công bộ tại góc tây nam Bắc Kinh phát nổ, tức Vương cung xưởng đại bạo tạc, khiến cho hơn hai vạn người tử thương. Năm 1627, Minh Hi Tông không cẩn thận rơi xuống nước mà mắc bệnh trọng, không lâu sau vì thuốc của Hoắc Duy Hoa mà từ trần, em là Tín vương Chu Do Kiểm kế vị, tức Minh Tư Tông, niên hiệu Sùng Trinh.
Sau khi tức vị, Minh Tư Tông kiên quyết loại trừ thế lực của Ngụy Trung Hiền để cải cách triều chính. Ông hạ lệnh đình chỉ xây dựng miếu thờ sống, bức Phụng Thánh phu nhân Khách thị ra ở ngoài cung, cuối cùng xử tử. Ông hạ lệnh Ngụy Trung Hiến đến Phụng Dương trông lăng mộ, Ngụy Trung Hiền trên đường đi cùng đồng đảng là Lý Triều Khâm tự tử, các phần tử khác trong Yêm đảng cũng bị biếm truất hoặc xử tử. Tuy nhiên, đảng tranh nội đấu kịch liệt, Minh Tư Tông không tín nhiệm bá quan, ông cố chấp, tăng cường tập quyền. Đương thời, Hậu Kim tại phía đông bắc chiếm lĩnh khu vực Liêu Đông, đám Viên Sùng Hoán tại Liêu Tây kháng cự Khả hãn Hoàng Thái Cực xâm nhập. Năm 1629, Hoàng Thái Cực chuyển sang đi đường vòng Trường Thành để xâm nhập Bắc Kinh, Viên Sùng Hoán khẩn cấp hồi quân đối đầu với Hoàng Thái Cực tại Quảng Cừ môn Bắc Kinh. Trải qua Lục bộ cửu khanh hội thẩm, cuối cùng triều đình Minh xử tử Viên Sùng Hoán, sử xưng Kỉ Tị chi biến. Sau đó, Hoàng Thái Cực nhiều lần viễn chinh Mông Cổ, năm 1636 xưng đế tại Thịnh Kinh, cải quốc hiệu thành Đại Thanh. Hoàng Thái Cực liên tiếp phát động năm lần qua Trường Thành xâm nhập các khu vực Trực Lệ, Sơn Đông. Đương thời, Trực Lệ nhiều năm đói kém dịch bệnh, dân sinh gian khổ. Cục thế Liêu Tây cũng ngày càng xấu đi, cuối cùng quân Thanh vào năm 1640 chiếm lĩnh Cẩm Châu và các nơi khác, tướng Hồng Thừa Trù đầu hàng, thế lực triều Minh thu nhỏ đến Sơn Hải quan.
Từ trung kỳ về sau, Đại Minh thường phát sinh nông dân khởi nghĩa, đến thời kỳ Minh Tư Tông do triều chính hỗn loạn và quan viên tham ô bất tài, nhu cầu phục vụ chiến tranh với Hậu Kim và quân Hậu Kim cướp đoạt, cùng với việc khí hậu trở nên lạnh hơn do tiểu băng kỳ, sản lượng nông nghiệp giảm gây nên đói kém trên quy mô toàn quốc, những điều này đều làm tăng gánh nặng cho nhân dân. Năm 1627, dân đói tại Trừng Thành thuộc Thiểm Tây tiến hành bạo động, khởi đầu cho giai đoạn Minh mạt dân biến, sau đó Vương Tự Dụng, Cao Nghênh Tường, Lý Tự Thành, Trương Hiến Trung cùng những nông dân khác khởi nghĩa, cuối cùng phát triển thành Lý Tự Thành hùng cứ Thiểm Tây, Hà Nam, còn Trương Hiến Trung chiếm cứ Tứ Xuyên. Năm 1644, Lý Tự Thành kiến quốc Đại Thuận, sau đó đánh hạ Bắc Kinh, Minh Tư Tông tự vẫn, triều Minh mất. Ngô Tam Quế là tướng Minh trấn thủ Sơn Hải Quan, sau khi triều Minh mất ông ta quyết định dẫn quân Thanh nhập quan, đánh bại quân Đại Thuận. Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn và Thuận Trị Đế của triều Thanh nhập quan, Bắc Kinh trở thành thủ đô của triều Thanh. Lý Tự Thành triệt thoái về Thiểm Tây, cuối cùng bị quân Thanh tiêu diệt
=== Nam Minh và Minh Trịnh ===
Sau khi triều Minh diệt vong, tại phương nam vẫn còn thế lực, sử xưng Nam Minh. Thế lực chủ yếu của Nam Minh có Tứ hệ vương: Phúc vương Chu Do Tung, Lỗ vương Chu Dĩ Hải, Đường vương Chu Duật Kiện và Chu Duật Việt (𨮁), Quế vương Chu Do Lang. Sau khi Nam Minh diệt vong, còn có chính quyền Minh Trịnh do Trịnh Thành Công kiến lập, và Quỳ Đông thập tam gia kháng Thanh. Năm 1644, sau khi Bắc Kinh bị Lý Tự Thành chiếm lĩnh, đại thần Nam Minh có ý ủng hộ hoàng tộc Bắc phạt. Trải qua nhiều lần thảo luận, Phúc vương Chu Do Tung xưng đế dưới sự ủng hộ của Phụng Dương tổng đốc Mã Sĩ Anh và Giang Bắc tứ trấn Cao Kiệt, Hoàng Đắc Công, Lưu Trạch Thanh và Lưu Lương Tá, tức Hoằng Quang Đế, sử xưng Nam Minh. Năm 1645, triều Thanh phái Đa Đạc đem đại quân nam hạ Nam Kinh, đương thời Hoằng Quang Đế bất tài, đại quyền do tàn dư của Yêm đảng khống chế, Giang Bắc tứ trấn cuối cùng liên tiếp tan vỡ. Quân Thanh công phá Dương Châu do Sử Khả Pháp tử thủ, Hoằng Quang Đế đào thoát đến Vu Hồ thì bị bắt giữ, bị đưa đến Bắc Kinh để xử tử. Thời gian đó, quân Thanh tiến hành đại đồ sát Dương Châu thập nhật, Giang Âm bát thập nhất nhật và Gia Định tam đồ để trấn áp người Hán phản kháng.
Sau khi Hoằng Quang Đế bị giết, Lỗ vương Chu Dĩ Hải tại Thiệu Hưng xưng là giám quốc, Đường vương Chu Duật Kiện được đám Trịnh Chi Long ủng hộ xưng đế tại Phúc Châu, tức Long Vũ Đế. Tuy nhiên, hai thế lực chủ yếu này của Nam Minh không thừa nhận địa vị của bên kia và đánh lẫn nhau. Long Vũ Đế liên tục đề nghị đưa quân Bắc phát, song không được Trịnh Chi Long ủng hộ nên cuối cùng không thành. Năm 1646, quân Thanh phân biệt chiếm lĩnh Chiết Giang và Phúc Kiến, Lỗ vương Chu Dĩ Hải đào vong trên biển, Long Vũ Đế đào thoát đến Giang Tây thì bị bắt rồi từ trần. Trịnh Chi Long đầu hàng quân Thanh, song vì con là Trịnh Thành Công khởi binh phản Thanh mà bị triều đình cầm tù. Sau khi Chu Duật Kiện từ trần, em là Chu Duật Việt tại Quảng Châu xưng đế, tức Thiệu Vũ Đế, cùng năm bị tướng Thanh là Lý Thành Đống công diệt. Đồng thời gian, Quế vương Chu Do Lang tại Triệu Khánh, Quảng Đông xưng đế, tức Vĩnh Lịch Đế.
Năm 1646, Vĩnh Lịch Đế có được các thế lực Cù Thức Tỉ, Lý Định Quốc, Tôn Khả Vong, cùng với ủng hộ của thế lực Trịnh Thành Công tại Phúc Kiến triển khai phản công. Các cựu tướng lĩnh của quân Minh tại các khu vực đã hàng Thanh lần lượt khởi nghĩa, Nam Minh thu phục được các tỉnh Hoa Nam trong một thời gian. Tuy nhiên, trong cùng năm tướng Thanh là Thượng Khả Hỉ suất quân xâm nhập, lần lượt chiếm lĩnh các khu vực Hồ Nam, Quảng Đông. Hai năm sau, Lý Định Quốc, Tôn Khả Vọng và Trịnh Thành Công phát động phản công lần thứ hau, trong đó Trịnh Thành Công từng bao vây Nam Kinh. Tuy nhiên, các lộ quân Minh cách xa nhau nên khó phối hợp, nội bộ lại phát sinh đám Tôn Khả Vọng làm phản, phản công lần thứ hai liên tiếp thất bại rồi kết thúc. Năm 1661, quân Thanh đánh vào Vân Nam, Vĩnh Lịch Đế lưu vong sang thủ đô Sagaing của vương triều Taungoo Miến Điện, được Quốc vương Mãnh Đạt (Pindale Min) tiếp đãi. Sau đó, Ngô Tam Quế đánh vào Miến Điện, em của Mãnh Đạt là Mãnh Bạch (Pye Min) thừa cơ phát động chính biến. Đến ngày 12 tháng 8, Mãnh Bạch phát động "Chú Thủy chi nan", giết hết thị tòng cận vệ của Vĩnh Lịch Đế, Vĩnh Lịch Đế cuối cùng bị Ngô Tam Quế siết cổ chết, Nam Minh mất.
Đến lúc này thế lực phản Thanh chỉ còn Quỳ Đông thập tam gia quân, và Trịnh Thành Công tại Kim Môn-Hạ Môn (sử xưng Minh Trịnh). Tàn dư của lực lượng Lý Tự Thành sau khi kháng Thanh tại Hồ Nam thất bại, dời đến vùng núi Tứ Xuyên-Hồ Bắc tiến hành hoạt động, tại khu vực phía đông của Quỳ Châu phủ tiếp tục kháng Thanh, gọi là Quỳ Đông thập tam gia quân. Năm 1662, quân Thanh bắt đầu tiến công, đến năm 1664 thủ lĩnh Lý Lai Hanh bị giết nên kết thúc. Trịnh Thành Công sau thất bại tại Nam Kinh thì triệt thoái đến Kim Môn-Hạ Môn, năm 1661 suất quân viễn chinh đảo Đài Loan đang do người Hà Lan chiếm cứ, kết quả thành công, định đô tại Đông Ninh (nay là Đài Nam). Con là Trịnh Kinh từng tham dự loạn Tam Phiên song thất bại. Năm 1683, triều Thanh mệnh Thi Lang tiến công Đài Loan, chúa Trịnh Khắc Sảng đầu hàng, Minh Trịnh mất.
== Cương vực ==
=== Tái bắc địa khu ===
Trong thời kỳ đầu, triều Minh nhiều lần tác chiến với Bắc Nguyên và sau là Thát Đát cùng Ngõa Lạt, đồng thời tại khu vực Mạc Nam đặt hơn 40 vệ sở phòng vệ, như Đông Thắng vệ, Vân Xuyên vệ, chúng đều là trọng địa biên phòng của triều đình, hướng của chúng vào khoảng tuyến Âm Sơn-sườn nam Đại Thanh Sơn-sông Tây Lạp Mộc Luân. Sau thập niên 30 của thế kỷ 15, do khí hậu chuyển lạnh, nông nghiệp giảm sút, trong Tĩnh Nan chi dịch quân đội biên cương bị Yên vương điều đi nơi khác, do đó biên giới dời một ít về phía nam. Trong những năm Vĩnh Lạc, quân Minh nhiều lần Bắc phạt, tình hình biên giới cải thiện trong một thời gian. Tuy nhiên, từ trung kỳ trở đi, Mông Cổ lại quật khởi, biên giới lại dời về phía nam. Cùng với dựng Trường Thành nhằm phòng ngự Mông Cổ, ven Trường Thành còn đặt "cửu biên" (Liêu Đông, Kế Châu, Tuyên Phủ, Đại Đồng, Diên Tuy, Ninh Hạ, Cam Túc, Thái Nguyên, Cố Nguyên) tăng cường phòng ngự. Trường Thành cũng trở thành biên giới phía bắc của triều Minh vào trung-hậu kỳ, đồng thời còn là giới tuyến giữa khu vực nông canh và khu vực du mục.
=== Đông bắc địa khu ===
Minh Thái Tổ đặt Liêu Đông đô ty để quản lý Liêu Đông, đồng thời nhiều lần tiến quân đến lưu vực Hắc Long Giang, chiêu phủ các bộ lạc địa phương, thế lực của triều đình Minh từng đạt đến Ngoại Hưng An Lĩnh (Stanovoy) và cửa sông của Hắc Long Giang, thậm chí đến tận đảo Khố Hiệt (Sakhalin). Năm Vĩnh Lạc thứ 7 (1409) thời Minh Thành Tổ, triều Minh đặt Nô Nhi Can đô ty tại khu vực Hắc Long Giang, song đây là cơ cấu không thường trực, không quản lý hơn 130 vệ sở tại Đông Bắc, đến năm Tuyên Đức thứ 9 (1434) thời Minh Tuyên Tông thì bị phế bỏ. Tuy nhiên, các vệ sở trên lãnh thổ này, và Liêu Đông đô ty vẫn tồn tại, để thi hành thống trị ki mi với địa phương. Sau những năm Chính Thống thời Minh Anh Tông, nhóm Ngột Lương Cáp thuộc Thát Đát và Kiến Châu Nữ Chân dời về phía nam, đồng thời không ngừng xâm phạm Liêu Đông đô ty. Năm Thành Hóa thứ 5 (1469) thời Minh Hiến Tông, triều đình Minh cho dựng "Liêu Đông biên tường". Từ cuối thế kỷ 16, thủ lĩnh Kiến Châu Nữ Chân là Nỗ Nhĩ Cáp Xích bắt đầu hưng khởi, thống nhất Nữ Chân, các vệ sở do triều đình Minh đặt dần tiêu vong. Năm Vạn Lịch thứ 44 (1616) thời Minh Thần Tông, Nỗ Nhĩ Cáp Xích xưng hãn, kiến quốc Đại Kim. Đến năm Vạn Lịch thứ 47 (1619), sau trận Tát Nhĩ Hử, quân Hậu Kim đột phá "Liêu Đông biên tường", chiếm lĩnh đại bộ phận lãnh thổ của Liêu Đông đô ty.
=== Tây bắc địa khu ===
Những năm Vĩnh Lạc thời Minh Thành Tổ, cương giới Tây Bắc đạt đến địa khu Cáp Mật tại đông bộ Tân Cương hiện nay, đồng thời đặt một loạt vệ sở. Sau thập niên 30 của thế kỷ 15, Thổ Lỗ Phồn và bộ lạc Thanh Hải Mông Cổ dần lớn mạnh. Năm 1472, thành Cáp Mật vệ từng bị Thổ Lỗ Phổn công phá, về sau khôi phục, đến năm 1514 lại bị chiếm. Sau nửa sau thế kỷ 15, các vệ sở tại Tây Bắc đều mất hết, quân Minh lui phòng thủ Gia Dục quan.
=== Tây nam địa khu ===
Năm Hồng Vũ thứ 14 (1381) thời Thái Tổ, triều Minh mới hoàn toàn chiếm lĩnh khu vực Vân Nam-Quý Châu, đồng thời đặt một loạt thổ ty, tuyên úy ty để quản lý, biên giới đạt đến bắc trung bộ của Miến Điện, bắc bộ Lào, bắc bộ Thái Lan ngày nay. Tuy nhiên, về sau các khu vực này bị các quốc gia xung quanh thôn tính. Năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406) thời Thành Tổ, quân Minh tiến công An Nam, biên giới phía nam đến Nhật Nam châu, sang năm sau đặt An Nam bố chính ty, bên dưới đặt 15 phủ, 36 châu, hơn hai trăm huyện. Về sau do nhân dân địa phương phản kháng kịch liệt, triều đình Minh vào năm Tuyên Đức thứ 2 (1427) thời Tuyên Tông phải từ bỏ, An Nam khôi phục và do vương triều Lê cai trị. Tại khu vực Tây Tạng, triều đình Minh thi hành chính sách "đa phong chúng kiến", tuy nhiên còn có bất đồng về việc điều này có đại diện cho sự thống trị của triều Minh với Tây Tạng hay không.
=== Bành Hồ và Áo Môn ===
Đầu thời Minh, triều đình đặt Bành Hồ tuần kiểm ty để quản lý quần đảo Bành Hồ. Năm 1553, người Bồ Đào Nha thu được quyền đậu thuyền tại Áo Môn, đến năm Gia Tĩnh thứ 37 (1557) thì có được quyền lưu cư, trước khi hai bên ký kết điều ước thông thương vào năm 1887 thì Trung Quốc luôn có chủ quyền với Áo Môn
== Phân chia hành chính ==
Triều Minh về đại thể kế thừa phân chia hành chính của triều Nguyên, khu hành chính địa phương cấp một đặt 'thừa tuyên bố chính ty' (bố chính ty), 'đề hình án sát sứ ty' (án sát ty), và 'đô chỉ huy sứ ty' (đô ty), phân biệt quản lý hành chính, tư pháp và quân sự, phòng ngừa tập trung quyền lực địa phương. 'Bố chính ty' được gọi phổ biến là tỉnh, bên dưới lần lượt phân thành đạo, phủ, và huyện. Đạo là đơn vị hành chính đặt giữa tỉnh và phủ huyện, phân thành hai loại 'phân thủ đạo' và 'phân tuần đạo'. "Phủ" nguyên là lộ của triều Nguyên, lấy thuế lương ít hay nhiều để phân tiêu chuẩn, lương từ 20 vạn thạch trở lên là 'thượng phủ', từ 10 đến dưới 20 vạn thạch là 'trung phủ', dưới mười vạn thạch là 'hạ phủ'. Phân định quân sự có hai chế độ là vệ, sở. Thời Đại Tông, Anh Tông đặt tuần phủ quản lý hành chính và tổng đốc quản lý quân sự do trung ương phái đi, địa vị đứng đầu tại bố chính ty và đô ty. Nhằm hạn chế quyền lực của tuần phủ và tổng đốc, còn đặt chức 'đô ngự sử' để cân bằng. Triều Minh cuối cùng có 140 phủ, 193 châu, 1138 huyện, 493 vệ, 359 sở.
=== Thừa tuyên bố chính sứ ty ===
Thừa tuyên bố chính sứ ty (bố chính ty) quản lý hành chính địa phương, địa vị tương đương với "hành trung thư tỉnh" vào thời Nguyên. Minh Thái Tổ vốn duy trì tên gọi "hành trung thư tỉnh", đến năm 1376 thì đổi thành "bố chính sứ ty", thường gọi là hành tỉnh. Đầu thời Minh đặt 13 bố chính ty cùng kinh sư (địa vị tương đương bố chính ty, quản lý Giang Tô và An Huy hiện nay). Năm 1380, sau án Hồ Duy Dung triều Minh phế bỏ "trung thư tỉnh", kinh sư và bố chính ty trực thuộc Lục bộ. Thời kỳ Minh Thành Tổ, từ năm 1407 đến năm 1428 đặt Giao Chỉ bố chính ty. Năm 1413, đặt Quý Châu bố chính ty. Do thiên đô Bắc Kinh, vào năm 1403 đưa Bắc Bình bố chính ty thăng làm "hành tại", năm 1421 sau khi thiên đô Bắc Kinh gọi là kinh sư (Bắc Trực Lệ), kinh sư cũ đổi thành Nam Kinh (Nam Trực Lệ), hình thành phân chia hành chính "lưỡng kinh thập tam tỉnh". Lưỡng kinh là Bắc Kinh và Nam Kinh, gọi chính thức là Thuận Thiên phủ và Ứng Thiên phủ, chúng cùng với các châu phủ lân cận lần lượt gọi chung là Bắc Trực Lệ và Nam Trực Lệ, không đặt bố chính ty, 13 bố chính ty gồm: Thiểm Tây, Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Chiết Giang, Giang Tây, Hồ Quảng, Tứ Xuyên, Quảng Đông, Phúc Kiến, Quảng Tây, Quý Châu, Vân Nam. Phân chia hành chính của triều Minh về đại thể phù hợp với địa thế núi sông, song có một số điểm bất hợp lý, như Nam Trực Lệ nằm vắt qua cả ba khu vực Hoài Bắc, Hoài Nam, Giang Nam, khu vực Tô-Tùng về ngôn ngữ-văn hóa thuộc khu Thái Hồ Ngô-Việt song được quy nhập Nam Trực Lệ thay vì Chiết Giang; bồn địa Hán Trung nằm tại phía nam Tần Lĩnh được quy nhập Thiểm Tây thay vì Tứ Xuyên, Hà Nam bao gồm một phần phía bắc Hoàng Hà. Quý Châu có hình giống loài bướm khi khoảng giữa hẹp song hai bên thì rộng.
=== Đô chỉ huy sứ ty ===
Đô chỉ huy sứ ty (đô ty) quản lý quân sự địa phương, Minh Thái Tổ sử dụng chế độ vệ sở, vào năm 1370 tại các tỉnh đặt một "đô vệ", đến năm 1375 mới đặt đô ty quản lý. Đô ty vốn lệ thuộc đại đô đốc phủ, sau án Hồ Duy Dung triều đình chia đại đô đốc phủ làm năm, phân quyền quản lý các vệ sở. Triều Minh tổng cộng đặt 16 đô ty, 5 hành đô ty, 2 lưu thủ ty. Trong đó, có 13 đô ty trùng tên với bố chính ty, ba đô ty khác là Vạn Toàn đô ty, Đại Ninh đô ty và Liêu Đông đô ty. 5 hành đô ty là Thiểm Tây, Tứ Xuyên, Hồ Quảng, Phúc Kiến, Sơn Tây. Hai lưu thủ ty là Trung Đô lưu thủ ty (nay là Phượng Dương) đặt vào thời Hồng Vũ, Hưng Đô lưu thủ ty đặt tại Thừa Thiên phủ (nay là Chung Tường, Hồ Bắc) thời Gia Tĩnh. Trong các đô ty có tính chất ki mi, nổi danh nhất là Nô Nhi Can đô ty quản lý lưu vực Hắc Long Giang, Tùng Hoa Giang và đảo Khố Hiệt; tại khu vực Thanh-Tạng chính giáo hợp nhất đặt hai đô ty Ô Tư Tạng, Đóa Cam, ngoài ra còn đặt tại khu vực giao giới Cam Túc và Thanh Hải hiện nay các vệ sở như Cáp Mật, Khúc Tiên. Những thể chế này có tính chất không giống như đô ty, hành đô ty tại nội địa.
=== Tuần phủ và tổng đốc ===
Tuần phủ quản lý dân chính, nguyên bản là vào thời Minh Tuyên Tông phái đại thần lục bộ, đô sát viện lấy đó làm danh nghĩa để đốc phủ hành chính địa phương, đến thời Minh Đại Tông chính thức hình thành khu hành chinh cấp một. Thời Minh Anh Tông đặt chức tổng đốc, phân làm hai loại là ngắn hạn và dài hạn, quản lý quân sự của một vài bố chính ty. Tuy nhiên, quan hệ phụ thuộc giữa tuần phủ và bố chính ty là không đồng nhất, có tuần phủ chỉ gồm 1-2 bố chính ty, như Sơn Tây-Hà Nam tuần phủ thời Chính Thống; lại có trường hợp trong địa phận một bố chính ty có vài tuần phủ, như Bắc Trực Lệ có Thuận Thiên tuần phủ, Bảo Định tuần phủ, Tuyên Phủ tuần phủ; Nam Trực Lệ có hai tuần phủ: Ứng Thiên tuần phủ, Thuận Dương tuần phủ. Cũng có trường hợp tuần phủ quản lý khu vực giao giới giữa các bố chính ty, như Nam Cám Thiều Đinh tuần phủ nằm trên ba bố chính ty là Giang Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến.
== Chế độ chính trị ==
Năm Hồng Vũ thứ 13 (1380), Minh Thái Tổ lấy việc Thừa tướng Hồ Duy Dung mưu phản nên phế bỏ chức vụ thừa tướng, các hoàng đế sau này cũng không đặt lại chức vụ này. Từ thời Tần, Hán trở đi Trung Quốc đã hơn 1600 năm thực hành chế độ tể tướng, đến đây bị phế bỏ, lục bộ trực tiếp do hoàng đế phụ trách, quyền của thừa tướng và quyền về quân sự hợp làm một, hoàng đế triều Minh một mình nắm đại quyền, thể chế chính trị của triều Minh cũng là chính thể chuyên chế hiếm thấy trong lịch sử thế giới, thi hành thể chế quốc gia tam quyền phân lập: quân quyền, quyền hành chính, quyền giám sát, về sau do quyền giám sát bị phế bỏ, quốc thể mất cân bằng mà nhanh chóng suy bại. Do có nhiều quốc sự, hoàng đế không thể xử lý hết, đến năm Kiến Văn thứ 4 (4) Minh Thành Tổ mới bắt đầu đặt nội các. Nội các chỉ là cố vấn cho hoàng đế, phê đáp tấu chương do hoàng đế chuyên trách. Nội các triều Minh từ khi khởi đầu đến khi kết thúc đều không phải là cơ cấu hành chính cấp một trung tâm trong triều, được cho rằng chỉ là biệt xưng của Văn Uyên các. Chức vụ Nội các đại học sĩ phần nhiều là người có tài đức hoặc đại thần trong triều đảm nhiệm, chỉ theo ý chỉ của hoàng đế mà viết ra, gọi là "truyền chỉ đương bút", quyền lực và địa vị còn xa mới bằng tể tướng khi xưa, chỉ có địa vị ngầm, song không có địa vị pháp định. Thời kỳ Tuyên Tông, do có ba người họ Dương là Dương Phổ, Dương Sĩ Kỳ và Dương Vinh tham gia nội các, Tuyên Tông phê chuẩn nội các khởi thảo thánh chỉ trần thuật ý kiến của họ, gọi là chế độ "phiếu nghĩ" 票擬, lại trao cho cơ cấu hoạn quan là Ty lễ giám phê thay tức "phê chu" 批朱. Phép "phiếu nghĩ" khắc phục tệ quân chủ không muốn diện kiến các triều thần, song đại thần nội các và hoàng đế ngăn cách, đều dựa vào Ty lễ giám, do đó khởi đầu chế độ hoạn quan chuyên chính trong triều Minh. Nhằm tăng cường giám thị với thần dân toàn quốc, Minh Thái Tổ còn thiết lập cơ cấu đặc vụ mang tên "cẩm y vệ", Minh Thành Tổ lập thêm "đông xưởng", Minh Hiến Tông lập "tây xưởng" (về sau phế bỏ), gọi chung là "xưởng vệ", do hoạn quan thống lĩnh, từ đó quyền thế của hoạn quan triều Minh đạt đến cực độ.
=== Cơ cấu chủ yếu ===
Nội các ban đầu là chỉ cơ cấu tư vấn của hoàng đế, về sau trở thành cơ cấu quyết sách tối cao trên thực tế của triều Minh, địa vị thủ phụ có khi sánh với tể tướng, có quyền "phiếu nghĩ". Chu Nguyên Chương sau khi phế bỏ chế độ trung thư tỉnh và thừa tướng, đích thân xử lý chính vụ, có khi bị kiệt sức, do vậy thiết lập chế độ tứ phụ để phụ tá chính sự, song không hiệu quả, đến năm Hồng Vũ thứ 17 (1384) thì bãi bỏ. Sau đó, Chu Nguyên Chương mời một số vị hàn lâm học sĩ giúp phụ tá, các quan chức hàn lâm học sĩ này phỏng theo chế độ cũ học sĩ quán các Đường-Tống, được cho là "Mỗ mỗ điện (các) đại học sĩ", bậc quan chỉ có chính ngũ phẩm. Đây chính là cơ cấu nội các.
Triều Minh tại trung ương thiết lập sáu bộ: lại, hộ lễ, công, hình, tương tự như các triều đại trước, lúc mới đầu triều Minh tại mỗi bộ tăng thêm một thượng thư, thị lang. Sau án Hồ Duy Dung, Chu Nguyên Chương phế bỏ chức thừa tướng, thủ tiêu trung thư tỉnh. Lục bộ do đó địa vị được đề cao, mỗi bộ chỉ đặt một thượng thư, hai thị lang, các thượng thư khác trước đó bị giáng làm lang trung. Bậc quan của thượng thư và thị lang các bộ được tăng lên, trong đó Lễ bộ (chủ quản giáo dục, phụ trách lãnh đạo học thuật Nho gia, cùng với tế tự, ngoại giao) và Lại bộ (chủ quản thăng chức quan văn) có tính trọng yếu nhất, Hộ bộ (chủ quản tài chính, thổ địa và nhân khẩu) có số nhân viên đông nhất. Binh bộ (chủ quản quốc phòng), Hình bộ (chủ quản tư pháp, có quyền xét xử vụ án hình sự quy mô lớn) và Công bộ (chủ quản kiến thiết công cộng) có địa vị khá thấp.
Về cơ cấu thẩm nghị thảo chiếu, triều Minh ban đầu chỉ đặt "cấp sự trung" và "trung thư xá nhân", không đặt hai tỉnh "trung thư", "môn hạ". Cơ cấu thẩm nghị của triều Minh là lục khoa cấp sự trung, đến năm Hồng Vũ thứ 24 (1391), đặt 6 người là đô cấp sự trung, phân vào sáu khoa Lại, Hộ, Lễ, Công, Hình, Binh, mỗi khoa một người, bên dưới mỗi "đô cấp sự trung" lại có một tả hữu cấp sự trung và một số cấp sự trung. Chế độ lục khoa cấp sự trung về cơ bản là kế thừa chế độ Môn hạ tỉnh thời Đường, song quan vị hạ giảm, cơ cấu tinh giản hơn. Quan chức lục khoa tuy có phẩm cấp thấp, song chức quyền lại rất cao, họ có thể bác bỏ ý chỉ của hoàng đế, cũng có thể nắm giữ chức trách gián quan, đối với quan lại lục bộ cũng có quyền giám sát tương ứng, do đó chế độ này cũng phát huy tác dụng nhất định đối với cải thiện triều chính. Cơ cấu chấp hành sự vụ trọng yếu của trung ương là "Ngũ tự", bao gồm Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự, Hồng lư tự, tương đương thời Đường Tống, giảm bớt bốn tự: Tông chính tự được nhập vào Tông nhân phủ, Vệ úy tự được nhập vào Binh bộ, Ty nông tự và Thái giám phủ được nhập vào Hộ bộ. Đại lý tự cùng Hình bộ và Đô sát viện hợp thành Tam pháp ty, phụ trách phúc thẩm và phúc hạch án hình sự trọng đại. Thủ trưởng của Đại lý tự gọi là "Đại lý tự khanh", cũng là một trong cửu khanh, khanh của bốn tự còn lại có chức quyền khá thấp. Thái thường tự phụ trách tế tự; Thái bộc tự quản lý ngựa và chăn nuôi gia súc toàn quốc; Quang lộc tự phụ trách bày tiệc; Hồng lư tự phụ trách tiếp đãi khách ngoại quốc.
Trước năm Hồng Vũ thứ 13 (1380), triều Minh còn kế tục chế độ giám sát của triều Nguyên, thiết lập "Ngự sử đài", có tả hữu ngự sử đại phu. Sau đó, Chu Nguyên Chương phế bỏ Ngự sử đài. Hai năm sau, Chu Nguyên Chương thiết lập cơ cấu giám sát mới là "Đô sát viện", bên dưới Đô sát viện thiết lập một số người làm "Đô sát ngự sử", phân tuần các tỉnh toàn quốc, gọi là Thập nhị đạo giám sát ngự sử. Mỗi đạo có ba đến năm người là giám sát ngự sử, phạm vi nói chung là một tỉnh. Tuy nhiên giám sát ngự sử đều trú tại kinh sự, có việc thì mang theo ấn xuất tuần, xong việc thì về kinh trả ấn. Đến thời Minh mạt, giám sát ngự sử phân thành 13 đạo, tổng cộng có 110 người. Đô sát viện và lục khoa đều có chức năng gián quan và chức trách báo cáo sự tình, cho nên gọi chung là "khoa đạo ngôn quan".
Triều Minh thực hành nghiêm mật chính trị đặc vụ, cơ cấu đặc vụ chủ yếu bao gồm cẩm y vệ, đông xưởng và tây xưởng, thời kỳ Vũ Tông từng thiết lập "nội hành xưởng". Cẩm y vệ được thiết lập vào năm Hồng Vũ thứ 15 (1382), trực tiếp nghe lệnh của hoàng thượng, có thể tróc nã bất kỳ ai, đồng thời tiến hành thẩm vấn không công khai. Sau khi thành lập đông xưởng, quyền lực của cẩm y vệ bị tước giảm. Đông xưởng thành lập vào năm Vĩnh Lạc thứ 18 (1420), nhằm để Minh Thành Tổ trấn áp chính trị lực lượng phản đối, địa điểm tại bắc Đông An Môn tại kinh thành. Chức trách chủ yếu của đông xưởng là giám thị quan viên chính phủ, nhân sĩ kiệt xuất trong xã hội, các học giả và các lực lượng chính trị khác, đồng thời có quyền đưa kết quả giám thị trực tiếp hồi báo hoàng thượng. Căn cứ thông tin giám thị có được, đối với phái phản đối chính trị có địa vị khá thấp, đông xưởng có thể trực tiếp tróc nã, thẩm vấn; còn đối với quan viên cấp cao trong chính phủ hoặc người có thân phận hoàng thân quý tộc, đông xưởng sau khi được hoàng đế cấp quyền có thể tiếp hành tróc nã, thẩm vấn họ. Tây xưởng thành lập vào thời kỳ Hiến Tông, thủ lĩnh là Uông Trực, sau năm 1482 thì bị phế bỏ, sau này được Vũ Tông tạm thời khôi phục. Nội xưởng thiết lập trong thời kỳ Vũ Tông, thủ lĩnh là hoạn quan Lưu Cẩn, sau khi Lưu Cẩn bị giết thì nội xưởng và tây xưởng đồng thời bị phế bỏ, chỉ còn đông xưởng.
=== Cơ cấu khác ===
Quan công cô bao gồm tam công và tam cô, trên danh nghĩa là đứng đầu các thần tử, song các chức quan này đều chỉ là chức hão, thường trao cho đại thần có công lao tương đối lớn để vinh danh. Tam công là thái sư, thái phó, thái bảo, tam cô là ba chức phụ giúp: thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo. Trong đó, thái bảo và thái phó trên danh nghĩa là thầy giáo của thái tử, còn thái sư trên danh nghĩa là thầy giáo của hoàng thượng, song thực tế cơ cấu phụ đạo thái tử là "chiêm sự phủ". Bên dưới chiêm sự phủ đặt hai phòng, một cục, một thính. Ngoài ra, còn có Thái y viện, chuyên môn phụ trách sức khỏe và điều trị y tế cho nhân viên hoàng thất. Hàn lâm viện là cơ quan học thuật tối cao chính thức của chính phủ, địa vị tương đối quan trọng, thậm chí cũng có sức ảnh hưởng tương đối lớn trong chính phủ. Thủ trưởng của Hàn lâm viện là Hàn lâm đại học sĩ, người giữ chức vị này thường kiêm nhiệm đại thần nội các.
Ngoại tam giám bao gồm Quốc tử giám, Khâm thiên giám, Thượng lâm uyển giám. Khâm thiên giám phụ trách quan trắc chiêm tinh. Quốc tử giám là cơ cấu giáo dục chính thức tối cao, cũng là cơ cấu lãnh đạo quan học toàn quốc, có một người tế tửu, một người ty nghiệp, một người giám thừa, năm người bác sĩ, 15 người trợ giáo, 10 người học chính, 7 người học lục, một người điển bộ, một người điển tịch, hai người điển soạn. Thượng lâm uyển giám phụ trách quản lý ngự hoa viên, bãi chăn thả và vườn rau của hoàng đế.
Nội thập nhị giám là sở quan của hoạn quan, bao gồm ti lễ giám, nội cung giám, ngự dụng giám, ty thiết giám, ngự mã giám, thần cung giám, thượng thiện giám, thượng bảo giám, ấn thụ giám, trực điện giám, thượng y giám, đô tri giám, trong đó ty lễ giám là quan trọng nhất. Thái giám cầm bút viết văn trong thời kỳ hoạn quan chuyên quyền cực đoan còn thay thế hoàng đế phê chuẩn công văn. Ngoài ra, trong cung còn thiết lập bốn ty (tích tân, chung cổ, bảo sao, hỗn đường), tám cục (binh trượng, ngân tác, hoán y, cân mạo, châm công, nội chức nhiễm, tửu thố diện, ti uyển), hợp thành 24 nha môn nội quan. Cung nữ có 6 cục (thượng cung, thượng nghi, thượng phục, thượng thực, thượng tẩm, thượng công), dưới mỗi cục đặt bốn ty.
== Ngoại giao ==
Những năm đầu, triều đình Minh thực thi thể chế triều cống, mậu dịch triều cống cho nhiều hơn nhận, nhiều người Nhật Bản giả làm sứ giả triều cống nhằm nhận được lợi ích. Trên thực tế, Nhật Bản đang trong trạng thái cát cứ, không có chính quyền trung ương thống nhất, rất nhiều người Nhật Bản giả làm sứ giả triều cống sang Trung Quốc không thuộc quyền quản lý của chính phủ Nhật Bản, sau khi triều cống họ lưu lại cướp đoạt tại khu vực duyên hải của Trung Quốc, đây là Uy khấu thời Minh sơ. Nhằm phòng chống Uy khấu, Minh Thái Tổ ban bố chính sách hải cấm. Từ đó trở đi, nếu muốn sang Trung Quốc giao thương thì cần phải theo phương thức triều cống kiêm mậu dịch, ngoài ra còn có tác dụng thu phục kết giao các quốc gia xung quanh. Chính sách quản chế mâu dịch nghiêm khắc của triều Minh khiến cho mậu dịch thông thường được tiến hành bí mật, chuyển thành mậu dịch buôn lậu. Khu vực tập trung cảng mậu dịch khu vực chuyển từ Quảng Đông, Phúc Kiến sang các thuộc địa của phương Tây tại Đông Nam Á. Do chính phủ Trung Quốc mất đi vai trò duy trì trật tự trên biển, các tập đoàn hải tặc hoành hành. Do mậu dịch hàng hải vẫn phải tiến hành theo phương thức ngầm, lượng lớn đồ bạc từ châu Mỹ được đưa vào Trung Quốc, bạc bắt đầu đóng vai trò là tiền tệ phổ biến.
=== Trịnh Hòa hạ Tây Dương và hải cấm ===
Sau khi Minh Thành Tổ lên ngôi, trong những năm Vĩnh Lạc, triều đình phái khiển nhà hàng hải Trịnh Hòa đem thuyền đội bảy lần hạ Tây Dương, đi xa nhất đến bờ biển phía đông châu Phi, và còn phái khiển Trần Tử Lỗ đi sứ sang mười tám nước tại Tây Vực như Samarkand, Thổ Lỗ Phồn, Hỏa Châu, tăng cường giao lưu về kinh tế chính trị giữa triều Minh và thế giới, thể hiện triều đại Vĩnh Lạc ở vào đỉnh cao thịnh vượng và có tính khai phóng. Sang thời Minh Nhân Tông, hoàng đế nghe theo ý kiến của một số đại thần trong triều, nhận định điTây Dương gây lãng phí quá độ, hiệu quả nhận được không lớn, tuyên bố đình chỉ hoạt động này. Năm Tuyên Đức thứ 5 (1431) thời Minh Tuyên Tông, hoàng đế phái Trịnh Hòa hạ Tây Dương lần thứ bảy, cũng là lần cuối. Thời Minh Hiến Tông, từng có thái giám đề nghị với hoàng đế tiếp tục tiến hành hạ Tây Dương, hoàng đế hạ chiếu đến Binh bộ yêu cầu tư liệu của Trịnh Hòa như hải đồ. Tuy nhiên, các quan viên như Lưu Đại Hạ nhận định hạ Tây Dương gây hại lớn cho quốc gia, vô ích, do đó đem các tư liệu từ hành trình của Trịnh Hòa giấu đi (có thuyết nói là tiêu hủy), kế hoạch do đó bị bãi bỏ. Về sau, Uy khấu hoành hành, triều Minh gia tăng mức độ hải cấm, đến sau năm Long Khánh thứ 1 (1567) thời Mục Tông, Uy khấu dần được bình định, triều đình nhận thấy tính quan trọng của mậu dịch đối ngoại đối với cư dân ven biển, do đó từng bước giải trừ hải cấm, khiến mậu dịch bí mật trong dân gian được hợp pháp hóa, mậu dịch quốc tế sôi động khiến Trung Quốc tiến vào hệ thống mậu dịch thế giới đang dần thành hình.
=== Uy khấu và Nhật Bản ===
Uy khấu tạo thành mối uy hiếp nghiêm trọng đối với hải cương của triều Minh, tuy vậy thành phần chủ yếu của Uy khấu không phải là người Nhật Bản mà là lưu dân bị phá sản tại khu vực duyên hải Trung Quốc. Mặc dù có các chiến dịch "kháng Uy" của Chu Hoàn và Trương Kinh, song cuối cùng đều không thể đạt được thành công hoàn toàn. Nhằm đề phòng Uy khấu xâm nhiễu, trong thời kỳ Thế Tông thực thi hải cấm, đoạn tuyệt mậu dịch với Nhật Bản. Đến khi các danh tướng như Thích Kế Quang tận lực "kháng Uy", Uy khấu mới bị trừ sạch, tình hình hải cương mới trở nên bình ổn hơn. Sau khi Toyotomi Hideyoshi thống nhất Nhật Bản, có ý muốn chiếm lĩnh Triều Tiên. Năm Vạn Lịch thứ 20 (1592), Nhật Bản tấn công Triều Tiên, Quốc vương của Triều Tiên đào thoát sang Nghĩa Châu đồng thời phái sứ giả cầu cứu triều đình Minh. Triều Minh từng giành được thắng lợi trong chiến tranh, hai bên từng tiến hành hòa đàm, song sau năm Vạn Lịch thứ 25 (1597) Nhật Bản lại tiến công Triều Tiên. Năm Vạn Lịch thứ 26 (1598), Toyotomi Hideyoshi bệnh mất, lòng quân Nhật Bản dao động, kết quả là triệt quân. Chiến tranh với Nhật Bản làm suy yếu nghiêm trọng quốc lực của Minh và Triều Tiên, còn Nhật Bản rơi vào tình trạng phân liệt, trong khi đó các bộ lạc Nữ Chân trở thành bên hưởng lợi.
=== Mông Cổ và Nữ Chân ===
Mông Cổ và Nữ Chân là hai bộ tộc tạo thành mỗi uy hiếp lớn nhất tại biên cảnh của triều Minh, người đương thời gọi là Tây Lỗ và Đông Lỗ. Trong những năm đầu triều Minh, khi vũ lực còn cường thịnh, từng có thời gian đuổi người Mông Cổ lên Mạc Bắc, Mông Cổ cũng vì nội loạn mà phân liệt thành các nhóm như Thát Đát, Ngõa Lạt nên không đủ lực xâm nhập phương nam. Sau này, cùng với việc triều Minh suy lạc, nhóm có thực lực nhất trong các bộ lạc Mông Cổ sau khi xưng bá trong tộc còn nhiều lần tiến công triều Minh, như Thổ Mộc bảo chi biến do người Ngõa Lạt, Canh Tuất chi biến do Thổ Mặc Đặc bộ. Cương giới của triều Minh do đó thu nhỏ, còn quốc lực cũng bị tiêu hao rất nhiều. Yêm Đáp Hãn về sau bắt đầu kết giao với triều Minh, thụ phong tước Thuận Nghĩa vương, tam nương tử kế thừa chính sách hòa bình của ông. Khu vực biên giới Minh-Mông an ninh hòa bình, đến sau khi Hậu Kim khống chế Mông Cổ thì tình hình này mới kết thúc. Thời kỳ đầu, triều đình Minh từng đặt Nô Nhi Can đô ty để quản lý các bộ lạc tại Đông Bắc, người Nữ Chân trong giai đoạn này là đồng minh với Minh để bài trừ thế lực tàn dư đối địch tại Đông Bắc, quan hệ song phương trong giai đoạn mật thiết. Tuy nhiên, đến trung hậu kỳ, triều đình Minh thi hành một số chính sách không thích hợp, tiến hành kỳ thị, hạn chế, kích động phân hóa người Nữ Chân. Khi các bộ lạc Mông Cổ và Nữ Chân tại Đông Bắc ngày càng lớn mạnh, Nô Nhi Can đô ty bị phế, năng lực khống chế tại Đông Bắc của triều Minh càng suy giảm. Sang thế kỷ 17, thủ lĩnh Kiến Châu Nữ Chân là Nỗ Nhĩ Cáp Xích thống nhất các bộ lạc Nữ Chân, khiến người Mông Cổ hàng phục, vào năm 1616 kiến quốc Đại Kim, đối địch với triều Minh. Hậu Kim chiếm lĩnh đại bộ phận lãnh thổ Liêu Đông, có dã tâm làm chủ Trung Nguyên, uy hiếp nghiêm trọng đến an toàn của triều Minh. Năm 1636, Đại Kim cải quốc hiệu sang Đại Thanh, kiến lập Thanh triều, cuối cùng vào năm 1644 sau khi triều Minh diệt vong tiếp nối thống trị Trung Quốc trong 267 năm.
=== Các quốc gia châu Âu ===
Sau khi châu Âu tiến vào thời đại khám phá hàng hải, người Bồ Đào Nha nhằm tiếp tục khai thác tuyến hàng hải đến Ấn Độ, Trung Quốc, sau khi chiếm lĩnh Malacca năm 1511, lại có ý đồ lập cứ điểm mậu dịch tại Trung Quốc. Năm Chính Đức thứ 7 (1513) thời Vũ Tông, Quốc vương Bồ Dào Nha Emmanuel I vì muốn thông thương với triều đình Minh nên phái đoàn sứ giả đến Trung Quốc. Đoàn sứ giả muốn đổ bộ tại Quảng Châu, song bị từ chối nhập cảnh. Họ chuyển sang dùng vũ lực chiếm cứ Đồn Môn, bùng phát Hải chiến Đồn Môn, Bộ chiến Tây Thảo Loan với triều Minh, kết quả chiến bại. Cuối cùng, Gia Tĩnh Đế đồng ý cho đoàn nhập cảnh, cùng lúc nhượng Áo Môn cho người Bồ Đào Nha, chấp thuận cho họ đến Quảng Châu mỗi năm, đây là lần đầu tiên cường quốc phương tây chính thức đổ bộ Trung Quốc. Sau đó, các quốc gia châu Âu khác như Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh Quốc cũng phái các sứ đoàn đến, khiến cho không ít sự vật phương Tây truyền vào Trung Quốc. Năm Vạn Lịch thứ 10 (1582) thời Thần Tông, Matteo Ricci phụng mệnh đến Trung Quốc công tác, ông rất nhanh chóng lĩnh hội Trung văn, Nho giáo, có được cảm tình tốt của sĩ đại phu triều Minh. Sau đó, ông được cử đến Bắc Kinh, được Thần Tông tín nhiệm. Ông đóng góp cho Trung Quốc các cống phẩm như Khôn dư vạn quốc toàn đồ, đồng hồ, đồng hồ Mặt Trời, đại pháo Tây Dương, kính viễn vọng, hỏa thương, Tây dược, tượng Maria, Thập tự giá. Matteo Ricci không chỉ truyền bá Thiên Chúa giáo mà còn truyền cảm hứng cho đám Từ Quang Khải, Lý Chi Tảo học tập Tây học. Ngoài ra, ông còn đưa các loại hình văn hóa của Trung Quốc truyền đến châu Âu, như tư tưởng Nho gia, học thuyết Phật giáo, cờ vây. Ngoài ra, vào thời kỳ Minh mạt có không ít quân đội triều Minh từng trang bị hỏa khí đặc biệt là đại pháo Tây Dương.
== Quân sự ==
Nguồn gốc ban đầu của quân đội triều Minh, gồm có các binh sĩ vốn có, gọi là tòng chinh, có binh sĩ triều Nguyên và binh sĩ quần hùng quy phụ, có người hoạch tội đày ải, song nguồn chủ yếu nhất là tuyển theo hộ tịch, cũng tức là 'đóa tập quân'. Ngoài ra, còn có các phương thức giản bạt, đầu sung và thu tập. Ngoài ra, từ trung kỳ triều Minh trở về sau còn có chuyện cưỡng bách dân làm binh, tuy nhiên đều là thiểu số, về mặt chính thức, "vệ sở chế" vẫn là quân chế chủ yếu. Vệ sở chế là tại yếu địa quân sự các địa phương toàn quốc thiết lập vệ sở trú quân, "vệ" có quân đội quy mô 5600 người, bên dưới có các đơn vị như thiên hộ sở, bách hộ sở, tổng kỳ và tiểu kỳ, các vệ sở đều lệ thuộc ngũ quân đô đốc phủ, cũng là lệ thuộc Binh bộ, khi hữu sự được điều động, khi vô sự lại trở về vệ sở. Nguồn gốc của quân đội là quân hộ thế tập, do mỗi hộ phái một người làm "chính đinh" đến vệ sở làm binh, quân nhân trong vệ sở luân phiên phòng thủ và đồn điền, đồn điền đáp ứng nhu cầu của quân đội và tướng quan. Mục tiêu của nó là nuôi binh song không tiêu hao tài lực quốc gia, song từ thời Minh Tuyên Tông về sau thì không thể duy trì, mức sinh hoạt và địa vị của quân nhân ngày càng hạ thấp, binh sĩ đào ngũ dần gia tăng, quân bị do đó dần dần hư hỏng.
Trong thời kỳ kháng Nhật viện Triều những năm Vạn Lịch, người Minh sáng tạo "thủy lôi chiến" đánh đắm chiến hạm Nhật Bản; "hỏa long xuất thủy" phát minh trong thế kỷ 16 là một loại tên lửa hai bậc dùng trong thủy chiến; thợ thủ công triều Minh thiết kế chế tạo mìn vỏ sắt sớm nhất trong lịch sử nhân loại; lục quân triều Minh từng được trang bị một loại "hổ tồn pháo", cũng là loại kỵ pháo binh đầu tiên trong lịch sử nhân loại, có học giả cho rằng loại kỹ thuật này đi trước phương Tây khoảng 200 năm.
Trong những năm Gia Tĩnh, khi ứng phó loạn Uy khấu, tướng lĩnh Thích Kế Quang tại khu vực Chiết Giang sử dụng phương thức chiêu mộ dân binh huấn luyện thêm, thay thế vệ sở binh không đảm đương nổi. Chính vì nguyên nhân quân chính quy là vệ sở quân không đảm đương nổi, cho nên lực lượng dân binh đến hậu kỳ triều Minh dần dần đảm nhiệm vai trò bộ đội tác chiến duy trì sự thống trị hữu hiệu của triều đình, trong đó nổi tiếng nhất là Thích gia quân do Thích Kế Quang chiêu mộ chủ yếu từ người Chiết Giang, bộ đội tư nhân Liêu Đông thiết kỵ của Lý Như Tùng, và Quan Ninh thiết kỵ do Viên Sùng Hoán chiêu mộ chủ yếu từ người Liêu Đông。
Có học giả nhận định kỹ thuật chế tạo hỏa khí Trung Quốc bắt đầu từ thời kỳ Đường Tống, vào thời Minh đã phát triển đến trình độ rất cao. Hỏa khí thời kỳ này không chỉ đa dạng về chủng loại, mà kỹ thuật chế tạo và tính năng đều được nâng cao cực lớn. Tên lửa và súng hỏa mai là các hỏa khí hạng nhẹ chủ yếu của quân đội triều Minh, mìn đã rất thịnh hành vào thời Minh, phát triển hỏa khí hình ống đặc biệt nổi bật. Trung kỳ triều Minh, phật lang cơ và hồng di đại pháo và các hỏa khí tây dương khác truyền đến, khiến triều Minh học hỏi ưu điểm nhắm mục tiêu của chúng, để cải thiện tính năng hỏa khí tự sản xuất. Đương thời, thời đại binh khí lạnh của Trung Quốc sắp kết thúc, thời đại hỏa khí đang đến, dù Trung Quốc có cơ hội bắt kịp trình độ kỹ thuật hỏa khí phương Tây, song quá trình này bị gián đoạn do triều Minh diệt vong。
Có học giả chỉ ra rằng, Trung Quốc sử dụng binh khí nóng trước phương Tây hai thế kỷ, song đến thế kỷ 15 kỹ thuật bắt đầu bị người Bồ Đào Nha vượt qua, về sau quân Thanh lợi dụng kỹ thuật và kinh nghiệm của triều Minh và phương Tây, nhiều lần cải thiện và chế tạo hỏa khí có uy lực hơn so với triều Minh, đến thời loạn Tam Phiên, kỹ thuật binh khí nóng của Trung Quốc quay lại tiếp cận trình độ các quốc gia Tây Âu.
Trong những năm Vạn Lịch, người Nhật Bản cũng đi trước Trung Quốc về kỹ thuật hỏa khí, ưu thế của hỏa khí Nhật Bản từng có lúc khiến họ chiếm thế thượng phong trong chiến tranh tại Triều Tiên. Nhà quân sự Thích Kế Quang cũng phê bình nhiều loại hỏa khí đương thời thực tế không có tính thực dụng, cho nên cần ngừng sản xuất để tránh lãng phí.
== Nhân khẩu ==
Sau khi Đại Minh thành lập và thống nhất Trung Hoa, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương thi hành chính sách "hưu dưỡng sinh tức" (phục hồi và phát triển), nông nghiệp thời Mông-Nguyên vốn chịu sự phá hoại từ chiến tranh nay khôi phục ở mức độ lớn, những năm Hồng Vũ tiến hành khẩn hoang vùng đất phía bắc Hoài Hà và Tứ Xuyên trên quy mô lớn, nhân khẩu do vậy tăng trưởng ổn định. Đến năm Hồng Vũ thứ 26 (1393), toàn quốc có 63 triệu người, trong đó 61,75 triệu người thuộc dân hộ, 3,25 triệu người thuộc quân hộ. Bắc ngũ tỉnh (Bắc Bình, Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Thiểm Tây) có 17,55 triệu nhân khẩu, chiếm 27% toàn quốc; trong đó Sơn Đông là đông dân nhất với 5.462.850 người, kế đến là Sơn Tây (3.790.760 người), Hà Nam (2.825.300 người), Thiểm Tây (2.646.450 người), Bắc Bình (2.619.500 người). Trung ngũ tỉnh (Kinh Sư, Chiết Giang, Giang Tây, Hồ Quảng, Tứ Xuyên) có 33,8 triệu người, chiếm 52% toàn quốc; trong đó Nam Trực Lệ có 11.291.460 người, mật độ nhân khẩu cao nhất là ở lực vực Tô Nam Thái Hồ với tổng số 6.320.300 người và đạt 220 người/km²; tiếp đến là Chiết Giang tỉnh với 9.959.270 người; Giang Tây có 7.260.000 người, Hồ Quảng có 4.318.420 người, Tứ Xuyên có 1.314.260 người. Nam ngũ tỉnh (Phúc Kiến, Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Quý Châu) có tổng cộng 10,40 triệu người, chiếm 16% toàn quốc.
Nhân khẩu triều Minh đạt đỉnh cao vào hậu kỳ, song các học giả bất đồng về thời gian và số lượng cụ thể. Dịch Trung Thiên nhận định vào thời Minh mạt toàn quốc có trên 60 triệu người, Hàn Văn Lâm và Tạ Thục Quân nhận định năm 1626 thì Đại Minh đạt đỉnh cao về nhân khẩu, với khoảng 99,873 triệu người, Vương Dục Dân nhận định vào những năm Vạn Lịch (1573-1620) thì nhân khẩu triều Minhd dạt mức tối đa, nhân khẩu thực tế là từ 130-150 triệu người; Cát Kiếm Hùng nhận định vào năm 1600 triều Minh thực tế có 197 triệu dân, vào thời đỉnh cao là sát 200 triệu người; Tào Thụ Cơ nhận định nhân khẩu triều Minh lên đến đỉnh cao vào năm 1630 với nhân khẩu thực tế là khoảng 192,51 triệu người, sang năm 1644 thì số nhân khẩu thực tế giảm còn khoảng 152,47 triệu người; nhà kinh tế học Anh Quốc Angus Maddison thì nhận định vào năm 1600 nhân khẩu thực tế của triều Minh đạt khoảng 160 triệu người.
Cuối năm năm Gia Tĩnh thời Minh Thế Tông, các loại cây trồng cao sản đến từ châu Mỹ bắt đầu được truyền bá đến Trung Quốc, trở nên phổ biến tại những vùng có mật độ dân cư cao nhất như Giang-Chiết hay Lĩnh Nam. Đặc biệt là qua Vạn Lịch trung hưng, nhân khẩu tăng trưởng nhanh và ổn định, có học giả ước tính thì đạt đến mức chưa từng có là 150 triệu người, phân bổ vẫn không đổi. Từ Sùng Trinh thứ 11 (1640) thời Minh Tư Tông đến năm Thuận Trị thứ 7 (1650) thời Thanh Thế Tổ, do chiến tranh cùng mất mùa và dịch bệnh nên số người tử vong gia tăng, đặc biệt là bùng phát dịch hạch và hạn hán ở phương bắc, quân Bát kỳ nhập quan tiến hành giết hại và buộc người Hán phải thiên di để đề phòng họ phản kháng, khiến nhân khẩu giảm thiểu rất nhiều, chưa bằng một nửa so với trước đó, riêng phương bắc giảm xuống chỉ chưa bằng 20%.
Kế tục triều Nguyên, triều Minh phân cư dân thành "dân hộ", "quân hộ", "tượng hộ", những người làm thủ công nghiệp nhập tượng tịch. Tượng tịch và quân tịch có địa vị thấp hơn so với dân tịch, không được ứng thí, đồng thời phải kế thừa nghề của đời trước. Việc thoát khỏi hộ tịch ban đầu là khó khăn, cần phải được Hoàng đế đặc chỉ phê chuẩn.
== Kinh tế ==
Khoảng thế kỷ 16-17, Đại Minh từng là một trong các quốc gia có thủ công nghiệp và kinh tế phồn vinh nhất thế giới. Đầu thời Minh, triều đình thi hành chính sách hải cấm, khiến thương nghiệp chịu áp chế nhất định, song từ sau khi phế trừ hải cấm vào năm 1567, mậu dịch hải ngoại lại hoạt động hưng thịnh, vào thời cường thịnh trọng tải tàu viễn dương đạt đến 18 nghìn tấn.
=== Nông nghiệp ===
Đầu thời Minh, do chiến tranh kéo dài trong nhiều năm cộng thêm lạm phát, hơn nữa Nguyên Huệ Tông trước đây cho tăng cường lao dịch để trị thủy, khiến kinh tế quốc gia tiến đến bờ sụp đổ. Minh Thái Tổ thực thi hành chính sách nghỉ ngơi lại sức và di dân khai hoang, còn thi hành chính sách đồn điền, diện tích quân điền chiếm gần một phần mười đất canh tác toàn quốc. Ngoài ra, thương đồn cũng tương đối phổ biến, chính phủ dùng giấy độc quyền buôn bán muối (gọi là diêm dẫn) để trao đổi, thu hút thương nhân đem lương thực đến biên cương nhằm đảm bảo nhu cầu lương thực biên phòng. Đây không phải là phương thức lấy hàng đổi hàng, mà là yêu cầu diêm thương giao tiền trước rồi đợi đến khi muối khô mới được cấp muối. Tuy nhiên, do thuế thu không đủ nên họ đưa muối mới sản xuất ra ngoài bán riêng, kéo dài thời gian giao muối cho diêm thương chính quy, khiến cho diêm thương giao xong tiền phải mất 3-5 năm, thậm chí là mười năm sau mới lấy được muối, song lại không thể bỏ thân phận diêm thương làm việc khác mưu sinh nên nhà tan người mất, buôn lậu muối cũng diễn ra trên quy mô lớn. Minh Thái Tổ từng phái Quốc tử giám xuống thôn quê chỉ đạo xây dựng thủy lợi, đồng thời dùng miễn giảm thu thuế để khuyến khích canh tác. Các biện pháp này khiến các khu vực từng chịu tổn thất nặng nề trong chiến loạn khôi phục sinh khí, khiến kinh tế triều Minh được khôi phục nhanh chóng.
Kinh tế thời Minh vẫn lấy kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc làm chủ yếu. Nông nghiệp thời Minh bất kể là sản lượng hay công cụ sản xuất đều ở mức cao hơn triều đại trước. Các loại cây trồng cao sản có nguồn gốc từ châu Mỹ như khoai lang, bí ngô, khoai tây, ngô, bông dần được đưa đến Trung Quốc trong thế kỷ 16, trong đó bông được trồng đặc biệt phổ biến. Ngoài ra, khoai lang và ngô là các cây trồng tương đối đễ dàng, có thể trồng ở các khu vực có thổ nhưỡng tương đối khá cằn cỗi, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi mà nhu cầu lương thực ngày càng tăng trong hai thời đại Minh-Thanh. Những năm Vạn Lịch tổng diện tích đất canh tác ước đạt quá bảy triệu khoảnh, tạo cơ sở bền vững cho tăng trưởng nhân khẩu đều đặn từ thời Vạn Lịch. Thời Nam Tống, có lưu hành câu nói "Tô-Thường được mùa, thiên hạ no đủ", về sau do cư dân thành thị gia tăng nhanh chóng tại khu vực hạ du Trường Giang, cộng thêm khu vực trung du Trường Giang được khai thác phát triển nhanh chóng, đến thời kỳ giữa và cuối triều Minh, đã chuyển biến thành "Hồ Quảng được mùa, thiên hạ no đủ", ý là khu vực sản xuất lương thực chủ yếu đương thời đã chuyển đến khu vực Hồ Quảng, chính là khu vực Hồ Bắc và Hồ Nam ngày nay. Từ cuối thời Minh về sau, lương thực của Hồ Quảng bắt đầu được vận chuyển đường dài đến các khu vực [Giang-Chiết, Mân-Quảng để bán, khiến nông dân địa phương bắt đầu chuyển đổi sang loại cây trồng thương phẩm. Nông nghiệp mang tính thương nghiệp phát triển, cộng thêm xuất hiện giao thông đường dài, đều mang đến lợi ích cho sự phát triển công thương nghiệp.
=== Thủ công nghiệp ===
=== Thương nghiệp ===
== Văn hóa ==
=== Tư tưởng học thuật ===
=== Văn học ===
=== Giáo dục ===
=== Tôn giáo ===
=== Nghệ thuật ===
=== Khoa học kỹ thuật ===
== Xã hội ==
== Danh sách đế vương ==
== Xem thêm ==
Kinh tế thời nhà Minh
Danh sách các chư hầu của Đế quốc Trung Hoa
Danh sách vua nhà Minh
Lịch sử Nhật Bản
Lịch sử Triều Tiên
Những cuộc chinh phạt quân sự của nhà Minh
Minh Thập Tam Lăng
Trịnh Thành Công
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Huang, Ray. 1587, A Year of No Significance: The Ming Dynasty in Decline. New Haven: Yale University Press, 1982.
Brook, Timothy. The Confusions of Pleasure: commerce and culture in Ming China. Berkeley: University of California Press, 1998
Source for "Fall of the Míng Dynasty":- Dupuy and Dupuy's "Collins Encyclopedia of Military History"
== Liên kết ngoài ==
The Ming Dynasty at Minnesota State University
Notable Ming Dynasty Painters and Galleries tại Bảo tàng Trung Hoa trực tuyến
Ming Dynasty art at the Metropolitan Museum of Art
Ming Dynasty Với tổng cộng 16 Hoàng đế, nhà Minh cai trị Trung Hoa 276 năm, từ 1368 đến 1644. |
diopside.txt | Diopsid là một loại khoáng vật trong nhóm pyroxen có công thức hóa học MgCaSi2O6. Nó tạo ra một chuỗi dung dịch rắn hòa chỉnh với hedenbergit (FeCaSi2O6) và augit, và các dung dịch rắn từng phần với orthopyroxen và pigeonit. Nó có nhiều màu nhưng đặc trưng nhất là các tinh thể lục tối thuộc nhóm lăng trụ một nghiêng
== Thành tạo ==
Diopside được tìm thấy trong các đá siêu mafic (kimberlite và peridotit), và augit giàu diopside là phổ biến trong các đá mafic như basalt olivin và andesit. Diopside cũng được tìm thấy ở nhiều biến thể khác nhau trong các đá biến chất như đá biến chất tiếp xúc skarn phát triển từ các đá dolomit giàu silica. Nó là khoáng vật quan trọng trong manti của Trái Đất và phổ biến ở dạng thể tù peridotit phun trào trong kimberlite và basalt kiềm.
== Khoáng vật học và phân bố ==
Diopside là tiền chất của chrysotile (asbestos trắng) được hình thành bởi sự thay thế nhiệt dịch và sự phân dị mác-ma; nó có thể phản ứng với các dung dịch hydrat magiê và clo để tạo rar chrysotile bằng cách nung ở 600 °C trong khoảng 3 ngày. Một số tích tụ vermiculit, chủ yếu ở Libby, Montana, bị nhiễm chrysotile (cũng như các dạng khác của asbestos) được hình thành từ diopside.
== Tham khảo == |
luật pháp trung quốc.txt | Trong suốt chiều dài lịch sử của Trung Quốc, luật pháp Trung Quốc bắt nguồn từ triết lý Khổng giáo về trật tự xã hội. Những ảnh hưởng này thậm chí đến nay vẫn còn đậm nét trong hệ thống luật pháp của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và hệ thống luật pháp dựa trên cơ sở pháp luật Đức.
== Thời kỳ phong kiến ==
Bài chính: Luật pháp Trung Quốc truyền thống
Những giáo lý đạo Khổng có ảnh hưởng lâu dài tới đời sống người Trung Quốc và tạo lập cơ sở cho trật tự xã hội trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước này. Những người theo đạo Khổng tin vào tính thiện của con người và ủng hộ đức trị bằng luân lý cùng với khái niệm lễ.
Khổng giáo cho rằng luật pháp được san định là không đủ để cung cấp hướng dẫn ý nghĩa cho toàn bộ các hoạt động của con người, nhưng họ không chống lại việc sử dụng luật pháp để kiểm soát các thành phần cần được giáo hóa trong xã hội. Bộ luật hình sự đầu tiên được ban hành trong khoảng năm 455 và 395 TCN. Cũng có luật pháp dân sự, chủ yếu là liên quan đến chuyển nhượng đất đai. Khổng giáo cho rằng đạo đức và kỷ luật tự giác là tốt hơn bất kỳ một bộ luật nào đã khiến cho nhiều nhà sử học, thí dụ như Max Weber, cho đến giữa thế kỷ 20 kết luận rằng luật pháp không phải là phần quan trọng trong xã hội phong kiến Trung Quốc. Tuy nhiên, cách hiểu này đã hứng chịu nhiều chỉ trích kịch liệt và hiện không còn thịnh hành trong giới Trung Quốc học, những người đã kết luận rằng Trung Quốc phong kiến có một hệ thống luật pháp hình sự và dân sự tinh vi.
Pháp gia, một trường phái tư tưởng có ảnh hưởng lớn trong thời kỳ Chiến Quốc, cho rằng con người có bản tính ác và cần phải được kiểm soát bởi luật lệ hà khắc và công chính thống nhất. Trường phái Pháp gia có ảnh hưởng lớn nhất trong thời nhà Tần.
Nhà Hán duy trì một hệ thống luật pháp được thiết lập dưới thời nhà Tần, nhưng sửa đổi một số phương diện hà khắc theo triết lý Khổng giáo về kiểm soát xã hội dựa trên luân thường đạo lý. Hầu hết thư lại không phải là luật sư mà là những người được đào tạo về triết học và văn học. Tầng lớp quý tộc Khổng giáo địa phương, được đào tạo bài bản, đóng vai trò quan trọng như những người hòa giải và giải quyết tất cả các vụ việc ngoại trừ những vụ nghiêm trọng nhất tại địa phương mình.
== Tham khảo == |
trypophloeus populi.txt | Trypophloeus populi là một loài bọ cánh cứng ăn vỏ cây dương lá rung. Loài này nhỏ, con lớn chỉ dài khoảng 2 mm.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Trypophloeus populi tại Wikispecies |
20 tháng 1.txt | Ngày 20 tháng 1 là ngày thứ 20 trong lịch Gregory. Còn 345 ngày trong năm (346 ngày trong năm nhuận).
== Sự kiện ==
250 – Hoàng đế Decius bắt đầu một cuộc đàn áp rộng rãi các Kitô Hữu tại Roma. Giáo hoàng Fabianô tử đạo.
1189 – Hoàng thái tôn Hoàn Nhan Cảnh tức hoàng đế vị trước quan tài Kim Thế Tông, trở thành hoàng đế thứ sáu của triều Kim, tức Kim Chương Tông, tức ngày Quý Tị (2) tháng 1 năm Kỉ Dậu.
1649 – Quốc vương Charles I của Anh bị xét xử vì tội phản quốc và "trọng phạm".
1785 – Tại khúc sông Rạch Gầm-Xoài Mút nay thuộc Tiền Giang, Việt Nam, Liên quân Xiêm-Nguyễn bị quân Tây Sơn đánh bại trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút, tức 10 tháng 12 năm Giáp Thìn.
1841 – Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất: Anh Quốc chiếm đảo Hồng Kông của Đại Thanh.
1887 – Thượng viện Hoa Kỳ cho phép Hải quân quốc gia thuê Trân Châu Cảng làm căn cứ hải quân.
1900 – Viện Viễn Đông Bác cổ được thành lập tại Sài Gòn với nhiệm vụ nghiên cứu, khai quật khảo cổ tại Đông Dương.
1934 – Fujifilm, tập đoàn với các sản phẩm phim chụp ảnh, máy ảnh và thiết bị điện tử, được thành lập tại Tokyo, Nhật Bản.
1936 – Edward VIII trở thành quân chủ của Anh Quốc.
1945 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hungary chấp thuận một thỏa thuận đình chiến với Đồng Minh.
1945 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Đức Quốc xã bắt đầu di tản 1,8 triệu người khỏi Đông Phổ, hành động này kéo dài trong hai tháng.
1946 – Charles de Gaulle bất ngờ từ chức tổng thống của Chính phủ lâm thời Cộng hòa Pháp, chỉ hai tháng sau khi thành lập chính phủ mới.
1981 – Ronald Reagan tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ.
1986 – Ngày Martin Luther King, Jr. lầu đầu tiên được tổ chức với vị thế là ngày lễ liên bang.
2001 – Tổng thống Philippines Joseph Estrada bị lật đổ sau một cuộc cách mạng phi bạo lực kéo dài 4 ngày, kế nhiệm là Gloria Macapagal-Arroyo.
2009 – Barack Obama tuyên thệ nhậm chức và trở thành vị tổng thống Mỹ gốc Phi đầu tiên trong lịch sử.
== Người sinh ==
225 – Gordian III, hoàng đế của Đế quốc La Mã (m. 244)
1554 – Sebastian, quốc vương của Bồ Đào Nha (m. 1578)
1716 – Carlos III, quốc vương của Tây Ban Nha (m. 1788)
1775 – André-Marie Ampère, nhà vật lý học người Pháp (m. 1836)
1833 – Ernst von Prittwitz und Gaffron, tướng lĩnh Phổ (m. 1904)
1873 – Johannes Vilhelm Jensen, tác gia người Đan Mạch, đoạt giải Nobel (m. 1950)
1903 – Reg Pollard, tướng lĩnh người Úc (m. 1978)
1906 – Aristotle Onassis, doanh nhân người Thổ Nhĩ Kỳ-Hy Lạp (m. 1975)
1915 – Ghulam Ishaq Khan, chính trị gia người Pakistan, tổng thống của Pakistan (m. 2006)
1916 – Lư Khê, nhà thơ, nhà báo người Việt Nam (m. 1950)
1920 – Federico Fellini, đạo diễn người Ý (m. 1993)
1930 – Buzz Aldrin, phi công và phi hành gia người Mỹ
1946 – Đỗ Quang Trung, chính trị gia người Việt Nam
1949 – Tư Cầm Cao Oa, diễn viên người Trung Quốc-Thụy Sĩ
1958 – Lorenzo Lamas, diễn viên người Mỹ
1964 – Minh Nhí, diễn viên và đạo diễn người Việt Nam
1965 – Sophie, thành viên vương thất Anh Quốc
1971 – Gary Barlow, ca sĩ, nghệ sĩ dương cầm, nhà sản xuất âm nhạc người Anh Quốc (Take That)
1971 – Wakanohana Masaru, đô vật sumo người Nhật Bản
1973 – Mathilde, vương hậu của Bỉ
1979 – Rob Bourdon, nhạc sĩ người Mỹ
1979 – Yasser Al-Habib, giáo sĩ người Kuwait
1980 – Ju Se Hyeok, cầu thủ bóng bàn người Hàn Quốc
1981 – Owen Hargreaves, cầu thủ bóng đá người Anh
1987 – Marco Simoncelli, vận động viên đua xe mô tô người Ý (m. 2011)
1988 – Jeffrén Suárez, cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha
== Người mất ==
250 – Giáo hoàng Fabianô (s. 200)
619 – Lý Mật, thủ lĩnh nổi dậy tại Trung Quốc, tức ngày Canh Tý (30) tháng 12 năm Mậu Dần (s. 582)
619 – Vương Bá Đương, tướng lĩnh nổi dậy tại Trung Quốc
1189 – Hoàng Nhan Ung, tức Kim Thế Tông, hoàng đế triều Kim, tức ngày Quý Tị (2) tháng 1 năm Kỉ Dậu (s. 1123)
1612 – Rudolf II, hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần thánh (s. 1552)
1639 – Mustafa I, sultan của Đế quốc Ottoman (s. 1591)
1813 – Christoph Martin Wieland, tác gia người Đức (s. 1733)
1819 – Carlos IV, quốc vương của Tây Ban Nha (s. 1748)
1850 – Adam Oehlenschläger, nhà thơ người Đan Mạch (s. 1779)
1841 – Nguyễn Phúc Đảm, tức Minh Mạng, quân chủ triều Nguyễn, tức ngày 28 tháng 12 năm Canh Tý (s. 1791)
1855 – Adelaide, vương hậu của Sardinia (s. 1822)
1875 – Jean-François Millet, họa sĩ người Pháp (s. 1814)
1885 – Udo von Tresckow, tướng lĩnh Phổ (s. 1808)
1921 – Sương Nguyệt Anh, nhá báo người Việt Nam (s. 1864)
1932 – Moriz von Lyncker, sĩ quan quân đội Phổ (s. 1853)
1936 – George V, quốc vương của Anh Quốc (s. 1865)
1938 – Lưu Tương, quân phiệt người Trung Quốc (s. 1888)
1983 – Garrincha, cầu thủ bóng đá người Brasil (s. 1933)
1990 – Barbara Stanwyck, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1907)
1993 – Audrey Hepburn, nữ diễn viên người Bỉ-Anh Quốc (s. 1929)
1994 – Matt Busby, cầu thủ, huấn luyện viên bóng đá người Anh Quốc (s. 1909)
2012 – Etta James, ca sĩ người Mỹ (s. 1938)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
chiba.txt | Chiba (Nhật: 千葉県 (Thiên Diệp Huyện), Chiba-ken) là một tỉnh của Nhật Bản, thuộc vùng Kanto. Tỉnh này nằm ở phía bắc vịnh Tokyo, giáp với Ibaraki ở phía bắc, Saitama và Tokyo ở phía tây, phía đông trông ra biển Thái Bình Dương. Trung tâm hành chính là thành phố Chiba.
== Địa lý ==
== Lịch sử ==
Tỉnh Chiba được thành lập vào ngày 15 tháng 6 năm 1873 trên cơ sở sáp nhập tỉnh Kisarazu và tỉnh Inba làm một. Xưa kia, trên địa bàn tỉnh Chiba là các xứ Awa, Kazusa và Shimousa.
== Hành chính ==
Thuộc tỉnh Chiba có 56 đơn vị hành chính gồm 36 thành phố, 20 làng và thị trấn.
Làng và thị trấn:
== Kinh tế ==
Chiba có vùng công nghiệp Keiyo là nơi tập trung nhiều cơ sở công nghiệp mà ba ngành chính là lọc dầu, hóa chất và chế tạo máy. Chính quyền tỉnh đã đầu tư phát triển tới 80 khu công nghiệp để thu hút các nhà đầu tư tới phát triển kinh tế tỉnh. Tỉnh này còn có sản lượng Iốt từ mỏ khí ga lớn nhất Nhật Bản.
Chiba là tỉnh có sản lượng nông nghiệp lớn thứ hai trong các tỉnh ở Nhật Bản. Đặc sản nổi tiếng là lạc. Ngành ngư nghiệp cũng phát triển, sản lượng đánh bắt hải sản đứng thứ 5 (2002). Có nhiều khu nuôi tôm và cá trình rất lớn.
Chiba có ngành du lịch phát triển. Có nhiều khu vui chơi giải trí lớn nằm ở tỉnh này như Tokyo Disneyland, Tokyo Disneysea. Sân bay Narita là sân bay quốc tế lớn nhất Nhật Bản cũng nằm ở đây.
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Chiba
== Thể thao ==
CLB Kashiwa Reysol
CLB JEF United Ichihara Chiba
== Du lịch ==
Tokyo Disney Resort
Khu triển lãm Makuhari Messe
Bảo tàng Lịch sử Dân tộc quốc gia
Chùa Naritasan
Công viên thủy sinh vật Suigosawara
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh Chiba (tiếng Nhật)
Thông tin hướng dẫn (tiếng Anh) |
nông nghiệp việt nam.txt | Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, manh mún, thô sơ. Năm 2009, giá trị sản lượng của nông nghiệp đạt 71,473 nghìn tỷ đồng (giá so sánh với năm 1994), tăng 1,32% so với năm 2008 và chiếm 13,85% tổng sản phẩm trong nước. Tỷ trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế bị sụt giảm trong những năm gần đây, trong khi các lĩnh vực kinh tế khác gia tăng. Đóng góp của nông nghiệp vào tạo việc làm còn lớn hơn cả đóng góp của ngành này vào GDP. Trong năm 2005, có khoảng 60% lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, và thuỷ sản. Sản lượng nông nghiệp xuất khẩu chiếm khoảng 30% trong năm 2005. Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Nam là nước thứ Nhất trên thế giới về xuất khẩu gạo(2013). Những nông sản quan trọng khác là cà phê, sợi bông, đậu phộng, cao su, đường, và trà. chủ yếu là xuất khẩu thô chưa qua sơ chế.
== Lịch sử ==
Sản xuất nông lâm, là lĩnh vực sản xuất quan trọng nhất đối với sự phát triển của Việt Nam, nhiều biến đổi thăng trầm từ những năm tháng thống nhất đất nước vào năm 1975. Sự tăng trưởng mạnh được ghi nhận vào năm 1976—tăng đến 10% so với năm 1975—nhưng sản xuất lại giảm khoảng đến còn 95% trong những năm 1976, 1977 và 1978 và sự phục hồi đáng kể trong năm 1979.
Trồng trọt và chăn nuôi đã bù đắp lại sự thiếu hụt của nông nghiệp trong thời kỳ này. Ví dụ, khoảng 8% tăng trong sản lượng gia súc trong năm 1977 làm cân bằng 8% sụt giảm của sản lượng cây trồng (chủ yếu là kết quả của 1 triệu tấn sụt gạo giảm trong các vụ mùa). Trong năm 1978 kết quả đã đảo ngược: hiện tượng sản lượng gia súc sụt giảm mạnh đi với dấu hiệu sản lượng của thóc lúa bắt đầu tăng. Giá trị sản lượng cây trồng đã vượt hơn gấp bốn lần so với sản lượng gia súc lúc bấy giờ.
Trên hết vấn đề khó khăn nhất đối với ngành nông nghiệp Việt Nam là thời tiết thất thường, như trận hạn hán diễn ra năm 1977 và những trận bão và lũ lụt trong những năm 1978. Trận hạn hán làm lượng nước vượt quá tiêu chuẩn cần thiết cây trồng, điều đó làm chúng chết dần. Và thêm những trận lũ lụt giảm số lượng gia súc xuống tới 20%. Các thống kê của Việt Nam không được công bố rộng rãi về báo cáo số lượng gia súc giảm cho với mục tiêu chỉ định đặt ra những năm 1978 và 1980. Qua những kế hoạch sai lầm nghiêm trọng vào khoảng cuối năm 1970s đã làm chậm và suy giảm ngành nông nghiệp. Và còn vấn đề phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, và một số dụng cụ cơ khí vẫn còn thiếu ở Việt Nam.
Bỏ mặc sự thiếu lương thực lẫn vật liệu trong những thời kỳ đầu chính phủ vẫn quyết định thi hành những chính sách đã dự kiến, với niềm hy vọng sản xuất lương thực đủ để dùng (đủ lương thực cho cần thiết cho mỗi người) không được khả thi cho lắm trong những thập niên 1980. Năm 1980, dự kiến sẽ đạt khoảng trên 15 tấn nhưng không quá 21 triệu tấn, nhưng sản lượng đã không đạt được như mong muốn.
Chính sách nông nghiệp được công bố từ năm 1976 đến 1980 đã có những kết quả tốt, xấu. Dựa trên tiêu chuẩn khuyến khích trồng trọt thêm những loại cây lương thực có năng suất cao như (cà chua, sắn, đậu, và bắp) dẫn tới số lượng tăng trưởng thấp hơn 10% trong năm 1975 và tiếp tục tăng đến thêm 20% vào cuối thập niên 1970. Những kế hoạch khuyến khích nông nhân trong những năm 1978 và 1979 bao gồm cố gắng tăng số lượng người tiêu dùng vật phẩm trong các vùng nông thôn và cố gắng năng giá thành. Chính phủ đã thi hành chính sách bằng cách lập nhiều hợp đồng hứa hẹn chắc chắn có lợi nhuận cho những người tham gia sản xuất đầu tư nông nghiệp. Tuy nhiên, các quan chức cao không có khả năng và còn thiếu nguồn cung cấp cho nông nghiệp nên chính sách đã bị thất bại.
Kế hoạch được khai triển vào khoảng giữa năm 1977 nhằm xúc tiến sự hợp nhất nông nghiệp Bắc và Nam nhưng đã gặp phải cản trở quyết liệt từ miền Nam. Theo báo cáo về kế hoạch do người dân tự nguyện được thiết kế và được thi hành bởi các chủ tịch địa phương, nhưng nông dân miền Nam chủ yếu là người làm chủ ruộng đồng—nhưng không phải là tá điền—và, bên cạnh đó từ việc lập ra đội sản xuất chung nhằm để chống đối chính sách nhà nước (một ý kiến được nông dân miền Nam chấp nhận ngay lập tức), Họ từ chối hợp tác trong bất cứ kế hoạch hợp tác nào làm không đúng với chủ quyền tài sản.
Thất bại từ việc không thể hợp nhất nông nghiệp dẫn tới phương án mới là dùng vũ lực để cưỡng ép nông dân phải hợp tác. chính sách đó dường như làm phản tác dụng. Vào cuối những năm 1978 và 1979 những nhà lãnh đạo chính quyền đã làm chủ được tình hình nông nghiệp dẫn tới tăng sản lượng còn thiếu.
Trong miền Bắc, dạng làm việc chung (hợp tác) bởi các nông dân đã được hình thành vào khoảng năm 1959 và 1960, và vào năm 1965 khoảng 90% tài sản của nông dân đã trở thành của chung. Năm 1975, hơnn 96% tài sản của nông dân đã thuộc về chính quyền nhà nước dùng để chia đều cho người dân, đồng nghĩa nông dân đã đóng góp đất, của cải, đồ dùng, gia súc để có được thu nhập.
Khoảng năm 1976 và 1980, chính sách nông nghiệp ở miền Bắc được thi hành bởi chính quyền mới trong sự nỗ lực làm chủ kế hoạch trồng trọt và nông nghiệp. Sự kiểm soát không chặt chẽ của các chính sách trong những năm chiến tranh đã dẫn tới sự chặt chẽ hơn để nhằm tăng số lượng nhân công để nhận làm các nghĩa vụ khác. Dẫn tới năng suất nhân công giảm. Một người Việt ở nước ngoài khảo sát 10 hợp tác xã sản xuất gạo thì thấy rằng, mặc dù tăng nhân công và diện tích gieo trồng trong những năm 75, 76 và 77, nhưng sản lượng lại giảm trong khi chi phí lại tăng so với những các năm 72 đến 74. Mặc dù không tính đến thời tiết và các yếu tố khác, nhưng những phát hiện trên phù hợp với những kết luận của những người nghiên cứu về những ảnh hưởng của mô hình tập thể hóa ở các quốc gia khác.
Vốn đầu tư từ quốc gia cho nông nghiệp trong năm thứ ba của kế hoạch 5 năm vẫn ở mức độ thấp, và các quận huyện gặp phải khó khăn lớn trong thời gian kế hoạch 5 năm và cho đến những 1986 và 1987. Chỉ có duy nhất thóc tăng 5% hàng năm. Tuy số lượng lương thực đủ để đáp ứng nhu cầu tăng dân số 2,3% trong những năm của thập niên 1980, nó vẫn không đủ để tăng số lượng trung bình tiêu thụ mỗi năm cho từng người là cao hơn nhiều so với số lượng 300 kg. Theo nguồn của chính quyền Việt Nam vào năm 1986 các gia đình nông dân phải cống hiến 80% thu nhập của họ để đổi lấy lương thực họ cần.
Kết luận năm thứ ba trong quá trình kế hoạch 5 năm, sản lượng nông nghiệp vẫn còn thấp hơn mức cần thiết vì thế chính quyền Việt Nam chuyển sang hướng khai thác các tài nguyền khác để hỗ trợ thêm cho công nghiệp. Trong năm 1986, nông nghiệp thu nhập vững ở khoảng 44% của lợi tức quốc gia (số tiền dùng để cho tăng trưởng quốc gia cần gần tới 10%). Nền nông nghiệp chiếm khoảng 66% nhân công toàn nước—cao hơn những năm 1976 và 1980. Tệ nhất vẫn là sản lượng trung bình mỗi nông nhân (thuộc nông nghiệp) sụt giảm trong thời gian đổi mới, xuống thấp hơn nhiều so với sự tăng trưởng của công nhân (thuộc công nghiệp). Trong năm 1980, ba nhân công nông nghiệp chỉ nhận được thu nhập từ sản xuất bằng một công nhân và năm 1985 một công nhân sản xuất gấp 6 lần so với nông dân.
Vào tháng 12 năm 1986, Võ Văn Kiệt, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Thủ tướng Việt Nam, đã nhấn mạnh một trong những vấn đề chính của ngành nông nghiệp Việt Nam trong đoạn diễn văn của ông trong kỳ họp thứ mười hai của quốc hội khóa bảy. Trong khi nhắc tới thành tựu của thủy nghiệp và lâm nghiệp, ông đã lưu ý gần như toàn bộ nông nhân—khoảng 80% của cả ngành nông nghiệp—đã thất bại trong kế hoạch đạt mục tiêu cho năm 1986. Ông đã trách những Hội đồng bộ trưởng, Ủy ban kế hoạch nhà nước, Bộ ngoại thương về thất bại của về việc bảo đảm về vấn đề "nguyên liệu" (Căn bản phải đảm bảo có đủ phân bón và thuốc trừ sâu) cho sự phát triển của nông nghiệp. Ông trách các hệ thống giá cả về sự xản xuất dưới mức cho phép thuộc "cây trồng công nghiệp" xuất khẩu của Việt Nam bao gồm cây đay, đường, đậu phộng, trà, cà phê và cao su. Cấp độ sản lượng bổ sung cho cây trồng và cà chua, bắp, và cây sắn đã bị giảm trong một vài năm, cả hai đều liên quan tới mục tiêu cần đạt tới và cả sản lượng. Điều kì lạ là sản lượng gia súc bao gồm gà, trâu, và heo được chính quyền báo cáo sẽ tiếp tục phát triển thêm để đạt tới mục tiêu, bỏ mặc sự không ổn định giá cả và sự thiếu lương thực cho gia súc.
== Xem thêm ==
Cải cách ruộng đất tại Việt Nam
Các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam
Nông thôn Việt Nam
Lễ tịch điền
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Sự thần kỳ lúa gạo
Báo Nông nghiệp Việt Nam
Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam |
quần đảo ogasawara.txt | Quần đảo Ogasawara (tiếng Nhật: 小笠原諸島 Ogasawara Shotō) là một quần đảo của Nhật Bản ở Thái Bình Dương, cách Tokyo chừng 1000 km về phía Nam. Về mặt hành chính, toàn bộ quần đảo được xếp là một đơn vị hành chính trục thuộc Tokyo. Quần đảo mang tên người đã phát hiện ra chúng, Ogasawara Sadayori.
Quần đảo này có tổng diện tích mặt đất là 104 km². Nó được chia ra làm bảy nhóm đảo với khoảng 30 hòn đảo. Từ đất liền Nhật Bản ra quần đảo này chính thức chỉ có đường hàng hải. Xa xưa, đảo này vốn không có người ở, nên còn được gọi là "đảo không người" mầ tiếng Nhật thời kỳ Edo là buninshima hoặc buninjima rồi từ đó có tên tiếng Anh là Bonin Islands. Hiện nay, trong 30 đảo thì chỉ có bốn đảo là Chichijima, Hahajima, Iwojima và Minamitorishima có người ở, song hai đảo sau thực chất chỉ có các đơn vị quân đội, biên phòng biển, cơ quan khí tượng.
Mặc dù quần đảo được Ogasawara phát hiện ra từ năm 1592, song đến năm 1675 thì Mạc phủ Tokugawa mới tuyên bố nó thuộc chủ quyền của Nhật Bản. Sau khi người phương Tây xâm nhập các đảo ở đây, và năm 1830 một người Mỹ là Nathaniel Savory lấy Chichijima làm thuộc địa thì năm 1862 chính quyền Nhật Bản mới tái khẳng định chủ quyền của họ.
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, nơi đây đã xảy ra những trận đánh ác liệt. Trận Iwo Jima nổi tiếng khốc liệt diễn ra khi hải quân Mỹ đổ bộ lên chiếm đảo Iwojima và gặp phải sự kháng cự mãnh liệt của quân Nhật đồn trú ở đây.
Dân cư của quần đảo này ngày nay là con cháu của những người phương Tây đến đây từ giữa thế kỳ 19, những người Nhật từ quần đảo Hawaii của Mỹ chuyển về đây và những người Nhật từ trong đất liền ra, Ngày nay họ đều dùng tiếng Nhật.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo == |
hòa ước versailles.txt | Hòa ước Versailles năm 1919 là hòa ước chính thức chấm dứt cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) giữa nước Đức và các quốc gia thuộc phe Hiệp Ước. Nội dung Hòa ước được soạn thảo bởi Georges Clemenceau, Thủ tướng nước Pháp, cùng với Hoa Kỳ và Vương quốc Anh – là ba nước thắng trận.
Sau nhiều trận đánh đẫm máu từ năm 1914 cho đến giữa năm 1918, quân đội Pháp đã khánh kiệt. Tuy nhiên, nhờ có sự hợp tác của quân đội Anh và Hoa Kỳ, Pháp đã tiếp tục nỗ lực chiến tranh của mình. Cuối cùng, khi tình hình nước Đức trở nên rối loạn, nước Pháp ăn mừng chiến thắng và mong ước có một hội nghị hòa bình nhằm xóa bỏ hoàn toàn mối đe dọa từ phía Đức và có được khoản bồi thường chiến phí.
Hội nghị hòa bình này đặt ra những điều khoản khe khắt lên nước Đức bại trận. Nó có thể được so sánh với Hòa ước Tilsit mà Napoléon Bonaparte áp đặt lên Vương quốc Phổ vào năm 1807, hoặc là Hòa ước Brest-Litovsk do Đế quốc Đức áp đặt lên nước Nga Xô Viết vào đầu năm 1918. Sau khi Nhà nước Đức Quốc xã được thành lập với sự lãnh đạo của Adolf Hitler, hội nghị hòa bình đã bị Hitler xóa bỏ vào thập niên 1930.
== Nội dung ==
Hòa ước quy định Đức phải trả lại cho Pháp miền Alsace-Lorraine, một mảnh đất cho Bỉ, một mảnh tương tự ở Schleswig cho Đan Mạch – tùy kết quả một cuộc trưng cầu ý dân – mà Thủ tướng Otto von Bismarck đã chiếm trong thế kỷ trước sau khi đánh bại Đan Mạch trong cuộc Chiến tranh Schleswig lần thứ hai. Hòa ước trả lại một số mảnh đất cho Ba Lan, vài nơi tùy kết quả cuộc trưng cầu ý dân, mà Đức đã chiếm trong sự phân chia của Ba Lan. Đây là một trong những điều khoản khiến dân Đức tức giận nhất, không chỉ vì họ bất mãn thấy tách rời miền Đông Phổ khỏi nước Đức bằng một hành lang cho Ba Lan đường thông ra biển, mà còn vì họ ghét bỏ người Ba Lan mà họ xem như giống người hạ cấp. Người Đức cũng giận dữ không kém khi thấy hòa ước đòi hỏi họ phải chấp nhận trách nhiệm đã khởi động cuộc chiến và đòi họ phải giao cựu Hoàng đế Wilhelm II cho phe Hiệp ước, người bị kết án đã khởi động chiến tranh và khoảng 800 tội phạm chiến tranh.
Số tiền bồi thường chiến tranh sẽ được định sau, nhưng khoản đầu gồm 5 tỉ đô-la phải được trả trong thời gian 1919–1921, và có thể giao vài loại hiện vật – than, tàu, gỗ, bò... – thay cho tiền bồi thường.
Điều khoản nặng nhất là Hòa ước Versailles vô hình trung giải giới nước Đức với mục đích, ít nhất trong một thời gian, ngăn chặn bước đường bá quyền của Đức ở châu Âu. Hòa ước giới hạn Đức có tối đa quân số 100.000 người tình nguyện tức không được bắt thi hành nghĩa vụ quân sự, cấm sở hữu máy bay và xe tăng. Bộ Tổng Tham mưu phải bị dẹp bỏ. Hải quân bị giảm thành lực lượng tượng trưng, bị cấm chế tạo tàu ngầm hoặc tàu trọng tải trên 10.000 tấn.
== Phản ứng ==
Nội dung của Hòa ước được công bố ở thủ đô Berlin ngày 7 tháng 5 năm 1919. Chính phủ lâm thời chống đối mạnh mẽ việc chấp nhận bản Hòa ước Versailles "Vô lý", theo tên gọi chế giễu bây giờ. Đại đa số nhân dân Đức, dù cho thiên về cánh Hữu hoặc cánh Tả, đều hậu thuẫn chính phủ. Ngày 9 tháng 5, đại biểu Đức tại Versailles viết thư cho Georges Clemenceau rằng một hòa ước như thế là "không thể chấp nhận được đối với bất cứ quốc gia nào."
Chính phủ lâm thời hỏi ý kiến của quân đội: Nếu từ chối ký vào hòa ước, liệu quân đội có thể chống cự cuộc tấn công của Đồng minh hay không? Tổng thống lâm thời Friedrich Ebert đặt câu hỏi này cho Bộ Tư lệnh Tối cao. Ngày 17 tháng 6, Thống chế Paul von Hindenburg cho ý kiến:
Lời kết luận của một vị Tổng Tham mưu trưởng được sùng kính là đúng theo truyền thống của quân đội Đức, nhưng có vẻ không được trung thực. Nhân dân Đức không biết Hindenburg đã nghĩ rằng nếu cố chống cự Đồng minh thì không những vô vọng, mà còn có thể khiến cho cấp chỉ huy quân đội quý giá bị tiêu diệt và từ đó nước Đức cũng bị hủy diệt theo.
Qua việc này, Quân đội Đức bị chê trách là đã quá khôn lanh và hèn nhát đã thúc đẩy chính phủ lâm thời ký hiệp ước đình chiến, và sau đó kết án chính phủ là quá yếu đuối, làm tổn hại đến quyền lợi của Đức.
Bây giờ, Đồng minh đang đòi hỏi Đức trả lời dứt khoát. Ngày 16 tháng 6, một ngày trước khi Hindenburg gửi văn bản trả lời cho Ebert, Đồng minh ra tối hậu thư: phải chấp nhận hòa ước chậm nhất là ngày 24 tháng 6, nếu không thỏa ước đình chiến sẽ bị chấm dứt và lực lượng Đồng minh sẽ "có biện pháp cần thiết để áp chế các điều khoản".
Một lần nữa, Ebert kêu gọi đến Quân đội: Nếu Bộ Tư lệnh Tối cao nghĩ có cơ may nhỏ nhoi nào đó để chống cự được Đồng minh, Ebert hứa đảm bảo Quốc hội sẽ bác bỏ hòa ước. Nhưng ông phải có ngay câu trả lời. Thời hạn chót của tối hậu thư, 24 tháng 6, đã đến. Nội các họp vào lúc 16:30 giờ để lấy quyết định cuối cùng.
Hindenburg và Tướng Wilhelm Groener, nhân vật số 2 trong Quân đội, hội ý với nhau. Vị Thống chế già nua, mệt mỏi nói: "Ông cũng như tôi biết rõ rằng không thể kháng cự bằng quân sự." Nhưng một lần nữa, ông không có can đảm nói sự thật với Tổng thống Lâm thời của nền Cộng hòa. Ông bảo Groener: "Ông có thể trả lời cho Tổng thống cũng tốt như tôi thôi."
Và một lần nữa, vị tướng can đảm Groener nhận trách nhiệm cuối cùng đáng lẽ phải thuộc về vị Thống chế, dù ông biết rằng ông bị đưa ra làm vật tế thần cho quân đội. Ông gọi cho Tổng thống nói rõ về quan điểm của Bộ Tư lệnh Tối cao.
== Phê chuẩn và ký kết ==
Cảm thấy nhẹ nhõm vì các cấp chỉ huy Quân đội đã nhận trách nhiệm – sự kiện mà nhiều người chẳng bao lâu quên bẵng – Quốc hội với đa số lớn chấp nhận việc ký kết hòa ước. Quyết định được thông báo cho Clemenceau chỉ mười chín phút sau thời hạn chót của tối hậu thư. Bốn ngày sau, 28 tháng 6 năm 1919, hội nghị hòa bình được ký kết trong Lâu đài Versailles ở Paris. Đây chính là nơi Đế quốc Đức được tuyên bố thiết lập vào ngày 28 tháng 1 năm 1871, trong giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ (1870 – 1871) – cuộc chiến đã chấm dứt vào tháng 5 năm 1871 với sự thất bại của Pháp. Điều này thể hiện tinh thần báo thù của người Pháp đối với Đức kể từ sau thất bại trong Chiến tranh Pháp-Phổ.
Hòa ước Versailess được phê chuẩn bởi Hội Quốc liên (tiếng Pháp: Société des Nations) ngày 10 tháng 1 năm 1920. Riêng Hoa Kỳ không phê chuẩn Hòa ước Versailles, mà chủ trương đàm phán riêng rẽ với Đức.
== Hậu quả ==
Thống chế Pháp là Ferdinand Foch phản đối Clemenceau và không bằng lòng với những điều khoản của hội nghị Versailles với nước Đức. Ông suýt nữa thì không cam chịu hội nghị hòa bình này. Foch cho rằng hội nghị quá mềm dẻo, không bắt thiết lập đầu cầu ở sông Rhine. Đồng thời, ông ta cũng nhận thấy những điềm báo về sự thất bại của hội nghị. Vào ngày 21 tháng 6, Foch cho rằng người Đức vẫn tiếp tục "xảo trá" khi ông chứng kiến cảnh họ tự hủy hoại hạm đội của mình không rơi vào tay Pháp. Chưa kể, Foch còn trở nên nổi cáu khi quần chúng nhân dân Đức đốt cháy mọi lá cờ Pháp mà quân đội Phổ giành lấy được trong cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ, nhằm ngăn cản việc trao trả những lá cờ này cho Pháp. Ông ta gửi thư cho vợ mình: "Bọn họ nhạo báng chúng ta. Toàn thể châu Âu là một đám nhốn nháo. Ấy là công trình của Clemenceau". Do đó, Foch từ chối làm lễ ký kết hòa ước Versailles vào ngày 28 tháng 6 năm 1919 tại Versailles. Foch có lời tuyên bố, mà sau này càng trở nên đúng:
Bất chấp những nỗ lực lớn nhất của Clemenceau, Hòa ước này đã thất bại trong việc thay đổi sự bất cân bằng chiến lược giữa nước Đức và Pháp: Đức vẫn còn đông dân hơn nhiều và có nền công nghiệp phát triển vượt trội Pháp. Quân đội Pháp thì quá yếu để có thể hủy diệt sức mạnh quân sự của Đức, và nhìn chung là Pháp không thể gây ảnh hưởng lớn trong khối Hiệp Ước để thuyết phục đồng minh của mình phân chia nước Đức. Thượng viện Hoa Kỳ từ chối phê chuẩn bản hòa ước này vào tháng 1 năm 1920, và liên minh giữa Anh Quốc và Pháp bắt đầu suy sụp. Thống chế Foch trở nên chán ghét lời đề nghị một liên minh quân sự giữa Pháp, Anh Quốc và Hoa Kỳ - cái mà Clemenceau đặt niềm tin to lớn. Tổng quan, không những thắng lợi của Pháp năm 1918 hoàn toàn là một chiến thắng kiểu Pyrros, mà Pháp đã thất bại trong việc thiết lập một nền hòa bình lâu dài.
=== Quá trình hủy hoại Hòa ước Versailles của Đức ===
Hậu quả của Hòa ước Versailles trong nhất thời là gây bất mãn và phẫn nộ cho toàn thể nước Đức. Nó cũng cho thấy sự thiếu hiểu biết về tâm lý và ngoại giao của phe Đồng minh để thuyết phục hoặc chuẩn bị tinh thần cho người Đức chấp nhận là họ phải gánh trách nhiệm đã gây ra chiến tranh và tự nguyện bồi thường thiệt hại. Thay vào đó, người Đức nghĩ rằng họ đã bị o ép một cách tủi nhục. Ngay trong ngày ký kết Hòa ước, tờ báo Deutsche Zeitung đã ghi nhận:
Vào năm 1919, Tướng Hans von Seeckt chỉ huy Quân đội Liên bang Đức (Reichswehr) thời Cộng hòa Weimar trở nên đánh phá mạnh mẽ vào Hòa ước Versailles. Theo Điều khoản 160 thì Bộ Tổng Tham mưu Đức bị cấm chỉ, nhưng ông tái hiện Bộ Tham mưu Đức thông qua việc thành lập Bộ chỉ huy Quân đội Đức (Truppenamt). Dù các Điều khoản 176 và 177 cấm đoán các Hàn lâm viện Chiến tranh và Học viện đào luyện Sĩ quan, nhưng ông gầy dựng lại những tổ chức này. Vào năm 1922, nước Đức ký kết Hiệp định Rapallo với Liên bang Xô Viết. Dưới danh nghĩa là tái lập quan hệ ngoại giao, thỏa thuận thương mại và xóa bỏ đòi hỏi chiến phí của hai bên, Hiệp định Rapallo cho phép sĩ quan Quân đội Liên bang Đức đến huấn luyện cho chiến sĩ Hồng quân Liên Xô, là một sự phá vỡ hạn chế của Hòa ước Versailles về sự mở mang khả năng quân sự của Đức. Hiệp định này đã phá tan hy vọng về một liên minh Pháp - Xô, đồng thời Đức được công nhận ngầm là một cường quốc.
Chính phủ Đức cũng dùng những biện pháp kinh tế để tránh né Hòa ước Versailles, thí dụ như chủ ý gây lạm phát tiền tệ đất nước. Cụ thể hơn, họ chủ trương không nộp khoản chiến phí mà Hòa ước này yêu cầu. Đồng thời, Hoa Kỳ khẩn cấp yêu cầu Pháp trả nợ cho mình. Điều này đã dẫn tới khủng hoảng vào năm 1923: trong tháng 1 năm ấy, liên quân Pháp - Bỉ xâm lược thung lũng Ruhr giàu sắt và than đá và chiếm đóng trong suốt 2 năm rưỡi. Cuối cùng, một giải pháp chính thức được đề xuất để chấm dứt cuộc khủng hoảng: đó là kế hoạch Dawes, quân xâm lăng rút khỏi Ruhr. Nhưng cuộc khủng hoảng còn có ý nghĩa to lớn hơn, đó là cuộc kháng cự bất bạo động của những người thợ mỏ Đức chống quân xâm lược Pháp - Bỉ đã khiến cho nhân dân đồng loạt ủng hộ họ, trong khi đó, việc quân Pháp kêu gọi họ làm việc trở lại chỉ khiến cho toàn dân Đức càng thêm căm ghét kẻ thù xâm lăng. Sau khi khủng hoảng kết thúc, khoảng chiến phí mà Đồng Minh áp đặt cho nước Đức trong Hòa ước Versailles bị giảm đi rất nhiều, và quan hệ Anh - Pháp càng thêm suy sụp do nước Anh có thiện cảm với cuộc kháng cự bất bạo động vì chính nghĩa của những người thợ mỏ Đức.
Quan hệ quốc tế từ năm 1933 cho đến năm 1939 có một điểm bật là Hòa ước Versailles bị Lãnh tụ Đức Quốc xã là Adolf Hitler nghiền nát thành hàng trăm mảnh. Vốn trước thời Hitler, nhân dân Đức đã căm ghét Hòa ước đó, các nhà chính trị của Cộng hòa Weimar đã chú trọng việc phá vỡ Hòa ước này, và khi Hitler lên nắm quyền thì nó đã suy sụp. Anh Quốc và Pháp đã rút quân khỏi miền Rheinland, và các khoản bồi thường chiến phí đã bị xóa sổ. Nước Mỹ càng trở nên cô lập, trong khi Đế quốc Nhật Bản trỗi dậy mạnh mẽ ở vùng Cận Đông làm cho Anh Quốc lo sợ.
Khi mới lên lãnh đạo nước Đức, ông trở nên thận trọng trong đường lối đối ngoại. Ông chưa nghĩ đến chuyện phá vỡ trật tự Âu châu theo Hiệp định Versailles, dù đó là mục tiêu chính của ông và ông cũng muốn đánh gục Pháp. Thay vào đó, ông chỉ chớp lấy thời cơ một khi nó hiện ra, thay vì chấp nhận mạo hiểm. Ông đọc bài diễn văn kể lại sự kinh hoàng của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất vẫn còn làm cho ông khiếp vía, và thể hiện lòng quyết tâm né tránh một cuộc chiến tranh mới. Ông cũng luôn luôn nhấn mạnh rằng nước Đức chỉ muốn Hòa ước Versailles "trong sạch" hơn, chứ không phải là phá bỏ nó. Dù cái Hòa ước chết tiệt này chỉ bắt buộc nước Đức phải từ giã vũ khí, Hitler tuyên bố rằng nó bắt mọi quốc gia phải làm điều ấy và ông rút Đức khỏi các thảo luận về giải trừ quân bị và "Hội Quốc Liên" vào Mùa Thu năm 1933. Với lý lẽ tương tự để chống lại Hòa ước Versailles, vào năm 1935 Lãnh tụ Hitler cho thiết lập lực lượng Không quân (Luftwaffe) và mở mang lực lượng Quân đội Đức gấp 5 lần quân số hiện tại, làm cho Anh Quốc và Pháp phải tập trung vào "Mặt trận Stresa". Anh Quốc và Pháp không thể chống nổi những thay đổi lớn lao này, làm cổ vũ cho chí khí của Hitler. Trong thỏa thuân Hải quân Anh-Đức vào năm 1935, Anh Quốc coi đó là thời cơ để hạn chế lực lượng Hải quân Đức Quốc xã, tuy nhiên thỏa thuận laị là một bước tiến cho việc xóa sổ Hòa ước Versailles.
Bấy giờ Hội Quốc Liên suy yếu trong khi nước Ý liên minh với Đức. Trong một cuộc bỏ phiếu toàn dân, nước Đức lấy lại được vùng Saarland, và nhận thấy các quốc gia châu Âu khác rối loạn Hitler cho quân tiến vào vùng phi quân sự hóa Rheinland vào tháng 3 năm 1936. Đây là một hành động liều lĩnh, táo bạo của ông, đã chọc thủng tàn dư của Hòa ước Versailles, là chiến thắng to lớn của Hitler, dời đi cái vùng đệm giữa nước Đức và Pháp. Với việc phòng thủ biên giới phía Tây Đức, Hòa ước Versailles thì đổ nát còn Pháp thì khó thể tiến quân vào nước Đức. Anh Quốc thì thờ ơ khi người Đức hành binh vào lãnh thổ của chính họ, còn Pháp thì bất lực, không thể làm gì được. Không những thế, Đức can thiệp mạnh mẽ vào cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, trong khi Anh Quốc và Pháp chẳng làm nên cái trò trống gì và điều này dẫn đến việc hình thành khối Trục Roma - Berlin vào tháng 11 năm 1936. Thất bại của Hòa ước Versailles tuy là nguyện vọng của Hitler nhưng đồng thời còn là mong ước của biết bao người dân Đức. Cho đến cuối năm 1937, dù chưa được chôn cất nhưng Hòa ước này đã bị tiêu diệt, và nước Đức với sức mạnh quân sự vô song trở thành một cường quốc trên thế giới, cùng với Ý và Nhật Bản đe dọa đến Pháp và Anh Quốc.
== Tham khảo ==
== Tài liệu ==
Andelman, David A. (2008). A Shattered Peace: Versailles 1919 and the Price We Pay Today. New York/London: J. Wiley. ISBN 9780471788980.
Demarco, Neil (1987). The World This Century. London: Collins Educational. ISBN 0003222179.
Macmillan, Margaret (2001). Peacemakers. London: John Murray. ISBN 0719559391.
Markwell, Donald (2006). John Maynard Keynes and International Relations. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0198292368.
Nicolson, Harold (2001). Peacemaking, 1919. London: Simon Publications. ISBN 193154154X.
Wheeler-Bennett, Sir John (1972). The Wreck of Reparations, being the political background of the Lausanne Agreement, 1932. New York: H. Fertig.
== Đọc thêm ==
The Treaty of Versailles: A Reassessment After 75 Years, Boemeke, Manfred F., Gerald D. Feldman, and Elisabeth Gläser, editors. Washington, DC: German Historical Institute, 1998.
== Liên kết ngoài ==
Photographs of the document
The consequences of the Treaty of Versailles for today's world
Text of Protest by Germany and Acceptance of Fair Peace Treaty
My 1919—A film from the Chinese point of view, the only country that did not sign the treaty
"Versailles Revisted" (Review of Manfred Boemeke, Gerald Feldman and Elisabeth Glaser, The Treaty of Versailles: A Reassessment after 75 Years. Cambridge, UK: German History Institute, Washington, and Cambridge University Press, 1998), Strategic Studies 9:2 (Spring 2000), 191–205 |
nguyễn thị bích ngọc.txt | Nguyễn Thị Bích Ngọc (sinh 1961) là một nữ chính khách Việt Nam. Chức vụ hiện tại của bà là Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội.
== Thân thế sự nghiệp ==
Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc sinh ngày 4 tháng 4 năm 1961, quê ở thôn Cao Kiêng, xã Đông Quang, huyện Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội).
Từ tháng 9 năm 1979 đến tháng 6 năm 1983, bà theo học tại khoa Văn, trường Đại học Sư phạm 1. Thời gian theo học tại đây, bà tham gia hoạt động công tác Đoàn và được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa 4.
Từ tháng 12 năm 1983 đến tháng 6 năm 1996, bà công tác tại Tỉnh đoàn Hà Tây, từng giữ chức Phó Bí thư rồi Bí thư Thị đoàn Hà Đông, được bầu Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa 5. Bà được kết nạp vào Đảng CỘng sản Việt Nam ngày 19 tháng 9 năm 1986. Từ tháng 8 năm 1988 đến tháng 7 năm 1989, bà được cử đi học tại trường Đoàn cao cấp Cộng hòa Dân chủ Đức.
Từ tháng 6 năm 1996, bà chuyển sang công tác Đảng và chính quyền tại tỉnh Hà Tây, lần lượt giữ các chức vụ Trưởng ban Tuyên giáo Thị ủy Hà Đông, Phó Chủ tịch UBND Thị xã Hà Đông, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Hà Tây, Ủy viên BCH Trung ương Hội LHPN Việt Nam.
Từ tháng 5 năm 2004 đến tháng 6 năm 2005, bà là Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Hà Tây, Đại biểu Quốc hội khóa 11. Từ tháng 7/2005 - 10/2007 là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy Hà Đông, tỉnh Hà Tây. Từ tháng 11/2007 - 7/2008 là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Hà Tây, Đại biểu Quốc hội khóa 12.
Sau khi Hà Tây sát nhập và Hà Nội, từ tháng 8/2008 - 3/2011 là Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, Ủy viên Ban Cán sự Đảng UBND TP, Giám đốc Sở Nội vụ, Đại biểu Quốc hội khóa 13.
Từ tháng 4 năm 2011, bà là Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND TP, đại biểu HĐND TP khóa 14, Đại biểu Quốc hội khóa 13. Ngày 25 tháng 5 năm 2015, bà được bầu làm Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, thay người tiền nhiệm Ngô Thị Doãn Thanh được điều động sang làm Phó trưởng ban Dân vận Trung ương.
== Tham khảo == |
cambridge.txt | Cambridge, thành phố trung tâm hành chính của Cambridgeshire, miền đông nước Anh, bên Sông Cam. Thành phố Cambridge có diện tích khoảng 40,7 km² và dân số 118.500 người. Cambridge nổi tiếng là trung tâm giáo dục, học thuật và là nơi có Đại học Cambridge danh tiếng châu Âu và trên toàn thế giới. Đây cũng là một trung tâm thị trường cho khu vực nông nghiệp xung quanh. Thành phố có các ngành sản xuất thiết bị điện tử và công cụ chính xác. Thành phố Cambridge giữ được vẻ cổ kính thời Trung Cổ với các công trình đặc sắc, bao gồm: Nhà thờ Saint Bene't, một công trình kiến trúc tôn giáo theo phong cách Saxon được xây dựng vào thế kỷ 10; Nhà thờ Holy Sepulchre được phục chế, một trong bốn nhà thờ Norman hình tròn ở Anh. Nhà nguyện King’s College (bắt đầu năm 1446) là một ví dụ đẹp nhất về kiến trúc Gothic ở châu Âu. Thành phố Cambridge có nhiều công viên và vườn và nhiều bảo tàng và phòng trưng bày tranh, nổi bật nhất là Bảo tàng Fitzwilliam. Cambridge còn là chủ nhà của festival nghệ thuật hàng năm và một hội chợ giữa mùa Hè có từ đầu thế kỷ 16.
Một tiền đồn quân sự của La Mã có lẽ đã hiện diện ở khu vực gần Cambridge ngày nay. Trong thời kỳ Anglo-Saxon, mậu dịch giữa miền Trung Anh và lục địa châu Âu đã được thực hiện thông qua cây cầu bắc qua Sông Cam ở đây. Trong thế kỷ 12, nhiều dòng tu tôn giáo đã thiết lập các tu viện và các trường học ở Cambridge. Đại học Cambridge bắt đầu từ các trường này thừ thế kỷ 13. Cambridge nhận được charter đầu tiên năm 1207.
== Tham khảo == |
tên gọi trung quốc.txt | Trong suốt quá trình lịch sử phát triển của mình, Trung Quốc có rất nhiều tên gọi khác nhau, kể cả xuất phát từ bên trong lẫn bên ngoài lãnh thổ của nó, và mỗi tên gọi đều có nguồn gốc riêng, có thể rõ ràng hoặc không, và có thể có những cách dùng khác nhau, trong những văn cảnh, thời điểm khác nhau.
== Tên gốc Hán ==
Tại Trung Quốc ngày nay, tên gọi Trung Quốc thường được dùng để chỉ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, bao gồm Trung Quốc bản thổ (tính cả Đài Loan), Mãn Châu, Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng. Ngược lại, Hán thường chỉ nhóm sắc tộc Hán, là dân tộc đông nhất tại Trung Quốc bản thổ, Mãn Châu, và một phần tại ba vùng còn lại. Không có từ nào dành riêng để chỉ Trung Quốc bản thổ, hay lãnh thổ có người Hán sinh sống.
Trung Hoa thì lại là một từ mang tính chất văn chương hơn, có thể dùng thay thế cho Trung Quốc như trong tên gọi chính thức của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc. Đường (唐) cũng được coi như tương đương với Hán đối với người miền Nam Trung Quốc, mặc dù ở góc độ hạn hẹp nó thường chỉ tiếng Quảng Đông hoặc các nhóm ngôn ngữ khác ở miền Nam.
=== Trung Quốc ===
"Trung Quốc" viết theo kiểu giản thể ngày nay là 中国, còn kiểu phồn thể truyền thống là 中國. Nếu chiết tự thì 中 là một trục cắt giữa một hình chữ nhật, biểu thị "ở giữa"; 國 thuộc bộ "vi" (囗) để chỉ một lãnh thổ có bao bọc, chữ nhất 一 là một bức tường, và chữ qua 戈 là một lưỡi "qua"; nôm na là "vùng đất ở giữa"; nghĩa bóng là "quốc gia ở dưới gầm trời" ("thiên hạ"), ý nói Trung Quốc là trung tâm thế giới và có sức mạnh văn hóa và quân sự hơn hẳn các nước chung quanh.
Tuy nhiên, trong suốt lịch sử Trung Quốc, tên gọi này không được dùng một cách thống nhất, nó mang một số ý nghĩa văn hóa và chính trị tích cực lẫn tiêu cực, thậm chí còn có tính sô vanh, và các quốc gia thuộc lịch sử Trung Quốc thì ban đầu không được gọi là "Trung Quốc". Vào thời Xuân Thu, nó chỉ được dùng để chỉ các quốc gia kế thừa từ nhà Tây Chu, ở lưu vực sông Hoàng Hà, để phân biệt với các nước như Sở và Tần. Do vậy, "Trung Quốc" là định nghĩa thể hiện trung tâm thế giới và sự khác biệt về văn hóa và chính trị với các nước xung quanh; một khái niệm tiếp tục tồn tại đến thời nhà Thanh, mặc dù liên tục được định nghĩa lại khi thế lực chính trị trung ương bành trướng lãnh thổ ra xung quanh, và khi văn hóa của nó đồng hóa các ảnh hưởng ngoại lai.
"Trung Quốc" cũng nhanh chóng chiếm các vùng đất phía nam vượt qua các con sông lớn bao gồm Dương Tử Giang và Châu Giang (珠江), thành một thực thể văn hóa và chính trị (có lẽ không hợp lý khi gọi nó là một "nước" hay "quốc gia" theo nghĩa hiện đại); và đến thời nhà Đường nó còn thâu tóm cả các chế độ "dã man" như Tiên Ti và Hung Nô. Ngày nay CHNDTH quản lý Nội Mông Cổ, Tân Cương và Tây Tạng, còn THDQ hiện nay quản lý Đài Loan, các khu vực này cũng được coi là một bộ phận không thể tách khỏi của "Trung Quốc", mặc dù việc chấp nhận hay phản đối vẫn còn là vấn đề chính trị gây tranh cãi, đặc biệt khi Trung Quốc đồng nghĩa với CHNDTH.
Vương Nhĩ Mẫn (王爾敏), nhà sử học của Viện Hán Học đã tìm ra năm nghĩa của chữ 中國 trong các văn tự cổ từ thời nhà Hán trở về trước, theo đó "Trung Quốc" có ba nghĩa rõ rệt nhất là:
Khu vực bao quanh thành phố chính, hay kinh thành. Kinh Thi định nghĩa rất minh bạch khái niệm này.
Vùng đất dưới sự kiểm soát trực tiếp của nhà cầm quyền trung ương. Sử Ký có ghi: "Có tám ngọn núi nổi tiếng trong đế chế. Ba ngọn thuộc về các rợ Man và Di. Năm ngọn nằm ở "Trung Quốc"."
Khu vực ngày nay gọi là Bình nguyên Hoa Bắc. Tam Quốc Chí có ghi lại câu sau: "Nếu chúng ta có thể dẫn được quân Ngô và Việt (粵 và/hoặc 越) (thuộc khu vực phía nam Giang Tô và bắc Chiết Giang) để đối đầu với "Trung Quốc", thì chúng ta nên sớm cắt đứt quan hệ với họ." Theo nghĩa này thì nó đồng nghĩa với vùng đất của người Hoa (華) hay Hạ (夏) (hay Hoa Hạ).
Hai nghĩa còn lại là: nước nằm ở giữa; các nước vai ngang nhau, để chỉ các nước thời Chiến Quốc.
Vào thời các nước phân tranh sau khi nhà Hán sụp đổ, tên gọi "Trung Quốc" thay đổi ý nghĩa khi các sắc dân du mục ở biên giới phía bắc trỗi dậy và chiếm được lưu vực sông Hoàng Hà, cái nôi của văn minh Trung Quốc. Chẳng hạn như người Tiên Ti gọi chế độ Bắc Ngụy của họ là "Trung Quốc", để phân biệt với Nam Triều, mà họ gọi là "Di" (夷), nghĩa là "mọi rợ". Nam Triều, về phía họ, sau khi tách khỏi phía bắc thì gọi Bắc Ngụy là "Lỗ" (虏), nghĩa là "tội phạm" hay "tù binh". Theo nghĩa này "Trung Quốc" được dùng để thể hiện tính hợp pháp chính trị. Nó được các triều đại tranh giành nhau là Liêu, Tấn và Tống dùng theo nghĩa này từ thế kỷ thứ 10 trở đi. Tên gọi "Trung Quốc" từ đó cũng được dùng để chỉ một thực thể địa lý, văn hóa và chính trị mà không nói đến nguồn gốc sắc tộc nữa.
Trung Hoa Dân Quốc thời Tôn Trung Sơn (THDQ) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH), khi quản lý đại lục Trung Hoa, đều sử dụng tên gọi "Trung Quốc" như là một thực thể tồn tại trên lý thuyết để chỉ tất cả các vùng đất và con người nằm trong (kể cả bên ngoài) tầm kiểm soát chính trị của nó. Trung Hoa Dân quốc thời Tưởng Giới Thạch sau năm 1949 thường dùng từ "Trung Quốc" là để chỉ THDQ thời Tôn Trung Sơn bao gồm cả Đại lục và quần đảo Đài Loan, Hải Nam và gọi "Đài Loan" là để nói riêng về đảo quốc này). Ngày nay CHNDTH chính thức công nhận có 56 dân tộc và gọi chung là "Trung Quốc nhân" (中國人), tức "người Trung Quốc". Và lịch sử của các dân tộc này hợp chung lại gọi là lịch sử "Trung Quốc".
=== Trung Hoa ===
Trung Hoa (中華/中华; bính âm: Zhōnghuá; bính âm thông dụng: Jhonghuá; nghĩa là "màu mỡ, tinh hoa trung tâm") ban đầu để chỉ mảnh đất giàu văn hóa Hà Nam. Ngày nay, Trung Hoa chỉ dùng trong một số từ kết hợp (v.d., 中华文化 "văn hóa Trung Quốc") hoặc thể hiện ý nghĩa văn chương, bóng bẩy, mang ý nghĩa tích cực, trong khi Trung Quốc, thì có sắc thái trung lập hơn.
Tiếng Nhật: Chūka (中華; ちゅうか)
Tiếng Triều Tiên: Junghwa, Chunghwa (중화; 中華)
Tiếng Indonesia: Tionghua (giọng Mân Nam địa phương)
Người Trung Hoa ở hải ngoại thường được gọi là Hoa kiều (華僑/华侨; nghĩa là "người Hoa ở nhờ"), hay Hoa duệ (華裔/华裔; nghĩa là "dòng dõi người Hoa").
=== Chấn Đán ===
Chấn Đán 震旦: dịch âm tiếng Phạn "cina", ngày xưa Ấn Độ gọi Trung Quốc.
=== Hoa Hạ ===
Tên gọi Hoa Hạ hay Hoa Giạ (华夏 pinyin: huáxià) là kết hợp của hai chữ:
Hoa nghĩa là tinh hoa, màu mỡ, thịnh vượng.
Hạ/Giạ có thể có nghĩa nhà Hạ hoặc "to lớn", "ở giữa nước".
Tên gọi này được sử dụng rộng rãi để chỉ châu thổ Hoàng Hà, tương đương với "Trung Quốc", trước khi tên gọi Hán trở thành phổ biến.
=== Đại Lục ===
Đại Lục (大陸; bính âm: dàlù), nghĩa là "cõi đất liền lớn", tức "lục địa". Tên gọi này thường chỉ Trung Quốc đại lục trong văn cảnh chính trị; Đại Lục thường không tính đến vùng đất Hồng Kông, Ma Cao, và Đài Loan. Người đảo Hải Nam cũng gọi Trung Quốc ở đất liền là Đại Lục. Sách báo tiếng Việt còn gọi là Hoa Lục.
=== Trung Nguyên ===
=== Thần Châu ===
Thần Châu (chữ Hán: 神州; bính âm: Shénzhōu) có nghĩa là "đất nước thần thánh". Tên này được sử dụng cho Chương trình Thần Châu, chương trình không gian có người điều khiển của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
=== Thiên Hạ ===
=== Đường Sơn ===
== Tên các triều đại ==
=== Tần ===
Thống nhất 7 nước từ năm 221 TCN đến 206 TCN thì đầu hàng Lưu Bang.Là triều đại đầu tiên của Trung Hoa
=== Hán ===
Triều đại kế tục nhà Tần (221 TCN - 207 TCN), và được tiếp nối bởi thời kỳ Tam Quốc (220-280), cuối cùng chấm dứt dưới sự cai trị của nhà Tấn
=== Tấn ===
=== Đường ===
=== Tống ===
=== Nguyên ===
=== Minh ===
=== Thanh ===
== Tên khác ==
=== Cathay ===
=== Sinae ===
== Chú thích == |
khách sạn.txt | Khách sạn là một công trình kiến trúc kiên cố, có nhiều tầng, nhiều phòng ngủ được trang bị các thiết bị, tiện nghi, đồ đạc chuyên dùng nhằm mục đích kinh doanh các dịch vụ lưu trú, phục vụ ăn uống và các dịch vụ bổ sung khác. Tùy theo nội dung và đối tượng sử dụng mà phân loại khách sạn tạm trú, du lịch, nghỉ dưỡng, hội nghị, v.v... Theo mức độ tiện nghi phục vụ, khách sạn được phân hạng theo số lượng sao từ 1 đến 5 sao.
Khách sạn là cơ sở kinh doanh lưu trú phổ biến trên Thế giới, đảm bảo chất lượng và tiện nghi cần thiết phục vụ kinh doanh lưu trú, đáp ứng một số yêu cầu về nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác trong suốt thời gian khách lưu trú tại khách sạn, phù hợp với động cơ, mục đích chuyến đi.
Khách sạn được hiểu là một loại hình doanh nghiệp được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích sinh lời.
== Nguồn gốc ngôn ngữ ==
Khách sạn nghĩa là cơ sở cho thuê lưu trú (ở trọ); tuy nhiên, không chỉ có khách sạn mới có dịch vụ lưu trú mà các cơ sở khác như nhà trọ, nhà nghỉ, nhà khách,... cũng có dịch vụ này.
== Tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn ==
Khách sạn là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, bảo đảm chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch. Các tiện nghi cơ bản trong một phòng ở khách sạn là một giường, một nhà vệ sinh, một bàn nhỏ. Còn trong các khách sạn sang trọng hơn thì có thể có vài phòng với phòng ngủ và phòng khách riêng và thêm các tiện nghi khác như máy điều hòa nhiệt độ, điện thoại, ti vi, mini bar với các loại đồ uống, cà phê, trà và các dụng cụ nấu nước nóng.
Khách sạn thường nằm gần các khu nghỉ mát phục vụ khách nghỉ dưỡng hay các trung tâm thành phố phục vụ khác công vụ hoặc các hoạt động giải trí khác như đánh bạc.
Giá tiền thuê khách sạn tính theo đơn vị ngày hay giờ, thời gian tính thường từ 12 giờ (hoặc 14 giờ) trưa hôm nhận phòng đến 12 giờ trưa hôm sau. Giá phòng có thể bao gồm cả ăn sáng hoặc không tùy theo từng khách sạn.
== Hoạt động kinh doanh của khách sạn ==
Hoạt động kinh doanh chủ yếu của khách sạn là kinh doanh dịch vụ lưu trú và ăn uống. Hiện nay cùng với việc phát triển của ngành du lịch và cuộc cạnh tranh thuhút khách, hoạt động kinh doanh khách sạn không ngừng được mở rộng và đa dạnghoá. Ngoài hai dich vụ cơ bản trên các nhà kinh doanh đã tổ chức các hoạt độngkhác như tổ chức các hội nghị, hội thảo, phục vụ vui chơi, giải trí...Trong các dịch vụ trên có những dịch vụ do khách sạn sản xuất ra để cungcấp cho khách như dịch vụ khách sạn, ăn uống, vui chơi giải trí... có những dịch vụkhách sạn làm đại lý bán cho các cơ sở khác như: đồ uống, điện thoại, giặt là....Trong các dịch vụ khách sạn cung cấp cho khách có những dịch vụ và hàng hoá khách phải trả tiền, có những dịch vụ và hàng hoá khách không phải trả tiền nhưdịch vụ giữ đồ cho khách, dịch vụ khuân vác hành lý...Kinh doanh trong ngành du lịch thực hiện thu hút một phần quỹ tiêu dùngcủa nhân dân và thực hiện tái phân chia quỹ tiêu dùng của cá nhân theo lãnh thổ.
== Loại hình khách sạn ==
Có nhiều loại khác nhau, phổ biến hiện nay thường đánh giá theo tiêu chuẩn sao (star). Khách sạn càng nhiều sao thì có quy mô càng lớn và đầy đủ các dịch vụ phục vụ khách.
=== Quy mô phòng ===
Xếp loại khách sạn vào quy mô buồng phòng thì chia thành các mức:
Khách sạn nhỏ: 1 đến 150 phòng
Khách sạn vừa: 151 đến 400 phòng
Khách sạn lớn: 401 đến 1500 phòng
Khách sạn Mega: trên 1500 phòng
=== Khách hàng đặc thù ===
Xếp khách sạn theo đặc thù khách hàng chủ yếu, bao gồm:
==== Khách sạn thương mại (commercial hotel) ====
Là loại hình khách sạn thường tập trung ở các thành phố lớn hoặc các khu trung tâm thương mại, đối tượng chính là khách thương nhân nhưng thực tế hiện nay là đối tượng khách du lịch.
Thời gian lưu trú ngắn hạn.
==== Khách sạn sân bay (airport hotel) ====
Airport Hotel tọa lạc gần các sân bay quốc tế. ví dụ như khách sạn sân bay Tân Sơn Nhất...
Đối tượng chính là các nhân viên phi hành đoàn, khách chờ visa...
Thời gian lưu trú ngắn.
==== Khách sạn bình dân (Hostel/Inn) ====
Không nằm trong trung tâm thành phố, nằm gần các bến xe, nhà ga... với các tiện nghi tối thiểu. ví dụ khu du lịch ba lô...
Đối tượng là khách bình dân, túi tiền vừa phải.
==== Khách sạn sòng bạc (Casino hotel) ====
Chủ yếu cung cấp các dịch vụ và nhu cầu chơi, giải trí, cờ bạc... thường được xây dựng lộng lẫy, các trang thiết bị cao cấp. Ví dụ như các khách sạn ở Ma Cao, Las Vegas,...
Đối tượng khách có nhu cầu giải trí cờ bạc các loại.
Thời gian lưu trú ngắn.
==== Khách sạn nghỉ dưỡng (resort hotel) ====
Nằm ở các vùng cao nguyên, ven biển, hải đảo, vịnh, thung lũng... Ví dụ Phan Thiết, Mũi Né, Nha Trang, Vũng Tàu...
Đối tượng khách có nhu cầu nghỉ dưỡng, nghĩ bệnh...
Lưu trú dài hạn.
==== Khách sạn căn hộ (suite hotel/apartment) ====
Nằm trong các thành phố lớn, có các loại phòng với diện tích lớn, đầy đủ tiện nghi như một căn hộ với các phòng chức năng: phòng ăn- khách- ngủ-bếp.
Đối tượng lưu trú là khách đi du lịch theo dạng gia đình,khách thương gia, khách công vụ, các chuyên gia đi công tác ngắn và trung hạn.có các dịch vụ phục vụ nhu cầu của khách trong thời gian lưu trú.
==== Nhà nghỉ ven xa lộ (Motel) ====
Thường có nhiều ở nước ngoài, thường nằm trên các superhighway.
Đối tượng là khách hàng đi du lịch bằng xe môtô, xe hơi, khách có thể đậu xe trước cửa phòng mình.
Chủ yếu là có chỗ ở qua đêm, ngắn hạn.
== Đặt phòng khách sạn ==
Với các khách sạn hạng 1 hoặc 2 sao thì nguồn thu đến phần lớn từ khách lẻ. Với các khách sạn lớn họ phụ thuộc không nhỏ vào các công ty lữ hành trong việc mang khách đến và đặt các dịch vụ đi kèm. Ngày nay với sự phát triển của internet, đặt khách sạn trở nên đơn giản hơn, khách hàng có thể truy cập trực tiếp vào website của khách sạn để đặt phòng hoặc thực hiện đặt phòng qua các đại lý đặt phòng trực tuyến.
== Chú thích == |
gỗ.txt | Gỗ là một dạng tồn tại vật chất có cấu tạo chủ yếu từ các thành phần cơ bản như: xenluloza (40-50%), hemixenluloza (15-25%), lignin (15-30%) và một số chất khác. Nó được khai thác chủ yếu từ các loài cây thân gỗ.
Trái Đất có khoảng một nghìn tỷ tấn gỗ, với tốc độ mọc khoảng 10 tỷ tấn mỗi năm. Gỗ là một nguồn tài nguyên tái tạo trung hòa cacbon và dồi dào, vật liệu gỗ được quan tâm đặc biệt là một nguồn năng lượng tái tạo. Năm 1991, có khoảng 3,5 tỷ mét khối gỗ được thu hoạch. Ứng dụng chính của gỗ là làm đồ gỗ và xây dựng các tòa nhà.
== Lịch sử ==
Một phát hiện năm 2011 ở New Brunswick của Canada đã vén mở những thực vật được biết sớm nhất đã có gỗ vào cách nay khoảng 395 đến 400 triệu năm.
Con người đã dùng gỗ hàng ngàn năm vào nhiều mục đích khác nhau, mà chủ yếu là làm nhiên liệu hoặc vật liệu xây dựng nhà, công cụ, vũ khí, công trình nghệ thuật và làm giấy.
== Công dụng của gỗ ==
Sơ bộ thống kê hiện nay trên thế giới có khoảng trên 100 ngành dùng gỗ làm nguyên, vật liệu với trên 22.000 công việc khác nhau và sản xuất ra hơn 20.000 loại sản phẩm.
Gỗ là nguyên, vật liệu được con người sử dụng lâu đời và rộng rãi, là một trong những vật tư chủ yếu của nền kinh tế quốc dân.
Trong các văn kiện chính thức từ trước tới nay, chính phủ Việt Nam vẫn xếp gỗ đứng hàng thứ ba sau điện và than .
Gỗ được sử dụng rất rộng rãi trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, kiến trúc, xây dựng, khai khoáng.
Ngoài ra gỗ còn được dùng làm văn phòng phẩm, nhạc cụ, dụng cụ thể dục thể thao, đóng toa tàu, thùng xe, thuyền, phà, cầu cống, bàn ghế và dụng cụ học sinh, đồ dùng trong gia đình, công sở và chuyên dùng như bệnh viện, thư viện...
== Ưu, nhược điểm của gỗ và cách khắc phục ==
=== Ưu điểm của gỗ ===
Cách nhiệt, cách điện, ngăn ẩm tốt, nhiệt giãn nở bé.
Mềm nên có thể dùng các máy móc, dụng cụ để cưa, xẻ, bào, khoan, tách chẻ với vận tốc cao nhưng vẫn chịu lực tốt.
Dễ nối ghép bằng đinh, mộng, keo dán.
Có vân thớ đẹp, dễ nhuộm màu, dễ trang trí bề mặt.
Dễ phân ly bằng hóa chất dùng sản xuất giấy và tơ nhân tạo.
Là nguyên liệu tự nhiên,có thể tái tạo, chỉ cần trồng, chăm sóc và dùng máy móc đơn giản để khai thác và chế biến là có được.
=== Nhược điểm và biện pháp khắc phục ===
Sinh trưởng chậm, đường kính có hạn, có nhiều khuyết tật tự nhiên. Cần sử dụng các biện pháp kĩ thuật lâm - sinh hợp lý trong công tác trồng và chăm sóc rừng.
Dễ mục, dễ bị sinh vật (mối, mọt,...) phá hoại. Cần phun tẩm các hóa chất chống mối mọt.
Đàn hồi thấp. Cần biến tính gỗ bằng phương pháp ép hoặc ngâm hóa chất.
Trong khi phơi sấy thường dễ nứt nẻ, cong vênh, biến hình. Cần có phương án cưa xẻ, bóc lớp thích hợp.
Trong thân thường có các chất chiết xuất, thường gây khó khăn cho công việc trang sức bề mặt sản phẩm, hoặc ăn mòn các công cụ cắt gọt.
Tỷ lệ co giãn cao, sản phẩm thường chịu tác động lớn của độ ẩm, nhiệt độ môi trường. Cần loại bỏ các yếu tố gây co giãn này:
Ngâm tẩm hóa chất nhằm thay thế các gốc (-OH) trong gỗ
Sấy gỗ để loại bỏ nước tự do và nước thấm khỏi gỗ. Sấy ở nhiệt độ 103±2oC
Dễ bắt lửa, dễ cháy. Cần ngâm tẩm hoặc sơn phủ các chất chống bắt lửa
== Mặt cắt gỗ ==
Trong nghiên cứu cấu tạo của gỗ người ta thường nghiên cứu trên 3mặt cắt điển hình:
Mặt cắt ngang: Là mặt cắt có phương vuông góc với trục dọc thân cây.
Mặt cắt xuyên tâm: Là mặt cắt nghiên cứu có phương song song với trục dọc thân cây và đi qua tâm (lõi) thân cây.
Mặt cắt tiếp tuyến: Mặt cắt gỗ có phương song song với trục dọc thân cây và vuông góc với một trong các đường thẳng xuyên tâm.
== Gỗ sớm, gỗ muộn ==
Gỗ sớm hay gỗ xuân là phần gỗ sinh ra trong 1 chu kì sinh trưởng ở điều kiện sinh trưởng thuận lợi, cụ thể là nhiều mưa và nguồn nước dồi dào (ở Việt Nam thường là mùa xuân hạ, ở các nước ôn đới thường là mùa xuân). Gỗ sớm thường có màu sáng hơn. Các tế bào gỗ sớm thường có vách mỏng, ruột lớn để có thể tích chứa và dẫn nhiều nước. Khả năng chịu các lực cơ học là thấp hơn.
Gỗ muộn hay gỗ hạ là phần gỗ sinh ra trong một chu kì sinh trưởng của cây gỗ ở điều kiện sinh trưởng không thuận lợi (ở Việt Nam thường là mùa thu đông, ở các nước ôn đới thường là mùa hạ). Gỗ muộn thường có màu thẫm. Tế bào gỗ muộn vách dày, ruột nhỏ, khả năng chịu tác động cơ học tốt.
Sự khác biệt trong hình thái và cấu trúc các tế bào trong gỗ sớm và gỗ muộn là nguyên nhân hình thành nên các vòng gỗ của cây.
== Gỗ dác, gỗ lõi ==
Gỗ lõi là do gỗ dác hình thành nên. Đây là một quá trình biến đổi sinh học, vật lý và hóa học rất phức tạp. Trước hết tế bào chết, thể bít hình thành, các chất hữu cơ xuất hiện: nhựa cây, chất màu, tanin, tinh dầu,... Nhìn chung, do thành phần các chất hữu cơ nói trên tích tụ rất nhiều trong gỗ lõi, các tế bào ở đây được cho là không còn đảm nhiệm chức năng dẫn nước và muối khoáng nữa mà trở thành "thùng rác" chứa các chất thải, chất bã của cây. Ở trong ruột tế bào thấm lên vách tế bào làm cho gỗ lõi có màu sẫm, nặng, cứng, khó thấm nước, đồng thời có khả năng chống sâu, nấm, mối, mọt hơn gỗ dác, do đó được sử dụng để đóng các đồ dùng như: tủ, giường, cửa, bàn ghế,.... Do gỗ lõi ít "rỗng" hơn gỗ dác, độ bền vật lý của gỗ lõi tốt hơn gỗ dác và nó đảm nhận vai trò chống đỡ cho toàn bộ cấu trúc của cây.
Trên mặt cắt ngang gỗ lõi có màu sẫm hơn so với gỗ dác. Ở một vài loài, thường xuất hiện hiện tượng gỗ lõi bị rỗng. Không có mối quan hệ nào giữa tăng trường đường kính thân cây và thể tích gỗ dác, gỗ lõi. Có loài không hình thành gỗ lõi, có loài gỗ lõi hình thành từ rất sớm, khiến bề dày của gỗ dác rất mỏng (ví dụ gỗ cây họ Dẻ, họ Dâu tằm).
== Vòng năm ==
Là vòng gỗ do tầng phát sinh phân sinh ra thường là 1 năm (tuỳ theo vị trí địa lý, ví dụ ở Việt Nam thì vòng tăng trưởng trùng với một năm). Độ rộng của vòng năm phản ảnh tốc độ sinh trưởng của một cây. Số lượng vòng năm cho ta biết tuổi cây. Trên mặt cắt ngang, vòng năm là những đường tròn đồng tâm, trên mặt cắt xuyên tâm chúng là những đường thẳng song song với nhau và có thể song song với trục dọc thân cây. Tùy từng đặc điểm sinh học của loài, đặc điểm thời tiết, điều kiện dinh dưỡng mà vòng năm có thể là dễ nhận biết hoặc khó nhận biết.
== Gỗ lá kim ==
.
Gỗ lá kim hay gỗ mềm là sản phẩm gỗ tự nhiên khai thác từ các loài cây lá kim. Cấu tạo gỗ lá kim rất đơn giản, thành phần cấu tạo chủ yếu gồm có quản bào vòng, quản bào dọc, tia gỗ, tế bào mô mềm xếp dọc thân cây, ống dẫn nhựa.
Thành phần hóa học của gỗ lá kim chủ yếu gồm: xenlulo chiếm 43-52%, hemixellulo chiếm 15-20%, lignhin chiếm 23-34%, ngoài ra còn một số chất phụ khác như chất màu, tinh dầu,...chiếm tỉ lệ rất ít.
Đặc điểm chung của gỗ lá kim là vòng năm rõ, gỗ sớm gỗ muộn phân biệt rõ. Tia gỗ nhỏ và ít. Thớ gỗ thẳng, ít khi nghiêng thớ. Gỗ lá kim thông thường là mềm hơn, dễ tạo tác hơn và độ bền cơ học thấp hơn các gỗ lá rộng, tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ.
80% số gỗ xẻ trên thế giới là các gỗ lá kim. Các ưu điểm như thớ gỗ rất dài và thẳng, cây mau lớn, dễ tạo tác đã khiến gỗ lá kim chiếm tỉ lệ lớn trong số lượng gỗ tiêu thụ trên thế giới.
== Gỗ lá rộng ==
Gỗ lá rộng là các sản phẩm gỗ tự nhiên khai thác từ thực vật lá rộng. Gỗ lá rộng có cấu tạo phức tạp hơn gỗ lá kim, các thành phần cấu tạo chủ yếu: mạch gỗ, tế bào mô mềm xếp dọc thân cây, tia gỗ, sợi gỗ, quản bào dọc, ống dẫn nhựa, cấu tạo lớp.
Thành phần hóa học của gỗ lá rộng gồm: xenlulo chiếm 41-49%, hemixellulo chiếm 20-30%, lignhin chiếm 16-25%, ngoài ra còn có mặt của một số chất chiết xuất. Thành phần các nguyên tố là sắp xỉ nhau, tương tự gỗ lá kim không phụ thuộc vào loài cây: C 49-50%; O 43-44%; H ≈ 6%; N ≈1%.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
wikibooks.txt | Wikibooks – từ ghép tiếng Anh của wiki và books (sách); trước đây cũng được gọi là Dự án Sách giáo khoa tự do của Wikimedia và Sách giáo khoa Wikimedia – là một trong những dự án liên quan với Wikipedia của Quỹ Hỗ Trợ Wikimedia, nó bắt đầu vào ngày 10 tháng 7 năm 2003.
Dự án Wikibooks là thư viện đựng sách giáo khoa, sổ tay và nhiều loại bản văn khác, tất cả tự do. Như Wikipedia, website đó là wiki, tức là tất cả mọi người có thể sửa đổi trang nào bằng cách bấm cái nút "sửa đổi" ở trên các trang ở Wikibooks.
Nó được bắt đầu khi Karl Wick, một thành viên Wikipedia, xin một chỗ để viết sách giáo khoa nội dung mở (gọi là wikibook) về hóa học hữu cơ và vật lý học, để giảm bớt nhiều trở ngại về học hành như là giá cao.
Một số sách đầu tiên được viết hoàn toàn mới, và một số khác bắt đầu được chép từ những sách có nội dung tự do khác trên Internet. Cả nội dung của Wikibooks được phát hành theo Giấy Phép Sử Dụng Văn Bản Tự Do GNU. Những đóng góp vẫn của người đóng góp, nhưng bản quyền copyleft đó cho phép là bất cứ lúc nào cả nội dung cũng sẽ được phân bố và chép, cho cộng tác tiếp.
Website đó đang cố gắng viết vài sách giáo khoa đầy đủ bằng vài ngôn ngữ. Những người thành lập dự án mong là nếu có sách đủ thì người thường sẽ thăm Wikibooks và đọc những sách ở đấy.
== Dự án phụ ==
Đã có hai dự án phụ ở Wikibooks: Wikijunior và Wikiversity. Dự án Wikijunior (tên tạm) đang viết sách dạy cho trẻ nhỏ, có thể được xem trên mạng và có thể được in ra. Wikiversity là cộng đồng tự do để học và nghiên cứu. Wikiversity đã được tách ra thành dự án độc lập.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Wikibooks
Wikibooks tiếng Việt
Wikibooks tiếng Anh |
đồng tính luyến ái.txt | Đồng tính luyến ái, gọi tắt là đồng tính, là thuật ngữ chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu, tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài. Với vai trò là một thiên hướng tình dục, đồng tính luyến ái là một mô hình bền vững của sự hấp dẫn tình cảm, tình yêu, và/hoặc hấp dẫn tình dục một cách chủ yếu hoặc duy nhất đối với người cùng giới tính. Đồng tính luyến ái cũng chỉ nhận thực của cá nhân dựa trên những hấp dẫn đó và sự tham gia vào một cộng đồng có chung điều này.
Đồng tính luyến ái cùng với dị tính luyến ái và song tính luyến ái, là ba dạng chủ yếu của thiên hướng tình dục con người, thuộc thang liên tục dị tính - đồng tính (Thang Kinsey). Đồng tính luyến ái bản chất là một biến thể bình thường và tích cực của tính dục con người, không phải là một "bệnh" hay sự lệch lạc tâm lý, và không phải là nguyên nhân gây ra các hiệu ứng tâm lý tiêu cực.
Nhiều người đồng tính nam và đồng tính nữ đã đang sống trong mối quan hệ gắn kết, mặc dù chỉ các hình thức điều tra dân số mới và thuận lợi chính trị tạo điều kiện cho việc bộc lộ, công khai xu hướng tình dục bản thân của họ và thực hiện các điều tra nghiên cứu về họ. Những mối quan hệ này là tương đương với các mối quan hệ tình dục khác giới trên các khía cạnh tâm lý thiết yếu. Đồng tính luyến ái đã từng được ngưỡng mộ cũng như lên án trong suốt quá trình phát triển nhân loại được lịch sử ghi lại, tùy thuộc vào hình thức của nó và nền văn hóa mà nó diễn ra. Từ cuối thế kỷ 19 đã có một phong trào trên phạm vi toàn cầu theo xu hướng tăng khả năng bộc lộ, công khai thiên hướng tình dục bản thân ở người đồng tính, công nhận pháp lý các quyền lợi hợp pháp cho những người đồng tính, trong đó có quyền kết hôn và các hình thức kết hợp dân sự, quyền nhận con nuôi và làm cha mẹ ở người đồng tính, các quyền liên quan đến việc làm, phục vụ trong quân đội, tiếp cận bình đẳng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sự ra đời của luật chống bắt nạt để bảo vệ trẻ vị thành niên đồng tính.
Hành vi đồng tính cũng rất phổ biến trong thế giới tự nhiên, được quan sát và ghi nhận ở khoảng 1.500 loài động vật.
== Tên gọi ==
"Đồng tính luyến ái" là một từ Hán Việt, viết bằng chữ Hán là "同性戀愛", dịch sát nghĩa từng chữ là "yêu người cùng giới tính".
Trong tiếng Việt người đồng tính luyến ái nam thường được gọi là "người đồng tính nam" hoặc "gay" /ɣaj/ (bắt nguồn từ từ tiếng Anh "gay" /ɡeɪ/), "bê đê" /ɓe ɗe/, "pê đê" /pe ɗe/ (bắt nguồn từ tiếng Pháp "pédérastie"), người đồng tính luyến ái nữ thường được gọi là "người đồng tính nữ" hoặc "lét" /lɛt/ (bắt nguồn từ từ tiếng Anh "lesbian" /ˈlezbiən/, thường được viết phỏng theo tiếng Anh là "les" dù phát âm khác với tiếng Anh).
Người đồng tính rất đa dạng về mọi mặt. Không có đặc điểm ngoại hình đặc trưng nào để "nhận dạng" người đồng tính so với những người khác trong xã hội. Từ "bóng" hay "bê đê" (từ mang hàm ý thể hiện sự miệt thị) mà người ta hay dùng để chỉ một người con trai cư xử và hành động như con gái thực ra là nói đến người chuyển giới nữ nhưng chưa có điều kiện phẫu thuật.
== Lịch sử ==
Thái độ xã hội đối với quan hệ đồng giới thay đổi theo thời gian và nơi chốn bao gồm từ việc mong muốn tất cả nam giới có quan hệ cùng giới hoặc chấp nhận hòa hợp tự nhiên cho đến xem như một tội lỗi nhẹ, chịu sự cấm đoán của luật pháp hay thậm chí là tử hình. Trong một cuộc sưu tập các tài liệu lịch sử và dân tộc học của các nền văn hóa thời kỳ Trước Công nghiệp, "có 41% trong số 42 nền văn hóa phản đối mạnh mẽ, 21% chấp nhận hoặc phớt lờ và 12% không có khái niệm. Trong số 70 dân tộc, 59% không có hoặc hiếm có sự xuất hiện của đồng tính luyến ái; tại 41% còn lại, đồng tính có xảy ra hoặc không phổ biến."
Trong những nền văn hóa chịu ảnh hưởng của các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, luật pháp và nhà thờ quy định kê gian là một tội lỗi chống lại thần thánh hoặc tự nhiên. Tuy nhiên, sự lên án tình dục hậu môn của nam và nam có từ tư tưởng Kitô giáo. Sự lên án này cũng thường thấy ở Hy Lạp cổ đại, cụm từ "không tự nhiên" có thể có từ triết gia Plato.
Những cụm từ như đồng tính luyến ái hoặc song tính luyến ái từng được dùng bởi nhiều nhân vật lịch sử như Socrates, Lord Byron, Edward II và Hadrian. Vài học giả, chẳng hạn như Michel Foucault, coi đây là sự giải thích sai về mặt niên đại, dựa trên quan niệm tình dục đương đại cho thời đại của những nhân vật này, mặc dù nhiều học giả khác đã không thừa nhận quan điểm của những học giả trên.
Về sự tự nhiên của đồng tính luyến ái và sự biểu hiện trong lịch sử, có hai quan điểm trái ngược nhau đại diện bởi cách tiếp cận kiến tạo luận (constructionist) và bản chất luận (essentialist). Nhìn chung, chủ nghĩa kiến tạo luận xã hội xem xét rằng nhiều đặc tính của một nhóm xã hội nào đó, chứ không phải là bản chất tự nhiên của chính cá nhân, đã dẫn đến "sự kiến tạo xã hội". Trong khi đó, chủ nghĩa bản chất luận bảo vệ sự tồn tại của bản chất thực sự. Bản chất đó xác định biểu hiện của một cá nhân và những thứ học được từ xã hội mang tính thứ yếu. David M. Halperin dành một chương: Đồng tính luyến ái: sự kiến tạo văn hóa trong tác phẩm Một trăm năm đồng tính luyến ái cho chủ đề này. Ông nói rằng chủ nghĩa bản chất luận áp dụng vào phân loại tình dục nói lên rằng những thuật ngữ đồng tính hay dị tính chỉ nhưng đặc tính cá nhân thuộc về bản chất, không thay đổi được về mặt văn hóa. Ngược lại, chủ nghĩa kiến tạo cho rằng những thuật ngữ này là tên của những quá trình xã hội. Halperin nghiên về lập luận thứ hai vì ông coi tình dục, bao gồm đồng tính, từng được biển hiện dưới nhiều hình thức khác nhau một cách cơ bản trong những xã hội khác nhau ngày nay. Tuy nhiên ông, trích dẫn Esteven Epstein, so sánh sự tranh luận giữa bản chất luận và kiến tạo luận với tự nhiên đối chọi nuôi dưỡng (nature versus nurture)
Bởi vì thiên hướng tình dục là phức tạp và đa chiều, một số học giả và các nhà nghiên cứu, đặc biệt là trong các nhà nghiên cứu đồng tính trước đây, đã lập luận rằng đồng tính luyến ái là một kết quả của lịch sử và xã hội. Năm 1976, nhà triết học và sử học Michel Foucault cho rằng đồng tính luyến ái là một thứ không tồn tại ở châu Âu trong thế kỷ 18, khi mà tình dục đồng giới còn là một hành vi tội phạm (xem Kê gian). Ông viết: "Thiên hướng Tình dục' về bản chất là một "sáng chế" của các nhà nước hiện đại, cuộc cách mạng công nghiệp, và chủ nghĩa tư bản."
=== Châu Á và Nam Thái Bình Dương ===
Đồng tính luyến ái ở Nhật Bản, được biết đến dưới dạng chúng đạo hay nam sắc (những từ bị ảnh hưởng từ văn chương Trung Hoa), được ghi nhận từ hơn một ngàn năm và từng là một phần trong đời sống Phật giáo và truyền thống samurai. Văn hóa tình yêu đồng giới làm truyền thống hội họa và văn chương mô tả những mối quan hệ đó được nâng cao. Tại Thái Lan, Kathoey hay "trai nữ" (cô chàng) là một phần trong xã hội trong nhiều thế kỷ và quốc vương Thái Lan cũng có các "cung phi" là nam cũng như nữ. Kathoey có thể nữ tính hoặc là biến trai làng (transvestism). Thái Lan chưa từng có luật cấm đồng tính luyến ái hoặc hành vi đồng tính, nhưng cũng không công nhận quan hệ giữa họ.
Tại Trung Đông, nhiều nhà thơ Hồi giáo (hầu hết là Sufi) tại các nước Ả Rập và Ba Tư trong thời trung cổ đã viết thơ ca tụng những cậu bé đem rượu cho họ trong các quán rượu và ngủ chung giường với họ Tại Trung Á, trên Đường tơ lụa, nơi giao điểm giữa hai nền văn hóa đông-tây, đã nảy ra một văn hóa đồng tính luyến ái. Trong đó có người bacchá, thường là người tiếp đãi viên đồng thời làm nghề mại dâm thanh niên phái nam ăn mặc lộng lẫy và có trang điểm. Những người bachá hát và múa những bài hát khiêu dâm cho khán giả. Họ được huấn luyện từ còn nhỏ và làm việc cho đến khi râu mọc.
Trong xã hội Melanesia, đặc biệt ở Papua New Guinea, quan hệ cùng giới là một nét văn hóa cho đến giữa thế kỷ trước. Người Etoro và người Marind-anim còn coi dị tính luyến ái là tội lỗi và tôn vinh đồng tính luyến ái. Trong truyền thống Melanesia, một cậu bé chưa dậy thì sẽ được bắt cặp với một thiếu niên, người này sẽ trở thành tư vấn thụ tinh cho cậu bé (đường miệng hay hậu môn tùy thuộc vào bộ tộc) trong vài năm để làm cho cậu bé đó dậy thì. Tuy nhiên, nhiều xã hội Melanesia trở nên căm ghét quan hệ cùng giới khi các nhà truyền giáo châu Âu đến truyền giáo.
=== Châu Âu ===
Những tài liệu Tây phương lâu đời nhất (trong hình thức mỹ thuật, văn học, và truyền thuyết) về mối quan hệ đồng tính được tìm thấy từ thời cổ Hy Lạp, nơi các mối quan hệ đồng tính được xã hội tạo nên, được thành lập qua thời gian từ thành phố này đến thành phố khác. Lệ này, một hệ thống của những quan hệ giữa một người đàn ông lớn tuổi và một thanh niên đang trưởng thành, được xem là có giá trị dạy dỗ, đồng thời để kiềm chế mức độ gia tăng dân số, đôi khi bị xem là làm mất trật tự. Plato đã ca ngợi những lợi ích của việc này trong các tác phẩm ban đầu, nhưng trong các tác phẩm sau này ông đã đề nghị ngăn cấm nó.
Trong Kinh Thánh có mô tả về Thành phố Sodome, nơi mà nhiều cư dân nam có hành vi tình dục đồng giới. Thành phố này đã bị thiêu hủy bởi trận mưa lửa từ trên trời do Thượng đế giáng xuống để trừng trị sự thác loạn của cư dân nơi đây. Từ Sodome cũng trở thành thông dụng để chỉ việc quan hệ tình dục đồng giới của nam tại phương Tây. Trong thời Phục Hưng, những thành phố ở miền bắc nước Ý, đặc biệt là Firenze và Venezia nổi tiếng về đồng tính, được một phần khá lớn dân số nam tuân theo và được tạo theo kiểu mẫu ở Hy Lạp và La Mã (Ruggiero, 1985; Rocke, 1996). Tuy nhiên, trong khi một phần khá lớn dân số nam theo tục lệ này, những nhà chức trách vẫn khởi tố, phạt và bắt nhiều người.
Vị vua lừng danh Friedrich II Đại Đế, tức "Friedrich Độc đáo", trị vì nước Phổ từ năm 1740 cho đến năm 1786, cũng bị nghi vấn đồng tính luyến ái. Có người đương thời nói ông hoang dâm với các triều thần. Nhiều quan lại trong triều đình Phổ lúc đó hay đem sự loạn dâm đồng tính ra làm chủ đề đùa cợt.
=== Châu Mỹ ===
Trong xã hội thổ dân Bắc Mỹ, hình thức đồng tính luyến ái phổ biến nhất là những người được xem là có hai linh hồn. Những người này được hầu hết các bộ lạc công nhận và đặt tên cho vai trò này. Thường những người có hai linh hồn được công nhận lúc còn nhỏ, được cha mẹ cho lựa chọn để theo con đường này. Nếu đứa bé nhận vai trò, nó sẽ được dạy dỗ về các nhiệm vụ của mình, theo các phong tục của giới tính mà nó đã chọn. Những người này thường làm thầy pháp nhưng được xem là có nhiều quyền phép hơn các thầy pháp thường. Trong lĩnh vực tình dục, họ sẽ có quan hệ với những người khác phái.
=== Hiện đại ===
Từ năm 1973, Hiệp hội Tâm thần học Mỹ không còn xem đồng tính luyến ái là một bệnh tâm thần nữa. Trong vài ba thập kỉ nay, tại các nước Tây phương có sự hình thành của một "nền văn hóa đồng tính". Tuy nhiên, cũng có nhiều người đồng tính không tham gia trong cộng đồng đó. Sau khi bị chính quyền Đức quốc xã cố ý tiêu diệt trong Chiến tranh thế giới thứ hai, những người đồng tính đã giành được nhiều quyền, đặc biệt là tại các nước Tây phương.
Những nỗ lực nhằm giải phóng đồng tính luyến ái được cho là bắt đầu từ thập niên 1860 và từ giữa thập niên 1950, sự đòi hỏi công nhận quyền cho người đồng tính và song tính luyến ái ngày càng tăng lên. Tuy nhiên, chứng ghê sợ đồng tính luyến ái vẫn tồn tại, đặc biệt là nó làm cho nhiều người gặp nhiều khó khăn trong xã hội đôi khi dẫn đến tự tử. Một số quốc gia gần đây đã cho phép người đồng tính có quyền kết hôn cũng như nhận con nuôi. Sự xuất hiện của HIV/AIDS từ giữa thập niên 1980 là một trong những vấn đề mà người đồng tính phải đương đầu trong thời gian gần đây.
Trong lĩnh vực tôn giáo, một số nhóm tôn giáo cũng bắt đầu tỏ ra cởi mở với người đồng tính. Một giáo phái Do Thái giáo đã bắt đầu mở dịch vụ làm lễ kết hôn cho người đồng tính, trong khi nhóm Anh giáo đã nhận một mục sư đồng tính. Một số ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng như Cher, Madonna,Lady Gaga, Christina Aguilera, Cyndi Lauper,... đã đưa chủ đề người đồng tính vào những bài hát, video âm nhạc, những màn biểu diễn của mình để bày tỏ sự ủng hộ của họ với giới đồng tính luyến ái. Chính nhạc disco có nguồn gốc từ sự liên kết ban đầu với lối sống của một bộ phận giới đồng tính luyến ái nam ở Thành phố New York và sau đó được phát triển trên nền tảng nhạc đại chúng da đen trong những năm của thập niên 1970.
== Cơ sở khoa học ==
Chưa có sự thống nhất tuyệt đối giữa các nhà khoa học về nguyên nhân tại sao hình thành và phát triển một thiên hướng tình dục đặc biệt ở một người. Nhiều nhà khoa học thống nhất rằng các yếu tố tự nhiên và nuôi dưỡng, một sự kết hợp của di truyền, nội tiết tố giai đoạn thai nhi và môi trường xã hội là các yếu tố ảnh hưởng tới việc hình thành thiên hướng tình dục. Không có bằng chứng cho thấy kinh nghiệm giáo dục của cha mẹ thời thơ ấu có vai trò trong việc hình thành thiên hướng tình dục đồng tính. Khi nói đến tình dục đồng giới, tác động từ môi trường gia đình, xã hội, giáo dục không có vai trò trong việc hình thành đồng tính nam và chỉ đóng vai trò nhỏ đối với đồng tính nữ.
Một nghiên cứu lớn tiến hành trên 3.826 cặp sinh đôi cùng giới (7.652 cá nhân) ở Thuỵ Điển đã cho thấy, những yếu tố thuộc về bẩm sinh như yếu tố di truyền và môi trường xung quanh sự hình thành và phát triển của bào thai (môi trường tử cung sớm) trước khi đứa trẻ ra đời (trong đó bao gồm quá trình sinh học như tiếp xúc hormone khác nhau trong bụng mẹ) chiếm chủ yếu trong việc hình thành thiên hướng tình dục đồng giới. Trong khi đó, các tác nhân như môi trường gia đình, xã hội, giáo dục con cái không ảnh hưởng hoặc hoặc ảnh hưởng không đáng kể tới sự hình thành thiên hướng tình dục đồng tính. Nghiên cứu này đưa ra các số liệu: yếu tố gen di truyền có ảnh hưởng khoảng 35% ở nam và 18% ở nữ, yếu tố môi trường phát triển thai nhi trong bụng mẹ (môi trường không chia sẻ) chiếm tỷ lệ chủ yếu tới 64% ở cả nam và nữ. Trong khi đó, yếu tố môi trường gia đình, xã hội, giáo dục (môi trường chia sẻ) chỉ giải thích 16% trong sự hình thành xu hướng tình dục đồng tính nữ và không có ảnh hưởng (phương sai ảnh hưởng 0%) tới sự hình thành xu hướng tình dục đồng tính nam.
Trong khi một số người giữ quan điểm cho rằng tình dục đồng tính là phi tự nhiên hoặc rối loạn tâm lý hay do lệch lạc giới tính, nghiên cứu cho thấy đây là một ví dụ của một biến thể tự nhiên và bình thường ở tình dục loài người và không phải là nguồn gốc của những trạng thái tâm lý tiêu cực. Hầu hết mọi người đều trải nghiệm rất ít hoặc không có vai trò trong việc lựa chọn thiên hướng tình dục của bản thân mình, và cũng không có bằng chứng rằng việc sử dụng các biện pháp hỗ trợ, can thiệp tâm lý có thể thay đổi được khuynh hướng tính dục của con người.
Tất cả các tổ chức y tế chuyên nghiệp lớn nhất đều đã đi đến khẳng định đồng tính luyến ái không phải là một bệnh hay rối loạn tâm thần. Năm 1973, Hội đồng Quản trị của Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ (American Psychiatric Association) - tổ chức nghiên cứu về lĩnh vực tâm thần học lớn nhất thế giới đã loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách bệnh tâm thần. Hành động này được thực hiện sau khi xem xét các tài liệu khoa học và tư vấn của chuyên gia trong lĩnh vực này, các chuyên gia thấy rằng đồng tính luyến ái không đáp ứng các tiêu chuẩn để được coi là một bệnh tâm thần. Có giai đoạn đồng tính luyến ái từng được coi là kết quả của những tác động, biến cố, khó khăn từ môi trường gia đình, xã hội hay gặp lỗi trong phát triển tâm lý. Tuy nhiên, những nhận định trên được xác định là đã dựa trên những thông tin sai lệch và định kiến.
Trong "Nghị quyết về Giới tính và tình dục học đa dạng ở trẻ em và thanh thiếu niên học đường" được thông qua tháng 4/2014, Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association) - tổ chức nghiên cứu về tâm lý học lớn nhất thế giới và Hiệp hội quốc gia các nhà tâm lý học (the National Association of School Psychologists) đã khẳng định:
Tổ chức Y tế thế giới WHO đã loại bỏ đồng tính luyến ái trong danh mục bệnh từ ngày 17 tháng 5 năm 1990. Ngày 17 tháng 5 hàng năm đã được chọn là "Ngày quốc tế chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người đồng tính, song tính và chuyển giới (Tiếng Anh: International Day Against Homophobia and Transphobia, viết tắt: IDAHO.
=== Tâm lý học về đồng tính luyến ái ===
Đồng tính luyến ái bắt đầu được nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19. Nhà phân tâm học nổi tiếng Sigmund Freud tin rằng con người khi mới sinh ra đều là song tính, nhưng trong quá trình lớn lên, sự tác động từ văn hóa xã hội và các sự kiện trong cuộc đời khiến đa số con người sẽ chỉ yêu người khác giới. Một trong những nguyên nhân của đồng tính, theo Sigmund Freud, chính là việc phải nếm trải những mối tình khác giới đau buồn khiến ham muốn yêu đương chuyển sang đối tượng cùng giới. Một nguyên nhân khác mà ông chủ trương bao gồm chứng tự yêu bản thân, việc yêu người cùng giới tính chính là biểu hiện mở rộng của tâm lý tự yêu chính mình.
Tâm lý học là một trong những môn khoa học đầu tiên nghiên cứu một hướng đồng tính luyến ái là một lĩnh vực độc lập. Những nỗ lực đầu tiên để phân loại đồng tính luyến ái là một bệnh đã được thực hiện bởi những nhà tình dục học non trẻ châu Âu biến trong những năm cuối thế kỷ 19. Năm 1886, Nhà tình dục học Richard von Krafft-Ebing đã xếp chung đồng tính luyến ái cùng với 200 trường hợp nghiên cứu khác của hành vi tình dục lệch lạc. Trong hai thập niên cuối của thế kỷ 19, một quan điểm khác nhau bắt đầu chiếm ưu thế trong y khoa và tâm thần, đánh giá hành vi như chỉ định của một loại người có khuynh hướng tình dục gàng và tương đối ổn định. Trong những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, các mô hình bệnh lý của đồng tính luyến ái được coi là tiêu chuẩn.
Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ và Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội:
Năm 1952, khi Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ công bố đầu tiên hệ thống chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DMS), tình dục đồng giới đã được liệt kê như là một rối loạn. Tuy nhiên, ngay lập tức phân loại bắt đầu phải chịu sự giám sát đặc biệt trong các nghiên cứu sau đó, được tài trợ bởi Viện Sức khỏe Tâm thần. Các nghiên cứu thực nghiệm đã liên tục thất bại trong việc đưa ra bất kỳ cơ sở thực nghiệm khoa học nào để chứng minh đồng tính luyến ái là một rối loạn hay bất thường mà không phải là một thiên hướng tình dục bình thường và khỏe mạnh. Từ kết quả tích lũy từ các nghiên cứu, các chuyên gia về y học, sức khỏe tâm thần, khoa học hành vi và xã hội đã đi đến kết luận rằng không chính xác để phân loại đồng tính luyến ái là một rối loạn tâm thần..
Để ghi nhận những kết quả nghiên cứu khoa học, Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ loại bỏ đồng tính luyến ái từ DSM vào năm 1973, và tuyên bố rằng "Bản chất của đồng tính luyến ái không bao hàm sự suy yếu về mặt nhận thức, sự ổn định, độ tin cậy, khả năng trong các mối quan hệ xã hội hoặc ngành nghề nói chung." Sau khi xem xét kỹ các dữ liệu khoa học, các Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ đã thông qua các tuyên bố tương tự vào năm 1975, và kêu gọi tất cả các chuyên gia sức khỏe tâm thần đi đầu trong việc loại bỏ sự kỳ thị của bệnh tâm thần từ lâu đã được mặc định với đồng tính luyến ái . Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội cũng đã thông qua một chính sách tương tự. Các chuyên gia sức khỏe tâm thần và các nhà nghiên cứu từ lâu đã nhận ra rằng, đồng tính luyến ái không gây bất kỳ trở ngại nào để tạo lập một cuộc sống hạnh phúc, khỏe mạnh và hiệu quả, và phần lớn những người đồng tính nam và nữ tham gia tốt một cách đầy đủ vào các mối quan hệ cá nhân và đời sống xã hội.
Sự đồng thuận lâu dài của nghiên cứu và lâm sàng cho thấy rằng đồng tính, sự hấp dẫn cảm xúc, tình yêu, tình dục và hành vi này là biến thể bình thường và tích cực của tính dục con người. Hiện nay có một lượng lớn các bằng chứng nghiên cứu chỉ ra rằng việc đồng tính hoặc song tính tương thích với sức khỏe tâm thần bình thường và điều chỉnh xã hội. Hệ thống tiêu chuẩn phân loại, thống kê quốc tế về bệnh và vấn đề sức khỏe liên quan năm 1977 của Tổ chức Y tế thế giới (gọi tắt là ICD-9) thì đồng tính luyến ái được liệt kê như là một bệnh tâm thần, nhưng nó đã được gỡ bỏ từ ICD-10, được thông qua bởi Hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 43 vào ngày 17 tháng 5 năm 1990. Hiệp hội Tâm thần Trung Quốc cũng loại bỏ đồng tính luyến ái của mình trong phân loại rối loạn tâm thần vào năm 2001 sau 5 năm nghiên cứu của hiệp hội. Tuy vậy, những hành vi phân biệt đối xử trong xã hội và từ chối bởi gia đình bạn bè và những người khác, chẳng hạn như từ người sử dụng lao động khiến cho nhiều người LGBT trải nghiệm lớn hơn tỷ lệ dự kiến của những khó khăn về sức khỏe tâm thần. Mặc dù đã có yêu sách của các nhóm chính trị bảo thủ ở Mỹ rằng tỷ lệ bệnh cao hơn những khó khăn về sức khỏe tâm thần cũng như cho rằng đồng tính luyến ái chính nó là một rối loạn tâm thần, thì không có bằng chứng gì để chứng minh cho những tuyên bố như vậy.".
=== Nhận thực giới tính và nhận thực tính dục ===
Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (American Psychiatric Association) đã loại đồng tính luyến ái khỏi danh sách các bệnh sau một cuộc bỏ phiếu năm 1973, với 58% phiếu thuận và 42% phiếu chống (chưa kể phiếu trắng). Ảnh hưởng bởi các quyết định này, năm 1975, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association) cũng đưa ra kết luận tương tự và đến năm 1990 là Tổ chức y khoa thế giới. Tuy nhiên, đến nay vẫn có những tổ chức và nhà tâm lý học phản đối những quyết định này. Họ cho rằng quyết định đó là do áp lực chính trị dữ dội từ các tổ chức ủng hộ đồng tính chứ không phải vì các bằng chứng khoa học vững chắc (xem các tranh luận tại Tâm lý học về đồng tính luyến ái)
Các nhà tâm lý học phản đối cho rằng: không có bất kỳ bằng chứng khoa học hợp lệ nào để chứng minh đồng tính luyến ái không phải là một vấn đề tâm thần, trong khi quyết định này đã "xóa bỏ không chỉ hàng trăm báo cáo nghiên cứu tâm thần và phân tâm học; mà cả một số nghiên cứu toàn diện bởi nhóm các bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học uy tín trong hơn 70 năm trước đó". Việc các biện pháp trị liệu không có tác dụng, sự không lây lan... không thể lấy làm lý do để loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh (ví dụ: Hội chứng Down cũng là không lây và hiện không thể chữa). Thực tế, tài liệu của APA cũng ghi nhận rằng với nhiều người, thiên hướng tình dục không phải là bẩm sinh, bất biến mà còn có sự ảnh hưởng từ môi trường. Nhiều người đã xuất bản sách nói về sự tự từ bỏ thiên hướng đồng tính sau khi trị liệu tâm lý Truyền thông đại chúng cũng góp sức lan truyền sự thiếu sót về khoa học đó khi không đăng tải những nghiên cứu dạng như vậy, trong khi lại loan tải những thông tin mà các tổ chức ủng hộ đồng tính đưa ra vì dễ bán chạy hơn.
Hiệp hội Tâm thần Trung Quốc thì không xếp đồng tính luyến ái trong phân loại rối loạn tâm thần vào năm 2001 sau 5 năm nghiên cứu, tuy nhiên nó được coi là một trong các tác nhân gây ra các chứng bệnh tâm thần khác, và quy trình điều trị đồng tính được quy định cụ thể (dù các cơ sở điều trị đồng tính rất hiếm ở Trung Quốc)
Tiến sĩ Stanton L. Jones, giáo sư tâm lý học tại Đại học Wheaton, nói rằng ông có Bảng tổng hợp ý kiến giữa các chuyên gia về điều này: "Tôi sẽ không coi đồng tính luyến ái là một dạng bệnh giống như tâm thần phân liệt hay rối loạn ám ảnh. Nhưng cũng không thể xem nó là một "lối sống bình thường" giống như kiểu sống nội tâm hoặc sống hướng ngoại."
=== Các yếu tố hình thành ===
Có nhiều giả thuyết về các yếu tố hình thành nên thiên hướng tình dục đồng tính, trong đó bao gồm:
Kiểu gen (bẩm sinh).: Nhiều người nghĩ đồng tính là bẩm sinh và do gen quyết định. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Peter Bearman và Hannah Bruckner, từ Đại học Columbia và Đại học Yale, khi nghiên cứu dữ liệu từ Trung tâm Y tế quốc gia vị thành niên, cho biết xác suất cả 2 người trong cặp song sinh đều là đồng tính chỉ là 6,7% với nam và 5,3% với nữ. Họ kết luận: kiểu gen chỉ là một trong những nguồn gốc của đồng tính luyến ái, những nguyên nhân khác như ảnh hưởng từ văn hóa, xã hội và gia đình với trẻ em đóng vai trò quan trọng hơn
Môi trường sống và sự dạy dỗ.Sự tương quan với môi trường sống: đồng tính luyến ái có tương quan với sự đô thị hóa của nơi đối tượng ở lúc 14 tuổi (độ tuổi bắt đầu dậy thì và có sự định hình về hấp dẫn giới tính). Sự tương quan ở nam cao hơn ở nữ. Mức độ thị hóa càng cao thì tỷ lệ đồng tính càng có xu hướng tăng, nguyên nhân vì ở các thành phố lớn có các chuẩn mực đạo đức lỏng lẻo hơn, lối sống cá nhân cao hơn cũng như có nhiều tác động văn hóa-xã hội khó kiểm soát, khiến vị thành niên tại đó dễ có thiên hướng đồng tính hơn.
Yếu tố gia đình: sự thiếu bảo bọc của người cha và sự gắn bó quá mật thiết với người mẹ là nhân tố chính hình thành đồng tính ở nam giới. Đối với nữ, việc có mẹ qua đời ở tuổi vị thành niên, là con út hay con gái duy nhất trong gia đình cũng làm tăng khả năng đồng tính. Những người có cha mẹ ly hôn hoặc mất sớm sẽ có xu hướng đồng tính cao hơn những người có cha mẹ hạnh phúc
Chấn thương tâm lý: Việc bị chấn thương tâm lý do bị lạm dụng tình dục cũng là một yếu tố. Một nghiên cứu trong Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ phát hiện ra rằng "vị thành niên bị lạm dụng tình dục, đặc biệt là nam giới, có khả năng tự nhận mình là người đồng tính hay song tính cao gấp 7 lần so với những người không bị lạm dụng" Một nghiên cứu khác cho thấy rằng "46% nam đồng tính so với 7% của nam dị tính báo cáo rằng đã bị lạm dụng tình dục. Con số này tương ứng là 20% trong số đồng tính nữ so với 1% ở nữ dị tính"."
Ảnh hưởng từ văn hóa xã hội: Khuôn mẫu tình dục của mỗi cá nhân là một sản phẩm của văn hóa xã hội. Những xã hội có xu hướng chấp nhận đồng tính thì sẽ có nhiều cá nhân có khuynh hướng đồng tính hơn. Tại Mỹ, đã có sự gia tăng số phụ nữ cảm thấy thu hút đồng tính. Nhà nghiên cứu Binnie Klein cho rằng "rõ ràng là một sự thay đổi trong xu hướng tình dục trong tâm trí nhiều người hơn hơn bao giờ hết, và có nhiều cơ hội hơn - và sự chấp nhận - để vượt qua làn ranh (về giới tính)" Toni Meyer, nhà nghiên cứu cao cấp của Hội đồng Chính sách gia đình bang New Jersey (Mỹ), cho biết: cùng với phong trào ủng hộ đồng tính lên cao, từ năm 1994, số đồng tính nam (ở Mỹ) đã tăng 18%, và số lượng đồng tính nữ còn tăng tới 157%. Điều này cho thấy những yếu tố văn hóa có tác động mạnh mẽ trong việc khuyến khích các hành vi đồng tính, và ít nhất là gián tiếp, làm suy yếu toàn bộ lý thuyết về việc "đồng tính là bẩm sinh".
Số lượng anh trai của đối tượng (đối với người đồng tính nam).: Theo nhiều nhiên cứu, có thêm một người anh trai sẽ tăng khả năng là đồng tính lên 28%–48%. Hiệu ứng anh trai chiếm khoảng 1/7 trong số người đồng tính nam. Không có sự tương quan giữa số chị gái và sự đồng tính của một người nữ.
Hoócmôn trong giai đoạn bào thai.: Các chuyên gia của Viện Toán và Tổng hợp sinh học quốc gia (Mỹ) cho rằng đồng tính luyến ái có liên hệ với "ngoại tố di truyền học", gọi là epi-mark. Epi-mark về giới tính được sản sinh trong giai đoạn đầu bào thai, nhằm bảo vệ giới tính không bị testosterone ảnh hưởng, ngăn bào thai nữ phát triển theo hướng nam tính và ngược lại. Tuy nhiên trong một số trường hợp, những epi-mark đó được truyền từ cha sang con gái hoặc từ mẹ sang con trai, gây hiệu ứng đảo nghịch về sự hấp dẫn giới tính
Sự lo âu của người mẹ khi mang thai.
Tổng hợp của các yếu tố trên.
Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics) khẳng định rằng "Thiên hướng tình dục được quyết định bởi sự tổng hợp của kiểu gen, hoocmon và ảnh hưởng môi trường". Nhiều tranh cãi tiếp tục dựa trên các yếu tố sinh học và/hoặc tâm lý như kiểu gen và sự hoạt động của một số hoocmon ở bào thai. Sigmund Freud và các nhà tâm lý học khác xác nhận rằng sự hình thành thiên hướng tình dục do nhiều nhân tố, trong đó có các sự việc quá khứ xảy ra trong thời thơ ấu. Tiến sĩ tâm lý học nổi tiếng người Tây Ban Nha là Enrique Rojas thì cho rằng: 95% nguyên nhân dẫn tới đồng tính là do các yếu tố môi trường như sự thiếu vắng quan tâm của người cha, người mẹ hung dữ hoặc bị lạm dụng tình dục trong thời thơ ấu.
Nhà nghiên cứu Lisa Diamond, khi xem xét các nghiên cứu về xác định tình dục đồng tính và song tính của nữ, nói rằng nghiên cứu tìm thấy "sự thay đổi và tính linh động trong tình dục đồng giới, nó mâu thuẫn với mô hình thông thường cho rằng khuynh hướng tình dục là cố định và bẩm sinh" Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy các hành vi không phù hợp với giới tính ở trẻ em là chỉ báo lớn nhất của tình dục đồng giới ở tuổi trưởng thành Dary Bem cho thấy rằng một số trẻ em khi chứng kiến hành vi tình dục đồng tính có thể gợi lên kích thích sinh lý, mà sau này sẽ được chuyển thành kích thích tình dục. Peter Bearman cho rằng những phát hiện của ông ủng hộ giả thuyết rằng hành vi giới tính trong thời thơ ấu và thiếu niên sẽ góp phần hình thành quan hệ đồng tính ở tuổi trưởng thành. Ngoài những tác động cá nhân, cấu trúc xã hội và những ảnh hưởng từ văn hóa xã hội cũng góp phần tạo ra sự thu hút đồng tính. Tác giả của một công trình nghiên cứu lớn về đồng tính năm 2014, Alan Sanders, tuyên bố rằng "những đặc điểm phức tạp của khuynh hướng tình dục (bao gồm đồng tính) phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ cả di truyền lẫn ảnh hưởng từ môi trường sống." Nhà nghiên cứu McConaghy (năm 2006) cho thấy không có mối quan hệ giữa mức độ xúc cảm đồng tính với hành vi đồng tính luyến ái, dẫn ông đến kết luận rằng ảnh hưởng của thứ tự sinh về mức độ xúc cảm đồng tính không phải do yếu tố sinh học, mà đó là một quá trình ảnh hưởng từ xã hội.
Hai nhà nghiên cứu Bearman và Bruckner (năm 2002) đã nghiên cứu 289 cặp song sinh giống hệt nhau (song sinh cùng trứng) và 495 cặp cặp song sinh khác trứng và tìm thấy rằng chỉ có 7,7% cặp song sinh cùng trứng nam và 5,3% cặp song sinh cùng trứng nữ đều là đồng tính, một kết quả giúp họ đưa ra kết luận "không có cơ sở cho thấy ảnh hưởng của di truyền là độc lập với ảnh hưởng từ bối cảnh xã hội (đối với việc hình thành đồng tính luyến ái)."
Năm 2010, nghiên cứu của trường Queen Mary và Viện Nghiên cứu Karolinska ở Stockholm đã theo dõi 3.826 cặp song sinh cùng trứng và nhận thấy: dù có bộ gen giống hệt nhau, tỷ lệ số cặp song sinh cùng là đồng tính khi trưởng thành là rất thấp. Nghiên cứu kết luận: môi trường sống không chia sẻ là yếu tố đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành đồng tính luyến ái, trong khi yếu tố bẩm sinh chỉ có vai trò nhỏ tới trung bình. Cụ thể, ảnh hưởng từ di truyền chiếm 34-39%, ảnh hưởng từ môi trường sống không chia sẻ lên mỗi cá nhân (đã loại bỏ các yếu tố môi trường chia sẻ) chiếm 61-66% trong việc hình thành đồng tính nam, tỷ lệ tương ứng đối với đồng tính nữ là 18% và 80%
=== Tỷ lệ đồng tính trên dân số ===
Đối với những nhà nghiên cứu, việc xác định tỷ lệ người đồng tính và tỉ lệ người từng trải nghiệm tình dục đồng giới một cách đáng tin cậy là điều khó khăn vì nhiều lý do khác nhau, cũng như không rõ tỷ lệ này có khác nhau ở các nhóm dân tộc riêng biệt hay không. Nếu phân chia theo giới thì tỷ lệ nam đồng tính cao hơn khoảng 2 lần so với nữ đồng tính.
Ở các nước phương Tây hiện đại, theo nhiều ước tính, 1% đến 5% dân số phương Tây là đồng tính, và 2% đến 10% đã từng trải nghiệm vài dạng hành vi tình dục đồng giới trong cuộc đời. Trong một nghiên cứu 2006 ở Úc, có 20% số người trả lời từng có cảm giác về tình dục đồng giới, nhưng chỉ có 2% tự nhận là đồng tính (tức là có cảm giác yêu đương với người đồng giới). Thống kê quy mô nhất là ở Canada: khảo sát 121.300 người trên 18 tuổi, có 1,43% tự nhận mình là đồng tính hoặc song tính.
Còn tại châu Á, có ít khảo sát về vấn đề này hơn. Tại Trung Quốc, một ước tính cho biết có khoảng 2,25 triệu đồng tính nam, chiếm khoảng 0,17% dân số Tại Việt Nam, nghiên cứu do tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện ước tính có khoảng 50-125 ngàn người đồng tính, chiếm khoảng 0,06-0,15% dân số. Tại Indonesia, Bộ sức khỏe ước tính có khoảng 55.000 đồng tính nam trên cả nước (chiếm 0,025% dân số). Có thể thấy số người đồng tính ở châu Á thấp hơn rất nhiều so với châu Âu, điều này có thể giải thích bởi yếu tố bối cảnh gia đình, văn hóa và xã hội ở châu Á ít tạo điều kiện cho việc hình thành thiên hướng đồng tính ở thanh thiếu niên (xem thêm tại Tính linh động của Thiên hướng tình dục).
=== Tính cố định hoặc linh động của thiên hướng tình dục ===
Nhiều người cho rằng thiên hướng tình dục là không thể thay đổi giống như màu tóc, vân tay... Nhưng thực ra, thiên hướng tình dục (bao gồm đồng tính, dị tính hoặc song tính) không phải là cố định, nó có thể thay đổi từ dạng này sang dạng khác. Hiệp hội Tâm thần học Mỹ (APA) tuyên bố rằng "một số người tin rằng thiên hướng tình dục là bẩm sinh và cố định; Tuy nhiên, thực tế khuynh hướng tình dục luôn phát triển trong suốt cả một đời người"" Trong một tuyên bố phát hành cùng với Tổ chức y tế Hoa Kỳ, Hiệp hội Tâm thần học Mỹ cho rằng "những người khác nhau nhận ra tại các điểm khác nhau trong cuộc đời rằng họ là dị tính, đồng tính nam, đồng tính nữ, hay song tính" Một báo cáo từ Trung tâm Y tế và sức khỏe tâm thần cho biết: "Đối với một số người, thiên hướng tình dục là liên tục và cố định trong suốt cuộc đời họ. Đối với những người khác, thiên hướng tình dục có thể là linh động và thay đổi theo thời gian". Nghiên cứu của Lisa Diamond về "Song tính nữ từ tuổi vị thành niên đến tuổi trưởng thành" cho thấy rằng có "tính lưu động đáng kể trong thiên hướng song tính, hoặc không rõ ràng, và đồng tính nữ tại thời điểm khảo sát, về hành vi và bản sắc"
Những nghiên cứu trên cho thấy: Tính cố định hoặc linh động của thiên hướng tình dục phụ thuộc vào từng cá nhân. Đối với nhiều người, thiên hướng tình dục là cố định và không thay đổi. Nhưng với nhiều người khác, điều này lại không phải là bẩm sinh mà nó có thể biến đổi theo thời gian, có thể từ dị tính sang đồng tính hoặc ngược lại. Sự biến đổi diễn ra như thế nào phụ thuộc vào yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường (sự tác động của văn hóa xã hội, tôn giáo, gia đình, bạn bè...). Tiến sĩ Neil Whitehead và vợ ông là Briar, hai thành viên của tổ chức ủng hộ liệu pháp chuyển đổi NARTH, thông qua việc tổng kết nhều thống kê khác nhau, ghi nhận tuyên bố của van den Aardweg rằng: trong 2/3 những trường hợp mà ông điều trị, thiên hướng đồng tính đã biến mất hoặc chỉ thỉnh thoảng mới xuất hiện.
Nhiều nghiên cứu báo cáo rằng: nhiều người đã tự phủ định khuynh hướng đồng tính khi nó manh nha xuất hiện trong tâm trí họ nhằm tránh phải xung đột với các giá trị xã hội và tôn giáo Sau khi xem xét các nghiên cứu, Judith Glassgold, chủ tịch của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ phụ trách về tâm lý tình dục, cho biết một số người có sự tự phủ định khuynh hướng đồng tính và "không có bằng chứng rõ ràng về tác hại (của sự tự phủ định này)"
Năm 2006, Tiến sĩ Jeffrey Satinover cho biết: đã tồn tại các bằng chứng vững chắc dịch tễ học, được xác nhận và khẳng định rộng rãi, rằng đồng tính luyến ái thể hiện thường xuyên nhất ở tuổi vị thành niên. Đối với một số vị thành niên, khuynh hướng đồng tính sẽ duy trì mãi về sau, nhưng với số còn lại, nó sẽ giảm một cách tự nhiên theo sự trưởng thành, và cuối cùng sẽ biến mất, trừ khi nó được "hỗ trợ và khuyến khích". Ông cũng ghi nhận rằng các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát triển giới tính của những người trẻ tuổi là bối cảnh xã hội và gia đình. Do đó, nếu xã hội ngày càng dung nạp hoặc cổ vũ cho đồng tính luyến ái thì sẽ "dẫn đến số lượng ngày càng gia tăng của những người tự nhận mình là đồng tính". Lập luận này của Satinover được ông trích dẫn nhiều số liệu thống kê để chứng minh.
Nghiên cứu khácai? ở Canada năm 2004 cho biết: với những người thuộc nhóm trên 65 tuổi, tỷ lệ tự nhận mình là đồng tính hoặc song tính là 0,37%, thấp hơn gần 6 lần so với tỷ lệ 1,96% ở nhóm 18-34 tuổi. Nghiên cứu 7.500 người ở Úc năm 2003 cho thấy: ở độ tuổi 20-24, tỷ lệ đồng tính nam là 2,8% và đồng tính nữ là 4,6%, nhưng đến độ tuổi 50-54, tỷ lệ tương ứng đã tụt xuống còn 1,9% và 1% Nghiên cứu về thanh niên trong độ tuổi 21-26 ở New Zealand cho thấy: 1,9% nam giới từ đồng tính trở thành bình thường, trong khi 1% từ bình thường trở thành đồng tính (con số tương ứng ở nữ là 9,5% và 1,3%); hấp dẫn đồng tính là không ổn định ở tuổi dậy thì, đặc biệt là ở nữ; tỷ lệ đồng tính nữ ở New Zealand cao hơn nhiều so với Anh và Mỹ (2 nước có thái độ xã hội khắt khe với đồng tính hơn so với New Zealand). Những quan sát này, cùng với sự thay đổi về giáo dục, phù hợp với một vai trò tác động to lớn của môi trường xã hội tạo nên người đồng tính
=== Các vấn đề tâm lý và lối sống ===
Trong khi theo quan điểm của nhiều người, những hành vi đồng tính là ‘không tự nhiên’ và ‘không bình thường’, những nghiên cứu chỉ ra rằng đồng tính luyến ái là một ví dụ cho thấy sự đa dạng của tình dục loài người và nó không phải là nguyên nhân dẫn tới ảnh hưởng tâm lý xấu. Từ cuối những năm 1990, nhiều nghiên cứu ngẫu nhiênai? đã buộc các nhà tâm lý trị liệu xác nhận rằng đồng tính và song tính luyến ái đi kèm với tỷ lệ gia tăng của bệnh tâm thần, nhưng họ nhanh chóng chỉ ra rằng đó là kết quả của sự phân biệt đối xử, thành kiến và kỳ thị.
Tuy nhiên, Luật sư Mathew D. Staver, chủ tịch tổ chức chống đồng tính Liberty Counsel, trong sách "Same Sex Marriage: Putting Every Household At Risk" nói rằng có nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây đã lập luận chống lại quan niệm này, và cung cấp nhiều bằng chứng cho thấy bản chất của người đồng tính và song tính luôn có liên kết với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tâm thần, bất kể dù họ không bị kỳ thị. Ông Mathew D. Staver còn dẫn báo cáo trong Tạp chí sức khỏe tâm thần Havard, cho biết tỷ lệ người đồng tính Hà Lan gặp phải vấn đề tâm lý vẫn cao hơn rất nhiều mức trung bình, dù Hà Lan là nước đặc biệt cởi mở với đồng tính và hôn nhân đồng tính ở đây là hợp pháp.
Theo nghiên cứu công bố năm 1997 của Paul Van de Ven và cộng sự trên 256 người đồng tính cao tuổi (trên 49 tuổi), phần lớn ở Úc và New Zealand, về số lượng đối tác tình dục cho thấy: 21,6% có từ 100 đến 500 bạn tình, chỉ 2,7% có duy nhất 1 bạn tình, các nhóm khác (gồm 2-10, 11-20, 21-50, 51-100, 501-1.000 và trên 1.000 bạn tình) chiếm tỉ lệ dao động từ 10,2-15,7%. Khoảng 45% đã có quan hệ tình dục với từ 2 tới 10 bạn tình trong vòng 6 tháng gần nhất. Khảo sát năm 1991 ở New York của Meyer-Balburg H. Exner và cộng sự trên 121 nam đồng tính có HIV và 81 nam đồng tính không có HIV cho kết quả: mỗi đồng tính nam có HIV, là nhóm có nhiều hành vi nguy cơ nhất, có trung bình 308 đối tác tình dục trong suốt cuộc đời, trong khi con số này của đồng tính nam không có HIV, nhóm có hành vi nguy cơ ít hơn, là 143 Đối với đồng tính nữ cũng tương tự, nhiều người có quan hệ tình dục với cả nam lẫn nữ. Tỷ lệ đồng tính nữ đã có hơn 50 bạn tình nam giới cao hơn gấp 4 lần so với phụ nữ bình thường.
Khảo sát tại Mỹ cho thấy: 32% người đồng tính nghiện rượu, tỷ lệ lạm dụng thuốc của người đồng tính là khoảng 28-35%, so với tỷ lệ 10-12% trong dân số nói chung. Một nghiên cứu năm 2012 của Trung tâm tiến bộ Hoa Kỳ (tổ chức chuyên nghiên cứu chính sách công cộng) cho biết: 25% người đồng tính và chuyển giới nghiện rượu so với mức 5-10% của toàn nước Mỹ, đồng tính nam có tỷ lệ nghiện thuốc lá cao hơn 2 lần, tỷ lệ dùng chất kích thích gấp 12 lần, dùng cần sa gấp 3,5 lần và heroin gấp 9,5 lần so với nhóm nam giới còn lại. Các nghiên cứu phát hiện ra rằng người đồng tính ở Đan Mạch - nơi rất khoan dung với đồng tính - có tuổi thọ trung bình chỉ là 51 đối với nam và 56 với nữ, trong khi tuổi trung bình của người Đan Mạch là 74 với nam và 78 với nữ. Ở Na Uy, đồng tính có tuổi thọ trung bình thấp hơn 25 tuổi so với trung bình cả nước.
Theo tiến sĩ Richard Fitzgibbons thuộc tổ chức thúc đẩy sức khỏe hôn nhân Institute for Marital Healing (Viện Chữa trị Hôn Nhân) thì ông quan sát thấy có bằng chứng rằng đồng tính luyến ái tự nó là một biểu hiện của một rối loạn tâm lý. Fitzgibbons cho rằng chứng rối loạn này được đi kèm với một loạt các vấn đề sức khỏe tâm thần, bao gồm cả "trầm cảm nặng, ý định tự sát, rối loạn lo âu, lạm dụng chất kích thích, rối loạn hành vi, lòng tự trọng thấp ở nam giới và quan hệ tình dục bừa bãi, không có khả năng duy trì các mối quan hệ đã cam kết". Tiến sĩ Neil Whitehead cho biết: "Các nghiên cứu gần đây cho thấy người đồng tính có nguy cơ bị các vấn đề tâm thần lớn hơn đáng kể so với người dị tính... tỷ lệ tự tử, trầm cảm, chứng háu ăn, rối loạn nhân cách chống xã hội, và lạm dụng chất kích thích cao hơn. Các nghiên cứu được thực hiện tại Hà Lan cho thấy rất nhiều chứng tâm thần ở những người đồng tính, dù đây là đất nước mà sự khoan dung với đồng tính lớn hơn ở hầu hết các nước khác. Sự kỳ thị xã hội lớn hơn tại Hoa Kỳ đã không dẫn đến mức độ cao hơn của các vấn đề tâm thần." Ông khẳng định: "Lý do phù hợp nhất chính là đồng tính luyến ái - tự bản thân nó, trong hình thức cực đoan nhất của nó, chính là sự rối loạn tâm lý". Vì vậy theo các nhà nghiên cứu này, trong tương lai, sẽ chỉ là vấn đề thời gian trước khi buộc phải ghi nhận việc điều trị tâm lý đối với người đồng tính và song tính. Theo Tiến sĩ Neil Whitehead thì trong tương lai, các nghiên cứu sâu hơn và không bị chính trị can thiệp có thể sẽ đưa đồng tính trở lại danh sách các chứng bệnh tâm thần.
=== Quan hệ tình cảm ===
Mỗi người đồng tính có thể thể hiện tình dục của họ bằng cách này hay cách khác, và cũng có thể không có hành vi nào thể hiện ra. Một số chủ yếu quan hệ tình dục với người cùng giới, một số chủ yếu với người khác giới, cả hai giới hoặc kiêng tình dục. Nghiên cứu cho thấy nhiều người đồng tính mong muốn có mối quan hệ bền vững và một phần trong số họ cũng đã thực hiện được. Một kết quả thống kê cho thấy 40% đến 60% đồng tính nam và 45% đến 80% đồng tính nữ hiện đang có một quan hệ tình cảm. Có những nghiên cứu cho thấy các cặp đồng tính và các cặp dị tính là tương đương nhau về mặt toại nguyện và sự gắn kết nhiều hay ít trong quan hệ tình cảm. Nghiên cứu cho thấy đặc điểm tuổi tác và giới tính có liên quan nhiều đến sự toại nguyện và sự gắn kết hơn là thiên hướng tình dục; người đồng tính và người dị tính có chung những mong muốn và lý tưởng trong tình cảm.
Tuy nhiên thống kê cũng cho thấy chỉ có 18-28% cặp đồng tính nam và 8-21% cặp đồng tính nữ ở Hoa Kỳ đã sống với nhau được 10 năm trở lên. Khảo sát ở Na Uy và Thụy Điển cho thấy: các cặp đồng tính nam có tỷ lệ ly hôn cao hơn 50%, với đồng tính nữ cao hơn 167% so với các cặp vợ chồng nam-nữ thông thường Đại học Chicago và nhà xã hội học Edward Laumann lập luận rằng "cư dân đồng tính điển hình trong thành phố dành hầu hết cuộc sống trong các mối quan hệ tình cảm mang tính "giao dịch", hoặc chỉ duy trì được quan hệ ngắn hơn sáu tháng".
Một nghiên cứu về đồng tính nam ở Hà Lan được công bố trong tạp chí AIDS phát hiện ra rằng "thời gian có quan hệ ổn định" với mỗi bạn tình chỉ là 1 năm rưỡi, và mỗi đồng tính nam có trung bình 8 đối tác tình dục mỗi năm Đối với đồng tính nữ, nhiều người có quan hệ tình dục với cả nam giới. Tỷ lệ đồng tính nữ đã có hơn 50 bạn tình nam giới cao hơn gấp 4 lần so với phụ nữ bình thường. Như vậy quan hệ giữa các cặp đồng tính kém bền vững hơn nhiều các cặp dị tính, trong khi số bạn tình lại nhiều hơn hẳn. Lý do được đưa ra là họ ít có ràng buộc, chẳng hạn như không có hôn thú và con cái, bên cạnh đó là do lối sống thích tìm kiếm nhiều bạn tình mới của họ. Trong nghiên cứu của Michael Pollack, ông thấy rằng "ít khi mối quan hệ đồng tính kéo dài hơn hai năm, nhiều đàn ông đồng tính cho biết họ đã có hàng trăm bạn tình"
Các tổ chức ủng hộ đồng tính vẫn tuyên truyền rằng tình yêu đồng tính không có gì khác biệt so với tình yêu nam-nữ, tuy nhiên thực tế lại rất khác. Chính bản thân "văn hóa đồng tính" luôn thôi thúc người đồng tính liên tục tìm kiếm các bạn tình mới, thay vì tôn trọng chế độ một vợ một chồng như các cặp dị tính. Andrew Sullivan, một tác giả nổi tiếng về đồng tính, cho biết các cặp đồng tính có các tiêu chuẩn đạo đức rất khác biệt so với thông thường. Một trong số đó là "sự tồn tại các bạn tình ngoài hôn nhân", họ luôn muốn tìm nhiều bạn tình riêng dù vẫn đang chung sống với nhau. Các cặp đồng tính không xem đó là hành vi ngoại tình mà lại coi đó là điều cần thiết trong lối sống của họ.
Một khảo sát của Tạp chí Nghiên cứu Giới tính cho thấy: chỉ có 2,7% số người đồng tính lớn tuổi là chung thủy với duy nhất 1 bạn tình trong suốt cuộc đời của họ, so với tỷ lệ trên 80% ở những người bình thường. Trong nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Giới tính, Paul Van de Ven khảo sát 2.583 nam đồng tính lớn tuổi và thấy rằng "số lượng bạn tình phổ biến (của nam đồng tính) là 101-500. Ngoài ra, 10,2% đến 15,7% đã có từ 501 đến 1.000 bạn tình. 10,2% đến 15,7% cho biết đã có hơn 1.000 bạn tình.
Nghiên cứu của Sondra E. Solomon và Esther D. Rothblum cho biết: khi được hỏi về thái độ đối với việc quan hệ tình dục với người khác ngoài bạn tình, 40,3% nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) đã từng thảo luận và chấp nhận điều đó trong vài hoàn cảnh, so với chỉ 3,5% ở nam giới đã kết hôn với nữ; số nam đồng tính phản đối là 50,4% so với 78,6% ở nam giới kết hôn với nữ. Có 58,3% nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) có quan hệ tình dục ngoài bạn tình, so với 15,2% ở nam kết hôn với nữ.
Nhà nghiên cứu Brad Hayton cung cấp cái nhìn sâu sắc thái độ của nhiều người đồng tính đối với cam kết hôn nhân:
Người đồng tính có niềm tin rằng mối quan hệ hôn nhân chỉ là tạm thời và chủ yếu là vì bản năng tình dục. Quan hệ tình dục giữa họ chủ yếu vì niềm vui chứ không phải vì sự sinh sản. Và họ tin rằng nguyên tắc một vợ một chồng trong hôn nhân không phải là tiêu chuẩn và cũng không cần được khuyến khích.
=== Khả năng thay đổi ===
Vài người đồng tính và song tính tìm cách giảm bớt ham muốn, tránh xa quan hệ đồng giới hoặc thay đổi thiên hướng tình dục. Họ thay đổi bằng trị liệu, thực hiện quy tắc tôn giáo hoặc tham gia vào các nhóm ex-gay (như nhóm Exodus International). Các tổ chức này thường có quan hệ mật thiết với các nhóm tôn giáo. Năm 2009, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, sau khi xem xét 83 cuộc nghiên cứu về các liệu pháp chuyển đổi được thực hiện từ năm 1960, đã tuyên bố không có bằng chứng cho thấy nỗ lực thay đổi thiên hướng tình dục sẽ đưa lại kết quả, và cho biết một số nghiên cứu cho thấy các nỗ lực này có thể sẽ gây hại, dẫn đến sầu muộn và các ý tưởng tự tử. Nhiều tổ chức sức khỏe và tâm thần phương Tây tin rằng thiên hướng tình dục luôn tiến triển trong suốt cuộc đời và họ tôn trọng sự tự quyết định của mỗi người. Các tổ chức này khuyến cáo rằng không nên cố gắng thay đổi thiên hướng tình dục vì lo ngại có tác hại nào đó. Hoạt động của các nhóm ex-gay và việc trị liệu trong trường học tại Hoa Kỳ bị tranh cãi nhưng lại được các tòa án Mỹ cho phép. Năm 2012, tiểu bang California ở Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật cấm áp dụng liệu pháp chuyển đổi đối với vị thành niên.
Tuy nhiên, các nhà ủng hộ liệu pháp trị liệu thì cho rằng họ đã đạt thành công trong nhiều trường hợp. Theo báo cáo của Jeffrey Satinover, ông đạt được tỉ lệ 50-70% thành công trong việc thay đổi khuynh hướng tình dục từ đồng tính trở thành bình thường. Các nghiên cứu tương tự đã khiến một số chuyên gia thừa nhận rằng khuynh hướng tình dục không phải là bất biến và việc thay đổi nó là có thể. Nhiều người đồng tính (dù không phải là tất cả) có thể thay đổi khuynh hướng tình dục của mình thông qua một loạt các nỗ lực tâm lý và tư vấn. Báo cáo năm 2009 của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ cũng có đánh giá đột phá về trị liệu đối với khách hàng đồng tính muốn đấu tranh để vẫn trung thành với đức tin tôn giáo và không chấp nhận mình là đồng tính. Chủ tịch của Liên minh Công giáo quốc tế, Alan Chambers, mô tả bản thân mình là một người "đã vượt qua thu hút đồng tính không mong muốn", và ông bày tỏ sự hài lòng với phần này của báo cáo.
Bà Judith Glassgold hi vọng rằng báo cáo 2009 sẽ làm dịu tranh cãi giữa 2 bên ủng hộ và phản đối: "Các nhà tâm lý tôn giáo nên nhìn nhận khía cạnh tích cực của người đồng tính. Các nhà trị liệu thế tục thì phải nhận ra rằng một số người sẽ chọn đức tin của họ thay vì ham muốn tình dục.".
=== Đồng tính luyến ái và rối loạn định dạng giới ===
Cần phân biệt người có xu hướng tình dục đồng giới khác với ba dạng khác:
Trạng thái tự cho bản thân thuộc giới tính khác: những người hoàn toàn bình thường về giải phẫu và sinh học nhưng tự cho bản thân thuộc giới tính khác và tìm cách thực hiện ý định chuyển đổi giới tính bằng các phương pháp phẫu thuật và sinh hóa (tiêm Hormone).
Trạng thái tự cải trang quần áo để biểu lộ thành giới khác: là những người chỉ thích mặc quần áo khác giới để cảm thấy mình đặc biệt so với người khác.
Những trường hợp này còn gọi là Rối loạn định dạng giới (gender identity disorder). Rối loạn định dạng giới được phân loại như là một chứng rối loạn tâm thần bởi Trung tâm quốc tế về Phân loại bệnh và các vấn đề sức khỏe liên quan, biểu hiện của nó là những hành vi, thái độ chối bỏ giới tính của bản thân mình, gồm 3 tiêu chuẩn chẩn đoán:
Muốn được sống và chấp nhận như một người khác giới tính, thường đi kèm với những mong muốn làm cho cơ thể, ngoại hình càng giống người khác giới càng tốt (qua trang phục, đi đứng, cách cư xử, thậm chí qua phẫu thuật chuyển giới), dù các bộ phận giới tính và sinh lý cơ thể của họ hoàn toàn bình thường và không bị dị tật.
Tâm lý trên tồn tại liên tục trong ít nhất hai năm.
Rối loạn này không phải là một triệu chứng của một chứng rối loạn tâm thần khác hoặc sự bất thường của nhiễm sắc thể.
Như vậy, Đồng tính luyến ái không phải là rối loạn định dạng giới. Nhưng ngược lại, Rối loạn định dạng giới nếu không được phát hiện và chữa trị thì bệnh nhân sẽ chuyển biến thành Đồng tính luyến ái hoặc sẽ đi tiến hành chuyển đổi giới tính. Một nghiên cứu của Hiệp hội Tâm thần học Mỹ cũng khẳng định: 75% thiếu niên bị rối loạn định dạng giới sẽ có xu hướng đồng tính khi bước vào tuổi vị thành niên.
== Nhân khẩu học và tự nhiên học ==
=== Nhân khẩu học ===
Thống kê tỉ lệ người đồng tính gặp phải một số khó khăn:
Phải lựa chọn yếu tố nào để xác định một người là đồng tính. Số người có ham muốn quan hệ đồng giới có thể nhiều hơn số người thực hiện ham muốn đó, hoặc số người thực hiện này lại có thể nhiều hơn số người tự nhận mình là đồng tính/song tính.
Số liệu về tỉ lệ người đồng tính có ý nghĩa trong việc hoạch định các chính sách chẳng hạn như xác định chi phí và phúc lợi của từng gia đình, tác động của việc hợp pháp hóa đồng tính.
Tỉ lệ người hoàn toàn đồng tính trong dân chúng (ở các nước phương Tây) là từ 1% đến 10% tùy theo các nghiên cứu khác nhau, đồng tính nam nhiều hơn đồng tính nữ. Ở các nước phương Đông chưa có nghiên cứu cụ thể, nhưng các ước tính tỷ lệ này có phần thấp hơn phương Tây (thường dưới 1% dân số)
Các số liệu thay đổi tùy quốc gia. Một nghiên cứu 1992 cho thấy 6,1% nam giới ở Vương quốc Anh từng có hành vi tình dục đồng tính, trong khi ở Pháp là 4,1%. Theo một thống kê 2003, 12% người Na Uy từng có hành vi quan hệ tình dục đồng giới. Trong một cuộc thăm dò 2008, trong khi chỉ có 6% người Anh tự nhận là đồng tính hoặc song tính, 13% người Anh đã từng có hành vi tình dục nào đó với người cùng giới.
=== Tự nhiên học ===
Hành vi đồng tính cũng có ở nhiều loài động vật. Các biểu hiện về hành vi đồng tính thật sự có ở một số loài trong thế giới động vật, đặc biệt trong các loài chim biển, động vật có vú, khỉ và các loài linh trưởng lớn. Đã có 1500 trường hợp được quan sát, trong đó có khoảng 500 trường hợp được miêu tả khá cụ thể.
Có những đôi chim cánh cụt đực coi nhau như những người bạn đời. Chúng xây tổ cùng nhau, lấy một hòn đá thay trứng để ấp. Năm 2004, ở Central Park Zoo, Mỹ, người ta đã thay một hòn đá của đôi chim cánh cụt đực bằng một quả trứng thật, kết quả là đôi chim đó đã chăm sóc quả trứng này cũng như con non nở ra như chính con của chúng. Hiện tượng này cũng được báo cáo bởi một số vườn thú khác. Jannet Mann, giáo sư của Đại học Georgetown cho rằng, các biểu hiện đồng tính ở động vật, ít nhất là ở cá heo, là một giải pháp về tiến hóa để giảm thiểu sự xâm chiếm lãnh thổ, đặc biệt là giữa những con đực.
Tuy vậy, theo nhà di truyền học Simon Levay vào năm 1996 thì: "Mặc dù hành vi tình dục đồng giới là khá phổ biến trong thế giới động vật, nhưng có vẻ là rất hiếm khi các loài vật có khuynh hướng lâu dài để tham gia vào các hành vi như vậy trong khi lại từ chối các hoạt động tình dục khác giới tính. Thiên hướng tình dục đồng tính (thuật ngữ được dùng với loài người), nếu chúng ta có thể nói về điều đó ở động vật, có vẻ là rất hiếm". Chỉ có một loài động vật (trừ loài người) được ghi nhận là có những cá thể đực chỉ giao phối đồng tính trong khi từ chối giao phối với những con cái, đó là cừu Ovis
== Đồng tính luyến ái và luật pháp ==
Mặc dù đồng tính luyến ái đã không còn bị coi là phạm pháp nhiều nơi ở phương Tây, chẳng hạn như Ba Lan 1932, Đan Mạch 1933, Thụy Điển 1944 và Anh 1967, cộng đồng đồng tính vẫn chưa có quyền hợp pháp dẫu chỉ là hạn chế cho đến giữa những năm 70. Một bước ngoặt quan trọng là vào năm 1973, Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ đưa đồng tính luyến ái ra khỏi Danh sách các rối loạn tâm thần. Năm 1977, Québec tại Canada đã trở thành bang đầu tiên cấm kỳ thị dựa trên thiên hướng tình dục. Những năm 80 và 90, nhiều nước phát triển đã hợp pháp hóa đồng tính luyến ái và cấm kỳ thị người đồng tính trong công việc, cư trú và dịch vụ. Tính tới cuối năm 2013, trong tổng số 207 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, có 16 quốc gia đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, 17 nước chấp nhận hình thức đăng ký sống chung. Ngược lại, có khoảng 80 nước coi hành vi đồng tính là tội phạm với các mức án phạt khác nhau (có 8 nước có mức án tử hình).
Tới năm 2013, không có quốc gia châu Á nào công nhận hôn nhân đồng tính hoặc đăng ký sống chung. Tại Thái Lan có cộng đồng LGBT sôi nổi, nhưng điều này chỉ có ở ngành kinh doanh giải trí thu lợi nhuận vốn tách biệt với nền chính trị và xã hội Thái bảo thủ. Ở những quốc gia Hồi giáo như Indonesia đã ban hành luật cấm nghiêm khắc chống lại người đồng tính. Quan hệ tình dục đồng tính có thể bị phạt 20 năm tù và bị đánh roi ở Malaysia. Ở Singapore, quan hệ tình dục đồng tính nam là bất hợp pháp tuy nhiên luật này thường không được thực thi. Năm 2003 ở Đài Loan, một dự luật được đưa ra để công nhận hôn nhân đồng tính đã không đạt đủ số phiếu để thông qua. Ở Nhật Bản, văn hóa và những tôn giáo lớn không có thái độ thù ghét những cá nhân đồng tính, nước này không có luật nào chống lại đồng tính luyến ái nhưng hôn nhân đồng tính thì không được công nhận.
Ở khu vực Trung Đông vốn tập trung nhiều nước đạo Hồi, đồng tính luyến ái bị pháp luật cấm nghiêm khắc. Duy nhất ở Israel, quyền của người đồng tính được pháp luật hỗ trợ. Israel là nước có tỉ lệ ủng hộ hôn nhân đồng giới cao nhất thế giới với 61% người dân ủng hộ. Israel là nước châu Á đầu tiên và duy nhất cho đến nay công nhận sự chung sống không đăng ký của cặp đôi đồng giới. Mặc dù chưa công nhận hôn nhân đồng giới, Israel là quốc gia Trung Đông đầu tiên và duy nhất cho đến nay công nhận hôn nhân đồng giới ở nước khác. Kỳ thị dựa trên thiên hướng tình dục bị cấm vào năm 1992. Theo một quyết định năm 2008, các cặp đồng giới cũng được quyền nhận con nuôi. Ở đây, người đồng tính được quyền công khai tham gia quân ngũ.
=== Hôn nhân đồng giới ===
Việc công nhận hôn nhân đồng tính hay không là chủ đề tranh cãi tại nhiều nơi trên thế giới. Những người ủng hộ cho rằng việc công nhận hôn nhân đồng tính là thể hiện sự bình đẳng giữa con người, rằng pháp luật không nên ngăn cản việc kết hôn của con người nếu họ thực sự muốn vậy. Ngược lại, nhiều người phản đối hôn nhân đồng tính bởi lo ngại những hệ lụy mà nó gây ra cho xã hội, đặc biệt là với trẻ em.
Từ đầu thế kỷ 21, một số nước Tây phương bắt đầu công nhận hôn nhân đồng tính. Tính đến cuối năm 2013 đã có 16 quốc gia trên thế giới công nhận, bao gồm: Anh, Argentina, Bỉ, Bồ Đào Nha, Brasil, Canada, Đan Mạch, Iceland, Hà Lan, Na Uy, Nam Phi, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, và Uruguay; thêm vào đó nhiều địa phương cấp thấp hơn (bang, thành phố) ở México và Hoa Kỳ cũng công nhận. Tại nhiều nước phương Tây, các cuộc thăm dò ý kiến cho thấy ngày càng có nhiều người ủng hộ hôn nhân đồng tính. Mặt khác, tại các nước Hồi giáo và các nước đang phát triển ở châu Á và châu Phi, các cuộc thăm dò ý kiến vẫn cho thấy người dân kịch liệt phản đối người đồng tính cũng như hôn nhân đồng tính.
Các tổ chức khoa học ủng hộ hôn nhân đồng tính gồm có: Hội Tâm lý học Hoa Kỳ, Hội Tâm lý học Canada, Đoàn Bác sĩ Tâm lý Hoàng gia, Hội Xã hội học Hoa Kỳ, Hội Y khoa Hoa Kỳ, Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ, Hội Nhân loại học Hoa Kỳ. Các tổ chức này cho rằng các nghiên cứu chuyên ngành của họ cho thấy hôn nhân đồng tính không tác hại đến xã hội mà còn đem lại nhiều cái lợi về mặt tinh thần và sức khỏe cho những người đồng tính cũng như con cái họ.
Các tổ chức phản đối hôn nhân đồng tính bao gồm chủ yếu là các tổ chức tôn giáo (ví dụ như Hiệp hội gia đình Hoa Kỳ, Tổ chức Tầm nhìn nước Mỹ, Hội đồng Nghiên cứu gia đình, Viện Nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ, Tổ chức Quốc gia về hôn nhân...). Các tổ chức này tuyên bố: việc họ phản đối hôn nhân đồng tính là nhằm bảo vệ các giá trị gia đình truyền thống, bảo vệ trẻ em trước các tác động tiêu cực của hôn nhân đồng tính Các tổ chức này cho rằng hôn nhân đồng giới sẽ làm xói mòn định nghĩa, giá trị truyền thống về hôn nhân giữa nam và nữ từ lâu nay, khiến việc sinh con ngoài giá thú phổ biến hơn, mục đích cơ bản nhất của hôn nhân (sinh sản và chăm sóc trẻ em) sẽ bị coi thường, tước đi quyền có được cả cha lẫn mẹ của trẻ em và điều này sẽ khiến trẻ em chịu nhiều ảnh hưởng về tâm lý và lối sống, các vấn đề này sẽ dẫn đến nhiều tác động tiêu cực cho tương lai của xã hội (xem chi tiết tại Phản đối hôn nhân đồng tính).
=== Người đồng tính nuôi dạy trẻ em ===
Giáo sư Judith Stacey thuộc Đại học New York cho biết: "Hiếm khi nào có nhiều sự đồng thuận trong bất kỳ lĩnh vực khoa học xã hội như vấn đề nuội dạy con cái của cha mẹ đồng tính, đó là lý do Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ và tất cả các tổ chức nghề nghiệp lớn có chuyên môn liên quan tới phúc lợi xã hội về trẻ em đã ban hành báo cáo và nghị quyết ủng hộ quyền làm cha mẹ của người đồng tính nam và đồng tính nữ ".
Tất cả các hội ngành nghề nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp lớn và uy tín nhất thế giới về tâm thần học, tâm lý học, xã hội học, nhân chủng học, trẻ em học, lao động học... của Hoa Kỳ, Canada và Australia như: Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ,Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ, Hiệp hội xã hội học Hoa Kỳ, Hiệp hội nhân chủng học Hoa Kỳ, Hiệp hội y khoa Hoa Kỳ, Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, Học viện trẻ vị thành niên và tâm thần học Hoa Kỳ, Hiệp hội bác sĩ gia đình Hoa Kỳ, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu Hoa Kỳ, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội Hoa Kỳ, Hiệp hội phân tâm học Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm lý học Canada, Hiệp hội tâm lý - xã hội học Úc, Đại học tâm lý học hoàng gia Ạnh... đều đồng thuận rằng:.
Không có sự liên quan giữa thiên hướng tình dục của cha mẹ với sự phát triển của trẻ em. Sự thành công của trẻ em phụ thuộc vào chất lượng gia đình (mối quan hệ hạnh phúc của cặp cha mẹ, mối quan hệ đối xử và nuôi dạy của cha mẹ với con cái, sự hỗ trợ của xã hội với họ...), không phụ thuộc vào khuynh hướng tình dục của cha mẹ.
Các cặp cha mẹ đồng tính nam và đồng tính nữ đều có khả năng nuôi dạy con cái tốt như các cha mẹ dị tính.
Trẻ em nuôi dạy bởi các cặp cha mẹ đồng tính nam và đồng tính nữ có sự phát triển bình thường và lành mạnh về tâm sinh lý, thể chất, giới tính và hành vi xã hội.
Bác bỏ quan điểm của các cá nhân, tổ chức chống đối hôn nhân đồng tính rằng trẻ em nuôi bởi các cha mẹ đồng tính dễ trở thành đồng tính hơn hay thể hiện sự phát triển tâm lý lệch lạc. Các quan điểm này không được hỗ trợ bởi khoa học hoặc dựa vào số ít các nghiên cứu có sai sót nghiêm trọng về phương pháp luận đã bị bác bỏ. Không có bất kỳ bằng chứng thuyết phục nào hỗ trợ cho quan điểm con cái nuôi bởi các cha mẹ đồng tính là không tốt bằng hay có bất cứ nguy cơ nào so với con cái của các cha mẹ khác giới.
Nhiều người đồng tính, song tính có thể trở thành cha hoặc mẹ bằng nhiều cách như xin con nuôi, thụ tinh nhân tạo hoặc nhận đỡ đầu hoặc có khi có con riêng của một người với vợ hoặc chồng cũ là dị tính luyến ái, hoặc nhờ sinh con hộ. Theo điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2000, 33% cặp đồng giới nữ và 22% cặp đồng giới nam đang sống với ít nhất một người con dưới 18 tuổi. Vài trẻ không biết rằng cha/mẹ của chúng là người đồng tính/song tính. Tình trạng công khai thiên hướng tình dục cũng khác nhau và vài người không bao giờ công khai với con mình.
Người LGBT làm cha mẹ nói chung và nhận con nuôi nói riêng là vấn đề gây tranh cãi ở nhiều nước phương Tây và thường được xem là cuộc chiến văn hóa giữa quan niệm bảo thủ và tự do. Tháng 1 năm 2008, Tòa án châu Âu về quyền con người tuyên bố các cặp cùng giới có quyền nhận con nuôi. Ở Hoa Kỳ, người đồng tính/song tính có thể nhận con nuôi một cách hợp pháp ở tất cả các tiểu bang trừ Florida.
Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy kết quả rằng người đồng tính cũng thích hợp và có khả năng làm cha/mẹ như người dị tính. Các nghiên cứu này ghi nhận rằng không có sự liên quan giữa thiên hướng tình dục của cha/mẹ với sự điều chỉnh tình cảm, tâm lý và hành vi của đứa trẻ., và hôn nhân sẽ nâng cao tình trạng tài chính, tâm lý, thể chất và rằng việc được nuôi dưỡng bởi một cặp được pháp luật công nhận sẽ tốt cho đứa trẻ. Giáo sư Judith Stacey, Đại học New York cho rằng khoa học xã hội có sự đồng thuận cao về vấn đề con nuôi của người đồng tính, do đó Viện Nhi khoa Hoa Kỳ và các tổ chức chuyên ngành về bảo vệ trẻ em đã có những báo cáo hỗ trợ quyền nuôi con của người đồng tính.
Một vấn đề quan tâm là khi con cái được nuôi bởi những người đồng tính có khả năng trở thành đồng tính khi lớn lên hay bị rối loạn về giới tính hay không. Các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học như Kirk Patrick, Susan Golombok, Ann Spencer, Michael Rutter, Richard Green... cho biết: Khi nghiên cứu các cặp sinh đôi và con nuôi của các cặp đồng tính nữ, bằng chứng cho thấy thiên hướng tình dục là kết quả tác động phức tạp từ cả yếu tố sinh học và yếu tố môi trường và sự nuôi dạy. Các nghiên cứu này đã tìm thấy sự liên hệ về việc phát triển thiên hướng tình dục của trẻ em theo chiều hướng tương tự như cha mẹ nuôi của chúng, có nghĩa là nếu cha mẹ nuôi là người đồng tính thì khả năng đứa trẻ có hành vi đồng tính sẽ tăng lên (để biết thêm chi tiết, xin mời đọc Yếu tố môi trường trong thiên hướng tình dục).
Một nghiên cứu mới vào năm 2012 của Mark Regnerus, giáo sư tại Đại học Texas được đăng trên Tạp chí nghiên cứu xã hội Hoa Kỳ đã cung cấp thêm nhiều thông tin về vấn đề này. Nghiên cứu khảo sát 15.000 thanh niên, khảo sát kỹ 3.000 thanh niên trong đó 175 được nuôi lớn bởi người đồng tính nữ và 73 bởi người đồng tính nam. Kết quả cho thấy: trong ngắn hạn, các cặp đồng tính có thể nuôi con tốt như vợ chồng thông thường; nhưng về dài hạn, sự khiếm khuyết về giới tính (thiếu vắng cha hoặc mẹ để nuôi dạy đứa trẻ) là không thể khắc phục được, và con nuôi của họ khi bước vào tuổi thành niên sẽ gặp phải nhiều vấn đề hơn hẳn so với con cái của những gia đình thông thường, cụ thể:
Mark Regnerus tin rằng còn quá sớm đưa ra các kết luận sâu rộng về ảnh hưởng đối với con cái của các cặp đồng tính, và hiện không có bằng chứng thuyết phục rằng con cái của cặp đồng tính khác biệt so với những đứa trẻ có đủ cha mẹ. Trước khi có nhiều bằng chứng hơn, Nhà nước nên thận trọng và nên quy định hôn nhân trong phạm vi truyền thống (1 nam và 1 nữ), Regnerus tin rằng đó là điều tốt nhất dành cho trẻ em.
Nghiên cứu trên của Mark Regnerus nhận được sự ủng hộ của Trường Cao đẳng nhi khoa Hoa Kỳ, một tổ chức quốc gia của các bác sĩ nhi khoa và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và giáo dục dành cho trẻ em. Hội đồng Nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ đã có bài phân tích ủng hộ nghiên cứu và cho biết: nhờ mẫu thống kê lớn nên nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng cho biết về tình trạng của trẻ em trong gia đình đồng tính về dài hạn, cũng như bản chất "bất ổn định" của cặp đồng tính. Nghiên cứu này đã xóa tan những ngộ nhận về việc "cha mẹ đồng tính không khác cha mẹ thường". Kết quả của nó tương đồng với nghiên cứu của các chuyên gia nghiên cứu chính sách gia đình, và không có gì đáng ngạc nhiên khi nghiên cứu này bị tấn công quyết liệt các nhà hoạt động ủng hộ đồng tính
Sau khi Mark Regnerus công bố nghiên cứu của mình trên một tạp chí, hơn 200 nhà khoa học đã cùng ký tên và gửi một bức thư cho tạp chí này bày tỏ "những mối lo ngại đáng kể về giá trị của bài báo này". Các nhà nghiên cứu đã cùng chỉ ra nhiều bất ổn, không phù hợp thực tế, không chính xác trong phương pháp luận của Regnerus, cũng như đặt nghi vấn về quá trình mà tạp chí này đã tiếp nhận, xem xét, chấp nhận nghiên cứu của Regnerus và cho phép xuất bản không đảm bảo thời gian yêu cầu. Đại học Texas (nơi Mark Regnerus làm việc) đã đưa ra tuyên bố: "Nghiên cứu này của Mark Regnerus là của riêng ông, không phản ánh quan điểm của Đại học Texas hay Hiệp hội Xã hội học Mỹ", "những kết luận rút ra từ nghiên cứu của ông về người đồng tính làm cha mẹ là cơ bản không hoàn thiện trên cơ sở khái niệm và phương pháp luận", đồng thời các kết quả nghên cứu của Regnerus "đã được trích dẫn trong các nỗ lực không phù hợp nhằm hạn chế các quyền dân sự và chính đáng của các đối tác LBGTQ và gia đình của họ". Đồng thời, Hiệp hội xã hội học Hoa Kỳ (ASA) đã nêu ra 5 sai sót cơ bản không trong phương pháp luận nghiên cứu của Mark Regnerus và kết luận: "Tóm lại, do sự đánh đồng con cái của cha mẹ đồng tính với các cá nhân tự nhận rằng họ có cha hoặc mẹ tham gia vào mối quan hệ yêu đương đồng tính, đánh đồng các cá nhân đó như con cái của người mẹ hay người cha đồng tính, nghiên cứu của Regnerus đã che lấp thực tế là nó đã không kiểm tra và xác thực con cái của hai bố mẹ đồng tính. Theo đó, nó không thể bàn luận về các tác động của kết quả việc nuôi dạy của cha mẹ đồng tính lên con cái"..
Tiến sĩ Stanton L. Jones, giáo sư tâm lý học tại Đại học Wheaton, nói rằng ông có Bảng tổng hợp ý kiến giữa các chuyên gia về điều này: "Tôi sẽ không coi đồng tính luyến ái là một dạng bệnh giống như tâm thần phân liệt hay rối loạn ám ảnh. Nhưng cũng không thể xem nó là một "lối sống bình thường" giống như kiểu sống nội tâm hoặc sống hướng ngoại."
Mặt khác, trong cuốn sách "Lớn lên trong một gia đình đồng tính nữ: Tác động với sự phát triển trẻ em", 2 tiến sĩ Fiona Tasker và Susan Golombok, quan sát thấy rằng 25% những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính cũng đã tham gia vào một mối quan hệ đồng tính, so với xấp xỉ 0% ở những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ bình thường
Tiến sĩ Trayce Hansen cho biết: "Nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội, mặc dù không dứt khoát, cho thấy rằng trẻ em nuôi bởi các cặp đồng tính có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi đồng tính hơn so với các trẻ em khác. Các nghiên cứu cho đến nay cho thấy khoảng 8% đến 21% con nuôi của các cặp đồng tính cuối cùng cũng sẽ trở thành đồng tính. Để so sánh, tạm cho khoảng 2% dân số nói chung là đồng tính. Do đó, nếu các tỷ lệ này được xác minh kĩ, con nuôi của các cặp đồng tính có khả năng phát triển thành đồng tính cao hơn 4 đến 10 lần so với những đứa trẻ khác."
Phân tích tổng hợp của Stacy và Biblarz (năm 2001) cho thấy rằng: các bà mẹ nuôi là đồng tính nữ có ảnh hưởng lớn, khiến con trai nuôi của họ trở nên nữ tính trong khi con gái nuôi thì lại trở nên nam tính. Họ báo cáo: "...các cô gái vị thành niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính sẽ có tỷ lệ cao hơn về tình dục bừa bãi... nói cách khác, trẻ em (đặc biệt là trẻ em gái) được nuôi bởi nữ đồng tính có xu hướng đả phá các quan niệm giới tính truyền thống, trong khi trẻ em được nuôi bởi các bà mẹ thông thường sẽ có biểu hiện phù hợp với giới tính của mình". Một nghiên cứu năm 1996 bởi một nhà xã hội học Úc cho thấy: những đứa trẻ của các cặp vợ chồng bình thường là giỏi nhất, trong khi con nuôi của các cặp vợ chồng đồng tính lại học hành kém nhất, điều này đúng tại 9 trên 13 trường học được khảo sát.
== Đồng tính luyến ái và xã hội ==
Thái độ của xã hội về đồng tính phản ánh thái độ của chính quyền và tôn giáo, đã thay đổi rất nhiều trong suốt chiều dài lịch sử cũng như bề rộng của Trái Đất, từ việc bắt mọi người đàn ông có quan hệ, đến việc chấp nhận, đến việc xem nó như một tội nhỏ bị cấm đoán qua luật pháp và tòa án, cho đến việc xem nó như là một trọng tội đáng bị xử tử.
=== Tình trạng thành kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử với người đồng tính ===
Mỗi cá nhân sinh ra không tự bản thân lựa chọn thiên hướng tình dục. Khoa học hiện đại cũng đã chứng minh và khẳng định đồng tính luyến ái không phải là một bệnh tâm lý, nó là một trong các thiên hướng tình dục bình thường của con người. Tuy nhiên trên thực tế, do thuộc thiên hướng tình dục thiểu số, người đồng tính vẫn phải chịu sự thành kiến, kỳ thị, phân biệt đối xử từ những người dị tính và xã hội nói chung. Hậu quả của thành kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử có thể khiến cho nhiều người đồng tính thường xuyên gặp vấn đề tâm lý lo âu, áp lực, căng thẳng dẫn đến trầm cảm, thậm chí một tỷ lệ cao từng có ý định và nỗ lực tự tử. Một nghiên cứu của Viện Ontario Nghiên cứu Giáo dục, Trường Đại học Toronto, Canada đã chỉ ra: "Người đồng tính nam và nữ thường trải cảm giác tiêu cực về tâm lý khi họ lần đầu tiên nhận ra xu hướng đồng tính luyến ái của mình trong thời niên thiếu hay tuổi trưởng thành. Điều này làm cho quá trình hình thành bản sắc giới tính diễn ra khó khăn hơn và có thể gây ra thách thức về tâm lý cho người đồng tính trong suốt cuộc đời.
Các hình thức khác nhau mà người đồng tính luyến ái có thể gặp phải bởi hành vi thành kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử:
Công khai thiên hướng tình dục, nhưng bị từ chối bởi các thành viên gia đình và bạn bè.
Bị bắt nạt hay chế giễu bởi bạn cùng học (học sinh sinh viên).
Bị trêu trọc, đùa cợt hoặc sách nhiễu tại nơi làm việc.
Bị đe dọa hoặc đánh đập khi ra đường.
Phải che giấu một phần bản thân trong các quan hệ xã hội vì sợ bị từ chối hoặc không được tôn trọng.
Cảm thấy tội lỗi và xấu hổ về thiên hướng tình dục của bản thân khi phải đối mặt với những thông điệp tiêu cực được tuyên truyền bởi xã hội xung quanh
...
Một cuộc khảo sát trên đối tượng thanh niên được tiến hành bởi tổ chức GLSEL- Mỹ đã báo cáo kết quả: những thanh niên đồng tính được khảo sát cho biết đã từng bị quấy rối bằng lời nói (61%), quấy rối tình dục (47%), sách nhiễu bằng hành động (28%) và tấn công bằng hành động (14%). Đại đa số thanh thiếu niên thuộc nhóm tình dục thiểu số (90%) thường xuyên hoặc đôi khi nghe thấy những nhận xét thành kiến, kỳ thị đồng tính tại các trường của họ, và nhiều người (37%) đã nghe thấy những phát biểu từ chính các giảng viên hoặc nhân viên nhà trường. Một nghiên cứu khác cũng thấy thanh niên thuộc nhóm tình dục thiểu số bị bắt nạt nhiều hơn 2-3 lần so với những người dị tính, và gần như tất cả các sinh viên chuyển giới đã bị quấy rối bằng lời nói (như trêu chọc, đe doạ tại trường)".
Một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Q. Campus Pride (Mỹ) về người đồng tính trong môi trường đại học, thực hiện khảo sát 5.150 người tại 100 trường đại học cao đẳng, đã cho tỉ lệ: khoảng 25 phần trăm số người đồng tính nữ, đồng tính nam và một phần ba người chuyển giới là sinh viên, giảng viên, nhân viên tại các trường đã từng bị sách nhiễu vì khuynh hướng tình dục của họ.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng thanh thiếu niên là người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính có một tỷ lệ cao hơn nhiều so với người trẻ dị tính luyến ái về ý định tự tử. Trung tâm Dữ liệu Phòng chống tự tử quốc gia Hoa Kỳ (SPRC) đã tổng hợp các nghiên cứu và ước tính có từ 30 đến 40% thanh niên thuộc nhóm tình dục thiểu số tùy thuộc vào lứa tuổi và giới tính, đã từng cố gắng tự tử. Một nghiên cứu của chính phủ Hoa kỳ có tiêu đề Báo cáo của Nhóm công tác chuyên ngành của Bộ trưởng về vấn đề thanh niên tự tử , cho biết thanh thiếu niên LGBT có khả năng tự tử cao hơn những người trẻ tuổi khác gấp hơn bốn lần..
Trong một cuộc họp vào tháng 5 năm 2012 của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (OHCHR), Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-mon đã cho biết: "Trong tài liệu báo cáo của OHCHR cho thấy có một sự vi phạm nhân quyền đáng lo ngại ở tất cả các vùng miền. Chúng tôi thấy một hình ảnh của phân biệt đối xử, kỳ thị nhắm vào những con người chỉ vì họ là người thuộc xu hướng tình dục thiểu số. Có một sự bất công phổ biến tại những nơi làm việc, trường học và bệnh viện, có cả các cuộc tấn công, bạo lực kinh khủng, bao gồm cả tấn công tình dục. Có những người LGBT đã bị bỏ tù, tra tấn, thậm chí bị giết. Đây là một thảm kịch lớn cho những người phải chịu đựng, và là một vết nhơ bẩn đối với lương tâm chung của chúng ta. Nó cũng là một sự vi phạm luật pháp quốc tế."
Tháng 12 năm 2011, Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã thông qua nghị quyết đầu tiên công nhận quyền LGBT, được theo dõi và báo cáo bởi Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc về tình trạng vi phạm nhân quyền đối với cộng đồng người LGBT, bao gồm tội ác kỳ thị, hình sự hóa đồng tính luyến ái và phân biệt đối xử. Báo cáo nhấn mạnh:
"Người đồng tính, song tính và chuyển giới thường là mục tiêu lạm dụng, hành hạ của các tổ chức tôn giáo cực đoan, các nhóm băng đảng quân sự không chính thức, các phần tử chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cũng như các hình thức bạo lực ở gia đình và cộng đồng...Bạo lực đối với người tình dục thiểu số có xu hướng đặc biệt xấu xa so với các loại hành vi tội phạm khác, một mức độ cao của sự độc ác và tàn bạo. Các Chính phủ thường hay bỏ qua bạo lực và phân biệt đối xử dựa trên cơ sở thiên hướng tình dục."
Trưởng phụ trách các vấn đề toàn cầu - Uỷ ban nhân quyền Liên hiệp quốc Charles Radcliffe cũng cho biết: "Một trong những điều chúng tôi nhận thấy là nếu luật pháp cơ bản phản ánh tâm lý thù ghét đồng tính, thì sau đó nó sẽ tạo ra nạn thành kiến kỳ thị đồng tính trong xã hội nói chung. Nếu Chính phủ đối xử với họ như là tầng lớp hay thành phần thứ hai, hoặc tệ hơn là tội phạm, thì nó sẽ dẫn đường cho công dân làm điều tương tự". Ông nhấn mạnh rằng tất cả các nước thành viên của Liên Hợp Quốc có nghĩa vụ tuân theo Luật nhân quyền quốc tế để hợp pháp hoá đồng tính luyến ái.
Dựa trên các báo cáo được theo dõi, Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc kêu gọi tất cả các quốc gia bãi bỏ các điều luật kết án đồng tính luyến ái và ban hành toàn diện pháp luật chống phân biệt đối xử với người đồng tính. Ngoài ra, các chiến dịch thông tin tới cộng đồng cần được tuyên truyền phổ biến, đặc biệt là trong các trường học để chống lại hội chứng kỳ thị. Các cảnh sát và các quan chức thực thi hệ thống pháp luật cũng cần được đào tạo để đảm bảo những người LGBT được đối xử một cách đúng đắn và công bằng.
Bà Margaret Chan, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế thế giới WHO đã phát biểu: "Sự kiện WHO loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh tâm lý từ năm 1990 là một bước tiến quan trọng, tuy nhiên trong hơn hai thập kỷ sau đó, sự kỳ thị và phân biệt đối xử chống lại người đồng tính vẫn còn tồn tại, và có thể dẫn đến hạn chế tiếp cận các dịch vụ y tế và bỏ qua các mục tiêu quan trọng trong các chương trình y tế. Phân biệt đối xử trên cơ sở xu hướng tình dục sẽ làm gia tăng tính dễ tổn thương dẫn đến trầm cảm, lo âu và lạm dụng thuốc ở thanh thiếu niên và người lớn; làm trầm trọng thêm bạo lực; cản trở tiếp cận với dịch vụ y tế do bị kỳ thị; và làm tăng nguy cơ các bệnh qua đường tình dục, bao gồm cả HIV"
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban-kimoon đã tuyên bố thông điệp: "Với những bạn là người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính hay chuyển giới, cho tôi nói rằng: Các bạn không đơn độc! Cuộc đấu tranh của các bạn nhằm chấm dứt bạo lực và phân biệt đối xử là một cuộc đấu tranh chung. Bất kỳ cuộc tấn công nào nhắm vào các bạn cũng là cuộc tấn công vào các giá trị cốt lõi của Liên hiệp quốc. Tôi thề sẽ đứng lên bảo vệ và giúp đỡ các bạn. Ngày hôm nay tôi đứng với các bạn, và kêu gọi tất cả các quốc gia, tất cả mọi người cùng đứng về phía các bạn".
Trong nghị quyết thông qua tháng 4/2014, Hiệp hội tâm lý học Mỹ và Hiệp hội quốc gia các nhà tâm lý học "Khuyến khích các chuyên gia sức khỏe tâm thần kết hợp với trường học để giáo dục cho thanh thiếu niên về xu hướng tình dục đa dạng, bao gồm sự phát triển các đặc điểm giới tính, biểu hiện giới tính và khuynh hướng tình dục trong tất cả chính sách liên quan tới giáo dục, chú trọng chính sách chống bắt nạt và chống phân biệt đối xử. Khuyến khích giáo dục, đào tạo, phát triển chuyên môn liên tục về giới và thiên hướng tình dục đa dạng của học sinh sinh viên cho các nhà giáo dục và giáo viên trong nhà trường; giáo dục kiến thức và tinh thần cho các học viên ngành y tế, các chuyên gia trường học, những người lãnh đạo và nhân viên các trường học. Đào tạo và giáo dục như vậy nên sẵn sàng với các học sinh sinh viên, phụ huynh và mọi người dân trong cộng đồng".
=== Kỳ thị ===
Trong nhiều nền văn hóa, người ta thường có thành kiến và kỳ thị người đồng tính. Người đồng tính nam được xem là ẻo lả và chạy theo mốt. Tuy vậy nghiên cứu cho thấy họ có những quan hệ tình cảm lâu dài. Nhiều người cho rằng người đồng tính nam thích ấu dâm và lạm dụng tình dục trẻ em hơn là người dị tính nam, các nghiên cứu cho thấy điều này không đúng. Nhiều người nghĩ người đồng tính nữ là những người sắt đá như đàn ông và đôi khi căm ghét đàn ông hoặc người bị ám ảnh bởi việc đấu tranh cho quyền phụ nữ. Nhiều người khác thì nói rằng họ cởi mở với đồng tính, nhưng khi xem ảnh thân mật của các cặp đồng tính thì họ lại đều cảm thấy ghê sợ, cho thấy tâm lý ghê sợ đồng tính thực ra vẫn tồn tại trong những người này, trái với lời nói bên ngoài của họ.
Trong nhiều trường hợp người đồng tính bị kết tội là nguyên nhân của tệ nạn xã hội. Trong thế kỷ 20, Đức quốc xã hành quyết những người đồng tính vì cho rằng họ đe dọa cho sự nam tính và làm dơ bẩn "giống nòi Aryan". Những năm 1950, hàng trăm người bị sa thải vì là đồng tính trong một chiến dịch có tên là "Nỗi sợ hoa oải hương" của McCarthyism. Tuy nhiên, nhiều nhà chính trị đã chỉ trích một cách mỉa mai ông vì có phụ tá là người đồng tính, Roy Cohm.
Vào tháng 1 năm 2001, Bộ văn hóa Ai Cập cho đốt 6.000 quyển sách thơ đồng tính thế kỷ thứ 8 của nhà thơ Ba Tư-Ả Rập Abu Nuwas để xoa dịu người Hồi giáo.
=== Bạo hành đối với người đồng tính ===
Ở Mỹ, theo FBI 15,6% vụ tấn công do thù ghét được trình báo với cảnh sát là do kỳ thị đồng tính. Trong đó 61% vụ tấn công là nhằm vào người đồng tính nam. Năm 1998, một sinh viên đồng tính là Mathew Shepard đã bị giết, đây là một trong những vụ tai tiếng nhất ở Mỹ.
Hiện nay đồng tính luyến ái có thể bị xử tội tử hình ở 8 nước là Iran, Mauritanie, Nigeria, Pakistan, Ả Rập Saudi, Sudan, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, và Yemen.
== Đồng tính luyến ái và tôn giáo ==
Giữa các tôn giáo và hệ phái tôn giáo, tại các khu vực và thời điểm khác nhau, có nhiều quan niệm khác nhau về thiên hướng, tình yêu và tình dục đồng giới. Chống đối đồng tính luyến ái thay đổi từ ngấm ngầm can ngăn cho đến chính thức cấm đoán đồng tính luyến ái và tích cực chống lại sự chấp thuận của xã hội đối với đồng tính.
Vài người đồng tính và song tính tìm cách giảm bớt ham muốn, tránh xa quan hệ đồng giới hoặc thay đổi thiên hướng tình dục. Họ thay đổi bằng trị liệu, thực hiện quy tắc tôn giáo hoặc tham gia vào các nhóm ex-gay (như nhóm Exodus International). Nhiều tổ chức sức khỏe và tâm thần phương Tây tin rằng thiên hướng tình dục luôn tiến triển trong suốt cuộc đời và họ cũng tôn trọng sự tự quyết định của mỗi người. Tuy nhiên, chưa có bằng chứng khoa học nào chứng minh sự hiệu quả hoặc tác hại của những phương pháp trị liệu. Các tổ chức này khuyến cáo rằng không nên cố gắng thay đổi thiên hướng tình dục vì họ lo ngại có thể có tác hại nào đó. Hoạt động của các nhóm ex-gay và việc trị liệu trong trường học gây ra chống đối từ các nhóm ủng hộ đồng tính, nhưng lại được các tòa án Mỹ cho phép.
Nhiều giáo hội dạy rằng cần yêu thương người đồng tính dù cho khuynh hướng tình dục của họ như thế nào nhưng chống lại việc thực hành đồng tính. Giáo hội Công giáo chủ trương rằng trạng thái đồng tính nằm ngoài lựa chọn của cá nhân và bản thân khuynh hướng đồng tính không phải là tội lỗi. Tuy nhiên, Giáo hội coi hành vi tình dục đồng tính là vô trật tự về mặt luân lý và trái với luật tự nhiên, trong khi đó Giáo hội dạy rằng những người đồng tính phải được đón nhận với "sự tôn trọng, thông cảm và tế nhị. Người ta phải tránh tất cả những dấu hiệu của sự kỳ thị bất công đối với họ." Giáo hội Mặc môn cũng lên án bạo hành với người đồng tính và chính thức tuyên bố "giang tay đón nhận bằng sự thấu hiểu và tôn trọng" vì Thiên Chúa đã dạy phải khoan dung với mọi người. Tuy vậy, họ cũng nói thêm là sẽ kiên quyết phản đối hôn nhân đồng tính vì nó sẽ dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng cho mỗi gia đình và trẻ em, rằng "hôn nhân đồng tính sẽ dẫn đến sự kết thúc của tự do tôn giáo và các tiêu chuẩn đạo đức xã hội."
Các giáo hội khác đã thay đổi học thuyết để thích nghi với mối quan hệ đồng giới. Khác với Do Thái giáo Chính thống, các nhánh Do Thái giáo Cải cách và Tái xây dựng có các quan điểm tự do hơn, và nhánh trung dung Do Thái giáo Bảo thủ gần đây đã chấp nhận các chủng sinh đồng tính.
Mặt khác, Anh giáo gặp phải sự bất đồng giữa một bên là các giáo hội tại châu Phi (trừ vùng Nam Phi) và tại châu Á với một bên là các giáo hội tại Bắc Mỹ khi giáo hội Hoa Kỳ và Canada chấp nhận các giáo sĩ đồng tính và ủng hộ hôn nhân đồng giới.
Nhiều nhóm tôn giáo lại tẩy chay các công ty có chính sách ủng hộ cộng đồng thiên hướng tình dục thiểu số. Đầu năm 2005, Hiệp hội gia đình Hoa Kỳ đe dọa tẩy chay sản phẩm của Ford khi công ty này ủng hộ hôn nhân đồng giới.
== Đồng tính luyến ái và sức khỏe ==
Nếu người đồng tính nam có quan hệ tình dục với người nam khác thì thuộc nhóm hành vi nam có quan hệ tình dục với nam nên các vấn đề về sức khỏe tương tự như nhóm hành vi này. Đọc các vấn đề sức khỏe của nhóm hành vi nam có quan hệ tình dục với nam để biết thêm chi tiết. Nam quan hệ với nam không chỉ bao gồm người đồng tính luyến ái nam, song tính luyến ái nam mà bao gồm tất cả người nam có quan hệ tình dục với nam với mọi mục đích.
Theo báo cáo tiến độ phòng, chống HIV/AIDS năm 2012, tỉ lệ nhiễm HIV trong những người nam quan hệ tình dục với nam ở Thành phố Hồ Chí Minh là 16%, tỷ lệ chỉ đứng sau nhóm tiêm chích ma túy. Tại đây, cứ 5 nam quan hệ đồng giới thì có 1 người nhiễm ít nhất một trong các nhiễm khuẩn giang mai, lậu sinh dục, lậu trực tràng, chlamydia sinh dục hoặc chlamydia trực tràng. Nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ lây nhiễm HIV/AIDS cao do một đồng tính nam thường có nhiều bạn tình, họ thường giới thiệu bạn tình cho nhau và cùng quan hệ, nên chỉ cần 1 người nhiễm HIV thì sẽ nhanh chóng lây lan sang các đối tượng khác. Bên cạnh đó, các đồng tính nam thường quan niệm sai lầm rằng, chỉ có quan hệ khác giới mới bị nhiễm HIV, giang mai, mào gà... còn đồng tính thì không. Họ ít khi sử dụng các biện pháp phòng tránh khi quan hệ tình dục như một khảo sát của Ban quản lý dự án phòng chống HIV/AIDS (Việt Nam) trên 300 đồng tính nam cho thấy một số chỉ sử dụng bao cao su với bạn tình mới quen lần đầu, khi thân rồi họ không đề phòng nữa.
Tương tự, đọc nữ có quan hệ tình dục với nữ để biết thêm chi tiết. Nữ quan hệ với nữ không chỉ bao gồm người đồng tính luyến ái nữ, song tính luyến ái nữ mà bao bồm tất cả người nữ có quan hệ tình dục với nữ.
Năm 2010, một báo cáo của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Mỹ (CDC) cho biết trong số các ca nhiễm HIV mới ở Hoa Kỳ thì số ca thuộc cộng đồng nam thanh niên đồng tính trẻ tuổi cao hơn rất nhiều so với mức chung, có nhiều nguyên nhân cho việc này:
Tỷ lệ bị nhiễm HIV trong cộng đồng đồng tính luyến ái nam vốn cao, làm tăng khả năng lây nhiễm trong cộng đồng so với dân số thông thường.
Các yếu tố xã hội như kỳ thị, thành kiến, phân biệt đối xử và thiếu khả năng tiếp cận hệ thống y tế đối với cộng đồng này.
Nam giới trẻ có quan hệ đồng giới thường có các hành vi nguy cơ cao (như quan hệ tình dục với nhiều hơn 4 bạn tình, tiêm chích ma túy).
Thống kê của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Mỹ năm 2011 cho biết: nam đồng tính có khả năng nhiễm HIV cao gấp 44 tới 86 lần so với nam giới bình thường, và cao gấp 40 tới 77 lần so với nữ giới. Năm 2009, thống kê cho biết có 61% số ca nhiễm HIV mới ở Mỹ là đồng tính hoặc song tính, dù nhóm này chỉ chiếm khoảng 2% dân số Mỹ.
Hoa Kỳ hiện đang cấm nhóm đối tượng nam quan hệ tình dục với nam đi hiến máu "vì họ là một nhóm có nguy cơ cao bị nhiễm HIV, viêm gan B và một số bệnh nhiễm trùng khác có thể được lây truyền qua truyền máu" Vương quốc Anh và nhiều nước châu Âu đã cấm tương tự.
== Chú thích == |
huyện rangpur.txt | Rangpur là một huyện thuộc division Rangpur, Bangladesh. Huyện này có diện tích 2306 km², dân số năm 2002 là 2534365 người, mật độ dân số là 1099 người/km².
== Tham khảo == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.