filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
chi mã đề.txt | Chi Mã đề (danh pháp khoa học: Plantago) là một chi chứa khoảng 200 loài thực vật nhỏ, không dễ thấy, được gọi chung là mã đề. Phần lớn các loài là cây thân thảo, mặc dù có một số ít loài là dạng cây bụi nhỏ, cao tới 60 cm. Lá của chúng không có cuống, nhưng có một phần hẹp gần thân cây, là dạng giả-cuống lá. Chúng có 3 hay 5 gân lá song song và tỏa ra ở các phần rộng hơn của phiến lá. Các lá hoặc là rộng hoặc là hẹp bản, phụ thuộc vào từng loài. Các cụm hoa sinh ra ở các cuống thông thường cao 5–40 cm, và có thể là một nón ngắn hay một cành hoa dài, với nhiều hoa nhỏ, được thụ phấn nhờ gió.
Các loài mã đề bị ấu trùng của một số loài thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) ăn lá - xem Danh sách các loài cánh vẩy phá hại mã đề.
Các loài mã đề mọc ở nhiều nơi trên thế giới, bao gồm châu Mỹ, châu Á, Úc, New Zealand, châu Phi và châu Âu. Nhiều loài trong chi phân bổ rộng khắp thế giới như là một dạng cỏ dại.
Tại Việt Nam có hai loài phân bố là Plantago major (mã đề) và Plantago asiatica (mã đề á hay xa tiền).
== Sử dụng ==
Các loài trong chi Plantago thường được sử dụng như là các loại thuốc từ cây cỏ. Chúng có tác dụng làm se, giải độc, kháng trùng, chống viêm nhiễm, cũng như làm dịu chứng viêm, long đờm, cầm máu và lợi tiểu. Sử dụng ngoài, dạng thuốc đắp từ lá là có ích đối với các vết cắn của côn trùng, chứng phát ban do sơn độc, các chỗ lở loét nhỏ cũng như nhọt. Trong văn hóa dân gian, thậm chí có một vài khu vực còn cho rằng nó có khả năng là phương thuốc điều trị các vết rắn cắn (nhưng điều này chắc chắn là không đúng ít nhất ra là đối với các vết rắn độc cắn). Sử dụng trong, nó dùng để điều trị ho và viêm phế quản dưới dạng chè, thuốc sắc hay xi rô. Các loài có lá rộng đôi khi còn được sử dụng làm rau trong một số món xà lách, nước xốt v.v.
Vỏ khô của hạt mã đề nở ra và trở thành chất nhầy khi gặp ẩm, đặc biệt là của Plantago psyllium, được sử dụng khá phổ biến như là một dạng thuốc nhuận tràng bán không cần kê đơn cũng như các sản phẩm bổ sung chất xơ, chẳng hạn loại thuốc Metamucil. Hạt của Plantago psyllium là có ích để điều trị táo bón, ruột kết co cứng, bổ sung chất xơ dinh dưỡng và bệnh túi thừa. Một số nghiên cứu gần đây cũng chỉ ra rằng nó là một loại thuốc đầy triển vọng trong việc hạ thấp cholesterol và kiểm soát bệnh đái đường.
Các chất bổ sung psyllium thông thường được sử dụng ở dạng bột với một lượng hợp lý nước hay nước quả. Một số bác sĩ còn kê đơn một liều ít nhất 7 gam mỗi ngày để điều chỉnh nồng độ cholesterol. Có một số sản phẩm chứa psyllium được sử dụng để điều trị táo bón. Liều thông thường là khoảng 3,5 gam hai lần trong ngày. Psyllium cũng là thành phần trong một số ngũ cốc chế biến sẵn.
Tại Ấn Độ, chất nhầy từ Plantago ovata được làm bằng cách nghiền vỏ hạt. Chất nhầy này được bán như là Isabgol, một loại thuốc nhuận tràng được sử dụng để điều trị chứng đường ruột bất thường và táo bón. Nó cũng được sử dụng trong một số ngũ cốc để điều trị chứng cao cholesterol mức độ nhẹ tới vừa phải cũng như để làm giảm lượng đường trong máu. Nó đã từng được sử dụng trong y học Ayurveda và Unani của người dân bản xứ cho một loạt các vấn đề về ruột, bao gồm táo bón kinh niên, lỵ amip và bệnh tiêu chảy.
Tại Bulgaria, lá của Plantago major được sử dụng làm thuốc để chống nhiễm trùng ở các vết đứt hay vết xước nhờ các tính chất kháng trùng của nó.
== Các loài ==
Dưới đây liệt kê một số trong tổng số khoảng 200 loài mã đề:
== Thư viện ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Sử dụng P. major trong y học tại Armenia
Thông tin bổ sung về psyllium, bao gồm cách trồng và giá trị kinh tế |
samsung galaxy beam i8520.txt | Samsung i8520 (còn được gọi là Galaxy Beam, Beam, hoặc trước là Halo) là điện thoại thông minh sản xuất bởi Samsung. Tính năng chính của nó là một máy chiếu DLP WVGA có thế trình chiếu hình ảnh 50 inch (1.300 mm) với kích thước 15 lumens. i8520 có máy ảnh 8-megapixel, có thể sử dụng với máy chiếu cho phép người dùng trình chiếu trực tiếp những gì ở trước máy ảnh. Máy ảnh có thể quay video HD với độ phân giả 720p 30 khung/giây. Điện thoại được cung cao61 kết nối Wi-Fi, e-mail, và trình duyệt web, cũng như thu GPS. Nó được phát hành tại Singapore vào 17 tháng 7 năm 2010 với nhà mạng StarHub.
== Kế thừa ==
Vào tháng 2 năm 2012, i8530 Galaxy Beam được giới thiệu tại Mobile World Congress ở Barcelona. Bên trong nó là máy chiếu 15 lumens và bộ nhớ trong 8GB. Điện thoại mỏng 12,5mm và nặng 145,3 gram. Chạy hệ điều hành Android 2.3 Gingerbread của Google, vi xử lý 1.0 GHz lõi-kép. Bản cập nhật mới nhất là Android 4.0 Ice Cream Sandwich được lên kế hoạch.
== Tính năng khác ==
Cổng tai nghe 3.5 mm
Tích hợp DNSe (Digital Natural Sound Engine)
Tích hợp mạng xã hội cập nhật trực tiếp
Google Search, Maps, Gmail
Tích hợp YouTube, Google Talk
MP3/WMA/WAV/eAAC+ player
MP4/H.263/H.264/Xvid/DivX player
Chỉnh sửa hình ảnh
Cổng ra TV
Tổ chức
Voice memo
T9
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Thông số kỹ thuật đầy đủ: http://www.gsmarena.com/samsung_i8520_galaxy_beam-3150.php
== Ghi chú == |
pasta.txt | Pasta (người Việt thường gọi là nui) là một loại mì và là một thực phẩm thiết yếu của các món ăn Ý truyền thống.
== Tổng quan ==
Các tài liệu tham khảo đầu tiên ghi chép về pasta có từ năm 1154. Nó cũng thường được sử dụng để chỉ sự đa dạng của các pasta. Tổng cộng có hơn 310 loại pasta khác nhau với 1300 tên gọi gần đây đã được ghi chép.
Thông thường, mì pasta được làm từ bột nhào lúa mì không lên men lúa mì cứng trộn với nước và làm thành tấm hoặc các hình dạng khác nhau, sau đó nấu chín và phục vụ trong bất kỳ số lượng các món ăn. Món này có thể được làm từ bột từ các loại ngũ cốc khác và trứng có thể được sử dụng thay vì nước. Mỳ có thể được chia thành hai thể loại lớn, mì khô (pasta secca) và mì tươi (pasta fresca). Trứng gà thường xuyên là nguyên liệu chủ yếu của chất lỏng khi làm mì tươi.
== Phân loại ==
Tại Ý, tên của các hình dạng cụ thể hoặc các pasta thường khác nhau theo phương ngữ. Ví dụ dạng cavatelli được biết đến bởi 28 tên gọi khác nhau tùy thuộc vào khu vực và thị trấn. Hình thức phổ biến của mì ống bao gồm hình dạng dài, hình dạng ngắn, ống, hình dạng phẳng hoặc tấm phẳng, hình dạng súp thu nhỏ, nhồi, và đặc biệt hoặc các hình dạng trang trí.
Sự phân định này dựa trên hình dạng, thành phần và thói quen sử dụng. Trong đó, spaghetti vẫn là một loại phổ biến nhất. Spaghetti có dạng sợi tròn nhỏ, được làm từ bột mì loại semolina và nước. Nhìn chung, những món ăn từ Pasta thường được người ta chế biến tương đối nhanh chóng. Trong đó, điểm nhấn chủ yếu vẫn là nước xốt đi kèm. Xốt đi kèm với pasta thường là xốt cà chua, thêm ít phô mai, thịt băm. Các loại xốt này có thể có nhiều loại rau gia vị (đặc biệt là oregano và húng, dầu ô liu, thịt, hoặc rau.
Hình dạng pasta thường rất đa dạng và theo đó, các loại xốt đi kèm với chúng cũng có đôi chút khác biệt. Các loại pasta sợi nhỏ thì thường ăn chung với các loại nước xốt không quá đặc, vị nồng không cao lắm. Ngược lại, các loại sợi to lại nên ăn cùng với nước xốt đặc sánh. Còn các loại không phải dạng sợi thì dùng chung với xốt có nhiều rau củ. Nước xốt không được đổ ngập mì và khi ăn hết mì trên dĩa thì vẫn còn lại nước xốt.
Phần lớn pasta khô được sản xuất thương mại thông qua các máy cán mì. Pasta tươi theo truyền thống đã được làm thủ công, đôi khi với sự hỗ trợ của máy móc đơn giản. Nhưng ngày nay nhiều loại pasta được sản xuất thương mại bằng máy móc quy mô lớn và bán nhiều ở các siêu thị.
Là một danh mục trong các món ăn Ý, cả mì khô và tươi được sử dụng một cách kinh điển trong một trong ba loại món ăn chế biến sẵn. Như pasta asciutta (hay pastasciutta), pasta nấu chín dọn lên dĩa và ăn với sốt hoặc gia vị bổ sung. Một phân loại thứ hai của món pasta là pasta in brodo trong đó pasta là một phần của một món ăn loại xúp. Một loại thứ ba là pasta al forno trong đó pasta được đưa vào một món ăn sau đó được nướng.
== Khẩu phần ==
Pasta nói chung là một món ăn đơn giản, nhưng có nhiều dạng khác nhau vì nó là một loại thực phẩm đa năng. Một số món pasta được phục vụ như là món ăn đầu tiên tại Ý vì khẩu phần ăn nhỏ và đơn giản. Phần ăn thường đi kèm với một lát thịt. Pasta cũng được chế biến cho bữa ăn trưa nhẹ, như món salad hoặc khẩu phần ăn lớn cho bữa ăn tối. Nó có thể được làm thủ công hoặc bằng máy chế biếný thực phẩm và ăn nóng hoặc lạnh.
Nước sốt mì ống khác nhau về màu sắc, hương vị và kết cấu. Khi lựa chọn loại mì ống và nước sốt để phục vụ với nhau, có một quy tắc chung là phải được quan sát. Nước sốt đơn giản như pesto là lý tưởng cho các sợi mì ống dài và mỏng trong khi nước sốt cà chua kết hợp tốt với mì dày hơn. Nước sốt dày hơn và đặc quánh hơn có khả năng tốt hơn để bám vào các lỗ và cắt giảm ngắn, hình ống, mì xoắn. Nước sốt nên được phục vụ bình đẳng với mì ống của nó. Điều quan trọng là nước sốt không tràn mì ống. Thêm nước sốt còn lại trên đĩa sau khi tất cả mì ống ăn
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Thư mục
== Liên kết ngoài ==
National Museum of Pasta Foods - Rome, Italy
International Pasta Organisation
Pasta Facts – Facts about pasta |
lev davidovich landau.txt | Lev Davidovich Landau (tiếng Nga: Лев Давидович Ландау) (22/1/1908 – 1/4/1968), một nhà vật lý Liên Xô nổi tiếng với những đóng góp trong vật lý lý thuyết. Ví dụ: phương pháp ma trận mật độ ứng dụng trong cơ học lượng tử, lý thuyết lượng tử về nghịch từ, lý thuyết về hiện tượng siêu chảy, lý thuyết về chuyển pha bậc 2, lý thuyết Ginzburg-Landau về siêu dẫn, lý thuyết chất lỏng Fermi, sự tắt dần Landau trong vật lý plasma, điểm cực Landau trong điện động lực học lượng tử,... Ông đoạt giải Nôbel Vật lý năm 1962 cho đóng góp trong Lý thuyết toán của Sự siêu chảy.
== Tham khảo == |
không quân quân giải phóng nhân dân trung quốc.txt | Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (tiếng Anh: People's Liberation Army Air Force) (giản thể: 中国人民解放军空军; phồn thể: 中國人民解放軍空軍; bính âm: Zhōngguó Rénmín Jiěfàngjūn Kōngjūn), hay Không quân Trung Quốc (PLAAF), là nhánh quân chủng không quân của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. PLAAF là lực lượng không quân lớn nhất ở châu Á, và lớn thứ ba trên thế giới sau Không quân Mỹ và Không quân Nga. Bên cạnh quân chủng không quân, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc còn duy trì lực lượng không lực Hải quân hùng hậu với 26.000 nhân viên và 570 máy bay (trong đó có 290 máy bay chiến đấu).
== Bản liệt kê máy bay ==
== Xem thêm ==
Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Articles on the Chinese military, from Sinodefence.com
Chinese Air Power
PLAAF Aircraft Numbering System
Regional Capability Growth on APA
The Sleeping Giant Awakens (Australian Aviation)
PLA Airbase Page on APA
PLA idag-PLAAF (Swedish)
USAF Air University, The PLAAF in 2010 |
toronto.txt | Toronto (phát âm tiếng Anh: /tɵˈrɒntoʊ/, địa phương /ˈtrɒnoʊ/) là thành phố đông dân nhất tại Canada và là tỉnh lỵ của tỉnh Ontario. Thành phố nằm ở miền Nam Ontario, tại bờ phía tây bắc của hồ Ontario. Lịch sử Toronto bắt đầu vào cuối thế kỷ 18 khi Vương thất Anh Quốc mua đất từ người bản địa. Khu định cư được thiết lập tại đây mang tên là York, và được Phó Thống đốc John Graves Simcoe chọn làm thủ đô của Thượng Canada. Thành phố bị cướp phá trong Chiến tranh Hoa Kỳ - Anh Quốc năm 1812. Năm 1834, York trở thành một thành phố và đổi tên sang Toronto. Thành phố bị thiệt hại do hai đại hỏa hoạn vào năm 1849 và 1904. Từ năm 1954, thành phố có những đợt mở rộng ranh giới thông qua sáp nhất các đô thị xung quanh, lần gần đây nhất là vào năm 1998.
Theo điều tra nhân khẩu Canada năm 2011, thành phố có 2,6 triệu dân cư, là thành phố đông dân thứ năm tại Bắc Mỹ. Tuy nhiên, đến năm 2012, chính quyền thành phố công bố ước tính dân số là 2.791.140, khiến truyền thông tường thuật rằng Toronto là thành phố đông dân thứ tư tại Bắc Mỹ và là thành phố Hồ Lớn đông dân nhất, vượt qua Chicago. Khu vực đại đô thị thống kê (CMA) có dân số là 5.583.064, và khu vực Đại Toronto (GTA) có dân số là 6.054.191 theo điều tra nhân khẩu năm 2011. Toronto nằm tại trung tâm của khu vực Đại Toronto, và của khu vực dân cư đông đúc Golden Horseshoe tại miền Nam Ontario. Dân cư thế giới và quốc tế của thành phố phản ánh vai trò của Toronto là một điểm đến quan trọng của những người nhập cư tới Canada. Toronto là một trong những thành phố đa dạng nhất trên thế giới về tỷ lệ dân cư không sinh tại địa phương, với khoảng 49% dân số sinh bên ngoài Canada.
Toronto là thủ đô thương nghiệp của Canada, là nơi đặt trụ sở của sở giao dịch chứng khoán Toronto và năm ngân hàng lớn nhất toàn quốc. Những khu vực kinh tế hàng đầu trong thành phố là tài chính, dịch vụ doanh nghiệp, viễn thông, hàng không vũ trụ, giao thông, truyền thông, nghệ thuật, xuất bản, sản xuất phần mềm, nghiên cứu y tế, giáo dục, du lịch và, và kỹ thuật. Toronto được GaWC xếp hạng là một thành phố toàn cầu hạng alpha và đứng hàng đầu thế giới về Chỉ số trung tâm tài chính toàn cầu. Toronto cũng luôn được xếp là một trong những thành phố dễ sống nhất theo xếp hạng của Đơn vị tin tức kinh tế học và Điều tra chất lượng sinh hoạt Mercer.
== Lịch sử ==
Khi những người châu Âu lần đầu đến địa điểm mà nay là Toronto, người Iroquois cư trú tại khu vực lân cận, lúc đó người Iroquois đã thay thế người Wyandot vốn chiếm giữ khu vực trong hàng thế kỷ trước khoảng 1500. Tên gọi Toronto có bắt nguồn từ tkaronto trong tiếng Iroquois, nghĩa là "nơi những cái cây mọc trong nước". Điều này ám chỉ đến phần cực bắc của nơi mà hiện là hồ Simcoe, nơi người Huron trồng cây nhỏ để quây cá. Một tuyến đường chuyển tải từ hồ Ontario đến hồ Huron chạy qua điểm này, khiến tên gọi được sử dụng phổ biến. Trong thập niên 1660, người Iroquois thiết lập hai làng trong khu vực mà nay là Toronto, Ganatsekwyagon bên bờ sông Rouge và Teiaiagon bên bờ sông Humber. Đến năm 1701, người Mississauga thay thế người Iroquois, người Iroquois từ bỏ khu vực Toronto vào cuối Các cuộc chiến tranh Hải ly.
Năm 1750, các thương nhân người Pháp lập nên pháo đài Rouillé tại nơi mà nay là khu vực Triển Lãm, song từ bỏ vào năm 1759. Trong Cách mạng Mỹ, khu vực tiếp nhận một dòng người Anh định cư trung thành với Đế quốc chạy đến các vùng đất hoang ở phía bắc hồ Ontario. Năm 1787, Anh Quốc dàn xếp mua đất với người Mississauga, do đó củng cố trên một phần tư triệu acres (1000 km²) đất tại khu vực Toronto.
Năm 1793, Thống đốc John Graves Simcoe thiết lập đô thị York trên khu định cư sẵn có, đặt tên theo Vương tử Frederick, Công tước xứ York và Albany. Simcoe chọn York để thay thế Newark trong vai trò thủ đô của Thượng Canada, tin rằng địa điểm mới sẽ có khả năng phòng thủ tốt hơn trước khả năng bị Hoa Kỳ tiến công. Pháo đài York được xây dựng tại lối vào cảng tự nhiên của thị trấn, được một bán đảo bãi cát dài bảo vệ.
Năm 1813, trong khuôn khổ Chiến tranh Hoa Kỳ - Anh Quốc, trận York kết thúc với kết quả lực lượng Hoa Kỳ chiếm và cướp bóc thị trấn. Binh sĩ Hoa Kỳ phá hủy hầu hết phái đài York và phóng hỏa tòa nhà nghị viện trong thời gian chiếm đóng. Việc Hoa Kỳ cướp phá York là một động cơ chính khiến quân Anh đốt cháy Washington sau đó. York được hợp nhất tổ chức thành thành phố Toronto vào ngày 6 tháng 3 năm 1834.
Dân số Toronto đương thời chỉ có 9.000, trong đó có những nô lệ da đen chạy trốn, một số người trong số đó do những người trung thành với Đế quốc đưa đến. Chế độ nô lệ bị cấm hoàn toàn tại Thượng Canada vào năm 1834. Chính trị gia cải lương William Lyon Mackenzie trở thành thị trưởng đầu tiên của Toronto và lãnh đạo Nổi dậy Thượng Canada vào năm 1837 nhằm chống chính phủ thực dân Anh Quốc song không thành công. Thành phố phát triển nhanh chóng suốt thời gan còn lại của thế kỷ 19, với vị thế là một điểm đến chính của những người nhập cư tới Canada. Dòng dân nhập cư đáng kể đầu tiên xuất hiện khi nạn đói khoai tây Ireland đưa một lượng lớn người Ireland đến thành phố, một số người trong đó chỉ cư trú tạm thời tại Toronto và hầu hết họ là tín đồ Công giáo La Mã. Đến năm 1851, dân cư sinh tại Ireland trở thành dân tộc đơn lẻ lớn nhất trong thành phố. Những người Ireland nhập cư theo Tin Lành có số lượng ít hơn, cộng đồng này được dân cư người Scotland và Anh cư trú từ trước hoan nghênh, khiến Orange Order có ảnh hưởng đáng kể và kéo dài đối với xã hội Toronto.
Toronto từng hai lần là thủ đô của tỉnh Canada thống nhất: lần đầu từ năm 1849 đến năm 1852 sau bất ổn tại Montréal, và trong giai đoạn 1856–1858. Do là thủ đô của Thượng Canada từ năm 1793, Toronto trở thành tỉnh lị của tình Ontario sau khi tỉnh này được hình thành chính thức vào năm 1867. Do có vị thế là tỉnh lị, thành phố là nơi đặt tòa nhà chính phủ, dinh thự của phó vương đại diện cho quyền lực của vương thất tại Ontario.
Trong thế kỷ 19, một hệ thống cống quy mô lớn được xây dựng, và các phố được chiếu sáng thường xuyên bằng đèn khí. Các tuyến đường sắt đường dài được xây dựng, trong đó một tuyến được hoàn thành vào năm 1854 liên kết Toronto với các hồ thượng trong Ngũ Đại Hồ. Đường sắt xuất hiện làm tăng mạnh số người nhập cư đến, thương nghiệp và công nghiệp, cùng với các thuyền hơi nước và thuyền hai buồm hồ Ontario cập cảng từ trước góp phần biến Toronto trở thành một cửa ngõ lớn kết nối thế giới với vùng nội địa của lục địa Bắc Mỹ. Toronto trở thành trung tâm cất rượu cồn lớn nhất tại Bắc Mỹ; nhà máy cất rượu Gooderham and Worts trở thành nhà máy whiskey lớn nhất thế giới vào thập niên 1860. Phát triển hạ tầng cảng và đường sắt tạo thuận lợi cho xuất khẩu gỗ và nhập khẩu than Pennsylvania. Đại hỏa hoạn năm 1904 phá hủy một phần lớn khu trung tâm Toronto, song thành phố nhanh chóng tái thiết. Đại hỏa hoạn khiến các luật an toàn cháy nổi thêm nghiêm ngặt và phát triển sở cứu hỏa của thành phố.
Bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 cho đến đầu thế kỷ 20, thành phố tiếp nhận các nhóm nhập cư mới, đặc biệt là người Đức, người Pháp, người Ý, và người Do Thái đến từ Đông Ấu. Tiếp nối ngay sau họ là những người Hoa, người Nga, người Ba Lan, và những người nhập cư Đông Âu khác. Giống như người Ireland đến từ trước, nhiều người nhập cư sống trong những khu vực tồi tàn đông đúc. Mặc dù có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, song cho đến thập niên 1920, dân số và tầm quan trọng kinh tế của Toronto tại Canada vẫn đứng thứ hai sau Montréal. Tuy nhiên, đến năm 1934 thì sở giao dịch chứng khoán Toronto trở thành sở giao dịch chứng khoán lớn nhất toàn quốc.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, những người tị nạn hậu quả chiến tranh từ châu Âu và Trung Quốc đến Toronto để tìm kiếm công việc, cũng như các lao động xây dựng, chủ yếu là từ Ý và Bồ Đào Nha. Sau khi bãi bỏ những chính sách nhập cư dựa trên chủng tộc vào cuối thập niên 1960, người nhập cư đến Toronto từ khắp nơi trên thế giới. Dân số Toronto tăng lên trên một triệu vào năm 1951 khi ngoại ô hóa quy mô lớn bắt đầu, và tăng gấp đôi lên hai triệu vào năm 1971. Đến thập niên 1980, Toronto vượt qua Montréal để trở thành thành phố đông dân nhất và trung tâm kinh tế chủ yếu của Canada. Trong thời gian này, một phần là do tính chất bất xác định chính trị do sự nổi lên của phong trào chủ quyền Québec, nhiều công ty quốc gia và đa quốc gia chuyển trụ sở chính của họ ra khỏi Montréal đến Toronto và các thành phố ở miền Tây Canada.
Năm 1954, thành phố Toronto và 12 đô thị xung quanh liên hiệp thành một chính quyền khu vực được gọi là Metropolitan Toronto. Bùng nổ kinh tế hậu chiến dẫn đến phát triển ngoại ô nhanh chóng, và người ta cho là một chiến lược sử dụng đất phối hợp và chia sẻ các dịch vụ sẽ tạo ra hiệu quả lớn hơn cho khu vực. Chính quyền khu vực đô thị bắt đầu quản lý những dịch vụ vượt qua ranh giới các đô thị, trong đó có xa lộ, cảnh sát, nước và giao thông công cộng. Một nửa thế kỷ sau đại hỏa hoạn năm 1904, thành phố lại chịu tai họa khi bão Hazel đem theo gió mạnh và lũ quét. Trong khu vực Toronto có 81 người thiệt mạng và gần 1.900 gia đình bị mất nhà, bão gây thiệt hại kinh tế 25 triệu $.
Năm 1967, bảy đô thị nhỏ nhất của Metropolitan Toronto được hợp nhất với các đô thị lân cận lớn hơn, tạo ra một kết cấu gồm sáu đô thị: đô thị cũ Toronto, East York, Etobicoke, North York, Scarborough, và York. Năm 1998, chính phủ tỉnh Ontario giải thể chính quyền đại đô thị, toàn bộ sáu đô thị được hợp nhất thành một đô thị đơn nhất, hình thành thành phố Toronto hiện nay. Toronto dự kiến tổ chức Đại hội Thể thao liên châu Mỹ vào năm 2015.
== Địa lý ==
Toronto có diện tích 630 kilômét vuông (243 sq mi), khoảng cách bắc-nam tối đa là 21 kilômét (13 mi) và khoảng cách đông-tây tối đa là 43 km (27 mi). Thành phố có 46 kilômét (29 mi) bờ hồ Ontario. Quần đảo Toronto và Port Lands kéo dài vào trong hồ, che chắn phần nào cho cảng Toronto ở phía nam lõi trung tâm đô thị. Ranh giới của Toronto giới hạn bởi là hồ Ontario ở phía nam, sông Etobicoke và tỉnh lộ 427 ở phía tây, đại lộ Steeles ở phía bắc và sông Rouge cùng đường Scarborough-Pickering Townline ở phía đông.
Thành phố bị ba sông cùng nhiều chi lưu của chúng cắt ngang: sông Humber ở cực tây và sông Don ở phía đông khu trung tâm gần cảng Toronto, và sông Rouge tạo thành ranh giới phía đông của thành phố. Cảng Toronto được hình thành một cách tự nhiên nhờ trầm tích tích tụ từ các dòng nước trong hồ tạo nên quần đảo Toronto. Nhiều sông suối chảy từ phía bắc hướng đến hồ bào mòn địa hình thành những vùng khe núi lớn có cây cối rậm rạp, tạo ra các địa điểm lý tưởng để hình thành những công viên và đường tản bộ tiêu khiển. Tuy nhiên, các khe núi cũng gây trở ngại cho thiết kế ô vuông của thành phố, dẫn đến việc nhiều đại lộ kết thúc ở một bên khe núi và tiếp tục ở bên khác. Những khe núi sâu tỏ ra hữu dụng trong việc thoát nước khi có mưa lớn.
Trong kỷ băng hà cuối, phần hạ của Toronto ở bên dưới hồ băng Iroquois. Ngày nay, một loạt vách đứng đánh dấu ranh giới cũ của hồ. Mặc dù có những khe núi sâu, Toronto không có địa hình đối núi đáng kể, song độ cao tăng dần khi ra xa hồ. Độ cao biến đổi từ 75 mét (246 ft) trên mực nước biển tại bờ hồ Ontario đến 209 m (686 ft) trên mực nước biển gần Đại học York ở phần cực bắc của thành phố tại nơi giao cắt giữa phố Keele và đại lộ Steeles. Phần lớn diện tích đất liền bờ hồ hiện nay đối diện với cảng Toronto được lấp đất nhân tạo vào cuối thế kỷ 19, phần lớn Port Lands nằm lân cận cũng là do lấp đất. Quần đảo Toronto nguyên là một mũi đất song một cơn bão vào năm 1858 đã cắt đứt kết nối của nó với đại lục, tạo ra một kênh mà sau này được các tàu sử dụng để tiếp cận bến tàu.
Toronto có khí hậu lục địa ẩm (Köppen: Dfa/Dfb), với mùa hè ấm và ẩm và mùa đông lạnh. Thành phố trải qua bốn mùa riêng biệt, chênh lệch nhiệt độ giữa các ngày là đáng kể, đặc biệt là khi thời tiết lạnh. Do đô thị hóa và nằm sát hồ, Toronto có chênh lệch nhiệt độ ngày đêm khá thấp. Không gian đô thị đông đúc khiến cho ban đêm ấm hơn quanh năm và trong mùa đông không lạnh như khu vực xung quanh (đặc biệt là ở phía bắc của thành phố); tuy nhiên, thành phố có thể mát hơn đáng kể vào nhiều chiều mùa xuân và đầu hè do ảnh hưởng của gió thổi từ hồ. Những ảnh hưởng thủy vực quy mô nhỏ khác lên khí hậu Toronto gồm có tuyết hiệu ứng hồ, sương mù, và trễ mùa.
Trong mùa đông, Toronto đôi khi bất chợt có nhiệt độ dưới −10 °C (14 °F), thường khiến cảm thấy lạnh hơn do phong hàn. Bão tuyết, thỉnh thoảng kèm với đóng băng và mưa, có thể phá hỏng lịch trình làm việc và lữ hành, tuyết rơi thành đống có thể xuất hiện từ tháng 11 đến giữa tháng 4. Tuy nhiên, cũng có thể xuất hiện những khoản thời gian thời tiết ôn hòa trong hầu hết mùa đông, làm tan những đóng tuyết. Những tháng mùa hè có đặc trưng là thời tiết ẩm kéo dài, nhiệt độ thường dao động trong khoảng 23 đến 31 °C (73 đến 88 °F), nhiệt độ ban ngày thỉnh thoảng vượt quá 35 °C (95 °F) kèm theo độ ẩm cao khiến cảm thấy ngột ngạt. Mùa xuân và mùa thu thường có nhiệt độ ôn hòa hoặc mát, các giai đoạn khô và ẩm xen kẽ.
Toronto có lượng mưa phân bố kha đều trong năm, song mùa hè thường là mùa mưa nhiều nhất, nhất là trong các cơn dông. Có những giai đoạn thời tiết khô, song tình hình hiếm khi giống như hạn hán. Lượng giáng thủy trung bình năm là khoảng 831 mm (32,7 in), với lượng tuyết trung bình năm là khoảng 122 cm (48 in). Toronto có trung bình 2.066 giờ nắng mỗi năm, hay 45% số giờ ban ngày, biến động giữa 28% trong tháng 12 đến 60% trong tháng 7.
== Kinh tế ==
Toronto là một trung tâm quốc tế về kinh doanh và tài chính, thường được xem là thủ đô tài chính của Canada. Các ngân hàng và các hãng môi giới tập trung cao độ tại Bay Street, tại Financial District. Sở giao dịch chứng khoán Toronto là sở giao dịch chứng khoán lớn thứ bảy trên thế giới theo tư bản hóa thị trường (2006). Năm thể chế tài chính lớn nhất của Canada, được gọi chung là Big Five, có các văn phòng quốc gia tại Toronto.
Thành phố là một trung tâm quan trọng đối với truyền thông, xuất bản, viễn thông, công nghệ thông tin và sản xuất phim; là nơi đặt trụ sở của Bell Media, Rogers Communications, và Torstar. Các công ty nổi bật khác của Canada trong khu vực Đại Toronto gồm có Magna International, Celestica, Manulife Financial, Sun Life Financial, và Hudson's Bay Company, và các công ty và hãng điều hành khách sạn lớn như Four Seasons Hotels và Fairmont Hotels and Resorts.
Mặc dù phần lớn các hoạt động sản xuất trong khu vực diễn ra bên ngoài giới hạn của thành phố, song Toronto thiếp tục là một điểm bán buôn và phân phối của khu vực công nghiệp. Vị trí chiến lược của thành phố khi nằm dọc theo Hành lang thành phố Quebec-Windsor và có các liên kết đường bộ và đường sắt hỗ trợ cho các ngành sản xuất xe mô tô, gang, thép, thực phẩm, máy móc, hóa chất và giấy. Việc hoàn tất hải đạo Saint Lawrence vào năm 1959 khiến các tàu có thể tiếp cận Ngũ Đại Hồ từ Đại Tây Dương.
== Nhân khẩu ==
Dân số thành phố tăng trưởng 4% (96.073) từ năm 1996 đến 2001, 1% (21.787) từ năm 2001 đến 2006, và 4,3% (111.779) từ năm 2006 đến 2011. Người từ 14 tuổi trở xuống chiếm 17,5% dân số, người từ 65 trở lên chiếm 13,6%. Độ tuổi trung bình của dân cư Toronto là 36,9 năm. Người sinh tại ngoại quốc chiếm 49,9% dân số. Tỷ lệ giới tính của thành phố là 48% nam giới và 52% nữ giới. Số lượng nữ giới cao hơn nam giới trong mọi nhóm tuổi trên 20. Năm 2011, 49,1% dân cư Toronto thuộc một nhóm thiểu số rõ rệt, và các dân tộc thiểu số rõ rệt được dự tính sẽ chiếm đa số tại khu vực đại đô thị thống kê Toronto vào năm 2017. Năm 1981, dân số thiểu số rõ rệt của Toronto chiếm tỷ lệ 13,6%.
Theo Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, Toronto là thành phố có tỷ lệ dân số sinh tại ngoại quốc cao thứ nhì trên thế giới, sau Miami, Florida. Không có dân tộc hay văn hóa riêng lẻ này chiếm ưu thế trong dân số nhập cư của Toronto, khiến nó nằm trong số những thành phố đa dạng nhất trên thế giới. Mỗi năm có trên 100.000 người nhập cư đến khu vực Đại Toronto.
Trong điều tra nhân khẩu Canada năm 2001, nguồn gốc dân tộc phổ biến nhất trong thành phố Toronto như sau:
Nguồn: 2011 NHS Profile
Toronto là một thành phố đa dạng về chủng tộc, thành phần chủng tộc như sau:
50,2% người Da trắng
12,7% người Đông Á; 10,8% người Hoa, 1,4% người Hàn, 0,5% người Nhật
12,3% người Nam Á
8,5% người Da đen
7,0% người Đông Nam Á; 5,1% người Philippines
2,8% người Mỹ Latinh
2,0% người Tây Á
1,1% người Ả Rập
0,7% người nguyên trú, trong đó 0,5% là các dân tộc trước tiên và 0,2% là người Metis
1,5% người đa chủng; 1,7% kể cả Metis
1,3% khác
Sự đa dạng này được phản ánh qua các khu phố dân tộc của Toronto, trong đó có phố Trung Hoa, phố Corso Italia, phố Hy Lạp, Kensington Market, phố Hàn, Tiểu Ấn Độ, Tiểu Ý, Tiểu Jamaica, Tiểu Bồ Đào Nha và Roncesvalles.
Năm 2011, tôn giáo được tường trình phổ biến nhất tại Toronto là Cơ Đốc giáo, 54,1% dân số thành phố gắn bó với nhóm tôn giáo này. 28,2% dân số là tín đồ Công giáo La Mã, tiếp đến là Tin Lành (11,9%), Cơ Đốc Chính thống (4,3%), và các giáo phái Cơ Đốc khác (9,7%). Thành phố có một số lượng đáng kể các tín đồ Cơ Đốc Giám Lý, thỉnh thoảng được gọi là Roma của Giám Lý. Các tôn giáo khác hiện diện trong thành phố gồm có Hồi giáo (8,2%), Ấn Độ giáo (5,6%), Do Thái giáo (3,8%), Phật giáo (2,7%), và Tích Khắc giáo (0,8%). Những người không liên kết tôn giáo chiếm 24,2% dân số Toronto.
Tiếng Anh là ngôn ngữ chiếm ưu thế trong dân cư Toronto, song nhiều ngôn ngữ khác có số lượng người nói bản ngữ ở mức đáng kể. Các phương ngôn tiếng Hoa và tiếng Ý là những ngôn ngữ được nói phổ biến thứ nhì và thứ ba trong công việc. Dịch vụ khẩn cấp 9-1-1 của thành phố được trang bị để đáp ứng trên 150 ngôn ngữ.
== Giáo dục ==
Đại học Toronto (UT hay U of T), thành lập năm 1827, là đại học xưa nhất của tỉnh bang Ontario và là viện nghiên cứu công lập hàng đầu ở đây. UT còn dẫn đầu thế giới về nghiên cứu y sinh và sở hữu hệ thống thư viện lớn thứ ba ở Bắc Mỹ, chỉ sau Đại học Harvard và Đại học Yale. Ngoài ra, Đại học York ở phía bắc Toronto cũng sở hữu một thư viện luật lớn nhất trong Khối Thịnh vượng chung Anh. Thành phố này cũng là quê hương của các Đại học Ryerson, Cao đẳng Mỹ thuật và Thiết kế Ontario và Đại học Guelph-Humber.
Có năm trường cao đẳng cộng đồng có cấp phát văn bằng ở Toronto là: Cao đẳng Seneca, Cao đẳng Humber, Cao đẳng Centennial, Cao đẳng Sheridan và Cao đẳng George Brown. Ở thành phố Oshawa—nằm gần đó, được xem là một phần của Vùng Đại Toronto—có trường Cao đẳng Durham và Đại học Viện Công nghệ Ontario (University of Ontario Institute of Technology).
Thư viện Công cộng Toronto là một hệ thống thư viện lớn nhất Canada, gồm có 99 chi nhánh với hơn 11 triệu mục.
== Giao thông ==
== Thành phố kết nghĩa ==
Các thành phố cộng tác
Chicago, Illinois, Hoa Kỳ
Trùng Khánh, Trung Quốc
Frankfurt am Main, Đức
Milano, Ý
São Paulo, Brasil
Các thành phố bằng hữu
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Kiev, Ukraina
Quito, Ecuador
Sagamihara, Nhật Bản
Warszawa, Ba Lan
== Xem thêm ==
Hội đồng Giáo dục Toronto
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Thành phố Toronto – website chính thức của thành phố (tiếng Anh)
Du lịch Toronto – website du lịch chính thức của thành phố (tiếng Anh) |
lăng chủ tịch hồ chí minh.txt | Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, hay còn gọi là Lăng Hồ Chủ tịch, Lăng Bác, là nơi đặt thi hài của chủ tịch Hồ Chí Minh. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được chính thức khởi công ngày 2 tháng 9 năm 1973, tại vị trí của lễ đài cũ giữa Quảng trường Ba Đình, nơi ông đã từng chủ trì các cuộc mít tinh lớn.
Lăng được khánh thành vào ngày 29 tháng 8 năm 1975. Lăng gồm 3 lớp với chiều cao 21,6 mét, lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp, lớp giữa là kết cấu trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, những cầu thang lên xuống. Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương, lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp. Ở mặt chính có dòng chữ: "Chủ tịch Hồ Chí Minh" bằng đá hồng màu mận chín. Trong di chúc, Hồ Chí Minh muốn được hỏa táng và đặt tro tại ba miền đất nước . Tuy nhiên, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, với lý do tuân theo nguyện vọng và tình cảm của nhân dân, quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Hồ Chí Minh để sau này người dân cả nước, nhất là người dân miền Nam, khách quốc tế có thể tới viếng.
== Xây dựng lăng ==
=== Ướp thi hài ===
Năm 1969, ngay trước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, một chuyên viên Liên Xô đã bí mật đến Hà Nội để cố vấn các chuyên gia Việt Nam về công nghệ ướp xác. Tháng 3 năm sau, một nhóm chuyên viên người Việt đến Moskva để tham khảo thêm và báo cáo về tình hình nắm giữ công nghệ này. Lúc này, đây là một đề tài nhạy cảm trong các nhà lãnh đạo Đảng vì theo di chúc Hồ Chí Minh có nguyện vọng được hỏa táng. Tuy nhiên, bí thư Lê Duẩn đã từng đề nghị Hồ Chí Minh nên cho bảo quản thi hài lâu dài để đồng bào miền Nam và cả nước được đến thăm, nghe vậy chủ tịch Hồ Chí Minh không nói gì. Ngay vào thời điểm ông mất, Bộ Chính trị vẫn chưa có quyết định cuối cùng về việc này.
Theo báo chí trong nước, trong lễ truy điệu, đến dự có đoàn đại biểu của Đảng Cộng sản Liên Xô do chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô dẫn đầu đến viếng. Hơn 1 giờ sáng, sau cuộc họp Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Lê Duẩn đến nhà khách của Chính phủ và nói với chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô:
Các đồng chí biết Bác Hồ của chúng tôi đối với dân tộc Việt Nam là thiêng liêng như thế nào. Nhất là đối với đồng bào miền Nam, họ hy sinh chiến đấu để được độc lập, thống nhất và cũng là để được gặp Bác cho toại nguyện. Bác cũng rất muốn vào Nam gặp đồng bào Miền Nam, nhưng sức khỏe của Bác không cho phép. Vì vậy chúng tôi phải giữ thi thể của Bác để đồng bào Miền Nam chúng tôi được thấy dung nhan của Bác sau ngày chiến thắng.
Bí thư Lê Duẩn đã đề nghị cho chuyên gia Liên Xô sang gấp để bảo quản thi hài. Chủ tịch đoàn Liên Xô cứng rắn nói rằng phải đưa thi hài sang Liên Xô. Lúc đó, Lê Duẩn đã khóc và bác bỏ: "Không thể được, theo phong tục Việt Nam, Người phải ở lại với đồng bào chúng tôi!". Ông nói:
Nếu Liên Xô nói phải đưa thi thể Bác sang Liên Xô mới giữ được thì chúng tôi đành phải chôn Bác, bởi vì nếu chúng tôi đưa Bác sang thì nhân dân chúng tôi sẽ nói Bộ Chính trị đã phản bội, đưa Bác đi đâu rồi! Và khi quyết định chôn Bác, chúng tôi sẽ nói với đồng bào chúng tôi: Chỉ có Liên Xô mới có kỹ thuật giữ thi thể của Bác, nhưng vì Liên Xô không chịu làm, nên Bộ Chính trị đau lòng gạt nước mắt để chôn Bác.
Chủ tịch đoàn lập tức điện về Liên Xô, xin ý kiến và đã đồng ý cử ngay chuyên gia sang Việt Nam giúp bảo quản thi hài.
Theo tiết lộ gần 50 năm sau của Giáo sư Viện sĩ Iuri Lopukhin, thì đoàn chuyên gia Liên Xô đã qua trước đó mấy ngày. Ngày 28 tháng 8 năm 1969, khi bệnh tình của lãnh đạo Việt Nam trở nên rất nặng, Giáo sư Viện sĩ Iuri Lopukhin, cựu Hiệu trưởng Trường Đại học Y khoa Moscow số 2 và bốn chuyên gia Liên Xô khác từ Viện Lăng Lenin đã được mời sang Hà Nội. Việc ướp thi hài của Hồ Chí Minh được thực hiện vào bảy ngày sau đó tại Viện Quân y 108 ở Hà Nội, khi ông qua đời. Tính từ năm 1969 đến 2014, đã có 82 chuyên gia y tế Liên Xô qua giúp Việt Nam trong việc này.
=== Thiết kế lăng ===
Sau Lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh, "Ban phụ trách quy hoạch A", trong đó có các ông Nguyễn Lương Bằng, Trần Quốc Hoàn, Phùng Thế Tài, bắt đầu nghiên cứu quy hoạch xây dựng Lăng Hồ Chủ tịch. Tháng 1 năm 1970, Chính phủ Liên Xô cử một đoàn cán bộ sang Việt Nam bàn về thiết kế và thông báo sẽ giúp đỡ kỹ thuật trong thiết kế, xây dựng và trang bị cho Lăng. Các chuyên gia Liên Xô chuẩn bị 5 phương án về bố trí cụm tổng thể của Lăng. Sau thời gian ngắn, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua "Dự thảo nhiệm vụ thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh" do các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đưa ra.
Tin tức về việc xây dựng Lăng Hồ Chí Minh được lan truyền trong nhân dân, nhiều người Việt Nam ở cả 2 miền Nam, Bắc và Việt kiều ở nước ngoài gửi thư về đóng góp ý kiến. Theo nguyện vọng của nhân dân, Bộ Chính trị quyết định lùi việc duyệt bản thiết kế sơ bộ đã được thông qua. Một đợt sáng tác mẫu thiết kế Lăng được tổ chức, các mẫu được trưng bày và lấy ý kiến của nhân dân. Trong khoảng thời gian từ tháng 5/1970 tới 8/1970, có 200 phương án thiết kế được gửi đến, trong đó có 24 phương án được chọn lựa và đem trưng bày tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Sơn La và Nghệ An. 745.487 lượt người đã tới thăm và 34.022 người tham gia ý kiến.
Kết thúc đợt triển lãm và lấy ý kiến, bản "thiết kế sơ bộ" tổng hợp các ý kiến của nhân dân được mang sang Liên Xô. Sau 3 tuần làm việc, phương án thiết kế sơ bộ của Việt Nam được Liên Xô chấp nhận.
Lăng được thiết kế để có độ bền vững cao, chống được bom đạn và động đất cường độ 7 richter. Ngoài ra còn có công trình bảo vệ đặc biệt chống lụt phòng khi Hà Nội bị vỡ đê. Kính quan tài phải chịu được xung lực cơ học lớn. Lăng còn được thiết kế thêm "buồng đặc biệt" để có thể giữ thi hài tại chỗ trong trường hợp có chiến tranh.
Việc thiết kế hết 2 năm.
Lăng được xây dựng trên nền cũ của tòa lễ đài giữa Quảng trường Ba Đình, nơi Hồ Chí Minh chủ trì các cuộc mít tinh lớn và đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Lăng được chính thức khởi công xây dựng vào ngày 2 tháng 9 năm 1973.
Vật liệu xây dựng được mang về từ nhiều miền trên cả nước. Cát được lấy từ các con suối thuộc Xã Kim Tiến,Huyện Kim Bôi,Tỉnh Hòa Bình do người dân tộc Mường đem về; đá cuội được chuyển từ các con suối vùng Sơn Dương, Chiêm Hoá, Ngòi Thìa, Tuyên Quang...; đá chọn xây lăng từ khắp các nơi: đá Nhồi ở Thanh Hoá, đá Hoa (Chùa Thầy), đá đỏ núi Non Nước...; đá dăm được đưa từ mỏ đá Hoàng Thi (Thác Bà, Yên Bái), còn cát lấy từ Thanh Xuyên (Thái Nguyên). Nhân dân dọc dãy Trường Sơn còn gửi ra 16 loại gỗ quý. Các loài cây từ khắp các miền được mang về đây như: cây chò nâu ở Đền Hùng, hoa ban ở Điện Biên-Lai Châu, tre từ Cao Bằng... Thanh thiếu niên còn tổ chức buổi tham gia lao động trong việc mài đá, nhổ cỏ, trồng cây. Hệ thống điện phục vụ chiếu sáng, thiết kế xây lăng và bảo quản thi hài Hồ Chí Minh do các chuyên gia Liên Xô đảm nhiệm. Liên Xô cũng gửi hai vạn tấm đá hoa cương và cẩm thạch mài nhẵn để trang trí cho Lăng.
Về thi hài của Hồ Chí Minh, thì theo tiết lộ của Lý Chí Thỏa, bác sĩ riêng của Mao Trạch Đông thì khi Mao Trạch Đông mất năm 1976, vì lúc đó quan hệ Trung Quốc với Liên Xô đang xấu nên thay vì qua Liên Xô tham khảo cách giữ thi hài, họ gửi hai người đến Hà Nội để học hỏi cách bảo quản thi hài, theo cách bảo quản thi hài Hồ Chí Minh tại Lăng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, chuyến đi không kết quả vì Việt Nam từ chối chia sẻ kinh nghiệm và còn không cho các nhà khoa học Trung quốc xem thi hài Hồ Chí Minh.
== Miêu tả ==
Trên đỉnh lăng là hàng chữ "Chủ tịch Hồ Chí Minh" ghép bằng đá ngọc màu đỏ thẫm của Cao Bằng. Cửa lăng làm từ các cây gỗ quý từ Tây Nguyên. Tiền sảnh ốp đá hoa cương vân đỏ hồng, làm nền cho dòng chữ "Không có gì quý hơn Độc lập Tự do" và chữ ký của Hồ Chí Minh được dát bằng vàng. 200 bộ cửa trong Lăng được làm từ các loại gỗ quý do nhân dân Nam Bộ, Tây Nguyên, Quảng Nam - Đà Nẵng, và bộ đội Trường Sơn gửi ra, và do các nghệ nhân nghề mộc của Nam Hà, Hà Bắc, và Nghệ An thực hiện. Cánh cửa vào phòng đặt thi hài do hai cha con nghệ nhân ở làng Gia Hòa đóng. Hai bên cửa chính là hai cây hoa đại. Phía trước và phía sau lăng trồng 79 cây vạn tuế tượng trưng cho 79 năm trong cuộc đời của Hồ Chủ tịch. Hai bên phía nam và bắc của lăng là hai rặng tre, loại cây biểu tượng cho nước Việt Nam. Trước cửa lăng luôn có hai người lính đứng gác, 1 giờ đổi gác một lần.
Chính giữa lăng là phòng đặt thi hài ốp đá cẩm thạch Hà Tây. Trên tường có 2 lá quốc kỳ và đảng kỳ lớn, ghép từ 4.000 miếng đá hồng ngọc Thanh Hóa, hình búa liềm và sao vàng được ghép bằng đá cẩm vân màu vàng sáng. Thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trong hòm kính. Qua lớp kính trong suốt, thi hài Hồ Chí Minh nằm trong bộ quần áo ka ki bạc màu, dưới chân có đặt một đôi dép cao su. Trong những dịp có người viếng lăng, sẽ có bốn người lính đứng gác. Chiếc hòm kính đặt thi hài là một công trình kỹ thuật và nghệ thuật do những người thợ bậc thầy của hai nước Việt - Xô chế tác. Giường được chế tác bằng đồng, có dải hoa văn bông sen được cách điệu, ba mặt giường lắp kính có độ chịu xung lực cao. Nóc giường bằng kim loại, có hệ thống chiếu sáng và hệ thống điều hòa tự động. Giường được đặt trên bệ đá, có hệ thống thang máy tự động.
Lăng có hình vuông, mỗi cạnh 30 m, cửa quay sang phía Đông, hai phía Nam và Bắc có hai lễ đài dài 65 m dành cho khách trong những dịp lễ lớn. Trước lăng là Quảng trường Ba Đình với một đường dành cho lễ diễu binh, duyệt binh, và một thảm cỏ dài 380 m chia thành 240 ô vuông cỏ xanh tươi suốt bốn mùa. Trước mặt lăng là cột cờ, Lễ thượng cờ được bắt đầu vào lúc 6 giờ sáng (mùa nóng); 6 giờ 30 phút sáng (mùa lạnh) và Lễ hạ cờ diễn ra lúc 9 giờ tối hàng ngày. Thẳng tiếp qua sân cỏ là đường Bắc Sơn, có trồng hoa hồng đỏ và hoa đào. Tận cùng đường Bắc Sơn là đài Liệt sĩ. Bên phía tây của quảng trường là khu lưu niệm Hồ Chí Minh. Tại đây có Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, ngôi nhà sàn Hồ Chí Minh. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh thường có nhiều đoàn khách ở các tỉnh thành phố và nước ngoài đến thăm viếng.
== Hoạt động ==
Mỗi tuần có hơn 15.000 người đến viếng thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Rất nhiều cá nhân và đoàn thể đến viếng lăng vào các ngày lễ, các ngày kỷ niệm quan trọng của Việt Nam.
Lăng không thu phí vào cửa và khách viếng thăm buộc phải tuân theo những yêu cầu như ăn mặc chỉnh tề, không đem máy ảnh, điện thoại di động có chức năng quay phim, chụp ảnh, tắt điện thoại, không mang đồ ăn thức uống và giữ trật tự trong lăng...
Tính đến năm 2012 đã có gần 50 triệu lượt người vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó hơn 8 triệu khách quốc tế. Ðối với khách tham quan ở xa, việc tổ chức nhà nghỉ trọ được thực hiện chu đáo, tận tình. Việc ăn phụ, giải khát, chống rét, phục vụ thương binh nặng và người già yếu đến viếng đều được nghiên cứu tổ chức chu đáo. Công tác đón tiếp khách được cải tiến, như cải tạo các nhà chờ thành hai khu vực khang trang, để trước khi vào viếng, khách có thể tạm dừng chân, ngắm những cây hoa, cây cảnh, xem những bộ phim tư liệu. Ðối với các đoàn thương binh bị cụt chân, những chiến sĩ tiêu binh luôn chuẩn bị sẵn xe đẩy đặc biệt để phục vụ. Trong phòng viếng chia làm 2 hàng, hàng phía trong gần nơi đặt thi hài hơn được dành riêng cho trẻ em.
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mở cửa 5 ngày một tuần, vào các buổi sáng thứ Ba, thứ Tư, thứ Năm, thứ Bảy và Chủ nhật. Mùa nóng (từ 1-4 đến 31-10): Từ 7h30 đến 10h30; mùa lạnh (từ 1-11 đến 31-3 năm sau): Từ 8h00 đến 11h00; ngày lễ, thứ Bảy, Chủ nhật mở cửa thêm 30 phút. Hàng năm Lăng đóng cửa để làm nhiệm vụ tu bổ định kỳ vào 2 tháng: tháng 10 và tháng 11. Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
== Ban Quản lý ==
Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cơ quan thuộc Chính phủ Việt Nam có chức năng chỉ đạo, phối hợp các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc giữ gìn nguyên vẹn, lâu dài và bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư lệnh Bộ Tư lệnh bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm chức vụ Trưởng ban quản lý Lăng.
=== Lãnh đạo hiện nay ===
Trưởng ban: Thiếu tướng Nguyến Văn Cương
Phó Trưởng ban: Thiếu tướng Nguyễn Trọng Khánh
=== Đơn vị trực thuộc ===
Văn phòng Ban Quản lý Lăng
Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình
Trung tâm Nghiên cứu, ứng dụng Khoa học, Công nghệ và Môi trường
=== Đơn vị phối thuộc ===
Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng
Trung đoàn 375, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Bộ Công an
== Lãnh đạo qua các thời kỳ ==
=== Trưởng ban Quản lý Lăng ===
2008-nay, Nguyễn Văn Cương, Thiếu tướng (2009), kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng
=== Phó Trưởng ban Quản lý Lăng ===
Đặng Trọng Huy, Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Bộ Công an
Vũ Văn Bình, Đại tá, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng
Phạm Văn Lập, Thiếu tướng (2013), Chính ủy Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng
Nguyễn Trọng Khánh, Thiếu tướng (2014), Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng
== Xem thêm ==
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Website Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Quá trình chuẩn bị gìn giữ thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh 40 năm trước
Ký sự: Giữ yên giấc ngủ của Người
Xem mô hình 3D trên Google Earth |
giải bóng đá chuyên nghiệp nhật bản.txt | J.League (Jリーグ, J Rīgu) (Giải bóng đá chuyên nghiệp Nhật Bản (日本プロサッカーリーグ, Nippon Puro Sakkā Rīgu)) là giải bóng đá chuyên nghiệp của Nhật Bản bao gồm giải hạng Nhất J1 League, hạng Nhì J2 League và giải hạng Ba J3 League. Đây là một trong những giải đấu thành công nhất trong các giải đấu cấp câu lạc bộ tại châu Á và là giải đấu duy nhất được xếp hạng 'A' bởi AFC. Giải hiện được tài trợ bởi Meiji Yasuda Life vì thế giải có tên chính thức là Meiji Yasuda J.League.
== Lịch sử ==
Đối với giải đấu trước khi thành lập giải chuyên nghiệp năm 1993, xem Japan Soccer League.
Đối với lịch sử J2 League, xem J2 League#Lịch sử.
=== Các giai đoạn của J1 ===
==== Trước khi thành lập giải chuyên nghiệp (1992 trở về trước) ====
Trước khi thành lập J.League, giải đấu cấp câu lạc bộ cao nhất là Japan Soccer League (JSL), nơi bao gồm các câu lạc bộ nghiệp dư. Mặc dù đạt được một vài tiếng vang trong những năm cuối 60 đầu 70 (khi đội tuyển quốc gia Nhật Bản giành huy chương đồng tại Mexico 1968), JSL đi xuống trong những năm 80, theo tình hình chung trên toàn thế giới. Có rất ít cổ động viên tới sân, sân đấu thì không đạt đủ chất lượng, còn đội tuyển quốc gia Nhật Bản đã không còn ngang hàng với các cường quốc châu Á. Để nâng cao chất lượng sân chơi quốc nội, cố gắng thu hút người hâm mộ hơn, và tăng cường sức mạnh của đội tuyển quốc gia, Liên đoàn bóng đá Nhật Bản (JFA) đã quyết định thành lập một giải đấu chuyên nghiệp.
Giải bóng đá chuyên nghiệp, J.League được thành lập năm 1992, với tám câu lạc bộ từ JSL Hạng Nhất, một đội từ Hạng Hai, và câu lạc bộ mới thành lập Shimizu S-Pulse. Trong thời gian ấy, JSL đổi tên và trở thành Japan Football League, một giải bán chuyên. Dù vậy J.League chỉ chính thức khởi tranh vào năm 1993, giải Yamazaki Nabisco Cup được tổ chức cho mười đội vào năm 1992 để chuẩn bị cho mùa bóng đầu tiên.
==== Mùa giải mở đầu và quảng bá J.League (1993–1995) ====
J.League chính thức khởi tranh mùa giải đầu tiên với 10 câu lạc bộ vào ngày 15 tháng 5 năm 1993 khi Verdy Kawasaki (hiện tại là Tokyo Verdy) tiếp đón Yokohama Marinos (hiện tại là Yokohama F. Marinos) trên Sân vận động Quốc gia Kasumigaoka.
==== Giai đoạn sau (1996–1999) ====
Mặc dù thành công trong giai đoạn ba năm đầu, đến đầu năm 1996 lượng khán giả tụt dốc nhanh. Năm 1997 lượng khán giả trung bình là 10,131, so với 19,000 năm 1994.
==== Thay đổi cấu trúc giải đấu và thể thức thi đấu (1999–2004) ====
Các nhà quản lý của giải đấu cuối cùng nhận ra rằng họ đã đi theo hướng sai. Để giải quyết vấn đề, họ đã đưa đến hai giải pháp.
Đầu tiên, họ công bố Tầm nhìn một trăm năm J.League, với mục đích toàn Nhật Bản tới năm 2092 có 100 câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp. Họ cũng khuyến khích các câu lạc bộ để thúc đẩy bóng đá hoặc những vấn đề không phải bóng đá như liên quan đến thể thao hay các hoạt động y tế, để có được tài trợ địa phương, và để xây dựng mối quan hệ tốt với quê hương của họ ở cấp cơ sở. Họ tin rằng điều này sẽ cho phép các câu lạc bộ liên kết chặt chẽ với các thành phố hay thị trấn của họ và nhận được hỗ trợ từ chính quyền địa phương, các công ty, và cư dân ở đây. Nói cách khác, các câu lạc bộ sẽ có thể dựa vào người dân địa phương, chứ không phải là nhà tài trợ lớn của quốc gia.
Thứ hai, cấu trúc của giải đấu đã được thay đổi rất nhiều trong năm 1999. Họ để chín câu lạc bộ bán chuyên nghiệp từ JFL và một câu lạc bộ từ J. League để tạo ra một hệ thống gồm hai hạng đấu. Giải bóng đá cấp cao nhất là J.League Hạng 1 (J1) với 16 câu lạc bộ trong khi J.League Hạng 2 (J2) đã được đưa ra với mười câu lạc bộ vào năm 1999. Hạng đấu thứ hai Japan Football League (cũ), bây giờ đã trở thành hạng đấu thứ ba Japan Football League.
Ngoài ra, cho đến năm 2004 (với ngoại lệ là mùa 1996), mùa giải J1 được chia thành hai. Vào cuối mỗi mùa giải, nhà vô địch từ mỗi lượt sẽ thi đấu một trận chung kết hai lượt để xác định đội vô địch chung cuộc của cả mùa giải. Júbilo Iwata vào năm 2002, và Yokohama F. Marinos vào năm 2003, giành ngôi cả hai "lượt" của mùa giải, vì thế không diễn ra trận chung kết. Đây là một phần lý do khiến giải đấu bãi bỏ hệ thống phân chia mùa giải từ năm 2005.
==== Thể thức châu Âu & AFC Champions League (2005–2008) ====
==== Giai đoạn hiện tại (2009–2014) ====
==== Tương lai (2015–) ====
=== Các mốc thời gian ===
== Vị trí trong hệ thống bóng đá Nhật Bản ==
== Các giải thưởng J.League ==
Huấn luyện viên xuất sắc nhất năm
Cầu thủ xuất sắc nhất năm
Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng
Tân binh xuất sắc nhất
Đội hình tiêu biểu
=== Đội hình kỷ niệm 20 năm J.League ===
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ (tiếng Anh)
Facebook chính thức (tiếng Việt)
Twitter chính thức (tiếng Anh)
Instagram chính thức (tiếng Nhật)
Kênh YouTube chính thức (tiếng Nhật) |
chirripó.txt | Núi Chirripó thuộc rặng núi Talamanca là ngọn núi cao nhất Costa Rica, đo được 3.820 m, tính ra là ngọn núi cao thứ 38 trên thế giới. Với nguồn sinh thái đa dạng khu vực núi này được bảo vệ trong Vườn Quốc gia Chirripó. Ở cao độ này mặc dùng thuộc vùng nhiệt đới nhiệt độ ban đêm có thể xuống dưới 0⁰C.
== Chú thích == |
levi strauss.txt | Levi Strauss ( /ˌliːvaɪˈstrɔːs/, tên khai sinh Löb Strauß, tiếng Đức: [løːp ˈʃtʁaʊs]; ngày 26 tháng 2 năm 1829 – ngày 26 tháng 9 năm 1902) là nhà kinh doanh người Đức gốc Do Thái và là người đầu tiên thành lập công ty sản xuất quần jeans. Công ty của ông tên là Levi Strauss & Co. thành lập năm 1853 ở San Francisco, California.
== Nguồn gốc ==
Levi Strauss sinh ra tại Buttenheim vào ngày 26 tháng 2 năm 1829 thuộc vùng Franconia ở Vương quốc Bayern, Liên minh các quốc gia Đức, trong gia đình thuộc sắc tộc Do Thái Ashkenaz. Ông là con trai của Hirsch Strauss và người vợ thứ hai là Rebecca Strauss. Năm 1846, Hirsch chết vì bệnh lao. Năm 1847, khi 18 tuổi, mẹ ông, ông cùng 2 chị gái là Fanny (chị cùng mẹ) và Maila tới Mỹ để anh gặp 2 anh trai Jonas và Louis, những người đã di cư trước đó và đang kinh doanh bán buôn hàng khô ở thành phố New York với tên công ty là J. Strauss Brother & Co.
== Di sản ==
Bảo tàng Levi Strauss được duy trì ở Buttenheim, Đức nằm ngay tại ngôi nhà nơi ông sinh ra được xây dựng vào năm 1687. Trung tâm Du lịch tại Trụ sở công ty Levi Strauss & Co. toàn cầu ở San Francisco với nhiều triển lãm lịch sử. Tại đây cũng có quỹ Levi Strauss khởi đầu với sự quyên góp năm 1897 cho Đại học California tại Berkeley.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Levi Strauss & Company
Levi Strauss at Findagrave
Levi's
Levi's India
Levi Strauss Museum in Buttenheim, Germany (tiếng Đức) |
mince pie.txt | Một chiếc bánh mince pie là một chiếc bánh ngọt xuất xứ từ Anh, có nhân là một hỗn hợp các loại trái cây khô và gia vị được gọi là "mincemeat", theo truyền thống được ăn suốt mùa Giáng sinh trong thế giới nói tiếng Anh. Các thành phần của nó có từ thế kỷ thứ 13, khi thập tự quân châu Âu trở về mang theo với họ công thức nấu ăn Trung Đông chứa thịt, trái cây và các loại gia vị.
Những chiếc bánh mince pie ban đầu được biết đến bởi một số tên, bao gồm "mutton pie" (bánh thịt cừu), "shrid pie" và "Christmas pie" (bánh Giáng sinh). Thông thường các thành phần của nó là một hỗn hợp của thịt băm nhỏ, mỡ, một loạt các loại trái cây, và các loại gia vị: như quế, đinh hương và hạt nhục đậu khấu. Được dùng vào dịp Giáng sinh, chiếc bánh Giáng sinh mặn mà (được gọi như vậy lúc đó) được kết hợp với cái gọi là "sự sùng bái thần tượng" Công giáo và trong cuộc nội chiến Anh các cơ quan Thanh giáo phải nhíu mày khó chịu. Tuy nhiên, truyền thống ăn chiếc bánh Giáng sinh vào tháng 12 tiếp tục qua đến thời đại Victoria. Mặc dù vào lúc đó công thức của nó đã trở nên ngọt ngào hơn và kích thước của nó giảm rõ rệt từ hình dạng thuôn dài lớn thuở trước. Ngày nay, chiếc bánh mince pie vẫn còn là một món thết đãi theo mùa phổ biến, được nhiều người trên khắp Vương quốc Anh thưởng thức.
== Tham khảo ==
Footnotes
Notes
Bibliography
== Đọc thêm == |
chất thải.txt | Chất thải là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra, tuy nhiên trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có ý nghĩa với người này nhưng lại là lợi ích của người khác, chất thải còn được gọi là rác Trong cuộc sống, chất thải được hình dung là những chất không còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng.
Quản lý rác thải là hành động thu gom, phân loại và xử lý các loại rác thải của con người. Hoạt động này nhằm làm giảm các ảnh hưởng xấu của rác vào môi trường và xã hội.
Rác liên quan trực tiếp tới sự phát triển của con người cả về công nghệ và xã hội. Cấu tạo của các loại rác biến đổi qua thời gian và nơi chốn, với quá trình phát triển và đổi mới có tính chất công nghiệp đang trực tiếp ảnh hưởng tới nguồn phế liệu. Ví dụ như nhựa và công nghệ hạt nhân. Một số thành phần của rác có giá trị kinh tế đã được tái chế lại một cách hoàn hảo.
== Phân loại ==
Nếu xét theo mức độ độc hại, người ta phân thành chất thải nguy hại và chất thải không nguy hại. Nếu xét theo phương thức thải, thì chất thải được chia thành:
=== Rác sinh hoạt ===
Rác thải sinh hoạt là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động, sản xuất của con người và động vật. Rác phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải… Trong đó, rác sinh hoạt chiếm tỉ lệ cao nhất. Số lượng, thành phần chất lượng rác thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật. Bất kỳ một hoạt động sống của con người, tại nhà, công sở, trên đường đi, tại nơi công cộng…, đều sinh ra một lượng rác đáng kể. Thành phần chủ yếu của chúng là chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trường sống nhất. Cho nên, rác sinh hoạt có thể định nghĩa là những thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại môi trường sống.
=== Rác văn phòng ===
Rác văn phòng là các văn phòng phẩm không còn sử dụng được nữa như giấy báo cũ, bút viết hết mực, hư hỏng,
=== Chất thải công nghiệp ===
Chất thải công nghiệp là các chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất các nhà máy, xí nghiệp, gồm:
Chất thải rắn nguy hại: bao gồm khí thải độc hại, hóa chất ở dạng lỏng, chúng dễ gây ra cháy nổ, ngộ độc, tác động không tốt đến sức khỏe của con người và dễ ăn mòn nhiều vật chất khác.
Chất thải rắn như sắt thép kim loại bị gỉ cũ kĩ gây ít hoặc không nguy hại nhưng chúng cần phải được xử lý dọn dẹp hay tái chế cẩn thận.
=== Chất thải xây dựng ===
Chất thải xây dựng được thải ra từ quá trình hoạt động của công trường xây dựng và sửa chữa các công trình xây dựng, chủ yếu là các loại gạch, đá, đất vụn... bị phá dỡ ra, chúng còn được gọi là xà bần.
=== Chất thải y tế ===
Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế, bao gồm:
Chất thải y tế nguy hại: là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm bệnh, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn.
Chất thải thông thường.
== Giáo dục và nhận thức ==
Giáo dục và nhận thức trong lĩnh vực rác và quản lý rác đang ngày càng trở nên quan trong. Tốc độ và mức độ gia tăng nhanh chóng của tình trạng suy thoái và ô nhiễm môi trường và sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên đang là những vấn đề rất được quan tâm. Ô nhiễm không khí; tích tụ rác thải độc hại; phá hoại và làm khan hiếm rừng, đất và nước; tầng ô-zôn đang bị phá hủy và hiệu ứng nhà kính đang đe họa sự tồn tại của loài người và hàng ngàn sinh vật khác, sự đa dạng sinh học, an ninh quốc gia, và những di sản để lại cho thế hệ sau.
== Tham khảo == |
nhà thờ chính tòa đức mẹ vô nhiễm, moskva.txt | Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Moskva hay Nhà thờ chính tòa Đức Maria vô nhiễm nguyên tội Moskva (tiếng Nga: Собор Непорочного Зачатия Пресвятой Девы Марии, Sobor Neporotschnowo Satschatija Preswjatoj Dewy Marii, tên bình dân là: Костёл / Kostjol hay Кирха / Kirkha - "Nhà thờ Công giáo") là một nhà thờ kiến trúc tân Gothic được tổng giáo phận Công giáo Moskva dùng làm nhà thờ chính tòa. Nằm trong quận trung tâm, đây là một trong 2 nhà thờ duy nhất của Công giáo ở Moskva và là nhà thờ Công giáo lớn nhất ở Nga.
Việc xây dựng nhà thờ chính tòa này do chính quyền Sa hoàng đề nghị năm 1894. Lễ khởi công diễn ra năm 1899. Việc xây dựng bắt đầu từ năm 1901 và được hoàn thành 10 năm sau. Nhà thờ gồm 3 gian dọc, xây bằng gạch đỏ theo bản thiết kế của kiến trúc sư Tomasz Bohdanowicz-Dworzecki. Phong cách kiến trúc chịu ảnh hưởng của tu viện Westminster và nhà thờ chính tòa Milano.
Được các quỹ của các giáo xứ Nga và các nước lân bang đài thọ, nhà thờ được thánh hiến như một nhà nguyện dành cho giáo xứ người Ba Lan ở Moskva năm 1911. Do hậu quả của cuộc cách mạng Nga năm 1917, chính phủ lâm thời Nga bị những người Bolshevik lật đổ và nước Nga trở thành một nước trong Liên bang Xô Viết. Do chủ trương áp dụng chủ nghĩa vô thần chống mọi tôn giáo, chính phủ Xô Viết ra lệnh đóng cửa nhà thờ này vào năm 1938. Trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà thờ này đã bị đe dọa phá hủy, nhưng sau chiến tranh thì nhà thờ này được sử dụng cho các mục đích dân sự như nhà kho và sau đó là nhà ăn ở tập thể. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu năm 1991, nhà này được trả lại dùng làm nhà thờ từ năm 1996. Năm 2002 nhà thờ này được nâng lên hàng nhà thờ chính tòa. Sau một đợt trùng tu và trang trí lại tốn kém, nhà thờ này đã được tái thánh hiến trong năm 2005.
Sau 58 năm bị sử dụng vào những mục đích dân sự, nhà thờ này lại được dùng làm nơi thờ tự. Hiện nhà thờ có những nghi thức phụng vụ bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, trong đó có tiếng Nga, tiếng Ba Lan, tiếng Triều Tiên, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Armenia và tiếng Latin. Đàn đại phong cầm của nhà thờ hiện nay là đàn organ thứ ba kể từ khi xây nhà thờ, do nhà thờ chính tòa Basel (Thụy Sĩ) tặng.
Hiện nay, nhà thờ này được đưa vào danh sách di sản của Liên bang Nga và được bảo tồn.
== Lịch sử ==
=== Thời kỳ xây dựng đầu tiên ===
Vào cuối thế kỷ 19, ở Moskva chỉ có 2 nhà thờ Công giáo: nhà thờ thánh Louis của người công giáo Pháp và nhà thờ thánh Phêrô và Phaolô dành cho người Công giáo Ba Lan. Do cộng đoàn người Công giáo Ba Lan ở Moskva tăng lên tới khoảng 30.000 người, ngôi nhà thờ của họ trở nên quá nhỏ bé, không đủ sức chứa. Sau khi nộp đơn lên thống đốc Moskva xin xây một nhà thờ mới, năm 1894 hội đồng thành phố đã biểu quyết cho phép xây một nhà thờ mới, với nhiều điều kiện trong đó có 2 điều kiện liên quan tới địa điểm xây cất: nhà thờ mới phải xây ở bên ngoài trung tâm khu thành cổ, và không được ở gần nơi thánh thiêng của Chính thống giáo Nga.
Theo điều kiện đòi hỏi của Hội đồng thành phố, ngày 16 tháng 5 năm 1895 giáo xứ đã thương lượng mua khu đất 10 hecta (22 acre) ở phố Malaya Gruzinskaya, thời đó khu đất này vẫn còn ở ngoại ô thành phố, xung quanh là ruộng đồng và vườn cây. Ngày nay khu này thuộc về khu trung tâm đô thị, ở bên ngoài đại lộ bao quanh khu trung tâm thành phố, ngay bên ngoài tuyến đường xe điện ngầm Koltsevaya bao quanh khu trung tâm thành phố, là khu có nhiều nhà cao tầng từ khi phát triển đô thị ở thế kỷ 20. Giá mua khu đất này thời đó là 10.000 rúp Nga bằng vàng (xấp xỉ 260.000 dollar Mỹ tính theo năm 2012). do tiền quyên tặng. Hợp đồng mua bán đất và danh sách đầy đủ mọi người quyên tặng tiền hiện vẫn còn lưu trong hồ sơ lưu trữ của thành phố Moskva và thành phố Sankt Peterburg.
Một điều kiện nữa mà Hội đồng thành phố áp đặt cho việc xây dựng nhà thờ mới như sau: "Xét vì đã có sẵn 2 nhà thờ Công giáo rồi, thì nhà thờ tương lai phải lớn hơn các nhà thờ cũ, với một thánh giá ở đầu hồi, nhưng không có tháp chóp nhọn và tượng điêu khắc ở bên ngoài". Bản đồ án xây dựng do kiến trúc sư người Nga gốc Ba Lan Tomasz Bohdanowicz-Dworzecki thiết lập. Mặc dù đồ án không tuân thủ điều kiện cuối cùng (về tháp nhọn) của hội đồng thành phố, nhưng vẫn được chấp thuận. Theo đồ án thì nhà thờ có đủ chỗ ngồi cho 5.000 tín đồ. Lễ khởi công diễn ra từ năm 1899, nhưng việc xây dựng bắt đầu từ 1901 tới năm 1911 mới hoàn tất. Chi phí xây dựng là 290.000 rúp Nga bằng vàng (xấp xỉ 7.500.000 dollar Mỹ tính theo năm 2012), phần lớn là do các thành viên trong giáo xứ Ba Lan ở Moskva đóng góp, số còn lại do các giáo xứ Công giáo khắp nước Nga, Ba Lan và Belarus quyên góp.
Nhà thờ được thánh hiến ngày 21 tháng 12 năm 1911 với danh hiệu "Nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm". Buổi lễ thánh hiến được các báo Nga và Ba Lan loan tin rộng rãi. Tờ Russkoye Slovo của Moskva viết:
Trên đường phố Malaya Gruzinskaya tồi tàn, bẩn thỉu, đã mọc lên một nhà thờ Công giáo mới kỳ diệu, có tính nghệ thuật cao, được cung hiến cho Đức Maria vô nhiễm nguyên tội. Có độ rộng và chiều cao lớn lao, ... với nhiều tháp nhỏ và tháp lớn cùng thánh giá. Nhà thờ chính tòa mới này gây một ấn tượng sâu sắc ... Mọi chi tiết đều trông rất ấn tượng và nổi bật: không hề thấy một sai sót nhỏ về phong cách nghệ thuật.
Từ năm 1911 tới năm 1917, người ta đã quyên tiền để mua sắm đồ nội thất, tương đối khá sơ sài, ngoại trừ bàn thờ chính rất đẹp. (Những đồ nội thất nguyên thủy vẫn còn giữ được cho tới thập niên 1930). Nhiều phần trong đồ án xây dựng đã bị bỏ: sàn nhà không được lát bằng đá cẩm thạch như dự thảo mà bằng bê tông thông thường; bên ngoài mặt tiền không có các tháp nhọn. Nhiều nguồn khác nhau về việc xây dựng các tháp nhọn: một số người cho rằng chúng được xây năm 1923, nhưng một số khác lại cho rằng chúng chưa hoàn tất cho tới khi tái thiết nhà thờ vào năm 1999. Những người nói các tháp nhọn được xây dựng năm 1923 cho rằng chúng đã bị hủy hoại trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai.
=== Bị đóng cửa và chuyển đổi mục đích sử dụng ===
Sau cuộc Các mạng Nga năm 1917, chính phủ Nga lâm thời bị những người Bolshevik lật đổ, và Đế quốc Nga trở thành một nước trong Liên bang Xô Viết mới. Do chủ trương áp dụng chủ nghĩa vô thần chống mọi tôn giáo, chính phủ Xô Viết ra lệnh đóng cửa nhiều nhà thờ. Giáo xứ thánh Phêrô và Phaolô bị chính phủ cộng sản giải thể trong năm 1929, việc cử hành thánh lễ bị cấm triệt để.
Năm 1935 nhà thờ mới này bị tịch thu các khu vườn chung quanh để lấy đất xây một trường học trong năm sau, và cuối cùng nhà thờ bị đóng cửa ngày 30 tháng 7 năm 1938 (trước đó 9 ngày, nhà thờ thánh Phêrô và Phaolô cũng cùng chung số phận). Sau khi bị đóng cửa, nhà thờ đã bị lấy đi nhiều vật dụng, kể cả bàn thờ chính và cây đàn organ. Nhà thờ đã bị sử dụng làm kho chứa rau quả trong nhiều tháng, sau đó được xây lại thành 4 tầng lầu dùng làm nơi cư trú và ăn ở tập thể.
Chỏm nhọn của tháp chính bị gỡ bỏ trong thời kỳ diễn ra trận Moskva (1941) nhằm ngăn ngừa Luftwaffe (Không quân Đức) dùng nó làm mục tiêu nhận ra vị trí tấn công. Ngay sau khi chiến tranh kết thúc trong năm 1945, các khu vườn cũ của nhà thờ bị sát nhập vào khu nhà chung cư cao tầng. Năm 1956 một trận hỏa hoạn đã khiến cho phần cửa trời lấy ánh sáng phía trên vòm tháp chính bị sụp đổ. Các cư dân chiếm ngụ nhà thờ dần dần được đưa tới các nhà khác, và các thành viên của "Viện nghiên cứu Mosspetspromproyekt" (tiếng Nga: Мосспецпромпроект) nắm quyền sở hữu ngôi nhà thờ cũ này. Việc làm của viện nghiên cứu này chủ yếu là lập ra các bản vẽ dự án cho các nhà máy công nghiệp, nhưng cũng thiết kế cái vạc đốt lửa cho sân vận động Luzhniki dùng trong Thế vận hội Mùa hè 1980.
Trong thập niên 1960 và 1970, phần bên ngoài của nhà thờ bị hư hại nhiều. Trong số những người quan tâm đến sự hư hỏng của nhà thờ, có ca sĩ kiêm nhạc sĩ sáng tác Vladimir Vysotsky, người sống ở bên kia đường phố đối diện nhà thờ. Vào cuối thập niên 1970 thành phố định tái thiết ngôi nhà thờ để có thể dùng làm phòng hòa nhạc cho đàn organ hoặc trung tâm văn hóa nói chung. Tuy nhiên các dự án này không hề được thực hiện, do sự phản kháng của Viện nghiên cứu Mosspetspromproyekt.
=== Được sử dụng lại cho mục đích tôn giáo ===
Chính sách glasnost được áp dụng trong thời nắm quyền của Mikhail Sergeyevich Gorbachyov, đã đóng vai trò quyết định trong việc phát triển tự do tôn giáo trong Liên bang Xô Viết. Do vậy, năm 1989, một nhóm người Công giáo Moskva và hiệp hội văn hóa "Nhà Ba Lan" (tiếng Nga: Дом Польский), đề nghị đưa tòa nhà này vào sử dụng lại cho mục tiêu tôn giáo. Sau khi được thành phố đồng ý, nhà thờ này đã được dùng trở lại làm nơi thờ phụng tạm thời. Thánh lễ đầu tiên được cử hành tại cầu thang nhà thờ kể từ 60 năm qua trong lễ kính Đức Maria vô nhiễm nguyên tội ngày 8 tháng 12 năm 1990. Thánh lễ do linh mục người Ba Lan Tadeusz Pikus cử hành, người sau này trở thành Giám mục phụ tá của tổng giáo phận Warszawa.
Tháng 1 năm 1990, một nhóm người Công giáo ở Moskva đã chính thức thành lập giáo xứ Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội. Ngày 13 tháng 4 năm 1991 giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành thư luân lưu Providi quae, thiết lập "Giám quản Tông Tòa cho nước Nga thuộc châu Âu". Tổng Giám mục giám quản tông tòa, Tadeusz Kondrusiewicz, ban hành giáo lệnh tái thiết nhà thờ ngày 21 tháng 4 năm 1991. Được sự cho phép của thành phố, một thánh lễ thứ hai lại được cử hành ở cầu thang nhà thờ nhân ngày quốc khánh Ba Lan vào ngày 3 tháng 5 năm 1991. Việc thiết lập giáo xứ được ban tư pháp của Hội đồng thành phố Moskva chính thức công nhận ngày 31 tháng 5 năm 1991. Trong thời gian đó nhiều phần của nhà thờ đã bị Viện nghiên cứu Mosspetspromproyekt cho nhiều công ty thuê lại.
Từ ngày 7 tháng 6 năm 1991, các thánh lễ được cử hành mỗi ngày chủ nhật ở sân nhà thờ, vì Viện nghiên cứu Mosspetspromproyekt vẫn chiếm đóng nhà thờ. Ngày 15 tháng 7 năm 1991, linh mục Josef Sanewski, thuộc Dòng Salêdiêng Don Bosco, được bổ nhiệm làm cha xứ. Việc dạy giáo lý được thực hiện thường xuyên dưới sự hướng dẫn của các nữ tu dòng Don Bosco từ ngày 29 tháng 11 năm 1991. Cùng thời gian đó, các hội từ thiện đầu tiên được thành lập để chăm sóc và giúp đỡ các người nghèo. Ngày 1 tháng 2 năm 1992 phó thị trưởng thành phố Moskva, Yury Luzhkov, đã ký một nghị định ra lệnh cho Viện nghiên cứu Mosspetspromproyekt trả lại tòa nhà từ năm 1994. Ngày 2 tháng 7 năm 1992 các thành viên của giáo xứ đã vào chiếm xưởng làm việc của Viện nghiên cứu trong nhà thờ. Hội đồng thành phố Moskva đã chấp nhận việc chiếm đóng này, nên sau đó đã xây một bức tường ngăn với phần còn lại của tòa nhà. Tại khu vực xưởng cũ này, thánh lễ đã được cử hành thường xuyên.
Ngày 7 tháng 3 năm 1995 bức tường ngăn cách nói trên đã bị các thành viên giáo xứ gỡ bỏ và bắt đầu lau chùi giàn kèo đỡ mái nhà. Viện nghiên cứu gọi đơn vị cảnh sát đặc nhiệm OMON tới ngăn cản. Ngày hôm sau đã xảy ra xung đột giữa giáo dân với cảnh sát, nhiều giáo dân trong đó có một nữ tu sĩ đã bị thương. Những người khác bị bắt, kể cả cha xứ và một chủng sinh, nhưng hôm sau họ đã được thả. Sau vụ việc này, vị giám quản Tông Tòa Tadeusz Kondrusiewicz đã viết một thư ngỏ cho tổng thống Nga Boris Yeltsin vào ngày 9 tháng 3 năm 1995, yêu cầu ông can thiệp, trong đó có đoạn: "Dường như sự bách hại giáo hội đã trở thành lịch sử rồi mà. Phải vậy không? Tôi không thể nhớ là (khi nào) đã nhìn thấy một linh mục bị bắt, và cũng không thể nhớ là (khi nào) đã nhìn thấy một nữ tu sĩ bị đánh đập".
Kết quả là viên thị trưởng thành phố Moskva Yuri Luzhkov, một người được Yeltsin bổ nhiệm, đã ký quyết định ngày 7 tháng 3 năm 1995 ra lệnh di dời viện nghiên cứu ra khỏi nhà thờ từ năm 1996. Cùng lúc đó, Viện nghiên cứu đã viết thư cho Luzhkov mô tả vụ việc xảy ra trước đó theo quan điểm của họ, và yêu cầu bồi thường việc họ mất tòa nhà. Trong một cuộc họp với Đại sứ Ba Lan, Stanisław Ciosek, ngày 15 tháng 3 năm 1995, quyền thị trưởng thành phố Moskva - Alexander Musykantski - đảm bảo với ông rằng việc trả lại nhà thờ sẽ được hoàn tất vào cuối năm.
Ngày 19 tháng 3 năm 1995, một thánh lễ do sứ thần Tòa Thánh John Bukowski chủ tế được cử hành trong phần nhà thờ đã đòi lại, trong đó vị sứ thần đã chuyển phép lành của giáo hoàng cho cộng đoàn giáo xứ. Trong một quyết định mới ngày 2 tháng 11 năm 1995, Luzhkov ra lệnh cho Viện nghiên cứu Mosspetspromproyekt di dời khỏi nhà thờ chậm nhất là vào cuối năm. Ngày 2 tháng 1 năm 1996 khi lệnh di dời không được thi hành, các giáo dân đã vào khu cực viện nghiên cứu và đem đồ đạc của viện ra ngoài. Giám đốc viện, Evgeny Afanasyev lại gọi cảnh sát tới, nhưng lần này họ từ chối can thiệp. Sau đó, viên giám đốc viện đã yêu cầu cha xứ gia hạn di dời 2 tuần lễ, và Viện Mosspetspromproyekt đã dời khỏi tòa nhà ngày 13 tháng 1 năm 1996. Ngày 2 tháng 2 năm 1996, tổng giáo phận Mẹ Thiên Chúa Moskva đã nhận được phép chính thức sử dụng vĩnh viễn nhà thờ này.
=== Trùng tu và tái thánh hiến ===
Đầu thập niên 1990, "Cơ quan bảo vệ Công trình xây dựng lớn" đã lập kế hoạch tu bổ nhà thờ dự trù vào năm 1997 nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập thành phố Moskva lần thứ 850. Đề án này đã không được thực hiện do tranh chấp về việc chiếm giữ. Tuy nhiên, năm 1995 thành phố đã quyết định cho tu bổ và giáo xứ phải chịu các chi phí tu bổ. Một ban tái thiết đã được thành lập gồm linh mục chính xứ Josef Sanevski làm chủ tịch, các thành viên là sử gia người Nga Stanislav Durnin, nhà thầu xây dựng Ba Lan và chính trị gia Grzegorz Tuderek.
Từ năm 1996 tới năm 1999, việc tu bổ nhà thờ đã được thực hiện với sự giúp đỡ của các nhà tài trợ là công ty EnergoPol của Ba Lan, và Hiệp hội các nhà thờ Công giáo Đức Renovabis. Chính phủ Nga đã cấp vốn khi chấm dứt dự án. Việc trùng tu đã diễn ra ban đầu dưới sự chỉ đạo của các công ty Ba Lan PKZ và Budimex, họ đã phục hồi hoàn toàn mặt tiền nhà thờ và mái nhà. Từ tháng 9 năm 1998, linh mục Andrzey Stetskevich và kiến trúc sư Jan Tajchman của công ty Toruń của Ba Lan đã cùng trông coi việc tái thiết; trước đây họ đã cùng trông coi việc tái thiết Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ lên trời của Công giáo ở Sankt Peterburg. (linh mục Stetskevich sau này thăng lên làm tổng đại diện tổng giáo phận Công giáo Moskva). Các đồ đạc cố định và bàn thờ mới do các chuyên gia Ucraina, Belarus và Nga thực hiện. Các công ty ở Moskva thực hiện việc lắp ghép đá cẩm thạch ở bên trong và bên ngoài nhà thờ. Các đồ nội thất được các sinh viên của trường phục chế ở Sankt Peterburg sản xuất, dưới sự chỉ đạo của Vladimir Mukhin. Các kính màu dùng cho cửa sổ hình hoa hồng ngoài mặt tiền được làm ở Toruń, còn các cửa sổ khác được công ty Tolotschko của Belarus từ Hrodna sản xuất. Nhà thờ làm lễ tái khai trương ngày 12 tháng 12 năm 1999 và được hồng y quốc vụ khanh của giáo triều Rôma Angelo Sodano tái thánh hiến. Liên kết với nhà thờ chính tòa có một thư viện, một tòa soạn tạp chí Công giáo tiếng Nga "Sứ giả Công giáo – Ánh sáng Phúc âm" (tiếng Nga: Католический вестник — Свет Евангелия) cũng như văn phòng Caritas địa phương.
== Kiến trúc và các vật trang trí ==
Nhà thờ chính tòa được xây theo phong cách kiến trúc tân Gothic, có 3 gian dọc và cánh ngang theo hình thập tự với gian cung thánh hình bán nguyệt. Nhà thờ được xây toàn bằng gạch đỏ, không trát vữa xi măng bên ngoài. Năm gian chính theo chiều dọc dài 65 mét (213 ft), mỗi gian này lại có nhánh phụ dài 13 mét (43 ft). Tháp cửa trời lấy sáng hình bát giác bên trên chỗ giao nhau giữa gian giữa và gian ngang cao 30 mét (98 ft). Mặt tiền nhà thờ dựa trên thiết kế của tu viện Westminster, còn tháp chuông thì hơi giống tháp của nhà thờ chính tòa Milano. Điển hình cho nhà thờ theo phong cách cũ, mỗi gian dọc ở hai bên đều được gia cố bằng 5 cột trụ tường, 10 trụ tường tổng cộng tượng trưng cho Mười điều răn. Các thánh giá được dựng lên bên trên mỗi tháp chuông; tháp nhọn ở giữa mặt tiền và 2 tháp nhọn ở 2 bên mang hình huy hiệu của Giáo hoàng Gioan Phaolô II và huy hiệu của tổng Giám mục Tadeusz Kondrusiewicz.
Muời bậc bước lên cửa chính tượng trưng cho 10 điều răn, còn bậc thứ 11 tượng trưng cho chúa Giêsu Kitô. Cửa chính tượng trưng cho cửa thiên đàng, nơi tới được bằng cách giữ 10 điều răn và những lời dạy của chúa Giêsu. Cửa chính có các cột bao quanh trên đầu là trán cửa hình tam giác. Trán cửa này được trang trí bằng một hình đắp nổi, ở giữa hình đắp nổi có các chữ cái lồng nhau màu vàng "VMIC" (Virgo Maria Immaculata Concepta, chữ Latin có nghĩa là "Maria, được hoài thai không mắc tội tổ tông truyền") thay cho thiết kế kiến trúc ban đầu là Ngôi sao David, nhắc tới đức tin Do Thái giáo của đức Trinh nữ Maria. Bên trên trán cửa hình tam giác là một cửa sổ hình hoa hồng cao 3 mét (9,8 ft) bằng đá trong mờ và sáng màu.
=== Nội thất ===
Ở 2 bên lối đi phụ vào nhà thờ có một tượng thánh giá bằng đá và một bồn nước phép. Trên cao phía bên trái có một viên gạch từ Vương cung Thánh đường Thánh Gioan Laterano, còn bên phía phải là huy chương Năm Thánh 2000. Trong tầng hầm mộ có nhà nguyện nhỏ, các phòng dạy giáo lý và phòng của cơ quan từ thiện Caritas.
Gian dọc chính có kê các ghế dài, còn các gian dọc 2 bên có các tòa giải tội. Trước khi nhà thờ bị đóng cửa năm 1938 thì trong các tòa giải tội có kê ghế dài. Sau khi tái thiết thì phía bên trái được dành cho phụ nữ, còn phía bên phải dành cho nam giới. Cả 2 gian dọc bên cạnh đều cách với gian dọc giữa bởi các hàng cột, gồm 4 cột lớn và 2 cột nhỏ. Các cột và mái nhà được sơn màu trắng, còn tường thì sơn màu kem. Sàn nhà thờ được ghép bằng đá cẩm thạch màu sáng và màu xám theo ô vuông.
Phần lớn các cửa sổ kính màu ở độ cao 8,5 mét (28 ft) đều có các hoa văn trừu tượng. Những cửa sổ ở phía trước thể hiện huy hiệu của các sứ thần Tòa Thánh, John Burkowski và Francesco Colasuonno. Các cửa sổ ở cánh ngang nhà thờ thì hơi lớn hơn và có hoa văn phức tạp hơn. Cửa sổ kính màu ở cánh ngang phía bên phải mô tả hình thánh Phêrô và thánh Anrê, tượng trưng cho 2 nhánh tây và đông của Giáo hội Công giáo. Cửa sổ kính màu ở cánh ngang đối diện bên trái mô tả đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đang nhìn ngắm đức Mẹ Fatima. Ở gian giữa, dưới các cửa sổ, là 14 hình đắp nổi mô tả 14 chặng đàng Thánh Giá.
Lối vào phòng áo lễ nằm ở cuối cánh ngang bên phải, gần gian cung Thánh; ở cuối cánh ngang phía bên trái là nhà nguyện kính Lòng Nhân từ Chúa. Tòa đặt Mình Thánh Chúa đặt trên bàn thờ của nhà nguyện này. Bàn thờ chính của nhà thờ được bọc bằng đá cẩm thạch màu xanh đen, có chứa thánh tích của các thánh Anrê, Zenon thành Verona, Gregory thành Nyssa, Gregory thành Nazianzus, Cosmas và Damiano, Basilissa và Anastasia, cũng như ảnh Áo đức Bà và một tặng phẩm của giáo phận Verona. Tòa giảng nằm ở phía bên phải của bàn thờ, được bọc bằng cùng loại đá cẩm thạch như bàn thờ. Phía sau bàn thờ, trên tường của gian cung thánh, có một Thánh giá bằng đá cao 9 mét với tượng chúa Giêsu chịu đóng đinh cao 3 mét. Các hình trên lớp vữa mô tả Maria và thánh Gioan Tẩy giả do kiến trúc sư Svyatoslav Sakhlebin làm, một ở bên trái và một ở bên phải của các rầm chìa. Đối diện với bàn thờ và ở phía trên của tiền sảnh là tầng gác đặt đàn đại phong cầm, ban đầu có sức chứa 50 người hợp ca; nhưng một phần lớn tầng gác này nay đã bị đàn đại phong cầm choán chỗ.
=== Đàn đại phong cầm và các chuông ===
Đàn đại phong cầm hiện nay của nhà thờ là chiếc đàn thứ ba kể từ khi xây dựng nhà thờ, và là một trong các đại phong cầm lớn nhất ở Nga. Chiếc đàn organ thứ nhất bị Nhà nước tịch thu năm 1938; chiếc đàn thứ hai - một đàn organ điện với 60 ống điều chỉnh hơi - được đưa vào sử dụng trong dịp trùng tu nhà thờ năm 1999. Chiếc đàn này do tổ chức từ thiện "Trợ giúp Giáo hội Nga" của Hoa Kỳ tặng. Chiếc đàn này được thay thế bằng đàn đại phong cầm trong thời gian từ năm 2002–2005.
Đàn đại phong cầm này được công ty Orgelbau Kuhn AG ở Männedorf, Thụy Sĩ chế tạo năm 1955 cho Nhà thờ chính tòa Tin Lành Cải cách Basel Münster ở Basel,Thụy Sĩ. Nhà thờ chính tòa Basel Münster đã tặng chiếc đàn này cho Nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm Moskva bắt đầu từ năm 2002, nhưng tới năm 2005 mới chuyển hết các chi tiết được tháo rời ra - ngoại trừ ống đàn bè trầm chính số 65 dài tới 10 mét, được giữ lại. Khi vận chuyển, các ống đàn được bọc trong những quần áo mới do người dân Basel tặng, sau đó số quần áo này đã được phân phát cho người nghèo ở Moskva. Việc lắp ráp các chi tiết ở Moskva được thực hiện bởi công ty Orgelbau Schmid ở Kaufbeuren, Đức, dưới sự chỉ đạo của Gerhard Schmid, người đã từ chối không nhận tiền thanh toán cho công việc của mình. Trong thời gian lắp ráp, Schmid bị tử nạn vì bị rơi xuống từ giàn ráo vào ngày 9 tháng 9 năm 2004; sau đó người con của ông – Gunnar – đã hoàn tất việc lắp ráp.
Ống đàn bè trầm chính dài 10 mét được giữ lại, sau đó đã được dùng cho chiếc đàn organ mới của nhà thờ chính tòa Münster. Ống đàn này có khả năng tạo một âm 16,35 Hertz, với âm Đô trầm có 4 quãng 8 trầm hơn âm Đô trung, sau đó đã được tái tạo ở Moskva và được gắn thêm vào đàn đại phong cầm của nhà thờ trong năm 2009.
Năm quả chuông của nhà thờ được đặt trong vòm cuốn gồm 3 vòm đỉnh nhọn bên trên mái nhà thờ ở bên trái mặt tiền. Chúng được đúc tại xưởng đúc chuông Felczyński ở Przemyśl, Ba Lan, và được Giám mục Wiktor Skworc trao tặng. Chiếc chuông lớn nhất cân nặng 900 kilôgam (2.000 lb) mang tên "Đức Mẹ Fatima". Còn các chuông khác mang các tên - từ chuông nhỏ nhất tới chuông lớn nhất: "Gioan Phaolô II"; "thánh Juda Tông đồ", (theo tên thánh quan thầy của tổng Giám mục Tadeusz Kondrusiewicz); "Năm Thánh 2000"; và "thánh Victor" (theo tên thánh quan thầy của Giám mục Wiktor Skworc.. Bộ chuông này được kích hoạt bằng điện.
== Thế kỷ 21 ==
Ngày 11 tháng 2 năm 2002, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã thiết lập "Tổng giáo phận Công giáo Moskva" và bổ nhiệm Tổng Giám mục Tadeusz Kondrusiewicz làm quản nhiệm Tông tòa, đồng thời nâng nhà thờ Đức Mẹ vô nhiễm lên hàng Nhà thờ chính tòa của tổng giáo phận. Quyết định này đã bị Thượng phụ Chính thống giáo Aleksiy II chỉ trích, cho rằng đây là việc "thù địch", vì ông cho rằng Giáo hội Công giáo Rôma coi nước Nga là một cánh đồng truyền giáo.. Tháng 3 năm 2002, các thành viên của nhà thờ chính tòa và các giáo dân Công giáo từ các thành phố châu Âu khác đã tham gia buổi đọc tràng hạt Mân Côi do Giáo hoàng dẫn dắt thông qua phương tiện truyền hình.
Từ khi tái mở cửa, nhiều lễ nghi phụng vụ đã được cử hành hàng ngày trong nhà thờ. Ngôn ngữ chính trong thánh lễ là tiếng Nga, nhưng cũng có các thánh lễ được cử hành bằng tiếng Ba Lan, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Triều Tiên, tiếng Latin và tiếng Armenia (theo Nghi lễ Armenia).
Đàn đại phong cầm tái thiết — với 74 nút điều chỉnh hơi, 4 dàn phím và 5.563 ống hơi — được Tổng Giám mục Tadeusz Kondrusiewicz thánh hiến ngày 16 tháng 1 năm 2005. Sau lễ thánh hiến là buổi hòa nhạc mở đầu "Liên hoan quốc tế nhạc đàn organ lần thứ nhất" (First International Festival for Organ Music). Liên hoan này kéo dài 1 tháng với nhiều buổi hòa nhạc organ trong nhà thờ chính tòa này. Buổi hòa nhạc kết thúc liên hoan diễn ra dưới sự điều khiển của nhạc sĩ chơi đàn organ James Edward Goettsche của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô. Đàn organ và các buổi hòa nhạc phụng vụ diễn ra thường xuyên trong nhà thờ chính tòa này; thông thường thì vào cửa miễn phí, ngoại trừ những buổi hòa nhạc chọn lọc phải mua vé vào cửa. Một buổi hòa nhạc tưởng niệm những nạn nhân của Vụ rơi máy bay Tu-154 của Không quân Ba Lan năm 2010 đã được tổ chức ngày 12 tháng 4 năm 2010.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
O. N. Orobey; O. I. Lobov (2001). Cтроители России. XX век: антология (Những người xây dựng nước Nga. Thế kỷ 20: Hợp tuyển) (bằng tiếng Nga). O Master Verlag. ISBN 5-9207-0001-7.
P. V. Sytin (2008) [Xuất bản lần đầu năm 1948]. Из истории московских улиц (Từ lịch sử các đường phố Moskva) (bằng tiếng Nga). Moskva: Exmo Verlag. ISBN 978-5-699-24988-6.
Glasnost in Jeopardy: Human Rights in the U.S.S.R. Helsinki Watch. Tháng 3 năm 1991. ISBN 978-0-929692-89-0. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của nhà thờ với các hình ảnh lịch sử và video (tiếng Nga)
Trên 200 hình ảnh của nhà thờ; bên trong và bên ngoài (tiếng Nga)
Phim tài liệu truyền hình dài 20 phút về Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Moskva trong loạt phim "Thần thoại và Truyền thuyết" của chương trình truyền hình Stoliza (tiếng Nga) |
đông y.txt | Tại Việt Nam đã có thời những người nghiên cứu giảng dạy và viết sách cho rằng "Đông y" có xuất xứ từ phương Đông. Ngày nay "Đông y" là thuật ngữ được sử dụng song song với "Y học cổ truyền", dùng chỉ nền y học có nguồn gốc Trung Quốc và Việt Nam xưa, để phân biệt với Tây y (y học hiện đại từ phương Tây).
== Triết lý y học ==
Lý luận Đông y dựa trên nền tảng triết học cổ Trung Hoa: Âm Dương, Ngũ Hành. Âm Dương, Ngũ Hành cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh, việc chữa bệnh nhằm lập lại trạng thái cân bằng của các yếu tố đó trong khi Tây y dựa trên các kiến thức về giải phẫu, sinh lý, vi sinh v.v. cùng các thành tựu của các ngành khoa học hiện đại.
Bên cạnh Âm Dương, Ngũ Hành, cơ sở lý luận Đông y còn bao gồm: học thuyết Thiên Nhân hợp nhất, học thuyết kinh lạc, bát cương, học thuyết tạng tượng. Mặc dầu tạng tượng học Đông y có nhiều điểm tương đồng với giải phẫu và sinh lý học Tây y, các từ Hán-Việt dùng để chỉ các tạng (tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận), phủ (vị, đởm, tam tiêu, bàng quang, tiểu trường, đại trường) trong Đông y không đồng nhất với các từ chỉ các cơ quan theo giải phẫu học Tây y (tim, gan, lách, phổi, cật; dạ dày, mật v.v.). Bởi lẽ Đông y có một hệ thống lý luận khác, theo đó, việc chia tách cơ thể thành các bộ phận khác nhau một cách rạch ròi chỉ là khiên cưỡng, do cơ thể là một thể thống nhất.
Trái ngược với văn hóa phương Tây, văn hóa phương Đông coi trọng "cân bằng" và "điều hòa". "Trung dung" - tức cân bằng giữa hai thái cực, được người xưa tôn vinh là tiêu chuẩn tối cao trong triết lý tu thân của bậc quân tử. Trong quan hệ với thiên nhiên, phương Đông không chủ trương chế phục mà hướng tới sự hòa hợp – "thiên nhân hợp nhất". Trong quan hệ giữa người với người, từ ngàn năm xưa "dĩ hòa vi quý" đã trở thành phương châm xử thế cơ bản. Đặc tính văn hóa đó đã ảnh hưởng sâu sắc tới quan niệm và phương pháp chữa bệnh của Đông y học.Về bệnh tật, Đông y quan niệm mọi thứ đều do "âm dương thất điều" - mất sự cân bằng và trung dung gây nên. Để chữa trị bệnh tật, Đông y sử dụng 8 biện pháp cơ bản - "hãn" (làm ra mồ hôi), "thổ" (gây nôn), "hạ" (thông đại tiện), "hòa" (hòa giải), "ôn" (làm ấm), "thanh" (làm mát), "tiêu" (tiêu thức ăn tích trệ), "bổ" (bồi bổ) để khôi phục cân bằng chỉnh thể, hóa giải mâu thuẫn giữa "chính khí" (sức chống bệnh) và "tà khí" (tác nhân gây bệnh). Trong 8 phép đó, không có biện pháp nào mang tính đối kháng, tấn công trực diện vào "bệnh tà" như trong Tây y.
Đặc biệt để thực hiện việc hóa giải có hiệu quả nhất, Đông y chủ trương "trị vị bệnh" (chữa từ khi bệnh chưa hình thành). 2000 năm trước, Nội kinh - bộ sách kinh điển của Đông y đã viết: Bậc thánh y không chờ khi bệnh hình thành rồi mới chữa trị, mà chữa từ khi chưa phát bệnh. Bệnh đã hình thành mới dùng thuốc, xã hội đã rối loạn mới lo chấn chỉnh, khác gì khi khát nước mới lo đào giếng, giặc tới nơi mới đúc binh khí, chẳng quá muộn sao? (Thánh nhân bất trị dĩ bệnh, trị vị bệnh; bệnh dĩ thành nhi hậu dược chi, loạn dĩ thành nhi hậu trị chi, ví do khát nhi xuyên tỉnh, đấu nhi chú binh, bất diệc vãn hồ). Do chủ trương "trị vị bệnh" nên Đông y rất coi trọng dưỡng sinh - nâng cao "chính khí", chính khí đầy đủ thì bệnh tật không thể xâm phạm (Chính khí tồn nội, tà bất khả can). Đó cũng là tư tưởng "tướng giỏi không cần đánh mà thắng" trong Tôn Tử binh pháp (Bất chiến nhi khuất nhân chi sư). Trong sách Nội kinh, dưỡng sinh được đặt vào vị trí tối cao, còn trị liệu chỉ được xem là biện pháp ở bình diện thấp. Tấn công trực tiếp vào "bệnh tà" chỉ được Đông y xem như biện pháp cuối cùng, bất đắc dĩ. "Trị vị bệnh", "phòng bệnh hơn chữa bệnh" - là chiến lược y tế vô cùng sáng suốt và là nét văn hóa độc đáo của Đông y từ ngàn năm xưa. Ngày nay, khi phổ bệnh đang có xu hướng chuyển từ nhiễm trùng sang bệnh tâm thân, nội tiết, chuyển hóa, phương thức sống,... thì chiến lược đó sẽ còn có giá trị thực tiễn và khoa học to lớn hơn nữa.
Đông y là nhân thuật, nên đối tượng chính của Đông y không phải là "bệnh" mà là "con người". Con người trong Đông y cùng với môi trường, vũ trụ hợp thành một chỉnh thể thống nhất, người xưa gọi đó là "Thiên nhân hợp nhất". Bản thân con người cũng là một chỉnh thể thống nhất, nên tinh thần và thể xác hợp nhất với nhau, người xưa gọi đó là "Hình thần hợp nhất".
Phương châm cơ bản của Đông y trong chữa bệnh là "lưu nhân trị bệnh" - nghĩa là trước hết phải giữ lấy mạng sống của con người, sau đó mới nghĩ tới vấn đề khống chế, tiêu trừ ổ bệnh. Mục tiêu chữa bệnh của Đông y là lập lại trạng thái "cân bằng chỉnh thể". Do đó trong quá trình chữa bệnh, Đông y coi trọng khả năng tự khôi phục và tái tạo của cơ thể con người, lấy việc huy động tiềm năng của con người làm phương châm chính. Vì vậy, bệnh nhân được coi là chủ thể, "nhân vi bản bệnh vi tiêu" - nghĩa là người là gốc, là chủ thể, bệnh chỉ là ngọn.
Đông y dùng thuốc tùy theo nguyên tắc "Biện chứng luận trị" - nghĩa là tùy theo chứng trạng biểu hiện ở người bệnh mà sử dụng phép chữa, bài thuốc khác nhau. Trên lâm sàng, trăm người mắc cùng một bệnh, có thể được chữa trị bằng hàng trăm phương thuốc khác nhau. Vì phương thuốc được lập ra theo nguyên tắc "Biện chứng luận trị" - tức phỏng theo bệnh tình cụ thể ở từng người bệnh. "Phương giả phỏng dã" như y gia thời xưa thường nói.
== Chẩn bệnh ==
Chẩn đoán Đông y dùng các phương pháp vọng chẩn (quan sát bệnh nhân và hoàn cảnh), văn chẩn (lắng nghe âm thanh từ thể trạng và tâm sự của bệnh nhân), vấn chẩn (hỏi bệnh nhân và người nhà những điều liên quan), thiết chẩn (khám bằng tay và dụng cụ) để xác định bệnh trạng.
== Điều trị ==
Điều trị Đông y gồm có phương pháp châm cứu, các thuốc uống hoặc dùng ngoài da, và cả xoa bóp.
Phương pháp châm cứu dựa trên hệ thống kinh mạch được miêu tả chi tiết với hàng trăm huyệt trên cơ thể. Các huyệt và các đường kinh mạch có mối liên hệ với các tạng, phủ trong cơ thể, để điều trị các rối loạn ở tạng phủ nào, rối loại kiểu nào thì can thiệp vào các huyệt tương ứng và một số huyệt khác để hỗ trợ nếu cần thiết. Điều đặc biệt là hệ thống các huyệt, kinh mạch đó không thể dùng các phương pháp giải phẫu, sinh lý của Tây y để miêu tả được, tuy rằng trong thời đại ngày nay, châm cứu được sử dụng như một phương pháp gây vô cảm (gây tê) trong một số cuộc phẫu thuật (Đông Tây y kết hợp).
Thuốc Bắc là các vị thuốc được khai thác và bào chế theo sách của Trung Quốc truyền sang (và phát triển bởi các lương y người Việt). Thuốc Nam là các vị thuốc do các thầy thuốc khám phá trên lãnh thổ Việt Nam. Các vị thầy thuốc nổi tiếng được xem là bậc tổ của nghề y Việt Nam là Lê Hữu Trác (còn lưu truyền bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh là sách căn bản của Đông y Việt Nam) và Tuệ Tĩnh (tác giả của câu nói nổi tiếng "Nam dược trị Nam nhân" - thuốc Nam dùng chữa bệnh cho người Nam).
Lưu ý: Phương pháp cạo gió được dùng rộng rãi trong dân gian chưa được ngành Đông y chính thức công nhận và phương pháp chích lễ cũng còn nhiều bàn cãi.
== Tham khảo == |
opera.txt | Opera là một loại hình nghệ thuật biểu diễn, cũng là một dạng của kịch mà những hành động diễn xuất của nhân vật hầu hết được truyền đạt toàn bộ qua âm nhạc và giọng hát. Opera bắt đầu xuất hiện và biết đến nhiều vào tầm khoảng những năm 1600. Nhìn chung nó có sự liên kết với âm nhạc cổ điển của phương Tây.
Mặt khác, Opera đồng thời cũng sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ nhà hát như là: cảnh nền trang trí, y phục, và nghệ thuật biểu diễn trên sân khấu. Mặc dù thế, nhìn chung ta nhận thấy Opera cũng có điểm phân biệt với các thể loại nhạc kịch khác, đó chính là việc sử dụng sức mạnh của các nhạc điệu và sự hoà nhịp của kĩ thuật âm thanh điêu luyện. Người ca sĩ trình bày tác phẩm cùng với sự đệm nhạc của một dãy dàn nhạc được sắp xếp từ một nhóm các công cụ nhỏ cho đến cả một ban nhạc giao hưởng đầy đủ. Thêm vào đó, Opera cũng có thể được kết hợp với khiêu vũ và nhảy múa (đây là một loại hình nghệ thuật tiêu biểu của nước Pháp). Và cuối cùng, Opera được biểu diễn trong một nhà hát riêng biệt cùng với những trang bị thiết yếu cho việc biểu diễn, mà ta được biết đến dưới tên gọi là "Opera House" (Nhà hát Opera)
== Thuật ngữ học Opera ==
Nghĩa chính xác của từ Opera được hiểu là "lời nhạc kịch" (theo nghĩa văn học chuyên môn là "cuốn sách nhỏ"). Một vài nhà soạn nhạc, đặc biệt chúng ta kể đến ở đây là Richard Wagner, đã tự viết lời nhạc. Mặc dù thế vẫn có nhiều nhóm gồm các tác giả văn-ca-kịch cộng tác với nhau để viết nên tác phẩm, ví dụ như là Mozart cùng với Lorenzo da Ponte.
Nhạc Opera truyền thống gồm có 2 cách hát: hát nói (đây là 1 thể loại đặc trưng của Opera thông qua việc hát mà không cần giai điệu đệm) và bài hát phối khí giọng hát (khí sắc hoặc là một bài hát mang tính hình thức), trong đó cảm xúc của nhân vật sẽ được bày tỏ qua những tổ hợp giai điệu trầm bổng. Hát đôi, hát ba hoặc là sự hòa âm thường được biểu diễn, và những đoạn đồng thanh thường được sử dụng để bình luận về những diễn biến trên sân khấu.
Trong một vài hình thức khác của Opera, như là Singspiel, ópera comique, ca vũ kịch Opera và semi-opera, phần hát nói sẽ được thay thế hầu hết cho những đoạn văn trò chuyện. Giai điệu hoặc là một phần giai điệu sẽ được dạo lên vào khúc giữa hoặc là thay thế một phần nào đó trong khi hát nói, mà hầu hết đều là những giai điệu âm nhạc nắm vai trò chủ đạo.
Trong suốt thời kì phong trào nghệ thuật Ba-rốc (tầm khoảng cuối thế kỉ 16 ở châu Âu) và thời kì Cổ điển, hát nói thường được xuất hiện qua 2 loại hình cơ bản:
Secco (hát nói nhanh), thường được hợp tấu với lối hát bè chạy nối đuôi nhau, trong đó thường được biểu diễn vùng với đàn davico.
Accompagnato (có nghĩa là hát nói hợp tấu, cũng được hiểu như là "stromentato") mà trong đó cả ban nhạc sẽ cùng hợp tấu với nhau. Do đó, trong thể loại này có ít sự ứng khẩu qua lại và tính chất hùng biện hơn thể loại secco, nhưng lại thường có nhiều âm điệu hơn. Đây là loại hình thường xuyên được biểu diễn trong dàn nhạc để nhấn mạnh những phần diễn tiến đặc sắc của nhạc kịch. Vào thế kỉ 19, accompagnato đạt được những bước phát triển nhảy vọt, do đó ban nhạc ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn.
Richard Wagner đã đổi mới Opera bằng cách hủy bỏ hầu hết sự điểm khác biệt giữa bài hát phối khí dành riêng cho một giọng hát và hát nói. Trong quan điểm mới ấy, ông ấy đạt cho nó tên gọi "những giai điệu vô tận". Theo sau đó, những nhà soạn nhạc khác cũng đi theo tiền lệ của Wagner, tuy nhiên cũng có vài người, như là Stravinsky trong tác phẩm The Rake’s Progress đã khuyến khích và rất phấn khởi với xu hướng này.
== Về lịch sử ==
Từ Opera có nghĩa là "công việc" trong tiếng Ý (bắt nguồn từ số nhiều của tiếng Latinh: opus có nghĩa là "công việc" hoặc là "lao động") được đề xướng bời sự kết hợp giữa loại hình nghệ thuật trình diễn đơn ca và hát hợp xướng, sự ngâm thơ, nghệ thuật đóng và khiêu vũ trên những sân khấu có trang trí quang cảnh minh họa.
Jacopo Peri đã sáng tác tác phẩm Dafne. Dafne được xem như là 1 bài Opera sớm nhất trong lịch sử mà chúng ta biết đến về loại hình này cho đến tận ngày hôm nay. Tác phẩm được viết vào khoảng những năm 1597, phần lớn được sáng tác dưới cảm hứng của 1 nhóm những nhà nghiên cứu văn hóa cổ điển vùng Florentine (ở Ý), với những cảm xúc tinh túy nhất về văn học mà ta thường được biết đến dưới cái tên "Camerata". Quan trọng hơn hết, tác phẩm Dafne là sự cố gắng phục hồi lai thể loại kịch cổ điển của Hy Lạp, một phần nữa cũng là sự hồi sinh trở lại những đặc tính mang tính chất cổ xưa của thời kì Phục hưng. Những thành viên của Camerata đã cân nhắc, xem xét kỹ phần "điệp khúc" của thể loại kịch Hy Lạp. Với hi vọng nó có thể có một cách hát độc đáo hơn và thay thế cho vai trò của toàn bộ những đoạn văn nói trong tác phẩm. Vậy thì, ở đây Opera có thể được quan niệm là một cách thức "phục hồi" lại hoàn cảnh. Nhưng thật không may mắn, tác phẩm Dafne đã bị thất lạc.
Một công trình tiếp theo sau đó được viết bởi Peri, tác phẩm "Euridice", được xác định viết từ năm 1600, đó chính là bản hòa âm Opera đầu tiên mà vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay. Để thể hiện long tôn kính với tác phẩm Opera đầu tiên, người ta vẫn thường biểu diễn tác phẩm đó một cách đều đặn trong các buổi trình diễn. Mặc dù thế, sau đấy tiếp tục vẫn có sự đóng góp của tác phẩm Orfeo do Claudio Monteverdi sáng tác để phục vụ cho cung điện trong năm 1607.
== Tham khảo ==
Apel, Willi, ed. (1969). Harvard Dictionary of Music, Second Edition. Cambridge, Massachusetts: The Belknap Press of Harvard University Press. SBN 674375017.
Cooke, Mervyn (2005). The Cambridge Companion to Twentieth-Century Opera. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0-521-78009-8. See also Google Books partial preview. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2009.
Silke Leopold, "The Idea of National Opera, c. 1800", United and Diversity in European Culture c. 1800, ed. Tim Blanning và Hagen Schulze (New York: Oxford University Press, 2006), 19–34.
The New Grove Dictionary of Opera, edited by Stanley Sadie (1992), 5,448 pages, is the best, and by far the largest, general reference in the English language. ISBN 0-333-73432-7 and ISBN 1-56159-228-5
The Viking Opera Guide, edited by Amanda Holden (1994), 1,328 pages, ISBN 0-670-81292-7
The Oxford Illustrated History of Opera, ed. Roger Parker (1994)
The Oxford Dictionary of Opera, by John Warrack and Ewan West (1992), 782 pages, ISBN 0-19-869164-5
Opera, the Rough Guide, by Matthew Boyden et al. (1997), 672 pages, ISBN 1-85828-138-5
Opera: A Concise History, by Leslie Orrey and Rodney Milnes, World of Art, Thames & Hudson
DiGaetani, John Louis: An Invitation to the Opera, Anchor Books, 1986/91. ISBN 0-385-26339-2.
Dorschel, Andreas, 'The Paradox of Opera', The Cambridge Quarterly 30 (2001), no. 4, pp. 283–306. ISSN (printed): 0008-199X. ISSN (electronic): 1471-6836. Discusses the aesthetics of opera.
MacMurray, Jessica M. and Allison Brewster Franzetti: The Book of 101 Opera Librettos: Complete Original Language Texts with English Translations, Black Dog & Leventhal Publishers, 1996. ISBN 978-1-884822-79-7
Rous, Samuel Holland (1919). The Victrola Book of the Opera. Stories of The Operas with Illustrations.... Camden, New Jersey, U. S. A.: Victor Talking Machine Company. View at Internet Archive.
Simon, Henry W.: A Treasury of Grand Opera, Simon and Schuster, New York, 1946.
Howard Mayer Brown, "Opera", The New Grove Dictionary of Music and Musician. 2001. Oxford University Press
"Louis II", Encyclopædia Britannica. http://www.britannica.com/EBchecked/topic/348741/Louis-II
"Opera", Encyclopædia Britannica. http://www.britannica.com/EBchecked/topic/429776/opera
Grout, Donald Jay. A Short History of Opera. One-vol. ed. New York: Columbia University Press, 1947.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Operabase – Comprehensive opera performances database
StageAgent – synopses & character descriptions for most major operas
What's it about? – Opera plot summaries
OperaGlass, a resource at Stanford University
HistoricOpera – historic operatic images
"America’s Opera Boom" By Jonathan Leaf, The American (magazine), July/August 2007 Issue
Opera~Opera article archives
“A History of Opera”. Theatre and Performance. Victoria and Albert Museum. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2011. |
hamamatsu.txt | Hamamatsu (tiếng Nhật: 浜松市 Hamamatsu-shi, Vĩ Tùng thị) là một đô thị quốc gia của Nhật Bản ở tỉnh Shizuoka. Năm 2005, 11 thành phố và thị trấn liền kề sáp nhập thành phố Hamamatsu cũ để tạo thành thành phố Hamamatsu hiện nay. Sau khi sáp nhập, Hamamatsu có dân số lớn hơn cả thủ phủ Shizuoka, trở thành thành phố lớn nhất tỉnh Shizuoka. Ngày 1 tháng 4 năm 2007, thành phố được công nhân là đô thị quốc gia.
== Công nghiệp ==
=== Các công ty có trụ sở tại Hamamatsu ===
Hamamatsu Photonics KK
. Kawai Nhạc cụ Mfg
Roland Tổng công ty
Suzuki
ToKai Gakki (còn được gọi là Tokai Guitars Công ty TNHH)
Yamaha
=== Các công ty thành lập tại Hamamatsu ===
Honda
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của thành phố Hamamatsu |
tanzania.txt | Cộng hòa Thống nhất Tanzania (phiên âm Tiếng Việt: Tan-da-ni-a; tiếng Swahili: Jamhuri ya Muungano wa Tanzania) là một đất nước ở bờ biển phía đông châu Phi. Phía bắc giáp Kenya và Uganda, phía đông giáp Burundi và Cộng hòa Dân chủ Congo ở phía tây, và phía nam giáp Zambia, Malawi và Mozambique. Bờ biển phía đông là Ấn Độ dương.
== Lịch sử ==
Vào khoảng thế kỉ 1, người Bantu đã đến định cư ở vùng này. Từ thế kỉ 10, các thương gia Ấn Độ, Indonesia, Ba Tư và Ả Rập mang tơ lụa và vải bông châu Á đến vùng bờ biển và các đảo lân cận để đổi lấy vàng, ngà voi và nô lệ. Sau khi Vasco da Gama phát hiện ra xứ sở này năm 1498, người Bồ Đào Nha bắt đầu đến vùng bờ biển Tanzania và muốn giành quyền kiểm soát việc buôn bán đang thịnh đạt nơi đây. Suốt thế kỉ 16 người Ả Rập nhiều lần nổi dậy chống lại, buộc người Bồ Đào Nha phải rút khỏi Tanzania. Người Ả Rập giành quyền thống trị từ năm 1652. Đầu thế kỉ 19, vương quốc Hồi giáo Uman được thành lập tại đảo Zanzibar và các vùng lãnh thổ ven biển. Vào thời đó, người Ả Rập kiểm soát các đường mậu dịch vùng nội địa, dân cư ở đây trao đổi ngà voi và nô lệ để lấy vũ khí. Từ năm 1890, Anh đặt quyền bảo hộ tại đảo Zanzibar và các vùng ven biển trong khi Đức kiểm soát vùng cao nguyên và lập thuộc địa Đông Phi thuộc Đức. Năm 1920, vùng lãnh thổ này đặt dưới sự ủy trị của Anh với tên gọi Tanganyika.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào dân tộc phát triển dưới sự dẫn dắt của Julius Nyerere, nhà lãnh đạo Liên minh Dân tộc châu Phi Tanganyika. Năm 1961, trong khi vương quốc Hồi giáo Zanzibar vẫn còn thuộc quyền bảo hộ của Anh, Tanganyika tuyên bố độc lập. Năm 1964, Tanganyika hợp nhất với Zanzibar, hình thành nên Cộng hòa Thống nhất Tanganyika và Zanzibar, sau này đổi tên thành Cộng hòa Thống nhất Tanzania. Tanzania trở thành một thành viên của Khối Thịnh vượng chung Anh từ sau khi giành được độc lập năm 1961. Julius Nyerere trở thành nguyên thủ quốc gia. Năm 1965, Nyerere tiến hành quốc hữu hóa và thành lập các hợp tác xã nông nghiệp. Năm 1966, thủ đô của Tanzania được chính thức chuyển từ Dar es Salaam tới Dodoma, mặc dù nhiều cơ quan chính phủ vẫn còn đặt ở thủ đô cũ. Năm 1985, Ali Hassan Mwinyi được bầu làm Tổng thống. Mwinyi theo đuổi chính sách tự do hóa nền kinh tế.
Năm 1995, Benjamin Mikapa trở thành nhà lãnh đạo mới sau cuộc tuyển cử Tổng thống tự do lần đầu tiên. Mikapa tìm cách gia tăng hiệu quả kinh tế, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường và nạn phá rừng. Với hơn 1.000.000 người bị nhiễm HIV, việc quan tâm và phòng ngừa bệnh AIDS trở thành mục tiêu chính trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Trong chính sách đối ngoại, Tanzania đóng vai trò ngoại giao hàng đầu trong vùng Đông Phi, đứng ra tổ chức các cuộc đàm phán hòa bình cho các phe tham chiến của nước Burundi láng giềng. Năm 2000, Mikapa tái đắc cử Tổng thống.
Tháng 12 năm 2005, Tanzania vừa bầu cử Tổng thống. Ông Jakaya M. Kikwete trúng cử Tổng thống với hơn 80% phiếu bầu, đồng thời là Chủ tịch Đảng Cách mạng Tanzania (CCM-Đảng cầm quyền). Nội bộ Tanzania ổn định, nhưng vẫn tồn tại mâu thuẫn về quyền lực giữa các bộ tộc, phe phái cũng như giữa Tanganyika và Zanzibar. Zanzibar (dân số nửa triệu) có chính phủ, Tổng thống riêng. Tanganiyka cũng đang đòi có những cơ cấu tương tự.
Tanzania thực hiện chính sách không liên kết, sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước, chống đế quốc, thực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, ủng hộ các phong trào giải phóng dân tộc.
Tanzania là thành viên của Tổ chức Thống nhất châu Phi (OUA), của Liên Hiệp Quốc và Phong trào không liên kết. Tanzania có vai trò quan trọng trong việc duy trì đoàn kết châu Phi và tích cực góp phần thúc đẩy hợp tác Nam-Nam.
Tanzania có quan hệ tốt và nhận nhiều viện trợ của các nước phương Tây, nhất là Mỹ và Trung Quốc. Tanzania là thành viên của Cộng đồng Đông Phi (East African Community-EAC) và Cộng đồng Phát triển miền nam châu Phi (Southern Africa Development Community-SADC). Năm 2002, các nước EAC đã cố gắng để đi đến ký kết Nghị định thư về thành lập Liên minh thuế quan EAC vào tháng 11 năm 2003, tiếp tục các thủ tục để mở thị trường chứng khoán ở Dar es Salaam, Nairobi và Kampala. Các nước EAC cũng đang cố gắng hoàn tất dự thảo Chiến lược phát triển ngành nông nghiệp EAC với mục tiêu tăng cường hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp và an ninh lương thực và phân tích các cơ hội và thách thức trong việc phát triển vùng hồ Victoria thành một khu vực tăng trưởng kinh tế đặc biệt.
== Chính trị ==
Tanzania theo thể chế cộng hòa tổng thống.
Theo Hiến pháp 1965, quyền lực chính quyền được tập trung vào tay Tổng thống - được bầu trực tiếp cho nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống sẽ chỉ định 2 phó Tổng thống (một người là Tổng thống của Zanzibar (bán đảo tự trị) và người kia là Thủ tướng của Chính phủ hợp nhất. Quyền lập pháp được tập trung vào Quốc hội - có nhiệm kỳ năm năm và gồm có 295 ghế trong đó 232 ghế đại biểu được bầu trực tiếp cùng một số đại biểu được bầu gián tiếp.
Tuy nhiên, do tình hình thay đổi và dưới sức ép của các lực lượng chính trị, tháng 2 năm 1992, CCM (Đảng Cách mạng Tanzania) đã nhất trí tán thành hệ thống chính trị đa đảng và ngày 17 tháng 6 năm 1992 đã thông qua đạo luật cho phép các chính đảng đối lập hoạt động.
Nội bộ Tanzania ổn định, nhưng vẫn tồn tại mâu thuẫn về quyền lực giữa các bộ tộc, phe phái cũng như giữa Tanganyika và Zanzibar. Zanzibar là bán đảo tự trị (dân số nửa triệu) có chính phủ, Tổng thống riêng. Tanganiyka cũng đang đòi có những cơ cấu tương tự.
Tháng 12 năm 2005, Tanzania vừa bầu cử Tổng thống. Ông Jakaya M. Kikwete trúng cử Tổng thống với hơn 80% phiếu bầu, đồng thời là Chủ tịch Đảng Cách mạng Tanzania (CCM-Đảng Cầm quyền).
Quốc hội Tanzania gồm 274 thành viên, trong đó 232 thành viên được bầu trực tiếp theo phổ thông đầu phiếu, 37 thành viên được phân cho phụ nữ do Tổng thống đề cử, 5 thành viên là thành viên của Hạ nghị viện Zanzibar, các nghị sĩ Quốc hội có nhiệm kì 5 năm. Đảo Zanzibar có cơ quan lập pháp riêng: Hạ nghị viện Zanzibar gồm 50 thành viên, được bầu trực tiếp theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 5 năm.
Cơ quan tư pháp là Tòa Thượng thẩm; Tòa án cấp cao, các thẩm phán do Tổng thống bổ nhiệm.
Các đảng phái chính gồm có: Đảng Cách mạng Tazania (CCM); Mặt trận Thống nhất nhân dân (CUF); Hiệp hội quốc gia xây dựng và cải cách (NCCR); Liên minh Dân chủ đa đảng phái (UMD); Đảng Dân chủ thống nhất (UDP), v.v..
== Địa lý ==
Tanzania nằm ở Đông Phi, gồm một phần lục địa (Tanganyika cũ) và các đảo Zanzibar và Pemba. Bắc giáp Uganda (hồ Victoria làm thành một phần biên giới) và Kenya, Nam giáp Mozambique và Malawi, Đông giáp Ấn Độ Dương, Tây giáp Rwanda, Burundi và Cộng hòa Dân chủ Congo (một phần hồ Tanganyika tạo thành biên giới chung giữa hai nước).
Cao nguyên miền Trung ít màu mỡ có độ cao trung bình 1.200 m, các con sông bắt nguồn từ vùng cao nguyên này đổ vào các hồ Malawi, hồ Tanganyika thuộc vùng lũng hẹp dài Great Rift Valley ở phía Tây và hồ Victoria ở phía Bắc hoặc chảy băng qua vùng đồng bằng ven biển phía Đông. Các ngọn núi lửa Uhuru (tên cũ: Kilimanjaro) cao 5.895 m, Meru và Ngorongoro tập trung ở vùng phía Bắc. Bờ biển ít bằng phẳng và có nhiều đá ngầm. Các vùng rừng thưa và thảo nguyên ở đây có một hệ động vật hoang dã rất phong phú
Tanzania có phần đông-bắc là vùng núi, nơi có đỉnh Kilimanjaro, điểm cao nhất châu Phi. Phía nam và đông là hồ Victoria (hồ rộng nhất châu Phi) và hồ Tanganyika. Miền trung Tanzania gồm cao nguyên rộng lớn, với đồng bằng và vùng đất trồng trọt. Bờ biển phía đông nóng và ẩm ướt.
Tanzania có nhiều công viên sinh thái rộng và rất đẹp, trong đó nổi tiếng có công viên quốc gia Serengeti ở phía nam.
=== Khí hậu ===
Tanzania có khí hậu nhệt đới. Ở các vùng cao, nhiệt độ phân bố giữa 10 và 20 °C (50 và 68 °F) tương ứng theo mùa đông và hè. Phần còn lại của đất nước, nhiệt độ hiếm khi nào dưới 20 °C (68 °F). Khoảng thời gian nóng nhất rơi vào tháng 11 đến tháng 2 (25–31 °C / 77,0–87,8 °F trong khi khoảng thời gian lạnh nhất rơi vào giữa tháng 5 và tháng 8 (15–20 °C / 59–68 °F). Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20 °C (68,0 °F). Khi hậu lạnh hơn ở các vùng núi cao.
Tanzania có hai vùng mưa chính. Một vùng có một mùa mưa (tháng 12–tháng 4) và vùng còn lại có hai mùa mưa (tháng 10-tháng 12 và tháng 3–tháng 5). Vùng trước phân bố ở miền nam, tây nam, trung và những phần phía tây của đất nước, vùng còn lại ở phía bắc và vùng biển phía bắc.
Ở kiểu hai mùa mưa, tháng 3-tháng 5 được gọi là mùa mưa dài hay Masika, trong khi khoảng thời gian tháng 10-tháng 12 được gọi là mùa mưa ngắn hay Vuli. Đất nước nằm gần xích đạo nên khí hậu nóng và ẩm. Những cơn gió gây mưa đến sớm nhất ở vùng ven biển phía đông.
== Hành chính ==
Tanzania được chia thành 26 khu vực, 21 ở đất liền và 5 ở đảo Zanzibar và 99 huyện.
Có 114 hội đồng điều hành trong 99 huyện, 22 là đô thị và 92 là nông thôn. 22 đơn vị đô thị được phân loại là hội đồng thành phố (Dar es Salaam, Mwanza), Hội đồng thành phố trực thuộc Trung ương (Arusha, Dodoma, Iringa, Kilimanjaro, Mbeya, Morogoro, Shinyanga, Tabora, và Tanga) hoặc Hội đồng thành phố (mười một cộng đồng còn lại).
Hai mươi sáu khu vực hành chính của Tanzania:
Arusha · Dar es Salaam · Dodoma · Iringa · Kagera · Kigoma · Kilimanjaro · Lindi · Manyara · Mara · Mbeya · Morogoro · Mtwara · Mwanza · Pemba North · Pemba South · Pwani · Rukwa · Ruvuma · Shinyanga · Singida · Tabora · Tanga · Zanzibar North · Zanzibar Urban/West
== Kinh tế ==
Kinh tế Tanzania phụ thuộc vào nông nghiệp (chiếm một nửa GDP) chiếm 90% nhân lực. Nông nghiệp là nguồn cung cấp chủ yếu cho thu nhập quốc dân và chiếm 85% lượng hàng xuất khẩu, nhưng kỹ thuật canh tác lạc hậu, sản lượng thấp nên hàng năm phải nhập khẩu lương thực... Cơ giới hóa chỉ tập trung ở các nông trường, đồn điền, trang trại của tư bản ngoại quốc. Các công ty của Tanzania nhập gạo của Việt Nam đều đánh giá gạo của Việt Nam có chất lượng tốt, giá cả phải chăng.
Với khí hậu tốt và đa dạng, đất đai màu mỡ, mặc dù ngành du lịch và ngành mỏ trong những năm gần đây ngày càng trở nên quan trọng nhưng ngành nông nghiệp vẫn duy trì chỗ đứng trong nền kinh tế. Nó đóng góp đáng kể đối với tăng trưởng toàn diện, xuất khẩu, việc làm, và các ngành khác. Tỷ lệ tăng trưởng ngành nông nghiệp năm 2001 và 2002 đạt 5% và ước tính đạt 5,5%.
Sự tăng trưởng thấp của ngành nông nghiệp phần lớn do điều kiện khí hậu không thuận lợi tại một số khu vực của đất nước. Nông nghiệp chiếm 54% GDP, 70% ngoại hối và sử dụng 80% lực lượng lao động của quốc gia. Vì vậy, Chính phủ đề ra mục tiêu tỷ lệ tăng trưởng nông nghiệp duy trì ít nhất 10% do sự tác động của nó đến xóa đói giảm nghèo.
Do tư nhân hoá một số ngành, Chính phủ hiện nay đã rút khỏi ngành sản xuất, marketing và chế biến các sản phẩm nông nghiệp. Chính phủ cũng đã bỏ dần bao cấp và giảm đầu tư công cộng tới ngành này. Các khu vực tư nhân cần đầu tư vào khu vực nông nghiệp. Chính phủ cũng đã mở rộng và cải thiện cơ sở hạ tầng xã hội và kinh tế, tạo ra thể chế thích hợp và đưa ra khung luật hợp lý để khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vốn, công nghệ và trình độ quản lý vào ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, khu vực tư nhân (bảo gồm các doanh nghiệp nông nghiệp và các trang trại quy mô vừa và nhỏ) chưa cụ thể hoá những việc làm trên nên tạo thành khoảng trống trong ngành nông nghiệp khi Chính phủ rút khỏi.
Hoạt động cho vay đối với khu vực này còn rất nhỏ do khung pháp luật chưa cho phép các hộ nông dân sử dụng đất để thế chấp. Chỉ 5% hộ nông dân Tanzania có thể tiếp cận được khoản tín dụng từ các nguồn vay từ quan hệ bên ngoài.
Thu hoạch ruộng đất tập trung vào các những cây hoa màu như vải côttton, cà phê, chè, đường, sợi sidan, cacao, hạt điều, hạt giống dầu cải, thuốc lá, rau mùi, hoa cúc, gạo, ngô, sắn, chuối và lúa mì. Sản phẩm xuất khẩu truyền thống như cà phê, côtton, sợi sidan, hạt điều, hạt giống dầu cải, chè và thuốc lá. Chính phủ Tanzania gần đây đã nhấn mạnh việc thay thế và đa dạng hoá các sản phẩm xuất khẩu, chuyển từ những sản phẩm truyền thống sang phi truyền thống như nghề làm vườn, gia vị, các sản phẩm cá và các mặt hàng đã qua sản xuất.
Ngành lâm nghiệp phục vụ thương nghiệp cũng đang phát triển đặc biệt là các sản phẩm làm từ gỗ. Chính phủ Tanzania phối hợp với Ngân hàng Thế giới và Nhật xem xét việc phát triển các trang trại với quy mô lớn thông qua chương trình được gọi là "Dự án Phát triển nông nghiệp và tái thiết lại sự màu mỡ cho đất" (SOFRAIP). Mục đích của chương trình này là để xây dựng môi trường thuận lợi để đầu tư và tạo điều kiện sẵn có các sản phẩm đầu vào.
Hà Lan thông qua các chương trình PSOM tài trợ cho các dự án nông nghiệp (trồng trọt, nuôi cá, chế biến pplâm nghiệp [[và các loại tương tự.). Hiện nay, Chính phủ Tanzania đang thực hiện Chiến lược Phát triển khu vực kinh tế tư nhân quốc gia thực hiện tới năm 2003, chiến lược này tạo ra khuôn khổ đầu tư tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp.
Nông sản xuất khẩu chủ yếu của Tanzania là sisal (là một loại cây nhiệt đới, lá cây dùng để bện dây thừng và lợp nhà) với sản lượng xuất khẩu đứng đầu thế giới. Ngoài ra còn có cà phê Arabica, bông, đinh hương, cùi dừa, điều, thuốc lá, mía... Rừng cũng là một nguồn lợi lớn của Tanzania với sản lượng khai thác hàng năm hơn 30 triệu m3 gỗ. Về khoáng sản, Tanzania có kim cương, vàng, thiếc, magne, niken, than đá. Tanzania chủ trương phát triển công nghiệp nhẹ, trước hết là công nghiệp địa phương, nhằm sử dụng nguyên liệu tại chỗ, nhưng trên thực tế Tanzania phụ thuộc nhiều vào Hoa Kỳ và các nước công nghiệp phát triển khác về phương tiện máy móc, kỹ thuật. Những năm gần đây Tanzania gặp nhiều khó khăn về kinh tế do nạn hạn hán ở khu vực gây ra.
Công nghiệp chiếm 22,6% GDP (năm 2009). Tanzania chủ trương phát triển công nghiệp nhẹ, trước hết là công nghiệp địa phương nhằm sử dụng nguyên liệu tại chỗ nhưng lại phụ thuộc nhiều vào các nước công nghiệp về máy móc, kỹ thuật. Mặc dù chương trình tư nhân hoá đã đem lại những nguồn đầu tư đối với ngành này, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm vẫn thấp, mặc dù không phải chịu thuế, chi phí bán ra cao, hàng hoá đầu vào nhập khẩu rẻ.
Những yếu tố tác động đến các sản phẩm đã qua sản xuất như thép cuốn, pin khô, đồ trang sức, bia rượu, lưới đánh cá và dây cáp sợi sidan. Ngành công nghiệp Tanzania cũng chịu sự cung cấp điện không thể tin nổi. Những chi phí thanh toán tiêu thụ điện làm tăng chi phí kinh doanh. Các vấn đề thanh lý, quản lý yếu kém, thiếu phụ kiện, vốn nhập khẩu nguyên vật liệu thô và cạnh tranh với các mặt hàng nhập khẩu đã gây thiệt hại cho ngành này. Tăng trưởng vẫn thấp cho dù đã giảm sản xuất ở một số ngành công nghiệp; lừa đảo và bán hạ giá cũng làm suy yếu sự cạnh tranh trong ngành này. Sản phẩm công nghiệp gồm: đường, bia, thuốc lá, sợi sisal, vàng và kim cương, giầy dép, xi măng, dệt may… Về khoáng sản, Tanzania có kim cương, đá quý, thiếc, phốt phát, quặng sắt, niken…
Dịch vụ chiếm 50,9% GDP (năm 2009), trong đó du lịch là một trong những ngành thu ngoại tệ lớn nhất và tăng trưởng nhanh. Du lịch là một trong những ngành đem lại nguồn ngoại hối lớn nhất cho Tanzania. Nhiều cơ hội phát triển ngành du lịch như tắm biển, leo núi, ngắm cảnh, săn bắn và săn ảnh. Tiềm năng du lịch của nước này rất lớn và được tận dụng hiệu quả so với các nước như Kenya, Zimbabwe và Nam Phi. Năm 2000, có 501,669 khách du lịch đến thăm đất nước này. Hiện nay, du lịch đem lại nguồn ngoại hối lớn nhất cho Tanzania. Vào năm 2000, ngành này đem lại 739,1 triệu ngoại hối và mở ra nhiều cơ hội việc làm cho 156,050 người. Bộ Du lịch và Tài nguyên do Chính phủ đảm trách với sự hỗ trợ của Văn phòng bảo lãnh đầu tư đa phương (MIGA) thuộc Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Nam Phi bảo trợ cho việc phát triển đầu tư du lịch. Kế hoạch tổng thể về du lịch mang tính hội nhập được cập nhật. Trong đó tập trung vào việc phát triển cơ sở hạ tầng yếu kém.
Từ năm 1997, đầu tư du lịch của Tanzania tăng đáng kể. Trong khi đó, hầu hết các đầu tư tập trung vào khu vực phía bắc của đất nước mà khu vực được biết đến là địa phận phía bắc Safari (miệng núi lửa Ngorongoro, các đồng bằng Serengeti, hồ Manyara), Chính phủ đang cố gắng tạo mọi điều kiện mở cửa cho các nhà đầu tư quy mô lớn và nhỏ đầu tư vào địa phận phía Nam (khu vui chơi Selous, các công viên quốc gia Mikumi và Ruaha)-nơi địa hình nghèo nàn và các điều kiện dịch vụ còn kém và cần phải có sự hỗ trợ vốn từ bên ngoài để đưa nơi này đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Các vùng khác cũng đem lại những cơ hội đầu tư rất tốt như các khu nghỉ mát bãi biển, khu hoang dã, những di tích lịch sử, các công viên vui chơi giải trí, câu cá, săn bắn và du ngoạn trên biển, hồ. Một trong những biện pháp khuyến khích đầu tư cho du lịch là việc được hoãn trả thuế VAT và chỉ phải trả 5% trên tư liệu sản xuất.
Về ngoại thương, kim ngạch xuất khẩu năm 2009 đạt 2,98 tỷ USD, Các mặt hàng xuất khẩu gồm cà phê, bông, sisal, hạt điều, khoáng sản, thuốc lá. Các bạn hàng xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc, Ấn Độ, Hà Lan, Đức,....
Năm 2009, Tanzania nhập khẩu 5,78 tỷ USD. Các mặt hàng nhập khẩu gồm sản phẩm chế tạo (máy móc, hàng tiêu dùng, phương tiện), hóa chất, dược phẩm, nguyên liệu công nghiệp, dầu thô... Bạn hàng nhập khẩu chủ yếu là Nam Phi, Trung Quốc, Ấn Độ, UAE...
Về đầu tư nước ngoài, nhờ có các hoạt động cải cách kinh tế và những cải thiện trong môi trường đầu tư, điều kiện chính trị xã hội ổn định, hoạt động đầu tư nước ngoài không ngừng gia tăng. Những năm gần đây Tanzania được IMF, WB và các nước tài trợ giúp về tài chính để cải thiện cơ sở hạ tầng. Các cuộc cải cách trong hệ thống ngân hàng gần đây giúp Tazania thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng trong lĩnh vực tư nhân. Với sự giúp đỡ của các nhà tài trợ và các chính sách kinh tế vĩ mô chắc chắn, nền kinh tế Tanzania có những bước tiến đáng kể.
Với kế hoạch "Tầm nhìn 2025" nhằm cải thiện mức sống người dân, kiện toàn hệ thống luật pháp, tăng tính hiệu quả của bộ máy lãnh đạo tạo ra một nền kinh tế mạnh mẽ đầy tính cạnh tranh để hướng ra xuất khẩu, giảm sự phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài. Thực hiện tầm nhìn 2025, Tanzania sẽ triển khai một số dự án lớn như xây dựng cầu nối từ Tanzania đến Mozambique, mở rộng quy mô cảng cửa ngõ Dar Es Salaam, xây dựng mạng lưới điện nối từ Zambia tới Kenya, hành lang phát triển kinh tế Mtwara…
== Nhân khẩu học ==
Phần lục địa gồm có người bản xứ 99% (95% là dân tộc da đen thuộc sắc tộc Bantu gồm hơn 130 bộ lạc), dân tộc khác 1% (gồm người châu Á, Châu Âu, người Ả Rập); Vùng đảo Zanzibar -gồm có người Ả Rập và người bản xứ. Vào năm 2006, dân số ước đoán của Tanzania là 38.329.000, với tỉ lệ gia tăng dân số là 2 phần trăm. Dân số phân bố rất không đồng đều, với mật độ dân số từ 1 người tith density varrên một kilomet vuông ở những vùng khô hạn cho đến 51 người trên một kilomet vuông ở những vùng nhiều nước đến 134 người trên một kilomet vuông ở Zanzibar. Hơn 80 phần trăm dân số sống ở nông thôn. Dar es Salaam là thành phố lớn nhất và cũng là trung tâm kinh tế.
=== Tôn giáo ===
Mặc dù chính phủ Tanzania không thu thập dữ liệu nhận dạng tôn giáo trong điều tra dân số, nhưng Bộ Ngoại giao Mỹ đã báo cáo rằng 62% dân số của Tanzania là Kitô giáo, 35% là người Hồi giáo, và 3% là thành viên của các nhóm tôn giáo khác. Ngày 18 tháng 12 năm 2012, trong một báo cáo về tôn giáo của Trung tâm nghiên cứu Pew cho biết trong năm 2010, 61,4% dân số Tanzania là Kitô giáo, 35,2% là người Hồi giáo, và 1,8% là tín đồ của tôn giáo bản địa.
Kitô giáo ở Tanzania bao gồm nhiều giáo phái khác nhau như Công giáo Rôma, Giáo hội Luther, Anh giáo, Phong trào Ngũ Tuần, Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm, Mặc Môn, và các thành viên Nhân chứng Jehovah.
Người Hồi giáo chiếm hơn 28% dân số của khu vực đất liền (Tanganyika) và chiếm đến hơn 99% dân số trên đảo Zanzibar. Phần lớn là người Hồi giáo Sunni,một số ít là Hồi giáo Shia dòng giáo phái Ahmadi thiểu số.
Ấn Độ giáo là một tôn giáo thiểu số ở Tanzania, với khoảng 30.000 tín đồ (1996). Hầu hết họ là con cháu của người Ấn Độ (Gujarat) di cư đến. Có một số ngôi đền Ấn Độ trong Dar es Salaam, hầu hết trong số đó nằm tại trung tâm thành phố.
Đức tin Bahá'í ở Tanzania bắt đầu khi người tiên phong đầu tiên là Claire Gung mang đến đây năm 1950. Hội đồng tin thần tôn giáo Bahá'í địa phương đầu tiên được bầu vào năm 1952 ở Dar es Salaam. Đến năm 1964, Hội đồng tin thần tôn giáo Bahá'í quốc gia Tanzania được thành lập. Từ năm 1986 các tín đồ Baha'is đã thành lập trường Trung học Ruaha như là một trường học Bahá'í. Năm 2005, các tín đồ Baha'is ở Tanzania được ước tính khoảng 163.800 người.
=== Giáo dục ===
Chương trình tiểu học được giảng dạy bằng tiếng Swahili, tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai. Chương trình trung học dạy bằng tiếng Anh. Trẻ em trai được học nhiều hơn trẻ em gái. Tanzania có một trường Đại học Sư phạm. Ngoài ra còn có Trường Đại học Nông nghiệp Sokoine ở Morogoro và một vài trường khác.
Tỷ lệ biết chữ ở Tanzania được ước tính là 73%. Giáo dục là bắt buộc trong bảy năm, cho đến 15 tuổi, nhưng hầu hết trẻ em không đi học, và một số không tham dự bất kỳ cấp bậc giáo nào. Trong năm 2000, có 57% trẻ em từ 5-14 tuổi được đi học. Đến năm 2006, 87,2% trẻ em bắt đầu đi học tiểu học và có khả năng học đến hết lớp 5.
=== Y tế ===
Y tế: Chăm sóc sức khỏe theo các tiêu chuẩn tương đối cao chỉ có ở các thành phố lớn. Ở khu vực nông thôn cũng có các bệnh viện đa khoa, nhưng thường thiếu nhân viên y tế và trang thiết bị cần thiết để phục vụ việc chữa bệnh.
== Văn hóa ==
Người Tanzania nhìn chung rất lịch thiệp, thân thiện và sẵn sàng giúp đỡ người khác. Tính kiên nhẫn, cá tính và linh hoạt là các yếu tố cần thiết cho sự thành công của mọi người.
Để hiểu hơn về văn hoá Tanzania nói chung và văn hoá kinh doanh nói riêng, cần phải phá bỏ rào cản về ngôn ngữ, nghĩa là nên học một chút tiếng Swahili. Học tiếng Swahili sẽ giải phóng khỏi việc lệ thuộc vào người phiên dịch văn hoá, đồng thời sẽ mở rộng mối quan hệ với người bản địa.
Bước đầu tiên để tạo các mối quan hệ tốt tại Tanzania là bạn phải đạt được sự tin tưởng từ những người xung quanh, trước hết là với các đồng nghiệp và hàng xóm của bạn. Nên dành thời gian tham gia vào một số sự kiện như đám cưới, lễ kỉ niệm…
Đối với người phiên dịch, không nên để họ biết chính xác ta đang muốn gì hoặc điều gì khiến ta đang quan tâm. Bởi vì thông thường những người này thường nói được ít nhất 3 ngôn ngữ (tiếng Anh, tiếng Swahili và một ngôn ngữ địa phương khác), nếu ta cho họ thấy điều quan tâm chính của ta thì có thể họ sẽ chi phối bạn theo các ý kiến của họ.
Người Tanzania không thích bị nhầm lẫn với những người từ Mỹ hay Kenya.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website Quốc gia của Cộng hòa Thống nhất Tanzania (tiếng Anh, tiếng Swahili)
Trang chính của Nghị viện Tanzania (tiếng Anh)
Tanzania.eu
Chính phủ
Chief of State and Cabinet Members
National government website
Tổng quan
Mục “Tanzania” trên trang của CIA World Factbook.
Tanzania from UCB Libraries GovPubs
The Citizen from The Citizen - Tanzania most preferred independent English Newspaper
Mwananchi from Mwananchi - Tanzania's most circulated daily Newspaper (Swahili)
Mwanaspoti from Mwanaspoti - Tanzania most circulated biweekly sports and entertainment Newspaper
Tanzania tại DMOZ
Wikimedia Atlas của Tanzania, có một số bản đồ liên quan đến Tanzania.
Văn hóa
www.afrum.com - art from Tanzania
Tinga Tinga paintings
Tinga Tinga Cooperative
Du lịch
Tanzania National Parks
Tanzania.eu |
messiah.txt | Messiah (tiếng Hebrew: מָשִׁיחַ, Tiêu chuẩn Mashiaẖ Tiberian Māšîăḥ, tiếng Việt: Mê-si-a, dịch nghĩa là "người được xức dầu") được xem là một vị cứu tinh đến giải phóng một nhóm người, phổ biến nhất trong các tôn giáo Abraham. Trong Kinh Thánh Hebrew, một messiah có thể là một vị vua hoặc Thượng tế được xức dầu theo cách truyền thống với dầu thánh. Tuy nhiên, các messiah không phải chỉ là người Do Thái, như Kinh Thánh Hebrew đã đề cập đến Cyrus Đại đế, vua Ba Tư, là một messiah vì ông đã ra sắc lệnh cho xây dựng lại Đền thờ Giêrusalem. Messiah của người Do Thái là một nhà lãnh đạo được Thiên Chúa xức dầu, phải là hậu duệ của dòng dõi vua David, là người sẽ cai trị các chi tộc thống nhất của dân Israel và báo trước Thời đại của Đấng cứu độ sẽ đem lại hòa bình trên toàn cầu.
Kinh Thánh Bản Bảy Mươi (Septuaginta) dịch từ Hebrew này sang tiếng Hy Lạp là Χριστός (Khristós), phiên âm tiếng Việt: Ki-tô hay Cơ-đốc, mà trong Kitô giáo đã trở thành tên gọi và danh hiệu cho Giê-su. Các Kitô hữu tin rằng các lời tiên tri trong Kinh Thánh Hebrew (đặc biệt là sách Isaiah) đề cập tới một vị cứu độ tinh thần mà Giê-su chính là vị Messiah đó.
== Tham khảo ==
== Chú thích ==
Kaplan, Aryeh. From Messiah to Christ, 2004. New York: Orthodox Union.
== Liên kết ngoài ==
Messiah in the 1911 Encyclopædia Britannica
The Catholic Encyclopedia: Messiah |
mạc phủ tokugawa.txt | Mạc phủ Tokugawa (Tiếng Nhật: 徳川幕府, Tokugawa bakufu; Hán Việt: Đức Xuyên Mạc phủ), hay còn gọi là Mạc phủ Edo (江戸幕府, Giang Hộ Mạc phủ), là chính quyền Mạc phủ ở Nhật Bản do Tokugawa Ieyasu thành lập và trị vì trong thời kỳ từ năm 1603 cho đến năm 1868 bởi các Chinh di Đại tướng quân nhà Tokugawa. Thời kỳ này còn gọi là Thời kỳ Edo (江戸時代; Giang Hộ thời đại), lấy từ tên nơi đóng bản doanh của mạc phủ là Thành Edo, nay là Hoàng cung.
Sau thời kỳ Sengoku, chính quyền trung ương đã được tái lập phần lớn là nhờ công của Oda Nobunaga và Toyotomi Hideyoshi trong thời kỳ Azuchi-Momoyama. Sau trận Sekigahara năm 1600, chính quyền trung ương rơi vào tay Tokugawa Ieyasu, ông đã hoàn thành được đại nghiệp và được ban tước hiệu "Chinh di Đại tướng quân" vào năm 1603. Để trở thành Tướng quân, theo truyền thống phải là hậu duệ của gia tộc Minamoto.
Thời kỳ Tokugawa, không giống các Mạc phủ trước đó, được cho là lấy nền tảng từ hệ thống đẳng cấp cha truyền con nối nghiêm ngặt ban đầu do Toyotomi Hideyoshi thiết lập. Tầng lớp chiến binh samurai (sĩ) là tầng lớp cao quý nhất, tiếp theo là nông dân (nông), thợ thủ công (công) và thương nhân (thương). Bản chất cứng nhắc của hệ thống đẳng cấp đã tạo ra trở lực đáng kể cho thời kỳ này. Thuế đối với nông dân luôn được giữ ở một mức cố định mà không tính tới lạm phát hay việc thay đổi tỷ giá tiền tệ. Kết quả là, tổng số thuế mà các samurai chúa đất thu được ngày càng giảm sút. Điều này cũng dẫn đến sự hàng loạt cuộc đối đầu giữa quý tộc và các samurai nghèo đói với những người nông dân giàu có, từ các cuộc va chạm lẻ tẻ ở địa phương đến những cuộc nổi loạn lớn. Tuy vậy, không có cuộc nổi dậy nào đủ mạnh để có thể thách thức thể chế đã được thiết lập, cho đến khi ngoại binh xuất hiện.
Cho đến cuối thế kỷ 19, liên minh giữa vài lãnh chúa đại danh hùng mạnh với vị Thiên hoàng trên danh nghĩa cuối cùng đã lật đổ được Mạc phủ sau chiến tranh Mậu Thìn, với đỉnh cao là cuộc Minh Trị Duy Tân. Mạc phủ Tokugawa chính thức chấm dứt năm 1868, với sự thoái vị của Tướng quân thứ 15 của nhà Tokugawa, Tokugawa Yoshinobu và "sự khôi phục" của Hoàng quyền (Ōsei fukko).
Xem Mạc mạt để biết thêm chi tiết.
== Chính quyền ==
=== Mạc phủ và các Han (phiên) ===
Mạc phiên thể chế (幕藩体制) là hệ thống chính trị phong kiến vào thời kỳ Edo ở Nhật Bản. "Baku", hay "cái màn", là cách viết tắt của "bakufu", nghĩa là "chính quyền quân sự" ("Mạc phủ’’). Han ("phiên") là các lãnh địa do đại danh đứng đầu.
Các chư hầu nắm giữ đất đai được thừa kế và cung cấp quân đội cho vị chúa tể của mình. Mạc phiên thể chế chia quyền lực phong kiến giữa Mạc phủ ở Edo và các lãnh địa ở tỉnh trong toàn cõi Nhật Bản. Các tỉnh có một mức độ tự trị nhất định và được cho phép tự quản các phiên để đối lấy lòng trung thành với Chinh di Đại tướng quân, người chịu trách nhiệm quan hệ đối ngoại và an ninh quốc gia. Tướng quân và các lãnh chúa đều là đại danh: lãnh chúa phong kiến với chính quyền, chính sách và lãnh thổ riêng. Chinh di Đại tướng quân cũng là đại danh nắm quyền lực lớn nhất, cha truyền con nối thái ấp của nhà Tokugawa. Mỗi cấp chính quyền thực hiện một hệ thống thuế khóa riêng.
Mạc phủ có quyền thủ tiêu, sáp nhập và chuyển đổi các lãnh địa. Hệ thống luân phiên trình diện (sankin-kotai) yêu cầu mối đại danh phải sống ở cả các phiên của mình lẫn hiện diện ở Edo. Khi họ không ở Edo thì họ phải để lại gia đình mình làm con tin cho đến khi trở về. Tác dụng tuyệt vời của luân phiên trình diện giúp tập trung quyền lực trung ương và đảm bảo lòng trung thành với Tướng quân vì mỗi đại diện ở Edo đều vừa là con tin của Mạc phủ.
Các hậu duệ của nhà Tokugawa còn muốn đảm bảo lòng trung thành hơn nữa bằng cách nhấn mạnh vào một lòng trung thành giáo điều với Chinh di Đại tướng quân. Các đại danh Fudai là các daimyo là chư hầu của Ieyasu và con cháu của họ. Tozama, hay "người ngoài", trở thành chư hầu của Ieyasu sau trận Sekigahara. Shimpan, hay "họ hàng", là những người có quan hệ bà con với Tokugawa Hidetada. Vào đầu thời Edo, Mạc phủ xem Tozama là những người kém trung thành với mình; qua thời gian, những cuộc hôn nhân chính trị và việc hệ thống chính quyền ngày càng được củng cố ít nổi loạn hơn. Cuối cùng, các Tozama lớn của phiên Satsuma, Chōshū, Tosa và ở một mức độ ít hơn là cả Hizen nữa đã lật đổ Mạc phủ Bốn phiên này được gọi là Bốn gia tộc phía Tây hay ngắn gọn là Satchotohi.
Số lượng các han (khoảng 250) luôn dao động trong suốt thời Edo. Chúng được xếp hạng theo kích cỡ, được đo bằng số lượng koko mà mỗi phiên sản xuất ra mỗi năm. Một koku là số lượng gạo có thể nuôi sống được một người đàn ông trưởng thành trong một năm. Số lượng nhỏ nhất cho một đại danh là 10.000 koku; lớn nhất, trừ Tướng quân, là một triệu.
=== Tướng quân và Thiên hoàng ===
Bất chấp việc thiết lập Mạc phủ, Thiên hoàng ở kinh đô Kyoto vẫn là người thống trị trên danh nghĩa ở Nhật Bản. Thể chế (体制, taisei) Nhật Bản được triều đình Kyoto giao cho gia tộc Tokugawa, cho đến khi họ giành lại quyền lực trong cuộc Minh Trị Duy Tân.
Mạc phủ bổ nhiệm một người đại diện của mình gọi là Kyoto Shoshidai (Kinh Đô Sở Tư Đại), để giải quyết công việc với Thiên hoàng, triều đình và các quý tộc ở Kyoto.
=== Tướng quân và ngoại thương ===
Ngoại vụ và ngoại thương do Mạc phủ độc quyền, mang lại một nguồn lợi to lớn. Ngoại thương cũng được các phiên bang Satsuma và Đối Mã Phủ Trung cho phép.
Chuyến viếng thăm của các con tàu Nanban từ Bồ Đào Nha ban đầu là cầu nối ngoại thương duy nhất, tiếp theo đó là người Hà Lan, Anh, và đôi khi là cả các con tàu Tây Ban Nha.
Từ năm 1600 trở đi, Nhật Bản bắt đầu tham gia một cách chủ động vào ngoại thương. Năm 1615, một đoàn sứ thần và thương nhân do Hasekura Tsunenaga dong buồm ra Thái Bình Dương đến Nueva Espana (Tân Tây Ban Nha, sau này bị Mĩ chiếm do thua trận) con thuyền buồm lớn của người Nhật San Juan Bautista. Cho đến năm 1635, Tướng quân đã cấp rất nhiều giấy phép cho các "Chu ấn thuyền" với sứ mệnh giao thương với châu Á.
Năm 1635 với sự ra đời của Luật bế quan tỏa cảng (Tỏa Quốc), chỉ các chuyến tàu hồi hương mới được phép cập bờ, từ Trung Quốc, Triều Tiên và Hà Lan. Tuy Nhật Bản giới hạn nghiêm ngặt việc giao thương với người nước ngoài, điều này không có nghĩa là ngoại thương hoàn toàn chấm dứt. Người Nhật vẫn buôn bán với nhà Triều Tiên thông qua đảo Đối Mã, nhà Thanh qua Nam Tây Chư Đảo và Hà Lan qua thương điếm Dejima (Xích Đảo), một hòn đảo nhân tạo nằm ngoài khơi cảng Nagasaki. Nhờ sự tiếp xúc với người Hà Lan, các nghiên cứu khoa học của phương Tây vẫn tiếp tục được tiếp thu trong thời kỳ này với cái tên "Lan học" (rangaku), cho phép người Nhật học hỏi và làm theo phần lớn các bước của Cách mạng khoa học và Cách mạng công nghiệp..
== Thể chế Mạc phủ ==
=== Rōjū và wakadoshiyori ===
Rōjū (老中 Hiếu trung) là những thành viên cao cấp của Mạc phủ. Họ giám sát các ōmetsuke, machibugyō, ongokubugyō và các quan lại khá, quản lý quan hệ với Triều đình Kyoto, kuge (thành viên quý tộc), đại danh, chùa chiền và đền thờ Thần đạo. Bình thường, có từ 4 đến 5 người ở trong cơ quan này, và mỗi người đảm nhiệm chức vụ này trong một tháng dựa trên cơ chế luân phiên. Họ bàn bạc các vấn đề đặc biệt quan trọng. Trong cuộc cải cách quan lại năm 1867, cơ quan này bị dỡ bỏ và thay vào đó là hệ thống các cơ quan với các bộ nội vụ, tài chính, ngoại giao, quân sự và hải quân.
Trên nguyên tắc, yêu cầu để được bổ nhiệm vào rōjū gồm phải là daimyo fudai và phải sở hữu một thái ấp 50.000 koku trở lên. Tuy vậy, có một số ngoại lệ với tất cả các tiêu chuẩn. Nhiều người được đề bạt vào chức vụ này là người thân tín của Chinh di Đại tướng quân, ví dụ như soba yōnin, Kyoto shoshidai, và Osaka jōdai.
Đôi khi, các Tướng quân bổ nhiệm một rōjū làm đại lão (tairō). Vị trí này chỉ do thành viên của các gia tộc Ii, Sakai, Doi, và Hotta nắm giữ, nhưng Yanagisawa Yoshiyasu cũng từng được phong chức đại lão. Trong số họ, người nổi tiếng nhất Ii Naosuke, ông bị ám sát năm 1860 ở ngoài cửa Sakurada ở thành Edo.
Wakadoshiyori là vị trí thấp hơn của rōjū. Ban đầu cơ quan này có 6 người rokuninshū (1633–1649), cơ quan này được đặt tên và được tổ chức hoàn thiện năm 1662, với 4 thành viên. Trách nhiệm quan trọng của họ là quản lý mối quan hệ với các hatamoto và gokenin, các chư hầu trực tiếp của Tướng quân.
Vài Tướng quân bổ nhiệm các vị trí soba yōnin. Người này giữ vai trò liên lạc giữa Tướng quân và rōjū. Soba yōnin trở nên quan trọng hơn dưới thời Tướng quân thứ 5 là Tokugawa Tsunayoshi, khi một wakadoshiyori, Inaba Masayasu, ám sát đại lão Hotta Masatoshi. Lo sợ cho sự an nguy của mình, Tsunayoshi chuyển các rōjū đến một khu vực xa hơn của lâu đài. Một số soba yōnin nổi tiếng là Yanagisawa Yoshiyasu và Tanuma Okitsugu.
=== Ōmetsuke và metsuke ===
Ōmetsuke và metsuke là các quan lại báo cáo công việc của mình với rōjū và wakadoshiyori. Năm ōmetsuke chịu trách nhiệm giám sát các sự vụ của các daimyo, kuge và triều đình. Họ cũng lãnh trách nhiệm khám phá bất kỳ nguy cơ nổi loạn nào.
Đầu thời Edo, những đại danh như Yagyū Munefuyu đứng đầu cơ quan này. Tuy vậy, sau đó, nó rơi vào tay các hatamoto với thứ bậc từ 5.000 koku trở lên. Để cho họ thêm quyền lực trong công việc với các daimyo, họ được xếp vào hạng 10.000 koku và được ban tước hiệu "kami" (một tước hiệu cổ, đặc biệt là để chỉ tỉnh trưởng các tỉnh như Bizen-no-kami.
Thời gian trôi qua, chức năng của ōmetsuke thay đổi thành người truyền lệnh của Mạc phủ đến các đại danh, và thực thi các nghi lễ trong lâu đài Edo. Họ cũng nhận thêm các trách nhiệm nữa như giám sát các sự vụ tôn giáo và kiểm soát súng ống.
Metsuke, dưới quyền wakadoshiyori, giám sát các sự vụ với chư hầu của Chinh di Đại tướng quân. Họ là lực lượng cảnh bị khoảng 10.000 người của hatamoto và gokenin tập trung ở Edo. Các phiên riêng rẽ đều có metsku của riêng mình, họ cũng làm nhiệm vụ bảo an tương tự cho các samurai.
=== San-bugyō ===
San-bugyō ("Tam Phụng Hành") là jisha, kanjō, and machi-bugyō, giám sát chùa và đền, và đôi khi là cả các thành phố. Jisha bugyō là vị trí cao nhất. Họ giám sát việc quản lý các chùa chiền đạo Phật (ji) và các đền thờ Thần đạo (sha), rất nhiều trong số họ nắm giữ các thái ấp. Họ cũng giải quyết các vụ kiện tụng của vài chúa đất ở ngoài tám tỉnh vùng Kantō. Đa phần những người được bổ nhiệm vốn là các đại danh nhưng Ōoka Tadasuke là một ngoại lệ, mặc dù sau này ông cũng trở thành đại danh.
Kanjō bugyō là vị trí tiếp theo. Bốn người ở cơ quan này nằm dưới quyền của rōjū. Họ chịu trách nhiệm các vấn đề tài chính của Mạc phủ.
Machi bugyō là người đứng đầu Edo và các thành phố khác. Vai trò của họ bao gồm thị trưởng, chỉ huy trưởng cảnh sát (và, sau đó, là đội cứu hỏa), và quan tòa cho các vụ án dân sự và hình sự không liên quan đến samurai. Hai người (đôi khi là ba), thường là hatamoto, nắm giữ chức vụ này, và được thay thế hàng tháng.
Ba machi bugyō của Edo đã trở nên nổi tiếng qua jidaigeki (phim truyền hình): Ōoka Tadasuke và Tōyama Kinshirō với vai anh hùng, và Torii Yōzō với vai kẻ xấu.
San-bugyō cùng nằm trong một hội đồng gọi là hyōjōsho. Với tư cách này, họ chịu trách nhiệm trông nom các tenryō, giám sát các gundai, daikan và kura bugyō, cũng như xét xử các vụ việc liên quan đến samurai.
=== Tenryō, gundai và daikan ===
Chinh di Đại tướng quân trực tiếp nắm giữ đất đai ở rất nhiều vùng của Nhật Bản. Họ được gọi là bakufu chokkatsuchi; kể từ thời Minh Trị, nó đồng nghĩa với cụm từ tenryō. Ngoài các vùng đất mà Ieyasu đã nắm giữ từ trước trận Sekigahara, nó còn bao gồm đất đai mà ông chiếm được trong trận đánh và đất đại có được sau hai cuộc vây hãm thành Osaka mùa hè và mùa đông. Cho đến cuối thế kỷ 17, số đất đai trong tay Tướng quân đã lên đến 4 triệu koku. Các thành phố lớn như Nagasaki và Osaka, và các mỏ, bao gồm mỏ vàng Sado, cũng nằm trong số này.
Thay vì bổ nhiệm các đại danh đứng đầu số đất đai này, Mạc phủ đặt ra những người quản nhiệm. Vị trí quản nhiệm này bao gồm gundai, daikan, và ongoku bugyō. Loại cuối cùng bao gồm Osaka, Kyoto và Sumpu machibugyō, và Nagasaki bugyō. Những người giữ vị trí này đều là hatamoto.
=== Gaikoku bugyō ===
Gaikoku bugyō là các quan lại được bổ nhiệm trong khoảng từ 1858 đến 1868. Họ chịu trách nhiệm giám sát các công việc ngoại thương và ngoại giao với nước ngoài, và đặt trụ sở ở các thương cảng Nagasaki và Kanagawa (Yokohama).
== Mạc mạt (1853-1867) ==
Thời kỳ Mạc Mạt (tiếng Nhật: 幕末 Bakumatsu) là thời kỳ từ 1853 đến 1867, khi Nhật Bản chấm dứt chính sách bế quan toả cảng (Tỏa Quốc - "Sakoku") và tiến hành hiện đại hóa từ Mạc phủ phong kiến thành triều đình Minh Trị. Đây là sự chấm dứt của thời kỳ Edo, mở đầu thời kỳ Minh Trị. Các phe phái chính trị, tư tưởng lớn của thời kỳ này chia thành những người bảo hoàng Ishin Shishi (những người dân tộc yêu nước) và lực lượng Mạc phủ, bao gồm lực lượng shinsengumi ("Tân Tuyển Tổ"). Mặc dù hai nhóm này có quyền lực lớn nhất, rất nhiều phe phái khác cũng nhân tình hình hỗn loạn để giành lấy quyền lực cá. Thêm nữa, có hai yếu tố chính dẫn đến sự bất đồng:
Sự bất mãn ngày càng tăng của các đại danh tozama. Điều này liên quan đến các lãnh chúa đã chống lại quân đội Tokugawa tại Sekigahara năm 1600 và vì thế họ không bao giờ được nắm các vị trí quan trọng trong hệ thống chính quyền Mạc phủ.
Năm 1854, Phó đề đốc Hải quân Hoa Kỳ Matthew C. Perry mang một hạm đội chín chiếc tàu chiến tới buộc Nhật Bản mở cửa, chấm dứt thời kỳ bế quan tỏa cảng. Nhưng người Mỹ đã bắt chính quyền Mạc phủ ký một hiệp định buôn bán bất bình đẳng. Tiếp đó, các nước như Anh, Hà Lan, Pháp, Nga,... cũng đua nhau tới và ép Mạc phủ ký các hiệp ước tương tự. Việc mất đi một loạt chủ quyền quốc gia khiến Nhật Bản đứng trước cuộc khủng hoảng dân tộc và này gây bất mãn trong quần chúng nhân dân. Lý do thứ hai được phản ánh trong thành ngữ sonnō jōi (Tôn Hoàng, Nhương Di), tức nâng cao uy tín Thiên hoàng, đánh đuổi người ngoại quốc ra khỏi xứ sở. Các Phiên ở vùng Tây Nam Nhật Bản - vốn từ lâu bất mãn với Mạc phủ - đã nhân cơ hội này đi rêu rao khắp nơi rằng chính quyền Mạc phủ câu kết với người nước ngoài, bán đứng chủ quyền quốc gia; mưu dùng chiêu bài "Tôn hoàng, nhương di" để lật đổ chế độ Mạc phủ.
Bước ngoặt của thời Mạc mạt là chiến tranh Mậu Thìn và trận Toba-Fushimi khi quân đội Mạc phủ bị đánh bại, uy quyền của Hoàng gia được khôi phục.
== Danh sách Tướng quân nhà Tokugawa ==
Trong suốt thời kỳ Edo, những người họ hàng giàu ảnh hưởng của Tướng quân bao gồm:
Tokugawa Mitsukuni của lãnh địa Mito.
Tokugawa Nariaki của lãnh địa Mito.
Tokugawa Mochiharu của chi Hitotsubashi.
Tokugawa Munetake của chi Tayasu.
Matsudaira Katamori của chi Aizu.
Matsudaira Sadanobu, sinh ra ở chi Tayasu, được gia tộc Hisamatsu-Matsudaira Shirakawa nhận làm con nuôi.
== Xem thêm ==
Chinh di Đại tướng quân
Thời kỳ Edo
Khởi nghĩa Keian
Hậu kỳ Mạc phủ Tokugawa
Minh Trị Duy Tân
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Thập đại tùng thư: 10 Đại hoàng đế thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin. 2003.
Japan
http://hkuhist2.hku.hk/nakasendo/tokupols.htm
SengokuDaimyo.com The website of Samurai Author and Historian Anthony J. Bryant
Anthony J. Bryant is the author of Sekigahara 1600: The Final Struggle for Power, Praeger Publishers;(September, 2005)
Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc Library of Congress Country Studies.
== Xem thêm ==
Bolitho, Harold. Treasures among men; the fudai daimyo in Tokugawa Japan. New Haven: Yale University Press, 1974.
Bolitho, Harold. The Collapse of the Tokugawa Bakufu, 1862-1868. Honolulu: University of Hawai'i Press, 1980.
Totman, Conrad. Politics in the Tokugawa Bakufu, 1600-1843. Cambridge: Harvard University Press, 1967.
Waswo, Ann Modern Japanese Society 1868-1994
The Center for East Asian Cultural Studies Meiji Japan Through Contemporary Sources, Volume Two 1844-1882 |
kuala lumpur.txt | Kuala Lumpur là thủ đô liên bang và thành phố đông dân nhất tại Malaysia. Thành phố có diện tích 243 km2 (94 sq mi) và dân số theo ước tính năm 2012 là 1,6 triệu. Vùng Đại Kuala Lumpur, còn được gọi là Thung lũng Klang, là một quần thể đô thị với 5,7 triệu dân vào năm 2010. Đại Kuala Lumpur nằm trong số các vùng đô thị phát triển nhanh nhất Malaysia, xét về dân số và kinh tế.
Kuala Lumpur là nơi đặt trụ sở của Quốc hội Malaysia. Thành phố từng là nơi đặt trụ sở của các cơ quan thuộc nhánh hành pháp và tư pháp trong chính phủ liên bang, song các cơ quan này chuyển đến Putrajaya vào đầu năm 1999. Một số bộ phận của bộ máy tư pháp liên bang vẫn nằm tại thành phố thủ đô. Cung điện chính thức của Quốc vương Malaysia là Istana Negara cũng nằm tại Kuala Lumpur. Kuala Lumpur là trung tâm văn hóa, tài chính và kinh tế của Malaysia. Thành phố được xếp hạng là thành phố toàn cầu hạng alpha, và xếp hạng 48 theo Chỉ số thành phố toàn cầu năm 2010 của Tạp chí Foreign Policy.
Kuala Lumpur được giới hạn trong Lãnh thổ liên bang Kuala Lumpur, là một trong ba lãnh thổ liên bang của Malaysia. Lãnh thổ nằm ở giữa vùng bờ biển phía tây của Malaysia bán đảo, và bị bang Selangor bao quanh hoàn toàn.
Từ thập niên 1990, thành phố là nơi tổ chức nhiều sự kiện thể thao, chính trị và văn hóa quốc tế, bao gồm Đại hội thể thao Thịnh vượng chung năm 1998, hay giải đua ô tô công thức 1 Grand Prix. Thêm vào đó, Kuala Lumpur có tòa tháp đôi cao nhất thế giới Petronas.
== Lịch sử ==
Kuala Lumpur có khởi nguyên vào thập niên 1850, khi thủ tịch Mã Lai của Klang là Raja Abdullah, một thành viên vương thất của Vương quốc Selangor, thuê một số lao công người Hoa để mở các mỏ thiếc mới và lớn. Các thợ mỏ đi đến nơi hợp lưu của sông Gombak (trước đó gọi là sông Lumpur, nghĩa là "sông lầy bùn") và sông Klang để mở các mỏ tại Ampang, Pudu và Batu. Những thợ mỏ này phát triển nên một trạm mậu dịch và nơi này trở thành một thị trấn biên thùy.
Những người thăm dò thiếc định cư tại Ampang, và lập nên các tổ chức của họ. Hai tổ chức lớn nhất là Hải Sơn hội do người Khách Gia chi phối, và Nghĩa Hưng hội do người Phúc Kiến chi phối, hai tổ chức này thường xuyên đấu tranh với nhau để tranh giành quyền kiểm soát việc sản xuất thiếc trong thị trấn. Do đấu tranh liên miên giữa hai phe, sản xuất khai mỏ thiếc bị đình trệ, khiến cho người Anh (đương thời cai trị Selangor) bổ nhiệm một Kapitan (thủ lĩnh) người Hoa để quản lý Kuala Lumpur. Khâu Tú (Hiu Siew) được bầu làm Kapitan đầu tiên, ông sở hữu một mỏ tại Lukut. Ông là một trong những thương gia đầu tiên đến Ampang, bán lương thực thực phẩm cho thợ mỏ để đổi lấy thiếc.
Trong thời gian đầu, Kuala Lumpur tồn tại nhiều vấn đề, bao gồm Nội chiến Selangor; và cũng gặp phải các tai họa như dịch bệnh hay hỏa hoạn và lũ lụt liên tiếp. Khoảng thập niên 1870, Kapitan người Hoa thứ ba của Kuala Lumpur là Diệp Á Lai (Yap Ah Loy) trở thành thủ lĩnh, chịu trách nhiệm cho sự sống còn và phát triển có hệ thống sau đó của thị trấn. Ông bắt đầu phát triển Kuala Lumpur từ một điểm định cư nhỏ được ít người biết đến thành một thị trấn mỏ hưng thịnh. Năm 1880, xét theo yếu tố chiến lược, thủ đô quốc gia của Selangor chuyển từ Klang đến Kuala Lumpur.
Năm 1896, Kuala Lumpur được chọn làm thủ đô của Liên bang Mã Lai (Federated Malay States) mới hình thành. Nhiều cộng đồng khác nhau định cư tại các khu vực khác nhau của Kuala Lumpur. Người Hoa chủ yếu định cư quanh trung tâm thương mại Quảng trường Thị trường, phía đông sông Klang, và hướng về phố Trung Hoa. Người Mã Lai, tầng lớp thương nhân người Ấn, và người Ấn theo Hồi giáo cư trú dọc theo phố Java (nay là Jalan Tun Perak). Padang, nay được gọi là Quảng trường Merdeka, là trung tâm của các văn phòng hành chính của người Anh.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Lục quân Đế quốc Nhật Bản chiếm Kuala Lumpur vào ngày 11 tháng 1 năm 1942. Người Nhật chiếm đóng thành phố cho đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi tổng tư lệnh của Đệ thất phương diện quân Nhật Bản tại Singapore và Malaysia là Seishirō Itagaki đầu hàng chính phủ Anh Quốc. Năm 1957, Liên hiệp bang Malaya (Federation of Malaya) giành được độc lập khỏi sự thống trị của người Anh. Kuala Lumpur vẫn là thủ đô khi Malaysia thành lập vào ngày 16 tháng 9 năm 1963.
Ngày 13 tháng 5 năm 1969, các cuộc bạo loạn sắc tộc tồi tệ nhất trong lịch sử Malaysia diễn ra tại Kuala Lumpur. Cụm từ Sự kiện 13 tháng 5 được dùng để nói đến sự cố bạo lực giữa các thành viên của cộng đồng người Mã Lai và người Hoa. Bạo lực là kết quả của việc người Mã Lai tại Malaysia bất mãn với địa vị xã hội-chính trị của họ. Bạo loạn khiến 196 người thiệt mạng, và dẫn đến các thay đổi lớn trong chính sách kinh tế quốc gia nhằm thúc đẩy và ưu tiên người Mã Lai trong lĩnh vực phát triển kinh tế.
Kuala Lumpur được trao địa vị thành phố vào năm 1972, trở thành điểm dân cư đầu tiên của Malaysia được trao địa vị này sau khi độc lập. Đến ngày 1 tháng 2 năm 1974, Kuala Lumpur trở thành một Lãnh thổ liên bang. Kuala Lumpur thôi làm thủ đô của Selangor vào năm 1978 sau khi thành phố Shah Alam được tuyên bố là thủ đô mới của bang. Ngày 14 tháng 5 năm 1990, Kuala Lumpur kỉ niệm 100 năm chính quyền địa phương, hiệu kỳ và bài ca của lãnh thổ liên bang Kuala Lumpur được giới thiệu.
Ngày 1 tháng 2 năm 2001, Putrajaya được tuyên bố là một lãnh thổ liên bang, cũng như là nơi đặt trụ sở chính phủ liên bang. Các chức năng hành pháp và tư pháp của chính phủ chuyển từ Kuala Lumpur đếm Putrajaya. Tuy nhiên, Kuala Lumpur vẫn giữ lại chức năng lập pháp, và là nơi có cung điện của Yang di-Pertuan Agong (Quốc vương).
== Địa lý ==
Kuala Lumpur là một bộ phận của Thung lũng Klang rộng lớn, thung lũng giáp với dãy Titiwangsa ở phía đông, một vài dãy núi nhỏ ở phía bắc và phía nam, và eo biển Malacca ở phía tây. Kuala Lumpur là một thuật ngữ trong tiếng Mã Lai, có thể dịch là "ngã ba sông lầy bùn" do nó nằm tại nơi hợp lưu giữa sông Klang và sông Gombak.
Kula Lumpur nằm ở trung tâm của bang Selangor, Kuala Lumpur trước đây nằm dưới quyền quản lý của chính phủ bang Selangor. Năm 1974, Kuala Lumpur được tách khỏi Selangor để hình thành một lãnh thổ liên bang do Chính phủ Liên bang Malaysia trực tiếp quản lý. Kuala Lumpur nằm ở vùng duyên hải phía tây của Malaysia bán đảo, vốn có vùng đất bằng phẳng rộng hơn vùng duyên hải phía đông. Thành phố có giới hạn lãnh thổ trong 243 km2 (94 sq mi), với cao độ trung bình 21,95 m (72,0 ft).
Được dãy Titiwangsa bảo vệ ở phía đông và được đảo Sumatra của Indonesia chắn ở phía tây, Kuala Lumpur có khí hậu rừng mưa nhiệt đới (phân loại khí hậu Köppen Af) với thời tiết nắng ấm, cùng lượng mưa dồi dào, đặc biệt là khi có gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 3. Nhiệt độ có xu hướng không thay đổi. Mức nhiệt tối cao dao động giữa 31 và 33 °C (88 và 91 °F) và chưa từng vượt quá 39,3 °C (102,7 °F), trong khi mức nhiệt tối thấp dao động giữa 22 và 23,5 °C (71,6 và 74,3 °F) và chưa từng xuống quá 14,4 °C (57,9 °F). Kuala Lumpur thường nhận được lượng mưa mỗi năm tối thiểu là 2.600 mm (100 in); tháng 6 và tháng 7 tương đối khô, song sau đó lượng mưa thường vượt quá 127 milimét (5,0 in) mỗi tháng.
Kuala Lumpur thường bị lụt mỗi khi có mưa như trút, đặc biệt là tại trung tâm thành phố và các khu vực hạ lưu. Khói từ các đám cháy rừng trên đảo Sumatra lân cận đôi khi hợp lại thành khói mùa bao trùm khu vực. Đây là nguồn ô nhiễm chính tại Kuala Lumpur cùng với hoạt động đốt lộ thiên, khí thải từ các loại xe cơ giới và công trình xây dựng.
== Quản lý ==
Kuala Lumpur do một hội đồng thành phố duy nhất quản lý, được gọi là Uỷ viên Hội đồng thủ đô liên bang từ ngày 1 tháng 4 năm 1961, cho đến khi được trao tình trạng thành phố vào nănm 1972, sau đó quyền hành pháp được chuyển giao cho Thị trưởng (Datuk Bandar).
Công tác quản lý địa phương được thực hiện từ Tòa thị chính Kuala Lumpur, một cơ quan nằm dưới sự quản lý của Bộ Lãnh thổ liên bang Malaysia. Cơ quan này có trách nhiệm đối với y tế và vệ sinh công cộng, loại bỏ và quản lý chất thải, quy hoạch đô thị, bảo vệ môi trường và kiểm soát xây dựng, phát triển xã hội và kinh tế, duy trì chung các chức năng của cơ sở hạ tầng đô thị. Quyền hành pháp thuộc về thị trưởng tại tòa thị chính, người này do Bộ trưởng Lãnh thổ liên bang bổ nhiệm và có nhiệm kỳ 3 năm. Hệ thống bổ nhiệm thị trưởng này được thi hành kể từ khi các cuộc bầu cử chính phủ địa phương bị đình chỉ vào năm 1970.
Kuala Lumpur có bảy quận, là các đơn vị hành chính dưới quyền Tòa thị chính. Hai quận nằm ở phía tây là Segambut và Lembah Pantai; trong khi Kepong, Batu và Wangsa Maju nằm ở phía bắc; Setiawangsa, Titiwangsa và Cheras nằm ở phía tây; Seputeh và Bandar Tun Razak nằm ở phía nam; vàBukit Bintang tại trung tâm Kuala Lumpur.
== Kinh tế ==
Kuala Lumpur và các khu vực đô thị xung quanh tạo thành vùng công nghiệp hóa nhất, kinh tế tốt nhất và phát triển nhanh nhất tại Malaysia. Mặc dù nhánh hành pháp của chính phủ liên bang dời đến Putrajaya, song một số cơ quan chính phủ như Ngân hàng Quốc gia Malaysia, Hội đồng ủy ban các công ty Malaysia và Hội đồng ủy ban Chứng khoán cùng hầu hết đại sứ quán và phái bộ ngoại giao vẫn đặt tại thành phố.
Kuala Lumpur là trung tâm kinh tế, thương mại, tài chính, bảo hiểm, bất động sản, truyền thông và nghệ thuật của quốc gia. Kuala Lumpur là một thành phố toàn cầu hạng alpha, và là thành phố toàn cầu duy nhất tại Malaysia. Phát triển cơ sở hạ tầng tại các khu vực xung quanh như sân bay quốc tế Kuala Lumpur tại Sepang, sự hình thành Hành lang đa phương tiện siêu cấp và sự mở rộng cảng Klang củng cố hơn nữa tầm quan trọng về kinh tế của thành phố. Bursa Malaysia hay Sở giao dịch chứng khoán Malaysia đặt tại thành phố, tạo thành một trong các hoạt động kinh tế cốt lõi của thành phố.
Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Kuala Lumpur ước tính đạt 73.536 triệu ringgit vào năm 2008, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 5,9%. GDP bình quân đầu người của Kuala Lumpur vào năm 2008 là 48.556 ringgit với mức tăng trưởng trung bình hàng năm là 5,9 phần trăm. Tổng số việc làm tại Kuala Lumpur được ước tính là khoảng 838.400. Các ngành dịch vụ bao gồm tài chính, bảo hiểm, bất động sản, dịch vụ kinh doanh, bán buôn bán lẻ, nhà hàng và khách sạn, giao thông, kho bãi và truyền thông, dịch vụ công, dịch vụ cá nhân và dịch vụ chính phủ tạo thành phần lớn nhất trong số việc làm, chiếm khoảng 83%. 17 phần trăm còn lại đến từ lĩnh vực chế tạo và xây dựng.
Sự lớn mạnh của lĩnh vực dịch vụ thể hiện rõ rệt thông qua số lượng các ngân hàng bản địa và ngoại quốc cùng các công ty bảo hiểm hoạt động trong thành phố. Kuala Lumpur ở tư thế sẵn sàng trở thành trung tâm tài chính Hồi giáo toàn cầu với số lượng ngày càng tăng các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ tài chính Hồi giáo và sự hiện diện mạnh mẽ của các tổ chức tài chính vùng Vịnh chẳng hạn như ngân hàng Hồi giáo lớn nhất thế giới là Ngân hàng Al-Rajhi và Hãng Tài chính Kuwait. Bên cạnh đó, Dow Jones & Company tích cực làm việc với Bursa Malaysia để thành lập Quỹ trao đổi thương mại Hồi giáo (ETFs), theo đó sẽ giúp nâng cao vị thế của Malaysia tại vùng Vịnh. Thành phố có một số lượng lớn các công ty cổ phần ngoại quốc và cũng có nhiều văn phòng hay trung tâm hỗ trợ khu vực của các công ty đa quốc gia, đặc biệt là tài chính và kế toán, và công nghệ thông tin. Hầu hết các công ty lớn nhất Malaysia có trụ sở chính đặt tại Kuala Lumpur và tính đến tháng 12 năm 2007 thì ngoài Petronas, có 14 trong số các công ty trong danh sách Forbes 2000 đặt tại Kuala Lumpur.
Du lịch đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế định hướng dịch vụ của thành phố. Nhiều chuỗi khách sạn toàn cầu có sự hiện hiện tại thành phố. Kuala Lumpur là thành phố được viếng thăm nhiều thứ sáu trên thế giới, với 8,9 triệu lượt du khách mỗi năm. Du lịch Kula Lumpur được thúc đẩy từ tính đa dạng văn hóa của thành phố, chi phí tương đối thấp, đồ ăn và mua sắm đa dạng. Du lịch MICE, tức du lịch hội nghị, được phát triển trong những năm gần đây và trở thành một thành phần quan trọng, và dự kiến sẽ phát triển hơn nữa khi Chương trình Chuyển đổi Kinh tế của chính phủ Malaysia được khởi động.
== Nhân khẩu ==
Kuala Lumpur là thành phố đông dân nhất tại Malaysia, với dân số 1,6 triệu trong giới hạn lãnh thổ vào năm 2010. Thành phố có mật độ dân cư 6.696 người trên kilômét vuông (17.340 /sq mi), và là khu vực hành chính có mật độ đông nhất tại Malaysia. Kuala Lumpur là một thành phố thủ vị do là trung tâm của vùng đô thị có dân số 6,9 triệu vào năm 2007.
Kuala Lumpur có thành phần cư dân hỗn tạp, gồm ba dân tộc chính của Malaysia: người Mã Lai, người Hoa và người Ấn, song thành phố cũng tồn tại những sự kết hợp văn hóa như người Âu-Á, ngoài ra còn có người Kadazan, người Iban và các sắc tộc bản địa từ Đông Malaysia và Malaysia bán đảo. Theo điều tra dân số năm 2010 do Cơ quan Thống kê tiến hành, tỷ lệ cư dân Bumiputera tại Kuala Lumpur là khoảng 44,2%, trong khi người Hoa chiếm 43,2% và người Ấn chiếm 10,3%. Có một hiện tượng đáng chú ý là sự hiện diện ngày càng tăng của cư dân ngoại quốc tại Kuala Lumpur, hiện họ chiếm khoảng 9% dân số thành phố.
Tỷ suất sinh tại Kuala Lumpur suy giảm và dẫn đến tỷ lệ người dưới 15 tuổi thấp đi, giảm từ 33% vào năm 1980 xuống 27% vào năm 2000. Trên khía cạnh khác, nhóm tuổi lao động từ 15–59 tăng từ 63% vào năm 1980 lên 67% vào năm 2000. Nhóm cao tuổi từ 60 trở lên tăng từ 4% vào năm 1980 và 1991 lên 6% vào năm 2000.
Sự phát triển nhanh chóng dẫn đến xuất hiện một làn sóng lao động tay nghề thấp tràn vào Malaysia, họ đến từ Indonesia, Nepal, Myanmar, Thái Lan, Bangladesh, Ấn Độ, Sri Lanka, Philippines, và Việt Nam, nhiều người trong số đó nhập cảnh bất hợp pháp hoặc không có giấy phép phù hợp.
Kuala Lumpur là nơi có sự đa dạng về tôn giáo, thành phố có nhiều điểm thờ cúng cho dân cư đa tôn giáo. Hồi giáo được thực hành chủ yếu bởi các cộng đồng người Mã Lai và người Ấn theo Hồi giáo, Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo chủ yếu được thực hành trong cộng đồng người Hoa. Người Ấn có truyền thống gia nhập Ấn Độ giáo. Một số người Hoa và người Ấn đăng ký làm tín đồ Ki-tô giáo. Theo điều tra dân số năm 2010, dân số Kuala Lumpur có 46,4% là người Hồi giáo, 35,7% là Phật tử, 8,5% theo Ấn Độ giáo, 5,8% là Ki-tô hữu], 1,1% là tín đồ Đạo giáo hay tĩn ngưỡng truyền thống Trung Hoa, 2,0% theo các tôn giáo khác, và 0,5% không tôn giáo.
Tiếng Malaysia là ngôn ngữ chính tại Kuala Lumpur. Các cư dân Kuala Lumpur nói chung biết tiếng Anh, và ngôn ngữ này có sự hiện diện mạnh mẽ, đặc biệt là trong kinh doanh và là ngôn ngữ được giảng dạy bắt buộc trong trường học. Tiếng Quảng Đông và Quan thoại được phần lớn người Hoa địa phương nói. Phương ngôn khác là tiếng Khách Gia. Tiếng Tamil chiếm ưu thế trong cộng đồng người Ấn, song các ngôn ngữ Ấn Độ khác cũng được nói.
== Kiến trúc ==
Kiến trúc Kuala Lumpur là sự pha trộn giữa ảnh hưởng từ kiến trúc thuộc địa cũ, truyền thống châu Á, cảm hứng Hồi giáo Mã Lai, hiện đại, và hậu hiện đại. Kuala Lumpur là một thành phố tương đối trẻ so với các thủ đô Đông Nam Á khác, hầu hết các tòa nhà thuộc địa tại thành phố được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Các tòa nhà này mang phong cách hay kiến trúc Moor (Mughal), Tudo, Tân Goth hay Hy Lạp-Tây Ban Nha. Hầu hết kiểu dáng được chỉnh sửa để có thể sử dụng tài nguyên địa phương và thích nghi với khí hậu địa phương vốn quanh năm nóng ẩm.
Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, có nhiều điếm ốc (Shophouse), chúng thường có hai tầng với tầng trệt dùng làm nơi mua bán và tầng trên dùng làm nơi ở, được xây dựng quanh trung tâm thành phố cũ. Các điếm-ốc này lấy cảm ứng từ truyền thống kiến trúc của người Hoa Eo biển và người châu Âu. Một số trong những điếm ốc này phải nhường chỗ cho sự phát triển mới song nhiều điếm ốc vẫn tồn tại cho đến ngày nay tại xung quanh các khu vực Medan Pasar (quảng trường Thị trường cũ), phố Trung Hoa, Jalan Tuanku Abdul Rahman, Jalan Doraisamy, Bukit Bintang và Tengkat Tong Shin.
Từ các nguyên nhân như độc lập, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng từ thập niên 1960 đến thập niên 1990, Hồi giáo trở thành quốc giáo, dẫn đến kết quả là việc xây dựng các tòa nhà mang dáng vẻ bản địa và Hồi giáo hơn xuất hiện khắp thành phố, Nhiều tòa nhà này có thiết kế bắt nguồn từ các hạng mục truyền thống Mã Lai, chẳng hạn như songkok và keris. Một số tòa nhà này có những họa tiết hình học Hồi giáo được tích hợp trong các thiết kế kiến trúc. Ví dụ cho các tòa nhà này là Menara Telekom, Menara Maybank, Dayabumi Complex, và Trung tâm Hồi giáo. Một số tòa nhà như Bảo tàng Nghệ thuật Hồi giáo Malaysia và Cung Thiên văn Quốc gia được xây dựng phỏng theo mô hình một nơi thờ tự, hoàn chỉnh với mái vòm và tháp, trong khi trên thực tế đó là những nơi của khoa học và tri thức. Tòa tháp đôi Petronas cao 452 mét (1.483 ft) là tháp đôi cao nhất trên thế giới.
Kiến trúc hiện đại và hậu hiện đại bắt đầu xuất hiện vào cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000. Cùng với sự phát triển kinh tế, các tòa nhà cũ như Bok House bị phá bằng để nhường chỗ cho công trình mới. Các tòa nhà với lớp vỏ bề ngoài hoàn toàn bằng kính xuất hiện khắp thành phố, ví dụ nổi bật nhất là Tháp đôi Petronas và Trung tâm Hội nghị Kuala Lumpur. Khu kinh doanh trung tâm của Kuala Lumpur ngày nay dời sang quanh Kuala Lumpur City Centre (KLCC), tại đây có nhiều tòa nhà mới và cao với kiến trúc hiện đại và hậu hiện đại. Theo Kế hoạch 50 quần thể đô thị cao nhất thế giới của Hội đồng Cao ốc và Cư trú đô thị (CTBUH), Kuala Lumpur xếp hạng 10 trong số các thành phố có nhiều tòa nhà cao trên 100 mét, với tổng chiều cao của 244 tòa nhà là 34.035 mét.
== Giáo dục ==
Theo thống kê của chính phủ, Kuala Lumpur có tỷ lệ biết chữ là 97,5% vào năm 2000, mức cao nhất trong số các bang và lãnh thổ tại Malaysia. Tại Malaysia, tiếng Mã Lai là ngôn ngữ giảng dạy trong hầu hết môn học trong khi tiếng Anh là một môn học bắt buộc. Một số trường cung cấp giảng dạy một số môn học nhất định bằng Quan thoại và tiếng Tamil. Mỗi cấp học yêu cầu các kỹ năng khác nhau về năng lực giảng dạy và học tập.
Kuala Lumpur gồm có 13 cơ sở giáo dục bậc đại học, 79 trường trung học, 155 trước tiểu học và 136 trường mầm non.
Kuala Lumpur có Đại học Malaya (UM) được thành lập vào năm 1949, là đại học lâu năm nhất tại Malaysia, và là một trong các đại học lâu năm nhất trong khu vực. Đây cũng là cơ sở đại học có uy tín nhất tại Malaysia, được xếp hạng nhất trong số các dại học tại Malaysia trong xếp hạng quốc tế Times Higher Educatio (THES) 2004. Trong những năm gần đây, số lượng sinh viên quốc tế tại Đại học Malaya tăng lên, là một kết quả của các nỗ lực ngày càng lớn nhằm thu hút thêm các sinh viên quốc tế.
Các đại học khác nằm tại Kuala Lumpur gồm Đại học Hồi giáo Quốc tế Malaysia (IIUM), Đại học Tunku Abdul Rahman (UTAR), Đại học UCSI (UCSI), Đại học Y Quốc tế (IMU), Đại học Mở Malaysia (OUM), Đại học Kuala Lumpur (UniKL), Đại học Mở Wawasan (WOU), Học viện Đại học Tunku Abdul Rahman (TARUC) và các học khu chi nhánh của Đại học Quốc gia Malaysia (UKM) và Đại học Công nghệ Malaysia (UTM). Tại bang Selangor cũng có nhiều đại học, đáng chú ý nhất là các học khu chi nhánh: Học khu Malaysia của Đại học Nottingham nằm tại Semenyih hay Học khu Malaysia của Đại học Monash nằm tại Sunway. Đại học Quốc phòng Malaysia nằm tại căn cứ Lục quân Sungai Besi, tại phần phía nam của trung tâm Kuala Lumpur. Cơ sở này được thành lập để làm trung tâm chủ yếu cho nghiên cứu công nghệ quân sự và phòng thủ, có nghiên cứu về lục quân, hải quân, và không quân.
== Giao thông ==
Lái xe là phương thức đi lại chính tại Kuala Lumpur. Do đó, mỗi phần của thành phố được nối với nhau bằng xa lộ. Với tình trạng là thủ đô của Malaysia, Kuala Lumpur có hệ thống đường bộ mang tính toàn diện dẫn đến những phần còn lại tại Malaysia bán đảo.
Về kết nối hàng không, có hai sân bay phục vụ Kuala Lumpur. Sân bay chính là sân bay quốc tế Kuala Lumpur (KLIA) tại Sepang thuộc bang Selangor, nơi này cũng là trung tâm hàng không của Malaysia, nằm cách thành phố khoảng 50 kilômét (31 mi) về phía nam. Sân bay còn lại là sân bay Sultan Abdul Aziz Shah, cũng được gọi là Subang Skypark và giữ vai trò là cổng vào quốc tế chính của Kuala Lumpur từ năm 1965 đến khi KLIA mở cửa vào năm 1998. KLIA kết nối thành phố thông qua các chuyến bay thẳng đến các địa điểm tại sáu lục địa trên thế giới, và là trung tâm chính của hãng hàng không quốc gia Malaysia Airlines và hãng hàng không giá rẻ AirAsia. Có thể tiếp cận KLIA khi đi bằng tàu cao tốc KLIA Ekspres từ ga Trung tâm Kuala Lumpur, thời gian mất 28 phút, trong khi đi bằng ô tô hay xe buýt trên xa lộ sẽ mất khoảng một giờ. Các chuyến bay của Air Asia không qua nhà ga sân bay chính của KLIA mà qua Nhà ga hàng không giá rẻ. Tính đến năm 2007, sân bay Sultan Abdul Aziz Shah chỉ được sử dụng cho các chuyến bay hợp đồng và máy bay động cơ tuốc bin cánh quạt của các hãng hàng không như Firefly và Berjaya Air.
Giao thông công cộng tại Kuala Lumpur và phần còn lại của Thung lũng Klang bao gồm các loại hình giao thông khác nhau như buýt, đường sắt và taxi. Bất chấp các nỗ lực nhằm gia tăng sử dụng giao thông công cộng, chỉ có 16% cư dân sử dụng giao thông công cộng vào năm 2006. Giao thông đường sắt tại Kuala Lumpur bao gồm đường sắt nhẹ, đường sắt nhanh, đường sắt một ray, đường sắt ngoại ô. Kuala Lumpur được phục vụ bởi ba hệ thống đường sắt riêng biệt, chúng gặp nhau tại thành phố và trải dài ra những nơi khác tại Thung lũng, có tên là RapidKL Light Rail Transit, KL Monorail, và KTM Komuter. Các tuyến này có những ga ngầm, trên cao hay trên mặt đất khắp thành phố. Trung tâm đường sắt nhanh chính là ga trung tâm Kuala Lumpur (KL Sentral), đóng vai trò là trạm trao đổi giữa các tuyến. KL Sentral cũng là một trung tâm của đường sắt liên thị do KTM Intercity vận hành, cung cấp dịch vụ đường sắt xa đến Singapore ở phía nam, và đến Hat Yai thuộc Thái Lan ở phía bắc.
Nhà điều hành giao thông công cộng lớn nhất tại Kuala Lumpur và Thung lũng Klang là RapidKL. Kể từ khi tiếp quản Intrakota Komposit Sdn Bhd, RapidKL cho xác định lại toàn bộ mạng lưới buýt của Kuala Lumpur và vùng đô thị Thung lũng Klang để tăng lượng hành khách và cải tiến hệ thống giao thông công cộng của Kuala Lumpur. RapidKL áp dụng mô hình Hub-and-spoke để liên kết lớn hơn, giảm nhu cầu có thêm xe buýt. RapidKL cũng điều hành hai tuyến đường sắt nhẹ tại Kuala Lumpur và Thung lũng Klang, có tên là Ampang Line và Kelana Jaya Line.
Tại Kuala Lumpur, hầu hết taxi có màu trắng hoặc đỏ đặc trưng. Thành phố là một trong số các thành phố lớn của ASEAN có taxi chạy phổ biến bằng khí đốt thiên nhiên. Cảng Klang phục vụ nhu cầu giao thông háng hải của Kuala Lumpur, cảng này nằm cách thành phố 64 km (40 mi) về phía tây nam. Đây là cảng lớn nhất và bận rộn nhất tại Malaysia, xử lý khoảng 6,3 triệu TEU hàng hóa vào năm 2006.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tòa thị chính Kuala Lumpur
Hướng dẫn và Đánh giá thành phố Kuala Lumpur |
busan.txt | Quảng vực thị Busan (âm Hán Việt: Phủ Sơn), hay còn được gọi là Pusan là thành phố cảng lớn nhất của Hàn Quốc. Với dân số khoảng 4 triệu người, Busan là thành phố lớn thứ nhì tại Hàn Quốc sau Seoul. Về mặt hành chính, Busan được coi là một khu vực đại đô thị tự quản. Khu nội thành đông dân cư nhất nằm lòng chảo hẹp giữa hai con sông Nakdong (Lạc Đông) và Suyeong (Thủy Doanh), trong khi vùng ngoại thành nhiều đồi núi.
Trên diện trường quốc tế, Busan là địa điểm tổ chức Đại hội Thể thao châu Á 2002 và hội nghị APEC 2005 tại Hàn Quốc. Ngày 14 tháng 11 năm 2005, thành phố Busan nộp đơn đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2020 nhưng ban tổ chức rốt cuộc chọn Tokyo, Nhật Bản.
== Lịch sử ==
Thời gian đầu, khu vực thành phố Busan ngày nay được gọi là quốc Geochilsan, một trong những trung tâm của những thủ lĩnh Thần hàn (진한 Jinhan) trong thế kỉ 2 và thế kỉ 3. Sau đó, vùng này trở thành một phần của vương quốc Tân La và đổi tên thành quận Geochilsan.
Trong khoảng những năm 300-400, trong thời kỳ Tam Quốc Triều Tiên, vùng đất Busan được cai trị bởi những vị thủ lĩnh đầy quyền lực. Đến năm 757, quận Geochilsan đổi tên lại thành Dongnae (Đông Lai), cái tên vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
Vào đầu thế kỉ 15, chính quyền Triều Tiên chọn Busan là điểm giao thương với Nhật Bản và cho phép người Nhật được định cư sinh sống tại đây. Trong khi những khu kiều dân của người Nhật tại các vùng Ulsan (Uý Sơn) và Jinhae (Trấn Hải) suy tàn sau đó, thì khu định cư của người Nhật tại Busan, gọi là khu Waegwan (Oa Quán) lại phát triển nhanh chóng cho đến khi xảy ra cuộc chiến tranh xâm lược của Nhật Bản vào Triều Tiên năm 1592. Sau chiến tranh, quan hệ ngoại giao với Nhật Bản được tái thiết lập năm 1607 và Triều Tiên cho phép Waegwan được xây dựng lại và tiếp tục phát triển nhanh chóng, đóng vai trò quan trọng trong giao thương giữa hai nước Triều Tiên và Nhật Bản. Năm 1876, Busan trở thành thương cảng quốc tế đầu tiên của Triều Tiên.
Trong thời kỳ cai trị của Nhật Bản, Busan tiếp tục giữ vai trò như một hải cảng quan trọng. Busan là thành phố đầu tiên của Triều Tiên có đường xe lửa chạy bằng hơi nước trước khi được điện khí hóa vào năm 1924.
Trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên, Busan là một trong số ít những vùng ở miền nam chưa hề bị rơi vào tay quân cộng sản Bắc Triều Tiên. Do đó, nó đóng vai trò như một nơi tị nạn của nhiều người Triều Tiên trong chiến tranh và từng là thủ đô lâm thời của Hàn Quốc. Quân đội của Liên Hiệp Quốc đã xây dựng một bức thành lũy lớn bao quanh thành phố Busan vào mùa hè và mùa thu năm 1950. Giống như Seoul, Busan là một khu vực đại đô thị có chính quyền tự quản và ngày nay tiếp tục đóng vai trò một cảng biển lớn và quan trọng bậc nhất của Hàn Quốc.
== Phân chia hành chính ==
Năm 1957, thành phố Busan mới chỉ được chia thành 6 khu. Nhưng ngày nay, Busan đã được chia thành 15 khu và 1 quận:
== Kinh tế ==
Giao thông vận tải và đóng tàu là hai lĩnh vực kinh tế chính của thành phố Busan. Từ năm 1978, Busan đã mở ba cảng côngtenơ lớn là Jaseungdae (Tử Thành Đài), Shinsundae và Gamman. Thành phố này được biết đến là một trong những hải cảng lớn nhất thế giới và lưu thông tới 13,2 triệu TEU côngtenơ hàng hóa mỗi năm. Khu vực Tự do Kinh tế Busan-Jinhae được thành lập đã thu hút nhiều tàu bè đến với Busan, tiếp nối truyền thống thương cảng của thành phố này trong quá khứ, đồng thời cũng tạo điều kiện để Busan chuyển mình thành một trung tâm tài chính lớn của Hàn Quốc. Gần đây, Busan được Hội quản lý cảng biển Hoa Kỳ ("American Association of Port Authorities") xếp hạng là cảng biển lớn thứ ba thế giới theo khối lượng hàng hóa lưu thông và năng suất vận tải.
Busan còn là một trung tâm thương mại sầm uất, từ những chợ nhỏ với các nông phẩm, hải sản cho đến các siêu thị lớn.
== Giáo dục ==
=== Các trường đại học ===
Đại học Tongmyong
Đại học Busan
Đại học Giáo dục Busan
Đại học Đông Á
Đại học Inje - Pusan campus
Đại học Quốc gia Pukyong
Đại học Kosin
Đại học Hải dương Hàn Quốc
Đại học Kyungsung (Khánh Timh)
Đại học Dong-eui (Đông Nghĩa)
Đại học Ngoại ngữ Pusan
Đại học Đông Tây
Đại học Dongmyung
Đại học Thiên chúa giáo Pusan
Đại học Jangsin Pusan
Đại học Youngsan
Đại học Nghệ thuật Busan
Đại học Công nghệ Thông tin Busan
Đại học Kinh thương Busan
=== Các học viện khác ===
Cao đẳng Bách khoa Busan
Cao đẳng Dong-Pusan
Cao đẳng Dongju
Cao đẳn Daedong
== Văn hóa ==
Núi Geumjeongsan (Kim Tỉnh Sơn) ở phía tây thành phố là địa điểm đi bộ yêu thích của người dân Busan. Về phía bắc, khu vực xung quanh trường Đại học Quốc gia Busan, một trong những trường đại học uy tín nhất Hàn Quốc có nhiều rạp hát, quán café, nhà hàng, tiệm ăn và những buổi trình diễn văn hóa trên đường phố vào mỗi cuối tuần. Gần đó là chùa Beomeosa (Phạm Ngư tự), một trong những ngôi đền Phật giáo chính của Hàn Quốc.
Khu Dongnae vốn từ lâu đã nổi tiếng là một khu vực dân cư sầm uất. Dongnae Oncheon là một khu vực suối nước khoáng tự nhiên với nhiều nhà tắm, khách sạn, nhà hàng và các trung tâm mua sắm. Nhiều nhà hàng trong khu vực nổi tiếng với những cách chế biến món ăn gia truyền.Trung Liệt từ, một miếu thờ Khổng Tử ở Busan còn là nơi tưởng niệm những người lính hy sinh trong cuộc tấn công xâm lược của Nhật Bản vào cuối thế kỉ 16.
Busan được coi như thủ đô mùa hè của Hàn Quốc. Vào mỗi mùa hè, người dân Hàn Quốc lại kéo đền những bãi biển tuyệt đẹp ở Busan, trong đó nổi tiếng nhất là bãi biển Haeundae (Hải Vân Đài). Công viên Quốc gia Taejongdae trên đảo Yeongdo thì lại thu hút du khách với những vách đá dốc đứng hướng ra phía biển.
Khu phố thương mại dành cho người nước ngoài tại Busan, hay còn được gọi là "phố Texas" nằm gần cảng Busan là nơi có nhiều người nước ngoài sinh sống, trong đó có người Nga. Khu vực này cũng có một khu Chinatown sầm uất với sự hiện diện của một cộng đồng người Trung Quốc. Những cơ sở thương mại ở đây được dựng nên từ thập niên 1940 và thập niên 1950, chủ yếu phục vụ cho lính Mỹ đóng tại đây thời chiến tranh.
Thành phố Busan rất nổi tiếng với Liên hoan phim quốc tế Busan, một trong những liên hoan phim lớn nhất châu Á và thu hút sự tham dự của nhiều bộ phim cũng như khách du lịch trên thế giới mỗi năm. Busan Biennale, một liên hoan nghệ thuật đương đại quốc tế được tổ chức hai năm một lần cũng thu hút rất nhiều nghệ sĩ và khách du lịch đến thành phố này với nhiều tác phẩm nghệ thuật thuộc nhiều lĩnh vực.
== Thành phố kết nghĩa ==
- Kaohsiung, Đài Loan (1966)
- Los Angeles, Mỹ (1967)
- Shimonoseki, Nhật Bản (1976)
- Barcelona, Tây Ban Nha (1983)
- Rio de Janeiro, Brasil (1985)
- Fukuoka, Nhật Bản (1989)
- Vladivostok, Nga (1992)
- Thượng Hải, Trung Quốc (1993)
- Surabaya, Indonesia (1994)
- Victoria, Australia (1994)
- Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam (1995)
- Tijuana, México (1995)
- Auckland, New Zealand (1996)
- Valparaiso, Chile (1999)
- Montreal, Canada (2000)
- Western Cape, Nam Phi (2000)
- Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ (2002)
- Dubai, UAE (2006)
- Chicago, Mỹ (2007)
- Manila, Philippines (2008)
- Thành phố Thái Nguyên, Việt Nam (2005)
== Tham khảo == |
bắc ireland.txt | Bắc Ireland (phiên âm tiếng Việt: Bắc Ai-len, tiếng Anh: Northern Ireland, tiếng Ireland: Tuaisceart Éireann phát âm [ˈt̪ˠuəʃcəɾˠt̪ˠ ˈeːɾʲən̪ˠ] (), Scot Ulster: Norlin Airlann hay Norlin Airlan) là một bộ phận của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (nước Anh) nằm ở đông bắc của đảo Ireland. Trong các điều khoản khác nhau, Bắc Ireland được mô tả như một quốc gia, tỉnh hay vùng của nước Anh. Bắc Ireland có biên giới với Cộng hòa Ireland ở phía nam và phía tây. Theo số liệu điều tra năm 2011, có 1.810.900 cư dân sinh sống tại Bắc Ireland, chiếm khoảng 30% tổng dân số toàn đảo Ireland và khoảng 3% dân số nước Anh. Kể từ khi ký kết Thỏa thuận Thứ sáu Tuần Thánh năm 1998, Bắc Ireland được tự trị ở mức độ lớn. Theo thỏa thuận, Bắc Ireland hợp tác với phần còn lại của đảo Ireland trên một số phạm vi chính sách, trong khi chính phủ nước Anh duy trì quyền lực với các lĩnh vực khác, mặc dù Cộng hòa Ireland "có thể trình bày quan điểm và đề nghị".
Trong nhiều năm, Bắc Ireland là nơi diễn ra một cuộc xung đột bạo lực và quyết liệt, được gọi với cái tên the Troubles. Nguyên nhân của cuộc xung đột này là sự chia rẽ giữa hai lực lượng, thứ nhất là những người dân tộc chủ nghĩa tự nhìn nhận mình là người Ireland và chủ yếu là tín đồ Giáo hội Công giáo Rôma, lực lượng còn lại là những người hợp nhất chủ nghĩa vốn tự nhìn nhận mình là người Anh (British) và chủ yếu là tín đồ Tin Lành. Thêm vào đó, cũng có những người nhận mình là người Bắc Ireland Những người hợp nhất chủ nghĩa mong muốn Bắc Ireland vẫn tiếp tục là một bộ phận của nước Anh, trong khi những người dân tộc chủ nghĩa muốn tái thống nhất với phần còn lại của đảo Ireland, độc lập với quyền cai trị của nước Anh. Từ năm 1998, hầu hết các nhóm bán quân sự liên quan đến the Troubles đã chấm dứt chiến dịch vũ trang của họ.
Bắc Ireland đã là khu vực công nghiệp hóa mạnh nhất trên hòn đảo từ trước. Sau khi suy giảm do hậu quả của bất ổn chính trị và xã hội trong nửa cuối thế kỷ 20, kinh tế Bắc Ireland đã phát triển đáng kể từ thập niên 1990. Điều này một phần là do "phân chia hòa bình" và một phần là do liên kết và tăng cường thương mại với Cộng hòa Ireland.
== Lịch sử ==
Khu vực mà ngày nay là Bắc Ireland là tâm điểm trong cuộc kháng chiến của người Ireland nhằm chống lại các chương trình thực dân hóa của người Anh vào cuối thế kỷ 16. Quốc vương Henry Đệ Lục của Anh đã tuyên bố thành lập Vương quốc Ireland do người Anh kiểm soát vào năm 1542, song việc người Ireland tiến hành kháng cự đã khiến cho sự kiểm soát của người Anh trở nên rời rạc. Sau khi người Ireland chiến bại trong trận Kinsale, các quý tộc Công giáo người Gael trên đảo đã chạy trốn đến lục địa châu Âu vào năm 1607 và khu vực này trở thành nơi mà những người định cư Tin Lành bao gồm người Anh (chủ yếu theo Anh giáo) và người Scotland (chủ yếu theo Giáo hội Trưởng Lão) tiến hành các chương trình thực dân hóa quy mô lớn. Từ năm 1610 đến 1717, có thể đã có đến 100.000 người Lowland đến từ Scotland trên khắp hòn đảo Ireland, và sau này tại Ulster thì cứ mỗi ba người Ireland lại có năm người Scotland và một người Anh. Các quý tộc Ireland đã tiến hành một cuộc khởi nghĩa vào năm 1641 để chống lại quyền cai trị của người Anh, dẫn đến một cuộc thảm sát những người định cư tại Ulster trong bối cảnh việc thiếu khoan dung tôn giáo trong chính quyền đã châm ngòi cho chiến tranh giữa Anh, Scotland và Ireland. Các chiến thắng của quân Anh trong cuộc chiến này và các chiến thắng của những tín đồ Tin Lành trong chiến tranh William tại Ireland đã khiến sự cai trị của Anh giáo tại Ireland thêm vững chắc. Tại Bắc Ireland, các chiến thắng có tính biểu tượng như bao vây Derry (1689) và trận Boyne (1690) trong giai đoạn sau này của cuộc chiến vẫn được những người hợp nhất chủ nghĩa tổ chức cho đến nay (cả Anh giáo và Trưởng Lão).
Sau chiến thắng năm 1691, và trái ngược với các điều khoản của Hiệp định Limerick, giai cấp thống trị Anh giáo tại Ireland đã thông qua một loạt các điều luật. Mục đích của họ là đưa cộng đồng Công giáo vào thế bất lợi, và ở một mức độ thấp hơn là cộng đồng Trưởng Lão. Trong bối cảnh phân biệt đối xử, thế kỷ 18 đã chứng kiến các xã hội bí mật, chiến đấu trong các cộng đồng của khu vực và thực hiện các cuộc tấn công bạo lực gây tác động đến căng thẳng giáo phái. Những sự việc này leo thang vào cuối thế kỷ sau một sự kiện được gọi là trận Diamond, nó đã thể hiện uy thế của tổ chức Peep o'Day Boys gồm những người Anh giáo và Trường Lão trước tổ chức Defenders của người Công giáo và dẫn đến sự hình thành của tổ chức Anh giáo Orange Order. Hội người Ireland Liên hiệp có căn cứ tại Belfast đã lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa năm 1798, cuộc khởi nghĩa này được truyền cảm hứng từ Cách mạng Pháp nhằm phá vỡ mối quan hệ lập hiến giữa Ireland và Anh, và thống nhất người Ireland trong tất cả các cộng đồng. Theo sau đó, trong một nỗ lực nhằm chấm dứt chủ nghĩa bè phái và loại bỏ các điều luật phân biệt đối xử (và để ngăn chặn chủ nghĩa cộng hòa kiểu Pháp lan rộng đến Ireland), chính phủ Vương quốc Anh đã thúc đẩy hợp nhất hai vương quốc. Nhà nước mới được thành lập vào năm 1801 với tên gọi Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland, và được điều hành từ một chính phủ và nghị viện đơn nhất đặt tại Luân Đôn.
Từ năm 1717 đến năm 1775, có khoảng 250.000 người đã nhập cư đến các thuộc địa châu Mỹ từ Ulster.
=== Phân chia Ireland ===
Trong thế kỷ 19, các cải cách luật pháp bắt đầu từ cuối thế kỷ 18 đã loại bỏ các điều luật phân biệt đối xử với tín đồ Công giáo và các chương trình tiến bộ đã cho phép tá điền mua đất từ địa chủ thay vì phải thuê như trước. Đến cuối thế kỷ, quyền tự trị dành cho Ireland trong phạm vi nước Anh, gọi là Home Rule (tức trị trị hay tự quản), được đánh giá rất có khả năng xảy ra. Năm 1912, nó đã trở thành một điều chắc chắn. Một mâu thuẫn giữa Hạ viện và Thượng viện về một khoản ngân sách gây tranh cãi đã dẫn đến Đạo luật Nghị viện 1911, trong đó cho phép quyền phủ quyết của Thượng viện có thể bị lật ngược. Quyền phủ quyết của Thượng viện là một sự đảm bảo chính đối với những người hợp nhất chủ nghĩa rằng Home Rule sẽ không được ban hành, do phần lớn các thành viên trong Thượng viện là những người hợp nhất chủ nghĩa. Đáp lại, những người phản đối Home Rule trong giới lãnh đạo Đảng Bảo thủ và Hợp nhất như Andrew Bonar Law và đại luật sư Edward Carson ở Dublin đã đe dọa sử dụng vũ lực. Năm 1914, họ lén nhập hàng nghìn súng trường cùng đạn dược từ Đế quốc Đức để các tình nguyện viên Ulster sử dụng, đây là một tổ chức bán quân sự phản đối thi hành Home Rule.
Những người Hợp nhất chủ nghĩa chỉ là thiểu số trên toàn hòn đảo Ireland, song họ lại chiếm đa số tại tỉnh miền bắc Ulster và chiếm một đa số rất lớn tại hạt Antrim và hạt Down, và với đa số nhỏ tại hạt Armagh và hạt Londonderry. Cũng có một số lượng những người hợp nhất chủ nghĩa đáng kể tập trung tại hạt Fermanagh và hạt Tyrone. Sáu hạt này sau đó hình thành nên Bắc Ireland. Toàn bộ 26 hạt còn lại sau đó trở thành Cộng hòa Ireland, nơi mà những người dân tộc chủ nghĩa chiếm thế áp đảo.
Năm 1914, Đạo luật Tự trị thứ ba đã tạo ra sự phân chia "tạm thời" sáu hạt này với phần còn lại của Ireland, nhận được ngự chuẩn. Tuy nhiên, việc thi hành nó đã bị đình hoãn trước khi nó bắt đầu có hiệu lực do Chiến tranh Thế giới thứ nhất bùng nổ. Cuộc chiến này được dự tính là sẽ chỉ kéo dài trong một vài tuần song trên thực tế nó đã kéo dài trong bốn năm. Đến cuối cuộc chiến (trong thời gian này đã nổ ra khởi nghĩa Phục sinh vào năm 1916), Đạo luật được nhìn nhận là không thể thực hiện được. Trong chiến tranh, quan điểm công chúng của cộng đồng "dân tộc chủ nghĩa" chiếm đa số (những người tìm kiếm độc lập lớn hơn từ nước Anh) tại Ireland đã chuyển từ tự trị sang độc lập hoàn toàn. Năm 1919, David Lloyd George đã đề xuất một dự luật mới mà trong đó sẽ phân chia Ireland thành hai khu vực Home Rule: hai mươi sáu hạt được quản lý từ Dublin và sáu hạt được quản lý từ Belfast. Hai khu vực này sẽ có chung một đại thần (Lord Lieutenant of Ireland) do cả chính phủ và Hội đồng Ireland bổ nhiệm, Hội đồng Ireland là cơ cấu mà Lloyd George tin rằng sẽ phát triển thành một nghị viện toàn Ireland. Trong cuộc tổng tuyển cử vào năm 1918, đảng ủng hộ độc lập là Sinn Féin đã thắng 73 trong tổng số 105 ghế của nghị viện tại Ireland và đơn phương thành lập First Dáil, một nghị viện pháp ngoại tại Ireland.
Ireland bị chia tách giữa Bắc Ireland và Nam Ireland vào năm 1921 theo các điều khoản của Đạo luật Chính phủ Ireland của Lloyd George trong chiến tranh giành độc lập giữa các lực lượng Ireland và nước Anh. Đến khi kết thúc cuộc chiến vào ngày 6 tháng 12 năm 1922, theo các điều khoản của hiệp định Anh-Ireland, Bắc Ireland tạm thời trở thành một bộ phận tự trị của Nhà nước Tự do Ireland mới giành được độc lập, với quyền được lựa chọn không gia nhập vào nó.
=== Bắc Ireland ===
Theo đúng như mong đợi, Nghị viện Bắc Ireland vào ngày 7 tháng 12 năm 1922 (một ngày sau khi Nhà nước Tự do Ireland được thành lập) đã gửi thư cho George Đệ Ngũ khẩn cầu rằng quyền lực của Nghị viện và Chính phủ Nhà nước Tự do Ireland sẽ không thể mở rộng đến Bắc Ireland". Ngay sau đó, một ủy ban được thành lập để phân xử biên giới lãnh thổ giữa Nhà nước Tự do Ireland và Bắc Ireland. Do bùng nổ nội chiến tại Nhà nước Tự do, công việc của ủy ban bị trì hoãn cho đến năm 1925. Các lãnh đạo tại Dublin đòi hỏi thu nhỏ đáng kể lãnh thổ của Bắc Ireland với việc đưa các khu vực dân tộc chủ nghĩa về với Nhà nước Tự do. Tuy nhiên, báo cáo của ủy ban này lại chỉ đề nghị nhượng một số phần đất nhỏ của Nhà nước Tự do cho Bắc Ireland. Để tránh tranh cãi, báo cáo này đã được giữ kín.
Tháng 6 năm 1940, để khuyến khích nhà nước Ireland trung lập gia nhập vào Đồng Minh, thủ tướng Anh Quốc Winston Churchill đã biểu thị với Taoiseach Éamon de Valera rằng Anh Quốc sẽ thúc đẩy Ireland thống nhất, song vì cho rằng Churchill không thể thực hiện điều này, De Valera đã từ chối lời đề nghị. Người Anh đã không thông báo điều này cho Chính phủ Bắc Ireland, và lời từ chối của De Valera đã không được công bố công khai cho đến năm 1970.
Đạo luật Ireland 1949 là một đảm bảo pháp lý đầu tiên với Nghị viện và Chính phủ Bắc Ireland rằng khu vực sẽ không thể thôi là một phần của Anh Quốc mà không có sự chấp thuận của phần lớn cư dân trong vùng.
=== The Troubles ===
Giai đoạn The Troubles (rối loạn) bắt đầu từ cuối thập niên 1960, với khoảng 30 năm diễn ra các hành động bạo lực định kỳ trong xung đột giữa cộng đồng dân tộc chủ nghĩa Bắc Ireland (chủ yếu là tín đồ Công giáo) và cộng đồng hợp nhất chủ nghĩa (chủ yếu là tín đồ Tin Lành), với 3.254 người bị giết. Cuộc xung đột có nguyên nhân từ địa vị tranh cãi của Bắc Ireland bên trong Anh Quốc và sự phân biệt đối xử chống lại thiểu số dân tộc chủ nghĩa của đa số hợp nhất chủ nghĩa. Từ năm 1967 đến 1972, Hiệp hội Dân quyền Bắc Ireland (NICRA), tự đi theo mô hình của phong trào dân quyền Hoa Kỳ, đã lãnh đạo một chiến dịch phản kháng dân sự để chống lại sự phân biệt đối xử với người Công giáo trong nhà ở, việc làm, chính sách và thủ tục bầu cử. Tuy nhiên chiến dịch NICRA và phản ứng chống lại nó đã trở thành tiền thân của một thời kỳ bạo lực lớn hơn. Ngay từ năm 1969, các nhóm bán quân sự bắt đầu các chiến dịch vũ trang. Chiến dịch Quân đội Cộng hòa Ireland Lâm thời 1969-1997 có mục tiêu nhằm chấm dứt quyền cai trị của Anh Quốc tại Bắc Ireland và hình thành một Cộng hòa Ireland "ba mươi hai hạt", "toàn Ireland" mới. Lực lượng tình nguyện viên Ulster đã được thành lập vào năm 1966 để đối phó lại cả sự suy giảm quan điểm của các nhân vật Anh Quốc và sự thống trị của hợp nhất chủ nghĩa tại Bắc Ireland. Các lực lượng an ninh nhà nước – Lục quân Anh Quốc và cảnh sát (Cảnh sát Hoàng gia Ulster) – cũng tham gia vào các hành động bạo lực. Quan điểm của chính phủ Anh Quốc là lực lượng của họ trung lập trong cuộc xung đột, cố gắng để duy trì luật pháp và trật tự tại Bắc Ireland cùng quyền tự quyết dân chủ của người dân Bắc Ireland. Những người Ireland cộng hòa thì nhìn nhận lực lượng nhà nước như là những "chiến đấu viên" trong xung đột, cáo buộc sự thông đồng giữa lực lượng nhà nước và lực lượng bán quân sự trung thành. Cuộc điều tra "Ballast" do Police Ombudsman tiến hành đã xác nhận rằng lực lượng Anh Quốc, đặc biệt là Cảnh sát Hoàng gia Ulster, đã thông đồng với các lực lượng bán quân sự trung thành, liên quan đến việc giết người, và cản trở tiến trình công lý khi những lời tuyên bố như vậy được đưa ra trước đây,
Như một hậu quả của tình hình an ninh ngày càng xấu đi, chính phủ khu vực tự trị Bắc Ireland đã bị đình chỉ vào năm 1972. Cùng với tình trạng bạo lực, còn có một bế tắc chính trị giữa các chính đảng lớn tại Bắc Ireland, bao gồm những người lên án bạo lực, trên vấn đề địa vị tương lai của Bắc Ireland và mô hình chính phủ cần có tại Bắc Ireland. Năm 1973, Bắc Ireland đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để xác định liệu lãnh thổ này cần ở lại Anh Quốc hay trở thành một phần của Ireland thống nhất. Cuộc trưng cầu có kết quả là tuyệt đại đa số (98.9%) duy trì tình trạng hiện tại và có 57,5% khu bầu cử có toàn bộ cử tri ủng hộ, song chỉ có 1% người Công giáo đi bầu sau một cuộc tẩy chay do Đảng Dân chủ Xã hội và Lao động (SDLP) tổ chức.
=== Tiền trình hòa bình ===
The Troubles kết thúc với một tiến trình hòa bình không dễ dàng, trong đó bao gồm việc hầu hết các tổ chức bán quân sự ngừng bắn và họ sẽ bị tước hoàn toàn vũ khí, cải cách cảnh sát, và tương ứng với đó là việc quân đội rút lui khỏi các đường phố và khỏi các khu vực ranh giới nhạy cảm như Nam Armagh và Fermanagh, theo thỏa thuận giữa các bên ký kết Hiệp định Belfast (thường được gọi là "Hiệp định Thứ Sáu Tuần Thánh"). Hiệp định này khẳng định lại vị thế lâu nay của Anh Quốc, vốn chưa bao giờ được các chính phủ Ireland kế tiếp nhau thừa nhận hoàn toàn, rằng Bắc Ireland sẽ vẫn duy trì là một phần của Anh Quốc cho đến khi có một đa số phiếu thể hiện mong muốn ngược lại. Hiến pháp Ireland đã được sửa đổi vào năm 1999 để loại bỏ một tuyên bố về "quốc gia của người Ireland" có chủ quyền tên toàn bộ Ireland (trong Điều 2). Điều 2 và 3 đã được thêm vào Hiến pháp để loại bỏ các điều khoản trước đây, mặc nhiên thừa nhận rằng tình trạng của Bắc Ireland, và mối quan hệ của nó với phần còn lại bên trong Anh Quốc và với Cộng hòa Ireland, sẽ chỉ thay đổi với sự đồng ý của đa số cư tri của cả hai khu vực pháp lý (Cộng hòa Ireland bỏ phiếu riêng rẽ). Điều này cũng là trung tâm của Hiệp định Belfast được ký kết vào năm 1998 và được thông qua bằng các cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức đồng thời tại Bắc Ireland và Cộng hòa Ireland. Đồng thời, chính phủ Anh Quốc cũng lần đầu tiên công nhận, như là một phần của tương lai, cái gọi là "Irish dimension": nguyên tắc rằng người dân trên đảo Ireland như là một toàn thể có quyền, mà không có sự can thiệp từ bên ngoài, để giải quyết các vấn đề giữa Bắc và Nam theo thỏa thuận chung. Tuyên bố này là chìa khóa quyết định để những người dân tộc chủ nghĩa và cộng hòa chấp thuận thỏa thuận. Nó cũng hình thành một chính phủ chia sẻ quyền lực phân cấp tại Bắc Ireland, trong đó phải bao gồm cả các đảng hợp nhất chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa. Ngày 28 tháng 7 năm 2005, Quân đội Cộng hòa Ireland Lâm thời đã tuyên bố chấm dứt các chiến dịch của mình và cho ngừng hoạt động toàn bộ kho vũ khí đạn dược của họ. Hành động cuối cùng này phù hợp với Hiệp định Belfast năm 1998.
== Chính trị ==
Sự phân chia chính trị chủ yếu tại Bắc Ireland là giữa những người Hợp nhất chủ nghĩa hay Trung thành muốn thấy Bắc Ireland tiếp tục là một phần của Anh Quốc và những người Dân tộc chủ nghĩa hay Cộng hòa mong muốn thấy Bắc Ireland kết hợp với phần còn lại của Ireland, độc lập khỏi Anh Quốc. Hai quan điểm đối lập này liên hệ đến các phân chia văn hóa sâu hơn. Những người hợp nhất chủ nghĩa đa phần theo Tin Lành, tổ tiên của họ phần lớn là người Scotland, người Anh, người Wales và Huguenot định cư cũng như những người Ireland Gael cổ đã cải sang một trong các giáo phái Tin Lành. Những người dân tộc chủ nghĩa chủ yếu là tín đồ Công giáo và là hậu duệ của những cư dân đã định cư tại Ireland từ xưa, cùng một thiểu số người Highland Scotland cũng như một số người cải đạo từ Tin Lành sang. Sự phân biệt đối xử chống lại những người dân tộc chủ nghĩa dưới thời chính phủ Stormont (1921–1972) đã làm dấy lên phong trào dân quyền dân tộc chủ nghĩa trong thập niên 1960.
Một số người hợp nhất chủ nghĩa biện luận rằng bất kỳ sự phân biệt đối xử nào cũng đều không chỉ do cố chấp tôn giáo hay chính trị, mà còn là kết quả của các yếu tố xã hội-kinh tế, xã hội-chính trị và địa lý. Dù nguyên nhân có là gì, sự tồn tại của hành vi phân biệt đối xử đã khiến người Công giáo tức giận và góp phần dẫn đến cuộc xung đột the Troubles trong thời gian dài. Giai đoạn bạo lực nhất kéo dài từ 1968 đến 1994.
Đến năm 2007, 36% cư dân Bắc Ireland xác định mình là người hợp nhất chủ nghĩa, 24% xác định mình là người dân tộc chủ nghĩa và 40% không xác nhận thuộc nhóm nào trong hai nhóm. Theo một cuộc thăm dù ý kiến vào năm 2009, 69% bày tỏ muốn duy trì Bắc Ireland là một thành viên của Anh Quốc (cai trị trực tiếp hoặc chính phủ phân cấp), trong khi 21% bảy tỏ muốn Bắc Ireland trở thành thành viên của một Ireland thống nhất. Sự khác biệt này có thể được diễn giải rằng có một con số áp đảo người Tin Lành lựa chọn vẫn là một phần của Anh Quốc (91%), trong khi người Công giáo lựa chọn các giải pháp khác nhau như vẫn là một phần của Anh Quốc (47%), một Ireland thống nhất (40%), Bắc Ireland trở thành một nhà nước độc lập (5%), và những người trả lời "không biết" (5%).
== Địa lý và khí hậu ==
Bắc Ireland bị một phiến băng bao phủ trong hầu hết kỉ băng hà thứ tư và nhiều lần trước, có thể trông thấy dấu tích của việc này trong các drumlin rộng rãi ở các hạt Fermanagh, Armagh, Antrim và đặc biệt là ở hạt Down. Hạch tâm địa lý của Bắc Ireland là Lough Neagh, với diện tích 151 dặm vuông Anh (391 km2) thì đây là hồ nước ngọt lớn nhất cả trên đảo Ireland lẫn tại quần đảo Anh. Hệ thống hồ trải rộng thứ hai tập trung tại Hạ và Thượng Lough Erne ở Fermanagh. Đảo lớn nhất Bắc Ireland là Rathlin, ở ngoài khơi bờ biển Antrim. Vịnh Strangford là vịnh hẹp lớn nhất tại quần đảo Anh với diện tích 150 km2 (58 sq mi).
Bắc Ireland có các vùng núi cao đáng kể tại dãy núi Sperrin (một phần mở rộng của Kiến tạo sơn Caledonia), dãy núi Mourne và cao nguyên Antrim với tài nguyên vàng, đá hoa cương và đá bazan, cũng như các dãy núi nhỏ hơn tại Nam Armagh và dọc theo ranh giới Fermanagh–Tyrone. Không có ngọn đồi nào đặc biệt cao, cao nhất là đỉnh Slieve Donard tại dãy Mourne đạt 849 mét (2.785 ft). Hoạt động núi lửa đã tạo nên cao nguyên Antrim, nó cũng hình thành các cột trụ có hình thù kỳ lạ Giant's Causeway trên bờ biển phía bắc Antrim.
Hạ du và Thượng du sông Bann, sông Foyle và sông Blackwater hình thành vùng đất thấp màu mỡ rộng lớn tại Bắc Ireland, và vùng đất trồng trọt tươi tốt cũng xuất hiện tại Bắc và Đông Down, song phần lớn vùng quê gò đồi khó có thể trồng trọt được và đa phần thích hợp cho chăn nuôi.
Belfast nằm trên Thung lũng sông Lagan, vùng đô thị của Belfast chiếm tới một phần ba tổng số cư dân của Bắc Ireland, sự thành thị hóa và công nghiệp hóa mạnh nằm dọc theo thung lũng Lagan và đôi bờ vịnh Belfast.
Toàn bộ Bắc Ireland có khí hậu đại dương ôn hòa, phía tây hơi ẩm ướt hơn phía đông, song mây mù che phủ liên tục khu vực. Thời tiết tại Bắc Ireland là không thể đoán trước ở vào tất cả các thời gian trong năm, và mặc dù các mùa có sự phân biệt song chúng được đánh giá là ít rõ ràng hơn so với vùng nội địa châu Âu hay vùng ven biển phía đông Bắc Mỹ. Nhiệt độ trung bình ngày tối cao tại Belfast là 6,5 °C (43,7 °F) vào tháng 1 và 17,5 °C (63,5 °F) vào tháng 7. Khí hậu ẩm ướt và nạn phá rừng rộng khắp từ thế kỷ 16 và 17 đã dẫn đến việc nhiều khu vực bị đồng cỏ xanh tốt bao phủ. Nhiệt độ cao nhất từng được ghi nhận là 30,8 °C (87,4 °F) ở Knockarevan, gần Garrison, hạt Fermanagh vào ngày 30 tháng 6 năm 1976 và tại Belfast vào ngày 12 tháng 7 năm 1983. Nhiệt độ thấp nhất từng được ghi nhận là −18,7 °C (−1,7 °F) tại Castlederg, hạt Tyrone vào ngày 23 tháng 12 năm 2010.
=== Các hạt ===
Bắc Ireland gồm có 6 hạt: hạt Antrim, hạt Armagh, hạt Down, hạt Fermanagh, hạt Londonderry, hạt Tyrone
Hệ thống các hạt này không còn được sử dụng trong hệ thống hành chính địa phương; thay vào đó là hệ thống 26 quận của Bắc Ireland với phạm vi địa lý khác biệt, thậm chí cả trong trường hợp tên gọi của chúng được đặt theo các hạt cũ. Hội đồng quận Fermanagh có ranh giới tương đồng nhất với hạt cũ mà nó mang tên. Hầu hết các quận đều dựa trên cơ sở khu vực xung quanh các đô thị lớn, chẳng hạn như hội đồng quận Coleraine lấy tên theo đô thị Coleraine của hạt Londonderry.
Mặc dù các hạt không còn được sử dụng cho mục đích hành chính, chúng vẫn là một cách mô tả phổ biến khi người ta muốn đề cập đến việc một khu vực ở nơi đâu. Chúng được sử dụng chính thức trong hộ chiếu Ireland, trong đó đòi hỏi nơi sinh ở một hạt. Tên của các hạt xuất hiện cả bằng tiếng Ireland và tiếng Anh trên trang thông tin hộ chiếu, tương phản với việc ghi thị trấn hoặc thành phố được sinh ra trong hộ chiếu Anh Quốc. Hiện hội điền kinh Gaelic vẫn sử dụng tên gọi các hạt trong các hoạt động của họ.
== Kinh tế ==
Kinh tế Bắc Ireland là nền kinh tế nhỏ nhất trong bốn nền kinh tế của Anh Quốc. Bắc Ireland từ lâu đã là một nền kinh tế công nghiệp, đáng kể nhất là các ngành đóng tàu, sản xuất dây thừng và dệt may, song dịch vụ đã thay thế hầu hết các ngành công nghiệp nặng.
Du lịch cũng đóng một vai trò lớn trong nền kinh tế địa phương. Trong thời gian gần đây, nền kinh tế Bắc Ireland đã được hưởng lợi từ việc nhiều tập đoàn đa quốc gia lớn đến đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao. Các tổ chức lớn bị thu hút bởi trợ cấp từ chính phủ và lực lượng lao động Bắc Ireland có tay nghề cao.
== Giao thông ==
Bắc Ireland có ba sân bay dân dụng hoạt động – sân bay quốc tế Belfast gần Antrim, sân bay George Best Thành phố Belfast tích hợp với hệ thống đường sắt tại ga Sydenham ở Đông Belfast, và sân bay thành phố Derry tại hạt Londonderry.
Các hải cảng chính của Bắc Ireland là Larne và Belfast, chúng chở hành khách và hàng hóa qua lại giữa đảo Anh và Bắc Ireland.
Các tuyến đường sắt chuyên chở hành khách do Northern Ireland Railways điều hành. Cùng với Iarnrod Éireann (Đường sắt Ireland), Northern Ireland Railways phối hợp trong việc cung cấp dịch vụ Enterprise giữa ga Dublin Connolly và ga Belfast Trung. Có nhiều tuyến đường sắt kết nối tối và từ ga Belfast Great Victoria Street và ga Belfast Trung, gồm:
Tuyến Derry và nhánh Portrush.
Tuyến Larne Line
Tuyến Bangor Line
Tuyến Portadown
Các tuyến xa lộ chính là:
M1 kết nối Belfast với phía nam và phía tây, kết thúc tại Dungannon
M12 kết nối M1 với Portadown
M2 kết nối Belfast với phía bắc.
M22 kết nối M2 đến gần Randalstown
M3 kết nối M1 và M2 tại Belfast
M5 kết nối Belfast đến Newtownabbey
Tuyến đường xuyên biên giới nối các cảng Larne tại Bắc Ireland và cảng Rosslare tại Cộng hòa Ireland đang được nâng cấp và là một phần của một chương trình do EU tài trợ. Xa lộ châu Âu E01 chạy từ Larne qua hòn đảo Ireland, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha và kết thúc ở Sevilla.
== Nhân khẩu ==
Dân cư Bắc Ireland tăng lên mỗi năm kể từ năm 1978. Dân số lãnh thổ này vào năm 2011 là 1,811 triệu người, tăng 7,5% so với thập niên trước đó nếu lấy con số dưới 1,7 triệu theo điều tra nhân khẩu Anh Quốc năm 2001. Dân cư Bắc Ireland chiếm dưới 3% tổng dân số Anh Quốc (62 triệu) và hơn 28% tổng dân số của đảo Ireland (6,3 triệu).
Trên khía cạnh dân tộc, cư dân Bắc Ireland hầu như đều là người da trắng (98,2%). 91% cư dân sinh ra tại Bắc Ireland, 4,8% cư dân sinh ra ở những nơi khác tại Anh Quốc và 2,3% cư dân sinh tại Cộng hòa Ireland. Người lang thang Ireland chiếm khoảng 0,33% dân số Bắc Ireland. Trong số các sắc dân không phải là người da trắng, đông nhất là người Hoa (6.300) và người Ấn (6.200). Người da đen có nguồn gốc khác nhau chiếm 0,2% dân số Bắc Ireland vào năm 2011, những người hợp chủng chiếm 0,2%.
Trong cuộc điều tra năm 2011, 41,8% dân số tự xác định mình theo Tin Lành hay các giáo phái Ki-tô phi Công giáo khác. Các giáo phái lớn nhất là Giáo hội Trưởng Lão Ireland và Giáo hội Ireland và Giáo hội Giám Lý Ireland với tỷ lệ tín đồ tương ứng là 19%, 14% và 3%. Giáo phái đơn lẻ lớn nhất là Giáo hội Công giáo, với 41% dân cự xác định họ là thành viên. 0,8% dân cư xác định theo các tôn giáo phi Ki-tô giáo hay các triết lý, trong khi 17% tự xác định là không theo tôn giáo nào hoặc không nói rõ. Xét theo nền tảng cộng đồng, 48% cư dân Bắc Ireland có nền tảng Tin Lành, 45% cư dân Bắc Ireland có nền tảng Công giáo, 0,9% có nền tảng phi Kitô giáo và 5,6% có nền tảng phi tôn giáo trong cùng cuộc điều tra năm 2011.
Tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất của gần như toàn bộ người dân Bắc Ireland. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức trên thực tế và Đạo luật Quản lý Tư pháp (Ngôn ngữ) (Ireland) 1737 nghiêm cấm việc sử dụng các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh trong tố tụng pháp lý.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Jonathan Bardon, A History of Ulster (Blackstaff Press, Belfast, 1992), ISBN 0-85640-476-4
Brian E. Barton, The Government of Northern Ireland, 1920–1923 (Athol Books, 1980)
Paul Bew, Peter Gibbon and Henry Patterson The State in Northern Ireland, 1921–72: Political Forces and Social Classes, Manchester (Manchester University Press, 1979)
Tony Geraghty (2000). The Irish War. Johns Hopkins University Press. ISBN 0-8018-7117-4.
Robert Kee, The Green Flag: A History of Irish Nationalism (Penguin, 1972–2000), ISBN 0-14-029165-2
Osborne Morton, Marine Algae of Northern Ireland (Ulster Museum, Belfast, 1994), ISBN 0-900761-28-8
Henry Patterson, Ireland Since 1939: The Persistence of Conflict (Penguin, 2006), ISBN 978-1-84488-104-8
P. Hackney (ed.) Stewart's and Corry's Flora of the North-east of Ireland 3rd edn. (Institute of Irish Studies, Queen's University of Belfast, 1992), ISBN 0-85389-446-9(HB)
== Liên kết ngoài ==
Northern Ireland Executive (Northern Ireland devolved government)
Northern Ireland Office (UK central government)
Discover Northern Ireland (Northern Ireland Tourist Board) |
tổ chức hợp tác hồi giáo.txt | Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (viết tắt theo tiếng Anh: OIC) là một tổ chức quốc tế được thành lập vào năm 1969, gồm 57 quốc gia thành viên. Tổ chức tuyên bố bản thân là "tiếng nói tập thể của thế giới Hồi giáo" và hoạt động nhằm "duy trì và bảo hộ lợi ích của thế giới Hồi giáo trên tinh thần xúc tiến hòa bình và hài hòa quốc tế".
Tổ chức Hợp tác Hồi giáo có phái đoàn thường trực tại Liên Hiệp Quốc và Liên minh châu Âu. Các ngôn ngữ của Tổ chức Hợp tác Hồi giáo là tiếng Ả Rập, tiếng Anh và tiếng Pháp.
== Lịch sử và tôn chỉ ==
Kể từ thế kỷ 19, một số nhân sĩ Hồi giáo khao khát về một cộng đồng nhằm phục vụ các lợi ích chung của thế giới Hồi giáo về chính trị, kinh tế, và xã hội. Sự kiện Đế quốc Ottoman và thể chế Khalifah sụp đổ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất để lại khoảng trống về một thể chế liên Hồi giáo. Thất bại của các quốc gia Hồi giáo trong Chiến tranh Sáu ngày năm 1967 càng xúc tiến nhu cầu này. Các lãnh đạo của các quốc gia Hồi giáo tụ họp tại Rabat, Maroc để thành lập Tổ chức Hội nghị Hồi giáo vào ngày 25 tháng 9 năm 1969.
Trong hiến chương, OIC ghi rằng mục tiêu của mình là bảo tồn các giá trị xã hội và kinh tế Hồi giáo; xúc tiến tình đoàn kết trong các quốc gia thành viên; gia tăng hợp tác trong các lĩnh vực xã hội, kinh tế, văn hóa, khoa học và chính trị; kiên trì hòa bình và an ninh quốc tế; và đề xướng giáo dục, đặc biệt là trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật.
Huy hiệu của OIC gồm ba yếu tố chủ yếu là Kaaba, Trái Đất và Trăng lưỡi liềm, biểu thị dự liệu và sứ mệnh của tổ chức.
Ngày 5 tháng 8 năm 1990, 45 bộ trưởng ngoại giao của các quốc gia thành viên OIC thông qua Tuyên bố Cairo về Nhân quyền trong Hồi giáo nhằm đóng vai trò như một hướng dẫn cho các quốc gia thành viên trong các sự vụ về nhân quyền tương thích nhiều nhất có thể với Sharia, hay luật Quran.
Liên minh nghị viện các quốc gia thành viên OIC (PUOICM) được thành lập tại Iran vào năm 1999, có trụ sở tại Tehran. Chỉ có các thành viên của OIC mới có quyền làm thành viên của liên minh này.
Trong tháng 6 năm 2008, OIC tiến hành tái xét chính thức hiến chương của mình. Hiến chương được tái xét này có mục đích xúc tiến nhân quyền, các quyền tự do cơ bản, và thiện chính trong toàn bộ các quốc gia thành viên. Bản hiến chương này cũng loại bỏ hoàn toàn đề cập đến Tuyên bố Cairo về Nhân quyền trong Hồi giáo. Trong bản hiến chương này, OIC lựa chọn ủng hộ Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và pháp luật quốc tế.
Ngày 28 tháng 6 năm 2011, trong phiên họp thứ 38 của Hội đồng Bộ trưởng Ngoại giao (CFM) tại Astana, Kazakhstan, tổ chức đổi danh xưng từ Tổ chức Hội nghị Hồi giáo sang danh xưng hiện tại. OIC đồng thời cũng đổi biểu trưng.
== Quốc gia thành viên ==
Tổ chức Hợp tác Hồi giáo có 57 thành viên, 56 trong số đó cũng là quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc. Một số quốc gia, đặc biệt là tại khu vực Tây Phi không có đa số cư dân là người Hồi giáo. Một vài quốc gia có dân số Hồi giáo đáng kể như Nga và Thái Lan có tư cách quốc gia quan sát viên, trong khi Ấn Độ và Ethiopia không phải là thành viên.
=== Châu Phi ===
=== Châu Á ===
=== Châu Âu ===
=== Nam Mỹ ===
== Lập trường ==
OIC lập ra Tuyên bố Cairo về Nhân quyền trong Hồi giáo. Những người ủng hộ tuyên bố rằng nó không thay thế mà bổ sung cho Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, Điều 24 viết rằng "toàn bộ quyền lợi và tự do trong Tuyên bố này lệ thuộc Shari'ah Hồi giáo" và Điều 25 ghi rằng "Shari'ah Hồi giáo là nguồn tham chiếu duy nhất để giải thích hoặc làm rõ bất kỳ điều khoản nào trong Tuyên bố này." Các nỗ lực để Tuyên ngôn được Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc thông qua vấp phải sự chỉ trích ngày càng tăng, do nó mâu thuẫn với Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, trong đó có chỉ trích từ các tổ chức Hồi giáo tự do. Những người chỉ trích CDHR phát biểu rằng nó là “thủ thuật và đạo đức giả,” “có ý đồ nhằm phai nhạt, nếu không phải là loại trừ hoàn toàn, các quyền dân sự và chính trị được luật pháp quốc tế bảo vệ” và các nỗ lực nhằm “phá vỡ các nguyên tắc này [về tự do và bình đẳng].”
Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho rằng OIC “đấu tranh ngoan cường” và thành công trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc nhằm bao che cho các quốc gia trước những chỉ trích, ngoại trừ chỉ trích nhằm vào Israel. Chẳng hạn khi các chuyên gia báo cáo về các vi phạm nhân quyền trong Nội chiến Liban 2006, các quốc gia OIC kịch liệt phản đối các chuyên gia cả gan vượt ra ngoài các vi phạm của Israel để thảo luận về vi phạm của Hezbollah. OIC yêu cầu Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc nên làm việc mang tính hợp tác với các chính phủ lạm dụng thay vì chỉ trích họ.
Sau khi một tờ báo Đan Mạch đăng tranh biếm họa Muhammad vào tháng 9 năm 2005, Hội nghị Thượng đỉnh Hồi giáo vào tháng 12 năm 2005 chỉ trích việc phát hành biếm họa, khiến vấn đề được phủ sóng rộng hơn trên truyền thông các quốc gia Hồi giáo. Các cuộc biểu tình bạo lực sau đó khắp thế giới Hồi giáo khiến một số người thiệt mạng.
Tháng 3 năm 2012, Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc tổ chức phiên thảo luận đầu tiên về kỳ thị dựa trên thiên hướng tình dục và bản sắc giới tính. Đại biểu của Pakistan phát biểu trước phiên họp nhân danh Tổ chức Hợp tác Hồi giáo, kịch liệt phản đối cuộc thảo luận và đặt vấn đề khái niệm thiên hướng tình dục mà ông cho rằng được sử dụng để xúc tiến "hành vi dâm loạn ... chống lại giáo lý cơ bản của các tôn giáo khác nhau, trong đó có Hồi giáo". Hầu hết các quốc gia Ả Rập và một số quốc gia châu Phi sau đó rời khỏi phiên họp. Tuy vậy, các thành viên OIC là Albania, Gabon, Guinea-Bissau, và Sierra Leone đã ký kết một Tuyên bố của Liên Hiệp Quốc ủng hộ các quyền lợi của người LGBT tại Đại hội đồng.
Năm 1999, OIC thông qua Công ước OIC về Chiến đấu với chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Điều 1 của Công ước này mô tả “bất kỳ hành động hoặc đe dọa bạo lực được tiến hành bằng vũ khí, hoặc cùng các phương tiện khác, đe dọa nhân phẩm, chiếm cứ hay chiếm đoạt tài sản công hoặc tư, hay đe dọa tính ổn định, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất chính trị hoặc chủ quyền của một quốc gia.” Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho rằng định nghĩa này là mơ hồ, có nhiều điều nằm ngoài quan niệm được chấp thuận phổ biến về khái niệm khủng bố. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho rằng nó gán cho, có thể được sử dụng để gán nhãn khủng bố cho các hành động biểu thị, liên hiệp hoặc hội họp hòa bình. Trong một hội nghị tại Malaysia vào tháng 4 năm 2002, các đại biểu thất bại trong việc đạt được một định nghĩa về chủ nghĩa khủng bố, song họ bác bỏ cuộc chiến đấu của người Palestine với Israel là khủng bố, chỉ trích Israel là khủng bố nhà nước. Trong hội nghị bộ trưởng ngoại giao Hồi giáo thứ 34 34th Islamic Conference of Foreign Ministers (ICFM) vào tháng 5 năm 2007, các đại biểu xác định ám ảnh lo sợ Hồi giáo là "dạng tệ nhất của chủ nghĩa khủng bố".
OIC chỉ trích Thái Lan về lạm dụng nhân quyền tại các tỉnh Pattani, Yala, và Narathiwat có đa số cư dân là người Hồi giáo. Ngày 18 tháng 10 năm 2005, Tổng thư ký Ihsanoglu lên tiếng quan ngại về xung đột tiếp diễn tại miền Nam Thái Lan "cướp đi sinh mạng của người dân vô tội và buộc cư dân địa phương phải di cư khỏi quê hương của họ". Ấn Độ chỉ trích OIC do tổ chức đề cập các bộ phận của Kashmir là "Ấn Độ chiếm cứ". Mặc dù Ấn Độ có khoảng 12% cư dân Hồi giáo toàn cầu, song quốc gia này bị Pakistan ngăn cản gia nhập OIC.
Hội nghị hượng đỉnh năm 2014 của OIC tại New York kết thúc mà không thông qua được bất kỳ nghị quyết hay kết luận nào, nguyên nhân là Ai Cập, Iran và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất yêu cầu loại bỏ thuật ngữ "Quốc gia Síp Thổ Nhĩ Kỳ" khi ám chỉ đến Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ Bắc Síp có vị thế quan sát viên trong tổ chức.
== Cấu trúc ==
Hội nghị thượng đỉnh Hồi giáo có sự hiện diện của các quốc vương và nguyên thủ quốc gia và chính phủ của các quốc gia thành viên, được nhóm họp mỗi ba năm. Hội nghị thượng đỉnh Hồi giáo ra quyết định chính sách và chỉ đạo về toàn bộ các vấn đề liên quan đến thực hiện các mục tiêu quy định tại Hiến chương và đánh giá các vấn đề khác liên quan đến các quốc gia thành viên và cộng đồng.
Hội nghị Ngoại trưởng Hồi giáo được tổ chức mỗi năm một lần để kiểm tra một báo cáo tiến triển về thi hành các quyết định của tổ chức trong khuôn khổ chính sách được Hội nghị thượng đỉnh Hồi giáo xác định.
Tổng thư ký được Hội đồng Ngoại trưởng bầu ra, có nhiệm kỳ 5 năm, được tái cử một lần. Tổng thư ký được bầu từ công dân của các quốc gia thành viên theo nguyên tắc phân bổ công bằng về địa lý, luân phiên và cơ hội bình đẳng cho toàn bộ các quốc gia thành viên có quan tâm đến năng lực, tính chính trực và kinh nghiệm.
Ban Thư ký thường trực là một cơ quan chấp hành của Tổ chức, được ủy thác thực thi các quyết định của hai thể chế trên, đặt tại Jeddah, Ả Rập Saudi.
Cơ quan phụ trợ
Trung tâm Thống kê, Nghiên cứu và Đào tạo Kinh tế-Xã hội các Quốc gia Hồi giáo (SESRIC) tại Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ.
Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử, Nghệ thuật và Văn hóa Hồi giáo (IRCICA), tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ.
Đại học Kỹ thuật Hồi giáo, tại Dhaka, Bangladesh.
Trung tâm Hồi giáo về Phát triển Mậu dịch, tại Casablanca, Maroc.
Viện hàn lâm Fiqh Hồi giáo Quốc tế, tại Jeddah, Ả Rập Saudi.
Ban Chấp hành Quỹ Đoàn kết Hồi giáo và Waqf của nó, tại Jeddah, Ả Rập Saudi.
Đại học Hồi giáo tại Niger, tại Say, Niger.
Đại học Hồi giáo tại Uganda, tại Mbale, Uganda.
Cơ quan Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Hồi giáo (ISESCO), tại Rabat, Maroc.
Tổ chức Phát thanh-Truyền hình các Quốc gia Hồi giáo (ISBO) và Thông tấn xã Hồi giáo Quốc tế (IINA), tại Jeddah, Ả Rập Saudi
Cơ quan liên kết
Phòng Công thương Hồi giáo (ICCI), tại Karachi, Pakistan.
Diễn đàn Kinh tế Hồi giáo Thế giới (WIEF), tại Kuala Lumpur, Malaysia.
Tổ chức các Thủ đô và Thành phố Hồi giáo (OICC), tại Jeddah, Ả Rập Saudi.
Liên đoàn thể thao của Đại hội Thể thao Đoàn kết Hồi giáo, tại Riyadh, Ả Rập Saudi.
Hội đồng Hồi giáo về Trăng lưỡi liềm Quốc tế (ICIC), tại Benghazi, Libya.
Hiệp hội chủ tàu Hồi giáo (ISA), tại Jeddah, Ả Rập Saudi.
Liên đoàn Thế giới các trường Ả Rập-Hồi giáo Quốc tế, tại Jeddah, Ả Rập Saudi.
Hiệp hội Quốc tế các Ngân hàng Hồi giáo, tại Jeddah, Ả Rập Saudi.
Hội nghị Diễn đàn Thanh niên Hồi giáo về Đối thoại và Hợp tác (ICYF-DC), tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ.
Đại hội đồng các Ngân hàng và Thể chế Tài chính Hồi giáo (CIBAFI), tại Manama, Bahrain.
Viện Tiêu chuẩn và Đo lường các Quốc gia Hồi giáo (SMIIC), tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ.
== Tổng thư ký ==
== Hội nghị Thượng đỉnh Hồi giáo ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của Tổ chức Hợp tác Hồi giáo
Official website of the Islamic Conference with documents and information from the latest Summit (Arabic, English, French)
Website chính thức của phái đoàn thường trực của OIC tại Liên hợp quốc
The official website of The Statistical, Economic and Social Research and Training Centre for Islamic Countries (SESRIC)
ngày 18 tháng 10 năm 2003: speech from Dr Mahathir bin Mohamad speech at the 10th OIC Summit
ngày 14 tháng 9 năm 2001: statements from the Organisation of Islamic Conference
OIC: 40 Years of frustration - Al Jazeera report (video) |
tuấn hưng.txt | Nguyễn Tuấn Hưng, sinh ngày 5 tháng 10 năm 1978 tại Hà Nội, là một ca sĩ nhạc trẻ của Việt Nam. Anh được công chúng biết đến qua vai trò là thành viên của nhóm nhạc Quả dưa hấu - nhóm nhạc nổi tiếng của Hà Nội vào những năm cuối thế kỉ 20 và qua vai trò một ca sĩ solo với các ca khúc Tình yêu lung linh, Tình là gì, Dĩ vãng cuộc tình, Chia xa, Tình yêu nào phải trò chơi, Tìm lại bầu trời,...
Năm 2015, Tuấn Hưng, cùng với Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Tâm và Thu Phương đảm nhiệm vị trí giám khảo của chương trình Giọng hát Việt mùa thứ 3.
== Thân thế ==
Tuấn Hưng, tên thật là Nguyễn Tuấn Hưng, sinh ngày mồng 5 tháng 10 năm 1978 tại Hà Nội, nguyên quán Hưng Yên.
== Con đường âm nhạc ==
Năm 1995, khi đang học lớp 11, trong liên hoan văn nghệ mừng ngày Nhà giáo Việt Nam tại trường cấp 3, Tuấn Hưng đã khiến mọi người bất ngờ với giọng ca trầm ấm khi thể hiện ca khúc "Hàn gắn thế giới". Sau này, khi đang là sinh viên năm III Đại học dân lập Thăng Long (khoa Quản trị kinh doanh), anh đã bỏ ngang để đi hát cùng nhóm Quả dưa hấu.
=== Quả dưa hấu ===
Tuấn Hưng đã quyết định chọn con đường ca hát cùng nhóm Quả dưa hấu mặc dù gặp không ít lời phản đối từ gia đình, bạn bè. Bốn chàng trai Bằng Kiều, Anh Tú, Tuấn Hưng, Tường Văn của Quả dưa hấu ngày nào đã chiếm được rất nhiều cảm tình từ người hâm mộ Hà Thành trước khi quyết định tách ra hát solo.
=== Nam tiến ===
Tháng 2 năm 2000, Hưng quyết định vào Sài Gòn để lập nghiệp. Dấu ấn đầu tiên của Tuấn Hưng tại Sài Gòn là lần biểu diễn chương trình CLB Bạn yêu nhạc tại Nhà hát Bến Thành đúng ngày sinh nhật của mình.
Trong hơn 10 năm ca hát, Tuấn Hưng đã phát hành trên thị trường âm nhạc 12 album, album đầu tiên "Vũ điệu thần tiên" phát hành năm 2001 và gần đây nhất là "Tìm lại bầu trời" năm 2012 với những bài hát “Dĩ vãng cuộc tình”, “Cầu vồng khuyết”, “Tình yêu lung linh”, “Vẫn nhớ”, "Tìm lại bầu trời",...
== Sân khấu và điện ảnh ==
Tuấn Hưng được đạo diễn Hồng Vân mời đóng vai Xuân Tóc đỏ (thay Bằng Kiều) trong vở kịch "Số đỏ" (chính thức ra mắt tại sân khấu Phú Nhuận vào tối thứ hai 11 tháng 3 năm 2002.
Ngoài ca hát, Tuấn Hưng còn được biết đến qua một số bộ phim như "Cho một tình yêu" (2010), "Những nụ hôn rực rỡ" (2010),..
== Phong cách âm nhạc ==
Với chất giọng trầm, Tuấn Hưng thường thể hiện các ca khúc về tình yêu với nhiều nốt cao, tuy nhiên, thỉnh thoảng anh cũng thể hiện các ca khúc sôi động Dance, house hoặc electro.
Trong thời gian đầu, Tuấn Hưng cũng hay thể hiện các ca khúc nhạc Hoa phổ lời Việt nổi tiếng. Tuy nhiên, về sau anh chuyên tâm thể hiện các ca khúc của nhạc sĩ Việt hơn, phong cách âm nhạc và hát của anh cũng trở nên đa dạng và phong phú hơn. Ngoài ra, Tuấn Hưng cũng từng viết nhiều ca khúc.
== Giám khảo The Voice ==
Tuấn Hưng đã trở thành giám khảo cho chương trình Giọng Hát Việt 2015 (mùa thứ ba) cùng với Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng, Thu Phương.
== Đời tư ==
Tuấn Hưng đã kết hôn cùng Hương Baby tại Hà Nội vào ngày 5 tháng 4 năm 2014.
== Sở thích khác ==
Ngoài các sở thích về ca hát, Tuấn Hưng còn rất hâm mộ thể thao. Trước khi tình cờ trở thành ca sĩ, Tuấn Hưng đã từng được xem như là một người có triển vọng về sự nghiệp thể thao khi anh tham gia đội bóng năng khiếu Thể Công, cũng như đã từng đoạt giải cấp thành phố về môn bóng bàn. Trong các năm gần đây, Tuấn Hưng đã tham gia giải bóng đá "phủi" Ngoại Hạng Hà Nội cùng đội bóng H.A.T (mà anh là chủ tịch, HLV trưởng, kiêm đội trưởng).
== Danh sách đĩa nhạc ==
=== Album phòng thu ===
Vũ điệu thần tiên (2001)
Tình yêu lung linh (2002)
Vườn tình nhân - với Ngô Thanh Vân (2002)
Đốt chút lá khô (2003)
Tình yêu hát (2004)
Vẫn nhớ 2 (2005)
Đêm định mệnh (2006)
Dance (2007)
Tình là gì (2008)
Như giấc chiêm bao - với Lệ Quyên (2008)
Nhạc...xưa (2009)
Tuấn Hưng vol. 8 (2010)
Tình yêu phôi pha (2010)
Tìm lại bầu trời (2012)
Ảo giác - Anh nhớ em (2013)
Đam mê - remixes (2014)
=== Album video ===
Liveshow Vũ điệu thần tiên (2002)
Biển tình tôi (2003)
Vẫn nhớ 2 - Dĩ vãng cuộc tình (2006)
Liveshow Ranh giới & tình yêu (2011)
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Facebook của Tuấn Hưng |
một thời ta đuổi bóng.txt | Một thời ta đuổi bóng là bộ phim truyền hình dài 32 tập của Việt Nam do Trương Dũng làm đạo diễn, phim được phát sóng vào năm 2011. Một thời ta đuổi bóng thuộc thể loại tâm lý và tình cảm, dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Hoàng Thu Dung, có sự tham gia của hai diễn viên Vân Trang và Khương Thịnh vào hai vai chính trong phim.
== Nội dung ==
Câu chuyện xoay quanh cuộc sống tình cảm và công việc của một cô gái xinh đẹp và nhân hậu tên Quý Phi. Ba của Phi là ông Quý - một giáo sư nổi tiếng của thành phố, còn mẹ cô là trưởng phòng của một công ty tư nhân. Sau khi tốt nghiệp đại học loại giỏi và biết nhiều ngoại ngữ, Phi về làm việc cho công ty thủy sản Hưng Thịnh, tổng giám đốc của công ty là bạn của ông Quý. Vào thời gian đầu làm việc, phó giám đốc của công ty là Trần Nghiêm đã gây cho Phi biết bao nhiêu rắc rối, anh còn nói cho cô biết cách đây gần 20 năm ba cô và bà Chi - mẹ anh là người tình của nhau nhưng cha cô đã từ bỏ mẹ anh khi bà bị sẩy thai, từ đó Trần Nghiêm trở nên căm ghét ông Quý cũng như cả gia đình Quý Phi. Quý Phi nghĩ rằng mình phải lo lắng cho bà Chi thật tốt nhằm mục đích thay ba mình chuộc lỗi...
== Diễn viên ==
Vân Trang vai Quý Phi
Khương Thịnh vai Trần Nghiêm
Tú Vi vai Trúc
Quách Hữu Lộc vai Thiên Vũ
Nghệ sĩ ưu tú Kim Xuân vai Bà Chi
Mai Huỳnh vai Ông Quý
Thiên Hương vai Bà Quý
Huỳnh Anh Tuấn vai Ông Trực
Mã Trung vai Ông Triệu
Huy Cường vai Sang
Lộc Uyên vai Lan
Minh Hoàng vai Hùng
Trấn Thành vai Trí trề
Tiến Luật vai Trí cận
Thu Trang vai Mai
Thiên Thủy vai Đông
Châu Hồng vai Huyền
Bảo Thu vai Linh
Hải Lý vai Chủ trại tôm
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
kansas.txt | Kansas (phát âm như là Ken-dợtx) là tiểu bang ở miền Trung Tây Hoa Kỳ. Tiểu bang này được đặt tên theo sông Kansas chảy qua tiểu bang, và tên của sông bắt nguồn từ tiếng Sioux Kansa có nghĩa là "dân tộc của gió nam". Kansas là trung tâm địa lý của đất liền Hoa Kỳ.
== Địa lý ==
Kansas giáp với Nebraska về phía bắc, Missouri về phía đông, Oklahoma về phía nam, và Colorado về phía tây. Nó nằm cách đều Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Trung tâm đo đạc của Bắc Mỹ nằm thuộc Quận Osborne. Chỗ này được sử dụng làm vị trí tham khảo cho các bản đồ được vẽ bởi chính phủ. Trung tâm địa lý của các tiểu bang đất liền thuộc về Quận Smith gần Lebanon, Kansas, và trung tâm địa lý của Kansas ở thuộc Quận Barton.
Vì nó là tiểu bang trung tâm của Liên bang, việc xếp Kansas vào một miền địa lý chuẩn trong quốc gia hơi khó, nhưng nó thường được coi là một tiểu bang Trung Tây. Đôi khi phần tây nam của tiểu bang được bao gồm vào miền Tây Nam Hoa Kỳ, tại ngày xưa có lúc khi vùng đó thuộc Tây Ban Nha, México, rồi Cộng hòa Texas, trong khi những vùng khác của Kansas không phải vậy.
Tiểu bang này được chia thành 105 quận và có 628 thành phố. Kansas là một trong sáu tiểu bang thuộc Dải Biên giới.
=== Địa hình ===
Vì Kansas nằm trên đồng bằng Great Plains ở giữa Hoa Kỳ, nó thường có đất bằng phẳng hay nhấp nhô, và trên quy mô rộng lớn, nó gần như bằng phẳng hoàn toàn – thực sự bằng hơn một bánh kếp! Độ cao của nó kéo dài từ 208 mét (684 foot) bên cạnh bờ sông Verdigris tại Coffeyville ở Quận Montgomery, tới 1.231 m (4.039 foot) tại Núi Hướng dương (Mount Sunflower) ở Quận Wallace.
Sông Missouri phân chia gần 120 kilômét (75 dặm) của ranh giới đông bắc của tiểu bang. Sông Kansas bắt đầu ở chỗ mà sông Đồi khói (Smoky Hill River) và sông Cộng hòa (Republican River) nối liền ở Junction City (Thành phố Junction), và nó nối với sông Missouri tại Thành phố Kansas (Kansas City), sau khi chảy 240 km (150 dặm) qua miền đông bắc của tiểu bang. Sông Arkansas bắt đầu ở Colorado và chảy theo đường quanh co dài gần 800 km (500 dặm) qua ba phần tư của tiểu bang. Nó và các nhánh sông – sông Tiểu Arkansas, sông Walnut, nhánh sông Bò (Cow Creek), sông Cimarron, sông Verdigris, và sông Neosho – là hệ thống thoát nước của miền nam tiểu bang. Các sông quan trọng kia là sông Saline và sông Solomon, các nhánh của sông Đồi khói; sông Xanh Lớn (Big Blue River), sông Delaware, và sông Wakarusa (ba con sông này chảy vào sông Kansas); và sông Marais des Cygnes, một nhánh của sông Missouri.
=== Các công viên quốc gia ===
Các vùng thực thuộc Dịch vụ Vườn Quốc gia (NPS) bao gồm:
Khu lưu niệm Quốc gia Brown kiện Ủy ban Giáo dục (Brown v. Board Of Education National Historic Site) tại Topeka
Đường mòn lịch sử Quốc gia California
Khu lưu niệm Quốc gia Fort Larned tại Larned
Khu lưu niệm Quốc gia Fort Scott
Đường mòn lịch sử Quốc gia Lewis và Clark
Khu lưu niệm Quốc gia Nicodemus tại Nicodemus
Đường mòn lịch sử Quốc gia Oregon
Đường mòn lịch sử Quốc gia Pony Express (bưu chính tốc hành bằng ngựa)
Đường mòn lịch sử Quốc gia Santa Fe
Khu vực cấm săn Đồng cỏ Tallgrass (Tallgrass Prairie National Preserve) gần Thành phố Strong (Strong City)
=== Các thành phố quan trọng ===
Theo đạo luật tiểu bang, các thành phố được phân loại thành ba cấp, tính theo dân số "theo bất cứ thống kê dân số nào". Những thành phố cấp ba có ít hơn 5.000 người, nhưng nếu thành phố đạt được dân số hơn 2.000 người, nó có thể dành cấp hai. Cấp hai có hạn chế chỉ bao gồm những thành phố ít hơn 25.000 người, và khi tới 15.000 người, những thành phố cấp hai có thể được cấp một. Các thành phố cấp một và hai không trực thuộc thị trấn nào.
== Lịch sử ==
Ngày xưa có nhiều dân cư thổ dân đi săn con trâu, vùng Kansas được người Mỹ trắng đến ở vào thập niên 1850. Bắt đầu từ năm 1854, các người theo chủ nghĩa giải phóng nô lệ và các người ủng hộ chế độ nô lệ vội vàng tràn vào tiểu bang để biểu quyết vụ Kansas được trở thành tiểu bang tự do (cấm nô lệ) hay không. Được gọi Kansas chảy máu (tiếng Anh: Bleeding Kansas), nó trở thành lò lửa bạo lực và hỗn độn hễ khi những lực lượng ủng hộ và chống chế độ nô lệ gặp nhau. Năm 1861, Kansas được gia nhập Liên bang là tiểu bang tự do. Sau Nội chiến Mỹ, Kansas mở mang dễ sợ do nhập cư tràn vào từng đợt và làm đồng cỏ thành đất chăn nuôi thành công. Ngày nay Kansas là một trong những tiểu bang thành công nhất về nông nghiệp, dẫn đầu nước về sản xuất lúa mì.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Kansas.gov – trang chủ của chính phủ Tiểu bang Kansas (tiếng Anh)
Lịch sử tiểu bang – (tiếng Anh)
Bản đồ Kansas – Bộ Vận tải Kansas (tiếng Anh)
Du lịch và nhà hàng tại Kansas – (tiếng Anh)
Hiến pháp Tiểu bang Kansas – Thư viện Tiểu bang Kansas (tiếng Anh) |
phong trào ngôn ngữ bengal.txt | Phong trào ngôn ngữ Bengal là một phong trào chính trị tại Đông Bengal (nay là Bangladesh) chủ trương công nhận tiếng Bengal là một ngôn ngữ chính thức của Quốc gia tự trị Pakistan để ngôn ngữ này được phép sử dụng trong công vụ, tiếp tục được sử dụng làm ngôn ngữ giảng dạy, sử dụng trong truyền thông, tiền tệ và tem, và để duy trì cách viết bằng chữ cái Bengal.
Quốc gia tự trị Pakistan được thành lập sau Ấn Độ phân ly năm 1947, với nhiều nhóm dân tộc và ngôn ngữ khác biệt, về phương diện địa lý thì tỉnh Đông Bengal (năm 1956 được đổi thành Đông Pakistan) không tiếp giáp với phần còn lại của quốc gia và có cư dân chủ yếu là người Bengal. Năm 1948, Chính phủ Quốc gia tự trị Pakistan quy định Urdu là ngôn ngữ quốc gia duy nhất, gây kháng nghị rộng khắp trong cộng đồng nói tiếng Bengal chiếm đa số tại Đông Bengal. Đối diện với căng thẳng bè phái và bất mãn quần chúng gia tăng do luật mới, chính phủ cấm chỉ các cuộc tụ tập công cộng và tập hợp. Các sinh viên của Đại học Dhaka và các nhà hoạt động chính trị khác bất tuân pháp luật và tổ chức một cuộc kháng nghị vào ngày 21 tháng 2 năm 1952. Phong trào đạt đỉnh khi cảnh sát hạ sát sinh viên tuần hành vào ngày này. Các trường hợp tử vong gây bất ổn dân sự trên quy mô lớn. Sau nhiều năm xung đột, chính phủ trung ương nhượng bộ và trao địa vị chính thức cho tiếng Bengal vào năm 1956. Năm 1999, UNESCO tuyên bố ngày 21 tháng 2 là Ngày tiếng mẹ đẻ Quốc tế, nhằm thể hiện tưởng niệm Phong trào ngôn ngữ Bengal và quyền dân tộc-ngôn ngữ của nhân dân toàn cầu.
Phong trào ngôn ngữ Bengal là xúc tác cho sự khẳng định bản sắc dân tộc Bengal tại Đông Bengal và sau là Đông Pakistan, và trở thành một điềm báo trước cho phong trào dân tộc chủ nghĩa Bengal, gồm Phong trào 6 Điểm và sau đó là Chiến tranh giải phóng Bangladesh năm 1971. Tại Bangladesh, ngày 21 tháng 2 là ngày Phong trào ngôn ngữ, một ngày nghỉ quốc gia. Tượng đài Shaheed được xây dựng gần Học viện Y tế Dhaka nhằm kỷ niệm phong trào và các nạn nhân.
== Bối cảnh ==
Các quốc gia Pakistan và Bangladesh hiện nay nguyên là bộ phận của Ấn Độ thuộc Anh. Từ giữa thế kỷ 19, ngôn ngữ Urdu được các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo xúc tiến làm ngôn ngữ chung của người Hồi giáo Ân Độ, trong số đó có Sir Khwaja Salimullah, Sir Syed Ahmed Khan, Nawab Viqar-ul-Mulk và Maulvi Abdul Haq. Urdu là một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Ấn-Arya của ngữ tộc Ấn-Iran, thuộc ngữ hệ Ấn-Âu. Ngôn ngữ này phát triển dưới ảnh hưởng của tiếng Ba Tư, tiếng Ả Rập và Đột Quyết lên các apabhramsha (giai đoạn ngôn ngữ cuối cùng của tiếng Pali-Prakrit Trung cổ) tại Nam Á thời Vương quốc Hồi giáo Delhi và Đế quốc Mughal. Ngôn ngữ này được viết bằng chữ cái Ba Tư-Ả Rập, được nhận định là một yếu quan trọng của văn hóa Hồi giáo đối với người Hồi giáo Ấn Độ; tiếng Hindi và chữ cái Devanagari thì được nhìn nhận là nền tảng của văn hóa Hindu.
Mặc dù việc sử dụng Urdu dần trở nên phổ biến đối với người Hồi giáo tại miền bắc Ấn Độ, song người Hồi giáo tại Bengal chủ yếu sử dụng ngôn ngữ Bengal. Ngôn ngữ Bengal là một ngôn ngữ Đông Ấn-Arya phát sinh từ các ngôn ngữ Ấn Trung đại miền đông vào khoảng năm 1000 và phát triển đáng kể trong Phục hưng Bengal. Ngay từ cuối thế kỷ 19, các nhà hoạt động xã hội như nhà nữ quyền Hồi giáo Roquia Sakhawat Hussain đã lựa chọn viết bằng ngôn ngữ Bengal để tiếp cận đến dân chúng và phát triển nó như một ngôn ngữ văn chương hiện đại. Những người tán thành ngôn ngữ Bengal phản đối Urdu ngay từ trước khi Ấn Độ phân ly, khi các đại biểu từ Bengal bác bỏ ý tưởng lấy Urdu làm ngôn ngữ chung của người Hồi giáo Ấn Độ trong hội nghị Lucknow 1937 của Liên minh Hồi giáo Toàn Ấn. Liên minh Hồi giáo là một chính đảng tại Ấn Độ thuộc Anh, là thể lực đứng sau việc hình thành quốc gia Hồi giáo Pakistan từ Ấn Độ.
== Giai đoạn đầu của phong trào ==
Sau khi Ấn Độ phân ly vào năm 1947, những người nói tiếng Bengal tại Đông Bengal chiếm 44 triệu trong tổng dân số 69 triệu của Quốc gia tự trị Pakistan. Tuy nhiên, các thể chế chính phủ, công vụ, và quân sự của Quốc gia tự trị Pakistan nằm dưới sự chi phối của các cá nhân đến từ phần phía tây của quốc gia. Năm 1947, một nghị quyết quan trọng tại một hội nghị thượng đỉnh giáo dục quốc dân tại Karachi chủ trương Urdu là ngôn ngữ quốc gia duy nhất, và là ngôn ngữ độc nhất sử dụng trong truyền thông và trong trường học. Các hoạt động phản đối và kháng nghị lập tức nổ ra, các sinh viên từ Dhaka tập hợp dưới sự lãnh đạo của Abul Kashem, thư ký của Tamaddun Majlish- một tổ chức văn hóa Hồi giáo Bengal. Cuộc tập hợp yêu cầu ngôn ngữ Bengal là một ngôn ngữ chính thức của Quốc gia tự trị Pakistan và là một ngôn ngữ giảng dạy tại Đông Bengal. Tuy nhiên, Uỷ ban Công cụ Pakistan loại bỏ ngôn ngữ Bengal khỏi danh sách các đối tượng được phê duyệt, cũng như khỏi ghi chú trên tiền tệ và tem. Bộ trưởng giáo dục Fazlur Rahman tiến hành chuẩn bị quy mô lớn để Urdu là ngôn ngữ quốc gia duy nhất của Quốc gia tự trị Pakistan. Phẫn nộ lan rộng trong quần chúng, và một lượng lớn sinh viên Bengal tụ tập tại Đại học Dhaka vào ngày 8 tháng 12 năm 1947 để chính thức yêu cầu rằng ngôn ngữ Bengal là một ngôn ngữ chính thức. Để xúc tiến hoạt động của mình, các sinh viên Bengal tổ chức diễu hành và tập hợp tại Dhaka.[dead link]
Các học giả Bengal hàng đầu tranh luận rằng tại sao Urdu không nên là ngôn ngữ chính thức duy nhất. Nhà ngôn ngữ học Muhammad Shahidullah chỉ ra rằng Urdu không phải là ngôn ngữ bản địa trong bất kỳ khu vực nào tại Pakistan, và nói rằng, "Nếu chúng tôi phải chọn một ngôn ngữ quốc gia thứ hai, chúng tôi sẽ xem xét Urdu." Nhà văn Abul Mansur Ahmed nói rằng nếu Urdu trở thành ngôn ngữ quốc gia, xã hội có giáo dục của Đông Bengal sẽ trở nên 'thất học' và 'không đủ tư cách' cho các vị trí trong chính phủ. Rastrabhasa Sangram Parishad (Ủy ban Hành động ngôn ngữ quốc gia) là một tổ chức tán thành ngôn ngữ Bengal là một ngôn ngữ chính thức, được thành lập vào cuối tháng 12 năm 1947, Giáo sư Nurul Huq Bhuiyan của Tamaddun Majlish triệu tập ủy ban. Sau đó, thành viên Hội đồng Shamsul Huq triệu tập một ủy ban mới nhằm thúc đẩy để ngôn ngữ Bengal trở thành quốc ngữ. Thành viên Quốc hội Dhirendranath Datta đệ trình luật lên Quốc hội Lập hiến Pakistan nhằm cho phép các thành viên nói tiếng Bengal và cho phép sử dụng ngôn ngữ này cho các mục đích chính thức. Đề xuất của Datta nhận được sự ủng hộ của các nhà lập pháp Prem Hari Burman, Bhupendra Kumar Datta và Sris Chandra Chattaopadhyaya của Đông Bengal, cũng như nhân dân từ khu vực. Thủ tướng Liaquat Ali Khan và Liên minh Hồi giáo lên án đề xuất này là một nỗ lực nhằm chia rẽ nhân dân Pakistan, do đó dự luật thất bại.
=== Kích động năm 1948 ===
Các sinh viên của Đại học Dhaka và các học hiệu khác trong thành phổ tổ chức tổng bãi khóa vào ngày 11 tháng 3 năm 1948 nhằm kháng nghị việc bỏ ngôn ngữ Bengal khỏi sử dụng chính thức, gồm cả tiền tệ, tem và kiểm tra tuyển dụng hải quân. Phong trào tái tuyên bố yêu cầu rằng ngôn ngữ Bengal được tuyên bố là một quốc ngữ của Quốc gia tự trị Pakistan. Các nhà lãnh đạo chính trị như Shamsul Huq, Shawkat Ali, Kazi Golam Mahboob, Oli Ahad, Abdul Wahed và những người khác bị bắt giữ trong các cuộc tập hợp. Lãnh đạo của cuộc tập hợp là Mohammad Toaha phải nhập viện sau nỗ lực chộp một khẩu súng từ một cảnh sát viên. Các lãnh đạo sinh viên, như Abdul Matin và Abdul Malek Ukil tham dự diễu hành.
Vào chiều ngày 11 tháng 3, một cuộc hội ngộ được tổ chức nhằm kháng nghị cảnh sát tàn bạo và các vụ bắt giữ. Một nhóm sinh viên tuần hành hướng đến nhà của tỉnh trưởng Khawaja Nazimuddin bị ngăn lại trước Tòa cao đẳng Dhaka. Đám tuần hành chuyển hướng và rời đến hướng tòa nhà văn phòng tỉnh trưởng. Cảnh sát tấn công đám tuần hành, làm bị thương một số sinh viên và nhân vật lãnh đạo, trong đó có A. K. Fazlul Huq. Bãi khóa tiếp tục trong bốn ngày sau. Trước tình thế này, tỉnh trưởng Nazimuddin ký một thỏa thuận với các lãnh đạo sinh viên về việc chấp thuận một số điều khoản và điều kiện, song không đồng ý với yêu cầu ngôn ngữ Bengal trở thành một quốc ngữ.
Tại đỉnh điểm của bất ổn dân tự, Toàn quyền Pakistan Muhammad Ali Jinnah đến Dhaka vào ngày 19 tháng 3 năm 1948. Vào ngày 21 tháng 3, trong một cuộc tiếp dân tại sân đua ngựa, ông tuyên bố rằng vấn đề ngôn ngữ là mưu đồ của một "thế lực thứ năm" nhằm chia rẽ người Hồi giáo Pakistan. Jinnah còn tuyên bố rằng "Urdu, và duy có Urdu" biểu hiện tinh thần của các dân tộc Hồi giáo và sẽ duy trì là quốc ngữ, liệt những người bất đồng với quan điểm của ông là "những kẻ thù của Pakistan". Jinnah có phát biểu tương tự tại Curzon Hall trong Đại học Dhaka vào ngày 24 tháng 3. Trong cả hai cuộc tụ họp, Jinnah bị các khán giả ngắt lời nhiều đoạn. Ông sau đó kêu gọi một cuộc hội của một ủy ban hành động quốc ngữ, và bác bỏ giao ước mà Khawaja Nazimuddin ký với các nhà lãnh đạo sinh viên. Trước khi Jinnah rời Dhaka vào ngày 28 tháng 3, ông tiến hành phát biểu trên đài phát thanh tái khẳng định chính sách "chỉ có Urdu".
Vào ngày 27 tháng 11 năm 1948, Ghulam Azam đại diện cho Liên minh sinh viên Đại học Dhaka trao một bị vong lục cho Thủ tướng Pakistan Liakat Ali Khan tại Đại học Dhaka yêu cầu rằng ngôn ngữ Bangla trở thành quốc ngữ của Pakistan. Đương thời, Ghulam Azam giữ chức vụ Tổng bí thư của Liên minh.
Ngay sau đó, Ủy ban Ngôn ngữ Đông Bengal dưới sự lãnh đạo của Maulana Akram Khan được chính phủ Đông Bengal thành lập nhằm chuẩn bị một báo cáo về vấn đề ngôn ngữ. Ủy ban hoàn thành báo cáo của mình vào ngày 6 tháng 12 năm 1950, song nó không được công bố cho đến năm 1958. Chính phủ đề xuất ngôn ngữ Bengal được viết bằng chữ cái Ả Rập là một giải pháp tiềm năng cho xung đột về ngôn ngữ.
== Các sự kiện năm 1952 ==
Tranh luận Urdu-Bengal nhen nhóm lại khi người kế nhiệm của Jinnah là Toàn quyền Khawaja Nazimuddin kiên quyết bảo vệ chính sách "chỉ có Urdu" trong một bài phát biểu vào ngày 27 tháng 1 năm 1952. Ngày 31 tháng 1, Shorbodolio Kendrio Rashtrobhasha Kormi Porishod (Ủy ban hành động ngôn ngữ trung ương liên đảng phái) được thành lập trong một cuộc tụ họp tại Bar Library Hall của Đại học Dhaka, chủ tịch là Maulana Bhashani. Đề xuất của chính phủ trung ương về việc viết tiếng Bengal bằng chữ cái Ả Rập bị kịch liệt phản đối trong cuộc họp. Uỷ ban hành động kêu gọi mọi người tham gia hoạt động kháng nghị vào ngày 21 tháng 2, bao gồm bãi khóa và tập hợp. Các sinh viên của Đại học Dhaka và các học hiệu khác tập hợp tại các khu vực đại học vào ngày 4 tháng 2 và cảnh báo chính phủ rút đề xuất viết tiếng Bengal bằng chữ cái Ả Rập, và khẳng định việc công nhận ngôn ngữ Bengal. Khi chuẩn bị cho cuộc tuần hành sắp tới, chính phủ áp đặt Điều 144 tại Dhaka, cấm chỉ bất kỳ cuộc tụ tập nào trên ba người.
=== 21 tháng 2 ===
Chín giờ sáng, các sinh viên bắt đầu tụ tập tại Đại học Dhaka bất chấp Điều 144. Phó hiệu trưởng của đại học và các quan chức khác hiện diện khi cảnh sát có vũ trang bao quanh khuôn viên. Đến 11:15, các sinh viên tụ tập tại cổng đại học và nỗ lực phá vỡ hàng rào cảnh sát. Cảnh sát bắn lựu đạn hơi cay về phía cổng để cảnh cáo các sinh viên. Một nhóm sinh viên chạy vào Học viện Y tế Dhaka trong khi những người khác tuần hành hướng về khuôn viên đại học bị cảnh sát bao vây. Phó hiệu trưởng yêu cầu cảnh sát ngừng bắn và lệnh cho sinh viên rời khỏi khu vực. Tuy nhiên, cảnh sát bắt giữ một số sinh viên vì vi phạm Điều 144 khi họ nỗ lực rời đi. Tức giận trước hành động bắt giữ, các sinh viên tụ tập quanh Hội đồng Lập pháp Đông Bengal và chặn đường vào hội đồng, yêu cầu được trình bày yêu cầu trước hội nghị. Khi một nhóm sinh viên tìm cách xông vào tòa nhà, cảnh sát khai hỏa và sát hại một số sinh viên, trong đó có Abdus Salam, Rafiq Uddin Ahmed, Abul Barkat và Abdul Jabbar. Khi tin tức về các trường hợp tử vong được lan truyền, rối loạn bùng phát khắp thành phố. Các cửa hàng, văn phòng và giao thông công cộng bị đóng cửa và tổng đình công bắt đầu. Tại hội đồng, sáu nhà lập pháp gồm Manoranjan Dhar, Boshontokumar Das, Shamsuddin Ahmed và Dhirendranath Datta yêu cầu rằng tỉnh trưởng Nurul Amin đến thăm các sinh viên trong bệnh viện và rằng hội đồng ngưng họp nhằm thể hiện tiếc thương. Đề nghị này được sự ủng hộ của một số nhân vật như Maulana Abdur Rashid Tarkabagish, Shorfuddin Ahmed, Shamsuddin Ahmed Khondokar và Mosihuddin Ahmed. Tuy nhiên, Nurul Amin từ chối yêu cầu.
=== 22 tháng 2 ===
Rối loạn lan khắp tỉnh khi các đoàn tuần hành phớt lờ Điều 144 và lên án các hành động của cảnh sát. Hơn 30.000 người tụ tập tại Curzon Hall tại Dhaka. Trong lúc các hoạt động kháng nghị tiếp diễn, các hành động của cảnh sát khiến thêm bốn người thiệt mạng. Điều này thúc đẩy các nhân viên từ nhiều tổ chức khác nhau, như học viện, ngân hàng, và đài phát thanh, tẩy chay công sở và gia nhập đoàn tuần hành. Những người kháng nghị đốt cháy các văn phòng của hai cơ quan tin tức thân chính phủ hàng đầu là Jubilee Press và Morning News. Cảnh sát khai hỏa vào một janaza (đám tang) lớn, khi họ đi qua Nawabpur Road. Sự kiện khiến một số người thiệt mạng, bao gồm nhà hoạt động Sofiur Rahman và một cậu bé chín tuổi tên là Ohiullah.
=== Tiếp diễn bất ổn ===
Suốt đêm ngày 23 tháng 2, các sinh viên của Học viện Y tế Dhaka xây dựng một Shaheed Smritistombho, hoặc đài liệt sĩ. Hoàn thành vào rạng sáng ngày 24 tháng 2, tượng đài có một ghi chú viết tay kèm theo với dòng chữ "Shaheed Smritistombho". Khánh thành bởi cha của nhà hoạt động bị thiệt mạng Sofiur Rahman, song bị cnhr sát phá hủy vào ngày 26 tháng 2. Ngày 25 tháng 2, các công nhân tại thị trấn Narayanganj tổ chức đình công. Một hoạt động kháng nghị tiếp theo vào ngày 29 tháng 2, những người tham dự phải đối diện với hành hung nghiêm trọng của cảnh sát.
Chính phủ kiểm duyệt các tường thuật tin tức và giấu con số thương vong chính sách trong các hoạt động kháng nghị. Hầu hết truyền thông thân chính phủ cáo buộc các phần tử Ấn Độ giáo và cộng sản chịu trách nhiệm về việc kích động rối loạn và náo động của sinh viên. Ngày 8 tháng 4, báo cáo của chính phủ về các sự cố không thể hiện bất kỳ biện hộ cụ thể nào cho việc cảnh sát khai hỏa vào sinh viên. Khi hội đồng lập pháp được tái triệu tập vào ngày 14 tháng 4, những tiến trình bị Liên minh Hồi giáo ngưng lại khi các nhà lập pháp từ Đông Bengal tìm cách nêu lên vấn đề ngôn ngữ. Ngày 16 tháng 4, Đại học Dhaka mở cửa trở lại và Shorbodolio Kendrio Rashtrobhasha Kormi Porishod, hay Ủy ban hành động ngông ngữ trung ương liên đảng, tổ chức một cuộc hội thảo vào ngày 27 tháng 4 tại Bar Association Hall. Trong cuộc họp, các đại biểu yêu cầu chính phủ phóng thích các tù nhân, nới lỏng các hạn chế về tự do dân sự và chấp thuận ngôn ngữ Bengal là quốc ngữ.
== Các sự kiện sau năm 1952 ==
Shorbodolio Kendrio Rashtrobhasha Kormi Porishod được hỗ trợ của Liên minh Hồi giáo Awami, quyết định tưởng niệm ngày 21 tháng 2 là Shohid Dibosh (ngày Liệt sĩ). Trong ngày tưởng niệm đầu tiên, nhân dân khắp Đông Bengal đeo phù hiệu đen nhằm biểu thị tình đoàn kết với các nạn nhân. Hầu hết công sở, ngân hàng và thể chế giáo dục đóng cửa để bày tỏ tôn trọng. Các nhóm sinh viên lập giao kèo với học viện và sĩ quan cảnh sát để duy trì pháp luật và trật tự. Có trên 100.000 người tụ tập tại Armanitola tại Dhaka, tại đây các nhà lãnh đạo cộng đồng kêu gọi ngay lập tức phóng thích Maulana Bhashani và các tù nhân chính trị khác. Tuy nhiên, các chính trị gia Đông Pakistan như Fazlur Rahman làm trầm trọng thêm căng thẳng khi tuyên bố rằng bất kỳ ai muốn ngôn ngữ Bengal trở thành một ngôn ngữ chính trị sẽ được nhìn nhận là một "kẻ thù của quốc gia". Các sinh viên và thường dân Bengal bất tuân các hạn chế về tổ chức tưởng niệm. Tuần hành nổ ra vào tối ngày 21 tháng 2 năm 1954, nhiều hội trường khác nhau của Đại học Dhaka giương lên cờ đen nhằm tưởng niệm. Cảnh sát bắt giữ các sinh viên và những người kháng nghị khác, họ được phóng thích sau đó mặc dù từ chối trả tiền bảo lãnh.
Căng thẳng chính trị đạt đỉnh khi cuộc bầu cử hội đồng cấp tỉnh tại Đông Bengal được tổ chức vào năm 1954. Liên minh Hồi giáo cầm quyền lên án liên minh Mặt trận Liên hiệp đối lập do A. K. Fazlul Huq và Liên minh Awami lãnh đạo, phái này muốn quyền tự trị lớn hơn cho tỉnh. Một số thủ lĩnh của Mặt trận Liên hiệp và các nhà hoạt động bị bắt giữ. Một cuộc họp của các thành viên Liên minh Hồi giáo trong Quốc hội, chủ tọa là Thủ tướng Muhammad Ali Bogra, quyết định công nhận địa vị chính thức cho ngôn ngữ Bengal. Quyết định này gây nên một làn sóng bất ổn lớn khi các dân tộc khác tìm cách giành được công nhận cho các ngôn ngữ khu vực khác. Những người đề xướng Urdu như Maulvi Abdul Haq chỉ trích bất kỳ đề xuất nào trao địa vị chính thức cho ngôn ngữ Bengal. Ông dẫn đầu một cuộc tập hợp của 100.000 người kháng nghị quyết định của Liên minh Hồi giáo. Mặt trận Liên hiệp giành đa số cao trong hội đồng lập pháp cấp tỉnh, còn Liên minh Hồi giáo giành được số ghế ít nhất trong lịch sử.
Chính phủ Mặt trận Liên hiệp ra lệnh thiết lập Viện hàn lâm Bangla nhằm xúc tiến, phát triển, và bảo tồn ngôn ngữ, văn học và di sản Bengal. Tuy nhiên, Mặt trận Liên hiệp chỉ cầm quyền tạm thời do Toàn quyền Ghulam Muhammad đình chỉ chính phủ và bắt đầu thời gian cai trị trực tiếp của Toàn quyền vào ngày 30 tháng 4 năm 1954. Mặt trận Liên hiệp lại thành lập chính phủ vào ngày 6 tháng 6 năm 1955 sau khi chế độ toàn quyền trực tiếp cai trị kết thúc. Liên minh Awami không tham dự trong chính phủ này.
Sau khi Mặt trận Liên hiệp quay lại nắm quyền, lễ kỷ niệm sự kiện vào 21 tháng 2 năm 1956 được tổ chức lần đầu tiên trong không khí hòa bình. Chính phủ hỗ trợ một kế hoạch lớn nhằm xây dựng một Đài Shaheed mới. Phiên họp của hội đồng lập hiến được ngưng lại năm phút nhằm biểu thị chia buồn cho những sinh viên thiệt mạng do bị cảnh sát bắn. Các nhà lãnh đạo Bengal tổ chức các cuộc tụ tập lớn và toàn bộ các công sở và doanh nghiệp cũng đóng cửa.
Ngày 7 tháng 5 năm 1954, hội đồng lập hiến quyết định, với sự ủng hộ của Liên minh Hồi giáo, trao địa vị chính thức cho ngôn ngữ Bengal. Ngôn ngữ Bengal được công nhận là ngôn ngữ chính thức thứ hai của Pakistan vào ngày 29 tháng 2 năm 1956, và điều 214(1) của hiến pháp Pakistan được soạn lại thành "quốc ngữ của Pakistan sẽ là Urdu và Bengal."
Tuy nhiên, chính phủ quân sự do Ayub Khan thành lập tiến hành các nỗ lực nhằm tái lập hiện trạng Urdu là quốc ngữ duy nhất. Ngày 6 tháng 1 năm 1959, chính thể quân sự ban một tuyên bố chính thức và phục hồi quan điểm chính thức ủng hộ chính sách của hiến pháp năm 1956 về hai quốc ngữ.
Mặc dù vấn đề quốc ngữ được giải quyết vào năm 1956, song chính phủ quân sự của Ayub Khan xúc tiến lợi ích của Tây Pakistan gây tổn hại đến Đông Pakistan. Mặc dù chiếm đa số trong tổng nhân khẩu toàn quốc, song cư dân Đông Pakistan tiếp tục không được đại diện đầy đủ trong các công vụ và quân vụ, nhận được ít ngân sách quốc gia ít và các trợ giúp khác của chính phủ trung ương. Chủ yếu bắt nguồn từ mất kinh bằng kinh tế giữa các khu vực gia tăng, và sự ủng hộ đối với Liên minh Awami theo chủ nghĩa dân tộc Bengal, tổ chức phát động phong trào 6 điểm nhằm tăng quyền tự chủ cho tỉnh, một yêu cầu đó là Đông Pakistan được gọi là Bangladesh (Lãnh thổ/Quốc gia của người Bengal), sau đó dẫn đến Chiến tranh giải phóng Bangladesh.
== Di sản ==
Phong trào ngôn ngữ Bengal có một tác động văn hóa mạnh lên xã hội Bengal. Nó truyền cảm hứng cho sự phát triển và tán dương ngôn ngữ, văn học và văn hóa Bengal. Ngày 21 tháng 2 được chế định là ngày Phong trào ngôn ngữ hay Shohid Dibosh (ngày liệt sĩ), là một quốc lễ lớn tại Bangladesh. Một sự kiện kéo dài trong một tháng gọi là Hội chợ sách Ekushey được tổ chức thường niêm nhằm kỷ niệm phong trào. Ekushey Padak, một trong những giải thưởng dân sự cao nhất tại Bangladesh, được trao thường niên nhằm kỷ niệm tinh thần của phong trào. Các bài hát như Amar Bhaier Rokte Rangano của Abdul Gaffar Choudhury, do Shaheed Altaf Mahmud phổ nhạc, cùng các vở kịch, tác phẩm nghệ thuật và thơ đóng một vai trò đáng kể trong việc kích động cảm xúc của nhân dân trong phong trào. Kể từ sự kiện tháng 2 năm 1952, các bài thơ, ca, kịch, phim, biếm họa và hội họa được sáng tác nhằm thể hiện phong trào theo các quan điểm đa dạng. Tác phẩm nghệ thuật đáng chú ý là các bài thơ Bornomala, Amar Dukhini Bornomala và tháng 2 năm 1969 của Shamsur Rahman, phim Jibon Theke Neya của Zahir Raihan, kịch sân khấu Kobor của Munier Chowdhury và các tiểu thuyết Ekushey February của Raihan và Artonaad của Shawkat Osman. Bangladesh chính thức trình một đề xuất lên UNESCO để tuyên bố ngày 21 tháng 2 là "ngày ngôn ngữ mẹ đẻ quốc tế." Đề xuất ngày nhận được sự ủng hộ nhất trí tại phiên họp toàn thẻ lần thứ 30 của UNESCO tổ chức vào ngày 17 tháng 11 năm 1999.
Hai năm sau kỳ đài kỷ niệm đầu tiên bị cảnh sát phá hủy, một đài Shaheed (liệt sĩ) mới được xây dựng vào năm 1954 nhằm kỷ niệm những người kháng nghị bị thiệt mạng. Đài kỷ niệm lớn hơn do kiến trúc sư Hamidur Rahman thiết kế được bắt đầu xây dựng vào năm 1957 với sự hỗ trợ của chính phủ Mặt trận Liên hiệp. Mặc dù việc áp đặt thiết quân luật vào năm 1958 làm gián đoạn công việc, song đài kỷ niệm được hoàn tất và khánh thành vào ngày 21 tháng 2 năm 1963. Quân Pakistan phá hủy đài kỷ niệm trong Chiến tranh giải phóng Bangladesh vào năm 1971, song chính phủ Bangladesh xây dựng lại đài vào năm 1973.
Ngoài Đông Bengal, phong trào yêu cầu địa vị bình đẳng cho ngôn ngữ Bengal cũng diễn ra tại bang Assam của Ấn Độ. Ngày 19 tháng 5 năm 1961, 11 người Bengal bị cảnh sát sát hại tại ga đường sắt Silchar trong khi yêu cầu công nhận chính thức cho ngôn ngữ Bengal. Sau đó, ngôn ngữ Bengal được trao địa vị đồng chính thức tại ba huyện có đa số cư dân là người Bengal tại Assam.
== Phản ứng tại Pakistan ==
Mặc dù Phong trào ngôn ngữ Bengal được nhận định là đặt nền tàng cho chủ nghĩa dân tộc tại Đông Bengal và sau đó là Đông Pakistan, song nó cũng làm tăng thêm sự thù địch văn hóa giữa hai phần của Pakistan. Tại phần phía tây của Quốc gia tự trị Pakistan, phong trào được nhận định như là một cuộc nổi dật ly khai chống lại lợi ích quốc gia của Pakistan. Việc bác bỏ chính sách "Urdu-duy nhất" được nhận định là một sự vi phạm văn hóa Ba Tư-Ả Rập của người Hồi giáo và ý thức hệ khai quốc 'hai quốc gia' của Pakistan. Một số chính trị gia quyền lực nhất từ phía tây nhận định Urdu là một sản phẩm của văn hóa Hồi giáo Ấn Độ, song nhận định Bengal là một bộ phận của văn hóa Bengal "Ấn Độ giáo hóa". Hầu hết giữ vững quan điểm chính sách "Urdu duy nhất" do họ tin rằng chỉ có một ngôn ngữ duy nhất, một ngôn ngữ phi bản địa của Pakistan, mới nên đóng vai trò là quốc ngữ. Cách tư duy này cũng kích động phản đối đáng kể ở phần phía tây, nơi tồn tại một số nhóm ngôn ngữ. Đến năm 1967, nhà độc tài quân sự Ayub Khan nói rằng "Đông Bengal là... vẫn nằm dưới văn hóa và ảnh hưởng đáng kể của Ấn Độ giáo."
Liên minh Hồi giáo Awami chuyển sang chủ nghĩa dân tộc Bengal sau Phong trào, và bỏ từ "Hồi giáo" khỏi danh xưng. Phong trào ngôn ngữ truyền cảm hứng bất mãn tương tự tại phần phía tây của Pakistan và tạo động lực cho các đảng dân tộc chủ nghĩa. Bất ổn chính trị tại Đông Pakistan và kình địch giữa chính phủ trung ương và chíh phủ cấp tỉnh do Mặt trận Liên hiệp lãnh đạo là một trong các yếu tố chính gây ra đảo chính quân sự năm 1958 của Ayub Khan.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Al Helal, B (2003). Bhasha Andoloner Itihas (History of the Language Movement). Agamee Prakashani, Dhaka. ISBN 984-401-523-5. (tiếng Bengal)
Uddin, Sufia M. (2006). Constructing Bangladesh: Religion, Ethnicity, and Language in an Islamic Nation. Chapel Hill: The University of North Carolina Press. ISBN 0-8078-3021-6.
Umar, B (1979). “Purbo-Banglar Bhasha Andolon O Totkalin Rajniti”. Agamee Prakashani, Dhaka. (tiếng Bengal)
== Đọc thêm ==
Badruddin Umar (2004). The Emergence of Bangladesh: Class Struggles in East Pakistan (1947-1958). Oxford University Press, USA. ISBN 978-0-19-579571-4.
Anwar S. Dil (2000). Bengali language movement to Bangladesh. Ferozsons. ISBN 978-969-0-01577-8.
Robert S. Stern (2000). Democracy and Dictatorship in South Asia: Dominant Classes and Political Outcomes in India, Pakistan, and Bangladesh. Praeger Publishers. ISBN 978-0-275-97041-3.
Syed Manzoorul Islam (1994). Essays on Ekushey: The Language Movement 1952. Bangla Academy. ISBN 984-07-2968-3.
== Liên kết ngoài ==
Bangla language movement
The Makers of History: International Mother Language Day
Language movement at BSS
History of Bangladesh
Language movement at Virtual Bangladesh
Language movement at Banglapedia |
mã điện thoại việt nam.txt |
== Thông tin chung ==
Mã quốc gia Việt Nam: 84
Chỉ số gọi đi quốc tế là: + (hoặc 00 nếu gọi từ Việt Nam), liên tỉnh ở Việt Nam là: 0
== Phân bổ mã vùng trên toàn quốc ==
Chú thích
== Phân bổ mã vùng cũ còn hiệu lực trên toàn quốc ==
Nguồn:
== Các mã vùng đặc biệt ==
Mã 65
65 là mã mạng điện thoại Internet.
==== Mã 69 ====
69 là mã vùng dùng riêng cho lực lượng quân đội và công an đi kèm với 6 chữ số (mạng quân đội) hoặc 5 chữ số (mạng công an). Theo quy định hiện hành:
69 2 xxxx - Mạng viễn thông Công an tại miền Bắc
69 3 xxxx - Mạng viễn thông Công an tại miền Nam
69 4 xxxx - Mạng viễn thông Công an tại miền Trung
69 5 xxxxx - Mạng viễn thông Quân đội
69 6 xxxxx - Mạng viễn thông Quân đội
69 7 xxxxx - Mạng viễn thông Quân đội
69 8 xxxxx - Mạng viễn thông Quân đội
69 9 xxxxx - Mạng viễn thông Quân đội
==== Mã 80 ====
Mã vùng 80 là mã của Cục Bưu điện Trung ương. Đi kèm với mã tỉnh và 4 chữ số điện thoại.
Hiện nay có các mã sau:
(0) 80 4 xxxx: Cục Bưu điện Trung ương Hà Nội;
(0) 80 31 xxxx: Cục Bưu điện Trung ương Hải Phòng;
(0) 80 511 xxxx: Cục Bưu điện Trung ương Đà Nẵng;
(0) 80 8 xxxx: Cục Bưu điện Trung ương TP. Hồ Chí Minh.
== Đầu số điện thoại cố định ==
Sau khi tiến hành thêm số cho điện thoại cố định ngày 26/10/2009, các đầu số điện thoại cố định của các hãng viễn thông sau đó là:
220, 221, 222, 223, 224, 246, 247, 248, 249 Viettel
35, 36, 37, 38, 39 VNPT
445, 450 VTC
540, 541, 542, 543, 544 Saigon Postel (SPT)
625, 626, 627, 628, 629, 633, 664, 665, 666, 667, 668, 669 Viettel
71 CMC Telecom
73 FPT Telecom
7779 Đông Dương Telecom (Indochina Telecom)
== Đầu số điện thoại di động ==
Các đầu số (mã mạng) điện thoại di động mang số 01xx, 08x và 09x, còn số thuê bao điện thoại di động dài 7 chữ số.
== Mã thuê bao VSAT ==
Mã vùng 992 là thuê bao VSAT.
992 2: VSAT Bưu điện
992 3: VSAT Thuê bao
== Các số gọi khẩn cấp ==
112: gọi lực lượng tìm kiếm, cứu nạn.
113: gọi công an.
114: gọi cứu hỏa.
115: gọi cứu thương.
== Các đầu số dịch vụ ==
106x: 1060 - trả lời tự động thông tin kinh tế xã hội 1066 - tư vấn việc làm 1068 - Tổng đài giải đáp thông tin kinh tế xã hội 1069 - Tổng đài hỗ trợ thế thao (chuyên sâu về bóng đá và pháp luật)
108x: 1080 - Tổng đài giải đáp thông tin 1088 - Tổng đài kết nối đến các nhà tư vấn qua điện thoại
1400: số tổng đài nhắn tin của Cổng thông tin nhân đạo quốc gia. Thuê bao nhắn tin đến bị tính cước. Số tiền cước được chuyển vào Quỹ nhân đạo quốc gia.
1800xxxx- (ở nước ngoài thường viết là 1-800-xxxx-): số chăm sóc khách hàng, dịch vụ. Thuê bao gọi đến không bị tính cước.
1900xxxx-: số chăm sóc khách hàng, dịch vụ. Thuê bao gọi đến hoặc nhắn tin đến bị tính cuớc.
8xxx và 6xxx: số tổng đài dịch vụ nhắn tin tương tác trên điện thoại di động (dành cho tư nhân khai thác). Thuê bao nhắn tin đến bị tính cước.
Ghi chú: 180066xx, 180068xx, 190066xx, 190068xx do mạng FPT cung cấp
== Cách thức thiết lập cuộc gọi ==
Tại Việt Nam, cách thức thiết lập cuộc gọi theo quy định như sau:
=== Gọi đi quốc tế ===
Chỉ số gọi quốc tế (+; 00) + Mã nước + Mã vùng + Số điện thoại
=== Gọi trong nước ===
Cấu trúc số điện thoại quốc tế theo khuyến nghị E.164 của ITU-T bao gồm mã quốc gia, mã vùng (hoặc mã mạng), số máy điện thoại.
Khi gọi cho điện thoại cố định trong nội tỉnh hay thành phố trực thuộc trung ương chỉ cần quay số điện thoại gọi đến.
Khi gọi cho điện thoại cố định giữa các tỉnh thành với nhau, cách thức quay số là: 0 + Mã vùng + Số điện thoại.
Từ điện thoại di động gọi cho điện thoại cố định, cách thức là: 0 + Mã vùng + Số điện thoại.
Khi gọi đến điện thoại di động, cách thức là: 0 + Mã mạng + số điện thoại (như vậy, phải quay đầy đủ 10 số đối với đầu 09x và 11 số đối với đầu 01xx).
Từ ngày 5 tháng 10 năm 2008, số điện thoại cố định tại các tỉnh thành dài 7 chữ số, riêng Hà Nội và TP HCM dài 8 chữ số (trừ những số điện thoại đặc biệt) được phân chia đầu số theo các nhà khai thác dịch vụ như sau:
2: Viettel (điện thoại cố định)
3: VNPT
4: VTC
5: SPT
62: Viettel (điện thoại cố định)
63:Viettel (điện thoại cố định)
66: Viettel (điện thoại cố định)
68: Di động Viettel
71: CMC Telecom
73: FPT Telecom.
8: Di động Vinaphone
9: Di động MobiFone
== Xem thêm ==
Mã bưu chính các tỉnh thành Việt Nam
Biển xe cơ giới Việt Nam
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Quy hoạch kho số viễn thông
Giới thiệu Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam
Thông tư số 22/2014/TT-BTTTT ban hành Quy hoạch kho số viễn thông Nguyễn Bắc Son ký ngày 22 tháng 12 năm 2014
Thay đổi mã vùng điện thoại cố định Vân Trang, Báo điện tử Chính phủ cập nhật 07:59, 07/01/2015
Country Codes: Vietnam
Đổi số điện thoại cho 6 tỉnh Hồng Anh, VnExpress 3/7/2007, 08:33 GMT+7
Đổi số điện thoại cố định cho 3 tỉnh Hồng Anh, VnExpress 21/3/2006, 09:31 GMT+7
Sim di động 11 số 2/08/2007, 15:58
VNPT đổi số ĐT cố định tại 8 tỉnh, thành phố! Hoàng Hùng. VietnamNet. Cập nhật lúc 17:03, Thứ Năm, 22/11/2007 (GMT+7) |
1984.txt | Theo lịch Gregory, năm 1984 (số La Mã: MCMLXXXIV) là một năm nhuận bắt đầu từ ngày Chủ nhật.
== Sự kiện ==
Sự kiện lớn của euro: Kể từ năm 1984, không có trận tranh hạng 3. Do đó, không có vị trí thứ 3 và vị trí thứ 4 được trao giải thưởng. Vòng bán kết được liệt kê theo thứ tự chữ cái.
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1: Leon Schlumpf trở thành tổng thống Thụy Sĩ
1 tháng 1: Đảo chính của giới quân đội tại Lagos, Nigeria.
1 tháng 1: Brunei tuyên bố độc lập. Sau khi độc lập, Brunei gia nhập và trở thanh thành viên thứ sáu của ASEAN.
=== Tháng 3 ===
23 tháng 3: Các nhà vật lý học tại Darmstadt, Đức tìm ra nguyên tố 108.
=== Tháng 9 ===
2 tháng 9: Bão "Ike" gây thiệt hại nặng tại Philippines, 1.400 người chết
=== Tháng 12 ===
3 tháng 12: Tai họa khí độc của nhà máy hóa học tại Bhopal, Ấn Độ, khoảng 4500 người chết.
== Sinh ==
1 tháng 1: José Paolo Guerrero, cầu thủ bóng đá Peru
3 tháng 1: Maya Ababadjani, nữ diễn viên
7 tháng 1: Max Riemelt, diễn viên Đức
7 tháng 1: Luke McShane, kiện tướng cờ vua Anh
7 tháng 1: Xavier Margairaz, cầu thủ bóng đá Thụy Sĩ
12 tháng 1: Chaunte Howard, nữ vận động viên điền kinh
13 tháng 1: Michael Ginsburg, diễn viên Đức
15 tháng 1: Julia Palmer-Stoll, nữ diễn viên Đức (mất 2005)
17 tháng 1: Tim Sebastian, cầu thủ bóng đá Đức
19 tháng 1: Thomas Vanek, vận động viên khúc côn cầu trên băng Áo
25 tháng 1: Robinho, cầu thủ bóng đá Brasil
25 tháng 1: Stefan Kießling, cầu thủ bóng đá Đức
31 tháng 1: Ulli Wanders, nữ ca sĩ Đức
31 tháng 1: Ashley Blue, nữ diễn viên phim khiêu dâm Mĩ
31 tháng 1: Jeremy Wariner, vận động viên điền kinh Mĩ
5 tháng 2: Cedrick Makiadi, cầu thủ bóng đá Congo
5 tháng 2: Edgaras Česnauskis, cầu thủ bóng đá
6 tháng 2: Darren Bent, cầu thủ bóng đá Anh
9 tháng 2: Drago Papa, cầu thủ bóng đá Croatia
12 tháng 2: Arthur Gomez, cầu thủ bóng đá
18 tháng 2: Idriss Carlos Kameni, cầu thủ bóng đá
18 tháng 2: Nick McDonell, nhà văn Mĩ
21 tháng 2: David Odonkor, cầu thủ bóng đá Đức
25 tháng 2: Xing Huina, nữ vận động viên điền kinh Trung Hoa, huy chương Thế Vận Hội
28 tháng 2: Karolina Kurkova, người mẫu Séc
1 tháng 3: Patrick Helmes, cầu thủ bóng đá Đức
2 tháng 3: Elizabeth Jagger, người mẫu
20 tháng 3: Fernando Torres, cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha
22 tháng 3: Piotr Trochowski, cầu thủ bóng đá Đức
24 tháng 3: Park Bom, ca sĩ Hàn
26 tháng 3: Marco Stier, cầu thủ bóng đá Đức
26 tháng 3: Felix Neureuther, vận động viên chạy ski Đức
28 tháng 3: Christopher Samba, cầu thủ bóng đá
29 tháng 3: Tschawdar Jankow, cầu thủ bóng đá Bulgaria
30 tháng 3: Benjamin Baltes, cầu thủ bóng đá Đức
2 tháng 4: Meryl Cassie, nữ diễn viên New Zealand, nữ ca sĩ
8 tháng 4: Taran Noah Smith, diễn viên Mĩ
10 tháng 4: Mandy Moore, nữ ca sĩ nhạc pop Mĩ, nữ diễn viên
17 tháng 4: Rosanna Davison, người mẫu Ireland
1 tháng 5: Miso Brecko, cầu thủ bóng đá Slovenia
1 tháng 5: Alexander Farnerud, cầu thủ bóng đá Thụy Điển
5 tháng 5: Alexander Laas, cầu thủ bóng đá Đức
14 tháng 5: Michael Rensing, cầu thủ bóng đá Đức
23 tháng 5: Adam Wylie, diễn viên Mĩ
25 tháng 5: Mikkeline Kierkgaard, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật
26 tháng 5: Patrick Milchraum, cầu thủ bóng đá Đức
27 tháng 5: Karsten Fischer, cầu thủ bóng đá Đức
27 tháng 5: Filipe Oliveira, cầu thủ bóng đá Bồ Đào Nha
29 tháng 5: Carmelo Anthony, cầu thủ bóng rổ Mĩ
1 tháng 6: Stephane Sessegnon, cầu thủ bóng đá Benin
7 tháng 6: Marcel Schäfer, cầu thủ bóng đá Đức
9 tháng 6: Christina Beier, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức
16 tháng 6: Rick Nash, vận động viên khúc côn cầu trên băng Canada
30 tháng 6: Fantasia Barrino, nữ ca sĩ Mĩ
1 tháng 7: Jaysuma Saidy Ndure, vận động viên điền kinh
18 tháng 7: Kathrin Hölzl, nữ vận động viên chạy ski Đức
19 tháng 7: Diana Mocanu, nữ vận động viên thể thao Romania
29 tháng 7: J. Madison Wright, nữ diễn viên Mĩ
1 tháng 8: Bastian Schweinsteiger, cầu thủ bóng đá Đức
12 tháng 8: Sherone Simpson, nữ vận động viên điền kinh Jamaica, huy chương Thế Vận Hội
12 tháng 8: Marian Rivera, nữ ca sĩ - diễn viên người Philippines
13 tháng 8: Niko Kranjčar, cầu thủ bóng đá Croatia
18 tháng 8: Robert Huth, cầu thủ bóng đá Đức
21 tháng 8: Alizée, nữ ca sĩ Pháp
23 tháng 8: Glen Johnson, cầu thủ bóng đá Anh
29 tháng 8: Christian Lell, cầu thủ bóng đá Đức
16 tháng 9: Katie Melua, nữ ca sĩ
19 tháng 9: Kevin Zegers, diễn viên Canada
20 tháng 9: Brian Joubert, vận động viên trượt băng nghệ thuật
20 tháng 9: Alexandros Margaritis, đua xe
23 tháng 9: Jan-Ingwer Callsen-Bracker, cầu thủ bóng đá Đức
29 tháng 9: Per Mertesacker, cầu thủ bóng đá Đức
01 tháng 10: Erica Ellyson, người mẫu khỏa thân của Hoa Kỳ
2 tháng 10: Eldin Jakupović, cầu thủ bóng đá
3 tháng 10: Ashlee Simpson, nữ ca sĩ Mĩ, nữ diễn viên
10 tháng 10: Kuriyama Chiaki, nữ diễn viên Nhật Bản
14 tháng 10: Claudia Rauschenbach, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức
18 tháng 10: Lindsey Kildow, nữ vận động viên chạy ski Mĩ
21 tháng 10: Nguyễn Hoàng Ngân, nữ vận động viên karatedo Việt Nam
26 tháng 10: Sasha Cohen, vận động viên trượt băng nghệ thuật
25 tháng 10: Katy Perry,nữ ca sĩ nổi tiếng Mỹ
27 tháng 10: Kelly Osbourne, nữ nhạc sĩ Anh
9 tháng 11: Delta Goodrem, nữ ca sĩ Úc
10 tháng 11: Dominik Höpfner, cầu thủ bóng chày Đức
12 tháng 11: Sandara Park, nữ ca sĩ Hàn
18 tháng 11: François Bourque, vận động viên chạy ski Canada
21 tháng 11: Jena Malone, nữ diễn viên Mĩ
22 tháng 11: Scarlett Johansson, nữ diễn viên Mĩ
23 tháng 11: Lucas Grabeel, nam diễn viên Mĩ
24 tháng 11: Maria Riesch, nữ vận động viên chạy ski Đức
25 tháng 11: Gaspard Ulliel, diễn viên Pháp
26 tháng 11: Antonio Puerta, cầu thủ người Tây Ban Nha (mất 2007)
8 tháng 12: Emma Green, nữ vận động viên điền kinh Thụy Điển
15 tháng 12: Véronique Mang, nữ vận động viên điền kinh Pháp
24 tháng 12: Wallace Spearmon, vận động viên điền kinh Mĩ
30 tháng 12: LeBron James, cầu thủ bóng rổ Mĩ
31 tháng 12: Demba Touré, cầu thủ bóng đá
== Mất ==
1 tháng 1: Paula Grogger, nhà văn nữ Áo (sinh 1892)
1 tháng 1: Alexis Korner, nhạc sĩ blues Anh (sinh 1928)
6 tháng 1: Hermann Engelhard, vận động viên điền kinh Đức (sinh 1903)
7 tháng 1: Alfred Kastler, nhà vật lý học Pháp (sinh 1902)
14 tháng 1: Paul Ben-Haim, nhà soạn nhạc Israel (sinh 1897)
14 tháng 1: Ray Kroc, người sáng lập McDonalds (sinh 1902)
18 tháng 1: Vassilis Tsitsanis, nam ca sĩ Hy Lạp, nhà soạn nhạc (sinh 1917)
18 tháng 1: Heinrich Gleißner, luật gia, chính trị gia Áo (sinh 1893)
18 tháng 1: Hans Constantin Paulssen, nhà tư bản công nghiệp Đức (sinh 1892)
19 tháng 1: Wolfgang Staudte, đạo diễn phim Đức (sinh 1906)
20 tháng 1: Johnny Weissmüller, vận động viên bơi lội Mĩ, diễn viên (sinh 1904)
21 tháng 1: Jackie Wilson, ca sĩ (sinh 1934)
22 tháng 1: Anton Lamprecht, họa sĩ Đức (sinh 1901)
23 tháng 1: Samuel Gardner, nhà soạn nhạc Mĩ (sinh 1891)
28 tháng 1: Al Dexter, nhạc sĩ nhạc đồng quê Mĩ, nhà soạn nhạc (sinh 1905)
29 tháng 1: Max Güde, luật gia Đức, chính trị gia (sinh 1902)
29 tháng 1: Edzard Schaper, nhà văn Đức, dịch giả (sinh 1908)
30 tháng 1: Luke Kelly, nam ca sĩ Ireland (sinh 1940)
3 tháng 2: Hubert Ney, chính trị gia Đức (sinh 1892)
5 tháng 2: Manès Sperber, nhà văn, triết gia (sinh 1905)
6 tháng 2: Hildegard Bleyler, nữ chính trị gia Đức (sinh 1899)
12 tháng 2: Johannes Messner, nhà thần học Áo, chính trị gia (sinh 1891)
12 tháng 2: Ferry Dusika, tay đua xe đạp Áo (sinh 1908)
15 tháng 2: Ethel Merman, nữ diễn viên Mĩ, nữ ca sĩ (sinh 1908)
18 tháng 2: Jakob Miltz, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1928)
19 tháng 2: Waldemar Bloch, nhà soạn nhạc Áo, nghệ sĩ dương cầm (sinh 1906)
21 tháng 2: Mikhail Aleksandrovich Sholokhov, nhà văn Nga (sinh 1905)
24 tháng 2: Helmut Schelsky, nhà xã hội học (sinh 1912)
3 tháng 3: Heinrich Kirchner, nhà điêu khắc Đức (sinh 1902)
5 tháng 3: William Powell, diễn viên Mĩ (sinh 1892)
8 tháng 3: Klaus Schmid-Burgk, chính trị gia Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (sinh 1913)
12 tháng 3: Heinz Oskar Wuttig, nhà văn Đức, tác giả kịch bản (sinh 1907)
19 tháng 3: Garry Winogrand, nhiếp ảnh gia Mĩ (sinh 1928)
19 tháng 3: Nakanoshima Kin-ichi, nhà soạn nhạc Nhật Bản (sinh 1904)
23 tháng 3: Jean Prouvé, kiến trúc sư Pháp, nhà thiết kế (sinh 1901)
24 tháng 3: William Voltz, nhà văn Đức (sinh 1938)
24 tháng 3: Sam Jaffe, diễn viên Mĩ (sinh 1891)
30 tháng 3: Karl Rahner, nhà thần học Công giáo (sinh 1904)
5 tháng 4: Herbert Fleischmann, diễn viên (sinh 1925)
8 tháng 4: Pjotr Leonidowitsch Kapiza, nhà vật lý học Nga (sinh 1894)
9 tháng 4: Paul-Pierre Philippe, Hồng y Giáo chủ (sinh 1905)
10 tháng 4: Jakub Berman, chính khách Ba Lan (sinh 1901)
10 tháng 4: Willy Semmelrogge, diễn viên Đức (sinh 1923)
11 tháng 4: Fritz Rotter, tác giả Áo, nhà soạn nhạc (sinh 1900)
17 tháng 4: Mark W. Clark, tướng Mĩ (sinh 1896)
18 tháng 4: Leopold Lindtberg, đạo diễn phim Áo (sinh 1902)
21 tháng 4: Marcel Janco, nghệ nhân Romania, nhà văn (sinh 1895)
22 tháng 4: Ansel Adams, nhiếp ảnh gia Mĩ (sinh 1902)
23 tháng 4: Juan Tizol, nhạc sĩ (sinh 1900)
5 tháng 5: Just Göbel, cầu thủ bóng đá Hà Lan (sinh 1891)
10 tháng 5: Joaquim Agostinho, tay đua xe đạp Bồ Đào Nha (sinh 1943)
11 tháng 5: Anton Turek, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1919)
13 tháng 5: Stanisław Marcin Ulam, nhà toán học Ba Lan (sinh 1909)
13 tháng 5: Julie Rösch, nữ chính trị gia Đức
16 tháng 5: Irwin Shaw, nhà văn Mĩ (sinh 1913)
26 tháng 5: Waldemar Grzimek, nhà điêu khắc Đức (sinh 1918)
2 tháng 6: François de Menthon, chính khách Pháp (sinh 1900)
4 tháng 6: Hans Kies, nhà điêu khắc Đức, chính trị gia (sinh 1910)
6 tháng 6: Ernst Schellenberg, chính trị gia Đức (sinh 1907)
8 tháng 6: Gordon Jacob, nhà soạn nhạc, người điều khiển dàn nhạc (sinh 1895)
11 tháng 6: Siegfried Balke, nhà hóa học Đức, manager, chính trị gia, bộ trưởng liên bang (sinh 1902)
11 tháng 6: Enrico Berlinguer, chính trị gia Ý (sinh 1922)
15 tháng 6: Edgar Jené, họa sĩ, nghệ sĩ tạo hình (sinh 1904)
18 tháng 6: Heinrich Wehking, chính trị gia Đức (sinh 1899)
22 tháng 6: Joseph Losey, đạo diễn phim Mĩ (sinh 1909)
22 tháng 6: Gerhard Frommel, nhà soạn nhạc Đức (sinh 1906)
25 tháng 6: Michel Foucault, triết gia Pháp (sinh 1926)
28 tháng 6: Norbert Kricke, nhà điêu khắc (sinh 1922)
30 tháng 6: Lillian Hellman, nhà văn nữ Mĩ (sinh 1905)
1 tháng 7: Moshé Feldenkrais, nhà vật lý học (sinh 1904)
2 tháng 7: Bedřich Fučík, nhà phê bình văn học Séc, dịch giả
3 tháng 7: Raoul Salan, tướng Pháp (sinh 1899)
4 tháng 7: Wolfgang Görg, nhiếp ảnh gia (sinh 1911)
8 tháng 7: Hugo Geiger, chính trị gia Đức (sinh 1901)
8 tháng 7: Franz Fühmann, nhà văn Đức (sinh 1922)
8 tháng 7: José Humberto Quintero Parra, Hồng y Giáo chủ (sinh 1902)
12 tháng 7: Franz Gurk, chính trị gia Đức (sinh 1898)
25 tháng 7: Big Mama Thornton, nữ ca sĩ nhạc blues Mĩ (sinh 1926)
27 tháng 7: James Mason, diễn viên Anh (sinh 1909)
5 tháng 8: Richard Burton, diễn viên Anh (sinh 1925)
5 tháng 8: Rudolf Hagelstange, nhà văn Đức (sinh 1912)
8 tháng 8: Werner Otto von Hentig, nhà ngoại giao (sinh 1886)
11 tháng 8: Marcel Balsa, đua ô tô Pháp (sinh 1909)
11 tháng 8: Percy Mayfield, nhạc sĩ blues Mĩ (sinh 1920)
13 tháng 8: Heribert Fischer-Geising, họa sĩ Đức (sinh 1896)
14 tháng 8: John Boynton Priestley, nhà văn Anh (sinh 1894)
16 tháng 8: György Kósa, nhà soạn nhạc Hungary (sinh 1897)
19 tháng 8: Louis Lansana Béavogui, cựu tổng thống của Guinée (sinh 1923)
21 tháng 8: Ewald Sprave, chính trị gia Đức (sinh 1902)
25 tháng 8: Rudolf Harms, nhà văn Đức (sinh 1901)
25 tháng 8: Truman Capote, nhà văn Mĩ (sinh 1924)
26 tháng 8: Lawrence Joseph Shehan, tổng giám mục của Baltimore, Hồng y Giáo chủ (sinh 1898)
29 tháng 8: Pierre Gemayel, chính trị gia (sinh 1905)
3 tháng 9: Jan Zábrana, nhà văn Séc, thi sĩ, dịch giả (sinh 1931)
6 tháng 9: Ernest Tubb, ca sĩ nhạc country Mĩ (sinh 1914)
7 tháng 9: Liam O'Flaherty, nhà văn Ireland (sinh 1896)
9 tháng 9: Yılmaz Güney, diễn viên, đạo diễn phim (sinh 1937)
14 tháng 9: Janet Gaynor, nữ diễn viên Mĩ (sinh 1906)
17 tháng 9: Richard Basehart, diễn viên Mĩ (sinh 1914)
25 tháng 9: Walter Pidgeon, diễn viên Canada (sinh 1897)
5 tháng 10: Hugo Kükelhaus, nhà văn Đức, nhà sư phạm, triết gia, nghệ nhân (sinh 1900)
6 tháng 10: George Gaylord Simpson, nhà sinh vật học Mĩ, nhà động vật học, nhà cổ sinh vật học (sinh 1902)
7 tháng 10: Hermann Schroeder, nhà soạn nhạc Đức (sinh 1904)
15 tháng 10: Paolo Marella, Hồng y Giáo chủ (sinh 1895)
20 tháng 10: Carl Ferdinand Cori, bác sĩ, Giải Nobel (sinh 1896)
20 tháng 10: Paul Dirac, nhà vật lý học Anh (sinh 1902)
21 tháng 10: François Truffaut, đạo diễn phim Pháp, diễn viên, nhà sản xuất (sinh 1932)
21 tháng 10: Dalibor Vačkář, nhà soạn nhạc Séc (sinh 1906)
22 tháng 10: Harold L. Walters, nhà soạn nhạc Mĩ (sinh 1918)
22 tháng 10 - Hoa Phượng, soạn giả Cải lương (sinh 1933),
23 tháng 10: Oskar Werner, diễn viên Áo (sinh 1922)
25 tháng 10: Pascale Ogier, nữ diễn viên Pháp (sinh 1958)
31 tháng 10: Indira Gandhi, nữ chính trị gia Ấn Độ, cựu thủ tướng (sinh 1917)
9 tháng 11: Hans Petersson, nhà toán học Đức (sinh 1902)
11 tháng 11: Hans Reif, chính trị gia Đức (sinh 1899)
14 tháng 11: Alexander Hegarth, diễn viên Đức (sinh 1921)
15 tháng 11: Hermann Dietzfelbinger, mục sư Đức, nhà thần học (sinh 1908)
17 tháng 11: Hans Kilb, luật gia Đức (sinh 1910)
17 tháng 11: Jan Novák, nhà soạn nhạc Séc (sinh 1921)
20 tháng 11: Trygve Bratteli, chính trị gia Na Uy (sinh 1910)
20 tháng 11: Kristian Djurhuus, chính trị gia (sinh 1895)
20 tháng 11: Alexander Moyzes, nhà soạn nhạc Slovakia (sinh 1906)
24 tháng 11: Paul Dahlke, diễn viên Đức (sinh 1904)
25 tháng 11: Clara Asscher-Pinkhof, nhà nữ sư phạm Hà Lan, nhà văn nữ (sinh 1896)
25 tháng 11: Willibald Mücke, chính trị gia Đức (sinh 1904)
29 tháng 11: Gotthard Günther, triết gia Đức (sinh 1900)
8 tháng 12: Bruno Six, chính trị gia Đức (sinh 1906)
11 tháng 12: Pentti Hämäläinen, võ sĩ quyền Anh Phần Lan (sinh 1929)
13 tháng 12: Ngô Đình Thục, tổng giám mục Huế (sinh 1897)
14 tháng 12: Vicente Aleixandre, nhà thơ trữ tình Tây Ban Nha, Giải Nobel về văn học 1977 (sinh 1898)
18 tháng 12: Rudolf Platte, diễn viên Đức (sinh 1904)
18 tháng 12: Gebhard Seelos, chính trị gia Đức (sinh 1901)
24 tháng 12: Ian Hendry, diễn viên Anh (sinh 1931)
24 tháng 12: Peter Lawford, diễn viên Anh (sinh 1923)
28 tháng 12: Sam Peckinpah, đạo diễn phim Mĩ (sinh 1925)
29 tháng 12: Erich Schmitt, họa sĩ biếm họa Đức (sinh 1924)
== Giải thưởng Nobel ==
Hóa học - Robert Bruce Merrifield
Văn học - Jaroslav Seifert
Hòa bình - Desmond Mpilo Tutu
Vật lý - Carlo Rubbia, Simon van der Meer
Y học - Niels Kaj Jerne, Georges J.F. Köhler, César Milstein
Kinh tế - Franco Modigliani
== Xem thêm ==
Thế giới trong năm 1984, tình trạng thế giới trong năm này
== Tham khảo == |
pháp nhân.txt | Pháp nhân là một định nghĩa trong luật pháp về một thực thể mang tính hội đoàn, thường dùng trong luật kinh tế. Về pháp nhân có rất nhiều quan điểm và học thuyết như: có thuyết cho pháp nhân là một chủ thể giả tạo, có thuyết cho nó là một chủ thể thực sự v.v.. nhưng quan trọng nhất pháp nhân chỉ ra được các thực thể hội đoàn có những biểu hiện tương tự như thể nhân.
Pháp nhân có nhiều định nghĩa, song theo pháp luật Việt Nam thì pháp nhân là những cá nhân, tổ chức có tư cách pháp lý độc lập để tham gia các hoạt động pháp lý khác như chính trị, kinh tế, xã hội... Một cá nhân, tổ chức không có tư cách pháp nhân thì cũng không được pháp luật công nhận có quyền ký kết các văn kiện pháp lý về kinh tế, chính trị, xã hội (nếu cố tình ký kết thì văn bản đó vẫn sẽ bị coi là vô hiệu lực).
== Đặc điểm ==
Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi thỏa mãn 4 dấu hiệu sau đây:
Phải được tồn tại dưới một hình thái xác định và phải được cơ quan có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận
phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ: là cấu trúc nội tại bên trong bao gồm các cơ quan lãnh đạo, bộ phận chuyên môn của tổ chức, đảm bảo cho tổ chức có khả năng thực tế để hoạt động và điều hành đảm bảo tính nhất quán trong hoạt động pháp nhân;
Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó: điều này có nghĩa là pháp nhân tự chịu trách nhiệm tài sản của mình và trong giới hạn tài sản của mình nghĩa là trả nợ hết tài sản thì thôi, năng lực trách nhiệm pháp nhân gọi là trách nhiệm hữu hạn, trừ trường hợp ngoại lệ là các công ty hợp danh thì thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn;
Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
== Tham khảo == |
cúp bóng đá châu á.txt | Cúp bóng đá châu Á (tiếng Anh: AFC Asian Cup) là giải đấu giữa các đội tuyển bóng đá quốc gia châu Á do Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) tổ chức. Giải lần đầu tiên diễn ra tại Hồng Kông năm 1956 với 4 đội tuyển và nhà vô địch đầu tiên là Hàn Quốc. Tính đến nay, Nhật Bản là đội tuyển nhiều lần vô địch nhất với 4 lần lên ngôi vào các năm 1992, 2000, 2004 và 2011.
== Kết quả ==
^ Giải đấu vòng tròn một lượt.
=== Các đội lọt vào top 4 ===
=== Kết quả của các nước chủ nhà ===
=== Kết quả của đương kim vô địch ===
=== Vô địch theo từng khu vực ===
Israel ngày nay chuyển sang trực thuộc UEFA.
== Giải thưởng ==
=== Cầu thủ xuất sắc nhất giải ===
=== Vua phá lưới ===
== Các đội tham dự ==
Chú giải:
Q – Vòng loại
– Chủ nhà
Các đội chưa từng tham dự Asian Cup
Afghanistan, Bhutan, Brunei, Guam, Kyrgyzstan, Lào, Ma Cao, Maldives, Mông Cổ, Nepal, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Tajikistan, Đông Timor, Yemen
== Thống kê theo số trận thắng ==
(tính đến giải đấu năm 2015)
Israel từ năm 1991 chuyển sang trực thuộc UEFA.
== Các huấn luyện viên vô địch ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức Cúp bóng đá châu Á
Cúp bóng đá châu Á, AFC.com
Lưu trữ RSSSF |
nộm.txt | Nộm, trong phương ngữ miền Nam gọi là gỏi, là tên gọi chung cho các món rau trộn chua ngọt trong ẩm thực Việt Nam.
== Cách làm ==
Cách làm nói chung: trộn rau (tùy loại) với gia vị, rau thơm, tỏi, ớt, đậu phộng,... vào cho vừa ăn. Có loại trộn thêm cả thịt, cá.
Một số món nộm:
Món nộm truyền thống trong cỗ Tết miền Bắc Việt Nam, gồm su hào/đu đủ, cà rốt, lạc rang, rau mùi,...
Nộm thịt bò khô: gồm đu đủ, cà rốt, thịt bò khô, rau kinh giới,...
Nộm rau muống: rau muống trụng, kinh giới, mắm tôm, mè rang
Thịt gà xé phay: gồm thịt gà luộc, bắp cải, hành tây, rau răm,...
Nộm hoa chuối: gồm hoa chuối, lạc rang, nước mắm,...
Gỏi ngó sen
== Chú thích == |
gò đống đa.txt | Gò Đống Đa là một gò đất và là một di tích nằm bên đường phố Tây Sơn, phường Quang Trung, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Tại đây năm 1789 quân Tây Sơn đã đại phá và đánh thắng quân nhà Thanh Trung Quốc trong Trận Ngọc Hồi - Đống Đa.
== Lịch sử ==
Đêm 4 rạng ngày 5 tháng 1 năm Kỷ Dậu (1789) trận đánh của quân Tây Sơn diễn ra với sự tham gia của nhân dân vùng Khương Thượng, do Đô đốc Long (còn có tên là Đặng Tiến Đông) chỉ huy. Trận này diệt tan đồn Khương Thượng của quân nhà Thanh. Tướng nhà Thanh là Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự tử ở núi Ốc (Loa Sơn) gần chùa Bộc bây giờ. Trận đánh đã mở đường cho đại quân Tây Sơn từ Ngọc Hồi thừa thắng tiến vào Thăng Long.
Nhà thơ đương thời Ngô Ngọc Du đã làm bài thơ Loa Sơn điếu cổ có câu:
Thánh Nam thập nhị kình nghê quán
Chiến điệu anh hùng đại võ công
Dịch là:
Thánh nam xác giặc mười hai đống
Ngời sáng anh hùng đại võ công.
== Lịch sử ==
Tương truyền sau chiến thắng, vua Quang Trung cho thu nhặt xác giặc xếp vào 12 cái hố rộng, lấp đất chôn và đắp cao thành gò gọi là "Kình nghê quán" (gò chôn xác "kình nghê" - 2 loài cá dữ ngoài biển, một cách gọi ám chỉ quân xâm lược Tàu). Theo truyền thuyết, 12 gò này nằm rải rác từ làng Thịnh Quang đến làng Nam Đồng, trên các gò cây cối mọc um tùm nên có tên là Đống Đa. Năm 1851, do mở đường mở chợ, đào xẻ nhiều nơi thấy nhiều hài cốt, lại cho thu vào một hố cao lên nối liền với núi Xưa, thành gò thứ 13, tức là gò còn lại hiện nay. Còn 12 gò khác đã bị phạt đi trong thời gian người Pháp mở rộng Hà Nội năm 1890.
Chiến thắng Đống Đa cùng với Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa dưới sự chỉ huy của Quang Trung đã phá tan 20 vạn quân Thanh, giải phóng thành Thăng Long (xem bài chính: Nguyễn Huệ).
Nhưng trên thực tế, có nhiều chứng cứ cho rằng Gò Đống Đa là một gò tự nhiên được hình thành từ cách đây khoảng 4000 năm.
Nhân kỷ niệm 200 năm chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa, năm 1989, Công viên Văn hóa Đống Đa được thành lập trên cơ sở khu vực Gò Đống Đa. Đây là công trình kiến trúc mang tính lịch sử văn hóa nhằm ghi nhớ công ơn của người Anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ. Tổng diện tích của công trình 21.745 m2 được chia làm 2 khu vực, gồm khu vực tượng đài, nhà trưng bày và khu vực gò.
== Lễ hội Đống Đa ==
Hàng năm cứ vào ngày mồng 5 Tết nhân dân thường tổ chức hội Gò Đống Đa để ôn lại những sự kiện lịch sử đã diễn ra tại nơi đây, đặc biệt có tục rước rồng lửa đã thành lễ hội truyền thống của người Hà Nội. Sau đám rước rồng lửa là lễ dâng hương, lễ đọc văn, cuộc tế diễn ra ở đình Khương Thượng, lễ cầu siêu ở chùa Đồng Quang.
Kỷ niệm 200 năm chiến thắng Đống Đa, khu tượng đài Quang Trung và công viên văn hóa Đống Đa đã được xây dựng tại khu đất bên cạnh gò lịch sử này, trông ra phố mang tên Đặng Tiến Đông, người chỉ huy trận đánh đồn Khương Thượng và đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa.
== Gò Đống Đa trong thơ văn ==
Đống Đa xưa bãi chiến trường
Ngổn ngang xác giặc vùi xương thành gò
Mùng 5 tết trận thắng to
Gió reo còn vẳng tiếng hò ba quân
Hằng năm mở hội tưng bừng Nhớ ngày chiến thắng vang lừng núi sông
Noi gương chiến đấu anh hùng
Quang Trung sống mãi trong lòng chúng ta
Gò Đống Đa, Hằng Phương, in trong sách giáo khoa Tập đọc lớp 2, quyển 2 trang 47, năm 2000
== Trung Liệt miếu ==
Trên gò Đống Đa có một ngôi miếu, gọi là Trung Liệt miếu, được xây ở thế kỷ 19. Tuy nhiên, ngôi miếu này đã bị hư hại đáng kể, chỉ còn cổng miếu.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Nhà Tây Sơn
Nguyễn Huệ
Phòng tuyến Tam Điệp
== Liên kết ngoài ==
Kỷ niệm 216 năm chiến thắng Ngọc Hồi- Đống Đa
Hình ảnh Gò Đống Đa |
danh sách các đội tuyển bóng đá nam quốc gia.txt | Danh sách các đội tuyển bóng đá quốc gia trên thế giới.
== Thành viên chính thức của FIFA ==
Hiện nay có 211 đội tuyển bóng đá quốc gia tham gia vào FIFA, tổ chức thể thao lớn nhất thế giới và là tổ chức đông thành viên nhất kể cả Liên Hiệp Quốc nếu không đề cập đến lĩnh vực bóng đá. Các đội tuyển bóng đá quốc gia thành viên của FIFA đều có đủ tư cách để tham gia vào Giải vô địch bóng đá thế giới và các trận đấu diễn ra giữa các đội tuyển được FIFA công nhận là các trận đấu quốc tế. Dựa trên kết quả các trận đấu diễn ra trong 4 năm gần nhất,Bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA được công bố hàng tháng để so sánh sức mạnh và sự phát triển của các đội bóng. Mỗi đội tuyển quốc gia cũng được sắp xếp vào 6 liên đoàn bóng đá dựa theo vị trí địa lý tuy nhiên có một số trường hợp ngoại lệ khi thành viên ở khu vực địa lý khác nhưng gia nhập Liên đoàn bóng đá ở khu vực khác về địa lý:
Châu Á - Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC)
Châu Phi - Liên đoàn bóng đá châu Phi (CAF)
Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Caribe - Liên đoàn bóng đá Bắc, Trung Mỹ và Caribe (CONCACAF)
Nam Mỹ - Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ (CONMEBOL)
Châu Đại Dương - Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương (OFC)
Châu Âu - Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA)
Ngoài ra còn có 22 quốc gia Ả-Rập ở Châu Phi và Châu Á là thành viên của Hiệp hội các liên đoàn bóng đá Ả-rập (UAFA). Ngoài Giải vô địch bóng đá thế giới được FIFA tổ chức giữa các nước để tìm ra đội vô địch thế giới, mỗi liên đoàn cũng tổ chức giải đấu của riêng mình để tìm ra đội mạnh nhất trong số các thành viên:
AFC - Cúp bóng đá châu Á
CAF - Cúp bóng đá châu Phi
UAFA - cúp các quốc gia Ả-Rập
CONCACAF - Cúp Vàng CONCACAF
CONMEBOL - Copa América
OFC - Cúp bóng đá châu Đại Dương
UEFA - Giải vô địch bóng đá châu Âu
=== Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) ===
Bao gồm 46 thành viên ở châu Á ngoại trừ Síp và Israel nhưng lại bao gồm cả Úc. Dựa theo vị trí địa lý của khu vực Châu Á, AFC được chia làm 4 liên đoàn thành viên:
Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á (AFF) là tổ chức quản lý bóng đá khu vực Đông Nam Á kể cả Úc
Liên đoàn bóng đá Đông Á (EAFF) là tổ chức quản lý bóng đá khu vực Đông Á.
Liên đoàn bóng đá Tây Á (WAFF) là tổ chức quản lý bóng đá khu vực Tây Á.
Liên đoàn bóng đá Trung và Nam Á (CAFF và SAFF) là tổ chức quản lý bóng đá khu vực Trung và Nam Á.
1: Tên cũ khi còn là thành viên OFC (gia nhập AFC năm 2006)
2: Thành viên của Liên hiệp các hiệp hội bóng đá Ả Rập (UAFA)
3: Tên chính thức được sử dụng bởi FIFA và AFC cho Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa
4: Tên chính thức được sử dụng bởi FIFA và AFC cho Đài Loan; thành viên OFC từ 1975-1989
5: Tên chính thức được sử dụng bởi FIFA và AFC; Tên chính thức được sử dụng bởi EAFF là "Hồng Kông, Trung Quốc" (a) và "Ma Cao, Trung Quốc" (b)
6: Tên chính thức được sử dụng bởi FIFA và AFC cho Bắc Triều Tiên (a) và Nam Triều Tiên (b)
7: Thành viên của AFC nhưng không phải thành viên FIFA
=== Liên đoàn bóng đá châu Phi (CAF) ===
được thành lập ngày 19 tháng 8 năm 1957, CAF bao gồm 54 thành viên. Dựa theo vị trí địa lý của Châu Phi, CAF được chia thành 5 liên đoàn khu vực:
Hội đồng các hiệp hội bóng đá Đông và Trung Phi (CECAFA) đại diện cho các quốc gia Đông Phi và một vài quốc gia Trung Phi
Hội đồng các hiệp hội bóng đá Nam Phi (COSAFA) đại diện cho các quốc gia và các đảo ở Nam Phi
Liên hiệp bóng đá Tây Phi (WAFU) đại diện cho các quốc gia Tây Phi
Liên hiệp các liên đoàn bóng đá Bắc Phi (UNAF) đại diện cho các quốc gia thuộc khu vực Bắc Phi
Liên hiệp các liên đoàn bóng đá Trung Phi (UNIFFAC) đại diên cho một số quốc gia Trung Phi
1: Thành viên của UAFA
2: Tên chính thức được sử dụng bởi FIFA và CAF cho Cộng hòa Dân chủ Congo
3: Thành viên của CAF nhưng không phải thành viên FIFA
Ghi chú: Zanzibar là thành viên của CAF từ 2004 đến 2005 sau đó là thành viên không chính thức của CAF từ năm 2007 đến 2009. Hiện nay là thành viên của NF-Board.
=== Liên đoàn bóng đá Bắc, Trung Mỹ và Caribe (CONCACAF) ===
CONCACAF được chia thành 3 liên đoàn khu vực:
Liên đoàn bóng đá Caribe(CFU) đại diện cho tất cả các nước vùng Caribe
Liên đoàn bóng đá Bắc Mỹ (NAFU) đại diện cho ba quốc gia vùng Bắc Mỹ
Liên đoàn bóng đá Trung Mỹ (UNCAF) đại diện cho bảy quốc gia khu vực Trung Mỹ
1: Thành viên chính thức của CONCACAF nhưng không phải thành viên FIFA
=== Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ (CONMEBOL) ===
Argentina
Bolivia
Brasil
Chile
Colombia
Ecuador
Paraguay
Peru
Uruguay
Venezuela
=== Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương (OFC) ===
1: Thành viên của OFC nhưng không phải thành viên FIFA
2: Thành viên không chính thức của ConIFA
3: Chưa từng tham gia giải đấu nào của OFC hay FIFA
4: Thành viên của AFC từ 1964 đến 1966
=== Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) ===
1: Thành viên cũ của AFC (AFC 1954-1974; gia nhập UEFA vào năm 1994)
2: Thành viên cũ của AFC (AFC 1998-2002; gia nhập UEFA vào năm 2002).
== Các đội tuyển không thuộc các liên đoàn châu lục của FIFA ==
=== Các nước thuộc Liên Hiệp Quốc ===
Có bảy thành viên và quốc gia quan sát viên Liên Hiệp Quốc không phải là thành viên của FIFA hay bất kỳ liên đoàn châu lục nào. Sáu trong số này từng cử đại diện tham dự các trận giao hữu không chính thức, các giải đấu cấp Olympic (ví dụ như Đại hội Thể thao Thái Bình Dương hay Đại hội Thể thao Micronesia), hoặc tại các giải ngoài sự kiểm soát của FIFA. Sáu đội này bao gồm:
Micronesia
Monaco1
Palau
Anh Quốc2
Thành Vatican
1: Liên đoàn bóng đá là thành viên của ConIFA
2: Không hề có đội tuyển bóng đá quốc gia Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có các trận giao hữu không chính thức dưới tên "Great Britain". Một [[Đội tuyển bóng đá Olympic Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Irelandđội đại diện cho toàn thể Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tham gia Thế vận hội (Lần gần nhất là Thế vận hội Mùa hè 2012); mặt khác, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland được đại diện bởi các đội tuyển riêng biệt của mỗi quốc gia trong vương quốc
Quần đảo Marshall và Nauru là các quốc gia thành viên LHQ mà không có đội tuyển bóng đá quốc gia từng tham gia thi đấu.
=== Các nước không thuộc Liên Hiệp Quốc ===
Có mười một quốc gia được công nhận hạn chế, có chủ quyền de facto không phải thành viên hay quan sát viên của Liên Hiệp Quốc. Bốn trong số các quốc gia này có đội tuyển được liệt kê bên trên: Trung Hoa Dân Quốc, thành viên của FIFA và AFC (với tên Trung Hoa Đài Bắc); Quần đảo Cook, thành viên của FIFA và OFC; Kosovo, thành viên của FIFA và UEFA; và Niue, không phải thành viên FIFA nhưng là thành viên dự khuyết của OFC.
Bảy quốc gia có chủ quyền de facto hay được một số nước công nhận còn lại không phải là thành viên FIFA hay ất cứ liên đoàn châu lục nào. Sáu trong số này có đại diện thi đấu các trận đấu bóng đá ngoài FIFA:
Abkhazia1
Nagorno-Karabakh1
Bắc Síp1
Somaliland1
Nam Ossetia1
Tây Sahara1
1: Liên đoàn bóng đá quốc gia là thành viên của ConIFA
Transnistria là quốc gia de facto cũng thuộc ConIFA, tuy nhiên, chưa có đội tuyển quốc gia.
== Các đội tuyển bóng đá quốc gia cũ ==
Các đội tuyển quốc gia sau không còn tồn tại do quốc gia hoặc vùng lãnh thổ mà nó đại diện đã bị giải thể.
Ghi chú: bốn Đội tuyển Nam Yemen; Đông Đức; Việt Nam Cộng hòa; Saar được FIFA liệt kê vào các đội đã không còn tồn tại và thành tích không được chuyển dồn cho bất cứ đội nào.
=== Tên gọi mới ===
Bắc Rhodesia → Zambia vào năm 1964
Bờ Biển Vàng → Ghana vào năm 1957
Congo thuộc Bỉ → Congo-Leopoldville vào năm 1960 → Congo-Kinshasa vào năm 1963 → Zaire vào năm 1971 → CHDC Congo vào năm 1997
Campuchia → Khmer vào năm 1970 → Kampuchea vào năm 1975→ Campuchia vào năm 1979
Gambia thuộc Anh → Gambia vào năm 1965
Ceylon → Sri Lanka vào năm 1972
CHLB Nam Tư → Serbia và Montenegro vào năm 2003
Congo thuộc Pháp → Congo-Brazzaville vào năm 1960→ Congo vào năm 1992
Cộng hòa Ả Rập Thống nhất → Ai Cập vào năm 1972
Curaçao → Antille thuộc Hà Lan vào năm 1948
Dahomey → Bénin vào năm 1975
Đế quốc Nga → Liên Xô vào năm 1923
Đông Ấn Hà Lan → Indonesia vào năm 1949
Đức → Tây Đức vào năm 1950 → Đức vào năm 1990
FLN → Algérie vào năm 1962
Guiana thuộc Anh → Guyana vào năm 1966
Guiné thuộc Bồ Đào Nha → Guiné-Bissau vào năm 1975
Togoland thuộc Pháp → Togo vào năm 1960
Madagascar → Cộng hòa Malagasy vào năm 1958 → Madagascar vào năm 1975
Malaya → Malaysia vào năm 1963
Miến Điện (Burma) → Myanmar vào năm 1989
Tân Hebrides → Vanuatu vào năm 1980
Nhà nước Tự do Ireland → Cộng hòa Ireland vào năm 1937
Nyasaland → Malawi vào năm 1966
Nam Rhodesia → Rhodesia vào năm 1964→ Zimbabwe vào năm 1980
Palestine/Eretz Israel→ Israel vào năm 1948
Somaliland thuộc Pháp → Djibouti vào năm 1977
Surinam → Suriname vào năm 1975
Tanganyika → Tanzania sau khi nước này thống nhất với Zanzibar thành Tanzania vào năm 1964. Đội tuyển bóng đá quốc gia Zanzibar vẫn tiếp tục thi đấu nhưng không gia nhập FIFA. Là thành viên của CAF từ năm 2007-2009 và là thành viên không chính thức của NF-board.
Tây Samoa → Samoa vào năm 1996
Thượng Volta → Burkina Faso vào năm 1984
Tiệp Khắc (1918–1939) → Vùng bảo hộ Bohemia và Moravia vào năm 1939 → Tiệp Khắc vào năm 1945 → Đội đại diện người Séc và Slovak vào năm 1993
Vương quốc của người Serb, Croat, và Slovene → Nam Tư vào năm 1929
== Chú thích == |
giống cái.txt | Con cái hay giống cái (♀) là một trong hai giới tính của các sinh vật có hình thức sinh sản hữu tính, đây là giới tính chịu chức năng sinh lý tạo ra trứng. Mỗi trứng chỉ có thể kết hợp với một tinh trùng, quá trình này gọi là sự thụ tinh. Hầu hết ở các loài động vật hữu nhũ giống cái, bao gồm cả nữ giới đều có nhiễm sắc thể X, đây là nhiễm sắc thể chịu trách nhiệm cho việc sản sinh ra lượng lớn hormon estrogen để tạo các đặc điểm đặc trưng cho giống cái. Sự phân biệt đực - cái không chỉ giới hạn ở động vật còn mở rộng cho nhiều loài khác như thực vật.
Không phải tất cả các loài sinh vật đều có chung các yếu tố quy định giới tính. Ở hầu hết động vật, kể cả con người, việc xác định giới tính nằm ở di truyền. Tuy vậy ở một số loại khác nó có thể tùy thuộc vào các yếu tố như môi trường sống, xã hội hay một số nhân tố khác
== Những đặc điểm nổi bật ==
Trong hệ thống sinh sản dị giao, giống cái có giao tử là tế bào trứng, to hơn so với giao tử tinh trùng của giống đực. Một cá thể giống cái không thể sinh sản hữu tính mà không kết hợp với giao tử giống đực (trừ khi đó là sinh sản đơn tính). Một số sinh vật vừa có thể sinh sản hữu tính vừa có thể sinh sản vô tính.
== Xem thêm ==
Giống đực
Nữ giới
Nam giới
== Tham khảo == |
microsoft lumia.txt | Microsoft Lumia (trước kia là Nokia Lumia series) là dòng điện thoại thông minh và máy tính bảng thiết kế và bán ra bởi Microsoft Mobile và trước đó bởi Nokia. Được giới thiệu vào tháng 11 năm 2011, dòng sản phẩm là kết quả của sự hợp tác lâu dài giữa Nokia và Microsoft—như vậy, tất cả điện thoại thông minh Lumia đều chạy hệ điều hành Windows Phone, mục đích để chống lại iPhone và thiết bị Android. Từ Lumia có nguồn gốc từ số nhiều của từ 'lumi', có nghĩa là 'tuyết' trong tiếng Phần Lan.
Ngày 3 tháng 9 năm 2013, Microsoft công bố kế hoạch mua lại mảng kinh doanh điện thoại di động của Nokia, với các thoả thuận kết thúc vào 25 tháng 4 năm 2014. Kết quả là dòng Lumia giờ sẽ thuộc về Microsoft Mobile. Trong một phần của quá trình chuyển đổi, Microsoft tiếp tục sử dụng thương hiệu Nokia trên các thiết bị Lumia đến tháng 10 năm 2014, khi họ chính thức bắt đầu kết thúc việc sử dụng cái tên Nokia trong các chương trình tiếp thị và sản xuất của các điện thoại thông minh để Microsoft xây dựng thương hiệu của mình.
== Danh sách các thiết bị ==
=== Các thiết bị Lumia mang nhãn hiệu Nokia ===
=== Các thiết bị Lumia mang nhãn hiệu Microsoft ===
== So sánh các thiết bị ==
=== Thế hệ đầu (Windows Phone 7) ===
=== Thế hệ thứ hai (Windows Phone 8) ===
=== Thế hệ thứ ba (Windows Phone 8.1) ===
=== Thế hệ thứ tư (Windows Phone 8.1 Update 2) ===
== Bán ra ==
Biểu đồ doanh thu quý toàn cầu của Nokia Lumia (triệu đơn vị):
== Xem thêm ==
Windows Phone
Windows Phone 8
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang mạng chính thức
Nokia Lumia Series - The Champion of Generations!
Lumia 535 Launched 12 Nov, 2014 |
giải vô địch bóng đá u-20 thế giới.txt | Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới (tiếng Anh: FIFA U-20 World Cup), tên trước đây là Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới (tiếng Anh: FIFA World Youth Championship, là giải đấu bóng đá dành cho nam giới độ tuổi từ 20 trở xuống và được tổ chức bởi Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA). Giải đấu được tổ chức 2 năm một lần và lần đầu tiên là vào năm 1977 ở Tunisia.
Trong lần thứ 16 giải được tổ chức, mới chỉ có 8 quốc gia từng vô địch. Argentina là đội vô địch nhiều nhất với 6 lần, theo sau đó là Brazil với 4 lần. Bồ Đào Nha vô địch 2 lần trong khi Ghana, Đức, Tây Ban Nha cùng những đội chỉ có trong quá khứ như Liên Xô hay Yugoslavia đều đã vô địch 1 lần.
Cũng có một giải đấu dành cho nữ, giải U20 nữ vô địch thế giới, bắt đầu tổ chức vào năm 2002 với tên "Giải vô địch nữ U19 thế giới" và có độ tuổi giới hạn là 19. Độ tuổi giới hạn cho giải đấu nữ được tăng lên thành 20 ở giải năm 2006, và giải đấu đổi tên thành "Cúp thế giới" vào năm 2007 để chuẩn bị cho sự kiện vào năm 2008.
== Vòng loại ==
Giải đấu này, cũng được biết tới với cái tên FIFA Coca-Cola Cup tới năm 1997, quy tụ 24 đội bóng ở vòng chung kết. 23 quốc gia, bao gồm cả đội đương kim vô địch, đều phải đá vòng loại ở sáu khu vực. Nước đăng cai nghiễm nhiêm được vào thẳng vòng bảng.
== Kết quả ==
=== Tóm tắt ===
==== Giải vô địch bóng đá trẻ thế giới ====
==== Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới ====
Từ khóa:
h.p. - sau khi hiệp phụ
p.đ. 11m - trận đấu thắng trên chấm luân lưu
=== Sự thể hiện của các đội tuyển ===
Dưới đây là 28 quốc gia đã vào được tối thiểu là vòng bán kết giải vô địch U20 thế giới. Argentina là đội tuyển thành công nhất, dẫn đầu với 6 chức vô địch, 7 lần vào chung kết và 1 lần về đích ở vị trí thứ tư.
Chú thích
=== Sự thể hiện của các đội tuyển trong khu vực ===
Mọi khu vực trừ châu Đại Dương đều đã có đại diện góp mặt trong trận chung kết. Tới tới nay, Nam Mỹ đang dẫn đầu với 11 chức vô địch, theo sau là châu Âu với 8 chức vô địch và châu Phi với một danh hiệu. Các đội tuyển từ châu Á và Bắc Mỹ đã 3 lần vào chung kết, nhưng đều gây thất vọng. Vị trí thứ tư tính tới thời điểm này đang là thành tích tốt nhất của châu Đại Dương, họ giành được vị trí này vào năm 1993.
== Giải thưởng ==
=== Giải thưởng Quả bóng vàng của Adidas ===
Giải Quả bóng vàng của adidas được trao cho cầu thủ thi đấu nổi bật nhất giải đấu. Nó được bầu chọn bởi giới truyền thông.
=== Giải thưởng Chiếc giày vàng của Adidas ===
Giải thưởng Chiếc giày vàng của adidas được trao cho cầu thủ ghi nhiều bàn nhất giải đấu. Nếu có nhiều hơn một cầu thủ ghi cùng một số bàn thắng, họ sẽ chọn cầu thủ theo số lần kiến tạo nhiều nhất trong giải đấu.
=== Giải thưởng Găng tay vàng của Adidas ===
Giải thưởng Găng tay vàng của adidas được trao cho thủ môn xuất sắc nhất giải đấu.
=== Giải FIFA Fair Play ===
FIFA Fair Play là giải thưởng được trao cho đội chơi đẹp nhất giải đấu và được bầu chọn bởi Hội đồng Fair Play của FIFA.
== Xem thêm ==
Đội tuyển quốc gia tham dự Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức
Lưu trữ giải đấu tại fifa.com
Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới tại rsssf
Danh sách đội hình của đội tuyển vô địch tại rsssf |
vườn eden.txt | 'Vườn Địa Đàng (tiếng Do Thái: גַּן עֵדֶן, Gan ʿ Edhen; tiếng Ả Rập: جنة عدن, Jannat ʿ Adn) là một khu vườn được mô tả trong Sách Sáng thế là nơi người đàn ông đầu tiên, Adam, và vợ ông, Eva sinh sống sau khi họ được Đức Chúa Trời tạo ra.
Theo sách này, Thiên Chúa đặt con người trong Vườn Địa Đàng và cho phép ăn tất cả mọi loại trái cây trong đó, ngoại trừ cây biết điều thiện điều ác (cây trái cấm). Theo nghĩa đen, Kinh Thánh nói về một khu vườn ở Địa Đàng. Vườn này là một phần của câu chuyện thường được sử dụng để giải thích nguồn gốc của tội lỗi và sai phạm của loài người. Uriel Archangel, với thanh kiếm rực của mình, được gọi là canh gác cổng cho vườn Địa Đàng. Garden of Eden.
Theo sách này, vị trí của khu vườn Địa Đàng nằm ở bốn con sông (Pishon, Gihon, Tigris, Euphrates), và ba khu vực (Havilah, Assyria, và Kush). Có những giả thuyết cho rằng vườn Địa Đàng nằm ở đầu nguồn của sông Tigris và Euphrates (phía bắc Mesopotamia), ở Iraq (Mesopotamia), châu Phi, và vịnh Ba Tư. Đối với nhiều nhà văn thời Trung cổ, hình ảnh của vườn Địa Đàng cũng tạo ra một hình ảnh tình yêu và tình dục của loài người.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
uefa champions league 2013–14.txt | UEFA Champions League 2013–14 là mùa giải thứ 59 của giải đấu cấp cao nhất của các câu lạc bộ bóng đá châu Âu và là mùa giải thứ 22 kể từ khi đổi tên.Trận chung kết UEFA Champions League 2014 sẽ diễn ra trên sân vận động Estádio da Luz, Lisboa, Bồ Đào Nha vào ngày 24 tháng 5 năm 2014. Bayern München là đội đương kim vô địch nhưng thua Real Madrid ở bán kết. Lần đầu tiên, các đội bóng được tham dự vòng bảng cũng sẽ đủ điều kiện được tham dự UEFA Youth League 2013-14, giải dành cho các cầu thủ ở độ tuổi 19 trở xuống.
== Phân bổ đội bóng tham dự ==
Có tất cả 76 đội bóng tham dự mùa giải 2012–13, đến từ 52/54 hiệp hội bóng đá quốc gia của UEFA (trừ Liechtenstein và Gibraltar) Số đội bóng tham dự ở mỗi quốc gia được dựa vào bảng tính điểm xếp hạng theo bảng tính điểm của UEFA:
Hiệp hội xếp từ 1–3 có 4 đội tham dự.
Hiệp hội xếp từ vị trí 4–6 có 3 đội tham dự.
Hiệp hội xếp từ vị trí 7–15 có 2 đội tham dự.
Hiệp hội xếp từ vị trí 16-53 (trừ Liechtenstein) có 1 đội tham dự.
Nhà đương kim vô địch UEFA Champions League 2012-13 theo luật sẽ được tham dự mùa giải 2013-14 dù không nằm trong top được tham dự tại giải quốc nội, đội nằm ở vị trí cuối cùng của top được tham dự sẽ phải nhường quyền tham dự lại cho đương kim vô địch.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
UEFA Champions League |
phoenicurus phoenicurus.txt | Phoenicurus phoenicurus là một loài chim trong họ Muscicapidae. Loài này thân dài 13-14,5 mm, nặng 11-23g. Loài chim này thường thích sinh sống ở rừng bạch dương trưởng thành và gỗ sồi mở với một tầm nhìn ngang cao và một lượng thấp cây bụi và tầng dưới, nhất là khi cây đủ tuổi để có lỗ thích hợp cho chúng làm tổ. Chúng thích làm tổ trên các rìa phát quang rừng. Ở Anh, loài này chủ yếu hiện diện ở các khu vực vùng cao ít bị ảnh hưởng bởi thâm canh nông nghiệp, nhưng về phía đông ở châu Âu cũng thường ở các vùng đất thấp, bao gồm công viên và khu vườn cũ trong khu vực đô thị. Chúng làm tổ trong lỗ cây tự nhiên, vì vậy các cây chết hoặc những cây có cành chết có lợi cho loài chim này; đôi khi chúng sử dụng các hộp tổ. Chúng cũng ưa thích các nơi có lớp rêu và địa y dày. Chúng cũng sử dụng rừng gỗ cây hạt trần mở trưởng thành, đặc biệt là ở phía bắc của phạm vi sinh sản.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Phoenicurus phoenicurus tại Wikispecies |
khoa bảng việt nam.txt | Ở thời thượng cổ, sử nước Việt không chép rõ về trí thức sinh hoạt. Theo Đào Duy Anh, đến thời Bắc thuộc thì nước Việt mới bắt đầu có Hán học, viên Thái thú Sĩ Nhiếp đã dạy dân Việt thi thư. Đến thời nhà Ngô, nhà Đinh, nhà Tiền Lê, do nước mới dựng, các triều đại chưa có điều kiện để tổ chức nền giáo dục.
Cho đến triều nhà Lý, nhà Trần, 3 tôn giáo là Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo đều được coi trọng. Triều đình nhà Lý đã mở các khoa thi Tam trường để lấy người bổ làm quan. Sang đời Hậu Lê, Nguyễn thì Nho học độc tôn. Triều nhà Lê mở khoa thi kinh điển dành riêng cho các nhà tu hành một cách hạn chế. Đến thời vua Minh Mệnh, Nho học suy vi, đến khi Việt Nam tiếp xúc với Tây phương, tình trạng xã hội biến thiên nhanh chóng, Nho học nhường chỗ cho các học thuật mới. Việt Nam sau khi thành thuộc địa thì bỏ khoa cử mà theo Pháp học, riêng ở miền Bắc và miền Trung thì năm 1915 và năm 1918 kết thúc.
Các kỳ thi Nho học ở Việt Nam bắt đầu có từ năm 1075 dưới triều Lý Nhân Tông và chấm dứt vào năm 1919 đời vua Khải Định. Trong 845 năm đó, đã có nhiều loại khoa thi khác nhau, ở mỗi triều đại lại có những đặc điểm khác nhau, song trong các đời Lý, Trần, Hồ có một đặc điểm chung là các khoa thi đều do triều đình đứng ra tổ chức, chỉ đạo thi. Hệ thống thi cử tuyển người làm quan này gọi là khoa cử (chữ Nho: 科舉).
== Khái quát ==
Khoa bảng (科榜) là cái bảng danh dự, liệt kê tên họ các thí sinh đỗ đạt học vị trong các kỳ thi cử này, phần lớn được tuyển chọn làm quan chức cho triều đại phong kiến Việt Nam. Khoa bảng là tĩnh từ để chỉ những người đỗ đạt này. Thí dụ: "Gia đình khoa bảng" là gia đình có học, có người trong họ đỗ đạt cao trong những kỳ thi cử do triều đình tổ chức và chấm khảo.
Các sách xưa dùng chữ Nho dạy Nho giáo cho thí sinh dự các kỳ thi Hương, thi Hội gồm có: Nhất thiên tự, Sử học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn thi, Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, Tam tự kinh và bộ sách giáo khoa là Tứ Thư (Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học và Trung dung), Ngũ Kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu). Nhiều nho sĩ còn đọc thêm cả bách gia Chu Tử, các sách Phật giáo, Đạo giáo nữa. Khối lượng sách học thật là đồ sộ, lại phải học thuộc lòng và hiểu đúng nghĩa nên nho sinh mất rất nhiều công phu học và vất vả gian nan.. Cực khổ nhất là phải chờ hai ba năm mới có kỳ thi. Khi đi thi thí sinh lại phải mang theo lều, chõng, thức ăn, lặn lội xa xôi lên kinh thành. Tác giả Ngô Tất Tố có viết truyện Lều chõng để nói lên những oái ăm của các kỳ thi này.
Ngày nay nghe đến hai từ "lều chõng", có lẽ nhiều người sẽ lấy làm lạ vì những từ ấy từ biệt chúng ta mà đi tới chỗ mất tích đã gần ba chục năm nay. Nhưng mà trước hơn hai chục năm đi ngược trở lên, cho đến hơn một nghìn năm, "lều", "chõng" đã làm chủ vận mệnh của giang sơn cũ kỹ mà người ta tán khoe là "bốn nghìn năm văn hiến". Những ông ngồi trong miếu đường làm rường cột cho nhà nước, những ông ở nơi tuyền thạch, làm khuôn mẫu cho đạo đức phong hóa, đều ở trong đám "lều chõng" mà ra. Lều chõng với nước Việt Nam chẳng khác một đôi tạo vật đã chế tạo đủ các hạng người hữu dụng hay vô dụng. Chính nó đã làm cho nước Việt Nam trở nên một nước có văn hóa. Rồi lại chúng nó đã đưa nước Việt Nam đến chỗ diệt vong. Với chúng, nước Việt Nam trong một thời kỳ rất dài kinh qua nhiều cảnh tượng kỳ quái, khiến cho người ta phải cười, phải khóc, phải rụng rời hồn vía. (Ngô Tất Tố, Thời vụ số 109 ra ngày 10-3-1939)
Ngoài việc thông làu kinh sách và thể thức đi thi, sĩ tử còn phải thuộc những chữ kỵ húy. Ai viết lầm thì bị tội "phạm trường quy" và sẽ bị đánh hỏng.
Thời Lý - Trần tổ chức thi Tam giáo để tuyển những người thông hiểu cả ba tôn giáo Nho, Phật và Lão. Khoa thi Tam giáo đầu tiên diễn ra năm 1195 đời Lý Cao Tông. Người đỗ Tam giáo gọi là Tam giáo xuất thân. Khoa thi Tam giáo cuối cùng tổ chức năm 1247 đời Trần Thái Tông. Hình thức này sau đó không áp dụng nữa.
Cuối thời nhà Trần, Hồ Quý Ly nắm quyền điều hành triều đình đã đặt ra lệ thi Hương đầu tiên ở các địa phương năm 1396 đời Trần Thuận Tông, lấy người đỗ được học vị cử nhân. Năm sau (1397) tổ chức thi Hội ở kinh đô. Đây là khoa thi Hội đầu tiên.
Từ thời Hậu Lê, việc thi cử được tiến hành đều đặn và quy củ. Các kỳ thi theo thứ tự là Thi Hương, Thi Hội, Thi Đình. Người đỗ đầu cả ba thì gọi là Tam Nguyên (như Tam Nguyên Nguyễn Khuyến).
Thi Hương được tổ chức mỗi 3 năm, vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Thi Hội sau thi Hương 1 năm, vào năm Sửu, Mùi, Thìn, Tuất.
== Quá trình thi cử Nho học tại Việt Nam ==
Tổ tiên người Kinh bắt đầu học chữ Hán ngay từ buổi đầu thời Bắc thuộc, có lẽ từ đời vua Triệu Đà, song việc giáo dục bắt đầu có tổ chức thì từ đời Sĩ Nhiếp. Cách thứ tổ chức sử sách không chép rõ; những người có tiếng về học vấn về thời đại Bắc thuộc đều đã du học ở Trung Quốc (Lý Tiến, Lý Cầm, Trương Trọng. Đến triều Ngô và triều Đinh độc lập, trị nước không được lâu mà lại lo chỉnh đốn việc võ bị và chính trị, chưa rảnh mà tổ chức việc giáo dục. Cho nên việc học bấy giờ chỉ có ở trong các chùa chiền. Có thể nói rằng bây giờ Hán học nhờ Phật học mà truyền bá trong dân gian.
Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí: Nước Việt từ thời nhà Đinh, nhà Lê khoa cử chưa tổ chức, triều đình dùng người đại để không câu nệ. Đến đời nhà Lý, văn hóa mở dần; năm Thái Ninh đời vua Lý Nhân Tông (1072-1076) mở khoa Bác học, năm Thiệu Minh đời vua Lý Anh Tông (1138-1140) có phép thi Đình, quy chế dùng người, điều mục và đại cương gần như đầy đủ.
Theo sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính: Nước ta từ thời Lý mới có khoa cử. Xét trong Sử ký; năm Thái Bình thứ tư đời vua Thánh Tôn (1075) nước ta mới bắt đầu mở khoa thi ba kỳ, kén lấy người minh kinh bác học. Sau lại mở ra khoa Văn học. Thời vua Lý Anh Tôn mở khoa thi Thái học sinh, hỏi việc chính trị, ai đỗ thì dùng làm quan; vua Nhân Tôn mở khoa lại điển, thi hành luật thư toán, ai đỗ thì bổ làm ty thuộc.
Đến đời nhà Trần, mở rộng đường khoa cử, phép thi chia làm tam giáp, bao gồm nhất giáp, nhị giáp và tam giáp; niên hạn định lệ 7 năm, các đời tuân theo, phép thi ngày càng hoàn chỉnh. Năm 1244 lại định lệ nhất giáp; chia làm ba bậc; bậc thứ nhất là Trạng nguyên, bậc thứ nhì là Bảng nhãn; bậc thứ 3 là Thám hoa.
Nhà Lê khai quốc, trước hết mở khoa thi Hội; đến đời vua Lê Thái Tông (1434-1442) kỳ thi định 3 năm một khoa, phép thi bốn trường khác nhau, phép ấy truyền đến thời nhà Nguyễn.
=== Đại cương phép thi thời nhà Lý ===
Triều nhà Lý, đến đời vua Lý Thánh Tôn (1054-1072), việc dẹp loạn đã tạm yên, việc chính trị cũng đã chỉnh đốn, nên vua đổi quốc hiệu là Đại Việt và bắt đầu sửa sang việc học.
Vua Lý Thánh Tôn sai lập Văn miếu (nước ta có văn miếu từ đấy), sai làm tượng Chu Công, Khổng tử và thất thập nhị hiến để thờ, tỏ lòng kính trọng Nho học.
Vua Lý Nhân Tông, năm 1075, nhà vua hạ chiếu những người giỏi kinh, học rộng và thi Nho học ba trường hay gọi là kỳ thi Tam Trường. Kỳ này chọn được 10 người. Thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Năm 1076, Năm 1086, thi những người có văn học trong nước bổ vào làm quan tại viện Hàn lâm, Mạc Hiển Tích đậu đầu, được bổ làm Hàn lâm học sĩ
Đời vua Lý Anh Tông, năm 1152, thi Đình. Năm 1165 thi Thái Học sinh. Năm 1185, thi học trò từ 15 tuổi trở lên, ai thông Kinh Thi, Kinh Thư thì được vào hầu ngự diên. Năm 1193, thi lấy học trò vào hầu nơi ngự học. Năm 1195, thi Tam giáo cho đỗ xuất thân.
Theo lời bàn của Sử thần họ Ngô trong sách Lịch triều hiến chương loại chí: Thi tam giáo là thi xét những người thông hiểu cả đạo Nho, đạo Lão, đạo Phật thì cho đỗ.
Nhà Lý mở khoa thi chép trong sử chỉ có 6 khoa thi bao gồm:
Khoa thi năm Ất Mão (1075, người đỗ đầu là Lê Văn Thịnh, người huyện Gia Định (nay là huyện Gia Lương, thuộc Bắc Ninh.)
Khoa thi năm Bính Dần (1086) triều vua Lý Nhân Tông, thi những người văn học trong nước, bổ sung vào viện Hàn Lâm. Người đỗ đầu là Mạc Hiển Tích.
Khoa Nhâm Thân (1154) thi Đình.
Khoa Ất Dậu (1165) thi học sinh.
Khoa Ất Tỵ (1185) thi học sinh trong nước lấy người trúng tuyển vào chầu vua học tập. Sử chép ba người thi đỗ là Bùi Quốc Khái, Đỗ Thế Diên và Đặng Nghiêm.
Khoa Quý Sửu (1193)thi học sinh trong nước lấy người trúng tuyển vào chầu vua học tập.
=== Đại cương phép thi thời nhà Trần ===
Sang triều Trần, ngay đời vua Trần Thái Tôn, việc giáo dục và khoa cử đã tổ chức chu đáo hơn triều Lý. Năm 1232, ngoài phép thi Tam trường như đời trước lại mở thêm khoa thi Thái học sinh, chia làm tam giáp để phân biệt cao thấp.
Thi Thái học sinh: là khoa thi cho Thái học sinh, tức là các học sinh ở nhà Thái học, cũng gọi là nhà Quốc học, nói cách khác là sinh viên ở trường đại học quốc gia duy nhất của thời đó. Người thi đỗ các khoa thi này gọi là đỗ Thái học sinh.
Thi Đại tỷ: còn gọi là Đại tỷ thủ sĩ được tổ chức cho 5 loại đối tượng:
Thuộc quan ở Tam quán (cho con cái các quan được lấy vào vừa làm việc vừa học tập ở ba "quán" (ngày nay là viện) như Sùng văn quán, Nho lâm quán, Tú lâm cục),
Thái học sinh,
Thị thần học sinh (con cái các quan được lấy vào vừa làm việc vừa học tập ở 6 cục Ngự tiền cận thị chi hậu, ở Trung thư giám),
Tướng phủ học sinh (con cái của các thân vương, thân công, hoàng tử, công chúa, các tướng công hầu bá thuộc họ hàng thân thích của nhà vua được nhà nước cử học quan đến dạy tại phủ đệ của mình),
Người làm quan có tước phẩm.
Năm 1236, triều đình chọn nho sinh thi đỗ vào hầu vua, sau định thành lệ. Năm 1239, thi Thái học sinh, chia thứ bậc Tam giáp. Năm 1247, định niên hạn thi đại tỷ để lấy học trò, cứ 7 năm một lần.
Khoa thi tháng 2, năm 1247, thi Đại tỷ, lại đặt ra tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa) ở trên Thái học sinh. Kỳ thi này lấy 48 người, xuất thân theo thứ bậc. Trước đây, hai khoa trước chỉ chia bậc Giáp, Ất, nay mới lấy Tam khôi.
Tháng 8 năm 1247, thi tam giáo bắt học sinh phải thi cả ba môn Nho học, Phật học và Lão học.
Đây là kỳ thi Tam Khôi đầu tiên (gọi là thi Đình, nhưng thi Đình lúc này còn là kỳ thi cuối cùng của khoa thi Đại tỷ, do triều đình tổ chức, chưa tách ra thành một khoa thi riêng) để chọn Trạng nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa. Trạng nguyên của khoá đầu tiên này là Nguyễn Hiền, 13 tuổi, người huyện Thượng Nguyên.; Lê Văn Hưu người huyện Đông Sơn 18 tuổi, đỗ Thám hoa; đỗ Bảng nhãn là Đặng Ma La, 14 tuổi, người ở Mỹ Lương
Năm Nguyên Phong thứ 6 (1256) mở khoa thi lấy Kinh Trạng nguyên và Trại Trạng nguyên, mỗi bên một người cho đỗ xuất thân. Trước kia do châu Hoan, Ái ở xa nhân tài không nhiều bằng ở các kinh trấn, cho nên mỗi khoa thi lấy người giỏi nhất về bên trại gọi là Trại trạng nguyên, ngang hàng với Kinh trạng nguyên để tỏ ý khuyến khích. Kỳ này lấy 43 người đỗ Thái học sinh
Năm 1266 đời vua Trần Thánh Tông, mở khoa thi lấy Kinh trạng nguyên, Trại trạng nguyên, Thái học sinh 47 người, xuất thân theo thứ bậc. Năm Ất Hợi (1275), lại hợp Kinh và Trại làm một, lấy 3 người đỗ Tam khôi và 27 người đỗ Thái học sinh.
Năm 1305 đời vua Trần Anh Tông thi học trò trong nước, lấy Tam khôi, Hoàng giáp và Thái học sinh 44 người. Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên, Nguyễn Trung Ngạn đỗ Hoàng giáp. Tên gọi Hoàng giáo mới bắt đầu từ đây
Phép thi, trước thi ám tả Y quốc thiên và Mục thiên tử truyện để loại bớt.; rồi đến thi kinh nghi (hỏi những điều ngờ trong các kinh), kinh nghĩa, thơ dùng thể cổ thì ngũ ngôn trường thiên, lấy 4 chữ tài, nan, xạ, trĩ làm vẫn, phú dùng thể 8 vần. Trường thứ 3 thi chiếu, chế, biểu. Trường thứ tư thi văn sách.
Kỳ thi năm 1305, ai đỗ Tam khôi sẽ được dẫn ra cửa Long Môn, Phượng Thành đi chơi phố 3 ngày. Trạng nguyên thì bổ Thái học sinh hỏa dũng thủ, sung chức nội thư gia; Bảng nhãn thì bổ chi hậu bạ thư; có mạo sam. sung chức nội lệnh thư gia; Thám hoa thì bổ hiệu thư, có quyền miện và được 2 tư; còn 330 người được lưu học. Cùng năm có chiếu dùng bảy khoa để thi học trò trong nước.
Năm 1314, thi Thái học sinh, ai đỗ cho tước bạ thư lệnh. Năm 1345, thi Thái học sinh, phép thi dùng ám tả cổ văn, kinh nghĩa, thơ phú. Năm 1363 thi học trò, lấy người có văn nghệ vào làm trong quán các. Năm 1374 thi Tiến sĩ ở điện đình, lấy đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáo, Cập đệ và đồng Cập đệ 44 người, xuất thân theo thứ bậc khác nhau. Năm 1381 thi Thái học sinh. Năm 1384 thi Thái học sinh ở chùa Vạn Phúc, núi Tiên Du. Năm 1393, thi Thái học sinh.
Năm 1396, có chiếu định cách thức thi cử nhân: cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội, ai đỗ thi Hội thì nhà vua ra thi một đề văn sách để định thứ tự.
Buổi đầu đời Trần, thi Thái học sinh chia ra thượng trại, hạ trại và thi Đình chia ra kinh và trại, lấy đỗ có Tam khôi, nhưng văn thể không nhất định.
Theo Phan Huy Chú đây là phép thi của nhà Nguyên, dùng văn thể bốn trường, bỏ bài ám tả cổ văn.
Trường nhất thi một bài kinh nghĩa, có những đoạn phá, tiếp ngữ, tiểu giảng, nguyên đề, đại giảng, kết thúc làm bài hạn 500 chữ trở lên.
Trường nhì thi một bài thơ dùng Đường luật, một bài phú dùng cổ thể, hoặc thể ly tao hoặc thể văn tuyển, cũng hạn 500 chữ trở lên.
Trường ba thi một bài chiếu dùng thể đời Hán, chế biểu mỗi thứ một bài, dùng thể tứ lục đời Đường.
Trường tư thi văn sách một bài, ra đề về kinh sử thời vụ, 1000 chữ trở lên.
Đời vua Trần Duệ Tông, năm 1374, Lê Quý Ly cải cách phép thi đổi Thái học sinh làm Tiến sĩ cho Tam khôi và Hoàng giáp là cập đệ xuất thân; cho Tiến sĩ là đồng cập đệ xuất thân. Năm 1397, Lê Quý Ly định lại bốn trường và bỏ môn ám tả; nhất trường thi kinh nghĩa; nhị trường thi thơ phú; tam trường thi chiếu, chế biểu; tứ trường thi văn sách. Lê Quý Ly lại bắt đầu định phép thi Hương; có trúng tuyển cử nhân mới được dự thi Hội năm sau, ai trúng thi Hội thì thi một bài văn sách nữa để định cao thấp; gọi là thi Đình.
Trước kia nhà quốc học chỉ đặt ở Kinh đô; còn trong dân gian thì việc học hành do tự ý nhân dân tổ chức. Năm 1398, Hồ Quý Ly đặt quan Giáo thụ tại các châu, các phủ những lộ Sơn Nam (nay là Nam Định); Ninh bắc (nay là Bắc Ninh) và Hải đông (nay là Hải dương); tùy theo châu phủ lớn nhỏ mà cấp học điền là 15, 12 hay 10 mẫu. Ở mỗi lộ có quan Đốc học dạy sinh đồ, cứ mỗi năm thì chọn những kẻ tuấn tú cống về triều để thi hạch.
=== Đại cương phép thi đời nhà Hồ ===
Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần năm 1400, tháng 8 năm đó thi Thái học sinh. Kỳ thi này lấy đỗ 20 người, Lưu Thúc Kiệm; Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Hoàng Hiến, Nguyễn Thành đều đỗ kỳ này.
Năm 1404, Hồ Hán Thương định cách thức thi cử nhân: Tháng 8 năm nay thi Hương, ai đỗ thì được miễn lao dịch; tháng 8 năm sau thi ở Lễ bộ, ai đỗ thì bổ dùng; lại đến tháng 8 sang năm nữa thi Hội, ai đỗ thì sung Thái học sinh, đều cứ ba năm một khoa. Phép thi theo nhà Nguyên, thi ba trường, lại có một kì văn sách là trường tư, một kỳ thi viết và tính là trường năm.
=== Đại cương phép thi thời nhà Hậu Lê ===
==== Đời vua Lê Thái Tổ ====
Theo Đào Duy Anh, nửa triều Trần từ đời Chu Văn An Nho học đã bắt đầu thắng Phật học. Sang đời Lê, Nguyễn, Nho học mới chiếm địa vị độc tôn. Hai triều ấy đều có phép luật nghiêm khắc đối với các nhà tu hành Phật giáo và Đạo giáo. Nước Việt trải qua cuộc nhà Minh chinh phục thì rất nhiều sách vở về Nho học, Phật học của nước Việt bị người Minh thu mất, rồi người Minh phát lại những sách Ngũ kinh, Tứ thư thể chú để dùng ở các trường công. Đến khi nhà Lê phục quốc, những chế độ và thư tịch ở đời Lý, Trần đã mất tích nên đành bắt chước chế độ của Minh triều, lấy khoa cử làm con đường dụng thân duy nhất, dùng văn chương bác cổ để làm thước đo nhân tài, lấy sách Tống nho làm chính thư.
Nhà Minh hoàn thành việc xâm lược Đại Ngu bằng việc đánh bại nhà Hậu Trần năm 1399; nhà Minh có mở khoa thi nhưng kẻ sĩ đều trốn tránh không chịu ra thi. Phép thi cử bỏ mặc cho đến khi vua Lê Thái Tổ đánh thắng quân Minh, khôi phục giang sơn với quốc hiệu Đại Việt.
Năm 1426, Lê Thái Tổ tiến quân ra Bắc, đóng quân ở dinh Bồ Đề, liền hạ lệnh thi học trò văn học, đầu đề bài thi: Bảng văn dụ thành Đông Quan, lấy đỗ 50 người, sung bổ chức An phủ các lộ bên ngoài và chức viên ngoại lang ở 6 bộ trong Kinh. Khoa này Đào Công Soạn, người Tiên Lữ, Hưng Yên đỗ đầu.
Sau khi Lê Thái Tổ đánh đuổi quân Minh, khôi phục độc lập (1428), nhà vua lưu tâm sắp đặt việc học ngay. Nhà vua cho mở lại trường Quốc tử giám để cho con cháu các quan và người thường dân tuấn tú vào học và đặt các nhà học ở các phủ và các lộ. Lúc mới đến Đông Đô, mở khoa thi lấy đỗ 32 người.
Năm 1429, một năm sau năm chiến thắng hoàn toàn quân Minh, hạ chiếu cho quân nhân các lộ và những người ẩn dật ở rừng núi, cùng các quan từ tứ phẩm trở xuống, ai thông kinh sử, thì đế cả sảnh đường để thi, năm ấy thi khoa Minh kinh.
Năm 1431, thi Hoành từ. Năm 1433, vua lại thân thi văn sách. Thi hai khoa này, hoặc dùng minh kinh, hoặ luận phú hoặc dùng sách vấn, đều tùy tài năng mà cất nhắc bổ dụng vượt bậc, vẫn chưa lấy đỗ Tiến sĩ.
==== Đời vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông ====
Đời vua Lê Thái Tông, năm Thiệu Bình thứ 1 (1334), định phép thi chọn kẻ sĩ. Nhà vua ra chiếu rằng:Muốn có nhân tài, trước hết phải chọn người có học, phép chọn người có học thì thi cử là đầu. Nước ta từ khi trải qua binh lửa, anh tài ít như lá mùa thu, tuấn sĩ thưa như sao buổi sớm. Thái Tổ ta mới dựng nước, đã lập ngay trường học, nhưng lúc mới mở mang, chưa đặt khoa thi. Ta noi theo chí tiên đế, muốn cầu được người hiền tài để thỏa lòng mong đợi. Nay định điều lệ khoa thi, hẹn tới năm Thiệu Bình thứ 5 (1438) thì thi Hương ở các đạo, đến năm thứ 6 (1439) thì thi Hội ở đô sảnh đường.
Từ đó phép thi cứ ba năm một khoa thi, đặt làm thường lệ. Ai thi đỗ đều cho là Tiến sĩ xuất thân theo thứ bậc khác nhau. Phép thi:
Trường nhất thi một bài kinh nghĩa và tứ thư nghĩa, mỗi sách một bài hạn trên 300 chữ.
Trường nhì thi chiếu chế, biểu.
Trường ba thi thơ phú.
Trường tư thi văn sách một bài trên 1000 chữ.
Năm Đại Bảo thứ 3 (1442) thi Hội, thi Đình, lấy tam khôi cập đệ, lại sai soạn văn dụng bia đề tên các tiến sĩ. Bia tiến sĩ bắt đầu có từ đây. Sĩ tử ứng thí 450 người, lấy 33 người trúng tuyển, quan tháng sau vào thi Đình, nhà vua ngự điện đình ra sách vấn, sai quan đọc, tâu và xướng danh, lấy đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa và 7 tiến sĩ, 23 phụ bảng, ân ban ăn yến, mũ áo, cân đai và cho vinh quy về làng, việc thành lệ về sau
Đời vua Lê Nhân Tông, năm 1448, thi Hội, thi Đình vào tháng 8, nhà vua thân ra văn sách hỏi về lễ nhạc hành chính, chia những người đỗ ra làm chính bảng và phụ bảng theo bậc khác nhau. Sau kỳ thi Hương, lấy đỗ 760 người để thi Hội,; lấy 27 người trúng tuyển vào thi Đình.
==== Đời vua Lê Thánh Tông ====
Đời vua Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận thứ 3 (1462), định lệ bảo kết thi Hương: Học trò đi thi thì không cứ quân dân hay chức dịch; đều từ thượng tuần tháng 8 năm nay đến khai tên ở bản đạo, đợi thi Hương đỗ thì đưa danh sách lên viện Lễ nghi, đến Trung tuần tháng 1 năm sau thì thi Hội. Cho quan bản quản cùng bản xã bảo kết, người nào thực có đức hạnh mới được khai vào sổ ứng thí. Những người bất hiếu, bất mục, loạn luân, điêu toa, dẫu có học vấn văn chương, cũng không được vào thi. Giấy thông thân cước sắc của các cử nhân, phải khai rõ xã, huyện, tuổi, chuyên trị kinh gì, cũng là cước sắc của ông cha, không được giả mạo. Những nhà làm nghề hát xướng cũng là nghịch đảng ngụy quan và người có tiếng xấu, thì bản thân và con cháu đều không được đi thi.
Bước thi nhất thi một bài ám tả để loại bớt người kém.
Trường nhất thi tứ thư và kinh nghĩa 5 bài.
Trường nhì thi chiếu chế biểu, dùng tứ lục cổ thể.
Trường ba thi thơ, dùng Đường luật, phú, dùng cổ thể, về thể ly tao hoặc văn tuyển đều trên 300 chữ.
Trường tư thi văn sách, đề ra về kinh sử, thời vụ, 1000 chữ trở lên.
Năm 1463, định lệ ba năm một khoa thi. Tháng 2 năm ấy hội thi các cử nhân (ứng thí hơn 4400 người, lấy đỗ hơn 40 người). Năm 1466, hội thi các cử nhân, nhà vua ngự ra cửa điện Kính Thiên, ra văn sách hỏi về phép trị thiên hạ của đế vương, lấy đỗ tiến sĩ và đồng tiến sĩ theo thứ bậc khác nhau. Sau đó xướng danh các tiến sĩ, ban ân mệnh; Lễ bộ mang bảng vàng treo ở ngoài cửa Đông Hoa và cho các tiến sĩ vinh quy.
Kỳ thi năm 1463, số sĩ tử dự thi Hội đến 1400 người, lấy đỗ 44 người, khoa này mới cho đỗ cập đệ xuất thân.
Năm 1466, theo Lê Quý Đôn, mới định ba năm thi một khoa, về thể lệ mở khoa thi, lấy các năm Tý, Ngọ, Mão và Dậu thi Hương; các năm Thìn, Tuất, Sửu và Mùi thi Hội. Khoa này lấy đỗ 27 người, có 8 người đỗ Tiến sĩ và 19 người đỗ đồng Tiến sĩ.
Năm 1469 không lấy đỗ Tam khôi. Năm 1472, hội thi các cử nhân, có lệnh định rõ các phép thi như sau:
Trường nhất kinh nghĩa 8 đề trong Tứ thư, Luận ngữ 4 đề, Mạnh tử 4 đề, cử tử chọn lấy 4 đề màn làm, ngũ kinh mỗi kinh 3 đề, cử tử chọn lấy 1 đề, duy 2 đề về kinh Xuân Thu thì kể là 1 đề.
Trường nhì thi chiếu, chế, biểu, mỗi thể 3 bài.
Trường ba thi thơ phú, đều 2 bài, phú dùng thể phú Lý Bạch.
Trường tư thi văn sách 1 bài, hỏi về ý chỉ kinh truyện giống nhau, khác nhau, chính sự các đời hay dở thế nào.
Lại định tư cách tiến sĩ như sau: Đệ nhất giáp đệ nhất danh, hàm chánh lục phẩm, 8 tư; Đệ nhị danh, hàm tòng lục phẩm, 7 tư; Đệ tam danh, hàm chánh thất phẩm, 6 tư; Đệ nhị giáo, hàm tòng thất phẩm, 5 tư; Đệ tam giáp, hàm chánh bát phẩm, 4 tư. Vào hàn lâm viện thì được hơn một cấp.
Khoa thi năm 1478 không lấy đỗ Trạng nguyên, mà lấy 2 Thám hoa.
Khoa thi năm 1478 đời vua Lê Thánh Tông không lấy đỗ Trạng nguyên mà lấy hai Thám hoa. Đến đời vua Lê Chiêu Tông (1520) không lấy Tam khôi. Theo Lê Quý Đôn việc đó có ý thận trọng về việc lựa chọn.
=== Đại cương phép thi thời nhà Mạc ===
Mạc Đăng Dung tiếm ngôi nhà Lê được 3 năm (1527-1520), rồi truyền ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh. Thổ tù các nơi khởi binh, suốt một dải xứ Thanh, Nghệ, Tuyên, Hưng đều không theo họ Mạc.
Năm 1532, Mạc Đăng Doanh mở khoa thi cử nhân, lấy đỗ Nguyễn Thiến và 26 người khác..
Năm 1535, mở khoa thi cử nhân, lấy đỗ Nguyễn Bỉnh Khiêm, tổng cộng 32 người trúng tuyển. Năm sau cho tu sửa lại trường Quốc tử giám.
Năm 1541, vua Mạc Phúc Hải mở khoa thi cử nhân, lấy đỗ Nguyễn Kỳ gồm 30 người trúng tuyển. Năm 1547, Mạc Phúc Nguyên mở khoa thi cử nhân, lấy Dương Phúc Tư cộng 30 người trúng tuyển. Năm 1550, mở khoa thi lấy Trần Văn Bảo cộng 25 người trúng tuyển.
=== Đại cương phép thi đời Lê Trung hưng và chúa Trịnh ===
Mạc Đăng Dung tiếm ngôi nhà Lê, nhiều nơi khởi binh chống lại. Một viên tướng triều đình tên là Nguyễn Kim khởi binh ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An, lập con vua Lê Chiêu Tông tên Duy Ninh làm vua Lê Trang Tông. Năm 1548, vua Trang Tông, mất con là Lê Trung Tông nối ngôi, mở mang cơ nghiệp.
Năm 1554, đặt chế khoa thi thi sĩ tử tại Thanh Hóa , lấy 13 người đỗ xuất thân và đồng xuất thân. Năm 1565, mở khoa thi lấy đỗ 10 người. Năm 1577, lấy đỗ 5 người. Từ năm 1580 bắt đầu mở lại khoa thi Tiến sĩ, lấy 6 người đỗ xuất thân và đồng xuất thân; trong đó có Nguyễn Văn Giai và Phùng Khắc Khoan. a khoa 1583, 1577, 1592, đều thi ở Thanh Hóa.
Năm 1593, sau khi đánh bại nhà Mạc, Trịnh Tùng rước xa giá vua Lê Thế Tông từ Thanh Hóa về Thăng Long. Năm Ất Mùi (1595) lại mở khoa thi ở Đông Kinh, đây là khoa thi thứ nhất đời Lê trung hưng. Khoa này Nguyễn Thực và Nguyễn Viết Tráng đều đỗ đầu. Từ đấy về sau, 3 năm một lần đều mở khoa thi theo lệ cũ, duy lấy ít tiến sĩ hơn và ít khi lấy đỗ Tam khôi.
Vào năm 1750, đời Cảnh Hưng (Chúa Trịnh), triều đình đặt ra lệ thu tiền cho người đi thi. Ai nộp tiền thì không bị khảo hạch, nên người có tiền đi thi nhiều đến nỗi đông quá, đạp lên nhau khi vào thi, làm chết một số thí sinh. Khi thi thì có kẻ mướn người viết hộ. Vào thời này có tiền là có được bằng cấp.
.
.
=== Đại cương phép thi thời chúa Nguyễn ===
Năm 1558, Nguyễn Hoàng được sự cho phép của Trịnh Kiểm cùng gia thuộc vào trấn thủ Thuận Hóa. Từ đây Nguyễn Hoàng phát triển cơ đồ, giữ riêng một cõi phía Nam, lập ra nghiệp chúa, việc chính trị, thuế lệ, binh lính, việc gì cũng sắp xếp như một nước tự chủ.
Năm Đinh Hợi 1674 chúa Nguyễn ra hai loại khoa thi:
thi chính đồ: Đỗ ba hạng: 1. nhất giám sinh bổ làm tri phủ tri huyện; 2. nhì sinh đồ bổ làm huấn đạo; 3. ba cũng gọi là sinh đồ bổ làm nhiêu học.
thi hoa văn: Thi ba ngày, mỗi ngày thí sinh phải làm 1 bài thơ. Ai đỗ cho làm việc ở Tam ti.
Năm 1695 chúa Nguyễn Phúc Chu mở khoa thi ở trong phủ chúa, gọi là thi Văn chức và thi Tam ti. Thi Tam ti là thi Xá sai ti, thi Tướng thần lại ti và thi Lệnh sử ti. Thi Văn chức thì thi tứ lục, thơ phú, văn sách; thi Xá sai ti thì hỏi về việc binh lính, tiền lương, từ tụng; thi Tướng thần lại ti và Lệnh sử ti thì chỉ làm một bài thơ.
Năm 1740, Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) định lại phép thi: những người đậu kỳ đệ-nhất gọi là nhiêu học, được miễn sai 5 năm; đậu kỳ đệ nhị và kỳ đệ tam thì được miễn sai chung thân; đậu kỳ đệ tứ gọi là hương cống, được bổ đi làm tri phủ, tri huyện.
.
=== Đại cương phép thi thời Tây Sơn ===
Thời vua Quang Trung thi cử thường phải bằng chữ Nôm. Nhiều giám khảo, thí sinh cho rằng triều đình khắc nghiệt.
=== Đại cương phép thi thời nhà Nguyễn ===
==== Phép thi đời vua Gia Long ====
Vua Gia Long Nguyễn Ánh nhờ võ công mới dụng nên cơ nghiệp, cho nên các quan đầu triều là quan ngũ quân đô thống và quan tổng trấn Nam Bắc hai thành đều là quan võ. Nhưng Gia Long cho rằng, sự trị nước cần phải có văn, có võ, nên nhà vua lưu ý về việc học hành thi cử trong nước.
Nhà vua cho lập Văn Miếu ở các doanh, trấn, thờ Khổng Tử để tỏ lòng trọng Nho học. Đặt Quốc tử giám ở kinh đô để dạy con các quan và sĩ tử. Mở khoa thi Hương để kén lấy những người có học ra làm quan. Đặt thêm chức đốc học ở các trấn và dùng những người có khoa mục ở đời nhà Lê, để coi việc dạy dỗ.
==== Phép thi đời vua Minh Mạng và các vua Nguyễn đời sau ====
Đời vua Gia Long chỉ có kỳ thi Hương, đến năm 1882, vua Minh Mạng mở khoa thi Hội, thi Đình để lấy Tiến sĩ. Đến năm 1829 nhà vua lại cho những người trúng cách, nhưng không cập phân, được đỗ phó bảng. Phó bảng khởi đầu từ đây.
Trước đây cứ 6 năm một khoa thi, nay đổi lại làm 3 năm một khoa, cứ năm Tí, Ngọ, Mão, Dậu thì thi Hương; năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi Hội, thi Đình.
Phép thi vẫn theo như đời vua Gia Long. kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa; đệ nhị: thi tứ lục; kỳ đệ tam:thi phú; kỳ đệ tứ: thi văn sách. Trước ai đỗ tam trường, gọi là sinh đồ, ai đỗ tứ trường gọi là hương cống; nay đổi sinh đồ là Tú tài, hương công là cử nhân.
Trải qua các đời Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, mỗi đời vua có sửa đổi nhưng thi Hội vẫn có bốn trường, con thi Hương thì rút một còn ba trường vào đời vua Tự Đức. Đến đời Kiến Phúc thì định thi Hương quyển nào được vào hạng ưu bình phải thi thêm một kỳ phúc hạch. Bài thi vẫn là kinh nghĩa, tứ lục, thơ phú và văn sách. Ở triều Lê người thi Hương đậu gọi là Cử nhân, Tú tài; đến đời Hậu Lê gọi là Hương cống, Sinh đồ; đời Giang Long cũng theo đời trước, đến đời vua Minh Mệnh đổi gọi là Cử nhân và Tú tài.
=== Kết thúc việc thi cử Nho học ===
Nền Nho học suy vi thì bỗng gặp tình thế phải tiếp xúc với văn minh phương Tây. Lúc này trạng thái chính trị và xã hội biến thiên nhanh chóng, Nho học không còn thích hợp nữa, phải nhường chỗ cho học thuật mới. Việt Nam từ khi thành thuộc địa thì bỏ khoa cử theo nền giáo dục của người Pháp. Riêng ở miền Bắc việc thi cử theo Nho học kết thúc năm 1915; và ở miền Trung kết thúc vào năm 1918.
== Thi Hương ==
=== Đại cương ===
Theo Đào Duy Anh , năm 1397, triều nhà Trần, Hồ Quý Ly lại bắt đầu định phép thi Hương; có trúng tuyển cử nhân mới được dự thi Hội năm sau, ai trúng thi Hội thì thi một bài văn sách nữa để định cao thấp; gọi là thi Đình.
Nhà Hậu Lê, vua Lê Thái Tổ đánh thắng nhà Minh, vẫn chưa định phép thi Hương, thi Hội, đến đời vua Lê Thái Tông mới hạ chiếu thi khảo trong nước. Kỳ thi này lấy hơn ngàn người trúng tuyển, chia làm ba hạng; hạng nhất, nhì bổ vào Quốc tử giám; hạng ba vào trường ở các đạo để học tập, cho miễn lao dịch.
Đời vua Lê Nhân Tông, hạ lệnh cho nhân dân biết chữ đến thi khảo ở bản đạo, người nào trúng tuyển sẽ đưa đến thi Hội ở bộ Lễ, cho miễn việc tuyển bổ quân ngũ lần này.
Việc định phép thi Hương, thi Hội mới rõ ở thời vua Lê Thánh Tông, cứ 6 năm một lần xét tuyển. Vào năm 1485, triều đình lấy cớ rằng năm trước lấy đỗ hơn 1 vạn người, nên hạ sắc chỉ cho thi khảo lại.
=== Thể lệ ===
Một người muốn dự thi Hương phải qua hai điều kiện (gọi là Khảo hạch):
Có đạo đức tốt và lý lịch trong sạch. Bản khai lý lịch này phải được xã trưởng và quan địa phương xác nhận.
Có trình độ học lực: trình độ học lực lúc đầu được kiểm tra bằng một kỳ thi liền với kỳ thi Hương nhưng không tính vào nội dung thi Hương 4 kỳ trên. Đây là kỳ thi ám tả cổ văn ai đỗ kỳ này mới được vào thi Hương. Đây là thi sát hạch, không phải là kỳ thi chính thức. Đỗ kỳ này chẳng có học vị gì, cả tỉnh cùng dự thi, ai đỗ kỳ này cũng đã vinh dự lắm, nhất là đỗ đầu. Người đỗ đầu cả xứ được tặng danh hiệu đầu xứ (về sau đỗ đầu tỉnh cũng được gọi là đầu xứ) gọi tắt là ông xứ, như: xứ Nhu (Nguyễn Khắc Nhu), xứ Tố (Ngô Tất Tố). Ông xứ Tố chỉ đỗ đầu xứ thôi, chẳng có học vị gì, nhưng thật là một nhà Nho uyên thâm.
Cuộc thi được tổ chức tại các trường nhiều nơi (từ Hương do nghĩa khu vực quê hương của người thi). Nhưng không phải tỉnh nào cũng được tổ chức thi Hương. Trường thi chia ra làm nhiều vùng. Ba bốn trấn hoặc tỉnh cùng thi ở một nơi, thí dụ trường Nam là tập trung thí sinh ở các tỉnh chung quanh Nam Định, trường Hà các tỉnh chung quanh Hà Nội v.v. Số thí sinh mỗi khoa có đến hàng nghìn người.
Thể lệ thi Hương vào đời vua Lê Thái Tông (1434-1439), Lê Nhân Tông (1443-1453), người nào do sinh đồ mà đỗ Hương cống thì được sung vào Giám sinh, người nào đang là quân nhân mà đỗ Hương cống thì không được sung vào Giám sinh mà vẫn là Hương cống. Năm 1462, định thể lệ thi Hương, sĩ tử là sinh đồ hay quân nhân đều được dự vào thi Hương. Người nào trúng được 3 kỳ gọi là Sinh đồ; đến khoa sau lại vào thi, người nào trúng được 4 kỳ thi Hương gọi là Hương cống, mới được dự thi Hội. Về phần quan viên, chưa đỗ Hương cống cũng được phép dự thi Hội.
Năm 1486, theo lời tâu của Lương Thế Vinh, hạ lệnh cho quan viên có học tập cử nghiệp, nếu làm qua ở Kinh, thì đến thi ở ti Thừa chính, trước hết phải qua kỳ sát hạch ở phủ huyện, theo như lệ của bách tính, rồi vào được vào thi Hội.
Theo quy định từ năm 1434, thi Hương có 4 kỳ, gọi là bốn trường.
Kỳ I: kinh nghĩa, thư nghĩa;
Kỳ II: chiếu, chế, biểu;
Kỳ III: thơ phú;
Kỳ IV: văn sách.
Thi qua 3 kỳ thì đỗ Tú Tài (trước 1828 gọi là Sinh đồ) - tên dân gian là ông Đồ, ông Tú. Thường mỗi khoa đỗ 72 người. Tuy có tiếng thi đỗ nhưng thường không được bổ dụng. Nhiều người thi đi thi lại nhiều lần để cố đạt cho được học vị Cử nhân. Lần thứ nhất đỗ gọi là "ông Tú", lần thứ hai vẫn đỗ Tú tài thì gọi là "ông Kép", lần thứ 3 vẫn thế thì gọi là "ông Mền".
Thi qua cả 4 kỳ thì đỗ Cử nhân (trước 1828 gọi là Hương cống) - ông Cống, ông Cử, được bổ dụng làm quan ở các cơ quan cấp tỉnh, cấp trung ương, hoặc được đi làm quan các huyện, sau dần dần mới lên các chức vụ cao hơn.
Người đỗ đầu gọi là Giải Nguyên.
Khoa thi Hương đầu tiên năm 1396 đời Trần Thuận Tông, khoa thi Hương cuối cùng tổ chức năm 1918 đời vua Khải Định.
==== Thế kỷ 20 ====
Dưới nền Bảo hộ của Pháp thì việc thi Hương có phần thay đổi. Kể từ khoa Kỷ Dậu 1909 thì nội dung là:
Trường nhất: năm đạo văn sách
Trường nhì: thi, phú
Trường ba: hai bài luận chữ Quốc ngữ
Đó là năm đầu tiên chữ Quốc ngữ được dùng trong khoa cử.
Khoa Nhâm Tý 1912 thì lại đổi nữa, bỏ phân thi phú. Nội dung là:
Trường nhất: năm đạo văn sách
Trường nhì: hai bài luận chữ Hán
Trường ba: hai bài luận chữ Quốc ngữ
Trường tư (phúc hạch): một bài văn sách, một bài luận Hán văn, và một bài luận Quốc ngữ.
== Thi Hội ==
=== Đại cương ===
Thi Hội là khoa thi 3 năm một lần ở cấp trung ương do bộ Lễ tổ chức. Từ đời Lê Thánh Tông thi Hương được tổ chức vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu và thi Hội vào năm sau Sửu, Mùi, Thìn, Tuất (dựa theo quy định thi cử của Trung Quốc). Khoa thi này được gọi là "Hội thi cử nhân" hoặc "Hội thi cống sĩ" (các cử nhân, cống sĩ, tức là người đã đỗ thi Hương ở các địa phương, tụ hội lại ở kinh đô để thi) do đó gọi là thi Hội.
Trước năm 1442 thí sinh đỗ cả 4 kỳ được công nhận là trúng cách thi Hội, nhưng không có học vị gì. Nếu không tiếp tục thi Đình thì vẫn chỉ có học vị hương cống hoặc cử nhân. Chỉ sau khi thi Đình, người trúng cách thi Hội mới được xếp loại đỗ và mới được công nhận là có học vị các loại tiến sĩ. Từ năm 1442 thí sinh đỗ thi Hội mới có học vị Tiến sĩ (tức Thái học sinh - tên dân gian là ông Nghè). Người đỗ đầu gọi là Hội Nguyên.Vào thời nhà Nguyễn những thí sinh thiếu điểm để đỗ tiến sĩ có thể được cứu xét và cho học vị Phó Bảng (ông Phó Bảng hay Ất tiến sĩ). Khoa thi Hội đầu tiên năm 1397 đời Trần Thuận Tông, khoa thi Hội cuối cùng tổ chức năm 1919 thời vua Khải Định, đánh dấu sự chấm dứt của khoa bảng phong kiến Việt Nam.
=== Thể lệ ===
Kỳ thi Hội vào năm Quang Thuận- đời vua Lê Thánh Tông, người nào trúng được 4 kỳ gọi là Tiến sĩ, người không trúng bổ vào tăng quảng sinh ở Quốc tử giám, người nào trúng 3 kỳ bổ làm thuộc lại, tá nhị hoặc giáo chức ở nha môn, còn viên quan chính thứ ở các huyện sẽ bổ người thi đậu Tiến sĩ.
=== Thể lệ thi hội thời nhà Nguyễn ===
Năm Minh Mệnh thứ 6, định lệ cứ năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi mở khoa thi hội và thi vào tháng ba âm lịch. Giám khảo có một chánh chủ khảo, một phó chủ khảo, hai tri cống cử, hai đề điệu, sáu đồng khảo để coi việc ra đầu bài, chấm quyển, vài bốn tuần sát để coi việc giữ gian và bốn mươi thơ lại để coi việc sổ sách, viết quyển, viết bảng,...
Thi Hội chia làm 4 kỳ: kỳ đệ nhất ít nhất phải làm một bài kinh nghĩa, kỳ thứ hai thi chiếu, biểu; kỳ thứ ba thi một bài ngũ ngôn mười sáu câu, một bài phú độ tám vần; kỳ thứ tư thi văn sách. Trong hai kỳ, phải một kỳ bất cập phân thì hỏng, trong bốn kỳ được tám phân trở lên mới trúng cách. Hội thi trúng cách rồi mới thi Đình.
== Thi Đình ==
Kỳ thi cao nhất là thi Đình tổ chức tại sân đình nhà vua. Nơi thi là một cái nghè lớn, nên sau này người ta thường gọi các vị vào thi là các ông nghè. Nhà vua trực tiếp ra đầu đề, và sau khi hội đồng giám khảo hoàn thành việc chấm bài, cân nhắc điểm sổ, chính nhà vua tự tay phê lấy đỗ. Người đỗ đầu gọi là Đình Nguyên.
Theo số điểm, người đỗ được xếp vào 3 hạng gọi là Tam Giáp:
Bậc 3: Đỗ Tiến sĩ Đệ Tam Giáp (Đồng tiến sĩ xuất thân - tên dân gian là ông Tiến sĩ)
Bậc 2: Đỗ Tiến sĩ Đệ Nhị Giáp (Tiến sĩ xuất thân, Hoàng Giáp - ông Hoàng)
Bậc 1: Đỗ Tiến sĩ Đệ Nhất Giáp (Tiến sĩ cập đệ - gồm 3 thí sinh đỗ cao nhất gọi là Tam khôi: Đỗ hạng ba là Thám Hoa (ông Thám), hạng nhì là Bảng Nhãn (ông Bảng), đỗ đầu là Trạng nguyên (ông Trạng)
Đôi khi lúc chấm bài, chủ khảo (trong đó có cả vua) thấy người thủ khoa không đạt được điểm số tối thiểu để gọi là Trạng. Những khoa này sẽ không có trạng nguyên - thủ khoa giữ cấp Đình nguyên (thí dụ: Lê Quý Đôn đỗ cao nhất nhưng chỉ được cấp vị Đình nguyên Bảng nhãn).
Theo lệ cũ, người nào đã thi Hội đỗ vào thi Đình đều không đánh hỏng người nào; chỉ có khoa thi năm 1496, vua Lê Thánh Tông thân hành xem xét phân biệt, đánh hỏng 11 người.
Thời nhà Nguyễn, thi Đình chỉ đối sách một bài rất dài. Quan trường hội đồng xét văn rồi đứng lên Ngự lãm, điểm cao lấy vào hạng Tiến sĩ, điểm thấp thì vào hạng Phó bảng. Vào năm 1828 vua Minh Mạng chỉnh đốn lại khoa cử và bỏ Đệ nhất giáp. Học vị trạng nguyên, bảng nhãn không còn trên khoa bảng từ đó.
== Thống kê và các kỷ lục ==
Trong các khoa thi suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, có những dấu mốc và kỷ lục đáng lưu ý:
Vị khai khoa đầu tiên là Lê Văn Thịnh, đỗ năm 1075 đời Lý Nhân Tông, sau làm tới Thị lang Bộ Binh rồi Thái sư.
Trạng nguyên đầu tiên là Nguyễn Quan Quang. Trạng nguyên cuối cùng là Trịnh Tuệ (hay Trịnh Huệ) đỗ năm 1736 đời Lê Ý Tông tại khoa thi Đình tổ chức ở phủ chúa Trịnh. Sau ông làm đến Thượng thư bộ Hình, Thừa chỉ, Tế tửu Quốc tử giám.
Trạng nguyên trẻ nhất là Nguyễn Hiền, đỗ khoa 1247 đời Trần Thái Tông khi 13 tuổi.Trạng nguyên già nhất đỗ lúc 65 tuổi là Nguyễn Nghiêu Tư đỗ năm 1448 đời Lê Nhân Tông.
Thám hoa đầu tiên là Vương Hữu Phùng đỗ khoa 1246 đời Trần Thái Tông. Thám hoa cuối cùng là Vũ Phạm Hàm, đỗ khoa năm 1892 đời vua Thành Thái.
Thám hoa trẻ nhất là Đặng Ma La đỗ khoa 1247 đời Trần Thái Tông khi 14 tuổi; thám hoa già nhất là Giang Văn Minh đỗ khoa 1628 đời Lê Thần Tông khi 56 tuổi.
Bảng nhãn đầu tiên là Phạm Văn Tuấn đỗ khoa thi 1246 đời Trần Thái Tông. Bảng nhãn cuối cùng là Vũ Duy Thanh đỗ khoa 1851 đời Tự Đức.
Bảng nhãn trẻ nhất là Lê Văn Hưu đỗ khoa 1247 đời Trần Thái Tông, bảng nhãn già nhất là Nguyễn Nghi đỗ khoa 1637 đời Lê Thần Tông khi 61 tuổi.
Khoa thi Tam khôi (lấy Trạng nguyên, Thám hoa và Bảng nhãn) đầu tiên tổ chức năm 1247 đời Trần Thái Tông. Do nhà Nguyễn không lấy đỗ Trạng nguyên nên khoa thi lấy Thám hoa cuối cùng tổ chức năm 1892 đời vua Thành Thái.
Tiến sĩ trẻ nhất là Nguyễn Trung Ngạn, đỗ năm 1304 đời Trần Anh Tông khi mới 16 tuổi. Tiến sĩ già nhất là Nguyễn Bình, đỗ năm 1628 đời Lê Thần Tông khi 87 tuổi.
Nữ tiến sĩ duy nhất là Nguyễn Thị Duệ đỗ năm 1616 đời Mạc Kính Cung (thời nhà Mạc rút lên Cao Bằng) khi ngoài 20 tuổi.
Sĩ tử cao tuổi nhất là Vũ Đình Thự dự khoa Canh Tý, Thành Thái thứ 12 (năm 1900) khi đã 84 tuổi. Cụ đỗ Cử nhân, đứng thứ 62 trong số 90 Cử nhân của trường Hà Nội - Nam Định (năm đó 2 trường Hà Nội và Nam Định thi chung, trường Hà Nội lấy đỗ 43 người, Nam Định 47 người). Cụ Đoàn Tử Quang cũng đỗ năm đó, đứng thứ 29 trong số 30 Cử nhân trường Nghệ An, khi 82 tuổi, vẫn còn kém cụ Vũ Đình Thự 2 tuổi. Nguồn: Quốc triều hương khoa lục, Cao Xuân Dục, Nhà xuất bản Lao động, 2011.
Sĩ tử đỗ cao tuổi nhất là Đoàn Tử Quang đỗ thứ 29 trong 30 cử nhân năm 1900 đời Thành Thái khi đã 82 tuổi. Sau này ông mất năm 1928, thọ 110 tuổi.
Khoa thi có Tam khôi trẻ nhất là khoa 1247 đời Trần Thái Tông: trạng nguyên Nguyễn Hiền 13 tuổi, Thám hoa Đặng Ma La 14 tuổi, Bảng nhãn Lê Văn Hưu 18 tuổi.
Khoa thi có Tam khôi già nhất là khoa 1637 đời Lê Thần Tông: Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính 50 tuổi, thám hoa Nguyễn Thế Khanh 37 tuổi, bảng nhãn Nguyễn Nghi 61 tuổi.
Nhà Hồ là triều đại quy định thi cử qua nhiều vòng nhất: người đỗ kỳ thi Hương năm sau phải vào Bộ Lễ thi lại, có đỗ mới được tuyển; năm sau nữa mới được thi Hội, qua được kỳ này mới được gọi là Thái học sinh (tiến sĩ). Kỳ thi thứ 5 là thi viết và toán.
Khoảng thời gian dài nhất không lấy được người đỗ Trạng nguyên là từ năm 1743 đến 1785 thời Lê Hiển Tông. Trong 42 năm có 16 khoa thi nhưng không có trạng nguyên vì triều đình cho rằng không có người xứng tầm với học vị đó.
Bia Tiến sĩ được dựng lần đầu năm 1484 đời Lê Thánh Tông tại sân Quốc tử giám.
Lệ xướng danh người đỗ để biểu dương người học giỏi thực hiện lần đầu năm 1466 đời Lê Thánh Tông.
== Nhận định ==
Theo Lê Quý Đôn, khi bình về việc thi cử đời nhà Hậu Lê:Quốc giao khôi phục sau khi nhiễu nhương thì nhà Nho vắng vẻ, đến đời Hồng Đức mở rộng khoa mục thì kẻ sĩ xô về hư văn, đời Đoan Khánh trở đi thì sĩ tập suy bại quá lắm.
Theo vua Minh Mệnh:Lâu nay khoa cử làm cho người ta sai lầm. Văn chương vốn không có qui củ nhất định, mà nay những người làm văn cử nghiệp thì câu nệ hủ sáo, khoe khoang lẫn nhau, biệt mối nhà một lối, nhân phẩm cao hay thấp do tự đó. Học như thế thì trách nào nhân tài chẳng mỗi ngày một kém đi.
Theo Pham Kế Bính:Xưa nay lối khoa cử của ta là một con đường rộng rãi phẳng phiu cho bọn sĩ phu. Sĩ phu có do con đường ấy xuất thân mới là chinh đồ, mà sự vinh hạnh về sau cũng bởi đó mà ra cả. Bởi vậy nhân tâm nước mình say mê bia đá bảng vàng, cố sức dùi mài truyện hiền, kinh thánh, có người đầu bạc mà vẫn chịu khó đeo bộ lều chiếu để đua ganh với bọn thiếu niên. Mà rút lại thì có gì đâu, học cũng chẳng qua là học văn chương, thi cũng chẳng qua là thi văn chương...
== Tư liệu dùng để viết bài ==
Đại Việt sử ký toàn thư; Soạn giả Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sỹ Liên,...Dịch giả Viện sử học Việt Nam; Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1993.
Lịch triều hiến chương loại chí; tập 2; soạn giả Phan Huy Chú; Dịch giả Viện sử học Việt Nam; Nhà xuất bản Giáo dục; 2006
Việt Nam phong tục; soạn giả Phan Kế Bính; Nhà xuất bản giáo dục; 2005.
Việt Nam văn hóa sử cương; soạn giả Đào Duy Anh, 1938; in tại Quan Hải tùng thư, bản điện tử.
Kiến văn tiểu lục, soạn giả Lê Quý Đôn, phiên dịch và chú thích Phạm Trọng Điềm; Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007.
Đại Việt thông sử, Soạn giả Lê Quý Đôn, Dịch giả Ngô Thế Long, Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007.
Việt Nam sử lược; soạn giả Trần Trọng Kim, Nhà xuất bản; Tân Bắc Trung Văn; 1920; bản điện tử.
== Xem thêm ==
Trạng nguyên Việt Nam
Quốc triều khoa bảng lục
Nho giáo Việt Nam
== Chú thích ==
== Tham khảo và liên kết ngoài ==
Lê Thái Dũng (2008), Giở trang sử Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Sự hình thành hai cấp thi và ba khoa thi chính quy về Nho học
Việc thi cử của các triều vua dưới dạng các con số
Khái lược về Nho giáo Việt Nam - Lê Anh Dũng
Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Đại lược về Khoa Cử |
cục dự trữ liên bang (hoa kỳ).txt | Cục Dự trữ Liên bang (tiếng Anh: Federal Reserve System – Fed) hay Ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ là ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ. Bắt đầu hoạt động năm 1915 theo "Đạo luật Dự trữ Liên bang" của Quốc hội Hoa Kỳ thông qua ngày 23 tháng 12 năm 1913, chủ yếu là để phản ứng với một loạt các hoảng loạn tài chính, đặc biệt là đợt hoảng loạn nghiêm trọng năm 1907.
Theo thời gian, các vai trò và nhiệm vụ của Fed đã được mở rộng và cấu trúc của nó đã thay đổi. Các sự kiện như Đại suy thoái thập niên 1930 là các nhân tố chính dẫn đến các thay đổi hệ thống.
Quốc hội Hoa Kỳ thiết lập 3 mục tiêu chính cho chính sách tiền tệ trong Đạo luật dự trữ Liên bang: Việc làm tối đa, giá cả ổn định, và lãi suất dài hạn vừa phải. Hai mục tiêu đầu đôi khi được gọi là nhiệm vụ kép của Cục dự trữ liên bang. Nhiệm vụ của cơ quan này đã được mở rộng trong những năm qua, và đến thời điểm năm 2009 cũng bao gồm việc giám sát và điều tiết ngân hàng, duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính và cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức lưu ký, Chính phủ Hoa Kỳ, và các tổ chức chính thức nước ngoài. Fed tiến hành nghiên cứu nền kinh tế và phát hành các ấn phẩm, chẳng hạn như sách Beige.
Cục dự trữ liên bang (viết tắt là Fed) Hội đồng thống đốc hay Ban dự trữ Liên bang được Tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm, một Ủy ban thị trường mở Liên bang được Tổng thống Mỹ bổ nhiệm một phần, 12 Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực tọa lạc ở các thành phố khác nhau ở Mỹ, một số ngân hàng thành viên Hoa Kỳ sở hữu tư nhân và nhiều hội đồng tư vấn. Chính phủ liên bang ấn định mức lương của bảy thống đốc của Hội đồng. Các ngân hàng thương mại điều lệ quốc gia được yêu cầu phải nắm giữ cổ phiếu tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang khu vực của họ, mà mang cho họ quyền được bầu một số thành viên hội đồng quản trị của họ. Ủy ban thị trường mỏ Liên bang hoạch định chính sách tiền tệ và Ủy ban này bao gồm tất cả bảy thành viên của Hội đồng thống đốc và mười hai Chủ tịch ngân hàng khu vực, mặc dù chỉ có năm Chủ tịch ngân hàng bỏ phiếu tại bất kỳ thời gian nhất định: chủ tịch của New York Fed và bốn người khác luân phiên các nhiệm kỳ một năm. Vì vậy, các hệ thống dự trữ liên bang có cả hai thành phần tư nhân và công cộng phục vụ lợi ích của công chúng và các ngân hàng tư nhân. Cấu trúc này được xem là duy nhất trong số các ngân hàng trung ương. Cũng bất thường ở chỗ Bộ ngân khố Hoa Kỳ, một thực thể bên ngoài của các ngân hàng trung ương, tạo ra những tiền tệ được sử dụng. Fed xem Hệ thống Dự trữ Liên bang là "một ngân hàng trung ương độc lập bởi vì các quyết định chính sách tiền tệ không cần phải phê chuẩn bởi Tổng thống hoặc bất cứ ai khác trong các ngành hành pháp hay lập pháp của chính phủ, nó không nhận được kinh phí được Quốc hội Hoa Kỳ phân bổ, và các nhiệm kỳ của các thành viên Hội đồng quản trị trải dài qua nhiều nhiệm kỳ Tổng thống và quốc hội."
Chính phủ Hoa Kỳ nhận được tất cả các lợi nhuận hàng năm của hệ thống, sau khi chia cổ tức theo luật định là 6% trên vốn đầu tư ngân hàng thành viên được trả tiền, và thặng dư tài khoản được duy trì. Trong năm 2010, Fed đã lãi 82 tỷ $ và chuyển 79 $ tỷ cho Kho bạc Mỹ.
== Lịch sử ra đời và hình thành ==
Trong khoảng thời gian từ 1862 đến 1913, hệ thống ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ được hình thành theo Đạo luật Ngân hàng quốc gia 1863. Một loạt các biến động trong lĩnh vực ngân hàng ở Hoa Kỳ vào các năm 1873, 1893 và 1907 cho thấy một hệ thống ngân hàng trung ương là cần thiết để điều phối thị trường.
Sau cuộc khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng năm 1907, Quốc hội Hoa Kỳ thành lập "Ủy ban tiền tệ quốc gia" với nhiệm vụ xây dựng kế hoạch cải cách hệ thống ngân hàng. Nelson Aldrich – người đứng đầu đảng Cộng hòa ở quốc hội đồng thời là chuyên gia tài chính, được chỉ định là Chủ tịch Ủy ban. Ông chỉ đạo một cuộc khảo sát tường tận các ngân hàng trung ương Châu Âu và nhận thấy rằng Anh và Đức là hai nước có cácngân hàng trung ương ưu việt hơn hẳn. Năm 1910, Nelson Aldrich tìm kiếm sự giúp đỡ từ các ngân hàng hàng đầu của Hoa Kỳ với mong muốn dự thảo một kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng cho Hoa Kỳ một hệ thống tài chính tiên tiến như của Anh và Đức. Ông cùng các chuyên viên đại diện của các định chế tài chính lớn khi đó là J.P. Morgan, Rockefeller, và Kuhn, Loeb và Công ty, dành riêng một tuần thảo luận tại đảo Jekyll (ngoài khơi bang Georgia). Đại diện của Kuhn, Loeb và Công ty là Paul Warburg (chuyên gia tài chính gốc Đức) chủ trì việc xác lập những ý cơ bản của Đạo luật Dự trữ liên bang. Aldrich sau đó giới thiệu kế hoạch của ông về ngân hàng trung ương với tên "dự luật Aldrich", đề xuất thành lập "Tổ chức Dự trữ liên bang" (Federal Reserve Association). Dự luật này trở thành một phần trong chính sách của đảng Cộng hòa ở Quốc hội nhưng không được phê chuẩn năm 1911 khi đa số quốc hội thuộc về đảng Dân chủ.
Năm 1913, Tổng thống đảng Dân chủ Woodrow Wilson phải tác động để kế hoạch của Aldrich được thông qua dưới sự đỡ đầu của thế lực đảng Dân chủ với tên mới là "Đạo luật Dự trữ liên bang". Frank Vanderlip, người đã tham gia hội nghị ở đảo Jekyll và là chủ tịch National City Bank viết trong tự truyện của mình rằng "mặc dù kế hoạch về Quỹ dự trữ liên bang của Aldrich đã không được thông qua với cái tên của chính ông, nhưng những điểm cơ bản của nó đều nằm trong dự luật sau này được thông qua". Tổng thống Wilson đã giành ưu thế trước William Jennings Bryan, người đứng đầu phe ủng hộ nông nghiệp trong đảng. Những người thuộc phe này muốn có ngân hàng trung ương của chính phủ mang đặc quyền in ấn và phát hành giấy bạc mỗi khi Quốc hội cần. Woodrow Wilson thuyết phục rằng giấy bạc của Cục dự trữ liên bang chính là nghĩa vụ của chính phủ, do đó chương trình này phù hợp mong muốn của họ. Những nghị sĩ đại diện miền nam và miền tây được tổng thống thuyết phục rằng hệ thống mới ra đời sẽ phân tán ở 12 vùng và sẽ giảm quyền lực của New York, tăng quyền lực cho các vùng nội địa. (Trên thực tế, Ngân hàng dự trữ liên bang chi nhánh New York trở thành "số một" trong các Ngân hàng dự trữ liên bang. Ví dụ, nó có đặc quyền tiến hành các hoạt động trên thị trường (phát hành trái phiếu, v.v..) dưới sự chỉ đạo của Ủy ban thị trường của Fed). Carter Glass, nghị sĩ đảng Dân chủ ủng hộ nhiệt liệt dự luật và mang về cho Richmond, Virginia quê ông một Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực. Bang Missouri có tới hai Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực nhờ James A. Reed (đảng Dân chủ).
Quốc hội thông qua "Đạo luật Dự trữ liên bang" cuối năm 1913. Paul Warburg và các chuyên gia xuất sắc khác được chỉ định điều hành hệ thống non trẻ. Fed đi vào hoạt động năm 1915 và đóng vai trò chủ chốt tài trợ các nỗ lực chiến tranh của Mỹ và phe liên minh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Tháng 07 năm 1979, Paul Volcker được tổng thống Jimmy Carter chỉ định là Chủ tịch Hội đồng thống đốc của Cục dự trữ liên bang khi lạm phát đang gia tăng trầm trọng. Dưới sự lãnh đạo của Paul Volcker, các biện pháp kiểm soát lạm phát đã có hiệu quả và tỷ lệ lạm phát đã giảm nhanh chóng trước năm 1986.
Tháng 01 năm 1987, khi chỉ số lạm phát hàng tiêu dùng chỉ là 1%, Fed tuyên bố không còn sử dụng tổng cung tiền tệ M2 làm định hướng kiểm soát lạm phát nữa mặc dù phương pháp này đã rất thành công từ 1979. Trước 1980, lãi suất được sử dụng làm định hướng và lạm phát khi đó rất cao. Việc sử dụng chỉ số tổng cung tiền tệ M2 thay thế lãi suất làm định hướng rất thành công, nhưng Paul Volcker cho rằng nó dễ gây nhầm lẫn.
Tháng 08 năm 1987, 07 tháng sau khi thay đổi chính sách tổng cung tiền tệ, Alan Greenspan thay thế Volcker trên cương vị Chủ tịch Hội đồng thống đốc. Và rồi sau 19 năm lãnh đạo Fed rất thành công, huyền thoại của ngành tài chính thế giới, Alan Greenspan nghỉ hưu và chỉ định người kế tục mình, Ben Bernanke.
== Tính pháp lý và vị trí trong chính quyền ==
Các bộ phận của Cục dự trữ liên bang (Fed) có tư cách pháp lý khác nhau.
Hội đồng Thống đốc của Fed là cơ quan độc lập với chính phủ liên bang. Hội đồng không nhận tài trợ của Quốc hội và bảy thành viên của Hội đồng theo cơ chế dân chủ. Thành viên của Hội đồng là độc lập và không phải chấp hành yêu cầu của hệ thống lập pháp cũng như hành pháp. Tuy nhiên, Hội đồng phải gửi báo cáo tới Quốc hội theo định kỳ. Theo luật, thành viên của Hội đồng này chỉ rời chức vụ khi mãn hạn. Hội đồng Thống đốc chịu trách nhiệm việc hình thành và cụ thể hóa chính sách tiền tệ. Nó cũng giám sát và quy định hoạt động của 12 Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ nói chung.
Các Ngân hàng dự trữ liên bang (Federal Reserve Banks) về danh nghĩa sở hữu bởi các ngân hàng thành viên (mỗi ngân hàng thành viên giữ cổ phần không có khả năng chuyển nhượng). Theo Tòa án tối cao Mỹ, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực không phải là công cụ của Chính phủ liên bang, chúng là các ngân hàng độc lập, sở hữu tư nhân và hoạt động theo luật pháp ở địa phương. Phán quyết trên cũng cho rằng, các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực có thể được coi là công cụ của Chính phủ liên bang theo một số mục đích nhất định. Trong một phán quyết khác ở tòa án cấp bang, sự khác biệt giữa Hội đồng thống đốc và các Ngân hàng được quy định rõ ràng.
Các ngân hàng sở hữu Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực là của tư nhân và rất nhiều trong số đó có cổ phiếu phát hành trên thị trường.
Giấy bạc do Fed phát hành là nguồn cung tiền tệ và chúng được đưa vào lưu thông qua các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực.
== Vai trò và nhiệm vụ ==
Ben Bernanke - Chủ tịch thứ 14 của Hội đồng thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ từ 01/01/2006
Theo Hội đồng thống đốc, Fed có các nhiệm vụ sau:
Thực thi chính sách tiền tệ quốc gia bằng cách tác động các điều kiện tiền tệ và tín dụng với mục đích tối đa việc làm, ổn định giá cả và điều hòa lãi suất dài hạn
Giám sát và quy định các tổ chức ngân hàng đảm bảo hệ thống tài chính và ngân hàng quốc gia an toàn, vững vàng và bảo đảm quyền tín dụng của người tiêu dùng
Duy trì sự ổn định của nền kinh tế và kiềm chế các rủi ro hệ thống có thể phát sinh trên thị trường tài chính
Cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức quản lý tài sản có giá trị, các tổ chức chính thức nước ngoài, và chính phủ Hoa Kỳ, đóng vai trò chủ chốt trong vận hành hệ thống chi trả quốc gia.
== Tổ chức ==
Cấu trúc cơ bản gồm
Hội đồng thống đốc
Ủy ban thị trường
Các Ngân hàng của Fed
Các ngân hàng thành viên (có cổ phần tại các chi nhánh)
Mỗi ngân hàng Fed khu vực và ngân hàng thành viên của Cục dự trữ liên bang tuân thủ sự giám sát của Hội đồng thống đốc. Bảy thành viên của Hội đồng thống đốc được chỉ định bởi Tổng thống Hoa Kỳ và phê chuẩn bởi Quốc hội. Các thành viên được lựa chọn cho nhiệm kỳ 14 năm (trừ khi bị phế truất bởi Tổng thống) và không phục vụ quá một nhiệm kỳ. Tuy nhiên, một thành viên nếu được chỉ định để phục vụ nốt phần chưa hoàn tất của thành viên khác có thể phục vụ tiếp một nhiệm kỳ 14 năm nữa, ví dụ cựu chủ tịch Hội đồng là Alan Greenspan đã phục vụ 19 năm từ 1987 đến 2006.
Những thành viên hiện thời của Hội đồng thống đốc là:
Janet Yellen, Chủ tịch
Elizabeth A. Duke
Daniel Tarullo
Sarah Bloom Raskin
Jerome H. Powell
Jeremy C. Stein
(vào ngày 13/10/2012)
Ủy ban thị trường gồm 7 thành viên của Hội đồng thống đốc và 5 đại diện từ các Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực. Luôn có một đại diện của ngân hàng Fed tại Quận 2, thành phố New York (hiện tại là Timonthy Geithner) là thành viên trong Ủy ban này. Thành viên từ các ngân hàng khác được luân phiên theo thời gian 2 hoặc 3 năm.
== Kiểm soát cung ứng tiền tệ ==
Cục dự trữ liên bang kiểm soát quy mô nguồn cung ứng tiền tệ bằng các hoạt động thị trường mà qua đó Fed mua hoặc cho mượn các loại trái phiếu, giấy tờ có giá. Những tổ chức tham gia mua bán với Fed gọi là người giao dịch ưu tiên (primary dealers). Tất cả hoạt động thị trường của Fed ở Hoa Kỳ đều tiến hành tại bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực New York với mục đích là đạt được tỷ lệ lãi suất trái phiếu liên bang gần mới tỷ lệ mục tiêu.
Lạm phát ở Hoa Kỳ thời gian 1914-2006
=== Thỏa thuận mua lại ===
Thực chất của hoạt động này là cho vay hoặc đi vay có thế chấp. Để đảm bảo những thay đổi nguồn cung tiền tệ theo chu kỳ hoặc tạm thời, bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự trữ liên bang New York tham gia các thỏa thuận mua lại với những nhà giao dịch ưu tiền. Các mua bán chủ yếu là các khoản cho vay ngắn hạn, có đảm bảo của Fed. Trong ngày giao dịch, Fed sẽ đặt tiền vào tài khoản của người giao dịch và nhận thế chấp (là các giấy tờ chứng nhận sở hữu như cổ phiếu, trái phiếu, v.v..). Khi hết hạn giao dịch, quá trình diễn ra ngược lại Fed hoàn lại chứng khoán và nhận lại tiền cùng lãi. Thời hạn giao dịch có thể thay đổi từ 1 ngày (cho vay qua đêm) tới 65 ngày, phần lớn giao dịch là cho vay qua đêm và 14 ngày.
Bởi các giao dịch làm tăng quỹ dự trữ của ngân hàng trong thời gian ngắn, chúng tăng nguồn cung tiền tệ. Hiệu quả của hoạt động này là tạm thời bởi các giao dịch sẽ đáo hạn, tác động dài hạn là dự trữ ngân hàng giảm đi bởi lãi suất của giao dịch (lãi suất một ngày của tỷ lệ 4,5%/năm là 0,0121%). Fed tiến hành giao dịch này hàng ngày trong 2004-2005, ngoài ra giao dịch thu hút vốn cũng tiến hành nhằm tạm thời giảm nguồn cung tiền tệ.
Trong giao dịch thỏa thuận bán lại (reverse repo), Fed sẽ vay tiền từ các người giao dịch ưu tiên bằng cách đặt cọc các chứng khoán chính phủ. Khi giao dịch đáo hạn, Fed sẽ hoàn trả tiền và các khoản lãi.
=== Giao dịch mua đứt ===
Một công cụ khác của bàn giao dịch thị trường là mua đứt. Trong giao dịch này, Cục dự trữ liên bang mua lại trái phiếu chính phủ và cung cấp giấy bạc mới vào tài khoản của người giao dịch đặt tại Fed. Bởi hoạt động này là mua đứt nên tăng cung tiền tệ lâu dài nhưng khi trái phiếu hết hạn khoản lãi vẫn được thu, thông thường là 12-18 tháng.
Từ những năm 1980, Cục dự trữ liên bang cũng bán quyền mua trái phiếu chính phủ ở mức lãi suất cao. Việc bán quyền mua này giảm nguồn cung tiền tệ bởi các nhà giao dịch ưu tiên sẽ bị khấu trừ tài khoản dự trữ của họ đặt tại Fed, do đó mà quá trình tạo ra tiền lưu thông bị hạn chế.
== Thực hiện chính sách tiền tệ ==
Mua và bán trái phiếu chính phủ: Khi Cục dự trữ liên bang (Fed) mua trái phiếu chính phủ, tiền được đưa thêm vào lưu thông. Bởi có thêm tiền trong lưu thông, lãi suất sẽ giảm xuống và chi tiêu, vay ngân hàng sẽ gia tăng. Khi Fed bán ra trái phiếu chính phủ, tác động sẽ diễn ra ngược lại, tiền rút bớt khỏi lưu thông, khan hiếm tiền sẽ làm tăng lãi suất dẫn đến vay nợ từ ngân hàng khó khăn hơn. (Xem thêmNghiệp vụ thị trường mở)
Quy định lượng tiền mặt dự trữ: Ngân hàng thành viên cho vay phần lớn lượng tiền mà nó quản lý. Nếu Fed yâu cầu các ngân hàng này phải dự trữ một phần lượng tiền này, khi đó phần cho vay sẽ giảm đi, vay mượn khó hơn và lãi suất tăng lên. (Xem thêm Tỷ lệ dự trữ bắt buộc)
Thay đổi lãi suất của khoản vay từ Fed: Các ngân hàng thành viên của Fed vay tiền từ Fed để trang trải các nhu cầu ngắn hạn. Lãi suất mà Fed ấn định cho các khoản vay này gọi là lãi suất chiết khấu. Hoạt động này có ảnh hưởng, tuy nhỏ hơn, về số lượng tiền các thành viên sẽ được vay. (Xem thêm Lãi suất chiết khấu)
== Tỷ lệ chiết khấu ==
Cục dự trữ liên bang thực hiện chính sách tiền tệ chủ yếu bằng cách định hướng "lãi suất quỹ vốn tại Fed". Đây là tỷ lệ các ngân hàng ấn định với nhau cho khoản vay qua đêm các quỹ đặt cọc tại Cục dự trữ liên bang. Tỷ lệ này do thị trường quyết định chứ Fed không ép buộc. Tuy vậy, Fed sẽ cố gắng tác động tỷ lệ này ở con số phù hợp với tỷ lệ mong muốn bằng cách bổ sung hoặc hạn chế nguồn cung tiền tệ thông qua hoạt động của nó trên thị trường.
Cục dự trữ liên bang còn ấn định tỷ lệ chiết khấu – lãi suất mà các ngân hàng thương mại phải trả khi vay tiền từ Fed. Tuy nhiên, các ngân hàng thường lựa chọn cách vay quỹ đặt cọc tại Fed từ một ngân hàng khác mặc dù lãi suất này cao hơn tỷ lệ chiết khấu của Fed. Lý do của cách lựa chọn này là việc vay tiền từ Fed mang tính công khai rộng rãi, nó sẽ đưa đến chú ý của công chúng về khả năng thanh khoản và mức độ tin cậy của ngân hàng đang đi vay.
Cả hai tỷ lệ trên chi phối lãi suất ưu đãi, là tỷ lệ thường cao hơn 3% so với "lãi suất quỹ vốn tại Fed". Lãi suất ưu đãi là tỷ lệ mà các ngân hàng tính lãi đối với khoản vay của những khách hàng tin cậy nhất.
Ở mức lãi suất thấp, các hoạt động kinh tế được thúc đẩy vì chi phí đi vay thấp, do đó mà người tiêu dùng và các doanh nghiệp tăng cường mua bán. Ngược lại, lãi suất cao đưa đến kìm hãm kinh tế vì chi phí đi vay cao hơn. (Xem thêm bài chính sách tiền tệ).
Cục dự trữ liên bang thường điều chỉnh "lãi suất quỹ vốn tại Fed" mỗi lần ở mức 0,25% hoặc 0,5%. Từ năm 2001 đến giữa năm 2003, Fed hạ lãi suất 13 lần, từ 6,25% xuống 1% nhằm chống lại xu hướng suy thoái kinh tế. Tháng 11 năm 2002, lãi suất do Fed điều chỉnh chỉ còn 1,75% và nhiều mức thấp hơn cả tỷ lệ lạm phát. Ngày 25/03/2003, "lãi suất quỹ vốn tại FED" tụt xuống mức 1%, con số thấp nhất kể từ tháng 07 năm 1958 – 0,68%. Bắt đầu từ giữa tháng 06/2004, Cục dự trữ liên bang bắt đầu nâng lãi suất định hướng 17 lần liên tục lên 5,25% ngày 08/08/2006.
Có thể, Fed cũng đã nỗ lực các hoạt động mua bán trên thị trường nhằm thay đổi tỷ lệ cho vay dài hạn, tuy nhiên năng lực của nó yếu hơn rất nhiều các định chế tài chính tư nhân.
== Các ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và ngân hàng thành viên ==
Các ngân hàng khu vực dự trữ liên bang khu vực được thành lập bởi Quốc hội là các chi nhánh của hệ thống ngân hàng trung ương, có tổ chức giống một tổ chức tư nhân. Ví dụ, cổ phần của ngân hàng dự trữ liên bang khu vực do các ngân hàng thành viên sở hữu. Việc sở hữu cổ phần này khác với sở hữu cổ phần công ty thông thường. Các ngân hàng dự trữ liên bang khu vực hoạt động không vì lợi nhuận và việc sở hữu cổ phần của nó là điều kiện để trở thành ngân hàng thành viên. Cổ phần không thể mua bán hay thế chấp. Cổ tức ấn định là 6% một năm. Đứng về mặt tài sản, ngân hàng Fed New York là ngân hàng lớn nhất với phạm vi hoạt động là quận 2 tiểu bang New York, thành phố New York, Puerto Rico và quần đảo Virgin thuộc Hoa Kỳ.
Cổ tức được trả dưới dạng khoản bù vào lãi suất cho phần dự trữ thiếu hụt được giữ tại Fed. Theo quy định của luật pháp, mỗi ngân hàng phải duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà phần lớn đặt tại Fed. Cục dự trữ liên bang không trả lãi suất cho các khoản dự trữ này.
=== Các ngân hàng dự trữ liên bang khu vực khu vực ===
Mỗi ngân hàng Fed khu vực được ký hiệu bằng chữ cái. Những chữ cái này in trên giấy bạc mà chúng phát hành
== Quy định về tỷ lệ dự trữ ==
Cục dự trữ liên bang ấn định tỷ lệ dự trữ bắt buộc - phần trăm số tiền ký gửi tại ngân hàng mà ngân hàng phải giữ lại hoặc gửi tại Fed để sẵn sàng chi trả các nhu cầu rút tiền. Quy định này trực tiếp giới hạn khả năng cho vay của các ngân hàng vì khoản dự trữ này phải luôn được duy trì. Trong trường hợp khoản dự trữ này tụt xuống, ngân hàng phải tiến hành vay lẫn nhau hoặc vay của Fed để đảm bảo tỷ lệ dự trữ.
== Các chỉ trích ==
== Tham khảo == |
irma grese.txt | Irma Ida Ilse Grese (7 tháng 10 năm 1923 - ngày 13 tháng 12 năm 1945) là nữ nhân viên tại các trại tập trung của Đức Quốc xã là Ravensbruck và Auschwitz, và cũng là một nữ cai ngục ở trại tập trung Bergen-Belsen .
Grese đã bị kết án vì những tội ác chống lại nhân loại tại phiên tòa Belsen và đã bị kết án tử. Chết khi mới chỉ 22 năm 67 ngày tuổi, Grese là người phụ nữ trẻ nhất bị hành quyết đúng theo luật Anh trong thế kỷ 20. Cô được mệnh danh là "quái vật của Belsen", "Nữ quái vật", "Thiên thần tóc vàng của Auschwitz" và "Linh cẩu của Auschwitz" ("The Hyena of Auschwitz").
== Bối cảnh ==
Irma Grese là con của Alfred Grese là một công nhân chăn nuôi bò sữa và là một thành viên của Đảng Quốc xã từ năm 1937 với Berta Grese. Irma Grese có bốn anh chị em. Năm 1936, mẹ cô tự tử.
Grese rời trường học vào năm 1938 khi mới chỉ 14 tuổi, do không có năng khiếu học tập, bị bắt nạt bởi các bạn cùng lớp, và một mối bận tâm cuồng tín với Liên đoàn các cô gái Đức (Bund Deutscher madel), một tổ chức phong trào nữ thanh niên của Đức Quốc xã, nhưng không được sự chấp thuận của cha cô. Trong số những công việc bình thường khác, cô đã làm việc như một trợ lý y tá trong viện điều dưỡng của SS trong 2 năm và đã cố gắng tìm học nghề y tá nhưng không thành công, sau đó làm việc như một người trợ giúp về sữa.
Trích dẫn dưới đây là bằng chứng về cuộc sống ban đầu của Irma Grese được kiểm tra trực tiếp về gia cảnh:
"Tôi sinh ra vào ngày 7 tháng 10 năm 1923. Năm 1938, tôi rời trường tiểu học và làm việc trong sáu tháng tại một trang trại nông nghiệp, sau đó tôi đã làm việc trong một cửa hàng ở Luchen trong sáu tháng tiếp theo. Khi tôi 15 tuổi tôi đã tới một bệnh viện ở Hohenluchen, nơi mà tôi đã ở đó trong hai năm. Tôi cố gắng để trở thành một y tá nhưng Sở Giao dịch Lao động đã không cho phép điều đó và đưa tôi đến làm việc trong một nhà máy sữa ở Fürstenburg. Vào tháng 7 năm 1942, tôi đã cố gắng một lần nữa để trở thành một y tá, nhưng Sở Giao dịch lao động gửi tôi đến Trại tập trung Ravensbruck, mặc dù tôi đã phản đối diều này. Tôi ở đó cho đến tháng 3 năm 1943, khi tôi đến trại Birkenau ở Auschwitz. Tôi vẫn ở Auschwitz cho đến tháng 1 năm 1945."
Hoàn thành khóa đào tạo của mình vào tháng 3 năm 1943, Grese được chuyển đến Auschwitz như là một nữ bảo vệ, và vào cuối năm đó cô đã là giám sát cao cấp, người phụ nữ xếp hạng cao thứ hai tại trại, phụ trách khoảng 30.000 nữ tù nhân Do Thái, được chính quyền phát xít Đức trao tặng huân chương khi mới 19 tuổi.
Vào tháng 1 năm 1945, Grese có quãng thời gian ngắn ngủi trở lại Ravensbruck trước khi kết thúc sự nghiệp của mình ở Bergen-Belsen như một quản lý tù nhân tại đây từ tháng 3 đến tháng 4. Cô đã bị bắt bởi người Anh vào ngày 17 tháng 4 năm 1945, cùng với các nhân viên SS khác, những người đã không bỏ chạy.
== Xét xử tội ác chiến tranh ==
Grese là một trong số 45 người bị cáo buộc có liên quan đến tội ác chiến tranh tại phiên tòa Belsen. Cô đã gây ra các tội ác chiến tranh trong giai đoạn từ 17 tháng 9 - 17 tháng 11 năm 1945 và cô được đại diện bởi L. Cranfield.
Các phiên tòa xét xử được tiến hành theo quân luật của Anh ở Lüneburg, và những cáo buộc phát sinh từ Công ước Geneva năm 1929 liên quan đến việc xử lý các tù nhân. Các cáo buộc chống lại cô tập trung vào việc giết chết hàng ngàn người bị giam giữ tại các trại tập trung, bao gồm thiết lập những trò man rợ với tù nhân, nổ súng và tra tấn tàn bạo với việc bằng roi da. Những người sống sót cung cấp lời khai chi tiết của các vụ giết người, tra tấn và bạo hành khác, đặc biệt là đối với phụ nữ. Trong đó Grese tham gia trong quãng thời gian ở Auschwitz và Bergen-Belsen. Họ làm chứng cho hành vi tàn bạo, đánh đập và bắn giết bừa bãi các tù nhân bởi các tay sai đã được cô huấn luyện và sự chọn lọc các tù binh cho vào lò thiêu của cô. Grese có thói quen mang giày nặng, một cây roi và một khẩu súng lục. Các nhân chứng khai rằng cô đã đánh một số phụ nữ tử vong.
Một tù nhân sống sót, bà Olga Lengyel, căm thù Grese ghê gớm, sau này viết lại cuốn hồi ký Five Chimneys, để kể lại tội ác của Grese. Việc chọn lọc tù nhân cho vào lò thiêu ở trong trại phụ nữ do SS là Elisabeth Hasse và Irma Grese quyết định. Grese rất hài lòng khi sự hiện diện của cô mang lại sự kinh hoàng mỗi lần điểm danh tù binh. Cô có thiên hướng về chọn các tù binh bệnh tật, yếu đuối, và những người đàn bà còn chút nhan sắc. Hơn nữa, Olga viết lại, Grese quan hệ với một số thành viên SS, trong đó có Josef Mengele là một bác sĩ trong trại Auschwitz. Sau khi Grese quan hệ bất hợp pháp với vị bác sĩ phẫu thuật, cô bắt một bệnh xá tù nhân phải phá thai cho cô. Irma đã có kế hoạch sau này làm diễn viên sau khi chiến tranh kết thúc. Olga thấy việc Irma chải chuốt tỉ mỉ, quần áo chỉnh trang và sử dụng quá nhiều nước hoa là một dạng tra tấn bệnh hoạn cố ý với các nữ tù nhân rách rưới.
Sau thời gian xét xử 53 ngày, Grese đã bị kết án treo cổ.
== Hành quyết ==
Grese và mười người khác (tám người đàn ông và hai phụ nữ khác là Juana Bormann và Elisabeth Volkenrath) đã bị kết án vì những tội ác chống lại nhân loại tại cả trại Auschwitz và Belsen và sau đó kết án tử hình. Khi bản án được đọc, Grese là tù nhân duy nhất vẫn còn tỏ thái độ khiêu thích; sau này kháng cáo của cô đã bị bác bỏ.
Tờ Daily Mirror đưa tin: Mặc dù được mặc bộ quần áo tù xám xịt, Grese vẫn được gọi là "Nữ quái vật" bởi các tù nhân - những mảnh vải được búi trên mái tóc quăn vàng. Và "đêm trước khi hành quyết Grese cười và hát những bài hát của Đức Quốc xã với Elizabeth Volkenrath".
Vào thứ 5 ngày 13 tháng 12 năm 1945, trong tù Hamelin, Grese được đưa tới giá treo cổ. Những người phụ nữ từng người một đã bị treo cổ và sau đó những người đàn ông bị treo thành từng cặp Trung đoàn trưởng, trung sĩ O'Neil người cùng đao phủ Anh Albert Pierrepoint:
... chúng tôi lên cầu thang đưa vào các giá treo đang đợi. Một sĩ quan Đức tại cánh cửa dẫn đến hành lang mở cánh cửa và chúng tôi đã bước qua hàng khuôn mặt và vào buồng thi hành án. Các sĩ quan đứng nghiêm. Thiếu tướng Paton Walsh- đứng và đưa tay lên xem đồng hồ của mình. Ông đã ra tín hiệu cho tôi, và một tiếng thở dài là âm thanh trong căn phòng, tôi bước vào hành lang. "Irma Grese", tôi gọi.
Các lính canh của Đức nhanh chóng đóng tất cả cửa của khu treo cổ chỉ còn một cửa trong số mười hai cánh cửa là mở. Irma Grese bước ra. Căn phòng quá nhỏ cho tôi đi vào bên trong, và tôi đã phải thu tay của mình lại trong hành lang. "Theo tôi" tôi nói bằng tiếng Anh, và O'Neil lặp đi lặp lại bằng trong Đức. Lúc 09:34 cô bước vào buồng thi hành, nhìn chằm chằm một lúc vào các quan chức đứng quanh đó, sau đó đi vào trung tâm của căn phòng. Cô ấy đứng trên ngưỡng này rất vững chắc, và tôi đã chụp vào đầu cô ấy một cái bao màu trắng, cô nói bằng giọng uể oải, "Schnell". [Bản dịch tiếng Anh: "Nhanh nào"] Chiếc nắp mở ra, và bác sĩ theo tôi vào cái hố nơi cô ấy chết. Sau hai mươi phút cơ thể cô ấy được hạ xuống và được đặt trong một chiếc quan tài đã sẵn sàng cho việc mai táng.
Ở tuổi 22 khi bị hành quyết, cô là cai ngục trại tập trung Đức Quốc xã trẻ tuổi nhất bị hành quyết vì tội ác chống nhân loại.
== Trong phim ảnh ==
Thiên thần: Cơn ác mộng trong hai màn (Angel: A Nightmare in Two Acts) là một bộ phim do nhà biên kịch Jo Davidsmeyer dựa trên cuộc đời và sự nghiệp của Irma Grese và hủy diệt sự sống đối với Olga Lengyel. Nó được giới thiệu lần đầu vào năm 1987, tại nhiều trường đại học trong khu vực, trong tháng 9 năm 2006 nó đã ra mắt chính thức tại Philadelphia, Pennsylvania.
Vở kịch xuất bản vào năm 1995 bởi công ty báo chí Wildside Press có tựa đề Reader's Theatre: What it is and how to stage it, bởi Marvin Kaye.
Irma Grese đã được miêu tả là một nhân vật phụ trong Out of Ashes cũng như The Last Hangman thực hiện tội ác chiến tranh tại trại Belsen. Cả hai bộ phim có nhân viên nữ khác nhau trong vai trò nhỏ hơn nhiều. Grese cũng có một thời lượng ngắn mô tả trong "Auschwitz: The Nazis and the Final Solution" (Auschwitz: Đức Quốc xã và giải pháp cuối cùng).
Cô cũng là một trong những nguồn cảm hứng cho bộ phim về Đức Quốc xã, Ilsa, She Wolf của SS.
== Xem thêm ==
Maria Mandel
Ilse Koch
Therese Brandl
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
The Belsen Trial, Báo cáo pháp luật về thử nghiệm của tội phạm chiến tranh, Ủy ban về Tội phạm chiến tranh của Liên hợp quốc, Tập II, Luân Đôn, HMSO, 1947, lấy ngày 22 tháng 12 năm 2006..
Biography in GermanPDF (63.8 KB)
SS-Frauen am Galgen (German), max.mmvi.de, lấy vào 22 tháng 12 năm 2006.
Irma Grese, Capital Punishment U.K., lấy vào ngày 6 tháng 12 năm 2009.
Irma Grese, Auschwitz.dk, lấy ngày 22 tháng 12 năm 2006.
Auschwitz: Inside The Nazi State; Corruption: Episode 4, PBS.org, lấy ngày 22 tháng 12 năm 2006.
Excerpts from The Belsen Trial - Part 5 of 5: Testimony of and concerning Irma Grese,The Nizkor Project, lấy ngày 22 tháng 12 năm 2006.
Angel: A Nightmare in Two Acts, jodavidsmeyer.com, lấy ngày 11 tháng 2 năm 2012.
"Nazi women exposed as every bit as bad as Hitler's deranged male followers", The Daily Mail, 12 tháng 1 năm 2009. |
ê.txt | Ê, ê là ký tự thứ chín trong bảng chữ cái tiếng Việt.
Ê trong tiếng Việt có thể dùng như một tiếng gọi "Ê, mày đang đi đâu đó?"
Ê còn có nghĩa là cảm giác tê ở trên cơ thể: ê răng, ê lưng..
== Tham khảo == |
itunes.txt | iTunes /ˈaɪtjuːnz/ hay /ˈaɪtuːnz/ là một trình đa phương tiện, thư viện, ứng dụng quản lý di động được phát triển bởi Apple. Phần mềm này từng được chơi, tải về và sắp xếp các âm thanh và video đa phương tiên trên máy tính cá nhân theo hệ điều hành OS X và Microsoft Windows. Phần mềm còn được xuất hiện trên hệ thống iPod Touch, iPhone, iPad và Apple Watch.
== Hệ điều hành hỗ trợ ==
Với phiên bản đầu tiên ra mắt ngày 9 tháng 1 năm 2001, phần mềm này được phát hành miễn phí cho các máy tính cá nhân sử dụng hệ điều hành OS X và Windows.
== Các tính năng ==
Phát, tải xuống và quản lý tập trung các tập tin nhạc, video.
iTunes cho phép kết nối với iTunes Store, cửa hàng âm nhạc trực tuyến của Apple, nơi người dùng có thể mua và tải về nhạc, video âm nhạc, show truyền hình và phim với chất lượng cao, sách điện tử, podcast; kết nối với App Store, cửa hàng ứng dụng của Apple, nơi người dùng có thể tải về các phần mềm ứng dụng cho các thiết bị Apple khác như iPhone, iPad và iPod Touch.
Cho phép đồng bộ hóa các tập tin nhạc và video trong thư viện của nó với iPhone, iPad và iPod Touch khi các thiết bị này kết nối với iTunes. Điều này có nghĩa là các bài hát và video mới được thêm vào thư viện của iTunes sẽ được tự động sao chép vào thiết bị, các bài hát bị xóa khỏi thư viện cũng sẽ được xóa khỏi thiết bị, như vậy nội dung trên các thiết bị và nội dung trên máy chủ chạy iTunes được đồng bộ.
Cài đặt các phiên bản cũ hoặc nâng cấp lên firmware mới của iPhone iPad.
Hỗ trợ tính năng FileSharing - chép tài liệu vào iPhone iPad.
Hỗ trợ tạo và chép nhạc chuông cho các thiết bị Apple.
== Xem thêm ==
Cửa hàng iTunes
iTunes Festival
== Tham khảo == |
quần đảo ashmore và cartier.txt | Lãnh thổ Quần đảo Ashmore và Cartier là một lãnh thổ của Úc gồm bốn đảo nhiệt đới thấp nằm trong hai ám tiêu riêng rẽ, cùng với vùng lãnh hải mười hai hải lý xung quanh các đảo này. Lãnh thổ này nằm trong Ấn Độ Dương, trên rìa thềm lục địa, cách bờ biên tây bắc Úc chừng 320 km (199 mi) và cách đảo Rote thuộc Indonesia khoảng 144 km (89 mi) về phía nam.
Ám tiêu Ashmore được gọi là Pulau Pasir trong tiếng Indonesia và Nusa Solokaek trong tiếng Rote. Cả hai đều có nghĩa là "đảo cát".
== Tham khảo == |
saddam hussein.txt | Saddām Hussein ʻAbd al-Majīd al-Tikrīt – còn được viết là Husayn hay Hussain; phát âm như "Sátđam Hutxen"; tiếng Ả Rập صدام حسين عبد المجيد التكريتي (sinh 28 tháng 4 năm 1937 – 30 tháng 12 năm 2006) là tổng thống Iraq từ 1979 cho đến năm 2003, khi Mỹ tấn công Iraq với lý do là Saddam đã "tàng trữ vũ khí hủy diệt hàng loạt". Ông đã bị bắt và phải ở tù. Tháng 11 năm 2005 ông bị đem ra tòa án xét xử. Dư luận trong nước Iraq và quốc tế có nhiều người phản đối vì họ cho rằng tòa án không hợp hiến và không tuân thủ các hiệp ước quốc tế. Tuy nhiên, một Tòa án của Iraq (được tổ chức bởi chính phủ mới thân Mỹ) đã kết luận ông có tội "chống lại loài người" vì đã ra lệnh tử hình 148 người Shitte tại thị trấn Dujail phía Bắc Iraq trong thập niên 1980. Lúc 6h05' ngày 30 tháng 12 năm 2006 (giờ địa phương), ông đã bị thi hành án tử hình bằng treo cổ tại Bagdad, Iraq.
Saddam là nhà lãnh đạo để lại nhiều nhìn nhận mâu thuẫn. Truyền thông phương Tây mô tả ông là nhà độc tài tàn nhẫn, trong khi nhiều người A rập và các nước thế giới thứ ba thì xem ông là một chiến sĩ đã dũng cảm chống lại ách cường quyền của Mỹ và phương Tây. Lý do mà Mỹ tấn công Iraq, lật đổ Saddam là vì ông "tàng trữ vũ khí hủy diệt hàng loạt", về sau đã được chứng minh là không có thật.
== Thời thơ ấu ==
Saddam Hussein sinh ngày 28/4/1937 trong một gia đình nông dân nghèo thuộc làng al-Awja, ngoại ô thành phố Tikrit, là người theo dòng Hồi giáo Sunni. Cha của Saddam Hussein là Madzid - một người nông dân nghèo, cả đời làm ruộng và đã chết trước khi Saddam Hussein chào đời. Cậu bé lớn lên trong gia đình người chú ruột tên là Ibrahim al-Hassan.
Sự dạy dỗ của người chú rất nghiêm khắc, cậu bé không được khóc cũng như không được tỏ ra yếu đuối. Saddam Hussein đã trung thành với nhiều tính cách của bộ tộc Beduin đã sinh ra ông: lòng trung thành tuyệt đối, sự chống đối quyết liệt áp lực từ thế giới bên ngoài. Thời niên thiếu nghèo khổ đã dạy cho Saddam Hussein hiểu rằng đời là một cuộc chiến đấu và để tồn tại cần phải đấu tranh. Ngay từ nhỏ, Saddam đã biết cách chế ngự nỗi lo sợ và trở nên rắn rỏi.
Năm 1947, khi mới 10 tuổi cậu bé đã rời quê hương lên thành phố Tikrit và ở nhà em trai mẹ mình là Tulfakh. Là người tham gia phong trào chống thực dân Anh do al-Gailani lãnh đạo năm 1941, người cậu đã truyền cho đứa cháu Saddam Hussein nhiều bài học về chủ nghĩa dân tộc và lòng căm thù chế độ thống trị của thực dân đế quốc nước ngoài. Năm 1954, Saddam Hussein thi đỗ vào trường al-Karh, một trường nổi tiếng là thành trì của chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa toàn Arab.
Cuộc cách mạng Ai Cập nổ ra ngày 23/7/1952 đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cục diện chính trị ở Iraq. Tổng thống Ai Cập Abdel Nasser trở thành thần tượng của Saddam Hussein và là lý tưởng của những người theo chủ nghĩa dân tộc toàn Arab. Năm 1957, khi 20 tuổi, Saddam Hussein gia nhập chi nhánh của đảng Baath toàn Arab tại Iraq.
== Thời gian cầm quyền ==
Vào năm 1958, sau khi vương triều phong kiến do Anh hậu thuẫn bị tướng Abdul Qasim lật đổ, theo Nicolas J.S. Davies, CIA đã thuê Saddam Hussein để ám sát vị tổng thống mới. Hussein thất bại và phải trốn sang Lebanon, CIA thuê cho ông ta một căn hộ ở Beirut và sau đó chuyển ông ta tới Cairo làm việc cho cơ quan tình báo Ai Cập.
Không lâu sau khi giữ chức tổng thống vào năm 1979 ở tuổi 42, Saddam Hussein nhanh chóng củng cố quyền hành bằng cách xử tử hàng trăm sĩ quan cao cấp và những chính khách bị nghi thuộc phe chống đối. Saddam Hussein là người Ả Rập theo hệ phái Sunni và đã đưa rất nhiều bà con trong dòng tộc ở Tikrit vào nắm những chức vụ quan trọng trong chính phủ. Tại một đất nước đa sắc tộc, Saddam chủ trương phải trấn áp mạnh tay mọi hành động chống đối nếu muốn đất nước được ổn định, đặc biệt là đối với khối người Hồi giáo Shia chiếm đa số và khối người Kurd. Ông đã từng đè bẹp các cuộc đảo chính và nổi loạn của nhóm dân Kurd ở phía bắc đòi tách khỏi Iraq với sự giúp đỡ của Iran lúc bấy giờ. Khi con trai ông bị ám sát, ông đã cho quân giết sạch những người dân ở các làng gần đó. Tiêu biểu cho thời kỳ Saddam có cuộc xử bắn 148 dân làng Doujail người Shiite (năm 1982); cuộc tấn công người Kurd ở làng Halabja vào năm 1987 khiến hàng trăm người chết
Bên cạnh đó, Saddam đã quốc hữu hóa kỷ nghệ dầu hỏa vốn nằm trong tay các nhà tư bản Âu-Mỹ vào những năm 1970 và kiểm soát chặt chẽ ngân hàng nhà nước. Nhờ vào ngân sách thặng dư lớn về dầu hỏa, nhất là sau cuộc khủng hoảng đầu năm 1973; Saddam đã thực hiện nhiều cuộc cải cách xã hội rất thành công, nâng cao đời sồng dân chúng, thiết lập nền giáo dục mọi cấp miễn phí, cùng khuyến khích giáo dục phụ nữ và đã từng được UNESCO khen thưởng.
Sau khi trở thành tổng thống Iraq, Saddam Hussein ngày càng nói nhiều đến sứ mạng đặc biệt của Iraq trong thế giới Arab và "thế giới thứ ba". Tại Hội nghị các nước không liên kết tổ chức tại La Habana năm 1979, Tổng thống Saddam Hussein đã hứa cho các nước đang phát triển vay gần 4 tỷ USD nợ dài hạn lãi suất 0%, chính vì thế Saddam Hussein đã được những người tham dự hội nghị tán dương hết lời.
Sau khi Iran diễn ra cuộc Cách mạng Hồi Giáo thành công vào ngày 11 tháng 2 năm 1979 đã lật đổ vua Pahlavi do Mỹ dựng lên, Anh-Mỹ vội vã ủng hộ Saddam để lấy thế kềm chế Iran dưới chính thể Cộng Hòa Hồi Giáo. Cũng theo Nicolas J.S. Davies, Saddam đã tiến hành một cuộc chiến tranh chống nước láng giềng Iran. Tình báo quốc phòng Mỹ DIA cung cấp do thám vệ tinh để dẫn đường cho vũ khí hóa học mà phương Tây giúp Hussein chế tạo, Donald Rumsfeld và các quan chức Mỹ khác đã chào đón Hussein như là đồng minh chống lại Iran.
Năm 1983, chính phủ Hoa Kỳ cử đặc phái viên tới Baghdad, lần đầu tiên trong hơn 16 năm. Trong một nỗ lực của Mỹ để mở rộng quan hệ ngoại giao đầy đủ với Iraq, nước này được Hoa Kỳ xóa khỏi danh sách Nhà nước tài trợ cho khủng bố. Bề ngoài, điều này là do sự cải thiện trong hồ sơ của chế độ Saddam, mặc dù sau đó cựu Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Noel Koch đã nói, "Không ai có bất kỳ nghi ngờ rằng [những người Iraq] vẫn tiếp tục tài trợ cho chủ nghĩa khủng bố... Lý do thực sự (của Mỹ) là để giúp Iraq thành công trong cuộc chiến chống lại Iran".
Một báo cáo của Ủy ban Thượng viện Mỹ về Ngân hàng, Nhà ở và Đô thị kết luận rằng chính phủ Mỹ dưới thời tổng thống Ronald Reagan đã liên tiếp bán vật liệu vũ khí sinh học bao gồm vi khuẩn bệnh than cho Iraq, kéo dài cho đến tháng 3 năm 1992. Chủ tịch ủy ban Thượng viện, Don Riegle, cho biết: "Các ngành hành pháp của chính phủ của chúng ta đã phê duyệt 771 giấy phép xuất khẩu khác nhau để bán công nghệ vũ khí cho Iraq. Tôi nghĩ rằng đó là một kỷ lục kinh khủng"
Trong cuộc chiến Iran-Iraq, Mỹ làm một có một điều nghe có vẻ kỳ quặc nhưng lại rất hợp lý với các nhà tài phiệt buôn vũ khí: chính Mỹ vừa vũ trang ồ ạt cho Iraq lại ngầm bán vũ khí cho Iran, về sau bị đổ bể thành vụ Bê bối Contra Gate dưới thời Reagan, mục đích là dùng tiền bán vũ khí để tài trợ cho phiến quân Contra do Mỹ dựng nên để chống chính phủ cánh tả ở Nicaragua. Mỹ rất muốn cuộc chiến tranh Iran - Iraq nhùng nhằng càng lâu càng tốt để có cơ hội bán vũ khí kiếm lời.
Saddam lãnh đạo khối Ả-rập phản đối Hiệp Ước giữa Israel và Ai Cập tại Trại David năm 1979. Saddam chống Israel và các chính sách của phương Tây về dầu lửa một cách mãnh liệt. Đó cũng là nguyên khiến Saddam dần mất lòng Mỹ và phương Tây.
Năm 1990, Saddam tiếp tục phát động Chiến tranh vùng Vịnh nhằm chiếm quốc gia nhỏ bé Kuwait, đất nước mà Saddam tin rằng đã là một phần của Iraq trước khi bị thực dân Anh chia cắt. Trước khi mạo hiểm, Saddam đã cẩn thận thăm dò phản ứng của Mỹ qua buổi gặp gỡ khẩn cấp với đại sứ Hoa Kỳ bấy giờ là April Catherine Glaspie trong ngày 25 tháng 7 năm 1990 tại Bagdad. Glaspie trả lời mập mờ khiến Saddam tưởng là Mỹ bật đèn xanh, liền xua quân chiếm gọn Kuwait chỉ trong vòng một tuần.
Hành động này của Saddam đe dọa trực tiếp quyền lợi dầu mỏ của phương Tây, ngay lập tức truyền thông Mỹ và phương Tây thay đổi thái độ. Họ quay sang công kích Saddam là nhà độc tài cần phải diệt trừ. Hoa Kỳ ngay lập tức phát động Chiến dịch Bão táp sa mạc (Operation Desert Storm) tấn công quân Iraq. Do sự can thiệp của Hoa Kỳ và các nước, Saddam phải chịu thất bại và rút quân.
== Bị Mỹ lật đổ ==
Năm 2003, chế độ của Saddam sụp đổ khi Hoa Kỳ và các đồng minh của họ tấn công Iraq. Nét nổi bật của cuộc chiến này là việc Mỹ tạo cớ tấn công vào Iraq: Khi ấy Mỹ tuyên bố rằng Iraq vẫn đang sở hữu và phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt (gồm vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học), đồng thời có liên hệ với tổ chức khủng bố al-Qaeda. Tất nhiên Mỹ đã không thể tìm thấy bằng chứng cho các cáo buộc này nên không thể thuyết phục Liên Hợp Quốc, nhưng Tổng thống Mỹ George W. Bush vẫn phát động Chiến tranh xâm lược Iraq dựa trên các cáo buộc mà chính phủ Mỹ đưa ra.
Các cáo buộc mà Mỹ đưa ra sau này được chứng minh là bịa đặt, vì những vũ khí này đã không bao giờ được Mỹ tìm thấy tại Iraq sau nhiều năm tìm kiếm ngoài những thùng hóa chất cũ kỹ có từ trước năm 1991. Nhưng khi đó thì mọi việc đã ngã ngũ: Saddam Hussein đã bị tử hình, còn Iraq thì chìm trong chiến tranh.
Bản thân cựu Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell sau khi cuộc chiến tại Iraq xảy ra cũng chính thức lên tiếng thừa nhận về những "bằng chứng" sai sự thật mà Mỹ đưa ra khi trả lời phỏng vấn Tờ báo Le Nouvel Observateur của Pháp: “CIA đã lừa tôi. Nỗi hổ thẹn nhất trong cuộc đời hoạt động ngoại giao của tôi là đã buộc phải nói dối”.
Năm 2015, Thủ tướng Anh Tony Blair trong cuộc phỏng vấn với CNN đã thừa nhận các báo cáo về vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Iraq là sai sự thật. Tuy nhiên ông này tỏ ra không hề tiếc nuối khi đã đem quân lật đổ Saddam. Vì những điều này mà nhiều người coi Chiến tranh Iraq 2003 thực chất là 1 cuộc chiến vì dầu mỏ, trong đó Mỹ-Anh muốn dựng lên 1 chính phủ thân phương Tây để mở cửa cho các công ty Mỹ và Anh vào khai thác nguồn tài nguyên dầu khí phong phú của Iraq. Dù không tìm thấy vũ khí hủy diệt hàng loạt, cũng không có ai ở Mỹ-Anh phải chịu trách nhiệm hay bị xử lý vì những thông tin sai và vô căn cứ cả, tất cả đều "vô can". Chỉ có một thực tế: Chủ quyền Iraq bị xâm phạm, Tổng thống nước này bị lật đổ và xử tử, còn người dân Iraq thì phải hứng chịu bao khổ đau do chiến tranh gây ra
== Vụ xét xử và án tử hình ==
Saddam bị phát hiện trốn trong một nông trại vào tháng 12/2003. Ba năm sau, vào ngày 30/12/2006, Saddam bị xử tử sau một phiên tòa chớp nhoáng được tổ chức bởi chính phủ mới tại Iraq do Mỹ thành lập.
Mowaffak al-Rubaie, cựu cố vấn an ninh quốc gia Iraq, cho biết: việc xử tử Saddam được định đoạt sau một cuộc nói chuyện qua video giữa Thủ tướng Iraq mới là Maliki và tổng thống Mỹ khi đó, George Bush. “Quý vị sẽ làm gì với tên tội phạm này?” - Bush hỏi. “Chúng tôi sẽ treo cổ ông ta”, Maliki đáp. Rồi Bush giơ ngón tay cái lên, bày tỏ đồng ý và tán thưởng.
Nhóm luật sư bảo vệ Saddam cũng tố cáo chính phủ Iraq đã can thiệp vào phiên toà. Một luật sư Mỹ cũng chỉ trích thời gian toà đưa ra tuyên án, bởi nó chỉ cách ngày bầu cử giữa nhiệm kỳ của Mỹ vài ngày, cuộc bầu cử mà Đảng Cộng hoà của Tổng thống Bush có nguy cơ mất Quốc hội vào tay Đảng Dân chủ vì cuộc chiến ở Iraq. Khali al-Dulaimi, trưởng đoàn luật sư biện hộ cho biết: "Ông ấy hoàn toàn không quan tâm gì tới bản án. Sự thật, phiên toà này là một trò hề và đầy nhạo báng".
Cựu nhân viên tình báo John Nixon khi thẩm vấn ông đã rồi nhận ra rằng mọi thứ họ biết về ông qua truyền thông phương Tây đều không đúng. Hồ sơ của CIA về Saddam nói rằng ông là "kẻ nói dối kinh niên" nhưng thực ra ông lại rất thẳng thắn. Khi Nixon hỏi về việc ông Saddam dùng vũ khí hóa học ở thành phố Halabja của người Kurd trong cuộc chiến tranh Iran - Iraq, ông trở nên giận dữ: "Tôi không sợ anh hay tổng thống của anh. Tôi sẽ làm những điều mà tôi phải làm để bảo vệ đất nước tôi. Nhưng tôi đã không đưa ra quyết định đó".
Trong các cuộc thẩm vấn, Saddam cáo buộc người Mỹ là "một đám du côn ngu dốt", "Không có tinh thần lắng nghe và thấu hiểu" và có ý đồ hủy diệt đất nước Iraq. Saddam còn khẳng định lực lượng Mỹ sẽ không suôn sẻ ở Iraq. Khi John Nixon hỏi tại sao Saddam lại cảm thấy thế, ông trả lời: "Không dễ dàng để cai trị Iraq như vậy đâu. Các ông (Mỹ) không hiểu ngôn ngữ, lịch sử, và suy nghĩ của người Ả Rập. Rất khó để hiểu người dân Iraq mà không biết về lịch sử và thậm chí thời tiết của đất nước này”. Lịch sử đã chứng minh Saddam nói đúng
Tường thuật lại thái độ của ông Saddam Hussein trước khi toà tuyên án, hãng Reuters nhận xét: Trước cái chết, Saddam Husein tỏ ra khinh thường án tử hình khi ông tuyên bố không sợ chết và kêu gọi Mỹ hãy rút quân về nước như họ đã từng làm tại Việt Nam. Các luật sư của ông Saddam cho biết họ đã nói chuyện một cách vui vẻ với ông suốt hơn 3 giờ đồng hồ ngay trước khi toà tuyên án tử hình. Chủ đề là về tình hình bạo lực tại Iraq và việc Mỹ sắp thua trong cuộc chiến tại đây. Saddam tỏ ra không quan tâm tới việc phiên toà sẽ diễn ra thế nào, ông chủ yếu tập trung vào tình hình đất nước và tỉ lệ binh lính Mỹ thiệt mạng ngày càng gia tăng tại Iraq.
Các luật sư thuật lại lời của ông Saddam tại toà: "Tôi không cảm thấy một chút sợ sệt. Tôi sẽ chết một cách vinh quang, trong niềm tự hào của dân tộc và quốc gia Ả-rập thân yêu của tôi, nhưng những kẻ xâm lược Mỹ sẽ phải rút quân về nước trong sự bẽ mặt và thất bại”. Cũng tại phiên toà, khi được một luật sư chuyển cho cuốn sách "Những năm tháng của tôi tại Iraq: Nỗ lực để xây dựng một tương lai hy vọng" do một quan chức Mỹ viết để ca tụng những gì người Mỹ làm được ở Iraq, Saddam chỉ nói: "Tôi có thể nhìn thấy Mỹ đang chìm dần trong bãi lầy Iraq, giống những gì đã xảy ra tại Việt Nam". Theo hãng BBC, Saddam Hussein nói mình sẵn sàng chết và coi đó như là "sự hy sinh cho Iraq", bên cạnh đó ông kêu gọi người Iraq đoàn kết chống lại kẻ thù. Trong một lá thư, Ông Saddam Hussein viết: "Tôi sẽ hy sinh. Nếu ý nguyện của đấng tạo hóa là chuyện này, ngài sẽ đưa tôi vào danh sách những người tử vì đạo chân chính".
Những ngày cuối cùng của cuộc đời, Saddam Hussein làm thơ cuối cùng - nguồn an ủi mà ông thường tìm đến trong những lúc khó khăn. Bài thơ bắt đầu bằng lời ca ngợi tình yêu của bản thân ông đối với nhân dân, rồi sau đó là sự cảnh báo những kẻ ngoại bang và những người Iraq thân Mỹ đang nắm quyền ở nước này:
Hãy trải lòng mình.
Tâm hồn người là bạn của tôi, tâm hồn người là tình yêu của tôi.
Đối với trái tim tôi, không nơi nào ấm áp bằng tâm hồn người.
...
Kẻ thù cõng ngoại bang giày xéo xã tắc chúng ta.
Chúng sẽ phải than khóc.
Đây ta phơi lồng ngực trước bầy sói.
Không run sợ trước lũ thú cuồng bạo.
Ta hy sinh tâm hồn này cho Người và Tổ quốc.
Máu ta sẵn sàng đổ những lúc khó khăn.
Ông Rezgar Mohammed Amin, thẩm phán chủ tọa phiên tòa xét xử cựu Tổng thống Saddam Hussein, đã từ chức năm 2006 sau vài phiên xét xử. ông quyết định từ chức là do việc xét xử không công bằng, không dựa trên luật pháp Iraq cũng như luật pháp quốc tế, đồng thời ông luôn luôn bị sức ép từ phía chính phủ Iraq và chính quyền Mỹ. Ông nói: nếu Saddam Hussein được xét xử tại tòa án hình sự quốc tế thì ông sẽ không bị án tử hình, và nếu xử theo luật Iraq thì Saddam Hussein cũng không phải chịu án tử hình. Phiên tòa không được truyền hình trực tiếp mà phải qua người Mỹ ngồi phòng bên cạnh kiểm duyệt, cắt bỏ các đoạn Saddam Hussein nói về những vấn đề mà Mỹ không thích.
Saddam bị tử hình vào ngày 30/10/2006, đó lại là ngày đầu tiên của lễ Al-Edha thiêng liêng của đạo Hồi. Luật Iraq cấm tử hình bất cứ người nào vào những ngày lễ tôn giáo và dịp quốc khánh, nhưng chính phủ Iraq và Mỹ đã không tôn trọng điều này. Ông Amin cho rằng việc tử hình Saddam Hussein vào ngày đó là một sự trả thù.
Rubaie, một nhân chứng cua vụ tử hình, kể rằng Saddam vẫn rất mạnh mẽ, hiên ngang cho tới những giờ phút cuối cùng trước khi bị hành quyết và không bao giờ nói hối tiếc.
Ông ấy mặc áo khoác và áo sơ-mi trắng, tỉnh táo và thư giãn, tôi không hề thấy dấu hiệu sợ hãi nào. Tôi không nghe thấy ông ấy nói gì về việc hối tiếc hay sự thương xót, tha thứ của Chúa trời, hoặc xin được ân xá. Một người sắp chết thường nói: "Xin Chúa trời hãy tha thứ cho những tội lỗi của con, con đang về với người". Nhưng ông ấy không hề nói điều gì như thế...
Khi tôi đưa Saddam vào, ông ấy đang bị còng tay và cầm một quyển Kinh Koran. Khi người ta tuyên đọc hàng loạt tội danh, Saddam đáp lại: "Đả đảo Mỹ! Đả đảo Israel! Palestine muôn năm! Đả đảo đế quốc Ba Tư!”
"Khi vào phòng xử tử, ông ấy dừng lại, nhìn vào giá treo cổ rồi nói: bác sĩ, đây đúng là thứ dành cho đàn ông.
Có một vài cảnh sát hỏi: "Tại sao ông lại gây biết bao đau khổ cho chúng tôi? Chúng ta là một dân tộc giàu có, nhiều tài nguyên, tại sao ông lại gây ra ngần ấy cuộc chiến tranh, tại sao?" Saddam trả lời ông không gây chiến với bất cứ ai: "Tôi chỉ chiến đấu chống lại kẻ thù của Iraq là người Ba Tư và Mỹ. Trước đây các anh là những người chân đất, không có giày dép mà đi, không có sữa mà uống, tôi là người đã mang lại cuộc sống ấm no cho các anh, tôi đã làm cho các anh trở thành con người".
Đao phủ đề nghị trùm lên đầu ông một cái túi màu đen cho đỡ sợ nhưng ông từ chối, điều này chứng tỏ ông không sợ chết. Câu nói cuối cùng của ông trước khi bước lên bậc thang dẫn đến sợi dây treo cổ: Hãy để cho đứa con trai của tôi và những người này, người nọ được sống. Sau đó ông bước lên nơi đặt chiếc giá treo cổ một cách tự nhiên, không có bất cứ dấu hiệu do dự hoặc sợ hãi nào.
Khi được nói câu cuối cùng, Saddam Hussein bắt đầu ngân nga một câu kinh Hồi giáo, rằng "Không có Chúa trời nào khác ngoài Đấng Alah, tôi thừa nhận rằng Mohammad là sứ giả của Đấng Alah. Không có Chúa trời nào khác ngoài Đấng Alah, tôi thừa nhận rằng Mohammad..." - ông chưa kịp đọc hết lời cầu nguyện thì đao phủ đã giật tấm ván cho ông rơi xuống giá treo cổ.
== Di sản ==
Khi sinh thời, Saddam Hussein nói với mọi người viết tiểu sử rằng ông không quan tâm đến việc người ta nghĩ gì về mình. Điều mà vị Tổng thống này muốn là những gì người ta sẽ nghĩ về ông trong 500 năm sau.
Chìa khoá để nắm giữ quyền lực lâu dài của Saddam Hussein là thiết lập một mối quan hệ chưa từng có ở Trung Đông giữa một hệ thống cũ và mang tính truyền thống giữa các bộ tộc với một cơ cấu quân sự an ninh của một nhà nước hiện đại. Sự độc đáo ở chỗ gắn thực tiễn xa xưa này vào một đất nước có tham vọng quân sự lớn nhất thế giới Arab. Kết quả là một chế độ lai tạp: không độc tài quân sự cũng không cộng hoà thế tục, và cũng không phải chế độ thần quyền. Sự lai tạp này đảm bảo việc duy trì trật tự an ninh tại Iraq trong suốt thời kỳ Saddam nắm quyền.
Số phận của Iraq cũng giống như vài năm trước đó ở Nam Tư (Slobodan Milošević), và vài năm sau đó ở Libya (Muammar al-Gaddafi): lãnh đạo của các nước này bị phương Tây gán cho là "độc tài, phạm tội ác chống nhân loại", rồi sau đó phương Tây đem quân tấn công lật đổ họ, lật đổ xong thì các chính khách phương Tây sẽ hứa hẹn với người dân nước đó về "tự do, dân chủ, nhân quyền", nhưng rồi sau đó là những ngày tháng hỗn loạn và cuối cùng là cả đất nước sẽ tan vỡ ra thành nhiều mảnh (Nam Tư đã tan vỡ thành 6 mảnh, Libya thì đang tan vỡ thành 4 mảnh mà vẫn chưa dừng lại).
Tổng thống Mỹ George Bush ca ngợi việc hành hình ông Saddam là "một cột mốc quan trọng trong tiến trình đi đến dân chủ ở Iraq", Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Mỹ là Joseph Biden, phát biểu: "Iraq đã khép lại một trong những chương đen tối nhất trong lịch sử và thoát khỏi chế độ bạo chúa". Toàn quyền Paul Bremer, người đứng đầu chính quyền chuyển tiếp tại Iraq thời hậu Saddam trong 13 tháng, trước khi rời Iraq còn hào hứng tuyên bố: “Nhìn lại chúng ta thấy rằng Mỹ đã làm được rất nhiều điều cho đất nước Iraq. Thực sự, chúng ta đang giúp cho Iraq trở thành một quốc gia dân chủ”. Thực tế trong 15 năm sau đã chứng minh những gì mà các chính khách Mỹ hứa hẹn là hoàn toàn sai: Iraq chẳng hề có dân chủ, mà chỉ có chiến tranh và tàn phá.
Hoa Kỳ tuyên bố Saddam Hussein "sở hữu vũ khí giết người hàng loạt" để phát động cuộc chiến, dư luận biết ngay đó là cái cớ được ngụy tạo, song Tổng thống Mỹ George Bush vẫn cho rằng ông ta sẽ đánh lừa được dư luận. Và Hoa Kỳ đã ảo tưởng khi tin rằng có thể dựng nên chính quyền mới tại Iraq có thể nằm trong sự quản lý và điều khiển theo ý muốn của họ. Người dân Iraq đã phải trả cái giá quá đắt cho các toan tính sai lầm của chính quyền Mỹ
Sau khi Saddam Hussein bị lật đổ, Iraq hoàn toàn thiếu vắng một nhà lãnh đạo cứng rắn và biết đoàn kết các bộ tộc, chính phủ thân Mỹ thì tham nhũng trong khi lính Mỹ hiện diện khắp nơi khiến người dân nước này rất căm phẫn. Chính phủ mới rập khuôn phương Tây theo mô hình phân chia quyền lực, quyền lợi chủ yếu dựa trên lợi ích đảng phái, nó dẫn tới việc chứa đựng rất nhiều mâu thuẫn nội tại, bởi sự bất đồng về lợi ích đảng phái - sắc tộc - tôn giáo luôn tồn tại và không thể hóa giải. Các mâu thuẫn ngày càng tích tụ và âm mưu ly khai của các nhóm sắc tộc ở Iraq nhanh chóng bùng phát. Các phe phái địa phương ở Iraq nổi loạn khắp nơi. Đất nước Iraq chìm trong hỗn loạn và chiến tranh suốt từ nằm 2003 tới nay.
Năm 2011, Mỹ rút quân khỏi Iraq, để lại "một vũng lầy" đúng như những gì Saddam Hussein đã dự đoán. Dưới thời Saddam Hussein, ở Iraq hoàn toàn không có khủng bố quốc tế, còn sau khi ông chết, đất nước Iraq đã trở thành "Đại học Harvard của chủ nghĩa khủng bố". Mỹ tấn công Iraq với tuyên bố "tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố", nhưng rốt cục họ đã tạo nên một mảnh đất màu mỡ cho khủng bố quốc tế xây dựng lực lượng. Đến năm 2014, đất nước Iraq trên thực tế đã không còn là một quốc gia thống nhất mà đã bị xé nát thành nhiều mảnh bởi nhiều phe phái như chính phủ Iraq thân Mỹ, Nhà nước Hồi giáo Iraq và Levant, quân người Kurd...
Phương Tây cáo buộc Saddam Hussein đã cho ám sát hàng trăm người đối lập trong 25 năm ông nắm quyền. Các cáo buộc đó có thể là sự thực hoặc không, nhưng chắc chắn rằng Saddam Hussein đã gìn giữ được đất nước trong ổn định và hòa bình, và số người chết dưới thời Saddam Hussein không bằng "con số lẻ" do với số người chết do cuộc chiến mà Hoa Kỳ gây ra nhằm lật đổ ông. Tính tới năm 2017, đã có trên 500.000 người Iraq thiệt mạng và hàng triệu người khác phải ly tán trong 14 năm chiến tranh tại quốc gia này. Cuối cùng, chỉ có Saddam Hussein phải lên giá treo cổ với những "tội ác chống lại loài người" mà phương Tây gán cho ông, còn những chính khách phương Tây châm ngòi chiến tranh như Tổng thống Mỹ George Bush, Thủ tướng Anh Tony Blair... thì vẫn ung dung, bởi chẳng ai có đủ quyền lực để xét xử họ.
Những giai đoạn ổn định kéo dài ở trong nước thời Saddam hoàn toàn trái ngược với tình trạng bạo lực đẫm máu lan tràn khắp nước Iraq kể từ khi Saddam bị lật đổ. Ông Saddam cũng được một số người Arab ngưỡng mộ vì cuộc chiến 1980-1988 với Iran, việc ông đối đầu với Mỹ, tấn công Israel.
Khi Saddam Hussein bị bắt và bị treo cổ, nhiều kẻ thù của Saddam đã nổ súng chào mừng. Cuộc trấn áp người Kurd ở phía bắc, cuộc tấn công Iran, những nhóm đối lập với ông này... khiến Saddam có nhiều kẻ thù và họ đều mong ông bị giết. Tuy nhiên, sự hỗn loạn kể từ sau cuộc chiến Iraq, những xung đột sắc tộc kéo dài đã khiến người Iraq xem xét lại quan điểm của họ về cái gọi là "sự tàn nhẫn" nhưng giúp duy trì một xã hội ổn định suốt 35 năm nắm quyền của Saddam. Hiện nay, ngày càng nhiều người Iraq tỏ ý tiếc nuối về sự ra đi của Saddam và nhìn lại kỷ nguyên của ông này với sự luyến tiếc. Ngày càng nhiều người Iraq tới thăm mộ ông để tỏ lòng kính trọng ông, nhiều người đã coi ông là một chiến sĩ "Tử vì đạo"
== Quan hệ với Việt Nam ==
Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình kể lại cuộc gặp với Saddam Hussein trong hồi ký:
Chuyến đi Iraq năm 1975 để lại cho tôi một kỷ niệm sâu sắc. Lúc đó, Saddam Hussein mới là Phó Tổng thống, nhưng được dư luận coi là "người hùng" ở Iraq. Khi nghe chúng tôi trình bày yêu cầu bức xúc của Việt Nam, ông trả lời ngay: "Chúng tôi đã quyết định tặng Việt Nam 400 ngàn tấn dầu và cho vay 1,5 triệu tấn với lãi suất ưu đãi". Chúng tôi rất xúc động trước tấm lòng của các bạn Iraq. Sau này khi Iraq bị cấm vận, phải đổi dầu để lấy lương thực, các bạn vẫn dành cho Việt Nam những hợp đồng trao đổi thương mại rất thuận lợi trong lúc chúng ta còn nhiều khó khăn về kinh tế.
Năm 2002, tôi đến Iraq lần cuối để giải quyết món nợ kéo dài hơn 20 năm còn chưa trả xong. Theo ý kiến của các đồng chí ở Chính phủ, chúng ta đề nghị chuyển số tiền nợ thành số vốn đầu tư vào một dự án kinh tế ở Việt Nam. Khi tôi gặp ông Saddam Hussein trình bày ý kiến này thì ông cười, nói ngay: "Các bạn Việt Nam không nên bận tâm. Tôi biết các bạn còn khó khăn, ta xem như số nợ này đã trả." Thật xúc động khi biết rằng trong thời điểm đó Iraq bị Mỹ cấm vận, khó khăn chồng chất về các mặt.
Tình hình Iraq đến nay diễn biến ra sao, chúng ta đều biết. Tổng thống Hoa Kỳ G. Bush phát động chiến tranh đánh Iraq với lý do Saddam Hussein có quan hệ với lực lượng khủng bố Al-Queda và tàng trữ vũ khí hủy diệt. Thực tế đã chứng minh đó là những lời nói dối xấu xa, những cái cớ giả mạo Hoa Kỳ đã dựng lên để thực hiện mưu đồ ích kỷ của họ. Saddam Hussein có sai lầm gì trong đối nội, đối ngoại, có tội lỗi gì với nhân dân của ông, lịch sử của Iraq sẽ phán xét. Nhưng đối với Việt Nam, tôi nghĩ chúng ta biết ơn sự giúp đỡ quý báu của ông trong những năm Việt Nam vừa ra khỏi chiến tranh".
== Kế hoạch tấn công Ðài châu Âu Tự do ==
Saddam từng có kế hoạch dùng hỏa tiễn chống chiến xa để tấn công đài châu Âu Tự do (Radio Free Europe/Radio Liberty) do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, đặt trụ sở ở Praha, theo cơ quan phản gián Cộng hòa Séc nói ngày 30 tháng 11 năm 2009. Các nhân viên tình báo Iraq giả dạng giới chức ngoại giao dự trù sẽ mở cuộc tấn công từ cửa sổ một căn chung cư trong tòa nhà gần vị trí của đài ở trung tâm thủ đô Praha.
Vào năm 2000, tình báo Séc biết rằng Saddam ra lệnh mở cuộc tấn công nhưng không nói rõ là lệnh có từ lúc nào hay sẽ diễn ra trong thời điểm nào. Saddam Hussein ra lệnh cho cơ quan tình báo của mình là phải dùng vũ lực để cản trở chương trình phát thanh của Ðài Âu Châu Tự Do phát về Iraq và cung cấp nguồn tài chính lớn cho kế hoạch này. Ðài châu Âu Tự do khởi sự các buổi phát thanh nhắm vào Iraq từ năm 1998.
Các nhân viên tình báo Iraq dùng xe ngoại giao đoàn để chở vũ khí vào Séc, gồm một súng phóng lựu RPG-7, sáu khẩu tiểu liên và đạn dược. Các giới chức Iraq được cảnh cáo năm 2000 là chính phủ Séc biết về âm mưu này, theo phát ngôn viên cơ quan tình báo Cộng hòa Séc, Jan Subert. Tiếp theo lời cảnh cáo, chính phủ Séc trục xuất sáu nhân viên ngoại giao Iraq với lý do làm gián điệp, người đầu vào năm 2001 và năm người kia vào tháng 3 năm 2003, theo ông Subert. Vào tháng 4 năm 2003, một tháng sau khi quân đội Hoa Kỳ và đồng minh tiến vào Iraq, giới chức tại Tòa Ðại sứ Iraq ở Praha giao nạp số vũ khí nói trên cho chính quyền Séc.
Ðài châu Âu Tự do dời trụ sở từ München, Ðức, sang Praha năm 1995 sau khi chính quyền Tiệp Khắc nơi đây sụp đổ năm 1989. Ðài hiện đang phát thanh 28 thứ tiếng đến 20 quốc gia, kể cả Iran và Iraq, kể từ năm 1998 và Afghanistan từ năm 2002.
== Xem thêm ==
Slobodan Milošević
Muammar al-Gaddafi
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Saddam Hüssein Execution Full video
Saddam Hussein đã bị treo cổ trên Vietnamnet
Saddam: "Đừng thù ghét liên quân do Mỹ đứng đầu" |
kim hoàn tam kết.txt | Kim Hoàn Tam Kết (chữ Hán:金環三結, bính âm: Jinhuan Sanjie) là một nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử Tam Quốc diễn nghĩa của nhà văn La Quán Trung. Trong tiểu thuyết này, Kim Hoàn Tam Kết xuất hiện tại Hồi thứ 87 và là một trong ba nguyên soái của các động ở Nam Man, dưới quyền của Mạnh Hoạch, Kim Hoàn Tam Kết tham gia vào chiến dịch của người Nam Man chống lại sự tấn công của quân Thục Hán vào vùng Nam Trung và tử trận.
== Chống lại quân Thục ==
Tam Quốc diễn nghĩa giới thiệu rằng nguyên soái động thứ nhất là Kim Hoàn Tam Kết, nguyên soái động thứ nhì là Đổng Trà Na, nguyên soái động thứ ba là A Hội Nam. Ba người vào ra mắt Mạnh Hoạch và nhận lệnh chia làm ba đường mà tiến, nếu ai đánh thắng quân Thục thì được làm chúa cả động này. Kim Hoàn Tam Kết đi đường giữa, Đổng Trà Na đi mé tả, A Hội Nam đi mé hữu. Mỗi người dẫn năm vạn quân Man, y lệnh kéo đi. Nguyên soái Kim Hoàn Tam Kết đóng đại trại ở vào giữa cửa núi, đường hai bên thông sang động Ngũ Khê, phía sau trại của Đổng Trà Na và A Hội Nam.
== Bị giết ==
Quân Thục do Triệu Vân, Nguỵ Diên gồm năm nghìn tinh binh, sai mấy tên quân Man dẫn đường. Bấy giờ đã canh hai. Hai người lần theo ánh trăng mà đi. Khi đến đại trại Kim Hoàn Tam Kết thì đã canh tư. Quân Man vừa thức dậy thổi cơm ăn, sắp sửa đến sáng ra khai chiến. Bất ngờ, hai mặt quân của Triệu Vân, Nguỵ Diên tràn vào, quân Man rất lúng túng. Triệu Vân đánh thốc vào trung quân vừa gặp Kim Hoàn Tam Kết đang đi ra. Triệu Vân đâm một nhát, Kim Hoàn chết ngã quay xuống ngựa. Triệu Vân chặt lấy đầu, còn quân sĩ chạy tan mất cả.
== Xem thêm ==
Danh sách nhân vật hư cấu trong Tam quốc diễn nghĩa
Danh sách sự kiện hư cấu trong Tam Quốc diễn nghĩa
== Tham khảo ==
List of fictional people of the Three Kingdoms#Chapter 87 |
xô viết.txt | Xô viết (tiếng Nga: совет , nghĩa là hội đồng) là tên gọi chung cho các cơ quan đại biểu dân cử của chính quyền nhà nước tại Liên Xô và một vài quốc gia khác từ giai đoạn 1917 tới đầu thập niên 1990 (chính quyền Xô viết), mặc dù ý nghĩa ban đầu của nó là hội đồng công nhân địa phương. Tuy vậy, về cơ bản khái niệm Xô viết luôn được coi là đồng nhất với Liên Xô.
== Nga trước cách mạng tháng Mười ==
Theo tài liệu chính thức của Liên Xô thì xô viết đầu tiên được thành lập trong thời gian của Cách mạng Nga lần thứ nhất, vào tháng 5 năm 1905 tại Ivanovo-Voznesensk (ngày nay là Ivanovo). Tuy nhiên, trong hồi ký của mình, Volin cho rằng ông đã chứng kiến sự thành lập của xô viết Sankt-Peterburg vào tháng 1 năm đó. Xô viết này cùng các xô viết khác đã được tổ chức như là các cơ quan đại diện cho quyền lợi của các tầng lớp dân cư cụ thể và trấn áp các hành vi phản kháng.
Ban đầu các xô viết là các cố gắng của tầng lớp thường dân trong việc thực thi dân chủ trực tiếp. Những người theo chủ nghĩa Marx tại Nga đã biến các xô viết thành công cụ chống lại nhà nước Nga trong giai đoạn từ Cách mạng tháng 2 tới Cách mạng tháng 10 năm 1917. Khi đó Xô viết Petrograd là một quyền lực chính trị hùng mạnh. Khẩu hiệu Вся власть советам ("Toàn thể chính quyền về tay Xô viết") đã từng rất phổ biến trong việc chống lại chính phủ lâm thời của A. F. Kerensky.
== Liên Xô ==
Ngay sau Cách mạng tháng 10 Nga, các xô viết, đã được tổ chức thành các thể chế lớn hơn, hình thành nên nền tảng mới cho việc điều hành xã hội sau cách mạng thông qua hình thức dân chủ kiểu xô viết. Khi đó tất cả các đảng phái đã hợp nhất trong Quốc hội lập hiến. Tuy nhiên, sau khoảng 1 năm tranh cãi và thảo luận trong phạm vi đảng của những người Bolshevik (bôn-sê-vích) thì kết quả là sự thay đổi đáng kể trong chính sách của đảng. Những người Bolshevik chấp nhận quan điểm cho rằng Quốc hội lập hiến là một thể chế dân chủ kiểu tư sản, và nó là ngược lại với kiểu dân chủ trực tiếp của giai cấp công nhân mà đại diện là các xô viết. Vì thế, Quốc hội lập hiến sau Cách mạng tháng 10 đã bị giải tán với sự ủng hộ đại trà của tầng lớp lao động khu vực thành thị, dẫn tới sự gia tăng cường độ của nội chiến Nga (1917-1921). Những người Bolshevik và những người xã hội cánh tả cùng nhau chiếm phần lớn số ghế trong Đại hội các Xô viết và lập ra một chính phủ liên minh, kéo dài cho tới khi những người xã hội cánh tả rút khỏi liên minh vào mùa hè năm 1918.
Các xô viết đã chính thức trở thành các cơ quan quyền lực nhà nước ở các cấp. Theo thời gian, sự độc lập của các xô viết đã bị thay thế dần bằng quyền lực từ trên xuống dưới của chế độ quản lý ngày càng quan liêu hóa, dựa trên hệ thống cấp bậc chặt chẽ về quyền lực trong Đảng Cộng sản Liên Xô. Các xô viết tại Liên Xô khác với các tổ chức chính quyền theo kiểu đại biểu dân cử truyền thống ở các điểm sau:
Năm 1917 – nguyên lý kinh điển để thành lập: ban đầu – Xô viết đại biểu công nhân, sau đó – Xô viết đại biểu công nhân, nông dân và binh sĩ, muộn hơn nữa là Xô viết đại biểu người lao động, tên gọi cuối cùng – Xô viết đại biểu nhân dân. Sự hạn chế theo giai cấp trong việc tham gia vào các Xô viết và bầu cử các Xô viết đã bị bãi bỏ bằng Hiến pháp Liên Xô năm 1936.
Tới năm 1919 – Quyền lực vô hạn: Do những người Bolshevik không công nhận học thuyết Tam quyền phân lập nên các xô viết có quyền tham dự và xem xét mọi vấn đề, liên quan tới các thẩm quyền như lập pháp và hành pháp.
Khả năng miễn nhiệm đại biểu vào bất kỳ thời gian nào.
Tới năm 1937 – Hệ thống tổ chức nhiều cấp: Các xô viết cấp cao hơn không được dân chúng mà do các xô viết cấp thấp hơn bầu ra.
== Bãi bỏ chế độ Xô viết ==
Năm 1993, trong quá trình của khủng hoảng hiến pháp thì tổng thống Nga B.N. Yeltsin đã ra sắc lệnh bãi bỏ các xô viết, bắt đầu bằng việc giải tán Đại hội Đại biểu Nhân dân và Xô viết Tối cao, sau đó là các Xô viết ở mọi cấp.
Trong thời gian sau này, một số cơ quan đại biểu dân cử của một vài khu vực và một số tổ chức thị chính cũng được gọi là Xô viết, nhưng nó chỉ là việc đặt tên theo truyền thống nhưng không có gì giống với các Xô viết trước đây.
== Xem thêm ==
Đại hội các Xô viết
Xô viết Tối cao
Đại hội Đại biểu Nhân dân
Liên Xô
Xô Viết Nghệ Tĩnh
Tự vệ Đỏ
== Ghi chú == |
12 tháng 1.txt | Ngày 12 tháng 1 là ngày thứ 12 trong lịch Gregory. Còn 353 ngày trong năm (354 ngày trong năm nhuận).
== Sự kiện ==
1369 – Trần Nhật Lễ đầu độc giết chết Hiến Từ Thái hậu của nhà Trần, tức ngày 14 tháng 12 năm Kỷ Dậu.
1528 – Gustav I của Thụy Điển lên ngôi vua Thụy Điển.
1554 – Bayinnaung đăng quang quốc vương tại Bago.
1871 – Chiến tranh Pháp-Phổ: Trận Le Mans kết thúc với thắng lợi của quân Phổ.
1872 – Yohannes IV đăng quang hoàng đế của Ethiopia.
1893 – Tổng thống Pháp Sadi Carnot ra sắc lệnh xây dựng một cây cầu mới bắc qua sông Seine tại Paris, tức cầu Mirabeau.
1898 – Itō Hirobumi bắt đầu nhiệm kỳ thứ ba làm Thủ tướng Nhật Bản.
1945 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân đội Liên Xô bắt đầu tiến hành Chiến dịch Tây Carpath chống quân đội Đức Quốc xã tại lãnh thổ nay thuộc Slovakia và Ba Lan.
1964 – Quân nổi dậy đứng đầu bởi John Okello đã lật đổ quốc vương Jamshid bin Abdullah, kết thúc 200 năm thống trị của người Ả Rập tại Zanzibar.
2005 – Tàu vũ trụ Deep Impact được phóng từ mũi Canaveral, Florida, Hoa Kỳ trên một tên lửa Delta II.
2010 – Động đất ở Haiti với độ lớn 7,0 Mw khiến hơn hai trăm nghìn người thiệt mạng.
== Sinh ==
1580 – Johan Baptista van Helmont, nhà hóa học và thầy thuốc người Bỉ (m. 1644)
1721 – Công tước Ferdinand xứ Braunschweig, nguyên soái Phổ (m. 1792)
1729 – Edmund Burke, chính trị gia và triết gia dân tộc Ireland tại Anh Quốc (m. 1797)
1783 – Erik Gustaf Geijer, nhà văn người Thụy Điển (m. 1847)
1817 – Karl von Schmidt, tướng lĩnh người Phổ (m. 1875)
1833 – Karl Eugen Dühring, triết gia, nhà kinh tế học người Đức (m. 1921)
1852 – Joseph Joffre, Thống chế Pháp (m. 1931)
1863 – Svāmī Vivekānanda, triết gia người Ấn Độ (m. 1902)
1876 – Jack London, tác gia người Mỹ (m. 1916)
1893 – Mikhail Iosifovich Gurevich, nhà thiết kế máy bay người Liên Xô, tức 31 tháng 12 năm 1892 theo lịch Julius (m. 1976)
1893 – Hermann Göring, chính trị gia người Đức (m. 1946)
1899 – Paul Hermann Müller, nhà hóa học Thụy Sĩ, nhận Giải thưởng Nobel
1903 – Igor Vasilyevich Kurchatov, nhà vật lý học người Liên Xô, tức 30 tháng 12 năm 1902 theo lịch Julius (m. 1960)
1907 – Sergey Pavlovich Korolyov, kỹ sư người Liên Xô, tức 30 tháng 12 năm 1906 theo lịch Julius (m. 1966)
1915 – Vadim Sergeevich Shefner, thi nhân người Liên Xô, tức ngày 30 tháng 12 năm 1914 theo lịch Julius (m. 2002)
1915 – Ruth Hurmence Green, nhà văn, nhà báo người Mỹ (m. 1980)
1929 – Alasdair MacIntyre, triết gia người Anh Quốc
1930 – Phạm Tuyên, nhạc sĩ người Việt Nam
1932 – Nguyễn Quang Sáng, nhà văn người Việt Nam
1942 – Michel Mayor, nhà vật lý học thiên thể người Thụy Sĩ
1944 – Joe Frazier, võ sĩ quyền Anh người Mỹ (m. 2011)
1949 – Murakami Haruki, tác gia người Nhật Bản
1949 – Ottmar Hitzfeld, cầu thủ, huấn luyện viên bóng đá người Đức
1956 – Marie Colvin, nhà báo người Mỹ (m. 2012)
1956 – Nikolai Ivanovich Noskov, một ca sĩ người Nga
1958 – Hồ Trọng Ngũ, sĩ quan công an người Việt Nam
1963 – Shin Kyung-sook, nhà văn người Hàn Quốc
1967 – Inoue Takehiko, mangaka người Nhật Bản
1972 – Lê Thị Diễm Thúy, nhà văn người Việt-Mỹ
1973 – Hande Yener, ca sĩ người Thổ Nhĩ Kỳ
1974 – Thủy Tiên, ca sĩ người Việt-Mỹ
1978 – Kim Sa Rang, diễn viên người Hàn Quốc
1979 – Ngô Lan Hương, kỳ thủ cờ tướng người Việt Nam
1983 – Thanh Bùi, ca sĩ người Úc-Việt
1985 – Yohana Cobo, diễn viên người Tây Ban Nha
1986 – Pablo Daniel Osvaldo, cầu thủ bóng đá người Argentina-Ý
1987 – Naya Rivera, diễn viên và ca sĩ người Mỹ
1989 – Trương Quỳnh Anh, ca sĩ, diễn viên người Việt Nam
1991 – Pixie Lott, Ca sĩ, vũ công, diễn viên người Anh
1992 – Ishak Belfodil, cầu thủ bóng đá người Algeria
1993 – Zayn Malik, ca sĩ người Anh-Pakistan
1993 – D.O., thành viên nhóm nhạc EXO người Hàn Quốc
== Mất ==
1370 – Hiến Từ Thái hậu, Thái hậu nhà Trần Việt Nam
1519 – Maximilian I, hoàng đế của Thánh chế La Mã (s. 1459)
1519? – Vasco Núñez de Balboa, nhà thám hiểm, tướng lĩnh người Tây Ban Nha (s. 1475)
1665 – Pierre de Fermat, nhà toán học và luật gia người Pháp (s. 1601)
1759 – Anne, công chúa Hà Lan (s. 1709)
1875 – Ái Tân Giác La Tái Thuần, tức Đồng Trị Đế, hoàng đế của triều Thanh, tức 5 tháng 12 năm Giáp Tuất
1885 – August, thành viên vương thất Württemberg, tướng lĩnh Württemberg-Phổ (s. 1813)
1909 – Hermann Minkowski, nhà toán học, vật lý học ngời Ba Lan-Đức (s. 1864)
1942 – Vladimir Mikhailovich Petlyakov, kỹ sư hàng không người Liên Xô (s. 1891)
1976 – Agatha Christie, tác gia người Anh (s. 1890)
1995 – Hoàng Minh Giám, chính trị gia người Việt Nam (s. 1904)
1997 – Charles Brenton Huggins, thầy thuốc và nhà sinh lý học người Canada-Mỹ, đoạt giải Nobel (s. 1901)
2002 – Cyrus Vance, luật sư và chính trị gia người Mỹ (s. 1917)
2003 – Leopoldo Galtieri, tướng lĩnh và chính trị gia người Argentina, tổng thống của Argentina (s. 1926)
2003 – Maurice Gibb, ca sĩ-người viết ca khúc người Anh (Bee Gees) (s. 1949)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
điều dưỡng viên.txt | Điều dưỡng viên là người phụ trách công tác điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe, kiểm tra tình trạng bệnh nhân, kê toa thuốc và các công việc khác để phục vụ cho quá trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đến phục hồi, trị liệu cho bệnh nhân. Theo một định nghĩa khác thì Điều dưỡng viên (bao gồm cả nam và nữ) là những người có nền tảng khoa học cơ bản về điều dưỡng, đáp ứng các tiêu chuẩn được kê toa tùy theo sự giáo dục và sự hoàn thiện lâm sàng.
Ở Việt Nam, trước đây người điều dưỡng được gọi là Y tá, có nghĩa là người phụ tá của người thầy thuốc. Ngày nay, điều dưỡng đã được xem là một nghề độc lập trong hệ thống y tế do đó người làm công tác điều dưỡng được gọi là điều dưỡng viên. Người điều dưỡng hiện có nhiều cấp bậc, trình độ và đã được quy định rất cụ thể và chi tiết trong hệ thống ngạch bậc công chức theo các văn bản quy định của Bộ Nội vụ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
== Vị trí, vai trò ==
Lực lượng Điều dưỡng viên (kể cả nữ Hộ sinh) giữ vai trò nồng cốt trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu với mục tiêu chẩn đoán, điều trị, chăm sóc các nhu cầu thiết yếu của người dân trong việc nâng cao sức khỏe, duy trì, phục hồi và dự phòng bệnh tật ở ba tuyến: tuyến đầu, tuyến sau, và tuyến cuối kết hợp với các chuyên ngành khác trong toán chăm sóc sức khỏe
Tại các nước phát triển Anh, Mỹ, Canada,... cũng như các nước đang phát triển như Thái Lan, Philippines. Malaysia,... Điều dưỡng viên đã được nâng cao vai trò trong việc quản lý các cơ sở y tế ban đầu, bệnh viện, toán chăm sóc sức khỏe, tham gia khám và điều trị – chăm sóc các bệnh cấp và mãn tính theo chuyên ngành của điều dưỡng và có mặt trong hầu hết các lãnh vực khác và là nghề đang được kính trọng nhất hiện nay. Riêng tại Việt Nam thì tình hình không khả quan và còn nhiều tồn tại, mặc dù trình độ đào tạo và phạm vi thực hành của điều dưỡng Việt Nam hiện nay đã có nhiều thay đổi, song trong nhận thức chung về vai trò của người điều dưỡng chưa được cập nhật phù hợp với thực tế.
== Công việc ==
Người chăm sóc
Mục tiêu cơ bản của người điều dưỡng là thúc đẩy sự giao tiếp, hỗ trợ người bệnh bằng hành động, bằng thái độ biểu thị sự quan tâm tới lợi ích của người bệnh. Mọi máy móc và kỹ thuật hiện đại không thay thế được sự chăm sóc của người điều dưỡng vì các thiết bị này sẽ không tác động được tới cảm xúc và điều chỉnh hành động cho thích ứng với những nhu cầu đa dạng của mỗi cá thể.
Người truyền đạt thông tin
Người điều dưỡng thông tin với đồng nghiệp và các thành viên khác trong nhóm chăm sóc về kế hoạch và việc thực hiện kế hoạch chăm sóc cho mỗi người bệnh. Mỗi khi thực hiện một sự can thiệp về chăm sóc, người điều dưỡng ghi chép vào hồ sơ những nhận xét và những thủ thuật đã thực hiện cũng như sự đáp ứng của người bệnh. Người điều dưỡng thường xuyên giao tiếp cả bằng lời và bằng ngôn ngữ viết mỗi khi bàn giao ca, mỗi khi chuyển người bệnh tới một khoa khác hoặc khi người bệnh ra viện hay chuyển tới một cơ sở y tế khác.
Người tư vấn
Tư vấn là quá trình giúp đỡ người bệnh nhận biết và đương đầu với những căng thẳng về tâm lý hoặc những vấn đề xã hội. Người điều dưỡng tập trung khuyến khích người bệnh xây dựng ý thức tự kiểm soát. Tư vấn có thể thực hiện với một cá thể hoặc nhóm người và đòi hỏi người điều dưỡng phải có kỹ năng để phân tích tình hình, tổng hợp thông tin, đánh giá quá trình tiến triển của người bệnh sau khi đã được tư vấn. Ngày nay, việc chú trọng nhiều tới việc nâng cao và duy trì sức khỏe hơn là chỉ chữa bệnh thuần túy. Vì vậy, người bệnh cần có thêm kiến thức để tự theo dõi và chăm sóc nhằm rút ngắn ngày nằm viện.
Người biện hộ cho người bệnh
Người biện hộ nghĩa là thúc đẩy những hành động tốt đẹp nhất cho người bệnh, bảo đảm cho những nhu cầu của người bệnh được đáp ứng. Ngoài ra, người điều dưỡng còn có vai trò là người lãnh đạo, người quản lý, người làm công tác nghiên cứu điều dưỡng và là những chuyên gia giỏi về chăm sóc lâm sàng.
== Tại Việt Nam ==
=== Lịch sử hình thành ===
Cuối thế kỷ XIX, khi các bệnh viện đầu tiên của Việt Nam được người Pháp thành lập thì ngành điều dưỡng và nghề điều dưỡng viên mới chính thức được hình thành. Lúc đầu những người điều dưỡng được đào tạo tại các bệnh viện theo cách "cầm tay chỉ việc" để làm công việc phục vụ. Đến năm 1946, các khóa đào tạo y tá, hộ sinh nông thôn được mở ra và sau đó tăng lên trình độ trung học vào cuối những năm 1960. Hệ đào tạo cao đẳng và đại học điều dưỡng được bắt đầu vào cuối thế kỷ XX.
Từ năm 2000 trở đi, ngành điều dưỡng Việt Nam có những thay đổi như hình thành được hệ thống quản lý điều dưỡng ở các cấp với 65% Sở Y tế các tỉnh đã bổ nhiệm điều dưỡng trưởng, 84,7% các bệnh viện có phòng điều dưỡng, công tác đào tạo điều dưỡng đã nâng lên được hai bậc ở trình độ cao đẳng và đại học, thực hành điều dưỡng đang có chuyển biến thông qua thực hiện chăm sóc người bệnh toàn diện, vị trí xã hội của người điều dưỡng đã được nhìn nhận.
=== Thực trạng ===
Ở Việt Nam, cứ một bác sĩ thì có 1,5 điều dưỡng, trong khi tỷ lệ tối thiểu mà Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo là 1 bác sĩ/4 điều dưỡng. Tỷ lệ này ở Việt Nam cũng là thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á. Thiếu người, trình độ chưa cao, áp lực công việc lớn cũng là yếu tố làm tăng tần suất rủi ro của các điều dưỡng viên.
Một khảo sát tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2003 cho thấy, có tới 75% số nhân viên y tế bị vật sắc nhọn đâm khi làm việc (tiêm truyền, bẻ ống thuốc...) mặc dù đa số có đeo găng tay. Gần 93% trong số đó là điều dưỡng viên. Số lần gặp rủi ro này trung bình là 5 lần mỗi năm, có trường hợp đến 67 lần. Phần lớn trong số họ bị vật sắc nhọn đâm xuyên thấu qua da nên nguy cơ mắc các bệnh lây qua đường máu rất cao.
== Chú thích ==
Bản mẫu:Điều dưỡng |
cá lăng chấm.txt | Cá lăng chấm (danh pháp khoa học: Hemibagrus guttatus) là tên gọi một loài cá trong chi Cá lăng (Hemibagrus) của họ Cá lăng (Bagridae), bộ Cá da trơn. Cá lăng là một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất, trong tự nhiên đã bắt được những con từ 40 –50 kg.
== Phân bố ==
Ở Việt Nam chúng chỉ có mặt ở một vài con sông ở miền núi và chỉ có ở những đoạn nhiều ghềnh thác, dòng chảy mạnh, chúng có rất nhiều ở sông Đà, sông Lô vùng Phú Thọ
== Đặc điểm ==
Là một loài cá không có xương dăm, thịt rất ngon nên rất được ưa chuộng. Chả cá Lã Vọng ở Hà Nội trở nên nổi tiếng cũng nhờ làm từ loài cá này. Ở vùng Phú Thọ cá lăng hiện diện ở hầu hết các nhà hàng cá sông, nhiều nhà hàng chỉ bán độc nhất các món ăn chế biến từ cá lăng.
== Xem thêm ==
Danh mục sách đỏ động vật Việt Nam
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Cá lăng chấm tại Wikispecies
Cá lăng |
2013.txt | Năm 2013 là một năm thường bắt đầu vào ngày Thứ Ba trong Lịch Gregory. Theo Âm lịch, phần lớn các ngày trong năm này thuộc năm Quý Tỵ; một phần nhỏ đầu năm thuộc về năm Nhâm Thìn.
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1, Việt Nam nhận bàn giao từ Nga chiếc tàu ngầm Kilo 636 đầu tiên mang số hiệu HQ-182 là một trong 6 chiếc tàu ngầm Việt Nam đặt hàng từ Nga.
=== Tháng 2 ===
28 tháng 2 - Giáo hoàng Benedict XVI từ chức
=== Tháng 3 ===
13 tháng 3 - Giáo hoàng Phanxicô trở thành Giáo hoàng thứ 226, vị Giáo hoàng đầu tiên đến từ Nam Mỹ
=== Tháng 6 ===
7 tháng 6, SEA Games lần thứ 27 diễn ra ở Myanmar.
=== Tháng 7 ===
1 tháng 7 - Croatia gia nhập Liên minh châu Âu
=== Tháng 8 ===
Robocon Đà Nẵng 2013
=== Tháng 9 ===
21 tháng 9 Lực lượng vũ trang Hồi giáo Al-Shabaab tấn công một khu mua sắm ở Westgate, Nairobi, làm ít nhất 62 người thiệt mạng và làm bị thương 170 người khác.
=== Tháng 10 ===
1 tháng 10, chính phủ Mỹ chính thức bắt đầu ngừng hoạt động trong 2 tuần sau khi Quốc hội lưỡng viện Mỹ bất đồng về dự thảo ngân sách mới.
16 tháng 10, xảy ra một vụ tai nạn máy bay của Hãng hàng không quốc gia Lào (Lao Airlines)
=== Tháng 11 ===
1 tháng 11, Nguyễn Thị Thuỳ Dung, công dân thứ 90 triệu của Việt Nam ra đời.
Ngày 3 tới 11 tháng 11, siêu bão Haiyan đổ bộ vào Philippines, Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Micronesia và Palao, làm 6241 người chết
17 tháng 11, một chiếc máy bay chở khách Boeing 737-500 gặp nạn tại thành phố Kazan, miền trung Nga, làm 50 người chết
28 tháng 11, tại kỳ họp thứ Sáu, Quốc hội Việt Nam khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi).
=== Tháng 12 ===
27 tháng 12, Một máy bay chở hàng của Nga lao xuống một nhà kho quân đội ở vùng Siberia, khiến tất cả 9 người trên khoang thiệt mạng
== Sinh ==
22 tháng 7, Hoàng tử George Alexander Louis của vương quốc Anh.
== Mất ==
=== Tháng 1 ===
9 tháng 1 - Hoàng Hiệp, nhạc sĩ nổi tiếng của dòng nhạc đỏ Việt Nam (Sinh 1931)
11 tháng 1 - Nguyễn Khánh, cựu tướng lĩnh và cựu chính khách Việt Nam Cộng hòa (Sinh 1927)
21 tháng 1 - Chumpol Silpa-archa, Phó Thủ tướng Thái Lan (Sinh 1940)
27 tháng 1 - Phạm Duy, nhạc sĩ tân nhạc Việt Nam (Sinh 1921)
=== Tháng 2 ===
5 tháng 2 - Nghệ sĩ nhân dân Hải Ninh (Sinh 1931)
6 tháng 2 - Chokri Belaid, chính khách của Tunisia (Sinh 1964)
19 tháng 2
Armen Alchian - nhà kinh tế học người Hoa Kỳ (Sinh 1914)
Robert Coleman Richardson - nhà vật lý thực nghiệm người Mỹ, đoạt giải Nobel Vật lý năm 1996 (Sinh 1937)
=== Tháng 3 ===
3 tháng 3 - Hà Thị Cầu, nghệ nhân hát xẩm (nghệ nhân hát xẩm cuối cùng của thế kỷ 20) (Sinh 1928)
5 tháng 3 - Hugo Chavez, Tổng thống Venezuela (Sinh 1954)
14 tháng 3 - Ieng Sary, Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Campuchia dưới thời Khmer Đỏ (Sinh 1924)
20 tháng 3 - Zillur Rahman, Tổng thống Bangladesh (Sinh 1929)
21 tháng 3 - Chinua Achebe, nhà văn, nhà thơ người Nigeria (Sinh 1930)
23 tháng 3 -Hòa thượng Thích Thanh Bích, Phó Pháp chủ kiêm Giám Luật của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện chủ Tổ đình Hội Xá - Hà Nội (Sinh 1912)
=== Tháng 4 ===
4 tháng 4 - Roger Ebert, nhà phê bình phim người Mỹ (Sinh 1942)
8 tháng 4 - Margaret Thatcher, Thủ tướng Anh (Sinh 1925)
9 tháng 4 - Văn Hiệp, danh hài Việt Nam (Sinh 1942)
=== Tháng 7 ===
7 tháng 7 - Phanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách (sinh 1925)
21 tháng 7 - Wanbi Tuấn Anh, ca sĩ Việt Nam (Sinh 1987)
=== Tháng 8 ===
17 tháng 8 - Tôma Nguyễn Văn Tân - Giám mục chính tòa Giáo phận Vĩnh Long (sinh 1940)
17 tháng 8 - Giuse Hoàng Văn Tiệm - Giám mục chính tòa Giáo phận Bùi Chu (sinh 1938)
=== Tháng 10 ===
4 tháng 10 - Võ Nguyên Giáp, tướng lĩnh và chính khách Việt Nam (sinh 1911).
=== Tháng 12 ===
5 tháng 12 - Nelson Mandela, nhà hoạt động chính trị người Nam Phi, Tổng thống Nam Phi, đoạt giải Nobel (sinh 1918).
20 tháng 12 - Việt Dzũng, nhạc sĩ Việt Nam (sinh 1958)
23 tháng 12 - Mikhail Timofeyevich Kalashnikov, nhà chế tạo vũ khí Nga (sinh 1919)
== Ngày Lễ ==
10 tháng 2 - mùng 1 Tết Nguyên Đán
19 tháng 4 - Giỗ Tổ Hùng Vương
19 tháng 9 - Tết Trung Thu
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới 2013 tại Wikimedia Commons |
thế vận hội mùa hè 1936.txt | Thế vận hội Mùa hè 1936 hay còn gọi là Thế vận hội thứ XI là một sự kiện đa thể thao quốc tế tổ chức năm 1936 tại Berlin, Đức. Berlin đã giành quyền đăng cai trước Barcelona của Tây Ban Nha vào ngày 26 tháng 4 năm 1931, tại kỳ họp lần thứ 29 của IOC tại Barcelona (hai năm trước khi Quốc xã lên nắm quyền tại Đức). Đây là lần thứ hai và cũng là lần cuối cùng Ủy ban Olympic Quốc tế phải tập hợp để bầu chọn ở một thành phố cũng đang cạnh tranh quyền đăng cai. Lần đầu tiên điều này diễn ra là tại phiên họp đầu tiên của IOC tại Paris, Pháp vào ngày 24 tháng 4 năm 1894. Athens của Hy Lạp và Paris lần lượt được chọn tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1896 và 1900 tại kỳ họp đó.
Nhà làm phim, Leni Riefenstahl, một nhân vật ưa thích của Adolf Hitler, được Ủy ban Olympic Đức ủy nhiệm quay một bộ phim về sự kiện này. Bộ phim có tiêu đề Olympia, đã giới thiệu nhiều kỹ thuật làm phim mới mà ngày nay đã trở nên phổ biến trong các bộ phim về thể thao.
Với việc chỉ cho phép các thành viên của Chủng tộc Aryan tham gia tranh tài cho Đức, Hitler tiếp tục quảng bá niềm tin ý thức hệ về chủng tộc thượng đẳng. Cùng lúc đó thì Đảng Quốc xã gỡ bỏ các bảng tuyên truyền "Không muốn Do Thái" và các khẩu hiệu tương tự khỏi các địa điểm du lịch chính của thành phố. Trong một nỗ lực "làm sạch" Berlin, chính quyền ra lệnh cho cảnh sát trưởng bắt những người Di-gan và giữ họ trong một "trại đặc biệt". Doanh thu từ bán vé là 7,5 triệu Reichsmark, thu về lợi nhuận hơn một triệu mark. Ngân sách chính thức không bao gồm phí tổn của thành phố Berlin hay phí tổn của chính quyền quốc gia Đức.
== Các quốc gia tham dự ==
Tổng cộng 49 quốc gia tham dự Thế vận hội ở Berlin, tăng lên so với 32 quốc gia ở Thế vận hội Mùa hè 1932. Sáu quốc gia lần đầu tiên tham dự gồm: Afghanistan, Bermuda, Bolivia, Costa Rica, Liechtenstein và Peru.
== Tổng huy chương ==
10 quốc gia dẫn đầu bảng tổng huy chương
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Lehrer, Steven (2002). Hitler Sites: A City-by-city Guidebook (Austria, Germany, France, United States). McFarland. tr. 224. ISBN 978-0-7864-1045-3.
Lehrer, Steven (2006). The Reich Chancellery and Führerbunker Complex: An Illustrated History of the Seat of the Nazi Regime. McFarland. tr. 214. ISBN 978-0-7864-2393-4.
Berlin Games – How Hitler Stole the Olympic Dream, by Guy Walters ISBN 978-0-7195-6783-4 (UK) 0060874120 (USA)
All That Glitters is Not Gold, by William O. Johnson, Jr. ISBN 978-0-399-11008-5 (USA)
Hitler's Games: The 1936 Olympics, by Duff Hart-Davis, ISBN 978-0-06-015554-4 ISBN 978-0-06-015554-4
Hitler's Olympics: The 1936 Berlin Olympic Games, by Christopher Hilton
The Nazi Olympics: Berlin 1936 United States Holocaust Museum, by Susan D. Bachrach
The Nazi Olympics (Sport and Society), by Richard D. Mandell
Olympische Spiele Berlin / Olympic Games 1936: Erinnergunsalbum / Album-Souvenir unter dem Patronat des schweizerischen Olympischen Komitees, by Julius, ed., publ. Wagner
The Nazi Olympics: Sport, Politics, and Appeasement in the 1930s by Arnd Kruger and W. J. Murray
The Berlin Olympics (World Focus Books), by James P. Barry
== Liên kết ==
“Berlin 1936”. Olympic.org. Ủy ban Olympic quốc tế.
United States Holocaust Memorial Museum - Online Exhibition: Nazi Olympics: Berlin 1936
Virtual Library: the NAZI Olympics
Die XI. Olympischen Sommerspiele in Berlin 1936 at Lebendiges Museum Online. In German |
trung học cơ sở.txt | Trung học cơ sở (cũng được gọi là trung cấp hoặc trung học) là một giai đoạn giáo dục có trong một số quốc gia và diễn ra giữa tiểu học và trung học phổ thông. Các khái niệm, quy định và phân loại của trường trung học, cũng như tuổi bảo hiểm thay đổi khác nhau giữa các cấp giáo dục và thay đổi trong từng quốc gia.
== Việt Nam ==
Tại Việt Nam, các trường trung học được gọi đầy đủ là trường trung học cơ sở (THCS). Trung học cơ sở gồm có bốn lớp là 6, 7, 8 và 9, ở cấp độ từ 11 đến 15. Trước đây nó thường được gọi là trường cấp 2.
== Afghanistan ==
Ở Afghanistan, trung học gồm lớp 6, 7 và 8. Bên cạnh đó là một sự thay đổi từ tiểu học lên trung học phổ thông.
== Algeria ==
Ở Algérie, trung học bao gồm lớp 6 đến 10, bao gồm các học sinh ở độ tuổi từ 10 hoặc 11 đến 15.
== Brazil ==
Ở Brazil, trường trung học bắt buộc trẻ em phải đi học, là giai đoạn học gọi là "Ensino Fundamental II" bao gồm các lớp 6 đến 9, lứa tuổi 11 đến 14.
== Pháp ==
Ở Pháp, giai đoạn trung học được gọi là collège, kéo dài 4 năm từ Sixième (tương đương với lớp 6) đến Troisième (tương đương với lớp 9), lứa tuổi từ 11 đến 15.
== Trung quốc ==
Ở Cộng hòa Nhân dân Trung quốc, trường trung học gồm có hai giai đoạn, tiểu học là giai đoạn từ lớp 7 đến 9, một vài nơi cũng có thể là lớp 6-9 và giai đoạn cấp 3 (lớp 10-12). Giai đoạn giáo dục trẻ em là 3 năm cuối cùng của 9 năm bắt buộc giáo dục cho tất cả các trẻ em, trong khi các trường cấp ba, giáo dục là tùy chọn, nhưng coi như là một phần quan trọng để chuẩn bị cho kì thi đại học.
== Ấn độ ==
Trong một số tổ chức giáo dục của Ấn Độ thì trung học từ lớp 5 đến lớp 10.
== Indonesia ==
Ở Indonesia, trung học bao gồm từ độ tuổi từ 12 tới 15 hoặc lớp 7 đến lớp 9.
== Israel ==
Trong nhiều thành phốc của Israel, trường trung học (tiếng Hebrew: חטיבת ביניים, Khativat Beynaiym) bao gồm lứa tuổi từ 12 đến 15, tức từ lớp 7 đến lớp 9
== Nhật bản ==
Trung học (中学校 chūgakkō) dạy cho lứa tuổi từ 12 tới qua 15.
== Malaysia ==
Tại Malaysia, trung học tương đương được gọi là trường trung học cơ sở trong đó bao gồm học sinh từ 13 tuổi đến 15.
== Mexico ==
Tại Mexico, hệ thống trường trung học được gọi là Secundaria và thường kéo dài 3 năm: từ khối 7 đến khối 9 sau khi học sinh hoàn thành Primaria (trường tiểu học, tuổi từ 6-12) và sau đó là đến bậc Preparatoria/Bachillerato.
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Classbase - Education Database |
thượng volta.txt | Thượng Volta (tiếng Pháp: Haute-Volta) là tên cũ của quốc gia Châu Phi Burkina Faso hiện nay.
Thượng Volta được thành lập bởi Pháp vào ngày 1 tháng 3 năm 1919 trên cơ sở tách một bộ phận của Côte d'Ivoire thuộc Pháp. Tuy nhiên, vào ngày 5 tháng 9 năm 1932, Thượng Volta bị chia tách, với một phần do thuộc địa Côte d'Ivoire, Soudan thuộc Pháp (Mali ngày nay), và Niger quản lý. Thuộc địa được khôi phục biên giới cũ vào ngày 4 tháng 9 năm 1947. Vào ngày 11 tháng 12 năm 1958, nó trở thành quốc gia tự chủ; nó trở thành một nước cộng hòa và là thành viên của Cộng đồng Pháp-Phi (Communauté Franco-Africaine). Nền độc lập hoàn toàn được thiết lập vào ngày 5 tháng 8 năm 1960.
Việc thay đổi tên diễn ra vào ngày 4 tháng 8 năm 1984, do Thomas Sankara, người đứng đầu đất nước thời điểm đó, khởi xướng. Tên cũ chỉ ra rằng đất nước có chứa phần thượng nguồn của Sông Volta. Con sông được chia làm ba phần, gọi là Volta Đen, Volta Trắng và Volta Đỏ. Màu sắc của quốc kỳ tương ứng với những phần này của con sông.
== Những tham chiếu khác đến Thượng Volta ==
Thủ tướng Tây Đức Helmut Schmidt thích mô tả Liên Xô vào những năm 1980 là "Thượng Volta với rốc két", theo như David Halberstam trong một bài báo in trong tạp chí Vanity Fair vào tháng 8 năm 2007. Cụm từ "Thượng Volta với rốc két" cũng được dùng để mô tả Liên Xô (theo trích dẫn, nhưng không có ghi danh) trong một điều tra về nền kinh tế Soviet ở The Economist vào ngày 9 tháng 4 năm 1988. Theo Perry Anderson, London Review of Books, Vol 29, No.2, 25 tháng 1 năm 2007, cụm từ này phổ biến ở những nhà ngoại giao nước ngoài vào những năm 1970. Ông cho rằng Nga hiện đại có thể là "Ả Rập Saudi với Rốc két".
== Xem thêm ==
Lịch sử Burkina Faso
== Tham khảo == |
euscelidia obudu.txt | Euscelidia obudu là một loài ruồi trong họ Asilidae. Euscelidia obudu được Dikow miêu tả năm 2003. Loài này phân bố ở vùng nhiệt đới châu Phi.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Euscelidia obudu tại Wikispecies |
konica minolta.txt | Konica Minolta Holdings, Inc. (コニカミノルタホールディングス, Konika Minoruta Hōrudingusu) là một tập đoàn của Nhật Bản chuyên sản xuất thiết bị văn phòng, thiết bị chẩn đoán hình ảnh, thiết bị đồ họa, thiết bị quang học, và thiết bị đo.
Công ty này hoạt động trên toàn thế giới và có các trụ sở khu vực tại:
Châu Mỹ (New Jersey, Ramsey, Mỹ).
Châu Âu (Lower Saxony, Langenhagen, Đức)
Châu Á Thái Bình Dương (Kantō, Tokyo, Nhật)
Năm 2005, Konica Minolta bán lại bộ phận sản xuất máy ảnh của mình cho Sony để tập trung vào các sản phẩm quang khác như máy in, máy photocopy, máy đa chức năng (MFP) fax...
Triết lý lãnh đạo: Tạo nên giá trị mới
Biểu tượng: đại diện cho Trái Đất. Biểu tượng "toàn cầu" thể hiện tư tưởng mở rộng đến vô tận của Konica Minolta và mang đến giá trị mới cho khách hàng trên toàn thế giới
Thông điệp của tập đoàn: "The essentials of imaging". Thông điệp này thể hiện ước muốn được khách hàng nhận biết như một công ty tối cần thiết, bởi khả năng cung cấp các giải pháp, dịch vụ, sản phẩm thiết yếu trong thế giới hình ảnh
== Tham khảo == |
giải quần vợt úc mở rộng 2017 - đơn nam.txt | Novak Djokovic là tay vợt hai lần bảo vệ chức vô địch, nhưng thua ở vòng hai trước đối thủ đứng vị trí 117 thế giới là Denis Istomin từ Uzbekistan. Nó là lần lần đầu tiên kề từ giải Giải quần vợt Wimbledon 2008 rằng Djokovic Không vượt qua vòng loại thứ hai và là lần đầu tiên kể từ Giải Úc Mở rộng 2006, anh đã thất bại trong vòng loại thứ ba tại Melbourne.
Roger Federer chiến thắng giải ÚC Mở rộng lần thứ 5, và giành tổng cộng 18 gianh hiệu Grand Slamwon, đánh bại đối thủRafael Nadal tại trận chung kết 5 sét đấu. Với chiến thắng này, Federer trở thành người đàn ông đầu tiên giành ít nhất 5 giành hiệu tại 3 kỳ Grand Slam khác nhau (five at the Australian Open, seven at Wimbledon and five at the US Open).
Đây là giải Grand Slam đầu tiên với việc Andy Murray bắt đầu tham dự giải đấu với vị trí số 1 thế giới và là hạt giống hàng đầu. Murray vẫn giữ vị trí hàng đầu bất chấp việc thua Mischa Zverev ở vòng 4, bởi vì Djokovic đứng thứ hai thế giới cần giành chiến thắng vô địch để giành lại ngôi số 1, nhưng thua ở vòng hai. Đây là lần đầu tiên kể từ khi giải vô địch Pháp Mở rộng 2004 mà hai hạt giống hàng đầu của giải cả hai đều thất bại trước vòng thứ tư.
Đây cũng là giải Grand Slam đầu tiên kể từ khi Úc Mở rộng 2002 trong khi Federer được xếp hạng ngoài top 10. Anh ta đã đi đến và giành chiến thắng trận chung kết của giải đấu, và cho anh ta đất kỷ lục là người đàn ông già nhất để đạt được một Grand Slam cuối cùng kể từ Ken Rosewall thực hiện Chung kết Mỹ Mở rộng 1974 lúc 39 tuổi, và là người gia nhẩt vô địch 1 giải Grand Slam kể từ khi Rosewallchiến thắng Úc Mở rộng 1972 lúc 37. Federer cũng là người già thứ hai giành được một giải Grand Slam giành 7 trận đấu hay nhất, sau Rosewall và chiến thắng của anh tại giải Mỹ Mở rộng 1970, anh đã chiến thắng lúc 35 tuổi và 10 tháng.
== Hạt giống ==
Nhấn vào số hạt giống của cặp vận động viên để tới phần thi đấu của họ.
== Vòng loại ==
== Bốc thăm ==
=== Chú giải ===
=== Chung kết ===
=== Nửa trên ===
==== Bảng 1 ====
==== Bảng 2 ====
==== Bảng 3 ====
==== Bảng 4 ====
=== Nửa dưới ===
==== Bảng 5 ====
==== Bảng 6 ====
==== Bảng 7 ====
==== Bảng 8 ====
== Tham khảo ==
Thông thường
Specific |
sở cảnh sát thành phố los angeles.txt | Los Angeles Police Department (tạm dịch: Sở cảnh sát thành phố Los Angeles) (L.A.P.D) là cơ quan thực thi pháp luật tại thành phố Los Angeles, California với quân số dưới 10.000 nhân viên cảnh sát và hơn 3.000 nhân viên dân sự hỗ trợ trải đều trên khu vực 1,290 km² với dân số hơn 3.8 triệu người, đây là cơ quan thực thi pháp luật lớn hàng thứ 3 tại Hoa Kỳ chỉ sau Sở cảnh sát thành phố New York và Sở cảnh sát thành phố Chicago.
L.A.P.D được tiểu thuyết hóa trong nhiều bộ phim, tác phẩm và các chương trình truyền hình trong suốt chiều dài lịch sử của Sở. Có rất nhiều vụ tai tiếng liên quan đến Sở như phân biệt chủng tộc, nạn bạo hành của nhân viên cảnh sát và tệ tham nhũng.
== Lịch sử ==
Lực lượng cảnh sát Los Angeles đầu tiên được xây dựng vào năm 1853 với tên gọi Đội Biệt kích từ các thành viên tình nguyện trong lực lượng vũ trang của hạt. Đội Biệt kích được thay thế bằng đội Cảnh vệ tình nguyện của thành phố. Không đội nào hoạt động hiệu quả dẫn đến thành phố Los Angeles trở nên đình đám với bạo động, bài bạc và mại dâm. Đội cảnh sát chuyên nghiệp đầu tiên được thành lập vào năm 1869 với 6 sĩ quan phục vụ dưới quyền của Cảnh sát trưởng William C. Warren. Vào năm 1990, số sĩ quan tăng lên 70 người dưới thời John M. Glass vào khoảng 1 cảnh sát trên 1,500 dân. Năm 1903, lực lượng được tăng lên 200 người dưới đạo luật Dịch vụ dân sự.
Trong Thế chiến hai, nhân lực của cục bị giảm sút rất nhiều do nhiều người đã nhập ngũ để chiến đấu. Mặc dù lực lượng đã mỏng, nhưng Cục vẫn ra sức để giải quyết cuộc náo loạn được biết dưới tên Zoot Suit Riots năm 1943.
Tướng về hưu thuộc Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, William A. Worton đã thay thế Horrall làm Quyền Cảnh sát trưởng cho đến năm 1950. Sau đó William H. Parker được chọn và phục vụ cho đến khi chết vào năm 1966. Parker chủ trương tuyển dụng nhân sự từ dân chúng và tạo ra một lực lượng cảnh sát chuyên nghiệp và biệt lập. Tuy nhiên, vụ tai tiếng mang tên Bloody Christmas vào năm 1951 đã buộc cảnh sát phải có trách nhiệm giải trình dân sự và chấm nạn bạo hành của nhân viên thực thi pháp luật.
Dưới thời của Parker, Thanh tra Daryl Gates đã thành lập nên đội Cảnh sát Cơ động S.W.A.T đầu tiên trong lực lượng hành pháp Hoa Kỳ Sĩ quan John Nelson và thanh tra Daryl Gates thiết lập chương trình này vào năm 1965 để đối phó với mối hiểm họa tiềm tàng từ các tổ thức cực đoan như Đảng Báo Đen trong thời kì Chiến tranh Việt Nam.
=== Sĩ quan hi sinh ===
Từ lúc thiết lập Sở Cảnh sát thành phố Los Angeles, đã có 200 sĩ quan hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ. Đài kỷ niệm Cảnh sát Los Angeles được đặt bên ngoài tòa nhà Parker Center(được đặt theo tên của Cảnh sát trưởng William H. Parker), được khánh thành vào 1 tháng 10 năm 1971. Tượng kỷ niệm là một đài nước làm từ đá granite đen được khắc tên các sĩ quan cảnh sát hi sinh thân mình trong nhiệm vụ bảo vệ thành phố Los Angeles.
Nguyên nhân hi sinh được liệt kê như sau:
== Tổ chức ==
Ban Ủy viên Cảnh sát thành phố Los Angeles có 5 thành viên được chỉ định để giám sát lực lượng L.A.P.D. Ban có trách nhiệm đề ra các điều lệnh và theo dõi mọi hoạt động và cơ chế quản lý của Sở. Cảnh sát trưởng sẽ báo cáo Ban, các phòng ban sẽ báo cáo cho Cảnh sát trưởng. Trụ sở chính từ lâu đời của L.A.P.D là tòa nhà Parker Center, được đặt theo tên của cố Cảnh sát trưởng William H. Parker nằm tại số 150 N. Los Angeles. Còn tòa nhà mới là toàn nhà Hành chính ở số 100 W. đường số 1, ngay phía nam Tòa thị chính Los Angeles.
=== Văn phòng Cảnh sát trưởng ===
Văn phòng Cảnh sát trưởng là tòa nhà hành chính phức hợp gồm văn phòng Ban tham mưu, phòng Nội vụ, phòng Thông tin Công chính và RACR/COMSTAT. Trợ lý đặc vụ của phòng Thực thi Chính sách, bao gồm các đơn vị như: đơn vị về Chiến lược Tài chính, đơn vị Quản lý Rủi ro, đơn vị Kế hoạch và Nghiên cứu, đơn vị Kiểm toán và Thanh tra Nội bộ; Cục Nghiệp vụ, bao gồm các đơn vị như: đơn vị Thanh tra nội bộ, đơn vị Hoạt động Đặc biệt và đơn vị Lực lượng Điều tra; tất cả đều phải báo cáo trực tiếp về cho Cảnh sát trưởng.
Đơn vị Dữ liệu và Phản ứnh nhanh/COMPSTAT là lực lượng lưu trữ hồ sơ tội phạm. Đơn vị đều có cuộc họp hàng tuần với Cảnh sát trưởng và các cảnh sát cao cấp trong tòa nhà Parker mới(Trung tâm Hành chính Cảnh sát). COMPSTAT được William Bratton thiết kế dựa trên đơn vị CompStat của N.Y.P.D vào năm 1994. Ông đã cho áp dụng CompStat phiên bản L.A.P.D năm 2002.
=== Văn phòng Điều hành ===
Hầu hết trong số 10,000 sĩ quan cảnh sát được Văn phòng Điều hành bổ nhiệm công việc, văn phòng nằm trong Tòa nhà Hành chính Cảnh sát mới. Trợ lý Cảnh sát trưởng sẽ chỉ huy phòng và báo cáo trực tiếp cho Cảnh sát trưởng. L.A.P.D bao gồm 21 đồn, được gọi chính thức là ‘’ "Khu vực"’’ nhưng thường là "Đơn vị". Cả 21 đồn được phân chia địa lý thành 4 phân khu chỉ huy, mỗi phân khu được xem như một "Phân khu". Hai khu vực "Olympic" và "Topanga" mới được thêm vào ngày 4 tháng 1 năm 2009.
==== Điều hành – Phân khu Trung tâm ====
Phân khu Trung tâm chịu trách nhiệm cho trung tâm Los Angeles và khu Đông Los Angeles, là phân khu phức tạp nhất trong 4 phân khu tuần tra. Phân khu bao gồm 5 đơn vị tuần tra và 1 đơn vị giao thông, chủ yếu giải quyết tai nạn giao thông và đưa trát hầu tòa/đóng phí vi phạm.
Đơn vị Trung tâm
Đồn Trung tâm tuần tra chủ yếu ở khu kinh doanh Los Angeles, bao gồm Tòa nhà Thị chính Los Angeles, Trung tâm Hội nghị Los Angeles, Trung tâm Staples, địa hạt Thời trang và địa hạt Tài chính.
Đơn vị Hollenbeck
Đồn cảnh sát cộng đồng ở Hollenbeck tuần tra phần lớn khu vực phía đông thành phố Los Angeles, bao gồm khu cộng đồng Boyle Heights, Lincoln Heights và El Sereno.
Đơn vị Newton
Đồn Newton tuần tra ở miền nam Los Angeles, cùng một phần ở khu kinh doanh, có một phần ở địa hạt Thời trang.
Đơn vị Đông Bắc
Đồn Đông Bắc chịu trách nhiệm một số phần ở khu trung tâm như Elysian Park và Silver Lake, đại bộ phận phần phía đông của Los Feliz và Hollywood, ngoài ra còn có một số cộng đồng Đông Bắc L.A như Highland Park, Eagle Rock và Glassell Park.
Đơn vị Rampart
Đồn Rampart chịu trách nhiệm cho khu vực Tây và Tây Bắc của khu kinh doanh Los Angeles bao gồm Echo Park, Pico-Union và Westlake, đây là toàn bộ khu vực tuần tra riêng của đơn vị Rampart.
==== Điều hành – Phân khu Nam ====
Phân khu Nam giám sát khu vực phía Nam Los Angeles chỉ trừ Inglewood và Compton, vì hai khu vực này tách biệt với thành phố và họ sử dụng cơ quan bảo vệ riêng. Phân khu Nam bao gồm 4 đơn vị tuần tra, đơn vị điều tra Án mạng và Tội phạm Băng đảng và một đơn vị giao thông, với nhiệm vụ chủ yếu là giải quyết vụ việc liên quan đến giao thông, thông báo trát hầu tòa/nộp phí và điều tra tai nạn.
Đơn vị đường 77
Đồn đường 77 tuần tra ở khu vực Nam Los Angeles, đại khái là ở khu Đại lộ Vernon, phía Tây Xa lộ Harbor, phía Bắc tuyến đường 42 Bang California và một số điểm ở phía Tây đến hết giao giới của thành phố như Crenshaw, một phần đến biên giới Florence, Trung tâm và Đại lộ Manchester tới Xa lộ Harbor.
Đơn vị Harbor
Đồn Harbor tuần tra hết khu San Pedro, Wilmington và cửa ngõ Harbor phụ thêm phía nam đại lộ Artesia. Đơn vị này thường xuyên hợp tác với lực lượng cảnh sát Cảng Los Angeles. 260 sĩ quan cảnh sát, thám tử và nhân viên hỗ trợ phải làm việc với ngân quỹ US$40 triệu, trên lãnh thổ 4,600 m2. Đồn nằm tại số 2175 Đại lộ John S. Gibson.
Đơn vị Đông Nam
Đồn Đông Nam cũng tuần tra ở khu Nam Los Angeles giống đơn vị đường 77. Khu vực của họ nằm đến biên giới phía Bắc thành phố tại Đại lộ Artesia, bao gồm Watts và khu Nam Đại lộ Manchester.
Đơn vị Tây Nam
Đồn Tây Nam chịu trách nhiệm khu vực Nam Xa lộ Santa Monica, Tây Xa lộ Harbor, Bắc Đại lộ Vernon và Đông khu vực thành phố Culver/Lennox/Baldwin Hills. Khu vực này bao gồm Đại học Nam California và Exposition Park.
==== Điều hành – Phân khu Valley ====
Phân khu Valley là phân khu lớn nhất trong 4 phân khu theo diện tích và giám sát mọi hoạt động trong khu San Fernando Valley. Phân khu có 7 đơn vị tuần tra và 1 đơn vị giao thông với nhiệm vụ xử lý tai nạn và thông báo trát hầu tòa/nộp phí phạt.
Đơn vị Mission
Đồn Mission là lực lượng cảnh sát cộng đồng từ năm 2005. Đây là đồn đầu tiên mới được thành lập sau hơn một phần tư thế kỷ. Khu Mission nằm ở nửa phía Đông khu Devonshire cũ và nửa phía Tây khu Foothill tại ‘’San Fernando Valley’’, bao gồm Mission Hills và thành phố Panorama.
Đơn vị Devonshire
Đồn Devonshire chịu trách nhiệm cho phần Tây Bắc của San Fernando Valley, bao gồm nhiều phần của Chatsworth và Northridge.
Đơn vị Foothill
Đồn Foothill tuần tra một số phần của San Fernando Valley bao gồm Sun Valley và Crescenta Valley.
Đơn vị Bắc Hollywood
Đồn Bắc Hollywood chịu trách nhiệm cho thành phố Studio và vùng Bắc Hollywood.
Đơn vị Van Nuys
Đồn Van Nuys phục vụ tại khu Van Nuys.
Đơn vị Tây Valley
Đồn Tây Valley nhận trách nhiệm một số phần tại San Fernando Valley, bao gồm một số khu tại Northridge và Reseda.
Đơn vị Topanga
Đồn Topanga là lực lợng cảnh sát cộng đồng bắt đầu hoạt động từ năm 2009. Đồn chịu trách nhiệm nhiều nơi tại San Fernando Valley bao gồm Woodland Hills và Canoga Park.
==== Điều hành – Phân khu Tây ====
Phân khu Tây hoạt động phủ khắp các khu vực nổi tiếng của Hollywood, trong đó có Hollywood, Westwood, khu vực Hollywood Hills, UCLA và khu Venice, nhưng nó không bao gồm khu Beverly Hills và khu Santa Monica, vì những nơi này tách biệt khỏi thành phố Los Angeles và có lực lượng cảnh sát của riêng mình. Phân khu Tây có 5 đội tuần tra và 1 đội giao thông để xử lý các vấn đề liên quan.
Đơn vị Hollywood
Đồn Hollywood là lực lượng cảnh sát cộng đồng tại khu Hollywood bao gồm Hollywood Hills, Đại lộ Hollywood và Sunset Strip.
Đơn vị Wilshire
Đồn Wilshire là lực lượng cảnh sát cộng đồng ở khu Mid-Wilshire "Miracle Mile", bao gồm phố Hàn Quốc, Mid-City, Carthay và hạt Fairfax.
Đơn vị Pacific
Đồn Pacific là lực lượng cảnh sát cộng đồng tại khu Tây Los Angeles, gồm có Venice Beach, Venice và Playa del Rey. Các sĩ quan cảnh sát tại đây thường phối hợp công tác với an ninh sân bay Los Angeles tại Phi trường quốc tế Los Angeles. Đơn vị Pacific từ được gọi là ‘’Đơn vị Venice’’.
Đơn vị Tây Los Angeles
Đồn Tây Los Angeles là lực lượng cảnh sát phục vụ tại phần phía Bắc của khu Tây Los Angeles. Cộng đồng trong vòng tuần tra gồm Pacific Palisades, thành phố Century, Brentwood, Westwood, Tây Los Angeles và Cheviot Hills. UCLA và hãng Twentieth Century Fox đều nằm ở đây.
Đơn vị Olympic
Đồn Olympic là lực lượng cảnh sát tại khu Olympic, được mở vào ngày 4 tháng 1 năm 2009. Phân khu này là phân khu nhỏ của Đơn vị Hollywood, bao gồm nhiều phần của đơn vị Rampart và Wilshire. Đơn vị phủ trên diện tích 16 km2 Mid-City, bao gồm phố Hàn Quốc và bộ phận tại Miracle Mile, với dân số là 200,000 người. Đồn được xây dựng trên khu đất 5,000 m2 tại góc Đông Nam của Đại lộ Vermont và đường Eleventh gồm 293 cảnh sát viên. Tòa nhà xây dựng hết US$34 triệu.
=== Văn phòng Chiến dịch Đặc biệt ===
Văn phòng Chiến dịch Đặc biệt là phòng mới thiết lập vào năm 2010. Đứng đầu là Chỉ huy trưởng, phòng bao gồm đơn vị Quản lý Tài sản, đơn vị Trại giam, vụ Thám tử và vụ Chống khủng bố và Chiến dịch Đặc biệt.
==== Vụ Thám tử ====
Vụ Thám tử bao gồm một số đơn vị và bộ phận có trách nhiệm điều tra tội phạm, và phải báo cáo về cho Giám đốc của Văn phòng Chiến dịch Đặc biệt.
Bộ phận Phân tích điều tra
Đơn vị điều tra kỹ thuật cao
Đơn vị phòng chống Án mạng-Cướp giật
Đơn vị phòng chống Tội phạm kinh tế
Đơn vị Hỗ trợ Thám tử -Đơn vị giám định tâm thần Sở cảnh sát thành phố Los Angeles- Đơn vị Quản lý Mối đe dọa Sở cảnh sát thành phố Los Angeles
Đơn vị đặc trách trẻ vị thành niên
Đơn vị phòng chống Ma túy và Băng đảng
==== Vụ Chống khủng bố và Chiến dịch đặc biệt ====
Vụ Chống khủng bố và Chiến dịch đặc biệt hỗ trợ cho Sở cảnh sát thành phố Los Angeles tài liệu chiến thuật đặc biệt trong những hoạt động tuần tra thường nhật, những tai nạn bất thường và đặc biệt là những trường hợp gây rối nghiêm trọng và trong những điều kiện mối đe dọa cao về khủng bố.
Vụ Chống khủng bố và Chiến dịch đặc biệt được tổ chức từ sự sáp nhập của Vụ Chống khủng bố và Tình báo tội phạm với Vụ Chiến dịch đặc biệt năm 2010.
Cấu trúc của Vụ Chống khủng bố và Chiến dịch đặc biệt.
Đơn vị phòng chống tội phạm nghiêm trọng
Đơn vị dịch vụ khẩn cấp
Đơn vị hỗ trợ trên không
Đơn vị Chiến dịch khẩn cấp
Đơn vị phụ trách trung tâm thành phố
Trung đội A – Quản lý và lên kế hoạch chiến dịch
Trung đội B và C – Ngăn chặn tội phạm
Trung đội D – Lực lượng Cảnh sát cơ động và chiến lược (S.W.A.T)
Trung đội E – Đơn vị ngựa
Trung đội K-9 – Đơn vị cảnh khuyển
=== Văn phòng các công tác Hành chính ===
Văn phòng các công tác Hành chính là phòng mới lập năm 2010. Đứng đầu là Chỉ huy trưởng, gồm phòng Công tác Khoa học hành vi, đơn vị Giám định Sử dụng vũ lực, vụ Khoa học thông tin, vụ Dịch vụ hành chính và vụ Huấn luyện và Nhân sự.
== Cấu trúc cấp bậc và quân hàm ==
== Phần thưởng, tuyên dương, biểu dương và huy chương trong Sở cảnh sát Los Angeles ==
Sở trao tặng huân chương cho các cá nhân có sự cống hiến xứng đáng. Danh sách các huân chương:
=== Huân chương Dũng cảm ===
Medal of Valor
‘’Medal of Valor’’ là phần thưởng cao quý nhất, bày tỏ lòng dũng cảm, trao cho cảnh sát có thành tích xuất sắc, mạo hiểm mạng sống vì nhiệm vụ.
Liberty Award:
Liberty Award là huân chương dũng cảm, được trao cho cảnh sát bị giết hay bị trọng thương trong lúc làm nhiệm vụ. Huân chương này sẽ được nhận cùng Medal of Valor.
Police Medal for Heroism:
The Police Medal là huân chương của hành động anh hùng trong nhiệm vụ, do được gọi hay do tình nguyện làm nhiệm vụ, bắt buộc phải có Medal of Valor.
Police Star:
Police Star là phần thưởng cho sự dũng cảm dành cho cảnh sát có kỹ năng tác chiến linh động và thể hiện tốt để vô hiệu hóa một tình thế nguy hiểm hay đầy căng thẳng.
Police Life-Saving Medal:
The Police Life-Saving Medal là phần thưởng cho sự dũng cảm, được trao cho cảnh sát giải cứu hoặc cố giải cứu đồng đội đang gặp nguy hiểm.
=== Phục vụ ===
Police Distinguished Service Medal
Police Meritorious Service Medal
Police Meritorious Achievement Medal
Police Commission Distinguished Service Medal
Community Policing Medal
Human Relations Medal
=== Tuyên dương đơn vị ===
Police Commission Unit Citation
Police Meritorious Unit Citation
=== Ruy băng ===
1984 Summer Olympics Ribbon:
Trao cho sĩ quan cảnh sát trong kỳ Olympic mùa hè năm 1984.
1987 Papal Visit Ribbon:
Trao cho sĩ quan cảnh sát trong kỳ bảo vệ Giáo hoàng Gioan Phaolô II năm 1987.
1992 Civil Disturbance Ribbon:
Trao cho sĩ quan cảnh sát trong kỳ Nổi loạn Los Angeles 1992.
1994 Earthquake Ribbon:
Troa cho sĩ quan cảnh sát phục vụ trong trận động đất Northridge 1994.
Reserve Service Ribbon:
Trao cho cảnh sát viên có 4000 giờ phục vụ.
== Nhân sự ==
=== Giới hạn ===
Sở cảnh sát thành phố Los Angeles đã trải qua thời kì tinh giảm ngân sách cũng như nhân sự vài năm gần đây. So với những thành phố lớn khác tại Mỹ, Los Angeles có tỷ lệ sĩ quan cảnh sát trên dân số thuộc hàng thấp nhất. Cựu Cảnh sát trưởng William J. Bratton từng cho rằng quân số là ưu tiên hàng đầu của ông khi ông tuyên bố ‘’Hãy cho tôi thêm 4,000 quân, tôi sẽ biến Los Angeles thành thành phố an toàn nhất thế giới.’’
Tỷ lệ sĩ quan cảnh sát trên dân số là 1 cảnh sát cho 426 dân, trong khi đó Thành phố New York có 1 cảnh sát trên 228 dân. Để có tỷ lệ như New York, Los Angeles sẽ cần thêm 17,000 cảnh sát nữa.
=== Phân biệt chủng tộc và cơ cấu giới ===
Trong suốt chiều dài lịch sử của L.A.P.D, Sở có tỷ lệ nhân viên da trắng rất cao (80% vào năm 1980), và rất nhiều nhân viên là người ngoài thành phố. Một cuộc khảo sát của Đại học Los Angeles-California năm 1994, 80% nhân viên cảnh sát sống bên ngoài thành phố.
Năm 2002, phụ nữ phục vụ trong ngành tăng lên 18.9%. Phụ nữ ngày càng giành được nhiều sự thăng tiến trong sự nghiệp kể từ sau vụ kiện của Fanchon Blake. Sĩ quan nữ có cấp hàm cao nhất đến hiện giờ là Trợ lý Cảnh sát trưởng Sharon Papa. Trưởng Cảnh sát Papa hiện đang là chỉ huy tại Phân khu Valley.
Theo số liệu của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ năm 2000, L.A.P.D có 82% là nam, 46% là Mỹ da trắng, 33% có gốc Mỹ La-tin, 14% gốc Phi và 7% gốc Á.
=== Môi trường làm việc ===
Nhân viên cảnh sát tuần tra LAPD có lịch làm việc là 3 ngày với 12 tiếng và 4 ngày với 10 tiếng trong 1 tuần. Sở có hơn 250 loại nhiệm vụ, mỗi sĩ quan cảnh sát bắt buộc phải hoàn thành hết các loại đó sau 2 năm làm việc. L.A.P.D buộc sĩ quan của mình phải làm việc theo cặp, không như những vùng phụ cận thành phố vốn 1 sĩ quan chỉ đi tuần một mình để tăng sự hiện diện của cảnh sát và cho phép số lượng cảnh sát nhỏ có thể tuần tra khu vực lớn.
Vào đầu năm 2007, một nhân viên mới vào làm có thể kiếm được tiền vào khoảng US$5,000 đến US$10,000. Nếu ký vào hợp đồng, họ sẽ được trả phân nửa sau khi tốt nghiệp và phân nửa sau khóa tập sự. Bên cạnh, họ sẽ được hỗ trợ thêm US$2,000 tiền thuê nhà cho ứng viên ở xa. Trong tháng 7 năm 2009, nhân viên tập sự sẽ có mức lương khởi điểm là US$56,522–US$61,095 tùy vào bằng cấp của họ, và họ có thể có lương đầy đủ trong ngày đầu ở trường huấn luyện.
Năm 2010, lương cơ bản cho nhân viên có bằng trung học là US$45,226. Nếu ứng viên đã hoàn thành 60 tín chỉ đại học, và có số điểm trung bình trên 2.0 hoặc cao hơn thì lương sẽ là US$47,043. Nếu ứng viên có bằng Cử nhân(hệ 4 năm) thì lương sẽ là US$48,880.
== Nguồn lực ==
=== Phương tiện ===
==== Hàng không ====
Đơn vị hỗ trợ trên không của cảnh sát Los Angeles có 17 máy bay trực thăng gồm 4 chiếc Bell 206 Jet Rnagers, 12 chiếc Eurocopter AS350-B2 AStars.
==== Mặt đất ====
Có 3 loại xe được chính thức sử dụng trong Sở Cảnh sát thành phố Los Angeles đó là: Ford Crown Victoria Police Interceptor, Dodge Charger và Chevrolet Tahoe. Sở cũng đang thử nghiệm hai loại là Chevrolet Impala và Chevrolet Caprice PPV 2011 trong đội xe của họ.
=== Vũ khí ===
Trước năm 1988, sĩ quan cảnh sát L.A.P.D được trang bị khẩu Smith & Wesson Model 15 còn được gọi là khẩu.38 "Combat Masterpiece". Đây là vũ khí được đặt dành riêng cho Sở. Trong xe tuần tra, còn có khẩu Ithaca Model 37, súng săn cỡ 12, nạp loại đạn chì với 9 viên đạn trong nòng, được để khóa tại thành thép. Để đối phó với tình trạng tội phạm có vũ khí ngày càng tăng, các nhân viên cảnh sát được cấp thêm khẩu Beretta 92FS và khẩu Smith & Wesson Model 5906, loại đạn 9mm bán tự động trong một vài trường hợp. Sau vụ Đấu súng Bắc Hollywood, nhân viên được lựa chọn mang thêm khẩu Smith & Wesson Model 4506 và 4566 với loại đạn.45 ACP. Trong thời gian William Bratton lên làm Cảnh sát trưởng, ông đã cho phép các sĩ quan của mình mang khẩu súng ngắn Glock, các sĩ quan ra trường được cấp khẩu Glock 22 nhưng được phép chọn rất nhiều loại vũ khí khác để phục vụ công tác như sau:
Beretta:
92F, 92FS, 92FS-Stainless Steel, 8045 (4" barrel)
Smith & Wesson:
459, 5904, 5903, 659, 5906, 645, 4506, 4566, 4567, 5903 TSW, 5906 TSW, 4569 TSW, và 4566 TSW.
Glock:
9mm: Model 34, Model 17, Model 19
.40 caliber: Model 35, Model 22, Model 23
== Những tranh cãi ==
Bạo loạn Los Angeles 1992
Vụ bê bối ở Rampart
Những vụ dính líu khác như
Án mạng ở Wineville Chicken Coop
Vụ biểu tình tại MacArthur Park
Vụ sát hại O. J. Simpson
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Bentley, Brian (1997). One Time: The Story of a South Central Los Angeles Police Officer. Los Angeles: Cool Jack Publishing. ISBN 1-890632-00-7.
Corwin, Miles (1997). The Killing Season New York: Simon & Schuster ISBN 0-684-80235-X.
Corwin, Miles (2003). Homicide Special: A Year With the LAPD's Elite Detective Unit New York: Henry Holt and Co. ISBN 0-8050-6798-1.
Domanick, Joe (1994). To Protect and to Serve: The LAPD's Century of War in the City of Dreams New York: Pocket Books. ISBN 0-9727625-5-8.
Gates, Daryl F. (1992). Chief: My Life in the LAPD New York: Bantam. ISBN 0-553-56205-3.
Sjoquist, Art R. (1984). History of the Los Angeles Police Department Los Angeles: Los Angeles Police Revolver and Athletic Club.
Starr, Kevin (2004). bờ biển của Dreams: California on the Edge, 1990–2003 New York: Knopf.
Stoker, Charles (1951). Thicker'n Thieves Sutter.
Wambaugh, Joseph (1973). The Onion Field Delacorte.
Webb, Jack (1958). The Badge: The Inside Story of One of America's Great Police Departments New York: Prentice-Hall.
== Liên kết ngoài ==
Official website
LAPD Online Telephone book with Reporting Districts, ZIP code, basic cars, formatted for mobile phones
On the Front Line in the War on Terrorism, City Journal, Summer 2007
LAPD Recruitment
LAPD Radio Communications System History |
bài hát fifa.txt | FIFA Anthem hay FIFA Hymn là một bản nhạc được vang lên trong các trận đấu hay giải đấu của FIFA như các trận giao hữu quốc tế hay FIFA World Cup. Lần đầu ra mắt của bản nhạc này là World Cup 1994. Được sáng tác bởi Franz Lambert, và là một bản nhạc không lời.
== Tham khảo == |
hypena.txt | Hypena là một chi bướm đêm thuộc họ họ Erebidae. Chi này gồm các loài thuộc Bomolocha cũ. Chúng không di cư, qua mùa đông dưới dạng nhộng.
== Các loài ==
Còn tồn tại:
Hypena abalienalis Walker, 1859
Hypena abjuralis Walker, 1859
Hypena abyssinalis Guénée, 1854
Hypena annulalis Grote, 1876
Hypena appalachiensis (Butler, 1987)
Hypena atomaria (Smith, 1903)
Hypena baltimoralis Guénée, 1854
Hypena bijugalis Walker, 1859
Hypena californica Behr, 1870
Hypena conscitalis Walker, 1866
Hypena crassalis - Beautiful Snout (Fabricius, 1787)
Hypena deceptalis Walker, 1859
Hypena decorata J. B. Smith, 1884
Hypena degasalis Walker, 1859
Hypena edictalis Walker, 1859
Hypena eductalis Walker, 1859
Hypena euryzostra Turner, 1932
Hypena gonospilalis Walker, 1866
Hypena gypsospila Turner, 1903
Hypena henloa hoặc Hypena heuloa (Smith, 1905)
Hypena hoareae Holloway, 1977
Hypena humuli Harris, 1841
Hypena incognata Bethune-Baker, 1908
Hypena isogona Meyrick, 1889
Hypena labatalis Walker, 1859
Hypena laceratalis Walker, [1859]
Hypena lividalis (Hübner, 1796)
Hypena madefactalis Guénée, 1854
Hypena manalis Walker, 1859
Hypena mandatalis Walker, 1859
Hypena masurialis Guénée, 1854
Hypena minualis Guénée, 1854
Hypena modestoides Poole, 1989 (=Hypena modesta J. B. Smith, 1895)
Hypena munitalis Mann, 1861
Hypena neoeductalis Lafontaine & Schmidt, 2010 (=Hypena (Bomolocha) eductalis Hampson, 1895)
Hypena obesalis - Paignton Snout Treitschke, 1828
Hypena obsitalis (Hübner, 1813)
Hypena obsoleta Butler, 1877
Hypena opulenta (Christoph, 1877)
Hypena orthographa Turner, 1932
Hypena palpalis (Hübner, 1796)
Hypena palparia Walker, 1861
Hypena pelodes Turner, 1932
Hypena porrectalis Fabricius, 1794
Hypena proboscidalis - Snout (Linnaeus, 1758)
Hypena ramstadtii (Wyatt, 1967)
Hypena rostralis - Buttoned Snout (Linnaeus, 1758)
Hypena scabra Fabricius, 1798
Hypena simplex (Lucas, 1895)
Hypena sordidula Grote, 1872
Hypena strigata (Fabricius)
Hypena subidalis Guenée, 1854
Hypena subvittalis Walker, 1866
Hypena sylpha Butler, 1887
Hypena umbralis (Smith, 1884)
Hypena variabilis Druce, 1890
Hypena vega (Smith, 1900)
Hypena vetustalis Guénée, 1854
Tuyệt chủng:
Laysan Dropseed Noctuid Moth (Hypena laysanensis)
Hilo Noctuid Moth (Hypena newelli)
Lovegrass Noctuid Moth (Hypena plagiota)
Kaholuamano Noctuid Moth (Hypena senicula)
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
Hypena at funet.fi
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Hypena tại Wikimedia Commons |
usb.txt | USB (Universal Serial Bus) là một chuẩn kết nối tuần tự đa dụng trong máy tính. USB sử dụng để kết nối các thiết bị ngoại vi với máy tính, chúng thường được thiết kế dưới dạng các đầu cắm cho các thiết bị tuân theo chuẩn cắm-và-chạy mà với tính năng cắm nóng thiết bị (nối và ngắt các thiết bị không cần phải khởi động lại hệ thống).
== Những đặc trưng của USB ==
USB có những đặc trưng sau đây:
Cho phép mở rộng 127 thiết bị kết nối cùng vào một máy tính thông qua một cổng USB duy nhất (bao gồm các hub USB);
Những sợi cáp USB riêng lẻ có thể dài tới 5 mét; với những hub, có thể kéo dài tới 30 mét (6 sợi cáp nối tiếp nhau thông qua các hub) tính từ đầu cắm trên máy tính.
Với USB 2.0 chuẩn tốc độ cao, đường truyền đạt tốc độ tối đa đến 480 Mbps.
Cáp USB gồm hai sợi nguồn (+5V và dây chung GND) cùng một cặp gồm hai sợi dây xoắn để mang dữ liệu.
Trên sợi nguồn, máy tính có thể cấp nguồn lên tới 500mA ở điện áp 5V một chiều (DC).
Những thiết bị tiêu thụ công suất thấp (ví dụ: chuột, bàn phím, loa máy tính công suất thấp...) được cung cấp điện năng cho hoạt động trực tiếp từ các cổng USB mà không cần có sự cung cấp nguồn riêng (thậm chí các thiết bị giải trí số như SmartPhone, PocketPC ngày nay sử dụng các cổng USB để sạc pin). Với các thiết bị cần sử dụng nguồn công suất lớn (như máy in, máy quét...) không sử dụng nguồn điện từ đường truyền USB như nguồn chính của chúng, lúc này đường truyền nguồn chỉ có tác dụng như một sự so sánh mức điện thế của tín hiệu. Hub có thể có nguồn cấp điện riêng để cấp điện thêm cho các thiết bị sử dụng giao tiếp USB cắm vào nó bởi mỗi cổng USB chỉ cung cấp một công suất nhất định.
Những thiết bị USB có đặc tính cắm nóng, điều này có nghĩa các thiết bị có thể được kết nối (cắm vào) hoặc ngắt kết nối (rút ra) trong mọi thời điểm mà người sử dụng cần mà không cần phải khởi động lại hệ thống.
Nhiều thiết bị USB có thể được chuyển về trạng thái tạm ngừng hoạt động khi máy tính chuyển sang chế độ tiết kiệm điện.
== Kết nối USB - máy tính ==
Khi một máy tính được cấp nguồn, nó truy vấn tất cả thiết bị được kết nối vào đường truyền và gán mỗi thiết bị một địa chỉ. Quy trình này được gọi là liệt kê – những thiết bị được liệt kê khi kết nối vào đường truyền. Máy tính cũng tìm ra từ mỗi thiết bị cách truyền dữ liệu nào mà nó cần để hoạt động:
Ngắt - Một thiết bị như chuột hoặc bàn phím, gửi một lượng nhỏ dữ liệu, sẽ chọn chế độ ngắt.
Hàng loạt - Một thiết bị như một chiếc máy in, nhận dữ liệu trong một gói lớn, sử dụng chế độ truyền hàng loạt. Một khối dữ liệu được gửi đến máy in (một khối 64 byte) và được kiểm tra để chắc chắn nó chính xác.
Đẳng thời - Một thiết bị truyền dữ liệu theo chuỗi (lấy ví dụ như loa) sử dụng chế độ đẳng thời - kết nối liên tục. Những dòng dữ liệu giữa thiết bị và máy trong thời gian thực, và không có sự sửa lỗi ở đây.
Máy tính có thể gửi lệnh hay truy vấn tham số với điều khiển những gói tin.
Khi những thiết bị được liệt kê, máy tính sẽ giữ sự kiểm tra đối với tổng băng thông mà tất cả những thiết bị đẳng thời và ngắt yêu cầu. Chúng có thể tiêu hao tới 90% của băng thông 480 Mbps cho phép.
Sau khi 90% được sử dụng, máy tính sẽ từ chối mọi truy cập của những thiết bị đẳng thời và ngắt khác. Điều khiển gói tin và gói tin cho truyền tải hàng loạt sử dụng phần băng thông còn lại (ít nhất 10%).
USB chia băng thông cho phép thành những khung, và máy tính điều khiển những khung đó. Khung chứa 1.500 byte, và một khung mới bắt đầu mỗi mili giây. Thông qua 1 khung, những thiết bị đẳng thời và ngắt lấy được một vị trí do đó chúng được đảm bảo băng thông mà chúng cần. Truyền tải hàng loạt và điều khiển truyền tải sử dụng phần còn lại.
== USB 2.0 ==
USB phiên bản 2.0 được đưa ra vào tháng 4 năm 2000(lúc đó windows 2000) cũng sẽ sớm tương thích với USB 2.0 vì hệ điều hành windows 2000) và xem như bản cải tiến của USB 1.1.
USB 2.0 (USB với loại tốc độ cao) mở rộng băng thông cho ứng dụng đa truyền thông và truyền với tốc độ nhanh hơn 50 lần so với USB 1.1. Để có sự chuyển tiếp các thiết bị mới, USB 2.0 có đầy đủ khả năng tương thích với những thiết bị USB trước đó và cũng hoạt động tốt với những sợi cáp, đầu cắm dành cho cổng USB trước đó.
Hỗ trợ ba chế độ tốc độ (1,5 Mbps; 12 Mbps và 480 Mbps), USB 2.0 hỗ trợ những thiết bị chỉ cần băng thông thấp như bàn phím và chuột, cũng như thiết bị cần băng thông lớn như webcam, máy quét, máy in, máy quay và những hệ thống lưu trữ lớn. Sự phát triển của chuẩn USB 2.0 đã cho phép những nhà phát triển phần cứng phát triển các thiết bị giao tiếp nhanh hơn, thay thế các chuẩn giao tiếp song song và tuần tự cổ điển trong công nghệ máy tính. USB 2.0 và các phiên bản kế tiếp của nó trong tương lai sẽ giúp các máy tính có thể đồng thời làm việc với nhiều thiết bị ngoại vi hơn.
Hiện nay, nhiều máy tính cùng tồn tại song song hai chuẩn USB 2.0 và 3.0, người sử dụng nên xác định rõ các cổng 2.0 để sử dụng hiệu quả. Thông thường hệ điều hành Windows vista có thể cảnh báo nếu một thiết bị USB 1.1 được cắm vào cổng USB 2.0.
== USB 3.0 ==
USB phiên bản 3.0 được đưa ra vào cuối năm 2012 (là windows 8 đã được ra đời). USB 3.0 là phiên bản lấy từ nền tảng USB 2.0 với tốc độ đáng kinh ngạc,nhanh hơn USB 2.0 gấp 10 lần. USB 3.0 rất dễ phân biệt USB 2.0 ở chỗ màu đen và xanh da trời bên trong cổng của nó.
== Hub USB ==
Phần lớn những máy tính ta mua ngày nay có hai hoặc nhiều hơn một chút (có thể là 8 đến 10) đầu cắm USB được thiết kế sẵn trên các cổng xuất vào/ra hoặc các đầu cắm trên bo mạch chủ. Tuy nhiên người sử dụng có thể sử dụng các thiết bị ngoại vi hơn số cổng sẵn có qua khả năng mở rộng thiết bị trên các cổng USB thông qua các USB hub.
Các hub này có thể mở rộng ra rất nhiều cổng và nếu chúng được cung cấp nguồn điện từ bên ngoài (sử dụng các bộ adapter cấp nguồn riêng) sẽ cho phép các thiết bị USB sử dụng năng lượng từ hub mà không bị hạn chế bởi công suất giới hạn trên cổng USB trên máy tính.
Các USB hub hiện nay rất đa dạng về chủng loại, chuẩn hỗ trợ, số cổng mở rộng, hình dạng và thiết kế tích hợp. Nhiều thiết bị ngoại vi đã tích hợp các hub giúp cho người sử dụng dễ dàng cắm các thiết bị kết nối qua cổng USB, màn hình máy tính, bàn phím máy tính...cũng có thể được tích hợp USB hub.
Lưu ý: Một số thiết bị ngoại vi sử dụng các cổng USB để cấp nguồn cho chúng (như các ổ đĩa cứng gắn ngoài không có nguồn độc lập) với yêu cầu cắm vào đồng thời hai cổng USB thì điều này có nghĩa rằng chúng cần một công suất lớn hơn so với khả năng cung cấp của một cổng USB trên máy tính. Nếu sử dụng USB hub loại không có nguồn điện ngoài thì cũng trở thành vô nghĩa bởi đầu cắm còn lại của thiết bị ngoại vi này chỉ dùng để lấy điện. Sự vô ý này của rất nhiều người sử dụng đã làm hư hỏng bo mạch chủ bởi sự cung cấp điện năng quá tải giới hạn cho mỗi đầu ra USB.
== Các thiết bị hoặc phương thức hỗ trợ giao tiếp USB ==
Chuột
Bàn phím
Máy in
Máy quét
Xbox one
Webcam
Modem giao tiếp thông qua USB thay cho cổng RJ-45 thông thường, thường thấy ở các modem ADSL hiện nay.
Loa: Một số loại chỉ loa công suất thấp chỉ lấy nguồn từ đầu cắm USB (chúng vẫn cắm đường tín hiệu âm thanh từ bo mạch âm thanh thông thường, một số loại loa công suất cao chỉ lấy tín hiệu từ USB (chúng sử dụng nguồn điện riêng).
Điện thoại VoIP: Điện thoại gọi thông qua Internet.
Kết nối với các điện thoại di động, Điện thoại thông minh (SmartPhone), Thiết bị hỗ trợ cá nhân...
Kết nối với những thiết bị lưu trữ mở rộng như: ổ Zip, ổ cứng gắn ngoài, ổ quang gắn ngoài, Ổ USB...
Kết nối mạng giữa hai máy tính thông qua cáp USB.
Các bộ chuyển đổi cổng: USB thành RS-232; USB thành PS/2; USB thành cổng Print truyền thống...
Các bộ điều hợp sử dụng chuẩn giao tiếp USB: Hồng ngoại, bluetooth, Wifi...
Các thiết bị nghiên cứu khoa học sử dụng giao tiếp USB để kết nối với máy tính.
== Xem thêm ==
Kết nối có dây
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Anh:
Home of USB Implementers Forum, Inc.
Intel Universal Host Controller Interface (UHCI) |
trúc nhân.txt | Trúc Nhân tên đầy đủ là Nguyễn Trúc Nhân (sinh ngày 30 tháng 11 năm 1991 tại Bình Định) là một ca sĩ Việt Nam. Anh được biết đến khi tham gia chương trình Giọng hát Việt mùa đầu tiên.
== Tiểu sử và sự nghiệp ==
Trúc Nhân sinh ra ở vùng đất Hoài Nhơn - Bình Định nhưng lớn lên ở thành phố Vũng Tàu vì phải theo gia đình vào Nam lập nghiệp. Sau khi tốt nghiệp cấp ba anh chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh và theo học khoa Mỹ thuật ngành Thiết kế đồ họa tại Trường Đại học Dân lập Văn Lang, lúc đó anh đã chọn ca hát là nghề tay trái của mình. Trúc Nhân sau đó tham gia Giọng hát Việt năm 2012, là thí sinh trong đội Thu Minh và lọt vào Top 8 của chương trình.
=== 2013: Khởi đầu với mini album Đông ===
Sau Giọng hát Việt, Trúc Nhân ra mắt mini album Đông gồm các ca khúc được khán giả yêu thích và biết đến Trúc Nhân qua cuộc thi như: Gió mùa về (Lê Minh Sơn), Mercy và Đông (Vũ Cát Tường). Trúc Nhân nhận được sự ủng hộ của người thầy là huấn luyện viên - ca sĩ Thu Minh, nhà sản xuất âm nhạc Nguyễn Hải Phong và các nhạc sĩ khác khi thực hiện album này.
Trúc Nhân cho biết: "Theo kế hoạch ban đầu thì album có tên gọi là “N”. “N” ẩn chứa hai ý nghĩa là chữ cái đầu tiên trong tên mình – Nhân và cũng thể hiện niềm mong muốn thành công trên con đường mà Nhân đã chọn thành công "n" lần. Nhưng do trục trặc trong khâu tạo hình chữ N trên mái tóc để chụp ảnh bìa album, nên ý tưởng mới lạ này đã bị loại bỏ vì Nhân không muốn đem sản phẩm kém chất lượng đến với khán giả."
=== 2014: Được yêu thích với Bốn chữ lắm ===
Sau khi hợp tác với ca sĩ Văn Mai Hương trong ca khúc Tìm. Trúc Nhân tiếp tục kết hợp với Trương Thảo Nhi trong ca khúc Bốn chữ lắm . Ca khúc này khá đặc biệt đối với cả Trúc Nhân và Trương Thảo Nhi vì MV ca khúc này được quay chỉ bằng một chiếc điện thoại di động. Sau khi ra mắt, ca khúc này được rất nhiều khán giả yêu thích, đạt nhiều thành tích trên các BXH âm nhạc và tại các lễ trao giải. Sau thành công của Bốn chữ lắm, Trúc Nhân tiếp tục hợp tác với nhạc sĩ Phạm Toàn Thắng ra mắt single Vẽ, ca khúc được nhạc sĩ Nguyễn Hải Phong phối lại hoàn toàn mới .
=== 2015: Gây bất ngờ với ca khúc Thật bất ngờ ===
Năm 2015, Trúc Nhân phát hành ca khúc Muốn khóc thật to (Tăng Nhật Tuệ), sau đó anh cho ra mắt ca khúc Thật bất ngờ (Mew Amazing). Thật bất ngờ là ca khúc có nội dung đả kích hậu trường showbiz Việt với những bê bối chuyện làng sao. Trúc Nhân chia sẻ: "Bài hát này tôi bị cấm hát trong rất nhiều chương trình - nhất là những show trực tiếp với lý do ngôn từ nhạy cảm. Tôi nghĩ dường như mọi người đang hiểu sai một chút. Tôi thấy đây là chủ đề hay nhưng hiếm có nhạc sĩ nào liều lĩnh viết về nó nên khi nghe bản demo tôi muốn hát nó ngay, tôi tin khán giả sẽ nhìn thấy nhiều điều thú vị của showbiz chứ không đơn giản là những màu hồng thường thấy. Khán giả có lẽ sẽ rất thích ca khúc vì nhiều yếu tố như giai điệu bắt tai, ca từ độc đáo và một chủ đề gây tò mò. Còn với các đồng nghiệp được ám chỉ, tôi nghĩ họ sẽ không trách nhạc sĩ hay người thể hiện bài hát vì đó chỉ là một cái nhìn sợ lược về mặt trái của showbiz chứ không có ý phân tích chuyện đúng - sai hay nhận xét về ai cả. Có lẽ, họ cũng sẽ thích ca khúc này".
Trúc Nhân đã viết kịch bản cho MV này với phong cách trào phúng, anh đã ra Hà Nội để thực hiện các cảnh quay ở một khu tập thể cũ. MV được Trúc Nhân thực hiện với ý tưởng mới lạ, anh vào vai một chú bé bán báo cùng bà con khu phố nói về thế giới rộng lớn ngoài kia, thế giới của một xã hội quá nhiễu loạn và nhiều điều vô lý. Ca khúc này của Trúc Nhân đã nhận được sự ủng hộ rất lớn từ khán giả.
== Âm nhạc ==
Đông
Bác làm vườn và con chim sâu
Tìm (ft. Văn Mai Hương)
Bốn chữ lắm (ft. Trương Thảo Nhi)
Vẽ
Muốn khóc thật to
Thật bất ngờ
Nắng cực (ft. Trương Thảo Nhi ft. Phạm Toàn Thắng ft. Cao Bá Hưng)
== Giải thưởng ==
Giải nhất cuộc thi Văn Lang Idol năm 2009
Top 8 Giọng hát Việt 2012
Ca sĩ trình bày hiệu quả nhất của Bài hát Việt tháng 10 năm 2013
Nghệ sĩ đột phá của YAN Vpop 20 Awards năm 2014
MV của năm của Zing Music Awards năm 2014
Nam ca sĩ Triển vọng của Làn sóng xanh năm 2014
Bài hát của tháng của Bài hát Việt tháng 6 năm 2014
Giải thưởng do Hội đồng báo chí bình chọn của Bài hát Việt năm 2014
Bài hát của năm của Bài hát Việt năm 2014
Ca khúc của năm của YAN Vpop 20 Awards năm 2014
Bài hát ấn tượng của Làn sóng xanh năm 2014
Bài hát của năm của Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến năm 2016
MV của năm của Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến năm 2016
== Chú thích == |
1824.txt | 1824 (số La Mã: MDCCCXXIV) là một năm nhuận bắt đầu vào thứ Năm trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1824
== Sự kiện ==
== Sinh ==
1 tháng 4: Emil von Albedyll, tướng lĩnh Phổ (mất 1897)
== Mất ==
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
huấn luyện viên (bóng đá).txt | Trong bóng đá, huấn luyện viên là người chịu trách nhiệm điều hành một câu lạc bộ bóng đá hoặc một đội tuyển quốc gia. Huấn luyện viên của một câu lạc bộ chuyên nghiệp là người chịu trách nhiệm trực tiếp về quản lý đội bóng, hoặc thậm chí là chủ đội bóng.
Trách nhiệm của huấn luyện viên trong một câu lạc bộ bóng đá bao gồm nhưng không giới hạn những điều sau:
Lựa chọn những cầu thủ ra sân cho một trận đấu.
Đề ra kế hoạch về chiến thuật, và chỉ đạo trên sân.
Đưa ra nhiệm vụ với huấn luyện viên đội một và bác sĩ.
Tìm ra các tài năng trẻ cho học viện hoặc đội dự bị.
Mua và bán các cầu thủ trên thị trường chuyển nhượng, thậm chí cho mượn.
Một số trách nhiệm trên đây còn được chia sẻ cùng giám đốc thể thao hoặc giám đốc kĩ thuật và cả trợ lý huấn luyện viên.
Trên thực tế, phụ thuộc vào đội bóng, một số trách nhiệm khác bao gồm:
Tiếp thị đội bóng, đặc biệt là về giá vé, tài trợ và buôn bán.
Giữ lợi nhuận cho đội bóng.
Những trách nhiệm trên thường là của các huấn luyện viên của câu lạc bộ nhỏ.
== Tham khảo == |
y.txt | Y, y là chữ cái thứ 25 trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ 29 trong chữ cái tiếng Việt.
== Tham khảo == |
stendhal.txt | Marie-Henri Beyle (sinh 23 tháng 1 năm 1783 - mất 23 tháng 3 năm 1842), được biết đến với bút danh Stendhal, là một nhà văn Pháp thế kỉ 19. Ông được biết đến với kĩ năng phân tích nhân vật sắc sảo và là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất của chủ nghĩa hiện thực, điều này được thể hiện rõ nhất qua hai tiểu thuyết nổi tiếng của ông là Đỏ và Đen (Le Rouge et le Noir, 1830) và Tu Viện thành Parma (La Chartreuse de Parme, 1839).
Ông từng làm thư ký của bộ trưởng bộ chiến tranh Pháp trong cuộc chiến tranh Pháp- Ý thời Đế chế I. Những năm trong quân đội, ông làm việc chủ yếu ở Ý và say mê đất nước và con người nơi đây - nơi từng gợi cho ông nhiều cảm hứng sáng tác.
Năm 1821, ông rời Milano về Paris. Sau đó, ông có sáng tác một số tiểu luận: Về tình yêu (1822), Racine và Shakespeare (1823). Nhưng ông lại thành công hơn với tiểu thuyết tâm lý và xu hướng hiện thực đang phát triển với nhiều sức thuyết phục trong giai đoạn này. Một số tác phẩm khác: truyện ngắn Nữ tu viện trưởng, Vanina Vanini; và một số truyện khác có tên chung Biên niên nước Ý.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
tiếng Pháp Audio Book (mp3) of the red and the black incipit
French site on Stendhal
English site on Stendhal
Các tác phẩm của Stendhal tại Dự án Gutenberg
The Red and the Black English translation
Stendhal's works: text, concordances and frequency list |
hội nhập kinh tế.txt | Hội nhập kinh tế, theo quan niệm đơn giản nhất và phổ biến trên thế giới, là việc các nền kinh tế gắn kết lại với nhau. Theo cách hiểu này, hội nhập kinh tế đã diễn ra từ hàng ngàn năm nay và hội nhập kinh tế với quy mô toàn cầu đã diễn ra từ cách đây hai nghìn năm khi đế quốc La Mã xâm chiếm thế giới và mở mang mạng lưới giao thông, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong toàn bộ lãnh địa chiếm đóng rộng lớn của họ và áp đặt đồng tiền của họ cho toàn bộ các nơi.
Hội nhập kinh tế, hiểu theo một cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết mang tính thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau. Khái niệm này được Béla Balassa đề xuất từ thập niên 1960 và được chấp nhận chủ yếu trong giới học thuật và lập chính sách. Nói rõ hơn, hội nhập kinh tế là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu.
Trong các giáo trình nhập môn về kinh tế học quốc tê, hội nhập kinh tế thường được cho là có sáu cấp độ: khu vực/hiệp định thương mại ưu đãi, khu vực/hiệp định thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, liên minh kinh tế tiền tệ, và hội nhập toàn diện. Tuy nhiên trong thực tế, các cấp độ hội nhập có thể nhiều hơn và đa dạng hơn.
Hội nhập kinh tế có thể là song phương - tức là giữa hai nền kinh tế, hoặc khu vực - tức là giữa một nhóm nền kinh tế, hoặc đa phương - tức là có quy mô toàn thế giới giống như những gì mà Tổ chức Thương mại Thế giới đang hướng tới.
== Thỏa thuận thương mại ưu đãi ==
Đây là cấp độ thấp nhất của liên kết kinh tế, theo đó các quốc thủ tướng tham gia hiệp định dành các ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan cho hàng hóa của nhau, tạo thành các khu vực thương mại ưu đãi vùng (Preferential Trade Area). Trong các thỏa thuận này, thuế quan và hàng rào phi thuế quan có thể vẫn còn, nhưng thấp hơn so với khi áp dụng cho quốc gia không tham gia hiệp định. Một ví dụ về thỏa thuận thương mại ưu đãi là Hiệp định về Thỏa thuận Thương mại Ưu đãi ASEAN được ký kết tại Manila năm 1977 và được sửa đổi năm 1995; hay Khu vực Thương mại Ưu đãi Đông và Nam Phi tồn tại từ năm 1981 đến năm 1994; hay như các hiệp định dành ưu đãi thương mại (hay tối huệ quốc) mà một số nước phát triển có thể dành cho các nước đang phát triển.
== Hiệp định thương mại tự do ==
Là hiệp định theo đó các nước ký kết cam kết bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan cho tất cả hoặc gần như tất cả hàng hóa của nhau. Có thể có những dòng thuế sẽ được bãi bỏ chậm hơn; và người ta thường đưa các dòng thuế này vào "danh sách nhạy cảm". Chỉ một số ít dòng thuế sẽ không được bãi bỏ và được liệt kê trong "danh sách loại trừ". Quy tắc xuất xứ là một phần quan trọng của các hiệp định thương mại tự do nhằm đảm bảo chỉ những hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc tối thiểu ở một tỷ lệ nhất định tại các nước thành viên hiệp định mới được buôn bán tự do nhằm tránh tình trạng nước không tham gia hiệp định sử dụng cách tái xuất hoặc chỉ lắp ráp tại một nước tham gia hiệp định mà có thể xuất khẩu sang nước còn lại của hiệp định không phải chịu thuế.
Một hiệp định thương mại tự do nổi tiếng được thành lập từ năm 1960, đó là Hiệp hội Thương mại Tự do châu Âu. Sau những bế tác của đàm phán tự do hóa thương mại đa phương trong khuôn khổ GATT, các hiệp định thương mại tự do song phương (giữa hai nước) và khu vực xuất hiện ngày càng nhiều từ giữa thập niên 1990. Và trong số những quốc gia hăng hái nhất trong việc ký kết các hiệp định thương mại tự do song phương phải kể đến Mexico, Singapore. Những khu vực thương mại tự do nổi tiếng mới thành lập từ thập niên 1990 điển hình là Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (thành lập năm 1994), Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (hiệp định được ký kết vào năm 1992). Ngoài ra, còn có những hiệp định thương mại tự do giữa một nước với cả một khối, như Hiệp định Khung về Hợp tác Kinh tế ASEAN-Trung Quốc (ký kết vào năm 2002).
Do xóa bỏ gần như hoàn toàn thuế quan và hàng rào phi thuế quan, nên việc đàm phán để thành lập một hiệp định thương mại tự do rất mất thời gian và qua nhiều vòng thương thảo. Những nước hăng hái với tự do hóa thương mại có thể thỏa thuận tiến hành chương trình giảm thuế quan sớm (còn gọi là chương trình thu hoạch sớm) đối với một số dòng thuế trước khi đàm phán kết thúc và hiệp định được thành lập.
Xem thêm: ASEAN+1.
== Hiệp định đối tác kinh tế ==
Hiệp định đối tác kinh tế là cấp độ hội nhập kinh tế sâu hơn hiệp định thương mại tự do, theo nghĩa là ngoài việc tự do hóa thương mại hàng hóa thông qua bãi bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan lại còn bao gồm cả tự do hóa dịch vụ, bảo hộ đầu tư, thúc đẩy thương mại điện tử giữa các nước ký kết hiệp định.
Nhật Bản là quốc gia có xu hướng thích các hiệp định đối tác kinh tế vì nó cho phép quốc gia này thâm nhập toàn diện vào các thị trường của nước đối tác. Hiện Nhật Bản đã ký kết 8 hiệp định đối tác kinh tế song phương và một hiệp định đối với ASEAN, đang đàm phán để đi tới ký kết 5 hiệp định khác (Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Úc, Thụy Sĩ), có 15 quốc gia, lãnh thổ và khu vực đang có nguyện vọng đàm phán và ký kết hiệp định đối tác kinh tế với Nhật Bản.
Xem thêm: Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP).
== Thị trường chung ==
Thị trường chung có đầy đủ các yếu tố của hiệp định đối tác kinh tế và liên minh thuế quan, cộng thêm các yếu tố như tự do di chuyển các yếu tố sản xuất (vốn, lao động) giữa các nước thành viên. Một thị trường chung như vậy đã từng được thành lập ở châu Âu vào năm 1957 theo Hiệp ước Rome và mất một thời gian dài mời hoàn thành mục tiêu. Khối ASEAN cũng đã thỏa thuận sẽ thực hiện được mục tiêu một thị trường chung và một cơ sở sản xuất thống nhất trong toàn khối vào năm 2020 trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN.
Xem thêm: Cộng đồng Kinh tế ASEAN.
== Liên minh thuế quan ==
Đây có thể hiểu là một khu vực thương mại tự do giữa các nước thành viên cộng với thuế quan thống nhất của các nước thành viên đối với hàng hóa từ ngoài khu vực. Việc thành lập liên minh thuế quan cho phép tránh được những phức tạp liên quan đến quy tắc xuất xứ, nhưng lại làm nảy sinh những khó khăn trong phối hợp chính sách giữa các nước thành viên.
Xem thêm: Liên minh Thuế quan Liên minh châu Âu.
== Liên minh kinh tế và tiền tệ ==
Hội nhập kinh tế đến cấp độ này tạo ra một thị trường chung giữa các nền kinh tế (không còn hàng rào kinh tế nào nữa) với một đơn vị tiền tệ chung. Ví dụ rõ nhất về cấp độ liên minh này là Khu vực đồng Euro. Các khu vực được thành lập với mục tiêu trở thành liên minh kinh tế tiền tệ nhưng chưa hoàn thành được mục tiêu này gồm: Cộng đồng Kinh tế Tây Phi, Cộng đồng Caribe (tiền thân là Cộng đồng và Thị trường Chung Caribe). Trong các liên minh từng tồn tại nhưng nay không còn có Liên minh Bỉ-Luxembourg.
Trong lịch sử đã từng có những khu vực dùng một đơn vị tiền tệ chung, như Liên minh Tiền tệ Latinh hồi thế kỷ 19, nhưng họ chưa xây dựng được một thị trường chung nên không gọi đó là liên minh kinh tế và tiền tệ. Lại có một số nước chấp nhận đồng tiền của nước hay khu vực khác làm đơn vị tiền tệ chính thức của mình, nhưng giữa họ không có một thị trường chung, nên không gọi là liên minh kinh tế - tiền tệ.
Hiện nay, tuy Anh đã tham gia Liên minh châu Âu, nhưng vì Anh vẫn giữ đơn vị tiền tệ riêng là đồng Bảng Anh, nên Anh không tham gia liên minh kinh tế tiền tệ ở châu Âu.
Với một đơn vị tiền tệ chung, các nước thành viên sẽ phải từ bỏ quyền thực thi chính sách tiền tệ riêng của mình, mà thay vào đó là một chính sách tiền tệ chung của toàn khối do một ngân hàng trung ương chung của khối đó thực hiện, như trường hợp của Ngân hàng Trung ương châu Âu.
Khi mà ngay cả chính sách tài chính cũng được thực hiện chung, hội nhập kinh tế đạt đến độ hoàn toàn.
Xem thêm: Liên minh tiền tệ.
== Tham khảo ==
Steven M. Suranovic, Economic Integration: Overview
== Xem thêm ==
Hội nhập kinh tế khu vực
Toàn cầu hóa |
mùa giải motogp 2016.txt | Mùa giải 2016 là mùa giải đua moto Grand Prix vô địch thế giới thứ 68 mà F.I.M. Road Racing tổ chức. Jorge Lorenzo sẽ bắt đầu mùa giải để bảo vệ chức vô địch thế giới mà anh đã giành được lần thứ 5 trong sự nghiệp với chiến thắng tại chặng đua Valencia 2015. Sau chín vòng Marc Marquez dẫn trước nhà đương kim vô địch Jorge Lorenzo, người dẫn trước đồng đội Valentino Rossi 11 điểm.
== Lịch ==
lịch thi đấu chính thức của giải moto GP 2016.
=== Lịch thi đấu thay đổi ===
Năm 2016 chứng kiến sự trở lại của Áo Grand Prix trong giải đấu sau 19 năm vắng mặt. Cuộc đua sẽ được tổ chức ở Red Bull Ring, địa điểm cuối cùng mà Áo Grand Prix, khi đó đường đua được gọi là A1 Ring.
Đã được lên lịch từ năm 2008,chặng đua Indianapolis vòng sẽ bị gián đoạn.
Lần đầu tiên trong lịch sử cuộc đua Dutc TT,được tổ chức vào ngày chủ nhật
== Đội và tay đua ==
Một tạm thời mục danh sách đã được thông báo vào 7 tháng mười một, 2015.
=== Sự thay đổi đội ===
Marc VDS Đua mở rộng... vào thứ hai chiếc xe đạp.
Sau khi đưa vào hai chiếc xe ở 2015, Đội LCR trở lại với một chiếc xe đua vào năm 2016.
Đội đua Aspar kết thúc của hợp tác với Honda và trở lại với ducati; đội đã từng là Ducatis trong năm 2010 và năm 2011.
Forward Racing bỏ MotoGP, như đã thông báo quan hệ đối tác với MV Agusta trong giải Superbike vô địch thế Giới và giải Supersport vô địch thế Giới, vào năm 2016.
AB Motoracing rời MotoGP như Karel áp-ra-ham mới chuyển đến căn Superbike vô địch thế Giới.
Ioda Racing thông báo rằng họ sẽ không tham gia MotoGP và đua tranh trong Superbike vô địch thế Giới.
=== Các thay đổi tay đua ===
Esteve Rabat, nhà vô địch thể thức Moto2 thế gíơi năm 2014 đã khởi đầu sự nghiệp GP với đội đua Marc VDS Racing đội đã cùng anh dành giải vô địch moto 2 thế giới
Yonny Hernández không gia hạn hợp đồng với Pramac Đua, và chuyển sang Aspar để thay thế Nicky Haydenngười chuyển sang thi đấu Superbike vô địch thế Giới.
Tham gia MotoGP từ năm 2011, Karel áp-ra-ham đã chuyển sang thi đấu giải Superbike vô địch thế Giới.
Loris Baz chuyển đến Avintia thay thế Mike Di Meglio.
Scott Redding rời Marc VDS cuối 2015 mùa tham gia Pramac Đua. Chỗ của anh được thay thế bởi Jack Miller.
== Luật thay đổi ==
Bắt đầu từ năm 2016, Michelin đã trở thành nhà cung cấp chính thức lốp xe sau khi Bridgestone rút lui. Đồng thời Dorna cũng đồng ý quy định thay đổi từ năm 2016 quy định để tăng lái kích cỡ lốp từ 16.5 inch để 17 inch (giống Moto2 và Moto3)..
== Kết quả và vị trí ==
=== Grands Prix ===
=== Vị trí các tay đua ===
Hệ thống thành tích
Điểm thưởng cho cái đầu mười lăm tay lái dẫn đầu Một tay đua phải hoàn thành cuộc đua để kiếm được điểm.
=== vị trí nhà sản xuất ===
=== Xếp hạng đội ===
== Tham khảo ==
== Bên ngoài liên kết ==
Chính thức trang web của Grand Prix xe đua |
sapporo.txt | Sapporo (tiếng Nhật: 札幌市 Sapporo-shi, Trát Hoảng thị) là thành phố có dân số lớn thứ năm, diện tích lớn thứ ba ở Nhật Bản. Sapporo là một thành phố quốc gia và là trung tâm hành chính của tỉnh Hokkaidō.
Mọi người biết đến Sapporo là chủ nhà của Thế vận hội mùa đông 1972, Lễ hội Tuyết thường niên, yuki matsuri, đã thu hút 2 triệu khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới.
== Lịch sử ==
Từ xưa, vùng đất Sapporo là nhà của cộng đồng dân tộc Ainu. Năm 1866, cuối thời kì Edo, bắt đầu xây dựng một con kênh đào từ Aomori qua vùng đất này, và những người đi khai hoang bắt đầu lập nên khu làng Sapporo. Cái tên này được lấy từ tiếng Ainu, nghĩa là "con sông lớn chảy qua đồng bằng".
Năm 1868 (năm được coi là ra đời Sapporo), chính phủ Minh Trị thiết lập quyền hành ở Hokkaido, thời điểm mà các cảng biển ở Hakodate nằm trong khu vực bất lợi cho phát triển và quân sự. Cuối cùng, một thủ phủ mới, nằm trên đồng bằng Ishikari, được thiết lập. Đó chính là Sapporo.
Từ 1870 đến 1871, Kiyotaka Kuroda, phó chủ tịch Hội đồng phát triển Hokkaido, đã mở rộng quan hệ với chính phủ Hoa Kỳ. Thành phố được xây dựng theo phong cách Mỹ, từ đường phố đến những khu nhà ở.
== Khu hành chính ==
Thành phố có 10 khu hành chính:
Atsubetsu-ku (厚別区)
Chuo-ku (中央区)
Higashi-ku (東区)
Kita-ku (北区)
Kiyota-ku (清田区)
Minami-ku (南区)
Nishi-ku (西区)
Shiroishi-ku (白石区)
Teine-ku (手稲区)
Toyohira-ku (豊平区)
== Dân số ==
Năm 2005 thành phố có 1.882.424 người, mật độ dân số là 1668 người/km² (tổng diện tích 1.121,12 km²).
== Đại học ==
Đại học Quốc gia
Đại học Hokkaido(北海道大学 - Hokkaidō daigaku, Hokkaido University)
北海道教育大学札幌校, Hokkaido University of Education, Sapporo Campus
Đại học công lập
札幌医科大学, Sapporo Medical University
札幌市立大学, Sapporo City University
== Thể thao ==
Năm 1972, Sapporo tổ chức Thế vận hội mùa đông. Nhiều công trình được xây dựng phục vụ Thế vận hội vẫn còn được sử dụng.
Năm 2006 Saporo tổ chức một số trận của Giải Vô địch Bóng rổ thế giới 2006.
Năm 2007, Sapporo là chủ nhà của Giải vô địch trượt tuyết thế giới FIS Nordic.
== Tham khảo == |
chiến tranh xứ gallia.txt | Bản mẫu:Campaignbox Gallic Wars
Chiến tranh xứ Gallia là một chuỗi những chiến dịch quân sự được thực hiện bởi các Quân đoàn Lê dương La Mã dưới sự chỉ huy của Julius Caesar vào xứ Gallia, theo sau sự trỗi dậy của các bộ lạc xứ Gallia. Ngoài ra, người La Mã còn tấn công cả Britannia và Germania, nhưng các cuộc viễn chinh này chẳng bao giờ thành công hoàn toàn cả. Cuộc chiến tranh Gallic được quyết định trong Trận đánh Alesia vào năm 52 TCN, nơi mà chiến thắng đã ấn định cho La Mã.
Mặc dù Caesar đã miêu tả đây là một cuộc chiến phòng thủ, nhưng hầu hết các sử gia đều nhìn nhận chiến tranh là yếu tố quyết định giúp Caesar trong sự nghiệp chính trị, và giúp ông thanh toán các khoản nợ khổng lồ của mình. Tuy nhiên, không thể xem nhẹ vị trí quân sự quan trọng của xứ Gallia đối với La Mã, khi mà La Mã đã từng bị rất nhiều bộ lạc Gallia tấn công trước đó. Chinh phục xứ Gaalli giúp cho La Mã đảm bảo an ninh cho khu vự biên giới sông Rhein.
Cuộc chiến này được ghi lại một cách cẩn thận bởi chính Julius Caesar trong cuốn sách Commentarii de Bello Gallico, (cuốn sách này hiện vẫn là một tư liệu lịch sử quan trọng). Ngoài ra, cuốn sách này còn là một tư liệu tuyên truyền chính trị quan trọng, điều mà Caesar vẫn thường dùng để lôi kéo các độc giả của ông tại Roma.
== Tiền đề chính trị ==
Năm 58 TCN, Caesar kết thúc nhiệm kỳ quan chấp chính của mình tại Roma, và mang theo những khoản nợ nặng nề. Bên cạnh đó, vì đang là thành viên của Chế độ tam đầu chế đầu tiên, Ceasar đảm bảo cho mình chức Thái thú hai tỉnh là Cisalpine Gaul và Illyricum. Vì Metellus Celer, thống đốc tỉnh Transalpine Gaul chết bất ngờ, tỉnh này cũng được giao luôn cho Caesar. Thời gian chấp chính của ông kéo dài đến 5 năm.
Dước sự chỉ huy trực tiếp của Caesar có 4 Quân đoàn bộ binh Lê dương La Mã: Lê Dương XII, Lê Dương XIII, Lê Dương IX xứ Hispana, Lê dương X. Các Quân đoàn này hầu hết đều quen thuộc Caesar vì ông đã từng chỉ huy họ ở tỉnh Hispania Ulterior và cùng với họ có các chiến dịch thành công chống người Lusitan. Ngoài ra Caesar còn có quyền tuyển thêm quân và các đơn vị hậu cần khác.
Mục tiêu của Caesar có thể nhận thấy rõ ràng là chinh phục và thu chiến lợi phẩm nhưng ban đầu Gallia không phải là mục tiêu của ông. Mục tiêu của Caesar là tấn công vùng Balkans chống lại vương quốc Dacia
Các bộ lạc xứ Gallia/Celt, man rợ và hầu như đã bị chia rẽ hoàn toàn. Vài bộ lạc khi buôn bán với La Mã đã bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa La Mã, một vài bộ lạc trong số đó đã chuyển từ thể chế công xã bộ lạc sang cộng hòa.
Người La Mã rất ngại những bộ lạc xứ Germania và Gallia kể trên. Chỉ chừng 50 năm trước, Ý đã từng bị các bộ lạc này tấn công, và chỉ được cứu sau hàng loạt cuộc chiến đẫm máu và tốn kém dưới sự chỉ huy của Gaius Marius. Và gần đây bộ tộc Suebi xứ Germania di chuyển vào xứ Gallia với lãnh đạo của họ là Ariovistus. Trông có vẻ các bộ lạc trên sẽ một lần nữa di chuyển, và điều này sẽ một lần nữa có thể sẽ đe dọa La Mã.
== Diễn biến ==
=== Chiến dịch chống bộ lạc Helvetii - Chiến tranh bắt đầu ===
Năm 61 TCN, bộ tộc Helvetii bắt đầu một cuộc di trú lớn, mà lãnh đạo là Orgetorix. Trong khoảng thời gian này bộ tộc Helvetii rất là không hài lòng với lãnh thổ mà mình đang có, bị bao quanh bởi các bộ tộc Germania, bộ tộc Celt Sequani và người La Mã tại Gallia Narbonensis. Một mối quan hệ ngoại giao được Qrgetorix thiết lập với hai bộ tộc là Sequani và Aeduians. Ngoài ra, Orgetorix còn có mối quan hệ ngoại giao và cá nhân với bộ tộc Casticus và Dumnorix.
Thông qua một cuộc tranh luận tại hội đồng,thủ lĩnh của người Helvetic là Orgetorix thực hiện các cuộc đàm phán với người Sequani đầy tham vọng và người La Mã thống trị Aeduians.
=== Chiến dịch chống bộ lạc Suebi xứ Germania ===
=== Những cuộc viễn chinh ===
=== Sự thống nhất và các cuộc bạo loạn ===
== Phân tích về cuộc chiến ==
== Chiến tranh xâm lược xứ Gallia trong các nền văn hóa ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
The conquest of Gaul, ISBN 0-14-044433-5, by Gaius Julius Caesar, translated by S. A. Handford and revised by Jane F. Gardner
"De Bello Gallico" and Other Commentaries at Project Gutenberg.
Fuller, J. F. C. Julius Caesar: Man, Soldier, and Tyrant. London, England: Eyre & Spottiswoode, 1965.
Gilliver, Kate. Caesar's Gallic Wars 58–50 BC. London: Osprey Publishing, 2002. ISBN 0-415-96858-5
Goldsworthy, Adrian. Caesar. London, England: Orion Books Ltd, 2007.
Goldsworthy, Adrian. In the name of Rome. ISBN 0-7538-1789-6
Grant, Michael. Julius Caesar. London, England: Weidenfeld and Nicolson, 1969.
Holland, Tom. Rubicon. ISBN 0-385-50313-X
Matyszak, Philip. The enemies of Rome. ISBN 0-500-25124-X
Walter, Gérard. Caesar: A Biography. Translated by Emma Craufurd. New York: Charles Scribner’s Sons, 1952.
Wyke, Maria.Caesar: A Life in Western Culture. Chicago: University of Chicago Press, 2008. |
lịch sử kinh tế nhật bản.txt | Lịch sử kinh tế Nhật Bản được quan tâm nghiên cứu chính là vì sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của nước này và bởi vì Nhật Bản là nền kinh tế quốc gia lớn thứ ba trên thế giới.
== Thời kỳ Tokugawa ==
Nhờ sự ổn định chính trị, kinh tế Nhật Bản thời kỳ Tokugawa phát triển nhanh, tạo ra nhiều tiền đề quan trọng cho phát triển kinh tế ở các thời kỳ sau này.
Nền kinh tế thời kỳ Tokugawa mặc dù là nền kinh tế nông nghiệp, song đã là một nền kinh tế hàng hóa phát triển tương đối rộng khắp. Thay vì một nền nông nghiệp để sống thuần túy, việc sản xuất cho thị trường đã dần dần trở thành tiêu chuẩn cho dân chúng làm nông nghiệp. Một phần khá đông dân số đã tham gia vào thương mại ở các mức độ khác nhau, nhất là ở vùng đô thị. Để có nguồn tài chính phục vụ cho nhu cầu chi tiêu xa xỉ, nhiều daimyo đã khuyến khích dân chúng sản xuất thủ công và khai hoang. Họ cũng đi vay của các thương nhân giàu có. Các thương nhân không chỉ buôn bán, mà còn tiến hành các dịch vụ tài chính như tín dụng và các hoạt động đầu tư vào sản xuất. Sự tích lũy tư bản tăng lên nhanh chóng trong thời kỳ này. Hoạt động tiền tệ, tín dụng phát triển mạnh. Nhiều công cụ tín dụng được sử dụng phổ biến thay cho tiền mặt. Những hình thức sơ khai của ngân hàng đã ra đời. Do nhu cầu chế tạo vũ khí quân sự, nền công nghiệp nhỏ ở các lãnh địa cũng phát triển theo.
== Thời kỳ công nghiệp hóa ==
=== Thời kỳ 1870-1890 ===
Năm 1868, sau chiến tranh Boshin, Thiên hoàng Minh Trị tiến hành cuộc Minh Trị Duy Tân, mở ra kỷ nguyên hiện đại hóa đất nước. Chính phủ mới coi công nghiệp là một trong những trụ cột của một quốc gia hiện đại, và vì vậy đã đề ra nhiều chính sách phát triển nền công nghiệp.
Sau một loạt cải cách cho phép được tự do lựa chọn nghề nghiệp và nắm được cơ sở thuế vững chắc dựa trên thuế ruộng đất, chính phủ đã bắt tay vào công nghiệp hóa thông qua "Chính sách xúc tiến công nghiệp". Cụ thể, chính phủ tiến hành xây dựng hệ thống ngân hàng quốc gia, phát hành đồng Yên thay thế cho hệ thống tiền tệ phức tạp thời Tokugawa, phát triển các ngành khai mỏ và công nghiệp nặng, xây dựng cơ sở hạ tầng (đường sắt, đường bộ,...), thúc đẩy công nghiệp nhẹ.
Xúc tiến xây dựng hệ thống ngân hàng, cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ngay từ đầu đã cho phép Nhật Bản rút ngắn thời gian, nhanh chóng hiện đại hóa, đi vào công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu hàng sơ cấp.
Để bảo vệ nền công nghiệp non trẻ trước sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài, chính phủ khuyến khích thành lập các thương hội theo ngành nghề và địa phương để có điều kiện hướng dẫn kỹ thuật và giới thiệu chuyên gia cho các xí nghiệp. Đối với khu vực công nghiệp hiện đại, chính phủ trợ cho họ bằng cách cho vay dài hạn với lãi suất thấp.
Năm 1898, Nhật Bản đã đóng được tàu thủy trọng tải trên 6 ngàn tấn.
=== Thời kỳ 1900-1919 ===
Năm 1900, Nhật Bản hoàn thành giai đoạn thay thế nhập khẩu hàng dệt và bắt đầu xuất khẩu mặt hàng này. Sau đó, các hàng công nghiệp nhẹ khác cũng gia nhập danh sách hàng xuất khẩu. Nhật Bản đã chuyển sang giai đoạn công nghiệp hóa theo định hướng xuất khẩu hàng sơ cấp trong khi vẫn làm sâu thêm thay thế nhập khẩu hàng sơ cấp.
Ngay sau khi giành lại được độc lập hạn chế đối vấn đề thuế quan vào năm 1902 và độc lập đầy đủ vào năm 1911, chính phủ đã trực tiếp bảo hộ các ngành công nghiệp của mình bằng nâng mức thuế nhập khẩu lên.
=== Thời kỳ 1920-1937 ===
Đầu thập niên 1920, công cuộc công nghiệp hóa của Nhật Bản đã chuyển sang giai đoạn thay thế nhập khẩu hàng thứ cấp. Chủ nghĩa tư bản nhà nước phát triển mạnh mẽ. Cơ cấu công nghiệp thời kỳ này được xem là "nhân tạo" do có sự can thiệp mạnh mẽ của chính phủ.
Chính phủ đẩy mạnh hơn nữa việc bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước, tiếp tục trợ cấp và giới thiệu những công nghệ tiên tiến của thế giới cho các ngành công nghiệp nặng và hóa chất. Nhờ những chính sách này, mức độ tập trung sản xuất đã tăng lên nhanh chóng, đặc biệt thấy rõ qua sự phát triển của các zaibatsu. Ngay trước Chiến tranh thế giới thứ hai, công nghiệp nặng của Nhật Bản đã thu hút tới 40% tổng số lao động và đóng góp 50% vào sản lượng công nghiệp của đất nước.
Nhật Bản đã phát triển được các công nghệ tiên tiến nhất thời bấy giờ trong các lĩnh vực đóng tàu, chế tạo máy bay.
=== Tái thiết sau chiến tranh ===
Thời kỳ khôi phục kinh tế của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai kéo dài từ năm 1945 đến 1953. Đây cũng là thời kỳ của những cuộc cải cách theo đề nghị của Lực lượng Đồng Minh đang quân quản Nhật Bản.
Những cải cách: Cuối năm 1945, Tư lệnh Lực lượng Đồng mình Quân quản ra lệnh cải cách ruộng đất ở nông thôn. Cuộc cải cách ruộng đất này đã tạo ra cơ sở để tăng năng suất nông nghiệp và để ổn định các vùng nông thôn. Cũng trong năm 1945, lệnh giải tán các zaibatsu (các tập đoàn tài phiệt) được đưa ra. Năm 1947, Luật chống độc quyền được ban hành. Tiếp theo là luật thủ tiêu tình trạng tập trung quá mức sức mạnh kinh tế được ban hành bổ sung cho luật chống độc quyền. Những cải cách dân chủ hóa kinh tế này có tác dụng nâng cao vị trí của tư bản công nghiệp, khuyến khích tinh thần kinh doanh và đầu tư.
Ổn định kinh tế: Do chiến tranh, sản xuất bị gián đoạn, thất nghiệp gia tăng, tổng cầu vượt tổng cung khiến cho lạm phát tăng tốc nhanh chóng. Nạn đói tuy được ngăn chặn nhờ phát chẩn khẩn cấp của lực lượng quân quản, song thức ăn tồi và thiếu đã gây ra nạn suy dinh dưỡng và ngộ độc ở nhiều nơi. Để khôi phục và ổn định kinh tế, chính phủ đã phải tiến hành phân phối lương thực, kiểm soát hành chính đối với giá cả, chống nạn đầu cơ, "đông lạnh" tiền gửi ngân hàng, đổi tiền, phát hành trái phiếu chính phủ, tập trung sức khôi phục và phát triển một số ngành ưu tiên như than, thép, phân bón, điện lực, v.v...
Đường lối Dodge: Cuối năm 1948, chính phủ Mỹ cử Joseph Dodge sang Nhật Bản để điều hành nền kinh tế ở đây. Ông này chủ trương cân đối ngân sách thông qua hạn chế chi tiêu, ngừng kiểm soát giá, cố định tỷ giá hối đoái Yên Nhật/Dollar Mỹ là 360: 1. Nhờ đường lối này, nền kinh tế tự do được khôi phục, năng suất lao động ở Nhật Bản được nâng lên, lạm phát được khống chế, thậm chí còn đưa tới nguy cơ giảm phát.
Ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Triều Tiên: Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào tháng 6 năm 1950. Mỹ và Nhật Bản liền ký hiệp định hòa bình để Mỹ rảnh tay hơn đối phó với chiến sự. Những đơn đặt hàng của lực lượng quân sự Mỹ để cung cấp cho mặt trận Triều Tiên gần đó đã làm tăng tổng cầu của Nhật Bản. Nó tạo điều kiện cho Nhật Bản khắc phục một số lệch lạc của nền kinh tế, thúc đẩy tiêu dùng.
=== Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh ===
Thời kỳ gần 20 năm từ năm 1955 đến năm 1973 là thời kỳ mà nền kinh tế Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng rất cao. GDP thực tế theo giá so sánh hàng năm (năm gốc là 1965) của Nhật Bản trong thời kỳ này hầu hết đều có tốc độ tăng lên tới hai chữ số. Chính trong thời kỳ này, kinh tế Nhật Bản đã đuổi kịp các nền kinh tế tiên tiến của thế giới. Nếu vào năm 1950, GNP của Nhật còn nhỏ hơn của bất cứ nước phương Tây nào và chỉ bằng vài phần trăm so với của Mỹ, thì đến năm 1960 nó đã vượt qua Canada, giữa thập niên 1960 vượt qua Anh và Pháp, năm 1968 vượt Tây Đức. Năm 1973, GNP của Nhật Bản bằng một phần ba của Mỹ và lớn thứ hai trên thế giới.
Những nhân tố tạo nên sự tăng trưởng nhanh chóng của Nhật Bản trong thời kỳ này gồm: cách mạng công nghệ, lao động rẻ lại có kỹ năng, khai thác được lao động dư thừa ở khu vực nông nghiệp, tỷ lệ để dành cao, đầu tư tư nhân cao, đồng yên Nhật được cố định vào dollar Mỹ với tỷ giá 360JPY/USD có lợi cho xuất khẩu của Nhật Bản, nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh, giá dầu lửa hãy còn rẻ, nguồn tài chính cho đầu tư ổn định nhờ chính sách của chính phủ giữ cho các ngân hàng khỏi bị phá sản, chính sách kinh tế vĩ mô (chủ yếu là chính sách tài chính) và chính sách công nghiệp được sử dụng tích cực, nhu cầu lớn từ Mỹ đối với hàng quân dụng do chiến tranh Việt Nam tạo ra.
Trong kỷ nguyên tăng trưởng nhanh, Nhật Bản tiếp tục hoàn thành giai đoạn thay thế nhập khẩu tư liệu sản xuất trong khi vẫn đẩy mạnh xuất khẩu hàng tiêu dùng lâu bền và chuyển sang xuất khẩu máy móc như ô tô, thiết bị điện tử cao cấp như máy tính. Năm 1970, 72,4% kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản là nhờ các sản phẩm công nghiệp nặng và hóa chất. Tự tin vào năng lực cạnh tranh của mình, từ năm 1960, Nhật Bản bắt đầu tự do hóa thương mại. Năm 1963, Nhật Bản trở thành thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Năm 1964, Nhật Bản trở thành thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, câu lạc bộ của những quốc gia tiên tiến.
Năm 1971, cú sốc Nixon làm đồng yên tăng giá làm giảm thặng dư cán cân thanh toán của Nhật Bản. Năm 1973, chiến tranh Trung Đông lần thứ 4 bùng nổ là một trong những nguyên nhân dẫn tới cú sốc dầu lửa. Kinh tế Nhật Bản tăng trưởng âm trong năm 1974. Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh chấm dứt.
== Thời kỳ chuyển đổi ==
Thời kỳ này có đặc trưng là tốc độ tăng GDP không ổn định và nhìn chung thấp bằng nửa thời kỳ tăng trưởng nhanh. Một loạt cuộc khủng hoảng kinh tế đã xảy ra vào các năm 1973-1975, 1981-1982 và 1985-1986. Hai cuộc khủng hoảng đầu tiên có nguyên nhân chính là các cú sốc dầu lửa. Còn cuộc khủng hoảng thứ ba có nguyên nhân từ việc đồng Yên Nhật lên giá sau Thỏa ước Plaza.
Là nước phụ thuộc gần như hoàn toàn vào dầu lửa nhập khẩu (mà giá dầu lại tăng vọt) và nhu cầu nước ngoài (mà thị trường nước ngoài cũng bị khủng hoảng), nên cuộc khủng hoảng 1973-1975 đã làm kinh tế Nhật Bản rơi vào tình trạng đình lạm sâu sắc. Mức độ khủng hoảng (căn cứ vào tốc độ tăng trưởng GDP thực tế và sản lượng công nghiệp) của Nhật Bản nghiêm trọng nhất trong các nước công nghiệp phát triển và nghiêm trọng hơn cả hồi Đại khủng hoảng. Những ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng như đóng tàu, luyện thép, hóa dầu, dệt, gia công kim loại bị khủng hoảng nặng nề.
Tác động nghiêm trọng của cú sốc dầu lửa 1973-1975 đã khiến Nhật Bản phải tích cực triển khai chương trình tiết kiệm năng lượng, đồng thời chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng của khu vực dịch vụ. Trong khu vực chế tạo, giảm tỷ trọng của các ngành dùng nhiều năng lượng, tăng tỷ trọng của các ngành có hàm lượng tri thức cao (như sản xuất máy tính, máy bay, người máy công nghiệp, mạch tổ hợp,...), các ngành sản xuất theo mốt (quần áo chất lượng cao, đồ điện dân dụng, thiết bị nghe nhìn,...) và công nghiệp thông tin. Nhật Bản nhấn mạnh hơn nữa nghiên cứu khoa học cơ bản để có thể chuyển sang các ngành kinh tế mới.
Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ra nước ngoài tăng vọt với hai động lực chính là tận dụng nguồn nguyên liệu và năng lượng ở các địa bàn đầu tư là các nền kinh tế đang phát triển và chọc thủng hàng rào bảo hộ mậu dịch ở các địa bàn đầu tư là các nền kinh tế phát triển.
Nhờ những cải cách tích cực, Nhật Bản đã hồi phục sau khủng hoảng 1973-1975 và chị bị ảnh hưởng nhẹ trong cuộc khủng hoảng 1979-1981. Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của Nhật Bản vẫn cao hơn của các nước công nghiệp phát triển khác.
== Thời kỳ bong bóng kinh tế ==
Thời kỳ bong bóng kinh tế của Nhật Bản kéo dài 4 năm 3 tháng, từ tháng 12 năm 1986 đến tháng 2 năm 1991. Kinh tế Nhật Bản thời kỳ này có những đặc điểm như đồng Yên cao giá so với Dollar Mỹ, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế cao, tỷ lệ lạm phát cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp, giá tài sản (bất động sản lẫn tài sản tài chính) cao, tiêu dùng mạnh.
Nguyên nhân khiến bong bóng kinh tế hình thành có nhiều. Nguyên nhân đầu tiên là việc Yên lên giá sau Thỏa ước Plaza (năm 1985) gây khó khăn cho các nhà xuất khẩu của Nhật Bản và đe dọa tăng trưởng kinh tế của nước này. Ngân hàng Nhật Bản đã phải thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng (hạ lãi suất) để đối phó với điều đó, nên tính thanh khoản cao quá mức hình thành. Kết quả là kinh tế tăng trưởng mạnh và đầu cơ tài sản bắt đầu làm tăng giá tài sản. Mặt khác, các nhà đầu tư bắt đầu thay đổi danh mục đầu tư của mình khi tỷ giá Yên/Dollar thay đổi và nhất là sau sự kiện Ngày thứ Hai đen tối trên thị trường chứng khoán Mỹ. Họ giảm đầu tư vào tài sản của Mỹ và tăng đầu tư vào các tài sản của Nhật Bản. Giá tài sản trong đó có giá cổ phiếu và trái phiếu công ty tăng kích thích xí nghiệp đầu tư. Lạm phát tăng tốc kích thích tiêu dùng. Bong bóng kinh tế nói chung và bong bóng giá tài sản chỉ được nhận ra sau khi chúng bắt đầu vỡ vào đầu thập niên 1990.
Đồng Yên tăng giá đã kích thích các xí nghiệp của Nhật Bản đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Nó cùng với việc người Nhật trở nên giàu hơn đã kích thích họ mua các tài sản của nước ngoài (chẳng hạn như mua xưởng phim của Mỹ, mua các tác phẩm hội họa nổi tiếng) và đi du lịch nước ngoài.
Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác của Nhật Bản sau một thời gian dài đầu tư vào các xí nghiệp trong khu vực chế tạo thì đến thời kỳ này bắt đầu đầu tư vào các tài sản tài chính. Họ cũng tích cực cho vay đối với các dự án phát triển bất động sản. Họ còn sẵn sàng chấp nhận các tài sản tài chính và bất động sản làm thế chấp khi cho các xí nghiệp và cá nhân vay. Đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến các tổ chức tín dụng của Nhật Bản sau này mắc phải tình trạng nợ khó đòi khi bong bóng kinh tế và bong bóng giá tài sản vỡ.
Năm 1989, Nhật Bản nâng thuế suất thuế tiêu dùng. Cùng năm Iraq xâm lược Kuwait dẫn đến Chiến tranh vùng Vịnh khiến giá dầu lửa tăng vọt. Tháng 10 năm 1990, Ngân hàng Nhật Bản thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt. Bong bóng kinh tế vỡ vào năm 1991 và bong bóng giá tài sản vỡ vào năm 1992.
== Trì trệ kinh tế kéo dài ==
Sau khi bong bóng kinh tế vỡ đầu thập niên 1990, kinh tế Nhật Bản chuyển sang thời kỳ trì trệ kéo dài. Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân hàng năm của giai đoạn 1991-2000 chỉ là 0,5% - thấp hơn rất nhiều so với các thời kỳ trước.
Có sự tranh luận về nguyên nhân khiến kinh tế Nhật Bản trì trệ liên tục hơn 10 năm.
Một số tranh luận cho rằng nguyên nhân nằm ở phía cung của nền kinh tế, cụ thể là do tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng của Nhật Bản giảm sút. Những người theo trường phái trọng cung cho rằng: tất cả các yếu tố đầu vào là năng suất tổng nhân tố, tư bản, số lao động có việc làm, và thời gian lao động đều đồng loạt giảm là những nhân tố trực tiếp làm tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng của Nhật Bản giảm đi. Các chủ thể kinh tế không nhận thức kịp thời sự giảm sút của tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng, nên đã có xu hướng đầu tư thiết bị và thuê mướn lao động quá nhiều, gây ra hiện tượng dư cung.
Những người theo trường phái trọng cầu (chủ nghĩa Keynes) cho rằng, nguyên nhân của trì trệ kinh tế ở Nhật Bản là do có khoảng cách giữa tổng cung và tổng cầu khiến cho mức tăng trưởng thực tế thấp hơn mức tăng trưởng tiềm năng. Trì trệ kéo dài là vì nền kinh tế liên tục nằm trong các pha suy thoái của những chu kỳ kinh tế (pha suy thoái có xu hướng dài hơn trong khi pha phục hồi có xu hướng ngắn đi). Chính những chính sách tài chính và tiền tệ kích cầu của Nhật Bản được tiến hành không đủ mức và không kịp thời đã khiến cho nền kinh tế Nhật Bản không thoát ra hẳn khỏi suy thoái do bong bóng kinh tế tan vỡ, và tiếp theo là rơi vào một vòng xoáy ác tính mà hậu quả tai hại là mắc vào cái bẫy thanh khoản và giảm phát.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Hayashi, F. and Prescott E. C. (2002), "The 1990s in Japan: A Lost Decade," Review of Economic Dynamics, pp. 206–235.
Kosai Yutaka (1991), Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh, Viện Kinh tế Thế giới, Hà Nội.
Kunio Yoshihara (1991), Sự phát triển kinh tế của Nhật Bản, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
Lưu Ngọc Trịnh (1998), Kinh tế Nhật Bản- Những bước thăng trầm trong lịch sử, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội.
Nakamura Takafusa (1998), Những bài giảng về lịch sử kinh tế Nhật Bản hiện đại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nguyễn Bình Giang (1996), "Chính sách công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa ở Nhật Bản (1870-1975)", Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, số 2(11), trang 31-36.
Phạm Thị Thanh Hồng (2005), "Kinh tế Nhật Bản trì trệ kéo dài: Những nguyên nhân thuộc về phía cung", Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 6(60), trang 3-7.
Phạm Thị Thanh Hồng và Nguyễn Bình Giang (2006), "Trì trệ kinh tế Nhật Bản nhìn từ quan điểm trọng cầu", Những vấn đề kinh tế thế giới, số 2(118), trang 42-47.
== Xem thêm ==
Lịch sử Nhật Bản
Kinh tế Nhật Bản
Cú sốc Nixon
Khủng hoảng dầu lửa
Thỏa ước Plaza |
asahi shimbun.txt | Asahi Shimbun (朝日新聞, Asahi Shinbun, Triều Nhật Tân văn, phiên âm: [asaçi ɕimbɯɴ]) là tờ nhật báo lớn thứ hai của Nhật Bản cùng với bốn tờ báo quốc gia khác là Yomiuri Shimbun, Mainichi Shimbun, Nihon Keizai Shimbun và Sankei Shimbun. Tính đến tháng 4 năm 2004, mỗi ngày nhật báo này xuất bản 8.27 triệu tờ cho bản buổi sáng và 3.85 triệu tờ cho bản buổi chiều, chỉ đứng sau Yomiuri Shimbun.
Nhật báo này là đối tác của International Herald Tribune, một tờ phụ báo của New York Times. Cùng với nhau, họ cho xuất bản báo International Herald Tribune/The Asahi Shimbun phiên bản tiếng Anh, tờ báo đã thế chỗ tờ Asahi Evening News trước đó. Ngoài ra Asahi cũng liên kết với tờ Nhân dân Nhật Báo của Trung Quốc, tờ báo đại diện của Đảng cộng sản Trung Quốc.
Năm 1994, sau một cuộc thăm dò, tờ Le Monde đã chọn Asahi Shimbun là một trong 8 nhật báo tốt nhất thế giới, cùng với The New York Times (Hoa Kỳ), Financial Times (Anh), Izvestia (Nga), Nhân dân Nhật Báo (Trung Quốc), Al Ahram (Ai Cập), El Espectador (Colombia) và Times of India (Ấn Độ).
== Chú thích == |
lương sơn.txt | Lương Sơn là huyện miền núi cửa ngõ phía đông bắc tỉnh Hòa Bình, vùng Τây Bắc Việt Nam.
== Vị trí địa lý ==
Huyện Lương Sơn là cửa ngõ của tỉnh miền núi Hoà Bình và miền Τây Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40 km, biên giới liền kề với khu công nghệ cao Hoà Lạc, khu đô thị Phú Cát, Miếu Môn, Đại học Quốc gia, Làng văn hoá các dân tộc.
Huyện Lương Sơn nằm ở phần phía nam của dãy núi Ba Vì, nơi có một phần của Vườn quốc gia Ba Vì. Phía Đông giáp huyện Chương Mỹ và huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Phía Tây giáp huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình. Phía Nam giáp huyện Kim Bôi và huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Phía Bắc giáp huyện Quốc Oai và huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội..
== Điều kiện tự nhiên ==
Lương Sơn là một huyện vùng thấp bán sơn địa của tỉnh Hoà Bình, có địa hình phổ biến là núi thấp và đồng bằng. Độ cao trung bình của toàn huyện so với mực nước biển là 251 mét, có địa thế nghiêng đều theo chiều từ tây bắc xuông đông nam, là nơi tiếp giáp giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng và miền núi tây bắc Bắc Bộ. Đặc điểm nổi bật của địa hình nơi đây là có những dãy núi thấp chạy dài xen kẽ các khối núi đá vôi với những hang động. Có nhiều khe suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo đan xen tạo nên cảnh sắc thơ mộng.
Khí hậu Lương Sơn mang đặc trưng khí hậu của vùng nhiệt đới gió mùa. Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3, mùa hè bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10. Lượng mưa trung bình là 1.769 mm. Do có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau nên có thể phát triển cây trồng, vật nuôi phong phú, đa dạng theo hướng tập đoàn.
Trên địa bàn Lương Sơn có những danh lam, thắng cảnh, di chỉ khảo cổ học hàng năm có thể thu hút một lượng đáng kể khách du lịch như hang Trầm, hang Rổng, hang Tằm, hang Trâu, mái đá Diềm, núi Vua Bà...
== Hành chính ==
Toàn huyện có 20 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 1 thị trấn Lương Sơn và 19 xã: Cao Dương, Cao Răm, Cao Thắng, Cư Yên, Hòa Sơn, Hợp Châu, Hợp Hòa, Hợp Thanh, Lâm Sơn, Liên Sơn, Long Sơn, Nhuận Trạch, Tân Thành, Tân Vinh, Thành Lập, Thanh Lương, Tiến Sơn, Trung Sơn, Trường Sơn.
== Dân số ==
Từ xa xưa Lương Sơn là địa bàn sinh sống của người Mường. Người Mường có mặt ở khắp các xã, chiếm hơn 60% dân số toàn huyện. Người Kinh sống xen lẫn với người Mường và chiếm khoảng hơn 30% dân số toàn huyện, còn lại là người Dao và các dân tộc khác chiếm tỷ lệ không đáng kể.
== Lịch sử ==
Dưới triều Nguyễn, vùng đất này được gọi là huyện Mỹ Lương, thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây, gồm gồm 7 tổng, 49 xã, thôn. Tháng 11 năm 1880, triều Nguyễn quyết định xác nhập huyện Mỹ Lương và huyện Chương Đức thành đạo Mỹ Đức, thuộc Hà Nội.
Khi Pháp thành lập tỉnh Mường Hoà Bình, đạo Mỹ Đức giải thể, huyện Mỹ Lương được xác nhập trở lại Hoà Bình, và đổi thành phủ Lương Sơn, gồm 6 tổng: Kim Bôi, Gia Cát, Hoà Lạc, Phương Hạnh, Lý Lương và Thanh Dương, có lỵ sở đóng ở Kỳ Sơn.
Đến ngày 21 tháng 3 năm 1890, đạo Mỹ Đức được tái lập, phủ Lương Sơn nhập lại vào đạo Mỹ Đức. Ngày 18 tháng 3 năm 1891, Toàn quyền Đông Dương quyết định xoá đạo Mỹ Đức lần 2. Từ đó, phủ Lương Sơn được nhập trở lại Hoà Bình và đổi tên thành châu Lương Sơn. Vào thời gian đó, châu Lương Sơn gồm 5 tổng và 19 xã.
Năm 1956, Uỷ ban hành chính Liên khu III chia xã Liên Sơn thành 4 xã, Cao Sơn thành 5 xã, Nật Sơn thành 5 xã, Hạ Bì thành 4 xã, Cao Dương thành 5 xã, Kim Bôi thành 5 xã, Tiến Xuân thành 2 xã và Yên Trạch thành 2 xã. Ngày 17 tháng 4 năm 1959, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ra nghị định tách vùng Lương Sơn thành hai huyện Kim Bôi và Lương Sơn.
Tháng 3 năm 1960, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chuyển 5 xã thuộc huyện Kỳ Sơn gồm Yên Quang, Yên Bình, Yên Trung, Tiến Xuân và Đông Xuân về huyện Lương Sơn. Ngày 15 tháng 11 năm 1968, xã Đào Lâm và xã Cao Răm sáp nhập thành xã Cao Răm.
Ngày 3 tháng 1 năm 1971, tách 8 xã của huyện Lương Sơn là Tân Thành, Hợp Châu, Cao Thắng, Long Sơn, Thanh Lương, Hợp Thanh, Cao Dương, Thanh Nông sáp nhập vào huyện Kim Bôi. Huyện Lương Sơn còn lại thị trấn nông trường Cửu Long và 18 xã: Cao Răm, Cư Yên, Đồng Xuân, Hòa Sơn, Hợp Hòa, Hùng Sơn, Lâm Sơn, Liên Sơn, Nhuận Trạch, Tân Vinh, Thành Lập, Tiến Sơn, Tiến Xuân, Trung Sơn, Trường Sơn, Yên Bình, Yên Quang, Yên Trung.
Ngày 6 tháng 9 năm 1986, xã Hùng Sơn và thị trấn Nông trường Cửu Long được giải thể để thành lập thị trấn Lương Sơn.
Ngày 29 tháng 5 năm 2008 , toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình là Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung được cắt chuyển về cách thành phố Hà Nội khoảng 40 km (nay là một phần các huyện Quốc Oai và Thạch Thất). Ngày 14 tháng 7 năm 2009 , điều chỉnh 10.607,07 ha diện tích tự nhiên và 29.536 người của huyện Kim Bôi (bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và người của 07 xã: Tân Thành, Cao Dương, Hợp Châu, Cao Thắng, Long Sơn, Thanh Lương, Hợp Thanh) về huyện Lương Sơn quản lý và chuyển xã Yên Quang về huyện Kỳ Sơn quản lý.
Sau điều chỉnh địa giới hành chính ngày 14 tháng 7 năm 2009, huyện Lương Sơn có 20 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm thị trấn Lương Sơn và 19 xã.
== Giao thông ==
Đường bộ:
Quốc lộ 6, chạy theo hướng Đông Tây, cắt ngang qua địa bàn huyện khoảng 15 km từ khu Năm Lu đến dốc Kẽm, đi từ thị trấn Xuân Mai huyện Chương Mỹ (Hà Nội), sang huyện Kỳ Sơn, Hòa Bình.
Quốc lộ 21A, cắt qua một vài đoạn ở rìa phía Đông huyện.
Một số tỉnh lộ như TSA từ Bãi Lạng (thị trấn Lương Sơn) đến Khăm (xã Vĩnh Tiến - Kim Bôi), đường Bãi Nai - Cầu Vai Réo (tỉnh lộ bao nhiêu ?), hệ thống đường liên huyện, liên xã, liên thông rất dày đặc và thuận tiện.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Địa giới Hà Nội chính thức mở rộng từ 1/8 |
tiến hóa.txt | Trong sinh học, tiến hóa là sự thay đổi đặc tính di truyền của một quần thể sinh học qua những thế hệ nối tiếp nhau. Các quá trình tiến hóa làm nảy sinh sự đa dạng ở mọi mức độ tổ chức sinh học bao gồm loài, các cá thể sinh vật và cả các phân tử như ADN và protein.
Sự sống trên Trái Đất khởi nguồn và sau đó tiến hóa từ một tổ tiên chung từ khoảng 3,8 tỷ năm trước. Sự tiến hóa thành loài mới và sự phân nhánh sự sống lặp lại có thể suy luận ra từ tập hợp những đặc tính sinh hóa và hình thái học chung, hay những chuỗi ADN chung. Những nét tương đồng này giống nhau hơn giữa những loài có tổ tiên chung gần gũi nhau hơn, và có thể dùng để tái dựng lịch sử tiến hóa từ những loài hiện tồn và những dấu vết hóa thạch. Hình ảnh về sự đa dạng sinh học trên hành tinh ngày nay hình thành từ cả sự hình thành loài và sự tuyệt chủng.
Charles Darwin và Alfred Wallace là những người đầu tiên hệ thống hóa những luận cứ khoa học cho lý thuyết tiến hóa theo con đường chọn lọc tự nhiên. Tiến hóa do chọn lọc tự nhiên là một quá trình có thể suy ra từ ba thực kiện về các quần thể sinh học: 1. nhiều cá thể con được sinh ra hơn số lượng có thể sống sót, 2. các tính trạng khác nhau giữa các cá thể, dẫn tới tỉ lệ sinh tồn và sinh sản khác nhau, và 3. những sự khác biệt về đặc điểm trên là có tính di truyền. Do đó, khi những cá thể của một quần thể chết đi, chúng được thay thế bằng những hậu duệ của thế hệ cha mẹ nhưng có thể thích nghi tốt hơn để tồn tại và sinh sôi trong môi trường mà sự chọn lọc tự nhiên diễn ra. Quá trình này tạo ra và bảo tồn những đặc điểm được cho là phù hợp hơn cho chức năng mà chúng đảm nhiệm. Cho đến nay, sự chọn lọc tự nhiên là nguyên nhân duy nhất cho sự thích nghi, tuy nhiên không phải là nguyên nhân duy nhất cho sự tiến hóa. Những nguyên nhân khác của tiến hóa bao gồm sự đột biến và dịch chuyển di truyền.
Vào đầu thế kỷ 20, di truyền học kết hợp với lý thuyết tiến hóa nhờ chọn lọc tự nhiên của Darwin thông qua di truyền học quần thể. Tầm quan trọng của chọn lọc tự nhiên như một nguyên nhân tiến hóa đã được chấp nhận trong những nhánh khác của sinh học. Tuy nhiên, các quan niệm từng có trước đây về tiến hóa, như tiến hóa từng bước và xu hướng tiến hóa chung đã trở nên lỗi thời. Các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của tiến hóa bằng việc lập nên rồi kiểm tra những giả thuyết, xây dựng các lý thuyết khoa học, sử dụng những dữ liệu quan sát, và tiến hành những thí nghiệm cả trên thực địa lẫn trong phòng thí nghiệm. Các nhà sinh học nhất trí rằng sự truyền đời kèm theo những biến đổi là một trong những thực kiện đáng tin cậy nhất từng được thiết lập trong lịch sử khoa học. Các khám phá trong sinh học tiến hóa đã gây ảnh hưởng lớn lao không chỉ tới những nhánh truyền thống của sinh học, mà cả trong những ngành hàn lâm khác (như nhân chủng học và tâm lý học) và cả trong xã hội nói chung.
== Lịch sử tư tưởng tiến hóa ==
Nguồn gốc của đề xuất rằng một loại động vật có tổ tiên từ một loại động vật khác có thể lần ngược lên một vài triết gia Hy Lạp tiền-Socrates đầu tiên, như Anaximander và Empedocles. Đối lập với những quan điểm duy vật này, Aristotle hiểu toàn bộ sự vật tự nhiên, không chỉ những sinh vật, như là những sự hiện thực hóa bất toàn của những năng lực tự nhiên cố định khác nhau, được biết tới dưới tên "hình thức", "ý niệm", hay "loài". Đây là một phần trong triết lý mục đích luận của ông về tự nhiên trong đó mọi vật có một vai trò định trước để thực hiện những mệnh lệnh vũ trụ thần thánh. Nhà thơ và triết gia La Mã Lucretius đã đề xuất khả năng tồn tại những thay đổi tiến hóa của sinh vật. Những biến thể của tư tưởng này của Aristotle đã trở thành hiểu biết cơ bản của thời Trung Cổ, và được lồng ghép vào nền giáo dục Thiên Chúa giáo, nhưng Aristotle không đòi hỏi những loại động vật thực tế phải tương ứng một-một với các dạng siêu hình chính xác nào, và đưa ra các ví dụ cụ thể về cách các loại sinh vật mới có thể xuất hiện.
Vào thế kỷ 17 phương pháp mới của khoa học hiện đại đã từ bỏ cách tiếp cận của Aristotle, và tìm cách giải thích cho các hiện tượng tự nhiên bằng các định luật tự nhiên giống nhau cho mọi vật hữu hình mà không cần phải giả thiết bất kì những mục loại cố định nào, hay bất kỳ trật tự vũ trụ thần thánh nào. Nhưng cách tiếp cận mới này bắt rễ chậm chạp trong ngành sinh vật học-một lĩnh vực trở thành pháo đài cuối cùng của quan niệm về những loại tự nhiên cố định. John Ray sử dụng một trong những thuật ngữ từng phổ biến trước đây cho các loại tự nhiên, "loài" (species), để áp dụng cho các loại động vật và thực vật, nhưng không giống Aristotle ông xác định chặt chẽ mỗi loại sinh vật là một loài, và đề xuất rằng mỗi loài có thể được xác định bằng những đặc điểm ghi dấu chúng qua các thế hệ. Những loài này được Chúa nặn lên, nhưng thể hiện những khác biệt do những điều kiện địa lý. Hệ thống phân loại sinh học được Carolus Linnaeus đề ra năm 1735 cũng xem các loài là cố hữu theo một kế hoạch của thần thánh.
Các nhà tự nhiên học ở thời đó suy đoán về sự thay đổi tiến hóa của các loài theo thời gian theo những định luật tự nhiên. Maupertuis vào năm 1751 đã viết về những thay đổi tự nhiên xảy ra trong sự sinh sản và tích lũy qua nhiều thế hệ để sinh ra loài mới. Georges Buffon đề xuất rằng các loài có thể suy thoái thành những sinh vật khác nhau, và Erasmus Darwin gợi ý rằng tất cả các động vật máu nóng có thể bắt nguồn từ chỉ một loài vi sinh vật (hay các "vi sợi"). Sơ đồ tiến hóa chính thức đầu tiên là lý thuyết "tiến hóa biến đổi" (transmutation) của Lamarck vào năm 1809 nêu ra rằng các thế hệ đồng thời liên tục tạo ra những dạng sống đơn giản đã phát triển mức độ phức tạp lớn hơn qua những nhánh song song với một cường độ tiến triển không đổi, và rằng ở mức độ địa phương những nhánh này thích nghi với môi trường bằng cách thừa hưởng những thay đổi gây ra bởi việc sử dụng hay không dùng đến những tập tính ở cha mẹ(quá trình này về sau được gọi là học thuyết Lamarck). Những ý tưởng này bị các nhà tự nhiên học có uy tín đương thời phê phán, xem là một phỏng đoán thiếu những chứng cớ thực tế. Đặc biệt, Georges Cuvier còn nhấn mạnh rằng các loài là cố hữu và không có liên hệ, những sự tương đồng giữa chúng chỉ phản ánh sự sáng tạo của thần thánh vì những lý do mang tính chức năng. Cùng thời gian đó, các ý tưởng của Ray về sự sáng tạo ban phát được William Paley phát triển thành một thứ thần học tự nhiên đề xuất những sự thích nghi phức tạp như bằng chứng về sự sáng tạo thần thánh, được Charles Darwin ngưỡng mộ.
Sự đột phá có tính phê phán khỏi quan niệm về những loài cố hữu khởi đầu với lý thuyết tiến hóa bằng chọn lọc tự nhiên, do Charles Darwin hệ thống hóa lần đầu tiên. Một phần chịu ảnh hưởng từ cuốn Khảo luận về nguyên lý dân số của Thomas Robert Malthus, Darwin nhận xét rằng sự phát triển quần thể có thể dẫn tới một "cuộc đấu tranh sinh tồn" trong đó những biến dị phù hợp sẽ thắng thế trong khi các cá thể khác bị diệt vong. Trong mỗi thế hệ, nhiều con non không thể sống sót tới tuổi sinh sản bởi nguồn tài nguyên hạn chế. Điều này có thể giải thích sự đa dạng động thực vật từ một tổ tiên chung thông qua sự vận hành của các quy luật tự nhiên theo cùng cách cho mọi loại sự vật. Darwin đã phát triển lý thuyết của ông về "chọn lọc tự nhiên" từ 1838 cho tới khi Alfred Russel Wallace gửi cho ông một lý thuyết tương tự năm 1858. Cả hai người đã trình bày những bài viết độc lập của mình cho Hội Linnean London. Vào cuối năm 1859, Darwin công bố cuốn Nguồn gốc các loài giải thích chi tiết về chọn lọc tự nhiên theo cách đã khiến cho thuyết tiến hóa được chấp nhận ngày càng rộng rãi. Thomas Henry Huxley đã áp dụng những ý tưởng của Darwin vào con người, sử dụng cổ sinh vật học và giải phẫu học so sánh để cung cấp những bằng chứng mạnh mẽ rằng con người và vượn có một tổ tiên chung. Một số người cảm thấy khó chịu với điều này bởi vì điều này hàm ý rằng con người không có một vị trí đặc biệt trong vũ trụ.
Các cơ chế chính xác của khả năng di truyền qua sinh sản và nguồn gốc của những tính trạng mới khi đó vẫn còn là một bí ẩn. Đáp ứng giới hạn đó, Darwin đã phát triển một lý thuyết có tính tạm thời là thuyết pangen (pangenesis, hay thuyết mầm). Năm 1865 Gregor Mendel đã chỉ ra những tính trạng được di truyền theo một cách có thể tiên đoán được thông qua sự phân loại và phân ly độc lập các yếu tố (về sau được gọi là gen). Các định luật di truyền Mendel về sau đã thế chỗ hầu hết thuyết pangen của Darwin. August Weismann đã tiến một bước quan trọng khi phân biệt các tế bào sinh sản (trứng, tinh trùng) với tế bào sinh dưỡng, và vạch ra rằng di truyền chỉ xảy ra trong các tế bào sinh sản mà thôi. Hugo de Vries liên hệ thuyết pangen của Darwin với sự phân biệt sinh sản/sinh dưỡng của Weismann và đề xuất rằng các mầm sống (pangen) của Darwin tập trung trong nhân tế bào và khi biểu hiện chúng có thể di chuyển vào tế bào chất để thay đổi cấu trúc tế bào. De Vries cũng là một trong những nhà nghiên cứu truyền bá rộng rãi công trình của Mendel, tin rằng các tính trạng của Mendel tương ứng với sự chuyển dịch các biến dị di truyền thông qua tế bào sinh sản. Để giải thích cách các biến thể mới phát sinh, De Vries phát triển một lý thuyết đột biến dẫn đến sự chia rẽ đương thời giữa những người chấp nhận tiến hóa Darwin và những nhà sinh trắc học đồng tình với De Vries. Ở thời điểm chuyển giao sang thế kỷ 20, những nhà tiên phong trong lĩnh vực di truyền học dân số, như J.B.S. Haldane, Sewall Wright, và Ronald Fisher đã xây dựng nền tảng về tiến hóa đi theo triết lý của thống kê mạnh. Những mâu thuẫn sai lầm giữa thuyết Darwin, đột biến di truyền và di truyền Mendel nhờ đó được hòa giải.
Trong những năm 1920 và 1930 một sự tổng hợp tiến hóa hiện đại đã liên kết chọn lọc tự nhiên, lý thuyết đột biến, và di truyền Mendel vào một lý thuyết thống nhất áp dụng phổ quát cho bất kỳ phân ngành nào của sinh vật học. Phép tổng hợp hiện đại này có thể giải thích những mô hình quan sát các loài trong các quần thể, thông qua các hóa thạch trung gian trong cổ sinh vật học, và cả các cơ chế phức tạp của tế bào trong sinh học phát triển. Việc James D. Watson và Francis Crick công bố cấu trúc ADN năm 1953 đã chứng minh cơ sở vật lý cho di truyền. Sinh học phân tử đã tăng cường hiểu biết của con người về mối liên hệ giữa kiểu gen và kiểu hình. Các tiến bộ cũng đã đạt được trong phân loại học phát sinh loài hay việc sơ đồ hóa chuyển dịch tính trạng thành một khuôn khổ so sánh và có thể kiểm tra thông qua sự ấn hành và sử dụng các cây tiến hóa. Năm 1973, nhà sinh vật học tiến hóa Theodosius Dobzhansky viết rằng "không gì trong sinh học có ý nghĩa nếu không được xem xét dưới ánh sáng của tiến hóa", bởi vì nó đã rọi sáng những mối quan hệ của thứ tưởng chừng là những sự kiện rời rạc trong lịch sử tự nhiên vào một tập hợp tri thức diễn giải mạch lạc có thể mô tả và tiên đoán nhiều sự kiện có thể quan sát được về sự sống trên hành tinh này.
Kể từ đó, phép tổng hợp hiện đại đã mở rộng hơn nữa để giải thích các hiện tượng sinh học trải trên mọi nấc của thứ bậc sinh học, từ gen tới loài. Trong tiếng Anh, sự mở rộng này được gọi tên là "eco-evo-devo" (viết tắt của "ecology" (sinh thái), "evolution" (tiến hóa) và "development"(phát triển), theo định nghĩa của Van Alen (1973) rằng tiến hóa là "sự kiểm soát phát triển bằng sinh thái")
== Di truyền ==
Tiến hóa trong các cơ thể sống xảy ra thông qua những thay đổi trong các tính trạng - những đặc điểm riêng của một sinh vật. Chẳng hạn, ở con người, màu mắt là một đặc tính di truyền và một cá nhân có thể thừa hưởng "tính trạng mắt nâu" từ bố hoặc mẹ. Các tính trạng được các gen kiểm soát và tập hợp đầy đủ những gen trong một cơ thể sống được gọi là kiểu gen của nó.
Mặt khác, tập hợp đầy đủ các đặc điểm quan sát được làm nên cấu trúc và hành vi của một cơ thể sống được gọi là kiểu hình của nó. Những đặc điểm này đến từ sự tương tác giữa kiểu gen với môi trường. Kết quả là, nhiều khía cạnh của kiểu hình một sinh vật không được truyền lại. Chẳng hạn, làn da rám nắng đến từ tương tác giữa kiểu gen của một người và ánh sáng mặt trời; do đó, sự rám nắng này không được truyền cho con cái của họ. Tuy nhiên, vài người có thể rám dễ dàng hơn những người khác, đó là do sự khác biệt trong kiểu gen của họ; một ví dụ nổi bật là những người thừa hưởng tính trạng bạch tạng, người không hề rám chút nào và rất nhạy cảm với nắng gắt.
Các đặc tính di truyền truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua ADN, một phân tử mã hóa thông tin di truyền. ADN là một phân tử polymer dài, cấu tạo từ bốn đơn vị cơ bản (gọi là nucleotide). Chuỗi các nucleotide dọc theo một phân tử ADN riêng rẽ đặc trưng cho thông tin di truyền, theo cách tương tự như chuỗi những ký tự ghi lại một câu. Trước khi một tế bào phân chia, ADN được sao chép, do đó mỗi một (trong hai) tế bào sinh ra sẽ thừa hưởng chuỗi ADN đó. Các phần của một phân tử ADN đặc trưng cho một đơn vị chức năng riêng lẻ được gọi là gen, các gen khác nhau có những chuỗi nucleotide khác nhau. Bên trong các tế bào, các đoạn ADN dài tạo nên những cấu trúc đặc gọi là nhiễm sắc thể. Vị trí riêng của một chuỗi ADN trong một nhiễm sắc thể được gọi là quỹ đạo (locus). Nếu một chuỗi ADN ở một locus khác nhau giữa các cá nhân, các dạng khác nhau của chuỗi này được gọi là alen. Các chuỗi ADN có thể thay đổi thông qua các đột biến, sinh ra những alen mới. Nếu một sự đột biến xảy ra trong một gen, alen mới sẽ ảnh hưởng tới đặc điểm mà gen đó đảm nhiệm, thay đổi kiểu hình của sinh vật. Tuy nhiên, trong khi sự tương ứng đơn giản này giữa alen và một tính trạng thể hiện trong một số trường hợp, hầu hết các tính trạng phức tạp hơn và được điều khiển bởi nhiều gen tương tác với nhau.
Những phát hiện gần đây đã xác nhận những ví dụ quan trọng của những biến đổi có thể di truyền không thể giải thích bằng sự thay đổi đối với chuỗi các nucleotid trong ADN. Những hiện tượng này được xếp vào những hệ thống di truyền ngoài gen (epigenetic). Metyl hóa ADN tạo chất nhiễm sắc (chromatin), các vòng trao đổi chất tự duy trì, tắt gen bằng can thiệp RNA và tương thích ba chiều các protein (như prion) là những lĩnh vực mà các hệ thống di truyền ngoài gen đã được khám phá ở mức độ sinh vật. Các nhà sinh vật học phát triển đề xuất rằng những tương tác phức tạp trong mạng lưới di truyền và liên kết giữa các tế bào có thể dẫn đến những biến dị có thể ẩn chứa vài cơ chế trong sự tạo liên kết thần kinh trong quá trình phát triển và sự hội tụ tiến hóa bất chấp những biến đổi trung gian. Khả năng di truyền cũng xuất hiện ở những quy mô lớn hơn nữa. Chẳng hạn, sự kế tục về sinh thái qua các quá trình biến cải môi trường của sinh vật được xác định thông qua những hoạt động thường xuyên và lặp lại của các sinh vật trong môi trường của chúng. Điều này tạo nên một di sản các tác động làm thay đổi và phản hồi trong quy luật chọn lọc của các thế hệ kế tiếp. Các thế hệ con cháu thừa hưởng gen cộng với các đặc trưng môi trường tạo ra bởi các hoạt động sinh thái của tổ tiên chúng. Những ví dụ khác của khả năng di truyền trong tiến hóa không phải dưới sự kiểm soát trực tiếp của gen bao gồm sự kế thừa những đặc điểm văn hóa và di truyền tổng hợp (symbiogenesis).
== Biến dị ==
Kiểu hình của một cá thể sinh vật là kết quả của cả kiểu gen và ảnh hưởng của môi trường mà nó sống. Một phần chủ yếu của biến dị trong các kiểu hình ở một quần thể là do sự khác biệt giữa các kiểu gen của chúng. Lý thuyết tiến hóa tổng hơp hiện đại định nghĩa tiến hóa như sự thay đổi theo thời gian sự biến dị di truyền này. Tần số của một alen cụ thể sẽ trở nên hiện diện nhiều hơn hay kém đi so với các dạng khác của gen đó trong quá trình này. Biến dị biến mất khi một alen mới đạt tới điểm tới hạn - là khi hoặc biến mất khỏi quần thể hoặc thay thế hoàn toàn alen gốc.
Chọn lọc tự nhiên chỉ gây ra tiến hóa khi có đủ biến dị di truyền trong một quần thể. Trước khám phá của Mendel về di truyền, một giả thiết từng phổ biến là sự di truyền pha trộn. Nhưng với di truyền pha trộn, biến dị di truyền sẽ bị mất đi nhanh chóng, khiến cho tiến hóa bằng chọn lọc tự nhiên trở thành phi lý. Nguyên lý Hardy-Weinberg cung cấp giải pháp cho cách biến dị duy trì trong quần thể với di truyền Mendel. Theo đó, tần số của các alen (biến dị trong một gen) sẽ không đổi nếu vắng mặt sự chọn lọc, đột biến, di trú và dịch chuyển di truyền.
Những biến dị đến từ đột biến trong vật chất di truyền, sự trộn lại các gen thông qua sinh sản hữu tính và sự di trú giữa các quần thể (dòng gen). Mặc dù những biến dị mới xuất hiện liên tục thông qua đột biến và dòng gen, hầu hết bộ gen của một loài là giống hệt ở mọi cá thể của loài đó. Tuy nhiên, ngay cả những sự khác biệt tương đối nhỏ trong kiểu gen có thể dẫn đến những khác biệt quan trọng trong kiểu hình: chẳng hạn, tinh tinh và người khác nhau chỉ khoảng 5% bộ gen.
=== Đột biến ===
Đột biến là những thay đổi trong chuỗi ADN của một tế bào. Khi đột biến xảy ra, nó có thể không ảnh hưởng gì, làm thay đổi RNA hay protein do gen quy định, hoặc ngăn cản gen đó hoạt động. Dựa trên các nghiên cứu về loài ruồi Drosophila melanogaster, người ta đã đề xuất rằng nếu một sự đột biến thay đổi một protein sinh ra bởi một gen, điều này gần như chắc chắn là có hại, với khoảng 70% các đột biến này là có các tác động tiêu cực, số còn lại trung tính hoặc có lợi không nhiều.
Sự đột biến có thể liên quan tới những đoạn dài của nhiễm sắc thể trở nên bị lặp lại (thông thường do sự tái tổ hợp di truyền), có thể tạo nên những đoạn sao chép thừa một gen vào một bộ gen. Những bản sao thừa của các gen là nguồn vật liệu thô chính cần thiết cho những gen mới tiến hóa. Điều này là quan trọng bởi vì thực tế hầu hết các gen mới tiến hóa trong một họ gen từ những gen tồn tại từ trước có gốc chung. Chẳng hạn, mắt người sử dụng bốn gen để tạo nên những cấu trúc cảm nhận ánh sáng: ba cho quan sát màu sắc và một cho quan sát ban đêm; cả bốn gen này đều bắt nguồn từ một gen gốc duy nhất.
Các gen mới có thể sinh ra từ một gen gốc khi bản sao lặp bị đột biến và tìm lấy một chức năng mới. Quá trình này dễ dàng hơn khi một gen đã được sao lặp bởi vì nó sẽ tăng tính dư thừa của hệ thống; một gen trong cặp có thể tìm lấy một chức năng mới trong khi bản sao còn lại tiếp tục thực hiện chức năng gốc. Những loại đột biến khác thậm chí có thể tạo ra những gen hoàn toàn mới từ những ADN chưa được mã hóa từ trước.
Việc tạo ra các gen mới cũng có thể liên quan tới những phần nhỏ trong một vài gen bị sao lặp, những đoạn này sau đó tái kết hợp để tạo nên những tổ hợp mới với những chức năng mới. Khi các gen mới được lắp ghép từ việc trộn những phần có sẵn, các miền protein đóng vai trò như những đơn nguyên với những chức năng đơn giản, độc lập, có thể kết hợp với nhau để tạo nên những tổ hợp mới với những chức năng mới phức tạp. Chẳng hạn, polyketide synthase là những enzyme kích thước lớn tạo nên các chất kháng sinh; chúng cấu thành từ tới một trăm miền độc lập mà mỗi miền xúc tác một bước trong quá trình tồng thể, như thể một khâu trong một dây chuyền lắp ráp.
=== Giao phối và tái tổ hợp ===
Trong một sinh vật vô tính, các gen được truyền lại cho nhau, hay "liên kết" với nhau, và chúng không thể trộn với gen của những sinh vật khác trong quá trình sinh sản. Trái lại, sự giao phối giữa các sinh vật hữu tính tạo ra sự trộn lẫn các nhiễm sắc thể của bố mẹ qua một sự phân li độc lập. Trong một quá trình liên quan gọi là tái tổ hợp tương đồng, các sinh vật hữu tính trao đổi ADN giữa hai nhiễm sắc thể tương ứng. Tái tổ hợp và phân li không thay đổi tần số alen, nhưng thay vào đó thay đổi những alen nào liên kết với alen khác, sinh ra con cháu với những tổ hợp alen mới. Giao phối thường tăng cường biến dị di truyền và có thể tăng tốc độ tiến hóa.
=== Dòng gen ===
Dòng gen là sự hoán đổi các gen giữa các quần thể và giữa các loài. Do đó nó có thể là một nguồn biến dị mới mẻ đối với một quần thể hay một loài. Dòng gen có thể do sự di chuyển của các cá thể giữa những quần thể riêng biệt nhau của một loài gây ra, như thể sự di chuyển của chuột giữa các quần thể trong đất liền và bờ biển, hay dịch chuyển của phấn hoa giữa quần thể cỏ nhạy cảm với kim loại nặng và quần thể cỏ chống chịu được.
Sự lan truyền gen giữa các loài bao gồm sự hình thành các loài lai và sự truyền gen ngang. Truyền gen ngang là sự truyền vật chất di truyền từ một sinh vật này sang một sinh vật khác mà không phải con của nó; điều này phổ biến nhất ở giới vi khuẩn. Trong y học, điều này đóng góp vào sự lan truyền khả năng kháng chất kháng sinh, bởi khi một vi khuẩn có được các gen kháng thuốc nó có thể nhanh chóng truyền khả năng này cho các loài khác. Người ta đã quan sát thấy sự truyền gen ngang từ vi khuẩn sang các sinh vật nhân chuẩn như nấm men Saccharomyces cerevisiae và bọ trên cây đậu adzuki Callosobruchus chinensis. Một ví dụ về sự lan truyền quy mô lớn hơn là luân trùng nhân chuẩn Belloidea, chúng nhận rất nhiều gen từ vi khuẩn, nấm và thực vật. Các virus cũng có thể mang ADN giữa các sinh vật, cho phép lan truyền gen ngay cả giữa các vực sinh vật.
Sự lan truyền gen quy mô lớn cũng xảy ra giữa các tổ tiên của các tế bào nhân chuẩn và vi khuẩn, trong sự hình thành lục lạp và ti thể. Cũng có thể là chính những sinh vật nhân chuẩn này bắt nguồn từ sự lan truyền gen ngang giữa vi khuẩn và vi khuẩn cổ.
== Cơ chế tiến hóa ==
Từ quan điểm của thuyết tân Darwin, tiến hóa xảy ra khi có những thay đổi trong tần số alen trong một quần thể sinh vật giao phối. Chẳng hạn, alen quy định màu đen trong một quần thể bướm trở nên phổ biến hơn. Các cơ chế có thể dẫn tới sự thay đổi tần số alen bao gồm chọn lọc tự nhiên, dịch chuyển di truyền, trung chuyển di truyền, đột biến và dòng gen.
=== Chọn lọc tự nhiên ===
Tiến hóa bằng chọn lọc tự nhiên là quá trình mà nhờ nó các đột biến di truyền tăng cường khả năng sinh sản trở nên phồ biến hơn và duy trì như vậy trong các thế hệ tiếp theo của một quần thể. Nó thường được gọi là một cơ chế "tự thân hiển nhiên" bởi nó là cần thiết để giải thích ba thực kiện đơn giản:
Các biến dị di truyền tồn tại trong các quần thể sinh vật.
Sinh vật sinh nở nhiều con non hơn là số có thể sống sót.
Các con non khác nhau về khả năng sống sót và sinh sôi.
Những điều kiện này làm nảy sinh cuộc cạnh tranh giữa các sinh vật để sống sót và sinh sôi. Hậu quả là, những sinh vật nào có những tính trạng đem cho chúng ưu thế so với đối thủ của chúng sẽ lan truyền các tính trạng có lợi này, trong khi nhũng tính trạng không tạo nên lợi thế không được truyền cho thế hệ kế tiếp.
Khái niệm trung tâm của chọn lọc tự nhiên là giá trị thích nghi của một sinh vật. Giá trị thích nghi được đo bằng khả năng sống sót và sinh sản của một sinh vật, thứ xác định quy mô phần đóng góp di truyền của nó cho thế hệ sau. Tuy nhiên, giá trị thích nghi không trùng với tổng số các con non: thay vào đó giá trị thích nghi được biểu thị bằng tỉ lệ thế hệ sau mang gen của một sinh vật. Nói cách khác, nếu một sinh vật có thể sinh tồn thành công và sinh sôi nhanh chóng, nhưng nếu con của nó đều quá nhỏ và yếu để sống sót, sinh vật này sẽ ít đóng góp di truyền cho các thế hệ tương lai và do đó có giá trị thích nghi thấp.
Nếu một alen tăng cường giá trị thích nghi nhiều hơn các alen khác của gen đó, thì qua mỗi thế hệ alen này sẽ trở nên phổ biến hơn trong quần thể. Những tính trạng này được gọi là "chọn lọc chấp nhận". Một số biểu hiện về tính trạng tăng cường thích nghi là sự sống sót được cải thiện và mức độ mắn đẻ được tăng cường. Trái lại, mức độ thích nghi thấp hơn gây ra bởi một alen có hại hoặc ít có lợi sẽ làm cho alen này trở nên hiếm hơn - chúng được gọi là "chọn lọc phủ nhận". Quan trọng là, mức độ phù hợp của một alen không phải là một đặc trưng cố định; nếu môi trường thay đổi, một tính trạng trước đây trung tính hoặc thậm chí có hại lại có thể trở nên có lợi và một số tính trạng từng có lợi nay trở nên có hại. Tuy nhiên, ngay cả nếu chiều hướng chọn lọc không đảo ngược theo cách này, các tính trạng đã bị mất trong quá khứ có thể không tái tiến hóa theo một cách y hệt (nội dung Định luật Dollo).
Quá trình chọn lọc tự nhiên trong một quần thể đối với một tính trạng có thể thay đổi qua nhiều giá trị khác nhau, như chiều cao, có thể phân làm ba loại hay ba hình thức. Thứ nhất là chọn lọc định hướng, đó là một sự chuyển dịch giá trị trung bình của tính trạng qua thời gian - chẳng hạn, các sinh vật từ từ trở nên cao thêm. Thứ hai là chọn lọc đột phá, một sự chọn lọc đối với các giá trị tính trạng cực đoan và thường dẫn tới việc hai giá trị đối lập nhau trở nên phổ biến hơn, trong khi giá trị trung bình bị loại bỏ. Điều này sẽ có nghĩa là khi những cá thể lùn hoặc cao có lợi thế, chứ không phải những cá thể có chiều cao trung bình. Cuối cùng, chọn lọc ổn định là chọn lọc chống lại các giá trị cực đoan ở cả hai phía, dẫn tới sự suy giảm phương sai quanh giá trị trung bình cũng như giảm đa dạng sinh học. Trong trường hợp chiều cao điều này có nghĩa là các cá thể sẽ từ từ trở nên có chiều cao xấp xỉ nhau.
Một trường hợp đặc biệt của chọn lọc tự nhiên là chọn lọc giới tính, tức sự chọn lọc đối với bất kì tính trạng nào tăng cường thành công trong việc kết đôi bằng cách tăng sự hấp dẫn của một sinh vật đối với những bạn tình tiềm năng. Các tính trạng tiến hóa thông qua chọn lọc giới tính là đặc biệt nổi bật ở con đực của một số loài, mặc dù các tính trạng như gạc sừng lớn, các tiếng gọi bạn tình hay màu sắc rực rỡ cũng sẽ thu hút các kẻ săn mồi, do đó đe dọa cơ hội sinh tồn của các cá thể con đực đó. Bất lợi về sinh tồn này được cân bằng lại bởi thành công về sinh sản cao hơn ở những tính trạng chọn lọc giới tính, khó đóng giả này.
Chọn lọc tự nhiên khiến cho tự nhiên hầu như trở thành một phép đo theo đó các cá thể và tính trạng của cá thể là ít hay nhiều khả năng sống sót. "Tự nhiên" theo nghĩa này là chỉ một hệ sinh thái, tức là một hệ thống trong đó các sinh vật tương tác với mọi yếu tố khác, vô sinh cũng như hữu sinh, trong môi trường cục bộ của chúng. Eugene Odum, một trong những người sáng lập nên sinh thái học, định nghĩa hệ sinh thái là "bất kỳ đơn vị nào bao gồm tất cả các sinh vật... trong một diện tích cho trước tương tác với môi trường vật lý khiến cho một dòng năng lượng dẫn tới cấu trúc dinh dưỡng được xác định rõ ràng, đa dạng hữu sinh và vòng tuần hoàn vật chất (nghĩa là: sự trao đổi vật chất giữa các cơ thể sống và các yếu tố vô sinh) bên trong hệ thống". Mỗi quần thể trong một hệ sinh thái chiếm một khoảng không gian cư trú riêng biệt với các một quan hệ riêng biệt với các phần khác của hệ thống. Các mối quan hệ này liên quan tới lịch sử sự sống của sinh vật, vị trí của nó trong chuỗi thức ăn và phạm vi địa lý của nó. Cách hiểu theo nghĩa rộng này về tự nhiên cho phép các nhà khoa học phác họa các yếu tố cụ thể cùng nhau hình thành nên chọn lọc tự nhiên.
Chọn lọc tự nhiên có thể vận hành ở các mức độ tổ chức sinh học khác nhau, như gen, tế bào, cá thể sinh vật, nhóm sinh vật và loài. Chọn lọc có thể xảy ra ở nhiều mức độ đồng thời. Một ví dụ của chọn lọc xảy ra của chọn lọc xảy ra dưới cấp độ cá thể sinh vật là các gen gọi là transposon, chúng có thể sao chép và lan truyền trong toàn bộ kiểu gen. Sự chọn lọc ở mức độ cao hơn cá thể, như chọn lọc nhóm, có thể cho phép tiến hóa sự hợp tác, mà mục dưới sẽ bàn tới.
=== Đột biến chênh lệch ===
Bên cạnh việc là một nguồn quan trọng của biến dị, đột biến cũng đóng vai trò là một cơ chế tiến hóa khi có những xác suất khác nhau ở mức độ phân tử cho các đột biến khác nhau xảy ra, một quá trình được gọi là chênh lệch đột biến (mutation bias). Nếu hai kiểu gen, chẳng hạn một với nucleotid G và một với nucleotid A ở cùng một vị trí, có cùng giá trị thích nghi, nhưng đột biến từ G tới A xảy ra thường xuyên hơn từ A tới G, thì kiểu gen có A sẽ có xu hướng tiến hóa. Những chuyển dịch đột biến chèn lấn và xóa bỏ trong các nhóm quần thể khác nhau có thể dẫn đến sự tiến hóa trong các kích thước bộ gen khác nhau. Sự chênh lệch về phát triển hoặc đột biến cũng quan sát thấy trong tiến hóa về hình thái. Chẳng hạn, tùy theo kiểu gen, đột biến về sau có thể gây ra sự đồng nhất di truyền của các tính trạng trước đó do môi trường gây ra.
Các hiệu ứng chênh lệch đột biến xếp chót so với các quá trình khác. Nếu chọn lọc khuyến khích một trong hai loại đột biến, nhưng không có lợi ích phụ nào đối với việc có cả hai, thì đột biến sẽ xảy ra thường xuyên nhất là cái mà hầu như trở thành cố định trong một quần thể. Những đột biến dẫn đến mất chức năng của một gen phổ biến hơn nhiều những đột biến tạo ra một gen mới, hoạt động đầy đủ. Hầu hết đột biến mất chức năng bị chọn lọc phủ nhận. Nhưng khi sự chọn lọc yếu ớt, các chênh lệch đột biến dẫn tới mất chức năng có thể ảnh hướng tới tiến hóa. Chẳng hạn, các chất sắc tố không còn có ích khi động vật sống trong cá hang động tối tắm, và có xu hướng mất đi. Loại mất chức năng này có thể xảy ra do chênh lệch di truyền và/hoặc bởi chức năng đó có một cái giá (nghĩa là một tính trạng tốt khác bị kìm hãm do nó), và khi lợi ích của chức năng ấy không còn, chọn lọc tự nhiên sẽ làm nó biến mất. Sự mất khả năng hình thành bào tử ở loài vi khuẩn Bacillus subtilis trong quá trình tiến hóa trong phòng thí nghiệm được cho là do chênh lệch tiến hóa tạo nên hơn là sự chọn lọc tự nhiên chống lại sự trả giá của việc duy trì khả năng hình thành bào tử vốn có. Khi không có sự chọn lọc mất chức năng nào, tốc độ mà chọn lọc tiến hóa phụ thuộc nhiều vào tốc độ đột biến hơn là trong kích thước quần thể hiệu dụng của nó, cho thấy rằng nó được dẫn dắt bởi chênh lệch đột biến hơn là dịch chuyển di truyền.
=== Dịch chuyển di truyền ===
Dịch chuyển di truyền (genetic drift) là sự thay đổi trong tần số alen từ một thế hệ tới thế hệ kế tiếp xảy ra do sai sót lấy mẫu ở các alen. Kết quả là, khi các lực chọn lọc vắng mặt hoặc tương đối yếu, tần số alen có khuynh hướng "dịch chuyển" ngẫu nhiên lên hoặc xuống theo một đường zig zag ngẫu nhiên. Sự dịch chuyển này ngừng khi một alen cuối cùng trở nên ổn định, hoặc do sự biến mất khỏi quẩn thể, hoặc thay thế hoàn toàn các alen khác. Sự dịch chuyển di truyền do đó có thể loại bỏ một số alen quần thể hoàn toàn do may rủi. Ngay cả khi vắng mặt các lực chọn lọc, chuyển dịch di truyền có thể sinh ra hai quần thể tách biệt nhau bắt đầu với cùng cấu trúc gen dịch chuyển ra xa thành hai quần thể có tập hợp các alen khác nhau.
Việc đánh giá mức độ quan trọng tương đối của chọn lọc và các quá trình trung hòa khác thường khá khó khăn. Mức độ quan trọng so sánh của các lực có hoặc không có tính thích nghi trong việc dẫn dắt sự thay đổi có tính tiến hóa là một lĩnh vực hiện đang được nghiên cứu.
Lý thuyết tiến hóa phân tử trung tính đề xuất rằng hầu hết thay đổi tiến hóa là kết quả của sự ổn định các đột biến trung tính do dịch chuyển di truyền. Theo đó, trong mô hình này hầu hết các thay đổi di truyền trong một quần thể là kết quả của áp lực đột biến liên tục và sự chuyển dịch di truyền. Dạng lý thuyết trung tính này đã bị bác bỏ một cách rộng rãi ngày nay, vì nó dường như không phù hợp với quan sát về biến dị di truyền trong tự nhiên. Tuy nhiên, một phiên bản gần đây phù hợp tốt hơn của mô hình này là lý thuyết gần trung tính về tiến hóa phân tử, trong đó một sự tiến hóa có thể là trung tính trong một quần thể nhỏ không nhất thiết phải trung tính trong một quần thể lớn. Các lý thuyết khác đề xuất rằng dịch chuyển di truyền bị lấn lướt bởi các lực ngẫu nhiên khác trong tiến hóa, như trung chuyển di truyền.
Thời gian cho một alen trung tính trở nên ổn định do dịch chuyển di truyền phụ thuộc vào kích thước quần thể, sự ổn định xảy ra càng nhanh nếu quần thể càng nhỏ. Số cá thể trong một quần thể không có tính chủ chốt, mà quan trọng là một đại lượng được gọi là kích thước quần thể hiệu dụng. Một quần thể hiệu dụng thường nhỏ hơn toàn quần thể bởi nó liên quan tới những yếu tố như mức độ giao phối cận huyết và giai đoạn trong vòng đời mà quần thể là nhỏ nhất. Kích thước quần thể hiệu dụng có thể không giống nhau đối với mọi gen trong cùng một quần thể.
=== Trung chuyển di truyền ===
Sự tái tổ hợp cho phép các alen trên cùng một chuỗi ADN trở nên tách biệt nhau. Tuy nhiên, tốc độ tái tổ hợp thấp (xấp xỉ hai sự kiện mỗi nhiễm sắc thể trong một thế hệ). Kết quả là, các gen gần nhau trong một nhiễm sắc thể có thể không luôn luôn trộn xa khỏi nhau và các gen gần nhau có khuynh hướng được di truyền cùng nhau, một hiện tượng gọi là liên kết gen. Khuynh hướng này được xác định bằng cách tìm hiểu mức độ thường xuyên mà hai alen xuất hiện cùng nhau trong một nhiễm sắc thể riêng lẻ so với xác suất độc lập theo tính toán, gọi là sự phi cân bằng liên kết. Tập hợp những alen thường được di truyền trong một nhóm được gọi là một haplotype. Điều này là quan trọng khi một alen trong một haplotype là đặc biệt có lợi: chọn lọc tự nhiên có thể dẫn dắt một sự quét chọn lọc (loại bỏ các biến dị một cách nhanh chóng) cũng sẽ khiến các alen khác trong haplotype đó trở nên phổ biến hơn trong quần thể; hiệu ứng này gọi là trung chuyển di truyền (genetic hitchhiking) hay phác thảo di truyền. Phác thảo di truyền xảy ra do một vài gen trung tính liên kết về mặt di truyền với các gen khác chịu sự chon lọc có thể bị một kích thước quần thể hiệu dụng phù hợp chiếm một phần.
=== Dòng gen ===
Một nhân tố tiến hóa khác là dòng gen (gene flow). Sự hiện diện hay vắng mặt của dòng gen làm thay đổi một cách căn bản tiến trình tiến hóa. Do tính phức tạp của sinh vật, bất kì hai quần thể tách biệt hoàn toàn nào về sau sẽ tiến hóa những điểm không tương thích về di truyền thông qua các quá trình trung tính, như trong mô hình Bateson-Dobzhansky-Muller, ngay cả nếu cả hai quần thể cơ bản vẫn giống hệt nhau xét về sự thích nghi đối với môi trường.
Nếu sự phân hóa di truyền giữa các quần thể phát triển, dòng gen giữa các quần thể có thể làm xuất hiện những tính trạng hay alen bất lợi trong quần thể địa phương và điều này dẫn sinh vật trong những quần thể đó tới chỗ tiến hóa những cơ chế ngăn ngừa sự giao phối với những quần thể có quan hệ xa về di truyền, cuối cùng làm xuất hiện của những loài mới. Do đó, sự hoán chuyển thông tin di truyền giữa các cá thể là hết sức quan trọng đối với sự phát triển của quan niệm loài sinh học.
Trong sự phát triển của phép tổng hợp hiện đại, Sewall Wright đã phát triển lý thuyết cân bằng chuyển dịch của ông với nội dung là dòng gen giữa các quần thể tách biệt một phần là một khía cạnh quan trọng của tiến hóa thích nghi. Tuy nhiên, gần đây đã có những phê phán có trọng lượng về tầm quan trọng của lý thuyết này.
== Kết quả ==
Tiến hóa ảnh hưởng tới mọi khía cạnh của hình thái và hành vi của sinh vật. Nổi bật nhất là những sự thích nghi về hành vi và thể chất riêng biệt là kết quả của chọn lọc tự nhiên. Những sự thích nghi này tăng cường giá trị thích nghi bằng các trợ giúp các hoạt động như tìm thức ăn, lẩn tránh kẻ săn mồi hay thu hút bạn tình. Các sinh vật cũng đáp ứng tiến hóa bằng việc hợp tác với nhau, thông thường bằng cách giúp đỡ họ hàng của chúng hay tham gia vào một quan hệ cộng sinh cùng có lợi. Trong dài hạn, tiến hóa sinh ra những loài mới thông qua sự phân tách các quần thể sinh vật tổ tiên thành những nhóm mới không hoặc không thể giao phối với nhau.
Những kết quả này của tiến hóa thường được phân chia làm đại tiến hóa (hay tiến hóa vĩ mô), là tiến hóa xảy ra ở cấp độ loài trở lên, như sự tuyệt chủng hay hình thành loài và vi tiến hóa (hay tiến hóa vi mô) là những thay đổi tiến hóa nhỏ hơn, như sự thích nghi trong một loài hay quần thể. Nhìn chung, đại tiến hóa có thể được xem như kết quả của vi tiến hóa trong thời gian dài. Do đó, sự khác biệt giữa hai hình thức tiến hóa này không phải là căn bản - mà đơn giản chỉ là thời gian tiến hóa. Tuy nhiên, trong đại tiến hóa, các tính trạng của toàn thể loài có thể quan trọng. Chẳng hạn, một lượng lớn biến thể giữa các cá thể cho phép một loài thích nghi nhanh với những điều kiện sống mới, làm giảm khả năng bị tuyệt chủng, trong khi một phạm vi địa lý rộng lớn gia tăng cơ hội hình thành loài, bằng cách làm cho một phần quần thể dễ trở nên tách biệt hơn. Theo nghĩa này, vi tiến hóa và đại tiến hóa có thể liên quan tới sự chọn lọc ở những mức độ khác nhau - vi tiến hóa vận hành ở gen và cá thể, khác với tiến trình đại tiến hóa như chọn lọc loài vận hành trên toàn thể loài và ảnh hưởng tới tốc độ hình thành và tuyệt chủng của nó.
Một quan niệm sai lầm phổ biến là tiến hóa có một mục đích hay kế hoạch dài hạn nào đó; một cách thực tiễn hơn thì tiến hóa không có mục đích dài hạn nào và không nhất thiết phải sinh ra mức độ phức tạo lớn hơn. Mặc dù các loài phức tạp đã tiến hóa nên, chúng xảy ra như một hiệu ứng phụ của số lượng sinh vật tổng thể tăng lên và các dạng sống đơn giản vẫn phổ biến hơn trong sinh quyển. Cụ thể là tuyệt đại đa số các loài là các vi sinh vật nhân sơ, tạo nên một nửa sinh khối của thế giới bất chấp kích thước nhỏ bé của chúng, và chiếm đa số tuyệt đối trong sự đa dạng sinh thái Trái Đất. Các sinh vật đơn giản do đó là dạng sống thống trị trên Trái Đất trong suốt lịch sử của nó và tiếp tục là dạng sống chủ yếu cho tới ngày nay, khi sự sống phức tạp chỉ dường như có vẻ đa dạng hơn bởi vì chúng dễ nhận thấy hơn. Thực tế, sự tiến hóa của vi sinh vật là đặc biệt quan trọng đối với nghiên cứu về tiến hóa hiện đại, bởi vì sự sinh sôi nhanh chóng của chúng cho phép nghiên cứu tiến hóa thực nghiệm và quan sát tiến hóa và thích nghi trong thời gian thực.
=== Thích nghi ===
Thích nghi là quá trình làm cho các sinh vật phù hợp tốt hơn với môi trường sống của chúng. Ngoài ra, thuật ngữ thích nghi có thể liên hệ tới một tính trạng quan trọng cho sự sinh tồn của sinh vật. Chẳng hạn, răng ngựa đã tiến hóa thích nghi cho việc nhai cỏ. Người ta phân biệt hai nghĩa của từ này bằng cách sử dụng sự thích nghicho quá trình tiến hóa và tính trạng thích nghi cho sản phẩm (bộ phận cơ thể hoặc chức năng). Thích nghi là kết quả trực tiếp của chọn lọc tự nhiên. Các định nghĩa dưới đây dẫn theo Theodosius Dobzhansky, một nhà sinh học tiến hóa nhiều ảnh hưởng:
Sự thích nghi (adaptation) là quá trình tiến hóa mà nhờ đó một sinh vật có khả năng sống trong môi trường sống của nó tốt hơn.
Tính thích nghi (adaptedness) là trạng thái thích nghi, tức mức độ mà theo đó sinh vật có thể tồn tại và sinh sôi ít hay nhiều trong một tập hợp các điều kiện sống nhất định.
Tính trạng thích nghi là một khía cạnh của mô hình phát triển của sinh vật cho phép hay tăng cường khả năng sống sót và sinh sôi của sinh vật.
Sự thích nghi có thể gây ra hoặc sự thu được đặc tính mới, hoặc sự mất mát một đặc tính gốc. Một ví dụ chỉ ra cả hai loại thay đổi này là thích nghi của vi khuẩn đối với phép chọn lọc kháng sinh, với sự thay đổi gen gây ra sự kháng thuốc cả bằng việc sửa đổi mục tiêu của thuốc hay tăng cường hoạt động của bào quan chuyên chở đẩy thuốc ra ngoài tế bào. Một ví dụ khác là vi khuẩn Escherichia coli tiến hóa khả năng sử dụng axít xitric như một chất dinh dưỡng trong quá trình tiến hóa nhiều đời trong phòng thí nghiệm, hay loài Flavobacterium tiến hóa một loại enzyme mới cho phép vi khuẩn này lớn lên trong những phế thải sản xuất nylon, hoặc vi khuẩn trong đất Sphingobium tiến hóa một lối trao đổi chất hoàn toàn mới làm giảm sút hiệu quả của thuốc trừ dịch hại tổng hợp pentachlorophenol. Một ý tưởng thú vị nhưng hiện gây tranh cãi là một vài sự thích nghi có thể tăng cường khả năng của sinh vật sinh ra đa dạng di truyền và thích nghi với chọn lọc tự nhiên (tăng khả năng tiến hóa).
Thích nghi có thể xảy ra thông qua sự thay đổi từ từ các cấu trúc có sẵn. Theo đó, các cấu trúc với các cơ quan bên trong tương tự có thể có những chức năng khác nhau ở những loài liên quan tới nhau. Đây là kết quả của một cấu trúc tổ tiên duy nhất đã thích nghi để hoạt động theo những cách khác nhau. Xương ở cánh loài dơi chẳng hạn, chúng rất giống như ở chân chuột nhắt hay tay của linh trưởng, do nguồn gốc của tất cả các cấu trúc này đến từ một tổ tiên động vật có vú chung. Tuy nhiên, vì tất cả sinh vật đểu liên hệ với nhau ở một mức độ nào đó, ngay cả các cơ quan dường như ít hoặc không có tương đồng về cấu trúc nào, như mắt của động vật chân khớp, mực ống và động vật có xương sống, hay chi và cánh của động vật chân khớp và động vật có xương sống, có thể phụ thuộc vào tập hợp những gen tương đồng chung kiểm soát sự ghép nối và vận hành của chúng; điều này được gọi là sự tương đồng sâu.
Trong quá trình tiến hóa, một vài cấu trúc có thể mất đi chức năng ban đầu của nó và trở thành các cơ quan vết tích. Những cấu trúc như vậy ít hoặc không có chức năng gì trong loài hiện tại, nhưng có một chức năng rõ ràng trong loài tổ tiên, hoặc các loài gần gũi khác. Các ví dụ bao gồm các gen giả, vết tích không hoạt động của mắt ở cá mù sống trong hang, cánh của các loài chim không biết bay và sự hiện diện của xương hông ở cá voi và rắn. Ví dụ về cơ quan vết tích ở người bao gồm răng khôn, xương cụt, ruột thừa và các vết tích về hành vi như nổi da gà và các phản xạ nguyên thủy.
Tuy nhiên, nhiều tính trạng dường như là những sự thích nghi đơn giản trên thực tế lại là những sự tiền thích nghi (pre-apdation): các cấu trúc vốn thích nghi cho một chức năng, nhưng ngẫu nhiên trở nên ít nhiều hữu dụng cho chức năng nào đó khác trong quá trình. Một ví dụ là loài thằn lằn châu Phi Holaspis guentheri phát triển một cái đầu hết sức bẹt để ẩn vào các kẽ nứt, như các họ hàng gần của nó. Tuy nhiên, ở loài này, cái đầu bẹt tới nỗi nó giúp cho việc trượt đi từ cây này sang cây khác. Bên trong các tế bào, các cơ quan phân tử đuôi roi vi khuẩn và cơ quan sắp xếp protein tiến hóa bằng việc thu nhận một vài protein sẵn có với những chức năng nguyên thủy khác nhau. Một ví dụ khác là sự thu nhận enzyme từ glycolysis và sự trao đổi chất dị hóa phục vụ như những protein cấu trúc gọi là thủy tinh thể ở mắt động vật.
Một nguyên lý chủ chốt của sinh thái học là nguyên lý cạnh tranh loại trừ: không có hai loài nào có thể chiếm cùng một không gian cư trú trong cùng môi trường trong một thời gian dài. Hậu quả là, chọn lọc tự nhiên có xu hướng bắt buộc các loài thích nghi theo những không gian sinh thái khác nhau. Điều này có nghĩa là, chẳng hạn hai loài của họ cá hoàng đế thích nghi để sống ở những môi trường khác nhau, sẽ giảm thiểu tối đa sự cạnh tranh kiếm ăn giữa chúng.
Một lĩnh vực đang được nghiên cứu hiện nay trong sinh học phát triển tiến hóa là cơ sở phát triển của thích nghi và tiền thích nghi. Lĩnh vực này liên quan tới nguồn gốc và sự tiến hóa của sự phát triển phôi thai và cách những biến đổi trong sự phát triển và các quá trình phát triển sinh ra những đặc tính mới. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiến hóa có thể thay đổi sự phát triển để sinh ra những cấu trúc mới, như cấu trúc xương phôi thai phát triển thành quai hàm trong những loài động vật khác thay vì tạo thành một phần của tai giữa như ở động vật có vú. Cũng có thể là các cấu trúc bị mất trong tiến hóa tái xuất hiện thông qua sự thay đổi trong gen phát triển, như một đột biến ở gà khiến cho bào thai mọc răng tương tự như những con cá sấu. Ngày càng rõ là việc hầu hết sự thay đổi hình dạng sinh vật do sự thay đổi trong một tập hợp nhỏ các gen được bảo toàn.
=== Đồng tiến hóa ===
Tương tác giữa các sinh vật có thể sinh ra cả mâu thuẫn lẫn hợp tác. Khi tương tác xảy ra giữa một cặp hai loài, như là một mầm bệnh và vật chủ, hay một kẻ săn mồi và con mồi của nó, những loài này tiến hóa tập hợp những thích nghi phù hợp với nhau. Ở dây, sự tiến hóa của một loài gây ra sự thích nghi ở loài kia. Những thay đổi ở loài thứ hai đến lượt mình gây ra những thích nghi ở loài thứ nhất. Vòng tròn chọn lọc và phản ứng này được gọi là đồng tiến hóa. Một ví dụ là sự sản sinh ra tetrodotoxin ở sa giông da nhám và sự tiến hóa khả năng kháng tetrodotoxin ở kẻ săn mồi của nó, rắn Thamnophis sirtalis. Trong cặp kẻ săn mồi-con mồi này, một cuộc chạy đua vũ trang tiến hóa đã sinh ra độc tính ngày càng cao ở chất độc sa giông và khả năng kháng độc cao tương ứng ở rắn.
=== Cộng tác ===
Không phải mọi tương tác đồng tiến hóa giữa các loài đều liên quan tới các mâu thuẫn. Nhiều trường hợp tương tác cùng có lợi đã tiến hóa. Chẳng hạn, một sự hợp tác mạnh mẽ tồn tại giữa thực vật và nấm Mycorrhiza sinh trưởng trên rễ của chúng và giúp cây hấp thụ chất dinh dưỡng từ đất. Đây là một quan hệ có đi có lại bởi vì cây cung cấp đường cho nấm từ quang hợp. Ở đây, nấm thực sự lớn lên bên trong tế bào thực vật, cho phép chúng trao đổi thức ăn với sinh vật chủ, trong khi gửi tín hiệu tắt hệ thống miễn dịch của cây.
Mối liên minh giữa các sinh vật cùng loài cũng tiến hóa. Một trường hợp đặc sắc là các loài côn trùng sống thành xã hội, như ong, mối và kiến, trong đó các côn trùng không có chức năng sinh sản nuôi dưỡng và canh chừng cho một lượng nhỏ cá thể trong một lãnh địa có thể sinh sôi. Ngay ở quy mô nhỏ hơn, các tế bào sinh đưỡng tạo nên cho cơ thể động vật một giới hạn sự sinh sản để chúng có thể duy trì một cơ thể ổn định, cung cấp một lượng nhỏ số tế bào sinh dục sinh ra con cháu. Ở đây, tế bào sinh dưỡng đáp ứng những tín hiệu riêng biết chỉ dẫn chúng lớn lên, duy trì như hiện tại, hoặc chết đi. Nếu các tế bào phớt lờ các tín hiệu này và nhân lên một cách thích hợp, sự phát triển không kiểm soát đó có thể gây ra ung thư.
Sự cộng tác như vậy trong loài có thể tiến hóa thông qua quá trình chọn lọc họ hàng, trong đó một sinh vật hành động để giúp nuôi dưỡng con cái của họ hàng. Hoạt động này được chọn lọc chấp thuận bởi vì cá thể giúp đỡ chứa những alen khuyến khích hoạt động cá nhân, hẳn là họ hàng của nó cũng chữa những alen đó và do đó những alen này sẽ lan truyền. Những quá trình khác có thể khuyến khích sự cộng tác bao gồm chọn lọc nhóm, trong đó sự hợp tác đem lại những lợi ích cho một nhóm sinh vật.
=== Hình thành loài ===
Sự hình thành loài là quá trình trong đó một loài phân kỳ thành hai hay nhiều loài con cháu.
Có nhiều cách để định nghĩa khái niệm "loài". Lựa chọn định nghĩa phụ thuộc vào những đặc thù của các loài xét tới. Chẳng hạn, một vài quan niệm về loài áp dụng dễ dàng hơn đối với các loài sinh sản hữu tính trong khi những khái niệm khác phù hợp với các loài vô tính hơn. Bất chấp sự đa dạng các khái niệm này, chúng có thể xếp vào một trong ba cách tiếp cận triết học rộng hơn: theo hướng giao phối, sinh thái và thuyết phát sinh loài. Quan niệm loài sinh học (tiếng Anh: biological species concept - BSC) là một ví dụ cổ điển về cách tiếp cận giao phối. Được Ernst Mayr đưa ra năm 1942, BSC khẳng định rằng "loài là nhóm các quần thể tự nhiên, thực sự hoặc có khả năng, giao phối với nhau, cách biệt về mặt sinh sản với những nhóm khác như vậy". Mặc dù khá rộng và được sử dụng từ lâu, BSC cũng giống những quan niệm khác khi không tránh khỏi những tranh cãi, bởi vì các quan niệm kiểu như vậy không thể áp dụng cho sinh vật nhân sơ và điều này được gọi là vấn đề loài. Một số nhà nghiên cứu đã nỗ lực tìm cách đưa ra một quan niệm nhất nguyên thống nhất về loài, trong khi những người khác tiếp nhận một cách tiếp cận đa nguyên và đề xuất rằng có thể có nhiều cách khác nhau để diễn giải một cách logic định nghĩa về loài.
Sự ngăn cách sinh sản giữ hai quần thể hữu tính phân tách là cần thiết để các quần thể đó trở thành các loài mới. Dòng gen có thể làm chậm quá trình này bằng cách cũng lan truyền các biến thể di truyền mới tới các quần thể khác. Tùy vào mức độ hai loài đã phân tách xa thế nào kể từ tổ tiên chung gần nhất của chúng, chúng có thể vẫn có khả năng giao phối, như ghép ngựa và lừa sinh ra những con la. Những sinh vật lai như vậy thường là vô sinh. Trong trường hợp này, các loài có quan hệ gần gũi có thể giao phối thường xuyên, nhưng sinh vật lai sẽ bị chọn lọc phủ nhận và hai loài vẫn tách biệt. Tuy nhiên, các loài lai hữu thụ (có thể sinh nở được) đôi khi tạo nên và những loài mới này có thể hoặc có những tính chất trung gian giữa các loài bố mẹ, hoặc sở hữu kiểu hình hoàn toàn mới. Tầm quan trọng của việc lai ghép trong việc tạo nên loài động vật mới là chưa rõ ràng, mặc dù có những trường hợp đã được quạn sát ở nhiều loài động vật, như một trường hợp đã được nghiên cứu kỹ lưỡng là ếch cây xám.
Sự hình thành loài đã được quan sát nhiều lần cả dưới những điều kiện có kiểm soát trong phòng thí nghiệm lẫn trong tự nhiên. Ở những loài sinh sản hữu tính, sự phát sinh loài bắt nguồn từ sự cách biệt sinh sản rồi sau đó là sự phân tách về phả hệ. Có bốn cơ chế cho sự phát sinh loài. Phổ biến nhất ở động vật là sự phát sinh loài khác khu phân bố (allopatric speciation), xảy ra ở những quần thể ban đầu bị cách biệt về mặt địa lý, như do sự phân mảnh môi trường sống hay do di cư. Chọn lọc dưới những điều kiện này sẽ sinh ra những thay đổi rất nhanh về bề ngoài và hành vi của sinh vật. Vì chọn lọc và dịch chuyển tác động độc lập lên các quần thể cô lập khỏi phần còn lại của loài, sự chia tách cuối cùng có thể làm nảy sinh những sinh vật không thể giao phối với loài gốc.
Cơ chế thứ hai là sự hình thành loài gần khu phân bố (peripatric speciation), xảy ra khi những quần thể sinh vật nhỏ trở nên bị cô lập trong một khu phân bố mới. Điều này khác với cơ chế ở trên ở chỗ các quần thể bị tách biệt nhỏ hơn nhiều quần thể gốc về mặt số lượng. Ở đây, "hiệu ứng người sáng lập" (founder effect, hiệu ứng trong đó quần thể nhỏ bị cô lập suy giảm đột ngột các biến dị di truyền), tạo nên một sự hình thành loài nhanh chóng sau một sự gia tăng giao phối tăng cường chọn lọc trên đồng hợp tử, dẫn tới một sự thay đổi nhanh chóng về mặt di truyền.
Cơ chế thứ ba là sự hình thành loài ngoài khu phân bố (parapatric speciation). Nó tương tự với cơ chế thứ hai ở chỗ một quần thể nhỏ xâm nhập vào một không gian phân bố mới, nhưng khác ở chỗ không có sự chia cách vật lý nào giữa hai quần thể. Thay vào đó, sự hình thành loài nảy sinh từ sự tiến hóa các cơ chế giảm dòng gen giữa hai quần thể. Thông thường điều này xảy ra khi có một sự thay đổi lớn đột ngột môi trường trong không gian phân bố của loài gốc. Một ví dụ là loài cỏ Anthoxanthum odoratum, có thể đã trải qua sự hình thành loài loại này để đối phó với nhiễm độc kim loại cục bộ ở các vùng mỏ. Ở đây, thực vật tiến hóa có khả năng chịu một hàm lượng kim loại cao trong đất. Chọn lọc phủ nhận giao phố với quần thể gốc nhạy cảm với kim loại sinh ra một sự thay đổi từ từ trong thời gian nở hoa của thực vật kháng kim loại, cuối cùng tạo nên sự tách biệt sinh sản hoàn toàn. Chọn lọc phủ nhận các sinh vật lai giữa hai quần thể có thể gây ra sự tăng cường, đó là sự tiến hóa của các tính trạng khuyến khích giao phối trong một loài, cũng như sự chiếm chỗ đặc tính, là khi hai loài trở nên khác biệt hơn về bề ngoài.
Cuối cùng, trong sự hình thành loài cùng khu phân bố (sympatric speciation) các loài phân tách mà không hề có sự cách biệt địa lý hay thay đổi môi trường sống. Dạng này hiếm gặp do ngay cả chỉ một lượng nhỏ dòng gen cũng có thể loại bỏ sự khác biệt di truyền giữa các phần của một quần thể. Nhìn chung, loại hình thành loài này đòi hỏi sự tiến hóa cả trong khác biệt di truyền và giao phối không ngẫu nhiên, cho phép cách biệt sinh sản để tiến hóa.
Một loại hình thành loài cùng khu phân bố liên quan tới giao phối chéo của hai loài gần gũi để tạo ra một loài lai mới. Điều này không phổ biến ở động vật vì động vật lai thường vô sinh. Đó là vì trong quá trình giảm phân các nhiễm sắc thể tương đồng từ bố và mẹ đến từ các loài khác nhau và khó ghép cặp thành công. Tuy nhiên, nó phổ biến hơn ở thực vật, bởi vì thực vật thường nhân đôi số nhiễm sắc thể của chúng, tạo nên các thể đa bội. Điều này cho phép các nhiễm sắc thể từ mỗi loài cha mẹ hình thành các cặp phù hợp trong giảm phân. Một ví dụ của hiện tượng này là khi hai loài thực vật Arabidopsis thaliana và Arabidopsis arenosa giao phối chéo cho ra loài mới là Arabidopsis suecica. Điều này đã xảy ra khoảng 20 nghìn năm trước, và quá trình hình thành loài đã được lặp lại trong phòng thí nghiệm để nghiên cứu các cơ chế di truyền tham gia vào quá trình này. Thực tế, nhiễm sắc thể nhân đôi trong một loài có thể là nguyên nhân thông thường của tách biệt sinh sản, vì mỗi nửa của nhiễm sắc thể nhân đôi không khớp khi giao phối với một sinh vật không nhân đôi.
Các hiện tượng hình thành loài đóng vai trò quan trọng trong lý thuyết về cân bằng ngắt quãng, liên quan tới các mô hình trong dấu vết hóa thạch về các "vụ bùng nổ" tiến hóa ngắn ngắt quãng các thời kỳ ổn định dài, khi các loài ít thay đổi. Theo lý thuyết này, sự hình thành loài và tiến hóa nhanh gắn kết với nhau, với chọn lọc tự nhiên và dịch chuyển di truyền vận hành mạnh mẽ nhất ở các sinh vật trải qua sự hình thành loài trong khu phân bố mới hoặc trong các quần thể nhỏ. Kết quả là, chu kì ổn định trong các dấu vết hóa thạch ứng với quần thể gốc còn các sinh vật chịu sự thay đổi loài và tiến hóa nhanh tìm thấy ở những quần thể nhỏ hoặc các khu phân bố hạn chế về mặt địa lý và do đó hiếm khi được bảo quản dưới dạng hóa thạch.
=== Tuyệt chủng ===
Sự tuyệt chủng là sự biến mất của toàn bộ loài. Tuyệt chủng không phải là một sự kiện bất thường, vì các loài sinh vật thường xuất hiện thông qua sự hình thành loài và biến mất thông qua sự tuyệt chủng. Hầu như toàn bộ động thực vật từng sống trên Trái Đất đến nay đã tuyệt chủng, và sự tuyệt chủng dường như là số phận tối hậu của muôn loài. Những sự tuyệt chủng đã xảy ra liên tục trong suốt lịch sử sự sống, tuy rằng tốc độ tuyệt chủng có tăng mạnh trong những sự kiện tuyệt chủng quy mô lớn thỉnh thoảng xảy ra. Nổi tiếng nhất là Sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta–Paleogen, trong đó tất cả những khủng long không biết bay đã tuyệt diệt, tuy nhiên Sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi–kỷ Trias còn khủng khiếp hơn thế, với xấp xỉ 96% số loài biến mất. Sự kiện tuyệt chủng thế Holocene là một sự tuyệt chủng quy mô lớn đang diễn ra liên quan tới sự bành trướng của nhân loại khắp toàn cầu trong chỉ vài trăm năm qua. Tốc độ tuyệt chủng ngày nay lớn gấp 100-1000 lần tốc độ ổn định và lên tới 30% số loài hiện có thể không còn nữa vào giữa thế kỷ 21. Các hoạt động của con người ngày nay là nguyên nhân chính cho sự tuyệt chủng hàng loạt; hiện tượng ấm lên toàn cầu có thể đẩy nhanh nó hơn nữa trong tương lai.
Vai trò của tuyệt chủng trong tiến hóa chưa được tìm hiểu thực sự kỹ và có lẽ phụ thuộc vào loại tuyệt chủng nào được xét tới. Nguyên nhân của những sự kiện tuyệt chủng "mức độ thấp", vốn tạo nên phần lớn sự tuyệt chủng, có thể là sự cạnh tranh giữa các loài cho nguồn tài nguyên có hạn (sự loại trừ cạnh tranh). Nếu một loài có thể loại bỏ loài khác, điều này sinh ra sự chọn lọc loài, với loài thích nghi hơn sống sót còn loài kia đi tới tuyệt diệt. Những đợt tuyệt chủng quy mô lớn cũng quan trọng, nhưng thay vì đóng vai trò một lực chọn lọc, chúng làm giảm mạnh sự đa dạng theo một cách không chọn lọc và khuyến khích sự bùng nổ sự tiến hóa nhanh và hình thành loài mới ở những sinh vật sống sót.
== Lich sử tiến hóa sự sống ==
=== Nguồn gốc sự sống ===
Các quá trình hóa học năng lượng cao được cho là đã sinh ra những phân tử tự tái tạo vào khoảng 4 tỷ năm trước, và nửa tỷ năm sau một tổ tiên chung của tất cả sinh vật đã tồn tại. Giới khoa học đương đại đạt được thống nhất rằng quá trình sinh hóa phức tạp đã hình thành nên sự sống từ những phản ứng hóa học đơn giản hơn. Sự bắt nguồn sự sống có thể bao gồm những phân tử tự tái tạo như RNA và sự lắp ghép nên những tế bào đơn giản.
=== Tổ tiên chung ===
Toàn bộ sinh vật trên Trái Đất được cho là bắt nguồn từ một tổ tiên chung hoặc một nguồn gen tổ tiên chung. Các loài sinh vật hiện tại là một chặng trong tiến trình tiến hóa, với sự đa dạng của chúng là sản phẩm của một chuỗi dài những sự kiện hình thành loài cũng như tuyệt chủng. Tổ tiên chung cả các sinh vật đầu tiên được suy luận ra từ bốn dữ kiện đơn giản về các sinh vật. Trước hết, chúng có sự phân bố địa lý không thể giải thích bằng sự thích nghi địa phương. Thứ nhì, sự đa dạng sinh học không phải là một tập hợp những sinh vật hoàn toàn độc nhất vô nhị, mà là những sinh vật chia sẻ những sự tương đồng về hình thái học. Thứ ba, những tính trạng di tích (như xương cụt ở người) không có mục đích rõ ràng nào tương tự với những tính trạng tổ tiên có chức năng và, các sinh vật có thể được phân loại bằng các dùng những sự tương đồng vào một thứ bậc với các nhóm lồng vào nhau - tương tự với một cây gia phả. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện đại đã đề xuất rằng, do sự lan truyền gen ngang, cây phát sinh chủng loại này có thể phức tạp hơn là một cái cây phân nhánh đơn giản bởi vì một số gen đã lan truyền độc lập giữa các loài liên quan rất xa xôi.
=== Tiến hóa sự sống ===
Các sinh vật nhân sơ đã cư trú trên Trái Đất từ cách đây khoảng 3 đến 4 tỉ năm. Không có sự thay đổi rõ ràng nào trong hình thái học hay tổ chức tế bào xảy ra ở những cơ thể sống này trong vài tỉ năm sau đó. Các tế bào nhân chuẩn xuất hiện trong khoảng 1,6 tới 2,7 tỉ năm trước. Sự thay đổi chính yếu tiếp theo trong cấu trúc tế bào xuất hiện khi vi khuẩn bị các tế bào nhân chuẩn bao phủ, trong một mối quan hệ cộng tác gọi là nội cộng sinh (endosymbiosis). Vi khuẩn xâm nhập và tế bào chủ sau đó trải qua một sự đồng tiến hóa, trong đó vi khuẩn tiến hóa thành các ti thể hoặc hydrogenosome. Một sự xâm nhập của các vi khuẩn lam dẫn đến sự hình thành của lục lạp trong tảo và thực vật.
Lịch sử sự sống chỉ bao gồm vi khuẩn cổ, sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân chuẩn đơn bào cho tới tận 610 triệu năm trước khi các cơ thể đa bào bắt đầu xuất hiện trong các đại dương ở kỷ Ediacara. Sự tiến hóa đa bào xảy ra trong nhiều sự kiện độc lập, trong các sinh vật khác nhau như động vật thân lỗ, tảo nâu, vi khuẩn lam, mốc nhầy và vi khuẩn nhầy (myxobacteria, hay niêm khuẩn).
Ít lâu sau sự xuất hiện của các sinh vật đa bào đầu tiên này, một mức độ đa dạng sinh học đáng kể đã xuất hiện chỉ trong vòng 10 triệu năm, trong một sự kiện được gọi là sự bùng nổ kỷ Cambri. Trong thời kỳ này, phần lớn các ngành động vật hiện đại đã xuất hiện trong các chứng tích hóa thạch, cùng với những dòng giống độc nhất vô nhị về sau đã tuyệt chủng. Nhiều cách giải thích về sự bùng nổ này đã được đưa ra, trong đó có sự tích lũy oxy trong khí quyển từ sự quang hợp.
Khoảng 500 triệu năm trước, thực vật và nấm tiến từ đại dương lên mặt đất, dần kéo theo động vật chân khớp và các loài động vật khác. Côn trùng đặc biệt phát triển và thậm chí cho đến ngày nay vẫn chiếm đa số các loài động vật. Các con lưỡng cư đầu tiên xuất hiện khoảng 364 triệu năm trước, theo sau bởi các động vật có màng ối và chim sơ khai khoảng 155 triệu năm trước (cả hai đều có dòng dõi từ bò sát), động vật có vú khoảng 129 triệu năm trước, phân họ Người khoảng 10 triệu năm trước và con người hiện đại khoảng 250 nghìn năm trước. Tuy nhiên, bất chấp sự tiến hóa của các loài động vật lớn này, các sinh vật nhỏ hơn cũng như những loại đã tiến hóa sớm trong quá trình này tiếp tục phát triển thành công và thống trị Trái Đất, với phần lớn sinh khối và số lượng loài thuộc về sinh vật nhân sơ.
== Ứng dụng ==
Các quan niệm và mô hình sử dụng trong tiến hóa sinh học, như chọn lọc tự nhiên, có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau.
Chọn lọc nhân tạo là sự chọn lọc có chủ định những tính trạng trong một quần thể sinh vật. Phương pháp này đã được dùng hàng nghìn năm trong việc thuần hóa động thực vật. Gần đây hơn, phép chọn lọc tương tự như vậy đã trở thành một phần thiết yếu trong kỹ thuật di truyền, với các gen đánh dấu chọn lọc như gen kháng thuốc được dùng để thao tác trên ADN. Trong những vòng đột biến và chọn lọc lặp lại các protein với các tính chất đáng quý đã tiến hóa, chẳng hạn những enzym biến đối và những kháng thể mới, trong một quá trình gọi là tiến hóa có định hướng.
Hiểu biết về những thay đổi đã xuất hiện trong tiến hóa sinh vật có thể phát lộ những gen cần thiết để cấu trúc nên các phần của cơ thể cũng các gen liên quan tới các bệnh di truyền. Chẳng hạn, cá Tetra Mexico Astyanax mexicanus là một loài cá hang động bị bạch tạng đã mất năng lực thị giác của nó trong quá trình tiến hóa. Gây giống giữa các quần thể khác nhau của loài cá mù này sẽ sinh ra một vài con cháu có mắt hoạt động được, vì những đột biến khác nhau đã xảy ra trong những quần thể cô lập tiến hóa ở những hang khác nhau. Điều này giúp nhận diện các gen cần cho thị giác và nhiễm sắc tố.
Trong khoa học máy tính, những mô phỏng tiến hóa sử dụng các thuật toán tiến hóa và sự sống nhân tạo bắt đầu từ những năm 1960 và được mở rộng với những mô phỏng chọn lọc nhân tạo. Tiến hóa nhân tạo đã trở thành một phương pháp tối ưu hóa được thừa nhận rộng rãi do công trình của Ingo Rechenberg những năm 1960. Ông đã sử dụng các chiến lược tiến hóa để giải quyết các bài toàn kĩ thuật phức tạp. Các thuật toán di truyền trở nên đặc biệt phổ biến thông qua tác phẩm của John Henry Holland. Các ứng dụng thực tiễn khác bao gồm khả năng tiến hóa tự động của các chương trình máy tính. Các thuật toán tiến hóa ngày nay được dùng để giải các bài toán nhiều chiều hiệu quả hơn so với các phần mềm do người lập trình viên viết nên và cũng như để tối ưu hóa thiết kế hệ thống.
== Ảnh hưởng xã hội và văn hóa ==
Trong thế kỉ 19, đặc biệt sau khi cuốn Nguồn gốc các loài được công bố, tư tưởng rằng sự sống tiến hóa đã là một nguồn tranh cãi nóng bỏng tập trung vào các hàm ý triết học, xã hội và tôn giáo của tiến hóa. Ngày nay, thuyết tổng hợp tiến hóa hiện đại được chấp nhận bởi tuyệt đại đa số các nhà khoa học. Tuy nhiên, tiến hóa vẫn là một quan niệm khó chấp nhận đối với một số người hữu thần.
Trong khi nhiều tôn giáo và giáo phái đã hòa giải đức tin của họ với tiến hóa thông qua các quan niệm như tiến hóa hữu thần, vẫn có những nhà sáng tạo luận tin rằng tiến hóa mâu thuẫn với huyền thoại sáng tạo trong tôn giáo của họ và đó cũng là những người dấy lên các cuộc chống đối thuyết tiến hóa. Như các phản ứng đối với cuốn Vestiges of the Natural History of Creation ("Những bằng chứng về Lịch sử Tự nhiên của Sáng tạo") của Robert Chambers năm 1844 thể hiện, khía cạnh gây tranh cãi nhất của tiến hóa sinh học là sự ngụ ý về tiến hóa loài người rằng con người có tổ tiên chung với linh trưởng và các năng lực tinh thần và luân lý của loài người có cùng những loại nguyên nhân tự nhiên như những tính trạng di truyền khác ở động vật. Ở một vài quốc gia, nổi bật là Hoa Kỳ, những căng thẳng giữa khoa học và tôn giáo đã châm ngòi tranh cãi về tiến hóa-sáng tạo, một tranh cãi có tính tôn giáo tập trung trong chính trị và giáo dục công. Trong khi các lĩnh vực khoa học khác như vũ trụ học và Khoa học Trái Đất cũng mâu thuẫn với cách diễn giải theo nghĩa đen của nhiều sách vở tôn giáo, chúng không chịu nhiều sự chống đối gay gắt từ những người luận giải kinh sách theo nghĩa đen bằng tiến hóa sinh học.
Việc giảng dạy về tiến hóa ở các lớp sinh học ở các trường trung học Hoa Kỳ là không phổ biến trong hầu hết nửa đầu thế kỉ 20. Phán quyết của tòa trong Vụ xử Scopes năm 1925 - trong đó giáo viên John Scopes dạy tiến hóa ở Tennnessee bị kết tội - khiến cho chủ đề này trở nên hiếm hoi trong các sách giáo khoa sinh học ở trung học Hoa Kỳ trong suốt một thế hệ, nhưng nó dần dần được xuất hiện lại sau đó và được bảo vệ chính thức với phán quyết năm 1968 trong Vụ Epperson chống Arkansas. Kể từ đó, niềm tin tôn giáo có tính thách thức của sáng tạo luận chính thức bị bác bỏ trong giáo trình phổ thông thông qua một số phán quyết những năm 1970 và 1980, nhưng nó trở lại trong dạng giả khoa học với tên thiết kế thông minh, và bị loại trừ một lần nữa trong vụ kiện Kitzmiller chống Quận Dover năm 2005.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Dẫn nhập về tiến hóa
Carroll, S. (2005). Endless Forms Most Beautiful. New York: W.W. Norton. ISBN 0-393-06016-0.
Charlesworth, C.B. và Charlesworth, D. (2003). Evolution. Oxfordshire: Oxford University Press. ISBN 0-192-80251-8.
Dawkins, R. (2006). The Selfish Gene: 30th Anniversary Edition. Oxford University Press. ISBN 0199291152.
Gould, S.J. (1989). Wonderful Life: The Burgess Shale and the Nature of History. New York: W.W. Norton. ISBN 0-393-30700-X.
Jones, S. (2001). Almost Like a Whale: The Origin of Species Updated. (tựa đề bản ở Mỹ Darwin's Ghost). New York: Ballantine Books. ISBN 0-345-42277-5.
Mader, Sylvia S. (2007). Biology. Murray P. Pendarvis . McGraw Hill. ISBN 9780073258393.
Maynard Smith, J. (1993). The Theory of Evolution: Canto Edition. Cambridge University Press. ISBN 0-521-45128-0.
Pallen, M.J. (2009). The Rough Guide to Evolution. Rough Guides. ISBN 978-1-85828-946-5.
Smith, C.B. và Sullivan, C. (2007). The Top 10 Myths about Evolution. Prometheus Books. ISBN 978-1-59102-479-8.
Lịch sử tư tưởng tiến hóa
Larson, E.J. (2004). Evolution: The Remarkable History of a Scientific Theory. New York: Modern Library. ISBN 0-679-64288-9.
Zimmer, C. (2001). Evolution: The Triumph of an Idea. London: HarperCollins. ISBN 0-060-19906-7.
Chuyên sâu
Barton, N.H., Briggs, D.E.G., Eisen, J.A., Goldstein, D.B. và Patel, N.H. (2007). Evolution. Cold Spring Harbor Laboratory Press. ISBN 0-879-69684-2.
Coyne, J.A. và Orr, H.A. (2004). Speciation. Sunderland: Sinauer Associates. ISBN 0-878-93089-2.
Futuyma, D.J. (2005). Evolution. Sunderland: Sinauer Associates. ISBN 0-878-93187-2.
Gould, S.J. (2002). The Structure of Evolutionary Theory. Cambridge: Belknap Press (Harvard University Press). ISBN 0-674-00613-5.
Maynard Smith, J. và Szathmáry, E. (1997). The Major Transitions in Evolution. Oxfordshire: Oxford University Press. ISBN 0-198-50294-X.
Mayr, E. (2001). What Evolution Is. New York: Basic Books. ISBN 0-465-04426-3.
Olson, Wendy; Hall, Brian Keith (2003). Keywords and concepts in evolutionary developmental biology. Cambridge: Harvard University Press. ISBN 0-674-02240-8.
== Liên kết ngoài ==
Thông tin chung
Thuyết tiến hóa evolution tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Tiến hóa coevolution tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Tiến hóa của loài người human evolution tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Evolution trên chương trình In Our Time của BBC. (Nghe tại đây)
“Evolution”. New Scientist. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2011.
“Evolution Resources from the National Academies”. U.S. National Academy of Sciences. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2011.
“Understanding Evolution: your one-stop resource for information on Evolution”. University of California, Berkeley. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2011.
“Evolution of Evolution – 150 Years of Darwin's "On the Origin of Species"”. National Science Foundation. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2011.
Lịch sử tư tưởng tiến hóa
“The Complete Work of Charles Darwin Online”. National University of Singapore. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2011.
Price RG. “Understanding Evolution: History, Theory, Evidence, and Implications”. RationalRevolution.net. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2011.
Bài giảng trực tuyến
Carroll SB. “The Making of the Fittest”. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2011.
Stearns SC. “Principles of Evolution, Ecology and Behavior”. Truy cập 30/8/2011. |
michaël llodra.txt | Michaël Llodra (phát âm tiếng Pháp: [mikaɛl jɔdʁa]; sinh ngày 18 tháng 5 năm 1980) là cựu vận động viên quần vợt người Pháp. Anh có một sự nghiệp đánh đôi thành công với 3 chức vô địch Grand Slam, và một Huy chương bạc Thế vận hội, ngoài ra còn có 5 danh hiệu đơn với nhiều trận thắng trước các tay vợt hàng đầu như Novak Djokovic, Juan Martín del Potro, Tomáš Berdych, Robin Söderling, Jo-Wilfried Tsonga, Nikolay Davydenko, Janko Tipsarević hay John Isner. Anh từng được mệnh danh là "tay vợt lên lưới xuất sắc nhất".
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Michaël Llodra trên trang chủ ATP (tiếng Anh)
Michaël Llodra trên ITF
Michaël Llodra tại Davis Cup
bio -file interview with Michael Llodra |
khmer đỏ.txt | Khmer Đỏ (ខ្មែរក្រហម) (tiếng Pháp: Khmer Rouge), tên chính thức Đảng Cộng sản Campuchia và sau này là Đảng Campuchia Dân chủ, là một tổ chức chính trị cầm quyền tại Campuchia từ 1975 đến 1979. Tổ chức này còn được biết với các tên Đảng Cộng sản Khmer, Quân đội Nhân dân Campuchia Dân chủ.
Tuy tuyên bố là đi theo chủ nghĩa Cộng sản, song thực chất Khmer Đỏ có khuynh hướng của một tổ chức theo chủ nghĩa Sô vanh và tư tưởng bài ngoại Tới năm 1981, Khmer Đỏ chính thức tuyên bố họ không đi theo chủ nghĩa Cộng sản
Họ đã bị chính quyền và quân đội Việt Nam đổ quân đánh chiếm Campuchia năm 1979 và lập nhà nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia và đưa Hun Sen lên làm thủ tướng. Chế độ Khmer Đỏ nay được biết đến vì đã giết chết khoảng 2 triệu người (từ một dân số 7,1 triệu) bằng các biện pháp tử hình bằng các dụng cụ thô sơ như cuốc, mai, xẻng, bỏ đói và lao động cưỡng bức. Nó được nhiều học giả xem là một trong những chế độ hung bạo nhất trong thế kỷ 20 - thường được so sánh với chế độ của Adolf Hitler. Nếu tính theo tỷ lệ người bị giết so sánh với dân số, có thể nó là chế độ giết người nhiều nhất trong thế kỷ 20.
Trong khi cầm quyền, nó đã được hậu thuẫn bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, vì muốn cô lập nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam lúc đó đang được Liên Xô hậu thuẫn. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cùng với Mỹ và Thái Lan, vào thời kì mặn nồng nhất của quan hệ Trung-Mỹ, cung cấp vũ khí, thông tin tình báo và căn cứ để tiếp tế và cung cấp nơi trú ẩn cho bính lính Khmer Đỏ. Hoa Kỳ, Trung Quốc, Tây Âu, và khối Asean phản đối hành động mà họ cho là "chiếm đóng" của Việt Nam. Họ đòi Việt Nam rút quân và lực lượng Liên Hợp Quốc sẽ vào tiếp quản. Quan hệ giữa Việt Nam và khối Asean, đặc biệt là Thái Lan, trong thời kỳ này rất căng thẳng và trong nhiều trường hợp đứng bên bờ vực chiến tranh. Sau khi Việt Nam rút khỏi Campuchia, quan hệ Việt Nam - Asean dần được cải thiện và bình thường hóa.
Đến năm 2006, chỉ có ba trong số các lãnh đạo nhóm Khmer Đỏ đã bị bỏ tù từ khi bị lật đổ. Năm 1981, Pol Pot chính thức giải tán Đảng Cộng sản Campuchia; Pol Pot qua đời ở Anlong Veng, Campuchia vì bệnh tim năm 1998 sau khi bị đàn em Ta Mok hạ bệ vào năm 1997.
== Tên gọi ==
Thuật ngữ "Khmer Đỏ", tiếng Pháp "Khmer Rouge", được nguyên thủ Campuchia Norodom Sihanouk đặt ra và sau này được những người nói tiếng Anh chấp nhận. Nó được dùng để chỉ một sự tiếp nối của các Đảng Cộng sản tại Campuchia, từ Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer (KPRP) (1951 - 1963) phát triển lên thành Đảng Công nhân Campuchia (1963 - 1970) rồi thành Đảng Cộng sản Kampuchea (CPK) (1971 - 1981) và sau này thành lập nhà nước Kampuchea Dân chủ. Tổ chức này cũng được gọi là Đảng Cộng sản Khmer.
== Hình thành ==
=== Lịch sử ban đầu ===
Lịch sử phong trào cộng sản tại Campuchia có thể được chia thành 6 giai đoạn:
Sự xuất hiện của Đảng Cộng sản Đông Dương (ICP) năm 1930, với các thành viên hầu hết là người Việt Nam, trước Thế chiến II cho đến năm 1945 khi ba nước Đông Dương tuyên bố độc lập
Cuộc chiến tranh 9 năm (1945-1954) giành độc lập từ Pháp, khi một đảng cộng sản Campuchia riêng rẽ, Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer (KPRP), được thành lập dưới sự ủng hộ của Việt Nam;
Giai đoạn 1955-1962 đảng Nhân dân Cách mạng Khmer hoạt động bí mật và bị Sihanouk đàn áp
Giai đoạn sau Đại hội thứ hai của KPRP, lúc này đã được đổi tên thành Đảng Công nhân Kampuchea (WPK), năm 1963, khi Saloth Sar (Pol Pot sau năm 1976) và những lãnh đạo tương lai của Khmer Đỏ giành được quyền kiểm soát Đảng Công nhân Kampuchea. Sau đó, Khmer Đỏ bắt đầu nổi dậy năm 1967–1968 dẫn tới sự sụp đổ của chính phủ Lon Nol tháng 4 năm 1975. Thời điểm nắm chính quyền KPRP có tên Đảng Cộng sản Kampuchea (CPK);
Chế độ Kampuchea Dân chủ tồn tại từ tháng 4 năm 1975 đến tháng 1 năm 1979;
Giai đoạn sau Đại hội thứ ba của KPRP tháng 1 năm 1979, khi Hà Nội nắm được toàn bộ ảnh hưởng đối với Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Campuchia và Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer (KPRP) được những người cộng sản Campuchia thân Việt Nam tái lập.
Năm 1930 Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam bằng cách hợp nhất ba phòng trào cộng sản nhỏ đã xuất hiện ở miền bắc, miền trung và miền nam Việt Nam cuối những năm 1920. Cái tên được thay đổi hầu như ngay lập tức thành Đảng Cộng sản Đông Dương, bề ngoài là gộp cả các phong trào cách mạng từ Campuchia và Lào.
Hầu như không có ngoại lệ, hầu hết các thành viên ban đầu của đảng là người Việt Nam. Tới cuối Thế chiến II khoảng mười người Campuchia đã gia nhập tổ chức, nhưng ảnh hưởng của họ lên phong trào cộng sản Đông Dương và trên sự phát triển của nó tại Campuchia hầu như không đáng kể.
Các đơn vị Việt Minh thỉnh thoảng đột nhập vào các căn cứ ở Campuchia trong cuộc chiến tranh chống Pháp, và, liên kết với chính phủ cánh tả cầm quyền ở Thái Lan cho tới năm 1947, Việt Minh khuyến khích thành lập các đội vũ trang Khmer Issarak cánh tả. Và vào ngày 17 tháng 4 năm 1950 (25 năm trước khi Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh), đại hội toàn quốc đầu tiên của các nhóm Khmer Issarak được triệu tập, và Mặt trận Issarak Thống nhất được thành lập.
Lãnh đạo mặt trận là Sơn Ngọc Minh, và một phần ba giới lãnh đạo là thành viên của Đảng Cộng sản Đông Dương. Theo nhà sử học David P. Chandler, các nhóm Issarak cánh tả, được Việt Minh hỗ trợ, chiếm giữ một phần sáu lãnh thổ Campuchia năm 1952; trước Hội nghị Geneva, họ kiểm soát tới một nửa đất nước.
Năm 1951 Đảng Cộng sản Đông Dương được tổ chức lại thành ba tổ chức quốc gia — Đảng Lao động Việt Nam, Neo Lào Issara, và Đảng Nhân dân Cách mạng Khmer (KPRP). Theo một tài liệu được xuất bản sau việc tái tổ chức, Đảng Lao động Việt Nam sẽ tiếp tục "giám sát" các phong trào nhỏ hơn của Lào và Campuchia. Hầu hết lãnh đạo KPRP và đảng viên các cấp đều hoặc là người Khmer Krom, hoặc người Việt Nam sống tại Campuchia. Sự hấp dẫn của KPRP với người Khmer bản xứ dường như rất nhỏ.
Theo phiên bản lịch sử đảng của Kampuchea Dân chủ, việc Việt Minh không thể đàm phán một vai trò chính trị cho KPRP tại Hội nghị Geneva năm 1954 thể hiện một sự phản bội với phong trào của Campuchia, vốn vẫn đang kiểm soát những vùng rộng lớn ở thôn quê và có ít nhất 5,000 binh sĩ. Sau hội nghị, khoảng 1,000 thành viên của KPRP, gồm cả Sơn Ngọc Minh đã thực hiện một cuộc "di tản" vào miền Bắc Việt Nam, nơi họ tiếp tục lưu vong.
Cuối năm 1954, những người vẫn còn ở lại Campuchia thành lập một đảng chính trị hợp pháp, Đảng Pracheachon, tham gia vào những cuộc bầu cử quốc hội năm 1955 và 1958. Trong cuộc bầu cử tháng 9 năm 1955, đảng giành 4% phiếu bầu nhưng không có được ghế trong nghị viện.
Các thành viên của Pracheachon thường bị quấy nhiễu và bắt giữ bởi đảng của họ vẫn ở bên ngoài tổ chức chính trị của Sihanouk là Sangkum Reastr Niyum (Cộng đồng xã hội chủ nghĩa bình dân). Các cuộc tấn công của chính phủ khiến đảng không thể tham gia cuộc bầu cử năm 1962 và bắt đầu hoạt động bí mật. Sihanouk thường gọi những người dân theo cánh tả là Khmer Đỏ, một thuật ngữ đã trở thành biểu tượng của đảng và nhà nước do Pol Pot, Ieng Sary, Khieu Samphan, và tay chân lãnh đạo.
Giữa những năm 1950s, các phái của KPRP, "ủy ban đô thị" (do Tou Samouth lãnh đạo), và "ủy ban nông thôn" (do Sieu Heng lãnh đạo), xuất hiện. Theo những thuật ngữ chung nhất, những nhóm này đi theo những đường lối cách mạng khác nhau. Đường lối "đô thị" đang chiếm ưu thế, được Bắc Việt Nam hậu thuẫn, công nhận rằng Sihanouk, nhờ thành công trong việc giành độc lập từ nước Pháp, là một lãnh đạo nhà nước thật sự và tính trung lập cùng sự ngờ vực sâu sắc của ông với Mỹ khiến ông trở thành một công cụ quý báu của Hà Nội trong cuộc đấu tranh "giải phóng" miền Nam Việt Nam.
Những người lãnh đạo đường lối này hy vọng rằng vị hoàng thân có thể bị thuyết phục để rời bỏ cánh hữu và chấp nhận các chính sách cánh tả. Đường lối kia, được ủng hộ bởi hầu hết đảng viên ở nông thôn quen thuộc với những thực tế khó khăn ở thôn quê, ủng hộ một cuộc đấu tranh lập tức để lật đổ "phong kiến" Sihanouk.
Năm 1959 Sieu Heng rời bỏ chính phủ và cung cấp cho các lực lượng an ninh số thông tin đủ để họ tiêu diệt tới 90% cơ sở đảng ở nông thôn. Dù các mạng lưới cộng sản ở Phnom Penh và tại các thị trấn khác dưới sự quản lý của Tou Samouth không bị thiệt hại nặng như vậy, tới năm 1960 chỉ còn vài trăm đảng viên cộng sản hoạt động ở nước này.
=== Nhóm sinh viên Paris ===
Trong thập niên 1950, các sinh viên Khmer ở Paris tổ chức phong trào cộng sản riêng của mình, và có ít, nếu có, quan hệ với đảng cộng sản đang bị đàn áp nặng nề ở quê hương. Từ phong trào này có những người nam giới và phụ nữ quay trở về quê nhà và nắm quyền lãnh đạo đảng trong thập niên 1960, lãnh đạo một cuộc nổi dậy hiệu quả chống Lon Nol từ năm 1968 tới năm 1975, và lập ra chế độ Kampuchea Dân chủ.
Pol Pot, người nổi lên vào ban lãnh đạo phong trào cộng sản hồi cuối thập niên 1960, sinh năm 1928 (một số nguồn nói năm 1925) tại tỉnh Kampong Thom, đông bắc Phnom Penh. Ông theo học một trường cao đẳng kỹ thuật ở thủ đô và sau đó tới Paris năm 1949 để học điện tử radio (các nguồn khác nói rằng ông đã theo học một trường cho thợ in và thợ sắp chữ và cũng học kỹ thuật dân dụng). Được một nguồn tin miêu tả là một "nhà tổ chức kiên quyết, khá cần cù ", ông đã không thành công trong việc có một bằng cấp, nhưng theo thầy tu dòng Tên, Cha François Ponchaud, ông ta có sở thích với văn học Pháp cổ điển và những tác phẩm của Karl Marx.
Một thành viên khác của nhóm sinh viên Paris là Ieng Sary, một người Khmer gốc Trung Quốc sinh năm 1925 ở miền Nam Việt Nam. Ông ta theo học trường danh tiếng Lycée Sisowath tại Phnom Penh trước khi bắt đầu theo học thương mại và chính trị tại Institut d'Etudes Politiques de Paris (thường được biết đến với cái tên Sciences Po) ở Pháp. Khieu Samphan, được coi là "một trong những trí thức nổi bật nhất trong thế hệ của mình", sinh năm 1931 và chuyên về kinh tế và chính trị trong thời gian ở Paris. Về tài năng đối thủ của ông là Hou Yuon, sinh năm 1930, người được tả là "có sức mạnh thể chất và trí thông minh đáng kinh ngạc ",, học kinh tế và luật. Son Sen, sinh năm 1930, học về giáo dục và văn học; Hu Nim, sinh năm 1932, học luật.
Những người này có lẽ là những lãnh đạo có trình độ giáo dục cao nhất trong lịch sử chủ nghĩa cộng sản tại châu Á. Hai người trong số họ, Khieu Samphan và Hou Yuon, có bằng tiến sĩ của Đại học Paris; Hu Nim có bằng của Đại học Phnom Penh năm 1965. Nhìn lại, dường như không có thành viên tài năng nào của giới tinh hoa, được gửi tới Pháp bằng học bổng chính phủ, có thể thực hiện cuộc cách mạng đẫm máu và triệt để nhất trong lịch sử châu Á. Hầu hết họ xuất thân từ các gia đình địa chủ và công chức. Pol Pot và Hou Yuon có thể có họ hàng với gia đình hoàng gia. Một người chị lớn của Pol Pot đã từng là một người thiếp trong triều đình Vua Monivong. Ba người này của nhóm Paris đã có một sự ràng buộc tồn tại sau nhiều năm chiến tranh cách mạng và đấu tranh trong nội bộ đảng, Pol Pot và Ieng Sary cưới Khieu Ponnary và Khieu Thirith (cũng được gọi là Ieng Thirith), được tuyên bố là họ hàng của Khieu Samphan. Hai người phụ nữ có giáo dục cao này cũng đóng một vai trò quan trọng trong chính quyền Kampuchea Dân chủ.
Không khí trí thức sôi động của Paris đã là một trải nghiệm mạnh với những thanh niên Khmer trẻ vừa đến từ Phnom Penh hay các tỉnh. Một số quay theo Chủ nghĩa Mác-Lênin chính thống. Ở một số thời điểm trong giai đoạn 1949 tới 1951, Pol Pot và Ieng Sary đã gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, phong trào chính thống và có kỷ luật nhất trong số các phong trào cộng sản Mác-Lênin ở Tây Âu.
Năm 1951 hai người tới Đông Berlin để tham gia một festival thanh niên. Trải nghiệm này được coi là một điểm chuyển biến trong sự phát triển ý thức của họ. Cuộc gặp gỡ với những người Khmer đang chiến đấu với Việt Minh (và là những người sau này bị họ coi là quá phụ thuộc vào Việt Nam), họ trở nên tin rằng chỉ một tổ chức đảng có kỷ luật chặt chẽ và sẵn sàng cho cuộc đấu tranh vũ trang mới có thể thực hiện được cuộc cách mạng. Họ chuyển sang Hiệp hội Sinh viên Khmer (KSA) bao gồm khoảng 200 sinh viên Khmer ở Paris chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa quốc gia và những ý tưởng cánh tả.
Bên trong KSA và những tổ chức hậu thân của nó là một tổ chức mật được gọi là Cercle Marxiste. Tổ chức gồm những tổ ba tới sáu người với hầu hết thành viên không biết gì về cơ cấu tổng thể của tổ chức. Năm 1952 Pol Pot, Hou Yuon, Ieng Sary, và những người cánh tả khác giành được danh tiếng sau khi gửi một lá thư ngỏ tới Sihanouk gọi ông là "kẻ bóp cổ một nền dân chủ mới ra đời". Một năm sau, chính quyền Pháp đóng cửa KSA. Tuy nhiên, năm 1956, Hou Yuon và Khieu Samphan đã giúp đỡ thành lập một nhóm mới, Liên đoàn Sinh viên Khmer. Bên trong, nhóm này vẫn do Cercle Marxiste lãnh đạo.
Luận văn tiến sĩ do Hou Yuon và Khieu Samphan viết thể hiện những chủ đề căn bản sau này trở thành những hòn đá tảng của chính sách của chế độ Kampuchea Dân chủ. Vai trò trung tâm của người nông dân trong sự phát triển quốc gia được Hou Yuon tán thành trong luận văn năm 1955 của mình, Người Nông dân Campuchia và Viễn ảnh của họ trong Hiện đại hóa, đối lập với quan điểm thường thấy rằng đô thị hóa và công nghiệp hóa là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển.
Luận điểm chính trong luận văn năm 1959 của Khieu Samphan, Sự phát triển kinh tế và công nghiệp của Campuchia, là nước này phải trở nên tự lực và chấm dứt sự phụ thuộc kinh tế vào thế giới phát triển. Trong khuôn khổ chung, tác phẩm của Khieu phản ánh ảnh hưởng của một nhánh của trường phái "lý thuyết phụ thuộc", coi sự kém phát triển ở Thế giới thứ ba có nguyên nhân ở sự thống trị kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa.
== Con đường tới quyền lực và cai trị ==
=== Đại hội thứ hai của KPRP ===
Sau khi quay lại Campuchia năm 1953, Pol Pot lao mình vào những hoạt động của đảng. Ban đầu ông gia nhập các lực lượng liên minh với Việt Minh hoạt động tại các vùng nông thôn tỉnh Kampong Cham (Kompong Cham). Sau khi chiến tranh kết thúc ông chuyển tới Phnom Penh thuộc "ủy ban đô thị" của Tou Samouth nơi ông trở thành một đầu mối liên lạc quan trọng giữa các đảng bí mật cánh tả và phong trào cộng sản bí mật.
Các đồng chí của ông, Ieng Sary và Hou Yuon, trở thành thầy giáo tại một trường trung học mới, trường Lycée Kambuboth, được Hou Yuon giúp thành lập. Khieu Samphan trở về từ Paris năm 1959, dạy ở khoa luật trường Đại học Phnom Penh, và lập ra một ấn bản cánh tả bằng tiếng Pháp, tờ L'Observateur. Tờ báo nhanh chóng có được danh tiếng trong giới hàn lâm ở Phnom Penh. Năm sau đó, chính phủ đóng cửa tờ báo và cảnh sát của Sihanouk công khai làm bẽ mặt Khieu bằng cách đánh đập, lột quần áo và chụp ảnh ông ở nơi công cộng – như Shawcross ghi chú, "không phải là kiểu làm nhục mà con người có thể tha thứ hay quên đi ".
Tuy nhiên việc này không ngăn cản Khieu ủng hộ việc hợp tác với Sihanouk nhằm tạo điều kiện cho một mặt trận thống nhất chống lại các hoạt động của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam. Như đã đề cập, Khieu Samphan, Hou Yuon, và Hu Nim bị buộc phải "làm việc trong hệ thống" bằng cách gia nhập Sangkum và bằng cách chấp nhận các chức vụ trong chính phủ của vị hoàng thân.
Cuối tháng 9 năm 1960, 21 lãnh đạo của KPRP tổ chức một đại hội bí mật trong một căn phòng trống ở ga đường sắt Phnom Penh. Sự kiện then chốt vẫn bị che giấu bởi những nghị quyết của nó đã trở thành một chủ đề tranh cãi (và có thể được coi là sự viết lại lịch sử) giữa các phái Khmer ủng hộ và chống Việt Nam.
Câu hỏi về sự hợp tác, hay chống đối, với Sihanouk được thảo luận kỹ. Tou Samouth, người ủng hộ một chính sách hợp tác, được bầu làm tổng thư ký của KPRP được đổi tên lại thành Đảng Công nhân Kampuchea (WPK). Đồng minh của ông, Nuon Chea (cũng được gọi là Long Reth), trở thành phó tổng thư ký; tuy nhiên, Pol Pot và Ieng Sary được chỉ định vào Bộ chính trị giữ các vị trí thứ ba và thứ tư trong đảng mới được đổi tên. Việc đổi tên rất quan trọng. Bằng việc tự xưng là đảng của những người công nhân, phong trào của Campuchia tự tuyên bố có vị thế tương tự như Đảng Lao động Việt Nam. Chế độ ủng hộ Việt Nam của Cộng hòa Nhân dân Kampuchea (PRK) ngụ ý trong những năm 1980 rằng cuộc gặp vào tháng 9 năm 1960 không mang ý nghĩa gì hơn một kỳ đại hội lần thứ hai của KPRP.
Ngày 20 tháng 7 năm 1962, Tou Samouth bị chính phủ Campuchia giết hại. Tháng 2 năm 1963, tại đại hội lần thứ hai của WPK, Pol Pot được chọn kế vị Tou Samouth trở thành tổng thư ký của đảng. Đồng minh của Tou, Nuon Chea và Keo Meas, bị loại khỏi Ủy ban Trung ương và bị thay thế bởi Son Sen và Vorn Vet. Từ đó về sau, Pol Pot và các đồng chí trung thành từ nhóm sinh viên tại Paris nắm quyền kiểm soát trung ương đảng, loại bỏ các cựu binh lớn tuổi, những người bị coi là quá ủng hộ Việt Nam.
Tháng 7 năm 1963, Pol Pot và hầu hết ủy ban trung ương rời Phnom Penh để thành lập một căn cứ khởi nghĩa tại tỉnh Ratanakiri ở phía đông bắc. Pol Pot ngay trước đó đã được đưa vào một danh sách 34 nhân vật cánh tả được Sihanouk triệu hồi tham gia chính phủ và ký các tuyên bố nói rằng Sihanouk là lãnh đạo duy nhất có thể của đất nước. Pol Pot và Chou Chet là những người duy nhất trong danh sách bỏ trốn. Tất cả những người khác đồng ý hợp tác với chính phủ và sau đó bị cảnh sát canh giữ 24/24.
=== Sihanouk và GRUNK ===
Vùng Pol Pot và những người khác chuyển tới là nơi sinh sống của các bộ lạc thiểu số, Khmer Loeu, với hành động đối xử hung bạo (gồm cả việc tái định cư và cưỡng bức đồng hóa) từ chính phủ trung ương khiến họ tự nguyện tham gia vào cuộc chiến tranh du kích. Năm 1965, Pol Pot thực hiện một chuyến viếng thăm kéo dài nhiều tháng tới miền Bắc Việt Nam và Trung Quốc.
Ông nhận được một số bài huấn luyện tại Trung Quốc, làm gia tăng ảnh hưởng của mình khi quay lại những vùng giải phóng của WPK. Dù có mối quan hệ hữu nghị giữa Norodom Sihanouk và người Trung Quốc, nước này vẫn giữ bí mật chuyến thăm của Pol Pot với Sihanouk. Tháng 9 năm 1966, đảng đổi tên thành Đảng Cộng sản Kampuchea (CPK).
Việc đổi tên đảng được giữ bí mật cao. Những đảng viên cấp thấp của đảng và thậm chí cả người Việt Nam đều không được thông báo về điều này và các đảng viên cũng không biết cho tới nhiều năm sau. Giới lãnh đạo đảng tán thành việc đấu tranh vũ trang chống chính phủ, khi ấy dưới sự lãnh đạo của Sihanouk. Năm 1967, CPK đã có nhiều nỗ lực nổi dậy nhưng không có nhiều thành công.
Năm 1968, các lực lượng Khmer tiến hành một cuộc nổi dậy trên khắp đất nước Campuchia (xem thêm Nội chiến Campuchia). Khmer Đỏ gồm 3 nhóm chính hoạt động độc lập và cạnh tranh với nhau:
Nhóm Đông Bắc: gồm Pol Pot, Ieng Sary, Son Sen, Khieu Samphan do Pol Pot lãnh đạo có căn cứ địa ở vùng dân tộc thiểu số tại Đông Bắc Campuchia
Nhóm Tây Nam: gồm Hu Nim, Hou Youn, Phok Chay và Tin Op do Hu Nim lãnh đạo có căn cứ tại miền Nam và Tây Nam Campuchia trong vùng dãy núi Con Voi và dãy núi Đậu Khấu
Nhóm miền Đông: gồm So Phim, Keo Moni, Chou Che do So Phim lãnh đạo có căn cứ tại miền Đông ở các tỉnh đông dân giữa sông Mekong và biên giới Việt Nam
Dù Bắc Việt Nam không được thông tin về quyết định này, các lực lượng của họ đã cung cấp nơi ẩn náu và vũ khí cho Khmer Đỏ sau khi cuộc nổi dậy diễn ra. Sự ủng hộ cuộc nổi dậy của người Việt Nam khiến quân đội Campuchia không thể đàn áp một cách hiệu quả. Trong hai năm tiếp sau, cuộc nổi dậy lớn mạnh bởi Sihanouk không có nhiều nỗ lực ngăn chặn. Khi đã trở nên mạnh hơn, cuối cùng đảng công khai tuyên bố mình là Đảng Cộng sản Kampuchea (CPK).
Sức hấp dẫn chính trị của Khmer Đỏ gia tăng như một kết quả của tình hình được tạo ra sau khi Sihanouk bị lật đổ năm 1970. Thủ tướng Lon Nol, với sự ủng hộ của Quốc hội, hạ bệ Sihanouk. Sihanouk, lưu vong ở Bắc Kinh, tham gia liên minh với Khmer Đỏ thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia đứng đầu là Sihanouk, và Các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng dân tộc Campuchia Khieu Samphan đứng đầu (ngày 23 tháng 3 năm 1970) và trở thành lãnh đạo danh nghĩa của chính phủ lưu vong đa số Khmer Đỏ (được gọi theo tên viết tắt tiếng Pháp là GRUNK) và được Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ủng hộ (Chính phủ Vương quốc Đoàn kết Dân tộc Campuchia).
Phong trào giành được sức mạnh và sự ủng hộ ở những khu vực rừng núi phía Đông Bắc và đã có được vị thế vững chắc khi lãnh đạo Campuchia là Hoàng thân Sihanouk bị lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự năm 1970. Vị cựu hoàng thân sau đó quay sang tìm kiếm sự ủng hộ của Khmer Đỏ. Với mối đe dọa từ cuộc Nội chiến đang đến gần, Khmer Đỏ giành được sự ủng hộ bằng cách nhận lấy hình ảnh của một "đảng vì hòa bình".
Danh tiếng của Sihanouk ở những vùng nông thôn Campuchia cho phép Khmer Đỏ mở rộng quyền lực và ảnh hưởng tới mức vào năm 1973 trên thực tế họ kiểm soát đa phần lãnh thổ Campuchia, dù chỉ với một phần nhỏ dân số. Nhiều người Campuchia đã giúp Khmer Đỏ chống lại chính phủ Lon Nol nghĩ rằng họ đang chiến đấu cho sự trở lại của Sihanouk.
Mối quan hệ giữa những cuộc ném bom rải thảm vào Campuchia của Hoa Kỳ và sự lớn mạnh của Khmer Đỏ, trong việc thực hiện tuyển mộ binh lính và sự ủng hộ của dân chúng, là một vấn đề thu hút nhiều nhà sử học. Năm 1984 Craig Etcheson thuộc Trung tâm Tài liệu Campuchia cho rằng "không thể" quả quyết rằng Khmer Đỏ không thể chiến thắng nhưng sự can thiệp của Hoa Kỳ và những cuộc ném bom quả thực có giúp Khmer Đỏ tuyển một số binh sĩ, "dù sao họ cũng sẽ thắng". Một số nhà sử học nêu ra sự can thiệp và các chiến dịch ném bom của Hoa Kỳ (giai đoạn 1965–1973) là một yếu tố quan trọng dẫn tới sự gia tăng ủng hộ dành cho Khmer Đỏ trong tầng lớp nông dân Campuchia. Nhà sử học Ben Kiernan và Taylor Owen đã sử dụng một sự tổng hợp bản đồ vệ tinh chi tiết, được giải mật gần đây về phạm vi những hoạt động ném bom, và lời chứng của những người nông dân, để cho rằng đã có sự tương quan giữa những làng mạc bị ném bom và việc tuyển mộ những người nông dân của Khmer Đỏ. Trong cuộc nghiên cứu năm 1996 về cách thức Pol Pot nổi lên nắm quyền lực, Kiernan cho rằng sự can thiệp từ bên ngoài "có lẽ là yếu tố quan trọng duy nhất trong sự trỗi dậy của Khmer Đỏ". Mùa thu năm 2000, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton trở thành Tổng thống Mỹ đầu tiên từ thời Nixon tới Việt Nam. Trong một động thái mang tính nhân đạo, Clinton đã cho giải mật nhiều dữ liệu của Không quân Mỹ về tất cả những vụ ném bom từ năm 1964 tới năm 1975 tại Đông Dương. Điều này cho phép vẽ bản đồ các địa điểm bị ném bom, và xác định vị trí những nơi có thể còn sót lại bom mìn.
Tới những năm 1970, lý tưởng của Khmer Đỏ là sự tổng hợp các ý tưởng của họ với các ý tưởng chống thực dân của PCF, mà các lãnh đạo của họ có được khi theo học tại các trường Đại học ở Pháp thập niên 1950. Các lãnh đạo Khmer Đỏ cũng cảm thấy bực bội với người Việt Nam, và quyết tâm thiết lập một hình thức chủ nghĩa cộng sản khác biệt với kiểu của Việt Nam.
Tới năm 1975, với việc chính phủ Lon Nol không còn vũ khí, rõ ràng vấn đề chỉ còn là thời gian trước khi chính phủ này sụp đổ. Ngày 17 tháng 4 năm 1975, Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh.
=== Sự tham gia của Hoa Kỳ ===
Năm 1973, ngay trước khi Pol Pot nắm quyền cai trị toàn bộ nước Campuchia, Chính phủ Khmer Cộng hòa, với sự hỗ trợ của Mỹ, "đã ném khoảng nửa triệu tấn bom xuống Campuchia." Nhiều người mất người thân và bạn bè đã gia nhập vào cuộc cách mạng của Khmer Đỏ. Tuy nhiên không lực của Hạm đội 7 Hoa Kỳ cho rằng việc ném bom đã ngăn chặn sự sụp đổ của Phnom Penh năm 1973 với việc tiêu diệt 16,000 trong số 25,500 chiến binh Khmer Đỏ đang bao vây thành phố.
Sau này hóa ra con số "khoảng một nửa triệu tấn bom" là quá thấp. Khi tổng thống Bill Clinton giải mật dữ liệu của Không quân về toàn bộ các cuộc ném bom ở Đông Dương giai đoạn 1964 và 1975. Tính riêng tại Campuchia
Từ ngày 4 tháng 10 năm 1965, đến ngày 15 tháng 8 năm 1973, Hoa Kỳ đã ném lượng bom xuống Campuchia lớn hơn rất nhiều con số mọi người từng tính trước đây: tương đương 2,756,941 tấn, đã được ném xuống trong 230,516 phi vụ vào 113,716 địa điểm. Chỉ hơn 10% trong số đó là không nhắm vào vị trí cụ thể, với 3,580 phi vụ được liệt kê là có mục tiêu "không rõ ràng" và 8,238 phi vụ hoàn toàn không có địa điểm.... Tổng trọng lượng bom ném xuống trong giai đoạn này lớn hơn gần gấp năm lần con số mọi người thường nghĩ. Nếu tính tới con số đã được sửa đổi là 2,756,941, Đồng minh chỉ mém hơn 2 triệu tấn bom trong toàn bộ Thế chiến II, gồm cả những quả bom ném xuống Hiroshima và Nagasaki: 15,000 và 20,000 tấn. Campuchia có thể là quốc gia bị ném bom dữ dội nhất trong lịch sử.... Việc ném bom buộc những người Cộng sản Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào trong Campuchia, khiến họ có liên hệ mật thiết hơn với những người nổi dậy Khmer Đỏ [và] đẩy những người dân thường Campuchia vào trong tay Khmer Đỏ, một nhóm dường như ban đầu không có triển vọng thực hiện thành công cuộc cách mạng.
Nixon đã ra lệnh rằng, "Họ (Không lực Hoa Kỳ) phải đi tới đó và tôi muốn nói là thật sự vào đó... Tôi muốn tất cả những thứ gì có thể bay được phải đi vào đó và làm chúng khốn đốn. Không có giới hạn về khoảng cách và không có giới hạn về ngân sách. Rõ chưa?" Taylor Owen và Ben Kiernan thuộc Đại học Yale lưu ý rằng, "Trước đó, ước tính trong khoảng 50,000 tới 150,000 thường dân Campuchia thiệt mạng trong những vụ ném bom. Với tổng lượng bom tăng gấp năm lần, con số thương vong chắc chắn sẽ cao hơn."
Hoa Kỳ ủng hộ Khmer Đỏ trong những nỗ lực lật đổ người Việt Nam và chế độ Cộng hòa Nhân dân Kampuchea được Việt Nam hậu thuẫn; nó là một phần trong thái độ chống Việt Nam và chống Liên Xô đang thắng thế thời điểm đó, đặc biệt ở lúc cao điểm cuộc Chia rẽ Trung-Xô, bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng ủng hộ Khmer Đỏ. Hoa Kỳ đã giúp các du kích Khmer Đổ rút chạy vào Thái Lan sau khi quân Việt Nam tràn vào lãnh thổ Campuchia lật đổ chế độ Khmer Đỏ. Hoa Kỳ cùng Trung Quốc ủng hộ Khmer Đỏ nhằm làm mất ổn định chính phủ Hun Sen tại Campuchia và đồng minh Việt Nam của họ. Hoa Kỳ bị giằng xé giữa nỗi khiếp sợ sự tàn bạo của chính quyền Pol Pot và lo sợ về ảnh hưởng của Việt Nam nếu chính quyền Pol Pot sụp đổ. Một bức điện của Bộ Ngoại giao Mỹ gửi đến 6 đại sứ quán Mỹ tại châu Á vào ngày 11 tháng 10 năm 1978 có viết “Chúng tôi tin rằng một nước Campuchia phải tồn tại ngay cả khi chúng tôi tin rằng chế độ Pol Pot là chế độ vi phạm quyền con người tồi tệ nhất thế giới” và “Chúng tôi không thể ủng hộ chính quyền Pol Pot, nhưng một Campuchia độc lập phải tồn tại”.
== Cầm quyền ==
Năm 1975, khi những người Cộng sản Việt Nam giành được chính quyền trên cả nước Việt Nam, thì Khmer Đỏ cũng giành được chính quyền tại Campuchia, xây dựng quốc gia Campuchia Dân chủ. Quân đội của nhà nước này được gọi là Quân đội Quốc gia Kampuchea Dân chủ.
Ban lãnh đạo Khmer Đỏ hầu như không thay đổi từ thập niên 1960 tới giữa những năm 1990. Thành phần lãnh đạo hầu hết xuất thân từ những gia đình trung lưu và đã được giáo dục tại các trường Đại học Pháp.
Ban thường vụ Ủy ban Trung ương của Khmer Đỏ trong giai đoạn cầm quyền gồm:
Pol Pot (Saloth Sar) (chết năm 1998), "Anh cả", Tổng thư ký từ năm 1963 tới khi ông chết, lãnh đạo thực tế của phong trào. Pol Pot là một lãnh đạo chủ chốt của phong trào sau khi ông từ Pháp quay về Campuchia. Ông đã trở thành một thành viên của Đảng Cộng sản Pháp (PCF) đưa ra hướng dẫn cho những ý tưởng của Khmer Đỏ.
Nuon Chea (Long Bunruot), "Anh hai", Thủ tướng, bị bắt giữ năm 2007, vị trí cao khiến ông trở thành "cánh tay phải" của Pol Pot
Ieng Sary (anh em đồng hao của Pol Pot), "Anh ba", Phó thủ tướng, bị bắt giữ năm 2007
Khieu Samphan, "Anh tư", Chủ tịch Kampuchea Dân chủ, bị bắt năm 2007
Ta Mok (Chhit Chhoeun) (chết 21 tháng 7 năm 2006), "Anh năm", Thư ký vùng Tây nam, lãnh đạo cuối cùng của Khmer Đỏ, chết khi đang bị giam giữ chờ xét xử về tội diệt chủng
Son Sen (chết năm 1997), Bộ trưởng Quốc phòng, lãnh đạo của Kaing Guek Eav tức "đồng chí Duch".
Yun Yat (chết năm 1997)
Ke Pauk (chết năm 2002), "Anh mười ba", cựu thư ký vùng Bắc
Ieng Thirith, bị bắt năm 2007, em vợ Pol Pot
Sau khi cầm quyền, nội bộ Khmer Đỏ chia rẽ nghiêm trọng dẫn đến thanh trừng lẫn nhau. Nhóm Đông Bắc với nòng cốt là những sinh viên từ Paris trở về như Pol Pot, Khieu Samphan chủ trương xây dựng xã hội cộng sản nông nghiệp thuần túy theo kiểu Campuchia. Nhóm Tây Nam cũng do một số du học sinh từ Pháp về lãnh đạo chủ trương tiến hành cách mạng văn hóa tại Campuchia mô phỏng theo Trung Quốc. Nhóm miền Đông bao gồm những đảng viên kỳ cựu thuộc đảng bộ Khmer của Đảng Cộng sản Đông Dương muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa theo mô hình Liên Xô.
Sau khi lên cầm quyền, nhóm Đông Bắc của Pol Pot đã tiêu diệt hầu hết ban lãnh đạo của nhóm Tây Nam. Tháng 5/1978, nhóm miền Đông cũng bị tiêu diệt sau những cuộc khởi nghĩa quân sự chống Pol Pot thất bại. Một số ít còn sống sót, trong đó có Heng Samrin, thuộc nhóm miền Đông chạy sang Việt Nam sau này sẽ trở thành lãnh đạo của Cộng hòa Nhân dân Campuchia.
=== Cải cách xã hội ===
Khi Khmer Đỏ giành được quyền lực họ tập trung vào ý tưởng thành lập một xã hội nông nghiệp thuần khiết. Pol Pot ảnh hưởng mạnh tới việc tuyên truyền chính sách này. Mọi người tin rằng ông ta bị ảnh hưởng bởi cách sống của các bộ tộc vùng rừng núi đông bắc. Ông đánh giá cao cách họ sống "không có Phật giáo, tiền bạc hay giáo dục" và quyết định rằng đây là một cách thức tốt để người dân Campuchia bắt đầu sống. Ông muốn các định chế xã hội phải bị xóa bỏ và thiết lập xã hội toàn nông nghiệp. Đây là cách để ông "[tạo ra] một xã hội Cộng sản hoàn toàn mà không lãng phí thời gian cho các bước trung gian" như Khmer Đỏ nói với Trung Quốc năm 1975. Trong suốt thời gian cầm quyền, Khmer Đỏ đã xây dựng xã hội theo mô hình "Công xã nhân dân" rập khuôn của Mao Trạch Đông ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cùng với khẩu hiệu "thanh lọc dân tộc" thực hiện cuộc tàn sát gần 2 triệu người Campuchia, mà nhiều người cho là diệt chủng man rợ, hoặc thanh lọc dân tộc ấu trĩ tả khuynh. Khmer Đỏ tiến hành một cuộc cải cách xã hội triệt để ở Campuchia với mục tiêu tạo ra một xã hội cộng sản dựa trên nông nghiệp thuần túy. Khmer Đỏ bắt buộc khoảng 2 triệu người từ các thành phố về nông thôn để làm việc trên các cánh đồng. Họ không chỉ buộc người dân phải rời bỏ nhà cửa, mà sau đó còn tước bỏ của mọi người các quyền căn bản bằng cách kiểm soát hoạt động của người dân, cách ăn mặc, người được nói chuyện, và nhiều khía cạnh khác trong cuộc sống.
So với các đảng cộng sản khác đang nắm chính quyền thì đảng Cộng sản Campuchia khá non trẻ. Họ không có một quá trình phát triển lâu dài trước khi nắm chính quyền, không có những phân tích lý luận, thảo luận hay tranh luận với các khuynh hướng chính trị - tư tưởng khác tại Campuchia. Họ mau chóng nắm được chính quyền do Mỹ rút khỏi Đông Dương trong khi trình độ lý luận và kinh nghiệm chính trị của họ còn xa mới bằng trình độ của các đảng lớn khác khi giành được chính quyền. Tuy nhiên họ lại có tham vọng thực nghiệm những ý tưởng cải tạo xã hội đơn giản và cực đoan một cách quyết liệt và nhanh chóng bỏ qua mọi bước quá độ mà các đảng cộng sản khác trên thế giới đều từng trải qua khi cải cách xã hội. Khieu Samphan, người có bằng tiến sĩ kinh tế đồng thời là nhà tư tưởng của Khmer Đỏ, cho rằng cách mạng phải do giai cấp nông dân lãnh đạo. Con người vốn là tốt, nhưng đã bị nền văn minh làm cho hư hỏng; xã hội công nghiệp càng văn minh thì con người càng hư hỏng. Vì vậy chỉ cần một hệ thống xã hội thật đơn giản với một nền kinh tế chủ yếu dựa trên nông nghiệp, tự cung tự cấp để duy trì sự “trong sạch và sự lành mạnh” của con người dưới sự lãnh đạo của một nhóm nhỏ trí thức ưu tú. Nhóm ưu tú sẽ làm công việc suy nghĩ thay cho tất cả, quần chúng chỉ làm công việc lao động. Những ý tưởng này được ban lãnh đạo Khmer Đỏ áp dụng vội vã mà không đem ra thảo luận công khai, rộng rãi trong toàn đảng. Khi nắm quyền lực, Khmer Đỏ đã tiến hành một chương trình quyết liệt gồm việc cách ly đất nước khỏi ảnh hưởng từ nước ngoài, đóng cửa trường học, bệnh viện và nhà máy, xóa bỏ ngân hàng, tài chính và tiền tệ, đặt ra ngoài vòng pháp luật mọi tôn giáo, tịch thu tất cả tài sản tư nhân và tái bố trí nhân dân từ các khu đô thị về các nông trang hợp tác xã nơi có tình trạng cưỡng bức lao động trên diện rộng. Mục tiêu của chính sách này nhằm biến người dân Campuchia trở thành "Người Cổ" thông qua lao động nông nghiệp. Những hành động này dẫn tới những cái chết hàng loạt vì hành quyết, làm việc quá sức, ốm yếu và đói khát.
Những khẩu hiệu khác, ám chỉ tới Dân tộc Mới, là: "Giữ mày cũng không có lợi. Giết mày cũng chẳng thiệt gì". Triết lý của Khmer Đỏ đã phát triển cùng với thời gian. Khmer Đỏ đã nỗ lực biến Campuchia thành một xã hội một tầng lớp bằng cách tản cư hoàn toàn dân cư thành thị và buộc họ ("Người Mới") vào các làng xã nông thôn. Toàn bộ dân số bị buộc phải trở thành những người nông dân trong các trại lao động. Tại Phnom Penh và các thành phố khác, Khmer Đỏ nói với dân chúng rằng họ sẽ chỉ bị chuyển đi "hai hay ba kilômét" ra ngoài thành phố và sẽ quay lại trong "hai hay ba ngày". Một số nhân chứng nói họ đã được ra lệnh di tản bởi "mối đe dọa từ những cuộc ném bom của Mỹ " và rằng họ không cần khóa cửa bởi Khmer Đỏ sẽ "chăm lo mọi thứ" cho tới khi họ quay lại. Đây không phải là những cuộc sơ tán dân thường đầu tiên của Khmer Đỏ. Những cuộc sơ tán tương tự mà dân chúng không được đem theo tài sản đã diễn ra ở mức độ nhỏ hơn ngay từ đầu thập niên 1970. Nghị quyết Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Campuchia ngày 15 tháng 10 năm 1975 nhận định: "Đường lối di dân của chúng ta là quan trọng nhất sau ngày 17-4-1975. Làm việc này, chúng ta thủ tiêu được mọi lực lượng chống đối, làm chủ đất nước 100%."
Trong bốn năm cầm quyền, Khmer Đỏ đã bắt dân chúng làm việc quá sức trong tình trạng đói khát, cùng lúc họ hành quyết các nhóm dân chúng đã được lựa chọn, những người có khả năng gây hại cho nhà nước mới (gồm cả trí thức hay thậm chí những người có dấu hiệu có học thức, như đeo kính), và giết hại bất kỳ người nào vì những vi phạm nhỏ nhất. Nếu bị bắt, người có lỗi thường bị lẳng lặng dẫn vào một khu rừng hay cánh đồng và bị giết hại. Khmer Đỏ đã giết hại nhiều trí thức, cư dân thành thị, người dân tộc thiểu số, và nhiều đảng viên cũng như binh sĩ của chính họ, những người bị nghi ngờ là phản bội. Dân số Campuchia khoảng 7,100,000 người ở thời kỳ đầu cầm quyền của Khmer Đỏ. Trong mười năm sau đó, 3,300,000 người (gồm cả nam giới, phụ nữ, trẻ em và người nước ngoài) bị giết hại và tới cuối cuộc diệt chủng chỉ còn chưa tới 4 triệu người sống sót khỏi chế độ Khmer Đỏ. Khmer Đỏ muốn loại bỏ bất kỳ ai bị nghi ngờ "tham gia vào các hoạt động của thị trường tự do ". Những thợ chuyên nghiệp bị nghi ngờ liên thuộc tư bản và hầu hết mọi người có giáo dục, nhiều dân thành thị, và những người có quan hệ với các chính phủ nước ngoài. Khmer Đỏ cũng thanh trừng nội bộ dữ dội đối với những người Cộng sản thân Liên Xô hoặc Việt Nam.
Tiền tệ bị xóa bỏ, sách vở bị đốt, giáo viên, thương nhân, và hầu hết giới trí thức đất nước bị giết hại, để thực hiện chế độ cộng sản nông nghiệp, như Pol Pot mong muốn. Kế hoạch tái định cư dân chúng về vùng nông thôn khiến hầu như một nửa hoạt động kinh tế: thập chí cả các trường học, bệnh viện bị đóng cửa, cũng như toàn bộ ngân hàng, và các công ty công nghiệp và dịch vụ. Các ngân hàng bị cướp phá và toàn bộ tiền tệ cũng như hồ sơ bị đốt bỏ để loại bỏ bất kỳ yêu cầu nào với tiền tệ.
Người Campuchia được yêu cầu sản xuất ra ba tấn gạo mỗi hécta; trước thời kỳ Khmer Đỏ, sản lượng trung bình chỉ một tấn mỗi hécta. Khmer Đỏ buộc mọi người làm việc liên tục 12 giờ, không được nghỉ hay ăn uống đầy đủ. Họ không tin vào thuốc men của phương Tây, thay vào đó chuộng loại thuốc truyền thống của nông dân; vì thế nhiều người đã chết. Sự hoàn toàn thiếu hiểu biết về nông nghiệp của các cư dân thành thị cũ khiến nạn đói trở nên không thể tránh khỏi. Những hành động như hái củ hay quả dại bị coi là "tư tưởng cá nhân" và bị kết tội chết.
Mối quan hệ gia đình vốn được nhà nước thừa nhận cũng bị cấm đoán, và các thành viên gia đình có thể bị tội chết nếu liên lạc với nhau. Trong bất kỳ trường hợp nào, các thành viên gia đình thường bị đưa tới những địa điểm khác nhau trong nước với tất cả các dịch vụ thư tín và viễn thông đã bị xóa bỏ. Khmer Đỏ tin rằng các bậc cha mẹ đã bị hư hỏng với chủ nghĩa tư bản. Vì thế, trẻ em bị cách ly khỏi cha mẹ và được giáo huấn chủ nghĩa cộng sản cũng như được dạy các biện pháp tra tấn súc vật. Trẻ em là một "công cụ chuyên chính của đảng " và được giao quyền lãnh đạo việc tra tấn và hành quyết.
Ngôn ngữ cũng bị chuyển đổi theo những hình thức khác. Khmer Đỏ phát minh ra những thuật ngữ mới. Mọi người được tuyên truyền để "tạo ra" (lot dam) một nhân vật cách mạng mới, là "những công cụ" (ឧបករណ៍; opokar) của cơ quan cầm quyền được gọi là "Angkar" (អង្គការ, "Tổ chức"), và việc lưu luyến với những thời kỳ tiền cách mạng (chheu satek arom, hay "ký ức bệnh hoạn") có thể dẫn tới việc bị hành quyết. Tương tự, những thuật ngữ nông thôn như Mae (ម៉ែ; mẹ) bị thay thế bằng những thuật ngữ như Mak (ម៉ាក់; mẹ). Tiếng Khmer có một hệ thống sử dụng phức tạp để định nghĩa vị thế và cấp bậc của người nói. Trong thời cai trị của Khmer Đỏ, việc sử dụng chúng bị bãi bỏ. Mọi người được khuyến khích gọi nhau là "bạn" hay "đồng chí" (មិត្ត; mitt), và tránh những dấu hiệu tôn trọng theo truyền thống như cúi mình hay khoanh tay chào, được gọi là samphea.
Nhiều người Campuchia đã vượt biên vào Thái Lan xin tị nạn. Từ đây, họ bị chuyển vào các trại tị nạn như Sa Kaeo hay Khao-I-Dang, trại duy nhất cho phép tái định cư tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, và Australia. Trong một số trại tị nạn như tại Site 8, Phnom Chat hay Ta Prik cán bộ Khmer Đỏ kiểm soát việc phân phối lương thực và hạn chế hoạt động của các cơ quan viện trợ nước ngoài.
=== Những tội ác chống lại loài người ===
==== Hành động diệt chủng ====
Chính phủ Khmer Đỏ đã bắt giữ, tra tấn và sau đó hành quyết bất kỳ ai bị nghi ngờ thuộc một trong nhiều tiêu chí bị nghi ngờ là "kẻ thù":
Bất kỳ ai có quan hệ với chính phủ cũ hay các chính phủ nước ngoài.
Người chuyên nghiệp và trí thức – trên thực tế tiêu chí này bao gồm hầu hết mọi người có giáo dục, hay thậm chí những người đeo kính (mà, theo chế độ, có nghĩa là họ có học). Chính Pol Pot là một người có trình độ giáo dục đại học (dù bỏ ngang) với lòng yêu mến văn học Pháp và cũng là một người nói thạo tiếng Pháp. Nhiều nghệ sĩ, gồm cả các nhạc sĩ, tác gia và nhà làm phim đã bị hành quyết. Một số người như Ros Sereysothea, Pan Ron và Sinn Sisamouth đã có được danh tiếng nhờ tài năng và đến ngày nay vẫn được người Khmer biết đến.
Sắc tộc Việt Nam, sắc tộc Trung Quốc, sắc tộc Thái và các sắc tộc thiểu số khác ở Cao nguyên miền Đông, người Campuchia theo Cơ đốc giáo (hầu hết là Công giáo), tín đồ Hồi giáo (người Chăm) và các tu sỹ Phật giáo. Thánh đường Công giáo ở Phnom Penh bị phá hủy hoàn toàn. Khmer Đỏ buộc các tín đồ Hồi giáo phải ăn thịt lợn, thứ họ kiêng (ḥarām). Nhiều người từ chối thực hiện bị giết hại. (Một chính sách tương tự cũng được thực hiện ở Trung Quốc thời Mao Trạch Đông, nơi những tín độ Hồi giáo bị buộc phải nuôi lợn). Giáo sĩ Công giáo và Hồi giáo bị hành quyết. Một trong những chỉ huy cũ của Khmer Đỏ, Comrade Duch, đã chuyển theo Tin Lành vài năm sau khi chế độ này sụp đổ.
"Những kẻ phá hoại kinh tế": nhiều người dân thành thị cũ (những người chưa chết vì đói khát) được cho là có tội vì thiếu khả năng làm nông nghiệp.
Trong suốt những năm 1970, và đặc biệt sau nửa đầu năm 1975, đảng cũng rung chuyển bởi những cuộc đấu tranh phe nhóm. Đã có những âm mưu quân sự lật đổ Pol Pot. Những cuộc thanh trừng sau đó lên đến đỉnh điểm năm 1977 và 1978 khi hàng nghìn người, gồm cả một số lãnh đạo quan trọng của Đảng Cộng sản Kampuchea bị hành quyết.
Ngày nay, các ví dụ về các phương pháp tra tấn được Khmer Đỏ sử dụng được trưng bày trong Bảo tàng diệt chủng Tuol Sleng. Bảo tàng được dựng trên nền đất cũ của một trường trung học bị biến thành trại tù do Khang Khek Ieu (Kaing Guek Eav) chỉ huy, thường được biết với cái tên "Đồng chí Duch". Khoảng 17,000 đã bị chuyển qua trung tâm này trước khi họ bị đưa tới những địa điểm (cũng được gọi là những cánh đồng chết), bên ngoài Phnom Penh như Choeung Ek nơi hầu hết bị hành quyết (chủ yếu bằng cuốc chim để tiết kiệm đạn) và bị chôn trong những ngôi mộ tập thể. Trong hàng nghìn người phải vào Trung tâm Tuol Sleng (còn được gọi là S-21), chỉ 12 người sống sót. Những người này được cho là đã còn sống bởi có kỹ năng, được những kẻ giam giữ coi là hữu ích.
Những tòa nhà tại Tuol Sleng đã được giữ nguyên như khi Khmer Đỏ rút khỏi đây năm 1979. Nhiều phòng hiện treo những bức ảnh đen trắng của hàng nghìn người do Khmer Đỏ chụp.
==== Số lượng người chết ====
Con số chính xác những người chết vì những chính sách của Khmer Đỏ đã bị tranh cãi, bởi nguyên nhân của cái chết của họ. Việc tiếp cận nước này trong thời kỳ cầm quyền của Khmer Đỏ và thời kỳ Việt Nam có mặt rất hạn chế. Đầu những năm 1980, chế độ do người Việt Nam hậu thuẫn kế tục Khmer Đỏ đã tiến hành một cuộc điều tra dân số trên toàn quốc, với kết luận rằng hơn 4.8 triệu người đã chết, nhưng hầu hết các nhà sử học hiện đại coi con số trên là không chính xác.
Những cuộc khảo sát hiện đại đã định vị được hàng nghìn ngôi mộ tập thể từ thời Khmer Đỏ trên khắp Campuchia. Nhiều cuộc điều tra ước tính con số người chết trong khoảng 740,000 tới 3,000,000, hầu hết trong khoảng 1.4 triệu tới 2.2 triệu, với khoảng một nửa chết vì bị hành quyết, và số còn lại vì đói khát và bệnh tật.
Dự án Diệt chủng Campuchia của trường Yale được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ đưa ra các ước tính con số người chết xấp xỉ 1.7 triệu người, chiếm khoảng 21% dân số. R. J. Rummel, một phân tích lịch sử những vụ giết hại chính trị, đưa ra con số 2 triệu.
=== Đối ngoại ===
Sau khi nắm quyền, Khmer Đỏ xa lánh phương Tây. Khmer Đỏ cũng trục xuất đại sứ Liên Xô về nước vì Liên Xô trước đó đã không hỗ trợ nhiều cho họ, thậm chí Liên Xô từng cân nhắc một thỏa thuận hòa bình năm 1972 đối với Đông Dương sẽ giúp chế độ Lon Nol tiếp tục nắm chính quyền. Khmer Đỏ cũng bác bỏ đề nghị đàm phán xây dựng mối quan hệ đặc biệt từ phía Việt Nam do lo ngại nước này âm mưu áp đảo Campuchia và lôi kéo Campuchia vào một Liên bang Đông Dương. Khmer Đỏ tìm đến Trung Quốc để có được sự hậu thuẫn của nước này dù rằng Trung Quốc từng ủng hộ Hoàng thân Norodom Sihanouk chống lại Khmer Đỏ suốt những năm 1960 và không nhiệt tình ủng hộ họ chống Lon Nol. Trung Quốc đồng ý ủng hộ Khmer Đỏ, nhưng tuyên bố rằng chính phủ mới sẽ được dẫn dắt bởi Sihanouk. Trung Quốc cần một đồng minh tại Đông Nam Á để thay thế cho Việt Nam trong lúc quan hệ Việt Trung ngày càng xấu đi và đồng thời chống lại nguy cơ bá quyền của Việt Nam ở Đông Dương. Trung Quốc ủng hộ Campuchia do lo sợ Việt Nam sẽ bành trướng ở Đông Dương. Theo một điện tín từ Đại sứ quán Mỹ ở Malaysia gửi Bộ Ngoại giao Mỹ vào ngày 27 tháng 4 năm 1978, sau một cuộc họp với một thành viên của chính phủ Thụy Điển vừa đến thăm Trung Quốc, “[Ngoại trưởng Trung Quốc] Hoàng Hoa lưu ý rằng khi người Việt đã đánh bại Mỹ và thu được số lượng lớn vũ khí của Mỹ, họ đã trở nên ‘tự cao tự đại’ và họ đã ấp ủ từ lâu những kế hoạch cho một Liên bang Đông Dương”. Ngược lại Khmer Đỏ tuyên bố "kiên quyết và dứt khoát phản đối các thế lực bên ngoài có hành động can thiệp dưới mọi hình thức vào những vấn đề nội bộ của Campuchia". Đại sứ quán Trung Quốc ở Phnom Penh mở cửa trở lại. Khmer Đỏ nhận được viện trợ của Trung Quốc, đổi lại họ sẽ ủng hộ tư tưởng “Ba Thế giới” của Trung Quốc và hậu thuẫn Bắc Kinh chống lại Liên Xô. Tuy nhiên Khmer Đỏ luôn nghi ngờ Trung Quốc vì sợ nước này sẽ biến Campuchia thành vệ tinh của Trung Quốc.
Mao Trạch Đông đã tỏ ra lo ngại về các chính sách cực đoan của Khmer Đỏ. Ông đã cảnh báo Pol Pot: “Anh không nên sao chép y hệt kinh nghiệm của Trung Quốc, mà hãy suy nghĩ theo hoàn cảnh riêng mình. Theo lời Mác, lý thuyết của ông ấy là một tôn chỉ dẫn đường cho hành động, nhưng không phải là một học thuyết.” Nhưng Mao cũng khen ngợi Pol Pot: “chỉ một lần thực hiện mà ông đã đạt được điều mà tất cả chúng tôi đã thất bại.”. Chu Ân Lai cũng từng cảnh báo "Các anh phải hết sức cẩn thận, vì con đường đi lên chủ nghĩa cộng sản rất chông gai và nguy hiểm. Nếu các anh cố tình bỏ qua những phương cách khôn khéo và thận trọng, thì chắc chắn sẽ khiến nhân dân mình phải hứng chịu một tấm thảm kịch… Chủ nghĩa cộng sản phải như một món quà các anh dâng tặng người dân, món quà tự do và tự chủ toàn vẹn.". Tuy nhiên Khmer Đỏ đã bỏ qua mọi cảnh báo từ phía lãnh đạo Trung Quốc. Dù vậy Khmer Đỏ vẫn ủng hộ các chính sách ngoại giao của Trung Quốc.
Sự viện trợ của Trung Quốc không đi kèm với những điều kiện chính trị. Noun Chea nói: “Trung Quốc đã hỗ trợ chúng tôi vũ khí,” chủ yếu tiếp tế các loại vũ khí hạng nhẹ, nhưng “không bao giờ bán vũ khí” cho Campuchia Dân chủ. Ông bổ sung: “Không hề có hỗ trợ nào trong lĩnh vực chính trị, Trung Quốc chỉ viện trợ đơn thuần về kỹ thuật” và “theo như tôi được biết, mọi viện trợ từ Trung Quốc, dù là về quân sự, hay quần áo nhu yếu phẩm” đều được cung cấp “mà không có bất kỳ điều kiện gì dưới mọi hình thức”. Lãnh đạo Khmer Đỏ chào đón viện trợ từ Trung Quốc nhưng vẫn lo ngại bị phụ thuộc. Tại một phiên họp tháng 6/1976, một quan chức cấp cao của Đảng Cộng sản Campuchia đã phát biểu: “Nếu chúng ta không mạnh mẽ và không nhanh chóng phát triển nhảy vọt, những kẻ thù bên ngoài sẽ chỉ chực chờ nghiền nát chúng ta. Kẻ thù dù có ở dạng nào thì cũng đều muốn những nước nhỏ làm đầy tớ cho họ.”. Kế hoạch kinh tế 4 năm của Campuchia cho rằng Campuchia cần sự giúp đỡ của các nước đồng minh nhưng cũng ghi nhận "Trung Quốc có cung cấp viện trợ, nhưng cũng không nhiều nếu so với các nước khác. Đây là chính sách của Đảng ta. Nếu nước ta đi cầu khẩn các nước khác giúp đỡ, chắc chắn phần nào sẽ được đáp lại, nhưng làm vậy sẽ ảnh hưởng đến lập trường chính trị của chúng ta. Xin được viện trợ từ Liên Xô không dễ. Việt Nam vẫn đang phải quanh quẩn gần bên để xin xỏ Liên Xô. Chúng ta sẽ không theo chân họ. Nguyên nhân là bởi, nếu chúng ta xin họ giúp đỡ, dù ít hay nhiều, chắc chắn sẽ có những điều kiện chính trị kèm theo áp đặt lên nước ta.". Trong nạn đói năm 1977, Campuchia Dân chủ miễn cưỡng tiếp nhận viện trợ lương thực từ bên ngoài. Các quan chức Trung Quốc có lúc tức giận vì Khmer Đỏ từ chối nhận viện trợ và ý kiến cố vấn của họ. Trung Quốc tin rằng Khmer Đỏ đã thực thi chủ nghĩa quân bình và tự cường quá đà. Trung Quốc nhìn chung vẫn hành xử theo nguyên tắc không can thiệp. Họ không dám đe dọa cắt đứt viện trợ để gây sức ép lên ban lãnh đạo Khmer Đỏ khi những người này thực thi các chính sách tàn bạo làm Trung Quốc cảm thấy "choáng váng và tức giận".
Ngay từ khi mới giành được chính quyền, Khmer Đỏ đã gây hấn với các nước láng giềng là Việt Nam và Thái Lan. Khmer Đỏ muốn lấy lại các lãnh thổ thuộc đế chế Angkor đã bị các quốc gia láng giềng như Thái Lan, Việt Nam chiếm. Hành động này bắt nguồn từ chủ nghĩa dân tộc được khơi dậy từ thời Pháp thuộc, từng được cả Sihanouk và Lon Nol ủng hộ. Sihanouk, Lon Nol và sau này là Pol Pot đều xem các nước lân cận là kẻ thù truyền kiếp vì đã tiêu diệt đế quốc Khmer, xâm chiếm đất đai của Campuchia. Các cuộc xung đột lẻ tẻ trên biên giới Thái Lan và Campuchia diễn ra do tranh chấp các vùng lãnh thổ nhỏ dọc biên giới tại các tỉnh Trat, Aranyaprathet-Poipet và Surin, bắt đầu từ tháng 4 năm 1975 và gia tăng mạnh trong tháng 11. Ngoài tranh chấp biên giới, cuộc xung đột còn có nguồn gốc do các lực lượng Khmer Serei chống Khmer Đỏ sử dụng lãnh thổ Thái làm căn cứ xuất phát để tấn công Khmer Đỏ. Đáp lại, Khmer Đỏ cũng hỗ trợ lực lượng cộng sản Thái Lan thiết lập "Angka Siam" chống đối chính quyền Thái, và huấn luyện lực lượng này từ các tỉnh tỉnh Sisaket, Buriram và tỉnh Surin trên biên giới Thái.
Trong năm 1976, dưới chính quyền bảo thủ của Thanin Kraivichien, được giới quân sự hỗ trợ, Thái Lan đã tính đến việc sử dụng quân đội tổng tấn công Khmer Đỏ để ngăn chặn các cuộc các cuộc đột kích qua biên giới ngày càng gia tăng. Xung đột biên giới từ tháng 11 năm 1976 còn trở nên tồi tệ hơn thời kỳ trước năm 1976. Chỉ kể từ tháng 1 tới tháng 8 năm 1977, quân Khmer Đỏ đã hơn 400 lần đột kích qua lãnh thổ Thái Lan, giết chóc, cướp phá và bắt cóc dân thường mang qua Campuchia. Cùng thời gian, Khmer Đỏ cũng bắt đầu xung đột với Lào.
Tuy nhiên, khi chính quyền Thanin sụp đổ, Thái Lan bắt đầu tiến hành thương thuyết với Khmer Đỏ để giải quyết xung đột, nhằm cân bằng ảnh hưởng của Việt Nam mà Thái Lan cho rằng đang chiếm ưu thế trên bán đảo Đông Dương. tới tháng 10 năm 1977, ngoại trưởng Thái gặp ngoại trưởng Khmer Đỏ Ieng Sary tại trụ sở Liên Hiệp Quốc tại New York, hai bên chấp thuận chấm dứt xung đột. Dù vậy, các cuộc chạm trán tại biên giới giữa Thái Lan và Khmer Đỏ tiếp tục tiếp diễn cho tới khi quân Việt Nam lật đổ Pol Pot đầu năm 1979 và thiết lập một chính quyền thân Việt Nam tại Campuchia. Quan hệ giữa Thái Lan và Khmer Đỏ chuyển từ thù địch thành đồng minh, và Thái Lan như vậy ngay từ đầu đã tham gia tích cực vào cuộc xung đột tại Campuchia.
Từ 1975-1978, tin vào sự hậu thuẫn của chính quyền Trung Quốc, chính quyền Khmer Đỏ đã nhiều lần tấn công biên giới Tây Nam Việt Nam, tàn sát thường dân, đánh phá các cơ sở kinh tế và quân sự dọc biên giới với mục đích làm kiệt quệ đối phương. Những hành động này, cùng với làn sóng di tản của người Campuchia chạy trốn chính quyền Khmer Đỏ đã làm quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia đổ vỡ hoàn toàn. Sợ rằng Việt Nam sẽ có phản ứng về mặt quân sự, Pol Pot phát lệnh tấn công phủ đầu Việt Nam. Tuy nhiên, dù được Trung Quốc hỗ trợ, quân Campuchia vẫn nhanh chóng bị quân đội chính quy Việt Nam đẩy lùi và nhanh chóng thất trận. Quân Việt Nam tràn qua biên giới phản công Campuchia (các nước phương Tây và Trung Quốc gọi hành động này là xâm lược) và đến mùng 7 tháng 1 năm 1979 thì chiếm được Phnom Penh. Việt Nam, sau đó, hỗ trợ những người Cộng sản Campuchia thân Việt Nam tái lập lại đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia và sau khi đưa quân vào Campuchia đã thành lập chính quyền Cộng hòa Nhân dân Campuchia thay chính quyền Khmer Đỏ vào năm 1979.
== Bị lật đổ ==
Sau bốn năm cầm quyền, chế độ Khmer Đỏ bị lật đổ năm 1979 sau cuộc Chiến dịch phản công biên giới Tây-Nam Việt Nam của Việt Nam và bị thay thế bởi những người Cộng sản ôn hòa hơn và ủng hộ Việt Nam. Khmer Đỏ tiếp tục tồn tại đến những năm 1990 như một phong trào kháng chiến hoạt động tại phía tây Campuchia từ các căn cứ ở Thái Lan. Năm 1996, sau một thỏa thuận hòa bình, lãnh đạo Pol Pot của họ chính thức giải tán tổ chức. Pol Pot chết ngày 15 tháng 4 năm 1998, chưa bao giờ bị đưa ra xét xử.
Chế độ Khmer Đỏ chủ yếu bị nhớ tới với cái chết của ước tính 1.5 triệu người hay 1/5 tổng dân số đất nước (các con số ước tính từ 850,000 đến 2.5 triệu người), trong những vụ hành quyết tra tấn, đói khát và lao động cưỡng bức. Bởi một số lượng lớn người chết, và bởi các nhóm sắc tộc và tôn giáo nhỏ là mục tiêu, những cái chết trong thời gian Khmer Đỏ cầm quyền tại Campuchia thường được coi là một vụ diệt chủng như được định nghĩa theo Hội nghị Liên hiệp quốc năm 1948.
== Thời kỳ sau 1979 ==
Tháng 12 năm 1978, quan hệ giữa Campuchia và Việt Nam đã trở nên hết sức căng thẳng do các hoạt động quân sự của Khmer Đỏ tại biên giới, cũng như do dòng người chạy tị nạn từ Campuchia. Cùng với Mặt trận thống nhất giải phóng dân tộc Kampuchea, gồm nhiều cựu thành viên Khmer Đỏ, quân đội nhân dân Việt Nam mở chiến dịch tấn công, đánh chiếm Phnom Penh ngày 7 tháng 1 năm 1979. Những cựu thành viên Khmer Đỏ này giúp đỡ Việt Nam, và được hỗ trợ từ Việt Nam, thành lập Cộng hòa Nhân dân Campuchia, mà Khmer Đỏ và Trung Quốc coi là chính phủ bù nhìn.
Bị đánh bại, Khmer Đỏ rút về phía tây, và tiếp tục kiểm soát khu vực biên giới với Thái Lan trong thập kỷ kế tiếp. Các vùng này bao gồm Phnom Malai, vùng núi gần Pailin thuộc rặng Cardamom và Anlong Veng ở dãy núi Dângrêk. Các khu căn cứ này không có khả năng tự cung tự cấp, nên Khmer Đỏ tiến hành các hoạt động buôn lậu gỗ và đá quý, nhận hỗ trợ quân sự từ Trung Quốc thông qua quân đội Thái. Tổng cộng, theo cựu tổng thống Lý Quang Diệu, trong khoảng thời gian một thập kỷ, Khmer Đỏ nhận được hỗ trợ từ khối ASEAN, Mỹ và Trung Quốc khoảng 1,3 tỷ dollar.
Dù bị lật đổ, Khmer Đỏ tiếp tục giữ ghế tại Liên Hiệp Quốc, đại diện bởi Thiounn Prasith, đồng chí cũ của Pol Pot và Ieng Sary từ thời sinh viên ở Paris, dưới tên "Kampuchea Dân chủ" cho tới 1982, rồi "Liên minh chính phủ Kampuchea dân chủ" cho tới 1993. Các chính phủ phương Tây tiếp tục ủng hộ Khmer Đỏ tại LHQ và bỏ phiếu ủng hộ Khmer Đỏ giữ ghế tại đây. Thụy Điển ngược lại thay đổi ý kiến và rút lui sự ủng hộ cho Khmer Đỏ sau khi một số lớn công dân Thụy Điển viết thư cho chính phủ đòi thay đổi thái độ với chính phủ Pol Pot.
Chiến thắng quân sự của Việt Nam có tác động mạnh mẽ trong khu vực; Trung Quốc mở cuộc tấn công vào biên giới phía bắc Việt Nam. Trung Quốc, Hoa Kỳ và các quốc gia ASEAN hỗ trợ việc thành lập chính phủ Campuchia lưu vong và các hoạt động quân sự Liên minh chính phủ Kampuchea dân chủ bao gồm Khmer Đỏ, KPNLF và lực lượng bảo hoàng ANS. Khu vực phía đông và trung tâm Campuchia tiếp tục nằm dưới sự kiểm soát của Việt Nam và chính quyền Phnom Penh, trong khi vùng phía tây tiếp tục là bãi chiến trường trong suốt thập niên 1980, với hàng triệu quả mìn rải khắp nơi. Khmer Đỏ có lực lượng quân sự mạnh nhất trong liên minh ba phe chống đối, và nhận được nhiều viện trợ quân sự từ Trung Quốc, Hoa Kỳ, Anh quốc, và tin tình báo từ quân đội Thái.
Tới năm 1981, Khmer Đỏ còn đi xa tới mức tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản, và chuyển trọng tâm sang chủ nghĩa dân tộc và bài Việt Nam. Tuy nhiên, một số nhà phân tích nhận định rằng sự thay đổi này không mang lại chuyển biến đáng kể gì, vì theo như sử gia Kelvin Rowley, "Luận điệu của Khmer Đỏ luôn dựa vào chủ nghĩa dân tộc hơn là kêu gọi cách mạng".
Mặc dù Pol Pot từ bỏ vị trí lãnh đạo Khmer Đỏ cho Khieu Samphan năm 1985, ông ta tiếp tục là động lực thúc đẩy phe nổi dậy, bằng những bài diễn thuyết cho người của Khmer Đỏ. Các nhà báo như Nate Thayer, người ở cùng Khmer Đỏ trong thời gian đó, nhận xét rằng, dù cộng đồng quốc tế gần như nhất loạt lên án sự cai trị tàn bạo của Khmer Đỏ, một số đáng kể dân Campuchia sống trong vùng Khmer Đỏ kiểm soát tỏ vẻ thực lòng ủng hộ Pol Pot.
Dù Việt Nam đề nghị rút quân để đổi lại một thỏa thuận chính trị nhằm loại trừ việc Khmer Đỏ quay trở lại nắm quyền lực, chính phủ của phe chống đối cũng như ASEAN và Trung Quốc và Hoa Kỳ coi điều này là không thể chấp nhận được. Dù vậy năm 1985 Việt Nam tuyên bố sẽ hoàn tất việc rút quân vào năm 1990 và hoàn thành rút quân vào năm 1989, sau khi tạo điều kiện cho chính phủ Phnom Penh củng cố và tăng cường thực lực quân sự. Lúc cực điểm, Khmer Đỏ kiểm soát khoảng 20% lãnh thổ Campuchia, nhưng chỉ kiểm soát được khoảng 5% dân số, so với chính quyền Phnom Penh.
Sau một thập kỷ xung đột bất phân thắng bại, chính phủ Phnom Penh thân Việt Nam và phe chống đối ký kết hiệp định năm 1991 nhằm tiến hành bầu cử và giải giáp. Tuy vậy tới năm 1992, Khmer Đỏ lại tiến hành các hoạt động quân sự trở lại, tẩy chay bầu cử, và tuyên bố không chấp nhận kết quả bầu cử. Khmer Đỏ giờ đánh lại chính phủ liên hiệp mới tại Campuchia, bao gồm những người cộng sản được Việt Nam hỗ trợ khi trước (lãnh đạo bởi Hun Sen) cũng như các đồng minh cũ của Khmer Đỏ gồm những lực lượng phi-cộng sản và bảo hoàng (như hoàng thân Norodom Ranariddh).
== Sụp đổ ==
Lực lượng Khmer Đỏ khi tháo chạy khỏi Phnom Penh tới biên giới Thái Lan còn khoảng hơn 20 ngàn quân. Được sự hỗ trợ từ Trung Quốc cũng như ASEAN và Hoa Kỳ, khi mạnh nhất họ có trong tay tới khoảng 50 ngàn quân. Tuy nhiên cùng với việc các nhà bảo trợ giảm viện trợ và quá trình hòa giải tại Campuchia bắt đầu, hàng ngũ Khmer Đỏ bắt đầu suy yếu. Cuộc chiến tranh kéo dài cũng làm hàng ngũ Khmer Đỏ tiêu hao, "đại bộ phận" (có lẽ khoảng 80%) lực lượng Khmer Đỏ gồm quân tuyển mộ từ sau năm 1979.
Ngay sau khi Việt Nam tiến hành rút quân, Khmer Đỏ tiến hành các chiến dịch phản công lớn, đánh chiếm Pailin, thành lập các căn cứ mới, tiến hành đột kích đánh phá tại các vùng do chính phủ kiểm soát, gây bất an và hoảng loạn trong khắp các tỉnh miền tây Campuchia, tới tận các tỉnh miền bắc như Kompong Thom và miền nam như Kampong Speu và Kampot. Tới năm 1990, Khmer Đỏ có hai căn cứ quan trọng là Anlong Veng và Pailin. Tuy nhiên họ không mở rộng quyền kiểm soát vào sâu trong nội địa được, và phần lớn dân cư Campuchia tiếp tục nằm trong các vùng do chính quyền kiểm soát.
Khmer Đỏ kết luận họ không có nhiều cơ hội thu được ủng hộ từ phiếu bầu của dân chúng. Họ không muốn từ bỏ quyền lực tuyệt đối tại các vùng kiểm soát và giải giáp quân đội để đổi lại việc được chia sẻ quyền lực thông qua thỏa hiệp thành lập chính phủ liên hiệp và bầu cử tự do. Tuy nhiên việc này đã dẫn đến sự chia rẽ và bất mãn nghiêm trọng trong hàng ngũ Khmer Đỏ. Đa phần binh lính Khmer Đỏ là những lính tuyển mộ sau giai đoạn 1975-1979, những thành phần này ngày càng mệt mỏi vì chiến tranh, mà họ lại phải gánh vác phần tổn thất. Hàng ngũ lãnh đạo Khmer Đỏ phân rã, Son Sen và Ieng Sary bị đưa ra khỏi ban lãnh đạo, nay bao gồm chỉ có Pol Pot, Ta Mok và Khieu Samphan.
Việc Khmer Đỏ từ chối tham gia quá trình thỏa hiệp chính trị cũng gây ra phản ứng bất lợi cho họ. Cộng đồng quốc tế dần ít quan tâm đến Campuchia, hỗ trợ bên ngoài cho Khmer Đỏ giảm dần rồi ngưng hẳn. Trung Quốc cũng bỏ rơi Khmer Đỏ, thay vào đó bắt đầu viện trợ kinh tế, rồi quân sự cho chính phủ liên hiệp Campuchia. Khmer Đỏ tiếp tục các hoạt động quân sự phá hoại, kích động hằn thù chống Việt Nam và tàn sát hàng trăm kiều dân Việt Nam, làm hàng ngàn người khác phải chạy tị nạn, gây ra cuộc khủng hoảng người tị nạn lớn nhất kể từ khi LHQ tiếp quản Campuchia.
Năm 1994, chính phủ Campuchia mở chiến dịch quân sự lớn đánh vào căn cứ Pailin của Khmer Đỏ. Chiến dịch này khởi đầu thuận lợi, quân chính phủ lần lượt đánh chiếm Phnom Chhat, Anlong Veng và Pailin, nhưng Khmer Đỏ với lực lượng ít hơn nhiều nhanh chóng phản công và tái chiếm các khu vực bị chiếm, liên tiếp đánh bại quân chính phủ trong các cuộc giao chiến. Quân Khmer Đỏ truy kích quân chính phủ, uy hiếp tận Battambang. Quân Khmer Đỏ của Ieng Sary định chiếm thành phố này, nhưng không được, cũng như không giữ được các khu vực mà họ mới chiếm được. Quân chính phủ cũng mất hơn 20 xe tăng và xe bọc thép, cũng như khoảng 10 pháo vào tay Khmer Đỏ. Tương quan trên chiến trường không thay đổi khi chiến sự kết thúc.
Tuy giành được thắng lợi quân sự, khủng hoảng trong nội bộ Khmer Đỏ không suy giảm. Mất đi viện trợ lương thực, hàng hóa, bị buộc phải tự cung tự cấp, phải rời các khu trại tị nạn vốn được quốc tế viện trợ thuốc men, thực phẩm, tinh thần dân chúng trong các khu vực Khmer Đỏ kiểm soát giảm sút. Việc giới lãnh đạo Khmer Đỏ kêu gọi tiếp tục chiến tranh không được các thành viên Khmer Đỏ cấp thấp ủng hộ. Quân Khmer Đỏ tiếp tục rã ngũ ra hàng chính phủ, khiến giới lãnh đạo Khmer Đỏ phải tiến hành các cuộc "thanh trừng" mới để ngăn chặn. Theo Youk Chhang, giám đốc Viện Dữ liệu Campuchia, có khoảng 3.000 người bị tàn sát và chôn trong các mộ tập thể tại Anlong Veng từ năm 1993 tới 1997. Các cuộc tàn sát này được tiến hành bởi các sĩ quan dưới quyền Ta Mok.
Việc Khmer Đỏ tiến hành "tự cung tự cấp" dẫn đến việc hình thành một nhóm lãnh chúa mới tại các khu vực Khmer Đỏ kiểm soát, là các sĩ quan cấp cao của Khmer Đỏ kiểm soát khu vực này. Họ tiến hành các hoạt động buôn lậu gỗ, đá quý, hàng hóa để duy trì quân đội, nhưng đồng thời việc này cũng làm yếu đi sự kiểm soát từ ban lãnh đạo Khmer Đỏ, và những viên lãnh chúa này cũng dễ tìm kiếm thỏa hiệp với chính quyền mới ở Campuchia.
Quân Khmer Đỏ bắt đầu đào ngũ hàng loạt năm 1996, khi khoảng một nửa trong số binh sĩ còn lại đào ngũ. Các chỉ huy Khmer Đỏ như Y Chhean và Sok Pheat theo Ieng Sary đào ngũ về phe chính phủ với điều kiện binh lính Khmer Đỏ sẽ được ân xá, còn các chỉ huy Khmer Đỏ tiếp tục được quản lý lãnh thổ cũ của mình. Son Sen đưa quân đến để trừng trị "bọn phản bội", nhưng lính Khmer Đỏ nổi loạn và nhanh chóng gia nhập phe đào ngũ. Khmer Đỏ như vậy mất khoảng 4.000 binh sĩ và tất cả các căn cứ ở phần biên giới phía nam, từ Samlaut cho tới Phnom Chhat. Tới cuối năm, Khmer Đỏ lần lượt mất tất cả các căn cứ nằm trong nội địa Campuchia. Năm 1997, hai phe nhóm chính trong chính phủ liên hiệp Campuchia xung đột, khiến Hoàng thân Norodom Ranariddh tìm kiếm ủng hộ từ một số thủ lĩnh Khmer Đỏ, trong khi vẫn từ chối thỏa hiệp với Pol Pot. Việc này dẫn đến cuộc xung đột phe phái đẫm máu trong giới lãnh đạo Khmer Đỏ, rốt cục khiến Pol Pot bị bắt giữ, bị xét xử và bị giam cầm bởi lực lượng Khmer Đỏ của Ta Mok. Pol Pot chết tháng 4 năm 1998. Khieu Samphan đầu hàng chính phủ tháng 12 cùng năm.
Tới 29 tháng 12 năm 1998, các thủ lĩnh Khmer Đỏ còn lại xin lỗi vì cuộc diệt chủng trong những năm 1970. Tới năm 1999, hầu hết lực lượng Khmer Đỏ còn lại hạ vũ khí đầu hàng hoặc bị bắt. Tháng 12 năm 1999, Ta Mok và các thủ lĩnh còn lại đầu hàng, Khmer Đỏ trên thực tế chấm dứt sự tồn tại.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Các học giả phương Tây am hiểu nhất về Campuchia và có nhiều công trình đã công bố về Campuchia phải kể đến Ben Kiernan, David P. Chandler và Michael Vickery. Nayan Chanda, phóng viên của tờ Far Eastern Economic Review, cũng là người có bề dày về Campuchia thời kỳ này (thông qua các cuộc phỏng vấn với nhiều yếu nhân có liên quan).
Elizabeth Becker (1998). When the war was over: Cambodia and the Khmer Rouge revolution. Public Affairs. ISBN 9780671417871.
Nayan Chanda (1986). Brother Enemy. The War after the War.. Harcourt Brace Jovanovich. ISBN 0-15-114420-6.
David P. Chandler: A History of Cambodia (Westview Press 2000); ISBN 0-8133-3511-6.
David P. Chandler (5 tháng 3 năm 1999). 'Brother Number One: A Political Biography'. Westview Press 1999. ISBN 0813335108.
David P. Chandler: Facing the Cambodian past: Selected essays, 1971–1994 (Silkworm Books 1996); ISBN 974-7047-74-8.
David P. Chandler, Ben Kiernan etc.: Revolution and Its Aftermath in Kampuchea: Eight Essays (Yale University Press 1983); ISBN 0-938692-05-4.
JoAn D. Criddle, To Destroy You Is No Loss: The Odyssey of a Cambodian Family; ISBN 978-0-9632205-1-6
Chanrithy Him: When Broken Glass Floats
Ben Kiernan (19 tháng 8 năm 2008). 'The Pol Pot Regime: Race, Power, and Genocide in Cambodia under the Khmer Rouge, 1975-79'. Yale University Press; 3rd ed. ISBN 0300144342.
Ben Kiernan (11 tháng 8 năm 2004). 'How Pol Pot Came to Power: Colonialism, Nationalism, and Communism in Cambodia, 1930-1975;'. Yale University Press; 2nd ed. ISBN 0-300-10262-3.
Haing Ngor, A Cambodian Odyssey
Sorpong Peou (1997). 'Conflict neutralization in the Cambodia war: from battlefield to ballot-box'. Oxford University Press, USA (27 tháng 3 năm 1997). ISBN 9835600112.
Dith Pran, (compiled by): Children of Cambodia's Killing Fields: Memoirs by Survivors
William Shawcross: Sideshow: Kissinger, Nixon, and the Destruction of Cambodia
Loung Ung, First They Killed My Father: A Daughter of Cambodia Remembers; ISBN 0-06-093138-8
Michael Vickery, Cambodia 1975–1982, South End Press (tháng 3 năm 1984), ISBN 0896081893
== Xem thêm ==
Campuchia Dân chủ
Cộng hòa Nhân dân Campuchia
== Liên kết ngoài ==
Chương trình Nghiên cứu Diệt chủng Campuchia: từ Đại học Yale
Tại sao gọi là Khmer Đỏ? - Theo "Quốc tế điện tử" |
alain fiard.txt | Alain Fiard (sinh ngày 17 tháng 9 năm 1958) là một cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Pháp. Ông sinh ra tại Phnôm Pênh, Campuchia, hiện tại đang là một huấn luyện viên tại V.League 1 cho Hồ Chí Minh City FC.
Fiard bắt đầu sự nghiệp thi đấu của mình với INF Vichy trong mùa giải 1977-1978 tại giải hạng ba nước Pháp. Năm 1979 ông chuyển tới thi đấu cho SC Bastia tham dự giải hạng nhất nước Pháp, hai năm sau thì ông cùng đội bóng giành Cúp nước Pháp. Fiard chuyển tới AJ Auxerre năm 1984 và đã cống hiện tại đây 105 trận trong ba mùa giải liên tiếp. Năm 1987, ông ký hợp đồng thi đấu cho Lille OSC, tại đây ông đã thi đấu sáu năm liên tiếp cho đến khi giải nghệ. Fiard từ giã bóng đá chuyên nghiệp vào năm 1993, sau khi đã thực hiện hơn 450 lần ra sân đấu.
Fiard được thuê làm huấn luyện viên đội trẻ của AJ Auxerre vào năm 1997, bốn năm sau ông được bổ nhiệm làm trợ lý cho Guy Roux. Fiard từng tạm thời nắm đội 1 của AJ Auxerre trong năm trận liên tiếp mùa giải hạng nhất nước Pháp 2001-2002 khi Roux vắng mặt do bệnh tật. Tháng 7 năm 2004 ông thôi vị trí trợ lý ở Auxerre để đảm nhiệm vị trí huấn luyện viên trưởng cho đội bóng Raja Casablanca của Ma - rốc. Tuy nhiên, ông rời Raja Casablanca vào tháng 11 cùng năm. Từ năm 2005 đến 2008, Fiard làm tuyển trạch viên cho đội bóng cũ Lille OSC trước khi chuyển đến đảm nhận công việc này tại Valenciennes FC. Năm 2011, ông từ chối lời mời làm "thuyền trưởng" đội tuyển quốc gia Việt Nam để trở lại Auxerre làm trợ lý cho huấn luyện viên Laurent Fournier cho đến tháng 7 năm 2012 khi Fournier rời vị trí. Tháng 11 năm 2016 ông chính thức ký hợp đồng trở thành huấn luyện viên trưởng cho Hồ Chí Minh City FC.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Alain Fiard profile at footballdatabase.eu |
hiệp hội bóng đá scotland.txt | Hiệp hội bóng đá Scotland là tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động bóng đá ở Scotland. Hiệp hội quản lý đội tuyển bóng đá quốc gia nam và nữ, tổ chức các giải bóng đá như vô địch quốc gia và cúp quốc gia. Hiệp hội bóng đá Scotland gia nhập FIFA năm 1932 và UEFA năm 1954.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ |
tosy.txt | TOSY (TOSY Robotics) là một công ty của Việt Nam chuyên nghiên cứu và sản xuất những sản phẩm robot và đồ chơi công nghệ cao, với trụ sở được đặt tại Hà Nội. Được thành lập từ năm 2004, các sản phẩm của TOSY đến nay đã có mặt tại hơn 60 quốc gia trên thế giới và đều được đăng ký bằng sáng chế và sở hữu trí tuệ tại các quốc gia này. Các dòng sản phẩm thương mại chính hiện nay bao gồm DiscoRobo, TOOP và AFO.
== Ý nghĩa tên ==
Technology – Công nghệ sáng tạoOriginality – Sản phẩm độc đáoSatisfaction – Trải nghiệm mới lạYearning – Nỗ lực không ngừng
== Lịch sử ==
2004 / tháng 9: Thành lập công ty.
2005 / tháng 1: Khởi động dự án nghiên cứu và thiết kế robot dáng người có khả năng chơi bóng bàn mang tên TOPIO.
2006 / tháng 4: Thành lập nhà máy đầu tiên (rộng 1600m2) tại Khu công nghiệp An Khánh.
2007 / tháng 11: Lần đầu dấn thân trường quốc tế khi xuất hiện tại Triển lãm Robot lớn nhất thế giới IREX tổ chức tại Tokyo, Nhật Bản nhằm giới thiệu phiên bản TOPIO 1.0.
2009:
Tháng 2: Phiên bản TOPIO 2.0 gây ấn tượng tại Triển lãm Đồ chơi lớn nhất thế giới Spielwarenmesse tổ chức tại Nuremberg, Đức; đồng thời ra mắt các dòng sản phẩm đồ chơi công nghệ cao khác như: Robot bóng BallRobo, Robot lốp xe TyreRobo và Đĩa bay AFO .
Tháng 9: Nhà máy thứ hai (rộng 1500m2) tại Khu công nghiệp Cầu Giấy chính thức được đưa vào sử dụng.
Tháng 11: Lần thứ hai tham dự Triển lãm Robot IREX .
2010:
Tháng 2: Lần thứ hai tham dự Triển lãm Đồ chơi Spielwarenmesse.
Tháng 6: Tham dự Triển lãm Tự động hóa lớn nhất thế giới Automatica diễn ra tại Munich, Đức nhằm giới thiệu 3 sản phẩm robot công nghiệp: Parallel Robot, Scara Robot và Arm Robot.
2011:
Tháng 1: Lần đầu tham dự Triển lãm Đồ chơi lớn nhất châu Á Hong Kong Toys & Games Fair.
Tháng 2: Lần thứ ba tham dự Triển lãm Đồ chơi Spielwarenmesse.
Lần đầu tham dự Triển lãm Đồ chơi lớn thứ ba thế giới New York Toy Fair diễn ra tại New York, Mỹ nhằm giới thiệu dòng sản phẩm mới: Con quay TOOP .
Tháng 7: TOOP được Tổ chức Guinness thế giới cấp bằng chứng nhận là 'Con quay tự quay lâu nhất thế giới'.
2012:
Tháng 1: Giới thiệu phiên bản mRobo 2.0 tại Triển lãm Điện tử tiêu dùng lớn nhất thế giới CES tổ chức tại Las Vegas, Mỹ. Siêu sao nhạc Pop từng được đề cử Giải Grammy của Mỹ Justin Bieber đã được TOSY mời tới sự kiện này để làm người đại diện hình ảnh của sản phẩm .
Tháng 2: Lần thứ tư tham dự Triển lãm Đồ chơi Spielwarenmesse.
Lần thứ hai tham dự Triển lãm Đồ chơi New York Toy Fair.
Tháng 10: Lần thứ hai tham dự Triển lãm Đồ chơi Hong Kong Toys & Games Fair.
Lần đầu tham dự Triển lãm Điện tử tiêu dùng lớn nhất Nhật Bản CEATEC.
2013:
Tháng 1: Vũ công/biên đạo múa nổi tiếng thế giới Derek Hough, người đã từng 3 lần là quán quân của show truyền hình Dancing with the Stars của Mỹ, đã có mặt tại Triển lãm Điện tử tiêu dùng CES để giới thiệu phiên bản mRobo 2.0 .
Tháng 7: Lần đầu tham dự Triển lãm Điện tử tiêu dùng toàn châu Âu IFA tại Berlin, Đức.
Tháng 10: Lần thứ ba tham dự Triển lãm Đồ chơi New York Toy Fair nhằm giới thiệu dòng sản phẩm mới: Robot nhảy DiscoRobo .
2014:
Tháng 6: Chuyển khối văn phòng công ty sang trụ sở mới tại quận Thanh Xuân, Hà Nội.
Tháng 10: Lần thứ ba tham dự Triển lãm Đồ chơi Hong Kong Toys & Games Fair.
Tháng 12: Ra mắt phiên bản mới DiscoRobo 2.0.
2015:
Tháng 2: Lần thứ năm tham dự Triển lãm Đồ chơi Spielwarenmesse.
Lần thứ tư tham dự Triển lãm Đồ chơi New York Toy Fair.
== Các sản phẩm Robot ==
mRobo – Robot nhảy
mRobo là robot tích hợp tính năng của một robot nhảy và một chiếc loa chất lượng cao. Từ hình dạng ban đầu là một chiếc loa nhỏ gọn, khi tiếng nhạc cất lên, mRobo bắt đầu "biến hình" thành một chàng trai robot cá tính với đầy đủ các bộ phận đầu, thân, tay, chân cùng trình độ vũ công điêu luyện. Với 42 bậc tự do, mRobo có thể thực hiện được những bước nhảy phong phú, mềm mại và những cú giật, lắc hay xoay người đúng nhịp như một vũ công thực thụ. Âm thanh phát ra từ loa gắn trên bụng robot nhờ được gia tăng âm bass nên có thể tạo cảm hứng mạnh mẽ cho người nghe. Với 6 bậc tự do, cánh tay là một trong những bộ phận đặc biệt nhất của mRobo khi có thể thực hiện những động tác phức tạp và linh hoạt. Ngoài ra, hệ thống bánh xe cũng là một điểm cải tiến quan trọng, giúp cho mRobo nghiêng được thân hay tiến, lùi, quay sang phải và trái một cách uyển chuyển.
TOPIO – Robot chơi bóng bàn
TOPIO là robot có khả năng chơi bóng bàn đối kháng với con người, và là sản phẩm được TOSY giới thiệu lần đầu tại Triển lãm Robot lớn nhất thế giới IREX tổ chức tại Tokyo, Japan ngày 28/11/2007. Trong khi TOPIO phiên bản 1.0 chạy bằng thủy lực, cao 1,8m, nặng tới 500 kg, có 6 chân và không di chuyển được, thì TOPIO 2.0 cao 2,1m nhưng chỉ nặng có 60 kg, có 2 chân để đi lại uyển chuyển hơn. Được đánh giá là một bước tiến công nghệ nhảy vọt so với phiên bản trước về nhiều mặt, TOPIO 2.0 có 28 bậc tự do và chạy bằng động cơ điện. Để đi lại, nhảy múa và chơi được bóng bàn, TOPIO 2.0 được trang bị trí tuệ nhân tạo và các module phần mềm điều khiển như cảm biến ảnh tốc độ cao, mạng nơ-ron nhân tạo, điều khiển chuyển động, dự đoán quỹ đạo bóng, phân tích xoáy và va chạm...
Hiện nay, TOPIO phiên bản mới nhất 3.0 có kích thước tương đương con người với chiều cao 1,88m và nặng 120 kg, có 32 bậc tự do. Thách thức lớn nhất ở phiên bản TOPIO 3.0 là kiến trúc của TOPIO phải đáp ứng cả 2 mục tiêu: đi lại và chơi bóng bàn. Nếu chỉ đi lại, nhảy múa thì TOPIO không cần phải hoạt động quá chính xác và nhanh nhẹn như việc chơi bóng bàn. Trong thiết kế robot, yêu cầu tốc độ và độ chính xác thường mâu thuẫn nhau và rất khó đạt được cả hai. TOPIO đã phải trải qua một quá trình nghiên cứu và thiết kế đáng kể để vừa có thể chuyển động được linh hoạt, chính xác cùng lúc mà kết cấu cũng phải thật nhẹ để di chuyển dễ dàng được bằng 2 chân .
SketRobo – Robot vẽ
SketRobo là robot dáng người có khả năng vẽ theo mẫu có sẵn. Hiện tại SketRobo vẫn đang bị giới hạn về nội dung có thể vẽ được; tuy nhiên, trong tương lai, TOSY đang nỗ lực trang bị cho sản phẩm một hệ thống nhận dạng khuôn mặt và cảm biến chuyển động, cho phép robot vẽ chân dung của người đứng đối diện. Ngoài ra, TOSY cũng lên kế hoạch sử dụng SketRobo cho mục đích hướng dẫn trẻ em học vẽ.
TOPIO Dio – Robot phục vụ
TOPIO Dio là robot phục vụ với 3 bánh xe di chuyển, 25 bậc tự do và được vận hành nhờ một camera tích hợp và cảm ứng chướng ngại vật. Với hình dáng cao 1m25 và nặng 45 kg, TOPIO Dio là robot dịch vụ rất phù hợp với các công việc hỗ trợ cho nhà hàng hoặc quán bar.
== Các sản phẩm Đồ chơi công nghệ cao ==
DiscoRobo – Robot nhảy
DiscoRobo là dòng đồ chơi thế hệ mới và là sự kết hợp thông minh giữa Công nghệ và Giải trí. Nhờ công nghệ cảm ứng theo nhịp nhạc, DiscoRobo có thể nhảy theo các âm thanh khác nhau như tiếng trống, beatbox, tiếng vỗ tay,... với 56 bước nhảy đa dạng. Ngoài ra, robot còn có thể thể hiện được 8 biểu cảm khuôn mặt sinh động. Bộ robot DiscoRobo gồm 4 màu: Xanh (Lucas), Đỏ (Andy), Hồng (Ruby) và Tím (Alex). DiscoRobo phiên bản đặc biệt đi kèm theo loa DiscoStage, là chiếc loa di động gọn nhẹ, chất lượng âm thanh cao, cùng khả năng chơi nhạc định dạng mp3 với bộ nhớ trong 128Mb. Loa DiscoStage còn có thể kết nối được với smartphone, máy tính, ipad, và các thiết bị chơi nhạc khác.
DiscoRobo phiên bản 2.0 có 6 tính năng chính:
Nhảy theo nhạc và nhiều tiếng động khác như vỗ tay, đập bàn, dậm chân...
Dạy tiếng Anh qua điều khiển TV - tính năng mang tính giáo dục: DiscoRobo có thể nói các câu thoại/hát bài hát thuộc nhiều chủ đề khác nhau nhằm giúp trẻ bổ sung vốn từ vựng.
Cảm ứng Chạm: DiscoRobo đưa ra nhiều biểu cảm khác nhau khi người chơi chạm vào lưng và ngực trái.
Tương tác qua App: Người chơi có thể lắc điện thoại để DiscoRobo chuyển động theo, hoặc điều khiển DiscoRobo ảo trên màn hình điện thoại như thế nào thì robot thật sẽ nhảy theo tương tự. Sau đó, người chơi có thể lưu lại các đoạn nhảy của DiscoRobo trong máy và chia sẻ với bạn bè. Tính năng tương tác qua app thích hợp cho cả 3 hệ điều hành iOS, Android và Windows.
Thu âm: Khi giữ rốn rồi sau đó chạm vào ngực phải, DiscoRobo có thể ghi lại giọng nói và nhại lại theo 4 kiểu giọng hài hước.
Robot nói chuyện với nhau: Khi đặt 2 DiscoRobo đối diện nhau thì chúng sẽ đối đáp nhau với hơn 30 cuộc hội thoại được cài đặt sẵn.
TOOP – Con quay
Dựa theo trò chơi đánh quay truyền thống của trẻ em Việt Nam, TOOP là con quay hiện đại chạy bằng pin 3A, có khả năng quay tự động trong thời gian dài. Với gậy điều khiển linh hoạt, người chơi có thể tạo ra các chiến thuật riêng của mình và điều khiển con quay va chạm và thi đấu đối kháng với con quay đối thủ trên sân đấu. Vào tháng 7 năm 2011, TOOP đã được chứng nhận bởi Tổ chức Guinness thế giới là 'Con quay tự quay lâu nhất thế giới'. Với thời gian quay liên tục trong 24 giờ 35 phút và 15 giây, con quay TOSY TOOP đã vinh dự trở thành sản phẩm đồ chơi đầu tiên và duy nhất của Việt Nam được trao tặng kỷ lục cao quý này .
AFO – Đĩa bay
Đĩa bay AFO là dòng sản phẩm đồ chơi hiện đại hoạt động theo nguyên lý của chiếc Bumerang (Boomerang) của thổ dân châu Úc. AFO được thiết kế dựa trên các nguyên lý toán học, vật lý học và được tính toán cẩn thận sao cho đĩa bay có thể xoay nhiều vòng và quay trở lại về tay người chơi. Sáng chế này của TOSY sở hữu những tính năng độc đáo nhờ vào các cánh mỏng đàn hồi có thể tự điều chỉnh độ cong, lực đẩy thông minh theo vận tốc của đĩa bay, giúp cho đĩa bay có thể bay lâu và quay trở lại chính xác về vị trí ném ban đầu . Đĩa bay AFO có hệ thống đèn LED tự động phát sáng khi bay tạo nên cầu vồng ánh sáng rực rỡ trong đêm tối . Đây là trò chơi phù hợp với mọi lứa tuổi, cùng nhiều kiểu chơi đa dạng: bắn thẳng, bắn dính trần, bắn xuống đất...
== Các sản phẩm Robot Công nghiệp ==
Tại Triển lãm Tự động hóa lớn nhất thế giới Automatica 2010 tổ chức tại Munich (Đức), TOSY đã giới thiệu 3 sản phẩm robot công nghiệp: Arm Robot, Parallel Robot & Scara Robot. Các sản phẩm robot này đã gây ấn tượng mạnh về giá thành và chất lượng, và đã tạo nên một cuộc cách mạng giá trên thị trường robot công nghiệp toàn cầu bởi mức giá chỉ bằng ¼ so với robot đến từ các cường quốc công nghiệp khác. Arm Robot là tay máy đa năng có thể làm nhiều công việc như hàn, sơn, lắp ráp, đóng gói, di chuyển vật liệu, xếp dỡ pallet... Scara Robot và Parallel Robot có khả năng gắp các sản phẩm trên băng chuyền đang chuyển động với tốc độ cao. Cả 3 robot đều có độ chính xác 0,1mm, tầm hoạt động 0,6-2m và tải trọng 1–30 kg. Để giảm được chi phí sản xuất, TOSY đã tự sản xuất tất cả các thành phần chính của các sản phẩm robot công nghiệp của mình như động cơ, hộp giảm tốc, mạch điện, phần mềm điều khiển tự động,...
Robot công nghiệp trong các nhà máy sản xuất có nhiệm vụ làm thay công nhân các công việc nguy hiểm, nhàm chán hay các công việc yêu cầu mức độ tự động hóa cao. Ngoài ra, do robot còn cần thực hiện nhiều công việc mà con người không làm được nên robot công nghiệp luôn yêu cầu độ chính xác rất cao, hoạt động ổn định và bền bỉ. Trong điều kiện Việt Nam chưa có ngành công nghiệp robot và phụ trợ, TOSY đã gặp nhiều khó khăn khi đơn độc giải quyết các bài toán kỹ thuật công nghệ phức tạp. Hiện nay mới chỉ có 6 nước có ngành công nghiệp robot phát triển là Nhật Bản, Đức, Thụy Sĩ, Mỹ, Ý và Hàn Quốc. TOSY vẫn đang nỗ lực để giúp Việt Nam trở thành nước thứ 7 sản xuất và xuất khẩu robot công nghiệp .
== Các sản phẩm khác ==
BallRobo (Robot bóng) và TyreRobo (Robot lốp xe) là các sản phẩm robot có khả năng tự lăn tiến lùi trái phải và leo dốc 30° một cách uyển chuyển và điều khiển được bởi bộ điều khiển từ xa. Hai sản phẩm này đã được đăng ký bằng sáng chế về kết cấu cơ khí đặc biệt giúp chúng di chuyển linh hoạt và ổn định ở tốc độ cao trên nhiều địa hình: cát, tuyết, nước, cỏ...
== Giải thưởng quốc tế ==
Best Toy Awards – AFO, tạp chí Good Housekeeping, 2011
Top Tech Toy – AFO, tạp chí The Street, 2011
Kỷ lục Guinness thế giới – TOOP, 2011
Great Toy of the Year – TOOP, tạp chí Good Housekeeping, 2012
Best of Toy Fair – DiscoRobo, tạp chí Popular Science, 2012
Space Age Award for Best High-tech Toy – SketRobo, 2012
Top Product at New York Toy Fair – SketRobo, tạp chí Mashable, 2012
Best of CES – mRobo, tạp chí Washington Post, 2012
Best of CES – mRobo, tạp chí Huffington Post, 2012
== Tham khảo == |
ba môn phối hợp.txt | Ba môn phối hợp (thuật ngữ tiếng Anh: Triathlon) bao gồm chạy bộ, bơi và đua xe đạp. Ban đầu các vận động viên đua bơi lội. Tiếp đó là đua xe đạp tới đường chạy, cuối cùng các vận động viên chạy marathon để về đích.
Đây là môn thể thao được chơi ngoài trời và là một môn thể thao mới được chơi tại Thế Vận Hội từ năm 2000 ở Sydney, Á Vận Hội và thậm chí tại SEA Games. Ba môn phối hợp đòi hỏi các vận động viên phải có một sức bền cả về thể lực lẫn tinh thần. Đây là môn thể thao thi đấu cá nhân hoặc đồng đội. Môn thể thao này có rất nhiều người tham gia.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Friel, Joe (1998). The Triathlete's Training Bible. na: VeloPress. ISBN 1-884737-48-X.
Friel, Joe (2008). Going Long: Training for Ironman-Distance Triathlons. na: VeloPress. ISBN 978-1-934030-06-6.
Friel, Joe (2006). Your First Triathlon. na: VeloPress. ISBN 978-1-931382-85-4.
Bernhardt, Gale (2006). Training Plans for Multisport Athletes. na: VeloPress. ISBN 978-1-931382-92-2.
Bernhardt, Gale (2004). Triathlon Training Basics. na: VeloPress. ISBN 978-1-931382-25-0. |
người việt.txt | Người Việt hay người Kinh là một dân tộc hình thành tại khu vực địa lý mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam và miền nam Trung Quốc. Đây là dân tộc chính, chiếm khoảng 86,2% dân số Việt Nam và được gọi chính thức là dân tộc Kinh để phân biệt với những dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Ngôn ngữ chính sử dụng là tiếng Việt theo nhóm Việt-Mường. Người Kinh sinh sống trên khắp toàn thể nước Việt Nam và một số nước khác nhưng đông nhất vẫn là các vùng đồng bằng và thành thị trong nước. Còn nếu tính cả người Việt hải ngoại thì họ định cư ở Hoa Kỳ là đông nhất.
== Truyền thuyết ==
Theo truyền thuyết dân tộc Kinh, những người Việt đầu tiên là con cháu của một thần rồng tên là Lạc Long Quân và một vị tiên tên là Âu Cơ. Hai người này lấy nhau và đẻ ra một bọc 100 trứng và nở ra 100 người con. Những người con sinh ra cùng một bọc gọi là "cùng bọc" (hay còn gọi là Đồng bào) và "đồng bào" là cách gọi của người Việt để nói rằng tất cả người Việt Nam đều cùng có chung một nguồn gốc.
== Nguồn gốc ==
Có hai luồng quan điểm về nguồn gốc của người Việt. Một số học giả tin rằng người Việt đầu tiên dần dần chuyển từ quần đảo Indonesia thông qua bán đảo Mã Lai và Thái Lan cho đến khi họ định cư trên các cạnh của sông Hồng ở Đồng bằng Bắc Bộ bằng cách lần theo con đường của các công cụ đá từ cuối Thế Pleistocen (600,000-12,000 trước Công nguyên), trên Java, Malaysia, Thái Lan và phía bắc Miến Điện. Những công cụ bằng đá được cho là các công cụ con người đầu tiên được sử dụng trong khu vực Đông Nam Á. Các nhà khảo cổ tin rằng vào thời điểm này Hy Mã Lạp Sơn, một dãy núi ở miền bắc Miến Điện và Trung Quốc, tạo ra một rào cản băng giá mà cô lập người dân Đông Nam Á. Một số khác cho rằng người Việt đầu tiên vốn là một bộ tộc gốc Mông Cổ ở Tây Tạng, di cư xuống phía nam từ thời đồ đá cũNhóm dân tộc này định cư tại vùng Bắc Bộ, thượng nguồn sông Hồng ngày nay và tạo nên nền văn minh Đông Sơn. Nhóm bộ tộc này cũng có sự tương đồng rất lớn về nhân chủng, văn hóa với các tộc người ở phía Nam Trung Quốc - mà sử Trung Quốc còn gọi là cộng đồng Bách Việt.
Vào năm 257 TCN An Dương Vương thành lập vương quốc Âu Lạc, tại miền Bắc Việt Nam bây giờ. Vào năm 208 TCN vua nước Nam Việt là Triệu Đà tiến đánh Âu Lạc, tiêu diệt An Dương Vương. Triệu Đà hợp nhất Âu Lạc với các lãnh thổ tại miền cực nam Trung Quốc thành vương quốc Nam Việt.
== Phân bố ==
=== Trên thế giới ===
Vào thế kỷ 16, một số người Việt di cư về phía bắc vào Trung Quốc. Tuy đã bị ảnh hưởng Trung Hoa nhiều hơn, con cháu những người này vẫn còn nói tiếng Việt và được công nhận là một dân tộc thiểu số tại Trung Quốc. (Xem thêm bài Người Kinh (Trung Quốc).
Trong thời Pháp thuộc, một số người Việt làm công nhân đồn điền, khai mỏ tại Tân Đảo (nay là Nouvelle-Calédonie và Vanuatu)... Ngoài ra còn một số cộng đồng người Việt ở Réunion, Haiti... thành lập từ những chí sĩ yêu nước bị đày ải. Tại Xiêm, Trung Quốc, Lào, Cao Miên cũng có khá nhiều người Việt sinh sống. Cũng trong thời kỳ này, một số người Việt yêu nước đã sang Xiêm, Trung Quốc, Liên Xô... thành lập các tổ chức cách mạng nhằm tránh sự bắt bớ của chính quyền thuộc địa tại Việt Nam.
Khi thực dân Pháp rời khỏi Việt Nam vào năm 1954, một số người Việt di cư sang Pháp, gần 900.000 người từ miền Bắc di cư vào miền nam.
Sau Chiến tranh Việt Nam, gần 1 triệu người Việt di tản và vượt biên. Phần lớn những người này tái định cư tại Bắc Mỹ, Tây Âu và Úc. Tại Hoa Kỳ có một cộng đồng người Mỹ gốc Việt khá lớn.
=== Tại Việt Nam ===
Tuy gốc từ miền Bắc Việt Nam, người Việt đã Nam tiến và chiếm đất đai của vương quốc Chiêm Thành qua thời gian. Hiện nay họ là dân tộc đa số trong phần lớn các tỉnh tại Việt Nam.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Kinh ở Việt Nam có dân số 73.594.427 người, chiếm 85,7% dân số cả nước, cư trú tại tất cả 63 tỉnh, thành phố. Các tỉnh, thành phố có số lượng người Kinh lớn nhất là: Thành phố Hồ Chí Minh (6.699.124 người), Hà Nội (6.370.244 người), Thanh Hóa (2.801.321 người), Nghệ An (2.489.952 người), Đồng Nai (2.311.315 người), An Giang (2.029.888 người).
Người Kinh là dân tộc đa số tại Việt Nam, tuy nhiên tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, người Kinh lại là dân tộc thiểu số: Lào Cai (212.528 người, chiếm 34,6% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Hòa Bình (207.569 người, chiếm 26,4% dân số toàn tỉnh, người Mường là dân tộc đa số ở Hòa Bình, chiếm 63,9%), Sơn La (189.461 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh, người Thái là dân tộc đa số ở Sơn La), Lạng Sơn (124.433 người, chiếm 17,0% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Hà Giang (95.969 người, chiếm 13,2% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Điện Biên (90.323 người, chiếm 18,4% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Lai Châu (56.630 người, chiếm 15,3% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số), Bắc Kạn (39.280 người, chiếm 13,4% dân số toàn tỉnh, người Tày là dân tộc đa số ở tỉnh này), Cao Bằng (29.189 người, chỉ chiếm 5,76% dân số toàn tỉnh, tỉnh này không có dân tộc đa số).
== Đặc điểm kinh tế ==
Có thể nói nền kinh tế mạnh nhất là nền nông nghiệp lúa nước. Nền văn minh lúa nước đã được khai sinh từ rất ngàn đời xưa và đạt được trình độ nhất định. Nền nông nghiệp phát triển cũng nhờ một phần vào sự đào đê, đào nương. Ngoài nghề nông nghiệp, người Kinh cũng làm một số các nghề khác ví dụ như chăn nuôi gia súc, làm đồ thủ công... Là những nghề đòi hỏi sự khéo léo cao!
== Món ăn yêu thích ==
Người Kinh có truyền thống ăn trầu cau, hút thuốc lá, nước vối, nước chè, hút thuốc lào, các loại cơm, cháo, xôi, mắm tôm, thịt chó, trứng vịt lộn. Việc hút thuốc lá, thuốc lào có lẽ sau thế kỷ 16, sau khi cây thuốc lá nhập vào Việt Nam từ châu Mỹ.
== Tổ chức cộng đồng ==
Theo truyền thống ngàn đời thì người Kinh sống theo làng. Nhiều làng họp lại thì thành một xã. Mỗi làng có thể có nhiều xóm. Nếu tính ra một thôn của miền Bắc thì bằng với một ấp của miền Nam. Trong các làng và xã đều có luật lệ riêng mà mọi người đều phải thi hánh. Các làng miền Bắc thường được che chắn bằng cách trồng tre hoặc xây cổng kiên cố. Mỗi làng đều có nơi hội tụ và thờ lạy chung. Một số làng có đình thờ thành hoàng làng, là người được coi là thần bảo hộ của làng. Vào thời xưa thì phụ nữ bị cấm không được đến đình làng.
== Văn hóa ==
Văn học của người Kinh đã từng tồn tại từ rất lâu và được truyền miệng qua truyển cổ, ca dao, tục ngữ... Nghệ thuật phong phú như ca hát, âm nhạc, điêu khắc, hội họa, múa, diễn xướng... Hàng năm thì theo truyền thống các làng đều tổ chức hội làng với các sinh hoạt cộng đồng. Khoảng sau Công nguyên, người Kinh bị Bắc thuộc nên đã dùng chữ Hán nhưng sau này tự tạo chữ viết riêng là chữ Nôm. Tuy nhiên chữ Hán vẫn là ngôn ngữ chính thức được dùng trong hành chính và giáo dục. Từ khoảng thế kỷ thứ 16 các giáo sĩ truyền giáo đến từ phương Tây thấy cần dùng chữ cái Latin để ký âm tiếng Việt. Từ đó xuất hiện chữ Quốc Ngữ được sử dụng rộng rãi ngày nay. Năm 1945, 95% dân số Việt Nam mù chữ nhưng đến năm 2010 tỷ lệ biết chữ ở người lớn là 97,3%. Tuy nhiên tỷ lệ đọc sách của người Việt khá thấp ở mức 0,8 cuốn sách/người/năm. Với mức này, có thể nói người Việt chưa có văn hóa đọc.
Ngoài các giá trị vật chất, người Việt còn có những giá trị tâm linh như việc thờ cúng tổ tiên, giỗ và các lễ hội như Tết. Các tôn giáo phổ biến như Phật giáo, Công giáo Rôma, đạo Cao Đài...
== Tầm vóc ==
Hiện nay, chiều cao trung bình của nam thanh niên Việt Nam là 164 cm, thấp nhất Châu Á, thua 8 cm so với Nhật và 10 cm so với Hàn Quốc. Còn chiều cao của nữ giới thì gần 154 cm.
Theo tiến sĩ Lê Bạch Mai, Phó viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia Việt Nam cho biết tại buổi họp báo sáng 8 tháng 10 năm 2014, người Việt thấp bé nhẹ cân không phải thuộc tính di truyền mà có thể cải thiện nhờ chế độ dinh dưỡng hợp lý.
== Nhà cửa ==
Phong cách và hình dạng nhà cửa tùy theo từng vùng và miền. Chủ yếu là nhà được xây dựng bằng những vật liệu sẵn có như cỏ khô, rơm rạ, tre nứa. Nhà điển hình là nhà lá 3 gian hoặc 5 gian. Tuy nhiên do điều kiện thời tiết khí hậu nên nhà cửa ở miền trung và miền nam có chút ít khác biệt nhưng nhìn chung vẫn là kết cấu nhà 5 gian. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân nên nhà ở đã có sự thay đổi cả về kết cấu và vật liệu xây dựng. Hầu như nhà nào cũng có phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn và nhà bếp (đôi khi phòng ăn và nhà bếp là một).
== Trang phục ==
Trang phục Việt Nam đa dạng và muôn màu qua khăn áo, váy, quần, khố, mũ, nón, trang sức...
=== Trang phục nam ===
Nói chung người Việt Nam dù ở Bắc, Trung hay Nam đều có cách mặc gần giống nhau. Các loại quần áo như áo ngắn mặc với quần lá tọa ống rộng, quần có cạp hoặc dùng dây rút. Thời xưa thì đàn ông để tóc dài, búi tó, hoặc thắt khăn đầu rìu,... Vào các lễ hội đặc biệt thì mặc áo dài khăn đống, mùa áo đơn giản không có văn hoa. Chân thì đi guốc mộc.
=== Trang phục nữ ===
Vào thời xưa thì phụ nữ người Kinh ai cũng mặc yếm. Váy thì váy dài với dây thắt lưng. Các loại nón thông thường như thúng, ba tầm... Trong những ngày hội thì người phụ nữ thường mặc áo dài. Các thiếu nữ thì hay làm búi tóc đuôi gà. Các đồ trang sức truyền thống như trâm, vòng cổ, hoa tai, nhẫn, vòng tay mang phong cách tùy theo từng vùng. Phụ nữ Nam Bộ thường mặc áo bà ba với các kiểu cổ như tròn, trái tim, bà lai với các khăn trùm đầu. Nón lá có thể nói là nón được sử dụng rộng rãi nhất cho phụ nữ thời xưa do nó có thể tự làm và che nắng rất tốt.
== Hôn nhân gia đình ==
Theo truyền thống thì người đàn ông là trụ cột gia đình. Các đứa con đều lấy họ cha và được coi là nối nghiệp tông đường. Dòng họ của bố là "họ nội" còn dòng họ bên mẹ là "họ ngoại". Đứa con trai đầu thường là người giao cho trọng trách nhiều nhất trong gia đình. Mỗi họ đều có chỗ thờ họ và người trưởng họ sẽ lo việc chung. Cháu trai của đời con trai đầu được gọi là "cháu đích tôn". Hôn nhân chỉ được chấp nhận dưới dạng một chồng một vợ. Quan hệ đồng tính hiện chưa được chính phủ chấp nhận tại Việt Nam. Việc cưới xin thì thưởng phải đi qua các nghi thức truyền thống của người Việt. Người Kinh coi trong sự trinh trắng và đức hạnh của người con gái và còn quan tâm đến gia thế của họ.
== Đánh giá ==
Những đánh giá về người Việt Nam hiện đại (thế kỷ 20-21) đã được một số học giả trong và ngoài nước đưa ra trong các tác phẩm báo chí, tác phẩm văn học, các tiểu luận hay các công trình nghiên cứu xã hội học và dân tộc học. Các đánh giá này được nêu tại những thời điểm lịch sử khác nhau, trong đó có một phần đáng kể về vai trò và tính hai mặt, ưu và nhược điểm trong tư duy, tính cách, tâm lý và tập quán người Việt trong tiến trình phát triển của dân tộc. Các tổng kết dựa trên các nghiên cứu còn một số khác là nhận định cá nhân hay suy diễn logic của các học giả nổi tiếng. Tính hai mặt của người Việt Nam đã được đa số các học giả thừa nhận và khẳng định trong các công trình nghiên cứu về tâm lý, văn hóa, xã hội và lịch sử dân tộc. Những đặc điểm phổ biến trong tư duy, tính cách, tâm lý và tập quán của người Việt mà các tác giả đã chỉ ra cũng không bất biến mà thay đổi theo sự thay đổi của những điều kiện xã hội cùng với sự giao lưu kinh tế, văn hóa, tư tưởng, học thuật với thế giới.
== Xem thêm ==
Việt kiều
Dân tộc Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Đại cương về người Việt
Đường di chuyển của người tiền sử theo Map of early human migration patterns
M175 theo Genographic project
Danh sách 100 người con trai từ bọc trăm trứng |
bắc bộ việt nam.txt | Bắc Bộ thời thuộc Pháp gọi là Bắc Kỳ và là một trong 3 vùng lãnh thổ chính (gồm Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ) của Việt Nam. Bắc Bộ cùng với một phần của Bắc Trung Bộ thuộc địa danh Miền Bắc Việt Nam. Dưới thời chính phủ Bảo Đại trong cuộc Chiến tranh Đông Dương còn được gọi là Bắc Phần.
== Địa lý ==
=== Vị trí, địa hình ===
Bắc Bộ nằm ở vùng cực Bắc lãnh thổ Việt Nam, có phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào và phía đông giáp biển Đông. Được bắt đầu từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o27’ Bắc với chiều dài là 1.650 km. Chiều ngang Đông - Tây là 600 km, rộng nhất so với Trung Bộ và Nam Bộ.
Địa hình Bắc Bộ đa dạng và phức tạp. Bao gồm đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa. Có lịch sử phát triển địa hình và địa chất lâu dài, phong hóa mạnh mẽ. Có bề mặt thấp dần, xuôi theo hướng tây bắc - Đông Nam, được thể hiện thông qua hướng chảy của các dòng sông lớn.
Khu vực đồng bằng rộng lớn nằm ở lưu vực sông Hồng, có diện tích 14,8 ngàn km2 và bằng 4.5% diện tích cả nước. Đồng bằng dạng hình tam giác, đỉnh là Thành phố Việt Trì và cạnh đáy là đường bờ biển phía đông. Đây là đồng bằng châu thổ lớn thứ hai Việt Nam (sau Đồng bằng sông Cửu Long diện tích 40.000 km2) do sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp. Phần lớn bề mặt đồng bằng có địa hình khá bằng phẳng, có độ cao từ 0,4 - 12m so với mực nước biển.
Liền kề với đồng bằng sông Hồng về phía tây và tây bắc là khu vực Trung du và miền núi có diện tích khoảng 102,9 ngàn km2 và bằng 30.7% diện tích cả nước Địa hình ở đây bao gồm các dãy núi cao và rất hiểm trở, kéo dài từ biên giới phía bắc (nơi tiếp giáp với Trung Quốc) tới phía tây tỉnh Thanh Hoá. Trong khu vực này từ lâu đã xuất hiện nhiều đồng cỏ, nhưng thường không lớn và chủ yếu nằm rải rác trên các cao nguyên ở độ cao 600 – 700m.
Về phía khu vực đông bắc phần lớn là núi thấp và đồi nằm ven bờ biển Đông, được bao bọc bởi các đảo và quần đảo lớn nhỏ. Ở Vịnh Bắc Bộ tập trung quần thể bao gồm gần 3.000 hòn đảo nằm trong các khu vực biển Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, Cát Hải, Cát Bà, Bạch Long Vĩ. Và nhiều bờ biển đẹp như bờ biển Trà Cổ, Bãi Cháy, Tuần Châu và Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh; Cát Bà, Đồ Sơn thuộc thành phố Hải Phòng; Đồng Châu thuộc tỉnh Thái Bình; Hải Thịnh, Quất Lâm thuộc tỉnh Nam Định.
=== Khí hậu ===
Bắc Bộ quanh năm có nhiệt độ tương đối cao và ẩm, nền khí hậu chịu ảnh hưởng từ lục địa Trung Hoa chuyển qua và mang tính chất khí hậu lục địa. Trong khi một phần khu vực Duyên hải lại chịu ảnh hưởng tính chất khí hậu cận nhiệt đới ấm và gió mùa ẩm từ đất liền.
Toàn vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm quanh năm với 2 mùa rõ rệt hè, đông. Đồng thời hàng năm chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và gió mùa Đông Nam. Nhiệt độ trung bình năm tăng dần từ phía bắc xuống phía nam và có khí hậu giao hoà, là đặc trưng của khu vực đồng bằng Bắc Bộ và ven biển. Thời tiết mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 nóng ẩm và mưa cho tới khi gió mùa nổi lên. Mùa đông từ tháng 11 tới tháng 3 trời lạnh, khô, có mưa phùn. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25độC, lượng mưa trung bình từ 1,700 đến 2,400mm. Vào mùa Đông nhiệt độ xuống thấp nhất trong các tháng 12 và tháng giêng. Thời gian này ở khu vực miền núi phía bắc (như Sa Pa, Tam Đảo, Hoàng Liên Sơn) có lúc nhiệt độ còn lúc xuống dưới 0 độ C, xuất hiện băng giá và có thể có tuyết rơi.
Khí hậu vùng Bắc Bộ cũng thường phải hứng chịu nhiều tác động xấu của thời tiết, trung bình hàng năm có từ 6 đến 10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới gây ra lũ lụt, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống và ngành nông nghiệp của toàn địa phương trong vùng.
== Dân cư ==
Tính đến thời điểm 0 giờ ngày 01/04/2009 dân số Việt Nam là 85.789.573 người. Khu vực đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung dân cư đông nhất, có tới 19.577.944 người (khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 18.835.485, đồng bằng sông Cửu Long 17.178.871 người). Và 3 tỉnh có số dân thấp nhất là Điện Biên, Lai Châu, Bắc Kạn đều dưới con số 500 ngàn người.
Khu vực đồng bằng Sông Hồng có mật độ dân cư dày đặc nhất (khoảng 1225 người/km2). Dân số khu vực thành thị chiếm 29,2% dân số toàn Bắc Bộ và có tốc độ gia tăng ở mức cao, bình quân có thêm 3,4%/năm (tỷ lệ tăng dân số ở khu vực nông thôn chỉ là 0,4%/năm). Trong khi đó ở khu vực Trung du miền núi với diện tích rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú lại thiếu nguồn nhân lực khai thác và có mật độ dân số thấp hơn rất nhiều so với khu vực đồng bằng (khu vực tây bắc có mật độ dân 69 người/km2). Điều đó đã tạo ra nạn nhân mãn cho vùng đồng bằng Sông Hồng dưới áp lực của sự gia tăng dân số. Theo cuộc điều tra mức sống dân cư năm trong hai năm (1997 và 1998) ở riêng khu vực đồng Bằng Sông Hồng, tỷ số giới tính của trẻ em từ 1 đến 4 tuổi cao nhất nước (bằng 116), nghĩa là cứ có 100 con gái thì tương ứng với 116 con trai.
Tại khu vực đông dân như đồng bằng Sông Hồng và các khu vực thuộc vùng kinh tế trọng điểm đều có mật độ dân số rất cao. Tuy tạo được những mặt tác động tích cực, là nguồn nhân lực dồi dào để phát triển kinh tế, là thị trường tiêu thụ rộng lớn, là thế mạnh để thu hút nguồn đầu tư từ nước ngoài... Nhưng mặt khác đã gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ. Khi dân số đông mà kinh tế chậm phát triển thì sẽ hạn chế trong việc giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần đến mỗi người dân lao động. Đồng thời các nhu cầu phúc lợi xã hội cũng bị hạn hẹp theo. Ngoài ra, ở những nơi tập trung đông dân cư sinh sống dễ dẫn đến tình trạng môi trường bị gia tăng tác động, gây ô nhiễm, dịch bệnh, suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực.
Công tác phân bổ dân cư không đồng đều do cả khách quan lẫn chủ quan gây nên sự không hợp lý trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng lao động, gia tăng chênh lệch kinh tế - xã hội đối với các khu vực trong vùng, làm suy giảm hiệu quả trong quá trình xây dựng và phát triển chung của toàn xã hội.Ba thành phố lớn nhất là Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định.Thành phố Hà Nội đã hơn 1000 năm tuổi, Nam Đinh hơn 750 năm còn Hải Phòng hơn 100 năm.
== Lịch sử ==
Bắc Bộ Việt Nam là nơi ghi dấu ấn lịch sử xưa nhất của dân tộc Việt Nam. Có Đền thờ các vua Hùng ở tỉnh Phú Thọ, thành Cổ Loa của An Dương Vương ở Đông Anh, Hà Nội... Vào thời kỳ Bắc thuộc, nơi này được mang các tên như quận Giao Chỉ, rồi Giao Châu.
Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, đây là vùng đất Đàng Ngoài do Chúa Trịnh kiểm soát, kéo dài cho tới sông Gianh, đèo Ngang. Đàng Ngoài còn được gọi là Bắc Hà vì nằm phía bắc sông Gianh, còn Đàng Trong, còn gọi là Nam Hà, do Chúa Nguyễn kiểm soát.
Bắc Kỳ (chữ Hán: 北圻) là tên gọi do vua Minh Mạng đặt ra năm 1834 để chỉ phần đất từ Ninh Bình trở ra phía bắc của Việt Nam.
Ngày 25 tháng 8 năm 1883, nhà Nguyễn ký Hiệp ước Harmand đầu hàng thực dân Pháp. Theo Hiệp ước này, khu vực từ đèo Ngang trở ra bắc gọi là Tonkin (Bắc Kỳ). Cũng theo đó Bắc Kỳ được tính từ địa giới phía nam tỉnh Ninh Bình trở ra.
Ngày 20 tháng 3 năm 1945, Thống sứ Nhật đã đổi tên Bắc Kỳ thành Bắc Bộ.
Ngày 27 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại ra đạo dụ số 11 cử Phan Kế Toại làm Khâm sai đại thần Bắc Bộ. Phủ Thống sứ Bắc Kỳ cũ cũng được đổi thành Phủ Khâm sai Bắc Bộ.
Ngày 20 tháng 8 năm 1945, Việt Minh thành lập Ủy ban Nhân dân cách mạng Bắc Bộ nhằm giành chính quyền về tay mình.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Bắc Bộ là một cấp hành chính chỉ trong một thời gian không dài.
Năm 1949, khi chính quyền Quốc gia Việt Nam thành lập, Quốc trưởng Bảo Đại đã lập dinh Thủ hiến Bắc phần để thay mặt Quốc trưởng cai trị miền Bắc. Đến sau 1954, khi chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản miền Bắc Việt Nam, dinh Thủ hiến Bắc phần bị bãi bỏ.
Tên Hán-Việt của Hà Nội (trung tâm Bắc Kỳ lúc bấy giờ), được người phương Tây biết đến khi đến Việt Nam lần đầu vào thời nhà Lê là Đông Kinh (東京). Tên gọi này được người Pháp đọc thành Tonkin, Tonquin hoặc Tongkin, Tongking. Ban đầu người Pháp cũng dùng tên gọi này để chỉ cho toàn bộ khu vực Đàng Ngoài (thời Trịnh - Nguyễn phân tranh), là vùng đất phía bắc nhất của Việt Nam. Các học giả phương Tây thế kỷ 17 thường gọi vùng Đàng Ngoài là "royaume de Tonquin/Tonkin" (vương quốc Đàng Ngoài).
Vịnh Bắc Bộ hiện nay cũng được gọi là "Gulf of Tonkin/Tongking" hoặc "Tonkin Gulf" trong tiếng Anh và "Golfe du Tonkin" trong tiếng Pháp.
== Các đơn vị hành chính ==
Theo cách phân chia hiện nay thì vùng Bắc Bộ Việt Nam, bao gồm các tỉnh và thành phố nằm ở phía bắc tỉnh Thanh Hóa, gồm có 3 tiểu vùng:
Vùng Đồng bằng sông Hồng gồm 10 tỉnh và thành phố: Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng
Vùng tây bắc gồm 6 tỉnh: Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái
Vùng đông bắc gồm 9 tỉnh:Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh.
Về mặt địa lý tự nhiên, Bắc Bộ có thể được chia thành hai vùng là vùng Đồng bằng sông Hồng và Trung du và Miền núi phía bắc (bao gồm vùng đông bắc và vùng tây bắc).
Ngày 22/8/2008, theo công bố phân định từ Bộ Công Thương đã thành lập vùng I gồm 14 tỉnh miền núi và trung du Bắc bộ. Đó là Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc kạn, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang, Thái Nguyên, bắc Giang. Toàn vùng có diện tích đất tự nhiên trên 95 ngàn Km2 và có dân số trên 11 triệu người, chiếm 28,8% diện tích và 13,1% dân số của cả nước. Vùng I hiện nay có gần 2000 km đường biên tiếp giáp với Trung Quốc và Lào
== Văn hoá ==
Ngày nay, khi có các công trình ngiên cứu và khảo sát về các hình mẫu hoa văn trên trống đồng Đông Sơn ta sẽ thấy chúng thuộc một nền văn minh tinh thần rất cao, vừa để làm cơ sở rằng tổ tiên người Việt Nam đã sớm có một nền văn minh phát triển mà tiêu biểu nhất là nền văn hoá của người Việt cổ.
Việt Nam hiện có 2 vùng văn hoá lịch sử truyền thống lâu đời và phát triển cao là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng Nam Bộ. Đồng bằng sông Hồng là đồng bằng rộng lớn, nơi tập trung dân cư đông đúc với chủ yếu là người Việt có trình độ phát triển cao, được coi là đất gốc, quê hương của dân tộc Việt, văn hóa Việt.
Cư dân sống lâu đời trên mảnh đất cổ, do sức ép về gia tăng dân số nên đã có thời điểm rơi vào tình trạng thiếu đói lương thực. Họ sớm đi vào thâm canh nhất là nghề trồng lúa nước, là đặc thù của một vùng đồng bằng thấp (có độ cao từ 0,4 - 12m). Từ sự bắt đầu công cuộc đắp đê ngăn lũ, lấn biển và Nam tiến mở rộng diện tích sản xuất. Với sau lưng là "rừng thiêng nước độc" còn phía trước là "biển cả bao la", họ bao gồm các cộng đồng nhỏ dân cư chủ yếu từ miền núi tiến xuống. Bản chất thuần nông "xa rừng, nhạt biển", đã nhanh có biểu hiện rõ nét trong cuộc sống mới. Một thiết chế xã hội dần được hình thành, được tổ chức chặt chẽ và có thể xem là đặc sản văn hoá vùng miền nông thôn tại đồng bằng Bắc Bộ ngày nay. Văn hoá được ứng dụng từ mỗi cơ sở thực địa, địa bàn cư trú. Trong các cuộc sống cộng đồng tự quản đa dạng và phong phú. Văn hoá thể hiện mối ứng xử bình đẳng với thiên nhiên, với xã hội và bản thân của mỗi cư dân.
Người Việt Nam có điểm chung về cuộc sống hệ luỵ "gia đình, làng, nước". Nói đến vùng Bắc Bộ thì yếu tố văn hoá này còn rất sâu đậm trong ý thức hệ của người dân, đặc biệt là khái niệm về dấu ấn quê hương xứ sở như văn hoá cổ làng xã, ngành nghề từ địa phương, đất đai và thờ cúng tổ tiên... Cách tổ chức làng xã theo kiểu các gia đình liền kề, xung quanh làng có hàng tre bao bọc, có cây đa cổng làng, có nơi thờ tự chung, có lễ hội dân gian và mùa vụ. Ngoài ra, người dân Bắc Bộ vẫn chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo, như lề thói, khuôn phép, thứ bậc, tôn ti trong gia tộc và ngoài làng xã vẫn được xem trọng trong đời sống thường ngày của họ.
Vươn dậy từ công cuộc khai sinh lập địa có lịch sử khởi nguồn đầy khó khăn gian khổ, trải qua hàng ngàn năm xây dựng và phát triển để có được nền văn hoá dân tộc đa dạng, phong phú như ngày nay, những người dân Bắc Bộ nói riêng và cả Việt Nam nói chung không thể không tự hào.
== Kinh tế ==
Khởi đầu từ việc người Việt cổ rời bỏ cuộc sống hang động ở núi rừng (như hang động núi đá vôi vùng Hoà Bình) để tiến xuống chinh phục vùng sông nước mênh mang của vùng đồng bằng Châu thổ sông Hồng. Công cuộc chinh phục nền kinh tế thời đại cổ xưa được đánh dấu với việc khống chế sức mạnh của dòng nước. Chung sống và bắt nó phục vụ cho lợi ich của con người. Đã hàng ngàn năm nay, dọc theo hai bên bờ sông Hồng là những làng quê trù phú có đê điều chống lũ lụt bao quanh. Hơn hai thiên niên kỷ con cháu người Việt cổ bám trụ và phát triển ở vùng Châu thổ sông Hồng, đã tạo ra những thành quả chính cho nền kinh tế đương đại vùng Bắc Bộ Việt Nam.
=== Vùng Đồng bằng sông Hồng ===
Hiện tại cũng như tương lai khu vực đồng bằng sông Hồng luôn đóng vai trò quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội chung ở Việt Nam. Là nơi có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất thuận lợi. Tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, dân cư đông đúc, mặt bằng dân trí cao. Sự tập trung dân cư có mật độ cao liên quan đến nhu cầu và môi trường lao động, tính cộng đồng và truyền thống văn hoá dân tộc. Một nơi có truyền thống lâu đời về thâm canh lúa nước, có những trung tâm công nghiệp và hệ thống đô thị phát triển... là điều kiện rất thuận lợi cho công cuộc phát triển các ngành nghề lao động sản xuất từ phổ thông đến hiện đại, mang đến sự thuận lợi cho công cuộc định cư lâu dài của con người.
Là vựa lúa lớn thứ hai của Việt Nam (sau Đồng bằng sông Cửu Long) có được đất đai màu mỡ do phù sa của sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp. Số đất đai để phát triển nông nghiệp trên 70 vạn ha, chiếm 56% tổng diện tích tự nhiên toàn vùng. Ngoài lúa nước, các địa phương nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng đều chú trọng phát triển loại cây ưa lạnh có hiệu quả kinh tế cao như ngô, khoai tây, su hào, cải bắp, cà chua, những loại cây này đa phần được trồng hoa xen canh giữa các mùa vụ.
Bắc Bộ là vùng có đường bờ biển dài, có cửa ngõ lớn và quan trọng thông thương với các khu vực lân cận và thế giới qua cảng biển Hải Phòng (thuộc thành phố Hải Phòng). Tài nguyên thiên nhiên gồm có các mỏ đá (ở Hải Phòng, Hà Nam, Ninh Bình), sét cao lanh ở Hải Dương, than nâu ở Hưng Yên và mỏ khí đốt ở Tiền Hải đã được tiến hành khai thác từ nhiều năm nay.
Đặc biệt, trong lòng đồng bằng sông Hồng đang tồn tại hàng chục vỉa than lớn nhỏ có tổng trữ lượng vào khoảng 210 tỷ tấn (theo dự đoán qua số liệu khảo sát vào những năm 70 của thế kỷ trước). Trải rộng trên diện tích 3500km2, trải dài từ Hà Nội đến Thái Bình rồi ra đến bờ biển Đông. Các vỉa than này có chiều dày từ 2 đến 3m, có nơi tới 20m. Là những vỉa than có độ ổn định địa chất và chất lượng rất tốt.
Tuy nhiên, đồng bằng sông Hồng vẫn là một khu vực thiếu nguyên liệu phục vụ cho các ngành công nghiệp đang phát triển và luôn phải nhập từ các vùng khác. Một số lượng không nhỏ tài nguyên đang bị suy thoái do khai thác quá mức. Do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới và gió mùa nên nền kinh tế vùng nói chung cũng phải chịu ảnh hưởng từ các rủi ro do thiên tai gây nên.
=== Khu vực Trung du và miền núi phía bắc ===
Là khu vực giàu tài nguyên để phát triển nông nghiệp, trồng cây công nghiệp, cây đặc sản và chăn nuôi gia súc. Nơi đây có khá nhiều đồng cỏ, chủ yếu là trên các cao nguyên ở độ cao 600 – 700m dùng để phát triển chăn nuôi gia súc như trâu, bò, ngựa, dê. Ở Cao nguyên Mộc Châu (tỉnh Sơn La) là nơi có những nông trường nuôi bò sữa tập trung. Các loại gia súc trên cao nguyên được chăn nuôi có tính khoẻ hơn, chịu ẩm ướt giỏi và dễ thích nghi với điều kiện chăn thả trong rừng.
Khu vực có diện tích lớn đất feralit bên trên các dải đá vôi và đá phiến, có đất phù sa cổ ở vùng trung du. Do địa hình phần lớn chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa đông bắc, trong đó có nơi hứng chịu nhiệt độ mùa đông lạnh nhất Việt Nam là Sa Pa. Chính vì thế nơi đây có thế mạnh đặc biệt trong gieo trồng các cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới. Trung du và miền núi phía bắc cũng là khu vực trồng cây chè lớn nhất. Các loại chè được trồng nhiều ở Sơn La, Hà Giang, Yên Bái và Thái Nguyên.
Khu vực phía đông bắc có biển Quảng Ninh (tỉnh Quảng Ninh) là một vùng biển giàu tiềm năng phát triển kinh tế. Hiện nay đang trên đà phát triển cùng với sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm vùng Bắc Bộ. Vùng biển Quảng Ninh có thế mạnh đối với ngành nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt cá xa bờ cùng ngành du lịch biển đảo cũng đang được chú trọng phát triển. Ở đây có Vịnh Hạ Long đã được xếp vào danh mục di sản thiên nhiên của thế giới, là điểm đến du lịch rất giá trị về văn hoá.
Mặc dù tốc độ phát triển kinh tế của toàn vùng là khá toàn diện. Tuy nhiên, riêng với khu vực Trung du và miền núi phía bắc, nhất là vùng tây bắc vẫn còn nghèo so với các vùng khác trong cả nước.
== Danh lam thắng cảnh ==
Hà Nội:
Hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, tháp Bút, đài Nghiên (quận Hoàn Kiếm).
Văn Miếu - Quốc Tử Giám (quận Đống Đa).
Hồ Tây (quận Tây Hồ).
Chùa Trấn Quốc (quận Ba Đình).
Chùa Một Cột (quận Ba Đình).
Đền Quán Thánh (quận Ba Đình).
Nhà thờ Lớn Hà Nội (quận Hoàn Kiếm).
Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam (quận Cầu Giấy)
Khu du lịch Ba Vì(huyện Ba Vì)
Thái Bình:
Chùa Keo: Chùa Keo là một trong nhưng đại danh lam cổ tự bậc nhất của Việt Nam thời phong kiến còn tồn tại gần nguyên vẹn cho tới thời nnay. Chùa có kiên trúc đồ sộ theo kiểu nội nhị công ngoại quốc. Chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia từ năm 1962.
Đền Trần: Là tôn miếu nhà Trần. Nơi đây hiện còn lưu gĩư lăng mộ các vua Trần, hoàng hậu, công chúa.
Đền Tiên La:
Đền Đồng Xâm:
Đền Đồng Bằng:
Đình An Cố:
Đình Phất Lộc:
Đình Dũng Thuý:
Đình Cổ Trai:
Bãi biển Đồng Châu:
Khu du lịch biển Cồn Vành:
Quảng Ninh:
Vịnh Hạ Long: Vùng Đông Bắc Việt Nam, vịnh Hạ Long là một phần của vịnh Bắc Bộ, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Ðồn.
Chùa Yên Tử: là trung tâm Phật giáo của nước Ðại Việt xưa, nơi phát tích của thiền phái Trúc Lâm. Bao gồm quần thể di tích rộng lớn, hiện có 11 chùa và hàng trăm am tháp.
Đảo Cô Tô
Hải Phòng:
Chùa Dư Hàng: Là di tích kiến trúc cổ kính của thành phố Hải Phòng. Xây dựng từ thời Lý. Chùa có nhiều pho tượng lớn, có các câu đối chạm khắc công phu theo phong cách nghệ thuật triều Nguyễn.
Đảo Cát Bà: Nằm trong quần đảo gồm 366 đảo lớn, nhỏ. Đảo Cát Bà lớn nhất, rộng khoảng 100 km².
Đồ Sơn: khu nghỉ mát, tắm biển đẹp của miền Bắc.
Bắc Kạn:
Hồ Ba Bể: Thuộc tỉnh Bắc Kạn. Ba Bể là hồ kiến tạo lớn nhất miền Bắc Việt Nam giữa vùng đá phiến và đá vôi ở độ cao 145m so với mặt nước biển.
Bắc Ninh:
Lăng và đền thờ Kinh Dương Vương
Chùa Dâu: Đây là ngôi chùa được coi là có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam. Chùa nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu. Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam
Chùa Bút Tháp: Chùa được xây dựng từ thời hậu Lê (thế kỷ 17). Chùa Bút Tháp có nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc cổ độc đáo với nhiều tượng Phật và cổ vật quý.
Đình làng Đình Bảng: được xây dựng năm 1700 thời Hậu Lê, một trong những ngôi đình có kiến trúc đẹp nhất còn tồn tại đến ngày hôm nay.
Đền Đô: Còn gọi là Đền Lý Bát Đế, nơi thờ 8 vị vua nhà Lý. Bắc Ninh là quê hương của Lý Công Uẩn, người khai sinh ra triều đại Lý.
Chùa Phật Tích
Đền Bà Chúa Kho
Chùa Cổ Lũng
Cao Bằng:
Thác Bản Giốc: Thuộc địa phận xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Từ độ cao trên 30m thác nước lớn đổ xuống qua nhiều bậc đá vôi. Phía dưới chân thác là mặt sông rộng, phẳng như gương. Hai bên bờ là những thảm cỏ, vạt rừng xanh ngắt.
Hà Tây:
Chùa Tây Phương: Nằm trên ngọn núi Câu Lậu, thuộc xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. Có từ khoảng thế kỷ thứ 8. Chùa có nhiều pho tượng gỗ sơn son thiếp vàng cỡ lớn, trong đó có những bức tượng nổi tiếng như Bát Bộ Kim Cương, Tuyết Sơn, tượng 18 vị La Hán.
Chùa Thầy: Tọa lạc ở núi Sài Sơn, thuộc làng Hoàng Xá, xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Ngôi chùa được xây dựng từ đời vua Lý Nhân Tông (1072-1128) thờ pháp sư Từ Ðạo Hạnh. Pháp sư Đạo Hạnh được xem là Tổ của Nghệ thuật Rối nước Việt Nam.
Chùa Trăm Gian: Toạ lạc ở thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Ngôi chùa được khởi dựng từ thời Lý. Tên chùa Trăm Gian vì quần thể kiến trúc ở đây có đến 104 gian nhà. Trong chùa có hơn 150 pho tượng bằng gỗ và đất nung phủ sơn.
Hương Sơn: Thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, bao gồm một quần thể núi non, sông suối, làng mạc, chùa chiền, hang động... nằm quanh dãy núi Hương Tích, phía bắc rặng núi Trường Sơn.
Lai Châu:
Chiến trường Điện Biên Phủ: thuộc tỉnh Điện Biên, ở nơi đây đã diễn ra cuộc chiến đấu của quân dân Việt Nam trong suốt 55 ngày đêm (13/3/1954 - 7/5/1954) đánh bại đội quân viễn chinh của thực dân Pháp. Chiến thắng Ðiện Biên Phủ đã gây một tiếng vang lớn chấn động địa cầu.
Hoà Bình:
Làng Thái Thung lũng Mai Châu: Bản Lác thuộc huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình, là bản dân tộc Thái có phong tục tập quán đặc sắc. Trong đó có thung lũng Vàng, là một thung lũng đẹp với những nếp nhà sàn dân tộc Thái, Dao, Mường nằm xen giữa những thửa ruộng lúa xanh ngát.
Lạng Sơn:
Ải Chi Lăng: Thuộc xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Lịch sử Chi Lăng năm xưa gắn liền với những hoạt động của các nhà quân sự thiên tài như Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn và những thủ lĩnh tài năng của xứ Lạng như Phò mã Thân Cảnh Phúc, Thế Lộc, Hoàng Ðại Huề...
Động Tam Thanh: Nằm ở phường Tam Thanh thành phố Lạng Sơn. Ðộng Tam Thanh nằm trong một dãy núi có hình đàn voi phủ phục trên mặt cỏ xanh. Hang động Tam Thanh ở lưng chừng núi.
Lào Cai:
Sapa: Cách thị trấn Lào Cai 40 Km về phía tây, là một thành phố có vẻ đẹp huyền ảo, quanh năm lung linh trong mây mù.
Đỉnh Fansipan - Hoàng Liên Sơn: Phan Si Păng nằm trong dãy núi Hoàng Liên Sơn, về phía tây nam thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Phan Si Păng là ngọn núi cao nhất trong dãy núi Hoàng Liên Sơn với độ cao 3.143m.
Làng Cát Cát: Thuộc huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, cách trung tâm thị trấn Sa Pa 2 km. Làng Cát Cát là bản lâu đời của người Mông, nơi đây còn giữ được những phong tục độc đáo mà ở các vùng khác không có, hoặc không còn tồn tại nguyên gốc.
Ninh Bình:
Nhà thờ đá Phát Diệm: Thuộc thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Được xây dựng vào những năm 1875 - 1898, là một quần thể kiến trúc mang đậm nét phương Ðông. Phát Diệm có nghĩa là phát sinh cái đẹp.
Tam Cốc - Bích Động: Nằm trong dãy núi Ngũ Nhạc Sơn thuộc địa phận thôn Ðam Khê, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Cảnh đẹp của Bích Ðộng được mệnh danh là "Nam Thiên đệ nhị động" (động đẹp thứ nhì ở trời Nam).
Vườn Quốc gia Cúc Phương: Thuộc huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, giáp gianh giữa ba tỉnh Ninh Bình, Hoà Bình và Thanh Hoá, là vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam, thành lập vào tháng 7/1962, có diện tích 22.000ha.
== Hình ảnh Bắc Bộ ==
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
12. Ẩm thực đặc trưng (đặc sản miền Bắc Việt Nam) |
steve wozniak.txt | Stephen (hay Stephan) Gary "Steve" Wozniak (sinh ngày 11 tháng 8 năm 1950), biệt danh là Woz, là một kỹ sư máy tính, lập trình viên người Mỹ, người đồng sáng lập Apple Inc. với Steve Jobs và Ronald Wayne. Wozniak tạo ra máy tính Apple I và máy tính Apple II vào giữa những năm 1970, góp phần đáng kể vào cuộc cách mạng máy vi tính của thời kỳ đó. Ngoài có biệt danh phổ biến "Woz", Wozniak cũng đôi khi được gọi là "Phù thủy tuyệt vời của Woz" và "iWoz" (một tham chiếu đến lược đồ đặt tên cho nhiều sản phẩm của Apple). "Woz" (viết tắt cho "Wheels of Zeus) cũng là tên của một công ty Wozniak thành lập. Ông là đôi khi được gọi là các "Steve khác" của Apple Computer.
Năm 1970, Wozniak trở thành bạn của Steve Jobs, khi Jobs làm việc hè ở Hewlett-Packard (HP), nơi Wozniak lúc đó cũng đang làm việc với một Máy tính lớn. Theo cuốn tự truyện của Wozniak, Jobs đã có ý tưởng bán máy tính như một lắp ráp đầy đủ như một Mạch in. Wozniak, lúc đầu hoài nghi, sau đó đã được thuyết phục bởi Jobs rằng ngay cả khi họ đã không thành công, họ ít nhất có thể nói với các con cháu của họ họ đã có công ty riêng của họ. Cùng nhau họ đã bán được một số các tài sản của họ (như Wozniak của HP khoa học máy tính và Jobs Volkswagen van), tăng USD $ 1300, và lắp ráp các nguyên mẫu đầu tiên trong phòng ngủ Jobs và sau khi có được không để lại không gian trong nhà để xe Jobs. Wozniak của căn hộ tại San Jose đã được lấp đầy với các màn hình, các thiết bị điện tử, và một số trò chơi máy tính Wozniak đã phát triển, tương tự như SuperPong nhưng với overs giọng nói để blips trên màn hình.
Đến năm 1975, Wozniak đã thôi học Đại học California, Berkeley và phát triển các máy tính mà cuối cùng đã làm cho ông nổi tiếng. Ông đã tự mình thiết kế phần cứng, thiết kế bảng mạch, và hệ điều hành cho Apple I. Với thiết kế của Apple I, ông và Công việc chủ yếu làm việc để gây ấn tượng với các thành viên khác của Câu lạc bộ máy tính có trụ sở tại Palo Alto, Homebrew, một địa phương nhóm thiết bị điện tử người có sở thích rất quan tâm đến máy tính, một trong những trung tâm chính được thành lập thời kỳ home hobbyist, về cơ bản tạo ra các ngành công nghiệp máy vi tính trong nhiều năm.
== Tham khảo == |
sông lừ.txt | Sông Lừ là tên một dòng sông tại Hà Nội, chảy trong địa bàn các quận Đống Đa, Thanh Xuân và Hoàng Mai.
== Mô tả ==
Sông Lừ cổ là một phân lưu của sông Kim Ngưu (và Kim Ngưu đến lượt nó lại là một phân lưu của sông Tô Lịch), tách khỏi sông Kim Ngưu ở Phương Liệt và chảy về phía Nam quận Hoàng Mai và hợp lưu với sông Tô Lịch. Tuy nhiên, do sông Kim Ngưu có nhiều đoạn bị lấp, nên đoạn Kim Ngưu còn sót từ Nam Đồng tới Phương Liệt ngày nay cũng được coi là sông Lừ. Mặt khác, khi thực hiện dự án cải tạo hệ thống thoát nước ở Hà Nội vào cuối thập niên 1990 đầu thập niên 2000, người ta đã nắn dòng cho phần lớn lượng nước sông Lừ đổ vào sông Sét rồi vào hồ điều hòa Yên Sở.
Sông Lừ ngày nay dài khoảng 10 km, lòng sông rộng từ 10 đến 20 m, chảy qua địa bàn các phường Nam Đồng, Quang Trung, Khương Thượng, Trung Tự, Kim Liên, Phương Mai (quận Đống Đa), Khương Mai, Phương Liệt (quận Thanh Xuân, Định Công, Đại Kim (quận Hoàng Mai). Đến Phương Liên, sông Lừ chia làm hai, một rẽ sang phía Đông tới Giáp Bát và hội lưu với sông Sét, một chảy tiếp về phía Nam qua Định Công và hội lưu với sông Tô Lịch tại phía Bắc khu đô thị Linh Đàm gần cầu Dậu, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai. Nhánh hội lưu với Tô Lịch càng gần đến chỗ hội lưu thì dòng chảy càng bị thu hẹp lại. Hiện nay, đoạn đường đi ven hai bờ sông Lừ đang được mở rộng và hoàn thiện.
== Tham khảo ==
Trần Quốc Vương, Sông Tô Lịch như tôi hiểu.
Một con sông bị xâm hại nghiêm trọng.
Bản đồ thành phố Hà Nội
== Xem thêm ==
Sông Tô Lịch
Sông Kim Ngưu
Sông Sét |
thông nước.txt | Thông nước hay thủy tùng (danh pháp hai phần: Glyptostrobus pensilis) là loài thực vật duy nhất còn tồn tại thuộc chi Glyptostrobus. Đây là loài đặc hữu của vùng cận nhiệt đới đông nam Trung Quốc, từ tây Phúc Kiến tới đông nam Vân Nam, và cũng hiện diện ở miền Nam Việt Nam.
== Đặc điểm ==
Cây gỗ trung bình đến to, thân cao đến 30 m hay hơn, đường kính thân 0,6 – 1 m hay hơn. Vỏ dày, hơi xốp, màu xám, nứt dọc. Cây có rễ khí sinh không bị ngập, phát sinh từ rễ bên, cao 30 cm, mọc lan xa cách gốc tới 6–7 m. Cây rụng lá, có tán hình nón hẹp. Lá có 2 dạng: ở cành dinh dưỡng có hình dùi, dài 0,6-1,3 cm, xếp thành 2-3 dãy và rụng vào mùa khô, ở cành sinh sản có hình vảy, dài 0,4 cm và không rụng. Nón đơn tính, cùng gốc, mọc riêng rẽ ở đầu cành.
Nón cái hình quả lê, mỗi vảy mang 2 noãn. Sau khi thụ tinh các vảy hóa gỗ và dính nhau ở gốc tạo thành một nón dài 1,8 cm, rộng 1,2 cm với các vảy gần như liền nhau 7 - 9 mũi nhọn hình tam giác, hơi uốn cong ra phía ngoài. Mỗi vảy mang 2 hạt, hình trứng, dài 13 mm, rộng 3 mm, mang cánh hướng xuống dưới.
Loài này có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên vì bị khai khác quá mức do gỗ không bị mối mọt, cong vênh, thớ gỗ mịn, và có mùi thơm.
== Phân bố ==
Chi Glyptostrobus đã từng phủ một vùng rộng lớn hầu như khắp bán cầu Bắc, vào thế Paleocen. Hóa thạch cổ nhất biết đến là vào kỷ Creta, tìm thấy ở Bắc Mỹ. Chúng đóng góp rất lớn trong việc hình thành các đầm lầy than đá vào đại Tân Sinh. Vào trước và trong thời kỳ Băng hà, mật độ phân bố của chúng đã thay đổi, chỉ còn lại như ngày nay.
Ở Việt Nam, hoá thạch loài này thường gặp ở đầm lầy Lai Châu, Đồng Giao, Đắk Lắk. Riêng ở Đắk Lắk còn 2 quần thể Thủy tùng tự nhiên duy nhất ở Việt nam và cả trên thế giới ở huyện là Ea H'leo và Krông Năng hiện đã được khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt.
== Cách phân biệt gỗ thủy tùng ==
Thủy tùng là loài thực vật nằm trong sách đỏ và hiện tại vẫn chưa rõ kết quả cuối cùng của việc nhân giống trong ống nghiệm nên rất hiếm. Gỗ thủy tùng rất tốt, không bị mối mọt, có màu với viền rất đẹp nên được ưa chuộng để xây đền đài, nhà cửa, làm đồ mỹ nghệ, đồ dùng cao cấp. Gỗ thủy tùng có rất nhiều màu và nhiều loại vân khác nhau:
Về màu: xanh đen, xanh ngọc bích, tím, vàng, đỏ, nâu đỏ.
Về vân: vân chỉ, chuối, nhiều khi không vân.
Như tên gọi của nó, thủy tùng hay thông nước là loài mọc dưới nước hay ven nước, có quan hệ họ hàng khá gần với nhiều loài cây dạng thông khác, do đó nhiều người bị nhầm lẫn hay bị lừa khi mua nhầm phải sản phẩm từ gỗ thông. Nhưng nếu đã tiếp xúc nhiều thì rất dễ nhận biết do gỗ thủy tùng có mùi thơm nhè nhẹ giống gỗ sưa (trắc thối), lúc nào cũng tiết ra nhựa, mặc dù đã làm ra sản phẩm. Giá trị tùy thuộc vào chất lượng khúc gỗ và vân trên khúc gỗ. Cách phân biệt gỗ tốt:
Gỗ phải có độ nặng (gỗ không được nhẹ như xốp).
Gỗ có vân đẹp thường là vân chỉ hoặc vân chuối rõ nét. Được ưa chuộng hiện nay là loại vân chuối.
Sản phẩm có giá trị khi nguyên khối không ghép (nếu có ghép thì chỉ ghép những chi tiết nhỏ không đáng kể).
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Thông tin trên trang Vietnam Creatures
(tiếng Anh)
CSDL Gymnosperm: Glyptostrobus
Arboretum de Villardebelle: hình quả
== Ghi chú == |
thuần mỹ.txt | Thuần Mỹ là một xã thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Xã Thuần Mỹ có diện tích 12,41 km², dân số năm 1999 là 5440 người, mật độ dân số đạt 438 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
nhà tấn.txt | Nhà Tấn (giản thể: 晋朝; phồn thể: 晉朝; bính âm: Jìn Cháo; Wade–Giles: Chin⁴-ch'ao², phát âm tiếng Trung: [tɕîn tʂʰɑ̌ʊ]; 266–420 theo dương lịch), là một trong Lục triều trong lịch sử, sau thời Tam Quốc và trước thời Nam Bắc triều ở Trung Quốc. Triều đại này do họ Tư Mã thành lập.
== Tây Tấn (266-316) ==
=== Thống nhất Trung Hoa ===
Nhà Tây Tấn (西晉) bắt đầu hình thành quyền lực từ Tư Mã Ý, đại thần nhà Ngụy thời Tam Quốc. Sau khi Ngụy Minh đế Tào Tuấn qua đời năm 239, vua nhỏ Tào Phương không có thực quyền, cha con Tư Mã Ý trở thành quyền thần.
Năm 251, Tư Mã Ý chết, hai con Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu thay nhau nắm quyền. Ngay năm sau, Tư Mã Sư phế Vua Ngụy Tào Phương, lập Tào Mao. Sư qua đời, Tư Mã Chiêu một mình nắm quyền. Năm 260, Tào Mao muốn trừ khử Chiêu, bị Chiêu ra tay giết và lập Tào Hoán lên thay, tức Ngụy Nguyên đế.
Sẵn có tiềm lực cả về kinh tế, dân số, về mặt quân sự, họ Tư Mã nắm quyền nước Ngụy là mạnh nhất trong số ba nước. Nước Thục và Ngô có dân cư thưa thớt hơn và ít của cải hơn, do đó dần dần bị nước Ngụy lấn át.
Sau nhiều năm vừa trấn áp sự chống đối của những người trung thành với nhà Ngụy để củng cố quyền lực, vừa chống trả thành công những cuộc xâm lấn của Ngô và Thục, họ Tư Mã quyết định đánh Thục khi nước này đã suy yếu và nội bộ mất đoàn kết.
Năm 263, Ngụy đánh Thục và nhanh chóng tiêu diệt chiếm Thục (đầu năm 264), Vua Thục là Lưu Thiện đầu hàng.
Năm 264, Tư Mã Chiêu qua đời. Con cả Chiêu là Tư Mã Viêm lên thay. Tào Hoán thiện nhượng cho Tư Mã Viêm vào ngày Nhâm Tuất (13) tháng 12 năm Ất Dậu (tức 4 tháng 2 năm 266 theo dương lịch), Tư Mã Viêm lên ngôi hoàng đế vào ngày Bính Dần (17) cùng tháng (tức 8 tháng 2), lập ra nhà Tấn, tức là Tấn Vũ đế (266-290). Tư Mã Ý được truy tôn làm Tuyên đế, Tư Mã Sư làm Cảnh đế, Tư Mã Chiêu làm Văn đế.
Năm 280, Tấn Vũ đế chinh phục nốt nước Ngô, bắt Vua Ngô là Tôn Hạo. Trung Quốc lại được thống nhất, và Tấn Vũ đế mở rộng quyền lực của mình về phía bắc đến trung tâm Triều Tiên và phía nam đến hết Giao Châu (Việt Nam).
=== Cai trị quốc gia ===
==== Dân số ====
Trước sự hùng mạnh của Tây Tấn, những sự cướp phá chống Trung Quốc của Hung Nô và những bộ tộc khác tạm dừng trong một thời gian. Và chính sách định cư các bộ tộc bên trong Trung Quốc đã có kết quả. Triển vọng về một nền hòa bình, thống nhất và thịnh vượng bắt đầu.
Để khắc phục tình trạng hao hụt dân số do chiến tranh thời Tam Quốc, ngay từ khi lên ngôi, Tấn Vũ Đế đề ra chính sách khuyến khích phát triển dân số:
Con gái đến 17 tuổi chưa gả chồng thì quan sẽ thay cha mẹ gả cho
Nhà có 5 con gái được miễn dịch để khuyến khích việc nuôi con gái và trừ bỏ thói xấu từ thời Chiến Quốc là sinh con gái thường ít nuôi.
Năm 280, tính cả những dân lưu vong trở về, trên toàn lãnh thổ do nhà Tấn cai trị có 2.450.000 hộ, 16.163.863 nhân khẩu.
==== Phân phong chư hầu ====
Để nhanh chóng dẹp các cuộc nổi dậy của các dân tộc thiểu số, nhà Tấn chia nhỏ các châu, quận vùng biên cương, giao cho các hoàng thân đi trấn giữ. Từ tổng số 12 châu thời nhà Hán tăng lên thành 19 châu trong toàn quốc:
U Châu chia làm 2: U Châu và Bình Châu
Ung Châu chia làm 2: Ung Châu và Tần Châu
Ích Châu chia làm 3: Lương châu, Ích Châu và Ninh Châu.
Tấn Vũ Đế không thay đổi nhiều chính sách của nhà Ngụy, nhưng với chế độ phân phong thì thi hành chính sách mới. Nhà Tấn cho rằng sở dĩ Tào Ngụy mất vì trung ương lẻ loi không có vây cánh, vì thế Vũ Đế chủ trương mở rộng các phiên vương trong hoàng tộc:
Nước phong có 2 vạn hộ là nước lớn, quân sĩ 5.000 người;
Có 1 vạn hộ là nước vừa, quân sĩ 3.000 người
Nước có 5.000 hộ là nước nhỏ, quân sĩ có 500 người.
Do việc tăng binh lực cho các chư hầu nên người được phong dễ gây ra nội chiến và đây chính là một sai lầm cực đoan.
Vũ Đế tìm cách quay lại thời kỳ vĩ đại của triều Hán, khi hòa bình và thịnh vượng có ở khắp đất nước và nhà Hán có được quyền lực trung ương mạnh. Tấn Vũ Đế đặt ra các cải cách nhằm mục đích kiềm chế quyền lực địa phương - quyền lực của các gia đình lớn. Nhưng những cải cách đó không thành công. Ông chết năm 290 khi thế lực của các chư hầu, lãnh chúa lớn ở Trung Quốc càng thêm lớn mạnh trong khi người kế vị không đủ năng lực nên nhà Tấn nhanh chóng bị suy yếu.
==== Vấn đề người ngoại tộc ====
Từ thời nhà Hán sang thời Tam Quốc, những người thiểu số như người Hung Nô, người Khương, người Tiên Ty v.v... đã xâm nhập vào trung nguyên và ở lẫn với người Hán. Trong thời Tào Ngụy, ý tưởng đề phòng sự nổi dậy của những tộc người này đã được Đặng Ngải nêu ra và Tư Mã Sư tán đồng, nhưng chưa thực hiện..
Tấn Vũ Đế đã tiến hành các chiến dịch quân sự chống người Tiên Ty và người Khương ở Tần Châu, Lương Châu (Cam Túc), trước khi tiêu diệt Đông Ngô. Kế hoạch quân sự này được các tướng Dương Hộ, Vương Tuấn và Tể tướng Trương Hoa ủng hộ.
Năm 271, thế lực của tộc Tiên Ty ở Lũng Hữu nhanh chóng lớn mạnh, tháng 6, Thụ Cơ Năng, thủ lĩnh bộ Thốc Phát giết chết Thứ sử Tần Châu Hồ Liệt. Tấn Vũ Đế phái Tư Khang Hiệu úy Thạch Giám làm An Tây Tướng quân, Đô đốc Lũng Hữu, Đỗ Dự làm An Tây quân sự đem quân đàn áp người Tiên Ty, đến năm sau tình hình Lũng Hữu mới yên ổn. Tuy nhiên ở phía bắc, Hữu hiền vương Nam Hung Nô là Lưu Mãnh lại dấy binh chống lại nhà Tấn ở Tinh Châu (Sơn Tây), sau cũng bị trấn áp.
Khi Tấn Vũ Đế diệt Ngô, Quách Khâm cũng đề cập nguy cơ này và khuyên Vũ Đế điều lưu dân ngoại tộc trở về bản quán để tách họ với người Hán; đồng thời điều quân vừa thắng Ngô lên biên cương đề phòng, từng bước đẩy người thiểu số ra khỏi biên cương. Tuy nhiên, Tấn Vũ Đế đã không tiếp thu ý kiến này. Các nhà nghiên cứu hiện nay xem quyết định của Vũ Đế ít nhiều mang tính đạo lý để tránh xáo trộn xã hội..
Nhưng sau khi Vũ Đế qua đời, trào lưu bài trừ lưu dân trong triều Tây Tấn tiếp tục dấy lên, tiêu biểu là bài "Đồ Nhung luận" (Thuyết đuổi người Nhung) của Thái tử tẩy mã Giang Thống, cho rằng các tộc người không phải cùng tộc với người Hán thì lòng dạ họ tất khác nhằm di dời người thiểu số ra khỏi lãnh thổ đề nghị cho dời khỏi Quan Trung nhưng Triều đình không chấp nhận. Tuy nhiên những năm sau đó, việc Triều đình Tây Tấn theo đuổi chính sách này ngay trong "Loạn bát vương" đã dẫn đến các cuộc nổi dậy của lưu dân, trong đó hậu quả tai hại nhất là của Lý Đặc và Vương Nhung, góp phần càng làm suy yếu nhà Tấn. Triều đình Tây Tấn sau thời Vũ Đế đã không biết áp dụng hòa hợp dân tộc, dùng chính sách thù địch với người thiểu số nên mới dẫn đến loạn lạc.
=== Bát vương chi loạn ===
Cùng với cái chết của Vũ Đế, Triều đình Tây Tấn lập tức xuống dốc. Một số đại thần từng khuyên Vũ Đế bỏ Thái tử Tư Mã Trung lập người khác nhưng Vũ Đế không nghe vì nể thông gia nhà đại thần Giả Sung. Tư Mã Trung lấy con Giả Sung là Giả Nam Phong, được lên kế vị, tức Tấn Huệ Đế, một hoàng đế đần độn. Sử chép lại một số câu chuyện về hoàng đế ngây ngô này. Khi nghe ếch kêu, Huệ Đế hỏi thị thần:
Ếch nó kêu vì việc công hay vì việc tư đấy?
Lúc nghe tin dân bị đói, đến gạo cũng không còn để ăn, Huệ Đế lại buột miệng hỏi:
Dân không có gạo ăn, sao không ăn thịt?
Quyền hành rơi vào tay Hoàng hậu Giả Nam Phong. Bà vốn đa nghi nên hay bắt đầu bắt giữ và hành quyết bất kỳ ai mà bà cho là một mối đe dọa cho vị trí của mình, kể cả những kẻ đối lập trong Hoàng gia. Trong vòng xoáy quyền lực đó, Giả Hậu muốn tận dụng các thân vương trừ khử lẫn nhau để loại bớt người không ăn cánh nhưng rồi chính bà bị các hoàng thần trừ khử. Cuộc xung đột nổ ra giữa các hoàng thân nhà Tấn, sử gọi là Loạn bát vương (Bát vương chi loạn)
Những cuộc thanh trừng, bắt bớ tại Kinh đô xảy ra liên tục. Bên ngoài, các thân vương thi nhau dựng cờ "cần vương" nhưng thực chất để khuếch trương thế lực. Nhiều vương công và hàng vạn người bị giết. Hoàng hậu họ Giả không thể giết tất cả những kẻ đối nghịch với mình. Năm 300, một hoàng thân là Triệu Vương Tư Mã Luân đã làm đảo chính, giết Giả Hậu và nhiều người khác, đồng thời ép vị vua nhu nhược phải nhường ngôi. Đến lượt các vương hầu khác khởi binh chống lại Tư Mã Luân và giết ông chỉ sau 3 tháng. Vị vua nhu nhược Tư Mã Trung lại được lập làm Hoàng đế lần thứ hai. Tuy nhiên, cuộc chiến giữa các vương hầu không hề kết thúc. Số lượng người chết vì cuộc chiến rất lớn. Thêm vào đó, hạn hán và nạn đói liên tiếp xảy ra. Chính phủ Trung ương suy yếu và hoàn toàn bất lực trước sức mạnh của các lãnh chúa địa phương. Chu kỳ bước qua giai đoạn thống nhất giờ lại bước vào giai đoạn tan rã.
Tám vị vương là tôn thất nhà Tấn gây ra bạo loạn gồm có:
Sở Vương Tư Mã Vĩ (con thứ năm của Tấn Vũ Đế).
Nhữ Nam Vương Tư Mã Lượng (con thứ tư của Tư Mã Ý, vào hàng chú của Tấn Vũ Đế, ông Tấn Huệ Đế).
Triệu Vương Tư Mã Luân (con thứ 9 của Tư Mã Ý, em Tư Mã Lượng): là người tham vọng nhất, từng phế Huệ Đế Tư Mã Trung để làm vua, nhưng bị các vương khác xúm lại đánh, buộc phải tự vẫn năm 301.
Tề Vương Tư Mã Quýnh (con Tư Mã Du - em Tấn Vũ Đế. Du từng được Tư Mã Chiêu cho làm con nuôi Tư Mã Sư).
Thường Sơn Vương (sau là Trường Sa Vương) Tư Mã Nghệ (cháu thứ sáu của Tấn Vũ Đế).
Thành Đô Vương Tư Mã Dĩnh (con thứ 16 của Tấn Vũ Đế).
Hà Gian Vương Tư Mã Ngung (cháu Tư Mã Phu - em Tư Mã Ý).
Đông Hải Vương Tư Mã Việt (cháu Tư Mã Ý).
=== Diệt vong ===
==== Người Tung, người Hung Nô nổi dậy ====
Loạn tám vương làm nhà Tây Tấn suy yếu trầm trọng. Khoảng 20 - 30 vạn người bị chết. Hàng loạt tôn thất có thế lực và tài năng bị giết, khiến Hoàng tộc khủng hoảng nhân sự không có người phò trợ. Chiến tranh xảy ra khiến nhiều vùng bị tàn phá. Các bộ tộc ngoại vi thừa cơ xâm nhập và làm loạn Trung Hoa.
Tại vùng Quan Trung có lưu dân tộc người Tung, vì mất mùa mấy năm, kéo hàng chục vạn người vào quận Thục kiếm ăn. Nhà Tấn sai La Thượng vào Thục, ép lưu dân người Tung rời khỏi Ích Châu vào tháng 7 năm 302. Thủ lĩnh người Tung là Lý Đặc xin được gặt mùa xong, tới mùa đông sẽ đi. La Thượng không bằng lòng, mang quân đến đánh đuổi Lý Đặc. Người Tung bèn theo Lý Đặc và cháu là Lý Hùng nổi dậy làm phản, cát cứ Tây Xuyên mà nhà Tấn không còn khả năng quản lý. Sau khi Lý Đặc tử trận, Lý Hùng lập ra nước Thành Hán (303). Từ đó nhà Tây Tấn mất hẳn đất Thục.
Trong Loạn bát vương, do khủng hoảng nhân sự, các vương nhà Tấn phải dùng tới các tướng sĩ người "Hồ" và họ nhân đó phát triển thế lực. Một bộ tướng của Thành Đô Vương Tư Mã Dĩnh (tham chiến bát vương) là Lưu Uyên đã lớn mạnh trong lúc các sứ quân họ Tư Mã giết hại lẫn nhau. Khi Loạn bát vương chấm dứt, Tư Mã Dĩnh đã bị giết; trong 8 vương chỉ còn lại Đông Hải Vương Tư Mã Việt nắm quyền trong triều.
Lưu Uyên phát triển thành cánh quân độc lập. Năm 304, Uyên xưng làm vua, lập ra nhà Hán, sử gọi là Hán Triệu. Uyên mang quân đánh chiếm đất nhà Tấn.
Tháng 11 năm 306, Huệ Đế Tư Mã Trung bị giết, Hoài Đế Tư Mã Xí được lập lên thay. Nhà Tấn phải đối phó với nguy cơ làm loạn của các ngoại tộc người Hồ tràn lan khắp Trung Nguyên.
==== Giằng co với quân Hán Triệu ====
Bộ tướng cũ của Tư Mã Dĩnh là Công Sư Phiên khởi binh báo thù cho chủ. Thứ sử Duyện Châu Tuân Hi đánh bại và giết chết Phiên. Bộ tướng của Phiên là Cấp Tân và Thạch Lặc vẫn không chịu bãi binh. Năm 307, Tân và Lặc mang quân đánh chiếm Nghiệp Thành, giết Tân Thái Vương Tư Mã Đằng. Tư Mã Việt sai Tuân Hi mang quân đánh chiếm lại được Nghiệp Thành. Tân bỏ chạy rồi bị giết, còn Thạch Lặc chạy về hàng Lưu Uyên.
Trong lúc đó, một cuộc nổi dậy do Lưu Bá Căn đứng đầu cũng bị dẹp yên. Căn bị giết, bộ tướng Vương Di đóng quân ở Hà Bắc cũng quy phục Lưu Uyên.
Năm 308, Lưu Uyên sai con là Lưu Thông Nam tiến đánh Thái Nguyên, sai Thạch Lặc đánh đất Triệu, Ngụy, lại lệnh cho Vương Di đánh phá các châu. Vương Di lại liên tiếp khiến các châu Dự, Duyện, Từ, Thanh bị uy hiếp, Thứ sử Thanh Châu Tuân Hi (Tư Mã Việt điều Hi từ Duyện Châu về Thanh Châu) đối phó rất vất vả. Tháng 5 năm đó, Di tấn công Kinh thành Lạc Dương nhưng bị viện binh nhà Tấn đánh bại, phải chạy về nhập vào quân Lưu Uyên.
Tháng 7 năm 308, quân Hán Triệu hạ được Bình Dương (Sơn Tây, Trung Quốc). Lưu Uyên dời đô về đây, xưng làm Hoàng đế.
Tháng 9 năm đó, Vương Di và Thạch Lặc hợp binh tấn công Nghiệp Thành, tướng Hòa Úc bỏ thành chạy. Sau khi chiếm Nghiệp Thành, Thạch Lặc lại cùng tướng Hán Triệu khác là Lưu Linh đánh Ngụy Quận, Cấp Quận, Đốn Khâu, liên tiếp hạ 50 đồn. Các châu quận vùng Ký Nam, Hà Bắc bị tàn phá thời Loạn bát vương, binh lực yếu ớt, nên quân Hán Triệu tiến rất dễ dàng.
Năm 309, Lưu Uyên sai Lưu Thông, Vương Di đánh Thượng Đảng. Thứ sử Tinh Châu Lưu Côn mang quân cứu. Tư Mã Việt ở Lạc Dương cũng sai Vương Khoáng đi cứu. Thông và Di hợp binh đánh bại hai cánh viện binh, sau đó lại chiếm lấy Đồn Lưu, Trưởng Tử khiến tướng giữ Thượng Đảng là Bàng Thuần cùng kế phải đầu hàng. Quận Thượng Đảng chỉ còn thành Tương Viên giữ được, Lưu Côn sai bộ tướng Trương Ỷ đến trấn thủ.
Tháng 8 năm 309, Lưu Uyên tấn công Lạc Dương. Quân Tấn nhân lúc Uyên vừa thắng trận, chủ quan khinh địch, bất ngờ đánh úp khiến Uyên bị thua to, phải rút chạy.
Tháng 10 năm đó, Uyên cùng các tướng Lưu Thông, Vương Di, Lưu Cảnh tấn công Lạc Dương lần thứ hai. Quân Tấn chống trả quyết liệt, giết chết 3 tướng Hô Diên Yến, Hô Diên Hạo, Hô Diên Lãng, lại chặn đường tiếp lương từ huyện Thiểm khiến quân Hán Triệu thiếu lương. Uyên phải rút quân về Bình Dương.
==== Lạc Dương thất thủ ====
Năm 310, Lưu Uyên chết, con thứ Lưu Thông giết anh là Lưu Hòa lên ngôi, tức Chiêu Vũ Đế.
Đầu năm 310, tướng Hán Triệu là Vương Di sai bộ tướng Tào Nghi đánh chiếm Đông Bình và tấn công Lang Nha; Thạch Lặc mang quân hợp với Di đánh 3 châu Từ, Duyện, Dự, chiếm được Yên Thành, giết Thứ sử Duyện Châu nhà Tấn là Viên Phu, sau đó đánh chiếm các quận thuộc Ký Châu. Khi đó phần lớn đất đai phía đông Lạc Dương đã bị mất, Thứ sử Thanh Châu Tuân Hi và Thứ sử Dự Châu Phùng Tổng có thực lực nhưng vì bất hòa với Tư Mã Việt nên không phát binh cứu.
Trong lúc đó, Tư Mã Việt lại phạm sai lầm khác. Lưu dân Ung Châu đang ở Nam Dương, Việt hạ lệnh cho dân phải về quê. Lưu dân vì Quan Trung đã bị tàn phá không muốn về, Việt sai quân áp giải ép phải đi. Do đó lưu dân theo Vương Như làm loạn, đánh phá các huyện quanh Lạc Dương khiến nhà Tấn càng nguy khốn, bốn mặt phải thụ địch.
Tháng 10 năm 310, các tướng Hán Triệu là Lưu Diệu, Lưu Xán (con Lưu Thông), Vương Di, Thạch Lặc chia đường cùng nhau tấn công Lạc Dương lần thứ ba. Trong thành lại thiếu lương, tình hình rất nguy cấp. Nhưng nội bộ nhà Tấn vẫn bị chia rẽ. Tư Mã Việt chuyên quyền, giết các tâm phúc của Tấn Hoài Đế khiến vua tôi càng mâu thuẫn. Lưu Côn ở Tinh Châu muốn mượn quân Tiên Ty của Thác Bạt Y Lư vào đánh Hung Nô nhưng Tư Mã Việt không nghe, vì sợ các địch thủ Tuân Hi, Phùng Tổng cũng đang trấn thủ phía bắc sẽ thừa cơ cùng tràn vào. Hoài Đế sai người đi cầu cứu, chỉ có Sơn Giản ở Tương Dương và Vương Trừng ở Kinh Châu muốn phát binh, nhưng hai cánh quân này lại bị quân của Vương Như (lưu dân Ung Châu) chặn đánh nên phải rút về cố thủ.
Tháng 11 năm 310, Tư Mã Việt thấy Lạc Dương nguy cấp không thể giữ nổi, bèn mang 4 vạn quân sang Hứa Xương, bỏ lại Hoài Đế. Vương Diễn ở lại Lạc Dương không khống chế được tình hình hỗn loạn. Tháng 3 năm 311, Hoài Đế tức giận viết thư lên Thanh Châu sai Tuân Hi đánh Việt. Việt ở Hứa Xương đang thấy Thạch Lặc đến gần, lại bắt được thư của Hoài Đế gửi cho Tuân Hi, căm giận thành bệnh mà chết. Tư đồ Vương Diễn mang xác Việt ra ngoài chôn cất, bị Thạch Lặc chặn đánh, giết chết mấy vạn quân Tấn. Thạch Lặc bắt được Vương Diễn và quan tài của Tư Mã Việt. Lặc giết Diễn rồi băm xác Việt.
Tuân Hi nhân lúc quân Hán Triệu đi đánh Việt, nới lỏng vòng vây bèn sai người mang xe đến Lạc Dương đón Hoài Đế. Nhưng các đại thần tiếc gia tài nên lần lữa không đi. Sứ của Tuân Hi phải trở về. Mãi sau, liệu tình hình không thể ở được, Hoài Đế đành tự đi bộ với vài chục quan viên, ra ngoài thành Lạc Dương bị lưu dân chặn đường trấn lột hết đồ mang theo, buộc phải quay trở lại.
Thạch Lặc cùng Vương Di, Hô Diên Yến biết Lạc Dương đã rất rệu rã, mang quân quay trở lại, ồ ạt tấn công lần thứ tư. Ngày 11 tháng 6, quân Hán Triệu phá được cửa Nam, kéo vào thành, giết 3 vạn quân dân nhà Tấn, bắt sống Hoài Đế và Dương Hoàng hậu thứ hai của Tấn Huệ Đế. Kinh thành Lạc Dương bị cướp bóc và tàn phá.
==== Trường An thất thủ ====
Vua Tấn bị bắt nhưng vẫn không ai lập vua thay để có chính lệnh điều khiển thiên hạ cứu vãn tình thế. Tuân Hi nắm được Dự Chương Vương Tư Mã Đoan (cháu Hoài Đế), đang định đưa lên ngôi. Tháng 8 năm 311, tướng Hán là Lưu Xán và Lưu Diệu (con nuôi Lưu Uyên) đánh chiếm Trường An, bắt giết Nam Dương Vương Tư Mã Mô. Sang tháng sau, Thạch Lặc đánh chiếm Mông Thành, bắt sống Tuân Hi và Tư Mã Đoan.
Khi Lạc Dương thất thủ, một người cháu Hoài Đế là Tần Vương Tư Mã Nghiệp chạy về huyện Mật, gặp cậu là Tư không Tuân Phiên. Vừa lúc đó Thứ sử Dự Châu Diêm Đỉnh mộ được vài ngàn quân ở đó, bèn cùng hợp binh cố thủ.
Các tướng Quan Trung là Sách Lâm, Giả Thất dấy binh khôi phục nhà Tấn, được dân Quan Trung hưởng ứng, mang quân bao vây Trường An. Lưu Diệu và Lưu Xán thua trận, phải cố thủ. Tới tháng 4 năm 312, Giả Thất chiếm được Trường An, hai tướng Hán phải bỏ chạy về Bình Dương.
Giả Thất sai người đi đón Tư Mã Nghiệp về Ung Thành rồi rước về Trường An. Tháng 9 năm 312, Nghiệp được tôn làm Thái tử. Nhưng khi quân địch rút lui, các tướng Tấn là Giả Thất, Sách Lâm và Diêm Đỉnh lại tranh giành quyền bính. Tháng 12 năm đó, Giả Thất giao chiến với tướng Hán là Bành Thiên Hộ tử trận. Quân Hán rút đi, Diêm Đỉnh giết Lương Tổng; Sách Lâm và Cúc Doãn lại mang quân đánh và giết chết Diêm Đỉnh.
Năm 313, Tấn Hoài Đế bị Lưu Thông giết ở Bình Dương. Sách Lâm tôn Tư Mã Nghiệp lên ngôi, tức Tấn Mẫn Đế (313-316). Mẫn Đế viết chiếu, triệu các trấn cần vương đánh Hung Nô: Vương Tuấn ở U Châu, Lưu Côn ở Tinh Châu, Tư Mã Bảo (con Tư Mã Mô) ở Thượng Khuê, Tư Mã Tuấn ở Giang Nam. Tuy nhiên Vương Tuấn chỉ lo cát cứ phát triển thế lực riêng, Lưu Côn không đủ thực lực vốn phải dựa vào các bộ lạc người Tiên Ty mới đứng được ở Tinh Châu, Tư Mã Tuấn muốn yên ổn ở Giang Nam, lấy cớ đánh dẹp quân phiến loạn Đỗ Thao nên không phát binh; còn Tư Mã Bảo rất yếu không có khả năng đương đầu với quân Hán.
Sách Lâm và Cúc Doãn ở Trường An phải đơn độc chiến đấu với quân Hung Nô. Dù quân Tấn vài lần đánh lui được địch nhưng ngày càng hao mòn, lại không được tiếp viện nên không thể giữ lâu.
Tháng 8 năm 316, Lưu Diệu tấn công Trường An lần nữa. Thành ngoài bị mất nước, Sách Lâm phải lui vào thành nhỏ. Trong thành giá 1 đấu gạo lên tới 2 lượng vàng, người trong thành giết nhau để ăn. Mẫn Đế cùng đường, bèn bàn với Cúc Doãn "nhẫn nhục ra hàng, để cứu sĩ dân". Sách Lâm mưu tính việc riêng, sai người ra nói với Lưu Diệu rằng trong thành đủ lương, nhưng nếu Lâm được phong chức lớn thì Lâm sẽ hàng. Lưu Diệu cự tuyệt.
Ngày 11 tháng 11 (tức 11 tháng 12 DL) năm đó, Mẫn Đế mang ngọc tỷ truyền quốc ra hàng, bị giải về Bình Dương, phong làm Hoài An Hầu. Cúc Doãn tự vẫn trong ngục, Sách Lâm bất trung nên bị Lưu Thông giết chết.
Nhà Tây Tấn diệt vong, tồn tại được 52 năm, có tất cả 4 vua. Hơn 1 năm sau, Mẫn Đế bị Lưu Thông giết ở Bình Dương khi mới 18 tuổi.
== Đông Tấn (317-420) ==
=== Tấn Nguyên Đế cố thủ ở Giang Nam ===
Trong lúc Ngũ Hồ tràn vào Trung Nguyên, thân thuộc nhà Tấn bỏ chạy từ phía bắc về phía nam và tái lập nhà Tấn ở thành Kiến Khang, nằm ở phía đông nam Lạc Dương và Trường An, gần Nam Kinh ngày nay, dưới quyền Lang Nha Vương (琅邪王) Tư Mã Tuấn.
Từ năm 307, khi Loạn bát vương sắp kết thúc, Tư Mã Tuấn được Tư Mã Việt cử đi Dương Châu, cai quản vùng Giang Nam. Đi cùng Tư Mã Tuấn có văn thần Vương Đạo. Khi đến Giang Nam, Tư Mã Tuấn hoàn toàn dựa vào Vương Đạo về chính sách và anh họ Đạo là Vương Đôn về quân sự. Khi đó Giang Nam cũng vừa trải qua vụ biến loạn của Trần Mẫn, sau đó lại nổ ra cuộc nổi dậy của Đỗ Thao (311). Vương Đôn đánh dẹp cuộc nổi dậy của các tướng sĩ vùng trung du Trường Giang, trở thành lực lượng quân sự mạnh.
Vì phương bắc bị Ngũ Hồ đánh chiếm, nhiều thế tộc, nhân sĩ phương Bắc chạy xuống miền Nam theo Tư Mã Tuấn. Theo chủ trương của Vương Đạo, Tư Mã Tuấn ra sức lấy lòng nhân sĩ Giang Nam để củng cố hậu phương, không có ý định Bắc tiến đánh Ngũ Hồ. Tuy nhiên bề ngoài, ông vẫn tỏ ra hưởng ứng Bắc phạt để khôi phục Trung Nguyên. Triều đình Tây Tấn bị quân Hán Triệu uy hiếp mạnh mẽ. Năm 313, Tấn Mẫn Đế ở Trường An phát hịch kêu gọi các trấn cần vương, sai sứ đến Kiến Khang cầu viện. Tư Mã Tuấn theo lời Vương Đạo, lấy lý do phải lo đánh dẹp Đỗ Thao mà từ chối cần vương.
Năm 316, tin Tấn Mẫn Đế bị quân Hán Triệu bắt truyền tới, các tướng gốc phương Bắc, đứng đầu là Tổ Địch kiên quyết đề xướng Bắc tiến, nhưng Tư Mã Tuấn chỉ ủng hộ bề ngoài. Ông mặc áo giáp ra trước hàng quân, như chuẩn bị làm lễ ra quân, nhưng sau đó lấy lý do thiếu lương, mang một viên quan nhỏ phụ trách việc lương ra chém, rồi trì hoàn luôn việc Bắc phạt. Tổ Địch tự mình phải xoay xở việc quân lương đi đánh Ngũ Hồ, cũng chỉ được cấp phát ít lương.
Không lâu sau, tin Tấn Mẫn Đế bị Lưu Thông giết hại truyền tới, các tướng đứng đầu là anh em Vương Đôn và Vương Đạo cùng tôn Tư Mã Tuấn lên ngôi để kế tục nhà Tấn. Các họ lớn ở đó gồm có Chu (朱), Cam, Lữ, Cổ, Chu (周) ủng hộ Lang Nha Vương tự phong làm vua, tức là Nguyên Đế của triều Đông Tấn (東晉, 317-420). Bởi vì các vị vua triều Đông Tấn thuộc dòng dõi Lang Nha Vương, vốn là chi dưới trong họ Tư Mã, các nước Ngũ Hồ đối nghịch không công nhận tính chính thống của nó và lúc ấy họ gọi Tấn là "Lang Nha".
=== Đường lối chính trị của Vương Đạo ===
Tể tướng Vương Đạo (276 -339) chấp chính trong 33 năm suốt 3 triều vua Nguyên Đế, Minh Đế, Thành Đế chủ trương đường lối bảo vệ quyền lực Hoàng đế, cân bằng các sĩ tộc hai vùng Giang Bắc và Giang Nam, nhượng bộ và buông lỏng với thế gia đại tộc. Những chính sách có hại cho giai tầng sĩ tộc đều được Vương Đạo né tránh không áp dụng. Mặt khác, Vương Đạo tác động các vua Tấn chủ trương giữ vững Giang Nam, không dốc sức Bắc phạt, vì thực lực nhà Đông Tấn mới tụ ở Giang Nam không đủ mạnh để làm chiến tranh toàn diện và chưa hoàn toàn dàn xếp được mâu thuẫn giữa các tầng lớp sĩ tộc nam, bắc.
Quan điểm của Vương Đạo là "cứ bình tĩnh, cầu sao cho hòa hoãn tạm thời rồi mọi việc đâu lại vào đấy". Chính sách này được các tể tướng Đông Tấn kế thừa và áp dụng mãi cho đến khi một người dòng họ Tư Mã lên nắm quyền là Tư Mã Đạo Tử mới thay đổi.
Do Tấn Nguyên Đế hoàn toàn dựa vào anh em Vương Đôn, Vương Đạo khi cai trị, đương thời có câu "Vương và Mã chung thiên hạ". Dù có người anh họ Vương Đôn mưu việc phản nghịch chống Triều đình nhưng Vương Đạo vẫn trước sau trung thành với nhà Đông Tấn. Vương Đạo được mệnh danh là hiền tướng đương thời. Nhờ vậy chính quyền Đông Tấn vẫn tồn tại qua hai cuộc nổi loạn của Vương Đôn và Tô Tuấn.
=== Hai vụ biến loạn ===
==== Vương Đôn ====
Vương Đôn là anh họ Vương Đạo, lấy công chúa con Tấn Vũ Đế, sau làm Thứ sử Thanh Châu, đang nắm lực lượng quân sự mạnh ở trung du sông Trường Giang, được phong là Trấn Đông Tướng quân, Đô đốc quân sự lục châu Giang, Hoài, Kinh, Tương, Giao, Quảng. Năm 320, mâu thuẫn giữa Tấn Nguyên Đế và Vương Đôn lên đến đỉnh điểm, Vương Đôn ngày càng có nhiều tham vọng kiểm soát các tỉnh phía tây. Sang năm sau, Nguyên Đế lệnh cho các tướng Đới Uyên, Lưu Quỹ đem quân chống cự Hậu Triệu phương Bắc nhưng thực tế để ngăn ngừa Vương Đôn.
Mùa xuân năm 322, Vương Đôn bắt đầu chống lại Nguyên Đế, tuyên bố Nguyên Đế bị Lưu Quỹ và Diêu Hiệp lừa dối, lấy danh nghĩa nhằm làm trong sạch chính quyền. Vương Đôn thuyết phục Thứ sử Lương Châu Cam Trác và Thứ sử Tương Châu Biện Cổn ủng hộ. Hai người không ai hưởng ứng nhưng cũng không ngăn chặn hành động của Vương Đôn. Vương Đôn chuyển lực lượng từ Vũ Xương (Kinh Châu) đến Cô Thục (Dự Châu, nay là Mã An Sơn, An Huy) để gần Kinh thành Kiến Khang hơn.
Nguyên Đế phái Vương Đạo làm Tiên phong Đại đô đốc chỉ huy chống lại Vương Đôn, Ôn Kiều làm Trung lũy Tướng quân, Đô đốc Đông An, thống lĩnh quân đội phía bắc. Vương Đôn tiến quân về Kiến Khang, đánh bại lực lượng của Nguyên Đế. Lưu Quỹ và Điêu Hiệp thất bại. Lưu Quỹ chạy sang Hậu Triệu, trong khi Điêu Hiệp, Đới Uyển, Bộc xạ Chu Kỷ và một số khác bị giết. Nguyên Đế buộc phải nhượng bộ và gia tăng quyền lực cho Vương Đôn. Vương Đôn thỏa mãn với điều đó và không tính chuyện lật đổ Nguyên Đế, rút về Vũ Xương (Hồ Bắc), đánh bại Tư Mã Thành, đồng thời ám hại Cam Trác.
Năm 323, Tấn Nguyên Đế lâm bệnh và mất. Vương Đôn sau khi diệt gia tộc họ Chu người Giang Nam gây bất bình cho nhiều người, lại định ngăn cản Thái tử Tư Mã Thiệu kế vị. Tuy nhiên do nhiều người phản đối nên Đôn phải chấp thuận để Thái tử Thiệu lên nối ngôi, tức Tấn Minh Đế. Minh Đế quyết tâm diệt trừ Vương Đôn, triệu kiến Hy Giám là thủ lĩnh các nhóm vũ trang của lưu dân, bổ nhiệm làm Thượng thư lệnh, bổ nhiệm Ôn Kiều làm Thị trung. Minh Đế lại cử một thủ lĩnh lưu dân khác là Hoàn Di làm Tán kỵ Thường thị, thuyên chuyển Đào Khản (259 -334), từng là tướng dưới trường Vương Đôn, đang làm Thứ sử Quảng Châu đến Giang Châu làm Thứ sử, chuẩn bị đối phó với Vương Đôn. Tuy nhiên khi Minh Đế bổ nhiệm Hy Giám đến nắm quyền quân chính ở Hợp Phì, ngay sát cạnh Cô Thục thì Vương Đôn phản đối quyết liệt, buộc Minh Đế phải rút lại quyết định..
Năm 324, nội chiến lại bùng nổ. Quân Vương Đôn ồ ạt tiến xuống vùng hạ du Trường Giang, liền bị các lực lượng vũ trang của lưu dân đóng ở nam sông Hoài chặn đứng. Lúc đó Vương Đôn lâm bệnh. Minh Đế điều Vương Đạo làm Đại đô đốc, cùng các tướng Biện Đôn, Tô Tuấn, Hy Giám, Dữu Lượng, Ôn Kiều, Tổ Ước mang quân về bảo vệ Kinh thành Kiến Khang. Vương Đôn có điều binh đánh Kiến Khang, bị các tướng cần vương đánh lui. Thủ hạ Đôn là Tiền Phụng, Thẩm Sung bị giết. Giữa lúc đó, Đôn ốm chết, thế lực tan rã nhanh chóng, nhưng phía Triều đình Đông Tấn cũng bị tổn thương lớn.
==== Tô Tuấn ====
Dẹp được Vương Đôn nhưng Minh Đế lại mất sớm. Năm 326, Minh Đế qua đời, các quan phụ chính là Tây Dương Vương Tư Mã Dạng, Vương Đạo, Biện Đôn, Lữ Nghiệp, Hy Giám, Dữu Lượng, Ôn Kiều được Minh Đế tin cậy giao phó việc nước giúp Thái tử Tư Mã Diễn mới có 4 tuổi. Tư Mã Diễn lên ngôi, tức Thành Đế.
Trong thời gian trị vì của Thành Đế, anh em Dữu Lượng và Dữu Băng gia tăng quyền lực, bên cạnh Vương Đạo và Tư không Hà Xung (292-346). Dữu Lượng phải đối đầu với Tô Tuấn, một thủ lĩnh khác của lưu dân vùng Sơn Đông. Cha Tô Tuấn từng làm Thừa tướng cho Hậu Chủ Lưu Thiện nước Thục đời Tam Quốc. Tô Tuấn trong khi bình định vụ nổi loạn của Vương Đôn đã mở rộng thế lực, được Triều đình bổ nhiệm làm Thái thú Lịch Dương, đóng quân đồn trú, mộ thêm quân, thu nạp những kẻ tù tội bị truy nã, uy hiếp Kiến khang, khống chế Triều đình từ xa. Tô Tuấn liên minh với Tổ Ước, Thứ sử Dự Châu - là em Tổ Địch (vừa mất năm 321) đóng quân ở Thọ Xuân. Năm 326, Tô Tuấn tố cáo Nam Đốn Vương Tư Mã Tông, em Tư Mã Dạng phản nghịch và giết chết, đồng thời lật đổ Tư Mã Dạng.
Năm 327, Dữu Lượng (289 – 340) bổ nhiệm Tô Tuấn làm Đại tư nông, chức quan phụ trách các công việc nông nghiệp không liên quan gì đến việc quân sự nhằm ngăn chặn thế lực của Tô Tuấn. Tô Tuấn liền tìm kiếm liên minh với các viên quan có thế lực khác như Tổ Ước để chống lại anh em họ Dữu. Trong khi họ Dữu chủ trương đối đầu với Tô Tuấn thì Vương Đạo lại ôn hòa hơn. Dữu Lượng tự tin với lực lượng hiện có đủ mạnh để chế ngự Tô Tuấn nên không cần đến đề nghị hỗ trợ của Ôn Kiều, lệnh cho Ôn Kiều không được đem quân từ Giang Châu về bảo vệ Kiến Khang.
Tháng 12 năm 327, Tô Tuấn cùng Tổ Ước hợp binh nổi loạn. Bộ tướng của Tuấn là Hàn Hoảng đánh vào Cô Thục, đoạt hết lương thực trong thành. Dữu Lượng vội ra lệnh giới nghiêm ở Kiến Khang, sai Biện Hồ giữ thế thủ. Đầu năm 328, Ôn Kiều vội mang quân về đóng ở Tầm Dương ứng cứu Kinh thành. Đầu tháng 2, Tô Tuấn mang 2 vạn quân đánh tan quân Triều đình ở Ngưu Chử rồi tiến đánh Kiến Khang. Cha con Biện Hồ chống cự bị thua, đều tử trận. Dữu Lượng chạy đến Giang Châu thuộc quyền cai trị của Ôn Kiều. Tuấn đánh vào Kinh thành Kiến Khang với danh nghĩa trị kẻ có tội là Trung thư lệnh Dũu Lượng, giết chết Hoàn Di, khống chế Thành Đế (lên 8 tuổi) và Dữu Thái hậu. Tuy nhiên vì không có mâu thuẫn với Vương Đạo nên Tuấn vẫn để ông làm Thừa tướng.
Tháng 5 năm 328, Ôn Kiều hợp lực với Đào Khản được 4 vạn quân, cùng đánh Tô Tuấn. Tuấn mang Thành Đế chạy vào cố thủ trong thành Thạch Đầu. Vương Đạo cũng bí mật sai người ra liên lạc với các tướng ở Ngô Quận, Ngô Hưng và Cối Kê cần vương. Hai mặt cùng đánh Thạch Đầu.
Tháng 5 nhuận, Hy Giám cũng hội binh với Đào Khản, Khổng Khản cũng trốn trong thành Thạch Đầu ra, điều quân mấy mặt vây đánh. Quân Tô Tuấn tuy mạnh nhưng bắt đầu bị mất ưu thế.
Giữa lúc đó, Vua Hậu Triệu là Thạch Lặc nhân Đông Tấn có loạn lại Nam tiến. Tháng 7 năm 328, quân Hậu Triệu tấn công. Thuộc hạ của Tổ Uớc lại tư thông với địch, dẫn quân Hậu Triệu qua sông Hoàng Hà. Tổ Ước vội bỏ Tô Tuấn chạy về Lịch Dương. Tô Tuấn cô thế. Vương Đạo thừa cơ cùng con trốn thoát ra ngoài. Quân Hậu Triệu bắt 2 vạn dân Thọ Xuân rồi rút lui.
Tháng 9 năm 328, Tô Tuấn ra giao chiến với quân Đào Khản và Ôn Kiều, ngã ngựa bị giết. Trong thành Thạch Đầu tôn em Tuấn là Tô Miễn làm thống soái.
Tháng 1 năm 329, Đào Khản tiến đánh Tổ Ước ở Lịch Dương. Tổ Ước chạy sang hàng Hậu Triệu. Tháng 2 năm 329, Ôn Kiều và Đào Khản hạ thành Thạch Đầu, giết chết Tô Miễn. Bộ tướng họ Tô là Hàn Hoảng, Trương Kiện chạy đến Bình Lăng thì bị quân của Hy Giám đuổi kịp giết chết.
Triều đình Đông Tấn phải mất 1 năm mới dẹp xong loạn Tô Tuấn. Khi trừng trị Tô Tuấn và đồng bọn, Vương Đạo lại có thái độ khoan dung. Thứ sử Tương Châu Biện Đôn giữ thái độ trung lập trong cuộc nổi loạn chỉ phải bị đổi làm Thứ sử Quảng Châu. Hậu tướng quân Quách Mặc xuất thân là trộm cướp dám giả chiếu chỉ để tấn công giết chết Bình Nam Tướng quân Lưu Dẫn, Vương Đạo vì sợ thực lực của Quách Mặc nên đã ân xá, cử Quách Mặc đi làm Thứ sử Dự Châu. Tuy nhiên Đào Khản được Dữu Lượng ủng hộ đã đem quân đánh bại và giết chết Quách Mặc, Vương Đạo cũng làm thinh thừa nhận sự thật đó. Đào Khản được phong Trường Sa Quận Công, sau đó được cử làm Đô đốc quân sự 8 châu Kinh, Giang, Ung, Lương, Giao, Quảng, Ninh, Ích; kiêm thứ sử 2 châu Kinh, Giang. Ôn Kiều được phong làm Thủy An Công, nhường chức vụ nhiếp chính cho Vương Đạo. Vương Đạo tiếp tục cầm quyền.
=== Đối phó với Ngũ Hồ ===
==== Tổ Địch Bắc phạt ====
Tổ Địch là người phương Bắc di cư xuống miền Nam khi Trung Nguyên bị Ngũ Hồ đánh chiếm. Ông là người hăng hái Bắc tiến nhất, nhưng vì Tấn Nguyên Đế và Vương Đạo chủ trương cố thủ ở Giang Nam nên không ủng hộ mạnh mẽ cho đề nghị của ông.
Tổ Địch phải tự mình mộ quân, tích lương, độc lập tác chiến với quân Ngũ Hồ. Tuy đánh thắng quân Hậu Triệu nhiều trận, khôi phục được nhiều châu quận phương Bắc nhưng lúc đó nhiều thành trì và tướng lĩnh còn lại của nhà Tấn ở Trung Nguyên như Lưu Côn, Vương Tuấn, Lý Củ... đã bị Ngũ Hồ chia cắt và đánh bại nên cả hai mặt nam, bắc Tổ Địch đều không được phối hợp.
Việc tranh chấp quyền lực ở Giang Nam giữa Triều đình với Vương Đôn khiến Triều đình hoàn toàn không quan tâm chi viện cho Tổ Địch. Ông phẫn chí sinh bệnh và qua đời năm 321. Em ông Tổ Ước yếu thế trước quân Hậu Triệu phải rút về Nam. Đất đai giành được ở phía bắc bị quân Hậu Triệu chiếm lại.
==== Thụ động phòng ngự ====
Sau cuộc biến loạn của Tô Tuấn và Tổ Ước, các lực lượng quân sự địa phương của Đông Tấn đã để mất nhiều vùng đất đai vào tay nhà Hậu Triệu. Các thành quan trọng bị mất là Lạc Dương, Thọ Xuân, Tương Dương. Năm 333, Ninh Châu (Quý Châu, Vân Nam) cũng bị Thành Hán chiếm, mãi đến năm 339 mới thu hồi được.
Thị trung Thái úy Đào Khản giữ trọng trách đóng quân ở Vũ Xương nắm quyền Đô đốc 8 châu Kinh, Giang, Ung, Lương, Giao, Quảng, Ninh, Ích kiêm Thứ sử các châu Giao, Ninh, Kinh, hùng cứ tại Trường Giang, nhưng chỉ những lúc quân Hậu Triệu xâm phạm mới phản kích. Năm 332, Đào Khản phản công giành lại được Tương Dương, được phong tước Trường Sa Công.
Vương Đạo cùng Dữu Lượng chấp chính vẫn có thái độ lạnh nhạt với Bắc phạt, luôn luôn lo sợ sẽ xuất hiện một Vương Đôn lần thứ hai, mãi đến khi Đào Khản chết bệnh năm 334, họ mới hết lo lắng. Nhà Tấn bị mất một tướng tài.
==== Họ Dữu bắc phạt ====
Năm 337, thủ lĩnh người Tiên Ty là Liêu Đông Công Mộ Dung Hoảng, từng là chư hầu của Đông Tấn, tuyên bố tước vị Yên Vương, thành lập nước Tiền Yên. Năm 339, Vương Đạo chết, được Triều đình phong tước Thủy Hưng Công; họ Dữu trở lại nắm quyền. Trong số các thế gia đại tộc Giang Nam, họ Dữu là 1 họ lớn cùng với các gia tộc Vương, Hy, Tạ. Họ Dữu khởi đầu quyền lực từ Dữu Trân làm Thái thú Cối kê, sau đó Dữu Văn Quân nhập cung làm Hoàng hậu của Tấn Minh Đế. Trung thư lệnh Đô đình hầu Dữu Lượng (289 – 340, tự là Nguyên Quy) và Dữu Ký cùng chủ trì chấp chính có đường lối chính trị tích cực hơn, đối với các sĩ tộc vi phạm pháp luật họ mạnh dạn trừng trị và tích cực chuẩn bị bắc phạt.
Họ Dữu muốn mở cuộc tấn công lớn về phía Hậu Triệu, nhằm giành lại Trung Nguyên.
Dữu Lượng và Dữu Ký lần lượt ra làm Thứ sử Kinh Châu, Dự Châu, Giang Châu, trấn giữ Vũ Xương, giứ chức Đô đốc các châu phía tây, phòng thủ vùng trung du Trường Giang. Dữu Ký còn chuyển đến đóng ở Tương Dương, trưng dụng các loại xe bò, xe ngựa, điều động nô lệ tư gia làm lính vận chuyển lương thực. Việc chinh chiến gặp phải sự phản đối của các thế gia đại tộc Hy Giám và Thái Mô. Với đường lối chính trị trong sạch của họ Dữu đã phá vỡ sự cân bằng quyền lực giữa Nhà vua và các thế gia đại tộc. Thành Đế cũng yêu cầu Dữu Lượng không được gây chiến nữa. Thành Đế tham dự một phần giải quyết việc triều chính. Hà Xung và Dữu Băng tìm cách thay đổi chính sách của Vương Đạo nhưng không được hiệu quả cao như trước.
Năm 339 Dữu Lượng tiếp tục kế hoạch quân sự nhằm chống lại nhà Hậu Triệu mặc dù gặp phải sự phản đối của các thế gia đại tộc Hy Giám và Thái Mô. Tuy nhiên họ Dữu không có tài cầm quân, bị quân Hậu Triệu đánh bại, gây thiệt hại nặng cho các thành Đông Tấn ở Bắc Trường Giang và chiếm Thục Thành (Hoàng Cương, Hồ Bắc). Bị thất bại, Dữu Lượng chán nản lâm bệnh chết vào đầu năm 340, được Triều đình phong tước Vĩnh xương công.
Dữu Ký, Hà Xung và Dữu Băng đưa Phò mã của Tấn Minh Đế là Thứ sử Từ Châu Vạn Ninh Bá Hoàn Ôn (312 – 373, con Hoàn Di) ra nắm binh quyền, làm Đô đốc Ninh Châu, Kinh Châu, Tương Châu. Sau khi Dữu Ký chết, họ Dữu muốn đưa người con ông ta là Dữu Viên tiếp tục giữ chức Đô đốc nắm quyền quân sự, càng làm Hoàng gia và thế gia đại tộc hoài nghi. Đồng thời để kiềm chế Hoàn Ôn, họ lại đưa ra người phản đối đường lối chính trị trong sạch là Cố Hòa, người nổi tiếng về thanh đàm (bình luận suông - xem phần Văn hóa khoa học bên dưới) là Ân Hạo và một nhân vật khác phản đối quyết liệt việc Bắc phạt là Thái Mô để chủ trì triều chính, trở về với phương chân chính trị cũ của Vương Đạo..
Năm 343, Dữu Dực (cậu Khang Đế) đề nghị tiến hành kế hoạch quân sự chống Hậu Triệu, liên minh với Tiền Yên và Tiền Lương. Kế hoạch được sự đồng tình của nhiều quan lại có thế lực như Dữu Băng, Hoàn Ôn. Tuy nhiên Dữu Dực chỉ tiến hành một số hoạt động quân sự nhỏ, mục đích chính là gây dựng thế lực cho họ Dữu mà không lập được công lớn trong việc chống Ngũ Hồ. Trong 2 năm 344 - 345, Dữu Băng và Dữu Dực lần lượt qua đời, quyền lực họ Dữu chấm dứt, Hà Xung nắm quyền Trung thư lệnh trọng dụng Hoàn Ôn giao cho trọng trách chỉ huy quân đội tại Kinh Châu, Ninh Châu. Năm 346, Hà Xung mất, Thái Mô lên thay. Đồng thời Hoàng gia cũng cử Tư Mã Dục (con Tấn Nguyên Đế, em Tấn Minh Đế) làm Trung thư lệnh (tức Tể tướng) trong suốt các triều Tấn Mục Đế, Tấn Ai Đế, Tấn Phế Đế và về sau được Hoàn Ôn lập làm vua, tức Giản Văn Đế (371 - 372).
==== Hoàn Ôn Bắc phạt ====
Trong thời gian Mục Đế cai trị (344 – 361), quyền lực trong triều thuộc về tay Chinh Bắc Tướng quân Hoàn Ôn. Hoàn Ôn tiến hành các chiến dịch quân sự không cần sự phê chuẩn của Triều đình.
Năm 347, Hoàn Ôn nhân khi nước Thành Hán ở Tứ Xuyên suy yếu, có tranh chấp nội bộ, bèn đem quân đi đánh. Kết quả Hoàn Ôn nhanh chóng tiêu diệt Thành Hán.
Tháng 4 năm 349, nhân khi Vua Hậu Triệu là Thạch Hổ chết, nước Hậu Triệu đại loạn. Vua nước Nhiễm Ngụy mới thành lập là Nhiễm Mẫn theo chính sách diệt ngoại tộc người Hồ, kêu gọi Đông Tấn Bắc tiến diệt Ngũ Hồ. Hoàn Ôn bèn dâng biểu xin Triều đình Bắc phạt. Tuy nhiên, Triều đình sợ ông mang quân thu phục được Trung Nguyên thì sẽ khó kiềm chế nên không chấp thuận ý kiến của ông. Ân Hạo được phong chức Kiến Vũ Tướng quân kiêm Thứ sử Dương Châu, nắm quyền chỉ huy quân đội ở hạ du Trường Giang đồng thời tham gia triều chính. Tháng 6 năm 349, tướng Hậu Triệu là Vương Giáp dâng thành Thọ Xuân cho Đông Tấn. Tấn Mục Đế sai Ân Hạo làm Trung quân Tướng quân kiêm Đô đốc 5 châu: Dương, Dự, Từ, Duyện, Thanh để chỉ huy Bắc phạt chứ không cử Hoàn Ôn. Ân Hạo bất tài, đánh trận thua liên tục.
Năm 352, sau hàng loạt biến cố ở phương Bắc, Hậu Triệu và Nhiễm Ngụy bị tiêu diệt. Thái tử Nhiễm Trí con Nhiễm Mẫn bị Tiền Yên vây khốn, bèn xin nhờ tướng Tạ Thượng của Đông Tấn dâng biểu xin hàng, nhưng nhà Tấn vẫn không phát binh. Kết quả Tiền Yên diệt hẳn Nhiễm Ngụy, trong khi đó nước Tiền Tần của người Đê do cha con Phù Hồng - Phù Kiện thành lập năm 350 cũng đứng vững, cùng Tiền Yên chia nhau cai trị Trung Nguyên.
Đầu năm 354, Hoàn Ôn viết sớ kể tội Ân Hạo, xin cách chức Hạo. Vua Tấn không có cách nào khác, đành cách chức Hạo làm thường dân, đày đến Tấn An (Cù Châu, Chiết Giang) và giao binh quyền cho Ôn. Năm 354, ông tiến quân đánh Tiền Tần, đến gần thành Trường An, nhưng thiếu lương nên phải rút quân về.
Năm 356, Hoàn Ôn lại Bắc phạt, đánh bại tướng Tiền Yên là Diêu Tương, thu hồi Cố đô Lạc Dương. Tháng 2 năm 362, Vua Yên phản công lấy lại Lạc Dương. Hoàn Ôn khi đó đã rút quân chủ lực về Kiến Khang ở Giang Nam. Ông vừa điều quân đi cứu, vừa xin thiên đô lên Lạc Dương để tiện việc Bắc phạt. Nhà Tấn hoảng sợ vì ngại chiến tranh nên không tán thành. Quân Tấn không đủ mạnh nên bị mất Lạc Dương.
Tháng 3 năm 369, ông tự điều thứ sử các châu Từ, Lương, Duyện và Thọ Xuân theo đường thủy đi đánh Yên. Tháng 6, Hoàn Ôn liên tiếp thắng quân Yên ở Hoàng Hư và Lâm Chử. Vua Yên cầu cứu Tiền Tần. Quân Tần chưa đến mà quân Yên đã bất ngờ phản công, đánh bại quân Tấn ở Phương Đầu. Hoàn Ôn bị mất 2 tướng, lại bị thiếu lương thảo, nên phải rút về Nam. Hoàn Ôn nắm các chức vụ Thị trung, Đại tư mã, Đô đốc quân sự trong ngoài, một mình coi việc triều chính.
Năm 371 Hoàn Ôn phế truất Vua Tấn là Tư Mã Dịch, lập Cối Kê Vương Tư Mã Dục (con Tấn Nguyên Đế, em Tấn Minh Đế) đang giữ chức Trung thư lệnh lên ngôi, tức Giản Văn Đế. Giản Văn Đế khi lên ngôi đã ngoài 50 tuổi và ốm yếu, trị vì được 1 năm thì mất. Người kế ngôi là Thái tử Tư Mã Diệu (362 - 396), tức Hiếu Vũ Đế. Tháng 3 năm 373, Hoàn Ôn chết, khu vực quản lý của Hoàn Ôn được chia làm ba, giao cho Hoàn Xung (328 - 384), Hoàn Khoát và Hoàn Thạch Tú quản lý.
==== Tạ Huyền đánh lui Tiền Tần ====
Sau khi Hoàn Ôn chết, quyền lực trong triều do Tể tướng Tạ An (320 -385) nắm giữ. Họ Tạ là một vọng tộc phong lưu nổi tiếng còn để lại nhiều tên tuổi trong sử sách. Bắt đầu từ thời Tam Quốc, do chúa Đông Ngô là Tôn Quyền lấy con gái họ Tạ làm vợ, những người có tài trí họ Tạ bắt đầu được đề bạt nắm giữ các chức vụ, và họ Tạ dần trở thành một danh gia vọng tộc. Tạ An theo cách của Vương Đạo xây dựng chính sách an dân "Trấn chi dĩ tĩnh" giữ cho nhà Đông Tấn cục diện yên ổn suốt hơn hai mươi năm. Đồng thời Tạ An chia sẻ quyền lực với Vương Thản Chi (con trai Vương Đạo) và Vương Bưu Chi, tuy nhiên Vương Thản Chi đã chết năm 375.
Trong khi đó nước Tiền Tần của người Đê ở phương Bắc ngày càng lớn mạnh dưới thời Phù Kiên, được sự trợ giúp của Vương Mãnh. Năm 370, nước Tiền Tần tiêu diệt Tiền Yên. Năm 373, Tiền Tần cho quân chiếm Lương Châu (Nam Thiểm Tây) và Ích Châu (Tứ Xuyên) của Đông Tấn. Năm 376, chư hầu Đông Tấn là Tiền Lương bị quân Tiền Tần tấn công, Đông Tấn cử tướng Hoàn Xung đem quân cứu viện, nhưng Tiền Lương sụp đổ quá nhanh, quân Tấn phải rút về.
Tiền Tần thống nhất miền Bắc và tham vọng đánh xuống miền Nam. Tiền Tần mang quân đi đánh và bắt được nhiều dân của Đông Tấn ở vùng bắc và nam sông Hoài. Năm 377, nhà Đông Tấn phái tướng Chu Tự làm Thứ sử Lương Châu trấn thủ Tương Dương. Quân Tần tấn công dữ dội nhưng Chu Tự kiên cường chống trả. Năm 380, do bị nội phản, thành Tương Dương thất thủ, Chu Tự bị bắt nhưng được Phù Kiên trọng dụng.
Quyết tâm diệt Đông Tấn để thống nhất Trung Hoa, Phù Kiên huy động toàn quân trong nước gồm 90 vạn người đi Nam chinh. Được Chu Tự làm nội gián, tướng Tấn là Tạ An và Tạ Huyền đánh bại đánh bại quân Tần trong trận Phì Thủy nổi tiếng năm 383.
Nhân đà thắng lợi, Tạ An bèn cử Tạ Huyền làm Đô đốc tiên phong, cùng tướng Hoàn Thạch Kiền đi đánh Tần. Quân Tạ Huyền chiếm được Viên Thành, Quyên Thành. Nhiều thành ở Hà Nam lần lượt xin hàng. Sau đó, ông dẫn quân đánh Thanh Châu. Tướng Tần giữ Thanh Châu là Phù Lãng bại trận xin hàng. Hoàn Huyền phái Triệu Thống thu phục Dịch Dương và các thành trấn phụ cận, uy thế áp thẳng đến Lạc Dương. Sau khi bình định các châu Từ, Duyện, Tạ Huyền trở thành Đô đốc quân sự 7 châu Từ, Duyện, Thanh, Ty, Ký, U, Bình, đóng quân ở Bành Thành được phong làm Khang Lạc Huyện Công. Triều đình phong cho Tạ An làm Lư Lăng Quận Công, Tạ Thạch làm Nam Khang Huyện Công, Tạ Diễm làm Vọng Tế Huyện Công.
Đông Tấn giành thắng lợi lớn, giữ vững được bờ cõi và mở rộng lên phía bắc. Nhà Tiền Tần suy yếu và tan rã nhanh chóng. Chỉ trong vòng 3 năm sau trận Phì Thủy, miền Bắc lại bị các tộc Hồ khác li khai, chia cắt trở lại, trên bản đồ phía bắc có sự tồn tại của 7 quốc gia: Tiền Tần, Tây Yên, Hậu Yên, Hậu Lương, Hậu Tần, Bắc Ngụy, Tây Tần. Cuộc hỗn chiến giữa các nước Ngũ Hồ tái diễn và miền Bắc bị phân liệt hơn trước.
=== Suy yếu và loạn lạc ===
==== Tư Mã Đạo Tử nhiếp chính ====
Sau Chiến thắng Phì Thủy, quyền lực của Tạ An suy giảm. Năm 384, Hoàn Xung chết, các quan lại chủ chốt muốn đưa Tạ Huyền lên thay chức vụ của Hoàn Xung nhưng Tạ An không đồng ý và chia nhỏ khu vực do Hoàn Xung cai quản cho 3 người cháu Hoàn Xung. Tạ An tránh không muốn xung đột với Cối Kê Vương Tư Mã Đạo Tử - người muốn trở thành Tể tướng. Tạ An bị bài xích, bắt buộc phải xin đi Bắc chinh, rời khỏi Kiến khang. Năm 385, Tạ An mất lúc 66 tuổi, được truy tặng Thái phó, ban thụy là Văn Tĩnh.
Họ Tạ định lợi dụng việc Bắc phạt để mở rộng địa bàn và thế lực của mình nhưng Triều đình đã phái tướng Chu Tự đến đóng quân ở Lạc Dương, kiêm Thứ sử các châu Duyện, Dự, Thanh, chỉ huy toàn bộ quân Bắc phạt. Tạ Huyền ra quân thất lợi và bị tước binh quyền, Tạ Thạch cũng bị chết bệnh cùng năm. Hoàng gia Tư Mã là người thắng lợi trong cuộc đấu tranh nội bộ sau trận Phì Thủy. Cối Kê Vương Tư Mã Đạo Tử (353 - 403), con trai Giản Văn Đế lên nắm quyền Tể tướng sau khi cùng họ Hoàn làm suy yếu thế lực họ Tạ đã liên kết chặt chẽ với họ Vương gốc Thái Nguyên mở đầu cuộc đấu tranh mới giữa Hoàng gia với họ Hoàn cho nên sau khi đại thắng thì Vương triều Đông Tấn lại nảy sinh một nguy cơ mới trong việc thống trị.
Năm 396, Hiếu Vũ Đế Tư Mã Diệu chết, người kế ngôi là Thái tử Tư Mã Đức Tông (382 - 419), tức Tấn An Đế. Tư Mã Đạo Tử làm quan Nhiếp chính. Các quan lại ỷ công phò chiến và dựa thế đặc quyền của môn đệ nên ra sức tước đoạt đất đai của nông dân, như hai gia tộc Vương và Tạ. Mỗi tộc đều có điền trang rộng lớn, cấu kết cưỡng chiếm ruộng đất đến vạn khoảnh. Cuộc sống của quan lại và quý tộc rất xa hoa. Bản thân Tạ An cũng chiếm núi rừng ở ngoại ô Kiến Khang, xây nhà lầu, khi rảnh rỗi thường dẫn tôi tớ đến vui chơi, mỗi bữa ăn tốn đến mấy trăm lạng vàng. Con trai Tư Mã Đạo Tử là Tư Mã Nguyên Hiển còn giàu hơn cả Vua Tấn. Dân chúng còn phải chịu nhiều thuế má nặng nề khác, ngay cả việc sửa nhà, trồng dâu cũng phải nộp thuế.
Đạo Tử chỉ tin dùng những người trong họ và giao cho con là Tư Mã Nguyên Hiển mới 16 tuổi giữ chức Chinh thảo Đô đốc nắm binh quyền, bảo vệ Kinh đô, các trọng trấn quân sự được giao cho Tư Mã Sở Chi và Tư Mã Hưu Chi.
==== Hoàn Huyền cướp ngôi ====
Hoàn Huyền (369 - 404) là con Hoàn Ôn, thừa hưởng tước phong thế tập của cha, nắm giữ vùng Kinh Châu. Tư Mã Nguyên Hiển dựa vào lực lượng Bắc phủ binh của Trấn quân Tướng quân Lưu Lao Chi để tấn công Hoàn Huyền, nhưng Lưu Lao Chi cũng không tuân phục Tư Mã Nguyên Hiển. Tháng 12 năm 399, Hoàn Huyền phát binh đánh Giang Lăng, Ân Trọng Kham bị giết. Năm 400, Hoàn Huyền đòi được phong làm Thứ sử Quảng Châu. Tư Mã Đạo Tử sợ biến loạn tái diễn, vội phê chuẩn ngay. Bắt đầu từ đó, Hoàn Huyền thao túng triều đình Đông Tấn. Chính lệnh của Triều đình chỉ có hiệu lực tại 8 quận phía đông (Cối Kê, Ngô Quận, Ngô Hưng, Nghĩa Hưng, Lâm Hải, Vĩnh Gia, Đông Dương, và Tân An) thuộc Dương Châu.
Năm 401, Hoàn Huyền, đã kiểm soát hơn 2/3 lãnh thổ Đông Tấn, tiến quân về phía đông, chiếm được kinh thành Kiến Khang, xử tử cả nhà Tư Mã Nguyên Hiển cùng Tư Mã Đạo Tử, đánh dẹp Lưu Lao Chi, đoạt binh quyền từ tay Lưu Lao Chi giao cho anh họ Hoàn Tu. Lực lượng Bắc phủ binh của Lưu Lao Chi không muốn giao chiến và Lưu Lao Chi buộc phải tự sát. Hoàn Huyền dẫn binh vào Kinh đô, tự làm Thái úy.
Mùa thu năm 403, Hoàn Huyền buộc An Đế phong cho ông làm Sở Vương, gia phong Cửu tích, sau đó buộc An Đế viết chiếu nhường ngôi, thành lập nước Sở, xưng Vũ Đạo Hoàng đế, niên hiệu Vĩnh Thủy, giáng An Đế làm Bình Cố Vương, giam cầm Lang Nha Vương Tư Mã Đức Văn (em An Đế).
Mùa xuân năm 404, bộ tướng của Lưu Lao Chi có Thái thú Hạ Bì là Lưu Dụ tạm đầu hàng Hoàn Huyền để tính kế lâu dài. Nhận thấy Hoàn Huyền không được lòng dân chúng, liền tách ra li khai, bắt đầu nổi dậy ở Trấn Giang (Giang Tô), trong mấy ngày đã tiến về Kinh thành Kiến Khang. Hoàn Huyền rút lui về căn cứ Giang Lăng (Kinh Châu, Hồ Bắc), mang theo cả An Đế và Tư Mã Đức Văn. Lưu Dụ tuyên bố khôi phục nhà Tấn, và đến mùa hè năm 404, Lưu Dụ liên minh với Lưu Nghi, Hà Vô Kỵ tiến về Giang Lăng đánh bại lực lượng Hoàn Huyền.
Tháng 2 năm 404, Lưu Dụ phát động binh biến, tụ tập hàng trăm đồ đảng ở Kinh Khẩu làm binh biến giết chết Hoàn Tu. Lưu Nghị đồng thời cũng giết chết Hoàn Hoằng (em Hoàn Tu) ở Nghiễm Lăng. Rồi mọi người cùng tôn Lưu Dụ lên làm minh chủ, truyền hịch khắp nơi đồng thời khởi nghĩa. Hoàn Huyền thấy tình thế bất lợi, liền đem Tấn An Đế chạy ra Giang Lăng. Tháng 3 năm đó, Lưu Dụ tiến quân vào Kiến Khang, khống chế Kinh sư rồi xuất binh mã Tây tiến. Sau hơn 1 tháng kịch chiến, Hoàn Huyền bị bức phải trốn vào Tây Xuyên, bị Ích Châu Đô hộ là Phùng Thiên giết chết.
==== Khởi nghĩa Tôn Ân ====
Trong giới tín đồ gốc sĩ tộc thế gia có Đỗ Tử Cung là đầu lĩnh ở Tiền Đường. Ông có nhiều đệ tử, xuất thân là thế gia đại tộc ở Giang Nam. Đỗ Tử Cung mất, môn đồ là Tôn Thái và Tôn Ân kế nghiệp. Tôn Ân tự là Linh Tú, quê ở Lang Nha, vừa là cháu vừa là đệ tử Tôn Thái. Hiếu Vũ Đế phong Tôn Thái làm Phụ quốc Tướng quân, Thái thú Tân An. Tôn Thái lợi dụng tà thuật mê hoặc và quy tụ quần chúng, Triều đình sợ Tôn Thái làm loạn nên sai Cối Kê Vương Tư Mã Đạo Tử bắt Tôn Thái giết đi.
Năm 399, Tôn Ân và dư đảng chạy trốn ra hải đảo, lập chí báo thù cho sư phụ. Rồi Tôn Ân cùng với em rể Lư Tuần lãnh đạo khoảng 10 vạn tín đồ 8 quận đánh Cối Kê (8 quận là: Cối Kê, Ngô Quận, Ngô Hưng, Nghĩa Hưng, Lâm Hải, Vĩnh Gia, Đông Dương và Tân An). Chiếm được Cối Kê, Tôn Ân tự xưng Chinh Đông Tướng quân và gọi quân binh của mình là «Trường Sinh Nhân». Triều đình phái Tạ Diễm và Lưu Lao Chi quân chinh phạt.
Năm 402, Tôn Ân thua trận ở Lâm Hải, nhảy xuống biển tự vẫn. Cho rằng Tôn Ân đã thành thủy tiên, số tín đồ tự trầm theo hơn trăm người. Em rể Tôn Ân là Lư Tuần kế nhiệm,cùng bộ tướng Từ Đạo Phúc lên thuyền ra biển chạy về Lĩnh Nam.
Năm 405 triều đình dụ hàng và phong Lư Tuần làm Thứ sử Quảng Châu,Từ Đạo Phúc làm Quốc tướng Thủy Hưng (Quảng Đông).Nhưng đến năm 411 Lư Tuần và Từ Đạo Phúc lại làm phản,giết Thứ sử Giang Châu Hạ Vô Kỵ ở Dự Chương (Giang Tây).Ngày 7 tháng 5 Lư Tuần đánh bại Thứ sử Dự Châu Lưu Nghị ở cù lao Tang Lạc (An Huy), uy hiếp kinh đô Kiến Khang.Đến tháng 12 năm 411 Lư Tuần lại bị Lưu Dụ đánh bại ở Tả Lý (Giang Tây).Quảng Châu cũng bị bộ tướng của Lưu Dụ là Lưu Xử chiếm mất.
Cuối năm 411, Lư Tuần đánh Quảng Châu nhưng đại bại, bèn chạy sang Giao Châu. Thứ sử Giao Châu Đỗ Tuệ Độ cùng các quan văn võ đánh tan quân Lư Tuần. Quân Lư Tuần còn khoảng 2000 người. Dư đảng Lý Tốn (Thái thú Cửu Chân, nổi loạn) là Lý Thoát kết tập 5000 dân bản địa giúp Lư Tuần đánh ở bến sông phía Nam thành Long Biên. Binh của Đỗ Tuệ Độ phóng đuốc trĩ vĩ đốt chiến thuyền Lư Tuần. Lư Tuần nhảy sông tự vẫn. Đỗ Tuệ Độ cho vớt tử thi Lư Tuần và chặt đầu, gửi về Kiến Khang.
=== Diệt vong ===
Tấn An Đế tuyên bố khôi phục nhà Tấn tại Giang Lăng. An Đế được đưa về Kiến Khang, quyền lực rơi vào tay Lưu Dụ. Để thưởng cho Lưu Dụ có công tái tạo nhà Tấn, An Đế phong Lưu Dụ làm Thị trung, Xa Kỵ Tướng quân, bên ngoài nắm quân sự, bên trong lo triều chính. Tuy ngôi nhà Tấn được phục hồi nhưng vai trò của Vua Tấn vẫn không khác trước vì quyền thần đã nắm hoàn toàn việc điều hành Triều đình.
Sau khi Lưu Dụ diệt được Hoàn Huyền, miền Bắc cũng trải qua những cuộc chiến thôn tính và chia cắt mới: Hậu Yên diệt được Tây Yên (394) nhưng bị Bắc Ngụy đánh bại (401), họ Mộ Dung phải rút về nơi khởi nghiệp ở Long Thành phía đông bắc và đến năm 409 bị Bắc Yên thay thế. Một nhánh Mộ Dung khác chạy về Sơn Đông lập ra nước Nam Yên nhỏ bé. Nước Hậu Lương bị Hậu Tần tiêu diệt và đất chia làm 3: Nam Lương, Bắc Lương, Tây Lương. Hậu Tần diệt được Tiền Tần (394) nhưng bắt đầu bị Hạ nổi dậy cát cứ (407). Tính tổng cộng từ khi nhà Tấn rút về Giang Nam, miền Bắc Trung Quốc do 20 nước của người Hồ, được gọi chung là Ngũ Hồ Thập lục quốc thay nhau cai trị (4 nước không được tính). Phần lớn nước trong số đó do Ngũ Hồ thành lập, chỉ có 3 nước (Tiền Lương, Tây Lương, Bắc Yên) do tộc Hán lập nên.
Năm 410, quyền thần Lưu Dụ Bắc tiến diệt nước Nam Yên, năm 417 lại ra quân diệt nước Hậu Tần. Tuy nhiên, nhà Tấn vẫn không chiếm lại được miền Bắc, vì khi đó nước Bắc Ngụy đã lớn mạnh và kiểm soát nhiều đất đai Trung Nguyên. Bản thân Lưu Dụ cũng không dụng tâm giữ miền Bắc mà chỉ bắc phạt để gây uy thế chuẩn bị cướp ngôi nhà Tấn, như nhận định của Vua nước Hạ Hách Liên Bột Bột. Lưu Dụ rút đại quân về Nam, để lại con nhỏ là Lưu Nghĩa Chân mới 12 tuổi trấn thủ Trường An.
Ngay năm sau (418), Hách Liên Bột Bột lập tức Nam tiến, đánh vào đất cũ của Hậu Tần. Các tướng Tấn lại mâu thuẫn tự giết hại nhau khiến chiến sự càng bất lợi. Lưu Dụ đón con về Nam rồi sai Chu Siêu Thạch đi cứu Trường An nhưng không có kết quả. Ngoài Nghĩa Chân may mắn chạy thoát, toàn bộ các tướng lĩnh, kể cả Siêu Thạch, đều bị Bột Bột bắt sống và xử tử. Tính cả các tướng bị hại vì mâu thuẫn nội bộ, trong vụ mất Quan Trung, Đông Tấn và cá nhân quyền thần Lưu Dụ bị tổn thất 8 viên tướng. Lãnh thổ Đông Tấn thời cực thịnh (417) nhanh chóng bị thu hẹp trở lại.
Tuy mất đất, uy thế Lưu Dụ ở miền Nam không hề suy giảm, ông vẫn nắm quyền kiểm soát Triều đình Đông Tấn. Năm 419, Dụ phế và giết An Đế, lập em An Đế là Tư Mã Đức Văn lên ngôi, tức Tấn Cung Đế.
Năm 420, Dụ phế Đông Tấn Cung Đế đoạt ngôi, lập ra nhà Tống, sử gọi là Lưu Tống. Nhà Tấn chấm dứt và bắt đầu thời kỳ Nam Bắc Triều (420-589).
Nhà Đông Tấn tồn tại 104 năm, có tổng cộng 11 vua. Tính gộp với thời Tây Tấn thì nhà Tấn có 15 vua, tồn tại 156 năm (265-420).
== Chính sách kinh tế - xã hội ==
=== Tây Tấn ===
==== Tấn luật ====
Dưới thời nhà Tào Ngụy, chính quyền đã áp dụng hình phạt nghiêm khắc, và Vũ Đế đã thay đổi luật lệ theo hướng khoan dung hơn. Năm 264, Đỗ Dự soạn Tấn luật đề nghị với Tư Mã Chiêu bãi bỏ nội dung phàn tạp trong bộ luật trước, lấy nguyên tắc khoan dung để đặt ra Tấn luật, giảm nhẹ hình phạt mua chuộc nhân tâm nêu cao mục đích của việc thay thế nhà Ngụy mà lập nhà Tấn, đến năm 268 hoàn thành.
Đỗ Dự cùng đại thần Giả Sung tham gia định luật lệ và tự mình chú giải và tâu lên Triều đình. Ông nêu bật điều căn bản của pháp luật là: Pháp luật phải "trực" (thẳng) và "giản" (giản đơn), từ ngữ phải rõ ràng để người dân dễ hiểu và biết phải tránh cái gì. Ít người vi phạm thì giảm được hình phạt; pháp luật phải đáp ứng yêu cầu phân cấp bậc, minh bạch. Ý kiến của ông được tiếp nhận và luật được ban bố dùng trong cả nước.
Tấn luật có dựa vào Cửu chương luật của nhà Hán và tham khảo Ngụy luật, tuy nhiều hơn Ngụy luật 2 thiên, tổng cộng có 21 thiên nhưng chỉ có 2306 điều. Lời văn cũng thông tục rõ ràng hơn, giảm một số lớn các điều khoản nặng nề như bỏ hình phạt cấm cố thời hán mạt, có lợi cho việc phòng ngừa và giảm bớt tội phạm. Vì Tấn luật có đóng góp lớn của Đỗ Dự và Trương Bùi nên còn được gọi là Luật Trương Đỗ.
==== Ruộng đất ====
Sau khi lên ngôi, Tấn Vũ Đế định lại chế độ ruộng đất, xóa bỏ chế độ quân sự quản lý dân đồn thời Tào Ngụy, ban hành chế độ chiếm ruộng và nộp thuế:
Nông dân trong đồn điền được biên chế theo hộ tịch của quận huyện và chia ruộng theo hộ; nếu chủ hộ là đàn ông thì được chia 70 mẫu, chủ hộ là đàn bà thì được chia 30 mẫu;
Chế độ nộp khóa điền: nộp tô ruộng đất cho Triều đình. Người từ 16 đến 60 tuổi, là nam thì phải làm 50 mẫu khóa điền, là nữ thì phải làm 20 mẫu. Người từ 13-15 tuổi và từ 60-65 tuổi thì làm bằng nửa số khóa điền tương ứng theo giới tính.
Mỗi hộ phải nộp 3 thạch lúa và 3 cân bông 1 năm.
Quan lại nhà Tấn từ nhất phẩm đến cửu phẩm, tùy đẳng cấp được cấp ruộng và tá điền, thấp nhất là 10 khoảng và cao nhất là 50 khoảnh - mỗi cấp hơn nhau 5 khoảnh. Ngoài ra, quan nhất phẩm đến tam phẩm còn được thêm ruộng thái điền (vua ban) từ 6 đến 10 khoảnh. Người có tước vương, công và hầu thì được chiếm ruộng đất không hạn chế tại nước mình được phong, ngoài ra còn được xây 1 tòa nhà tại Kinh đô. Nước lớn được 15 khoảnh ruộng gần Kinh đô, nước vừa 10 khoảnh, nước nhỏ 7 khoảnh.
==== Phong ấm ====
Ngoài chế độ chiếm hữu ruộng đất, nhà Tấn còn đặt ra lệ phong ấm. Người được phong ấm được miễn thuế và sưu dịch. Quan lại, gia đình tôn thất, nhân sĩ danh tiếng đều chiếu theo cấp bậc mà hưởng lệ phong ấm. Người nhiều nhất được hưởng 9 đời, ít nhất cũng được hưởng 3 đời.
Khi có người được phong ấm thì bà con thân thích và cả đầy tớ, tá điền cũng được hưởng lộc ấm. Quan nhất nhị phẩm được 50 hộ tá điền và 3 đầy tớ, thấp nhất là cửu phẩm được 1 hộ tá điền và 1 đầy tớ. Các bậc từ công khanh trở xuống có một số nhất định trâu bò và người cày. Những người bị tù tội, khi được tha không có ruộng đất phải đi làm nông nô (điền khách) cho nhà quyền quý. Những nhà có thế lực có hàng ngàn hộ điền khách.
Chính sách ưu đãi đó đã tạo ra cuộc sống xa hoa của người quyền quý trong giai cấp thống trị, điển hình cho sự giàu có, xa xỉ là Thạch Sùng và Vương Khải nổi tiếng trong lịch sử.
=== Đông Tấn ===
==== Chính sách với người di cư từ phương Bắc ====
Trải qua một thời gian loạn lạc và bị người Hung Nô tấn công làm chính quyền Tây Tấn sụp đổ, một số lượng lớn người miền Bắc di tản xuống miền Nam. Khoảng 6-7 phần 10 các địa chủ và quý tộc miền Bắc dời bỏ đất đai cùng toàn bộ người nhà, tôi tớ, quân lính xuống Giang Nam. Có tới hàng triệu người miền Bắc đã tản cư xuống miền Nam, góp phần làm tăng thêm dân số cho nhà Đông Tấn.
Người miền Bắc được gọi là kiều nhân, sau gọi là bạch hộ, được định cư tại các khu vực riêng gọi là kiều châu, kiều quận, kiều huyện thuộc Giang Tô, Triết Giang để khai phá vùng đất miền tây trở nên giàu có. Họ được tổ chức và quản lý dưới quyền các quý tộc và địa chủ người miền Bắc như Nam Từ Châu, xung quanh Kiến Khang hoặc những quận riêng như Nam Lan Lăng ở Kinh Châu. Dân lao động dời xuống miền Nam và Trung Hồ Bắc đã mở mang vùng này thành vùng giàu có thứ 2 Giang Nam.
Sau khi Triều đình Đông Tấn được thành lập để đề phòng nạn nhân chiến loạn từ phía bắc tràn xuống Giang Nam gây ra nhiều vấn đề xã hội đã quy định những nhóm lưu dân có vũ trang không được vượt qua sông Trường Giang, đồng thời Triều đình cũng đề cử một số quan chức cho những đầu mục của các nhóm lưu dân, sắp xếp cho họ đóng tại khu vực nằm giữa Trường Giang và sông Hoài làm bức bình phong cho Triều đình Đông Tấn.
Nhà Đông Tấn quy định hộ khẩu của kiều dân (bạch hộ) không được liệt vào sổ sách hộ tịch sở tại, được miễn thuế và dao dịch để đảm bảo đặc quyền phong kiến của sĩ tộc miền Bắc. Còn dân miền Nam thì gọi là hoàng hộ. Từ giữa triều Đông Tấn về sau, chính quyền nhiều lần thực thi thổ đoán, giảm dần kiều châu, kiều quận, kiều huyện. Các kiều châu, kiều quận không có biên giới nhất định, không thu được thuế cho Nhà nước. Các sĩ tộc lợi dụng thế lực của mình để thôn tính đất đai, gom các nông dân phá sản vào điền trang của mình để làm nhân khẩu phụ thuộc gọi là ẩn khách gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập tài chính của Nhà nước.
Năm 341, Triều đình ra lệnh kiều dân từ vương công cho đến thứ dân định hộ tịch theo thực tế cư trú, đem hộ khẩu của họ liệt vào sổ hộ tịch sở tại, gọi là "Hàm Khang thổ đoán". Đến năm 350 Hoàn Ôn chủ trì ban hành luật thổ đoán gọi là Canh tuất thổ đoán. Năm 413, Lưu Dụ lại ra lệnh cho thực hiện thổ đoán lần nữa, gọi là Nghĩa Hy thổ đoán, phần lớn kiều trí quận huyện đã bị dẹp đi, gia tăng thu nhập tài chính cho chính quyền trung ương.
==== Tô thuế và sưu dịch ====
Những năm đầu, nhà Đông Tấn duy trì chế độ thu thuế từng nhà thời Tây Tấn. Từ đời Tấn Thành Đế (326-343) áp dụng chế độ tô tức chế để tăng thu cho Triều đình, bình quân mỗi mẫu lấy 1/10 sản lượng là 3 thăng gạo. Vì chế độ đó bất lợi cho giai cấp địa chủ, bị phản đối nên sang thời Ai Đế giảm xuống 2 thăng và tới đời Hiếu Vũ Đế giảm xuống chỉ còn 1 thăng.
Vương công cũng không được miễn sưu dịch; mỗi đinh nam từ 16 tuổi trở lên phải nộp thuế toàn đinh 3 hộc, từ 13-16 tuổi là nửa đinh. Để giảm sự phản đối của người lao động, Triều đình miễn thuế cho người đi làm lao công. Tuy nhiên chế độ này duy trì được 6 năm lại tăng thuế đinh từ 3 hộc lên 5 hộc và người lao công cũng không được miễn thuế. Ngoài ra, mỗi đinh nam còn phải nộp 2 trượng vải, 2 trượng lụa, 3 lạng tơ và 8 lạng bông - người nghèo và vương công, địa chủ không phân biệt mức nộp.
Ngoài ra, Triều đình còn định ra các thứ thuế:
Xi thuế: là thuế đánh vào tài sản
Hưu thuế: thuế đánh vào việc mua bán hàng, dù lớn hay nhỏ phải nộp 4%. Loại hàng giá cao như nhà cửa, nô tỳ thì người bán nộp 3%, người mua nộp 1%.
Thuế chợ, thuế bến tàu, bến xe, mọi hàng hóa đều đánh thuế 1%.
Ngoài thuế, người dân còn phải đi lao dịch rất nặng nề, cả phụ nữ cũng không được miễn. Phàm Ninh đương thời nói:
Đời xưa bắt dân đi làm không quá 3 lần 1 năm; bây giờ bắt dân đi làm cơ hồ 1 năm không được 3 ngày nghỉ.
==== Sĩ tộc ====
Chế độ sĩ tộc có từ thời Ngụy Văn Đế (Tào Phi) và được nhà Tấn duy trì. Hàng quý tộc: Vương - Công - Hầu - Bá là nhất phẩm tới tứ phẩm và các bậc ngũ phẩm đến cửu phẩm, chủ yếu là các quan văn võ, gọi là sĩ tộc. Dân thường gọi là hạ phẩm. Các gia đình sĩ tộc có nhiều quyền lợi và được truyền nối nhau làm quan nhiều đời. Những người không xuất thân từ sĩ tộc, dù có vươn lên chức vụ to trong triều cũng bị sĩ tộc coi thường là hèn kém.
Thời Đông Tấn quy định lại số lượng điền khách cho các sĩ tộc. Từ nhất phẩm, nhị phẩm được sở hữu 40 hộ (cửu phẩm thời Tây Tấn có 50 hộ), mỗi bậc sau giảm 5 hộ, đến cửu phẩm cũng có 5 hộ (cửu phẩm thời Tây Tấn chỉ có 1 hộ). Dù triều đình ban hành số lượng hạn định về ruộng đất và tá điền nhưng trên thực tế có nhiều sĩ tộc chiếm số lượng vượt quy định.
Nhà Đông Tấn quy định chặt chẽ về môn đăng hộ đối trong hôn nhân, nếu làm trái là phạm tội nặng.
== Văn hóa, khoa học ==
=== Tây Tấn ===
Văn hóa Tây Tấn được xem là sự kế tiếp từ thời Tào Ngụy. Do triều đại tồn tại ngắn, nhiều nhân vật đóng góp cho văn hóa từ thời Ngụy tiếp tục đóng góp thời Tấn. Nổi bật nhất trong số những người sống qua hai triều đại là Trúc Lâm thất hiền, gồm 7 danh sĩ tài tử: Kê Khang (223-262), Nguyễn Tịch (210-263), Nguyễn Hàm (cháu Nguyễn Tịch), Sơn Đào (205-283), Hướng Tú (227-273), Vương Nhung (234-285), Lưu Linh. Bảy danh sĩ thường tụ tập trong rừng trúc, bàn luận về chính sự và học vấn, rất hợp ý nhau.
Sau Trúc Lâm thất hiền là hàng loạt các danh sĩ theo lối Phong khí thanh đàm (bàn luận suông) chú trọng việc bình phẩm nhân vật, như Nhạc Quảng, Trương Hoa (232-300), Phó Huyền (217-278), anh em Lục Cơ (261-303) - Lục Vân (262-303).
Các nhà văn, nhà thơ đáng kể có anh em họ Lục, Phan An, Phan Nê (hai chú cháu), Thái Phân, Tả Xung, Lý Mật.
Trên lĩnh vực sử học, đáng kể nhất là Trần Thọ (233-297) với công trình sử học Tam Quốc chí. Cha con Bùi Ngỗi, Bùi Tú với bộ bản đồ lịch sử Vũ Cống cương vực đồ. Danh tướng Đỗ Dự còn là người có công chú giải sách Tả truyện trong Xuân Thu Tả truyện kinh truyện tập giải.
Về y học có Vương Thúc Hòa với công trình y học Mạch kinh và nổi bật là Hoàng Phủ Mật (215-282) với bộ Châm cứu Giáp Ất kinh, được xem là tác phẩm chuyên về châm cứu đầu tiên.
Công thần khai quốc Vệ Quán (220-291) từng có công dẹp Chung Hội ở đất Thục thời Tam Quốc và chết trong Loạn bát vương, cùng con trai Vệ Hằng và con gái Vệ Thước là những nhà thư pháp nổi tiếng thời Tây Tấn.
Về cơ giới, Mã Hoàn (200 – 265, người nước Ngụy, Tam quốc) thiết kế lại xe chiến mã năm 255, thiết kế guồng nước, cải tạo khung dệt. Mã Hoàn cải tạo máy dệt thoi tăng năng suất lên 5 lần, chế tạo guồng nước để tưới tiêu gọi là phiên xa (guống nước hình xương rồng) có khả năng đưa nước từ thấp lên cao một cách liên tục với hiệu suất cao có tác dụng nhất định trong phát triển sản xuất của xã hội đương thời. Do ông có kiến thức sâu rộng về máy móc chuyển động nên người đương thời gọi Mã Hoàn là Xảo tự tuyệt thế (khéo nghĩ nhất trên đời). Phát minh thuốc súng (thời đó chỉ sử dụng để làm pháo) và xe kút kít được coi là xảy ra vào thế kỷ thứ sáu hay thứ bảy.
Chỉ nam xa của Mã Hoàn sáng chế năm 254 là một chiếc máy điều khiển học. Nhờ có một bộ truyền động bánh răng vi sai, pho tượng trên xe luôn chỉ hướng nam, dù xe được kéo đi theo bất cứ hướng nào, sau đó được Tổ Xung Chi (429 -500) thời Lưu Tống cải tiến, áp dụng trong lĩnh vực giao thông đường bộ và thủy.
=== Đông Tấn ===
Thời Đông Tấn, tuy chính quyền suy yếu, phải nép xuống miền Nam nhưng về văn hóa và khoa học có rất nhiều thành tựu.
Cát Hồng (283-363) được xem là nhà khoa học nhiều môn. Ông để lại tác phẩm Bão Phác Tử đề cập rất nhiều lĩnh vực: y học, hóa học, thuật luyện kim ở mức độ sơ khai.
Dưới thời Đông Tấn, nhà thiên văn học Ngu Hỷ đã phát hiện 1 năm hằng tinh hoàn toàn không nhất trí với 1 năm mặt trời cho nên thời gian khoảng 50 năm thì sai biệt nhau 1 độ. Việc phát hiện hiện tượng này đã giúp cho các nhà tính lịch pháp có thể soạn lại bộ lịch mới. Sau này Tổ Xung Chi đã dựa vào thành quả đó để làm ra lịch Đại Minh.
Về thư pháp và hội họa, thời Đông Tấn đóng góp nhiều hơn cả, nổi bật nhất là Vương Hi Chi (cháu Vương Đạo), Vương Dị, Cố Khải Chi, Đới Quỳ. Vương Hi Chi nổi tiếng nhờ học được thuật thư pháp của Vệ Thước - con gái nhà thư pháp Vệ Quán thời Tây Tấn. Vương Hi Chi (303 – 361) đã viết Lan Đình thiếp, được coi là một báu vật đương thời. Hai cha con Vương Hi Chi, Vương Hiến Chi nổi tiếng về kim thảo (Thảo thánh nhị vương). Trong 4 đại gia tộc Vương, Tạ, Hi, Dữu đời Đông Tấn, thì họ Vương là hiển hách nhất kể cả trong lĩnh vực Thư pháp. Họ Vương sản sinh nhiều Thư pháp gia, không chỉ có cha con tranh đua nhau, huynh đệ học tập nhau còn có việc vợ chồng so sánh nhau... cùng nhau truyền dạy Thư pháp, trong đó, sự xuất hiện của cha con Vương Hi Chi, Vương Hiến Chi được người đời tôn xưng là "Nhị Vương", chính là niềm tự hào của họ Vương và của cả nền thư pháp Đông Tấn.
Vương Hi Chi có 7 người con trai và 1 người con gái. Cả 7 người con đều tinh thông thư pháp, trong đó Vương Hiến Chi là con út nhưng kiệt xuất hơn cả. Vương Hiến Chi từ nhỏ lập chí lớn, chăm chỉ khổ luyện thư pháp, và trở thành một nhà thư pháp lớn. Vương Hiến Chi bắt đầu từ tiểu Khải với thành tựu là "Lạc Thần Phú Thập Tam Hàng - 洛神赋十三行", dùng bút nội mật ngoại sơ, kết thể nghiêm cẩn, hình thái tú lệ. Vương Hiến Chi sáng tạo ra:"Cảo hành chi thảo" là một trong những cống hiến lớn, ngoài ra ông còn sáng tạo "Nhất bút thư". Hiến Chi khiến Chương thảo của Trương Chi và Kim thảo của Vương Hi Chi tiến thêm một bức nữa. Tác phẩm "Trung thu thiếp" là một trong những tác phẩm tiêu biểu của "Nhất bút thư", bút thế liên miên bất tuyệt, uốn lượn như sông lớn, cuồn cuộn muôn dặm biểu hiện khí thế anh hùng, hào sảng, đây là một trong "Tam Hi" đời nhà Thanh.
Đường huynh của Vương Hiến Chi là Vương Huy Chi, tự là Tử Do, làm quan tới chức Hoàng môn đãi lang, tính sảng khoái, không câu thúc, giỏi Chân, Thảo, "Tuyên Hòa thư phổ" bình luận là: "Luật dĩ gia pháp, tại Hi Hiến gian" (Theo học lối nhà, ở giữa Hi (Vương Hi Chi), Hiến (Vương Hiến Chi), truyền thế còn tác phẩm "Tân nguyệt thiếp".
Cố Khải Chi (348 – 409) là hoạ sĩ kiêm văn nhân. Hơn 500 năm sau, danh sĩ Lý Tự Chân đời Đường, đã viết trong sách Hậu họa phẩm: "Cố thiên tài kiệt xuất, đứng riêng một mình một cõi, không ai sánh bằng. Ông suy nghĩ ngang với tạo hóa, hiểu được diệu lý của sự vật…". Ông được coi là tam tuyệt (tài tuyệt, si tuyệt, họa tuyệt) tôn làm bậc họa thánh, là nhà lý luận và họa gia vẽ tranh nhân vật xuất sắc. Chủ trương truyền thần tả chiếu, vẽ người phải thực đối để từ đó suy nghĩ tìm tòi thấy được chỗ kỳ diệu. Bằng sáng tác và lý luận, ông đã sớm đưa giới họa gia trở nên tên tuổi, có vị trí xã hội vượt lên khỏi hàng thợ thủ công (điều mà đến thế kỷ 16, châu Âu mới đạt được). Trong số những kiệt tác của Cố Khải Chi có hai tác phẩm được thiên hạ từ cổ chí kim tán thưởng, đó là Nữ sử châm đồ và Lạc thần phú đồ.
Về sử học có Can Bảo và Điêu Tạc Xỉ là nổi danh nhất. Can Bảo soạn Tấn kỷ về sử nhà Tấn, sau này có nhiều đoạn được Tư Mã Quang dẫn lại khi soạn Tư trị thông giám. Điêu Tạc Xỉ soạn sách Hán Tấn Xuân Thu theo lối biên niên, từ Hán Quang Vũ Đế tới Tấn Mẫn Đế (25-316).
Về thơ ca và văn học, lớn nhất là tên tuổi Đào Tiềm (365 - 427). Ông là chắt nội danh tướng Đào Khản, không những chỉ là nhà thơ lớn thời Đông Tấn mà còn được thừa nhận là một trong những nhà thơ, nhà văn hóa lớn của Trung Quốc. Các tác phẩm Đào Hoa nguyên ký và Ngũ Liễu tiên sinh truyện của ông được truyền tụng đến nhiều đời sau.
== Các vua nhà Tấn ==
== Các sự kiện chính ==
Loạn bát vương (Bát vương chi loạn)
Sự tàn phá của Ngũ Hồ
Trận sông Phì
== Các danh tướng văn, võ nhà Tấn ==
Đỗ Dự
Vương Tuấn
Vương Tuấn
Vương Đạo
Vương Đôn
Tổ Địch
Hoàn Ôn
Đào Khản
Vương Hi Chi
Tạ Huyền
Hoàn Huyền
Lưu Lao Chi
Lưu Dụ
== Tham khảo ==
Học viện quân sự cấp cao (1992), Lịch sử Trung Quốc từ thượng cổ đến Năm đời Mười nước.
Thẩm Khởi Vĩ (2007), Kể chuyện Lưỡng Tấn Nam Bắc triều, Nhà xuất bản Đà Nẵng
Cát Kiếm Hùng chủ biên (2004), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Tấn Vũ Đế
Loạn bát vương
Ngũ Hồ thập lục quốc
Trận Phì Thủy
Lưu Tống |
chữ pallava.txt | Chữ Pallava là một loại chữ viết được phát triển bởi triều đại cùng tên ở miền Trung và Nam Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6.
Chữ Pallava là nguồn gốc của nhiều hệ thống chữ viết ở Đông Nam Á ví dụ như chữ Java, chữ Kawi, Baybayin, chữ Môn, chữ Miến Điện, chữ Khmer, chữ Lan Na, chữ Thái chữ Lào, và chữ Lự giản thể.
== Bảng chữ cái ==
Bảng chữ cái Pallava thế kỷ thứ 7. Những âm đánh dấu hoa thị (*) có độ xác thực không chắc chắn và ít xuất hiện ở Đông Nam Á.
Nguồn: SkyKnowledge.com
=== Phụ âm ===
Mỗi ký tự phụ âm nếu đứng độc lập một mình, không có ký tự nguyên âm kèm theo, thì người ta sẽ đọc nó kèm với nguyên âm /a/. Nếu hai phụ âm đứng kèm nhau và không có nguyên âm nằm giữa chúng, phụ âm đứng sau sẽ viết nhỏ và dưới phụ âm đứng trước.
=== Nguyên âm độc lập ===
== Tham khảo ==
Sivaramamurti, C, Indian Epigraphy and South Indian Scripts. Bulletin of the Madras Government Museum. Chennai 1999
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Examples of Pallava at SkyKnowledge.com |
phim quảng cáo.txt | Phim quảng cáo (hoặc còn gọi hẹp là Quảng cáo truyền hình, theo thuật ngữ tiếng Anh là television advertisement hay television commercial -viết tắt TVad hay TVC- hoặc thường được gọi đơn giản là commercial hay advert) là một dạng phim hay tiết mục được dàn dựng sản xuất, lưu hành trên những phương tiện truyền thông đại chúng khác nhau và phải trả phí bởi những công ty, tổ chức, hội đoàn muốn quảng bá một thông điệp nào đó, thường là để quảng cáo hay khuyến mại một món hàng nào hoặc để cổ động, phổ biến điều gì đó.
Nguyên thủy những phim quảng cáo này được chiếu trên truyền hình (như tên gọi theo tiếng Anh) nhưng sau này dịch vụ này đã phát triển thành phim quảng cáo trực tuyến trên các phương tiện truyền thông đa phương tiện khác như các trang web tư nhân, trang web thương mại hoặc trang web dịch vụ (như Youtube, Yahoo) trên hệ thống mạng, hoặc chiếu trong những rạp hát, rạp chiếu phim (trước hoặc sau, đôi khi giữa phim chính), trong siêu thị, hoặc những nơi công cộng. Thu nhập từ quảng cáo là một phần quan trọng trong nguồn ngân sách của một mạng lưới truyền hình tư nhân, nay trong thời bùng nổ thông tin, quảng cáo ngày càng được phổ biến nhiều trên mạng và cũng là nguồn thu nhập lớn cho các trang web. Sự phong phú của phim quảng cáo ngày nay bao gồm những quảng cáo ngắn (brief advertising spot), có độ dài từ vài giây đến nhiều phút cũng như các chương trình quảng cáo cung cấp thông tin đặc biệt trong thời gian dài (infomercial) khác. Hình thức cũng được sử dụng phong phú từ những hoạt hình (animation), Flash trên web, đến phim video, phim nhựa.
== Phạm vi ứng dụng ==
Các phim quảng cáo này có thể do các tổ chức, đoàn thể (kinh doanh hoặc phi kinh doanh) sản xuất vì mục tiêu kinh doanh hoặc phi thương mại, phi lợi nhuận. Vì mục tiêu kinh doanh, người ta có thể quảng cáo mọi thứ sản phẩm, dịch vụ mà luật pháp cho phép. Vì mục tiêu phi kinh doanh, phi thương mại, người ta có thể quảng cáo cho các mục tiêu như chống hút thuốc, bảo vệ môi trường, tuyên truyền lợi ích công cộng, vận động từ thiện, cổ động bầu cử...
Tại Hoa Kỳ, các mục tiêu chính trị như chiến dịch tranh cử và các chính trị gia được phép dùng quảng cáo truyền hình và các chiến dịch quảng cáo trên truyền hình. Hiệu quả của quảng cáo truyền hình dựa vào mạng lưới truyền hình công cộng đã rất thành công và phổ biến ở quốc gia này, người ta cho rằng một nhà chính trị sẽ không có khả năng giành được thắng lợi trong một chiến dịch bầu cử nếu không có quảng cáo truyền hình. Tuy nhiên, tại một số nước khác như Pháp, Nhật Bản việc này bị cấm.
== Lịch sử ==
Quảng cáo truyền hình được phát sóng lần đầu tại Mỹ vào lúc 14:29 ngày 1 tháng 7 năm 1942 sau khi quảng cáo thương mại trên truyền hình được Ủy ban Thông tin Liên Bang (FCC hay Federal Communication Commission) chấp nhận trên nguyên tắc. Đó là đoạn phim mà công ty sảm xuất đồng hồ Bulova Watch đã trả 9 đôla cho New York City NBC chi nhánh của WNBT (hiện nay là WNBC) để có 20 giây lên hình trước một trận bóng rổ giữa hai đội Brooklyn Dodgers và Philadelphia Phillies. Nó chỉ có cảnh đơn giản là một chiếc đồng hồ Bulova nằm trên tấm bản đồ Mỹ, với một giọng nói đọc khẩu hiệu của công ty "America runs on Bulova time!" (Tạm dịch: Nước Mỹ chạy bằng thời gian của Bulova)
== Đặc điểm ==
Rất nhiều quảng cáo truyền hình lôi cuốn người xem bởi phần âm nhạc (bài hát hoặc giai điệu) hoặc các cụm từ gây ấn tượng (catch-phrase) và dễ nhớ, cái sẽ còn đọng lại trong tâm trí người xem một thời gian dài sau khi chiến dịch quảng cáo đó kết thúc. Một vài nhạc nền hoặc các cụm từ dễ nhớ đó còn có thể có được sức sống riêng, trở thành câu cửa miệng hoặc những đoạn nhạc dạo "riff" và được sử dụng trong các loại hình truyền thông khác, như phim hài hoặc các show truyền hình nhiều kỳ, hay trong các loại hình truyền thông viết, ấn phẩm như tạp chí comic (hí họa) hay văn học. Những phần quảng cáo có sức sống lâu dài này còn có thể có chỗ đứng trong lịch sử văn hóa đại chúng của người dân nơi mà nó có sức ảnh hưởng. Một ví dụ tiêu biểu là cụm từ bất tử "Winston tastes good like a cigarette should" (Tạm dịch: Hương vị Winston ngon như một điếu thuốc lá cần có) từ chiến dịch quảng cáo dài 18 năm của hãng thuốc lá Winston từ những năm 50 đến những năm 70. Thậm chí hai thập niên sau khi chiến dịch quảng cáo này kết thúc, những dị bản của câu nói này và những phiên bản dựa trực tiếp vào nó vẫn còn đầy sức hấp dẫn. Ví dụ khác là câu "Where’s the Beef?" (Tạm dịch: Thịt bò đâu nhỉ ? ) được Walter Mondale dùng trong chiến dịch tranh cử Tổng thống Mỹ đã trở nên rất phổ biến sau đó. Hay như một cụm từ dễ nhớ nữa là "I’ve fallen and I can’t get up" (Tạm dịch: Tôi đã gục ngã và tôi không thể đứng dậy), đôi khi vẫn còn xuất hiện hàng thập niên sau lần đầu tiên nó được sử dụng.
Các hãng quảng cáo thường sử dụng sự hài hước như một công cụ trong các chiến dịch tiếp thị sáng tạo. Thực tế, nhiều nhà nghiên cứu tâm lý học đã cố gắng để chứng minh hiệu quả của yếu tố hài hước và chỉ ra đó là cách để tạo ra sức mạnh thuyết phục cho quảng cáo.
Hoạt hình và hí họa (tranh vẽ vui) thường được sử dụng trong quảng cáo. Những bức tranh có thể biến đổi từ cách vẽ tay trong hoạt hình truyền thống đến cách sử dụng máy tính để dựng lên các đoạn phim hoạt hình. Bằng cách sử dụng các nhân vật hoạt họa, một đoạn quảng cáo có thể có sức hấp dẫn mạnh mẽ mà khó có thể đạt được với diễn viên hay chỉ là trưng ra hình ảnh độc nhất của sản phẩm (chỉ hiển thị các sản phẩm). Vì lý do này, có thể thấy rất nhiều ví dụ về quảng cáo hoạt hình (hay một series những quảng cáo loại này) có ảnh hưởng lâu dài đến hàng thập niên sau. Một minh chứng tiêu biểu là series quảng cáo của sản phẩm ngũ cốc Kellogg có các nhân vật chính là Snap, Crackle và Pop. Các phim quảng cáo hoạt hình thường kết hợp với diễn viên thực.
Một chiến dịch quảng cáo trong thời gian dài có thể khiến mọi người phải bất ngờ hoặc thậm chí đánh lừa người xem. Ví dụ như series quảng cáo Energizer Bunny (thỏ máy Energizer), nó bắt đầu từ cuối những năm 80 như một quảng cáo so sánh đơn giản, trong một căn phòng đầy những con thỏ chạy bằng pin đang gõ trống, tất cả đều gõ chậm dần... trừ một con, chạy bằng pin Energizer. Nhiều năm sau đó một phiên bản dựa trên đoạn quảng cáo ban đầu này có cảnh chú thỏ Energizer thoát khỏi sân khấu và vẫn tiếp tục (theo lời bình, nó "vẫn liên tục và liên tục và liên tục..." -"keeps going and going and going..."). Đoạn phim mới này chỉ là sự nối tiếp của cái đã xuất hiện để trở thành một quảng cáo khác: người xem thấy rõ được sự thật rằng "quảng cáo" tiếp theo thực tế là một sự nhái lại của quảng cáo đã nổi tiếng cũ cho đến khi chú thỏ Energizer đột nhiên bị ấn vào vị trí đó, với lời bình nói rằng "vẫn liên tục..." (Bằng cách đó công ty sản xuất pin Energizer nhấn mạnh rằng pin của họ có thể chạy lâu hơn bất cứ loại pin tốt nhất nào). Chiến dịch quảng cáo này kéo dài trong gần 19 năm. Series về chú thỏ máy Energizer được bắt chước trong những quảng cáo khác, như quảng cáo Coors Light Beer, trong các bức tranh chuyển động, và thậm chí bởi những quảng cáo hiện nay của hãng bảo hiểm Geico Insurance.
== Quảng cáo Truyền hình trên thế giới ==
=== Tại Mỹ ===
==== Tần suất ====
Quảng cáo xuất hiện giữa các show truyền hình, nhưng thường cắt ngang một show giữa hai sự kiện. Phương pháp của các quảng cáo cắt ngang (screening advertisements) này nhằm mục đích tóm hoặc chộp lấy sự chú ý của công chúng, vì người xem vẫn chú ý vào show truyền hình nên họ sẽ không muốn chuyển kênh; mà thay vào đó; họ sẽ (hy vọng là thế) xem các đoạn quảng cáo trong khi chờ cảnh tiếp theo của show. Đây là một kỹ thuật làm tăng tính hồi hộp, đặc biệt nếu sự cắt ngang này xảy ra tại một đoạn đầy kịch tính trong show.
Toàn bộ nền công nghiệp này tồn tại chỉ nhằm một nhiệm vụ duy nhất là giữ cho khán giả đủ hứng thú để ngồi xem hết các đoạn quảng cáo. Hệ thống tính toán tỉ lệ Neilsen ra đời như một cách thức để các đài truyền hình khẳng định được mức động thành công của các show truyền hình của mình, nhờ đó có thể đưa ra quyết định về chi phí mà các nhà quảng cáo phải trả khi muốn quảng cáo của mình được phát sóng.
Quảng cáo lấy đi thời gian phát sóng của các chương trình khác. Vào những năm 60, một show truyền hình điển hình của Mỹ thường dài khoảng 51 phút bao gồm cả quảng cáo. Ngày nay, một chương trình tương tự có thể chỉ dài 42 phút; một show 30 phút điển hình bao gồm 22 phút chương trình chính thức, còn lại là 6 phút cho quảng cáo quốc gia và 2 phút cho quảng cáo địa phương.
Nói cách khác, cứ mỗi 10 tiếng, trung bình một người Mỹ sẽ xem xấp xỉ 3 tiếng quảng cáo, gấp đôi lượng thời gian mà họ phải xem trong những năm 60. Hơn nữa, nếu các show trong thập niên 60 được phát lại ở hiện tại thì lượng thời gian của chúng có thể bị cắt bớt khoảng 9 phút để chèn vào các chương trình quảng cáo (điều này có thể thấy trong một số show của đài Star Trek).
Trở lại những năm 50, 60, độ dài trung bình của quảng cáo truyền hình thường chỉ là 1 phút. Nhưng theo thời gian, độ dài trung bình ấy rút ngắn lại chỉ còn 30 giây (hoặc 10 giây tùy theo quy định thời gian của mỗi đài truyền hình). Tuy nhiên, phần lớn các quảng cáo ngày nay đều kéo dài trong 15 giây.
Mức độ thường xuyên của quảng cáo truyền hình được tính bằng mã số ISCI (Industry Standard Commercial Identifier).
==== Mức phổ biến ====
Tại Mỹ, quảng cáo truyền hình được coi là hình thức quảng cáo tiếp thị đại chúng hiệu quả nhất, và điều này kéo theo sự gia tăng nhanh chóng thời lượng quảng cáo chèn vào những chương trình phổ biến trên sóng các mạng lưới truyền hình. Giải trò chơi về bóng đá Super Bowl nổi tiếng vì chính bản thân chương trình cũng như thời lượng các quảng cáo chèn vào, và chi phí trung bình cho mỗi 30 giây quảng cáo trên truyền hình trong suốt trò chơi (thu hút 90 triệu khán giả) đã lên tới 2,7 triệu USD (vào tháng 2/2008).
Vì một chương trình quảng cáo có thể được phát sóng lặp đi lặp lại trong khoảng thời gian hàng tuần, hàng tháng, thậm chí là hàng năm (công ty Tootsie Roll đã tung ra một quảng cáo nổi tiếng có câu hỏi: "How many licks does it take to get to the tootsie center of a Tootsie Pop?" – mất bao nhiêu lượt click để bạn đến được trung tâm tootsie của Tootsie Pop? – trong suốt quãng thời gian hơn ba chục năm), các studio sản xuất quảng cáo truyền hình thường bỏ ra một lượng tiền khổng lồ cho một đoạn quảng cáo 30 giây trên truyền hình. Phí tổn to lớn này cho ra kết quả là các quảng cáo chất lượng cao, một trong số đó có thể tự hào về chất lượng sản xuất tốt nhất, sử dụng những hiệu ứng công nghệ mới nhất, phong cách được ưa chuộng nhất, và có phần nhạc nền tốt nhất. Một số các quảng cáo truyền hình được sản xuất một cách tỉ mỉ đến nỗi có thể coi chúng là phiên bản thu nhỏ của một bộ phim dài 30 phút; thêm vào đó; rất nhiều đạo diễn phim cũng dạo diễn cho các quảng cáo truyền hình với mục đích vừa được quảng cáo, lại vừa kiếm được tiền. Một trong số các đạo diễn phim điện ảnh nổi tiếng nhất của Ridley Scott cũng chính là đạo diễn quảng cáo truyền hình đã đạo diễn cho quảng cáo của hãng máy tính Apple Macintosh, phát sóng năm 1984. Dù cho quảng cáo đó chỉ được phát sóng có 1 lần, (bên cạnh những quảng cáo đặc biệt thường xuyên xuất hiện trên truyền hình), nó vẫn trở nên nổi tiếng và được yêu thích, đến mức được coi là một thước phim kinh điển.
Mặc cho sự phổ biến của quảng cáo truyền hình, nhiều người cho rằng chúng rất khó chịu vì một số lý do. Mà lý do chính là âm thanh của quảng cáo truyền hình ngày càng có xu hướng lớn hơn (một số trường hợp là lớn hơn rất nhiều) so với các chương trình thông thường, cũng như việc phát đi phát lại một quảng cáo giống nhau, là lý do gây phiền phức thứ hai. Nguyên nhân thứ ba có thể là khả năng gia tăng quảng cáo của các đài truyền hình, các chiến dịch quảng cáo còn mở rộng phạm vi từ các công ty điện thoại di động và các nhà hàng fastfood đến những doanh nghiệp địa phương và doanh nghiệp nhỏ.
Từ quan điểm này, lý do chính khiến người ta thấy quảng cáo phiền phức là do những lời mời chào của chúng không thích hợp với họ trong thời điểm đó, hoặc sự diễn đạt không rõ ràng. Một khán giả thông thường đã nhìn thấy đủ loại quảng cáo để biết trước rằng phần lớn phim quảng cáo là khó chịu, khiến cho người xem chọn lọc kỹ và thẳng tay loại bỏ những gì họ không muốn xem. Ngược lại, nếu một quảng cáo đánh đúng vào mối quan tâm của khán giả (như một quảng cáo về sự giảm nợ chiếu ngay trước mắt một khán giả vừa nhận được cảnh cáo nợ trong hộp thư), hoặc có giá trị giải trí bên cạnh thông điệp chính (như quảng cáo được cho là hài hước kinh điển trong chiến dịch "Where's the beef?" của Wendy), lúc ấy người xem sẽ muốn theo dõi đoạn quảng cáo, thậm chí còn có thể mong chờ để được xem lại nó .
==== Các hạn chế ====
Từ những năm 70, quảng cáo về thuốc lá đã bị cấm trên truyền hình Mỹ. Quảng cáo về rượu vẫn được phép chiếu, nhưng sự tiêu thụ các sản phẩm có chất cồn lại bị cấm chiếu trên truyền hình. Từ cuối thập niên 90 quảng cáo truyền hình đa dạng và biến đổi không ngừng, thêm vào đó là hàng gia dụng và thực phẩm tuy còn nhưng không quảng cáo nhiều như trong thời gian giữa thế kỷ trước.
==== Có phải là một chương trình? ====
Từ những năm 1960, những nhà phân tích truyền thông đòi hỏi phải có sự phân định rạch ròi giữa "chương trình" và "quảng cáo" đã bị đuối lý khi ranh giới đó cũng khó phân định như thời bắt đầu của truyền thông, khi mà phần lớn các show truyền hình được bảo trợ bởi những tập đoàn. Trước đây, trong những thập niên 70 đến 90, các đài truyền hình Mỹ thường có thông lệ báo trước khi quảng cáo (như là nói "We'll return after these messages...", "...now back to our programming" - "Chúng tôi sẽ trở lại sau thông tin này...", "bây giờ trở lại chương trình của chúng tôi") để giúp trẻ em phân biệt rạch ròi giữa chương trình và quảng cáo. Chương trình duy nhất không nằm trong quy luật này là các bản tin và các chương trình thông tin liên quan đến tin tức. Cả điều kiện của những chương trình dành cho trẻ em đã được giảm nhẹ một chút từ thời kỳ những năm 70 và 80.
=== Tại châu Âu ===
Tại rất nhiều nước châu Âu quảng cáo truyền hình xuất hiện trong thời gian dài hơn nhưng lại ít ngắt quãng hơn. Ví dụ như thay vì cứ 8 phút lại có 3 phút quảng cáo thì thời gian này là 6 hoặc 7 phút quảng cáo cho mỗi giờ. Luật pháp của Liên minh châu Âu giới hạn thời gian quảng cáo trên truyền hình là 12 phút trên một tiếng (20% thời lượng), với một chương trình độ dài tối thiểu là 20 hoặc 30 phút, tùy theo nội dung của nó. Tuy nhiên, những giới hạn tối đa và việc điều chỉnh mức xê dịch của chúng có sự khác biệt lớn ở từng quốc gia cả trong và ngoài EU, và cả từ mạng lưới truyền hình này sang mạng lưới khác. Không giống như Mỹ, tại châu Âu tên các hãng quảng cáo có thể xuất hiện ở đầu hoặc cuối quảng cáo.
==== Anh quốc ====
Ở nước Anh, đài BBC (British Broadcasting Corporation) được tài trợ bởi phí xem truyền hình từ người có truyền hình và không có quảng cáo. Tuy nhiên, trong những kênh thương mại, thời lượng phát sóng được quy định bởi Independent Television Authority và do đó thời lượng quảng cáo trung bình của được quy định là 7 phút mỗi giờ với hạn chế là 12 phút trong tổng thời gian 1 tiếng phát sóng. Với một chương trình dài 42 phút của Mỹ xuất khẩu sang nước Anh, như chương trình Lost, với thời lượng phát sóng là 1 giờ, trong đó chiếm gần 1/3 là thời gian cho quảng cáo hoặc trailer giới thiệu cho chương trình khác. Kênh miễn phí đã tạo ra lối vào rất rẻ thay cho việc đặt các dịch vụ Vệ tinh hay truyền hình cáp và đã chiếm hơn 80% đầu vào của các mạng truyền hình kỹ thuật số. Sự phát triển của các kênh truyền hình phức hợp thay đổi bộ mặt của quảng cáo truyền hình, tạo ra công cụ hiệu quả cho các công ty với những sản phẩm thích hợp và khán giả chọn lọc cũng là đối tượng thích hợp. Quảng cáo 30-giây trên các kênh truyền hình kỹ thuật số như Shy New, MTV hay E4 có thể được mua với số tiền ít hơn 50 Bảng Anh, và quảng cáo trên những kênh chuyên ngành và ít khán giả hơn như Business Channel, Motors TV hay Real Estate TV là dưới 5 Bảng/30 giây. Kênh truyền hình mới khởi chiếu hàng tuần ở Anh, và cơ hội quảng cáo là rất nhiều.
Năm 2008, cơ quan điều chỉnh các chương trình phát sóng của Anh đã tuyên bố một thanh tra các quy định về thương mại qua truyền hình và quảng cáo truyền hình, và có thể thay đổi Nguyên tắc về tổng thời lượng và phân phối của quảng cáo (RADA), nhằm điều chỉnh hạn chế sự phân bố và mức độ thường xuyên mà quảng cáo xuất hiện trên truyền hình.
==== Đức ====
Cũng như ở Anh, tại Đức, các đài truyền hình công cộng có tài trợ chính phủ nắm thị phần lớn. Chương trình của họ được hỗ trợ bởi phí xem truyền hình thu từ những người có truyền hình tại nhà cũng như các quảng cáo trong những giờ đặc biệt của ngày (từ 5 giờ đến 8 giờ tối), ngoại trừ Chủ Nhật và các ngày nghỉ. Các đài truyền hình tư nhân được cho phép có 12 phút quảng cáo mỗi giờ với thời lượng tối thiểu là 20 phút chương trình chính giữa các lần ngắt phát sóng.
==== Ireland ====
Tại nước Cộng hòa Ireland, các đài phát thanh truyền hình lớn nhất quốc gia là RTÉ và TG4 được hỗ trợ vốn từ phí xem truyền hình. Tuy nhiên, cả hai đều được Ủy ban Phát sóng Ireland cho phép có thời lượng quảng cáo lên tới 5 phút mỗi nửa tiếng (tức 10 phút mỗi giờ). Thời lượng quảng cáo trên kênh TV3 và Channel 6 còn được phép kéo dài tới 12 phút/giờ.
==== Phần Lan ====
Tại Phần Lan, có hai kênh truyền hình phi thương mại chính điều hành bởi công ty phát sóng quốc doanh YLE, chỉ phát các quảng cáo vào những dịp rất hiếm hoi, như những sự kiện thể thao quan trọng. Còn ba kênh truyền hình thương mại chính là MTV3, SubTV (một phân nhánh của MTV3), và Nelonen (nghĩa là "Số 4" trong tiếng Phần Lan), tất cả đều phát sóng các quảng cáo cắt ngang chương trình của họ khoảng 15 phút một lần. Từ khi đài truyền hình kỹ thuật số được giới thiệu, số lượng các kênh truyền hình đã tăng lên, với YLE và các đài truyền hình chính đều có thêm các kênh mới (bao gồm một số kênh phải trả tiền). Các đài sử dụng công nghệ Analogue chấm dứt hoạt động từ tháng 8/2007 và toàn bộ hệ thống dịch vụ truyền hình quốc gia giờ đây đều sử dụng công nghệ kỹ thuật số. Mỗi phần quảng cáo cắt ngang thường kéo dài 4 phút. Thời lượng của các quảng cáo "tư nhân" chỉ có thể kéo dài trong vài giây (thường là 7, 10 hoặc 15 giây), nhưng ngày nay chúng thường hiếm khi kéo dài quá 1 phút. Rất nhiều quảng cáo của các công ty siêu quốc gia đều được chuyển ngữ sang tiếng Anh. Mặc dù tiếng Thụy Điển là ngôn ngữ chính thức của người Phần Lan, các quảng cáo hầu như lại không sử dụng thứ tiếng này. Tiếng Anh cũng không phổ biến lắm.
==== Nga ====
Một chương trình quảng cáo cắt ngang ở Nga gồm hai phần: quảng cáo toàn liên bang và quảng cáo địa phương. Sự phân bố thời lượng cho mỗi phần là 4 và 15 phút mỗi giờ. Chính phủ Nga có ý định gia tăng quảng cáo trên truyền hình vì sự giảm xuống của mức thuế cho các kênh truyền hình.
=== Châu Á ===
==== Malaysia ====
Tại Malaysia, một chương trình quảng cáo cắt ngang điển hình kéo dài 5 phút.
==== Philippines ====
Tại Philippines, mạng lưới truyền hình quy định tổng thời lượng quảng cáo được phát.
Hiệp hội các đài phát thanh truyền hình Philippins KBP (Kapisanan ng mga Brodkaster ng Pilipinas), nắm quyền điều khiển hầu hết các đài phát thanh truyền hình lớn của quốc gia này chỉ trừ GMA Network, đang thực hiện nghiêm túc quy định 18-phút-trên-giờ, nghĩa là, mỗi một chương trình phát sóng dài một tiếng chỉ có thể có tối đa 18 phút dành cho quảng cáo. Tổ chức này cho biết, quy định này nhằm "kích thích hứng thú của công chúng."
Quảng cáo về thuốc lá bị cấm trong cả nước. Hầu hết các quảng cáo dài từ 10 đến 30 giây/1 phim.
==== Australia ====
Cũng giống như Liên Minh châu Âu, quảng cáo trên các kênh truyền hình thương mại ở Australian bị hạn chế trong 24 giờ; không có bất cứ hạn chế nào về chuyện quảng cáo xuất hiện bao nhiêu lần trong mỗi giờ . Cũng có những hạn chế khác về quảng cáo truyền hình ở Australia, như cấm tuyệt đối quảng cáo trong suốt một chương trình dành cho trẻ em. ABC, đài truyền hình quốc gia Australia không phát các quảng cáo bên ngoài, mà chỉ ở giữa các chương trình xúc tiến cho các quảng cáo thương mại cho chính đài trong thời gian phát sóng của mỗi chương trình, nhưng bị giới hạn chỉ trong khoảng 5 phút/1 tiếng.
== Âm nhạc trong Quảng cáo Truyền hình ==
Trở lại những năm 80, âm nhạc trong quảng cáo truyền hình thường được giới hạn trong sự lặp âm và âm nhạc kèm theo; một vài trường hợp có phần lời bài hát từ những ca khúc nổi tiếng đã được thay đổi để tạo ra bài hát chủ đề hay một đoạn lặp lại cho một sản phẩm riêng biệt. Năm 1971 một cuộc tranh cãi đã xảy ra khi bài hát viết cho quảng cáo Coca-Cola được thu âm lại như một single nhạc pop "I'd Like to Teach the World to Sing" bởi New Seeker, và trở thành một hit. Một số ca khúc pop và rock cũng được thu âm lại bởi những band nhạc cover để sử dụng cho quảng cáo, nhưng chi phí trả tác quyền cho những bản thâu âm gốc cho mục đích này vẫn còn cao cho đến tận cuối những năm 80.
Việc sử dụng những ca khúc nổi tiếng được thu âm từ trước trong quảng cáo truyền hình bắt đầu sớm nhất vào 1985 khi Burger King sử dụng bản thu âm gốc ca khúc "Freeway of Love" của Arethe Franklin trong quảng cáo truyền hình cho 1 quán ăn. Chuyện này cũng xảy ra năm 1987 khi Nike sử dụng bài hát thu âm nguyên bản "Revolution" của nhóm The Beatles trong một quảng cáo truyền hình về giày điền kinh. Từ đó, rất nhiều ca khúc cổ điển nổi tiếng được sử dụng theo kiểu tương tự. Các bài hát có thể để minh họa cụ thể cho một quan điểm về sản phẩm đang được bán (như "Like a Rock" của Bod Seger dùng quảng cáo cho xe tải Chevy), nhưng phổ biến hơn là chỉ đơn giản sử dụng để người nghe liên tưởng đến cảm giác thoải mái mà bài hát đó tạo ra khi trình chiếu sản phẩm. Trong một vài trường hợp ý nghĩa nguyên thủy của bài hát có thể hoàn toàn không thích hợp hoặc đối nghịch với dụng ý mà quảng cáo đưa ra; ví dụ như bài "Lust for Life" của Iggy Pop có nội dung về vấn đề nghiện heroin, lại được sử dụng trong quảng cáo về một loại du thuyền. Luật tác quyền âm nhạc với những nghệ sĩ lớn, đặc biệt là những người trước kia không đồng ý để các thu âm của mình bị sử dụng cho mục đích này, như việc Microsoft sử dụng vài hát "Start Me Up" của Rolling Stones và hãng máy tính Apple sử dụng bài "Vertigo" của U2 trở thành nguồn trong quảng cáo của chính họ.
Trong những ví dụ đầu tiên, các ca khúc thường được dùng mặc cho sự phản đối của tác giả, trước đó đã bán mất đi tác quyền để phát hành như nhạc của The Beatles có thể cho là trường hợp tiêu biểu nhất; gần đây hơn các nghệ sĩ thực ra còn xin cho các tác phẩm của mình được sử dụng trong quảng cáo. Trường hợp nổi tiếng là công ty của Levi's đã sử dụng rất nhiều các ca khúc thuộc dạng "one hit wonder" (những hit của những nghệ sĩ chỉ nổi tiếng vì 1 bài nhạc) trong quảng cáo của họ (như bài "Inside", "Spaceman" và "Flat Beat").
Đôi khi việc sử dụng một số bài hát riêng biệt trong quảng cáo cũng gây tranh cãi. Thông thường vấn đề là ở chỗ, người ta không thích ý tưởng sử dụng các ca khúc cổ động cho các giá trị chung hoặc lợi ích công cộng được dùng trong các quảng cáo. Ví dụ như việc ca khúc chống phân biệt chủng tộc "Every People" của Sly and the Family Stone được dùng trong quảng cáo xe hơi gây lên sự giận dữ trong công chúng.
Các nhạc cụ sử dụng cho nhạc quảng cáo thường thấy đầu tiên là clarinet, saxophone hoặc các nhạc cụ bộ dây (như guitar thùng/điện và violin).
Trong thời gian cuối những năm 90, đầu những năm 2000, việc sử dụng nhạc điện tử làm nhạc nền cho quảng cáo truyền hình có chiều hướng thịnh hành hơn, ban đầu là cho quảng cáo ô tô, và tiếp đến là các sản phẩm công nghệ và kinh doanh khác như máy tính và những dịch vụ tài chính.
== Các thể loại ==
Political TV advertising
Product placement
Promotion (marketing)
Television commercial
Sponsorship
== Trong tương lai ==
Việc giới thiệu các hãng ghi hình kỹ thuật số, như TiVo, và các dịch vụ như Sky+, và Direct TV đã cho phép việc thu lại các chương trình truyền hình vào ổ cứng, cũng cho phép người xem bỏ quảng cáo hoặc tự động nhảy qua hay thu lại các chương trình. Rất nhiều phân tích cho rằng quảng cáo truyền hình sẽ hoàn toàn bị loại bỏ và thay thế bằng quảng cáo Sắp đặt Sản phẩm (Product placement) (tài trợ) trong các TV show. Ví dụ như Extreme Makeover: Home Edition quảng cáo Sears, Kenmore, và Home Depot bằng cách sử dụng các sản phẩm đặc biệt từ những công ty này, và một số sự kiện thể thao như Spirit Cup của NASRCAR đã được đặt tên theo công ty tài trợ. Các chương trình truyền hình cung cấp thông qua những thiết bị mới như các nguồn video online cũng đem đến những khả năng khác cho các phương pháp truyền thống của thu nhập chung từ quảng cáo truyền hình.
Một loại hình khác của quảng cáo ngày càng cho thấy hầu hết các show quảng cáo truyền hình trên một kênh giống nhau là quảng cáo được chạy phía dưới của màn hình ti vi, cho ra một số hình ảnh. "Banner", hay "Logo Bug", như cái tên của chúng, được cung cấp bởi những công ty truyền thông như một Sự kiện Thứ hai (2E). Nó được thực hiện cùng một cách như các chương trình dự báo thời tiết đang làm, chỉ có loại này diễn ra thường xuyên hơn. Đôi khi chúng chỉ chiếm từ 5 đến 10% của màn hình, nhưng cái lớn có thể lấy khoảng 25% diện tích. Một số thậm chí còn có âm thanh hoặc chuyển động xuyên quanh màn hình. Ví dụ cho kiểu quảng cáo 2E là Three Moons Over Miford. Một Video chiếm xấp xỉ 25% diện tích phía dưới bên phải màn hình cho thấy hình ảnh một sao chổi đang va chạm vào mặt trăng kèm theo một vụ nổ, phát xuyên suốt các chương trình truyền hình khác.
Eric Schmidt của Google từng tuyên bố về một kế hoạch để tham gia cung cấp quảng cáo truyền hình và thương mại chuẩn (optimization business). Mặt dù hiện tại Google chỉ có mẫu quảng cáo thương mại bằng chữ. Có một vài chi tiết để cho thấy điều này có thể sẽ xảy ra, nhưng một số người vẫn cho rằng họ sẽ sử dụng các model tương tự với cái được sử dụng trong chiến lược quảng cáo trực tiếp trên làn sóng của họ, bao gồm việc giành được hệ điều hành hỗ trợ dMarc.
Các danh mục video online đang nổi lên như một dạng thức quảng cáo tác động lẫn nhau, hữu ích trong việc chiếu lại quảng cáo vốn chỉ được cung cấp trên truyền hình. Những danh mục này cũng có tiềm năng trong việc mời gọi các dịch vụ giá trị gia tăng khác, như bảng phản hồi, dịch vụ click-để-gọi, cái có thể giúp khả năng tương tác với thương hiệu được nâng cao một cách đáng kể.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Indibiz.tv - Online video directory of brands
Creativity Online - The subscriber-based site of Creativity Magazine, reviewing television advertisements.
Adland Commercial Archive- Adland the Commercial Archive, quicktime advertisement archive
What's That Called - Database of songs used in advertisements in the US and UK
The Inspiration Room Daily - Television advertisements reviewed in detail each day.
Splendad.com - A searchable database of television advertisements that is updated frequently.
Television Tape - A 1962 kinescope from Los Angeles station KTTV urging advertisers to produce spots on tape
There are 12 Kinds of Ads in the World Stevenson, Seth; Slate Magazine; 23 July 2007.
x-entertainment - Archive of 80s advertisements
tellyAds - Most UK TV advertisements since September 2006, free to view.
TVAdsPlus - Online database of television advertisements.
TV's Worst Adverts - TV advert blog letting you vote for some of UK TV's worst adverts. |
thể thao.txt | Thể thao là tất cả các loại hình hoạt động thể chất và trò chơi có tính cạnh tranh, với mục đích sử dụng, duy trì và cải thiện các kĩ năng và năng lực thể chất, đem lại niềm vui, hứng khởi cho những người tham gia và sự giải trí cho người xem. Thông thường cuộc thi đấu hay trò chơi diễn ra giữa hai bên, mỗi bên cố gắng để vượt qua đối phương. Một số môn thể thao cho phép có tỉ số hòa; một số môn khác áp dụng các phương thức phá vỡ thế cân bằng, để đảm bảo có một bên thắng và một bên thua. Nhiều trận thi đấu đối kháng như vậy có thể được sắp xếp thành một giải đấu để chọn ra nhà vô địch. Nhiều giải thể thao tổ chức các mùa giải thể thao định kỳ để chọn nhà vô địch, đôi khi phải phân định bằng một hay nhiều trận play-off. Ngày nay có hàng trăm môn thể thao được tổ chức, từ những môn được tranh tài giữa các cá nhân, cho tới những môn có hàng trăm người tham gia cùng một lúc.
Nhìn chung người ta coi thể thao là các hoạt động dựa trên sức mạnh hay sự khéo léo thể chất. Các đại hội thể thao lớn như Thế vận hội cũng chỉ áp dụng các môn thể thao đáp ứng tiêu chí này, và các tổ chức như Ủy hội châu Âu cũng loại các hoạt động không chứa yếu tố thể chất khỏi danh mục các môn thể thao. Tuy vậy một số hoạt động có tính đối kháng phi thể chất vẫn được coi là các môn thể thao trí tuệ. Ủy ban Olympic quốc tế (thông qua ARISF) công nhận cờ vua và bridge là các môn thể thao thiện ý, trong khi SportAccord cũng công nhận năm môn thể thao phi thể chất, mặc dù giới hạn số môn thể thao trí tuệ.
Các môn thể thao được quy định bởi một hệ thống quy tắc hay tục lệ nhằm đảm bảo sự công bằng và cho phép đánh giá kết quả một cách chính xác. Chiến thắng có thể được quyết định bằng hành động như ghi các bàn thắng hay vượt qua vạch đích trước. Kết quả cũng có thể được xác định bởi các giám khảo, những người chấm điểm phần thể hiện bài thi thể thao dựa trên những đánh giá khách quan hoặc chủ quan.
Thành tích thi đấu thường được lưu lại và có thể được công bố rộng rãi trên các bản tin thể thao. Thể thao cũng là nơi người không tham gia thi đấu tìm kiếm sự giải trí khi các môn thể thao có khán giả thu hút lượng lớn người tham gia tới các địa điểm tổ chức thể thao, và một lượng lớn hơn thông qua các kênh phát sóng. Cá cược thể thao cũng được quy định hết sức nghiêm ngặt, và đôi khi là trung tâm của cuộc thể thao.
Theo nhà tư vấn A.T. Kearney, tính tới năm 2013 giá trị nền công nghiệp thể thao toàn cầu ước tính lên tới 620 tỉ đô. Môn thể thao được tập nhiều nhất là chạy trong khi bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất trong số các môn có khán giả tới xem.
== Ý nghĩa và sử dụng ==
=== Từ nguyên ===
==== Tiếng Anh ====
Từ "sport" trong tiếng Anh bắt nguồn từ từ tiếng Pháp cổ desport nghĩa là "thời gian rảnh rỗi", trong khi định nghĩa cổ nhất của nó có niên đại từ năm 1300 với nghĩa "bất cứ thứ gì khiến người ta vui thích hay giải trí".
Các định nghĩa bao gồm cả cờ bạc và các cuộc thi đấu được tổ chức vì mục đích cá cược; săn bắn; cũng như các trò chơi và trò tiêu khiển khác, trong đó có cả các trò chơi yêu cầu tập luyện. Roget's định nghĩa thể thao là một "hoạt động được người ta tham gia để thư giãn và vui vẻ" với các từ đồng nghĩa bao gồm "diversion" và "recreation" (đều mang nghĩa giải trí).
=== Định nghĩa ===
Định nghĩa chính xác để phân biệt thể thao với các hoạt động giải trí khác là chưa thống nhất. Định nghĩa gần đạt được sự nhất trí là của SportAccord, hiệp hội dành cho các liên đoàn thể thao quốc tế lớn nhất, và có thể coi là định nghĩa de facto của thể thao quốc tế.
SportAccord cho rằng một môn thể thao cần phải:
có yếu tố cạnh tranh
không gây hại tới bất kì sinh vật nào
không dựa vào trang bị chỉ được cung cấp bởi một nguồn cung duy nhất (ngoại trừ các môn được sở hữu độc quyền như arena football)
không phụ thuộc vào yếu tố "may mắn" dành riêng cho môn đó
Họ cũng cô nhận rằng thể thao cần phải chủ yếu mang tính thể chất (ví dụ như rugby hay điền kinh), chủ yếu mang tính trí tuệ (như cờ vua hay cờ vây), phần lớn được động cơ hóa (ví dụ như Formula 1 hay đua xuồng máy), chủ yếu được hỗ trợ (ví dụ như thể thao bi-a), hay chủ yếu được hỗ trợ bởi động vật (như thể thao cưỡi ngựa). Việc tính cả các môn trí tuệ không được công nhận hoàn toàn, dẫn tới tranh cãi pháp lý của các cơ quan điều hành các môn thể thao này sau khi bị các tổ chức từ chối gây quỹ từ chối tài trợ tiền.
Thuật ngữ "thể thao" dần được áp dụng cho các hình thức phi thể chất khác như video game, hay còn gọi là esports, nhờ sự tham gia cùng số lượng giải đấu đông đảo, tuy nhiên vẫn không được nhiều tổ chức thể thao chính thống công nhận.
=== Sự cạnh tranh ===
Có nhiều quan điểm đối lập nhau về sự cần thiết của yếu tố cạnh tranh trong định nghĩa về thể thao, khi tất cả các môn thể thao chuyên nghiệp đều có tính cạnh tranh, trong khi các cơ quan điều hành yêu cầu tính cạnh tranh là điều kiện tiên quyết để được IOC hay SportAccord công nhận.
Các cơ quan khác tán thành mở rộng định nghĩa thể thao lên thành tất cả các hoạt động thể chất. Ví dụ như Ủy hội châu Âu tính cả tất cả các loại hình rèn luyện thể chất, bao gồm cả các hoạt động chỉ với mục đích giải trí.
Trong các cuộc tranh tài, người tham gia được cho điểm hay xếp hạng theo "kết quả" của họ và thường được chia thành các nhóm thi đấu tương xứng, (ví dụ như theo giới tính, cân nặng và tuổi tác). Việc đánh giá kết quả có thể khách hoặc chủ quan. Ví dụ trong một cuộc đua, thời gian để hoàn thành cuộc đua là một cách đánh giá khách quan. Trong thể dục dụng cụ hay nhảy cầu kết quả được quyết định bởi một hội đồng giám khảo, và do đó mang tính chủ quan. Trong các môn quyền anh và mixed martial arts, nếu không võ sĩ nào thua khi trận đấu kết thúc thì kết quả sẽ được phân định bởi trọng tài.
== Lịch sử ==
Các đồ tạo tác và công trình kiến trúc cho thấy thể thao có tại Trung Hoa từ những năm 2000 TCN. Thể dục dụng cụ dường như phổ biến tại đây từ thời cổ đại. Các di tích tưởng niệm Pharaon cho thấy nhiều môn thể thao như bơi lội và câu cá được phát triển và áp dụng luật từ hàng ngàn năm trước tại Ai Cập cổ đại. Các môn thể thao Ai Cập khác còn có ném lao, nhảy cao và đấu vật. Các môn Ba Tư cổ đại như môn võ truyền thống zourkhaneh có liên hệ chặt chẽ tới các kĩ năng chiến tranh. Các môn có nguồn gốc tại Ba Tư còn có polo và cưỡi ngựa đấu thương.
Một lượng lớn các môn thể thao được ra đời trước thời Hy Lạp cổ đại. Vì các môn thể thao đóng vai trò quan trọng trong đời sống người Hy Lạp nên họ bắt đấu tổ chức các cuộc thi Olympic. Các cuộc thi này được tổ chức bốn năm một lần tại ngôi làng nhỏ ở Peloponnesus mang tên Olympia.
Quá trình công nghiệp hóa dẫn tới sự tăng thời gian rảnh, tạo điều kiện để con người tham gia và theo dõi các môn thể thao. Xu hướng này tiếp tục gia tăng mạnh mẽ với sự ra đời của truyền thông đại chúng và sự giao tiếp toàn cầu. Sự chuyên nghiệp hóa dần chiếm ưu thế và góp phần gia tăng sự phổ biến của thể thao khi những người hâm mộ thể thao theo dõi màn thể hiện của các vận động viên chuyên nghiệp — cả khi thưởng thức các cuộc thi đấu và khi tham gia vào các môn thể thao dưới hình thức nghiệp dư. Trong thế kỷ 21, người ta tranh cãi xem liệu các vận động viên chuyển giới có nên được tham gia các môn thể thao với nhận thực giới tính của họ sau khi thay đổi.
== Lợi ích ==
Trong đời sống xã hội hiện đại, thể thao là một yếu tố quan trọng để giữ gìn sức khỏe và phục vụ những lợi ích khác.
Để tăng cường sức khỏe, có một số môn thể thao được nhiều người cho là giúp chống lại các loại bệnh tật, tạo sự dẻo dai. Ví dụ, chạy bộ theo mức độ tăng dần có thể giảm khả năng mắc các bệnh về tim lúc về già. Đối với trẻ em trong độ tuổi đang lớn, thể thao giúp phát triển chiều cao.
Ngoài phạm vi sức khỏe, các môn thể thao đồng đội cũng rèn luyện cho tinh thần đoàn kết, kỹ năng hợp tác. Trong bất kỳ môn thể thao đồng đội nào, yếu tố đoàn kết là quan trọng nhất để giành chiến thắng. Ví dụ, trong đội bóng đá, các cầu thủ phải hiểu ý nhau trong lúc chuyền bóng để ghi bàn. Điểm yếu của các đội bóng đá dễ bị đối phương lợi dụng là sự thiếu đoàn kết. Vì vậy một trong các cách rèn luyện tinh thần đồng đội là chơi các môn thể thao đồng đội.
== Chơi đẹp ==
=== Tinh thần thể thao ===
Tinh thần thể thao là tinh thần phấn đấu vì lối chơi đẹp trong cách cư xử cả với đồng đội và đối phương, trong hành vi đạo đức, và thái độ lịch sự cả khi thắng lẫn khi thua.
Tinh thần thể thao thể hiện nguyện vọng hay thái độ rằng thể thao nên được thưởng thức vì lợi ích của chính nó. Những câu nói như phát biểu của nhà báo thể thao Grantland Rice rằng "[quan trọng] không phải là việc thắng thua mà là cách bạn thi đấu", và phương châm của cha đẻ phong trào Olympic Pierre de Coubertin: "Điều quan trọng nhất... không phải là chiến thắng mà là việc được tham gia", là những ví dụ tiêu biểu của quan niệm này.
=== Gian lận ===
Các nguyên tắc cơ bản của thể thao bao gồm cả việc các kết quả không được xác định trước, và các bên tham gia phải có cơ hội chiến thắng như nhau. Luật lệ được đề ra để đảm bảo công bằng mặc dù nhiều lúc người tham gia có thể phá luật để giành ưu thế.
Người tham gia có thể gian lận để thỏa mãn mong muốn chiến thắng, hoặc vì một động cơ nào đó. Sự xuất hiện của cá cược các kết quả thể thao là động cơ của tình trạng dàn xếp tỉ số khi một hay nhiều người tham gia cố tình thi đấu để đạt được một tỉ số đã định sẵn.
=== Doping ===
Tính cạnh tranh đôi khi khiến các vận động viên có ý định tăng cường thành tích thông qua việc sử dụng thuốc men hay các phương thức khác như tăng lượng máu trong cơ thể thông phương thức nhân tạo.
Tất cả các môn thể thao được IOC hay SportAccord công nhận bắt buộc phải tiến hành một chương trình kiểm tra nhắm phát hiện các vận động viên sử dụng các chất có trong danh mục cấm và có biện pháp xử lý các trường hợp này.
=== Bạo lực ===
Bạo lực trong thể thao diễn ra khi người tham gia vượt qua giới hạn ngăn cách giữa chơi đẹp và bạo lực hiếu chiến có chủ đích. Các vận động viên, huấn luyện viên, người hâm mộ đôi khi có những hành vi thái quá nhắm vào người hay đồ vật để bày tỏ một cách sai trái sự trung thành, giận dữ hay ăn mừng. Nạn bạo động hay nạn hooligan do cổ động viên gây ra là vấn đề tại các cuộc thi đấu thể thao ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế.
== Các vấn đề liên quan ==
=== Chuyên nghiệp và nghiệp dư ===
Thể thao có thể được thực hiện theo hình thức nghiệp dư, chuyên nghiệp hoặc bán chuyên, tùy thuộc vào động lực thúc đẩy sự tham gia của người chơi (thường là do yếu tố tiền công hay tiền lương). Việc tham gia một cách nghiệp dư ở trình độ thấp thường được gọi là "thể thao bình dân".
Sự phổ biến của các môn thể thao có đông người đến xem khiến thể thao trở thành một ngành kinh doanh lớn, thúc đẩy một nền văn hóa thể thao được trả lương cao, nơi những vận động viên ở trình độ cao được trả cao hơn nhiều so với tiền công trung bình, có thể lên tới hàng triệu đôla.
Một vài môn thể thao, hay các nội dung cá nhân trong một môn, duy trì chính sách chỉ cho phép các vận động viên nghiệp dư. Thế vận hội khởi đầu với tư tưởng rằng những vận động viên chuyên nghiệp là có một lợi thế được coi là không công bằng đối với những người tập luyện vì đam mê. Kể từ năm 1971, các vận động viên Olympic được phép tiền bồi thưởng phí tổn và tiền tài trợ, và kể từ năm 1986, IOC quyết định cho phép các vận động viên chuyên nghiệp dự Thế vận hội, ngoại trừ môn boxing, và đấu vật.
=== Công nghệ ===
Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong thể thao hiện đại, là một phần không thể thiếu trong các môn như motorsport, được áp dụng trong một số môn để nhằm cải thiện thành tích. Nhiều môn cũng sử dụng công nghệ để đưa ra các quyết định ngoài thi đấu.
Khoa học thể thao là một bộ môn phổ biến có thể áp dụng tại nhiều phạm vi trong thể thao trong đó có sự thi đấu của vận động viên, ví dụ như việc phân tích băng hình để hoàn thiện kỹ thuật hay cải thiện trang thiết bị thi đấu, ví dụ như sử dụng giầy chạy hay đồ bơi cải tiến. Ngành kỹ thuật thể thao ra đời vào năm 1998 với trọng tâm chính không chỉ là thiết kế các loại vật liệu mà còn sử dụng công nghệ trong thể thao, từ môn khoa học phân tích tới các số liệu dành cho công nghệ wearable. Nhằm kiểm soát ảnh hưởng của công nghệ lên sự công bằng trong thể thao, các nhà chức trách thường có các điều luật đặc biệt nhằm kiểm soát lợi thế về mặt kỹ thuật giữa các vận động viên. Ví dụ vào năm 2010, các bộ đồ bơi sợi tổng hợp phủ kín toàn thân bị FINA cấm, bởi chúng làm tăng thành tích của các kình ngư.
Vào năm 2014, các công nghệ mới cho ra đời các loại động cơ hybrid tại Công thức 1 mùa giải 2014 nhằm gia tăng hiệu suất nhiên liệu. Các chiếc xe sử dụng một hệ thống thu hồi năng lượng tương tự nhưng hiệu quả hơn hệ thống KERS được sử dụng trước đây, cho phép thu hồi năng lượng sau khi phanh hoặc thải khí. Một cải tiến khác là hệ thống giảm sức cản DRS bao gồm việc mở một khoảng trống ở cánh sau của xe nhằm giảm lực cản, gia tăng tốc độ tối đa và vượt lên trong cuộc đua. Hệ thống này được dùng từ mùa F1 2011, tại Formula Renault 3.5 kể từ 2012, và Deutsche Tourenwagen Masters từ năm 2013.
Sự phát triển của công nghệ cũng giúp đưa ra, xem xét các quyết định khó trong các trận đấu thể thao bằng việc xem lại các pha quay chậm. Ngược lại ở một số môn vận động viên có thể khiếu nại các quyết định của trọng tài. Trong bóng đá, công nghệ goal-line có thể quyết định xem trái bóng đã vạch cầu môn hay chưa. Công nghệ này không mang tính bắt buộc, nhưng đã được ử dụng tại Giải bóng đá vô địch thế giới 2014 ở Brasil, và Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 2015 ở Canada, cũng như tại Premier League kể từ mùa giải 2013–14, và Bundesliga từ 2015–16. Tại giải bóng bầu dục Mỹ NFL, trọng tài có thể xin xem lại replay hay một huấn luyện viên có thể khiếu nại bằng cách đòi xem lại tình huống vừa diễn ra. Quyết định cuối cùng nằm ở trọng tài. Một trọng tài băng hình (thường được biết đến với tên gọi Television Match Official hay TMO) cũng có thể sử dụng các đoạn chiếu lại trong môn rugby (cả rugby league và rugby union). Trong môn cricket quốc tế, trọng tài chính có thể hỏi ý kiến trọng tài thứ ba để đưa ra quyết định và chính trọng tài thứ ba là người đưa ra quyết định cuối cùng. Kể từ năm 2008, một hệ thống xem xét quyết định cho các cầu thủ được áp dụng trong các giải đấu của ICC, và có thể tùy chọn áp dụng trong các trận đấu khác. Tùy thuộc vào đơn vị phát sóng truyền hình mà một số công nghệ khác nhau được sử dụng khi trọng tài và vận động viên cricket muốn xem lại tình huống đã diễn ra, trong đó có Hawk-Eye, Hot Spot và Real Time Snickometer. Hawk-Eye còn được sử dụng trong môn quần vợt khi vận động viên muốn khiếu nại quyết định trọng tài đưa ra.
=== Chính trị ===
Benito Mussolini từng sử dụng Giải bóng đá vô địch thế giới 1934 tại Ý để thị uy một nước Ý phát xít. Adolf Hitler cũng sử dụng Thế vận hội Mùa hè 1936 ở Berlin và Thế vận hội Mùa đông 1936 tại Garmisch-Partenkirchen, để tuyên truyền cho tư tưởng phát xít về chủng tộc Aryan thượng đẳng, cùng sự hạ đẳng của người Do Thái và các chủng tộc "khó ưa" khác. Đức sử dụng Thế vận hội để ngụy tạo một hình ảnh yên bình trong lúc chuẩn bị ráo riết cho một cuộc chiến tranh.
Khi chủ nghĩa apartheid chính thức lên ngôi tại Nam Phi, nhiều vận động viên, đặc biệt ở môn rugby union, lựa chọn hành động theo lương tâm khi quyết định không tham gia thi đấu thể thao cạnh tranh tại đây. Một số người cho rằng điều này góp phần vào sự sụp đổ của apartheid, trong khi số khác lại coi điều này có thể đã khiến cho apartheid kéo dài và gây nhiều hậu quả hơn.
Trong lịch sử Ireland, các môn thể thao Gaelic gắn liền với chủ nghĩa dân tộc văn hóa. Tới giữa thế kỷ 20, người ta có thể bị cấm chơi bóng đá Gaelic, hurling hay các môn thể thao do Gaelic Athletic Association (GAA) quản lý nếu họ chơi hoặc cổ vũ bóng đá hay các trò chơi khác được xem là có nguồn gốc Anh. Gần đây GAA tiếp tục cấm chơi bóng đá và rugby union tại các địa điểm thi đấu các môn Gaelic. Lệnh cấm tuy vẫn có hiệu lực nhưng được điều chỉnh để cho phép bóng đá và rugby được diễn ra tại sân Croke Park khi sân Lansdowne Road được sửa sang thành sân vận động Aviva. Trước đây theo Quy tắc 21, GAA cấm các thành viên của lực lượng an ninh Anh Quốc và các thành viên của RUC chơi các môn thể Gaelic, nhưng sự ra đời của Good Friday Agreement vào năm 1998 khiến điều lệ này bị dỡ bỏ.
Chủ nghĩa dân tộc thường hiện diện trong thể thao: mọi người tham tham gia vào các đội tuyển quốc gia, còn các bình luận viên và khán thính giả có thể có quan điểm theo đảng phái của họ. Đôi khi, những căng thẳng dẫn tới xung đột bạo lực giữa các vận động viên hay khán giả, thậm chí là lan ra ngoài phạm vi nơi thi đấu như trong Chiến tranh Bóng đá. Một sự kiện tiêu biểu khi chính trị và thể thao xung đột với nhau là tại Thế vận hội 1972 ở München khi những người đeo mặt nạ đột nhập khách sạn của đội tuyển Olympic Israel và giết chết nhiều thành viên của đội (còn được biết đến với tên Thảm sát München). Những xu hướng này được coi là đi ngược lại với đặc tính cơ bản của thể thao là diễn ra vì lợi ích của chính nó và vì niềm vui của người chơi.
Một nghiên cứu tại các cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ cho thấy kết quả các trận đấu thể thao có thể ảnh hưởng tới kết quả bầu cử. Nghiên cứu đăng trên PNAS cho thấy rằng khi đội nhà thắng trước cuộc bầu cử, các ứng viên đương nhiệm có thể tăng tỉ lệ phiếu bầu lên 1,5 phần trăm. Một trận thua sẽ có hiệu ứng ngược lại, và hệ quả sẽ càng lớn hơn đối với các đội hàng đầu hay các kết quả bất ngờ. Tương tự như trong Quy luật Redskins, khi Washington Redskins thắng trận đấu cuối cùng trước khi cuộc bầu cử diễn ra, thì Tổng thống đương nhiệm sẽ có cơ hội thắng cao hơn, và nếu Redskins thua, đối thủ cạnh tranh sẽ có cơ hội thắng cao hơn.
== Xem thêm ==
Chủ đề liên quan
== Tham khảo ==
Ủy ban châu Âu (2007), Sách trắng về thể thao.
Ủy họi châu Âu (2001), Hiến chương thể thao châu Âu.
== Đọc thêm ==
The Meaning of Sports của Michael Mandel (PublicAffairs, ISBN 1-58648-252-1).
Journal of the Philosophy of Sport
Sullivan, George. The Complete Sports Dictionary. New York: Scholastic Book Services, 1979. 199 trang. ISBN 0-590-05731-6 |
1932.txt | 1932 (số La Mã: MCMXXXII) là một năm nhuận bắt đầu vào thứ Sáu trong lịch Gregory.
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
2 tháng 1: Phát xít Nhật công chiếm Cẩm Châu.
12 tháng 1: Phát xít Nhật đổ bộ lên Thanh Đảo
28 tháng 1: Phát xít Nhật tiến công Thượng Hải
30 tháng 1: Quốc Dân chính phủ di dời đến Lạc Dương.
=== Tháng 3 ===
9 tháng 3: Thành lập Mãn Châu quốc.
=== Tháng 4 ===
1 tháng 4: Mã Chiêm Sơn nổi dậy chống Nhật Bản.
=== Tháng 5 ===
21 tháng 5: Tưởng Giới Thạch nhậm chức tổng tư lệnh quân tiểu phỉ
=== Tháng 6 ===
24 tháng 6: Vương quốc Xiêm tuyên bố độc lập.
=== Tháng 7 ===
30 tháng 7: Khai mạc Thế vận hội Mùa hè 1932 ở Los Angeles, Mỹ.
=== Tháng 8 ===
4 tháng 8: Tại Nam Kinh, thành lập Trung Quốc hóa học viện
14 tháng 8: Bế mạc Thế vận hội Mùa hè 1932.
=== Tháng 9 ===
16 tháng 9: Quân Nhật thảm sát hơn 3000 người tại Bình Hạng Sơn Liêu Ninh
=== Tháng 12 ===
1 tháng 12: Hồng quân Trung Quốc tiến quân vào Tứ Xuyên, Thiểm Tây, Thiểm Bắc
== Sinh ==
27 tháng 10 - Harry Gregg, thủ môn bóng đá Bắc Ireland
18 tháng 12 - Băng Sơn, nhà văn chuyên viết về Hà Nội (mất 2010)
La Văn Cầu, đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam
== Mất ==
== Giải Nobel ==
Vật lý - Werner Karl Heisenberg
Hóa học - Irving Langmuir
Y học - Sir Charles Scott Sherrington, Edgar Douglas Adrian
Văn học - John Galsworthy
Hòa bình - không có giải
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
nhạc đồng quê.txt | Nhạc đồng quê là một thể loại nhạc pha trộn truyền thống được tìm thấy phổ biến ở Mỹ và Canada. Nguồn gốc của nhạc đồng quê hiện nay là nhạc dân ca truyền thống của người da trắng, nhạc của người Celt, nhạc blues, nhạc Phúc âm và nhiều nhạc cổ khác. Nó phát triển nhanh từ giai đoạn thập niên 1920. Thể loại nhạc đồng quê trở nên phổ biến từ những năm 1940s khi mà thể loại hillbilly music (Hillbilly là tên gọi trước của nhạc đồng quê) trước đó đã bị coi thường. Nhạc đồng quê được chấp nhận rộng rãi vào những năm 1970, trong khi các nước phương Tây đã từ chối sử dụng nó từ thời điểm đó, ngoại trừ ở United Kingdom và Ireland, nơi mà nó vẫn thường được sử dụng.
Tuy nhiên,Một sự pha trộn khác của các nhóm dân tộc ở tây nam Hoa Kỳ tạo ra thứ âm nhạc mà trở thành một thể loại nhạc đồng quê. Thể loại nhạc đồng quê được dùng hiện nay mô tả nhiều kiểu và nhiều tiểu thể loại.
Nhạc đồng quê đã sản sinh ra hai trong số các ca sĩ hát solo thành công nhất mọi thời đại. Elvis Presley, "The Hillbilly Cat" thường hay hát trong chương trình radio Louisiana Hayride, và ông đã tạo ra dòng nhạc rock and roll từ đây.Với 129.5 triệu album được bán,Presley là nghệ sĩ solo hàng đầu có số lượng album bán chạy nhất trong lịch sử nước Mỹ. Tiếp theo là nhạc sĩ Garth Brooks, với 128 triệu album bán ra, là nghệ sĩ có số lượng album bán chạy thứ hai. Trong khi doanh số bán album của hầu hết các thể loại âm nhạc đã giảm từ khoảng năm 2005, thì đây là thời điểm tốt nhất của nhạc đồng quê trong năm 2006, trong sáu tháng đầu năm, doanh thu của album nhạc đồng quê tại Mỹ tăng 17,7 phần trăm đến 36 triệu USD. Hơn nữa, lượng người nghe nhạc đồng quê trên toàn quốc vẫn duy trì ổn định cho gần một thập niên, đạt đến 77.3 triệu người lớn mỗi tuần, theo cơ quan phát thanh-xếp hạng Arbitron, Inc.
Nhạc cụ: Ghi-ta, Ghi-ta Hawaii, Dobro, Harmonica, Bass, Trống, Mandolin, Banjo, Vĩ cầm...
Thể loại con: Bluegrass, Close Harmony, Country Folk, Honky Tonk, Jug Band, neotraditional Country, Outlaw Country, Texas Country...
Thể loại liên quan: Alternative Country, Country Rock, Country Rap, Country Pop...
== Buổi đầu lịch sử ==
Những người nhập cư đến các tỉnh ven biển và phía nam dãy Appalachian thuộc Bắc Mỹ đã đưa âm nhạc và các nhạc cụ từ thế giới cổ đại theo họ gần 300 năm. Họ mang theo một số vật có giá trị quan trọng nhất với họ, hầu hết chúng là nhạc cụ " người Scotland trong những ngày đầu định cư rất thích vĩ cầm bởi vì nó có thể chơi ra những âm thanh thật buồn và thê lương hoặc trong sáng và hoạt bát." Trong khi đó người Irish có vĩ cầm, đàn dây hình thang xuất phát từ Đức, đàn măng-đô- lin của Ý, đàn ghi-ta của Tây Ban Nha, và đàn banjo của người Tây phi là những loại đàn được phổ biến nhất. Sự tương tác giữa các nghệ sĩ từ những nhóm dân tộc khác nhau sản xuất nhạc duy nhất cho vùng Bắc Mỹ. Loại dây đàn ở miền Đông Bắc Mỹ vào đầu thế kỷ 20 thường chủ yếu là vĩ cầm, ghi-ta, và đàn banjo. Những loại âm nhạc ra sớm cùng với những loại âm nhạc thu âm thời đầu thập niên thường được nhắc đến là những loại nhạc xưa theo thời gian.
Theo Bill Malone nhạc đồng quê ở U.S.A, được "giới thiệu tới thế giới như là một hiện tượng phía Nam." Ở miền Nam, âm nhạc dân gian là sự kết hợp của các nền văn hóa,sự kết hợp âm nhạc truyền thống của những dân tộc khác nhau trong khu vực. Ví dụ, một vài nhạc cụ từ Anglo-British and Irish immigrants là nền tảng của âm nhạc dân gian và nhạc ballads, hình thức được coi là nhạc xưa cũ, không phát triển. Nó bị coi là âm nhạc dân gian của British và Irish ảnh hưởng tới sự phát triển của âm nhạc xưa cũ, những người Anh và Irish đến Nam Mỹ bao gồm dân nhập cư từ Scotland, Wales, Ireland, và Anh.
Thông thường, khi nhiều người nghĩ hoặc nghe nhạc đồng quê, họ nghĩ về nó như là một sáng tạo của châu Âu-Mỹ. Tuy nhiên, rất nhiều phong cách và tất nhiên, banjo, một công cụ quan trọng trong các bài hát dân gian sớm nhất người Mỹ đến từ người Mỹ gốc Phi. Một trong những nguyên nhân nhạc đồng quê được tạo bởi người Mỹ gốc phi, cũng như người Âu-Mỹ, là vì người da trắng và da đen ở trong các miền nông thôn phía nam thường làm việc và chơi với nhau.
Trong suốt thế kỷ 19, một vài nhóm người nhập cư từ châu Âu, đặc biệt là từ Ireland, Đức, Tây Ban Nha, và Ý đã chuyển đến Texas. Các nhóm này tương tác với người Mexico và người Mỹ bản xứ, và cộng đồng Mỹ đã được thành lập tại Texas. Kết quả là Texas đã phát triển những đặc điểm văn hóa độc đáo được bắt nguồn từ văn hóa của tất cả các cộng đồng thành lập.
== Những năm 1920 ==
Những buổi biểu diễn địa phương từ Atlanta và Fort Worth đã được phát trên đài phát thanh vào năm 1922. Cùng với những buổi biểu diễn địa phương, chương trình Barn-dance trở nên phổ biến trên các đài phát thanh. Một số công ty thu âm tại Gruzia quay lưng lại với các nghệ sĩ đầu như Fiddlin 'John Carson, trong khi những người khác nhận ra rằng âm nhạc của ông hoàn toàn phù hợp với lối sống của những người lao động ở các quốc gia nông nghiệp. Bản ghi thương mại đầu tiên được coi như nhạc đồng quê là "Sallie Gooden" ghi bởi AC fiddlist (Eck) Robertson năm 1922 cho Victor. Hãng ghi Columbia bắt đầu phát hành những bản ghi với âm nhạc hillbilly (loạt 15000D "Old Familiar Tunes") vào đầu 1924.
Một năm trước đó vào ngày 14 tháng 6 năm 1923, Fiddlin 'John Carson ghi "Little Log Cabin in Lane" cho Okeh Records. Vernon Dalhart là ca sĩ hát nhạc đồng quê đầu tiên có thành công trên toàn quốc trong tháng 5 năm 1924 với "Wreck of the Old '97". Mặt trái của bản ghi là "Lonesome Road Blues" trở nên rất phổ biến. Vào tháng 4 năm 1924, "Aunt" của Samantha Bumgarner và Eva Davis đã trở thành các nhạc sĩ nữ đầu tiên để ghi lại và phát hành các bài hát nhạc đồng quê. Rất nhiều nhạc sĩ "hillbilly", như là Cliff Carlisle, thu âm những bài hát "blues" trong suốt thập kỉ [20]và trong những năm 30s. Những nghệ sĩ quan trọng khác là Riley Puckett, Don Richardson, Fiddlin' John Carson, Uncle Dave Macon, Al Hopkins, Ernest V. Stoneman, Charlie Poole và the North Carolina Ramblers và The Skillet Lickers cũng đã có bản thu sớm. Các tay ghi-ta thép nhập vào nhạc đồng quê sớm đầu năm 1922, khi Jimmie Tarlton gặp tay ghi-ta Hawaii nổi tiếng Frank Ferera trên bờ biển phía Tây.
== Những tên tuổi lớn gắn liền với dòng nhạc này ==
Jimmie Rodgers được xem là ông tổ của dòng nhạc này với gia đình Caters là những người tiên phong đặt nền móng vào khoảng năm 1927.
Vernon Dalhart là ngôi sao lớn đầu tiên của dòng nhạc và cũng là người phổ biến dòng nhạc ra bên ngoài vào cuối những năm 1920.
Gene Autry là người tạo ra sức ảnh hưởng của dòng nhạc với bên ngoài vào những năm 1930.
Bod Wills là người tạo ra trường phái riêng cho dòng nhạc vào những năm 1930.
Patsy Montana là ngôi sao nữ đầu tiên của dòng nhạc vào những năm 1930.
Roy Acuff và Ernest Tubb đã thành lập ban nhạc chơi đàn dây đầu tiên của dòng nhạc vào những năm 1930.
Bill Monroe là cha đẻ của loại nhạc Bluegrass vào những năm 1940.
Lester Flatt là nghệ sĩ chơi đàn Banjo Earl Scruggs vào những năm 1940.
Hank Williams là người trình diễn theo dạng Honky-tonk từ sau 1945.
Jim Reeves là ca sĩ tiên phong hát theo phong cách Nashville vào những năm 1950.
Gram Parsons là người khởi xướng Country rock vào cuối những năm 1960.
Những tên tuổi khác: Johnny Cash, Kenny Rogers, Dolly Parton, Marty Robbins, Nat King Cole, Patsy Cline, Loretta Lynn, Trace Adkins, Randy Travis
== Sau này ==
Hank Ray là cha đẻ của Deathcountry vào cuối những năm 90.
Shania Twain là nữ ca sĩ nhạc đồng quê thành công nhất.
Kitty Wells, Ricky skagg, Randy Travis, George Strait, Alan Jackson, Willie Nelson
Carrie Underwood
Miranda Lambert
Brad Paisley
Lady Antebellum
Scotty McCreery
Blake Shelton
Luke Bryan
Brantley Gilbert
Jerrod Niemann
Eric Church
David Nail
Jon Pardi
Kacey Musgraves
Brandy Clark
Cole Swindell
Jason Aldean
Taylor Swift
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
In The Country of Country: A Journey to the Roots of American Music,
Nicholas Dawidoff, Vintage Books, 1998, ISBN 0-375-70082-X
Are You Ready for the Country: Elvis, Dylan, Parsons and the Roots of Country Rock,
Peter Dogget, Penguin Books, 2001, ISBN 0-14-026108-7
Roadkill on the Three-Chord Highway,
Colin Escott, Routledge, 2002, ISBN 0-415-93783-3
Guitars & Cadillacs,
Sabine Keevil, Thinking Dog Publishing, 2002, ISBN 0-9689973-0-9
Proud to Be an Okie: Cultural Politics, Country Music, and Migration to Southern California,
Peter La Chapelle, University of California Press, 2007, ISBN 0-520-24889-9
Creating Country Music: Fabricating Authenticity,
Richard A. Peterson, University of Chicago Press, 1999, ISBN 0-226-66285-3
Country Music USA,
Bill C. Malone, University of Texas Press, 1985, ISBN 0-292-71096-8, second Rev ed, 2002, ISBN 0-292-75262-8
Don't Get Above Your Raisin': Country Music and the Southern Working Class (Music in American Life),
Bill C. Malone, University of Illinois Press, 2002, ISBN 0-252-02678-0
It All Happened In Renfro Valley,
Pete Stamper, University of Kentucky Press, 1999, ISBN 978-0-8131-0975-6
== Liên kết ngoài ==
The Country Music Association
Country Music Hall of Fame and Museum
Grand Ole Opry
GAC - Great American Country TV
Nashville4u
Country Music Television
Country Weekly magazine
Coast to Coast - The Legend of Country
A TIME Archive of country music's progression
Countryfied Soul |
fagraea gitingensis.txt | Fagraea gitingensis là một loài thực vật có hoa trong họ Long đởm. Loài này được Elmer mô tả khoa học đầu tiên năm 1910.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Fagraea gitingensis tại Wikimedia Commons
Dữ liệu liên quan tới Fagraea gitingensis tại Wikispecies
Vườn thực vật hoàng gia Kew; Đại học Harvard; Australian Plant Name Index (biên tập). “Fagraea gitingensis”. International Plant Names Index. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2013. |
1900.txt | 1900 (số La Mã: MCM) là một năm thường bắt đầu vào thứ Hai trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1900. Theo âm dương lịch Việt Nam, năm 1900 có đa số các ngày trùng với năm âm lịch Canh Sửu.
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
25 tháng 1: Đức thành lập hạm đội hải quân
=== Tháng 2 ===
13 tháng 2: Quân Anh xâm nhập biên giới Vân Nam
=== Tháng 6 ===
14 tháng 6: Hawaii chính thức thuộc về Hoa Kỳ
15 tháng 6: Nghĩa Hòa Đoàn vây đánh Bắc Kinh
17 tháng 6: Liên quân tám nước công chiếm pháo đài Đại Cát
18 tháng 6: xảy ra chính biến Khang Tử
21 tháng 6: Nhà Thanh tuyên chiến với liên quân
=== Tháng 7 ===
13 tháng 7: Liên quân tám nước đánh chiếm Thiên Tân
=== Tháng 8 ===
14 tháng 8: Liên quân tám nước tiến quân vào Bắc Kinh.
15 tháng 8: Từ Hy thái hậu và vua Quang Tự trốn khỏi Bắc Kinh
=== Tháng 9 ===
5 tháng 9: Pháp đánh chiếm Chadeleuf.
=== Tháng 10 ===
11 tháng 10: Lý Hồng Chương đến Bắc Kinh đàm phám với liên quân tám nước
=== Tháng 11 ===
6 tháng 11 - William McKinley được bầu lại làm Tổng thống Hoa Kỳ
=== Tháng 12 ===
7 tháng 12 - Max Planck khám phá ra định luật về phát xạ vật đen
== Sinh ==
7 tháng 10 - Heinrich Himmler, chỉ huy Đức Quốc xã (mất 1945)
8 tháng 11 - Margaret Mitchell, nhà văn Hoa Kỳ (mất 1949)
3 tháng 12 - Richard Kuhn, nhà hóa học người Áo đoạt giải Nobel Hóa học năm 1938 (mất 1967)
Không rõ -Dương Văn Dương,Thiếu tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (mất 1946)
== Mất ==
29 tháng 7 - Umberto I, vua Ý (bị ám sát) (sinh 1844).
30 tháng 11 - Oscar Wilde, nhà văn người Ireland (sinh 1854)
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
võ thuật.txt | Võ thuật (Hán tự: 武術, Hán Việt: Vũ thuật) là kĩ thuật hay phương thức dùng sức mạnh (nội lực, ngoại lực) để chiến thắng đối phương. Với tư cách là một nghệ thuật vận động sản sinh ra trong đấu tranh giữa con người với thiên nhiên (các loài thú dữ), con người với kẻ thù bên ngoài (địch thủ), và con người với kẻ thù bên trong chính bản thân anh ta (bệnh tật), võ thuật hướng đến mục tiêu đem lại cho con người sự chiến thắng trong các cuộc chiến, rèn luyện sức khỏe, và phục vụ một số nhu cầu cần thiết tuỳ thuộc vào từng bộ môn. Trải theo thời gian, võ thuật hiện đại không còn nhấn mạnh vai trò chiến đấu và chiến thắng bằng mọi giá như trước, mà đã chú trọng hơn nhiều đến các mục tiêu khác như để rèn luyện sức khỏe, thực thi quyền tự vệ chính đáng khi hữu dụng. Một số môn phái được đưa ra thi đấu như những môn thể thao biểu diễn hoặc đối kháng với những điều luật khắt khe nghiêm cấm sử dụng các đòn đánh hiểm, độc.
== Từ nguyên ==
Võ thuật nguyên gốc là vũ thuật, là âm Việt của chữ Hán 武術. Võ là cách đọc trại đi của vũ để tránh húy thụy hiệu của chúa Nguyễn Phúc Khoát (hiệu Vũ Vương) ở Đàng Trong.
== Khái yếu ==
Tuy có thể đồng nhất "Võ" và "Võ thuật", nhưng thực ra hai khái niệm ít nhiều vẫn có ranh giới. "Võ", nói chung, chỉ lối đánh nhau bằng tay không hay binh khí, và đôi khi, nhằm chỉ một bộ môn đối lập với "văn"; còn "võ thuật" lại thiên về nghệ thuật vận động hơn. Theo đó võ thuật đề cao phương pháp, cách thức, sự khéo léo, kĩ thuật, nghĩa là sự phát huy toàn diện sức mạnh của con người để chiến thắng mọi địch thủ mà không chỉ là những đối thủ trực diện trên sàn đấu. Bên cạnh các thuật ngữ trên còn có thuật ngữ "Võ nghệ", vừa có nội hàm rất gần với thuật ngữ võ thuật, vừa mang ý nghĩa nghề nghiệp, khẳng định võ cũng là một nghề trong xã hội, nghề võ. Cũng không thể không nhắc đến một khái niệm thường được các võ đường và các võ sư đề cao, thuật ngữ "Võ đạo", nhấn mạnh tính nhân văn, văn hóa trong võ thuật, khẳng định tột đỉnh của võ là văn, đằng sau võ học là cội nguồn triết học, hạt nhân đạo đức và chiều sâu tôn giáo, đồng thời đưa sự khốc liệt có tính bản chất của võ, một công cụ để tàn sát, xuống hàng thứ yếu.
Trong đời sống xã hội còn tồn tại khái niệm võ học, đối lập với khái niệm võ biền. Võ học là khái niệm được dùng rất hạn chế trong đời sống võ thuật tại Việt Nam hiện nay. Võ học chưa được xem là một ngành học chính thống trong ngành giáo dục & đào tạo. Võ học là sự nghiên cứu, phân tích, hệ thống hóa... tất cả mọi mặt của đời sống võ thuật dưới ánh sáng của các chuyên ngành khoa học (tự nhiên & xã hội) khác như vật lý học, giải phẫu học, sinh lý, sinh hóa, sinh cơ, tâm lý học, y học TDTT.... Hầu hết các bài viết hoặc sách, báo về võ thuật hiện nay tại Việt Nam của các võ sư hoặc HLV danh tiếng đều ít khi đề cập đến thành tựu nghiên cứu của lĩnh vực này. Do đó, đời sống võ thuật Việt Nam còn khá xa lạ với các thuật ngữ, khái niệm hoặc công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về võ thuật (có lẽ có nguyên nhân sâu xa từ trình độ nhận thức, lý luận & nghiên cứu của giới võ thuật hiện nay). Những người học võ thuật có suy nghĩ:TỰ VỆ cho bản thân mình, những vị võ sư nổi tiếng cũng có thể sử dụng môn võ mà mình được học vào lãnh vực kinh doanh: Điện ảnh, dạy học
== Các môn công phu ==
Hệ thống công phu võ thuật hợp thành "tứ đại công phu", gồm Nội công, Ngoại công, Nhuyễn công và Ngạnh công, trong đó Nhuyễn Ngạnh công phu tuy có khi được xếp vào hệ thống Ngoại công, nhưng vẫn thường thấy sự khu biệt của nó do những điểm đặc thù:
=== Nội công ===
Là những phương thức luyện tập bằng cách sự tập trung tối đa tâm ý khí lực theo những phương thức đặc biệt nhằm phát huy các năng lực bí ẩn của con người, khi luyện thành thì có thể dùng tĩnh chế động. Nội công bao gồm các phương thức luyện tập:
Luyện tập tĩnh: Là phương pháp luyện tập bằng cách các hành giả ngồi yên lặng trong không khí tĩnh mịch và thả lỏng thể xác cũng như tâm hồn để luyện tập, như Nội công thiếu lâm tự
Luyện tập động: Là phương pháp các hành giả chuyển động theo các bài tập nhằm tập trung tinh thần để luyện ý, như Bát đoạn cẩm, Dịch Cân Kinh Thiếu Lâm.
=== Ngoại công ===
Là các công phu luyện ngoại lực, có thể bao gồm trong nó cả Nhuyễn công và Ngạnh công, với các phương thức luyện tập các chiêu thức tấn công linh hoạt, mạnh mẽ và từng phần cơ thể để phòng thủ hữu hiệu. Khi luyện đại thành thì sức lực di hành khắp chân thân không bị ngăn trở, do đó muốn vận dụng đến sức thì sức có ngay, thân thể cương cường, da thịt gân xương đều cứng chắc, đến đao kiếm cũng khó bề gây thương tích. Ngoại công bao gồm các phương thức tu luyện:
Luyện tập hình: Là luyện tập các kỹ năng có hình dáng cụ thể, như Bát quái Quyền.
Luyện tập ý: Là luyện sao cho đúng ý của các bài luyện, ví dụ như Triệt quyền đạo, Thái cực Quyền.
Luyện tập pháp thể: Là luyện thể lực và thể hình, như Đấu vật, Su mô.
=== Nhuyễn công ===
Là các công phu chuyên luyện lực âm, nhu lực, âm công, khi luyện đại thành thì bề ngoài cơ thể không có biểu hiện gì của người biết võ (như tay chân không sần sùi, cơ thể không cường tráng), nhưng lực đánh ra rất nguy hiểm (nên nhiều khi được gọi là độc thủ). Tương truyền, một số công phu như Nhất chỉ thiền công (luyện phóng một ngón tay), Quan âm chưởng (luyện cạnh tay), Tỉnh quyền công (luyện quyền bằng cách đấm tay xuống giếng) có thể đả thương người từ xa, Nhu cốt công luyện khớp xương toàn thân mềm dẻo v..v..v
Tương truyền ở Nhật Bản từ xa xưa lưu truyền một môn võ thuật có tên là Bí thuật Nhu công. Người luyện tập nhìn bề ngoài có vẻ rất yếu đuối nhưng khi ra tay thì vô cùng tàn độc, nhất là những đòn đánh Cầm nã thủ lấy mạng người dễ dàng vô cùng. Các chiêu thức tung ra gần như chỉ để có một mục đích là lấy mạng đối phương mà thôi.
Vào đệ nhị thế chiến, môn võ thuật này nghe nói được phổ biến cho các chiến sĩ trong những lực lượng cảm tử và sát thủ, nhưng sau này bị cấm và mất đi tông tích bởi vì quá độc ác mà cho tới nay chưa ai rõ lý do thất truyền, chỉ biết rằng một kẻ luyện tập môn võ này dù có thân thể bệnh hoạn yếu ớt, một khi đã dốc lòng luyện tập đều có thể trở thành cỗ máy giết người.
=== Ngạnh công ===
Là các công phu chuyên luyện sức mạnh dương cương, dương lực, dương công, như Thiết sa chưởng (chưởng tay sắt), Thiết tảo trửu (chân quét), Thiết tất cái (đầu gối).Trong đó phải kể tới các môn công phu của Thiếu Lâm rất đặc sắc như: Thập tam thái bảo (thân thể cứng),Thiết bố sam (thân cứng như sắt),Đồng tử công (cũng luyện thân thể)... Khi luyện đại thành thì tay chân người tập chai sần, cứng như sắt, cơ thể tráng kiện, cơ bắp cuồn cuộn. Sức mạnh đòn đánh có được khi đòn tiếp xúc với cơ thể đối phương với uy lực khủng khiếp.
=== Lý thuyết ===
Suy cho cùng, cách chia các môn công phu của Võ thuật ra làm nhiều dạng (nội công và ngoại công), với nhiều môn (long, báo, xà, hạc, hổ, hầu, quy, ưng,...), hoặc phân chia ra các trường phái (Thiếu lâm, Võ đang, Côn Luân,...) cũng chỉ là đứng trên cái nhìn khác nhau. Có người chia võ thuật ra làm Võ lâm chánh tông, và Bàng môn tà đạo. Sự khác nhau, âu cũng chỉ là ở hành vi của người dụng võ. Vì mục đích cao cả, võ thuật được sử dụng thì đó là võ công chánh tông. Ngược lại, vì mục đích cá nhân, tư lợi, hành vi bỉ ôi, mà võ thuật được sử dụng thì đó là bàng môn tà đạo. Ranh giới thật là mong manh.Nhiều người suốt đời nghiên cứu võ thuật, những mong tìm được bí kíp võ thuật, những công phu đã thất truyền (kể cả những cách luyện kỳ lạ, dị thường) để đạt đến cái gọi là đỉnh cao võ thuật. Vậy đỉnh cao của võ thuật là ở đâu? Bất kỳ một môn công phu võ học nào, miễn sao có thể sử dụng để chiến thắng địch thủ thì có thể sử dụng. Nhưng đó chỉ là chiến thắng về mặt hình thức mà thôi. Chiến thắng thật sự sẽ nằm trên 2 phương diện: hình thức bên ngoài, và nhân tâm bên trong.
== Môn hỗ trợ ==
=== Hô hấp ===
Trong võ thuật, hô hấp được chia làm hai loại chính là Nội hô hấp và ngoại hô hấp.
Các phương pháp hô hấp này có trong võ thuật là do Bồ Đề Đạt Ma và các môn đồ Thiếu Lâm, các môn đồ các phái võ Trung Hoa hấp thu từ các phương pháp luyện thở của Yoga và Phép đạo dẫn (luyện thở, luyện hô hấp) của các trường phái Đạo gia để vận dụng chúng huy động nguồn sức mạnh của thân xác và tâm trí đạt hiệu quả cao khi luyện võ công.
Nội hô hấp
Đây là hoạt động của chân khí, là sự tiếp thu dưỡng khí, các chất bổ đưa đến từng tế bào và biến chuyển các dạng năng lượng. Hoạt động này bắt đầu từ lúc cơ thể con người chỉ là thai nhi. Nội hô hấp theo thời gian sẽ dần thoái hóa nhường chỗ cho ngoại hô hấp tiến triển.
Ngoại hô hấp
Thể hiện cho hoạt động hô hấp bằng mũi, bắt đầu xuất hiện khi chúng ta ra khỏi bụng mẹ. Ngoại hô hấp dần dần phát triển mạnh mẽ để nuôi dưỡng và cung cấp dưỡng khí cho cơ thể.
=== Khí ===
Khí động học
Dựa trên các quy luật tự nhiên để chuyển động, nguyên tắc chủ yếu là thuận theo quy luật tự nhiên, mọi thứ đều khép kín tuần hoàn lưu chuyển như dòng nước.
Sử dụng và thể hiện nỗ lực lưu thông khí của cơ thể (như những tiếng hét) để tạo sức mạnh nén khí và giải tỏa khí.
Khí vũ trụ
Con người sống trong vũ trụ sinh hoạt và chuyển động đều có tương quan đến vũ trụ, nếu thuận theo vũ trụ và khí từ vũ trụ thì sẽ lớn mạnh, còn ngược lại sẽ bị hủy hoại. Võ thuật lợi dụng đặc tính này để tạo ra các hình thức luyện tập nhằm nâng cao thể trạng như nội công, khí công, hấp pháp v.v.
=== Triết lý ===
Võ thuật là một bộ môn văn hóa đặc trưng gắn liền với triết học. Các võ sư đã đúc kết bằng câu nói nổi tiếng: "đằng sau võ học là triết học". Các bộ môn võ học phương Đông đều dựa trên nền tảng các nguyên lý triết học:
Âm dương
Âm dương là hai mặt quan hệ đối lập nhưng hỗ trợ nhau, võ thuật lấy bản thân người tấn công và người phòng thủ làm hai mặt này. Để đạt đến mục đích công phá cao nhất thì phải đẩy một mặt đặc tính lên cao nhằm lấn át mặt còn lại.
Ngũ hành
Ngũ hành là quy luật hậu thiên tương ứng với bản chất con người, để nâng cao hiệu quả phải biết nâng cao mặt yếu và trấn áp sự thái quá. Dựa trên ngũ hành các quy luật võ thuật tạo ra sự bổ khuyết cho nhau cũng như sự quấy rối bản chất nhau.
Bát quái
Bát quái như một sự phát triển cao hơn của âm dương, nó thể hiện chu kỳ hoàn chỉnh xoay vần của tạo hóa. Tuân theo bát quái để chuyển động cũng là tạo ra một chu trình sinh hóa của tự nhiên, lúc đó mọi vấn đề còn lại sẽ phụ thuộc vào kẻ điều khiển chứ không bị ảnh hưởng nhiều bởi xung quanh.
Cửu cung
Là một biến thiên của bát quái khi thêm trung cung, tạo ra chỉnh thể tương ứng với quy luật vận hành của con người. Đây là một kiến tạo nhằm đáp ứng cho nhu cầu vận động của một số lượng người nhiều, hầu như ngày nay không còn được ứng dụng mấy (ví dụ như biểu diễn tập thể hàng ngàn người)
=== Đông y ===
Luyện tập sơ khai võ thuật thì không cần chú trọng đến bản chất, các phương pháp chữa trị khi biến chứng xảy ra hoặc phản ứng của cơ thể với quá trình luyện tập. Khi luyện tập những thứ dễ bị lệch lạc hay khó thì các phương pháp thăm dò, theo dõi biến chuyển là một trong những trọng tâm của quá trình luyện tập.
Kinh, mạch, lạc
Kinh là 12 đường trực hành liên hệ trực tiếp đến tạng phủ. Sự vận hành khí của võ thuật tuân thủ chặt chẽ theo sự chuyển động của các đường kinh.
Mạch là 8 đường hay còn gọi là bát mạch như tám đại dương để khí từ các kinh đổ vào. Đây là những nơi được chú ý đến nhiều nhất trong võ thuật, hầu hết các hành giả luyện tập đều cố khai thông chúng.
Lạc gồm 15 đường chạy lẫn trong các kinh âm và dương nối các đường kinh với nhau. Những lạc nhỏ là tôn lạc, phù lạc chạy khắp thân thể. Là phần phải thông qua để đạt đến vòng Đại Chu Thiên hoàn chỉnh.
Huyệt đạo
Huyệt đạo là những điểm có khí tụ lại lớn, thường là những điểm giao nhau của nhiều đường kinh mạch.
Dựa trên các khái niệm khí huyết lưu chuyển trên võ thuật cho ra đời hai vòng lớn là Tiểu chu thiên và Đại chu thiên.
Huyệt đạo là những điểm nhạy cảm trên thân thể, theo đó người dụng võ có thể tấn công vào các huyệt đạo để gia tăng tính sát thương của đòn thế. Khi bị tấn công vào huyệt đạo, người chịu đòn có thể có những phản ứng rất đặc biệt: đau đớn dữ dội, chấn thương nặng, bất tỉnh, chết. Huyệt đạo trong võ thuật cũng gắn trực tiếp với các phương pháp cứu chữa người bị chấn thương, bệnh tật. Theo các võ sư, cơ thể có 108 huyệt đánh và 108 huyệt chữa trị, lại có 12 huyệt có thể đánh hẹn giờ chết. Các võ sư thường truyền dạy không chỉ phương thức tấn công huyệt đạo mà cả các phương pháp chữa trị bằng huyệt đạo như bấm huyệt, xoa bóp, châm cứu. Tuy nhiên, biết được vị trí huyệt đạo đã khó, biết được cần tác động bằng phương thức nào và độ sâu của đòn đánh đến đâu để đạt được hiệu quả tính cao nhất còn khó hơn. Bởi vậy, điểm huyệt và giải huyệt chưa bao giờ được truyền dạy một cách phổ thông, quảng bá cho tất cả các môn đồ của võ phái, do đó theo thời gian những tinh hoa này không tránh khỏi mai một và thất truyền.
== Nghệ thuật ==
=== Điện ảnh ===
Võ thuật và các bộ môn nghệ thuật sân khấu, điện ảnh gắn bó với nhau từ rất lâu, nhưng hầu như chỉ bắt đầu phát triển mạnh mẽ với sự xuất hiện của Lý Tiểu Long trong loạt phim quyền cước do anh thủ vai diễn viên chính như Thanh Phong Hiệp, Đường Sơn Đại Huynh, Tinh Võ Môn, Long Tranh Hổ Đấu, Mãnh Long Quá Giang, Tử Vong Du Hí. Sau anh, rất nhiều diễn viên, võ sĩ đã tham gia diễn xuất như Khương Đại Vệ, Địch Long, La Liệt, Vương Vũ, Trần Tinh, Trần Quang Thái, Phó Thanh,... là những diễn viên nổi tiếng của Hồng Kông vào những năm đầu thập kỷ 1970, sau này còn có thêm Thành Long (Jackie Chan), Hồng Kim Bảo, Quan Chi Lâm, Hà Gia Kính, Lý Liên Kiệt (Jet Li), Triệu Văn Trác, Chân Tử Đan (còn gọi là Chung Tử Đơn), Phàn Thiếu Hoàng, Ngô Kinh, Chu Nhuận Phát, với loạt phim về Hồng Hi Quan và Phương Thế Ngọc, Nam Thiếu Lâm, Hoàng Phi Hồng, Hoắc Nguyên Giáp, Nghiêm Vịnh Xuân và Vịnh Xuân Quyền, Hồng Gia Quyền, v.v.
Dòng "phim chưởng" nhiều tập một thời phát triển mạnh mẽ từ những năm cuối của thập kỷ 1960 ở Hồng Kông và các nước trong khu vực Đông Nam Á hiện đã dần nhường chỗ cho sự xuất hiện của những phim một tập được phương Tây đánh giá cao như phim Anh hùng, Ngọa Hổ Tàng Long, Thập diện mai phục, Kungfu, v.v. Và gần đây nhất là Tony Jaa, một chiến binh Muay Thái xuất sắc, anh đã cho ra series phim OngBak (Truy tìm tượng Phật) và Tom Yung Goong (The Protector), những pha hành động của anh làm bao nhiêu người phải thán phục, nhào lộn và trình diễn võ thuật. Có thể nói anh là lớp trẻ sau này nối tiếp Lý Tiểu Long, Thành Long và Lý Liên Kiệt.
=== Vũ đạo ===
Vũ đạo là một loại hình nghệ thuật múa cổ truyền của Trung Hoa, loại hình nghệ thuật này phổ biến mạnh từ các bộ tộc người Hán ở phương bắc Trung Quốc từ khu vực nội Mông cho đến các vùng Hoa Bắc, Sơn Đông và Hà Bắc (Trung Quốc).
Vũ đạo có một vai trò ảnh hưởng nhất định đến các bộ môn võ thuật thuộc miền Bắc Trung Hoa làm cho văn hóa nghệ thuật của đất nước này trở nên đa sắc thái và giàu tính nhân văn.
=== Kinh Kịch ===
Kinh kịch là một loại hình nghệ thuật biểu diễn sân khấu cổ truyền của Trung Hoa thường có các màn biểu diễn võ thuật cổ truyền Trung Hoa.
Các thể loại phim quyền cước còn được gọi là phim Kungfu của Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan không phải là loại phim hành động của Mỹ mà thật ra có nguồn gốc từ Kinh kịch do các diễn viên và đạo diễn sân khấu chuyển sang.
=== Tuồng, Chèo ===
== Các nền võ học ==
Mỗi một dân tộc trên thế giới đều gắn liền quá trình tồn tại, phát triển của mình với các truyền thống quý báu, trong đó có tinh thần thượng võ và những kỹ thuật phòng vệ. Đó là bản lề cho sự phát triển của các nền võ học trên thế giới.
=== Anh ===
Quyền Anh (Đấm bốc)
=== Ấn Độ ===
Trong khi các võ phái tại các nước châu Á khác (Nhật Bản, Việt Nam v.v.) thường thừa nhận ảnh hưởng từ võ thuật Trung Hoa, thì giới võ lâm Trung Hoa lại thừa nhận võ thuật của mình nguyên khởi từ Ấn Độ
Kalaripayattu: hệ phái võ thuật tương truyền đã có lịch sử rất lâu đời.
Vajra Mushti
Varma Kalai
Kuttu Varisai
Silambam
Adithada
Thang Ta
Gatka
=== Brasil ===
Capoeira
Nhu thuật Brasil
Võ tự do
=== Campuchia ===
Bokator
Pradal Serey
=== Đức ===
Kampfringen
=== Indonesia ===
Pencak silat
Tarung Derajat
=== Israel ===
Krav Maga
=== Gruzia ===
Khridoli
=== Hoa Kỳ ===
Close Quarters Combat
=== Lào ===
Muay Lao
Ling Lom
=== Malaysia ===
Silat
Tomoi
=== Mông Cổ ===
Vật Mông Cổ
=== Myanma ===
Võ của Myanma thường được gọi chung là Thaing (bao gồm cả võ tay không và binh khí), cũng được gọi là Bando (tuy nhiên Bando lại còn có tên là một bộ môn riêng trong nền võ Myanma: môn nhu quyền), cho nên Thaing là tên gọi võ thuật bao quát và chuẩn xác nhất đối với đất nước này.
Bando (nhu quyền): Là trường phái gắn chặt với các đặc điểm tấn pháp, thân pháp, kỹ thuật phòng thủ và tránh né, các thế tấn công thường tượng hình theo các loài thú: trư công (lợn), ngưu công (trâu), độc xà công (rắn độc), lục xà công (rắn lục), lộc công (hươu), hầu công (khỉ), ưng công (chim ưng), báo công (báo), hổ công (hổ), mãng xà công (rắn).
Leithwei (cương quyền), còn gọi là Miến quyền (Burmese Boxing)
Naban (võ vật), chỉ xuất hiện trong các bộ tộc người Chin và Kachin thuộc vùng Himalaya.
Banshay (binh khí), ba loại cơ bản là côn, thương và kiếm.
=== Nga ===
Systema
Sambo
=== Nhật Bản ===
Nhật Bản có truyền thống thượng võ lâu đời do những cuộc nội chiến liên miên, mặc dù quốc gia này trong suốt trường kỳ lịch sử chưa hề bị xâm lược và đô hộ bởi ngoại bang ngoại trừ giai đoạn ngắn ngủi các samurai phải đương đầu với đội thủy binh hùng mạnh của Mông Cổ. Nhiều hệ phái võ thuật Nhật Bản đã lừng danh thế giới như:
Jujutsu
Judo
Aikido
Koppo
Ninjutsu
=== Pháp ===
Quyền Pháp (Savate)
La canne
Lutta corsa
Đấu kiếm Pháp
=== Philippines ===
Eskrima
Võ gậy Anis
=== Thái Lan ===
Thái Lan nằm trên bán đảo Đông Dương, chịu ảnh hưởng của Phật giáo và nền văn hóa Ấn Độ, phong kiến Trung quốc. Nền võ thuật nước này chịu ảnh hưởng nhiều của võ thuật Trung Quốc và Ấn Độ, tuy nhiên khi người phương Tây đến đây, dấu ấn lớn nhất để lại là môn Muay Thái, nó hơi giống như Kick box của người phương tây nhưng lại có nét đánh phù hợp của người phương đông. Hiểm với những đòn đánh cùi chỏ và đầu gối
Muay Thai (Quyền Thái)
Muay Boran
Krabi Krabong
=== Trung Quốc ===
Xem chi tiết Các Dòng Quyền Thuật Nam Bắc Trung Hoa tại Võ Thiếu Lâm
Trước kia trong đồng đạo võ lâm thường tôn vinh "bát đại môn phái" (Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi, Côn Luân, Không Động, Thanh Thành, Hoa Sơn, Toàn Chân) hoặc "thất đại môn phái" (Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi, Côn Luân, Không Động, Thanh Thành, Hoa Sơn) võ thuật Trung Hoa, trong đó Võ Thiếu Lâm được đề cao là ngôi sao Bắc đẩu. Gần đây nhất, trong cuốn Võ thuật thần kỳ của Trịnh Cần và Điền Vân Thanh, Trung Quốc, bản dịch được Nhà xuất bản Hà Nội, H. 1996 xuất bản, các tác giả khẳng định Trung Hoa bao gồm không dưới 500 võ phái khác nhau, trong đó nổi tiếng nhất là những phái chính:
Tượng Hình Quyền
Thái cực quyền
Võ Đang Quyền
Nội Gia Quyền
Bát Quái chưởng
...
Thiếu Lâm Quyền
Trường Quyền (Bắc Quyền) (Bắc Thiếu Lâm)
Tra Quyền
Hóa Quyền
Hoa Quyền
Pháo Quyền
Trốc Cước
Đàm Thoái
Phách Quải Quyền
Thông Bối Quyền
Phiên tử Quyền
Yến Thanh Quyền còn gọi là Mê Tông Quyền hay Mê Tung Quyền
Hình Ý Quyền còn gọi là Lục Hợp Quyền (Phái Thiếu Lâm Vy Đà)
Ðường Lang Quyền
Ưng Trảo Quyền
Thiếu Lâm Bát Cực Quyền
...
Bát Cực Quyền(Gốc)
...
Nam Quyền (Nam Thiếu Lâm)
Hồng Gia Quyền
Bạch Hạc Quyền
Bạch Mi Quyền
Vịnh Xuân Quyền
Phật Gia Quyền
Thái Lý Phật
Châu Gia Quyền
Huỳnh Gia Thần Cước
...
Các bộ môn quyền thuật trên trong khoảng 500 võ phái của khắp miền Nam Bắc Trung Hoa chính là xuất phát từ trong dân gian sau này được các môn đồ của Thiếu Lâm tích hợp vào hệ thống Thiếu Lâm Quyền và biến nó thành những hệ phái Bắc Thiếu Lâm và Nam Thiếu Lâm. Do vậy nói Bồ Đề Đạt Ma là sáng tổ ra võ Thiếu Lâm và võ thuật Trung Hoa như nhiều võ sư xác tín liệu có chính xác và công bằng không trong khi võ Thiếu Lâm là một sự pha trộn và tích hợp giữa các bộ môn quyền thuật dân gian ở Trung Hoa và Ấn Độ. Chùa Thiếu Lâm và võ Thiếu Lâm thật ra chỉ có công tích hợp và hệ thống lại bởi các môn đồ xuất sắc của Thiếu Lâm Tự.
Các bộ môn quyền thuật của miền bắc Trung Hoa như Hình Ý Quyền, Bát Cực Quyền, Thông Bối Quyền, Mê Tung Quyền, Phách Quải Quyền,... đều có một tên chung là Trường Quyền. Các bộ môn quyền thuật của Nam Thiếu Lâm như Ngũ Đại Danh Gia Quyền Thuật Nam Thiếu Lâm: Hồng gia (Hung gar), Lưu gia (Liu Gar), Lý Gia (Li Gar), Mạc Gia (Mo Gar) và Thái Gia (Choy Gar), Bạch Mi Quyền (còn gọi là Thiếu Lâm Bạch Mi), Thiếu Lâm Vịnh Xuân Quyền gọi tắt là Vịnh Xuân Quyền... được gọi tất cả bằng một tên chung là Nam Quyền.
Do vậy cũng nên lưu ý rằng danh từ Trường Quyền không phải là một môn phái mà là khái niệm chỉ tất cả các bộ môn quyền thuật miền bắc Trung Hoa (sau này gọi là Bắc Thiếu Lâm), cũng như danh từ Nam Quyền không phải là một môn phái mà là khái niệm chỉ tất cả các bộ môn quyền thuật miền nam Trung Hoa (là Nam Thiếu Lâm).
Sau này người Trung Hoa thường có câu Thiên Hạ Công Phu Xuất Thiếu Lâm (tất cả các phái võ và các bộ môn quyền thuật nam bắc Trung Hoa đều có nguồn gốc từ Thiếu Lâm).
Câu nói này chỉ đúng một nửa và cũng cho thấy rằng võ Thiếu Lâm không phải là cái nôi xuất xứ tất cả các phái võ khác mà phải nói ngược lại rằng nó (võ Thiếu Lâm) đã tích hợp các dòng võ khác và làm cho chính nó trở nên phong phú hơn và đa phong cách thể hiện. Võ Thiếu Lâm và võ thuật Trung Hoa nói chung là một công trình sáng tác của các thế hệ võ thuật ở Trung Hoa, trong đó có các môn đồ của chùa Thiếu Lâm. Bằng không câu nói trên sẽ dẫn đến vô số điều ngộ nhận hơn nữa về sau.
=== Triều Tiên ===
Taekwondo (Đài quyền đạo hay Túc quyền đạo) môn phái đặc trưng với sự nhấn mạnh đòn chân và tính chất thể thao của bộ môn.
Hapkido (Kyuc-too-ki hay Hợp khí đạo) môn võ tổng hợp, khai thác những ưu điểm của Taekwondo, Karatedo, Kendo, Aikido, Boxing thành một dạng võ tự vệ.
Tangsudo (Đường thủ đạo)
Sirum một môn vật truyền thống
=== Việt Nam ===
Bên cạnh những nét tương đồng với nền võ thuật rộng lớn của Trung Hoa do ảnh hưởng từ giao lưu văn hóa, các phái võ Việt Nam, hay còn được gọi với tên "Võ thuật Cổ Truyền" vẫn thể hiện những đặc điểm khác biệt rõ rệt với các nền võ học khác trên thế giới nói chung và Trung Hoa nói riêng: thứ nhất, sự xuất hiện của lời thiệu bằng thơ, phú; thứ hai: bộ pháp vận hành theo đồ hình bát quái (lưỡng túc bát quái vi căn), khi đứng thì vững như đá tảng, khi di chuyển thì nhẹ nhàng linh hoạt như lá bay; thứ ba, bộ tay áp dụng theo ngũ hành pháp (song thủ ngũ hành vi bản); thứ tư, kỹ thuật đòn thế được chọn lọc, phân thế riêng phù hợp với cách đánh của từng dạng đối tượng, địa hình, nhất là lối đánh cận chiến một người chống lại nhiều người; thứ năm, tận dụng triệt để lối đánh "cộng lực" - dựa vào sức lực đối phương để triệt hạ đối phương v.v. Danh sách chưa đầy đủ các phái võ Việt Nam (ở trong và ở ngoài nước Việt Nam) bao gồm:
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
bruniaceae.txt | Bruniaceae là một họ cây bụi bản địa tại khu vực tỉnh Cape của Nam Phi. Về cơ bản, chúng chỉ phân bố hạn hẹp trong khu vực tỉnh này, nhưng có một lượng nhỏ các loài có tại KwaZulu-Natal.
Trong hệ thống APG II năm 2003 họ này được đặt trong bộ Lamiales, nhưng một nghiên cứu năm 2008 gợi ý rằng họ này là chị em với họ Columelliaceae và trên website của Angiosperm Phylogeny Group người ta đã đưa ra đề xuất về việc đặt cả hai họ trong bộ Bruniales. Phiên bản gần đây của APG là APG III đã đặt cả hai họ như là các thành viên của bộ Bruniales, có quan hệ chị em với bộ Apiales, nghĩa là một đơn vị phân loại của nhánh Cúc.
== Các chi ==
Họ này chứa 12 chi với 75 loài đã biết:
Audouinia Brongn. (bao gồm cả Pavinda)
Berzelia Brongn. (bao gồm cả Rabenhorstia)
Brunia Lam.
Linconia L.
Lonchostoma Wikstr. (bao gồm cả Erasma, Gravenshorstia, Peliotis, Peliotus)
Mniothamnea (Oliv.) Nied.
Nebelia Neck. ex Sweet (bao gồm cả Diberara, Heterodon)
Pseudobaeckea Nied.
Raspalia Brongn.
Staavia Dahl (bao gồm cả Astrocoma, Levisanus)
Thamnea Sol. ex Brongn. (bao gồm cả Schinzafra)
Tittmannia Brongn.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo == |
bắc giang.txt | Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng đông bắc Việt Nam. Từ năm 2012 là tỉnh nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội. Bắc Giang giáp với nhiều tỉnh thành, phía bắc giáp Lạng Sơn, phía đông giáp Quảng Ninh, phía tây giáp Thái Nguyên và Hà Nội, phía nam giáp Bắc Ninh và Hải Dương. Tỉnh lỵ là thành phố Bắc Giang, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 50 km.
Trong những năm gần đây, Kinh tế của Bắc Giang phát triển khá toàn diện và đang dần khẳng định được vị thế là Trung tâm kinh tế lớn thứ hai của vùng Trung du và miền núi phía Bắc
== Địa lý ==
Vị trí: Là một tỉnh thuộc vùng đông bắc Bắc Bộ, phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh Thái Nguyên và huyện Sóc Sơn (Hà Nội) và phía nam giáp tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hải Dương.
Bắc Giang có diện tích tự nhiên 3.823 km², chiếm 1,2% diện tích tự nhiên của Việt Nam. Theo tài liệu năm 2000, trong tổng diện tích tự nhiên của Bắc Giang, đất nông nghiệp chiếm 32,4%; đất lâm nghiệp có rừng chiếm 28,9%; còn lại là đồi núi, sông suối chưa sử dụng và các loại đất khác.
Bắc Giang có địa hình trung du và là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi phía bắc với châu thổ sông Hồng ở phía nam. Tuy phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh là núi đồi nhưng nhìn chung địa hình không bị chia cắt nhiều. Khu vực phía bắc tỉnh là vùng rừng núi. Bắc Giang nằm kẹp giữa hai dãy núi hình cánh cung và cùng mở ra như nan quạt, rộng ở hướng đông bắc, chụm ở phía tây nam (tại vùng trung tâm tỉnh), là: cánh cung Đông Triều và cánh cung Bắc Sơn, phần giữa phía đông tỉnh có địa hình đồi núi thấp là thung lũng giữa hai dãy núi này. phía đông và đông nam tỉnh là cánh cung Đông Triều với ngọn núi Yên Tử, cao trung bình 300–900 m so với mặt biển, trong đó đỉnh cao nhất là 1.068 m; phía tây bắc là dãy núi cánh cung Bắc Sơn ăn lan vào tới huyện Yên Thế, cao trung bình 300–500 m, chủ yếu là những đồi đất tròn trĩnh và thoải dần về phía đông nam. Tại vùng núi phía đông bắc tỉnh, giáp với Quảng Ninh có khu rừng nguyên sinh Khe Rỗ rộng 7153 ha với hệ động vật và thực vật phong phú, bao gồm 236 loài cây thân gỗ, 255 loài cây dược liệu, 37 loài thú, 73 loài chim và 18 loài bò sát.
Trên địa bàn Bắc Giang có 374 km sông suối, trong đó ba sông lớn là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu. Sông Lục Nam chảy qua vùng núi đá vôi nên quanh năm nước trong xanh. Sông Thương bắt nguồn từ hai vùng có địa hình và địa chất khác nhau nên nước chảy đôi dòng: bên đục, bên trong.
Ngoài sông suối, Bắc Giang còn có nhiều hồ, đầm, trong đó có hồ Cấm Sơn và Khuôn Thần. Hồ Cấm Sơn năm ở khu vực giáp tỉnh Lạng Sơn, dài 30 km, nơi rộng nhất 7 km và chỗ hẹp nhất 200m. Hồ Cấm Sơn có diện tích mặt nước 2.600 ha, vào mùa mưa có thể lên tới 3.000 ha. Hồ Khuôn Thần có diện tích mặt nước 240 ha và lòng hồ có 5 đồi đảo được phủ kín bởi rừng thông 20 tuổi. Người ta có thể dạo chơi trên hồ Khuôn Thần bằng thuyền đạp chân hoặc thuyền gắn máy, vừa cùng người Sán Chỉ, Cao Lan, Nùng bản địa hát soong hao, vừa thưởng thức những sản phẩm độc đáo của địa phương như hạt dẻ, mật ong và rượu tắc kè.
== Dân số và các dân tộc thiểu số ==
Theo điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số Bắc Giang có 1.555.720 người, với mật độ dân số 407 người/km², gấp 1,7 lần mật độ dân số bình quân của cả nước. Trên địa bàn Bắc Giang có 6 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất là người Kinh, chiếm 88,1% dân số toàn tỉnh, tiếp đến là người Nùng chiếm 4,5%; người Tày 2,6%; người Sán Chay và người Sán Dìu, mỗi dân tộc 1,6%; người Hoa 1,2%; người Dao 0,5%.
== Lịch sử ==
Thời vua Hùng dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, Bắc Giang thuộc bộ Võ Ninh.
Đời Lý - Trần gọi là lộ Bắc Giang.
Đời Lê, đây là phủ Bắc Hà, năm 1822 đổi là phủ Thiên Phúc, đến đời Tự Đức là phủ Đa Phúc.
Từ ngày 5 tháng 11 năm 1889 đến ngày 9 tháng 9 năm 1891 đã tồn tại tỉnh Lục Nam. Tỉnh Lục Nam gồm các huyện Bảo Lộc, Phượng Nhỡn, Lục Nam, Hữu Lũng (tách từ phủ Lạng Giang, tỉnh Bắc Ninh, ở bên tả ngạn sông Thương) và huyện Yên Bái (tách từ tỉnh Lạng Sơn). Năm 1891 sau khi trả hai huyện Bảo Lộc và Phượng Nhỡn cho tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Lục Nam bị xóa bỏ để nhập vào Đạo Quan binh I.
Tỉnh Bắc Giang được thành lập ngày 10 tháng 10 năm 1895, tách từ tỉnh Bắc Ninh, bao gồm phủ Lạng Giang, phủ Đa Phúc và các huyện Kim Anh, Yên Dũng, Phượng Nhỡn, Việt Yên, Hiệp Hòa, Yên Thế và một số tổng nằm ở phía nam sông Lục Nam. Tỉnh lỵ là Phủ Lạng Thương (nay là thành phố Bắc Giang). Năm 1896, phủ Đa Phúc và huyện Kim Anh được trả lại cho tỉnh Bắc Ninh.
Năm 1950, tỉnh Bắc Giang thuộc Liên khu Việt Bắc (1949-1956) và gồm 7 huyện: Hiệp Hoà, Lục Ngạn, Yên Thế, Lạng Giang, Việt Yên, Yên Dũng, Hữu Lũng.
Ngày 22 tháng 2 năm 1955, huyện Sơn Động từ tỉnh Quảng Yên trả về tỉnh Bắc Giang.
Ngày 1 tháng 7 năm 1956, khi thành lập Khu tự trị Việt Bắc, huyện Hữu Lũng sáp nhập vào tỉnh Lạng Sơn thuộc Khu tự trị Việt Bắc.
Ngày 21 tháng 1 năm 1957, chia 2 huyện Sơn Động và Lục Ngạn thành 3 huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam.
Ngày 6 tháng 11 năm 1957, chia huyện Yên Thế thành 2 huyện: Yên Thế và Tân Yên.
Năm 1959, đổi tên thị xã Phủ Lạng Thương thành thị xã Bắc Giang.
Ngày 27 tháng 10 năm 1962, Bắc Giang nhập với Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc và đến ngày 1 tháng 1 năm 1997 lại tách ra như cũ. Khi tách ra, tỉnh Bắc Giang có tỉnh lị là thị xã Bắc Giang và 9 huyện: Hiệp Hòa, Lạng Giang, Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động, Tân Yên, Việt Yên, Yên Dũng, Yên Thế.
Ngày 7 tháng 6 năm 2005, chuyển thị xã Bắc Giang thành thành phố Bắc Giang.
== Văn hóa ==
Văn hóa Bắc Giang có các điểm đặc trưng sau:
Tính chất đan xen đa văn hóa. Đan xen không phải hòa đồng mà tất cả cùng tồn tại tạo nên sự phong phú, đa dạng của văn hóa Bắc Giang.
Tính chất tụ hội văn hóa người Việt. Trong lịch sử lâu dài của đất nước người dân từ nhiều nơi như Thanh Hóa, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng, Hưng Yên... đã lên đây sinh sống. Họ mang theo tập tục của mình và có những biến đổi theo người dân bản xứ trên đất Bắc Giang và ngược lại người dân Bắc Giang ở trước đó cũng bị những tác động của cư dân mới đến.
Con người Bắc Giang vốn là những cư dân đồng cam cộng khổ, cưu mang nhau vượt qua thiên tai địch họa, khai phá rừng hoang lập làng, lập bản. Tính chất hào hùng còn dễ nhận thấy hơn qua các cuộc bảo vệ đất nước của dòng họ Giáp, họ Thân và đặc biệt hơn là cuộc khởi nghĩa Yên Thế.
Bắc Giang là sự giao thoa giữa hai miền văn hóa Việt cổ (Bắc Ninh) và văn hóa Tày Nùng (Lạng Sơn). Những người dân tộc Thái, dân tộc Dao… vẫn có nét riêng trong sinh hoạt nhưng họ học tiếng Kinh, mặc quần áo người Kinh.
Văn hóa Bắc Giang là tính chất đoàn kết, sáng tạo. Từ vùng rừng thiêng nước độc cộng đồng dân cư Bắc Giang sinh sống đã tạo nên những vẻ đẹp riêng có cả về văn hóa vật thể và phi vật thể. Bắc Giang có hơn 500 lễ hội lớn nhỏ.
Người dân Bắc Giang tự hào là cái nôi của quan họ cổ với 23 làng ven sông Cầu, tồn tại như một sự kết duyên song song với quan họ ở Bắc Ninh. Đất quan họ Bắc Giang còn là nơi có tục kết chạ từ lâu đời đến nay vẫn tồn tại trong cuộc sống cộng đồng, có đóng góp tích cực làm đẹp thêm đời sống xã hội.
Bắc Giang có chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng) - cái nôi đào tạo phật pháp thiền phái Trúc Lâm; chùa Bổ Đà (Việt Yên) phản ánh tính chất cổ kính gần với phật giáo Ấn Độ, đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa) được dựng vào cuối thế kỷ XVI từng được mệnh danh là "Đệ nhất Kinh Bắc". Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trên địa bàn Bắc Giang cách đây khoảng hai vạn năm có người thời đại đồ đá khai phá, sinh sống ở đây. Điều đó được thể hiện qua các di chỉ Bố Hạ (Yên Thế), Chũ, Cầu Cát (Lục Ngạn), Khe Táu, An Châu (Sơn Động). Thời gian tiếp theo các nhà khảo cổ cũng tìm thấy con người thời đại đồ đá mới sinh sống trên vùng đất này qua di chỉ Mai Sưu (Lục Nam), thời đại đồ đồng qua di chỉ Đông Lâm (Hiệp Hòa).
== Các đơn vị hành chính ==
Bắc Giang có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố và 9 huyện, với 227 đơn vị hành chính cấp xã gồm 204 xã, 10 phường và 16 thị trấn:
== Kinh tế ==
Nằm trên tuyến hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng, liền kề vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, Bắc Giang rất thuận lợi trong phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa với các nước trong khu vực.
Bắc Giang đã quy hoạch và triển khai các khu công nghiệp cùng một số cụm công nghiệp với tổng diện tích gần 1.500 ha, trong đó có một khu công nghiệp đã cơ bản lấp đầy.
Các khu công nghiệp nằm ở phía nam tỉnh Bắc Giang thuộc các huyện Việt Yên và Yên Dũng. Được quy hoạch liền kề nhau, nằm dọc theo đường quốc lộ 1A mới Hà Nội - Lạng Sơn, gần với các đô thị lớn, thuận lợi cả về đường bộ, đường sông, đường sắt và đường hàng không và các cảng sông, cảng biển. Cách thủ đô Hà Nội khoảng 40 km, Sân bay quốc tế Nội Bài 45 km; Cảng Hải Phòng khoảng 110 km và cách cửa khẩu Hữu Nghị Quan 120 km, có hệ thống hạ tầng tương đối hoàn chỉnh; thuận lợi cả về hệ thống cung cấp điện, nước, bưu chính viễn thông.
Các khu, cụm công nghiệp đó là:
Khu công nghiệp Đình Trám, diện tích 100 ha;
Khu công nghiệp Song Khê - Nội Hoàng, diện tích 180 ha;
Khu công nghiệp Quang Châu, diện tích 426 ha;
Khu công nghiệp Vân Trung, diện tích khoảng 442 ha;
Khu công nghiệp Châu Minh - Mai Đình diện tích 207 ha
Cụm công nghiệp cơ khí ô tô Đồng Vàng, diện tích khoảng 38 ha.
Ngoài các khu, cụm công nghiệp trên, hiện nay tỉnh Bắc Giang dự kiến quy hoạch một số khu, cụm công nghiệp khác, tập trung ở các huyện Yên Dũng, Việt Yên, Hiệp Hoà và huyện Lạng Giang với diện tích các khu khoảng từ 200 ha đến trên 1.000 ha.
Bắc Giang đang nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; quan tâm đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp và đặc biệt chú trọng cải cách thủ tục hành chính theo hướng đảm bảo công khai, minh bạch với cơ chế "một cửa liên thông", nhà đầu tư chỉ cần đến một địa chỉ là Ban quản lý các Khu công nghiệp hoặc Sở Kế hoạch và Đầu tư là được cấp giấy chứng nhận đầu tư, mã số thuế và con dấu.
== Kinh tế - xã hội 2015 ==
Tăng trưởng kinh tế 9,6%
GDP/người đạt 1.540 USD
Kim ngạch xuất khẩu 2,45 tỷ USD
Giá trị sx Công nghiệp đạt 57.338 tỷ đồng (giá thực tế)
Giá trị sx ngành Nông - Lâm - Ngư đạt 25.200 tỷ đồng
Thu ngân sách nhà nước đạt 3.450 tỷ đồng
Thu hút 154 dự án đầu tư tổng vốn 5.600 tỷ đồng và 215 triệu USD
Tỷ lệ hộ nghèo còn 7,5%
Tỷ lệ trường chuẩn quốc gia 80,5%
Đạt bình quân 12,7 tiêu chí/xã trong chương trình XDNTM
Sản lương thực có hạt đạt 670.000 tấn
Có thêm 1 Di tích Quốc gia Đặc Biệt (Chùa Vĩnh Nghiêm) và 1 Bảo Vật Quốc gia (Hương Án Chùa Khám Lạng)
== 10 thành tựu Kinh tế - Xã hội nổi bật giai đoạn 2010 - 2015 ==
=== Công nghiệp ===
Công nghiệp phát triển nhanh cả về không gian, quy mô và trình độ công nghệ với tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân 19,4%. Cơ cấu công nghiệp - xây dựng tăng từ 32,9% năm 2011 lên 41,5% năm 2015. Toàn tỉnh hiện có 4 khu công nghiệp và 27 cụm công nghiệp đi vào hoạt động; thu hút 455 dự án đầu tư, trong đó 127 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký hơn 2 tỷ USD. Giá trị sản xuất công nghiệp (giá hiện hành) ước đạt 58.672 tỷ đồng, bằng 147,7% mục tiêu và cao gấp 4,7 lần so với năm 2010, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 36,4%, góp phần tăng thu ngân sách, tạo chuyển dịch mạnh cơ cấu lao động. Lĩnh vực công nghiệp - xây dựng tạo việc làm cho khoảng 250 nghìn lao động.
=== Nông nghiệp ===
Bắc Giang phát triển khá toàn diện. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất tăng bình quân 5,2%/năm, trong đó tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm bình quân đạt 4,0%/năm. Giá trị sản xuất trên 1ha đất sản xuất nông nghiệp năm 2015 ước đạt 86 triệu đồng, tăng 1,8 lần so với năm 2010. Cơ cấu ngành nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi (năm 2015 tỷ trọng chăn nuôi chiếm 45%). Tỉnh đã hình thành được một số vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn, tạo được sản phẩm đặc trưng có thương hiệu. Đã hình thành vùng trồng cây ăn quả lớn thứ 3 toàn quốc, vùng trồng vải thiều là vùng sản xuất chuyên canh đứng thứ nhất, đàn gà đứng thứ 4 và là một trong 2 tỉnh có đàn lợn dẫn đầu cả nước. Đến hết năm 2015, toàn tỉnh có 34/202 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 16,3% số xã toàn tỉnh; bình quân các xã trên địa bàn tỉnh đạt 12,7/19 tiêu chí xã nông thôn.
=== Dịch vụ ===
Dịch vụ phát triển đa dạng, ngày càng nâng cao chất lượng. Thu hút được một số dự án lớn như: Sân Golf – Dịch vụ Yên Dũng, khách sạn Mường Thanh, siêu thị BigC, Co.op mart… Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 17.200 tỷ đồng, tăng bình quân 19,6%/năm. Phương tiện vận tải tăng bình quân 11%/năm; phủ sóng điện thoại di động và Internet tới tất cả các xã. Hệ thống dịch vụ tài chính, tiền tệ phát triển khá, cơ bản đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh nghiệp, vốn phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Các dịch vụ giáo dục, y tế, tư vấn pháp luật, bảo hiểm, du lịch... tiếp tục phát triển phong phú, đa dạng.
=== Giao thông ===
Có quốc lộ 1A, quốc lộ 31, quốc lộ 37, quốc lộ 279, đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn, sông Lục Nam, sông Thương đi qua.
Hiện tại, tỉnh đang tập trung ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông để tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối với các tỉnh bạn và các vùng kinh tế động lực. Đã phối hợp triển khai cải tạo, nâng cấp các quốc lộ 1, 31, 37; đầu tư nâng cấp nhiều tuyến đường tỉnh: 293, 398, 295B, 296, 297, 298, 299... Tập trung đầu tư nâng cấp, cải tạo hệ thống giao thông nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Trong 5 năm đã cải tạo, nâng cấp, cứng hóa 215 km đường tỉnh; 240 km đường huyện; 695 km đường liên xã, trục xã; 654 km đường thôn, bản; nâng tỷ lệ cứng hóa đường huyện từ 50% (năm 2010) lên 85%; đường xã từ 21,5% lên 58,5%; đường thôn, bản đạt 47,6%.
=== Thu ngân sách nhà nước ===
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng bình quân 15,5%/năm. Cơ cấu nguồn thu nội địa ngày càng tiến bộ. Chi ngân sách bám sát dự toán, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng chế độ, chính sách, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương. Kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, bình quân đạt 51%/năm, ước năm 2015 đạt trên 2,6 tỷ USD (vượt hơn 3 lần so với chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đề ra là 800 triệu USD).
=== Du lịch ===
Công tác phát triển du lịch của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực. Triển khai nhiều công trình, dự án đầu tư phát triển các điểm du lịch để xây dựng các tour, tuyến du lịch như: Dự án xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng, Quy hoạch xây dựng bảo tồn di tích, danh thắng chùa Vĩnh Nghiêm; Dự án xây dựng Khu văn hóa tâm linh Tây Yên Tử...; đầu tư xây dựng các tuyến giao thông (đường tỉnh 293) để kết nối các điểm du lịch trong tỉnh và kết nối với các tỉnh trong khu vực. Toàn tỉnh có 330 cơ sở lưu trú, trong đó có 01 khách sạn 4 sao, 10 khách sạn 2 sao, 15 khách sạn 1 sao và trên 300 nhà nghỉ, với khoảng 4.000 buồng nghỉ, trong đó có 3.750 buồng nghỉ đạt tiêu chuẩn. Tốc độ tăng khách du lịch bình quân đạt 23,8%/năm, năm 2015 ước đạt 400 nghìn lượt người; doanh thu từ du lịch có tốc độ tăng bình quân đạt 37%/năm, năm 2015 ước đạt 262 tỷ đồng.
=== Giáo dục và đào tạo ===
Giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển. Mạng lưới các trường được bố trí hợp lý, bảo đảm mỗi xã có đủ 03 trường (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở); tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 80%, vượt mục tiêu đề ra. 100% đội ngũ cán bộ, giáo viên đã đạt chuẩn và trên chuẩn. Công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi hoàn thành trước một năm so với kế hoạch; phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 đạt 70,8% số xã (tăng 56,5% so với năm 2010). Giáo dục - đào tạo duy trì vị trí trong nhóm 15 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước; thi học sinh giỏi văn hóa cấp quốc gia năm 2015 xếp thứ 12 về số lượng giải, xếp thứ 9 về chất lượng giải và luôn ở vị trí từ 1 đến 3 các cuộc thi cấp khu vực, toàn quốc. Ngoài ra đã từng có nhà vô địch Đường lên đỉnh Olympia.
=== Công tác đào tạo nghề ===
Công tác tạo nghệ được quan tâm đầu tư, từng bước gắn kết giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp, gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm. Mỗi năm, các cơ sở trên địa bàn đào tạo nghề cho gần 3 vạn lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đạt 50,5%. Trên 90% sinh viên tốt nghiệp cao đẳng nghề, trên 80% học sinh tốt nghiệp trung cấp nghề, trên 70% học sinh tốt nghiệp sơ cấp nghề có việc làm sau đào tạo. Tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 15,3% năm 2010 lên 23,3% năm 2015, tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ tăng từ 12,6% năm 2010 lên 20,5% năm 2015, tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 72,1% năm 2010 xuống còn 56% năm 2015.
=== Cải cách hành chính ===
Cải cách hành chính được đẩy mạnh. Cơ chế một cửa, một cửa liên thông được thực hiện tại 10/10 huyện, thành phố, 230/230 xã, phường, thị trấn và 18/19 cơ quan chuyên môn cấp tỉnh. Toàn tỉnh có 139 đơn vị cấp xã thực hiện mô hình một cửa điện tử liên thông hiện đại, trong đó một số địa phương (Thành phố Bắc Giang, Lạng Giang, Việt Yên, Hiệp Hòa) đã triển khai tới 100% đơn vị xã, phường, thị trấn. Chỉ số cải cách hành chính 2014 (PAR INDEX 2014) của Bắc Giang xếp thứ 11/63 tỉnh, thành phố. Tính đến hết tháng 5/2016, trên địa bàn tỉnh có tổng số 51 cơ quan (46 cơ quan thuộc đối tượng bắt buộc áp dụng, 5 cơ quan thuộc đối tượng khuyến khích áp dụng) đã tiến hành xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008. Trong tổng số 51 cơ quan có 47 (chiếm 92,16%) đã được Trưởng ban Chỉ đạo ISO tỉnh công nhận và tiến hành tự công bố; 4 cơ quan (7,84%) chưa được công nhận, chưa tự công bố gồm: UBND tỉnh, UBND huyện Sơn Động, UBND phường Hoàng Văn Thụ, UBND xã Liên Sơn. Trong đó, UBND huyện Sơn Động đang tiến hành cải tiến, mở rộng hệ thống quản lý chất lượng và dự kiến đến hết Quý II năm 2016 sẽ hoàn thành.
Việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO sẽ giúp cụ thể hóa cách thức, thời gian, trách nhiệm giải quyết ở từng bước công việc, cùng với việc ứng dụng công nghệ thông tin như: Phần mềm một cửa, một cửa liên thông, quản lý văn bản… sẽ góp phần nâng cao chất lượng giải quyết công việc, nâng cao năng lực và tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ công chức trên địa bàn tỉnh.
=== Tai nạn giao thông ===
Tai nạn giao thông liên tục giảm mạnh cả 3 tiêu chí. Đặc biệt, năm 2014 giảm sâu so với cùng kỳ năm 2013: giảm 70 vụ (18,3%); giảm 38 người chết (24,6%); giảm 58 người bị thương (17,5%). Năm 2015, Ban ATGT tỉnh Bắc Giang đề ra mục tiêu giảm tối thiểu 5% số vụ, người chết và bị thương do TNGT. .
== Danh nhân ==
Thánh Hùng Linh Công.
Thánh Thiên Công chúa
Đoàn Xuân Lôi.
Trịnh Ngô Dụng.
Hoàng Hoa Thám.
Nguyễn Đình Tuân.
Nguyễn Khắc Nhu.
Cô Giang tức Nguyễn Thị Giang.
Bàng Bá Lân.
Nhà thơ Anh Thơ.
Cô Bắc tức Nguyễn Thị Bắc.
Thân Nhân Trung.
Trạng nguyên Giáp Hải.
Dương Quốc Cơ
Sáu Hà.
Nguyễn Hồng Long.
Anh hùng Nguyễn Văn Cốc.
== Danh lam thắng cảnh và du lịch ==
Khu di tích và danh thắng Tây Yên Tử thuộc Quần thể di tích danh thắng Yên Tử đang được 2 tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận di sản thế giới.
Đình Lỗ Hạnh (Đông Lỗ-Hiệp Hòa)- Đình cổ nhất Kinh Bắc
Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt
Chùa Vĩnh Nghiêm thuộc làng Đức La xã Trí Yên huyện Yên Dũng có bộ Mộc bản kinh phật được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Di tích Quốc gia Đặc biệt 2015
Chùa Bổ Đà thuộc xã Tiên Sơn huyện Việt Yên là Di tích Quốc gia Đặc biệt năm 2016
Làng nghề Thổ Hà thuộc xã Vân Hà huyện Việt Yên
ATK2 - An toàn khu dự bị của Trung ương và Xứ ủy Bắc kỳ
Bảo tàng Hoàng Hoa Thám và Đồn Phồn Xương ở huyện Yên Thế
Lăng Dinh Hương ở Hiệp Hòa
Khu di tích Suối Mỡ và Đền Suối Mỡ huyện Lục Nam
Thành cổ Xương Giang
Rừng nguyên sinh Khe Rỗ thuộc huyện Sơn Động
Hồ Cấm Sơn và Khu du lịch Khuôn Thần huyện Lục Ngạn
Cây Dã hương hơn 1.000 tuổi ở xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang, gốc cây Dã hương phải 8 người ôm.
Cây dã hương đình Dương Lâm Tân yên
== Đặc sản ==
Rượu làng Vân
Cái tên làng Vân đã trở thành thương hiệu Làng Vân nổi danh thiên hạ, nơi có thứ rượu đặc biệt không chỉ dân ta ưa xài mà các ông Tây cũng rất khoái.
Rượu Làng Vân là một thứ đặc sản không thể thiếu vào các dịp lễ hội, tết hay làm quà biếu. Rượu được nấu bằng gạo nếp thơm ngon trồng trên cánh đồng làng Vân Xá, xã Vân Hà huyện Việt Yên, cộng thêm men gia truyền bằng các vị thuốc bắc quý hiếm và nghệ thuật nấu rượu tài tình của người làng Vân. Cha truyền con nối, rượu làng Vân nhãn hiệu ‘ông tiên’ nổi tiến khắp mọi miền đất nước và cả ở nước ngoài. Từ hàng trục thế kỷ qua hương vị dặc biệt của rượu làng Vân luôn được nhiều du khác chọn mua về làm quà khi lên một vùng Kinh Bắc. Về Vân Hà bạn sẽ được thưởng thức đặc sản rượu làng Vân, thực sự cảm thấy mình ‘‘say" không chỉ bởi những ly rượu mềm môi, thơm nồng mà du khách còn "say" trong những làn điệu dân ca quan họ mượt mà đằm thắm của các liền anh, liền chị bên bờ bắc sông Cầu. Uống rượu và hát quan họ là nét văn hóa truyền thống của người làng Vân. Mỗi khi nâng chén mời nhau ly rượu người làng Vân lại ý tứ và kín đáo bằng việc hát những câu dân ca quan họ để tỏ lòng chân thành của người mời rượu, đó cũng là nét văn hóa đặc trưng của con người vùng Kinh Bắc.
Một nhầm lẫn cho rằng Rượu làng Vân là đặc sản của Bắc Ninh.
Vải thiều Lục Ngạn
Được thiên nhiên ưu đãi, vườn đồi Lục Ngạn có thế mạnh về cây an quả và là nơi tập trung trồng vải thiều lớn nhất cả nước. Đất đá son ở đây rất phù hợp với vải thiều nên cây được nuôi dưỡng tươi tốt, lá xanh thẫm, tán cây tròn như những mâm xôi. Đặc biệt, những chùm quả vải chín đỏ mọng, vỏ mỏng căng, hạt rất nhỏ, cùi đầy ngọt lịm, có vị thơm mát, từ lâu trở thành sản vật của quê hương Kinh Bắc, được xuất khẩu ra nước ngoài.
Cam sành Bố Hạ
Cam Bố Hạ, giống cam số 1 của đất nước, tham gia các kỳ thi đấu xảo quốc gia được tổ chức ở cố đô Huế, đã từng một thời là niềm tự hào của người dân xứ Bắc. Đây là loại cam thường chín rộ vào dịp Tết Nguyên Đán: quả màu vàng nâu tươi, hình cầu dẹt, tròn trịa, đẹp mắt, cùi dày, da hơi sần. Tuỳ theo sự chăm bón và mức độ lâu năm của cây mà hàng năm, một cây cam có thể cho từ 50 đến 200 quả. Sự hấp dẫn đặc biệt của loại cam này là mùi thơm đặc trưng, vị ngọt đậm, tép to mọng nước, ruột vàng đỏ, hàm lượng dinh dưỡng rất cao.
Ngày xưa, ở Bố Hạ nhà nghèo cũng có vài chục gốc cam còn nhà giàu thì có đến vài nghìn gốc. Cam cũng là nguồn thu nhập quan trọng và cũng là niềm tự hào của người dân Bố Hạ. Thế mà trải qua những thăng trầm của thời gian, một vùng cam với những giống cam qúy đặc sản như vậy đang dần bị thoái hoá, mai một bởi nhiều nguyên nhân.Những người dân trồng cam và lãnh đạo địa phương có tâm huyết với giống cam quý đặc sản này đang day dứt, trăn trở: "tìm cách duy trì phát triển giống cam quý của tổ tiên"..
Bánh đa Kế
Bánh đa Kế xuất phát từ làng nghề truyền thống bánh đa xã Dĩnh Kế, Bắc Giang. Điều đặc biệt, cái vị của nó vừa giòn, vừa ngọt của gạo mới và thơm thơm của nắng quê Bắc bộ.Độ nở của chiếc bánh cũng là một đặc điểm để phân biệt.Để ra lò một chiếc bánh đa Kế hoàn hảo phải trải qua rất nhiều công đoạn phức tạp. Với bàn tay khéo léo của người dân Dĩnh Kế, kỹ năng quạt bánh thủ công bằng than hoa khiến chiếc bánh luôn luôn nở đều, đầy đặn, tròn vạnh như mặt trăng đêm rằm và không bị cháy sém. Ngoài ra kỹ thuật rắc vừng, lạc sao cho màu đen, màu vàng điểm lốm đốm đều trên bánh.Bánh đa Kế luôn luôn tạo ra được một nét riêng, không thể lẫn vào đâu. Nó trở thành một thứ đặc sản đậm chất đồng quê Bắc Bộ.
Mỳ Chũ
Dù có từ lâu đời nhưng mỳ Chũ chỉ thực sự để lại ấn tượng cho người ăn cách đây vài năm. Khi mới xuất hiện, thứ mỳ gạo này ít được biết đến, tuy nhiên theo thời gian, cùng với những ưu điểm nổi trội như cái ngọt của bột bao thai hồng, sợi mỳ dai không bị nhừ nát mà loại mỳ của thị trấn Chũ đã có tên và được biết đến trong cuộc sống đời thường của người dân quanh vùng. Không chỉ có thế, mỳ Chũ đã trở thành món quà quê đặc sản người dân nơi đây là quà biếu cho khách và người quen ngoài tỉnh.
== Các ca khúc về Bắc Giang ==
1 Bắc Giang màu xanh yêu thương - ST: Phan Huấn
2 Bắc Giang tôi yêu- ST: Trí Vượng
3 Mùa vải thiều - ST: Tuấn Khương
4 Chiều sông thương - ST: An Thuyên
5 Nhớ về vùng đất dân ca - ST: Tuấn Khương
6 Rừng xanh Yên Thế - ST: Trọng Điềm;
7 Rượu Làng vân - Thơ Anh Vũ; Nhạc Tuấn Khương
8 Sông Thương tóc dài - Thơ Hoàng Nhuận Cầm; nhạc Bá Đạt
9 Tình ca Sông Thương - ST: Tuấn Khương
10 Vùng quê Sông Thương - ST: Tuấn Khương
11 Bức tranh Quê hương - ST Trọng Bằng
12 Đêm Bắc Giang nghe em hát dân ca - ST: Trần Hoàn
13 Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa - ST Nguyễn Văn Tý
14 Khuôn Thần tôi yêu; ST Bá Đạt
15 Người xứ Bắc - ST Thế Công
16 Một dáng cầu vồng - ST Trần Minh
17 Hồ trên núi - ST: Phó Đức Phương
18 Tình yêu xin gửi nơi quê - ST: Cát Vận
19 Gửi về sông Lục, núi Huyền - ST: Đỗ Hồng Quân
== Hình ảnh Bắc Giang ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức tỉnh Bắc Giang
Danh mục các di tích đã được xếp hạng - Huyện Hiệp Hòa |
9 tháng 11.txt | Ngày 9 tháng 11 là ngày thứ 313 (314 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 52 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1330 – Trận Posada giữa Basarab I của Walachia và Károly I Róbert của Hungary bắt đầu gần biên giới Oltenia–Severin ngày nay ở România.
1799 – Emmanuel Joseph Sieyès và Napoléon Bonaparte dẫn đầu đảo chính 18 Brumaire để thay thế Chế độ đốc chính bằng Chế độ tổng tài là chính phủ Pháp.
1867 – Mạc phủ Tokugawa trao trả lại quyền lực cho Thiên hoàng bằng tuyên ngôn "Đại chính phụng hoàn", giúp khởi đầu Minh Trị Duy tân tại Nhật Bản.
1888 – Mary Jane Kelly bị giết tại Luân Đôn, bà được coi là nạn nhân thứ 5 và cuối cùng của kẻ giết người hàng loạt không tên "Jack the Ripper".
1918 – Hoàng đế William II của Đế chế Đức thoái vị, Hoàng tử Maximilian của Baden từ chức Thủ tướng, và Philipp Scheidemann công bố Cộng hòa Weimar.
1921 – Đảng Phát xít quốc gia tại Ý được thành lập.
1938 – Đêm Kristallnacht, hơn 90 người Do Thái bị giết và hơn 25.000 người khác bị đưa vào các trại tập trung, theo chính sách bài Do Thái của Adolf Hitler tại Đức Quốc xã.
1953 – Chiến tranh Đông Dương: Pháp trao trả lại chủ quyền cho Campuchia, Quốc vương Norodom Sihanouk hồi hương sau một thời gian lưu vong tại Thái Lan.
1989 – Cộng hòa Dân chủ Đức tuyên bố mở cửa biên giới nội bộ Đức và Bức tường Berlin, tượng trưng cho sự kết thúc Chiến tranh Lạnh và sự sụp đổ của Khối Warszawa, và bắt đầu kết thúc của Liên Xô cộng sản.
1994 – Nguyên tố hóa học Darmstadti được tạo thành lần đầu trong Trung tâm Nghiên cứu Ion nặng GSI Helmholtz tại thành phố Darmstadt, Đức.
2000 – Hạ Thương Chu đoạn đại công trình chính thức công bố kết quả của dự án là "Hạ Thương Chu niên biểu".
== Sinh ==
1818 – Ivan Sergeyevich Turgenev, Đại văn hào Nga
== Mất ==
1997 - Nguyễn Xiển, nhà khoa học, chính khách Việt Nam
1997 – Trần Hiệu, Cục trưởng Tình báo đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày Pháp luật Việt Nam (bắt đầu từ 2013)
== Tham khảo == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.