filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
psychedelic rock.txt | Psychedelic rock là một phong cách nhạc rock được truyền cảm hứng và chịu ảnh hưởng từ văn hóa psychedelic (phiêu diêu) và cố gắng để tái tạo hay năng cao việc biến đổi tâm trí bởi việc dùng ma túy phiêu diêu (psychedelic drug). Psychedelic rock thường dùng kỹ thuật thu âm mới và dựa trên các nguồn phi Tây phương như raga và nhạc Ấn Độ.
Dòng nhạc này tiên phong bởi các nghệ sĩ như the Beatles, the Byrds, và the Yardbirds, nổi lên thành một dòng nhạc giữa những năm 1960 cùng với các ban nhạc folk rock và blue rock ở Anh và Mỹ, với Grateful Dead, Jefferson Airplane, the Jimi Hendrix Experience, Cream, the Doors và Pink Floyd. Nó đạt đỉnh cao vào giữa năm 1967 và 1969 với Summer of Love và Woodstock Rock Festival, trở thành xu hướng âm nhạc toàn cầu, trước khi bắt đầu tàn lụi vì thay đổi quan điểm, mất một số nghệ sĩ quan trọng và phong trào back-to-basics, ép các nghệ sĩ còn sót lại chuyển đến khu vực âm nhạc mới.
Ảnh hưởng của psychedelic rock tạo ra psychedelic pop và psychedelic soul. Nó cũng là cầu nối của sự chuyển tiếp từ nhạc rock dựa trên blues và folk đến progressive rock, glam rock, hard rock và gây ảnh hưởng lên sự phát triển của các tiểu thể loại như heavy metal. Từ cuối những năm 1970, nó được phục hồi dưới nhiều dạng neo-psychedelia.
== Tham khảo == |
cpu cache.txt | CPU cache là bộ nhớ được dùng bởi bộ xử lý trung tâm của máy tính nhằm giảm thời gian truy cập dữ liệu trung bình từ bộ nhớ chính. Cache là một bộ nhớ nhỏ hơn, nhanh hơn và lưu trữ bản sao của những dữ liệu thường xuyên được truy cập trên bộ nhớ chính. Hầu hết CPU đều có các bộ nhớ cache độc lập khác nhau, bao gồm cache chỉ dẫn và cache dữ liệu, nơi mà dữ liệu được xếp thành nhiều lớp khác nhau.
== Tổng quan ==
Khi mà bộ xử lý cần phải đọc hay viết vào một vị trí trong bộ nhớ chính, nó sẽ tìm trong bộ nhớ cache đầu tiên. Nhờ vậy, bộ xử lý đọc hay viết dữ liệu vào cache ngay lập tức nên sẽ nhanh hơn nhiều so với đọc hay viết vào bộ nhớ chính.
Hầu hết các máy tính bàn và server CPU đều có 3 bộ nhớ cache độc lập: một bộ nhớ cache chỉ dẫn để tăng tốc độ xử lý, một bộ nhớ cache dữ liệu để tăng tốc độ nhận và lưu dữ liệu và TLB được sử dụng để tăng tốc độ chuyển từ địa chỉ ảo thành thật của quá trình chỉ dẫn xử lý và dữ liệu. Cache dữ liệu thường được sắp xếp thành nhiều tầng lớp hơn. Có thể nói rằng TLB cache là một phần của MMU và không liên quan trực tiếp đến CPU cache.
== Nhập vào cache ==
Dữ liệu được chuyển giữa bộ nhớ chính và cache theo từng khối cố định kích cỡ, gọi là cache lines. Khi một cache line được sao chép từ bộ nhớ chính vào cache thì một cache entry được tạo ra. Nó sẽ bao gồm cả dữ liệu được sao chép và vị trí của dữ liệu yêu cầu (gọi là 1 tag).
Khi bộ xử lý cần đọc hay viết một vị trí trong bộ nhớ chính, nó sẽ tìm entry tương ứng trong cache đầu tiên. Cache sẽ kiểm tra nội dung của vị trí dữ liệu yêu cầu trong bất cứ cache line nào có thể có địa chỉ. Nếu bộ xử lý tìm thấy vị trí dữ liệu trong cache, một cache hit đã xảy ra. Tuy nhiên, nếu bộ xử lý không tìm thấy được vị trí dữ liệu trong cache, thì một cache miss đã xảy ra. Trong trường hợp cache hit, bộ xử lý đọc hoặc viết dữ liệu vào cache line ngay lập tức. Còn nếu là cache miss, cache sẽ tạo một entry mới và sao chép dữ liệu từ bộ nhớ chính, sau đó yêu cầu được đáp ứng từ nội dung của cache.
== Thực thi cache ==
Số lần truy cập có kết quả là cache hit được gọi là hit rate, và có thể được xem như là thước đo độ hiệu quả cache của một chương trình hay thuật toán.
Lỗi đọc nhầm làm quá trình xử lý bị chậm lại vì cần phải lấy dữ liệu từ bộ nhớ chính nên chậm hơn nhiều so với đọc từ cache. Lỗi viết nhầm có thể xuất hiện nhưng không nặng đến thế, vì bộ xử lý có thể tiếp tục xử lý khi mà dữ liệu được sao chép vào bộ nhớ chính trong chế độ ngầm.
Để tạo chỗ cho một entry mới khi mà cache miss, cache có thể sẽ hủy một trong số những entry hiện có. Replacement policy là nguồn gốc của hoạt động trên. Vấn đề cơ bản của bất cứ replacement policy nào là nó phải dự đoán được cache entry đang tồn tại nào sẽ không được dùng nữa. Dự đoán là một chuyện rất khó nên không có cách nào hoàn hảo trong số các replacement policy hiện hữu.
Một trong số replacement policy, LRU, thay thế entry được truy cập ít nhất trong thời gian gần đây.
Đánh dấu một số phần bộ nhớ là non-cacheable có thể nâng cao hiệu suất làm việc do tránh được những phần bộ nhớ hiếm khi truy cập. Điều này tránh trường hợp cho một cái gì vào cache mà không tái sử dụng. Cache entries có thể bị tắt hoặc khóa tùy vào trường hợp.
Nếu dữ liệu được viết vào cache, đến lúc nào đó nó cũng sẽ phải được đưa vào bộ nhớ chính; thời điểm viết được biết đến là write policy. Trong write-through cache, mỗi lần viết vào cache thì cũng viết vào bộ nhớ chính. Thay vào đó, trong write-back hay copy-back cache, mỗi lần viết không đồng bộ vào bộ nhớ chính ngay lập tức, mà cache tìm lại những địa điểm đã được viết vào cache, đánh dấu chúng là dirty.Dữ liệu ở những địa điểm này chỉ được viết vào bộ nhớ chính chỉ khi dữ liệu đó bị xóa ở cache.Vì lý do này, một lỗi đọc nhầm trong write-back cache có thể có 2 dịch vụ truy cập dữ liệu: một để viết từ dirty location vào bộ nhớ chính, và cái còn lại để đọc vị trí mới từ bộ nhớ chính. Ngoài ra, một lần viết vào một vị trí trong bộ nhớ chính mà chưa được định vị trong write-back cache có thể xóa đi một dirty location, từ đó giải phóng dung lượng cache cho vị trí mới.
Thêm vào đó cũng có nhiều intermediate policy nữa. Cache có thể là write-through, nhưng bản ghi có thể nằm tạm thời trong hàng chờ lưu trữ dữ liệu, thường là để có thể lưu nhiều bản ghi một lúc.
Dữ liệu được cache từ bộ nhớ chính có thể bị thay đổi bởi nhiều yếu tố, trong trường hợp mà bản sao trong cache có thể bị lỗi thời hay mất hiệu lực. Thay vào đó khi một CPU thuộc một hệ thống đa xử lý cập nhật dữ liệu trong cache, các bản sao của dữ liệu trong cache liên quan đến các CPU khác mất hiệu lực. Các quy trình trao đổi giữa các cache manager để thống nhất dữ liệu thì được gọi là cache coherence protocols.
Thời gian lấy một cache line từ bộ nhớ chính rất quan trọng vì CPU sẽ phải đợi cache line. Khi CPU đạt tình trạng này, nó được gọi là stall. Khi CPU trở nên nhanh hơn so với bộ nhớ chính, stalls do có cache misses nên không làm được nhiều phép tính tiềm năng hơn; CPU hiện đại có thể thực hiện hàng trăm chỉ dẫn trong thời gian lấy một cache line từ bộ nhớ chính.
Nhiều phương pháp có thể được sử dụng để giữ CPU làm việc hiệu quả trong thời gian này, bao gồm cả out-of-order execution, mà trong đó CPU cố thực hiện những chỉ dẫn độc lập nằm sau chỉ dẫn đang đợi dữ liệu cache miss. Một công nghê khác được sử dụng bởi nhiều bộ xử lý là simultaneous multithreading (SMT), hay hyper-threating, cho phép một thread khác sử dụng lõi CPU trong khi thread đầu tiên đợi tài nguyên của CPU sẵn sàng.
== Độ nhớ đệm ==
=== Tính chất kết hợp ===
_ Được xem như là một chính sách cho việc thay thế vị trí nhằm quyết định nơi nào trong bộ nhớ đệm mà bản sao một cửa vào riêng biệt của bộ nhớ chính sẽ di chuyển đến. Nếu chính sách thay thế được tự do trong việc chọn bất kì cổng vào nào trong bộ nhớ đệm để lưu trữ bản sao, lúc đó bộ nhớ đệm sẽ ở trạng thái cấu trúc “liên kết đầy đủ”- Fully Associative Cache. Ngược lại, nếu mỗi cổng vào của bộ nhớ chính chỉ có duy nhất một chỗ trong bộ nhớ đệm, bộ nhớ đệm sẽ ở trạng thái cấu trúc “ánh xạ trực tiếp”- Direct Mapped Cache.
_Nhiều bộ nhớ đệm thực hiện một sự thỏa hiệp trong đó mỗi mục trong bộ nhớ chính có thể đi đến bất kỳ một trong số N vị trí trong bộ nhớ đệm, và được mô tả như cấu trúc “thiết lập liên kết- N chiều”. Ví dụ, các dữ liệu bộ nhớ đệm cấp 1 ở Athlon của AMD là thiết lập liên kết 2 chiều, điều đó có nghĩa rằng bất kỳ vị trí cụ thể trong bộ nhớ chính có thể được lưu trữ tại một trong hai địa điểm trong dữ liệu bộ nhớ đệm cấp 1.
_Tính chất kết hợp là một sự đánh đổi. Nếu như có mười vị trí để chính sách thế chỗ có thể ánh xạ một vị trí của bộ nhớ, sau đó phải kiểm tra xem vị trí đó đã có trong bộ nhớ đệm hay không, sau đó mười cổng vào bộ nhớ đệm phải được tìm kiếm. Việc kiểm tra nhiều vị trí sẽ hao tổn nhiều năng lượng và vùng chip hơn, cũng như có thể tốn nhiều thời gian hơn.
_Một mặt khác, bộ nhớ đệm với nhiều tính kết hợp sẽ chỉ chịu việc lệch ít hơn (xem phần Lệch do mâu thuẫn bên dưới), vậy nên CPU tốn ít thời gian để đọc từ bộ nhớ chính tốc độ thấp. Quy tắc ngón tay cái được áp dụng: gấp đôi tính kết hợp, từ cấu trúc “ánh xạ trực tiếp” cho đến cấu trúc liên kết 2 chiều, hoặc từ 2 chiều lên 4 chiều, gần như có cùng một hiệu quả về tỉ lệ trúng như việc tăng gấp đôi kích thước bộ nhớ đệm. Tăng tính kết hợp vượt hơn 4 chiều ảnh hưởng ít hơn đến tỉ lệ trúng, và chỉ được dùng cho một vài lý do khác.
_Theo thứ tự thấp hơn, từ đơn giản đến tốt hơn nhưng phức tạp:
+Cấu trúc “ánh xạ trực tiếp”- ở trường hợp tốt nhất sẽ tốt về thời gian nhưng không ổn định khi trường hợp xấu nhất.
+Cấu trúc liên kết 2 chiều.
+Cấu trúc liên kết lệch- 2 chiều.
+Cấu trúc liên kết 4 chiều.
+Cấu trúc liên kết 8 chiều: sự lựa chọn phổ biến cho những sự triển khai sau.
+Cấu trúc liên kết 12 chiều: tương tự như 8 chiều.
+Cấu trúc liên kết đầy đủ- có tỉ lệ lệch cao nhất, nhưng thực tế chỉ khi có một số nhỏ các cổng vào.
=== Cấu trúc “ánh xạ trực tiếp”. ===
_Trong cách liên kết này, mỗi địa điểm trong bộ nhớ chính có thể đi vào chỉ một cổng vào trong bộ nhớ đệm. Vì vậy, một bộ nhớ đệm có cấu trúc “ánh xạ trực tiếp còn có thể được gọi là “cấu trúc liên kết 1 chiều”. Thực chất nó không có chính sách thay thế, bởi vì không có sự lựa chọn nào cho nội dung của cổng vào tại bộ nhớ đệm có thể trả về.
_Điều này có nghĩa là nếu hai địa diểm ánh xạ cùng một cổng vào, chúng dường như sẽ đẩy nhau ra. Mặc dù đơn giản, một bộ nhớ đệm ánh xạ trục tiếp vẫn cần phải lớn hơn một liên kết để cung cấp hiệu năng tương đương, và nó trở nên khó dự đoán hơn. Giả sử cho x là số thứ tự khối trong bộ nhớ đệm, y là số thứ tự khối trong bộ nhớ, và n là số lượng khối trong bộ nhớ đệm, thì việc ánh xạ sẽ được thực hiện với phương trình x= y mod n.
=== Cấu trúc liên kết hai chiều. ===
_Nếu mỗi địa điểm trong bộ nhớ chính có thể được lưu đệm tại một trong hai địa điểm trong bộ nhớ đệm, một câu hỏi được đặt ra: cái nào trong hai cái? Cách đơn giản nhất và thường dùng nhất, được miêu tả ở khung bên phải phía trên, đó là dùng những bit thấp nhất của chỉ số bộ nhớ như là một chỉ số dùng cho bộ nhớ đệm, và có hai cổng vào cho mỗi chỉ số.
_Một tiện ích từ cách hệ thống này là những thẻ được lưu trong bộ nhớ đệm không bao gồm một phần địa chỉ của bộ nhớ chính, thứ được bao hàm bởi chỉ số của bộ nhớ đệm. Bởi vì thẻ đệm chỉ có vài bit, chúng đòi hỏi ít transistor hơn, chiếm ít không gian trên các bảng mạch vi xử lý hoặc trên chip vi xử lý, và có thể được đọc cũng như so sánh nhanh hơn. Ngoài ra LRU lại đặc biệt đơn giản do chỉ cần có một bit để lưu trữ cho mỗi cặp.
=== Thi hành suy đoán ===
_Một trong những lợi thế của cấu trúc ánh xạ trực tiếp đó là nó cho phép suy đoán đơn giản và nhanh. Một khi địa chỉ đã được tính toán, chỉ số đệm có thể có bản sao của vị trí đó trong bộ nhớ được biết đến. Cổng vào đệm đó có thể được đọc, và bộ vi xử lý tiếp tục làm việc với dữ liệu đó trước khi hoàn tất kiểm tra xem thẻ có khớp với địa chỉ yêu cầu hay không.
_Ý tưởng của việc bộ vi xử lý sử dụng dữ liểu đệm trước khi thẻ khớp có thể được áp dụng cho liên kết bộ nhớ đệm. Một tập hợp con của thẻ, gọi là một dấu hiệu, có thể được dùng để chọn một trong số cổng vào khả thi ánh xạ đến địa chỉ yêu cầu. Cổng vào được chọn dựa vào dấu hiện có thể được dùng song song với việc kiểm tra toàn bộ thẻ. Kỹ thuật sử dụng thẻ hoạt động tốt nhất khi dùng trong điều kiện biên dịch địa chỉ.
== Lệch bộ nhớ đệm (cache miss) ==
Là lúc CPU không tìm thấy dữ liệu cần thiết trong bộ nhớ Cache mà phải lấy trực tiếp từ bộ nhớ RAM. Có 3 loại lệch bộ nhớ đệm: instruction read miss, data read miss, and data write miss.
Instruction read miss thông thường sẽ làm cho tiến trình bị trì trệ nhất do bộ vi xử lý sẽ phải chờ cho đến khi chỉ dẫn (instruction) được lấy trực tiếp từ RAM. Data (dữ liệu) miss cache thông thường không gây trì trệ lâu như instruction miss cache do những chỉ dẫn (instruction) không phục thuộc vào những dữ liệu bị lệch khi đọc từ bộ nhớ đệm có thể tiếp tục vận hành. Cho đến khi những dữ liệu cần thiết được lấy về từ RAM, những chỉ dẫn phụ thuộc vào các dữ liệu đó có thể trở lại vận hành. Data write miss gây ra trì trệ ngắn nhất do quá trình ghi dữ liệu có thể xếp vài một queue và có rất ít hạn chế cho việc chạy những chỉ dẫn đến sau. Vi xử lý có thể tiếp tục cho đến queue đầy.
Để có thể giảm tỷ lệ khi lệch bộ nhớ đệm xãy ra, đã có nhiều phân tích được đưa ra để tìm được sự đồng nhất về kích cỡ của bộ nhớ đệm, tính chất kết hợp, kích cỡ khối dữ liệu,... Chuỗi những tham chiếu bộ nhớ được thực hiện bởi các chương trình tiêu chuẩn được gọi là address traces.
Những phân tích sau đây dựa trên nhiều kiểu bộ nhớ đệm khác nhau được thiết kế dựa trên những address traces dài này. Giải thích cho việc nhiều biến khác nhau có thể ảnh hưởng đến tỉ lệ trúng bộ nhớ đệm (cache hit) có thể trở nên khó hiểu. Một trong những đóng góp đáng chú ý đến những phân tích này là của Mark Hill, người chia những trường hợp lệch này thành 3 hạng mục.
=== Compulsory misses (lệch cưỡng chế) ===
Gây ra do đề cập đến một vùng trong bộ nhớ mà một chương trình chưa bao giờ yêu cầu đến trước đây. Kích cỡ của bộ nhớ đêm và tính chất kết hợp không làm thay đổi đến số lần lệch cưỡng chế xảy ra. Tìm nạp trước (prefetching) có thể có ích ở đây, cũng như những khối bộ nhớ đệm có kích thước lớn hơn. Đôi khi, lệch cưỡng chế được đề cập là cold misses.
=== Capacity misses (lệch dung lượng) ===
Là những trường hợp lệch bất kể tính chất kết hợp và kích cỡ khối. Xảy ra duy nhất do kích cỡ hạn chế của bộ nhớ đệm. Lưu ý rằng, không hề có quan điểm nào về bộ nhớ đệm trở nên "đầy", "trống" hay "gần đạt dung lượng". Bộ nhớ đệm CPU hầu như đầu có tất cả các hàng chứa những bản sao của một số hàng trong RAM, và hầu như mọi sự cấp phát cho một hàng mới đòi hỏi sự đẩy ra (eviction) của một hàng cũ.
== Conflict misses(lệch do xung đột) ==
Là những trường lệch mà đã có thể tránh khỏi, nếu như bộ nhớ đệm đã không đuổi (evict) một sự nhập vào của một entry trước đó. Lệch do xung đột có thể trở thành mapping misses về sau, và replacement misses.
Biểu đồ sau cho thấy khả năng vận hành của bộ nhớ đệm theo phần số nguyên của SPEC CPU2000, ghi nhận bởi Hill và Cantin. Những điểm mốc này tượng trưng cho khối lượng công việc một máy tính kỹ thuật có thể gặp một ngày.
Ở góc bên phải, khi cache size là Inf, chúng ta cò lệch cưỡng chế. Nêu chúng ta muốn nâng cáo tính năng của SpecInt2000, nâng kích cỡ của bộ nhớ đệm lên hơn 1MB là không hiệu quả.
Tỉ lệ lệch của bộ nhớ đệm với cấu trúc "liên kết đầy đủ (Fully-associated cache) ở đây gần như đại diện cho lệch dung lượng (capacity miss rate). Sự khác nhau ở đây là dữ liệu đưa ra là do phỏng đoán, dựa trên chính sách thay thế của LRU. Đưa ra tỉ lệ lệch đòi hỏi một chính sách thay thế hoàn hảo, như là một hệ thống hướng dẫn có thể chỉ ra một cổng bộ nhớ đệm chắc chắn không phải là một hit.
Chú ý rằng sự ước lượng của tỉ lệ lệch dung lượng giảm rất nhanh ở 32KB và 64KB. Cho thấy ở mốc này có “working set” vào khoảng 64KB. Một nhà thiết kế CPU sẽ có động cơ để thiết kế kích cỡ của bộ nhớ đệm là 64KB thay vì 32KB. Chú ý, trên những cột trên biểu đồ này, không có một tính chất kết hợp nào có thể làm một cache 32KB vận hành bằng một cache 64KB với liên kết 4 chiều hay thậm chí một cache thiết kế ánh xạ trực tiếp 128KB.
Cuối cùng, chú ý rằng ở giữa mốc 64KB và 1MB có 1 sự khác biệt rất lớn về cache cấu trúc ánh xạ trực tiếp và cache cấu trúc liên kết đầy đủ. Sự chệch lệch này chính là lệch cưỡng chế (conflict miss cache).
== Dịch thuật địa chỉ ==
Hầu hết mục đích của việc cài đặt CPU từ những mẫu của bộ nhớ ảo. Để tóm tắt, kể cả mỗi chương trình chạy trên thiết bị thấy địa chỉ không gian riêng của mình một cách đơn giản hóa, mà bao gồm trong đó cả mã và dữ liệu cho riêng chương trình đó, hoặc cho tất cả chương trình chạy trong không gian địa chỉ ảo phổ biến. Chương trình sử dụng không gian bộ nhớ ảo trong đó sử dụng địa chỉ ảo mà địa chỉ không gian đó không tồn tạitrong bộ nhớ vật lý.
Bộ nhớ ảo đòi hỏi bộ vi xử lý dịch địa chỉ ảo được tạo ra bởi chương trình thành các địa chỉ vật lý trong bộ nhớ chính. Phần của bộ vi xử lý hiện dịch thuật này được gọi là đơn vị quản lý bộ nhớ (MMU). Đường dẫn nhanh chóng thông qua MMU có thể thực hiện những bản dịch được lưu trữ trong bộ đệm lookaside dịch (TLB), mà là một bộ nhớ cache của ánh xạ từ hệ thống điều hành trang bảng, phân đoạn bảng hoặc cả hai.
=== 3 tính năng quan trọng của địa chỉ dịch ===
-Latency (Độ trễ): Địa chỉ vật lý có sẵn từ MMU một số thời gian, có lẽ một vài chu kỳ, sau khi địa chỉ ảo có sẵn từ bộ phận tạo địa chỉ
-Aliasing (khử răng cưa): Nhiều địa chỉ ảo có thể ánh xạ đến một địa chỉ vật lý duy nhất. Hầu hết các vi xử lý đảm bảo rằng tất cả các bản cập nhật cho duy nhất địa chỉ đó sẽ cập nhật theo chương trình. Để đảm bảo, các vi xử lý phải chắc chắn rằng chỉ có duy nhất một bản sao của vị trí đia chỉ vật lý trong Cache tại bất kỳ thời gian nhất định.
-Granularity (sự cấp phát): Không gian địa chỉ ảo được chia vào các trang. Ví dụ, một không gian địa chỉ ảo 4 GB có thể được cắt thành 1,048,576 trang có kích thước 4 KB, trong số đó có thể được ánh xạ tới một cách độc lập. Có thể có nhiều kích cỡ trang được hỗ trợ.
Một số hệ thống bộ nhớ ảo sớm đã rất chậm vì chúng yêu cầu truy cập phải bảng địa chỉ (giữ trong bộ nhớ chính) trước khi mỗi chương trình truy cập vào bộ nhớ chính. Không có bộ nhớ cache, bộ nhớ này cắt tốc độ của thiết ra thành một nử. Bộ nhớ cache phần cứng đầu tiên được dùng trong hệ thống máy tính không thực sự là dữ liệu hoặc bộ nhớ cache, mà hơn thế nữa nó là TLB.
=== 4 loại bộ nhớ Cache (dựa trên mục hoặc thẻ phù hợp với bộ nhớ vật lý hoặc bộ nhớ ảo) ===
-Physically indexed, physically tagged (PIPT) bộ nhớ cache sử dụng địa chỉ vật lý cho cả mục và thẻ. Trong khi nó đơn giản và tránh vấn đề với aliasing, nó cũng chậm, địa chỉ vật lý phải cần được tìm kiếm (có thể kéo theo việc bỏ lỡ TLB và truy cập vào bộ nhớ chính) trước khi địa chỉ có thể tìm kiếm trong bộ nhớ cache.
-Virtually indexed, virtually tagged (VIVT) bộ nhớ caches sử dụng địa chỉ ảo cho cả mục và thẻ. Kế hoạch nơi dự trữ này có thể dẫn đến sự tra cứu nhanh hơn nhiều, khi mà MMU không cần phải tham khảo kết quả trước tiên để xác định địa chỉ vật lý cho địa chỉ ảo. Tuy nhiên, VIVT bị vấn đề răng cưa, nơi nhiều địa chỉ ảo khác nhau có thể đặt vấn đề cho cùng địa chỉ vật lý. Kết quả chỉ ra là địa chỉ như vậy nên lưu trữ riêng mặc dù, gây ra vấn đề dính kết. Vấn đề khác là từ đồng âm khác nghĩa, nơi địa chỉ ảo cùng ánh xạ tới nhiều địa chỉ vật lý khác nhau. Không thể phân biệt các ánh xạ khi này chỉ bằng nhìn mục ảo bản thân, cho dù giải pháp tiềm năng bao gồm: flusing nơi dự trữ sau khi chuyển đổi ngữ cảnh, buộc khoảng trống địa chỉ không được chồng chéo, đánh dấu địa chỉ ảo với ID không gian địa chỉ (ASID), hoặc sử dụng thẻ vật lý. Ngoài ra, có vấn đề các ánh xạ ảo - đến - vật lý có thể thay đổi, nó sẽ đòi hỏi flusing dòng nơi dự trữ, như Vas sẽ không còn hợp lệ.
-Virtually indexed, physically tagged (VIPT) bộ nhớ caches sử dụng địa chỉ ảo cho mục và địa chỉ vật lý trong thẻ. Điểm lợi hơn PIPT là độ trễ, như dòng bộ nhớ cache có thể tìm kiếm song song với dịch thuật TLB, tuy nhiên thẻ không thể bị so sánh cho đến địa chỉ vật lý sẵn sàng. Điểm lợi hơn VIVT là do thẻ có địa chỉ vật lý, bộ nhớ cache có thể phát hiện từ đồng âm khác nghĩa. VIPT đòi hỏi nhiều các mẩu thẻ nhỏ, như mục các mẩu nhỏ không còn đại diện cho cùng địa chỉ.
-Physically indexed, virtually tagged (PIVT) Bộ nhớ caches chỉ là lý thuyết, nhưng so về cơ bản thì nó vô dụng. Cache với cấu trúc này sẽ chậm không kém gì PIPT, bị vấn đề răng cưa cùng một lúc như VIVT.
Tốc độ của sự lặp lại (sự tiềm tàng vật nặng) là yếu tố quan trọng đến năng suất CPU, cho nên mức - 1 hiện đại nhất của bộ nhớ cache là mục ảo, cho phép tra cứu TLB của MMU để tiến hành song song với dữ liệu ở RAM của bộ nhớ Cache
Nhưng mục ảo không phải là lựa chọn tốt nhất với cho mọi cấp độ của cache. Chi phí của xử lý các phần răng cưa ảo phát triển cùng với kích cỡ cache, và do vậy kết quả cái mà mức - 2 lớn hơn cache nhất là mục vật lý..
Bộ nhớ Caches có lịch sử là đã dùng cả bộ nhớ ảo lẫn bộ nhớ vật lý cho thẻ caches, mặc dù thẻ ảo bây giờ hiếm. Nếu tra cứu TLB có thể kết thúc trước tra cứu bộ nhớ RAM, sau đó địa chỉ vật lý sẵn sàng đúng lúc cho việc so sánh tag, và không cần thẻ ảo. Bộ nhớ lớn lớn, sau đó, có xu hướng trở nên thẻ vật lý, và nhỏ, nơi dự trữ sự tiềm tàng thấp rất gần như được gắn thẻ.CPU đa năng, thẻ ảo đã được thế chỗ bằng vhints, như đã mô tả bên dưới.
Vấn đề “đồng âm” và “đồng âm khác nghĩa”
Bộ nhớ cache nhận ra là chỉ mục ảo và thẻ ảo trở nên không phù hợp sau khi địa chỉ ảo giống hau được ánh xạ vào địa chỉ vật lý khác (từ đồng âm khác nghĩa). Điều này có thể được giải quyết bằng cách sử dụng địa chỉ vật lý cho thẻ hoặc bằng việc lưu trữ ID không gian địa chỉ trong dòng bộ nhớ Cache
Tuy nhiên latter không giúp chống lại vấn đề từ đồng nghĩa, nơi vài dòng bộ nhớ dừng việc lưu trữ dữ liệu cho địa chỉ vật lý giống nhau. Viết những địa điểm có thể cập nhật chỉ một địa điểm trong nơi dự trữ, rời khỏi địa điểm đó với dữ liệu mâu thuẫn. Vấn đề này có thể là giải quyết bằng cách sử dụng máy bố cục trí nhớ chồng chéo cho khoảng trống địa chỉ khác hoặc nếu không thì bộ nhớ cache (hoặc một phần bộ nhớ) phải flushed khi thay đổi ánh xạ.
=== Thẻ ảo và vhints ===
Lợi thế to lớn của thẻ ảo là, cho bộ nhớ cache kết hợp, chúng để trùng khớp thẻ tiến hành trước khi phiên dịch ảo thành vật lý hoàn thành. Tuy nhiên, gắn kết nhằm thăm dò và sự trục xuất giới thiệu địa chỉ vật lý cho hành động. Phần cứng có một số các phương tiện của chuyển đổi địa chỉ vật lý vào chỉ mục bộ nhớ cache, nói chung lưu trữ thẻ vật lý cũng như thẻ ảo.
Đối với việc so sánh, thẻ cache vật lý không cần giữ thẻ ảo, điều này đơn giản. Khi ánh xạ từ ảo sang vật lý bị xoá ra khỏi TLB, mục nhập bộ nhớ đệm với những địa chỉ ảo sẽ phải flushed sao đó. Còn bằng không thì, nếu mục nhập bộ nhớ đệm được phép trên trang không ánh xạ tới bằng TLB, sau đó mục đó sẽ phải flushed khi quyền truy cập trên trang đó được thay đổi trong bảng địa chỉ.
Hệ điều hành cũng có thể bảo đảm rằng biệt danh ảo không cùng một lúc ở trong bộ nhớ cache. Hệ điều hành bảo đảm này bằng cách thực thi màu trang, thứ được mô tả ở dưới. Một số bộ xử lý RISC (SPARC, RS / 6000) lấy biện pháp này. Nó đã không được dùng gần đây, như chi phí phần cứng phát hiện và biệt danh ảo đã rơi xuống, độ phức tạp phần mềm và hình phạt hiệu năng của màu trang hoàn hảo đã tăng.
Có thể dễ dàng phân biệt hai chức năng của thẻ trong bộ nhớ cache kết hợp: chúng được dùng để xác định cách nào của việc lựa chọn, và chúng được dùng để xác định nếu dữ liệu được tìm thấy trên bộ nhớ đệm hoặc bộ nhớ lỡ. Chức năng thứ 2 luôn phải đúng, nhưng chức năng đầu tiên được phép đoán, và câu trả lời đôi khi sai thỉnh thoảng.
Một số bộ xử lý (chẳng hạn như SPARCs) có bộ nhớ cache vừa thẻ ảo vừa thẻ vật lý. Thẻ ảo được dùng để lựa chọn cách, và thẻ vật lý được dùng để xác định kết quả hit or miss. Loại bộ nhớ cache này thích sự thuận lợi của độ trễ của bộ nhớ cache thẻ ảo, và giao diện phần mềm đơn giản của bộ nhớ cache thẻ vật lý. Nó tăng thêm chi phí của thẻ lặp lại, tuy nhiên. Hơn nữa, trong xử lý miss, cách thay thế để chỉ dòng bộ nhớ cache phải được thăm dò cho biệt danh ảo và bất kỳ sự trùng khớp.
Lĩnh vực thêm (và một số độ trễ) có thể được giảm nhẹ bằng cách giữ gợi ý ảo với mỗi mục nhập bộ nhớ đệm thay vì thẻ ảo. Gợi ý này là tập hợp con hoặc tập hợp băm của thẻ ảo, và được dùng để chọn một cách bộ nhớ cache từ đó để lấy dữ liệu và thẻ vật lý.
Giống như bộ nhớ cache thẻ ảo, có thể có trùng khớp gợi ý ảo nhưng không khớp thẻ vật lý, nếu vậy mục nhập bộ nhớ đệm với gợi ý trùng khớp phải evicted sao cho truy cập bộ nhớ cache sau khi tô bộ nhớ cache tại địa chỉ này sẽ có trùng khớp chỉ một gợi ý. Từ khi gợi ý ảo có ít bit hơn là thẻ ảo phân biệt chúng với nhau, bộ nhớ cache ảo gợi ý gần như chịu thiệt hại nhiều nhưng không trúng xung đột hơn bộ nhớ cache thẻ ảo.
Có lẽ sự giảm tối thiểu của gợi ý ảo có thể được tìm thấy trong Pentium 4 (Willamette và Northwood lõi). Trong bộ xử lý này gợi ý ảo là hiệu quả với hai bit, và bộ nhớ cache được thiết lập bốn chiều kết hợp. Nói một cách hiệu quả, phần cứng duy trì phép hoán vị đơn giản từ địa chỉ ảo để bộ nhớ cache chỉ mục, sao cho bộ nhớ cho phép định content-addressable memory (CAM) là cần thiết để chọn đúng một trong bốn cách tìm nạp.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Evaluating Associativity in CPU Caches — Hill and Smith — 1989 — Introduces capacity, conflict, and compulsory classification.
Cache Performance for SPEC CPU2000 Benchmarks — Hill and Cantin — 2003 — This reference paper has been updated several times. It has thorough and lucidly presented simulation results for a reasonably wide set of benchmarks and cache organizations.
Memory Caching – a Princeton University lecture |
đội tuyển cricket anh.txt | Đội tuyển cricket quốc gia Anh là đội đại diện Anh và Wales trong môn thể thao cricket.
Anh và Úc là hai quốc gia tham gia trận Test cricket lần đầu tiên, năm 1877.
Anh đạt hạng nhì trong giải Giải vô địch cricket thế giới ba lần, trong năm 1979, 1987 và 1992.
== Tham khảo == |
west bromwich albion f.c..txt | Câu lạc bộ bóng đá West Bromwich Albion thường được gọi tắt là Westbrom hoặc W.B.A, là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh đặt trụ sở tại thành phố West Bromwich ở vùng trung du phía tây nước Anh. Sân nhà của câu lạc bộ là The Hawthorns với sức chứa 26,500 khán giả. Biệt danh của câu lạc bộ là The Baggies. Các đối thủ truyền thống của West Bromwich Albion là 2 câu lạc bộ Aston Villa và Wolverhampton Wanderers. Hiện nay, câu lạc bộ đã thi đấu tại Giải bóng đá ngoại hạng Anh (Premier League)
== Lịch sử ==
== Thành tích ==
Ngoại hạng Anh
Vô địch: 1920
Á quân: 1925, 1954
Hạng nhất Anh
Vô địch: 1902, 1911, 2008
Á quân: 1931, 1949, 2002, 2004, 2010
Hạng nhì Anh
Thắng vòng play-off lên hạng: 1993
Cúp FA
Vô địch: 1888, 1892, 1931, 1954, 1968
Á quân: 1886, 1887, 1895, 1912, 1935
League Cup
Vô địch: 1966
Á quân: 1967, 1970
FA Charity Shield
Vô địch: 1920, 1954 (đồng giải)
Á quân: 1931, 1968
== Đội hình ==
Số liệu thống kê chính xác tới 26 tháng 9 năm 2015.
=== Đội hình hiện tại ===
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Cho mượn ===
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
West Bromwich Albion F.C. Official Website
West Bromwich Albion F.C. Official Seat Transfer Website
Official Supporters Club
Former Players Association
Women's team
WBA News – Sky Sports
Albion news from expressandstar.com
Premierleague.com – West Bromwich Albion |
freedesktop.org.txt | Freedesktop.org (fd.o) là một dự án làm việc trên các cơ sở khả năng tương tác và chia sẻ công nghệ cho các phần mềm môi trường desktop miễn phí cho hệ thống X Window (X11) trên Linux và hệ điều hành tương tự Unix. Nó được thành lập bởi Havoc Pennington từ Red Hat vào háng 3 năm 2000.
Dự án tập trung vào người sử dụng. Có rất nhiều framework phát triển cho X, và điều này là không thay đổi. Dự án tìm cách bảo đảm rằng những khác biệt trong khuôn khổ phát triển không sử dụng có thể nhìn thấy.
Những dự án sử dụng rộng rãi phần mềm miễn phí X cho desktop như GNOME, KDE và Xfce đang cộng tác với dự án freedesktop.org. Năm 2006, dự án phát hành Portland 1.0 (xdg-utils), một tập hợp các giao diện chung cho các môi trường desktop.
freedesktop.org trước đây được biết như là X Desktop Group, và từ viết tắt "XDG" vẫn còn phổ biến trong công việc của họ.
== Các dự án đang lưu trữ ==
freedesktop.org cung cấp lưu trữ cho một số dự án có liên quan. Chúng bao gồm:
X.Org Server: thi hành các tham chiếu chính thức của X11. Phiên bản hiện tại là một phân nhánh của XFree86 trước khi nó được thay đổi giấy phép thứ 2.
D-Bus, một bus thông báo giống như DCOP của KDE hoặc Bonobo của GNOME
Drag-and-drop: X kéo-thả vẫn không làm việc một cách nhất quán.
HAL (Hardware Abstraction Layer) ilà một lớp điều hành qua hệ thống nhất quán, nó đã bị phản đối và thay thế bởi udev.
Fontconfig là một thư viện cho phát hiện phông chữ, tên thay thế, etc.
Xft, phông chữ chống-biệt bằng cách sử dụng thư viện FreeType, chứ không phải là lõi phông của X cũ.
Cairo, một thư viện đồ họa véc tơ với hỗ trợ qua thiết bị đầu ra.
Direct Rendering Infrastructure, hay DRI, là một giao diện được sử dụng trong hệ thống X Window để cho phép các ứng dụng người dùng truy cập vào phần cứng video mà không yêu cầu dữ liệu được thông qua thông qua các X Server.
GStreamer là platform đa phương tiện..
Mesa 3D, một thực hiện OpenGL.
XCB, một sự thay thế Xlib.
GTK-Qt công cụ, một công cụ GTK+ 2 sử dụng Qt để vẽ các vật dụng, cung cấp cùng một giao diện ứng dụng KDE và GTK+2.
Poppler, một thư viện hiển thị PDF.
Wayland, một máy chủ hiển thị nhẹ mà có ý định cung cấp kinh nghiệm giao diện hoàn hảo (người sử dụng không bao giờ có thể nhìn thấy rách, tụt hậu, vẽ lại và rung) cho các desktop Linux.
Ngoài ra, Avahi (một thực hiện Zeroconf miễn phí) bắt đầu như là một dự án fd.o nhưng đã di chuyển đến nơi khác.
== Mục tiêu tuyên bố ==
Mục đích của dự án không phải là để làm luật tiêu chuẩn chính thức. Thay vào đó, nó nhằm mục đích để nắm bắt các vấn đề khả năng tương tác nhiều trước đó trong quá trình này.
Thu thập các chi tiết kỹ thuật hiện có, tiêu chuẩn và các văn bản liên quan đến khả năng tương tác desktop X và làm cho chúng có sẵn trong một vị trí trung tâm;
Thúc đẩy phát triển các chi tiết kỹ thuật và tiêu chuẩn mới được chia sẻ giữa nhiều desktop X;
Tích hợp các tiêu chuẩn desktoop cụ thể vào các tiêu chuẩn nỗ lực rộng lớn hơn, chẳng hạn như Linux Standard Base và ICCCM;
Làm việc về việc thực hiện các tiêu chuẩn trong X desktop cụ thể;
Phục vụ như là một diễn đàn trung lập để chia sẻ ý tưởng về công nghệ desktop X;
Thực hiện công nghệ hơn nữa khả năng tương tác desktop X với các desktop X miễn phí nói chung;;
Thúc đẩy X desktop và X desktop chuẩn cho các tác giả ứng dụng, cả thương mại và tình nguyện viên;
Giao tiếp với các nhà phát triển hạt nhân hệ điều hành miễn phí, hệ thống X Window, các bản phân phối OS miễn phí, và như vậy để giải quyết các vấn đề liên quan đến desktop;
Cung cấp kho lưu trữ nguồn (git và CVS), web hosting, Bugzilla, mailing lists và các nguồn lực khác cho các dự án phần mềm miễn phí làm việc hướng tới các mục tiêu trên.
== Xem thêm ==
GNOME
KDE
GTK+
Qt
== Chú thích ngoài ==
Notes
The Big freedesktop.org Interview (Rayiner Hashem & Eugenia Loli-Queru, OSNews, ngày 24 tháng 11 năm 2003)
== Liên kết ngoài ==
Project home page (wiki-based) |
kent.txt | Kent là một hạt ở đông nam của Anh. Hạt có diện tích km², dân số người. Thủ phủ hạt đóng ở Maidstone. Kent giáp giới với Đông Sussex, Surrey và Đại Luân Đôn và có một ranh giới được xác định với Essex ở giữa của cửa sông Thames. Các ranh giới quận nghi lễ Kent bao gồm quận Kent và quận đơn nhất Medway. Kent có một biên giới với Pháp danh nghĩa nửa chừng qua đường hầm eo biển Manche. Vị trí của Kent ở giữa London và châu Âu lục địa đã dẫn đến của nó là ở tiền tuyến của cuộc xung đột trong quá khứ, bao gồm cả trận chiến của nước Anh trong chiến tranh thế giới thứ II. Đông Kent được đặt tên là Góc lửa địa ngục trong cuộc xung đột. Anh đã dựa vào các cảng của hạt này để cung cấp cho các tàu chiến qua nhiều 800 năm qua, cảng Cinque trong thế kỷ 12-14 và Chatham Xưởng trong các thế kỷ 16 20 đã có vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh của đất nước. Pháp có thể được nhìn thấy rõ ràng trong thời tiết tốt từ Folkestone, và các vách đá trắng mang tính biểu tượng của Dover.
Bởi vì sự phong phú của vườn cây ăn trái và vườn hop, Kent được gọi là "Vườn của nước Anh" - một tên thường được áp dụng khi tiếp thị hạt hoặc sản xuất của nó. Các ngành công nghiệp chủ yếu ở phía bắc-tây của Kent đã bao gồm xi măng, giấy, và xây dựng máy bay, nhưng đây là những suy giảm. Phần lớn của Kent trong vành đai đi lại London. Nam và Đông Kent dựa vào du lịch và nông nghiệp. Khai thác than cũng đã đóng một phần của nó trong di sản công nghiệp Kent.
== Lịch sử ==
== Khí hậu ==
== Địa lý ==
== Nhân khẩu ==
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giao thông ==
== Giáo dục ==
== Thể thao ==
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
apple watch.txt | Apple Watch là một smartwatch được tạo ra bởi Apple Inc. và công bố bởi Tim Cook vào 9 tháng 9 năm 2014. Apple Watch theo dõi thể thao và các chức năng liên quan đến sức khỏe tương thích với iOS và các sản phẩm, dịch của khác của Apple. Apple công bố Apple Watch với ba "bộ sưu tập": Apple Watch Sport, Apple Watch và Apple Watch Edition. Chiếc đồng hồ sẽ được phân biệt bởi sự kết hợp khác nhau và dây đeo có thể thay thế. Chiếc đồng hồ dựa vào kết nối với iPhone để thực hiện nhiều chức năng mặc định của nó (ví dụ như gọi và nhắn tin) và sẽ là kết nối không dây tương thích với iPhone 5 hoặc các thiết bị chạy iOS 8.2 hoặc cao hơn, thông qua kết nối Bluetooth hoặc Wi-Fi. Thiết bị sẽ có sẵn cho phép đặt hàng trước vào 10 tháng 4 và bắt đầu chuyển hàng vào 24 tháng 4 năm 2015.
== Xem thêm ==
Android Wear
Samsung Gear S
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Apple Watch – trang chính thức |
chu kỳ nguyên tố 4.txt | Chu kỳ nguyên tố 4 là hàng thứ 4 trong bảng tuần hoàn (tiêu chuẩn) gồm 18 nguyên tố, 8 ở nhóm chính và 10 ở nhóm phụ.
== Tham khảo == |
thế kỷ 12.txt | Thế kỷ 12 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1101 đến hết năm 1200, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory.
== Tham khảo == |
viện bảo tàng.txt | Viện bảo tàng (còn gọi là bảo tàng viện, bảo tàng, hay nhà bảo tàng) là nơi trưng bày và lưu giữ tài liệu, hiện vật cổ liên quan đến một hoặc nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn hóa của một dân tộc hay một giai đoạn lịch sử nào đó. Mục đích của viện bảo tàng là giáo dục, học tập, nghiên cứu và thỏa mãn trí tò mò tìm hiểu về quá khứ.
== Phân loại ==
Viện bảo tàng được chia làm ba nhóm chính:
Viện bảo tàng chuyên ngành: Phụ thuộc vào đặc điểm của hiện vật (khoa học, tự nhiên, lịch sử, nghệ thuật, văn học, âm nhạc, sân khấu, kĩ thuật và công nghệ...)
Viện bảo tàng khu vực hoặc quốc gia: Trong đó thu thập, giữ gìn và bảo vệ các tài liệu lịch sử, các tác phẩm nghệ thuật, các tác phẩm mẩu mực của công nghiệp và nông nghiệp, khoán sản, thực vật và các hiện vật khác trong lĩnh vực kinh tế, lịch sử, dân tộc học v.v.
Viện bảo tàng tưởng niệm: Được sử dụng cho các sự kiện lịch sử hoặc các nhà hoạt động quốc gia, các nhà báo học, nhà văn, họa sĩ, nghệ sĩ, nhạc công lớn v.v.
Ngoài ra viện bảo tàng còn được phân chia theo hiện vật trưng bày: loại có hiện vật cố định và loại có hiện vật tạm thời.
== Đặc điểm bố trí hiện vật ==
Để có giải pháp kiến trúc đúng đắn cho công trình bảo tàng, triển lãm và các vị trí trưng bày, cần phải chú ý đến các đặt điểm sau:
Xác định được đặc tính các vật trưng bày cùng với việc nghiên cứu tỉ mỉ hình dạng, độ lớn, vật liệu, vị trí trong không gian của chúng v.v.
Xác định đúng dây chuyền trưng bày và khả năng chiếu sáng đúng đắn.
Đặc điểm và độ lớn công trình.
Thời gian làm việc của công trình.
== Xem thêm ==
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam
Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
Bảo tàng Nghệ thuật điêu khắc Chăm Đà Nẵng
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
thánh quan thầy.txt | Thánh quan thầy (còn gọi Thánh bổn mạng hay Thánh bảo trợ; Latinh: patronus) là vị Thánh được cho là bảo vệ, hướng dẫn và cầu bầu cho một người, một địa phương, một quốc gia hoặc thậm chí là một sự kiện. Chức danh này thường có trong Giáo hội Công giáo Rôma và Chính Thống giáo Đông Phương.
Truyền thống nhận Thánh quan thầy phổ biến tại nhiều thành phố, quốc gia ở châu Âu. Thông thường, vị Thánh quan thầy mà họ chọn là người được sinh ra hoặc có những hoạt động tích cực ở địa phương. Ở Mỹ Latinh, khi các nhà thám hiểm người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đặt chân đầu tiên lên vùng đất nào thì họ thường được đặt tên cho vùng đất ấy theo tên vị Thánh mà ngày hôm đó mừng lễ. Việc chọn Thánh quan thầy cho một quốc gia hoặc thành phố có thể do chính quyền công nhận (đối với các quốc gia có truyền thống Công giáo) hoặc chỉ do giáo hội Công giáo tại đó công nhận.
Những vị Thánh quan thầy của các nghề nghiệp thì được chọn từ những Thánh có nghề nghiệp hoặc phép lạ liên quan đến nghề nghiệp đó.
Thuật ngữ patron trong giới sinh viên các trường đại học kiến trúc cũng xuất phát từ nghĩa là người bảo trợ và hướng dẫn.
== Danh sách các địa danh có quan thầy ==
=== Vùng ===
Biển Đức thành Nursia – quan thầy chính của châu Âu
Bridget của Thụy Điển – châu Âu
Catarina thành Siena – châu Âu
Thánh Cyril và Methodius – châu Âu; Bosnia và Herzegovina; Bulgaria; Croatia; Séc; Macedonia; Montenegro; Serbia; Slovenia; Slovakia
Edith Stein (Têrêsa Benedicta Thánh Giá) – châu Âu
Jadwiga của Ba Lan – Liên minh châu Âu
Giuse – châu Mỹ; Tân Thế giới
Đức Mẹ Guadalupe – Bắc Mỹ và Nam Mỹ
Rôsa thành Lima – Bắc Mỹ và Nam Mỹ
== Quốc gia ==
Adalbert thành Magdeburg - Đức
Adalbert thành Prague - Cộng hòa Séc; Ba Lan; Hungary
Agatha xứ Sicilia - Malta
Altagracia - Cộng hòa Dominica
Anrê Tông đồ - Hy Lạp; România; Nga; Scotland; Ukraina
Ansgar - Đan Mạch
Astricus - Hungary
Josephine Bakhita - Sudan
Peter Baptist - Nhật Bản
Barbara - Syria; Liban
Barnabas - Síp
Batôlômêô Tông đồ - Armenia
Basil Cả - Nga
Bernard thành Clairvaux - Gibraltar
Antôn thành Padova - Bồ Đào Nha
Louis Bertrand - Colombia
Boniface - Đức
Thánh George - Bồ Đào Nha
Giacôbê - Bồ Đào Nha
Brigid thành Kildare - Ireland
Brigit của Thụy Điển - Thụy Điển
Bruno thành Köln - Đức
Peter Canisius - Đức
Canute - Đan Mạch
Casimir - Litva; Ba Lan
Catarina thành Siena - Ý
Peter Claver - Colombia
Clement thành Ohrid - Macedonia
Colman thành Stockerau - Áo
Columba - Ireland; Scotland
Đức Mẹ Coromoto - Venezuela
Cunigunde của Luxemburg - Litva; Luxembourg; Ba Lan
Cyprian thành Carthage - Algeria, Tunisia, Libya
Cyril - Séc; Slovakia; Bulgaria
David xứ Wales - Wales
Denis - Pháp
Devota - Monaco
Đa Minh - Dominican
Edmund Tử đạo - Anh
Edward the Confessor - Anh
Phanxicô thành Assisi - Ý
Frumentius - Ethiopia
Tổng lãnh thiên thần Gabriel - Bồ Đào Nha
Gall - Thụy Sĩ
George - Aragon, Catalonia; Anh; Ethiopia; Georgia; Đức; Hy Lạp; Litva; Malta; Moldova; Montenegro; Bồ Đào Nha; Nga; Serbia;
Gregory the Illuminator - Armenia
Henry thành Uppsala - Finland
Hyacinth - Ba Lan
Giacôbê, con của Dêbêđê - Galicia; Tây Ban Nha; Guatemala; Nicaragua
Giacôbê, son của Anphê - Uruguay
Jean de Brébeuf - Canada
Jerome - Croatia
Jeanne d'Arc - Pháp
Gioan de Brito - Bồ Đào Nha
Gioan thành Dukla - Litva
Phanxicô Sôlanô - Argentina
John of Kanty - Litva, Ba Lan
Gioan thành Nepomuk - Séc
Gioan thành Rila - Bulgaria
Gioan thành Suceava - România, Moldova
Thánh Giôsaphát - Ukraina
Giuse – Áo; Bỉ; Bohemia; Canada; Trung Quốc; Croatia; Mexico; New France; Peru và Việt Nam
Julia of Corse - Corse
Kilian - Đức
Knud - Đan Mạch
Koloman - Áo
Laura Vicuña (chân phước) - Argentina
Lôrensô - Sri Lanka
Ladarô - Síp
Leopold - Áo
Lorenzo Ruiz - Philippines
Louis IX - Pháp
Louis Bertrand - Colombia
Ludmila - Séc
Magarita xứ Scotland - Scotland
Marina Tử đạo - Cyprus
Marinô - San Marino
Martino thành Tours - Argentina; Pháp
Maruthas - Persia; Iran
Maria; Maria
Đức Mẹ Fatima - Bồ Đào Nhal
Đức Mẹ Aparecida - Brasil
Đức Mẹ Bác Ái - Cuba
Đức Mẹ Guadalupe - Mexico; Philippines
Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu - Úc
Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội - Hoa Kỳ, Bồ Đào Nha, Hàn Quốc
Đức Mẹ Liban - Liban
Đức Mẹ Luján - Argentina
Đức Mẹ Sầu Đau - Slovakia
Đức Mẹ Lên Trời - Nam Phi
Đức Mẹ La Vang - Việt Nam
Đức Mẹ Meritxell - Andorra
Maughold - Isle of Man
Maurice - Áo
Tổng lãnh thiên thần Micae - Đức; Papua New Guinea
Nicetas - România
Nicôla thành Flue - Thụy Sĩ
Nicôla thành Myra - Hy Lạp; Nga
Nino - Georgia
Olaf II - Na Uy,
Palladius - Scotland
Panagia - Hy Lạp
Phaolô - Malta
Philípphê Giêsu - Mexico
Piô V - Malta
Plechelm - Hà Lan
Procopius - Séc
Patrick - Ireland, Nigeria
Publius - Malta
Remigius - Pháp
Rôsa thành Lima - Ấn Độ; Peru; Philippines
Giêrađô Sagredo - Hungary
Sava - Serbia
Severinus thành Noricum - Áo
Sigfrid - Thụy Điển
Sigismund - Séc
Stanislaus thành Cracow - Ba Lan
Stêphanô - Serbia
Stêphanô của Hungary - Hungary
Swithbert - Đức
Têrêsa de Los Andes - Chile
Têrêsa thành Lisieux - Pháp; Nga
Tôma Tông đồ - Ấn Độ; Sri Lanka; Indonesia
Thorlac Thorhallsson - Iceland
Turibius thành Mogroveio - Peru
Vergilius thành Salzburg - Áo
Vinh Sơn đệ Phaolô - Madagascar
Vinh Sơn thành Saragossa - Bồ Đào Nha
Maria - Pháp
Vladimir I của Kiev - Nga; Ukraina
Wenceslas - Séc
Willibrord - Flanders; Luxembourg; Hà Lan
Phanxicô Xaviê - Trung Quốc; Ấn Độ; Nhật Bản; New Zealand; Indonesia
== Địa phương ==
Adalbert thành Prague - Bohemia; Phổ
Agathoclia - Aragon
Aldhelm - Wessex
Anna - Brittany; Quebec; Mi'kmaq; Santa Ana
Ansgar - Scandinavia
Antôn thành Padova - Brasil
Asicus - Tổng giáo phận Elphin
Augustine thành Hippo - Giáo phận Bridgeport
Andrew Avellino - Sicilia
Augustine thành Canterbury - Kent
Awtel - Bắc Liban
Barbara - Trung Liban
Bênađô thành Valdeiglesias - Candeleda
Birinus - Berkshire
Blaise - Dalmatia
Braulio - Aragon
Brigid thành Kildare - Kildare (Ireland)
Cedd - Essex
Chad - Mercia
Peter Chanel - Oceania
Clara thành Assisi - Santa Clara Indian Pueblo
Corentin - Brittany
Cuthbert - Northumbria; Bắc Anh
Cyril - Morava; Vojvodina;
Christina - Nam Liban
Devota - Corse
Dorothy thành Montau - Phổ
Dubricius - Ergyng; Herefordshire
Edmund Tử đạo - East Anglia; Suffolk
Eurosia - Giáo phận Jaca
Frideswide - Oxfordshire
George - Aragon; Catalonia; Cappadocia; Gozo; Palestine;
Gertrude Cả - West Indies
Gregory Cả - West Indies
Guthlac - The English Fens
Hedwig - Bavaria
Homobonus - Cremona
Innôcentê xứ Alaska - Hoa Kỳ
Isaac Jogues và các bạn - Hoa Kỳ
Helier - Jersey
Herman xứ Alaska - Hoa Kỳ
Ivo thành Kermartin - Brittany
Gioan, Tông đồ Thánh sử - Asia Minor
Gioan thành Ávila - Andalusia
Gioan Baotixita - Newfoundland; French Canadians
Gioan thành Nepomuk - Bohemia
John thành Suceava - Moldavia
Giuse - Tổng giáo phận Hà Nội
Jarlath - Tổng giáo phận Tuam, Ireland
Julia thànhCorse - Corse
Kevin - Tổng giáo phận Dublin
Kilian - Bavaria
Jutta thành Kulmsee - Phổ
Lawrence O'Toole - archdiocese of Dublin, Ireland
Louis - Tổng giáo phận Saint Louis
Ludmila - Bohemia
Magnus - Orkney Islands
Mariana de Paredes y Flores - Ecuador, The Americas
Methodius - Morava;
Tổng lãnh thiên thần Micaee - Tổng giáo phận Seattle
Moses the Black - Africa
Nechtan - Devon
Nicôla thành Myra - Lorraine; Sicilia
Nikon - Laconia
Ninian - Galloway, Nova Scotia
Norbert - Bohemia
Odile - Alsace
Osmund - Wiltshire
Đức Mẹ Phò Nguy - Louisiana
Paraskevi - Euboea
Petroc - Devon, Cornwall
Piran - Cornwall
Richard thành Chichester - Sussex
Rosalia - Sicilia
Rôsa thành Lima - The Americas; Mỹ Latinh; West Indies; Villareal, Samar; Philippines
Sebald - Bavaria
Stanislaus thành Cracow - archdiocese of Cracow, Ba Lan
Stêphanô - Republika Srpska
Swithun - Wessex
Tôma - East Indies;
Tikhon thành Moskva- The Americas
Titô - Kríti
Phanxicô Xaviê - Borneo; East Indies
Wenceslas - Bohemia; Morava; Czech Silesia
Wilfred - Sussex; West Riding of Yorkshire
Willehad thành Bremen - Saxony
Yves - Brittany
== Cities and towns ==
Aeden of Ferns - Ferns, Ireland
Afra - Augsburg
Agatha - Catania; Palermo, Ý; Zamarramala, Tây Ban Nha
Agnello - Napoli, Ý
Agricola of Avignon - Avignon
Alban - St. Albans, Anh
Albert of Trapani - Trapani
Aldhelm - Malmesbury, Anh
Alcmund - Derby, Anh
Alexander of Bergamo - Bergamo, Ý
Amalberga - Temse, Bỉ
Ambrose of Milan - Milan, Ý
Andrew the Apostle - Amalfi; Patras; Luqa
Anne - Taos, New Mexico; Marsaskala; Las Palmas de Gran Canaria (Canary Islands).
Ansanus the Baptizer - Siena, Ý
Anthony of Lisbon - Lisbon, Portugal
Antoninus of Sorrento - Sorrento, Ý
Antony of Vilnius - Vilnius, Litva
Saint Armel - Ploërmel, France and various others
Arnulph - Gap, Hautes-Alpes, France
Arthelais - Benevento, Ý
Arsenius of Corfu - Kerkira Island, Greece
Augustine of Canterbury - Canterbury, Anh
Augustine of Hippo - Kalamazoo, Michigan; Saint Augustine, Florida; Superior, Wisconsin; Tucson, Arizona. Cities of Cagayan de Oro and Saint Augustine, Florida.
Gerald Aurillac - Upper Auvergne
Andrew Avellino - Napoli, Ý
Saint Barbara - Kerkrade, The Netherlands
Barnabas - Antioch
Barbatus of Benevento - Benevento, Ý
Bavo - Gent, Bỉ; Haarlem, Netherlands
Pascal Baylon - Obando, Bulacan, Philippines
Thomas Beckett - Canterbury, Anh; Portsmouth, England
Benedict of Nursia - Europe
Benedict the Black - Palermo, Ý
Benezet - Avignon
Benignus of Dijon - Dijon
Berach - Kilbarry, Ireland
Bernadino Realino - Lecce, Ý
Bernadette of Lourdes - Lourdes, France
Bertelin - Stafford, Anh
Birinus - Dorchester-on-Thames, Anh
Blaise - Dubrovnik
Boris - Moscow, Russia
Botulph - Boston, Anh
Budoc - Plourin, Brittany
Caecilius of Elvira - Granada, Tây Ban Nha
Catald - Taranto
Thomas Cantilupe - Hereford, Anh
Catherine of Alexandria - Zejtun, Zurrieq
Cecilia - Albi, France
Chad - Lichfield, Anh
Christopher - Rab, Croatia; La Habana, Cuba, Vilnius, Litva, San Cristóbal de La Laguna (Canary Islands).
John Chrysostom - Istanbul, Turkey
Claire of Assisi - Obando, Bulacan, Philippines
Colman of Cloyne - Cloyne, Ireland
Constabilis - Castellabate, Ý
Constantine of Rome - Istanbul, Turkey
Crescentinus - Urbino
Cuthbert - Durham, Anh
Cuthman - Steyning, Anh
Judas Cyriacus - Ancona, Ý
Cyril of Alexandria - Alexandria, Egypt
David - St. Davids, Wales
Denis - Paris, France
Dimitrie Basarabov - Bucharest, Romania
Saint Demetrius - Thessaloniki, Greece
Dionysius the Arepagite - Athens, Greece
Dominic of Silos - Calatagan, Philippines
Donatus - Ripacandida
Drogo - Baume-les-Messieurs, Fleury-sur-Loire
Duje - Split, Croatia
Edmund of Abingdon - Abingdon
Emeterius and Celedonius -Calahorra, Santander, Tây Ban Nha
Eric of Sweden - Stockholm
Erkenwald - City of London, Anh
Etheldreda - Ely, Anh
Eulalia - Barcelona
Eustace of Vilnius - Vilnius, Litva
Eustace - Madrid, Tây Ban Nha
Expedite - New Orléans, Louisiana
Fachanan - Ross, Ireland
Ferdinand III of Castile - Sevilla, Tây Ban Nha
Ferreolus and Ferrutio - Besançon
Fiacre - France, Saint-Fiacre-en-Brie
Finbarr - Barra, Scotland; Cork, Ireland
Florian - Upper Austria, Ba Lan; Linz, Austria
Francis of Assisi - Assisi, Ý; Colorado; Ý; Santa Fe, New Mexico, the archdiocese of San Francisco, California; Quito, Ecuador;Cavite,Philippines
Frideswide - Oxford, England
Saint Gabriel of Our Lady of Sorrows - Abruzzi
Gatianus of Tours - Tours
Gaudentius of Ossero - Losinj, Croatia
Genevieve - Paris, France
George - Beirut; Ferrara; Genoa; Victoria, Gozo; Istanbul; Modica, Sicilia; Moscow; Ptuj, Slovenia; Svaty Jur, Slovakia; Kragujevac, Serbia; Venice
Gerard of Lunel - Potenza Picena
Giles - Edinburgh, Scotland
Gratus of Aosta - Aosta, Ý
Gudula - Brussels, Bỉ
Gül Baba - Muslim patron saint of Budapest
Gummarus - Lier, Bỉ
Guthlac - Crowland, Anh
Hallvard - Oslo, Norway
Helen - Abingdon, Anh; Colchester, Anh
Helier - Saint Helier, Jersey
Hugh of Lincoln - Lincoln, Anh
Illtud - Llantwit Major, Wales
Isidore the Farmer - Madrid, Tây Ban Nha
James, son of Zebedee - Acoma Pueblo, United States; Guayaquil, Ecuador; Reading, Anh; Santiago de Compostela, Tây Ban Nha; Santiago de Querétaro, Mexico, Santa Cruz de Tenerife (Canary Islands).
James of the Marches - Napoli, Ý
Januarius - Napoli, Ý
John IV, Bishop of Napoli - Napoli, Ý
John the Apostle - Taos, New Mexico
Joan of Arc - Orléans
John the Baptist - Florence, Ý; Genoa, Ý; Turin, Ý; St. John's, Newfoundland, Canada; Xewkija, Gozo; Porto, Portugal
John of Vilnius - Vilnius, Litva
Joseph – Birkirkara, Malta; Carinthia, Austria; Castelplanio, Ancona, Ý; Deschambault, Quebec, Canada; Florence, Ý; Fonte Nuova, Ý; Kalkara, Malta; La Spezia, Ý; Ladispoli, Ý; Laguna Indian Pueblo; Msida, Malta; Orvieto, Ý; Qala, Gozo, Malta; Querceta, Ý; Radazzo, Santa Marinella, Ý; Sicilia, Ý; Spadafora, Sicilia, Ý; Styria, Austria; Turin, Ý; and Tyrol, Austria
Jovan Vladimir - Bar, Montenegro
Justa - Sevilla, Tây Ban Nha
Justus - Alcalá de Henares, Tây Ban Nha; Madrid, Tây Ban Nha
Kenelm - Winchcombe, Anh
Kevin of Glendalough - Ireland
Kentigern - Glasgow, Scotland
Kessog - Lennox, Scotland
Lôrensô - Rome, Ý; Birgu, Malta
Leocadia - Toledo, Tây Ban Nha
Leonard xứ Port Maurice - Imperia, Ý
Lorenzo Ruiz - Manila, Philippines
Louis - St. Louis, Missouri
Thánh Luca - Jaén - Andalucía, Tây Ban Nha
Lucia của Siracusa - Siracusa
Macarius xứ Antioch - Gent, Bỉ
Machar - Aberdeen, Scotland
Thánh sử Maccô - Venezia, Ai Cập
Maro - Volperino, Ý
Martha - Pateros, Metro Manila, Philippines
Martial - Limoges, France
Martin của Tours - Tours; Utrecht, Hà Lan;Taal, Philippines
Martina của Roma - Roma, Ý
Mary MacKillop - Brisbane
Maximinus của Trier - Trier, Đức
Maximus của Aquila - Aquila, Ý
Maximus của Torino - Torino, Ý
Mellitus - Thành phố Luân Đôn, Anh
Tổng lãnh thiên thần Micae - Caltanissetta, Ý; Cuneo, Ý; Bruxelles, Bỉ; Kiev, Ukraina
Thánh Mirin - Paisley, Scotland
Mochelloc - Kilmallock, Hạt Limerick, Ireland
Modestus - Cartagena, Tây Ban Nha
Munchin - giáo phận Limerick; Limerick
Mura - Fahan, Ireland
Philip Neri - Rome, Ý
Nicholas - Bari, Ý; Macchia Valfortore, Ý; Siggiewi, Malta Liverpool, England
Nicholas of Tolentino - Surigao City, Philippines; Tandag, Surigao del Sur, Philippines
Nicholas of Myra - Amsterdam, the Netherlands; Portsmouth, England
El Niño - Cebu, Philippines
Octavius - Turin, Ý
Osmund - Salisbury, Anh
Oswald of Worcester - Worcester, Anh
Our Lady of Charity of El Cobre - Cuba
Our Lady of Prompt Succor - New Orleans
Panagia Kastriani - Skiathos Island, Greece; Tzia Island, Greece
Pastor - Alcalá de Henares, Tây Ban Nha; Madrid, Tây Ban Nha
Paternus - Vannes, France
Patrick- New York City, Boston
Patricia of Napoli - Napoli, Ý
Paul the Apostle - City of London, Anh; Las Vegas, Nevada; Poznań, Ba Lan; Rome, Ý; São Paulo, Brasil; Valletta, Malta
Paul the Apostle's Conversion - Caraballo, Cuba; Mdina, Malta
Pelagius of Constance - Konstanz
Piran - Padstow, Anh; Perranporth, Anh
Pedro Calungsod - Cebu, Philippines
Peter the Apostle - Poznań, Ba Lan; Rome, Ý; York, Anh; Birzebbugia, Malta; Sestao, Basque Country; Póvoa de Varzim, Bồ Đào Nha
Peter of Alcantara - Estremadura, Tây Ban Nha
Petroc - Bodmin, Anh
Saint Petronius - Bologna, Ý
Pharaildis - Ghent, Bỉ
Philip of Jesus - Mexico City, Mexico
Philip the Apostle - Uruguay
Prosper of Reggio - Reggio Emilia
Quirinus - Sisak, Croatia
Rainerius - Pisa
Raynald of Nocera - Nocera, Ý
Rafael Guizar y Valencia - Veracruz, Mexico
Richard of Chichester - Chichester, Anh; Droitwich, Anh
Riginos - Skopelos Island, Greece
Roch - Istanbul, Turkey, Pateros, Metro Manila, Philippines
Rosalia - Palermo, Ý
Rumwold - Buckingham, Anh
Rupert of Salzburg - Salzburg, Austria
Sabinus - Bari, Ý
Mary Salome - Veroli, Ý
Ambrose Sansedoni of Siena - Siena, Ý
Saturnin - Toulouse
Saint Anne - Ruskin, Florida USA; Detroit, Michigan USA
Alexander Sauli - Corse
Sebaldus - Nuremberg, Đức
Sebastian - Rio de Janeiro, Brasil; Rome, Ý; Ribeirão Preto, Brasil;Lipa, Philippines
Sidwell - Exeter, Anh
Sigfrid - Växjö, Sweden
Silverius - Ponza, Ý
Solutor - Turin, Ý
Spyridon - Kerkira Island, Greece, Piraeus
Stephen - Nijmegen, The Netherlands
Swithun - Winchester, Anh
Symphorian - Autun
Syrus of Genoa - Genoa, Ý
Syrus of Pavia (Siro) - Pavia, Ý
Teilo - Cardiff, Wales; Llandeilo Fawr, Wales
Theneva - Glasgow, Scotland
Theodore of Pavia - Pavia, Ý
Thomas More - Arlington, Virginia
Ulric - Augsburg
Urban of Langres - Dijon
Saint Ursula - Cologne, Đức
Valeria of Milan - Thibodaux, Louisiana
Vergilius - Salzburg, Austria
Vincenzo Martyr - Craco, Ý
Vitus - Cộng hòa Séc; Rijeka, Croatia; Winschoten, Netherlands
Walburga - Antwerp, Bỉ; Groningen, Netherlands; Oudenarde, Bỉ; Zutphen, Netherlands
Waltrude - Hainaut, Bỉ; Mons, Bỉ
Wenceslas - Prague, Cộng hòa Séc
Werburga - Chester, Anh
Wilfrid - Ripon, Anh
William of York - York, Anh
Winefride - Holywell, Wales; Shrewsbury, Anh
Wulfram of Sens - Abbeville, France
Wulfstan - Worcester, Anh
Zeno of Verona - Verona, Ý
Zenobius - Florence, Ý
== Tổng giáo phận và giáo phận ==
Giuse
Maria
Our Lady of Prompt Succor - Archdiocese of New Orleans, Louisiana
== Chú thích == |
mực nước biển.txt | Mực nước biển trung bình (tiếng Anh: Mean sea level, viết tắt MSL), thường gọi tắt là mực nước biển (sea level), là mức trung bình của bề mặt của một hoặc nhiều đại dương của Trái Đất, nhằm xác định ra độ cao bằng 0 và từ đó có thể đo được độ cao của điểm trên Trái Đất .
Phép dựng mô hình Trái Đất dẫn đến bề mặt Trái Đất được quy về một ellipsoid, gọi là ellipsoid quy chiếu, tượng trưng cho độ cao của biển và được dùng để lấy mốc về độ cao của vật thể trên Trái Đất. Các vật nằm trên bề mặt này được quy ước có "độ cao bằng 0 so với mực nước biển".
Nó là một khái niệm được thống nhất về lý thuyết, nhưng từng nước lại quy định trong tiêu chuẩn quốc gia của mình cách lấy mốc khác nhau. Đây là mực nước trung bình cân đối tính trong toàn năm của một vùng biển được nhắm chọn theo quy định trong tiêu chuẩn quốc gia của mỗi nước và có độ cao quy ước là "0 mét". Ví dụ: "Mực nước biển" theo tiêu chuẩn quốc gia của Ba Lan là hình ellipsoid đi qua mực nước trung bình trong toàn năm của biển Baltic, tính cho vịnh Kronstadt (thuộc Liên bang Nga).
Khái niệm mực nước biển cũng được mở rộng ra thành khái niệm hình ellipsoid chuẩn cho các hành tinh, dùng để lấy mốc độ cao cho các vật thể trên bề mặt các hành tinh. Nó có thể được định nghĩa dựa vào thể tích bằng thể tích phần đất đá cứng của hành tinh và/hoặc các bán trục lớn phù hợp với khoảng cách trung bình của cực và các điểm trên xích đạo tới tâm hành tinh. Ví dụ, với Sao Hỏa, "mực nước biển" là hình ellipsoid với các bán trục lớn a = 3394,6 km, b = 3393,3 km và c = 3376,3 km.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
== Liên kết ngoài == |
ký hiệu phần trăm.txt | Ký hiệu phần trăm (%) là ký hiệu biểu diễn một phần trăm (tức là một phần trong 100 phần bằng nhau bị chia bởi đại lượng cho trước). Mã Unicode của % là U+0025.
Các ký hiệu liên quan là phần nghìn ký hiệu ‰ (mã Unicode: U+2030) và phần mười nghìn ký hiệu là ‱ (mã Unicode: U+2031), biểu diễn cho một số bị chia bởi tương ứng 1000 và 10.000. Tỷ lệ cao hơn là một phần triệu (parts-per notation).
== Tham khảo == |
cộng hòa nam phi.txt | Nam Phi là một quốc gia nằm ở mũi phía nam lục địa Châu Phi. Nước này giáp biên giới với Namibia, Botswana, Zimbabwe, Mozambique, Swaziland, và bao quanh toàn bộ đất nước Lesotho. Nam Phi là thành viên của Khối thịnh vượng chung Anh.
Nam Phi có tên chính thức là Cộng hòa Nam Phi (Afrikaans: Republiek van Suid-Afrika, Zulu: iRiphabliki yaseNingizimu Afrika, Xhosa: iRiphabliki yaseMzantsi Afrika, Tsonga: Riphabliki yaAfrika Dzonga, Bắc Sotho và Nam Sotho: Rephaboliki ya Afrika Borwa, Tswana: Rephaboliki ya Aforika Borwa, Nam Ndebele: IRiphabliki yeSewula Afrika, Swati: IRiphabhulikhi yeNingizimu Afrika, Venda: Riphabuliki ya Afurika Tshipembe),
Nam Phi có một lịch sử rất khác biệt với các quốc gia khác ở châu Phi, kết quả của quá trình nhập cư sớm từ Châu Âuvà tầm quan trọng chiến lược của Con đường Biển Cape. Những người nhập cư châu Âu đã bắt đầu tới đây ngay sau khi Công ty Đông Ấn Hà Lan thành lập một điểm đồn trú (sau này sẽ trở thành) Cape Town năm 1652. Việc đóng cửa Kênh đào Suez trong cuộc Chiến tranh Sáu Ngày đã cho thấy tầm quan trong của nó. Nước này có cơ sở hạ tầng khá phát triển giúp trữ lượng tài nguyên khoáng sản phong phú và có giá trị cao tiếp cận tới thị trường phương Tây, đặc biệt trong suốt thế kỷ mười chín, khi cuộc cạnh tranh diễn ra khốc liệt giữa các đối thủ thời Chiến tranh lạnh. Nam Phi là quốc gia đa sắc tộc, với các cộng đồng da trắng, Ấn Độ, và người lai lớn nhất tại châu Phi. Người da đen Nam Phi, nói chín ngôn ngữ được công nhận chính thức và nhiều thổ ngữ khác, chiếm gần 80% dân số.
Sự xung đột giữa thiểu số da trắng và đa số da đen đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử và chính trị đất nước, lên cực đỉnh thành chế độ Apartheid, được Đảng Quốc gia Nam Phi ghi thành hiến pháp năm 1948 (dù sự phân biệt đã tồn tại từ trước đó). Chế độ Apartheid bắt đầu bị Đảng Quốc gia huỷ bỏ hay bãi bỏ năm 1990 sau một cuộc xung đột kéo dài và thỉnh thoảng đầy tính bạo lực (gồm cả những biện pháp trừng phạt kinh tế từ cộng đồng thế giới) của cộng đồng đa số da đen cũng như nhiều người da trắng, da màu và người Ấn Độ tại Nam Phi.
Hai học thuyết triết học bắt nguồn từ Nam Phi: ubuntu (niềm tin vào một sự liên kết giữa toàn thể nhân loại); và quan điểm "phản kháng bất bạo động" (satyagraha) của Gandhi, đã được phát triển khi ông sống tại Nam Phi.
Những cuộc bầu cử thường xuyên đã được tổ chức trong gần một thế kỷ, tuy nhiên, đa số người Nam Phi da đen vẫn không có quyền bỏ phiếu cho tới tận năm 1994. Kinh tế Nam Phi là nền kinh tế lớn nhất và phát triển nhất lục địa, với cơ sở hạ tầng hiện đại và rộng khắp đất nước.
Nam Phi đã là nước đăng cai tổ chức và giành chiến thắng giải Cúp các Quốc gia châu Phi 1996. Nam Phi cũng thường được gọi là "Quốc gia Cầu vồng", một thuật ngữ do Tổng giám mục Desmond Tutu đưa ra và đã được Tổng thống Nam Phi khi ấy là Nelson Mandela chấp nhận. Tổng thống Mandela đã sử dụng thuật ngữ "Quốc gia Cầu vồng" như một ẩn dụ để miêu tả sự đa dạng văn hoá mới phát triển sau khi tư tưởng phân biệt chủng tộc aparthied bị bãi bỏ. Các chính sách xã hội tiến bộ của nước này khá hiếm thấy tại châu Phi. Tới năm 2007, nước này đã làm nên lịch sử khi trở thành nước thứ năm trên thế giới và đầu tiên tại châu Phi hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính. Nam Phi đã gia nhập sau Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Canada và trước Na Uy, Thụy Điển, Bồ Đào Nha và Iceland trở thành nhóm quốc gia cho phép hôn nhân đồng giới.
Nam Phi là quốc gia tổ chức FIFA World Cup 2010. Đây là lần đầu tiên sự kiện này được tổ chức tại châu Phi. Nam Phi cũng là nước tổ chức Giải vô địch 20 Quốc gia Thế giới lần đầu tiên được tổ chức tháng 9 năm 2007.
== Lịch sử ==
Bản mẫu:SouthAfrica state
Nam Phi có một số trong những địa điểm khảo cổ học cổ nhất tại châu Phi. Những tàn tích hóa thạch lớn tại Sterkfontein, Kromdraai và các hang Makapansgat cho thấy nhiều giống người vượn phương Nam đã tồn tại tại Nam Phi từ khoảng ba triệu năm trước. Tiếp sau đó là nhiều giống Người (homo), gồm Homo habilis, Homo erectus và con người hiện đại, Homo sapiens. Những cư dân nông nghiệp và chăn thả nói tiếng Bantu, sử dụng công cụ sắt, đã di cư về phía nam Sông Limpopo vào Nam Phi ngày nay từ thế kỷ thứ tư hay thứ năm (Cuộc bành trướng Bantu) thay thế những người nói tiếng Khoi và San bản xứ. Họ chậm chạp tiến về phía nam và những đồ sắt sớm nhất tại Tỉnh KwaZulu-Natal ngày nay được cho là có niên đại từ khoảng năm 1050. Nhóm tiến xa nhất về phía nam là người Xhosa, ngôn ngữ của họ đã tích hợp một số nét ngôn ngữ riêng của người Khoi và San trước đó, tiến tới Fish River, tại Tỉnh Eastern Cape ngày nay. Những dân cư Thời đại đồ sắt đó chiếm chỗ những người săn bắn hái lượm tại đó.
Lịch sử thành văn của Nam Phi bắt đầu với những lời tường thuật của các nhà hàng hải châu Âu đi qua Nam Phi trên những con đường thương mại Đông Ấn. Nhà hàng hải châu Âu đầu tiên đi vòng quanh Cape bằng đường biển là nhà thám hiểm Bồ Đào Nha Bartolomeu Dias năm 1488.
Khi Bartolomeu Dias quay trở lại Lisbon ông mang theo tin tức về sự khám phá ra cái ông gọi là "Cabo das Tormentas" (Mũi Giông Bão). Nhưng người bảo trợ cho ông, Henry Nhà hàng hải, đã lựa chọn một cái tên khác, "Cabo da Boa Esperança" Mũi Hảo Vọng vì nó hứa hẹn một con đường hàng hải tới Ấn Độ giàu có, hy vọng mà Bồ Đào Nha đang gắng sức thực hiện.
Cùng với những lời kể của những nhà hàng hải giai đoạn đầu, những lời kể của những người sống sót sau những vụ đắm tàu cung cấp những thông tin sớm nhất về miền Nam châu Phi. Trong hai thế kỷ sau đó 1488, một số khu định cư đánh cá nhỏ được Jan van Riebeeck thành lập tại Mũi Hảo Vọng nhân dân Công ty Đông Ấn Hà Lan. Hầu như trong suốt thế kỷ mười bảy và mười tám, những khu định cư phát triển chậm chạp đó đều thuộc sở hữu của người Hà Lan. Những người định cư Hà Lan cuối cùng gặp những người Xhosa phía tây nam tại vùng Fish River. Một loạt những cuộc chiến, được gọi là Những cuộc chiến tranh Biên giới Cape, xảy ra, chủ yếu do xung đột về đất đai và lợi ích.
Để giải quyết tình trạng thiếu nhân công tại Cape nô lệ được đưa đến từ Indonesia, Madagascar, và Ấn Độ. Hơn nữa, những lãnh đạo gây rắc rối, thường có dòng dõi vua chúa, bị trục xuất từ các thuộc địa Hà Lan tới Nam Phi. Nhóm những nô lệ này cuối cùng trở thành nhóm dân số hiện tự gọi mình là "Cape Malays". Cape Malays theo truyền thống được những kẻ thực dân châu Âu cho có địa vị xã hội cao hơn - nhiều người trong số họ trở thành những chủ đất giàu có, nhưng cũng dần bị tước quyền sở hữu khi chế độ Apartheid phát triển. Những giáo đường của người Cape Malay tại Quận Sáu được giữ nguyên, và hiện là những công trình tưởng niệm về sự phá hoại đã xảy ra trước đó xung quanh chúng.
Đa số hậu duệ của những nô lệ đó, thường có quan hệ hôn nhân với những người định cư Hà Lan, sau này được xếp hạng cùng với người Khoikhoi (còn gọi là Khoisan) thành Người da màu Cape. Cùng được phân loại trong nhóm Người da màu Cape còn có người Xhosa và các sắc tộc Nam Phi khác, vì thế hiện họ chiếm khoảng 50% dân số Tỉnh Tây Cape.
Vương quốc Anh đã nắm quyền kiểm soát vùng Mũi Hảo Vọng năm 1795 bề ngoài là để ngăn nó không rơi vào tay người Pháp thời Napoleon Bonaparte nhưng cũng là để tìm cách biến Cape Town thành một điểm dừng chân trên con đường tới Australia và Ấn Độ. Vùng này được trả lại cho Hà Lan năm 1803, nhưng ngay sau đó Công ty Đông Ấn Hà Lan tuyên bố phá sản, và người Anh đã sáp nhập Thuộc địa Cape năm 1806. Người Anh tiếp tục các cuộc chiến tranh biên giới chống lại người Xhosa, đẩy biên giới phía đông lùi ra xa hơn thông qua một loạt những pháo đài được thiết lập dọc Sông Fish và củng cố chúng bằng cách khuyến khích người Anh tới định cư. Vì áp lực của các phong trào bãi nô tại Anh, nghị viện Anh lần đầu tiên ngừng công việc buôn bán nô lệ trên quy mô thế giới của họ năm 1806, sau đó xóa bỏ chế độ nô lệ tại tất cả các thuộc địa của họ năm 1833.
Sự phát hiện kim cương năm 1867 và vàng năm 1886 đã thúc đẩy phát triển kinh tế và làn sóng nhập cư, làm tăng thêm tình trạng nô dịch hóa người bản xứ. Người Boers đã thành công trong việc ngăn chặn sự xâm lân của người Anh trong cuộc Chiến tranh Boer lần thứ Nhất (1880–1881) với các chiến thuật chiến tranh du kích, rất thích hợp với những điều kiện địa phương. Tuy nhiên, người Anh đã quay trở lại với số lượng lớn hơn trong cuộc Chiến tranh Boer lần thứ Hai (1899–1902). Những nỗ lực của người Boers thiết lập liên minh với vùng Tây Nam Phi của Đức càng khiến người Anh có lý do để giành quyền kiểm soát tất cả các nước Cộng hòa Boer.
Người Boers kháng cự mạnh mẽ, nhưng cuối cùng người Anh với quân số vượt trội, chiến thuật hiện đại và những đường cung cấp hậu cần bên ngoài đã tiêu diệt các lực lượng Boers. Cũng trong cuộc chiến này, người Anh đã sử dụng các chiến thuật Trại Tập trung và Tiêu Thổ gây nhiều tranh cãi. Hiệp ước Vereeniging xác định chủ quyền đầy đủ của Anh trên toàn bộ các nước cộng hòa Nam Phi và chính phủ Anh chấp nhận chi trả khoản nợ chiến phí 3 000 000 £ cho các chính phủ người Nam Phi gốc Âu. Một trong những điều khoản chính của hiệp ước chấm dứt chiến tranh là 'Người da đen' sẽ không được phép bầu cử, ngoại trừ tại Thuộc địa Cape.
Sau bốn năm đàm phán, Liên minh Nam Phi được thành lập từ các thuộc địa Cape và Natal, cũng như các nước cộng hòa thuộc Bang Orange Free và Transvaal, ngày 31 tháng 5 năm 1910, chính xác tám năm sau khi Cuộc chiến tranh Boer lần thứ Hai chấm dứt. Liên minh Nam Phi mới được thành lập là một Lãnh thổ tự trị trong khối Liên hiệp Anh. Năm 1934, Đảng Nam Phi và Đảng Quốc gia hợp nhất để hình thành nên Đảng Thống nhất, tìm cách hòa giải giữa những người Nam Phi gốc Âu và những người 'Da trắng' nói tiếng Anh, nhưng đảng đã bị chia rẽ năm 1939 về vấn đề gia nhập Chiến tranh thế giới thứ hai của Liên minh với tư cách một đồng minh của Anh Quốc, một động thái mà Đảng Quốc gia phản đối kịch liệt.
Năm 1948 Đảng Quốc gia trúng cử và nắm quyền lực, và bắt đầu áp đặt một loạt bộ luật phân biệt đối xử nặng nề sau này sẽ được gọi chung là chế độ apartheid. Không đáng ngạc nhiên, sự phân biệt đối xử này cũng được áp dụng đối với tài sản có được trong quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng ở thập niên 1950, '60, và '70. Tuy cộng đồng thiểu số Da trắng có được mức sống cao nhất trên toàn bộ châu Phi, thường được so sánh ngang bằng với các quốc gia phương Tây thuộc "Thế giới thứ Nhất", đa số người Da đen vẫn sống ở tình trạng nghèo khổ theo mọi tiêu chuẩn, gồm thu nhập, giáo dục, nhà ở và tuổi thọ. Tuy nhiên, thu nhập trung bình và tuổi thọ trung bình của người da đen, 'Ấn Độ' hay 'da màu' Nam Phi vẫn cao hơn rất nhiều quốc gia châu Phi với chính phủ da màu khác như Ghana và Tanzania.
Chế độ Apartheid dần gây ra nhiều tranh cãi, dẫn tới sự trừng phạt và rút vốn đầu tư từ nước ngoài và tình trạng bất ổn cũng như đàn áp ngày càng gia tăng bên trong Nam Phi. (Xem thêm bài về Lịch sử Nam Phi thời kỳ apartheid.) Một giai đoạn đàn áp kéo dài của chính phủ, cùng nhiều cuộc phản kháng bạo lực, những cuộc đình công, tuần hành, và phá hoại của nhiều phong trào phản đối chế độ apartheid, mà nhất là Đại hội Dân tộc Phi (ANC), diễn ra. Cuối thập 1970, Nam Phi khởi động một chương trình vũ khí hạt nhân, và trong thập kỷ sau đó họ đã chế tạo ra sáu vũ khí hạt nhân có thể sử dụng. Lý do căn bản của hành động sở hữu vũ khí hạt nhân bị tranh cãi, nhưng mọi người tin rằng Vorster và PW Botha muốn có khả năng buộc Hoa Kỳ phải can thiệp trong trường hợp xảy ra cuộc chiến giữa Nam Phi và chính phủ MPLA của Angola được Cuba hậu thuẫn.
Năm 1990, Frederik Willem de Klerk của Đảng Quốc gia lên làm tổng thống thay thế Botha. Nhờ vị trí này, và với quyết tâm, ông đã cải cách để từng bước phá bỏ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid và tiến hành bước đầu tiên đàm phán về việc rời bỏ quyền lực của chính họ khi dỡ bỏ lệnh cấm đảng Đại hội Dân tộc Phi và các tổ chức chính trị cánh tả khác hoạt động, và trả tự do cho những tù nhân da màu, trong số đó có Nelson Mandela sau hai bảy năm ở tù vì cáo buộc hành động bạo lực vũ trang. Các luật lệ liên quan tới Apartheid dần được hủy bỏ, và Nam Phi cũng phá hủy kho vũ khí hạt nhân của mình và gia nhập Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân. Cuộc bầu cử đa sắc tộc đầu tiên được tổ chức năm 1994, Đại hội Dân tộc Phi giành thắng lợi vang dội với đa số ghế. Đảng này đã lên nắm quyền lực tại Nam Phi kể từ thời điểm đó.
Dù chế độ apartheid đã chấm dứt, hàng triệu người dân Nam Phi, chủ yếu là người da đen, vẫn tiếp tục sống trong nghèo khổ. Điều này một phần bởi di sản của hệ thống apartheid (dù tình trạng nghèo khổ cũng là vấn đề trên khắp châu Phi), và, một điều mà ngày càng có nhiều người coi là một sai lầm của chính phủ hiện nay trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, cộng với những quy định tiền tệ và thuế của chính phủ hiện tại nhằm đảm bảo cả việc tái phân phối tài sản và tăng trưởng kinh tế. Trong mười năm kể từ khi Đại hội Dân tộc Phi lên nắm quyền, Chỉ số Phát triển Con người Liên hiệp quốc của Nam Phi đã giảm thảm hại, tuy trước đó nó luôn tăng trưởng vững chắc cho tới giữa thập niên 1990. Đa số nguyên nhân có thể quy cho đại dịch AIDS và sai lầm của chính phủ trong việc đương đầu với nó. Tuy nhiên, chính sách nhà ở xã hội của Đại hội Dân tộc Phi đã mang lại một số cải thiện trong điều kiện sống tại nhiều vùng bằng cách xem xét lại chi tiêu ngân sách và cải thiện tính hiệu năng của hệ thống thu thuế.
== Chính phủ và chính trị ==
Nam Phi có một hệ thống lưỡng viện gồm: chín mươi thành viên của Hội đồng Tỉnh Quốc gia (Thượng viện); và bốn trăm thành viên của Quốc hội (Hạ viện). Các thành viên hạ viện do dân bầu theo đại diện tỷ lệ: một nửa số thành viên được bầu từ các danh sách quốc gia và một nửa được bầu từ các danh sách tỉnh. Mười thành viên được bầu để đại diện mỗi tỉnh trong Hội đồng Tỉnh Quốc gia, không cần biết số dân trong tỉnh. Các cuộc bầu cử cho cả hai viện được tổ chức mỗi năm năm. Chính phủ được hạ viện thành lập và lãnh đạo đảng đa số trong Quốc hội là Tổng thống.
Chính trị Nam Phi hiện tại do đảng Đại hội Dân tộc Phi (ANC) chi phối, đảng này đã nhận được 69.7% phiếu bầu trong cuộc tổng tuyển cử năm 2004 vừa qua và 66.3% số phiếu trong cuộc bầu cử thành phố năm 2006. Đối thủ chính đe dọa sự cầm quyền của ANC là đảng Liên minh Dân chủ, nhận được 12.4% số phiếu trong cuộc tuyển cử 2004 và 14.8% số phiếu trong cuộc bầu cử năm 2006. Lãnh đạo đảng này là Helen Zille (được bầu ngày 6 tháng 5 năm 2007). Lãnh đạo trước đó của đảng là Tony Leon. Đảng Quốc gia Mới, vốn nắm ưu thế chính trị trước kia, và là đảng đưa ra chính sách apartheid qua tiền thân của nó là Đảng Quốc gia, đã ngày càng mất tín nhiệm của nhân dân qua các cuộc bầu cử từ năm 1994, và cuối cùng đã giải tán. Đảng này đã lựa chọn hợp nhất với ANC ngày 9 tháng 4 năm 2005. Các đảng chính trị lớn khác có mặt trong Nghị viện gồm Đảng Tự do Inkatha, chủ yếu đại diện cho các cử tri người Zulu, và đảng Những người Dân chủ Độc lập, chiếm 6.97% và 1.7% số phiếu bầu trong cuộc bầu cử năm 2004 và 2006.
== Luật pháp ==
Cơ sở chủ yếu của luật pháp Nam Phi là luật thương mại và cá nhân Rôma-Hà Lan cùng Thông luật Anh, ảnh hưởng từ những người định cư Hà Lan và những kẻ thực dân Anh. Luật đầu tiên dựa trên cơ sở châu Âu tại Nam Phi do Công ty Đông Ấn Hà Lan đưa ra và được gọi là Luật Rôma-Hà Lan. Nó được đưa ra trước khi luật châu Âu được đưa vào trong Luật Napoleonic và giống với Luật Scotland ở nhiều khía cạnh. Sau bộ luật này là cả Thông luật và Statutory law của Anh Quốc ở thế kỷ 19. Bắt đầu với sự thống nhất từ năm 1910, Nam Phi có nghị viện riêng của mình và đưa ra những bộ luật riêng biệt cho Nam Phi, được xây dựng trên cơ sở luật pháp trước đó của từng thuộc địa.
== Tỉnh, quận và thành phố tự trị ==
Khi chế độ apartheid chấm dứt năm 1994, chính phủ Nam Phi đã phải tích hợp các Bantustan độc lập và bán độc lập trước đó vào cơ cấu chính trị Nam Phi. Để thực hiện điều này, chính phủ đã xóa bỏ bốn tỉnh Nam Phi trước đó (Tỉnh Cape, Natal, Bang Orange Free, và Transvaal) và thay thế chúng bằng chín tỉnh mới hoàn toàn. Các tỉnh mới thường nhỏ hơn tỉnh cũ, và trên lý thuyết mang lại cho các chính phủ địa phương nhiều nguồn tài nguyên trên một diện tích nhỏ hơn.
Chín tỉnh được chia nhỏ tiếp thành 52 quận: 6 khu đô thị và 46 đô thị cấp quận. 46 đô thị cấp quận được chia tiếp thành 231 thành phố địa phương. Các đô thị cấp quận cũng gồm 20 vùng quản lý quận. Sáu khu đô thị vừa có chức năng như các quận vừa như đô thị cấp quận. Các tỉnh mới gồm:
== Địa lý ==
Nam Phi là đất nước nằm ở phần mũi phía nam của lục địa châu Phi, với một đường bờ biển dài hơn 2500 kilometres (1.550 dặm) chạy qua hai đại dương (Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương). Với tổng diện tích là 1.219.912 km² (470 979 mi²) Nam Phi là nước lớn thứ 25 trên thế giới (sau Mali). Nước này có kích thước tương đương Colombia. Njesuthi tại Drakensberg với độ cao 3 408 m (11.424 ft) là đỉnh cao nhất Nam Phi. Nam Phi giáp biên giới với Botswana - 1.840 km, Lesotho - 909 km, Mozambique - 491 km, Namibia - 967 km, Swaziland - 430 km, và Zimbabwe - 225 km. Nó có bờ biển dài 2.798 km.
Trái ngược với quan niệm thông thường của mọi người, Nam Phi có khí hậu nói chung ôn hòa, một phần nhờ nó được bao quan bởi Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương ở ba phía, nhờ vị trí nằm tại bán cầu nam với thời tiết dịu hơn, và nhờ độ cao tăng dần về phía bắc (về hướng xích đạo) và trong lục địa. Vì những ảnh hưởng địa hình và hải dương này, Nam Phi có nhiều khu vực khí hậu.
Các vùng khí hậu khá khác biệt, từ sa mạc khô cằn phía nam Namib tại cực tây bắc tới kiểu khí hậu cận nhiệt đới tươi tốt ở phía đông dọc biên giới với Mozambique và Ấn Độ Dương. Từ phía đông, địa hình nhanh chóng chuyển thành núi non dựng đứng về hướng cao nguyên nội địa được gọi là Thảo nguyên cao. Thậm chí Nam Phi bị xếp hàng là bán khô cằn, có khá nhiều khác biệt về khí hậu cũng như địa hình.
Nội địa Nam Phi là một vùng cao nguyên đất sét bụi rậm rộng lớn, phẳng và dân cư thưa thớt, khí hậu khô hơn về hướng tây bắc dọc theo xa mạc Namib. Trái lại, ở bờ biển phía đông là vùng đất với cây cối tươi tốt, nhiều nước với kiểu khí hậu nhiệt đới. Cực tây nam có khí hậu rất giống với kiểu khí hậu Địa Trung Hải với mùa đông ẩm và mùa hè khô, là nơi có Quần xã sinh vật Fynbos nổi tiếng. Khu vực này cũng là nơi sản xuất ra đa số các loại rượu Nam Phi. Vùng này cũng vì loại gió tại đó, thổi không liên tục suốt năm. Sự dữ dội của loại gió này khiến việc đi ngang qua Mũi Hảo Vọng trở nên đặc biệt khó khăn cho các thủy thủ, gây ra nhiều vụ đắm tàu. Xa hơn về phía đông của bờ biển phía nam đất nước, lượng mưa được phân bố đồng đều suốt năm khiến phong cảnh xanh tươi. Vùng này thường được gọi là Garden Route.
Bang Free đặc biệt phẳng nhờ nó nằm trên cao nguyên. phía bắc Sông Vaal, Thảo nguyên cao được cung cấp nhiều nước hơn và không có kiểu thời tiết đặc biệt nóng cận nhiệt đới. Johannesburg, tại trung tâm Thảo nguyên cao, ở độ cao 1740 mét (5.709 ft) và có lượng mưa trung bình hàng năm 760 milimét (30 in). Mùa đông tại vùng này lạnh, dù tuyết khá hiếm.
Tới phía bắc Johannesburg, độ cao giảm về hướng vách đứng Thảo nguyên cao, và chuyển về hướng Thảo nguyên cây bụi thấp hơn, một vùng pha trộn giữa những khu rừng khô và phong phú về động thực vật hoang dã. phía đông Thảo nguyên cao, về hướng vách đứng phía đông, Thảo nguyên thấp trải dài về phía Ấn Độ Dương. Vùng này có nhiệt độ đặc biệt cao, và cũng là nơi thuận lợi cho canh tác nông nghiệp cận nhiệt đới. Các dãy núi Barberton dải Greenstone tại thảo nguyên thấp là những dãy núi già nhất trên Trái Đất, có niên đại từ 3.5 tỷ năm trước. Bằng chứng sớm nhất về cuộc sống (có niên đại 3.2 - 3.5 triệu năm) đã được tìm thấy tại những dãy núi này.
Dãy núi cao Drakensberg, hình thành nên dốc đứng đông nam Thảo nguyên cao, là nơi có thể tổ chức môn trượt tuyết vào mùa đông. Nhiều người cho rằng địa điểm lạnh nhất Nam Phi là Sutherland ở phía tây Núi Roggeveld, nơi nhiệt độ vào giữa mùa đông có thể xuống tới −15 độ C (5 °F). Trên thực tế, nơi lạnh nhất là Buffelsfontein, tại quận Molteno thuộc Đông Cape. Buffelsfontein đã ghi nhận nhiệt độ −18.6 độ C (-1.5 °F). Vùng sâu trong nội địa có thời tiết nóng nhất: nhiệt độ 51.7 °C (125 °F) đã được ghi lại năm 1948 tại Bắc Cape Kalahari gần Upington.
Nam Phi cũng có một quần đảo cận Nam Cực nhỏ là Quần đảo Hoàng tử Edward, gồm Đảo Marion (290 km²/112 mi²) và Đảo Hoàng tử Edward (45 km²/17.3 mi²) (không nên nhầm với một tỉnh trùng tên của Canada).
== Hệ động thực vật ==
Nam Phi là một trong 17 quốc gia trên thế giới được coi là rất đa dạng sinh thái. Nước này có hơn 20.000 loài cây cỏ khác nhau, hay khoảng 10% tất cả các giống loài thực vật được biết trên Thế giới. Nam Phi là nước đa dạng sinh thái thứ ba trên thế giới, sau Brasil và Indonesia và có mức đa dạng sinh thái cao hơn bất kỳ một quốc gia nào có diện tích tương đương hoặc nhỏ hơn (Brazil lớn gần gấp bảy lần Nam Phi, và Indonesia lớn hơn 50%).
Quần xã sinh vật ưu thế tại Nam Phi là đồng cỏ, đặc biệt trên Thảo nguyên cao, nơi mặt đất được bao phủ chủ yếu bởi nhiều loài cỏ, cây bụi thấp, và cây keo, chủ yếu là camel-thorn và táo gai. Cây cỏ trở nên thưa thớt hơn ở phía tây bắc vì lượng mưa thấp. Có nhiều loài cây mọng nước như lô hội và đại kích ở vùng Namaqualand rất nóng và khô. Các thảo nguyên cỏ và táo gai dần chuyển thành thảo nguyên cây bụi về phía đông bắc đất nước, với mật độ cây dày hơn. Có một số lượng khá lớn cây bao báp trong vùng này, gần điểm cuối phía bắc Công viên Quốc gia Kruger.
Quần xã fynbos, chiếm ưu thế tại vùng thực vật Cape, một trong sáu vương quốc thực vật, nằm trong một vùng nhỏ tại Tây Cape và sở hữu trên 9.000 loài, khiến nó trở thành một trong những vùng thực vật phong phú nhất trên thế giới. Đa số các loài cây là cây lá cứng xanh tốt với lá dạng kim nhỏ, như những cây sclerophyllous. Một loại cây độc hữu của Nam Phi là giống hoa protea. Có khoảng 130 loài protea tại Nam Phi.
Tuy Nam Phi có rất nhiều loài hoa, nhưng nước này lại sở hữu ít rừng. Chỉ 1% diện tích Nam Phi được dừng bao phủ, hầu như chỉ tập trung tại vùng đồng bằng ven biển ẩm dọc Ấn Độ Dương tại KwaZulu-Natal (xem Rừng ven biển KwaZulu-Cape). Thậm chí còn có những khu bảo tồn rừng rất nhỏ không bao giờ gặp nguy cơ hỏa hoạn, được gọi là rừng trên núi (xem Rừng trên núi Knysna-Amatole). Canh tác các loài cây nhập khẩu là hoạt động chủ yếu, đặc biệt là bạch đàn và thông. Nam Phi đã mất nhiều khu môi trường sống tự nhiên rộng lớn trong bốn thập kỷ gần đây, chủ yếu vì nạn nhân mãn, tình trạng phát triển và sự phá rừng trong thế kỷ mười chín. Nam Phi là một trong những nước bị ảnh hưởng nhiều nhất trên thế giới trước sự xuất hiện của các giống loài ngoại lai (ví dụ Keo đen, Port Jackson, Hakea, Cây cứt lợn và Lan dạ hương) đặt ra một mối đe dọa lớn với đa dạng sinh thái bản địa và đã gây ra tình trạng khan hiếm nguồn tài nguyên nước. Rừng ôn đới trước kia đã bị những người định cư châu Âu tới Nam Phi khai thác cạn kiệt và hiện chỉ còn sót lại vài khu nhỏ. Hiện tại, các loài cây gỗ cứng tại Nam Phi như Hoàng đàn (Podocarpus latifolius), stinkwood (Ocotea bullata), và Lim đen (Olea laurifolia) Nam Phi đang được chính phủ bảo vệ.
Nhiều loài động vật có vú sinh sống tại các thảo nguyên cây bụi gồm sư tử, báo, tê giác trắng, Blue Wildebeest, linh dương kudu, linh dương châu Phi, linh cẩu, hà mã, và hươu cao cổ. Có một quần thể sinh vật thảo nguyên cây bụi rất đáng chú ý ở phía đông bắc như Vườn quốc gia Kruger và Khu dự trữ Mala Mala, cũng như ở vùng cực bắc tại Sinh quyển Waterberg.
Sự thay đổi khí hậu được cho là sẽ mang lại tình trạng nhiệt độ cao và khô cho vùng đất vốn đã bán khô cằn này, với tần số và cường độ hoạt động khí hậu cực độ như sóng nhiệt, lụt và hạn. Theo dự đoán biến đổi khí hậu trên máy tính của Viện Đa dạng Sinh thái Quốc gia Nam Phi (SANBI) (cùng với nhiều viện đối tác khác), nhiều vùng phía nam châu Phi sẽ đối mặt với hiện tượng tăng nhiệt độ khoảng 1 độ C dọc theo bờ biển cho tới 4 độ C tại hầu hết những vùng nội địa đã có khí hậu rất nóng như Bắc Cape vào thời điểm cuối thu và hè từ năm 2050.
Vương quốc thực vật Cape đã được xác định là một trong điểm đa dạng sinh thái gặp nguy hiểm của thế giới bởi nó sẽ phải đối mặt với tình trạng thời tiết rất nóng do sự thay đổi khí hậu. Hạn hán, ngày càng diễn ra thường xuyên và khốc liệt hơn cùng với sự tăng nhiệt độ được cho là sẽ khiến nhiều loài quý hiếm đi tới tuyệt chủng. Cuốn sách Scorched: South Africa's changing climate dựa trên mô hình thay đổi thời tiết do SANBI đưa ra.
Nam Phi sở hữu nhiều giống loài đặc hữu, trong số đó có loài Thỏ ven sông (Bunolagus monticullaris) đang ở tình trạng nguy cơ tuyệt chủng cao tại Karoo.
== Kinh tế ==
Theo xếp hạng của Liên hiệp quốc, Nam Phi là quốc gia có mức thu nhập loại trung bình và sở hữu nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên; tài chính, truyền thông và năng lượng rất phát triển, thị trường chứng khoán xếp hạng nằm trong tốp 20 của thế giới. Nam Phi có một cơ sở hạ tầng hiện đại hỗ trợ phân phối hàng hóa hiệu quả, tăng trưởng kinh tế thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao, phân cách giàu nghèo đang gia tăng. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người của Nam Phi, tính theo sức mua tương đương, đặt nước này vào vị trí một trong năm mươi nước giàu nhất thế giới
Theo nhiều phương diện, Nam Phi là một nước phát triển; tuy nhiên, sự phát triển này chủ yếu tập trung quanh bốn vùng là Cape Town, Port Elizabeth, Durban, và Pretoria/Johannesburg. Ngoài bốn trung tâm kinh tế đó, sự phát triển rất ít thấy và tình trạng nghèo khổ vẫn hiện diện dù đã có những nỗ lực của chính phủ. Tuy nhiên, các vùng đệm quan trọng gần đây đã có những bước phát triển nhanh chóng. Như các vùng: Vịnh Mossel tới Vịnh Plettenberg; vùng Rustenburg; vùng Nelspruit; Bloemfontein; Bờ biển Cape West; KZN North Coast.
Hố sâu thu nhập và một nền kinh tế đối ngẫu cho thấy Nam Phi là một nước phát triển. Nam Phi có một trong những tỷ lệ bất bình đẳng thu nhập cao nhất thế giới. Một thập kỷ tăng trưởng kinh tế liên tục đã giúp giảm tình trạng thất nghiệp, nhưng các vấn đề kinh tế vẫn còn đó. Các vấn đề khác gồm tội phạm, tham nhũng và HIV/AIDS.
Bắt đầu từ năm 2000, Tổng thống Thabo Mbeki đã tập trung cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài bằng cách giảm bớt các hạn chế của luật lao động, đẩy nhanh quá trình tư nhân hoá, và cắt giảm những khoản chi tiêu không cần thiết của chính phủ. Các chính sách của ông gặp phải sự phản đối mạnh mẽ từ phía các công đoàn. Nam Phi cũng là nước sản xuất và tiêu thụ năng lượng lớn nhất châu lục châu Phi.
Đồng rand Nam Phi, đồng tiền tệ thị trường hoạt động nhất thế giới, đã gia nhập câu lạc bộ mười lăm đồng tiền tệ được ưa thích, hệ thống Thanh toán kết nối liên tục (CLS), nơi các giao dịch được giải quyết lập tức, làm giảm nguy cơ giao dịch xuyên múi giờ. Theo Bloomberg Currency Scorecard, đồng rand Nam Phi (ZAR) là đồng tiền tệ hoạt động tốt nhất trước đồng dollar Mỹ trong giai đoạn 2002 - 2005.
Sự biến đổi nhanh của đồng rand đã ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế, với sự sụt giá mạnh của nó trong năm 2001, rơi xuống mức thấp kỷ lục R13.85 trên dollar Mỹ, làm dấy lên những lo ngại lạm phát, và buộc Ngân hàng Dự trữ Quốc gia phải tăng tỷ lệ lãi suất. Từ thời điểm đó đồng rand đã phục hồi, đạt mức R6.99 trên dollar Mỹ ở thời điểm tháng 1 năm 2007 trong khi chính sách của Ngân hàng Dự trữ Quốc gia Nam Phi về lạm phát với đã hoàn thành mục tiêu đưa lạm phát về mức kiểm soát được. Tuy nhiên, đồng rand càng mạnh càng gây nhiều sức ép lên những nhà xuất khẩu, và nhiều người hiện kêu gọi chính phủ can thiệp vào tỷ lệ trao đổi giúp giảm giá đồng rand.
Người tị nạn từ các quốc gia nghèo láng giềng cộng với dòng người nhập cư từ Cộng hòa Dân chủ Congo, Mozambique, Zimbabwe, Malawi và nhiều nước khác đang là một vấn đề với Nam Phi. Với tỷ lệ thất nghiệp cao trong cộng đồng người nghèo Nam Phi, tình trạng bài ngoại là một mối lo ngại rất hiện thực và nhiều người sinh tại Nam Phi cảm thấy bực bội với những người nhập cư được coi là nguyên nhân khiến nhiều người Nam Phi bị mất việc vì người nhập cư nhận đồng lương thấp hơn công dân Nam Phi, đặc biệt trong ngành công nghiệp xây dựng, du lịch, nông nghiệp và dịch vụ trong nước. Những người nhập cư bất hợp pháp cũng tham gia tích cực vào thị trường chợ đen. Tuy nhiên, nhiều người nhập cư tới Nam Phi vẫn tiếp tục sống trong tình trạng nghèo khổ, và chính sách nhập cư của Nam Phi dần trở lên chặt chẽ từ năm 1994.
== Nông nghiệp ==
Nam Phi có lĩnh vực nông nghiệp rỗng lớn và là nhà xuất khẩu các sản phẩm trang trại lớn. Có tới hàng ngàn hợp tác xã nông nghiệp và doanh nghiệp nông nghiệp trên khắp đất nước, và những mặt hàng xuất khẩu nông nghiệp chiếm 8% tổng xuất khẩu Nam Phi trong năm năm qua. Công nghiệp nông nghiệp chiếm khoảng 10% nhân công chính thức, khá thấp so với những khu vực khác tại châu Phi, cũng như cung cấp việc làm cho những lao động bán thời gian và đóng góp khoảng 2.6% Tổng sản phẩm quốc nội cho quốc gia. Tuy nhiên, vì đất đai khô cằn, chỉ 13.5% diện tích có thể sử dụng cho trồng cấy, và chỉ 3% được coi là đất có nhiều tiềm năng.
Dù lĩnh vực trang trại thương mại khá phát triển, người dân tại một số vùng nông thôn vẫn sống nhờ nông nghiệp. Đây là nước sản xuất rượu lớn thứ tám thế giới, và thứ mười một về hạt hướng dương. Nam Phi là nhà xuất khẩu lớn các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm, các mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất gồm đường, nho, chanh, xuân đào, rượu và các loại hoa quả. Loại ngũ cốc được sản xuất nhiều nhất tại Nam Phi là ngô, và ước tính hàng năm 9 triệu tấn được chế tạo, và 7.4 tấn được tiêu thụ. Thú nuôi cũng phổ biến tại các trang trại Nam Phi, nước này sản xuất ra 85% tất cả các loại thịt được tiêu thụ. Ngành công nghiệp chế biến sữa gồm khoảng 4.300 nhà sản xuất sữa cung cấp việc làm cho 60.000 công nhân trang trại và mang lại sinh kế cho khoảng 40.000 người khác.
Trong những năm gần đây, lĩnh vực nông nghiệp đã trải qua nhiều cải cách, một số chúng gây nhiều tranh cãi, như cải cách ruộng đất và bãi bỏ quy định thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp. Cải cách ruộng đất bị cả các nhóm nông dân và những người công nhân làm thuê không ruộng đất chỉ trích, những người không ruộng đất cho rằng sự thay đổi chưa đủ mạnh, những người sở hữu ruộng đất cho rằng đó là cách đối xử phân biệt chủng tộc và thể hiện lo ngại tình trạng tương tự như chính sách cải cách ruộng đất Zimbabwe có thể sẽ diễn ra, một mối lo ngại càng gia tăng sau những lời bình luận của phó tổng thống nước này. Lĩnh vực này vẫn phải tiếp tục đương đầu với nhiều vấn đề, sự cạnh tranh ngày càng tăng từ nước ngoài và tình trạng tội phạm là hai thách thức nghiêm trọng nhất. Chính phủ đã bị cáo buộc không cung cấp đầy đủ thời gian và tiền bạc để giải quyết vấn đề những cuộc tấn công trang trại như với những dạng thức tội phạm khác.
Một vấn đề khác ảnh hưởng tới nông nghiệp Nam Phi là những thiệt hại về môi trường do sự sử dụng không đúng đắn đất đai và sự thay đổi khí hậu toàn cầu. Nam Phi dễ bị tổn thương vì sự thay đổi khí hậu và kết quả chính là tình trạng giảm sút nguồn nước bề mặt. Một số dự đoán cho thấy nguồn cấp nước bề mặt sẽ giảm 60% năm 2070 ở nhiều vùng thuộc Tây Cape. Để đảo ngược những thiệt hại do sự quản lý đất đai sai lầm, chính phủ đã ủng hộ một kế hoạch khuyến khích phát triển bền vững và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lý.
== Nhân khẩu ==
Nam Phi là quốc gia có hơn 47 triệu dân với nhiều nguồn gốc, văn hoá, ngôn ngữ, và tôn giáo khác nhau. Cuộc điều tra dân số gần đây nhất được tổ chức năm 2001 và cuộc điều tra tiếp theo sẽ vào năm 2011. Thống kê tại Nam Phi đưa ra năm đặc điểm chủng tộc để người dân tự xếp loại mình, đặc điểm cuối cùng trong số đó, "không xác định/khác" chiếm số lượng không đáng kể và những kết quả đó không được tính. Những con số ước tính năm 2006 về những đặc điểm kia gồm Người da đen châu Phi 79.5%, Da trắng 9.2%, Da màu 8.9%, và Người Ấn Độ hay châu Á 2.5%. Nam Phi có tỉ lệ gia tăng dân số hàng năm là −0.4%.
Đa số dân cư tự xếp loại mình là người châu Phi hay người da đen, nhưng về văn hóa hay ngôn ngữ không có sự đồng nhất. Các nhóm sắc tộc chính gồm Zulu, Xhosa, Basotho (Nam Sotho), Bapedi (Bắc Sotho), Venda, Tswana, Tsonga, Swazi và Ndebele, tất cả các nhóm đó đều sử dụng các ngôn ngữ Bantu (xem Các sắc tộc Bantu tại Nam Phi).
Một số sắc tộc, như Zulu, Xhosa, Bapedi và các nhóm Venda, là duy nhất chỉ hiện diện tại Nam Phi. Các nhóm khác sinh sống tại cả các quốc gia láng giềng khác: nhóm Basotho cũng là một nhóm sắc tộc lớn tại Lesotho. Nhóm thiểu số Tswana chiếm đa số dân cư của Botswana. Nhóm sắc tộc Swazi là nhóm chính tại Swaziland. Nhóm Ndebele cũng hiện diện tại Matabeleland ở Zimbabwe, nơi họ được gọi là người Matabele. Tuy nhiên, những nhóm sắc tộc Ndebele đó trên thực tế là người Zulu bởi họ nói tiếng Zulu và là con cháu của một nhóm chiến binh Mzilikazi đã bỏ trốn khỏi sự ngược đãi của Shaka khi di cư tới vùng đất hiện tại của họ. Nhóm sắc tộc Tsonga cũng có mặt ở miền nam Mozambique, nơi họ được gọi là Shangaan.
Dân cư da trắng chủ yếu là con cháu của những người di cư thời thuộc địa: Hà Lan, Đức, Pháp Huguenot, và Anh. Về mặt văn hóa và ngôn ngữ, họ được chia thành nhóm người Hà Lan Nam Phi, nói tiếng Hà Lan Nam Phi, và các nhóm nói tiếng Anh, nhiều người trong số họ là con cháu của những người Anh di cư (xem Người Anh châu Phi). Nhiều cộng đồng nhỏ đã di cư tới đây trong thế kỷ qua vẫn giữ ngôn ngữ của họ. Người da trắng đang giảm sút bởi tỷ lệ sinh thấp và tình trạng di cư; một nguyên nhân dẫn tới quyết định ra đi của họ có thể là tỷ lệ tội phạm cao và các chính sách hành động khẳng định (affirmative action) của chính phủ. Trong thập kỷ đầu tiên sau khi đảng Đại hội Dân tộc Phi (ANC) lên nắm quyền, một triệu người da trắng đã bỏ nước ra đi
Thuật ngữ "Người da màu" vẫn được sử dụng nhiều để chỉ những người lai con cháu của những nô lệ được mua về từ Đông và Trung Phi, người bản xứ Khoisan những người đã sống tại Cape ở thời điểm đó, những người da đen châu Phi bản xứ, người da trắng (chủ yếu là người Hà Lan/người Hà Lan Nam Phi và những người định cư Anh) cũng như sự lai tạp giữa người Nhật, Malay, Ấn Độ, Malagasy và những nhóm người Âu khác (như người Bồ Đào Nha) và người có dòng máu châu Á (như Miến Điện). Đa số họ nói tiếng Hà Lan Nam Phi. Khoisan là thuật ngữ dùng để miêu tả hai nhóm riêng biệt, về hình thể giống nhau ở chỗ họ cùng có nước da sáng và nhỏ người. Người Khoikhoi, những người từng được người Châu âu gọi là Hottentots, là những chủ trại chăn nuôi và đã bị tiêu diệt gần như hoàn toàn; người San, được người châu Âu gọi là thổ dân, là những người săn bắn hái lượm. Bên trong cái hiện được gọi là cộng đồng da màu, những người nhập cư gần đây hơn cũng có mặt: người da màu từ Rhodesia cũ (hiện là Zimbabwe) và Namibia và những người nhập cư có dòng máu lai từ Ấn Độ và Myanma (Anh-Ấn/Anh-Miến) những người đã được chào đón tới Cape khi Ấn Độ và Miến Điện giành lại độc lập.
Đa phần dân cư người Châu Á tại nước này có nguồn gốc Ấn Độ (xem người Ấn Độ Nam Phi), nhiều người trong số họ là con cháu của những lao động giao kèo được đưa tới đây từ thế kỷ mười chín để làm việc trên những cánh đồng mía vùng bờ biển phía đông khi ấy còn được gọi là Natal. Cũng có một nhóm khá đông người Trung Quốc Nam Phi (xấp xỉ 100.000 người) và người Việt Nam Nam Phi (xấp xỉ 50.000 người).
== HIV/AIDS ==
Như nhiều quốc gia châu Phi khác, sự lan tràn của AIDS (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) là một vấn đề đáng báo động tại Nam Phi với 31% số phụ nữ có thai bị phát hiện nhiễm HIV năm 2005 và tỷ lệ nhiễm trong người trưởng thành ước tính 20%. Sự liên quan giữa HIV, một loại virus truyền chủ yếu qua con đường quan hệ tình dục, và AIDS từ lâu đã bị tổng thống và bộ trưởng y tế bác bỏ, họ nhấn mạnh rằng nhiều trường hợp tử vong trong nước do nguyên nhân thiếu dinh dưỡng, và vì thế do tình trạng nghèo khổ, chứ không phải do HIV. Gần đây, sau nhiều lần trì hoãn, chính phủ đã cung cấp những nguồn tài nguyên cần thiết để chiến đấu với dịch bệnh này.
AIDS ảnh hưởng chủ yếu tới những người thường xuyên có quan hệ tình dục, có nghĩa là nhân khẩu học quốc gia này đang thay đổi chậm. Đa số trường hợp tử vong là những người đang ở độ tuổi lao động, dẫn tới tình trạng nhiều gia đình mất đi nguồn thu nhập chính. Điều này đưa đến tình trạng các 'trẻ mồ côi AIDS' trong nhiều trường hợp phải sống dựa vào sự chăm sóc và tài chính từ chính phủ. Ước tính có 1.100.000 trẻ mồ côi tại Nam Phi. Nhiều người già cũng mất sự hỗ trợ từ các thành viên trẻ trong gia đình.
== Bệnh sốt rét ==
Sở Y tế tuyên bố ngày 25 tháng 4 năm 2007 rằng đã có sự sụt giảm đáng kể tới 65% số ca mắc bệnh sốt rét trong nước. Số lượng tử vong vì căn bệnh này giảm 73%.
== Tôn giáo ==
Theo cuộc điều tra dân số mới nhất năm 2001, tín đồ Thiên chúa giáo chiếm 79.7% dân số. Con số này gồm Thiên chúa giáo Zion 11.1%, Trào lưu chính thống (Charismatic) 8.2%, Cơ đốc giáo 7.1%, Hội giám lý 6.8%, Cải cách Hà Lan 6.7%, Giáo phái Anh 3.8%, và nhánh Thiên chúa giáo khác 36%. Đạo Hồi chiếm 1.5% dân số, 15.1% không theo tôn giáo nào, 2.3% khác và 1.4% không được xếp hạng.
Nhà thờ Bản xứ Nam Phi là những nhóm Thiên chúa giáo lớn nhất. Mọi người cho rằng nhiều người trong số những người tự cho là không theo tôn giáo nào có tham gia các tôn giáo bản xứ truyền thống. Nhiều người theo cả Thiên chúa giáo và các tôn giáo bản xứ truyền thống.
Hồi giáo tại nam Phi có thể xuất hiện từ trước thời thuộc địa, và không có liên quan với những thương nhân Ả Rập và Đông Phi. Nhiều người Hồi giáo Nam Phi được miêu tả là người da màu, chủ yếu tập trung tại Tây Cape, gồm cả những người có tổ tiên là những nô lệ tới từ quần đảo Indonesia (Cape Malays). Những người khác được cho là người Ấn Độ, chủ yếu tại Kwazulu-Natal, gồm cả những người có tổ tiên là những thương nhân tới từ Nam Á; nhóm này còn gồm những người khác từ khắp nơi trên lục địa Châu Phi cũng như những người da trắng, da đen cải đạo.
== Văn hoá ==
Có thể cho rằng không chỉ có "một" nền văn hóa tại Nam Phi vì sự đa dạng sắc tộc của nó. Ngày nay, sự đa dạng thực phẩm từ nhiều nền văn hóa được nhiều người thưởng thức, đặc biệt là những khách du lịch muốn khám phá sự phong phú trong ẩm thực Nam Phi. Ngoài thực phẩm, âm nhạc và nhảy múa cũng là đặc điểm nổi bật.
Ẩm thực Nam Phi sử dụng chủ yếu nguyên liệu thịt và sở hữu một món ăn đặc trưng riêng của xã hội Nam Phi trong những dịp lễ lạt được gọi là braai, hay thịt nước. Nam Phi cũng đã phát triển trở thành một quốc gia sản xuất rượu lớn, với một số vườn nho thuộc loại tốt tại các thung lũng quanh Stellenbosch, Franschoek, Paarl và Barrydale.
Nam Phi sở hữu nhiều phong cách âm nhạc. Nhiều nhạc công da đen biểu diễn bằng tiếng Hà Lan Nam Phi hay tiếng Anh trong thời kỳ apartheid đã chuyển sang sử dụng các ngôn ngữ châu Phi truyền thống, và phát triển một phong cách âm nhạc riêng biệt được gọi là Kwaito. Một người đáng chú ý là Brenda Fassie với bài hát "Weekend Special", biểu diễn bằng tiếng Anh. Nhiều nhạc công truyền thống gồm Ladysmith Black Mambazo, còn Soweto String Quartet trình diễn nhạc cổ điển với hương vị châu Phi. Các ca sĩ da trắng và da màu Nam Phi theo truyền thống thường có ảnh hưởng từ các phong cách âm nhạc châu Âu gồm cả ban nhạc metal phương Tây như Seether. Âm nhạc sử dụng tiếng Hà Lan Nam Phi có nhiều kiểu, như hiện đại với Steve Hofmeyr và punk rock với ban nhạc Fokofpolisiekar. Các nghệ sĩ đa phong cách như Johnny Clegg và các ban nhạc Juluka, Savuka đã đạt nhiều thành công trong nước và tại nước ngoài.
Cộng đồng đa số người da đen trong nước với số lượng đông đảo tại các vùng nông thôn chủ yếu vẫn sống trong cảnh nghèo khổ. Tuy nhiên, chính trong những cộng đồng này, các truyền thống văn hóa đang tồn tại mạnh mẽ nhất; bởi những người da đen cũng đang trải quá quá trình đô thị hoá và tây Phương hoá ngày càng nhanh, nhiều nét văn hóa truyền thống đang mai một. Những người da đen sống tại đô thị thường sử dung tiếng Anh hay tiếng Hà Lan Nam Phi ngoài tiếng mẹ đẻ của họ. Có những nhóm nhỏ hơn nhưng vẫn rất đáng chú ý những người sử dụng các ngôn ngữ Khoisan, tuy không phải là ngôn ngữ chính thức, nhưng cũng được xếp hạng là một trong tám ngôn ngữ không chính thức. Có các nhóm nhỏ khác sử dụng các ngôn ngữ đang gặp nguy hiểm, đa số chúng thuộc ngữ hệ Khoi-San, và không được chính thức ghi nhận; tuy nhiên, một số nhóm ngôn ngữ bên trong Nam Phi đang tìm cách phổ biến sự sử dụng ngôn ngữ đó giúp chúng tồn tại.
Phong cách sống của tầng lớp trung lưu, chủ yếu là thiểu số người da trắng nhưng số lượng người da đen, người da màu và người Ấn Độ thuộc tầng lớp này cũng đáng kể, tương tự nhau về nhiều phương diện với tầng lớp trung lưu tại Tây Âu, Bắc Mỹ và Australasia. Các thành viên tầng lớp trung lưu thường học tập và làm việc tại nước ngoài để có cơ hội tiếp cận sâu hơn với các thị trường thế giới.
Dù tình trạng phân biệt chủng tộc rất sâu sắc thời chế độ apartheid, người da màu thường có xu hướng tiếp cận văn hóa da trắng Nam Phi hơn là văn hóa da đen Nam Phi, đặc biệt là những người da màu nói tiếng Hà Lan Nam Phi, những người mà ngôn ngữ và đức tin tôn giáo của họ tương đồng hay đồng nhất với những người Nam Phi gốc Hà Lan. Những ngoại lệ là những người da màu và các dòng họ đã trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa apartheid và muốn được gọi là người da đen. Những trường hợp đó thường chỉ chiếm thiểu số.
người châu Á, chủ yếu có nguồn gốc Ấn Độ, gìn giữ di sản văn hoá, ngôn ngữ và tôn giáo của riêng họ, họ có thể là tín đồ Thiên chúa giáo, Hindu giáo hay Hồi giáo Sunni và nói tiếng Anh cùng các ngôn ngữ Ấn Độ như Hindi, Telugu, Tamil hay Gujarati. Đa số người Ấn Độ sống theo phong cách tương tự người da trắng. Những người Ấn Độ đầu tiên tới Nam Phi trên con tàu Truro với tư cách nhân công giao kèo tại Natal để làm việc trên những cánh đồng mía. Có một cộng đồng người Trung Quốc nhỏ tại Nam Phi, dù số lượng của họ đã tăng thêm với số người nhập cư từ Trung Hoa Dân Quốc.
Nam Phi cũng có ảnh hưởng khá lớn trên phong trào Hướng đạo sinh, nhiều truyền thống và lễ hội Hướng đạo sinh xuất phát từ những trải nghiệm của Robert Baden-Powell (người thành lập Hướng đạo sinh) trong thời gian ông sống tại Nam Phi với tư cách sĩ quan quân sự trong thập niên 1890. Hiệp hội Hướng đạo sinh nam Phi là một trong những tổ chức thanh niên đầu tiên mở cửa chấp nhận thành viên từ mọi sắc tộc tại Nam Phi. Sự việc này xảy ra ngày 2 tháng 7 năm 1977 tại một hội nghị được gọi là Quo Vadis.
=== Ngôn ngữ ===
Theo Hiến pháp, Nam Phi có mười một ngôn ngữ chính thức: Tiếng Afrikaans, tiếng Anh, Ndebele, Bắc Sotho, Nam Sotho, Swati, Tsonga, Tswana, Venda, Xhosa và Zulu. Về số lượng nước này chỉ đứng sau Ấn Độ. Tuy trên lý thuyết các ngôn ngữ đều tương đương nhau, một số ngôn ngữ có số người sử dụng đông hơn.
Theo cuộc điều tra dân số quốc gia năm 1996, ba ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất tại gia đình là Zulu (9.2 triệu), Xhosa (7.2 triệu) và Tiếng Afrikaans (5.8 triệu). Ba ngôn ngữ được dùng tại gia đình như ngôn ngữ thứ hai là tiếng Anh (2.2 triệu), tiếng Hà Lan Nam Phi (1.1 triệu) và Zulu (0.5 triệu). Bốn ngôn ngữ được dùng nhiều nhất tại gia đình là Zulu (9.8 triệu), Xhosa (7.5 triệu), tiếng Hà Lan Nam Phi (6.9 triệu) và tiếng Anh (5.7 triệu). Cuộc điều tra dân số năm 1996 không lấy thông tin về các ngôn ngữ được sử dụng bên ngoài gia đình.
Có mười một tên chính thức để gọi Nam Phi, mỗi tên theo một ngôn ngữ chính thức quốc gia.
Nước này cũng công nhận tám ngôn ngữ không chính thức: Fanagalo, Khoe, Lobedu, Nama, Miền Bắc Ndebele, Phuthi, San và Ngôn ngữ Ký hiệu Nam Phi. Những ngôn ngữ không chính thức này có thể được sử dụng chính thức trong một số thời điểm ở một số vùng hạn chế nơi đã được xác nhận rằng chúng chiếm ưu thế. Tuy thế, số dân sử dụng ngôn ngữ này chưa đủ lớn để được công nhận là ngôn ngữ chính thức quốc gia.
Nhiều trong số "ngôn ngữ không chính thức" của người San và Khoikhoi chứa những thổ ngữ vùng kéo dài tới tận Namibia và Botswana, và nước khác. Những sắc tộc đó, về mặt thể chất có khác biệt với người châu Phi, có nền văn hóa riêng dựa trên các cơ cấu xã hội săn bắn hái lượm. Họ sống khá cách biệt, và nhiều ngôn ngữ đang gặp nguy cơ tuyệt chủng.
Nhiều người da trắng Nam Phi cũng sử dụng các ngôn ngữ Châu Âu khác, như tiếng Bồ Đào Nha (cũng được người da đen Angola và Mozambique sử dụng), tiếng Đức, và tiếng Hy Lạp, tuy nhiều người châu Á và Ấn Độ tại Nam Phi sử dụng các ngôn ngữ Nam Á, như Telugu, Hindi, Gujarat và Tamil.
== Tội phạm ==
Tội phạm tiếp tục là một vấn đề lớn tại Nam Phi. Theo một cuộc điều tra cho giai đoạn 1998–2000 do Liên hiệp quốc tiến hành, Nam Phi được xếp hạng thứ hai về các vụ tấn công và giết người (bằng tất cả phương tiện) trên đầu người, ngoài ra nước này cũng bị xếp hạng thứ hai về các vụ hãm hiếp và số một về số vụ hãm hiếp trên đầu người. Tổng tội phạm trên đầu người đứng thứ mười trên tổng số sáu mươi quốc gia được nghiên cứu. Vì thế tình trạng tội phạm đã có ảnh hưởng trên xã hội: nhiều người giàu có tại Nam Phi đã chuyển vào sống tại các khu an ninh cao, rời những quận kinh doanh tại một số thành phố có tỷ lệ tội phạm cao. Hiệu ứng này thấy rõ nhất tại Johannesburg, dù khuynh hướng này cũng dễ dàng nhận thấy tại các thành phố khác. Nhiều người di cư khỏi Nam Phi cũng bình luận rằng tội ác là một lý do chính thúc đẩy họ ra đi. Tội ác chống lại cộng đồng nông dân tiếp tục là một vấn đề lớn.
== Quân đội ==
Các lực lượng vũ trang Nam Phi, được gọi là Lực lượng Phòng vệ Quốc gia Nam Phi (SANDF), được thành lập năm 1994. Trước kia chỉ được gọi đơn giản là Lực lượng Quốc phòng Nam Phi (SADF), lực lượng mới gồm Lực lượng Quốc phòng Nam Phi cũ, cũng như các lực lượng của các nhóm quốc gia châu Phi, là Umkhonto we Sizwe (MK), Quân đội Giải phóng Nhân dân Azanian (APLA), và các lực lượng phòng vệ tổ quốc cũ. SANDF được chia thành bốn nhánh, Quân đội Nam Phi, Không quân Nam Phi, Hải quân Nam Phi, và Quân y Nam Phi.
Những năm gần đây, SANDF đã trở thành lực lượng gìn giữ hòa bình chính tại châu Phi và đã tham gia vào các chiến dịch tại Lesotho, Cộng hòa Dân chủ Congo, và Burundi, cùng nhiều nơi khác. Lực lượng này cũng tham gia như một phần của các lực lượng gìn giữ hòa bình đa quốc gia Liên hiệp quốc.
Nam Phi đã tiến hành một chương trình vũ khí hạt nhân trong thập niên 1970 và có thể đã tiến hành một vụ thử hạt nhân trên Đại Tây Dương năm 1979. Từ đó nước này đã từ bỏ chương trình hạt nhân của mình và phá hủy kho vũ khí hạt nhân nhỏ sở hữu, ký kết Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân năm 1991. Đây là nước châu Phi duy nhất đã phát triển thành công vũ khí hạt nhân.
== Truyền thông ==
Nam Phi có một hệ thống truyền thông lớn, tự do và năng động thường xuyên lên tiếng chỉ trích chính phủ, một thói quen đã được hình thành từ thời kỳ apartheid khi báo chí và phương tiện truyền thông là khu vực ít bị chính phủ kiểm soát nhất. Đa số các vụ scandal lớn nổ ra khi báo chí thông báo trách nhiệm tham nhũng đã được chứng minh là đúng trong những trường hợp như của Schabir Shaik, theo đó vị phó tổng thống (khi ấy) là Jacob Zuma đã có dính líu, và những cáo buộc tham nhũng dẫn tới sự sa thải Winnie Mandela khỏi nghị viện. Lập trưởng của chính phủ về cuộc bầu cử nghị viện Zimbabwe năm 2005 và đại dịch AIDS cũng thường được báo chí đề cập.
Thậm chí khi hiện tại Nam Phi đang sở hựu mạng lưới truyền thông lớn nhất châu Phi, đây là một trong những nước cuối cùng trên thế giới cho phép truyền hình, sử dụng hình ảnh màu bắt đầu từ năm 1975. Tới cuối thời kỳ apartheid năm 1994, các mạng lưới truyền hình đã phủ sóng toàn bộ các khu vực đô thị và một số vùng ít dân cư hơn, trong khi các mạng lưới đài phát thanh hầu như đã phủ sóng khắp nước.
Trong thời kỳ Apartheid đa số các đài truyền hình thương mại và tất cả đài phát thanh công cộng đều thuộc sự điều khiển của Liên đoàn Truyền hình Nam Phi (SABC), và là đối tượng kiểm soát và kiểm duyệt gắt gao của chính phủ, với chỉ một số nhỏ đài truyền hình địa phương độc lập được cho phép hoạt động. Việc thành lập khu quê hương độc lập của người da đen (hay Bantustan) trong thập niên 1970 đã cho phép các đài phát thanh và truyền hình được thành lập bên ngoài sự kiểm soát của Chính phủ apartheid. Sau khi chế độ này bị bãi bỏ, ngành công nghiệp truyền hình được điều chỉnh lại với việc thương mại hóa nhiều đài phát thuộc Liên đoàn truyền hình Nam Phi và việc tư nhân hóa các đài phát thuộc Bantustan trước đây và bán cho các công ty và các consortiums với sở hữu đa số của người da đen. Các kênh truyền hình của SABC hiện đang hoạt động.
Một kênh truyền hình bằng ngôn ngữ châu Phi đã được SABC thành lập năm 1981 (trong thời kỳ apartheid) với một kênh tiếng châu Phi nữa sau một thập kỷ. Sự độc quyền truyền hình của SABC cuối cùng đã bị đe dọa năm 1986 khi một mạng lưới truyền hình tư nhân M-Net được triển khai. M-Net đã bị cấm điều hành hoạt động thông tin.
Nam Phi hiện có hai mạng lưới truyền hình mặt đất tự do phát sóng (SABC và e.tv), một mạng lưới truyền hình mặt đất theo thuê bao (M-Net), cũng như có khả năng thu truyền hình vệ tinh (DStv) do bên sở hữu M-Net là Multichoice điều hành. e.tv được cho phép hoạt động như một kênh cung cấp thông tin độc lập. SABC phát sóng các kênh tin tức và giải trí trên khắp châu Phi qua vệ tinh.
== Xem thêm ==
Các phái bộ ngoại giao Nam Phi
Quan hệ nước ngoài Nam Phi
Bản mẫu:Các chủ đề Nam Phi
== Xếp hạng quốc tế ==
Bản mẫu:Xếp hạng Nam Phi
== Thư mục tham khảo ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Chính phủ
Chính phủ Nam Phi Trực tuyến
Department of Foreign Affairs official site
Nghị viện Nam Phi
StatsOnline – Bộ Thống kê Nam Phi
South Africa Department of Trade and Industry
South Africa's Official Gateway
South African Police Services
Tin tức
Business Day financial daily
Independent Online
Mail & Guardian daily newspaper
News 24
South African Weather Service
Township Vibes Taking The Townships To Another Level
Tổng quan
The Economist/Country Briefings - South Africa
South Africa's location on a 3D globe (Java)
BBC News Country Profile - South Africa
Encyclopaedia Britannica, South Africa - Country Page
CIA World Factbook - South Africa
Business Anti-Corruption Portal South Africa Country Profile
Library of Congress Country Study - South Africa data vào tháng 11 năm 1994
Open Directory Project - South Africa directory category
Diamond Mines of South Africa, includes anthropological, ethnographic and historic description of South Africa and Diamond Mines Vol. II Former De Beers general Manager's 800-page overview of the history of South Africa and its diamond mines.
Wikimedia Atlas của South Africa, có một số bản đồ liên quan đến South Africa.
Du lịch
Website chính thức về du lịch đến Nam Phi
Ngôn ngữ
Introduction to the languages of South Africa
Pan South African Language Board
Batho Portal information on South African languages
PanAfrican L10n page on South Africa language & localisation info, links
ICT and business
ICT and Media Tshwanelive Project From Ga-Rankuwa
Các phong trào xã hội chính
Abahlali baseMjondolo Shack dwellers' movement
Treatment Action Campaign Campaign for access to treatment for HIV/AIDS |
hàng mắm.txt | Hàng Mắm là con phố nhỏ, chạy trong địa phận phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Phố gọi là Hàng Mắm vì xưa có nhiều các loại mắm cá, thủy sản được bày bán ở đây.
== Lịch sử ==
Trước đây, phố gồm hai đoạn, nằm ở bên ngoài và bên trong cửa ô Ưu Nghĩa, có cổng xây canh gác ban đêm.
Phố Hàng Trứng: đoạn nối từ phố Trần Quang Khải đến ngã tư phố Nguyễn Hữu Huân hiện nay, nằm bên ngoài cửa ô Ưu Nghĩa, được xây dựng trên nền đất xưa thuộc thôn Thanh Yên, tổng Tả Túc (sau đổi thành tổng Phúc Lâm), huyện Thọ Xương cũ. Đình Thanh Yên hiện còn ở số nhà 14A, ngõ Nguyễn Hữu Huân, thờ hai Tiến sĩ họ Vũ và họ Nguyễn. Phố được gọi tên là Hàng Trứng vì nơi đây xưa kia có nhiều nhà buôn bán trứng. Trứng ở đây được đóng trong các sọt lớn, lót rơm và chở bằng thuyền từ Phát Diệm, tỉnh Ninh Bình lên.
Phố Hàng Mắm: đoạn nối từ ngã tư phố Nguyễn Hữu Huân đến phố Hàng Bạc hiện nay, nằm bên trong cửa ô Ưu Nghĩa, được xây dựng trên nền đất xưa thuộc thôn Mỹ Lộc, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ. Đình Mỹ Lộc hiện còn ở số nhà 45, phố Nguyễn Hữu Huân, thờ Nguyễn Trung Ngạn. Phố được gọi tên là Hàng Mắm vì nơi đây xưa kia chuyên bán các loại mắm cá và thủy sản khác. Nhiều cửa hàng trên phố bày bán mắm tôm đặc để trong chậu sành; mắm tôm loãng đựng trong vại; nước mắm đựng trong những kiệu lớn cao bằng đầu người, chôn xuống đất, đậy nắp, đong bằng thùng gỗ bán dần và cả cua rang muối... Hàng ở đây chủ yếu là bán buôn đi các tỉnh.
Thời Pháp thuộc, phố được gọi là Hàng Mắm (Rue de la Saumure).
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, phố được đặt chính thức là phố Hàng Mắm.
== Đặc điểm ==
Phố dài khoảng 190m, chạy chủ yếu theo hướng Đông-Tây, nối từ đường Trần Quang Khải đến phố Hàng Bạc; cắt ngang qua ngã tư phố Hàng Tre, ngã tư phố Nguyễn Hữu Huân và ngã ba phố Hàng Bè. Phố này chạy hai chiều.
Nhà trong phố Hàng Mắm đa số là kiểu cổ, hẹp và ngắn. Vào năm 1891, một vụ cháy lớn xảy ra đã khiến nhiều nhà cổ trên phố bị đốt cháy.
Sau này, một số nhà đã làm mới lại hoặc cải tạo, sửa chữa lại mặt tiền thành cửa hàng để buôn bán.
Phố Hàng Mắm hiện không còn bán các loại mắm nữa mà chuyển sang kinh doanh các mặt hàng khác như bia mộ, đồ sành, đồ đất, tạp phẩm và ăn uống...
== Công trình ==
== Các tuyến xe buýt chạy qua ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Các đường phố Hà Nội theo vần H |
hà nội.txt | Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và cũng là kinh đô của hầu hết các vương triều Việt trước đây. Do đó, lịch sử Hà Nội gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ. Hà Nội là thành phố lớn nhất Việt Nam về diện tích với 3328,9 km2 sau đợt mở rộng hành chính năm 2008, đồng thời cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân số với 7.500.000 người (năm 2015). Hiện nay, thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là đô thị loại đặc biệt của Việt Nam.
Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây đã sớm trở thành 1 trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên Thăng Long. Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là trung tâm văn hóa, giáo dục và buôn bán của cả nước. Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới thời vua Minh Mạng.
Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại, được mệnh danh là "Tiểu Paris của Phương Đông" thời bấy giờ. Trải qua hai cuộc chiến tranh, Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thống nhất và giữ vai trò này cho tới ngày nay.
Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện nay gồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành. Hiện nay, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm kinh tế - xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam.
== Tên gọi ==
Hà Nội (chữ Hán: 河內, "Nằm trong sông") đã được nhắc đến bằng nhiều tên gọi khác nhau cả chính thức lẫn không chính thức xuyên suốt chiều dài lịch sử.
Thời nước ta bị Trung Quốc đô hộ, Hà Nội lần đầu tiên có một cái tên đó là Long Biên (龍編, "Biên giới của Rồng"), rồi Tống Bình (宋平, "Tống bình yên") và Long Đỗ (龍肚, "Bụng Rồng").
Năm 866, Hà Nội được xây dựng thành một thành trì và được đổi tên thành Đại La (大羅, "Tấm lưới lớn"). Cái tên La Thành (羅城, "Thành Đại La") cũng từ đó mà có.
Khi Lý Thái Tổ rời đô về đây vào năm 1010, nó được đặt tên là Thăng Long (昇龍, "Rồng thăng").
Trong suốt triều đại nhà Hồ, nó được gọi là Đông Đô (東都, "Thủ phủ ở phía đông").
Trong thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư, Hà Nội được gọi là Đông Quan (東關, "Cửa Đông").
Thời nhà Lê, Hà nội được biết tới như là Đông Kinh (東京, "Kinh đô ở phía đông"). Danh xưng Tonkin và Gulf of Tonkin trong tiếng Anh cũng là từ đây mà có.
Minh Mạng đổi tên thành phố thành Hà Nội (河內, "Nằm trong sông") vào năm 1831. Đây là tên chính thức của thành phố cho đến thời điểm hiện tại.
Một vài tên không chính quy của Hà Nội bao gồm: Kẻ Chợ (vùng đất buôn bán), Tràng An (yên bình lâu dài), Hà Thành (nói tắt của Thành phố Hà Nội), Thủ Đô.
Trong du lịch hiện đại, Hà Nội đôi khi được nhắc tới bằng tên Paris Phương Đông.
== Địa lý ==
=== Vị trí, địa hình ===
Nằm chếch về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hà Nội có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' độ kinh Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hà Nam, Hòa Bình phía Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên phía Đông, Hòa Bình cùng Phú Thọ phía Tây. Hà Nội cách thành phố cảng Hải Phòng 120 km, cách thành phố Nam Định 87 km tạo thành 3 cực chính của Đồng bằng sông Hồng. Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, thành phố có diện tích 3.324,92 km2, nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn.
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển. Nhờ phù sa bồi đắp, ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác. Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh núi cao như Ba Vì (1.281 m), Gia Dê (707 m), Chân Chim (462 m), Thanh Lanh (427 m), Thiên Trù (378 m)... Khu vực nội thành có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng.
Thủ đô Hà Nội có bốn điểm cực là:
Cực Bắc là xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn.
Cực Tây là xã Thuần Mỹ, huyện Ba Vì.
Cực Nam là xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức.
Cực Đông là xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm.
=== Thủy văn ===
Sông Hồng là con sông chính của thành phố, bắt đầu chảy vào Hà Nội ở huyện Ba Vì và ra khỏi thành phố ở khu vực huyện Phú Xuyên tiếp giáp Hưng Yênrồi xuôi về Nam Định, thành phố có nhiều gắn kết với Thăng Long từ thời nhà Trần. Sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163 km, chiếm khoảng một phần ba chiều dài của con sông này trên đất Việt Nam. Hà Nội còn có sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội với Phú Thọ, hợp lưu với dòng sông Hồng ở phía Bắc thành phố tại huyện Ba Vì. Ngoài ra, trên địa phận Hà Nội còn nhiều sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ,... Các sông nhỏ chảy trong khu vực nội thành như sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu,... là những đường tiêu thoát nước thải của Hà Nội.
Hà Nội cũng là một thành phố đặc biệt nhiều đầm hồ, dấu vết còn lại của các dòng sông cổ. Trong khu vực nội thành, hồ Tây có diện tích lớn nhất, khoảng 500 ha, đóng vai trò quan trọng trong khung cảnh đô thị, ngày nay được bao quanh bởi nhiều khách sạn, biệt thự (xem ảnh). Hồ Gươm nằm ở trung tâm lịch sử của thành phố, khu vực sầm uất nhất, luôn giữ một vị trí đặc biệt đối với Hà Nội. Trong khu vực nội ô có thể kể tới những hồ khác như Trúc Bạch, Thiền Quang, Thủ Lệ... Ngoài ra, còn nhiều đầm hồ lớn nằm trên địa phận Hà Nội như Kim Liên, Liên Đàm, Ngải Sơn - Đồng Mô, Suối Hai, Mèo Gù, Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn.
Do quá trình đô thị hóa mạnh mẽ từ năm 1990 đến nay, phần lớn các sông hồ Hà Nội đều rơi vào tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Theo PGS-TS Trần Đức Hạ - Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu cấp thoát nước và môi trường thuộc Hội Cấp thoát nước VN, lượng nước thải chưa qua xử lý xả thẳng ra môi trường quá lớn. Chỉ tính riêng trong khu vực nội đô, mỗi ngày lượng nước thải xả thẳng ra hệ thống sông hồ vào khoảng 650.000 m3/ngày (2015). Sông Tô Lịch, trục tiêu thoát nước thải chính của thành phố, hàng ngày phải tiếp nhận khoảng 250.000 m³ nước thải xả thẳng xuống dòng sông mà không hề qua xử lý. Nó bị ô nhiễm nặng nề: nước sông càng lúc càng cạn, màu nước càng ngày càng đen và bốc mùi hôi thối nặng. Với chiều dài gần 20 km chảy qua địa bàn thủ đô, nhiều khúc của sông Nhuệ nước đen kịt, đặc quánh, mùi hôi thối bốc lên nồng nặc và gần như không còn xuất hiện sự sống dưới lòng sông. Tương tự, sông Kim Ngưu nhận khoảng 125.000 m³ nước thải sinh hoạt mỗi ngày. Sông Lừ và sông Sét trung bình mỗi ngày cũng đổ vào sông Kim Ngưu khoảng 110.000 m³. Lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp này đều có hàm lượng hóa chất độc hại cao. Các sông mương nội và ngoại thành, ngoài vai trò tiêu thoát nước còn phải nhận thêm một phần rác thải của người dân và chất thải công nghiệp. Những làng nghề thủ công cũng góp phần vào gây nên tình trạng ô nhiễm này.
=== Khí hậu ===
Khí hậu Hà Nội mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, được nêu trên trang web chính thức của Hà Nội .
Tuy nhiên, dựa theo Phân loại khí hậu Köppen, trang web ClimaTemps.com lại xếp Hà Nội mang khí hậu cận nhiệt đới ẩm (Humid Subtropical) với mã Cwa .
Thời tiết có sự khác biệt rõ ràng giữa mùa nóng và mùa lạnh và có thể phân ra thành 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông. Mùa nóng bắt đầu từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 9, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều rồi mát mẻ, khô ráo vào tháng 10. Mùa lạnh bắt đầu từ giữa đầu tháng 11 đến hết tháng 3 năm sau.
Từ cuối tháng 11 đến tháng 1 rét và hanh khô, từ tháng 2 đến hết tháng 3 lạnh và mưa phùn kéo dài từng đợt. Trong khoảng cuối tháng 9 đến tháng 11, Hà Nội có những ngày thu với tiết trời mát mẻ (rõ rệt hơn Hải Phòng, Nam Định và nhiều tỉnh phía Bắc khác) do đón vài đợt không khí lạnh yếu tràn về.
Tuy nhiên, do chịu sự tác động mạnh mẽ của gió mùa nên thời gian bắt đầu và kết thúc của mỗi mùa thường không đồng đều nhau giữa các năm, nên sự phân chia các tháng chỉ mang tính tương đối.
Nhiệt độ trung bình mùa đông: 16,5 °C (lúc thấp xuống tới 2,7 °C). Trung bình mùa hạ: 29,5 °C (lúc cao nhất lên tới 43,7 °C). Nhiệt độ trung bình cả năm: 23,2 °C, lượng mưa trung bình hàng năm: 1.800mm
Vào tháng 5 năm 1926, nhiệt độ tại thành phố được ghi lại ở mức kỷ lục 42,8 °C. Tháng 1 năm 1955, nhiệt độ xuống mức thấp nhất, 2,7 °C do chịu ảnh hưởng của La Nina. Vào tháng 6 năm 2015 với việc bị ảnh hưởng bởi El Niño trên toàn thế giới, Hà Nội phải hứng chịu đợt nóng kỉ lục trong 1 tuần (từ 1-6 đến 7-6) với nhiệt độ lên tới 43,7 °C, là nhiệt độ kỷ lục ghi nhận trong lịch sử. Hơn nữa, do chịu ảnh hưởng của hiệu ứng đô thị và là vùng khí hậu có độ ẩm cao nên những đợt nắng nóng, nhiệt độ cảm nhận thực tế luôn cao hơn mức đo đạc, có thể lên tới 50 °C.
== Dân cư ==
=== Nguồn gốc dân cư sinh sống ===
Vào thập niên 1940, khi Hà Nội là thủ phủ của Liên bang Đông Dương, dân số thành phố được thống kê là 132.145 người. Nhưng đến năm 1954, dân số Hà Nội giảm xuống chỉ còn 53 nghìn dân trên một diện tích 152 km².
Lịch sử Hà Nội cũng đã ghi nhận dân cư của thành phố có những thay đổi, xáo trộn liên tục qua thời gian. Ở những làng ngoại thành, ven đô cũ, nơi người dân sống chủ yếu nhờ nông nghiệp, thường không có sự thay đổi lớn. Nhiều gia đình nơi đây vẫn giữ được gia phả từ những thế kỷ 15, 16. Trong nội thành, chỉ còn lại vài dòng họ đã định cư liên tục tại Thăng Long từ thế kỉ XV như dòng họ Nguyễn ở phường Đông Tác (Trung Tự - Hà Nội).
Do tính chất của công việc, nhiều thương nhân và thợ thủ công ít khi trụ nhiều đời tại một điểm. Gặp khó khăn trong kinh doanh, những thời điểm sa sút, họ tìm tới vùng đất khác. Cũng có những trường hợp, một gia đình có người đỗ đạt được bổ nhiệm làm quan tỉnh khác và đem theo gia quyến, đôi khi cả họ hàng.
Từ rất lâu, Thăng Long đã trở thành điểm đến của những người dân tứ xứ. Vào thế kỷ 15, dân các trấn về Thăng Long quá đông khiến vua Lê Thánh Tông có ý định buộc tất cả phải về nguyên quán. Nhưng khi nhận thấy họ chính là lực lượng lao động và nguồn thuế quan trọng, triều đình đã cho phép họ ở lại. Tìm đến kinh đô Thăng Long còn có cả những cư dân ngoại quốc, phần lớn là người Hoa. Trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc, rất nhiều những người Hoa đã ở lại sinh sống thành phố này. Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê, vẫn có những người Hoa tới xin phép cư ngụ lại Thăng Long.Điều này khá giống với Nam Định và sau này là Hải Phòng. Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, trong số 36 phường họp thành kinh đô Thăng Long có hẳn một phường người Hoa, là phường Đường Nhân. Những thay đổi về dân cư vẫn diễn ra liên tục và kéo dài cho tới ngày nay.
=== Dân số ===
Các thống kê trong lịch sử cho thấy dân số Hà Nội tăng nhanh trong nửa thế kỷ gần đây. Vào thời điểm năm 1954, khi quân đội Việt Minh tiếp quản Hà Nội, thành phố có 53 nghìn dân, trên một diện tích 152 km². Đến năm 1961, thành phố được mở rộng, diện tích lên tới 584 km², dân số 91.000 người. Năm 1978, Quốc hội quyết định mở rộng thủ đô lần thứ hai với diện tích đất tự nhiên 2.136 km², dân số 2,5 triệu người. Tới năm 1991, địa giới Hà Nội tiếp tục thay đổi, chỉ còn 924 km², nhưng dân số vẫn ở mức hơn 2 triệu người. Trong suốt thập niên 1990, với việc các khu vực ngoại ô dần được đô thị hóa, dân số Hà Nội tăng đều đặn, đạt con số 2.672.122 người vào năm 1999. Sau đợt mở rộng địa giới gần đây nhất vào tháng 8 năm 2008, thành phố Hà Nội có 6,233 triệu dân và nằm trong 17 thủ đô có diện tích lớn nhất thế giới. Theo kết quả cuộc điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 2009, dân số Hà Nội là 6.451.909 người, dân số trung bình năm 2010 là 6.561.900 người.. Tính đến ngày 31/12/2015, dân số Hà Nội là 7.558.956 người.
Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km². Mật độ dân số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi đó, ở những huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Ứng Hòa mật độ dưới 1.000 người/km².
Về cơ cấu dân số, theo số liệu 1 tháng 4 năm 1999, cư dân Hà Nội và Hà Tây chủ yếu là người Kinh, chiếm tỷ lệ 99,1%. Các dân tộc khác như Dao, Mường, Tày chiếm 0,9%. Năm 2009, người Kinh chiếm 98,73% dân số, người Mường 0,76% và người Tày chiếm 0,23 %.
Năm 2009, dân số thành thị là 2.632.087 chiếm 41,1%, và 3.816.750 cư dân nông thôn chiếm 58,1%.
== Lịch sử ==
=== Thời kỳ tiền Thăng Long ===
Những di chỉ khảo cổ tại Cổ Loa cho thấy con người đã xuất hiện ở khu vực Hà Nội từ cách đây 2 vạn năm, giai đoạn của nền văn hóa Sơn Vi. Nhưng đến thời kỳ băng tan, biển tiến sâu vào đất liền, các cư dân của thời đại đồ đá mới bị đẩy lùi lên vùng núi. Phải tới khoảng 4 hoặc 5 ngàn năm trước Công Nguyên, con người mới quay lại sinh sống ở nơi đây. Các hiện vật khảo cổ giai đoạn tiếp theo, từ đầu thời đại đồ đồng đến đầu thời đại đồ sắt, minh chứng cho sự hiện diện của Hà Nội ở cả bốn thời đại văn hóa: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn. Những cư dân Hà Nội thời kỳ đó sinh sống nhờ trồng trọt, chăn nuôi và chài lưới. Giai đoạn tiền sử này tương ứng với thời kỳ của các Vua Hùng trong truyền thuyết. Thế kỷ 3 trước Công Nguyên, trong cuộc chiến với quân Tần từ phương Bắc, Thục Phán quyết định đóng đô ở Cổ Loa, nay là huyện Đông Anh, cách trung tâm Hà Nội khoảng 15 km. Sự xuất hiện của thành Cổ Loa ghi dấu Hà Nội lần đầu tiên trở thành một đô thị trung tâm về chính trị và xã hội.
Thất bại của Thục Phán đầu thế kỷ 2 trước Công Nguyên đã kết thúc giai đoạn độc lập của Âu Lạc, bắt đầu giai đoạn một ngàn năm do các triều đại phong kiến Trung Hoa thống trị. Thời kỳ nhà Hán, Âu Lạc cũ được chia thành ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, Hà Nội khi đó thuộc quận Giao Chỉ. Vắng bóng trong sử sách suốt năm thế kỷ đầu, đến khoảng năm 454–456 thời Lưu Tống, Hà Nội mới được ghi lại là trung tâm của huyện Tống Bình. Năm 544, Lý Bí nổi dậy chống lại nhà Lương, tự xưng hoàng đế, đặt
quốc hiệu là Vạn Xuân. Người cháu của Lý Bí là Lý Phật Tử tới đóng đô ở Cổ Loa, nhưng nền độc lập này chỉ kéo dài tới năm 602. Thời kỳ Nhà Đường, An Nam được chia thành 12 châu với 50 huyện, Tống Bình là trung tâm của An Nam đô hộ phủ. Năm 866, viên tướng nhà Đường Cao Biền xây dựng một thành trì mới, Tống Bình được đổi tên thành Đại La – thủ phủ của Tĩnh Hải quân. Theo truyền thuyết, khi đắp thành, Cao Biền thấy một vị thần hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Vì vậy, sử sách còn gọi Thăng Long là đất Long Đỗ. Thế kỷ 10, sau chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán, Cổ Loa một lần nữa trở thành kinh đô của nước Việt.
=== Thăng Long, Đông Đô, Đông Quan, Đông Kinh ===
Sau khi lên ngôi năm 1009 tại Hoa Lư, năm 1010, Lý Thái Tổ quyết định dời đô về Đại La. Theo một truyền thuyết phổ biến, khi tới Đại La, Lý Thái Tổ nhìn thấy một con rồng bay lên, vì vậy đặt tên kinh thành mới là Thăng Long. Kinh thành Thăng Long khi đó giới hạn bởi ba con sông: sông Hồng ở phía Đông, sông Tô phía Bắc và sông Kim Ngưu phía Nam. Khu hoàng thành được xây dựng gần hồ Tây với cung điện hoàng gia cùng các công trình chính trị. Phần còn lại của đô thị là những khu dân cư, bao gồm các phường cả nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp. Ngay trong thế kỷ 10, nhiều công trình tôn giáo nhanh chóng được xây dựng, chùa Diên Hựu phía Tây hoàng thành xây năm 1049, chùa Báo Thiên xây năm 1057, Văn Miếu xây năm 1070, Quốc Tử Giám dựng năm 1076... Chỉ sau một thế kỷ, Thăng Long trở thành trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế của cả quốc gia.
Nhà Trần nối bước nhà Lý cai trị Đại Việt,coi Thăng Long là kinh đô thứ nhất và Thiên Trường là kinh đô thứ hai, nơi các Thượng hoàng ở. Kinh thành Thăng Long tiếp tục được xây dựng. Hoàng thành được củng cố và xuất hiện thêm những cung điện. Năm 1230, Thăng Long được chia thành 61 phường, kinh thành đông đúc hơn dù địa giới không thay đổi. Giai đoạn này cũng ghi nhận sự xuất hiện của những cư dân ngoại quốc, như người Hoa, người Java và người Ấn Độ. Nền kinh tế công thương nghiệp cũng sản sinh tầng lớp thị dân và Thăng Long còn là nơi quy tụ của nhiều học giả, trí thức như Hàn Thuyên, Lê Văn Hưu, Chu Văn An... Trong cuộc chiến tranh với nhà Nguyên, kinh thành Thăng Long ba lần bị chiếm giữ nhưng đều kết thúc trong chiến thắng của Đại Việt. Cuối thế kỷ 14, thời kỳ nhà Trần suy vi, một quý tộc ngoại thích là Hồ Quý Ly thâu tóm quyền lực, ép vua Trần dời kinh đô về Thanh Hóa. Khi Hồ Quý Ly chính thức lên ngôi, lập nên nước Đại Ngu năm 1400, kinh đô mới mang tên Tây Đô, Thăng Long được đổi thành Đông Đô. Nhưng vương triều của nhà Hồ chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi. Năm 1406, nhà Minh đưa quân xâm lược Đại Ngu, Thăng Long bị chiếm đóng và đổi tên thành Đông Quan. Thời kỳ Bắc thuộc thứ tư bắt đầu từ năm 1407 và kéo dài tới năm 1428.
Sau chiến thắng của khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi thành lập nhà Lê và Đông Đô cũng lấy lại vị thế kinh thành. Năm 1430, thành phố được đổi tên thành Đông Kinh, đến 1466 được gọi là phủ Trung Đô. Hoàng thành Thăng Long dưới thời nhà Lê tiếp tục được mở rộng. Bên cạnh, khu vực dân cư được chia thành 2 huyện Vĩnh Xương và Quảng Đức, mỗi huyện 18 phường. Thời kỳ này, đứng đầu bộ máy hành chính là chức Phủ doãn. Thành phố tiếp tục một thời kỳ của những phường hội buôn bán, tuy bị hạn chế bởi tư tưởng ức thương của nhà Lê. Trong giai đoạn tranh giành quyền lực giữa nhà Lê, nhà Mạc và chúa Trịnh, Thăng Long vẫn duy trì vị trí kinh đô. Sự phức tạp của chính trị thời kỳ này cũng đem lại cho thành phố một điểm đặc biệt: Bên cạnh hoàng thành của vua Lê, phủ Chúa Trịnh được xây dựng và là trung tâm quyền lực thực sự. Nhờ nền kinh tế hàng hóa và sự phát triển của ngoại thương, đô thị Thăng Long bước vào thời kỳ phồn vinh, thu hút thêm nhiều cư dân tới sinh sống. Câu ca Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến nói lên sự sầm uất giàu có của thành phố, giai đoạn này còn có tên gọi khác là Kẻ Chợ. Nhà truyền giáo người Pháp Alexandre de Rhodes ước tính dân số Thăng Long khi đó khoảng 1 triệu người. William Dampier, nhà phiêu lưu người Anh, đưa ra con số thường được xem hợp lý hơn, khoảng 2 vạn nóc nhà.
Mùa hè năm 1786, quân Tây Sơn tiến ra miền Bắc lật đổ chính quyền chúa Trịnh, chấm dứt hai thế kỷ chia cắt Đàng Trong – Đàng Ngoài. Sau khi Nguyễn Huệ cùng quân Tây Sơn quay về miền Nam, năm 1788, nhà Thanh đưa quân xâm lược Đại Việt. Tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ lên ngôi ngày 22 tháng 12 năm 1788 rồi đưa quân ra Bắc. Sau chiến thắng ở trận Ngọc Hồi - Đống Đa, nhà Tây Sơn trị vì Đại Việt với kinh đô mới ở Phú Xuân, Thăng Long trở thành thủ phủ của Bắc Thành, tức Bắc Bộ ngày nay.
=== Thời nhà Nguyễn và Pháp thuộc ===
Triều đại Tây Sơn sụp đổ sau một thời gian ngắn ngủi, Gia Long lên ngôi năm 1802 lấy kinh đô ở Phú Xuân, bắt đầu nhà Nguyễn. Năm 1805, Gia Long cho phá tòa thành cũ của Thăng Long, xây dựng thành mới mà dấu vết còn lại tới ngày nay, bao bọc bởi các con đường Phan Đình Phùng, Hùng Vương, Trần Phú và Phùng Hưng. Năm 1831, trong cuộc cải cách hành chính của Minh Mạng, toàn quốc được chia thành 29 tỉnh, Thăng Long thuộc tỉnh Hà Nội. Với hàm nghĩa nằm trong sông (Hán tự 河內), tỉnh Hà Nội khi đó gồm 4 phủ, 15 huyện, nằm giữa sông Hồng và Sông Đáy. Tỉnh Hà Nội gồm thành Thăng Long, phủ Hoài Đức của trấn Sơn Tây, và ba phủ Ứng Hoà, Thường Tín, Lý Nhân của trấn Sơn Nam. Phủ Hoài Đức gồm 3 huyện: Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm. Phủ Thường Tín gồm 3 huyện: Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên. Phủ Ứng Hoà gồm 4 huyện: Sơn Minh (nay là Ứng Hòa), Hoài An (nay là phía nam Ứng Hòa và một phần Mỹ Đức), Chương Đức (Nay là Chương Mỹ - Thanh Oai). Phủ Lý Nhân gồm 5 huyện: Nam Xang (nay là Lý Nhân), Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục. Hà Nội có tên gọi bắt đầu từ đây.
Nền kinh tế Hà Nội nửa đầu thế kỷ 19 cũng khác biệt so với Thăng Long trước đó. Các phường, thôn phía Tây và Nam chuyên về nông nghiệp, còn phía Đông, những khu dân cư sinh sống nhờ thương mại, thủ công làm nên bộ mặt của đô thị Hà Nội. Bên cạnh một số cửa ô được xây dựng lại, Hà Nội thời kỳ này còn xuất hiện thêm những công trình tín ngưỡng, tôn giáo như đền Ngọc Sơn, chùa Báo Ân...
Năm 1858, Pháp bắt đầu nổ súng xâm chiếm Đông Dương. Sau khi chiếm ba tỉnh Đông Nam Kỳ, quân đội Pháp dưới sự chỉ đạo của Francis Garnier tiến đến Hà Nội đầu tháng 11 năm 1873. Mặc dù triều đình nhà Nguyễn chủ hòa, nhưng dân chúng Hà Nội vẫn tiếp tục chống lại người Pháp dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu. Năm 1884, Tự Đức ký hòa ước công nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, Hà Nội cũng bước vào thời kỳ thuộc địa.
Ngày 19 tháng 7 năm 1888, Tổng thống Pháp Sadi Carnot ký sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội. Thành phố Hà Nội lúc này có diện tích nhỏ bao gồm 2 huyện Thọ Xương và huyện Vĩnh Thuận thuộc phủ Hoài Đức. Phạm vi thành phố bó hẹp nằm trong khu vực Phố Huế, Đại Cồ Việt, Khâm Thiên, Giảng Võ, Đường Thụy Khuê, Hồ Tây đến cầu Long Biên. 3 phủ Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hòa thuộc về tỉnh Hà Đông. Phủ Lý Nhân tách ra tạo thành tỉnh Hà Nam.
Đến năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của toàn Liên bang Đông Dương. Nhờ sự quy hoạch của người Pháp, thành phố dần có được bộ mặt mới. Lũy thành thời Nguyễn dần bị triệt hạ, đến năm 1897 hầu như bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn lại Cột Cờ, Cửa Bắc với vết đạn năm 1873, Đoan Môn và lan can rồng đá ở trong hoàng thành cũ. Năm 1901, các công trình phủ Thống sứ, Nhà bưu điện, Kho bạc, Nhà đốc lý, Nhà hát lớn, Cầu Long Biên, Ga Hà Nội, những quảng trường, bệnh viện... được xây dựng. Hà Nội cũng có thêm trường đua ngựa, các nhà thờ Cơ Đốc giáo, trường Đại học Y khoa, Đại học Đông dương, Đại học Mỹ thuật, các trường Cao đẳng Pháp lý, Nông lâm cùng những nhà máy sản xuất rượu bia, diêm, hàng dệt, điện, nước... Khi những nhà tư bản người Pháp tới Hà Nội ngày một nhiều hơn, các rạp chiếu phim, nhà hát, khách sạn... dần xuất hiện, những con phố cũng thay đổi để phù hợp với tầng lớp dân cư mới. Vào năm 1921, toàn thành phố có khoảng 4.000 dân châu Âu và 100.000 dân bản địa.
Sự xuất hiện của tầng lớp tư sản Việt Nam khiến văn hóa Hà Nội cũng thay đổi. Nền văn hóa phương Tây theo chân người Pháp du nhập vào Việt Nam kéo theo những xáo trộn trong xã hội. Không còn là một kinh thành thời phong kiến, Hà Nội ít nhiều mang dáng dấp của một đô thị châu Âu. Thành phố vẫn tiếp tục giữ vai trò trung tâm tri thức, nghệ thuật của cả quốc gia, nơi tập trung các nhà thơ mới, những nhạc sĩ tân nhạc cùng những trí thức, học giả nổi tiếng.
=== Trong hai cuộc chiến tranh ===
Giữa thế kỷ 20, Hà Nội chịu những biến cố phức tạp của lịch sử. Sự kiện Nhật Bản tấn công Đông Dương năm 1940 khiến Việt Nam phải nằm dưới sự cai trị của cả đế quốc Pháp và Nhật. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, tại Hà Nội, quân đội Nhật đảo chính Pháp. Nhưng chỉ năm tháng sau, quốc gia này phải đầu hàng quân Đồng Minh, kết thúc cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Vào thời điểm thuận lợi đó, lực lượng Việt Minh tổ chức cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, lật đổ nhà nước Đế quốc Việt Nam, buộc vua Bảo Đại thoái vị, giành lấy quyền lực ở Việt Nam. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với thủ đô Hà Nội. Sau độc lập, thành phố chia thành các khu phố, đổi tên nhiều vườn hoa, đường phố, như đại lộ (Avenue) Paul Doumer đổi tên là Nhân quyền, đường (Rue de la) République đổi tên là Dân Quyền, đại lộ Puginier đổi tên là Dân Chủ Cộng Hòa, đường Ollivier đổi là Hạnh Phúc, đường Dr Morel đổi là Tự Do,...nh
Cuối năm 1945, quân đội Pháp quay lại Đông Dương. Sau những thương lượng không thành, Chiến tranh Đông Dương bùng nổ vào tháng 12 năm 1946 và thành phố Hà Nội nằm trong vùng kiểm soát của người Pháp. Năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ giúp những người Việt Minh lấy lại miền Bắc Việt Nam, Hà Nội tiếp tục giữ vị trí thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vào thời điểm được tiếp quản, thành phố gồm 4 quận nội thành với 34 khu phố, 37.000 dân và 4 quận ngoại thành với 45 xã, 16.000 dân. Cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, Hà Nội nhiều lần thay đổi về hành chính và địa giới. Năm 1958, bốn quận nội thành bị xóa bỏ và thay bằng 12 khu phố. Năm 1959, khu vực nội thành được chia lại thành 8 khu phố, Hà Nội cũng có thêm 4 huyện ngoại thành. Tháng 4 năm 1961, Quốc hội quyết định mở rộng địa giới Hà Nội, sát nhập thêm một số xã của Hà Đông, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hưng Yên. Toàn thành phố có diện tích 584 km², dân số 91.000 người. Ngày 31 tháng 5 năm 1961, bốn khu phố nội thành Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Đống Đa và 4 huyện ngoại thành Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm được thành lập.
Khi cuộc Chiến tranh Việt Nam leo thang, Hà Nội phải hứng chịu những cuộc tấn công trực tiếp từ Hoa Kỳ. Riêng trong chiến dịch Linebacker II năm 1972, trong khoảng 2.200 người dân bị thiệt mạng ở miền Bắc, số nạn nhân ở Hà Nội được thống kê là 1.318 người. Nhiều cơ quan, trường học phải sơ tán tới các tỉnh lân cận.
=== Hà Nội đương đại ===
Sau chiến tranh, Hà Nội tiếp tục giữ vai trò thủ đô của quốc gia Việt Nam thống nhất.
Ngày 21 tháng 12 năm 1978, Quốc hội Việt Nam phê chuẩn mở rộng địa giới Hà Nội, sáp nhập thêm 5 huyện Ba Vì, Thạch Thất, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức và thị xã Sơn Tây của tỉnh Hà Sơn Bình cùng hai huyện của tỉnh Vĩnh Phú là Mê Linh, Sóc Sơn. Dân số Hà Nội lên tới con số 2,5 triệu người. Bên cạnh lượng dân cư các tỉnh tới định cư ở thành phố, trong khoảng thời gian từ 1977 tới 1984, Hà Nội cũng đưa 12.861 hộ, 21.587 nhân khẩu tới Lâm Đồng theo chính sách xây dựng kinh tế mới. Ngày 12 tháng 8 năm 1991, ranh giới Hà Nội lại được điều chỉnh, chuyển lại 5 huyện và 1 thị xã đã lấy của Hà Sơn Bình năm 1978 cho Hà Tây và Mê Linh được nhập vào tỉnh Vĩnh Phú. Hà Nội còn lại 4 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành, với diện tích đất tự nhiên 924 km².
Ngày 28 tháng 10 năm 1995, Chính phủ ra Nghị định 69/CP thành lập quận Tây Hồ trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 3 phường: Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ thuộc quận Ba Đình và 5 xã: Tứ Liên, Nhật Tân, Quảng An, Xuân La, Phú Thượng thuộc huyện Từ Liêm.
Ngày 26 tháng 11 năm 1996, Chính phủ ra Nghị định 74/CP thành lập quận Thanh Xuân trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 5 phường: Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Thượng Đình, Kim Giang, Phương Liệt, 78,1ha diện tích và 20.862 nhân khẩu của phường Nguyễn Trãi, 98,4ha diện tích và 5.506 nhân khẩu của phường Khương Thượng thuộc quận Đống Đa, toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Nhân Chính thuộc huyện Từ Liêm và xã Khương Đình thuộc huyện Thanh Trì; cũng trong Nghị định này quyết định thành lập quận Cầu Giấy trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 4 thị trấn: Cầu Giấy, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Mai Dịch và 3 xã: Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa thuộc huyện Từ Liêm.
Ngày 6 tháng 11 năm 2003, Chính phủ ra Nghị định 132/2003/NĐ-CP thành lập quận Long Biên trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 10 xã: Thượng Thanh, Giang Biên, Ngọc Thụy, Việt Hưng, Hội Xá, Gia Thụy, Bồ Đề, Long Biên, Thạch Bàn, Cự Khối và 3 thị trấn: Gia Lâm, Đức Giang, Sài Đồng thuộc huyện Gia Lâm, cũng trong Nghị định này quyết định thành lập quận Hoàng Mai trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 9 xã: Định Công, Đại Kim, Hoàng Liệt, Thịnh Liệt, Thanh Trì, Vĩnh Tuy, Lĩnh Nam, Trần Phú, Yên Sở và 55ha diện tích của xã Tứ Hiệp thuộc huyện Thanh Trì, toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 5 phường: Mai Động, Tương Mai, Tân Mai, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ thuộc quận Hai Bà Trưng.
Sau thời kỳ bao cấp, từ cuối thập niên 1990, sự phát triển về kinh tế dẫn đến các khu vực ngoại ô Hà Nội nhanh chóng được đô thị hóa. Những cao ốc mọc lên ở khu vực nội ô và các trung tâm công nghiệp cũng được xây dựng ở những huyện ngoại thành. Sự phát triển cũng kéo theo những hệ lụy. Do không được quy hoạch tốt, giao thông thành phố thường xuyên ùn tắc khi số lượng xe máy tăng cao. Nhiều khu phố phải chịu tình trạng ngập úng mỗi khi mưa lớn. Mật độ dân số quá cao khiến những dân cư nội ô phải sống trong tình trạng chật chội và thiếu tiện nghi. Vào năm 2003, 30% dân số Hà Nội sống dưới mức 3 m² một người. Mật độ cây xanh của thành phố chỉ khoảng 1–2 m²/người, thuộc hàng rất thấp so với các thành phố trên thế giới (Stockholm trên 70 m²/người).
Song việc tăng dân số quá nhanh cùng quá trình đô thị hóa thiếu quy hoạch tốt đã khiến Hà Nội trở nên chật chội, ô nhiễm và giao thông nội ô thường xuyên ùn tắc. Nhiều di sản kiến trúc đang dần biến mất, thay vào đó là những ngôi nhà ống nằm lộn xộn trên các con phố. Hà Nội còn là một thành phố phát triển không đồng đều với giữa các khu vực như giữa các quận nội thành và huyện ngoại thành, nhiều nơi người dân vẫn chưa có được những điều kiện sinh hoạt thiết yếu. Ngoài ra, hiện Hà Nội là một trong những thành phố ô nhiễm nhất khu vực Đông Nam Á, hàm lượng bụi ở đây cao gấp nhiều lần mức cho phép
Ngày 29 tháng 5 năm 2008, với gần 93% đại biểu tán thành, Quốc hội Việt Nam đã thông qua nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính thủ đô Hà Nội và các tỉnh, có hiệu lực từ 1 tháng 8 cùng năm. Theo nghị quyết, toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình được sáp nhập về Hà Nội. Từ diện tích gần 1.000 km² và dân số khoảng 3,4 triệu người, Hà Nội sau khi mở rộng có diện tích 3.324,92 km² và dân số 6.232.940 người, nằm trong 17 thủ đô lớn nhất thế giới. Ngày 8 tháng 5 năm 2009, địa giới các huyện Thạch Thất và Quốc Oai được điều chỉnh lại. Cũng trong nghị quyết này, quận Hà Đông được thành lập từ thành phố Hà Đông trước đây và thành phố Sơn Tây được chuyển thành thị xã Sơn Tây như cũ. Năm 2010, Hà Nội đã tổ chức thành công Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội để lại dấu ấn trong lòng người dân và bạn bè quốc tế. Hoàng thành Thăng Long, văn bia tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám và Lễ hội Thánh Gióng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Nhiều công trình quan trọng như cầu Vĩnh Tuy, bảo tàng Hà Nội, công viên Hòa Bình... đã được khánh thành. Năm 2010 Hà Nội cũng đạt được những kết quả khả quan trọng trong phát triển kinh tế. GDP tăng 11%, thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ đạt 2.000 Đô la Mỹ. Tổng thu ngân sách trên địa bàn vượt 100.000 tỷ đồng. Hà Nội đã tổ chức thành công đại hội Đảng bộ lần thứ 15 với mục tiêu tới năm 2015 phát triển thành thành phố công nghiệp theo hướng hiện đại, trung tâm hành chính chính trị quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế và giao lưu quốc tế, trung tâm văn hóa giáo dục y tế của cả Việt Nam. Thành phố phấn đấu GDP bình quân đầu người đạt 4.300 Đô la Mỹ vào năm 2015. Tính tới ngày 30 tháng 10 năm 2010, dân số toàn thành phố là 6,913 triệu người (tổng kiểm tra hộ khẩu trên địa bàn).
Ngày 27 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ra Nghị quyết 132/NQ-CP chia huyện Từ Liêm thành 2 quận là Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm.
Hà Nội đã được UNESCO trao danh hiệu "Thành phố vì hòa bình" vào ngày 17 tháng 6 năm 1999. Năm 2000, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã tặng thưởng thành phố Hà Nội danh hiệu "Thủ đô anh hùng" vào ngày 4 tháng 10. Với tuổi đời hơn 1000 năm, Hà Nội chính là thủ đô lâu đời nhất trong 11 thủ đô của các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á
== Kiến trúc và quy hoạch đô thị ==
Lịch sử lâu đời cùng nền văn hóa phong phú đã giúp Hà Nội có được kiến trúc đa dạng và mang dấu ấn riêng. Nhưng sau một thời gian phát triển thiếu quy hoạch, thành phố hiện nay tràn ngập những ngôi nhà ống trên các con phố lắt léo, những công trình tôn giáo nằm sâu trong các khu dân cư, những cao ốc bên các khu phố cũ, những cột điện chăng kín dây... nhưng thiếu vắng không gian công cộng. Năm 2010, Hà Nội lập Đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 cho một thành phố 9,1 triệu dân vào năm 2030 và trên 10 triệu người vào năm 2050. Về mặt kiến trúc, có thể chia Hà Nội ngày nay thành bốn khu vực: khu phố cổ, khu thành cổ, khu phố Pháp và các khu mới quy hoạch.
=== Khu phố cổ ===
Khu phố cổ Hà Nội, trung tâm lịch sử của thành phố, hiện nay vẫn là khu vực đông đúc nhất. Địa giới không gian khu phố cổ có thể coi là một hình tam giác cân với đỉnh là phố Hàng Than, cạnh phía Đông là đê sông Hồng, cạnh phía Tây là Hàng Cót, Hàng Điếu, Hàng Da, còn đáy là trục Hàng Bông–Hàng Gai–Cầu Gỗ. Qua nhiều năm, những cư dân sinh sống nhờ các nghề thủ công, buôn bán tiểu thương đã hình thành những con phố nghề đặc trưng mang những cái tên như Hàng Bạc, Hàng Bồ, Hàng Đường, Hàng Thùng...
Tất cả các ngôi nhà hai bên đường khu phố cổ đều theo kiểu nhà ống, mang nét đặc trưng: bề ngang hẹp, chiều dài sâu, đôi khi thông sang phố khác. Bên trong các ngôi nhà này cũng có cách bố trí gần như nhau: gian ngoài là nơi bán hoặc làm hàng, tiếp đó là khoảng sân lộ thiên để lấy ánh sáng, trên sân có bể cạn trang trí, quanh sân là cây cảnh, giàn hoa, gian nhà trong mới là nơi ăn ở và nối tiếp là khu phụ. Những năm gần đây, mật độ dân số cao khiến phố cổ Hà Nội xuống cấp khá nghiêm trọng. Một phần cư dân ở đây phải sống trong điều kiện thiếu tiện nghi, thậm chí bất tiện, nguy hiểm. Một vài trường hợp đặc biệt được ghi nhận như ba người sống trong một diện tích 1,5 m² hay bốn người sống trong một căn phòng 10 m² nhưng trên nóc một nhà vệ sinh chung. Trong khu 36 phố phường thuộc dự án bảo tồn, hiện chỉ còn một vài nhà cổ có giá trị, còn lại hầu hết đã được xây mới hoặc cải tạo tùy tiện.
=== Khu thành cổ ===
Khu thành cổ, tức hoàng thành Thăng Long, nằm ở khoảng giữa hồ Tây và hồ Hoàn Kiếm, xuất hiện cùng với kinh đô Thăng Long. Trải qua nhiều lần phá hủy, xây dựng lại rồi tiếp tục bị tàn phá, hoàng thành Thăng Long hiện chỉ lưu lại ở một vài dấu vết. Trên phố Phan Ðình Phùng hiện nay còn cửa Bắc của thành được xây bằng đá và gạch rất kiên cố. Cột cờ Hà Nội xây năm 1812 hiện nằm trên đường Ðiện Biên Phủ. Công trình cao 40 mét này gồm ba nền thềm rộng và tháp cổ hình lăng trụ, bên trong có cầu thang xoắn ốc dẫn lên kỳ đài. Phía Nam thành cổ còn lưu lại được một quần thể di tích đa dạng là Văn Miếu-Quốc Tử Giám, được xây từ đầu thế kỷ 11. Gồm hai di tích chính, Văn Miếu – nơi thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết của Nho giáo và Chu Văn An – và Quốc Tử Giám – trường quốc học cao cấp đầu tiên của Việt Nam – công trình không chỉ là điểm du lịch hấp dẫn mà còn là nơi tổ chức nhiều hoạt động văn hóa.
Ngày 31 tháng 7 năm 2010, tại kỳ họp lần thứ 34 tại Brasilia, thủ đô của Brasil, Ủy ban di sản thế giới của UNESCO đã công nhận khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di sản văn hóa thế giới dựa trên 3 tiêu chí: Chiều dài lịch sử văn hóa, Tính liên tục của tài sản với tư cách là một trung tâm quyền lực, và Các tầng di tích di vật đa dạng, phong phú. Sáng 1 tháng 10 năm 2010, trong buổi khai mạc Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Tổng Giám đốc UNESCO Irina Bokova đã trao bằng Di sản văn hóa thế giới khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long cho lãnh đạo Thành phố Hà Nội.
=== Khu phố Pháp ===
Năm 1883, người Pháp bắt đầu lên kế hoạch xây dựng lại thành phố. Dựa trên các khu phố Hà Nội vốn có, những kiến trúc sư người Pháp vạch thêm các con đường mới, xây dựng các công trình theo hướng thích nghi với môi trường sở tại, tạo nên một phong cách ngày nay được gọi là kiến trúc thuộc địa. Khu vực đô thị do người Pháp quy hoạch và xây dựng gồm ba khu: nhượng địa, thành cũ và nam hồ Hoàn Kiếm, ngày nay mang tên chung là khu phố cũ, hay khu phố Pháp.
Khu nhượng địa mang hình chữ nhật được giới hạn bởi các con phố Bạch Đằng, Tràng Tiền, Lê Thánh Tông, Trần Nhân Tông và Nguyễn Huy Tự hiện nay. Vốn là đồn thủy quân của Hà Nội cổ, đến năm 1875, khu vực này được nhượng lại cho quân đội Pháp xây doanh trại, dinh thự và bệnh viện. Những công trình kiến trúc ở đây có mái lợp ngói đá đen, hành lang xung quanh, nhà cuốn hình cung. Dinh thự Tổng tham mưu trưởng quân Pháp, ngày nay là Nhà khách Bộ Quốc phòng xây dựng trong khoảng thời gian 1874 đến 1877. Bệnh viện Lanessan, hiện là Quân y viện 108 và Bệnh viện Hữu Nghị, khánh thành năm 1893. Khu thành cũ gồm các phố Phan Đình Phùng, Hùng Vương, Hoàng Diệu, Điện Biên Phủ, Lê Hồng Phong, Chu Văn An, Trần Phú. Những con đường ở đây rộng, dài và được trồng nhiều cây xanh. Các biệt thự mang kiến trúc miền Bắc nước Pháp với trang trí cầu kỳ, tỷ mỉ. Một công trình kiến trúc tiêu biểu và quan trọng của khu thành cũ là Phủ Toàn quyền, ngày nay là Phủ Chủ tịch, được xây dựng trong khoảng 1900 đến 1902. Khu nam hồ Hoàn Kiếm cũng là một hình chữ nhật với hai cạnh dài là phố Tràng Thi – Tràng Tiền và phố Trần Hưng Đạo, hai cạnh ngang là phố Phan Bội Châu và phố Phan Chu Trinh. Khu vực này được xây dựng đồng thời với khu thành cũ song quy trình quy hoạch có chậm hơn do phải giải tỏa nhiều làng xóm. Một công trình quan trọng của thành phố là Nhà hát Lớn nằm ở đầu phố Tràng Tiền, được xây từ 1902 tới 1911, theo mẫu Opéra Garnier của Paris.
Kiến trúc Pháp thường được xem như một di sản của Hà Nội, nhưng ngày nay đã phải chịu nhiều biến đổi. Những công trình cao tầng và các ngôi nhà giả phong cách Pháp làm khu phố cũ trở nên khó nhận diện. Bên cạnh đó, nhiều thửa đất được sát nhập để xây dựng các cao ốc khiến cảnh quan bị phá vỡ. Những hàng rào thấp dọc các con phố, những màu sắc tiêu biểu – tường vàng và cửa gỗ màu xanh – cũng bị thay đổi và che lấp bởi các biểu hiệu quảng cáo. Hiện Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội với sự giúp đỡ của vùng Île-de-France đang triển khai dự án bảo tồn và phát triển khu phố này.
=== Kiến trúc hiện đại ===
Vào những năm 1960 và 1970, hàng loạt các khu nhà tập thể theo kiểu lắp ghép xuất hiện ở những khu phố Kim Liên, Trung Tự, Giảng Võ, Thành Công, Thanh Xuân Bắc... Do sử dụng các cấu kiện bê tông cốt thép sản xuất theo quy trình thủ công, những công trình này hiện rơi vào tình trạng xuống cấp nghiệm trọng. Không chỉ vậy, do thiếu diện tích sinh hoạt, các cư dân những khu nhà tập thế lắp ghép còn xây dựng thêm những lồng sắt gắn ngoài trời xung quanh các căn hộ – thường được gọi là chuồng cọp – gây mất mỹ quan đô thị. Hiện những nhà tập thể lắp ghép đang dần được thay thể bởi các chung cư mới.
Cuối thập niên 1990 và thập niên 2000, nhiều con đường giao thông chính của Hà Nội, như Giải Phóng, Nguyễn Văn Cừ, Láng Hạ, Ngọc Khánh, Thái Hà... được mở rộng. Các khách sạn, cao ốc văn phòng mọc lên, những khu đô thị mới như Khu đô thị mới Nam Thăng Long, bắc Thăng Long, Du lịch Hồ Tây, Định Công, Bắc Linh Đàm... cũng dần xuất hiện. Khoảng thời gian gần đây, khu vực Mỹ Đình được đô thị hóa nhanh chóng với hàng loạt những ngôi nhà cao tầng mọc lên. Tuy vậy, các khu đô thị mới này cũng gặp nhiều vấn đề, như công năng không hợp lý, thiếu quy hoạch đồng bộ, không đủ không gian công cộng. Trong trận mưa kỷ lục cuối năm 2008, Mỹ Đình là một trong những khu vực chịu thiệt hại nặng nề vì nước ngập.
Cùng với dự phát triển, đo thị hóa các khu vực Hà Nội mở rộng, nhiều đường phố mới đã được đặt tên: Năm 2010 là 43 và năm 2012 là 34 đường, phố mới. Khoảng thời gian 2010 - 2012 chứng kiến sự bùng nổ các dự án đầu tư xây dựng các khu đô thị, tòa cao ốc, chung cư bình dân và cao cấp, trung tâm thương mại với giá bán cao hơn giá thành tương đối nhiều.
=== Các công trình nổi bật ===
Trước khi trở thành một trung tâm chính trị – vào thế kỷ 5 với triều đại nhà Tiền Lý – Hà Nội đã là một trung tâm của Phật giáo với các thiền phái danh tiếng. Theo văn bia, từ giữa thế kỷ 6, chùa Trấn Quốc được xây dựng trên bãi Yên Hoa ngoài sông Hồng, tới 1615 do bãi sông bị lở, chùa mới dời về địa điểm hiện nay. Đến thế kỷ 11, với sự xuất hiện của kinh đô Thăng Long, khi Phật giáo trở thành quốc giáo, các chùa chiền, thiền viện, sư tăng mới phát triển thực sự mạnh mẽ. Trong nhiều thế kỷ, Hà Nội tiếp tục xây dựng các ngôi chùa, trong đó một số vẫn tồn tại tới ngày nay. Có thể kể tới các ngôi chùa như chùa Một Cột xây lần đầu năm 1049, chùa Láng từ thế kỷ 12, chùa Quán Sứ, chùa Kim Liên xuất hiện vào thế kỷ 17. Tuy vậy, hầu hết các ngôi chùa trong nội ô ngày nay đều được xây dựng lại vào thế kỷ 19. Những triều đại Lý, Trần, Lê để lại rất ít dấu tích.
Vùng ngoại thành Hà Nội cũng có nhiều ngôi chùa nổi tiếng. Thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, một quần thể văn hóa–tôn giáo gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, các ngôi đền thờ thần, các ngôi đình thờ tín ngưỡng nông nghiệp... thường được gọi chung là Chùa Hương. Từ lâu, di tích này đã trở thành một địa điểm du lịch quan trọng, đặc biệt với lễ hội Chùa Hương được tổ chức vào mỗi mùa xuân. Cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km về phía Tây Nam, Chùa Thầy nằm trên địa phận của xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai. Ngôi chùa, thường gắn liền với tên tuổi vị thiền sư Từ Đạo Hạnh, là một di sản kiến trúc, văn hóa, lịch sử giá trị. Giống như Chùa Hương, lễ hội Chùa Thầy cũng được tổ chức vào mùa xuân, đầu tháng 3 hàng năm.
Cùng với các ngôi chùa, Hà Nội còn có không ít đền thờ Đạo Lão, Đạo Khổng hay các thần bảo hộ như Thăng Long tứ trấn, Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Đền Ngọc Sơn.. Trong khu phố cổ còn nhiều ngôi đình vẫn được những người dân thường xuyên tới lui tới bày tỏ lòng thành kính. Kitô giáo theo chân những người châu Âu vào Việt Nam, giúp Hà Nội có được Nhà thờ Lớn, Nhà thờ Cửa Bắc, Nhà thờ Hàm Long... Ngoài ra có thánh đường Hồi Giáo Jamia Al Noor (thánh đường Ánh Sáng) tại 12 Hàng Lược, Thánh thất Cao Đài thủ đô. Các công trình tôn giáo ngày nay là một phần quan trọng của kiến trúc thành phố, nhưng không ít hiện phải nằm trong những khu dân cư đông đúc, thiếu không gian.
Thời kỳ thuộc địa đã để lại Hà Nội rất nhiều các công trình kiến trúc lớn, hiện vẫn đóng vai trò quan trọng về công năng, như Nhà hát Lớn, Phủ Chủ tịch, Bắc Bộ phủ, trụ sở Bộ Ngoại giao, Bảo tàng Lịch sử, Khách sạn Sofitel Metropole... Một số công trình bị phá bỏ để xây mới – như Tòa thị chính được thay thế bằng trụ sở Ủy ban nhân dân thành phố – hoặc tu sửa nhưng không giữ được kiến trúc cũ – như ga Hàng Cỏ. Thời kỳ tiếp theo, Hà Nội cũng có thêm các công trình mới. Lăng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hội trường Ba Đình, ghi đậm dấu ấn của giai đoạn này.
Hai thập niên gần đây, cùng với sự phát triển về kinh tế, rất nhiều cao ốc và khách sạn như Daewoo, Sofitel Plaza, Melia, tòa nhà Tháp Hà Nội... mọc lên mang lại cho thành phố dáng vẻ hiện đại. Hà Nội cũng chứng kiến sự ra đời của những công trình quan trọng như Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình... Để kỷ niệm lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, hiện nay rất nhiều công trình được xây dựng, có thể kể đến Keangnam Hanoi Landmark Tower, Lotte Center Hà Nội, Bảo tàng Hà Nội và Tòa nhà Quốc hội.
== Hành chính ==
Hà Nội là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam, cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ. Riêng Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn được xếp vào đô thị loại đặc biệt, thỏa mãn các tiêu chuẩn như tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động trên 90%, quy mô dân số trên 5 triệu, mật độ dân số bình quân từ 15.000 người/km² trở lên, cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh...
Cũng như các tỉnh và thành phố khác của Việt Nam, Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội do người dân thành phố trực tiếp bầu lên, là cơ quan quyền lực nhà nước ở thành phố. Hội đồng nhân dân Hà Nội hiện nay, nhiệm kỳ 2011–2016, gồm 95 đại biểu. Ủy ban nhân dân thành phố là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở thành phố, chịu trách nhiệm chấp hành hiến pháp, pháp luật, các văn bản của Chính phủ và các nghị quyết của hội đồng nhân dân thành phố. Ngoài các sở, ban như những tỉnh khác, thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội còn có thêm báo Hà Nội mới, báo Kinh tế và Đô thị, Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội, Ban Chỉ đạo 1000 năm Thăng Long, Ban quản lý khu phố cổ... và một số tổng công ty trên địa bàn thành phố. Hội đồng nhân đân và Ủy ban nhân dân Hà Nội có trụ sở nằm ở số 12 phố Lê Lai, bên cạnh hồ Hoàn Kiếm.
Sau những thay đổi về địa giới và hành chính năm 2008, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2015, Hà Nội hiện có 30 đơn vị hành chính cấp huyện – gồm 12 quận, 17 huyện, 1 thị xã – và 584 đơn vị hành chính cấp xã – gồm 386 xã, 177 phường và 21 thị trấn.
== Kinh tế ==
Năm 2014, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá, ước cả năm 2014 tăng 8,8%. Đáng chú ý, tất cả các ngành, lĩnh vực chủ yếu đều lấy lại đà tăng trưởng: giá trị gia tăng công nghiệp - xây dựng tăng 8,4%, trong đó, riêng xây dựng tăng 9,9%, là mức tăng cao nhất trong 3 năm gần đây; thị trường bất động sản đã có sự chuyển biến, lượng hàng tồn kho giảm.
Giá trị gia tăng ngành nông nghiệp ước tăng 2%; giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản trên diện tích đất nông nghiệp ước đạt 231 triệu đồng/ha (cao hơn năm trước 4 triệu đồng); đã hoàn thành kế hoạch dồn điền đổi thửa và lũy kế hết 2014 có 100 xã đạt nông thôn mới (bằng 20% số xã nông thôn mới của cả nước). Hà Nội còn là thủ đô có nhiều trâu bò nhất cả nước, là địa phương có đàn gia súc, gia cầm gồm gần 200.000 con trâu, bò; 1,53 triệu con lợn và khoảng 18,2 triệu con gia cầm, sản lượng thịt hơi hằng năm đạt 225.566 tấn, với diện tích mặt nước 30 nghìn hécta, đã đưa vào sử dụng 20 nghìn hécta nuôi trồng thủy sản, tập trung ở các huyện Ba Vì, Ứng Hòa, Phú Xuyên, Thanh Trì.
Đặc biệt, với các giải pháp thu ngân sách nhà nước được thực hiện đồng bộ, kết quả năm 2014 của Thủ đô ước đạt 130,1 nghìn tỷ đồng, bằng 103,1% dự toán; chi ngân sách địa phương ước đạt 52,5 nghìn tỷ đồng (bao gồm 3 nghìn tỷ đồng phát hành trái phiếu xây dựng Thủ đô). Quản lý thị trường, giá cả được tăng cường, lạm phát được kiểm soát; chỉ số giá tiêu dùng ước tăng 5,34%.
Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của Thành phố Hà Nội năm 2015. Tốc độ tăng tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn: 9,0 - 9,5%; trong đó, dịch vụ 9,8 - 10,5%, công nghiệp - xây dựng tăng 8,7- 9,0%, nông nghiệp tăng 2,0 - 2,5%; GRDP bình quân đầu người: 75 - 77 triệu đồng (~3.500 USD/người/năm); Tốc độ tăng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn: 11 - 12%; Giảm tỷ suất sinh thô so với năm trước: 0,7‰; Giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên so với năm trước: 0,3%; Số xã/phường/thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế tăng thêm: 8 đơn vị; Giảm tỷ lệ hộ nghèo so với năm trước: 0,2%; Tỷ lệ hộ dân cư được công nhận danh hiệu "Gia đình văn hóa": 85%; Số trường công lập đạt chuẩn quốc gia tăng thêm: 100; Số xã được công nhận cơ bản đạt tiêu chí nông thôn mới tăng thêm: 55 xã (lũy kế đến hết năm 2015 có 155 xã);Tỷ lệ rác thải thu gom và vận chuyển trong ngày: Khu vực đô thị: 98%; Khu vực nông thôn: 87%.
Hàng loạt các trung tâm thương mại lớn được xây dựng như: Vimhomes Royal City, Time City, AEON Mall... là nơi tập trung mua sắm của đông đảo người dân.
== Du lịch ==
So với các tỉnh, thành phố khác của Việt Nam, Hà Nội là một thành phố có tiềm năng để phát triển du lịch. Trong nội ô, cùng với các công trình kiến trúc, Hà Nội còn sở hữu một hệ thống bảo tàng đa dạng bậc nhất Việt Nam. Thành phố cũng có nhiều lợi thế trong việc giới thiệu văn hóa Việt Nam với du khách nước ngoài thông qua các nhà hát sân khấu dân gian, các làng nghề truyền thống...
Mặc dù vậy, các thống kê cho thấy du lịch Hà Nội không phải là một thành phố du lịch hấp dẫn. Với nhiều du khách quốc tế, thành phố này chỉ là điểm chuyển tiếp trên hành trình khám phá Việt Nam của họ. Năm 2007, Hà Nội đón 1,1 triệu lượt khách du lịch ngoại quốc, gần bằng một nửa lượng khách của Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2008, trong 9 triệu lượt khách của thành phố, có 1,3 triệu lượt khách nước ngoài. Tỷ lệ du khách tới thăm các bảo tàng Hà Nội cũng không cao. Một trong các bảo tàng thu hút nhiều khách tham quan nhất là Bảo tàng dân tộc học. Hàng năm, bảo tàng Dân tộc học, điểm đến được yêu thích trong các sách hướng dẫn du lịch, có 180.000 khách tới thăm, trong đó một nửa là người nước ngoài.
Theo thống kê năm 2007, Hà Nội có 511 cơ sở lưu trú với hơn 12.700 phòng đang hoạt động. Trong số này chỉ có 178 khách sạn được xếp hạng với 8.424 phòng. Tình trạng thiếu phòng cao cấp là một trong những nguyên nhân khiến lượng khách nước ngoài tới Hà Nội không cao. Với mức giá được coi là khá đắt ở Việt Nam, khoảng 126,26 USD một đêm cho phòng khách sạn 5 sao, hiệu suất thuê phòng các khách sạn 3–5 sao ở Hà Nội hiện dao động từ 80% đến 90%. Ngoài 11 khách sạn 5 sao là Daewoo, Horison, Hilton Hanoi Opera, Melia, Nikko, Sofitel Metropole, Sheraton, Sofitel Plaza, và InterContinental, Crown Plaza, Marriot, thành phố còn 6 khách sạn 4 sao và 19 khách sạn 3 sao.
Du lịch ở Hà Nội cũng còn không ít những tệ nạn, tiêu cực. Trang Lonely Planet cảnh báo tình trạng du khách nước ngoài bị taxi và xe buýt lừa đến một số khách sạn giả danh và bị đòi giá cao; ở quanh khu vực hồ Hoàn Kiếm du khách đồng tính nam có thể bị mời mọc vào những quán karaoke, nơi hóa đơn thanh toán cho một vài đồ uống có thể tới 100 USD hoặc hơn.
== Giao thông ==
Là thành phố thủ đô và có vị trí ở khu vực trung tâm của miền Bắc, bên cạnh con sông Hồng, giao thông từ Hà Nội đến các tỉnh khác của Việt Nam tương đối thuận tiện, bao gồm cả đường không, đường bộ, đường thủy và đường sắt. Giao thông đường không, ngoài sân bay quốc tế Nội Bài cách trung tâm khoảng 35 km, thành phố còn có sân bay Gia Lâm ở phía Đông, thuộc quận Long Biên, từng là sân bay chính của Hà Nội những năm 1970, hiện sân bay Gia Lâm chỉ phục vụ cho các chuyến bay dịch vụ của trực thăng, gồm cả dịch vụ du lịch. Bên cạnh đó là sân bay Bạch Mai thuộc quận Thanh Xuân được xây dựng từ năm 1919 và có thời gian đóng vai trò như một sân bay quân sự. Ngoài ra, Hà Nội còn có sân bay quân sự Hòa Lạc tại huyện Thạch Thất, sân bay quân sự Miếu Môn tại huyện Chương Mỹ. Hà Nội là đầu mối giao thông của năm tuyến đường sắt trong nước và một tuyến liên vận sang Bắc Kinh, Trung Quốc, đi nhiều nước châu Âu, một tuyến quốc tế sang Côn Minh, Trung Quốc. Các bến xe Phía Nam, Gia Lâm, Nước Ngầm, Giáp Bát, Yên Nghĩa, Mỹ Đình là nơi các xe chở khách liên tỉnh tỏa đi khắp đất nước theo các quốc lộ 1A xuyên Bắc – Nam và rẽ quốc lộ 21 đi Nam Định, quốc lộ 2 đến Hà Giang, quốc lộ 3 đến Bắc Kạn, Cao Bằng, Thái Nguyên; quốc lộ 5 đi Hải Phòng, quốc lộ 17 đi Quảng Ninh, quốc lộ 6 và quốc lộ 32 đi các tỉnh Tây Bắc.
Ngoài ra, Hà Nội còn có các nhiều tuyến đường cao tốc trên địa bàn như đại lộ Thăng Long, Pháp Vân-Cầu Giẽ, ngoài ra các tuyến cao tốc Hà Nội-Lạng Sơn, Hà Nội-Hải Phòng, Hà Nội-Lào Cai, Hà Nội-Thái Nguyên Hà Nội-Hòa Bình cũng đang trong quá trình xây dựng. Về giao thông đường thủy, Hà Nội cũng là đầu mối giao thông quan trọng với bến Phà Đen đi Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Việt Trì và bến Hàm Tử Quan đi Phả Lại.Trong nội ô, các con phố của Hà Nội thường xuyên ùn tắc do cơ sở hạ tầng đô thị còn thấp kém, lượng phương tiện tham gia giao thông quá lớn – đặc biệt là xe máy –, và ý thức chưa tốt của các cư dân thành phố. Lại thêm khâu xử lý vi phạm giao thông của cảnh sát giao thông hiện nay chưa nghiêm, việc quản lý nhà nước và tổ chức giao thông còn nhiều bất cập, luôn thay đổi tùy tiện. Giáo sư Seymour Papert – nhà khoa học máy tính từ Viện Công nghệ Massachusetts bị tai nạn ở Hà Nội vào cuối năm 2006 – đã miêu tả giao thông của thành phố như một ví dụ minh họa cho giả thuyết về "hành vi hợp trội", phương thức mà các đám đông, tuân theo các nguyên tắc đơn giản và không cần sự lãnh đạo, tạo ra các vận động và hệ thống phức tạp. Trên những đường phố Hà Nội, vỉa hè thường bị chiếm dụng khiến người đi bộ phải đi xuống lòng đường. Trong những năm gần đây, Hà Nội chỉ phát triển thêm 5 tới 10 km đường mỗi năm. Nhiều trục đường của thành phố thiết kế chưa khoa học, không đồng bộ và hệ thống đèn giao thông ở một vài điểm cũng thiếu hợp lý. Thêm nữa, hiện tượng ngập úng mỗi khi mưa lớn cũng gây khó khăn cho người tham gia giao thông. Trong thập niên 2000, hệ thống xe buýt – loại hình phương tiện giao thông công cộng duy nhất – của thành phố có phát triển mạnh, nhưng phần đông người dân vẫn sử dụng các phương tiện cá nhân, chủ yếu là xe máy.
Theo quy hoạch giao thông Hà Nội được Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt năm 2008, chi phí cho phần phát triển đường bộ lên tới 100.000 tỷ đồng. Ba tuyến đường vành đai, 30 tuyến đường trục chính cùng nhiều tuyến phố sẽ được xây dựng mới hoặc cải tạo lại. Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng dự báo tới năm 2015, thành phố Hà Nội sẽ hết tình trạng ùn tắc giao thông. Cho đến cuối năm 2011, Hà Nội hiện có 7.365 km đường giao thông, trong đó 20% là trục đường chính, 7 trục hướng tâm và 3 tuyến vành đai, cũng như đang quản lý hơn 4,3 triệu phương tiện giao thông các loại, trong đó riêng xe máy chiếm gần 4 triệu. Trong 11 tháng đầu năm 2011, trên địa bàn Hà Nội đã xảy ra 533 vụ tai nạn giao thông đường bộ, đường sắt làm 531 người chết và 144 người bị thương.
== Nhà ở ==
Mặc dù là thủ đô của một quốc gia thu nhập bình quân đầu người thấp, nhưng Hà Nội lại là một trong những thành phố đắt đỏ nhất thế giới và giá bất động sản không thua kém các quốc gia giàu có. Điều này đã khiến người dân Hà Nội, đặc biệt tầng lớp có thu nhập thấp, phải sống trong điều kiện chật chội, thiếu tiện nghi. Theo số liệu năm 2003, 30% dân số Hà Nội sống dưới mức 3 mét vuông một người. Ở những khu phố trung tâm, tình trạng còn bi đát hơn rất nhiều. Nhà nước cũng không đủ khả năng để hỗ trợ cho người dân. Chỉ khoảng 30% cán bộ, công nhân, viên chức được phân phối nhà ở.
Do truyền thống văn hóa và những khó khăn về chỗ ở, hiện tượng 3, 4 thế hệ cùng sống chung trong một ngôi nhà rất phổ biến ở Hà Nội.
Mỗi năm, thành phố xây dựng mới hàng triệu mét vuông nhà, nhưng giá vẫn ở mức quá cao so với phần lớn người dân. Gần như 100% các gia đình trẻ ở Hà Nội chưa có nhà ở, phải sống ghép chung hoặc thuê nhà ở tạm . Với giá từ 500 triệu tới 1,5 tỷ đồng một căn hộ chung cư, một người dân có thu nhập trung bình chỉ có thể mua được sau nhiều năm tích lũy tài chính. Bên cạnh những khu chung cư mới mọc thêm ngày càng nhiều, vẫn còn những bộ phận dân cư phải sống trong những điều kiện hết sức lạc hậu. Tại bãi An Dương, dải đất giữa sông Hồng thuộc địa phận Yên Phụ, Từ Liên, Phúc Xá, hàng trăm gia đình sống trong những ngôi nhà lợp mái tre xây từ nhiều năm trước, không có điện, không có trường học và không được chăm sóc về y tế.
Việc chia các đất công cũng gây bức xúc dư luận. Như năm 2006, báo chí đặt vấn đề về "Nhà nước thiệt hại 3.000 tỷ đồng do quyết định duyệt giá đất của ủy ban nhân dân TP Hà Nội"
== Y tế ==
Theo con số của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2011 thì năm 2010, thành phố Hà Nội có 650 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sở Y tế thành phố, trong đó có 40 bệnh viện, 29 phòng khám khu vực và 575 trạm y tế. Số giường bệnh trực thuộc sở Y tế Hà Nội là 11.536 giường, chiếm khoảng một phần hai mươi số giường bệnh toàn quốc; tính trung bình ở Hà Nội 569 người/giường bệnh so với 310 người/giường bệnh ở Thành phố Hồ Chí Minh. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều bệnh viện 1 giường bệnh có đến 2-3 bệnh nhân nằm điều trị là thường xuyên gặp. Cũng theo thống kê năm 2010, thành phố Hà Nội có 2.974 bác sĩ, 2.584 y sĩ và 3.970 y tá, so với Thành phố Hồ Chí Minh 6.073 bác sĩ, 1.875 y sĩ và 10.474 y tá.
Do sự phát triển không đồng đều, những bệnh viện lớn của Hà Nội, cũng là của cả miền Bắc, chỉ tập trung trong khu vực nội ô thành phố. Các bệnh viện Việt Đức, Bạch Mai, Nhi Thụy Điển và Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đều trong tình trạng quá tải. Cùng với hệ thống y tế của nhà nước, Hà Nội cũng có một hệ thống bệnh viện, phòng khám tư nhân đang dần phát triển. Năm 2007, toàn thành phố có 8 bệnh viện tư nhân với khoảng 300 giường bệnh. Theo đề án đang được triển khai, đến năm 2010, Hà Nội sẽ có thêm 8 đến 10 bệnh viện tư nhân. Khi đó, tổng số giường bệnh tư nhân sẽ lên tới khoảng 2.500 giường.
Cũng giống như Thành phố Hồ Chí Minh, điều kiện chăm sóc y tế giữa nội ô và các huyện ngoại thành Hà Nội có sự chênh lệch lớn. Sau đợt mở rộng địa giới hành chính năm 2008, mức chênh lệch này càng tăng, thể hiện qua các chỉ số y tế cơ bản. Nếu như tại địa phận Hà Nội cũ, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng là 9,7%, thì ở Hà Tây, con số lên tới 17%. Tương tự, tuổi thọ trung bình tại khu vực Hà Nội cũ khá cao, 79 tuổi, nhưng sau khi mở rộng, con số này bị giảm xuống còn 75,6 tuổi. Tại không ít khu vực thuộc các huyện ngoại thành, cư dân vẫn phải sống trong điều kiện vệ sinh yếu kém, thiếu nước sạch để sinh hoạt, phải sử dụng nước ao, nước giếng.
== Giáo dục ==
Từ nhiều thế kỷ, vị thế kinh đô đã giúp Thăng Long – Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục của Việt Nam. Từ giữa thế kỷ 15 cho tới cuối thế kỷ 19, Hà Nội luôn là một trong những địa điểm chính để tổ chức các cuộc thi thuộc hệ thống khoa bảng, nhằm chọn những nhân vật tài năng bổ sung vào bộ máy quan lại. Tuy vậy, về số lượng trạng nguyên, Hà Nội lại thấp hơn những vùng đất truyền thống khác như Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định. Tới thời Pháp thuộc, với vị trí là thủ đô của Liên bang Đông Dương. Một thời kì trường thi Hà Nội bị nhập vào với trường Nam Định gọi là trường Hà Nam thi tại Nam Định (1884 đến 1915). Hà Nội là một trung tâm giáo dục của khu vực, nơi người Pháp đặt các trường dạy nghề và giáo dục bậc đại học, trong đó có Viện Đại học Đông Dương, Trường Y khoa Đông Dương, Trường Bách nghệ Hà Nội là các trường mà sau này trở thành nền móng của giáo dục đại học ở Việt Nam.
Hà Nội ngày nay vẫn là trung tâm giáo dục lớn nhất Việt Nam. Năm 2009, Hà Nội có 677 trường tiểu học, 581 trường trung học cơ sở và 186 trường trung học phổ thông với 27.552 lớp học, 982.579 học sinh. Hệ thống trường trung học phổ thông, Hà Nội có 40 trường công lập, một vài trong số đó có chất lượng giảng dạy và truyền thống lâu đời, như Trung học Chuyên Hà Nội - Amsterdam, Trung học phổ thông chuyên Nguyễn Huệ, Trung học Chu Văn An, Trung học Trần Phú. Bên cạnh các trường công lập, thành phố còn có 65 trường dân lập và 5 trường bán công. Hà Nội cũng là địa điểm của ba trường trung học đặc biệt, trực thuộc các trường đại học, là Trường Trung học phổ thông Chuyên Ngoại ngữ thuộc Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Trung học phổ thông chuyên Khoa học Tự nhiên thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Trung học phổ thông Chuyên thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Các trường trung học chuyên này là nơi tập trung nhiều học sinh phổ thông ưu tú không chỉ của Hà Nội mà còn của toàn Việt Nam. Cùng với các trung học danh tiếng, hệ thống giáo dục của thành phố vẫn duy trì những trường bổ túc và cả các lớp học xóa mù chữ. Sau khi Hà Tây được sát nhập vào thành phố, Hà Nội hiện đứng đầu Việt Nam về số lượng người không biết chữ. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đạo tạo Việt Nam năm 2008, toàn thành phố có gần 235.000 người mù chữ trên tổng số 1,7 triệu người của cả quốc gia.
Là một trong hai trung tâm giáo dục đại học lớn nhất quốc gia, trên địa bàn Hà Nội có trên 50 trường đại học cùng nhiều cao đẳng, đạo tạo hầu hết các ngành nghề quan trọng. Năm 2007, tại thành phố có 606.207 sinh viên, Hà Tây cũng tập trung 29.435 sinh viên. Nhiều trường đại học ở đây như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Y, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội là những trường đào tạo đa ngành và chuyên ngành hàng đầu của Việt Nam.
Dẫu vậy thì giáo dục đại học phải đối mặt với nhiều bất cập "chẳng giống ai". Khuôn viên có tính truyền thống, phong cách sư phạm và có hồn văn hóa của những trường lập ra từ xưa nay bị xẻ thịt thành nhà ở, nhà hàng, nhà băng,... Đại học Bách khoa bị cắt bởi đường phố, và còn lập ra cả phường như phường Bách Khoa quận Hai Bà Trưng. Khuôn viên cổ kính của Viện Đại học Đông Dương thì chen vào nhà hàng 23 Lê Thánh Tông phục vụ dân nhậu. Các ký túc xá cũ lẫn mới thường được tạo điều kiện để sinh viên không ở được, như cho hộ gia đình thuê trọ, mở nhà hàng,... để sinh viên tự tìm chỗ ở yên tĩnh mà học tập, từ đó chuyển đổi sử dụng ký túc. Phái thực dụng còn lên tiếng đòi các trường phải di dời đi đâu đó quang đãng mà học, nhường lại "đất vàng" cho các hoạt động hái ra tiền trước mắt .
== Văn hóa ==
=== Thể thao ===
Với vai trò thủ đô, Hà Nội là nơi tập trung nhiều câu lạc bộ thể thao lớn cùng các công trình thể thao quan trọng của Việt Nam. Hiện nay thành phố có hai câu lạc bộ bóng đá: Hà Nội T&T thi đấu tại V.League 1, Câu lạc bộ Hà Nội thi đấu tại giải hạng nhất. Ngoài ra, trong quá khứ, Hà Nội từng có nhiều đội bóng mạnh như Thể Công, Công an Hà Nội, Tổng cục Đường sắt (thành lập năm 1956), Tổng cục Bưu điện (thành lập năm 1957), Phòng không Không quân, Thanh niên Hà Nội, Quân khu Thủ đô, Công nhân Xây dựng Hà Nội. Những vận động viên của Hà Nội luôn đóng vai trò quan trọng trong đoàn thể thao Việt Nam tham dự các kỳ thi đấu quốc tế. Từ năm 2001 đến 2003, các vận động viên của thành phố đã đạt được tổng cộng 3.414 huy chương, gồm: 54 huy chương thế giới, 95 huy chương châu Á, 647 huy chương Đông Nam Á và quốc tế, cùng 2.591 huy chương tại các giải đấu quốc gia.
Hà Nội dẫn đầu Việt Nam về tỷ lệ người thường xuyên tập luyện thể thao với 28,5%. Nhưng dân số quá đông, không gian đô thị ngày càng chật chội khiến những địa điểm thể thao trở nên khan hiếm và không đáp ứng đủ nhu cầu của người dân. Hầu hết các trường đại học và cao đẳng tại Hà Nội đều trong tình trạng thiếu sân chơi. Một vài trường có diện tích rộng, nhưng lại sử dụng một phần để xây dựng sân quần vợt với hiệu suất sử dụng không cao. Các sinh viên của thành phố thường phải chơi bóng trong những khoảng sân có diện tích nhỏ hẹp.
Sau nhiều năm sử dụng Sân vận động Hàng Đẫy, được xây dựng năm 1958, nằm trong trung tâm thành phố làm nơi thi đấu chính, từ năm 2003, Hà Nội có thêm Sân vận động Mỹ Đình nằm tại phía Nam thành phố, sức chứa 40.192 chỗ ngồi.
Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, nằm trong Liên hợp thể thao quốc gia, từng là địa điểm chính của Đại hội Thể thao Đông Nam Á năm 2003, nơi tổ chức lễ khai mạc, lễ bế mạc, các trận thi đấu bóng đá nam & các cuộc tranh tài trong môn điền kinh. Tại Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008, trước bốn vạn khán giả, Mỹ Đình là nơi chứng kiến Đội tuyển quốc gia Việt Nam bước lên ngôi cao nhất của bóng đá Đông Nam Á. Một số trung tâm thể thao lớn khác của thành phố có thể kể tới như Nhà thi đấu Quần Ngựa, Trung tâm Huấn luyện thể thao Quốc gia I... cùng hơn 20 điểm sân bãi, nhà tập khác.
Ngày 8 tháng 11 năm 2012, Hà Nội được Hội đồng Thể thao châu Á trao quyền đăng cai ASIAD 18, nhưng đến ngày 17 tháng 4 năm 2014, Việt Nam đã xin rút quyền đăng cai giải do vấn đề về kinh phí tổ chức.
=== Các địa điểm văn hóa, giải trí ===
Theo con số giữa năm 2008, toàn thành phố Hà Nội có 17 rạp hát, trong đó 12 rạp thuộc hai quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng. Nhà hát Lớn của thành phố, nằm tại số 1 phố Tràng Tiền, quận Hoàn kiếm do người Pháp xây dựng và hoàn thành vào năm 1911. Ngày nay, đây là nơi biểu diễn các loại hình nghệ thuật cổ điển như opera, nhạc thính phòng, kịch nói, cũng là trung tâm của các hội nghị, gặp gỡ. Nằm tại số 91 phố Trần Hưng Đạo, Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội cũng là một địa điểm biểu diễn quan trọng, nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thời trang, các cuộc thi hoa hậu... cùng các hoạt động khoa học, hội thảo, hội nghị, triển lãm.
Dành cho sân khấu kịch, thành phố có Nhà hát Tuổi trẻ tại số 11 phố Ngô Thì Nhậm quận Hai Bà Trưng với 650 chỗ ngồi, Nhà hát Chuông Vàng tại 72 Hàng Bạc quận Hoàn kiếm với 250 ghế ngồi, Nhà hát Kịch Việt Nam nằm trên con đường nhỏ sau lưng Nhà hát Lớn với 170 ghế. Các môn nghệ thuật truyền thống của Việt Nam cũng có sân khấu riêng. Nhà hát Hồng Hà tại 51 Đường Thành dành cho sân khấu tuồng. Nhà hát Cải lương Trung ương nằm tại 164 Hồng Mai, quận Hai Bà Trưng. Môn nghệ thuật chèo cũng có riêng Nhà hát Chèo Việt Nam ở khu Văn công Mai Dịch, huyện Từ Liêm, và từ năm 2007 thêm một điểm biểu diễn ở Kim Mã, Giang Văn Minh. Rạp múa rối nước Thăng Long ở phố Đinh Tiên Hoàng, bờ hồ Hoàn Kiếm, thường được nhiều khách du lịch tìm đến.[125]
Hà Nội là thành phố có hệ thống bảo tàng đa dạng bậc nhất Việt Nam. Một phần lớn trong số đó là các bảo tàng lịch sử, như Bảo tàng Lịch sử Quân sự, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Chiến thắng B52, Bảo tàng Cách mạng... Các lĩnh vực khác có thể kể tới Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam. Tổng cộng, Hà Nội có hơn 10 bảo tàng, so với hệ thống gần 120 bảo tàng của Việt Nam. Năm 2009, tại Hà Nội có 32 thư viện do địa phương quản lý với lượng sách 565 nghìn bản. Như vậy, số thư viện địa phương của Hà Nội hiện nay lớn hơn Thành phố Hồ Chí Minh – 26 thư viện với 2.420 ngàn cuốn – nhưng lượng sách chỉ bằng khoảng một phần tư. Ngoài hệ thống thư viện địa phương, tại Hà Nội còn phải kể tới các thư viện trong trường đại học. Thư viện Quốc gia tọa lạc tại 31 phố Tràng Thi, với 800.752 đầu sách, 8.677 tựa báo, tạp chí, có thể xem như thư viện quan trọng nhất của Việt Nam.
Trong hơn 10 rạp chiếu phim của Hà Nội, chỉ một vài rạp được trang bị hiện đại và thu hút khán giả, như hệ thống rạp CGV, Lotte Cinema, Platinum Cineplex, Galaxy, BHD hay Trung tâm chiếu phim quốc gia số 2 Láng Hạ quận Đống Đa. Những rạp khác như Đặng Dung, Tháng 8 rất vắng người xem vì chất lượng âm thanh và hình ảnh kém. Fansland, rạp chiếu phim một thời với các tác phẩm điện ảnh kinh điển, đã phải đóng cửa vào giữa năm 2008 bởi không có khán giả. Các quán bar, vũ trường cũng là điểm đến của một bộ phận thanh niên Hà Nội. Nhiều vũ trường từng nổi tiếng nhưng chỉ tồn tại một thời gian rồi đóng cửa vì nhiều lý do. Vũ trường New Century trên phố Tràng Thi mở cửa từ năm 1999, từng là tụ điểm ăn chơi bậc nhất của Hà Nội, đã phải đóng cửa vào năm 2007 bởi dính líu tới mại dâm và ma túy. Trước đó, vũ trường Đêm Màu Hồng ở 78 Hàng Chiếu cũng kết thúc trong một vụ cháy lớn vào năm 1999.
Nằm ở quận Tây Hồ, Công viên nước Hồ Tây là một địa điểm giải trí hấp dẫn của Hà Nội. Công viên có diện tích 35.560 m², chia thành 5 khu vui chơi được trang bị hiện đại với các đường trượt cao tốc, bể tạo sóng, bể massage... Trong nội ô thành phố cũng có một vài công viên lớn như Công viên Thống Nhất, Công viên Thủ Lệ, Công viên Tuổi Trẻ. Hà Nội còn là thành phố có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng. Làng gốm Bát Tràng, làng Lụa Vạn Phúc, Đúc đồng Ngũ Xã... không chỉ đóng vai trò về kinh tế mà còn là những địa điểm văn hóa, du lịch.
=== Làng nghề truyền thống ===
Thành phố Hà Nội trước kia đã có những làng nghề phong phú, thể hiện qua câu thành ngữ quen thuộc "Hà Nội 36 phố phường". Theo thời gian, bộ mặt đô thị của khu phố cổ đã có nhiều thay đổi, nhưng những con phố nơi đây vẫn giữ nguyên những cái tên thuở trước và không ít trong số đó vẫn là nơi buôn bán, kinh doanh những mặt hàng truyền thống cũ. Sau khi Hà Tây được sát nhập vào Hà Nội, Hà Nội còn có thêm nhiều làng nghề danh tiếng khác. Theo số liệu cuối năm 2008, toàn Hà Nội có 1.264 làng nghề, là nơi tập trung làng nghề đông đúc bậc nhất Việt Nam.
Nằm trong trung tâm khu phố cổ, Hàng Bạc trước đây là nơi tập trung những người sinh sống bằng các nghề đúc bạc nén, kim hoàn và đổi tiền. Những thợ kim hoàn của Hàng Bạc có kỹ thuật tinh xảo, xuất thân từ ba làng nghề làm đồ vàng bạc của miền Bắc Việt Nam: làng Châu Khê ở tỉnh Hải Dương, làng Định Công ở quận Hoàng Mai và làng Đồng Sâm thuộc tỉnh Thái Bình. Thế kỷ 15, Lưu Xuân Tín, vị quan thượng thư bộ Lại vốn người làng Châu Khê, được triều đình nhà Lê giao cho việc lập xưởng đúc bạc nén tại kinh thành Thǎng Long. Nhờ vậy, những người thợ Châu Khê tới Hà Nội và không chỉ làm bạc nén, họ làm cả nghề trang trí vàng bạc. Khi nhà Nguyễn lấy Huế làm kinh đô, xưởng đúc bạc nén cũng chuyển tới kinh thành mới, nhưng những người thợ Châu Khê vẫn ở lại Thăng Long và lập nên con phố Hàng Bạc ngày nay. Vào thời kỳ thuộc địa, con phố Hàng Bạc còn được mang tên Rue changeurs, có nghĩa phố Đổi Bạc. Dân cư ở đây không chỉ sản xuất đồ kim hoàn mà còn buôn bán, đổi bạc nén lấy bạc vụn. Ngày nay, nghề buôn bán vàng bạc xuất hiện ở nhiều con phố khác, nhưng Hàng Bạc vẫn là nơi đông đúc bậc nhất.
Làng Bát Tràng nằm ở huyện Gia Lâm, phía Nam thành phố từ lâu đã có các sản phẩm gốm mang tên chính ngôi làng này. Làng xuất hiện vào thế kỷ 14 khi những người dân làm gốm từ làng Bồ Bát, Ninh Bình và làng Ninh Tràng, Thanh Hóa tụ họp về đây lập nên ngôi làng mới mang tên Bát Tràng. Những người dân Bát Tràng trước kia ít sống với nghề gốm và nông nghiệp, chủ yếu buôn bán cau khô, nước mắm. Nghề gốm ở đây chỉ thực sự phát triển sau năm 1954, khi miền Bắc Việt Nam bước vào thời kỳ hòa bình. Nhiều mẫu mã, các loại men truyền thống được những nghệ nhân của làng phục hồi, sản phẩm gốm Bát Tràng nhanh chóng đạt được danh tiếng. Bát Tràng hiện nay không chỉ là một làng nghề sản xuất thuần túy. Với nhiều công trình tín ngưỡng, văn hóa cùng sản phẩm gốm, ngôi làng trở thành một địa điểm du lịch thu hút của thành phố Hà Nội.
Một làng nghề khác của Hà Nội ngày nay là làng lụa Vạn Phúc, vốn thuộc thành phố Hà Đông tỉnh Hà Tây trước đây, nay là quận Hà Đông. Sản phẩm lụa của làng từ rất lâu đã có tiếng với tên gọi lụa Hà Đông, từng được ca ngợi trong âm nhạc, thi ca và điện ảnh. Tương truyền, bà tổ làng lụa Vạn Phúc vốn người Hàng Châu, Trung Quốc, theo chồng chinh chiến rồi tới ở lại và truyền nghề dệt cho làng. Theo một truyền thuyết khác, cách đây hơn 1200 năm, một cô gái người Cao Bằng tên là A Lã Thị Nương đã đến làm dâu và mang nghề dệt lụa tới làng. Trải qua thời gian, nghề lụa trở thành nghề truyền thống của Vạn Phúc. Ngày nay, phần lớn các gia đình ở đây vẫn sống bằng nghệ dệt. Bên cạnh các khung dệt cổ, nhiều gia đình sử dụng những khung dệt cơ khí hiện đại. Các con phố Hàng Gai, Hàng Đào của Hà Nội là nơi tập trung nhiều cửa hàng bán sản phẩm lụa Vạn Phúc.
=== Lễ hội truyền thống ===
Thăng Long – Hà Nội là một trong ba vùng tập trung nhiều hội lễ của miền Bắc Việt Nam, cùng với vùng đất tổ Phú Thọ và xứ Kinh Bắc. Cũng như các vùng đất khác, những lễ hội truyền thống ở khu vực Hà Nội được tổ chức nhiều nhất vào mùa xuân. Phần nhiều các lễ hội tưởng nhớ những nhân vật lịch sử, truyền thuyết như Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, Quang Trung, An Dương Vương... Một vài lễ hội có tổ chức những trò chơi dân gian độc đáo như hội thổi cơm thi làng Thị Cấm, hội bơi cạn và bắt chạch làng Hồ, hội chạy cờ làng Đơ Thao, lễ hội thả diều truyền thống Bá Giang.
Từ ngày 9 dến 12 tháng 1 âm lịch, lễ hội Triều Khúc được tổ chức tại ngôi làng cùng tên, thuộc xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, nơi có nghề làm nón quai thao và may các đồ thờ như lọng, tàn, trướng, y môn, tán tía. Lễ hội được mở đầu bằng lễ rước long bào từ đình Sắc về đình Lớn. Khi cuộc tế lễ trong đình bắt đầu thì ngoài sân đình các trò vui cũng được tổ chức. Một trong những trò vui được nhiều người ưa thích nhất là trò đĩ đánh bồng. Đĩ đánh bồng do hai nam thanh niên mặc trang phục nữ giới biểu diễn, nhún nhảy và đánh chiếc trống Bồng đeo trước bụng. Nhiều trò vui khác như múa lân hí cầu, đấu vật, hát Chèo Tàu sẽ được tổ chức cho tới ngày 12, hội kết thúc bằng lễ rã đám.
Một trong những hội lễ lớn nhất ở đồng bằng Bắc Bộ là lễ hội Thánh Gióng hay còn gọi là hội làng Phù Đổng (xã Phù đổng huyện Gia Lâm), xuất phát từ một câu truyện truyền thuyết về Thánh Gióng, một trong tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Vào 9 tháng 4 âm lịch hàng năm, những người dân ở khắp nơi tụ hội về đây tham dự, xem lễ hội làng. Lễ hội làng Gióng được cử hành trên một diễn trường rộng lớn dài khoảng 3 km gồm đền Thượng, đền Mẫu và chùa Kiến Sơ. Bắt đầu từ ngày 6, người dân làng tổ chức rước lễ rước cờ tới đền Mẫu, rước cơm chay lên đền Thượng và ngày chính hội tổ chức hội trận, tái hiện lại cảnh Thánh Gióng phá giặc Ân. Các ngày từ 10 đến 12 được tiếp nối bằng các lễ rửa khí giới, rước cờ báo tin thắng trận với trời đất và cuối cùng là lễ khao quân, đến đêm có hát chèo. Ngoài lễ hội chính tại làng Phù Đổng, một vài nơi khác cũng tổ chức hội Gióng như hội đền Sóc ở xã Xuân Đỉnh huyện Từ Liêm, hội Sóc Sơn ở huyện Sóc Sơn, hội Phù Thánh Gióng ở làng Chi Nam, xã Lệ Chi huyện Gia Lâm.
Trong nội ô thành phố, vào ngày 5 Tết Nguyên Đán, lễ hội Đống Đa được tổ chức ở gò Đống Đa, thuộc quận Đống Đa. Địa điểm này từng là nơi diễn ra trận đánh giữa nhà Tây Sơn và quân Thanh vào đêm 4 rạng ngày 5 tháng 1 năm Kỷ Dậu, tức 1789. Lễ hội Đống Đa được tổ chức với nhiều trò vui, trong đó tiết mục rước rồng lửa do thanh niên mặc quần áo võ sinh thời cổ rước đi quanh sân lớn, cùng một đám võ sinh múa côn quyền tái hiện lại hình ảnh của quá khứ.
Ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, lễ hội chùa Hương tấp nập du khách từ giữa tháng 1 tới tận tháng 3 âm lịch, nhưng đông nhất vào khoảng từ ngày rằm tháng giêng đến 18 tháng 2. Với cảnh núi non, sông nước cùng quần thể di tích chùa Hương, lễ hội là điểm đến của các tăng ni, phật tử, những người hành hương và khách du lịch. Theo hành trình phổ biến, khách trẩy hội thường bắt đầu từ bến Đục, ngồi đò theo dòng suối Yến ghé lễ đền Trình. Từ đó, du khách tiếp tục đi qua cầu Hội, hang Sơn thủy hữu tình, núi Đồi Chèo, núi Con Voi, núi Mâm Xôi, núi Con Gà... rồi cập bến vào chùa Thiên Trù. Từ đây, du khách bắt đầu hành trình đi bộ thăm chùa Tiên, chùa Giải Oan, đền Cửa Võng và đến đệ nhất động Hương Tích. Đây là một trong những lễ hội lớn và kéo dài nhất Việt Nam.
=== Ẩm thực ===
Là trung tâm văn hóa của cả miền Bắc từ nhiều thế kỷ, tại Hà Nội có thể tìm thấy và thưởng thức những món ăn của nhiều vùng đất khác, nhưng ẩm thực Hà Nội cũng có những nét riêng biệt. Cốm làng Vòng được những người dân của ngôi làng cùng tên thuộc quận Cầu Giấy làm đặc trưng bởi mùi thơm và màu sắc. Cốm làm từ giống nếp vàng gặt khi còn non, gói trong những tàu lá sen màu ngọc thạch và được những người bán hàng rao bán ngay từ sáng sớm. Tuy phổ biến nhất là cốm tươi, nhưng món ăn này còn được chế biến thành món chả cốm. Đây cũng là một món quà được dùng trong các dịp vui.
Thanh Trì, làng vùng ngoại ô khác thuộc phường Thanh trì, quận Hoàng Mai, với món bánh cuốn Thanh Trì. Bánh được làm từ gạo gié cánh, tám thơm, tráng mỏng như tờ giấy. Những phụ nữ vùng Thanh Trì cho bánh vào thúng, đội trên đầu và đi rao khắp các ngõ phố của Hà Nội. Bánh xếp trong thúng, từng lớp gối nhau trên những tàu lá chuối. Khi ăn, bánh được bóc từng lớp rồi cuộn lại, bày trên những chiếc đĩa. Món bánh cuốn Thanh Trì được ăn cùng với loại nước mắm pha theo công thức đặc biệt của người Thanh Trì, đậu phụ rán nóng, chả quế. Ngày nay, bánh còn được ăn với thịt ba chỉ quay giòn.
Một món ăn khác có tiếng của Hà Nội là chả cá Lã Vọng. Vào thời Pháp thuộc, gia đình họ Đoàn phố Hàng Sơn, ngày nay là 14 phố Chả Cá, đã tạo nên một món ăn mà danh tiếng của nó làm thay đổi cả tên con phố. Chả được làm từ thịt cá lăng – hoặc cá quả, cá nheo nhưng sẽ kém ngon hơn – thái mỏng ướp với nước riềng, nghệ, mẻ, hạt tiêu, nước mắm rồi kẹp vào cặp tre nướng trên lò than ngay trên bàn ăn của thực khách. Chả cá Lã Vọng phải ăn nóng, kèm với bánh đa nướng hay bún rối, lạc rang, rau mùi, húng láng, thì là, hành củ tươi chẻ nhỏ, chấm với mắm tôm.
Phở là món ăn rất phổ biến ở Việt Nam, nhưng phở Hà Nội có những cách chế biến đặc trưng riêng. Phở Hà Nội mang vị ngọt của xương bò, thịt vừa chín đến độ để vẫn dẻo mà không dai, màu nước phở trong, bánh phở mỏng và mềm. Sau khi được trần qua nước nóng, bánh phở được dàn đều trong bát, bên trên là những lát thịt mỏng cùng hành hoa, rau thơm. Cùng với thời gian, nhiều món phở mới xuất hiện với những cách chế biến khác nhau, như phở xào, phở rán...
Ở Hà Nội còn có nhiều món ăn đặc trưng khác như phở cuốn, bún thang, bún chả, bún nem, bún bung, bún mọc, đậu phụ Mơ, bánh tôm Hồ Tây, bún ốc, tào phớ An Phú, nem chua làng Vẽ, nem Phùng, giò chả Ước Lễ.
=== Văn hóa ứng xử ===
Hà Nội thường được xem như nơi tập trung những tinh hoa văn hóa của miền Bắc và cả Việt Nam. Trong hàng ngàn năm, vị trí kinh đô khiến thành phố này trở thành nơi quy tụ của những nhân vật ưu tú, những thương nhân, những nghệ nhân, những thợ thủ công lành nghề. Họ tới đây lập nghiệp, mang theo những phong tục, tập quán địa phương và tỉnh Hà Nội trở thành mảnh đất tiêu biểu cho nền văn hóa của cả Việt Nam. Những danh nhân, nhân vật của Việt Nam phần đông xuất thân từ những vùng đất khác, nhưng kinh đô Thăng Long thường là nơi họ xây dựng nên sự nghiệp. Môi trường cạnh tranh của đất kinh thành khiến những thương nhân, thợ thủ công trụ vững lại Hà Nội phải là những người xuất sắc, tài năng. Khi những người dân tứ xứ về định cư tại Thăng Long, các phong tục tập quán mà họ mang theo cũng dần thay đổi, tạo nên nét văn hóa của Hà Nội.
Thăng Long – Hà Nội, kinh đô của Việt Nam, còn là nơi giao thoa của những nền văn hóa lớn. Hơn một nghìn năm Bắc thuộc đã để lại trên vùng đất Hà Nội ít nhiều những dấu ấn của nền văn minh Trung Hoa. Khi những người Pháp vào Việt Nam, nhiều người trong số họ chỉ coi Hà Nội như một tỉnh của Trung Quốc, hoặc đơn thuần là một vùng chuyển tiếp giữa Ấn Độ và Trung Hoa. Qua những người Pháp, Hà Nội – trung tâm văn hóa của quốc gia – biết tới nền văn minh phương Tây để rồi xây dựng nên những cơ sở đầu tiên của nền nghệ thuật Việt Nam hiện đại với tân nhạc, thơ mới, hội họa, văn học hiện đại, điện ảnh, nhiếp ảnh. Nhưng Hà Nội đầu thế kỷ 20 cũng là nơi những giá trị Pháp thống trị, cửa sổ mở ra thế giới mới của giới thượng lưu Việt Nam. Như lời của sử gia về Đông Nam Á Pierre-Richard Féray: "Ngay khi một người Việt Nam đạt được giàu sang và sống tại thành phố, anh ta bắt đầu trở nên đặc trưng Pháp. Anh ta cố gắng nói đúng giọng Pháp. Anh ta ăn, sống và thở theo cách Pháp". Những thập niên gần đây, Hà Nội cùng Việt Nam lại tiếp nhận những làn sóng văn hóa từ châu Âu và Mỹ.
Tuy là thủ đô, trung tâm văn hóa của Việt Nam, nhưng một số sự kiện văn hóa tổ chức ở Hà Nội gần đây đã xảy ra nhiều sự việc đáng chú ý, điển hình là vụ tàn phá hoa của người Hà Nội tại Lễ hội hoa anh đào diễn ra giữa thủ đô năm 2008, hay những hành động thiếu ý thức, kém văn minh và đáng xấu hổ tại Lễ hội phố hoa Hà Nội vào Tết Dương lịch 2009 tổ chức tại hồ Hoàn Kiếm. Nhà văn Băng Sơn phát biểu: "Tôi cảm thấy buồn và xấu hổ. Người Hà Nội làm xấu Hà Nội đi. Bao nhiêu năm hội hoa ở Đà Lạt, ở TP HCM mà không phải làm hàng rào vẫn giữ được cho đến ngày cuối cùng". Những vụ việc trên đã dấy lên làn sóng phản đối mạnh mẽ từ dư luận cả nước trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặt câu hỏi lớn về "văn hóa người Tràng An" trong thời đại ngày nay. Có nhiều ý kiến nhận xét lối cư xử nhã nhặn, thanh lịch của người Hà Nội đang mất dần, thay vào đó là cách cư xử thiếu văn hóa nhất là ở giới trẻ Hà Nội . Hà Nội còn có "bún mắng, cháo chửi" ngày càng trở nên phổ biến đã bị nhiều báo phản ánh và phê phán tuy nhiên các quán ăn có phong cách phục vụ vô văn hóa, thô lỗ, xem thường, xúc phạm khách hàng này vẫn thu hút được nhiều người đến ăn . Sau sự kiện "bún chửi" Hà Nội lên sóng CNN trong mục "món ăn đặc sắc" tháng 9/2016 thì giới chức Hà Nội "tuyên chiến với nói tục, chửi bậy" .
== Hà Nội trong văn hóa, nghệ thuật ==
=== Âm nhạc ===
Hà Nội là một niềm cảm hứng sáng tác của nhiều nhạc sĩ. Đã có hàng nghìn bài hát viết về Hà Nội trong nhiều đề tài. Trước hết đó là hình ảnh của một Hà Nội với khí thế hào hùng và mạnh mẽ trong vị thế thủ đô trong cuộc đấu tranh vệ quốc. Trong những năm tháng này, Văn Cao đã viết cho Hà Nội một số hành khúc như Thăng Long hành khúc ca, Gò Đống Đa, Tiến về Hà Nội. Khi những người lính thuộc Trung đoàn Thủ Đô phải rời xa Hà Nội, một trong số đó, nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi đã viết ca khúc Người Hà Nội, ngày nay đã trở nên quen thuộc. Hình ảnh Hà Nội trong cuộc chiến với thực dân Pháp cũng là đề tài của các tác phẩm như: "Sẽ về Thủ đô" của Huy Du, "Cảm xúc tháng Mười" của Nguyễn Thành, "Ba Đình nắng" của Bùi Công Kỳ. Trong những tháng năm chống Mỹ, Thủ đô anh hùng trong chiến đấu và kiến thiết được khắc họa đâm nét trong các tác phẩm như "Bài ca Hà Nội" của Vũ Thanh, "Hà Nội - Điện Biên Phủ" của Phạm Tuyên, "Khi thành phố lên đèn" của Thái Cơ, "Tiếng nói Hà Nội" của Văn An v.v... Bên cạnh đó, Hà Nội hiện lên với dáng vẻ cổ xưa, kiêu kỳ và lãng mạn, với "ánh đèn giăng mắc", "có bóng trăng thơ in trên mặt hồ", với hình ảnh người con gái "khăn san bay lả lơi trên vai ai""áo trắng Trưng Vương, Tây Sơn em tan trường về" trong những nhạc phẩm mang nhiều tính chất hoài niệm như Hướng về Hà Nội của Hoàng Dương, Nỗi lòng người đi của Anh Bằng, Hà Nội ngày tháng cũ của Song Ngọc hay Gửi người em gái miền Nam của Đoàn Chuẩn. Vẻ đẹp của thiên nhiên, cảnh vật, con người, truyền thống lịch sử và nét thanh lịch độc đáo của Hà Nội được khắc họa đậm nét qua giai điệu của nhiều nhạc sĩ Việt Nam thuộc nhiều thế hệ khác nhau, như Hoàng Hiệp với "Nhớ về Hà Nội", Phan Nhân với "Hà Nội niềm tin và hy vọng", Hoàng Vân với "Tình yêu Hà Nội", Văn Ký với "Trời Hà Nội xanh" và "Hà Nội mùa xuân", Nguyễn Đức Toàn với "Hà Nội trái tim hồng", Trần Hoàn với "Khúc hát người Hà Nội", Trịnh Công Sơn với "Nhớ mùa thu Hà Nội", Nguyễn Cường với "Mãi vẫn là tuổi thơ tôi Hà Nội", Dương Thụ với "Mong về Hà Nội", Phú Quang với "Em ơi, Hà Nội phố", "Hà Nội ngày trở về", "Im lặng đêm Hà Nội", Phạm Minh Tuấn với "Hà Nội ơi thầm hát trong tôi", Nguyễn Tiến với "Chiều mưa Hà Nội", Trần Quang Lộc với "Có phải em mùa thu Hà Nội", Trương Quý Hải với "Hà Nội mùa vắng những con mưa", Lê Vinh với "Hà Nội và tôi", Vũ Quang Trung với "Chiều Hà Nội" v.v... Một số địa danh của Hà Nội cũng đi trở thành chủ đề sáng tác trong âm nhạc như "Một thoáng Tây Hồ" của Phó Đức Phương, "Ngẫu hứng sông Hồng" của Trần Tiến, "Chiều Hồ Gươm" của Đặng An Nguyên, "Truyền thuyết Hồ Gươm" của Hoàng Phúc Thắng, "Bên lăng Bác Hồ" của Dân Huyền v.v... Có một số tác phẩm tuy không nhắc đến địa danh Hà Nội trong tựa đề hoặc trong ca từ nhưng được lấy cảm hứng hoặc viết về chính mảnh đất này như: "Những ánh sao đêm" của Phan Huỳnh Điểu, "Từ một ngã tư đường phố" của Phạm Tuyên, "Mùa xuân làng lúa làng hoa" của Ngọc Khuê, "Hoa sữa" của Hồng Đăng, "Thu quyến rũ" của Đoàn Chuẩn, "Phố nghèo", "Ngẫu hứng phố" của Trần Tiến,... Một Hà Nội với ngập tràn các loài hoa đã được nhạc sĩ Giáng Son khắc họa trong "Hà Nội 12 mùa hoa" - Đây cũng là một vẻ đẹp rất riêng của thủ đô Hà Nội.
=== Văn học ===
Trong văn học Việt Nam, Hà Nội hiện ra như một đô thị có lịch sử lâu đời, giàu truyền thống và bản sắc văn hóa. Thời phong kiến, thành Thăng Long từng là đề tài của nhiều bài thơ như Long thành cầm giả ca của Nguyễn Du hay Thăng Long thành hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan. Ba nhà văn thường được nhắc đến khi nói về đề tài Hà Nội trong văn học là Nguyễn Tuân, Vũ Bằng và Thạch Lam. Nguyễn Tuân, người sinh ra và lớn lên trong môi trường nho giáo, thất vọng bởi cuộc sống trong xã hội "kim khí" xô bồ, thường tìm về những giá trị cũ. Bóng dáng Hà Nội trong tác phẩm của Nguyễn Tuân là những thú chơi của các bậc tao nhân mặc khách trong Vang bóng một thời như thưởng trà, thả thơ, đánh thơ, hát ca trù... Vũ Bằng lại qua những trang viết, như Miếng ngon Hà Nội và Thương nhớ mười hai, thể hiện nỗi nhớ và tình yêu Hà Nội, ca ngợi sự tinh tế của các món ăn, khung cảnh thiên nhiên, đất trời, cảnh vật, con người, văn hóa của thành phố. Thạch Lam được biết đến qua tập bút ký Hà Nội 36 phố phường. Tác phẩm của Thạch Lam thể hiện sự thương xót trước những người nghèo khó, miêu tả hương vị của những món quà quê, những tiếng rao... tất cả những thứ tạo nên văn hóa Hà Nội. Nhiều nhà văn khác cũng có các tác phẩm về thành phố này như Phố của Chu Lai, Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng. Bảo Ninh trong Nỗi buồn chiến tranh cũng dành nhiều trang viết về Hà Nội.
=== Điện ảnh ===
Hình ảnh Hà Nội xuất hiện rất nhiều trên cả màn ảnh lớn và màn ảnh nhỏ. Sau khi được giải phóng vào năm 1954, không ít những bộ phim của điện ảnh cách mạng đã nói về Hà Nội, trong đó có thể đến đến Giông tố, Sao tháng Tám, Hà Nội mùa đông năm 1946, Em bé Hà Nội, Phía bắc Thủ đô, Tiền tuyến gọi. Em bé Hà Nội, tác phẩm của đạo diễn Hải Ninh, khắc họa cuộc sống của Hà Nội trong thời gian quân đội Hoa Kỳ ném bom miền Bắc đã giành Bông sen vàng tại Liên hoan phim Việt Nam năm 1975 và giải đặc biệt của ban giám khảo LHP Liên hoan phim Moskva cùng năm đó. Sau khi Việt Nam thống nhất, một số bộ phim khác khai thác đề tài về lớp thanh niên sống ở Hà Nội thời kỳ sau chiến tranh, như Tuổi mười bảy, Những người đã gặp, Hãy tha thứ cho em, Cách sống của tôi, Hà Nội mùa chim làm tổ. Nhưng kể từ năm 1990, trong suốt một thập niên, phim về Hà Nội dường như vắng bóng trên màn ảnh của điện ảnh Việt Nam. Năm 2000, đạo diễn Việt kiều Trần Anh Hùng về Việt Nam sản xuất Mùa hè chiều thẳng đứng, một bộ phim chính kịch, xoay quanh cuộc sống của ba chị em gái với bối cảnh Hà Nội. Để chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, nhiều nhà làm phim Việt Nam đã sản xuất một vài bộ phim về đề tài này.
=== Hội họa ===
Trong hội họa, có lẽ người thành công và gắn bó nhất với Hà Nội là họa sĩ Bùi Xuân Phái. Quê ở xã Vân Canh, Hà Đông, Bùi Xuân Phái theo học tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và hầu như cả cuộc đời sống tại Hà Nội. Trong tranh của Bùi Xuân Phái, Hà Nội mang đầy vẻ xưa cũ với những ngôi nhà mái nâu, những con phố nhỏ. Những bức vẽ về phố cổ Hà Nội của Bùi Xuân Phái ngày nay thường được biết đến với tên gọi Phố Phái. Ngoài ra, còn có một số họa phẩm của các họa sĩ khác vẽ về người Hà Nội đã đi vào lịch sử: Thiếu nữ bên hoa huệ của Tô Ngọc Vân, Em Thúy của Trần Văn Cẩn, Tan ca mời chị em ra họp thi thợ giỏi của Nguyễn Đỗ Cung
=== Vinh danh ===
Tên gọi của thành phố cũng được sử dụng cho nhiều loài sinh vật:
Trachys hanoiensis
== Thành phố kết nghĩa ==
== Chỉ dẫn ==
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Nguyễn Vinh Phúc (2004). Hà Nội - Con đường, dòng sông và lịch sử. Hà Nội: Nhà xuất bản Trẻ.
Tô Hoài (2007). Chuyện cũ Hà Nội. Hà Nội: Nhà xuất bản Hội Nhà Văn.
Nguyễn Vinh Phúc (2004). Hà Nội qua những năm tháng. Hà Nội: Nhà xuất bản Trẻ.
Clément, Pierre; Nathalie Lancret (2003). Hà Nội chu kỳ của những đổi thay hình thái kiến trúc và đô thị. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật.
Nguyễn Vinh Phúc (2004). Phố và đường Hà Nội. Hà Nội: Nhà xuất bản Giao thông Vận tải.
Logan, William Stewart (2000). Hanoi: Biography of a City. UNSW Press. ISBN 9780868404431. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010.
Papin, Philippe (2001). Histoire de Hanoi. Fayard. ISBN 2213606714. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010.
Boudarel, Georges; Nguyễn Văn Ký (2002). Hanoi: City of the Rising Dragon. Rowman & Littlefield. ISBN 0742516555. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010.
Boudarel, Georges; Nguyễn Văn Ký (1997). Hanoi 1936-1996: du drapeau rouge au billet vert. Autrement. ISBN 9782862607191. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2010.
== Liên kết ngoài ==
Hà Nội tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Hà Nội tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Trang chính thức Cổng Giao tiếp điện tử ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
Cổng thông tin điều hành ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
Hanoi trên Citizendium của Larry Sanger |
hiện tượng foehn.txt | Hiện tượng foehn (phơn) chỉ việc gió sau khi vượt qua núi trở nên khô và nóng. Ở Việt Nam, hiện tượng foehn thường được dân gian gọi là gió Lào hoặc gió phơn Tây Nam khô nóng.
== Tên gọi ==
Foehn có nguồn gốc từ tiếng Đức (föhn) chỉ thứ gió ở vùng núi Alps, nhờ nó khu vực Trung Âu được hưởng khí hậu ấm áp.
Ở những nơi khác trên thế giới, hiện tượng này được gọi bằng các tên khác. Chẳng hạn, ở Mỹ và Canada gọi là chinook, và có nơi gọi là Diablo hay gió Santa Ana. Còn ở Tây Ban Nha gọi là gió Bilbao. Ở Việt Nam gọi là gió Lào. Nói chung, thường đặt tên cho gió này theo tên địa phương nơi xảy ra.
== Bản chất ==
Gió hình thành và chuyển song song với mặt đất. Khi bị núi chắn ngang thì gió phải vượt lên cao, lên tầng không khí loãng và lạnh hơn, khiến cho hơi nước ngưng tụ, gây mưa bên triền núi hứng gió và đồng thời làm gió giảm áp suất. Khi đã qua đỉnh núi thì gió trở thành một luồng khí khô hạ áp nên khi đi từ trên cao xuống, gặp không khí đặc hơn gió sẽ bị nén lại. Quá trình đó làm tăng nhiệt độ của gió (hiện tượng đoạn nhiệt trong môn nhiệt lực học). Kết quả là bên triền núi hứng gió (đoạn lên núi) thì gió ẩm, mát và gây mưa nhiều nhưng bên triền núi khuất gió (đoạn xuống núi) thì gió lại khô và nóng. Dãy núi càng cao, thì khi xuống núi mức gia tăng nhiệt độ càng lớn và càng khô.
== Hậu quả ==
Gió khô nóng nên dễ gây ra hỏa hoạn, nhất là cháy rừng. Đặc biệt, nó làm cho khí hậu ở các vùng mà nó thổi tới trở nên có nhiệt độ cao hơn và khô hơn.
== Hiện tượng foehn ở Việt Nam ==
Gió Tây Nam khô nóng là thuật ngữ mà các nhà chuyên môn ở Việt Nam dùng để chỉ hiện tượng này. Gió hình thành từ vịnh Thái Lan, di chuyển theo hướng Tây Nam - Đông Bắc qua Campuchia và Lào. Khi tiếp cận dãy núi Trường Sơn thì gió tăng tốc, vượt qua và tràn xuống vùng Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ. Gió thường xuất hiện từ đầu tháng Tư đến giữa tháng Chín, thường bắt đầu thổi từ 8-9 giờ sáng cho đến chiều tối, thổi mạnh nhất từ khoảng gần giữa trưa đến xế chiều. Gió khô và nóng, nên làm cho khí hậu các vùng nói trên trở nên khắc nghiệt. Độ ẩm có khi xuống 30% trong khi nhiệt độ có khi lên tới 43⁰C. Với bầu trời nắng chói chang, gió lại thổi đều đều như quạt lửa nên cây cỏ héo khô, ao hồ cạn kiệt, con người và gia súc bị ngột ngạt, rất dễ sinh hoả hoạn.
Một số công trình nghiên cứu làm mát gió Tây Nam khô nóng đã được tiến hành và đề xuất việc đào các hồ nước, phá bớt núi đá trọc để tăng độ ẩm cho gió.
Ngoài các vùng trên, hiện tượng foehn cũng thấy xảy ra ở Mường Thanh và ở Sa Pa.
== Tham khảo và Liên kết ngoài ==
Gió khô nóng
Biến gió Lào thành gió mát
Vị Giáo sư 84 tuổi và khát vọng chế ngự gió Lào
Có thể chế ngự gió Lào?
Xây hồ chứa nước trên núi đá làm mát gió Lào
== Tham khảo == |
amur.txt | Sông Amur (A-mua) hay Hắc Long Giang (tiếng Nga: Амур; tiếng Trung giản thể: 黑龙江, phồn thể: 黑龍江. bính âm: Hēilóng Jiāng), tức "Hắc Long Giang" hay là "sông Rồng đen"; tiếng Mông Cổ: Хара-Мурэн, Khara-Muren có nghĩa là "sông Đen"; tiếng Mãn: Sahaliyan Ula cũng có nghĩa là "sông Đen"), với tổng chiều dài lên đến 4.444 km, nó trở thành con sông lớn thứ 10 trên thế giới, tạo thành biên giới tự nhiên giữa miền Viễn Đông của Nga và vùng Mãn Châu (tỉnh Hắc Long Giang) của Trung Quốc.
== Tên gọi ==
Trước khi người Nga đặt chân đến vùng này vào thế kỷ 19, sông Amur đã được người Mãn đặt tên là Hắc giang (sông Đen), là nơi tổ tiên họ đã sinh sống trong một thời gian dài và nhà Thanh luôn luôn coi con sông này như là một dòng sông linh thiêng.
Trong nhiều tư liệu lịch sử đã có hai thực thể địa chính trị được biết đến như là Nội Mãn Châu và Ngoại Mãn Châu (Mãn Châu thuộc Nga). Tỉnh Hắc Long Giang của Trung Quốc nằm ở phía nam con sông này và được đặt tên theo tên gọi trong tiếng Trung của con sông, cũng như tỉnh Amur của Nga nằm ở phía bắc con sông.
Sông Amur là một biểu tượng rất quan trọng của — và là một yếu tố địa chính trị quan trọng trong — quan hệ Nga-Trung. Sông Amur đã có tầm quan trọng đặc biệt trong thời kỳ diễn ra sau sự chia rẽ về chính trị giữa Trung Quốc và Liên Xô trong thập niên 1960.
Các ngành kinh tế quan trọng trong lưu vực sông Amur bao gồm luyện kim, khai thác quặng sắt, các kim loại màu, vàng, than, thủy điện, lúa mì, kê, đậu tương, nghề cá, gỗ và thương mại Nga-Trung. Mỏ dầu Đại Khánh, là mỏ dầu lớn thứ tư trên thế giới, nằm gần thành phố Đại Khánh trong tỉnh Hắc Long Giang, chỉ cách con sông này vài trăm kilômét.
== Dòng chảy ==
Chảy dọc theo miền đông bắc châu Á trên 4.444 km (2.761 dặm), từ các dãy núi ở đông bắc Mông Cổ tới biển Okhotsk (gần Nikolayevsk-na-Amur), nó tưới tiêu cho một khu vực đáng kể, bao gồm nhiều loại cảnh quan đa dạng như sa mạc, thảo nguyên, lãnh nguyên (tundra) và rừng taiga, cuối cùng chảy vào Thái Bình Dương thông qua eo biển Tartar.
Phần chiều dài chính của sông Amur là 2.874 km, độ sâu từ mặt nước cao nhất đến đáy sông 13,45 km, sau khi có sự hợp lưu của hai sông Shilka và Argun tại gần thôn Lĩnh Lạc Cổ (洛古河, miền tây huyện Mạc Hà (漠河) thuộc tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc) và Pokrovka (Nga) để trở thành sông Amur.
Các sông nhánh chính là:
Ingoda,
Onon,
Shilka,
Kherlen,
Argun,
Zeya,
Selemdzha
Bureya,
Tùng Hoa,
Nộn Giang
Ussuri,
Amgun
Sông Amur là ranh giới tự nhiên của tỉnh Hắc Long Giang thuộc Trung Quốc ở phía nam với tỉnh Amur, tỉnh tự trị Do Thái (Evreyskaya avtonomnaya oblast) và vùng Khabarovsk thuộc Nga ở phía bắc. Phần hạ lưu sông Amur chảy qua vùng Khabarovsk. Nó chảy qua các thành phố sau:
Hô Mã (Trung Quốc, bờ nam)
Blagoveshchensk (Nga, bờ bắc)
Hắc Hà (Trung Quốc, bờ nam)
Gia Ấm (Trung Quốc, bờ nam)
Đồng Giang (Trung Quốc, bờ nam)
Phủ Viễn (Trung Quốc, bờ nam)
Khabarovsk (Nga, bờ nam)
Komsomolsk-na-Amur (Nga, bờ bắc)
Amursk (Nga, bờ bắc)
Nikolayevsk-na-Amur (Nga, bờ bắc)
== Xem thêm ==
Báo Amur
Địa lý Trung Quốc
Địa lý Nga
Tranh chấp biên giới Nga-Trung
Vụ nổ nhà máy hóa chất Cát Lâm năm 2005
Quê hương của cá tầm Kaluga (Acipenseriformes)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Thông tin và bản đồ lưu vực sông Amur |
hậu lý nam đế.txt | Hậu Lý Nam Đế (chữ Hán: 後李南帝; trị vì: 571-602) là vua nhà Tiền Lý trong lịch sử Việt Nam. Ông tên thật là Lý Phật Tử (李佛子; ?-602), người Thái Bình, phủ Long Hưng (Sơn Tây), là cháu họ của Lý Nam Đế.
== Ẩn náu ở động Dã Năng ==
Lý Phật Tử xuất hiện trong sử sách từ cuộc chiến chống quân Lương lần thứ tư, năm 545.
Đầu năm 544, Lý Bí sau khi đánh thắng quân Lương, xưng hiệu là Nam Việt đế, đặt tên nước là Vạn Xuân.
Tháng 6 năm 545, vua Lương là Lương Vũ Đế (Tiêu Diễn) cử Dương Phiêu, Trần Bá Tiên, Tiêu Bột đi đánh Vạn Xuân. Trần Bá Tiên là tướng giỏi nhà Lương. Quân Lương đến Vạn Xuân, Lý Nam Đế mang quân ra đánh bị thua nặng mấy trận, mất thành Gia Ninh (545), sau đó lui về quận Tân Xương là vùng của người Lạo, lại bị quân Lương đánh úp tại hồ Điển Triệt (546), phải ẩn náu trong động Khuất Lão, giao lại binh quyền cho tả tướng quân Triệu Quang Phục.
Trong khi đó, Lý Phật Tử cùng anh Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo đem 3 vạn người vào Cửu Chân, đánh chiếm được Đức Châu (Nghệ An), giết tướng nhà Lương là Trần Văn Giới. Sau đó, hai tướng họ Lý mang quân ra đánh Ái Châu (Thanh Hóa), Trần Bá Tiên mang quân tới đánh, Thiên Bảo và Phật Tử bị thua, bèn thu nhặt quân còn sót được vạn người chạy sang đất người Di Lạo ở Ai Lao.
Lý Thiên Bảo thấy động Dã Năng ở đầu nguồn Đào Giang, đất phẳng rộng màu mỡ có thể ở được, Lý Thiên Bảo mới đắp thành để ở, nhân tên đất ấy mà đặt quốc hiệu. Đến bây giờ quân chúng tôn làm chúa, xưng là Đào Lang Vương. Lý Phật tử là tướng dưới quyền.
Triệu Quang Phục đóng quân trong đầm Dạ Trạch cầm cự với Trần Bá Tiên, quân dân tôn xưng là Dạ Trạch Vương. Tháng 3 năm 548, nghe tin Lý Nam Đế mất trong động Khuất Lão, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, xưng hiệu Triệu Việt Vương. Năm 550, gặp lúc bên nước Lương xảy ra loạn Hầu Cảnh, nhà Lương gọi Bá Tiên về, ủy quyền cho tỳ tướng là Dương Sàn cầm quân. Triệu Việt Vương tung quân ra đánh, giết chết Dương Sàn. Quân Lương tan vỡ chạy về Bắc. Triệu Việt Vương lấy lại được nước Vạn Xuân, đóng đô ở thành Long Biên.
== Gây hấn với Triệu Việt vương ==
Triệu Việt Vương làm vua ở thành Long Biên. Lý Thiên Bảo làm Đào Lang Vương ở nước Dã Năng. Năm 555, Thiên Bảo chết, không có con nối dõi, quân chúng suy tôn Lý Phật Tử lên nối ngôi.
Năm 557, Lý Phật Tử đem quân xuống miền Đông đánh nhau với Triệu Việt Vương ở huyện Thái Bình. Hai bên năm lần giáp trận, chưa phân thắng bại, quân của Phật Tử có phần kém thế hơn. Phật Tử liệu không thắng được bèn xin giảng hòa xin ăn thề. Triệu Việt Vương nghĩ ông là người họ của Lý Nam Đế, không nỡ cự tuyệt, bèn chia địa giới ở bãi Quân Thần (nay là hai xã Thượng Cát, Hạ Cát ở huyện Từ Liêm) cho ở phía tây của nước.
Lý Phật Tử dời đến thành Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng).
== Thông gia để đoạt nước ==
Lý Phật Tử có con trai là Nhã Lang, xin lấy con gái của Triệu Việt Vương là Cảo Nương. Việt Vương bằng lòng, nên hai nhà kết thành thông gia. Vì yêu quý Cảo Nương nên Việt Vương cho Nhã Lang ở rể.
Sau Nhã Lang biết được bí mật về quân sự của Triệu Việt Vương, báo lại cho Phật Tử. Lý Phật Tử mang quân đánh úp Việt Vương. Việt Vương tự biết thế yếu không thể chống được, bèn đem con gái chạy về phía nam, muốn tìm nơi đất hiểm để ẩn náu tung tích, nhưng đến đâu cũng bị quân Lý Phật Tử đuổi theo sau gót. Việt Vương cưỡi ngựa chạy đến cửa biển Đại Nha, cùng đường, bèn nhảy xuống biển tự vẫn.
Lý Phật Tử lên làm vua cả nước, đóng đô ở Phong Châu. Vì ông cũng xưng là Lý Nam Đế, nên đời sau gọi là Hậu Lý Nam Đế để phân biệt với Lý Bí.
== Đầu hàng ==
Tại Trung Hoa, nhà Tuỳ đã diệt nhà Trần thống nhất toàn quốc năm 589. Vua Tùy sai sứ mang lệnh sang dụ Lý Phật tử sang chầu. Năm 602, Tổng quản Quế Châu nhà Tùy là Lệnh Hồ Hy theo lệnh của Tùy Văn Đế sai sứ thúc giục Hậu Lý Nam Đế. Ông thoái thác xin khất tới tháng 11 năm đó lên đường. Theo Tùy thư, Lệnh Hồ Hy vốn chỉ muốn ràng buộc Lý Phật Tử nên bằng lòng theo lời xin, nhưng có người lại kiện Lệnh Hồ Hy ăn hối lộ của Lý Phật Tử với Tùy Văn Đế.
Vua Tùy bèn sai bắt trói Lệnh Hồ Hy và hạ lệnh đánh Vạn Xuân. Thừa tướng Dương Tố tiến cử Thứ sử Qua Châu là Lưu Phương. Vua Tùy xuống chiếu sai Lưu Phương thống lĩnh 27 doanh quân sang đánh.
Nghe tin quân địch kéo sang, Hậu Lý Nam Đế sai con của người anh là Lý Đại Quyền giữ thành Long Biên, Biệt súy là Lý Phổ Đỉnh giữ thành Ô Diên, còn tự Lý Phật tử đóng ở thành Cổ Loa.
Quân Tùy đến núi Đô Long gặp quân Lý, Lưu Phương đánh tan hết, rồi tiến quân sang đến cạnh dinh của Lý Phật Tử. Lưu Phương lấy dụ hàng. Hậu Lý Nam Đế sợ hãi xin đầu hàng, bị quân Tùy bắt đưa về Trung Hoa rồi chết.
Dân làm đền thờ ông ở cửa biển Tiểu Nha để đối với đền thờ Triệu Việt Vương.
== Nhận định ==
Nhận định về Lý Phật Tử, sách Đại Việt Sử ký Toàn thư dẫn lời nhận xét thẳng thắn của sử thần Ngô Sĩ Liên:
Lấy bá thuật mà xét thì Hậu [Lý] Nam Đế đánh Triệu Việt Vương là đắc kế, lấy vương đạo mà xét thì việc ấy đã từng không bằng chó lợn. Sao thế? Là vì khi Tiền Lý Nam Đế ở động Khuất Lạo đem việc quân ủy cho Triệu Việt Vương. Việt Vương thu nhặt tàn quân giữ hiểm ở Dạ Trạch bùn lầy, đương đầu với Trần Bá Tiên là người hùng một đời, cuối cùng bắt được tướng của y là Dương Sàn. Tiên, người phương Bắc, phải lui quân. Bấy giờ vua [Hậu Nam Đế] trốn trong đất Di [Lạo], chỉ mong thoát khỏi miệng hùm mà thôi. May mà Bá Tiên về Bắc, [Lý] Thiên Bảo chết, mới đem quân đánh [Triệu] Việt Vương, dùng mưu gian trá xin hòa, kết làm thông gia. Việt Vương lấy lòng thành đối đãi, cắt đất cho ở, những việc làm của Việt Vương đều là chính nghĩa, giao hảo phải đạo, thăm viếng phải thời, há chẳng phải là đạo trị yên lâu dài hay sao ? Thế mà [Hậu Nam Đế] lại dùng mưu gian của Nhã Lang, vứt bỏ chính đạo nhân luân, kíp tham công lợi mà diệt nhân nghĩa, đánh cướp lấy nước, tuy rằng lấy được, mà Nhã Lang thì chết trước, bản thân cũng không khỏi làm tù, có lợi gì đâu?
== Xem thêm ==
Nhà Tiền Lý
Lý Nam Đế
Triệu Việt Vương
Lý Thiên Bảo
Hạ Mỗ
== Tham khảo ==
Đại Việt Sử ký Toàn thư
Khâm định Việt sử Thông giám cương mục
Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Viện Sử học (2001), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
== Chú thích == |
dạng tập hợp khoáng vật.txt | Trong khoáng vật học, hình dạng và kích thước được sử dụng để mô tả cho các tinh thể thường gặp nhất, hay các tinh thể xuất hiện phổ biến.
Một số thuật ngữ được các nhà khoáng vật học sử dụng dùng để mô tả các dạng thường tinh thể để rất hữu dụng để phân biệt các khoáng vật giống nhau. Việc phân biệt một số dạng thông thường giúp các nhà khoáng vật học xác định một lượng lớn các khoáng vật. Một số dạng thường chỉ đặc trưng cho một số loại khoáng vật, mặc dù hầu hết các khoáng vật tồn tại ở một số dạng thường khác nhau (sự hình thành các dạng thường đặc biệt được xác định bởi các điều kiện chi tiết trong quá trình khoáng vật đó kết tinh). Dạng thường tinh thể thường bị nhầm lẫn khi cấu trúc bên trong tinh thể không thề hiện rõ.
Các yếu tố ảnh hưởng đến dạng thường tinh thể gồm: sự kết hợp của hai hay nhiều dạng tinh thể; các tạp chất trong khi tinh thể phát triển; song tinh và điều kiện phát triển tinh thể (như nhiệt độ, áp suất, không gian). Các khoáng vật thuộc cùng một hệ tinh thể không nhất thiết phải có cùng dạng thường. Một số dạng thường của khoáng vật là duy nhất đối với các biến thể của nó trong cùng một vị trí: ví dụ như hầu hết sa phia kết tinh ở dạng hình trống dài, và chúng được tìm thấy ở Montana có dạng trụ mập. Dạng trụ mập chỉ có thể thấy ở ruby. Cả ruby và saphia đều là các biến thể của corundum.
Một số khoáng vật có thể thay thế các khoáng vật có trước nhưng vẫn giữ được dạng nguyên thủy của chúng: quá trình này gọi là sự thay thế đồng hình. Ví dụ phổ biến nhất là trong thạch anh tiger's eye được thay thế bởi silicacủa crocidolit asbest. Trong khi thạch anh ở dạng tinh thể euhedral (well-formed), dài giống lăng trụ, dạng sợi nguyên thủy crocidolit trong tiger's eye được bảo tồn.
== Danh sách các dạng thường ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Cấu trúc tinh thể
Các hệ tinh thể |
công giáo.txt | Công giáo là một thuật ngữ rộng được sử dụng đặc biệt trong ngữ cảnh Kitô giáo, xuất phát từ chữ Hy Lạp καθολικός (katholikos) có nghĩa "chung" hay "phổ quát". Như vậy thuật ngữ Công giáo hay Đại công trong tiếng Việt được dùng để dịch chữ καθολικός, catholicus hoặc catholique, với ý nghĩa đó là đạo chung, đạo phổ quát, đón nhận mọi người, chứ không riêng cho dân tộc hay quốc gia nào. Công giáo được dùng với một số nghĩa như sau:
Do ảnh hưởng lịch sử và hiện tại của Giáo hội Công giáo Rôma, "Công giáo" thường được dùng để chỉ hệ thống niềm tin tôn giáo của giáo hội này.
Sau cuộc Đại Ly giáo năm 1054, Đông phương dần thường được gọi là Chính thống giáo trong khi Tây phương gắn với tên gọi Công giáo.
Thuật ngữ này cũng được dùng để đề cập đến các giáo hội Công giáo về bản chất qua việc họ tuyên bố giữ niềm tin Công giáo và có tính tông truyền như Giáo hội Chính thống giáo Đông phương, Giáo hội chính thức của Anh hay các Giáo hội Công giáo Cổ và một số giáo hội khác.
Được dùng để phân biệt giáo hội Kitô giáo tiên khởi (Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền) với các nhóm lạc giáo.
== "Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền" ==
Văn kiện sớm nhất sử dụng thuật từ "Giáo hội Công giáo" được tìm thấy trong thư của thánh Ignatius thành Antiochia gửi các tín hữu ở Smyrna vào năm 107. Khi kêu gọi các Kitô hữu giữ vững sự hiệp nhất với giám mục của mình, ông viết: "Ở đâu có giám mục hiện diện, là ở đó có cộng đoàn; cũng thế, ở đâu có Chúa Giêsu Kitô, là ở đó có Giáo hội Công giáo".
Từ Công giáo được sử dụng kể từ đó để chỉ giáo hội duy nhất, nguyên thuỷ của Chúa Kitô, do Chúa Kitô sáng lập và được các Tông đồ lưu truyền, và xuất hiện trong các Kinh Tin Kính Kitô giáo, đáng chú ý là Kinh Tin Kính của các Tông đồ và Kinh Tin Kính Nicea. Vì vậy, nhiều người theo Kitô giáo tuyên bố mang danh hiệu "công giáo". Những người này có thể được chia thành 2 nhóm:
Các giáo hội như Công giáo Rôma, Chính thống giáo Đông phương và Chính thống giáo Đông phương phi Chalcedon, Công giáo Cổ (Old Catholic, gồm cả Công giáo Thượng cổ Ancient Catholic), Công giáo Độc lập và Công giáo Anh tuyên bố có tính tông truyền từ giáo hội tiên khởi; và
Các giáo hội tin rằng họ là hậu duệ tinh thần của các Tông đồ mà không cần có nguồn gốc tổ chức từ giáo hội lịch sử.
Nhìn chung, từ "công giáo" thường được các thành viên của nhóm đầu dùng để chỉ chính họ. Thành viên của nhóm sau thường không tự gọi mình là công giáo, mặc dù họ vẫn xem mình là một phần của giáo hội "công giáo" vô hình.
Các tín đồ Kitô giáo của hầu hết các giáo phái, trong đó có hầu hết các giáo phái Tin Lành, xác nhận niềm tin vào Giáo hội Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền. Đối với những người Tin Lành, mà hầu hết tự xem là hậu duệ tinh thần của các Tông đồ (nhóm thứ 2 nhắc tới ở trên), sự xác định rõ ràng này cho thấy niềm tin của họ vào sự hợp nhất cuối cùng của mọi giáo hội dưới một Thiên Chúa và Đấng Cứu Độ duy nhất, hơn là một giáo hội hợp nhất hữu hình. Trong cách dùng này, công giáo thường được viết với chữ "c" thường; đây cũng là cách viết được dùng trong Kinh Tin Kính Nicea và Kinh Tin Kính của các Tông đồ.
== Các giáo hội tuyên bố mình là "Công giáo" ==
=== Giáo hội Công giáo Rôma ===
Giáo hội Công giáo Rôma là giáo hội lớn nhất trong số các nhóm tự gọi mình là Công giáo. Một số người cũng dùng cách gọi "Công giáo Rôma" để đề cập tới thành phần chiếm đa số trong giáo hội và theo nghi thức Latinh, là Giáo hội Latinh. Như trên có đề cập, thuật ngữ "Công giáo" thường được dùng để nói về "Công giáo Rôma". Từ "Rôma" dùng để chỉ vai trò trung tâm của Giáo hoàng Rôma đối với giáo hội này và theo định nghĩa mọi tín đồ Công giáo Rôma có sự hiệp thông trọn vẹn với vị Giáo hoàng này khi là thành phần của Giáo hội Latinh (Tây phương) chiếm đa số hay thuộc 22 Giáo hội Công giáo Đông phương nhỏ hơn, chấp nhận "quyền bính trọn vẹn. tối cao, phổ quát trên Hội thánh" của Giáo hoàng tại Rôma (Điều 882 Giáo lý Hội thánh Công giáo).
=== Các nhóm Công giáo khác ===
Trong Kitô giáo Tây phương các nhóm chính tự xem là "Công giáo" mà không có sự hiệp thông đầy đủ với Giáo hoàng là Giáo hội Công giáo Thượng cổ (Ancient Catholic, Giáo hội Công giáo Cổ tại Hà Lan), các Giáo hội Công giáo Cổ (Old Catholic, tách khỏi Giáo hội Công giáo Rôma năm 1870), Hội Công giáo Yêu nước Trung Quốc, các Giáo hội Công giáo Độc lập (Independent Catholic) như các nhóm ở Philippines, Brazil, Ba Lan và một số thành phần của Anh giáo (Thượng Giáo hội hay Công giáo Anh). Các nhóm này giữ các niềm tin tinh thần và thực hành nghi lễ tôn giáo tương tự như Công giáo Rôma nghi lễ La-tinh mà từ đó họ xuất phát, nhưng từ chối địa vị và thẩm quyền của Giáo hoàng. Một số nhóm Công giáo Truyền thống chủ nghĩa không chấp nhận một phần hoặc toàn bộ các cải cách của Công đồng Vatican II cũng ở tình trạng tương tự.
Các sách nhập môn về Anh giáo thường đề cập đến đặc tính của truyền thống Anh giáo là bao gồm cả "Công giáo và Cải cách", Anh giáo (Anglicanism) về thực hành có thể được chia thành 2 cánh chính: Thượng Giáo hội (High Church), còn được gọi là Công giáo Anh (Anglo-Catholicism), và Hạ Giáo hội (Low Church), còn được gọi là trường phái Tin lành. Mặc dù tất cả các thành tố bên trong Anh giáo đều áp dụng các tín điều như nhau nhưng Anh giáo Hạ Giáo hội xem chữ "Công giáo" theo ý nghĩa lý tưởng, còn Anh giáo Thượng Giáo hội xem đó là tên gọi cho toàn thể Giáo hội hoàn vũ mà họ là một bộ phận cùng với Công giáo Rôma và các giáo hội Chính thống giáo.
Công giáo Anh giữ nhiều nét giống với nghi lễ La-tinh của Công giáo Rôma cũng như nhiều yếu tố tinh thần có liên quan, như niềm tin và thực hành 7 bí tích, tin vào sự Hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Tiệc thánh, tôn kính Nữ Đồng trinh Maria và các thánh, gọi người đã được truyền chức là "linh mục" – được xưng hô là "cha" – mặc lễ phục trong các nghi thức lễ nhà thờ, và đôi khi gọi hy lễ Tạ ơn là lễ "Missa". Cánh Công giáo Anh của Anh giáo phát triển chủ yếu vào thế kỷ thứ 19 và có liên hệ mạnh mẽ với Phong trào Oxford. Hai người lãnh đạo nổi bật của phong trào, John Henry Newman và Henry Edward Manning, vốn đều là giáo sĩ Anh giáo, sau này gia nhập Giáo hội Công giáo Rôma và trở thành Hồng y.
Một vài giáo hội Chính thống giáo Đông phương và Chính thống giáo Đông phương phi Chalcedon tự xem là giáo hội Công giáo chân thực và hoàn vũ, và xem các giáo hội khác cùng hệ thống hoặc các giáo hội Công giáo Tây phương là lạc giáo và rời bỏ Giáo hội Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo và Tông truyền. Thượng phụ của các giáo hội Chính thống giáo này là các tổng giám mục độc lập, nghĩa là mỗi vị không bị một vị khác giám sát trực tiếp khác (mặc dù vẫn ở dưới quyền, tuỳ theo truyền thống riêng của họ, của hội đồng giám mục hoặc quyết định chung của các thượng phụ cùng hiệp thông với nhau).
== Xem thêm ==
Bốn đặc tính của Giáo hội (Duy nhất, Thánh thiện, Công giáo, Tông truyền)
Phong trào Đại kết
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
http://www.vietcatholic.com |
lý bằng.txt | Lý Bằng (chữ Hán giản thể: 李鹏; phồn thể: 李鵬; latin hóa: Li Peng) sinh ngày 20 tháng 10 năm 1928 là Thủ tướng thứ tư của Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ năm 1987 đến năm 1998; Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc từ năm 1998 đến năm 2003. Vào thập kỷ những năm 90 của thế kỷ XX, Lý Bằng là nhân vật quyền lực thứ hai trong Đảng Cộng sản Trung Quốc sau Tổng Bí thư Giang Trạch Dân. Ông là Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1987 cho đến năm 2002, và đến năm 2003 thì nghỉ hưu. Ông thuộc lớp lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc thế hệ thứ ba.
Lý Bằng sinh ra tại Thượng Hải, quê gốc ở Thành Đô, thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên. Ông là con trai của nhà văn Lý Thạc Huân, một trong những nhà cách mạng đầu tiên của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông đã mồ côi cha lúc mới 3 tuổi. Ông là con nuôi của Chu Ân Lai. Năm 1945 khi 17 tuổi, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc.
== Gia đình ==
Con trai Trưởng: Lý Tiểu Bằng (1959), Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (9/2016), Tỉnh Trưởng Sơn Tây (2013-2016).
== Tham khảo == |
ngoại ngữ.txt | Ngoại ngữ, được hiểu là Tiếng nước ngoài. Ở Việt Nam, không có khái niệm ngôn ngữ thứ hai, như ở những nước phương Tây. Một số ngoại ngữ phổ biến ở Việt Nam hiện nay như: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn Quốc, tiếng Tây Ban Nha.
== Đối tượng biết ngoại ngữ ==
Những người giỏi về ngoại ngữ hiện nay chủ yếu gồm phần lớn là Sinh viên, Giảng viên, Những người đã tốt nghiệp Cao đẳng/Đại học, Tu nghiệp sinh nước ngoài về nước. Phần còn lại chiếm tỷ lệ không cao, đặc biệt là tầm tuổi trở lên 50. Nhìn chung, tỷ lệ người Việt có thể giao tiếp được với người nước ngoài còn thấp, do những yếu tố khách quan như 80% dân số ở nông thôn, làm nông nghiệp, và ít được học các ngoại ngữ, giao tiếp với người nước ngoài.
Những ngôn ngữ như tiếng Hán (Trung Quốc) thì tỷ lệ người trẻ tuổi lại thấp
== Ngoại ngữ ở các nước khác ==
Như ở Thụy Điển, hầu hết người dân đều có thể giao tiếp tốt bằng tiếng Anh, một ngoại ngữ của họ, không kém người bản xứ. Có được điều này vì họ có hệ thống các ý tưởng chiến lược được hoạch định trong văn bản nhà nước "Kế hoạch hành động cho chính sách đa ngôn ngữ". hơn 50 ngoại ngữ được giảng dạy tại các cơ sở đại học của Thụy Điển
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trẻ em thông minh khi học ngoại ngữ sớm
Mê hồn trận học ngoại ngữ online
Học ngoại ngữ ở công viên
Học ngoại ngữ dễ như... chạy xe máy |
chích lá họng vàng chanh.txt | Chích lá họng vàng chanh (danh pháp hai phần: Phylloscopus cebuensis) là một loài chích lá thuộc chi Chích lá, họ Chích lá. Loài này chỉ sinh sống ở Philippines.
== Tham khảo ==
BirdLife International 2004. Phylloscopus cebuensis. 2006 IUCN Red List of Threatened Species. Downloaded on ngày 10 tháng 7 năm 2007. |
1842.txt | Năm 1842 (MDCCCXLII) là một năm bắt đầu từ ngày thứ ba theo lịch lịch Gregory hoặc năm bắt đầu từ ngày chủ nhật chậm 12 ngày theo lịch Julius.
== Sự kiện ==
== Sinh ==
== Mất ==
== Tham khảo == |
tô hoài.txt | Tô Hoài (tên khai sinh: Nguyễn Sen; 27 tháng 9 năm 1920 – 6 tháng 7 năm 2014) là một nhà văn Việt Nam. Một số tác phẩm đề tài thiếu nhi của ông được dịch ra ngoại ngữ. Ông được nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật Đợt 1 (1996) cho các tác phẩm: Xóm giếng, Nhà nghèo, O chuột, Dế mèn phiêu lưu ký, Núi Cứu quốc, Truyện Tây Bắc, Mười năm, Xuống làng, Vỡ tỉnh, Tào lường, Họ Giàng ở Phìn Sa, Miền Tây, Vợ chồng A Phủ, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ.
== Tiểu sử ==
Tô Hoài sinh ra tại quê nội ở thôn Cát Động, Thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ trong một gia đình thợ thủ công. Tuy nhiên, ông lớn lên ở quê ngoại là làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam). Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức.
Bước vào tuổi thanh niên, ông đã phải làm nhiều công việc để kiếm sống như dạy trẻ, bán hàng, kế toán hiệu buôn,... nhưng có những lúc thất nghiệp. Khi đến với văn chương, ông nhanh chóng được người đọc chú ý, nhất là qua truyện Dế Mèn phiêu lưu ký. Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc. Trong chiến tranh Đông Dương, ông chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn có một số thành tựu quan trọng như Truyện Tây Bắc.
Từ năm 1954 trở đi, ông có điều kiện tập trung vào sáng tác. Tính đến nay, sau hơn sáu mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác.
Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 2014 tại Hà Nội, hưởng thọ 94 tuổi.
== Sự nghiệp văn học ==
Ông viết văn từ trước năm 1945, với các thể loại truyện phong phú, đa dạng. Các tác phẩm chính của ông là:
Dế Mèn phiêu lưu ký (1941)
O chuột (1942)
Nhà nghèo (1944)
Truyện Tây Bắc (1953)
Miền Tây (1967)
Cát bụi chân ai (1992)
Ba người khác (2006)
Truyện dài Dế Mèn phiêu lưu ký được ông viết xong vào tháng 12 năm 1941 tại Nghĩa Đô, ngoại ô Hà Nội khi đó. Đây là tác phẩm rất nổi tiếng của ông dành cho thiếu nhi.
Tác phẩm gần đây nhất của ông là Ba người khác. Sách được viết xong năm 1992 nhưng đến 2006 mới được phép in, nội dung viết về thời kỳ cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, đã gây tiếng vang lớn và có thể so sánh với Dế Mèn phiêu lưu ký, "đã mở ra diện mạo mới cho văn chương Việt Nam" trong nền văn học hiện thực.
Trong cuộc đời sáng tác, ông đã dùng nhiều bút danh khác ngoài Tô Hoài như Mai Trang, Mắt Biển, Thái Yên, Vũ Đột Kích, Hồng Hoa và Phạm Hòa.
== Giải thưởng ==
Giải nhất Tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam 1956 (Truyện Tây bắc);
Giải A Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội 1970 (tiểu thuyết Quê nhà);
Giải thưởng của Hội Nhà văn Á-Phi năm 1970 (tiểu thuyết Miền Tây);
Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt 1 - 1996).
Giải Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội 2010
== Quan điểm ==
== Đánh giá ==
== Tưởng nhớ ==
Ngày 27/10/2015, hiệu sách Dế Mèn khai trương tại ngôi nhà 108, C3, tập thể Nghĩa Tân, Hà Nội, vốn là thư phòng của nhà văn Tô Hoài trước kia. Hiệu sách Dế Mèn do chính con cháu Tô Hoài thực hiện, diện tích rộng hơn 10m2 tương lai sẽ có thêm phòng đọc mini phía trong - nơi nhà văn Tô Hoài từng ngồi viết văn, ngủ, nghỉ. Ngoài các đầu sách của nhà văn Tô Hoài, hiệu sách còn có nhiều tác phẩm cho thiếu nhi, phần lớn là sách văn học. Hiệu sách cũng tạo công việc cho con cháu trong nhà, giúp các cháu có cơ hội hiểu thêm về ông và là nơi để bạn bè, người yêu sách ghé thăm như khi ông còn sống.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tiểu sử
Tô Hoài - người Hà Nội
Ba người khác trên talawas
Tô Hoài tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
hệ thống tòa án việt nam.txt | Hệ thống tòa án Việt Nam là tổng thể các tòa án nhân dân từ trung ương đến địa phương cùng mối quan hệ lãnh đạo, phối hợp giữa chúng. Hệ thống tòa án Việt Nam phản ánh mối quan hệ về tổ chức của các toàn án hiện hành trên lãnh thổ Việt Nam
Ở Việt Nam, Hệ thống tòa án gồm có:
Tòa án Nhân dân Tối cao
Các Tòa án Phúc thẩm Tối cao tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh
Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Các Tòa án Quân sự các cấp (toàn án binh)
Các Tòa án khác do luật định. Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt
== Cơ cấu tổ chức ==
=== Toà án tối cao ===
Gồm có:
Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Toà án quân sự trung ương
Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính
Các Toà Phúc thẩm Tối cao. Trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Toà chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao
Bộ máy giúp việc gồm: Ban Thanh tra, Ban Thư ký, Vụ tổ chức
Toà án Nhân dân Tối cao có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký Toà án. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch nước.
=== Toà án cấp tỉnh ===
Cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương:
Uỷ ban Thẩm phán
Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính.
Trong trường hợp cần thiết Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Toà chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao
Bộ máy giúp việc gồm: Ban Thanh tra, Ban Thư ký, Vụ Tổ chức
Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án. Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm sau khi có sự thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
=== Toà án cấp huyện ===
Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Chánh án, một hoặc hai Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án.
Chánh án Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm sau khi có sự thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã.
== Chế độ và nguyên tắc xét xử ==
Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử.
Xét sử sơ thẩm
Xét xử phúc thẩm
Đối với bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm do pháp luật tố tụng quy định.
Nguyên tắc xét xử
Có hội thẩm tham gia
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số.
Toà án xét xử công khai, (trừ trường hợp cần xét xử kín)
Toà án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật
Toà án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Toà án bảo đảm cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Toà án.
== Tham khảo ==
Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2008
Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2003
Giáo trình lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội năm 2003
Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội năm 2003
Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà Xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2004
Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà Xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, năm 1999
Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội năm 2004
Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2006
Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nguyễn Cửu Việt, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, năm 2008
== Chú thích == |
william xứ ockham.txt | William xứ Ockham (sinh khoảng 1287, mất khoảng 1347) là nhà thầy tu dòng Francis và triết gia kinh viện người Anh, sinh tại Ockham thuộc hạt Surrey nước Anh. Ông là một nhà tư tưởng hàng đầu vào thời đại mình và đã có cống hiến cho các môn thần học, logic cũng như chính trị, tuy nhiên ngày nay chủ yếu được nhớ đến với nguyên lý Dao cạo Ockham áp dụng trong triết học và khoa học, với nội dung rằng trong các lý thuyết để diễn dịch một thực kiện, lý thuyết càng đơn giản càng có khả năng đúng đắn. Ông được coi là một trong những nhà logic học vĩ đại nhất mọi thời đại.
== Cuộc đời ==
William xứ Ockham theo tu dòng Phanxicô ngay khi còn nhỏ. Ông học thần học tại Oxford vào năm nào đó giữa 1309 và 1310. Vì đủ điều kiện, ông học tiếp môn này với cấp bậc cao học. Ông bị Giáo hoàng John XXII gọi về Avignon để khiển trách tội dị giáo và William đã bị quản thúc ở đó tới 4 năm chỉ để chờ một phiên tòa xét xử. Một ủy ban được Giáo hoàng lập ra nhằm điều tra về những gì mà William suy nghĩ và viết ra. Lúc đó, giữa dòng Phanxico và Giáo hoàng tranh luận với nhau về vấn đề thanh bần. Tuy là một người thuộc dòng tu này, William lại không được Giáo hoàng mời tham dự. Lập tức, ông kết luận Giáo hoàng rằng ông ta là một kẻ dị giáo. Tiếp theo nữa, ông đã trốn khỏi Avignon, nhờ cậy vào vua Louis de Baviere. Sau lời chỉ trích đó, William đã bị rút phép thông công. Ông sống nốt quãng đời còn lại bằng việc viết về các vấn đề chính trị và trút hơi cuối cùng tại thành phố Munich, Bavaria.
== Những cống hiến ==
=== Tri thức luận ===
Nguồn gốc của điều này đó là William chẳng ưa gì cái chủ nghĩa duy thực của thời Trung cổ lúc đó và ông cũng chẳng ưa luôn những lập trường mang tính siêu hình của những ai theo chủ nghĩa này.
Những vấn đề phổ biến niệm đã được William khởi động lại trong hoàn cảnh chủ nghĩa kinh viện đang đi vào hồi suy tàn.
Theo William, một sự vật không thể hiện hữu trong nhiều sự vật khác nhau được. Vì vậy, phổ biến không thể lài một sự vật, một hiện thực nào đó được. Theo ý của ông, phổ biến niệm chỉ là thực tại của trí khôn và không có sự hữu thể nào cả. Nó chỉ hiện hữu trong linh hồn mà thôi.
Cũng theo quan điểm của nhà triết học này, cá vật là cái gì được hiểu chính xác nhất. Ở Thiên Chúa, không có cái gọi là ý tưởng phổ biến mà chỉ có cá vật. Duns Scotus đã nói về điều này, nhưng William đã khai thác nó một cách triệt để.
=== Dao cạo Ockham ===
Nói một cách đơn giản, ý tưởng của dao cạo Ockham đó là chỉ cần sự đơn giản trong việc giải thích một hiện tượng là có thể tiến tới sự tiến bộ.
== Ảnh hưởng ==
Rõ ràng với quan điểm của mình, William đã mở đường cho chủ nghĩa duy nghiệm, hệ quả của chủ nghĩa duy danh là cái mà ông muốn hướng đến.
Dao cạo Ockham, một đề xuất nổi tiếng của William, đã có tác dụng rất lớn trong nghiên cứu khoa học
== Chú thích == |
ủy ban châu âu.txt | Ủy ban châu Âu (tên chính thức Ủy ban các cộng đồng châu Âu) (tiếng Anh: European Commission, tiếng Đức: Europäische Kommission) là cơ quan cao nhất ngành hành pháp của Liên minh châu Âu. Ủy ban này chịu trách nhiệm về đề nghị lập pháp, thi hành các quyết định, duy trì các hiệp ước Liên minh châu Âu và điều hành công việc chung hàng ngày của Liên minh.
Ủy ban hoạt động theo phương pháp một nội các chính phủ, với 27 ủy viên châu Âu(từ 2014 là 28 ủy viên). Mỗi nước thành viên trong Liên minh có một ủy viên, tuy nhiên các ủy viên này buộc phải đại diện cho các quyền lợi của toàn Liên minh, hơn là quyền lợi của nước mình. Một trong số 27 uỷ viên làm chủ tịch Ủy ban châu Âu (Jean-Claude Juncker) được bổ nhiệm bởi Hội đồng châu Âu với sự đồng ý của Nghị viện châu Âu. Chủ tịch Jean-Claude Juncker nhận chức ngày 1.11.2014 trong nhiệm kỳ 5 năm.
Từ "Ủy ban" có thể có nghĩa là Đoàn ủy viên như nói trên, hoặc nghĩa rộng hơn là cơ quan thể chế của Liên minh, gồm cả cơ quan hành chính quản trị khoảng 25.000 người thuộc ban gọi là Nha Tổng Giám đốc. Ủy ban có trụ sở chính ở tòa nhà Berlaymont tại thành phố Bruxelles và ngôn ngữ làm việc trong nội bộ cơ quan là tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức.
== Lịch sử ==
Ủy ban châu Âu bắt nguồn từ một trong 5 thể chế then chốt được thiết lập trong hệ thống siêu quốc gia Cộng đồng châu Âu, theo đề nghị của Robert Schuman, bộ trưởng ngoại giao Pháp, ngày 9.5.1950. Bắt đầu từ năm 1951 dưới tên Giới chức cấp cao trong Cộng đồng Than Thép châu Âu, Ủy ban đã trải qua nhiều sự thay đổi về quyền hành và cơ cấu dưới thời các chủ tịch bao gồm 3 Cộng đồng.
=== Việc thành lập ===
Ủy ban đầu tiên bắt đầu từ năm 1951 là 9 thành viên của "Giới chức cấp cao của Cộng đồng Than Thép châu Âu" dưới quyền chủ tịch Jean Monnet. Giới chức cấp cao là cơ quan hành pháp siêu quốc gia của Cộng đồng Than Thép châu Âu mới, nhận nhiệm vụ từ ngày 10.8.1952 ở Luxembourg. Năm 1958 Các hiệp ước Rome đã lập ra 2 Cộng đồng mới là Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (Euratom), và cơ quan hành pháp của 2 cộng đồng mới này được gọi là các "ủy ban" chứ không là "Giới chức cấp cao". Nguyên nhân của việc thay đổi tên là các mối quan hệ mới giữa cơ quan hành pháp và Hội đồng châu Âu. Vài nước, như Pháp chẳng hạn, bày tỏ sự dè dặt về quyền của Giới chức cấp cao và muốn hạn chế, đồng thời trao thêm quyền cho Hội đồng hơn là cơ quan hành pháp mới.
Louis Armand lãnh đạo Ủy ban Armand (ủy ban đầu tiên của Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu). Walter Hallstein lãnh đạo Ủy ban Hallstein (ủy ban đầu tiên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu), tổ chức cuộc họp chính thức đầu tiên ngày 16.1.1958 tại Lâu đài Valley of the Duchess (Bỉ). Hội nghị này hoàn tất một hiệp định thỏa thuận về giá ngũ cốc luôn gây tranh cãi, cũng như gây ấn tượng tốt đối với các nước thứ ba khi lần đầu tham gia cuộc đàm phán quốc tế, Vòng Kennedy của các cuộc thương thuyết về Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT). Đáng chú ý là Hallstein đã bắt đầu củng cố Luật châu Âu và bắt đầu có sự va chạm đáng kể tới luật pháp quốc gia. Ban đầu, ủy ban của ông ta đã hơi thận trọng, nhưng với sự giúp đỡ của Tòa án Cộng đồng châu Âu, ủy ban của ông ta đã tỏ rõ quyền hành vững chắc, đủ để cho phép các ủy ban nối tiếp được coi trọng hơn. Tuy nhiên, năm 1965 các khác biệt giữa chính phủ Pháp của Charles de Gaulle và các nước thành viên khác chồng chất lên (về đơn xin gia nhập của Anh, về bầu cử trực tiếp Nghị viện châu Âu, kế hoạch Fouchet của Pháp và ngân sách) đã gây cho Ủy ban Hallstein cuộc khủng hoảng bỏ trống ghế (của Pháp) về các đề nghị cho Chính sách Nông nghiệp chung. Mặc dù cuộc khủng hoảng thể chế đã được giải quyết trong các năm sau, nhưng đã khiến cho Etienne Hirsch mất chức chủ tịch Euratom và sau đó, chức chủ tịch EEC của Walter Hallstein, dù rằng ông ta được coi là nhà lãnh đạo năng động nhất cho tới Jacques Delors.
=== Phát triển ban đầu ===
Cả 3 cơ quan tồn tại song song tới ngày 1.7.1967 khi có Hiệp ước Hợp nhất, thì hợp lại thành một cơ quan dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Jean Rey. Do việc hợp nhất nên Ủy ban Rey tạm tăng lên 14 ủy viên, tuy nhiên tất cả các ủy ban sau này đều giảm xuống còn 9 ủy viên, theo công thức mỗi nước nhỏ 1 ủy viên và nước lớn 2 ủy viên. Ủy ban Rey đã hoàn thành việc lập liên minh thuế quan của Cộng đồng vào năm 1968 và đấu tranh cho một Nghị viện châu Âu được dân bầu và có nhiều quyền hơn. Dù Rey là chủ tịch ủy ban đầu tiên của cả 3 cộng đồng hợp nhất, nhưng Hallstein mới được coi là chủ tịch đầu tiên của Ủy ban hiện đại.
Ủy ban Malfatti và Ủy ban Mansholt tiếp tục làm việc cho sự hợp tác tiền tệ và việc mở rộng Cộng đồng đầu tiên về phía bắc năm 1973. Với việc mở rộng này, số ủy viên của Ủy ban tăng lên thành 13 người trong thời Ủy ban Ortoli (Vương quốc Anh là nước thành viên lớn, được cử 2 ủy viên), nhằm xử lý Cộng đồng mở rộng trong thời kỳ bất ổn kinh tế và quốc tế lúc đó. Việc tiêu biểu bề ngoài của Cộng đồng đã tiến lên một bước khi chủ tịch Roy Jenkins trở thành chủ tịch đầu tiên tham dự cuộc họp thượng đỉnh G8 nhân danh Cộng đồng. Tiếp theo Ủy ban Jenkins, Ủy ban Thorn đã tiến hành việc mở rộng Cộng đồng xuống phía nam, và bắt đầu lập ra luật chung châu Âu.
=== Delors và Santer ===
Một trong số Ủy ban nổi tiếng nhất là Ủy ban Delors, do Jacques Delors lãnh đạo, đã mang lại cho Cộng đồng tính năng động. Delors và đồng đội của mình cũng được coi là các người cha sáng lập đồng euro". Báo International Herald Tribune đã ghi nhận việc làm của Delors ở giai đoạn cuối nhiệm kỳ 2 năm 1992: "Ngài Delors đã cứu Cộng đồng châu Âu khỏi tình trạng ù lì. Ông ta đã tới trong lúc chủ nghĩa bi quan về châu Âu đạt tới điểm xấu nhất. Mặc dù ông ta chỉ là một cựu bộ trưởng tài chính Pháp ít nổi tiếng, ông ta đã đem lại sức sống và hy vọng cho Cộng đồng châu Âu và Ủy ban Bruxelles đã mất nhuệ khí. Trong nhiệm kỳ thứ nhất, từ 1985 tới 1988, ông ta đã tập hợp châu Âu hướng tới thị trường chung, và khi được bổ nhậm nhiệm kỳ 2, ông ta bắt đầu thúc đẩy các người Âu hướng tới các mục tiêu nhiều tham vọng hơn của liên minh kinh tế, tiền tệ và chính trị."
Người kế vị Delors là Jacques Santer. Tuy nhiên, toàn bộ Ủy ban Santer đã bị Nghị viện buộc phải từ chức năm 1999 vì bị cáo buộc gian lận. Đây là lần đầu mà một ủy ban bị buộc phải từ chức toàn bộ. Tuy nhiên, Ủy ban Santer đã tiến hành công trình về Hiệp ước Amsterdam và đồng euro.
=== Các ủy ban Prodi và Barroso ===
Romano Prodi kế vị Santer. Hiệp ước Amsterdam đã tăng quyền của Ủy ban và Prodi đã được báo chí đặt tên cho là cái gì đó giống như một thủ tướng. Các quyền lại được củng cố thêm bởi Hiệp ước Nice năm 2001, cho chủ tịch nhiều quyền hơn đối với thành phần ủy ban.
Năm 2004 José Manuel Barroso trở thành chủ tịch ủy ban, tuy nhiên một lần nữa Nghị viện lại tự khẳng định quyền của mình khi bác chức ủy viên đề nghị của Ủy ban Barroso. Do sự chống đối, Barroso đã buộc phải cải tổ ủy ban của mình trước khi nhậm chức. Ủy ban Barroso cũng là ủy ban đầy đủ đầu tiên, từ khi mở rộng năm 2004 tới 25 ủy viên, khi trước số ủy viên vào cuối nhiệm kỳ Ủy ban Prodi đã đạt tới 30. Do kết quả của việc tăng nước thành viên, Hiệp ước Amsterdam đưa ra việc giảm ủy viên: mỗi nước thành viên chỉ cử 1 ủy viên (trước kia nước lớn được cử 2 ủy viên).
== Các quyền và chức năng ==
Ủy ban được lập ra từ đầu để hoạt động như một chính quyền độc lập siêu quốc gia, tách riêng khỏi các chính phủ; nó được mô tả như "cơ quan duy nhất dành cho việc suy nghĩ tới châu Âu". Các ủy viên được các chính phủ của các nước thành viên bổ nhiệm, mỗi nước một ủy viên, tuy nhiên các ủy viên này buộc phải hành động cách độc lập – trung lập, không phụ thuộc vào các ảnh hưởng khác như ảnh hưởng của chính phủ đã bổ nhiệm mình. Điều này trái ngược với Hội đồng, đại diện cho chính phủ của mình, và Nghị viện, đại diện cho các công dân châu Âu và Ban Kinh tế Xã hội, mà hiệp ước nói là đại diện cho 'xã hội dân sự có tổ chức'.
=== Quyền hành pháp ===
Quyền hành pháp của Liên minh do Hội đồng nắm giữ: hội đồng trao cho Ủy ban một số quyền để hành động. Tuy nhiên, Hội đồng có thể rút lại các quyền này, tự mình trực tiếp hành động, hoặc áp đặt các điều kiện trên việc sử dụng chúng. Các quyền này được phác thảo ở các điều 211–219 của Hiệp ước Cộng đồng châu Âu và bị hạn chế nhiều hơn quyền hành pháp quốc gia, một phần do Ủy ban thiếu quyền về các lãnh vực như Chính sách đối ngoại và an ninh chung – quyền này do Hội đồng châu Âu nắm, mà một số phân tích đã mô tả như quyền hành pháp khác.
Xem xét điều này trong Hiệp ước Lisbon Hội đồng châu Âu là một cơ quan thể chế chính thức có quyền bổ nhiệm Ủy ban, có thể nói rằng 2 cơ quan nắm quyền hành pháp của Liên minh (Hội đồng châu Âu cũng nắm các quyền hành pháp quốc gia riêng). Tuy nhiên, chính Ủy ban nắm quyền hành pháp trên Cộng đồng châu Âu. Các quyền cai quản của Ủy ban giống như điều mà cựu thủ tướng Bỉ Guy Verhofstadt đã đề nghị thay đổi tên gọi của chúng thành "Chính phủ châu Âu", gọi tên hiện nay của ủy ban là: "buồn cười".
=== Sáng kiến lập pháp ===
Ủy ban khác với các cơ quan thể chế khác ở chỗ riêng mình nó có sáng kiến lập pháp trong các 'trụ cột' của Liên minh châu Âu, có nghĩa là chỉ Ủy ban mới có thể đưa ra các đề nghị chính thức về lập pháp – dự luật không thể do ngành lập pháp chính thức đưa ra. Ủy ban chia sẻ quyền này với Hội đồng về trụ cột Chính sách đối ngoại và an ninh chung, nhưng không có quyền về Việc hợp tác Tư pháp và Cảnh sát trong các vấn đề tội phạm. Tuy nhiên trong Cộng đồng, thì Hội đồng và Nghị viện có thẩm quyền đề nghị lập pháp; trong phần lớn các trường hợp, Ủy ban đề xưóng phần căn bản của các đề nghị này, độc quyền này được dành cho ủy ban để bảo đảm việc dự thảo Luật Liên minh châu Âu được phối hợp chặt chẽ và mạch lạc. Độc quyền này đã bị một số ngưòi chống lại, họ đòi hỏi Nghị viện cũng phải có quyền này, với phần lớn Nghị viện quốc gia nắm quyền trong một số phương diện. Trong Hiệp ước Lisbon, các công dân Liên minh châu Âu cũng có quyền yêu cầu Ủy ban làm luật trong một lãnh vực thông qua nột thỉnh nguyện thư có 1 triệu chữ ký, nhưng Ủy ban không bị buộc phải tuân theo.
Các quyền đề nghị luật của Ủy ban thường tập trung vào việc chỉnh đốn kinh tế. Ủy ban đã đề xuất nhiều điều chỉnh dựa trên "nguyên tắc phòng ngừa". Điều này có nghĩa là việc điều chỉnh chặn trước sẽ xảy ra nếu có một nguy cơ cho môi trường hoặc sức khỏe con người: ví dụ xử lý việc biến đổi khí hậu và hạn chế sinh vật biến đổi di truyền (GMO). Điều này trái với các điều chỉnh phụ cấp thêm cho các ảnh hưởng trên tác động trên kinh tế. Như thế, Ủy ban đã đưa ra các điều chỉnh nghiêm ngặt hơn các nước khác. Do tầm cỡ (lớn) của thị trường châu Âu nên trên thực tế đã làm cho Ủy ban trở thành người điều chỉnh thị trường toàn cầu.
Gần đây Ủy ban đã đi vào việc thành lập Luật tội phạm châu Âu. Năm 2006, một vụ làm đổ chất độc ngoài bờ biển Bờ Biển Ngà từ một tàu của châu Âu, đã thúc đẩy Ủy ban nhìn vào việc lập pháp chống việc thải chất độc ra môi trường. Quyền đề nghị luật tội phạm đã bị phản đối ở Tòa án Cộng đồng châu Âu, nhưng được duy trì. Năm 2007, một đề nghị luật chống tội phạm khác được xúc tiến là Chỉ thị đề nghị các biện pháp chống tội phạm nhằm bảo đảm việc bắt tôn trọng các quyền sở hữu trí tuệ, và một tu chính quyết định khung chống khủng bố năm 2002, đặt ra ngoài vòng pháp luật việc xúi giục hành động liên quan tới khủng bố, việc tuyển mộ (đặc biệt thông qua internet) và việc huấn luyện (quân khủng bố).
=== Việc buộc tuân theo ===
Một khi luật pháp đã được Hội đồng và Nghị viện thông qua, thì Ủy ban có trách nhiệm bảo đảm việc thi hành, thông qua các nước thành viên hoặc qua các cơ quan của Liên minh. Trong chấp nhận các biện pháp kỹ thuật cần thiết, thì Ủy ban được trợ giúp bởi các ban do các đại diện của các nước thành viên lập ra (một phương pháp mà tiếng lóng gọi là "comitology"). Ngoài ra, Ủy ban còn chịu trách nhiệm thi hành Ngân sách Liên minh châu Âu, cùng với Tòa Kiểm toán, bảo đảm là quỹ của Liên minh được chi tiêu chính xác.
Đặc biệt, Ủy ban có bổn phận bảo đảm các hiệp ước và luật được duy trì, bằng cách đưa các nước thành viên hoặc các cơ quan vi phạm ra trước Tòa án Cộng đồng châu Âu để xét xử. Vai trò này thường được biết đến không chính thức dưói tên "người canh gác các hiệp ước". Cuối cùng, Ủy ban cũng có một số vai trò đại diện đối ngoại cho Liên minh, như đại diện trong các tổ chức như WTO chẳng hạn. Chủ tịch Ủy ban cũng thường dự các cuộc họp của G8.
== Đoàn ủy viên ==
Ủy ban gồm có một đoàn ủy viên 27 người, kể cả Chủ tịch và Phó chủ tịch. Mặc dù mỗi ủy viên do mỗi chính phủ quốc gia bổ nhiệm, họ không đại diện cho quốc gia của mình trong Ủy ban (tuy nhiên trong thực tế, thỉnh thoảng họ cũng làm áp lực cho quyền lợi quốc gia của mình)). Chủ tịch trao các bộ cho các ủy viên đảm nhiệm. Quyền của ủy viên phần lớn tùy thuộc vào bộ mà mình phụ trách, và có thể thay đổi theo thời gian. Trước khi Ủy ban đảm nhận nhiệm vụ, toàn bộ đoàn ủy viên phải được Nghị viện chấp thuận.
== Tổ chức ==
Ủy ban có cơ sở chủ yếu ở Bruxelles, với văn phòng của chủ tịch và phòng họp của ủy ban ở tầng lầu 13 trong tòa nhà Berlaymont. Ủy ban cũng hoạt động tại các trụ sở bên ngoài thành phố Bruxelles và ở thành phố Luxembourg. Khi Nghị viện châu Âu họp ở Strasbourg, các ủy viên Ủy ban châu Âu cũng tới đây họp tại trụ sở của Nghị viện trong tòa nhà gọi là tòa nhà Winston Churchill để dự các cuộc thảo luận của Nghị viện. Ủy ban chia thành các ban như Nha Tổng giám đốc (DGs) có thể giống như các Nha hoặc Bộ. Mỗi Nha phụ trách một lãnh vực chính sách riêng, chẳng hạn Quan hệ đối ngoại, và do Tổng giám đốc đứng đầu, chịu trách nhiệm trước ủy viên Ủy ban châu Âu. Một Bộ của một ủy viên có thể được nhiều Nha Tổng giám đốc trợ giúp. Các Nha này chuẩn bị các đề nghị cho ủy viên và nếu được chấp thuận, thì sẽ đệ trình lên Nghị viện và Hội đồng để cứu xét.
Theo các con số do Ủy ban ấn hành, thì tháng 4/2007 Ủy ban sử dụng 23.043 nhân viên chính thức và tạm thời. Ngoài ra, còn 9.019 nhân viên hợp đồng nữa. Tổng Nha lớn nhất là Tổng nha Dịch thuật, với biên chế 2.186 nhân viên, trong khi nhóm nhân viên lớn nhất tính theo quốc tịch là người Bỉ (21.4%). Các nhân viên phục vụ trong Ủy ban do Nha Tổng thư ký của Ủy ban điều khiển, hiện nay bà Catherine Day làm Tổng thư ký.
== Xem thêm ==
Danh sách chủ tịch Ủy ban châu Âu
Danh sách ủy viên Ủy ban châu Âu theo quốc tịch
== Tham khảo & Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
European Commission ec.europa.eu – official website
Barroso Commission
Representation in the Member States
Margot Wallström's Blog
Photo archive of past Commissions
European NAvigator ena.lu – Multimedia website with historical information on the European Commission
Welcome Europe welcomeurope.com – information on the EU funding from the Commission
Bản mẫu:European Commission Bản mẫu:Eu-directorates-general Bản mẫu:European Union topics |
thuế.txt | Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội.
Đóng thuế vừa là quyền lợi được thực thi trách nhiệm công dân đóng góp cho sự phát triển phồn vinh của đất nước, vừa là nghĩa vụ phải thực hiện của mỗi công dân.
== Lý do đánh thuế ==
Khi nhà nước ra đời, để có tiền chi tiêu cho sự tồn tại và hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra chế độ thuế khóa do dân cư đóng góp để hình thành quỹ tiền tệ của mình.
Tất cả mọi hoạt động của chính quyền cần phải có nguồn tài chính để chi (đầu tiên là nuôi bộ máy nhà nước); nguồn đầu tiên đó là các khoản thu từ thuế.
Thuế là công cụ rất quan trọng để chính quyền can thiệp vào sự hoạt động của nền kinh tế bao gồm cả nội thương và ngoại thương.
Chính quyền cung ứng các hàng hóa công cộng cho công dân, nên công dân phải có nghĩa vụ ủng hộ tài chính cho chính quyền (vì thế ở Việt Nam và nhiều nước mới có thuật ngữ "nghĩa vụ thuế").
Giữa các nhóm công dân có sự chênh lệch về thu nhập và do đó là chênh lệch về mức sống, nên chính quyền sẽ đánh thuế để lấy một phần thu nhập của người giàu hơn và chia cho người nghèo hơn (thông qua cung cấp hàng hóa công cộng).
Chính quyền có thể muốn hạn chế một số hoạt động của công dân (ví dụ hạn chế vi phạm luật giao thông hay hạn chế hút thuốc lá, hạn chế uống rượu) nên đánh thuế vào các hoạt động này.
Chính quyền cần khoản chi tiêu cho các khoản phúc lợi xã hội và phát triển kinh tế.
== Đặc điểm ==
Các khoản thu thuế được tập trung vào Ngân sách nhà nước là những khoản thu nhập của nhà nước được hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị.
Thuế là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Thuế dựa vào thực trạng của nền kinh tế (GDP, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất, thu nhập, lãi suất,...).
Thuế được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu.
== Thuế quốc gia và thuế địa phương ==
Do chính quyền gồm chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, các cấp chính quyền đều có ngân sách riêng, và được phân quyền các nhiệm vụ chi (cung ứng hàng hóa công cộng) riêng, nên có thuế quốc gia (nộp vào ngân sách trung ương) và thuế địa phương (nộp vào ngân sách chính quyền địa phương).
== Các nguyên tắc chung về thuế ==
Các sắc thuế đều cần thỏa mãn ba nguyên tắc chung sau đây:
Trung lập: sắc thuế không được bóp méo các hoạt động sản xuất, dẫn tới phúc lợi xã hội (tổng hiệu dụng) của nền kinh tế bị giảm đi.
Đơn giản: việc thiết kế sắc thuế và tiến hành trưng thu thuế phải không phức tạp và không tốn kém.
Công bằng: sắc thuế phải đánh cùng một tỷ lệ vào các công dân có điều kiện như nhau. Giữa các công dân có điều kiện khác nhau, thì thuế suất cũng cần khác nhau (vì thông thường người có điều kiện tốt hơn có xu hướng tiêu dùng hàng hóa công cộng nhiều hơn).
Riêng các sắc thuế địa phương còn cần thỏa mãn một số nguyên tắc:
Cơ sở thuế phải bất biến: nghĩa là công dân, hoạt động và đồ vật phải tương đối cố định, không hay di chuyển giữa các địa phương. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo địa phương này không đánh thuế lên công dân, hoạt động và đồ vật vốn là của địa phương khác.
Nguồn thu ổn định: nghĩa là quy mô dân số địa phương và quy mô các hoạt động, đồ vật không nên biến động thường xuyên. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo thu ngân sách của địa phương không bị biến động
Nguồn thu phân bố đồng đều giữa các địa phương. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách giữa các địa phương không quá chênh lệch.
Chính quyền địa phương phải có trách nhiệm tài chính. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo chính quyền địa phương không lạm dụng quyền hạn thuế của mình để đánh thuế quá mức.
Trong thực tế, khó có sắc thuế nào đảm bảo đầy đủ các nguyên tắc đòi hỏi cho nó. Vì thế, theo nguyên tắc về "cái tốt thứ hai", sắc thuế nào càng thỏa mãn nhiều nguyên tắc, thì càng xứng đáng là một sắc thuế tốt. Việc ban hành phần lớn các sắc thuế thường cần phải được quốc hội phê chuẩn và phải có luật về sắc thuế đó.
== Thuế trực thu và thuế gián thu ==
Các sắc thuế khi phân loại theo hình thức thu sẽ gồm hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu.
Thuế trực thu là thuế mà người, hoạt động, đồ vật chịu thuế và nộp thuế là một. Ví Dụ như một người nhập hàng hóa từ nước ngoài về và tiêu dùng luôn, hay như thuế thu nhập doanh nghiệp hay thuế thu nhập cá nhân, tài sản.... Thuế đánh lên thu nhập hoặc tài sản với kỳ vọng rằng người bị thu thuế sẽ thực sự là người bị mất sức mua.
Thuế gián thu là thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế không cùng là một. Chẳng hạn, chính quyền đánh thuế vào công ty (công ty nộp thuế) và công ty lại chuyển thuế này vào chi phí tính vào giá hàng hóa và dịch vụ, do vậy đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng. Ví dụ: thuế VAT,thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt... được thu từ nhà sản xuất, người bán hàng với kỳ vọng chúng sẽ được chuyển sang cho người tiêu dùng. Thuế này chuyển sức mua khỏi người tiêu dùng cuối cùng bằng cách tạo khoảng chênh lệch giữa số tiền chi trả cho nhà sản xuất và giá bán.
== Vai trò của thuế ==
Nguồn thu của ngân sách nhà nước
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác.... Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện. Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng. Ở Việt Nam, Thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước từ năm 1990. Điều này được thể hiện qua tỷ trọng số thuế trong tổng thu ngân sách.
Công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.
== Thuế nội địa và thuế quan ==
Thuế nội địa: là thuế đánh vào công dân, hoạt động, tài sản trong nước. Có rất nhiều sắc thuế nội địa đánh vào cá nhân (thuế thu nhập, thuế tiêu thụ), đánh vào công ty (thuế pháp nhân, thuế môn bài,...), đánh vào các hoạt động (thuế giao dịch tài chính, thuế mua bán nhà đất, thuế thừa kế,...), thuế đánh vào đồ vật (thuế tài sản, lệ phí phòng cháy chữa cháy, lệ phí đăng ký ô tô xe máy, lệ phí công chứng,...). Lưu ý lệ phí thực chất là thuế; ở Việt Nam gọi chúng là "các loại phí mang tính chất thuế".
Thuế quan: là thuế đánh vào hàng hóa di chuyển giữa các quốc gia/lãnh thổ (nên còn gọi là thuế xuất nhập khẩu).
Một số hàng hóa nhập khẩu sẽ vừa phải chịu thuế nhập khẩu khi đi qua biên giới, vừa phải chịu thuế nội địa khi được bán lại ở thị trường nội địa.
== Thuế định ngạch và thuế định lệ ==
Thuế định ngạch: là đánh một lượng cố định vào tất cả các đối tượng thu của sắc thuế. Ví dụ: thuế cầu đường, lệ phí sử dụng dịch vụ sân bay,...
Thuế định lệ: là thuế đánh vào đối tương thu của sắc thuế theo tỷ lệ nhất định. Thuế định lệ lại có loại thuế lũy tiến (tỷ lệ tăng dần) và loại thuế tỷ lệ đồng đều.
== Thuế thông thường và thuế đặc biệt ==
Thuế thông thường: là thuế nhằm các mục đích chính là thu ngân sách và điều tiết thu nhập, chứ không nhằm mục đích đặc biệt nào khác.
Thuế đặc biệt: là thuế nhằm các mục đích đặc biệt, ví dụ thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào rượu bia, thuốc lá nhằm hạn chế cá nhân tiêu thụ các hàng hóa này, hay phí thủy lợi nhằm huy động tài chính cho phát triển, duy tu hệ thống thủy lợi địa phương.
== Thuế phụ thu ==
Bên cạnh thuế chính thức còn có thể có thuế phụ thu. Thuế này không nhằm điều tiết trực tiếp đối tượng thu mà chỉ lợi dụng đối tượng thu để huy động một nguồn tài chính phục vụ mục đích nào đó không nhất thiết liên quan đến đối tượng thu. Ví dụ: chính phủ Pháp đánh thuế phụ thu đối với người đi máy bay ở Pháp (thu thuế này khi họ mua vé máy bay) để có nguồn tài chính tài trợ cho các hoạt động phòng chống dịch bệnh, nhất là HIV/AIDS, ở các nước nghèo; gần đây, chính phủ Brasil đánh thuế phụ thu đối với người đi xe buýt để lấy phí tài trợ cho việc tổ chức World Cup 2014 tại Brazil, hoạt động này đã bị phản đối gay gắt của người dân.
== Đánh thuế theo khả năng và theo lợi ích ==
Đánh thuế theo khả năng: là cách đánh thuế có phân biệt theo khả năng nộp thuế. Người có thu nhập nhiều hơn sẽ phải đóng thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp. Thông thường, các sắc thuế quốc gia áp dụng nguyên tắc đánh thuế này.
Đánh thuế theo lợi ích: là cách đánh thuế có phân biệt theo mức độ sử dụng hàng hóa công cộng nhiều hay ít. Người sử dụng hàng hóa công cộng nhiều hơn thì phải đóng thuế nhiều hơn. Thông thường, các sắc thuế địa phương áp dụng nguyên tắc đánh thuế theo lợi ích.
== "Thuế" mà không phải thuế ==
Thuế lạm phát: do lạm phát làm thu nhập của cá nhân giảm tương đối giống như khi bị đánh thuế, nên có thuật ngữ "thuế lạm phát" hàm ý một trong những hậu quả của lạm phát.
Thuế thời gian: khi thời gian là tiền bạc, thì việc mất thời gian do những thủ tục hành chính rắc rối gây ra cũng có tác động như khi người ta bị đánh thuế.
== Một số loại thuế và sắc thuế phổ biến ==
Thuế tiêu thụ
VAT
Thuế thu nhập
Thuế cổ tức
Thuế môn bài
Thuế tài sản
Thuế chuyển nhượng
Thuế thừa kế
Thuế xuất nhập khẩu
Thuế khoán
Thuế lạm phát
...
== Một số loại thuế và sắc thuế xưa ==
Thuế thân
== Tham khảo ==
Stiglitz, Joseph E. (2000), Economics of Public Sector, Third Edition, W. W. Norton & Company.
== Xem thêm ==
Kinh tế học của việc đánh thuế
Đường cong Laffer
Trốn lậu thuế
Tránh thuế
Lách thuế
Tư vấn thuế
Đánh thuế hai lần
Miễn thuế
Thiên đàng thuế
Thuế tiêu thụ đặc biệt
Thuế gián thu
Thuế trực thu
Thuế lạm phát |
turkmenistan.txt | Turkmenistan (tiếng Turkmen: Türkmenistan/Түркменистан/تۆركمنيستآن, phát âm [tyɾkmeniˈθːtaːn]; phiên âm tiếng Việt: Tuốc-mê-ni-xtan), cũng được gọi là Turkmenia, tên đầy đủ là Cộng hòa Turkmenistan (tiếng Turkmen: Türkmenistan Jumhuriyäti) là một quốc gia tại Trung Á. Tên "Turkmenistan" bắt nguồn từ tiếng Ba Tư, có nghĩa "nước của người Turkmen". Sau đó nó là một thành phần của Liên Xô dưới tên Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Turkmen. Nước này giáp với Afghanistan về phía đông nam, Iran về phía tây nam, Uzbekistan về phía đông bắc, Kazakhstan về phía tây bắc, và biển Caspi về phía tây. 87% dân số Turkmenistan là tín đồ Hồi giáo, phần nhiều người trong đó là người Turkmen. Tuy có vùng phong phú về tài nguyên, phần nhiều nước này là sa mạc Karakum (sa mạc Cát Đen). Turkmenistan có hệ thống đơn đảng và nguyên thủ hiện tại là Tổng thống Gurbanguly Berdimuhamedow.
== Nguồn gốc tên gọi ==
Turkmenistan nằm ở phía tây nam khu vực Trung Á, phía đông biển Caspian. Tên gọi lấy từ tên dân tộc. Tổ tiên người Turkmen là cư dân của các bộ phận thuộc ngôn ngữ Iran như người Daha Masagaite, Salmat Aran, Maljiana... Khoảng thế kỷ V, họ hỗn huyết với người Oghuz Turk ở những vùng thảo nguyên ven biển Caspian, vốn có mối quan hệ rất mật thiết. Sau thế kỷ 11, người Đột Quyết (cũng là một tộc người Turk) vốn sinh hoạt du mục ở vùng thảo nguyên Trung Á di cư với quy mô lớn về khu vực Turkmenistan ngày nay. Dân tộc Turkmen từ đó hình thành. Turkmenistan nghĩa là vùng đất của người Turkmen.
Thế kỷ 16 Hãn quốc Kasiwa và Buhala thành lập trên lãnh thổ Turkmenistan ngày nay. Cuối thế kỷ 19, Turkmenistan bị Sa hoàng Nga thôn tính. Tháng 11 và 12 năm 1917, thành lập chính quyền Xô Viết; ngày 27 tháng 10 năm 1924, thành lập nước "Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết Turkmenistan", đồng thời gia nhập Liên Bang Xô Viết. Ngày 27 tháng 10 năm 1991, tuyên bố độc lập và đổi tên như hiện nay. Ngày 21 tháng 12 cùng năm gia nhập khối Cộng đồng các quốc gia độc lập.
== Lịch sử ==
Lãnh thổ Turkmenistan có một lịch sử lâu dài và sóng gió, hết đội quân từ đế chế này tới đội quân từ đế chế khác đi qua đây trên con đường tìm kiếm những lãnh thổ thịnh vượng hơn. Lịch sử chữ viết của vùng này bắt đầu với cuộc chinh phục của Đế chế Achaemenid thuộc Ba Tư cổ đại, và vùng này được chia giữa các Xatrap Margiana, Khwarezm, và Parthia.
Alexander Đại Đế đã chinh phục lãnh thổ này vào thế kỷ IV trước công nguyên trên con đường tới Nam Á, khoảng cùng thời gian Con đường tơ lụa hình thành và trở thành con đường thương mại chính giữa Châu Á và Vùng Địa Trung Hải. Một trăm năm mươi năm sau Vương quốc Parthia của người Ba Tư đã lập thủ đô của họ tại Nisa, hiện là ngoại ô thủ đô Ashgabat. Thế kỷ VII sau Công Nguyên, người Ả Rập đã chinh phục vùng này, đem theo Đạo Hồi và tích hợp Turkmen vào văn hoá Trung Đông. Vùng Turkmenistan nhanh chóng nổi tiếng bởi đây chính là thủ đô của Đại Khorasan, khi vua Hồi giáo Al-Ma'mun dời thủ đô tới Merv.
Giữa thế kỷ XI, người Turk thuộc Đế chế Seljuk đã tập trung sức mạnh của họ tại lãnh thổ Turkmenistan trong nỗ lực nhằm bành trướng tới Afghanistan. Đế chế tan vỡ trong nửa sau thế kỷ XII, và người Turkmen mất nền độc lập khi Thành Cát Tư Hãn chiếm quyền kiểm soát phía đông vùng Biển Caspian trong cuộc hành quân về hướng tây. Trong bảy thế kỷ sau đó, người Turkmen sống dưới nhiều đế chế và liên tục xảy ra các cuộc chiến giữa các bộ tộc. Lịch sử Turkmen thời trước khi người Nga xuất hiện ít được ghi chép lại. Tuy nhiên, từ thế kỷ XIII tới thế kỷ XVI, người Turkmen đã hình thành một nhóm sắc tộc, ngôn ngữ riêng biệt. Khi người Turkmen di cư tới vùng quanh Bán đảo Mangyshlak tại Kazakhstan ngày nay về hướng biên giới Iran và lòng chảo Amu Darya, xã hội bộ tộc Turkmen phát triển hơn nữa những truyền thống văn hóa sẽ trở thành nền tảng của ý thức quốc gia Turkmen sau này.
Giữa thế kỷ XVII và XIX, quyền kiểm soát Turkmenistan bị tranh giành giữa các shahs Ba Tư, các Khiva khan, các emir Bukhara và những vị vua cai trị Afghanistan. Trong giai đoạn này, vĩ thủ lĩnh tinh thần Turkmen Magtymguly Pyragy đã trở thành nhân vật đầy ảnh hưởng cùng những nỗ lực tái lập độc lập và chủ quyền cho dân tộc. Ở thời điểm này, vùng lãnh thổ Trung Á rộng lớn gồm cả vùng Turkmenistan vẫn chưa được vẽ bản đồ và rõ ràng đối với người Châu Âu nó chỉ được gọi là thế giới phía Tây. Sự đối đầu tranh giành quyền kiểm soát trong giai đoạn này xảy ra giữa Đế chế Anh và nước Nga Sa Hoàng và được gọi là The Great Game. Trong suốt cuộc chinh phục Trung Á của mình, người Nga luôn gặp phải sự kháng cự mạnh liệt của người Turkmen. Tuy nhiên, tới năm 1894 Nga đã giành được quyền kiểm soát Turkmenistan và sáp nhập nó vào lãnh thổ của họ. Sự đối đầu chính thức kết thúc với Thỏa ước Anh-Nga năm 1907. Dần dần, các nền văn hóa Nga và châu Âu du nhập vào vùng này, để lại dấu vết trong kiến trúc và thành phố Ashgabat được xây dựng theo kiểu mới, sau này sẽ trở thành thủ đô Turkmenistan. Cách mạng tháng 10 năm 1917 tại Nga và sự bất ổn chính trị sau đó đã dẫn tới việc tuyên bố vùng này trở thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Turkmen, một trong sáu nước cộng hoà của Liên bang Xô viết năm 1924, hình thành nên biên giới nước Turkmenistan hiện đại.
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa xô viết Turkmen mới trải qua một quá trình Âu hoá thêm nữa. Bộ tộc người Turkmen được khuyến khích vô thần và chấp nhận trang phục kiểu châu Âu. Bảng chữ cái Turkmen được thay đổi từ kiểu ký tự Ả Rập truyền thống sang kiểu Latinh và cuối cùng sang kiểu Kirin. Tuy nhiên, việc khuyến khích người Turkmen từ bỏ kiểu sống du mục cũ là một ưu tiên của những người cộng sản không quá thô bạo cho tới tận cuối năm 1948. Những tổ chức quốc gia có tồn tại trong vùng thời kỳ thập niên 1920 và 1930.
Khi Liên bang Xô viết bắt đầu sụp đổ, Turkmenistan và các nước Trung Á còn lại đều muốn duy trì một hình thức nhà nước cải tiến, chủ yếu bởi họ có nhu cầu sức mạnh kinh tế và thị trường của Liên bang Xô viết để phát triển thịnh vượng. Turkmenistan tuyên bố độc lập ngày 27 tháng 10 năm 1991, một trong những nước cộng hòa cuối cùng ly khai.
Năm 1991, Turkmenistan rút khỏi Cộng đồng các quốc gia độc lập, một tổ chức quốc tế của các nước cộng hòa thuộc Liên bang Xô viết cũ.
Lãnh đạo cũ thời Xô viết, Saparmurat Niyazov, vẫn tiếp tục nắm quyền tại Turkmenistan sau khi Liên bang Xô viết giải tán. Dưới thời cầm quyền hậu Xô viết của ông, các quan hệ Nga-Turkmenistan bị ảnh hưởng nặng nề. Ông tạo dựng cho mình hình ảnh một người ủng hộ Hồi giáo truyền thống và văn hoá Turkmen (tự gọi mình là "Turkmenbashi", hay "lãnh đạo của người Turkmen"), nhưng ông nhanh chóng mang tiếng xấu ở phương Tây vì cách cầm quyền độc tài và sự sùng bái cá nhân quá mức. Quyền lực của ông được tăng cường mạnh đầu thập niên 1990, và năm 1999, ông đã trở thành Tổng thống suốt đời.
Niyazov bất ngờ qua đời ngày 21 tháng 12 năm 2006, chưa kịp chỉ định người kế vị. Một vị Cựu phó thủ tướng được cho là con ngoài giá thú của Niyazov,[2] Gurbanguly Berdimuhammedow, trở thành tổng thống tạm quyền, dù theo hiến pháp Chủ tịch của Hội đồng nhân dân Ovezgeldy Atayev, sẽ là người nắm chức vụ này. Tuy nhiên, Atayev đã bị kết án một số tội và bị cách chức.
Trong một cuộc bầu cử ngày 11 tháng 2 năm 2007, Berdimuhammedow được bầu làm tổng thống với 89% số phiếu 95% cử tri tham gia bầu cử, dù cuộc bầu cử bị các quan sát viên nước ngoài lên án.[3]
Để biết về tình hình từ khi Berdimuhammedow trúng cử, xem: Nhiệm kỳ Tổng thống Turkmenistan đầu tiên của Gurbanguly Berdimuhammedow.
== Chính trị ==
xxxxnhỏ|250px|phải|Phủ Tổng thống tại Ashgabat.]]
Chính trị Turkmenistan theo khuôn khổ cộng hoà tổng thống, với Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là lãnh đạo chính phủ. Turkmenistan có hệ thống chính trị độc đảng.
Tổng thống được bầu trực tiếp theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 5 năm. Sau khi Tổng thống Niyazov từ trần (tháng 12 năm 2006), Turkmenistan đã tiến hành thay đổi Hiến pháp, mở đường cho một cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên. Ông Gurbanguly Berdymuhamedov đã được bầu làm Tổng thống của Turkmenistan ngày 14 tháng 2 năm 2007.
Tổng thống đồng thời là người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ. Nội các do Tổng thống bổ nhiệm.
=== Đối nội ===
Trong những năm qua, tình hình Turkmenistan nhìn chung ổn định, không có biến động lớn. Tổng thống Niyazov lên cầm quyền từ 1991, nắm toàn bộ quyền lực và được phong làm Tổng thống suốt đời. Năm 2010, Turkmenistan tuyên bố chấp nhận đa đảng, mặc dù hiện nay vẫn là nước độc đảng (Đảng Dân chủ).
Tháng 12 năm 2006, Tổng thống Niyazov đột ngột từ trần. Tháng 2 năm 2007, Turkmenistan tiến hành bầu cử Tổng thống mới là Ông Gurbanguly Berdymuhamedov. Tổng thống Gurbanguly Berdymuhamedov lên thay vẫn tiếp tục đường lối đối nội cũ. Tình hình nội bộ Turkmenistan không có biến chuyển lớn.
Hiến pháp của Turkmenistan cho phép thành lập các đảng phái chính trị, tuy nhiên từ khi tuyên bố độc lập năm 1991 Turkmenistan chỉ có 1 đảng duy nhất và hiện nay là đảng cầm quyền - Đảng Dân chủ Turkmenistan. Tháng 2 năm 2010, Tổng thống Berdymuhamedov một lần nữa nhắc lại việc Turkmenistan là quốc gia đa đảng và khuyến khích việc thành lập các đảng phái khác.
=== Đối ngoại ===
Về đối ngoại, Turkmenistan thực hiện chính sách trung lập, độc lập dân tộc, quan hệ hợp tác song phương, bình đẳng với các nước, không phụ thuộc vào các nước khác, không tham gia liên minh quân sự nào. Tuy nhiên Turkmenistan là một quốc gia đóng cửa nhất trong khu vực các nước CIS. Turkmenistan tập trung quan hệ với Nga, năm 2002 hai nước đã ký Thỏa thuận về hữu nghị và hợp tác. Quan hệ với các nước láng giềng như Kazakhstan, Uzbekistan, Azerbaijan không mặn mà, luôn tranh chấp trong vấn đề biên giới nhất là vùng biển Caspi, việc sử dụng nguồn nước chung, năng lượng. Quan hệ Turkmenistan – phương Tây gần như không phát triển, phương Tây thường xuyên chỉ trích Turkmenistan về những cải cách kinh tế và các vấn đề dân chủ nhân quyền. Tháng 12 năm 1995, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã ra Nghị quyết công nhận quy chế trung lập vĩnh viễn của Turkmenistan. Turkmenistan là thành viên của nhiều Tổ chức quốc tế như: Liên Hợp Quốc, IMF, SNG.
== Nhân quyền ==
Nói chung nhiều tổ chức nhà nước tại Turkmenistan không tôn trọng nhân quyền, dù một số quyền công dân được đảm bảo trong Hiến pháp Turkmenistan, như bình đẳng xã hội, bình đẳng giới tính, không bị đối xử bằng hành động tàn nhẫn và hình phạt bất thường, và tự do lập phong trào. Các quyền kinh tế và xã hội khác như quyền làm việc, quyền nghỉ ngơi, và quyền được giáo dục.
Tuy nhiên, hiện có các vấn đề liên quan tới tự do tôn giáo và tự do tình dục. Bất kỳ một hành động tình dục đồng giới nào tại Turkmenistan đều bị trừng phạt có thể lên tới năm năm tù. Theo Forum 18, dù có áp lực quốc tế, cơ quan chức năng giám sát chặt chẽ mọi nhóm tôn giáo và khuôn khổ pháp lý chặt chẽ tới mức nhiều người thà bí mật thực thi tôn giáo còn hơn phải vượt qua hàng đống những quy trình pháp lý chính thức, thực tế là những rào cản. Các tín đồ Tin lành Thiên chúa giáo đều bị hạn chế, ngoài ra còn là các nhóm như Những người làm chứng của Jehovah, Bahá'í, và những người theo phong trào Hare Krishna. Những tín đồ Hare Krishna không được cho phép tiến hành quyên góp tại sân bay chính trong nước, Ashgabat.
Theo Phóng viên không biên giới#Chỉ số tự do báo chí thế giới của Phóng viên không biên giới, Turkmenistan có mức độ hạn chế khắt khe thứ hai về tự do báo chí trên thế giới, chỉ hơn Bắc Triều Tiên.
== Tỉnh và Quận ==
Turkmenistan được chia thành năm tỉnh hay welayatlar (số ít - welayat) và một thành phố độc lập:
== Địa lý ==
Với diện tích 488.100 km²(188.457 mi²), Turkmenistan là nước lớn thứ 52 trên thế giới. Nước này hơi nhỏ hơn Tây Ban Nha, và hơi lớn hơn bang California của Hoa Kỳ.
Hơn 80% lãnh thổ là Sa mạc Karakum. Vùng trung tâm đất nước chủ yếu là Vùng lún Turan và Sa mạc Karakum. Dãy Kopet Dag, dọc theo biên giới phía tây nam, cao tới 2.912 mét (9.553 ft). Núi Balkan Turkmen ở cực tây và Dãy Kugitang ở cực đông là những điểm cao đáng chú ý duy nhất. Những con sông gồm Amu Darya, Murghab, và Hari Rud.
Khí hậu chủ yếu khô cằn với sa mạc cận xích đạo, lượng mưa ít. Mùa đông khô và không khắc nghiệt, hầu hết lượng mưa hàng năm xảy ra trong giai đoạn tháng 1 và tháng 5. Vùng có lượng mưa lớn nhất nước là dãy Kopet Dag.
Bờ Biển Caspian của Turkmenistan dài 1768 km. Biển Caspian hoàn toàn nằm kín trong lục địa, không thông với đại dương.
Các thành phố lớn gồm Ashgabat, Türkmenbaşy (trước kia là Krasnovodsk) và Daşoguz.
== Kinh tế ==
xxxxnhỏ|280px|Cung Turkmenbashi tại Ashgabat]] Một nửa vùng đất được tưới tiêu của quốc gia này được dùng trồng bông, khiến nước này trở thành nhà sản xuất bông đứng thứ 10 thế giới. Turkmenistan sở hữu trữ lượng khí tự nhiên và dầu mỏ hàng thứ năm thế giới. Năm 1994, việc Chính phủ Nga từ chối xuất khẩu khí gas của Turkmenistan tới các thị trường ngoại tệ mạnh và tăng các khoản nợ của những khách hàng chính của họ thời Liên Xô cũ về cung cấp khí gas đã khiến lĩnh vực sản xuất công nghiệp này tụt giảm mạnh và khiến ngân sách nước này chuyển từ thặng dư sang thâm hụt nhẹ.
Turkmenistan đã đưa ra một số biện pháp tiếp cận cải cách kinh tế thận trọng, hy vọng sử dụng thu nhập có được từ khí gas và bông để duy trì nền kinh tế. Năm 2004, tỷ lệ thất nghiệp được ước tính khoảng 60%; số dân sống dưới mức nghèo khổ được cho ở mức 58% một năm trước đó. Các mục tiêu tư nhân hoá còn hạn chế. Trong giai đoạn 1998 và 2002, Turkmenistan gặp tình trạng thiếu các con đường xuất khẩu thích hợp cho khí tự nhiên và phải chi trả nhiều khoản nợ ngắn hạn lớn từ bên ngoài. Tuy nhiên, cùng thời điểm ấy tổng giá trị xuất khẩu đã tăng mạnh nhờ giá khí gas và dầu mỏ thế giới tăng. Các viễn cảnh kinh tế trong tương lai gần không khả quan vì nạn nghèo đói trong nước và gánh nặng nợ nước ngoài.
Tổng thống Niyazov đã chi phần lớn nguồn thu quốc gia vào việc cải tạo các thành phố, đặc biệt là Ashgabat. Những người theo dõi tình trạng tham nhũng đã lên tiếng lo ngại về việc quản lý dự trữ ngoại tệ của Turkmenistan, đa số chũng được giữ trong những quỹ ngoài ngân sách như Quỹ Dự trữ Trao đổi Nước ngoài tại Deutsche Bank ở Frankfurt, theo một báo cáo được đưa ra tháng 4 năm 2006 của tổ chức phi chính phủ Global Witness có trụ sở tại Luân Đôn. Theo nghị định của Hội đồng Nhân dân ngày 14 tháng 8 năm 2003, điện, khí tự nhiên, nước và muối ăn sẽ được cung cấp miễn phí từ năm 2030; tuy nhiên, tình trạng thiếu thốn luôn xảy ra. Ngày 5 tháng 9 năm 2006, sau khi Turkmenistan đe dọa cắt những nguồn cung cấp, Nga đã đồng ý tăng giá mua khí tự nhiên của Turkmenistan từ $65 lên $100 cho mỗi 1.000 mét khối. Hai phần ba khí tự nhiên Turkmenistan được xuất khẩu cho công ty Gazprom thuộc sở hữu nhà nước Nga.
Chương trình cải cách "10 năm phúc lợi" từ năm 1993 của Cố Tổng thống Niyazov nhằm đưa Turkmenistan thành "Cô-oét thứ hai" về xuất khẩu khí đốt, nâng mức tăng trưởng kinh tế lên gấp 05 lần vào cuối năm 2004 với thành phần kinh tế chủ yếu là tư nhân, đã thu được một số kết quả. GDP từ năm 2007-2009 trung bình tăng 9%, trong đó lĩnh vực xây dựng đóng góp cho GDP 17%. Năm 2009, do ít chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế vẫn giữ ở mức 6% đạt 16,24 tỷ USD. Năm 2010, nền kinh tế Turkmenistan tiếp tục xu hướng tích cực với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định. GDP 9 tháng đầu năm 2010 tăng 5,7%.
Turkmenistan có thế mạnh về trồng bông và dệt may, dệt thảm. Hàng xuất khẩu chủ yếu là khí đốt, dầu, sản phẩm hoá chất, dệt may, thảm và bông. Hàng nhập khẩu là máy móc, thiết bị khai thác, xây dựng, gạo và rau quả.
Hiện có 1700 công ty nước ngoài đang hoạt động ở Turkmenistan, chủ yếu là các công ty dầu khí, trong đó Thổ Nhĩ Kỳ có 500 công ty, Trung Quốc có 4 công ty, công ty Petronass của Malaysia đang thăm dò và khai thác dầu khí ở biển Caspi. Đường ống dẫn khí đốt Turkmenistan – Trung Quốc mới được hoàn thành trong năm 2009. Qua đường ống này 30 tỷ m3 khí đốt sẽ được xuất sang Trung Quốc mỗi năm.
Sau khi Tổng thống mới lên cầm quyền (2007), Turkmenistan bắt đầu gửi sinh viên đi đào tạo ở nước ngoài, đẩy mạnh cải cách, quan tâm hơn đến phát triển văn hoá, giáo dục, đào tạo (xây dựng trường học, các cơ sở văn hoá, giáo dục, tăng cường dạy ngoại ngữ Anh, Đức, Nga).
Nhà nước rất chú trọng tới các chính sách về nhà ở, phúc lợi, công cộng. Các Bộ, ngành được trích kinh phí để xây dựng nhà ở cho công chức, nhân viên. Người dân được sử dụng miễn phí gaz, điện, nước, phương tiện giao thông công cộng và người có xe ô tô được cấp miễn phí 120 lít xăng/tháng, người sở hữu xe môtô được cấp 60 lít xăng miễn phí/tháng.
Tính đến năm 2016, GDP của Turkmenistan đạt 36.573 USD, đứng thứ 94 thế giới, đứng thứ 31 châu Á và đứng thứ 3 Trung Á (sau Kazakhstan và Uzbekistan).
== Nhân khẩu ==
Đa số công dân Turkmenistan thuộc dân tộc Turkmen với một số lượng đáng kể người Uzbeks và người Nga. Các dân tộc thiểu số khác gồm Kazakhs, Azeris, Ba Tư, Armenia, và Tatars. Tiếng Turkmen là ngôn ngữ chính thức của Turkmenistan, dù tiếng Nga vẫn được sử dụng rộng rãi tại các thành phố như "ngôn ngữ giao tiếp giữa các sắc tộc" (theo Hiến pháp 1992).
Tôn giáo: Hồi giáo cả hai dòng Sunni và Shi'a, các giáo phái Tin Lành, Nhân chứng Jehova, các cộng dồng nhỏ như Baha'i và Do Thái giáo
Tiếng Turkmen là ngôn ngữ chính thức của Turkmenistan (theo Hiến pháp năm 1992), mặc dù tiếng Nga vẫn được sử dụng rộng rãi ở các thành phố như một "ngôn ngữ giao tiếp giữa các dân tộc". Tiếng Turkmen được nói bởi 72% dân số, tiếng Nga 12%, tiếng Uzbek 9%, [23] và các ngôn ngữ khác 7% (tiếng Kazakh (88.000 người), tiếng Azerbaijan (33.000), tiếng Bashkir (2607), tiếng Belarus (5289), tiếng Brahui, tiếng Dargwa (1599), tiếng Dungan, tiếng Erzya (3488), tiếng Georgia (1047), tiếng Qaraqalpaq (2542), tiếng Armenia (3200), tiếng Triều Tiên (3493), tiếng Lak (1590), tiếng Lezgian (10.400), tiếng Litva (224), tiếng bắc Uzbekistan (317.000), tiếng Ossetic (1887), tiếng România (1561), tiếng Nga (349.000), tiếng Tabasaran (177), tiếng Tajik (1277), tiếng Tatar (40.434), tiếng Ukraina (37.118), tiếng Ba Tư (8000)).
== Tôn giáo ==
xxxxnhỏ|Nhà thờ Hồi giáo Gazy Ärtogrul ở Ashgabat đặt theo tên của Osman Ghazi, người sáng lập đế quốc Ottoman
Theo CIA World Factbook, Hồi giáo chiếm 89% dân số trong khi 9% dân số là tín đồ của Chính Thống giáo Đông phương và tôn giáo còn lại 2%. Tuy nhiên, theo một báo cáo của Trung tâm nghiên cứu Pew năm 2009, thì có đến 93,1% dân số của Turkmenistan là Hồi giáo.
Trong thời kỳ Xô Viết, tất cả các tôn giáo đều bị tấn công bởi chính quyền cộng sản với tội danh như mê tín dị đoan và "dấu tích của quá khứ". Học tôn giáo và tham gia nghi lễ tôn giáo bị cấm, và đại đa số các nhà thờ Hồi giáo đã bị đóng cửa. Tuy nhiên, kể từ năm 1990, những nỗ lực đã được thực hiện để khôi phục lại một số di sản văn hóa tôn giáo bị mất dưới sự cai trị của Liên Xô.
Cựu Tổng thống Saparmurat Atayevich Niyazov đã ra lệnh rằng các nguyên tắc Hồi giáo cơ bản được giảng dạy trong các trường công lập. Nhiều tổ chức tôn giáo, bao gồm cả các trường tôn giáo và nhà thờ Hồi giáo, đã xuất hiện trở lại với sự hỗ trợ của Ả Rập Xê Út, Kuwait, và Thổ Nhĩ Kỳ. Các lớp học tôn giáo được tổ chức trong cả hai trường học và nhà thờ Hồi giáo, với sự hướng dẫn về ngôn ngữ tiếng Ả Rập, kinh Qur'an và hadith, và lịch sử của đạo Hồi.
== Văn hoá ==
Giáo dục phổ thông và bắt buộc cho tới cấp hai, tổng thời gian đi học đã được giảm từ 10 xuống còn 9 năm trước đó, và theo nghị định của vị Tổng thống mới từ năm học 2007 - 2008 thời gian đi học sẽ là 10 năm.
Akhal-Teke giống ngựa
Thảm Yomut
Geok-Tepe
Islam tại Turkmenistan
Merv
Âm nhạc Turkmenistan
Trong vở kịch Cuộc điều tra của Hadrabubdla - Ashti - nhân vật chính, Jafat, có người anh ra đời tại Turkmenistan.
== Chủ đề khác ==
Liên minh Trung Á
Habarlar tại Turkmenistan
Quan hệ ngoại giao Turkmenistan
Nhân quyền Turkmenistan
Quân đội Turkmenistan
Hướng đạo sinh Turkmenistan
Vận tải Turkmenistan
Nông nghiệp Turkmenistan
== Đọc thêm ==
Bradt Travel Guide: Turkmenistan by Paul Brummell
Historical Dictionary of Turkmenistan by Rafis Abazov
Lonely Planet Guide: Central Asia by Paul Clammer, Michael Kohn and Bradley Mayhew
The Great Game: The Struggle for Empire in Central Asia by Peter Hopkirk
Tradition and Society in Turkmenistan: Gender, Oral Culture and Song by Carole Blackwell
Tribal Nation: The Making of Soviet Turkmenistan by Adrienne Lynn Edgar
Eastward to Tartary: Travels in the Balkans, the Middle East, and the Caucasus by Robert D. Kaplan
Unknown Sands: Journeys Around the World's Most Isolated Country by John W. Kropf
Rall, Ted. "Silk Road to Ruin: Is Central Asia the New Middle East?" New York: NBM Publishing, 2006.
Theroux, Paul, "Letter from Turkmenistan, The Golden Man, Saparmurat Niyazov’s reign of insanity" New Yorker, ngày 28 tháng 5 năm 2007
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Official Website of the Government of Turkmenistan
Open Directory Project - Turkmenistan directory category
The Turkmenistan Project - weekly news and analysis in English and Russian
CIA Factbook
Offical photo gallery from Turkmenistan and Ashgabat
Photo Gallery from Turkmenistan (in German)
Encyclopedia of the Nations
All schools of Turkmenistan (tiếng Nga)
BBC News country profile
View Ashgabat, Dashoguz, and Mary on Google Earth
Turkmenistan-News Forum Chat. Search file Turkmenistan |
pu péo.txt | Dân tộc Pu Péo (tên gọi khác Ka Beo, Pen ti lô lô, La quả) là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.
Người Pu Péo cư trú tập trung ở vùng biên giới Việt - Trung thuộc các huyện Đồng Văn, Yên Minh và Bắc Mê tỉnh Hà Giang.
== Ngôn ngữ ==
Tiếng Pu Péo thuộc nhóm Ka Ðai trong hệ ngôn ngữ Tai-Kadai. Tuy nhiên Người Pu Péo nói giỏi cả các tiếng H'Mông, Quan hỏa.
== Dân số và địa bàn cư trú ==
Dân số 382 người.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Pu Péo ở Việt Nam có dân số 687 người, có mặt tại 20 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Pu Péo cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang (580 người, chiếm 84,4% tổng số người Pu Péo tại Việt Nam), Tuyên Quang (48 người), thành phố Hồ Chí Minh (15 người), Đồng Nai (11 người)...
== Đặc điểm kinh tế ==
Người Pu Péo chủ yếu sống bằng nghề làm nương và ruộng bậc thang, trồng ngô, lúa, mạch ba góc, đậu... Trong sản xuất, họ dùng công cụ cày, bừa; dùng trâu, bò làm sức kéo. Lương thực chính trong bữa ăn thường ngày là bột ngô đồ chín.
== Hôn nhân gia đình ==
Mỗi dòng họ có hệ thống tên đệm riêng dùng đặt tên lần lượt cho các thế hệ kế tiếp nhau. Trai gái các họ kết hôn với nhau theo tập tục: Nếu con trai họ này đã lấy con gái họ kia, thì mãi mãi con trai họ kia không được lấy vợ người họ này. Nhiều người dân tộc khác cũng đã trở thành dâu, rể của các gia đình Pu Péo. Nhà trai cưới vợ cho con, sau lễ cưới con gái về nhà chồng. Con cái lấy họ theo cha và người cha, người chồng là chủ nhà.
== Tục lệ ma chay ==
Nghi thức tang lễ của người Pu Péo gồm lễ làm ma và lễ chay.
== Văn hóa ==
Pu Péo là một trong số rất ít dân tộc hiện nay còn sử dụng trống đồng. Trước kia, trống được dùng phổ biến nhưng đến nay họ chỉ dùng trong ngày lễ chay. Theo phong tục Pu Péo, có trống "đực", trống "cái" được ghép với nhau thành cặp đôi. Hai trống treo quay mặt vào nhau, một người đứng giữa cầm củ chuối gõ trống phục vụ lễ cúng.
== Nhà cửa ==
Mặc dù hiện nay người Pu Páo nhà đất là chính. Nhưng họ còn nhớ rất rõ là sau khi đến Việt Nam khá lâu hãy còn ở nhà sàn.
Nhà đất hiện nay rất giống nhà người Hoa cùng địa phương. Nhưng cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt có khác.
Bộ khung thường được làm bằng gỗ tốt, thường thuê thợ người Hán làm. Điểm đáng chú ý là trong nhà của người Pu Péo còn có gác xép. Gác này là nơi để đồ đạc, lương thực... Khi nhà có thêm người thì các con trai, người già lên gác ngủ.
== Trang phục ==
Có cá tính riêng trong chủng loại trong cách sử dụng và trang trí.
Trang phục nam
Hàng ngày họ mặc áo cánh ngắn loại xẻ ngực, màu chàm. Quần là loại lá tọa cùng màu. Trong dịp lễ, nam giới thường đội khăn chàm quấn theo lối chữ nhân, mặc áo dài xẻ nách phải, màu chàm hoặc trắng.
Trang phục nữ
Phụ nữ Pu Péo thường để tóc dài quấn quanh đầu, cài bằng lược gỗ, hoặc bên ngoài thường đội khăn vuông phủ lên tóc buộc thắt ra sau gáy. Trong ngày cưới cô dâu còn đội mũ xung quanh được trang trí hoa văn theo bố cục dải băng và đính các bông vải. Phụ nữ thường mặc hai áo: áo trong là chiếc áo ngắn cài cúc nách phải, màu chàm không trang trí hoa văn, có đường viền điểm xuyết ở cổ áo, áo ngoài là loại xẻ ngực, cổ và nẹp trước liền nhau, không cài cúc, ống tay áo, nẹp áo và gấu áo được trang trí hoa văn nhiều màu. Váy là loại dài đen, quanh gấu được trang trí hoa văn, hoặc có loại trang trí cả ở giữa thân váy. Phía ngoài váy còn có 'yếm váy' (kiểu tạp dề). Đáng lưu ý chiếc thắt lưng dài màu trắng, hai đầu được trang trí hoa văn màu sặc sỡ trong bố cục hình thoi đậm đặc. Khi mặc váy, hai đầu thắt lưng buông dài xuống hết thân váy. Phụ nữ ưa mang đồ trang sức vòng cổ, vòng tay, đi giày vải.
== Chỉ dẫn ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Lễ cưới (người Pu péo)
Lễ hội cúng thần rừng
Danh sách ngôn ngữ
== Liên kết ngoài ==
Người Pu péo |
tù binh.txt | Tù binh là những chiến binh bị quân địch bắt giữ trong hay ngay sau một cuộc xung đột vũ trang.
== Thời kỳ cổ đại ==
Trong phần lớn lịch sử loài người, tùy thuộc vào tính khí của những người thắng trận, các chiến binh của bên thua trong một cuộc chiến thường bị giết chết để trừ hậu họa hay bắt làm nô lệ phục vụ cho các lợi ích kinh tế và xã hội của bên thắng trận. Về mặt điển hình, có ít phân biệt giữa các chiến binh và dân thường, mặc dù phụ nữ và trẻ em có nhiều cơ hội được đối xử dễ dãi hơn, nhưng chỉ để bị cưỡng hiếp bởi nam giới hoặc bị bắt đem bán như một nô lệ.
== Tham khảo == |
xyanua.txt | Xyanua hay Cyanide là tên gọi các hóa chất cực độc có ion [C≡N]-, gồm một nguyên tử cacbon và một nguyên tử nitơ.
== Nguồn gốc ==
Xyanua được tìm thấy trong những hợp chất (là những chất được hình thành từ hai hay nhiều hoá chất. Xyanua có thể phản ứng với kim loại và những hợp chất hữu cơ khác (hợp chất chứa Carbon). Sodium Xyanua (Natri xyanua) và potassium Xyanua (Kali xyanua) là những hợp chất Xyanua đơn giản. Xyanua có thể được sản sinh ra bởi, vi khuẩn, nấm và được tìm thấy trong một số thức ăn và thực vật. Trong cơ thể của con người, Xyanua có thể kết hợp với một loại hóa chất (hydroxocobalamin) để hình thành vitamin B12 (cyanocobalamin). Trong những loại thức ăn được chế biến từ thực vật; bao gồm quả hạnh, những hạt chồi của cây kê, cây đậu, đậu tương, đậu nành, rau bi-na (rau chân vịt), măng tre, rễ cây sắn, bột sắn hột tapioca.
Phần lớn lượng Xyanua có trong nước và đất xuất phát từ những quá trình công nghiệp. Nguồn thải chính của Xyanua vào trong nước là nguồn thải từ quá trình khai thác mỏ, công nghiệp hoá chất hữu cơ, những công việc liên quan đến sắt và thép; đặc biệt trong công nghiệp luyện thép, Xyanua là độc chất chính gây ô nhiễm; và những phương pháp xử lý chống lãng phí nước của con người. Những nguồn Xyanua khác từ xuất phát từ xe cộ, từ những ngành công nghiệp hoá học, chất đốt từ những nhà dân trong thành phố và thuốc trừ sâu có chứa Xyanua. Xyanua có trong những bãi chôn lấp có thể làm nhiễm bẩn nguồn nước ngầm.
Nguồn gốc sự tồn đọng Xyanua gây ô nhiễm môi trường trong khai thác vàng:
Việt Nam có trữ lượng vàng không lớn, lại nằm rải rác trên nhiều địa phương. Vì vậy việc khai thác đang được nhiều cấp đảm nhiệm. Nhà nước quản lý các vùng quặng tập trung trữ lượng lớn như vùng Quảng Nam, Đà Nẵng (Bồng Miêu), Lâm Đồng. Cấp tỉnh quản lý khai thác những vùng mỏ nhỏ thuộc địa phương mình: Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao bằng, Nghệ An,... Nhưng do cách quản lý tổ chức khai thác của ta chưa tốt nên nhiều địa phương để xảy ra sự khai thác, xử lý quặng vàng bừa bãi, trái phép gây lãng phí tài nguyên, huỷ hoại môi trường, làm mất cân bằng sinh thái. ở đây ta đặc biệt lưu ý đến việc đổ bỏ bã thải, dịch thải còn chứa nhiều Xyanua ra đất, nước gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Quặng vàng trước tiên được nghiền đập và phân cấp hạt qua sàng 0,1mm, sau đưa sang tuyển trọng lực bằng nước để thu những hạt vàng lớn (nếu có). Tinh quặng thu được trong quá trình tuyển nổi nằm trên máng tuyển được thu lại và chuyển vào hỗn hống với Hg. Quặng tươi ở dạng bột ướt sau khi tuyển trọng lực được đưa vào bể hoà tách Xyanua trong kiềm vôi có thiết bị cấp Oxy cưỡng bức và thêm các phụ gia cần thiết. Sau thời gian hoà tan thích hợp, dung dịch chứa các phức Xyanua Au, Ag được chuyển sang cột hoàn nguyên kim loại vàng, bạc.Hỗn hợp thu được đem phân kim để thu vàng tinh khiết và bạc tinh khiết.
Sơ đồ công nghệ tiêu chuẩn khai thác vàng bạc khái quát:
Thu hồi Hg
→ Hỗn hống tinh quặng
→ Chủng bốc thủy ngân
→ Hg
→ Hỗn hống Au
→ Mẫu quặng tinh quặng tinh quặng màng
→ Nghiền, đập, phân cấp hạt
→ Tuyển trọng lực
→ Hòa tách bằng Xyanua
→ Hoàn nguyên vàng bạc
→ Xái dịch
→ Cát thải khử hết CN
→ Phân kim Au, Ag
→ Vàng bạc tinh khiết
→ Xử lý thu hồi Xyanua
→ Môi trường cát thải, nước thải không chứa Xyanua
Nếu thực hiện nghiêm chỉnh theo chu trình kín, có xử lý Xyanua sau khi thu hồi vàng thì không gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, thực tế tại các bãi đào vàng những người làm vàng tự do lại không thực hiện khâu xử lý Xyanua dư thừa sau khi tách vàng ở trong bùn và nước lọc. Do thiếu ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường, do sợ tổn phí thêm khâu xử lý hoặc do thiếu hiểu biết khoa học nên sau khi thu hồi được vàng, người ta đổ bừa chất thải ra môi trường. Thực tế tại các bãi đào vàng người ta hoà tách bằng Xyanua để lấy vàng rất cẩu thả. Vì vậy, lượng Xyanua thải ra môi trường rất lớn.
Xyanua được xem là một chất độc mạnh và phản ứng nhanh. HCN, NaCN, KCN,…. hình thành từ Xyanua và có mặt trong môi trường là kết quả tất yếu của những hoạt động công nghiệp.
== Tính chất hóa học ==
Xyanua là muối của axit xyanhidric. Phần lớn các muối xyanua không tan trong nước. Muối xyanua tan trong nước bị thủy phân thành môi trường kiềm. Xyanua là muối của một axit rất yếu (yếu hơn axit cacbonic) nên dễ bị các axit mạnh hơn đẩy ra khỏi các dung dịch muối của nó.Thí dụ:
2NaCN + H2SO4 → Na2SO4 + 2HCN
Acid cyanhydric và các Xyanua bị oxy hoá bởi oxy trong không khí chuyển thành cyanate:
2CN- + O2 → 2CNO-
Ở dung dịch loãng 1/5000 trong 5 tháng HCN bị phân huỷ hết HCN + 2H2O → HCOONH4 (ammonium formic)
2HCN + 2H2S + O2 → 2HCNS + 2H2O (acid sulfocyanhydric)
Các muối Xyanua kim loại kiềm bị carbon dioxide trong không khí phân huỷ tạo thành HCN.
2NaCN + CO2 + H2O → 2HCN + Na2CO3
Vì vậy phải bảo quản muối kim loại Xyanua trong thùng kín, để ở chỗ mát.
Các muối Xyanua tan trong nước dễ tạo với các Xyanua không tan thành các ion phức. Acid nitrite tác dụng với các chất hữu cơ như acid malic, xitric, ancaloit, tanin cũng tạo nên HCN. Qua đó cắt nghĩa việc tạo nên các glucoside cyanhydric ở một số thực vật.
Các aldehyde, đường cũng phá huỷ được HCN:
C6H12O6 + HCN → C7H13O6N
Trong một số các cây cối, thực vật có chứa các dẫn xuất hữu cơ của acid cyanhydric, ví dụ: hạnh nhân đắng, nhân quả mận, lá trúc anh đào, rễ sắn, măng tre nứa, nấm, các hạt lá và cành loại đậu phaseolus lunatus. Dầu hạnh nhân đắng có chứa amogdalis C20H27NO11 do tác dụng của men emulsin hay synaptase sẽ bị thuỷ phân và giải phóng HCN:
C20H27NO11 + 2H2O → C7H6O + 2C6H12O6 + HCN
Trong dầu hạnh nhân đắng cứ 1,5g dầu thì có 0,24g HCN. Lượng HCN chứa trong năm, sáu hạt hạnh nhân đủ giết chết một em bé. Trong hạt đậu có chất phaseolumatin C10H17NO6 do tác dụng của men phaseosaponin sẽ thuỷ phân và giải phóng HCN:
C10H17NO6 + H2O → C6H12O66 + CH3-CO-CH3 + HCN
Ngoài ra ta cần phải xét đến 2 hợp chất khác của Xyanua:
+ Thiocyanates (SCN-) là nhóm những hợp chất được hình thành khi sulfur, carbon và nitrogen kết hợp với nhau. Thiocyanates được tìm thấy trong nhiều thức ăn và thực vật; tuy nhiên, chúng được sinh ra chủ yếu từ những phản ứng giữa Xyanua tự do và sulfur. Phản ứng này xảy ra trong môi trường (ví dụ, trong những dòng chất thải có chứa Xyanua) và trong cơ thể con người sau khi nuốt hoặc hấp thụ Xyanua. Nguồn thải từ quá trình khai thác than, vàng, bạc và những mỏ công nghiệp làm cho Thiocyanates có mặt trong nước là chủ yếu. Thiocyanates trong đất là kết quả của việc sử dụng trực tiếp hoá chất diệt cỏ dại và sử dụng bừa bãi những sản phẩm từ quá trình công nghiệp. Những nguồn kém phần quan trọng hơn được thoát ra từ những thực vật bị hư, thối rữa như cây mù tạc, cải xoăn và cải bắp.
+ Ammonium thiocyanate được sử dụng giống như là một thành phần trong điều chế thuốc kháng sinh, thuốc diệt côn trùng, nhiên liệu cho tên lửa, những chất dính và là thành phần trong những que diêm. Nó cũng được sử dụng trong những quy trình nhiếp ảnh, làm tăng độ bền của vải lụa và diệt cỏ dại.
== Điều chế ==
Trong công nghiệp, muối xyanua được điều chế bằng cách cho CO phản ứng với NH3 ở nhiệt độ cao có chất xúc tác là Thori đioxit ThO2 rồi cho tác dụng với kim loại tương ứng:
CO + NH3 → HCN + H2O
2HCN + 2Na → 2NaCN + H2
== Sự tồn tại và chuyển hóa của các hợp chất xyanua trong môi trường: ==
Xyanua đi vào trong nước, không khí và đất là kết quả của những quá trình tự nhiên và hoạt động công nghiệp của con người. Trong môi trường không khí, Xyanua xuất hiện chủ yếu ở dạng khí là hydrogen Xyanua. Một lượng nhỏ Xyanua trong không khí khi xuất hiện sẽ có dạng như một đám bụi nhỏ. Cuối cùng lượng bụi này sẽ lắng xuống mặt đất và mặt nước. Khi mưa và có tuyết rơi sẽ giúp loại bỏ đi lượng Xyanua có trong không khí. Tuy nhiên, khí hydrogen Xyanua không dễ dàng loại bỏ bằng cách lắng xuống, mưa hay là tuyết. Thời gian bán phân hủy của khí hydrogen Xyanua trong không khí khoảng từ 1 đến 3 năm. Trong môi trường nước, hầu hết Xyanua ở trên bề mặt nước sẽ hình thành hydrogen Xyanua và bay hơi. Xyanua ở trong nước sẽ được chuyển thành những chất bớt độc hại hơn nhờ những vi sinh vật hoặc sẽ hình thành một phức chất với kim loại, ví dụ như sắt. Người ta chưa xác định được thời gian bán phân hủy của Xyanua trong nước. Xyanua trong nước không tích tụ lại trong cơ thể của cá, đó là điều chúng ta cảm thấy an tâm khi ăn cá. Trong môi trường đất, Xyanua có thể hình thành hydrogen Xyanua và bay hơi đi. Trong đất luôn có những vi sinh vật có khả năng phân hủy, biến đổi Xyanua thành những hoá chất khác. Đôi khi Xyanua không bị phân huỷ trong đất bởi các vi sinh vật nhưng nó không thường xuyên thấm vào mạch nước ngầm. Tuy nhiên, Xyanua được tìm ra ở mạch nước ngầm ở dưới một vài nền đường. Với sự tập trung một lượng lớn, Xyanua trở nên độc hại cho những vi sinh vật trong đất. Vì vậy những vi sinh vật này không còn khả năng chuyển hóa Xyanua thành những dạng chất hoá học khác nữa, như vậy Xyanua có thể thấm qua đất vào mạch nước ngầm. Đối với thiocyanates, những gì sẽ xảy khi chúng có mặt trong môi trường ít được biết đến. Trong đất và nước, nhờ những vi sinh vật, thiocyanates được chuyển hóa thành những dạng chất khác. Ở nhiệt độ bình thường (30 °C), sự bay hơi hoặc thấm hút bề mặt (liên kết với đất) không quan trọng đối với thiocyanates ở trong đất.
Hình thức chuyển hoá, tồn lưu và tác động của Xyanua trong cơ thể sinh vật: Xyanua ngăn cản việc lấy oxy của những tế bào trong cơ thể làm cho những tế bào này chết đi, ở mức độ cao hơn có thể gây chết người nhanh chóng do bị ngạt thở. Dấu hiệu đặc trưng của cá khi bị nhiễm Xyanua là mang đỏ rực lên do Xyanua tác động lên oxydaza-men chuyển oxy từ máu vào mô. Nếu có các phức chất đi kèm thì Xyanua sẽ bớt độc hơn. Xyanua đi vào cơ thể con người khi chúng ta thở, ăn, và uống nước có chứa Xyanua. Ngoài ra, Xyanua còn vào cơ thể con người qua da, hình thức này chỉ phổ biến khi con người làm việc trong môi trường có liên quan đến Xyanua. Một khi Xyanua đã vào cơ thể con người, chúng nhanh chóng đi vào máu. Có khi Xyanua được chuyển thành thiocyanate, ít độc hơn, và được đào thải khỏi cơ thể qua đường phân. Tuy nhiên, có những trường hợp Xyanua trong cơ thể lại kết hợp với hydroxocobalamin hình thành nên B12. Vitamin B12 là một chất hoá học có chứa Xyanua rất có lợi cho cơ thể con người. Nó giúp bạn ngăn ngừa bệnh thiếu máu do thiếu sắt. Xyanua được quy định ở một liều lượng cho phép trong vitamin B12 để nó không thể trở thành nguồn Xyanua và gây hại cho cơ thể. Một lượng nhỏ Xyanua khi vào cơ thể bị biến đổi thành carbon dioxide (CO2), sẽ được đào thải khỏi cơ thể khi chúng ta thở. Hầu hết Xyanua và các sản phẩm của nó sẽ ra khỏi cơ thể trong vòng 24h sau khi bị nhiễm. Những hình thức kể trên giống nhau ở người và động vật.
== Tham khảo == |
2011.txt | 2011 (số La Mã: MMXI) là một năm thường bắt đầu vào ngày thứ Bảy theo lịch Gregory. Trong lịch Gregory, nó sẽ là năm thứ 2011 của Common Era, hay của Công Nguyên; năm thứ 11 của thiên niên kỷ thứ 3 và của thế kỷ 21; và là năm thứ hai của thập kỷ 2010.
Liên Hợp Quốc đã chỉ định 2011 là Năm Quốc tế của Rừng và Năm Quốc tế của Hóa học.
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1 — Estonia sử dụng tiền euro.
4 tháng 1 — Nhật thực một phần, nhìn thấy ở hầu hết Châu Âu, bán đảo Ả Rập, Bắc Mỹ, và Tây Nam Á.
7 tháng 1 — Cúp bóng đá châu Á 2011 sẽ khai mạc tại Doha, Qatar.
=== Tháng 2 ===
27 tháng 2 - Bộ phim The King's Speech đạt giải Phim hay nhất tại Giải Oscar lần thứ 83
=== Tháng 3 ===
11 tháng 3 - Vụ động đất ở Nhật Bản làm hơn 20.000 người chết
=== Tháng 4 ===
29 tháng 4 - Hoàng tử William của Anh kết hôn với Kate Middleton sau hơn 10 năm hẹn hò.
=== Tháng 5 ===
2 tháng 5 — Osama bin Laden - trùm khủng bố đã bị giết hôm 2/5 trong một chiến dịch của quân đội Mỹ tại Pakistan, Tổng thống Mỹ Barack Obama thông báo.
=== Tháng 6 ===
Ba Lan và Ukraine chuẩn bị thêm 2 sân vận động ở đó để đón chào Euro 2012. Dự kiến trước khi Euro 2012 khởi tranh 2 tuần sẽ sửa sang lại xong
=== Tháng 7 ===
1 tháng 7 - Tổ chức Cúp bóng đá Nam Mỹ 2011 tại Argentina
5 tháng 7 - Christine Lagarde trở thành tổng giám đốc quỹ tiền tệ quốc tế thay ông Dominique Strauss-Kahn
22 tháng 7 - đánh bom và thảm sát đẫm máu tại Na Uy
=== Tháng 8 ===
8 tháng 8 - Bà Yingluck Shinawatra trở thành Thủ tướng Thái Lan thay thế ông Abhisit Vejjajiva
16 tháng 8 - Khai mạc Đại hội Giới trẻ Thế giới 2011 tại Madrid, Tây Ban Nha
24 tháng 8 - Động đất mạnh 5,8 độ richter tại bờ biển phía đông nước Mỹ
27 tháng 8 - Siêu bão Irene đổ bộ vào bờ biển phía đông nước Mỹ
28 tháng 8 - Siêu bão Nanmadol đổ bộ vào Đài Loan & CHND Trung Hoa
=== Tháng 11 ===
11 tháng 11 — Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2011 được tổ chức tại Indonesia
11 tháng 11 - Tổ chức New7Wonders Công bố 7 kì quan thiên nhiên thế giới mới.Trong đó có Vịnh Hạ Long của Việt Nam
== Qua đời ==
=== Tháng 1 ===
16 tháng 1: Kim Ngọc nghệ sĩ sân khấu cải lương Việt Nam
27 tháng 1: Tấn Tài nghệ sĩ sân khấu cải lương Việt Nam
=== Tháng 2 ===
=== Tháng 3 ===
18 tháng 3: Warren Christopher chính khách và nhà ngoại giao Mỹ (Sinh 1925)
23 tháng 3: Elizabeth Taylor Nữ diễn viên người Anh (Sinh 1932)
=== Tháng 4 ===
5 tháng 4: Baruch Samuel Blumberg bác sĩ người Mỹ (Sinh 1925)
9 tháng 4: Sidney Lumet đạo diễn, nhà sản xuất phim và nhà biên kịch người Mỹ (Sinh 1924)
19 tháng 4: Grete Waitz vận động viên marathon người Na Uy (Sinh 1953)
=== Tháng 5 ===
2 tháng 5: Osama bin Laden trùm khủng bố (Sinh 1957)
7 tháng 5: Seve Ballesteros tay golf người Tây Ban Nha (Sinh 1957)
7 tháng 5: Willard Boyle nhà vật lý học người Canada (Sinh 1924)
23 tháng 5: Giuse Nguyễn Tích Đức, nguyên Giám mục chính tòa Giáo phận Ban Mê Thuột (sinh 1938)
29 tháng 5: Sergei Bagapsh tổng thống Cộng hòa Abkhazia (Sinh 1949)
30 tháng 5: Rosalyn Sussman Yalow nhà Vật lý y học người Mỹ (Sinh 1921)
=== Tháng 6 ===
4 tháng 6: Lawrence Eagleburger chính khách và nhà ngoại giao Mỹ (Sinh 1930)
=== Tháng 7 ===
4 tháng 7: Otto von Habsburg thái tử cuối cùng của Đế quốc Áo-Hung (Sinh 1912)
23 tháng 7: Amy Winehouse ca sĩ người Anh (Sinh 1983)
23 tháng 7: Nguyễn Cao Kỳ sĩ quan quân đội cao cấp và cựu chính khách Việt Nam Cộng hòa (Sinh 1930)
28 tháng 7: Abdul Fatah Younis chỉ huy quân sự Libya (Sinh 1944)
=== Tháng 8 ===
2 tháng 8: Baruj Benacerraf nhà miễn dịch học người Mỹ gốc Venezuela và Do Thái (Sinh 1920)
13 tháng 8: Hồng Sơn diễn viên Việt Nam (Sinh 1957)
31 tháng 8: Nhạc sĩ Văn An (sinh 1929)
=== Tháng 9 ===
8 tháng 9 - Võ Chí Công nguyên chủ tịch nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Sinh 1912)
11 tháng 9 - Andy Whitfield nam diễn viên người Anh (Sinh 1972)
14 tháng 9 - Rudolf Mößbauer nhà vật lý học người Đức đã đoạt Giải Nobel Vật lý năm 1961 (Sinh 1929)
25 tháng 9 - Wangari Muta Maathai nhà hoạt động chính trị, nhà bảo vệ môi trường, chủ nhân giải Nobel hòa bình năm 2004 (Sinh1940)
30 tháng 9 - Ralph Marvin Steinman nhà miễn dịch học và nhà sinh vật học tế bào Canada (Sinh 1943)
=== Tháng 10 ===
3 tháng 10 - Thu An diễn viên Việt Nam (Sinh1922)
5 tháng 10 - Steve Jobs ông trùm kinh doanh và sáng chế người Mỹ (Sinh 1955)
20 tháng 10 - Muammar al-Gaddafi - Tổng thống Libya
=== Tháng 11 ===
8 tháng 11 - Phạm Song (s. 1931), Giáo sư, Viện sĩ y học, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII, Giải thưởng Hồ Chí Minh.
=== Tháng 12 ===
17 tháng 12 - Kim Jong-il Tổng bí thư Đảng Lao động Triều Tiên, tư lệnh Tối cao Quân đội Nhân dân Triều Tiên, chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên). (Sinh 1942)
18 tháng 12 - Václav Havel nhà văn và nhà viết kịch Séc, tổng thống Tiệp Khắc cuối cùng và tổng thống Séc đầu tiên (Sinh 1936)
== Giải Nobel ==
Hóa học - Dan Shechtman
Hòa bình - Ellen Johnson Sirleaf, Leymah Gbowee và Tawakel Karman
Kinh tế - Thomas Sargent và Christopher Sims
Văn học - Tomas Tranströmer
Vật lý - Saul Perlmutter, Adam G. Riess và Brian P. Schmidt
Y học - Bruce A. Beutler, Jules A. Hoffmann và Ralph M. Steinman
== Những ngày lễ truyền thống của Việt Nam ==
3 tháng 2 — Tết âm lịch
== Chú thích == |
số lượng anh trai và thiên hướng tình dục.txt | Sự tương quan giữa số lượng anh trai và thiên hướng tình dục đã được đề xuất trong những nghiên cứu gần đây. Ray Blanchard đã phát hiện ra sự tương quan này và gọi nó là hiệu ứng anh trai (fraternal birth order effect hoặc older brother effect). Quan sát cho thấy khi một người đàn ông có càng nhiều anh trai thì có khả năng là đồng tính càng cao.
Hiệu ứng anh trai được coi là yếu tố có tương quan vững chắc nhất với thiên hướng tình dục ở nam giới. Theo nhiều nhiên cứu, có thêm một người anh trai sẽ tăng khả năng là đồng tính lên 28%–48%. Hiệu ứng anh trai chiếm khoảng 1/7 trong số người đồng tính nam. Không có sự tương quan giữa số chị gái và sự đồng tính của một người nữ.
Hiệu ứng này cũng xảy ra ở những người nam không sống chung từ nhỏ với những người anh của họ nên người ta cho rằng nguyên nhân do môi trường bào thai. Để giải thích, giả thuyết phản ứng miễn dịch ở người mẹ được đưa ra. Bào thai nam sản xuất ra kháng nguyên H-Y là chất có liên quan lên sự hình thành thiên hướng tình dục ở động vật có xương sống. Các nghiên cứu khác lại cho rằng việc có nhiều anh trai làm tăng khả năng đồng tính là do yếu tố quan hệ trong gia đình chứ không phải yếu tố sinh học.
== Quá trình nghiên cứu ==
Năm 2002, Peter Bearman nghi ngờ phương pháp chọn mẫu của Blanchard và các nhà nghiên cứu khác. Ông cho rằng đối tượng trong những nghiên cứu đó là không tiêu biểu và/hoặc không được thăm dò trực tiếp. Sau khi lặp lại thí nghiệm của Blanchard, ông không tìm ra sự liên quan giữa ham muốn đồng giới và số lượng anh, chị.
Anthony Bogaert trong công trình của mình đã kết luận rằng hiệu ứng không phải do sống chung với các anh trai từ nhỏ mà đưa ra giả thuyết có sự thay đổi trong cơ thể người mẹ mỗi khi có thai một đứa con trai và điều này tác động đến những đứa con trai sau đó. Hiệu ứng này vẫn xảy ra khi những người anh có sống chung với đối tượng từ nhỏ hay không. Không có hiệu ứng khi có nhiều anh trai là con nuôi hoặc con cùng cha khác mẹ trong gia đình. Do đó giả thuyết phản ứng miễn dịch trong tử cung ở người mẹ được đưa ra. Hiệu ứng này ngược với hiệu ứng không thuận tay phải nghĩa là những người nam có nhiều anh trai hoặc những người nam không thuận tay phải thì có khả năng là đồng tính cao hơn những người thuận tay phải và có ít anh trai, những người không thuận tay phải và có nhiều anh trai.
Năm 2006, Bogaert thực hiện lại thí nghiệm với những người lớn lên chung với anh ruột và anh nuôi. Chỉ có anh ruột là ảnh hưởng đến thiên hướng tình dục của người em trai, không có hiệu ứng ở trường hợp anh nuôi. Bogaert kết luận giả thuyết ảnh hưởng trước khi sinh là rất thuyết phục.
Cũng trong năm 2006, McConaghy công bố trên một tạp chí xã hội học là sau khi nghiên cứu, ông ta kết luận rằng việc có nhiều anh trai tác động đến mức độ đồng tính luyến ái của người em trai không phải là do yếu tố sinh học (bào thai) mà là yếu tố được nuôi chung với các người anh.
== Xem thêm ==
Đặc điểm tay thuận và thiên hướng tình dục
== Tham khảo == |
phó chủ tịch nước việt nam.txt | Phó Chủ tịch nước là chức vụ phó nguyên thủ tại Việt Nam. Theo Hiến pháp Việt Nam, chức vụ này do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội, có nhiệm vụ giúp đỡ Chủ tịch nước trong một số công việc. Ngoài ra, Phó Chủ tịch nước sẽ là quyền Chủ tịch nước khi đất nước khuyết chức danh này. Từ năm 1992 đến nay, vị trí này đều do phụ nữ đảm nhiệm.
== Các thời kỳ lịch sử ==
Tại phiên họp ngày 27 tháng 9 năm 1945, Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bàn bạc và nhất trí để Nguyễn Hải Thần giữ chức Phó Chủ tịch Chính phủ mà không thông qua bầu cử. Ông giữ chức vụ này từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1946, khi tranh chấp giữa Việt Minh và các phe phái đối lập xảy ra, Nguyễn Hải Thần phải bỏ trốn sang Trung Quốc.
Điều thứ 44 Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946 lần đầu tiên quy định chức vụ Phó Chủ tịch Nước. Điều 46 cũng quy định "Phó chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chọn trong nhân dân và bầu theo lệ thường". Tuy nhiên, chức vụ này trên thực tế không có người đảm nhiệm.
Từ năm 1960, Tôn Đức Thắng là người đầu tiên được bầu vào chức vụ này và ông cũng là người kế vị chức vụ Chủ tịch nước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời vào năm 1969. Ông tiếp tục giữ chức vụ Chủ tịch nước cho đến khi qua đời vào năm 1980. Thay thế ông ở chức vụ Phó Chủ tịch nước là Nguyễn Lương Bằng (từ 1969 đến 1979).
== Ý nghĩa chính trị ==
Phó Chủ tịch nước do Chủ tịch nước đề nghị trong số đại biểu Quốc hội, và được Quốc hội thông qua bằng cách bầu chọn. Phó Chủ tịch giúp Chủ tịch nước làm nhiệm vụ và có thể được Chủ tịch ủy quyền làm một số nhiệm vụ hoặc làm quyền Chủ tịch.
Thông thường, chức vụ Phó chủ tịch nước được lựa chọn và là vị trí cân bằng với chức vụ Chủ tịch nước. Trong thời gian 1976-1980, ngoài Nguyễn Lương Bằng, còn có Nguyễn Hữu Thọ, cựu Chủ tịch Hội đồng cố vấn của chính quyền lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, được bổ sung vào chức vụ này. Đến giữa năm 1980, Nguyễn Hữu Thọ làm quyền Chủ tịch nước một thời gian ngắn.
== Các Phó nguyên thủ qua các thời kỳ ==
== Xem thêm ==
Chủ tịch nước Việt Nam
Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam
== Chú thích == |
20 tháng 5.txt | Ngày 20 tháng 5 là ngày thứ 140 (141 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 225 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
325 – Công đồng đầu tiên tại Nicea được triệu tập bởi Hoàng Đế La Mã Constantinus I.
1925 – Giáo hoàng Piô-9 tấn phong chức Khâm sứ đầu tiên ở Đông Dương cho giám mục Agiuti.
1941 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân Đức thả lính dù xuống đảo Kríti, mở màn trận chiến trên đảo với quân đội Đồng Minh.
1969 – Chiến tranh Việt Nam: Trận Đồi Thịt Băm tại Thừa Thiên kết thúc, Quân lực Hoa Kỳ chiếm ngọn đồi.
1983 – Luc Montagnier công bố phát hiện của ông về vi-rút HIV gây bệnh liệt kháng trên tạp chí Science, là công bố đầu tiên về vi-rút này.
1989 – Chính quyền Trung Quốc áp đặt thiết quân luật nhằm đối phó với các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ đang diễn ra, dẫn đến sự kiện thảm sát tại Quảng trường Thiên An Môn.
== Người sinh ==
1799 – Honoré de Balzac nhà vǎn hiện thực lớn của nước Pháp (m. 1850)
1830 – Hector Malot, văn hào Pháp (m. 1907)
1851 – Emile Berliner, nhà phát minh người Đức, phát minh ra máy quay đĩa (m. 1929)
1883 – Vua Faisal I của Iraq (m. 1933).
1897 – Diego Abad de Santillán nhà kinh tế, tác giả người Tây Ban Nha (m. 1983)
1908 – James Stewart, huyền thoại điện ảnh Hoa Kỳ (m. 1997)
1919 – Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, giám mục Công giáo người Việt, hồng y - tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội (1994 - 2005) (m. 2009)
1924 – Aida Mitsuo, nhà thơ, nhà thư pháp Nhật Bản (m. 1991)
1946 – Cher, diễn viên và ca sĩ người Hoa Kỳ
== Mất ==
1285 - John II của Jerusalem, vua đảo Síp.
1506 -Cristoforo Colombo, nhà thám hiểm người Tây Ban Nha gốc Ý.
1622 -Osman II, Hoàng đế của đế quốc Ottoman (s. 1604)
2009 - Nguyễn Bá Cẩn, thủ tướng Việt Nam Cộng hòa (s. 1930)
== Những ngày lễ và kỉ niệm ==
Quốc khánh (Cameroon)
Ngày căm thù sự diệt chủng của chế độ Pol Pot (Campuchia)
== Tham khảo == |
lâu đài.txt | Lâu đài hay còn gọi là tòa thành hay thành trì (từ tiếng Latin: Castellum) là một loại hình công trình kiến trúc có cấu trúc rất kiên cố đã được xây dựng ở châu Âu và Trung Đông trong thời kỳ Trung cổ do giới vương quyền, quý tộc xây dựng. Lâu đài chính là nơi trú ngụ của lãnh chúa hoặc quý tộc, nó khác biệt với cung điện vốn là dành cho Hoàng gia. Lâu đài cũng không phải là một pháo đài vì lâu đài không chỉ đảm nhiệm chức năng chiến đấu, phòng thủ hay chức năng quân sự nói chung mà nó có chức năng chính là nơi ở cho giới quý tộc.
Lâu đài bắt nguồn từ việc nâng cấp các tường thành, rào chắn của những điểm cư trú công cộng và phát triển lên thành một cứ điểm phòng thủ để bảo vệ đời sống ở bên trong. Đặc điểm của lâu đài chính là tường cao, hào sâu, có nhiều lầu. Thông thường các lâu đài ở châu Âu trung cổ được thiết kế có hình vuông, những bức tường có thể xây khoanh tròn, trên lâu đài có nhiều tháp canh, tường thành được xây dựng bằng chất liệu đá. Xung quanh lâu đài bao quanh một hào nước sâu.
Ở châu Âu, lâu đài có nguồn gốc trong thế kỷ thứ 9 và 10, sau sự sụp đổ của đế chế Karolinger. Lãnh thổ của đế chế này dần được phân chia giữa các lãnh chúa và hoàng tử, vương hầu, các dòng họ quý tộc và hình thành các thái ấp, lãnh địa. Những vị quý tộc này sở hữu những mảnh đất đó và xây dựng lâu đài để kiểm soát các khu vực xung quanh để phòng thủ, bảo vệ những tài sản thuộc sở hữu của họ.
Mặc dù nhiệm vụ quân sự là rất quan trọng nhưng những lâu đài thường được sử dụng như là nơi trú ngụ và cũng là trung tâm quản lý hành chính và biểu tượng quyền lực của cá nhân, dòng họ đó. Lâu đài đô thị được sử dụng để kiểm soát dân chúng địa phương và các tuyến đường giao thông quan trọng, và lâu đài nông thôn thường được xây dựng biệt lập với các ngôi làng và có chức năng phòng thủ, bảo vệ những vùng đất đai màu mỡ.
Ban đầu, nhiều lâu đài được xây dựng từ đất và gỗ, nhưng do nhu cầu phòng thủ và kỹ thuật phát triển cũng như chi phí bỏ ra nhiều nên lâu đài được xây cất bằng đá để tăng tính vững vàng, đường bệ. Mặc dù thuốc súng được du nhập vào châu Âu trong thế kỷ 14, nó đã không ảnh hưởng đáng kể đến xây dựng lâu đài cho đến thế kỷ 15 vì hỏa lực của binh chủng này còn quá yếu không thể làm suy suyễn những bức tường lâu đài kiên cố.
Nhưng đến khi pháo binh đã trở nên đủ mạnh để có thể xuyên thủng và phá hủy bức tường đá thì lâu đài dần phải cải tiến để chống chọi. Trong khi lâu đài vẫn tiếp tục được xây dựng vào thế kỷ 16, kỹ thuật mới được bổ sung trong việc xây dựng để đối phó với lửa pháo và như vậy, sự thay đổi tính chất và kết cấu dần biến lâu đài từ một nơi cư trú thành một tòa thành phục vụ cho các hoạt động quân sự. Kết quả là, lâu đài thực sự đã được thay thế bởi các pháo đài.
Từ thế kỷ 18 trở đi, có một sự thay đổi mới trong việc xây dựng những lâu đài, với việc xây dựng các mô hình lâu đài lãng mạn của kiến trúc Gothic và không có mục đích quân sự. Hết
== Các đặc điểm nổi bật của lâu đài ==
Motte: Là kiểu gò đất phẳng nhân tạo nơi lâu đài tọa lạc.
Enceinte: Là tường thành có tính năng phòng thủ, bảo vệ
Keep: Là tháp canh có tính năng giám sát bên ngoài từ phí trong.
Gatehouse: Là cổng vào lâu đài thiết yếu.
Moat: Là dạng hào sâu bao quanh bên ngoài lâu đài, có thể chứa nước; có tính năng phòng thủ kiểu ngăn cản.
Arrowslits: Là lỗ châu mai, cho phép các cung thủ có thể bắn tên ra ngoài.
== Xem thêm ==
Danh sách các lâu đài còn nguyên vẹn
Danh sách các lâu đài, cung điện
Cung điện
== Tham khảo == |
câu cửa miệng.txt | Một câu cửa miệng (hay từ cửa miệng) là một câu hay cụm từ trở nên quen thuộc vì sự lặp đi lặp lại nhiều lần của một cá nhân. Thuật ngữ này bắt nguồn từ văn hóa đại chúng và trong nghệ thuật, thường được truyền miệng qua nhiều phương tiện truyền thông đại chúng (như văn học hay xuất bản phẩm, phim, truyền hình và đài phát thanh), cũng như khẩu ngữ. Một số câu cửa miệng trở thành "thương hiệu" trên thực tế của một người hay nhân vật sử dụng câu, và có thể là phương tiện typecasting của diễn viên.
== Xem thêm ==
Catchphrase (trò chơi truyền hình Anh)
Cliché
Danh sách câu cửa miệng chính trị
Meme
Set phrase
Khẩu hiệu
Snowclone
== Đọc thêm ==
Partridge, Eric (1894-1979) ed. Beale. A Dictionary of Catch Phrases, American and British, from the sixteenth century to the present day (enlarged trade paperback edition) Lanham, Maryland: Scarborough House, 1992. ISBN 0-8128-8536-8.
== Tham khảo == |
văn hóa phùng nguyên.txt | Văn hóa Phùng Nguyên là một nền văn hóa tiền sử thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng, cuối thời đại đồ đá mới, cách đây chừng 4.000 năm đến 3.500 năm. Phùng Nguyên là tên một làng ở xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, nơi đầu tiên tìm ra các di chỉ của nền văn hóa này. Di chỉ văn hóa Phùng Nguyên đã được phát hiện ở Phú Thọ, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hà Nội, Hải Phòng và một vài nơi khác trong lưu vực sông Hồng. Tính đến năm 1998, có khoảng 55 địa điểm đã được phát hiện có di chỉ văn hóa đồng dạng với các di chỉ tại Phùng Nguyên, trong đó có 3 địa điểm có di cốt người. Ở những nơi đây, trong tất cả các hiện vật khảo cổ khai quật được thuộc nền văn hóa này, ngoài ít mẩu xỉ đồng, hiện tại chưa hề tìm thấy bất kỳ công cụ bằng đồng nào. Công cụ bằng đá phổ biến và chiếm ưu thế tuyệt đối. Đồ trang sức bằng các loại đá, đá bán quý, ngọc được tìm thấy nhiều, đặc biệt là các vòng đá. Ngoài đồ đá, cư dân Phùng Nguyên đã biết chế tạo đồ gốm đặc sắc từ khâu làm đất, tạo dáng cho đến hoa văn trang trí.
Cùng thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng ở Việt Nam như văn hóa Phùng Nguyên còn có văn hóa Cồn Chân Tiên, Hoa Lộc (lưu vực sông Mã), văn hóa của các bộ lạc người nguyên thủy ở lưu vực sông Lam, của các bộ lạc ở thượng lưu sông Mã (huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La), văn hóa Tiền Sa Huỳnh (Trung Trung bộ), văn hóa Đồng Nai (Đông Nam bộ).
== Các di chỉ ==
Cho tới nay, hơn 60 di chỉ thuộc văn hóa Phùng Nguyên đã được phát hiện. Các di tích này phân bố trong phạm vi rộng khắp châu thổ Bắc Bộ, chủ yếu là dọc theo lưu vực các con sông lớn: như sông Hồng, sông Lô, sông Thao, sông Đà, sông Đáy… tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Hà Nội, Bắc Ninh…
Di chỉ Phùng Nguyên được lấy làm tên xác lập cho nền văn hóa Phùng Nguyên tọa lạc tại xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Di chỉ Phùng Nguyên đã được các nhà khảo cổ học Việt Nam phát hiện và khai quật nhiều lần, trên diện tích rộng khoảng 4.000m2 trong những năm từ 1959 đến 1970.
Di chỉ Mán Bạc ở thôn Bạch Liên, xã Yên Thành, huyện Yên Mô (Ninh Bình), thuộc hệ thống đứt gãy của dải núi đá vôi Tam Điệp chạy ra tới biển. Theo các nhà khảo cổ học, di chỉ Mán Bạc thuộc giai đoạn văn hóa cuối Phùng Nguyên, đầu Đồng Đậu, có niên đại gần 4.000 năm. Cư dân cổ Mán Bạc sống trên toàn bộ doi đất cao mà nhân dân thường gọi là Gò Vụng, được dải núi Mán Bạc bao quanh theo thế hình vòng cung tạo ra một nơi rất kín. ở đó, cư dân yên tâm sinh sống vì có thể tránh được thời tiết xấu. Năm 1999, các nhà khảo cổ Việt Nam đã tiến hành khai quật di chỉ Mán Bạc lần thứ nhất, và đã tìm thấy 5 mộ táng và 6 cá thể. Trong lần khai quật lần thứ hai, với diện tích 24m2, các nhà khảo cổ đào được 10 mộ với 11 cá thể. Người chết được chôn theo tư thế nằm ngửa, tay chân duỗi thẳng, mặt nghiêng về bên trái. Các nhà khảo cổ cũng thu được 39 chiếc rìu, 8 đục, 6 hạt chuỗi, 10 mảnh vòng, 2 bàn đập vải vỏ cây, 3 nồi gốm, 1 bát đồng, 3 hiện vật hình nấm còn khá nguyên vẹn... và hàng trăm kilogam vỏ nhuyễn thể. Đây cũng là di chỉ đầu tiên trong giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên giữ được di cốt người còn khá nguyên vẹn. Đối chứng với mẫu bào thai 8 tháng tuổi ở Viện Giải phẫu, các nhà khảo cổ đã khẳng định những di cốt được tìm thấy ở một số mộ là trẻ sơ sinh (chiếm tới 50%).
Di chỉ khảo cổ học Văn Điển, Tân Triều (ở Thanh Trì – Hà Nội) và gần đây đã phát hiện di chỉ Phùng Nguyên muộn tại di tích Đàn Xã Tắc (Đống Đa - Hà Nội).
Các di chỉ khác: Hồng Đà (Phú Thọ), Tràng Kênh (Hải Phòng), Bãi Tự (Bắc Ninh).
== Xem thêm ==
Di chỉ khảo cổ Phùng Nguyên
== Tham khảo == |
tổng (đơn vị hành chính).txt | Tổng là một đơn vị hành chính của một xứ. Tổng thông thường có một diện tích nhỏ, dưới cấp bộ, tỉnh, và quận hay huyện.
Một số ngoại lệ là tổng của Thụy Sĩ, một đơn vị rộng quyền chính trị tương đương với cấp tỉnh hoặc tiểu bang trong Liên minh Thụy Sĩ.
== Xem thêm ==
Tổng (đơn vị hành chính cũ Việt Nam)
== Tham khảo == |
tổng tư lệnh.txt | Tổng tư lệnh thường được dùng để chỉ người giữ chức vụ chỉ huy toàn bộ quân đội, hay mở rộng là chỉ huy toàn bộ các lực lượng vũ trang, trên một khu vực địa lý cấp quốc gia hoặc tương đương. Trong tổ chức của một quốc gia, chức vụ Tổng tư lệnh là chức vụ chỉ huy quân sự cao nhất, nên còn được gọi là Tổng tư lệnh tối cao. Tổng tư lệnh của quốc gia là nguyên thủ quốc gia đó.
== Việt Nam ==
Ở Việt Nam, người giữ chức vụ Tổng tư lệnh duy nhất là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sinh ngày 25.8.1911, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngày nay, ở Việt Nam không còn sử dụng chức danh Tổng Tư lệnh Quân đội nữa.
== Tham khảo == |
angelique kerber.txt | Angelique Kerber (sinh ngày 18 tháng 1 năm 1988) là một vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Đức. Vào tháng 9 năm 2016, Kerber lần đầu tiên vươn lên vị trí số 1 thế giới.
Kerber chơi chuyên nghiệp từ năm 2003, có lối chơi phòng thủ phản công và dựa trên sức bền, từng vô địch Mỹ Mở rộng, Úc Mở rộng, lọt vào tới chung kết Wimbledon và tứ kết Pháp Mở rộng.
== Cuộc sống cá nhân ==
Sinh ra tại Bremen, có cha là Sławomir Kerber và mẹ là Beata Kerber, và có 1 chị gái. Bắt đầu chơi quần vợt từ năm 3 tuổi. Cô nói thông thạo 3 thứ tiếng là Anh, Ba Lan và Đức. Trong những chuyến du đấu, Kerber kết bạn với các tay vợt khác như Caroline Wozniacki, Agnieszka Radwańska, Petra Kvitová và có cả Ana Ivanovic.
== Sự nghiệp ==
=== 2007 ===
Sau những thành công tại các giải ITF, Kerber lần đầu tiên chơi tại 1 giải grand slam là tại Roland Garros, thua Elena Dementieva tại vòng 1. Tại Wimbledon, cô thua Anna Chakvetadze tại vòng 1 và phải dừng bước tại vòng 1 Mỹ Mở rộng sau khi thua Serena Williams.
=== 2008–2009 ===
Kerber có được chiến thắng đầu tiên tại 1 giải Grand Slam là tại Úc Mở rộng 2008 trước Maret Ani trước khi thua Francesca Schiavone tại vòng 2 nhưng sau đó lại liên tiếp thua ngay từ vòng 1 của Pháp Mở rộng, Wimbledon Championships và Mỹ Mở rộng. Năm 2009, Kerber có 3 trận đấu chính thức tại hệ thống WTA. Tại Úc Mở rộng, Kerber thua tại vòng 1 trước Venus Williams. Cũng trong năm này, cô có thêm 1 danh hiệu ITF tại Pozolanco, Tây Ban Nha, đánh bại Kristína Cucová trong trận chung kết.
=== 2010 ===
Tại Úc Mở rộng 2010, Kerber phải tham dự vòng loại, và cô đã vượt qua vòng loại để có trận đấu tại vòng 3 đầu tiên trong sự nghiệp, thắng Olga Govortsova tại vòng 1 và hạt giống số 23 Aravane Rezaï tại vòng 2 trước khi thua Svetlana Kuznetsova tại vòng 3.
Tại giải Pháp Mở rộng cô thua tại vòng 2 trước Aravane Rezaï.
Trên sân cỏ, Kerber tham dự giải Aegon Classic, nhưng cô thua trước tay vợt sau đó đã giành chức vô địch là Li Na tại vòng 3 và tại vòng 1 của UNICEF Open trước Justine Henin. Tại Wimbledon, Kerber lọt đến vòng 3, đánh bại tay vợt Ấn Độ Sania Mirza tại vòng 1, tại vòng 2, cô đánh bại hạt giống số 13 Shahar Peer và thua tay vợt người Úc Jamila Groth tại vòng 3.
=== 2011: Bán kết Mỹ Mở rộng đầu tiên trong sự nghiệp ===
Tại Wimbledon, Kerber thua tại vòng 1 trước tay vợt 17 tuổi của nước chủ nhà Anh Laura Robson.
Tại US Open, Kerber tham dự khi đứng hạng 92 thế giới, đánh bại tay vợt trẻ nước chủ nhà Lauren Davis tại vòng 1 sau 3 set, tiếp tục đánh bại hạt giống số 12 Agnieszka Radwańska tại vòng 2 sau 3 set 6–3 4–6 6–3 và tạo ra một cú sốc tại giải và cô đã có trận đấu vòng 3 đầu tiên tại giải, tiếp tục đánh bại tay vợt không được xếp hạng hạt giống người Nga Alla Kudryavtseva tại vòng 3, Kerber tiếp tục đánh bại tay vợt người Romania Monica Niculescu tại vòng 4. Tại trận tứ kết grand slam đầu tiên trong sự nghiệp, cô tiếp tục gây bất ngờ sau khi đánh bại tay vợt người Ý Flavia Pennetta trước khi để thua Samantha Stosur tại bán kết.
Kerber kết thúc mùa giải sau khi US Open kết thúc là hạng 34 thế giới.
=== 2012: Bước đột phá, hạng 5 thế giới ===
Giải đấu đầu tiên của Kerber trong năm 2012 là tại ABS Classic tại Auckland. Tại vòng 1, cô đánh bại Marina Erakovic, đánh bại tay vợt đồng hương Julia Goerges tại vòng 2, tại tứ kết, cô thắng một tay vợt đồng hương khác là Sabine Lisicki sau khi tay vợt này bỏ cuộc, tại bán kết, Angelique thua trước hạt giống số 4 Flavia Pennetta.
Tại Úc Mở rộng, Kerber được xếp hạt giống số 30. Thắng Bojana Bobusic tại vòng 1 và tay vợt người Canada Stéphanie Dubois tại vòng 2 và đã chịu nhận thất bại trước tay vợt hạt giống số 4 Maria Sharapova tại vòng 3.
Cô còn chơi cho đội tuyển Fed Cup của Đức cùng với Sabine Lisicki, Julia Goerges và Anna-Lena Grönefeld.
Kerber có danh hiệu WTA đầu tiên trong sự nghiệp tại Paris sau khi đánh bại Marion Bartoli 7–67–3 5–7 6–3 trong trận chung kết. Cũng tại giải đấu này cô cũng đã lần đầu tiên thắng được Maria Sharapova.
Tại Indian Wells, Kerber được xếp hạt giống số 18, lọt vào bán kết nhưng thua trước tay vợt số 1 thế giới Victoria Azarenka 6–4 6–3.
Trên mặt sân đất nện, tại Stuttgart, Kerber đi đến tứ kết, đánh bại hạt giống số 6 Caroline Wozniacki tại vòng 2 và thua Petra Kvitova ở tứ kết 4–6 4–6.Tại Pháp Mở rộng, Kerber lần đầu tiên lọt đến tứ kết nhưng lại thua trước hạt giống số 21 Sara Errani 3–6 6–72–7.
Trên mặt sân cỏ, Kerber lọt đến chung kết giải Aegon International tại Eastbourne, thua trước Tamira Paszek 7–5 3–6 5–7. Tại Wimbledon, Kerber lần đầu tiên lọt đến bán kết, lần lượt vượt qua Lucie Hradecka tại vòng 1, Ekaterina Makarova tại vòng 2, Christina McHale tại vòng 3 và bất ngờ vượt qua Kim Clijsters 6–1 6–1 tại vòng 4. Tại tứ kết, Kerber vượt qua hạt giống số 15 Sabine Lisicki 6–3 6–77–9 7–5 trước khi thua Agnieszka Radwanska 3–6 4–6 tại bán kết. Tại Olympics London 2012, Kerber lần lượt vượt qua Petra Cetkovská tại vòng 1, Tímea Babos tại vòng 2 và Venus Williams tại vòng 3 trước khi để thua trước Victoria Azarenka tại tứ kết 4–6 5–7.
Ở giải tại Cincinnati, Kerber vào đến chung kết nhưng cũng chỉ giành vị trí á quân khi để thua trước Li Na 6–1 3–6 1–6. Tại Mỹ Mở rộng, Kerber được xếp hạt giống số 6, phải dừng bước tại vòng 4 khi để thua trước Sara Errani 6–72–7 3–6.
Kerber giành được suất tham dự WTA Championships, được xếp hạt giống số 5, nhưng cô thua cả 3 trận và phải dừng bước tại vòng bảng, trong đó đáng chú ý nhất là trận cô thua Victoria Azarenka 7–613–11 6–72–7 4–6, Kerber đã không tận dụng thành công 2 match points trong set 2 để giành chiến thắng, sau đó cô đã để Azarenka lội ngược dòng để giành chiến thắng trong trận đấu đó.
Kerber kết thúc năm ở vị trí số 5 thế giới.
=== 2013 ===
Tại Úc Mở rộng 2013, Kerber được xếp hạt giống số 5, cô phải dừng bước tại vòng 4, thua trước Ekaterina Makarova, trong khoảng thời gian đó, Kerber phải đối mặt với chấn thương lưng khiến cô thi đấu không tốt, trước đó 1 ngày là sinh nhật của Kerber trong ngày cô thi đấu tại vòng 3. Có thể nói đó là tin buồn trong ngày sinh nhật của Kerber.
Tại Pháp Mở rộng, Kerber là hạt giống số 8, cô đã không vượt qua trận đấu tại vòng 4 trước Svetlana Kuznetsova.
Tại Wimbledon, Kerber thua tại vòng 2, trước Kaia Kanepi. Còn tại Mỹ Mở rộng, Kerber cũng thua tại vòng 4 trước Carla Suarez-Navarro.
Kerber tham dự WTA Championships khi Maria Sharapova rút lui, cô được xếp hạt giống số 8, có trận thắng 6–2 6–2 trước Agnieszka Radwanska nhưng lại thua 2 trận trước Petra Kvitová và Serena Williams.
Kerber kết thúc năm 2013 ở vị trí số 9 thế giới.
=== 2016: Hai danh hiệu Grand Slam, huy chương bạc Thế vận hội, chung kết WTA Finals, vị trí số 1 thế giới ===
Kerber có được danh hiệu Grand Slam đầu tiên tiên của mình sau khi đánh bại tay vợt số một thế giới Serena Williams 6–4 3–6 6–4 tại chung kết Úc mở rộng. Sau đó, Kerber cũng vô địch Mỹ Mở rộng, sau khi đánh bại Karolina Pliskova 6–3 4–6 6–4. Và kết thúc ở vị trí số 1 thế giới.
== Chung kết WTA đơn đã tham dự ==
=== Thắng ===
=== Thua ===
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Angelique Kerber tại Hiệp hội quần vợt nữ
Angelique Kerber trên ITF
Angelique Kerber tại Fed Cup
Trang chủ
Angelique Kerber trên Twitter |
dịch vụ.txt | Dịch vụ trong quốc tế , được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa-dịch vụ.
== Đặc tính ==
Tính đồng thời (Simultaneity)
sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời: người được cắt tóc phải chờ cho người thợ cắt tóc cắt cho mình
Tính không thể tách rời (Inseparability)
sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thể tách rời: thợ sửa xe không thể sửa xe khi không có ai kêu người đó sửa
Tính không đồng nhất (Variability)
không có chất lượng đồng nhất: hai người ca sĩ sẽ giải trí cho người nghe bằng hai cách khác nhau
Tính vô hình (Intangibility)
không có hình hài rõ rệt. Không thể thấy trước khi tiêu dùng: trò chơi điện tử là một thứ vô hình, không có thật
Không lưu trữ được (Perishability)
không lập kho để lưu trữ như hàng hóa được: không thể lưu trữ cảm giác được xem một buổi diễn trực tiếp được
== Các ngành dịch vụ ==
Cung cấp điện, nước
Xây dựng (không kể sản xuất vật liệu xây dựng)
Thương mại
Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán,...
Y tế, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc trẻ em
Giáo dục, thư viện, bảo tàng
Du lịch, khách sạn, cho thuê nhà
Thông tin, bưu chính, internet
Giao thông, vận tải
Cung cấp năng lượng (không kể khai thác và sản xuất)
Giải trí, thể thao, mua sắm
Ăn uống
Các dịch vụ chuyên môn (tư vấn, pháp lý, thẩm mỹ, v.v...)
Quân sự
Cảnh sát
Các công việc quản lý nhà nước
Dịch vụ bảo vệ an ninh
== Vai trò ==
Thúc đẩy các ngành sản xuất vật chất khác
Tạo việc làm
Khai thác các nguồn lực tự nhiên và kinh tế xã hội để phát triển kinh tế
== Xem thêm ==
Hàng hóa
Khu vực chế tạo
== Tham khảo == |
người lào.txt | Người Lào (tiếng Lào: ລາວ, tiếng Isan: ลาว, IPA: láːw) là một dân tộc có vùng cư trú truyền thống là một phần bắc bán đảo Đông Dương. Họ là một phân nhóm của các sắc tộc Thái tại Đông Nam Á.
== Tên gọi ==
Từ nguyên của từ Lào chưa được biết một cách rõ ràng, song nó có thể liên hệ với các bộ tộc được gọi là Ai Lao (tiếng Lào: ອ້າຽລາວ, tiếng Isan: อ้ายลาว, tiếng Trung: 哀牢; bính âm: Āiláo) xuất hiện trong các ghi chép từ thời nhà Hán tại khu vực mà nay là tỉnh Vân Nam. Các bộ tộc có nguồn gốc từ người Ai Lao bao gồm các sắc tộc Thái đã di cư xuống Đông Nam Á. Người Lào, giống như nhiều sắc tộc Thái khác cũng tự gọi mình là Thái (Lào: ໄທ, Isan: ไท, IPA: tʰáj) và cụ thể hơn là Thái Lào (ໄທລາວ, ไทลาว). Tại Thái Lan, người Lào bản địa được phân biệt với người Lào tại Lào và các sắc tộc Thái khác bằng thuật ngữ Thái Isan (tiếng Lào: ໄທຍ໌ອີສານ, tiếng Isan: ไทยอีสาน, IPA: i: să:n), một thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Phạn có nghĩa là đông bắc, song 'Lào' vẫn dược sử dụng.
== Lịch sử ==
=== Thời kỳ người Thái di cư ===
Theo một thần thoại chung của các sắc tộc Thái, một vị vua có thể là thần thoại, Khun Borom Rachathiriat (ຂຸນບໍຣົມຣາຊາທິຣາດ, ขุนบรมราชาธิราช, [kʰǔn bɔ̄ː lóm láː sáː tʰī lâːt]) của Mueang Thaen (ເມືອງແຖນ, เมืองแถน, [mɯ́əŋ tʰɛ̌ːn], Mường Thanh) (nay là Điện Biên Phủ) là cha của một số người con trai và những người con này đã định cư và cai trị các mường khác nhau trên khắp Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc. Là sắc dân có nguồn gốc từ những người cổ đại được người Hán gọi là Việt và Ai Lao, các sắc tộc Thái bắt đầu di cư đến Đông Nam Á vào đầu thiên niên kỷ thứ 1, song hoạt động di cư quy mô lớn chỉ diễn ra từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 13, đặc biệt là từ nơi mà nay là Tây Song Bản Nạp của Vân Nam và Quảng Tây. Lý do khiến người Thái phải di cư là vì sức ép từ sự bành trướng của người Hán, những cuộc xâm lược của người Mông Cổ, tìm kiếm những vùng đất phù hợp với canh tác lúa nước và sự sụp đổ của các quốc gia như Nam Chiếu.
Người Thái đã đồng hóa hoặc đẩy lui những người Môn-Khmer Nam Á, và định cư ở ven rìa các vương quốc Ấn hóa của người Môn và Đế quốc Khmer. Đã có sự pha trộn giữa các sắc tộc và người Thái đã tiếp nhận triết học, tôn giáo, ngôn ngữ và phong tục Ấn Độ cùng một số yếu tố Nam Á thông qua các sắc tộc láng giềng, song họ vẫn duy trì liên hệ với các mường Thái khác.
=== Lan Xang ===
Các nhà nước của người Thái đã tận dụng thời cơ đế quốc Khmer suy yếu và nổi lên với vị thế độc lập. Người Lào coi đây là thời điểm bắt đầu lịch sử quốc gia của họ, với nhiều di tích, đền chùa, tác phẩm nghệ thuật, và các khía cạnh khác của văn hóa Lào bắt nguồn từ thời kỳ này. Từ đó, người ta có thể gọi các nhà nước Thái ở thung lũng sông Chao Phraya là Xiêm và Lan Xang là Lào. Vương quốc Lan Xang (ອານາຈັກລ້ານຊ້າງ, อาณาจักรล้านช้าง, [ʔaː náː tʃák lâːn sâːŋ]), hay Vạn Tượng, khởi đầu từ năm 1354, khi Somdej Phra Chao Fa Ngum (ສົມເດດພຣະເຈົ້າຝ້າງູ່ມ, สมเด็จพระเจ้าฝ้างู่ม) (1354 - 1373 AD) trở về Mueang Sua (ເມືອງຊວາ, เมืองซวา), đổi tên thành Xieng Thong (ຊຽງທອງ, เซียงทอง). Từ căn cứ này, Lan Xang đã mở rộng lãnh thổ ra toàn bộ nước Lào ngày nay cùng cao nguyên Khorat và nhiều phần của Tây Song Bản Nạp (Sipsongbanna, ສິບສອງພັນນາ, สิบสองพันนา), Sipsong Chu Tai (ສິບສອງຈຸໃທ, สิบสองจุไทย), Xieng Tung (ຊຽງຕຸງ, เซียงตุง), và Xieng Taeng (ຊຽງແຕງ, เซียงแตรง) cùng nhiều phần ở Tây Bắc Việt Nam.
Vương quốc Lan Xang hùng mạnh, giàu có và có ảnh hưởng do kinh đô của nó nằm ở nơi giao nhau của tuyến đường tơ lụa và là trung tâm của Phật giáo tại Đông Nam Á. Vương quốc thịnh vượng này có hoạt động vận tải đường thủy dọc theo Mê Kông và các tuyến đường lữ hành trên bộ đến các cảng của Xiêm. Những vị khách phương Tây đầu tiên đã đến trong thời gian trị vì của Phra Chao Sourigna Vongsa (ພຣະເຈົ້າສຸຣິຍະວົງສາທັມມິກຣາດ, พระเจ้าสุริยวงศาธรรมิกราช) (1634 - 1697), họ ghi chép cách vương quốc thịnh vượng này xuất khẩu vàng, nhựa thông benzoin, đồ sơn mài, thảo dược, ngà voi, tơ lụa và quần áo tơ lụa, và gỗ. Nhiều đền chùa, đặc biệt là tại Xieng Thong (nay là Luang Phrabang) và Vientiane đã chứng thực cho giai đoạn thịnh vượng này. Trong thời kỳ này, những truyền thuyết về Khun Borom đã được ghi lại trên lá cọ và sử thi cổ xưa "Sin Xay" của người Lào cũng được sáng tác ra. Phật giáo tiểu thừa trở thành quốc giáo, và Vientiane là một thành phố quan trọng của việc học tập giáo lý Phật giáo. Bên cạnh Phật giáo, người Lào còn chịu ảnh hưởng văn hóa từ những nơi định cư xa xôi của người Môn (mà về sau đồng hóa vào Lan Xang) và từ người Khmer. Một triều đại liên minh giữa Lannathai và Lanxang dưới thời Phra Chao Sai Sethathirath (ພຣະເຈົ້າໄຊເສດຖາທິຣາດ, พระเจ้าไชยเชษฐาธิราช) (1548 - 1572) đã giúp phát triển kiến trúc và mỹ thuật, phỏng theo phong cách Lannathai. Các loại sách của Lannathai được Lan Xang sao chép, bao gồm nhiều tài liệu tôn giáo. Điều này có thể đã dẫn đến việc tiếp nhận, hoặc thậm chí là tái tiếp nhận chữ Tua Tham dựa trên tiếng Môn, hoặc 'chữ cái Phật pháp' đối với các tác phẩm tôn giáo
Sau đó, Lan Xang bị phân chia thành ba thế lực kình địch, cai trị từ Luang Phra Bang, Vientiane, và Champasak (ຈຳປາສັກ, จำปาศักดิ์). Các vương quốc nhanh chóng rơi vào tay Xiêm. Những tàn dư của Lan Xang đã gặp phải tai họa vào thế kỷ 18 và 19, trong các chiến dịch do vua Taksin của Xiêm tiến hành để trừng phạt Nổi dậy Lào chống lại Xiêm của Chao Anouvong (ເຈົ້າອນຸວົງ, เจ้าอนุวงศ์) trong thời gian trị vì của Rama III. Trong cả hai thời kỳ này, Vientiane và các thành phố khác đã bị cướp phá và các bức tượng và tác phẩm nghệ thuật Phật giáo đã bị đưa đến Thái Lan. Các thành phố, phần lớn cư dân bị ép buộc phải di dời và đến định cư tại các vùng dân cư thưa thớt hơn của Isan và miền Trung Thái Lan và những người khác bị bắt làm nô lệ để phục dịch trong các công việc nặng nhọc dẫn đến nghệ thuật và ngôn ngữ Lào đã tiến vào miền Trung Thái Lan. Vào lúc người Pháp đến Lào vào năm 1868, họ chỉ thấy một khu vực với dân cư giảm sút và thậm chí thành phố Vientiane cũng biến mất trong các cánh rừng.
=== Người Lào hậu Lan Xang ===
==== Người Lào tại Lào ====
Lào sau đó đã bị sáp nhập vào Xiêm, tuy nhiên, trong cuộc thám hiểm của Auguste Pavie, người Pháp đã quan tâm đến việc kiểm soát Mê Kông. Khi đó, người Pháp đã đô hộ Việt Nam và muốn chiếm cứ tất cả các chư hầu của nhà Nguyễn, bao gồm cả các vùng lãnh thổ còn lại của Lan Xang. Điều này đã khiến Pháp tiến hành ngoại giao pháo hạm và những vụ đụng độ biên giới với tên gọi Chiến tranh Pháp-Xiêm vào năm 1893, khiến Xiêm buộc phải từ bỏ tuyên bố chủ quyền đối với hầu hết nước Lào ngày nay.
Người Pháp đã ngăn chặn và giữ cho người Lào không trở thành một phân nhóm của dân tộc Thái (Thái Lan), như đồng bào của họ tại Isan, hay còn gọi là 'người Thái Đông Bắc'. Giống như sự ganh đua trong lịch sử giữa quốc vương ba nước Luang Phrabang, Champasak và Vientiane, nước Lào sau độc lập đã nhanh chóng bị chia rẽ giữa những người bảo hoàng dưới sự lãnh đạo của hoàng tử Boun Oum của Champasak (ເຈົ້າບຸນອຸ້ມ ນະ ຈຳປາສັກ, เจ้าบุญอุ้ม ณ จำปาศักดิ์), những người trung lập dưới sự lãnh đạo của hoàng thân Souvanna Phouma (ເຈົ້າສວັນນະພູມາ, เจ้าสุวรรณภูมา), và Pathet Lào (ປະເທດລາວ, ประเทศลาว, pá tʰêːt lá:w) theo chủ nghĩa cộng sản dưới sự lãnh đạo của em trai cùng cha khác mẹ với ông (Souvanna Phouma) là hoàng thân Souphanouvong (ເຈົ້າສຸພານນະວົງ, เจ้าสุภานุวงศ์). Những chia rẽ nội bộ, cùng với Chiến tranh Lạnh đã khiến Lào nhanh chóng bị lôi kéo vào Chiến tranh Việt Nam, dẫn đến xung đột kéo dài và kết thúc với sự chiến thắng của cộng sản vào năm 1975.
Nội chiến Lào đã gây nên nhiều thiệu hại cho đất nước, Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đất nước này đã nới lỏng nhiều hạn chế và có những bước phát triển về kinh tế.
==== Người Lào tại Thái Lan ====
Mặc dù nhiều phần của Isan đã có người định cư và là một phần của Lan Xang từ trước, song nhiều người Lào đã bị buộc phải định cư tại các khu vực ít dân cư ở các vùng phía nam và phía tây hoặc bị gửi đến các mường Lào trung thành với người Xiêm. Khu vực Isan tương đối cô lập với phần còn lại của Thái Lan do có dãy núi Phetchabun và dãy núi Sankambeng chia cắt. Sự cô lập này còn kéo dài cho đến tận đầu thế kỷ 20, khi một tuyến đường sắt được xây dựng nối đến Nakhon Ratchasima. Sự cô lập của vùng Isan đối với miền Trung Thái Lan và việc có một lượng dân số lớn tại Isan, những người vẫn còn gắn bó với di sản văn hóa của họ, đã giúp bảo tồn văn hóa Lào.
Mặc dù Isan là một vùng đa sắc tộc với sự pha trộn của người Lào, người Việt, người Chăm, người Môn, người Khmer và các nhóm Thái khác, người Thái miền Trung nhận thấy mối đe dọa từ sự thống trị của người Lào đối với văn hóa và chính trị tại vùng Isan vì thế chính quyền Thái Lan đã có các chính sách Thái hóa khác nhau để tích hợp người dân Isan vào Thái Lan. Do sự thống trị của người Lào được coi là mối đe dọa lớn nhất đối với khu vực, mục 'người Lào' đã bị chính quyền Thái Lan gỡ bỏ trong danh mục dân tộc trong điều tra dân cư, và các chính sách mạnh tay đã được ban hành. Các chỉ dấu về người Lào hay quá khứ của họ bị gỡ bỏ và tiếng Lào bị cấm trong trường học và trong sách.
Isan là một vùng mà nông nghiệp mang tính chủ đạo và nghèo hơn so với các vùng khác của Thái Lan, nhiều người đã dời khỏi khu vực để tìm kiếm việc làm tại Vientiane, Bangkok hoặc ra nước ngoài, khu vực có được mối quan tâm mới vì văn hóa truyền thống của nó có sự khác biệt mặc dù tương đồng với văn hóa Thái. Isan ngày càng đô thị hóa, và nhiều thành phố lớn đã nổi lên. Do có dân số lớn và có một lượng phiếu quan trọng trong các cuộc bầu cử, chính phủ quốc gia Thái Lan ngày càng quan tâm đến việc cải thiện cơ sở hạ tầng, thương mại và giáo dục của Isan, song nghèo đói và chủ nghĩa vùng miền vẫn còn là trở ngại đối với sự phát triển của vùng này.
== Phân bổ ==
Có khoảng 3,6 triệu người Lào tại Lào, chiếm xấp xỉ 68% dân số (còn lại chủ yếu là các bộ tộc vùng cao). Người dân tộc Lào tại Lào tạo thành nhóm Lào Lùm ("người Lào vùng thấp") (tiếng Lào: ລາວລຸ່ມ, tiếng Thái: ลาวลุ่ม, IPA: laːw lum). Một cộng đồng nhỏ người Lào xuất hiện tại Thái Lan và Campuchia, sinh sống chủ yếu tại vùng trước khi thuộc về Lào là Stung Treng (Xieng Teng trong tiếng Lào), và tại Việt Nam. Ngoài ra còn có một số lượng đáng kể người Lào tại hải ngoại và có thể lên đến 500.000 người. Hầu hết người Lào tại hải ngoại là những người tị nạn từ Lào sau Chiến tranh để trốn tránh Pathet Lào. Những nơi có nhiều người Lào tị nạn là Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Úc, Đức, Canada, Singapore, và Anh Quốc; cũng có nhiều người sống tại Argentina, Ấn Độ, Bangladesh, Pakistan, Thụy Sĩ, Myanma và Brasil.
Theo số liệu điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2000, tại nước này có 168.707 người Lào và con số vào năm 2005 là 200.000 không tính người H'Mông, song bao gồm người Dao, Thái Đen, Khơ Mú và các nhóm khác.
== Ngôn ngữ ==
Tiếng Lào là một ngôn ngữ có thanh điệu thuộc Ngữ hệ Thái-Kadai, có quan hệ gần gũi với tiếng Thái và các ngôn ngữ của các sắc tộc Thái khác. Hầu hết từ vựng trong tiếng Lào có nguồn gốc Thái bản địa, song cũng có những đóng góp quan trọng từ tiếng Pali và tiếng Phạn cũng như các ngôn ngữ Môn-Khmer. Chữ cái tiếng Lào dựa trên chữ cái Ấn. Mặc dù tiếng Lào có năm phương ngữ chính, những người sử dụng các phương ngữ khác nhau đều có thể hiểu lẫn nhau và người Lào tin rằng họ đang nói các biến thể của cùng một thứ ngôn ngữ.
=== Tiếng Lào tại Lào ===
Tiếng Lào (ພາສາລາວ) là ngôn ngữ chính thức tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và chữ viết chính thức là chữ cái Lào. Là ngôn ngữ chiếm ưu thế trong hầu hết nhóm Lào Lùm và do đó là hầu hết cư dân nước Lào, tiếng Lào là ngôn ngữ thống trị trong giáo dục, chính quyền, và ở những nơi chính thức khác. Các ngôn ngữ thiểu số được khoảng gần một nửa dân số sử dụng, và bao gồm các ngôn ngữ thuộc các ngữ hệ Nam Á, Hán Tạng, Nam Đảo và H'Mông-Miền. Chính tả không hoàn toàn thống nhất, đã có một vài cải cách để khiến ngôn ngữ Lào tiến gần hơn đến các hệ thống ngữ âm để giúp ổn định ngôn ngữ. Tiếng Lào không có chuẩn chính thức, song phương ngữ Vientiane được coi là chuẩn trên thực tế.
=== Tiếng Lào tại Thái Lan ===
Ranh giới các phương ngữ tiếng Lào cũng được mở rộng đến vùng Đông Bắc Thái Lan, được gọi là Isan (I-sản), song tiếng Lào được nói tại Thái Lan đã tiếp nhận nhiều từ vựng và mã chuyển đổi của tiếng Thái (tiếng Xiêm). Tại Thái Lan, tiếng Lào không được giảng dạy hay sử dụng tại trường học, chính quyền và hầu hết các phương tiện truyền thông. Chính sách Thái hóa đã loại bỏ chữ viết Lào và tiếng Lào tại Thái Lan nay được viết bằng chữ cái Thái, ngoài ra, tên gọi "tiếng Lào" cũng được đổi thành "tiếng Isan" để cắt đứt các mối liên hệ chính trị với nước Lào. Mặc dù vậy, tiếng Lào vẫn là ngôn ngữ của gần một phần ba dân cư Thái Lan và là ngôn ngữ chính của 88% hộ gia đình tại Isan. Tiếng Lào vẫn là một ngôn ngữ khu vực quan trọng và là một biểu tượng của bản sắc Isan, nhưng nó cũng đang phải trải qua một sự suy giảm do sự lấn át của tiếng Thái
== Tôn giáo ==
Tôn giáo tại Lào mang tính hổ lốn cao, và bắt nguồn từ ba nguồn chính, hầu hết người Lào tự xem mình là tín đồ Phật giáo tiểu thừa, nhiều truyền thống của họ bắt nguồn từ Ấn Độ giáo và Phật giáo.
=== Phật giáo ===
Phật giáo (ພຣະພຸດທະສາສນາ, พุทธศาสนา, [pʰā pʰūt tʰāʔ sàːt sáʔ nǎː]) là tôn giáo phổ biến nhất tại Lào, được 67% dân số nước này và gần như toàn bộ dân tộc Lào tin theo. Con số "Phật tử" có thể còn cao hơn, do Phật giáo cũng có ảnh hưởng đến nhiều nhóm bộ tộc khác, song những nhóm này lại thường tự xem mình là người theo thuyết vật linh. Phật giáo cũng là tôn giáo chiếm ưu thế tại Isan và hầu hết các quốc gia láng giềng của Lào. Bên trong Phật giáo, hầu hết người Lào theo phái tiểu thừa (ເຖຣະວາດ, เถรวาท, [tʰěː rā wâːt]) song vẫn có ảnh hưởng lịch sử từ Đại thừa và đây cũng là phái chính của những người Việt và người Hoa thiểu số định cư giữa những người Lào.
Trong một cộng đồng người Lào, đền chùa là trung tâm của các hoạt động cộng đồng, nơi dân làng tập hợp để thảo luận về các mối quan tâm hoặc thỉnh cầu nhà sư suy xét và hướng dẫn cho họ, và hầu hết đàn ông sẽ vào chùa ở trong một số thời điểm nhất định để tiếp nhận thêm kiến thức tôn giáo và để làm công đức.
Ngũ giới (ປັນຈະສິນ, [ban tʃaʔ sin], เบญจศีล, [beːn tʃaʔ sin]) của Phật giáo khuyên con người không được sát sinh, trộm cướp, tà dâm, gian dối, say sưa. Văn hóa và cách cư xử của người Lào mang những nét tiêu biểu xuất phát từ niềm tin Phật giáo, bao gồm khoan dung, tôn trọng người lớn tuổi và cấp bậc trong gia đình, lòng vị tha, vô tư với thế gian, chu đáo với em ruột, lịch sự, tự phủ định, và khiêm tốn. Các niềm tin căn bản là đầu thai và nghiệp.
Các ngày lễ có liên quan đến Phật giáo bao gồm Boun Phra Vet (Phật hóa thân, ບຸນພຣະເວດ, บุญพระเวส, [bun pʰaʔ vet]), Magha Puja (Tăng đoàn, ມະຄະບູຊາ, มาฆบูชา), Songkhan (tết, ສັງຂານ, สงกรานต์), Phật đản (ວິສາຂະບູຊາ, วิศาขบูซา), Vassa (an cư, ວັນເຂົ້າພັນສາ, วันเข้าพรรษา), Wan Awk Pansa (ວັນອອກພັນສາ วันออกพรรษา), Kathina (ກະຖິນ, กฐิน). Ngoài những ngày này, các ngày an tức nguyệt của Phật giáo (ວັນພຣະ, วันพระ, [van pʰaʔ]), trong các tuần trăng, và hội chùa cũng là những lúc người ta đến viếng thăm các chùa để cầu nguyện và thỉnh cầu lời giáo huấn của các nhà sư về các mối quan tâm tinh thần, và cúng thực phẩm, tiền hoặc giúp đỡ các công việc của nhà chùa, được gọi trong tiếng Lào là tambun (ທຳບຸນ, ทำบุญ, [tʰam bun]).
=== Thuyết vật linh ===
Thuyết vật linh là tôn giáo bản địa của hầu hết những người Môn–Khmer và gần đây là thiểu số H'Mông-Miền và Tạng-Miến, và cũng là tôn giáo truyền thống của các sắc tộc Thái trước khi họ tiếp nhận Phật giáo, thậm chí một số bộ tộc Thái nay vẫn là những người theo thuyết vật linh. Đối với người dân tộc Lào, thuyết vật linh đan xen với Phật giáo và một số yếu tố Ấn Độ giáo. Mặc dù bị đàn áp vào các thời điểm khác nhau trong lịch sử, thuyết vật linh vẫn tiếp tục là một bộ phận lớn trong truyền thống tôn giáo của người Lào.
Người Lào tin vào ba mươi hai vị thần linh được gọi là khwan (ຂວັນ, ขวัญ, [kʰwan]) bảo vệ thể xác con người, và các nghi lễ basi (ບາສີ, [baː siː], ใบสี, [bɑj siː]) được thực hiện trong các sự kiện quan trọng hoặc trong những lúc lo lắng để trói buộc các linh hồn và thể xác, nếu thiếu vắng chúng thì người ta sẽ tin rằng đã mời bệnh tật hoặc tai họa đến. Ngoài ra, có các thần linh khác, được gọi là phi (ຜີ, ผี, [pʰiː]); cụ thể là bảo vệ các ngôi nhà hoặc các lãnh thổ, chúng là các địa điểm, sự vật hoặc hiện tượng tự nhiên; linh hồn tổ tiên và các linh hồn khác bảo vệ con người; và các linh hồn độc ác. Các thần linh bảo hộ của các địa điểm, như phi wat (ຜີວັດ, ผีวัด) của các chùa và lak mueang (ຫລັກເມືອງ, หลักเมือง, [lak mɯːaŋ]) của các đô thị được cộng đồng tổ chức cúng tế với thực phẩm.
Trong cuộc sống hàng ngày, hầu hết người Lào phải cúng tế các thần linh được cho là cư trú trong các điện thờ để mong được bình an. Đồ cúng gồm hoa, hương, và nến, và người ta sẽ cầu nguyện các thần linh phù hộ. Các thần linh tự nhiên bao gồm các thần sống trong cây cối, đồi núi, hoặc trong rừng. Các thần linh bảo vệ người dân thường là tổ tiên hoặc các thánh thần đến vào các thời điểm khác nhau trong cuộc sống, được gọi là thewada. Các thần linh ác độc bao gồm những người xấu xa trong kiếp trước hoặc đã chết một cách bi thảm, chẳng hạn như phi pob (ຜີປອບ, ผีปอบ) rùng rợn và phi dip (ຜີດິບ, ผีดิบ) hút máu. Một số "phi" là các vị thần bản địa và phi Ấn Độ giáo, như phi thaen (ຜີແຖນ, ผีแถน)
Các pháp sư tâm linh (ໝໍຜີ, หมอผี) là những người địa phương được đào tạo để thực hiện các lễ nghi và giao tiếp giữa linh hồn của họ với các linh hồn nói chung. Sử dụng thôi miên, các khách thể tinh thần thấm nhuần với sức mạnh thiên nhiên, hoặc saksit, các tài sản, và các nghi thức như lam phi fa (ລຳຜີຟ້າ, ลำผีฟ้า, [lam pʰiː faː]) hoặc basi, pháp sư thường được người dân đến tham khảo ý kiến những lúc họ gặp rắc rối, bị ma ám ảnh, bị bệnh tật hoặc các bất hạnh khác mà họ cho rằng có thể do các linh hồn độc ác hoặc không hạnh phúc gây ra. Các pháp sư cũng thường hiện diện trong các lễ hội vật linh.
=== Ấn Độ giáo ===
Ấn Độ giáo là tôn giáo có ảnh hưởng chủ yếu đến đế quốc Khmer, đề tài Ấn Độ giáo có thể được tìm thấy trong các đền chùa của họ, như Vat Phou. Các đền chùa thường được xây dựng trên các địa điểm của các đền thời Ấn Độ giáo cổ đại, và các bức tượng hoặc họa tiết của các vị thần Ấn Độ giáo thường được tìm thấy bên ngoài các ngôi đền. Mặc dù các nghi lễ Ấn Độ giáo có ảnh hưởng lớn, song người Lào không công khai chúng như những người Xiêm láng giềng.
Người Lào đã tiếp nhận và phỏng tác Ramayana thành một phiên bản địa phương, được gọi là Phra Lak Phra Ram (ພຣະລັກພຣະຣາມ, พระลักษมณ์พระราม, [pʰaʔ lak pʰaʔ laːm]). Phiên bản Lào của sử thi được xen vào những thần thoại của người Lào, và Bản sinh kinh cũng được coi trọng. Nhiều điệu múa cung đình dựa trên các tình tiết của câu chuyện. Ấn Độ giáo đã đan xen một cách dễ dàng vào cả thuyết vật linh và Phật giáo, do đó nhiều vị thần Ấn Độ giáo được coi là Thaen và các nhà sư Phật giáo đã kết hợp nhiều nghi thức Bà-la-môn. Người dân Lào đặc biệt tôn kính Naga, các á thần giống con rắn và cai trị các tuyến đường thủy.
== Văn hóa ==
Ẩm thực Lào tương đồng với các nền ẩm thực khác trong khu vực như ẩm thực Thái Lan và ẩm thực Campuchia, song có một số đặc điểm riêng biệt. Các món ăn nổi tiếng nhất của ẩm thực Lào là lạp và tam mak hoong, cả hai đều có nguồn gốc từ nước Lào. Ẩm thực của người Lào tại Lào và tại Isan chỉ khác nhau về chi tiết, khác biệt chủ yếu là ẩm thực Lào thiếu ảnh hưởng của ẩm thực Thái, ẩm thực Isan thì thiếu ảnh hưởng của ẩm thực Pháp. Gạo là loại lương thực chính, và chủng loại chính là gạo nếp hoặc khao nio (ເຂົ້າຫນຽວ, ข้าวเหนียว, [kʰàw nǐw]), và nó cũng là đặc điểm trên bàn ăn của người Isan và Bắc Thái do cả hai đều chịu ảnh hưởng của ẩm thực Lào. Mặc dù thỉnh thoảng gạo được thay thế bằng mì, hoặc các chủng loại gạo ít phổ biến hơn, bàn ăn của người Lào thường sẽ có kèm theo các món canh khác nhau, rau sống, và mọi người cùng chia sẻ các món ăn với nhau. Nhiều món ăn rất cay nồng do trong đó có ớt, cộng thêm các thảo mộc và nước mắm.
Người Lào nói chung vẫn chủ yếu sinh sống tại nông thôn, và nông nghiệp là kế sinh nhai của họ, trong đó gạo là lương thực quan trọng nhất. Người Lào sống định cư lâu dài giống như các cư dân vùng thung lũng sông và vùng đất thấp khác trong khu vực, trong khi các bộ tộc vùng cao của nước Lào thường du canh du cư.
Âm nhạc truyền thống của người Lào được gọi là lam lao (ລຳລາວ, ลำลาว, [lám láːw]), mặc dù nó cũng được biết đến với tên morlam (Lào: ໝໍລຳ, Isan: หมอลำ, [mɔ̌ːlám]) một thuật ngữ được ưa chuộng trong tiếng Isan. Các nghệ sĩ đến từ Thái Lan nổi tiếng tại Lào và ngược lại, trong khi văn hóa Lào tại Isan chịu ảnh hưởng mạnh của chính sách Thái hóa. Âm nhạc truyền thống Lào nổi bật với việc sử dụng nhạc cụ khene (khèn, Lào: ແຄນ, Isan: แคน, [kʰɛːn]).
== Phân nhóm người Lào ==
Tại Lào, ít có sự phân biệt giữa người Lào với các sắc tộc Thái có liên hệ gần gũi và có ngôn ngữ thông hiểu lẫn nhau, họ được xếp thành một nhóm gọi là Lào Lùm hay 'Lào vùng thấp' (tiếng Lào: ລາວລຸ່ມ láːu lūm , tiếng Thái: ลาวลุ่ม, IPA: laːw lum). Hầu hết các thành viên trong nhóm chia sẻ nhiều đặc điểm chung về văn hóa và nói các phương ngữ hoặc ngôn ngữ rất tương đồng với nhau, chỉ có một số khác biệt nhỏ trong thanh điệu, từ vựng, và phát âm một số từ nhất định, song không đủ để cản trở họ nói chuyện, song nhiều thành viên trong nhóm này, như Nyaw và Phuthai tự xem mình là các nhóm riêng biệt, và thường có sự khác biệt trong trang phục và từ đó có thể nhận biệt được họ.
== Chỉ dẫn ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Người Lào (Việt Nam)
Tường thuật về các ngôn ngữ được nói tại Lào và Thái Lan, từ Ethnologue.com
Thongchai Winichakul. Siam Mapped. University of Hawaii Press, 1984. ISBN 0-8248-1974-8
Wyatt, David. Thailand: A Short History (2nd edition). Yale University Press, 2003. ISBN 0-300-08475-7
Xaixana Champanakone "Lao Cooking and The Essence of Life". Vientiane Publishing 2010. ISBN 978-9932000012
== Liên kết ngoài ==
Chính phủ Lào
Hiểu biết về văn hóa Lào
Lao people/culture/issues |
thần châu 8.txt | Thần Châu 8 (tiếng Trung: 神舟八号, Thần Châu bát hiệu) là một kế hoạch về một chuyến bay không người lái vào không gian nằm trong chương trình Thần Châu của Trung Quốc được lên kế hoạch phóng vào ngày 1 tháng 11 năm 2011. Thần Châu 8 sẽ rời bệ phóng tại Trung tâm Phóng vệ tinh Tửu Tuyền, tỉnh Cam Túc.
Theo Cục hàng không vũ trụ Trung Quốc (CNSA), tàu vũ trụ Thần Châu 8 sẽ được ghép nối với môđun không gian Thiên Cung 1 (được phóng từ ngày 29 tháng 9 năm 2011). Việc ghép nối này sẽ tạo tiền đề cho tàu vũ trụ Thần Châu 9 có người ở hoàn thành sứ mệnh vào năm 2012, được dự kiến sẽ thực hiện việc ghép nối có người điều khiển lần đầu tiên của Trung Quốc với mô đun Thiên Cung 1.
== Lịch sử ==
Ngày 29 tháng 9 năm 2008, Trương Kiến Khải (张建启), Phó giám đốc của công trình không gian có người lái Trung Quốc đã tuyến bố trong một cuộc phóng vấn với Đài truyền hình trung ương Trung Quốc rằng Thiên Cung 1 sẽ được phóng vào năm 2010. Thần Châu 8, Thần Châu 9 và Thần Châu 10 đều được dự kiến là sẽ ghép nối với mô đun này.
Vào ngày 1 tháng 10 năm 2008, Cơ quan Không gian Thượng Hải, đơn vị tham gia vào việc phát triển Thần Châu 8, đã phát biểu rằng họ đã thành công trong các cuộc thí nghiệm mô phỏng ghép nối Thiên Cung 1 và Thần Châu 8.
Thần Châu 8 từng được lên kế hoạch phóng vào năm 2011. Tuy nhiên đến tháng 3 năm 2011, việc phóng tàu đã bị hoãn đến tháng 10 năm 2011.
== Sứ mệnh ==
Sứ mệnh lần này của Thần Châu 8 được dự kiến là nhằm giúp Trung Quốc kiểm tra công nghệ lắp ghép trên quỹ đạo của một tàu vũ trụ với một mô-đun không gian. Và nếu sứ mệnh này thành công thì đến năm 2012, Trung Quốc sẽ tiếp tục phóng thêm ít nhất hai tàu vũ trụ nữa, trong đó có ít nhất một tàu có người lái để bay đến kết nối với Thiên Cung 1. Nếu việc kết nối giữa Thần Châu 8 và Thiên Cung 1 diễn ra trôi chảy, thì ngành khoa học vũ trụ Trung Quốc sẽ đạt được một bước tiến lớn giúp nước này có thể thâm nhập sâu hơn vào khoảng không vũ trụ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Chuẩn bị cho việc thử nghiệm mặt đất tàu vũ trụ Thần Châu 8
“China Might Be Planning Early Space Station Attempt”. SpaceDaily.com. Ngày 19 tháng 2 năm 2006. |
bakumatsu.txt | Bakumatsu ( 幕末 , Mạc mạt) là những năm cuối cùng dưới thời Edo khi Mạc phủ Tokugawa sắp sụp đổ. Tiêu biểu là hàng loạt sự kiện quan trọng diễn ra từ năm 1853 đến năm 1867 khiến Nhật Bản chấm dứt chính sách Tỏa Quốc và chuyển từ chế độ phong kiến Mạc phủ sang triều đình Minh Trị. Sự phân hóa lớn nhất về chính trị/tư tưởng trong thời kỳ này là giữa những người dân tộc chủ nghĩa bảo hoàng ishin shishi (Duy tân chí sĩ) và lực lượng của Mạc phủ, bao gồm lực lượng đặc biệt Shinsengumi (Tân tuyển tổ).
Mặc dù hai nhóm này là những thế lực hùng mạnh nhất, nhưng cũng có rất nhiều nhóm khác lợi dụng sự hỗn loạn của thời kỳ Mạc mạt để nắm quyền. Hơn nữa, có thêm hai lực đẩy nữa làm trầm trọng hơn sự mâu thuẫn: thứ nhất là sự bất mãn ngày càng tăng về phần các đại danh tozama, và thứ hai là tình cảm bài phương Tây sau khi Phó đề đốc Matthew C. Perry tới Nhật Bản. Điều thứ nhất liên quan đến các lãnh chúa đã chống lại quân đội nhà Tokugawa trong trận Sekigahara năm 1600 và chính vì điều này mà họ không được bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng trong cơ cấu Mạc phủ. Điều thứ hai được thể hiện trong câu Tôn Hoàng Nhương Di (sonnō jōi). Bước ngoặt của Mạc mạt diễn ra trong chiến tranh Mậu Thìn và Trận Toba-Fushimi khi quân đội Mạc phủ bị đánh bại.
== Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị (1854) ==
Khi hạm đội bốn chiếc tàu của Phó đề đốc Hải quân Hoa Kỳ là Matthew C. Perry xuất hiện ở vịnh Edo (vịnh Tokyo) tháng 7 năm 1853, Mạc phủ rơi vào tình trạng rối loạn. Chưởng quan Hội đồng tối cao, Abe Masahiro (1819–1857), chịu trách nhiệm thương thuyết với người Mỹ. Không có chút kinh nghiệm gì về đối phó với hiểm họa của an ninh quốc gia, Abe để cân bằng giữa mong muốn của hội đồng tối cao muốn thỏa hiệp với người ngoại quốc, của Thiên Hoàng muốn giữ khoảng cách với người nước ngoài, và với các daimyo muốn tiến hành chiến tranh. Không có được sự nhất trí, Abe quyết định thương thuyết bằng cách chấp nhận đòi hỏi của Perry mở cửa Nhật Bản cho thương nhân nước ngoài trong khi vẫn chuẩn bị cho chiến tranh. Tháng 3 năm 1854, Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị (hay Hiệp ước Kanagawa) vẫn cấm giao thương nhưng mở cửa ba cảng (Nagasaki, Shimoda, Hakodate) cho các tàu săn cá voi Hoa Kỳ cập cảng nhận mua đồ dự trữ, bảo đảm đối xử tốt với các thủy thủ Hoa Kỳ bị đắm tàu, và cho phép Lãnh sự quán Hoa Kỳ mở cửa ở Shimoda, một bến cảng ở bán đảo Izu, phía Tây Nam Edo.
=== Rắc rối chính trị và vấn đề hiện đại hóa ===
Tổn thất với Mạc phủ là rất đáng kể. Tranh cãi về chính sách của triều đình là không bình thường và đã khuyến khích sự chỉ trích của dân chúng với Mạc phủ. Hy vọng nhận được sự ủng hộ của những đồng minh mới. Abe, trước sự bàng hoàng của các đại danh fudai, đã tham khảo ý kiến của các daimyo shinpan và tozama, càng làm xói mòn thêm quyền lực của Mạc phủ.
xxxxnhỏ|Kankō Maru, Tàu chiến hơi nước đầu tiên của Nhật Bản, 1855.]] Trong cải cách An Chính (1854–1856), Abe sau đó cố gắng củng cố quyền lực thống trị bằng cách đặt hàng các tàu chiến và vũ khí Hà Lan và xây dựng một cảng phòng thủ mới. Năm 1855, với sự trợ giúp của Hà Lan, Mạc phủ có được con tàu chiến hơi nước đầu tiên, Kankō Maru, được sử dụng để huấn luyện, và mở của Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nagasaki với sự hướng dẫn của người Hà Lan, và một trường quân sự theo kiểu phương Tây được thành lập ở Edo. Năm 1857, Mạc phủ có chiếc tàu chiến hơi nước điều khiển bằng chân vịt đầu tiên, chiếc Kanrin Maru. Tri thức khoa học phương Tây ("Rangaku") được phổ cấp nhanh chóng.
Sự chống đối Abe ngày càng trầm trọng trong nhóm các fudai daimyo, họ chống lại việc Hội đồng Mạc phủ được mở cửa với các tozama daimyo, và ông bị thay thế vị trí Chưởng quan Hội đồng tối cao năm 1855 bởi Hotta Masayoshi (1810–1864). Cầm đầu nhóm chống đối là Tokugawa Nariaki, người đã từ lâu nắm chắc được sự trung thành của quân đội với Thiên hoàng cùng với tình cảm bài ngoại, người được đặt vào vị trí thống lĩnh việc phòng vệ quốc gia từ năm 1884. Trường Mito – dựa trên triết học Nho giáo cải tiến và các nguyên tắc của đạo Shinto – có mục đích là phục hồi lại vị trí của Đế quốc, quay lưng lại với phương Tây.
== Hiệp ước Hữu nghị và Thương mại (1858) ==
Tiếp theo việc bổ nhiệm Townsend Harris làm Lãnh sự Hoa Kỳ năm và sau hai năm đàm phán, Hiệp ước Hữu nghị và Thương mại được ký năm 1858 và có hiệu lực từ giữa năm 1859. Trong một hành động ngoại giao táo bạo, Harris đã chỉ ra nhiều hành động thực dân bạo ngược của Pháp và Anh chống lại Trung Quốc trong cuộc Chiến tranh Nha phiến lần thứ Hai (1856–1860), gợi ý răng những quốc gia này sẽ không ngần ngại gây chiến với Nhật Bản, và Hoa Kỳ đề xuất việc thay thế bằng một nền hòa bình. Những điểm quan trọng nhất của Hiệp ước này là:
Trao đổi nhân viện ngoại giao.
Edo, Kobe, Nagasaki, Niigata, và Yokohama mở cửa để giao thương với nước ngoài với tư cách là hải cảng.
Công dân Hoa Kỳ có thể sống và buôn bán theo ý thích ở những cảng này (chỉ trừ thuốc phiện bị cấm).
Một hệ thống đặc quyền ngoại giao theo đó người nước ngoài được tuân theo luật của tòa án lãnh sự thay vì hệ thống luật của Nhật Bản.
Thuế xuất nhập khẩu cố định thấp, bị giám sát bởi quyền kiểm soát quốc tế, do đó lấy đi quyền kiểm soát giao thương của chính quyền Nhật Bản và sự bảo hộ đối với nền công nghiệp quốc nội (tỉ lệ này xuống tới mức thấp nhất là 5% trong những năm 1860.)
Nhật Bản được quyền mua tàu và vũ khí của Mỹ (ba tàu hơi nước Mỹ được giao cho Nhật Bản năm 1862).
Nhật Bản cũng buộc phải áp dụng bất cứ điều khoản nào dành cho các quốc gia nước ngoài, dưới điều khoản "tối huệ quốc". Ngay sau đó vài quốc gia cũng đi theo mẫu này và đưa ra các điều ước với Nhật Bản (Năm Hiệp ước thời An Chính, Hiệp ước Hữu nghị và Thương mại với Mỹ vào ngày 29 tháng 7 năm 1858, Hiệp ước Hữu nghị và Thương mại Hà Lan-Nhật Bản với Hà Lan ngày 18 tháng 8, Hiệp ước Hữu nghị và Thương mại Nga-Nhật ngày 19 tháng 9, Hiệp ước Hữu nghị và Thương mại Anglo-Nhật ngày 26 tháng 8, và Hiệp ước Hữu nghị và Thương mại Pháp-Nhật ngày 9 tháng 10).
Cửa hiệu nhanh chóng được mở cửa ở các thương cảng mở.
== Khủng hoảng và xung đột ==
=== Khủng hoảng chính trị ===
Hotta mất sự ủng hộ của các daimyo lớn, và khi Tokugawa Nariaki chống lại các điều ước mới ký, Hotta tìm kiếm sự phê chuẩn của Thiên Hoàng. Các quan lại của triều đình, nhận thức được sự yếm thế của Mạc phủ, đã từ chống yêu cầu của Hotta dẫn đến việc ông phải từ chức, và như vậy lần đầu tiên sau hàng trăm năm lôi Kyoto và Thiên Hoàng vào việc chính trị nội bộ nước Nhật. Khi Tướng Quân qua đời mà không có người thừa kế, Nariaki yêu cầu triều đình ủng hộ con trai mình, Tokugawa Yoshinobu (hay Keiki), lên ngôi Chinh di Đại tướng quân, một ứng cử viên được các daimyo shinpan và tozama ưu thích. Các đại danh fudai chiến thắng trong cuộc tranh giành quyền lực, lập lên Ii Naosuke, ký kết Năm Hiệp ước thời An Chính nhờ đó chấm dứt 200 năm tách biệt với thế giới mà không cần sự đồng ý của triều đình (được cho là vào năm 1865) và bắt giữ Nariaki và Yoshinobu, xử tử Yoshida Shōin (1830–1859, một trí thức sonnō-jōi hàng đầu, người đã phản đối lại Hiệp ước ký với Mỹ và âm mưu một cuộc cách mạng chống lại Mạc phủ) được biết đến với tên gọi Thanh trừng An Chính.
=== Hiện đại hóa, khủng hoảng kinh tế và nổi dậy ===
Việc mở cửa nước Nhật cho ngoại thương không kiểm soát đã dẫn đến nhiều bất ổn đối với nền kinh tế Nhật Bản. Trong khi nhiều nhà kinh doanh phát đạt, nhiều người khác lại đi đến lụn bại. Thất nghiệp, lạm phát gia tăng. Thật trùng hợp, các nạn đói lớn cũng khiến giá lượng thực tăng lên chóng mặt. Những cuộc xô xát diễn ra giữa những người nước ngoài láo xược, được ngoại giao đương thời đánh giá là "lũ cặn bã của địa cầu", và người Nhật.
Hệ thống tiền tệ Nhật Bản sụp đổ. Theo truyền thống, tỷ giá trao đổi giữa vàng và bạc ở Nhật Bản là 1:5, trong khi tỷ giá của thế giới là 1:15. Điều này dẫn đến việc vàng bị người ngoại quốc săn lùng ráo riết, và cuối cùng buộc nhà cầm quyền Nhật Bản phải hạ tỷ giá xuống.
Người nước ngoài cũng mang dịch tả đến Nhật Bản (có lẽ là từ Ấn Độ), dẫn đến cái chết của hàng trăm ngàn người
Trong những năm 1860, khởi nghĩa nông dân (hyakushō ikki) và nhiễu loạn ở đô thị (uchikowashi) liên tiếp diễn ra. Phong trào "Phục sinh thế giới" xuất hiện (yonaoshi ikki), cũng như nhiều phong trào sôi nổi khá buồn cười khác như Eejanaika ("Không tuyệt sao!").
Vài phái bộ được Mạc phủ cử ra nước ngoài, với mục đích học tập văn minh phương Tây, xét lại các hiệp ước bất bình đẳng, và trì hoãn việc mở cửa các thành phố và thương cảng cho ngoại thương. Những cố gắng về việc ký lại các hiệp ước này vẫn không thành công.
Đoàn sứ thần đến Hoa Kỳ khởi hành năm 180, trên con tàu Kanrin Maru và tàu USS Powhattan. Đoàn sứ thần đầu tiên đến châu Âu khởi hành năm 1862.
=== Sát hại người nước ngoài và xung đột công khai ===
Bạo lực với người nước ngoài và những người làm ăn với họ gia tăng. Ii Naosuke, người đã ký Hiệp ước Harris và cố tiêu diệt việc chống lại Âu hóa với cuộc Thanh trừng An Chính bị sát hại tháng 3 năm 1860 ở Sakuradamon. Henry Heusken, thông dịch viên người Hà Lan của Harris bị các kiếm sỹ giết chết tháng 1 năm 1861. Cũng trong năm đó, Công sứ Anh ở Edo bị tấn công, hai người chết. Trong thời kỳ đó, cứ mỗi tháng lại có một người nước ngoài bị giết chết. Tháng 9 năm 1862 xảy ra sự kiện Richardson, theo đó quân đội nước ngoài tiến hành những hoạt động quyết định để bảo vệ người ngoại quốc và bảo đảm sự thi hành của các điều khoản trong Hiệp ước. Tháng 5 năm 1863, Công sứ Hoa Kỳ ở Edo bị thiêu sống.
Chiến tranh chống lại phương Tây tiến xa hơn bằng việc nổ ra các cuộc xung đột công khai khi Thiên Hoàng Kōmei, phá vỡ truyền thống hàng trăm năm, bắt đầu đóng một vai trò nổi trội trong các vấn đề quốc gia và ra Chiếu chỉ đánh đuổi ngoại xâm (攘夷実行の勅命) vào ngày 11 tháng 3 và 11 tháng 4 năm 1863. Căn cứ địa Shimonoseki của gia tộc Chōshū, dưới sự chỉ huy của lãnh chúa Mori Takachika, nghe theo chiếu chỉ, và bắt đầu hành động để trục xuất tất cả người ngoại quốc kể từ hạn cuối cùng (10 tháng 5, âm lịch). Công khai bất tuân lệnh của Mạc phủ, Takachika ra lệnh cho quân đổi của mình bắn mà không cần cảnh báo vào các tàu nước ngoài đi ngang qua eo Shimonoseki.
Dưới sức ép của Thiên Hoàng, Tướng quân bị ép phải ban hành tuyên cáo về việc chấm dứt quan hệ với người nước ngoài. Lệnh này được đưa đến các Công sứ nước ngoài bởi Ogasawara Zusho no Kami ngày 24 tháng 6 năm 1863:
"Lệnh của Tướng quân, nhận từ Kyoto, rằng các cảng sẽ bị đóng cửa và người nước ngoài bị trục xuất, vì người dân nước này không muốn giao lưu với người ngoại quốc."
Trung tá Neale, người đứng đầu Công sứ quán Anh, đáp lại bằng những lời mạnh mẽ, coi đây như là một lời tuyên chiến:
"Điều này, thực tế, là một lời tuyên chiến của Nhật Bản chống lại tất cả các Cường quốc đã ký Hiệp ước, và kết quả của nó, nếu không phải là sự ngừng lại, thì đất nước này sẽ phải đền tội bằng hình phạt nghiêm khắc và thích đáng nhất"
Một đoàn sứ bộ thứ hai của Nhật được gửi đến châu Âu vào tháng 12 năm 1863, với nhiệm vụ giành được sự ủng hộ của châu Âu trong việc phục hồi lại việc đóng cửa giao thương của Nhật như trước, và đặc biệt là chấm dứt việc tiếp cận với bến Yokohama của người nước ngoài. Đoàn sứ thần kết thúc hoàn toàn thất bại vì các cường quốc châu Âu không thấy có lợi gì từ việc đưa ra những yêu cầu mềm mỏng hơn.
== Can thiệp quân sự phương Tây (1863-1865) ==
Ảnh hưởng của người Mỹ, quan trọng trong thời gian đầu, mất dần từ sau năm 1861 vì cuộc Nội chiến Hoa Kỳ (1861–1865) tiêu tốn mọi tài nguyên của nước Mỹ. Ảnh hưởng này bị thay thế mà không bị hủy bỏ bởi các nước Anh, Hà Lan và Pháp.
Hai người cầm đầu việc chống lại Mạc phủ là Chōshū và Satsuma. Vì họ dường như đã can dự trực tiếp vào cuộc tấn công các con tàu nước ngoài ở Shimonoseki trước đây, và sau này là vụ giết hại Richardson, và Mạc phủ cũng tuyên bố rằng không thể tự minh xoa dịu họ được, quân đồng minh quyết định tiến hành một cuộc viễn chinh quân sự trực tiếp.
=== Can thiệp Hoa Kỳ (tháng 7 năm 1863) ===
Sáng ngày 16 tháng 7 năm 1863, với sự đồng ý của Công sứ Pruyn, với một phản ững rõ ràng với cuộc tấn công vào tàu Pembroke, tàu khu trục nhỏ USS Wyoming dưới sự chỉ huy của chính Đại tá Hải quân McDougal tiến vào eo biển và chạm trán trực diện với tàu chiến do Mỹ đóng nhưng có thủy thủ kém hơn của quân nổi dậy. Sau gần hai giờ chiến đấu trước khi rút lui, McDougal đã đánh chìm được một tàu lớn và đánh bị thương nặng hai chiếc khác, giết chết 40 người Nhật, trong khi chiếc Wyoming cũng chịu tổn thất không nhỏ với 14 thủy thủ chết và bị thương.
=== Can thiệp Pháp (tháng 8 năm 1863) ===
Sau trận đánh của McDougal, hai tuần sau đó, một đội quân đổ bộ với hai tàu chiến, tàu Tancrède và Dupleix, cùng 250 người dưới sự chỉ huy của Đại tá Hải quân Benjamin Jaurès càn quét vào Shimonoseki và thiêu hủy một thị trấn nhỏ, cùng với ít nhất một ụ pháo.
=== Anh bắn phá Kagoshima (tháng 8 năm 1863) ===
Tháng 8 năm 1863, trận bắn phá Kagoshima nổ ra, để trả đũa cho Sự kiện Namamugi và việc giết hại thương nhân người Anh Richardson. Hải quân Hoàng gia Anh bắn phá thị trấn Kagoshima và tiêu diệt một vài chiếc tàu. Phiên bang Satsuma sau đó đàm phán và chịu bồi thường 25.000 Bảng, nhưng không trao người đã giết Richardson, để đổi lại một hiệp ước theo đó Anh sẽ cung cấp tàu chiến hơi nước cho Satsuma. Cuộc giao tranh này thực sự trở thành khởi đầu cho mối quan hệ giữa Satsuma và Anh, trở thành mối liên minh quan trọng trong chiến tranh Mậu Thìn sau đó. Ngay từ đầu, tỉnh Satsuma nói chung đã ủng hộ việc mở cửa và hiện đại hóa Nhật Bản. Mặc dù sự kiện Namamugi là một điều đáng tiếc, nó không phản ánh chính sách của Satsuma.
=== Đồng minh bắn phá Shimonoseki (tháng 9 năm 1864) ===
Các nước phương Tây lên kế hoạch một cuộc trả đũa chống lại những người Nhật chống đối với cuộc bắn phá Shimonoseki. Cuộc can thiệp của đồng minh diễn ra vào tháng 9 năm 1864, với lực lượng hải quân của Anh Quốc, Hà Lan, Pháp và Hoa Kỳ, chống lại đại danh hùng mạnh Mōri Takachika của lãnh địa Chōshū đóng tại Shimonoseki, Nhật Bản. Cuộc giao tranh này đe dọa kéo cả Hoa Kỳ, vốn đã kiệt quệ vì nội chiến, vào một cuộc chiến tranh ở bên ngoài.
=== Đưa quân đến Hyōgo (tháng 11 năm 1865) ===
Vì Mạc phủ đã chứng minh rằng mình không thể trả nổi chiến phí 3.000.000 USD theo yêu cầu của nước ngoài cho cuộc can thiệp ở Shimonoseki, các nước ngoài đồng ý giảm khoản tiền này xuống với điều kiện Thiên Hoàng phải phê chuẩn Hiệp ước Harris, hạ thuế nhập khẩu với đồng phục xuống 5%, và mở hải cảng Hyōgo (ngày nay là Kōbe) và Osaka cho thương nhân nước ngoài. Với mục đích làm gia tăng sức nặng của yêu cầu, một hạm đội bốn tàu của Anh Quốc, một tàu của Hà Lan, và ba tàu của Pháp được điều đến cảng Hyōgo tháng 11 năm 1865. Rất nhiều cuộc đột kích được quân đội nước ngoài tung ra cho đến khi Thiên hoàng chịu đồng ý thay đổi sự chống đối của mình với Hiệp ước, bằng cách chính thức cho phép Tướng quân lo liệu việc đàm phán với các cường quốc nước ngoài.
Những cuộc giao tranh này giúp nhận ra rằng việc đối đầu trực diện với các nước phương Tây không phải là giải pháp cho nước Nhật. Khi Mạc phủ tiếp tục các nỗ lực hiện đại hóa, các đại danh phía Tây (đặc biệt là Satsuma và Chōshū) cũng tiếp tục nỗ lực hết mình hiện đại hóa để xây dựng một nước Nhật hùng cường và thiết lập một chính phủ hợp pháp dưới quyền lực của Thiên Hoàng.
== Bakumatsu đổi mới và hiện đại hóa ==
Trong những năm cuối của Mạc phủ, hay Mạc mạt, Mạc phủ tiến hành những biện pháp mạnh mẽ để cố tái khẳng định địa vị thống trị của mình, mặc dù việc tham dự vào công cuộc hiện đại hóa và giao thiệp với các cường quốc khiến Mạc phủ trỏ thành đích nhắm của mọi tình cảm chống phương Tây trên khắp đất nước.
Các học viên hải quân được gửi đến học ở các trường hải quân phương Tây, bắt đầu truyền thống của các lãnh đạo được đào tạo ở nước ngoài, như Đô đốc Enomoto. Kỹ sư hải quân Pháp Léonce Verny được thuê làm kho chứa vũ khi hải quân, như ở Yokosuka và Nagasaki. Vào cuối thời Mạc phủ Tokugawa năm 1867, Hải quân Nhật Bản của Tướng quân đã sở hữu 8 tàu chiến hơi nước kiểu phương Tây quanh kỳ hạm Kaiyō Maru, được sử dụng chống lại quân đội bảo hoàng trong chiến tranh Mậu Thìn, dưới sự chỉ huy của Đô đốc Enomoto. Một sứ bộ quân sự Pháp được gửi đến Nhật Bản năm 1867 để giúp hiện đại hóa quân đội của Mạc phủ. Nhật Bản cử các phái đoàn và tham dự vào Hội chợ Thế giới 1867 ở Paris.
Sùng kính Thiên Hoàng như một biểu tượng cho sự thống nhất. Những người cực đoan liên tiếp tiến hành những vụ tấn công và ám sát nhắm đến Mạc phủ, chính quyền của các Han và người nước ngoài. Sự trả đũa của hải quân nước ngoài trong cuộc chiến tranh Anh-Satsuma dẫn đến thậm chí những ưu đãi thương mại lớn hơn qua hiệp ước 1865, nhưng Yoshitomi không thể thực thu các hiệp ước của phương Tây. Quân đội Mạc phủ bị đánh bại khi đước điều đến để đè bẹp sự bất mãn ở các han thuộc hai tỉnh Satsuma và Chōshū năm 1866. Cuối cùng, năm 1867, Thiên hoàng Hiếu Minh qua đời và người con trai thứ hai là Mutsuhito lên nối ngôi, Thiên hoàng Minh Trị.
Keiki miễn cưỡng phải trở thành người đứng đầu gia đình Tokugawa và Chinh di Đại tướng quân sau cái chết không ngờ tới của Tokugawa Iemochi, vào giữa năm 1866. Ông cố tái tổ chức lại triều đình dưới quyền của Thiên Hoàng trong khi vẫn bảo vệ vai trò lãnh đạo của Tướng quân, một hệ thống được gọi là kōbu gattai. Lo sợ sức mạnh ngày càng tăng của các đại danh Satsuma và Chōshū, các daimyo khác kêu gọi trao trả quyền lực chính trị của Tướng quân cho Thiên Hoàng và Hội đồng các đại danh do cựu Tướng quân Tokugawa đứng đầu. Với sự đe dọa của các hành động quân sự sắp diễn ra Satsuma-Chōshū, Keiki hành động trước bằng cách trao lại một số quyền lực trước kia của ông.
== Mạc phủ chấm dứt ==
Sau khi Keiki tạm thời tránh cuộc xung đột ngày càng tăng, các lực lượng chống Tướng quân gây ra hàng loạt các vụ lộn xộn trên các đường phố Edo bằng cách dùng các rōnin. Quân đội Satsuma và Chōshū sau đó tiến đến Kyoto, ép triều đình ra chỉ dụ dẹp bỏ Mạc phủ. Sau hội nghị của các daimyo, tước quyền lực của Mạc phủ trong những ngày chết chóc của năm 1867. Lãnh đạo của Satsuma, Chōshū, và các han khác cũng như các cận thẩn, tuy vậy, lại nổi loạn, chiếm giữ Hoàng cung, và tự mình tuyên cáo việc phục hồi Đế quyền vào 3 tháng 1 năm 1868. Keiki trên danh nghĩa chấp nhận kế hoạch này, từ triều đình về nghỉ ở Osaka cùng lúc với từ chức Chinh di Đại tướng quân. Lo sợ sự nhượng bộ bề ngoài ngôi Tướng quân thực chất lại là củng cố quyền lực, cuộc tranh cãi tiếp diễn cho đến đỉnh điểm là cuộc đối đầu quân sự giữa quân đội nhà Tokugawa và các lãnh địa đồng minh với Satsuma, Tosa và Chōshū, ở Fushimi và Toba. Với bước ngoặt của trận đánh thuộc về quân đội chống Tướng quân, Keiki sau đó rời Osaka đến Edo, chính thức chấm dứt quyền lực của nhà Tokugawa, và Mạc phủ đã thống trị Nhật Bản trong hơn 250 năm.
Sau chiến tranh Mậu Thìn (1868–1869), Mạc phủ bị giải thể, và Keiki bị giáng xuống làm một daimyo thông thường. Việc kháng cự vẫn tiếp diễn ở phía Bắc trong năm 1868, và Hải quân Mạc phủ dưới sự chỉ huy của Đô đốc Enomoto Takeaki vẫn cầm cự thêm 6 tháng nữa ở Hokkaidō, họ thành lập Cộng hòa Ezo nhưng chỉ tồn tại được một thời gian ngắn. Sự thách thức này chấm dứt trong trận Hakodate, sau một tháng chiến đấu.
== Xã hội thời Mạc mạt ==
Trong thời kỳ này, nước Nhật đang trong buổi giao thời giữa cái cũ và cái mới. Đầu tiên là sự nứt gãy của cấu trúc xã hội truyền thống Nhật Bản. Mâu thuẫn giữa giai cấp phong kiến thống trị và những người nông dân, dân nghèo càng lúc càng sâu sắc, với hàng loạt cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ của nhân dân bùng phát. Chính sách kiềm chế của Mạc phủ đối với các lãnh chúa Đại danh đã khiến hộ nghèo hơn, không đủ khả năng chu cấp cho các võ sĩ của mình, đến lượt mình các võ sĩ trở thành những người nghèo khổ, lưu lạc, sống lang thang. Đồng thời nội thương phát đạt đã khiến thương nhân - tầng lớp trước nay bị xem thường - phất lên nhanh chóng, ví dụ như Tam Tỉnh và Tiểu Dã đã trở thành các tập đoàn thương nghiệp khổng lồ. Nhưng tầng lớp này vẫn không được thừa nhận về mặt địa vị. Một số gia đình thương nhân đặt quan hệ hôn nhân với các gia đình võ sĩ - những người đang cần chỗ dựa về tài chính - và gia nhập vào tầng lớp này.
Một số người thuộc tầng lớp võ sĩ, nhận được sự giáo dục tốt thì bắt đầu tìm tòi con đường cải cách. Mối quan hệ buôn bán hạn chế với Hà Lan đã phần nào giúp chủ nghĩa tư bản phương Tây thâm nhập vào xã hội phong kiến Nhật Bản và đẩy nhanh sự sụp đổ của nó.
== Xem thêm ==
=== Nhân vật nổi bật ===
Ōmura Masujirō
Sakamoto Ryōma
Kondo Isami
Hijikata Toshizo
Takasugi Shinsaku
Matsudaira Katamori
Saigo Takamori
Tokugawa Yoshinobu
Yoshida Shoin
Katsura Kogoro
Nomura Motoni
Matthew C. Perry
Các nhân vật ít được biết đến hơn:
Hayashi Daigaku no kami (Lord Rector, nhà Nho)
Ido Tsushima no kami (Thống đốc Yedo, cựu Thống đốc Nagasaki)
Izawa Mimasaka no kami (Thống đốc Uraga, cựu Thống đốc Nagasaki)
Kawakami Gensai (Người vĩ đại nhất trong số 4 hitokiri, tham gia nhiều vụ ám sát trong thời này)
Takano Chōei – học giả Rangaku
Matsudaira Yoshinaga, Date Munenari, Yamanouchi Toyoshige và Shimazu Nariaki cũng được đề cập đến trong Bakumatsu no Shikenkō (幕末の四賢侯, Bakumatsu no Shikenkō).
Nhà thám hiểm ngoại quốc:
Ernest Satow ở Nhật Bản 1862–69
Edward và Henry Schnell
Robert Bruce Van Valkenburgh, Minister-Resident của Mỹ ở Nhật
=== Giao thương quốc tế ===
Gaikoku bugyō
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Thập đại tùng thư: 10 Đại hoàng đế thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin. 2003. ISBN ISBN 8-935073-0023 .
Dower, John W. "Yokohama Boomtown: Foreigners in Treaty-Port Japan (1859–1872)".
Hillsborough, Romulus. Shinsengumi: The Shōgun's Last Samurai Corps. North Clarendon, Vermont: Tuttle Publishing, 2005. ISBN 0804836272.
Ravina, Mark. Last Samurai: The Life and Battles of Saigo Takamori. Hoboken, N.J.: John Wiley & Sons, 2004. ISBN 0471089702.
== Link liên quan ==
Languages and the Diplomatic Contacts in the Late Tokugawa Shogunate
http://www.webkohbo.com/info3/bakumatu_menu/bakutop.html (tiếng Nhật) |
vodafone.txt | Vodafone là một công ty thông tin di động đa quốc gia Anh quốc. Công ty đóng trụ sở ở Luân Đôn và có trụ sở đăng ký ở Newbury, Birkshire. Đây là xếp thứ ba tính theo số thuê bao và doanh thu 2013, sau China Mobile. Thời điểm tháng 6/2013, công ty có 453 triệu thuê bao. Vodafone sở hữu và điều hành mạng lưới tại 21 quốc gia và có mạng lưới đối tác ở trên 40 quốc gia khác. Đơn vị thuộc Vodafone là Vodafone Global Enterprise của nó cung cấp viễn thông và dịch vụ công nghệ thông tin ở 65 quốc gia. Vodafone có niêm yết sơ cấp trên Sở giao dịch chứng khoán London và là một thành phần của chỉ số FTSE 100. Công ty có giá trị vốn hóa thị trường khoảng 89,1 tỷ bảng Anh thời điểm ngày 6 tháng 7 năm 2012, công ty có giá trị vốn hóa thị trường lớn thứ ba trong các công ty niêm yết trên sàn London.
== Tên gọi ==
Tên Vodafone xuất phát từ voice data fone (từ cuối là một kiểu phiên âm của "điện thoại"), được công ty chọn để "phản ánh việc cung cấp dịch vụ thoại và dữ liệu qua điện thoại di động".
== Lịch sử ==
Sự phát triển của Vodafone bắt đầu từ năm 1982 với sự thành lập công ty Racal Strategic Radio Ltd của Racal Electronics, nhà sản xuất công nghệ radio quân sự lớn nhất Vương quốc Anh, thành lập liên doanh với Millicom gọi là 'Racal', là tiền thân của Vodafone ngày nay.
=== Phát triển với thương hiệu Racal Telecom: từ 1980 đến 1991 ===
=== Vodafone Group, sau đó là Vodafone Airtouch plc: từ 1991 đến 2000 ===
=== Vodafone Group plc: từ 2000 đến giờ ===
== Hoạt động ==
=== Châu Phi và Trung Đông ===
Egypt
Vào tháng 11 năm 1998, mạng Vodafone Egypt đi vào hoạt động dưới cái tên ClickGSM.
Vào ngày 8 tháng 11 năm 2006, công ty đã thông báo thỏa thuận với Telecom Ai Cập, với kết quả là hợp tác hơn ở thị trường Ai Cập và tăng cổ phần của họ trong Vodafone Ai Cập. Sau thỏa thuận này, công ty sở hữu 55% của Vodafone Ai Cập, trong khi 45% còn lại do Telecom Egypt sở hữu.
Kuwait
Vào ngày 18 tháng 9 năm 2002, Vodafone đã ký một Thỏa thuận Mạng lưới Đối tác (Partner Network Agreement) với tập đoàn MTC của Kuwait. Thỏa thuận liên quan đến việc đổi thương hiệu của MTC sang MTC-Vodafone. Ngày 29 tháng 12 năm 2003, Vodafone ký kết một Thỏa thuận Mạng lưới Đối tác khác với tập đoàn MTC của Kuwait. Thỏa thuận thứ hai này liên quan đến hợp tác ở Bahrain và thương hiệu của mạng lưới như MTC-Vodafone.
Nam Phi (Vodacom)
Vào ngày 3 tháng 11 năm 2004, Công ty thông báo rằng công ty chi nhánh ở Nam Phi Vodacom đã đồng ý giới thiệu dịch vụ quốc tế của Vodafone, như Vodafone live! và các thỏa thuận đối tác, tới thị trường địa phương.
Qatar
Tháng 12 năm 2007, một liên minh do Vodafone Group dẫn đầu đã được trao giấy phép điện thoại di động thứ hai ở Qatar dưới tên gọi "Vodafone Qatar". Vodafone Qatar có trụ sở ở QSTP, Công viên Khoa học và Công nghệ Qatar
Ghana
Ngày 3 tháng 7 năm 2008, Vodafone đồng ý mua 70% cổ phần của Ghana Telecom với giá 900 triệu USD. Việc mua lại đã được hoàn thành vào ngày 17 tháng 8 năm 2008.
U.A.E.
Vào ngày 28 tháng 1 năm 2009, nhóm đã công bố thỏa thuận hợp tác với Du, nhà mạng lớn thứ hai ở United Arab Emirates. Thỏa thuận bao gồm hợp tác về khách hàng quốc tế, mua sắm thiết bị cầm tay, băng thông rộng di động...
Libya
Vào ngày 24 tháng 2 năm 2010, nhóm đã ký thỏa thuận mạng đối tác với nhà khai thác lớn thứ hai ở Libya, al Madar..
Cameroon
Vào ngày 23 tháng 9 năm 2016, Vodafone mở rộng hoạt động sang Cameroon bằng cách ký kết hợp tác với Afrimax, nhà khai thác viễn thông 4G-LTE ở Châu Phi. Vodafone Cameroon đưa ra chương trình "Youth Program" ở các trường đại học để hỗ trợ và khuyến khích sinh viên Cameroon. Sáng kiến này được thực hiện đầu tiên ở trường đại học Yaounde II ở Soa, và các thỏa thuận tương tự sẽ đến với các trường đại học khác.
=== Châu Mỹ ===
=== Châu Á Thái Bình Dương ===
=== Châu Âu ===
=== Vodafone Global Enterprise ===
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
iran.txt | Cộng hòa Hồi giáo Iran (tiếng Ba Tư: جمهوری اسلامی ايران Jomhūrī-ye Eslāmī-ye Īrān), gọi đơn giản là Iran (tiếng Ba Tư: ایران Irān [ʔiːˈɾɒːn]), là một quốc gia ở Trung Đông, phía tây nam của châu Á. Trước 1935, tên của nước này là Persia (Ba Tư).
Iran giáp với Armenia, Azerbaijan, và Turkmenistan về phía bắc, Pakistan và Afghanistan về phía đông, Thổ Nhĩ Kỳ và Iraq về phía tây. Nó cũng giáp biển Caspia về phía bắc. Vịnh Ba Tư (thuộc Iran) là vùng vành đai nông của Ấn Độ Dương nằm giữa Bán đảo Ả Rập và vùng tây nam Iran.
Niềm tin tôn giáo chính thống là chi phái Mười hai giáo trưởng (imam) của phái Jafari, trong hệ phái Shi'a của Islam. Theo thống kê 1986, 98,5% dân số theo đạo Hồi (trong đó khoảng 8% theo hệ phái Sunni, còn lại là hệ phái Shi'a). Các tôn giáo khác gồm có Hỏa giáo (Zoroastrianism), Cơ Đốc giáo, và Do Thái giáo.
Năm mới theo lịch Ba Tư (Norouz) bắt đầu từ 21 tháng 3 lịch Gregory. Thứ Sáu là ngày cầu nguyện chính và cũng là ngày nghỉ cuối tuần. Ngôn ngữ chính là tiếng Ba Tư. Thảm dệt tay Ba Tư của Iran nổi tiếng trên thế giới. Iran là nước đứng thứ tư trên thế giới về xuất khẩu dầu mỏ. Iran là một quốc gia cũng áp dụng tiết kiệm ánh sáng ban ngày vào mùa hè.
Piranshahr
== Tên ==
Ở thời Achaemenid người Ba Tư gọi đất nước của họ là Pārsa, tên theo tiếng Ba Tư cổ có nghĩa họ hàng của Cyrus Đại đế. Thời Sassanid, họ gọi nó là Iran, có nghĩa "Vùng đất của những người Aryan". Người Hy Lạp gọi nước này là Persis; chuyển sang tiếng Latin thành Persia, cái tên được sử dụng rộng rãi ở Phương Tây.
Ở thời hiện đại, đã có sự tranh cãi về nguồn gốc các tên gọi của thực thể – Iran và Persia (Ba Tư). Ngày 21 tháng 3 năm 1935, Reza Shah Pahlavi đưa ra một nghị định yêu cầu các phái đoàn nước ngoài phải sử dụng thuật ngữ Iran trong các văn bản ngoại giao. Sau khi các học giả lên tiếng phản đối, Mohammad Reza Pahlavi thông báo năm 1959 rằng cả hai cái tên Persia (Ba Tư) và Iran đều có giá trị và có thể sử dụng thay thế lẫn nhau. Cuộc Cách mạng năm 1979 dẫn tới việc thành lập nhà nước thần quyền Cộng hòa Hồi giáo Iran. Tuy nhiên, danh từ Persia và tính từ Persian vẫn được sử dụng thường xuyên.
Hiện nay, tại xứ này người Ba Tư (Persia) chỉ chiếm khoảng 51% dân số. Danh từ Iran (tộc Âu Ấn) bao gồm người Ba Tư và thêm vài dân tộc khác như Kurd, Baloch,... chỉ định được khoảng 70% dân số nên được nhiều người trong xứ thích dùng hơn.
== Lịch sử ==
Iran đã là nơi sinh sống của con người từ thời tiền sử và những khám phá gần đây bắt đầu cho thấy những dấu tích về các nền văn hóa thời kỳ sớm ở Iran, hàng thế kỷ trước khi những nền văn minh sớm nhất bắt đầu xuất hiện ở gần Lưỡng Hà. Sử ghi chép của Ba Tư (Iran) bắt đầu từ khoảng năm 3200 TCN ở nền văn minh Tiền-Elamite và tiếp tục với sự xuất hiện của người Aryan và sự thành lập Triều đại Medes, tiếp đó là Đế chế Achaemenid năm 546 TCN. Alexandros Đại đế đã chinh phạt Ba Tư năm 331 TCN, hai triều đại tiếp sau Parthia và Sassanid cùng với Achaemenid là những Đế chế tiền Hồi giáo vĩ đại nhất của Ba Tư.
Sau cuộc chinh phục Ba Tư của Hồi giáo, nước này trở thành trung tâm Thời đại Hoàng kim Hồi giáo, đặc biệt ở thế kỷ thứ 9 và thế kỷ thứ 11. Thời kỳ Trung Đại là thời gian diễn ra nhiều sự kiện lớn trong vùng. Từ năm 1220, Ba Tư bị Đế quốc Mông Cổ dưới quyền Thành Cát Tư Hãn, tiếp đó là Timur xâm chiếm. Quốc gia Hồi giáo Shi'a Ba Tư đầu tiên được thành lập năm 1501 dưới Triều đại Safavid. Ba Tư dần trở thành nơi tranh giành của các cường quốc thuộc địa như Đế quốc Nga và Đế chế Anh.
Cùng với sự trỗi dậy của chủ nghĩa cộng sản và quá trình hiện đại hoá ở cuối thế kỷ 19, mong ước thay đổi dẫn tới cuộc Cách mạng Hiến pháp Ba Tư năm 1905–1911. Năm 1921, Reza Shah Pahlavi tiến hành một cuộc đảo chính lật đổ Triều đình Qajar. Là người ủng hộ hiện đại hoá, Reza Shah đưa ra các kế hoạch phát triển công nghiệp, xây dựng đường sắt, và thành lập một hệ thống giáo dục quốc gia, nhưng sự cầm quyền độc tài của ông khiến nhiều người Iran bất mãn.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Anh và Liên Xô xâm chiếm Iran từ 25 tháng 8 đến 17 tháng 9 năm 1941, chủ yếu để bảo vệ các giếng dầu của Iran và hành lang hậu cần của họ. Đồng Minh buộc Shah phải thoái vị nhường chỗ cho con trai, Mohammad Reza Pahlavi, người họ hy vọng sẽ ủng hộ phe Đồng Minh hơn. Năm 1953, sau vụ quốc hữu hoá Công ty dầu mỏ Anh-Iran, vị Thủ tướng dân bầu, Mohammed Mossadegh, tìm cách thuyết phục Shah rời bỏ đất nước. Shah từ chối, và chính thức cách chức vị Thủ tướng. Mossadegh không chấp nhận rời bỏ chức vụ, và khi ông ta rõ ràng bộc lộ ý định chiến đấu, Shah buộc phải sử dụng tới kế hoạch mà Anh/Mỹ đã trù tính trước cho ông, đôi khi kế hoạch cũng được gọi là "Chiến dịch Ajax", bay tới Baghdad rồi từ đó sang Rome, Italy.
Nhiều vụ phản kháng đông đảo nổ ra khắp đất nước. Những người ủng hộ và phản đối chế độ quân chủ đụng độ với nhau trên đường phố, khiến 300 người thiệt mạng. Quân đội can thiệp, xe tăng của những sư đoàn ủng hộ Shah bắn vào thủ đô và máy bay ném bom vào dinh Thủ tướng. Mossadegh đầu hàng và bị bắt ngày 19 tháng 8 năm 1953. Mossadegh bị xét xử tội phản quốc và bị kết án ba năm tù.
Triều đình Shah được tái lập, quyền lực được Anh và Mỹ trao vào tay Shah Mohammad Reza Pahlavi. Ông này ngày càng trở nên độc tài, đặc biệt vào cuối thập kỷ 1970. Với sự ủng hộ mạnh mẽ từ phía Anh và Mỹ, triều đình Shah từ chối tiếp tục hiện đại hóa các ngành công nghiệp Iran, nhưng lại đàn áp phe đối lập trong tầng lớp tăng lữ dòng Hồi giáo Shia và những người ủng hộ dân chủ.
Thập kỷ 1970, Ayatollah Ruhollah Khomeini chiếm được cảm tình của đa số dân Iran. Những người Hồi giáo, cộng sản và những người theo đường lối tự do tiến hành cuộc Cách mạng Iran năm 1979, triều đình Shah bỏ chạy khỏi đất nước, sau đó Khomeini lên nắm quyền lực lập ra một nhà nước Cộng hòa Hồi giáo. Hệ thống mới lập ra những luật lệ Hồi giáo và quy định quyền cai trị trực tiếp ở mức cao nhất từ trước tới nay cho giới tăng lữ. Chính phủ chỉ trích mạnh mẽ phương Tây, đặc biệt là Mỹ vì đã ủng hộ triều đình Shah. Các quan hệ với phương Tây trở nên đặc biệt căng thẳng năm 1979, sau khi các sinh viên Iran bắt giữ các nhân viên Đại sứ quán Mỹ. Sau này, Iran đã tìm cách xuất khẩu cuộc cách mạng của mình ra nước ngoài, ủng hộ các nhóm quân sự chống phương Tây như nhóm Hezbollah ở Liban. Từ năm 1980 đến 1988, Iran và nước láng giềng Iraq lao vào một cuộc chiến đẫm máu Chiến tranh Iran-Iraq.
Ngày nay cuộc đấu tranh giữa những người theo đường lối cải cách và bảo thủ vẫn đang diễn ra thông qua các cuộc bầu cử chính trị, và là vấn đề trung tâm trong cuộc Bầu cử tổng thống Iran 2005, kết quả Mahmoud Ahmadinejad thắng cử. Từ đó, căng thẳng giữa Iran và Hoa Kỳ, đặc biệt về vấn đề chương trình hạt nhân của Iran ngày càng gia tăng. Iran tuyên bố họ có quyền nghiên cứu năng lượng hạt nhân cho các mục đích hòa bình, theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân mà họ đã ký kết.. Có báo cáo rằng Chính quyền Bush vẫn chưa loại trừ khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Iran, và nếu điều này diễn ra đây sẽ là lần sử dụng vũ khí hạt nhân trong chiến tranh đầu tiên từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.. Các thành viên khác của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc, đặc biệt là Nga, Trung Quốc phản đối hành động quân sự. Đáng chú ý, gần đây Iran đã được bầu vào ghế phó chủ tịch Ủy ban giải giới Liên hiệp quốc. Gần đây, Iran thông báo họ đang nghiên cứu xây dựng một máy ly tâm P2, có thể được sử dụng để phát triển các vũ khí hạt nhân.
== Chính trị ==
Hệ thống chính trị nước Cộng hòa Hồi giáo dựa trên Hiến pháp năm 1979 được gọi là "Qanun-e Asasi" ("Luật pháp cơ bản"). Hệ thống gồm nhiều kết nối phức tạp giữa các cơ quan chính phủ, đa số lãnh đạo đều do chỉ định.
==== Lãnh tụ tối cao ====
Lãnh tụ tối cao Iran chịu trách nhiệm phác họa và giám sát "các chính sách chung của Nhà nước Cộng hòa Hồi giáo Iran". Lãnh tụ tối cao là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, kiểm soát tình báo quân đội và các hoạt động an ninh; và có độc quyền tuyên chiến. Các lãnh đạo tư pháp, mạng lưới phát thanh, truyền hình trong nước, chỉ huy cảnh sát và các lực lượng quân đội cùng sáu trong số mười hai thành viên Hội đồng bảo vệ Cách mạng được Lãnh tụ tối cao chỉ định. Hội đồng Chuyên gia bầu và bãi nhiệm Lãnh tụ tối cao dựa trên cơ sở đánh giá và sự quý trọng của nhân dân. Hội đồng chuyên gia chịu trách nhiệm giám sát Lãnh tụ tối cao thi hành các trách nhiệm theo pháp luật.
==== Hội đồng bảo vệ Cách mạng ====
Hội đồng bảo vệ Cách mạng gồm 12 nhà làm luật (religious jurists), sáu người trong số đó do chỉ định của Lãnh tụ tối cao. Bộ trưởng tư pháp(cũng do Lãnh tụ tối cao chỉ định) sẽ giới thiệu nốt sáu thành viên kia, và họ sẽ được Nghị viện chính thức chỉ định. Hội đồng này có trách nhiệm giải thích hiến pháp và có thể phủ quyết Nghị viện. Nếu luật pháp không phù hợp với hiến pháp hay Sharia (luật Hồi giáo), nó sẽ được trao lại cho Nghị viện sửa đổi. Trong một lần thi hành quyền lực của mình, Hội đồng đã gây tranh cãi khi căn cứ trên một cách hiểu hẹp của hiến pháp Iran, phủ quyết các ứng cử viên nghị viện.
==== Hội đồng chuyên gia ====
Hội đồng chuyên gia họp một tuần mỗi năm, gồm 86 tăng lữ "đạo đức và thông thái" được bầu bởi những cá nhân trưởng thành có quyền bầu cử với nhiệm kỳ tám năm. Tương tự như các cuộc bầu cử tổng thống và nghị viện, Hội đồng bảo vệ Cách mạng là cơ quan quyết định tư cách của ứng cử viên vào Hội đồng này. Hội đồng chuyên gia bầu ra Lãnh tụ tối cao và có quyền theo hiến pháp cách chức Lãnh tụ tối cao ở bất kỳ thời điểm nào. Tuy nhiên, Hội đồng này chưa từng phản đối bất kỳ một quyết định nào của Lãnh tụ tối cao.
==== Hành pháp ====
Hiến pháp quy định Tổng thống là người nắm quyền cao nhất quốc gia sau Lãnh tụ tối cao. Tổng thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ bốn năm. Các ứng cử viên tổng thống phải được Hội đồng bảo vệ Cách mạng phê chuẩn trước khi được ra tranh cử. Tổng thống chịu trách nhiệm việc áp dụng Hiến pháp và thực hiện các quyền hành pháp, trừ những việc liên quan trực tiếp tới Lãnh tụ tối cao. Tổng thống chỉ định và giám sát Hội đồng bộ trường, phối hợp các quyết định của chính phủ, và lựa chọn các chính sách chính phủ để đưa ra trước nhánh lập pháp. Tám phó tổng thống và nội các gồm 21 bộ trưởng phục vụ dưới quyền Tổng thống, tất cả các viên chức này đều phải được nhánh lập pháp thông qua. Không giống như các quốc gia khác, nhánh hành pháp ở Iran không quản lý các lực lượng vũ trang. Dù Tổng thống chỉ định Bộ trưởng Tình báo và Quốc phòng, thông thường Tổng thống phải tham khảo ý kiến của Lãnh tụ tối cao trước khi đưa ra quyết định lựa chọn hai chức vụ đó để nhánh lập pháp bỏ phiếu tín nhiệm.
==== Nghị viện (Majles) ====
Nhánh lập pháp Iran chỉ có một viện là Majles-e Shura-ye Eslami (Hội đồng cố vấn Hồi giáo), gồm 290 thành viên được bầu với nhiệm kỳ bốn năm. Majlis chịu trách nhiệm làm luật, phê chuẩn các hiệp ước quốc tế, và thông qua ngân sách quốc gia. Mọi ứng cử viên và thành viên Majlis đều phải được phê chuẩn từ Hội đồng bảo vệ Cách mạng.
==== Tòa án ====
Lãnh tụ tối cao chỉ định người đứng đầu nhánh tư pháp, và người này lại chỉ định ra lãnh đạo các Tòa án tối cao và các trưởng công tố. Iran có nhiều kiểu tòa án, gồm cả các tòa công chúng để xử các vụ dân sự và tội phạm, các "tòa án cách mạng" xử một số loại hành vi, như tội chống lại an ninh quốc gia. Các quyết định của tòa án cách mạng là tối cao và không thể được tái thẩm. Tòa án Tăng lữ Đặc biệt xử lý các vụ tội phạm được cho là do các tăng lữ thực hiện, dù nó cũng xử cả các vụ liên quan tới người thế tục. Các chức năng của Tòa án Tăng lữ Đặc biệt độc lập với cơ cấu tòa án thông thường và chỉ tuân theo Lãnh tụ tối cao. Những phán xử của tòa này là tối cao và không được tái thẩm.
==== Hội đồng lợi ích ====
Hội đồng lợi ích có quyền giải quyết các tranh chấp giữa Nghị viện và Hội đồng bảo vệ Cách mạng, và cũng là một cơ quan tư vấn của Lãnh tụ tối cao, biến nó trở thành một trong những cơ quan nắm nhiều quyền lực chính phủ nhất trong nước.
==== Các hội đồng thành phố và làng ====
Các hội đồng địa phương được bầu theo kiểu phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ 4 năm tại mọi thành phố và làng mạc ở Iran. Theo điều 7, Hiến pháp Iran, các hội đồng địa phương đó cùng với Nghị viện là những "tổ chức đưa ra quyết định và hành chính của quốc gia". Đoạn này của hiến pháp không được áp dụng cho tới tận năm 1999 khi các cuộc bầu cử hội đồng địa phương đầu tiên được tổ chức trên khắp đất nước. Các hội đồng có nhiều trách nhiệm, gồm bầu cử thị trưởng, giám sát các hoạt động tại khu vực; nghiên cứu xã hội, văn hoá, giáo dục, sức khoẻ, kinh tế và những yêu cầu chăm sóc xã hội bên trong khu vực của mình; đặt kế hoạch và phối hợp hành động với quốc gia trong việc thi hành các chương trình xã hội, kinh tế, xây dựng, văn hoá, giáo dục và các chương trình an sinh khác.
== Hành chính ==
Cộng hòa Hồi giáo Iran có một hệ thống hành chính gồm 4 cấp trong đó có 3 cấp địa phương.
Cấp hành chính địa phương cao nhất là tỉnh (tiếng Iran: استان, ostān). Iran có 30 tỉnh.
Cấp hành chính địa phương cao thứ hai là thành phố tỉnh lỵ (مرکز markaz) và huyện (شهرستان shahrestān). Iran có 324 đơn vị cấp này.
Các thành phố tỉnh lỵ không được chia thành các đơn vị hành chính nhỏ hơn. Còn các huyện có thể gồm nhiều thị trấn (شهر shahr) và xã (دهستان dehestān). Một thị trấn trong huyện sẽ đồng thời là huyện lỵ của huyện. Iran có 982 thị trấn và 2378 xã.
Mỗi xã thường gồm nhiều thôn. Nhưng thôn không phải là đơn vị hành chính chính thức.
== Địa lý ==
=== Lãnh thổ ===
Iran có chung biên giới với Azerbaijan (chiều dài: 432 km / 268 dặm) và Armenia (35 km / 22 dặm) ở phía tây bắc, với Biển Caspia ở phía bắc, Turkmenistan (992 km / 616 dặm) ở phía đông bắc, Pakistan (909 km / 565 dặm) và Afghanistan (936 km / 582 dặm) ở phía đông, Thổ Nhĩ Kỳ (499 km / 310 dặm) và Iraq (1.458 km / 906 dặm) ở phía tây, và cuối cùng giáp với Vịnh Péc xích và Vịnh Oman ở phía nam. Diện tích lãnh thổ Iran 1.648.000 km² ≈636.300 dặm vuông (Đất liền: 1.636.000 km² ≈631.663 mi², Nước: 12.000 km² ≈4.633 mi²), gần tương đương Alaska.
Lãnh thổ Iran phần lớn là các dãy núi lởm chởm chia tách các lưu vực và cao nguyên. Khu vực đông dân cư ở phía tây cũng là vùng nhiều đồi núi nhất với các dãy Caucasus, Zagros và Núi Alborz—trên núi Alborz có điểm cao nhất Iran, Chỏm Damavand cao 5.604 m (18.386 ft). Vùng phía đông phần lớn là các lưu vực sa mạc không có người ở như vùng nhiễm mặn Dasht-e Kavir, và một số hồ muối.
Những đồng bằng lớn duy nhất nằm dọc theo Biển Caspia và phía bắc Vịnh Péc xích, nơi biên giới Iran chạy tới cửa sông Arvand (Shatt al-Arab). Những đồng bằng nhỏ, đứt quãng nằm dọc theo phần bờ biển còn lại của Vịnh Péc xích, Eo Hormuz và Biển Oman.
=== Khí hậu ===
Khí hậu Iran phần lớn khô cằn hay bán khô cằn cho tới cận nhiệt đới ở dọc bờ biển Caspia. Ở rìa phía bắc đất nước (đồng bằng ven biển Caspia) nhiệt độ hầu như ở dưới không và khí hậu ẩm ướt quanh năm. Nhiệt độ mùa hè hiếm khi vượt quá 29°C (84°F). Lượng mưa hàng năm đạt 680 mm (26 in) ở vùng phía đông đồng bằng và hơn 1.700 mm (75 in) ở phía tây. Về phía tây, những khu dân cư tại các lưu vực núi Zagros thường có nhiệt độ thấp, khí hậu khắc nghiệt, tuyết rơi dày. Các lưu vực phía đông và trung tâm cũng có khí hậu khô cằn, lượng mưa chưa tới 200 mm (8 in) và có xen kẽ các sa mạc. Nhiệt độ trung bình mùa hè vượt quá 38 °C (100 °F). Các đồng bằng ven biển Vịnh Péc xích và Vịnh Oman ở phía nam Iran có mùa đông dịu, mùa hè rất nóng và ẩm. Lượng mưa hàng năm từ 135 đến 355 mm (6 to 14 in).
== Kinh tế ==
Kinh tế Iran là sự hoà trộn giữa tập trung hoá kế hoạch, quyền sở hữu nhà nước với các công ty dầu mỏ và các doanh nghiệp lớn, nông nghiệp làng xã, và các công ty thương mại, dịch vụ tư nhân nhỏ. Tính đến năm 2016, tổng sản phẩm nội địa của Iran đạt 412.304 USD (đứng thứ 27 thế giới, đứng thứ 8 châu Á và đứng thứ 2 Trung Đông sau Ả Rập Saudi).
Chính quyền hiện tại tiếp tục theo đuổi các kế hoạch cải cách thị trường của chính phủ tiền nhiệm và đã thông báo rằng họ sẽ thay đổi nền kinh tế dựa nhiều vào dầu mỏ của Iran. Chính quyền đang tìm cách thực hiện mục tiêu trên thông qua việc đầu tư các khoản lợi nhuận vào các lĩnh vực như sản xuất ô tô, công nghiệp hàng không vũ trụ, hàng điện tử tiêu dùng, hoá dầu và công nghệ hạt nhân. Iran cũng hy vọng thu hút được hàng tỷ dollar đầu tư nước ngoài bằng cách tạo ra một môi trường đầu tư dễ chịu hơn, như giảm các quy định hạn chế và thuế nhập khẩu, thiết lập các vùng thương mại tự do như Chabahar và đảo Kish. Nước Iran hiện đại có một tầng lớp trung lưu mạnh và một nền kinh tế tăng trường nhưng vẫn tiếp tục phải đương đầu với tình trạng lạm phát và thất nghiệp ở mức cao.
Thâm hụt ngân sách Iran từng là một vấn đề kinh niên, một phần vì những khoản trợ cấp to lớn của nhà nước – tổng cộng lên tới 7.25 tỷ dollar một năm–gồm thực phẩm và đặc biệt là xăng dầu. Iran là nước sản xuất dầu lớn thứ hai trong OPEC, mỗi ngày nước này xuất khẩu từ bốn đến năm triệu barrels dầu mỏ, Iran chiếm 10% lượng dữ trự dầu đã được xác nhận trên thế giới. Iran cũng là nước có trữ lượng khí tự nhiên thứ hai thế giới (sau Nga). Thị trường dầu mỏ phát triển mạnh năm 1996 giúp nước này giải toả bớt sức ép tài chính và cho phép Tehran kịp chi trả các khoản nợ.
Lĩnh vực dịch vụ đã có sự tăng trưởng lâu dài lớn nhất theo tỷ lệ đóng góp vào GDP, nhưng vẫn còn chưa vững chắc. Đầu tư nhà nước đã giúp nông nghiệp phát triển mạnh với việc tự do hoá sản xuất và cải thiện đóng gói cũng như tiếp cận thị trường giúp phát triển các thị trường xuất khẩu mới. Các dự án tưới tiêu lớn, và các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu mới như chà là, hoa và quả hồ trăn, khiến lĩnh vực này có được sự tăng trưởng cao nhất so với toàn bộ nền kinh tế trong phần lớn thời gian thập niên 1990. Dù trải qua nhiều năm hạn hán liên tiếp: 1998, 1999, 2000 và 2001 khiến sản lượng giảm mạnh, nông nghiệp vẫn là một trong những khu vực sử dụng nhiều lao động nhất, chiếm 22% nguồn nhân lực theo cuộc điều tra năm 1991. Iran cũng đa phát triển công nghệ sinh học, công nghệ nano, và công nghiệp dược phẩm. Về năng lượng, nước này hiện đang dựa vào các phương pháp quy ước, nhưng tới tháng 3 năm 2006, việc tinh chế uranium - chướng ngại lớn cuối cùng trên con đường phát triển năng lượng hạt nhân — đã diễn ra.
Các đối tác thương mại chính của Iran là Pháp, Đức, Ý, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Từ cuối thập kỷ 1990, Iran đã tăng cường hợp tác kinh tế với các nước đang phát triển khác như Syria, Ấn Độ, Cuba, Venezuela và Nam Phi. Iran hiện đang mở rộng quan hệ thương mại với Thổ Nhĩ Kỳ và Pakistan và cùng có chung mục đích thiết lập một thị trường kinh tế duy nhất ở Tây và Trung Á với các đối tác.
== Dân cư ==
Dân số Iran đã tăng trưởng mạnh trong nửa cuối thế kỷ 20, đạt tới khoảng 70 triệu người vào năm 2006. Trong những năm gần đây, có vẻ chính phủ Iran đã đưa ra các biện pháp kiểm soát mức độ tăng dân số cao và nhiều cuộc nghiên cứu đã cho thấy rằng tỷ lệ tăng dân số của Iran chỉ có thể giảm sau khi đạt tới mức sinh thay thế và ổn định vào năm 2050 (100 triệu người).
Cộng đồng Do Thái ở Iran được ước tính hơn ba triệu người, đa số họ đã di cư sang Bắc Mỹ, Tây Âu, và Nam Mỹ, sau cuộc Cách mạng Iran. Iran cũng có số lượng người tị nạn đông nhất thế giới, với hơn một triệu người, đa số từ Afghanistan và Iraq. Chính sách chính thức của chính phủ và các nhân tố xã hội muốn tái hồi cư số người này.
Đa số dân chúng sử dụng một trong những ngôn ngữ Iran, gồm ngôn ngữ chính thức, tiếng Ba Tư. Trong khi về số lượng, tỷ lệ và cách định nghĩa các dân tộc khác nhau ở Iran hiện vẫn còn đang gây tranh cãi, các nhóm sắc tộc chính và thiểu số gồm người Ba Tư (51%), Azeris (24%), Gilaki và Mazandarani (8%), Kurds (7%), Ả rập (3%), Baluchi (2%), Lurs (2%), Turkmens (2%), Qashqai, Armenia, Ba Tư Do Thái, Gruzia, người Assyri, Circassia, Tats,Pashtuns và các nhóm khác (1%). Số lượng người sử dụng tiếng Ba Tư là tiếng mẹ đẻ tại Iran được ước tính khoảng 40 triệu. Phương tiện truyền thông đại chúng, hệ thống giáo dục và việc di cư tới các thành phố lớn khiến đa số dân Iran nói và hiểu được tiếng Ba Tư. Iran có tỷ lệ biết đọc viết là 79.4%. Đa số dân Iran là người Hồi giáo; 90% thuộc nhánh Shi'a của Đạo Hồi, tôn giáo chính thức của quốc gia và khoảng 9% thuộc nhánh Sunni (đa số họ là người Kurds). Số còn lại là thiểu số theo các tôn giáo phi Hồi giáo, chủ yếu là Bahá'ís, Mandeans, Hỏa giáo, Do Thái giáo và Thiên chúa giáo. Ba nhóm thiểu số tôn giáo cuối cùng ở trên được công nhận và bảo vệ, và được dành riêng ghế bên trong Majles (Nghị viện). Trái lại, Đức tin Bahá'í, thiểu số tôn giáo lớn nhất ở Iran, không được chính thức công nhân, và từng bị đàn áp trong thời gian tồn tại ở Iran. Từ cuộc cách mạng năm 1979 những vụ đàn áp và hành quyết ngày càng tăng. Những vụ đàn áp Bahá'ís gần đây khiến Cao uỷ nhân quyền Liên hiệp quốc phải đề cập trong bản báo cáo ngày 20 tháng 3 năm 2006 rằng "những hành động đàn áp tôn giáo ngày càng tăng gần đây cho thấy tình hình đối xử với các thiểu số tôn giáo ở Iran, trên thực tế, đang xấu đi."
== Các thành phố lớn ==
Iran là một trong những quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng đô thị cao nhất trên thế giới. Từ năm 1950 đến 2002 tỷ lệ dân đô thị trên tổng dân số tăng từ 27% lên tới 60%. Liên hiệp quốc dự báo rằng tới năm 2030 dân thành thị Iran sẽ đạt tới 80% tổng dân số. Đa số dân di cư tới sống tại các thành phố Tehran, Isfahan, Ahwaz, và Qom. Tehran là thành phố lớn nhất với 7.160.094 dân (vùng đô thị: 14.000.000). Hơn một nửa các ngành công nghiệp đất nước hiện diện ở thành phố này như chế tạo ô tô, điện tử và thiết bị điện, vũ khí quân sự, dệt may, đường, xi măng, và các sản phẩm hoá chất. Mashhad, một trong những thành phố thiêng liêng nhất của người Hồi giáo Shi'a, là thành phố lớn thứ hai với 2.8 triệu dân.
Dân số tám thành phố lớn nhất (2006) như sau (ước tính không đô thị):
== Văn hoá ==
Iran có một lịch sử nghệ thuật, âm nhạc, kiến trúc, thi ca, triết học, truyền thống, và hệ tư tưởng dài lâu.
که ایران بهشت است یا بوستانهمی بوی مشک آید از دوستان
"Dù mọi người có thể coi Iran là Eden hay Vườn Ba Tư,Mùi xạ hương lan toả tại đó từ những người bạn và đôi lứa."
--Firdawsi
همه عالم تن است و ایران دلنیست گوینده زین قیاس خجل
"Iran là Trái Tim còn toàn thể vũ trụ là Thể Xác,Khi nghĩ như vậy, thi sĩ không còn cảm thấy hối tiếc hay nhỏ mọn."
--Nizami
Văn học Ba Tư được các học giả Ba Tư cũng như nước ngoài đánh giá rất cao. Ngôn ngữ Ba Tư đã được sử dụng trong hơn 2.500 năm và để lại những dấu ấn rõ rệt trong ngôn ngữ viết. Thơ ca Iran được cả thế giới chú ý vì những dòng thơ và bài ca tuyệt đẹp với các nhà thơ như Hafez, Rumi, Omar Khayyam, và Firdowsi.
Với 300 giải thưởng quốc tế trong hai nhăm năm qua, các bộ phim Iran tiếp tục được đón nhận trên khắp thế giới. Có lẽ đạo diễn nổi tiếng nhất là Abbas Kiarostami. Toàn bộ các phương tiện truyền thông ở Iran đều bị kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp từ nhà nước và phải được Bộ hướng dẫn Hồi giáo cho phép. Trong số này gồm cả Internet, đang ngày càng trở thành phương tiện tiếp cận thông tin và thể hiện bản thân phổ biến nhất của giới trẻ. Iran là nước có số lượng bloggers đứng thứ tư thế giới.
Sự tìm kiếm công bằng xã hội và sự công bằng là một đặc điểm quan trọng trong văn hoá Iran. Sự tôn trọng người già và sự hiếu khách cũng là một phần không thể thiếu trong phép xã giao Iran.
Năm mới của Iran (Norouz) diễn ra ngày 21 tháng 3, ngày đầu tiên của mùa xuân. Norouz được UNESCO liệt vào danh sách Các di sản truyền khẩu và phi vật thể Nhân loại năm 2004.
Trong cuốn sách, New Food of Life của mình, Najmieh Batmanglij đã viết rằng "thức ăn ở Iran có nhiều điểm chung với văn hoá ẩm thực vùng Trung Đông, nhưng thường được coi là tinh vi và sáng tạo nhất trong số đó, nhiều màu sắc và phức tạp như một tấm thảm Ba Tư."
== Xem thêm ==
Vụ quân đội Hoa Kỳ bắt giữ những nhà ngoại giao Iran 2006
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
=== Liên kết chính thức ===
Official website of the Supreme Leader of Iran
Official website of the President of Iran
(tiếng Ba Tư) Official website of the Council of Guardians of Iran
(tiếng Ba Tư) Official website of the Majlis (Legislature) of Iran
Official website of the Judiciary of Iran
Official website of the Ministry of Foreign Affairs
Official website of the Spokesman of the Government of Iran
Official website of the Atomic Energy Organization of Iran
Official website of the Iranian Cultural Heritage Organization
(tiếng Ba Tư) Official website of Islamic Republic of Iran Broadcasting
=== Liên kết khác ===
The Constitution of Iran (translated) (Iranologyfo.com)
Slideshow: Iran, from Damavand to Ispahan (Round Planet.com)
Encyclopaedia Iranica
CIA World Factbook - Iran
Congressional Research Service (CRS) Reports: Iran
U.S. State Department - Iran including Background Notes, Country Study and major reports
Open Directory Project - Iran directory category
Center for Nonproliferation Studies at Monterey Institute of International Studies - Iranian weapons capabilities
BBC News interactive maps detailing Iran's people, land and infrastructure
(tiếng Ba Tư) Farhangsara.com - an independently-produced Iranian encyclopedia
(tiếng Ba Tư) Jazirehdanesh.com
Famous Iranians - includes biography and pictures
Wikimedia Atlas của Iran, có một số bản đồ liên quan đến Iran.
Iran News Sites
News from Iran Blog Channel 4 News.
Country Briefings: Iran Economist.com country briefings and news articles.
Directory of Iranian online newspapers Gooya.com
Iran News HavenWorks.com news portal on Iran.
Governing Iran PBS NewsHour special on Iranian politics.
Yahoo! News Full Coverage Iran Yahoo headline links
Sarkhat news aggregator - Latest news from Iran
Guardian section about Iran
Bản mẫu:Tây nam Á |
háng đồng.txt | Háng Đồng là một xã thuộc huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, Việt Nam.
Xã Háng Đồng có diện tích 131,08 km², dân số năm 2008 là 2017 người, mật độ dân số đạt 15 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
biển đen.txt | Biển Đen hay Hắc Hải là một biển nội địa nằm giữa Đông Nam châu Âu và vùng Tiểu Á. Biển Đen được nối với Địa Trung Hải qua eo biển Bosporus và biển Marmara.
Biển Đen có diện tích vào khoảng 422.000 km², nơi sâu nhất đến 2210 mét. Sông Danube là dòng sông quan trọng nhất đổ vào Biển Đen. Được mệnh danh là biển ấm nhất Trái Đất.
Những quốc gia có đường biên giới ở biển Đen là Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgaria, România, Ukraina, Nga và Gruzia. Xung quanh bờ biển có rất nhiều thành phố lớn như: Istanbul, Burgas, Varna, Constanţa, Yalta, Odessa, Sevastopol, Kerch, Novorossiysk, Sochi, Sukhumi, Poti, Batumi, Trabzon, Samsun.
== Nguồn gốc tên gọi ==
Hắc Hải có màu bình thường như các biển khác. Người Hy Lạp, Lưỡng Hà cổ đại thường dùng màu sắc để chỉ phương hướng. Màu vàng tượng trưng cho phương Đông, màu đỏ cho phương Nam, màu đen cho phương Bắc và màu xanh cho phương Tây. Hắc Hải nằm giáp Ukraina, phía bắc Hy Lạp.
== Nối với Địa Trung Hải trong Holocene ==
Biển Đen nối với Đại dương Thế giới qua một chuỗi 2 eo biển nông là Dardanelles và Bosphorus. Dardanelles sâu 55 m (180,45 ft) và Bosphorus sâu 36 m (118,11 ft). Khi so sánh cao độ mực nước biển vào kỷ băng hà gần nhất, các mực nước biển này thấp hơn mực nước hiện nay hơn 100 m (328,08 ft). Cũng có dấu hiệu cho thấy mực nước trong biển Đen tại một thời điểm cũng thấp hơn đáng kể trong suốt thời kỳ sau băng hà. Ví dụ như các nhà khảo cổ học đã phát hiện vỏ ốc nước ngọt và các công trình của con người cách bờ biển ngoài khơi Thổ Nhĩ Kỳ 328 m. Vì vậy nó người ta cho rằng Biển Đen đã từng là một hồ nước ngọt trong đất liền (ít nhất là trong các lớp trên) trong thời gian đóng băng gần đây và một thời gian sau đó.
Sau thời kỳ băng hà, mực nước trong biển Đen và biển Aegean dâng cao độc lập nhau cho đến độ cao đủ để cho sự trao đổi nước. Thời điểm chính xác của sự phát triển này vẫn là một vấn đề còn tranh cãi. Một khả năng có thể là biển Đen đã đầy trước, với lượng nước dư chảy qua Bosphorus và cuối cùng chảy vào Địa Trung Hải. Cũng có các kịch bản thảm họa như "Giả thiết đại hồng thủy Biển Đen" do William Ryan và Walter Pitman đề xướng.
=== Giả thiết đại hồng thủy ===
Năm 1997, William Ryan và Walter Pitman ở Đại học Columbia đã đưa ra giả thiết, theo đó một trận lũ lớn đã tràn qua Bosphorus trong thời cổ đại. Họ tuyên bố rằng Biển Đen và biển Caspi từng là các hồ nước ngọt lớn, nhưng vào khoảng 5600 TCN, Địa Trung Hải tràn qua dãi đá ở Bosphorus, tạo sự liên thông dòng chảy giữa Biển Đen và Địa Trung Hải. Công việc tiếp theo đã được thực hiện cả về hỗ trợ và phản bác giả thiết này, và các nhà khảo cổ học vẫn phản bác nó. Điều này đã khiến người ta liên hệ thảm họa này với các trận lũ huyền thoại trong thời kỳ tiền sử.
== Thành phần hóa học ==
Biển Đen là một bồn nước phân tầng lớn nhất trên thế giới, ở đó các lớp nước ở dưới sâu và trên mặt không trộn lẫn với nhau để có thể nhận ôxy từ khí quyển. Do đó, hơn 90% thể tích nước Biển Đen dưới sâu là nước thiếu ôxy. Điều kiện thủy hóa hiện tại chủ yếu bị khống chế bởi địa hình bồn biển và các dòng sông đổ vào, nên tạo ra sự phân tầng mạnh mẽ theo chiều đứng và sự cân bằng nước dương. Các lớp trên cùng nhìn chung lạnh hơn, nhẹ hơn và ít mặn hơn các lớp dưới sâu, vì chúng được các dòng sông cung cấp nước, trong khi đó các lớp dưới sâu có nguồn gốc ấm, mặn của Địa Trung Hải. Dòng nước nặng này từ Đia Trung Hải được cân bằng bởi một dòng nước ngọt trên mặt chảy ra từ Biển Đen vào biển Marmara, duy trình sự phân tầng và độ mặn.
== Địa chất và địa hình đáy ==
Nguồn gốc địa chất của bồn biển có thể liên hệ đến hai bồn trũng sau cung riêng biệt đã từng bắt đầu bởi sự phân tách cung núi lửa Albian và đới hút chìm của các đại dương Tethys cổ và đại dương Tethys, nhưng thời gian xảy ra các sự kiện này vẫn còn tranh cãi. Khi bắt đầu, các chuyển động kiến tạo nén ép gây ra sự sụt lún trong bồn trũng, xen kẽ với các pha tách giãn tạo ra các hoạt động núi lửa trên diện rộng và một số đai tạo núi, làm nâng các dải núi Greater Caucasus, Parhar, nam Crimea và Balkan. Sự va chạm đang tiếp diễn giữa mảng Á-Âu và châu Phi và sự chuyển động về phía tây của khối Anatolian dọc theo đứt gãy Bắc Anatolia và Đứt gãy Đông Anatolia gây ra cơ chế kiến tạo hiện tại, đã làm tăng thêm sự sụt lún của bồn Biển Đen và hoạt động núi lửa đáng chú ý trong khu vực Anatolian.
Bồn biển hiện tại có thể chia thành 2 phụ cấu trúc bởi phần nhô ra kép dài về phía nam từ bán đảo Krym. Thềm lục địa về phía bắc của bồn biển rộng đến 190 km, và độ dốc trong khoảng 1:40 và 1:1000. Rìa phía nam quanh Thổ Nhĩ Kỳ và rìa phía tây quanh Gruzia đặc trưng bởi một thềm hẹp hiếm khi rộng quá 20 km và độ dốc khoảng 1:40, gồm nhiều hẻm vực và các rãnh. đồng bằng biển thẳm Euxine ở trung tâm Biển Đen có độ sâu tối đa 2.212 m (7.257,22 ft) nằm gần phía nam của Yalta trên bán đảo Krym.
== Lịch sử ==
Biển Đen từng là một tuyến đường thủy bận rộn nối các tuyến đường bộ cắt qua nó trong thế giới cổ đại như: Balkans với phía Tây, thảo nguyên Á-Âu với phía bắc, Caucasus và Trung Á với phía đông, Tiểu Á và Mesopotamia với phía nam, và Hy Lạp với tây nam. Vùng đất ở tận cùng phía đông của Biển Đen là Colchis, (hiện thuộc Gruzia), được đánh dấu cho người Hy Lạp là rìa của thế giới đã được khám phá. Các thảo nguyên phía bắc của Biển Đen từng được cho là nơi xuất phát của những người nói hệ ngôn ngữ Proto-Ấn-Âu, hệ ngôn ngữ tổ tiên của hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, theo một số học giả như Kurgan; một số khác di chuyển về khu trung tâm phía đông của biển Caspi, một số khác nữa thì đến Anatolia. Nhiều cảng cổ, một số cảng còn cổ hơn các kim tự tháp Ai Cập, nằm trên bờ biển của Biển Đen.
Biển Đen trở thành nơi hoạt động của Hải quân Ottoman trong 5 năm Genoa mất Krym năm 1479, sau đó chỉ có các tàu buồn buôn bán của phương Tây hoạt động trên vùng nước thuộc Venice cũ, một đối thủ cạnh tranh của Dubrovnik. Các hoạt động hạn chế này dần dần thay đổi bởi Hải quân Nga từ năm 1783 cho đến khi có sự nới lỏng kiểm soát xuất khẩu năm 1789 do cuộc cách mạng Pháp.
== Những khu nghỉ dưỡng ==
== Tham khảo == |
bán kính liên kết cộng hóa trị.txt | Bán kính liên kết cộng hóa trị, rcov được dùng để đo đạc kích thước của một nguyên tử được hình thành từ liên kết cộng hóa trị. Đơn vị đo thường là picomet (pm) hay angstrom (Å), với 1 Å = 100 pm.
Về nguyên tắc, tổng hai bán kính liên kết cộng hóa trị bằng chiều dài liên kết cộng hóa trị giữa hai nguyên tử, R(AB) = r(A) + r(B).
== Tham khảo == |
tu sĩ.txt | Tu sĩ hay nhà tu hành, thầy tu là người tu dưỡng tôn giáo khổ hạnh, sống một mình hoặc với một nhóm các thầy tu khác trong tu viện. Thầy tu có thể là người cống hiến cuộc đời mình để phụng sự chúng sinh hoặc là một người tu hành khổ hạnh tránh xa trần thế để sống cuộc sống cầu nguyện và chiêm nghiệm cuộc đời.
== Tổng quan ==
Khái niệm này mang tính cổ xưa được tìm thấy trong nhiều tôn giáo và trong triết học. Trong Kitô giáo, tu sĩ là những người "đi theo Chúa", chấp nhận một đời sống chung trong khó nghèo, độc thân, và vâng lời vì mến Chúa.
Theo quan điểm nguyên thủy của Phật giáo, chỉ có những người sống viễn ly mới có thể đạt được giác ngộ, nên những người tu hành còn gọi là người xuất gia (rời khỏi nhà), họ thường gia nhập những tăng đoàn.
Trong ngôn ngữ Hy Lạp từ tu sĩ có thể áp dụng cho phụ nữ và cả nam giới (từ tiếng Hy Lạp: μοναχός, monachos, "độc thân, đơn lẻ" ) nhưng trong tiếng Anh hiện đại từ tu sĩ chỉ sử dụng cho nam giới, trong khi nữ tu là thuật ngữ miêu tả về các tu sĩ nữ. Trong tiếng Việt, tu sĩ là từ ghép giữa hai từ "Tu" và "sĩ" trong đó tu để chỉ về quá trình hướng đạo, giác ngộ, học tập một lý thuyết tôn giáo, giáo phái và sĩ dùng để chỉ về một tầng lớp, một người thuộc về tầng lớp nào đó.
Cuộc sống của các tu sĩ thông thường là họ chọn một cuộc sống đơn độc, xa lánh thế sự, chọn cuộc sống nghèo khó và độc thân trong khiết tịnh hoặc sống và theo luật lệ của nơi thiền môn, tu viện và công việc chính của họ là nghiên cứu giáo lý, cầu nguyện, truyền đạo, phổ độ chúng sinh, khất thực...
== Tu sĩ không ẩn cư ==
Ngày nay, thuật ngữ nhà tu hành có thể bao gồm cả những nhà tu hành không ẩn cư và họ có thể đảm nhận những chức vụ trong giáo hội, như là Linh mục, giám mục trong Công giáo, Mục sư trong đạo Tin Lành, Thượng tọa, hòa thượng, ni sư trong Phật giáo, Hộ pháp hay giáo sư, giáo tông trong đạo Cao Đài,...
Bên cạnh đó, Thầy tế là người thực hiện các lễ nghi của các tôn giáo của các đạo khác nhau như Công giáo, đạo Do Thái, đạo Hindu, đạo Hồi... Thầy tế là người kết nối giữa người bình thường với đấng tối cao nào đó, tùy theo từng tôn giáo. Thầy tế cũng là người trả lời những thắc mắc của các giáo dân về đạo lý của mình.
== Ảnh ==
== Xem thêm ==
Nữ tu
Ẩn sĩ
Khất sĩ
Giáo sĩ
Thầy tế
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
"Monk" article in Catholic Encyclopedia (1913)
Orthodox Monasteries Internet Directory
Historyfish.net Texts and articles on Western Christian Monks, Monastics, and the Monastic Life.
An Orthodox novice and A hieromonk, Photos from Valaam Monastery, Russia
Monasticism Studies Area at www.monachos.net |
cục thống kê thụy điển.txt | Cục Thống kê Thụy Điển (tiếng Thụy Điển: Statistiska centralbyrån, viết bắt SCB) là cơ quan của Chính phủ Thụy Điển chịu trách nhiệm đưa ra số liệu thống kê chính thức về Thụy Điển. Số liệu thống kê quốc gia ở Thụy Điển thu thập từ năm 1686 trở lại, khi giáo xứ của Giáo hội Thụy Điển bắt đầu nhận nhiệm vụ thu thập và lưu giữ số liệu về dân số. Tiền nhiệm của SCB là Văn phòng Thống kê (Tabellverket) thành lập năm 1749, tên hiện tại được thông qua năm 1858.
Vào năm 2005, Cục Thống kê Thụy Điển đã có khoảng 1.400 nhân viên. Các văn phòng của cơ quan được đặt tại Stockholm và Örebro. Cục Thống kê Thụy Điển phát hành Tạp chí Thống kê chính thức.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Website chính thức |
lima.txt | Lima là thủ đô, thành phố lớn nhất của Peru, đồng thời là thủ phủ của tỉnh Lima. Đây là trung tâm văn hoá, công nghiệp, tài chính và giao thông của Peru, nằm tại vùng thung lũng bao quanh cửa sông Chillón, sông Rímac và sông Lurín. Thành phố có diện tích 804,3 km² dân số chiếm 2/3 tổng số dân cả nước. Sự tập trung của cải và quyền lực ở Lima càng lớn hơn. Thành phố chiếm 2/3 GDP cũng như thu thuế, đầu tư tư nhân, tiền gửi ngân hàng, số lượng thầy thuốc và sinh viên của Peru. Dù có các nỗ lực phi tập trung hoá, Lima vẫn là nơi tập trung các cơ sở chính của các cơ quan chính phủ. Trung tâm lịch sử của Lima được UNESCO công nhận là di sản thế giới.
== Địa lý ==
Khí hậu của thành phố ôn hoà, dù vị trí của thành phố ở vùng nhiệt đới, nhờ dòng khí lạnh của Dòng hải lưu Peru, Thái Bình Dương chảy theo hướng Bắc, dọc theo bờ biển từ Bắc Cực. Mưa ở Lima hiếm hoi do dòng hải lưu duyên hải lạnh và hiệu ứng mưa chặn mưa của Dãy Andes chặn dòng khí ấm chứa hơi ẩm từ phía Đông. Bờ biển thường bị phủ lớp màn sương mù nặng được gọi là garúa, đặc biệt dày đặc vào những tháng mùa đông, mát hơn từ tháng 4 đến tháng 10. Đặc trưng khí hậu của thành phố ừ tháng 11 đến tháng 3 là ban ngày ấm nắng và buổi tối mát. Thành phố nằm trong khu vực địa chấn, các trận động đất lớn đã xảy ra các năm 1687, 1746.
== Dân số ==
Năm 2003, Lima có dân số 7,9 triệu, sinh sống tại 33 quận. Thành phố tăng thêm hơn 2,5 triệu người kể từ năm 1981 khi dân số của thành phố là 4,1 triệu. Hơn 90% dân số của Lima là người mestizo, người có dòng máu châu Âu pha trộn với người thổ dân châu Mỹ và cộng đồng thiểu số da trắng, da đen, châu Á, trong đó người gốc Nhật Bản là đông nhất. Từ thập niên 1940, Lima đã trải qua những đợt tăng trưởng nhanh về dân số, khoảng 7% mỗi năm kể từ thập niên 1960, 5% thập niên 1970 và 4% thập niên 1980. Sự tăng dân số nhanh do dòng dân di cư từ các vùng nông thôn và đô thị nhỏ của Andes đã khiến cho tình hình vùng đô thị này trở nên ngày càng nghiêm trọng, thành phố không thể cung cấp đủ nước, nhà ở và các dịch vụ công công cộng khác. Xung quanh thành phố đang hình thành những khu nhà lụp xụp, ổ chuột.
== Khí hậu ==
== Lịch sử ==
Lima được thành lập tháng giêng năm 1535 và được đặt tên là Ciudad de los Reyes, có nghĩa là Thành phố của các vua. Thành phố có vai trò quan trọng ở "tân thế giới" từ năm 1542, khi Charles V là người cai quản Lima. Sau khi Pizarro xâm lược Đế quốc Inca, Lima trở thành thủ đô của Phó vương Peru, một vùng hành chính bao gồm phần lớn các khu vực lãnh thổ ở Nam Mỹ. Trong suốt ba thế kỷ thuộc địa, phần lớn việc buôn bán của Tây Ban Nha với Nam Mỹ được thực hiện thông qua Callao. Lima đã bùng phát và trở thành một trung tâm chính trị, văn hoá, thương mại của Nam Mỹ thuộc Tây Ban Nha, và giàu lên nhờ các nguồn dự trữ vàng và bạc của Andes.
Tầm quan trọng của Lima có phần giảm sút sau khi giai đoạn thuộc địa kết thúc. Trong những cuộc chiến giành độc lập của châu Mỹ Latin, đây là thành trì của lực lượng hoàng gia phản đối việc chia tách khỏi Tây Ban Nha. Tướng José de San Martín, một trong những lãnh đạo của phong trào độc lập đã chiếm lĩnh thành phố vào năm 1821 và năm năm sau đó, thành phố trở thành thủ đô của nước Peru độc lập. Lima vẫn giữ được vai trò ưu thế vượt trội của Peru và là một thủ đô lớn của Nam Mỹ trong thế kỷ 19. Từ năm 1881 đến 1883, thành phố bị quân Chile chiếm đóng trong cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương, buộc chính phủ Peru phải tháo chạy lên Cao nguyên Andes.
Dân số tăng nhanh từ thập niên 1950 đã khiến cho Lima lớn gấp 10 lần so với thành phố lớn thứ hai của Peru. Các khu ổ chuột mọc xung quanh thành phố là nơi sinh sống của gần 1/3 dân số Lima.
=== Trung tâm lịch sử ===
Trung tâm lịch sử của Lima là bằng chứng cho sự phát triển kiến trúc đô thị thuộc địa Tây Ban Nha, có tầm quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa ở Peru nói riêng và Mỹ Latinh nói chung. Với rất nhiều các quảng trường, các nhà thờ, tu viện, cung điện và các tòa nhà thế kỷ 17, 18. Các công trình mang đậm lối kiến trúc kết hợp giữa Hispano và Baroque.
Tòa nhà nổi bật nhất ở Lima chính là San Francisco de Lima, một tu viện thời kỳ thuộc địa Tây Ban Nha. Cùng với Santa Catalina de Arequipa, đây là một trong hai công trình kiến trúc được bảo tồn tốt nhất cho đến ngày nay.
Ngoài ra, trung tâm lịch sử Lima có rất nhiều các công trình lịch sử như:
Quảng trường San Martín
Tổ hợp nhà thờ San Francisco, La Soledad và El Milagro
Plaza de Armas (bao gồm nhà thờ Sagrario, các nhà nguyện của Tổng giám mục)
Plaza de la Vera Cruz
Santo Domingo và San Augustin
Cổng Callao
Đại học San Marcos (xây dựng từ năm 1551)
Torre Tagle
Casa Courret (thế kỷ 19)
== Các sự kiện liên quan ==
Trong thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, thành phố xảy ra các vụ đánh bom, ám sát và tấn công của nhóm khủng bố Sendero Luminoso (Con đường Ánh sáng).
Tháng 12 năm 1996, một nhóm cách mạng khác mang tên Phong trào cách mạng Tupac Amarú (MRTA), đã chiếm giữ khu nhà ở của đại sứ Nhật Bản khi đang diễn ra một buổi tiệc trong kỳ nghỉ, có 500 người bị bắt làm con tin. Trong cuộc bao vây kéo dài bốn tháng, những kẻ phiến loạn đã đưa yêu sách phải thả những thành viên của họ đang bị giam và phải cải thiện điều kiện trong nhà tù, họ đã thả một số con tin và giữ lại 72 người. Vụ việc kết thúc vào tháng 4 năm 1997, khi những người lính Peru đã giải cứu con tin và giết tất cả các thành viên của MRTA, khi đó có một con tin thiệt mạng.
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Article in the Spanish newspaper ABC about the House of Aliaga Spanish
About the Historical Center Spanish
Religion in the City of the Kings of Peru Spanish
360° view of Lima Main Square
== Liên kết ngoài ==
Thành phố Lima (tiếng Tây Ban Nha)
Lima at geographia.com
Lima travel and tourist information
Lima Stock Exchange
Jorge Chávez International Airport
The climate of Lima
Lima maps (in Spanish)
Collection of Lima and Peruvian photos from davidmetraux.com
Lima Photographs at GlobalAmity.net |
bánh tôm hồ tây.txt | Bánh tôm Hồ Tây là một trong các món ăn nổi tiếng của Hà Nội. Chúng được làm từ nguyên liệu là những con tôm càng sông hay tôm càng Hồ Tây đặc trưng.
== Cách làm ==
Tôm (nước ngọt) hồ Tây bọc bột mì cho vào chảo mỡ nóng già ngập bánh cho chín tới. Khi bánh phồng lên và ngả màu vàng có bốc mùi thơm ngậy. Gắp bánh gác lên hai que đũa xếp ngang chảo cho ráo mỡ.
Ăn bánh nóng cùng với nước chấm vị chua, ngọt và cay, thêm chút dưa góp (đu đủ và cà rốt thái nhỏ ngâm giấm).
Bánh tôm ăn cùng rau xà lách, có thể thêm bún rối và rất hợp với bia.
== Sự phát triển ==
Hà Nội những năm 1970-1980 có hàng bán bánh tôm của quốc doanh nằm trên đường Thanh Niên, phía bên hồ Trúc Bạch. Lúc đó nơi đây là địa điểm vui chơi giải trí, bánh tôm Hồ Tây đã đi vào ký ức nhiều thế hệ.
Sang cuối những năm 1980, đời sống được nâng lên đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình dịch vụ khác. Hàng bánh tôm Hồ Tây đã không còn chiếm vị trí độc tôn nữa trong lựa chọn của thực khách.
Hiện nay, rất nhiều quán quanh Hồ Tây cũng làm và bán bánh tôm
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
campuchia.txt | Campuchia (chữ Khmer: កម្ពុជា, Kampuchea, IPA: [kɑmpuˈciə], tên chính thức: Vương quốc Campuchia, chữ Khmer: ព្រះរាជាណាចក្រកម្ពុជា), cũng còn gọi là Cam Bốt là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương ở vùng Đông Nam Á, giáp với vịnh Thái Lan ở phía Nam, Thái Lan ở phía Tây, Lào ở phía Bắc và Việt Nam ở phía Đông. Campuchia có ngôn ngữ chính thức là tiếng Khmer, thuộc nhóm Môn-Khmer trong hệ Nam Á. Tiếng Việt trước thế kỷ 21 còn dùng những tên khác như Chân Lạp (chữ Nho: 真臘) và Cao Miên (高棉) để gọi nước này.
Về tên gọi Chân Lạp hoặc Cao Miên, trong sử Việt xưa, danh từ Chân Lạp được dùng để chỉ nước Campuchia thời hậu Angkor, thời các chúa Nguyễn tại Việt Nam. Nhưng thật ra Chân Lạp, tên nước và người, chỉ tồn tại từ thế kỷ thứ VI và chấm dứt vào thế kỷ thứ IX (802). Kế tiếp thời Chân Lạp là thời Angkor với Triều đại đế quốc Khmer kéo dài đến thế kỷ XV. Danh từ thường được dùng nhiều hơn trong lịch sử thế giới khi gọi người Campuchia hoặc các Triều đại Campuchia hậu Chân Lạp cho đến ngày nay là Khmer (Cao Miên) hơn là Chân Lạp (Chenla). Cao Miên có thể dùng để chỉ đế quốc Khmer nói riêng, hoặc nước / người Campuchia nói chung. Nên có lẽ, nếu cần áp dụng tên gọi một cách chính xác, Chân Lạp chỉ có thể áp dụng vào thời kỳ VI đến thế kỷ IX. Cao Miên mới là danh từ thông dụng để gọi nước / người Campuchia xưa, ít nhất là từ sau thế kỷ IX cho đến thời kỳ Liên bang Đông Dương. [cần dẫn nguồn]
== Lịch sử ==
Nền văn minh đầu tiên được biết tại Campuchia xuất hiện vào khoảng thiên niên kỷ thứ nhất; từ thế kỷ 9 đến thế kỷ 13, nền văn minh Khmer đã phát triển rực rỡ ở đây.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Phù Nam (Funan) là vương quốc cổ, tồn tại từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 7, thời thịnh trị có lãnh thổ rộng lớn ở phía nam bán đảo Đông Nam Á, bao gồm Campuchia, nam Việt Nam, nam Thái Lan ngày nay. Lúc này ở khu vực Bắc Campuchia và Nam Lào có một thuộc quốc là Chân Lạp (Chenla) được hình thành từ thế kỷ 5 của tộc người Môn-Khmer. Vào thế kỷ 7, Chân Lạp thoát khỏi sự lệ thuộc vào Phù Nam rồi chiếm toàn bộ lãnh thổ Phù Nam.
Triều đại cầm quyền của Chân Lạp có nguồn gốc từ nhân vật thần thoại Campu, lấy nàng Naga (con gái thần nước, biến từ rắn thành thiếu nữ). Tên gọi "Campuchia", xuất hiện vào khoảng thế kỷ 10, gắn với tên nhân vật này. Sau năm 707, Chân Lạp tách thành hai quốc gia Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp.
Sau hàng thế kỷ (từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18) bị mất đất đai và dân số cho các quốc gia Thái Lan và Việt Nam thì Campuchia lại bị bảo hộ bởi Pháp trong Liên bang Đông Dương vào năm 1863. Sau sự xâm chiếm của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai thì Pháp lại quay lại. Campuchia tuyên bố độc lập vào năm 1953, trở thành một vương quốc. Năm 1960, Thái tử Norodom Sihanouk lên làm Quốc trưởng chứ không làm vua sau khi vua cha mất. Ông thi hành chính sách trung lập.
=== Thời kỳ Chiến tranh Việt Nam ===
Trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), lực lượng cộng sản của Trung ương Cục miền Nam đã sử dụng những lãnh thổ biên giới Campuchia gần Việt Nam như một căn cứ địa để chống lại chính quyền Việt Nam Cộng hòa nên Hoa Kỳ đã ném hàng loạt bom xuống các vùng cộng sản ở Campuchia. Một số nguồn ước tính số thương vong dân sự tại đây đạt tới con số 100.000 người. Năm 1970, tướng Lon Nol làm đảo chính lật đổ triều đình phong kiến và lên nắm quyền tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Khmer. Chính quyền này đã bị lật đổ bởi những người theo đường lối cộng sản cực đoan là Khmer Đỏ, được Bắc Kinh giúp đỡ, trong năm 1975.
=== Khmer Đỏ cầm quyền ===
Khmer Đỏ do Pol Pot lãnh đạo nắm được chính quyền vào năm 1975, thành lập nước "Campuchia Dân chủ". Họ chiếm thủ đô Phnom Penh và bắt đầu lùa dân ra khỏi thành thị vào tháng 10 năm 1974, Phnom Penh trở thành một thành phố chết - không có cư dân sinh sống. Trong thời gian này tiền tệ bị xoá bỏ và Khmer Đỏ thực hiện triệt để chính sách "tự cung tự cấp" - bài phương Tây và "quyết tâm xây dựng Xã hội Chủ nghĩa trong vòng 6 tháng". Theo dự án Genocide Project của Đại học Yale, lao động khổ sai, bệnh tật, hành hình và "thanh trừng" đã làm khoảng hơn 1,7 triệu người đã chết trong khoảng thời gian 4 năm cải tạo xã hội của Khmer Đỏ (1975-1979).
Trong những năm nắm quyền, trong nội bộ Khmer Đỏ đã có sự thanh trừng lẫn nhau mà kết quả là những người thân Cộng sản Việt Nam bị bài trừ và phải bỏ trốn sang Việt Nam. Trong thời gian này hai bên đã có những xung đột biên giới nhỏ nhưng kéo dài.
Cuối năm 1978 sau khi chính quyền Pol Pot đem quân tấn công biên giới và giết hại thường dân Việt Nam thì Hà Nội đã tổ chức chiến dịch phản công và theo yêu cầu giúp đỡ của lực lượng thân Việt Nam ở Campuchia, họ đưa quân vào Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ (7 tháng 1 năm 1979) và đưa quân tới sát biên giới phía tây với Thái Lan.
Do chiến thắng quá nhanh của quân đội Việt Nam, quân khmer Đỏ chỉ tan rã chứ chưa bị tiêu diệt hoàn toàn, vì vậy trong 13 năm đóng quân tại Campuchia, quân đội Việt Nam đã bị lực lượng tàn quân này quấy phá gây thiệt hại khá lớn. Các cuộc chiến nhỏ lẻ tẻ diễn ra liên tục trước khi Việt Nam rút quân năm 1989 và Liên hiệp quốc hỗ trợ bầu cử năm 1993, giúp cho nước này khôi phục lại tình trạng bình thường.
=== Cộng hòa Nhân dân Campuchia ===
Được Việt Nam hậu thuẫn, ngày 8 tháng 1 năm 1979 Hội đồng Nhân dân Cách mạng nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia do Heng Samrin làm chủ tịch đã được thành lập. Tuy vậy chính quyền này chỉ được một số nước cộng sản công nhận và chưa tự bảo vệ được mà vẫn cần đến sự có mặt của quân đội Việt Nam. Năm 1981, Cộng hòa Nhân dân Campuchia tổ chức bầu quốc hội và ban hành hiến pháp.
Trong thời gian này, Kampuchea Dân chủ của Khmer Đỏ vẫn giữ được ghế đại diện cho Campuchia ở Liên hiệp quốc.
Ngày 22 tháng 6 năm 1982, Chính phủ Liên hiệp ba phái Campuchia do Norodom Sihanouk làm Chủ tịch, Khieu Samphon (phái Khmer Đỏ) làm Phó Chủ tịch và Son Sann (phái thứ ba) làm Thủ tướng được thành lập tại Kuala Lumpur (Malaysia).
Việt Nam đã rút quân ra khỏi Campuchia trước kế hoạch (1990) và chính phủ tại Phnom Penh chấp nhận đàm phán với Chính phủ Liên hiệp ba phái Campuchia. Việc rút quân đội Việt Nam được hoàn tất ngày 26 tháng 9 năm 1989.
=== Sihanouk trở về ===
Sau nhiều phen thương lượng, Hoàng thân Sihanouk đã trở về Phnom Penh ngày 23 tháng 11 năm 1991 sau 13 năm vắng mặt. Năm 1992-1993, Lực lượng Gìn giữ Hòa bình Liên Hợp Quốc Campuchia (UNTAC) tạm thời quản lý Campuchia. Một cuộc tuyển cử tự do được tổ chức năm 1993 dưới sự giám sát của Liên hiệp quốc. Hoàng thân Sihanouk trở lại nắm quyền đất nước.
Chính phủ liên hiệp được lập sau bầu cử 1998 đem lại sự ổn định về chính trị, Khmer Đỏ không tham gia mà tiếp tục chống đối. Không có ai trong số các thủ lĩnh của Khmer Đỏ bị xét xử vì những tội ác diệt chủng mà họ đã phạm trong những năm nắm chính quyền của họ.
Ngay sau đó, Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia lật ngược tình thế: loại các thành phần hoàng gia chống đối rồi tiêu diệt, bắt giữ Khmer Đỏ. Hậu quả của thời kỳ Hoàng thân Sihanouk trở về là một số nơi rơi vào tình trạng vô chính phủ, nay đang được khắc phục.
=== Thời kỳ Vương quốc Campuchia (tái lập) ===
Sau khi cuộc Tổng tuyển cử tự do được Liên Hợp Quốc đứng ra tổ chức tháng 5 năm 1993, các phe phái, chủ yếu các CPP (Đảng Nhân dân Campuchia), FUNCIPEC (Đảng Bảo hoàng) và đảng của Sam Rensi phải mất đến 4 tháng mới thỏa thuận được cơ cấu phân chia quyền lực. Đến tháng 9 năm 1993, Quốc hội và Chính phủ mới được thành lập với nòng cốt là FUNCIPEC và CPP. Quốc hội nhất trí lấy tên nước là Vương quốc Campuchia. Đứng đầu nhà nước là Quốc vương Norodom Sihanuk. Thủ tướng thứ nhất Norodom Ranarit (Chủ tịch Đảng FUNCIPEC), Thủ tướng thứ hai là Hun Xen (Phó Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia). Chủ tịch quốc hội là Chia Xim (CPP). Năm 1997, ông Ung Huot (FUNCIPEC) thay ông Ranarit giữ chức thủ tướng thứ nhất. Từ năm 1993 đến nay, Campuchia đã trải qua 4 lần tổng tuyển cử. Ở lần tổng tuyển cử thứ 4 năm 2008, Đảng CPP dù chiếm đa số, nhưng không thể tự mình thành lập chính phủ do không giành được tỷ lệ đa số ghế 2/3 cần thiết theo luật định. Chính vì vậy, CPP buộc phải tìm kiếm liên minh từ FUNCINPEC, trên tinh thần đoàn kết dân tộc. Sau 15 năm tái lập chế độ quân chủ lập hiến, Vương quốc Campuchia đã thu dược nhiều thành tựu lớn trên các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và quan hệ đối ngoại.
Campuchia mở cửa và thân thiện với thế giới, sớm gia nhập WTO. Tuy vậy, kinh tế và mức sống vẫn phát triển chậm. Tổng GDP là 3.677 triệu USD (năm 2003), GDP bình quân đầu người 280 USD (2003) trên 30% dân chúng sống dưới mức nghèo khổ. Một phần do điểm xuất phát quá thấp (gần như bằng 0 sau giải phóng 1979) và một phần do quyền lực thực tế của chính quyền chưa hoàn thiện.
Năm 1998, Polpot chết, lực lượng Khmer Đỏ tan rã. Tháng 6 năm 2003, Liên hợp quốc và Chính phủ Campuchia đạt được thỏa thuận về việc xét xử các thủ lĩnh Khmer Đỏ. Hai bên thống nhất lập một tòa án do các thẩm phán quốc tế và thẩm phán Campuchia cùng làm chủ tọa. Tuy nhiên, việc xét xử Khmer Đỏ diễn ra hết sức chậm chạp do những thế lực đã nâng đỡ Khmer Đỏ trước đây (Trung Quốc) cản trở. Phần lớn các nhân vật quan trọng của tổ chức này đã chết già mà không bị tòa kết án. Mãi đến cuối năm 2008, phiên tòa đầu tiên xét xử các thủ lĩnh Khmer Đỏ mới được mở. Người đầu tiên bị xét xử là Kang Kech Ieu, giám đốc nhà tù S21 (Tulsleng), người đã tổ chức giết chết hàng vạn người Campuchia mà Khmer Đỏ cho là thù địch trong hơn 3 năm cầm quyền của họ.
== Chính trị ==
Chính trị Campuchia được nhiều người nước ngoài biết đến bởi thời kỳ diệt chủng của Khmer Đỏ, việc này gây ra những đổ vỡ lớn trong nội bộ những nước đã từng ủng hộ chế độ này.
Đất nước này được cai trị bởi Quốc vương Norodom Sihanouk sau khi ông trở lại làm vua vào tháng 9 năm 1993. Đây là chế độ quân chủ lập hiến và trên thực tế quốc vương không điều hành đất nước. Cuối tháng 10 năm 2004 Norodom Sihanouk truyền ngôi lại cho Thái tử Norodom Sihamoni.
Đảng cầm quyền hiện nay là Đảng Nhân dân Campuchia (CPP), thủ tướng đương nhiệm là Hun Sen.
Campuchia là thành viên của Liên hiệp quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Nước này đã đạt được sự ổn định tương đối về chính trị từ thập niên 1990 trở lại đây.
== Quan hệ đối ngoại ==
Quan hệ đối ngoại của Vương quốc Campuchia được điều phối bởi Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Campuchia, đứng đầu là Bộ trưởng Prak Sokhonn.
Campuchia là thành viên của Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ Quốc tế. Nó là một thành viên của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), ASEAN, và trở thành thành viên của WTO ngày 23.10.2004. Năm 2005 Campuchia đã tham dự Hội nghị thượng đỉnh Đông Á khai mạc tại Malaysia. Vào ngày 23 tháng 11 năm 2009, Campuchia phục hồi lại là thành viên của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA). Campuchia lần đầu tiên trở thành thành viên của IAEA vào ngày 06 tháng 02 năm 1958 nhưng đã từ bỏ vị trí thành viên của mình vào ngày 26 tháng 03 năm 2003. Campuchia đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia, bao gồm 20 Đại sứ quán bao gồm nhiều nước láng giềng châu Á và những đối tác quan trọng trong các cuộc đàm phán hòa bình Paris, trong đó có Mỹ, Úc, Canada, Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, và Nga Như một kết quả của quan hệ quốc tế, tại Campuchia còn có các tổ chức nhân đạo khác nhau đã hỗ trợ các nhu cầu cơ sở hạ tầng xã hội, kinh tế và dân sự...
=== Xếp hạng quốc tế ===
== Hành chính ==
Nước Campuchia được chia thành 25 đơn vị hành chính địa phương cấp một gồm 21 tỉnh và 4 thành phố trực thuộc trung ương. Các tỉnh được chia thành các huyện và huyện đảo, còn các thành phố trực thuộc trung ương được chia thành các quận. Dưới huyện là các xã, và dưới quận là các phường. Phường và xã là cấp hành chính địa phương cuối cùng ở Campuchia. Trong một xã có thể có một hoặc nhiều hơn một làng, nhưng làng không phải là một cấp hành chính chính thức.
== Địa lý ==
Diện tích Campuchia khoảng 181.035 km², có 800 km biên giới với Thái Lan về phía bắc và phía tây, 541 km biên giới với Lào về phía đông bắc, và 1.137 km biên giới với Việt Nam về phía đông và đông nam. Nước này có 443 km bờ biển dọc theo Vịnh Thái Lan.
Đặc điểm địa hình nổi bật là một hồ lớn ở vùng đồng bằng được tạo nên bởi sự ngập lụt. Đó là hồ Tonle Sap (Biển Hồ), có diện tích khoảng 2.590 km² trong mùa khô tới khoảng 24.605 km² về mùa mưa. Đây là một đồng bằng đông dân, phù hợp cho cấy lúa nước, tạo thành vùng đất trung tâm Campuchia. Phần lớn (khoảng 75%) diện tích đất nước nằm ở cao độ dưới 100 mét so với mực nước biển, ngoại trừ dãy núi Cardamon (điểm cao nhất là 1.771 m), phần kéo dài theo hướng bắc-nam về phía đông của nó là dãy Voi (cao độ 500-1.000 m) và dốc đá thuộc dãy núi Dangrek (cao độ trung bình 500 m) dọc theo biên giới phía bắc với Thái Lan.
Nhiệt độ dao động trong khoảng 10-38 °C. Campuchia có các mùa mưa nhiệt đới: gió tây nam từ Vịnh Thái Lan/Ấn Độ Dương đi vào đất liền theo hướng đông bắc mang theo hơi ẩm tạo thành những cơn mưa từ tháng 5 đến tháng 10, trong đó lượng mưa lớn nhất vào khoảng tháng 9, tháng 10; gió đông bắc thổi theo hướng tây nam về phía biển trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, với thời kỳ ít mưa nhất là tháng 1, tháng 2.
Campuchia cũng là quốc gia có nhiều loài động vật quý hiếm trên thế giới sinh sống, nổi bật nhất là hổ, voi và bò tót khổng lồ. Rất nhiều loài đang đứng trước hiểm họa diệt chủng do nạn săn trộm và phá rừng.
== Kinh tế ==
Vương quốc Campuchia đã bị tàn phá gần như hoàn toàn sau thời kỳ Polpot Khmer Đỏ, thành phố lớn nhất Phnompenh đứng lên từ một thành phố chết không một bóng người và được khôi phục với vẻ huy hoàng như ngày nay. Ảnh hưởng của chiến tranh ngoại quốc lẫn nội chiến nghiêm trọng hơn ở Việt Nam nên cho đến nay nền kinh tế vẫn còn nhiều điều bất cập, tình trạng tham nhũng lớn và luật pháp lỏng lẻo khiến cho đất nước có nhiều điều cần phải giải quyết. Tính đến năm 2016, GDP của Campuchia đạt 19.368 USD, đứng thứ 113 thế giới, đứng thứ 35 châu Á và đứng thứ 8 Đông Nam Á.
Sự phát triển của nền kinh tế Campuchia bị chậm lại một cách đáng kể trong thời kỳ 1997-1998 vì khủng hoảng kinh tế trong khu vực, bạo lực và xung đột chính trị. Đầu tư nước ngoài và du lịch giảm mạnh. Trong năm 1999, năm đầu tiên có được hòa bình thực sự trong vòng 30 năm, đã có những biến đổi trong cải cách kinh tế và tăng trưởng đạt được ở mức 5%. Mặc dù bị ngập lụt tràn lan, GDP tăng trưởng ở mức 5.0% trong năm 2000, 6.3% trong năm 2001 và 5.2% trong năm 2002. Du lịch là ngành dịch vụ tăng trưởng mạnh nhất của Campuchia, với số du khách tăng 34% trong năm 2000 và 40% trong năm 2001 trước sự kiện khủng bố 11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ. Mặc dù đạt được những sự tăng trưởng như vậy nhưng sự phát triển dài hạn của nền kinh tế sau hàng chục năm chiến tranh vẫn là một thách thức to lớn. Dân cư thất học và thiếu các kỹ năng nghề nghiệp, đặc biệt là ở vùng nông thôn nghèo đói gần như chưa có các điều kiện cần thiết của cơ sở hạ tầng. Sự lo ngại về không ổn định chính trị và tệ nạn tham nhũng trong một bộ phận chính quyền làm chán nản các nhà đầu tư nước ngoài và làm chậm trễ các khoản trợ giúp quốc tế. Chính quyền đang phải giải quyết các vấn đề này với sự hỗ trợ của các tổ chức song phương và đa phương.
Campuchia đã gia nhập tổ chức Tổ chức Thương mại Thế giới từ ngày 13 tháng 10 năm 2004.
Đầu năm 2007, nhiều nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng Thế giới, Đại học Harvard và nhiều tổ chức uy tín khác trên thế giới được công bố: cho rằng Campuchia có trữ lượng có thể lên đến 2 tỉ thùng dầu và 10.000 tỉ mét khối khí đốt.
== Dân cư và ngôn ngữ ==
Campuchia là quốc gia thuần nhất về dân cư với hơn 90% dân số là người Khmer và nói tiếng Khmer, ngôn ngữ chính thức. Số còn lại là người Việt, người Campuchia gốc Hoa, người Chàm và người Thượng sống tập trung ở miền núi phía bắc và đông bắc.
Phật giáo Theravada hay còn gọi là Phật giáo nguyên thủy bị Khmer Đỏ hủy diệt đã được phục hồi là tôn giáo chính thức, với khoảng 95% dân số. Phật giáo Đại thừa Bắc tông chủ yếu tập trung trong cộng đồng người Việt và người Hoa. Hồi giáo và đạo Bà la môn ở các cộng đồng Chăm, Ki-tô giáo chiếm khoảng 2% dân số...
Tiếng Pháp và tiếng Anh được nhiều người Campuchia sử dụng như là ngôn ngữ thứ hai và thông thường là ngôn ngữ phải học trong các trường phổ thông và đại học. Nó cũng được sử dụng thường xuyên trong chính quyền. Một số lớn trí thức mới của Camphuchia được đào tạo tại Việt Nam là một thuận lợi cho quan hệ kính tế, văn hóa ba nước Đông Dương.
Cuộc nội chiến và nạn diệt chủng dưới thời Khmer Đỏ có ảnh hưởng mạnh đến cấu trúc dân số Campuchia. Độ tuổi trung bình là 20.6, với hơn 50% dân cư trẻ hơn 25 tuổi. Tỷ lệ nam/nữ là 0.95, thấp nhất trong số các quốc gia tiểu khu vực sông Mê Kông. Trong số người Campuchia độ tuổi hơn 65, tỷ lệ nữ/nam là 1.6:1.
== Du lịch ==
Vương quốc Campuchia là một trong những địa điểm du lịch mới và hẫp dẫn nhất trên thế giới. Sau hơn 25 năm cô lập, Campuchia mở cửa đón khách du lịch vào những năm đầu của thập niên 90 và lượng khách du lịch tăng lên qua từng năm
Những điểm du lịch hấp dẫn nhất của Vương quốc Campuchia là đền Angkor Wat và những ngôi đền thuộc quần thể Angkor thuộc tỉnh Siem Reap, cũng như các địa điểm văn hoá hẫp dẫn thuộc thủ đô Phnom Penh và những bãi biển thuộc tỉnh Sihanoukville với đầy đủ các dịch vụ cần thiết như khách sạn, nhà hàng, điểm vui chơi giải trí và một số dịch vụ du lịch khác.
Các điểm tham quan khác có thể phải kể đến vùng đồi núi thuộc tỉnh Rattanakiri và tỉnh Mondulkiri, những ngôi đền nằm biệt lập thuộc tỉnh Preah Viherd và Banteay Chhmar và các khu vực kinh tế quan trọng như Battambang, Kep và Kampot là những địa danh mới được khám phá gần đây.
Campuchia là vùng đất của những cái đẹp, các ngôi đền cổ kính thuộc quần thể Angkor, đền Bayon và sự sụp đổ của đế chế Khmer luôn mang dấu ấn của sự trang trọng, hùng vĩ và chiếm vị trí trung tâm trong các kỳ quan thế giới – có thể so sánh với Machu Picchu, Kim tự tháp Ai Cập hay Vạn lý trường thành. Nhưng sự hùng vĩ này lại trái ngược với Cánh đồng chết và bảo tàng diệt chủng Toul Sleng, cũng như trái ngược với những chứng tích lịch sử cận đại của Campuchia, thời gian mà lực lượng Polpot và chế độ cực đoan Khmer Đỏ cai trị cuối những năm 1970, gây nên một trong những tội ác ghê rợn và tàn bạo nhất của thế kỷ 20.
Ngày nay, người Khmer vốn chiếm 95% dân số Campuchia đã tạo ra những ấn tượng sâu đậm cho khách du lịch, họ chính là những người thân thiện và hạnh phúc nhất mà du khách từng gặp. Nụ cười người Khmer có ở khắp nơi, như trong chuyện cổ tích và truyền thống đậm đà bản sắc riêng của dân tộc này. Campuchia vì vậy thật sự là vùng đất của sự tương phản: giữa ánh sáng và bóng tối, giữa những bản hùng ca và những bi kịch, giữa sự quặn đau tuyệt vọng và nguồn cảm hứng tương lai. Dường như đó là một đặc điểm vô song của đất nước Campuchia. Điều đó thúc đẩy bất cứ du khách nào cũng khát khao một lần đặt chân lên mảnh đất này.
Du lịch tại Campuchia tập trung chia làm 5 vùng trọng điểm.
Vùng thủ đô Phnôm Pênh:
Cung điện Hoàng gia Campuchia
Chùa Bạc
Bảo tàng Quốc gia Phnom Penh
Tượng đài Độc lập Phnôm Pênh (Vimean Akareach)
Tượng đài Hữu nghị Việt Nam - Campuchia
Bảo tàng diệt chủng Tuol Sleng
Chùa Wat Phnom
Trung tâm Diệt chủng Choeung Ek
Cố đô OOdong
Phnom Đa/Angkor Borei
Tháp Bà Đen - Prasat Neang Khmau
Tonle Bati/Ta Prohm
Núi Ta Mao và Vườn thú Ta Khmau
Đảo Mekong - làng thủ công Koh Okhna Tey
Siêm Riệp:
Toàn bộ quần thể di tích Angkor
Tonlé Sap
Prasat Preah Vihear
Núi Kulen và sông ngàn Linga
Rattanakhri
Banlung
Stung Treng
Sen Monorom
Thành phố Sihanouk
Kok Kong
Kep
Pailin
Batambang
Poipet
Sisophon
== Nghệ thuật ==
Kiến trúc của Campuchia phần lớn được biết đến nhờ vào những công trình được xây dựng từ thời Khmer cổ đại (khoảng cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ 13). Đạo Phật và tư duy huyền thoại có ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật trang trí các công trình kiến trúc vĩ đại này.
Đặc trưng cơ bản của kiến trúc giai đoạn này là được xây dựng từ vật liệu gỗ, tre nứa hoặc rơm rạ và đá. Nhưng những gì còn lại ngày nay người ta có thể chiêm ngưỡng là các công trình bằng đá tảng như các bức tường thành, đường sá,... và các ngôi đền hoặc các con đường có những bao lơn tạc hình con rắn chín đầu, vươn cao 2–3 m, xòe rộng phủ bóng xuống mặt đường. Còn hình thức chung của các ngôi đền là có đỉnh chóp nhọn, bốn mặt đền được chạm trổ các bức phù điêu miêu tả cuộc sống con người ở thế giới bên kia, hoặc cuộc sống hiện tại của người dân Campuchia bấy giờ, hay cuộc chiến với nước láng giềng vũ nữ dân gian (Ápsara) với thân hành mềm mại, cân đối đang múa khá uyển chuyển, và sự tham gia của cả những con khỉ, con ngựa trong sử thi Ramanaya của Ấn Độ.
Bên cạnh đó, hình thức khắc những ký tự hay con số cũng rất phổ biến ở công trình. Các ngôi đền thường có một cửa còn ở ba phía còn lại của đền cũng có cửa nhưng chỉ là giả, để tạo cảm giác đối xứng cho ngôi đền. Công trình có tiếng nhất ở đây là ngôi đền Bayon với 200 gương mặt của thần Avalokitesvara (một dạng của Quan Âm Bồ Tát).
Chiêm ngưỡng những công trình này, ta không thể không khâm phục sức mạnh phi thường và bàn tay tài ba của những người dân Khmer cổ đại. Kiến trúc của Campuchia cũng có ảnh hưởng lớn đến kiến trúc của Thái Lan và người Chăm của Việt Nam.
== Văn hóa ==
Nền văn hóa Campuchia có lịch sử phong phú đa dạng trải qua nhiều thế kỷ và chịu ảnh hưởng nặng của Ấn Độ. Nền văn hóa Campuchia cũng gây ảnh hưởng mạnh lên Thái Lan, Lào và ngược lại. Trong lịch sử Campuchia, tôn giáo có vai trò lớn trong các hoạt động văn hóa. Trải qua gần 2000 năm, người dân Campuchia đã phát triển một tín ngưỡng Khmer độc đáo với các tín ngưỡng hỗn hợp gồm tín ngưỡng thuyết vật linh bản địa và các tôn giáo Ấn Độ như Phật giáo và Hindu giáo.
=== Ẩm thực ===
Ẩm thực Campuchia, cũng như thói quen ẩm thực của nhiều dân tộc thuộc nền văn minh lúa nước trong khu vực châu Á, cho thấy những đặc điểm riêng biệt. Người dân Campuchia có thói quen ăn gạo tẻ và ăn nhiều cá hơn thịt. Vào các ngày lễ tết, nông thôn cũng như thành thị đều có gói bánh tét, bánh ít. Phần lớn trong mỗi gia đình đều có mắm bồ hóc để ăn quanh năm.
Ẩm thực Campuchia ảnh hưởng phong cách mạnh mẽ của Ấn Độ và Trung Hoa, hầu hết các món ăn có vị lạt, ngọt và béo. Món ăn Ấn Độ tìm thấy hầu hết ở các gia vị được dùng chủ yếu là cay như sa tế, ớt, tiêu, nhục, hồi v.v. Món ăn Trung Hoa được tìm thấy nhiều với vị lạt và khá béo, nhiều dầu mỡ nhất là mang phong cách ẩm thực vùng Tứ Xuyên.
=== Âm nhạc ===
Dàn nhạc ngũ âm và các nhạc cụ truyền thống tạo ra các tác phẩm độc đáo mang đậm phong cách giống Thái Lan và Lào tương tự nhau.
=== Văn học ===
Nổi tiếng nhất là thể loại trường ca Riêm kê là thể loại sáng tác bằng thơ ca dân gian dài hàng vạn câu. Cốt truyện chủ yếu vay mượn từ sử thi Ramayana của Ấn Độ.
== Những ngày lễ chính của Campuchia ==
Người Campuchia cũng giống như các quốc gia khác đều sử dụng Tây lịch. Tuy nhiên, trừ một số ngày lễ của người Khmer, họ sử dụng lịch Campuchia như ngày lễ Tết, lễ nhập điền hay lễ cầu hôn. Lịch Khmer có thể sớm hay muộn hơn lịch Tây tùy vào thời điểm của năm. Dự giao thoa về văn hóa và dân cư khiến cho một số ngày lễ của Campuchia có thêm một số ngày lễ như Tết Việt Nam và Trung Quốc, tết Đoan Ngọ, v.v.
Ngày 7 tháng 1 hàng năm: ngày giải phóng đất nước khỏi chế độ Khmer Đỏ
Ngày cuối tháng 1 hoặc đầu tháng 2: Tết Nguyên Đán của Campuchia
Ngày 13, 14, 15 tháng 4 hàng năm: ngày tết của người Khmer
Ngày 13, 14, 15 tháng 5 hàng năm: sinh nhật nhà vua Sihamoni
Ngày 19 tháng 5 hàng năm: ngày lễ Phật giáo năm 2007 trùng với ngày Quốc tế lao động
Ngày 23 tháng 5 hàng năm: ngày lễ cầu mùa Hoàng Cung
Ngày 18 tháng 6 hàng năm: ngày sinh nhật Hoàng thái hậu Norodom Monineath Sihanouk
Ngày 24 tháng 9 hàng năm: ngày hiến pháp quốc gia
Ngày 28, 29, 30 tháng 09 hàng năm: ngày báo hiếu cha
Ngày 23 tháng 10 hàng năm: ngày ký hiệp định hòa bình Paris
Ngày 29 tháng 10 hàng năm: ngày nhà vua đăng quang
Ngày 31 tháng 10 hàng năm: ngày sinh nhật Thượng hoàng Sihanouk
Ngày 09 tháng 11 hàng năm: ngày Quốc khánh
Ngày 11, 12, 13 tháng 11 hàng năm: ngày lễ hội rước nước, đua thuyền
Ngày 10 tháng 12 hàng năm: ngày lễ nhân quyền
== Giáo dục ==
Tỷ lệ biết chữ ở Campuchia khoảng 73,6% trong đó tỷ lệ nam biết chữ cao hơn nữ và thành thị cao hơn nông thôn.
Trong thời kỳ Khmer đỏ thống trị, giáo dục Campuchia bị tàn phá nặng nề và hiện nay đang từng bước được phục hồi.
== Tôn giáo ==
Phật giáo Nguyên thủy là tôn giáo chính thức của Campuchia, được thực hành bởi hơn 95 phần trăm dân số. Phật giáo là tôn giáo phổ biến và phát triển mạnh mẽ trong tất cả các tỉnh, với ước tính khoảng 4.392 đền thờ tu viện trong cả nước. Phần lớn sắc tộc Khmer theo đạo Phật, và có những hiệp hội gần gũi giữa Phật giáo, truyền thống văn hóa và cuộc sống hàng ngày. Tuân thủ Đạo Phật thường được xem là bản sắc dân tộc và văn hóa của đất nước. Tôn giáo ở Campuchia, trong đó có Phật giáo, đã bị đàn áp bởi chế độ Khmer Đỏ trong thời gian cuối những năm 1970 nhưng kể từ khi chế độ này bị lật đổ, Phật giáo đã hồi sinh trở lại trên đất nước này.
Hồi giáo là tôn giáo của đa số người Chăm và người Mã Lai thiểu số ở Campuchia. Đa số là người Hồi giáo Sunni và tập trung đông ở tỉnh Kampong Cham. Hiện nay có hơn 300.000 người Hồi giáo trong nước.
Một phần trăm dân số Campuchia được xác định là Kitô hữu, trong đó Công giáo Rôma tạo thành nhóm lớn nhất tiếp theo là cộng đồng Tin Lành. Hiện nay có 20.000 người Công giáo tại Campuchia, chiếm 0,15% tổng dân số. Các nhánh Kitô giáo khác bao gồm Baptist, Liên minh Kitô giáo và truyền giáo, Phong trào Giám Lý, Nhân chứng Giê-hô-va, Phong trào Ngũ Tuần, và Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô.
Phật giáo Đại thừa là tôn giáo của đa số người Trung Quốc và Việt Nam tại Campuchia. Các yếu tố của thực hành tôn giáo khác, chẳng hạn như việc tôn kính các anh hùng dân gian và tổ tiên, Khổng giáo và Đạo giáo kết hợp với Phật giáo Trung Quốc cũng được thực hành.
Trước chế độ Khmer Đỏ, có 73.164 tín đồ đạo Cao Đài ở Campuchia trong đó Việt kiều chiếm 64.954 người và số người Campuchia là 8210 người. Hiện nay, chỉ còn khoảng 2.000 tín đồ Cao Đài ở Campuchia tập trung ở thủ đô Phnom Penh với một Thánh thất Cao Đài.
== Dữ liệu chung ==
=== Chính trị ===
=== Kinh tế ===
=== Địa lý và hành chính ===
=== Văn hóa và giáo dục ===
== Xem thêm ==
Các chủ đề về Campuchia
Viễn thông của Campuchia
Ngoại giao của Campuchia
Quân sự của Campuchia
Giao thông tại Campuchia
Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Campuchia
== Chú thích ==
== Tham khảo và Đọc thêm ==
CIA World Factbook – U.S. Department of State website
Elizabeth Becker. 1986, 1998. When the War was Over: Cambodia and the Khmer Rouge. New York: Public Affairs.
Phan Minh Châu - Cùng bạn khám phá thế giới - Đất nước Campuchia - Sách hướng dẫn du lịch
== Liên kết ngoài ==
Cambodia.gov.kh - Trang tin chính của chính phủ Campuchia
BongThom.com - Trang thông tin về ngôn ngữ, ẩm thực, văn hóa, xã hội Campuchia
Artweise.de - Trang tiếng Đức gồm những ảnh về Campuchia |
sốt vàng.txt | Sốt vàng là chứng bệnh sốt gây vàng da do siêu vi trùng thuộc họ Flaviviridae gây ra . Đây là một chứng bệnh sốt xuất huyết quan trọng tại châu Phi và Nam Mỹ mặc dầu hiện nay đã có vắc-xin hiệu nghiệm.
Sốt vàng hay sốt vàng da là bệnh vi rút cấp tính. Trong đa số trường hợp, có các triệu chứng sốt, ớn lạnh, mất cảm giác thèm ăn, nôn, đau bắp cơ đặc biệt ở lưng, và nhức đầu. Triệu chứng thường giảm trong vòng năm ngày. Ở một số người trong vòng một ngày thuyên giảm, sốt tái phát, đau bụng, và tổn thương gan bắt đầu gây vàng da. Nếu tình trang này xảy ra thì nguy cơ chảy máu và bệnh về thận cũng tăng.
== Nguyên nhân và chẩn đoán ==
Bệnh do vi rút sốt vàng gây ra và lây lan qua vết cắn của muỗi cái. Bệnh chỉ có ở người, bộ linh trưởng, và vài loài muỗi. Ở các thành phố, bệnh lan truyền chủ yếu qua muỗi thuộc loàiAedesaegypti. Vi rút này là vi rút ARN thuộc chi Flavivirus. Khó phân biệt được bệnh với bệnh khác, đặc biệt ở giai đoạn đầu. Để xác định ca nghi nhiễm thì cần phải xét nghiệm mẫu máu bằng kỹ thuật phản ứng chuỗi trùng hợp.
== Phòng Ngừa, Điều Trị và Chẩn Đoán ==
Hiện có vắc xin an toàn và hiệu quả phòng chống bệnh sốt vàng và một số nước yêu cầu tiêm chủng cho người đi du lịch. Biện pháp khác phòng ngừa nhiễm bệnh là giảm số muỗi truyền bệnh. Tại những nơi sốt vàng lưu hành và tiêm chủng không rộng rãi thì phát hiện bệnh sớm và chủng ngừa phần lớn người dân là điều quan trọng để ngăn ngừa dịch bệnh. Một khi bị nhiễm bệnh, thì kiểm soát triệu chứng chứ không có biện pháp điều trị đặc hiệu hiệu quả chống vi rút. Đối với người bệnh nặng, khoảng một nửa người không được điều trị bị tử vong.
== Dịch tễ học và lịch sử ==
Mỗi năm, sốt vàng gây 200.000 người bệnh và 30.000 người tử vong, trong đó có 90% trong số này ở châu Phi. Gần một tỷ người sống ở vùng bệnh lưu hành. Bệnh phổ biến ở những vùng nhiệt đới của Nam Mỹ và châu Phi, nhưng không ở châu Á. Từ thập niên 1980, số ca sốt vàng không ngừng tăng. Điều này được cho là do có ít người hơn được chủng ngừa, nhiều người hơn sống tại các thành phố, người ta đi lại thường xuyên, và khí hậu thay đổi. Bệnh bắt nguồn tại châu Phi, từ đó lan sang Nam Mỹ qua buôn bán nô lệ vào thế kỷ 17. Từ thế kỷ 17, có vài đợt bùng phát dịch bệnh lớn xảy ra tại châu Mỹ, châu Phi, và châu Âu. Vào thế kỷ 18 và 19, sốt vàng được xem là một trong những bệnh truyền nhiễmnguy hiểm nhất. Vi rút sốt vàng là vi rút gây bệnh ở người đầu tiên được phát hiện.
Sốt vàng từng gây nhiều trận dịch tàn khốc, giết hại hàng trăm ngàn người. Trong thế kỷ 18, sốt vàng lan tràn tại Ý, Pháp, Tây Ban Nha và Anh quốc. Vào thế kỷ 19, khoảng 300.000 người Tây Ban Nha chết vì sốt vàng. Trong thời kỳ cách mạng Haiti năm 1802 gần nửa đội quân Pháp bị sốt vàng chết. Sốt vàng tiếp tục gây tử vong khắp nơi cho đến thế kỷ 20 khi khoa học khám phá ra bệnh lây do muỗi đốt và nghiên cứu được phương cách phòng chống bằng vắc-xin.
Cuộc tìm kiếm vắc-xin ngừa sốt vàng tốn rất nhiều công sức và hy sinh của nhiều người, trong đó có bác sĩ Cuba Carlos Finlay và bác sĩ Mỹ Walter Reed. Tuy vậy hiện nay vẫn còn nhiều nước chậm tiến chưa được chủng ngừa. Tổ chức Y tế thế giới ước lượng trong năm 2001 200.000 người bị sốt vàng và 30.000 tử vong.
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Flavivirus tại Wikispecies
Phương tiện liên quan tới Flavivirus tại Wikimedia Commons |
tiền việt nam.txt | Tiền Việt Nam được phát hành lần đầu vào giữa thế kỷ 10, thời kỳ nhà nước Đại Cồ Việt dưới sự trị vì của Đinh Bộ Lĩnh. Thời phong kiến, gần như mỗi đời vua lại cho phát hành loại tiền mới. Nhiều khi, mỗi lần thay đổi niên hiệu, vua lại cho phát hành loại tiền mới. Suốt một thời gian dài, tiền kim loại là thứ tiền duy nhất và mô phỏng theo tiền kim loại của các triều đình Trung Quốc. Tiền giấy xuất hiện ở Việt Nam khá sớm so với thế giới, vào năm 1396
Nhiều đồng tiền cổ được một số tư liệu cho là có, nhưng chưa được khảo cổ học kiểm chứng. Một số khác sử liệu không hề nhắc đến, nhưng khảo cổ học lại phát hiện ra và sau đó được các nhà sử học xác minh thêm. Sử liệu cho thấy trong một số đời vua, trong một số niên hiệu, và một số thủ lĩnh tự xưng vua có phát hành tiền, nhưng không nói rõ tiền gì trong khi khảo cổ học cũng không tìm ra tiền nào cho các thời đó. Désiré Lacroix trong "Tiền cổ học An Nam, với sưu tập 40 hình vẽ" công bố năm 1900 nhắc đến một số đồng tiền cổ của Việt Nam và còn miêu tả hình thù, nhưng không đưa ra tài liệu lịch sử hay bằng chứng khảo cổ nào hỗ trợ.
== Khái quát về tiền cổ ==
=== Hình thức tiền cổ ===
Mặt trước
Ngoại trừ tiền giấy phát hành dưới thời Hồ Quý Ly, tiền cổ của Việt Nam đều được đúc bằng kim loại dạng hình tròn với lỗ vuông ở chính giữa.
Mặt chính của đồng tiền có các chữ Hán mà ít nhất có hai chữ (vị trí 1 và 2) thường là niên hiệu của nhà vua và hai chữ sau (vị trí 3 và 4) dùng để chỉ loại tiền. Cũng có thể có loại tiền không có hai chữ này. Vị trí của bốn chữ đôi khi viết theo chiều thuận của kim đồng hồ và đôi khi viết theo kiểu chéo (Xem phần: "Tên gọi tiền cổ" bên dưới).
Mặt trước của đồng tiền, viền tròn của rìa tiền và viền vuông của lỗ tiền thường được viền nổi để giảm bớt sự hao mòn của chữ đúc và việc mài dũa mặt tiền để lấy bớt chất đồng của kẻ gian.
Mặt sau
Mặt sau của tiền thường không có chữ, tuy nhiên một số nhỏ có chữ để chỉ một trong các ý nghĩa sau:
Triều đại nhà vua, như chữ Ðinh của tiền Thái Bình hưng bảo, chữ Lê của tiền Thiên Phúc Trấn Bảo của nhà Tiền Lê, chữ Trần của tiền Thiệu Phong thông bảo của vua Trần Dụ Tông.
hoặc năm phát hành của tiền, như Nhâm Tuất của tiền Cảnh Hưng Thông Bảo để chỉ tiền đúc trong năm Nhâm Tuất 1742, như chữ Tỵ của tiền Vĩnh Thịnh Thông Bảo để chỉ năm đúc Qúy Tỵ 1713.
hoặc lòng yêu qúy của vua như chữ Càn Vương, để chỉ Càn Vương Lý Nhật Trung là con vua Lý Thái Tông, trên tiền Thiên Cảm Thông Bảo của Lý Thái Tông.
hoặc nơi đúc đồng tiền như Hà Nội hoặc Sơn Tây trên tiền Tự Ðức Thông bảo, như chữ Công cho Bộ Công - một trong 6 Bộ - trên tiền Quang Trung Thông Bảo
hoặc một chữ có ý nghĩa tốt đẹp như chữ Chính, để chỉ đến chính pháp công bằng, trên tiền Quang Trung Thông Bảo
hoặc mang những ký hiệu đặc biệt đánh dấu đợt tiền đúc, như 4 hình cong úp vào hay vểnh ra từ lỗ vuông của tiền Quang Trung Thông Bảo, như 1 dấu chấm và 1 dấu hình cong tượng trưng cho 2 chữ Nhật Nguyệt, tức chữ Minh, để tưởng nhớ nhà Minh, trên tiền Thái Bình Thông Bảo do Mạc Thiên Tứ đúc ở Hà Tiên
hoặc ghi trọng lượng của tiền như chữ Thất Phân trên tiền Gia Long Thông Bảo
hoặc ghi trị giá ấn định của tiền như chữ Lục Văn trên tiền Tự Ðức Thông Bảo.
Kích thước và trọng lượng
Các đồng tiền cổ có đường kính trung bình từ 22mm- 24mm, những đồng lớn có đường kính 25 - 26mm (như tiền Thành Thái thông bảo) và những đồng nhỏ 18 - 20mm (như đồng Bảo Ðại thông bảo).
Kích thước của lỗ vuông trung bình vào khoảng 5 mm, nhưng cũng có những đồng tiền có lỗ vuông to đến 7 mm như trường hợp tiền ngoại thương Trường Kỳ tiêu dùng ở Hội An vào thế kỷ 17. Chiều dày của tiền cổ thường vào khoảng 0,5mm, ngoại lệ tiền Ðoan Khánh thông bảo của Lê Uy Mục dày đến 1 mm.
Ðường kính và bề dày là hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến trọng lượng của đồng tiền. Những đồng tiền có kích thước và trọng lượng cân đối vừa đủ, không quá dày nặng sẽ dễ dàng trong việc tiêu dùng. Tiền quá nhẹ mỏng thì dễ gãy vỡ. Với kích thước trung bình như trên, trọng lượng khoảng 3,5 - 4 gram là vừa phải. Tiền Ðoan Khánh Thông Bảo của Lê Uy Mục được coi là ngoại cỡ so với các đồng tiền khác, vừa dày vừa to, có đồng nặng đến 6,2 gram.
=== Tên gọi tiền cổ ===
Hai chữ ở vị trí 1 và 2 trên đồng tiền thường là niên hiệu của vị vua cho đúc tiền. Hai chữ này do đó thường phản ánh thời gian tiền được đúc.
Các chữ thứ 3 và thứ 4 trên đồng tiền có ý nghĩa, nguồn gốc khác nhau, trong đó có những chữ noi theo cách gọi của tiền cổ do các triều đại Trung Quốc phát hành; hoặc do hoàn cảnh, sự kiện lịch sử đương thời; hoặc đơn giản chỉ là hàm ý nhấn mạnh giá trị đồng tiền:
Thông bảo 通寶 là chữ thường thấy nhất trên các đồng tiền, nghĩa là đồng tiền lưu hành thông dụng. Hai chữ này xuất hiện đầu tiên trong tiền Khai Nguyên Thông Bảo do Đường Cao Tổ của Trung Quốc đúc năm 621 .
Nguyên bảo 元寶: tiền mới đầu tiên
Đại bảo 大寶: tiền có giá trị lớn
Ngoài những chữ trên hay được dùng, còn có những chữ khác đúc trên tiền cổ là:
Vĩnh bảo 永寶: tiền lưu thông mãi mãi
Chí bảo 至寶: tiền cao quý nhất. Đồng tiền đầu tiên dùng hai chữ "chí bảo" là tiền Gia Định Chí Bảo của Tống Ninh Tông (1208-1224).
Chính bảo 正寶: tiền chính thống. Đồng tiền đầu tiên dùng hai chữ "chính bảo" là tiền Gia Định Chính Bảo của Tống Ninh Tông (1208-1224).
Cự bảo 巨寶: tiền có giá trị to
Trọng Bảo 重寶: Đồng tiền trọng yếu. Đồng tiền đầu tiên dùng hai chữ "trọng bảo" là tiền Càn Nguyên Trọng Bảo của Đường Túc Tông (758-759).
Thuận Bảo 順寶: tiền của vua Lê Hiển Tông, kỷ niệm dịp chiếm đóng Thuận Hóa và lấy súng đồng của chúa Nguyễn ở Thuận Hoá mà đúc thành tiền...
vv...
=== Đơn vị và mệnh giá ===
Đơn vị đếm
Tiền kim loại cổ của Việt Nam cũng giống như tiền kim loại của Trung Quốc đương thời có hình tròn có lỗ ở giữa để xỏ dây qua. Tiền kim loại khi dùng đơn độc thì gọi là văn (文). Khi cần dùng nhiều văn thì người ta thường luồn một sợi dây (gọi là "cưỡng" 繦, "mân" 緡, "quán" 貫) qua cái lỗ trên văn tạo thành dây tiền. "Cưỡng", "mân", "quán" được dẫn thân làm đơn vị tính toán tiền. Số văn tương ứng với "cưỡng", "mân", "quán" giữa các triều đại là không giống nhau. "Bách" 陌 là dạng viết đại tả của chữ "bách" 百 có nghĩa là một trăm ban đầu được dùng để chỉ 100 văn nhưng về sau thì một bách không nhất định là bằng 100 văn.
Năm Kiến Trung (建中) thứ 2 (Tây lịch năm 1266) vua Trần Thái Tông (陳太宗) hạ chiếu cho dân gian dùng "sảnh bách" (省陌), mỗi bách là 69 văn. Tiền nộp cho nhà nước (上供錢 thượng cung tiền) thì mỗi bách là 70 văn.
Ðời nhà Nguyên, người Việt mua bán ở biên giới Trung Quốc thì dùng đơn vị 1 mân bằng 67 văn.
Năm Thuận Thiên nguyên niên (順天元年, Tây lịch năm 1428), triều Lê cho đúc tiền Thuận Thiên thông bảo (順天通寶), quy định 50 văn là một bách.
Năm Thiệu Bình (紹平) thứ 6 (Tây lịch năm 1439), Lê Thái Tông (黎太宗) hạ chiếu quy định 60 văn là một bách.
Thời Nam Bắc triều, chiến tranh đã khiến đồng tiền được đúc nhỏ dần so với những đồng tiền cổ đời trước. Tiền nhỏ bấy giờ gọi là sử tiền (使錢) biệt xưng là "tiền nhàn" (閒錢 nhàn tiền), còn tiền cổ to gọi là cổ tiền (古錢), biệt xưng là "tiền quý" (貴錢 quý tiền). Mỗi bách sử tiền là 36 văn, mỗi bách cổ tiền là 60 văn. Mười bách là một quán (貫). Một quán sử tiền (10 bách sử tiền) bằng 6 bách cổ tiền, tức là bằng 360 văn. Một quán cổ tiền (10 bách cổ tiền) bằng 1 quán 6 bách 24 văn sử tiền, tức là bằng 600 văn.
Ðơn vị tiền tệ ở Đại Việt thay đổi khi tiền kẽm bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ 18 bởi nhiều lý do Một văn tiền đồng ăn 3 văn tiền kẽm.
Khi vua Gia Long thành lập nhà Nguyễn, đã cho đúc cả hai thứ tiền đồng và tiền kẽm. Giá trị tiền kẽm lúc ban đầu không khác biệt tiền đồng, nhưng dần dần tiền đồng ăn 2 tiền kẽm, rồi 3, rồi 6, cho đến đời vua Thành Thái, tiền Thành Thái Thông Bảo Thập Văn ăn ngang 10 tiền kẽm..
Hiện nay các đơn vị hoá tệ này thường bị gọi bằng các đơn vị hoá tệ thông dụng ở Việt Nam thời cận hiện đại, cụ thể "văn" bị gọi là "đồng", "bách" gọi là "tiền", "cưỡng", "mân", "quán" gọi là "quan" (biến âm của "quán" 貫).
Từ thời Pháp thuộc, ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện các đơn vị đếm là hào (毫), xu (sou), trinh, cắc (đọc chệch âm chữ "giác" 角), đồng [biến chữ "đồng" trong "đồng tiền" 銅錢 (tiền làm bằng đồng) từ tên gọi của một thứ kim loài trở thành lượng từ dùng để đo đếm tiền nong]. Tiền Việt Nam kể từ sau khi đất nước giành độc lập có các đơn vị đếm là đồng, hào và xu. Một đồng bằng mười hào. Một hào bằng mười xu. Hiện nay, tiền giấy và tiền kim loại chỉ được phát hành với một đơn vị đếm duy nhất là đồng.
Mệnh giá
Tiền cổ thường chỉ có một mệnh giá, đó là 1 văn. Một bách là một xâu tiền 1 văn. Và một mân thường là mười xâu một bách. Tiền giấy do nhà Hồ có nhiều mệnh giá khác nhau. Mệnh giá nhỏ nhất là 10 văn. Mệnh giá lớn nhất là 1 văn. Tiền kim loại từ thời nhà Nguyễn cũng bắt đầu có các mệnh giá khác nhau. Tiền Việt Nam hiện nay còn lưu hành loại có mệnh giá thấp nhất là 200 đồng, loại có mệnh giá cao nhất là 500.000 đồng (tiền polymer).
=== Chất liệu ===
Tiền cổ Việt Nam có nhiều loại:
Đồng tiền (銅錢, có nghĩa là tiền đồng): là kim loại thông dụng nhất dùng đúc hầu hết tiền cổ của Việt Nam. Ðây là một hợp kim của đồng gồm thêm kền, sắt, thiếc mà thành phần rất thay đổi bởi kỹ thuật luyện kim thời xa xưa chưa được tiêu chuẩn hóa. Tác giả Tạ Chí Ðại Trường đã trích dẫn một bảng kết quả phân tích thành phần hóa học của tiền Trị Bình Nguyên Bảo gồm 63,6% đồng, 21% chì, 0,14% thiếc và 0,27% sắt. Ðến thời nhà Nguyễn, nhờ kiến thức phát triển hơn, đồng dùng đúc tiền chỉ gồm đồng và kẽm theo tỷ lệ 6/4, 7/3 hay 8/2.
Tiền đúc bằng kẽm: kẽm là kim loại thông dụng thứ nhì sau đồng được dùng để đúc tiền, nhất là từ thế kỷ 17 trở về sau. Như hợp kim đúc tiền đồng, người ta sử dụng những tạp chất có thành phần kẽm khá cao, gọi chung là ô diên mà đúc tiền. Lacroix Désiré dẫn từ Agenda du chimiste của Ad Wurtz cho thấy thứ kẽm tạp này chứa 55% đồng, 23% kền, 17% kẽm, 3% sắt và 2% thiếc. Tương tự tiền đồng, triều đình nhà Nguyễn cũng biết tinh luyện kẽm hoặc mua kẽm nguyên chất từ nước ngoài mà đúc tiền.
Duyên tiền (鉛錢, tiền đúc bằng chì): chì là kim loại mềm được pha thêm kim loại khác để có một hợp kim đúc tiền chì. Loại tiền có lượng chì cao khá mềm, đặt nhẹ giữa hai ngón tay, ấn nhẹ là đồng tiền có thể bị bẻ cong. Hiện nay, hơn 400 mẫu tiền chì Việt Nam đã được nhận diện nhưng nguồn gốc của thứ tiền này vẫn còn là một nghi vấn chưa được giải đáp thỏa đáng.
Thiết tiền (鐵錢, tiền sắt): Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, khi Mạc Đăng Dung lấy ngôi vua của nhà Hậu Lê, sử thần cho rằng nhà Mạc không được lòng trời nên đúc tiền đồng không thành mà phải đúc tiền sắt để tiêu dùng. Ðó là lần đầu tiên tiền sắt được nhắc đến. Tuy vậy, di chỉ khảo cổ hiện đại cho thấy không có tiền sắt Minh Ðức Thông Bảo của nhà Mạc, mà chỉ thấy tiền đồng. Và trong tiền cổ Việt Nam có một số mẫu tiền đồng nhưng lại rỉ sét đỏ khá bất thường của sắt, nhất là tiền Hồng Ðức Thông Bảo và Minh Ðức Thông Bảo. Các nhà nghiên cứu đặt giả thiết, có thể vào lúc đó, hợp kim đồng có chứa nhiều sắt hơn lúc bình thường được sử dụng, vì ngẫu nhiên hoặc vì cho dễ đúc, chứ không có loại tiền sắt.
Tiền đúc bằng vàng: Thường là tiền dùng để ban thưởng của vua
Ngân tiền (銀錢, tiền bạc): Thường là tiền dùng để ban thưởng của vua
Sáo (鈔, tiền giấy): của nhà Hồ phát hành
== Tiền cổ các triều đại Việt Nam ==
=== Tiền đồng đầu tiên của người Việt ===
[[Tập|nhỏ|phải|Đồng Thái Bình hưng bảo dưới thời Đinh Tiên Hoàng]] Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân xưng hoàng đế. Từ năm 970, Vua đặt niên hiệu Thái Bình, Việt Nam mới có đồng tiền đúc đầu tiên mang niên hiệu của vị hoàng đế nước mình là tiền Thái Bình hưng bảo. (Theo nhà biên khảo Phạm Thăng thì tiền đúc bằng đồng đầu tiên của người Việt là dưới triều nhà Tiền Lý. Vua Lý Nam Đế cho đúc đồng Thiên Đức thông bảo năm 541 nhưng đến năm 602 thì triều đại này kết thúc và loại tiền này cũng thất truyền nên ta không có mẫu nào để căn cứ hình dạng.. Đời nhà Tống bên Tàu năm 944 cũng cho phát hành đồng Thiên Đức thông bảo nên dễ ngộ nhận đồng Thiên đức thế kỷ thứ 10 của vua Tàu và đồng Thiên đức thế kỷ thứ sáu của vua Việt.)
Khi lên làm vua, Đinh Tiên Hoàng đặt niên hiệu là Thái Bình và cho đúc tiền Thái Bình hưng bảo bằng đồng. Đây là tiền duy nhất được phát hành trong thời nhà Đinh, vì cho dù sau này có sự thay đổi ngôi vua trong họ Đinh nhưng không có sự thay đổi niên hiệu. Hiện các nhà sử học và khảo cổ học chưa được xác định chính xác thời điểm xuất hiện tiền này.
Khảo cổ học cho thấy Thái Bình hưng bảo có ba loạt khác nhau. Cả ba loạt đều có lỗ hình vuông ở giữa và có đường kính không đều nhưng bình quân khoảng 22 mm. Cả ba loạt đều có mặt trước ghi chữ Thái Bình hưng bảo bằng chữ Hán. Có một loạt thay vì chữ Thái lại là chữ Đại. Hiện chưa rõ: do lâu ngày đồng tiền đó bị hỏng nên mất một chấm, hay đó thực sự là chữ Đại nhưng được đọc là Thái. Về mặt sau, thường có chữ Đinh (họ của vua) đúc nổi; nhưng có một loạt không có chữ gì.
Sử liệu cũ của Việt Nam không đề cập đến việc nhà Đinh có đúc tiền. Tuy nhiên, sử liệu cũ của Trung Quốc thì có nhắc đến và dựa vào đó Bành Tín Uy viết rằng năm 970 Đinh Bộ Lĩnh ở Việt Nam đúc tiền Thái Bình hưng bảo. Theo Đỗ Văn Ninh, việc sử liệu cũ của Việt Nam không nhắc đến việc này có thể là do nền kinh tế tiền tệ thời nhà Đinh còn mới manh nha, tiền không thực sử được sử dụng nhiều, trao đổi hàng hóa là chính, lương bổng và thuế má đều bằng hiện vật.
=== Tiền nhà Tiền Lê ===
Nhà Tiền Lê khởi đầu từ Lê Hoàn. Khi cai trị, Lê Hoàn đã dùng ba niên hiệu, song chỉ đúc duy nhất tiền Thiên Phúc trấn bảo, lấy tên theo niên hiệu đầu tiên. Các vua tiền Lê sau không cho đúc tiền.
Sử liệu cũ của Việt Nam là Đại Việt sử ký toàn thư và Việt sử thông giám cương mục đều có nhắc đến việc tiền Thiên Phúc được đúc từ mùa xuân năm 984. Điều này cho thấy: thứ nhất, bốn năm đầu khi lên làm vua nhà Lê vẫn dùng tiền do nhà Đinh phát hành; thứ hai, tiền đã được sử dụng nhiều hơn.
Khảo cổ học cho thấy Thiên Phúc trấn bảo có ba loạt đều có hình thù giống tiền của nhà Đinh. Một loạt mặt trước có bốn chữ Thiên Phúc trấn bảo và mặt sau có chữ Lê (họ của vua), một loạt mặt trước giống như loạt trên nhưng mặt sau lại không có chữ gì, và một loạt nữa mặt sau có chữ Lê nhưng mặt trước lại không có chữ gì. Theo Đỗ Văn Ninh, sở dĩ có sự khác nhau như vậy có thể là vì trong quá trình đúc tiền, xưởng đúc đã ráp nhầm hai mặt của các khuôn đúc.
=== Tiền nhà Lý ===
Thuận Thiên đại bảo (1010-1028)
Đây là tiền kim loại được giới nghiên cứu tiền cổ ở Việt Nam cho là của Lý Thái Tổ vì ông vua này có một niên hiệu là Thuận Thiên. Bên Trung Quốc có Sử Tư Minh khi làm vua cũng có niên hiệu Thuận Thiên, nhưng ông này cho đúc tiền Thuận Thiên nguyên bảo đương bách. Sau này, Lê Thái Tổ cũng lấy niên hiệu Thuận Thiên, nhưng tiền đúc ra gọi là Thuận Thiên thông bảo hoặc Thuận Thiên nguyên bảo.
Đại Việt sử ký toàn thư cho thấy tiền đã được sử dụng và phát hành nhiều trong thời Lý Thái Tổ. Cả lương bổng lẫn tô thuế đều có thể trả bằng tiền.
Càn Phù nguyên bảo (1039-1041)
Sử liệu cũ của Việt Nam và kết quả khảo cổ đều không cho thấy có loại tiền này. Song, Lacroix và các tác giả Lịch sử phong kiến Việt Nam (tập I) đều cho là có và cũng do Lý Thái Tông phát hành.
Như vậy theo một số tài liệu, Việt Nam vào thời vua Lý Thái Tông đã đúc hai loại Minh Đạo thông bảo và Càn Phù nguyên bảo. Song, khảo cổ học Việt Nam chưa cho thấy cả hai loại tiền này.
Minh Đạo thông bảo (1042-1043)
Tương truyền là do Lý Thái Tông cho phát hành. Sử liệu Lịch triều hiến chương loại chí có ghi rằng vua Lý Thái Tông cho đúc tiền Minh Đạo, nhưng không ghi rõ có phải là Minh Đạo thông bảo hay không.
Thiên Phù nguyên bảo (1120-1127)
Được cho là do Lý Nhân Tông phát hành vì ông có hai niên hiệu có chữ Thiên Phù trong đó. Sử liệu cũ của Việt Nam không nhắc đến tiền này. Nhưng khảo cổ học cho thấy có tiền Thiên Phù thông bảo với đường kính chừng 20 mm với mặt trước có bốn chữ Thiên Phù nguyên bảo đọc theo vòng tròn, mặt sau để trơn, có lỗ, không có gờ. Đỗ Văn Ninh cho rằng kích thước đồng tiền này nhỏ hơn so với các đồng tiền thời trước là vì thời Lý Nhân Tông trị vì có nhiều chiến tranh, nên giành được ít đồng hơn cho việc đúc tiền.
Thiên Thuận thông bảo (1128-1132)
Đại Định thông bảo (1140-1162)
Thiên Cảm thông bảo (1174-1175)
Lacroix có nhắc đến tiền này và còn công bố hình thù đồng tiền. Ông cho rằng đây là tiền do Lý Anh Tông phát hành vì vua này có một niên hiệu trong đó có chữ Thiên Cảm. Tiền có gờ và mép rõ ràng. Khảo cổ học Việt Nam chưa tìm ra loại tiền này. Các vua Trung Quốc không có ai có niên hiệu có chữ Thiên Cảm.
Thiên Tư thông bảo (1186-1201)
Không thấy chính sử đề cập đến đồng tiền này. Lacroix đã từng công bố một mẫu tiền mà mặt trước có bốn chữ Thiên tư thông bảo, mặt sau để trơn. Lý Cao Tông có một niên hiệu trong đó có chữ Thiên Tư. Các vua Trung Quốc không ai có niên hiệu có chữ này.
Trị Bình thông bảo (1205-1210)
Trị Bình nguyên bảo (1205-1210)
=== Tiền nhà Trần ===
Nguyên Phong thông bảo (1251-1258)
Khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện ra tiền kim loại Nguyên Phong. Nhưng bên Trung Quốc cũng có loại tiền này, nên hiện chưa kết luận được thứ tìm thấy ở Việt Nam là do nước nào đúc. Nguyên Phong là niên hiệu thứ ba của vua Trần Thái Tông. Vào hai thời có niên hiệu trước, vua cũng cho phát hành tiền, nhưng sử liệu không nói và khảo cổ học không cho biết đó là tiền tên gì.
Khai Thái nguyên bảo (1324-1329)
Đỗ Văn Ninh có cho biết rằng Trần Huy Bá đã thấy tiền này ở Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam năm 1960. Khai Thái là một niên hiệu của Trần Minh Tông. Các vua Trung Quốc không có niên hiệu nào như vậy.
Thiệu Phong bình bảo, Thiệu Phong nguyên bảo (1341-1357)
Sử liệu không ghi nhưng khảo cổ học Việt Nam lại phát hiện ra thứ tiền kim loại này và cho là do Trần Dụ Tông phát hành. Tiền có lỗ ở giữa và có gờ và mép không rõ. Mặt trước tiền ghi bốn chữ Thiệu Phong thông bảo. Mặt sau để trơn. Tiền nhỏ, mỏng, đường kính 21 mm.
Khảo cổ học còn tìm ra tiền Thiệu Phong thông bảo, hình thù như Thiệu Phong bình bảo và mặt sau cũng để trơn.
Đỗ Văn Ninh cho biết Trần Văn Bá đã thấy tiền Thiệu Phong nguyên bảo đường kính tới 40 mm và mặt sau có chữ Thập tam ở Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam vào năm 1960.
Đại Trị thông bảo (1358-1369)
Cũng là tiền do Trần Dụ Tông phát hành. Đại Việt sử ký toàn thư có cho biết rằng vào năm 1360 đã đúc tiền này. Khảo cổ học cho biết tiền này có kích thước lớn hơn tiền Thiệu Phong một chút.
=== Tiền nhà Hồ ===
Tiền giấy Thông Bảo hội sao (會鈔)
Năm 1396, 4 năm trước khi nhà Hồ thay thế nhà Trần làm vua Việt Nam, tiền giấy mang tên Thông Bảo hội sao được phát hành. Lúc đó đang là niên hiệu Quang Thái của vua Trần Thuận Tông, nhưng việc ban bố các chủ trương chính sách quan trọng của đất nước lại do Hồ Quý Ly nắm. Chủ trương phát hành tiền giấy này chính là của Hồ Quý Ly. Mục đích của ông là dùng tiền giấy để thay thế tiền kim loại, qua đó thu hồi kim loại về kho triều đình. Nhiều ý kiến thống nhất rằng, sự ra đời tiền giấy Thông Bảo hội sao không phản ánh trình độ phát triển của kinh tế tiền tệ ở Việt Nam đương thời.
Khảo cổ học Việt Nam chưa phát hiện ra di vật tiền giấy Thông Bảo hội sao, nhưng Đại Việt sử ký toàn thư nhắc đến rõ ràng đến tên loại tiền này.
Tiền Thông Bảo hội sao có bảy mệnh giá khác nhau, đó là: 10 văn (十文 thập văn), 30 văn (三十文 tam thập văn), 1 bách (一陌 nhất bách), 2 bách (二陌 nhị bách), 3 bách (三陌 tam bách), 5 tiền (五陌 ngũ bách), 1 mân (一緡 nhất mân). Không thấy Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại tỷ lệ giữa các đơn vị văn, bách và mân của tiền Thông Bảo hội sao thế nào. Tiền kim loại đang lưu hành phải được đem đến đổi lấy tiền giấy theo tỷ lệ 1 cưỡng (繦, chưa rõ là bao nhiêu văn) đổi lấy 1 mân 2 bách tiền giấy.
Về hình thức, không rõ kích thước, hình dáng, màu sắc ra sao. Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi sơ lược rằng tiền mệnh giá 10 văn có vẽ hình rong, mệnh giá 30 văn có vẽ hình sóng, mệnh giá 1 bách có vẽ mây, 2 bách có vẽ rùa, 3 bách có vẽ lân, 5 bách có vẽ phượng, và 1 mân có vẽ rồng.
Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi lại rằng tiền Thông Bảo hội sao không được nhân dân ưa dùng, chẳng qua vì luật quy định mà phải sử dụng.
Thánh Nguyên thông bảo (1400-1401)
Thời nhà Hồ, tuy phát hành tiền giấy Thông bảo hội sao và đổi thu hồi tiền kim loại về, song có thể Hồ Quý Ly cũng cho phát hành một lượng nhất định tiền kim loại mang niên hiệu Thánh Nguyên (1400-1401) của mình. Khảo cổ học đã phát hiện được ở Việt Nam nhiều đồng tiền kim loại Thánh Nguyên thông. Theo Đỗ Văn Ninh, trong các vua Trung Quốc và Việt Nam, chỉ có Hồ Quý Ly có niên hiệu Thánh Nguyên.
Tiền kim loại Thánh Nguyên thông bảo có hình tròn, lỗ vuông, kích thước nhỏ (đường kính từ 19 đến 20 mm), mỏng. Mặt trước có bốn chữ Thánh Nguyên thông bảo đọc chéo từ trên xuống và từ phải qua trái, gờ viền mép và lỗ rõ ràng. Nhưng mặt sau lại để trơn và không có gờ và viền mép hay lỗ.
Một trong các mục đích phát hành tiền kim loại Thánh Nguyên thông bảo là để quảng bá niên hiệu Thánh Nguyên của vua mới.
=== Tiền nhà Hậu Lê ===
Thuận Thiên thông bảo (1428-1433), Thuận Thiên nguyên bảo
Sau khi đánh bại hoàn toàn quân Minh xâm lược, chẳng cần đợi nhà Minh công nhận, ngày 15 tháng 4 năm 1428, Lê Lợi xưng vua và lấy niên hiệu là Thuận Thiên; một tháng sau thì cho đúc tiền kim loại Thuận Thiên thông bảo bằng đồng mà không tiếp tục chính sách sử dụng tiền giấy của nhà Hồ. Đó là theo Đại Việt sử ký toàn thư. Còn theo phát hiện của khảo cổ học, thì tên tiền kim loại đó có lẽ là Thuận Thiên nguyên bảo. Hiện các nhà nghiên cứu còn chưa có kết luận được là sử chép sai "nguyên" thành "thông" hay Lê Lợi cho đúc hai loại nhưng hiện mới chỉ phát hiện di chỉ loại Thuận Thiên nguyên bảo.
Thuận Thiên nguyên bảo có kích thước to hơn, dày hơn và được đánh giá là đẹp hơn các đồng tiền kim loại của các thời trước ở Việt Nam. Đường kính tiền là 25 mm, dày dặn. Mặt trước đúc nổi bốn chữ Hán là Thuận Thiên nguyên bảo với nét viết chân phương. Mặt sau không có chữ hay hình gì, viền mép và gờ viền lỗ rõ ràng và đều đặn.
Thuận Thiên thông bảo có ba đơn vị đếm là đồng, tiền và quan. Đại Việt sử ký toàn thư cho biết 1 tiền bằng 50 đồng.
Thiệu Bình thông bảo (1434-1439)
Đây là tiền kim loại do Lê Thái Tông cho đúc khi lên ngôi năm 1434 và đặt niên hiệu là Thiệu Bình (1434-1439). Về kiểu dáng, Thiệu Bình thông bảo căn bản giống Thuận Thiên nguyên bảo. Ban đầu, 1 tiền bằng 50 đồng như theo quy định của đời vua trước, nhưng từ năm 1439 thì định lại 1 tiền bằng 60 đồng.
Đại Bình thông bảo
Sử không nhắc đến tiền này, nhưng Lacroix công bố mẫu của nó và do vua Việt Nam và vua Trung Quốc không còn ai đặt niên hiệu là Đại Bình nữa, nên Đỗ Văn Ninh cho rằng đó là tiền do Lê Thái Tông cho đúc và đặt tên theo niên hiệu thứ hai của ông, Đại Bình (1440-1442). Như vậy, dưới triều vua Lê Thái Tông của Việt Nam đã lần lượt có hai tiền kim loại là Thiệu Bình thông bảo và Đại Bình thông bảo.
Thái Hòa thông bảo
Đây là tiền kim loại do Lê Nhân Tông cho đúc và đặt tên theo niên hiệu Thái Hòa (1443-1453) của mình. Kiểu dáng và kích thước tiền này giống tiền của các vua Lê đời trước. Tuy nhiên, Lacroix đã công bố một mẫu tiền Thái Hòa thông bảo có kích thước nhỏ và lưng tiền không có gờ viền. Ngoài ra, ông này còn công bố một mẫu tiền ghi là Đại Hòa thông bảo. Đỗ Văn Ninh cho rằng có thể viết là Đại song vẫn đọc là Thái.
Diên Ninh thông bảo
Tiền kim loại bằng đồng do Lê Nhân Tông cho đúc khi đổi niên hiệu thành Diên Ninh. Tiền này được khảo cổ học phát hiện nhiều. Kiểu dáng và kích thước to đẹp giống như tiền của các đời vua Lê trước.
Thiên Hưng thông bảo
Tiền kim loại do Lê Nghi Dân cho đúc và đặt tên theo niên hiệu Thiên Hưng của mình. Sử không nhắc đến việc ông vua này cho đúc tiền, song Lacroix có phát hiện và công bố. Lê Nghi Dân ở ngôi một năm, nên Thiên Hưng thông bảo có thể cũng chỉ được lưu hành không quá một năm.
Quang Thuận thông bảo
Là tiền do Lê Thánh Tông cho đúc. Di chỉ tiền này được phát hiện khá nhiều. Quang Thuận thông bảo được Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí khen là đẹp vào loại nhất trong các tiền kim loại Việt Nam mà ông biết. Không rõ tiền được bắt đầu phát hành từ năm nào, song niên hiệu Quang Thuận của Lê Thánh Tông bắt đầu từ năm 1460, kết thúc vào năm 1469.
Hồng Đức thông bảo
Cũng là tiền do Lê Thánh Tông phát hành từ năm 1470 đến năm 1497 theo niên hiệu thứ hai của mình.
Cảnh Thống thông bảo
Cảnh Thống là niên hiệu duy nhất của Lê Hiến Tông kéo dài khoảng 6 năm. Sử không ghi về việc ông vua này cho đúc tiền, song khảo cổ học tìm ra nhiều di chỉ tiền Cảnh Thống thông bảo. Về kiểu dáng thì giống tiền của các vua Lê đời trước, song trọng lượng thì lớn hơn.
Đoan Khánh thông bảo
Đoan Khánh thông bảo là tiền kim loại do Lê Uy Mục cho đúc. Niên hiệu Đoan Khánh của ông vua này kéo dài từ năm 1505 đến năm 1509.
Hồng Thuận thông bảo
Đây là tiền kim loại do Lê Tương Dực (ở ngôi từ năm 1509 đến năm 1516 có một niên hiệu duy nhất là Hồng Thuận). Kích thước và kiểu dáng như các tiền trước đây của nhà Lê.
Quang Thiệu thông bảo
Đây là tiền do Lê Chiêu Tông cho đúc. Ông vua này chỉ có một niên hiệu là Quang Thiệu từ năm 1516 đến năm 1522. Hình thức cơ bản giống các tiền nhà Lê trước đó nhưng xấu hơn, kích thước bé hơn, nhẹ hơn.
Thống Nguyên thông bảo
Thống Nguyên thông bảo do Lê Cung Hoàng (lấy niên hiệu Thống Nguyên) phát hành. Tiền này đẹp hơn Quang Thiệu thông bảo nhưng vẫn chưa bằng được các tiền nhà Lê trước đó.
Nguyên Hòa thông bảo
Đây là tiền bằng đồng mang niên hiệu Nguyên Hòa (1533-1548) của Lê Trang Tông, vị vua đầu tiên của thời Lê Trung Hưng. Tiền này có kích thước nhỏ, được đúc cẩn thận. Mặt trước có chữ Nguyên Hòa thông bảo đọc chéo. Mặt sau có viền gờ mép và lỗ, song không có chữ hay hình gì. Nguyên Hòa thông bảo có nhiều loại, trong đó có loại chỉ có hai chữ Nguyên Hòa viết theo lối chữ triện và có loại thì lại có ba chữ Nguyên Hòa và bảo viết theo lối chữ triện.
Vĩnh Thọ thông bảo
Vĩnh Thọ là niên hiệu của Lê Thần Tông. Tiền Vĩnh Thọ thông bảo đúc bằng đồng, đường kính chừng 23 mm.
Vĩnh Trị nguyên bảo, Vĩnh Trị thông bảo
Là các tiền do Lê Hy Tông phát hành (thực tế có thể là do chúa Trịnh phát hành vì quyền hành mọi mặt trong thực tế thuộc về phủ chúa) mang niên hiệu đầu tiên của ông. Cả hai loại đều bằng đồng, đúc cẩn thận, đường kính chừng 23 mm.
Chính Hòa thông bảo
Tiền đặt theo niên hiệu thứ hai của Lê Hy Tông. Chữ "Chính" viết là正, dễ nhầm với Chính Hòa thông bảo của nhà Tống cũng thấy xuất hiện ở Việt Nam với chữ Chính viết là 政.
Tiền Cảnh Hưng
Tiền Cảnh Hưng có rất nhiều loại và đều bằng kim loại. Đỗ Văn Ninh đã đề cập đến 40 loại tiền Cảnh Hưng và nhà nghiên cứu này cũng cho biết có người đã liệt kê ra được đến 80 loại tiền Cảnh Hưng. Sở dĩ có nhiều loại như vậy là vì thời Cảnh Hưng (niên hiệu của Lê Hiển Tông), không chỉ chính quyền trung ương mà cả các chính quyền địa phương (ở các trấn) cũng tham gia đúc tiền, và có cả đúc trộm. Các tiền Cảnh Hưng không chỉ có kích thước khác nhau, chất lượng kim loại khác nhau mà cả các chữ ghi trên đó cũng khác nhau. Nguyên nhân khác nhau vừa là do những thay đổi trong thiết kế đồng tiền, vừa là đúc sai quy cách.
Khảo cổ học tìm ra rất nhiều di chỉ tiền Cảnh Hưng cho thấy thời này tiền được phát hành rất nhiều. Nguyên nhân của việc phát hành nhiều như vậy hiện chưa rõ. Đỗ Văn Ninh cho rằng:
Thời này kinh tế khó khăn nên thuế má thu của dân không được mấy mà chính quyền lại có nhu cầu chi tiêu rất lớn cho ăn chơi (thời Lê Hiển Tông cũng là thời các chúa Trịnh Giang, Trịnh Doanh, Trịnh Sâm nổi tiếng về ăn chơi), cho đàn áp các cuộc khởi nghĩa (các khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Lê Duy Mật, Hoàng Công Chất,...)... Chính quyền đã lợi dụng đặc quyền phát hành tiền để đúc tiền phục vụ nhu cầu tiêu dùng của mình. (Xem thêm bài thuộc chủ đề kinh tế học: Đặc lợi phát hành tiền.)
Nhu cầu sử dụng tiền mặt lớn cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa để buôn bán, đóng thuế, mua chức tước, biếu xén, hỏi vợ (Ca dao có câu: Mẹ em tham thúng xôi rền/Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng),...
Việc các trấn được phép đúc tiền đã đem lại cho họ mối lợi lớn. Nó khuyến khích họ phát hành tràn lan.
Dựa vào phát hiện khảo cổ học, tiền Cảnh Hưng chắc chắn có các loại sau: Cảnh Hưng thông bảo, Cảnh Hưng trung bảo, Cảnh Hưng chí bảo, Cảnh Hưng vĩnh bảo, Cảnh Hưng đại bảo, Cảnh Hưng thái bảo, Cảnh Hưng cự bảo, Cảnh Hưng trọng bảo, Cảnh Hưng tuyền bảo, Cảnh Hưng thuận bảo, Cảnh Hưng chính bảo, Cảnh Hưng nội bảo, Cảnh Hưng dụng bảo, Cảnh Hưng lai bảo, Cảnh Hưng thận bảo, Cảnh Hưng, Cảnh Hưng thọ trường.
Cảnh Hưng thông bảo là loại phổ biến nhất, nhưng loại này lại có nhiều loại phụ với thiết kế khác nhau và chữ ghi trên tiền ở mặt sau cũng khác nhau.
Chiêu Thống thông bảo
Chiêu Thống là niên hiệu duy nhất của Lê Mẫn Đế, ông vua nhà Hậu Lê ở ngôi 3 năm. Khảo cổ học cho thấy tiền kim loại Chiêu Thống thông bảo có nhiều loạt khác nhau. Thêm vào đó, mỗi loạt đều được đúc nhiều lần, mỗi lần kích thước lại khác nhau một chút. Chiếu Thống thông bảo được phát hành dưới thời Lê Mẫn Đế, nhưng ai phát hành thì không rõ vì có quá nhiều loạt và nhiều kích cỡ. Lưu ý là thời Lê Mẫn Đế (Chiêu Thống), lúc đầu thì có thế lực của nhà Trịnh (chúa Trịnh Bồng), lúc sau thì có thế lực của nhà Tây Sơn, trung ương cũng đã không kiểm soát được các địa phương.
Các loạt đều có bốn chữ Chiêu Thống thông bảo đúc nổi và được đọc chéo. Nhưng có một loạt thì chữ Thống viết là 綂, các loạt khác chữ Thống đều viết là 統. Không rõ loạt chữ Thống viết là 綂 có phải là tiền do chính quyền đúc hay không.
Loạt có chữ Thống viết là 綂 thì mặt sau để trơn, chỉ có viền gờ mép và lỗ. Các loạt khác, loạt thì mặt sau có chữ Nhất (-) phía trên lỗ vuông, loạt thì có một nét sổ dọc trên lỗ, loạt thì có một vành trăng khuyết bên phải và một chấm tròn bên trái lô, loạt thì có hình bốn vành trăng khuyết xếp vòng tròn quanh lỗ, loạt thì có chữ Chính (正) hoặc chữ Chính và cả một chấm tròn, lại có loạt thì có một chữ Sơn (山), loạt lại có hai chữ Sơn Nam, loạt thì có một chữ Trung (中), và có cả loạt có chữ Đại (大). Theo Đỗ Văn Ninh, thì chữ Chính chỉ kinh thành, chữ Sơn chỉ Sơn Tây, chữ Trung chỉ Trung đô phủ, chữ Đại chỉ Thanh Hóa.
=== Tiền nhà Mạc ===
Minh Đức thông bảo, Minh Đức nguyên bảo
Đây là các tiền kim loại do Mạc Thái Tổ phát hành. Đại Việt sử ký toàn thư có nhắc đến việc này.
Minh Đức thông bảo có hai loạt. Loạt thứ nhất bằng đồng được bắt đầu đúc từ năm 1528. Mặt trước có bốn chữ Minh Đức thông bảo đúc nổi đọc chéo. Mặt sau có hai chữ Vạn Tuệ đúc nổi. Loạt này có kích thước lớn, đường kính từ 23 đến 24,5 mm, dày dặn.
Loạt thứ hai đúc bằng kẽm. Kích thước vẫn như loạt trước. Mặt sau không còn chữ vạn tuế mà thay vào đó là một vành khuyết nổi ở bên phải và một chấm tròn ở bên trái.
Minh Đức nguyên bảo làm bằng sắt. Sách sử Việt Nam không nhắc đến tiền này, nhưng Đại Việt sử ký toàn thư cho biết Mạc Đăng Dung có cho pha kẽm vào khi đúc tiền rồi sau lại cho đúc tiền bằng sắt. Khảo cổ học Việt Nam không phát hiện ra di vật, song Lacroix có công bố một mẫu vật tiền này, mặt trước có bốn chữ Minh Đức nguyên bảo đọc vòng tròn, mặt sau không có chữ hay hình gì.
Đại Chính thông bảo
Các sử liệu cũ của Việt Nam không đề cập đến việc Mạc Thái Tông phát hành tiền. Tuy nhiên khảo cổ học đã phát hiện ra loại tiền kim loại bằng đồng mang niên hiệu Đại Chính của ông. Mặt trước tiền nổi bốn chữ Đại Chính thông bảo đọc chéo. Mặt sau để trơn. Tiền đúc không đẹp, đường kính khoảng 22 mm.
Quảng Hòa thông bảo
Mạc Phúc Hải làm vua từ năm 1541 đến năm 1546 và chỉ có một niên hiệu là Quảng Hòa. Sử liệu không ghi vị vua nhà Mạc này có cho đúc tiền hay không, song khảo cổ học phát hiện ra di vật tiền Quảng Hòa thông bảo. Tiền này có hơn một loạt nhưng đều đúc bằng đồng và bốn chữ Quảng Hòa thông bảo đọc chéo ở mặt trước, mặt sau để trơn. Có loạt thì các chữ này được viết chân phương. Có loạt thì những chữ này lại được viết theo lối chữ triện.
Vĩnh Định thông bảo, Vĩnh Định chí bảo
Vĩnh Định là niên hiệu đầu tiên trong ba niện hiệu của Mạc Phúc Nguyên, bắt đầu từ năm 1547. Khảo cổ học đã tìm thấy tiền Vĩnh Định thông bảo đúc bằng đồng có đường kính chừng 21,5 mm. Mặt trước có bốn chữ Vĩnh Định thông bảo viết chéo. Mặt sau để trơn, nhưng gờ mép và gờ lỗ có viền nổi.
Ngoài ra còn có tiền Vĩnh Định chí bảo có kiểu dáng như Vĩnh Định thông bảo, khác ở chỗ chữ chí viết theo lối chữ thảo và mặt sau không có viền gờ mép và lỗ.
Càn Thống nguyên bảo
Đây là tiền kim loại do Mạc Kính Cung phát hành. Ông này làm vua nhưng đóng ở vùng miền núi Đông Bắc. Khảo cổ học đã phát hiện ra loại tiền này.
An Pháp nguyên bảo
An Pháp nguyên bảo là tiền kim loại kích thước nhỏ mà khảo cổ học tìm thấy nhiều. Lê Quý Đôn qua Phủ biên tạp lục cho biết đây là tiền do nhà Mạc phát hành, nhưng không nói cụ thể bởi vị vua nào của nhà Mạc.
=== Tiền nhà Tây Sơn ===
Thái Đức thông bảo
Tiền do vua Thái Đức Nguyễn Nhạc phát hành và lưu thông trong các vùng lãnh thổ do nhà Tây Sơn kiểm soát. Tiền này được đúc từ đồng. Tiền không dày, nhưng đúc cẩn thận, chữ và dấu hiệu dễ đọc. Đường kính tiền tùy loại từ 22,5 mm đến 24 mm. Mặt trước có bốn chữ Thái Đức thông bảo đọc chéo. Mặt sau thì mỗi loạt một khác, thường thì có các ký hiệu như chấm nổi tròn, hình Mặt Trăng lưỡi liềm. Có một loạt ở mặt sau có hai chữ Vạn Thọ.
Quang Trung thông bảo, Quang Trung đại bảo
Khi Quang Trung lên ngôi, Việt Nam cơ bản đã được thống nhất, vì thế tiền do Quang Trung phát hành sẽ được lưu thông gần như khắp cả nước. Và trong thực tế, khảo cổ học tìm thấy rất nhiều tiền Quang Trung khắp nơi, đặc biệt nhiều từ đèo Hải Vân ra Bắc. Quang Trung đã cho phát hành hai loại tiền mang niên hiệu của ông, đó là Quang Trung thông bảo và Quang Trung đại bảo.
Quang Trung thông bảo được đúc nhiều đợt và kỹ thuật của thời đó đã khiến cho mỗi đợt đúc tiền lại có một chút khác nhau. Tiền này được đúc từ đồng, có kích thước từ 23 đến 26 mm. Mặt trước tiền có bốn chữ Quang Trung thông bảo đọc chéo. Có một loạt chữ bảo lại viết theo lối giản thể. Mặt sau thì có thể để trống hoặc có một trong các chữ nhất, nhị, công, chính, sơn nam hoặc các ký hiệu như dấu chấm, trăng lưỡi liềm, v.v... Viền gờ mép và lỗ rõ ràng.
Có một số di vật tiền Quang Trung thông bảo được phát hiện mà ở đó người ta thấy mặt sau của tiền cũng giống mặt trước. Đỗ Văn Ninh cho rằng đó là do thợ đúc tiền ráp nhầm hai mặt của khuôn đúc.
Quang Trung đại bảo có chữ bảo viết theo lối giản thể. Mặt sau để trống.
Cảnh Thịnh thông bảo
Cảnh Thịnh thông bảo có loại nhỏ và loại lớn. Đây là tiền mang niên hiệu đầu tiên của Nguyễn Quang Toản, vị vua cuối cùng của nhà Tây Sơn.
Về kiểu dáng và thiết kế thì Cảnh Thịnh thông bảo loại nhỏ không khác gì tiền Quang Trung thông bảo, nhưng chất lượng đúc có phần tốt hơn. Cảnh Thịnh thông bảo cũng có loạt mặt sau giống mặt trước như một loạt của Quang Trung thông bảo. Ngoài ra lại còn có một loạt tiền mà một mặt là Cảnh Thịnh thông bảo và một mặt là Quang Trung thông bảo.
Cảnh Thịnh thông bảo loại lớn được đúc cẩn thận, thiết kế cầu kỳ, đường kính tới 48 mm, dày tới 5 mm. Viền gờ mép ở hai mặt là một vành văn triện hình chữ T, viền gờ lỗ ở hai mặt là hai hình vuông lồng vào nhau. Mặt trước tiền có bốn chữ Cảnh Thịnh thông bảo đọc chéo. Mặt sau có hình rồng, mây ở phía trên lỗ, lại có hình cá chép và hình sóng nước ở phía dưới lỗ. Đỗ Văn Ninh cho rằng tiền này hoa văn giống với tiền Cảnh Hưng nên có thể là theo mẫu tiền Cảnh Hưng mà làm.
=== Tiền nhà Nguyễn ===
===== Gia Long thông bảo =====
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, đặt niên hiệu là Gia Long. Sách Đại Nam thực lục chính biên cho biết vào năm 1803, Nguyễn Ánh cho đúc tiền Gia Long thông bảo bằng đồng. Khảo cổ học đã phát hiện ra nhiều di chỉ tiền này. Tiền được đúc nhiều lần và không phải chỉ ở một nơi. Thứ lớn nhất thì có đường kính chừng 26 mm, thứ nhỏ nhất thì có đường kính chừng 20 mm. Mặt trước bốn chữ Gia Long thông bảo đọc chéo. Mặt sau để trơn.
Năm 1813, vua Gia Long cho đúc tiền Gia Long thông bảo thất phân. Theo Đại Nam thực lục chính biên thì tiền này bằng kẽm, song khảo cổ học phát hiện ra cả tiền mang tên này nhưng bằng đồng. Tiền kẽm Gia Long thông bảo thất phân và tiền đồng Gia Long thông bảo có thể đổi qua lại theo tỷ lệ 1,25:1. Gia Long thông bảo thất phân có đường kính trung bình 22 mm và trong thực tế có nhiều kích cỡ. Theo quy định thì tiền nặng bảy phân, nhưng không phải mọi mẫu vật phát hiện ra đều nặng đúng như thế. Mặt trước giống Gia Long thông bảo, nhưng mặt sau thì có hai chữ thất phân ở hai bên lỗ tiền.
Năm 1814, vua Gia Long lại cho đúc tiền Gia Long thông bảo lục phân nặng sáu phân. Thư tịch cho biết rõ hợp kim đúc tiền này có các thành phần sau đồng đỏ, kẽm, chì, thiếc (tỷ lệ là 500:415:65:20). Tiền được đúc nhiều lần và có đường kính xê xích khoảng 21,5 mm đến 22,5 mm. Mặt trước giống Gia Long thông bảo, nhưng mặt sau thì có hai chữ lục phân ở hai bên lỗ tiền.
===== Minh Mạng thông bảo =====
Minh Mạng thông bảo là tiền do vua Minh Mạng phát hành. Mặt trước có bốn chữ Minh Mạng thông bảo, mặt sau để trống.
Tiền này có nhiều loạt. Loạt đúc sớm nhất là vào năm 1820 theo quy định nặng 6 phân bằng đồng và bằng kẽm. Loại bằng đồng thực ra cũng chỉ có khoảng một nửa nguyên liệu đồng còn lại là kẽm và cả lượng nhỏ thiếc và chỉ dùng đến năm 1825 thì bị bãi bỏ.
Loạt thứ hai có kích thước lớn từ 22 đến 25 mm, được phát hành từ năm 1820. Nguyên liệu là hợp kim đồng, kẽm và thiếc.
Loạt thứ ba có đường kính khoảng 22 mm, nặng 9 phân, bằng hợp kim đồng kẽm, được phát hành từ năm 1825.
Loạt thứ tư có đường kính 25 mm, nặng 1 đồng cân, được phát hành từ năm 1827.
===== Thiệu Trị thông bảo =====
Tiền mang niên hiệu của vua Thiệu Trị có loại nặng 6 phân và loại nặng 9 phân đều bằng hợp kim đồng pha kẽm. Còn có cả loại nặng 6 phân bằng toàn kẽm. Các loại này ở mặt trước có bốn chữ Thiệu Trị thông bảo đọc chéo, mặt sau để trống.
===== Tự Đức thông bảo =====
Tự Đức thông bảo có mấy loạt bằng đồng và cả bằng kẽm, đường kính từ 20 mm đến 25 mm. Nhìn chung các loạt đều có mặt trước giống nhau: bốn chữ Tự Đức thông bảo đọc chéo, có viền gờ mép và lỗ. Mặt sau thì mỗi loạt một khác. Có loạt để trống, có loạt thì có chữ "lục văn", có loạt có chữ "Hà Nội", có loạt lại có chữ "Sơn Tây" và có loạt thì có chữ "Bắc Ninh". Tiền này nhiều khi được giao cho các lò đúc tiền tư nhân của người Hoa và người Việt giàu có đúc. Đại Nam thực lục chính biên cho biết có tiền này khi đúc bị pha thêm sắt vào.
Tự Đức bảo sao
Tự Đức bảo sao là tiền thời vua Tự Đức, được đúc từ năm 1861 có các mệnh giá 10 đồng, 20 đồng, 30 đồng, 40 đồng, 50 đồng và 60 đồng. Tiền đúc bằng đồng. Mặt trước có bốn chữ Tự Đức bảo sao đọc chéo. Mặt sau thì mỗi mệnh giá thiết kế một khác. Đường kính tiền cũng khác nhau giữa các mệnh giá.
Mệnh giá 10 đồng thì mặt sau có chữ "chuẩn thập văn" hoặc "chuẩn nhất thập văn", đường kính 26 mm, nặng 6 gam;
Mệnh giá 20 đồng thì mặt sau có chữ "chuẩn nhị thập văn", đường kính 30 mm, nặng 12 gam;
Mệnh giá 30 đồng thì mặt sau có chữ "chuẩn tam thập văn", đường kính 35 mm, nặng 16,4 gam;
Mệnh giá 40 đồng thì mặt sau có chữ "chuẩn tứ thập văn", đường kính 37 mm, nặng 22,2 gam;
Mệnh giá 50 đồng thì mặt sau có chữ "chuẩn ngũ thập văn", đường kính 41,5 mm, nặng 27,2 gam;
Mệnh giá 60 đồng thì mặt sau có chữ "chuẩn lục thập văn", đường kính 46 mm, nặng 38,2 gam.
===== Kiến Phúc thông bảo =====
Tiền mang niên hiệu của vua Kiến Phúc được đúc nhiều đợt từ năm 1884 và ở nhiều nơi vì vậy mỗi loạt khác nhau một chút. Nhìn chung, tiền có đường kính 23 mm. Mặt trước có bốn chữ Kiến Phúc thông bảo, mặt sau để trống. Thời này, quân Pháp đang đánh chiếm Việt Nam, triều chính cũng mất ổn định, ngôi vua thay đổi mấy lần nên sự quan tâm tới kinh tế không nhiều, tiền được đúc với số lượng ít. Khảo cổ học chỉ phát hiện được ít tiền này. Tiền đúc ra chỉ để khẳng định niên hiệu của vua mới chứ tác dụng cho lưu thông không nhiều vì số lượng quá ít.
===== Hàm Nghi thông bảo =====
Tiền này chính thức chỉ đúc với số lượng rất ít, nhưng tiền Hàm Nghi thông bảo giả rất nhiều. Theo Đỗ Văn Ninh thì có cả tiền Hàm Nghi thông bảo đúc giả thời chiến tranh Việt Nam mà lính Mỹ tưởng là tiền cổ thật nên mua mang về sưu tập. Hàm Nghi thông bảo thật có đường kính 23 mm, mặt trước có bốn chữ Hàm Nghi thông bảo đọc chéo, mặt sau có hai chữ "Lục văn".
===== Đồng Khánh thông bảo =====
Tiền được đúc với số lượng ít. Năm 1886, triều đình cho đúc một loạt có đường kính 26 mm. Năm 1887 cho đúc một loạt nữa có đường kính 23 mm. Cả hai loạt ở mặt trước đều có chữ Đồng Khánh thông bảo, mặt sau để trống.
===== Thành Thái thông bảo =====
Tiền kim loại được đúc vào các năm 1889-1890 với số lượng ít. Mặt trước có bốn chữ Thành Thái thông bảo đọc chéo. Mặt sau để trống. Đường kính tiền khoảng 23 mm.
Năm 1893-1890, triều đình lại cho đúc tiền Thái Bình thông bảo mới mà mặt sau có chữ thập văn. Tiền này đường kính chừng 26 mm.
===== Duy Tân thông bảo =====
Tiền Duy Tân thông bảo có hai loạt, một loạt có đường kính chừng 26 mm đúc ở Thanh Hóa, một loạt khác nhỏ hơn. Loạt lớn thì mặt sau có chữ "Thập văn", loạt nhỏ thì mặt sau để trống. Mặt trước cả hai loạt đều có chữ Duy Tân thông bảo đọc chéo.
===== Khải Định thông bảo =====
Tiền Khải Định thông bảo có bốn loạt đúc ở bốn nơi là Huế, Hải Phòng, Hà Nội và ở Pháp. Loại đúc ở Huế lưu thông ở Trung Kỳ, loại đúc ở Hà Nội và Hải Phòng thì để lưu thông ở Bắc Kỳ. Cả ba loạt này đều bằng kẽm. Riêng loạt đúc ở Pháp thì bằng đồng và chỉ để lưu thông ở Nam Kỳ.
Lưu ý là từ thời này, thực dân Pháp đã phát hành tiền Đông Dương gồm các loại tiền giấy và tiền kim loại với nhiều mệnh giá được lưu thông rộng rãi hơn tiền do triều đình phát hành rất nhiều.
===== Bảo Đại thông bảo =====
Tiền Bảo Đại thông bảo bằng đồng nhưng không đúc mà dập lá đồng bằng máy. Kích thước tiền nhỏ và mỏng. Người dân không coi trọng giá trị tiền này.
=== Một số tiền cổ khác ===
Trần Tân công bảo
Tiền được khảo cổ học phát hiện ra, song hiện giờ các nhà nghiên cứu chưa khẳng định được là do ai phát hành. Lacroix cho là do Trần Tuân, người đã nổi loạn ở Sơn Tây thời Lê Tương Dực phát hành.
Thiên Ứng thông bảo
Được cho là tiền do Trần Cảo phát hành khi nổi dậy chống nhà Lê và tự xưng vương đặt niên hiệu là Thiên Ứng. Tiền này đã được khảo cổ học phát hiện và ngoài Trần Cảo không còn ai ở Việt Nam hay Trung Quốc đặt niên hiệu là Thiên Ứng.
Thái Bình thông bảo
Thái Bình thông bảo nguyên do nhà Mạc phát hành, song các chúa Nguyễn ở Đàng Trong thời đầu cũng cho đúc tiền phỏng theo mẫu của nhà Mạc. Khảo cổ học tìm thấy nhiều di chỉ tiền kim loại Thái Bình thông bảo, nhưng khó phân biệt được đâu là tiền do nhà Mạc đúc và đâu là tiền do các chúa Nguyễn đúc nếu không dựa vào niên đại của nơi đồng tiền được phát hiện.
Thái Bình thông bảo bằng đồng, có kích thước nhỏ, đường kính từ 18–20 mm, mỏng. Mặt trước có bốn chữ Thái Bình thông bảo đọc chéo. Mặt sau có thể để trơn, hoặc có thể có một hoặc hai chấm nổi.
Thiên Minh thông bảo
Tiền kim loại do chúa Nguyễn Phúc Khoát phát hành. Hiện không rõ kim loại hay hợp kim gì được dùng để đúc. Theo Đại Nam thực lục tiền biên thì Nguyễn Phúc Khoát cho mua "kẽm trắng" của Hà Lan về để đúc tiền, sau đó lại cho pha thêm "kẽm xanh" vào. Tiền này có thể nấu chảy không khó, nhưng cứng. Đàng trong thời Nguyễn Phúc Khoát cũng cho phép các xưởng đúc địa phương hoạt động và các xưởng này nhiều khi pha cả chì vào khi đúc tiền.
Tiền này mặt trước có bốn chữ Thiên Minh thông bảo đọc chéo. Mặt sau để trơn. Tiền do chúa đúc thì có đường kính 23 cm và được đúc cẩn thận. Tiền do địa phương đúc nhiều khi có kích thước nhỏ hơn, mỏng hơn.
Gia Hưng thông bảo
Đại Nam thực lục chính biên cho biết vào khoảng năm 1796, Nguyễn Ánh cho đúc tiền Gia Hưng thông bảo. Năm này, Nguyễn Ánh vẫn chưa đánh bại được nhà Tây Sơn. Khảo cổ học chưa tìm ra loại tiền này.
=== Tiền do Pháp phát hành ===
Đồng Đông Dương (tiếng Pháp: piastre) đơn vị tiền tệ người Pháp cho phát hành và lưu thông tại Đông Dương thuộc Pháp trong thời gian từ năm 1885 đến năm 1954.
== Tiền Việt Nam thời hiện đại ==
=== Tiền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ===
=== Tiền Việt Nam Cộng hòa ===
=== Tiền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ===
== Bạc nén và vàng nén ==
== Tiền lưu niệm ==
Năm 2016, ngân hàng nhà nước Việt Nam đã phát hành tiền lưu niệm 100 đồng nhân nhịp 65 năm thành lập ngân hàng nhà nước Việt Nam với giá bán 20000-25000 đồng cho 100 đồng lưu niệm. măt sau là ảnh Ngân hàng nhà nước Việt Nam
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Đỗ Văn Ninh, Tiền cổ Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992.
Nguyễn Anh Huy, Tiền thời Cảnh Hưng, một bí ẩn lịch sử cần được khai phá
Giới thiệu về tiền cổ Việt Nam
== Xem thêm ==
Tiền
Tiền giấy
Tiền kim loại
Tiền gián
Lịch sử Việt Nam
Vua Việt Nam
Niên hiệu
Khảo cổ học
Cổ vật
== Liên kết ngoài ==
Bộ sưu tập tiền cổ của bác sĩ Nguyễn Anh Huy
Trang sưu tập tiền giấy Việt Nam
Tiền Việt Nam Cộng Hoà |
okayama (thành phố).txt | Thành phố Okayama (岡山市) là tỉnh lỵ của tỉnh Okayama (岡山県, Cương Sơn thị), Nhật Bản.
Thành phố nằm ở phía Nam của tỉnh, nổi tiếng cả nước với món bánh cổ truyền Hibidango, với lễ hội ở truồng chùa Saidai, với vườn Korakuen - một trong ba vườn Nhật Bản nổi tiếng nhất nước, với thiền viện Sogenji rất lớn của phái Lâm Tế. Thành Okayama nằm ở trung tâm thành phố. Đập Asahigawa và sân bay quốc tế Okayama nằm ở phía Bắc thành phố, nơi là một phần của cao nguyên Kibi. Khu vực phố phường của thành phố nằm ở phía Nam, nơi là đồng bằng Okayama trông ra vịnh Kojima ở biển Seto Naikai.
Thành phố Okayama là một đô thị trung tâm quốc gia của vùng Chūgoku. Từ khi cầu Seto Ohashi được khánh thành vào năm 1988, giao thông trong vùng trở nên thuận lợi và vùng đô thị Okayama và vùng kinh tế Higashi Seto hình thành với thành phố Okayama làm hạt nhân. Với quy mô dân số lên đến trên 70 vạn người, và với vai trò quan trọng của mình, thành phố Okayama đã được công nhận là đô thị cấp quốc gia của Nhật Bản vào tháng 4 năm 2009.
== Thành phố kết nghĩa ==
San Jose, California, Hoa Kỳ (1957)
San José, Costa Rica (1969)
Plovdiv, Bulgaria (1972)
Lạc Dương, Trung Quốc (1981)
Bucheon, Hàn Quốc (2002)
Tân Trúc, Đài Loan (2003)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Okayama City official website (tiếng Nhật)
Okayama City official website (tiếng Anh) |
matamoros, tamaulipas.txt | Matamoros là một đô thị thuộc bang Tamaulipas, México. Năm 2005, dân số của đô thị này là 462157 người. Nó nằm trên bờ phía nam của Rio Grande, trực tiếp qua biên giới từ Brownsville, Texas, Hoa Kỳ. Matamoros là thành phố lớn thứ hai trong tiểu bang Tamaulipas. Đến năm 2016, Matamoros có dân số 520.367 người. Ngoài ra, Khu đô thị Matamoros-Brownsville có dân số 1.387.985 người, trở thành khu vực đô thị lớn thứ 4 trên biên giới Mexico-Hoa Kỳ. Matamoros là thành phố lớn thứ 39 ở Mexico và là khu đô thị lớn thứ hai ở Tamaulipas.
Matamoros là một trong những thành phố phát triển nhanh nhất ở Mexico, và có một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong nước . Nền kinh tế của thành phố được dựa trên thương mại quốc tế với Hoa Kỳ thông qua Hiệp định NAFTA, và nó là nhà của một trong những ngành công nghiệp hứa hẹn nhất ở Mêhicô, chủ yếu là do sự hiện diện của các maquiladora.. Trong Matamoros, ngành công nghiệp ô tô là nhà máy lắp ráp và phụ kiện cho các nhãn hiệu như General Motors, Ford, Chrysler, BMW, và Mercedes Benz. Tương tự như vậy, nền kinh tế Matamoros đã được dựa trên nền nông nghiệp, vì các vùng tưới lớn nhất ở miền bắc Mexico là ở khu tự quản. PEMEX đã công bố một dự án khoan ngoài khơi với trị giá hàng tỷ đô la cho cảng Matamoros, một trong những triển vọng trong tương lai cho ngành công nghiệp dầu mỏ của Mexico.
Matamoros là một di tích lịch sử lớn, là nơi diễn ra nhiều trận đánh và các sự kiện của Chiến tranh giành độc lập ở Mexico, cuộc cách mạng Mexico, Cuộc cách mạng Texas, Chiến tranh Mexico-Mỹ cách mạng Mỹ,, và can thiệp của Pháp cho phép thành phố này có được danh hiệu Không xác định, Trung thành và Anh hùng. Quốc khánh Quốc gia Mexico được chơi lần đầu tiên trong công chúng tại Nhà hát Opera ở Matamoros. Trong một lưu ý khác, Matamoros có khí hậu bán khô cằn, có mùa đông ôn hòa, mùa hè nóng, ẩm ướt. Matamoros và Brownsville, Texas là nơi có Ngày Charro và Lễ hội Sombrero, hai dịp lễ tưởng niệm di sản của Hoa Kỳ và Mêhicô được tổ chức vào tháng 2 hàng năm.
== Tham khảo == |
khủng hoảng vụ bắt cóc tại patikul 2009.txt | Khủng hoảng vụ bắt cóc tại Patikul năm 2009 là khi những người tình nguyện của Hội Chữ Thập Đỏ Quốc tế bị Abu Sayyaf bắt cóc ngày 15 tháng 1, 2009 tại Patikul, Sulu, Philippines.
== Hoàn cảnh ==
Lực lượng Abu Sayyaf được thành lập từ thập niên 1980 với sự trợ giúp của al-Qaeda và từ đó nay này đã mở ra nhiều cuộc khủng bố phá hoại cùng là bắt cóc con tin trên khắp lãnh thổ Philippines. Thành phần Hồi giáo này đã bắt giữ ba nhân viên Hồng Thập Tự Quốc tế ở vùng Nam Philippines trong một công tác từ thiện trên đảo Jolo.
Cả đức Giáo hoàng Benedict XVI và hội Hồng Thập Tự Quốc tế đều đã lên tiếng kêu gọi phiến quân hãy tha mạng cho ba người này gồm một người Thụy Sĩ, một người Ý và một người Phi. Nghị sĩ Richard Gordon, chủ tịch hội Hồng Thập Tự Philippines, đã khóc trên đài truyền hình khi nói rằng phiến quân không chịu từ bỏ lời hăm dọa là sẽ chặt đầu một trong số ba con tin.
Nhóm Abu Sayyaf từng chặt đầu con tin trong quá khứ, kể cả một người đàn ông Mỹ vào năm 2001 cũng như bảy người Phi trong năm 2007. Chính phủ Hoa Kỳ đã liệt nhóm Abu Sayyaf, có khoảng 400 tay súng, vào danh sách các tổ chức khủng bố.
== Giải thoát ==
Vào thứ ba, 31 tháng 3, 2009 quân đội Philippines đã chuẩn bị để tấn công thành phần bắt cóc, sau khi hạn định phiến quân đưa ra để chặt đầu một trong các con tin đã đi qua. Khoảng năm tiếng đồng hồ sau khi hạn định của phiến quân đi qua, theo tỉnh trưởng Zamboanga, ông Abdusakur Tan, ba con tin chưa bị hại.
Ông Tan đã ra lệnh cho quân đội và cảnh sát có biện pháp với nhóm Abu Sayyaf và khuyến cáo thường dân tránh xa nơi có thể xảy ra giao tranh. Ông Tan nói không có lý do gì để thương thuyết thêm với phiến quân và ban hành tình trạng khẩn trương trong khu vực rộng khoảng 894 cây số vuông, giới hạn sự di chuyển của dân chúng, ấn định giờ giới nghiêm trên đảo với đa số trong khoảng 845.000 dân theo Hồi giáo.
== Một con tin được thả ==
Vào thứ năm, 2 tháng 4, nhóm phiến quân đã thả một trong ba con tin Hồng Thập Tự, một phụ nữ, sau 10 tuần lễ bị cầm giữ trong rừng. Bộ trưởng Quốc phòng Gilbert Teodoro loan báo trên đài truyền hình rằng Mary Jean Lacaba, 37 tuổi, đã được thả và hiện đang được sự bảo vệ của quân đội. Theo nghị Sĩ Richard Gordon, bà Lacaba khỏe mạnh và bình an. Ông cũng bày tỏ sự hy vọng là hai người kia cũng sẽ được thả.
Ông nhận được tin tức nói rằng con tin người Ý Eugenio Vagni và con tin Thụy Sĩ Andrea Notter vẫn còn sống và một trong hai người phải dùng gậy khi di chuyển. Phó tỉnh trưởng Jolo, Lady Anne Sahidulla, người nói rằng bà đã vận động với phía phiến quân để Lacaba được thả ra, cũng nói rằng bà nhìn thấy hai con tin này và họ vẫn khỏe mạnh. Trung tướng Nelson Allaga, tư lệnh quân khu Tây Mindanao, nói mọi người đều vui mừng khi thấy bà Lacaba được thả. Bà Lacaba đã nói chuyện với chồng và các đồng nghiệp thuộc Hội Hồng Thập Tự Quốc tế.
Bà Sahidulla, người từng thăm viếng các con tin trước đây, đã quay trở lại để gặp lãnh tụ của nhóm Abu Sayyaf. "Khi tôi gặp họ tôi đã thuyết phục được họ để thả Lacaba," bà nói. Tại Geneva, phát ngôn viên Chữ Thập Đỏ Florian Westphal xác nhận bà Lacaba đã được thả và bà có vẻ khỏe mạnh. Ông Gordon từ chối không cho biết lý do tại sao bà Lacaba được thả, chỉ nói rằng ông hy vọng hai người còn lại sẽ sớm có tự do.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
http://www.inquirer.net/specialreports/redcrossabduction/index.php |
hypena rostralis.txt | Hypena rostralis là một loài bướm đêm thuộc họ Noctuoidea. Nó được tìm thấy ở châu Âu.
Sải cánh dài 27–32 mm. Con trưởng thành bay làm hai đợt từ tháng 8 đến tháng 10 và again từ tháng 3 đến tháng 6[1].
Ấu trùng ăn hop.
== Hình ảnh ==
== Liên kết ngoài ==
Buttoned Snout at UKmoths
Phương tiện liên quan tới Hypena rostralis tại Wikimedia Commons
== Chú thích == |
đội tuyển cricket quốc gia úc.txt | Đội tuyển cricket quốc gia Úc là đội đại diện nước Úc trong môn thể thao cricket.
Úc và Anh là hai quốc gia tham gia trận Test cricket lần đầu tiên, năm 1877.
Từ cuối tháng 9 năm 1999 đến tháng 3 năm 2001, Úc thắng 16 trận Test liên tiếp, nhiều nhất trong lịch sử cricket. Trước đó, Đội tuyển cricket quốc gia West Indies thắng 9 trận liên tiếp.
Úc đoạt giải Giải vô địch cricket thế giới nhiều nhất, trong năm 1987, 1999, 2003 và 2007.
== Tham khảo == |
giả kim thuật.txt | Giả kim thuật là một truyền thống triết học và tiền khoa học được thực hành khắp châu Âu, Ai Cập và châu Á. Mục đích của giả kim thuật là để làm sạch, trưởng thành và hoàn thiện một số đối tượng. Các mục tiêu chung là chuyển đổi các kim loại cơ bản (ví dụ chì) thành các kim loại quý (ví dụ vàng), tạo ra thuốc trường sinh bất tử, tạo ra các panaceas có thể chữa bất kỳ bệnh nào; và sự phát triển của alkahest, một chất dung môi hòa tan mọi thứ.
Giả kim thuật là tiền thân của môn hóa học cận đại và có ảnh hưởng sâu sắc đến khoa học kỹ thuật thời cổ cũng như đời sống loài người.
== Lịch sử ==
Mục đích của giả kim thuật là nghiên cứu phương pháp biến đổi các kim loại thường như chì thành các kim loại quý như vàng hoặc phương pháp luyện thuốc trường sinh bất tử. Giả kim thuật sử dụng quan điểm của Aristoteles, một nhà triết học thế kỉ 4 trước công nguyên làm cơ sở lý thuyết: có thể chuyển hóa được chất này thành một chất khác, kim loại này thành kim loại khác.
Ý nghĩ điều chế được vàng từ kim loại thường đã nảy nở từ ngày xưa khi mà sự phát triển của thương mại đã dần dần biến vàng thành thứ kim loại quý giá nhất mang đến tiền bạc và quyền lực cho con người.
Từ rất lâu trước Công nguyên, ở Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc và Hy Lạp cổ đại người ta đã biết rằng vàng có thể hỗn hợp với bạc, đồng và nhiều thứ kim loại khác. Thế là xuất hiện vàng nhân tạo bằng cách đưa thêm đồng và các kim loại khác vào vàng. Ngoài ra người ta còn trộn đồng màu đỏ và thiếc màu trắng thành hợp kim đồng-thiếc có màu giống vàng. Điều đó chừng như xác nhận rằng có thể biến các kim loại khác thành vàng.
Năm 296, Hoàng đế La Mã buộc phải ra sắc lệnh hủy bỏ những cách điều chế vàng nói trên vì vàng giả tràn ngập thị trường. Để trốn tránh lệnh truy nã, các nhà giả kim thuật chạy từ Ai Cập sang Babylon, Syria và dựng các phòng thí nghiệm kiên trì biến kim loại thường thành vàng.
Trong quá trình nghiên cứu, các nhà giả kim thuật đã góp phần tìm ra các hợp chất mới: kim loại (Bi, Zn), muối (Hg, NH4+,…), các axit vô cơ H2SO4, HCl, HNO3, nước cường thủy,... và hoàn thiện nhiều kĩ thuật thí nghiệm quan trọng: nung, chưng cất, hòa tan, lọc, bay hơi, kết tinh, thăng hoa,...
Ngày nay, việc chế tạo vàng vẫn còn là một mục tiêu theo đuổi của một số nhà khoa học, người ta đã hiểu rõ bản chất của vàng cũng như cấu tạo hạt nhân của nó; Do đó, việc biến các kim loại rẻ tiền khác thành vàng là điều có thể làm được nhưng đòi hỏi kĩ thuật rất cao, tốn kém và không kinh tế, vì thế các nghiên chế tạo vàng theo hướng này hầu như ít được theo đuổi mà hiện nay có một hướng nghiên cứu mới không phải chế tạo vàng mà là trích xuất vàng có trong tự nhiên. Dựa vào lượng vàng khổng lồ có sẵn trong các đại dương cũng như lượng vàng rơi vãi trong các quặng nghèo mà người ta có ý tưởng dùng công nghệ biến đổi gen để tạo ra những bãi rong biển có khả năng hấp thụ vàng trong nước biển cũng như những thảm cỏ có khả năng hấp thụ vàng cao trong đất để phủ đầy trên bề mặt các quặng nghèo. Nếu việc nghiên cứu này thành công thì lúc đó chúng ta có thể có những mùa gặt vàng bội thu.
== Giả kim thuật của người Ả Rập ==
Vào thế kỷ thứ 8, sau khi người Ả Rập chinh phục Ai Cập, Syria và hàng loạt các quốc gia ở vùng Cận Đông thì trung tâm khoa học đã chuyển về Ả Rập. Vào đầu thế ký thứ 9, họ đã có giả kim thuật riêng và khác với giả kim thuật của người Hy Lạp.
Các nhà giả kim thuật Ả Rập không tiếp thu một cách đơn thuần thuyết Aristotle mà còn giải thích chúng theo ý họ và bổ sung các khái niệm mới. Họ giải thích sự xuất hiện của các kim loại trong thiên nhiên là do 2 chất ban đầu là lưu huỳnh và thủy ngân vì:
Thủy ngân có điểm đặc biệt là khả năng hòa tan các kim loại khác, kể cả vàng và đặc quánh lại tạo thành hỗn hống.
Lưu huỳnh có tính chất lý thú là khi kết hợp với chì và thiếc nó sẽ cho các kim loại có vẻ sáng và màu sắc của bạc, kết hợp với đồng và sắt sẽ cho các kim lại đó màu sắc và vẻ sáng của vàng.
Theo ý kiến của các nhà giả kim thuật Ả Rập muốn điều chế vàng và bạc từ kim loại thường thì cần tỉ lệ kết hợp giữa thủy ngân và lưu huỳnh là đủ và hàng loạt cách điều chế vàng đã ra đời. Tuy nhiên tất cả đều thất bại.
Nhưng các nhà giả kim thuật Ả Rập không chỉ điều chế vàng mà còn nghiên cứu các chất và phương pháp điều chế các chất đó. Từ đó nhiều loại axít, bazơ, khoáng chất đã dược phát hiện. Đó là sự đóng góp vô cùng to lớn của các nhà giả kim thuật Ả Rập cho sự phát triển của hóa học.
Chính người Ả Rập đã thêm vào từ chymeia, nghĩa là "hóa học", tiếp đầu ngữ al để thành alchymeia, nghĩa là "giả kim thuật". Tên gọi này tồn tại đến cuối thế kỷ 18.
== Giả kim thuật của người Trung Quốc ==
Giả kim thuật của người Trung Quốc khác hẳn với giả kim thuật của người Hy Lạp. Trong khi người Hy Lạp cố biến kim loại thường thành vàng thì người Trung Quốc cố tìm kiếm thuốc trường sinh bất lão. Vì thế giả kim thuật Trung Quốc có tên gọi là luyện đan, dựa trên cơ sở học thuyết thần tiên. Các đạo gia chia luyện đan thành ngoại đan và nội đan. Ngoại đan là dùng lửa luyện các khoáng chất như chì, thủy ngân trong các lò đặc biệt biến chúng thành đan dược nuốt vào có thể thành tiên hay trường sinh bất lão.
Thứ được các nhà giả kim thuật Trung Quốc ưa sử dụng nhất là đan sa, công thức hóa học là HgS, luyện trong các lò thành vàng, uống vàng đó sẽ trường sinh bất lão. Các đạo sĩ cho rằng đan sa có màu đỏ là màu cao quý, có khả năng chữa bách bệnh, ngoài ra khi đun nóng còn phân tích thành thủy ngân là thứ kim loại kì lạ và có những đặc điểm lý thú. Chính vì thế mà đan sa được xem là tiên dược để luyện thuốc trường sinh.
Do đan sa có độc tính cao nên nhiều trường hợp người xưa đã chết khi sử dụng nó. Thời nhà Đường, Đường Thái Tông, Đường Hiến Tông, Đường Mục Tông, Đường Kính Tông trúng độc do uống kim đan. Vì thế, ngoại đan dần dần suy vi chỉ còn luyện đan là khởi thủy của ngành luyện kim ngày nay.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
kinh tế ấn độ.txt | Nền kinh tế Ấn Độ lớn thứ ba thế giới nếu tính theo sức mua tương đương (PPP), thứ 7 trên thế giới nếu tính theo tỷ giá hối đoái với USD (Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt 1 nghìn tỷ USD năm 2007). Ấn Độ là nền kinh tế lớn tăng trưởng nhanh thứ hai thế giới, với tốc độ tăng trưởng GDP tới 9,4% trong năm tài chính 2006–2007. Tuy nhiên, dân số khổng lồ đã làm cho GDP bình quân đầu người chỉ đạt mức 4.031 USD tính theo sức mua tương đương, hay 885 USD tính theo GDP danh nghĩa (ước năm 2007). Ngân hàng Thế giới xếp Ấn Độ vào nhóm các nền kinh tế có thu nhập thấp.
Nền kinh tế Ấn Độ đa dạng và bao gồm các ngành và lĩnh vực: nông nghiệp, thủ công nghiệp, dệt, chế tạo và nhiều ngành dịch vụ. Dù 2/3 lực lượng lao động Ấn Độ vẫn trực tiếp hay gián tiếp sống bằng nghề nông nhưng dịch vụ là một lĩnh vực đang tăng trưởng và đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế Ấn Độ. Sự tiến tới một thời đại kỹ thuật số và một số lượng lớn dân số trẻ và có học, thông thạo tiếng Anh đang dần chuyển Ấn Độ thành một điểm đến quan trọng của các dịch vụ điều hành kinh doanh (back office) của các công ty toàn cầu khi họ tiến hành outsourcing (đưa một phần hoặc toàn bộ công việc sang cho các nước khác thực hiện) các dịch vụ khách hàng và hỗ trợ kỹ thuật của họ. Ấn Độ là một nước xuất khẩu chính nhân công tay nghề cao trong lĩnh vực phần mềm và các dịch vụ tài chính và công nghệ phần mềm. Các lĩnh vực khác như chế tạo, dược phẩm, công nghệ sinh học, công nghệ nano, viễn thông, đóng tàu và hàng không đang thể hiện tiềm năng mạnh và đang đạt mức tăng trưởng ngày càng cao hơn.
Ấn Độ đã từng áp dụng một phương pháp kinh tế xã hội chủ nghĩa trong gần suốt lịch sử độc lập của mình. Chính phủ đã kiểm soát chặt chẽ sự tham gia của khu vực tư nhân, ngoại thương và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, kể từ đầu thập niên 1990, Ấn Độ đã dần mở cửa thị trường của mình thông qua các cuộc cải cách kinh tế theo hướng giảm kiểm soát của chính phủ đối với thương mại và đầu tư. Việc tư nhân hóa các ngành thuộc sở hữu công và việc mở cửa một số ngành nhất định cho nước ngoài và tư nhân tham gia diễn ra chậm chạp và gắn liền với những tranh cãi chính trị.
Ấn Độ đối mặt với một dân số tăng nhanh và đòi hỏi giảm bất bình đẳng kinh tế xã hội. Nghèo vẫn là một vấn đề nghiêm trọng dù nghèo đã giảm đáng kể kể từ khi quốc gia này giành được độc lập, chủ yếu là nhờ cuộc cách mạng xanh và các công cuộc cải tổ kinh tế.
== Lịch sử ==
Lịch sử kinh tế Ấn Độ có thể đại khái chia ra thành 3 kỷ nguyên, bắt đầu bằng thời kỳ tiền thuộc địa kéo dài đến thế kỷ 17. Thời kỳ thuộc địa của Anh quốc bắt đầu từ thế kỷ 17, kết thúc bằng mốc Ấn Độ giành được độc lập từ Anh quốc năm 1947. Thời kỳ thứ 3 kéo dài từ năm 1947 cho đến nay.
=== Thời kỳ tiền thuộc địa ===
Các công dân của nền văn minh lưu vực sông Ấn Độ, một khu vực định cư đô thị vượt trội và lâu dài đã phát triển thịnh vượng giữa năm 2800 trước Công nguyên và năm 1800 Công nguyên, sống bằng nghề canh nông, thuần hóa động vật, sử dụng cân và đơn vị đo lường thống nhất, chế tạo công cụ và vũ khí và trao đổi mậu dịch với các thành phố khác. Bằng chứng của các dãy phố quy hoạch hoàn chỉnh, hệ thống cấp thoát nước đã cho thấy kiến thức của họ trong việc quy hoạch đô thị, bao gồm các hệ thống vệ sinh đô thị đầu tiên của thế giới và sự hiện diện của một hình thức chính quyền đô thị.
Cuộc điều tra dân số năm 1872 cho thấy 99,3% dân số tạo thành nước Ấn Độ ngày nay đã sống trong các ngôi làng, những người có kinh tế phần lớn là cô lập và tự cung tự cấp với nghề nông là chủ yếu. Điều này đã làm thỏa mãn yêu cầu lương thực thực phẩm và cung cấp vật liệu thô cho các ngành lao động tay chân như dệt, chế biến thực phẩm và ngành thủ công. Dù nhiều vương quốc và các triều vua phát hành tiền xu, nhưng việc trao đổi ngang giá vẫn thịnh hành. Các làng trả sưu thuế cho các cấp quan quyền bằng sản phẩm nông nghiệp còn những người thợ thủ công nhận được lương thực cho ngày công của mình vào mùa thu hoạch.
Sự sắp đặt lại, đặc biệt là Hindu giáo, các chế độ đẳng cấp và gia đình tứ đại đồng đường đã đóng một vai trò ảnh hưởng trong việc định hình các hoạt động kinh tế. Chế độ đẳng cấp thực hiện chức năng rất giống với phường hội châu Âu, đảm bảo sự phân chia lao động, cung cấp việc đào tạo huấn luyện những người học việc, cho phép những người người sản xuất đạt được một sự chuyên môn hóa hẹp. Ví dụ như trong một số khu vực nhất định, việc sản xuất một loại vải trong nhiều thứ vải khác nhau là đặc sản của một đẳng cấp phụ nhất định.
Sự du nhập của người nước ngoài và sự suy yếu trong lễ nghi truyền thông làm tầng lớp Hindu mất đi đặc quyền xã hội, do đó, ngoại thương Ấn Độ phần lớn nằm trong tay người nước ngoài và người Hồi giáo. Các mặt hàng dệt như vải muxơlin, vải in hoa, khăn choàng, và các sản phẩm nông nghiệp như tiêu, quế, thuốc phiện và cây chàm đã được xuất khẩu sang châu Âu và Trung Đông và Đông Nam Phi để đổi lấy vàng và bạc.
Việc đánh giá nền kinh tế thời kỳ tiền thuộc địa của Ấn Độ chủ yếu là định tính do thiếu thông tin mang tính định lượng. Một ước tính cho thấy thu nhập của Đế quốc Môgôn của Akbar Đại đế năm 1600 với mức 17,5 triệu £, tương phản với tổng thu nhập của Anh năm 1800, với tổng số 16 triệu £. Trước khi người Anh đến xâm lược, Ấn Độ là một nền kinh tế phần lớn là nông nghiệp truyền thống với một bộ phận chủ yếu sống phụ thuộc vào công nghệ nguyên thủy. Ngành nông nghiệp đã tồnt ại cùng với một hệ thống thương mại, chế tạo và tín dụng phát triển một cách cạnh. Sau khi Môgôn sụp đổ và sự nổi lên của Đế quốc Maratha, nền kinh tế Ấn Độ đã rơi vào thời kỳ bất ổn chính trị do các cuộc chiến tranh can thiệp và các cuộc xung đột.
=== Thời kỳ thuộc địa ===
Sự cai trị thực dân đã mang đến một thay đổi lớn trong môi trường thuế má từ thuế thu nhập sang thuế tài sản đã dẫn đến một sự bần cùng hóa hàng loạt và cảnh cơ cực của đại đa số nông dân. Nó cũng tạo ra một hoàn cảnh chế độ mà trên giấy tờ là đảm bảo quyền sở hữu giữa những người thực dân, khuyến khích tự do thương mại và tạo ra một đơn vị tiền tệ thống nhất với tỷ giá hối đoái cố định, hệ thống cân đong đo đếm tiêu chuẩn hóa, các thị trường vốn, cũng như hệ thống đường sắt và điện báo phát triển, một dịch vụ dân sự với mục tiêu độc lập khỏi sự can thiệp chính trị và một hệ thống thông luật, hệ thống pháp lý adversarial. Sự thực dân hóa của Anh đối với Ấn Độ trùng hợp với các thay đổi lớn trong nền kinh tế thế giới – công cuộc công nghiệp hóa và một sự tăng trưởng đáng kể trong sản xuất và thương mại. Tuy nhiên, cuối thời kỳ cai trị thực dân, Ấn Độ đã thừa hưởng một nền kinh tế thuộc loại một trong những nước nghèo nhất thế giới đang phát triển, với sự phát triển công nghiệp trì trệ, ngành nông nghiệp không thể nuôi dân số đang tăng trưởng, có tuổi thọ và tỷ lệ biết chữ thuộc loại thấp nhất thế giới.
Một ước tính của nhà lịch sử Angus Maddison thuộc Đại học Cambridge cho thấy rằng tỷ lệ thu nhập của Ấn Độ trong tổng thu nhập của thế giới giảm từ mức 22,6% năm 1700 xuống còn 3,8% năm 1952. Trong khi các nhà lãnh đạo Ấn Độ trong quá trình đấu tranh giành độc lập và những nhà nhà lịch sử kinh tế dân tộc chủ nghĩa cánh tả đã đổ lỗi chế độ thực dân cho tình trạng ảm đạm của nền kinh tế Ấn Độ do hậu quả của chế độ thực dân, một quan điểm kinh tế vĩ mô khái quát hơn về Ấn Độ trong thời kỳ này cho thấy có các lĩnh vực tăng trưởng và giảm sút, dẫn đến sự thay đổi mang lại bởi chế độ thực dân và bởi một thế giới đang đi về hướng công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế.
=== Thời kỳ sau khi độc lập ===
Chính sách kinh tế của Ấn Độ từ khi độc lập chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm thời kỳ thực dân (bị các nhà lãnh đạo Ấn Độ coi là có tính bóc lột) và chịu ảnh hưởng của phương hướng các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa xã hội Fabia. Chính sách có thiên hướng theo chủ nghĩa bảo hộ, nhấn mạnh thay thế nhập khẩu, công nghiệp hóa, sự can thiệp của nhà nước vào các thị trường lao động và tài chính, khu vực công lớn, cơ chế điều tiết hoạt động kinh doanh và kế hoạch hóa tập trung. Jawaharlal Nehru, thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, cùng với nhà thống kê Prasanta Chandra Mahalanobis, và tiếp theo là Indira Gandhi đã thiết kế và giám sát chính sách kinh tế. Họ hy vọng thu được kết quả thuận lợi từ chiến lược này vì nó kết hợp cả khu vực tư nhân lẫn công cộng và vì chiến lược này dựa trên sự can thiệp trực tiếp và gián tiếp của nhà nước hơn là hệ thống chỉ huy tập trung cực đoan kiểu Liên Xô. Chính sách đồng thời tập trung vào cả ngành công nghiệp nặng thâm dụng vốn và công nghệ và trợ cấp cho ngành dệt bông thâm dụng lao động kỹ năng thấp và thủ công đã bị nhà kinh tế Milton Friedman chỉ trích. Ông này cho rằng điều đó gây lãng phí vốn và lao động và làm chậm trễ sự phát triển của các nhà chế tạo nhỏ.
Do tốc độ tăng trưởng bình quân từ năm 1947–80 thấp so với tốc độ tăng trưởng của các nước Nam Á khác, đặc biệt là "Các con hổ Đông Á", nên người ta đã dùng cụm từ "tỷ lệ tăng trưởng Hindu" để bêu giếu Ấn Độ. Sau năm 1980, có hai pha cải cách kinh tế tạo ra sự tăng tốc tăng trưởng kinh tế cho Ấn Độ. Các biện pháp ủng hộ kinh doanh năm 1980, do Rajiv Gandhi khởi xướng, đã xóa bỏ các hạn chế mở rộng công suất cho incumbents, xóa bỏ kiểm soát giá và giảm các loại thuế doanh nghiệp. Chính sách tự do hóa kinh tế năm 1991, được thủ tướng Ấn Độ lúc đó là P. V. Narasimha Rao và bộ trưởng tài chính của ông là Manmohan Singh khởi xướng phản ứng lại cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán, đã thủ tiêu Chế độ giấy phép Raj (cấp giấy phép nhập khẩu, công nghiệp và đầu tư) và đã chấm dứt nhiều sự độc quyền của khu vực công, cho phép phê duyệt tự động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nhiều lĩnh vực. Kể từ đó, phương hướng tự do hóa chung vẫn được giữ, bất kể chính đảng nào cầm quyền, mặc dù không có đảng nào là không cố tiến hành các cuộc vận động hành lang đầy quyền lực như các nghiệp đoàn và nông dân, hay các vấn đề có khả năng tranh cãi như đổi mới các luật lao động và giảm trợ cấp nông nghiệp.
Kể từ năm 1990, Ấn Độ đã nổi lên như là một trong những nền kinh tế thịnh vượng nhất trong thế giới đang phát triển; trong thời kỳ này, nền kinh tế đã tăng trưởng ổn định, chỉ có một vài đợt giảm sút lớn. Sự tăng trưởng này đã đi cùng với sự gia tăng tuổi thọ, tỷ lệ biết chữ và an ninh lương thực. Tăng trưởng chậm và tệ tham nhũng hoành hành cuối nhiệm kỳ Manmohan Singh đã đưa Narendra Modi của đảng theo đường lối dân tộc lên nắm quyền năm 2014 và tốc độ tăng trưởng đạt 7,4% năm tài chính 2014.
Xếp hạng tin tưởng của Ấn Độ bởi S&P and Moody đã bị các thử nghiệm hạt nhân năm 1998 làm sụt giảm, nhưng đã tăng lên mức đáng đầu tư từ năm 2007.
== Dự báo của Goldman Sachs ==
Năm 1999, Goldman Sachs đã dự báo rằng GDP của Ấn Độ theo giá thực tế sẽ vượt qua Pháp và Italia vào năm 2020, vượt Đức, Anh quốc vào năm 2025, và vượt qua Nhật Bản vào năm 2035. Đến năm 2035, Ấn Độ được cho rằng sẽ là nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới, sau Hoa Kỳ và Trung Quốc[1]. Goldman Sachs đã đưa ra những dự báo này căn cứ trên tốc độ tăng trưởng dự tính của Ấn Độ là từ 5,3%-6,1% trong những thời kỳ khác nhau, còn hiện nay Ấn Độ đang đạt mức tăng trưởng hơn 9% mỗi năm. Tuy nhiên báo cáo này cũng lưu ý rằng đã có sự chênh lêch lớn giữa dự báo và thực tế đối với tốc độ tăng trưởng thời kỳ 1960–2000; Dự báo là 7,5% song thực tế lại chỉ là 4,5%.
Một báo cáo khác gần đây của Goldman Sachs, được BBC News trích dẫn, cho rằng: "Ấn Độ có thể vượt Anh quốc và trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới trong một thập kỷ nữa do tăng trưởng của quốc gia này tăng tốc". Jim O'Neal, Nhóm trưởng của Nhóm Kinh tế học Toàn cầu tại Goldman Sachs, đã phát biển trên BBC rằng, "Sau 30 năm, lực lượng lao động của Ấn Độ sẽ lớn bằng của cả Hoa Kỳ và Trung Quốc cộng lại".
== Các dự báo tương lai khi xem xét các chuyển dịch sức mua tương đương ==
Tuy nhiên, báo cáo của Goldman Sachs đã bỏ qua hiệu ứng giảm sút nhanh những tỷ lệ sức mua tương đương của các nền kinh tế khi chúng đã đạt mức trưởng thành, dẫn đến các sức mua tương đương cuối cùng có xu hướng đạt 1,0 (so với con số 5,0 đối với Ấn Độ và Trung Quốc trong năm 2007 (có nghĩa rằng giá trị 1 dollar Mỹ ở Ấn Độ và Trung Quốc sau khi chuyển đổi sang đơn vị tiền tệ địa phương theo tỷ giá hối đoái hiện tại lớn hơn 5 lần giá trị đó ở Hoa Kỳ do các đồng tiền này rẻ hơn). Sự sụt giảm này xảy ra do: (1) lạm phát và (2) sự tăng giá đồng tiền địa phương. Hai nhân tố này có thể đồng thời xảy ra, dẫn đến tốc độ tăng trưởng GDP theo mức tỷ giá là phi thường, đạt 20% hoặc hơn mỗi năm. Điều này đẫn đến việc tăng gấp đôi GDP theo giá USD cố định mỗi 3,5 năm hay đại loại (một ví dụ của hiện tượng này đã từng xảy ra đối với nền kinh tế Ấn Độ trong năm 2006-2007 như được mô tả dưới đây).
Điều này đã từng xảy ra trong lịch sử ở các nền kinh tế Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và các nền kinh tế mới phát triển khác được công nghiệp hóa nhanh và đuổi kịp phương Tây chỉ trong vài thập kỷ. Không có lý do gì xu hướng này lại không xảy ra với các nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ (một trong những hiện tượng này có thể nhìn thấy qua những áp lực gần đây làm tăng giá đồng tiền của Ấn Độ và Trung Quốc). Ví dụ, tốc độ tăng trưởng GDP của Ấn Độ năm 2006 là 9,4%, đồng tiền tăng giá ~10%, và lạm phát khoảng 5%, dẫn đến tăng trưởng GDP đo theo "dollar tỷ giá", (=(1+(0,1+0,05))*1,094) khoảng 26%. Thậm chí cả sau khi điều chỉnh cho mức 3% mất giá của giá trị USD thực (do lạm phát ở Mỹ), các con số này theo tỷ giá USD cố định vẫn đạt mức tăng trưởng GDP 22% mỗi năm. Điều này giải thích tại sao GDP của Ấn Độ tăng từ mức 800 tỷ USD năm 2006 lên hơn 1000 tỷ USD năm 2007.
Do vậy, các con số tăng trưởng do Goldman Sachs tính toán hoặc do các tổ chức khác tính toán sử dụng tăng trưởng GDP thực tế của mỗi nước trong dự báo của mình (tương ứng với tăng trưởng trên cơ sở PPP) đã bỏ qua ảnh hưởng của sự suy giảm tỷ số PPP. Họ đã sử dụng GDP theo tỷ giá hối đoái hiện hành làm cơ sở cho các dự báo của mình về quy mô kinh tế. Bất kỳ phép ngoại suy tăng trưởng GDP nào dựa trên tăng trưởng "địa phương" trong quá khứ mà không xem xét sự suy giảm tỷ số PPP khi kinh tế phát triển đều đã đánh giá không hết tăng trưởng GDP theo tỷ giá xảy ra thực sự. Và, sai sót này sẽ lũy tích khi có thêm những dự báo mới trong tương lai.
Do đó, việc dự báo hợp lý GDP bình quân đầu người trong tương lai nên căn cứ một cách đơn giản trên hai số lượng thích hợp: kích cỡ nền kinh tế hiện tại được đo bằng PPP, và tốc độ tăng trưởng thực. Căn cứ vào sự tăng trưởng PPP, người ta tính rằng GDP của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sẽ vượt qua Hoa Kỳ để trở thành nền kinh tế lớn nhất vào thời kỳ 2009-2010, nghĩa là chỉ cách hiện nay (2007) có 3 năm. Tương tự, GDP của Ấn Độ đã vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới. Nếu dự báo tương lai nền kinh tế, người ta tính rằng nền kinh tế (GDP theo PPP) Ấn Độ sẽ có vượt qua nền kinh tế Mỹ vào khoảng năm 2024 (với mức tăng trưởng 10% mỗi năm cho Ấn Độ, 3% cho Mỹ). Nghiên cứu lịch sử kinh tế Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc sẽ cho phép thấy nền kinh tế Ấn Độ đã vừa vượt qua một nút thắt cổ chai tăng trưởng, và rằng tốc độ tăng trưởng thực của Ấn Độ có thể thậm chí cao hơn và sẽ giữ được trong nhiều thập kỷ, khiến cho sự qua mặt GDP này có thể xảy ra sớm hơn và kịch tích hơn"). Mặc dù Ấn Độ trở thành nền kinh tế có GDP lớn hơn GDP của kinh tế Hoa Kỳ, thì thu nhập bình quân đầu người của Ấn Độ vẫn chỉ bằng ~1/4 so với của Mỹ vào lúc đó. Vì lý do như trên, chắc chắn là trong vòng 16-17 năm kể từ năm 2007, Ấn Độ vẫn tiếp tục tăng trưởng với nhịp đô như hiện nay khi nó vượt Hoa Kỳ để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.
== Tham khảo ==
Sách
Nehru, Jawaharlal (1946). Discovery of India. Penguin Books. ISBN 0-14-303103-1.
Kumar, Dharma (Ed.) (1982). The Cambridge Economic History of India (Volume 2) c. 1757 - c. 1970. Penguin Books.
Sankaran, S (1994). Indian Economy: Problems, Policies and Development. Margham Publications. ISBN.
Roy, Tirthankar (2000). The Economic History of India. Oxford University Press. ISBN 0-19-565154-5.
Bharadwaj, Krishna (1991). “Regional differentiation in India”. Trong Sathyamurthy, T.V. (ed.). Industry & agriculture in India since independence. Oxford University Press. tr. pp. 189–199. ISBN 0-19-564394-1. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
Các tài liệu
John Williamson: The Rise of the Indian Economy, March 2006
Williamson, John and Zagha, Roberto (2002). "From the Hindu Rate of Growth to the Hindu Rate of Reform". Working Paper No. 144. Center for research on economic development and policy reform.
DeLong, J. Bradford (2001). "India Since Independence: An Analytic Growth Narrative".
Centre for Media Studies (2005). "India Corruption Study 2005: To Improve Governance Volume – I: Key Highlights". Transparency International India.
Kelegama, Saman and Parikh, Kirit (2000). "Political Economy of Growth and Reforms in South Asia". Second Draft.
Cameron, John and Ndhlovu, P Tidings (2001). "Cultural Influences on Economic Thought in India: Resistance to diffusion of neo-classical economics and the principles of Hinduism".
Panagariya, Arvind (2004). "India in the 1980s and 1990s: A Triumph of Reforms".
Rodrik, Dani and Subramanian, Arvind (2004). "From "Hindu Growth" To Productivity Surge: The Mystery Of The Indian Growth Transition".
Bernardi, Luigi and Fraschini, Angela (2005). "Tax System And Tax Reforms In India". Working paper n. 51.
Gordon, Jim and Gupta, Poonam (2003). "Understanding India's Services Revolution". ngày 12 tháng 11 năm 2003.
Ghosh, Jayati. “Bank Nationalisation: The Record”. Macroscan. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2017.
Srinivasan, T.N. (2002). "Economic Reforms and Global Integration". 17 January 2002.
Sachs, D. Jeffrey; Bajpai, Nirupam and Ramiah, Ananthi (2002). "Understanding Regional Economic Growth in India". Working paper 88.
Các ấn bản phẩm của chính phủ
“Jawahar gram samriddhi yojana”. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2017.
“India & the World Trade Organization”. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2017.
“Economic Survey 2004–2005”. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2017.
“History of the Planning Commission”. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2017.
Multiple authors (2004). "Agricultural Statistics at a Glance 2004".
Kurian, N.J. “Regional disparities in india”. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2017.
Tin tức
“That old Gandhi magic”. The Economist. November 27 1997.
“Indif_real_GDP_per_capitaa says 21 of 29 states to launch new tax”. Daily Times. March 25 2005.
“Economic structure”. The Economist. October 6 2003.
“Indian manufacturers learn to compete”. The Economist. 12 February 2004.
“India’s next 50 years”. The Economist. August 14 1997.
“The plot thickens”. The Economist. May 31 2001.
“The voters' big surprise”. The Economist. May 13 2004.
“Regional stock exchanges -- Bulldozed by the Big Two”. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2017.
“Infrastructure the missing link”. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2017.
“Rural Employment Guarantee Bill passed by voice vote”. Yahoo. August 23 2005.
“Of Oxford, economics, empire, and freedom”. The Hindu. October 02 2005.
“Indian GDP expected to be 902 billion dollars”. People's Daily Online. January 12 2007.
“India, now a $1-trillion economy!”. Rediff. April 26 2007.
Articles
“Economic Development of India” (PDF). Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2017.
“Milton Friedman on the Nehru/Mahalanobis Plan”. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2017.
“Forex reserves up by $88mn”. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2017.
“CIA - The World Factbook”. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2017.
“Infrastructure in India: Requirements and favorable climate for foreign investment”. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2017.
“PPP GDP 2004” (PDF). Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2017.
“Total GDP 2004” (PDF). Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2017.
“Forbes Global 2000 (Ger-Ind)”. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2017.
“Forbes Global 2000 (Ind-Jap)”. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2017.
== Liên kết ngoài ==
India and the Knowledge Economy - a World Bank Institute report.
Finance Ministry of India
Economy of India
India in Business- Official website for Investment and Trade in India
Doing Business with India: Free Guide for Foreign Investors
Taxation
Reserve Bank of India's database on the Indian economy
India Brand Equity Foundation
Ernst & Young 2006 report on doing Business in India
Department of Public Enterprises
Chindia: The next Decade Senior Business Week writer Pete Engardio, credited for having made the Chindia neologism famous, compares the rise of both China and India in this online video conference. (video)
India Economy Watch - search engine
CIA - The World Factbook -- India
Cheers! India is now a trillion dollar economy by Venkatesan Vembu, Daily News & Analysis
Gross Domestic Product Growth - India
Annual Inflation Rate - India |
sân bay gatwick.txt | Sân bay quốc tế Gatwick London là một sân bay tại thủ đô Luân Đôn, Anh. Đây là sân bay lớn thứ nhì của Thủ đô của nước Anh xinh đẹp, chỉ sau Sân bay Heathrow ở cùng thành phố London cổ kính. Năm 2009, sân bay này đã phục vụ 32 triệu lượt khách. Sân bay Gatwick (IATA: LGW, ICAO: EGKK) có cự ly 5 km về phía bắc trung tâm Crawley, West Sussex, và 45,7 km về phía nam Central London. Đây là sân bay bận rộn thứ nhì ở Vương quốc Anh, sau sân bay Heathrow tính về lượt khách. Gatwick là sân bay hàng đầu châu Âu về các chuyến bay điểm-đến-điểm.
Năm 2010, hơn 31,3 triệu lượt hành khách thông qua sân bay Gatwick, khiến nó là tất bật thứ 9 châu Âu tính theo lượt khách và là thứ 12 về số lượt khách quốc tế. Các chuyến bay thuê chuyến thường thích sân bay này hơn sân bay Heathrow khi chọn làm cơ sở cho Luân Đôn và Đông Nam. Từ năm 1978 đến 2008, nhiều chuyến bay từ và đến Hoa Kỳ đã sử dụng Gatwick do các quy định hạn chế sử dụng sân bay Heathrow thi hành trong hiệp định Bermuda II giữa Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. (Đến thời điểm năm 2010, Delta Air Lines và US Airways là các hãng hàng không Hoa Kỳ tiếp tục sử dụng sân bay Gatwick cho các chuyến bay Hoa Kỳ.) Sân nay này là cơ sở cho các hãng bay theo lịch trình Aer Lingus, British Airways (BA), EasyJet, Flybe và Virgin Atlantic, cũng như các hãng bay thuê chuyến bao gồm Monarch Airlines, Thomas Cook Airlines và Thomson Airways.
== Hãng hàng không và tuyến bay ==
Gatwick có hai nhà ga Bắc và Nam. Nhà ga Nam cũ hơn và bận rộn hơn và là nơi có nhà ga đường sắt sân bay Gatwick tọa lạc.
=== Vận chuyển hàng hóa ===
Royal Jordanian Cargo
Turkish Airlines Cargo
== Tham khảo == |
giải thưởng cống hiến của fifa.txt | Giải thưởng cống hiến của FIFA (tiếng Anh: FIFA Presidential Award) là giải thưởng bóng đá được trao thường niên tại Lễ trao giải FIFA. Giải lần đầu tiên được trao bởi chủ tịch đương nhiệm của FIFA khi đó Sepp Blatter năm 2001, và sau đó được trao hàng năm.
== Ghi chú ==
== Tham khảo == |
wade-giles.txt | Wade–Giles (phát âm /ˌweɪd ˈdʒaɪlz/), đôi khi được viết tắt là Wade, là một phương pháp phiên âm tiếng Quan thoại (tiếng Hán phổ thông) bằng các ký tự Latinh. Người sáng tạo ra phương án này là Thomas Wade hồi giữa thế kỷ 19, và người hoàn thiện nó là Herbert Giles thể hiện trong từ điển Trung-Anh năm 1892.
Wade–Giles từng được sử dụng rộng rãi ở các nước nói tiếng Anh, được sử dụng trong một số cuốn sách tham khảo tiêu chuẩn và trong tất cả các sách về Trung Quốc xuất bản trước năm 1979. Nó đã thay thế hệ thống latinh hóa Nam Ninh vốn từng phổ biến cho đến tận cuối thế kỷ 19. Ngày nay, đến lượt nó lại bị thay thế gần như hoàn toàn bởi phương án bính âm Hán ngữ do chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa xây dựng năm 1958. Tuy nhiên, hiện vẫn còn nhiều tên người và địa danh ở Đài Loan được phiên âm bằng Wade–Giles.
== Tham khảo ==
"Chinese Language Transliteration Systems – Wade–Giles". UCLA film and television archive. http://web.archive.org/web/20070128065433/http://polaris.gseis.ucla.edu/skozerow/wadegiles.htm. Truy cập 2007-08-04. (Web archive) |
hội nghị cấp cao đông á lần thứ 3.txt | Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ 3 là cuộc họp thứ ba của Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS) được tổ chức vào tháng 11 năm 2007. EAS là một diễn đàn ở Châu Á được tổ chức hàng năm bởi các nhà lãnh đạo 16 quốc gia trong khu vực Đông Á. các cuộc họp EAS được tổ chức hàng năm sau cuộc họp của các nhà lãnh đạo ASEAN.
== Hội nghị lần thứ 3 ==
EAS thứ ba được tổ chức vào ngày 21 tháng 11 năm 2007 tại Singapore.
16 quốc gia tham gia là:
== Các vấn đề liên quan đến EAS lần thứ 3 ==
Các kết quả được tóm tắt trong Báo cáo của 3 Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á Singapore, ngày 21 tháng 11 năm 2007 của quốc qia chủ tịch.
=== Myanmar ===
Các vấn đề của Myanmar (hay Miến Điện), sau biểu tình chống chính phủ tại Myanma 2007, là để được vào chương trình nghị sự cho EAS lần thứ ba Ban đầu nó được cho rằng cố vấn đặc biệt của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, Tiến sĩ Ibrahim Gambari đã được mời thuyết trình trước các nhà lãnh đạo tại hội nghị. Tuy nhiên sau Hội nghị cấp cao ASEAN, trước áp lực từ Myanmar. ASEAN quyết định rằng Tiến sĩ Gambari sẽ không thuyết trình trước các nhà lãnh đạo mà là thủ tướng Myanmar Thein Sein sẽ giải quyết tại Hội nghị cấp cao ASEAN và ASEAN sẽ tạo điều kiện cùng chia sẻ với các mối quan tâm khác. Tiến sĩ Gambari đã sẵn sàng cho cuộc họp gặp kín với các nhà lãnh đạo.
=== Biến đổi khí hậu ===
EAS lần thứ ba được dự kiến sẽ có thông báo về việc giải quyết các biến đổi khí hậu. Tại Hội nghị đã ra tuyên bố Singapore về biến đổi khí hậu, năng lượng và Môi trường đã được ký kết thiết lập các mục tiêu đầy khát vọng về biến đổi khí hậu, năng lượng và môi trường.
=== Thương mại ===
Hội nghị nhất trí chờ đợi đến EAS 4 báo cáo thêm về Đối tác Kinh tế Toàn diện ở Đông Á (CEPEA) đề xuất tại EAS 2.
Hội nghị cũng nhất trí thành lập Viện Nghiên cứu kinh tế ASEAN và Đông Á (ERIA).
Báo cáo Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á lần thứ 3 tại Singapore của Chủ tịch, ngày 21 tháng 11 năm 2007 cho biết:
13. Chúng tôi đã đồng ý thành lập Viện Nghiên cứu kinh tế ASEAN và Đông Á (ERIA) để được cung cấp tạm thời tại Ban Thư ký ASEAN. Chúng tôi hoan nghênh báo cáo gửi cho chúng tôi bởi các nhóm chuyên gia, trong đó tập trung vào các chủ đề nghiên cứu của các lợi ích chiến lược với các nước Đông Á. Chúng tôi khuyến khích các nhóm chuyên gia để tiếp tục công việc nghiên cứu của mình và chúng tôi nhìn về phía trước để khuyến nghị chính sách thiết thực để tiếp tục hội nhập khu vực và tăng cường quan hệ đối tác trong khu vực Đông Nam Á.
14. Chúng tôi hoan nghênh báo cáo tiến độ nghiên cứu của các học giả và các học giả về một đối tác kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA), và khuyến khích họ để duy trì động lực tốt trong công việc của họ đối với việc gửi một báo cáo cuối cùng của các khuyến nghị thông qua các Bộ trưởng kinh tế cho chúng tôi tại 4 Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á. Nó sẽ là hữu ích để kết hợp các quan điểm của khu vực tư nhân trong quá trình làm việc. Các CEPEA nên xây dựng dựa trên và thêm giá trị cho các FTA hiện tại của chúng tôi. Chúng tôi khuyến khích các kết luận nhanh chóng các FTA ASEAN + 1 của chúng tôi.
== Sau hội nghị ==
Nhật Bản và Trung Quốc sau đó đã đồng ý vào tháng 12 năm 2007:
Tăng cường hợp tác trong khu vực hội nhập kinh tế khu vực Đông Á, bao gồm cả các Hiệp định tự do thương mại Đông Á (EAFTA), Đối tác kinh tế toàn diện ở Đông Á (CEPEA), và Viện nghiên cứu ASEAN và Đông Á.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
People's Daily Online - Backgrounder: East Asia Summit |
giải vì tự do.txt | Giải thưởng Vì Tự do (tiếng Anh: Prize For Freedom) là một giải thưởng của Liên đoàn Quốc tế Tự do (Liberal International) được trao hàng năm cho một cá nhân có đóng góp xuất sắc cho nhân quyền và tự do chính trị. Giải này được lập từ năm 1985.
== Các người đoạt giải ==
1985 - Raúl Alfonsín
1986 - Sheena Duncan
1987 - Corazon Aquino
1988 - Hans-Dietrich Genscher
1989 - Benazir Bhutto
1990 - Vaclav Havel
1991 - Gitobu Imanyara và Domingo Laino
1992 - María Elena Cruz Varela
1993 - Mary Robinson
1994 - Ogata Sadako
1995 - Aung San Suu Kyi
1996 - Martin Lee
1997 - Olusegun Obasanjo
1998 - Khalida Messaoudi
1999 - Lennart Meri
2000 - Asma Jahangir
2001 - Trần Thủy Biển
2002 - Helen Suzman
2003 - Abdoulaye Wade
2004 - Grigory Yavlinsky
2005 - Antonino Zichichi
2006 - Sam Rainsy
2007 - Alaksandar Milinkievič
2008 - Padraig O’Malley
2009 - Eric Avebury
2010 - Shirin Ebadi
2011 - Chee Soon Juan
2012 - Colin Eglin
2013 - Dick Marty
== Xem thêm ==
Tuyên ngôn Oxford
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Prize For Freedom
Aliaksandr Milinkevich |
g8.txt | G8 là nhóm 7 quốc gia có nền công nghiệp hàng đầu của thế giới bao gồm (Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh, Hoa Kỳ (G6, 1975), Canada (G7, 1976)) và Nga (gia nhập từ năm 1998 nhưng đến năm 2014 thì bị loại bỏ khỏi G8). Điểm nhấn của G8 là hội nghị thượng đỉnh kinh tế và chính trị được tổ chức hàng năm với sự tham dự của những người đứng đầu nhà nước với các quan chức quốc tế, đồng thời cũng có nhiều hội nghị bên lề và khảo sát chính sách.
Việc tước tư cách thành viên G8 của Nga là đòn đáp trả từ các nước phương Tây, sau khi Nga sáp nhập bán đảo Krym ở miền Nam của Ukraina. Từ đó G8 chỉ có 7 nguyên thủ quốc gia họp mặt.
== Lịch sử ==
G8 có căn nguyên khởi đầu từ cuộc khủng hoảng dầu hoả 1973 và suy thoái toàn cầu theo sau đó. Các vấn đề này đưa đến việc Hoa Kỳ thành lập Nhóm Thư viện (Library Group) quy tập các viên chức tài chính cấp cao từ Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản để thảo luận các vấn đề kinh tế. Năm 1975 Tổng thống Pháp Valéry Giscard d'Estaing mời nguyên thủ của 6 nước công nghiệp hàng đầu tham dự hội nghị thượng đỉnh đầu tiên tại Rambouillet và đưa ra đề nghị họp thường quy. Những người tham dự đồng ý tổ chức họp mặt hàng năm theo chế độ chủ tịch luân phiên, hình thành nên nhóm G6 bao gồm Pháp, Tây Đức, Ý, Nhật, Anh, Hoa Kỳ. Vào hội nghị thượng đỉnh kế tiếp tại Puerto Rico, nó trở thành G7 với sự tham gia của Canada theo yêu cầu của Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.
Sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, năm 1991 Liên Xô và sau đó là Nga bắt đầu gặp nhóm G7 sau hội nghị thượng đỉnh chính. Từ hội nghị lần thứ 20 tại Naplé, nhóm này trở thành P8 (Political 8), hay gọi vui không chính thức là "G7 cộng 1". Nga được cho phép tham gia đầy đủ hơn kể từ hội nghị lần thứ 24 tại Birmingham, đánh dấu sự hình thành G8. Tuy nhiên Nga không được tham dự hội nghị dành cho các bộ trưởng tài chính vì nó không là cường quốc kinh tế; và "G7" được dùng để chỉ cuộc họp ở cấp bộ trưởng này. Hội nghị thượng đỉnh năm 2002 tại Kananaskis (Canada) thông báo Nga sẽ là chủ nhà cho hội nghị năm 2006, và như vậy hoàn tất quá trình trở thành thành viên đầy đủ của Nga.
Vì cuộc khủng hoảng Krym 2014, các nước G7 đã từ chối không tham dự hội nghị G8 mà dự định tổ chức tại Sochi, Nga vào mùa hè năm 2014. Thay vào đó, họ dự định hội thảo với nhau không có mặt của tổng thống Nga Putin tại Brussel.
== Cấu trúc và hoạt động ==
G8 không được hỗ trợ bởi một tổ chức xuyên quốc gia, không như Liên Hiệp Quốc hay Ngân hàng Thế giới. Ghế chủ tịch của nhóm được luân phiên hàng năm giữa các nước thành viên, với trách nhiệm chủ tịch tính từ ngày 1 tháng 1. Nước giữ ghế chủ tịch tổ chức một loạt các hội nghị cấp bộ trưởng, từ đó dẫn đến hội nghị thượng đỉnh giữa các nguyên thủ trong 3 ngày vào giữa năm, cũng như việc bảo đảm an ninh cho người tham dự.
Các cuộc họp ở cấp bộ trưởng bàn về các vấn đề sức khoẻ, thi hành luật lệ và lao động, để giải quyết các vấn đề của nhau và của toàn cầu. Nổi tiếng nhất trong số đó là G7, hiện được dùng để nói về hội nghị của các bộ trưởng tài chính của G8 trừ nước Nga, và các viên chức từ Cộng đồng châu Âu. Tuy nhiên, cũng có một cuộc họp ngắn "G8+5" giữa các bộ trưởng tài chính của G8 và Trung Quốc, México, Ấn Độ, Brasil và Nam Phi.
== Xem thêm ==
G7
G20
== Liên kết ngoài ==
G8 Online
G8 Information Center
== Chú thích == |
htv awards.txt | HTV Awards (tên gọi khác: Giải thưởng truyền hình HTV) là giải thưởng thường niên được tổ chức từ năm 2006, giải thưởng do Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh khởi xướng và tổ chức nhằm tôn vinh những nghệ sĩ thuộc các lĩnh vực: Phim truyền hình, Sân khấu và Ca nhạc được khán giả của đài HTV yêu thích nhất trong năm. Đối với danh hiệu, mỗi hạng mục sẽ gồm 5 ứng cử viên, và khán giả xem đài sẽ là người quyết định những nghệ sĩ nào được vinh danh trong đêm trao giải được tổ chức hoành tráng và trang trọng trên sóng HTV bằng cách soạn tin nhắn hoặc bình chọn online trên website.
Lễ trao giải thưởng thường diễn ra vào khoảng từ tháng 3 - tháng 5. Lễ trao giải lần thứ 7 diễn ra vào ngày 4 tháng 5 năm 2013, tại Nhà hát truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh.
== Giới thiệu ==
Các nghệ sĩ nhận được đề cử Giải thưởng truyền hình HTV phải tham gia trong các chương trình truyền hình của HTV trong năm, hoạt động trong những tổ chức nghệ thuật chuyên môn, có đóng góp thiết thực cho việc phát triển truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh trong năm và phải có tư cách đạo đức nghề nghiệp, được khán giả yêu thích và công nhận.
Đối với danh hiệu, mỗi hạng mục sẽ gồm 5 ứng cử viên, và khán giả xem đài sẽ là người quyết định những nghệ sĩ nào được vinh danh trong đêm trao giải được tổ chức hoành tráng và trang trọng trên sóng HTV bằng cách soạn tin nhắn hoặc bình chọn online trên website. Những nghệ sĩ muốn tranh giải Nghệ sĩ cống hiến phải do chính đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh đề cử và phải tích cực tham gia hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật với HTV. Với giải Nghệ sĩ thân thiện do nhà tài trợ trao tặng, ứng cử viên có mặt trong danh sách Top 3 của giải do khán giả và nhà báo bình chọn trong năm nay, đồng thời tích cực tham gia các hoạt động từ thiện của HTV.
Trước khi trao giải vào khoảng 2 tháng, đài truyền hình sẽ tổ chức những chương trình phát sóng các đề cử cũng như phỏng vấn các nghệ sĩ về giải thưởng.
== Cơ cấu giải thưởng ==
9 giải Nghệ sĩ được khán giả yêu thích nhất: Cúp HTV và 20 triệu đồng/giải. (Năm 2006 là 40 triệu)
18 giải Top 3 của năm: 10 triệu đồng/giải. (Năm 2007 là 20 triệu)
3 giải Nghệ sĩ cống hiến HTV: Cúp HTV và 20 triệu đồng/giải
1 giải Nghệ sĩ Thân Thiện: Cúp và 1 thẻ ATM YOU Card, trị giá 20 triệu đồng
== Các giải thưởng và nghệ sĩ đoạt giải ==
=== Âm nhạc ===
Nam, nữ ca sĩ được yêu thích nhất
Nhóm nhạc được yêu thích nhất (trao giải từ năm 2007 đến năm 2009)
=== Nhạc sĩ & MV ===
MV được yêu thích
Nhạc sĩ được yêu thích
=== Điện ảnh ===
Nam, nữ diễn viên điện ảnh được yêu thích nhất
Nam, nữ diễn viên phụ được yêu thích nhất (bắt đầu trao giải từ năm 2010).
Diễn viên được yêu thích nhất(không phân biệt chính phụ bắt đầu trao giải từ năm 2015)
Năm 2007,2008: hai giải thưởng này là một.
Ghi chú
^1 Năm 2009, Nghệ sĩ Thanh Thúy đoạt 2 giải: Nữ diên viên được yêu thích nhất và giải diễn viên kịch nói được yêu thích nhất.
^2 Năm 2011, có 2 giải thưởng nam diễn viên phụ vì có số phiếu ngang bằng nhau.
=== Sân khấu ===
=== MC ===
Được trao từ năm 2015.
=== Người mẫu ===
Được trao từ năm 2015.
=== Giải khác ===
Được trao từ năm 2009.
Nghệ sĩ cống hiến do HTV trao tặng
Nghệ sĩ thân thiện do nhà tài trợ trao tặng
== Chú thích == |
sông delaware.txt | Sông Delaware là một con sông chính nằm trên duyên hải Đại Tây Dương của Hoa Kỳ. Một đoàn thám hiểm Hà Lan, do Henry Hudson dẫn đầu, lần đầu tiên đã vẽ bản đồ con sông vào năm 1609. Con sông được đặt tên thánh là "Sông Nam" trong thuộc địa Tân Hà Lan được thành lập sau đó, ngược lại "Sông Bắc" là sông Hudson như đã được biết tên vào thời đó. Cái tên "Delaware" có nguồn gốc từ Thomas West, Baron De La Warr, được người Anh sử dụng và trở thành chuẩn sau khi người Anh chinh phục được Tân Hà Lan vào năm 1664.
Con sông gặp mặt nước thủy triều tại Trenton, New Jersey. Chiều dài tổng cộng của nó từ đầu nguồn nhánh dài nhất đến Cape May và Cape Henlopen là 660 km (410 dặm Anh) trong khi đó trên đầu nguồn của vịnh Delaware nó có chiều dài là 580 km (360 dặm Anh). Lượng nước ngọt trung bình đổ ra cửa là 330 m³ (11.550 ft³) mỗi giây.
Sông Delaware một phần tạo ra ranh giới giữa tiểu bang Pennsylvania và tiểu bang New York, toàn bộ ranh giới giữa tiểu bang New Jersey và tiểu bang Pennsylvania, và phần lớn ranh giới giữa tiểu bang Delaware và tiểu bang New Jersey. Trong khu vực gọi là "Vòng cung 12 dặm" của thành phố New Castle, ranh giới giữa hai tiểu bang Delaware và New Jersey thật sự nằm ở bờ sông cận đông nhất hơn là ranh giới thường thấy giữa dòng chảy, khiến cho một phần nhỏ bán đảo New Jersey rơi vào khu vực thẩm quyền của tiểu bang Delaware. Phần còn lại của ranh giới theo quy luật dòng chảy giữa sông.
Xưa kia giao thương rất là quan trọng trên thượng lưu dòng sông, chủ yếu là trước khi có sự cạnh tranh của đường sắt (1857).
Kênh Pennsylvania chạy song song với con sông từ Easton đến Bristol, mở cho sử dụng vào năm 1830.
Kênh Delaware và Raritan chạy dọc sông Delaware bên phía New Jersey từ Milford đến Trenton, hợp lưu nước của sông Delaware và sông Raritan River khi nó đổ nước sông Delaware qua một kênh nhỏ vào New Brunswick. Đường dẫn nước kênh này vẫn còn được dùng làm nguồn cung cấp ước bởi tiểu bang New Jersey.
Kênh Morris (hiện nay bị bỏ phế và gần như hoàn toàn bị san lấp) và Kênh Delaware và Hudson nối liền sông Delaware và sông Hudson.
Kênh Chesapeake và Delaware liên thông sông Delaware với vịnh Chesapeake.
Nưới thủy triều trung bình phía dưới tiểu bang Philadelphia là khoảng 1,8 mét (6 ft). Tầm mức quy mô thương mại của Philadelphia đã giúp cải thiện dòng sông phía thành cảng quan trọng vĩ đại. Những cải thiện nhỏ cũng đã được tiểu bang Pennsylvania thực hiện kể từ năm 1771.
Trong "dự án 1885", chính phủ Hoa Kỳ đã tiến hành có hệ thống tạo ra một đường thông nước dài 7.8 mét (26 ft) rộng 180 mét (600 ft) từ Philadelphia vào vùng nước sâu của vịnh Delaware. Đạo luật Sông và Bến tàu năm 1899 đã tạo ra một đường thông nước dài 9.1 mét (30 ft) rộng 180 mét (600 ft) từ Philadelphia vào vùng nước sâu của vịnh.
== Dòng chảy ==
Dòng chảy chính, được gọi là nhánh tây hay nhánh Mohawk bắt đầu tại quận Schoharie, New York, trên cao độ khoảng 575 mét (1886 ft) so với mặt nước biển gần núi Jefferson và chảy quanh co sâu phía dưới băng qua cao nguyên. Nó bị chặn lại tại một điểm nơi nó tạo thành hồ chứa Cannonsville, và rồi làm thành ranh giới giữa tiểu bang New York và tiểu bang Pennsylvania tại vĩ tuyến 42 độ Bắc cho đến khi nó nhô ra từ dãi núi Catskill. Tương tự, nhánh đông bắt đầu từ một hồ nhỏ nằm ở phía nam Grand Gorge trong thị trấn Roxbury thuộc quận Delaware, chảy về phía nam đến nơi nó bị Thành phố New York chặn lại tạo thành hồ chứa Pepacton, đây là hồ chứa nước lớn nhất trong hệ thống cung cấp nước của Thành phố New York. Khu vực hợp lưu của hai nhánh nằm ở phía nam làng Hancock.
Từ Hancock, dòng sông chảy giữa dãy núi Pocono và những móng đá phiến thấp phía dưới của dãy núi Catskill. Con sông chảy xuống một thung lũng rộng của dãy núi Appalachian, băng qua điểm cao Hawk's Nest, New York. Tại Port Jervis, New York, nó đi vào một con kênh nhỏ của cảng Jervis. Tại đây, chóp núi dài Walpack làm lệch dòng chảy của nó vào trong thung lũng Minisink. Từ đó, nó chảy dọc theo ranh giới của Pennsylvania–New Jersey khoảng 40 km (25 dặm Anh) cho đến cuối chóp núi tại khúc cong Walpack nằm trong Khu Giải trí Quốc gia Đèo nước Delaware. Minisink là một thung lũng bị chôn vùi. Từ đây, sông Delaware chảy trong một nền móng trầm tích băng hà bị chôn vùi trong thời kỳ băng hà cuối cùng. Rồi nó uốn quanh chóp dãy núi Kittatinny và băng qua đèo nước Delaware, và rồi sau đó nó chảy qua một vùng miền quê quyến rủ và yên tỉnh có rừng, nông trại, phong phú với cao nguyên và vách đá cho đến khi nó băng qua đồng bằng Appalachian và lần nữa nó tiến vào khu vực đồi núi tại Easton, Pennsylvania. Từ điểm này, nó men theo sườn của những con đồi đẹp. Đồi đẹp nhất là Nockamixon Rocks, dài 5 km (3 dặm Anh) và cao trên 61 mét (200 ft).
Tại Trenton có một điểm dốc cao 2,4 mét (8 ft). Phía dưới Trenton, sông chảy giữa Philadelphia và New Jersey trước khi trở thành một thông lộ rộng, nước chảy chậm chạp vào biển. Nhiều đầm lầy nằm dọc theo hai bên bờ của nó và từ từ mở rộng vào trong vịnh Delaware.
=== Các sông nhánh ===
Các sông nhánh chính trong tiểu bang New York là sông Mongaup, sông Neversink và Lạch Callicoon. Từ tiểu bang Pennsylvania, các sông nhánh chính là sông Lackawaxen, sông Lehigh, và sông Schuylkill. Từ tiểu bang New Jersey, gồm có sông Pequest, sông Musconetcong và sông Maurice cộng lạch Oldmans, lạch Raccoon (New Jersey) và lạch Rancocas chảy vào trong sông Delaware.
Sông Appoquinimink
Lạch Alloway
Lạch Assiscunk
Lạch Assunpink
Lạch Big Timber
Lạch Blacks
Lạch Brodhead
Lạch Bushkill
Lạch Chester
Sông Christina
Sông Cooper (New Jersey)
Lạch Crafts
Lạch Crosswicks
Lạch Crum
Lạch Darby
Lạch Equinunk
Flat Brook
Lạch Frankford
Sông Lehigh
Lạch Lockatong
Lạch Mantua
Lạch Martins
Sông Maurice
Sông Musconetcong
Lạch Neshaminy
Sông Neversink
Lạch Newton (New Jersey)
Lạch Oldmans
Paulins Kill
Lạch Pennypack
Sông Pequest
Lạch Pompess
Lạch Pohatcong
Lạch Poquessing
Lạch (New Jersey)
Lạch Rancocas
Lạch Ridley
Sông Salem
Sông Schuylkill
Lạch
Lạch Tohickon
Lạch Wickecheoke
Lạch Woodbury
== Nguồn cấp nước của Thành phố New York ==
Sau khi Thành phố New York đã thiết lập 15 hồ chứa, cung cấp nước cho dân số đang gia tăng của thành phố thì thành phố tìm cách xin phép lập thêm 5 hồ chứa dọc theo các nhánh sông Delaware. Tuy nhiên, thành phố không được phép chặn các nhánh sông Delaware để tạo các hồ mới. Vì thế vào năm 1928, Thành phố New York quyết định đưa nước từ sông Delaware về để cung cấp nước cho dân số đang bùng nổ, bắt đầu khi cuộc Đại khủng hoảng khởi sự. Tuy nhiên, các làng và thị trấn bên kia sông trong tiểu bang Pennsylvania đã sử dụng sông Delaware làm nguồn cấp nước của họ. Cả hai phía sau đó đem sự việc ra kiện trước Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, và vào năm 1931, Thành phố New York City cuối cùng được phép rút 440 triệu gallon nước mỗi ngày từ sông Delaware và các sông nhánh của nó trên thượng nguồn.
== Giao thông ngang sông ==
Sông Delaware là rào cản chính cho giao thông giữa New Jersey và Pennsylvania. Đa số các cầu lớn đều thu phí cho giao thông về hướng tây. Các cây cầu này được làm chủ bởi Cơ quan Quản lý Sông và Vịnh Delaware, Cơ quan Quản lý Cảng sông Delaware, Ủy ban đặc trách cầu Quận Burlington hay Ủy ban đặc trách hợp tác thu phí cầu Sông Delaware.
=== Washington vượt sông Delaware ===
Có lẽ vụ "vượt sông Delaware" nổi tiếng nhất là sự kiện lục quân của George Washington vượt sông Delaware trên những chiếc thuyền nhỏ trong thời Cách mạng Mỹ vào giáng sinh năm 1776. Cuộc vượt sông này dẫn đến cuộc tấn công bất ngờ và thành công khi đánh bại lực lượng Hessian (lính đánh thuê người Đức) đang đóng tại Trenton, New Jersey.
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
Devastation on the Delaware: Stories and Images of the Deadly Flood of 1955 (2005, Word Forge Books, Ferndale, PA) The only comprehensive documentary of this weather disaster in the Delaware River Valley.
== Liên kết ngoài ==
Delaware River Basin Commission
Delaware Riverkeeper Network
National Park Service: Delaware Water Gap National Recreation Area
National Park Service: Upper Delaware Scenic & Recreational River
National Park Service: Lower Delaware Wild & Scenic River
U.S. Geological Survey: NJ stream gaging stations
U.S. Geological Survey: NY stream gaging stations
U.S. Geological Survey: PA stream gaging stations |
thượng phụ đại kết thành constantinopolis.txt | Thượng phụ Đại kết, tức Thượng phụ thành Constantinopolis là Tổng giám mục thành Constantinopolis và là phẩm bậc cao nhất trong Chính Thống giáo Đông phương, được coi là primus inter pares ("đứng đầu giữa những người bình đẳng").
Theo truyền thống Kitô giáo, Thượng phụ Constantinopolis được xem là người thừa kế tông đồ Thánh Anrê. Từ thế kỉ thứ 6 chức vị này trở thành Thượng phụ Đại kết của toàn Chính Thống giáo Đông phương. Người đang giữ chức vị hiện tại là Thượng phụ Đại kết thứ 270, Batôlômêô I. Ngày nay, chức vị nằm dưới thẩm quyền của Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ và chức vị phải do một người mang quốc tịch Thổ Nhĩ Kỳ nắm giữ.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Ecumenical Patriarchate of Constantinople
Vice President Al Gore welcomes the "Green Patriarch" to the Vice Presidential Residence in Washington, DC.
Patriarchs of Constantinople
CBS 60 Minutes featured on ngày 20 tháng 12 năm 2009 a segment entitled "The Patriarch Bartholomew"
A repository with scientific papers on various aspects of the history of the Patriarchate in Byzantine times in English and in German |
nhà xuất bản cầu vồng.txt | Nhà xuất bản Cầu Vồng (tiếng Nga: Издательство "Радуга") là nhà sản xuất và phát hành văn hóa phẩm, xuất bản phẩm lớn nhất Liên bang Soviet.
== Lịch sử hình thành và phát triển ==
=== Xuất bản phẩm đáng lưu ý ===
=== Giám đốc ===
Ksenya Atarova (hiện nay)
== Ảnh hưởng ==
== Xem thêm ==
Thông tin trên Website Labirint
Thông tin trên Website PravKniga |
tama.txt | Tama là một chi nhện trong họ Hersiliidae.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
arthur wellesley, công tước thứ nhất của wellington.txt | Thống chế Arthur Wellesley, Công tước thứ nhất của Wellington (khoảng 1 tháng 5 năm 1769 – 14 tháng 9 năm 1852) là một chiến sĩ người Ireland gốc Anh trong Quân đội Anh, đồng thời là một chính khách thuộc Đảng bảo thủ Anh. Ông được thừa nhận rộng rãi như là một trong những nhân vật quân sự - chính trị hàng đầu trong nửa đầu thế kỉ 19. Từng được phong hàm thiếu úy trong quân đội Anh, ông nổi lên trong những cuộc chiến tranh của Napoléon. Từ năm 1808 cho đến năm 1814, ông tham chiến trong cuộc Chiến tranh Bán đảo ở Tây Ban Nha, đại thắng quân Pháp trong trận Vitoria vào năm 1813, là một đòn giáng sấm sét đến ách đô hộ của Pháp tại Vương quốc Tây Ban Nha. Sau đó ông liên tiếp đánh bại Đại Thống chế Pháp là Jean-de-Dieu Soult trong hàng loạt trận đánh. Ông tiếp tục tràn vào lãnh thổ của Pháp, và đánh thắng Soult thêm mấy trận nữa. Vào năm 1815, ông lại đánh tan nát quân Pháp do đích thân Hoàng đế Napoléon Bonaparte chỉ huy trong trận Waterloo (1815), là đòn hủy diệt cuối cùng vào Napoléon. Đại thắng của ông đã tiêu diệt chế độ độc tài của Napoléon.
Chiến thắng vang dội này khiến cho ông trở thành một vị anh hùng của đất nước Anh. Sau đó, ông trở thành Tổng tư lệnh của Liên quân các nước chống Pháp, chiếm đóng Pháp cho tới năm 1818. Với tư cách là một tướng lĩnh, Wellington thường được so sánh với John Churchill, Công tước thứ nhất của Marlborough, người mà ông chia sẻ rất nhiều điểm tương đồng ví dụ như việc đều chuyển sang làm chính trị sau khi rất thành công trong sự nghiệp quân sự. Mặc dù ông trở nên nổi tiếng hơn cả vì những chiến công quân sự của ông, Wellington từng hai lần làm Thủ tướng Anh, và là một trong những nhân vật đứng đầu Thượng nghị viện Anh cho đến khi nghỉ hưu năm 1846.
== Thời niên thiếu ==
Wellington sinh ra trong gia đình Wesley, một dòng họ đầy danh giá, tại số 4 đường Merron, Dublin, đối diện trường Đại học Khoa học Hoàng gia, nay là tòa cao ốc của chính phủ. Phần lớn tuổi thơ ông gắn liền với Lâu đài Dangan, cách Summerhill 5 km về phía Bắc, nằm trên con đường Trim. Ông là người thứ ba trong số năm người con trai của Garret Wesley, Bá tước thứ nhất của Mornington. Ông sinh vào ngày đầu tiên của tháng 5. (Chiếc bình đựng nước thánh trong lễ rửa tội của ông đã được tặng cho nhà thờ Dundrum vào năm 1914.) Nhiều nhà sử học đã dựa vào các tờ báo đương thời để làm bằng chứng xác nhận chính xác ngày sinh của ông (ngày 1 tháng 5 năm 1769). Vào năm 1798, gia đình ông cải họ từ Wesley sang Wellesley.
Ông xuất thân ra từ một gia đình quý tộc theo đạo Tin Lành ở Ireland. Ngoài người cha là Bá tước vùng Mornington, gia đình ông còn có nhiều người làm việc cho hoàng gia: anh trai lớn nhất của ông là Hầu tước Wellesley, hai người anh khác được phong Nam tước: đó là Nam tước Maryborough và Nam tước Cowley.
Mãi đến những năm 20 tuổi, Wesley vẫn chưa bộc lộ tài năng của mình. Mẹ ông phải gửi ông vào phục vụ trong quân đội và nói rằng: "Tôi có thể làm gì với Arthur?" Sau đó, ông trở thành một kẻ ăn chơi xa xỉ, nghiện rượu và sa ngã vào cờ bạc. Trong thời gian đó, ông đem lòng yêu con gái của một gia đình quý tộc người Ireland tên là Kitty Pakenham và dự định tiến đến hôn nhân nhưng lại bị gia đình nàng từ chối bởi ông chưa có sự nghiệp. Sau cú sốc đó, ông đã quyết tâm sửa đổi chính mình: hạn chế đánh bạc, uống rượu và từ bỏ luôn cả niềm đam mê violin. Ông bắt đầu nghiêm túc trong việc học tại trường khoa học quân sự.
== Tham khảo ==
Adkin, Mark (2001), The Waterloo Companion, Aurum, ISBN 185410764X
Beatson, Alexander. A collection of the Duke’s letters. A View of the Origin and Conduct of the War with Tippoo Sultaun. Bulmer and Co., 1800.
Brett-James, ed. Wellington at War 1794–1815, New York: St. Martin’s Press, 1961.
Coates, Berwick, Wellington's Charge: A Portrait of the Duke's England, Robson Books Ltd, London, 2003
Gates, David (1986), The Spanish Ulcer: A History of the Peninsular War, Pimlico (xuất bản 2002), ISBN 0-7126-9730-6
Drew, Joseph A Biographical Sketch of the Military and Political Career of the late Duke of Wellington: including the most interesting particulars of his death, Lying in State and Public Funeral, illus. with engravings, Weymouth, 1852.
Glover, Michael, The Peninsular War 1807–1814. London: Penguin Books, 2001 ISBN 0-141-39041-7 (first published 1974).
Guedalla, Phillip, The Duke. London, Hodder and Stoughton, 1931.
Hibbert, Christopher. Wellington: A Personal History. Addison Wesley, 1997, ISBN 9780201632323
Hilbert, Charles. Arthur Wellesley, Duke of Wellington, time and conflicts in India on behalf of the British East India Company and the British crown. Military Heritage, August 2005, Volume 7, No. 1, pp. 34 to 41, ISSN 1524-8666.
Holmes, Richard. Wellington: The Iron Duke. London: Harper Collins Publishers, 2002 ISBN 0-00-713750-8.
Hutchinson, Lester. European Freebooters in Mogul India. New York: Asia Publishing House, 1964.
Longford, Elizabeth. Wellington: The Years of The Sword. New York: Harper and Row Publishers, 1969.
Montgomerie, Viva Seton (1955). My Scrapbook of Memories. Privately published. pp. 104.
Neillands, Robert. Wellington and Napoleon: Clash of Armies. Pen and Sword Publishing, 2004.
Mill, James. The History of British India. 6 vols. 5th ed. New York: Chelsea House Publishers, 1968.
Gurwood, John. The dispatches of Field Marshall the Duke of Wellington: during his various campaigns in India, Denmark, Portugal, Spain, the Low Countries, and France, from 1799 to 1818. Volume X. London: J. Murray, 1838. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2007.
Roberts, Andrew (2001). Napoleon and Wellington. Weidenfeld and Nicholson.
Ward, S. G. P. (1957). Wellington's Headquarters: A Study of the Administrative Problems in the Peninsula 1809–1814. Oxford University Press.
Weller, J. (1992), Wellington at Waterloo, London: Greenhill Books, ISBN 1853763390
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
ThePeerage.com
Duke of Wellington Chronology World History Database
Wellington's Military and Political Career
Duke of Wellington's Regiment - West Riding
Các tác phẩm của Arthur Wellesley, 1st Duke of Wellington tại Dự án Gutenberg
Images of political cartoons featuring the Duke of Wellington
Duke of Wellington At Find A Grave
More about Arthur Wellesley, Duke of Wellington on the Downing Street website |
người ê đê.txt | Người Ê Đê tiếng Ê Đê: Anak Đê hay Anak Đê-Gar là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Người Ê Đê nói tiếng Ê Đê một ngôn ngữ thuộc phân nhóm ngôn ngữ Chăm là ngôn ngữ thuộc Ngữ chi Malay-Polynesia của hệ ngôn ngữ Nam Đảo. Người Ê Đê thuộc nhóm chủng tộc Austronesia. Trước năm 1975, tại miền nam Việt Nam, trong văn bản hành chính của Việt Nam Cộng Hoà, người Ê Đê được gọi là người Rađê (Rhade). Theo tài liệu của Ủy ban Dân tộc Chính phủ Việt Nam dân số người Ê Đê thống kê ngày 01/04/2009 là khoảng 331.194 người, xếp thứ 11 về số lượng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Người Ê Đê hiện nay khá đặc trưng nổi bật là một cộng đồng có xu hướng tương đối thống nhất ý thức tộc người, cũng là một cộng đồng dân tộc-tôn giáo khá rõ nét với hơn 90 % dân số ảnh hưởng của đạo Tin Lành.
== Lịch sử và tên gọi ==
Truyền thuyết của người Êđê kể lại rằng: Một người thủ lĩnh (Krung) từ Ấn Độ tên là Kudaya (Đê) đến xứ sở của công chúa mẹ Xứ Sở tên là Nagar (Gar). Kudaya đã chinh phuc được xứ sở của Nagar sau đó kết hôn với công Chúa mẹ Xứ sở Nagar đựoc phong làm Krung. Con cháu hâu duệ của họ được gọi là Anak Kudaya Nagar sau này rút gọn âm lại thành Anak Đê-Gar có nghĩa là con cháu của thủ lĩnh Ấn Độ Kudaya(Đê) với Công Chúa xứ sở Nagar (Gar). Đây là truyền thuyết khá phổ biến ở cư dân bản địa Đông Nam Á để giải thích nguồn gốc cội nguồn.
Vào đầu công nguyên, xuất hiện hai vương quốc của người Malayo - Polynesia lớn trên bán đảo Ðông Dương: Phù Nam và Chiêm Thành. Lãnh thổ Phù Nam rộng từ Vịnh Thái Lan đến Biển Hồ nhưng ảnh hưởng tỏa lên Thượng Lào và Bắc Miến Ðiện. Chiêm Thành gồm nhiều vương quốc nhỏ sinh hoạt độc lập với nhau dọc các đồng bằng eo hẹp miền Trung đến chân dãy Trường Sơn về phía Tây: Lâm Ấp hay Indrapura (Bình Trị Thiên), Amaravati (Quảng Nam), Vijaya (Bình Định), Aryaru (Phú Yên), Kauthara (Khánh Hòa) và Panduranga (Phan Rang). Sinh hoạt chính của người Malayo - Polynesia là trồng lúa nước và buôn bán. Ðể tìm thêm nguồn hàng quí hiếm trao đổi với các thuyền buôn, người Malayo - Polynesia mở rộng tầm kiểm soát lên các vùng rừng núi đồng thời khuất phục luôn các nhóm dân cư bản địa đã có mặt từ trước, điển hình điển hình nhóm Bih ven krong A-na mà ngày nay được gọi là Ê Đê Bih với kỹ năng dệt, trang sức, làm gốm, trồng lúa nước. Nhóm Bih là nhóm Malayo - Polynesia định cư và chạy nạn sớm vào sâu nhất trong lục địa, họ đem theo kỹ thuật trồng lúa nước ven sông,dệt vải thô, trang sức hạt, và kỹ nghệ làm gốm thô. Theo chiều lịch sử, danh tự Ê Đê có nguồn gốc từ cách đọc âm của người Champa, bia ký Champa cổ nhất tại tháp Po Nagar vào khoảng thế kỷ VIII đã ghi chép về tộc danh Rang Đê vùng sông Nha Trang, sông Jing, sông Hing. Những bia ký sớm nhất của Champa thế kỷ VIII - đã có nhắc đến nhóm Rangde ven sông Ea trang (Nha Trang). Trong Bia Po Nagar được dựng năm 965 tại tháp Po Nagar (Nha Trang, Khánh Hòa): Nội dung bia như sau:Vào khoảng năm 703 - 706 lịch saka (781 - 784 Công lịch), vua Satyavarman cho dựng một linga (linh vật) thờ thần Siva và lập cháu mình lên làm vua Vikrantavarman(vì theo chế độ mẫu hệ nên cậu truyền ngôi cho cháu theo dòng mẹ)... và đức Vua có thu phục được người Randaya (Rang Đê).Rất có thể từ Rang Đê sau này bị biến âm thành Ra đê, Rađêy hay Ê đê. Ngoài ra, người Ê đê còn tự nhận là nhóm tộc Đêgar, Êđê Êga Anak Đêgar - người trên Cao Nguyên. Đêgar là từ tiếng Ấn Độ srakrit Deccan, và bản thân nó lại có nguồn gốc từ tiếng Phạn दक्षिण, Đêkṣarṇa, nghĩa là "cao nguyên phía nam".
Ðến cuối thế kỷ 7, quân Java của Indonesia từ Biển Ðông lại tràn vào đánh phá Ea ryu (Phú Yên) và Kauthara- Ea a Trang (Khánh Hòa), một phần lớn dân chúng Chiêm Thành đã chạy lên cao nguyên M'Đrak tị nạn mang theo những văn hóa tập tục mẫu hệ, kiến trúc, trồng trọt và ngôn ngữ Chiêm Thành giai đoạn sơ khai có yếu tố Ấn Độ hóa hơn mà tạo thành các nhóm Rhangdé. Người Rang Đê được cho là tổ tiên của người Eđê và Jarai,đã được ghi chép khá nhiều trong các bia ký Champa. Vào năm 1283, quân Mông Cổ tràn xuống xâm lăng Champa. Trước đoàn quân hùng mạnh của Mông Cổ, vua Champa quyết định rút quân lên vùng Tây nguyên để ẩn náu. Theo ông Marco Polo, một nhà du hành Âu Châu, vua Champa chịu bỏ trống toàn bộ lãnh thổ đồng bằng cho quân Mông Cổ chiếm đóng. Trong suốt hai năm chờ đợi không giao chiến, vì thiếu lương thực, quân Mông Cổ tự rút lui ra khỏi Champa.Rất có thể là trước sự xâm lược của đế quốc Mông Cổ, sau này là cuộc Nam Tiến của người Việt xuống đất Champa tạo ra các làn sóng người Champa vùng ven biển Trung, Nam Trung Bộ liên tục chuyển cư lên vùng bình nguyên Cheo Reo hỗn dung với cộng đồng Ê đê có trước, từ đó tạo ra nhóm tộc người mới Anak Jarai lấy từ tên Pô Kurung Garai với hàm ý là những người Rang Đê theo Vua Chế Mân chống xâm lược Mông Cổ. Trích diễn biến lịch sử như sau: Tại Đại Việt, sau khi ổn định triều chính, năm 1252 Trần Thái Tông dẫn đại quân đi đánh Chiêm Thành. Cuộc tiến công kéo dài gần một năm, thành Vijaya thắt thủ, vương phi Bố Gia La cùng nhiều cung phi, tù binh và quan chức triều đình Champa bị bắt mang về Đại Việt. Jaya Paramesvaravarman II bị tử trận năm 1254, em là hoàng tử Sakan Vijaya lên thay, hiệu Jaya Indravarman VI. Jaya Indravarman VI duy trì giao hảo với Đại Việt, triều cống đều đặn. Năm 1257, nhà Trần rút quân về nước, lúc đó đang bị quân Nguyên (Mông Cổ) đe dọa. Năm 1257, Jaya Indravarman VI bị ám sát, hoàng tử Pulyan Sri Yuvaraja, con người chị (công chúa Suryadevi) lên thay, hiệu Jaya Sinhavarman VI. Năm 1266, hoàng tử ChayNuk, con Jaya Paramesvaravarman II, lên kế vị, hiệu Indravarman V. Indravarman V tiếp tục giao hảo tốt với Đại Việt. Năm 1278, Indravarman V sai hai sứ giả (Bồ Tinh và Bồ Đột) sang Đại Việt xin bảo hộ và thành lập một liên minh chống lại quân Mông Cổ. Hay tin này, năm 1281, vua Nguyên (Hốt Tất Liệt) cử hữu thống chế Toa Đô (Sogatu) và tả thống chế Lưu Thâm cùng tham chính A Lý và Ô Mã Nhi mang 10 vạn thủy binh từ Quảng Châu sang Chiêm Thành buộc Indravarman V phải đích thân về Trung Quốc triều cống. Không chống nổi quân Mông Cổ, Indravarman V chịu đặt Chiêm Thành dưới sự bảo hộ của nhà Nguyên (Trung Quốc) năm 1282. Toa Đô được nhà Nguyên phong làm thống đốc toàn quyền cai trị xứ Chiêm Thành, tiểu vương Champa nào chịu theo quân Nguyên đều được phong làm phó vương. Hoàng tử Harijit Pô Đêwađa Svor (hay Pô Đêpitathôr) hay còn gọi là Pô Đê con Indravarman V, cùng mẹ là hoàng hậu Gaurendraksmi, không chấp nhận sự đô hộ của Mông Cổ rút vào rừng núi về Ea Hleo theo đoàn quân hộ tống Rang Đê, tổ chức kháng chiến. Harijit mộ được khoảng 20.000 người Rang Đê sinh sống trên cao nguyên Ya Heou (Eâ Hleo), tấn công quân Nguyên trên khắp lãnh thổ Bắc ChiêmThành. Năm 1283, Toa Đô dẫn đầu một đoàn quân gồm 5.000 người, 100 tàu và 250 thuyền đi dọc theo bờ biển Ea ryu (Tuy Hòa-Phú Yên ngày nay) và vào cửa sông Krông Ea Drăng (Sông Đà Rằng,Sông Ba,Iapa, Ea Pa, Krong Pa) đổ bộ lên cao nguyên Madrak, Ea H'Leo (Tây Nguyên) nhưng bị đánh bại. Quân Mông Cổ - một phần bị bệnh tật, không chịu đựng nổi khí hậu nóng nực của miền nhiệt đới, một phần vì đói kém, thiếu tiếp liệu từ lục địa - phải rút về trấn giữ đồng bằng.Năm 1288 Indravarman V mất, hoàng tử Harijit lên ngôi, hiệu Jaya Sinhavarman III (Chế Mân), đặt kinh đô tại Vijaya. Mặc dù không triều cống nhà Trần, bang giao giữa Đại Việt và Chiêm Thành rất là thắm thiết. Chỉ một thời gian ngắn sau Chiêm Thành hùng mạnh trở lại, các vương quốc lân bang, trong có Đại Việt cử người sang thông hiếu đều đặn. Nhiều đền đài được xây cất cả tại đồng bằng lẫn trên cao nguyên. Chế Mân cho xây một tháp trên đồi Chư Hala, gọi là đồi Trầu, để dân chúng đến tế lễ, sau này là tháp Pô Kurung Garai (Tháp Chàm Phan Rang). Chế Mân cho xây một đền thờ tại Yang Prong gần sông Êâ H'leo (Eâ sup- Tây Bắc Đăk Lăk ngày này) để đón nhận phẩm vật dâng cúng vua của người Rang Đê trên Tây Nguyên. Vào năm 1471 Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chép về sự kiện người Chămpa đầu hàng quân Đại Việt của Vua Lê Thánh Tông như sau: Một lúc sau, đứng xa trông thấy toán quân đi trước đã trèo lên được chỗ tường thấp trên mặt thành, bèn bắn luôn ba tiếng pháo để tiếp ứng, lại hạ lệnh cho vệ quân thần võ phá cửa đông thành tiến vào. Thành Chà Bàn bị phá vỡ. Quân Đại Việt bắt được hơn ba vạn tù binh và chém được hơn bốn vạn thủ cấp. Ngô Nhạn dẫn tướng đầu hàng là bác ruột Trà Toàn tên là Bô Sản Ha Ma. Lê Thánh Tông sai trưng bày những thứ người Chiêm dùng làm lễ vật đem đến xin hàng mà ở Đại Việt không có, sai viên quan đô úy Đỗ Hoàn chỉ tên từng thứ một. Có cái hộp bạc, hình như thanh kiếm, vua hỏi vật gì. Hoàn trả lời rằng đó là đồ của nước Chiêm từ xưa, người làm quốc vương phải có vật đó để truyền cho con cháu. Quân Thuận Hóa bắt sống Trà Toàn dẫn đến trước vua Lê Thánh Tông, nhà vua cho Trà Toàn được sống. Hôm ấy là ngày mồng 1 tháng 3 âm Lịch (1471).cuộc Nam Tiến của người Việt xuống đất Champa tạo ra các làn sóng người Champa vùng ven biển Trung, Nam Trung Bộ liên tục chuyển cư lên vùng bình nguyên Cheo Reo hỗn dung với cộng đồng Rang đê có trước, từ đó hình thành ra nhóm tộc người mới Anak Jarai.Nhóm Rang Đê vùng thung lũng sông Ba tự gọi mình là Ană Garai. Ană Pô Garai chính là cụm danh xưng Ană Pô Kurung Garai (Pô Krung Grai là cách gọi tôn xưng thái tử Champa là Harijit (Rochom Mal) lãnh đạo người Rang Đê đánh đuổi Mông Cổ. Kurung hay Krung trong ngôn ngữ Rang Đê và Malay cổ có nghĩa là thủ lĩnh. Dần dần, Pô Krung Garai hay Pô KLong Garai phiên âm thành Jarai. Jarai tách khỏi khối bộ tộc Rang Đê để tự nhận mình là Anăk Jarai với ý nghĩa là những đứa con của Vua Chế Mân (Pô Krung Grai, Pô Klong Grai hay anak Jarai,DRai) Tiểu quốc Jarai (tên gọi khác: Ala Car Pơtao Đêgar/ Dhung Vijaya/Nam Vijaya / Nam Bàn / Nam Phan / Nam Phiên/Chămpa Thượng) là một tiểu quốc cổ của các bộ tộc Nam Đảo ở Tây Nguyên, Việt Nam với bộ tộc nòng cốt là người Gia Rai và người Ê Đê hình thành từ khoảng cuối thế kỷ 15 và chấm dứt sự tồn tại sau khi phân rã ra thành các bộ tộc độc lập vào khoảng cuối thế kỷ 19.Tiểu quốc này được cai trị bởi các vị tiểu vương mà người Việt gọi là Thủy Xá - Hỏa Xá tức là Pơtao Apui - Pơtao Êa.Theo tương truyền các vị Vua là hiện thân của Thần Gươm Y Thih (nhân vật trong các truyền thuyết của người người Ê đê và Jarai. Một tài liệu khác ghi là 20 "đời vua" tiểu quốc Jrai, là người kế tục giữ gươm thần do chàng Y Thih để lại. Có kiến khác cho rằng gươm thần của các Pơ tao thực ra là các bảo vật truyền ngôi của hoàng gia Chăm Pă sau khi Lê Thánh Tông tiêu diệt thành Vijaya (Đồ bàn, Bình Định). Xét về hình thái tộc người Rhade (Ê Đê) lui về phía nam và cùng các nhóm Jarai thực ra la một dân tộc Rang Đê], hai nhóm tộc người này bị phân li do nguyên nhân lịch sử mà trong tiếng Jarai gọi là thời kỳ tiah Phara. Nghĩa là cuộc phân ly anh em.
Hiện nay, các nhóm cư dân Ê đê nhận tự thân là Anak Aê diê, đọc chệch thành Anak Ê Đê - những người con do trời sinh ra, vì cho rằng vị thần tối cao của họ là A.Ê - D.I.Ê nghĩa là Thượng đế theo truyền thuyết của người Ê Đê được lưu truyền đến ngày nay.
== Dân số và địa bàn cư trú ==
Dân tộc Ê Đê bao gồm khoảng gần một nửa triệu (~490.000 người) đang sinh sống ở các nước trên thế giới như Campuchia, Việt Nam, Thái Lan, Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Phần Lan, Thụy Điển... Trong đó miền trung cao nguyên của Việt Nam là quê hương bản địa lâu đời của người Ê Đê. Đây là nhóm dân tộc có nguồn gốc từ nhóm tộc người nói tiếng Mã Lai từ các hải đảo Thái Bình Dương đã có mặt lâu đời ở Đông Dương; truyền thống dân tộc vẫn mang đậm nét mẫu hệ thể hiện dấu vết hải đảo của nhóm tộc người nói tiếng Malay-Polynesia. Các nhóm địa phương bao gồm các nhóm:
Ê đê Kpă (tự nhận là chính dòng Đê). Cư trú quanh thành phố Buôn Ma Thuột, Krong Ana, Krong Păc,Cư mgar. Ngôn Ngữ Ê-đê Kpă có thanh giọng ngôn ngữ người Chăm Campuchia và Bắc Malaysia. Là ngôn ngữ chuẩn có chữ viết của người Ê-đê.
Ê đê Adham xuất phát từ chữ Ân-Độ là Adaham có nghĩa là vùng trũng đệm, pha tạp.Êđê Adham cư trú tại huyện Krong Buk, Cu Mgar, Thị xã Buôn Hồ, Krong Năng và một phần Êa Hleo của tỉnh Đak Lak
Ê đê Mdhur xuất phát từ chữ Ân-Đô là Madahura có nghĩa là vùng cằn cỗi, vùng đất thấp. Ê đê Mdhur cư trú tại huyện Mdrak của phía đông tỉnh Đak Lak, Sông Hinh của tỉnh Phú Yên.
Ê đê Bih là nhóm Rang Đê cổ nhất bảo lưu nhiều dấu vết cổ qua ngôn ngữ, Ê Đê Bih có truyền thống làm gốm, dệt chiếu, trồng lúa nước. Họ Cư trú ven sông Krong Ana, sông Krong Kno của tỉnh Đak Nông.
Ê đê Krung xuất phát từ chữ Kurung trong ngôn ngữ Rang Đê cổ, Khi vua Chế Mân, Chế Bồng Nga mộ lính đi đánh giặc họ tự gọi các thủ lĩnh đó là Kurung hay Krung. Cư trú chủ yếu tại huyện Êa Hleo, Krong Buk của tỉnh Đăk Lak.
Ngoài ra còn có các nhóm địa phương nhỏ khác: Blo, Dongmak,Hwing...Nhưng hầu như người Ê đê không có sự khác biết lớn giữa các nhóm địa phương. Người Ê Đê là nhóm dân tộc có xu hướng thống nhất ý thức tộc người, biểu hiện rõ nét nhất là ranh giới khác biệt giữa các nhóm địa phương tồn tại trước kia thì ngày nay đã hoàn toàn bị xóa bỏ bằng việc thống nhất tôn giáo, ngôn ngữ và chữ viết và người Ê Đê tự gọi họ là Anak Đê đọc tránh từ Anak Aê-Diê, nghĩa là những đứa con của Yàng (Thần Linh). Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ê Đê ở Việt Nam có dân số 331.194 người, cư trú tại 59 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Ê Đê cư trú tập trung tại tỉnh:
Đăk Lăk (298.534 người, chiếm 17,2% dân số toàn tỉnh và 90,1% tổng số người Ê Đê tại Việt Nam),
Phú Yên (20.905 người),
Đăk Nông (5.271 người),
Khánh Hòa (3.396 người)..Tại một số quốc gia khác, như Campuchia, Hoa Kỳ, Canada và các nước Bắc Âu cũng có một ít người Ê Đê sinh sống, song chưa có số liệu chính thức.
== Đặc điểm kinh tế ==
Người Ê Đê làm rẫy là chính, riêng nhóm Bíh làm ruộng nước theo lối cổ sơ, dùng trâu dẫm đất thay việc cày, cuốc đất. Ngoài trồng trọt còn chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh cá, đan lát, dệt vải. Trên nương rẫy, ngoài cây chính là lúa còn có ngô, khoai, bầu, thuốc lá, bí, hành, ớt, bông. Đặc điểm làm rẫy của người Ê Đê là chế độ luân khoảnh, tức là bên cạnh những khu đất đang canh tác còn có những khu đất để hoang để phục hồi sự màu mỡ. Ngày nay người Ê Đê gắn mình với sản xuất nông sản cây công nghiệp: cà phê, cao su, hồ tiêu, ca cao,... Nghề trồng trọt ở đây có nuôi trâu, bò, voi. Người dân ở đây còn tự làm ra được đồ đan lát, bát đồng, đồ gỗ, đồ trang sức, đồ gốm.
== Hôn nhân gia đình ==
Trong gia đình người Ê Đê, chủ nhà là phụ nữ theo đó của cải và đất đai sẽ được truyền từ mẹ sang con gái, theo chế độ mẫu hệ có đặc điểm rất khá tương đồng với chế độ mẫu hệ của người Minangkabau ở đảo Sumatra của Indonesia, con cái mang họ mẹ,trước đây con trai không được hưởng thừa kế,bây giờ có sự bình đẳng trong nhà. Phụ nữ chịu trách nhiệm trong quản lý gia đình,chăm sóc con cái, mồ mả tổ tiên,của cải thừa kế cho con cái... Đàn ông chịu trách nhiệm trong việc ngoại giao, giao lưu buôn bán với cộng đồng bên ngoài đồng thời các vấn đề tôn giáo và chính trị cũng là trách nhiệm của người đàn ông. Cho nên vai trò và địa vị của đàn ông Ê đê bên ngoài xã hội là rất lớn. Đàn ông cư trú trong nhà vợ. Nếu vợ chết và bên nhà vợ không còn ai thay thế theo tục nối dây thì người chồng phải về với chị em gái mình. Khi chết, được đưa về chôn cất bên người thân của gia đình mẹ đẻ.Chỉ con gái được thừa kế tài sản, người con gái út được thừa kế nhà tự ông bà và phải nuôi dưỡng cha mẹ già. Đây là nét ảnh hưởng từ quy định của xã hội từ thời phong kiến Chămpa mà người Ê đê chịu ảnh hưởng trong suốt thế kỷ dài trong lịch sử.
== Văn hóa ==
Người Ê Đê có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: thần thoại, cổ tích, ca dao, tục ngữ, đặc biệt là các Khan (trường ca, sử thi) nổi tiếng với Khan Đam San, Khan Đam Kteh M'lan,... Người Ê Đê yêu ca hát, thích tấu nhạc và thường rất có năng khiếu về lĩnh vực này. Nhạc cụ có cồng chiêng, trống, sáo, khèn, Gôc, Kni, đàn, Đinh Năm, Đinh Tuốc là các loại nhạc cụ phổ biến của người Ê Đê và được nhiều người yêu thích.
== Đặc tính tâm lý trong văn hóa ==
Người Ê Đê có lòng trung thực, kiên nhẫn với sự khó khăn, chịu đựng nhọc nhằn trong lao động, Chăm chỉ, nhiệt tình trong công việc, nhưng dễ nổi loạn chống lại khi bị chèn ép và áp bức. Điều này đã minh chứng trong suốt ngàn năm lịch sử đấu tranh bảo vệ cộng đồng của người Ê đê.Vì vậy đối với người Ê Đê, dù chỉ một lần thôi thì cũng đủ để mất hết lòng tin thậm chí dẫn đến hiềm khích kéo dài đến cả thế hệ sau.
== Đôi nét về nhân chủng ==
Người Ê Đê chiếm 17 % dân số tại tỉnh Đăk Lăk. Dân tộc này nằm trong nhóm các tộc người sử dụng ngôn ngữ Malay-Polynesia, sống trên khắp Đông Nam Á. Đa số người Ê Đê ngày nay là tín đồ Tin Lành - một tôn giáo du nhập hòa trộn nhiều thành phần tín ngưỡng dân gian bản địa, và người Ê Đê không có tục thờ cúng tổ tiên. Người Ê Đê thường có bề ngoài điển hình của người Đông Nam Á, trông gần giống người hải đảo Indonesia, Philippin và Malaysia. Tuy nhiên, người Ê Đê không thuần chủng, bề ngoài có nhiều nét khác nhau, đó là do kết quả của nhiều thế kỉ pha trộn với người Ấn Độ xa xưa, người M'nông thuộc ngôn ngữ Môn-Khmer, người Pháp thời thuộc địa, và người Việt.
== Nhà cửa ==
Phương tiện liên quan tới Nhà người Ê Đê tại Wikimedia Commons
Tộc người Ê Đê vốn thuộc nhóm cư dân ngôn ngữ Malay-Polynesia, có nguồn gốc lâu đời từ vùng biển. Mặc dù đã chuyển cư vào miền trung Việt Nam hàng ngàn năm trước, và di cư lên Tây Nguyên khoảng sớm nhất vào cuối thế kỷ 8 đến thế kỷ 15 nhưng trong sâu thẳm văn hóa của người Ê Đê, bến nước và con thuyền là những hình ảnh chưa hề phai nhạt. Nhà sàn Ê Đê có hình con thuyền dài, cửa chính mở phía trái nhà, cửa sổ mở ra phía hông. Bên trong nhà có trần gỗ hình vòm giống hệt mui thuyền. Có nhiều buôn Ê Đê trù phú với hàng trăm ngôi nhà dài trông như một hạm đội thuyền Nam Đảo đang rẽ sóng giữa thế giới biển đảo, đây là nét đặc trưng có hầu hết ở các tộc người nói tiếng Mã Lai. Nhà người Ê Đê thuộc loại hình nhà dài sàn thấp, thường dài từ 15 đến hơn 100 m tùy theo gia đình nhiều người hay ít người. Nhà Ê Đê có những đặc trưng riêng không giống nhà của các cư dân khác ở Tây Nguyên. Là nhà của gia đình lớn theo chế độ mẫu hệ. Bộ khung kết cấu đơn giản. Cái được coi là đặt trưng của nhà Ê Đê là: hình thức của cầu thang, cột sàn và cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt. Đặc biệt là ở hai phần. Nửa đằng cửa chính gọi là Gah là nơi tiếp khách, sinh hoạt chung của cả nhà dài, bếp chủ, ghế khách, ghế chủ, ghế dài (Kpan) (tới 20 m), chiêng ché,... nửa còn lại gọi là Ôk là bếp đặt chỗ nấu ăn chung và là chỗ ở của các đôi vợ chồng, chia đôi theo chiều dọc, phần về bên trái được coi là "trên" chia thành nhiều gian nhỏ. Phần về bên phải là hàng lang để đi lại, về phía cuối là nơi đặt bếp. Mỗi đầu nhà có một sân sàn. Sân sàn ở phía cửa chính được gọi là sân khách. Muốn vào nhà phải qua sân sàn. Nhà càng khá giả thì sân khách càng rộng, khang trang.
== Trang phục ==
Có đầy đủ các thành phần, chủng loại trang phục và phong cách thẩm mỹ khá tiêu biểu cho các dân tộc khu vực Tây Nguyên. Y phục cổ truyền của người Ê Đê là màu đen, có điểm những hoa văn sặc sỡ. Đàn bà mặc áo, quấn váy (Ieng). Đàn ông đóng khố (Kpin), mặc áo. Người Ê Đê ưa dùng các đồ trang sức bằng bạc, đồng, hạt cườm. Trước kia, tục cà răng quy định mọi người đều cắt cụt 6 chiếc răng cửa hàm trên, nhưng lớp trẻ ngày nay không cà răng nữa.
=== Trang phục nam ===
Nam để tóc ngắn quấn khăn màu đen nhiều vòng trên đầu. Y phục truyền thống gồm áo và khố.
Áo có hai loại cơ bản:
Loại áo dài trùm mông: Đây là loại áo khá tiêu biểu cho người Ê Đê qua trang phục nam, có tay áo dài, thân áo cũng dài trùm mông, có xẻ tả và khoét cổ chui đầu. Trên nền chàm của thân và ống tay áo ở ngực, hai bên bả vai, cửa tay, các đường viền cổ, nơi xẻ tà gấu áo được trang trí và viền vải đỏ, trắng. Đặc biệt là khu giữa ngực áo có mảng sọc ngang trong bố cục hình chữ nhật tạo vẻ đẹp, khỏe.lực lãm
Loại áo dài quá gối: Đây là loại áo dài quá gối, có khoét cổ, ống tay bình thường không trang trí như loại áo dài trùm mông nói trên,...
Khố: Khố có nhiều loại và được phân biệt ở sự ngắn dài có trang trí hoa văn như thế nào. Đẹp nhất là các loại ktêh, drai, đrêch, piêk, còn các loại bong và băl là loại khố thường. Áo thường ngày ít có hoa văn, bên cạnh các loại áo trên còn có loại áo cộc tay đến khủy, hoặc không tay. Áo có giá trị nhất là loại áo Ktêh của những người quyền quý có dải hoa văn "đại bàng dang cánh", ở dọc hai bên nách, gấu áo phía sau lưng có đính hạt cườm. Nam giới cũng mang hoa tai và vòng cổ.
=== Trang phục nữ ===
Phụ nữ Ê Đê để tóc dài buộc ra sau gáy. Họ mang áo váy trong trang phục thường nhật. Xưa họ để tóc theo kiểu búi tó và đội nón duôn bai. Họ mang đồ trang sức bằng bạc hoặc đồng. Vòng tay thường đeo thành bộ kép nghe tiếng va chạm của chúng vào nhau họ có thể nhận ra người quen, thân.
Áo: Áo phụ nữ là loại áo ngắn dài tay, khoét cổ (loại cổ thấp hình thuyền) mặc kiểu chui đầu. Thân áo dài đến mông khi mặc cho ra ngoài váy. Trên nền áo màu chàm thẫm các bộ phận được trang trí là: cổ áo lan sang hai bên bả vai xuống giữa cánh tay, cửa tay áo, gấu áo. Đó là các đường viền kết hợp với các dải hoa văn nhỏ bằng sợi màu đỏ, trắng, vàng. Cái khác của trang phục áo nữ Ê Đê khác Gia rai về phong cách trang trí là không có đường ở giữa thân áo. Đếch là tên gọi mảng hoa văn chính ở gấu áo. Ngoài ra phụ nữ còn có áo lót cộc tay (áo yếm).
Váy: Đi cùng với áo của phụ nữ Ê đê là chiếc váy mở (tấm vải rộng làm váy) quấn quanh thân. Cũng trên nền chàm, váy được gia công trang trí các sọc nằm ngang ở mép trên, mép dưới và giữa thân bằng chỉ các màu tương tự như áo. Đồ án trang trí tập trung hơn ở mép trên và dưới thân váy. Có thể đây cũng là phong cách hơi khác với váy của dân tộc Gia Rai. Váy có nhiều loại phân biệt ở các dải hoa văn gia công nhiều hay ít. Váy loại tốt là m'iêng đếch, rồi đến m'iêng Drai, m'iêng piơk. Loại bình thường mặc đi làm rẫy là bong. Hiện nay nữ thanh niên thường mặc váy kín.
== Tôn giáo ==
Phần lớn người Ê Đê theo đạo Tin Lành được các nhà truyền giáo phương Tây truyền vào những năm đầu của thế kỷ XX. Đăk Lăk nơi tập trung đông người Ê Đê nhất cũng là nơi có tín đồ Tin Lành nhiều nhất Việt Nam, đây được coi một trong những trung tâm đạo Tin Lành lớn nhất khu vực Đông Dương. Họ thường đọc kinh cầu nguyện tại các nhà riêng của mục sư, hiện tại các nhà thờ Tin lành vẫn chưa nhiều. Công giáo Rôma được truyền bá thông qua các nhà truyền giáo sau này là người Pháp.Tỉ lệ người Ê đê theo Công giáo Rôma rất thấp, do yếu tố tấm lý và nguyên nhân lịch sử, Sau Hiệp định Genève, Ngô Đình Diệm cho hủy bỏ quy chế Hoàng triều Cương thổ, tức chấm dứt đặc quyền của Quốc trưởng Bảo Đại trên vùng Cao nguyên và gom vùng đất này vào lãnh thổ chung của Quốc gia Việt Nam. Về mặt kinh tế có khoản mở rộng đất đai canh tác và lập các khu dinh điền, định cư hàng trăm nghìn người Công giáo từ miền Bắc di cư vào Nam. Một số được đưa lên vùng Tây Nguyên chiếm một số đất người Thượng làm các khu dinh điến, sự xuất hiện đông đột ngột người Kinh Công giáo, cùng với sự kỳ thị chủng tộc, mất đất đai, văn hóa bị xâm phạm, đã để lại vết đau trong tâm lý của người Ê đê, trừ những người Ê đê Công giáo thời Pháp thuộc, thì hầu như người Ê đê còn lại đa phần chọn Tin Lành như là một tôn giáo để có thể đối chọi lại từ sự đồng hóa từ phía công giáo mà chính quyền Ngô Đình Diệm ủng hộ lúc đó. Những người Ê đê theo Công giáo Rôma thì thường đến các nhà nhờ tại địa phương vào ngày chủ nhật. Một số rất ít theo Phật giáo tại các vùng đô thị. Số còn lại vẫn theo nét tín ngưỡng cổ truyền, thờ cúng các thần hộ thân cho mình. Lịch pháp theo tôn giáo truyền thống của người Ê-đê có sự khác biệt so với lịch pháp công lịch,thứ lịch đếm ngày chậm hơn một ngày so với công lịch. Người Eđê sử dụng lịch pháp Moise có nguồn gốc từ Do Thái giáo. Đó là ngày bắt buộc người Eđê phải nghỉ ngơi thờ phượng vào ngày thứ Bảy (Hruê Kjuh) hay còn gọi là Hrue Sabbath (shab-bawth') tức ngày Chủ Nhật (Sunday) trong Công Lịch.
==== So sánh Lịch pháp Ê-đê với các lịch pháp Công Lịch ====
Người Ê Đê coi số 7 là con số linh thiêng, và consố tận trong hàng đơn vị tiếng Ê-Đê cùng sau con số 7 đều là những số ghép. Người Ê-đê theo Tin Lành thờ phượng đúng vào ngày Thứ Bảy mà họ gọi là (Hrue Sabbath): Ngày Nghỉ ngơi - Trùng vào ngày Chủ Nhật (Sunday) trong Công Lịch. Những ngày này đa số tín đồ thường kiêng không làm việc nương rẫy hay lao động chân tay khác. Đạo Tin Lành truyền thống của người Ê-đê hòa trộn nhiều tín ngưỡng bản địa có trước với nhiều quy tắc kiêng cự khá ngặt nghiêm ngặt: Cấm hôn nhân ngoại giáo, không ăn thịt động vật chết hay thú vật cắn, không ăn thực phẩm liên quan cúng tế ngoại giáo, cấm thờ ảnh tượng,không ăn huyết động vật và những thức ăn chế biến từ huyết động vật, cấm dùng đồ uống có men như rượu, bia và thuốc lá, đưa tang ma vào lúc 9 giờ buổi sáng theo quan niệm phải mặt trời (ánh bình minh) chiếu xuống huyệt góc 60 độ về hướng Tây(?)...
== Ngôn ngữ ==
=== Tiếng nói ===
Tiếng nói của người Ê Đê thuộc phân nhóm ngôn ngữ Chăm thuộc Ngữ chi Malay-Polynesia của hệ ngôn ngữ Nam Đảo. Tiếng Ê Đê có quan hệ gần gũi với Tiếng Gia Rai, Chăm, Bahasa Malayu, Bahasa Indonesia, các ngôn ngữ của Philippine... Ngoài vốn từ vựng có nguồn gốc Malay-Polynesia, Sanscrit của Ấn Độ, tiếng Ê Đê còn vay mượn vốn từ vựng có nguồn gốc từ ngôn ngữ Môn-Khmer và một số từ vựng tiếng Pháp.
==== So sánh một số từ vựng trong tiếng Ê Đê với các ngôn ngữ Nam Đảo ====
=== Tên họ người Ê Đê ===
=== Chữ viết ===
Trước khi người Pháp đặt chân lên Tây Nguyên, người Ê đê đã có chữ viết riêng theo lối văn tự Pali- Sancrit của Ấn Độ mà người Ê đê gọi là " Boh h'ră", có thể là một trong những loại dạng kiểu chữ viết cong của người Champa, loại chữ Sancrit này được viết trên giấy da " m'ar klit", hay trên lá cọ khô "Hla guôl", loại chữ này hoàn toàn thất truyền sau năm 1954 bởi chính sách Việt hóa và cấm dậy ngôn ngữ bản địa dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm của chính phủ Việt Nam Công Hòa, những văn bản bằng chữ Ê đê cổ cuối cùng bị chính quyền Ngô Đình Diêm thiêu huỷ hoàn toàn. Trong thời gian cai trị của người Pháp, chính quyền thuộc địa đã cổ vũ sử dụng chữ viết theo mẫu tự Latin do 2 thầy giáo Y-Ut và Y-Jut sáng tạo ra vào khoảng những năm đầu thế kỷ 20. Mục đích chủ yếu là nhằm phục vụ giáo dục. Trong khi người theo Công giáo và Tin Lành dùng nó để ghi chép Kinh Thánh và Gia Phả. So với các dân tộc ít người khác tại Việt Nam, người Ê Đê là sắc dân có chữ viết theo bảng chữ cái La tinh khá sớm, người Ê Đê có chữ viết từ thập niên 1920. Các nhà truyền giáo Tin Lành đã phối hợp với các chuyên viên ngôn ngữ học tại Viện Ngôn ngữ học Mùa hè đặt chữ viết cho người Ê Đê để dịch Kinh Thánh cho dân tộc này. Năm 1971, các chuyên viên này phối hợp với Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa phát hành sách dạy tiếng Ê Đê. Năm 1979, sách dạy ngữ vựng Ê Đê được xuất bản tại Hoa Kỳ. Kinh Thánh Tân Ước song ngữ Ê Đê-Việt phát hành năm 2001. Năm 2006, Nhà xuất bản Tôn giáo của chính phủ Việt Nam, với sự hỗ trợ của United Bible Societies, đã phát hành 20 ngàn cuốn Kinh Thánh Tân Ước song ngữ Ê Đê-Việt tại Việt Nam. Đây là cuốn sách có số lượng phát hành nhiều nhất trong tiếng Ê Đê từ trước đến nay.
=== Ẩm thực người Ê Đê ===
== Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử ==
Người Ê Đê là một trong những tộc người có lịch sử lâu đời trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên, Thông qua các thư tịch cổ của Trung Hoa, Đại Việt, các bia ký của Champa, Đế Chế Khmer, và cả những ghi chép của các nhà truyền giáo mà ít nhiều nhắc đến các nhân vật trong lịch sử của người Ê Đê xưa. Trong các tác phẩm sử thi dân gian của người Ê Đê thường nhắc đến các nhân vật anh hùng. Sử Thi Ê Đê là một pho tài liệu quý giá chứa đựng thông tin lịch sử về tộc người này.Trong phần lịch sử, Pièrre Bernard Lafont đã tiến hành chia lịch sử Champa ra làm 3 thời kỳ chính: Thời kì Ấn Độ hóa (được tính từ khi lập quốc đến năm 1471), thời kì bản địa (1471-1832) và thời kỳ sau ngày sụp đổ (1832-thế kỉ XX, thông qua ba giai đoạn này thì thời kỳ Ấn Độ hoá Chăm Pa (được tính từ khi lập quốc đến năm 1471)đã tác động mạnh đến một phần văn hoá và tín ngưỡng của người Ê Đê cổ, giai đoạn sau sụp đổ vương triều Vijaya 1471),yếu tố văn hoá Ấn từ các triều đại Champa đã khồng đủ sức ảnh hưởng trước sự phát triển trở lại của yếu tố văn hoá bản địa ở người Ê Đê, trong giai đoạn thế kỷ XV đến thế kỷ XVII này nhiều tác phẩm trường ca, sử thi cổ bắt phát triển nảy nở lại: Dam San, Dam Yi, Xinh Nhã, Dam kteh Mlan.. và chấm dứt khi các nhà truyền giáo Phương Tây và người Việt xâm nhập vùng cao nguyên.
Hơbia Mmih-Êa hay còn gọi là nàng Mỵ Ê (媚醯) Bia Mih EA là vương phi Chiêm Thành vào thế kỷ 11.Bà là vợ của vua Chiêm Thành Jaya Sinhavarman II. MMih Ea vốn xuất thân là cung nữ Rang Đê giỏi dệt chăn gấm.HơBia Mih Ea trong ngôn ngữ Rang Đê cổ có nghĩa là nàng dòng sông. Vào triều vua Lý Thái Tông (1028-1054) nước Đại Cồ Việt, vua Jaya Sinhavarman II của Champa không theo lệ cống, thất lễ Phiên thần, vua tự đem quân Nam chinh phạt Chiêm Thành. Vào năm 1044, vua Lý Thái Tông của Đại Cồ Việt tiến đánh Chiêm Thành, trong khi đó triều chính Chiêm Thành có sự bội phản, tướng Chiêm Thành là Quách Gia Dĩ đã chém chết chúa vua Jaya Sinhavarman II rồi đầu hàng. Quân Đại Cồ Việt chiếm được thành Sinhapura, bắt hàng trăm cung nữ, ca kỹ và nhạc công mang về, trong đó có H'Bia Mih Êa:Theo Việt Sử Toàn Thư, tr 141: Chiêm Thành bỏ cống 16 năm, vua Lý Thái Tông phá quốc đô Phật Thệ, giết 3 vạn quân Chiêm, bắt sống 5.000 người, bắt được 30 con voi và giết chúa Sạ Đẩu tức là vua Jaya Sinhavarman II . Khi thuyền đến sông Lý Nhân, giữa đêm, vua Đại Cồ Việt nghe Mỵ Ê có sắc đẹp, bên sai quan Trung Sứ vời đến chầu thuyền ngự. Mih Êa không dấu được phẩn uất, từ chối rằng: Vợ phương nam man rợ quê mùa, y phục xấu xí, ngôn ngữ thô lỗ, không giống các phi tần đất Việt. Nay nước tan, chồng mất, chỉ mong một chết là thoả lòng; nếu cưỡng bức hợp hoan, ngại nổi làm dơ mình vua vậy. Đoạn, nàng lén lấy tấm chăn thổ cẩm vừa tự dệt quấn lấy kín thân mình rồi nhảy xuống sông Châu Giang mà chết. Nhà vua kinh hoàng tự hối, muốn cứu nhưng không sao kịp nữa.
H'bia Suryah Bunga Dewee hay Suryah Đê-wi(Thế kỷ 12) Là chị gái ruột của Vancaraya thuộc dòng dõi hoàng gia Vijaya. Suriyah Bunga Dewi sau này thành vợ của Vua Nam Champa Jaya Harivarman I xứ Paduranga và trở thành thứ hậu. Khi người Khmer đánh chiếm và đô hộ bắc Chiêm Thành, Suriyah Bunga Dewi đề nghị chồng là vua Jaya Harivarman I mang quân sang giúp em trai mình là Vancaray đánh đuổi người Khmer và giải phóng kinh đô Vijaya của xứ Bắc Chiêm Thành. Sau cuộc kéo quân ra bắc, Jaya Harivarman I đã đánh đuổi được người Khmer và ngay lập tức kiểm soát hết toàn bộ lãnh thổ bắc Chiêm Thành với ý định nhằm thống nhất toàn cõi dân Chiêm Thành .Vụ việc dẫn đến người sự chống đối quyết liệt của người Rang Đê dưới sự lãnh đạo của Vancaraya.
Vancaraya (1125- 1169) Vancaraya là tên gọi bằng tiếng Pali Sanskrit Ấn Độ Vancaraya (वैनसीएराया), tiếng Ê Đê thường gọi là Dam Khing Jŭ có nghĩa là thủ lĩnh da nâu. Theo sử liệu Trung Quốc thì Vancaraya được nhắc đến với tên gọi (鷹 明 葉 Bính âm: YingMingYe, âm Hán Việt: Ưng Minh Diệp), là một thủ lĩnh người Rang Đê, cũng là một hoàng tử thuộc hoàng gia Vijaya miền bắc Champa, giai đoạn lịch sử này, người Ê Đê và Jarai chưa phân li thành hai tộc người riêng như ngày nay. Sự kiện lịch sử theo bia ký Champa ghi lại rằng: Đó là vào giữa thế kỷ thứ 12, vương quốc Champa bị phân chia làm hai miền. Miền nam, tức là tiểu vương quốc Panduranga (thuộc vùng Ninh Thuận ngày nay), đặt dưới quyền lãnh đạo của vua Jaya Harivarman I. Ngược lại, tiểu vương quốc Vijaya (Ngày nay thuộc địa bàn huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định) ở miền bắc đặt dưới quyền đô hộ Đế chế Khmer. Vì không thể chấp nhận sự thống trị của người dị chủng Campuchia, vua Jaya Harivarma I ở miền nam tiến quân ra bắc giải phóng kinh đô Vijaya vào năm 1149, giết được hoàng tử Harideva, lãnh đạo đoàn quân viễn chinh Campuchia. Sau ngày thắng trận, thay vì Jaya Harivarman I phải rút quân trở về Panduranga, ông ta lại lợi dụng tình thế, tự xưng vương ở Vijaya, mặc dù ông ta biết rằng quyền nối ngôi ở Vijaya phải thuộc về hoàng tử Vancaraya, chính là em ruột của vợ ông (Vua Jaya Harivarnann I có một người vợ gốc Rang Đê). Nhằm phản đối lại sự đoạt ngôi này, các bộ tộc Rang Đê mà bia ký gọi là Kiratas phất cờ vùng dậy đưa hoàng tử Vancaraya lên làm vua ở Vijaya. Vua Jaya Harivarman I không còn giải pháp khác để giải quyết sự khủng hoảng chính trị này, quyết định vào năm 1151 tấn công đoàn quân người Rang Đê và nhóm quân Kiratas khác do hoàng tử Vancaraya lãnh đạo. Thất trận, hoàng tử Vancaraya chạy sang Đại Việt cầu cứu viện trợ. Vua Lý Anh Tông sai tướng Nguyễn Mông cùng 5.000 binh sĩ từ Thanh Hóa vào tiếp cứu nhưng bị đánh bại, Nguyễn Mông và Vancaraya đều bị tử trận. Toàn bộ các thung lũng ven núi như Ea Drang, Ea Pa, Ea Ryu nơi người Rang Đê cư trú đều đặt dưới sự kiểm soát trở lại của Vua Jaya Harivarman I gốc người miền nam Champa. Đây có thể là mối liên hệ sớm nhất giữa bộ lạc Tây Nguyên với người Việt.
Sri Agara Là một thủ lĩnh gốc người Rang-Đê. Sau những thất bại của Vancaraya nhóm người Rang-Đê tiếp tục kháng cự không chịu chấp nhận Ấn-Độ hóa bộ lạc Rang-Đê của người Chăm.Năm 1191 tại Vijaya, Surya Jayavarman (hoàng tử In) bị Rasupati, một hoàng thân Champa, đánh bại phải chạy về lại Chân Lạp. Rasupati tự xưng là vua xứ Vijaya, hiệu Jaya Indravarman V. Không nhìn nhận vương quyền mới này, Jayavarman VII cho Jaya Indravarman IV (cựu vương Champa và cũng là cha của hoàng tử In) về Bắc Champa chiếm lại ngôi báu. Jaya Indravarman IV được Suryavarman (hoàng thân Sri Vidyananda) tiếp sức mới chiếm được Vijaya, Rasupati (Jaya Indravarman V) bị xử trảm. Thay vì giao thành lại cho vua Champa cũ, Suryavarman chiếm luôn Vijaya; Jaya Indravarman IV liền kêu gọi dân chúng tại Amavarati và các làng Ulik, Vyar, Jriy, Traik chống lại. Năm 1192, Jaya Indravarman IV bị tử trận tại Traik. Suryavarman thống nhất lại đất nước, lên ngôi vua và tìm cách tách khỏi ảnh hưởng của đế quốc Angkor. Hay tin hoàng thân Suryavarman làm phản, Jayavarman VII cử đại quân, trong số này có cả người Rang-Đê (do tướng Jai Ramya cầm đầu), sang đánh Champa. Cuộc chiến kéo dài từ 1193 đến 1194, đại quân Khmer bị đánh bại. Thay vì theo quân Khmer về nước, một người Rang-Đê tên Sri Agara chiếm một vùng đất lớn từ Amavarati đến Pidhyan (Phú Giang, bắc Phú Yên) rồi tự xưng vương năm 1193, hiệu Mtao Ayna PôKa. Sau đó, tướng Dhanapati được lệnh vua Khmer đánh dẹp các cuộc nổi loạn tại Champa, đặc biệt là người Ê Đê trên cao nguyên. Mtao Ayna PôKa bị bắt sống đem về Campuchia trị tội và bị xử tử tại Angkor. Dhanapati được phong toàn quyền cai trị xứ Champa. Champa trở thành một tỉnh của đế quốc Khmer lần thứ hai.
Hơbia Drah Jan (1630-1654) là con gái của một thủ lĩnh Ê Đê Adham thuộc vùng Cư Mgar, có nơi gọi là H' Drah Jan Kpă, Ea Hleo phía bắc Đăk Lăk ngày nay, H' Drah Jan tiếng Êđê nghĩa là Công chúa Hạt Mưa sau này trở thành hoàng hậu thứ của Vương Triều Champa suy tàn trước sức ép của nam tiến của người Việt. Vào năm 1653 Chúa nhà Nguyễn, Nguyễn Phúc Tần sai cai cơ Hùng Lộc mang 3000 quân đánh chiếm vùng đất còn lại của Champa từ Nha Trang đến Sông Phan Rang. Po Romê bị bắt trong trận chiến này, ngài bị nhốt vào Rọ, bỏ đói bỏ khát trên đường đưa về Huế, có lẽ trên đường đi ngài đã tự tử (Lược sử Dân tộc Chàm Dohamide gọi là Ba Bì đã tự tử). Theo tục lệ đạo Bà La Môn, người ta hỏa thiêu xác vua, khi đó chỉ có bà hoàng hậu Ê Đê là H'Bia Drah Jan đã lặng lẽ âm thầm tiến đến gần nhảy vào lửa chết theo chồng,vì hoàng hậu cả là bà Drah Jih theo đạo Hồi (Chăm BàNi) theo giáo luật Hồi giáo không giám tuẫn tiết theo vua. Để tưởng nhớ đến một vị hoàng hậu cuối cùng của Vương triều Champa này nên được nhân dân thờ Bà trong một ngôi tháp phụ, rồi khi ngôi tháp sụp đổ, tượng của bà được đưa vào tháp chính phía bên phải tượng Vua là người chồng của mình. Sự hi sinh chung thủy của Drah Jan đến nỗi người Chăm coi bà như Nữ Thần và gọi là Pô Bia Drah Jan. Đây có thể là mối liên hệ cuối cùng về hôn nhân giữa các triều đại Champa với người Rangđêy. Người Chiêm Thành đã có những câu ca rằng:
Ba hoàng hậu Drah Jan, Drah Jih, Drah yang,Làm náo động sân đình chỉ vì thần Po Rame đẹp trai.Ba hoàng hậu Drah jan, drah Jih, drah Yang, Sắc đẹp toả sáng như thần mặt trời mọc lên.(Drah Jan: hoàng hậu người Ê Đê, Drah Jih: hoàng hậu cả người Chăm Hồi giáo bàni, Drahyang: có ý kiến cho rằng những người vợ Pô Reme theo Hồi giáo gốc Kelantan (Bắc Malaysia) Thông tin khác: Tương truyền vào năm 1471, khi thân chinh cầm quân tấn công tiêu diệt Champa,vua Lê Thánh Tông dừng tại chân núi, cho quân lính trèo lên khắc tên, ghi rõ cương vực Đại Việt (Việt Nam ngày nay) tại nơi này. Vì thế, núi được gọi là núi Đá Bia.Trên núi có 1 tảng đá cao 76m, tương truyền năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã đến đây và cho khắc lên mặt khối đá bài văn (nên sau gọi là hòn Đá Bia) dòng chữ khẳng định chủ quyền Đại Việt.Về nội dung văn bia, các tài liệu có sự giải chép khác nhau, tựu chung có ba nội dung như sau: “Chiêm Thành quá thử, binh bại quốc vong, An Nam quá thử, tướng tru binh chiết” nghĩa là "Chiêm Thành vượt qua nơi này, binh thua nước mất, An Nam vượt qua nơi này, tướng chết quân tan"; hoặc "Dĩ Nam Chiêm Thành, dĩ Bắc dân triều mệnh Việt Nam" nghĩa là “Từ đây về Nam là Chiêm Thành, từ đây về Bắc dân chịu mệnh Việt Nam"; cũng có tài liệu nói rằng văn bia chỉ là hai chữ "Hồng Đức”, là niên hiệu của vua Lê Thánh Tông. Theo tryền thuyết người Eđê Phú Yên truyền thuyết của người Ê Đê, núi Đá Bia là Kut Hbia Bhi (mộ của bà HơBhí). Hbia Bhí là tên gọi khác của Hơbia Drah Jan là người dân tộc Ê Đê, vợ của vua Pôrômê là vị vua tài giỏi của người Champa xưa kia,sau khi HơBia Bhí (một trong 3 người vợ của vua Pôrômê) mất, người ta đã đắp cho bà ngôi mộ thật to lớn, đó chính là núi Đá Bia ngày nay.
Y Bhăm Ênuôl (1923-1975) thường được viết là Y- Bhăm Êñuôl Lãnh tụ của dân tộc Đê-Ga thành lập BAJARAKA tiền thân của Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc tộc bị Áp bức (FULRO). Chủ trương chấm dứt phân biệt đối xử các dân tộc thiểu số.
Y Blok Eban (1921-), Thiếu tướng, nguyên Chủ tịch UBND đầu tiên của tỉnh Đăk Lăk;
Y Bih Aliö, nguyên Phó Chủ tịch Mặt trận Giải phóng miền Nam;
Y Ngông Niê Kdăm (1922-2001), nguyên Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội Việt Nam;
Y Ly Niê Kdăm (s. 1944), Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XI, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Đăk Lăk;
Y Jut Hwing (1888-1934) sinh ra tại Buôn Kram, xã Ea Tiêu trước đây thuộc huyện Krông Ana, nay thuộc huyện Čư Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, Y-Jut cùng các trẻ em nam khác bị thực dân Pháp bắt cóc và giao nộp cho Trường Prancios-Rhade để đào tạo trí thức tay sai cho thực dân Pháp. lợi dụng cơ hội này Y Jút quyết tâm học hành, đem ánh sáng văn hóa trở lại phục vụ quê hương, buôn làng và đó cũng là cơ hội tốt nhất để giải phóng đồng bào ra khỏi ách áp bức bóc lột. Y Jút tốt nghiệp sơ học tại Trường Franco – Rhade Buôn Ma Thuột, tốt nghiệp tiểu học ở Huế và năm 1912 học trung học tại Trường Lycee Khải Định Huế. Năm 1916 Y Jút tốt nghiệp trung học, được bổ nhiệm làm giáo viên tại Trường Franco – Rhade Buôn Ma Thuột. Trước cảnh sống tối tăm và khổ nhục của đồng bào do chính sách ngu dân của thực dân Pháp, ngay từ những năm đầu bước vào nghề dạy học, Y Jút đã nuôi hoài bão giải thoát người Ê Đê ra khỏi nạn mù chữ. Kết hợp với bạn bè như Y Ut, Y BLul tìm hiểu mẫu tự La tinh và vần Êđê đặt ra bộ chữ viết Êđê ngày nay. Sau đó bộ chữ này được đốc học Angtoamaki và Sabatier tu chỉnh lại vào năm 1920. Latinh hóa tiếng Êđê và thầy đã thành công. Ngoài ra, Y Jút còn là người phụ trách biên soạn bộ giáo trình Rhade – Pháp(Rhade-Francios) loại bỏ giáo trình Pháp-Rhade (Francios-Rhade) dùng để giảng dạy trong nhà trường nghĩa là học sinh bản địa Ê Đê học chữ Êđê trước sau đó mới học chức Pháp. Chữ Êđê là một trong những bộ chữ của các tộc người bản địa Tây Nguyên được xây dựng sớm nhất ở khu vực từ cơ sở chữ Latinh nhằm mục đích phục vụ giáo dục, với ý thức tự tôn dân tộc, nhằm giúp cho người Ê Đê có chữ viết. Sau này mới được các linh mục người Pháp, các mục sư Tin lành người Mỹ góp ý sửa chữa để chép kinh thánh bằng tiếng Ê Đê. Điều này không giống với quá trình xây dựng và hình thành bộ chữ của một số tộc người Tây Nguyên khác như: Jrai, Bana, K’Ho… đều do các đức cha giáo phận mời trí thức các dân tộc cùng tham gia biên soạn, hướng chính vào mục đích phổ biến kinh thánh Cơ đốc và Tin lành. Trải qua nhiều năm tháng, bộ chữ Êđê ban đầu do hai thầy Y Jút và Y Út biên soạn vẫn được coi là khoa học nhất và rất ít bị thay đổi. Ngày nay hầu hết người Ê Đê sử dụng thành thạo chữ viết này. Y-Jut bị đầu độc và qua đời năm 1934 tại Buôn Ma Thuột còn Y-Ut Niê Brit (Ama Puk) bị kẻ xấu ám sát bằng súng năm 1962 tại Buôn Đôn trong khi đang dạy học cho các trẻ em Ê Đê.
Y Wang Mlô Aduôn Du, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ Việt Nam.
Bà H'Ngăm Niê Kdăm, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Y Moan Ênuôl thường được viết Y- Moan Êñuôl (1957-2010), nhạc sĩ, ca sĩ.
== Các tiểu quốc Orang Đê trong lịch sử ==
Người Ê đê và người Gia Rai vốn cùng nguồn gốc từ một tộc người Orang Đê cổ được ghi chép khá nhiều trong các bia ký Champa, Khmer,...Orang Đê có thể là nhóm mà người Ê đê và Gia Rai gọi là Mdhur, trong văn hóa Mdhur có chứa đựng nhiều yếu tố văn hoá trung gian giữa người Ê đê và Gia Rai. Trong văn hóa Mdhur trước kia còn tồn tại tục hỏa táng người chết và bỏ tro trong chum, ché sau đó mới mang chôn cất trong nhà mồ, đây có thể là ảnh hưởng của đạo Hin-đu từ người Chăm. Xét về phương diện người Mdhur là cội nguồn xuất phát của người Ê đê và Gia Rai hiện đại. Trong lịch sử Orang Đê đã từng tồn tại các tiểu quốc sơ khai, với sự cai trị của các Mtao, Pơ Tao có thế lực trên một khu vực rộng lớn ở vùng người Gia Rai và Ê đê. Sự hình thành các tiểu quốc nhỏ là đặc điểm thường thấy ở các tộc người Đông Nam á:
Mtao Pui- Mtao Ea (Thủy Vương - Hỏa Vương, tiếng Khmer là Sadet Tok - Sadet Phlong, là tên gọi của hai vị tiểu vương cai trị tiểu quốc Orang Đê của bộ tộc người Jarai Chor,Jarai Hdrung, Ê đê Krung, Mdhur và một bộ phận Ê đê Adham trên cao nguyên Pleiku, thung lũng Cheoreo, Buôn Hồ, Ea sup, Krông Pa, M'Drak, Krông Hing từ thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 19. Sang cuối thế kỷ 18 đầu 19, nhóm Ê đê Adham vùng Krông Buk, Buôn Hồ, Cư Mgar lớn mạnh nhờ giao lưu buôn bán được với người Lào, Khmer, Siêm thông qua vùng Bản Đon ngày nay, Yă Wam là một nữ tù trưởng đã từng dựa vào người Siêm và Lào để đưa người Adham thoát khỏi ảnh hưởng của các Mtao-Ptao vùng Jarai.
Tiểu quốc Adham (TK 18 -TK 19)
Adham hay Dham, hoặc Atham, là một nhóm địa phương của người Ê đê. Người Adham cư trú ở phía tây bắc Đăk Lăk, chủ yếu ở vùng Buôn Hồ, Cư Mgar, Krông Buk và Ea Hleo. Đây là nhóm địa phương đông dân số nhất của người Ê Đê. Khoảng giữa thế kỷ 18 vào đầu thế kỷ 19, người Ê đê Adham đã từng di cư ồ ạt xuống phía tây nam của Đăk Lăk và dừng lại cộng cư với người Ê đê Kpă vùng Buôn Ma Thuột ngày nay để tránh những cuộc tấn công từ các Mtao Ea- Mtao Pui của tiểu quốc Jarai. Nhờ con đường buôn bán với người Lào, Siêm, Khmer tại các cửa sông Bản Đon ngày nay, thế kỷ 18- 19 được coi thời kỳ phát triển mạnh của Ê đê Adham với sự cai quản của nữ thủ lĩnh Yă Wam được người E đê gọi Mtao Mniê (Vua Bà), Yawam cai trị một khu vực rộng lớn từ Krông Năng, Buôn Hồ, Ea Sup, Cư Mgar, Buôn Đôn. Do vậy, bà được người Lào, người Xiêm kính nể và so sánh ngang với thế lực Mtao Pui, Mtao Êa. Cho đến đầu thế kỉ 20, người Adham là nhóm hùng mạnh và thịnh vượng nhất so với các nhóm Ê đê khác như người Kpă. Địa bàn của người Adham gồm '"...Nam phần Đăk Lăk cho tới lưu vực sông Ya Liau, phía Đông Bắc, họ vượt qua sông Krong Bouk và lan tới tận thượng nguồn sông Nang". Việc bà Yawam cắt đất Buôn Đôn cho Y-Thu Knul để định cư cho một số dân người gốc Lào, Thái Lan lập ra Bản Đôn, chấm dứt cuộc nam tiến của người Lào theo dọc các nhánh sống Mekong, cùng với câu chuyện tình ái giữa Nữ thủ lĩnh danh tiếng và thủ lĩnh săn voi tài giỏi này, là nguyên nhân để tiểu vương quốc Ê đê Adham suy tàn sau khi người Pháp đặt chân đến Bản Đon. Lúc này thế lực Ê đê Kpă vùng Buôn Ma Thuột bắt đầu lớn mạnh nhờ dựa vào thế lực người Pháp thay thế hẳn vai trò của người Ê đê Adham.
== Những Câu nói của nhân vật nổi tiếng ==
"Chúng ta phải có chữ của người Ê Đê, chúng ta cũng cần học tiếng Pháp thật giỏi để người Pháp không dám coi thường chúng ta".-(Thầy giáo Y-Jut Hwing (1885-1934), người đã sáng tạo ra chữ Ê Đê)
"Đất là lưng ông bà ta, rừng cây, khe suối là của ông bà ta, sao ta lại chịu bỏ nhà, bỏ buôn làng mà đi để bọn giặc chúng giẫm lên lưng ông bà ta, phá phách rừng núi của ông bà ta". - Tù trưởng Ama Jhao (1840-1905)
"Cuộc đời tôi vừa được ca hát, vừa trồng cà phê, vừa được sống giữa núi rừng, sống với thiên nhiên. Người ta vẫn hỏi tôi, tại sao không dời nhà về thành phố, tại sao không đi diễn nhiều, tại sao không làm kinh tế, câu trả lời của tôi rất giản dị, tôi yêu cuộc sống ở cao nguyên, tôi yêu thiên nhiên quê mình, tôi thích cách sống như vậy, và dù không biết đó có phải là lựa chọn đúng hay không, nhưng tôi không bao giờ hối hận về sự lựa chọn của mình. "—Y Moan Ênuô
"Ta không sợ nghèo vì ta quen nghèo rồi, ta cũng không sợ chết, nhưng sau ta, ai xứng đáng là sứ giả văn hóa..."- Y Moan Enuol
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Anne de Hautecloque - Howe, Nguyên Ngọc và Phùng Ngọc Cửu (dịch) (2004). Người Ê Đê - một xã hội mẫu quyền. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.
Henri Maître, Lưu Đình Tuân, Nguyên Ngọc (dịch) (2008). Rừng người Thượng. Hà Nội: Nhà xuất bản Tri Thức.
Nguyễn Hữu Thấu - Khan Đăm san và Khan Đam kteh Mlan
Luật tục Ê đê
== Xem thêm ==
Các dân tộc Việt Nam
Tiểu quốc Adham
== Liên kết ngoài ==
Người Ê Đê tại Việt Nam
Trang về người Ê Đê trên Ethnologue
Người Ê Đê trên The Peoples of World Foundation, tra cứu 20-12-2008
Người Ê Đê trên mạng
Cách cài gõ ngôn ngữ "Ede Vietnamese" ở WinVNKey
Vua Lửa & Vua Nước |
kim loại chuyển tiếp.txt | Kim loại chuyển tiếp là 40 nguyên tố hóa học có số nguyên tử từ 21 đến 30, 39 đến 48, 57 đến 80 và 89 đến 112. Nguyên nhân của tên này là do vị trí của chúng trong bảng tuần hoàn vì tại đó bắt đầu sự chuyển tiếp do có thêm điện tử trong quỹ đạo nguyên tử của lớp d.
Nếu định nghĩa một cách chặt chẽ hơn thì kim loại chuyển tiếp là những nguyên tố tạo thành ít nhất là một ion với một lớp quỹ đạo (orbital) d được điền đầy một phần, tức là các nguyên tố khối d ngoại trừ scandi và kẽm.
Ghi chú:
* Từ Lantan đến Luteti (các nguyên tố có số nguyên tử từ 57 đến 71) là các nguyên tố thuộc nhóm Lantan.
** Từ Actini đến Lawrenci (các nguyên tố có số nguyên tử từ 89 đến 103) là các nguyên tố thuộc nhóm Actini.
== Cấu hình điện tử ==
Thông thường thì các quỹ đạo lớp trong được điền đầy trước các quỹ đạo lớp ngoài. Các quỹ đạo s của những nguyên tố thuộc về khối quỹ đạo d lại có trạng thái năng lượng thấp hơn là các lớp d. Vì nguyên tử bao giờ cũng có khuynh hướng đi đến trạng thái có năng lượng thấp nhất nên các quỹ đạo s được điền đầy trước. Các trường hợp ngoại lệ là crôm và đồng, chỉ có 1 điện tử ở quỹ đạo ngoài cùng, nguyên nhân là do điện tử đẩy nhau, chia các điện tử ra trong quỹ đạo s và quỹ đạo d để dẫn đến trạng thái năng lượng thấp hơn là điền 2 điện tử vào quỹ đạo ngoài cùng ở các nguyên tử này.
Không phải tất cả các nguyên tố khối d đều là kim loại chuyển tiếp. Scandi và kẽm không đáp ứng được định nghĩa ở phía trên. Scandi có 1 điện tử ở lớp d và 2 điện tử ở lớp s ngoài cùng. Vì ion duy nhất của Scandi (Sc3+) không có điện tử trên quỹ đạo d nên tất nhiên là ion này cũng không thể có quỹ đạo "được điền đầy một phần". Ở kẽm cũng tương tự như vậy vì ion duy nhất của kẽm, Zn2+, có một quỹ đạo d được điền đầy hoàn toàn.
== Tính chất hóa học ==
Các kim loại chuyển tiếp có đặc tính là có ứng suất căng, khối lượng riêng, nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ sôi cao. Cũng như những tính chất khác của kim loại chuyển tiếp, các tính chất này là do khả năng của các điện tử trong quỹ đạo d không có vị trí xác định trong mạng của kim loại. Các tính chất này của kim loại chuyển tiếp càng rõ khi càng có nhiều điện tử được chia sẻ giữa các hạt nhân.
Các kim loại chuyển tiếp có 4 tính chất cơ bản:
Tạo hợp chất có màu
Có thể có nhiều trạng thái ôxi hóa khác nhau
Là chất xúc tác tốt
Tạo phức chất
== Trạng thái ôxi hóa ==
Nếu so sánh với các nguyên tố của phân nhóm chính nhóm II như canxi thì ion của các kim loại chuyển tiếp có thể có nhiều trạng thái ôxi hóa khác nhau. Thông thường thì canxi không mất nhiều hơn là 2 điện tử trong khi các kim loại chuyển tiếp có thể cho đến 9 điện tử. Nếu xem xét entanpi ion hóa của hai nhóm thì sẽ nhận thấy được nguyên nhân. Năng lượng cần dùng để lấy đi 2 điện tử của canxi ở quỹ đạo s ngoài cùng ở mức thấp. Ca3+ có một entanpi ion hóa lớn đến mức mà thông thường thì ion này không tồn tại. Các kim loại chuyển tiếp như vanađi do có độ chênh lệch năng lượng thấp giữa các quỹ đạo 3d và 4s nên entanpi ion hóa tăng gần như tuyến tính theo các quỹ đạo d và s. Vì thế mà các kim loại chuyển tiếp cũng tồn tại với các số ôxi hóa rất cao.
Dọc theo một chu kỳ có thể nhận thấy được một số khuôn mẫu tính chất nhất định:
Số lượng của những trạng thái ôxi hóa tăng đến mangan và sau đó giảm đi. Nguyên nhân là do các lực hút proton trong hạt nhân mạnh hơn nên khó cho điện tử hơn.
Ở các mức ôxi hóa thấp, các nguyên tố thường tồn tại dưới dạng là ion. Trong các mức ôxi hóa cao chúng thường tạo liên kết cộng hóa trị với các nguyên tố điện tử âm khác như ôxi hay flo, thường là anion.
Các tính chất phụ thuộc vào trạng thái ôxi hóa:
Các mức ôxi hóa cao hơn sẽ kém bền dọc theo chu kỳ.
Ở mức ôxi hóa cao hơn, ion là chất ôxi hóa tốt, trong khi nguyên tố ở các mức ôxi hóa thấp là chất khử.
Bắt đầu từ đầu chu kỳ, các ion 2+ là chất khử mạnh có độ bền tăng dần.
Ngược lại, các ion 3+ bắt đầu bằng độ bền và càng trở thành chất ôxi hóa tốt hơn.
== Hoạt tính xúc tác ==
Các kim loại chuyển tiếp là những chất xúc tác đồng thể và dị thể tốt, thí dụ như sắt là chất xúc tác cho quy trình Haber-Bosch. Niken và platin được dùng để hiđrô hóa anken.
== Hợp chất màu ==
Khi tần số bức xạ điện từ thay đổi chúng ta nhận thấy được các màu khác nhau. Chúng là kết quả từ các thành phần khác nhau của ánh sáng khi ánh sáng được phản xạ, truyền đi hay hấp thụ sau khi tiếp xúc với một vật chất. Vì cấu trúc của chúng nên các kim loại chuyển tiếp tạo thành nhiều ion và phức chất có màu khác nhau. Màu cũng thay đổi ngay tại cùng một nguyên tố, MnO4− (Mn trong mức ôxi hóa +7) là một hợp chất có màu tím, Mn2+ thì lại có màu hồng nhạt. Việc tạo phức chất có thể đóng một vai trò cơ bản trong việc tạo màu bởi vì các phối tử có ảnh hưởng lớn đến lớp 3d. Chúng hút một phần các điện tử 3d và chia các điện tử này ra thành các nhóm có năng lượng cao và các nhóm có năng lượng thấp hơn. Tia bức xạ điện từ chỉ có thể được hấp thụ khi tần số của nó tỷ lệ với hiệu số năng lượng của hai trạng thái nguyên tử. Khi ánh sáng chạm vào một nguyên tử với các quỹ đạo 3d bị đã bị chia ra thì một số điện tử sẽ được nâng lên trạng thái năng lượng cao hơn. Nếu so với các ion thông thường thì các ion của các chất phức có thể hấp thụ nhiều tần số khác nhau và vì thế mà có thể quan sát thấy nhiều màu khác nhau. Màu của một chất phức phụ thuộc vào:
Số lượng điện tử trong các quỹ đạo d
Cách sắp xếp các phối tử chung quanh ion
Loại của phối tử xung quanh ion. Khi chúng có tính phối tử càng nhiều thì hiệu số năng lượng giữa hai nhóm 3d bị tách ra càng cao
== Tham khảo == |
gadolini.txt | Gadolini (tên La tinh: Gadolinium) là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Gd và số nguyên tử bằng 64.
== Đặc trưng ==
Gadolini là một kim loại đất hiếm mềm dễ uốn màu trắng bạc với ánh kim. Nó kết tinh ở dạng alpha đóng kín lục phương khi ở điều kiện gần nhiệt độ phòng, nhưng khi bị nung nóng tới 1.508 K hay cao hơn thì nó chuyển sang dạng beta là cấu trúc lập phương tâm khối.
Không giống như các nguyên tố đất hiếm khác, gadolini tương đối ổn định trong không khí khô. Tuy nhiên, nó bị xỉn nhanh trong không khí ẩm, tạo thành một lớp ôxít dễ bong ra làm cho kim loại này tiếp tục bị ăn mòn. Gadolini phản ứng chậm với nước và bị hòa tan trong axít loãng.
Gd157 có tiết diện bắt nơtron nhiệt cao hàng thứ hai trong số các nuclide đã biết, chỉ thua Xe135, với giá trị bằng 49.000 barn, nhưng nó cũng có tốc độ cháy hết nhanh và điều này hạn chế tính hữu dụng của nó như là vật liệu làm các thanh kiểm soát trong lò phản ứng hạt nhân. Các hợp chất của gadolini (ôxít) có thể tạo ra thanh hấp thụ kiểm soát tốt, chúng chỉ đắt hơn một chút so với cacbua bo, là chất hấp thụ chủ yếu trong các phiến kiểm soát. Bên cạnh đó, "tốc độ cháy hết" đề cập trên đây là thông lượng (n/cm²*s) nhân với tiết diện (cm²). Chúng không phải là các đại lượng tách biệt; tiết diện lớn tạo ra "tốc độ cháy hết" lớn. Bên cạnh đó, gadolinia không cháy hết với sự hấp thụ nơtron, nó biến hóa về nguyên tử lượng nhưng vẫn là Gd. Số các nguyên tử Gd vẫn là bất biến; độ phản ứng âm xảy ra do các nguyên tử Gd bị biến hóa thành các đồng vị có tiết diện hấp thụ nơtron nhỏ hơn. Gd160 có tiết diện hấp thụ nơtron nhiệt nhỏ hơn 1 barn và như thế không còn là chất độc hạt nhân có hiệu quả.
Gadolini là một chất thuận từ mạnh ở nhiệt độ phòng và thể hiện tính chất sắt từ khi nhiệt độ hạ xuống.
Gadolini thể hiện hiệu ứng từ nhiệt trong đó nhiệt độ của nó tăng lên khi đưa vào trong từ trường và hạ xuống khi rút ra khỏi từ trường. Hiệu ứng được coi là mạnh hơn cho hợp kim của gadolini Gd5(Si2Ge2) .
== Ứng dụng ==
Gadolini được sử dụng trong sản xuất các thạch lựu gadolini yttri phục vụ cho các ứng dụng vi sóng, và các hợp chất gadolini được dùng trong sản xuất các chất lân quang cho các ống tia âm cực dùng trong tivi màu. Gadolini cũng được dùng trong sản xuất các đĩa compact và bộ nhớ máy tính.
Gadolini được dùng trong các hệ thống tạo lực đẩy bằng hạt nhân trong hàng hải như là chất độc hạt nhân có thể cháy hết. Gadolini cũng được dùng như là một biện pháp thứ cấp, tắt khẩn cấp trong một số lò phản ứng hạt nhân, cụ thể là trong kiểu CANDU.
Gadolini cũng có các tính chất luyện kim bất thường, với chỉ khoảng 1% gadolini bổ sung cũng cải thiện khả năng công tác và sức bền của sắt, crom và các hợp kim có liên quan tới nhiệt độ và sự ôxi hóa cao.
Do các tính chất thuận từ của nó, các dung dịch phức chất hữu cơ của gadolini và các hợp chất của gadolini được dùng như là các tác nhân tương phản phóng xạ truyền ven để nâng cao chất lượng hình ảnh trong chụp cộng hưởng từ (MRI) y học. Magnevist là ví dụ sử dụng rộng rãi nhất.
Bên cạnh MRI, gadolini cũng được dùng trong các chiếu chụp khác. Trong tia X, gadolini được chứa trong lớp lân quang, lơ lửng trong một ma trận polyme tại thiết bị phát hiện. Ôxysulfua gadolini (Gd2O2S: Tb) kích thích bằng terbi tại lớp lân quang chuyển hóa các tia X giải phóng từ nguồn thành ánh sáng. Gd có thể bức xạ tại bước sóng 540 nm (quang phổ ánh sáng xanh lục = 520–570 nm), rất hữu ích để nâng cao chất lực chiếu chụp của tia X được phơi sáng vào giấy ảnh. Bên cạnh khoảng quang phổ của Gd, hợp chất cũng có rìa K ở mức 50 kiloelectron volt (keV), nghĩa là sự hấp thụ các tia X của nó thông qua các tương tác quang điện là lớn. Sự chuyển hóa năng lượng của Gd tới 20%, nghĩa là, một phần năm các tia X va đập vào lớp lân quang có thể được chuyển hóa thành các photon ánh sáng.
Ôxyorthosilicat gadolini (Gd2SiO5, GSO; thường được kích thích bằng 0,1-1% Ce) là đơn tinh thể được dùng như là chất phát sáng nhấp nháy trong chiếu chụp y học, chẳng hạn trong chụp bức xạ positron (PET) hay để phát hiện các nơtron.
Thạch lựu gadolini galli (Gd3Ga5O12) là vật liệu với các tính chất quang học tốt, được sử dụng trong chế tạo nhiều chủng loại thành phần quang họcvà làm vật liệu nền cho các phim từ quang.
Trong tương lai, etyl sulfat gadolini, với các đặc tính ồn cực thấp, có thể được dùng trong các maser. Ngoài ra, mômen từ cao và nhiệt độ Curie thấp của gadolini (nằm ở mức nhiệt độ phòng) gợi ý về các ứng dụng như là thành phần từ tính trong cảm nhận nóng và lạnh.
Do tiết diện bắt nơtron cực cao của gadolini, nguyên tố này được sử dụng rất hiệu quả trong kỹ thuật chụp bức xạ nơtron.
== Lịch sử ==
Năm 1880, nhà hóa học người Thụy Sĩ là Jean Charles Galissard de Marignac đã quan sát thấy các vạch quang phổ thuộc về gadolini trong các mẫu vật didymi và gadolinit; nhà hóa học người Pháp là Paul Émile Lecoq de Boisbaudran đã tách gadolinia, một ôxít của gadolini, từ yttria của Mosander năm 1886. Nguyên tố này được cô lập chỉ trong thời gian gần đây.
Gadolini, giống như khoáng vật gadolinit, được đặt tên theo nhà hóa học và nhà địa chất người Phần Lan là Johan Gadolin.
Trong các tài liệu cũ, dạng tự nhiên của nguyên tố này thường được gọi là đất, nghĩa là nguyên tố này đến từ đất. Trên thực tế, gadolini là nguyên tố đến từ một loại đất là gadolinia. Nó là hỗn hợp bao gồm các hợp chất của nguyên tố này và một số nguyên tố khác. Hai nguyên tố kết hợp phổ biến nhất là ôxy và lưu huỳnh. Ví dụ, gadolinia chứa ôxít gadolini (Gd2O3).
== Vai trò sinh học ==
Gadolini không có vai trò sinh học tự nhiên nào đã biết, nhưng trong nghiên cứu về các hệ thống sinh học nó có một số vai trò. Nó được sử dụng như là tác nhân tương phản trong MRI, do trong trạng thái ôxi hóa +3 nó có 7 electron không bắt cặp. Điều này làm cho nước xung quanh tác nhân tương phản bị hồi phục nhanh, nâng cao chất lượng chụp MRI. Thứ hai, như là thành viên của nhóm Lantan, nó được sử dụng trong các thực nghiệm điện sinh lý học kênh ion khác nhau, trong đó nó được dùng để ngăn các kênh rò rỉ natri, cũng như để kéo giãn các kênh ion đã hoạt hóa.
Các tác nhân tương phản trên nền gadolini là nguy hiểm đối với các bệnh nhân bị bệnh thận. Tác nhân tương phản thông thường được chelat hóa do nó được dự kiến là di chuyển trong cơ thể rất nhanh. Trong các bệnh nhân với bệnh thận, sự bài tiết là chậm hơn và gadolini trở thành không liên kết, gây ra các vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe.
== Phổ biến ==
Gadolini không được tìm thấy ở dạng tự do trong tự nhiên, nhưng nó chứa trong nhiều khoáng vật hiếm như monazit và bastnasit. Nó chỉ xuất hiện ở dạng dấu vết trong khoáng vật gadolinit, cũng được đặt tên theo Johan Gadolin. Ngày nay, nó được điều chế bằng các kỹ thuật trao đổi ion và chiết dung môi hay bằng khử florua khan của nó với canxi kim loại.
== Giá trị ==
Năm 1994, giá thành của gadolini là khoảng 0,12 USD mỗi gam và nó chỉ tăng giá trị vào khoảng 0,01 USD mỗi gam kể từ đó:
1994-1995.....$55 mỗi pao (hay $0,121 mỗi gam)
1996-1999.....$115 mỗi kilôgam (hay $0,115 mỗi gam)
2000-2005.....$130 mỗi kilôgam (hay $0,13 mỗi gam)
== Hợp chất ==
Các hợp chất của gadolini bao gồm:
Các florua: GdF3
Các chlorua: GdCl3
Các bromua: GdBr3
Các iodua: GdI3
Các ôxít: Gd2O3
Các sulfua: Gd2S3
Các nitrat: Gd(NO3)3
Các nitrua: GdN
Hợp chất hữu cơ: gadodiamid
Xem thêm Hợp chất gadolini.
== Đồng vị ==
Gadolini trong tự nhiên là hỗn hợp của 5 đồng vị ổn định, bao gồm Gd154, Gd155, Gd156, Gd157 và Gd158, và 2 đồng vị phóng xạ là Gd152 và Gd160, với Gd158 là phổ biến nhất (24,84% độ phổ biến tự nhiên).
Ba mươi (30) đồng vị phóng xạ đã được nêu đặc trưng, với ổn định nhất là Gd160 có chu kỳ bán rã trên 1,3×1021 năm (sự phân rã vẫn chưa được quan sát - chỉ có giới hạn dưới của chu kỳ bán rã là đã biết), phân rã alpha Gd152 với chu kỳ bán rã 1,08×1014 năm, và Gd150 với chu kỳ bán rã 1,79×106 năm. Tất cả các đồng vị còn lại là phóng xạ, với chu kỳ bán rã nhỏ hơn 74,7 năm. Phần lớn trong số này có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 24,6 giây. Các đồng vị của gadolini có 4 trạng thái giả ổn định (đồng phân hạt nhân), với ổn định nhất là Gd143m (t½ 110 giây), Gd145m (t½ 85 giây) và Gd141m (t½ 24,5 giây).
Phương thức phân rã chủ yếu của các đồng vị trước đồng vị ổn định phổ biến nhất (Gd158) là bắt điện tử, còn phương thức phân rã chủ yếu của các đồng vị sau đồng vị ổn định phổ biến nhất là phân rã beta. Sản phẩm phân rã chủ yếu của các đồng vị trước đồng vị ổn định phổ biến nhất là các đồng vị của Eu) còn sản phẩm phân rã chủ yếu của các đồng vị sau đồng vị ổn định phổ biến nhất là các đồng vị của Tb.
Gadolini-153 có chu kỳ bán rã 240,4 ±10 ngày và bức xạ tia gama với các đỉnh mạnh tại 41 keV và 102 keV. Nó được sử dụng như là nguồn tia gama trong phép đo hấp thụ tia X hay đo đạc mật độ xương cho chiếu chụp chứng loãng xương và trong hệ thống chiếu chụp tia X Lixiscope có thể di động.
== Phòng ngừa ==
Giống như các nguyên tố khác trong nhóm Lantan, các hợp chất gadolini có độc tính từ nhẹ tới vừa phải, mặc dù độc tính của chúng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Bên cạnh đó, các bệnh nhân bị bệnh thận hay trong các điều kiện tiền viêm nhiễm, có các dữ liệu cho thấy có sự liên quan giữa việc sử dụng nó với sự phát triển của xơ hóa hệ thống sinh mô thận như là hiệu ứng phụ của các chelat gadolini sử dụng như là tác nhân tương phản trong các chiếu chụp MRI.
== Ghi chú ==
== Tham khảo chung ==
Los Alamos National Laboratory – Gadolinium
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com – Gadolinium
Nephrogenic Systemic Fibrosis – Complication of Gadolinium MR Contrast
It's Elemental – Gadolinium
refrigerator uses gadolinium metal that heats up when exposed to magnetic field
FDA Advisory on Gadolinium-Based Contrast |
vịnh hạ long.txt | Vịnh Hạ Long (vịnh nơi rồng đáp xuống) là một vịnh nhỏ thuộc phần bờ tây vịnh Bắc Bộ tại khu vực biển Đông Bắc Việt Nam, bao gồm vùng biển đảo thuộc thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả và một phần huyện đảo Vân Đồn của tỉnh Quảng Ninh.
Là trung tâm của một khu vực rộng lớn có những yếu tố ít nhiều tương đồng về địa chất, địa mạo, cảnh quan, khí hậu và văn hóa, với vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc và quần đảo Cát Bà phía Tây Nam, vịnh Hạ Long giới hạn trong diện tích khoảng 1.553 km² bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi, trong đó vùng lõi của Vịnh có diện tích 335 km² quần tụ dày đặc 775 hòn đảo. Lịch sử kiến tạo địa chất đá vôi của Vịnh đã trải qua khoảng 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau; và quá trình tiến hóa carxtơ đầy đủ trải qua trên 20 triệu năm với sự kết hợp các yếu tố như tầng đá vôi dày, khí hậu nóng ẩm và tiến trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể. Sự kết hợp của môi trường, khí hậu, địa chất, địa mạo, đã khiến vịnh Hạ Long trở thành quần tụ của đa dạng sinh học bao gồm hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và hệ sinh thái biển và ven bờ với nhiều tiểu hệ sinh thái. 14 loài thực vật đặc hữu và khoảng 60 loài động vật đặc hữu đã được phát hiện trong số hàng ngàn động, thực vật quần cư tại Vịnh.
Những kết quả nghiên cứu, thám sát khảo cổ học và văn hóa học cho thấy sự hiện diện của những cư dân tiền sử trên vùng vịnh Hạ Long từ khá sớm, đã tạo lập những hình thái văn hóa cổ đại tiếp nối nhau bao gồm văn hóa Soi Nhụ trong khoảng 18.000-7.000 năm trước Công Nguyên, văn hóa Cái Bèo trong 7.000-5.000 năm trước Công Nguyên và văn hóa Hạ Long cách ngày nay khoảng từ 3.500-5.000 năm. Tiến trình dựng nước và truyền thống giữ nước của dân tộc Việt Nam, trong suốt hành trình lịch sử, cũng khẳng định vị trí tiền tiêu và vị thế văn hóa của vịnh Hạ Long qua những địa danh mà tên gọi gắn với điển tích còn lưu truyền đến nay, như núi Bài Thơ, hang Đầu Gỗ, Bãi Cháy v.v. Hiện nay, vịnh Hạ Long là một khu vực phát triển năng động nhờ những điều kiện và lợi thế sẵn có như có một tiềm năng lớn về du lịch, nghiên cứu khoa học, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, giao thông thủy đối với khu vực vùng biển Đông Bắc Việt Nam nói riêng và miền Bắc Việt Nam nói chung.
Từ hơn 500 năm về trước trong bài thơ Lộ nhập Vân Đồn, Nguyễn Trãi đã lần đầu tiên ca ngợi vịnh Hạ Long là "kỳ quan đá dựng giữa trời cao". Năm 1962 Bộ Văn hóa - Thông tin (Việt Nam) đã xếp hạng vịnh Hạ Long là di tích danh thắng cấp quốc gia đồng thời quy hoạch vùng bảo vệ. Năm 1994 vùng lõi của vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới với giá trị thẩm mỹ (tiêu chuẩn vii), và được tái công nhận lần thứ 2 với giá trị ngoại hạng toàn cầu về địa chất-địa mạo (tiêu chuẩn viii) vào năm 2000. Cùng với vịnh Nha Trang và vịnh Lăng Cô của Việt Nam, vịnh Hạ Long là một trong số 29 vịnh được Câu lạc bộ những vịnh đẹp nhất thế giới xếp hạng và chính thức công nhận vào tháng 7 năm 2003.
Vịnh Hạ Long cùng với đảo Cát Bà tạo thành một trong 21 khu du lịch quốc gia đầu tiên ở Việt Nam. Năm 2015, Cục Di sản văn hóa đã công bố về số lượng khách tham quan vịnh Hạ Long là trên 2,5 triệu lượt khách.
== Truyền thuyết về vịnh Hạ Long ==
Vịnh Hạ Long có từ xa xưa do những kiến tạo địa chất. Tuy nhiên, trong tâm thức của người Việt từ thời tiền sử với trí tưởng tượng dân gian và ý niệm về cội nguồn con Rồng cháu Tiên, một số truyền thuyết cho rằng khi người Việt mới lập nước đã bị giặc ngoại xâm, Ngọc Hoàng sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Thuyền giặc từ ngoài biển ào ạt tiến vào bờ vừa lúc đàn Rồng tới hạ giới. Đàn Rồng lập tức phun ra lửa thiêu cháy thuyền giặc, một phần nhả Châu Ngọc dựng thành bức tường đá sừng sững làm cho thuyền giặc đâm phải mà vỡ tan, chặn đứng bước tiến của ngoại bang.
Sau khi giặc tan, thấy cảnh mặt đất thanh bình, cây cối tươi tốt, con người nơi đây lại cần cù, chịu khó, đoàn kết giúp đỡ nhau, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến để muôn đời bảo vệ con dân Đại Việt. Vị trí Rồng Mẹ đáp xuống là Hạ Long; nơi Rồng Con đáp xuống là Bái Tử Long và nơi đuôi đàn rồng quẫy nước trắng xoá là Bạch Long Vĩ.
Lại có truyền thuyết khác nói rằng vào thời kỳ nọ khi đất nước có giặc ngoại xâm, một con rồng đã bay theo dọc sông xuôi về phía biển và hạ cánh xuống ở vùng ven biển Đông Bắc làm thành bức tường thành chắn bước tiến của thủy quân giặc. Chỗ rồng đáp xuống che chở cho đất nước được gọi là Hạ Long.
== Điều kiện tự nhiên và xã hội ==
=== Vị trí ===
Là một vịnh nhỏ, bộ phận của vịnh Bắc Bộ, Vịnh Hạ Long được giới hạn với phía Đông Bắc giáp vịnh Bái Tử Long; phía Tây Nam giáp quần đảo Cát Bà; phía Tây và Tây Bắc giáp đất liền bằng đường bờ biển khoảng 120 km kéo dài từ thị xã Quảng Yên, qua thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả đến hết huyện đảo Vân Đồn; phía Đông Nam và phía Nam hướng ra vịnh Bắc Bộ. Trong diện tích 1.553 km² gồm vùng lõi và vùng đệm, nằm tại các tọa độ từ 106°58'-107°22' Đông và 20°45'-20°50' Bắc, vịnh Hạ Long bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa được đặt tên.
=== Môi trường và khí hậu ===
Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo có khí hậu phân hóa 2 mùa rõ rệt: mùa hạ nóng ẩm với nhiệt độ khoảng 27-29 °C và mùa đông khô lạnh với nhiệt độ 16-18 °C, nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 15-25 °C. Lượng mưa trên vịnh Hạ Long vào khoảng từ 2.000mm–2.200mm tuy có tài liệu chi tiết hóa lượng mưa là 1.680mm với khoảng trên 300mm vào mùa nóng nhất trong năm (từ tháng 6 đến tháng 8) và dưới 30mm vào mùa khô nhất trong năm (từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau). Hệ thủy triều tại vịnh Hạ Long rất đặc trưng với mức triều cường vào khoảng 3,5-4m/ngày. Độ mặn trong nước biển trên vùng Vịnh dao động từ 31 đến 34.5MT vào mùa khô nhưng vào mùa mưa, mức này có thể thấp hơn. Mực nước biển trong vùng Vịnh khá cạn, có độ sâu chỉ khoảng 6m đến 10m và các đảo đều không lưu giữ nước bề mặt.
=== Dân số ===
Trong số 1.969 đảo của Hạ Long hiện nay chỉ có khoảng 40 đảo là có dân sinh sống, những đảo này có quy mô từ vài chục đến hàng ngàn hecta tập trung chủ yếu ở phía Đông và Đông Nam vịnh Hạ Long. Mấy chục năm gần đây, nhiều vạn chài sống trôi nổi trên mặt nước, bắt đầu lên một số đảo định cư biến những đảo hoang sơ trở thành trù phú như đảo Sa Tô (thành phố Hạ Long), đảo Thắng Lợi (huyện đảo Vân Đồn).
Dân số trên vịnh Hạ Long hiện nay khoảng 1.540 người, tập trung chủ yếu ở các làng đánh cá Cửa Vạn, Ba Hang, Cặp Dè (thuộc phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long). Cư dân vùng Vịnh phần lớn sống trên thuyền, trên nhà bè để thuận tiện cho việc đánh bắt, nuôi trồng và lai tạo các giống thủy sản, hải sản. Ngày nay đời sống của cư dân Vịnh Hạ Long đã phát triển do kinh doanh dịch vụ du lịch.
Hiện nay, chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã có chủ trương di dời các hộ dân sống trong lòng vịnh lên bờ tái định cư, ổn định cuộc sống và bảo vệ cảnh quan môi trường vùng di sản. Đã có hơn 300 hộ dân sinh sống trên các làng chài trên Vịnh Hạ Long đã được di dời lên bờ sinh sống tại Khu tái định cư Khe Cá nay là khu 8 (phường Hà Phong, TP Hạ Long) từ tháng 5- 2014, công việc này sẽ còn tiếp tục được triển khai. Tỉnh sẽ chỉ giữ lại một số làng chài để phục vụ du lịch tham quan.
== Tên gọi Hạ Long qua các thời kỳ lịch sử ==
Tên gọi Hạ Long đã thay đổi qua nhiều thời kỳ lịch sử, thời Bắc thuộc khu vực này được gọi là Lục Châu, Lục Hải. Các thời Lý, Trần, Lê Vịnh mang các tên Hoa Phong, Hải Đông, An Bang, Vân Đồn, Ngọc Sơn hay Lục Thủy. Tên Hạ Long (rồng đáp xuống) mới xuất hiện trong một số thư tịch và các bản đồ hàng hải của Pháp từ cuối thế kỷ 19.
Trên tờ Tin tức Hải Phòng xuất bản bằng tiếng Pháp có bài viết về sự xuất hiện của sinh vật giống rồng trên khu vực là vịnh Hạ Long ngày nay với nhan đề Rồng xuất hiện trên vịnh Hạ Long, khi viên thiếu úy người Pháp Legderin, thuyền trưởng tàu Avalence cùng các thủy thủ bắt gặp một đôi rắn biển khổng lồ ba lần (vào các năm 1898, 1900 và 1902). Có lẽ người châu Âu đã liên tưởng con vật này giống như con rồng châu Á, loài vật huyền thoại được tôn sùng trong văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa các nước đồng văn châu Á nói chung. Bên cạnh những truyền thuyết của Việt Nam về Rồng Mẹ và Rồng Con đáp xuống khu vực vịnh đảo vùng Đông Bắc này, sự xuất hiện con vật lạ hiện hữu như rồng trong thực tại, có thể đã trở thành các lý do khiến vùng biển đảo Quảng Ninh được người Pháp gọi bằng cái tên vịnh Hạ Long từ đó và phổ biến đến ngày nay.
== Cảnh quan ==
Vùng di sản trên vịnh Hạ Long được thế giới công nhận (vùng lõi) có diện tích 434 km², như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía Tây), hồ Ba Hầm (phía Nam) và đảo Cống Tây (phía Đông), bao gồm 775 đảo với nhiều hang động, bãi tắm. Vùng kế bên (vùng đệm), là di tích danh thắng quốc gia đã được bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam xếp hạng từ năm 1962. Địa hình Hạ Long là đảo, núi xen kẽ giữa các trũng biển, là vùng đất mặn có sú vẹt mọc và những đảo đá vôi vách đứng tạo nên những vẻ đẹp tương phản, kết hợp hài hòa, sinh động các yếu tố: đá, nước và bầu trời .
=== Biển và đảo ===
Các đảo ở vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía Đông Nam Vịnh Bái Tử Long và vùng phía Tây Nam vịnh Hạ Long. Theo thống kê của ban quản lý vịnh Hạ Long, trong tổng số 1.969 đảo của vịnh Hạ Long có đến 1.921 đảo đá với nhiều đảo có độ cao khoảng 200m. Đây là hình ảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất từ 250-280 triệu năm về trước, là kết quả của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển. Quá trình carxtơ bào mòn, phong hóa gần như hoàn toàn tạo ra một vịnh Hạ Long độc nhất vô nhị, với hàng ngàn đảo đá nhiều hình thù, dáng vẻ khác nhau lô nhô trên mặt biển, trong một diện tích không lớn của vùng Vịnh.
Vùng tập trung các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp là vùng trung tâm Di sản Thiên nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm phần lớn vịnh Hạ Long (vùng lõi), một phần vịnh Bái Tử Long và vịnh Lan Hạ thuộc quần đảo Cát Bà (vùng đệm).
Các đảo trên vịnh Hạ Long có những hình thù riêng, không giống bất kỳ hòn đảo nào ven biển Việt Nam và không đảo nào giống đảo nào. Có chỗ đảo quần tụ lại nhìn xa ngỡ chồng chất lên nhau, nhưng cũng có chỗ đảo đứng dọc ngang xen kẽ nhau, tạo thành tuyến chạy dài hàng chục kilômét như một bức tường thành. Đó là một thế giới sinh linh ẩn hiện trong những hình hài bằng đá đã được huyền thoại hóa. Đảo thì giống khuôn mặt ai đó đang hướng về đất liền (hòn Đầu Người); đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước (hòn Rồng); đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá (hòn Lã Vọng); phía xa là hai cánh buồm nâu đang rẽ sóng nước ra khơi (hòn Cánh Buồm); đảo lại lúp xúp như mâm xôi cúng (hòn Mâm Xôi); rồi hai con gà đang âu yếm vờn nhau trên sóng nước (hòn Trống Mái); đứng giữa biển nước bao la một lư hương khổng lồ như một vật cúng tế trời đất (hòn Lư Hương); đảo khác tựa như nhà sư đứng giữa mặt Vịnh bao la chắp tay niệm Phật (hòn Ông Sư); đảo lại có hình tròn cao khoảng 40m trông như chiếc đũa phơi mình trước thiên nhiên (hòn Đũa), mà nhìn từ hướng khác lại giống như vị quan triều đình áo xanh, mũ cánh chuồn, nên dân chài còn gọi là hòn Ông v.v.
Bên cạnh các đảo được đặt tên căn cứ vào hình dáng, là các đảo đặt tên theo sự tích dân gian (núi Bài Thơ, hang Trinh Nữ, đảo Tuần Châu), hoặc căn cứ vào các đặc sản có trên đảo hay vùng biển quanh đảo (hòn Ngọc Vừng, hòn Kiến Vàng, đảo Khỉ v.v.). Dưới đây là một vài hòn đảo nổi tiếng:
Hòn Con Cóc: Hòn Con Cóc nằm cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 12 km về phía Đông Nam, trên vùng vịnh Hạ Long. Đây là hòn núi đá rất đẹp có góc nghiêng và hình dáng như một con cóc ngồi xổm giữa biển nước, cao khoảng 9m.
Hòn Gà Chọi:
Là một trong những hòn đảo nổi tiếng trên vịnh Hạ Long, hòn Gà Chọi (hay đôi khi gọi là Hòn Trống Mái) nằm gần hòn Đỉnh Hương ở phía Tây Nam của Vịnh, cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 5 km. Đây là cụm gồm 2 đảo có hình thù giống như một đôi gà, một trống một mái, có chiều cao khoảng hơn 10m với chân thót lại ở tư thế rất chênh vênh. Là biểu tượng trên logo của vịnh Hạ Long, hòn Gà Chọi cũng là biểu tượng trong sách hướng dẫn du lịch Việt Nam nói chung.
Đảo Ngọc Vừng: Đảo Ngọc Vừng nằm cách cảng tàu du lịch khoảng 34 km, thuộc huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, có đặc điểm là một trong số ít đảo đất trên vùng vịnh Hạ Long. Xung quanh đảo có nhiều bãi biển đẹp, có núi Vạn Xuân cao 182m và có di chỉ khảo cổ thuộc văn hoá Hạ Long rộng 45.000m².
Đảo Ngọc Vừng rộng 12 km², có người ở, có bến cảng cổ Cống Yên thuộc hệ thống thương cảng cổ Vân Ðồn từ thế kỷ 11, và có di tích thành cổ nhà Mạc, thành nhà Nguyễn. Phía đông của đảo có bãi cát dài tới hàng kilômét với cát trắng trải ra tới tận bến tàu.
Khu vực này tương truyền trước kia có nhiều ngọc trai, đêm đêm phát sáng cả một vùng trời biển, nên có một số đảo mang tên đảo Ngọc như đảo Ngọc Vừng (ngọc phát sáng), hay Minh Châu (ngọc châu, ngọc sáng). Trước kia cư dân trên đảo sống bằng nghề đánh bắt hải sản và khai thác ngọc trai. Ngày nay cư dân ở đây vẫn còn mò trai lấy ngọc, đồng thời nghề nuôi trai lấy ngọc cũng đang phát triển mạnh.
Đảo Ti Tốp: Đảo Ti Tốp, thời Pháp thuộc mang tên hòn Cát Nàng, nằm trên khu vực vịnh Hạ Long cách Bãi Cháy chừng 14 km về phía Đông. Đảo được đặt tên Ti Tốp từ khi Hồ Chí Minh đến thăm vịnh Hạ Long cùng với nhà du hành vũ trụ người Nga Gherman Titov, vào năm 1962.
Đảo Ti Tốp có bờ dốc đứng và bãi cát trắng phẳng hình vầng trăng nằm dưới chân. Các tour du lịch thường ghé tàu vào đảo để du khách lên bờ leo núi ngắm toàn cảnh vùng Vịnh, tắm biển, chèo thuyền kay-ắc, kéo phao và kéo dù.
Đảo Tuần Châu: Nằm cách cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 4 km về phía Tây Nam trên vùng vịnh Hạ Long, Đảo Tuần Châu là một đảo đất rộng khoảng 3 km², gần bờ, có làng mạc và dân cư thưa thớt. Trước kia trên đảo các nhà khoa học đã tìm được nhiều di chỉ khảo cổ thuộc nền văn hóa Hạ Long. Từ năm 2001, một con đường lớn đã được xây dựng nối đảo với đất liền. Một tổ hợp dịch vụ vui chơi, giải trí, quần thể khách sạn, nhà hàng và bãi tắm sang trọng được xây dựng, đưa vào phục vụ góp phần làm thay đổi bộ mặt của Hạ Long từ năm du lịch 2003 tới nay.
== Các hang động nổi tiếng ==
Không chỉ những biến đổi của những đảo đá màu xanh đen trên mặt nước biếc vùng Vịnh hấp dẫn du khách, trên những chiếc thuyền dơi màu nâu đỏ xuất phát từ bến tàu Hạ Long bắt đầu hành trình ngoạn cảnh, những khám phá lại tiếp tục khi du khách lên đảo, thăm thú những hang động ẩn chứa nhiều chứng tích lịch sử. Những hang động tại Hạ Long, theo các nhà thám hiểm địa chất người Pháp, khi nghiên cứu về vịnh Hạ Long đầu thế kỷ 20, khẳng định rằng hầu hết trong số chúng đều được kiến tạo trong thế Pleistocen kéo dài từ 2 triệu đến 11 ngàn năm trước, nằm trong 3 nhóm hang ngầm cổ, hang nền carxtơ và các hàm ếch biển.
Hang Sửng Sốt:
Hang Sửng Sốt, hay động Sửng Sốt nằm trên đảo Bồ Hòn ở trung tâm vịnh Hạ Long, được người Pháp đặt tên "Grotte des surprises" (động của những kỳ quan). Ðây là một hang động rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long. Nằm ở vùng trung tâm du lịch của Vịnh với hệ thống trong tuyến du lịch bao gồm bãi tắm Ti Tốp - hang Bồ Nâu - động Mê Cung-hang Luồn - hang Sửng Sốt.
Vị trí và diện tích: Hang Sửng Sốt là một hang dạng ống, nằm ở độ cao 25m so với mực nước biển hiện tại. Diện tích khoảng 10.000m2, chiều dài hơn 200m, chỗ rộng nhất 80m, khoảng cách lớn nhất từ nền tới trần hang xấp xỉ 20m. Hang được chia thành 2 ngăn chính.
Quá trình phát hiện và quản lý: - Do có cửa hang mở rộng, hang Sửng Sốt được phát hiện khá sớm trên Vịnh Hạ Long (cuối thế kỷ thứ XIX). Tên của hang mãi đến năm 1946 mới được xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng do một số đoàn thám hiểm đã đến đây. - Năm 1999, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đã đầu tư tôn tạo Hang Sửng Sốt. Hệ thống đường đi, ánh sáng để du khách có thể quan sát và cảm nhận được vẻ đẹp của những khối nhũ, măng đá trong lòng hang.Ánh sáng được thiết kế phù hợp với kiến trúc hang đồng thời hài hoà với ánh sáng tự nhiên từ phía cửa hang. - Hiện nay Hang Sửng Sốt thuộc sự quản lý của Trung tâm bảo tồn Công viên hang động (BQL Vịnh Hạ Long).
Ðường lên hang Sửng Sốt quanh co uốn lượn dưới những tán lá rừng, với những bậc đá ghép cheo leo, khúc khuỷu. Ðộng được chia làm hai ngăn chính, toàn bộ ngăn thứ nhất như một nhà hát lớn rộng thênh thang với trần hang được phủ bằng nhũ đá, những tượng đá, voi đá, hải cẩu, mâm xôi, hoa lá, mở ra một thế giới của cổ tích. Ngăn 2 cách biệt với ngăn 1 qua một lối đi hẹp. Bước vào lòng ngăn này, động mở ra một khung cảnh mới khác lạ hoàn toàn với lòng ngăn rộng có thể chứa được hàng ngàn người. Trong lòng ngăn 2 của hang Sửng Sốt có những hình tượng được gắn với truyền thuyết Thánh Gióng: cạnh lối ra vào là khối đá hình chú ngựa, thanh gươm dài và trong lòng hang có những ao hồ nhỏ như vết chân ngựa Gióng.
Động Thiên Cung: Cách thành phố Hạ Long khoảng 8 km và cách bến tàu du lịch 4 km là đảo Vạn Cảnh, còn gọi là đảo Canh Độc có tọa độ 107°00'54" và 20°54'78". Trong sách Đại Nam nhất thống chí có ghi: hòn Canh Độc lưng chừng đảo có động rộng rãi chứa được vài ngàn người, gần đó có hòn Cặp Gà, Hòn Mèo, Hòn La.... Ngày nay, qua khảo cứu, đảo Vạn Cảnh có đỉnh cao 189m, hình dáng như một chiếc ngai ôm hai hang động là hang Đầu Gỗ nằm chênh vênh trên cao và động Thiên Cung ở cách mép nước không xa. Hang Đầu Gỗ và động Thiên Cung cách nhau chừng 100m, được thông nhau bằng những lối đi quanh co, uốn lượn dưới tán lá rừng.
Động Thiên Cung nằm ở lưng chừng đảo Canh Độc, ở độ cao 25m so với mực nước biển. Du khách vừa bước vào cửa động Thiên Cung, lòng động đột ngột mở ra không gian có tiết diện hình tứ giác với chiều dài hơn 130 mét, với những măng đá như một đền đài mỹ lệ. Vách động cao và thẳng đứng được bao bọc bởi những nhũ đá và trên mỗi vách động ấy thiên nhiên đã khảm nhiều hình thù kỳ lạ, hấp dẫn người xem. Đó là 4 cột trụ to lớn giữa động mà từ chân cột tới đỉnh đều được chạm nổi nhiều hình thù kỳ lạ như chim cá, cảnh sinh hoạt của con người, hoa lá cành; là những thạch nhũ mang hình tượng Nam Tào, Bắc Đẩu, tiên nữ múa hát; là trần hang với những điêu khắc người, chim, hoa, muông thú đang dự tiệc, hoàn toàn do bàn tay nhào nặn của tạo hóa tác thành qua hàng vạn năm. Cửa động nhỏ hẹp được giấu kín trong lòng núi nhưng càng đi vào bên trong, lòng động càng mở lớn và rộng, dẫn dắt người xem đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác.
Hang Đầu Gỗ:
Từ cửa Suốt nhìn vào hòn Canh độc, người ta thấy đầu của hòn núi này nhô ra trông giống như đầu một cây gỗ nổi lập lờ trên mặt nước. Hai bên "đầu gỗ" có hai hốc lõm vào, trông tựa như "mắt gỗ" mà thợ sơn tràng thường khoét vào đầu gỗ để kéo - lôi khi khai thác. Những cư dân vạn chài của vùng sông nước dã căn cứ vào hình dáng đó mà đặt tên cho cái hang mà họ thường lưu lại tại đảo này trong những ngày nghỉ ngơi, tránh mùa dông bão. Tên đảo Đầu gỗ; hang Đầu gỗ phải chăng đã được hình thành như vậy. Người Pháp khi lập bản đồ khu vực này, y cứ theo lời kể của cư dân sông nước mà ghi tên thành hang "daugo", cũng như tên "hòn đảo của những búi gai" thành "hongai" để rồi thành Hồng Gai.
Có lẽ vì quá yêu lịch sử chiến công của thời Trần mà người ta cố ghép tên hang "Đầu gỗ", "Giấu gỗ" cho trận chiên Bạch Đằng năm 1288, gắn với tên tuổi của vị anh hùng Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư.
Trong sách Đại Nam nhất thống chí có ghi: hòn Canh Độc lưng chừng đảo có động rộng rãi chứa được vài ngàn người, gần đó có hòn Cặp Gà, Hòn Mèo, Hòn La.... Động nói ở đây chính là hang "Đầu gỗ"; Động Thiên cung chỉ mới được phát hiện vào những năm tám mươi của thế kỉ trước.
Đi hết động Thiên Cung cũng là lúc du khách bước chân sang hang Đầu Gỗ, còn gọi là hang Giấu Gỗ, một hang động với những nhũ đá tráng lệ. Tên gọi Hang Đầu Gỗ (tập trung gỗ) có từ sau khi tướng Trần Hưng Đạo chỉ huy ba quân giấu các cọc gỗ lim tại đây, trước khi đem đóng xuống lòng sông Bạch Đằng để bày thế trận cùng thủy quân đánh úp, đốt cháy đoàn thuyền tải lương thực của giặc Nguyên Mông vào mùa xuân năm 1288. Hiện các nhà khảo cổ còn tìm thấy rất nhiều khúc gỗ và mẩu gỗ vụn còn sót lại trong động. Nếu động Thiên Cung hoành tráng khoẻ khoắn, hiện đại thì hang Ðầu Gỗ trầm mặc uy nghi nhưng cũng rất đồ sộ. Cuốn Merveilles du Monde (kỳ quan thế giới) của Pháp xuất bản năm 1938 chuyên về du lịch giới thiệu về các danh thắng nổi tiếng thế giới đã mệnh danh hang Ðầu Gỗ là "Grotte des merveilles" (động của các kỳ quan).
Cửa hang Đầu Gỗ ở lưng chừng vách núi và trong lòng hang được chia thành 3 ngăn chính. Ngăn phía ngoài hình vòm cuốn tràn ánh sáng tự nhiên, với trần hang như một bức tranh khổng lồ vẽ phong cảnh thiên nhiên hoang sơ với những đàn voi, những chú hươu sao, sư tử trong những tư thế sinh động. Phía dưới là rừng măng đá, nhũ đá nhiều màu với nhiều hình thù tùy theo trí tưởng tượng của từng người. Chính giữa lòng hang là một cột trụ đá khổng lồ hàng chục người ôm, từ phía dưới chân cột lên trên là những hình mây bay, long phi phượng vũ, hoa lá, dây leo. Qua ngăn thứ nhất, vào ngăn thứ 2 bằng một khe cửa hẹp lòng hang mở ra với ánh sáng chiếu vào mờ ảo, những bức tranh đá trở nên long lanh hơn và những chùm hoa đá lúc ẩn lúc hiện. Tận cùng hang là một chiếc giếng nước ngọt và những hình tượng bằng đá như đang diễn tả một trận hỗn chiến kỳ lạ.
Năm 1917, hang Đầu Gỗ được vua Khải Định lên thăm và cho khắc một tấm văn bia với nội dung ca ngợi cảnh đẹp của non nước Hạ Long nói chung và hang Ðầu Gỗ nói riêng. Hiện nay, tấm bia đá vẫn còn ở phía bên phải cửa động tuy chữ đã bị mài mòn.
Một số hang động khác:
Ngoài hai hang động trên, du khách còn tham quan hàng chục hang động đẹp và quyến rũ khác như hang Bồ Nâu có cửa uốn vòng cung với nhũ đá buông xuống mềm mại như cành liễu; hang Hanh cách thị xã Cẩm Phả 9 km về phía tây, là một hang động đẹp và dài nhất so với các hang động hiện có trên vịnh Hạ Long, với chiều dài 1.300m chạy xuyên suốt dãy núi đá Quang Hanh ra tới biển; hang Trinh Nữ với tảng đá hình cô gái đứng xõa mái tóc dài hướng ra biển, và đối diện với nó là hang Trống (hay hang Con Trai) với bức tượng chàng trai hóa đá quay mặt hướng về phía hang Trinh Nữ; rồi hang Tiên Long, Ba Hang, hang Luồn, động Tiên Ông, động Tam Cung, động Lâu đài, Ba Hầm v.v. Báo cáo của ban quản lý vịnh Hạ Long cho biết hiện nay vẫn chưa thể thống kê hết được tất cả hang động trên 1.969 đảo.
== Địa chất địa mạo ==
Giá trị lịch sử địa chất của vịnh Hạ Long được đánh giá qua 2 yếu tố: lịch sử kiến tạo và địa chất địa mạo (carxtơ):
=== Lịch sử kiến tạo ===
Vịnh Hạ Long và các vùng lân cận là một phần của lãnh địa liên hợp (composite terrane) Việt-Trung, trải qua các quá trình tiến hoá tách trôi, va chạm và biến cải trong Tiền Cambri - Phanerozoi. Móng Tiền Cambri và Paleozoi hạ phần lớn bị che phủ, chỉ lộ ra vài nơi quanh vịnh Bắc Bộ, nhưng các thành tạo từ Ordovic đến nay lộ ra khá đầy đủ trên các vùng này [18].
Lịch sử địa chất địa mạo của vịnh Hạ Long trải qua ít nhất 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau, với nhiều lần tạo sơn-biển thoái và sụt chìm-biển tiến. Vịnh Hạ Long từng là khu vực biển sâu vào các kỷ Ordovic-Silua (khoảng 500-410 triệu nẳm trước); khu vực biển nông vào các kỷ Cacbon-Pecmi (khoảng 340-250 triệu năm trước); biển ven bờ vào cuối kỷ Paleogen đầu kỷ Neogen (khoảng 26-20 triệu năm trước) và trải qua một số lần biển lấn trong kỷ Nhân sinh (khoảng 2 triệu năm trước?). Vào kỉ Trias (240-195 triệu năm trước) khu vực vịnh Hạ Long là những đầm lầy ẩm ướt với những cánh rừng tuế, dương xỉ khổng lồ tích tụ nhiều thế hệ.
=== Địa chất địa mạo ===
Vịnh Hạ Long có quá trình tiến hóa caxtơ đầy đủ trải qua trên 20 triệu năm nhờ sự kết hợp đồng thời giữa các yếu tố như tầng đá vôi dày, khí hậu nóng ẩm và quá trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể, với nhiều dạng địa hình caxtơ kiểu Phong Tùng (fengcong) gồm một cụm đá vôi thường có hình chóp nằm kề nhau có đỉnh cao trên dưới 100m, cao nhất khoảng 200m; hoặc kiểu Phong Linh (fenglin) đặc trưng bởi các đỉnh tách rời nhau tạo thành các tháp có vách dốc đứng, phần lớn các tháp có độ cao từ 50-100m. Tỉ lệ giữa chiều cao và rộng khoảng 6 lần.
Cánh đồng caxtơ của Hạ Long là lòng chảo rộng phát triển trong các vùng carxtơ có bề mặt tương đối bằng phẳng, thường xuyên ngập nước, được tạo thành theo những phương thức: hoặc nhờ kiến tạo liên quan các hố sụt địa hào; hoặc nhờ sụt trần của các thung lũng sông ngầm, hang động ngầm; hoặc cũng có thể nhờ tồn tại các tầng đá không hòa tan bị xói mòn mạnh mẽ nằm giữa vùng địa hình caxtơ cao hơn vây quanh mà thành.
Vịnh Hạ Long còn bao gồm địa hình caxtơ ngầm là hệ thống các hang động đa dạng trên Vịnh, được chia làm 3 nhóm chính: nhóm 1 là di tích các hang ngầm cổ, tiêu biểu là hang Sửng Sốt, động Tam Cung, động Lâu đài, động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, Thiên Long, v.v. Nhóm 2 là các hang nền caxtơ tiêu biểu là Trinh Nữ, Bồ Nâu, Tiên Ông, Hang Trống. Nhóm 3 là hệ thống các hàm ếch biển mà tiêu biểu như 3 hang thông nhau ở cụm hồ Ba Hầm, hang Luồn, Ba Hang.
Caxtơ vịnh Hạ Long có ý nghĩa toàn cầu và có tính chất nền tảng cho khoa học địa mạo. Môi trường địa chất vịnh Hạ Long còn là nền tảng phát sinh các giá trị khác như đa dạng sinh học, văn hóa khảo cổ và các giá trị nhân văn khác.
== Đa dạng sinh học ==
Vịnh Hạ Long là nơi tập trung đa dạng sinh học với 2 hệ sinh thái điển hình là "hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới" và "hệ sinh thái biển và ven bờ". Trong mỗi hệ lớn nói trên lại có nhiều dạng sinh thái.
=== Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ===
Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở vịnh Hạ Long rất đặc trưng, phong phú với tổng số loài thực vật sống trên các đảo khoảng trên 1.000 loài. Một số quần xã các loài thực vật khác nhau bao gồm các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở của hang hay khe đá. Các nhà nghiên cứu của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới đã phát hiện 7 loài thực vật đặc hữu của vịnh Hạ Long. Những loài này chỉ thích nghi sống ở các đảo đá vôi vịnh Hạ Long mà không nơi nào trên thế giới có được, đó là: thiên tuế Hạ Long, khổ cử đại tím (Chirieta halongensis), cọ Hạ Long (Livisona halongensis), khổ cử đại nhung (Chirieta hiepii), móng tai Hạ Long, ngũ gia bì Hạ Long, hài vệ nữ hoa vàng . Một số tài liệu khác mở rộng danh sách thực vật đặc hữu của Hạ Long lên 14 loại, bao gồm cả những loại đã được người Pháp khám phá và đặt tên gắn với địa danh từ trước như sung Hạ Long, nhài Hạ Long, sóng bè Hạ Long, giềng Hạ Long, phất dụ núi, phong lan Hạ Long v.v. Danh sách những loài thực vật đặc hữu khác tại vịnh Hạ Long rất có thể còn được bổ sung nhiều hơn, do chưa có một công trình nghiên cứu nào thực sự đầy đủ, toàn diện về thực vật trên tất cả các đảo trong khu vực Vịnh và vùng lân cận. Chẳng hạn loài trúc mọc ngược mà mấy năm gần đây các nhà khoa học mới phát hiện ra trên một số đảo đá của vịnh Hạ Long, một giống trúc có cành chĩa xuống đất, khác các giống trúc thông thường chĩa cành lên trời.
Theo thống kê, hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long có 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn; đối với động vật người ta cũng thống kê được 4 loài lưỡng cư, 10 loài bò sát, 40 loài chim và 14 loài thú. Ở vùng này còn có loại khỉ thân nhỏ, hiện được nuôi theo phương pháp đặc biệt tại đảo Khỉ.
=== Hệ sinh thái biển và ven bờ ===
Hệ sinh thái biển và ven bờ của vịnh Hạ Long bao gồm trong đó "hệ sinh thái đất ướt" và "hệ sinh thái biển" với những điểm đặc thù:
Hệ sinh thái đất ngập nước:
Sinh thái vùng triều và vùng ngập mặn trên Vịnh: bao gồm 20 loài thực vật ngập mặn; là nơi sống cho 169 loài giun nhiều tơ, 91 loài rong biển, 200 loài chim, 10 loài bò sát và 6 loài khác.
Dạng sinh thái đáy cứng, rạn san hô: tập trung ở Hang Trai, Cống Đỏ, Vạn Giò, có 232 loài san hô đã được tìm thấy. Rặng sinh thái đáy cứng, san hô là nơi sinh cư của 81 loài chân bụng, 130 loài hai mảnh vỏ, 55 loài giun nhiều tơ, 57 loài cua.
Dạng sinh thái hang động và tùng, áng: dạng sinh thái này tại vịnh Hạ Long rất tiêu biểu và hiếm nơi có được. Đặc biệt khu vực Tùng Ngón là nơi cư trú của 65 loài san hô, 40 loài động vật đáy, 18 loài rong biển. Tại đây cũng có 4 loài sinh vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam.
Dạng sinh thái đáy mềm: đây là dạng sinh thái của quần xã cỏ biển với 5 loài, là nơi sống của 140 loài rong biển, 3 loài giun nhiều tơ, 29 loài nhuyễn thể, 9 loài giáp xác.
Dạng sinh thái bãi triều không có rừng ngập mặn: sinh vật sống trên vùng triều đặc trưng là động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ và giun biển có giá trị dinh dưỡng cao như sá sùng, hải sâm, sò, ngao v.v.
Hệ sinh thái biển:
Thực vật phù du: ở vịnh Hạ Long có 185 loài.
Động vật phù du: vùng Hạ Long-Cát Bà có 140 loài động vật phù du sinh sống.
Động vật đáy: thống kê sơ bộ, vùng Hạ Long có đến 500 loài động vật đáy, trong đó có 300 loài động vật nhuyễn thể, 200 loài giun nhiều tơ, 13 loài da gai.
Động vật tự du: đã xác định được 326 loài động vật tự du, phân bố trong vịnh Hạ Long.
Đến nay sơ bộ đánh giá hệ thực vật trong vùng vịnh Hạ Long có khoảng 347 loài, thực vật có mạch thuộc 232 chi và 95 họ. Trong tổng số 347 loài thực vật đã biết, có 16 loài đang nằm trong danh sách đỏ của Việt Nam đã nguy cấp và sắp nguy cấp. Trong các loài thực vật quý hiếm, có 95 loài thuộc cây làm thuốc, 37 loài cây làm cảnh, 13 loài cây ăn quả và 10 nhóm có khả năng sử dụng khác nhau.
Các đảo tại vịnh Hạ Long có các loài động vật thân mềm đa dạng, đặc biệt là các loài cư trú trong hốc đá, và có tới 60 loài động vật đặc hữu. Hải sản Hạ Long được khai thác và nuôi trồng bao gồm bào ngư, hải sâm, sá sùng, tôm, cá, mực (mực ống, mực nang, mực thước), bạch tuộc, sò huyết, trai và điệp nuôi lấy ngọc . Tài liệu của Phân viện Hải dương học Hải Phòng cho thấy trong 1.151 loài động vật tại Hạ Long thì đã có tới gần 500 loài cá, 57 loài cua.
== Di chỉ khảo cổ và chứng tích lịch sử ==
=== Di chỉ khảo cổ ===
Năm 1937, ông Vũ Xuân Tảo, một công nhân lò nấu thủy tinh, trong lúc đào cát để làm nguyên liệu chế tạo thủy tinh đã tình cờ phát hiện được một chiếc rìu đá trên đảo Ngọc Vừng. Phát hiện này đã gây xôn xao các nhà khảo cổ học Pháp thời ấy, bước đầu xác định Hạ Long không chỉ là kỳ quan thiên nhiên mà còn là cái nôi của người tiền sử. Những nghiên cứu từ phía các nhà khảo cổ học Andecxen người Thụy Điển và chị em nhà Colani người Pháp sau đó đã cho thấy những công cụ đá, đồ đựng bằng gốm, đồ trang sức bằng đá và xương được phát hiện, thu thập ở Hạ Long đều thuộc thời đại hậu kỳ đá mới. Những di chỉ khảo cổ tại vịnh Hạ Long ban đầu được các nhà khoa học Pháp xếp vào khái niệm văn hóa Danhdola, trong đó Danhdola là tên đảo Ngọc Vừng do người Pháp đặt.
Khi miền Bắc Việt Nam được giải phóng, các nhà khoa học Việt Nam và các chuyên gia khảo cổ học Liên Xô đã tiến hành nhiều cuộc thám sát điều tra trên diện rộng, quy mô lớn trong khu vực vịnh Hạ Long và vùng lân cận. Những cuộc khảo sát năm 1960 đã phát hiện tại di chỉ Tấn Mài trên vùng Vịnh những mảnh ghè của người vượn và tiếp đó là khai quật được những mũi tên đồng từ thời Hùng Vương. Những kết quả nghiên cứu đó đã cho phép khẳng định về một nền văn hóa Hạ Long cách nay khoảng từ 3.500-5.000 năm.
Từ 1960 đến nay, sự thám sát và nghiên cứu rộng mở về khảo cổ học, văn hóa học tại trên 40 địa điểm, bao gồm trong đó Đồng Mang, Xích Thổ, Cột 8, Cái Dăm (thành phố Hạ Long) Soi Nhụ, Thoi Giếng (Móng Cái), Hà Giắt (Vân Đồn), hòn Hai Cô Tiên v.v. đã đưa đến kết luận quan trọng chứng minh cho sự tồn tại của người tiền sử trên vùng vịnh Hạ Long lùi xa hơn nữa. Không chỉ có một văn hóa Hạ Long từ khoảng 3-5 thiên niên kỷ trước, còn có nền văn hóa Soi Nhụ cách ngày nay trong khoảng 18.000-7.000 năm trước Công Nguyên, phân bố rộng trong khu vực vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long với các di chỉ tiêu biểu tại Mê Cung, Tiên Ông, Thiên Long. Các di vật còn lại chủ yếu là sản phẩm đã được sử dụng làm thức ăn như ốc núi (cyclophorus) và ốc suối (melania), một số hóa thạch của nhuyễn thể nước ngọt và một số công cụ lao động thô sơ tích tụ cấu tạo thành tầng văn hóa. Các nhà khoa học nhận thấy, phương thức sống chủ yếu của cư dân Soi Nhụ là bắt sò ốc, hái lượm, đào củ, đào rễ cây, biết bắt cá nhưng chưa có nghề đánh cá. So sánh với các cư dân văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn đương thời thì cư dân Soi Nhụ sống gần biển hơn nên chịu sự chi phối từ biển nhiều hơn, trực tiếp hơn.
Bên cạnh nền văn hóa Soi Nhụ không thể không nói đến Văn hóa Cái Bèo, cách ngày nay 7000-5000 năm trước Công Nguyên, được coi như giai đoạn gạch nối giữa văn hóa Soi Nhụ trước đó và văn hóa Hạ Long về sau. Di chỉ khảo cổ Cái Bèo tập trung chủ yếu thuộc đảo Cát Bà (Hải Phòng) và Giáp Khẩu, Hà Gián thuộc vịnh Hạ Long. Văn hóa Cái Bèo là một trong những bằng chứng chắc chắn về sự đương đầu với biển khơi từ rất sớm của người Việt cổ, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố, sắc thái khác biệt vào một dòng văn hóa đá cuội truyền thống rất lâu đời trong khu vực Việt Nam và Đông Nam Á. Phương thức cư trú và sinh sống của người cổ đại Cái Bèo ngoài săn bắt hái lượm đã có thêm nghề khai thác sản vật từ biển.
Tiếp nối không gián đoạn trong suốt tiến trình sơ sử, ba nền văn hóa mang tên Soi Nhụ-Cái Bèo-Hạ Long trên khu vực vịnh Hạ Long chứa đựng những giá trị nhất định, cho thấy vịnh Hạ Long và khu vực lân cận một thời đã từng là một cái nôi văn hóa của nhân loại. Những đặc điểm của nền văn hóa này chưa được giải mã toàn diện, và những kết quả thám sát khảo cổ học trong những năm gần đây vẫn tiếp tục hé lộ những bất ngờ mới mà một trong số đó là sự phát hiện di chỉ Đông Trong vào năm 2006. Trong một hang động tại Đông Trong, các nhà khảo cổ học phát hiện được di cốt người tiền sử, rìu đá, mảnh nồi gốm, trầm tích nhuyễn thể được sử dụng làm thức ăn và hàng trăm hạt chuỗi làm từ vỏ ốc, là một trong ba khu vực trên vùng vịnh Hạ Long tìm thấy di cốt người tiền sử sau Soi Nhụ và hòn Hai Cô Tiên.
=== Chứng tích lịch sử, văn hóa và phong tục ===
Vịnh Hạ Long là nơi gắn liền với những trang sử của quân dân Việt Nam trong suốt thời kỳ dựng nước và giữ nước với những địa danh như Vân Đồn, nơi có hải cảng cổ tại miền Bắc Việt Nam vào thế kỷ 12. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết sự hình thành thương cảng Vân Đồn: "Kỷ Tỵ, (Đại Định) năm thứ 10 (1149). Mùa xuân, tháng hai, thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào cảng Hải Đông (vịnh Hạ Long) xin cư trú buôn bán, bèn cho lập trang ở hải đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hóa quý, dâng tiến sản vật địa phương". Thương cảng Vân Đồn với đặc điểm là có nhiều đảo đất, đảo đá ngang dọc, chia cắt biển thành nhiều vũng, luồng lạch sâu và kín gió, giúp cho thuyền bè neo đậu an toàn, không bị gió bão uy hiếp, đã khiến khu vực này trở nên sầm uất trong thông thương với khu vực và nhiều nơi trên thế giới.
Bên cạnh thương cảng Vân Đồn, tại vùng vịnh Hạ Long còn có Núi Bài Thơ lịch sử, nơi lưu lại bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông hoàng đế khắc trên đá từ năm 1468, nhân chuyến tuần du vùng biển phía Đông; và bút tích của chúa Trịnh Cương năm 1729. Bãi Cháy phía bờ Tây của Vịnh, tương truyền gắn với sự tích những chiến thuyền chở lương thực của quân Nguyên-Mông bị quân dân nhà Trần do Trần Khánh Dư chỉ huy đốt cháy, dạt vào làm cháy cả cánh rừng trong khu vực. Trên Vịnh còn có hang Đầu Gỗ, nơi còn vết tích hiện vật là những cây cọc gỗ được Trần Hưng Đạo cho đem giấu trước khi đóng xuống lòng sông Bạch Đằng, và cách Vịnh không xa là cửa sông Bạch Đằng, chứng tích của hai trận thủy chiến trong lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc.
Hàng trăm đảo, hang động, nhũ đá trong vịnh Hạ Long được đặt tên theo các huyền thoại, truyền thuyết, hoặc theo trí tưởng tượng dân gian phong phú của cộng đồng cư dân nơi đây.
Về phong tục và văn hóa, ngư dân làng chài Cửa Vạn trên vùng vịnh Hạ Long hiện nay còn lưu giữ những câu hát giao duyên cổ xưa, đó là lối hát đúm, hò biển và hát đám cưới. Trong đó, theo cụ Nguyễn Văn Cải, ngư dân cao tuổi của làng chài Cửa Vạn, hát đám cưới của Hạ Long không kém gì lối hát của người quan họ Kinh Bắc, và đám cưới của cư dân vạn chài cũng khá đặc biệt vì theo phong tục chỉ được tổ chức trong những ngày rằm. Đây là lúc trên Vịnh có trăng sáng, cá ăn tản, người dân chài không đi đánh cá.
== Các tiềm năng của vịnh Hạ Long ==
=== Tiềm năng du lịch, nghiên cứu ===
Với các giá trị ngoại hạng về cảnh quan và địa chất, địa mạo, lại là trung tâm của khu vực có nhiều yếu tố đồng dạng bao gồm vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc, quần đảo Cát Bà với vịnh Cát Bà và vịnh Lan Hạ phía Tây Nam, vịnh Hạ Long hội tụ những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành kinh tế du lịch với loại hình đa dạng. Đến vịnh Hạ Long, du khách có thể tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, tham quan ngắm cảnh, tắm biển, bơi thuyền, thả dù, lặn khám phá rặng san hô, câu cá giải trí. Hiện nay, khách đến vịnh Hạ Long chủ yếu tham quan ngắm cảnh, tắm biển và bơi thuyền. Các loại hình du lịch du thuyền tại vịnh Hạ Long bao gồm tham quan Vịnh ban ngày, đi tour buổi chiều ngắm hoàng hôn trên Vịnh, du thuyền đêm để ngắm cảnh Vịnh về đêm kết hợp với câu cá mực, thậm chí có thể tự chèo thuyền để khám phá Vịnh. Trong những năm tới, ngành du lịch sẽ mở thêm nhiều tuyến điểm tham quan và tăng thêm nhiều loại hình du lịch khác. Dự kiến đến năm 2010, Quảng Ninh sẽ là một trong những điểm du lịch lớn nhất cả nước.
Quá trình đô thị hóa thành phố Hạ Long đang diễn ra mạnh mẽ về mọi mặt là một tiền đề vững chắc để phát triển du lịch. Hiện thành phố Hạ Long có khoảng 300 khách sạn từ 1 sao đến 5 sao với 4500 phòng nghỉ và nhiều khách sạn mini cơ bản đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch. Sự tăng trưởng về số lượng khách ở Hạ Long được đánh giá là nhanh nhất ở Việt Nam trong những năm gần đây. Năm 1996, vịnh Hạ Long đón 236 lượt khách, thì năm 2003 vịnh Hạ Long đón tới 1.306.919 lượt khách. Năm 2005, lượng khách đến vùng Vịnh ước đạt 1,5 đến 1,8 triệu, và đến năm 2010 dự đoán vịnh Hạ Long sẽ là điểm đón tiếp 5-6 triệu lượt khách. Tuy nhiên, đã không đạt được.
Là một trong 2 vịnh biển đẹp nhất Việt Nam bên cạnh vịnh Nha Trang, vịnh Hạ Long là nơi thường xuyên đón tiếp các tàu du lịch quốc tế chọn làm điểm dừng tham quan.
=== Tiềm năng cảng biển và giao thông thủy ===
Bên đặc điểm là vịnh kín ít chịu tác động của sóng gió, vịnh Hạ Long cũng có hệ thống luồng lạch tự nhiên dày đặc và cửa sông ít bị bồi lắng. Điều kiện thuận lợi này cho phép xây dựng hệ thống giao thông cảng biển lớn bên cạnh cảng nước sâu Cái Lân (Hạ Long) và Cửa Ông (Cẩm Phả). Ngoài ra, Quảng Ninh còn có một hệ thống cảng phụ trợ như: Mũi Chùa, Vạn Gia, Nam Cầu Trắng. Mục tiêu đến năm 2010 sẽ xây dựng hoàn chỉnh cảng Cái Lân với 7 cầu cảng, công suất hơn 14 triệu tấn cho phép tiếp nhận tàu trọng tải trên 5 vạn tấn.
=== Tiềm năng thủy hải sản ===
Vùng biển Quảng Ninh nói chung và vùng biển vịnh Hạ Long nói riêng chứa đựng nhiều hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học, trữ lượng hải sản lớn. Vùng Vịnh thích hợp cho việc nuôi trồng và đánh bắt hải sản do có các điều kiện thuận lợi: khí hậu tốt, diện tích bãi triều lớn, nước trong, ngư trường ven bờ và ngoài khơi có trữ lượng hải sản cao và đa dạng với cá song, cá giò, sò, tôm, bào ngư, trai ngọc các loại.
=== Vấn đề tổ chức ===
Tuy thế, gần đây Vịnh Hạ Long bị phản ánh trên các phương tiện truyền thông vì nạn "chặt chém", chất lượng dịch vụ kém, buông lỏng quản lý, gây ấn tượng xấu với du khách và sự đô thị hóa làm hại thắng cảnh thiên nhiên và tình trạng ô nhiễm môi trường, ô nhiễm dầu đáng quan ngại ở Vịnh Hạ Long .
== Di sản Việt Nam và thế giới ==
=== Di sản quốc gia Việt Nam ===
Năm 1962, vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa-Thông tin Việt Nam xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia với diện tích 1553 km² bao gồm 1969 hòn đảo.
Các đảo trong vùng vịnh Hạ Long được quy hoạch là khu bảo tồn các di tích văn hoá-lịch sử và cảnh quan quốc gia, theo Quyết định Số 313/VH-VP của Bộ Văn hoá-Thông tin Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 1962 (ADB 1999). Các đảo này cũng có trong danh sách các khu rừng đặc dụng theo Quyết định Số 194/CT, ngày 9 tháng 8 năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ).
Năm 1995, vịnh Hạ Long, cùng với đảo Cát Bà, được Phân viện Hải dương học Hải Phòng đề nghị đưa vào danh sách hệ thống các khu bảo tồn biển.
Năm 1999, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB 1999) đề xuất thành lập một khu bảo vệ có tên là Khu cảnh quan thiên nhiên vịnh Hạ Long rộng 155.300 ha, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa thực hiện được.
=== Di sản thế giới lần 1: giá trị thẩm mỹ ===
Ngày 21 tháng 12 năm 1991 Chính phủ Việt Nam cho phép xây dựng hồ sơ về cảnh quan vịnh Hạ Long để trình Hội đồng Di sản Thế giới xét duyệt di sản thiên nhiên thế giới. Năm 1993, hồ sơ khoa học về vịnh Hạ Long được hoàn tất và chuyển đến UNESCO để xem xét. Trong quá trình hoàn chỉnh hồ sơ, UNESCO lần lượt cử các đoàn chuyên gia đến Quảng Ninh khảo sát, hướng dẫn, nghiên cứu, thẩm định hồ sơ tại chỗ. Hồ sơ vịnh Hạ Long được chấp nhận đưa vào xem xét tại hội nghị lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới.
Ngày 17 tháng 12 năm 1994, trong kỳ họp thứ 18 tại Phuket, Thái Lan, Ủy ban Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng toàn cầu về mặt thẩm mĩ (tiêu chí VII), theo tiêu chuẩn của Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản tự nhiên và văn hóa của thế giới.
=== Di sản thế giới lần 2: giá trị địa chất địa mạo ===
Đầu năm 1998, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đã đề nghị TS. Trần Đức Thạnh ở Phân Viện Hải dương học tại Hải Phòng (nay là Viện Tài nguyên và Môi trường biển thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) tiến hành nghiên cứu và đánh giá các giá trị địa chất và khả năng trình UNESCO công nhận Vịnh Hạ Long là di sản Thế giới theo tiêu chí địa chất học. Kết quả nghiên cứu [4] cho thấy tính khả thi cao của việc trình UNESCO công nhận Di sản Địa chất Vịnh Hạ Long và cần phải nghiên cứu bổ sung chi tiết về địa mạo caxtơ.
Tháng 9 năm 1998, theo đề nghị của Ban quản lý vịnh Hạ Long và IUCN, Tiến sĩ Tony Waltham, chuyên gia địa chất học, trường Đại học Trent Nottingham đã tiến hành nghiên cứu địa mạo vùng đá vôi caxtơ vịnh Hạ Long với sự trợ giúp của TS.Trần Đức Thạnh. Tiến sĩ Waltham Tony đã gửi bản báo cáo về giá trị địa mạo caxtơ vịnh Hạ Long tới UNESCO tại Paris, Văn phòng IUCN tại Thụy Sĩ và Hà Nội, đồng gửi Ban quản lý vịnh Hạ Long. Ngày 25 tháng 2 năm 1999, sau khi nhận được báo cáo của Tiến sĩ Tony Waltham, UNESCO đã gửi thư tới Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam và Ban quản lý vịnh Hạ Long yêu cầu xúc tiến việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận về giá trị địa chất, địa mạo vùng đá vôi vịnh Hạ Long.
Tới tháng 7 năm 1999, hồ sơ trình Hội đồng Di sản Thế giới để công nhận vịnh Hạ Long về giá trị địa chất với tư vấn khoa học của TS.Trần Đức Thạnh đã hoàn tất và được gửi đến Trung tâm Di sản thế giới tại Paris. Tháng 12 năm 1999 tại hội nghị lần thứ 23 Hội đồng Di sản Thế giới họp tại thành phố Marrakech của Maroc, Hội đồng Di sản Thế giới đã đưa việc thẩm định hồ sơ để công nhận giá trị địa chất vịnh Hạ Long vào năm 2000. Tháng 3 năm 2000 Giáo sư Erery Hamilton Smith, chuyên gia của tổ chức IUCN được cử đến Hạ Long để thẩm định. Tháng 7 năm 2000, kỳ họp giữa năm của Trung tâm Di sản thế giới tại Paris đã chính thức đề nghị Ủy ban Di sản Thế giới công nhận vịnh Hạ Long là Di sản thế giới bởi giá trị toàn cầu về địa chất, địa mạo, theo tiêu chuẩn VIII của UNESCO "là ví dụ nổi bật đại diện cho các giai đoạn của lịch sử Trái Đất, bao gồm bằng chứng sự sống, các tiến triển địa chất đáng kể đang diễn ra trong quá trình diễn biến của các kiến tạo địa chất hay các đặc điểm địa chất và địa văn".
Ngày 2 tháng 12 năm 2000, căn cứ Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và kết quả xét duyệt hồ sơ địa chất vịnh Hạ Long, tại Hội nghị lần thứ 24 của Hội đồng Di sản Thế giới tại thành phố Cairns, Queensland, Úc, Hội đồng Di sản Thế giới đã công nhận vịnh Hạ Long là di sản thế giới lần thứ 2 theo tiêu chuẩn (viii) về giá trị địa chất với hai giá trị nổi bật toàn cầu về lịch sử địa chất và địa mạo caxtơ.
=== Đề cử di sản thế giới lần thứ 3 ===
Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang xúc tiến đệ trình UNESCO công nhận Vịnh Hạ Long là Di sản thế giới lần thứ 3, dựa trên những giá trị về khảo cổ học và đa dạng sinh học trong vùng Vịnh.
=== Bình chọn trong Bảy Kì quan Thiên nhiên Mới của Thế giới ===
Trong 4 năm từ 2007-2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng kết hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thông tin và Truyền thông, báo Tuổi Trẻ các hội đoàn như Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên v.v... cùng tỉnh Quảng Ninh và nhiều địa phương khác, tổ chức vận động quy mô bầu chọn cho Hạ Long là một trong Bảy Kì quan Thiên nhiên Mới của Thế giới, là một cuộc bình chọn do Tổ chức tư nhân NewOpenWorld (NOWC). Cuộc bình chọn này không phải do Tổ chức văn hóa, giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) tổ chức và kết quả bầu chọn cũng không được tổ chức này công nhận, nên có những dư luận không đồng tình cũng như chỉ trích. Nhưng theo ông Trần Nhất Hoàng, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thì cuộc thi là "một cơ hội quảng bá cho Việt Nam, Thứ hai nữa là sau khi có danh hiệu, sẽ tiếp tục quảng bá, thu hút thêm nhiều khách du lịch tới Việt Nam thêm nữa".. Khi so với việc quảng bá trên kênh truyền thông quốc tế như CNN, BBC, mỗi lần mất khoảng 160.000 USD-200.000 USD (4 tỷ đồng) mà chỉ quảng cáo được trong 1 clip dài 30 giây, thì chi phí vận động là không đáng kể trong khi hiệu quả lại cao hơn nhiều. So với chi phí quảng bá du lịch hàng năm ở các nước cùng khu vực cũng là rất nhỏ, như Malaysia đầu tư 80 triệu USD, Thái Lan 70 triệu USD, và Singapore gần 60 triệu USD.
Lúc 7h ngày 11 tháng 11 năm 2011 nhằm 2h ngày 12 tháng 11 năm 2011 (giờ Việt Nam), vịnh Hạ Long được tổ chức New7Wonders tuyên bố là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới mới sau cuộc kiểm phiếu sơ bộ.
== Vấn đề bảo tồn ==
=== Tác động của chủ quan và khách quan đối với vùng Vịnh ===
Hạ Long, Hải Phòng và Hà Nội là các thành phố trung tâm quan trọng của sự phát triển kinh tế ở miền Bắc Việt Nam. Sự phát triển kinh tế của các khu đô thị này, cùng với sự vươn lên nhanh chóng của các khu vực phía Nam Trung Quốc kể cả Hồng Kông, đều dẫn đến sự gia tăng về sức ép của con người tới vịnh Hạ Long. Khu vực ven biển tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng hiện có mức tăng trưởng rất nhanh về sự phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt về mặt giao thông, tàu biển, khai thác than và các ngành du lịch, dịch vụ. Từ năm 1999, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đã cảnh báo rằng việc xây dựng cảng mới ở vùng vịnh Hạ Long có thể dẫn đến sự gia tăng về giao thông đường biển trong khu vực, và phát triển cơ sở hạ tầng của du lịch sẽ là các mối đe dọa đối với Vịnh. Ô nhiễm do chất thải công nghiệp, sự khai thác và đánh bắt tận diệt thủy sản cũng mang lại những đe dọa nghiêm trọng. Có những ý kiến cho thấy cần tiếp tục xem xét một cách thận trọng về sự phát triển trong vùng Vịnh thông qua cơ cấu quản lý vì các giá trị quan trọng về mặt môi trường cho toàn vùng.
Hiện nay, sự phát triển mở rộng đô thị và sự gia tăng dân số cơ học, việc xây dựng bến cảng và nhà máy; các hoạt động du lịch và dịch vụ, rác thải trong sinh hoạt và chế xuất, hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đã không chỉ còn là nguy cơ, mà sự ô nhiễm môi trường và sự biến đổi cảnh quan của vịnh Hạ Long đã ở mức báo động. Do ô nhiễm, tình trạng những bãi san hô ở đáy biển sâu của vịnh Hạ Long đang trụi dần đi mà gần đây các nhà môi trường Việt Nam mới phát hiện ra. Mặt nước trong xanh của Vịnh đang ngày càng đục dần, bồi lắng khiến các nhà khoa học lên tiếng cảnh báo nguy cơ vịnh Hạ Long có thể bị "đầm lầy hóa". Thêm vào đó, do khu vực vịnh Hạ Long có hàng ngàn hòn đảo mà phần lớn là núi đá vôi, nguồn nguyên liệu xây dựng tốt lại thuận tiện cho khai thác nên rất dễ bị tư nhân lợi dụng, gây biến dạng cảnh quan.
Ở một khía cạnh khác, biến đổi khí hậu toàn cầu với mực nước biển dâng cao sẽ tác động mạnh tới cảnh quan, hệ thống đảo, hang động và đa dạng sinh học của Vịnh mà Việt Nam chưa đủ nhân lực, vật lực để sẵn sàng ứng phó.
Về văn hóa cộng đồng, một vấn đề mà nhiều du khách quốc tế đã phàn nàn là ý thức về bảo vệ môi trường di sản của khách du lịch và của cộng đồng địa phương còn chưa cao, chưa xây dựng được hình ảnh, thương hiệu du lịch Hạ Long hiện đại, văn minh và lịch sự. Vẫn còn hiện tượng người ăn xin đeo bám khách du lịch, ảnh hưởng tới môi trường du lịch của di sản. Việc giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức trong mỗi người dân; sự hạn chế các khu lưu trú nghỉ dưỡng trên các đảo; nỗ lực kiểm soát theo tiêu chuẩn du lịch sinh thái và quy định bảo tồn di sản đối với cả mặt nước vùng đệm của di sản, đang là những vấn đề lớn đặt ra nhiều thách thức với chính quyền địa phương. Các nhũ đá trong hệ thống các hang động của di sản vịnh Hạ Long đang bị đập phá, cưa trộm, mang về bán cho những người muốn dùng để trang trí hòn non bộ (2016). Một số hang động còn bị đổ bê tông lên nền hang để lấy nơi bày bàn tiệc..
=== Công tác bảo tồn ===
Trong những động thái nhằm ngăn chặn sự tác động tiêu cực của con người đến thiên nhiên vùng vịnh Hạ Long, chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã cấm các loại xuồng máy cao tốc phục vụ du khách trong khu vực Vịnh để bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học trong vùng Vịnh. Ngoài ra, tỉnh Quảng Ninh cũng thực hiện di dời các hộ dân sinh sống trên các vạn chài vào đất liền để bảo vệ môi trường nước của vịnh Hạ Long; đồng thời cấm bốc dỡ than đá trong khu vực di sản để chống ô nhiễm bụi than và bùn than cho Vịnh theo khuyến cáo của UNESCO. Tại Vịnh, một số người dân đã có ý thức tự nguyện giữ gìn cảnh quan, thông qua việc lập tổ hợp tác tự nguyện thu gom và xử lý rác thải.
Sự tương đồng về cảnh quan, địa chất địa mạo, đa dạng sinh học, cũng như những giá trị văn hóa, khảo cổ của toàn vùng, bao gồm không chỉ vịnh Hạ Long mà còn cả quần đảo Cát Bà và vùng biển đảo vịnh Bái Tử Long khiến những nghiên cứu khoa học địa chất, khảo cổ, văn hóa, và những hoạt động du lịch, khai thác hải sản v.v. không còn bó hẹp trong phạm vi vùng Vịnh. Đã có những ý kiến cho rằng cần xem xét việc mở rộng ngoại biên của khu vực bảo tồn, không chỉ giới hạn trong diện tích nhỏ hẹp của vùng vịnh Hạ Long hiện nay mà còn bao quát cả vùng biển đảo có những yếu tố đồng dạng, kéo dài từ Quần đảo Cát Bà lên sát biên giới Việt Trung. Với chiều dài khoảng 300 km và chiều rộng khoảng 60 km, toàn bộ khu vực này có thể được nhìn nhận và bảo tồn như một vùng sinh thái đặc biệt về biển của Việt Nam.
== Vịnh Hạ Long trong thi ca ==
Cách đây hơn 5 thế kỷ, Nguyễn Trãi đi ngang qua khu vực này và lần đầu tiên ca ngợi vịnh Hạ Long là kỳ quan, khi viết trong bài "Lộ nhập Vân Đồn":
Lộ nhập Vân Đồn san phục san
Thiên khôi địa khiết phó kỳ quan
(Đường tới Vân Đồn lắm núi sao!
Kỳ quan đất dựng giữa trời cao)
Vua Lê Thánh Tông đề trên vách đá Núi Bài Thơ năm 1468:
Cự lẫm uông dương triều bách xuyên
Loạn sơn kì bố bích liên thiên
Tráng tâm sơ cảm hàm tam cổ
Tín thủ dao đề tốn nhị quyền
Thần bắc khu cơ sân hổ lữ
Hải Đông phong toại tức lang yên
Thiên nam vạn cổ sơn hà tại
Chính thị tu văn yển vũ niên
Trăm dòng sông chảy mênh mông quanh núi
Quần đảo rải rác như bàn cờ, biển liền trời sắc xanh biếc...
Năm 1729, chúa Trịnh Cương cũng có những vần thơ ứng tác trước vẻ đẹp của Hạ Long:
Minh bộ vô nhai hối tổng xuyên
Sơn liên tiêu thủy, thủy man thiên
Bể lớn mênh mông họp cả con con sông lại,
Núi lấp loáng bóng nước, nước lênh láng lưng trời.
Trong số thơ chữ Nho của Hồ Xuân Hương có bài "Độ Hoa Phong" vịnh cảnh Hạ Long:
Hình ảnh Hạ Long cũng xuất hiện trong thơ của những nhà thơ hiện đại, như Xuân Diệu:
Đây bản thảo tạo vật còn nặn dở...
Đá thuở trước khổng lồ chơi ném thử.
Không chỉ cảnh đẹp của Hạ Long, nguồn tài nguyên phong phú ở đây cũng là đề tài cho thi ca. Huy Cận viết trong bài Đoàn thuyền đánh cá::
Cá nhụ, cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở sao lùa nước Hạ Long?
== Tên gọi các đảo đá, hang động trên vịnh Hạ Long ==
Vịnh Hạ Long có gần 2.000 đảo lớn nhỏ, tính riêng khu vực do Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích quốc gia thì có 1.969 hòn đảo; trong đó có 980 đảo có tên gọi, còn trong khu vực mà UNESCO công nhận Di sản thế giới có 775 đảo thì có 411 đảo có tên gọi.
Tên các đảo trên Vịnh Hạ Long hầu hết có từ lâu đời, có đảo do dân chài đặt gọi lâu mà thành, có đảo do danh nhân đặt. Nhiều tên đảo có cả một câu chuyện lịch sử gắn liền.
Theo nhà nghiên cứu văn hoá Tống Khắc Hài tên gọi các đảo ở Vịnh Hạ Long có ba đặc điểm; đó là bắt nguồn những danh từ thuần Việt, tên gọi bắt nguồn từ các điều kiện tự nhiên và đời sống thường nhật và tên gọi có ý nghĩa lịch sử và văn hoá.
Về tên gọi các đảo mang thuần Việt, các địa danh này thể hiện rõ đặc trưng vùng miền của Vịnh Hạ Long nói riêng, Quảng Ninh nói chung. Nếu như ở Nam Bộ có các vàm, cù lao, rạch, bưng… thì Hạ Long có cồn, cái, áng, cặp… như Cồn Bè, Cồn Chìm, Cặp La, Cặp Bè, Áng Dù, Áng Cây Vông. Đáng chú ý có những tên gọi là những từ cổ như “cái” trong Cái Cổng Ông, Cái Cổng Bà, Cái Lim, Cái Tráp… Phổ biến nhất trong số các tên đảo trên Vịnh Hạ Long là tên gọi được đặt theo tượng hình, được các chủ nhân gốc của Vịnh Hạ Long đặt từ lâu đời. Chẳng hạn hòn Con Cóc, hòn Đầu Bê, hòn Yên Ngựa, hòn Gà Chọi, hòn Bọ Hung, hòn Đỉnh Hương, hòn Đũa, Lưỡi Liềm, hòn Nón, hòn Cái Tai, Đầu Người, Ông Bụt, Lã Vọng, Mắt Quỷ v.v. Lại có những đảo được đặt tên theo các loài thực vật có thể là nét đặc trưng về sinh thái của đảo, như hòn Cây Vông, Cây Táo, Hạt Đậu, Hòn Quéo, Cây Khế…
Những đảo có tên mang ý nghĩa lịch sử văn hoá tuy chiếm số lượng ít hơn, nhưng đều là các đảo gắn với các sự kiện lịch sử nổi tiếng. Đảo Đầu Gỗ gắn liền với tích Trần Hưng Đạo giấu gỗ trước khi cắm xuống sông Bạch Đằng năm 1288. Núi Bài Thơ gắn với bài thơ của vua Lê Thánh Tông, chúa Trịnh Cương và một số thi sĩ khắc trên núi. Gần đây nhất là đảo Ti Tốp gắn với câu chuyện Bác Hồ lấy tên Anh hùng vũ trụ Liên Xô G.Titop đặt tên cho đảo năm 1962.
Đáng chú ý là trong thời gian chiếm đóng vùng than Quảng Ninh, người Pháp đã dùng không ít tên tiếng Pháp để đặt cho các đảo của Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long. Nhiều tên gọi đến nay vẫn chưa rõ nguồn gốc, lý do như đảo Ngọc Vừng người Pháp gọi là Danh Do La, đảo Tuần Châu thì gọi là Ile aux cerfơ (đảo hươu ở)…
Tên gọi các đảo muôn hình muôn vẻ kỳ thú chính là nét đặc sắc của Vịnh Hạ Long. Đây có thể coi là một loại hình văn hoá phi vật thể trong tổng thể các giá trị văn hoá của Vịnh Hạ Long và có giá trị về nhiều mặt. Đến nay, trên Vịnh Hạ Long còn rất nhiều đảo chưa có tên, hoặc có tên nhưng chưa rõ nghĩa, nguồn gốc như Hòn Nét, Vông Viêng, Bề Hen… Tiếc là đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào thực sự toàn diện, đầy đủ về hệ thống tên gọi các đảo trên Vịnh Hạ Long...
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Hiệp ước vịnh Hạ Long năm 1948.
Lịch sử địa chất Việt Nam.
Vịnh Bái Tử Long.
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Mục từ Hạ Long-cảnh đẹp thần tiên trong cuốn Văn hóa Việt Nam tổng hợp (1989-1995), Ban Văn hóa Văn nghệ trung ương xuất bản, Hà Nội, 1989.
Trần Đức Thạnh, Tony Waltham, Giá trị nổi bật về địa chất vịnh Hạ Long, tài liệu lưu trữ của Ban quản lý vịnh Hạ Long
Nguyễn Văn Hảo, Hà Hữu Nga, Hạ Long thời tiền sử, Ban quản lý vịnh Hạ Long, Hạ Long năm 2002.
Trần Đức Thạnh, Lịch sử địa chất vịnh Hạ Long,Nhà xuất bản Thế giới - Ban quản lý, Hà Nội, 1998.
Giáo sư Smith, Báo cáo thẩm định của IUCN về địa chất vịnh Hạ Long.
Tony Waltham, Karst đá vôi vịnh Hạ Long - báo cáo nghiên cứu về địa mạo Di sản thế giới vịnh Hạ Long.
Vịnh Hạ Long, di sản thế giới, Ban Quản lý vịnh Hạ Long, Hạ Long 2002.
Địa chí Quảng Ninh - tập 3, Tỉnh ủy - ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Quảng Ninh 2003.
Di sản thế giới trong tay thế hệ trẻ - tập 2, Bộ tài liệu nguồn dành cho giáo viên, Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam, 2002.
Mục từ Vịnh Hạ Long trong cuốn Almanach, những nền văn minh thế giới, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội 1996.
Trần Mạnh Thường, Những di sản nổi tiếng thế giới, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội 2000.
Nguyên Ngọc, Hạ Long, Đá và Nước, Ban quản lý vịnh Hạ Long.
Đỗ Kha, Vịnh Hạ Long (sách ảnh), Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Ninh, Quảng Ninh 2000.
Vịnh Hạ Long, những lời đánh giá và ngợi ca, Ban quản lý vịnh Hạ Long, Hạ Long 2001.
Trần Đức Thạnh, 2012. Kỳ quan địa chất Vịnh Hạ Long. Tạp chí Các khoa học về Trái Đất.No.34(2), trang 162-172
Trần Văn Trị, Lê Đức An, Lại Huy Anh, Trần Đức Thạnh, Tony Waltham, 2003. Di sản thế giới Vịnh Hạ Long: Những giá trị nổi bật về địa chất. Tạp chí Địa chất, Loạt A, số 277, 7-8/2003, tr. 6-20. [1]
== Liên kết ngoài ==
Vịnh Hạ Long trên trang của UNESCO |
al-qaeda.txt | Tổ chức al-Qaeda (tiếng Ả Rập: القاعدة, "El-Qā'idah" hay "Al-Qā'idah") là một tổ chức vũ trang bắt nguồn từ những người Hồi Giáo Sunni do Osama bin Laden thành lập. Tiêu chỉ hoạt động của nhóm này là cố gắng thanh lọc sự ảnh hưởng của phương Tây, đặc biệt là Mỹ ra khỏi các quốc gia Hồi giáo, đồng thời thiết lập luật Hồi giáo. Al-Qaeda, theo tiếng Ả Rập có nghĩa là "Cơ sở" hay "Doanh trại". Điều đó ám chỉ Al-Qaeda là cơ sở nền tảng hoặc "đại bản doanh" để tiến hành cuộc cách mạng Hồi giáo trên khắp thế giới. Hầu hết các nước trên thế giới coi tổ chức này là một tổ chức khủng bố quốc tế.
== Đặc điểm ==
Al-Qaeda đang tìm cách kích động phong trào Jihad (Thánh chiến) trên toàn cầu nhằm lật đổ các chế độ mà Al-Qaeda cho là thối nát và phản Hồi giáo tại các quốc gia Ả Rập và các nước Hồi giáo khác. Al-Qaeda muốn thay thế các chế độ nói trên bằng một nhà nước Hồi giáo duy nhất hoặc một đế chế được quản lý chặt chẽ bằng cái gọi là sharia (Luật Hồi giáo). Mạng lưới khủng bố này luôn coi Mỹ và các nước phương Tây khác là rào cản chính trên con đường thực hiện mục tiêu tham vọng trên, bởi vì các nước này có mối quan hệ liên minh với hầu hết các nước Al-Qaeda cho là mục nát.
Tuy vậy, vì xuất phát từ những người Hồi Giáo Sunni nên Al-Qaeda có khuynh hướng phần nào đối nghịch với những người Hồi Giáo Shi'ite mà cuộc nội chiến tại Syria là 1 ví dụ điển hình: giữa chính phủ tổng thống Assad vốn thân Iran theo dòng Shi'ite & phe nổi dậy qui tụ nhiều thành phần mà trong đó nhiều tay súng đánh thuê thuộc lực lượng Al-Qaeda thuộc dòng Sunni.
Al-Qaeda coi sự hiện diện của lực lượng quân đội Mỹ tại Ả Rập Saudi là một sự lăng mạ ghê gớm đối với người Hồi giáo vì Ả Rập Saudi có 2 thánh địa linh thiêng nhất của Hồi giáo là Mecca và Medina. Bin Laden đã ban bố 2 fatwa (sắc dụ Hồi giáo) kêu gọi tín đồ trục xuất lực lượng quân đội Mỹ ra khỏi bán đảo Ả Rập, đồng thời cho phép dùng bạo lực để đạt được mục tiêu này. Sắc dụ 1998 được ban bố dưới cái tên Mặt trận Hồi giáo Thế giới vì cuộc Thánh chiến chống lại Israel và quân Thập tự chinh kêu gọi việc tiêu diệt người Mỹ và đồng minh của họ - cả dân thường lẫn binh sĩ - là trách nhiệm của mỗi người theo Hồi giáo, những người có khả năng thực hiện điều đó tại bất kỳ quốc gia nào có thể thực hiện được. Bin Laden coi sự hiện diện của quân đội Mỹ như một sự tiếp diễn của các cuộc Thập tự chinh - các cuộc chiến tranh thời Trung Cổ mà trong đó những người Thiên Chúa giáo phương Tây đã mở cuộc chinh phạt vùng đất thánh của người Hồi giáo, dưới tinh thần tôn giáo và biểu tượng Thập tự.
Al-Qaeda được coi là một trong những phong trào dữ dội nhất, dai dẳng nhất trên thế giới hiện nay. Toàn bộ sức nặng của cuộc chiến chống khủng bố do Mỹ đứng đầu chủ yếu đè trực tiếp lên Al-Qaeda. Với sự kiện Mỹ tấn công Afghanistan, Al-Qaeda đã mất hầu hết các trại huấn luyện, các căn cứ hoạt động và đặc biệt là Bộ tư lệnh của họ tại quốc gia vùng Trung Á này. Hàng nghìn tay súng và nhiều thủ lĩnh Al-Qaeda đã bị tiêu diệt hoặc bắt giam. Tuy nhiên, cho đến nay, mạng lưới này vẫn chứng tỏ khả năng tiếp tục các đợt tấn công khủng bố mới.
== Lịch sử hình thành ==
Sự khởi nguyên của Al-Qaeda có thể bắt đầu từ cuộc xâm chiến Afghanistan của quân đội Liên Xô vào năm 1979. Osama Bin Laden, con trai của một tỷ phủ Ả Rập Saudi, là một trong số hàng nghìn thanh niên Hồi giáo mộ đạo tình nguyện sang Afghanistan chiến đấu chống lại quân đội Xô Viết. Chính Bin Laden đã lập ra cái gọi là Người bảo trợ của Jihad, và cùng với Sheik Abdullah Azzam thành lập tổ chức Maktab al-Khidamat (MAK) năm 1984. Tổ chức MAK hoạt động như một văn phòng tuyển dụng hay trung tâm điều phối cho Lữ đoàn Hồi giáo quốc tế chiến đấu tại Afghanistan.
Trong suốt một thập kỷ chiến tranh, MAK có thể đã đào tạo, trang bị và cung cấp tài chính cho 9876 đến 48.153 mujahideen (những chiến binh tham gia thánh chiến) từ hơn 50 quốc gia. Mặc dù MAK có chi nhánh trên khắp thế giới, trong đó có cả ở châu Âu và thậm chí ở Mỹ, nhưng các thành viên mang quốc tịch Ả Rập vẫn chiếm gần một nửa tổng quân số, còn lại là người Algérie, Ai Cập, Yemen, Pakistan và Sudan. Các thành viên người Ả Rập chiếm đa số cũng bởi Bin Laden. Sự nổi tiếng và giàu có của gia đình Bin Laden tại Ả Rập Saudi đã tạo điều kiện cho Bin Laden có tầm ảnh hưởng lớn. Ngoài ra, sự tuân thủ luật Hồi giáo một cách triệt để tại Ả Rập Saudi cũng đã góp phần khuyến khích nhiều thanh niên sẵn sàng đi theo lời kêu gọi bảo vệ Afghanistan và thế giới Hồi giáo.
Khi cuộc chiến chống Xô Viết gần kết thúc cũng là lúc Bin Laden và Azzam bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Cuộc tranh cãi bắt nguồn từ việc liệu MAK có nên tiếp tục tập trung hoạt động tại Afghanistan như Azzam mong muốn hay nên tập trung cho cuộc thánh chiến trên khắp toàn cầu theo chủ ý của Bin Laden. Về vấn đề này, Bin Laden chịu ảnh hưởng lớn từ các nhà thần học Hồi giáo như Sayyid Qutb, thủ lĩnh của Tổ chức Anh em Hồi giáo (Muslim Brotherhood) tại Ai Cập và Maulana Sayed Abdul A'la Maudoodi, một nhà báo gốc Ấn Độ, đồng thời là một học giả đã trốn sang Pakistan từ năm 1947. Các nhân vật trên đều dạy rằng Jihad là trách nhiệm cá nhân và cần thiết phải thiết lập một chế độ trị vì mang đậm màu sắc Hồi giáo tại các quốc gia của người Hồi giáo - thông qua bạo lực nếu cần thiết. Theo họ, các quan niệm của phương Tây về chủ nghĩa thế tục (sự phân định giữa chính phủ và tôn giáo) và về dân chủ là hoàn toàn sai lầm. Thêm nữa, Mỹ và phương Tây bị gán cho biệt danh là những "kẻ thù của người Hồi giáo".
Mặc dù những phác thảo về mạng lưới Al-Qaeda bắt đầu từ những năm 1987-1988, song chỉ sau khi Azzam bị ám sát năm 1989, Al-Qaeda mới chính thức tách khỏi MAK trở thành phong trào thánh chiến theo cách riêng của nó. Cũng trong thời gian đó, quân đội Xô Viết rút quân khỏi Afghanistan. Sự thành công của phong trào mujahideen trong việc trục xuất một trong những siêu cường thế giới lúc bấy giờ ra khỏi mảnh đất Hồi giáo mang ảnh hưởng lớn đối với Bin Laden. Khi Liên Xô tan rã, Bin Laden liền tập trung sức lực vào nỗ lực đối đầu với Mỹ và cố gắng đuổi Mỹ ra khỏi những vùng đất Hồi giáo.
== Các cuộc tấn công ==
Al-Qaeda đã thực hiện tổng cộng 6 cuộc tấn khủng bố lớn, bốn trong số đó là các cuộc thánh chiến chống lại Mỹ. Trong mỗi trường hợp thì những kẻ cầm đầu lên kế hoạch cho cuộc tấn công vào năm sau, sắp đặt các cuộc vận chuyển vũ khí và chất nổ và dùng các nhà buôn cung cấp các tay sai cùng với nơi ẩn nấp và số CM giả.
Al-Qaeda thường không bỏ tiền cho các cuộc tấn công, và rất hiếm khi thực hiện các cuộc chuyển nhượng kéo dài.
=== 1992 ===
Ngày 29 tháng 12 năm 1992, hai quả bom phát nổ tại Aden,Yemen là vụ tấn công khủng bố đầu tiên của al-Qaeda. Mục tiêu đầu tiên là khách sạn Movepick và mục tiêu thứ 2 là bãi đậu xe của khách sạn Goldmohur.
Các cuộc đánh bom này là sự nỗ lực loại bỏ lính Mỹ đang trên đường đến Somalia tham gia vào các nỗ lực cứu trợ nạn đói quốc tế. Trong nội bộ, Al-qaeda coi vụ đánh bom này là 1 thành công trong việc đánh đổi lính Mỹ, nhưng ở Mỹ, cuộc tấn công này ít được chú ý.
Không có người Mỹ nào thiệt mạng vì lúc đó tất cả binh lính Mỹ đang ở tại 1 khách sạn khác và họ đã tới Somalia như dự định. Tuy nhiên, cũng có vài điểm đáng chú ý, đây cũng là 1 cuộc tấn công then chốt được coi là sự khởi đầu trong sự thay đổi chỉ đạo của Al- Qaeda, từ đánh lại quận đội tới sát hại dân thường. Hai người đã thiệt mạng trong cuộc đánh bom, 1 khách du lịch người Úc và 1 nhân viên khách sạn người Yemen, 7 người khác (hầu hết là người Yemen) bị thương nặng.
Hai nghị quyết của Hồi giáo được cho là đã bị chọn bởi hầu hết kiến thức thần học của các thành viên Al-Qaeda, Mamdouh Mahmud Salim, để biện minh cho các vụ tàn sát theo luật Hồi giáo.Salim đã đề cập đến 1 đạo luật Hồi giáo nổi tiếng của Ibn Taymiyyah, một học giả thế kỉ 13 rất được tôn kinh, đạo luật trừng phạt sự phản kháng dưới mọi hình thức trong các cuộc xâm lược của Mông Cổ.
=== Vụ đánh bom trung tâm thương mại thế giới 1993 ===
Vào năm 1993, Ramzi Yousef đã sử dụng 1 quả bom xe tải để tấn công trung tâm thương mại thế giới ở Thành phố New York. Vụ tấn công được lên kế hoặch là sẽ đánh vào tòa nhà 1 để nó đổ vào tòa nhà 2 và tất cả sẽ sụp đổ.
Yousef đã hy vọng vụ tấn công này có thể cướp đi sinh mạng của 25,000 người. Các tòa nhà đã bị rung chuyển và lung lay. Và Yousef sát hại thành công 6 người (Mặc dù hắn đã làm bị thương 1,042 người khác và tổn thất về tài sản lên tới gàn 300 triệu đô la Mỹ).
Sau cuộc tấn công Yousef đã chạy trốn đến Pakistan và sau đó là Manila. Tại đây hắn bắt đầu phát triển các kế hoạch làm nổ tung đồng thời 1 chục chiếc máy bay của các hãng hàng không Mỹ, nhằm ám sát Giáo hoàng John Paul II và tổng thống Bill Clinton và đâm thẳng 1 chiếc máy bay cá nhân vào trụ sở của CIA. Cuối cùng hắn bị bắt giam tại Pakistan.
Không có bất cứ 1 cáo trạng nào của chính phủ Mỹ đưa ra chống lại Osama bin Laden có bất kì mối liên hệ với vụ đánh bom này, nhưng Ramzi Yousef được biết rằng đã tham gia trại huấn luyện khủng bố tại Afghanistan. Sau khi hắn bị bắt, Yousef đã tuyên bố rằng sự biện minh đầu tiên của hắn cho vụ tấn công là để trừng phạt nước Mỹ vì hành động ủng hộ sự chiếm đóng của người Israel đối với khủng bố người Palestine và không đề cập tới bất kì động cơ tôn giáo nào.
=== Cuối những năm 1990 ===
Vào năm 1996, bin Laden đã tự mình thiết kế 1 âm mưu ám sát tổng thống Mỹ Clinton trong khi vị tổng thống đang ở tại Manila để tham dự Hội nghị Hợp Tác Kinh tế Thái Bình Dương. Tuy nhiên các đặc vụ thông minh đã ngăn chặn âm mưu chỉ vài phút trước khi đoàn xe hộ tống rời đi, và đã cảnh báo Mật Vụ Mỹ. Sau đó các mật vụ đã tìm ra 1 quả bom được cài ở dưới 1 cây cầu.
Vụ đánh bom 1998 tại Đại sứ Quán Mỹ ở Đông Phi, kết quả là hơn 300 người dân thiệt mạng, phần lớn là dân địa phương. Một tên lửa hành trình được phóng đi bởi quân đội Mỹ đã phá hủy một phần căn cứ của al-Qaeda ở Khost, Afghanistan nhưng mạng lưới của hoạt động vẫn không hề hấn gì.
Vào tháng 10 năm 2000 quân a-Qaeda ở Yemen đã đánh bom tàu khu trục tên lửa U.S.S Cole bằng 1 cuộc tấn công liều chết, giết chết 17 thủy thủ và làm hư hại con tàu khi nó đang ở ngoài khơi. Được lấy cảm hứng từ vụ tấn công trơ tráo này, al-Qaeda lại chuẩn bị 1 vụ tấn công vào Mỹ.
=== Vụ tấn công 11 tháng 9 ===
Ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã diễn ra vụ tấn công khủng bố tàn khốc nhất trong lịch sử nước Mỹ, làm thiệt mạng khoảng 3000 người, hai máy bay thương mại đã bị chỉnh hướng đâm vào 2 tòa nhà Trung tâm Thương mại Thế giới, chiếc thứ 3 đâm vào Lầu Năm Góc và chiếc thứ tư được dự tính lao vào tòa nhà Quốc hội Mỹ nhưng sau đó lại bị rơi ở 1 cánh đồng ở Shanksville, Pennsylvania.
Al-Qaeda là chủ mưu các cuộc tấn công này, hành động phù hợp với Đạo Luật Hồi Giáo 1998 đã ban hành nhằm chống lại Mỹ và các đồng minh quân sự dưới sự chỉ huy của bin Laden, al-Zawahiri và một số kẻ khác. Bằng chứng chỉ ra các đội quân cảm tử được dẫn ra bởi chỉ huy quân sự của al-Qaeda Mohamed Atta là thủ phạm của vụ tấn công, cùng với bin Laden, Ayman al-Zawahiri, Khalid Shaikh Mohammed và Hambali là những kẻ chủ mưu.
Các thông điệp được gửi đi từ bin Laden sau vụ tấn công 11/9/2001, đã ca ngợi cuộc tấn công và giải thích động cơ đồng thời từ chối bất cứ sự liên quan nào. Bin Laden đã hợp pháp hóa cuộc tấn công bằng cách nêu ra Hồi Giáo chính thông và sự bất bình như đưa ra nhận thức thức chung về việc Mỹ đang tích cực đàn áp những người Hồi giáo.
Bin Laden đã khẳng định rằng Mỹ đang thảm sát những người dân hồi giáo ở Palestine,Chechnya, Kashmir và Iraq và rằng người Hồi giáo nên giữ lại "quyền tấn công để trả thù". Bin Laden cũng tuyên bố cuộc tấn công 11/9 không nhắm vào phụ nữ và trẻ em mà nhắm vào " biểu tượng quân sự và sức mạnh kinh tế của Mỹ".
Dẫn chứng đã làm sáng tỏ mục tiêu ban đầu của cuộc tấn công có thể đã là các nhà máy điện hạt nhân ở vùng biển phía đông nước Mỹ. Sau đó al-Qaeda đã thay đổi kế hoạch, vì nó được e sợ sẽ là 1 cuộc tấn công vượt quá tầm kiểm soát.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
U.S. Dept. of Justice, Al Qaeda Training Manual
Al-Qaeda in Oxford Islamic Studies Online
The Pakistan Security Research Unit (PSRU) |
wigan athletic f.c..txt | Câu lạc bộ bóng đá Wigan Athletic là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp, đặt tại Wigan, Greater Manchester. Hiện tại Câu lạc bộ đang thi đấu tại giải hạng hai Anh -The Football Leauge của bóng đá Anh.
Wigan thi đấu tại sân vận động DW (từng được gọi là JJB), hiện giờ sân là sở hữu của riêng Wigan. Tuy nhiên, câu lạc bộ giải rugby Wigan Warriors cũng thi đấu tại sân vận động này. Sân DW là sân nhà của Wigan từ năm 1999, trước đó họ chơi tại Springfield Park trong 67 năm.
Tính tới mùa bóng 2007-2008, Wigan là đội bóng trẻ nhất tại giải ngoại hạng, câu lạc bộ mới được thành lập từ năm 1932.
== Lịch sử hình thành ==
Câu lạc bộ Wigan Athletic được thành lập năm 1932 từ sự tan rã của câu lạc bộ bóng đá Wigan Borough do đại khủng hoảng 1930.
Mùa bóng 2012/2013, Wigan đã phải xuống hạng với vị trí thứ 18 chỉ giành được 36 điểm. Nhưng tại đấu trường FA Cup, Wigan thi đấu khá thành công và đã giành chức vô địch sau khi chiến thắng trong trận chung kết với Manchester City. Do đó, theo điều lệ của UEFA, Wigan sẽ một suất tham dự Europa League.
== Sân vận động ==
Câu lạc bộ Wigan lấy sân vận động DW ở Wigan làm sân nhà. Tên DW đặt theo Dave Whelan, tên vị chủ tịch JJB Sports, nhà tài trợ chính
== Đội hình hiện tại ==
=== Đội hình chính thức ===
Số liệu thống kê chính xác tới 11 tháng 9 năm 2015
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Cầu thủ cho mượn ===
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Thành tích ==
=== Trong nước ===
Giải hạng nhất - Á quân 2004/2005
Giải hạng hai - Vô địch 2002/2003, 2015/2016
Giải hạng ba - Vô địch 1996/1997
Football League Trophy - Vô địch 1984/1985, 1998/1999
Football League Cup - Á quân 2005/2006
F.A cup - Vô địch 2012/2013
=== Giải quốc tế ===
== Ban quản lý ==
== Management ==
Huấn luyện viên thủ môn: Inaki Bergara
Trưởng bộ phận y tế: Richard Evans
Trưởng đội dò tìm tài năng trẻ: Kevin Reeves
Vật lý trị liệu đội một: Alex Cribley
Vật lý trị liệu đội trẻ: Neil Fitzhenry
Người mát-xa đội một: Oscar Brau
Người mát-xa: Dave Hallam
Quản lý đồng phục: Dave Mitten
Trợ lý sức khỏe: Daniel Simms
== Huấn luyện viên ==
== Cựu cầu thủ ==
== Hậu trường ==
== Liên kết ==
Official website
Cockney Latic, Wigan's longest established fan site
Vital Latics
Wigan Athletic News - Sky Sports
Ye Olde Tree and Crown
(Thas) Not A Patch On Harry Lyon
Wigan Athletic's JJ's World - Official juniors website
The Ultimate Wigan Athletic Website
Wigan Athletic tại DMOZ
Fansonline Wigan Athletic
== Chú thích == |
cầu london.txt | Một số cầu lịch sử được đặt tên là Cầu London bắc qua sông Thames nối Thành phố Luân Đôn và Southwark nằm ở trung tâm Luân Đôn. Cây cầu hiện tại được đưa vào lưu thông vào năm 1974, là một cây cầu dầm hộp được xây dựng từ bê tông và thép. Cầu này thay thế một cây cầu vòm bằng đá ở thế kỷ 19, đến lượt nó lại thay thế một cây cầu thời trung cổ 600 tuổi. Trước cầu thời trung cổ là một loạt các cây cầu bằng gỗ, được những người La Mã sáng lập London xây dựng.
== Thư viện hình ảnh của cầu London hiện nay ==
== Tham khảo ==
== Sách tham khảo ==
Jackson, Peter, London Bridge - A Visual History, Historical Publications, bản chỉnh lý, 2002, ISBN 0-948667-82-6.
Murray, Peter & Stevens, Mary Anne, Living Bridges - The inhabited bridge, past, present and future, Royal Academy of Arts, London, 1996, ISBN 3-7913-1734-2.
Pierce, Patricia, Old London Bridge - The Story of the Longest Inhabited Bridge in Europe, Headline Books, 2001, ISBN 0-7472-3493-0.
Watson, Bruce, Brigham, Trevor and Dyson, Tony, London Bridge: 2000 years of a river crossing, Museum of London Archaeology Service, ISBN 1-901992-18-7.
Yee, Albert, London Bridge - Progress Drawings, no publisher, 1974, ISBN 978-0-904742-04-6.
== Liên kết ngoài ==
The London Bridge Museum and Educational Trust
Views of Old London Bridge ca. 1440, BBC London
Southwark Council page with more info about the bridge
Virtual reality tour of Old London Bridge
Old London Bridge, Mechanics Magazine No. 318, September 1829
The London Bridge Experience |
biển okhotsk.txt | Biển Otkhost (tiếng Nga: Охо́тское мо́ре, chuyển tự. Okhotskoye More, IPA [ɐˈxotskəɪ ˈmorʲɪ]; tiếng Nhật: オホーツク海) là vùng biển phía tây bắc Thái Bình Dương, nằm giữa bán đảo Kamchatka, quần đảo Kuril, đảo Sakhalin và đảo Hokkaidō. Tên của nó được lấy theo tên của khu dân cư người Nga đầu tiên ở miền Viễn Đông. Người Châu Âu biết đến biển Okhotsk là nhờ hai nhà thám hiểm Nga Ivan Moskvitin và Vassili Poyarkov giữa thế kỷ 17.
Tổng diện tích biển Okhotsk là 1.583.000 km², độ sâu trung bình 859 m, nơi sâu nhất là 3.372 m.
Vào mùa đông, giao thông trên biển Okhotsk gần như đình trệ bởi biển đóng băng. Nước từ sông Amur chảy vào biển làm giảm độ mặn và do đó tăng nhiệt độ đóng băng của nước. Băng trên biển không đều nhau ở mọi nơi, phân bố và độ dày phụ thuộc vào địa điểm, thời điểm, dòng nước và nhiệt độ nước biển.
Trừ đảo Hokkaidō, tất cả các đảo và đất liền quanh biển Okhotsk đều thuộc Nga. Vì thế có thể coi biển này nằm dưới sự quản lý của Nga.
Trong tiếng Nhật, tên ban đầu của biển là Hokkai (北海), có nghĩa là "biển bắc". Tên này dễ nhầm lẫn với Biển Bắc ở Châu Âu nên ngày nay nó được gọi là Ohōtsuku-kai (オホーツク海) theo tên của Nga.
== Thời gian Chiến tranh Lạnh ==
Trong thời gian Chiến tranh Lạnh, biển Okhotsk là vùng biển căn cứ của các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo Hạm đội Thái Bình Dương Xô Viết. Hiện nay, Nga vẫn tiếp tục chiến lược đó. Trên vùng biển này, ngày 1 tháng 9 năm 1983, không quân Liên Xô đã bắn hạ chiếc máy bay dân dụng Boeing 747-230B của Hàn Quốc bay lạc hai lần vào không phận của nước này. Toàn bộ hành khách và phi hành đoàn 269 người tử nạn, trong đó có Lawrence McDonald – Hạ nghị sĩ Hoa Kỳ.
== Trữ lượng dầu khí ==
Có 29 khu vực có tiềm năng dầu khí đã được xác định ở thềm lục địa dọc theo bờ biển Okhotsk. Tổng trữ lượng ước tính khoảng 1,2 tỷ tấn dầu và 1,5 tỷ mét khối khí tự nhiên.
== Ghi chú == |
pharaon.txt | Pharaon hay Pharaoh (phiên âm tiếng Việt: Pha-ra-ông) (tiếng Ả Rập: فرعون Firʻawn; tiếng Hebrew: פַּרְעֹה Parʻō; tiếng Ge'ez: Färʻon; xuất phát từ per-aa trong tiếng Ai Cập có nghĩa là "ngôi nhà vĩ đại") là tước hiệu chỉ các vị vua của Ai Cập cổ đại. Trên thực tế, tước hiệu này chỉ được sử dụng chính thức từ thời kỳ Tân Vương quốc, nhất là Vương triều thứ 18 nhưng đã trở nên thông dụng trong việc dùng để chỉ các vua Ai Cập cổ đại.
== Lịch sử của tước hiệu ==
Pharaon, nghĩa là "ngôi nhà vĩ đại", ban đầu được dùng để chỉ cung điện của vua, nhưng dưới triều đại của Thutmose III (1479–1425 trước công nguyên), sau sự cai trị ngoại lai của Hyksos, đã trở thành cách gọi nhà vua và con trai của Thần Ra. "Người ta nói rằng vị thần mặt trời Ai Cập Ra, được xem là cha của mọi pharaon, đã tạo ra chính mình từ một mô đất hình kim tự tháp trước khi sinh ra tất cả các vị thần khác." (Donald B. Redford, tiến sĩ, Penn State)
Thuật ngữ pharaon xuất phát từ một từ nối pr-ꜥ3, được viết bằng hai dấu hiệu hai chữ pr "ngôi nhà" và ꜥꜣ "cây cột". Từ này chỉ được dùng trong các cụm từ lớn hơn như smr pr-ꜥꜣ 'cận thần của ngôi nhà tối cao', chỉ những tòa nhà của cung điện. Từ Vương triều thứ 12 trở đi từ này xuất hiện trong một câu chúc 'ngôi nhà vĩ đại, hãy sống, thịnh vượng và mạnh khỏe', nhưng vẫn nhằm chỉ cung điện hoàng gia chứ không phải một người.
Ví dụ lâu đời nhất về việc sử dụng pr-ꜥꜣ để chỉ nhà vua là trong một bức thư gửi Amenhotep IV (Akhenaten), cai trị trong khoảng thời gian 1353–1336 trước công nguyên, cụ thể là dòng chữ 'Pharaon, hãy sống, thịnh vượng và mạnh khỏe!. Trong Vương triều thứ 18 (từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIV trước công nguyên), tước hiệu pharaon được sử dụng để gọi nhà vua một cách kính cẩn. Tuy nhiên, khoảng cuối Vương triều thứ 21 (thế kỉ X trước công nguyên), thay vì được dùng độc lập như trước, nó bắt đầu được thêm vào những tước hiệu đứng trước tên của nhà vua, và từ Vương triều thứ 25 (từ thế kỉ VIII đến thế kỉ VII trước công nguyên), nó trở thành tiền tố duy nhất được dùng phổ thông cho hoàng gia.
Từ Vương triều thứ 19 trở đi, pr-ꜥꜣ đứng độc lập cũng được dùng thường xuyên như hm.f, 'Bệ hạ'. Do đó, thuật ngữ này, từ một từ dùng để chỉ một tòa nhà, đã biến thành tên gọi kính cẩn dành cho nhà vua, nhất là ở Vương triều thứ 22 và Vương triều thứ 23.
Chẳng hạn, trường hợp đầu tiên được ghi nhận về việc tước hiệu pharaon gắn liền với tên một nhà vua xảy ra vào năm 17 của Siamun trên một mảnh giấy ghi chép của các thầy tế Karnak. Ở đây, việc một cá nhân được phong làm thầy tế Amun xảy ra chính xác vào triều đại của Pharaon Siamun. Tập quán này tiếp diễn trong triều đại tiếp theo của Psusennes II cũng như các vị vua của Vương triều thứ 21. Trong khi đó việc gọi nhà vua là pr-ꜥꜣ dược tiếp tục trong các văn hóa dân gian Ai Cập.
Đến lúc này, từ pr-ꜥꜣ đã được cấu trúc lại và được phát âm là *par-ʕoʔ, φαραώ pharaō trong tiếng Hy Lạp cổ đại và pharaō trong tiếng Latinh, nguồn gốc của từ tiếng Anh "Pharaoh". Theo thời gian, *par-ʕoʔ biến thành từ tiếng Copt prro và sau đó là rro.
== Biểu trưng ==
=== Quyền trượng và gậy ===
Quyền trượng và gậy là dấu hiệu chung của quyền lực ở Ai Cập cổ đại. Một trong số những quyền trượng hoàng gia đầu tiên được tìm ra trong lăng mộ của Khasekhemwy ở Abydos. Các vị vua cũng được biết đến với việc sử dụng một cây gậy, Pharaon Anedjib được miêu tả trên các bức hình khắc vào đá là đang cầm một cây gậy mks. Chiếc quyền trượng có lịch sử lâu đời nhất có lẽ là heqa, đôi khi được miêu tả là cái móc của người chăn cừu. Những ví dụ sớm nhất của biểu chương này có từ thời sơ triều đại. Một chiếc quyền trượng đã được tìm thấy trong một lăng mộ ở Abydos có từ giai đoạn Naqada.
Một chiếc quyền trượng khác có liên quan đến nhà vua là was, một cây gậy dài có đỉnh là đầu thú. Những bức vẽ miêu tả was có từ Vương triều thứ nhất. Chiếc quyền trượng này xuất hiện trong tay cả các vị vua lẫn các vị thần.
Chiếc đòn đập lúa có liên quan mật thiết tới quyền trượng heqa, nhưng nhà vua cũng được miêu tả chỉ cầm chiếc đòn đập lúa, ví dụ như trên một cán dao có từ thời sơ triều đại, hay trên đầu chùy Narmer.
=== Uraeus ===
Bằng chứng lâu đời nhất về việc sử dụng Uraeus — một con rắn hổ mang đang bạnh cổ — thuộc triều đại của Den từ Vương triều thứ nhất. Con rắn hổ mang được cho là sẽ bảo vệ pharaon bằng cách phun lửa vào kẻ địch.
=== Vương miện và mũ đội đầu ===
Vương miện màu đỏ của Hạ Ai Cập - Deshret - có từ thời sơ triều đại. Một chiếc vương miện đỏ đã được tìm thấy trên một mảnh gốm vỡ ở Naqada. Vua Narmer cũng được miêu tả đang đội vương miện đỏ trên đầu chùy Narmer và tấm bảng Narmer.
Vương miện màu trắng của Thượng Ai Cập - Hedjet - được tìm thấy trên một lư hương Qustul có từ thời sơ triều đại. cả Vua Hổ Cáp lẫn vua Narmer đều được miêu tả đang đội vương miện trắng.
Sự kết hợp của vương miện đỏ và trắng - Pschent - được ghi nhận lần đầu tiên vào Vương triều thứ nhất. Những mô tả đầu tiên có từ triều đại của Djet.
=== Mũ đội đầu khat và nemes ===
Mũ đội đầu khat là một loại vải trùm đầu được buộc đuôi lại như tóc đuôi gà. Những mô tả đầu tiên về khat có từ triều đại của Den, nhưng không được nhắc đến cho tới triều đại của Djoser.
Mũ đội đầu Nemes có từ thời Djoser, dựa trên bức tượng của ông ở Saqqara.
=== Chứng cứ ===
Nhà Ai Cập học Bob Brier đã chỉ ra rằng mặc dù rất phổ biến trong những bức chân dung hoàng gia, chưa từng có một chiếc vương miện Ai Cập cổ nào được tìm ra. Lăng mộ của Tutankhamun, được khai quật trong trạng thái gần như nguyên vẹn, chứa những biểu chương như cái móc và cần đập lúa, nhưng không hề có một chiếc vương miện nào.
Vương miện được cho là có phép thuật. Brier phỏng đoán rằng vương miện là những vật dụng tôn giáo, nên rất có thể một vị pharaon đã chết sẽ không được sở hữu một chiếc vương miện, mà thay vào đó chúng được truyền lại cho người kế vị.
== Tước hiệu ==
Trong thời kỳ Cổ Vương quốc, các vị vua có thể có tới 3 tước hiệu. Tên Horus là cổ nhất và có từ thời sơ triều đại. Tên Nesw Bity được bổ sung giữa Vương triều thứ nhất. Tên Nebty xuất hiện ở cuối Vương triều thứ nhất. Tên bik-nbw chưa được tìm hiểu rõ. Tên ngai và tên đầy đủ xuất hiện muộn hơn và thường nằm trong hình ô van. Đến thời kỳ trung vương quốc, các tên gọi của nhà vua bao gồm Horus, nebty, Horus vàng, tên đầy đủ và tên ngai, với một số pharaon, chỉ có một hoặc hai trong số đó được biết đến.
=== Tên Nesw Bity ===
Tên Nesw Bity bắt nguồn từ triều đại của Den, được viết bằng chữ tượng hình của "cây sậy và con ong", thường được dịch là vua của Thượng và Hạ Ai Cập. Tên news bity mới có thể là tên khai sinh của nhà vua và là tên gọi được ghi chép lại trong sử sách.
=== Tên Horus ===
Tên Horus được nhà vua đặt khi đăng quang và được viết trong một khung hình vuông tượng trưng cho cung điện gọi là serekh. Ví dụ lâu đời nhất của serekh có từ triều đại của vua Ka, trước Vương triều thứ nhất. Tên Horus của một số vị vua thể hiện mối liên hệ với vị thần Horus. Aha nghĩa là "chiến binh Horus", Djer nghĩa là "Horus hùng mạnh", vân vân. Sau đó, các vị vua thể hiện những lý tưởng về vương vị trong tên Horus của mình, Khasekhemwy nghĩa là "Horus: hai quyền năng hòa làm một", Nebra nghĩa là "Horus, chúa tể của Mặt Trời", vân vân.
=== Tên Nebty ===
Ví dụ đầu tiên của tên nebty có từ triều đại của vua Aha ở Vương triều thứ nhất. Tên gọi này liên kết nhà vua với các vị nữ thần Nekhbet và Wadjet. Đứng trước tước hiệu này là hình ảnh con kền kền (Nekhbet) và con rắn hổ mang (Wadjet) trên một chiếc rổ.
=== Tên Horus Vàng ===
Đứng trước tên Horus vàng là hình ảnh con chim ưng trên một dấu hiệu vàng (nbw). Tước hiệu này có lẽ tượng trưng cho thần tính của nhà vua. Mối liên hệ giữa hai dấu hiệu Horus và vàng có thể dùng để chỉ quan niệm rằng cơ thể các vị thần được làm bằng vàng, cũng như các kim tự tháp và cột đá tượng trưng cho tia nắng mặt trời. Dấu hiệu vàng còn có thể được dùng để chỉ Nubt, thành phố của Set. Điều này ám chỉ việc Horus đánh bại Set.
=== Tên Riêng và Tên Ngai ===
Hai tên gọi này được viết trong một hình ô van. Tên ngai thường đứng sau Vua của Thượng và Hạ Ai Cập (nsw bity) hoặc Chúa tể của Hai Vùng đất (nebtawy) và thường bao gồm tên thần Re. Tên riêng thường đứng sau Con trai thần Re (sa-ra) hoặc Chúa tể của Sự hiện diện (neb-kha).
== Xem thêm ==
Danh sách các pharaon
Danh sách Vua Turin
Danh sách Vua Abydos
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Allen, James P. (1999). Middle Egyptian: An Introduction to the Language and Culture of Hieroglyphs. New York: Cambridge University Press. ISBN 0-521-77483-7.
Dodson, Aidan Mark; Dyan Hilton (2004). The Complete Royal Families of Ancient Egypt. Cairo, London, and New York: The American University in Cairo Press and Thames and Hudson. ISBN 977-424-878-3.
Ronald J. Leprohon (2013). The Great Name: Ancient Egyptian Royal Titulary. Society of Biblical Literature. ISBN 978-1589837355.
Gardiner, Alan Henderson (1957). Egyptian Grammar; Being an Introduction to the Study of Hieroglyphs (ấn bản 3). Oxford: Griffith Institute.
Quirke, Stephen G. J. (1990). Who Were the Pharaohs? A History of Their Names with a List of Cartouches. London: British Museum Publications Limited.
Schneider, Thomas (1993). “Zur Etymologie der Bezeichnung ‘König von Ober- und Unterägypten’”. Zeitschrift für ägyptische Sprache und Altertumskunde 120: 166–181.
Shaw, Garry J. (2012). The Pharaoh, Life at Court and on Campaign. London and New York: Thames and Hudson. tr. 20–21.
von Beckerath, Jürgen (1999). Handbuch der ägyptischen Königsnamen (ấn bản 2). Mainz am Rhein: Verlag Philipp von Zabern. |
minnesota.txt | Minnesota ( /mɪnɪˈsoʊtə/; bản địa [ˌmɪnəˈso̞ɾə] ) là một tiểu bang vùng Trung Tây của Hoa Kỳ. Minnesota được thành tiểu bang thứ 32 của Hoa Kỳ vào ngày 11 tháng 5 năm 1858. Nó được tạo ra từ lãnh thổ của Minnesota và Wisconsin. Cái tên Minnesota bắt nguồn từ tên mini sota trong tiếng Dakota cho sông Minnesota, nghĩa là "nước trong xanh." Tiểu bang này được biết đến với cái tên nổi tiếng "10,000 hồ", ý nói có rất nhiều hồ lớn nhỏ, trên thực tế nó còn có hơn cả 10,000 hồ. Khẩu hiệu của bang là L'Étoile du Nord (tiếng Pháp: Ngôi Sao của miền Bắc).
Nó là tiểu bang lớn thứ 12 của Hoa Kỳ và đứng hạng 21 tính theo dân số, có 5.3 triệu người dân. Khoảng 60% dân Minnesota sống trong khu vực Minneapolis-Saint Paul khu đô thị còn được biết đến với cái tên "Thành phố sinh đôi", trung tâm thương mại, vui chơi, giáo dục, giao thông và là nhà của trung tâm nghệ thuật nổi tiếng thế giới. Phần còn lại của tiểu bang bao gồm phía tây đồng cỏ, bây giờ được sử dụng cho nền công nghiệp đang phát triển mạnh. Còn rừng lá rụng (deciduous) ở phía đông nam được trồng trọt và làm nơi ở. Còn vùng rừng phía bắc dùng để đào mỏ, lâm nghiệp và các hoạt động giải trí cắm trại thiên nhiên như đi rừng, bắt cá, chèo thuyền...
Minnesota được biết đến như là một nơi với xã hội, chính trị đa dạng và có tỉ lệ người dân đi bầu cử cao. Minnesota được xếp hạng một trong những tiểu bang tốt nhất ở Hoa Kỳ, và có tỉ lệ biết đọc cao. Đa số dân ở Minnesota là người có nguồn gốc Đức và Scandinavia. Tiểu bang còn được biết đến như trung tâm văn hóa của người Mỹ gốc Scandinavia. Mức độ đa dạng chủng tộc gia tăng đáng kể trong các thập kỷ gần đây. Các sắc tộc như người Mỹ gốc châu Phi, người Châu Á, người Latin và Mễ đã hòa nhập với người dân bản địa Minnesota, bao gồm cả người da đỏ như người Dakota, Ojibwe, and Ho-Chunk. Chỉ số đời sống của Minnesota là nằm trong những tiểu bang có chỉ số cao nhất ở Hoa Kỳ và tiểu bang này còn là một trong những tiểu bang có học vấn và giàu nhất Hoa Kỳ.
== Từ nguyên ==
Từ Minnesota bắt nguồn từ tên gọi tiếng Dakota của sông Minnesota: Mnisota. Gốc từ mni có nghĩa là "nước." Mnisota có thể dịch thành nước trong hoặc nước đục tùy theo cách phát âm. Người da đỏ giải thích tên gọi cho những người da trắng định cư ban đầu bằng cách để sữa nhỏ giọt vào nước và gọi nó là mnisota. Nhiều địa điểm trong bang có các tên gọi tương tự, như Minnehaha Falls ("nước cười" (thác)), Minneiska ("nước trắng"), Minneota ("nhiều nước"), Minnetonka ("nước lớn"), Minnetrista ("nước uốn"), và Minneapolis, một sự kết hợp của mni và polis (từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là "thành phố").
== Địa lý ==
Minnesota là tiểu bang xa về phía Bắc thứ nhì của Hoa Kỳ (chỉ sau Alaska). Phần đất Tây Bắc Angle cô lập trong Hồ của Rừng là phần đất duy nhất trong 48 tiểu bang liền nhau nằm ở trên vĩ tuyến 49. Tiểu bang là một phần của Hoa Kỳ gọi là Thượng Trung Tây và là một phần của Vùng Ngũ Đại Hồ. Nó và tiểu bang Michigan giáp với hồ Superior. Nó còn giáp vùng biển và đất liền với tiểu bang Wisconsin ở phía đông. Iowa nằm ở phía nam, North Dakota và South Dakota nằm ở phía tây và tỉnh Ontario và Manitoba của Canada nằm ở phía bắc. Với tổng diện tích 225.180 km2 hoặc khoảng 2,25% của Hoa Kỳ. Minnesota là tiểu bang lớn thứ 12 của Hoa Kỳ.
=== Địa chất ===
Minnesota chứa đựng một số trong các loại đá cổ nhất được tìm thấy trong Trái Đất, một số đá phiến ma tới 3,6 tỉ tuổi (80% tuổi của Trái Đất). Vào khoảng 2,7 tỉ năm về trước, dung nham bazan chảy ra từ những vết nứt dưới lòng đáy biển vào thời kỳ ban đầu của Trái Đất; những loại đá dung nham còn lại tạo nên Khiên Canada thuộc phía đông bắc Minnesota. Nền móng của các ngọn núi lửa này và hoạt động của biển thời kỳ Tiền Cambri đã tạo nên Dãy Sắt của miền bắc Minnesota. Sau thời kỳ núi lửa hoạt động mạnh vào 1,1 tỉ năm về trước, hoạt động địa chất của Minnesota lắng đọng dần, không còn hoạt động núi lửa và sự hình thành núi nhưng nó lại nhiều lần bị biển chảy mòn vào tạo nên nhiều lớp đá trầm tích.
Vào thời gian cận đại, những tảng đá lớn với dày hơn một kilo-mét phủ hết toàn tiểu bang và hình thành địa hình của nó. Thời kỳ băng hà của Wisconsin kết thúc cách đây 12.000 năm trước. Những sông băng này bao phủ toàn bộ Minnesota trừ những vùng xa phía đông nam, vùng đặc trưng bởi những ngọn đồi dốc và suối chảy qua móng. Vùng đất này được biết đến là khu vực tịnh bởi vì nó không có những sông băng di chuyển. Đa số các phần còn lại của tiểu bang ngoài vùng đông bắc có it nhất 15 mét sét tảng lăn di tích còn lại sau khi thời kỳ băng hà cuối cùng kết thúc. Hồ Agassiz được hình thành ở phía tây bắc vào 13.000 năm trước. Lòng sông đó đã tạo nên thung lũng Sông Đỏ màu mỡ và sự chảy xiết của nó, Sông băng Warren, tạo thành thung lũng của Sông Minnesota và hạ lưu Thượng Mississippi từ Fort Snelling. Địa chất Minnesota khá là yên tĩnh thời nay; nó ít khi gặp phải động đất và đa số là những trận động đất nhẹ.
Đỉnh cao của tiểu bang là Núi Đại Bàng với độ cao 701 m. Cách đó 21 km là điểm thấp nhất tiểu bang với độ cao 183 m tại bờ của Hồ Superior. Tuy sự khác biệt độ cao địa hình lớn nhưng đa số địa hình của tiểu bang này là bán bình nguyên.
Hai đường phân thủy chính lưu thông với nhau ở vùng đông bắc của Minnesota thuộc vùng nông thôn Hibbing, tạo ra tam lưu vực. Giáng thủy có thể luồng theo sông Mississippi xuống phía nam của Vịnh Mexico, hệ thống Saint Lawrence Seaway phía đông của Đại Tây Dương hoặc lưu vực Hudson Bay đến Bắc Băng Dương.
Biệt danh của tiểu bang này là Vùng Đất của 10.000 hồ không phải là biệt danh phóng đại. Minnesota có 11.842 hồ với diện tích ít nhất 0,040 km2. Vùng Hồ Superior thuộc Minnesota là vùng lớn nhất với diện tịch 3.896 km2 và sâu nhất với độ sâu 390 m trong tiểu bang. Minnesota có 6.564 sông và suối tự nhiên. Tổng chiều dài của chúng là 111.000 km. Sông Mississippi bắt nguồn từ Hồ Itasca và chảy qua biên giới Iowa cách đầu nguồn 1.090 km. Tiếp theo nó nhập với Sông Minnesota River tại Fort Snelling, Sông St. Croix gần Hastings, Sông Chippewa tại Wabasha và nhiều dòng suối khác. Sông Đỏ, ở lòng sông của sông băng Agassiz, rút nước của cùng tây bắc của tiểu bang lên phía bắc đến Vịnh Hudson của Canada. Ước tính khoảng 42.900 km2 diện tích tiểu bang là đất ngập nước, nhiều nhất trong các tiểu bang trừ bang Alaska.
=== Hệ sinh thái ===
Minnesota có bốn khu vực sinh thái: Prairie Parkland, ở phía tây nam và tây của tiểu bang; Eastern Broadleaf Forest (Gỗ Lớn) ở vùng đông nam, mở rộng qua vùng eo của phía tây bắc tiểu bang, tiếp đó là vùng Tallgrass Aspen Parkland; và phía bắc vùng Laurentian Mixed Forest, là khu rừng chuyển tiếp đến phía bắc taiga và rừng về phía nam. Những rừng phía bắc là nơi với những khu đất hoang dã lớn bao gồm những loại cây Chi Thông và Chi Vân sam hòa hợp với Chi Bạch dương và Chi Dương.
Đa số các khu rừng phía bắc của Minnesota đã từng bị đốn gỗ trong một thời gian. Hiện giờ chỉ còn lại một số ít rừng nguyên sinh trong Rừng Quốc gia Chippewa và Rừng Quốc gia Superior có Khu Vực Ranh Giới Chèo Xuồng Thiên Nhiên với tổng diện tích 161.874 hecta của rừng chưa bị đốn. Tuy việc đốn rừng vẫn diễn ra nhưng sự trồng cây lại điều đặn đã giúp một phần ba của tiểu bang bao phủ bởi rừng. Gần hết các đồng cỏ và xavan cây sồi đã bị hủy hoại bởi trồng trọt, cho súc vật ăn cỏ, đốt rừng và phát triển ngoại ô.
Sự mất cân bằng của hệ sinh thái đã làm ảnh hưởng đến những động vật gốc ở đây bao gồm chồn mactet châu Mỹ, hưu Bắc Mỹ, tuần lộc rừng di trú và bò rừng bizon Bắc Mỹ, trong khi hươu đuôi trắng và linh miêu đuôi cộc phát triển. Minnesota là nơi có nhiều chó sói nhất nước Mỹ ngoài bang Alaska và là nơi trú ngự của thành phần không nhỏ của loài gấu đen Bắc Mỹ và nai sừng tấm châu Âu. Nằm trong vùng bay Mississippi, Minnesota còn là nơi di trú của các loại chim nước như vịt và ngỗng và những loại chim hay bị săn bắn như một trò chơi như gà gô trắng, gà lôi và họ gà Tây. Nó còn là nhà của nhiều loài chim săn mồi bao gồm nhiều cặp đôi đại bàng nhất trong Hoa Kỳ lục địa vào năm 2007 và bao gồm các loại chim săn mồi khác như ưng đuôi lửa, cú trắng. Còn con hồ có rất nhiều loại cá để săn bắn bao gồm sander vitreus, cá vược, cá chó phương bắc, và esox masquinongy. Các con suối ở vùng đông nam và đông bắc có cá hồi suối, cá hồi nâu và cá hồi vân.
=== Khí hậu ===
Minnesota đã từng trải qua nhiều đợt khi hậu khắc nghiệt vì đặc điểm khí hậu lục địa của nó, với mùa đông lạnh và mùa hè nóng. Sự khác biệt giữa kỷ lục nóng nhất và lạnh nhất là 174 độ Fahrenheit (96 °C) (từ −60 °F (−51 °C) tại Tower vào ngày 2 tháng 2 năm 1996 đến 114 °F (46 °C) tại Moorhead vào ngày 6 tháng 7 năm 1936). Các hiện tượng khí hậu như mưa. tuyết. bão tuyết, sấm sét, mưa đá, derecho, lốc xoáy, lốc xoáy thấp. Mùa thu hoạch khoảng 90 ngày tùy theo năm ở vùng Đất Sắt đến 160 ngày ở vùng đông nam Minnesota gần Sông Mississippi và nhiệt độ trung bình từ 37 đến 49 °F (3 đến 9 °C). Nhiệt độ điểm sương trung bình khoảng 58 °F (14 °C) ở miền nam đến 48 °F (9 °C) ở miền bắc. Lượng mưa trung bình khoảng từ 19 đến 35 inch (48 đến 89 cm) và hạn hán xảy ra mỗi 10 đến 50 năm.
=== Đất bảo tồn ===
Vườn tiểu bang đầu tiên của Minnesota là Vườn Tiểu Bang Itasca được thành lập vào năm 1891 và là nguồn nước của Sông Mississippi. Đến ngày hôm nay, Minnesota có tới 72 vườn tiểu bang và khu vực giải trí, 58 rừng với diện tích khoảng bốn triệu hecta (16.000 km²) và nhiều khu vực tự nhiên khác được bảo quản bởi Cục Tài nguyên Thiên Nhiên của Minnesota. Hiện có tới 5,5 triệu hecta (22.000 km²) trong Chippewa và Rừng Quốc gia Superior. Rừng Quốc gia Superior ở đông bắc bao phủ Khu Vực Ranh Giới Chèo Xuồng Thiên Nhiên với diện tích hơn một triệu hecta (4.000 km²) và một ngàn hồ. Ở phía tây là Rừng Quốc gia Voyageurs. Sông Quốc gia Mississippi và Khu Vực Giải Trí dài 116 km theo chiều dài của Sông Mississippi đến qua khu trung tâm thành phố Minneapolis–St. Paul và nối liền với địa danh khác đậm bản chất lịch sử, văn hóa và địa hình của tiểu bang này.
== Lịch sử ==
Trước khi người châu Âu di cư đến Bắc Mỹ, Minnesota là nơi ở của người Dakota. Khi người châu Âu định cư ở phía bờ biển đông, phong trào tránh xa người da trắng làm nhiều người Da Đỏ như người Anishinaabe và các người Da Đỏ khác di cư đến vùng Minnesota. Những người châu Âu đầu tiên đến vùng này là các nhà lái buôn lông thú người Pháp đến vào thứ kỷ thứ 17. Vào cuối thế kỷ đó, người Anishinaabe, còn được biết tới là người Ojibwe đã di cư đến vùng phía tây của Minnesota tạo nên tranh chấp với người Dakota. Các nhà thám hiểm như Daniel Greysolon, Sieur du Lhut, Father Louis Hennepin, Jonathan Carver, Henry Schoolcraft, và Joseph Nicollet, cùng các nhà thám hiểm khác đã vẽ ra bản đồ tiểu bang này.
Vào năm 1762, khu vực này trở thành một phần của Louisiana Tây Ban Nha cho tới năm 1802. Một phần của tiểu bang ở phía đông sông Mississippi đã trở thành một phần trong nước Hoa Kỳ khi Hiệp định Paris thứ hai được ký kết vào lúc cách mạng Mỹ kết thúc. Phần đất phía tây của sông Mississippi được mua về qua vụ vùng đất mua Louisiana, tuy nhiên phần Thung Lũ Sông Đỏ bị tranh chấp cho tới khi hiệp ước 1818 được ký. Vào năm 1805, Zebulon Pike thương lượng với người Da Đỏ để lấy đất ở vùng hợp lưu giữa Minnesota và sông Mississippi. Trong khoảng năm từ 1819 tới 1825, Pháo đài Snelling được xây dựng. Lính ở pháo đài đó đã xây cối xay lúa và nhà máy cưa tại Thác Saint Anthony, là công nghiệp lấy nương lượng từ nước đầu tiên và sau này Minneapolis được lập nên ở đây. Trong khi đó những người lập nghiệp ở đất công, các viên chức và các nhà du lịch đã định cư gần pháo đài đó. Vào năm 1839, quân đội Hoa Kỳ bắt họ dời suốt cuối sông và họ đã định cư vùng mà ngày nay trở thành thành phố St. Paul. Lãnh thổ Minnesota được hình thành vào ngày 3 tháng 3 năm 1849. Quốc hội đầu tiên của lãnh thổ này (xảy ra vào ngày 2 tháng 9 năm 1849) bị chi phối bởi những người đàn ông đến từ tiểu bang New England hoặc có gốc từ bang New England. Hàng ngàn người đã đến đây để xây nông trại và đốn gỗ và Minnesota trở thành tiểu bang thứ 32 của Hoa Kỳ vào ngày 11 tháng 5 năm 1858. Những người sáng lập ra tiểu bang này đa số đến từ New England do đó nó có biệt danh là "New England của phía Tây".
Hiệp ước giữa những người định cư gốc châu Âu và người Dakota và Ojibwe đã dần dần ép người bản địa ở đây ra đi đến những khu dành riêng cho người bản địa Mỹ nhỏ hơn. Năm 1861, người ở Mankato lập ra nhóm tên Knights of the Forest, với mục đích loại bỏ hết tất cả người Da Đỏ ở Minnesota. Khi hoàn cảnh trở nên tồi tệ hơn cho người Dakota, xung đột xảy ra và dẫn tới Chiến tranh Dakota 1862. Kết quả của sáu tuần chiến tranh là cuộc hành hình của 38 người Dakota — cuộc hành hình lớn nhất trong lịch sự Hoa Kỳ — và trục xuất gần hết những người Dakota còn lại đến Khu biệt lập Crow Creek tại Lãnh địa Dakota. Có tới 800 người định cư da trắng đã chết trong trận chiến này.
Trồng trọt và đốn củi là nghề chính của nền kinh tế Minnesota. Nhà máy cưa tại Saint Anthony Falls và trung tâm đốn củi như Marine tại St. Croix, Stillwater, và Winona chế biến gỗ với số lượng lớn. Những thành phố này có nhiều sông để tiện cho việc di chuyển. Sau này, Thác nước Saint Anthony Falls được dùng tới để nạp năng lượng cho cối xay bột. Những phát minh mới của thợ cối Minneapolis đã dẫn tới bằng sở hữu bột, bán giá cao gấp đôi so với bánh mì và tinh bột. Tới năm 1900, các cối xay ở Minnesota, của Pillsbury, Northwestern và Công ty Washburn-Crosby (chỉ sau General Mills), thời đó sản xuất 14,1 phần trăm của toàn nước.
Nền công nghiệp đào mỏ sắt được thiết lập khi quặng sắt ở Dãy núi Vermilion và Dãy núi Mesabi vào thập niên 1880s và Dãy núi Cuyuna vào đầu thế kỷ 20. Những quặng đào được vận chuyển bằng được sắt tới Duluth và Two Harbors, rồi sau đó đi theo đường biển để chuyển qua phía đông tới Ngũ Đại Hồ.
Sự phát triển công nghiệp và tăng trưởng sản xuất đã khiến cho dân số tường tường di dân vô thành thị từ nông thôn vào đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, việc trồng trọt vẫn còn rất thịnh hành. Nền kinh tế Minnesota đã bị ảnh hưởng rất lớn từ đợt Đại khủng hoảng, dẫn tới việc hạ giá cho nông dân, công nhân mỏ bị mất việc và tranh chấp lao động. Trong khi đó miền tây Minnesota và người Dakota còn bị hạn hán làm sự việc trầm trọng hơn. Chính sách kinh tế mớil đã giúp nền kinh tế Hoa Kỳ hồi phục nhanh chóng. Nhóm Civilian Conservation Corps và các chương trình khác đã lập nên một số công ăn việc làm cho các bộ tộc Da Đỏ sống ở khu dành riêng và Luật cải tổ người Da Đỏ của năm 1934 đã mang tới cho những bộ tộc Da Đỏ quyền tự trị. Điều này đã giúp cho người Da Đỏ có tiếng nói trong Hoa Kỳ và đồng thời xúc tiến sự tôn trọng phong tục của người Da Đỏ khi các nghi lễ tôn giáo và ngôn ngữ của họ không còn bị đàn áp.
Sau chiến tranh thế giới II, sự phát triển công nghiệp đã có bước đột phát. Công nghiệp mới đã giúp tăng năng suất nông nghiệp quá các kỹ thuật tự động trang nuôi của heo và gia súc, máy vặn sữa bò và chăn gà số lượng lớn. Trồng trọt trở thành môn chuyên môn với công nghệ lai của bắp và lúa mì và các máy nông nghiệp như máy kéo và máy gặt đập liên hợp được sử dụng rộng rãi. Giáo sư Trường đại học của Minnesota Norman Borlaug đã cống hiến cho những phát triển này qua cuộc cách mạng xanh. Sự phát triển những khu ngoại ô đã tăng trưởng mạnh thông qua sự tăng nhu cầu nhà ở và tiện nghi vận chuyển. Tăng trưởng khả năng vận chuyển đã giúp tạo nên nhiều việc làm chuyên môn.
Minnesota trở thành trung tâm của công nghệ kỹ thuật sau thế chiến II. Hãng Engineering Research Associates được lập ra vào năm 1946 để phát triển máy tính cho Hải quân Hoa Kỳ. Sau đó hãng đó đã hợp nhất với Remington Rand và trở thành Sperry Rand. William Norris rời bỏ Sperry vào năm 1957 để lập nên Control Data Corporation (CDC). Hãng nghiên cứu Cray được thành lập khi Seymour Cray rời khỏi để lập ra công ty riêng. Công ty dụng cụ y tế Medtronic cũng được thành lập ở Thành phố đôi (Minneapolis-Saint Paul) vào năm 1949.
== Thành phố và thị xã ==
Saint Paul, nằm ở phía trung đông Minnesota trải dài bờ sông Mississippi, đã trở thành thủ phủ của Minnesota từ năm 1849, lúc đầu là thủ phủ của Lãnh thổ Minnesota và sau đó trở thành thủ phủ của bang Minnesota từ năm 1858.
thành phố Saint Paul nằm kế bên thành phố đông dân nhất Minnesota, Minneapolis; hai thành phố này và vùng ngoại ô của nó được biết đến như vùng đô thị thành phố đôi, nó là vùng đô thị lớn thứ 13 của Hoa Kỳ và là nhà của 60 phần trăm dân số tiểu bang này. Phần còn lại của tiểu bang được biết là "Đại Minnesota" hoặc "Ngoại Minnesota".
Tiểu bang này có 17 thành phố có dân số trên 50,000 (theo thống kê dân số năm 2010). Theo thứ tự dân số từ lớn đến nhỏ, thành phố Minneapolis, Saint Paul, Rochester, Duluth, Bloomington, Brooklyn Park, Plymouth, Saint Cloud, Woodbury, Eagan, Maple Grove, Coon Rapids, Eden Prairie, Minnetonka, Burnsville, Apple Valley, Blaine và Lakeville. Trong những thành phố đó thì chỉ có thành phố Rochester, Duluth và Saint Cloud là nằm ngoài vùng đô thị của Thành phố Đôi.
Dân số Minnesota đang tiếp tục phát triển, chủ yếu ở vùng đô thị. Dân số của quận Sherburne và Scott tăng gấp đôi từ năm 1980 tới 2000, trong khi 40 trong tổng số 87 quận của tiểu bang này mất đi dân số trong khoảng thời gian đó.
== Nhân Khẩu ==
=== Dân số ===
Từ 6,120 người vào năm 1850, dân số Minnesota phát triển tới 1.7 triệu người vào năm 1900. Trong vòng sáu thập niên tới, mỗi thập niên dân số tăng 15 phần trăm trong dân số cho tới 3.4 triệu dân vào năm 1960. Sự phát triển từ đó chậm dần, tăng khoảng 11 phần trăm vào năm 1970 và đạt mức 3.8 triệu dân. Cho vòng ba thế kỷ tới, dân số tăng trung bình khoảng 9 phần trăm cho tới 4.9 triệu dân vào cuộc thống kê dân số năm 2000. Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ phỏng đoán rằng dân số Minnesota là khoảng 5,379,139 vào ngày 1 tháng 7 năm 2012, tăng 1.4 phần trăm tính từ đợt Điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2010. Tốc độ tăng dân số, độ tuổi và phân bố giới tính là khoảng mức trung bình quốc gia. Nơi tập trung dân số của Minnesota là Quận Hennepin.
=== Chủng tộc và nguồn gốc ===
Sự phân bố chủng tộc của tiểu bang theo ước lượng của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ vào năm 2011 là:
Mỹ da trắng: 86.9% (Mỹ da trắng không phải gốc Latin 83.1%, Mỹ da trắng Latin 3.8%)
Người Mỹ gốc Phi: 5.4%
Người da đỏ tại Hoa Kỳ: 1.1%
Người Mỹ gốc châu Á: 4.0%
Người Mỹ gốc Quần đảo Thái Bình Dương: 0.0%
Các chủng tộc khác: 2.4%
Người Mỹ đa chủng tộc: 1.8%
Người Mỹ Latin (từ bất cứ chủng tộc nào) chiếm 4,7 phần trăm của tổng dân số.
Vào năm 2011, người da tắng không phải gốc Latin chiếm 72,3 phần trăm của tổng số trẻ em ra đời. Nhóm dân tộc thiểu số đang phát triển của Minnesota vẫn chỉ chiếm phần trăm nhỏ hơn nếu so với phần trăm dân tộc thiểu số của toàn nước Hoa Kỳ.
Những chủng tộc chính của dân Minnesota vào năm 2010 là:
37.9% gốc Đức
32.1% đến từ Các nước Bắc Âu; (16.8% gốc Na Uy, 9.5% gốc Thụy Điển, 4.7% gốc Phần Lan, gốc Đan Mạch, gốc Iceland, gốc Faroe và gốc Karelia)
11.7% gốc Ireland
6.3% gốc Anh
5.1% gốc Ba Lan
4.2% gốc Pháp
3.7% gốc Séc
Nguồn gốc chủng tộc chiếm dưới 3 phần trăm của tổng dân số là người Mỹ, Ý và Hà Lan, mỗi cái chiếm khoảng từ 2 tới 3 phần trăm dân số; các nguồn gốc khác như từ Châu Phi hạ Sahara và Đông Phi, Scotland, người Canada gốc Pháp, Scotland-Ireland và Mexico, mỗi thứ chiếm khoảng từ 1 tới 1.9 phần trăm dân số; và ít hơn một phần trăm dân số là người Mỹ gốc Nga, Wales, Bosna, Croatia, Serbia, Thụy Sĩ, Ả Rập, Hungary, Ukraina, Hy Lạp, Slovakia, Litva, Bồ Đào Nha và người Tây Ấn. Bang Minnesota có dân số người Somalia cao nhất Hoa Kỳ.
=== Tôn giáo ===
Đa số dân số Minnesota theo đạo Tin Lành, bao gồm một phần đáng kể theo Giáo hội Luther vì đa số các người ở đây có nguồn gốc từ Bắc Âu nhưng Giáo hội Công giáo (bao gồm đa số những người gốc Đức, Ireland và Slav) là nhánh Ki-tô giáo chiếm số lượng đông nhất. Theo khảo sát năm 2010 bởi Pew Research Center thì có 32 phần trăm dân Minnesota theo nhóm Tin Lành chính thống, 21 phần trăm theo phong trào Tin Lành, 28 phần trăm theo giáo hội Công giáo, một phần trăm cho các đạo Do Thái, Hồi giáo, Phật giáo, Tin Lành đen và các đức tin khác, bao gồm 13 phần trăm vô đạo. Theo nhóm Association of Religion Data Archives, các nhánh Ki-tô giáo có nhiều người theo nhất vào năm 2010 là giáo hội Công giáo với 1,150,367 người theo, giáo hội Tin Lành Luther tại Hoa Kỳ với 737,537 người theo và Missouri Synod với 182,439 người theo. Các con số này đồng nhất với kết quả thống kê của Khảo sát tôn giáo Hoa Kỳ vào năm 2011, trong đó còn có phần trăm dân số của các nhánh thuộc các tôn giáo khác nhau. Tuy Công giáo có ảnh hưởng lớn, Minnesota có một lịch sử lâu dài với các tôn giáo khác. Những người di cư đạo Do Thái Ashkenazi đầu tiên đã xây dựng hội đường đầu tiên của Saint Paul vào năm 1856. Minnesota có tới 30 nhà thờ Hồi giáo, đa số ở khu đô thị Thành phố đôi. Đền thờ của ECK, nhà thiêng liêng của Eckankar, nằm ở bang Minnesota, và có hàng chục ngàn tín đồ công giáo Eckankar sống ở bang này.
== Kinh tế ==
Từng một thời là tiểu bang chuyên sản xuất vật liệu thô, kinh tế Minnesota đã dần biến đổi thành nền kinh tế chú trọng sản xuất sản phẩm và dịch vụ. Có lẽ đặc điểm đặc trưng của nền kinh tế này là sự đa dạng của nó; sản lượng tương đối của lĩnh vực kinh doanh gần giống như tỉ lệ sản lượng của cả quốc gia Hoa Kỳ. Nền kinh tế Minnesota có tổng sản phẩm nội địa trị giá $262 tỉ đô la vào năm 2008. Vào năm 2008, 32 trên 1.000 công ty đại chúng có trụ sở chính tại Minnesota, bao gồm Target, UnitedHealth Group, 3M, General Mills, U.S. Bancorp, Ameriprise, Hormel, Land O' Lakes, SuperValu, Best Buy, và Valspar. Các công ty tư nằm ở bang Minnesota bao gồm Cargill, là công ty tư có tài sản lớn nhất Hoa Kỳ, và Công ty Carlson, công ty mẹ của Khách sạn Radisson.
Mức thu nhập đầu người của bang vào năm 2008 là $42.772, đứng thứ mười so với 50 tiểu bang. Mức lương hộ khẩu trung vị trong ba năm từ 2002 đến 2004 là $55.914, đứng hạng năm trong Hoa Kỳ và hạng nhất trong 36 tiểu bang không nằm ở ven biển Đại tây dương. Vào tháng 1 năm 2015, tỉ lệ thất nghiệp của bang là 3,7 phần trăm.
== Tham khảo == |
hypena proboscidalis.txt | Hypena proboscidalis là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó được tìm thấy ở châu Âu.
Sải cánh dài 25–38 mm. Con trưởng thành bay làm hai đợt từ tháng 5 đến tháng 9.
Ấu trùng ăn hop, tầm ma và Ground-elder.
== Hình ảnh ==
== Liên kết ngoài ==
Snout at UKmoths
== Chú thích == |
quần thể danh thắng tràng an.txt | Quần thể danh thắng Tràng An là một địa danh du lịch tổng hợp gồm các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới do UNESCO công nhận ở Ninh Bình, Việt Nam. Trước đó, nhiều di tích danh thắng nơi đây đã được Chính phủ Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng như Khu du lịch sinh thái Tràng An, khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, chùa Bái Đính, cố đô Hoa Lư... Liên kết giữa các khu vực này là hệ sinh thái rừng đặc dụng Hoa Lư trên núi đá vôi, đất ngập nước và hệ thống sông, hồ, đầm với diện tích 12.252 ha. Quần thể di sản thế giới Tràng An mang trong mình những khung cảnh thiên nhiên độc đáo từ đá núi, hệ sinh thái, rừng cây, thảm thực vật, đồng lúa, hồ đầm và những tuyến du thuyền trên sông Ngô Đồng, suối Tiên, sông Vọc, sông Sào Khê, sông Đền Vối, sông Bến Đang. Nơi đây sở hữu những hang động đẹp như động Thiên Hà, động Thiên Thanh, động Tiên, động Tiên Cá, động Vái Giời, động Thủy Cung, hang Bụt, hang Tam Cốc, hang động Tràng An, hang Sinh Dược; những di chỉ khảo cổ học có giá trị như hang Mòi, hang Bói, hang Trống, mái Ốc, thung Bình, thành Hoa Lư; những di tích lịch sử nổi tiếng gắn với 4 vương triều Đinh - Lê - Lý - Trần như cung điện Hoa Lư, đền Vua Đinh-Vua Lê, chùa Bích Động, chùa Bái Đính, hành cung Vũ Lâm, đền Thái Vi, đền Trần, đền Suối Tiên hay những thắng cảnh khác như vườn chim thung Nham, thung Nắng, hang Múa, rừng đặc dụng Hoa Lư...
Ngày 23 tháng 6 năm 2014, tại Doha, với sự đồng thuận tuyệt đối của Ủy ban Di sản thế giới, Quần thể danh thắng Tràng An chính thức trở thành di sản thế giới hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam khi đáp ứng cả hai yếu tố nổi bật về văn hóa và thiên nhiên. Tràng An hiện cũng là di sản thế giới kép đầu tiên và duy nhất ở khu vực Đông Nam Á. Trong quy hoạch phát triển du lịch tại Việt Nam, Tràng An cũng là địa danh được đầu tư để trở thành một khu du lịch tầm cỡ quốc tế.
== Tổng quan ==
=== Ranh giới ===
Quần thể danh thắng Tràng An nằm ở khu vực ranh giới giữa huyện Hoa Lư với các huyện Gia Viễn, Nho Quan, thành phố Tam Điệp và thành phố Ninh Bình. Về mặt hành chính, vùng lõi Tràng An nằm trên 12 xã: Trường Yên, Ninh Hải, Ninh Hòa, Ninh Xuân, Ninh Vân, Ninh Thắng (Hoa Lư); Ninh Nhất, Ninh Tiến (Tp Ninh Bình); Gia Sinh (Gia Viễn); Yên Sơn (Tam Điệp) và Sơn Hà, Sơn Lai, (Nho Quan); vùng đệm Tràng An nằm trên 20 xã, cũng gồm 12 xã trên và 8 xã: Ninh Giang, Ninh Mỹ, Ninh An, Gia Trung, Gia Tiến, Quỳnh Lưu, Tân Bình, Ninh Phong.
Vùng lõi Tràng An không bao trùm hoàn toàn lên 1 xã nào. Theo quy hoạch thành phố Ninh Bình thì tương lai danh thắng Tràng An sẽ thuộc về thành phố này.
Vùng lõi Tràng An có diện tích hơn 6.172 ha, chủ yếu thuộc 2 xã Trường Yên và Ninh Hải (huyện Hoa Lư), là vùng bảo vệ đặc biệt của danh thắng. Vùng bảo vệ đặc biệt này nằm trọn trong quy hoạch khu du lịch Tràng An với diện tích 12.252 ha. Diện tích các khu vực bảo tồn đặc biệt của vùng lõi Tràng An như sau:
Trung tâm cố đô Hoa Lư: 314 ha,
Khu Tam Cốc - Bích Động: 350 ha,
Khu sinh thái Tràng An: 2.133 ha,
Rừng đặc dụng Hoa Lư: 3.375 ha.
Quần thể danh thắng Tràng An nằm gần các quốc lộ 1A, QL38B, QL12B và trong tứ giác nước được giới hạn bởi các sông:
sông Hoàng Long ở phía Bắc;
sông Chanh ở phía Đông;
sông Hệ ở phía Nam;
sông Bến Đang (và một phần sông Chim) ở phía Tây.
=== Vị trí ===
Khoảng cách từ trung tâm hình học của quần thể Tràng An đến thành phố Ninh Bình khoảng 8 km theo đường chim bay. Vị trí các khu du lịch chính trong quần thể di sản Tràng An như sau:
Khu du lịch sinh thái Tràng An với trung tâm du khách nằm ở xã Ninh Xuân, cách cố đô Hoa Lư 3 km theo hướng nam, cách thành phố Ninh Bình 7 km theo hướng tây dọc đại lộ Tràng An, cách thành phố Tam Điệp 17 km theo hướng bắc qua Tam Cốc, cách Hà Nội 96 km theo hướng nam.
Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động với bến thuyền trung tâm nằm ở xã Ninh Hải, cách thành phố Ninh Bình 7 km, cách thành phố Tam Điệp 12 km, cách Hà Nội 100 km theo hướng nam.
Khu du lịch sinh thái Thung Nham cách thành phố Ninh Bình 10 km, cách thành phố Tam Điệp 8 km, cách Hà Nội 103 km.
Khu di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư nằm ở xã Trường Yên, cách thành phố Ninh Bình 11 km, cách Hà Nội 94 km theo hướng nam.
Khu du lịch văn hóa chùa Bái Đính nằm ở xã Gia Sinh, cách thành phố Ninh Bình 15 km, cách Hà Nội 98 km theo hướng nam.
=== Người Tràng An ===
Năm 2014, Khi được UNESCO công nhận là di sản thế giới, trong vùng lõi Tràng An có 14.000 cư dân sinh sống, vùng đệm có 21.000 cư dân sinh sống, trong khi dân số 12 xã vùng lõi ~73.000 người, 8 xã vùng đệm là ~ 49.000 người và tổng toàn bộ 20 xã nêu trên là 122.000 người. Người Tràng An là người kinh, sống trong lòng di sản chủ yếu bằng nghề trồng trọt và dịch vụ du lịch.
Trong phạm vi quần thể danh thắng Tràng An có một số làng nghề tiêu biểu của Ninh Bình như nghề thêu ở xã Ninh Hải, nghề chế tác đá mỹ nghệ ở xã Ninh Vân, nghề xây dựng ở xã Trường Yên. Người Tràng An ngày nay được coi là hậu duệ của những cư dân cổ của nền văn hóa Tràng An, vốn là nền văn hóa cổ nhất ở Việt Nam.
== Di sản thiên nhiên thế giới ==
Quần thể danh thắng Tràng An có giá trị nổi bật toàn cầu với 2 tiêu chí VII và VIII của một di sản thiên nhiên thế giới.
=== Vẻ đẹp nổi bật toàn cầu ===
Tràng An là một trong những nơi có cảnh quan tháp karst đẹp và quyến rũ nhất trên thế giới. Phủ lên cảnh quan là thảm rừng và các tháp dạng nón hùng vĩ cao 200m, với các hố trũng hẹp khép kín, bao quanh bởi các sống núi nối liền nhau, các đầm lầy thông nhau qua hệ thống suối xuyên ngầm có chiều dài lên tới 1 km. Vẻ hài hòa của đá, sông nước, rừng cây và bầu trời ở Tràng An tạo nên một thế giới tự nhiên sống động đầy quyến rũ. Đó là nơi rất đặc biệt, nơi văn hóa tiếp xúc với kỳ quan, bí ẩn và vẻ hùng vĩ của thế giới tự nhiên, và văn hóa cũng bị biến đổi bởi chính những điều đó.
Tràng An có thiên nhiên tươi đẹp với những ngọn núi, hang động huyền bí, sông nước thanh tĩnh, những di tích linh thiêng và những hệ động, thực vật phong phú, quý hiếm. Khu rừng văn hóa lịch sử môi trường Hoa Lư điển hình là một vùng cát-tơ đá vôi trồi lên giữa vùng đồng bằng ven biển tương đối bằng phẳng của Miền Bắc Việt Nam. Vùng đá vôi nổi lên này nằm xen kẽ với hàng loạt các khe suối có nước thường xuyên và các thung lũng ngập nước theo mùa. Độ cao tuyệt đối của vùng từ 10 đến 281 m. Thảm thực vật tự nhiên ở Hoa Lư là rừng trên núi đá vôi và rừng thường xanh trên đất thấp ở các thung lũng đan xen giữa các vùng đá vôi. Có khá nhiều hang động đẹp ở khu vực như: động Thiên Hà, động Vái Giời, động Tiên Cá, động Ba Cô, động Tiên, động Thủy Cung, hang Bụt, hang Sinh Dược... cùng với rừng núi và sông nước tạo nên những tuyến du lịch nổi tiếng như Tràng An, Tam Cốc - Bích Động. Có những con sông chảy qua vùng Tam Cốc và Tràng An để du khách có thể đi thăm khu vực này bằng thuyền.
=== Kiến tạo địa chất độc đáo ===
Tràng An minh chứng cho các giai đoạn cuối cùng của quá trình tiến hóa karst trong môi trường khí hậu nhiệt đới ẩm. Sự đa dạng địa chất địa mạo hiện diện tại Quần thể danh thắng Tràng An là kết quả từ các hoạt động địa chất liên tục qua hàng trăm triệu năm từ kỷ Trias đến Đệ Tứ. Trong suốt chính thời gian này, sự sụp đổ địa mạo và phân chia cao các khối núi Karst đá vôi trầm tích khổng lồ đã sảy ra ở đây. Chính những sự kiện địa chất này đã tạo ra những vùng núi hoang sơ và quyến rũ, các thung lũng trầm tích và các hố sụt mà cùng nhau dã có được kết quả trong sự đa dạng biểu mẫu, đại chất địa mạo, hang động và các hệ thống nước của Quần thể danh thắng Tràng An.
Tràng An có ý nghĩa lớn về khoa học là trong một cảnh quan, có mặt các dạng chuyển tiếp giữa núi đá vôi hình nón nối với nhau qua các đỉnh sắc cạnh và núi đá vôi dạng tháp cổ điển đứng rời rạc trên các đồng bằng bồi tích, mỗi dạng địa hình đại diện cho các giai đoạn khác nhau trong quá trình tiến hóa địa mạo đang diễn ra trong chu trình xâm thực karst. Một loạt ngấn xâm thực tìm thấy trên vách đá, có liên quan đến các hang động, sàn ngấn sóng, trầm tích bãi biển và vỏ nhuyễn thể biển, hé lộ bằng chứng của các đợt biển tiến trước đây. Cùng với việc dịch chuyển nâng lên của khối núi, những đặc điểm này có thể quan sát ở độ cao khoảng 50m trên mực nước biển hiện tại. Có ít cảnh quan trên thế giới và không có khu vực karst nào tương ứng có thể cho những bằng chứng dao động mực nước biển diễn ra qua một giai đoạn địa chất dài và rõ ràng như ở Tràng An.
== Di sản văn hóa thế giới ==
Quần thể danh thắng Tràng An có giá trị nổi bật toàn cầu với tiêu chí V của một di sản văn hóa thế giới. Tràng An chứa đựng các bằng chứng cho thấy sự thích ứng của con người với các điều kiện biến đổi về địa lý và môi trường theo lịch sử trái đất.
=== Môi trường sống của người tiền sử ===
Tràng An là địa điểm nổi bật trong khu vực Đông Nam Á và có ý nghĩa trên phạm vi thế giới cho thấy cách mà người tiền sử tác động qua lại với cảnh quan tự nhiên và thích ứng với biến đổi to lớn về môi trường trải dài ít nhất 30.000 năm.
Trên 30 di tích khảo cổ học thời tiền sử, chủ yếu thuộc nền văn hóa Tràng An đã được phát hiện trong Quần thể danh thắng Tràng An. Kết quả nghiên cứu cho thấy cách người tiền sử thích nghi với biến cố lớn về môi trường, cảnh quan. ít nhất là từ khoảng 23.000 năm đến nay, một số nền văn hóa tiền sử đã tiến hóa liên tục ở khu vực này, từ thời đồ đá cũ qua thời đại Đá mới đến thời đại đồ Sắt và đồ Đồng như các nền văn hóa Tràng An, Hòa Bình, Đa Bút. Trong khoảng thời gian đó, khu vực này cũng đã trải qua một số lần dao động mực nước biển đáng kể. Trong điều kiện tự nhiên đặc biệt, hầu như chỉ có đá vôi là chất liệu đá duy nhất, người Tràng An đã biết sử dụng nó làm công cụ lao động ít nhất cho đến cách ngày nay khoảng 3.000 năm, trong quá trình đó đã nhận biết được rằng đá vôi đô-lô-mít thuộc loại chất liệu tốt nhất có thể có. Đồng thời với giai đoạn biển tiến lớn nhất cuối cùng (khoảng 7.000-4.000 năm trước) người tiền sử Tràng An đã biết tới nghệ thuật làm đồ gốm. Những chứng cứ sớm nhất được cho là tương đương với gốm Đa Bút (6.000 năm trước), nhưng thực tế đã được làm ra ở đây sớm hơn nhiều (khoảng 9.000 năm trước) và tiến hóa liên tục qua thời đại Kim khí đến tận sau này. Việc sử dụng đồ gốm từ sớm và liên tục ở Tràng An chứng tỏ rằng một trung tâm gốm sứ rất khác biệt so với nhiều trung tâm gốm sứ khác ở Việt Nam đã từng tồn tại ở đây. TS. Masanari Nishimura (Nhật Bản) qua nghiên cứu khảo cổ học tiền sử Quần thể danh thắng Tràng An đã khẳng định: Cách đây 5.000-6.000 năm trước, có một trận động đất lớn ở Tràng An và người Việt cổ ở Tràng An đã trải qua nhiều sự biến đổi của thiên nhiên để thích ứng và phát triển cho đến ngày nay, tạo nên một giá trị về một nền văn hóa Tràng An.
Lịch sử văn hóa lâu dài gắn bó chặt chẽ với quá trình tiến hóa địa chất của sơn khối núi đá vôi Tràng An vào giai đoạn cuối Pleitocene và Holocene. Tràng An là di sản văn hóa thế giới lâu dài và duy nhất về con người và ứng xử của con người đối với những thách thức, biến đổi và cơ hội qua hàng chục nghìn năm, đang mang lại các cách tiếp cận tiên phong trong việc tìm hiểu quá trình cư trú của con người và các chiến lược mới mà từ đó có thể áp dụng cho các mô hình kinh tế hiện đại, với mục đích tăng cường khả năng thích ứng trước những biến đổi môi trường sắp xảy ra trong thế giới ngày nay.
=== Kinh đô Hoa Lư của người Việt cổ ===
Đến thế kỷ X ở thung lũng mở Hoa Lư, người Tràng An đã không ngừng phát triển bản sắc văn hóa của họ trong sự hòa hợp, chặt chẽ với cảnh quan thiên nhiên. Vị anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp loạn 12 sứ quân đã xây dựng Kinh đô Hoa Lư ở đây bằng cách đắp thành, nối liền những ngọn núi, khép kín thung lũng đá vôi để phục hưng văn hóa, mở ra ba triều đại đầu tiên của nền phong kiến độc lập Việt Nam: nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Hậu Lý với các dấu ấn lịch sử: thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội.
Đến thế kỷ XIII triều đại nhà Trần lại chọn vùng núi Tràng An để xây dựng hành cung Vũ Lâm với vai trò là một căn cứ quân sự để củng cố lực lượng góp phần chiến thắng quân Nguyên - Mông và là nơi các vua Trần xuất gia tu hành, mở mang phật giáo.
Khu rừng môi trường Hoa Lư ngày nay có hàng loạt các giá trị lịch sử, văn hoá và du lịch. Di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư hiện nay còn rất nhiều công trình kiến trúc đình, đền, chùa, phủ như: đền Vua Đinh Tiên Hoàng, đền Vua Lê Đại Hành, đền thờ Công chúa Phất Kim, chùa Nhất Trụ, phủ Vườn Thiên, chùa Kim Ngân, chùa Duyên Ninh, phủ Chợ, động Am Tiên, đình Yên Trạch, chùa Bà Ngô, động Liên Hoa, đền Trần, phủ Khống, phủ Đột, chùa Bái Đính, động Thiên Tôn, động Hoa Lư, đền thờ Đinh Bộ Lĩnh...
== Cơ sở hạ tầng ==
=== Quy hoạch ===
Quần thể thắng Tràng An ngoài vẻ đẹp ngoại hạng còn là khu vực bảo vệ đặc biệt của Cố đô Hoa Lư, gắn liền với các giá trị lịch sử văn hóa của vùng đất cố đô Hoa Lư nên được đầu tư mở rộng để trở thành khu du lịch lớn. Chính phủ Việt Nam đã cho phép tỉnh Ninh Bình tiến hành khai quật, nạo hút bùn đất tạo đường giao thông thủy bộ và làm sáng tỏ các giá trị văn hóa, du lịch của danh thắng này. Danh thắng Tràng An gồm nhiều khu du lịch với tổng hợp các sản phẩm như du lịch lịch sử, văn hóa, tâm linh, lễ hội, khám phá cũng như nghỉ dưỡng, nghiên cứu khoa học... Đây là khu du lịch tầm cỡ và quy mô ở Việt Nam với tổng diện tích được quy hoạch lên tới 12000 ha.
Quần thể thắng Tràng An thuộc phạm vi quy hoạch mở rộng thành phố Ninh Bình, hướng tới trở thành một thành phố du lịch trọng điểm của Việt Nam.
=== Đường bộ ===
Quần thể danh thắng Tràng An được bao bọc bởi một hệ thống các tuyến đường quốc lộ liên vùng, khoảng cách từ một vị trí bất kỳ trong danh thắng đến quốc lộ gần nhất đều chưa đến 7 km theo đường chim bay.
Quốc lộ 38B chạy sát rìa phía bắc của khu vực bảo tồn Tràng An, qua cố đô Hoa Lư, chùa Bái Đính.
Quốc lộ 12B chạy gần rìa phía tây của di sản, song song với sông Bến Đang.
Quốc lộ 1A và tuyến đường tránh thành phố Ninh Bình đi gần rìa đông và nam vùng đệm di sản.
Đại lộ Tràng An nối từ thành phố Ninh Bình đi chùa Bái Đính, Cúc Phương xuyên qua vùng đệm di sản.
Đường nội bộ: chủ yếu là các tuyến đường thuộc khu vực Tam Cốc và cố đô Hoa Lư.
=== Đường thủy ===
Hệ thống sông ngòi ở Tràng An có nhiệm vụ điều hòa nước cho khu vực và là những tuyến du lịch đường sông của Ninh Bình.
Sông Sào Khê: chảy dọc trong lòng di sản, thông thủy với hệ thống các hồ đầm. Đây là tuyến đường du lịch chính của khu du lịch sinh thái Tràng An. Sông Sào Khê nối sông Hoàng Long với sông Vạc, là những phụ lưu của sông Đáy.
Sông Ngô Đồng: chạy nội vùng phía nam di sản, thuộc tuyến du lịch Tam Cốc. Sông rút nước từ các cánh đồng đổ vào sông Vạc.
Sông Bến Đang: là biên giới phía tây của danh thắng Tràng An, trên sông có tuyến du lịch động Thiên Hà, hang Bụt,...
Sông Tràng An: là tuyến du lịch đường sông nối di sản Tràng An với trung tâm thành phố Ninh Bình.
Sông Đền Vối: là tuyến du lịch Thung Nắng, thung Nham, vườn Chim.
Sông Hệ Dưỡng: là biên giới phía nam của di sản.
Sông Hoàng Long: là con sông lớn nhất sau sông Đáy, nằm ở phía bắc của di sản Tràng An.
Sông Chim nằm ở biên giới phía tây bắc của di sản, gần với quốc lộ 38B.
Sông Chanh là đường biên giới phía đông của di sản, sát với tuyến đường tránh thành phố Ninh Bình.
== Các khu du lịch ==
=== Khu du lịch sinh thái Tràng An ===
Khu du lịch sinh thái Tràng An có trung tâm bến thuyền nằm bên đại lộ Tràng An, cách thành phố Ninh Bình 7 km. Tràng An gồm hệ thống các hang động, thung nước, rừng cây trên núi đá vôi và các di tích lịch sử gắn với kinh thành xưa của cố đô Hoa Lư. Nơi đây đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của Việt Nam.
Ngoài ra, phim trường Kong: Đảo Đầu lâu được phục dựng tại xã Ninh Xuân với diện tích khoảng 10 hecta, gồm 36 túp lều chóp nhọn cùng sự tham gia của hơn 50 người đóng vai thổ dân, cùng các thuyền gỗ dài giống như thuyền mà thổ dân hay sử dụng. Đoàn làm phim cũng thiết kế các giá treo bằng tre như người dân vùng biển dùng để treo cá, phơi cá. Tất cả đều sử dụng vật liệu truyền thống như tre, nứa, gỗ... Một số mô hình như máy bay, súng của lính Mỹ trong phim cũng được phục dựng bên cạnh các bờ suối. Lối đi từ cổng vào phim trường được lát đá và có hàng chục người dân được hóa trang thành thổ dân đứng trước cổng và đi lại xung quanh.
=== Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động ===
Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động có trung tâm đón tiếp nằm cách quốc lộ 1A 2 km, cách thành phố Ninh Bình 7 km, cách thành phố Tam Điệp 9 km. Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động gồm nhiều tuyến tham quan du thuyền, đi xe đạp và đi bộ nối khoảng gần 20 điểm du lịch. Các tuyến chính của khu du lịch: Các tuyến du thuyền gồm: Tuyến bến Văn Lâm - sông Ngô Đồng - Tam Cốc; Tuyến Xuyên thủy động (xuyên dưới Bích Động); Các điểm du lịch đi bộ, xe đạp và leo núi: Núi và chùa Bích Động; động Tiên; hang Múa; khu nhà cổ Cố Viên Lầu; đền Thái Vi - động Thiên Hương...
=== Khu di tích lịch sử cố đô Hoa Lư ===
Khu di tích lịch sử văn hoá Cố đô Hoa Lư với hệ thống núi non là bộ phận không thể tách rời của di sản thế giới kép Tràng An, được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt quan trọng với 47 di tích trong đó nổi bật là: Đền Vua Đinh Tiên Hoàng, lăng mộ Vua Đinh, đền thờ và lăng mộ Vua Lê Đại Hành, nhà bia tưởng niệm Vua Lý Thái Tổ, đền thờ Công chúa Phất Kim, đền thờ thần Quý Minh, phủ Khống, phủ Đột, động Hoa Lư, núi Mã Yên, bia Câu Dền, sông Sào Khê, phủ Đông Vương, phủ Vườn Thiên, hệ thống chùa cổ Hoa Lư...
=== Khu văn hóa tâm linh chùa Bái Đính ===
Chùa Bái Đính là một công trình kiến trúc phật giáo nổi tiếng nằm ở xã Gia Sinh, Gia Viễn, Ninh Bình. Khu văn hóa tâm linh núi chùa Bái Đính với chùa Bái Đính cổ (có đền thánh Nguyễn Minh Không, các hang động thờ Mẫu, thờ Phật, thờ Thần Cao Sơn…) và khu chùa Bái Đính lớn nhất Đông Nam Á với 5 toà lớn hội tụ nhiều kỷ lục châu Á và Việt Nam dọc theo sườn núi.
=== Khu du lịch sinh thái Thung Nham - Vườn chim ===
Khu du lịch sinh thái Thung Nham - Vườn chim trước đây là một tuyến du ngoạn sinh thái bằng thuyền Linh Cốc - Hải Nham thuộc khu du lịch Tam Cốc – Bích Động. Hiện nay nơi đây đã được đầu tư trở thành một khu du lịch sinh thái mới nằm tại thôn Hải Nham, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, cách chùa Bích Động khoảng 1000m về phía Tây.
Điểm dừng chân đầu tiên trong tuyến du lịch Vườn Chim Thung Nham là động Vái Giời. Từ dưới chân núi du khách đi lên 439 bậc đá sẽ tới cửa Động. Động Vái Giời rộng khoảng 5000 m2, được chia làm 3 tầng riêng biệt: tầng Địa Ngục, tầng Trần Gian và tầng Thiên Đường. Xuống tầng Địa Ngục xem những nhũ đá với nhiều hình thù kỳ dị khác nhau tùy theo trí tưởng tượng của mỗi người, các khối nhũ đá được ánh sáng từ cửa hang chiếu vào lấp lánh. Tầng Trần Gian bằng phẳng hơn được nối với Tầng Thiên Đường bằng những bậc thang nhân tạo. Tầng Thiên Đường nằm trên cao nhất, nhìn ra một không gian rộng mở của Ninh Bình như bầu trời, cánh đồng lúa và những ngọn núi phía xa xa.
Động Ba Cô gắn với truyền thuyết xưa kia khi vua Đinh Tiên Hoàng bị đầu độc, ba cô gái đã vào động để lấy nước cứu Vua nhưng không may bị hổ bắt. Để tưởng nhớ tới ba cô gái, người dân nơi đây đã đắp một ngôi mộ và đặt tên động là động Ba Cô.
Động Tiên Cá: Động dài hơn 1500m có hệ thống nhũ đá muôn hình vạn trạng. Trải qua hàng triệu năm thiên nhiên kiến tạo, nơi đây còn lưu truyền lại một câu chuyện về một nàng Tiên Cá hóa đá. Nhũ đá trong lòng động như những bức tranh nghệ thuật tinh xảo của tạo hóa.
Động Thủy Cung: Với chiều dài 700m bên cạnh là hệ thống nhũ đá huyền ảo được ví như một cung điện ở dưới nước vô cùng nguy nga và tráng lệ.
Hang Bụt: Hang Bụt toạ lạc giữa lòng núi Tướng, trong khu rừng đặc dụng Hoa Lư thuộc thôn Đồng Tâm, xã Sơn Hà, Nho Quan. Hang Bụt hiện dài gần 500 m, lòng hang rất rộng và có nhiều nhũ đá với hình thù kỳ lạ. Nằm chính giữa hang là một tấm nhũ đá cao 1,5 m rộng 2 m có hình thù giống như một ông bụt hiện ra. Đến với Hang Bụt, du khách được đi thuyền chèo tay, ngoạn cảnh thiên nhiên hoang sơ, kỳ bí của núi rừng sông nước. Trong lòng hang nhiều vòm xoáy lạ mắt kích thích trí tưởng tượng du khách.
Vườn Chim: Vượt qua các hang thuyền sẽ đưa du khách đi đến vườn Chim. Trước mắt du khách là một vùng trời mây non nước trùng điệp, với những hàng cây mọc thẳng hàng ở trên mặt nước, và hàng ngàn, hàng vạn con chim ríu rít bay về đậu trên những cành cây trắng xoá. Một điều thú vị nữa là du khách sẽ được thăm một quả đồi với rất nhiều hoa trái, mùa nào thức nấy hương thơm ngây ngất và còn một điều độc đáo hơn đó là cây Duối nghìn năm tuổi. Nơi đây chắc chắn sẽ làm hài lòng du khách.
=== Khu du lịch Thung Nắng ===
Khu du lịch Thung Nắng thuộc địa phận xã Ninh Hải. Từ bến thuyền Tam Cốc, Du khách đi khoảng hơn 500 mét đường bộ là đến bến thuyền Thạch Bích để đi thung Nắng. Vượt qua một quãng đường thuỷ với hai bên là đồng lúa rì rào, núi non trùng điệp, qua đền Vối. Tiếp tục hành trình, du khách thăm thung nắng với một vùng trời mây, non nước bao bọc xung quanh. Với khoảng 3 km đường thuỷ đi bằng thuyền du khách sẽ đến với nhiều huyền thoại như núi Ba Dọi, Núi Cóc, núi Măng, núi Vàng… Thuyền đưa du khách qua hang Thung Nắng dài khoảng 100 m là đền Thoong Nắng. Đền được xây dựng trong một không gian tĩnh lặng, lưng Đền dựa vào thế núi linh thiêng là nơi thờ Chúa thượng ngàn. Sau khi thăm Thung Nắng xong trên đường quay ra tới bến Cây Gạo du khách tới thăm đền Vối. Đền Vối có cách đây hàng trăm năm, được xây dựng bằng đá, với các đồ thờ bằng đá được chạm khắc công phu, tỉ mỉ. Đền Vối có từ thời nhà Lê thờ ông Lý Đông Hải là quan chấn trạch sơn lâm.
Thung Nắng thuộc thôn Đam Khê, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư. Đường vào Thung Nắng phải đi bằng thuyền khoảng 3 km. Hai bên đường đi có nhiều cỏ lác, lau sậy. Bên dưới làn nước mát trong veo là hệ động vật phong phú, sinh động. Môi trường sinh thái ở Thung Nắng vẫn giữ được nét hoang sơ. Khách du lịch thực sự được nghỉ ngơi thư giãn và có cảm giác thoải mái giữa một không gian yên tĩnh, dễ chịu.
Khi thuyền đưa vào hang, Du khách sẽ cảm thấy mát lạnh vì trần hang rất thấp, các nhũ đá rủ xuống với muôn hình muôn vẻ khác nhau. Trước cửa hang là những bụi cây lau sậy um tùm. Tại đây du khách có thể neo đậu thuyền để nghỉ ngơi, chụp ảnh và ngắm nhìn cảnh đẹp. Cả một vùng chiêm trũng rộng lớn vẫn giữ được nét nguyên sơ mà thiên nhiên đã hình thành. Vào thời gian buổi chiều, những đàn cò trắng bay về đậu kín cả vùng đất ngập nước tạo nên một nét hấp dẫn đặc trưng của thung Nắng. Thung Nắng được kết nối theo tuyến du lịch: Thạch Bích – Thung Nắng - Đền Vối – Hang Thung Nắng - Đền Thung Nắng – Thung Nắng trong – Thung Nham – Rừng nguyên sinh – Hang Bụt – vườn chim – Hang Ghé – Hang Chùa.
=== Khu du lịch Động Thiên Hà ===
Động Thiên Hà nằm trong dải núi Tướng với độ cao gần 200m là một phần của bức tường thành thiên nhiên vững chắc bao bọc, bảo vệ phía tây nam kinh đô Hoa Lư thế kỷ thứ X, gắn liền với những địa danh lịch sử, văn hoá như Bến thuyền Nhà Lê, Núi Phật Đầu Sơn, Thửa Ruộng Đấu Lính...
Từ bản Mường Thổ Hà, xã Sơn Hà, Nho Quan, du khách xuống thuyền trên dòng kênh nhỏ có chiều dài chừng 1 km xen giữa cánh đồng quê. Du khách tiếp tục bộ hành trên con đường đá dài 500m ven chân núi Tướng để tới cửa động. Động có chiều dài 700m bao gồm động khô dài 200m và động nước dài 500m. Những hình dáng do đá núi tạo ra được gọi tên như: đây là chú Cáo Lỗ đang chén mồi, kia là Voi phục, Hổ rình mồi, khỉ leo cây… cao hơn có khám thờ với hình ảnh Đức Phật, thầy Đường Tăng đang tụng kinh cầu an cho các đồ đệ... tất cả đều gợi trí tò mò, khám phá của du khách.
=== Khu du lịch Hang Múa ===
Thuộc địa phận thôn Khê Hạ, xã Ninh Xuân. Đây là khu du lịch nhân tạo với các dịch vụ như leo núi, nghỉ ngơi cuối tuần và hội nghị. Hang Múa đã được kết nối với Tam Cốc theo tuyến du lịch tham quan: Bến Cây Đa – Bến Thánh – Hang Cả - Hang Múa – Hang Hai – Hang Ba – Suối Tiên – Khu Du lịch Hang động Tràng An. Tương truyền, hang Múa là nơi biểu diễn văn nghệ, múa hát của các cung nữ thời nhà Trần trước đây.
Hang Múa nằm dưới chân núi Múa. Núi có hình như một quả chuông, rộng khoảng 800 m2. Đường lên đỉnh núi được xây dựng mô phỏng theo kiến trúc của Vạn Lý Trường Thành với 486 bậc đá. Đến hang Múa du khách được chiêm ngưỡng phong cảnh của núi non hùng vĩ.
=== Khu du lịch hành cung Vũ Lâm ===
Hành cung Vũ Lâm là một căn cứ quân sự thời Trần, thuộc vùng núi phía nam quần thể di sản thế giới Tràng An. Đây từng là nơi các vua đầu nhà Trần lập căn cứ địa để củng cố lực lượng, phản công giải phóng Đại Việt trong cuộc kháng chiến đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ hai. Nơi đây còn gắn với sự kiện các vua Trần xuất gia tu hành, mở mang phật giáo. Hiện nay, khu vực di tích hành cung Vũ Lâm đang được phục dựng và đưa vào phục vụ du lịch.
== Các di tích ở Tràng An ==
Trước khi các di tích thuộc Quần thể di tích Cố đô Hoa Lư, Danh thắng Tràng An-Tam Cốc-Bích Động được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt thì khu vực Tràng An đã có rất nhiều di tích được xếp hạng. Hệ thống di tích này nằm chủ yếu ở các khu vực đông dân cư trong quần thể Tràng An:
Di tích quốc gia đặc biệt
Bao gồm hệ thống hang động Tràng An ở Nho Quan, Hoa Lư, Gia Viễn; Khu vực núi đá Trường Yên và các điểm di tích cụ thể như: đền Đinh - Lê, Hang Muối, Hang Quàn, Núi Chùa Am, Chùa Nhất Trụ, Động Am Tiên, Đình Yên Trạch, Chùa Kim Ngân, Phủ Đông Vương, Phủ Vườn Thiên, Đền thờ Công chúa Phất Kim, Bia Cửa Đông, Lăng vua Đinh và lăng vua Lê, Tam Cốc, Đền Thái Vi, Động và chùa Bích Động.
Di tích quốc gia
Đền Kê Thượng, Kê Hạ, Miếu Sơn, Chùa và động Bàn Long, Chùa và động Hoa Sơn, Đình Ngô Khê Hạ, Động Thiên Tôn, Núi chùa Bái Đính, Những địa điểm của khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu, Khu Trũng, Đồng Báng, Khu vực núi Kiếp Lĩnh.
Di tích cấp tỉnh
Chùa Duyên Ninh, Chùa Bà Ngô, Nhà thờ Hàn Giang Hầu, Nhà thờ Dương Đức Vĩnh, Đền thờ Quý Minh Đại Vương và hang Đền, Nhà thờ Nguyễn Tử Tương, Đình Các, Đình làng Yên Thành, Đình Sen thôn Hành Cung, Đình và chùa làng Chàng, Đền Thượng, đền Hạ thôn Thái Sơn, Đình Quang Hiển, Đền thờ Đức Thánh Trần, Đền và miếu làng Bãi Trữ, Đền và chùa Khả Lương, Đình Đông Khê.
Di tích khảo cổ
Các di tích khảo cổ hang động ở Tràng An phân bố với mật độ cao và chia thành 5 nhóm, mỗi nhóm từ 4-6 di tích gồm:
Nhóm hang Bói nằm ở khu trung tâm khối đá vôi Tràng An có diện tích khoảng 3 km2, tiêu biểu là hang Bói, hang Trống, hang Mòi.
Nhóm mái đá Vàng nằm ở khu trung tâm khối đá vôi Tràng An có diện tích khoảng 4 km2, tiêu biểu là Mái đá ông Hay, Mái đá Chợ và Mái đá Vàng.
Nhóm thung Bình nằm ở rìa phía tây khối đá vôi Tràng An trên diện tích khoảng 2 km2, tiêu biểu là 4 hang ở núi thung Bình và hang Chùa.
Nhóm mái đá Ốc nằm ở rìa tây nam khối đá vôi Tràng An trên diện tích khoảng 3 km2, tiêu biểu là mái đá Ốc, núi Tướng 1,2, mái đá Ốc 2 và hang Vàng.
Nhóm hang Áng Nồi nằm ở phía bắc khu di sản trên diện tích khoảng 4 km2, tiêu biểu là các hang Áng Nồi, hang Ông Mi và hang Son.
== Di sản thế giới kép đầu tiên ở Việt Nam ==
=== Tiêu chí nổi bật toàn cầu ===
Quần thể di sản thế giới Tràng An đáp ứng 2 tiêu chuẩn di sản thiên nhiên thế giới và 1 tiêu chuẩn di sản văn hóa thế giới:
Tiêu chí 7 về thẩm mỹ: "Di sản chứa đựng các hiện tượng thiên nhiên siêu việt hay khu vực có vẻ đẹp thiên nhiên khác thường và tầm quan trọng thẩm mỹ". Cảnh quan ngoạn mục của Quần thể danh thắng Tràng An là kết quả của các quá trình địa chất địa mạo, thay đổi khí hậu và các môi trường phát triển liên tục qua hàng trăm triệu năm.
Tiêu chí 8 về địa chất: "Di sản là những ví dụ nổi bật đại diện cho những giai đoạn quan trọng của lịch sử trái đất, bao gồm cả việc ghi chép lại cuộc sống, các quá trình địa chất lớn đang tiếp diễn trong sự phát triển của các địa mạo, hay những đặc điểm địa chấn và địa hình lớn". Sự đa dạng địa chất địa mạo hiện diện tại Quần thể danh thắng Tràng An là kết quả từ các hoạt động địa chất liên tục qua hàng trăm triệu năm từ kỷ Trias đến Đệ Tứ. Trong suốt chính thời gian này, sự sụp đổ địa mạo và phân chia cao các khối núi Karst đá vôi trầm tích khổng lồ đã sảy ra ở đây. Chính những sự kiện địa chất này đã tạo ra những vùng núi quyến rũ, các thung lũng trầm tích và các hố sụt mà cùng nhau đã có được kết quả trong sự đa dạng biểu mẫu, đại chất địa mạo, hang động và các hệ thống nước của Quần thể danh thắng Tràng An.
Tiêu chí 5 về văn hóa: "Di sản là một ví dụ nổi bật về một kiểu định cư truyền thống của con người hoặc một phương pháp sử dụng đất truyền thống, đại diện cho một nền văn hoá (hoặc các nền văn hoá), nhất là khi nó trở nên dễ bị tổn thương dưới tác động của những biến động không thể đảo ngược được". Tràng An là một địa điểm mang ý nghĩa quốc tế cho việc trình bày và hiểu biết về cách thức rằng những người cổ đã có sự liên kết với cảnh quan thiên nhiên và áp dụng cho những thay đổi chính trong môi trường, qua hàng ngàn năm của kỷ Holocen giữa 23000 năm đến các thời kỳ cận đại, và trong sự đặc trưng trong suốt thời kỳ tăng lên các mực nước biển rộng khắp thế giới hậu Pleistocen như một sự ấm lên toàn cầu và tan chảy băng liên tục, ngập lụt nhiều khu vực ven biển và đất thấp được biết đến là Sự xâm thực Flandrian.
Như vậy, khu danh thắng Tràng An hiện là di sản thế giới hỗn hợp đầu tiên ở Việt Nam, di sản thiên nhiên thế giới thứ ba của Việt Nam sau vịnh Hạ Long và vườn quốc gia Phong Nha đồng thời cũng là di sản văn hóa thế giới thứ 6 ở Việt Nam. Tức Tràng An đồng thời là một di sản văn hóa - thiên nhiên thế giới.
=== Quá trình đề cử di sản thế giới ===
Bắt đầu từ năm 2003, Quần thể danh thắng Tràng An đã gây sự chú ý đặc biệt của các nhà khoa học bởi giá trị nổi bật về cảnh quan sinh thái và kiến tạo địa chất, kể từ đó nhiều hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị liên tục diễn ra:
Ngày 22/3/2004, Chính phủ Việt Nam có văn bản số 365/CP-KTTH, đồng ý để tỉnh Ninh Bình xây dựng Khu du lịch Tràng An, thuộc quần thể di tích - danh thắng cố đô Hoa Lư. Sau nhiều lần điều chỉnh quy mô dự án, ngày 18/11/05 UBND tỉnh Ninh Bình ra quyết định số 2570/QĐ-UB về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng khu du lịch Tràng An.
Ngày 17/10/2008, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Ninh Bình, Hội Di sản Văn hoá Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học về "Giá trị di sản văn hoá Cố đô Hoa Lư và khu du lịch Tràng An" nhằm tiến tới đề nghị Unesco công nhận Cố đô Hoa Lư là di sản văn hóa thế giới và khu du lịch sinh thái Tràng An là di sản thiên nhiên thế giới.
Ngày 21/8/2011, tỉnh Ninh Bình đã tổ chức đón đoàn đại biểu UNESCO tham dự đại hội về thăm quần thể hang động Tràng An - chùa Bái Đính và cố đô Hoa Lư
Ngày 18/10/2011, Chính phủ Việt Nam đã chính thức đồng ý lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận quần thể danh thắng Tràng An (gồm cả rừng đặc dụng Hoa Lư, Tam Cốc và Cố đô Hoa Lư) là di sản thế giới. Việc đề cử danh sách lập hồ sơ đề trình UNESCO công nhận Tràng An là di sản thế giới được Bộ Văn hóa thể thao và du lịch đề nghị trên cơ sở đề xuất kiến nghị của lãnh đạo UBND tỉnh Ninh Bình; ý kiến đồng thuận của Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, Vụ Văn hóa đối ngoại và UNESCO, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam.
Ngày 10/05/2012, cả 3 khu vực hang động Tràng An - Tam Cốc - Bích Động - cố đô Hoa Lư đều được thủ tướng chính phủ Việt Nam xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.
Ngày 24-25/7/12, tại Ninh Bình đã diễn ra "Hội thảo xác định giá trị nổi bật toàn cầu của Quần thể danh thắng Tràng An". Trên cơ sở các nghiên cứu khoa học và ý kiến của các chuyên gia trong nước và quốc tế, Việt Nam chọn xây dựng hồ sơ di sản Quần thể danh thắng Tràng An theo tiêu chí hỗn hợp là tiêu chí 7, 8 và 5, có tham vấn tiêu chí 3.
Ngày 30/9/2012 Hồ sơ đề cử quần thể danh thắng Tràng An là di sản thế giới kép đã được gửi tới UNESCO.
Ngày 23/6/2014, tại Doha, thủ đô Qatar, Quần thể danh thắng Tràng An chính thức trở thành di sản thế giới kép đầu tiên ở Việt Nam với việc đáp ứng cả 2 tiêu chí nổi bật về văn hóa và thiên nhiên.
== Bảo tồn và phát huy giá trị ==
Quần thể danh thắng Tràng An được ghi danh di sản thế giới kép là một sự kiện đặc biệt, có ý nghĩa quan trọng với Việt Nam nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng. Đây là một thành công của Việt Nam trong ngoại giao văn hóa, bởi lần đầu tiên đất nước có một di sản thế giới hỗn hợp cả văn hóa và tự nhiên. Sự khẳng định này góp phần làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam và thế giới, góp phần nâng cao hình ảnh Việt Nam.
=== Phát triển du lịch ===
Về lĩnh vực kinh tế, Quần thể danh thắng Tràng An trở thành di sản thế giới, nhiều người đã ví đó là "con gà đẻ trứng vàng". Ngành kinh tế du lịch của Ninh Bình sau sự kiện này dự kiến có bước phát triển mới, góp phần tăng tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu GDP. Về mặt xã hội, sẽ giải quyết được việc làm cho nhiều lao động phục vụ tham quan, du lịch, làm dịch vụ cho khu vực di sản thế giới. Sự kiện Quần thể danh thắng Tràng An được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên, văn hóa thế giới là dấu ấn đậm nét, không chỉ là sự ghi nhận những nỗ lực của Ninh Bình trong việc gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị lịch sử, thiên nhiên, văn hóa mà còn mở ra rất nhiều cơ hội để tỉnh này phát triển du lịch theo hướng bền vững.
Năm 2015, theo công bố của Cục Di sản văn hóa về số lượng khách tham quan các điểm du lịch Việt Nam, Quần thể danh thắng Tràng An là khu du lịch dẫn đầu khi đón hơn 5 triệu lượt khách, bỏ xa các địa danh tiếp theo là vịnh Hạ Long đón trên 2,5 triệu lượt khách, cố đô Huế đứng thứ ba với hơn 2 triệu lượt khách, phố cổ Hội An đón khoảng 1,1 triệu lượt khách; Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đón khoảng 740.000 lượt khách.
=== Bảo tồn di sản ===
Ngay sau khi Tràng An được công nhận di sản thế giới, Ninh Bình đã xây dựng và ban hành kế hoạch quản lý di sản theo hướng dẫn của UNESCO, trong đó xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ bảo tồn, phân vùng khu vực quản lý và bảo tồn, các giá trị cần bảo tồn, các kế hoạch bảo tồn và phát triển hàng năm, đồng thời nêu rõ vai trò, trách nhiệm của Ban quản lý, các Sở, ngành, chính quyền địa phương các doanh nghiệp và toàn dân trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Ninh Bình cũng phối hợp với Bộ Xây dựng và Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch bổ sung và hoàn thiện Quy hoạch tổng thể Tràng An trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào năm 2016.
Để phát huy giá trị di sản thế giới của Quần thể danh thắng Tràng An một cách bền vững, tỉnh Ninh Bình đưa ra một số giải pháp cụ thể sau:
Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, quảng bá, nâng cao nhận thức về Quần thể danh thắng Tràng An.
Xây dựng cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân trong nước và quốc tế đến nghiên cứu, tham quan và đầu tư các dịch vụ.
Triển khai lập dự án và tổ chức thực hiện các dự án trùng tu, bảo tồn, tôn tạo, phục hồi các di tích, kết nối di sản Tràng An với thành phố Ninh Bình và các khu, điểm du lịch khác tạo thành các tua, tuyến liên hoàn, thuận tiện mang tính chất nội vùng và liên vùng.
Tổ chức các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý di sản, các hoạt động kinh doanh dịch vụ, thương mại phục vụ cho hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.
Hỗ trợ các mô hình phát triển kinh tế cộng đồng, giúp người dân sống trong khu vực di sản có cuộc sống ổn định, gắn với di sản và bảo vệ di sản.
Đẩy mạnh việc đào tạo nguồn nhân lực để khai thác một cách hợp lý và có hiệu quả giá trị du lịch, dịch vụ của di sản…
Tranh thủ sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi từ các bộ ngành và các địa phương, các Tổ chức phi Chính phủ trong việc bảo vệ, tôn tạo, giữ gìn các giá trị di sản và xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ các hoạt động thương mại, du lịch.
=== Ban quản lý danh thắng Tràng An ===
Ban quản lý Quần thể danh thắng Tràng An là đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh Ninh Bình, được thành lập theo Quyết định 150/QĐ-UBND ngày 15/3/2012 của UBND tỉnh Ninh Bình và Quyết định số 06/2012/QĐ-UBND Ngày 10/4/2012 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của Ban Quản lý Quần thể danh thắng Tràng An. Theo đó Ban Quản lý Quần thể danh thắng Tràng An là đơn vị sự nghiệp đảm bảo một phần kinh phí hoạt động, trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình có chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh quản lý, bảo tồn, tôn tạo, khai thác và phát huy giá trị Quần thể danh thắng Tràng An gồm: Khu du lịch sinh thái Tràng An, Khu di tích lịch sử văn hoá Cố đô Hoa Lư, Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động và phần rừng đặc dụng Hoa Lư tiếp giáp Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, trên địa bàn huyện Hoa Lư, huyện Gia Viễn, huyện Nho Quan, thành phố Tam Điệp và thành phố Ninh Bình.
Trung tâm bảo tồn di tích Lịch sử - Văn hoá Cố đô Hoa Lư (đổi tên từ Ban Quản lý di tích lịch sử - văn hoá Cố đô Hoa Lư) là đơn vị hạch toán báo sổ. Giám đốc Ban Quản lý Quần thể danh thắng Tràng An căn cứ quy định pháp luật hiện hành quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể cho Trung tâm và chỉ đạo tổ chức thực hiện. Khi được giao bổ sung nhiệm vụ, Giám đốc Ban Quản lý Quần thể danh thắng Tràng An thống nhất với Giám đốc Sở Nội vụ trình UBND tỉnh Ninh Bình và cấp có thẩm quyền thành lập thêm các đơn vị trực thuộc.
Ban quản lý hiện có trụ sở làm việc tại trung tâm thành phố Ninh Bình, cạnh chân núi Kỳ Lân.
=== Lễ hội Tràng An ===
Các lễ hội được mở hàng năm trong quần thể di sản thế giới Tràng An tiêu biểu nhất phải kể tới 3 lễ hội lớn nhất ở Ninh Bình hiện nay là lễ hội Hoa Lư, lễ hội Tràng An và lễ hội chùa Bái Đính.
Lễ hội chùa Bái Đính là một lễ hội xuân, diễn ra từ chiều ngày mùng 1 tết, khai mạc ngày mùng 6 tết và kéo dài đến hết tháng 3, khởi đầu cho những lễ hội hành hương về vùng đất cố đô Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. Lễ hội chùa Bái Đính gồm các nghi thức thắp hương thờ Phật, tưởng nhớ công đức Thánh Nguyễn Minh Không, lễ tế thần Cao Sơn và chầu thánh Mẫu Thượng Ngàn. Lễ hội chùa Bái Đính bắt đầu bằng nghi thức rước kiệu mang bài vị thờ Thần Cao Sơn, Đức Thánh Nguyễn và Bà chúa Thượng Ngàn từ khu chùa cổ ra khu chùa mới để tiến hành phần hội. Phần hội chùa Bái Đính gồm có các trò chơi dân gian, thăm thú hang động, vãn cảnh chùa, thưởng thức nghệ thuật hát Chèo, Xẩm đất Cố đô. Phần sân khấu hóa thường do Nhà hát Chèo Ninh Bình đảm nhiệm có tái hiện lễ đăng đàn xã tắc của Đinh Tiên Hoàng Đế và lễ tế cờ của Vua Quang Trung trên núi Đính trước giờ xung trận. Lễ hội chùa Bái Đính vừa có sự sùng bái tự nhiên, vừa thể hiện tín ngưỡng đạo Phật, đạo Mẫu lại có cả Nho giáo.
Lễ hội Hoa Lư là một lễ hội cổ truyền diễn ra hàng năm để tôn vinh vị anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh cùng quần thần đã xây dựng kinh đô Hoa Lư, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt và mở đầu thời kỳ độc lập, thống nhất lâu dài của người Việt suốt các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần. Lễ hội Hoa Lư đã được xếp hạng là di sản văn hóa cấp quốc gia và đang được đề nghị nâng tầm tổ chức lễ hội theo nghi thức cấp nhà nước. Lễ hội Hoa Lư là lễ hội đã có lịch sử lâu đời, phản ánh đậm nét, sinh động về cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của đức vua Đinh Tiên Hoàng và lịch sử Việt Nam qua ba triều đại Đinh, Lê, Lý. Lễ hội Hoa Lư xưa được các vương triều phong kiến tổ chức trang trọng ở cấp Nhà nước. Hiện nay, lễ hội Hoa Lư vẫn là lễ hội có tầm ảnh hưởng lớn, bảo lưu được những yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc và đang hướng tới nâng cấp thành quốc lễ.
Lễ hội Tràng An được tổ chức vào ngày 18/3 Âm lịch hàng năm nhằm tôn vinh thần Quý Minh, là một vị tướng trấn ải Sơn Nam, từ thời vua Hùng Vương thứ 18, được Đinh Tiên Hoàng Đế sắc phong là vị thần trấn cửa ngõ phía Nam Hoa Lư tứ trấn. Lễ hội Tràng An diễn ra ở khu vực tuyến du lịch hành cung Vũ Lâm như: đền Trần, đền suối Tiên. Đây là lễ hội du thuyền độc đáo nhất mang đặc trưng văn hóa Việt Nam với các trò diễn dân gian đặc sắc như: tổ chức rước thuyền, múa rồng trên sông, múa cồng chiêng,... cùng các chương trình văn hóa, nghệ thuật truyền thống như hát chèo, hát xẩm.
== Xem thêm ==
Các khu du lịch thuộc quần thể danh thắng Tràng An
Khu du lịch thắng cảnh văn hoá Tam Cốc - Bích Động
Khu du lịch sinh thái Thung Nham
Khu du lịch sinh thái Tràng An
Quần thể di tích Cố đô Hoa Lư
Chùa Bái Đính
Các điểm du lịch: động Thiên Hà, Cố Viên Lầu, Hành cung Vũ Lâm...
Di tích ở Ninh Bình và du lịch Ninh Bình
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang An Scenic Landscape Complex
Quần thể danh thắng Tràng An: Di sản kép đầu tiên
Tràng An trở thành di sản thế giới 'kép'
Cảnh sơn thủy hữu tình của di sản thế giới Tràng An |
huyện mymensingh.txt | Mymensingh là một huyện thuộc division Dhaka, Bangladesh. Huyện này có diện tích 4363 km², dân số năm 2002 là 4439017 người, mật độ dân số là 1017 người/km².
== Tham khảo == |
lg v20.txt | LG V20 là một phablet Android được sản xuất bởi LG Electronics. Ra mắt vào ngày 6 tháng 9 năm 2016, nó là thiết bị kế thừa cho LG V10 vốn được phát hành năn 2015. Tương tự như V10, V20 có một màn hình phụ ở trên đầu thiết bị, cho phép hiển thị thêm các tin nhắn và điều khiển. Thiết bị này cũng được trang bị DAC (mạch chuyển đổi số ra tương tự) cho âm thanh.
== Thông số kỹ thuật ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
copernixi.txt | Copernixi (phát âm như "co-pơ-ni-xi"; tên quốc tế: copernicium) là một nguyên tố hóa học tổng hợp phóng xạ với ký hiệu Cn và số nguyên tử 112. Nguyên tố này trước đây được IUPAC đặt tên theo hệ thống là ununbi (tiếng Anh: ununbium, phát âm /uːnˈuːnbiəm/ ( phát) oon-OON-bee-əm), với ký hiệu Uub. Nó được tổng hợp đầu tiên năm 1996 bởi Gesellschaft für Schwerionenforschung (GSI), và được đặt tên theo tên nhà thiên văn học Nicolaus Copernicus.
Copernixi hiện tại là nguyên tố được đánh số cao thứ ba đã được IUPAC chính thức công nhận. Đồng vị bền nhất được phát hiện cho đến nay là 285Cn có chu kỳ bán rã ≈30 giây, mặc dù có dấu hiệu cho thấy 285Cn có thể có đồng phân hạt nhân với chu kỳ bán rã lâu hơn 8,9 phút. Tổng số có khoảng 75 nguyên tử copernixi đã được tổng hợp dùng nhiều phản ứng hạt nhân khác nhau. Các thí nghiệm gần đây đề xuất rằng copernixi ứng xử giống như một nguyên tố nhóm 12 đặc trưng, thể hiện các tính chất của một kim loại dễ bay hơi.
== Lịch sử ==
=== Phát hiện ===
Copernixi được tổng hợp ngày 9 tháng 2 năm 1996 tại Gesellschaft für Schwerionenforschung (GSI) ở Darmstadt, Đức bởi Sigurd Hofmann, Victor Ninov và nnk. Nguyên tố này được tạo ra bằng cách bắn hạt nhân chì-208 bằng hạt nhân kẽm-70 được gia tốc trong máy gia tốc ion nặng. Một nguyên tử (nguyên tử thứ 2 sau đó đã bị bác bỏ) của copernixi được tạo ra với số khối 277.
20882Pb + 7030Zn → 278112Cn → 277112Cn + 10n
Tháng 5 năm 2000, GSI lặp lại thành công thí nghiệm tổng hợp thêm một nguyên tử Cn-277. Phản ứng này được lặp lại tại RIKEN dùng GARIS năm 2004 để tổng hợp thêm hai nguyên tử nữa và xác định dữ liệu phân rã theo như thông báo của nhóm GSI.
IUPAC/IUPAP Joint Working Party (JWP) xem xét tuyên bố phát hiện của nhóm GSI năm 2001 và 2003. Trong cả hai trường hợp, họ thấy rằng chưa có đủ bằng chứng để chứng minh cho tuyên bố của nhóm nghiên cứu. Điều này chủ yếu liên quan đến sự mâu thuẫn dữ liệu phân rã đối với đồng vị đã được biết đến là 261Rf. Tuy nhiên, giữa năm 2001 và 2005, nhóm GSI đã nghiên cứu phản ứng 248Cm(26Mg,5n)269Hs, và d8ã có thể xác nhận dữ liệu phân rã đối với 269Hs và 261Rf. Người ta phát hiện rằng dữ liệu hiện hữu về 261Rf là của một đồng phân, mà bây giờ là 261a Rf.
Tháng 5 năm 2009, JWP thông báo các tuyên bố về việc phát hiện nguyên tố thứ 112 lần nữa và chính thức công nhận nhóm GSI đã phát hiện ra nguyên tố này. Quyết định này dựa trên các xác nhận gần đây về tính chất phân rã của hạt nhân con cũng như các thí nghiệm xác minh tại RIKEN.
=== Đặt tên ===
Sau khi công nhận phát hiện của họ, IUPAC yêu cầu nhóm GSI đề xuất tên gọi cho ununbi. Ngày 14 tháng 7 năm 2009, họ đề xuất copernixi với ký hiệu Cp, theo tên Nicolaus Copernicus "để vinh danh nhà khoa học lỗi lạc, người đã làm thay đổi nhận thức của thế giới." IUPAC đã trì hoãn việc công nhận tên chính thức, trong khi chờ các kết quả trong sáu tháng thảo luận trong cộng đồng khoa học.
Cách đánh vần thay thế đã được đề xuất như "copernicum", "copernium", và "kopernikium" (Kp), và Hofmann nói rằng nhóm nghiên cứu đã thảo luận có khả năng là "copernicum" hay "kopernikum", nhưng họ đã đồng ý chọn "copernicium" để tuân thủ theo các nguyên tắc hiện tại của IUPAC, theo đó chỉ cho phép phần tiếp hậu tố -ium cho nguyên tố mới.
Tuy nhiên, người ta chỉ ra rằng ký hiệu Cp có quan hệ trước đây với tên cassiopeium (cassiopium), mà hiện nay gọi là luteti (Lu). Hơn thế nữa, ký hiệu Cp cũng được dùng trong hóa hữu cơ kim loại để biểu thị các phối tử cyclopentadien. Vì lý do đó, IUPAC không cho phép sử dụng Cp làm ký hiệu tương lai, khiến nhóm GSI chọn ký hiệu thay thế là Cn. Ngày 19 tháng 2 năm 2010, kỷ niệm sinh nhật thứ 537 của Copernicus, IUPAC chính thức chấp nhận tên và ký hiệu theo đề xuất.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com: Copernicium |
nghị viện châu âu.txt | Nghị viện châu Âu (Europarl hay EP) là một nghị viện với các nghị sĩ được bầu cử trực tiếp của Liên minh châu Âu (EU). Cùng với Hội đồng Liên minh châu Âu (the Council), nó tạo thành lưỡng viện cơ quan lập pháp của các thể chế của Liên minh và được mô tả là một trong những cơ quan lập pháp quyền lực nhất thế giới. Nghị viện và Hội đồng tạo thành cơ quan lập pháp cao nhất của Liên minh. Tuy nhiên, các quyền như thế bị giới hạn bởi quyền hạn mà các các quốc gia thành viên giao cho Cộng đồng châu Âu. Do đó, định chế này có ít quyền kiểm soát đối với các lãnh vực chính sách do các quộc gia và bên trong hai trong ba trụ cột của Liên minh châu Âu. Nghị viện châu Âu bao gồm 750 nghị sĩ (Nghị sĩ Nghị viện châu Âu)(Ireland có 12 nghị sĩ) cấu thành khu bầu cử dân chủ lớn thứ hai thế giới (sau Ấn Độ) và là khu bầu cử dân chủ xuyên quốc gia lớn nhất trên thế giới (492 triệu người).
Nghị viện được bầu cử trực tiếp mỗi năm năm một lần theo thể thức phổ thông đầu phiếu kể từ năm 1979. Dù Nghị viện châu Âu có quyền lập pháp mà các cơ quan nói trên không có, cơ quan này lại không có quyền chủ động lập pháp như phần lớn các nghị viện quốc gia. Trong khi nó là "thể chế đầu tiên" của Liên minh châu Âu (được nêu đầu tiên ở trong các hiệp ước, có quyền lực lễ nghi ở trên các cơ quan khác cấp châu Âu), Hội đồng lại có quyền về lập pháp cao hơn Nghị viện nếu thủ tục cùng quyết định (quyền bình đẳng về sửa đổi và bác bỏ) không áp dụng. Tuy nhiên, Nghị viện lại có quyền kiểm soát ngân sách Liên minh châu Âu kể từ thập niên 1970 và có quyền phủ quyết đối với việc bổ nhiệm Ủy ban châu Âu.
Nghị viện châu Âu có hai địa điểm họp, đó là Immeuble Louise Weiss ở Strasbourg, Pháp, dành cho các phiên họp toàn thể và là trụ sở chính thức của Nghị viện và tổ hợp Espace Léopold/Leopoldwijk ở Brussel, Bỉ, là tòa nhà nhỏ hơn, phục vụ cho các cuộc họp trù bị và bổ sung, không toàn thể. Chi phí đi lại của các nghị sĩ Nghị viện châu Âu là một điều quan tâm. Ban thư ký Nghị viện châu Âu, cơ quan hành chính của Nghị viện, đóng ở Luxembourg.
Chủ tịch Nghị viện châu Âu Hans-Gert Pöttering (EPP), được bầu tháng 1 năm 2007. Ông chủ tọa một phòng nhiều đảng pháp, hai nhóm lớn nhất là Những người dân chủ châu Âu-Đảng Nhân dân châu Âu (EPP-ED) và Đảng Xã hội châu Âu (PES). Cuộc bầu cử trên toàn Liên minh mới nhất là bầu cử Nghị viện châu Âu năm 2009.
== Tham khảo == |
joseph lister.txt | Joseph Lister, Nam tước Lister thứ nhất, OM, FRS (sinh 5 tháng 4 1827 - 10 tháng 2 1912) là một bác sĩ phẫu thuật người Anh. Ông đã đề xuất ý tưởng về giải phẫu vô trùng tại Bệnh viện hoàng gia Glasgow. Lister đã giới thiệu thành công chất carbolic acid (phenol) để khử trùng các dụng cụ giải phẫu và làm sạch vết thương.
== Thời trẻ ==
Lister xuất thân từ một gia đình Quaker giàu có ở Upton, Essex, một con trai của Joseph Jackson Lister, người tiên phong về kính hiển vi hai kính.
Ở các trường học Quaker, cậu đã học và thông thạo tiếng Pháp và tiếng Đức, là các ngôn ngữ hàng đầu về nghiên cứu y học. Lúc Lister còn tuổi thiếu niên, cậu theo học Grove House School Tottenham, nghiên cứu toán học, khoa học tự nhiên, và ngôn ngữ. Lister đã theo học Đại học London, một trong những chỉ là một tổ chức được mở cho những người Quaker tại thời điểm đó. Ông ban đầu nghiên cứu nghệ thuật, nhưng tốt nghiệp hạng ưu Cử nhân Y khoa và nhập học trường Cao đẳng Y khoa Hoàng ngành phẫu thuật ở tuổi 26. Năm 1854, Lister đã trở thành trợ lý đầu tiên và người bạn của bác sĩ phẫu thuật James Syme tại Đại học Edinburgh, Bệnh xã Hoàng gia Edinburgh ở Scotland. Năm 1867, Lister đã phát hiện ra việc sử dụng acid carbolic như một chất khử trùng, và nó trở thành chất khử trùng đầu tiên được sử dụng rộng rãi trong phẫu thuật. Sau đó, ông rời Quaker, gia nhập Giáo hội Episcopal Scotland, và cuối cùng kết hôn với con gái Agnes Syme. Trong tuần trăng mật của họ, họ đã trải qua 3 tháng đến thăm các viện y tế hàng đầu (các bệnh viện và trường đại học) ở Pháp và Đức. Bởi thời gian này, Agnes đã say mê nghiên cứu y học, và được các đồg nghiệp của Lister của đối tác trong phòng thí nghiệm trong thời gian còn lại của cuộc đời mình.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
1955.txt | 1955 (số La Mã: MCMLV) là một năm thường bắt đầu vào thứ Bảy trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1955
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1: Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chủ tịch Hồ Chí Minh trở về thủ đô Hà Nội sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi.
18 tháng 1: Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc tấn công đảo Nhất Giang Sơn do Quốc quân Trung Hoa Dân quốc kiểm soát.
=== Tháng 2 ===
16 tháng 2: Quốc quân Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi đảo Đại Trần
24 tháng 2: Khối Baghdad được thiết lập bởi Iran, Iraq, Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ và Liên hiệp Anh
28 tháng 2: Thành lập chính phủ cộng hòa tại Đài Loan.
=== Tháng 3 ===
4 tháng 3: Thành lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia
8 tháng 3: Tại Quảng Trị, quân Sài Gòn tấn công đảng Đại Việt
20 tháng 3: Khai mạc kỳ họp Quốc hội khoá I lần thứ 4 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
25 tháng 3: Việt Nam cộng hòa trấn áp phe đối lập tại Sài Gòn
26 tháng 3: Bế mạc kỳ họp Quốc hội khoá I lần thứ 4 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
=== Tháng 4 ===
2 tháng 4: Ngô Đình Diệm lên án lực lượng Bình Xuyên làm loạn
12 tháng 4: Quân Bình Xuyên tấn công quân đội quốc gia Việt Nam
29 tháng 4: Giao tranh nổ ra tại Sài Gòn (Việt Nam) giữa quân chính phủ ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm và lực lượng Bình Xuyên ủng hộ Quốc trưởng Bảo Đại.
30 tháng 4: Hội đồng Nhân dân Cách mạng Quốc gia thành lập, ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm.
=== Tháng 5 ===
1 tháng 5: Kết thúc cuộc khủng hõang eo biển Đài Loan lần 1.
3 tháng 5: Tướng Trình Minh Thế bị ám sát
9 tháng 5: Tây Đức gia nhập NATO.
14 tháng 5: Khối Warszawa thành lập
15 tháng 5: Nước Áo được trung lập hóa và sự chiếm đóng của quân đồng minh chấm dứt.
16 tháng 5: Quân Pháp rút khỏi đảo Cát Bà (Hải Phòng), chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoàn toàn kiểm soát miền Bắc Việt Nam
=== Tháng 7 ===
18 tháng 7: Lãnh đạo Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô họp hội nghị Tứ cường tại Geneve
=== Tháng 8 ===
1 tháng 8: Trung Quốc và Nepal thiết lập quan hệ ngoại giao.
20 tháng 8: tại Đài Loan xảy ra sự kiện Tôn Lập Nhân.
=== Tháng 9 ===
21 tháng 9: Mở đầu chiến dịch Hoàng Diệu
=== Tháng 10 ===
6 tháng 10: Ngô Đình Diệm quyết định mở cuộc trưng cầu dân ý.
23 tháng 10: cuộc trưng cầu dân ý miền nam Việt Nam.
24 tháng 10: Kết thúc chiến dịch Hoàng Diệu
26 tháng 10: Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập Việt Nam cộng hòa.
== Sinh ==
6 tháng 1 - Rowan Atkinson, diễn viên hài nổi tiếng của Anh, đóng vai chính trong phim Mr. Bean.
28 tháng 1 - Lưu Hiểu Ba, nhà hoạt động nhân quyền và trí thức Trung Quốc.
24 tháng 2 - Steve Jobs,nhà sáng lập,CEO Apple(1997-2011)
28 tháng 10 - Bill Gates là một doanh nhân người Mỹ, nhà từ thiện, tác giả và chủ tịch tập đoàn Microsoft, hãng phần mềm khổng lồ mà ông cùng với Paul Allen đã sáng lập ra.
== Mất ==
18 tháng 4 - Albert Einstein, nhà vật lý người Đức
30 tháng 9 - James Dean,1 diễn viên điện ảnh người Mỹ
1 tháng 11 -Dale Carnegie,nhà văn,nhà thuyết trình người Mỹ
== Giải Nobel ==
Vật lý - Willis Eugene Lamb, Polykarp Kusch
Hóa học - Vincent du Vigneaud
Y học- Axel Hugo Theodor Theorell
Văn học - Halldór Kiljan Laxness
Hòa bình - không có giải
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
1. http://vi.wikipedia.org/wiki/Bill_Gates |
stanley rous.txt | Sir Stanley Ford Rous, CBE (25 tháng 4 năm 1895 - 18 tháng 7 năm 1986) là một trọng tài quốc tế người Anh và là chủ tịch thứ sáu của FIFA từ năm 1961 đến năm 1974.
== Thân thế ==
Stanley Rous sinh ra tại Mutford, là con trai cả trong một gia đình có cha là giáo viên tại Beccles. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Rous học cao đẳng tại Exeter và trở thành giáo viên thể dục ở Watford.
== Trọng tài ==
Chơi bóng đá nghiệp dư với vị trí thủ môn. Sau trở thành trọng tài, ông đã làm trọng tài cho Giải vô địch bóng đá thế giới 1934.
== Quản lý bóng đá và chủ tịch FIFA ==
Sau khi không làm trọng tài nữa, Stanley Rous chuyển sang quản lý bóng đá, làm thư ký của liên đoàn bóng đá từ 1934 đến 1962 và trở thành chủ tịch FIFA vào năm 1961 sau cái chết của người tiền nhiệm Arthur Drewry. Ông giữ chức vụ này đến năm 1974 sau khi bị João Havelange đánh bại trong cuộc bầu cử chủ tịch FIFA. Ông đã viết lại những đạo luật của bóng đá, làm bóng đá trở nên công bằng hơn.
== Đời sống cá nhân ==
Kết hôn với Adrienne Gacon vào năm 1924, không có con. Đuọc phong tước CBE vào năm 1943, hiệp sĩ vào năm 1949.
== Qua đời ==
Ông bị bệnh bạch cầu và qua đời vào ngày 18 tháng 7 năm 1986, thọ 91 tuổi.
== Tham khảo == |
thẩm phu nhân (đường đại tông).txt | Duệ Chân hoàng hậu (chữ Hán: 睿真皇后, không rõ năm sinh năm mất), họ Thẩm (沈姓), xuất thân Ngô Hưng (nay là Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang), là thiếp thất của Đường Đại Tông khi còn là hoàng thân. Bà sinh ra Đường Đức Tông Lý Quát. Bà đã mất tích trong sự kiện loạn An Sử, nhi tử của bà, tức Đường Đức Tông, khi đăng cơ đã nỗ lực tìm kiếm nhưng vẫn không rõ tung tích.
== Tiểu sử ==
Thẩm phu nhân xuất thân từ Ngô Hưng Thẩm thị (吴兴沈氏), tằng tổ Thẩm Lâm (沈琳), tổ phụ Thẩm Giới Phúc (沈介福), làm chức Viên ngoại. Cha là Thẩm Dịch Trực (沈易直), làm Bí thư giám, em trai Thẩm Dịch Lương (沈易良) làm Tư không.
Khoảng năm Khai Nguyên (741), Thẩm thị với thân phận Lương gia tử (良家子) mà nhập Thái tử cung, sắp đặt làm thiếp của Đường Đại Tông, khi đó đang là Quảng Bình vương (廣平王). Năm Nguyên Bảo thứ nhất (742), Thẩm thị sinh hạ nguyên tử Lý Quát (李適), chính là Đường Đức Tông tương lai.
Trong loạn An Sử, Thẩm thị bị mất tích khi đang trong Lạc Dương. Đường Đại Tông sau khi tức vị thì ra sức tìm kiếm, ròng rã 10 năm mà bặt vô âm tín. Đầu năm Vĩnh Thái (765), một ni sư tự nhận là Thẩm phu nhân mẹ của Thái tử, bị kiểm tra ra chân tướng giả mạo, bèn giết chết. Đầu năm Kiến Trung (780), Đức Tông tức vị, tôn Thẩm phu nhân là Hoàng thái hậu. Trong thời gian tại vị, Đức Tông ra sức tìm kiếm bà, không ít kẻ mạo nhận nhưng đều bị trị tội. Cho đến khi Đức Tông giá băng, vẫn không ai biết rõ tung tích của Thẩm phu nhân.
Năm 806, Đường Hiến Tông tức vị, bèn cử hành lễ hợp táng tượng trưng cho Thẩm thị vào Nguyên lăng (元陵), với nghi thức đầy đủ mũ áo dành cho Hoàng hậu. Thụy hiệu là Duệ Chân hoàng hậu.
== Sách văn ==
Trong thời gian trị vì, Đường Đại Tông tích cực tìm kiếm Thẩm thị nhưng không có tin tức. Đến đời Đường Đức Tông Lý Quát tức vị, Hoàng đế ngay lập tức hạ chiếu viết:
Vương giả sự phụ hiếu, cố sự thiên minh; sự mẫu hiếu, cố sự địa sát. Tắc sự thiên mạc tiên vu nghiêm phụ, sự địa mạc thịnh vu tôn thân. Trẫm cung thừa thiên mệnh, dĩ chủ xã tắc, chấp khuê bích dĩ sự Thượng đế, Tổ Tông khắc phối, viên tẩm vĩnh chung. Nhi nội triều hư vị, khuyết vấn an chi lễ, hàm bi nội trắc, ưu luyến chung tuế. Tư dục lịch chu xa chi lộ, dĩ thính cầu âm vấn, nhi chủ tư trọng khí, mạc phỉ thâm ai. Thị dụng ngưỡng kê cựu nghi, kính sùng đại hào, cử tư lễ mệnh, thức tuân tiền điển. Nghi lệnh công khanh đại phu kê độ tiền huấn, thượng Hoàng thái hậu tôn hào.
Kiến Trung nguyên niên, tháng 11, diêu tôn Thánh mẫu Thẩm thị làm Hoàng thái hậu, bày lễ tại Hàm Nguyên điện, án theo lễ chính hậu.
== Cái tên Thẩm Trân Châu ==
Bộ phim Đài Loan Trân Châu truyền kỳ, phần dạo đầu ca khúc có câu: "Thiên tư mông trân sủng, minh mâu chuyển châu huy. Lan tâm huệ chất xuất danh môn, Ngô Hưng tài nữ Thẩm Trân Châu."
Tiếp đến, bộ phim Đại Đường vinh diệu năm 2017 cũng lấy nhân vật nữ chính tên Thẩm Trân Châu (沈珍珠), tiểu thuyết hóa hình tượng Thẩm phu nhân trong lịch sử. Điều này tương tự việc Đại Thắng Minh hoàng hậu Dương thị được tiểu thuyết hóa tên gọi trên sân khấu, được biết đến là Dương Vân Nga.
== Văn hóa đại chúng ==
Năm 1987, bộ phim Trân Châu truyền kỳ (珍珠传奇), Thẩm thị do Thi Tư (施思) thủ diễn.
Năm 2017, bộ phim Đại Đường vinh diệu (大唐榮耀), Thẩm thị do Cảnh Điềm (景甜)thủ diễn.
== Tham khảo ==
Cựu Đường thư - Hậu phi truyện - Đại Tông Duệ Chân hoàng hậu |
thành phố new york.txt | New York (/nuː ˈjɔrk/ ; Hán Việt: Nữu Ước) tên chính thức City of New York, là thành phố đông dân nhất tại Hoa Kỳ và trung tâm của Vùng đô thị New York, một trong những vùng đô thị đông dân nhất trên thế giới. Với vai trò là một thành phố toàn cầu tiên phong, New York có một tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đối với thương mại, tài chính, văn hóa, thời trang và giải trí toàn cầu. Là nơi Liên Hiệp Quốc đặt tổng hành dinh nên nó cũng là một trung tâm quan trọng về các vấn đề quốc tế. Thành phố thường được gọi là New York City (Thành phố New York) để phân biệt với tiểu bang New York.
Nằm trên một bến cảng tự nhiên lớn thuộc duyên hải Đại Tây Dương của Đông Bắc Hoa Kỳ, thành phố gồm có năm quận: The Bronx, Brooklyn, Manhattan, Queens, và Đảo Staten. Dân số thành phố được ước tính vào năm 2007 khoảng trên 8,3 triệu người, với một diện tích đất là 789,4 km² (304,8 mi²). Dân số Vùng đô thị New York được ước tính là 18,8 triệu người trên diện tích 17.405 km² (6.720 dặm vuông Anh). Đây cũng là vùng đô thị đông dân nhất Hoa Kỳ.
New York nổi bật trong số các thành phố Mỹ sử dụng phương tiện giao thông công cộng nhiều nhất. Đa số các phương tiện giao thông này hoạt động 24 tiếng mỗi ngày. Năm 2005, có chừng 170 ngôn ngữ được nói trong thành phố và khoảng 36% cư dân của thành phố được sinh ra bên ngoài Hoa Kỳ. Thành phố đôi khi còn được gọi là "Thành phố không bao giờ ngủ" hay có những biệt danh khác như "Gotham" và "Quả táo lớn".
New York được người Hà Lan thành lập như một trạm mậu dịch thương mại vào năm 1624. Vùng định cư này lúc đó từng được gọi là Tân Amsterdam cho đến năm 1664 khi thuộc địa này bị Vương quốc Anh kiểm soát. New York làm thủ đô của Hoa Kỳ từ năm 1785 đến năm 1790. Nó là thành phố lớn nhất của Hoa Kỳ kể từ năm 1790.
Nhiều khu dân cư và danh lam thắng cảnh của thành phố trở nên nổi tiếng trên thế giới. Tượng Nữ thần Tự do đã chào đón hàng triệu di dân khi họ đến Mỹ vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Phố Wall, trong vùng Hạ Manhattan, là một trung tâm tài chính quốc tế bề thế kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai và là nơi có Thị trường Chứng khoán New York. Thành phố cũng là nơi có nhiều tòa nhà nằm trong số những tòa nhà cao nhất trên thế giới, trong đó có Tòa nhà Empire State và tháp đôi của cựu Trung tâm Thương mại Thế giới.
New York là nơi sản sinh ra nhiều phong trào văn hóa trong số đó có Phục hưng Harlem thuộc lĩnh vực văn chương và mỹ thuật, chủ nghĩa trừu tượng biểu hiện thuộc lĩnh vực hội họa, và hip hop, punk, salsa, disco và Tin Pan Alley thuộc lĩnh vực âm nhạc. Thành phố còn là một trung tâm của nghệ thuật sân khấu, nơi có nhà hát Broadway.
== Lịch sử ==
Năm 1524, khi Giovanni da Verrazzano khám phá ra vùng đất New York, nơi đây có khoảng 5.000 cư dân bản địa Lenape sinh sống. Verrazzano, nhà thám hiểm người Ý phục vụ cho vương triều Pháp, đã gọi vùng này là "Nouvelle Angoulême", tức Tân Angoulême, để tưởng nhớ François I, vua nước Pháp và đồng thời là Bá tước của Angoulême. Vùng định cư Âu châu này khởi sự với việc thiết lập một khu định cư chuyên mua bán da thú của người Hà Lan, sau đó được gọi là "Nieuw Amsterdam" (Tân Amsterdam), nằm trên mũi phía nam Manhattan vào năm 1614. Tổng điều hành thuộc địa Hà Lan khi ấy là Peter Minuit đã mua lại đảo Manhattan từ người Lenape vào năm 1626 với giá 60 guilder Hà Lan – tương đương khoảng 1000 đô la Mỹ vào năm 2006. Có một truyền thuyết bây giờ vẫn chưa được chứng minh nói rằng Manhattan được mua với giá chỉ bằng chuỗi hạt thủy tinh 24 đô la. Năm 1664, người Anh chiếm được thành phố và đặt tên nó thành "New York" theo tên Công tước York và Albany của Anh (sau là vua James II của Anh). Vào cuối cuộc chiến tranh Anh-Hà Lan lần thứ hai, người Hà Lan giành được quyền kiểm soát đảo Run (một tài sản có nhiều giá trị vào thời đó) để đổi lấy việc người Anh kiểm soát Tân Amsterdam (New York) tại Bắc Mỹ. Đến năm 1700, dân số người Lenape giảm xuống còn 200.
Thành phố New York phát triển chính yếu như một thương cảng dưới thời kỳ cai trị của Đế quốc Anh. Đây là nơi xảy ra vụ xử án John Peter Zenger vào năm 1735, đã có nhiều ảnh hưởng, giúp thiết lập nên nền tự do báo chí tại Bắc Mỹ. Năm 1754, Đại học Columbia được thành lập tại Hạ Manhattan dưới thời vua George II của Vương quốc Anh với tên gọi là King's College. Quốc hội Đạo luật Tem thuế (Stamp Act Congress) cũng đã họp tại New York vào tháng 10 năm 1765.
Trong cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ, New York là nơi diễn ra hàng loạt các trận đánh chính được biết đến với tên gọi Chiến dịch New York. Sau trận Đồn Washington ở Thượng Manhattan năm 1776, thành phố trở thành căn cứ cho các chiến dịch chính trị và quân sự của Vương quốc Anh tại Bắc Mỹ, kéo dài đến khi cuộc chiếm đóng quân sự kết thúc vào năm 1783. Quốc hội Liên hiệp (Congress of the Confederation) chọn Thành phố New York làm thủ đô quốc gia ít lâu sau đó. Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua vào năm 1789 và Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên, George Washington, tuyên thệ nhậm chức tại đây. Quốc hội Hoa Kỳ lần thứ nhất nhóm hợp lần đầu tiên vào năm 1789 và Đạo luật nhân quyền Hoa Kỳ được soạn thảo trong Đại sảnh Liên bang trên phố Wall. Năm 1790, New York qua mặt Philadelphia trở thành thành phố lớn nhất Hoa Kỳ.
Vào thế kỷ 19, thành phố chuyển mình nhờ những làn sóng nhập cư cùng những phát triển mạnh mẽ. Một đề án phát triển tương lai mang tên "Commissioners' Plan of 1811" đã mở rộng hệ thống đường phố thành phố bao trùm cả Manhattan. Việc mở cửa kênh Erie năm 1819 đã nối liền cảng bờ Đại Tây Dương đến các thị trường nông nghiệp rộng lớn phía trong nội địa Bắc Mỹ. Nền chính trị địa phương rơi vào vòng kiểm soát của Tammany Hall, một bộ máy chính trị do những di dân người Ái Nhĩ Lan hậu thuẫn. Những thành viên tích cực thuộc tầng lớp quý tộc thương buôn xưa đã vận động cho việc xây dựng Công viên Trung tâm (Central Park), trở thành công viên đô thị đầu tiên trong một thành phố Mỹ, mở cửa vào năm 1859. Có một dân số người da đen tự do đáng kể hiện diện trong khu Manhattan cũng như khu Brooklyn. Những người nô lệ bị giữ tại New York qua đến năm 1827, nhưng trong suốt thập niên 1830, New York trở thành 1 trung tâm của những người hoạt động bãi nô liên chủng tộc ở miền Bắc. Dân số người da đen của New York lên đến trên 16.000 vào năm 1840. Đến năm 1860, New York có trên 200.000 người Ái Nhĩ Lan, chiếm một phần tư dân số thành phố.
Trong Nội chiến Hoa Kỳ (1861–1865), việc cưỡng bức quân dịch đã gây nên những vụ nổi loạn vào năm 1863, một trong những sự kiện bất ổn nội bộ tồi tệ nhất của lịch sử nước Mỹ. Năm 1898, thành phố hiện đại New York được thành lập với sự kết hợp của Brooklyn (cho đến khi đó vẫn là một thành phố độc lập), quận New York (khi đó gồm có một phần của the Bronx), quận Richmond, và phần phía tây của quận Queens. Việc khánh thành hệ thống Xe điện ngầm New York năm 1904 đã giúp kết chặt thành phố mới lại với nhau. Trong suốt nửa đầu thế kỷ 20, thành phố trở thành một trung tâm công nghiệp, thương mại và thông tin của thế giới. Tuy nhiên, thành phố cũng phải trả những giá đắt cho sự phát triển này. Năm 1904, tàu hơi nước tên General Slocum bị cháy trên sông East, khiến 1.021 người trên tàu thiệt mạng. Năm 1911, vụ cháy nhà máy Triangle Shirtwaist, tai họa công nghiệp tồi tệ nhất của thành phố, đã cướp đi sinh mạng của 146 công nhân ngành dệt may. Vụ họa hoạn này đã khích động cho việc thành lập Công đoàn thợ may nữ quốc tế và những cải tiến lớn trong tiêu chuẩn an toàn tại các nhà máy.
Thập niên 1920, Thành phố New York là một điểm đến chính của những người Mỹ gốc Phi từ miền nam Hoa Kỳ trong suốt thời kỳ "Đại di dân". Năm 1916, New York là nơi cư ngụ lớn nhất tại Bắc Mỹ của những người tha hương gốc Phi. Phong trào Phục hưng Harlem hưng thịnh trong suốt thời kỳ cấm rượu (được biết với tên gọi "Prohibition") tại Hoa Kỳ, cùng lúc với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và chứng kiến hàng loạt những tòa nhà chọc trời đua nhau mọc lên. Thành phố New York qua mặt Luân Đôn trở thành đô thị đông dân nhất trên thế giới vào đầu thập niên 1920, và vùng đô thị của nó vượt mốc 10 triệu người vào đầu thập niên 1930 để trở thành siêu đô thị đầu tiên trong lịch sử loài người. Những năm khó khăn của thời kỳ Đại Khủng hoảng đã chứng kiến việc nhà cải cách Fiorello LaGuardia đắc cử chức thị trưởng cùng với sự sụp đổ của nhóm Tammany Hall sau tám năm lũng đoạn nền chính trị thành phố.
Các cựu quân nhân trở về từ Chiến tranh thế giới thứ hai đã tạo nên một cơn bùng phát kinh tế sau chiến tranh, kèm theo sự phát triển những dãy nhà khổng lồ ở phía đông quận Queens. New York không bị thiệt hại trong cuộc chiến trở thành đô thị dẫn đầu của thế giới. Phố Wall của New York đưa Hoa Kỳ lên cao trong vai trò cường quốc thống trị nền kinh tế thế giới, tổng hành dinh Liên Hiệp Quốc hoàn thành năm 1950 làm tăng thêm sức mạnh ảnh hưởng chính trị của thành phố, và sự nổi lên của chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng đã báo hiệu cho việc trung tâm mỹ thuật của thế giới dời Paris về New York.
Trong thập niên 1960, New York phải đối mặt với nhiều khó khăn về kinh tế, tỉ lệ tội phạm và căng thẳng sắc tộc gia tăng lên đến đỉnh điểm vào thập niên 1970. Trong thập niên 1980, sự sống lại của nền công nghiệp tài chính đã cải thiện sức mạnh thành phố. Vào thập niên 1990, những căng thẳng sắc tộc dần lắng dịu, tỉ lệ tội phạm giảm đáng kể và thành phố tiếp nhận một làn sóng di dân mới đến từ châu Á và châu Mỹ Latin. Những ngành mới quan trọng, thí dụ như Hành lang Điện tử (Silicon Alley), xuất hiện trong nền kinh tế thành phố và dân số New York đạt một đỉnh cao chưa từng có trong cuộc điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2000.
New York là một trong những điểm bị tấn công trong sự kiện 11 tháng 9 với gần 3.000 người thiệt mạng khi Trung tâm Thương mại Thế giới bị đánh sập. Trung tâm Thương mại 1 Thế giới (1 World Trade Center), trước đây được biết với cái tên Tháp Tự do, cùng với một đài tưởng niệm, ba tháp văn phòng khác sẽ được xây dựng trên nền của tòa tháp đôi dự tính sẽ hoàn thành vào năm 2013. Vào ngày 10 tháng 12 năm 2006, những cột thép đầu tiên đã được dựng trong nền của tòa nhà. Ba tòa nhà văn phòng cao tầng khác theo kế hoạch sẽ được xây dọc theo Phố Greenwich, và chúng sẽ vây quanh Đài tưởng niệm Trung tâm Thương mại Thế giới đang được xây dựng. Ở đây cũng sẽ có một bảo tàng về lịch sử của khu vực này.
== Địa lý ==
Thành phố New York nằm trong vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, ở miền nam tiểu bang New York, khoảng nửa đường từ Washington, D.C. đến thành phố Boston. Vị trí nơi cửa sông Hudson có bến cảng tự nhiên kín và bên cạnh Đại Tây Dương đã giúp New York phát triển nổi bật trong vai trò một thành phố thương mại. Phần lớn thành phố được xây dựng trên ba đảo là Manhattan, Đảo Staten, và Long Island, khiến cho đất đai khan hiếm và tạo ra mật độ dân số cao.
Sông Hudson chảy qua thung lũng Hudson rồi đổ vào vịnh New York. Giữa Thành phố New York và thành phố Troy, con sông trở thành một cửa sông. Sông Hudson tách thành phố ra khỏi tiểu bang New Jersey. Sông East, thật sự là một eo thủy triều, chảy từ vịnh Long Island, tách the Bronx và Manhattan khỏi Long Island. Sông Harlem, một eo biển thủy triều giữa sông East và sông Hudson Rivers, tách Manhattan khỏi the Bronx.
Đất đai của thành phố đã bị con người biến đổi khá nhiều, nhất là những phần đất lấn sông nằm dọc theo những bến sông mặt tiền kể từ thời còn là thuộc địa của Hà Lan. Việc lấn sông đáng kể nhất ở Hạ Manhattan tạo ra các khu phát triển mới như khu dân cư Battery Park City trong thập niên 1970 và thập niên 1980. Một vài những biến đổi tự nhiên về địa hình cũng diễn ra, đặc biệt ở Manhattan.
Diện tích mặt đất của thành phố được ước tính là khoảng 789 km² (304,8 dặm vuông Anh). Tổng diện tích thành phố là 1.214 km² (468,9 dặm vuông) trong đó mặt nước chiếm 425 km (2164,1 dặm vuông Anh) và 789 km² (hay 304,8 dặm vuông Anh) là mặt đất. Điểm cao nhất của thành phố là đồi Todt trên Đảo Staten cao 409,8 ft (124,9 mét) so với mặt biển. Đây cũng là điểm cao nhất ở vùng bờ biển phía Đông Hoa Kỳ, tính từ phía nam tiểu bang Maine. Đỉnh của khu vực cao này phần lớn được bao phủ bởi rừng cây thưa thớt thuộc vành đai xanh Đảo Staten.
=== Khí hậu ===
Theo phân loại khí hậu Köppen, New York có khí hậu bán nhiệt đới ẩm, trung bình có 234 ngày nắng trong năm. Đây là thành phố chính vùng cực bắc tại Bắc Mỹ có khí hậu bán nhiệt đới ẩm.
Mùa hè ở New York có đặc điểm là nóng và ẩm, nhiệt độ cao trung bình từ 26 – 29 °C (79 đến 84 °F) và thấp trung bình từ 17 – 21 °C (63 đến 69 °F). Tuy nhiên trung bình cũng có đến từ 16 đến 19 ngày nhiệt độ vượt trên 32 °C (90 °F) trong mỗi mùa hè và có thể vượt trên 38 °C (100 °F) cứ mỗi 4 đến 6 năm. Vào mùa đông, thời tiết lạnh và những cơn gió thổi ngoài biển có lúc làm giảm ảnh hưởng của Đại Tây Dương. Tuy nhiên, Đại Tây Dương giúp cho thành phố ấm vào mùa đông hơn các thành phố trong nội địa Bắc Mỹ nằm trên cùng vĩ tuyến như Chicago, Pittsburgh và Cincinnati. Nhiệt độ trung bình trong tháng 1, tháng lạnh nhất ở Thành phố New York, là 0 °C (32 °F). Tuy nhiên cũng có ít ngày, nhiệt độ mùa đông xuống hàng -12 đến hàng -6 °C (10 đến 20 °F) và cũng có ít ngày nhiệt độ lên cao từ 10 đến 15 °C (50 đến 60 °F). Mùa xuân và mùa thu, thời tiết khá thất thường, có thể lạnh cóng hoặc ấm mặc nhưng thường dễ chịu với độ ẩm ít.
New York có lượng mưa hàng năm khoảng 1.260 mm (49,7 inch), trải khá đều suốt năm. Tuyết rơi vào mùa đông trung bình khoảng 62 cm (24,4 in), nhưng thường khá biến đổi từ năm này sang năm khác và tuyết phủ mặt đất thường rất ngắn. Tuy hiếm gặp, nhưng đôi khi vùng New York cũng phải hứng chịu những cơn bão.
=== Môi trường ===
Thành phố New York có khối lượng vận tải quá cảnh đứng đầu toàn Hoa Kỳ. Vào thập niên 1920, tiêu thụ dầu xăng ở thành phố ngang với tỉ lệ trung bình của quốc gia. Việc sử dụng các phương tiện vận tải công cộng mức độ cao đã tiết kiệm cho thành phố khoảng 1,8 tỉ gallon xăng dầu vào năm 2006. New York tiết kiệm được khoảng phân nửa số xăng dầu toàn quốc mà đáng lẽ được sử dụng cho chuyên chở. Do mật độ dân số cao và lượng xe ô tô sử dụng thấp, chủ yếu sử dụng vận tải công cộng, nên New York trở thành một trong những thành phố sử dụng hiệu quả năng lượng nhất tại Hoa Kỳ. Khí thải nhà kính của Thành phố New York khoảng 7,1 tấn mỗi đầu người, so với trung bình quốc gia là 24,5 tấn/năm. Người New York nói chung chỉ chịu trách nhiệm khoảng 1% khí thải nhà kính của quốc gia mặc dù chiếm tỉ lệ 2,7% dân số toàn quốc. Trung bình, một người dân New York tiêu thụ điện năng không bằng một nửa so với một người San Francisco và chỉ bằng gần 1/4 lượng điện năng mà một cư dân ở thành phố Dallas sử dụng.
Trong những năm gần đây, thành phố tập trung về việc giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi đối với môi trường. Số lượng lớn chất ô nhiễm tích tụ tại thành phố đã dẫn đến tỉ lệ cao bệnh suyễn và những triệu chứng hô hấp khác trong số cư dân của thành phố. Chính quyền thành phố bắt buộc phải mua các trang thiết bị có hiệu quả năng lượng nhất để sử dụng trong các văn phòng và nhà cửa công cộng của thành phố. New York có đội xe buýt chạy bằng khí thiên nhiên và loại chạy bằng sự kết hợp giữa dầu diesel với điện lớn nhất trên toàn quốc. Ở đây cũng có một số xe taxi đầu tiên sử dụng công nghệ hybrid. Chính quyền thành phố là một thỉnh nguyện viên trong vụ kiện bước ngoặt được Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ thụ lý tên Massachusetts đối đầu Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ để bắt buộc Cục Bảo vệ Môi trường xếp các loại khí nhà kính vào loại những chất ô nhiễm. Thành phố cũng đi đầu trong việc xây dựng các tòa nhà văn phòng xanh trong đó có Tháp Hearst.
Thành phố New York được cung cấp nước uống qua hồ chứa nước của dãy núi Catskill được bảo vệ an ninh. Vì hồ nước tinh khiết và quá trình nước được lọc một cách tự nhiên nên New York là một trong số bốn thành phố chính duy nhất của Hoa Kỳ có nước uống đủ tinh khiết mà không cần phải sử dụng các nhà máy xử lý nước để lọc nước.
== Cảnh quan thành phố ==
=== Kiến trúc ===
Kiểu kiến trúc phổ biến nhất tại Thành phố New York là những tòa nhà chọc trời. Kể từ khi được giới thiệu và sử dụng rộng rãi ở đây, kiến trúc này đã làm chuyển đổi các tòa nhà của New York từ kiểu truyền thống châu Âu thấp sang những khu thương mại vươn thẳng đứng lên cao. Tính đến tháng 8 năm 2008, New York có 5.538 tòa nhà cao tầng, nhiều hơn bất cứ thành phố nào khác ở Hoa Kỳ và đứng hạng nhì thế giới, chỉ sau Hong Kong. Hiện nay thành phố có 50 nhà chọc trời xây dựng xong, cao trên 200 mét (656 foot). Bị bao quanh bởi mặt nước, mật độ dân số và giá trị bất động sản cao trong những khu thương mại khiến cho New York trở thành nơi tập trung nhiều nhất các tòa nhà, tòa tháp chung cư và văn phòng trên thế giới.
New York có những tòa nhà với kiến trúc nổi bật mang nhiều phong cách khác nhau. Woolworth Building tại 40 phố Wall, hoàn thành năm 1913, là tòa nhà chọc trời mang kiến trúc Gothic Phục hưng thời kỳ đầu. Nghị quyết phân vùng năm 1916 bắt buộc các tòa nhà mới phải được xây theo kiểu hình chồng lên nhau (phần dưới có diện tích rộng hơn phần trên) và giới hạn các tháp bằng một phần trăm nền đất bên dưới để cho ánh nắng mặt trời chiếu xuống đường phố bên dưới. Kiểu thiết kế Art Deco của Tòa nhà Chrysler năm 1930 với đỉnh thon nhỏ và hình chóp bằng thép đã phản ánh những yêu cầu bắt buộc đó. Tòa nhà này được nhiều sử gia và kiến trúc sư xem như là tòa nhà đẹp nhất New York với cách trang trí rõ nét, thí dụ các góc của tầng 61 có hình biểu tượng chim ó gắn trên nắp phía trước đầu xe Chrysler kiểu năm 1928 và cả các mẫu đèn hình chữ V được ghép chặt bởi một tháp chóp bằng thép ở trên đỉnh tòa nhà. Một ví dụ về ảnh hưởng lớn của kiến trúc phong cách quốc tế tại Hoa Kỳ là Tòa nhà Seagram (1957), đặc biệt vì diện mạo của nó sử dụng các xà bằng thép hình chữ H được bọc đồng dễ nhìn thấy để làm nổi bật cấu trúc của tòa nhà. Tòa nhà Condé Nast (2000) là một thí dụ điển hình cho thiết kế bền vững (Sustainable design) trong các tòa nhà chọc trời của Mỹ.
Đặc điểm của các khu dân cư lớn của New York thường là các dãy nhà phố (rowhouse, townhouse) đá nâu tao nhã và các tòa nhà chung cư tồi tàn được xây dựng trong một thời kỳ mở rộng nhanh từ năm 1870 đến năm 1930. Đá và gạch trở thành các vật liệu xây dựng chọn lựa của thành phố sau khi việc xây nhà gỗ bị hạn chế bởi vụ cháy lớn vào năm 1835. Không giống như Paris trong nhiều thế kỷ đã được xây dựng từ chính nền đá vôi của mình, New York luôn lấy đá xây dựng từ một hệ thống các mỏ đá xa xôi và các tòa nhà xây bằng đá của thành phố thì đa dạng về kết cấu và màu sắc. Một điểm nổi bật khác của nhiều tòa nhà thành phố là có sự hiện diện của những tháp nước bằng gỗ đặt trên nóc. Vào thập niên 1800, thành phố bắt buộc các tòa nhà cao trên sáu tầng gắn các tháp nước như vậy để không cần phải nén nước quá cao ở các cao độ thấp mà có thể làm bể các ống dẫn nước của thành phố. Những tòa nhà chung cư có vườn hoa trở nên quen thuộc suốt thập niên 1920 tại những khu ngoại ô trong đó có Jackson Heights nằm trong quận Queens. Lưu thông trong khu vực này trở nên thuận tiện với việc mở rộng đường xe điện ngầm.
=== Công viên ===
Thành phố New York có trên 110 km² đất công viên thành phố và 23 km bãi sông, bãi biển công cộng. Đất công viên được tăng thêm hàng trăm mẫu Anh từ Khu Giải trí Quốc gia Gateway thuộc hệ thống công viên quốc gia Hoa Kỳ nằm trong ranh giới thành phố. Chỉ riêng khu bảo tồn hoang dã Vịnh Jamaica, khu bảo tồn hoang dã duy nhất trong hệ thống công viên quốc gia, bao phủ 36 km² gồm các đảo có đầm lầy và nước chiếm phần lớn vịnh Jamaica. Công viên Trung tâm của Manhattan do Frederick Law Olmsted và Calvert Vaux thiết kế, là một công viên thành phố được viếng thăm nhiều nhất tại Hoa Kỳ với con số khoảng 30 triệu lượt khách viếng thăm hàng năm, hơn 10 triệu lượt so với công viên Lincoln ở Chicago đứng hạng nhì. Công viên Prospect tại Brooklyn, cũng do Olmsted và Vaux thiết kế, có một đồng cỏ rộng 360.000 m² (90 mẫu Anh). Công viên Flushing Meadows–Corona trong khu Queens, lớn thứ ba của thành phố, là nơi tổ chức triển lãm thế giới năm 1939 và 1964. Trên một phần 5 khu The Bronx, rộng khoảng 28 km², được dành cho không gian mở và công viên trong đó có công viên Van Cortlandt, công viên Pelham Bay, Vườn thú The Bronx và Các vườn thực vật New York.
=== Các quận ===
Thành phố New York bao gồm năm quận riêng, được gọi là "borough". Đây là một hình thức chính quyền khác thường tại Hoa Kỳ. Mỗi "borough" của New York tồn tại song song với một quận tương ứng của tiểu bang New York. Khắp các "borough" có hàng trăm khu dân cư rõ rệt. Nhiều trong số các khu dân cư này có lịch sử và đặc tính riêng để gọi chúng. Nếu mỗi "borough" là một thành phố độc lập thì bốn trong số các "borough" (Brooklyn, Queens, Manhattan, và The Bronx) sẽ nằm trong số 10 thành phố đông dân nhất Hoa Kỳ.
The Bronx (quận Bronx của tiểu bang New York: dân số 1.373.659) là quận cận bắc nhất của Thành phố New York. Nơi đây có sân vận động New Yankee là sân nhà của đội bóng chày New York Yankees, và cũng là nơi có dãy nhà phức hợp lớn nhất tại Hoa Kỳ có tên gọi là Co-op City. Trừ một dãy đất nhỏ của khu Manhattan có tên Marble Hill, The Bronx là phần duy nhất của thành phố New York nằm trong phần đất liền của Hoa Kỳ. Khu này có Vườn thú Bronx, vườn thú vùng đô thị lớn nhất tại Hoa Kỳ rộng 1,07 km² và có trên 6.000 con vật. The Bronx là nơi phát sinh văn hóa hip hop và rap.
Manhattan (quận New York của tiểu bang New York: dân số 1.620.867) là quận có mật độ dân số đông nhất với rất nhiều nhà chọc trời. Công viên Trung tâm cũng tọa lạc trong quận này. Manhattan là trung tâm tài chính của thành phố và là nơi có các tổng hành dinh của nhiều đại công ty chính, Liên Hiệp Quốc, cũng như một số trường đại học quan trọng và danh lam thắng cảnh văn hóa trong đó có vô số viện bảo tàng, khu nhà hát Broadway, Làng Greenwich, và sân vận động có mái che Madison Square Garden. Manhattan được chia thành các vùng: Hạ Manhattan, Midtown Manhattan, và Thượng Manhattan. Thượng Manhattan bị chia cắt bởi Công viên Trung tâm thành "Upper East Side" (phía đông Thượng Manhattan) and và "Upper West Side" (phía tây Thượng Manhattan), và phía trên công viên là khu Harlem.
Brooklyn (quận Kings của tiểu bang New York: dân số 2.528.050) là quận đông dân nhất của thành phố và từng là một thành phố độc lập cho đến năm 1898. Brooklyn nổi tiếng vì sự đa dạng chủng tộc, xã hội, văn hóa, những khu dân cư khác biệt và một di sản kiến trúc có một không hai. Nó cũng là một quận duy nhất ngoài Manhattan có một khu trung tâm đô thị rõ rệt. Quận đặc biệt có một bãi sông (biển) mặt tiền dài. Đảo Coney, thành lập vào thập niên 1870, là một trong các khu vui chơi xưa nhất tại Hoa Kỳ.
Queens (quận Queens của tiểu bang New York: dân số 2.270.338) là quận lớn nhất của thành phố về mặt địa lý và là quận đa chủng tộc nhất của Hoa Kỳ, và có thể sẽ qua mặt Brooklyn để trở thành quận đông dân nhất thành phố vì chiều hướng phát triển hiện nay. Trong lịch sử quận Queens là một khu gồm nhiều thị trấn và làng mạc nhỏ do người Hà Lan thành lập. Ngày nay phần lớn quận này là khu dân cư của tầng lớp trung lưu. Đây là quận lớn duy nhất tại Hoa Kỳ mà thu nhập trung bình của người Mỹ gốc châu Phi lên đến 52.000 đô la Mỹ một năm, cao hơn thu nhập trung bình của người Mỹ da trắng. Queens là nơi có sân vận đông Citi Field, sân nhà của đội bóng chày New York Mets, hàng năm có tổ chức Giải quần vợt Mỹ Mở rộng. Ngoài ra nó còn có hai trong số ba sân bay chính phục vụ Vùng đô thị New York. Đó là sân bay LaGuardia và sân bay Quốc tế John F. Kennedy (sân bay thứ ba là sân bay Quốc tế Newark Liberty ở New Jersey.)
Đảo Staten (quận Richmond của tiểu bang New York: dân số 481.613) là khu ngoại ô lớn nhất trong năm quận. Đảo Staten được nối liền với Brooklyn bằng cầu Verrazano-Narrows và với Manhattan bằng phà Đảo Staten miễn phí. Phà Đảo Staten là một trong những nơi hấp dẫn du khách nhất tại Thành phố New York vì ngồi dưới phà sẽ nhìn thấy được Tượng Nữ thần Tự do, đảo Ellis, và Hạ Manhattan dễ dàng. Khu Greenbelt (vành đai xanh) rộng 25 km² nằm trong trung tâm Đảo Staten có khoảng 56,3 km đường mòn dành cho đi dạo. Đây là một trong những khu rừng nguyên sinh của thành phố. Được ấn định vào năm 1984 để bảo vệ đất thiên nhiên của đảo, Greenbelt có bảy công viên thành phố. Đường lát gỗ FDR (FDR Boardwalk) nằm dọc theo bờ phía nam, dài 4 km, là đường lát gỗ dài thứ tư trên thế giới.
== Đời sống hiện đại và văn hóa ==
"Văn hóa dường như ở trong không khí, cũng giống như một phần của thời tiết", đó là lời của nhà văn Tom Wolfe khi nói đến Thành phố New York. Vô số phong trào văn hóa lớn của Mỹ đã bắt đầu từ thành phố này, thí dụ như Phục hưng Harlem đã dựng nên âm nhạc văn chương người Mỹ gốc châu Phi tại Hoa Kỳ. Thành phố là một trung tâm nhạc jazz trong thập niên 1940, chủ nghĩa trừu tượng biểu hiện trong thập niên 1950 và là nơi phát sinh văn hóa nhạc hip hop trong thập niên 1970. Các tụ điểm nhạc hardcore và punk có nhiều ảnh hưởng trong thập niên 1970 và thập niên 1980. New York từ lâu cũng là nơi văn chương người Mỹ gốc Do Thái đua nở. Trong các ban nhạc indie rock lừng danh từ Thành phố New York trong những năm gần đây có thể kể đến The Strokes, Interpol, The Bravery, Scissor Sisters, và They Might Be Giants.
=== Giải trí và nghệ thuật biểu diễn ===
New York có vai trò quan trọng đối với nền điện ảnh Mỹ. Manhatta, một trong những bộ phim tiên phong của trào lưu Avant-garde, được quay tại thành phố vào năm 1920. Ngày nay, New York là trung tâm lớn thứ hai của ngành công nghiệp điện ảnh Hoa Kỳ. Thành phố có trên 2.000 tổ chức văn hóa và mỹ thuật và hơn 500 phòng trưng bày mỹ thuật lớn nhỏ. Hàng năm, chính quyền thành phố tài trợ mỹ thuật với một ngân sách còn lớn hơn ngân sách của cơ quan "National Endowment for the Arts" thuộc chính phủ liên bang. Các nhà công nghiệp giàu có trong thế kỷ 19 đã xây dựng một hệ thống các viện văn hóa lớn như Carnegie Hall và Metropolitan Museum of Art. Sự phát minh ra điện chiếu sáng đã đưa đến việc giàn dựng công phu các vở kịch. Trong thập niên 1880, các nhà hát của New York trên phố Broadway và dọc theo phố 42 bắt đầu trình diễn một hình thức sân khấu mới mà ngày nay được biết đến với tên gọi nhạc kịch Broadway.
Ảnh hưởng bởi những di dân nên các tác phẩm kịch, như của Harrigan và Hart, George M. Cohan... thường sử dụng bài hát phản ánh những chủ đề hy vọng và tham vọng. Ngày nay các tác phẩm này là trụ cột chính của kịch nghệ New York. 39 nhà hát kịch lớn nhất – với hơn 500 ghế – của Thành phố được mọi người biết đến với các tên chung "Broadway", theo tên của đường phố nhộn nhịp chạy băng qua khu nhà hát Quảng trường Thời đại. Khu vực này đôi khi cũng được gọi là "The Main Stem", "The Great White Way" hay "The Realto".
Trung tâm Nghệ thuật Biểu diễn Lincoln mà gồm có "Jazz at Lincoln Center", "Metropolitan Opera", "New York City Opera", "New York Philharmonic", "New York City Ballet", "Vivian Beaumont Theatre", "Juilliard School and Alice Tully Hall" là trung tâm nghệ thuật biểu diễn lớn nhất tại Hoa Kỳ. Central Park SummerStage (Sân khấu mùa hè Công viên Trung tâm) trình diễn các vở kịch và âm nhạc miễn phí tại Công viên Trung tâm. Ngoài ra còn có đến 1.200 buổi hòa nhạc miễn phí trình diễn khắp năm quận trong những tháng mùa hè.
=== Du lịch ===
Với khoảng 47 triệu du khách Mỹ và ngoại quốc viếng thăm hàng năm, du lịch đóng một vai trò quan trọng đối với Thành phố New York. Những điểm đến chính của thành phố có thể kể tới Tòa nhà Empire State, Đảo Ellis, sân khấu kịch Broadway, các bảo tàng như Metropolitan Museum of Art, cùng các địa điểm hấp dẫn khác như Công viên Trung tâm, Công viên Washington Square, Trung tâm Rockefeller, Quảng trường Thời đại, Vườn thú Bronx, Vườn thực vật New York hay khu mua sắm sang trọng dọc theo Đại lộ số 5 và Đại lộ Madison, các sự kiện như Diễu hành Lễ hội Halloween ở Làng Greenwich, Liên hoan phim Tribeca, và những buổi trình diễn miễn phí trong Công viên Trung tâm. Tượng Nữ thần Tự do là một nơi chính hấp dẫn du khách và là một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ. Nhiều khu sắc tộc của thành phố như Jackson Heights, Flushing và Brighton Beach là những điểm đến mua sắm chính cho người Mỹ thế hệ thứ nhất và thứ hai ở phía trên và dưới duyên hải phía đông của Hoa Kỳ.
=== Ẩm thực ===
Văn hóa ẩm thực New York bị ảnh hưởng bởi những dân nhập cư và số lượng lớn thực khách nên rất đa dạng. Những di dân người Ý và châu Âu đã làm cho thành phố nổi tiếng về bagel (bánh mì hình dáng giống bánh xe), bánh pho mát (cheesecake), và pizza. Khoảng 4.000 quầy ẩm thực lưu động được thành phố cấp phép, nhiều trong số đó do di dân làm chủ, đã làm cho ẩm thực của Trung Đông như falafel và kebab luôn sẵn có trong số thực phẩm đường phố của New York hiện đại mặc dù hot dog và pretzel vẫn là món ăn ưa chuộng trên đường phố chính. Thành phố cũng là nơi có nhiều tiệm ăn nổi tiếng tại Hoa Kỳ. Có thể nói ẩm thực New York đa dạng bao gồm cả ẩm thực Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Nga, Anh, Hy Lạp, Maroc, Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản cũng như vô số các loại ẩm thực mang tính sắc tộc khác.
=== Truyền thông ===
New York là một trung tâm toàn cầu của ngành xuất bản sách báo, âm nhạc, quảng cáo và truyền hình. Thành phố cũng là một thị trường truyền thông lớn nhất Bắc Mỹ, theo sau là Los Angeles, Chicago, và Toronto. Trong số các đại công ty truyền thông của thành phố hiện nay có Time Warner, News Corporation, Hearst Corporation, và Viacom. Bảy trong số tám hệ thống đại lý quảng cáo toàn cầu hàng đầu của thế giới có tổng hành dinh đặt tại New York. Ba trong số bốn công ty đĩa hát lớn cũng có căn cứ tại đây cũng như tại Los Angeles.
Một phần ba tổng số các phim độc lập của Mỹ được sản xuất tại New York. Hơn 200 tờ báo và 350 tạp chí có văn phòng tại thành phố và công nghiệp xuất bản sách thuê mướn khoảng 25.000 người. Hai trong số ba nhật báo quốc gia của Hoa Kỳ là nhật báo của New York: The Wall Street Journal và The New York Times. Các tờ báo thuộc nhóm tabloid (khổ nhỏ và thường đăng tin giật gân) lớn trong thành phố gồm có The New York Daily News và The New York Post do Alexander Hamilton thành lập năm 1801. Thành phố cũng có một nhóm truyền thông sắc tộc chính với 270 tờ báo và tạp chí xuất bản bằng trên 40 thứ ngôn ngữ. El Diario La Prensa là nhật báo xưa nhất xuất bản bằng tiếng Tây Ban Nha lớn nhất quốc gia. The New York Amsterdam News, xuất bản tại Harlem, là một tờ báo nổi tiếng của người Mỹ gốc châu Phi.
Công nghệ truyền hình phát triển tại New York và nó là ngành thuê mướn nhiều nhân công đáng kể đối với nền kinh tế của thành phố. Bốn hệ thống truyền hình chính của Mỹ như ABC, CBS, FOX và NBC đều có tổng hành dinh tại New York. Nhiều kênh truyền hình cáp cũng có cơ sở trong thành phố trong đó có MTV, Fox News, HBO và Comedy Central. Năm 2005, có trên 100 chương trình truyền hình được thu hình tại Thành phố New York.
New York cũng là một trung tâm chính đối với truyền thông phi thương mại. Kênh truyền hình cộng đồng (public-access television) xưa nhất ở Hoa Kỳ là Manhattan Neighborhood Network được thành lập vào năm 1971. WNET là đài truyền hình công cộng (public television) chính của thành phố và là một nhà cung cấp chính yếu của chương trình truyền hình công cộng quốc gia PBS. WNYC, một đài phát thanh công cộng do thành phố làm chủ đến năm 1997, có số bạn nghe đài công cộng lớn nhất Hoa Kỳ.
Thành phố New York điều hành một dịch vụ truyền hình công cộng, NYC-TV, sản xuất một số chương trình ban đầu của giải thưởng Emmy về âm nhạc và văn hóa trong các khu dân cư cũng như chính quyền thành phố.
=== Giọng nói ===
Cư dân Thành phố New York có một kiểu giọng nói rõ rệt, được gọi là giọng New York, hay gọi cách khác hơn là giọng Brooklyn, thường được xem là một trong các giọng dễ nhận nhất trong tiếng Anh-Mỹ. Phiên bản ban đầu xưa kia của giọng nói này tập trung ở lớp trung lưu và lao động có nguồn gốc từ người Mỹ gốc châu Âu, và khi làn sóng di dân không phải người châu Âu đến trong nhiều thập niên vừa qua đã khiến cho giọng riêng biệt này có những thay đổi.
Giọng truyền thống của vùng New York được gọi là "non-rhotic", có nghĩa là âm [ɹ] không xuất hiện ở cuối một âm chữ (syllable) hay ngay trước một phụ âm; vì thế cách phát âm tên thành phố sẽ là "New Yawk". Không có [ɹ] trong các chữ như park [pɔːk], butter [bʌɾə], hay here [hiə]. Một đặc điểm khác nữa là âm [ɔ] của các từ như talk, law, cross, và coffee và âm [ɔr] trong các từ như core và more thì cứng và thường hay lên giọng hơn tiếng Anh-Mỹ phổ thông.
Trong các phiên bản xưa và đặc sệt nhất của giọng New York, các nguyên âm của các từ như "girl" và những từ như "oil" đều trở thành một nguyên âm đôi [ɜɪ]. Điều này thường gây ra sự nhầm lẫn đối với những người nói tiếng Anh-Mỹ giọng khác vì từ girl được phát âm thành "goil" và oil trở thành "erl". Kết quả là người khác sẽ nghe dân New York nói những từ như sau "Joizey" có nghĩa là Jersey, "Toidy-Toid Street" có nghĩa là 33rd Street và "terlet" có nghĩa là toilet. Nhân vật Archie Bunker trong phim hài kịch tình huống của thập niên 1970, All in the Family, là một thí dụ điển hình về một người nói giọng có đặc điểm này. Giọng nói như thế ngày nay không còn quá phổ biến.
=== Thể thao ===
New York có các đội thể thao trong bốn liên đoàn thể thao chuyên nghiệp chính của Bắc Mỹ.
Thành phố New York là một trong ít nơi tại Hoa Kỳ mà môn bóng chày vẫn còn là môn thể thao được yêu chuộng nhất, hơn hẳn môn bóng bầu dục. Cùng với Chicago, Washington-Baltimore, Los Angeles và Vùng Vịnh San Francisco, New York là một trong 5 vùng đô thị có hai đội bóng chày chuyên nghiệp. Hai đội bóng chày chuyên nghiệp thuộc Major League Baseball của thành phố là đội New York Yankees và đội New York Mets. Đội Yankees từng giành được 26 giải quán quân trong khi đội Mets được hai lần. New York cũng từng là thành phố nhà trước đây của đội bóng chày "New York Giants" (hiện nay là San Francisco Giants) và "Brooklyn Dodgers" (hiện nay là Los Angeles Dodgers). Cả hai đội này đã di chuyển về California vào năm 1958. Thành phố cũng có hai đội bóng chày chơi trong Minor league baseball là Staten Island Yankees và Brooklyn Cyclones.
New York có các đội đại diện chơi trong Liên đoàn Bóng bầu dục Quốc gia (National Football League) là New York Jets và New York Giants mặc dù cả hai đều có sân nhà ở Sân vận động Giants nằm bên tiểu bang New Jersey lân cận. Đội khúc côn cầu New York Rangers đại diện thành phố trong Liên đoàn Khúc côn cầu Quốc gia (National Hockey League). Trong vùng đô thị còn có hai đội khác, đội New Jersey Devils và đội New York Islanders, chơi tại Long Island.
Về bóng đá, Thành phố New York có một đại diện trong liên đoàn bóng đá nhà nghề Mỹ, có tên Major League Soccer, là đội Red Bull New York. Đội "Red Bulls" cũng chơi trong sân nhà là Sân vận động Giants tại New Jersey. Đội bóng rổ thành phố thuộc Hội Bóng rổ Quốc gia (National Basketball Association) là đội New York Knicks và đội thuộc Hội Nữ Bóng rổ Quốc gia (Women's National Basketball Association) là đội New York Liberty. Nằm trong cùng vùng đô thị còn có một đội thuộc Hội Bóng rổ Quốc gia là New Jersey Nets. Giải đầu tiên vô địch bóng rổ cấp đại học quốc gia, National Invitation Tournament, được tổ chức tại Thành phố New York năm 1938 và vẫn còn được tổ chức tại thành phố.
Với vai trò của một thành phố toàn cầu, New York hỗ trợ nhiều sự kiện ngoài các môn thể thao này. Queens là nơi tổ chức Giải quần vợt Mỹ Mở rộng, một trong bốn cuộc tranh tài của Grand Slam quần vợt. Cuộc chạy đua Marathon Thành phố New York là cuộc chạy đua đường dài lớn nhất thế giới. Trong những lần đua năm 2004-2006, thành phố đã chiếm ba vị trí hàng đầu trong các cuộc chạy đua marathon với số lượng người hoàn thành hết đường đua lớn nhất, trong đó 37.866 người đã hoàn thành hết đường đua vào năm 2006. Millrose Games là một đại hội điền kinh hàng năm mà sự kiện nổi bật của nó là cuộc chạy đua mang tên "Wanamaker Mile". Quyền anh cũng là một phần rất nổi bật trong nền thể thao thành phố với các sự kiện như "Amateur Boxing Golden Gloves" (Qăng tay vàng Quyền anh nghiệp dư) được tổ chức tại sân vận động Madison Square Garden hàng năm.
Nhiều môn thể thao có liên hệ với các cộng đồng di dân của New York. Stickball, một hình thức bóng chày đường phố, rất phổ biến trong giới trẻ những khu dân cư thuộc tầng lớp lao động người gốc Ý, Đức, và Ái Nhĩ Lan trong thập niên 1930. Stickball vẫn còn được phổ biến, thí dụ như một đường phố trong The Bronx đã được đặt tên là Đại lộ Stickball để kỷ niệm môn thể thao đường phố nổi tiếng này của New York. Trong những năm gần đây, các liên đoàn cricket tài tử đã xuất hiện cùng với sự có mặt của các di dân mới đến từ Nam Phi và vùng biển Caribbean. Các môn bóng chày, khúc côn cầu và bóng bầu dục đường phố cũng thấy rất phổ biến trên các đường phố của New York. Thành phố New York thường được gọi là "The World's Biggest Urban Playground" (Sân chơi đô thị lớn nhất của thế giới) vì các môn thể thao đường phố được mọi người ở mọi lứa tuổi chơi ở khắp nơi.
== Kinh tế ==
New York là một trung tâm toàn cầu về thương mại và giao dịch quốc tế, cũng là một trong ba "trung tâm tập quyền" kinh tế thế giới cùng với Luân Đôn và Tokyo. Thành phố là một trung tâm chính về tài chính, bảo hiểm, địa ốc và nghệ thuật tại Hoa Kỳ. Vùng đô thị New York có tổng sản phẩm vùng đô thị được ước tính là 1,13 ngàn tỉ đô la Mỹ trong năm 2005, khiến nó trở thành nền kinh tế vùng lớn nhất Hoa Kỳ và theo tuần báo IT Week, nền kinh tế thành phố lớn thứ hai trên thế giới. Theo Cinco Dias, New York kiểm soát 40% tài chính thế giới tính đến cuối năm 2008, khiến nó trở thành trung tâm tài chính lớn nhất thế giới.
Nhiều công ty chính đã đặt tổng hành dinh tại Thành phố New York trong đó có 43 công ty được xếp trong Fortune 500. New York cũng là nơi đặc biệt trong các thành phố Mỹ vì có số lượng lớn các đại công ty ngoại quốc. Một trong mười việc làm thuộc lãnh vực tư nhân của thành phố là với một công ty ngoại quốc.
Thành phố New York là địa điểm của một số bất động sản giá trị nhất thế giới và Hoa Kỳ. Bất động sản số 450 Đại lộ Park được bán với giá 510 triệu đô la vào ngày 2 tháng 7 năm 2007, khoảng 17.104 đô la Mỹ một mét vuông (1.589 đô la Mỹ/ft²), phá vỡ kỷ lục mới cách đó một tháng của một tòa nhà văn phòng Mỹ được bán với giá 15.887 đô la Mỹ một mét vuông (1.476 đô la Mỹ/ft²), ghi nhận vào tháng 6 năm 2007 ở số 660 Đại lộ Madison. Riêng quận Manhattan có 32.860.000 m² (353,7 triệu ft²) chỗ dành cho văn phòng vào năm 2001.
Midtown Manhattan là khu thương mại trung tâm lớn nhất tại Hoa Kỳ và là nơi tập trung nhiều nhất các tòa nhà chọc trời. Hạ Manhattan là khu thương mại trung tâm lớn thứ ba tại Hoa Kỳ và là nơi có Thị trường Chứng khoán New York nằm trên phố Wall và NASDAQ. Hai trung tâm thị trường chứng khoán này đại diện cho thị trường chứng khoán lớn thứ nhất và thứ hai thế giới theo thứ tự vừa kể khi được tính theo số lần giao dịch trung bình hàng ngày và tổng giá trị tư bản. Dịch vụ tài chính cung cấp khoảng trên 35% lợi tức từ việc làm của thành phố. Địa ốc là một lực lượng chính trong nền kinh tế thành phố vì tổng giá trị của tất cả các bất động sản của thành phố là 802,4 tỷ đô la Mỹ năm 2006. Trung tâm Time Warner là bất động sản có giá trị thị trường được liệt kê là cao nhất trong thành phố với giá là 1,1 tỷ đô la Mỹ năm 2006.
Công nghiệp phim và truyền hình của thành phố đứng hạng nhì quốc gia, sau Hollywood. Những công nghệ sáng tạo như quảng cáo, thời trang, thiết kế và kiến trúc tạo ra một số lớn công ăn việc làm và New York cũng có được lợi thế cạnh tranh mạnh trong những ngành công nghệ này. Các ngành công nghệ kỹ thuật cao như công nghệ sinh học, phát triển phần mềm, thiết kế trò chơi điện tử, và dịch vụ internet cũng đang phát triển nhờ vào vị trí của thành phố nằm ở nơi điểm cuối của một số đường dây cáp quang liên Đại Tây Dương. Những ngành quan trọng khác còn có nghiên cứu và kỹ thuật y học, các cơ quan bất vụ lợi, và các viện đại học.
Lĩnh vực sản xuất mang lại số lượng lớn nhưng hiện đang có xu thế giảm sút công ăn việc làm. May mặc, hóa học, sản phẩm kim loại, chế biến thực phẩm, và đồ dùng trong nhà là một số sản phẩm chính yếu. Công nghiệp chế biến thực phẩm là ngành sản xuất bền vững nhất tại thành phố, có giá trị 5 tỷ đô la Mỹ, thuê mướn hơn 19.000 cư dân New York. Chocolate là sản phẩm xuất khẩu hàng đầu của New York với 234 triệu đô la xuất khẩu hàng năm.
== Nhân khẩu ==
New York là thành phố đông dân nhất Hoa Kỳ với dân số ước tính năm 2007 là 8.274,527 (tăng từ 7,3 triệu năm 1990). Con số này tương ứng khoảng chừng 40% dân số tiểu bang New York. Trong khoảng thập niên qua, dân số thành phố đã gia tăng và những nhà nhân khẩu học dự đoán rằng dân số của New York sẽ lên đến trong khoảng từ 9,2 đến 9,5 triệu vào năm 2030.
Hai đặc điểm chính về nhân khẩu của New York là mật độ dân số và tính đa văn hóa. Mật độ dân số của thành phố là 10.194 người/km² (26.403 người/1 dặm vuông Anh), khiến nó trở thành khu đô thị tự quản trên 100.000 người của Mỹ có mật độ dân số đông đúc nhất. Mật độ dân số của quận Manhattan là 25.846 người/km² (66.940 người/1 dặm vuông Anh), cao nhất so với bất cứ quận nào của Hoa Kỳ.
New York là thành phố rất đa dạng về chủng tộc. Trong suốt lịch sử, thành phố luôn là một bến đỗ chính cho di dân. Thuật ngữ melting pot (nồi xúp nấu chảy mọi văn hóa) lần đầu tiên được sử dụng để diễn tả các khu dân cư di dân có mật độ đông đúc trên khu phía đông Hạ Manhattan. Ngày nay, 36,7% dân số thành phố được sinh ở ngoại quốc và con số 3,9% khác được sinh tại Puerto Rico, các vùng quốc hải Hoa Kỳ hoặc có cha mẹ người Mỹ nhưng được sinh ra ở ngoại quốc. So với các thành phố Mỹ, tỉ lệ này chỉ kém Los Angeles và Miami. Tuy nhiên, trong khi các cộng đồng di dân tại các thành phố đó bị áp đảo bởi một vài quốc tịch thì tại New York, không có một quốc gia hay vùng gốc của di dân nào áp đảo. Mười quốc gia gốc lớn nhất của các di dân hiện đại là Cộng hòa Dominica, Trung Quốc, Jamaica, Guyana, México, Ecuador, Haiti, Trinidad và Tobago, Colombia, và Nga. Khoảng 170 ngôn ngữ được nói trong thành phố.
Vùng đô thị New York là nơi có đông cộng đồng người Do Thái lớn nhất bên ngoài Israel. Dân số khu vực phạm vi của Tel Aviv – thành phố đông dân thứ hai của Israel – còn nhỏ hơn dân số Do Thái của khu vực Thành phố New York. Vì thế New York là thành phố có cộng đồng người Do Thái lớn nhất thế giới. Khoảng 12% người New York là người Do Thái hay có nguồn gốc Do Thái. Đây cũng là nơi sinh sống của gần 1/4 người bản thổ Mỹ tại Hoa Kỳ, và cộng đồng người Mỹ gốc châu Phi lớn nhất hơn bất cứ thành phố nào của Hoa Kỳ.
Năm nhóm sắc tộc lớn nhất theo điều tra dân số năm 2005 ước tính là: người Puerto Rico, người Ý, người vùng biển Caribe, người Dominica và người Trung Hoa. Dân số người Puerto Rico của New York là dân số lớn nhất bên ngoài Puerto Rico. Người Ý đã di cư đến thành phố với số lượng lớn trong đầu thế kỷ 20. Người Ái Nhĩ Lan, nhóm sắc tộc lớn thứ sáu, cũng có số lượng khá nổi bật. Trong số 50 người New York gốc châu Âu thì có một người mang yếu tố di truyền học rõ rệt trong nhiễm sắc thể Y của họ, mà được di truyền từ "Niall of the Nine Hostages", một vị vua Ái Nhĩ Lan của thế kỷ 5 sau Công nguyên
Theo cuộc khảo sát cộng đồng Mỹ năm 2005-2007 do Cục điều tra dân số Hoa Kỳ thực hiện thì người Mỹ da trắng chiếm 44,1% dân số Thành phố New York; trong số đó 35,1% là người da trắng không thuộc nhóm nói tiếng Tây Ban Nha. Người da đen hay người Mỹ gốc Phi chiếm 25,2% dân số New York; trong số đó 23,7% là người da đen không thuộc nhóm nói tiếng Tây Ban Nha. Người bản thổ Mỹ hay người da đỏ chiếm 0,4% dân số thành phố; trong số đó 0,2% là người da đỏ không thuộc nhóm nói tiếng Tây Ban Nha. Người Mỹ gốc châu Á chiếm 11,6% dân số thành phố; trong số đó 11,5% là người gốc châu Á không thuộc nhóm nói tiếng Tây Ban Nha. Người Mỹ gốc các đảo Thái Bình Dương chiếm ít hơn 0,1% dân số thành phố. Nhiều sắc dân còn lại chiếm 16,8% dân số thành phố; trong số đó 1.0% không thuộc nhóm người nói tiếng Tây Ban Nha. Những người có nguồn gốc từ hai hay nhiều sắc tộc chiếm 1,9% dân số thành phố; trong số đó 1.0% không phải người nói tiếng Tây Ban Nha. Ngoài ra, người nói tiếng Tây Ban Nha (Hispanic và Latino) chiếm 27,4% dân số Thành phố New York.
Thành phố New York có một tỉ lệ chênh lệch lớn về thu nhập. Năm 2005, thu nhập bình quân của một hộ gia đình được liệt kê trong bảng thống kê người giàu có nhất là 188.697 đô la Mỹ trong khi bảng thống kê người nghèo nhất là 9.320 đô la Mỹ. Cách biệt này là do mức tăng lương trong số người có thu nhập cao trong khi đó thu nhập trong giới trung lưu và giới nghèo bị đứng chững lại. Năm 2006, lương trung bình hàng tuần tại quận Manhattan là 1.453 đô la Mỹ, cao nhất và tăng nhanh nhất trong số các quận lớn nhất của Hoa Kỳ. Quận cũng đang có một sự bùng nổ về sinh sản có một không hai trong số các thành phố Mỹ. Từ năm 2000, số trẻ em dưới 5 tuổi sống tại Manhattan tăng hơn 32%.
Số người có nhà tại Thành phố New York là khoảng 33%, thấp hơn nhiều so với trung bình toàn quốc khoảng từ 3% đến 4,5%, cũng thấp dưới 5% mức trần được định nghĩa để chỉ sự khẩn trương về nhà ở và được tính toán để ra quyết định có nên duy trì mức bình ổn và kiểm soát về nhà cho thuê. Khoảng 33% các đơn vị nhà cho thuê luôn được bình ổn. Tìm nơi cư ngụ, đặc biệt là nhà ở giá phải chăng, tại Thành phố New York có thể nói là nhiều thử thách.
== Chính quyền ==
Kể từ khi mở rộng vào năm 1898, Thành phố New York luôn là một khu tự quản vùng đô thị (metropolitan municipality) có một thể chế chính quyền thị trưởng-hội đồng "mạnh". Chính quyền New York là chính quyền tập quyền hơn phần lớn các thành phố khác của Hoa Kỳ. Tại New York, chính quyền trung ương chịu trách nhiệm về giáo dục công cộng, các trung tâm quản giáo (trại giam), thư viện, an toàn công cộng, các cơ sở vật chất giải trí, vệ sinh, cấp nước và các dịch vụ phúc lợi xã hội. Thị trưởng Thành phố New York và các hội đồng viên thành phố được bầu lên với nhiệm kỳ bốn năm. Hội đồng thành phố là một cơ chế lưỡng viện gồm 51 thành viên. Các khu đại diện của các ủy viên thành phố được ấn định theo các ranh giới địa lý dân số. Thị trưởng và các ủy viên hội đồng thành phố chỉ được phục vụ tối đa hai nhiệm kỳ bốn năm.
Thị trưởng thành phố hiện nay là Bill de Blasio của Đảng Dân chủ. Thị trưởng trước là Michael Bloomberg, một cựu đảng viên Dân chủ và hiện thời là đảng viên độc lập, được bầu lên với tư cách là một đảng viên Cộng hòa vào năm 2001 và tái đắc cử vào năm 2005 với 59% phiếu bầu. Ông nổi tiếng vì đã giành lấy quyền kiểm soát hệ thống giáo dục thành phố từ tiểu bang, tái phân khu và phát triển kinh tế, điều hành hợp lý năm tài chính, và chính sách y tế công cộng chủ động. Trong nhiệm kỳ hai, ông đã thực hiện việc cải cách học đường, giảm nghèo, và kiểm soát nghiêm ngặt súng như những ưu tiên hàng đầu của chính quyền Bloomberg. Cùng với thị trưởng thành phố Boston, Thomas Menino, vào năm 2006, ông thành lập "Liên minh các thị trưởng chống súng bất hợp pháp". Đây là một tổ chức có mục tiêu "làm cho công chúng an toàn hơn bằng cách loại bỏ súng bất hợp pháp ra khỏi đường phố." Đảng Dân chủ Hoa Kỳ chiếm đa số trong các văn phòng công cộng. Tính đến tháng 11 năm 2008, có 67% cử tri đã được ghi danh là người thuộc Đảng Dân chủ. Chưa có một đảng viên Cộng hòa nào giành được chiến thắng tại Thành phố New York trong các cuộc bầu cử toàn tiểu bang hay bầu cử tổng thống kể từ năm 1924. Các nền tảng tranh cử của các đảng tập trung vào các khía cạnh như nhà ở hợp lý, giáo dục, phát triển kinh tế và chính trị công đoàn là những khía cạnh quan trọng đối với thành phố.
New York là nguồn vận động quyên góp quỹ chính trị quan trọng nhất tại Hoa Kỳ vì bốn trong số năm mã bưu chính hàng đầu về quyên góp quỹ chính trị trên toàn quốc là nằm trong quận Manhattan. Mã bưu chính hàng đầu là 10021, nằm ở phía đông Thượng Manhattan, tạo ra số tiền lớn nhất cho các cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 2004 của cả George W. Bush và John Kerry. Thành phố có một sự thiếu cân đối lớn về chi tiêu của chính quyền tiểu bang và cả chính phủ liên bang. Thành phố nhận được 83 xu giá trị dịch vụ cho mỗi đô la thành phố gởi cho chính phủ liên bang bằng hình thức đóng thuế (hay gởi đi khoảng 11,4 tỷ đô la nhiều hơn số tiền thành phố nhận lại được hàng năm). Thành phố cũng gởi đi một số tiền khác giá trị 11 tỉ hàng năm hơn con số mà thành phố nhận lại được từ tiểu bang New York.
Mỗi quận (borough) của thành phố tồn tại song song với một khu pháp lý của Tối cao Pháp viện tiểu bang New York và cũng là nơi có các tòa án thành phố và tiểu bang khác. Manhattan cũng là nơi có Toà Thượng thẩm thứ nhất, thuộc Tối cao Pháp viện tiểu bang New York trong khi đó Brooklyn là nơi có Tòa thượng thẩm thứ nhì, thuộc Tối cao Pháp viện tiểu bang New York. Các tòa án liên bang nằm gần Đại sảnh Thành phố gồm có Tòa án Khu vực của Hoa Kỳ đặc trách Khu miền nam tiểu bang New York, Tòa Thượng thẩm Hoa Kỳ đặc trách Khu vực hai và Tòa án Thượng mại Quốc tế. Brooklyn có Tòa án Khu vực của Hoa Kỳ đặc trách Khu vực phía đông tiểu bang New York.
== Tội phạm ==
Từ năm 2005, New York là thành phố có tỉ lệ tội phạm thấp nhất trong số 25 thành phố lớn nhất Hoa Kỳ, trở thành nơi an toàn đáng kể sau khi lên đến cao điểm trong thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, thời điểm cơn sốt sử dụng ma túy gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nhiều khu dân cư của thành phố. Đến năm 2002, New York có khoảng cùng tỉ lệ tội phạm với Provo, Utah và xếp hạng 197 về tỉ lệ tội phạm trong số 216 thành phố của Hoa Kỳ có dân số trên 100.000 dân. Tội phạm hình sự tại New York giảm hơn 75% từ năm 1993 đến năm 2005 và tiếp tục giảm trong suốt các thời kỳ mà toàn nước Mỹ có sự gia tăng. Năm 2005, tỉ lệ giết người ở vào mức độ thấp nhất kể từ năm 1966, và trong năm 2007 thành phố được ghi nhận có ít hơn 500 vụ giết người, lần đầu tiên kể từ khi các thống kê về tội phạm được công bố vào năm 1963.
Các nhà xã hội học và tội phạm học đã không đạt được đồng thuận về lý do giải thích tại sao có sự giảm tỉ lệ tội phạm của thành phố. Một số người cho rằng hiện tượng này xảy ra là nhờ vào những chiến lược mới được Sở Cảnh sát Thành phố New York sử dụng trong đó có việc sử dụng hệ thống "CompStat" (thống kê bằng điện toán) và lý thuyết có tựa đề "broken windows theory" (lý thuyết về các chiến lược truy tìm và loại bỏ tội phạm đô thị). Những người khác thì cho rằng cơn sốt sử dụng ma túy đã đến hồi kết và có sự thay đổi về nhân khẩu.
Tội phạm có tổ chức đã từ lâu có liên hệ đến New York, bắt đầu với nhóm tội phạm có tên "Forty Thieves" (có lẽ theo tên của Ali Baba và 40 tên cướp) và "Roach Guards" (băng cướp người Ái Nhĩ Lan) trong khu dân cư Five Points vào thập niên 1820. Trong thế kỷ 20, có sự trỗi dậy của băng đảng Mafia Mỹ do Năm gia đình gốc Ý cầm đầu. Các băng đảng khác còn có nhóm "Black Spades" phát triển vào cuối thế kỷ 20.
== Giáo dục ==
Hệ thống trường công của thành phố do Sở Giáo dục Thành phố New York điều hành là hệ thống lớn nhất tại Hoa Kỳ. Khoảng 1,1 triệu học sinh được dạy trong trên 1.200 trường trung và tiểu học. Có khoảng 900 trường, gồm cả tôn giáo và ngoài tôn giáo, tư thục khác trong thành phố, trong đó có một số trường tư thục nổi tiếng nhất Hoa Kỳ. Mặc dù thành phố chưa bao giờ được xem là một thị trấn đại học (college town) nhưng có khoảng 594.000 sinh viên đại học tại New York, con số cao nhất so với bất cứ thành phố nào ở Hoa Kỳ. Năm 2005, ba trong năm cư dân của quận Manhattan là sinh viên tốt nghiệp đại học và một trong bốn cư dân có các cấp bằng cao. Điều đó đã làm cho thành phố trở thành một trong những nơi tập trung cao nhất số người có giáo dục bậc cao so với bất cứ thành phố nào của Hoa Kỳ. Giáo dục công cộng sau trung học do hệ thống Đại học Thành phố New York (City University of New York, một hệ thống đại học công lớn thứ ba toàn quốc) và Viện Kỹ thuật Thời trang (Fashion Institute of Technology) thuộc Đại học Tiểu bang New York đảm trách. Thành phố New York cũng là nơi có những trường đại học tư danh tiếng như Đại học Barnard, Đại học Columbia, Cooper Union, Đại học Fordham, Đại học New York, The New School, và Đại học Yeshiva. Thành phố có hàng tá các đại học và cao đẳng tư nhỏ hơn, bao gồm nhiều học viện tôn giáo và học viện khác như Đại học St. John, Trường Juilliard và Trường Nghệ thuật Thị giác (School of Visual Arts).
Nhiều nghiên cứu khoa học tại thành phố được thực hiện trong các khoa đời sống và y học. Thành phố New York có số lượng bằng cấp sau đại học khoa đời sống nhiều nhất, được trao hàng năm tại Hoa Kỳ. Thành phố có 40.000 bác sĩ có bằng hành nghề và 127 người đoạt giải Nobel có nguồn gốc tốt nghiệp từ các học viện địa phương. Thành phố nhận số quỹ hàng năm nhiều thứ hai từ cơ quan "Các viện Y tế Quốc gia" (National Institutes of Health) so với tất cả các thành phố Hoa Kỳ. Các viện nghiên cứu y tế sinh học gồm có Trung tâm Ung thư Memorial Sloan-Kettering, Đại học Rockefeller, Trung tâm Y tế SUNY Downstate, Trường Y khoa Albert Einstein, Trường Y khoa Mount Sinai và Trường Y khoa Weill Cornell, Đại học Cornell.
Thư viện Công cộng New York là nơi có số lượng sách lớn nhất, hơn bất cứ hệ thống thư viện công cộng nào tại Hoa Kỳ. Nó phục vụ các quận Manhattan, The Bronx, và Đảo Staten. Thư viện Công cộng Quận Queens, hệ thống thư viện công cộng lớn thứ hai toàn quốc, phục vụ quận Queens và Thư viện Công cộng Brooklyn phục vụ quận Brooklyn. Thư viện Công cộng New York có vài thư viện nghiên cứu trong đó có Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa người Da đen Arthur Schomburg.
Thành phố New York cũng có nhiều trường tư thục đặc biệt và xuất sắc nhất trên toàn quốc. Các trường này gồm có Trường Brearley, Trường Dalton, Trường Spence, Trường Browning, Trường The Chapin, Trường Nightingale-Bamford và Convent of the Sacred Heart nằm phía đông Thượng Manhattan; Trường Collegiate và Trường Trinity nằm phía tây Thượng Manhattan; Trường Horace Mann, Trường Văn hóa Đạo đức Fieldston và Trường Riverdale Country trong khu Riverdale, Bronx; và Học viện Packer Collegiate và Trường Saint Ann trong khu Brooklyn Heights, Brooklyn.
Một số trường trung học nổi tiếng của Thành phố New York, thường được xem là tốt nhất toàn quốc, gồm có: Trung học Hunter College, Trung học Stuyvesant, Trung học Khoa học Bronx, Trung học Kỹ thuật Brooklyn, Bard High School Early College, Trung học Townsend Harris, và Trung học LaGuardia. Thành phố là nơi có trường trung học Công giáo La Mã lớn nhất tại Hoa Kỳ là Trường Dự bị St. Francis trong khu Fresh Meadows, Queens, và trường người Mỹ gốc Ý chính thức duy nhất trên toàn quốc là La Scuola d'Italia nằm phía đông Thượng Manhattan.
== Giao thông ==
Không như mọi thành phố lớn khác tại Hoa Kỳ, chuyên chở công cộng là kiểu chuyên chở phổ biến nhất của New York. Khoảng 54,6% người dân New York ra vào thành phố làm việc trong năm 2005 sử dụng giao thông công cộng. Khoảng một phần ba số người sử dụng giao thông công cộng tại Hoa Kỳ và hai phần ba số người sử dụng giao thông đường sắt trên toàn quốc sống trong vùng đô thị Thành phố New York. Điều này trái ngược với phần còn lại của quốc gia, nơi có khoảng 90% người ra vào thành phố làm việc bằng xe hơi. New York là thành phố duy nhất tại Hoa Kỳ có hơn phân nửa hộ gia đình không có xe hơi. Tại Manhattan, hơn 75% cư dân không có xe hơi trong khi tỷ lệ của toàn quốc là 8%. Theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, cư dân New York bỏ ra bình quân 38,4 phút mỗi ngày để đi đến nơi làm việc - thời gian đến nơi làm việc dài nhất trong số những thành phố lớn trên toàn quốc.
Hệ thống xe lửa Amtrak phục vụ Thành phố New York tại Ga Pennsylvania. Amtrak phục vụ nối đến các thành phố Boston, Philadelphia và Washington, D.C. dọc theo tuyến Hành lang Đông Bắc cũng như phục vụ tuyến đường dài đến các thành phố như Chicago, New Orleans, Miami, Toronto và Montreal. Ga xe buýt Cơ quan Quản lý Cảng (Port Authority Bus Terminal), ga xe buýt chính liên thành phố của thành phố, phục vụ 7.000 xe buýt và 200.000 người ra vào thành phố để làm việc hàng ngày. Vì thế nó trở thành ga xe buýt bận rộn nhất trên thế giới.
New York City Subway là hệ thống trung chuyển nhanh lớn nhất trên thế giới khi tính về số lượng các nhà ga hoạt động, gồm 468 nhà ga. Nó là hệ thống lớn thứ ba khi tính về số lượng người đi xe điện hàng năm (1,5 tỉ lượt người đi trong năm 2006). Xe điện ngầm New York cũng nổi tiếng vì gần như toàn bộ hệ thống này phục vụ 24 tiếng mỗi ngày, khác với các hệ thống tại nhiều thành phố khác là thường hay ngưng phục vụ qua đêm trong số đó có London Underground, Paris Métro, Washington Metro, Madrid Metro và Tokyo Subway. Hệ thống chuyên chở tại Thành phố New York rộng khắp và phức tạp. Nó gồm có cầu treo dài nhất (cầu Verrazano-Narrows) tại Bắc Mỹ, đường hầm có hệ thống cơ học thông hơi đầu tiên trên thế giới (Đường hầm Holland), hơn 12.000 xe taxi màu vàng, một đường xe cáp (Roosevelt Island Tramway) chuyên chở những người ra vào làm việc giữa đảo Roosevelt và quận Manhattan, và một hệ thống phà nối liền quận Manhattan với những vùng địa phương lân cận khác nhau trong phạm vi bên trong và ngoài thành phố. Phà bận rộn nhất tại Hoa Kỳ là Phà Đảo Staten hàng năm chuyên chở trên 19 triệu hành khách trên một thủy lộ dài 8,4 km (5,3 dặm Anh) giữa Đảo Staten và Hạ Manhattan. Hệ thống trung chuyển nhanh tên Staten Island Railway chỉ phục vụ quận Đảo Staten. Đường sắt "PATH" (viết tắt của Port Authority Trans-Hudson, nghĩa là Cơ quan Quản lý Cảng Trans-Hudson) nối hệ thống xe điện Thành phố New York đến các điểm trong đông bắc tiểu bang New Jersey.
Đội xe buýt và hệ thống đường sắt công cộng nội thành của Thành phố New York là lớn nhất Bắc Mỹ. Hệ thống đường sắt nối các khu ngoại ô trong Vùng ba-tiểu bang đến thành phố gồm có Đường sắt Long Island, Đường sắt Metro-North và New Jersey Transit. Các hệ thống kết hợp này gặp nhau tại Ga Grand Central và Ga Pennsylvania và gồm có hơn 250 ga và 20 tuyến đường sắt.
Thành phố New York là cửa ngõ hàng đầu cho hành khách hàng không quốc tế đến Hoa Kỳ. Khu vực có sân bay lớn phục vụ, đó là Phi trường Quốc tế John F. Kennedy, Phi trường Quốc tế Newark Liberty và Phi trường LaGuardia. Có kế hoạch mở rộng một sân bay thứ tư là Phi trường Quốc tế Stewart gần Newburgh, NY. Phi trường này do Cơ quan Quản lý Cảng New York và New Jersey (đây là cơ quan điều hành ba phi trường lớn vừa nói ở phần trên) trưng dụng và mở rộng để làm một phi trường "dự phòng" để giúp đối diện với số lượng hành khách ngày càng đông. 100 triệu hành khách sử dụng ba phi trường trong năm 2005 và không lưu của thành phố là nơi bận rộn nhất tại Hoa Kỳ. Du lịch ra nước ngoài khởi hành tại các phi trường John F. Kennedy và phi trường Newark chiếm 1/4 tổng số khách du lịch Hoa Kỳ đi ra nước ngoài trong năm 2004.
Nhờ vào tỉ lệ cao số người sử dụng chuyên chở công cộng, 120.000 người dùng xe đạp đi lại hàng ngày và nhiều người đi bộ để đến nơi làm việc nên Thành phố New York trở thành thành phố lớn sử dụng năng lượng có hiệu quả nhất tại Hoa Kỳ. Đi bộ và đi xe đạp chiếm 21% giao thông tại thành phố; tỉ lệ trung bình cho các vùng đô thị trên toàn quốc là khoảng 8%.
Để bổ sung hệ thống chuyên chở công cộng to lớn của New York, thành phố cũng có một hệ thống rộng khắp gồm các xa lộ tốc hành và đường công viên (parkway) nối Thành phố New York với phía bắc tiểu bang New Jersey, quận Westchester, Long Island, và tây nam tiểu bang Connecticut bằng nhiều cầu và đường hầm. Vì những xa lộ này phục vụ hàng triệu cư dân ngoại ô ra vào New York làm việc nên chuyện những người lái xe bị kẹt xe hàng giờ trên các xa lộ này là chuyện thường thấy mỗi ngày, nhất là vào giờ cao điểm. Cầu George Washington được xem là một trong số các cây cầu bận rộn nhất trên thế giới tính theo lượng xe lưu thông.
Mặc dù Thành phố New York phụ thuộc vào chuyên chở công cộng nhưng đường sá của thành phố cũng được xem là một đặc điểm đáng chú ý của thành phố. Bảng quy hoạch đường phố Manhattan năm 1811 có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển bề mặt thành phố. Một số đường phố của thành phố như Broadway, Phố Wall và Đại lộ Madison cũng được dùng như một hình thức ngắn gọn để gọi các ngành công nghiệp quốc gia nằm ở đó: theo thứ tự vừa kể là nhà hát (Broadway), tổ chức tài chính (Phố Wall), quảng cáo (Đại lộ Madison).
== Thành phố kết nghĩa ==
Thành phố New York có mười thành phố kết nghĩa được hội Thành phố Kết nghĩa Quốc tế (Sister Cities International) công nhận. Về điểm tương đồng với New York, trừ Bắc Kinh, tất cả các thành phố kết nghĩa với New York đều là đô thị đông dân nhất tại quốc gia đó. Ngược lại có một sự bất tương đồng khác: trừ Johannesburg, các thành phố này đều là những thủ đô chính trị quốc gia (trên thực tế hay de jure). New York và các thành phố kết nghĩa đều là những trung tâm kinh tế chính nhưng chỉ có một số ít trong các thành phố kết nghĩa này có vị thế như Thành phố New York trong vai trò là một hải cảng lớn hiện nay.
Năm được ghi phía dưới là năm mà thành phố đó kết nghĩa với New York.
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
NYC.gov – website chính thức của thành phố
NYC Bloggers – hàng ngàn blog của dân New York, được liệt kê theo chỗ đợi xe điện
Times Square Webcams
New York City Wiki – thời sự |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.