filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
tiếng samoa.txt | Tiếng Samoa (Gagana Sāmoa, (phát âm là ŋaˈŋana ˈsaːmoa) là ngôn ngữ của cư dân ở quần đảo Samoa, bao gồm quốc gia Samoa độc lập và vùng lãnh thổ Samoa thuộc Mỹ của Hoa Kỳ.
Cùng với tiếng Anh, tiếng Samoa là ngôn ngữ chính thức ở cả hai thực thể. Tiếng Samoa là một ngôn ngữ thuộc họ ngôn ngữ Polynesia và là ngôn ngữ thứ nhất của hầu hết 246.000 cư dân trên quần đảo Samoa. Cùng với nhiều người Samoa sinh sống tại các quốc gia khác, tổng số người sử dụng ngôn ngữ này được ước tính là khoảng 370.000 người. Ngôn ngữ này được chú ý với âm vị học khác biệt giữa lối nói mang tính nghi thức và không mang tính nghi thức cùng như một hình thái ngôn ngữ trang trọng được sử dụng trong nhà nguyện ở Samoa.
== Lịch sử ==
Dấu vết khảo cổ lâu đời nhất từ thời tiền sử tại Samoa được các nhà khoa học New Zealand xác định là có niên đại cách ngày nay khoảng 3.000 năm từ một điểm Lapita tại Mulifanua được khai quật từ thập kỉ 1970.
== Hệ thống chữ viết và bảng chữ cái ==
Những cuộc tiếp xúc lần đầu tiên với người châu Âu bắt đầu vào thế kỷ 18 và theo sau là thời kỳ thuộc địa tại Thái Bình Dương. Người Samoa không có chữ viết cho đến giai đoạn đầu đến giữa thế kỷ 19 khi các nhà truyền giáo Ki-tô giáo bắt đầu ghi chép ngôn ngữ bằng chữ cái Latinh này để phục vụ cho mục đích giảng đạo. Năm 1834, một lối chính tả cho tiếng Samoa đã được Đoàn Truyền giáo Luân Đôn đưa ra và chúng được in ấn vào năm 1939. Kinh thánh hoàn chỉnh đầu tiên (Tusi Pa'ia, Sách Thánh) bằng tiếng Samoa được hoàn thành và xuất bản vào năm 1862.
=== Chữ cái ===
Bảng chữ cái tiếng Samoa chỉ bao gồm 14 chữ cái: năm nguyên âm, a e i o u, và chín phụ âm, f g l m n p s t v. Tên vào đó, có hai dấu phụ: một dấu âm dài (fa'amamafa) được dùng để biểu thị năm nguyên âm dài là ā ē ī ō ū, trong manu 'đọng vật', mānu 'bè, lênh đênh'. Một dáu móc khác, ʻ (koma liliu hay 'okina), được dùng để biểu thị âm tắc thanh hầu, giống như các ngôn ngữ Polynesia khác.
== Chỉ dẫn ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói
== Liên kết ngoài ==
Samoan Grammar
Online Samoan Dictionary
Basic Samoan Vocabulary
Samoan Language Audio Recordings
Gagana Samoa: A Samoan Language Coursebook (2009), Galumalemana Afeleti L. Hunkin (Programme Director, Samoan Studies, Victoria University of Wellington), University of Hawai'i Press. |
chi luân lan.txt | Chi Luân lan (Eulophia) là một chi có 210 loài. Chúng được John Lindley mô tả lần đầu tiên vào năm 1821. Chúng thường là loài lan đất dù một số là loài biểu sinh và hiếm khi là thạch sinh. Chúng phân bố ở vùng rừng mưa tối hay ở cây bụi và cây gỗ mở ở các xứ nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Phi, Ấn Độ, châu Á, Queensland (Úc), và châu Mỹ, dù phần lớn được tìm thấy ở châu Phi. Nhiều loài có thể sống sót qua mùa khô. Một số loài như Eulophia petersii, đã thích nghi với môi trường rất khô cằn.
== Các loài ==
== Hybrids ==
Eulophia × burundiensis (= E. cucullata × E. flavopurpurea) (Burundi)..
Eulophia × pholelana (= E. ovalis var. bainesii × E. zeyheriana) (S. Africa)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bản mẫu:WestAfricanPlants |
seymour papert.txt | Seymour Papert (sinh ngày 1 tháng 3 năm 1928 tại Pretoria, Nam Phi) từng là giáo sư toán học, khoa học máy tính tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT).
Ngày 7 tháng 12 năm 2006, khi đi qua một ngã tư tại Hà Nội, Việt Nam, ông bị một chiếc xe máy đâm phải. Ông được đưa ngay vào bệnh viện để phẫu thuật não lấy các cục máu tụ . Sau hơn 1 tuần điều trị tại Bệnh viện Việt Pháp, ngày 16 tháng 12, Seymour Papert được đưa về Boston, Hoa Kỳ để tiếp tục chữa trị . Sau hơn một tháng điều trị, ông ra viện với trình trạng sức khỏe khả quan .
Hai vụ tai nạn liên tiếp do xe máy tại Hà Nội làm hai giáo sư - Seymour Papert bị chấn thương sọ não và Nguyễn Văn Đạo bị chết - đã dấy nên một phong trào hạn chế tai nạn giao thông ở Việt Nam, nhất là ở lứa tuổi thanh thiếu niên [1].
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tiểu sử tại Viện Công nghệ Massachusetts
Trang chủ của Seymour Papert
Quỹ Logo (Logo Foundation) |
hoa kiều.txt | Hoa kiều (phồn thể: 海外華人; giản thể: 海外华人; phồn thể: 海外華人, Hán Việt: Hải ngoại Hoa nhân) là những người sinh sống bên ngoài Trung Hoa lục địa, Hồng Kông, Ma Cao hay Đài Loan nhưng có nguồn gốc Hán. Có khoảng 40 triệu Hoa kiều, hầu hết sống tại vùng Đông Nam Á là thành phần sắc dân đa số ở Singapore, thiểu số quan trọng ở Indonesia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam và Malaysia. Kiều dân người Hoa đến các vùng này vào khoảng giữa thế kỷ 16-19, hầu hết xuất phát từ các tỉnh ven biển Quảng Đông và Phúc Kiến (nhóm người Hoklo), tiếp đó là Đài Loan và Hải Nam. Thuật ngữ "Hoa Kiều" có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn là bao gồm tất cả những người có nguồn gốc từ Trung Quốc, chẳng hạn như người Tây Tạng lưu vong hoặc gồm những người chỉ có một phần là người Hoa.
Gần đây đích di cư nhắm về Bắc Mỹ và châu Úc, chủ yếu là đến Hoa Kỳ, Úc, Canada và New Zealand.
Hoa kiều khác nhau nhiều về mức độ đồng hoá, tương tác với cộng đồng xung quanh (xem Phố Tàu) và mối liên hệ với Trung Quốc. Ở Thái Lan, phần lớn Hoa kiều kết hôn và đồng hoá với cộng đồng bản xứ. Ở Myanma, người Hoa hiếm khi kết hôn với người bản xứ nhưng lại theo văn hoá Miến Điện, duy trì đặc tính Hoa và Miến. Trái lại, ở Malaysia và Singapore, Hoa kiều vẫn giữ đặc tính chủng tộc riêng biệt.
Thường những làn sóng di dân khác nhau dẫn đến hình thành các phân nhóm trong số Hoa kiều, như những di dân cũ và mới ở Campuchia và Indonesia. Người Hoa ở các nước Đông Nam Á thường tham gia vào thương mại và tài chính. Và khả năng kinh doanh của người Hoa tại các khu vực này đều được đa phần người bản xứ công nhận. Ở Bắc Mỹ, nhờ các chính sách di trú, Hoa kiều thường có mặt trong các ngành nghề chuyên môn, các nghề có thứ hạng cao trong y khoa và học thuật.
== Thuật ngữ ==
Tiếng Trung có nhiều thuật ngữ khác nhau để đề cập đến khái nhiệm này. Huáqiáo (giản thể: 华侨; phồn thể: 華僑, Hoa Kiều) hay Hoan-kheh trong tiếng Phúc Kiến (tiếng Trung: 番客) dùng để đề cập đến công dân Trung Quốc sinh sống ngoài Trung Quốc. Huáyì (giản thể: 华裔; phồn thể: 華裔; Bạch thoại tự: Hôa-è, Hoa duệ) dùng để đề cập đến người thuộc dân tộc Hán sinh sống ngoài Trung Quốc. thuật ngữ thường dùng khác là 海外华人 (hǎiwài huárén, hải ngoại hoa nhân); và từ này thường được chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sử dụng để đề cập đến những người thuộc sắc tộc Trung Hoa sinh sống ngoài Trung Quốc nói chung mà không xét tới quốc tịch.
Trong tiếng Việt, cụm từ Hoa kiều vẫn được dùng phổ biến và tồn tại song song với từ Việt kiều để đề cập đến những người gốc Việt nói chung tại nước ngoài mà không kể tới quốc tịch, mặc dù vậy, thuật ngữ "kiều" có nghĩa là "ở nhờ" và không thích hợp để chỉ những người đã mang quốc tịch nước ngoài.
Hoa kiều thuộc sắc tộc Hán như Quảng Đông, Phúc Kiến, hay Khách Gia đề cập tới Hoa kiều với tên gọi 唐人 (tángrén, đường nhân), đọc là tòhng yàn trong tiếng Quảng Đông, Tn̂g-lâng trong tiếng Mân Nam, và tong nyin trong tiếng Khách Gia. Từ "đường nhân" ám chỉ đến nhà Đường khi chế độ này kiểm soát toàn bộ Trung Nguyên.
== Thống kê ==
== Xem thêm ==
Người Việt gốc Hoa
Việt kiều
Đài duệ
== Chú thích == |
đường phố.txt | Đường phố là một công trình xây dựng công cộng với đặc trưng là đường sá làm trung tâm gắn môi trường xây dựng ở hai bên vỉa hè của đường (nhà cửa, công trình, quảng trường, nhà hát lớn, công viên, chợ, siêu thị, cửa hàng, tụ điểm văn hóa khác…) hay nói một cách đơn giản, đường phố chính là những con đường đi qua hoặc xây dựng trên một hay những con phố nhất định. Về cấu trúc vật chất và hạ tầng, đường phố chính là một thửa đất dài và liền kề các tòa nhà trong một không gian đô thị, trong đó cư dân có thể tự do đi lại, dạo chơi, mua sắm, đi bộ….. Một đường phố có thể có bề mặt đơn giản như là một đường đất đỏ với nhiều bụi bẩn hoặc có thể là một kết cấu vật chất bền vững hơn, cứng hơn như bê tông, đá, sỏi, gạch tùy theo điều kiện kinh tế và sự đầu tư nhằm phù hợp nhất với sự lưu thông và giao thông.
== Thuật ngữ ==
Từ đường phố từ nguyên có nghĩa đơn giản chỉ một con đường trải nhựa (tiếng Latin: "via strata"). Từ "đường phố" vẫn còn đôi khi được sử dụng một cách bình dân thì nó đồng nghĩa "đường sá". Từ đường phố có nguồn gốc từ tiếng Latin có nghĩa là "con đường trải nhựa" và được phân loại dựa trên địa tầng và phân tầng các loại đất. Trong tiếng Hy Lạp cổ đại từ "Stratos" có nghĩa là quân đội (thuộc về quân đội) vì người Hy Lạp ban đầu con đường xây dựng để di chuyển quân đội là chính. Trong tiếng Anh nguyên nghĩa của đường phố là chỉ về những "những ngôi làng liền kề không có trật tự".
== Đặc điểm ==
Đường phố bao gồm vị trí dành cho người đi bộ, những lòng đường, lề đường, làn đường, vĩa hè, các ngả ba, ngã tư, ngã sáu, các bùng binh (vòng xoay, vòng xuyến), ngõ hẻm, đồng thời có các công trình phụ liên quan đến giao thông, vệ sinh đô thị như cầu, cống, hố ga, đèn giao thông…. Thông thường các đường phố trung tâm thành phố nhất là thành phố lớn và hay kẹt xe. Ngược lại, đường cao tốc và các đường ở phố xá ở vùng ngoại ô, vùng ven, ngoại thành thì lưu lượng giao thông ít hơn.
Đường phố là một công trình phụ là một trong số ít những công trình công cộng được chia sẻ giữa tất cả các thành phần xã hội. Thậm chí nó còn là nơi cư ngụ của một số thành phần phức tạp trong xã hội như ăn mày, vô gia cư, lang thang, bụi đời, nghiện hút, bỏ nhà ra đi…., đường phố duy trì một loạt các hoạt động xã hội quan trọng qua đó làm nền tảng cho nền văn minh. Vai trò của đường phố rất quan trọng.
Đường phố có thể được phân loại một cách lỏng lẻo như đường lộ là các ngõ, ngách, hẻm phố. Đường lộ thường rộng rãi và tập trung các hoạt động nhộn nhịp, tấp nập của phố xá. Các hoạt động thương mại, văn hóa, giải trí, các sự kiện có thể diễn ra trên đường phố. Con hẻm phố và ngỏ yên tĩnh hơn, thường ở trong sử dụng sử dụng làm bãi đậu xe, đi bộ, hay dành cho bóng đá đường phố. Hoạt đồng quan trọng nhất của đường phố và cũng là minh chứng cho một thành phố có hồn, có sức sống hay năng động chính là yếu tố lưu thông trên đường phố, hoạt động giao thông vận tải, thương mại, văn hóa, giải trí…..
== Tham khảo ==
A virtual exhibition on the history of streets
AskOxford: What is the difference between a 'street' and a 'road'?
streetnote, street music Live street music and musicians from the streets of the USA
[1] Biannual exhibition of poetry and documentary about streets and traffic.
Streetsblog – News focusing on streets and street life in the modern urban landscape. (No affiliation.)
What distinguishes a street from a lane from a road from a boulevard, etc.? – An Ask Yahoo! editor's examination of the issue.
A Treatise on Highway Construction, Designed as a Text-book and Work of Reference for All who May be Engaged in the Location, Construction, Or Maintenance of Roads, Streets, and Pavements, By Austin Thomas Byrne, 1900 – Boston appears to be the first city trong Hoa Kỳto pave its streets, by 1663, many with pebbles.
Famous streets, roads and byways
== Xem thêm ==
Đường phố ăn uống
Thức ăn đường phố
Võ đường phố (trò chơi điện tử)
Tranh phun sơn |
tên gọi của hà nội qua các thời kỳ lịch sử.txt | Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long - Hà Nội có nhiều tên gọi. Ở đây chia các tên gọi thành hai loại: Chính quy và không chính quy, theo thứ tự thời gian như sau (mời xem chi tiết tại các bài liên quan):
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Những tên gọi của Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử, Báo Dân trí
Tên gọi Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử, Báo Lao động |
dân chủ tại việt nam.txt | Dân chủ tại Việt Nam đề cập đến tình hình dân chủ và các vấn đề liên quan đến dân chủ tại Việt Nam. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định sớm đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, thực hiện "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Hiện nay, văn bản pháp lý cao nhất quy định về dân chủ nói chung tại Việt Nam là Hiến pháp Việt Nam 2013, ở cấp cơ sở thì có Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
Theo xếp hạng theo Chỉ số dân chủ năm 2012 do Tạp chí Economist tiến hành, Việt Nam đứng thứ 144 trên tổng số 167 quốc gia được xếp hạng. Theo danh sách của tạp chí này, Việt Nam nằm trong nhóm chính phủ độc tài thiếu dân chủ.
== Quá trình phát triển dân chủ tại Việt Nam từ 1945 ==
=== Dân chủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ===
Trong Tuyên ngôn độc lập 1945 do Hồ Chí Minh viết, đã khẳng định quyền tự do dân chủ của tất cả người dân Việt Nam. Trong Hiến pháp 1946, Lời nói đầu khẳng định ba nguyên tắc cơ bản của bản Hiến pháp này:
Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo;
Đảm bảo các quyền tự do dân chủ;
Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.
Như vậy, ngay từ khi thành lập nước, tự do dân chủ đã trở thành ưu tiên hàng đầu, là mục tiêu phấn đấu. Tất cả các cuộc chiến tranh sau này dành thống nhất đất nước, cũng là để đảm bảo sự tự do, độc lập của đất nước, của nhân dân.
Theo nhận định của báo Pháp luật Thành phố, đó là bản Hiến pháp 1946 mang "ít chất xã hội chủ nghĩa, duy ý chí, tập trung quan liêu bao cấp như các hiến pháp sửa đổi lại sau đó". Tuy nhiên, những quy định trong Hiến pháp năm 1946 hầu hết đều không trở thành hiện thực. Đảng Lao động Việt Nam đã thiết lập một nền chuyên chính vô sản tại Việt Nam.
=== Dân chủ Việt Nam Cộng Hòa ===
Hệ thống chính trị tại Việt Nam Cộng Hòa cho phép quyền dân chủ khá phổ biến, như cho phép đa đảng, quyền biểu tình, bầu cử phổ thông đầu phiếu cho vị trí Tổng thống... Hiến pháp 1967 xác lập cơ cấu tổ chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa rất hoàn chỉnh, theo mô hình của nhà nước Hoa Kỳ. Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa đã thể hiện khá đầy đủ tinh thần của chủ nghĩa hợp hiến.
=== Dân chủ tại Việt Nam từ 1975 đến nay ===
Trong thời kỳ sau 1975 đến 1988, tại Việt Nam có ba Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam và Đảng Dân chủ Việt Nam. Từ năm 1988, Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam tuyên bố ngừng hoạt động, tại Việt Nam chỉ còn một đảng duy nhất lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện tại theo Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo toàn dân và Nhà nước.
Những năm đầu 1990, Việt Nam thực sự đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa theo các tiêu chuẩn quốc tế. Dưới sức ép của quốc tế, đồng thời muốn tham gia cộng đồng quốc tế, tham gia WTO, Việt Nam ký kết một loạt các công ước quốc tế về Nhân quyền và dân chủ. Sau khi Việt Nam ký kết Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Chương trình hành động Vienna 1993, Việt Nam tiến hành sửa đổi Hiến pháp (1992), công nhận các quyền con người theo các thỏa thuận đã ký. Nhà nước Việt Nam cho rằng nền dân chủ ở Việt Nam do Đảng Cộng sản và nhân dân xây dựng sẽ tiếp tục hoàn thiện, mở rộng và phát huy. Xây dựng và hướng tới một xã hội xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nếu so sánh với tiêu chuẩn của hệ thống dân chủ phương Tây, Việt Nam hiện có nhiều vấn đề trong thực thi dân chủ theo các cam kết mà Việt Nam đã ký. Trước hết là quyền tự do bầu cử, lựa chọn ứng cử viên. Tiếp đó là các quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do báo chí và truy cập thông tin theo nhiều nguồn, quyền tự do tôn giáo.
Chính vì vậy, các tổ chức nhân quyền quốc tế cho rằng ở Việt Nam "không có dân chủ". Việt Nam bị Economist Intelligence Unit (EIU) xếp vào nhóm chính thể chuyên chế cùng với Trung Quốc và Miến Điện. Nhiều năm, bộ ngoại giao Mỹ cũng xếp Việt Nam vào nhóm nước "chưa có dân chủ, hạn chế tự do báo chí, tôn giáo".
Theo điều 4 Hiến pháp hiện hành, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo toàn diện mọi hoạt động của xã hội. Theo Hiến pháp thì người dân Việt Nam bầu ra Quốc hội là những người đại diện cho dân, các đại biểu Quốc hội sẽ bầu ra chủ tịch nước và chính phủ. Tuy nhiên, do cơ chế quy hoạch và hiệp thương đại biểu, nên có nhiều vấn đề trong việc lựa chọn ứng cử viên. Các ứng cử viên thường nằm trong danh sách do trên quy hoạch đưa xuống. Do đó, đa số Đại biểu quốc hội, cũng như các chức danh trong Chính phủ, quản lý cấp trung ương tới địa phương đều là theo quy hoạch, là Đảng viên Đảng Cộng sản.
Trong Quốc hội đã có những tiếng nói phản biện, nghi ngại về hiệu quả hoạt động của chính phủ. Đặc biệt sau những vấn đề trong quản lý của Chính phủ (vụ Vinashin, vụ cho thuê rừng, vụ tham nhũng PCI...), có nhiều tiếng nói của đại biểu yêu cầu thay đổi cơ chế quản lý hiện nay trong kinh tế. Lần đầu tiên một đại biểu quốc hội yêu cầu Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm Chính phủ, yêu cầu Chính phủ xin lỗi nhân dân.
Trước đó, lần đầu tiên Quốc hội bỏ phiếu bác bỏ một dự thảo Xây dựng đường sắt cao tốc Bắc Nam của chính phủ, dù đã được coi là nghị quyết của Bộ Chính trị. Nhiều cán bộ cao cấp lên tiếng đề nghị chính phủ thận trọng trong dự án Bauxite Tây Nguyên, ví dụ như Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình.
Một số tờ báo vạch rõ nguy cơ của việc thiếu dân chủ, dân chủ hình thức qua đó kiến nghị những giải pháp để Đảng Cộng sản Việt Nam đổi mới, mở rộng dân chủ trong và ngoài Đảng, trong bầu cử, trong lựa chọn lãnh đạo, trong ra quyết định.
Chính phủ Việt Nam khẳng định luôn quan tâm đến dân chủ và tìm cách mở rộng, phát huy dân chủ ở Việt Nam, tuy nhiên họ cũng nhìn nhận rằng Hoa Kỳ và các nước phương Tây đã sử dụng vấn đề dân chủ làm một chiêu bài, "vũ khí" trong chiến lược Diễn biến hòa bình nhằm mục đích chuyển hóa, lật đổ, và thay thế các nhà nước xã hội chủ nghĩa. Chính phủ Việt Nam luôn nhấn mạnh việc không chấp nhận các lực lượng ngoại quốc lấy lý do dân chủ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, cũng như việc một số cá nhân trong nước "Đội lốt dân chủ" để tiến hành vu cáo, xuyên tạc, bóp méo thông tin, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam.
Phó chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Thị Doan nói: dân chủ của Việt Nam "cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản". Tại hội nghị Công an toàn quốc chiều ngày 17/12/2012 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu: "cương quyết không để nhen nhóm hình thành các tổ chức chính trị đối lập chống phá và đi ngược lợi ích của đất nước, của nhân dân".
Theo báo Nhân dân, nền dân chủ ở Việt Nam là nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa. Theo đó, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là trọng tâm. Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật và các công cụ khác, nhưng việc sử dụng bất cứ công cụ nào cũng phải trong khuôn khổ pháp luật. Thông qua thực thi pháp luật, nhà nước thể hiện nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.
== Các cá nhân và tổ chức đấu tranh vì dân chủ ==
Sau Cải cách ruộng đất từ 1953-1956, miền Bắc Việt Nam đã nhen nhóm những tiếng nói đòi quyền tự do trong đời sống xã hội, như Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm nhưng đã thất bại. Sau 1975, khi đất nước thống nhất, cả nước theo Chủ nghĩa Xã hội, một số phong trào chống đối chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn còn tại miền Nam, do các cá nhân của chế độ Việt Nam cộng hòa thực hiện, tuy vậy tất cả đều thất bại. Đặc biệt là bắt đầu từ quá trình "mở cửa", "đổi mới" được bắt đầu 1985-1986, các cá nhân và tổ chức tự nhận là đấu tranh vì dân chủ trong nước bắt đầu xuất hiện. Đặc biệt, khi chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới bị sụp đổ, phong trào xét lại bắt đầu hình thành. Nhiều câu hỏi đặt ra như: "tại sao chủ nghĩa xã hội tại Đông Âu lại sụp đổ?", "ưu điểm của dân chủ tư bản chủ nghĩa?" .
Trần Độ và một số người khác: Trung tướng Trần Độ nguyên Trưởng Ban Văn hóa - Văn nghệ Trung ương. Từ năm 1991 cho đến khi mất vào tháng 8/2002, ông Trần Độ đã góp phần vào việc nuôi dưỡng phong trào cùng với các ông Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang. Trần Độ kêu gọi "khôi phục vai trò, vị trí vốn có của Quốc hội, Chính phủ. Phải thực hiện đúng Hiến pháp, tức là sửa chữa các đạo luật chưa đúng tinh thần Hiến pháp. Đó là phải có những đạo luật ban bố quyền tự do lập hội, lập đảng, tự do ngôn luận, luật báo chí, xuất bản. Sửa chữa các luật bầu cử ứng cử tự do, từ bỏ quyền quyết định của cơ quan tổ chức Đảng, trừ bỏ "hiệp thương" mà thực chất là gò ép".
Khối 8406: Khối 8406 là tên gọi của một nhóm hoạt động chính trị, gồm một số cá nhân tự nhận là những người kêu gọi cho dân chủ tại Việt Nam. Tên "Khối 8406" xuất phát từ tuyên ngôn công bố ngày 8 tháng 4 năm 2006 của nhóm. Chính phủ Việt Nam cho rằng hoạt động của nhóm này vi phạm pháp luật Việt Nam và đã kết án một số thành viên, trong đó có Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân. Họ muốn người dân Việt Nam có được tự do, dân chủ như các nước văn minh trên thế giới như ở Tiệp Khắc: cách mạng Nhung là một cuộc cách mạng bất bạo động tại Tiệp Khắc diễn ra từ ngày 16 tháng 11 năm 1989 đến ngày 29 tháng 12 cùng năm và dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa tại nước này. Sự kiện này nằm trong chuỗi sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa tại khắp các nước Đông Âu khác trong năm 1989.
Câu lạc bộ Nhà báo tự do: một số cá nhân tổ chức ra câu lạc bộ nhà báo tự do, cổ vũ tự do ngôn luận. Một số thành viên chủ chốt gồm Nguyễn Văn Hải (blogger), AnhbaSG, Tạ Phong Tần,...
Phong trào Boxit Việt Nam: của một số trí thức yêu cầu Chính phủ từ bỏ dự án Bauxit Tây Nguyên và Đảng Cộng sản tiến hành cải cách, dân chủ hơn, lắng nghe ý kiến trong và ngoài nước khi tiến hành lãnh đạo. Đây là sự phản kháng trước một số vấn đề nổi cộm hiện nay của Đảng lãnh đạo và Chính phủ quản lý (bao gồm: dự án Bô xít, dự án Đướng Sắt cao tốc Bắc Nam, vụ Vinashin,...). Website của Bauxit Việt Nam do Giáo sư Nguyễn Huệ Chi chủ biên.
Đảng Dân chủ Việt Nam (XXI): do ông Hoàng Minh Chính tuyên bố khôi phục 2006 nhưng hoạt động không có hiệu quả do sự cấm đoán trong nước, do không huy động được sự ủng hộ, ông Hoàng Minh Chính cũng không có tiếng nói.
Tập hợp Thanh niên Dân chủ: do Nguyễn Tiến Trung thành lập, gồm một số thanh niên trong và ngoài nước tập hợp kêu gọi dân chủ tại Việt Nam. Họ cho rằng nước Việt Nam vẫn chưa có dân chủ và nhân quyền, do đó mục tiêu tối hậu được họ tuyên bố là thúc đẩy dân chủ hóa đất nước.
Các đảng phái ngoài nước: chủ yếu do giới Việt kiều tổ chức. Một số đã giải tán, số còn lại thuộc Ủy ban Phối hợp Hành động vì dân chủ, là ủy ban phối hợp ngoài nước một số Đảng phái Việt kiều đòi dân chủ. Bốn thành viên thuộc Ủy ban gồm đảng dân chủ Nhân dân, Phong trào Lao động Việt, Tập hợp vì Công lý và đảng Việt Tân. "Người Việt hải ngoại tuy có nhiều ý kiến về tiến trình dân chủ cho Việt Nam, nhưng thiếu một sự thống nhất tư tưởng, thiếu một lộ trình và các điều kiện đánh giá cụ thể.". Trong số này đảng Việt Tân đã bị chính phủ Việt Nam liệt vào danh sách các nhóm khủng bố.
Các tổ chức tôn giáo: Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
Các tổ chức phi chính phủ: một số tổ chức phi chính phủ cổ vũ cho dân chủ tại Việt Nam bao gồm: "Que Me: Action for Democracy in Vietnam" do Thích Quảng Độ là một thành viên chính.
Các cá nhân: một số cá nhân được nhiều người biết như Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Cù Huy Hà Vũ... Nhiều blogger bị bắt và bị buộc các tội khác nhau. Các tin tức nhận định về dân chủ của những tổ chức, cá nhân này thường được họ phổ biến trên mạng internet.
Các phong trào: nhóm Kiến nghị 72 đề nghị thay đổi Hiến pháp thêm quyền dân chủ cho nhân dân, Mạng Lưới Blogger Việt Nam chống lại Điều 258 Bộ Luật Hình sự
== Các hoạt động thúc đẩy dân chủ tại Việt Nam thực hiện bởi các tổ chức quốc tế ==
Đại sứ Thụy Sĩ Jean-Hubert Lebet thay mặt cho Canada, Na Uy và New Zealand và nước mình, bày tỏ lo ngại mức độ đói nghèo "đang thực sự tăng" ở một số dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa. Ông Lebet nhấn mạnh về "tầm quan trọng của việc đảm bảo quyền tự do bày tỏ ý kiến và tiếp cận thông tin không nên bị cản trở trong bối cảnh Việt Nam chuyển đổi dần sang nền kinh tế tri thức". Các nhà quan sát nói rằng có đợt trấn áp mới đang được tiến hành đối với các blogger và các nhà hoạt động vì căng thẳng chính trị tăng cao trước Đại hội Đảng.
Các hiệp định kinh tế giữa EU và ASEAN, mà trong đó Việt Nam là một thành viên, đều đặt vấn đề tôn trọng nhân quyền lên hàng đầu.
Các tổ chức và chính phủ quốc tế cũng thường yêu cầu Việt Nam trả tự do cho các nhà hoạt động dân chủ bị cầm tù.
== Ý kiến của các cá nhân nổi bật ==
=== Ý kiến của ông Nguyễn Văn An ===
Nguyên chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An đã nhận định: "Cách mạng dân tộc dân chủ [ở Việt Nam] chưa hoàn thành cơ bản,... mới làm được phần Cách mạng dân tộc, đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành lại độc lập cho dân tộc; còn phần Cách mạng dân chủ thì mới làm được một phần, mới đánh đổ vua chúa phong kiến, còn rất nhiều nội dung của Cách mạng dân chủ chưa làm được, đến tận ngày nay vẫn còn nhiều vấn đề về dân chủ... cũng chưa làm được." Ngoài ra, ông còn nói rằng "người dân còn chưa được phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia thông qua trưng cầu dân ý",.
Cũng theo lời ông Nguyễn Văn An, "Các hình thức hoạt động tự nguyện của các cộng đồng, các tầng lớp nhân dân nhằm phát huy mọi nguồn lực và góp phần phản biện xã hội theo hướng xây dựng xã hội dân sự còn nghèo nàn và hạn chế. Nạn hành chính giấy tờ quan liệu, nhũng nhiễu còn khá nặng nề... Nghĩa là còn rất nhiều quyền dân chủ đương nhiên của một công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nay là nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mà nhân dân ta đến nay vẫn chưa được hưởng một cách trọn vẹn."
Khi bàn về tính dân chủ trong Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Văn An cho biết rằng "Ở nước có đa đảng tham chính, thông thường các Đảng họ quy định đảng viên của Đảng đó phải bỏ phiếu theo lập trường của Đảng đó... các Đảng tranh giành lá phiếu với nhau, tranh giành lợi ích cho Đảng mình. Ở Việt Nam, Đảng ta không phải tranh giành lá phiếu với đảng nào cả mà chỉ là lá phiếu của những đảng viên, của những người đại biểu nhân dân tán thành hay không tán thành một điểm nào hay cả chủ trương, chính sách nào đó của Ban lãnh đạo Đảng... Trong thực tiễn đã có rất nhiều trường hợp đảng viên trong Quốc hội, kể cả ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương đã bỏ phiếu thuận theo lòng dân, không theo chỉ thị nghị quyết của Bộ chính trị, của Ban chấp hành TƯ và đã được Đảng và Nhà nước chấp nhận, nhân dân đồng tình và hoan nghênh. Đó là điều Đảng ta cần và phải làm khác với các đảng ở các nước có nhiều đảng tham chính để phát huy dân chủ thật sự trong đảng, trong xã hội".
Ngoài ra, ông nói "Làm như lâu nay thì chưa thật dân chủ trong Đảng, cũng chưa thật dân chủ trong dân, còn mang nhiều tính hình thức, thụ động, dân ít quan tâm." Để giải quyết lỗi hệ thống này, ông An đưa ra giải pháp rằng "có thể có nhiều đồng chí đưa ra những cương lĩnh tranh cử khác nhau, dăm ba cương lĩnh chẳng hạn, sau đó trong Đảng lựa chọn ra hai ba cương lĩnh tranh cử để đưa ra dân lựa chọn, như sự tranh cử trong nội bộ một Đảng của các nước có đa đảng tham chính. Như vậy, dân sẽ có cơ hội lựa chọn cương lĩnh tranh cử và người đứng đầu cương lĩnh để trở thành cương lĩnh phát triển của đất nước và nguyên thủ quốc gia trong một nhiệm kỳ xác định..."
=== Ý kiến của ông Lê Hiếu Đằng ===
Vào tháng 8/2013, trong bài viết "Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh" đăng trên báo Người Việt (xuất bản ở Quận Cam, California, Mỹ), ông Lê Hiếu Đằng nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam ở TP HCM viết đảng Cộng sản đã phản bội lý tưởng cách mạng, phản bội nhân dân, phản bội những người góp phần xây dựng nên chế độ, trong đó có ông, cũng như việc cần thiết phải dân chủ hóa, xây dựng thể chế đa đảng để cứu đất nước thoát khỏi tình thế nguy cấp hiện tại, kêu gọi thành lập chính đảng mang tên Đảng Dân chủ Xã hội.
== Xem thêm ==
Dân chủ
Tham nhũng tại Việt Nam
Bất đồng chính kiến ở Việt Nam
Nhân quyền tại Việt Nam
Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm
Diễn biến hòa bình
Biểu tình tại Việt Nam
Kiểm duyệt Internet ở Việt Nam
Khối 8406
== Liên kết ngoài ==
Tư tưởng Hồ Chí Minh và Dân chủ tại Việt Nam
Phong trào dân chủ Việt Nam: hậu Trần Độ
Đảng Lãnh đạo trong chế độ dân chủ Nhân dân
Nạn chạy chức chạy quyền
Các chỉ số dân chủ Việt Nam
== Chú thích == |
nhà hát hồng hà.txt | Nhà hát Hồng Hà nằm ở 51 Đường Thành, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, là nơi dành cho bộ môn nghệ thuật tuồng. Được xây dựng năm 1954, nhà hát là nơi biểu diễn chính của Nhà hát Tuồng Việt Nam. Tuy vậy nơi đây cũng biểu diễn của biểu diễn chèo, cải lương, kịch nói vào nhưng khi đoàn tuồng không biểu diễn. Nhà hát Hồng Hà có 393 ghế ngồi, trong có 273 ghế gần sân khấu và 120 ghế ở khu vực ban công. Sân khấu nhà hát rộng 7,89 mét, cao 6,41 mét.
== Chú thích == |
bùi xuân phái.txt | Bùi Xuân Phái (1 tháng 9 năm 1920 - 24 tháng 6 năm 1988) là một danh họa của Việt Nam ngang tầm thế giới, đặc biệt nổi tiếng với các tác phẩm vẽ về Phố cổ Hà Nội (Phố Phái).
== Tiểu sử ==
Quê gốc của ông là ở làng Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay là thủ đô Hà Nội, Việt Nam). Ông tốt nghiệp khoa Hội họa trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa 1941–1946. Tham gia kháng chiến, tham dự triển lăm nhiều nơi. Năm 1952 về Hà nội, sống tại nhà số 87 Phố Thuốc Bắc cho đến khi mất. Năm 1956-1957 giảng dạy tại Trường Mỹ thuật Hà Nội. Tham gia phong trào Nhân văn Giai phẩm, phải đi học tập lao động trong một xưởng mộc tại Nam Định và ban giám hiệu nhà trường đã đề nghị ông phải viết đơn xin thôi không giảng dạy tại trường Mỹ thuật.
== Sự nghiệp hội họa ==
Bùi Xuân Phái là một trong những họa sĩ thuộc thế hệ cuối cùng của sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, cùng thời với các danh họa Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên - những tên tuổi ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Ông chuyên về chất liệu sơn dầu, đam mê mảng đề tài phố cổ Hà Nội. Ngay từ lúc sinh thời, sáng tạo của ông đã được quần chúng mến mộ gọi dòng tranh này là Phố Phái.
Tranh phố của Bùi Xuân Phái vừa cổ kính lại rất hiện thực, thể hiện rõ hồn cốt của phố cổ Hà Nội những thập niên 50, 60, 70. Các mảng màu trong tranh Phái thường có đường viền đậm nét, phố không những trở thành chính nó mà còn gần hơn với con người, từ bề mặt đến cảnh quan đều có chiều sâu bên trong. Ngắm tranh phố cổ của Phái, người xem nhận thấy họa sĩ đã gửi gắm những kỉ niệm, những hoài cảm cùng nỗi buồn man mác, tiếc nuối bâng khuâng trên từng nét vẽ, như điềm báo về sự đổi thay và biến mất của từng mái nhà, từng con người mang hồn phách xưa cũ.
Ngoài phố cổ, ông còn vẽ các mảng đề tài khác, như: chèo, chân dung, nông thôn, khỏa thân, tĩnh vật... rất thành công. Nhiều tranh của Bùi Xuân Phái đã được giải thưởng trong các cuộc triển lãm toàn quốc và thủ đô. Ông vẽ trên vải, giấy, bảng gỗ, thậm chí cả trên giấy báo khi không có đủ nguyên liệu. Ông dùng nhiều phương tiện hội họa khác nhau như sơn dầu, màu nước, phấn màu, chì than, bút chì... Các tác phẩm của ông biểu hiện sâu xa linh hồn người Việt, tính cách nhân bản và lòng yêu chuộng tự do, óc hài hước, đậm nét bi ai và khốn khổ. Ông đã góp phần rất lớn vào lĩnh vực minh họa báo chí và trình bày bìa sách, được trao tặng giải thưởng quốc tế (Leipzig) về trình bày cuốn sách "Hề chèo" (1982).
Do tham gia phong trào Nhân văn Giai phẩm, từ năm 1957 trở đi, hoạt động của ông dần bị hạn chế. Để kiếm sống, ông phải vẽ tranh minh họa và tranh vui cho các báo, lấy bút hiệu là: PiHa, ViVu, Ly. Mãi đến năm 1984 ông mới có được cuộc triển lãm cá nhân (đầu tiên và cũng là duy nhất), nhận được sự đánh giá cao từ phía công chúng, đồng nghiệp. Với 24 bức tranh được khách hàng đặt mua ngay trong ngày khai mạc, có thể coi đây là triển lãm thành công nhất so với trước đó tại Việt Nam. Đó cũng là lần đầu tiên, Đài truyền hình Trung ương dành thời lượng lớn phát sóng để giới thiệu về cuộc đời và tác phẩm của Bùi Xuân Phái trong chương trình Văn học Nghệ thuật.
Mặc dù cuộc sống khó khăn nhưng với tình yêu nghệ thuật, khát khao tìm tòi và thể hiện cái đẹp dung dị đời thường bằng những nét vẽ cọ, Bùi Xuân Phái đã không ngừng vẽ, sáng tạo nghệ thuật ngay cả khi không mua được vật liệu và ông đã phải tận dụng mọi chất liệu như vỏ bao thuốc lá, giấy báo… Ông cũng là họa sĩ đã gạt bỏ mọi toan tính đời thường để cho ra đời các tác phẩm dung dị, đơn giản nhưng đầy tâm tư sâu lắng. Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
=== Tác phẩm chính ===
Phố cổ Hà Nội - Sơn dầu 1972
Hà Nội kháng chiến - Sơn dầu 1966
Xe bò trong phố cổ - Sơn dầu 1972
Phố vắng - Sơn dầu 1981
Hóa trang sân khấu chèo - Sơn dầu 1968
Sân khấu chèo - Sơn dầu 1968
Vợ chồng chèo - Sơn dầu 1967
Trước giờ biểu diễn - 1984
=== Giải thưởng mỹ thuật ===
Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật năm 1996
Giải thưởng triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1946
Giải thưởng triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1980
Giải thưởng đồ họa Leipzig (Đức)
Giải thưởng Mỹ thuật Thủ đô các năm 1969, 1981, 1983, 1984
=== Tặng thưởng ===
Huy chương Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam 1997
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Huỳnh Văn Gấm
Tạ Thúc Bình
Hoàng Lập Ngôn
Nguyễn Trọng Niết
Nhân văn Giai phẩm
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Anh)Gallery của Bùi Xuân Phái
(tiếng Việt) Trang chủ
Họa sỹ Bùi Xuân Phái
Chân dung Bùi Xuân Phái trong sưu tập Nguyễn Đình Đăng ký hoạ các nghệ sĩ Việt Nam
"Nhớ bác Phái" của Nguyễn Đình Đăng
Họa sĩ đang vẽ tranh trong bộ phim Hà Nội trong mắt ai |
thúy vân.txt | Thúy Vân là một nhân vật trong Truyện Kiều của đại văn hào Nguyễn Du.
== Thân thế ==
Thúy Vân là em của Thúy Kiều, chị của Vương Quan. Thúy Vân theo mô tả của Nguyễn Du là "khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang", nàng được xem như một người tài sắc vẹn toàn chỉ sau chị mình, Thúy Kiều nhưng cuộc đời ít chịu sóng gió như chị mình. Thúy Vân cuối cùng đã kết hôn với Kim Trọng trong thời gian Thúy Kiều bán mình chuộc cha và phải chịu cảnh sống lưu lạc 15 năm.
Vẻ đẹp của Thúy Vân qua mô tả của Nguyễn Du:
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
Ở đây tác giả đã ví vẻ đẹp của Thúy Vân như những gì đẹp đẽ nhất, đặc sắc nhất, thiêng liêng nhất của tinh hoa đất trời: hoa, trăng, ngọc, mây, tuyết. Tất cả đều lột tả vẻ đẹp của một người phụ nữ. "Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang". Tác giả đã miêu tả khuôn mặt của Thúy Vân như khuôn trăng đầy đặn, vừa tròn vừa sáng. Ý nói khuôn mặt của Thúy Vân rất đẹp. Nhưng tác giả lại thêm vào câu thơ một cụm từ "nét ngài nở nang". Theo chú thích SGK thì "nét ngài" có nghĩa là mày của Vân rất đậm. Nhưng cũng nhiều người khác cho rằng nét ngài có nghĩa là nét người (theo tiếng Nghệ Tĩnh)."Hoa cười ngọc thốt đoan trang" một lần nữa tác giả đã thể hiện nét đẹp của Thúy Vân còn có ở nụ cười tươi như hoa, lời nói trong ngọc và tính nết đoan trang, dịu dàng. "Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da". không chỉ vậy, tác giả còn miêu tả "mây thua nước tóc", ý nói tóc của Thúy Vân còn đẹp hơn, óng ả hơn cả mây và "tuyết nhường màu da" nghĩa là da của Vân còn trắng hơn cả tuyết. Qua đó cho ta thấy Thúy Vân có một vẻ đẹp phúc hậu, khiến thiên nhiên cũng phải khiêm nhường và Nguyễn Du cũng thật tài tình khi chỉ với 4 câu thơ mà ông đã có thể miêu tả tất cả những gì đẹp nhất của Thúy Vân. Có thể nói 4 câu thơ đã miêu tả rõ cuộc sống vui vẻ hạnh phúc của Vân khác hơn so với Thúy Kiều. Kiều thì đẹp nhưng số phận không tốt đẹp như Vân. Sau khi Kiều trở về, chính Vân cũng là người vun vén, ủng hộ để Thuý Kiều và Kim Trọng nối lại duyên với nhau. Có thể thấy Thuý Vân vô cùng rộng lượng và bao dung.
== Tham khảo == |
kwame nkrumah.txt | Kwame Nkrumah (21 tháng 9 năm 1909 - 27 tháng 4 năm 1972), là một nhà theo chủ nghĩa liên Phi có tầm ảnh hưởng của thế kỷ 20 và người đứng đầu Ghana và Nhà nước trước đó của Ghana Gold Coast, từ 1952 đến 1966.
Ông từng là thủ tướng dưới thời người Anh cai trị từ năm 1952 đến 1960, khi Ghana độc lập thì ông trở thành tổng thống. Là một người xã hội chủ nghĩa, với tư tưởng chống chủ nghĩa đế quốc, vào năm 1965 ông viết một cuốn sách lấy tên là "Chủ nghĩa thực dân mới: Giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc".
Nkrumah bị tình báo Mỹ CIA lật đổ trong cuộc đảo chính năm 1966 và phải sang tị nạn ở România. CIA đã phủ nhận mọi liên quan nhưng báo chí Anh đưa tin có 40 sĩ quan CIA hoạt động tại đại sứ quán Mỹ đã "cung cấp hào phóng cho các kẻ thù bí mật của tổng thống Nkrumah" và công việc của họ "đã được thưởng công đầy đủ". Cựu sĩ quan CIA John Stockwell tiết lộ thêm về vai trò quyết định của CIA trong vụ đảo chính với cuốn sách "In Search of Enemies".
== Tác phẩm ==
"Negro History: European Government in Africa," The Lincolnian, 12 tháng 4 năm 1938, p. 2 (Lincoln University, Pennsylvania) - see Special Collections and Archives, Lincoln University
Ghana: The Autobiography of Kwame Nkrumah (1957) ISBN 0-901787-60-4
Africa Must Unite (1963) ISBN 0-901787-13-2
African Personality (1963)
Neo-Colonialism: the Last Stage of Imperialism (1965) ISBN 0-901787-23-X
Axioms of Kwame Nkrumah (1967) ISBN 0-901787-54-X
African Socialism Revisited (1967)
Voice From Conakry (1967) ISBN 90-17-87027-3
Handbook for Revolutionary Warfare (1968) - first introduction of Pan-African pellet compass
Consciencism: Philosophy and Ideology for De-Colonisation (1970) ISBN 0-901787-11-6
Class Struggle in Africa (1970) ISBN 0-901787-12-4
The Struggle Continues (1973) ISBN 0-901787-41-8
I Speak of Freedom (1973) ISBN 0-901787-14-0
Revolutionary Path (1973) ISBN 0-901787-22-1
== Đọc thêm ==
Birmingham, David. Kwame Nkrumah: The Father of African Nationalism (Athens: Ohio University Press), 1998.
Tuchscherer, Konrad. "Kwame Francis Nwia Kofie Nkrumah", Encyclopedia of Modern Dictators, ed. by Frank J. Coppa (New York: Peter Lang), 2006, các trang 217–220.
Davidson, Basil. "Black Star - A View of the Life and Times of Kwame Nkrumah" (James Currey Publishers, Oxford UK) 1973.
Mwakikagile, Godfrey. Nyerere and Africa: End of an Era, Third Edition (Pretoria, South Africa: New Africa Press), 2006, Chapter Twelve, "Nyerere and Nkrumah: Towards African Unity," các trang 347–355.
Poe, D. Zizwe. Kwame Nkrumah's Contribution to Pan-African Agency (New York: Routledge), 2003.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Ghana-pedia webpage - Dr. Kwame Nkrumah
Ghana-pedia webpage - Operation Cold Chop: The Fall Of Kwame Nkrumah
Dr Kwame Nkrumah
Excerpt from Commanding Heights by Daniel Yergin and Joseph Stanislaw
Timeline of events related to the overthrow of Kwame Nkruma
The Kwame Nkrumah Lectures at the University of Cape Coast, Ghana, 2007
Kwame Nkrumah Information and Resource Site
Ghana re-evaluates Nkrumah của The Global Post
Dr Kwame Nkrumah's Midnight Speech on the day of Ghana's independence - 6 tháng 3 năm 1957 |
asada mao.txt | Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Asada. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Asada Mao (phát âm như A-xa-đa Ma-ô, kanji: 浅田 真央, phiên âm Hán-Việt: Thiển Điền Chân Ương, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1990) là một nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật người Nhật.
== Tiểu sử ==
Asada Mao sinh năm 1990 tại Nagoya, thủ phủ tỉnh Aichi vùng Chubu. Tên cô (浅田 真央) được cha mẹ đặt theo tên của nữ diễn viên Nhật Daichi Mao (大地 真央, Daichi Mao Đại Địa Chân Ương). Với thành tích nhảy quay ba vòng trên không (triple axel), cô có thể được ghi tên vào Sách Kỉ lục Guinness xuất bản năm 2011.
== Tập luyện ==
== Thành tích ==
Nhất đơn nữ trượt băng nghệ thuật ISU Junior Grand Prix 2004-2005
Huy chương vàng đơn nữ trượt băng nghệ thuật World Junior Figure Skating Championships 2005
4 lần vô địch đơn nữ trượt băng nghệ thuật Nhật Bản (2006, 2007, 2008 và 2009)
Huy chương bạc đơn nữ trượt băng nghệ thuật Thế vận hội Mùa đông 2010 tại Vancouver, Canada
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Mao Asada tại Wikimedia Commons |
windows live messenger.txt | Windows Live Messenger (WLM), hay vẫn được gọi bằng tên trước đây của nó MSN Messenger (gọi tắt là MSN), là một trình nhắn tin nhanh dành cho Windows XP, Windows Server 2003, Windows Vista, và Windows Mobile, phát hành lần đầu vào 13 tháng 12 năm 2005 bởi Microsoft. Nó là một bộ phận của nhóm các dịch vụ trực tuyến Windows Live của Microsoft. Phiên bản hiện tại là Windows Live Messenger 8.1, được phát hành vào 29 tháng 1 năm 2007. Phiên bản 8.5 Beta đã được phát hành vào 31 tháng 5 năm 2007.
"MSN Messenger" (hay chỉ là "MSN") thường được dùng để chỉ Microsoft Network (những giao thức và máy chủ giúp hệ thống vận hành), mà để chỉ chương trình cụ thể nào cả. Các công ty có thể tích hợp Live Communication Server và Active Directory với mạng nhờ vào chương trình trên máy. Phần lớn các máy loại đa giao thức có thể kết nối đến dịch vụ.
== Các tính năng mới của Windows Live Messenger ==
So với các tính năng đã có của MSN Messenger, Windows Live Messenger vượt trội hơn ở những tính năng sau:
=== Chia sẻ thư mục ===
Tính năng Sharing Folder (Chia sẻ thư mục) của Windows Live Messenger là một tính năng thay thế cho phương pháp phân phối tập tin "truyền trực tiếp". Khi một người dùng muốn gửi một tập tin cho người dùng khác trong sổ địa chỉ, cửa sổ "sharing folder" xuất hiện, và trình bày tất cả các tập tin đã chia sẻ trước đây.
Khi tập tin được thêm vào "sharing folder" dành cho một người cụ thể đó, tập tin sẽ được tự động truyền tới máy tính tương ứng khi họ online. Điều này có nghĩa là thư mục gọi là "được chia sẻ" giữa hai máy tính. Nếu một người xóa một tập tin, tập tin đó cũng sẽ bị xóa khỏi thư mục được chia sẻ của máy tính tương ứng.
Để tối thiểu nguy cơ nhiễm virus khi truyền, tính năng "sharing folder" được gắn kèm một chương trình diệt virus. Tính năng "sharing folder" chỉ có thể dùng được trên máy tính có ổ cứng được định dạng theo NTFS.
=== Cuộc gọi từ PC tới điện thoại ===
Ngoài tính năng PC-tới-PC đã được hỗ trợ trong các phiên bản khác, Windows Live Messenger nay đã hỗ trợ cuộc gọi PC-tới-điện thoại với Windows Live Call. Ở Mỹ, tính năng này được hỗ trợ bởi Verizon, với thương hiệu "Verizon Web Calling". Tính năng này chỉ có ở một số nước, gồm có Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Áo, Ireland, Phần Lan, Bỉ, Tây Ban Nha và Ý.
=== Tin nhắn Offline (ngoại tuyến) ===
Không giống các phiên bản trước, giờ đây người dùng có thể bắt đầu cuộc nói chuyện ngay cả khi trạng thái của người đó được đặt là "Xuất hiện offline", giống như Yahoo! Messenger. Nếu bạn đang nói chuyện với một ai đó đang dùng chương trình MSN Messenger cũ, họ sẽ mất đi khả năng nói chuyện với bạn sau một khoảng thời gian ngắn không hoạt động, do chương trình của họ cho rằng bạn đã offline. Vì hiện nay Windows Live Messenger đã có phiên bản cho điện thoại di động, một trào lưu mới gửi tin nhắn qua Windows Live Messenger như một cách để có các tin nhắn chữ SMS miễn phí đang xuất hiện.
=== Trò chơi và ứng dụng ===
Có nhiều trò chơi và ứng dụng có sẵn trên Windows Live Messenger và có thể truy cập bằng cách nhấn vào biểu tượng trò chơi và thách thức "người bạn" của mình.
=== Khởi đầu i’m ===
Khởi đầu i’m là một chương trình mới của Microsoft ra đời vào tháng 5 năm 2007, kết nối người dùng với chín tổ chức hoạt động xã hội thông qua Windows Live Messenger. Mỗi khi người dùng có một cuộc hội thoại sử dụng i’m, Hãng Microsoft sẽ chia sẻ một phần doanh thu quảng cáo của chương trình cho tổ chức mà người dùng chọn. Không có mức trần cho số tiền quyên tặng cho mỗi tổ chức. Càng nhiều cuộc đàm thoại i’m; càng có nhiều tiền được hiến tặng cho một trong chín tổ chức đó. Mỗi tổ chức tham dự được đảm bảo một khoảng quyên góp tối thiểu là $100.000 trong năm đầu tiên của chương trình. Hiện chưa có thời gian kết thúc của chương trình. Khởi đầu i’m chỉ hoạt động với phiên bản Windows Live Messenger mới nhất 8.1 và 8.5 beta. Chương trình tồn tại ở 50 bang và thủ đô của Hoa Kỳ.
=== Xbox 360 ===
Bản hỗ trợ Windows Live Messenger cho Xbox 360 đã được phát hành trong danh sách Mùa xuân 2007 vào ngày 9 tháng 5 năm 2007. Nó có tên không chính thức là Windows Live Messenger 360.
Những ai đang dùng Windows Live Messenger có thể nhìn thấy Gamertags của người bạn đăng nhập vào Xbox Live, bao gồm cả trò chơi mà họ đang chơi. Người dùng Xbox 360 có thể chat khi đang chơi (hoặc khi đang xem phim). Mặc dù chỉ hỗ trợ ký tự, Microsoft đã nói rằng âm thanh và video sẽ được hỗ trợ trong các bản cập nhật tới.
Cũng để thích hợp với việc phát hành bản tích hợp Windows Live Messenger với Xbox Live, Microsoft đã tiết độ một bộ adaptor bàn phím mới gọi là Xbox 360 Chatpad để dễ nhập ký tự. Thiết bị bàn phím nối với tay cầm điều khiển Xbox 360 chuẩn thông qua đường tai nghe và cung cấp một bàn phím kiểu QWERTY với 47 phím. Vẫn có thể sử dụng các bàn phím USB khác cho Xbox 360.
Đối với những người dùng có "tài khoản trẻ nhỏ" (tài khoản được dùng cho trẻ em dưới 18 tuổi), tính năng Windows Live Messenger sẽ bị tắt. Hiện nay không có cách nào tránh khỏi chuyện này do hệ thống Xbox 360 Gamertag hiện không thể thay đổi hay cập nhật khi người dùng muốn đổi ID hay đến tuổi trưởng thành. Một giải pháp đang được lên kế hoạch cho bản cập nhật Xbox 360 Hè 2007.
=== Những thay đổi khác ===
Trạng thái "On the phone" (Bận nghe điện thoại) trong phiên bản trước đã được đổi tên thành "In a call" do việc thêm Windows Live Call vào.
Tên thân mật của các liên lạc cá nhân có thể được tinh chỉnh xuất hiện khác đi so với liên lạc đó đã thiết lập.
Tin nhắn từ những liên lạc nay đã có thể được gán thời điểm.
Windows Live Messenger có khả năng tắt tên liên lạc nếu cùng một người viết nhiều tin nhắn. Nếu điều đó xảy ra, tên liên lạc sẽ chỉ xuất hiện một lần ở tin nhắn đầu tiên. Tuy nhiên, nếu tin nhắn được gán thời điểm, và thời gian thay đổi, tên của liên lạc sẽ xuất hiện cùng với thời gian mới.
Bảng chọn màu có thể được điều chỉnh cho cả chương trình, bao gồm cửa sổ trạng thái, mà không chỉ cửa sổ hội thoại. Một trình đơn cọ vẽ được đặt bên dưới hộp tin nhắn cá nhân trong Windows Live Messenger, để cho phép lựa chọn màu sắc.
Microsoft Passport đã được thay thế bằng Windows Live ID.
Tìm kiếm Word wheel với danh sách liên lạc.
Trong version 8.1, hình ảnh và tin nhắn cá nhân của một người được lưu trữ trên máy chủ, do đó một người có thể đăng nhập ở bất cứ đâu, hình ảnh và tin nhắn sẽ vẫn xuất hiện. Tuy nhiên, tất cả các máy tính phải có tối thiểu là phiên bản 8.1 để tính năng này hoạt động.
== Giao thức ==
Windows Live Messenger sử dụng Microsoft Notification Protocol (MSNP - Giao thức Thông báo Microsoft) thông qua TCP (và được tùy chọn thông qua HTTP để đối phó với proxy) kết nối vào.NET Messenger Service—một dịch vụ cung cấp thông qua cổng 1863 của messenger.hotmail.com. Phiên bản hiện nay là 15 (MSNP15), được dùng bởi Windows Live Messenger và những chương trình khác của hãng thứ 3. MSNP15 giới thiệu một cơ chế xác nhận khác hẳn. Giao thức không hoàn toàn bí mật; Microsoft đã tiết lộ phiên bản 2 (MSNP2) cho các nhà phát triển vào năm 1999 trong một Bản nháp Internet, nhưng chưa bao giờ công bố các phiên bản từ 8 trở đi, nên cú pháp những lệnh mới từ phiên bản 8 đến 14 chỉ được biết khi sử dụng trình phân tích gói dữ liệu như Wireshark.
== Cạnh tranh ==
Những đối thủ đáng gờm nhất của Windows Live Messenger là AIM và ICQ (cả hai đều của AOL), Yahoo! Messenger, Skype, Pidgin (trước đây là Gaim) và chương trình dựa trên Jabbers trong đó có Google Talk.
Ở Trung Quốc, một chương trình tin nhắn nhanh có tên QQ được vùng vượt trội. Mặc dù được sử dụng ít bên ngoài Trung Quốc, số lượng người dùng nội địa có khoảng 226 triệu người. Tuy nhiên, sự phổ biến của nó đang dần yếu đi, vì sự xâm nhập vào thị trường Trung Quốc của MSN Messenger. Đến nay, MSN Messenger đã chiếm 17 phần trăm thị trường Trung Quốc.
== Các trình bổ sung của hãng thứ ba ==
Vài trình bổ sung thú vị hiện có để tinh chỉnh Windows Live Messenger, cho phép tính năng ẩn, hoặc mở rộng độ tương thích:
A-Patch (trang web)
Messenger Plus! Live (trang web)
WLM OSD Plugin — Hiển trị trên màn hình (trang web)
StuffPlug (trang web)
Mess Patch (trang web)
== phiên bản ==
=== MSN Messenger ===
Trước khi sản phẩm được đổi tên thành Windows Live Messenger, nó được đặt tên là "MSN Messenger" từ 1999 để 2006. Trong thời gian đó, Microsoft phát hành bảy phiên bản chính như sau. Phiên bản đầu tiên của MSN Messenger Service, phiên bản 1.0 (1.0.0863), được phát hành ngày 22 Tháng Bảy 1999. Nó bao gồm các tính năng cơ bản, chẳng hạn như tin nhắn văn bản đơn giản và liên hệ với một danh sách đơn giản. Khi lần đầu tiên được phát hành, nó tính năng hỗ trợ truy cập vào mạng AIM của America Online. Mỹ trực tuyến liên tục cố gắng để ngăn chặn Microsoft có quyền truy cập vào dịch vụ của họ cho đến khi cuối cùng các tính năng đã được gỡ bỏ, và nó đã không có bề mặt trong bất kỳ phiên bản sau của phần mềm. AOL đã làm điều này bằng cách khai thác một lỗi tràn bộ đệm trong AIM, làm cho nó thực hiện một bit của mã máy được gửi bởi máy chủ. Khi mã này chạy, nó quyết định nếu khách hàng là AIM và gửi tin nhắn lại để xác minh khách hàng. Kể từ đó, các phần mềm đã chỉ được phép kết nối với các dịch vụ riêng của mình, đòi hỏi phải có một tài khoản Windows Live ID (NET Passport tại thời điểm đó) để kết nối. Microsoft phát hành bản cập nhật lớn đầu tiên, phiên bản 2.0 (2.0.0083), ngày 16 tháng 11 năm 1999. Nó bao gồm một biểu ngữ quảng cáo luân phiên và khả năng để tùy chỉnh sự xuất hiện của cửa sổ chat. Nó đến như là một tùy chọn cài đặt cho Windows Me. Phiên bản này được làm theo các năm tiếp theo của phiên bản 3.0 (3.0.0080), được phát hành ngày 29 tháng năm 2000. Nó bao gồm chuyển file và từ PC đến PC và PC-to-phone khả năng âm thanh với Net2Phone, một trong các nhà cung cấp chưa cấp phát chính thức đầu tiên. Cùng với việc phát hành của Windows XP đến phiên bản 4.6 của MSN Messenger, vào ngày 23 tháng 10 năm 2001. Nó bao gồm những thay đổi lớn về giao diện người dùng, khả năng nhóm liên lạc, hỗ trợ cho các cuộc hội thoại bằng giọng nói. Trong phiên bản này, phần mềm máy khách được đổi tên từ "Dịch vụ MSN Messenger" để chỉ "MSN Messenger", trong khi các dịch vụ cơ bản đã được gọi là "NET Messenger Service". Phiên bản này chỉ tương thích với Windows 95, 98, Windows ME, NT 4.0, Windows 2000, bởi vì Microsoft đã cung cấp một chương trình thu nhỏ mới cho Windows XP, được gọi là Windows Messenger, nó ban đầu được dự định để thay thế MSN Messenger với trên Windows XP. Đó là chiến lược thay đổi khi phiên bản 5.0 của MSN Messenger được phát hành vào ngày 24 tháng 10 năm 2002. Đây là phiên bản đầu tiên đã được cho phép được cài đặt cùng với Windows Messenger trên Windows XP. Nó bao gồm UPnP (Universal Plug and Play) dựa trên chuyển file, thay đổi nhỏ để các tác phẩm nghệ thuật giao diện người dùng, và một giao diện Windows Media Player plug-in. Các năm tiếp theo, phiên bản 6.0 của MSN Messenger đã được phát hành ngày 17 tháng 7 năm 2003. MSN Messenger 6.0 là một đại tu lớn của toàn bộ nền tảng, nâng cấp giao diện đơn giản dựa trên văn bản bao gồm các yếu tố tùy biến như biểu tượng cảm xúc, avatar cá nhân, và nguồn gốc. Một bản cập nhật, phiên bản 6.1, tập trung vào cải tiến cho cửa sổ hội thoại, cho phép người sử dụng để ẩn khung cửa sổ và thanh menu, và cũng có khả năng thay đổi màu sắc chủ đề. Màu sắc chủ đề có thể được thiết lập khác nhau cho mỗi người dùng. Một cập nhật, phiên bản 6.2, được phát hành ngày 22 Tháng Tư năm 2004, và nó là phiên bản cuối cùng của loạt MSN 6 Messenger. Những thay đổi đáng chú ý nhất là một nhóm điện thoại di động chuyên dụng cho các số liên lạc điện thoại di động, gỡ rối kết nối, và các tính năng khởi động trang web đã được đổi tên thành Fun & Games. MSN Messenger nhận được một nâng cấp lớn cho phiên bản 7.0 vào ngày 07 Tháng Tư năm 2005. Phiên bản này mang lại nháy mắt tính năng mà trước đây chỉ có sẵn trong threedegrees. Phiên bản này cũng được quảng cáo mặt hàng để bán cho bạn bao gồm cả hình ảnh hiển thị sống động, biểu tượng cảm xúc và hình nền. Phong cách cửa sổ danh sách liên lạc cũng được cập nhật để phù hợp với các cửa sổ tin nhắn tức thời. Phiên bản này cũng giới thiệu các tính năng Xbox tích hợp Live. Đây là phiên bản mới nhất của MSN Messenger chạy trên Windows 98 và Windows Me. Phiên bản này cũng giới thiệu mực kỹ thuật số và hỗ trợ nhận dạng chữ viết tay. Phiên bản mới nhất của MSN Messenger trước khi thay đổi tên, phiên bản 7.5, được phát hành ngày 23 tháng 8 năm 2005. Các tính năng mới bao gồm các tính năng hình nền động và xử lý giao thức "msnim", cho phép các trang web để cung cấp các liên kết tự động thêm một số liên lạc hoặc bắt đầu cuộc hội thoại. Ngoài ra, một clip thoại tính năng mới cho phép người dùng giữ phím F2 và ghi lại tin nhắn cho tối đa là 15 giây và gửi nó đến người nhận. Cửa sổ cho cuộc hội thoại đã được thay đổi một chút với một nút video được thêm vào. Phiên bản này cũng giới thiệu trình cài đặt Windows cho tính năng tự động cập nhật của nó. MSN Messenger phiên bản 7.5 vẫn có thể được chạy bằng cách thay đổi các thiết lập tương thích với Windows 2000.
=== Windows Live Messenger 8.0 ===
Là một phần của nỗ lực Microsoft Live Windows, đổi tên nhiều dịch vụ và các chương trình hiện có MSN, MSN Messenger đã được đổi tên thành "Windows Live Messenger" bắt đầu với phiên bản 8.0. Các phiên bản beta đầu tiên mới được đổi tên thành Windows Live Messenger, Beta 1, đã được phát hành vào ngày 13 tháng 12 năm 2005. Thay đổi và bổ sung chủ yếu bao gồm tin nhắn offline, một tùy chọn để thay đổi chủ đề màu sắc của các cửa sổ, tách gửi và hộp tìm kiếm, bánh xe từ một hộp tìm kiếm trong cửa sổ chính, và các chi tiết bổ sung cho các địa chỉ liên lạc khi lơ lửng trên tên của họ trong cửa sổ danh sách liên lạc. Các phiên bản beta thứ hai của version 8.0, Beta 2, được phát hành vào ngày 26 Tháng Hai năm 2006. Chủ đề chung của phiên bản này đã được cải thiện, sửa chữa và cải thiện một số nơi nhỏ hơn trong chương trình. Thay đổi và bổ sung chủ yếu bao gồm việc giới thiệu Windows Live Contacts, tái áp chuyển tập tin duy nhất, cải thiện "Thêm Liên hệ" hộp thoại, chủ đề màu sắc được cải thiện, thay đổi nhỏ trong cửa sổ hội thoại, và quay trở lại của biểu tượng trạng thái "Bận" sao để biểu tượng dấu gạch ngang bình thường. Phiên bản beta cuối cùng, Beta 3, được phát hành vào ngày 02 tháng 5 năm 2006. Thay đổi và bổ sung chủ yếu bao gồm các biểu tượng mới cho chương trình, gọi điện thoại PC-to-phone, nhìn một cập nhật cho cửa sổ Windows Gọi sống, hình ảnh hiển thị mặc định mới, Hôm nay Windows Live, cải tiến các nhóm tin nhắn liên tiếp từ mỗi liên lạc, Rhapsody hội nhập ở Mỹ, và một tùy chọn cho âm thanh được chỉnh sửa và / hoặc tắt. Phát hành chính thức của Windows Live Messenger phiên bản 8.0 vào ngày 19 tháng 6 năm 2006. Mặc dù không có thay đổi đáng chú ý đã được thực hiện giữa Beta 3 và phiên bản cuối cùng, các thay đổi từ MSN Messenger Windows Live Messenger đưa thêm một số thay đổi, chẳng hạn như tùy biến cho các biệt danh liên lạc cá nhân, timestamps về tin nhắn, khả năng nhìn thấy tên của số liên lạc chỉ một lần nếu cùng một người viết nhiều tin nhắn trong một hàng, và phối màu cho toàn bộ ứng dụng. Hệ thống xác thực chính, Microsoft Passport Network, được thay thế bằng Windows Live ID cùng một lúc. Một làm mới phiên bản 8.0 được phát hành vào ngày 10 tháng 8 năm 2006. Nó bao gồm âm thanh và video cải tiến và sửa lỗi nhỏ.
=== Windows Live Messenger 8.1 ===
Phiên bản cuối cùng của 8.1
Phát hành vào 29 tháng 1 2007. Không có những sự thay đổi thực sự so với bản Beta 1 refresh.
Windows Live Messenger 8.5
Beta 1
Vào 27 tháng 5 năm 2007, LiveSide báo cáo một bản Windows Live Messenger bị lộ ra, bằng tiếng Tây Ban Nha. Bản beta tiếng Anh sau đó được phát hành vào 31 tháng 5 năm 2007 cho Hoa Kỳ, Anh, Ấn Độ, Pháp, Nhật Bản, Đức, Trung Quốc và Tây Ban Nha. Phiên bản cập nhật phát hành vào 21 tháng 6 năm 2007, để kiểm tra các nâng cấp đã được cài bằng Microsoft Update.
== Xem thêm ==
So sánh các chương trình tin nhắn nhanh
Microsoft Messenger cho Mac
Windows Live Call
=== Các chương trình khác ===
Adium (Mac OS X)
Meetro (Mac OS X & Windows)
Pidgin (Formerly Gaim) (nhiều platform)
Miranda IM
Naim (dòng lệnh)
Trillian (Windows)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Inside Windows Live Messenger — Windows Live Messenger Blog
MSN Messenger for other devices — Pocket PC, Pocket PC Phone Edition and Smartphone versions. |
bangladesh.txt | Bangladesh (phiên âm Tiếng Việt: Băng-la-đét), tên chính thức: Cộng hoà Nhân dân Bangladesh, là một quốc gia ở vùng Nam Á. Địa giới Bangladesh giáp Ấn Độ ở phía tây, bắc, và đông nên gần như bị bao vây trừ một đoạn biên giới giáp với Myanma ở phía cực đông nam và Vịnh Bengal ở phía nam. Cùng với tiểu bang Tây Bengal của Ấn Độ, quốc gia này là một thành phần của khu vực chung của dân tộc-ngôn ngữ Bengal. Địa danh Bangladesh có nghĩa "Đất nước Bengal" và được viết thành বাংলাদেশ và phát âm là ['baŋlad̪eʃ] trong tiếng Bengal chuẩn.
Biên giới của Bangladesh được xác định theo sự Phân chia Ấn Độ năm 1947, khi nó trở thành nửa phía đông của Pakistan (Đông Pakistan), chia cách 1.600 km (1.000 dặm) với nửa phía tây. Dù cùng có tôn giáo chính là Hồi giáo, sự ngăn cách về ngôn ngữ và dân tộc giữa phía đông và phía tây cộng với một chính phủ chủ yếu của Tây Pakistan, khiến nước này tuyên bố độc lập dưới sự lãnh đạo của Sheikh Mujibur Rahman năm 1971 sau một cuộc Chiến tranh giải phóng Bangladesh đẫm máu, với sự trợ giúp của Ấn Độ. Những năm sau độc lập là giai đoạn bất ổn chính trị của đất nước, với mười ba chính phủ và ít nhất bốn cuộc đảo chính quân sự.
Dân số Bangladesh xếp hạng thứ bảy trên thế giới, nhưng với diện tích chỉ gần 144.000 km² nó đứng hàng thứ 94, biến nước này trở thành một trong những nước có mật độ dân số cao nhất thế giới. Đây là quốc gia có cộng đồng Hồi giáo lớn thứ ba thế giới, nhưng số tín đồ Hồi giáo vẫn hơi ít hơn so với số tín đồ Hồi giáo tại Ấn Độ (dù Hồi giáo chỉ là tôn giáo phụ tại Ấn Độ). Về mặt địa lý, nước này chủ yếu gồm Đồng bằng sông Hằng-Brahmaputra, nước này cũng có những trận lụt theo gió mùa hàng năm, và thường có lốc xoáy. Bangladesh là một thành viên sáng lập Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp tác Khu vực (SAARC), BIMSTEC, và là một thành viên của Tổ chức Hội nghị Hồi giáo (OIC) và D-8.
== Lịch sử ==
Những tàn tích của nền văn minh tại vùng đại Bengal có niên đại từ 4.000 năm trước, khi vùng này là nơi sinh sống của người Dravida, Tạng-Miến và Nam Á. Nguồn gốc chính xác của từ Bangla hay Bengal hiện vẫn chưa được biết, dù mọi người tin rằng nó xuất phát từ bộ lạc Bang nói tiếng Dravida đã từng sống ở vùng này khoảng năm 1000 TCN. Sau khi người Ấn-Arya tới đây, vương quốc Gangaridai được thành lập từ ít nhất thế kỷ thứ 7 TCN, sau này vương quốc này thống nhất với Bihar thuộc Đế chế Magadha. Ở thời triều đại Maurya được Chandragupta Maurya thành lập, Đế chế Magadha trải dài hầu như một nửa tiểu lục địa Ấn Độ và nhiều phần của Ba Tư cũng như Afghanistan. Bengal sau này trở thành một phần của đế chế Gupta từ thế kỷ 3 tới thế kỷ 6. Sau khi đế chế này sụp đổ, một triều đại Bengal khá rực rỡ tên gọi Shashanka được thành lập nhưng không tồn tại lâu. Sau giai đoạn quân chủ, triều đại Pala Phật giáo cai trị vùng này trong hơn 400 năm, tiếp sau là một giai đoạn cầm quyền ngắn của triều đại Sena Hindu. Đạo Hồi bắt đầu du nhập vào Bengal ở thế kỷ 12 nhờ các nhà truyền giáo Sufi và những cuộc chinh phục sau này của Hồi giáo giúp tôn giáo này phát triển ra toàn vùng. Bakhtiyar Khalji, một vị tướng người Thổ Nhĩ Kỳ, đánh bại Lakshman Sen của triều đình Sena và chinh phục nhiều vùng rộng lớn tại Bengal. Vùng này nằm dưới sự cai trị của nhiều triều đại Hồi giáo và các vị lãnh chúa phong kiến trong 500 năm sau đó. Tới thế kỷ 16, đế chế Mughal kiểm soát Bengal, và Dhaka trở thành một trung tâm tỉnh lỵ quan trọng của chính quyền Mughal.
Những thương nhân châu Âu tới đây từ cuối thế kỷ 15, và ảnh hưởng của họ dần tăng lên tới khi Công ty Đông Ấn của Anh giành quyền kiểm soát Bengal sau trận Plassey năm 1757. Cuộc nổi dậy đẫm máu năm 1857, được gọi là cuộc binh biến Sepoy, dẫn tới việc quyền lực được giao cho hoàng gia Anh, với một vị phó vương người Anh quản lý bộ máy hành chính (Baxter, trang 30—32). Trong thời thuộc địa, nạn đói nhiều lần xảy ra trên tiểu lục địa Ấn Độ, gồm cả nạn đói Bengal năm 1770 khiến 3 triệu người chết. Trong giai đoạn từ 1905 đến 1911, một nỗ lực phân chia tỉnh Bengal thành hai vùng, với Dhaka là thủ phủ vùng phía đông đã sớm thất bại (Baxter, trang 39—40). Khi Ấn Độ bị chia sẻ năm 1947, Bengal được chia theo vùng tôn giáo, với vùng phía tây thuộc Ấn Độ và vùng phía đông trở thành lãnh thổ Pakistan với tên gọi là tỉnh Đông Bengal (sau này được đổi tên thành Đông Pakistan), với thủ phủ tại Dhaka. Năm 1950, cuộc cải cách ruộng đất hoàn thành ở Đông Bengal với việc bãi bỏ hệ thống phong kiến Zamindar (Baxter, trang 72). Tuy nhiên bất chấp sức mạnh kinh tế và nhân khẩu của phía đông, chính phủ Pakistan và quân đội vẫn bị thống trị bởi tầng lớp thượng lưu phía tây. Phong trào ngôn ngữ Bengal năm 1952 là dấu hiệu đầu tiên về sự xích mích giữa hai vùng của Pakistan (Baxter, trang 62—63). Sự bất mãn với chính phủ trung ương về các vấn đề văn hóa và kinh tế tiếp tục tăng lên trong thập kỷ tiếp theo, trong thời gian ấy Liên đoàn Awami nổi lên trở thành tiếng nói chính trị của dân cư nói tiếng Bengal. Liên đoàn đã kêu gọi quyền tự trị trong thập niên 1960, và 1966, chủ tịch phong trào Sheikh Mujibur Rahman bị tống giam; ông được thả năm 1969 sau một vụ nổi dậy chưa từng thấy của người dân.
Năm 1970, bão Bhola đã tàn phá vùng bờ biển Đông Pakistan, chính phủ trung ương phản ứng chậm chạp. Sự tức giận của người dân Bengal càng gia tăng khi Sheikh Mujibur Rahman cùng với Liên đoàn Awami của mình giành đa số tại Nghị viện trong cuộc bầu cử năm 1970, (Baxter, trang 78—79) bị ngăn cản nhậm chức. Sau những cuộc đàm phán thất bại với Mujib, Tổng thống Yahya Khan đã bắt ông trong đêm ngày 25 tháng 3 năm 1971, và tiến hành Chiến dịch Đèn pha, một cuộc tấn công nhằm duy trì quyền kiểm soát quân sự với phía Đông Pakistan. Những biện pháp của Yahya gây đổ máu rất lớn, và bạo lực của cuộc chiến dẫn tới cái chết của nhiều dân thường. Các mục tiêu chủ yếu là tầng lớp trí thức và những người theo đạo Hindu, với khoảng 10 triệu người tị nạn phải bỏ chạy sang quốc gia láng giềng là Ấn Độ (LaPorte, trang 103). Những con số ước tính về số người bị thảm sát lên tới từ hàng trăm nghìn tới 3 triệu người. Đa số lãnh đạo Liên đoàn Awami phải bỏ trốn và lập ra một chính phủ hải ngoại tại Calcutta, Ấn Độ. Chiến tranh giải phóng Bangladesh kéo dài 9 tháng. Du kích Mukti Bahini và quân chính quy Bengal nhận được sự hỗ trợ từ phía Các lực lượng vũ trang Ấn Độ tháng 12 năm 1971. Dưới sự chỉ huy của Trung tướng J.S. Arora, quân đội Ấn Độ đã giành được thắng lợi quyết định trước Pakistan ngày 16 tháng 12 năm 1971, bắt 90.000 tù binh trong cuộc chiến tranh Ấn Độ-Pakistan năm 1971.
Sau khi giành được độc lập, Bangladesh trở thành một nhà nước dân chủ nghị viện, Mujib làm Thủ tướng. Trong cuộc bầu cử nghị viện năm 1973, Liên đoàn Awami giành được đa số tuyệt đối. Một nạn đói toàn quốc diễn ra trong năm 1973 và 1974 và đầu năm 1975, Mujib đưa ra sáng kiến một đảng xã hội chủ nghĩa cầm quyền với tổ chức BAKSAL mới được thành lập của ông. Ngày 15 tháng 8 năm 1975, Mujib và gia đình bị các sĩ quan trung cấp ám sát. Một loạt các cuộc đảo chính và phản đảo chính đẫm máu diễn ra trong ba tháng tiếp theo, lên tới cực điểm khi tướng Ziaur Rahman, người tái lập chế độ chính trị đa đảng và đồng thời là người thành lập đảng Quốc gia Bangladesh (BNP), lên nắm quyền. Thời kỳ cầm quyền của Zia kết thúc khi ông bị ám sát năm 1981 bởi những sĩ quan không quân trong quân đội. Người cầm quyền chủ yếu tiếp sau của Bangladesh là tướng Hossain Mohammad Ershad, người giành được quyền lực sau một cuộc đảo chính đẫm máu năm 1982 và tại vị đến năm 1990, khi ông bị gạt ra rìa sau một cuộc nổi dậy của dân chúng. Từ đó, Bangladesh chuyển thành một chế độ dân chủ nghị viện. Vợ góa của Zia, Khaleda Zia, lãnh đạo BNP giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1991 và 2001 và trở thành Thủ tướng từ năm 1991 tới 1996 và một lần nữa từ năm 2001 tới hiện tại. Sheikh Hasina, một trong những người con gái còn sống của Mujib và là lãnh đạo Liên đoàn Awami, nắm quyền từ năm 1996 đến 2001. Dù Bangladesh nằm dưới sự lãnh đạo của hai nhà nữ chính trị khác nhau nhưng nước này vẫn ở tình trạng tham nhũng tràn lan, hỗn loạn và bạo lực chính trị.
== Chính phủ và chính trị ==
Bangladesh là một nước dân chủ nghị viện. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia, một chức vụ có tính nghi lễ. Quyền lực thực sự do thủ tướng, là lãnh đạo chính phủ nắm giữ. Tổng thống được cơ quan lập pháp bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm và thông thường có các quyền lực hạn chế chỉ được tăng quyền trong thời kỳ có chính phủ lâm thời, đa phần để kiểm soát sự chuyển tiếp sang một chính phủ mới. Bangladesh đã thiết lập một hệ thống chuyển giao quyền lực duy nhất; vào thời điểm hết nhiệm kỳ chính phủ, quyền lực được trao lại cho các thành viên của một chính phủ lâm thời trong 3 tháng, tổ chức này sẽ tổ chức tổng tuyển cử và chuyển giao lại quyền lực cho những đại diện được bầu ra. Hệ thống này lần đầu được áp dụng năm 1991 và được đưa vào thành quy định trong hiến pháp năm 1996, là lần sửa đổi thứ 13 của hiến pháp.
Thủ tướng theo nghi thức do tổng thống chỉ định và phải là một thành viên nghị viện (MP), được sự tin cậy của đa số thành viên. Chính phủ gồm các bộ trưởng do thủ tướng lựa chọn và do tổng thống chỉ định. Hệ thống một viện với 300 thành viên Quốc hội hay Jatiyo Sangshad, do dân bầu với chỉ một đại biểu cho mỗi khu bầu cử có nhiệm kỳ năm năm. Quyền bỏ phiếu phổ thông cho mọi công dân từ 18 tuổi.
Hiến pháp Bangladesh được soạn thảo năm 1972 và đã trải qua 13 lần sửa đổi. Cơ quan tư pháp cao nhất là Tòa án tối cao, chánh án và các thẩm phán khác của Tòa án tối cao do Tổng thống chỉ định. Tư pháp không tách rời khỏi hành chính, gây ra nhiều rối loạn trong những năm gần đây. Luật pháp dựa lỏng lẻo theo thông luật Anh, nhưng các đạo luật gia đình như hôn nhân và thừa kế dựa theo tôn giáo, và vì thế khác biệt tùy theo từng cộng đồng tôn giáo.
Hai đảng chính tại Bangladesh là Đảng Quốc gia Bangladesh (BNP) và Liên đoàn Awami Bangladesh. BNP có đồng minh là các đảng Hồi giáo như Jamaat-e-Islami Bangladesh và Islami Oikya Jot, trong khi Liên đoàn Awami liên kết cùng phe cánh tả và các đảng phi tôn giáo. Một nhóm khác đóng vai trò khá quan trọng là Đảng Jatiya, do cựu lãnh đạo quân đội Ershad đứng đầu. Sự đối đầu Liên đoàn Awami-BNP rất gay gắt và thường dẫn tới những cuộc phản kháng, bạo lực và gây thiệt hại nhân mạng. Cánh chính trị sinh viên có vai trò rất lớn tại Bangladesh, di sản từ thời phong trào giải phóng cuộc gia. Hầu như tất cả các đảng chính trị đều có cánh sinh viên hoạt động rất mạnh và nhiều sinh viên đã được bầu vào Nghị viện.
Hai đảng Hồi giáo cực đoan, Jagrata Muslim Janata Bangladesh (JMJB) và Jama'atul Mujahideen Bangladesh (JMB), đã bị cấm hoạt động vào tháng 2 năm 2005. Từ một loạt những vụ đánh bom năm 1999 gây thiệt mạng hàng trăm người và gây nỗi sợ hãi trong toàn quốc gia, nhiều lời buộc tội đã nhắm tới các đảng đó và hàng trăm thành viên của họ đã bị cầm giữ trong các chiến dịch an ninh, gồm cả lãnh đạo hai đảng vào năm 2006. Trường hợp đánh bom tự sát đầu tiên tại Bangladesh diễn ra tháng 11 năm 2005.
== Hành chính ==
Bangladesh được chia thành bảy phân khu hành chính, mỗi phân khu được đặt tên theo thủ phủ của nó: Barisal, Chittagong, Dhaka, Khulna, Rajshahi, Sylhet và Rangpur.
Các phân khu được chia tiếp thành huyện (zila). Có 66 huyện tại Bangladesh, mỗi huyện được chia tiếp thành các upazila (phó huyện) hoặc thana. Trong khu vực phạm vi của mỗi trạm cảnh sát, ngoại trừ ở các khu vực đô thị, được chia thành vài liên hiệp, mỗi liên hiệp gồm nhiều làng. Tại các khu vực đô thị, phạm vi của các đồn cảnh sát được chia thành phường, và được chia tiếp thành mahallas. Không có bầu cử các quan chức ở cấp phân khu hay cấp huyện, và chính quyền chỉ gồm các quan chức chính phủ. Các cuộc bầu cử trực tiếp được thực hiện ở cấp liên hiệp (hay phường), bầu ra chủ tịch và một số thành viên. Năm 1997, một đạo luật của quốc hội đã được thông qua để định ra ba ghế tối thiểu (trong tổng số 12) trong mỗi liên hiệp cho các ứng cử viên nữ.
Dhaka là thủ đô và thành phố lớn nhất của Bangladesh. Các thành phố chính là: Dhaka, Chittagong, Khulna, Rajshahi, Sylhet, Barisal, Rangpur, Comilla và Gazipur. Các thành phố này có các cuộc bầu cử thị trưởng. Các thành phố chính khác bao gồm Mymensingh, Gopalganj, Jessore, Bogra, Dinajpur, Saidapur, Narayanganj và Rangamati. Các thành phố này cùng các đô thị khác được phép tiến hành bầu cử một chủ tịch. Các thị trưởng và chủ tịch được bầu theo nhiệm kì 5 năm.
== Địa lý và Khí hậu ==
Bangladesh nằm ở vùng thấp của đồng bằng sông Hằng-Brahmaputra hay Đồng bằng sông Hằng. Đồng bằng này được hình thành nhờ hợp lưu sông Hằng (tên địa phương Padma hay Pôdda), Sông Brahmaputra (Sông Jamuna jau Jomuna), và Sông Meghna tại các nhánh của chúng. Đất phù sa lắng đọng do các con sông trên mang lại đã tạo nên một trong những đồng bằng màu mỡ nhất thế giới.
Đa phần Bangladesh nằm thấp 10 mét dưới mực nước biển, và mọi người cho rằng 10% đất đai sẽ bị ngập chìm nếu mực nước biển dâng thêm 1 mét. Điểm cao nhất Bangladesh nằm tại dãy Mowdok ở độ cao 1.052 m (3.451 ft) tại vùng đồi Chittagong phía đông nam đất nước. Một phần chính vùng duyên hải có các rừng nhiệt đới nhiều đầm lầy. Sundarbans, một trong những khu rừng tràm đước lớn nhất thế giới là nơi sinh sống của nhiều hệ động thực vật, gồm cả hổ Bengal. Năm 1997, vùng này được xếp vào danh sách các khu vực đang nguy cấp.
Dọc theo Hạ chí tuyến, khí hậu Bangladesh là khí hậu nhiệt đới với mùa đông dễ chịu từ tháng 10 tới tháng 3, mùa hè nóng ẩm từ tháng 3 tới tháng 6. Mùa gió mùa ấm và ẩm kéo dài từ tháng 6 tới tháng 10 mang tới đa phần lượng mưa của nước này. Các thảm họa thiên nhiên, như lũ lụt, lốc nhiệt đới, lốc xoáy, và lở đất do thủy triều xảy ra hầu như hàng năm cộng với những hậu quả của nạn phá rừng, thoái hóa đất và xói lở. Cox's Bazar, phía nam thành phố Chittagong, có một bãi biển trải dài liên tục hơn 120 kilômét (75 dặm); đây là một trong những bãi biển tự nhiên còn ở tình trạng hoang sơ dài nhất thế giới.
== Kinh tế ==
Dù có những nỗ lực trong nước và quốc tế nhằm cải thiện triển vọng kinh tế và nhân khẩu, Bangladesh vẫn là một quốc gia dưới mức phát triển và dân số quá đông đúc. Thu nhập trên đầu người năm 2016 ở mức thấp US$4,205, và nhiều chỉ số kinh tế khác còn kém cỏi hơn thế. Tuy vậy, như Ngân hàng Thế giới ghi chú trong bản báo cáo ngắn tháng 7 năm 2005 của họ, nước này đã có bước phát triển ấn tượng trong lĩnh vực phát triển con người bằng cách tập trung nâng cao trình độ học vấn, thực thi bình đẳng giới trong trường học và giảm phát triển dân số. Tính đến năm 2016, GDP của Bangladesh là 229.760 USD, đứng thứ 46 thế giới, đứng thứ 17 châu Á và đứng thứ 3 Nam Á (sau Ấn Độ và Pakistan).
Đay là một trong những động cơ kinh tế của đất nước. Trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai và cuối thập niên 1940 sản phẩm đay của Bangladesh chiếm 80% thị trường thế giới và thậm chí vào đầu thập niên 1970 vẫn chiếm 70% doanh thu xuất khẩu. Tuy nhiên, các sản phẩm polypropylen bắt đầu thay thế các sản phẩm đay trên khắp thế giới và ngành công nghiệp này bắt đầu giảm sút. Bangladesh cung cấp lượng sản phẩm gạo, chè và mù tạc đáng kế. Dù hai phần ba dân số Bangladesh là nông dân, hơn ba phần tư lượng xuất khẩu của họ có được từ công nghiệp dệt may, ngành này bắt đầu thu hút các nhà đầu tư nước ngoài trong thập niên 1980 nhờ giá nhân công rẻ và chi phí chuyển đổi thấp. Năm 2002, ngành công nghiệp này xuất khẩu lượng sản phẩm trị giá 5 tỷ USD. Hiện nay ngành này sử dụng hơn 3 triệu công nhân, 90% là phụ nữ. Một phần ngoại tệ khác thu được từ các khoản tiền gửi từ những người Bangladesh sống ở nước ngoài.
Các cản trở đối với sự phát triển bao gồm những cơn lũ và lốc xoáy thường xuyên, các doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả, quản lý yếu kém cơ sở vật chất bến cảng, sự tăng trưởng nhanh lực lượng lao động vượt quá mức cung việc làm, sử dụng không hiệu quả các nguồn năng lượng (như khí tự nhiên), nguồn cung năng lượng không đủ, chậm áp dụng cải cách kinh tế, tranh giành chính trị và tham nhũng. Theo bản báo cáo ngắn về các quốc gia của Ngân hàng thế giới tháng 7 năm 2005: "Một trong những vật cản lớn nhất đối với sự tăng trưởng của Bangladesh là quản lý kém và sự yếu kém trong các định chế công cộng".
Từ năm 1990, theo Ngân hàng Thế giới nước này đã đạt được mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 5%, dù có những chướng ngại đó. Tầng lớp trung lưu và công nghiệp tiêu dùng đã có bước phát triển đầu tiên. Tháng 12 năm 2005, bốn năm sau bản báo cáo của họ về những nền kinh tế đang nổi lên "BRIC" (Brasil, Nga, Ấn Độ, và Trung Quốc), Goldman Sachs đã coi Bangladesh là một trong "Mười một Quốc gia tiếp theo", cùng với Ai Cập, Indonesia và nhiều nước khác. Bangladesh đã đạt được mức tăng trưởng cao trong đầu tư trực tiếp nước ngoài. Một số tập đoàn đa quốc gia, gồm cả Unocal Corporation và Tata, đã đầu tư các khoản vốn lớn vào đây, lĩnh vực khí tự nhiên thu hút nhiều nhà đầu tư nhất. Tháng 12 năm 2005, Ngân hàng Trung ương Bangladesh đề ra kế hoạch tăng trưởng GDP ở mức khoảng 6,5%.
Một trong những yếu tố đóng góp nhiều vào sự tăng trưởng của nền kinh tế là sự truyền bá mở rộng chương trình tín dụng nhỏ của Muhammad Yunus thông qua Ngân hàng Grameen. Tới cuối thập niên 1990, Ngân hàng Grameen đã có 2,3 triệu thành viên cùng với 2,5 triệu thành viên của các tổ chức khác.
Để tăng cường phát triển kinh tế, chính phủ đã tạo ra nhiều khu chế xuất để thu hút đầu tư nước ngoài. Những khu công nghiệp này được điều hành bởi Cơ quan Khu chế xuất Bangladesh.
== Nhân khẩu ==
Ước tính dân số gần đây trong khoảng từ 142 đến 147 triệu người, làm cho Bangladesh đứng trong nhóm 10 nước đông dân nhất thế giới. Với số dân tương tự như Nga nhưng có diện tích chỉ 144.000 kilômét vuông, khiến nước này có mật độ dân số rất lớn. Tăng trưởng dân số ở mức rất cao trong các thập niên 1960 và 1970 khiến dân số tăng từ 50 lên 90 triệu người. Việc tăng cường kiểm soát sinh sản trong thập niên 1980 đã góp phần giảm tỷ lệ này. Dân số Bangladesh khá trẻ, với nhóm độ tuổi 0–25 chiếm 60%, trong khi chỉ 3% là từ 65 trở lên. Tuổi thọ ở mức 63 tuổi đối với cả phụ nữ và nam giới.
Bangladesh là quốc gia đồng nhất về mặt sắc tộc, với người Bangladesh chiếm 98% dân số. Phần còn lại chủ yếu là những người di trú gốc Bihar và các nhóm sắc tộc bản địa. Có 13 nhóm sắc tộc phân bố trong vùng đồi Chittagong, đông dân nhất trong số này là người Chakma. Khu vực này là nguồn gốc của căng thẳng sắc tộc kể từ khởi đầu của nhà nước Bangladesh. Các nhóm bộ tộc lớn nhất ngoài vùng đồi núi là người Santal và Garos (Achiks). Buôn bán người đã trở thành một vấn đề kinh niên tại Bangladesh và việc nhập cư bất hợp pháp đang là nguyên nhân gây xích mích với Myanma và Ấn Độ.
Ngôn ngữ chính, tại Tây Bengal, là tiếng Bengal, một ngôn ngữ Ấn-Arya có nguồn gốc tiếng Phạn và có bảng ký tự riêng. Bangla là ngôn ngữ chính thức của Bangladesh. Tiếng Anh được sử dụng như ngôn ngữ thứ hai trong tầng lớp trung và thượng lưu và trong giáo dục cao học. Từ Nghị định Tổng thống năm 1987, Bangla được dùng trong mọi văn bản nhà nước trừ đối ngoại.
Hai tôn giáo chính ở Bangladesh là Hồi giáo (88% theo ước tính của Bộ Nội vụ Hoa Kỳ, 2005) và Hindu giáo (11% theo ước tính của Bộ nội vụ Hoa Kỳ, 2005). Dân tộc Bihari chủ yếu là người Hồi giáo Shia. Các nhóm tôn giáo khác gồm Phật giáo, Thiên chúa giáo và Thuyết duy linh.
Mức độ tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục gần đây đã được cải thiện khi mức nghèo khổ giảm bớt. Tuy nhiên, Bangladesh vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới. Đa số dân Bangladesh làm nông nghiệp, sống nhờ đồng ruộng. Gần một nửa số dân sống với chưa tới 1 USD mỗi ngày. Có rất nhiều vấn đề sức khoẻ, từ ô nhiễm nước mặt tới nước ngầm nhiễm asen, và bệnh tật như sốt rét, trùng xoắn móc câu và sốt Dengue. Tỷ lệ biết chữ tại Bangladesh là khoảng 41%. Theo ước tính năm 2004 của Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), có sự chênh lệch về mức độ biết đọc viết giữa hai giới, tỷ lệ này ở nam giới là 50% trong khi ở phụ nữ chỉ là 31%. Tỷ lệ biết chữ đã tăng lên nhờ nhiều chương trình hành động quốc gia. Một trong những chương trình thành công nhất là Lương thực cho Giáo dục (FFE) được đưa ra năm 1993 , và một chương trình trả lương cho phụ nữ theo học mức tiểu học và trung học.
== Văn hoá ==
Là một quốc gia mới nhưng bắt nguồn từ một dân tộc có lịch sử dài lâu, Bangladesh có một nền văn hóa bao gồm nhiều yếu tố cả mới và cũ. Ngôn ngữ Bangla có một di sản văn học rất phong phú, đây là di sản chung của Bangladesh với bang Tây Bengal Ấn Độ. Văn bản tiếng Bangla đầu tiên xuất hiện từ thế kỷ thứ tám Charyapada. Văn học Bangla thời trung cổ thường mang tính tôn giáo (như Chandidas), hay phòng theo từ các ngôn ngữ khác (như Alaol). Văn học Bangla phát triển ở mức độ cao nhất vào thế kỷ mười chín. Các biểu tượng lớn nhất của nó là nhà thơ Rabindranath Tagore và Kazi Nazrul Islam. Bangladesh cũng có truyền thống văn học dân gian dài lâu, thể hiện qua Maimansingha Gitika, Thakurmar Jhuli hay các câu chuyện về Gopal Bhar.
Âm nhạc truyền thống Bangladesh có căn bản trữ tình (Baniprodhan), với số lượng nhạc cụ sử dụng tối thiểu. Truyền thống Baul là duy sản duy nhất của âm nhạc dân gian Bangla và có nhiều truyền thống âm nhạc khác tại Bangladesh, khác biệt tùy theo vùng. Gombhira, Bhatiali, Bhawaiya đều là các hình thức âm nhạc ít được biết tới hơn. Âm nhạc dân gian Bengal thường có sử dụng ektara, một nhạc cụ một dây. Các nhạc cụ khác gồm dotara, dhol, sáo và trống cặp nhỏ. Bangladesh cũng có một di sản Âm nhạc cổ điển Bắc Ấn nổi bật. Tương tự, các hình thức nhảy múa Bangladesh cũng bắt nguồn từ các truyền thống dân gian, đặc biệt là các truyền thống của các nhóm bộ tộc, cũng như ở tầm rộng hơn là truyền thống nhảy múa Ấn Độ. Bangladesh sản xuất khoảng 80 bộ phim mỗi năm. Các bộ phim phim Hindi cũng khá phổ biến, cũng như các bộ phim từ Kolkata, vốn đều thuộc nền công nghiệp phim ảnh Bengal đang phát triển thịnh vượng. Khoảng 200 tờ báo hàng ngày xuất bản tại Bangladesh, cùng với hơn 1.800 tờ báo định kỳ. Tuy nhiên, tỷ lệ độc giả thường xuyên khá thấp, khoảng 15% dân số. Người Bangladesh có thể theo dõi nhiều chương trình phát thanh trong nước và nước ngoài từ Bangladesh Betar, cũng như các chương trình tiếng Bangla của BBC và Tiếng nói Hoa Kỳ. Kênh truyền hình trước kia thuộc sở hữu nhà nước đã được tư nhân hóa trong những năm gần đây và đã có một số bước phát triển nhảy vọt.
Truyền thống ẩm thực Bangladesh có quan hệ chặt chẽ với ẩm thực Ấn Độ và ẩm thực Trung Đông cũng như có nhiều nét riêng biệt. Gạo và cá là các món ăn được ưa thích truyền thống; dẫn tới một câu nói rằng "cá và gạo tạo nên người Bengal" (machhe bhate bangali). Tiêu thụ thịt đã tăng lên trong những năm gần đây. Người Bangladesh chế tạo ra những sản phẩm bánh kẹo rất đặc trưng từ sữa; một số loại thường gặp là Rôshogolla, Chômchôm và Kalojam.
Sari (shaŗi) là loại trang phục phổ biến nhất của phụ nữ Bangladesh. Tuy nhiên, salwar kameez (shaloar kamiz) cũng khá phổ thông, và tại những vùng thành thị một số phụ nữ mặc trang phục phương Tây. Đối với nam giới, trang phục phương Tây đã được chấp nhận rộng rãi. Nam giới cũng mặc theo kiểu kết hợp kurta-paejama, thường là vào các dịp lễ tôn giáo. Lungi, một kiểu váy dài, cũng được nhiều nam giới Bangladesh sử dụng.
Hai Eid, Eid ul-Fitr và Eid ul-Adha, là các lễ hội lớn nhất theo lịch Hồi giáo. Ngày hôm trước Eid ul-Fitr được gọi là Chãd Rat (đêm của Mặt trăng), và thường được chào mừng bằng những tràng pháo. Các ngày lễ Hồi giáo khác cũng được kỷ niệm. Các ngày lễ Hindu giáo là Durga Puja và Saraswati Puja. Buddha Purnima, chào mừng ngày sinh của Gautama Buddha, là một trong những ngày lễ quan trọng nhất của Phật giáo trong khi Giáng sinh, được gọi là Bôŗodin (ngày Vĩ đại) trong tiếng Bangla được cộng đồng thiểu số Thiên chúa giáo đón mừng. Ngày lễ không tôn giáo quan trọng nhất là Nôbobôrsho hay năm mới của Bengal, ngày khởi đầu của lịch Bengal. Các lễ hội khác gồm Nobanno, Poush parbon (ngày lễ của Poush) ngày lễ kỷ niệm Shohid Dibosh.
Cricket là một trong những môn thể thao nổi tiếng nhất Bangladesh. Năm 2000, Đội tuyển cricket Bangladesh được trao mức Test cricket và gia nhập vào liên đoàn các đội tuyển quốc gia hùng mạnh trong môn thể thao này được Hội đồng Cricket Quốc tế cho phép chơi các trận đấu thử nghiệm. Các môn thể thao khác gồm bóng đá, hockey trên cỏ, tennis, bóng ném, bóng rổ, cờ và kabadi, một môn thể thao chơi theo đội 7 người, không có bóng cũng như bất kỳ một dụng cụ nào và là môn thể thao quốc gia của Bangladesh. Ủy ban Kiểm tra Thể thao Bangladesh quản lý 29 liên đoàn thể thao khác nhau.
== Tôn giáo ==
Hồi giáo là tôn giáo lớn nhất của Bangladesh, người Hồi giáo chiếm 89,5% dân số, tiếp theo là Ấn Độ giáo, chiếm 9,6%, ngoài ra còn Phật giáo, Kitô giáo, các tôn giáo nhỏ khác và vô thần.
=== Hồi giáo ===
Người Hồi giáo chiếm gần 90 % dân số. Hầu hết người Hồi giáo tại Bangladesh là người Hồi giáo Sunni, nhưng có một cộng đồng người Hồi giáo Shia nhỏ và cộng đồng nhỏ hơn là giáo phái Ahmadiyya. Hầu hết những người Shia sinh sống trong khu vực đô thị.
Cộng đồng Hồi giáo trong khu vực Bengal phát triển độc lập so với các xu hướng Hồi giáo thống trị ở Ấn Độ. Bangladesh cũng là quốc gia Hồi giáo duy nhất cam kết bảo tồn các yếu tố văn hóa của Phật giáo và Ấn Độ giáo có từ thời tiền Hồi giáo.
Tuy là quốc gia Hồi giáo nhưng sau khi giành được độc lập từ Pakistan, chủ nghĩa thế tục đã được quy định trong bản Hiến pháp của Bangladesh vào năm 1972 và là một trong bốn nguyên tắc chính của nhà nước Bangladesh, 3 nguyên tắc khác là dân chủ, dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Năm 2010, Tòa án Tối cao Bangladesh ban lệnh duy trì các nguyên tắc thế tục của hiến pháp năm 1972. Tách đạo Hồi ra khỏi hệ thống chính trị của quốc gia.
=== Ấn Độ giáo ===
Ấn Độ giáo là tôn giáo lớn thứ hai ở Bangladesh, bao gồm khoảng 10 phần trăm dân số như điều tra dân số năm 2001. Về dân số, Bangladesh là nước có cộng đồng Ấn giáo lớn thứ ba trên thế giới, sau Ấn Độ và Nepal.
Ấn giáo hiện nay có ảnh hưởng lớn đến chính trị ở Bangladesh, tôn giáo này có 4 đại diện trong quốc hội Bangladesh.
=== Phật giáo ===
Có khoảng 1 triệu người Bangladesh theo Phật giáo Theravada, tức chiếm khoảng 0,7% dân số.
Trong thời cổ đại, khu vực của Bangladesh ngày nay là một trung tâm Phật giáo lớn ở châu Á, bao gồm cả triết lý và kiến trúc. Kiến trúc Phật giáo ở Campuchia, Indonesia và Thái Lan, trong đó có đền Angkor Wat và Borobudur, được cho là đã được lấy cảm hứng từ các tu viện cổ xưa của Bangladesh như Somapura Mahavihara.
Hầu hết những người theo Phật giáo ở Bangladesh sống ở khu vực miền Đông Nam nước này, đặc biệt là trong vùng đồi Chittagong, và huyện Comilla.
=== Kitô giáo ===
Kitô giáo đến Bangladesh trong thời gian cuối thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ thứ 17, thông qua các thương nhân Bồ Đào Nha và các nhà truyền giáo.
Kitô giáo chiếm 0,3% dân số tức khoảng 600.000 người, trong đó cộng đồng Công giáo Rôma và Tin Lành là lớn nhất.
== Xem thêm ==
Chữ đậmBản mẫu:BangladeshTopics
Bản mẫu:Bangladesh ties
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
đại hội thể thao châu á 2018.txt | Đại hội Thể thao châu Á 2018 (hoặc Á Vận hội XVIII, ASIAD XVIII) là kỳ Đại hội Thể thao châu Á lần thứ 18 tổ chức tại Indonesia, với thủ đô Jakarta sẽ là nước chủ nhà chính, trong khi Palembang sẽ là chủ nhà hỗ trợ. Đây là lần thứ hai Indonesia đăng cai Á vận hội này, sau lần đầu tiên là vào năm 1962.
Ban đầu đại hội này diễn ra tại thủ đô Hà Nội của Việt Nam. Tuy nhiên đến ngày 17 tháng 4 năm 2014, chính phủ Việt Nam tuyên bố rút quyền đăng cai kỳ đại hội này với lý do không đảm bảo được kinh phí tổ chức.
== Quá trình chạy đua giành quyền đăng cai ==
Theo kế hoạch, Á vận hội lần thứ 18 dự kiến diễn ra vào năm 2019, nhưng theo đề nghị của Indonesia, nước này vẫn sẽ tổ chức theo quy trình cũ, tức 4 năm sau khi đại hội ở Incheon kết thúc vào năm 2014, vì Indonesia sẽ tổ chức bầu cử tổng thống vào năm 2019.
Có ba thành phố ứng cử cuối cùng là Hà Nội, Surabaya, Dubai. Nhưng Dubai rút lui vào phút chót. Hà Nội đã giành chiến thắng trước Surabaya với 29 phiếu trên 14 phiếu.
== Tổ chức ==
=== Đề án ===
Đại hội Thể thao châu Á XVIII diễn ra vào tháng 11 năm 2019, dự kiến thu hút 12.000 vận động viên, 1.000 quan khách quốc tế, 1.000 trọng tài, 8.000 hướng dẫn viên, 2.000-3.000 phóng viên đến từ 45 quốc gia, vùng lãnh thổ. Sẽ có 35 môn thể thao dự kiến thi đấu tại đại hội gồm: bắn cung, thể dục, điền kinh, cầu lông, xe đạp, thể thao dưới nước, đấu kiếm, judo, bắn súng, vật, golf, cầu mây, kabaddi, karatedo, taekwondo, bóng ném, rowing, canoe-kayak, bóng rổ, quyền anh, bóng chuyền, bóng đá, thuyền buồm, wushu, bóng bàn, cử tạ, ba môn phối hợp, squash, đá cầu, cờ, quần vợt, bóng chày, khúc côn cầu trên cỏ, bóng rugby, 5 môn phối hợp hiện đại. Kinh phí dự trù vào khoảng 150 triệu USD.
Tại kỳ đại hội này, Hà Nội sẽ là địa điểm tổ chức chính cùng với 14 địa điểm khác như Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bình Thuận, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Bắc Giang, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hà Nam. Ngoài ra, những cơ sơ vật chất sẽ được nâng cấp và xây mới như: khu liên hợp thể thao quốc gia Mỹ Đình sẽ được hoàn thiện, nâng cấp trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia Hà Nội từ 5 ha lên 20 ha, xây dựng làng vận động viên tại Thượng Thanh (Long Biên) trên diện tích 39,5 ha với sức chứa 11.000 vận động viên, xây mới khu liên hợp thể thao Xuân Trạch (Hà Nội) với các nhà thi đấu bóng chày (3.000 chỗ ngồi), khúc côn cầu (3.000 chỗ), quần vợt (3.000–5.000 chỗ), bóng bầu dục (2.000 chỗ)....
=== Việt Nam rút đăng cai ===
Sau khi tin tức Việt Nam được nhận quyền đăng cai Đại hội Thể thao châu Á 2019 lan truyền, đã xuất hiện những luồng dư luận tỏ sự lo ngại vì nhiều lý do khác nhau như kinh phí không được làm rõ, ngân sách quốc gia phải gánh chi phí lớn trong khi đang khó khăn. Năm 2011, đề án của phía Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề cập con số dự toán 5.155 tỷ đồng, trong đó ngân sách quốc gia chịu 96%. Sau khi nhận ý kiến từ phía Bộ Tài chính về tính không khả thi của con số này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lại giảm con số xuống mức 3.000 tỷ đồng (150 triệu USD), đồng thời giảm tỉ lệ vốn từ ngân sách từ 96% xuống còn 28%, đẩy tỉ lệ huy động vốn từ xã hội từ 4% lên đến 72%. Trong khi đó, so sánh với các quốc gia khác thì số liệu 150 triệu USD được xem là thiếu tính thực tế, bởi Đại hội Thể thao châu Á 2014 diễn ra tại Incheon, Hàn Quốc dù chưa có số liệu chính thức nhưng đã tiêu tốn của Hàn Quốc 2,9 tỉ USD, cao gấp đôi so với con số dự kiến trước đó là 1,62 tỉ USD. Trước đó, theo thị trưởng thành phố Quảng Châu, Trung Quốc thì chi phí tổ chức Đại hội Thể thao châu Á 2010 tại đây là 17 tỉ USD, gấp 60 lần dự toán. Đại hội Thể thao châu Á 2006 tổ chức tại Qatar tốn 2,8 tỉ USD của nước này. Kết quả khảo sát dư luận được thực hiện trên báo điện tử VnExpress từ 1 đến 17 tháng 4 năm 2014 cho thấy 87% độc giả muốn Việt Nam rút đăng cai Đại hội Thể thao châu Á 2018 tại Việt Nam.
Ngày 17 tháng 4 năm 2014, tại cuộc họp ở trụ sở Chính phủ Việt Nam, Thủ tướng nước này Nguyễn Tấn Dũng đã kết luận không tổ chức Đại hội Thể thao châu Á 2019 tại Việt Nam do Việt Nam chưa có kinh nghiệm tổ chức sự kiện lớn như Đại hội này, nhiều sự kiện thể thao tổ chức tại Việt Nam thu không đủ bù chi, ngân sách quốc gia khó khăn và cần ưu tiên cho các nhiệm vụ cấp thiết hơn.
== Các quốc gia tham dự ==
== Các môn thể thao ==
== Xem thêm ==
Đại hội Thể thao Người khuyết tật châu Á 2018
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
OCA Jakarta & Palembang 2018 |
xích vĩ.txt | Xích vĩ hay xích vĩ độ (viết tắt theo tiếng Anh là Dec (declination), ký hiệu δ), là một thuật ngữ thiên văn học chỉ một trong hai tọa độ của một điểm trên thiên cầu khi sử dụng hệ tọa độ xích đạo. Tọa độ còn lại gọi là xích kinh hoặc góc giờ. Xích vĩ của một thiên thể là khoảng cách góc từ mặt phẳng xích đạo đến thiên thể đó. Xích vĩ tương tự như vĩ độ, chiếu lên thiên cầu, đo theo góc về phía bắc, tính từ xích đạo. Cụ thể, xích vĩ của một thiên thể bằng góc giữa phương nối thiên thể và tâm Trái Đất với mặt phẳng xích đạo. Góc này được quy ước là dương khi thiên thể nằm ở phía bắc mặt phẳng xích đạo và âm khi nằm ở phía nam.
Xích vĩ còn được gọi là thiên độ; tuy nhiên cách gọi này có thể có nhược điểm như không nêu ra cặp phạm trù kinh - vĩ quen thuộc, chữ thiên với ý nghĩa là nghiêng có thể bị hiểu lầm sang nghĩa trời.
Các điểm ở bán cầu Bắc có xích vĩ dương lên đến +90°, và các điểm ở bán cầu Nam có xích vĩ âm xuống đến −90°.
Vật thể nằm trên thiên xích đạo có xích vĩ = 0°.
Vật thể nằm trên cực bắc, cụ thể là sao Bắc Cực có xích vĩ = +90°.
Vật thể nằm trên cực nam có xích vĩ = −90°.
Vật thể nằm ở thiên đỉnh, có xích vĩ bằng vĩ độ của người quan sát.
Thiên thể có xích vĩ lớn hơn +90° - l, với l là vĩ độ người quan sát, có thể quan sát được trong suốt ngày (theo) sao. Các thiên thể đó gọi là thiên thể vòng cực. Ví dụ tại gần các cực, vào mùa hè của bán cầu, có thể quan sát Mặt Trời suốt 24 giờ; những ngày như thế được gọi là Mặt Trời nửa đêm. Ở những vùng gần cực, khi Mặt Trời không xuống quá 6° dưới chân trời thì không có đêm thực sự, mà trời vẫn sáng mờ mờ. Hiện tượng này được gọi là đêm trắng.
== Xem thêm ==
Xích kinh
Hệ tọa độ xích đạo
== Tham khảo == |
nhà triệu.txt | Nhà Triệu (chữ Hán: 趙朝 / Triệu triều) là triều đại duy nhất cai trị nước Nam Việt suốt giai đoạn 207-111 trước Công nguyên.
Nguồn gốc của nhà Triệu bắt nguồn từ Triệu Đà, một võ tướng theo lệnh nhà Tần dẫn quân xuống chinh phạt miền nam (khi đó là lãnh thổ của các bộ tộc Bách Việt). Ông chiếm được nhiều vùng lãnh thổ (nay là Quảng Đông, Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam) nhưng nhà Tần ở Trung Hoa đã diệt vong. Nhận thấy triều đình trung ương đã sụp đổ, Triệu Đà bèn tách ra cát cứ, dùng những lãnh thổ ông chiếm được để lập nên nước Nam Việt. Sau khi nhà Hán làm chủ Trung Hoa, khi về già, Triệu Đà đã quyết định bỏ việc xưng Đế, quy phục nhà Hán (nhưng vẫn xưng Hoàng Đế ở trong Nam Việt). Triệu Đà viết thư gửi cho vua Hán, trong thư Triệu Đà đã công nhận rằng mình là người Trung Hoa, nhà Triệu chỉ là chư hầu phục vụ cho nhà Hán, thay mặt vua Hán để cai trị phía Nam, bản thân ông cũng chỉ coi những thần dân người Việt là đám "Man Di" mà thôi.
== Lịch sử ==
Toàn bộ về lịch sử nhà Triệu được chép đầu tiên bởi Sử ký nhà Hán, được đề cập chủ yếu trong phần Liệt truyện, quyển 113: Biên niên sử Nam Việt (南越列傳). Nó lưu lại các thông tin về nước Nam Việt từ thời Triệu Đà cho đến khi cáo chung dưới thời Triệu Dương Vương.
Nhà Triệu trải 5 đời vua, trong các văn bản gửi nhà Hán thì họ đều xưng là "vương" (tước hiệu dành cho vua chư hầu). Do vậy, các sử gia Trung Hoa đều chỉ coi Nam Việt là phiên thuộc và chép các vua Nam Việt tước "vương", nhưng kết quả khai quật lăng mộ vua Triệu thứ hai cho thấy các ấn chương, văn bản và danh xưng đều là "đế" chứ không phải "vương". Điều đó gây bất ngờ với chính các sử gia Trung Hoa hiện đại. Như vậy, tước vương là tôn hiệu khi giao thiệp với nhà Hán, còn đối với các lân quốc khác và nội bộ trong nước thì vua Triệu xưng đế. Tông thất họ Triệu và nhiều lãnh tụ địa phương vẫn có nhiều người được phong vương.
=== Tiền kỳ ===
Chiến tranh Tần-Việt (218-206 TCN)
Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất 6 vương quốc cổ là Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề, ông bắt đầu hướng sự chú ý sang các bộ lạc người Hung Nô ở phía bắc và Bách Việt ở phía nam. Khoảng năm 218 TCN, Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư cùng 500.000 quân Tần chia làm 5 đạo tấn công các bộ lạc Bách Việt ở vùng đất Lĩnh Nam.
Đạo thứ nhất hợp binh ở Dư Can (nay là huyện Dư Can, tỉnh Giang Tây) và đánh chiếm Mân Việt lập ra quận Mân Trung.
Đạo thứ nhì được tăng cường thêm tại Nam Dã (nay là huyện cấp thị Nam Khang, tỉnh Giang Tây) nhằm buộc các dân tộc Việt ở phía nam phải phòng thủ.
Đạo thứ ba đánh chiếm Phiên Ngung.
Đạo thứ tư đồn trú gần núi Cửu Nghi (chữ Hán: 九嶷山).
Đạo thứ năm đóng bên ngoài Đàm Thành (鐔城, phía tây nam Tĩnh Châu, tỉnh Hồ Nam ngày nay).
Tần Thủy Hoàng sai viên quan Sử Lộc (史禄) giám sát việc quân nhu. Đầu tiên Sử Lộc chỉ huy một nhóm quân vượt qua kênh Hưng An (nối liền Tương giang và Li giang), sau đó dùng thuyền vượt sông Dương Tử và sông Châu Giang tìm được con đường an toàn tiếp tế lương thực cho quân Tần. Quân Tần sau đó tấn công Âu Việt, thủ lĩnh của Âu Việt là Dịch Hu Tống (譯吁宋) bị giết. Tuy nhiên, Âu Việt vẫn phản kháng. Họ trốn vào rừng và bầu ra một thủ lĩnh mới là Kiệt Tuấn (桀駿) để tiếp tục chống lại quân Tần. Sau đó một cuộc tấn công vào ban đêm của Âu Việt đã gây thiệt hại nặng cho quân Tần, tướng Đồ Thư bị giết cùng khoảng 10 vạn quân. Nhà Tần lại cử Nhâm Ngao làm thống soái thay Đồ Thư. Năm 214 TCN, Nhâm Ngao đem viện quân mở một cuộc tiến công. Lần này Âu Việt bị tê liệt và phần lớn vùng Lĩnh Nam bị sáp nhập vào đất Tần. Cùng năm, nhà Tần lập ra các quận Nam Hải, Quế Lâm, và Tượng quận. Nhâm Ngao được bổ nhiệm làm Quận úy Nam Hải. Nam Hải được chia thành 4 huyện là Phiên Ngung, Long Xuyên, Bác La và Yết Dương. Triệu Đà được bổ nhiệm làm Huyện lệnh Long Xuyên. Tần Thủy Hoàng mất năm 210 TCN, con trai là Hồ Hợi lên thay trở thành Tần Nhị Thế. Một năm sau, khởi nghĩa Trần Thắng, Ngô Quảng nổ ra. Toàn bộ khu vực Hoàng Hà rơi vào hỗn loạn. Các cuộc nổi dậy ngày càng mạnh khiến Tần Nhị Thế phải bãi binh ở Lĩnh Nam. Năm 208 TCN, Quận úy Nam Hải là Nhâm Ngao bị bệnh nặng, khi hấp hối mới gọi Triệu Đà đến, dặn phải giữ lấy miền Lĩnh Nam mà cát cứ. Vâng lời ông, Triệu Đà gửi lệnh đến quan quân các cửa ngõ Lĩnh Nam, canh giữ phòng chống quân Trung Nguyên xâm phạm, và nhân dịp đó, giết hết những người còn phò nhà Tần ở Lĩnh Nam, cất đặt lại những người thân tín của mình.
Vũ đế khai quốc (203-137 TCN)
Năm 206 TCN, nhà Tần sụp đổ, các bộ tộc Bách Việt ở Quế Lâm và Tượng quận trở nên xa rời hơn với Trung Nguyên. Theo truyền thuyết, thủ lĩnh An Dương Vương ở phía nam đã thành lập vương quốc Âu Lạc (chữ Hán: 甌駱). Theo quan điểm hiện nay của chính phủ Việt Nam, khoảng năm 179 TCN, Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc của An Dương Vương, chia đất Âu Lạc làm 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân rồi sáp nhập vào Nam Hải, Quế Lâm, Tượng quận. Lãnh địa gồm 5 quận của Nam Việt ổn định cho tới khi nước này bị diệt cùng nhà Triệu.
Năm 204 TCN, Triệu Đà lập nước Nam Việt, định đô ở thành Phiên Ngung và tự xưng Nam Việt Vũ Vương (chữ Hán: 南越武王), sử quen gọi là Triệu Vũ Vương. Ban sơ, lãnh thổ Nam Việt gồm 3 quận Nam Hải (đại bộ phận tương đương Quảng Đông ngày nay), Quế Lâm (đông bộ Quảng Tây) và Tượng (tây bộ Quảng Tây, nam bộ Quý Châu). Nước Nam Việt phía bắc giáp Mân Việt và phong quốc Trường Sa của nhà Hán, phía tây giáp Dạ Lang, phía tây nam giáp Âu Lạc, phía đông nam giáp biển.
Năm 202 TCN, Lưu Bang thống nhất Trung Nguyên và thành lập nhà Hán. Cuộc chiến của Lưu Bang đã khiến nhiều khu vực của Trung Quốc bị tàn phá nặng nề và dân số suy giảm. Các lãnh chúa phong kiến tiếp tục nổi loạn khắp nơi, trong khi lãnh thổ ở phía bắc thường xuyên bị người Hung Nô tấn công. Tình trạng bất ổn đó buộc triều đình nhà Hán phải cư xử hòa hảo với Nam Việt. Năm 196 TCN, Hán Cao Tổ đã cử Lục Giả (陸賈) đến Nam Việt với hi vọng lấy được sự trung thành của Triệu Vũ Vương. Sau khi đến nơi, Lục Giả gặp Triệu Vũ Vương và được cho là đã thấy Triệu Vũ Vương đón tiếp ông trong trang phục và phong tục của người Bách Việt. Điều đó khiến cho Lục Giả nổi giận. Lục Giả quở trách Triệu Vũ Vương, chỉ ra rằng ông là người Hoa Hạ chứ không phải người Việt, và nên giữ cách ăn mặc cùng lễ nghi của người Trung Nguyên, không được quên truyền thống của tổ tiên mình. Lục Giả ca ngợi sức mạnh của nhà Hán và cảnh báo một vương quốc nhỏ như Nam Việt chống lại nhà Hán sẽ là liều lĩnh. Sau khi đe dọa giết thân thích của Triệu Đà ở đất Hán và phá hủy mồ mả tổ tiên, cũng như ép buộc dân Bách Việt phế truất ông, Triệu Vũ Vương đã quyết định nhận con dấu của Hán Cao Tổ và quy phụ nhà Hán. Quan hệ buôn bán được thiết lập tại biên giới của Nam Việt và phong quốc Trường Sa thuộc Hán. Mặc dù chính thức là một nước chư hầu của nhà Hán nhưng Nam Việt dường như không mất đi quyền tự chủ trên thực tế.
Sau khi Lưu Bang mất năm 195 TCN, quyền lực rơi vào tay Lữ Hậu. Bà sai người đến quê hương của Triệu Vũ Vương là Chân Định (真定) (nay là huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc) giết nhiều họ hàng thân thích và mạo phạm mộ tổ tiên của Triệu Đà. Triệu Vũ Vương tin rằng Trường Sa vương Ngô Thần đã tạo ra những lời buộc tội dối trá chống lại ông để Lữ Hậu cắt đứt buôn bán giữa hai nước và để chuẩn bị đánh chiếm Nam Việt sáp nhập vào phong quốc Trường Sa của Ngô Thần. Để trả thù, Triệu Vũ Vương xưng là Hoàng đế (tức Nam Việt Vũ Đế) và đánh chiếm Trường Sa. Lã Hậu cử tướng Chu Táo chỉ huy quân đội để trừng phạt Triệu Vũ Đế. Thời tiết nóng ẩm ở phương nam khiến binh sĩ của Chu Táo đổ bệnh, không thể đi tiếp xuống phía nam, rốt cuộc họ phải rút lui. Sau đó Triệu Vũ Đế dùng của cải vỗ về các vùng phụ cận như Mân Việt ở phía đông và Tây Âu Lạc ở phía nam.
Năm 179 TCN, Lưu Hằng lên ngôi trở thành Hán Văn Đế. Ông đã đảo ngược nhiều kế sách trước đó của Lã Hậu và tiến hành hòa giải đối với Triệu Vũ Đế. Hán Văn Đế ra lệnh cho các quan lại đi kinh lý Chân Định, sai quân canh giữ bảo vệ huyện trấn và thường xuyên chăm lo hương hỏa tổ tiên của Triệu Vũ Đế. Thừa tướng Trần Bình đề nghị cử Lục Giả đến Nam Việt vì họ đã biết nhau từ trước. Lục Giả đến Phiên Ngung thêm một lần nữa và giao bức thư của Hán Văn Đế cho Triệu Vũ Đế nhấn mạnh rằng những chính sách của Lã Hậu là nguyên nhân gây ra sự thù địch giữa Nam Việt với triều đình nhà Hán và đem đến nỗi đau khổ cho dân thường ở biên giới. Triệu Vũ Đế lại quyết định quy phụ nhà Hán lần nữa, rút lại danh xưng Hoàng đế và trở lại xưng Vương, Nam Việt lại trở thành nước chư hầu của nhà Hán. Tuy vậy, hầu như những sự thay đổi đó chỉ là bề ngoài, Triệu Đà tiếp tục được gọi là Hoàng đế khắp Nam Việt. Ngoài 5 quận (hoặc 4 quận) trực tiếp cai trị, nhà Triệu còn gây ảnh hưởng đến mấy nhóm Bách Việt xung quanh như Đông Âu (Chiết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến).
=== Trung kỳ ===
Văn đế trấn quốc (137-125 TCN)
Năm 137 TCN, Triệu Đà mất vì tuổi cao (ước khoảng hơn 100), trưởng nam của ông vốn đã mất từ trước, vì vậy cháu của Triệu Đà là Triệu Mạt trở thành vua Nam Việt, tức Triệu Văn Đế.
Năm 135 TCN, vua Mân Việt sai quân quấy rối vùng giới tuyến với Nam Việt. Triệu Văn Đế vì chưa kịp củng cố thực lực nên buộc phải khẩn cầu Hán Vũ Đế gửi viện binh chống lại "những kẻ nổi loạn Mân Việt" như cách ông đề cập. Hán Vũ Đế khen Triệu Mạt là một thần tử trung thành và phái Đại hành Vương Khôi, một viên chức cai trị người dân tộc thiểu số, và Đại tư nông Hàn An Quốc chỉ huy quân đội, ra lệnh chia quân thành 2 đạo tấn công Mân Việt từ hai hướng, một từ Dự Chương, hướng khác là từ Cối Kê (nay thuộc Thiệu Hưng). Nhưng trước khi quân Hán đến nơi thì vua Mân Việt là Dĩnh đã bị em trai là Dư Thiện ám sát, sau đó Dư Thiện đã nhanh chóng đầu hàng. Hán Vũ Đế sau đó cử sứ giả là Nghiêm Trợ đến Phiên Ngung để trao quốc thư hàng phục của Mân Việt cho Triệu Văn Đế. Triệu Văn Đế tỏ lòng biết ơn đến Hán Vũ Đế cùng lời hứa ông sẽ lai kinh triều kiến Hán Vũ Đế. Sau đó, Triệu Văn Đế cử hoàng tử Anh Tề đến Trường An cùng Nghiêm Trợ làm con tin. Trước đây Triệu Văn Đế chưa bao giờ tới Trường An. Một cận thần của ông đã ra sức khuyên không nên đi vì sợ rằng Hán Vũ Đế sẽ tìm ra một vài nguyên nhân để ngăn cản ông quay trở về, điều đó sẽ dẫn đến sự diệt vong của nước Nam Việt. Triệu Văn Đế vì vậy đã cáo bệnh và không bao giờ đến Trường An. Ngay sau khi Mân Việt đầu hàng quân Hán, Vương Khôi đã phái Đường Mông, huyện lệnh Phiên Dương, đến để đưa tin Mân Việt đầu hàng cho Triệu Văn Đế. Khi ở Nam Việt, Đường Mông đã được giới thiệu ăn một loại nước chấm truyền thống của Nam Việt được làm từ quả sơn trà mua từ đất Thục. Ngạc nhiên rằng đó là một sản vật sẵn có, và Đường Mông đã được biết rằng có một tuyến đường từ Thục (nay là tỉnh Tứ Xuyên) đi đến Dạ Lang, rồi sau đó dọc theo sông Tang Kha (ngày nay là sông Bắc Bàn chảy qua tỉnh Vân Nam và Quý Châu) đi thẳng đến kinh đô Phiên Ngung của Nam Việt. Ngay sau đó Đường Mông đã phác thảo một kế hoạch trình lên Hán Vũ Đế đề nghị tập hợp 100.000 quân tinh nhuệ tại Dạ Lang, sau đó dùng thuyền vượt sông Tang Kha để mở cuộc tấn công bất ngờ vào Nam Việt. Hán Vũ Đế đồng ý với kế hoạch của Đường Mông, phong ông làm Lang Trung tướng và cho phép ông dẫn đầu 1000 quân cùng nhiều quân lương và xe hàng từ hẻm Ba Phù (ngày nay gần huyện Hợp Giang, tỉnh Tứ Xuyên) tiến vào Dạ Lang. Nhiều xe hàng mang theo là quà tặng cho các lãnh chúa phong kiến của Dạ Lang như là quà hối lộ để họ tuyên bố trung thành với nhà Hán, điều mà sau đó họ đã làm, và Dạ Lang trở thành quận Kiền Vi của nhà Hán.
Sau hơn một thập kỷ trị vì, Triệu Văn Đế đổ bệnh và qua đời khoảng năm 125 TCN.
Minh đế hưng quốc (125-113 TCN)
Sau khi nghe tin cha đổ bệnh nặng, Triệu Anh Tề nhận được sự chấp thuận từ Hán Vũ Đế quay trở về Nam Việt. Sau khi Triệu Văn Đế băng hà, Triệu Anh Tề lên ngôi vua Nam Việt, tức là Triệu Minh Vương. Trước khi được phái đến Trường An, Triệu Anh Tề đã kết hôn với một người đàn bà Nam Việt và có một con trai tên là Triệu Kiến Đức. Trong khoảng thời gian Triệu Anh Tề sống ở Trường An, ông lại cưới một người đàn bà Hàm Đan (có lẽ vì quê hương của Triệu Đà cũng ở vùng đó). Họ đã có một con trai tên là Triệu Hưng. Ông đã chủ động xin Hán Vũ Đế lập người vợ Hán thành Vương hậu và Triệu Hưng thành Thế tử, việc làm này cuối cùng đã mang đến thảm họa cho Nam Việt. Ông mất khoảng năm 113 TCN.
=== Hậu kỳ ===
Ai đế vong quốc (113-112 TCN)
Triệu Hưng lên ngôi khi mới 5 tuổi, tức Triệu Ai Vương, mẹ là Cù thái hậu tham chính. Hán Vũ Đế sai sứ giả An Quốc Thiếu Quý, vốn là người tình cũ của Cù thái hậu, sang thuyết phục Nam Việt nội phụ nhà Hán. Cù thái hậu lại cùng Thiếu Quý tư thông và muốn thuận theo nhà Hán, nhưng Thừa tướng người Việt là Lữ Gia phản đối. Năm 112 TCN, Lữ Gia đem quân đánh vào cung, giết chết Cù thái hậu và Triệu Ai Vương cùng An Quốc Thiếu Quý, lập anh của Triệu Ai Vương là Triệu Kiến Đức lên ngôi, tức là Triệu Thuật Dương Vương.
Dương đế phục quốc (112-111 TCN)
Năm 111 TCN, Hán Vũ Đế sai Dương Bộc, Lộ Bác Đức đem đại quân sang đánh. Vua Triệu là Thuật Dương Vương Kiến Đức và Thừa tướng Lữ Gia lần lượt đều bị bắt và bị hại (111 TCN). Dựa trên hệ thống các đền, miếu, đình, chùa thờ Lữ Gia, phu nhân và các tướng lĩnh của ông rải rác trên khắp vùng đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc Việt Nam, rất có thể cuộc kháng chiến chống nhà Tây Hán còn kéo dài đến năm 98 TCN. Sau khi Phiên Ngung thất thủ, Tây Vu Vương (thủ lĩnh đất tự trị Tây Vu với trung tâm là Cổ Loa) đã nổi dậy chống lại nguy cơ Bắc thuộc lần 1 trước sự xâm lăng của nhà Tây Hán. Tả tướng Hoàng Đồng (黄同) của hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân đã giết chết Tây Vu Vương đang làm loạn để hàng Hán. Thương Ngô vương Triệu Quang cùng họ hàng với vua nhà Triệu, nghe tin quân Hán đến, xin hàng, được phong làm Tùy Đào hầu; Huyện lệnh huyện Yết Dương là Sử Ðịnh (史定) hàng Hán được phong làm An Đạo hầu; tì tướng nhà Triệu là Tất Thủ (畢取) mang quân ra hàng được phong làm Liêu hầu ; quan Giám quận Quế Lâm là Cư Ông (居翁) dụ 40 vạn dân 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân ra hàng được phong làm Tương Thành hầu. Vậy là các xứ ở Nam Việt đều xin hàng. Nhà Triệu và nước Nam Việt cùng diệt vong sau 97 năm tồn tại, trải 5 đời vua.
== Phổ hệ ==
== Vị thế lịch sử ==
Xem Vấn đề chính thống của nhà Triệu.
Nhà Triệu được giới sử học Trung Hoa coi là một phiên thuộc của nhà Hán, trong khi giới sử học Việt Nam vẫn tranh cãi theo hai luồng quan điểm: Những người đề cao thuyết Thiên mệnh của Nho giáo (cho rằng ngôi vị là do "Trời định", ai xưng đế ở vùng đất nào thì nghiễm nhiên được coi là vua, nắm giữ "Thiên Mệnh" của vùng đất đó, bất kể xuất thân thuộc dân tộc nào) thì sẽ nhìn nhận Triệu Đà là vua Việt Nam, đây là cách nhìn của nhiều sử gia Việt Nam thời phong kiến. Ngược lại, những nhà sử học có tư duy biện chứng về quốc gia - dân tộc, coi trọng nguồn gốc xuất thân, tính dân tộc của người cầm đầu chính quyền, bản chất của bộ máy quan lại nước Nam Việt (hầu hết quan lại Nam Việt là người Trung Hoa, còn người Việt là dân bị trị) và không công nhận thuyết "Thiên Mệnh" thì sẽ coi Triệu Đà là triều đại xâm chiếm của phương Bắc, đây là cách nhìn của các sử gia thời hiện đại.
Nhà Triệu là một triều đại Việt Nam
Nhà Triệu là một triều đại chính thống của Việt Nam được thể hiện qua các sử gia thời phong kiến, từ Lê Văn Hưu (thế kỷ 13) đến Trần Trọng Kim (đầu thế kỷ 20), coi đó là thời kỳ độc lập của Việt Nam, bởi vì họ Triệu cai trị Nam Việt độc lập với nhà Hán cho tới tận năm 111 TCN, khi các đội quân nhà Hán xâm lược đất nước này và sáp nhập nó vào đế chế Hán thành bộ Giao Chỉ. Lê Văn Hưu đã viết trong Đại Việt sử ký: "Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc không thể lại ngấp nghé được".
Nhà Triệu là một triều đại chiếm đóng đến từ Trung Hoa
Quan điểm phủ nhận nhà Triệu được khởi xướng từ thế kỷ XVIII bởi học giả Ngô Thì Sĩ. Trong Việt sử tiêu án, ông khẳng định nước Nam Việt là giặc ngoại xâm, bởi Triệu Đà là người Hán và từng là tướng theo lệnh của Tần Thủy Hoàng bành trướng xuống phía Nam:
"An Dương Vương mất nước, để quốc thống về họ Triệu, chép to 4 chữ: "Kỷ Triệu Vũ Đế". Người đời theo sau đó không biết là việc không phải. Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà khởi phát ở Long Xuyên, lập quốc ở Phiên Ngung, muốn cắt đứt bờ cõi, gồm cả nước ta vào làm thuộc quận, đặt ra giám chủ để cơ mi lấy dân, chứ chưa từng đến ở nước ta. Nếu coi là đã làm vua nước Việt, mà đến ở cai trị nước ta, thì sau đó có Lâm Sĩ Hoằng khởi ở đất Bàn Dương, Hưu Nghiễm khởi ở Quảng Châu, đều xưng là Nam Việt Vương, cũng cho theo Quốc kỷ được ư? Triệu Đà kiêm tính Giao Châu, cũng như Ngụy kiêm tính nước Thục, nếu sử nước Thục có thể đưa Ngụy tiếp theo Lưu Thiện, thì quốc sử ta cũng có thể đưa Triệu tiếp theo An Dương. Không thế, thì xin theo lệ ngoại thuộc để phân biệt với nội thuộc vậy".
Các tài liệu lịch sử thời nhà Triệu:
Sau khi tới thủ phủ Long Xuyên nhậm chức, Triệu Đà đã xin Tần Thủy Hoàng di dân 50 vạn người (tương đương số dân Việt thời đó) từ Trung Hoa đến vùng này để đồng hóa người Việt tại đây. Như vậy, Triệu Đà thực sự muốn cải biến phong tục, tập quán của các bộ tộc Việt theo lối Trung Hoa chứ không hề muốn bảo tồn dân tộc Việt.
Đến cuối đời, Triệu Đà đã quyết định bỏ danh hiệu Đế, quy phục nhà Hán (nhưng vẫn xưng Hoàng Đế ở trong Nam Việt). Triệu Đà viết thư nhờ Lục Giả gửi cho vua Hán, trong thư ông viết:
Như vậy, Triệu Đà đã nhận rằng mình chỉ là phiên vương phục vụ cho nhà Hán, thay mặt vua Hán để cai trị phía Nam, bản thân ông cũng chỉ coi thần dân người Việt là đám "Man Di" mà thôi.
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
Đại Việt sử ký toàn thư
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Kỷ nhà Triệu
Trần Trọng Kim (2010), Việt Nam sử lược, Nhà xuất bản Thời đại
Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Đại học và Giáo dục Chuyên nghiệp
Đào Duy Anh (2005), Lịch sử cổ đại Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Nguyễn Việt (2010), Hà Nội thời tiền Thăng Long, Nhà xuất bản Hà Nội
Sử ký Tư Mã Thiên, quyển 113, mục Nam Việt liệt truyện
Ban Cố, Hán thư, quyển 95, mục Tây Nam Di, Lưỡng Việt, Triều Tiên truyện
Nhà Triệu tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Nam Viet (ancient kingdom, Asia) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Nước Nam Việt và các đời vua Triệu
== Chú thích == |
aruba.txt | Aruba ( /əˈruːbə/ ə-ROO-bə; Tiếng Hà Lan: [aːˈrubaː]) là một hòn đảo dài 32 km của Antilles nhỏ trong Biển Caribe, cách 27 km về phía bắc Bán đảo Paraguaná, Bang Falcón, Venezuela. Nó nằm trong Vương quốc Hà Lan, bao gồm phần châu Âu (Hà Lan) và phần châu Mỹ-Caribe (Aruba và Antille thuộc Hà Lan). Không giống như phần lớn khu vực châu Mỹ-Caribe, Aruba có khí hậu khô và đất đai khô cằn, nhiều xương rồng. Khí hậu này đã giúp ngành du lịch vì du khách đến đảo luôn có thể trông đợi thời tiết nắng ấm. Nó có diện tích là 193 km2 và nằm bên ngoài vành đai núi lửa.
== Khí hậu ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Aruba tại Wikimedia Commons
Ngân hàng Trung ương Aruba
Cơ quan Hải cảng Aruba
Cơ quan Hàng không Aruba
Bảo hiểm sức khỏe Aruba (AZV)
Aruba.com - Cổng điện tử Du lịch của chính phủ
Đại học Aruba
Arubaplaza.com - Thông tin chi tiết về Aruba
Mục “Aruba” trên trang của CIA World Factbook.
Tiền giấy Aruba
NosFM.com - Đài phát thanh bằng tiếng Papiamento |
y tế công cộng.txt | Y tế công cộng là khoa học và nghệ thuật phòng bệnh, kéo dài tuổi thọ và tăng cường sức khỏe thông qua những cố gắng có tổ chức của xã hội.
Sức khoẻ có nhiều định nghĩa khác nhau theo nhiều tổ chức.Tổ chức y tế thế giới, cơ quan của Liên Hợp Quốc, đặt tiêu chuẩn và cung cấp chương trình kiểm soát bệnh tật đã định nghĩa sức khỏe là:"tình trạng hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tinh thần và các quan hệ xã hội chứ không phải đơn giản là tình trạng không có bệnh hay ốm yếu". Các chuyên gia y tế công cộng cho rằng định nghĩa này chưa đầy đủ, một số thành phần khác trong sức khỏe con người còn có dinh dưỡng, tinh thần và tri thức.
Y tế công cộng có nhiều lĩnh vực nhỏ nhưng có thể chia ra các phần: dịch tễ học, sinh thống kê và dịch vụ y tế. Những vấn đề liên quan đến môi trường, xã hội, nhân chủng học và sức khỏe nghề nghiệp cũng là lĩnh vực quan trọng trong y tế công cộng.
Trọng tâm can thiệp của y tế công cộng là phòng bệnh trước khi đến mức phải chữa bệnh thông qua việc theo dõi tình trạng và điều chỉnh hành động bảo vệ sức khỏe. Nói tóm lại, trong nhiều trường hợp thì chữa bệnh có thể gây nguy hiểm đến tính mạng hơn so với phòng bệnh từ trước, chẳng hạn như khi bùng phát bệnh lây nhiễm. Chương trình tiêm chủng vắc-xin và phân phát bao cao su là những ví dụ về các biện pháp dùng trong y tế công cộng.
== Khái niệm ==
Ở Việt Nam, ngành y tế công cộng còn mới và thường bị nhẫm lẫn với ngành y học dự phòng hay vệ sinh-dịch tễ (trước kia). Hiện nay có xu hướng sử dụng thuật ngữ "y tế công cộng" hơn vì:
Đây là thuật ngữ đang được thế giới sử dụng rộng rãi (tiếng Anh: public health).
Bao hàm ý nghĩa liên ngành chứ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực y tế.
== Mục đích ==
Các can thiệp của y tế công cộng tập trung vào vấn đề phòng bệnh hơn là chữa bệnh thông qua giám sát các trường hợp và khuyến khích các hành động tốt cho sức khoẻ. Thêm vào đó, trong nhiều trường hợp, chữa một bệnh này có ý nghĩa sống còn để phòng ngừa các bệnh khác, chẳng hạn các vụ bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm. Các chương trình tiêm chủng vắc-xin, vệ sinh nước sạch,môi trường là những ví dụ của công tác hoạt động y tế công cộng.
Nhiều quốc gia đã có cơ quan chính phủ riêng, thường là bộ y tế, chịu trách nhiệm về các vấn đề sức khỏe trong gia đình. Ở Hoa Kỳ, vấn đề y tế cộng đồng bắt đầu thu thập từ các cục y tế bang và địa phương. Cơ quan kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh(CDC)đặt tại Atlanta, mặc dù có cơ sở tại Hoa Kỳ, nhưng cũng liên quan tới nhiều vấn đề sức khỏe tại nhiều quốc gia khác mà họ chịu trách nhiệm.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa chăm sóc sức khỏe và y tế công cộng giữa các nước đang phát triển và các nước đã phát triển. Tại các nước đang phát triển, nhiều cơ sở hạ tầng y tế công cộng vẫn còn đang được trong giai đoạn xây dựng. Có thể không đủ các cử nhân y tế được đào tạo tốt và nguồn tiền để cung cấp cho thậm chí chỉ ở mức độ cơ bản nhất trong vấn đề chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh. Vấn đề đó kết hợp với tình trạng đói nghèo đã khiến đa số bệnh tật và tử vong hoành hành dữ dội ở các nước đang phát triển. Nhiều nước châu Phi, chính phủ dành ra dưới 10$ cho chăm sóc sức khỏe mỗi người, trong khi tại Hoa Kỳ, chính quyền liên bang chi trả xấp xỉ 4500$ một đầu người.
Nhiều bệnh tật có thể phòng tránh được một cách rất đơn giản, thậm chí bằng phương pháp không liên quan tới y học. Y tế công cộng đống một vai trò hết sức quan trọng trong nỗ lực ngăn ngừa bệnh tật tại các nước đang phát triển, cùng với hệ thống y tế địa phương thông qua các tổ chức phi chính phủ.
== Lịch sử của y tế công cộng ==
Y tế công cộng là khái niệm hiện đại, mặc dù nguồn gốc có từ xa xưa. Từ thời kì sơ khai của nền văn minh con người, tình trạng ô nhiễm nước và thiếu nguyên tắc trong việc bố trí rác thải có thể tạo ra véc-tơ lây truyền bệnh dịch. Nhiều tôn giáo cổ xưa cũng đã đưa ra quy định trong hành vi liên quan tới sức khỏe: từ các loại thức ăn nào thì được dùng, cho tới đánh giá hành vi nào bị coi là buông thả theo khoái cảm, chẳng hạn uống rượu hay quan hệ tình dục. Những chính phủ đã thiết lập nên nơi có quyền lãnh đạo và phát triển chính sách sức khỏe cộng đồng và những chương trình chống lại các nguyên nhân gây bệnh nhằm bảo đảm sự ổn định, an toàn, phồn vinh của quốc gia.
=== Y tế công cộng thời xa xưa ===
Từ trước thời La Mã, người ta đã biết nhiều về y tế công cộng: những hành động can thiệp hợp lý của người làm công việc rác thải là rất cần thiết cho sức khỏe cộng đồng ở khu vực thành thị. Người Trung Quốc đã biết phát triển thói quen phòng dịch sau khi trải qua một trận dịch đậu mùa khoảng năm 1.000 trước công nguyên. Người không mắc bệnh có thể nhận được ít nhiều miễn dịch chống lại căn bệnh nhờ nuốt vảy khô của người đã nhiễm. Tương tự, trẻ em cũng có thể được bảo vệ nhờ tiêm vào cẳng tay một vết nhỏ mủ từ một người bệnh. Cách làm này chỉ xuất hiện ở phương tây những năm đầu 1700, và được sử dụng rất hạn chế. Tiêm chủng băng vắc-xin chỉ trở nên phổ biến những năm 1820, sau thành công của Edward Jenner trong việc điều trị đậu mùa.
Trong suốt thế kỷ 14, dịch chết Đen lan rộng ở châu Âu, người ta cho rằng thủ tiêu các cơ thể bị chết có giúp thể ngăn ngừa được nhiễm trùng vi khuẩn này về sau. Điều này đã giải quyết được một phần gốc rễ của dịch bệnh, tuy vậy, căn bệnh lại được lan truyền chủ yếu do bọ chét trên các loài gặm nhấm. Nhiều khu vực trong các thành phố bị đốt chát đã giúp ích rất nhiều bởi vì nó đã tiêu diệt nhiều động vật gặm nhấm mắc bệnh.
Dịch tả, đại dịch thứ hai tàn phá châu Âu từ năm 1829 tới năm 1851.
=== Y tế công cộng thời hiện đại ===
Khi tỉ lệ mắc bệnh truyền nhiễm ở các nước phát triển giảm xuống trong thể kỷ 20, y tế công cộng bắt đầu tập trung hơn nữa vào các bệnh mãn tính như ung thư và bệnh tim. Trong khi đó, các nước đang phát triển vẫn còn đang các bệnh truyền nhiễm có thể phòng tránh được hoành hành, tàn phá, cùng với suy dinh dưỡng và nghèo đói.
Gánh nặng của chữa trị lâm sàng do người thất nghiệp, nghèo đói, nhà cửa tồi tàn và ô nhiễm môi trường lên tới 16-22% ngân sách y tế của vương quốc Anh.[1]
=== Lịch sử phát triển y tế công cộng ở Việt Nam ===
Từ ngày thành lập nước năm 1945, Việt Nam đã khẳng định y học dự phòng luôn là ưu tiên hàng đầu: phòng bệnh hơn chữa bệnh. Theo tinh thần đó, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống vệ sinh dịch tễ học theo mô hình Liên Xô nhấn mạnh vào việc phòng và chống các bệnh truyền nhiễm bởi lúc đó bệnh truyền nhiễm đóng vai trò chủ yếu trong cấu trúc bệnh tật ở Việt Nam, hoàn toàn có thể khống chế được thông qua các biện pháp đặc hiệu như dùng vắc-xin và không đặc hiệu như tuyên truyền.
Trong khi đó, những tiến bộ trong cách đề cập dịch tễ học đang diễn ra tại những nước phương tây, chủ yếu là các nước nói tiếng Anh, đang ngày một mạnh mẽ. Những tiến bộ đó chỉ được đưa vào một cách không chính thức thông qua các cuốn sách dịch tễ học được những người có dịp đi học, công tác tại các nước phát triển mang về và đại học Y Hà Nội đã nghiên cứu và dần đưa vào giảng dạy đầu những năm 1980.
== 9 chức năng cơ bản của Y tế công cộng ==
Theo dõi và phân tích tình hình sức khoẻ
Giám sát dịch tễ học / phòng ngừa và kiểm soát dịch
Xây dựng chính sách và kế hoạch y tế công cộng
Quản lý có tính chiến lược các hệ thống và dịch vụ sức khỏe cộng đồng
Quy chế và thực hành pháp luật để bảo vệ sức khỏe công cộng
Phát triển nguồn nhân lực và lập kế hoạch trong y tế công cộng
Tăng cường sức khỏe, sự tham gia của xã hội trong công tác chăm sóc sức khỏe và làm cho người dân có ý thức thực hiện được đó là quyền lợi của mình
Đảm bảo chất lượng dịch vụ sức khỏe cho cá nhân và cho cộng đồng
Nghiên cứu, phát triển và thực hiện các giải pháp y tế công cộng mang tính chất đổi mới
== Những chương trình y tế công cộng ==
Ngày nay, hầu hết chính phủ các nước nhận thấy tầm quan trọng của những chương trình y tế công cộng trong việc làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tình trạng ốm yếu, và sự lão hoá, mặc dù y tế công cộng mặc dù nói chung, y tế công cộng nhận được ít hỗ trợ từ các quỹ chính phủ hơn so với y học lâm sàng.Trong những năm gần đây, những chương trình y tế công cộng đã cung ứng vắc-xin tiêm chủng đầy đủ, góp phần tăng cường sức khỏe một cách không thể tin nổi, bao gồm có việc xóa sổ bệnh đậu mùa, một bệnh dịch thảm họa của nhân loại trong hàng nghìn năm.
Một trong những kết quả quan trọng nhất của y tế công cộng là đương đầu với HIV/AIDS. Bệnh lao, căn bệnh được cho là đã từng cướp đi sinh mạng của Franz Kafka, Charlotte Brontë, và nhà soạn nhạc Franz Schubert hiện nay lại đang nổi lên như một vấn đề lớn, liên quan tới sự gia tăng tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS và vấn đề kháng thuốc của vi khuẩn.
Một mối quan tâm khác của y tế công cộng là bệnh tiểu đường. Theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 2006, có ít nhất 171 triệu người trên thế giới đang chịu đựng căn bệnh này. Tỷ lệ mắc phải bệnh này đang gia tăng nhanh chóng và ước tính con số này sẽ gấp đôi trước năm 2030.
Y tế công cộng còn có ảnh hưởng tới vấn đề kiểm soát hút thuốc lá. Nhiều quốc gia đã thi hành việc bước đầu cấm hút thuốc lá, chẳng hạ tăng thuế và cấm hút thuốc ở một vài hoặc tất cả các nơi công cộng. Những người khởi xướng điều này cho rằng hút thuốc lá là một trong những "kẻ sát nhân" chính tại tất cả các nước phát triển, và họ đã nỗ lực làm giảm tỷ lệ chết nhờ hạn chế hút thuốc thụ động và bằng thu hẹp cơ hội cho người hút thuốc. Những người phản đối điều này lại nói điều đó hủy hoại tự do và trách nhiệm cá nhân, (họ thường sử dụng ngữ nanny state để chỉ các cảnh sát phạt họ về điều này ở Anh).
== Các cơ sở đào tạo trọng điểm về Y tế công cộng ở Việt Nam ==
Trường Đại học Y tế công cộng: Nơi đào tạo chuyên ngành Y tế công cộng hàng đầu của Việt Nam.
Trường Đại học Y Hà Nội - Khoa Y tế công cộng: Nơi đầu tiên có khóa Cử nhân Y tế công cộng, Bác sĩ Y học dự phòng, Thạc sĩ, Tiến sĩ, BS CK1 YTCC. Ngoài ra Khoa YTCC - Đại học Y Hà Nội còn có các hệ đào tạo ở tất cả các cấp độ về Y học dự phòng, Dịch tễ học, Dinh dưỡng, và các chuyên ngành khac trong lĩnh vực Y tế công cộng.
Khoa Y tế công cộng, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh được thành lập năm 1999. Khoa bắt đầu đào tạo cử nhân Y tế công cộng từ năm 1999 và đào tạo Bác sĩ Y học dự phòng từ năm 2008.
Đại học Y dược Cần Thơ.
Đại học Y Dược Huế.
Đại học Thăng Long
Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trường đại học Y tế công cộng Hà Nội
Tiếng Anh:
Cơ quan y tế công cộng của Canada.
Cơ quan phòng chống các nguồn chất độc tự nhiên: thuốc độc với sức khoẻ.
Antony van Leeuwenhoek (1632-1723)
Giới thiệu về môn Virus học.
John Snow: nghiên cứu của ông về dịch tả.
U Leicester Online Tutorials
Trung tâm kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ: mạng thông tin y tế công cộng.
Các cơ quan của hội y tế công cộng tại các địa hạt và thành phố Tổ chức nhà nước đại diện cho các cơ quan y tế công cộng, cơ sở chính đặt tại thủ đô Washington.
Cơ quan đại diện của ngành y tế tại các bang và khu vực Tổ chức đại diện cho các cơ quan y tế tại các bang.
Thế giới và sức khoẻ.
Trust for America's Health Một tổ chức nghiên cứu y tế và chính trị có trụ sở tại Washington.
Public Healthy.com Thông tin về giáo dục, thực hành và nghiên cứu Y tế công cộng tại vương quốc Anh.
Diễn đàn y tế công cộng.
The Solid Facts, the Social Determinants of Health
Đại học Y tế công cộng Johns Hopkins. |
franc.txt | Franc là tên chung của một số đơn vị tiền tệ, nhất là franc Pháp - đơn vị tiền tệ của Pháp. Đồng franc Pháp lưu thông trên thị trường cho đến khi nước này thông qua nghị luật sử dụng đồng euro năm 1999 và đem thi hành năm 2002. Ngoài ra franc còn có thể là tên gọi đồng franc Thụy Sĩ, đơn vị tiền tệ của Thụy Sĩ và cũng là một ngoại tệ quan trọng trên thế giới.
== Nguồn gốc tên gọi ==
Danh ngữ franc có nguồn gốc từ tiếng Latin francorum rex (có nghĩa là "Vua của người Frank"). Dòng chữ này được đúc trên những đồng tiền kim loại của Pháp thời xưa và rồi chữ franc được dùng làm tên gọi của thứ tiền đó. Franc trong tiếng Pháp còn có nghĩa là "tự do".
Sách Việt vào thế kỷ 19 còn phiên âm gọi đồng franc thành phật lăng. Sang thời Pháp thuộc người Việt còn gọi tiền đó là quan Pháp hoặc rút ngắn thành quan.
== Địa bàn lưu thông ==
Quốc gia dùng đồng franc gồm có Thụy Sĩ, Liechtenstein và hầu như tất các các quốc gia tại châu Phi dùng tiếng Pháp. Trước khi đồng euro xuất hiện, đồng franc đã được dùng tại Pháp, Bỉ và Luxembourg, trong khi Andorra và Monaco công nhận đồng franc Pháp như một trong các tiền tệ chính thức. Đồng franc cũng đã được dùng tại các thuộc địa của Pháp như Algérie và Campuchia.
Một franc thường được chia thành 100 centime. Đồng franc Pháp có ký hiệu là ₣. Nhiều khi, trong tiếng Ý hay tiếng Tây Ban Nha, franc được viết thành franco.
== Đang lưu thông ==
Franc Thụy Sĩ
CFA franc Tây Phi
CFA franc Trung Phi
CFP franc
Franc Comoros
Franc Burundi
Franc Congo
Franc Guinea
Franc Djibouti
Franc Rwuanda
== Không còn lưu thông ==
Franc Pháp
Franc Bỉ
Franc Luxembourg
Franc Monaco
Franc Andora
Franc Madagascar
Franc Mali
== Tham khảo == |
aimer.txt | Aimer (エメ Eme?, [eme]) là một nghệ sĩ ghi âm người Nhật ký hợp đồng với Defstar Records.
== Sự nghiệp ==
Aimer đã hợp tác với nhóm "Agehasprings", nhóm đã sản xuất hoặc cung cấp nhạc cho nhiều nghệ sĩ, gồm Yuki, Mika Nakashima, Flumpool, Superfly, Yuzu, and Genki Rockets. Năm 2011, sự nghiệp âm nhạc của cô bắt đầu vững chắc. Trong tháng 5 năm 2011, họ cho ra ý tưởng về album Your favorite things. Nó đã cover nhiều tác phẩm thịnh hành, bao gồm những tác phẩm trong nhiều thể loại như Jazz và nhạc đồng quê phương Tây. Bản cover số 1 là dựa trên "Poker Face" của Lady Gaga, và là bài hát đầu tiên xuất hiện trên bảng xếp hạng trong danh mục nhạc Jazz trên iTunes Store. Album đạt vị trí thứ 2.
Vào ngày 7 tháng 9 năm 2011, cô ra mắt Defstar Records, với bài hát "Rokutousei no Yoru", nó đã được Fuji TV chọn làm ca khúc kết thúc của bộ anime năm 2011 No. 6. "Rokutousei no Yoru" đánh dấu thứ hạng cao nhất của nó ở hạng 9 trên bảng xếp hạng Rekochoku. Đĩa đơn thứ hai ra mắt vào ngày 14 tháng 12 năm 2011. "Re:pray/ Sabishikute Nemurenai Yoru wa" đạt vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng của trang tải nhạc "Mora". Bài hát "Re:pray" được chọn là bài hát kết thúc thứ 29 của anime Bleach. Đĩa đơn bao gồm bản cover "Poker Face" của Lady Gaga. Bài hát trước đó được xuất hiện trong Your Favorite Things của Aimer, một album được ra đời trong thời kì indie của cô.
Vào ngày 22 tháng 2 năm 2012, cô phát hành đĩa đơn thứ ba, "Yuki no Furumachi/Fuyu no Diamond", với chủ đề "mùa đông" trong tất cả các bài hát. Vào ngày 11 tháng 5 năm 2012, Aimer cho ra một đĩa đơn kĩ thuật số "Hoshikuzu Venus". Đĩa đơn này được dự định trở thành ca khúc chủ đề và nhạc nền trong drama của Sasaki Nozomi, Koi nante Zeitaku ga Watashi ni Ochite Kuru no daro ka?. Bộ drama này được phát sóng vào 16 tháng 4 năm 2012. Ngày 15 tháng 8, Aimer phát hành đĩa đơn thứ tư, "Anata ni Deawanakereba: Kasetsu Toka / Hoshikuzu Venus", bao gồm bản cover "Breaking Up Is Hard To Do" của Neil Sedaka. Bài hát đầu tiên trong đĩa đơn "Anata ni Deawanakereba: Kasetsu Toka" là bài hát kết thúc trong bộ anime Natsuyuki Rendezvous của Fuji TV.
Vào ngày 20 tháng 3 năm 2013, Aimer cho ra đĩa đơn "RE:I AM", được dùng làm bài hát kết thúc của tập kề cuối bộ anime Mobile Suit Gundam Unicorn. Theo một phỏng vấn, tựa đề bài hát "là một phép đảo chữ của tên cô (Aimer), và có ý nghĩa của việc tách các con chữ ra và tạo thành một từ khác." Đĩa đơn thứ 8 của Aimer, "Brave Shine", góp mặt trong ca khúc mở đầu của anime Fate/stay night: Unlimited Blade Works, được phát hành vào 3 tháng 6 năm 2015. Một bài hát khác, "LAST STARDUST", cũng được đề cử cho ca khúc mở đầu và đã được xuất hiện trong tập 20.
== Danh sách đĩa nhạc ==
=== Albums ===
Sleepless Nights (ngày 3 tháng 10 năm 2012)
Midnight Sun (ngày 25 tháng 6 năm 2014)
DAWN (ngày 29 tháng 7 năm 2015)
=== Mini albums ===
After Dark (ngày 20 tháng 11 năm 2013)
Dare ka, Umi wo.(誰か、海を。)(ngày 3 tháng 9 năm 2014)
=== Cover albums ===
Your Favorite Things (ngày 11 tháng 5 năm 2011)
Bitter & Sweet (ngày 12 tháng 12 năm 2012)
=== Album hợp tác ===
=== Đĩa đơn ===
"Rokutosei no Yoru" / "Kanashimi wa Aurora ni" / "Twinkle Twinkle Little Star" (六等星の夜 / 悲しみはオーロラに, "Rokutosei no Yoru" / "Kanashimi wa Aurora ni" / "Twinkle Twinkle Little Star") (六等星の夜 / 悲しみはオーロラに) (ngày 7 tháng 9 năm 2011)
"Re:pray" / "Sabishikute Nemurenai Yoru wa" (寂しくて眠れない夜は, "Re:pray" / "Sabishikute Nemurenai Yoru wa") (寂しくて眠れない夜は) (ngày 14 tháng 12 năm 2011)
"Yuki no Furumachi" / "Fuyu no Diamond" (雪の降る街 / 冬のダイヤモンド, "Yuki no Furumachi" / "Fuyu no Diamond") (雪の降る街 / 冬のダイヤモンド) (ngày 22 tháng 2 năm 2012)
"Anata ni Deawa Nakereba: Kasetsu Toka" / "Hoshikuzu Venus" (あなたに出会わなければ~夏雪冬花~/星屑ビーナス, "Anata ni Deawa Nakereba: Kasetsu Toka" / "Hoshikuzu Venus") (あなたに出会わなければ~夏雪冬花~/星屑ビーナス) (ngày 15 tháng 8 năm 2012)
"RE:I AM" / "Hoshi no Kieta Yoru ni" / "Kyo Kara Omoide" (, "RE:I AM" / "Hoshi no Kieta Yoru ni" / "Kyo Kara Omoide") (ngày 20 tháng 3 năm 2013)
"StarRingChild" / "Even Heaven" / "Mine" (, "StarRingChild" / "Even Heaven" / "Mine") (ngày 21 tháng 5 năm 2014)
"broKen NIGHT / holLow wORlD" (, "broKen NIGHT / holLow wORlD") (ngày 17 tháng 12 năm 2014)
"Brave Shine" (ngày 3 tháng 6 năm 2015)
"ninelie" (ngày 11 tháng 5 năm 2016)
"insane dream/us" (July 6th, 2016)
=== Đĩa đơn kĩ thuật số ===
"Rokutosei no Yoru" (TV Size) (六等星の夜) (ngày 7 tháng 9 năm 2011)
"Re:pray" (TV Size) (ngày 30 tháng 11 năm 2011)
"Hoshikuzu Venus"|星屑ビーナス (ngày 11 tháng 5 năm 2012)
"L-O-V-E" (ngày 12 tháng 12 năm 2012)
"Refrain ga Sakenderu" (リフレインが叫んでる) (ngày 19 tháng 12 năm 2012)
"Nemuri no Mori" (眠りの森) (ngày 14 tháng 8 năm 2013)
"Kimi wo Matsu" (君を待つ) (ngày 22 tháng 2 năm 2015)
=== Soạn nhạc/Khác ===
No.6 Original Soundtrack (#19 Rokutosei no Yoru (TV SIZE)) " (ngày 21 tháng 9 năm 2011)
Bleach Best Trax (#8 Re:pray) (ngày 15 tháng 4 năm 2012)
"Natsuyuki Rendezvous" Original Soundtrack (#35 Anata ni Deawa Nakereba ~Kasetsu Toka~ (TVsize)) (ngày 24 tháng 10 năm 2012)
"See More Glass" by Galileo Galilei (#3 Banana Fish to Hamabe to Kuroi Niji with Aimer) (ngày 1 tháng 10 năm 2014)
"Sea and The Darkness" by Galileo Galilei [#5 Bed / Love Song (ベッド) (Feat. Aimer)] (ngày 27 tháng 1 năm 2016)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
DefStar Records
Sony Music Entertainment Japan (Aimer page)
Fourseam (Aimer Page) |
samsung galaxy note pro 12.2.txt | Samsung Galaxy Note Pro 12.2 là máy tính bảng 12.2-inch chạy hệ điều hành Android sản xuất và phân phối Samsung Electronics. Nó thuộc thế hệ mới của dòng Samsung Galaxy Note series và máy tính bảng Pro, bao gồm bản 8.4-inch, Samsung Galaxy Tab Pro 8.4, bản 10.1-inch, Samsung Galaxy Tab Pro 10.1, và một bản 12.2 inch khác, Samsung Galaxy Tab Pro 12.2. Nó được công bố vào 6 tháng 1 năm 2014, và phát hành vào 13 tháng 2 tại Mỹ, với giá $749.
== Lịch sử ==
Galaxy Note Pro 12.2 công bố vào 6 tháng 1 năm 2014. Nó được trình làng cùng với Galaxy Tab Pro 12.2, Tab Pro 10.1, and Tab Pro 8.4 tại 2014 Consumer Electronics Show ở Las Vegas.
== Tính năng ==
Galaxy Note Pro 12.2 phát hành với Android 4.4 KitKat. Samsung tùy biến giao diện người dùng với TouchWiz UX. Cùng với ứng dụng từ Google, bao gồm Google Play, Gmail và YouTube, nó truy cập vào ứng dụng của Samsung như ChatON, S Suggest, S Voice, Smart Remote (Peel) và All Share Play. Các chức năng và ứng dụng của bút được thêm vào trên Note Pro 12.2 có tên là Air Command cung cấp các phím tắt cho những tính năng định hướng của bút như Action Memos (ghi chú trên màn hình cho phép nhập liệu bằng tay để nhận diện nội dung của họ và cung cấp các hoạt động liên quan như tìm kiếm địa chỉ trên Google Maps và quay số điện thoại), Screen Write là một công cụ chú thích, Pen Window cho phép người dùng vẽ cửa sổ pop-up để chạy một ứng dụng nhất định bên trong, công cụ tìm kiếm S Finder, Scrapbook, My Magazine ứng dụng tin tức tổng hợp có thể truy cập bằng cách vuốt từ phía dưới màn hình, và cập nhật cho S Note.
Galaxy Note Pro 12.2 có sẵn bản Wi-Fi (SM-P9000), và biến thể 4G/LTE & Wi-Fi (SM-P9050). Bộ nhớ trong từ 16 GB đến 64 GB tùy theo sản phẩm, với thẻ nhớ microSDXC để mở rộng. Nó có màn hình 12.2-inch WQXGA TFT với độ phân giải 2.560x1.600 pixel. Nó có máy ảnh trước 2 MP và máy ảnh chính 8 MP. Nó có thể quay video HD.
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy Note series
Samsung Electronics
Samsung Galaxy Note 10.1 2014 Edition
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Website chính thức
Samsung Galaxy Note Pro Review |
apple soc.txt | Apple system on chips, viết tắt là Apple System on a Chip, thường biết đến với cái tên Ax, là các hệ thống trên một vi mạch dựa trên nền tảng ARM được thiết kế bởi Apple Inc để sử dụng trong các thiết bị của họ như iPhone, iPad, iPod và Apple TV
== Apple A4 ==
Apple A4, tên mã S5L8930 sử dụng CPU ARM Cortex-A9 MPCore cùng GPU PowerVR SGX 535. Trong iPad bản đầu, Apple TV 2 và iPod Touch 4G, chip đi kèm với RAM 256MB, còn ở iPhone 4 thì chip đi kèm với RAM 512 MB. Tốc độ xung nhịp của A4 là 1GHz
== Apple A5 ==
Apple A5, tên mã S5L8940 được sử dụng lần đầu ở iPad 2, iPhone 4S, Apple TV 3 và gần đây là iPad Mini. A5 sử dụng chip ARM Cortex-A9 có xung nhịp 1Ghz và được sản xuất bới Samsung
== Apple A5X ==
Apple A5X, tên mã S5L8945 là con chip duy nhất chỉ có trên The New iPad. A5X chỉ là phiên mản nâng cấp của A5 nhưng với chip đồ họa 4 nhân theo Apple. Chip được Samsung sản xuất với dây chuyền 45 nm
== Apple A6 ==
Apple A6, tên mã S5L8950 là con chip được sử dụng trên iPhone 5. Thay vì sử dụng chip ARM Cortex có sẵn thì Apple lại tự thiết kế con chip cho riêng mình để đảm bảo tiết kiện điện năng. A6 đi kèm với 3 nhân xử lý đồ họa, 2 nhân CPU và 1GB RAM. Chip được gia công bởi Samsung trên dây chuyền 32 nm
== Apple A6X ==
Apple A6X là con chip được sử dụng trên dòng iPad thế hệ thứ 4. Theo Apple thì chip A6X có tốc độ nhanh hơn A6 2 lần, có CPU 2 nhân và 4 nhân đồ họa. Do có bất đồng với Samsung, Apple đã chuyển việc sản xuất A6X từ Samsung sang TSMC
== Chú thích ==
17. http://www.anhem.vn/threads/1350-Chip-A7-cua-apple-chi-co-2-nhan-nhung-rat-manh.html
== Liên kết ngoài == |
ứng suất cắt.txt | Ứng suất cắt là kết quả khi lực tác động lên sản phẩm mà gây ra biến dạng trượt của vật liệu trên một mặt phẳng song song với hướng tác động của lực áp vào. Ví dụ như người ta dùng kéo để cắt một tấm tôn mỏng, hay việc đột dập tôn trong chế tạo lõi thép máy điện.
== Dạng tổng quát ==
Công thức tính ứng suất cắt trung bình là:
τ
=
F
A
{\displaystyle \tau ={F \over A}}
với
τ
{\displaystyle \tau }
= ứng suất cắt
F = lực tác dụng
A = diện tích mặt cắt ngang
== Tham khảo == |
động đất vân nam 2012.txt | Một loạt trận động đất ở Vân Nam vào tháng 9 năm 2012 tại huyện Di Lương, thành phố Chiêu Thông, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, làm thiệt mạng ít nhất 81 người và hơn 821 người khác bị thương. Theo các giới chức, ít nhất có 100.000 sơ tán và hơn 20.000 ngôi nhà bị phá hỏng.
== Động đất ==
Có hai trận động đất với cường độ trên 5, và chúng hợp thành một trận động đất kép.
Hai đợt rung động lớn nhất này được thông báo là các sự kiện chính trong một chuỗi gồm trên 60 dư chấn. Ngoài Vân Nam và Quý Châu ra thì rung động còn cảm nhận được ở Tứ Xuyên và Trùng Khánh.
== Tham khảo == |
lon nol.txt | Đây là tên người Campuchia, họ viết trước, tên viết sau: họ là Lon. Tuy vậy, tên người Campuchia hiện đại theo kí tự Latin thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau). Ngoài ra, tên còn có thể kèm các danh hiệu tôn xưng phía trước.
Lon Nol (tiếng Khmer: លន់នល់, 1913 - 1985) là chính trị gia Campuchia giữ chức Thủ tướng Campuchia hai lần cũng như đã liên tục giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dưới thời vua Norodom Sihanouk. Ông tự tuyên bố là tổng thống nước Cộng hòa Khmer sau khi thực hiện cuộc đảo chính chống lại chính quyền Sihanouk vào năm 1972.
== Tiểu sử ==
=== Thiếu thời ===
Lon Nol sinh tại tỉnh Prey Veng vào ngày 13 tháng 11 năm 1913. ông là người Hoa-Khmer Cha là Lon Hin, giữ chức quận trưởng ở Xiêm Riệp và Kampong Thom nhờ thành tích bình định một nhóm cướp ở Prey Veng. Thuở thiếu thời, Lon Nol được gia đình gửi vào học tại trường Lycée Chasseloup-Laubat ở Sài Gòn, Việt Nam, rồi chuyển sang học tiếp ở Học viện Quân sự Hoàng gia Campuchia.
=== Thời chính quyền thực dân Pháp ===
Sau khi tốt nghiệp, ông vào làm việc tại cơ quan Bộ dân chính của thực dân Pháp vào năm 1937. Ban đầu chỉ giữ một chức quan hành chính địa phương nhỏ, trong thời gian đương chức, Lon Nol đã sớm chứng tỏ được năng lực thực sự của một chấp hành viên luôn tuân thủ triệt để những luật lệ của người Pháp để chống lại hàng loạt vụ nổi loạn chống thực dân vào năm 1939. Do công lao trong nhiều năm nhiệm chức, ông được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng ở Kratié vào năm 1946 và trở thành lãnh đạo đầu tiên của lực lượng quân cảnh Campuchia. Ngoài ra, trong thời gian này ông còn trở thành đồng minh thân cận của Vua Norodom Sihanouk.
Cuối những năm 1940, Lon Nol đã bắt đầu bước vào sự nghiệp chính trị đầu tiên thông qua việc thành lập một nhóm chính trị bao gồm phe ủng hộ độc lập, phe ủng hộ chính thể quân chủ và những người cánh tả đang có xu hướng tham gia vào quá trình phát triển tình hình chính trị Campuchia. Năm 1952, Lon Nol chính thức tham gia quân đội và thực hiện các hoạt động quân sự chống lại Việt Minh.
Sau khi Campuchia giành lại độc lập, Lon Nol đứng ra lập Đảng Cách tân Campuchia của những người dân tộc chủ nghĩa (cùng với phe cánh tả đứng đầu là Sam Sary và Dap Chhuon) và được bầu làm Chủ tịch Đảng, chính đảng của ông trở thành lực lượng nòng cốt của Sangkum, tổ chức do đích thân Sihanouk thành lập để chống lại cuộc bầu cử năm 1955.
=== Thời chính phủ Sihanouk ===
Cũng vào năm 1955, Lon Nol được bổ nhiệm làm Tổng tham mưu trưởng Quân đội và thăng lên chức Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vào năm 1960. Khoảng thời gian tttừ năm 1966 đến 1967, ông là thủ tướng của Vương quốc Campuchia. Vào thời điểm đó, Lon Nol là một người ủng hộ đáng tin cậy của Sihanouk, lực lượng cảnh sát dưới sự chỉ đạo của ông đã trở thành công cụ đắc lực trong việc đàn áp các phong trào cộng sản bí mật nhỏ ở Campuchia. Nhờ đó mà ông được bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng vào năm 1963. Trong khi Sihanouk đang nỗ lực nhằm đưa đất nước tránh xa những tác động của cuộc chiến tranh Đông Dương thứ hai (hay còn gọi là chiến tranh Việt Nam) nhằm hướng tới một chính sách đối ngoại mang tính "trung lập cực đoan", có liên quan đến việc liên kết với Trung Quốc và lơ là các hoạt động của Bắc Việt trên biên giới phía đông, thì trái lại Lon Nol vẫn thể hiện mối thân thiện với phía Mỹ, đồng thời chỉ ra rằng ông lấy làm tiếc về việc kết thúc viện trợ của Mỹ từ sau năm 1963.
Năm 1966, Campuchia đã tổ chức các cuộc bầu cử Quốc hội đại diện cho sự thay đổi lớn trong cán cân quyền lực đối với Lon Nol và các yếu tố hữu khuynh của Sangkum, một ứng cử viên bảo thủ và thuộc cánh hữu đã giành lấy chiến thắng với số phiếu áp đảo. Lon Nol trở thành Thủ tướng Chính phủ và năm sau, ông sử dụng quân đội phe mình dưới quyền Sihanouk để thực hiện việc đàn áp dã man một cuộc nổi dậy của phe cánh tả lấy cảm hứng từ cuộc nổi dậy Samlaut ở Battambang. Không may, Lon Nol bị thương trong một vụ tai nạn xe hơi vào năm 1967, phải tạm thời từ chức về dưỡng bệnh tại quê nhà. Tuy nhiên, vào năm 1968, ông tiếp tục trở lại chính trường và vẫn giữ nguyên chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng. Năm 1969, Lon Nol trở thành Thủ tướng lần thứ hai, bắt đầu ra sức chống đối Sihanouk và kết thân với Hoàng thân Sirik Matak, một chính khách phái thân Mỹ.
=== Cuộc đảo chính lật đổ Sihanouk ===
Sihanouk tuyên bố cuộc đảo chính năm 1970 chống lại ông là kết quả của một liên minh giữa kẻ thù lâu đời là nhà chính trị lưu vong Sơn Ngọc Thành và Sirik Matak, với sự hỗ trợ và soạn thảo kế hoạch của CIA. Không phân biệt bất kỳ lời tuyên bố nào ngược lại, cũng không có bằng chứng cụ thể nào nói về sự tham gia của CIA trong cuộc đảo chính năm 1970. Theo như một nguồn tài liệu tham khảo khác (Deac Wilfred P., "Hành trình đến Cánh đồng chết: Chiến tranh Campuchia 1970-1975" (Texas A & M University Press, 1997) pp. 61–2, Robert Dallek, "Nixon và Kissinger: các đối tác trong quyền lực, "(Harper Collins, 2007), p. 191, Steve Heder" cộng sản Campuchia và mô hình tiếng Việt, Tập I: Noi gương và Độc lập, 1930-1975, "(White Lotus Press, 2004), tr.156.) cho biết: Có vẻ như khả năng ban đầu là Lon Nol dự định tăng cường địa vị của ông để chống lại Bắc Việt với mục đích cuối cùng là ngăn cản quân đội của họ (và cả người của Việt Cộng) hoạt động lén lút bên trong biên giới Campuchia, và muốn tạo áp lực vào Sihanouk để đạt được điều này. Tuy nhiên, các sự kiện nhanh chóng phát triển vượt xa kế hoạch ban đầu và với sự khuyến khích của Sirik Matak cùng phe cánh thân thuộc, Lon Nol cuối cùng đã sắp đặt việc loại bỏ Sihanouk.
Trong khi Sihanouk ra nước ngoài công du vào tháng 3 năm 1970, thì tại Phnom Penh đã bùng nổ một cuộc bạo động chống lại Việt Nam. Ngày 12 tháng 3, Lon Nol và Sirik Matak hạ lệnh đóng cửa cảng Sihanoukville, nơi vận chuyển vũ khí lậu tới tay Việt Cộng, Bắc Việt, đồng thời ban hành tối hậu thư yêu cầu tất cả lực lượng PAVN (Bắc Việt) và NLF (Việt Cộng) phải rút khỏi đất Campuchia trong vòng 72 giờ hoặc phải đối mặt với hành động quân sự.
Ban đầu Lon Nol từ chối ủng hộ việc lật đổ chính phủ Sihanouk, buộc lòng Sirik Matak phải cho chạy một cuộn băng ghi âm lại một cuộc họp báo từ Paris, trong đó Sihanouk khiển trách họ vì sự bất ổn chính trị và dọa sẽ xử tử cả hai khi ông trở về Phnom Penh. Tuy nhiên, Thủ tướng Chính phủ vẫn không chắc chắn về việc kích động một cuộc bỏ phiếu trong Quốc hội. Vào tối ngày 17 tháng 3 năm 1970, Sirik Matak cùng với ba viên sĩ quan quân đội, đã vội vàng đi đến Phủ Thủ tướng và chĩa súng dọa bắn để buộc Lon Nol phải ký các văn kiện trọng yếu.
Cuộc bỏ phiếu được thực hiện trong Quốc hội vào ngày 18 tháng 3, theo đấy thì Sihanouk bị tước đoạt hết quyền lực. Lon Nol trên thực tế đã chiếm lấy quyền hạn của một nguyên thủ quốc gia với sự hậu thuẫn của Mỹ. Tiếp đến, chính quyền lon Nol còn cho binh lính xông vào đập phá Tòa đại sứ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nhằm răn đe, cảnh cáo về mặt ngoại giao. Ngày 28 và 29 tháng 3, nổ ra các cuộc biểu tình quy mô lớn của những người có thiện cảm với Sihanouk tại các thành phố ở một số tỉnh trên toàn quốc, thế nhưng lực lượng quân đội và cảnh sát dưới quyền Lon Nol đã nhanh chóng đàn áp dữ dội người biểu tình, khiến hàng trăm người tử vong, làm dư luận trong và ngoài nước phẫn nộ cực lực lên án trong một thời gian dài. Nước Cộng hòa Khmer được chính thức tuyên bố thành lập vào tháng 10, Lon Nol trở thành vị Tổng thống đầu tiên và duy nhất của Campuchia vào năm 1970 với đa số phiếu áp đảo tuyệt đối, dù không ít người tỏ vẻ nghi ngờ có sự gian lận bầu cử và do phía Mỹ chống lưng. Riêng về trường hợp Sihanouk, cựu lãnh đạo chính phủ lưu vong GRUNK kết hợp với tổ chức cộng sản Khmer Đỏ đã bị chính quyền Lon Nol kết án tử hình vắng mặt. Trong khi đó, Mỹ cùng đồng minh thân cận là Việt Nam Cộng hòa lập tức phát động Chiến dịch Campuchia ngay từ tháng 4 năm 1970, nhằm mục tiêu tung quân tiến sâu vào lãnh thổ Campuchia truy kích quân đội Bắc Việt và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, kể từ đó chế độ Lon Nol bắt đầu lún sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương thứ hai.
=== Cộng hòa Khmer và cuộc nội chiến ===
Sau khi lật đổ Chính quyền Sihanouk, Nol và Hoàng tử Sisowath Sirik Matak yêu cầu quân đội miền Bắc Việt Nam rút khỏi lãnh thổ Campuchia, đồng thời đóng cửa những điểm tập kết khí tài của lực lượng quân đội Việt Nam trên đất Campuchia, tướng Lon Nol thực hiện đường lối thân phương Tây, chống người Việt cộng và triệt thoái tư tưởng cộng sản. Tại thời điểm đó, Mỹ tổ chức các chiến dịch ném bom tại Campuchia cũng được coi là nhằm tiêu diệt các căn cứ của Việt Nam. Trung Quốc khi đó cũng tăng cường viện trợ quân sự cho lực lượng Khmer Đỏ, nhằm chống lại chính phủ cộng hòa do tướng Lon Nol thành lập. Còn Sihanouk sang lưu vong tại Trung Quốc và kết thân với phe cộng sản.
Cộng hòa Khmer (1970-1975) được thành lập để loại bỏ nạn tham nhũng tràn lan ở Campuchia và khôi phục lại chủ quyền của Campuchia ở các vùng phía đông đang bị quân nổi dậy cộng sản người Việt Nam chiếm đóng do hậu quả từ chính sách "trung lập" của Sihanouk. Bất chấp mục tiêu cao cả, nước cộng hòa tỏ ra tai hại cả về quân sự và chính trị. Thêm vào đó tình trạng sức khỏe của Lon Nol có dấu hiệu suy giảm sau khi ông bị đột quỵ hồi tháng 2 năm 1971. Sự cai trị của ông ngày càng trở nên thất thường và độc đoán như việc ông tự mình bổ nhiệm chức danh Thống chế (một danh hiệu chưa từng có ở Campuchia) vào tháng 4 năm 1971, tiếp đó vào tháng 10 cùng năm ông ra lệnh đình chỉ hoạt động của Quốc hội, mà ông sẽ "không còn chơi trò chơi kiểu dân chủ" nữa. Được sự ủng hộ bởi lòng tin cứng rắn cùng tham vọng vô hạn của người em trai Lon Non, Nol đã thành công trong việc giảm ảnh hưởng của Sirik Matak, In Tam và các nhà lãnh đạo cuộc đảo chính khác. Ông cũng nhấn mạnh đến việc chỉ đạo nhiều hoạt động cá nhân của Lực lượng Vũ trang Quốc gia Khmer (tiếng Pháp: Lực lượng Armées Nationales Khmères - FANK).
Cuộc nội chiến ở Campuchia sau đó diễn ra ác liệt giữa một bên là Lực lượng Vũ trang Quốc gia Khmer dưới sự chỉ huy của tướng Sosthene Fernandez thuộc phe thân Lon Nol và bên kia là Lực lượng giải phóng dân tộc Campuchia, do Khmer Đỏ lãnh đạo. Do tướng Lon Nol xóa bỏ hoàn toàn chế độ quân chủ lập hiến và lập nên chính phủ cộng hòa Khmer, nên Uy tín của ông giảm đi rõ rệt ở khu vực nông thôn, nơi người dân vẫn ủng hộ mạnh mẽ Sihanouk. Ở Bắc Kinh ông Sihanouk thành lập chính quyền lưu vong với tên gọi Chính phủ hoàng gia liên minh các dân tộc Campuchia (GRUNK), và một liên minh chính trị có tên là Mặt trận liên minh dân tộc Campuchia (FUNK), kêu gọi chống lại chính quyền của tướng Lon Nol. Lấy Sihanouk làm biểu tượng đấu tranh khi nắm quyền kiểm soát cả GRUNK và FUNK, Khmer Đỏ đã kêu gọi nông dân nổi dậy. Khi cuộc nội chiến xảy ra, tướng Lon Nol đã kêu gọi trợ giúp từ Chính quyền của Tổng thống Mỹ Nixon. Ngày 18 tháng 10 năm 1970, Washington đã viện trợ tổng cộng 155 triệu USD cho chính quyền của tướng Lon Nol, trong đó 85 triệu USD dành cho lực lượng quân sự. Mỹ tỏ ra tức giận với chính sách lập lờ của Hoàng thân Sihanouk, cho rằng một mặt Sihanouk kêu gọi chính sách trung lập, đồng thời cho phép NVA, PAVN và Việt Cộng chuyển quân trong vùng đất của Campuchia. Tuy vậy, chính quyền của tướng Lon Nol vẫn dễ dàng bị lực lượng Khmer Đỏ đánh bại. Với sự hậu thuẫn của Trung Quốc và Việt Nam, Khmer Đỏ dần nắm quyền kiểm soát ở khu vực nông thôn.
Trong thời gian này, chế độ Lon Nol hoàn toàn phụ thuộc vào một lượng lớn viện trợ của Mỹ và có nguy cơ sụp đổ nếu không nhận được sự hỗ trợ từ các giải pháp chính trị và quân sự cần thiết để có được sự trợ giúp hữu hiệu vào nước cộng hòa đang bị bao vây. Đến đầu năm 1975, chính phủ nước Cộng hòa Khmer rơi vào thế suy yếu cùng cực khi quân đội chỉ còn kiểm soát được một vài thành phố lớn trong đó có thủ đô Phnom Penh. Khốn đốn bởi các cuộc tấn công dữ dội và đẫm máu từ Khmer Đỏ được sự chi viện tích cực từ phía Bắc Việt cùng việc Mỹ cắt đứt viện trợ, đã đẩy FANK rơi vào tình trạng hỗn loạn khi mà đạn dược cùng những nhu yếu phẩm quan trọng cạn kiệt. Khi tình hình chiến sự ngày càng xấu dần khiến tâm trí Lon Nol trở nên hoảng loạn khi ông không chịu nghe lời bất kỳ một cố vấn thân cận nào cả, thay vào đó Lon Nol chìm đắm trong cơn mê tín cực độ và hoàn toàn phụ thuộc vào lời khuyên của các thầy bói, đồng cốt và các phật tử thuộc phái Phật giáo thần bí: chẳng hạn như tại một thời điểm trong thời gian Khmer Đỏ tấn công vào thủ đô Phnom Penh, đích thân Lon Nol đã sai người rắc một đường tròn cát thánh hóa để bảo vệ thủ đô vững chắc thế nhưng đều vô hiệu trước hòa lực hùng hậu của Khmer Đỏ.
=== Lưu vong ===
Ưu tiên hàng đầu của lực lượng Khmer Đỏ sau khi thống nhất Campuchia là triệt tiêu mọi gốc rễ của nước Cộng hòa Khmer bằng cách xử tử tất cả các nhà lãnh đạo và quan chức cấp cao của chế độ cũ không chậm trễ. Số phận của những nhân vật cốt cán khác trong chính quyền Cộng hòa Khmer như Lon Non, Long Boret hay Hoàng thân Sisowath đều ở lại Campuchia sau giải phóng và chẳng mấy chốc họ đều bị Khmer Đỏ bắt giữ và mang ra hành quyết một cách dã man, chỉ riêng Lon Nol là may mắn trốn thoát kịp thời. Vào tháng 4, 1975, khi lực lượng Khmer Đỏ bao vây Phnom Penh, Lon Nol tuyên bố từ chức Tổng thống nước Cộng hòa Khmer và nhanh chóng ra phi trường rồi leo lên một chiếc chuyên cơ riêng trốn khỏi đất nước đến tạm trú ở Indonesia một thời gian rồi sau tới định cư tại Hawaii vào năm 1979. Không lâu sau thì ông chuyển đến sống tại Fullerton, California và mất tại đó vào ngày 17 tháng 11 năm 1985.
== Quan điểm chính trị ==
Dù ra tay hành động lật đổ Sihanouk, nhưng Lon Nol lại là người tin tưởng vững chắc vào hệ thống đẳng cấp theo truyền thống của Campuchia, chẳng hạn như sau khi Sihanouk bị hạ bệ phải chạy ra nước ngoài sống lưu vong thì ông đã vội vàng chạy đến cung điện hoàng gia và phủ phục dưới chân Thái hậu Sisowath Kossamak hành lễ nhằm cầu xin sự tha thứ. Ngoài ra, ông còn đặt tên hệ tư tưởng của riêng mình là chủ nghĩa Tân Khmer, kiểu như một sự pha trộn giữa chủ nghĩa dân tộc Sô vanh và chủ nghĩa thần bí. Hơn nữa, ông còn bày tỏ tham vọng tái hợp dân tộc Khmer của Campuchia với người Khmer Krom của đồng bằng sông Cửu Long và Khmer Surin của Thái Lan, dự kiến sẽ hình thành một nhà nước gồm 30 triệu dân vào năm 2020. Thêm vào đó, Lon Nol thường yêu cầu các thuộc chức cùng những kẻ thân tín phải ôm kiểu truyền thống trong nghi thức xã giao hàng ngày mà ông gọi là 'chiến binh thánh' (yuthesel) người Mon-Khmer, đồng thời ông cũng khuyến khích họ xem ông như vị "Cha Đen", một cái tên ám chỉ màu da đen được coi là dấu hiệu của một người Khmer 'chân chính'.
== Xem thêm ==
Lon Nil
Lon Non
Thảm sát người Việt tại Cộng hòa Khmer
== Tham khảo ==
== Thư mục ==
Kiernan, B. (2004). How Pol Pot came to Power. Yale University Press.
Shawcross, W. (1979). Sideshow: Kissinger, Nixon, and the Destruction of Cambodia. Simon & Schuster.
== Liên kết ngoài ==
General Lon Nol
The removal of Sihanouk
Pol Pot
Sebastian Strangio, "Revisiting Lon Nol’s Cambodia: A look back at Lon Nol’s ill-fated gamble on democracy in Cambodia," The Phnom Penh Post, ngày 18 tháng 3 năm 2010. |
la bàn.txt | La bàn là dụng cụ dùng để xác định phương hướng trong không gian nhất định.
La bàn được ứng dụng nhiều trong các hoạt động đi biển, vào rừng, sa mạc, hướng bay của máy bay, tàu thủy, tàu ngầm, tên lửa, tàu vũ trụ,...
La bàn từ hoạt động dựa theo từ trường Trái Đất thì dùng cho xác định các hướng Bắc, Nam, Đông, Tây ở trên mặt Trái Đất. Trên các phi thuyền bay trong vũ trụ thì phải dùng la bàn không từ tính, để định hướng theo một đối tượng chỉ hướng nào đó, ví dụ hướng về phía Mặt Trời.
== Lịch sử ==
Người Trung Quốc đã phát minh một dạng sơ khai của la bàn vào khoảng thời nhà Hán, tuy rằng ban đầu nó được dùng trong các nghi thức bói toán chứ không phải đề chỉ hướng. Về sau La bàn được ứng dụng rộng rãi trong ngành hàng hải ở thời nhà Tống để chỉ hướng, việc mà trước đó thường dựa vào việc xem thiên văn. Loại la bàn quen thuộc với thủy thủ được phát minh tại châu Âu vào khoảng năm 1190
== Cấu tạo ==
=== La bàn từ ===
La bàn từ hay La bàn theo cách gọi thông thường, dùng kim nam châm đặt trên trụ xoay để nam châm định hướng được trong từ trường Trái Đất. Tất cả được đặt trong vỏ hay hộp đựng ngoài.
Vỏ hay hộp đựng KIM XOAY hình tròn, được phân chia theo ly giác - hay 360 Độ - Miếng kim loại có từ tính, được mài giũa thành hình lá, dẹt, mỏng, nhẹ, hình dạng như cây kim ở 2 đầu. Chính giữa hơi to hơn, có khoan một phần ở trung tâm cây kim cho lõm vào; Trung tâm của vỏ hộp đựng có một cây kim ngắn cố định. Trên cây kim cố định này của vỏ hộp - Kim la bàn xoay và kim xoay theo một hướng nhất định - BẮC NAM - Hướng BẮC thường được đánh dấu bằng sơn màu đỏ. Hướng NAM đánh dấu sơn màu xanh (hoặc màu trắng).
Mặt kính của hộp đựng kim La Bàn.
Các phụ kiện khác để cầm La bàn và dây ngắm với khe và tiêu điểm được thiết kế bên ngoài mặt kính, giúp cho việc đo - ngắm và tính toán được nhanh chóng, dễ dàng hơn.
=== La bàn con vụ ===
La bàn con vụ (Gyrocompass) và Con quay hồi chuyển (Gyroscope) là la bàn không dùng từ trường mà duy trì định hướng bằng con quay theo hiệu ứng con vụ. Nó giữ định hướng trục con quay kể từ khi bắt đầu quay và chưa chịu lực nào đó tác động vào. Nhược điểm là luôn phải cấp điện năng để con vụ duy trì sự quay. Nếu ngừng quay thì định hướng bị phá bỏ không khôi phục được.
Nó được sử dụng trong các tàu bay (quân sự), tàu ngầm, tên lửa, tàu vũ trụ,...
=== La bàn GPS ===
La bàn GPS hoạt động dựa trên Hệ thống Định vị Toàn cầu (Global Positioning System, GPS), và là một menu sử dụng của máy thu GPS. Nhờ đạt được độ chính xác định vị tọa độ cao mà máy thu GPS có thể tính được tốc độ và phương vị di chuyển.
Nó chỉ ra hướng bắc thật (bắc địa lý, True north]). Các máy thu GPS hiện có ở dạng máy cầm tay trang bị cho cá nhân, hoặc dạng lắp trong các điện thoại di động cấp cao. Để hoạt động được thì vị trí đo phải nhận được sóng từ ít nhất 3 vệ tinh của Hệ thống Định vị Toàn cầu, và người sử dụng phải di chuyển. Nó bị lỗi nếu ở trong nhà, trong rừng rậm,...
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Lịch sử La Bàn Từ
Sổ tay hiệu chỉnh la bàn từ |
rolls-royce motor cars.txt | Rolls-Royce Motor Cars là hãng sản xuất xe hơi hạng sang có trụ sở và nhà máy ở Goodwood tại West Sussex, Anh. Nhà máy này nằm trong khu công nghiệp lịch sử Goodwood Circuit ở Goodwood, West Sussex, Anh. Rolls-Royce Motor Cars trở thành chi nhánh sở hữu 100% bởi hãng ô tô Đức BMW và hiện tại là nhà sản xuất các thương hiệu xe hạng sang Rolls-Royce, mà được thành lập từ năm 1904 bởi Rolls-Royce Limited và Rolls-Royce Motors.
== Tham khảo == |
1475.txt | Năm 1475 là một năm trong lịch Julius.
== Sự kiện ==
== Sinh ==
== Mất ==
== Tham khảo == |
hà nội mới.txt | Hà Nội Mới là một báo viết và báo điện tử của Việt Nam, trụ sở tại số 44 phố Lê Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Hà Nội Mới ra hàng ngày và có một số đặc biệt cuối tuần. Trang báo điện tử bắt đầu ra mắt ngày 10/10/2003 nhân dịp kỷ niệm 49 năm giải phóng thủ đô.
== Lịch sử ==
== Lãnh đạo ==
Tổng biên tập
Tô Quang Phán
== Nội dung ==
Chính trị
Xã hội
Kinh tế
Giáo dục
Thế giới
Thể thao
Văn hóa
Thăng Long-Hà Nội
Pháp luật
Khoa học
Đời sống
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Trang web chính thức
Hà Nội Mới tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
touchwiz.txt | TouchWiz là giao diện cảm ứng phát triển bởi Samsung Electronics với đối tác, gồm một giao diện người dùng cảm ứng đầy đủ. Đôi khi không chính xác khi gọi nó là một hệ điều hành. TouchWiz chỉ được sử dụng trong các sản phẩm của Samsung như điện thoại thông minh và máy tính bảng, và không khả dụng cho việc cấp phép ra bên ngoài. Phiên bản Android của TouchW đi cùng các ứng dụng của Samsung đã được cài đặt sẵn.
Phiên bản cao nhất của TouchWiz là TouchWiz Nature UX 2.0, được phát hành trên Galaxy S4 và TouchWiz Nature UX 2.5, trên Galaxy Note 3. Nó mang lại giao diện người dùng tinh tế hơn các phiên bản trước, TouchWiz Nature UX, trên Galaxy S III. Thanh trạng thái trong suốt trong chế độ màn hình chính trong TouchWiz Nature UX 2.0 và TouchWiz Nature UX 2.5. Trong TouchWiz 4.0 trên Galaxy S II và Samsung Galaxy Note (cả hai được cập nhật lên Nature UX) được thêm một vài tính năng mới bao gồm xoay và nghiêng, sử dụng gia tốc và con quay để phát hiện sự chuyển động của điện thoại.
TouchWiz được sử dụng trên hệ điều hành độc quyền của Samsung, Bada và REX, như các điện thoại chạy hệ điều hành Android khác. Nó sẽ có mặt trên điện thoại chạy hệ điều hành Tizen.
== Phiên bản ==
=== TouchWiz 3.0 Lite (Hỗ trợ Android 2.1 - Android 2.2) (2010) ===
Phiên bản Lite của 3.0 là phiên bản "đơn giản" của 3.0 gốc. Thiết bị đầu tiên với TouchWiz 3.0 Lite là Samsung Galaxy Proclaim.
=== TouchWiz 3.0 (Hỗ trợ Android 2.1 - Android 2.2) (2010) ===
Phiên bản gốc của TouchWiz được giới thiệu lần đầu tiên trên Samsung Galaxy S.
=== TouchWiz 4.0 (Hỗ trợ Android 2.3 - Android 4.0) (2011) ===
Phiên bản thứ hai của TouchWiz được cải thiện với khả năng tăng tốc phần cứng. Samsung Galaxy S II là thiết bị đầu tiên được cài sẵn TouchWiz 4.0. Nó có thêm tùy chọn tương tác cử chỉ được gọi là 'chuyển động' trong đó (trong một số thứ khác) cho phép người dùng phóng to và thu nhỏ bằng hai ngón tay trên màn hình và nghiêng thiết bị về phía trước và ngược lại để phóng to và thu nhỏ. Cử chỉ này hoạt động trên cả trình duyệt web và hình ảnh trong bộ sưu tập trên thiết bị. "Nghiêng" trên TouchWiz 4.0 cho phép các widget và icons phím tắt chuyển động giữa các màn hình, cho phép các thiết bị có thể giữ và di chuyển từ bên này sang bên kia màn hình chính.
-Ứng dụng cài sẵn (Chỉ các thiết bị được chọn)-
Diary
Samsung Apps
Voice Command
AllShare Play
Samsung Kies Air
Samsung Social Hub
Samsung Music Hub
Samsung Readers Hub
Samsung Game Hub
- Ứng dụng cài sẵn (Chỉ các thiết bị Samsung Galaxy Note)-
S Note
Diary
Samsung Apps
Voice Command
AllShare Play
Samsung Kies Air
Samsung Social Hub
Samsung Music Hub
Samsung Readers Hub
Samsung Game Hub
=== TouchWiz Nature UX Lite (Hỗ trợ Android 4.0) (2012) ===
Phiên bản Lite của Nature UX TouchWiz là phiên bản "đơn giản" của TouchWiz Nature UX gốc. Các thiết bị đầu tiên với TouchWiz Nature UX Lite là Samsung Galaxy Tab 2 7.0.
-Ứng dụng cài sẵn-
ChatON
Samsung Apps
S Voice (Chỉ các thiết bị được chọn)
Samsung Game Hub
S Suggest
=== TouchWiz Nature UX (Hỗ trợ Android 4.0 - Android 4.1) (2012) ===
Đây là phiên bản thứ ba của TouchWiz được đổi tên thành TouchWiz Nature UX cùng với việc thiết kế lại nhìn và cảm nhận. Samsung Galaxy S III và Samsung Galaxy Note 10.1 là thiết bị đầu tiên cài sẵn TouchWiz Nature UX. Phiên bản "Thiên nhiên" sử dụng trên S III và Note 10.1 có thêm cảm giác "hữu cơ" hơn phiên bản trước, và chứa các yếu tố tương tác nhiều hơn như hiệu ứng nước gợn sóng trên màn hình khóa và âm thanh mới của thương hiệu. Để bổ sung cho giao diện TouchWiz, và cũng như phản hồi như Siri của Apple, điện thoại được giới thiệu S Voice, trợ lý thông minh mới của Samsung. S Voice có thể nhận diện tám ngôn ngữ bao gồm tiếng Anh, tiếng Hàn và Pháp. Dựa trên Vlingo, S Voice cho phép người dùng điều khiển bằng giọng nói với 20 vấn đề khách nhau như phát nhạc, cài đặt báo thức, hoặc kích hoạt chế độ lái xe; nó dựa vào Wolfram Alpha cho tìm kiếm trực tuyến. Tính năng theo dõi ánh mắt mới như Smart Stay có thể thấy trên thiết bị TouchWiz Nature UX.
-Ứng dụng cài sẵn (Chỉ các thiết bị được chọn)-
ChatON
Samsung Apps
S Voice
Samsung Game Hub
Samsung Video Hub
Samsung Social Hub
AllShare Play
Samsung Music Hub
S Suggest
S Memo
-Ứng dụng cài sẵn (Chỉ các thiết bị Samsung Galaxy Note)-
ChatON
Samsung Apps
S Voice
S Note
Samsung Game Hub
Samsung Video Hub
Samsung Social Hub
AllShare Play
Samsung Music Hub
S Suggest
S Memo
=== TouchWiz Nature UX 2.0 (Hỗ trợ Android 4.2) (2013) ===
Phiên bản thứ tư của TouchWiz vẫn dựa trên phiên bản "Thiên nhiên" trên S III với một số thay đổi nhỏ. Samsung Galaxy S4 là thiết bị đầu tiên cài sẵn TouchWiz Nature UX 2.0. Thêm tính năng theo dõi ánh mắt mới được giới thiệu với S4 là Smart Scroll. Trình cài đặt được chia làm 4 lựa chọn: Kết nối, Thiết bị của tôi, Tài khoản, và Thêm (chỉ trên điện thoại).
-Ứng dụng cài sẵn (Chỉ các thiết bị được chọn)-
S Health
Optical Reader
Samsung Apps
Samsung Hub
ChatON
Story Album
Group Play
Samsung Link
Samsung WatchON
S Translator
S Voice
Photo Suggest
S Suggest
S Memo
-Ứng dụng cài sẵn (Chỉ thiết bị Samsung Galaxy Note)-
S Health
Optical Reader
Samsung Apps
Samsung Hub
ChatON
Story Album
Group Play
Samsung Link
Samsung WatchON
S Translator
S Voice
S Note
=== TouchWiz Nature UX 2.5 (Hỗ trợ Android 4.3) (2013) ===
TouchWiz Nature UX 2.5 có sự thay đổi nhỏ trong thiết kế. Samsung GT-I8553 và Samsung Galaxy Note 10.1 2014 Edition là những thiết bị đầu tiên cài sẵn TouchWiz mới. Phiên bản thương hiệu mới của TouchWiz hoàn thành cùng với hỗ trợ chức năng bảo mật Samsung Knox. Trình cài đặt mới (Kết nối, Thiết bị, Điều khiển, Chung) từ Note 3 (với bốn danh mục phía trên màn hình) hiện hỗ trợ trên máy tính bảng, như Samsung Galaxy Note 3 10.1. -Ứng dụng cài sẵn (Chỉ các thiết bị được chọn)
S Health
Samsung Apps
Samsung Hub
ChatON
Story Album
Group Play
Samsung Link
Samsung WatchON
S Translator
S Voice
Samsung Knox
Optical Reader
Photo Suggest
-Ứng dụng cài sẵn (Chỉ thiết bị Samsung Galaxy Note)-
S Health
Samsung Apps
Samsung Hub
ChatON
Story Album
Group Play
Samsung Link
Samsung WatchON
S Translator
S Voice
S Note
Action Memo
Samsung Knox
Scrapbook
S Finder
== Điện thoại chạy Samsung TouchWiz ==
=== Độc quyền ===
Samsung Champ
Samsung Jet
Samsung Preston
Samsung Solstice
Samsung Corby
Samsung Star
Samsung Tocco
Samsung Ultra Touch
Samsung Blue Earth
Samsung Monte
Samsung S5301 Samsung pocket
=== Bada ===
Samsung Wave 575 (TouchWiz 3.0)
Samsung Wave S8500
Samsung Wave II S8530
Samsung Wave 723 (TouchWiz 3.0)
Samsung Wave 525 (TouchWiz 3.0)
Samsung Wave Y
Samsung Wave 3 (TouchWiz 4.0)
=== Windows Mobile ===
Samsung Omnia II
=== Symbian ===
Samsung i8910
=== Android ===
==== Máy ảnh ====
Samsung Galaxy Camera (TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy NX (TouchWiz Nature UX 2.0)
==== Điện thoại thông minh ====
Samsung Behold II
Samsung Illusion SCH-I110 (TouchWiz 3.0)
Samsung Infuse 4G (TouchWiz 3.0)
Samsung Rugby Smart (TouchWiz 3.0)
Samsung Droid Charge (TouchWiz 4.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Chat (TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Gio (TouchWiz 3.0)
Samsung Galaxy Fit (TouchWiz 3.0)
Samsung Galaxy Mini (TouchWiz 3.0)
Samsung Galaxy Mini 2 (TouchWiz 4.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy 3 (TouchWiz 3.0)
Samsung Galaxy 5 (TouchWiz 3.0)
Samsung Captivate Glide (TouchWiz 4.0)
Samsung Gravity Smart (TouchWiz 3.0)
Samsung Exhibit II 4G (TouchWiz 4.0)
Samsung Galaxy Y (TouchWiz 3.0, nâng cấp lên TouchWiz 4.0)
Samsung Galaxy W (TouchWiz 4.0)
Samsung Galaxy R (TouchWiz 4.0)
Samsung Galaxy Ace (TouchWiz 3.0)
Samsung Galaxy Ace Plus (TouchWiz 4.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Ace 2 (TouchWiz 4.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Ace 3 (TouchWiz Nature UX 2.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX 2.5)
Samsung Galaxy Express (TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Grand (TouchWiz Nature UX, nâng cấp lên Nature UX 2.0)
Samsung Galaxy Premier (TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Prevail 2 (TouchWiz 4.1.2)
Samsung Galaxy Pro (TouchWiz 3.0)
Samsung Galaxy Proclaim (TouchWiz 3.0 Lite)
Samsung Galaxy Pocket (TouchWiz 3.0 Lite)
Samsung Galaxy Young (TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Fame (TouchWiz Nature UX, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX 2.5)
Samsung Galaxy S (TouchWiz 3.0, nâng cấp lên TouchWiz 4.0)
Samsung Galaxy S Blaze 4G (TouchWiz 4.0)
Samsung Galaxy S Duos (TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy SL I9003 (TouchWiz 3.0, nâng cấp lên TouchWiz 4.0)
Samsung Galaxy S Plus (TouchWiz 3.0, nâng cấp lên TouchWiz 4.0)
Samsung Galaxy S Advance (TouchWiz 4.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX 2.0)
Samsung Galaxy S II (TouchWiz 4.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX)
S II Skyrocket (TouchWiz 4.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy S II Plus (TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy S III/S III Mini (TouchWiz Nature UX, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX 2.5)
Samsung Galaxy S4/S4 Active/S4 Mini/S4 Zoom/S4 LTE-A (TouchWiz Nature UX 2.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX 2.5)
Samsung Galaxy Star (TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Win (TouchWiz Nature UX 2.0)
Samsung Galaxy Core (TouchWiz Nature UX 2.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX 2.0)
==== Phalets ====
Samsung Galaxy Note (TouchWiz 4.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Note II (TouchWiz Nature UX, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX 2.0)
Samsung Galaxy Note 3 (TouchWiz Nature UX 2.5)
Samsung Galaxy Mega 5.8 (TouchWiz Nature UX 2.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX 2.5)
Samsung Galaxy Mega 6.3 (TouchWiz Nature UX 2.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX 2.5)
==== Máy tính bảng ====
Samsung Galaxy Tab 7.0 (TouchWiz 3.0)
Samsung Galaxy Tab 7.0 Plus (TouchWiz 4.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Tab 2 7.0 (TouchWiz Nature UX Lite, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX 2.0)
Samsung Galaxy Tab 3 7.0 (TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Tab 7.7 (TouchWiz 4.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Tab 3 8.0 (TouchWiz Nature UX 2.0)
Samsung Galaxy Tab 8.9 (TouchWiz 4.0, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Tab 10.1 (TouchWiz 4.0, Upgrading TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Tab 2 10.1 (TouchWiz Nature UX Lite, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Tab 3 10.1 (TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Note 8.0 (TouchWiz Nature UX, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX 2.0)
Samsung Galaxy Note 10.1 (TouchWiz Nature UX Lite, nâng cấp lên TouchWiz Nature UX)
Samsung Galaxy Note 10.1 2014 Edition (TouchWiz Nature UX 2.5)
== Tham khảo == |
danh sách nước chư hầu thời chu.txt | Danh sách nước chư hầu thời Chu bao gồm các nước chư hầu của nhà Chu tồn tại từ thời Tây Chu đến thời Xuân Thu và Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Các nước chư hầu thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc bằng với họ của các nước chư hầu, vị trí, tước vị, và niên biểu từ lúc bắt đầu cho tới diệt vong, đồng thời là bản tóm tắt dữ liệu biên soạn từ nguồn tài liệu và nước tiêu diệt.
== Các nước chư hầu thời Tây Chu, Xuân Thu ==
=== Nhà Chu ===
=== Các nước chư hầu quan trọng ===
== Thái ấp con cháu quan khanh nhà Chu hoặc các nước chư hầu trong lãnh thổ nhà Chu ==
=== Các nước chư hầu tại tỉnh Sơn Đông ===
=== Các nước chư hầu tại tỉnh Hà Nam ===
=== Các nước chư hầu tại tỉnh Sơn Tây ===
=== Các nước chư hầu tại tỉnh Thiểm Tây ===
=== Các nước chư hầu tại tỉnh Hồ Bắc ===
=== Các nước chư hầu tại tỉnh An Huy ===
=== Các nước chư hầu tại tỉnh Hà Bắc ===
=== Các nước chư hầu tại tỉnh Tứ Xuyên ===
=== Các nước chư hầu tại tỉnh Giang Tô ===
=== Bộ tộc và quốc gia Tứ Duệ (Nhung Địch Man Di) ===
== Các nước chư hầu thời Chiến Quốc ==
=== Nhà Chu ===
=== Các nước chư hầu chủ yếu ===
=== Các nước chư hầu khác ===
=== Bộ tộc và quốc gia Tứ Duệ (Nhung Địch Man Di) ===
== Xem thêm ==
Danh sách vua chư hầu thời Chu
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Tả Truyện - Lỗ Ai công thập thất niên, Lỗ Ẩn công nhị niên
Tư Mã Thiên: Sử ký - Chu bản kỷ, Tần bản kỷ, Tần Thủy Hoàng bản kỷ, Tề thế gia, Lỗ thế gia, Trịnh thế gia, Tống thế gia, Vệ thế gia, Trần Kỷ thế gia, Quản Sái thế gia, Ngô thế gia, Câu Tiễn thế gia, Tấn thế gia và Sở thế gia
Dương Bá Tuấn: Xuân Thu Tả truyện chú, Trung Hoa Thư Cục
Dương Khoan: Chiến Quốc sử,Chiến Quốc sử liệu biên niên tập chứng, Tây Chu sử, Đài Loan Thương Vụ Ấn Thư Quán
Hứa Trác Vân: Tây Chu sử", Nhà Xuất Bản Công ty Liên Kinh
Phương Thi Minh: Trung Quốc lịch sử ký niên biểu, Thượng Hải Nhân dân Xuất Bản Xã
Vương Quý Dân: Xuân Thu hội yếu, Trung Hoa Thư Cục |
thời kỳ chiến quốc (nhật bản).txt | Thời kỳ Chiến quốc (戦国時代 (戰國時代) (Chiến quốc thời đại), sengoku jidai), là thời kỳ của các chuyển biến xã hội, mưu mô chính trị, và gần như những cuộc xung đột quân sự liên tục ở Nhật Bản, bắt đầu từ giữa thế kỷ 15 đến giữa thế kỷ 16.
Mặc dù Mạc phủ Ashikaga vẫn giữ cấu trúc của Mạc phủ Kamakura và xây dựng một chính quyền của các chiến binh dựa trên các quyền kinh tế xã hội và bổn phận tương tự như nhà Hōjō với bộ luật "Trinh Vĩnh" (Jōei) năm 1232, họ không thể giành được lòng trung thành của rất nhiều đại danh, đặc biệt là ở những lãnh địa xa Kyoto. Khi thương mại với Trung Quốc tăng lên, kinh tế phát triển, và việc sử dụng tiền trở nên phổ biến và các thành phố thương mại xuất hiện. Điều này, cùng với sự phát triển của nông nghiệp và thương nghiệp quy mô nhỏ, dẫn đến tham vọng về quyền tự trị địa phương lớn hơn ở khắp các giai tầng xã hội. Vào đầu thế kỷ 15, tai họa vì thảm họa thiên nhiên như động đất và nạn đói thường lãm nảy sinh những cuộc nổi dậy của nông dân, những người đã bị vắt kiệt sức vì các khoản nợ và thuế khóa. Thời kỳ Chiến quốc bao gồm nhiều các thời đại nhỏ của tách biệt và sáp nhập.
Loạn Ōnin (1467–1477), cuộc chiến bắt nguồn từ sự nghèo khổ và chính thức nổ ra vì tranh cãi vì việc kế thừa ngôi Tướng quân, thường được coi là mốc đánh dấu thời điểm bắt đầu của Thời kỳ Chiến quốc. Quân đội phía Đông do Hosokawa và các đồng minh đụng độ với quân đội phía Tây của gia tộc Yamana, và giao chiến ở trong và xung quanh Kyoto suốt 11 năm, sau đó lan ra các tỉnh xa.
== "Hạ khắc thượng" ==
Sự chuyển biến dẫn đến sự yếu đi trông thấy của chính quyền trung ương, và trên toàn Nhật Bản, các lãnh chúa đại danh vươn lên để lấp đầy khoảng trống quyền lực đó. Trong cuộc chuyển giao quyền lực này, những gia tộc đã chuẩn bị tốt như gia tộc Takeda và gia tộc Imagawa, những người đã trở thành các thế lực cát cứ ngay cả dưới thời Mạc phủ Kamakura và Muromachi, có điều kiện mở rộng khu vực ảnh hưởng của mình. Có nhiều người, tất nhiên, dần mất quyền lực và cuối cùng bị lật đổ bởi kẻ dưới. Hiện tượng những người cấp dưới tài giỏi từ chối tuân theo đẳng cấp của mình và dùng vũ lực để lật đổ kẻ lãnh đạo bạc nhược của mình được gọi là "Hạ khắc thượng" (下克上, gekokujō).
Ví dụ đầu tiên của hiện tượng này là Hōjō Sōun, người xuất thân khiêm nhường nhưng cuối cùng đoạt lấy quyền lực ở tỉnh Izu năm 1493. Dựa trên thành quả của Sōun, gia tộc Hōjō vẫn giữ được quyền lực lớn ở vùng Kanto cho đến khi bị Toyotomi Hideyoshi chinh phục vào cuối thời kỳ Chiến quốc.
Những tổ chức tôn giáo có tổ chức tốt cũng đoạt lấy quyền lực chính trị bằng cách tập hợp nông dân khởi nghĩa và quân nổi dậy chống lại luật lệ của các daimyo. Các nhà sư của phái Tịnh độ chân tông tập hợp rất nhiều các Ikkō-ikki, là tổ chức thành công nhất, làm cho tỉnh Kaga giữ được sự độc lập gần 100 năm.
== Thống nhất ==
Sau một thế kỷ rưỡi chiến tranh và bất ổn chính trị, Nhật Bản đã gần như được thống nhất bởi Oda Nobunaga, một lãnh chúa hạng vừa ở tỉnh Owari (ngày nay là tỉnh Aichi) để thống trị miền trung nước Nhật. Tuy nhiên vào năm 1582 chính Nobunaga trở thành nạn nhân của sự phản bội của chính tướng quân của mình, Akechi Mitsuhide. Điều này tạo cơ hội cho Toyotomi Hideyoshi (người xuất thân từ một anh lính "túc khinh" (ashigaru), vốn đã thành tướng quân ưu ái của Nobunaga từ trước do chứng minh được tài năng của mình trên chiến trường) dẫn quân về trừng phạt Akechi và trở thành người kế vị ông. Hideyoshi cuối cùng củng cố quyền thống trị của mình lên các lãnh chúa còn lại, và mặc dù ông không đủ tiêu chuẩn để được phong tước Chinh di Đại tướng quân như những người đứng đầu Mạc phủ khi xưa vì xuất thân thấp kém của mình, ông vẫn thống trị với tư cách một "Nhiếp chính" (Kampaku) cho gia đình của Nobunaga.
Khi Hideyoshi qua đời năm 1598 mà không có một người kế vị có tiềm năng, đất nước lại một lần nữa rơi vào cuộc tranh giành quyền lực, và lần này Tokugawa Ieyasu là người tận dụng được cơ hội.
Hideyoshi trên giường bệnh đã chỉ định một nhóm các lãnh chúa hùng mạnh nhất Nhật Bản — Tokugawa, Maeda, Ukita, Uesugi, Mōri — để thành lập Hội đồng Ngũ Nguyên lão cho đến khi người con trai thơ bé của ông, Hideyori, đến tuổi trưởng thành. Một nền hòa bình giả tạo diễn ra sau cái chết của Maeda Toshiie năm 1599. Ngay sau đó, Ishida Mitsunari buộc tội Ieyasu không trung thành với gia tộc Toyotomi, hấp tấp tạo ra một cuộc khủng hoảng rồi dẫn đến trận Quan Ngã Nguyên (tức Sekigahara) vào năm 1600. Thường được coi là trận chiến lớn cuối cùng của thời Chiến quốc, chiến thắng của Ieyasu ở Quan Ngã Nguyên đã kết thúc sự thống trị của triều đại Toyotomi. Ba năm sau, Ieyasu nhận tước hiệu "Chinh di Đại tướng quân", và thiết lập Mạc phủ cuối cùng ở Nhật Bản (Mạc phủ Tokugawa), cho đến Minh Trị Duy Tân năm 1868.
== Những người nổi tiếng ==
=== Các Daimyo nổi tiếng thời Chiến quốc ===
Oda Nobunaga
Toyotomi Hideyoshi
Tokugawa Ieyasu
Tính cách tương phản của ba vị lãnh đạo đã làm Nhật Bản cuối cùng cũng được thống nhất—Nobunaga, Hideyoshi, và Ieyasu—được gói gọn trong một senryu nổi tiếng:
Nakanunara, koroshiteshimae, hototogisu (Nếu con chim cúc cu không hót, giết nó)
Nakanunara, nakashitemiseyou, hototogisu (Nếu con chim cúc cu không hót, vuốt ve nó)
Nakanunara, nakumadematou, hototogisu (Nếu con chim cúc cu không hót, chờ đợi nó)
Nobunaga, được biết đến với tính cách tàn bạo của mình, là chủ đề của câu thứ nhất; Hideyoshi, nổi tiếng với tài tháo vát, là câu thứ hai; và Ieyasu, nổi tiếng với tính nhẫn nại, là chủ đề của câu thứ ba.
Những lãnh chúa Đại danh nổi tiếng khác bao gồm:
Azai Nagamasa
Chōsokabe Motochika
Date Masamune
Hōjō Sōun
Imagawa Yoshimoto
Maeda Toshiie
Mōri Motonari
Saitō Dōsan
Sanada Masayuki
Shimazu Yoshihiro
Tachibana Ginchiyo
Takeda Shingen
Uesugi Kenshin
Ukita Hideie
=== Những cá nhân nổi tiếng khác ===
Akechi Mitsuhide
Fūma Kotarō
Hattori Hanzō
Honda Tadakatsu
Ii Naomasa
Ishida Mitsunari
Maeda Keiji
Miyamoto Musashi
Mori Ranmaru
Naoe Kanetsugu
Oda Nobutada
Saika Magoichi
Sanada Yukimura
Sasaki Kojirō
Shibata Katsuie
Shima Sakon
Fukushima Masanori
Kato Kiyomasa
== Trong văn hóa đương đại ==
Cũng như cuộc Tây tiến của người Mỹ, thời kỳ Chiến quốc là nguồn cảm hứng của vô số các cuốn sách, bộ phim, anime, và video game.
== Xem thêm ==
Lịch sử Nhật Bản
Danh sách các trận chiến ở Nhật Bản
== Tham khảo ==
Mikiso Hane, Modern Japan: A Historical Survey (Westview Press, 1992)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Samurai Archives Japanese History page
Sengoku Expo: Japanese Design, Culture in the Age of Civil Wars held in Gifu Prefecture, 2000-2001
(tiếng Nhật) Danh sách các daimyo thời Sengoku
SengokuDaimyo.com website của tác giả chuyên về lịch sử và các samurai Anthony J. Bryant
Anthony J. Bryant là tác giả của Sekigahara 1600: The Final Struggle for Power, Praeger Publishers; (September, 2005) |
lào cai (thành phố).txt | Thành phố Lào Cai là một thành phố biên giới phía bắc, một đô thị loại 2, tỉnh lỵ của tỉnh Lào Cai. Thành phố được thành lập vào năm 2004 trên cơ sở sáp nhập hai thị xã Lào Cai và Cam Đường. Thành phố Lào Cai có Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai là nơi giao thương quan trọng ở phía bắc Việt Nam với phía nam Trung Quốc. Là địa đầu của đất nước, thành phố Lào Cai là cửa ngõ quan trọng mở cửa thị trường Việt Nam với các tỉnh phía tây nam Trung Quốc và cả các tỉnh nằm sâu trong nội địa Trung Quốc.
== Địa lý ==
Thành phố Lào Cai giáp các huyện Mường Khương, Bảo Thắng, Bát Xát, Sa Pa cùng của tỉnh Lào Cai. phía bắc, thành phố giáp huyện Hà Khẩu châu tự trị dân tộc Hani và Yi Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Từ thành phố lên thị trấn du lịch Sa Pa theo Quốc lộ 4D chỉ chừng 40 km.
Thành phố Lào Cai có 2 con sông chảy qua. Sông Nậm Thi chạy quanh phía bắc tỉnh, đồng thời là ranh giới tự nhiên với Trung Quốc. Nước sông quanh năm trong xanh, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho nhà máy nước của thành phố. Sông Nậm Thi hợp lưu với sông Hồng ngay tại biên giới giữa thành phố Lào Cai và Trung Quốc. Sông Hồng sau khi được Nậm Thi hợp lưu thì chảy hẳn vào lãnh thổ Việt Nam, mang lại nguồn phù sa màu mỡ cho đồng bằng sông Hồng. Thành phố Lào Cai nằm hai bên bờ sông Hồng. Các cây cầu Cốc Lếu, Phố Mới,... bắc qua sông nối hai phần của thành phố.
== Khí hậu ==
== Giao thông ==
Thành phố Lào Cai cũng chính là ga cuối cùng của tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai. Từ đây người ta có thể chuyển tiếp sang Trung Quốc bằng đường bộ hoặc thậm chí bằng đường sắt bằng các chuyến tàu liên vận quốc tế. Ở phía bắc chỉ có 2 tỉnh duy nhất có được điều kiện thuận lợi này là Lạng Sơn và Lào Cai.
Về đường bộ, Quốc lộ 4D nối thành phố Lào Cai với các huyện bên cạnh là Mường Khương, Bát Xát, Sa Pa, với tỉnh Lai Châu và với Quốc lộ 32. Quốc lộ 4E và Quốc lộ 70 nối thành phố với các huyện phía đông nam của tỉnh và với các tỉnh ở phía nam.
== Hành chính ==
Thành phố Lào Cai gồm 17 đơn vị hành chính trực thuộc. Đó là 12 phường: Bắc Cường, Bắc Lệnh, Bình Minh, Cốc Lếu, Duyên Hải, Kim Tân, Lào Cai, Nam Cường, Phố Mới, Pom Hán, Thống Nhất, Xuân Tăng và 5 xã: Cam Đường, Đồng Tuyển, Hợp Thành, Tả Phời, Vạn Hoà.
Thành phố Lào Cai ra đời trên cơ sở hợp lại 2 thị xã là Lào Cai và Cam Đường, Hai thị xã này vốn chỉ nằm cách nhau 7 km theo đường chim bay, mỗi thị xã có một thế mạnh riêng: Thị xã Lào Cai có cửa khẩu quốc tế Lào Cai nối liền tuyến liên vận quốc tế Hà Nội - Hải Phòng với các tỉnh phía Nam Trung Quốc, còn thị xã Cam Đường có ngành công nghiệp khai thác quặng Apatit số 1 của Việt Nam. Hai thế mạnh này càng củng cố sự phát triển của Lào Cai và đảm bảo một sự phát triển bền vững cho một đô thị có đầy tiềm năng cất cánh trong một tương lai gần.
Sau năm 1975, thị xã Lào Cai thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, gồm 8 phường: Bắc Lệnh, Cốc Lếu, Duyên Hải, Kim Tân, Lào Cai, Pom Hán, Thống Nhất, Xuân Tăng và 2 xã: Bắc Cường, Vạn Hòa.
Ngày 16-1-1979, chuyển xã Đồng Tuyển thuộc huyện Bát Xát và 2 xã: Cam Đường, Nam Cường thuộc huyện Bảo Thắng về thị xã Lào Cai quản lý.
Ngày 13-1-1986, chuyển 2 xã Hợp Thành và Tả Phời thuộc huyện Bảo Thắng về thị xã Lào Cai quản lý.
Ngày 12-8-1991, tỉnh Lào Cai được tái lập từ tỉnh Hoàng Liên Sơn cũ, thị xã Lào Cai trở lại là tỉnh lị tỉnh Lào Cai.
Ngày 29-8-1994, thành lập phường Phố Mới từ phần đất của phường Lào Cai và xã Vạn Hòa.
Ngày 30-11-2004, chuyển 2 xã Bắc Cường và Nam Cường thành 2 phường có tên tương ứng, thành lập phường Bình Minh từ phần đất của xã Cam Đường; chuyển thị xã Lào Cai thành thành phố Lào Cai và là đô thị loại III.
Ngày 30 tháng 10 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1975/QĐ-TTg công nhận thành phố Lào Cai là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Lào Cai.
== Phát triển ==
Hiện nay thành phố Lào Cai đã tiến hành kè dọc theo 2 bên sông Hồng, tạo ra một cảnh quan đẹp, là điểm nhấn cho thành phố. Khu vực giáp bờ phải sông Hồng ở phía bắc thành phố được quy hoạch phân lô để xây dựng các biệt thự. Phần nối giữa thị xã Lào Cai với thị trấn Cam Đường, trước đây chỉ là núi đồi bỏ hoang, giờ đây một khu đô thị mới - khu đô thị Lào Cai - Cam Đường đang được xây dựng để làm trung tâm mới của thành phố. Các cơ quan đầu não của tỉnh đã và đang chuyển về đây. Một con đường rộng 58 m với 4 làn xe, đại lộ Trần Hưng Đạo, đi giữa khu đô thị mới là điểm nhấn quan trọng của thành phố.
== Trường học ==
Hiện nay thành phố Lào Cai có 20 trường THCS và có 5 trường THPT tại thành phố.
== Khu đô thị mới Lào Cai - Cam Đường ==
Khu đô thị mới Lào Cai - Cam Đường đang hiện ra với quy mô đẹp và phấn đấu trở thành đô thị loại 1 của thành phố Lào Cai. Khu đô thị nằm ở phường Nam Cường thành phố Lào Cai.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Lịch sử Lào Cai
Ủy ban Nhân dân thành phố Lào Cai |
chí tài.txt | Chí Tài tên thật là Nguyễn Chí Tài (sinh ngày 15 tháng 8 năm 1958) là một nghệ sĩ Việt Nam nổi tiếng với vai trò diễn viên hài. Hoạt động chủ yếu tại hải ngoại, là bạn diễn ăn ý với nghệ sĩ ưu tú Hoài Linh. Trước đó, anh cũng được biết đến như một nhạc công ghi-ta chuyên nghiệp.
== Tiểu sử ==
Những năm 1976 - 1977, anh tham gia hoạt động văn nghệ tại địa phương ở quận Phú Nhuận, Sài Gòn với vai trò chơi đàn ghi-ta.
Năm 1981, anh sang Mỹ định cư theo diện gia đình bảo lãnh, có ý định sẽ tạo dựng cuộc sống mới tại Mỹ bằng cách đi học tiếng Anh và vi tính và nghỉ tham gia văn nghệ. Tuy nhiên anh vẫn giữ niềm đam mê nghệ thuật bất chấp sự phản đối của gia đình. Chí Tài ghi danh đi học khóa dạy đàn và lớp nhạc Jazz gần nhà. Cha của anh bằng lòng dành một khoản tiền hưu mua cho anh một dàn âm thanh điện tử, gồm trống đàn, nhạc cụ để anh lập một nhóm nhạc trẻ, từ đó anh thành lập ban nhạc gia đình "Chi Tai's Brothers" với Chí Thiện (keyboard), Quang Mỹ (bass), Phương Loan (ca sĩ chính), Kiều Linh (trumpet), Chí Thái (trống) và Chí Tài (guitar chính). Bước đầu Chi Tai's Brothers nhận lời trình diễn ở các tiệc cưới và những buổi sinh hoạt cộng đồng.
Con đường hoạt động nghệ thuật của họ trở nên thuận buồm xuôi gió và họ đã gắn bó với trung tâm Thúy Nga từ Paris By Night 18.
Chí Tài sau đó mở studio làm hòa âm và thu âm cho nhiều ca sĩ nổi tiếng tại hải ngoại, truyện ma Nguyễn Ngọc Ngạn,... Nét hòa âm mới mẻ, sáng tạo và trẻ trung của Chí Tài đã thật sự mở ra một hướng hòa âm mới cho sinh hoạt văn nghệ tại hải ngoại lúc bấy giờ.
Năm 1997, Chí Tài được dịp thử sức với Hoài Linh diễn tấu hài do thiếu diễn viên. Vai diễn được sự tán thưởng và yêu mến ngoài mong đợi.
Những năm 1999-2000, Chí Tài chuyển sang vai trò nghệ sĩ hài và nhanh chóng được khán giả yêu mến. Anh đặc biệt gắn bó với nhóm kịch Thúy Nga và thường xuyên xuất hiện với vai trò nghệ sĩ hài trong loạt chương trình Paris By Night cùng với Quang Minh, Hồng Đào, Trang Thanh Lan, Kiều Linh, Uyên Chi, Kiều Oanh, Lê Tín, Hoài Linh, Thúy Nga, Hoài Tâm, Việt Hương, Hương Thủy, Bé Tý…
Chí Tài từng cộng tác với các trung tâm băng nhạc như: Trung tâm Thúy Nga, Trung tâm Tình, Trung tâm Vân Sơn, và hiện nay Chí Tài là trụ cột của nhóm kịch Thúy Nga PBN đồng thời gắn bó với sân khấu kịch Nụ cười Mới ở trong nước.
== Gia đình ==
Năm 1987, Chí Tài kết hôn với ca sĩ Phương Loan (ca sĩ chính trong ban nhạc Chí Tài Brothers, cô nghỉ hát từ khi Chí Tài chuyển sang đóng kịch). Khác với những vai diễn lăng nhăng, dê gái,... ngoài đời Chí Tài được đánh giá là người thương yêu vợ và rất quan tâm tới gia đình và họ chưa có con.
== Các vở diễn tiêu biểu ==
== Các tiết mục biểu diễn trên sân khấu hải ngoại ==
=== Trung tâm Vân Sơn ===
=== Trung tâm Thúy Nga ===
== Cải lương ==
Nửa đời hương phấn
Dạ cổ hoài lang
Tình yêu tướng cướp
== Ca nhạc ==
=== Trung tâm Thúy Nga ===
LK Đêm Vui Say - với Phương Loan (Paris By Night 18)
Chuyện Tình Không Suy Tư - với Mỹ Lan, Phương Loan (Paris By Night 23)
LK Tình Yêu Và Tuổi Trẻ - với Phương Loan, Hương Thơ, Jenny Loan (Paris By Night 24)
Trăng Sáng Vườn Chè - với Ái Vân (Paris By Night 24)
Ô Mê Ly - với Ái Vân, Elvis Phương, Duy Quang, Phi Khanh, Ngọc Trọng (Paris By Night 24)
Tình Yêu Thủy Thủ (Paris By Night 25)
Hát Hội Trăng Rằm - với Ái Vân, Ái Thanh, Elvis Phương (Paris By Night 25)
Chuyện Bốn Người - với Ái Vân, Ái Thanh, Trần Phương (Paris By Night 26)
Ghé Bến Sài Gòn - với Mỹ Lan, Phương Loan, Jenny Loan, Henry Chúc, Chí Thiện, Nhất Lý (Paris By Night 27)
Giã Từ Đêm Mưa - với Anh Khoa, Chí Thiện, Nhất Lý (Paris By Night 27)
Bên Lưng Đèo - với Elvis Phương, Chí Thiện (Paris By Night 27)
Vó Câu Muôn Dặm - với Nguyễn Hưng, Duy Quang, Anh Khoa, Ngọc Trọng, Chí Thiện, Nhất Lý (Paris By Night 27)
Bé Yêu - với Phương Loan (Paris By Night 28)
LK Người Tình Mexico - với Phương Loan (Paris By Night 29)
Đèn Cù - với Ái Vân (Paris By Night 29)
Tuổi Hồng - với Dalena (Paris By Night 30)
Một Ông Hai Bà - với Ái Vân, Ái Thanh (Paris By Night 31)
Đêm Vinh Quy - với Ái Vân (Paris By Night 32)
LK Ghen - với Phương Loan (Paris By Night 34)
Tấm Cám - với Ái Vân, Ái Thanh, Nguyễn Hưng (Paris By Night 34)
Ngựa Phi Đường Xa - với Thế Sơn, Nguyễn Hưng (Paris By Night 35)
LK Lời Yêu Thương - với Phương Loan (Paris By Night 37)
Bừng sáng - với Thế Sơn, Trần Thái Hòa (Paris By Night 74)
Hương (Paris By Night 97)
Những Lời Mê Hoặc - với Hoài Linh (Paris By Night 116)
=== Sáng tác ===
Em Ở Đâu
Khi Màn Đêm Xuống (viết lời Việt)
Lý Đĩa Phải Vôi
Một Duyên Hai Nợ Ba Tình (chung với Hoài Linh)
Người Yêu Dấu (viết lời Việt)
Tình Mãi Không Phai
Tình Yêu Ngọt Ngào (viết lời Việt)
== Phim đã tham gia ==
== Chương trình truyền hình ==
Ơn giời! Cậu đây rồi
Hội ngộ danh hài
Danh hài đất Việt
Diêm Vương xử án
Ca sĩ giấu mặt
Tài tiếu tuyệt
Hội quán tiếu lâm (2015, 2016)
Biến hóa hoàn hảo
Kỳ tài thách đấu
== Xem thêm ==
Hoài Linh
Việt Hương
Thúy Nga
Trường Giang
Trấn Thành
Quang Minh - Hồng Đào
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Chí Tài tại Internet Movie Database
Chí Tài tại Facebook
Tiểu sử Chí Tài
Nghệ sĩ Chí Tài - Biến may mắn thành cơ hội thành công |
luis guillermo solís.txt | Luis Guillermo Solís Rivera (sinh ngày 25 tháng 4 năm 1958) là một chính trị gia Costa Rica đã là Tổng thống Costa Rica kể từ năm 2014. Ông là một thành viên của Đảng Hành động Công dân trung tả. Solís vẫn dẫn đầu trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2014, và ông đã nhậm chức tổng thống trên thực tế sao khi ứng cử viên xếp thứ nhì ở vòng đầu tiên, San José thị trưởng Johnny Araya Monge, ngừng chiến dịch vận động.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tiểu sử tại CIDOB (tiếng Tây Ban Nha) |
chi lợn.txt | Bài này nói về một chi động vật, bao gồm nhiều loài lợn khác nhau. Để biết về loài lợn được con người thuần hóa và nuôi, xem bài Lợn nhà.
Chi Lợn (hay chi Heo theo phương ngữ miền Nam của tiếng Việt) là một chi động vật móng guốc có nguồn gốc ở đại lục Á-Âu được gộp nhóm tổng thể với danh pháp khoa học là Sus, thuộc họ Lợn (Suidae). Lợn rừng đã được thuần hóa và được nuôi như là một dạng gia súc để lấy thịt cũng như da. Các sợi lông cứng của chúng còn được sử dụng để làm một số loại bàn chải, da có thể dùng để sản xuất bóng bầu dục. Ngoài ra, phân của lợn nhà cũng được dùng làm phân chuồng để cải tạo đất.
== Thông tin chung ==
Chi Lợn là các loài động vật ăn tạp, chúng ăn cả thức ăn có nguồn gốc động và thực vật cũng như thức ăn thừa của con người. Trong điều kiện hoang dã, chúng là các động vật chuyên đào bới, tức là luôn dũi đất để tìm kiếm thức ăn. Lợn là động vật rất dễ huấn luyện, vì thế cùng với đặc tính đào bới và khứu giác rất nhạy của chúng nên ở một số nơi người ta còn dùng chúng để tìm nấm, đặc biệt là ở châu Âu. Ngoài ra, người ta còn nuôi lợn (heo) mọi (một dạng của lợn ỷ Việt Nam) để làm động vật cảnh, đặc biệt là ở Mỹ.
Một đàn lợn con thông thường có từ 6 đến 12 con. Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhốt, thỉnh thoảng người ta thấy hiện tượng lợn mẹ ăn thịt các con sơ sinh của nó, có lẽ là do thiếu chất. Lợn có 44 răng, mõm và tai lớn, chân có 4 ngón, 2 ngón giữa lớn hơn và có lông cứng. Thời kỳ mang thai của lợn trung bình là 114 ngày.
Lợn không có tuyến bài tiết mồ hôi, vì thế chúng phải tìm các nơi râm mát hay ẩm ướt (các nguồn nước, vũng bùn v.v) để tránh bị quá nóng trong điều kiện thời tiết nóng. Chúng cũng dùng bùn làm lớp bảo vệ để khỏi bị cháy nắng.
== Các loài ==
=== Giống lợn rừng ===
Sus barbatus: Lợn râu; Malaysia, Indonesia
Sus bucculentus†: Lợn rừng Đông Dương
Sus cebifrons: Lợn rừng Visayas
Sus celebensis: Lợn rừng Celebes
Sus daelius: Lợn rừng Poulter
Sus falconeri†
Sus habeoncosus Lợn rừng Malaysia
Sus heureni Lợn rừng Flores
Sus hysudricus†
Sus philippensis: Lợn rừng Philipin
Sus salvanius Lợn rừng lùn, lợn rừng còi; đông bắc Ấn Độ, Himalaya
Sus scrofa (còn gọi là S. domesticus) Lợn nhà, lợn lòi, lợn rừng; châu Âu, châu Á
Sus strozzi†
Sus timoriensis Lợn rừng Timor
Sus verrucosus Lợn rừng Java, Indonesia, Philipin
=== Giống lợn nuôi ===
Lợn Móng Cái
Lợn Ba Xuyên
Lợn Yorkshire
Lợn Landrace
Lợn Mường Khương
Lợn Thuộc Nhiêu
Lợn Ỉ
Lợn mọi
== Các giống lai ==
Giống lợn nhà Tamworth thông thường hay được cho lai ghép với lợn rừng để sản sinh ra một giống lợn mà người ta gọi là "lợn thời kỳ đồ sắt", chúng tương tự như lợn nhà thời kỳ nguyên thủy. Lợn con mới sinh ra này giống như lợn rừng non. "Lợn thời kỳ đồ sắt" là loài vật có sức thu hút phổ biến (vì tính tò mò, hiếu kỳ) tại các trang trại. Lợn lai kiểu này giống lợn nhà hơn lợn rừng, nhưng khó huấn luyện hơn lợn nhà và nói chung được dùng để lấy thịt làm xúc xích. Các giống lợn nhà khác cũng được lai với lợn rừng sản xuất thịt ít mỡ hơn thịt lợn nhà.
Trong "The Variation Of Animals And Plants Under Domestication" Charles Darwin đã viết: Lợn rừng châu Âu và lợn nhà Trung Quốc có lẽ gần như là khác biệt một cách chắc chắn: Ngài F. Darwin đã cho giao phối một con lợn nái Trung Quốc với lợn rừng đực Alpine, đã được thuần hóa một phần, nhưng các con lợn con, mặc dù có một nửa máu đã thuần hóa trong huyết quản của chúng, lại là cực kỳ hoang dã trong việc nuôi nhốt, và không dễ dàng ăn các loại nước gạo như những con lợn Anh thông thường.
== Các từ để gọi lợn ==
Trong tiếng Việt có nhiều từ để gọi các loại lợn (heo) khác nhau, chủ yếu áp dụng cho lợn đã thuần hóa (lợn nhà):
Lợn nái hay heo nái - Lợn cái nuôi để sản xuất lợn con
Lợn sề - Lợn nái già
Lợn bột hay heo sữa - Lợn con đang bú mẹ
Lợn hạch - Lợn đực đã thiến
Lợn ỷ - Một giống lợn của Việt Nam, có mõm ngắn, lưng võng và bụng sệ với lớp da màu đen hay xám.
Lợn lang hay heo bông - Lợn lông đốm đen-trắng
Lợn mọi - Một dạng lợn ỷ, rất chậm lớn, chủ yếu nuôi làm cảnh
Lợn lòi - Đồng nghĩa của lợn rừng
Heo nọc - Lợn đực chuyên dùng để phối giống.
và còn nhiều nữa.
== Thực phẩm ==
Bài chính:Các món ăn từ thịt lợn.
Thịt lợn được bán tại Việt Nam dưới nhiều tên gọi như thịt lợn nạc, thịt lợn mông, thịt ba chỉ. Các chân của nó được bán dưới tên gọi là chân giò. Đầu lợn, còn gọi là thủ lợn-trước đây khi thịt lợn còn rất khan hiếm chỉ được dành cho tầng lớp có đẳng cấp tại nhiều thôn quê. Các loại cơ quan nội tạng của lợn cũng được bán như tim, gan, lòng non, lòng già, dạ dày, cật v.v. Máu của nó cũng được dùng để làm tiết canh. Các món ăn có nguồn gốc từ phương Tây hiện cũng khá phổ biến như thịt lợn muối xông khói, giăm bông thịt lợn, pa tê gan lợn v.v. Một điểm cần lưu ý là những người theo Hồi giáo và Do Thái giáo bị cấm không được ăn thịt lợn dưới bất kỳ hình thức nào, do lợn bị coi là giống động vật không sạch sẽ.
== Khía cạnh văn hóa ==
=== Tôn giáo ===
Thời Hy Lạp cổ đại, lợn là con vật để hiến tế cho nữ thần Demeter và nó là con vật yêu thích của nữ thần này. Phần mở đầu của các lễ hiến tế Eleusis được bắt đầu bằng việc hiến tế con lợn.
Lợn là một trong số 12 con vật tượng trưng cho chu kỳ 12 năm của Địa Chi trong nhiều tính toán liên quan tới Can-Chi của người Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên v.v. Nó gắn liền với địa chi Hợi. Những người tin tưởng vào chiêm tinh học Trung Hoa luôn gắn con vật với đặc điểm, đặc tính cá nhân. Xem bài: Hợi.
Người theo Hồi giáo bị cấm không được ăn thịt lợn, theo kinh Qur'an.
Người Do Thái cũng bị cấm ăn thịt lợn, theo luật Kashrut.
Trong Phúc âm, chúa Giê-su đã kể một câu chuyện ngụ ngôn về đứa con trai hoang đàng. Khi ăn chơi hết tiền cậu ta phải xin làm người nuôi lợn thuê, mong ước là có thể ăn thức ăn của lợn như không ai cho.
Cũng trong Phúc âm, chúa Giê-su thực hiện một phép màu bằng cách làm cho con quỷ ám ảnh con người đi vào một bầy lợn và sau đó làm nó phải chạy trốn tới một vách đá và sau đó bị chết đuối.
=== Lợn và người ===
Lợn đôi khi được dùng để ví với người. Winston Churchill nói rằng "Con chó ngước lên nhìn chúng ta. Con mèo nhìn xuống chúng ta, còn con lợn thì coi chúng ta là ngang hàng".
Tại Hoa Kỳ, một số trường phổ thông (sơ, trung và cao cấp) cũng như trường đại học có các con vật lấy phước là lợn hay tương tự như lợn. Đáng chú ý nhất trong số này là Đại học Arkansas với con vật lấy phước của đội thể thao của trường là một con lợn lòi (Sus scrofa).
Sự chuyển hóa ma thuật biến con người thành lợn được dùng làm cốt truyện trong nhiều câu chuyện, chẳng hạn trong thiên sử thi Odyssey của Homer, trong đó đoàn thủy thủ của con tàu anh hùng bị nữ thần Circe biến thành lợn.
Trư Bát Giới, một nhân vật trong Tây du ký của người Trung Quốc, là một vị thần trên thiên đình có hình dạng nửa người nửa lợn.
== Xem thêm ==
Thịt lợn muối xông khói
Giăm bông thịt lợn
Virus Hội chứng Sinh sản và Hô hấp ở Lợn
Liên cầu khuẩn lợn
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
nhiệt độ nóng chảy.txt | Nhiệt độ nóng chảy hay điểm nóng chảy/nhiệt độ hóa lỏng của một chất rắn là nhiệt độ mà khi đạt tới ngưỡng đó thì quá trình nóng chảy xảy ra, tức là chất chuyển trạng thái từ rắn sang lỏng.
Nhiệt độ của thay đổi ngược lại (tức là từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn) là nhiệt độ đông đặc hay điểm đông đặc. Thông thường điểm nóng chảy trùng với điểm đông đặc.
Không giống như điểm sôi, điểm nóng chảy là tương đối không nhạy cảm với áp suất.
Có một số chất, như thủy tinh, có thể làm cứng lại không qua giai đoạn kết tinh được gọi là chất rắn vô định hình. Các chất rắn vô định hình không có điểm nóng chảy cố định.
== Ví dụ ==
Điểm nóng chảy của nguyên tố thủy ngân là 234,32 K (−38.83 °C hay −37.89 °F). Chất có điểm nóng chảy (dưới áp suất khí quyển) cao nhất hiện nay được biết là than chì (hay còn gọi là graphit), có điểm nóng chảy 3.948 K. Heli có điểm nóng chảy ở nhiệt độ 0.95 K.
== Xem thêm ==
Các pha của vật chất
Điểm sôi
Điểm ba trạng thái
Sự suy giảm điểm đóng băng
== Tham khảo == |
george gershwin.txt | George Gershwin (26 tháng 9 năm 1898 - 11 tháng 7 năm 1937) là một nhà soạn nhạc người Mỹ và cũng là một nhạc sĩ dương cầm. Những tác phẩm của George Gershwin kéo dài ra cả thể loại nhạc phổ biến và Nhạc cổ điển, và những giai điệu của ông được rất nhiều người biết đến. Ông phần lớn viết nhạc cho những bài hát và sân khấu kịch, bao gồm cả hơn chục buổi biểu diễn Broadway, với sự hợp tác và giúp đỡ từ người anh trai - nhà thi sĩ chuyên viết thơ chữ tình Ira Gershwin. Vở nhạc kịch "Of Thee I Sing" của ông (viết chung với Ira Géhwin) đã đoạt Giải Pulitzer cho kịch năm 1932.
George Gershwin sáng tác nhạc cho sân khấu Broadway và cho cả các buổi hòa nhạc, cũng như thấy rằng các tác phẩm phổ biến của ông đã giúp ông và thành quả của chính mình được công chúng biết đến rộng rãi hơn. Các tác phẩm của ông được áp dụng vào vô số bộ phim và cả tivi truyền hình, và số nhiều trong đó đã trở thành các tiêu chuẩn nhạc jazz được thu âm với các phong cách thể hiện khác nhau. Rất nhiều ca sĩ và nhạc sĩ đã dùng các bài hát của Gershwin.
== Tiểu sử ==
=== Thời trẻ ===
Gershwin tên gốc là Jacob Gershowitz sinh ngày 26 tháng 9 năm 1898 tại Brooklyn. Cha mẹ ông là Người Do Thái Nga. Cha ông, Morris (Moishe) Gershowitz đã đổi tên họ thành Gershvin sau khi di cư từ Hoa Kỳ từ St. Petersburg, Nga vào đầu những năm 1890. Lúc đó, mẹ Gershwin - bà Rosa Bruskin đã di cư từ Nga đến Hoa Kỳ trước rồi. Bà gặp Gershowitz ở New York và họ cưới ngày 21 tháng 7 năm 1895. (George đã thay đổi cách đánh vần của tên từ Gershvin thành Gershwin sau khi ông trở thành một nhạc sĩ chuyên nghiệp, các thành viên khác trong gia đình cũng thay đổi theo cho phù hợp.
George Gershwin là đứa con thứ 2 trong 4 người con. Ông thể hiện niềm đam mê âm nhạc đầu tiên vào lúc 10 tuổi, khi ông bị lôi cuốn vào những gì ông nghe được từ các bài biểu diễn đàn vĩ cầm của người bạn Maxie Rosenzweig. Âm thanh và cái cách mà bạn ông chơi vĩ cầm đã ngấm vào suy nghĩ của George. Cha mẹ bắt đầu mua 1 cái đàn dương cầm để dạy anh trai ông - Ira Gershwin, nhưng với ngạc nhiên của cha mẹ và sự giúp đỡ nhiệt tình từ Ira, cuối cùng George đã chơi đàn.
Mặc dù người em gái ông - Frances Gershwin là người đầu tiên trong gia đình kiếm được tiền từ tài năng âm nhạc của bà, nhưng bà lại cưới sớm và cống hiến cả cuộc đời mình để thành 1 bà mẹ đúng nghĩa và là một người vợ nội trợ. Bà từ bỏ sự nghiệp biểu diễn của mình, nhưng lại thể hiện vào hội họa - Hội họa cũng là một sở thích của George Gershwin.
Gershwin đã học tập qua các giáo viên đàn dương cầm 2 năm, và sau đó được Jack Miller giới thiệu đến Charles Hambitzer, nhạc sĩ dương cầm trong dàn nhạc giao hưởng của Beethoven. Ông đã thành người cố vấn cho George cho đến khi mất năm 1819. Hambitzer dạy George các kĩ thuật dương cầm thông thường, ông đã giới thiệu George nhạc cổ điển Châu Âu, và khích lệ George tham dự các buổi hòa nhạc. Ở nhà, sau những buổi biểu diễn như thế, chàng trai trẻ Gershwin lúc ấy đã cố gắng tìm cách tái sản xuất các bài nhạc dương cầm mà mình đã nghe. Sau đó, George theo học với nhà soạn nhạc nhạc cổ điển Rubin Goldmark và nhà soạn nhạc + lý luận Henry Cowell.
=== Tin Pan Alley ===
Vào độ tuổi 15, George rời trường học và tìm được công việc đầu tiên là một người nối các bài hát cho Jerome H. Remick và công ty, một hãng xuất bản của Tin Pan Alley ở New York, nơi đó ông kiếm được 15 đô la hàng tuần. Bài hát đầu tiên của ông được sản xuất là:"Khi em muốn nó, uhm, em không thể có được, uhm, khi em sở hữu được, uhm, em lại không muốn có nó" được sản xuất năm 1916 khi Gershwin chỉ mới 17 tuổi, và đã kiếm được tổng cộng 5 đô la mặc dù ông đã được hứa trước đó là sẽ có nhiều tiền hơn.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
người xinh mun.txt | Người Xinh Mun, còn gọi người Puộc, người Pụa là một dân tộc ít người, sinh sống ở bắc Việt Nam và Lào.
== Ngôn ngữ ==
Tiếng nói của người Xinh Mun là tiếng Puộc (tiếng Xinh Mun, Ksingmul), thuộc ngữ chi Khơ Mú trong ngữ tộc Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á.
== Dân số và địa bàn cư trú ==
=== Tại Việt Nam ===
Tại Việt Nam, họ được công nhận là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Dân số của dân tộc này có khoảng 18.018 người (điều tra dân số 1999).
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Xinh Mun ở Việt Nam có dân số 23.278 người, có mặt tại 22 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Xinh Mun cư trú tập trung tại tỉnh Sơn La (21.288 người, chiếm 91,5% tổng số người Xinh Mun tại Việt Nam), Điện Biên (1.926 người), Đồng Nai (10 người), Nam Định (10 người), Hà Nội (10 người)...
=== Tại Lào ===
Tại Lào, họ được gọi là người Puộc, với dân số khoảng 2.146 người (theo Ethnologue) vào năm 1985.
== Cư trú ==
Người Xinh Mun cư trú chủ yếu ở vùng biên giới Việt-Lào thuộc hai tỉnh Sơn La và Lai Châu của Việt Nam và tỉnh Xiêng Khoảng cùng Huaphan của Lào.
== Đặc điểm kinh tế ==
Người Xinh Mun sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, trồng lúa nếp và ngô là chính. Có loại nương chọc lỗ tra hạt giống, có nương dùng cuốc và có nương dùng cày để canh tác. Một số nơi có ruộng nước. Trước kia người Xinh Mun nuôi trâu, dê, lợn... thả rông, nay nhiều bản đã làm chuồng xa nhà cho súc vật. Hái lượm và săn bắn góp phần quan trọng cho đời sống của họ. Nghề đan lát khá phát triển, đồ đan đẹp và bền, họ thường đổi đồ đan cho người Thái, người Lào để lấy một phần đồ mặc và đồ sắt. Người Xinh Mun có tập quán ăn trầu, nhuộm răng đen, uống rượu cần, thích gia vị cay.
== Tổ chức cộng đồng ==
Trước kia người Xinh Mun sống du canh, du cư, nay họ đã sống ổn định và lập những làng đông đúc. Người Xinh Mun đa số mang họ Lò, họ Vi. Mỗi họ đều có kiêng cữ riêng. Các con theo họ cha. Trong nhà, khi người cha chết, thì con trai cả giữ vai trò quan trọng.
== Hôn nhân gia đình ==
Trong hôn nhân, nhà trai phải đưa tiền cho nhà gái. Sau lễ dạm, lễ hỏi mới đến lễ đi rể, thường sau vài ba năm lúc cô dâu chú rể đã có vài ba con, nhà trai mới tổ chức đón dâu về. Kể từ lễ đi ở rể, đôi vợ chồng phải đổi tên riêng của mình, lấy chung một tên khác do cậu, bố mẹ vợ hay thầy cúng đặt cho.Phụ nữ Xinh Mun thường đẻ tại nhà. Khi con gần đầy tháng, cha mẹ nhờ thầy cúng đặt tên.
== Tục lệ ma chay ==
Khi có người chết, người nhà bắn súng báo tin cho dân làng biết. Người Xinh Mun không có tục cải táng, tảo mộ...
== Nhà cửa ==
Người Xinh Mun ở nhà sàn, mái hình mai rùa, có hai thang lên xuống ở hai đầu hồi.
== Trang phục ==
Không có cá tính dân tộc mà chịu ảnh hưởng trang phục Thái đen (giống người Kháng).
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
== Liên kết ngoài ==
Người Xinh Mun trên trang mạng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Người Xinh Mun trên trang mạng của Ủy ban Dân tộc Việt Nam |
chiến dịch bagration.txt | Bagration là mật danh của chiến dịch Byelorussia - chiến dịch tấn công chiến lược mùa hè năm 1944 của quân đội Liên Xô, chính thức bắt đầu ngày 23 tháng 6 đến 29 tháng 8 năm 1944 trong Chiến tranh Xô-Đức. Mật danh này được lấy theo tên của Pyotr Ivanovich Bagration - một vị tướng đã chiến đấu và hy sinh trong cuộc chiến tranh năm 1812 giữa Đế quốc Nga và nước Pháp của Napoléon I.
Đây là chiến dịch được thực hiện bởi 6 mũi tấn công của 4 Phương diện quân Liên Xô. Sau ba giai đoạn tác chiến chiến lược, Quân đội Liên Xô đã đánh tan Cụm Tập đoàn quân Trung tâm của Quân đội Đức Quốc xã, tiêu diệt 25 Sư đoàn Đức, giải phóng hoàn toàn lãnh thổ Byelorussia cùng phần lớn lãnh thổ các nước cộng hoà Xô viết vùng Baltic và miền Đông Bắc Ba Lan. Về phía nước Đức Quốc xã, đây là "thất bại thảm hại nhất của Quân đội Đức Quốc xã trong toàn bộ cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai", khi khu vực phòng thủ phía Đông của nước Đức Quốc xã bị sụp đổ và Đông Phổ bị trực tiếp đe doạ.
Chiến dịch Bagration cũng được xem là chiến thắng vĩ đại nhất của Hồng quân trong cả cuộc chiến. Chiến dịch này cùng với chiến dịch Lvov-Sandomir (tiếng Nga: Львов – Сандомир) được các nhà nghiên cứu lịch sử coi là tiêu biểu cho nghệ thuật chiến dịch Xô Viết, khi các hoạt động nghi binh liên tục làm Quân đội Đức Quốc xã lỡ chân, đồng thời các bài bản tấn công của học thuyết "Tác chiến chiều sâu" được thực hiện gần như hoàn hảo ở mọi cấp độ. Trong khi vai trò "bậc thầy" của Liên Xô về vây bọc được khẳng định, hai chiến dịch này đã đẩy Quân đội Đức Quốc xã ra khỏi lãnh thổ Liên Xô, giúp Hồng quân có bàn đạp ở bờ Tây sông Wisla, tạo tiền đề cho chiến dịch Vistula-Oder ở giai đoạn kế tiếp, đưa chiến tranh vào khu vực "chiều sâu chiến lược" của đối phương theo học thuyết.
== Bối cảnh trước chiến dịch ==
=== Địa bàn tác chiến ===
Chiến dịch diễn ra trên lãnh thổ Byelorussia, Litva một phần lãnh thổ Latvia và vùng Đông Bắc Ba Lan. Đây là vùng có địa hình khá bằng phẳng ở phía Tây và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Vùng phía Đông Belarus, nơi triển khai các chiến dịch tấn công đầu tiên, địa hình bị chia cắt bởi các dải rừng lá kim xen lẫn các con sông Dniepr, Berezina, Luchesa, Pronia, Drut; đều chảy theo hướng Bắc - Nam và Tây Bắc - Đông Nam. Những con sông này được Cụm tập đoàn quân trung tâm (Đức) lợi dụng như các chướng ngại tự nhiên trên các tuyến phòng thủ. Muốn thực hành đột phá với chiều sâu chiến dịch lớn trên hướng này, cần tập trung pháo binh ở mật độ cao với hàng chục cơ số đạn và phải có ít nhất một tập đoàn quân xe tăng.
Phía Nam Belerus là dải đầm lầy Polesya dài hơn 400 km, rộng hơn 100 km, trải từ phía Tây Gomel đến ngã ba biên giới Ukraina - Belarus - Ba Lan. Bản thân vùng đầm lầy này cũng bị chia cắt bởi rừng rậm và các con sông nhỏ là chi lưu của sông Pripyat và cũng chảy theo hướng Bắc - Nam hoặc Nam - Bắc trong khi sông Pripyat chảy theo hướng Tây - Đông. Đây là khu vực hầu như không thể triển khai xe tăng, pháo hạng nặng và các vũ khí lớn. Kỵ binh có thể hoạt động được trong vùng này nhưng di chuyển khá khó khăn. Muốn hỗ trợ cho bộ binh tác chiến trên vùng này, cần có các giang đội tàu sông và các xuồng chiến đấu.
Phía Bắc địa bàn tác chiến chủ yếu là các dải đồi cao trên biên giới Belarus - Litva bị chia cắt bởi các con sông Tây Dvina và Nieman chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc và vùng hồ - đầm lầy trên biên giới Nga - Latvia. Đây là hướng hoạt động có thể triển khai xe tăng với số lượng lớn nhưng cần nhiều đơn vị công binh cầu phà, làm đường và hỗ trợ kỹ thuật. Toàn bộ lãnh thổ Belarus có khoảng 20.000 sông suối và khoảng 11.000 hồ đầm lớn nhỏ, chiếm 10% diện tích lãnh thổ. Belarus không có các điểm cao lớn. Khu đất cao rộng nhất nằm quanh các thành phố Minsk và Vinius, núi Dzerzhinsk cao nhất vùng cũng chỉ có độ cao 345 mét.
=== Tình huống mặt trận ===
Khu vực tác chiến được người Đức gọi là "ban công Byelorussia" do tuyến mặt trận có hình một cung lồi nhô về phía Đông từ Polotsk qua Vitebsk, dọc theo sông Luchetsa, sông Pronia, sông Dniepr đến Zhlobin rồi chạy dọc theo sông Pripyat sang phía Tây đến Pinsk và Kovel. Nếu kể cả khu vực đầm lầy Polisya chỉ có những đội kỵ binh trắc vệ kiểm soát, toàn bộ trận tuyến dài đến trên 800 km. Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) đóng tại đây có một vị trí chiến lược rất quan trọng trên toàn bộ mặt trận Xô - Đức. Lợi dụng sự chia cắt của vùng đầm lầy Polesya, cánh phải của cụm quân này có thể uy hiếp bên sườn và phía sau các binh đoàn của Phương diện quân Ukraina 1 đang chuẩn bị mở Chiến dịch Lvov–Sandomierz ở Đông Nam Ba Lan. Từ khu vực Minsk - Vilnius, quân đội Đức Quốc xã có thể đánh bọc sườn quân đội Liên Xô nếu họ đột kích vào Đông Phổ. Khu vực này còn là các căn cứ mặt đất để Tập đoàn quân không quân 6 (Đức) tổ chức các trận tập kích đường không vào Moskva. Và cuối cùng, khối quân Đức gồm hơn 800.000 người đóng tại đây chặn đường tiến công của các phương diện quân Liên Xô vào Ba Lan và Đông Phổ, hai cửa ngõ tối quan trọng trên biên giới phía Đông của Đế chế thứ ba.
Cụm Tập đoàn quân Trung tâm từ trước tới nay luôn là một đạo quân mạnh của Quân đội Đức Quốc xã. Ở thời điểm mùa hè năm 1944, nó gồm hơn 50 sư đoàn; chỉ đứng sau Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) về quân só và trang bị. Mặc dù trong chiến dịch Suvorov hồi mùa thu năm 1943, Quân đội Liên Xô đã đẩy cụm quân này ra khỏi khu vực Smolensk nhưng chiều dài chiến tuyến đã được thu ngắn bớt. Do đó, Cụm Tập đoàn quân Trung tâm (Đức) có thể tăng mật độ quân lực lẫn chiều sâu của tuyến. Địa hình ở đây cũng thuận lợi cho phòng thủ: bùn đất lầy lội khiến việc triển khai xe tăng chỉ có thể thực hiện trên vài trục giao thông chính; mặt Đông Nam được che chở bởi khu đầm lầy Pripyat, có địa hình rừng cây xen với bùn lầy; còn mặt Đông Bắc và Đông có các con sông lớn chạy dọc theo chiến tuyến. Trong khi đó, sau lưng chiến tuyến là hệ thống đường sắt tương đối tốt, thuận lợi cho việc điều chuyển lực lượng dự bị. Bất lợi về địa hình cộng với hệ thống đường bộ kém phát triển sẽ gây khó khăn lớn cho việc đảm bảo hậu cần nếu Hồng quân tập trung quân lực lớn cho cuộc tấn công ở đây.
Tuy nhiên, do những thất bại của Cụm Tập đoàn quân Nam trong chuỗi chiến dịch Kursk, hạ lưu sông Dnepr, Dnepr-Carpath, Crimea trong mùa hè, mùa thu và mùa đông 1943-1944 của Hồng quân, đẩy Cụm Tập đoàn quân này lùi xa về phía Tây nên sườn Nam của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm đã có một khoảng cách lớn với sườn phía Bắc của Cụm tập đoàn quân Nam không được che chắn. Đến tháng 3 năm 1944, hình thế phòng thủ của Cụm Tập đoàn quân này khá bất lợi khi trên cánh Nam, Phương diện quân Byelorussia (Liên Xô) tiến hành thắng lợi chiến dịch đệm tại khu vực Gomel - Rechitsa, đánh bật quân Đức khỏi hành lang chiến lược giữa hai con sông Dniepr và Pripyat hồi tháng 11 năm 1943. Sau đó một tháng, Phương diện quân Pribaltic 1 cũng đánh bật Tập đoàn quân xe tăng 3 (Đức) khỏi Gorodok và áp sát Vitebsk từ ba phía.
Trong thời gian này, đã có những tín hiệu rõ ràng cho thấy Đồng Minh sẽ sớm mở mặt trận phía Tây. Như thế, nước Đức Quốc xã sẽ rơi vào tình huống xấu nhất là bị kẹp giữa 2 mặt trận. Trong tư thế phòng ngự, Bộ Tổng Tư lệnh Tối cao Quân đội Đức Quốc xã (Oberkommando des Heeres - OKH) chờ đợi một cuộc tiến công chiến lược của Hồng quân vào cùng khoảng thời gian với hoạt động đổ bộ của Đồng Minh, có khả năng cao vào đầu mùa hè, khi bùn lầy bắt đầu khô.
Vấn đề còn lại chỉ là Hồng quân sẽ lựa chọn hướng nào là hướng tấn công chính mà thôi.
=== Phán đoán của Bộ Tổng Tư lệnh Tối cao Quân đội Đức ===
Là một người có niềm tin mạnh mẽ vào chiến thắng cuối cùng của nước Đức Quốc xã, Hitler cũng tin là có thể tạo ra một cú lật ngược tình thế ở mặt trận phía Đông trong tình huống Đồng Minh sắp mở mặt trận phía Tây. Niềm tin này ảnh hưởng tới nhận định của OKH khi phán đoán hướng tấn công của Hồng quân vào mùa hè 1944, bởi lẽ cơ hội mong ước này chỉ xảy ra khi Hồng quân lựa chọn hướng từ Bắc Ukraina ra biển Baltic vào khe giữa Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraina và Cụm Tập đoàn quân Trung tâm, tạo điều kiện cho 2 Cụm Tập đoàn quân này phản công bao vây, lặp lại những chiến thắng vang dội của thời kỳ 1941-1942.
Phán đoán chủ quan này của OKH được củng cố bởi nhiều lý do, mà trước tiên là khu vực Ukraina mở vào vùng bằng phẳng ở châu Âu, có địa hình thuận lợi cho xe tăng - cơ giới hoá hoạt động. Từ Ukraina, Hồng quân có hai lựa chọn: từ miền Nam Ukraina về phía Nam Âu chiếm Romania và các nước vùng Balkan; từ Bắc Ukraina về phía Tây Bắc, ra bờ biển Baltic cắt ngang hành lang Byelorussia. OKH cho rằng 2 lựa chọn này đều có hệ quả chiến lược nghiêm trọng: Romania sẵn sàng đổi phe và nước Đức Quốc xã mất một đồng minh chính trị lẫn nguồn cung cấp dầu mỏ tối quan trọng cho bộ máy chiến tranh; còn Cụm Tập đoàn quân Trung tâm ở Byelorussia và Cụm Tập đoàn quân Bắc ở dọc bờ biển Baltic nếu bị cắt rời thì Quân đội Đức Quốc xã suy yếu nghiêm trọng. Tuy nhiên, OKH nhận định rằng hướng Tây Bắc Ukraina có khả năng hơn cả, vì một cuộc tấn công táo bạo ở đây sẽ nhanh chóng mang chiến tranh đến lãnh thổ nước Đức.
Với nhận định trên, OKH và đặc biệt là Hitler đã bỏ qua mối đe dọa vỗ mặt của Hồng quân đối với Cụm Tập đoàn quân Trung tâm. Do đó, ⅓ số pháo, ½ số pháo tự hành chống tăng và 88% số xe tăng của Cụm Tập đoàn quân này được điều chuyển sang Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraina.
=== Ý định của Bộ Tổng Tư lệnh Tối cao Quân đội Xô Viết ===
Trong việc lựa chọn hướng tấn công chính cho chiến dịch mùa hè, Bộ Tổng Tư lệnh Tối cao Quân đội Xô Viết - STAVKA - có cách phân tích khác với OKH.
Hướng phía Bắc vào các nước Cộng hoà vùng Baltic nhắm vào Cụm Tập đoàn quân Bắc dĩ nhiên không được lựa chọn vì ít có ý nghĩa chiến lược: nó chỉ giải phóng một phần nhỏ đất đai và tài nguyên của Liên Xô và cuối cùng là đi vào ngõ cụt ở ven bờ biển Baltic. Hơn nữa khu vực này có địa thế thuận lợi cho phòng thủ và Hồng quân cũng đứng trước nguy cơ kéo dài mặt trận Xô-Đức. Hướng phía Nam, từ Nam Ukraina về Rumani và các nước vùng Balkan nhằm cũng có khả năng, nhưng đây chỉ là mặt trận thứ yếu. Tấn công theo hướng này trong thời điểm hiện tại cũng khiến Hồng quân kéo dài trận tuyến quá mức và phải đối phó với địa hình khó khăn vùng Balkan.
Như vậy, chỉ còn hai hướng được STAVKA cân nhắc: từ phía Tây Bắc Ukraina phát triển về hướng biển Baltic hoặc tấn công trực diện Cụm Tập đoàn quân Trung tâm ở Byelorussia. Lựa chọn thứ nhất, mặc dù được thuận lợi về địa hình phù hợp cho xe tăng - cơ giới hoá, nhưng đổi lại phải đối mặt với nguy cơ mũi tấn công bị cắt vào sườn, phản bao vây bởi lực lượng mạnh của Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraina và Cụm Tập đoàn quân Trung tâm. Sau những kinh nghiệm xương máu trong những năm trước, Stalin và các tướng lĩnh của ông hiểu rằng một đợt tấn công táo bạo như vậy là quá sức đối với Hồng quân Liên Xô, nhất là xét trong lĩnh vực chỉ huy và hậu cần.
Lựa chọn mục tiêu Byelorussia có khả năng nhất, vì việc Hồng quân trả giá đắt cho mỗi thước đất giành được từ Cụm Tập đoàn quân Trung tâm trước đó lẫn địa hình không phù hợp cho hoạt động của xe tăng - cơ giới hoá lại là tiền đề cho yếu tố bất ngờ. Thành công của hướng tấn công này sẽ hủy diệt những khối quân Đức còn chưa bị tiêu hao, cắt đứt đường rút lui Cụm Tập đoàn quân Bắc, hoàn tất việc giải phóng Liên Xô và giúp Hồng quân tiến vào Ba Lan, đóng quân ngay tại hướng trực tiếp nhất đến Berlin. Đồng thời, theo nguyên tắc chiến dịch của "Tác chiến chiều sâu", thành công của hướng tấn công chính sẽ là khởi đầu cho chiến dịch kế tiếp. Nên STAVKA dự kiến khi chiến dịch Byelorussia phát triển thuận lợi, OKH sẽ phải điều quân từ Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraina lên bịt lỗ hổng Byelorussia bất chấp Hồng quân đang tập trung một lực lượng mạnh ở khu vực này, và đây sẽ là thời điểm để tung ra chiến dịch kế tiếp ngay từ Bắc Ukraina về hướng Lvov-Sandomir.
Bộ Tổng Tư lệnh Tối cao Liên Xô cũng đã tổ chức lại lực lượng của mình và điều chỉnh lại hệ thống cán bộ chỉ huy. STAVKA chia nhỏ Phương diện quân Tây thành Phương diện quân Byelorussia 2 và 3, và hai Phương diện quân này được che sườn Bắc bởi Phương diện quân Baltic 1. Phương diện quân Byelorussia nhận thêm 3 Tập đoàn quân để trở thành Phương diện quân Byelorussia 1 - là một "siêu" Phương diện quân vì có nhiệm vụ hỗ trợ cho Phương diện quân Ukraina 1 phát triển hướng chiến dịch Lvov-Sandomir. STAVKA cũng thực hiện những cuộc điều động quân quy mô lớn: chuyển tới đến Byelorussia các đơn vị Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ số 5 và Tập đoàn quân số 28 từ Nam Ukraina, Tập đoàn quân Cận vệ số 2 và Tập đoàn quân số 51 từ mặt trận Krym; điều động tới Bắc Ukraina Tập đoàn quân Cận vệ số 8 và Tập đoàn quân Xe tăng số 2 từ Moldavia; chuyển Tập đoàn quân Cận vệ số 6 từ Phương diện quân Baltic 2 sang cho Baltic 1.
Nguyên soái Z. K. Zhukov được bổ nhiệm làm đại diện của STAVKA tại Phương diện quân Byelorussia 1 và 2 nhằm điều phối hành động của hai phương diện quân này - vì thế nguyên soái I. S. Koniev thay thế ông chỉ huy Phương diện quân Ukraina 1. Nguyên soái A. M. Vasilevsky thì điều phối Phương diện quân Byelorussia 2. Một số tướng lĩnh cũng được đề bạt lên làm Tư lệnh các Phương diện quân tham gia chiến dịch. Đại tướng I. D. Cherniakovsky được bổ nhiệm làm tư lệnh Phương diện quân Byelorussia 3, trở thành Tư lệnh phương diện quân trẻ nhất của Hồng quân. Đại tướng I. E. Petrov cũng được đề bạt làm Tư lệnh Phương diện quân Byelorussia 2, tuy nhiên do sự đàm tiếu của L. Z. Mekhils mà ông bị điều đi làm Tư lệnh Phương diện quân Ukraina 4. Người thay thế Petrov là Đại tướng G. F. Zakharov.
== Diễn biến trước trận đánh ==
=== Hoạt động nghi binh của Hồng quân ===
Nghi binh (maskirovka) là một trong những yếu lĩnh của học thuyết "Tác chiến chiều sâu", và luôn có vai trò quan trọng trong thành công của Hồng quân trong các chiến dịch phản công lẫn tấn công trong suốt thời gian từ mùa Đông 1942 cho đến mùa Xuân 1944. Tuy nhiên, trong suốt thời gian trước đó của cuộc chiến, chưa có hoạt động nghi binh nào được chuẩn bị công phu như ở chiến dịch Byelorussia.
Do thành công của chiến dịch phụ thuộc rất lớn vào việc bí mật tập trung quân dự bị và hoán chuyển vị trí của các Tập đoàn quân giữa các Phương diện quân, nên mục tiêu đầu tiên của các hoạt động nghi binh là giấu kín các hoạt động chuyển quân này, thứ nữa là củng cố niềm tin của Hitler và OKH rằng mục tiêu tấn công sắp tới của Hồng quân sẽ là miền Trung và Nam Đông Âu, chứ không phải là Byelorussia.
Để thực hiện các hoạt động nghi binh thuận lợi, bắt đầu từ giữa tháng 4, Hồng quân chuyển toàn bộ mặt trận sang phòng ngự. Mọi biện pháp giữ bí mật được triển khai: các trạm phát radio công suất lớn ngưng hoạt động; kế hoạch tấn công chỉ được phổ biến cho một số rất ít người liên quan; việc chuyển quân chỉ thực hiện ban đêm; các địa điểm tập trung quân được nguỵ trang kỹ lưỡng; quân giữ tuyến không được biết đơn vị mới đến; các đơn vị không quân mới đến không được bay trinh sát; các đơn vị tiêm kích tại chỗ thiết lập một đai tuần không cẩn mật ngăn chặn máy bay thám thính của đối phương thâm nhập.
Khác với cách nghi binh "hư hư thực thực" trong những chiến dịch trước, lần này Hồng quân sử dụng "thực mà hư" khi để lại 4/6 Tập đoàn quân Xe tăng ở khu vực Ukraina, đồng thời sử dụng một trong số các Tập đoàn quân này thực hiện một cuộc tấn công sớm về hướng Romania trong đầu tháng 5 năm 1944. Ngoài ra, các Phương diện quân ở khu vực này được lệnh tổ chức thêm các "đội quân ma" nhằm che giấu việc 2 Tập đoàn quân Xe tăng đã được điều chuyển. Các đài phát sóng radio cũng được lệnh giả lập việc tập trung quân cùng với các đoàn tàu nhộn nhịp đến khu vực này. Đai tuần không thỉnh thoảng được mở ra, cố ý để cho máy bay thám thính của đối phương thâm nhập. Ở phía Bắc, phương diện quân Baltic 3 cũng thực thi những hoạt động nghi binh tương tự nhằm lôi kéo sự chú ý của OKH ra khỏi chính diện của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm.
Nhìn chung, các hoạt động nghi binh của Hồng quân đã thành công. OKH hoàn toàn không hề hay biết việc Hồng quân đã bí mật chuyển 3 tập đoàn quân bộ binh cơ giới, 1 tập đoàn quân xe tăng và vài sư đoàn đến tăng cường cho các đơn vị đối diện với Cụm Tập đoàn quân Trung tâm. Đến tận ngày mở màn chiến dịch Bagration, phát xít Đức vẫn tin rằng Tập đoàn quân xe tăng cận vệ số 5, Tập đoàn quân xe tăng số 2, Tập đoàn quân số 5 và số 8 vẫn còn được bố trí ở phía Nam, đối diện với Cụm Tập đoàn quân Nam Ukraina.
=== Phản ứng của phía Quân đội Đức Quốc xã ===
Dựa trên suy luận rằng các mũi tấn công của Hồng quân phải có Tập đoàn quân Xe tăng làm mũi nhọn, mà các tín hiệu thu nhận từ mặt trận cho thấy cả 6 Tập đoàn quân Xe tăng đang tập trung ở khu vực Ukraina, nên OKH tiếp tục đánh giá thấp nguy cơ ở Byelorussia. Đầu tháng 5/1944, Cụm Tập đoàn quân Trung tâm đã bị lấy mất 1/3 lực lượng pháo binh, và đến cuối tháng Năm, khi OKH điều động thêm Quân đoàn Thiết giáp 56 sang tăng cường cho Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraina, thì Cụm Tập đoàn quân này chỉ còn lại một nửa số pháo chống tăng và 22 phần trăm số xe tăng.
Tuy nhiên, ở cấp độ quân đoàn trở xuống, các sĩ quan chỉ huy và tình báo Đức đã thu thập được nhiều tin tức về một cuộc tấn công quy mô lớn có thể xảy ra ở Byelorussia. Vào đầu tháng 6 năm 1944, nhờ xâm nhập trinh thám, các đơn vị của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm đã phát hiện sự tập trung quân quy mô lớn ở khu vực chiến tuyến đối diện và báo cáo về OKH. Không lâu trước khi chiến dịch mở màn, Bộ Tư lệnh của các Tập đoàn quân đã nhận diện hầu hết các đơn vị Hồng quân đối diện chiến tuyến và phán đoán được hướng tấn công của các đơn vị này - ngoại trừ các lực lượng dự bị chiến lược của STAVKA như trường hợp của Tập đoàn quân Cận vệ 6, Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 5, các Cụm cơ động Kỵ binh - Cơ giới hoá.
Có điều các sĩ quan cao cấp của OKH tiếp tục xem nhẹ các phát hiện này, họ cho rằng vẫn cho rằng việc tập trung quân này chỉ nhằm thực hiện một đòn nghi binh như các chiến dịch trước đây. Quan điểm này thể hiện trong bức công điện ngày 10 tháng 6: Mặc dù đòn tấn công nhằm vào Cụm Tập đoàn quân Trung tâm vẫn được cho là thứ yếu, chúng ta vẫn cần phải để tâm đến khả năng quân địch tập trung binh lực ngay trước chiến tuyến của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm; bởi lẽ sức mạnh của các mũi xung kích Xô Viết - nếu chỉ xét theo tỉ lệ binh lực của hai bên - đã là không thể xem thường. Ngày 19 tháng 6, bộ phận Quân báo của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm lại phát hiện mức độ tập trung cao của Không quân Xô Viết và tiếp tục báo cáo bày tỏ nghi vấn về phán đoán của OKH. Tuy nhiên, OKH tiếp tục đánh giá rằng sự nghi ngờ này không có căn cứ. Các sĩ quan cấp cao của OKH chỉ hoàn toàn nhận thức được sai lầm của họ cho đến tận ngày 25 tháng 6, lúc đó đã là vài ngày sau khi chiến dịch Bagration thật sự mở màn.
== Quân lực và kế hoạch của hai bên ==
=== Tương quan quân lực của hai bên ===
Tại khu vực mặt trận, Hồng quân có tổng cộng 2,4 triệu quân với 36.000 đại bác và súng cối, 5.200 xe tăng và pháo tự hành, 5.300 máy bay chiến đấu. Trong khi đó, quân lực của Đức Quốc xã gồm 80 vạn người, 900 xe tăng và pháo tự hành, 9.000 đại bác và cối, và 1.350 máy bay. Như thế, Hồng quân đạt ưu thế vượt trội mọi mặt, từ quân số đến vũ khí.
Tính vào ngày 22 tháng 6, Cụm Tập đoàn quân Trung tâm có 553 xe tăng và pháo tự hành, chưa tính khoảng vài trăm pháo tự hành chống tăng. Tỷ lệ xe tăng so với pháo tự hành rất thấp, ví dụ Tập đoàn quân Thiết giáp 3 chỉ có 40 xe tăng và 246 pháo tự hành, được giải thích là chỉ chuẩn bị cho phòng ngự tĩnh. Trong khi đó, Hồng quân có 2.715 xe tăng và 1.355 pháo tự hành, so sánh cho thấy tỷ lệ xe tăng - pháo tự hành gần gấp 6 lần.
Tại thời điểm bắt đầu chiến dịch, trong số 1.350 máy bay ở mặt trận, Cụm Không lực 6 của Đức Quốc xã có 839 máy bay chiến đấu, trong đó chỉ có 66 máy bay tiêm kích và 312 máy bay ném bom. Trong cùng thời điểm, Không quân Xô viết có 2.318 máy bay tiêm kích, 1.744 máy bay hỗ trợ mặt đất Shturmoviks; 655 máy bay ném bom hạng vừa; 1.007 máy bay ném bom chiến lược (trực thuộc STAVKA); 431 máy bay ném bom hạng nhẹ ban đêm. Với số lượng gấp nhiều lần, Không quân Xô viết hoàn toàn làm chủ bầu trời và hầu như tự do oanh kích mọi nơi, mọi lúc.
=== Bố trí phòng thủ của Quân đội Đức Quốc xã ===
Lực lượng của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm dưới quyền thống chế Ernst Busch (từ 28 tháng 6 là thống chế Otto Moritz Walter Model) bao gồm Tập đoàn quân Thiết giáp số 3, Tập đoàn quân Bộ binh số 4, số 9 và số 2 được yểm trợ của Cụm Không quân 6. Ở thời điểm chiến dịch bắt đầu, Cụm Tập đoàn quân Trung tâm có 34 sư đoàn bộ binh, 2 sư đoàn dã chiến của Không quân, 7 sư đoàn an ninh hậu tuyến, 2 sư đoàn cơ giới hoá (chưa tính tàn quân của sư đoàn Feldherrnhalle) và 1 sư đoàn thiết giáp. Tổng cộng quân lực gồm 400.000 quân chiến đấu và 400.000 quân trong các đơn vị hỗ trợ. Do phòng tuyến dài, nên mỗi sư đoàn phải đảm nhận trung bình 14 km, mỗi km chiều dài có 10 pháo trực xạ và cối, 1 pháo và 1 xe tăng hoặc pháo tự hành. Những khoảng hở giữa các tiểu đoàn đóng quân trên trận tuyến chỉ được bao phủ bằng các cứ điểm trinh sát động tĩnh quân địch và bằng các đội tuần tra hoạt động theo phiên trực.
Dầu sao, nhờ thời gian ngưng chiến khá lâu trước đó, nên phòng tuyến được kiên cố hoá bằng 3-5 lớp chiến hào, nhiều ụ hoả điểm và bãi mìn, với chiều dày khoảng 5–6 km. Tuy nhiên, do mật độ quân lực phòng thủ thấp, nên Cụm Tập đoàn quân Trung tâm chỉ có 3 sư đoàn dự bị, trong đó sư đoàn Thiết giáp 20 đã bị tiêu hao và sư đoàn cơ giới hoá Feldherrnhalle đã bị thiệt hại nặng đều chưa được bổ sung. Các thành phố quan trọng chỉ được phòng thủ bằng các đơn vị hậu tuyến. Cho nên, một khi khu vực chiến thuật của phòng tuyến đã bị đục thủng, thì Cụm Tập đoàn quân không đủ quân để bịt cửa đột phá. Hơn nữa, một phần đáng kể lực lượng Đức đã bị hoạt động của các đội du kích Liên Xô trói chân tại hậu phương.
=== Kế hoạch tấn công của Hồng quân ===
Kế hoạch ban đầu của STAVKA được phác thảo với ý đồ bao vây tiêu diệt phần lớn Cụm Tập đoàn quân Trung tâm Đức Quốc xã bằng 2 mũi chủ công thọc sâu: Mũi Đông Bắc của Phương diện quân Byelorussia 3 qua Orsha xuyên giữa Tập đoàn quân Thiết giáp 3 và Tập đoàn quân 4 của Đức Quốc xã về phía Tây Bắc Minsk, còn mũi Đông Nam của Phương diện quân Byelorussia 1 qua khu đầm lầy Nam Bobruysk xuyên giữa Tập đoàn quân 9 và Tập đoàn quân 2 theo hướng Slutsk tới Baranovichi rồi vòng lên phía Bắc. Hai mũi dự kiến sẽ hợp vây tại Tây Minsk. Trong khi đó, mũi phụ công của Phương diện quân Baltic 1 cắt qua giữa 2 Cụm Tập đoàn quân Bắc và Trung tâm theo hướng Polotsk-Glubokoe, vừa để bảo vệ sườn phải cho mũi Đông Bắc đồng thời kẹp chủ lực của Tập đoàn quân Thiết giáp 3 vào giữa, còn PQD Byelorussia 2 trợ công hướng Đông, ghim giữ Tập đoàn quân 4.
Tuy nhiên, trong cuộc họp chung giữa STAVKA với các Tư lệnh Phương diện quân vào ngày 22-23 tháng 5, một vấn đề được nhận diện là các mũi thọc sâu chiến dịch có thể gặp nguy hiểm nếu các lực lượng phòng thủ vòng ngoài của đối phương chưa bị tiêu diệt. Do đó, các mũi thọc sâu chiến thuật cũng sẽ được tổ chức tại Vitebsk và Bobruisk để bao vây tiêu diệt Tập đoàn quân Thiết giáp 3 và Tập đoàn quân 9 của Đức Quốc xã.
Mũi thọc sâu chủ công Đông Bắc của Phương diện quân Byelorussia 3 được giao Tập đoàn quân Xe tăng 5 và Cụm cơ động Kỵ binh - Cơ giới hoá Oslikovsky, còn mũi Đông Nam của Phương diện quân Byelorussia 1 được giao Cụm cơ động Kỵ binh - Cơ giới hoá Plyev. Các mũi thọc sâu chiến thuật được thực hiện bởi Quân đoàn Xe tăng 1 được phối thuộc cho Tập đoàn quân Cận vệ 6 thuộc Phương diện quân Baltic 1, Quân đoàn Xe tăng Cận vệ 2 được phối thuộc cho Tập đoàn quân Cận vệ 11 thuộc Phương diện quân Byelorussia 3, Quân đoàn Xe tăng Cận vệ 1 và 9 được phối thuộc cho Tập đoàn quân 65 và 3 thuộc Phương diện quân Byelorussia 1. Hoạt động của Phương diện quân Baltic 1 và Phương diện quân Byelorussia 3 được phối hợp bởi đại diện của STAVKA là Nguyên soái A. M. Vasilevsky, hoạt động của Phương diện quân Byelorussia 1 và 2 được phối hợp bởi đại diện STAVKA là Nguyên soái K. G. Zhukov.
STAVKA bắt đầu đưa ra những chỉ thị cơ bản về kế hoạch của chiến dịch vào ngày 31 tháng 5 năm 1944. Trái với những kế hoạch tấn công trước đó, lần này STAVKA biết giới hạn tham vọng của mình và chỉ đưa ra những mục tiêu vừa sức với các Phương diện quân tham gia chiến dịch. Thật vậy, sự thành công ngoài mong đợi của chiến dịch Bagration đã khiến các chỉ huy Liên Xô bị bất ngờ và họ phải thực thi những thay đổi trong kế hoạch nhằm hướng tới những mục tiêu sâu hơn và xa hơn so với ban đầu.
Theo học thuyết "Tác chiến chiều sâu", mỗi chiến dịch gồm 3 giai đoạn: tấn công khu vực chiến thuật của phòng tuyến; vận động thọc sâu vào tung thâm bao vây tiêu diệt và cuối cùng là triển khai chiến dịch kế tiếp để khai thác chiến quả. Tương ứng với học thuyết, chiến dịch Bagration cũng chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 bắt đầu từ 23 tháng 6 đến 29 tháng 6, giai đoạn 2 từ 28 tháng 6 đến 5 tháng 7, giai đoạn 3 từ 5 tháng 7 đến 29 tháng 8.
== Giai đoạn 1: Tấn công khu vực chiến thuật của phòng tuyến ==
Ban đầu, thời gian tấn công được STAVKA dự kiến trong khoảng từ ngày 15 đến 20 tháng Sáu. Vì quy mô lực lượng ở mặt trận quá lớn, công tác đảm bảo hậu cần không theo kịp, nên Stalin quyết định dời ngày bắt đầu chiến dịch đến ngày 23 tháng 6. Tuy nhiên, ngày 22 tháng 6 năm 1944, đúng vào ngày Quân đội Đức Quốc xã bắt đầu chiến dịch Barbarossa 3 năm về trước, Hồng quân bắt đầu nổ súng thăm dò trên toàn mặt trận, đồng thời lôi kéo quân Đức ra bố phòng ở các tuyến phòng ngự bên ngoài, tăng hiệu quả sát thương của đợt bắn phá bằng pháo binh trong ngày hôm sau. Riêng ở khu vực đột phá của Phương diện quân Baltic 1, đợt tấn công thăm dò thuận lợi nên phát triển luôn thành cuộc tấn công chính.
Tối ngày 22 tháng 6, Hồng quân bắt đầu làm mềm phòng tuyến đối phương bằng 1.000 lượt xuất kích của lực lượng Không quân chiến lược đánh vào các điểm tập trung quân và các khẩu đội pháo của đối phương. Đúng 5:00 sáng ngày 23 tháng 6, pháo binh tiếp nối không quân bằng loạt pháo chuẩn bị kéo dài suốt 2 giờ ở mật độ gần như bão hoà. Đặc biệt, ở khu vực phòng tuyến đối diện của Phương diện quân Byelorussia 1 và 3, loạt bắn chuẩn bị là "chưa từng thấy trong cả cuộc chiến tranh" - theo lời của lính Đức Quốc xã sau đó.
Sau loạt pháo lại đến lượt Không quân tiếp tục oanh kích ở các tuyến trong khi lực lượng của cả 4 Phương diện quân tấn công đột phá ở 6 đoạn chiến tuyến. Ở các khu vực đột phá, các đội công kiên gồm có công binh, bộ binh, pháo binh, có pháo tự hành lần lượt hạ từng ổ hoả điểm. Sau lưng các đội công kiên là thê đội cơ động gồm các Quân đoàn Xe tăng và Cụm kỵ binh-cơ giới hoá sẵn sàng khai thác cửa mở để vận động thọc sâu. Các đợt tấn công của Hồng quân được yểm trợ mạnh mẽ bằng hỏa lực của pháo binh và không quân, đồng thời hệ thống đèn pha và pháo sáng làm lóa mắt quân Đức và soi đường cho các mũi đột phá.
=== Khu vực Vitebsk-Orsha ===
Phương diện quân Baltic 1 và Phương diện quân Byelorussia 3 nhận nhiệm vụ tấn công mặt Đông Bắc, mà Vitebsk là vị trí phòng thủ chính của Tập đoàn quân Thiết giáp 3. Ngay ngày đầu tiên, hai Phương diện quân đã chọc thủng tuyến phòng ngự. Phía Bắc Vitebsk, Phương diện quân Baltic 1 đưa Quân đoàn Xe tăng 1 nhập cuộc ngay trong ngày, nhanh chóng đẩy Quân đoàn 9 Đức Quốc xã sang bờ Tây sông Dvina, chặn đường rút của Quân đoàn 53 tại Vitebsk, phát triển về hướng Lepel rồi giải phóng thành phố vào ngày 28 tháng 6. Ở Nam Vitebsk, sau khi đột phá phòng tuyến của Quân đoàn 6 và đánh tan Quân đoàn này, các Tập đoàn quân thuộc Phương diện quân Byelorussia 3 đưa các lữ đoàn xe tăng phối thuộc tràn qua cửa mở. Trong khi Tư lệnh Quân đoàn 53 Đức Quốc xã đang xin phép bỏ lệnh tử thủ, thì 2 Phương diện quân đã nhanh chóng vận động hình thành 2 gọng kìm hợp vây Vitebsk. Ngày 27 tháng 6, cả 2 Phương diện quân hợp lực thanh toán túi Vitebsk chứa 28'000 quân, giải phóng thành phố.
Trong thời gian này, hướng Orsha gặp khó khăn. Vì khu vực này án ngữ trục giao thông Moskva-Minsk nên được bảo vệ bởi các đơn vị được trang bị tốt nhất của Quân đoàn 27 thuộc Tập đoàn quân 4 Đức, khiến cho Tập đoàn quân Cận vệ 11 của Phương diện quân Byelorussia 3 tiến rất chậm. Không chờ mở xong cửa đột phá, chỉ huy Tập đoàn quân Cận vệ 11 đưa Quân đoàn Xe tăng Cận vệ 2 qua khu vực đầm lầy ở phía Bắc chính diện đột phá, tìm đường vòng xuống vu hồi Orsha. Bị uy hiếp bao vây nên Tư lệnh Quân đoàn 27 phải rút bỏ Orsha trái lệnh tử thủ của Hitler. Ngày 27 tháng 6 Orsha sụp đổ, Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 5 và Cụm Kỵ binh - Cơ giới hoá Olikovsky thông đường hành tiến và đến bờ sông Berezina vào ngày 28 tháng 6.
=== Khu vực Mogilev ===
Nhiệm vụ chính của Phương diện quân Belorussia 2 là ghim giữ chủ lực của Tập đoàn quân số 4 (Đức) tại khu vực phòng tuyến Mogilev, không cho lực lượng này chuyển sang các hướng khác hay kịp rút về Minsk. Sau đợt pháo bắn chuẩn bị sáng ngày 23 tháng 6 năm 1944, Phương diện quân tấn công dữ dội vào khu vực phòng thủ của Quân đoàn thiết giáp 39 và Quân đoàn 12 - hai quân đoàn mạnh nhất của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm. Đến ngày 25, chính diện phòng tuyến đã bị xuyên thủng, đồng thời Tập đoàn quân Thiết giáp 3 lẫn Tập đoàn quân 9 đóng ở hai bên vai đang sụp đổ. Đối diện với nguy cơ bị bao vây, Tư lệnh Tập đoàn quân 4 phải chủ động cho 2 quân đoàn này từng bước lùi về tuyến 2, chỉ để lại một sư đoàn bộ binh giữ Mogilev theo lệnh tử thủ của Hitler. Sau 4 ngày kịch chiến, Tập đoàn quân 49 của Phương diện quân đã vượt sông Dnepr, cắt đường rút của sư đoàn tử thủ Mogilev. Ngày hôm sau, sư đoàn này bị tiêu diệt, Mogilev được giải phóng. Đại bộ phận 2 quân đoàn Đức Quốc xã kịp lui về bên kia sông Berezina nhưng chưa biết hai cánh chủ công Phương diện quân Belorussia 1 và 3 đang hình thành 2 gọng kìm bọc lưng.
=== Khu vực Bobruysk ===
Phương diện quân Belorussia 1 mở 2 cửa đột phá ở Đông và Nam Bobruysk để hình thành 2 cánh hợp vây Tập đoàn quân số 9 Đức Quốc xã. Trong ngày đầu tiên, khu vực Đông Bobruysk tiến triển chậm nên cuối ngày, Rokossovsky ra lệnh tạm ngưng tấn công, tăng cường không kích và bắn phá bằng pháo rồi mở lại cuộc tấn công vào sáng hôm sau. Các đơn vị công binh Hồng quân đã bí mật xây dựng những con đường bằng gỗ băng qua khu đầm lầy phía Đông sông Ptsich; vì thế quân Đức đã bị bất ngờ trước sự xuất hiện đột ngột của Hồng quân tại khu vực này. Với sự hỗ trợ hiệu quả của hoả lực, đến chiều tối thì Tập đoàn quân 3 chọc thủng phòng tuyến, khiến Tư lệnh Tập đoàn quân 9 vội điều lực lượng dự bị duy nhất là Sư đoàn Thiết giáp 20 đến bịt lỗ thủng. Giữa lúc đó Tập đoàn quân số 65 cũng đột phá thành công ở Nam Bobruysk và đưa ngay Quân đoàn Xe tăng Cận vệ 1 vào cửa mở. Lo lắng vì mũi xe tăng, Tư lệnh Tập đoàn quân 9 vội ra lệnh cho Sư đoàn Thiết giáp 20 quay về hướng Nam và bị kẹt giữa loạn quân đang rút lui. Tận dụng thời gian, Quân đoàn Xe tăng Cận vệ 1 đưa Thê đội tiên phong đón đánh cầm chân Sư đoàn Thiết giáp 20 để đơn vị chính tiếp tục thọc sâu về Bobruysk. Giữa lúc này, Phương diện quân tung Quân đoàn Xe tăng 9 vào tham chiến qua cửa mở của Tập đoàn quân 3, nhanh chóng vận động hình thành gọng kìm Bắc Bobruysk.
Ngày 26 tháng 6, hai Quân đoàn Xe tăng đã chiếm được cây cầu độc đạo qua sông Berezina, cắt đường rút của Tập đoàn quân 9 Quân đội Đức Quốc xã và tạo tiền đề cho Cụm Kỵ binh - Cơ giới hoá Pliev hành tiến về Slusk để chiếm trục giao thông qua đầm lầy Prypiat. Hôm sau, các Tập đoàn quân bộ binh từ hai hướng cũng kịp hợp điểm, dồn 2 quân đoàn Đức với 40.000 quân vào túi phía Đông Bobruysk dưới trận mưa bom của Không quân Xô Viết. Trong ngày 28 tháng 9, khoảng 8-15.000 quân chạy thoát nhờ Sư đoàn Thiết giáp 12 được điều từ Cụm Tập đoàn quân Bắc xuống hỗ trợ phá vây, nhưng phần lớn bị mắc lại. Hôm sau, 29 tháng 6, Phương diện quân Belorussia 1 hoàn toàn làm chủ Bobruysk, tiêu diệt 50.000 quân, bắt 20.000 tù binh. Với mục tiêu Bobruysk hoàn thành sớm hơn dự kiến, 2 Quân đoàn Xe tăng tiếp tục dẫn đầu cuộc tấn công thọc sâu về hướng Minsk.
== Giai đoạn 2: Vận động thọc sâu vào tung thâm ==
Sau khi đánh tan các khu vực phòng ngự chiến thuật, các Phương diện quân Hồng quân nhanh chóng tổ chức các mũi thọc sâu: Phương diện quân Baltic 1 đánh chiếm Polotsk-Glubokoe để tiếp tục khoét sâu kẽ hở giữa Cụm Tập đoàn quân Bắc và Cụm Tập đoàn quân Trung tâm; chủ lực của các Phương diện quân Byelorussia 1,2,3 tấn công theo các trục giao nhau tại Minsk nhằm hợp điểm bao vây Quân đoàn 4 của Quân đội Đức Quốc xã; một cánh của Phương diện quân Byelorussia 1 tấn công theo trục Slutsk-Baranovichi để cô lập Minsk từ phía Nam. Các chiến dịch này bắt đầu từ ngày 29 tháng 6 và kết thúc vào ngày 4 tháng 7 năm 1944, lúc mà hầu hết các mục tiêu đã cơ bản hoàn thành (trừ Baranovichi).
=== Chiến dịch Polotsk-Glubokoe ===
Sau khi hợp lực với Phương diện quân Byelorussia 3 thanh toán cứ điểm phòng ngự Vitebsk xong, Phương diện quân Baltic 1 nhanh chóng tiến về hướng Polotsk - một nút giao thông quan trọng ở Tây Bắc nhằm làm bàn đạp cho các chiến dịch kế tiếp - truy kích sát nút lực lượng còn lại của Tập đoàn quân Thiết giáp 3. Trên đường hành tiến, Phương diện quân Baltic 1 vừa tấn công các ổ phòng ngự vừa chạy đua với tàn quân Đức Quốc xã, kịp đến Polotsk sáng sớm 1 tháng 7. Ở đây, quân Đức dựng vội một đai phòng ngự ngoại vi bằng các đơn vị hậu tuyến cùng với 3 Sư đoàn thuộc Tập đoàn quân 16 được điều từ Cụm Tập đoàn quân Bắc xuống, yểm trợ cho tàn quân rút vào bên trong. Phòng tuyến tạm thời này không trụ được lâu: ngày 2 tháng 7, sau một ngày công kích Tập đoàn quân xung kích 4 và Tập đoàn quân Cận vệ 6 đã đột nhập thành công và quét sạch quân đội Đức Quốc xã ở bờ Nam sông Dvina Tây. Chiều hôm đó, một đơn vị của Tập đoàn quân Cận vệ 6 đã chiếm được cầu gỗ còn lại trên sông Dvina Tây, kịp đưa quân sang bờ Bắc lập đầu cầu trước khi cầu bị quân Đức phá sập. Sáng 3 tháng 7, một quân đoàn thuộc Tập đoàn quân 6 tận dụng đầu cầu vượt sông và bắt đầu cuộc chiến đường phố. Sau một ngày kịch chiến, lực lượng Đức Quốc xã phòng thủ Polotsk bị thiệt hại nặng, buộc phải rút chạy về phía Tây Bắc, thành phố được giải phóng.
Trong thời gian diễn ra trận đánh Polotsk, thì Tập đoàn quân 43 cùng với Quân đoàn Xe tăng Cận vệ 1 chiếm Glubokoe trong hành tiến, sau đó tiếp tục phát triển về hướng Tây đến Dissna. Đến chiều 4 tháng 7, thì Phương diện quân Baltic 1 đã tiến sâu trung bình 120–140 km, tiêu diệt được 37.000 quân đối phương, bắt 7.000 tù binh cùng với nhiều chiến lợi phẩm.
=== Chiến dịch Minsk ===
Ở mặt Đông Bắc, ngay khi thanh toán xong Orsha, mở thông trục lộ Moskva-Minsk, Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 5 cùng Cụm kỵ binh - cơ giới hoá của Phương diện quân Belorussia 3 chạy đua chiếm giữ đầu cầu vượt sông Berezina, theo sau là Quân đoàn Xe tăng Cận vệ 2 của Tập đoàn quân Cận vệ 11. Đến lúc này, OKH mới nhận thức được mức độ nghiêm trọng, vội điều Sư đoàn thiết giáp 5 từ Ukraina lên chặn mũi chủ công Đông Bắc của Hồng quân, yểm trợ cho Tập đoàn quân 4 rút về bờ Tây sông Berezina.
Cuộc chiến vượt sông ở cánh Đông Bắc diễn ra ác liệt khi đến ngày 30 tháng 6 Sư đoàn thiết giáp 5 mới bị đẩy khỏi bờ sông lùi về giữ Borisov. Trong lúc Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 5 đang giao chiến với Sư đoàn thiết giáp 5, thì Quân đoàn Cơ giới hoá Cận vệ 3 vượt sông Berezina thành công ở phía Bắc, cắt tuyến đường sắt Borisov-Vileika và triển khai vu hồi Borisov. Bị uy hiếp bao vây, Sư đoàn Thiết giáp 5 phải lùi về giữ tuyến đường sắt Tây Minsk. Chiều 1 tháng 7, Borisov được giải phóng, cụm Kỵ binh - cơ giới hoá tiếp tục phát triển về hướng Molodechno.
Trong lúc Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 5 đang bị giữ chân ở Borisov thì Quân đoàn Xe tăng Cận vệ 2 vòng phía Nam Borisov, tìm được đường trống chạy đua về Minsk và tiến vào thành phố sáng sớm ngày 3 tháng 7. Đến đầu chiều cùng ngày thì Quân đoàn Xe tăng Cận vệ 1 của Phương diện quân Byelorussia 1 cũng kịp tới Minsk từ hướng Đông Nam. Hai cánh quân hợp lực trong cuộc chiến đường phố, sau một ngày thì quét sạch các đơn vị chặn hậu của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm, giải phóng Minsk. Trong cùng khoảng thời gian, Tập đoàn quân 31 và Cận vệ 11 của Phương diện quân Byelorussia 3 đã gặp Tập đoàn quân 3 của Phương diện quân Byelorussia 1 ở ngoại ô phía Đông thành phố Minsk, thắt miệng túi bao quanh Tập đoàn quân 4 Đức Quốc xã trong khi Phương diện quân Byelorussia 2 đang siết chặt túi từ hướng Đông.
Đến lúc này, Cụm Tập đoàn quân Trung tâm đã mất 25 sư đoàn với 30 vạn quân, chưa tính 10 vạn quân trong túi khi cuộc thanh toán hoàn thành vào ngày 11 tháng 7.
=== Chiến dịch Slutsk-Baranovichi ===
Slutsk là một mục tiêu quan trọng ở phía Nam mặt trận: đây là điểm nút của các đường giao thông phía Bắc khu vực đầm lầy Prypiat và là bàn đạp cho cánh trái của Phương diện quân Belorussia 1 triển khai hỗ trợ hướng Lvov-Sandomir của Phương diện quân Ukraina 1. Ngày 26 tháng 6 được đưa vào tham chiến qua cửa mở Nam Bobruysk, thì đến ngày 29 tháng 6, Cụm Cơ động Kỵ binh - Cơ giới hoá Plyev của Phương diện quân được sự hỗ trợ của Tập đoàn quân 65 và 28 chiếm Slutsk trong hành tiến. Lúc này, do hướng tấn công đang phát triển thuận lợi về Minsk, nên thay vì chiếm Baranovichi rồi tiến về Minsk như kế hoạch, thì Quân đoàn Kỵ binh được lệnh quay về Bắc, cắt tuyến đường sắt phía Nam Minsk, trong khi Quân đoàn Cơ giới hoá tiếp tục hành tiến về hướng Baranovichi.
Ngày 3 tháng 7, thì Quân đoàn Cơ giới hoá tiến đến Baranovichi ở mặt Nam, thì Quân đoàn Xe tăng 9 rời Minsk tiến về Baranovichi từ mặt Đông Bắc. Lúc này, Baranovichi được phòng thủ bởi các đơn vị của Tập đoàn quân 2 và tàn quân của Tập đoàn quân 9 được tăng cường thêm Sư đoàn Thiết giáp 4 thành một cụm phòng ngự mạnh. Ngày 6 tháng 7, 3 Tập đoàn quân 65, 28 và 48 đến kịp và tham chiến từ mặt Đông. Sáng 7 tháng 7, sau một đợt bắn phá bằng pháo binh và không quân, Quân đoàn Xe tăng 9 và Tập đoàn quân 48 chọc thủng tuyến phòng ngự phía Đông Bắc thành phố, trong khi Quân đoàn Kỵ binh vận động tập hậu mặt Tây Bắc. Bị uy hiếp bao vây, lực lượng Đức Quốc xã phòng thủ buộc phải rút chạy. Baranovichi được giải phóng cùng ngày.
== Giai đoạn 3: Khai thác chiến quả hướng Tây mặt trận ==
Trong ngày 28 tháng 6, nhận thấy mặt trận Byelorussia phát triển thuận lợi, STAVKA chỉ đạo các Phương diện quân phải tiến xa hơn về phía Tây. Đây là giai đoạn phát huy chiến quả của chiến dịch Byelorussia và phạm vi lan rộng ra lãnh thổ các nước cộng hoà vùng Baltic và Ba Lan. Giai đoạn này bắt đầu khi túi Đông Minks đã được thắt, việc thanh toán túi được giao cho Phương diện quân Byelorussia 2 còn và Phương diện quân Byelorussia 1 và 3 bắt tay ngay vào việc truy kích đối phương rút chạy. Như thế, giai đoạn này có thể được coi là bắt đầu khoảng ngày 5 tháng 7 và hoàn thành vào ngày 29 tháng 8 năm 1944.
Ngày 28 tháng 6, Thống chế Walter Model được bổ nhiệm thay thế Ernst Busch làm Tư lệnh của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm. Sau khi mặt trận Byelorussia sụp đổ, Model tổ chức mới Tập đoàn quân số 2 và số 4 bao gồm Sư đoàn Thiết giáp 7 được điều tăng viện từ mặt trận Ukraina cộng với tàn quân của Tập đoàn quân 4, 9, Thiết giáp 3 để lập tuyến đứng chân theo trục Vilnius - Lida - Baranovichi .
Mặc dù lúc này Hồng quân cũng đã tiêu hao nhưng vẫn còn sức chiến đấu so với đối phương đã mất ý chí. Vì thế, các Phương diện quân tranh thủ cơ hội tổ chức tiếp 5 chiến dịch liên hoàn ở Šiauliai, Vilnius, Kaunas, Belostok-Osovets và Lublin-Brest, phá vỡ ý đồ phòng ngự của Quân đội Đức Quốc xã, chiếm bàn đạp cho các chiến dịch sau.
=== Chiến dịch Šiauliai ===
Cuối tháng 6, các đơn vị tiền phương của Phương diện quân Baltic đã có mặt ở sông Duyna và truy kích tàn quân của Tập đoàn quân Thiết giáp 3 về hướng Kaunas. Lúc này, 2 Quân đoàn của Cụm Tập đoàn quân Bắc trấn giữ hành lang nối Cụm Tập đoàn quân Bắc và Trung tâm đã chống trả dữ dội, ngăn bước tiến của Phương diện quân Baltic 1. Đến ngày 14 tháng 7, nhận thêm 2 Tập đoàn quân trong lực lượng dự bị của STAVKA và Quân đoàn Cơ giới hoá Cận vệ số 3 từ Phương diện quân Belorussia 3, Phương diện quân Baltic 1 đổi hướng tấn công về Šiauliai, một thành phố của Litva. Đến ngày 22 tháng 7, Phương diện quân chiếm Panevežys, một nút giao thông quan trọng và đến ngày 27 thì giải phóng Šiauliai. Không dừng lại ở đó, Phương diện quân tiếp tục tiến công và đến ngày 30 tháng 7 thì tới bờ vịnh Riga, cắt đứt Cụm Tập đoàn quân Bắc khỏi Cụm Tập đoàn quân Trung tâm.
Giữa tháng 8, Quân đội Đức Quốc xã sử dụng các sư đoàn thiết giáp tăng viện mở 2 cuộc phản công Doppelkopf và Cäsar để lấy lại tuyến liên lạc giữa 2 Cụm Tập đoàn quân. Mặc dù tạm thời đẩy lui Hồng quân khỏi Riga và mở được một hành lang hẹp giữa hai Cụm Tập đoàn quân, nhưng mọi nỗ lực lấy lại nút giao thông Šiauliai đều thất bại khi Phương diện quân Baltic 1 kịp thời thiết lập một đai phòng ngự chiều sâu vững chắc bên ngoài thành phố.
=== Chiến dịch Vilnius ===
Chiến dịch Vilnius do Phương diện quân Belorussia 3 tiến hành với mục tiêu là hoàn tất những gì mà chiến dịch Minsk còn dang dở: tiêu diệt tàn binh của Tập đoàn quân Thiết giáp 3 và Tập đoàn quân 4 của Quân đội Đức Quốc xã. Lúc này, tàn quân của Tập đoàn quân 4 cùng với sư đoàn thiết giáp 5 tổ chức tử thủ Molodechno, điểm nút của nhiều tuyến đường ray quan trọng, án ngữ đường tới Vilnius. Ngày 5 tháng 7, Tập đoàn quân Cận vệ 11, Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 5 và Quân đoàn kỵ binh Cận vệ 3 đã lấy được thành phố. Quân Đức tiếp tục triệt thoái về phía Vilnius và Phương diện quân Belorussia 3 truy kích sát nút. Ngày 7 tháng 7, thành phố bị bao vây. Ngày hôm sau, cùng với Tập đoàn quân Ba Lan Armia Krajowa, các đơn vị của Phương diện quân bắt đầu cuộc chiến đường phố để thanh toán túi. Sau một trận đánh kéo dài 4 ngày, vào ngày 12 tháng 7 Hồng quân bất ngờ bị Sư đoàn Thiết giáp 6 tập kích từ phía Tây, để 3'000 quân chạy thoát trước khi kịp hàn vòng vây. Tuy nhiên, khi thành phố giải phóng vào ngày hôm sau thì phần lớn quân phòng thủ, khoảng 12'000-13'000 quân đã bị tiêu diệt.
=== Chiến dịch Kaunas ===
Ðầu tháng 7, nhận được lệnh của STAVKA phát triển về hướng Tây, Phương diện quân Byelorussia 3 chuyển Quân đoàn Cơ giới hoá Cận vệ 3 cho Phương diện quân Baltic 1 và nhận lại Tập đoàn quân 39 đang ở gần Kaunas. Do Kaunas là bình phong che mặt Đông Phổ, nên hướng này được tập trung phòng ngự bởi Tập đoàn quân Thiết giáp 3 và Tập đoàn quân 4 mới được tổ chức lại của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm. Đối mặt với một lực lượng mạnh, nên chỉ sau khi đã hoàn thành mục tiêu Vilnius, Phương diện quân Byelorussia 3 mới tập trung đủ quân lực cho mục tiêu này. Ngày 28 tháng 7, toàn bộ Phương diện quân bước vào tấn công và sau 2 ngày đã đột phá thành công tuyến phòng thủ theo hướng ra sông Neman. Quân đoàn Xe tăng Cận vệ 2 được đưa vào cửa mở, nhanh chóng vận động về phía Vilkaviškis đe dọa bao vây Kaunas, buộc quân đội Ðức Quốc xã đang phòng thủ phải rút lui. Sáng ngày 1 tháng 8, Kaunas được giải phóng.
Trong suốt tháng Tám, Phương diện quân Byelorussia 3 đánh lui các cuộc phản công ngắn của Tập đoàn quân Thiết giáp 3, đồng thời tiến đến biên giới Đông Phổ dọc theo tuyến Kybartai - Suwałki trước khi chuyển sang phòng ngự để chỉnh đốn và bổ sung quân lực.
=== Chiến dịch Belostock-Osovets ===
Khi việc thanh toán túi Đông Minsk đang sắp xong, Phương diện quân Byelorussia 2 để Tập đoàn quân 49 ở lại và chuyển Tập đoàn quân 50 sang mục tiêu Grodno, án ngữ đường tới Belostock. Ngày 16 tháng 7, Tập đoàn quân 50 chiếm được Grodno từ tay tàn quân của Tập đoàn quân số 4 Đức Quốc xã. Vào lúc này, Sư đoàn Thiết giáp 19 mới được điều đến đã phản công, tìm cách chặn trục giao thông Grodno-Belostok. Với sự phối hợp của Quân đoàn kỵ binh cơ giới 3, Tập đoàn quân 50 đã đẩy lui cuộc phản công, găm giữ lực lượng Đức Quốc xã để Tập đoàn quân 3 thuộc Phương diện quân Byelorussia 1 tiến quân đến Belostock và giải phóng thành phố vào ngày 27 tháng 7.
Ngay sau khi chiến dịch Belostock kết thúc, Phương diện quân Byelorussia 2 tiến công tiếp thành phố Osovets (Osowiec Twierdza) nằm trên một trong những phụ lưu của sông Narev. Hệ thống phức hợp pháo đài lớn tại đây là một trong những chốt chặn án ngữ con đường tiến vào các khu đầm lầy của Đông Phổ. Vào ngày 14 tháng 8, sau một trận oanh kích dữ dội của Không quân, các đơn vị của Phương diện quân đã đột nhập thành công và chiếm được thành phố.
=== Chiến dịch Lublin-Brest ===
Chiến dịch Lublin-Brest do cánh trái của Phương diện quân Byelorussia 1 thực hiện, kéo dài từ ngày 18 tháng 7 đến 2 tháng 8, với mục đích khai thác chiến quả của chiến dịch Bagration theo hướng Tây Ba Lan và sông Wisla, đồng thời hỗ trợ cho mũi tấn công của Phương diện quân Ukraina 1. Ngày 18 tháng 7, cả 5 Tập đoàn quân đồng loạt nổ súng, chỉ sau vài giờ đã đột phá xong phòng tuyến của Tập đoàn quân Thiết giáp 4 thuộc Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraina, tạo điều kiện cho lực lượng cơ động tham chiến. Ngày 21 tháng 7, Tập đoàn quân Cận vệ 8 và 47 tiến tới bờ sông Bug Tây, hôm sau Tập đoàn quân Xe tăng 2 bắt đầu hành tiến về Lublin và sông Wisla, trong khi Quân đoàn Xe tăng 11 và Quân đoàn Kỵ binh Cận vệ 2 vu hồi Siedlce ở Tây Bắc, cắt đường rút của lực lượng Ðức phòng thủ Brest và Bialystok. Lublin được giải phóng ngày 24 tháng 7, còn Brest vào ngày 28 tháng 7.
Ngày 25 tháng 7, Tập đoàn quân Cận vệ 8 và Tập đoàn quân xe tăng 2 tiến tới bờ phải Wisla, và ngày 2 tháng 8 các đơn vị cánh phải của Phương diện quân Byelorussia 1 chiếm được các bàn đạp vượt sông ở Magnuszew và Pulawy. Trước đó, vào ngày 28 tháng 7, Tập đoàn quân xe tăng 2 chạm trán với sư đoàn bộ binh 73 và sư đoàn thiết giáp SS Herman Goering của Đức và bắt đầu một cuộc chiến nhằm đoạt lấy con đường dẫn vào Warszawa ở phía Đông. Ngày 29 tháng 7, Tập đoàn quân xe tăng 2 tung quân đoàn xe tăng Cận vệ 8 và quân đoàn xe tăng 3 lên phía Đông Bắc Warszawa nhằm mở một mũi vu hồi ở đây, trong khi đó quân đoàn xe tăng 16 tấn công từ phía Đông Nam. Mũi tiến công của quân đoàn xe tăng Cận vệ 8 tiến sát tới thủ đô Ba Lan (chỉ còn cách 20 cây số) nhưng các đợt phản kích quyết liệt của quân Đức khiến đà tấn công của Hồng quân bị chững lại. Ngày 2 và 3 tháng 8 các sư đoàn thiết giáp số 4 và sư đoàn thiết giáp SS Viking của Đức cũng được tung vào mặt trận. Tập đoàn quân xe tăng 2 đã phải chiến đấu quyết liệt suốt nhiều ngày, liên tục đánh lui các đợt phản kích của quân Đức cho đến khi tập đoàn quân 47 kịp thời tham chiến (5 tháng 8) và ổn định mặt trận. Tuy nhiên sau một thời gian dài chiến đấu, lực lượng đã bị tiêu hao nên Hồng quân đã chuyển sang phòng ngự để nghỉ củng cố và bổ sung lực lượng.
== Ý nghĩa của chiến dịch ==
Chiến dịch Bagration được xem là chiến thắng vĩ đại nhất của Hồng quân Liên Xô - được coi là "bậc thầy" về chiến tranh vây bọc thời đó, tiêu diệt "Cụm Tập đoàn quân Trung tâm của phát xít Đức. Thắng lợi ấy đã đặt nền tảng cho những chiến thắng liên tiếp sau đó của quân Nga, góp phần giải phóng toàn bộ Liên Xô.
=== Ý nghĩa chiến lược của chiến dịch ===
Chiến dịch này đã giải phóng một vùng lãnh thổ rộng lớn của Liên Xô và Ba Lan. Mục tiêu ban đầu của chiến dịch là tiến sâu 200–250 km, nhưng trên thực tế quân đội Xô Viết đã tiến sâu được đến 500–600 km dọc theo chính diện rộng đến 1.100 km. Đến 29 tháng 8 năm 1944 Hồng quân đã tiến đến tuyến Elgava; Dobele; Šiauliai; Suvalka; sông Wisla.
Sau nhiều thắng lợi (tỷ như ở Stalingrad và Kursk), Nguyên soái Zhukov một lần nữa đánh bại được phát xít Đức. Chiến dịch đã tiêu diệt khoảng nửa triệu quân Đức Quốc xã, trong đó 17 sư đoàn và 3 lữ đoàn bị tiêu diệt hoàn toàn, 50 sư đoàn khác mất hơn 50% biên chế. Đây cũng là công thắng lợi lớn nhất của Hồng quân trong chiến tranh Xô-Đức về quân lực khi thiệt hại của Hồng quân thấp hơn nhiều so với đối phương. Hơn nữa, khi Cụm Tập đoàn quân Trung tâm bị đánh tan và hành lang Belorussia bị cắt đứt thì Cụm Tập đoàn quân Bắc với gần 30 vạn quân bị cô lập hoàn toàn, bị dồn vào mũi đất Courland sát biển và mất hết vai trò. Qua đó, với đại thắng trong Chiến dịch Bagration Liên Xô đã đập vỡ con tim của quân Đức. Vào ngày 17 tháng 7 năm 1944, lãnh tụ Liên Xô I. V. Stalin đã diễu 57 nghìn tù binh Đức trên khắp đường phố Moskva, như một minh chứng cho thành quả của mình.
Việc mặt trận phòng thủ Belorussia bị sụp khiến cho OKH phải dựng chiến tuyến mới bằng cách rút quân từ các Cụm Tập đoàn quân khác, tạo tiền đề cho thành công của các chiến dịch Lvov-Sandomir và Yass-Kishinev tại phía Nam trong tháng 8 và 9 cùng năm, giải phóng hoàn toàn lãnh thổ Liên Xô, bắt đầu tiến sang các nước Đông Âu, giành bàn đạp bên sông Wisla để chuẩn bị cho chiến dịch Wisla-Oder ở giai đoạn kế tiếp.
Giờ đây, nền Đệ tam Đế chế Đức đã cầm chắc chiến bại. Không phải là một sự trùng hợp mà các tướng lĩnh Đức đã mưu sát Hitler một tháng sau Chiến dịch Bagration đã khẳng định rằng, nước Đức cần phải chấm dứt chiến tranh trước khi bị tận hủy.
=== Sự chín muồi của nghệ thuật quân sự Xô Viết ===
Tiến trình của cuộc chiến tranh cũng là quá trình trưởng thành của các tướng lĩnh và chỉ huy Hồng quân. Trong tiến trình ấy, nếu coi chuỗi chiến dịch Đông - Xuân 1942-43 là bước đầu học hỏi và chuỗi chiến dịch Hè Thu 1943 là cột mốc trưởng thành, thì chuỗi chiến dịch Belorussia chính là lúc mà nghệ thuật quân sự Xô Viết chín muồi, từ chiến thuật cho đến nghệ thuật chiến dịch.
Trong thực hành tấn công phòng tuyến, lần đầu tiên các bài bản tấn công của học thuyết "Tác chiến chiều sâu" phát huy đầy đủ uy lực: hoả lực pháo và Không quân thực sự làm tê liệt hoàn toàn suốt chiều sâu của chiến tuyến, tạo tiền đề cho lực lượng hợp thành đột phá thành công. Đối diện với các hoả điểm kiên cố, Hồng quân không còn xung phong tốn quân như trước, mà sử dụng hoả lực pháo để phân lập, chia cắt và công phá một cách bài bản. Từng trung đoàn tấn công đều được biên chế phù hợp với chiến trường: ở nơi đầm lầy thì có các đơn vị công binh cầu đường tiên phong; ở khu vực nhiều bãi mìn thì có xe cày mìn đi trước. Nếu như trong trận Kursk trước kia, Hồng quân đã dùng các lực lượng du kích để tấn công cầu đường của quân Đức sau khi cuộc tiến công của Đức bị hủy bỏ, cản trở cuộc triệt thoái của quân Đức và làm phân hóa quân Dự bị Đức, thì Chiến dịch Bagration này được xem là đỉnh cao cho chiến tranh du kích Liên Xô. Trong, cuộc tấn công đại quy mô này, Hồng quân đã hợp đồng chặt chẽ với những đợt tấn công của quân du kích xuyên qua vùng Belorussia khiến cho quân Đức không thể phản trả. Trong các ngày 19 - 20 tháng 6 năm 1944, người Đức ghi nhận rằng có đến 14 nghìn vụ đánh phá lẻ tẻ vào cơ sở hạ tầng của họ. Nhờ đó, quân Dự bị Đức không thể tiến ra, binh sĩ Đức ở tiền tuyến thì không thể rút chạy mà cứ thế trở thành mục tiêu cho quân Nga vây bọc.
Trong thực hành vận động thọc sâu, các thê đội tiên phong khiến cho các mũi cơ động xe tăng - cơ giới hoá trở nên cực kỳ linh hoạt: luôn luôn tìm được phương án vu hồi, tập hậu, chọc sườn thay cho tấn công vỗ mặt. Trong suốt chiến dịch, tổ chức thê đội này tiên phong chứng tỏ hiệu quả: cầm chân lực lượng cơ động đối phương cho đơn vị chính vận động; chiếm bàn đạp vượt sông cho đơn vị chính hành tiến; duy trì tiếp xúc giao chiến liên tục khi truy kích. Một điểm mới nữa là khi hợp vây, thì bộ binh hình thành vòng vây trong để lực lượng cơ động đảm nhiệm vòng ngoài nhằm linh hoạt phát huy chiến quả, chặn đánh quân cứu viện giải vây, không còn để sổng túi như các chiến dịch trước đó.
Những tiến triển chiến thuật ở trên khiến bản thân chiến dịch là một sự hiện thực hoá mang tính nghệ thuật của hình thái chiến tranh hiện đại, từ mở cửa đột phá, vận động thọc sâu đến bao vây và truy kích phát huy chiến quả. Hơn thế nữa, khi đánh giá chiến dịch như là phương cách chủ động tạo tình huống buộc đối phương phản ứng theo dự tính, tạo tiền đề cho thành công của chiến dịch Lvov-Sandomir, thì cách thiết kế 2 chiến dịch liền kế ở đây chính là điểm chín muồi của nghệ thuật chiến dịch Xô viết trong Chiến tranh Thế giới thứ 2. Và, Chiến dịch Bagration, cũng giống như Chiến dịch Brusilov thời Chiến tranh thế giới thứ nhất, được coi là mẫu mực cho khả năng của người Nga tập trung dồn sức vào một mặt trận.
=== Tưởng niệm ===
Vào ngày 14 tháng 4 năm 2010, Ngân hàng Nhà nước Belarus đã cho lưu hành đồng tiền "Chiến dịch Bagration" nhằm kỷ niệm chiến thắng của quân đội Liên Xô trong trận đánh này..
Khu tưởng niệm Đồi Vinh quang (Курган Славы) được xây dựng vào năm 1969, cách Minsk 21 cây số trên đường cao tốc Moskva. Nó được xây dựng nhân kỷ niệm 25 năm ngày giải phóng Belarus trong chiến dịch Bagration.
Tượng đài chiến thắng ở thủ đô Minsk.
Phức hợp tượng đài Minsk - Thành phố anh hùng.
Đài kỷ kiệm chiếc xe tăng T-34/85 đầu tiên của Hồng quân Liên Xô tiến vào giải phóng Minsk.
== Chú thích ==
Ghi chú
Nguồn dẫn
== Tham khảo ==
Zaloga, Steven J. (1996). Bagration 1944: The Destruction of Army Group Centre (bằng tiếng Anh). Osprey Publishing. ISBN 1-85532-478-4.
Baxter, Ian Operation Bagration: The Destruction of Army Group Centre June-July 1944, a Photographic History. Helion & Company 2007. ISBN 978-1-906033-09-5
Bergstrom, Christer Bagration to Berlin: The Final Air Battles in the East: 1944–1945, Ian Allen 2007. ISBN 978-1-903223-91-8.
Glantz, David M. Soviet Military Deception in the Second World War. Frank Cass, London 1989, ISBN 0-7146-3347-X.
Glantz, David M. & Orenstein, Harold S. Belorussia 1944: The Soviet General Staff Study. Frank Cass, London 2004 (reprinted), ISBN 0-415-35116-2
Niepold, G., translated by Simpkin, R. Battle for White Russia: The Destruction of Army Group Centre June 1944, Brassey's, London, 1987, ISBN 0-08-033606-X.
Tony Le Tissier, The Siege of Kurstrin: Gateway to Berlin, 1945, Stackpole Books, 13-01-2011. ISBN 0-8117-0829-2.
John Alan English, The Canadian Army and the Normandy campaign: a study of failure in high command, Greenwood Publishing Group, 1991. ISBN 0-275-93019-X.
Mitcham, Samuel W. German Defeat in the East, 1944-45. Stackpole Books 2007, ISBN 978-0-8117-3371-7
Stemenko, Sergei Madveyevich. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh - Tập 1. Moskva: Nhà xuất bản Tiến Bộ 1985.
Vasilevsky, Aleksandr Mikhailovich. Sự nghiệp cả cuộc đời. Nhà xuất bản Chính trị Moskva 1978.Bản tiếng Nga.
David R. Stone, A Military History of Russia: From Ivan the Terrible to the War in Chechnya, Greenwood Publishing Group, 30-08-2006. ISBN 0-275-98502-4.
Watt, Robert. Feeling the Full Force of a Four Point Offensive: Re-Interpreting The Red Army's 1944 Belorussian and L'vov-Przemyśl Operations. The Journal of Slavic Military Studies. Routledge Taylor & Francis Group. ISSN 1351-8046
Ziemke, Earl F. Battle For Berlin: End Of The Third Reich, NY: Ballantine Books, London: Macdonald & Co, 1969.
== Liên kết ngoài ==
=== Văn bản ===
Armstrong, Richard N. 1946- Soviet operational deception: the red cloak. U.S. Army Command and General Staff College - Fort Leavenworth, 1988.
Connor, William M. Analysis of deep attack operations: Operation Bagration, Belorussia, 22 June - ngày 29 tháng 8 năm 1944 Combat Studies Institute - Fort Leavenworth, 1987.
Glantz, David M. & House, Jonathan. When Titans Clashed; How the Red Army Stopped Hitler. University of Kansas Press 1995. ISBN 978-0-7006-0899-7 Chương 13 (được trang web lãnh sự quán Belarus trích đăng từ sách).
Zhukov, Georgi K. Nhớ lại và suy nghĩ, Moskva 1969 Bản dịch online của nhóm Lê Tùng Ba, Hồng Lam, Nguyễn Hải Sa, Lê Bá Phán, Trần Anh Tuấn - Chương 17.
=== Phim ===
"Cuộc duyệt binh" của hành chục vạn quân Đức Quốc xã bị Hồng quân Liên Xô bắt làm tù binh trên đường phố Moskva ngày 17-7-1944
Quân đội Đức Quốc xã chỉ có thể vào Moskva theo cách này
Soviet Storm - Operation Bagration
=== Bản đồ ===
Bản đồ Chiến dịch Bagration
Bản đồ các trận đánh bao vây, tiêu diệt cụm quân Đức Quốc xã ở phía Đông Minsk từ 3-7 đến 7-7-1944
Bản đồ các trận đánh vượt sông Vistula của Tập đoàn quân cận vệ 8 tại khu vực đầu cầu Magnushev ngày 1 tháng 8 năm 1944
Bản đồ các trận phản công của quân đội Đức Quốc xã tại quận Praga (Warshawa) từ ngày 2 đến ngày 4 tháng 8 năm 1944
Bản đồ các trận đánh vượt sông Vistula của Tập đoàn quân 65 tại khu vực đầu cầu Narev từ ngày 5-8 đến ngày 4-9-1944
Bản đồ các trận đánh phòng ngự của Tập đoàn quân xe tăng 2 tại khu vực phụ cận Warshawa từ ngày 1 đến ngày 5 tháng 8 năm 1944 |
lý hải.txt | Lý Hải, tên thật Nguyễn Văn Hải, sinh ngày 28 tháng 9 năm 1968 tại thị xã Mỹ Tho thuộc tỉnh Mỹ Tho (nay là thành phố Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang) là một ca sĩ người Việt Nam. Bước chân vào lĩnh vực ca hát từ năm 1993, nhưng tên tuổi của anh chỉ thật sự thành danh khi hợp tác với người quản lý Vĩnh Thuyên cho ra đời series album ca nhạc phim Trọn đời bên em vào năm 2001. Với thành công của loạt album này, Lý Hải đã xây dựng thành công thương hiệu cho riêng mình và trở thành một trong những nam ca sĩ ăn khách nhất thời điểm bấy giờ, đặc biệt là đối với khán giả miền Tây Nam Bộ.
Với sở trường trình bày những ca khúc thuộc thể loại nhạc trẻ, nhạc Hoa lời Việt với giai điệu và ca từ đơn giản, Lý Hải từng được mệnh danh là "Ngôi sao ca nhạc bình dân".
== Tiểu sử ==
Lý Hải là con út trong một gia đình có 8 anh chị em. Tham gia rất nhiều hoạt động văn nghệ của trường khi còn học phổ thông, đến năm lớp 11, anh đăng ký dự thi và trúng tuyển vào lớp diễn viên kịch do Trường Nghệ thuật Sân khấu 2 tổ chức tại Mỹ Tho. Năm 1987, anh chuyển lên Thành phố Hồ Chí Minh để theo học tại trường. Trong thời gian học, Lý Hải có điều kiện làm quen với ca hát bằng việc tham gia các đội xung kích của trường, và từng được đạo diễn Xuân Phước giới thiệu đi hát tại một số tụ điểm. Sau khi học xong, Lý Hải lâm vào cảnh thất nghiệp do vào thời điểm đó kịch nói đang ở trong giai đoạn xuống dốc vì thiếu vắng khán giả. Năm 1991, anh trở thành diễn viên đoàn Kịch Nói Trẻ, nhưng không lâu sau Lý Hải trở về quê để đi học nghề may rồi quay lại thành phố Hồ Chí Minh. Trong thời gian này, Lý Hải học thanh nhạc với sự hướng dẫn của các giáo viên trong trường Nghệ thuật Sân khấu 2. Năm 1993, anh chuyển hẳn sang lĩnh vực ca hát và quyết tâm trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp. Thời gian đầu, Lý Hải cùng 2 người bạn là Hữu Bình và Hữu Thượng lập một nhóm nhạc nhưng hợp tác được 2 năm thì nhóm tan rã. Liên tục đi hát tại một số tựu điểm kể cả những tour diễn tại thủ đô Hà Nội. Anh chuyển sang phong cách hát đơn có múa phụ họa và bắt đầu được khán giả biết đến với các ca khúc "Trọn đời bên em", "Người yêu hỡi".
Năm 2000, Lý Hải gặp Vĩnh Thuyên (người trước đó từng là quản lý cho ca sĩ Phương Thanh) và được người này giúp định hình lại phong cách âm nhạc, từ chỗ chỉ tập trung vào những ca khúc sôi động sang hát cả nhạc sôi động lẫn trữ tình. Sau đó, Vĩnh Thuyên chính thức trở thành người quản lý cho Lý Hải. Thời gian này với những ca khúc đa phần là nhạc Hoa lời Việt như: "Phút biệt ly", "Khi người đàn ông khóc", "Liều thuốc cho trái tim",... Tên tuổi anh đã bắt đầu được khán giả chú ý đến nhiều hơn.
=== Thành công với Trọn đời bên em ===
Năm 2001, Lý Hải đã cho ra mắt album Trọn đời bên em. Album này sau khi phát hành đã bán được 2.500 bản. Nhưng phải đến khi album Trọn đời bên em vol.2 ra mắt thì mới tạo được sự chú ý đặc biệt của khán giả do có sự kết hợp mới lạ giữa phim và ca nhạc. Nối tiếp thành công của vol.2, album vol.1 được tái bản. Sau đó, anh tiếp tục cộng tác với Vĩnh Thuyên để cho ra đời Trọn đời bên em vol.3 và vol.4. Tất cả đều tiếp tục được khán giả đón nhận. Thành công của series Trọn đời bên em được đánh giá là đã giúp đưa tên tuổi Lý Hải vào hàng những ngôi sao của thị trường âm nhạc Việt thời điểm đó. Năm 2004, sau những thành công với sự góp sức không nhỏ của mình, Vĩnh Thuyên đã kết thúc vai trò người quản lý cho Lý Hải, nguyên nhân được cho là do Vĩnh Thuyên và anh đã không đạt được thống nhất về vai trò quản lý của Vĩnh Thuyên với một ca sĩ trẻ khác là Trần Tâm.
Trong năm 2004, Lý Hải tiếp tục thực hiện album Trọn đời bên em vol.5, album dự kiến sẽ có 15 ca khúc và trong số đó sẽ có bài hát chủ đề Tôi đã lầm tin em do nhạc sĩ Thái Khang sáng tác. Đây là ca khúc đã được Lý Hải ký độc quyền với nhạc sĩ này vào tháng 4 năm 2004. Nhưng vào tháng 10 cùng năm, một ca khúc gần giống tên và phần lời nhưng có phần giai điệu hoàn toàn giống với ca khúc Tôi đã lầm tin em do một ca sĩ khác cũng độc quyền với nhạc sĩ Thái Khang được phát hiện. Nếu xảy ra tranh chấp thì Trọn đời bên em vol.5 có khả năng không phát hành đúng thời hạn. Tuy nhiên sau đó, ca khúc trên vẫn nằm trong album Trọn đời bên em vol.5 của Lý Hải. Thành công của series album Trọn đời bên em trước đã trở thành thương hiệu của riêng Lý Hải. Từ năm 2006 đến 2009, anh tiếp tục cho ra mắt loạt album cùng tên từ vol.6 đến vol.9, mỗi album đều được đầu tư khá kỹ lưỡng, Trọn đời bên em vol.6 được thực hiện với chi phí được đánh giá là cao nhất vào thời điểm đó cho một VCD ca nhạc của ca sĩ trong nước với số tiền trên dưới 50.000 đôla Mỹ. Năm 2008, Lý Hải lần đầu tiên thực hiện một liveshow nhỏ với chủ đề Trọn đời bên em, buổi diễn được thực hiện tại sân khấu nhạc nước Đầm Sen. Trong liveshow, anh hát gần 20 ca khúc. Tham gia buổi diễn còn có hai ca sĩ khách mời là Ngọc Sơn và Hoàng Châu.
Năm 2010, Lý Hải cho ra mắt album Trọn đời bên em vol.10, đây được coi là album sau cùng để kết thúc series album Trọn đời bên em được thực hiện kéo dài đã 10 năm. Đĩa nhạc gồm 8 ca khúc với nội dung là truyện phim với những tình tiết hài do Lý Hải và các nghệ sĩ hài nổi tiếng tham gia. Sau khi ra mắt được 3 ngày, Lý Hải đã tung toàn bộ nội dung album lên mạng Internet cho khán giả thưởng thức. Trước đó, anh đã hợp tác với Zing Mp3 và là ca sĩ tiên phong trong việc phát hành album online tại website này.
== Đời sống riêng ==
Ngoài ca hát, Lý Hải còn được biết đến với sở thích sưu tập xe hơi và đam mê tốc độ. Năm 2005, anh từng bị tạm giam tại Hoa Kỳ vì lỗi chạy xe quá tốc độ và không có giấy phép lái xe tại nước này. Anh đã phải nộp số tiền bảo lãnh tại ngoại và tiền phạt tương đương khoảng 10 triệu đồng.
Lý Hải từng dự định kết hôn vào năm 2009 với người yêu tên Minh Hà. Tuy nhiên đám cưới đã bị hoãn lại đến năm 2010 vì Minh Hà phải sang Anh quốc hoàn thành chương trình Thạc sĩ Luật Thương mại quốc tế tại một trường đại học Luật ở đây. Năm 2010, hai người tổ chức một đám cưới khá lớn tại nhà riêng của Lý Hải ở thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Năm 2011, hai vợ chồng ca sĩ Lý Hải và Minh Hà sinh bé trai đầu lòng tên Nguyễn Hạo Nhiên. Năm 2013 cặp vợ chồng có tiếp một con gái tên Nguyễn Hà Hải My. Sau này vợ chồng Lý Hải sinh thêm hai đứa con nữa.
== Năm sinh ==
Nhiều người thắc mắc không biết Lý Hải sinh năm 1968 hay 1969, nhưng diễn viên Minh Hà - vợ của Lý Hải đã khẳng định Lý Hải sinh năm 1968.
== Ca khúc tiêu biểu ==
== Phim ảnh ==
=== Phim đã tham gia ===
Vàng
Vòng tròn 12 số
Cầu vồng sau mưa
Bí mật lại bị mất
Lật mặt
Lật mặt 2
=== Phim đã làm đạo diễn ===
Bí mật lại bị mất (làm đạo diễn chung với Nhật Cường)
Lật mặt
Lật mặt 2
== Đánh giá ==
== Giải thưởng ==
Đạo diễn xuất sắc châu Á do Korean Culture Entertainment Awards trao tặng, đây là giải thưởng được tổ chức hàng năm do Tổng hiệp hội Nhà báo và Hiệp hội Giải trí xứ Hàn tổ chức. Các hạng mục giải thưởng chủ yếu dành cho nghệ sĩ Hàn Quốc. Korean Culture Entertainment Awards tập trung vào điện ảnh, âm nhạc Hàn Quốc, các giải dành cho sao quốc tế mang tính chất ngẫu nhiên, có tính chất thương mại nhiều hơn nghệ thuật.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của Lý Hải
Kênh Youtube của Lý Hải |
kỷ lục olympic.txt | Các kỷ lục Olympic là những thành tích tốt nhất trong một sự kiện cụ thể trong đó sự kiện lịch sử trong mỗi kỳ Thế vận hội Mùa hè hoặc Thế vận hội Mùa đông. Do từng loại Thế vận hội diễn ra chỉ một lần bốn năm nhiều trong số những kỷ lục này không tương thích với các kỷ lục thế giới mặc dù chúng được coi là những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp của các vận động viên có thể phá vỡ hay đạt thành tích ngang với các kỷ lục này.
Ủy ban Olympic quốc tế công nhận các kỷ lục chỉ cho một số sự kiện thể thao nào đó. Chúng bao gồm, nhưng không giới hạn:
Bắn cung (danh sách)
Trượt tuyết đổ đèo (các kỷ lục chỉ được công nhận bởi FIS)
Điền kinh (danh sách)
Hai môn phối hợp (chỉ có nội dung băng đồng)
Xe trượt lòng máng (các kỷ lục chỉ được công nhận bởi FIBT)
Xe đạp (danh sách)
Trượt tuyết bắng đồng
Nhảy cầu
Bóng đá (các kỷ lục của nữ)
Trượt tuyết tự do (các kỷ lục chỉ được giữ lại đối với ski cross)
Luge
Hai môn phối hợp Bắc Âu
Bắn súng (danh sách)
Trượt băng tốc độ vòng ngắn (danh sách)
Skeleton (các kỷ lục chỉ được công nhận bởi FIBT)
Trượt tuyết nhảy xa
Trượt băng tốc độ (danh sách)
Trượt ván trên tuyết (các kỷ lục không được ghi lại trong halfpipe và slopestyle)
Bơi lội (danh sách)
Ba môn phối hợp (các kỷ lục chỉ được công nhận bởi ITU)
Cử tạ (danh sách)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Danh sách các kỷ lục Olympic của Ủy ban Olympic Quốc tế |
đội tuyển bóng đá quốc gia đức.txt | Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức (tiếng Đức: Die deutsche Fußballnationalmannschaft) là đội tuyển bóng đá đại diện cho nước Đức trong các cuộc thi đấu quốc tế kể từ năm 1908. Hiệp hội bóng đá Đức (Deutscher Fußball-Bund), thành lập năm 1900, là cấp quản lý của đội tuyển. Kể từ khi DFB được tái lập vào năm 1949 đội tuyển là đại diện cho Cộng hòa liên bang Đức. Trong thời kỳ Đồng Minh chiếm đóng Đức, đã có hai đội tuyển quốc gia được FIFA công nhận: Đội tuyển Saarland đại diện cho Saarland (1950–1956) và Đội tuyển bóng đá quốc gia Đông Đức đại diện cho Cộng hòa Dân chủ Đức (1952–1990). Thành tích của hai đội đều được thống kê vào lịch sử của đội tuyển bóng đá quốc gia Đức hiện tại. Tên gọi chính thức và mã hiệu "Germany FR (FRG)" được viết ngắn gọn thành "Germany (GER)" sau khi nước Đức tái thống nhất vào năm 1990.
Đội tuyển Đức là một trong những đội bóng thành công nhất trên đấu trường quốc tế, với bốn lần vô địch World Cup (1954, 1974, 1990 và 2014) và ba lần vô địch UEFA (1972, 1980 và 1996). Họ cũng từng ba lần giành vị trí thứ hai ở giải vô địch bóng đá châu Âu, và bốn lần xếp thứ hai ở giải bóng đá vô địch thế giới cũng như bốn lần ở vị trí thứ ba. Sau khi bế mạc World Cup 2014, đội tuyển Đức giành hệ số Elo cao nhất trong lịch sử của tất cả các đội tuyển quốc gia, với kỷ lục 2200 điểm. Đức cũng là quốc gia duy nhất có cả đội tuyển nam và đội tuyển nữ đều giành chức vô địch thế giới. Đội tuyển Đức cũng là đội tuyển thuộc Liên đoàn bóng đá châu Âu đầu tiên giành chức vô địch thế giới trên đất Nam Mỹ. Đức cũng là đội tuyển châu Âu duy nhất tham dự mọi giải vô địch thế giới từ trước tới nay khi họ được phép, với một lần bị cấm tham dự năm 1950 do ảnh hưởng chính trị từ chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đội tuyển Brasil cũng giành được thành tích tương tự đối với Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ. Huấn luyện viên hiện tại của đội tuyển là ông Joachim Löw.
== Lịch sử ==
=== Những năm đầu ===
Giữa các năm 1899 và 1901, trước khi hình thành đội tuyển quốc gia, đã có 5 trận đấu quốc tế không chính thức giữa các đội bóng khác nhau của Đức và Anh, mà kết quả là đa phần đội Đức bị đánh bại với tỉ số đậm. 8 năm sau khi thành lập Hiệp hội bóng đá Đức (DFB), trận đấu chính thức đầu tiên của đội tuyển quốc gia Đức diễn ra ngày 5 tháng 4 năm 1908 gặp Thụy Sĩ tại Basel, với kết quả Thụy Sĩ thắng 5–3. Có một điều trùng hợp là, trận bóng của đội Đức đầu tiên sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất năm 1920, trận đấu đầu tiên sau chiến tranh thế giới lần thứ hai năm 1950 khi Đức vẫn còn bị cấm tham dự các trận bóng quốc tế, và trận bóng đầu tiên năm 1990 với các cầu thủ Đông Đức, tất cả đều là các trận đá với Thụy Sĩ. Chức vô địch thế giới lần đầu tiên của Đức cũng là trên đất Thụy Sĩ.
Trong thời gian đầu các cầu thủ đều do DFB lựa chọn, và không có một huấn luyện viên chính thức nào. Huấn luyện viên đầu tiên của đội tuyển Đức là Otto Nerz, một giáo viên thể thao đến từ Mannheim, người lãnh đạo đội bóng từ 1926 tới 1936. Hiệp hội bóng đá Đức đã không thể đến được Uruguay để tham dự World Cup đầu tiên vào năm 1930 vì ảnh hưởng của cuộc Đại Suy thoái, nhưng đội tuyển đã giành được vị trí thứ ba tại World Cup 1934 trong lần đầu tiên họ tham dự. Sau khi có màn trình diễn nghèo nàn tại thế vận hội Mùa hè 1936 ở Berlin, Sepp Herberger được cử làm huấn luyện viên. Năm 1937 ông cùng với đội bóng nhanh chóng được đặt biệt danh là Breslau Elf (mười một cầu thủ Breslau) khi họ có trận thắng 8–0 trước Đan Mạch tại thành phố mà thời đó thuộc Đức là Breslau, Hạt Silesia (nay là Wrocław, Ba Lan).
Sau khi Áo trở thành một phần của Đức trong lần Anschluss (sát nhập) tháng 3 năm 1938, lúc đó đội tuyển Áo – một trong những đội bóng mạnh của châu Âu vào thời điểm đó vì cách thức hoạt động chuyên nghiệp – đã bị giải thể mặc dù đã vượt qua vòng loại của World Cup 1938. Do yêu cầu của các chính trị gia Đức Quốc xã, năm hay sáu cầu thủ người Áo, đến từ các câu lạc bộ Rapid Wien, Austria Wien, First Wien FC, đã được gọi vào đội tuyển Đức với mục đích thống nhất quốc gia trên mọi phương diện bởi các lý do chính trị. Trong giải vô địch thế giới 1938 khởi tranh từ 4 tháng 6, tuyển Đức "thống nhất" này chỉ có một trận hòa 1–1 với Thụy Sĩ, và thua 2–4 trước chủ nhà với nhiều khán giả tại Paris. Kết quả bị loại ngay ở vòng đầu tiên là một trong những kết quả tồi tệ nhất của đội tuyển Đức trong lịch sử tham dự World Cup (ngoại trừ các năm 1930 và 1950 khi họ không được phép tham gia).
Trong thế chiến lần hai, đội bóng đã có 30 trận thi đấu quốc tế từ tháng 9 năm 1939 đến tháng 11 năm 1942, khi đội tuyển bị ngừng hoạt động do đa số các cầu thủ bị buộc gia nhập quân đội. Nhiều cầu thủ quốc gia đã được quy tụ về với huấn luyện viên Herberger biệt danh Rote Jäger với nhiệm vụ là các nhân viên không quân nhằm bảo vệ các cầu thủ tránh khỏi lửa đạn chiến tranh.
=== Ba đội bóng Đức ===
Sau chiến tranh thế giới lần hai, Đức bị cấm tham dự các sự kiện thể thao quốc tế cho đến tận năm 1950. Liên đoàn DFB không là thành viên đầy đủ của FIFA, và không một trong ba đội bóng Đức nào — Tây Đức, Đông Đức, và Saarland — được tham dự vòng đấu loại giải vô địch 1950.
Cộng hòa Liên bang Đức hay còn gọi là Tây Đức, tiếp tục duy trì sự hoạt động của DFB. Khi FIFA và UEFA công nhận, DFB đã bắt đầu và tiếp tục những thành tích của đội tuyển có từ trước thời gian chiến tranh. Đội Thụy Sĩ một lần nữa là đội đầu tiên gặp Đức vào năm 1950. Và Tây Đức đã vượt qua vòng loại và được tham dự World Cup 1954.
Saarland, dưới quyền kiểm soát của Pháp từ 1947 tới 1956, đã không tham gia vào các tổ chức của Pháp và có đội bóng của Đức cho riêng họ. Saarland gửi đội tuyển tham dự thế vận hội Mùa hè 1952 và vòng loại FIFA World Cup 1954. Năm 1957, Saarland trở về thuộc Cộng hòa Liên bang Đức.
Năm 1949, những người cộng sản đã thành lập Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức). Năm 1952 hiệp hội bóng đá Cộng hòa Dân chủ Đức (Deutscher Fußball-Verband der DDR-DFV) và đội bóng quốc gia đầu tiên được thành lập. Họ là đội duy nhất đánh bại đội vô địch Tây Đức trong FIFA World Cup 1974 trong trận bóng duy nhất giữa hai đội trong lịch sử nước Đức thời chiến tranh lạnh. Đông Đức giành huy chương vàng môn bóng đá nam tại thế vận hội Mùa hè 1976. Sau khi tái thống nhất nước Đức năm 1990, liên đoàn bóng đá Đông Đức được sát nhập về DFB.
=== Vô địch World Cup 1954 ===
Đội Tây Đức, với người đội trưởng Fritz Walter, gặp các đội Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Tư và Áo. Khi gặp Hungary ở vòng bảng, Đức bị thua 3–8. Tây Đức gặp lại tuyển Hungary trong trận chung kết với sức mạnh của đội Hungary lúc đó đã không bị đánh bại trong 32 trận liên tiếp. Với diễn biến kịch tính, đội Tây Đức đã giành chiến thắng 3–2 khi Helmut Rahn ghi bàn thắng quan trọng ở phút 84. Chiến thắng này còn được gọi là "Sự kỳ diệu ở Bern" (Das Wunder von Bern).
=== Những kỷ niệm chiến bại: bàn thắng trên sân Wembley và trận bóng thế kỷ ===
Sau khi xếp thứ tư ở World Cup 1958 và chỉ vào tới vòng tứ kết tại World Cup 1962, hiệp hội DFB đã có sự thay đổi. Họ đưa ra và khuyến khích cách làm bóng đá chuyên nghiệp, những câu lạc bộ chơi tốt nhất được quy tụ trong giải đấu mới là Bundesliga. Năm 1964, Helmut Schön trở thành huấn luyện viên trưởng thay cho Herberger khi ông đã tại vị trong 28 năm.
Ở World Cup 1966, Tây Đức vào trận chung kết gặp chủ nhà Anh sau khi đánh bại Liên Xô ở bán kết. Trong thời gian đá bù giờ, bàn thắng đầu tiên của Geoff Hurst trở thành một trong những bàn thắng gây tranh cãi nhất trong lịch sử World Cup: trọng tài biên đã căng cờ báo hiệu bóng đã lăn qua vạch vôi khung thành và bàn thắng được tính, sau khi bóng nẩy từ xà ngang. Nhưng các thước phim ghi lại cho thấy dường như bóng chưa lăn qua vạch khung thành. Hurst sau đó ghi thêm một bàn thắng nữa giúp đội tuyển Anh giành chiến thắng chung cuộc 4–2.
Đội tuyển Tây Đức gặp lại tuyển Anh ở tứ kết tại World Cup 1970 và đã trả được món nợ khi chiến thắng 3–2, trước khi họ bị thua 4–3 trong thời gian hiệp phụ của trận bán kết gặp Italia. Trận này có tới 5 bàn thắng trong hiệp phụ và là một trong những trận bóng kịch tính nhất trong lịch sử giải vô địch bóng đá thế giới, và thường được gọi là "Trận bóng thế kỷ" đối với cả Đức và Ý. Tây Đức cuối cùng giành được vị trí thứ ba của giải sau khi chiến thắng Uruguay 1–0. Gerd Müller với 10 bàn thắng trở thành vua phá lưới của giải.
=== Vô địch World Cup 1974 trên sân nhà ===
Năm 1971, Franz Beckenbauer trở thành đội trưởng của đội tuyển quốc gia. Ông đã dẫn dắt đội tuyển đoạt chức vô địch châu Âu Euro 1972, khi đánh bại Liên Xô 3–0 trong trận chung kết.
Là chủ nhà của World Cup 1974, họ đã giành chức vô địch lần thứ hai khi thắng Hà Lan 2–1 trong trận chung kết ở thành phố Munich. Có hai trận đấu đáng nhớ của tuyển Tây Đức tại giải năm 1974. Ở vòng đấu bảng thứ nhất họ gặp tuyển Đông Đức và để thua 0-1. Tây Đức vào trận chung kết gặp đội Hà Lan có lối chơi "Bóng đá tổng lực" khi đó của đội trưởng Johan Cruijff. Hà Lan dẫn trước từ một quả phạt đền. Tuy nhiên, Tây Đức đã dồn lên tấn công và nhận được một quả phạt đền với bàn thắng của Paul Breitner trước khi Gerd Müller ghi bàn ấn định chiến thắng.
=== Cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980 ===
Tây Đức đã không bảo vệ được các chức vô địch của họ ở hai sự kiện thể thao lớn tiếp theo. Họ thua đội Tiệp Khắc trong trận chung kết Euro 1976 ở loạt sút luân lưu với kết quả chung cuộc 5–3.
Tại World Cup 1978, đội Đức bị loại ở vòng đấu loại trực tiếp sau khi thua đội tuyển Áo 2–3. Sau đó Schön nghỉ hưu và người trợ lý của ông, Jupp Derwall, lên thay thế.
Giải đấu đầu tiên của Tây Đức dưới quyền chỉ đạo của Derwall đã thành công, khi họ đoạt chức vô địch châu Âu lần thứ hai tại Euro 1980 khi đánh bại Bỉ 2–1 ở trận chung kết. Tây Đức vào tới trận chung kết của World Cup 1982 với nhiều trận đấu khá vất vả trước đó. Họ để thua 1–2 trước Algeria trong trận đầu ra quân, nhưng đã vào được vòng đấu loại trực tiếp bằng chiến thắng gây tranh cãi 1–0 trước tuyển Áo. Ở bán kết họ gặp Pháp, với kết quả hòa 3–3 trong 120 phút thi đấu và chiến thắng 5–4 ở loạt đá luân lưu. Tại trận chung kết, Tây Đức thua 1–3 trước đội Ý.
Trong giai đoạn này, cầu thủ Gerd Müller ghi được tổng cộng 14 bàn thắng ở hai kỳ World Cup (1970 và 1974). Ông có 10 bàn thắng ở giải năm 1970 và là vua phá lưới của giải. (Kỷ lục tổng số 14 bàn thắng của Müller tại World Cup bị Ronaldo phá vỡ vào năm 2006 và sau đó đến lượt Miroslav Klose phá vỡ vào năm 2014 với 16 bàn thắng).
=== Triều đại Beckenbauer ===
Sau khi Tây Đức bị loại ở vòng bảng của Euro 1984, Franz Beckenbauer trở lại làm huấn luyện viên đội tuyển quốc gia thay thế cho Derwall. Tại World Cup 1986, Tây Đức đứng ở vị trí á quân trong lần thứ hai liên tiếp sau khi đánh bại Pháp 2–0 ở bán kết, nhưng thua Argentina của Diego Maradona ở trận chung kết với tỷ số 2–3. Tại Euro 1988, niềm hi vọng của đội Tây Đức khi vô địch trên sân nhà bị tan vỡ khi họ để thua Hà Lan 1-2 ở bán kết.
Ở giải vô địch bóng đá thế giới 1990, Tây Đức lần thứ ba vô địch World Cup, và cũng lập lên kỷ lục với ba lần liên tiếp họ vào chung kết. Với Lothar Matthäus là đội trưởng, họ đánh bại Nam Tư (4–1), Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (5–1), Hà Lan (2–1), Tiệp Khắc (1–0), và Anh (1–1, 4–3 sút luân lưu) trên con đường vào trận chung kết gặp Argentina. Tây Đức thắng 1–0, với bàn thắng duy nhất ở phút 85 lập bởi Andreas Brehme nhờ quả phạt đền. Beckenbauer, người giành chức vô địch World Cup 1974 với tư cách là đội trưởng, do đó trở thành cầu thủ đầu tiên vô địch World Cup với vai trò là đội trưởng và huấn luyện viên.
=== Tham dự Thế vận hội ===
Trước năm 1984, bóng đá tại các kỳ Thế vận hội được coi là sự kiện nghiệp dư, có nghĩa rằng chỉ có những cầu thủ nghiệp dư mới được phép tham gia. Vì điều này nên Tây Đức chưa từng đạt được thành công lớn tương tự như ở giải vô địch bóng đá thế giới, mà họ mới chỉ đạt được huy chương đồng tại Thế vận hội Mùa hè 1988. Từ đó chưa một đội Đức nào giành quyền vào chơi môn bóng đá tại Thế vận hội, ngay cả khi nguyên tắc cấm các cầu thủ chuyên nghiệp được phép tham dự bị dỡ bỏ hoặc cho phép có ba vận động viên có tuổi trên 23. Tây Đức cũng từng lọt vào vòng 2 ở cả Thế vận hội Mùa hè 1972 và Thế vận hội Mùa hè 1984. Mặt khác, đội Đông Đức có kết quả tốt hơn, khi họ giành được một huy chương vàng, một huy chương bạc và hai huy chương đồng (tính cả thời điểm đội Đông Đức và Tây Đức thống nhất làm một).
=== Thời kỳ Berti Vogts (1990–1998) ===
Tháng 2 năm 1990, vài tháng sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, hai đội Đông Đức và Tây Đức được sáp nhập lại và đội Đức tham gia vòng loại Giải vô địch bóng đá châu Âu 1992. Sau khi Tây Đức giành vô địch World Cup 1990, trợ lý huấn luyện viên Berti Vogts lên thay thế người về hưu Beckenbauer. Các thành viên của hiệp hội Đông Đức Deutscher Fußball-Verband chấp nhận trở về gia nhập DFB trong tháng 11, trong khi mùa giải 1990–91 vẫn tiếp tục diễn ra với sự tái cấu trúc giải đấu được tiến hành trong năm 1991–92. Trận bóng đầu tiên của đội Đức thống nhất là với đội tuyển Thụy Sĩ diễn ra ngày 19 tháng 12.
Tại Euro 1992, Đức vào tới chung kết nhưng để thua 0–2 trước Đan Mạch. Ở World Cup 1994, họ bị loại ở tứ kết trong trận thua 1–2 trước Bulgaria.
Đội Đức sau khi đất nước thống nhất giành được danh hiệu lớn đầu tiên khi họ vô địch Euro 1996, trở thành đội bóng châu Âu đầu tiên vô địch lần thứ ba. Họ thắng đội chủ nhà Anh ở bán kết, và thắng đội Séc 2–1 nhờ luật bàn thắng vàng trong thời gian hiệp phụ ở trận chung kết.
Tuy nhiên tại World Cup 1998, Đức bị loại ở tứ kết trong trận thua 0–3 trước Croatia, tất cả bàn thắng đều được ghi sau khi hậu vệ Christian Wörns nhận thẻ đỏ trực tiếp. Vogts từ chức sau trận đấu và Erich Ribbeck thay thế vị trí của ông.
=== 2000–2006: Thời kỳ Oliver Kahn/Michael Ballack ===
Ở Euro 2000, trong vòng đấu bảng tại trận đầu tiên Đức hòa Romania, sau đó thua 0-1 trước Anh và cuối cùng xếp cuối bảng sau trận thua 0-3 trước Bồ Đào Nha (đội đã vào vòng sau trước đó và chỉ sử dụng đội hình phụ). Kết thúc trận đấu, Ribbeck từ chức và Rudi Völler thay thế vào chiếc ghế nóng.
Tham dự World Cup 2002, những kỳ vọng của người hâm mộ đối với đội Đức là thấp do các kết quả thi đấu nghèo nàn của đội bóng tại vòng đấu loại và lần đầu tiên họ không giành được tấm vé trực tiếp mà phải thi đấu với Ukraina. Đội Đức xếp thứ nhất sau vòng bảng, và lần lượt thắng 1–0 ba lần liên tiếp trước các đội Paraguay ở vòng loại trực tiếp, đội Hoa Kỳ ở tứ kết, và đồng chủ nhà Hàn Quốc tại bán kết, trong đó Michael Ballack ghi hai bàn, mặc dù thế ông nhận thẻ vàng thứ hai trong trận gặp Hàn Quốc và bị treo giò ở trận chung kết. Tại chung kết họ gặp Brasil, cũng là trận đầu tiên mà hai đội gặp nhau trong World Cup. Đức bị thua 0–2 với hai bàn thắng đều do Ronaldo thực hiện. Cuối giải đấu, thủ môn và đội trưởng Oliver Kahn giành Quả bóng Vàng, và là lần đầu tiên trong lịch sử World Cup một thủ môn đạt được danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất giải.
Đức một lần nữa bị loại ở vòng bảng tại Euro 2004, với hai trận đầu bị cầm hòa và họ để thua trận thứ ba trước Cộng hòa Séc (đội xếp thứ hai sau vòng bảng). Völler từ chức sau đó, và Jürgen Klinsmann được bổ nhiệm làm huấn luyện viên.
Nhiệm vụ chính của Klinsmann là dẫn dắt đội tuyển quốc gia có một lối chơi tốt ở World Cup 2006 trên đất Đức. Klinsman quyết định sẽ thôi không cho Kahn giữ băng đội trưởng và tuyên bố rằng Kahn và thủ môn dự bị trong một thời gian Jens Lehmann sẽ cạnh tranh trực tiếp cho vị trí thủ môn chính thức. Quyết định này làm Kahn nổi giận và cuối cùng Lehmann đã giành được chiến thắng. Hi vọng cho đội nhà cũng không có nhiều, với sự không có mặt của hậu vệ Christian Wörns (sau khi Wörns phê phán Klinsmann đã coi ông như người dự bị trong đội tuyển), một lựa chọn gây nhiều tranh cãi ở Đức. Đội Italia thắng Đức 4–1 trong tháng 3 ở trận giao hữu, và Klinsmann bị phê phán dữ dội khi đội tuyển chỉ xếp hạng 22 thế giới khi bước vào FIFA World Cup 2006.
Là chủ nhà, Đức giành chiến thắng cả ba trận vòng bảng và đứng đầu bảng. Họ thắng Thụy Điển 2–0 ở vòng 16. Đức gặp Argentina ở tứ kết. Trận đấu có tỉ số hòa 1–1 trong 90 phút, và Đức giành chiến thắng 4–2 ở loạt sút luân lưu. Tại bán kết, một lần nữa họ gặp Italia, trận đấu không có tỉ số trong 90 phút chính thức và cho đến gần cuối thời gian hiệp phụ thứ hai đội Đức bị thủng lưới hai bàn. Ở trận tranh giải ba, Đức thắng Bồ Đào Nha với tỉ số 3–1. Miroslav Klose nhận Chiếc giày Vàng nhờ danh hiệu vua phá lưới của giải.
==== Jürgen Klinsmann ====
Jürgen Klinsmann trở thành người thay thế Rudi Völler chỉ vì Liên đoàn bóng đá Đức không tìm được người "dám" ngồi vào chiếc ghế huấn luyện viên trưởng đội tuyển Đức đầy mạo hiểm. Trước đó, Klinsmann - cựu tiền đạo nổi tiếng của đội tuyển Đức đã từng vô địch thế giới (1990) và châu Âu (1996) - chưa từng dẫn dắt bất kỳ đội bóng nào. Lên nắm quyền, Klinsmann đã mời các đồng đội cũ tham gia vào ban huấn luyện, gọi nhiều cầu thủ trẻ vào đội tuyển và thay đổi lối chơi của đổi tuyển theo hướng tấn công. Nhiều quyết định của ông gây ra tranh cãi như tước băng đội trưởng của Oliver Kahn rồi trao cho Michael Ballack, sa thải huấn luyện viên thủ môn Sepp Maier, chọn Jens Lehmann là người trấn giữ khung thành thay cho Oliver Kahn, thuê các huấn luyện viên thể lực người Hoa Kỳ và chỉ trở về Đức từ Hoa Kỳ khi dẫn dắt đội tuyển thi đấu. Các kết quả giao hữu trước World Cup 2006 không tốt càng làm ông bị chỉ trích và yêu cầu từ chức. Tuy nhiên, kết quả (xếp thứ 3) và lối chơi tấn công đầy cống hiến của đội tuyển Đức tại vòng chung kết World Cup 2006 ngay trên sân nhà đã làm sống dậy "tinh thần yêu nước mới" của nước Đức. Sau vòng chung kết, một phong trào đề nghị Jürgen Klinsmann ở lại vị trí huấn luyện viên trưởng đã được phát động nhưng ông đã tuyên bố từ chức...
=== FIFA World Cup 2010 ===
Đức tranh vé vào Euro 2008 với sự dẫn dắt của huấn luyện viên mới là Joachim Löw từ khi Klinsmann nghỉ hưu. Tại giải đấu, họ thắng hai trong ba trận ở vòng bảng và tiến vào vòng loại trực tiếp. Ở tứ kết, Đức thắng 3–2 trước Bồ Đào Nha, và thắng Thổ Nhĩ Kỳ với cùng tỉ số ở bán kết. Họ để thua 0–1 trước Tây Ban Nha ở chung kết và giành ngôi á quân.
Tại World Cup 2010, Đức đứng đầu vòng bảng và tiến vào vòng đấu loại trực tiếp. Trong vòng 16, Đức thắng Anh 4–1. Trận đấu có nhiều tranh cãi khi bàn thắng hợp lệ của Frank Lampard đã không được công nhận do trọng tài đã không nhìn thấy bóng băng qua vạch cầu môn. Trong trận tứ kết, Đức thắng Argentina 4–0, cũng như Miroslav Klose phá kỷ lục của Gerd Müller với 14 bàn thắng tại World Cup. Đức gặp Tây Ban Nha ở bán kết và thua với tỉ số 1–0. Họ đánh bại Uruguay 3–2 và giành vị trí thứ ba của giải đấu. Tuyển thủ Thomas Müller giành danh hiệu Chiếc giày Vàng và cầu thủ trẻ xuất sắc nhất.
=== FIFA World Cup 2014 – Chức vô địch lần thứ tư ===
Tại Euro 2012, Đức nằm ở bảng B cùng với Portugal, Hà Lan, và Đan Mạch. Đức đã thắng cả ba trận ở vòng bảng. Đức thắng tiếp Hy Lạp ở tứ kết và lập kỷ lục 15 trận thắng liên tiếp ở mọi trận bóng quốc tế. Ở bán kết, Đức thua Ý 1–2.
Đội Đức giành vị trí nhất bảng trong vòng đấu tranh vé tham dự World Cup 2014. Kết quả bốc thăm chia bảng FIFA World Cup 2014 đưa Đức nằm ở bảng G, cùng với Bồ Đào Nha, Ghana, và Hoa Kỳ. Trận ra quân họ gặp Bồ Đào Nha mà được người hâm mộ đặt cho biệt danh là "trận bóng của đội có mọi tài năng chống lại đội của Siêu sao (Cristiano Ronaldo)", với kết quả Bồ Đào Nha để thua 4–0 với cú hat-trick của Thomas Müller. Trong trận gặp Ghana, Đức dẫn trước với pha ghi bàn của Götze ở hiệp hai, nhưng sau đó họ bị thủng lưới hai bàn liên tiếp, rồi ở phút thứ 71 Klose ghi bàn thắng giúp Đức giành trận hòa 2–2 với Ghana. Với bàn thắng này, Klose san bằng kỷ lục ghi 15 bàn thắng ở World Cup của cựu tiền đạo Brasil Ronaldo. Ở trận cuối vòng bảng họ thắng Hoa Kỳ với tỉ số 1–0, và bước vào vòng 16 gặp đội Algeria.
Ở vòng loại 16 đội gặp Algeria, trận đấu không có bàn thắng trong 90 phút thi đấu chính thức và hai đội phải bước vào hiệp phụ. Ở phút thứ 92 của hiệp phụ thứ nhất, André Schürrle ghi bàn từ đường truyền của Thomas Müller, và Mesut Özil ghi bàn thứ hai ở phút thứ 120. Mặc dù Algeria ghi được một bàn gỡ danh dự nhưng không đủ giúp họ đi tiếp vào tứ kết và kết thúc trận đấu Đức giành chiến thắng 2–1 và bước vào tứ kết, gặp đội tuyển Pháp.
Ở trận tứ kết gặp đội Pháp, Mats Hummels ghi bàn duy nhất ở phút thứ 13 giúp Đức giành chiến thắng 1–0 và lập kỷ lục bốn lần liên tiếp vào bán kết.
Chiến thắng (7–1) ở bán kết trước Brasil là một thời điểm lịch sử đối với cả hai đội và World Cup. Đức trở thành đội đầu tiên trong lịch sử ghi được 5 bàn trong vòng 18 phút ở hiệp một. Họ ghi được bốn bàn chỉ trong vòng 400 giây và tỷ số là 5–0 cho đến hết hiệp một với các bàn thắng của Thomas Müller, Miroslav Klose, Sami Khedira và 1 cú đúp của Toni Kroos. Miroslav Klose cũng ghi bàn thứ 16 của anh trong lịch sử World Cup ở phút thứ 23 và trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn nhất của giải vô địch bóng đá thế giới, phá vỡ kỷ lục của Ronaldo.
Trong hiệp hai, cầu thủ vào thay André Schürrle ghi thêm hai bàn và Đức dẫn trước 7–0, tỷ số lớn nhất đối với đội Brasil trong một trận đấu. Đội Brasil ở những phút cuối có được bàn thắng danh dự của cầu thủ Oscar. Đây là trận thua tồi tệ nhất của Brasil trong lịch sử World Cup từ trước tới nay, trong khi đó Đức cũng lập lên nhiều kỷ lục ở World Cup với chiến thắng này, bao gồm kỷ lục của Klose, đội đầu tiên vào bán kết bốn lần liên tiếp, đội đầu tiên ghi 7 bàn thắng ở trận đấu thuộc vòng loại trực tiếp của World Cup, 5 bàn thắng liên tiếp nhanh nhất trong lịch sử World Cup (bốn bàn được ghi chỉ trong 400 giây), đội bóng đầu tiên ghi 5 bàn trong hiệp một của bán kết cũng như trở thành chủ đề nóng nhất được cập nhật trên trang Twitter sau khi các phương tiện truyền thông đồng loạt đưa tin Đức ghi bàn thắng thứ tư.
Trận chung kết diễn ra tại sân Maracana ở Rio de Janeiro ngày 13 tháng 7, và được giới truyền thông đưa tin là trận đấu giữa cầu thủ hay nhất (Lionel Messi) với đội bóng hay nhất (Đức). Bàn thắng của Mario Götze ở phút thứ 113 của hiệp phụ đưa Đức giành chiến thắng trước Argentina với tỉ số 1–0, trở thành đội bóng châu Âu đầu tiên vô địch FIFA World Cup trên đất Nam Mỹ.
==== Joachim Löw ====
Trước khi trở thành huấn luyện viên trưởng đội tuyển Đức ngày 12 tháng 7 năm 2006, Joachim Löw là trợ lý của Jürgen Klinsmann. Vòng chung kết Euro 2008 Joachim Löw dẫn dắt đội tuyển Đức khá thành công, lọt vào tới trận chung kết và chỉ chịu thất thủ 0-1 trước Tây Ban Nha.
Tiếp đó ông chỉ huy "Những cỗ xe tăng" vượt qua vòng loại World Cup 2010 khu vực châu Âu một cách đầy ấn tượng. Vòng chung kết World Cup 2010 vừa qua Đức được xem là một trong những ứng viên hàng đầu cho chức vô địch. Thế nhưng do để thua nhà vô địch Tây Ban Nha ở bán kết, nên Đức chỉ xếp thứ ba sau khi thắng Uruguay 3-2 ở trận tranh hạng ba. Dù sao thì chiếc cúp vô địch vẫn đang chờ đợi đội bóng với đội hình trẻ nhất của đội tuyển Đức trong vòng 76 năm trở lại đây, bởi vì trận thắng ngoạn mục 4-1 trước Anh và 4-0 trước Argentina tại World Cup 2010 đã chứng minh được điều đó.
Tại World Cup 2014, Joachim Löw đã đưa đội tuyển Đức vào trận chung kết. Trên đường tới trận này đội tuyển Đức đã loại các đội mạnh như Pháp, và nhất là đội chủ nhà Brasil với trận thắng 7-1 ở bán kết và đánh bại đội tuyển Argentina với tỉ số 1-0 ở chung kết để lần thứ 4 lên ngôi vô địch. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một đội bóng châu Âu vô địch World Cup trên đất châu Mỹ.
== Sân vận động ==
Đức không có sân vận động quốc gia duy nhất, do vậy đội tuyển bóng đá quốc gia của họ thường chơi trên các sân vận động khác nhau trong toàn nước Đức. Họ đã chơi các trận đấu trên sân nhà ở 39 thành phố khác nhau, bao gồm các trận khi đội Đức chơi ở sân Vienna, Áo trong giai đoạn giữa 1938 và 1942.
Đội tuyển quốc gia Đức thường hay chơi tại (cho tới nay đã 42 lần) ở sân vận động ở thành phố Berlin, và cũng là nơi mà lần đầu tiên đá trên sân nhà gặp đội tuyển Anh năm 1908. Những thành phố khác bao gồm: Hamburg (34 trận), Stuttgart (29), Hanover (24) và Dortmund. Những thành phố nổi bật khác bao gồm Munich, cũng là nơi tổ chức nhiều sự kiện thể thao lớn cũng như của bóng đá Đức, bao gồm trận chung kết FIFA World Cup 1974 nơi đội tuyển Đức lên ngôi vô địch trước đội tuyển Hà Lan.
== Trang phục ==
Adidas AG là nhà cung cấp trang phục lâu năm cho đội tuyển quốc gia, nhà tài trợ này bắt đầu cung cấp cho đội tuyển từ năm 1954 và hợp đồng còn kéo dài đến 2018. Trong những năm 70, đội Đức mặc trang phục của hãng Erima (một thương hiệu Đức, từng là chi nhánh của Adidas).
Trang phục của đội tuyển luôn có áo màu trắng và quần đùi màu đen. Những màu này giống với màu của cờ thế kỷ 19 của Vương quốc Phổ. Từ 1988, các nhà thiết kế áo thi đấu đã kết hợp thêm các chi tiết của cờ Đức (với một ngoại lệ tại World Cup 2002, khi trang phục của đội tuyển có thuần túy màu đen và trắng). Màu sắc của trang phục phụ có một vài sự thay đổi theo thời gian. Tại World Cup 2014, trang phục chính của đội tuyển với áo và quần đều màu trắng so với trang phục truyền thống, lý do này là màu sắc của bộ quần áo không phù hợp với các quy định của FIFA trong giải đấu. Về mặt lịch sử, trang phục phụ với áo màu xanh và quần trắng thường được sử dụng hơn so với các bộ khác, với màu xanh giống với màu của logo DFB – mặc dù đôi khi người ta hiểu nhầm rằng màu xanh giống với màu áo của đội tuyển Ireland, đội đầu tiên gặp tuyển Đức trong trận đấu giao hữu sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tuy nhiên, đội đầu tiên đá với đội tuyển sau chiến tranh thế giới lần hai là đội Thụy Sĩ. Các màu khác như đỏ, xám và đen cũng thường được sử dụng.
Màu sắc thay đổi từ đen sang đỏ bắt đầu từ năm 2005 khi Jürgen Klinsmann đã kiến nghị thay đổi màu áo, nhưng đội Đức vẫn sử dụng trang phục màu trắng truyền thống khi đội tuyển chơi trên sân nhà tại World Cup 2006. Năm 2010, trang phục thay đổi sang quần màu trắng và áo màu đen xám, mặc dù vậy đội tuyển vẫn mặc trang phục chính với quần đen và áo trắng lúc thi đấu. Trang phục phụ của đội tuyển thay đổi sang áo có dải màu đỏ và đen với chữ màu trắng, quần màu đen.
== Danh hiệu ==
Vô địch thế giới: 4
Vô địch (4): 1954; 1974; 1990; 2014
Á quân (4): 1966; 1982; 1986; 2002
Hạng ba (4): 1934; 1970; 2006; 2010
Hạng tư (1): 1958
Cúp Liên đoàn các châu lục: 0
Hạng ba (1): 2005
Vô địch châu Âu: 3
Vô địch (3): 1972; 1980; 1996
Á quân (3): 1976; 1992; 2008
Bán kết (3): 1988; 2012; 2016
Bóng đá nam tại Olympic:
1976
1980
1964; 1972; 1988
Hạng tư: 1952
== Thành tích quốc tế ==
=== Giải vô địch bóng đá thế giới ===
=== FIFA Confederations Cup ===
=== Giải vô địch bóng đá châu Âu ===
== Cầu thủ ==
=== Kỷ lục ===
Số bàn thắng
(tính đến ngày 26 tháng 3 năm 2017)
Số lần khoác áo đội tuyển quốc gia
(tính đến ngày 22 tháng 3 năm 2017)
=== Các kỷ lục khác ===
Cầu thủ tham dự nhiều kỳ World Cup nhất: Lothar Matthäus - 5 lần (cũng là kỉ lục thế giới cùng với thủ môn Mexico Antonio Carbajal và thủ môn Ý Gianluigi Buffon)
Cầu thủ tham dự nhiều trận đấu tại World Cup nhất: Lothar Matthäus - 25 trận (kỉ lục thế giới)
Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng tại World Cup nhất: Miroslav Klose - 16 bàn
Cầu thủ tham dự nhiều trận đấu tại Euro nhất: Thomas Häßler và Jürgen Klinsmann - 13 trận
Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng tại Euro nhất: Jürgen Klinsmann - 5 bàn
Tính tại các vòng chung kết World Cup và Euro
== Đội trưởng và huấn luyện viên trưởng ==
Ghi chú
* Đội trưởng danh dự.
== Thống kê huấn luyện viên ==
Chú thích
Tính cả thắng trên loạt sút luân lưu.
Tính cả thành tích trước khi Đức chia cắt (1936–1942 – 70 trận: 42 thắng, 13 hòa, 15 thua) và Tây Đức (1950–1964 – 97 trận: 52 thắng, 14 hòa, 31 thua; không thi đấu và không có huấn luyện viên từ 1942 tới 1950).
Tính đến ngày 27 tháng 7 năm 2014.
== Áo đấu ==
Áo chính thức
=== Đội ngũ kĩ thuật ===
== Lịch thi đấu ==
=== 2017 ===
== Đội hình ==
Đội hình đội tuyển Đức triệu tập cho trận giao hữu gặp Anh và vòng loại World Cup 2018 gặp Azerbaijan vào các ngày 22 và 26 tháng 3 năm 2017.
Số liệu thống kê tính đến ngày 26 tháng 3 năm 2017 sau trận gặp Azerbaijan.
=== Triệu tập gần đây ===
Dưới đây là tên các cầu thủ được triệu tập trong vòng 12 tháng.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức trên DFB
Trang chủ của giải vô địch bóng đá thế giới 2006
Schwarz und Weiß: A website about the German National Team in English
Thống kê trên RSSSF
Thống kê trên DFB (tiếng Đức)
Đội tuyển Đức trên FIFA |
thị trường tự do.txt | Thị trường tự do là một thị trường mà không có sự can thiệp kinh tế và quy định của nhà nước, ngoại trừ việc thực thi các hợp đồng tư nhân và quyền sở hữu tài sản. Thị trường tự do ngược lại với thị trường có kiểm soát, trong đó nhà nước trực tiếp quy định hàng hoá, dịch vụ và lao động có thể được sử dụng, định giá giá cả, hoặc phân phối như thế nào, hơn là dựa vào cơ chế sở hữu tư nhân. Những người ủng hộ thị trường tự do về mặt truyền thống xem thuật ngữ này ngụ ý rằng các phương tiện sản xuất là thuộc tư nhân, không phải thuộc kiểm soát của nhà nước. Đây là cách sử dụng đương đại cụm từ "thị trường tự do" bởi các nhà kinh tế và văn hóa đại chúng; thuật ngữ này trong lịch sử đã có các cách sử dụng khác.
Một nền kinh tế thị trường tự do là một nền kinh tế nơi mà tất cả các thị trường bên trong nó không được kiểm soát bởi các bên khác hơn so với những người tham gia trên thị trường. Ở dạng thuần khiết nhất của nó chính phủ đóng một vai trò trung lập trong việc quản lý và điều ban hành pháp luật về hoạt động kinh tế không giới hạn và cũng không tích cực thúc đẩy nó (ví dụ như điều tiết các ngành công nghiệp cũng như trợ cấp cung cấp cho các doanh nghiệp cho phép một mình bảo vệ họ khỏi áp lực thị trường nội / ngoại). Một nền kinh tế như vậy dưới hình thức cực đoan nhất của nó không tồn tại trong nền kinh tế phát triển, tuy nhiên những nỗ lực tự do hóa nền kinh tế hoặc nỗ lực làm cho nó "tự do hơn" để hạn chế vai trò của chính phủ theo cách như vậy.
Lý thuyết này cho rằng trong một thị trường lý tưởng tự do, quyền sở hữu được trao đổi một cách tự nguyện trao đổi ở một mức giá được thỏa thuận chỉ bằng sự đồng ý lẫn nhau của người bán và người mua. Theo định nghĩa, người mua và người bán không ép buộc lẫn nhau, theo nghĩa là họ có được quyền sở hữu của nhau mà không sử dụng vũ lực, đe dọa của lực lượng vật chất, hoặc gian lận, cũng không phải là họ bị cưỡng chế do bên thứ ba (như của chính phủ thông qua các khoản thanh toán chuyển giao)và họ tham gia vào thương mại đơn giản chỉ vì họ đều đồng ý và tin rằng những gì họ đang nhận được là giá trị nhiều hơn hoặc càng nhiều càng tốt những gì họ bỏ đi. Giá là kết quả của các quyết định mua bán hàng loạt như được mô tả bởi các lý thuyết về cung và cầu.
== Xem thêm ==
Thị trường
Kinh tế thị trường
Chợ đen
Chợ xám
Chợ đen
Buôn lậu
Kinh tế ngầm
== Tham khảo == |
bonsai.txt | Bonsai (tiếng Nhật: 盆栽; Hán-Việt: bồn tài, nghĩa là "cây con trồng trong chậu") là loại cây cảnh nhỏ có dáng cổ thụ trồng trong chậu cảnh.
== Lịch sử ==
Bonsai có nguồn gốc từ núi cao Trung Quốc và sau đó nó được phổ biến sang Nhật Bản và Hàn Quốc và khi họ phát hiện trên núi có các cây nhỏ mọc hoang dã giống cây cổ thụ, có sức sống mãnh liệt trong mọi điều kiện khó khăn, sau đó người ta đem nó về trồng trong chậu nhỏ và cắt tỉa làm dáng cho đẹp hơn.
-Bonsai có vị trí đặc biệt trong cộng đồng cư dân sống tại Trung Quốc và những người Hoa sống ở Đài Loan, Thái Lan và singapore. Những nghệ nhân bậc thầy về bonsai của Trung Quốc ngày nay vẫn tạo ra sự khác biệt giữa bồn tài và bồn cảnh. Nghệ thuật bồn cảnh xuất hiện từ thời kỳ đầu của nhà Hán, khoảng năm 206 trước công nguyên đến năm 220. Một trong những truyền thuyết của Trung Quốc cho rằng vào thời nay, có vị hoàng đế đã tạo ra phong cảnh trong sân vườn của ông với núi đồi, thung lũng, sông hồ, cây cối. Nơi này miêu tả cho cảnh vật trong đế quốc của ông và ông có thể ngắm qua khung cửa sổ. Phong cảnh nghệ thuật này chỉ mình ông sở hữu và cấm mọi người ngắm nhìn. Đây chính là truyền thuyết nói về nghệ thuật tạo hình cây cối, nhà cửa,con người thú vật ở Trung Quốc. Nói về bồn tài có truyền thuyết cho rằng triều đại nhà Tần (năm 221 đến 226 trước công nguyên). Đào Uyên Minh là một nhà thơ nổi tiếng và là quan chức có vị trí cao trong xã hội. Ông đã mệt mỏi với công việc triều chính, về ở ẩn nơi hoang vắng và yên bình. Tại đây ông bắt đầu trồng cây hoa cúc vào trong chậu. Đây là bước khởi đầu của trồng cây trong chậu. Năm 1972, người ta phát hiện ra cây bonsai trong hầm mộ của hoàng tử zhang- huai (đời nhà đường năm 618 đến 907). Năm 1000, trong triều đại nhà tống, có những bài thơ miêu tả bồn cảnh và nhiều tài liệu dạy cách tạo ra tác phẩm bonsai. Triều đại nhà Thanh (năm 1644 đến 1911) bồn cảnh và bồn tài trở thành sở thích của các tầng lớp trong xã hội Trung Quốc. Người Nhật đã giới thiệu bonsai đến hội chợ thế giới vào năm 1978 tại Paris rồi tới London vào năm 1909. Trong triều đại nhà Nguyễn (năm 1280 đến năm1368), những vị bộ trưởng và thương gia người Nhật đã đưa cây cảnh từ Trung Quốc về Nhật Bản, xem nó là quà tặng. Cuối triều đại nhà Minh, chu shun-sui, một quan chức Trung Quốc, không chịu được luật lệ hà khắc đã bỏ trốn sang Nhật. Khi đi ông đã mang theo toàn bộ tuyển tập cây cảnh. Ông đã góp phần quảng bá nghệ thuật cây cảnh ở Nhật Bản. Thời ấy Nhật Bản đã tạo ra một cách riêng trong việc trồng bonsai. Đây là một nghệ thuật dành cho giới quý tộc, đó là giới samurai và đến cuối thế kỷ qua mới trở thành sở thích của mọi tầng lớp trong xã hội Nhật Bản. Năm 1989, bonsai phát triển đến giai đoạn rực rỡ
== Phát minh mới của Nhật Bản ==
Nghệ thuật trồng bonsai của Nhật Bản từ xưa vốn đã nổi tiếng toàn thế giới vì sự cầu kỳ, tinh tế. Ngày nay, nhờ việc ứng dụng công nghệ mới, chúng ta không những vẫn có thể chăm sóc, cắt tỉa cây như truyền thống mà còn chiêm ngưỡng cây bonsai lơ lửng trong trạng thái không trọng lực gây ấn tượng mạnh đối với mọi người.
Mới đây những nhà phát minh của Nhật Bản đã có một quyết định táo bạo và độc đáo khi kết hợp công nghệ cao với nghệ thuật để tạo ra cây cảnh (bonsai) bay đầu tiên trên thế giới. Bầu cây được đặt trên một chậu cảnh có từ tính đặc biệt giúp nó cân bằng trong không khí và thậm chí có thể xoay vòng tại chỗ.
Air Bonsai là một loại cây cảnh mang phong cách bonsai truyền thống nhưng có kích thước nhỏ hơn. Nó sử dụng năng lượng từ tính để giúp cây lơ lửng và xoay trên không trung.
Sáng tạo này ra đời nhờ những cục nam châm. Phần dưới là một bộ phận năng lượng, phần trên được gọi là bóng nổi gọi là "Little Star". Cả hai bộ phận đều được gắn nam châm, lợi dụng từ trường của hai cực đối nghịch nhau của nam châm mà "Little Star" có thể nổi và chứa những cây bonsai lơ lửng.
Về cơ bản, bonsai bay gồm phần đế và phần gốc của cây bonsaimini. Phần đế là phần năng lượng phát ra lực từ tính, nó sẽ có cơ chế xoay làm cho bonsai vừa bay vừa xoay. Phần đế có khe cắm điện ở phía dưới đáy. Chất liệu phần đế có mặt trên làm bằng gương, phần thân làm từ gốm sứ Nhật Bản dòng imari truyền thống. Phần gốc bonsai các nhà thiết kế đặt một tấm bọt biển và đất để cây có thể bám và ổn định với trọng lượng 300gram. Phần gốc bonsai mini có hai loại moss và lava. Trong đó, moss hình tròn, lava làm từ đá núi lửa sakurajima ở phía nam kyushu. Cả hai phần đều được gắn nam châm điện. Nổi bật của bonsai bay là đa dạng về mẫu mã. Nhà sản xuất đưa ra nhiều mẫu chậu bonsai đều có vẻ đẹp riêng và ấn tượng. Và làm hài lòng nhiều người khó tính trong lĩnh vực cây cảnh. Cho đến thời điểm này, dự án bonsai của nhóm hoshichu đã thành công và đạt 300 nghìn usd. Theo dự kiến bonsai bay được trưng bày vào tháng 8 năm 2016 với giá 200 usd.
- ngoài bốn điểm quan trọng trên, cây còn tượng trưng cho quân, thần, phụ tử, tam cương, tam tòng và tứ đức. Quân là thân cây. Thần là cành cây lớn. Phụ là nhánh cây nhỏ. Tứ là lá cây. Tam cường là ba tầng của cây. Ngũ thường là năm nhánh của cây. Tứ đức là bốn đoạn của cây.
== Ý nghĩa. ==
Là một cây cảnh đẹp để trong nhà hoặc ngoài sân, nhưng ý nghĩa sâu xa và là cái thú của người chơi là động viên con người phải sống mạnh mẽ giống như cây bonsai đã sống.
== Dáng cây cơ bản ==
Trên thế giới, người ta chia bonsai thành bốn nhóm:
Cây dưới 15 cm là loại bonsai rất nhỏ
Cây cao từ 16 đến 30 cm là loại bonsai nhỏ
Cây cao từ 31 đến 60 cm là loại bonsai trung bình
Cây cao trên 60 cm là loại bonsai lớn
Loại dưới 15 cm là "mini bonsai", thường được trồng trong chậu nhỏ và trưng bày trong nhà. Còn loại trên 60 cm là cậy trồng trong chậu đặt ở sân vườn hoặc trước hàng hiên nhà.
Ban đầu, chỉ có 5 thế bonsai cơ bản là: thẳng đứng (Chokkan), thẳng đứng phóng khoáng (Moyogi), nghiêng (Shakan), thác đổ (Kengai) và nửa thác đổ (Han Kengai ). Về sau, người ta phát triển thành nhiều thế khác như: rễ phủ trên đá (Sekijoju), rễ trong đá (Ishizuke), chổi (Hokidachi ), bạt phong (windswept), song thụ và tam thụ (Ikadabuki), thế lùm (clump style), văn nhân (bunjin-gi), thế cành rủ (weeping style), thế gỗ mục (dead wood) và nhóm cây hay rừng (Yose Uye)...
Để có những cây bonsai giá trị, người ta thường dựa vào các yếu tố sau:
Cây phải trổ nhiều hoa và hoa phải có màu sắc đẹp
Lá xanh mướt, bóng; lá càng nhỏ càng tốt
Thân cây phát triển kiểu "đầu voi đuôi chuột" (phần góc lớn hơn phần ngọn). Một cây có thân suôn đuột, đường kính gốc và phần ngọn không chênh lệch nhau nhiều thì không thể làm thành cây bonsai
Cành, nhánh phải phân chi rõ ràng, phù hợp với một loại dáng thế nào đó đã định trước. Cành, nhánh phải mọc được những chồi non tốt
Vỏ cây phải thu hút được cái nhìn của người thưởng ngoạn (càng sần sùi, lộ vẻ già nua càng tốt)
Bộ rễ dày, to, gân guốc nằm lộ khoảng 1/3 trên mặt chậu
Những yếu tố nêu trên kết hợp hài hòa với nhau sẽ tạo ra một cây bonsai lý tưởng (nếu có dáng thế phù hợp).
== Hình ảnh ==
== Các địa điểm bonsai ở Việt Nam ==
Làng văn hóa ẩm thực Nam Định
Làng Du lịch sinh thái Điền Xá - Nam Trực - Nam Định
Làng cây cảnh Nghi Tàm, Quảng Bá - Hà Nội
Thị xã Sa Đéc - Đồng Tháp
Ngoài ra con nhiều nơi cũng bắt đầu hình thành nghề làm cây cảnh như Hà Tây cũ, Hải Dương...
Làng hoa kiểng Cái Mơn (huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).
== Xem thêm ==
Hòn non bộ
Nghệ thuật tỉa cây (Topiary)
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Bonsai tại Wikimedia Commons |
copenhagen.txt | Copenhagen (phiên âm tiếng Việt: Cô-pen-ha-ghen; tiếng Đan Mạch: København, IPA: [kʰøb̥m̩ˈhɑʊ̯ˀn]) là thủ đô và là thành phố lớn nhất của Đan Mạch, đồng thời là thành phố lớn thứ hai trong khu vực Bắc Âu (chỉ thua thành phố Stockholm - thủ đô của Thuỵ Điển). Copenhagen có 1.153.615 cư dân (2008). Với công trình cầu Oresund nối liền hai quốc gia Đan Mạch-Thụy Điển, Copenhagen đã trở thành trung tâm của vùng đô thị Đan Mạch-Thụy Điển có tên là Oresund. Đây là vùng lớn nhất Scandinavia với dân số trên 3,5 triệu người. Với cương vị thủ đô, Copenhagen là nơi đặt trụ sở của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trung ương của Đan Mạch.
== Tên gọi ==
Tên thành phố thời trung cổ là Køpmannæhafn, tiếng Đan Mạch cổ, có nghĩa là Cảng của các nhà buôn, thể hiện tầm quan trọng của các nhà buôn đối với thành phố trong thời điểm đó. Một loạt tên bằng các ngôn ngữ khác dựa theo tên nguyên thủy tiếng Đan Mạch. Ví dụ Kopenhagen trong tiếng Đức và tiếng Hà Lan, Copenhagen trong tiếng Anh, Copenhague trong tiếng Pháp, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Tây Ban Nha, Hafnia trong tiếng Latin, Copenaghen trong tiếng Ý, Köpenhamn trong tiếng Thụy Điển, Koppenhága trong tiếng Hungary, Kööpenhamina trong tiếng Phần Lan, Kopenhaga trong tiếng Ba Lan, Kопенга́ген trong tiếng Nga, Kaupmannahöfn trong tiếng Iceland vv... Người dân tỉnh lẻ - nhất là ở Jutland - đôi khi cũng gọi theo tiếng lóng là Københavnstrup.
Một nguyên tố hóa học được phát hiện tại viện Niels Bohr năm 1923 được đặt tên là hafnium, theo tên tiếng Latin của thành phố.
== Địa lý ==
Copenhagen nằm trên 3 đảo là Amager, Slotsholmen và phần phía đông đảo Zealand. Một loạt cầu và đường hầm nối liền các phần của thành phố trên 3 đảo này.
=== Khí hậu ===
== Lịch sử ==
Có một phần di tích từ thời tiền sử là vết tích một nơi cư ngụ bên bờ biển từ thời đại đồ đá mới, được tìm thấy ở khu vực Copenhagen, khi xây dựng Strandpark ở đảo Amager bên Eo biển Oresund. Các gò mộ cổ ở vùng ngoại ô cũng chứng tỏ nơi đây đã có người cư ngụ từ thời đại Viking.
Người ta cho rằng ở khoảng năm 1000, Copenhagen chỉ là 1 thôn nhỏ của các ngư dân, ở vị trí phía bắc Tòa đô chính hiện nay, tại khoảng đường Mikkel Brygger. Tuy nhiên khi đào đường xe điện ngầm, người ta đã tìm thấy dấu vết các cầu tàu ở Gammel Strand (Bãi biển cũ), từ khoảng năm 800. Khi đào hầm để làm nhà ga xe điện ngầm ở Kongens Nytorv người ta lại tìm thêm được vết tích 1 nhà từ thời đại Viking.
Thành phố được nêu với tên "Havn" lần đầu trong các nguồn sử liệu là 1 trận hải chiến giữa Svend Estridsen với vua Na Uy Magnus den Gode năm 1043. Sau đó, trong suốt 120 năm sau, không thấy nhắc tới tên này nữa, điều đó chứng tỏ là Copenhagen thời đó chỉ có tầm quan trọng thứ yếu so với các thành phố khác. Dường như trong thế kỷ 12, thành phố nổi lên vì nằm ở vị trí giữa các thành phố lớn có nhà thờ chính tòa là thành phố Lund (nam Thụy Điển, thời đó thuộc Đan Mạch) và thành phố Roskilde, do đó là điểm nút giao thông và buôn bán quan trọng giữa 2 thành phố lớn đó. Ở nửa sau thế kỷ 12, thành phố nhỏ tên "Hafn" hoặc "Køpmænnahafn" lại được Saxo Grammaticus nói đến, khi cho biết là khoảng năm 1160, thành phố này được trao cho giám mục Absalon - không biết năm chính xác, vì giấy trao tặng không còn tìm thấy. Tuy nhiên, ở Nha Văn khố quốc gia còn lưu 1 thư xác nhận của giáo hoàng Urban III ký ngày 21.10.1186 (26 năm sau) với phong bì có dấu niêm phong. Khoảng 1167-1171, Absalon xây 1 lâu pháo đài và 1 tường thành. Dường như lâu pháo đài đó nằm trên đảo nhỏ Slotsholmen, chỗ lâu đài Christianborg ngày nay. Cũng dường như chính Absalon đã xây 1 nhà thờ đầu tiên trong thành phố là nhà thờ thánh Clemens.
Ngoài ra, Absalon cũng được trao cho các thành phố khác là Serridslev, Vigerslev, Valby, Brønshøj, Emdrup, Vanløse, Virum, Bagsværd, Rødovre, Tårnby và Nærum (đều ở Zealand).
Thành phố bắt đầu phát triển trong thời kỳ Absalon lãnh đạo, nhất là trong thế kỷ 13, thành phố mở rộng phần lớn giữa quảng trường Kongens Nytorv và quảng trường Tòa đô chính (Rådhuspladsen). Các Nhà thờ Đức Bà, Tu viện dòng Phanxicô, nhà thờ thánh Phêrô, thánh Nicolai đều được xây trong nửa đầu thế kỷ 13. Thế kỷ này là thế kỷ bất ổn trong lịch sử Đan Mạch vì có cuộc tranh chấp gay gắt về quyền làm chủ các thành phố giữa các vua và các giám mục. Năm 1251 giám mục Jacob Erlandsen đã ép vua Abel trao thành phố cho ông ta, và năm 1254 lần đầu tiên ông ta đã cho thành phố này quyền là thành phố lớn. Tuy nhiên chỉ 5 năm sau, năm 1259, thành phố bị hoàng thân Jaromar tấn công chiếm đóng.
Sau đó thành phố dân dần lớn lên trở thành thành phố lớn nhất và quan trọng nhất vương quốc, mặc dù chưa trở thành thủ đô.
Cuộc chiến tranh giữa các thành phố buôn bán Đức với vua Đan Mạch Valdemar Atterdag, khiến cho thành phố bị chiếm và lâu pháo đài bị phá năm 1368. Năm 1419, cuối cùng vua Erik af Pommern đã hoàn toàn nắm thành phố từ tay giáo hội. Từ đó các vua Đan Mạch đều coi Copenhagen là thành phố quan trọng và năm 1443 vua Christoffer III đã biến thành phố thành nơi cư ngụ của nhà vua và gia tộc.
Năm 1479, trường đại học Copenhagen được thành lập.
Dưới thời Cải cách (sang đạo Tin Lành) và trong cuộc nổi dậy của bá tước Christoffer af Oldenburg (1534-36), dân thành phố đứng về phe vua thất trận Christìan II, nhưng được tha, không bị vua mới Christian III trả thù.
Dưới thời vua Christian IV, các tường thành phố cũ dọc theo đường Gothersgade bị phá bỏ, thành phố mở rộng tới khoảng đoạn đường sắt hiện nay giữa Nørreport và Østerport, trong khi các bờ lũy bao quanh thời trung cổ được hiện đại hóa và được mở rộng với các công sự phòng thủ ở khu mới Christianshavn. Từ 1658-1660 dưới thời chiến tranh với Thụy Điển lần I, Copenhagen là khu vực cuối cùng còn ở trong sự kiểm soát của Đan Mạch, mặc dù bị quân Thụy Điển bao vây. Tháng 2/1659, quân Thụy Điển tìm cách tấn công thành phố, nhưng quân và dân thành phố đã giữ vững và quân Thụy Điển tiếp tục bao vây tới ngày 27.5.1660.
Khi vua Frederik III lập chế độ quân chủ chuyên chế năm 1660 thì Copenhagen càng trở nên quan trọng, vì mọi quyết định đối với quốc gia đều xuất phát từ đây. Năm 1664 chiến lũy của thành phố được hoàn tất ở khu Østerport. Năm 1711-1712 Copenhagen bị 1 trận dịch hạch lớn nhất trong lịch sử, giết chết khoảng 20.000 người trong tổng số khoảng 60.000 cư dân. Năm 1728 Copenhagen lại bị 1 trận hỏa hoạn thiêu hủy hơn 1/4 thành phố.
Năm 1748 người ta lập khu Frederiksstaden ở phía bắc quảng trường, sau này dinh Amalienborg được xây ở đây. Nửa sau thế kỷ 18, Copenhagen phát triển nhanh, nhờ lợi dụng việc tranh chấp thương mại giữa Anh và Pháp. Năm 1794, dinh Christiansborg bị cháy và năm 1795 lại 1 trận hỏa hoạn nữa thiêu hủy khu cổ thành. Sau đó hạm đội Đan Mạch bị hạm đội Anh bắt giữ, rồi cuộc bắn phá thành phố của quân Anh năm 1807, khiến cho thành phố hư hại nhiều.
Sau một số năm bị khủng hoảng, thành phố lại bắt đầu phát triển nhanh trong thế kỷ 19. Về văn hóa, Copenhagen là cái khung cho thời kỳ vàng son lịch sử của Đan Mạch. Tuy nhiên cái nổi bật nhất là việc kỹ nghệ hóa trong nửa sau thế kỷ 19.
Sau trận dịch tả đáng sợ năm 1853, người ta quyết định phá bỏ các tường thành có tính quân sự cũ và người dân bắt đầu định cư ở vùng bên ngoài các tường thành này, tạo thành các khu mới với cầu nối như Nørrebro (từ 1852), Vesterbro, Østerbro, Amagerbro, Islands Brygge (từ 1905) khiến cho dân số tăng nhanh. Khoảng năm 1800 Copenhagen có khoảng 100.000 dân nhưng đến đầu thế kỷ 20 đã có xấp xỉ 500.000 dân và trở nên thành phố công nghiệp lớn.
Năm 1905, xây Tòa đô chính và năm 1911 xây Nhà ga xe lửa chính.
Sau thế chiến thứ nhất, mọi thứ đều thiếu thốn và nạn thất nghiệp lớn khiến cho các khu dân lao động bất ổn. Sau đó dần dần thành phố mở rộng tới các kkhu ngoại thành, và việc giao thông công cộng cũng mở rộng. Năm 1934 khai trương tuyến đường sắt cho xe điện nội thành và vùng ngoại ô.
Trong thế chiến thứ hai Copenhagen cũng như toàn Đan Mạch bị quân Đức quốc xã chiếm đóng tới khi kết thúc chiến tranh, ngày 5.5.1945. Nhiều nhà bị phá - hoặc do du kích phá hoại hoặc do quân Đồng Minh ném bom - trong đó có thể kể đến Shellhuset, đại bản doanh của Gestapo (bị bom của Anh phá ngày 21.3.1945). Trong cuộc ném bom này, Den Franske Skole (trường Pháp) ở Frederiksberg cũng không may bị trúng bom, giết chết nhiều học sinh. Nhiều nhà máy kỹ nghệ cũng bị quân kháng chiến Đan Mạch cho nổ tung.
Sau chiến tranh, thành phố gia tăng nhiều xe hơi, khiến nảy sinh kế hoạch phát triển thành phố theo dạng 5 ngón tay xòe ra từ mạng lưới xe điện nội ngoại thành. Một số nkhu ngoại thành đã nhanh chóng mọc lên. Sau năm 1990 Copenhagen bắt đầu phát triển nhanh hơn nữa với hệ thống xe điện ngầm, khu thể thao - văn hóa hiện đại Parken và cả các khu thành phố hoàn toàn mới (Ørestad, Islands Brygge, Teglholmen) gần ngay khu trung tâm.
Nhất là sau khi xây xong Cầu Oresund và Copenhagen trở thành trung tâm vùng Oresund thì thành phố là một trong các nơi có giá sinh hoạt đắt đỏ nhất.
== Hành chính ==
Khu vực Copenhagen trực thuộc 2 vùng hành chính là Vùng Thủ đô và Vùng Zealand và gồm có các thị xã hành chính sau:
Thị xã Copenhagen
Thị xã Frederiksberg
Thị xã Albertslund
Thị xã Brøndby
Thị xã Gentofte
Thị xã Gladsaxe
Thị xã Glostrup
Thị xã Herlev
Thị xã Hvidovre
Thị xã Lyngby-Taarbæk
Thị xã Rødovre
Thị xã Tårnby
Thị xã Vallensbæk
và là một phần của các thị xã sau:
Thị xã Ballerup
Thị xã Rudersdal
Thị xã Furesø
Thị xã Ishøj
Thị xã Greve
Thị xã Copenhagen là thị xã đông dân nhất với khoảng 500.000 dân (gần nửa dân số của Copenhagen). Các thị xã lớn khác như Thị xã Frederiksberg (93.000), Gentofte (69.000) và Gladsaxe (62.500), còn các thị xã nhỏ như Vallensbæk có 12.000. Về diện tích, thị xã Copehagen cũng lớn nhất với 88 km², Lyngby-Taarbæk (39 km²), trong khi các thị xã nhỏ như Frederiksberg có 9 km².
Thị xã Frederiksberg là nơi có mật độ dân số lớn nhất Đan Mạch với 10.600 dân/km².
Cơ quan cao nhất của thị xã là Hội đồng thành phố Copenhagen, gọi là Borgerrepræsentationen (Ban đại diện nhân dân) gồm 55 thành viên, do dân bầu trực tiếp mỗi 4 năm 1 lần. Cuộc bầu cử lần chót diễn ra trong tháng 11/2005 với số đại biểu thuộc các đảng sau:
Dân chủ xã hội (A): 21 đại biểu
Venstre (đảng Tả) (V): 8 đại biểu
Đảng Nhân dân xã hội (F): 7 đại biểu
Đảng Tả cấp tiến (B): 7 đại biểu
Danh sách thống nhất (Ø): 6 đại biểu
Đảng nhân dân bảo thủ (C): 3 đại biểu
Đảng Nhân dân Đan Mạch (O): 3 đại biểu
Hội đồng thành phố này có các tiểu ban sau:
Tiểu ban Kinh tế - dưới quyền đô trưởng Ritt Bjerregaard (A)
Tiểu ban Văn hóa & giải trí - dưới quyền trưởng ban Pia Allerslev (V)
Tiểu ban Nhi đồng và Thanh thiếu niên - dưới quyền trưởng ban Bo Asmus Kjeldgaard (F)
Tiểu ban Y tế và Chăm sóc dân - dưới quyền trưởng ban Mogens Lønborg (C)
Tiểu ban Xã hội - dưới quyền trưởng ban Mikkel Warming (Ø)
Tiểu ban Kỹ thuật & Môi trường - dưới quyền trưởng ban Klaus Bondam (B)
Tiểu ban Việc làm & Hội nhập - dưới quyền trưởng ban Jakob Hougaard (A)
== Dân số ==
Bên phải là Biểu đồ phát triển dân số của riêng Thị xã Copenhagen, trong tính các thị xã ngoại ô Bên dưới là Bảng kê dân số từ thời xưa:
== Du lịch & Văn hóa ==
=== Các thắng cảnh ===
Tượng người cá (Den lille Havfrue), ở Langelinie, do Edvard Eriksen thiết kế theo yêu cầu của chủ hãng bia Carl Jacobsen, được khánh thành ngày 23.8.1913. Tượng thể hiện người cá Havfruen trong truyện thần tiên của Hans Christian Andersen, dựa theo khuôn mặt của nữ diễn viên Ellen Price và thân người dựa theo Eline, vợ của Edward Eriksen.
Công viên giải trí Tivoli, nằm giữa Quảng trường Tòa đô chính và Nhà ga xe lửa Copenhagen. Công viên được Georg Carstensen khai trương năm 1843, hồi đó nằm ngoài các bờ lũy, trong khu vực chưa có nhà cửa. (den ældste er Dyrehavsbakken)
Tháp tròn (Rundetårn), nguyên là đài quan sát thiên văn
Børsen (Khu giao dịch chứng khoán)
Nyboder
Christianshavn (khu thành phố mới)
Lâu đài Rosenborg
Amalienborg (dinh nữ hoàng)
Marmorkirken (Nhà thờ bằng đá hoa)
Fristaden Christiania
Thư viện hoàng gia (được gọi là Viên Kim cương đen)
Nhà hát thành phố (mới)
=== Các nhà hát & Nhà hát Opera ===
=== Các nhà bảo tàng ===
=== Thể thao ===
Câu lạc bộ bóng đá FC København, chơi ở giải Siêu hạng Đan Mạch.
Câu lạc bộ bóng đá Brøndby IF, chơi ở giải Siêu hạng Đan Mạch.
Một số đội bóng hạng 1 và hạng 2 như AB, B.93, Brønshøj, Frem, Fremad Amager, HIK và Skjold.
Đội bóng ném nam FCK Håndbold, chơi ở giải hạng nhất nam.
Đội bóng ném nữ Copenhagen, chơi ở giải hạng nhất nữ.
Các đội bóng ném Ajax Heroes, Ydun và HIK, chơi ở giải hạng 2.
Từ 1988 tới 2003, giải quần vợt Copenhagen Open (ATP) được tổ chức hàng năm ở KB-Hallen tại Frederiksberg
Giải Copenhagen Athletics Games từ 2005-2007
Các câu lạc bộ chèo thuyền DSR và Kvik, hàng năm đêu tham dự cuộc đua "svanemøllematch", từ năm 1895
Các câu lạc bộ đua thuyền khác như Københavns Roklub, SAS, Amager Ro- og Kajakklub và Bagsværd Roklub.
Ở Thị xã Copenhagen, người ta đang lập kế hoạch biến thành phố thành nơi tổ chức các sự kiện thể thao quốc tế., trong đó có việc xin tổ chức Thế vận hội mùa hè 2020. Ngoài ra Copenhagen cũng là chủ nhà của giải World Outgames 2009, giải thể thao quốc tế cho các người đồng tính luyến ái.
== Giáo dục & Đào tạo ==
Thành phố có cá trường đào tạo sau đây:
Đại học Copenhagen
Copenhagen Business School (CBS)
Đại học Công nghệ thông tin Copenhagen
Kunstakademiets Arkitektskole (Trường Kiến trúc)
Danmarks Designskole (Trường thiết kế mẫu)
Det Kgl. Danske Musikkonservatorium (DKDM) (Nhạc viện hoàng gia Đan Mạch)
Den pædagogiske professionshøjskole i Region Hovedstaden (Trường Cao đẳng chuyên môn sư phạm)
Den flerfaglige professionshøjskole i Region Hovedstaden (Trường Cao đẳng chuyên môn đa ngành)
Danmarks Biblioteksskole
== Kinh tế ==
Năm 2008, thu nhập bình quân của dân Copenhagen là một trong số thu nhập cao nhất thế giới (hạng thứ 6). Đồng thời Copenhagen cũng là thành phố có giá sinh hoạt vào hạng cao trên thế giới
Copenhagen cũng là nơi đặt trụ sở chính của các công ty, xí nghiệp lớn như Ngân hàng quốc gia, Danske Bank, Phòng giao dịch chứng khoán, công ty dược phẩm Novo Nordisk, các hãng Lundbeck, Ferring, Tập đoàn A. P. Møller-Mærsk, Torm, D/S Norden, J. Lauritzen, Carlsberg, ISS, Falck-Securitas, Skandinavisk Tobakskompagni vv...
== Các nhà cao tầng ==
== Các cư dân nổi tiếng ==
== Thành phố kết nghĩa ==
Paris, Pháp
Reykjavík, Iceland
Praha, Cộng hòa Séc
San Francisco de Campeche, México
== Tham khảo ==
(tiếng Đan Mạch) Statistical Yearbook of Copenhagen (part English); ISBN 87-7024-230-5 (tiếng Đan Mạch) København Forslag til kommuneplan 1985; ISBN 87-88034-03-8
== Liên kết ngoài ==
Omfattende samling af litteratur om København trykt før 1920
Dân số Copenhagen
Hội sưu tầm lịch sử Copenhagen
Tạp chí về Copenhagen dành cho du khách
Website của Thị xã
Thị xã Frederiksberg
Krak bản đồ thị xã
Website du lịch
Trang ảnh Copenhagen
Dansk Center for Byhistorie - København
NetBorger Kommunefakta, delivered from KMD, also known as Kommunedata (Municipal Data)
Statistics Denmark statistikbanken.dk
A Much Different Tourist Site and Cultural Guide about Copenhagen
Copenhagen Capacity official investment agency of Copenhagen |
samsung galaxy s6.txt | Samsung Galaxy S6, Samsung Galaxy S6 Edge, và Samsung Galaxy S6 Edge+ là một điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Android sản xuất và phát triển bởi Samsung Electronics, đưa ra trong Triển lãm di động toàn cầu vào ngày 01 Tháng Ba 2015 cho S6 và S6 edge trong khi ở New York vào ngày 13 Tháng Tám năm 2015 cho S6 Edge+. Nó là sự kế thừa của Galaxy S5. Năm nay Samsung muốn nhấn mạnh sự thay đổi về thiết kế, bao gồm màn hình cong giống như Galaxy Note Edge.
== Tham khảo == |
emc corporation.txt | Công ty EMC (Mã chứng khoán tại NYSE: EMC) là nhà sản xuất phần mềm và phần cứng về quản lý thông tin và lưu trữ dữ liệu số thuộc danh sánh Fortune 500 và S&P 500. Trụ sở chính đặt tại Hopkinton, Massachusetts, USA. EMC sản xuất một dải rộng các sản phẩm lưu trữ quy mô doanh nghiệp bao gồm các dãy đĩa lưu trữ phần cứng và phần mềm quản lý lưu trữ. Dòng sản phẩm chủ đọa, Symmetrix, là nền tảng của hệ thống mạng lưu trữ trong nhiều trung tâm dữ liệu lớn. Dòng sản phẩm CLARRiiOn có được thông qua việc EMC mua lại công ty Data General vào năm 1999.
== Lịch sử ==
EMC được sáng lập vào năm 1979. Những người sáng lập bao gồm Richard (Dick) Egan và Roger Marino, được viết tắt thành chữ E và M trong tên công ty. (Ban đầu, EMC không sử dụng biểu tượng EMC² để ám chỉ công thức nổi tiếng của Einsteinn, E=mc². Chữ C đầu tiên là viết tắt của người sáng lập thứ ba nhưng đã rời công ty trước khi công ty được thành lập và chữ C cuối cùng viết tắt của chữ Corporation (công ty). Tiền thân là một công ty sản xuất bảng mạch bộ nhớ, EMC mở rộng lĩnh vực ra khỏi lĩnh vực bộ nhớ và sang các hệ thống đĩa cứng. Với các thành tựu của Moshe Yanai (hiện đang làm việc cho XIV Storage), EMC vươn lên trở thành công ty hàng đầu với các nền tảng lưu trữ lớn và cách tân. Joseph Tucci trở thành Giám đốc điều hành năm 2001, thay thế Michael Ruettgers người vẫn giữ cương vị chủ tịch cho tới năm 2006.
Trong lĩnh vực lưu trữ, đối thủ cạnh tranh chính của EMC là IBM, Network Applicance, Hewlett-Packard, Hitachi Data Systems là một đối thủ mới nổi. EMC đã chuyển đổi từ một công ty đơn thuần sản xuất phần cứng thành một công ty cung cấp hỗn hợp phần cứng, phần mềm và dịch vụ chuyên nghiệp. Một động lực lớn cho tương lai của công ty đến từ các giải pháp ảo hóa gồm VMware, Invista và Rainfinity.
Nam 2006, EMC khai trương Văn phòng Nghiên cứu và Phát triển tại Thượng Hải, Trung quốc để tận dụng nguồn lao động dồi dào của nước này và hỗ trợ việc mở rộng thị phần tại quốc gia này.
Ngày 7 tháng 7 năm 2007, EMC tuyên bố sẽ đầu tư 160 triệu Đô la Mỹ vào Singapore để thiết lập phòng thí nghiệm phát triển rộng khoảng 1400 m² và sẽ bắt đầu đi vào hoạt động trong năm 2007. Ông Nair Predeep đã được bổ nhiệm làm giám đốc trung tâm thí nghiệm phát triển này.
Một chuỗi các thương vụ mua bán và hợp tác đối tác đã giúp đưa EMC trở thành nhà cung cấp lớn nhất về các nền tảng lưu trữ trên thế giới. Mới nhất, vào ngày 12 tháng 11 năm 2007, EMC hợp tác với NetQoS để cung cấp các giải pháp về phát hiện hạ tầng và theo dõi hiệu suất tích hợp.
Ngày 12 tháng 10 năm 2015, Dell Inc chính thức mua lại EMC với giá 67 tỉ đô la, thương vụ này trở thành thương vụ lớn nhất lịch sử ngành công nghệ.
== Các thương vụ mua công ty khác ==
Năm 2002, EMC mua lại công ty Prisa Networks để có được dòng sản phẩm Quản trị mạng lưu trữ và Quản trị tài nguyên lưu trữ (tương đương với các sản phẩm VisualSAN và VisualSRM). Tiền thân là công ty phần cứng, năm 2003, EMC đa dạng hóa thành công ty mà phần mềm và dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn hơn. Bắt đầu từ khi giám đốc điều hành mới Joe Tucci nhậm chức năm 2001, EMC mua lại công ty Legato System Inc với giá 1.3 tỷ đô la Mỹ vào tháng 7 và tiếp theo là mua công ty Documentum, một nhà cung cấp phần mềm quản trị nội dung doanh nghiệp cho các công ty toàn cầu vào tháng 10, và VMWare vào tháng 12. Tiếp theo đà này, EMc tuyên bố mua lại công ty phần mềm quản lý mạng System Management Arts Inc (còn được gọi là SMARTS). Gần đây, EMC cũng hoạt động mạnh trong lĩnh vực Quản lý Vòng đời Thông tin (ILM) và đã bổ sung thêm các sản phẩm phần cứng bảo mật bao gồm Giải pháp Quản trị Phân tích Bảo mật.Thương vụ mua lại công ty Rainfinity vào tháng 8 năm 2005 mở rộng thêm các sản phẩm về ảo hóa hiện có của công ty và nhắm vào Ảo hóa Hệ thống Tập tin.
Thông qua việc mua một công ty của Bỉ tên là FilePool, EMC phát triển thành sản phẩm lưu trữ dữ liệu lâu dài tên là Centera. Phần cứng chuyên dụng để lưu trữ nội dụng này đáp ứng yêu cầu cụ thể về lưu trữ dữ liệu lâu dài trong Quản lý vòng đời thông tin trong các môi trường thay đổi nhanh chóng về công nghệ.
Ngày 29 tháng 6 năm 2006, EMC tuyên bố là sẽ mua lại công ty Bảo mật RSA. Thương vụ này đã hoàn tất và RSA hiện giờ là Bộ phận Bảo mật thông tin của EMC.
Ngày 12 tháng 7 năm 2007, EMc mua lại công ty X-Hive, một công ty dẫn đầu về công nghệ XML có trụ sở tại Rotterdam, Hà Lan. X-Hive nổi tiếng về cung cấp ccacs sản phẩm dựa trên XML với quy mô doanh nghiệp cho các ngành công nghiệp hàng không và xuất bản. Đây là một bằng chứng cho sự cam kết của EMC đối với thế hệ mới về quản lý thông tin và XML. X-Hive, với các sản phẩm và kiến thức về XML trên nền Java được kỳ vọng là sẽ có vị trí nổi bật trong các giải pháp phần mềm của EMC thông qua tích hợp XML vào Documentum để hình thành sản phẩm hạ tầng EMC của chính EMC.[1] -- từ thư viện XML, đánh chỉ số và tìm kiếm tới quản lý nội dung cấu phần và ứng dụng XML trong toàn bộ sản phẩm quản lý nội dung doanh nghiệp của EMC, cho phép các công ty thuộc các quy mô thay đổi phương thức khai thác giá trị thông tin của họ. Sau khi thương vụ hoàn tất, X-Hive sẽ trở thianhf tích hợp hoàn toàn vào Bộ phận kinh doanh Quản lý thông tin và lưu trữ lâu dài của EMC(CMA)[2]
== Các giải pháp hiện tại ==
Hiện tại EMC được coi là nhà cung cấp giải pháp quản lý vòng đời thông tin lớn nhất về doanh thu, khách hàng và số lượng sản phẩm và giải pháp. Cụ thể giải pháp của EMC được chia thành các nhóm sau:
Lưu trữ: Các giải pháp phần cứng lưu trữ sử dụng các công nghệ hiện có như SAN, NAS, CAS, Virtual Tape với các quy mô cực lớn (high-end), quy mô doanh nghiệp (mid-tier) và quy mô nhỏ (low-end). Một số tên sản phẩm bao gồm: Symmetrix DMX(II, III, IV), CLARiiON CX4-120/240/480, Cellera NS series, Centera, EMC Disk Library.
Bảo vệ: Các giải pháp bao vệ dữ liệu thông qua các công nghệ khác nhau như: sao lưu dự phòng/phục hồi, lưu trữ dữ liệu lâu dài, nhân bản dữ liệu phục hồi thảm họa. Các giải pháp này cũng có các quy mô và mức dịch vụ khác nhau mang lại lựa chọn cho khách hàng về đầu tư, mục tiêu thời gian phục hồi (RTO) và mục thời điểm phục hồi (RPO).Một số sản phẩm nổi tiếng bao gồm: Networker-sao lưu dự phòng, Replistor-nhân bản dữ liệu trên Windows, Avamar- giảm trùng lặp dữ liệu, SRDF-nhân bản dữ liệu cho phục hồi thảm họa, RecoverPoint-bảo vệ liên tục (CDP) và nhân bản ra xa liên tục (CRR).
Tối ưu: Các giải pháp cho phép sử dụng tốt hơn các đầu tư hiện có thông qua việc cung cấp các công cụ hỗ trợ quản trị. Một số giải pháp nổi tiếng gồm: Quản trị tài nguyên lưu trữ - EMC ControlCenter, Ảo hóa SAN, NAS, máy chủ-Invista, Rainfinity và VMWare, quản trị mang-SMARTS.
Khai thác: Các giải pháp cho phép khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên quý giá nhất của doanh nghiệp-thông tin. Giải pháp nổi tiếng gồm: Quản trị nội dung doanh nghiệp - Documentum, giải pháp số hóa tài liệu - Captiva
== EMC tại Việt Nam ==
EMC đã tham gia vào thị trường Việt Nam từ cuối năm 2003 và đầu năm 2004 thông qua việc hợp tác với công ty InformationVN (tên cũ là StorageVN). EMC được thừa nhận là có đóng góp lớn vào phát triển nhận thức và thói quen tiêu dùng đối với các dòng sản phẩm lưu trữ, bảo vệ dữ liệu và nhân bản dữ liệu phục hôi thảm họa. Các khách hàng tại Việt Nam hiện tại thuộc nhiều lĩnh vực như Ngân hàng, bảo hiểm, công ty tài chính, Viễn thông, Chính phủ, Giáo dục, Y tế v.v
== Tham khảo == |
cdma2000.txt | CDMA2000 (còn được gọi là IMT Multi‑Carrier (IMT‑MC) - IMT đa sóng mang) là một tiêu chuẩn công nghệ di động họ 3G, tiêu chuẩn này sử dụng kỹ thuật truy cập kênh CDMA, để gửi thoại, dữ liệu và dữ liệu báo hiệu giữa các điện thoại di động và trạm gốc. Tập các tiêu chuẩn bao gồm: CDMA2000 1X, CDMA2000 EV-DO Rev. 0, CDMA2000 EV-DO Rev. A, và CDMA2000 EV-DO Rev. B. Tất cả được phê duyệt các giao diện vô tuyến cho IMT-2000 của ITU. CDMA2000 có một lịch sử kỹ thuật tương đối dài và tương thích ngược với mạng IS-95 (cdmaOne) 2G. Tại Hoa Kỳ, CDMA2000 là thương hiệu được đăng ký của Hiệp hội Công nghiệp Viễn thông (TIA-USA). Công nghệ sau CDMA2000 là LTE.
== 1X ==
CDMA2000 1X (IS-2000), còn được gọi là 1x và 1xRTT, là một tiêu chuẩn giao diện vô tuyến không dây lõi CDMA2000. Tên định danh "1x", nghĩa là 'Công nghệ truyền dẫn 1 sóng mang đơn', dùng chung độ rộng thông tần số vô tuyến như IS-95: một cặp kênh vô tuyến song công tần số 1.25 MHz. 1xRTT gần như tăng gấp đôi dung lượng so với IS-95 bằng cách thêm 64 kênh lưu lượng nữa cho liên kết đường xuống, các kênh thêm này trực giao với tập 64 kênh gốc. Tiêu chuẩn 1X hỗ trợ tốc độ dữ liệu gói lê tới 153 kbps với truyền dẫn dữ liệu thực trung bình đạt 60–100 kbps trong hầu hết các ứng dụng thương mại trên thế giới. IMT-2000 cũng thực hiện các thay đổi lớp liên kết dữ liệu cho việc sử dụng nhiều hơn các dịch vụ dữ liệu, bao gồm các giao thức điều khiển truy cập liên kết và môi trường và QoS. Lớp liên kết dữ liệu IS-95 chỉ cung cấp "chuyển giao nỗ lực tốt nhất" cho dữ liệu và kênh chuyển mạch cho thoại (ví dụ, một khung thoại mỗi lần 20ms).
== 1xEV-DO ==
CDMA2000 1xEV-DO (Evolution-Data Optimized nghĩa là Cải tiến-Tối ưu hóa dữ liệu), thương viết tắt là EV-DO hoặc EV, là một tiêu chuẩn viễn thông cho truyền dẫn không dây dữ liệu qua các tín hiệu vô tuyến, thương cho truy cập Internet băng rộng. Nó sử dụng kỹ thuật ghép kênh bao gồm đa truy cập phân chia theo mã (CDMA) cũng như đa truy cập phân chia theo thời gian (TDMA) để tối đa hóa cả thông lượng của người dùng cá nhân và thông lượng hệ thống tổng thể. Nó được tiêu chuẩn hóa bởi Dự án 2 đối tác thế hệ thứ 3 (3GPP2) như là một phần của dòng tiêu chuẩn CDMA2000 và được chấp nhận bởi nhiều nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động trên thế giới - đặc biệt là những nhà cung cấp dịch vụ trước đó đã triển khai các mạng CDMA. Nó cũng được sử dụng trong mạng điện thoại vệ tinh Globalstar.
== Các mạng ==
Nhóm phát triển CDMA thông báo, đến tháng 11 năm 2009, có 308 nhà khai thác tại 116 quốc gia triển khai dịch vụ CDMA2000 1X và 1xEV-DO.
== Lịch sử ==
Công nghệ tiếp theo sau CDMA2000 là UMB (Ultra Mobile Broadband - Siêu băng rộng di động) (4G), tuy nhiên vào tháng 11 năm 2008, Qualcomm tuyên bố họ đã chấm dứt việc phát triển công nghệ UMB, thay vào đó là LTE.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
CDMA2000 Development Group (CDG)
3GPP2 Standards and specifications
TIA Standards documentation |
cfa franc trung phi.txt | CFA franc Trung Phi (mã ISO 4217: XAF) là đơn vị tiền tệ chung của 6 nước Trung Phi trong Cộng đồng Kinh tế và Tiền tệ Trung Phi gồm: Cameroon, Cộng hòa Trung Phi, Tchad, Cộng hòa Congo, Guinea Xích Đạo và Gabon.
Đơn vị tiền tệ này do Ngân hàng Trung ương các Quốc gia Tây Phi phát hành với các mệnh giá:
1, 2, 5, 10, 25, 50, 100, 500 franc (tiền kim loại)
500, 1000, 2000, 5000, 10.000 franc (tiền giấy)
Trên danh nghĩa franc được chia thành 100 centime. Song trong thực tế không có mệnh giá centime nào được phát hành.
CFA franc Tây Phi hiện đang được neo vào Euro theo tỷ lệ 655.957 franc = 1 euro.
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng XOF ==
== Xem thêm ==
Cộng đồng Kinh tế Trung Phi
Kinh tế Cameroon
Kinh tế Cộng hòa Trung Phi
Kinh tế Chad
Kinh tế Cộng hòa Congo
Kinh tế Guinea Xích Đạo
Kinh tế Gabon
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
thiền tông.txt | Thiền tông (phồn thể: 禪宗; bính âm: chán-zōng, tiếng Nhật: zen-shū (禅宗, tiếng Nhật: zen-shū)) là tông phái Phật giáo Đại thừa xuất phát từ 28 đời Tổ sư Ấn độ và truyền bá lớn mạnh ở Trung Quốc. Thiền tông sinh ra trong khoảng thế kỉ thứ 6, thứ 7, khi Bồ-đề-đạt-ma đưa phép Thiền của đạo Phật vào Trung Quốc cùng với sự hấp thụ một phần nào đạo Lão. Nơi đây, Thiền tông trở thành một tông phái lớn, với mục đích là hành giả trực nhận được bản thể của sự vật và đạt giác ngộ, như Phật Thích-ca Mâu-ni đã đạt được dưới gốc cây Bồ-đề. Tông phái này được đưa vào Việt Nam từ Nhật Bản và Trung Quốc (trong Kanji), nhưng có nguồn gốc ở Ấn Độ (trong Tiếng Phạn: ध्यान).
Thiền tông Trung Quốc được sáng lập trong thời kì Phật pháp đang là đối tượng tranh cãi của các tông phái. Để đối lại khuynh hướng "triết lý hoá", phân tích chi li Phật giáo của các tông khác, các vị Thiền sư bèn đặt tên cho tông mình là "Thiền" để nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp Toạ thiền để trực ngộ yếu chỉ.
Thiền tông quan tâm đến kinh nghiệm chứng ngộ, đả phá mạnh nhất mọi nghi thức tôn giáo và mọi lý luận về giáo pháp. Thiền tông chỉ khuyên hành giả Toạ thiền (ja. zazen) để kiến tính, được coi là con đường ngắn nhất, đồng thời cũng là con đường khó nhất. Những nét đặc trưng của Thiền tông có thể tóm tắt được như sau:
Bốn tính chất rất rõ ràng dễ nhập tâm này được xem là do Bồ-đề-đạt-ma nêu lên, nhưng cũng có người cho rằng chúng xuất phát từ Thiền sư đời sau là Nam Tuyền Phổ Nguyện (zh. 南泉普願, 749-835), một môn đệ của Mã Tổ Đạo Nhất. Truyền thuyết cho rằng quan điểm "Truyền pháp ngoài kinh điển" đã do Phật Thích-ca áp dụng trên núi Linh Thứu (sa. gṛdhrakūṭa). Trong pháp hội đó, Ngài im lặng đưa lên một cành hoa và chỉ có Ma-ha-ca-diếp (sa. mahākāśyapa), một đại đệ tử, mỉm cười lĩnh hội ý chỉ của cách "Dĩ tâm truyền tâm" (以心傳心, xem Niêm hoa vi tiếu). Phật Thích-ca ấn chứng cho Ca-diếp là Sơ tổ của Thiền tông Ấn Độ. Từ đó, Thiền tông coi trọng tính chất Đốn ngộ (zh. 頓悟), nghĩa là "giác ngộ ngay tức khắc", trên con đường tu học.
== Lịch sử ==
Thiền tông khởi nguyên từ Ấn Độ được truyền đến đời thứ 28 là Bồ-đề-đạt-ma (xem Nhị thập bát tổ). Ngày nay, người ta không còn tư liệu gì cụ thể về lịch sử các vị Tổ Thiền tông Ấn Độ, và thật sự thì điều đó không quan trọng trong giới Thiền. Điều hệ trọng nhất của Thiền tông là "tại đây" và "bây giờ".
Đầu thế kỉ thứ 6, Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Quốc và được xem là Sơ tổ của Thiền tông tại đây. Sáu vị Tổ Thiền tông Trung Quốc là:
Bồ-đề-đạt-ma (zh. 菩提達磨, ?-532)
Huệ Khả (zh. 慧可, 487-593)
Tăng Xán (zh. 僧璨, ?-606)
Đạo Tín (zh. 道信, 580-651)
Hoằng Nhẫn (zh. 弘忍, 601-674)
Huệ Năng (zh. 慧能, 638-713)
Trong suốt thời gian từ đó đến Lục tổ Huệ Năng, Phật giáo và Lão giáo đã có nhiều trộn lẫn với nhau, nhất là trong phái Thiền đốn ngộ của Huệ Năng, phát triển tại miền Nam Trung Quốc. Một phái Thiền khác ở phía Bắc, do Thần Tú (zh. 神秀) chủ trương, chấp nhận "tiệm ngộ" (zh. 漸悟) — tức là ngộ theo cấp bậc — không kéo dài được lâu. Phái Thiền của Huệ Năng phát triển như một ngọn đuốc chói sáng, nhất là trong đời nhà Đường, đầu đời nhà Tống và sản sinh vô số những vị Thiền sư danh tiếng như Mã Tổ Đạo Nhất (zh. 馬祖道一), Bách Trượng Hoài Hải (zh. 百丈懷海), Triệu Châu Tòng Thẩm (zh. 趙州從諗), Lâm Tế Nghĩa Huyền (zh. 臨濟義玄)... và truyền ra các nước khác như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc... Thiền phương Nam dần dần chia thành Ngũ gia thất tông (zh. 五家七宗), "năm nhà, bảy tông", đó là những tông phái thường chỉ khác nhau về cách giáo hoá, không khác về nội dung đích thật của Thiền. Ngũ gia thất tông gồm Tào Động tông (zh. 曹洞宗), Vân Môn tông (zh. 雲門宗), Pháp Nhãn tông (zh. 法眼宗), Quy Ngưỡng tông (zh. 潙仰宗), Lâm Tế tông (zh. 臨濟宗) và hai bộ phái của Lâm Tế là Dương Kì phái (zh. 楊岐派) và Hoàng Long phái (zh. 黃龍派).
=== Thiền tông tại Nhật Bản ===
Trong các tông này thì có hai tông Lâm Tế và Tào Động du nhập qua Nhật trong thế kỉ 12, đầu thế kỉ 13, đến nay vẫn sinh động và còn ảnh hưởng lớn cho Thiền thời nay. Khoảng đến đời nhà Tống thì Thiền tông Trung Quốc bắt đầu suy tàn và trộn lẫn với Tịnh Độ tông trong thời nhà Minh (thế kỉ 15). Trong thời gian đó, Thiền tông đúng nghĩa với tính chất "dĩ tâm truyền tâm" được xem như là chấm dứt. Lúc đó tại Nhật, Thiền tông lại sống dậy mạnh mẽ. Thiền sư Đạo Nguyên Hi Huyền (zh. 道元希玄), người đã đưa tông Tào Động qua Nhật, cũng như Thiền sư Minh Am Vinh Tây (zh. 明菴榮西), Tâm Địa Giác Tâm (zh. 心地覺心), Nam Phố Thiệu Minh (zh. 南浦紹明) và nhiều vị khác thuộc phái Lâm Tế đã có công thiết lập dòng Thiền Nhật Bản. Giữa thế kỉ 17, Thiền sư Trung Quốc là Ẩn Nguyên Long Kì (zh. 隱元隆琦) sang Nhật thành lập dòng Hoàng Bá, ngày nay không còn ảnh hưởng. Vị Thiền sư Nhật xuất chúng nhất phải kể là Bạch Ẩn Huệ Hạc (zh. 白隱慧鶴), thuộc dòng Lâm Tế, là người đã phục hưng Thiền Nhật Bản trong thế kỉ 18.
=== Thiền tông tại Việt Nam ===
Phật giáo truyền vào Việt Nam từ rất sớm, trước cả Trung Quốc với trung tâm Phật giáo quan trọng tại Luy Lâu. Và theo đó, Thiền tông Ấn Độ cũng được truyền bá vào Việt Nam trước tiên, với các thiền sư như Mâu Tử, Khương Tăng Hội, nổi danh tại Trung Quốc từ trước thời Bồ-đề-đạt-ma. Họ đều từng có nhiều năm tu tập tại Việt Nam trước khi truyền đạo tại Trung Quốc, chứng minh cho sự phát triển rực rỡ của Thiền tông tại Việt Nam ở thế kỷ thứ 2 và thứ 3.
Thiền tông Trung Quốc được truyền sang Việt Nam lần đầu bởi Thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi (zh. 毘尼多流支, sa. vinītaruci, ?-594), vốn đắc pháp nơi Tam tổ Tăng Xán (zh. 僧璨, ?-606). Sau đó, đệ tử của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải là Vô Ngôn Thông (zh. 無言通, ?-826) sang Việt Nam truyền tông chỉ Huệ Năng. Thiền sư Thạch Liêm (zh. 石溓, 1633-1704), tông Tào Động đời thứ 29, là người đầu tiên truyền tông Tào Động sang miền Trung Việt Nam. Người truyền tông chỉ Tào Động sang miền Bắc lần đầu là Thiền sư Thông Giác Thuỷ Nguyệt (zh. 通覺水月, 1637-1704), pháp hệ 35. Tông chỉ của tông Lâm Tế được Thiền sư Nguyên Thiều (zh. 元韶, 1648-1728, pháp hệ thứ 33) truyền sang miền Trung lần đầu, và Chuyết Công (zh. 拙公, 1590-1644) Hoà Thượng là người truyền tông Lâm Tế sang miền Bắc. Vân Môn tông được Thiền sư Thảo Đường (zh. 草堂, thế kỷ 11), đệ tử của Tuyết Đậu Trọng Hiển truyền sang Việt Nam.
== Đặc điểm ==
Thiền bắt nguồn từ Ấn Độ nhưng đã trở thành một tông phái độc lập khi được truyền sang Trung Quốc, đặc biệt là sau thời của Lục tổ Huệ Năng. Nơi đây, Thiền tông đã hấp thụ cốt tuỷ của nền văn hoá, triết lý Trung Quốc. Nhà Ấn Độ học và Phật học người Đức Hans Wolfgang Schumann viết như sau trong tác phẩm Đại thừa Phật giáo (Mahāyāna-Buddhismus):
"Thiền tông có một người cha Ấn Độ nhưng đã chẳng trở nên trọn vẹn nếu không có người mẹ Trung Quốc. Cái 'dễ thương', cái hấp dẫn của Thiền tông chính là những thành phần văn hoá nghệ thuật, những đặc điểm sắc thái riêng của Trung Quốc, không phải của Ấn Độ. Những gì Phật giáo mang đến Trung Quốc — với tư tưởng giải thoát tuyệt đối, trình bày một cách nghiêm nghị khắt khe với một ngón tay trỏ chỉ thẳng — những điều đó được các vị Thiền sư thừa nhận, hấp thụ với một nụ cười thầm lặng đầy thi vị. Thành tựu lớn lao của các Đại luận sư Ấn Độ là nhét 'con ngỗng triết lý' vào lọ, thì — chính nơi đây, tại Trung Quốc — con ngỗng này được thả về với thiên nhiên mà không hề mang thương tích."
Thiền, như các vị Thiền sư nhấn mạnh, là trở về với tự nhiên, không hẳn là sự phản đối truyền thống như những học giả sau này thường xác định. Thiền tông phản bác, vứt bỏ những nghi thức rườm rà, những bài luận khó hiểu, bất tận nhưng không phủ nhận nội dung, tinh hoa của chúng. Thiền tông chính là sự tổng hợp độc đáo của hai giáo lý, hai học thuyết nền tảng của Đại thừa Ấn Độ, đó là Trung quán (zh. 中觀, sa. mādhyamika) và Duy thức (zh. 唯識, sa. vijñānavādin). Người ta có thể hiểu phần nào những hành động, lời nói, phương pháp hoằng hoá "mâu thuẫn", "nghịch lý" của các vị Thiền sư nếu nắm được giáo lý của Trung quán và Duy thức. Trong các tập công án của Thiền tông, người ta có thể nhận ra hai loại:
Những công án xoay quanh thuyết Thật tướng (zh. 實相) của Trung quán tông (sa. mādhyamika), tức là tất cả đều là Không (sa. śūnyatā). Công án danh tiếng nhất với thuyết tính Không là Con chó của Triệu Châu (Vô môn quan 1): Tăng hỏi Triệu Châu: "Con chó có Phật tính không?" Triệu Châu trả lời: "Không!" (vô 無).
Những công án với khái niệm "Vạn pháp duy tâm" (zh. 萬法唯心, sa. cittamātra) của Duy thức tông. Một công án danh tiếng theo thuyết Duy thức (Vô môn quan 29): Hai ông tăng cãi nhau về phướn (một loại cờ). Một ông nói: "Phướn động", ông kia nói: "Gió động", và cứ thế tranh cãi. Lục tổ Huệ Năng liền nói: "Chẳng phải gió, chẳng phải phướn, tâm các ông động". Nghe câu này, hai vị giật mình run sợ.
== Thiền tông thời cận đại và hiện đại ==
Thiền tông chính thức truyền sang Hoa Kỳ do Thiền sư Thích Tông Diễn (zh. 釋宗演, ja. shaku sōen, cũng được gọi là Hồng Nhạc Tông Diễn 洪嶽宗演, ja. kōgaku sōen) vào năm 1893. Người có công rất lớn truyền bá rộng rãi Thiền tông ở các nước phương Tây lại là Daisetz Teitaro Suzuki (1870-1966), môn đệ của Thích Tông Diễn. Bộ "Thiền luận" ba tập (Essay in Zen Buddhism) do Daisetz Teitaro Suzuki viết đã rất thành công trong hai thập niên 1950 và thập niên 1960|1960. Đến nay, tác phẩm này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trong đó có bản dịch tiếng Việt. Hiện bản dịch này của Thích Tuệ Sỹ và Trúc Thiên có thể được tìm thấy trên mạng Internet ở một số website về Phật giáo.
Các thực nghiệm Thiền cũng đã thay đổi để đáp ứng tư tưởng và bản năng người Tây phương. Khái niệm Zen đối với người Tây phương chẳng những đã không còn xa lạ mà còn thâm nhập cả vào nếp sinh hoạt. Hàng trăm tác phẩm văn hóa, khoa học, nghệ thuật, triết lý và thiết kế đã đặt thêm chữ "Zen" vào trong tựa đề.
Tuy không trở lại thời vàng son của thế kỉ thứ 7, thứ 8, Thiền tông vẫn luôn luôn gây được một sức thu hút mãnh liệt nơi tín đồ Phật giáo và đóng một vai trò quan trọng trong nghệ thuật Đông Á.
== Xem thêm ==
Thiền trong Phật giáo
Trung quán tông
Duy thức tông
Tịnh độ tông
Mật tông
Thiền
== Tham khảo ==
=== Việt ngữ ===
Từ điển Thiền Tông Hán Việt. Hân Mẫn & Thông Thiền biên dịch. TP HCM 2002.
=== Ngoại ngữ ===
Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.
Schumann, H.W.: Mahāyāna-Buddhismus. Die zweite Drehung des Dharma-Rades, München 1990.
The essence of ZEN—Mark Levon Byrne—Barnes & Noble—ISBN 0760731756
ZEN—Martine Batchelor—First Directions—ISBN 0007110162
ZEN made easy—Timothy Freke—A Godsfield Book—ISBN 0806999217
ZEN Wisdom—Timothy Freke—Sterling—ISBN 0806999772
The House of Lin-chi
The Koan in Zen Buddhism
=== Chú thích ===
== Liên kết ngoài == |
dải phân cách.txt | Trong các tuyến đường bộ giao thông có nhiều làn xe khác nhau, bao gồm cả đường cao tốc, dải phân cách là khu vực phân chia hai làn xe có chiều giao thông ngược nhau. Trong tiếng Việt bình dân, các dải phân cách được xây nổi còn được gọi là con lươn vì phần nhiều các dải phân cách ở Việt Nam có hình khối dài như một con lươn.
== Physical attributes ==
Một số dải phân cách có thêm chức năng phụ như là một mảng xanh của đô thị hay là vành đai xanh nhằm trang trí cho các con đường. Jurisdictions can: trồng cỏ với việc cắt cỏ thường xuyên; gieo phủ thủy lực, hay gieo rải các hạt hoa dại cho chúng nảy mầm, ra hoa kết hạt và tự nảy mỗi năm; hay xây dựng nên những cảnh quan có quy mô lớn bao hàm các cây lớn, cây bụi, thảo mộc lâu năm hay cỏ trang trí. Trong khi không gian có vị gtri1 ưu tiên cao, các hàng giậu được cấu tạo bởi cây bụi được trồng dày đặc sẽ lọc bớt ánh sáng của đèn ôtô và tạo ra một lá chắn dày.
Trái ngược với các dải phân cách trên các đường chính, các dải phân cách ở khu vực đô thị thường đóng vai trò như một khu vực an toàn nhô cao lên trên so với mặt đường. Chúng thường được thấy ở các đường chính ở đô thị. Ở dạng đon giản nhất, chúng là những khối bê tông; nhưng chúng có thể được trang trí bởi cỏ, cây lớn, gạch, đá tảng. Những dải phân cách như vật cũng có thể được thấy ở các đường nhỏ hay các đường trong các khu nhà ở, ở đó chúng có vai trò như các cấu trúc giúp hạn chế tốc độ của các phương tiện giao thông; hoặc chúng đơn giản chỉ là các cấu trúc có tác dụng trang trí hơn là có tác dụng trong việc điều tiết giao thông.
Ở một số địa phương như California, các dải phân cách ở đường cao tốc đôi khi chỉ là một khoảng không nằm ở chính giữa đường, được nhận biết đơn giản bởi hai vạch sơn vàng làm đường biên giới hạn cho nó. Giống như các dải phân cách "nổi", các phương tiện giao thông chỉ có thể chạy cắt qua dải phân cách ở một số nơi nhất định để đi sang làn đường kế bên. Cách làm này được thực hiện để giảm chi phí xây dựng, và thậm chí có những dải phân cách chỉ là một vạch sơn trắng được vạch giữa đường; có điều các nghiên cứu cho thấy các loại dải phân cách hẹp như thế chỉ có hiệu quả tối thiểu trong việc đảm bảo an toàn giao thông so với việc không có dải phân cách.
Trên các đường xa lộ ở Vương quốc Anh, các dải phân cách luôn liền mạch, không đứt đoạn (trừ các dải phân cách phân chia các làn xe hai chiều của Đại lộ Aston), tuy nhiên không có các quy định giới hạn nào được đặt ra cho các tuyến xe kép khác. Các dải phân cách trên Đại lộ Interstate của Hoa Kỳ chỉ đứt đoạn trên các làn xe dành cho việc phục vụ khẩn cấp, và Hoa Kỳ cũng không ban hành bất kỳ quy định giới hạn nào trên các tuyến đường cấp độ nhỏ hơn.
== Bề rộng ==
Dải phân cách ở Vương quốc Anh và ở các khu vực đông dân cư tại châu Âu có độ dài không quá một làn xe đơn. Tuy nhiên trong một số trường hợp chúng có thể rộng hơn; tỉ như nếu con đường chạy qua một khu vực có địa hình dốc thì tuyến xe phải được xây dựng ở các mức độ khác nhau của chỗ dốc. Hai ví dụ về việc này ở Anh là ở xa lộ M6 giữa Shap và Tebay, nơi đó tuyến xe cách nhau vài trăm yard và ở giữa hai tuyến xe này đủ rộng để chừa chỗ cho một con đường nhỏ chạy song song với chúng; và tạu xa lộ M62 nơi khu vực có độ cao lớn nhất đi qua Pennines phân chia đủ rộng để có chỗ cho một nông trại nằm ở giữa dải phân cách. Một ví dụ đáng kể khác là Xa lộ A38(M) Aston, vốn dĩ là một tuyến xe đơn với 7 làn xe, dải phân cách của xa lộ là một làn xe hai chiều.
Có hiệu lực từ tháng 1 năm 2005 và chủ yếu dựa trên các tiêu chuẩn an toàn, một chính sách của Cục Đường cao tốc Vương quốc Anh quy định rằng các dải phân cách ở các đường cao tốc mới tại Anh sẽ bao hàm các rào cản dạng bậc thang bằng bê tông. Đối với các đường cao tốc hiện tại, khi rào cản trên dải phân cách hiện có hết hạn sử dụng thì chúng sẽ được thay mới bằng các rào cản bậc thang nêu trên. Chính sách này chỉ áp dụng trên các vật cản ở dải phân cách tại các đường cao tốc và không áp dụng đối với các vật cản ở hai bên rìa đường. Các loại đường khác sẽ tiếp tục dùng rào cản thép như cũ.
Ở Bắc Mỹ và một số quốc gia có các vùng thưa dân với diện tích rộng lớn, các làn xe ngược chiều nhau có thể được ngăn cách bởi các cánh đồng và khu rừng rộng hàng trăm mét ở phía ngoài các khu dân cư đông đúc (một ví dụ điển hình là Đường cao tốc Ngoại Canada gần Ernfold, Saskatchewan, Canada, nơi hai làn xe ngược chiều nhau cách nhau tới 5 cây số), tuy nhiên ở các vùng ngoại ô và đô thị thì chiều rộng của dải phân cách cũng dừng ở mức một làn xe. Ở khu vực đô thị, rào cản bằng bê tông (như rào cản Jersey) và guard rail (hay guide rails) được sử dụng.
Một dải phân cách điển hình khác đó là dải phân cách đảo ngược tên Đường cao tốc không thu phí Golden State (I-5) ở dãy núi Tehachapi giữa Los Angeles, California và Thung lũng San Joaquin. For several miles, the median is inverted—northbound traffic is on the western roadway and southbound traffic on the eastern road. Một ví dụ tương tự xuất hiện ở khu vực phía Tây Montreal, trên Đường dành riêng cho xe ô tô số 20 ở Quebec, giữa Đường 138 ở Quebec và Giao điểm Turcot, ở đó hai luồng giao thông trái chiều nhau ở hai bên một tuyến đường sắt bị đảo ngược (một luồng đi vào hay đi ra qua phía bên trái). Tương tự, I-85, ở miền trung bang Carolina Bắc có một dải phân cách tương tự vì thế mà an in-median, right-exit rest area can feature a historic bridge.
== An toàn ==
Vào tháng 8 năm 1993, một cuộc nghiên cứu của Cục Đường cao tốc Liên bang Hoa Kỳ xác định sự tương quan giữa bề rộng dải phân cách và việc giảm thiểu tai nạn giao thông do hai phương tiện giao thông đâm đầu vào nhau cùng với các chấn thương nghiêm trọng. Cuộc nghiên cứu cho thấy dải phân cách không có hàng rào ngăn cần phải rộng hơn 30 foot (9,1 m) mới có được hiệu quả về an toàn, và hiệu quả an toàn của dải phân cách tăng lên đến bề rộng là 60 đến 80 foot (18,3 đến 24,4 m). Một kết quả của nghiên cứu này cho thấy việc giảm độ rộng của dải phân cách xuống còn 20 foot (6,1 m) từ 30 foot (9,1 m) để tăng thêm làn xe thì có thể làm giảm độ an toàn của con đường cao tốc. Các thông số liên qua đến các dải phân cách có rào chắn không được tính toán theo cách trên.
== Xem thêm ==
== Chú thích == |
sợi mắc (dệt).txt | Sợi mắc hay sợi dọc là tên gọi sợi trên khung dệt luồn theo chiều dọc của khúc vải đan qua những sợi ngang, tức sợi mành.
Ca dao vùng Kẻ Bưởi có câu:
Quay tơ ra mắc, ra mành
Mắc là sợi dọc, mành là sợi ngang
Nốt son anh dệt đầu làng
Nốt cục đem bán cho nàng Kẻ Đơ.
Sợi dệt là chỉ thường bằng len, tơ, hay bông. Để tăng sức bền chắc, sợi dệt được đem hồ bằng cách nhúng vào dung dịch, xưa kia là nước nấu với bột gạo, bột sắn, hay rong biển tùy theo công thức địa phương để thích hợp với loại sợi. Ngày nay nhiều sợi nhân tạo bằng nilông bền hơn được dùng trong ngành dệt. Vì sợi mắc phải chịu lực căng nên phải dùng chất liệu chắc bền hơn sợi mành. Sợi mắc thì gài lên khung cửi còn sợi mành luồn vào con thoi bắn theo chiều ngang. Sợi mắc bên ngoài cùng càng cần dùng những sợi chỉ chắc để làm biên tránh cho khỏi đứt.
Số sợi mắc gài lên khung tùy thuộc vào loại hàng dệt. Khi dệt lĩnh thì phải gài 5400 sợi. Khung cửi cổ truyền không mấy thay đổi cho đến khi cách mạng công nghệ vào thế kỷ 18 giúp tăng tốc độ dệt khi máy dệt xuất hiện vào năm 1785.
== Tham khảo ==
Chu Quang Trứ. Tìm hiểu các nghề thủ công, điêu khắc, cổ truyền. Hà Nội: Nhà xuất bản Mỹ thuật, 2000. |
tổ chức thương mại thế giới.txt | Tổ chức Thương mại Thế giới (tiếng Anh: World Trade Organization, viết tắt WTO; tiếng Pháp: Organisation mondiale du commerce; tiếng Tây Ban Nha: Organización Mundial del Comercio; tiếng Đức: Welthandelsorganisation) là một tổ chức quốc tế đặt trụ sở ở Genève, Thụy Sĩ, có chức năng giám sát các hiệp định thương mại giữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương mại. Hoạt động của WTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản thương mại để tiến tới tự do thương mại. Ngày 1 tháng 9 năm 2013, ông Roberto Azevêdo được bầu làm Tổng giám đốc thay cho ông Pascal Lamy. Tính đến ngày 29 tháng 07 năm 2016, WTO có 164 thành viên. Mọi thành viên của WTO được yêu cầu phải cấp cho những thành viên khác những ưu đãi nhất định trong thương mại, ví dụ (với một số ngoại lệ) những sự nhượng bộ về thương mại được cấp bởi một thành viên của WTO cho một quốc gia khác thì cũng phải cấp cho mọi thành viên của WTO (WTO, 2004c).
Trong thập niên 1990 WTO là mục tiêu chính của phong trào chống toàn cầu hóa.
== Nguồn gốc ==
Hội nghị Bretton Woods vào năm 1944 đã đề xuất thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) nhằm thiết lập các quy tắc và luật lệ cho thương mại giữa các nước. Hiến chương ITO được nhất trí tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Việc làm tại La Habana tháng 3 năm 1948. Tuy nhiên, Thượng nghị viện Hoa Kỳ đã không phê chuẩn hiến chương này. Một số nhà sử học cho rằng sự thất bại đó bắt nguồn từ việc giới doanh nghiệp Hoa Kỳ lo ngại rằng Tổ chức Thương mại Quốc tế có thể được sử dụng để kiểm soát chứ không phải đem lại tự do hoạt động cho các doanh nghiệp lớn của Hoa Kỳ (Lisa Wilkins, 1997).
ITO chết yểu, nhưng hiệp định mà ITO định dựa vào đó để điều chỉnh thương mại quốc tế vẫn tồn tại. Đó là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT). GATT đóng vai trò là khung pháp lý chủ yếu của hệ thống thương mại đa phương trong suốt gần 50 năm sau đó. Các nước tham gia GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán, ký kết thêm nhiều thỏa ước thương mại mới. Vòng đám phán thứ tám, Vòng đàm phán Uruguay, kết thúc vào năm 1994 với sự thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT. Các nguyên tắc và các hiệp định của GATT được WTO kế thừa, quản lý, và mở rộng. Không giống như GATT chỉ có tính chất của một hiệp ước, WTO là một tổ chức, có cơ cấu tổ chức hoạt động cụ thể. WTO chính thức được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995.
== Chức năng ==
WTO có các chức năng sau:
Quản lý việc thực hiện các hiệp định của WTO
Diễn đàn đàm phán về thương mại
Giải quyết các tranh chấp về thương mại
Giám sát các chính sách thương mại của các quốc gia
Trợ giúp kỹ thuật và huấn luyện cho các nước đang phát triển
Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác
== Đàm phán ==
Phần lớn các quyết định của WTO đều dựa trên cơ sở đàm phán và đồng thuận. Mỗi thành viên của WTO có một phiếu bầu có giá trị ngang nhau. Nguyên tắc đồng thuận có ưu điểm là nó khuyến khích nỗ lực tìm ra một quyết định khả dĩ nhất được tất cả các thành viên chấp nhận. Nhược điểm của nó là tiêu tốn nhiều thời gian và nguồn lực để có được một quyết định đồng thuận. Đồng thời, nó dẫn đến xu hướng sử dụng những cách diễn đạt chung chung trong hiệp định đối với những vấn đề có nhiều tranh cãi, khiến cho việc diễn giải các hiệp định gặp nhiều khó khăn.
Trên thực tế, đàm phán của WTO diễn ra không phải qua sự nhất trí của tất cả các thành viên, mà qua một quá trình đàm phán không chính thức giữa những nhóm nước. Những cuộc đàm phán như vậy thường được gọi là "đàm phán trong phòng xanh" (tiếng Anh: "Green Room" negotiations), lấy theo màu của phòng làm việc của Tổng giám đốc WTO tại Genève, Thụy Sĩ. Chúng còn được gọi là "Hội nghị Bộ trưởng thu hẹp" (Mini-Ministerials) khi chúng diễn ra ở các nước khác. Quá trình này thường bị nhiều nước đang phát triển chỉ trích vì họ hoàn toàn phải đứng ngoài các cuộc đàm phán như vậy [2].
Richard Steinberg (2002) lập luận rằng mặc dù mô hình đồng thuận của WTO đem lại vị thế đàm phán ban đầu dựa trên nền tảng luật lệ, các vòng đàm phán thương mại kết thúc thông qua vị thế đàm phán dựa trên nền tảng sức mạnh có lợi cho Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ, và có thể không đem đến sự cải thiện Pareto. Thất bại nổi tiếng nhất và cũng gần đây nhất trong việc đạt được một sự đồng thuận là tại các Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ở Seattle (1999) và Cancún (2003) do một số nước đang phát triển không chấp thuận các đề xuất được đưa ra.
WTO bắt đầu tiến hành vòng đàm phán hiện tại, Vòng đàm phán Doha, tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 4 diễn ra tại Doha, Qatar vào tháng 11 năm 2001. Các cuộc đàm phán diễn ra căng thẳng và chưa đạt được sự nhất trí, mặc dù đàm phán vẫn đang tiếp diễn qua suốt Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5 tại Cancún, México vào năm 2003 và Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 6 tại Hồng Kông từ ngày 13 tháng 12 đến ngày 18 tháng 12 năm 2005.
== Giải quyết tranh chấp ==
Ngoài việc là diễn đàn đàm phán các quy định thương mại, WTO còn hoạt động như một trọng tài giải quyết các tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc áp dụng quy định của WTO. Không giống như các tổ chức quốc tế khác, WTO có quyền lực đáng kể trong việc thực thi các quyết định của mình thông qua việc cho phép áp dụng trừng phạt thương mại đối với thành viên không tuân thủ theo phán quyết của WTO. Một nước thành viên có thể kiện lên Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO nếu như họ tin rằng một nước thành viên khác đã vi phạm quy định của WTO [3].
Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO bao gồm hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm. Ở cấp sơ thẩm, tranh chấp sẽ được giải quyết bởi một Ban Hội thẩm Giải quyết Tranh chấp. Ban hội thẩm này thông thường gồm 3 đên 5 chuyên gia trong lĩnh vực thương mại liên quan. Ban hội thẩm sẽ nghe lập luận của các bên và soạn thảo một báo cáo trình bày những lập luận này, kèm theo là phán quyết của ban hội thẩm. Trong trường hợp các bên tranh chấp không đồng ý với nội dung phán quyết của ban hội thẩm thì họ có thể thực hiện thủ tục khiếu nại lên Cơ quan phúc thẩm. Cơ quan này sẽ xem xét đơn khiếu nại và có phán quyết liên quan trong một bản báo cáo giải quyết tranh chấp của mình. Phán quyết của các cơ quan giải quyết tranh chấp nêu trên sẽ được thông qua bởi Hội đồng Giải quyết Tranh chấp. Báo cáo của cơ quan giải quyết tranh chấp cấp phúc thẩm sẽ có hiệu lực cuối cùng đối với vấn đề tranh chấp nếu không bị Hội đồng Giải quyết Tranh chấp phủ quyết tuyệt đối (hơn 3/4 các thành viên Hội đồng giải quyết tranh chấp bỏ phiếu phủ quyết phán quyết liên quan).
Trong trường hợp thành viên vi phạm quy định của WTO không có các biện pháp sửa chữa theo như quyết định của Hội đồng Giải quyết Tranh chấp, Hội đồng có thể ủy quyền cho thành viên đi kiện áp dụng các "biện pháp trả đũa" (trừng phạt thương mại). Những biện pháp như vậy có ý nghĩa rất lớn khi chúng được áp dụng bởi một thành viên có tiềm lực kinh tế mạnh như Hoa Kỳ hay Liên minh châu Âu. Ngược lại, ý nghĩa của chúng giảm đi nhiều khi thành viên đi kiện có tiềm lực kinh tế yếu trong khi thành viên vi phạm có tiềm lực kinh tế mạnh hơn, chẳng hạn như trong tranh chấp mang mã số DS 267 về trợ cấp bông trái phép của Hoa Kỳ [4].
== Cơ cấu tổ chức ==
Tất cả các thành viên WTO đều có thể tham gia vào các hội đồng, ủy ban của WTO, ngoại trừ Cơ quan Phúc thẩm, các Ban Hội thẩm Giải quyết Tranh chấp và các ủy ban đặc thù.
=== Cấp cao nhất: Hội nghị Bộ trưởng ===
Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ít nhất hai năm một lần. Hội nghị có sự tham gia của tất cả các thành viên WTO. Các thành viên này có thể là một nước hoặc một liên minh thuế quan (chẳng hạn như Cộng đồng châu Âu). Hội nghị Bộ trưởng có thể ra quyết định đối với bất kỳ vấn đề trong các thỏa ước thương mại đa phương của WTO..
=== Cấp thứ hai: Đại hội đồng ===
Công việc hàng ngày của WTO được đảm nhiệm bởi 3 cơ quan: Đại hội đồng, Hội đồng Giải quyết Tranh chấp và Hội đồng Rà soát Chính sách Thương mại. Tuy tên gọi khác nhau, nhưng thực tế thành phần của 3 cơ quan đều giống nhau, đều bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất cả các nước thành viên. Điểm khác nhau giữa chúng là chúng được nhóm họp để thực hiện các chức năng khác nhau của WTO.
Đại hội đồng là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO tại Geneva, được nhóm họp thường xuyên. Đại hội đồng bao gồm đại diện (thường là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất cả các nước thành viên và có thẩm quyền quyết định nhân danh hội nghị bộ trưởng (vốn chỉ nhóm họp hai năm một lần) đối với tất cả các công việc của WTO.
Hội đồng Giải quyết Tranh chấp được nhóm họp để xem xét và phê chuẩn các phán quyết về giải quyết tranh chấp do Ban Hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm đệ trình. Hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên (cấp đại sứ hoặc tương đương).
Hội đồng Rà soát Chính sách Thương mại được nhóm họp để thực hiện việc rà soát chính sách thương mại của các nước thành viên theo cơ chế rà soát chính sách thương mại. Đối với những thành viên có tiềm lực kinh tế lớn, việc rà soát diễn ra khoảng hai đến ba năm một lần. Đối với những thành viên khác, việc rà soát có thể được tiến hành cách quãng hơn.
=== Cấp thứ ba: Các Hội đồng Thương mại ===
Các Hội đồng Thương mại hoạt động dưới quyền của Đại hội đồng. Có ba Hội đồng Thương mại là: Hội đồng Thương mại Hàng hóa, Hội đồng Thương mại Dịch vụ và Hội đồng Các khía cạnh của Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến Thương mại. Một hội đồng đảm trách một lĩnh vực riêng. Cũng tương tự như Đại hội đồng, các hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên WTO. Bên cạnh ba hội đồng này còn có sáu ủy ban và cơ quan độc lập khác chịu trách nhiệm báo cáo lên Đại hội đồng các vấn đề riêng rẽ như thương mại và phát triển, môi trường, các thỏa thuận thương mại khu vực, và các vấn đề quản lý khác. Đáng chú ý là trong số này có Nhóm Công tác về việc Gia nhập chịu trách nhiệm làm việc với các nước xin gia nhập WTO.
Hội đồng Thương mại Hàng hóa chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), tức là các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế về hàng hóa.
Hội đồng Thương mại Dịch vụ chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS), tức là các hoạt động liên quan đến thương mại quốc tế về dịch vụ.
Hội đồng Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí tuệ chịu trách nhiệm đối với các hoạt động thuộc phạm vi của Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí tuệ (TRIPS), cũng như việc phối hợp với các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ.
=== Cấp thứ tư: Các Ủy ban và Cơ quan ===
Dưới các hội đồng trên là các ủy ban và cơ quan phụ trách các lĩnh vực chuyên môn riêng biệt.
Dưới Hội đồng Thương mại Hàng hóa là 11 ủy ban, 1 nhóm công tác, và 1 ủy ban đặc thù.
Dưới Hội đồng Thương mại Dịch vụ là 2 ủy ban, 2 nhóm công tác, và 2 ủy ban đặc thù.
Dưới Hội đồng Giải quyết Tranh chấp (cấp thứ 2) là Ban Hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm.
Ngoài ra, do yêu cầu đàm phán của Vòng đàm phán Doha, WTO đã thành lập Ủy ban Đàm phán Thương mại trực thuộc Đại hội đồng để thức đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho đàm phán. Ủy ban này bao gồm nhiều nhóm làm việc liên quan đến các lĩnh vực chuyên môn khác nhau.
== Các nguyên tắc ==
Không phân biệt đối xử:
Đãi ngộ quốc gia: Không được đối xử với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài cũng như những người kinh doanh các hàng hóa và dịch vụ đó kém hơn mức độ đãi ngộ dành cho các đối tượng tương tự trong nước.
Đãi ngộ tối huệ quốc: Các ưu đãi thương mại của một thành viên dành cho một thành viên khác cũng phải được áp dụng cho tất cả các thành viên trong WTO.
Tự do mậu dịch hơn nữa: dần dần thông qua đàm phán
Tính Dự đoán thông qua Liên kết và Minh bạch: Các quy định và quy chế thương mại phải được công bố công khai và thực hiện một cách ổn định.
Ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển: Giành những thuận lợi và ưu đãi hơn cho các thành viên là các quốc gia đang phát triển trong khuôn khổ các chỉ định của WTO.
Thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho thương mại giữa các nước thành viên
== Các hiệp định ==
Các thành viên WTO đã ký kết khoảng 30 hiệp định khác nhau điều chỉnh các vấn đề về thương mại quốc tế. Tất cả các hiệp định này nằm trong 4 phụ lục của Hiệp định về việc Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới được ký kết tại Marrakesh, Maroc vào ngày 15 tháng 4 năm 1994. Bốn phụ lục đó bao gồm các hiệp định quy định các quy tắc luật lệ trong thương mại quốc tế, cơ chế giải quyết tranh chấp, cơ chế rà soát chính sách thương mại của các nước thành viên, các thỏa thuận tự nguyện của một số thành viên về một số vấn đề không đạt được đồng thuận tại diễn đàn chung. Các nước muốn trở thành thành viên của WTO phải ký kết và phê chuẩn hầu hết những hiệp định này, ngoại trừ các thỏa thuận tự nguyện. Sau đây sẽ là một số hiệp định của WTO:
Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994) General Agreement of Tariffs and Trade
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) General Agreement on Trade in Services
Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí tuệ (TRIPS) Trade-related aspects of intellectual property Rights
Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại (TRIMS) The Agreement on Trade-Related Investment Measures
Hiệp định về Nông nghiệp (AoA) Agreement on Agriculture
Hiệp định về Hàng Dệt may (ATC) Agreement on Textiles and Clothing
Hiệp định về Chống bán Phá giá (ADP) Agreement on Anti Dumping
Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng(SCM) Agreement on Subsidies and Countervailing Measures
Hiệp định về Tự vệ (SG) Agreement on Safeguard Measures
Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu (ILP) Agreement on Import Licensing Procedures
Hiệp định về các Biện pháp Vệ sinh và Kiểm dịch (SPS) Agreement on Sanitary and Phytosanitary Measures
Hiệp định về các Rào cản Kĩ thuật đối với Thương mại (TBT) Agreement on Technical Barries to Trade
Hiệp định về Định giá Hải quan (ACV) Agreement on Customs Valuation
Hiệp định về Kiểm định Hàng trước khi Vận chuyển (PSI) Agreement on Pre-Shipment Inspection
Hiệp định về Xuất xứ Hàng hóa (ROO) Agreement on Rules of Origin
Thỏa thuận về Cơ chế Giải quyết Tranh chấp (DSU) Agreement on Dispute Settlement Understanding
== Tổng giám đốc ==
Các Tổng giám đốc của Tổ chức Thương mại Thế giới:
Roberto Azevêdo, 2013—
Pascal Lamy, 2005–2013
Supachai Panitchpakdi, 2002–2005
Mike Moore, 1999–2002
Renato Ruggiero, 1995–1999
Peter Sutherland, 1995
Các Tổng giám đốc của Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch, GATT:
Peter Sutherland, 1993–1995
Arthur Dunkel, 1980–1993
Olivier Long, 1968–1980
Eric Wyndham White, 1948–1968
== Gia nhập và thành viên ==
Quá trình để trở thành thành viên của WTO là khác nhau đối với mỗi quốc gia muốn tham gia, và các quy định về quá trình gia nhập này tùy thuộc vào giai đoạn phát triển kinh tế và cơ chế thương mại hiện tại của quốc gia đó. Quá trình này trung bình mất khoảng 5 năm, nhưng có thể kéo dài hơn nếu quốc gia muốn tham gia chưa thực hiện đầy đủ các cam kết hoặc có sự cản trở liên quan đến các vấn đề về chính trị. Các cuộc đàm phán gia nhập ngắn nhất dưới 5 năm là Cộng hòa Kyrgyzstan, trong khi thời gian này đối với Nga là dài nhất cho đến nay. Nga nộp đơn gia nhập đầu tiên vào GATT năm 1993, và được chấp nhận là thành viên vào tháng 12 năm 2011 và trở thành thành viên của WTO vào ngày 22 tháng 8 năm 2012.
=== Thành viên ===
Bảng sau liệt kê tất cả các thành viên hiện tại và ngày gia nhập.
=== Quan sát viên ===
Bảng dưới đây liệt kê tất cả các quan sát viên hiện nay. Trong thời hạn năm năm được cấp tư cách quan sát của WTO, các quốc gia được yêu cầu để bắt đầu tổ chức đàm phán gia nhập của mình.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Các trang chính thức
Official WTO homepage
WTO 10th AnniversaryPDF (1.40 MB)
Glossary of terms—a guide to 'WTO-speak'
International Trade Centre
Trang của chính phủ về Tổ chức Thương mại Thế giới
European Union position on the WTO
Các phưuong tiện truyền thông về Tổ chức Thương mại Thế giới
World Trade Organization
BBC News — Profile: WTO
Guardian Unlimited — Special Report: The World Trade Organisation
Các tổ chức phi chính phủ về Tổ chức Thương mại Thế giới
Public Citizen
Transnational Institute: Beyond the WTO |
1998.txt | Theo lịch Gregory, năm 1998 (số La Mã: MCMXCVIII) là một năm bắt đầu từ ngày thứ năm, bắt đầu từ năm Đinh Sửu đến Mậu Dần.
Bản mẫu:Tháng trong năm 1998
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1: Flavio Cotti trở thành tổng thống liên bang Thụy Sĩ
2 tháng 1: Cúm gia cầm bùng nổ trong Hồng Kông
4 tháng 1: Israel. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao David Levi từ chức
4 tháng 1: Valdas Adamkus trở thành tổng thống trong Litva
21 tháng 1: Giáo hoàng Gioan Phaolô II thăm viếng Cuba
=== Tháng 2 ===
1 tháng 2: Costa Rica. Miguel Anguel Rodriguez Echeverría trở thành lãnh đạo chính phủ và nhà nước
3 tháng 2: Armenia. Tổng thống Lewon Ter-Petrosjan từ chức
4 tháng 2: Động đất trong Tajikistan và Afghanistan, khoảng 2.300 người chết
24 tháng 2: Lào. Khamtay Siphanedone trở thành tổng thống
=== Tháng 3 ===
4 tháng 3: Israel. Tổng thống Ezer Weizman tái đắc cử
10 tháng 3: Indonesien. Hadji Mohamed Suharto trở thành lãnh đạo chính phủ và quốc gia lần thứ 6
11 tháng 3: Đan Mạch. Thủ tướng Poul Nyrup Rasmussen tái đắc cử
15 tháng 3: Sofia, Bulgaria. Thăm viếng của Giáo hoàng Johannes Paul II
19 tháng 3: Ấn Độ. Atal Bihari Vajpayee trở thành thủ tướng
=== Tháng 4 ===
9 tháng 4: Armenia. Robert Kotscharjan trở thành tổng thống
18 tháng 4: Vương quốc Anh ký kết Hiệp ước Hòa bình với IRA
19 tháng 4: Thomas Klestil tái đắc cử tổng thống liên bang của Áo
26 tháng 4: Guatemala-City, Guatemala. Giám mục Juan Gerardi Conedera bị giết chết
30 tháng 4: Hiệp ước Hòa bình cho Bắc Ireland
=== Tháng 5 ===
4 tháng 5: Armenia. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Wartan Oskanjan thăm viếng Đức
9 tháng 5: Algier, Algérie. Nổ bom trong một quán cà phê. 17 người bị thương
21 tháng 5: Indonesia: Tổng thống Suharto từ chức
22 tháng 5: Algérie. Nổ bom trong El Harrach. 15 người chết
22 tháng 5: Động đất trong Bolivia. 105 người chết
24 tháng 5: Bầu cử quốc hội trong Sénégal
30 tháng 5: Động đất trong Tajikistan và Afghanistan; khoảng 4.000 người chết
=== Tháng 6 ===
10 tháng 6: Paris, Pháp. Tổng thống Jacques Chirac khai mạc trong sân vận động Stade de France Giải vô địch bóng đá thế giới lần thứ 16
15 tháng 6: Hiệp ước hợp tác giữa Bahrain và Liên minh châu Âu
21 tháng 6: Gnassingbé Eyadèma tái đắc cử tổng thống trong Togo
25 tháng 6: Vương quốc Anh. Bầu cử trong Bắc Ireland
27 tháng 6: Động đất trong Thổ Nhĩ Kỳ, khoảng 130 người chết
=== Tháng 7 ===
12 tháng 7: Jamil Mahuad trở thành tổng thống trong Ecuador
12 tháng 7: Pháp vô địch Giải vô địch bóng đá thế giới 1998 lần đầu tiên khi đánh bại Brazil với tỉ số 3-0
17 tháng 7: Động đất trong Papua Tân Guinea 2.823 người chết
30 tháng 7: Nhật Bản. Nguyên bộ trưởng Bộ Ngoại giao Keizo Obuchi trở thành lãnh đạo chính phủ mới
=== Tháng 8 ===
7 tháng 8: Đánh bom đại sứ quán Hoa Kỳ trong Daressalam, Tanzania. 10 người chết
7 tháng 8: Nairobi, Kenia. Đánh bom đại sứ quán Hoa Kỳ. 253 người chết, trên 5.000 người bị thương
10 tháng 8: Ecuador. Jamil Mahuad trở thành tổng thống
28 tháng 8: Beliz. Said Wilbert Musa trở thành thủ tướng
31 tháng 8: Algier, Algérie. Đánh bom. 19 người chết, 60 người bị thương
=== Tháng 9 ===
7 tháng 9: Thành lập công ty Google
18 tháng 9: Algérie. Đánh bom trong Tiaret. 22 người chết, 30 người bị thương
25 tháng 9: Mikuláš Dzurinda trở thành thủ tướng trong Slovakia
28 tháng 9: Albania. Lãnh đạo chính phủ Fatos Nano từ chức
29 tháng 9: Albania. Pandeli Majko trở thành lãnh đạo chính phủ mới
=== Tháng 10 ===
3 tháng 10: Úc. Thủ tướng John Winston Howard tái đắc cử
4 tháng 10: Fernando Henrique Cardoso trở thành tổng thống của Brasil
6 tháng 10: Dominica. Vernon Shaw trở thành tổng thống
9 tháng 10: Israel. Ariel Scharon trở thành bộ trưởng Bộ Ngoại giao mới
9 tháng 10: Ý. Thủ tướng Romano Prodi từ chức
15 tháng 10: Kyrgyzstan trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
16 tháng 10: Maldives. Tổng thống Maumoon Abdul Gayoom tái đắc cử
18 tháng 10: Bầu cử quốc hội trong Macedonia
21 tháng 10: Ý. Massimo D'Alema trở thành lãnh đạo chính phủ mới
27 tháng 10: Đức. Gerhard Schröder được bầu làm thủ tướng liên bang
30 tháng 10: Honduras. Bão Mitch, khoảng 5.500 người chết
=== Tháng 11 ===
10 tháng 11: Hungary. Bắt đầu thương lượng gia nhập với Liên minh châu Âu
15 tháng 11: Burkina Faso. Blaise Compaoré trở thành tổng thống lần thứ 2
24 tháng 11: Émile Lahoud trở thành tổng thống của Liban
24 tháng 11: Sailele Tuila'epa Malielegaoi trở thành thủ tướng trong Samoa
30 tháng 11: Bầu cử quốc hội trong Syria
=== Tháng 12 ===
14 tháng 12: Guinée. Tổng thống Lansana Conté tái đắc cử
15 tháng 12: Algérie. Ismail Hamdani trở thành thủ tướng
== Sinh ==
23 tháng 1: Ariel Winter, nữ diễn viên kiêm ca sĩ tuổi teen người Mỹ
29 tháng 1:Jung Chanwoo,thành viên nhóm nhạc IKON
17 tháng 7: Felipe Juan Froilán de Todos los Santos de Marichalar y de Borbón, con trai của Elena của Tây Ban Nha và Jaime de Marichalar
29 tháng 10: hoàng tử Constantin-Alexios, con trai của hoàng tử kế vị Pavlos của Hy Lạp và công chúa kế vị Marie-Chantal Miller của Hy Lạp
19 tháng 8: Umji,thành viên nhóm nhạc GFriend người Hàn Quốc
== Người chết ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1: Helen Wills Moody, nữ vận động viên quần vợt Mỹ (s. 1905)
5 tháng 1: Georgi Wassiljewitsch Swiridow, nhà soạn nhạc Nga (s. 1915)
5 tháng 1: Sonny Bono, nam ca sĩ Mỹ, diễn viên, chính khách (s. 1935)
5 tháng 1: Wilhelm Herz, người đua mô tô Đức (s. 1912)
5 tháng 1: Junior Wells, nhạc sĩ blues Mỹ (s. 1934)
6 tháng 1: Thomas Ellwein, nhà chính trị học Đức (s. 1927)
7 tháng 1: Richard Hamming, nhà toán học Mỹ (s. 1915)
9 tháng 1: Kenichi Fukui, nhà hóa học Nhật Bản (s. 1918)
11 tháng 1: Klaus Tennstedt, nhạc trưởng Đức (s. 1926)
15 tháng 1: Gulzarilal Nanda, chính khách Ấn Độ (s. 1898)
16 tháng 1: Ludwig Waldleitner, nhà sản xuất phim Đức (s. 1913)
18 tháng 1: Josip Uhac, nhà ngoại giao của Vatikan, Giám mục của Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1924)
23 tháng 1: Hilla Limann, tổng thống của Ghana (s. 1934)
23 tháng 1: Alfredo Ormando, nhà văn Ý (s. 1958)
27 tháng 1: Ernst Klett jr., nhà xuất bản Đức (s. 1911)
28 tháng 1: Shōtarō Ishinomori, họa sĩ vẽ tranh cho truyện comic Nhật Bản (s. 1938)
30 tháng 1: Héctor Campos Parsi, nhà soạn nhạc (s. 1922)
30 tháng 1: Ferdy Mayne, diễn viên Đức (s. 1916)
30 tháng 1: Samuel Eilenberg, nhà toán học Ba Lan (s. 1913)
=== Tháng 2 ===
2 tháng 2: Raymond Bernard Cattell, nhà tâm lý học (s. 1905)
5 tháng 2: Eduardo Francisco Pironio, Hồng y của Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1920)
6 tháng 2: Ferenc Sidó, vận động viên bóng bàn Hungary (s. 1923)
6 tháng 2: Falco, nam ca sĩ Áo, nhạc sĩ (s. 1957)
6 tháng 2: Carl Wilson, nhạc sĩ Mỹ (The Beach Boys) (s. 1946)
8 tháng 2: Halldór Laxness, nhà văn (s. 1902)
17 tháng 2: Ernst Käsemann, nhà thần học, giáo sư đại học (s. 1906)
17 tháng 2: Ernst Jünger, nhà văn Đức, nhà xuất bản (s. 1895)
17 tháng 2: Nicolas Bouvier, nhà văn Thụy Sĩ (s. 1929)
19 tháng 2: Grandpa Jones, nhạc sĩ nhạc đồng quê Mỹ (s. 1913)
19 tháng 2: Mancur Olson, nhà kinh tế học (s. 1932)
22 tháng 2: Clemens Eich, diễn viên Đức, nhà văn (s. 1954)
24 tháng 2: Gerhard Kienbaum, chính khách Đức (s. 1919)
24 tháng 2: Antonio Prohias, họa sĩ biếm họa (s. 1921)
26 tháng 2: Vico Torriani, nam ca sĩ Thụy Sĩ, diễn viên (s. 1920)
26 tháng 2: Theodore William Schultz, nhà kinh tế học Mỹ, Giải thưởng Nobel (s. 1902)
27 tháng 2: George Herbert Hitchings, nhà khoa học Mỹ, Giải thưởng Nobel về y học (s. 1905)
27 tháng 2: James Patrick Walsh, diễn viên Mỹ (s. 1943)
28 tháng 2: Antonio Quarracino, Hồng y của Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1923)
=== Tháng 3 ===
4 tháng 3: Johann Gansch, nhà soạn nhạc Áo (s. 1925)
4 tháng 3: Ossip K. Flechtheim, luật gia Đức, nhà chính trị học (s. 1909)
6 tháng 3: Pierre Villette, nhà soạn nhạc Pháp (s. 1926)
8 tháng 3: Peter Nilson, nhà thiên văn học Thụy Điển (s. 1937)
9 tháng 3: Ulrich Schamoni, đạo diễn phim Đức (s. 1939)
16 tháng 3: Eugen Eckert, nhà điêu khắc Đức, họa sĩ (s. 1911)
19 tháng 3: Klaus Havenstein, diễn viên Đức (s. 1922)
24 tháng 3: António Ribeiro, Hồng y (s. 1928)
27 tháng 3: Ferry Porsche, doanh nhân (s. 1909)
=== Tháng 4 ===
2 tháng 4: Rob Pilatus, nam ca sĩ Hà Lan (s. 1965)
3 tháng 4: Wolf Vostell, họa sĩ Đức, nhà điêu khắc (s. 1932)
5 tháng 4: Cozy Powell, nhạc sĩ nhạc rock Anh (s. 1947)
6 tháng 4: Tammy Wynette, nữ ca sĩ nhạc country Mỹ (s. 1942)
16 tháng 4: Rose Maddox, nữ ca sĩ nhạc đồng quê Mỹ (s. 1926)
16 tháng 4: Carl Pflüger, họa sĩ Đức (s. 1905)
17 tháng 4: Alberto Bovone, Hồng y của Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1922)
17 tháng 4: Linda Eastman, nữ nhạc sĩ Mỹ (s. 1941)
20 tháng 4: Octavio Paz, nhà văn Mexico, nhà ngoại giao (s. 1914)
23 tháng 4: Gregor von Rezzori, nhà văn Áo, diễn viên (s. 1914)
23 tháng 4: Konstantinos Karamanlis, chính khách Hy Lạp (s. 1907)
24 tháng 4: Axel Jüptner, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1969)
27 tháng 4: Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1986 đến 1991 (s. 1915).
27 tháng 4: Dominique Aury, nữ tác giả Pháp (s. 1907)
27 tháng 4: Carlos Castaneda, nhà nhân loại học Mỹ, nhà văn (s. 1925)
=== Tháng 5 ===
2 tháng 5: Justin Fashanu, cầu thủ bóng đá Anh (s. 1961)
2 tháng 5: Hideto Matsumoto, nam ca sĩ Nhật Bản (s. 1964)
3 tháng 5: Gerulf Pannach, nhà soạn nhạc Đức (s. 1948)
3 tháng 5: Raimund Harmstorf, diễn viên Đức (s. 1940)
4 tháng 5: Theodor Oberländer, chính khách Đức (s. 1905)
6 tháng 5: Erich Mende, luật gia Đức, chính khách (s. 1916)
6 tháng 5: Chatichai Junhavan, thủ tướng của Thái Lan (s. 1920)
7 tháng 5: Allan McLeod Cormack, nhà vật lý học, Giải thưởng Nobel về y học (s. 1924)
9 tháng 5: Alice Faye, nữ diễn viên Mỹ, nữ ca sĩ (s. 1915)
10 tháng 5: Cesare Perdisa, tay đua Công thức 1 Ý (s. 1932)
11 tháng 5: Ernst Ising, nhà toán học Đức, nhà vật lý học (s. 1900)
12 tháng 5: Hermann Lenz, nhà văn Đức (s. 1913)
14 tháng 5: Frank Sinatra, diễn viên Mỹ, nam ca sĩ (s. 1915)
15 tháng 5: Richard Jaeger, luật gia Đức, chính khách (s. 1913)
15 tháng 5: Gunter d'Alquen, nhà báo (s. 1910)
21 tháng 5: Robert Gist, đạo diễn phim Mỹ, diễn viên (s. 1924)
29 tháng 5: Barry Goldwater, chính khách Mỹ (s. 1909)
31 tháng 5: Lotti Huber, nữ diễn viên Đức, nữ ca sĩ, nữ nghệ sĩ múa (s. 1912)
=== Tháng 6 ===
3 tháng 6: Poul Bundgaard, diễn viên Đan Mạch, nam ca sĩ (s. 1922)
5 tháng 6: Dieter Roth, thi sĩ Thụy Sĩ, nghệ sĩ tạo hình (s. 1930)
5 tháng 6: Rudolf Otto Wiemer, nhà thơ trữ tình, nhà sư phạm (s. 1905)
6 tháng 6: Maria Reiche, nữ gia toán học Đức, nhà nữ khảo cổ học (s. 1903)
13 tháng 6: Lúcio Costa, kiến trúc sư Brasil (s. 1902)
15 tháng 6: Hartmut Boockmann, nhà sử học Đức (s. 1934)
17 tháng 6: Joachim Nottke, tác giả Đức, diễn viên (s. 1928)
20 tháng 6: Heinz Ditgens, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1914)
20 tháng 6: Ernst Brugger, chính khách Thụy Sĩ (s. 1914)
21 tháng 6: Gerhard Gundermann, nhà soạn nhạc Đức (s. 1955)
21 tháng 6: Anastasio Alberto Ballestrero, tổng Giám mục của Turin, Hồng y (s. 1913)
22 tháng 6: Klaus Piontek, diễn viên Đức (s. 1935)
23 tháng 6: Per Anders Fogelström, nhà văn Thụy Điển (s. 1917)
23 tháng 6: Ida Krottendorf, nữ diễn viên Áo (s. 1927)
29 tháng 6: Frank Rowlett, nhà toán học Mỹ (s. 1908)
=== Tháng 7 ===
3 tháng 7: George Lloyd, nhà soạn nhạc Anh (s. 1913)
4 tháng 7: Henrik Stangerup, tác giả Đan Mạch, đạo diễn phim (s. 1937)
6 tháng 7: Roy Rogers, diễn viên Mỹ (s. 1911)
7 tháng 7: Moshood Abiola, chính khách, nhà kinh doanh (s. 1937)
14 tháng 7: Karl Schirdewan, chính khách Đông Đức (s. 1907)
14 tháng 7: Nguyễn Ngọc Loan, tướng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (s. 1931)
15 tháng 7: Karl-Heinz Hiersemann, chính khách Đức (s. 1944)
21 tháng 7: Alan Shepard, nhà du hành vũ trụ Mỹ (s. 1923)
22 tháng 7: Antonio Saura, họa sĩ Tây Ban Nha (s. 1930)
22 tháng 7: Fritz Buchloh, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1909)
28 tháng 7: Zlatko Čajkovski, cầu thủ bóng đá, huấn luyện viên (s. 1923)
28 tháng 7: Consalvo Sanesi, đua ô tô Ý (s. 1911)
28 tháng 7: Zbigniew Herbert, nhà văn Ba Lan (s. 1924)
=== Tháng 8 ===
2 tháng 8: Arnold Verhoeven, chính khách Đức (s. 1905)
3 tháng 8: Alfred Schnittke, nhà soạn nhạc, nghệ sĩ dương cầm (s. 1934)
4 tháng 8: Yuri Petrovich Artyukhin, nhà du hành vũ trụ Xô Viết (s. 1930)
6 tháng 8: André Weil, nhà toán học Pháp (s. 1906)
8 tháng 8: László Szabó, kỳ thủ Hungary (s. 1917)
13 tháng 8: Franz Ott, chính khách Đức (s. 1910)
13 tháng 8: Julien Green, nhà văn Pháp (s. 1900)
14 tháng 8: Hans-Joachim Kulenkampff, diễn viên Đức (s. 1921)
16 tháng 8: Einar Heimisson, nhà văn (s. 1966)
17 tháng 8: Władysław Komar, vận động viên điền kinh Ba Lan (s. 1940)
17 tháng 8: Tadeusz Ślusarski, vận động viên điền kinh Ba Lan (s. 1950)
19 tháng 8: Hellmut Andics, nhà báo Áo, tác giả (s. 1922)
21 tháng 8: Alfons Fleischmann, nhà thần học Đức, giáo sư đại học (s. 1907)
26 tháng 8: Frederick Reines, nhà vật lý học Mỹ (s. 1918)
=== Tháng 9 ===
1 tháng 9: Franz Scholz, linh mục, nhà thần học (s. 1908)
3 tháng 9: Wilhelm Traub, chính khách Đức (s. 1914)
4 tháng 9: Hans Brenner, diễn viên Áo (s. 1938)
5 tháng 9: Leo Penn, đạo diễn phim Mỹ, tác giả kịch bản, nhà sản xuất phim (s. 1921)
6 tháng 9: Akira Kurosawa, đạo diễn phim Nhật Bản (s. 1910)
12 tháng 9: Kurt Wölfflin, nhà văn Áo (s. 1934)
13 tháng 9: Alois Grillmeier, nhà thần học Công giáo, Hồng y (s. 1910)
13 tháng 9: George Wallace, thống đốc của Alabama (s. 1919)
21 tháng 9: Florence Griffith Joyner, nữ vận động viên điền kinh Mỹ, huy chương Thế Vận Hội (s. 1959)
24 tháng 9: Genrikh Saulovich Altshuller, kĩ sư Nga, nhà khoa học (s. 1912)
26 tháng 9: Betty Carter, nữ ca sĩ nhạc jazz Mỹ (s. 1929)
27 tháng 9: Karlheinz Kaske, manager, kĩ sư (s. 1928)
=== Tháng 10 ===
2 tháng 10: Olivier Gendebien, đua xe Bỉ (s. 1924)
2 tháng 10: Gene Autry, ca sĩ nhạc country Mỹ, diễn viên (s. 1907)
4 tháng 10: Jean-Pascal Delamuraz, chính khách Thụy Sĩ (FDP) (s. 1936)
12 tháng 10: Bernhard Minetti, diễn viên Đức (s. 1905)
17 tháng 10: Joan Hickson, nữ diễn viên Anh (s. 1906)
19 tháng 10: Christian Schiefer, nhiếp ảnh gia Thụy Sĩ (s. 1896)
20 tháng 10: Gerhard Jahn, chính khách Đức (s. 1927)
20 tháng 10: Franz Tumler, nhà văn Áo (s. 1912)
22 tháng 10: Eric Ambler, nhà văn Anh (s. 1909)
25 tháng 10: Heinz Maegerlein, nhà báo về thể thao (s. 1911)
28 tháng 10: Ted Hughes, nhà văn Anh (s. 1930)
30 tháng 10: Heinz Westphal, chính khách Đức (s. 1924)
=== Tháng 11 ===
5 tháng 11: Anna Henkel-Grönemeyer, nữ diễn viên Đức (s. 1953)
6 tháng 11: Niklas Luhmann, nhà xã hội học Đức (s. 1927)
11 tháng 11: Gérard Grisey, nhà soạn nhạc Pháp (s. 1946)
11 tháng 11: Frank Brimsek, vận động viên khúc côn cầu trên băng Mỹ (s. 1913)
13 tháng 11: Red Holzman, huấn luyện viên bóng rổ Mỹ (s. 1920)
17 tháng 11: Efim Geller, kỳ thủ Xô Viết (s. 1925)
23 tháng 11: Ingeborg Feustel, nữ nhà văn nữ (s. 1926)
24 tháng 11: Hans-Otto Bäumer, chính khách Đức (s. 1926)
24 tháng 11: John William Corrington, tác giả kịch bản Mỹ (s. 1932)
25 tháng 11: Nelson Goodman, triết gia Mỹ (s. 1906)
=== Tháng 12 ===
6 tháng 12: César Baldaccini, nhà điêu khắc Pháp (s. 1921)
9 tháng 12: Klaus Matthiesen, chính khách Đức (s. 1941)
10 tháng 12: Max Streibl, chính khách Đức (s. 1932)
11 tháng 12: Anton Stankowski, nghệ sĩ tạo hình Đức (s. 1906)
12 tháng 12: Mo Udall, chính khách Mỹ (s. 1922)
16 tháng 12: William Gaddis, nhà văn Mỹ (s. 1922)
16 tháng 12: Franz K. Opitz, họa sĩ Thụy Sĩ, nhiếp ảnh gia, nghệ nhân (s. 1916)
18 tháng 12: Lev Stepanovich Dyomin, nhà du hành vũ trụ Xô Viết (s. 1926)
20 tháng 12: Alan Lloyd Hodgkin, nhà hóa sinh Anh, nhận Giải thưởng Nobel (s. 1914)
22 tháng 12: Michelle Thomas, nữ diễn viên Mỹ (s. 1969)
23 tháng 12: Anatoly Naumovich Rybakov, nhà văn Nga (s. 1911)
24 tháng 12: Peter Janssens, nhà soạn nhạc Đức (s. 1934)
24 tháng 12: Syl Apps, vận động viên khúc côn cầu trên băng Canada, huấn luyện viên (s. 1915)
26 tháng 12: Reinhard Schober, nhà lâm học Đức (s. 1906)
28 tháng 12: Herbert Fechner, chính khách Đức (s. 1913)
29 tháng 12: Willem Kersters, nhà soạn nhạc Bỉ, giáo sư (s. 1929)
30 tháng 12: Michaela Geiger, nữ chính khách Đức (s. 1943)
31 tháng 12: Erling Norvik, chính khách Na Uy, nhà báo (s. 1928)
== Giải thưởng Nobel ==
Hóa học - Walter Kohn, John A. Pople
Văn học - José Saramago
Hòa bình - John Hume và David Trimble
Vật lý - Robert B. Laughlin, Horst L. Störmer, Daniel Chee Tsui
Y học - Robert F. Furchgott, Louis J. Ignarro, Ferid Murad
Kinh tế - Amartya Sen
== Xem thêm ==
Thế giới trong năm 1998, tình trạng thế giới trong năm này
== Tham khảo == |
suaeda.txt | Suaeda là chi thực vật có hoa trong họ Amaranthaceae.
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Suaeda tại Wikimedia Commons
Dữ liệu liên quan tới Suaeda tại Wikispecies |
1831.txt | 1831 (số La Mã: MDCCCXXXI) là một năm thường bắt đầu vào thứ Bảy trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1831
== Sự kiện ==
- Việt Nam: Thực thi cải cách Minh Mạng
== Sinh ==
== Mất ==
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
abu dhabi.txt | Abu Dhabi, hay cũng gọi là ʼAbū Ẓaby (nghĩa là "cha của linh dương gazen"), toạ lạc bên bờ Vịnh Ba Tư, là thủ đô và là thành phố lớn nhất của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE). Abu Dhabi cũng là thủ đô của tiểu vương quốc Abu Dhabi, tiểu vương quốc Ả Rập (emirate) lớn nhất, thịnh vượng nhất và đông dân nhất trong bảy tiểu vương quốc tạo nên Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất. Thành phố được xây trên một hòn đảo gần đất liền và có một cảng nước sâu nhân tạo quan trọng có tên là Cảng Zayed. Abu Dhabi là một trung tâm tài chính, giao thông vận tải của khu vực giàu dầu mỏ. Thành phố cũng có một sân bay quốc tế.
== Lịch sử ==
Từ một thị trấn khiêm tốn với vài ngàn dân với các công trình nhỏ truyền thống giữa thập niên 1960, thành phố đã trải qua một giai đoạn tăng trưởng vượt bậc trong mấy thập niên qua. Hiện nay, Abu Ahabi đã là thành phố hiện đại với nhiều toà nhà chọc trời và có hàng trăm ngàn dân. Thành phố được quy hoạch theo ô vuông với các tuyến đường phố theo hướng Đông-Nam đến Tây Bắc. Nhiều công viên và vườn hoa đã được trồng ở những khu vực mà trước đây là sa mạc khô cằn. Thành phố có một tổ hợp thể thao lớn và một trung tâm văn hoá.
Lịch sử của Abu Ahabi được bắt đầu tư năm khu định cư năm 1761 và năm 1793 đây là nơi quyền lực của dòng họ al-Nahyan, dòng họ đang cai trị tiểu vương quốc Abu Dhabi cho đến ngày nay. Tuy nhiên, thị trấn này chỉ trở nên quan trọng hơn khi trữ lượng dầu mỏ lớn được phát hiện tại tiểu vương quốc này cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. Những năm tiếp theo, nền kinh tế và hạ tầng cơ sở của thành phố đã phát triển nhanh chóng những năm sau đó. Theo thoả hiệp năm 1971, thành phố Abu Dhabi đã được chọn làm thủ đô lâm thời của Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất mới thành lập. Người ta dự tính rằng một thủ đô mới, lâu dài sẽ được xây sau này ở biên giới giữa Abu Dhabi và Dubai, tiểu vương quốc Ả Rập quan trọng thứ hai trong Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất. Tuy nhiên, vào ăm 1996, Abu Dhabi đã được tuyên bố chính thức là thủ đô lâu dài của Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất.
== Tham khảo == |
gam.txt | Bài này trình bày đơn vị đo khối lượng; xem các nghĩa khác tại gam (định hướng)
Một gam (viết tắt là g) hay gram là một đơn vị đo khối lượng bằng 1/1000 kilôgam. Trong hệ đo lường quốc tế SI, gam là đơn vị đo được suy ra từ đơn vị cơ bản kilôgam theo định nghĩa trên.
== Một số giá trị quy đổi khối lượng tương đương ==
1 gram = 5 carat
1 gram = 15,4324 grain
1 gram = 0,0352736 ounce avdp (oz)
1 gram = 0,0321492 ounce troy (ozt)
1 gram = 0,643014 pennyweight
== Xem thêm ==
Hệ đo lường quốc tế
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Gam tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Gram tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) |
chiến tranh hoa kỳ-méxico.txt | Chiến tranh Hoa Kỳ-Mexico (tiếng Anh Hoa Kỳ: Mexican-American War hay Mexican War, tiếng Tây Ban Nha México: La Intervención Norteamericana hay La Invasión Estadounidense, La Guerra de Defensa) là cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và México từ năm 1846 đến năm 1848. Nguyên nhân chính là Hoa Kỳ chính thức sáp nhập lãnh thổ Texas vào Hoa Kỳ năm 1845. Trước đó, ngay từ năm 1836, Mexico đã không công nhận sự sáp nhập này, luôn luôn coi Texas như là một lãnh thổ phản nghịch của Mexico.
Đối với Hoa Kỳ, chiến tranh với Mexico là một vấn đề chính trị giữa đảng Whig chủ hòa và Đảng Dân chủ chủ chiến. Về phía Mexico, cuộc chiến chống Hoa Kỳ mang tính cách tự hào dân tộc hơn là bảo vệ lãnh thổ.
Hậu quả của cuộc chiến là Mexico phải nhượng thêm đất Alta California và Santa Fé de Nuevo México cho Hoa Kỳ, theo Hòa ước Guadalupe Hidalgo. Tổn thất lãnh thổ này khiến chính phủ đương thời của Mexico phải tiến hành chính sách thuộc địa trên các vùng phía bắc để ngăn chặn mất mát về sau.
== Xem thêm ==
Cộng hòa Texas
== Tham khảo == |
berkshire.txt | Berkshire là một hạt ở phía Đông- Nam của Anh. Thủ phủ hạt đóng ở thị xã Reading. Berkshire cũng thường được gọi là Hạt Hoàng gia Berkshire vì sự hiện diện của lâu đài Windsor ở hạt này, tên gọi này được sử dụng ít nhất từ thế kỷ 19, được công nhận bởi nữ hoàng vào năm 1957, và văn kiện Hoàng gia (letters patent) xác nhận điều này vào năm 1974.
Berkshire giáp hạt Oxfordshire (về phía bắc), Buckinghamshire (về phía đông bắc), Đại Luân Đôn (về phía đông), Surrey (về phía đông nam), Wiltshire (về phía tây) và Hampshire (về phía nam).. Vào năm 1974 những thị trấn như Abingdon, Didcot và Wantage được chuyển tới Oxfordshire, Slough được nhập vào từ Buckinghamshire,
Trong lịch sử thị xã thủ phủ là Abingdon, nhưng vào năm 1867 thì Reading - thị xã lớn hơn nhiều - thay thế Abingdon trong vai trò này. Năm 1974, có những cải tổ quan trọng đến ranh giới hành chính của hạt mặc dù ranh giới truyền thống không thay đổi. Abingdon và một số thị trấn khác phía tây bắc thuộc Berkshire (bao gồm cả Didcot và Wantage) được nhập vào Oxfordshire. Thay vào đó, Slough được nhập vào từ Buckinghamshire Một tổ chức lại sau đó, vào năm 1998, bãi bỏ Hội đồng hạt Berkshire, mặc dù vẫn giữ Berkshire là một hạt nghi lễ. Chức vụ cao nhất của chính quyền địa phương trong Berkshire được điều hành bởi 6 chính quyền đơn nhất của Bracknell Forest, Reading, Slough, Tây Berkshire, Windsor và Maidenhead và Wokingham.
== Lịch sử của hạt Berkshire ==
Hạt Berkshire là một trong những hạt lâu đời nhất của Anh. Hạt này có thể đã được thành lập vào những năm 840- một giai đoạn bao gồm sự thống nhất của "Sunningum" (Đông Berkshire) và " Ashdown" (Hạ Berkshire, bao gồm thung lũng Kennet).Tên hạt này được đề cập chính thức lần đầu tiên vào năm 860. Dựa theo Asser, một giám mục, tên gọi Berkshire được lấy từ tên một khu rừng lớn nhất vùng đó là Bearroc (tiếng Celtic nghĩa là "vùng có nhiều đồi núi")
Berkshire xuyên suốt trong lịch sử là một vùng đất chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh trong nội bộ nước Anh. Bao gồm Đại Chiến Newbury lần 1 ở Wash Common (1643) và Đại chiến Newbury lần 2 ở Speen (1644). Trận chiến Reading cũng diễn ra ở đây vào năm 1688.
Vào ngày 1 tháng 4 năm 1974, biên giới của hạt Berkshire có sự thay đổi do Local Government Act 1972 (Đạo Luật chính quyền 1972). Berkshire lúc đó nắm quyền của cả vùng Slough và Eton- một phần của Buckinghamshire. Phần phía Bắc của Hạt trở thành một phần của Oxfordshire bao gồm các vùng nhỏ như Faringdon, Wantage và Abingdon trở thành huyện Vale of White Horse, Didcot và Wallingford được nhập vào huyện South Oxfordshire.
Vào ngày 1 tháng 4 năm 1998, Hội đồng Hạt Berkshire đã bị bãi bỏ theo khuyến nghị của Ủy ban Banham, tất cả các huyện trở thành những chính quyền đơn nhất (unitary authority). Khẩu hiệu "Chào mừng đến với Hạt Hoàng gia Berkshire" đã bị xóa bỏ nhưng hiện nay vẫn có thể bắt gặp ở một số quận thuộc Tây Berkshire.
== Tham khảo == |
sint eustatius.txt | Sint Eustatius, còn được cư dân địa phương yêu mến gọi là Statia /ˈsteɪʃə/ hoặc Statius, là một đảo nhỏ nằm trong vùng Caribbe và là một đặc khu của Hà Lan.
Đảo Sint Eustatius nằm ở phía Bắc của Quần đảo Leeward thuộc Tây Indies, phía Đông Nam Quần đảo Virgin. Sint Eusatius giáp với phía Tây Bắc của Quần đảo Saint Kitts, và phía Đông Nam của Quần đảo Saba. Thủ phủ của vùng là Oranjestad.
Đảo Sint Eustatius có diện tích khoảng 21 km² (8.1 dặm vuông). Kết quả cuộc điều tra dân số năm 2001 cho thấy dân số của đảo vào khoảng 3,543 người, với mật độ 169 người/km². Ngôn ngữ chính thức là tiếng Hà Lan và tiếng Anh. Phương ngữ tiếng Anh của Quần đảo Virgin được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày. Các khách du lịch thường di chuyển đến đảo bằng máy bay từ sân bay F.D. Roosevelt.
Từng là một phần của Quần đảo Antilles thuộc Hà Lan, Sint Eustatius trở thành đặc khu của Hà Lan vào ngày 10 tháng 10 năm 2010.
Tên gọi "Sint Eustatius" của đảo là tên tiếng Hà Lan của Thánh Eustace (còn được phát âm là Eustachius hoặc Eustathius), vốn là một tu sĩ Tin Lành huyền thoại tử vì đạo; ông còn được biết đến trong tiếng Tây Ban Nha là San Eustaquio và tiếng Bồ Đào Nha là Santo Eustáquio hoặc Santo Eustácio.
== Tham khảo == |
danh sách vùng của nhật bản.txt | Các vùng của Nhật Bản không phải là đơn vị hành chính chính thức, nhưng đã được sử dụng một cách truyền thống trong một số ngữ cảnh. Ví dụ, bản đồ và sách giáo khoa địa lý chia Nhật Bản thành 8 vùng, dự báo thời tiết thường là các vùng thời tiết, hay nhiều doanh nghiệp và các tổ chức sử dụng vùng để đặt tên cho đơn vị doanh nghiệp của họ (Công ty TNHH Đường sắt Kinki Nippon, Ngân hàng Chugoku, Đại học Tohoku vv...). Trong khi Nhật Bản có tám Tòa án tối cao khu vực pháp lý nhưng lại không tương ứng với tám khu vực dưới đây.
Từ Bắc vào Nam, các vùng của Nhật Bản bao gồm:
Vùng Hokkaidō (bao gồm đảo Hokkaidō và các đảo lân cận, dân số: 5.507.456, thành phố lớn nhất: Sapporo)
Vùng Tōhoku (phía bắc đảo Honshu, dân số: 9.335.088, thành phố lớn nhất: Sendai)
Vùng Kantō (phía đông đảo Honshu, dân số: 42.607.376, thành phố lớn nhất: Tokyo)
Quần đảo Nanpō: một phần của Tokyo Metropolis
Vùng Chūbu (trung tâm đảo Honshu, dân số: 21.714.995, thành phố lớn nhất: Nagoya), đôi khi được chia thành các vùng nhỏ hơn:
Hokuriku (tây bắc Chubu, thành phố lớn nhất: Kanazawa)
Kōshin'etsu (đông bắc Chubu, thành phố lớn nhất: Niigata)
Tōkai (phía Nam Chubu, thành phố lớn nhất: Nagoya)
Vùng Kansai hay Kinki (phía tây-trung tâm đảo Honshu, trong đó có thủ đô cũ, Kyoto, dân số: 22.755.030, thành phố lớn nhất: Osaka)
Vùng Chūgoku (phía tây đảo Honshu, dân số: 7.561.899, thành phố lớn nhất: Hiroshima)
Vùng Shikoku (đảo Shikoku, dân số: 3.977.205, thành phố lớn nhất: Matsuyama)
Vùng Kyushu (đảo Kyūshū và quần đảo Okinawa, dân số: 14.596.977, thành phố lớn nhất: Fukuoka) trong đó bao gồm:
Phía bắc Kyushu: Fukuoka, Saga, Nagasaki và Ōita
Phía nam Kyushu: Kumamoto, Miyazaki và Kagoshima
Okinawa
Mỗi vùng gồm nhiều tỉnh, ngoại trừ Hokkaidō là vùng chỉ bao gồm duy nhất tỉnh Hokkaidō.
== Xem thêm ==
Tỉnh của Nhật Bản
Địa lý Nhật Bản
== Tham khảo == |
anomis.txt | Anomis là một chi bướm đêm thuộc họ Erebidae.
== Các loài ==
Anomis albitibia (Walker, [1858])
Anomis combinans (Walker, [1858])
Anomis definata Lucas, 1894
Anomis editrix (Guenée, 1852)
Anomis erosa Hübner, 1821
Anomis exacta Hübner, 1822
Anomis figlina Butler, 1889
Anomis flava (Fabricius, 1775)
Anomis hawaiiensis (Butler, 1882)
Anomis illita Guenée, 1852
Anomis impasta Guenée, 1852
Anomis involuta (Walker, [1858])
Anomis luridula Guenée, 1852
Anomis lyona (Swinhoe, 1919)
Anomis nigritarsis (Walker, [1858])
Anomis noctivolans (Butler, 1880)
Anomis planalis (Swinhoe, 1902)
Anomis privata (Walker, 1865) (=Anomis commoda (Butler, 1878))
Anomis psamathodes (Turner, 1902)
Anomis sabulifera Guenée, 1852
Anomis schistosema Hampson, 1926
Anomis scitipennis Walker, 1864
Anomis texana Riley, 1885
Anomis vulpicolor (Meyrick, 1928)
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
Anomis at funet.fi
Natural History Museum Lepidoptera genus database |
sông volta.txt | Volta là một sông tại Tây Phi, đổ ra Vịnh Guinea. Sông Volta có ba chi lưu chính là Volta Đen, Volta Trắng và Volta Đỏ. Người ta đã lấy tên sông để đặt cho Thượng Volta thuộc Pháp và sau đó là Thượng Volta trước khi đất nước này đổi tên thành Burkina Faso vào năm 1984.
Hồ Volta tại Ghana là hồ chứa lớn nhất thể giới, trải rộng từ đập Akosombo ở đông nam Ghana đến thị trấn Yapei, cách khoảng 400 kilômét (250 mi) về phía bắc. Hồ phục vụ cho thủy điện, hỗ trợ giao thông thủy nội địa, và tạo ra tiềm năng cho việc tưới tiêu và thủy sản.
Người Bồ Đào Nha đã mua được nhiều vàng từ các cư dân trong khu vực sông vào thời Phục hưng.
Độ sâu trung bình của sông là 45 foot (14 m) tại hồ Volta.
Sông được những người buôn vàng Bồ Đào Nha đặt tên; đó là nơi họ thám hiểm xa nhất trước khi trở về (volta trong tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là "trở về").
== Tham khảo == |
galatasaray s.k..txt | Galatasaray Spor Kulübü là một câu lạc bộ thể thao Thổ Nhĩ Kỳ với 2 môn thể thao nổi tiếng nhất là bóng đá và bóng chày. Câu lạc bộ đặt trụ sở ở thành phố Istanbul. Galatasaray cũng có những môn thể thao khác như điền kinh, bóng rổ, bóng rổ xe lăn, bóng chuyền, bóng nước, bơi lội, chèo thuyền, thuyền buồm, Judo, cưỡi ngựa, bóng ném, quần vợt và đua xe.
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của câu lạc bộ Galatasaray SK: tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Anh |
bóng ném bãi biển.txt | Bóng ném bãi biển là một môn thể thao đồng đội nơi mà hai đội vượt qua và tung lên một quả bóng, cố gắng để ném bóng vào cầu môn của đối thủ. Trò chơi này tương tự như bóng ném đồng đội, nhưng được chơi trên cát thay vì trong nhà thi đấu. Các trận đấu được chơi trong hai hoặc ba hiệp (set), tùy thuộc vào thời điểm một đội thắng set thứ hai. Bàn thắng của thủ môn được tính là hai điểm, so với bàn thắng thông thường được ghi bởi một cầu thủ trên sân có giá trị 1 điểm. Các bàn thắng có tính sáng tạo hoặc ngoạn mục, cũng như các cú ném trên không và cú ném 6 mét được tính hai điểm.
Các quy tắc bóng ném bãi biển quốc tế chính thức được ra đời năm 2002. Giải vô địch châu Âu đầu tiên được tổ chức năm 2000.
Tính đến tháng 9 năm 2014, Brasil là nước xếp hạng số 1 trên thế giới, và là đội chiến thắng tại Giải vô địch bóng ném bãi biển thế giới 2014 ở cả hai nội dung nam và nữ.
== Xem thêm ==
Giải vô địch bóng ném bãi biển nam thế giới
Giải vô địch bóng ném bãi biển nữ thế giới
Giải vô địch bóng ném bãi biển châu Âu
Bóng ném bãi biển tại Đại hội Thể thao Thế giới
Giải vô địch bóng ném bãi biển Liên châu Mỹ
== Tham khảo ==
Giải vô địch bóng ném bãi biển nam và nữ châu Âu 2011 Croatia
== Liên kết ngoài ==
Giải vô địch bóng ném bãi biển Suances Cup
Bóng ném bãi biển Cộng đồng Ba Lan
Cúp Cadiz thế giới 2008
Bóng ném bãi biển mở rộng quốc tế Calella
Giải vô địch bóng ném bãi biển châu Âu 2011, Umag, Croatia
Bóng ném bãi biển Croatian |
bộ quốc phòng hoa kỳ.txt | Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (United States Department of Defense) hay còn được gọi tắt là Lầu Năm Góc, là một bộ của chính phủ liên bang Hoa Kỳ, đặc trách điều hợp và trông coi tất cả các cơ quan và chức năng của chính phủ có liên quan đến an ninh và quân sự quốc gia. Việc tổ chức và các trách nhiệm của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ được ấn định trong Điều khoản 10, Bộ luật Hoa Kỳ. Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ còn là cơ quan lớn nhất thế giới với hơn 2.13 triệu quân nhân, thủy thủ, lính thủy đánh bộ, phi công và nhân viên thường. Trên 1.1 triệu Vệ binh Quốc gia và thành viên của Quân dự bị Lục Quân, Thủy Quân, Hải Quân và Lính thủy Đánh bộ. Tổng nhân viên của cả cơ quan là trên 3.2 triệu quân nhân và nhân viên.
Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ - đứng đầu bởi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - có tổng hành dinh tại Ngũ Giác Đài gần Washington, D.C. và có ba thành phần chính – Bộ Lục quân, Bộ Hải quân, và Bộ Không quân. Trong số các cơ quan của Bộ Quốc phòng là Cơ quan phòng không chống tên lửa (Missile Defense Agency), Cơ quan đặc trách kế hoạch nghiên cứu quốc phòng cao cấp (Defense Advanced Research Projects Agency), Cơ quan bảo vệ lực lượng Ngũ Giác Đài (Pentagon Force Protection Agency), Cơ quan Tình báo Quốc phòng (DIA), Cơ quan Tình báo Địa không gian Quốc gia (National Geospatial-Intelligence Agency), và Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA). Bộ cũng điều hành một số học viện hỗn hợp trong đó có Đại học Chiến tranh Quốc gia (National War College).
Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ là cơ quan có ngân sách cao nhất trong số các cơ quan Liên Bang; con số này cao hơn cả một nửa ngân sách tùy nghi hàng năm của các cơ quan Liên Bang.
Vào ngày 26 tháng 2 năm 2013, Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ xác nhận Chuck Hagel là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng mới, thay thế Bộ trưởng cũ đã nghỉ hưu là Leon Panetta sau một cuộc tranh chức Thư ký thất bại.
== Lịch sử ==
Quốc hội Hoa Kỳ thành lập Bộ Chiến tranh năm 1789 và Bộ Hải Quân Hoa Kỳ trong năm 1798. Bộ trưởng của mỗi bộ báo cáo trực tiếp cho Tổng thống với tư cách là Cố vấn Nội các.
Trong một thông điệp đặc biệt tới Quốc hội vào ngày 19 tháng 12 năm 1945, Tổng thống Harry Truman đề nghị thành lập một Bộ Quốc phòng thống nhất bởi vì cả hai vấn đề là quá lãng phí trong binh phí và các cuộc xung đột giữa các bộ. Các cuộc bàn cãi trong Quốc hội xảy ra trong nhiều tháng mà trọng điểm là vai trò của quân đội trong xã hội và mối đe dọa trong việc công nhận quá nhiều khả năng quân sự cho một bộ phận nhất định.
Vào ngày 26 tháng 7 năm 1947, Truman ký Đạo luật An ninh Quốc gia năm 1947, lập ra một Bộ chỉ huy Quân sự thống nhất được biết đến với tên Tổ chức Quân sự Quốc gia (Tiếng Anh: National Military Establishment), cũng như thành lập Cục Tình báo Trung ương (Central Intelligence Agency), Hội đồng An ninh Quốc gia (National Security Council), Hội đồng Quản trị Tài nguyên An ninh Quốc gia (National Security Council), Lực lượng Không quân Hoa Kỳ (United States Air Force) và Bộ tổng Tham mưu (Joint Chief of Staff).
Hiệp định này đặt Tổ chức Quân sự Quốc gia dưới quyền của một Bộ trưởng Bộ Quốc phòng duy nhất. Tổ chức Quân sự Quốc gia bắt đầu hoạt động vào ngày 18 tháng 9, sau ngày Thượng Nghị Viện Hoa Kỳ xác nhận James V. Forrestal là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đầu tiên. Tổ chức Quân sự Quốc gia được đổi tên thành "Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ" vào ngày 10 tháng 8 năm 1949 trong một sự sửa đổi của bộ luật năm 1947.
Dưới Đạo luật Tái tổ chức Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ năm 1958, các chức sắc trong bộ được sắp xếp lại trong khi vẫn duy trì được quyền thế của Bộ Quân sự. Bộ luật này cũng chu cấp một Tổ chức Nghiên cứu Trung ương, Cơ quan Đặc trách Kế hoạch Nghiên cứu Quốc phòng Cao cấp (Defense Advanced Research Projects Agency), được biết đến với tên gọi DARPA. Đạo luật chuyển quyền ra quyết định từ Bộ Quân sự cho Bộ tổng Tham mưu và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Nó còn gia cố quyền chỉ huy Quân đội Hoa Kỳ từ Tổng thống sang Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Được viết và đề xướng bởi chính quyền Eisenhower, được ký thành luật pháp vào ngày 6 tháng 8 năm 1958.
== Tổ chức ==
Bộ Quốc phòng gồm có lục quân, hải quân, không quân và thuỷ quân lục chiến cũng như các cơ quan không chiến đấu như Cơ quan An ninh quốc gia và Cơ quan Tình báo Quốc phòng. Ngân sách hàng năm của bộ là khoảng 786 tỉ đô la năm 2007. Con số này không bao gồm thêm hàng chục tỷ đô la chi tiêu phụ mà Quốc hội Hoa Kỳ dành cho bộ suốt năm, đặc biệt là cho Chiến tranh Iraq. Nó cũng không bao gồm số tiền chi tiêu của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ sử dụng vào việc thiết kế và thử nghiệm vũ khi hạt nhân.
Phía dân sự kiểm soát bộ về các vấn đề hơn là về các chiến dịch và được thực hiện qua ba bộ dưới quyền là Bộ Lục quân Hoa Kỳ, Bộ Hải quân Hoa Kỳ (bao gồm quân chủng Thuỷ quân Lục chiến Hoa Kỳ) và Bộ Không quân Hoa Kỳ. Mỗi bộ có một bộ trưởng riêng dưới cấp nội các.
Trong thời chiến, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ có quyền đối với Tuần duyên Hoa Kỳ; trong thời bình, lực lượng Tuần duyên nằm dưới quyền của Bộ Nội an Hoa Kỳ. Trước khi Bộ Nội an được thành lập, Tuần duyên Hoa Kỳ nằm dưới quyền của Bộ Giao thông Hoa Kỳ và trước kia nằm dưới quyền của Bộ Ngân khố Hoa Kỳ. Theo Bộ luật Hoa Kỳ, Tuần duyên Hoa Kỳ luôn luôn được xem là một trong năm quân chủng của Hoa Kỳ và là một trong 7 lực lượng đồng phục của Hoa Kỳ. Trong thời gian tuyên chiến (hay dưới quyền hướng dẫn của Quốc hội Hoa Kỳ), Tuần duyên Hoa Kỳ hoạt động như là một bộ phận của Hải quân Hoa Kỳ. Quân chủng này chưa từng nằm dưới quyền của Hải quân Hoa Kỳ kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai nhưng các thành viên đã từng phục vụ trong những cuộc xung đột không tuyên chiến kể từ đó trong khi vẫn nằm trong bộ thời bình của nó.
Ngũ Giác Đài nằm trong Quận Arlington, Virginia, phía bên kia Sông Potomac từ thủ đô Washington, D.C., là tổng hành dinh của Bộ Quốc phòng. Bộ Quốc phòng được Cơ quan Bảo vệ Lực lượng Ngũ Giác Đài bảo vệ. Cơ quan này đảm trách an ninh và thi hành luật pháp để bảo vệ Ngũ Giác Đài và các cơ quan nằm trong thẩm quyền của Bộ Quốc phòng khắp Vùng Thủ đô Quốc gia (National Capital Region).
=== Cơ cấu chỉ huy ===
Tổng thống Hoa Kỳ là tổng tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ mặc dù tổng thống là một người thuộc giới dân sự, không phải thuộc giới quân sự. Cơ cấu chỉ huy của Bộ Quốc phòng được định nghĩa theo Đạo luật Goldwater-Nichols 1986 (PL 99-433), và được Tổng thống Ronald Reagan ký thành luật vào ngày 1 tháng 10 năm 1986. Đạo luật tu chính lại cơ cấu chỉ huy quân đội Hoa Kỳ, tạo nhiều thay đổi nhanh nhất đối với bộ kể từ khi nó được thành lập theo Đạo luật An ninh Quốc gia 1947. Theo đạo luật, hệ thống chỉ huy bắt đầu từ Tổng thống Hoa Kỳ qua Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đến các tư lệnh của các bộ tư lệnh tác chiến thống nhất - các vị tư lệnh này là những người chỉ huy tất cả các lực lượng quân sự hỗn hợp trong vùng trách nhiệm của mình. Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ (Chairman of the Joint Chiefs of Staff) và các Tham mưu trưởng chịu trách nhiệm sẵn sàng cho quân đội Hoa Kỳ và phục vụ như những cố vấn quân sự cho tổng thống nhưng không nằm trong hệ thống chỉ huy. Theo luật định thì Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ là viên chức quân sự cao cấp nhất tại Hoa Kỳ. Mỗi quân chủng có trách nhiệm tổ chức, huấn luyện và trang bị các đơn vị quân sự cho các tư lệnh của các Bộ tư lệnh tác chiến thống nhất.
==== Sơ đồ tổ chức chỉ huy quân sự quốc gia ====
=== Thành phần ===
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ
Phó Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ
Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng
Ủy ban Cố vấn Ban Chính sách Quốc phòng (Defense Policy Board Advisory Committee)
Văn phòng Lượng định Tình hình Thực tế (Office of Net Assessment)
Cơ quan Bảo vệ Lực lượng Lầu Năm Góc (Pentagon Force Protection Agency)
Văn phòng Tư vấn Tổng quát (Office of General Counsel)
Cơ quan đặc trách Pháp luật Quốc phòng (Defense Legal Services Agency)
Văn phòng Tổng thanh tra (Office of Inspector General)
Sở Điều tra Tội phạm Quốc phòng (Defense Criminal Investigative Service)
Thứ trưởng Quốc phòng đặc trách Tình báo (Under Secretary of Defense for Intelligence)
Cơ quan Tình báo Quốc phòng (DIA)
Sở An ninh Quốc phòng (Defense Security Service)
Cơ quan Phản gián (Counterintelligence Field Activity)
Cơ quan Tình báo Địa-không gian Quốc gia (NGA)
Cơ quan Trinh sát Quốc gia (NRO)
Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA)
Thứ trưởng Quốc phòng đặc trách Chính sách
Cơ quan Hợp tác An ninh Quốc phòng (Defense Security Cooperation Agency)
Văn phòng Quốc phòng đặc trách Tù binh và Nhân sự Mất tích (Defense Prisoner of War/Missing Personnel Office)
Thứ trưởng Quốc phòng đặc trách Quân dụng, Kỹ thuật và Tiếp liệu (Under Secretary of Defense for Acquisition, Technology and Logistics)
Trung tâm Thông tin Kỹ thuật Quốc phòng (Defense Technical Information Center)
Cơ quan Hoạch định Nghiên cứu Tiên tiến Quốc phòng (Defense Advanced Research Projects Agency)
Cơ quan Quốc phòng chống Tên lửa (Missile Defense Agency)
Cơ quan Quản lý Hợp đồng Quốc phòng (Defense Contract Management Agency)
Cơ quan Tiếp liệu Quốc phòng (Defense Logistics Agency)
Cơ quan Giảm thiểu Đe dọa Quốc phòng (Defense Threat Reduction Agency)
Văn phòng Điều chỉnh Kinh tế (Office of Economic Adjustment)
Đại học Quân dụng Quốc phòng (Defense Acquisition University)
Cơ quan Chuyển hóa Công việc (Business Transformation Agency)
Ban điều hành Định lượng và Thử nghiệm Hoạt động (Operational Test and Evaluation Directorate)
Thứ trưởng Quốc phòng đặc trách Nhân sự và Sẵn sàng
Cơ quan Quân nhu Quốc phòng (Defense Commissary Agency)
Hệ thống trường dành cho con quân nhân quốc phòng (Department of Defense Dependents Schools)
Đại học Y khoa Quân đội (Uniformed Services University of the Health Sciences)
Viện Quản lý Cơ hội Bình đẳng Quốc phòng (Defense Equal Opportunity Management Institute)
Văn phòng Giám đốc Giáo dục và Phát triển Nghiệp vụ (Office of the Chancellor for Education and Professional Development)
Thứ trưởng Tài chính Quốc phòng (Under Secretary of Defense Comptroller)
Cơ quan Kiểm toán Hợp đồng Quốc phòng (Defense Contract Audit Agency)
Sở Hạch toán và Tài chính Quốc phòng (Defense Finance and Accounting Service)
Giám đốc, Định lượng và Phân tích Kế hoạch (Director, Program Analysis and Evaluation)
Phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng đặc trách Hợp nhất Thông tin và Hệ thống mạng
Cơ quan đặc trách Hệ thống Thống tin Quốc phòng (Defense Information Systems Agency)
Phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng đặc trách Quan hệ Công chúng
Phó phụ tá Bộ trướng, liên lạc nội bộ
Phục vụ Tổng hành dinh Washington
Văn phòng Phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng đặc trách Y tế (Office of the Assistant Secretary of Defense for Health Affairs)
Hệ thống Y tế Quân đội
Các bộ quân sự
Bộ trưởng Lục quân Hoa Kỳ
Bộ Lục quân Hoa Kỳ gồm có Lục quân Hoa Kỳ và Công binh Lục quân Hoa Kỳ
Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ
Bộ Hải quân Hoa Kỳ bao gồm Hải quân Hoa Kỳ và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ
Bộ trưởng Không quân Hoa Kỳ
Bộ Không quân Hoa Kỳ bao gồm Không quân Hoa Kỳ
Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ
=== Các bộ tư lệnh tác chiến thống nhất ===
Có 10 bộ tư lệnh tác chiến thống nhất; sáu bộ tư lệnh vùng và bốn bộ tư lệnh chức năng. Bộ tư lệnh châu Phi trở thành hiện dịch bắt đầu vào tháng 10 năm 2007.
Năm 2007, một bộ tư lệnh mới đặc trách vùng địa lý châu Phi được thành lập. Điều này mang đến thay đổi lớn đối với các vùng trách nhiệm cho các bộ tư lệnh vùng địa lý lân cận như được biểu thị trong hình.
== Chi tiêu ==
Chi tiêu quân sự của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ trong năm tài chính 2007 là:
Hoa Kỳ và các đồng minh thân cận nhất sử dụng khoảng hai phần ba chi tiêu quân sự toàn thế giới (theo đó thì Hoa Kỳ sử dụng phần lớn chi tiêu vừa kể). Chi tiêu quân sự của Hoa Kỳ chiếm 19% ngân sách liên bang.
Tuy nhiên nếu tính theo chi tiêu trên mỗi đầu người thì Hoa Kỳ đứng hạng ba sau Israel và Singapore.
Theo Viên Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm, Hoa Kỳ đã chi tiêu khoảng 47% chi tiêu quân sự của toàn thế giới trong năm 2003 với số tiền là 956 tỷ đô la.
Nếu tính theo phần trăm GDP thì Hoa Kỳ chi tiêu 4,06% cho quân sự, đứng hạng 28 trên thế giới. Cao hơn so với Pháp chi tiêu 2,6%, nhưng thấp hơn so với Ả Rập Saudi chi tiêu 10%.
== Sử dụng năng lượng ==
Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ là bộ phận tiêu dùng năng lượng nhiều nhất của Hoa Kỳ trong năm 2006.
Theo FY 2006, Bộ Quốc phòng sử dụng gần 30.000 gigawatt điện trên giờ (GWH), với giá là gần 2.2 tỉ Đô la Mỹ. Năng lượng điện được Bộ Quốc phòng sử dụng có thể đủ để cung cấp điện cho hơn 2.6 triệu hộ gia đình ở Mỹ. Trong phần tiêu thụ điện năng, nếu Bộ Quốc phòng là một nước thì sẽ đứng thứ 58 trên thế giới, ít hơn Đan Mạch nhưng nhiều hơn một chút so với Syria.
Bộ Quốc phòng cũng chịu trách nhiệm cho 93% lượng tiêu thụ nhiên liệu của Chính phủ Hoa Kỳ (Bộ Không Quân Hoa Kỳ: 52%; Bộ Hải Quân Hoa Kỳ: 33%; Bộ Lục Quân Hoa Kỳ: 7%; các thành phần còn lại của Bộ Quốc phòng: 1%). Bộ Quốc phòng sử dụng 4.600.000.000 gallons Mỹ (23.000 lít) trong một ngày. Theo CIA World Factbook năm 2005, nếu là một nước, Bộ Quốc phòng sẽ đứng thứ 34 trên thế giới trong lượng sử dụng xăng dầu trung bình, đứng sau Iraq và trên Thụy Điển. Không Quân là bộ phận sử dụng nhiều nhiên liệu nhất trong các Cơ quan Liên bang. Không quân Hoa kỳ sử dụng đến 10% nhiên liệu trên thế giới cho phi cơ: 82% cho phi cơ phản lực, 16% cho việc điều hành các căn cứ, sân bay và 2% cho các phương tiện dưới đất/thiết bị.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
DOD website
Read Congressional Research Service (CRS) Reports regarding the Department of Defense
“Being Audited by DCAA - Download FAR Cost Principles Guide” (PDF).
Entire Collection of DoD Freedom of Information Act (FOIA) Reading Room
Budget info
Death and Taxes: 2009 A visual guide and infographic of the 2009 United States federal budget including the Department of Defense with data provided by the Comptrollers office. |
windows phone.txt | Windows Phone là hệ điều hành của Microsoft dành cho smartphone kế tục nền tảng Windows Mobile, mặc dù chúng không tương thích với nhau. Khác với Windows Mobile, Windows Phone tập trung vào sự phát triển của Marketplace - nơi các nhà phát triển có thể cung cấp sản phẩm (miễn phí hoặc có phí) tới người dùng. Windows Phone được bán vào tháng 10 năm 2010 và đầu năm 2011 tại Châu Á.
Phiên bản mới nhất hiện tại là Windows 10 For Phone, tiếp nối Windows Phone 8 (Apollo) và Windows Phone 8.1 (Blue), hiện nay đã phát hành cho một số các loại điện thoại(Ở Việt Nam, tất cả các loại điện thoại được bán đều đã có bản cập nhật). Với Windows Phone, Microsoft đã phát triển giao diện người dùng mới mang tên Modern (trước đây tên là Metro) - tích hợp khả năng liên kết với các phần cứng và phần mềm của hãng thứ ba một cách dễ dàng.
== Lịch sử và phát triển ==
=== Hoàn cảnh ra đời ===
Sau thành công của nền tảng Windows dành cho PC, Microsoft tiếp tục bước vào nền tảng dành cho các thiết bị di động. Windows Phone bắt đầu được nhen nhóm vào đầu năm 2004 như là một bản nâng cấp cho Windows Mobile với tên mã "Photon", nhưng công việc diễn ra rất chậm và dự án phải bị hủy. Năm 2008, dự án được khởi động trở lại, nhưng lần này không phải là một bản nâng cấp mà là một hệ điều hành mới hoàn toàn. Mặc dù được dự kiến phát hành vào năm 2009, nhưng sự chậm trễ trong việc phát triển dẫn tới phiên bản Windows Mobile 6.5 vẫn được phát hành.. Việc kết thúc hỗ trợ cho Windows Mobile chỉ diễn ra vào ngày 15/7/2011.
Trong giai đoạn này Windows Phone được phát triển khá nhanh, kéo theo đó là việc không thể tương thích với các phiên bản cũ do không kịp thời gian chuẩn bị cho việc đó.
Tên mã của dự án Windows Phone là "Photon". Ban đầu tên gọi dự định sẽ là Windows Phone. Tuy nhiên vào ngày 22 tháng 4 năm 2010, Microsoft chính thức thông báo tên gọi phiên bản đầu tiên là Windows Phone 7 - tương xứng với hệ điều hành Windows 7 dành cho PC.
=== Phát triển và mở rộng ===
==== Windows Phone 7 ====
Windows Phone 7 được ra mắt vào ngày 15 tháng 2 năm 2010 ở Mobile World Congress tại Barcelona, Tây Ban Nha và chính thức bán ra vào ngày 8 tháng 11 năm 2010 tại Mỹ.
Ban đầu Microsoft phát hành bản cập nhật No Do, tiếp sau đó là bản nâng cấp lớn Mango (còn được biết là Windows Phone 7.5) vào tháng 5 năm 2011. Bản cập nhật này bao gồm phiên bản di động của Internet Explorer 9, đa nhiệm cho phần mềm của công ty thứ ba, hợp nhất Twitter vào People Hub, và cho phép đăng nhập SkyDrive.
Một bản nâng cấp nhỏ được phát hành năm 2012 là "Tango". Trong bản cập nhật này, Microsoft đã sửa những lỗi bug, hạ thấp cấu hình tối thiểu cho Windows Phone xuống chip 800 MHz và RAM 256MB để phù hợp cho những máy giá rẻ cấu hình thấp..
Tháng 1 2013, Microsoft tung ra bản Windows Phone 7.8. Nó bổ sung thêm những tính năng từ Windows Phone 8, chẳng hạn như màn hình chủ, tăng số lượng tông màu lên 20 và khả năng đặt màn hình khóa là hình ảnh trong ngày của Bing. Windows Phone 7.8 nhằm kéo dài tuổi thọ của các thiết bị Windows Phone 7, vì chúng không thể nâng cấp lên Windows Phone 8 bởi giới hạn phần cứng. Windows Phone 7.8 vẫn sẽ được Microsoft hỗ trợ trong thời gian tới song song với Windows Phone 8. Dự kiến Microsoft ngừng hỗ trợ bản 7.8 kể từ ngày 9 tháng 9 năm 2014, cùng ngày với ngày Apple cho ra mắt Iphone 6.
==== Windows Phone 8 ====
Ngày 20 tháng 6 năm 2012, Microsoft giới thiệu Windows Phone 8, một thế hệ hệ điều hành mới, và 4 tháng sau, 29 tháng 10 năm 2012, Microsoft bắt đầu bán phiên bản này. Windows Phone 8 thay thế lõi kiến trúc Windows CE trên Windows Phone 7 thành kernel của Windows NT vốn được thiết kế cho Windows 8, chính vì vậy điều này đã làm cho ứng dụng dễ dàng được port giữa hai hệ điều hành. Ngoài ra, Windows Phone 8 còn hỗ trợ CPU đa nhân, nhiều độ phân giải, tùy biến Start Screen,phiên bản di động của Internet Explorer 10, Nokia Maps thay thế Bing Maps. Theo Microsoft, Windows Phone 8 sẽ được hỗ trợ đến ngày 8 tháng 7 năm 2014.
==== Windows Phone 8.1 ====
Windows Phone 8.1 là một bản cập nhật lớn dành cho các điện thoại chạy trên hệ điều hành Windows Phone 8. Ngày 2 tháng 4 năm 2014, Windows Phone 8.1 được công bố chính thức và phiên bản Preview dành cho nhà phát triển được phát hành vào ngày 10 tháng 4. Vào ngày 22 tháng 8 năm 2014 cho ra mắt Windows Phone 8.1 tại Việt Nam(Tuy nhiên thì vẫn có thể tải bản Preview trước cho nhà phát triển)
Windows Phone 8.1 được bổ sung nhiều tính năng mới so với Windows Phone 8, sau đậy là một vài thay đổi chính:
Internet Explorer 11
Khả năng tùy biến với 3 cột Live Tiles (cỡ vừa)
Tùy biến Live Tiles bằng ảnh nền
Trợ lý ảo Cortana
Hỗ trợ gõ tiếng Việt bằng kiểu gõ Telex hoặc Vni
Cài đặt và cá nhân hóa – Trung tâm hành động, âm thanh, đồng bộ
==== Hợp tác với Nokia ====
Ngày 11 tháng 2 năm 2011, trước mặt báo giới, CEO Microsoft Steve Balmer và CEO Nokia Stephen Elop công bố trở thành đối tác của nhau, đồng nghĩa với việc Windows Phone trở thành hệ điều hành chính của Nokia, thay thế Symbian đã già cỗi. Sự kiện này cũng đánh dấu một mốc quan trọng trong cuộc chiến với Android và iOS, được ví như là "cuộc đua giữa 3 con ngựa". Theo đó, công ty này sẽ hợp tác với Microsoft trong việc sản xuất những điện thoại Windows Phone. Nokia hứa hẹn sẽ:
Tập trung vào Windows Phone
Đưa ra những thiết kế mới, bổ sung những gói ngôn ngữ và phổ biến chúng nhiều hơn cho người tiêu dùng thông qua những thiết kế mới về phần cứng, nhiều phân khúc giá và thị trường hơn
Hợp tác trong lĩnh vực marketing, phát triển phần mềm cho điện thoại di động
Bing sẽ trở thành nền tảng tìm kiếm trong các thiết bị và dịch vụ của Nokia
Kho ứng dụng riêng của Nokia sẽ được tích hợp chung với Store của Windows Phone.
== Các tính năng ==
=== Giao diện người dùng ===
Windows Phone có giao diện người dùng (UI) dựa theo hệ sinh thái thiết kế của Microsoft những năm gần đây với biệt danh "Metro". Khởi thủy của Metro UI đã từng xuất hiện trên máy nghe nhạc Zune HD của Microsoft để cạnh tranh với iPod của Apple. Màn hình chính, có tên là "Start Screen", được cấu tạo bởi những "Lát Gạch Sống" (Live Tiles). Những viên Gạch này link đến những ứng dụng, tính năng, chức năng và những thứ khác (như tên danh bạ, bookmarks, tập tin nhạc,...) Người dùng có thể thêm, sắp xếp hoặc xóa Gạch, tuy nhiên nó không đồng nghĩa việc gỡ ứng dụng ra khỏi thiết bị. Gạch Sống hoạt động theo thời gian thực. Ví dụ như Gạch email sẽ hiện số mail chưa đọc và nội dung của nó; Gạch thời tiết sẽ cập nhật thông tin thời tiết nhanh nhất; Gạch lịch sẽ hiện những cuộc hẹn trong hôm nay và ngày mai. Mọi thông báo đều hiện qua các Gạch này, tạo sự tiện dụng cho người dùng khi không cần Thanh thông báo như Android hay iOS(kể từ Windows Phone 8.1 thì bổ sung thêm thanh thông báo). Kể từ Windows Phone 7.8 và Windows Phone 8, Gạch có thể phóng to hay thu nhỏ thành các kích cỡ khác gồm nhỏ, vừa và lớn.
=== Các Hub ===
Một trong những điểm đặc biệt của Windows Phone đó chính là Hub. Hub kết hợp những nội dung trong máy và trực tuyến thông qua sự tích hợp của Windows Phone với những mạng xã hội như Facebook, LinkedIn, Twitter, cũng như điện toán đám mây. Có các loại Hub:
Hub ảnh: Trong Hub ảnh sẽ có những tấm ảnh bạn chụp bằng điện thoại và album Facebook, SkyDrive,... từ tài khoản người dùng. Người dùng có thể tải ảnh lên Facebook ngay tại Hub ảnh.
Hub danh bạ: Hiển thị danh bạ trong máy hợp với các nguồn khác như Facebook, Windows Live,...
Hub văn phòng: Các tài liệu Microsoft Word, Microsoft Excel trong máy và trên SkyDrive.
Hub tin nhắn: Gửi tin nhắn trong danh bạ điện thoại và chat Facebook.
Hub trò chơi: Kết nối với XBOX Live
Hub media: Kết nối với XBOX Live Musics and Videos
=== Trình duyệt web ===
Internet Explorer trên Windows Phone cho phép người dùng đặt trang yêu thích và đưa các trang ấy lên Start Screen. Nó hỗ trợ 6 tab cùng lúc và chạy song song với nhau. Các chức năng khác như chia sẻ trang web, khả năng đa điểm, lưu hình ảnh vào điện thoại. Ngoài ra ở những máy đã unlock thì Internet Explorer còn có thể cài ứng dụng đã bị bẻ khóa.
=== Tìm kiếm ===
Yêu cầu của Microsoft đặt ra cho các nhà sản xuất là phải có nút tìm kiếm trên mặt trước sản phẩm. Nút tìm kiếm này có chức năng tìm kiếm website, tin tức, địa điểm, bản đồ thông qua ứng dụng Bing. Kể từ Windows Phone 8.1 thì khi được bật thì sẽ chuyển sang Cortana thay vì Bing
== Sự đón nhận của thị trường ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Windows Phone |
lê công vinh.txt | Lê Công Vinh (sinh ngày 10 tháng 12 năm 1985) tại Quỳnh Lâm, Quỳnh Lưu, Nghệ An, là một cựu cầu thủ bóng đá Việt Nam chơi ở vị trí tiền đạo. Anh từng 3 lần nhận danh hiệu Quả bóng vàng Việt Nam vào các năm 2004, 2006, 2007, ngang bằng với Lê Huỳnh Đức, và chỉ xếp sau Phạm Thành Lương với 4 lần giành được giải thưởng này. Vinh được xem là một trong số những cầu thủ xuất sắc nhất lịch sử bóng đá Việt Nam. Công Vinh hiện cũng là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam. Ngày 8 tháng 12 năm 2016, Lê Công Vinh chính thức giã từ sự nghiệp thi đấu sau 18 năm thi đấu chuyên nghiệp.
Anh hiện đảm nhiệm chức vụ quyền chủ tịch của Câu lạc bộ bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh.
== Tuổi thơ ==
Công Vinh sinh ra ở Quỳnh Lâm, Quỳnh Lưu, Nghệ An và là con trai duy nhất trong nhà, trên anh còn có 2 chị gái và sau là một cô em út. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố của Công Vinh đã đi buôn ma túy, bị bắt từ lần đầu tiên, chịu án 12 năm tù. Sau 8 năm cải tạo tốt, ông được trả tự do trước thời hạn.
== Sự nghiệp câu lạc bộ ==
=== Sông Lam Nghệ An ===
14 tuổi, Vinh bắt đầu tập luyện bóng đá. Khi thi tuyển vào đội trẻ của Nghệ An, Vinh đứng gần "đội sổ", bị đánh giá là không có nhiều triển vọng, cả kỹ thuật và tâm lý đều chưa vững.
Năm 18 tuổi, Vinh được gọi vào đội chính của Sông Lam Nghệ An. Công Vinh bắt đầu chứng tỏ được khả năng ở giải JVC Cup 2003.
Đến năm 2004, Công Vinh ghi bàn đầu tiên ở V-League vào ngày 8 tháng 2 năm 2004 vào lưới Đồng Tháp. Anh nhận giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của bóng đá Việt Nam, nhận luôn giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm. Công Vinh bắt đầu nhận được những lời chào mời từ những đội bóng khác, thậm chí là những đội bóng từ Nhật Bản và Ả Rập Saudi với mức lương 8000 tới 10000 USD một tháng.
=== Hà Nội T&T ===
==== Mùa giải 2009 ====
Vào ngày 26 tháng 10 năm 2008, Công Vinh chính thức ký hợp đồng với T&T Hà Nội với khoản tiền kỉ lục 8 tỷ đồng cùng mức lương không dưới 40 triệu đồng một tháng. Thêm vào đó, T&T Hà Nội còn phải trả cho Sông Lam Nghệ An số tiền 500 triệu đồng phí đào tạo. Công Vinh có trận ra mắt trong màu áo T&T ở V-League vào ngày 2 tháng 7 năm 2009 tại vòng 1 gặp Thể Công. Bàn thắng đầu tiên của Công Vinh cho T&T Hà Nội là vào ngày 24 tháng 2 năm 2009 ở vòng 2 V-League vào lưới SHB Đà Nẵng trong chiến thắng 1-0 trước đội bóng này từ một cú đánh đầu. Vào ngày 21 tháng 6 năm 2009, ở vòng 17 V-League, Công Vinh ghi 4 bàn vào lưới Xi măng Công Thanh Thanh Hoá giúp T&T Hà Nội thắng 4-1. Công Vinh kết thúc mùa giải với 14 bàn thắng cho T&T, trở thành chân sút nội xuất sắc nhất V-League 2009.
=== Leixões SC ===
Lê Công Vinh là cầu thủ Việt Nam đầu tiên chơi bóng ở một trong những giải đấu mạnh ở châu Âu là Giải vô địch bóng đá Bồ Đào Nha. Anh hoàn tất thủ tục ký hợp đồng ngắn hạn với câu lạc bộ Leixões SC. Sự kiện này đã thu hút sự quan tâm từ truyền thông quốc tế.
Trong các trận đấu giao hữu đầu tiên ở câu lạc bộ mới, Lê Công Vinh đã ghi hai bàn thắng trong các trận gặp Custóias và Padroense. Sau trận này, anh được huấn luyện viên của Leixoes SC Mota khen rằng có tầm quan sát chiến thuật tốt, khả năng di chuyển hay, song lại có bất lợi về thể hình. Trận đấu đầu tiên ở giải vô địch Bồ Đào Nha mà Công Vinh có tên trong danh sách thi đấu là với Porto vào ngày 12 tháng 9 năm 2009. Anh ngồi ghế dự bị trong trận này. Trận đấu chính thức đầu tiên của Vinh là cuộc đối đầu với UD Leiria vào ngày 4 tháng 10 (Leixoes thắng 3-2). Anh đã chơi trong cả trận ở vị trí tiền vệ trái và có một số cơ hội nhưng chưa ghi được bàn thắng, trở thành cầu thủ Việt Nam đầu tiên được thi đấu bóng đá chuyên nghiệp ở châu Âu . Trận đấu của Leixoes trên sân nhà tiếp Casa Pia tại khuôn khổ Cúp Quốc gia Bồ Đào Nha là trận đấu chính thức thứ hai của Vinh. Anh đã ghi bàn thắng mở tỉ số trận đấu, đóng góp cho chiến thắng chung cuộc 2-1 của đội nhà.
==== Mùa giải 2010 ====
Ở V-League 2010, Công Vinh ghi bàn đầu tiên vào ngày 7 tháng 3 năm 2010 vào lưới Nam Định trong chiến thắng 2-0. Tại vòng 6 của Giải vô địch bóng đá Việt Nam 2010, Lê Công Vinh đã có hành động "lạy" trọng tài Vũ Bảo Linh khiến anh bị Ban kỉ luật của VFF phạt treo giò 3 trận và 10 triệu đồng. Sau khi bị kỉ luật Lê Công Vinh có ý định giải nghệ, làm dấy lên các ý kiến trái chiều. Sau hành động này, Công Vinh cũng đã lên tiếng xin lỗi người hâm mộ và trọng tài Vũ Bảo Linh. Trong một buổi tập cùng T&T Hà Nội, Công Vinh đã bị chấn thương nặng. Ngay sau đó, anh được đưa đi chụp phim và các lớp phim đã cho thấy Công Vinh bị chấn thương dây chằng đầu gối. Với chấn thương này, nhiều người cho rằng Vinh thậm chí có thể phải giải nghệ.Chấn thương này đã khiến anh phải nghỉ toàn bộ phần còn lại của V-League 2010.
==== Mùa giải 2011 ====
Ngày 18 tháng 2 năm 2011,sau hơn 8 tháng phải nghỉ thi đấu vì chấn thương,Công Vinh có trận đấu đầu tiên ở vòng 3 V-League 2011 gặp câu lạc bộ SHB Đà Nẵng. Anh vào sân thay người ở phút thứ 80 nhưng không để lại được dấu ấn gì và Hà Nội T&T đã thất bại với tỉ số 0-2. Phát biểu sau trận đấu, về trường hợp của Công Vinh,huấn luyện viên Phan Thanh Hùng cho biết: Cậu ấy cần thêm thời gian để tìm lại phong độ tốt nhất và hòa nhập với lối chơi chung của đội sau một thời gian dài chấn thương.Công Vinh sau đó tiếp tục được huấn luyện viên Phan Thanh Hùng cho vào sân thay người trong trận thua 0-1 tại Thanh Hóa.
Trước trận đấu vòng 6 V-League 2011 gặp Đồng Tâm Long An, Công Vinh chủ động xin rút khỏi danh sách đăng ký thi đấu của Hà Nội T&T. Lý do mà tiền đạo này đưa ra là vì anh chưa có thể lực, phong độ tốt nhất. Điều này làm dấy lên nhiều tin đồn rằng anh sẽ rời clb sau khi kết thúc mùa giải.
Ngày 9 tháng 4 năm 2011, Công Vinh lập cú đúp trong trận thắng 4-0 trước Navibank Sài Gòn, đây cũng là bàn thắng đầu tiên của anh tại V-League sau gần 1 năm bị chấn thương trong đó có một bàn từ cú đá phạt trực tiếp ngoài vòng cấm và một bàn trên chấm phạt đền Ngày 16 tháng 7 năm 2011, Công vinh lập một cú đúp và có một đường kiến tạo thành bàn trong trận thắng 7 - 1 của Hà Nội T&T trước TĐCS Đồng Tháp ở vòng 22 V-League. Ngày 14 tháng 8, Công Vinh tỏa sáng với một bàn thắng ở phút 69 giúp Hà Nội T&T hạ gục Vicem Hải Phòng với tỉ số 1-0. trận thắng này giúp Hà Nội T&T có được 45 điểm trên bảng xếp hạng sau 25 vòng đấu (kém Sông Lam Nghệ An 3 điểm nhưng hơn về hiệu số bàn thắng) và tạo nên một trận "chung kết" kịch tính trên sân Vinh khi 2 đội gặp nhau ở vòng đấu cuối.
Trước vòng 26 V-League 2011,vấn đề đi hay ở của Công Vinh lại một lần nữa được quan tâm khi hợp đồng của anh với câu lạc bộ sẽ hết hạn vào tháng 9. Trên một tuần báo về văn hóa giải trí ra ngày 17 tháng 8, ca sĩ Thủy Tiên - người yêu của Công Vinh đã tiết lộ: "Sắp tới, Vinh sẽ chuyển vào Nam sống và thi đấu lâu dài". Tuy vậy, ngày 18 tháng 8 năm 2011, Công Vinh lại cho biết "Lúc này, tôi đang tập trung tối đa cho trận đấu với đội bóng quê hương SLNA. Sau khi V-League kết thúc, tôi sẽ công bố tương lai của mình"
Ngày 28 tháng 8 năm 2011, ở trận đấu thuộc vòng 26 trên sân Vinh, Công Vinh đã tạo ra được một vài cơ hội trong đó có một cú sút phạt khá nguy hiểm, đưa bóng đi sạt cột dọc khung thành ở phút 24, tuy vậy anh vẫn không thể ghi được bàn thắng và bị thay ra ở hiệp 2. Trận đấu khép lại với tỉ số hòa 1-1 và Sông Lam Nghệ An giành chức vô địch V-League.
Kết thúc mùa giải, anh ghi được tổng cộng 10 bàn thắng cho Hà Nội T&T và có tên trong đội hình tiêu biểu V-league 2011
=== Hà Nội T&T ===
==== Mùa giải 2012 ====
Trước Mùa giải 2012, chân sút gốc xứ Nghệ là mục tiêu săn đón của hàng loạt câu lạc bộ lớn ở V-League và 2 câu lạc bộ nước ngoài là Muang Thong United, Slavia Prague. Ngày 18 tháng 9 năm 2011, Hà Nội T&T đã lên tiếng xác nhận việc chia tay với Công Vinh sau khi 2 bên không đạt được thỏa thuận gia hạn hợp đồng. Chiều ngày 19 tháng 9 năm 2011, Công Vinh bất ngờ cho biết anh sẽ tiếp tục ở lại Hà Nội T&T thêm 3 năm với khoản tiền lót tay không được tiết lộ. Quyết định này được đưa ra sau cuộc gặp giữa ông bầu Đỗ Quang Hiển của Hà Nội T&T với Công Vinh sáng 19 tháng 9, hợp đồng giữa 2 bên dự kiến sẽ được ký kết 1 tuần sau đó. Trả lời báo chí thời điểm đó, Công Vinh khẳng định: "Sự nghiệp cầu thủ ngắn rất ngắn ngủi, tôi muốn sưu tập đủ những danh hiệu, còn tiền bạc chỉ là vấn đề phụ".
Ngày 22 tháng 9 năm 2011, Công Vinh một lần nữa gây sốc khi cho biết anh đã chính thức từ chối tái ký hợp đồng với Hà Nội T&T và sẽ về đầu quân cho câu lạc bộ Hà Nội theo lời mời của bầu Kiên. Công Vinh cũng cho biết việc quyết định sang clb Hà Nội là do anh "trân trọng lời mời và mong muốn xây dựng đội bóng của bầu Kiên". Hợp đồng giữa anh và câu lạc bộ được ký kết vào chiều ngày 10 tháng 10 năm 2011 với thời hạn 3 năm và mức phí lót tay không được tiết lộ. Trong chương trình đối thoại “Góc khuất” của Bóng đá TV, tiền đạo Lê Công Vinh tiết lộ một bí mật liên quan đến chuyện anh “bẻ kèo” chuyển từ Hà Nội T&T của bầu Hiển sang CLB Hà Nội của bầu Kiên vào phút cuối cùng là do bầu Hiển can thiệp vào tình cảm của mình với ca sĩ Thủy Tiên .
Ngày 9 tháng 12 năm 2011, Công Vinh bị dính chấn thương sau pha va chạm với cầu thủ Danh Hoàng Tuấn trong một buổi tập của câu lạc bộ. Theo nhận định của các bác sĩ, anh phải nghỉ thi đấu ít nhất từ 3 tuần tới 1 tháng và sẽ không thể thi đấu ở những vòng đầu mùa giải.
Ngày 1 tháng 1 năm 2012, Công Vinh có trận đầu ở mùa giải 2012 khi gặp lại câu lạc bộ cũ Hà Nội T&T tại vòng 1 Giải bóng đá vô địch quốc gia. Trong trận này, Công Vinh không thể hiện được nhiều và phải rời sân bằng cáng sau pha va chạm với trung vệ Cristiano ở cuối hiệp 1. Trận đấu kết thúc với chiến thắng 1 - 0 của Hà Nội T&T sau pha lập công duy nhất của Cristiano. Ngày 19 tháng 2 năm 2012, ở vòng 6 Super League, Công Vinh có pha ghi bàn vào lưới TĐCS Đồng Tháp sau cú đá phạt trực tiếp chếch bên trái vòng cấm địa, đây cũng là bàn thắng đầu tiên của anh ở mùa giải 2012. Ngày 26 tháng 2 năm 2012, vòng 7 Super League, Công Vinh lại có bàn thắng thứ 2 cho câu lạc bộ sau đường chuyền dài của người đá cặp Timothy ở phút 24. Tuy vậy, clb bóng đá Hà Nội vẫn bị SHB Đà Nẵng cầm hòa với tỉ số 3 - 3. Ngày 3 tháng 3 năm 2012, trên sân Thanh Hóa, Công Vinh lập một cú đúp và có 2 pha kiến tạo giúp Hà Nội giành chiến thắng kịch tính 5-3 trước chủ nhà Thanh Hóa.Trong trận này, anh cũng lần đầu tiên được đeo băng đội trưởng của câu lạc bộ do đội trưởng Thành Lương bị treo giò trước đó vì đã nhận đủ 3 thẻ vàng.
Ngày 16 tháng 3, Công Vinh bị dính chấn thương cơ và phải sớm rời sân từ phút thứ 36 trong trận đấu sớm vòng 10 gặp Sông Lam Nghệ An. Sau khi được đi chụp chiếu, khám và siêu âm để biết chính xác mức độ chấn thương, Công Vinh cho biết anh chỉ bị căng cơ, giãn dây chằng háng và chỉ cần nghỉ ngơi khoảng 7-10 ngày là có thể thi đấu trở lại được.
=== Sông Lam Nghệ An ===
==== Mùa giải 2013 ====
Sau hơn bốn năm rời xa quê hương, tiền đạo Lê Công Vinh đã quyết định quay trở lại Sông Lam Nghệ An (SLNA).
Anh có bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ cũ trong trận đấu với Vicem Hải Phòng (SLNA thắng 2-1).Sau đó anh tiếp tục tỏa sáng với cú đúp trước Becamex Bình Dương giúp đội nhà thắng nghẹt thở 3-2. Anh được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất V-League tháng 3.
Ngày 30 tháng 6 năm 2013, vòng đấu thứ 14 tại V-League, anh ghi được bốn bàn thắng vào lưới của Đồng Tâm Long An trong trận thắng 8-0. Anh vươn lên dẫn đầu danh sách vua phá lưới với 12 bàn trong mùa này và 97 bàn trong 10 mùa giải, chỉ còn cách ba bàn với cột mốc kỉ lục 100 bàn thắng tại V-League.
Ở mùa giải này anh đã có tổng 14 bàn thắng tại V-League 2013 qua đó trở thành chân sút nội tốt nhất giải.
=== Consadole Sapporo ===
Ngày 22/7/2013, anh chính thức chuyển sang chơi cho câu lạc bộ hạng nhì Nhật Bản Consadole Sapporo theo một bản hợp đồng cho mượn có thời hạn 5 tháng.
Kể từ khi sang Nhật Bản đầu quân cho đội bóng hạng Nhì Consadole Sapporo, Công Vinh đã "nổ súng" ở các buổi đấu tập và cả cúp Hoàng đế Nhật Bản. Lúc 11 giờ trưa ngày 22/9 (giờ Việt Nam), tiền đạo Lê Công Vinh đã chính thức ra sân trong màu áo CLB Consadole Sapporo ở cuộc đối đầu với đối thủ V-Varen Nagasaki và ở phút thứ 16 của trận đấu, Công Vinh đã ghi bàn mở tỷ số 1-0 cho đội chủ nhà. Mặc dù, ở phút thứ 36, Công Vinh nhận thẻ vàng thứ 2, rời sân nhưng bàn thắng này đã giúp cho Consadole Sapporo giành chiến thắng sát sao đối thủ.
=== Becamex Bình Dương ===
Anh ký hợp đồng với Becamex Bình Dương vào ngày 16/10/2014 với số áo 99. Giá trị của hợp đồng không được tiết lộ, nhưng nguồn tin từ hậu trường cho biết Công Vinh được nhận 5 tỷ đồng tiền lót tay và hưởng mức lương 40 triệu đồng/tháng.
Tuy nhiên, dưới thời HLV Lê Thụy Hải, tiền đạo Lê Công Vinh thường xuyên phải ngồi dự bị ở Bình Dương, mặc dù sức khỏe và phong độ rất tốt. Xuyên suốt hai giải đấu V-League và AFC Champions League, Công Vinh chỉ mới được hai lần ra sân đá chính và ghi 1 bàn thắng trong trận Bình Dương thắng XSKT Cần Thơ 3-1. Dù biết mình bị HLV Lê Thụy Hải “đày ải” trên khu kỹ thuật, chân sút xứ Nghệ vẫn kiên nhẫn chịu đựng, luyện tập chăm chỉ, chờ thời cơ.
Sau khi HLV Lê Thụy Hải rời Bình Dương, Công Vinh ngay lập tức được HLV Nguyễn Thanh Sơn xếp đá chính trong trận tiếp Hải Phòng ở vòng 11 V-League ngày 27/4/2015 trên sân nhà, ghi 1 bàn thắng nhưng không được công nhận. Sau đó, Công Vinh được đá chính ở lượt đấu cuối cùng bảng E, AFC Champions League 2015 và ghi bàn giúp Bình Dương thắng 1-0 đại diện đến từ Nhật Bản Kashiwa Reysol.
== Phong cách thi đấu ==
Huấn luyện viên Nguyễn Thành Vinh, khi được đặt câu hỏi giữa Văn Quyến và Công Vinh ai xuất sắc hơn ai, đã đánh giá: Công Vinh là một trong những tiền đạo có tốc độ nhất Việt Nam hiện nay, điểm mạnh của Vinh chính là khả năng bứt tốc ở cự ly ngắn và trung bình nhờ sức rướn tốt. Anh đồng thời cũng sở hữu những cú sút có lực căng và mạnh. Công Vinh không chỉ chơi đầu tốt hơn ở các pha làm bàn mà còn trong các tình huống tranh chấp bóng bổng.
Trang Tin Goal.com khi đưa Công Vinh vào dánh sách 10 cầu thủ châu Á đáng xem nhất 2009 đã nhận xét về anh như sau:(...)Chỉ mới 23 tuổi nhưng anh được coi là một trong những tiền đạo xuất sắc của Đông Nam Á hiện nay. Tốc độ, nhanh nhạy và có kỹ thuật cá nhân, anh ta dù còn là viên ngọc thô nhưng môi trường thi đấu tốt hơn sẽ giúp anh trở thành viên kim cương quý.
== Thi đấu quốc tế ==
=== Những năm đầu ===
Năm 2002, Công Vinh lần đầu được gọi vào đội U-18 quốc gia Việt Nam dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Nguyễn Văn Thịnh. Cũng trong năm đó, anh được triệu tập vào đội U-20 và còn được đeo băng đội trưởng. Năm 2003, thành công đến với Vinh khi anh được huấn luyện viên Alfred Riedl gọi bổ sung vào danh sách đội tuyển U-23 tham dự SEA Games 22. Tuy nhiên, giải đấu này Vinh không có cơ hội ra sân nhiều khi anh chỉ được chơi 15 phút cuối trận gặp Thái Lan, 20 phút trận gặp Indonesia, 90 phút trận gặp Lào (và ghi bàn duy nhất). Ở giải đấu này, anh chỉ là sự lựa chọn số 4 sau Phạm Văn Quyến, Phan Thanh Bình và Hoàng Phúc Lâm. Sau khi huấn luyện viên Edson Tavares tới dẫn dắt đội tuyển Việt Nam, Công Vinh lập tức có vị trí trong đội tuyển sau những màn trình diễn thành công trong màu áo câu lạc bộ. Ở Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2004, Công Vinh đã ghi được 4 bàn thắng cho đội tuyển Việt Nam nhưng Việt Nam đã phải dừng bước ngay sau vòng bảng khi chỉ đứng thứ 3 bảng A sau Indonesia và Singapore. Sau SEA Games 23, với việc các trụ cột như Lê Quốc Vượng, Phạm Văn Quyến,... bị treo giò vì bán độ, Công Vinh lập tức có vị trí vững chắc trên hàng công đội tuyển. Ở Cúp bóng đá châu Á 2007, trong trận mở màn của đội tuyển quốc gia Việt Nam gặp đội tuyển bóng đá quốc gia UAE, Công Vinh thực hiện cúp lốp bóng kĩ thuật qua đầu thủ môn đối phương để ấn định chiến thắng 2-0 cho Việt Nam .
=== AFF Suzuki Cup 2008 ===
Ở AFF Suzuki Cup 2008, Công Vinh được huấn luyện viên Henrique Calisto triệu tập vào danh sách đội tuyển tham dự giải đấu. Ở các trận vòng đấu bảng, Công Vinh chơi không thật sự ấn tượng, không ghi được bàn nào. Nhưng ở trận bán kết gặp đội tuyển bóng đá quốc gia Singapore lượt về ở Singapore, Công Vinh thi đấu rất ấn tượng, là người thực hiện quả chuyền quyết định để Nguyễn Quang Hải ghi bàn duy nhất của trận đấu ấn định tổng tỉ số 1-0 sau hai lượt trận và đưa Việt Nam vào chung kết gặp Thái Lan. Ở trận chung kết lượt đi ở Thái Lan, Công Vinh ghi bàn thắng nâng tỉ số lên 2-0 cho đội tuyển Việt Nam sau khi Nguyễn Vũ Phong ghi bàn mở tỉ số. Trận đấu kết thúc với tỉ số 2-1 cho Việt Nam . Trong trận lượt về thi đấu ở Việt Nam, khi Việt Nam đang bị trước dẫn 1 - 0 do bàn thắng của Dangda ở hiệp một (phút 21), Công Vinh thực hiện cú đánh đầu ngược đẹp mắt tung lưới Thái Lan vào đúng giây cuối cùng của thời gian đá bù giờ quá 3 phút ở hiệp hai (phút 90+4), giúp đội tuyển Việt Nam đang quang ngôi vô địch lần đầu tiên với tổng tỉ số sau hai lượt trận là 3-2.
=== AFF Suzuki Cup 2010 ===
Trở về từ Bồ Đào Nha sau khi chữa trị chấn thương dây chằng đầu gối, Công Vinh vẫn được huấn luyện viên Calisto triệu tập vào đội tuyển Việt Nam. Tuy vậy, sau một thời gian tập trung cùng đội tuyển, Công Vinh đã phải nói lời chia tay do chấn thương của anh vẫn chưa hoàn toàn bình phục . Về lý do xin rút lui, anh cho biết: "Tôi không thể kịp bình phục để chơi bóng hiệu quả và nếu vào sân, tôi sẽ là gánh nặng cho đồng đội. (...) Một điều tế nhị là tôi hay đi tập thêm, về muộn nên nhiều hôm anh em vẫn đợi cơm. Thật là khó nghĩ" .
=== Quay lại đội tuyển ===
Sau một thời gian dài vắng mặt vì chấn thương, Công Vinh đã được triệu tập trở lại đội tuyển quốc gia để chuẩn bị cho vòng sơ loại World Cup 2014. Trong trận đấu lượt đi trên sân Thông Nhất, Công Vinh đã lập 1 Hat-trick ngay trong hiệp một giúp cho Đội tuyển Việt Nam giành chiến thắng 6-0. Ở trận lượt về trên sân vận động Ma Cao, anh tiếp tục ghi thêm 4 bàn giúp Việt Nam giành chiến thắng 7-1 và lọt vào vòng loại thứ 2 giải vô địch bóng đá thế giới 2014.
Anh trở lại đội tuyển Việt Nam để thi đấu gặp Arsenal sau AFF Suzuki Cup 2012.
=== AFF Suzuki Cup 2012 ===
Anh được huấn luyện viên Phan Thanh Hùng triệu tập để tham dự AFF Suzuki Cup 2012 tổ chức tại Malaysia và Thái Lan. Tuy nhiên, đội tuyển Việt Nam đã phải dừng bước ngay tại vòng bảng với chỉ 1 điểm, hòa Myanmar, thua Philippines và Thái Lan.
=== AFF Suzuki Cup 2014 ===
Ngày 22 tháng 8 năm 2014, Lê Công Vinh được huấn luyện viên Miura Toshiya triệu tập để tham dự AFF Suzuki Cup 2014. Tại giải đấu này, anh đã ghi được 4 bàn thắng trong sự nghiệp của mình, trong đó có 1 bàn vào lưới Indonesia, 1 bàn vào lưới Lào và 1 cú đúp vào lưới Malaysia và trở thành cầu thủ Việt Nam có tổng bàn thắng ghi tại các kỳ AFF Cup đứng thứ 2 với 13 bàn (Sau Lê Huỳnh Đức với 14 bàn) - Tính cả khi giải đấu mang tên Tiger Cup. Tuy nhiên, đội tuyển Việt Nam đã phải dừng bước ở bán kết AFF Cup 2014 sau khi để thua Malaysia với tỉ số 2-4 ở trận bán kết lượt về (Malaysia thắng chung cuộc 5-4 sau hai lượt trận).
=== AFF Suzuki Cup 2016 ===
Ngày 19 tháng 11 năm 2016, Lê Công Vinh được huấn luyện viên Nguyễn Hữu Thắng triệu tập để tham dự AFF Suzuki Cup 2016, đồng thời đây là giải đấu cuối cùng trong sự nghiệp của anh. Trong trận đấu mở màn của bảng B gặp đội chủ nhà Myanmar, anh đã đánh dấu bàn thắng thứ 50 trong sự nghiệp của mình, giúp đội tuyển Việt Nam vượt qua đối thủ với tỉ số 2-1. Ngày 26 tháng 11 năm 2016, trong trận đấu cuối cùng của bảng B gặp đối thủ Campuchia, Lê Công Vinh ghi bàn thắng mở tỉ số trận đấu, giúp Việt Nam đánh bại đối thủ với tỉ số 2-1. Kết quả giúp đội tuyển Việt Nam củng cố vị trí nhất bảng B với 3 trận toàn thắng và lọt vào bán kết gặp đội tuyển Indonesia.
Trận đấu cuối cùng trong màu áo đội tuyển quốc gia của Lê Công Vinh là trận gặp đội tuyển Indonesia ở trận bán kết lượt về AFF Cup 2016 vào ngày 7 tháng 12 năm 2016, trận đấu mà đội tuyển Việt Nam hòa đối thủ 2-2 trong suốt 120 phút thi đấu chính thức, tuy nhiên đội tuyển Việt Nam lần thứ hai liên tiếp phải dừng bước ở bán kết sau khi để thua chung cuộc với tổng tỉ số 3-4 sau lượt trận (lượt đi Việt Nam thua Indonesia 1-2). Sau giải đấu đó, Công Vinh chính thức giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế sau 12 năm gắn bó, tổng cộng anh đã thi đấu 85 trận và ghi được 51 bàn thắng.
== Thống kê sự nghiệp ==
=== Câu lạc bộ ===
Thi đấu
=== Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia ===
Cập nhật ngày 26 tháng 11 năm 2016
== Cuộc sống cá nhân ==
Công Vinh có vợ là ca sĩ Thủy Tiên. Lễ đính hôn của 2 người cũng đã được tổ chức vào ngày 4 tháng 11 năm 2011 tại thành phố Rạch Giá (Kiên Giang) - quê hương của Thủy Tiên. Sau 6 năm gắn bó, đám cưới Thủy Tiên và Công Vinh đã được tổ chức ngày 27/12/2014. Hai người đã có một con gái.
=== Gia đình ===
Em gái Công Vinh, Lê Khánh Chi, sinh viên Đại học Văn Hóa đã đạt giải Hoa khôi Nữ sinh Thanh lịch Đại học Văn hóa Hà Nội mở rộng.
== Thành tích ==
Với đội tuyển Việt Nam
Vô địch giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008
Hạng ba giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2007
Vô địch Cúp bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh 2005; hạng nhì 2004; hạng ba 2006
Hạng nhì Cúp Nhà vua (Thái Lan) 2007
Vô địch AYA Bank Cup 2016
Với Becamex Bình Dương F.C
Vô địch V.League 1 2015
Danh hiệu cá nhân
Quả bóng vàng Việt Nam năm 2004, 2006, 2007
Quả bóng bạc Việt Nam năm 2005
Quả bóng đồng Việt Nam năm 2008, 2014, 2015
Vua phá lưới Cúp bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh 2004
Vua phá lưới Cúp bóng đá Việt Nam 2004
Cầu thủ xuất sắc nhất của Liên đoàn bóng đá Việt Nam 2004
Danh hiệu không chính thức
Top 10 cầu thủ ghi bàn nhiều nhất giải vô địch bóng đá Đông Nam Á
Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất lịch sử giải vô địch quốc gia Việt Nam (V-League)
Cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam
Cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia Việt Nam nhiều nhất
Top 10 cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho đội tuyển quốc gia thế giới
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Lê Công Vinh - "sát thủ" thích truyện tranh...
Chuyện về người cha của Lê Công Vinh
Công Vinh- ông vua kỷ lục của V-league |
2002.txt | 2002 (số La Mã: MMII) là một năm thường bắt đầu vào thứ ba trong lịch Gregory. Nó cùng lúc với những năm 5762–5763 trong lịch Do Thái, 5103–5104 (Vrisha và Chitrabhānu) trong lịch Ấn Độ giáo, 1422–1423 trong lịch Hồi giáo, 1380–1381 trong lịch Ba Tư, 4699 (Nhâm Ngọ) trong lịch Trung Quốc, 2545 trong âm lịch Thái, và 2755 a.u.c.
Năm 2002 được chỉ định là:
Năm Du lịch sinh thái và Núi quốc tế
Năm vùng Xa xôi hẻo lánh ở Úc
Năm Khoa học quốc gia ở Vương quốc Anh
Năm Hiểu biết về Tự kỷ ở Vương quốc Anh
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1: Kaspar Villiger trở thành tổng thống của Thụy Sĩ
1 tháng 1: Đồng Euro được đưa vào sử dụng
2 tháng 1: Levy Mwanawasa trở thành tổng thống von Zambia
2 tháng 1: Eduardo Duhalde trở thành tổng thống mới của Argentina
=== Tháng 2 ===
11 tháng 2: Bầu cử quốc hội tại Liechtenstein
24 tháng 2: Bầu cử quốc hội tại Lào
=== Tháng 3 ===
3 tháng 3: Động đất tại vùng Hindu Kush, Afghanistan, 166 người chết
10 tháng 3: Bầu cử quốc hội tại Colombia
17 tháng 3: Bầu cử quốc hội tại Bồ Đào Nha
25 tháng 3: Động đất tại vùng Hindu Kush, Afghanistan, khoảng 1000 người chết
=== Tháng 4 ===
14 tháng 4: Comoros. Bầu cử tổng thống
=== Tháng 5 ===
5 tháng 5: Pháp. Jacques Chirac tái đắc cử tổng thống
6 tháng 5: Marc Ravalomanana trở thành tổng thống của Madagascar
12 tháng 5: Amadou Toumani Touré trở thành tổng thống của Mali
20 tháng 5: Đông Timor độc lập
25 tháng 5: Bầu cử quốc hội tại Lesotho.
30 tháng 5: Bầu cử quốc hội tại Algérie.
31 tháng 5: Tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 2002 tại Nhật Bản và Hàn Quốc.
=== Tháng 6 ===
22 tháng 6: Động đất tại Iran, 261 người chết.26 tháng 6: Hải chiến tại Yeonpeong lần 2, 6 người chết
30 tháng 6: Bầu cử quốc hội tại Cameroon
=== Tháng 7 ===
25 tháng 7: Avul Pakir Jainulabdeen Abdul Kalam trở thành tổng thống Ấn Độ
27 tháng 7: Fatos Nano trở thành lãnh đạo chính phủ tại Albania
=== Tháng 8 ===
7 tháng 8: Álvaro Uribe Vélez trở thành tổng thống của Colombia
15 tháng 8: Michael Somare trở thành lãnh đạo chính phủ tại Papua Tân Guinea
=== Tháng 9 ===
10 tháng 9: Thụy Sĩ gia nhập Liên Hiệp Quốc
15 tháng 9: Bầu cử quốc hội tại Macedonia
16 tháng 9: Ibrahim Boubacar Keïta trở thành thủ tướng của Mali
27 tháng 9: Bầu cử quốc hội tại Maroc
29 tháng 9: Đại hội Thể thao châu Á 2002 được tổ chức tại Busan (Hàn Quốc)
=== Tháng 10 ===
5 tháng 10: Bầu cử quốc hội tại Latvia
10 tháng 10: Bầu cử quốc hội tại Pakistan
16 tháng 10: Khai trương Bibliotheca Alexandrina tại Cairo, Ai Cập
=== Tháng 11 ===
7 tháng 11: Idrissa Seck trở thành thủ tướng của Sénégal
21 tháng 11: Zafarullah Khan Jamali trở thành lãnh đạo chính phủ tại Pakistan
27 tháng 11: Đan Mạch. Anders Fogh Rasmussen trở thành thủ tướng
=== Tháng 12 ===
15 tháng 12: Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2002 tổ chức tại Indonesia và Singapore.
30 tháng 12: Mwai Kibaki trở thành tổng thống của Kenya
== Người sinh ==
13 tháng 5: Elisabeth Maria Angela Tatjana, con gái của công chúa Tatjana của Liechtenstein và Philipp của Lattorf
14 tháng 5: Isabella Lily Juliana van Vollenhoven, con gái của hoàng tử Bernhard van Oranien-Nassau, van Vollenhoven và công chúa Annette van Oranien-Nassau, van Vollenhoven, Sekreve
24 tháng 2: Arietta Morales, con gái của công chúa Alexia của Hy Lạp và Carlos Morales
30 tháng 4: Miguel Urdangarín y de Borbón, con trai của Cristina của Tây Ban Nha và Iñaki Urdangarin
8 tháng 6: Eloise Sophie Beatrix Laurence, con gái của hoàng tử Constantijn của Oranien-Nassau và công chúa Laurentien của Oranien-Nassau der Hà Lan
22 tháng 7: hoàng tử Felix Henrik Valdemar Christian của Đan Mạch, con trai của Prinz Joachim của Đan Mạch và Alexandra Manley
12 tháng 8: hoàng tử Achileas-Andreas, con trai của hoàng tử kế vị Pavlos của Hy Lạp, và công chúa Marie-Chantal của Hy Lạp
6 tháng 10: Nguyễn Thiện Nhân, ca sĩ Việt Nam
26 tháng 10: Lucas Maurits Pieter Henri van Lippe-Biesterfeld van Vollenhoven, con trai củan hoàng tử Maurits van Oranien-Nassau, van Vollenhoven và công chúa Mariléne van Oranien-Nassau, van Vollenhoven, van den Broek
== Người mất ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1: Paul Hubschmid, diễn viên sân khấu Thụy Sĩ (sinh 1917)
12 tháng 1: Cyrus Vance, chính trị gia Mỹ (sinh 1917)
17 tháng 1: Camilo José Cela, nhà văn Tây Ban Nha (sinh 1916)
19 tháng 1: Franz Innerhofer, nhà văn Áo (sinh 1944)
21 tháng 1: Peggy Lee, nữ ca sĩ nhạc jazz Mỹ (sinh 1920)
23 tháng 1: Pierre Bourdieu, nhà xã hội học Pháp (sinh 1930)
24 tháng 1: Franz Innerhofer, nhà văn Áo (sinh 1944)
27 tháng 1: Franz Meyers, chính trị gia Đức (sinh 1908)
27 tháng 1: Alain Vanzo, ca sĩ opera Pháp (sinh 1928)
28 tháng 1: Astrid Lindgren, nhà văn nữ người Thụy Điển (sinh 1907)
30 tháng 1: Inge Morath, nữ nhiếp ảnh gia Mỹ (sinh 1923)
=== Tháng 2 ===
1 tháng 2: Hildegard Knef, nữ diễn viên Đức (sinh 1925)
6 tháng 2: Max Ferdinand Perutz, nhà hóa học Anh (sinh 1914)
8 tháng 2: Joachim Hoffmann, nhà sử học Đức (sinh 1930)
10 tháng 2: Dave Van Ronk, nhạc sĩ blues Mỹ (sinh 1936)
14 tháng 2: Abdul Rahman, chính trị gia (sinh 1953)
14 tháng 2: Günter Wand, người điều khiển dàn nhạc Đức (sinh 1912)
22 tháng 2: Barbara Valentin, nữ diễn viên Đức (sinh 1940)
22 tháng 2: Jonas Savimbi, chính trị gia Angola (sinh 1966)
22 tháng 2: Chuck Jones, họa sĩ vẽ tranh cho truyện comic Mỹ, đạo diễn phim (sinh 1912)
24 tháng 2: Eva Hoffmann-Aleith, nhà văn nữ người Đức (sinh 1910)
24 tháng 2: Leo Ornstein, nghệ sĩ dương cầm Nga, nhà soạn nhạc (sinh 1895)
27 tháng 2: Oskar Sala, nhà soạn nhạc Đức, nhà vật lý học (sinh 1910)
=== Tháng 3 ===
4 tháng 3: Margarete Neumann, nhà văn nữ Đức (sinh 1917)
11 tháng 3: James Tobin, nhà kinh tế học Mỹ (sinh 1918)
11 tháng 3: Marion nữ bá tước Dönhoff, nữ nhà báo Đức, nhà nữ xuất bản (sinh 1909)
13 tháng 3: Hans-Georg Gadamer, triết gia Đức (sinh 1900)
13 tháng 3: Christian Graf von Krockow, nhà chính trị học Đức (sinh 1927)
17 tháng 3: Văn Tiến Dũng, Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam (sinh 2 tháng 5 năm 1917)
18 tháng 3: Gösta Winbergh, nam ca sĩ (sinh 1943)
19 tháng 3: Marco Biagi, chính trị gia Ý, nhà khoa học, nhà xuất bản (sinh 1951)
27 tháng 3: Billy Wilder, đạo diễn phim Mỹ, tác giả kịch bản, nhà sản xuất (sinh 1906)
30 tháng 3: Elizabeth Bowes-Lyon, mẹ của Queen Elisabeth II (sinh 1900)
=== Tháng 4 ===
1 tháng 4: Heinrich Popitz, nhà xã hội học Đức (sinh 1925)
3 tháng 4: Heinz Drache, diễn viên Đức (sinh 1923)
3 tháng 4: Frank Tovey, nhạc sĩ Anh (sinh 1956)
6 tháng 4: Martin Sperr, nhà văn Đức, diễn viên (sinh 1944)
13 tháng 4: Ivan Desny, diễn viên (sinh 1922)
16 tháng 4: Herbert Wernicke, đạo diễn phim Đức (sinh 1946)
18 tháng 4: Thor Heyerdahl, nhà nhân loại học Na Uy (sinh 1914)
19 tháng 4: Đào Duy Khương, Giáo sư, Bác sĩ (sinh 1927)
22 tháng 4: Victor Weisskopf, nhà vật lý học Áo (sinh 1908)
23 tháng 4: Manfred Bieler, nhà văn Đức (sinh 1934)
26 tháng 4: Lisa Lopes, nữ ca sĩ Mỹ (sinh 1971)
27 tháng 4: Hans-Heinrich Thyssen-Bornemisza, nhà tư bản công nghiệp Đức (sinh 1921)
30 tháng 4: Karel Milota, thi sĩ Séc, nhà văn, dịch giả (sinh 1937)
=== Tháng 5 ===
1 tháng 5: Karel Ptáčník, nhà văn Séc (sinh 1921)
2 tháng 5: Richard Stücklen, chính trị gia Đức (sinh 1916)
5 tháng 5: Hugo Banzer Suárez, chính trị gia, tổng thống Bolivia (sinh 1926)
6 tháng 5: Pim Fortuyn, chính trị gia Hà Lan (sinh 1948)
10 tháng 5: Gabriele Mucchi, họa sĩ Ý (sinh 1899)
10 tháng 5: David Riesman, nhà xã hội học Mỹ (sinh 1909)
13 tháng 5: Walerij Lobanowskyj, huấn luyện viên bóng đá Ukraina (sinh 1939)
18 tháng 5: Wolfgang Eduard Schneiderhan, nhạc sĩ Áo (sinh 1915)
19 tháng 5: John Grey Gorton, thủ tướng Úc (sinh 1911)
20 tháng 5: Stephen Jay Gould, nhà cổ sinh vật học Mỹ, nhà địa chất (sinh 1941)
21 tháng 5: Niki de Saint Phalle, nữ điêu khắc gia Pháp, nữ họa sĩ (sinh 1930)
=== Tháng 6 ===
13 tháng 6: Ralph Shapey, người điều khiển dàn nhạc Mỹ, nhà soạn nhạc (sinh 1921)
17 tháng 6: Fritz Walter, cầu thủ bóng đá Đức (sinh 1920)
20 tháng 6: Erwin Chargaff, nhà hóa sinh Mỹ, nhà văn (sinh 1905)
20 tháng 6: Martinus Osendarp, vận động viên điền kinh Hà Lan (sinh 1916)
23 tháng 6: Alice Stewart, nữ bác sĩ Anh
26 tháng 6: Alfred Lorenzer, nhà xã hội học Đức (sinh 1922)
27 tháng 6: John Entwistle, nhạc sĩ nhạc rock Anh, The Who (sinh 1944)
29 tháng 6: Alfred Dregger, chính trị gia Đức (sinh 1920)
29 tháng 6: Rosemary Clooney, nữ diễn viên, nữ ca sĩ Mỹ (sinh 1928)
=== Tháng 7 ===
2 tháng 7: Jean-Yves Daniel-Lesur, nhà soạn nhạc Pháp, nghệ sĩ đàn ống (sinh 1908)
6 tháng 7: John Frankenheimer, đạo diễn phim Mỹ (sinh 1930)
9 tháng 7: Rod Steiger, diễn viên Mỹ (sinh 1925)
11 tháng 7: Rosco Gordon, nhạc sĩ blues Mỹ (sinh 1928)
16 tháng 7: Joseph Luns, chính trị gia Hà Lan (sinh 1911)
25 tháng 7: Johannes Joachim Degenhardt, Hồng y Giáo chủ Đức (sinh 1926)
26 tháng 7: Jutta Hecker, nhà văn nữ Đức (sinh 1904)
28 tháng 7: Archer John Porter Martin, nhà hóa học Anh, nhận Giải thưởng Nobel (sinh 1910)
30 tháng 7: Willy Mattes, nhà soạn nhạc Áo (sinh 1916)
=== Tháng 8 ===
5 tháng 8: Francisco Coloane, nhà văn Chile (sinh 1910)
11 tháng 8: Jiří Kolář, thi sĩ Séc, nghệ nhân tạo hình (sinh 1914)
19 tháng 8: Eduardo Chillida, nhà điêu khắc (sinh 1924)
25 tháng 8: Karolina Lanckorońska, nữ sử gia về nghệ thuật Ba Lan, nhà văn nữ (sinh 1898)
27 tháng 8: Jane Tilden, nữ diễn viên Đức (sinh 1910)
29 tháng 8: Lance Macklin, đua xe Anh (sinh 1919)
31 tháng 8: Lionel Hampton, nhạc sĩ nhạc jazz Mỹ (sinh 1908)
=== Tháng 9 ===
7 tháng 9: Eugenio Coseriu, nhà ngôn ngữ học Romania (sinh 1921)
8 tháng 9: Georges-André Chevallaz, chính trị gia Thụy Sĩ (sinh 1915)
22 tháng 9: Marga Petersen, nữ vận động viên điền kinh Đức (sinh 1919)
23 tháng 9: Eberhard Werner, nghệ nhân Đức, họa sĩ phong cảnh (sinh 1924)
30 tháng 9: Hans-Peter Tschudi, chính trị gia Thụy Sĩ (sinh 1913)
=== Tháng 10 ===
6 tháng 10: Wolfgang Mischnick, chính trị gia Đức (sinh 1921)
12 tháng 10: Ray Conniff, nhạc sĩ, nhà soạn nhạc (sinh 1916)
19 tháng 10: Manuel Álvarez Bravo, nhiếp ảnh gia Mexico (sinh 1902)
21 tháng 10: Jesse Leonard Greenstein, nhà thiên văn học Mỹ (sinh 1909)
23 tháng 10: Marianne Hoppe, nữ diễn viên Đức (sinh 1909)
25 tháng 10: Richard Harris, diễn viên Ireland (sinh 1930)
25 tháng 10: René Thom, giáo sư Pháp về toán học (sinh 1923)
26 tháng 10: Siegfried Unseld, nhà xuất bản Đức (sinh 1924)
=== Tháng 11 ===
7 tháng 11: Rudolf Augstein, nhà báo Đức, nhà xuất bản, nhà xuất bản (sinh 1923)
10 tháng 11: Gert Westphal, diễn viên Đức (sinh 1920)
17 tháng 11: Abba Eban, chính trị gia Israel, nhà ngoại giao (sinh 1915)
18 tháng 11: James Coburn, diễn viên Mỹ (sinh 1928)
24 tháng 11: John Rawls, triết gia Mỹ (sinh 1921)
25 tháng 11: Karel Reisz, đạo diễn phim Anh (sinh 1926)
29 tháng 11: Daniel Gélin, diễn viên Pháp (sinh 1921)
30 tháng 11: Hans Hartz, nhạc sĩ Đức, nhà soạn nhạc (sinh 1943)
=== Tháng 12 ===
2 tháng 12: Ivan Illich, tác giả Áo, triết gia, nhà thần học (sinh 1926)
3 tháng 12: Klaus Löwitsch, diễn viên Đức (sinh 1936)
5 tháng 12: Bob Berg, nhạc sĩ nhạc jazz Mỹ (sinh 1951)
6 tháng 12: Gerhard Löwenthal, nhà báo Đức (sinh 1922)
9 tháng 12: Tố Hữu (sinh ngày 4 tháng 10 năm 1920)
9 tháng 12: Mary Hansen, nữ nhạc sĩ Úc (sinh 1966)
10 tháng 12: Ian MacNaughton, đạo diễn phim Anh (sinh 1925)
21 tháng 12: José Hierro, nhà văn Tây Ban Nha
22 tháng 12: Joe Strummer, nhạc sĩ nhạc rock Anh (sinh 1952)
26 tháng 12: Herb Ritts, nhiếp ảnh gia Mỹ (sinh 1952)
27 tháng 12: George Roy Hill, đạo diễn phim Mỹ (sinh 1922)
== Giải Nobel ==
Vật lý: Raymond Davis Jr., Masatoshi Koshiba, Riccardo Giacconi
Hóa học: Kurt Wüthrich, John B. Fenn, Koichi Tanaka
Y học: Sydney Brenner, H. Robert Horvitz, John E. Sulston
Văn học: Imre Kertész
Hòa bình: Jimmy Carter
Kinh tế học: Daniel Kahneman, Vernon L. Smith
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
icom.txt | ICOM Incorporated (アイコム株式会社, Aikomu Kabushiki-gaisha) (TYO: 6820) là một nhà sản xuất quốc tế các thiết bị thu / phát vô tuyến, thành lập vào năm 1954 với tên giao dịch ban đầu là "IEW". Hiện nay, các sản phẩm của nhà sản xuất này bao gồm các mảng thiết bị sử dụng cho vô tuyến nghiệp dư, phi công, công cụ liên lạc hàng hải, ứng dụng chuyên nghiệp di động mặt đất và phục vụ những người đam mê dò sóng vô tuyến.
Trụ sở của ICOM đặt tại Osaka, Nhật Bản, và các chi nhánh tại Mỹ (ở Bellevue, bang Washington), Canada (ở Delta, British Columbia), Úc (Melbourne, Victoria), New Zealand (Auckland), United Kingdom (Kent, Anh), Pháp (Toulouse), Tây Ban Nha (Barcelona) và tại Trung Quốc (Bắc Kinh).
== Lịch sử ==
Năm 1954, Tokuzo Inoue thành lập công ty "Inoue Electric Works", (viết tắt là IEW), tại thị trấn Kyoto Yamashiro, quận Sagara, Nhật Bản
Năm 1970, chuyển trụ sở công ty về Osaka
Năm 1978, đổi tên công ty như hiện tại: "ICOM", trong đó "I" -viết tắt tên người sáng lập Tokuzo Inoue, "com" -viết tắt của "truyền thông"
Năm 2001, niêm yết tại thị trường chứng khoán Tokyo
== Công nghệ ==
=== IDAS ===
IDAS là sự thực thi Icom's của giao thức NXDN cho sản phảm vô tuyến số hóa song công dành cho Vô tuyến di động mặt đất dùng riêng (PLMR - Private Land Mobile Radio) trong thương mại và hệ thống thông tin an toàn công cộng cấp thấp. NXDN là một tiêu chuẩn kỹ thuật dùng giao diện không gian chung (CAI - Common Air Interface) cho truyền thông di động. Nó được kết hợp phát triển bởi Icom Incorporated và Kenwood Corporation.
=== D-STAR ===
ICOM đã phát triển hệ thống vô tuyến mở D-STAR dựa trên kỹ thuật vô tuyến số hóa do Liên minh vô tuyến nghiệp dư Nhật Bản phát triển. Hệ thống này được thiết kế để cung cấp các thông tin liên lạc thoại và dữ liệu tiên tiến trên đài phát thanh nghiệp dư bằng cách sử dụng các tiêu chuẩn mở.
== Các sản phẩm ==
ICOM sản xuất máy bộ đàm vô tuyến song công và máy thu sử dụng trong các nghiệp vụ thông tin hàng hải, hàng không, ứng dụng vô tuyến nghiệp dư, di động mặt đất , và ứng dụng FRS / GMRS. Một số loại bộ đàm do ICOM sản xuất, tương thích với hệ thống trung kế của Motorola và SmarTrunk.
=== Bộ thu phát vô tuyến cao tần (HF) nghiệp dư ===
IC-7000
IC-701
IC-703
IC-706
IC-707
IC-718
IC-720
IC-7200
IC-720A
IC-725
IC-726
IC-728
IC-729
IC-730
IC-732
IC-735
IC-736
IC-737
IC-737A
IC-738
IC-740
IC-7400
IC-745
IC-746
IC-746Pro
IC-751
IC-751A
IC-756
IC-756Pro
IC-756ProII
IC-756ProIII
IC-7600
IC-761
IC-765
IC-7700
IC-775DSP
IC-7800
IC-781
=== Bộ thu phát di động dải VHF/UHF nghiệp dư ===
IC-F121
IC-2820H
IC-1271A
IC-1275A
IC-2000H
IC-201
IC-202
IC-202S
IC-207H
IC-207H
IC-208H
IC-2100H
IC-211
IC-215
IC-2200H
IC-228A & H
IC-229A/H
IC-22A
IC-22S
IC-22U / IC-24E
IC-230
IC-2330A
IC-2340H
IC-2350H
IC-2400A
IC-2410H
IC-245
IC-251A
IC-255A
IC-25A
IC-260A
IC-2700H
IC-2710
IC-2710H
IC-271A/H
IC-2720
IC-2720H
IC-2725E
IC-275A/H
IC-27A/H
IC-2800
IC-2800H
IC-2800H
IC-281H
IC-2820H
IC-28A/H
IC-290A/H
IC-3200A
IC-3210A
IC-3230
IC-375A
IC-37A/H
IC-38A
IC-402
IC-451A
IC-45A
IC-471A/H
IC-475A/H
IC-47A/H
IC-490A
IC-501
IC-502
IC-502A
IC-505
IC-551
IC-551D
IC-560
IC-575H
IC-71
IC-820H
IC-821
IC-821H
IC-901A/E
IC-910H
IC-970
IC-970H
IC-Delta 100
IC-E208
IC-F521
IC-V8000
ID-1
ID-800
ID-880
=== Bộ thu phát cầm tay dải VHF/UHF nghiệp dư ===
IC-V80
IC-V85
IC-w31a
Icom 2GXAT
Icom 3AT
Icom A24LI
Icom E90
Icom F3GS
IC-2E
IC-02AT
IC-03AT
IC-24 AT
IC-2AT
IC-2GAT
IC-2GXAT
IC-2iA
IC-2SE
IC-2SRA, (4SRA)
IC-32AT
IC-3AT
IC-3SAT
IC-4SA
IC-80AD
IC-91
IC-91AD
IC-92AD
IC-DELTA1A
IC-E7
IC-E90
IC-F30GS
IC-H16
IC-M3
IC-O3AT
IC-P7A
IC-Q7A
IC-T22A
IC-T22H
IC-T2H
IC-T3H
IC-T70A
IC-T7H
IC-T81A/E
IC-T90A
IC-U82
IC-V21AT
IC-V68
IC-V8
IC-V80
IC-V82
IC-W21A
IC-W2A
IC-W32A
IC-Z1A
Icom P2AT
Icom P3AT
Icom P4AT
Icom Q7A
Icom T21A
Icom T8a
Icom µ2AT
== Một số hình ảnh ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Anh) Trang tin điện tử ICOM Toàn cầu
Trang chủ Icom tại Mỹ
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Danh sách công ty điện tử Nhật Bản |
hệ ngôn ngữ maya.txt | Hệ ngôn ngữ Maya là một hệ ngôn ngữ được nói tại Trung Bộ châu Mỹ và miền bắc Trung Mỹ. Các ngôn ngữ Maya có ít nhất 6 triệu người nói, thuộc các dân tộc Maya, chủ yếu tại Guatemala, México, Belize và Honduras. Năm 1996, Guatemala chính thức công nhận 21 ngôn ngữ Maya, và México công nhận thêm tám ngôn ngữ nữa trong biên giới của họ.
Hệ ngôn ngữ Maya là một trong những hệ ngôn ngữ được ghi nhận và nghiên cứu nhiều nhất châu Mỹ. Các ngôn ngữ Maya hiện đại đều xuất phát từ ngôn ngữ Tiền Maya, được cho là từng được nói cách đây ít nhất 5,000 năm, và đã được tái dựng bằng phương thức so sánh. Ngôn ngữ Tiền Maya đã phát triển thành ít nhất sáu nhánh con: Huastec, Quiche, Yucatec, Q'anjobal, Mam và Ch'ol-Tzeltal.
Các ngôn ngữ Maya tạo nên một phần của vùng ngôn ngữ Trung Bộ châu Mỹ, một khu vực hội tụ ngôn ngữ phát triển qua hàng nghìn năm tiếp xúc giữa các tộc người tại đây. Tất cả ngôn ngữ Maya thể hiện các nét cơ bản của vùng ngôn ngữ này. Ví dụ, tất cả đều dùng danh từ quan hệ thay vì giới từ để thể hiện mối quan hệ không gian. Chúng cũng sở hữu những đặc điểm ngữ pháp và loại hình tách biệt chúng khỏi các ngôn ngữ khác tại vùng Trung Bộ châu Mỹ, như việc sử dụng tác thông cách (ergative) với động từ và chủ ngữ-tân ngữ của chúng, những thể loại biến tố riêng biệt với động từ, và một lớp từ cho "các vị trí" điển hình trong cả hệ Maya.
Trong thời kỳ tiền Colombo của lịch sử Trung Bộ châu Mỹ, một vài ngôn ngữ Maya được viết bằng hệ thống chữ Maya tượng hình. Việc sử dụng loại chữ này phổ biến trong suốt thời kỳ Cổ điển của nền văn minh Maya (khoảng 250–900). Một lập hợp gồm 10.000 bản ghi của người Maya còn tồn tại đến nay, nằm trên các kiến trúc, công trình, đồ gốm và bản thảo, kết hợp với nền văn học giàu có thời hậu thuộc địa, viết bằng chữ Latinh, đã cung cấp cơ sở cho việc nghiên cứu lịch sử châu Mỹ thời tiền Colombo.
== Lịch sử ==
=== Tiền Maya ===
Các ngôn ngữ Maya là hậu duệ của một ngôn ngữ tiền thân tên là Tiền Maya, hay, trong tiếng Maya K'iche', Nab'ee Maya' Tzij ("thứ tiếng Maya cổ"). Các học giả cho rằng ngôn ngữ Tiền Maya từng được nói tại sơn nguyên Cuchumatanes tại trung Guatemala, tương ứng với vùng mà ngữ tộc Q'anjobal hiện diện ngày nay. Nhà khảo cổ và học giả người Đức Karl Sapper là người đầu tiên đề xuất rằng vùng cao nguyên Chiapas-Guatemala có thể là "cái nôi" của hệ ngôn ngữ Maya. Terrence Kaufman và John Justeson đã phục dựng hơn 3000 mục từ vựng của ngôn ngữ Tiền Maya.
Theo sơ đồ phân loại hiện hành của Lyle Campbell và Terrence Kaufman, ngôn ngữ Tiền Maya bắt đầu phân tách vào khoảng năm 2200 TCN, khi người nói ngôn ngữ Tiền Huastec tách khỏi phần còn lại và di cư đến duyên hải Vịnh Mexico. Người nói ngôn ngữ Tiền Yucatec và Tiền Ch'ol sau đó cũng tách ra và di chuyến về phía bắc đến bán đảo Yucatán. Người nói của nhóm tây Maya di chuyển về phía nam đến khu vực mà ngày nay người Mam và Quiche sinh sống. Khi người nói ngôn ngữ Tiền Tzeltal tách khỏi Tiền Ch'ol và di chuyển về phía nam đến cao nguyên Chiapas, họ đã tiếp xúc với người nói các ngôn ngữ Mixe–Zoque. Theo giả thuyết khác của Robertson and Houston, người nói ngôn ngữ Tiền Huastec tiếp tục sống ở cao nguyên Guatemala với người nói ngôn ngữ Tiền Ch'ol-Tzeltal, rồi tách ra ở thời điểm muộn hơn nhiều so với đề xuất của Kaufman.
Trong thời cổ đại (trước 2000 TCN), một số từ vựng ngôn ngữ Mixe–Zoque đã được ngôn ngữ Maya vay mượn. Điều này dẫn đến giả thuyết rằng người Maya cổ từng bị thống trị bởi người nói ngôn ngữ Mixe–Zoque, có thể là Olmec. Với các ngôn ngữ Xinca và Lenca thì ngược lại, tiếp nhận từ mượn của các ngôn ngữ Maya. Những chuyên gia ngôn ngữ Maya như Campbell tin rằng đây là minh chứng cho một giai đoạn tiếp xúc mạnh mẽ giữa người Maya và người Lenca/người Xinca, nhiều khả năng là trong thời kỳ Cổ Điển (250–900).
=== Thời Cổ Điển ===
Trong thời kỳ Cổ Điển, những nhánh lớn bắt đầu phát triển thành những ngôn ngữ riêng biệt. Sự phân tách giữa Tiền Yucatec (ở phía bắc, tức bán đảo Yucatán) và Tiền Ch'ol (ở phía nam, tức cao nguyên Chiapas và bồn địa Petén) đã xuất hiện từ trước thời gian này, khi đa phần chữ tượng hình Maya đã hiện diện. Cả hai đều được gọi chung là "tiếng Maya cổ điển". Dù chỉ duy nhất một ngôn ngữ uy tín (prestige language) được ghi nhận thường xuyên trên các văn bản chữ tượng hình hiện có, có ít nhất năm biến thể (hay dạng) ngôn ngữ Maya đã được phát hiện trong các văn bản Maya—Đông Ch'ol trong các văn bản Maya phía nam và cao nguyên, Tây Ch'ol lan rộng từ vùng Usumacinta từ thế kỷ 7, biến thể Yukatek tìm thấy trong văn bản ở bán đảo Yucatán, biến thể Tzeltal tại vùng đất thấp miền tây (tức Toniná, Pomona), và có thể một biến thể Maya vùng cao thuộc nhánh K'iche hiện diện trên đồ gốm Nebaj. Lý do mà chỉ một vài biến thể hiện diện ở dạng văn bản có thể là vì chúng là những phương ngữ uy tín tại một vùng nhất định.
Stephen Houston, John Robertson và David Stuart gợi ý rằng biến thể Ch'ol được tìm thấy trong các văn bản tại vùng đất thấp miền nam có thể được gọi là "Ch'olti' cổ điển", tổ tiên của tiếng Ch’orti’ và tiếng Ch’olti’ hiện đại. Họ đề xuất rằng nó xuất phát từ tây và trung-nam bồn địa Petén, và có thể từng được nói bởi quý tộc và tăng lữ.
=== Thời thực dân ===
Trong thời gian người Tây Ban Nha thực dân hóa Trung Mỹ, tất cả ngôn ngữ bản địa đều bị lấn át bởi tiếng Tây Ban Nha, ngôn ngữ uy tín mới. Việc sử dụng các ngôn ngữ Maya trong những lĩnh vực quan trọng của xã hội, gồm hành chính, tôn giáo và văn chương, cáo chung. Tuy vậy, người Maya kiên trì chống lại sự ảnh hưởng từ bên ngoài, và vì lý do này, nhiều cộng đồng Maya vẫn duy trì được lượng lớn người đơn ngữ. Tuy nhiều ngôn ngữ Maya hoặc gần tuyệt chủng hoặc bị đe dọa, số còn lại vẫn khá ổn định, với người nói ở mọi lứa tuổi.
=== Thời hiện đại ===
Nhờ khảo cổ học Maya phát triển mạnh vào thế kỷ 20, cũng như chủ nghĩa dân tộc và những tư tưởng dựa trên dân tộc khác lan rộng, các dân tộc nói ngôn ngữ Maya bắt đầu phát triển một dân tộc tính Maya, xem mình là hậu duệ nền văn minh Maya.
Từ "Maya" có thể xuất phát từ thành phố Mayapan tại Yucatán thờ Hậu Cổ Điển; nó có ý nghĩa hẹp hơn vào thời tiền thực dân và thực dân, để chỉ một thực thể nhất định tại bán đảo Yucatán. Nghĩa của từ "Maya" hiện nay, ngoài để chỉ một mối quan hệ ngôn ngữ, còn được dùng cho những đặc điểm dân tộc và văn hóa. Đa số người Maya tự xem mình là thuộc một dân tộc nhất định, như "Yucatec" hay "K'iche'", song vẫn là người Maya. Ngôn ngữ trở thành cơ sở để xác định biên giới của mối quan hệ dân tộc. Fabri viết: "Thuật ngữ Maya có nhiều vấn đề vì các dân tộc Maya không tạo nên một sự thống nhất. Thay vì vây, Maya trở thành một chiến lược tự thể hiện của các phong trào Maya và những người tham gia. Academia de Lenguas Mayas de Guatemala (ALMG) công nhận hai mươi mốt ngôn ngữ Maya."
Tại Guatemala, việc phát triển phép chính tả tiêu chuẩn cho các ngôn ngữ Maya được thực hiện bởi Academia de Lenguas Mayas de Guatemala (ALMG; Viện hàn lâm ngôn ngữ Maya Guatemala), thành lập năm 1986. Sau hòa ước 1996, nó dần nhận được sự công nhận như một tổ chức uy tín về ngôn ngữ Maya bởi cả các học giả Maya và người Maya.
== Quan hệ và phân loại ==
=== Quan hệ với các hệ ngôn ngữ khác ===
Hệ ngôn ngữ Maya không có mối quan hệ phát sinh được công nhận với bắt cứ hệ ngôn ngữ nào đã biết. Nét tương đồng giữa những ngôn ngữ Trung Bộ châu Mỹ là do sự ảnh hưởng lẫn nhau của những ngôn ngữ lân cận chứ không phải do có chung nguồn gốc. Trung Bộ châu Mỹ đã được minh chứng là một khu vực mà các ngôn ngữ luôn tác động lẫn nhau.
Nhiều đề xuất đã được đưa ra, kết nối hệ ngôn ngữ Maya với các ngữ hệ hay ngôn ngữ tách biệt khác, nhưng không có cái nào được đông học giả ủng hộ. Ví dụ gồm có đề xuất kết nối hệ Maya với hệ ngôn ngữ Uru–Chipaya, tiếng Mapuche, hệ ngôn ngữ Lenca, tiếng Purépecha hay tiếng Huave. Hệ ngôn ngữ Maya cũng được gộp vào các ngữ hệ giả thuyết như Hoka và Penutia. Nhà ngôn ngữ học Joseph Greenberg xếp Maya vào giả thuyết Amerind mà đã bị đa phần học giả bác bỏ do không có bằng chứng chứng minh.
Lyle Campbell, một chuyên gia về ngôn ngữ Maya và nhà ngôn ngữ học lịch sử, cho rằng đề xuất khả thi nhất là giả thuyết "Liên Maya" - kết nói hệ Maya, Mixe–Zoque và Totonac lại với nhau, nhưng cần nhiều nghiên cứu hơn để khẳng định hoặc bác bỏ giả thuyết này.
=== Phân nhánh ===
Hệ ngôn ngữ Maya chứa khoảng 30 ngôn ngữ. Thường, chúng được xếp vào 5-6 phân nhánh lớn (Yucatec, Huastec, Ch'ol-Tseltal, Q'anjob'al, Mam, và K'iche). Hệ ngôn ngữ Maya được ghi chép rất nhiều, và sơ đồ phân loại phả hệ nội bộ của nó được chấp nhận rộng rãi, trừ một vài khúc mắc nhỏ chưa giải quyết được.
Một vấn đề là vị trí của Ch'ol và Q'anjobal–Chuj. Vài học giả cho rằng chúng tạo ra nhóm Tây Maya (như trong sơ đồ dưới). Những học giả khác lại không ủng hộ việc đặc biệt gần giữa Ch'ol và Q'anjobal–Chuj; cho rằng chúng là hai nhánh riêng biệt, phát triển trực tiếp từ Tiền Maya. Một đề xuất khác cho rằng nhánh Huastec phát sinh từ nhánh Ch'ol-Tzeltal.
== Phân bố ==
Các nghiên cứu cho biết rằng các ngôn ngữ Maya có hơn 6 triệu người nói. Đa số sống tại Guatemala, nơi mà tùy theo ước tính, 40%-60% dân số nói một ngôn ngữ Maya. Tại México, ước tính có 2.5 triệu người nói ngôn ngữ Maya năm 2010, còn ở Belize có chừng 30.000 người.
=== Nhóm Tây ===
Ngữ chi Ch'ol từng có mặt rộng khắp khu vực Maya, nhưng ngày nay ngôn ngữ phổ biến nhất ngữ chi là tiếng Ch'ol, được nói bởi 130.000 người tại Chiapas. Họ hàng gần nhất của tiếng Ch'ol, tiếng Maya Chontal, được nói bởi 55.000 người tại bang Tabasco. Một ngôn ngữ liên quan khác, mà giờ đang bị đe dọa, là tiếng Ch'orti', được nói bởi 30.000 người tại Guatemala. Tiếng Ch'orti' cũng từng hiện diện tại cực tây Honduras và El Salvador, nhưng phương ngữ El Salvador đã tuyệt chủng và phương ngữ Honduras sắp biến mất. Tiếng Ch'olti', ngôn ngữ chị em của tiếng Ch'orti', cũng đã tuyệt chủng. Ngữ chi Ch'ol được xem là nhóm "nguyên thủy" nhất về từ vựng và ngữ âm, và gần gũi với tiếng Maya thời Cổ Điển. Chúng có lẽ từng là ngôn ngữ uy tín, cùng tồn tại với những ngôn ngữ khác ở vài khu vực. Sự phỏng đoán này cung cấp lời giải thích hợp lý cho sự cách biệt về địa lý giữa tiếng Ch'orti' với tiếng Ch'ol và Chontal.
Họ hàng gần nhất của ngữ chi Ch'ol là ngữ chi Tzeltal, gồm tiếng Tzotzil và tiếng Tzeltal, cả hai đều có mặt tại Chiapas và sở hữu lượng người nói ổn định và đang tăng (265.000 với tiếng Tzotzil và 215.000 với tiếng Tzeltal). Tiếng Tzeltal có hàng chục nghìn người đơn ngữ. Ngữ chi Ch'ol và ngữ chi Tzeltal tạo thành ngữ tộc Ch'ol.
Tiếng Q'anjob'al được nói bởi 77.700 người ở Huehuetenango (Guatemala), cùng với một số nhỏ tại nơi khác. Khu vực nói tiếng Q'anjobal tại Guatemala, do chính sách diệt chủng trong cuộc nội chiến Guatemala và sự lân cận của nó với biên giới México, đã trở thành nơi xuất sứ của làn sóng người tị nạn. Do vậy, hiện nay có nhiều cộng đồng nói tiếng Q'anjob'al, Jakaltek, và Awakatek tại nhiều nơi thuộc México, Hoa Kỳ (như Quận Tuscarawas, Ohio và Los Angeles, California), và, với những cuộc hồi hương thời hậu chiến, tại những phần khác của Guatemala. Tiếng Jakaltek (cũng gọi là Popti') được nói bởi gần 100.000 người tại Huehuetenango. Một thành viên khác của ngữ tộc Q'anjobal là tiếng Akatek, với hơn 50.000 người nói ở San Miguel Acatán và San Rafael La Independencia.
Tiếng Chuj được nói bởi 40.000 người ở Huehuetenango, và bởi 9.500 người, chủ yếu là người tị nạn trước đây, dọc theo biên giới México, tại La Trinitaria, Chiapas, các làng Tziscau và Cuauhtémoc. Tiếng Tojolab'al tại đông Chiapas có 36.000 người nói.
=== Nhóm Đông ===
Tiếng Q'eqchi' (đôi khi viết là Kekchi) là ngôn ngữ của 800.000 người tại nam Petén, Izabal và Alta Verapaz thuộc Guatemala, và của 9.000 người tại Belize. Tại El Salvador nó có 12.000 người nói do kết quả của di dân. Tiếng Uspantek chỉ được bắt gặp tại municipio Uspantán của bộ El Quiché, và có 3.000 người nói.
Trong ngữ tộc Quiche có tiếng K'iche' (Quiché), ngôn ngữ Maya với số người nói đông nhất, được nói bởi hơn 1 triệu người Maya K'iche' tại cao nguyên Guatemala, quanh các thành phố Chichicastenango và Quetzaltenango và tại dãy núi Cuchumatán, và thành phố Guatemala. Tài liệu Maya nổi tiếng, Popol Vuh, được viết bằng thứ tiếng K'iche' xưa (tiếng K'iche' (Quiché) cổ điển). Văn hóa K'iche' đang ở đỉnh cao khi người Tây Ban Nha đến xâm lược. Q'umarkaj, gần thành phố Santa Cruz del Quiché ngày nay, từng là trung tâm kinh tế và tôn giáo người K'iche'. Tiếng Achi được nói bởi khoảng 85.000 người tại Cubulco và Rabinal, hai trong số các municipio của Baja Verapaz. Trong vài phân loại (như của Campbell), tiếng Achi được tính là một dạng tiếng K'iche'. Tuy nhiên, do sự phân tách từ lâu giữa hai nhóm, người Maya Achi không xem mình là người K'iche'. Tiếng Kaqchikel có 400.000 người nói trên một khu vực kéo dài từ thành phố Guatemala đến bờ bắc hồ Atitlán. Tiếng Tz'utujil có chừng 90.000 người nói, sống lân cận hồ Atitlán. Những thành viên khác của ngữ tộc Quiche là tiếng Sakapultek (15.000 người nói đa số tại bộ El Quiché), và tiếng Sipakapense (8.000 người nói tại Sipacapa, San Marcos).
Ngôn ngữ phổ biến nhất trong ngữ tộc Mam là tiếng Mam, với 478.000 người nói tại các bộ San Marcos và Huehuetenango. Tiếng Awakatek là ngôn ngữ của 20.000 cư dân ở trung Aguacatán, Huehuetenango. Tiếng Ixil (có lẽ thực ra gồm ba ngôn ngữ) được nói bởi 70.000 người tại vùng "tam giác Ixil" của bộ El Quiché. Tiếng Tektitek (hay Teko) được nói bởi 6.000 người tại Tectitán, và 1.000 người nhập cư tại México. Theo Ethnologue, số người nói tiếng Tektitek đang tăng.
Ngữ chi Poqom có liên quan chặt chẽ đến các ngôn ngữ Quiche "cốt lõi". Tiếng Poqomchi' được nói bởi 90.000 người tại Purulhá, Baja Verapaz, và các khu tự quản sau của Alta Verapaz: Santa Cruz Verapaz, San Cristóbal Verapaz, Tactic, Tamahú và Tucurú. Tiếng Poqomam có 49.000 người nói trong những khu vực nhỏ ở Guatemala.
=== Nhóm Yucatec ===
Tiếng Maya Yucatec (còn được gọi đơn giản là "Maya") là thứ tiếng Maya phổ biến nhất tại México. Nó hiện được nói bởi 800.000 người, đa số sinh sống trên bán đảo Yucatán. Nó vẫn thường gặp tại bang Yucatán và các vùng lẫn cận thuộc Quintana Roo và Campeche.
Ba ngôn ngữ còn lại của ngữ tộc Yucatec là tiếng Mopan (10.000 người nói, chủ yếu tại Belize); tiếng Itza' (một ngôn ngữ tuyệt cũng hoặc sắp tuyệt chủng tại bồn địa Petén, Guatemala); và tiếng Lacandón (hay Lakantum, cũng bị đe dọa với chừng 1.000 người nói tại vài làng ở Selva Lacandona, Chiapas).
=== Nhóm Huastec ===
Tiếng Wastek (hay Huastec, Huaxtec) được nói tại các bang Veracruz và San Luis Potosí của México bởi chừng 110.000 người. Đây là ngôn ngữ khác biệt nhất trong các ngôn ngữ Maya hiện đại. Tiếng Chicomuceltec là một ngôn ngữ liên quan đến tiếng Wastek, và từng có mặt tại Chiapas, nhưng đã tuyệt chủng từ trước năm 1982.
== Chú thích ==
=== Tham khảo === |
beryl.txt | Beryl là một loại khoáng vật nhôm, berili silicat có công thức hóa học Be3Al2(SiO3)6. Tinh thể của nó kết tinh theo hệ sáu phương với kích thước từ rất nhỏ đến vài mét. Các tinh thể cụt tương đối hiếm gặp. Beryl tinh khiết không màu, nhưng nó thường có lẫn tạp chất, khi đó nó cho màu lục, lam, vàng, đỏ, và trắng.
== Thành tạo ==
Beryl có nhiều màu sắc khác nhau được tìm thấy chủ yếu trong các mạch pegmatit granit, nhưng cũng có trong đá schist mica thuộc dãi Ural, và đá vôi ở Colombia. Beryl thường cộng sinh với các thân quặng thiếc và tungsten. Beryl được tìm thấy ở châu Âu ở Na Uy, Áo, Đức, Thụy Điển (đặc biệt là morganit), Ireland và Nga, cũng như ở Brazil, Colombia, Madagascar, Mozambique, Nam Phi, Hoa Kỳ, và Zambia. Các vị trí có beryl của Hoa Kỳ ở California, Colorado, Connecticut, Georgia, Idaho, Maine, New Hampshire, North Carolina, Nam Dakota và Utah.
Pegmatit ở New England tạo ra các tinh thể beryl lớn nhất, bao gồm một tinh thể khối ở mỏ Bumpus, Albany, Maine với kích thước 5,5 x 1,2 m và khối khoảng 18 tấn; đây là khoáng vật biểu tượng của bang New Hampshire Đến năm 1999, tinh thể tự nhiên lớn nhất được biết đến trong tất cả các loại khoáng vật là tinh thể beryl ở Malakialina, Madagascar, dài 18 mét và đường kính 3,5 mét, nặng 380.000 kilogram.
== Biến thể ==
=== Aquamarine và maxixe ===
Aquamarine (từ tiếng Latinh: aqua marina, "nước biển") là một biến thể màu turquoise của beryl. Nó có mặt ở hầu hết các địa phương phát hiện ra beryl. Các mỏ sa khoáng đá quý cuội ở Sri Lanka chứa aquamarine. Beryl màu vàng trong suốt, như loại có mặt ở Brazil, đôi khi được gọi là aquamarine chrysolite. Loại có màu xanh dương đậm của aquamarine được gọi là maxixe. Maxixe được tìm thấy phổ biến ở Madagascar. Màu sắc của nó mất dần sang tráng khi choi dưới ánh sáng mặt trời hoặc bị xử lý nhiệt, mặc dù màu sắc trả về theo bức xạ.
Màu lam nhạt của aquamarine là do Fe2+. Các ion Fe3+ tạo ra màu vàng-vàng khối, và khi có mặt cả Fe2+ và Fe3+ chúng cho màu xanh lam sẫm hơn như của maxixe. Sự mất màu của maxixe do ánh sáng hoặc nhiệt này có thể do sự chuyển điện tích Fe3+ và Fe2+. Màu lam sẫm maxixe có thể được tạo ra màu lục, vàng bằng cách chiếu các dòng hạt năng lượng cao (tia gamma, neutron hoặc thậm chí là tia X).
Chất lượng đá quý aquamarin lớn nhất từng được khai thác ở Marambaia, Minas Gerais, Brazil vào năm 1910. Nó nặng hơn 110 kg, và dài 48m5 cm, đường kính 42 cm. Viên đá quý được cắt lớn nhất là Dom Pedro aquamarine, hiện được lưu giữ trog Bảo tàng Lịch sử quốc gia Hoa Kỳ thuộc Smithsonian Institution.
=== Emerald ===
Emerald là loại beryl lục, màu của nó là do các nguyên tố vết của crôm và đôi khi là vanadi.
=== Beryl vàng và heliodor ===
Beryl vàng có thể có màu từ vàng nhạt đến vàng sáng. Khác với emerald, beryl vàng có rất ít sai sót. Thuật ngữ "golden beryl" đôi khi đồng nghĩa với heliodor (trong tiếng Hy Lạp hēlios – ἥλιος "mặt trời" + dōron – δῶρον "quà") nhưng beryl vàng có đặc trưng là màu vàng tinh khiết hoặc sắc vàng của vàng khối, trong khi heliodor có màu vàng lục. Màu vàng khối là do các ion Fe3+. Cả beryl vàng và heliodor đều được dùng làm đá quý. Mẫu đá beryl vàng được gia công lớn nhất có lẽ là mẫu 2054 carat được trưng bày tại bảo tàng quốc gia Hoa Kỳ ở Washington, D.C.
=== Goshenit ===
Beryl không màu được gọi là goshenit.
=== Morganit ===
Morganit hay "beryl hồng", là loại beryl chất lượng và rất hiếm. Biến thể màu vàng/cam của morganit cũng được tìm thấy, và có màu phân dải. Nó có thể được xử lý nhiệt để loại các đốm vàng và thỉnh thoảng được xử lý bằng bức xạ để cải thiện màu sắc. Màu hồng của morganit là do các ion Mn2+.
Beryl hồng có màu mịn và kích thước vừa phải được phát hiện đầu tiên trên đảo ngoài khơi Madagascar năm 1910. Nó cũng được phát hiện cùng với các khoáng vật khác như tourmalin và kunzit, tại Pala, California. Tháng 12 năm 1910, Viện hàm lâm khoa học New York đặt tên loại biến thể màu hồng beryl này theo tên của nhà tài chính J. P. Morgan.
Ngày 7 tháng 10 năm 1989, một trong những mẫu đá quý morganit lớn nhất từng được phát hiện, thậm chí được gọi là "Hoa hồng của Maine," được phát hiện ở mỏ đá Bennett ở Buckfield, Maine, US. Tinh thể này, nguyên thủy có sắc vàng có chiều dài 23 cm (9 in) và bề rộng khoảng 30 cm (12 in), và trọng lượng hơn 50 pound (23 kg).
=== Beryl đỏ ===
Beryl đỏ là một biến thể màu đỏ của beryl. Nó được mô tả năm 1904 từ mẫu được tìm thấy ở Maynard's Claim (Pismire Knolls), Thomas Range, Quận Juab, Utah.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
bertrand russell.txt | Bertrand Arthur William Russell, Bá tước Russell III, OM, FRS (18 tháng 5 năm 1872 – 2 tháng 2 năm 1970), là một triết gia, nhà lôgic học, nhà toán học người Anh của thế kỷ 20. Là một tác giả có nhiều tác phẩm, ông còn là người mang triết học đến với đại chúng và là một nhà bình luận đối với nhiều chủ đề đa dạng, từ các vấn đề rất nghiêm túc cho đến những điều trần tục. Nối tiếp truyền thống gia đình trong lĩnh vực chính trị, ông là một người theo chủ nghĩa tự do với vị thế nổi bật, ông còn là một người dân chủ xã hội (socialist) và người hoạt động chống chiến tranh trong phần lớn cuộc đời dài của mình. Hàng triệu người coi ông như là một nhà tiên tri của cuộc sống sáng tạo và duy lý; đồng thời, quan điểm của ông về nhiều chủ đề đã gây nên rất nhiều tranh cãi.
Russell sinh ra vào thời đỉnh cao của nền kinh tế và uy thế chính trị của nước Anh. Sau đó gần một thế kỷ, ông qua đời vì bệnh cúm, khi Đế quốc Anh đã biến mất, sức mạnh của nó đã bị hao mòn bởi hai cuộc chiến tranh thế giới. Là một trong những trí thức nổi tiếng nhất của thế giới, tiếng nói của Russel mang một quyền lực đạo đức, thậm chí cả khi ông đã vào tuổi 90. Trong các hoạt động chính trị của ông, Russell là một người kêu gọi đầy nhiệt huyết cho việc giải trừ vũ khí hạt nhân và một người phê phán mạnh mẽ chế độ toàn trị tại Liên bang Xô viết và sự can thiệp của quân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam.
Năm 1950, Russel được tặng Giải Nobel Văn học, "để ghi nhận các tác phẩm đầy ý nghĩa mà trong đó ông đã đề cao các tư tưởng nhân đạo và tự do về tư tưởng".
== Tiểu sử ==
Bertrand Russell sinh ngày 18 tháng 5 năm 1872 tại Trellech, Monmouthshire, nay là Wales, trong một gia đình quý tộc người Anh. Ông nội của ông, John Russell - bá tước Russell I, từng làm thủ tướng Anh trong các thập kỷ 1840 và 1860 và là con trai thứ hai của John Russell, quận công Bedford VI. Mẹ của Russell, Kate (tên họ thời con gái là Stanley), cũng xuất thân từ một gia đình quý tộc và là chị em gái với Rosalind Howard, Nữ bá tước Carlisle. Cha mẹ của Russell là những người khá cấp tiến vào thời của họ—cha Russell, John Russell - tử tước Amberley, là một người vô thần, ông đồng tình với cuộc tình của vợ mình với thầy giáo của các con - nhà sinh vật học Douglas Spalding. Cả hai là những người ủng hộ đầu tiên cho các biện pháp tránh thai mà thời đó được coi là đầy tai tiếng. John Stuart Mill, nhà triết học theo thuyết vị lợi, là cha đỡ đầu của Russell.
Russell có hai anh chị: Frank Russell - Bá tước Russell II (hơn Bertrand gần 7 tuổi), và Rachel (hơn 4 tuổi). Tháng 6 năm 1875, mẹ Russell qua đời vì bệnh bạch hầu, ít lâu sau Rachel cũng vậy, và vào tháng 1 năm 1876 cha ông cũng qua đời vì bệnh viêm phế quản sau một thời gian dài bị trầm cảm. Sau đó, Frank và Bertrand được chăm sóc bởi ông bà nội, những người trung thành với các tiêu chuẩn đạo đức thời Victoria. Họ sống tại Pembroke Lodge tại Richmond Park. Bá tước Russell I qua đời năm 1878, bà quả phụ - nữ bá tước Russell (tên thời con gái là Frances Elliot) là người thân quan trọng nhất đối với phần còn lại của tuổi thơ và tuổi trẻ của Russell. Bà bá tước xuất thân từ một gia đình người Scotland theo giáo phái Kevin. Bà đã kiến nghị được một tòa án Anh để bỏ một điều khoản trong di chúc của Amberley rằng các con của ông phải được nuôi dạy thành những người theo thuyết bất khả tri. Mặc dù có tư tưởng bảo thủ tôn giáo, bà vẫn giữ các quan niệm tiến bộ trong các lĩnh vực khác (chấp nhận thuyết Darwin và ủng hộ Irish Home Rule (luật nội bộ Ireland)), và ảnh hưởng của bà đối với quan điểm của Bertrand Russell về công bằng xã hội và sự bảo vệ nguyên tắc đã ở lại trong ông suốt cuộc đời. Tuy nhiên, bầu không khí tại Pembroke Lodge luôn đầy những lời cầu nguyện, sự kìm nén cảm xúc và các nghi thức thủ tục - Frank đã phản ứng với điều này bằng sự nổi loạn công khai, còn Bertrand trẻ tuổi đã học được cách giấu những tình cảm của mình.
Thời thanh niên, Russell rất cô đơn, ông thường dự tính tự tử. Trong hồi ký của mình, ông đã ghi nhận rằng những mối quan tâm sâu sắc nhất của ông là tình dục, tôn giáo và toán học, và rằng mong muốn hiểu biết nhiều hơn về toán học là điều duy nhất đã giúp ông không tự tử. Ông được giáo dục tại nhà bởi một loạt các gia sư, và ông đã ngồi nhiều giờ trong thư viện của ông nội. Frank, người anh trai của ông, đã giới thiệu với ông về Euclid, sự kiện này đã thay đổi cuộc đời của Russell.
Russell giành được một học bổng cho ngành toán học tại Trinity College, Đại học Cambridge, và ông bắt đầu học tại đó từ năm 1890. Tại đây, ông đã làm quen với George Edward Moore và bắt đầu chịu ảnh hưởng của Alfred North Whitehead, người đã giới thiệu ông với hội kín Các thánh tông đồ Cambridge (Cambridge Apostles). Ông nhanh chóng trở thành sinh viên nổi bật trong các môn toán học và triết học. Ông lấy bằng cử nhân Toán học năm 1893 và được nhận vào làm nghiên cứu viên triết học năm 1895.
Năm 17 tuổi, Russell lần đầu gặp mặt Alys Pearsall Smith, một tín đồ Quaker người Mỹ. Ông phải lòng cô Alys đạo đức với tâm hồn cao thượng, người có quan hệ với một số nhà hoạt động tôn giáo và giáo dục. Trái ý bà nội, ông đã cưới Alys vào tháng 12 năm 1894. Cuộc hôn nhân của họ bắt đầu tan vỡ vào năm 1902, khi Russell nhận ra rằng ông không còn yêu vợ; 19 năm sau họ li dị. Trong thời kỳ này, Russell đã có những cuộc tình say đắm (và thường là cùng lúc) với nhiều phụ nữ, trong đó có Công nương Ottoline Morrell và nghệ sĩ, Công nương Constance Malleson. Trong suốt những năm này, Alys mòn mỏi mong đợi ông và bà vẫn tiếp tục yêu Russell trong suốt phần đời còn lại.
Russell bắt đầu xuất bản các tác phẩm của mình vào năm 1896 với cuốn German Social Democracy (Nền dân chủ xã hội Đức), đây là nghiên cứu chính trị đã báo hiệu sớm cho một mối quan tâm cả đời đối với chính trị và các học thuyết xã hội. Năm 1896, ông dạy môn Dân chủ xã hội Đức tại Trường Kinh tế Luân Đôn (London School of Economics), cũng là nơi ông đã giảng về khoa học của quyền lực vào mùa thu năm 1937.
Năm 1908, Russell trở thành thành viên của Hội Hoàng gia Anh (Royal Society). Tập đầu tiên trong bộ Principia Mathematica (viết chung với Whitehead) được xuất bản năm 1910. Bộ sách này cùng với tác phẩm The Principles of Mathematics trước đó đã nhanh chóng làm cho Russell trở nên nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực toán học. Năm 1911, ông gặp Ludwig Wittgenstein, một sinh viên ngành kỹ thuật người Áo. Ông sớm nhận ra tài năng xuất chúng của Wittgenstein và coi anh ta là một người kế tục các công trình của ông về lôgic toán học. Ông đã dành nhiều thời gian giúp đỡ Wittgenstein vượt qua nhiều nỗi ám ảnh và sự thất vọng thường xuyên. Ông đã khuyến khích sự phát triển hàn lâm của Wittgenstein, trong đó có việc xuất bản cuốn Tractatus Logico-Philosophicus của Wittgenstein năm 1922.
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Russell tham gia các hoạt động kêu gọi hòa bình, và năm 1916, ông bị Trinity College sa thải sau khi ông bị buộc tội theo Defence of the Realm Act - đạo luật phòng vệ được nghị viện Anh thông qua năm 1914. Ông đã phải ngồi tù 6 tháng tại nhà tù Brixton.
Năm 1920, Russell đến nước Nga với vai trò thành viên của một đoàn đại biểu chính thức được chính phủ Anh gửi đến để nghiên cứu các hiệu ứng của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga. Cũng thời gian đó, Dora Black, người tình của Russell cũng đến thăm Nga một cách độc lập. Bà đã rất nhiệt tình với cuộc cách mạng này, nhưng những gì Russell chứng kiến đã phá hủy dự định của ông về việc hỗ trợ cuộc cách mạng này.
Sau đó, Russell dạy triết học tại Bắc Kinh trong một năm với Dora đi cùng. Trong khi ở Trung Quốc, Russell đã viêm phổi nặng, báo chí Nhật đã đăng tin nhầm về cái chết của ông. Khi hai người đến thăm Nhật Bản trên đường về Anh, Dora đã nói với các nhà báo rằng "Vì theo báo Nhật thì Bertrand Russell đã chết, nên ông không thể trả lời phỏng vấn của các phóng viên Nhật được".
Trên đường về Anh năm 1921, Dora có mang 5 tháng, Russell thu xếp một cuộc li dị vội vã với Alys, 6 ngày sau khi ly dị xong, ông cưới Dora. Các con của họ là John Conrad Russell - Bá tước Russell IV và Katharine Russell (hiện là Công nương Katharine Tait). Trong thời gian này, Russell kiếm sống từ việc viết các cuốn sách phổ thông giải thích các vấn đề về vật lý học, luân lý học và giáo dục dành cho người không chuyên. Cùng với Dora, ông còn thành lập trường thực nghiệm Beacon Hill vào năm 1927. Sau khi ông rời trường vào năm 1932, Dora còn tiếp tục điều hành trường cho đến năm 1943.
Sau cái chết của người anh vào năm 1931, Russell trở thành Bá tước Russell III. Ông đã từng nói rằng danh hiệu của ông hữu hiệu chủ yếu trong việc giữ phòng khách sạn.
Cuộc hôn nhân với Dora trở nên ngày càng mong manh, nó đạt đến điểm rạn vỡ khi bà có hai người con với Griffin Barry, một nhà báo Mỹ. Năm 1936, Russell lấy vợ ba là một sinh viên trường Đại học Oxford tên là Patricia ("Peter") Spence, người đã từng là gia sư của các con ông từ mùa hè năm 1930. Russell và Peter có một người con trai, Conrad Russell - Bá tước Russell V, người sau này trở thành một nhà sử học nổi bật và là một trong những nhân vật lãnh đạo của Đảng Dân chủ Tự do Anh.
Mùa xuân năm 1939, Russell chuyển đến Santa Barbara để giảng dạy tại Đại học California tại Los Angeles. Ông được nhận chức giáo sư tại City College of New York vào năm 1940, nhưng sau một vụ phản đối của quần chúng, phân bổ này đã bị hủy bỏ bởi phán quyết của một phiên tòa: các quan điểm của ông (đặc biệt là các quan điểm liên quan đến đạo đức tình dục, chi tiết trong tác phẩm Hôn nhân và đạo đức 10 năm trước đó) đã làm ông trở nên "không phù hợp về mặt đạo đức" cho việc giảng dạy đại học. Cuộc phản đối này đã được bắt đầu bởi mẹ của một sinh viên (do là nữ) không được học môn lôgic toán sau đại học của ông. Dẫn đầu bởi John Dewey, nhiều trí thức đã phản đối cách xử sự này của ông. Dewey và Horace M. Kallen đã biên tập một loạt các bài viết về vụ CCNY trong The Bertrand Russell Case (Vụ án Bertrand Russell). Ít lâu sau, Russell gia nhập Barnes Foundation, giảng lịch sử triết học cho nhiều kiểu người nghe - các bài giảng này đã lập thành cơ sở cho cuốn A History of Western Philosophy (Lịch sử triết học phương Tây) của ông. Quan hệ của ông với Albert C. Barnes lập dị trở nên xấu đi một cách nhanh chóng, và ông quay trở lại Anh năm 1944 để lại về làm việc tại Trinity College.
Trong những năm 1940 và 1950, Russell tham gia nhiều chương trình phát thanh của BBC về nhiều chủ đề triết học và thời sự. Đến thời điểm này, Russell đã nổi tiếng trên thế giới bên ngoài cộng đồng hàn lâm, ông thường là chủ đề hoặc tác giả của các bài đăng trên các báo và tạp chí, ông còn được đề nghị đưa ra quan điểm về một diện rộng các chủ đề, kể cả các chủ đề trần tục. Tháng 10 năm 1948, trên đường đi giảng tại Trondheim, Russell đã thoát chết trong một vụ máy bay rơi. Cuốn Lịch sử triết học phương Tây (1945) trở nên một tên sách bán chạy nhất và mang lại cho Russell một nguồn thu nhập ổn định trong suốt phần đời còn lại. Cùng với Albert Einstein, bạn của ông, Russell đã đạt đến vị thế siêu sao với vai trò một nhà trí thức. Năm 1949, Russell được tặng Order of Merit (Huân chương Công lao của Khối Thịnh vượng chung Anh), và năm sau, ông nhận được Giải Nobel Văn học.
Năm 1952, Peter bỏ Russell, ông đã rất bất hạnh trong cuộc hôn nhân này. Conrad, con trai của Russell với Peter, đã không gặp cha trong suốt thời gian từ vụ li dị đến năm 1968 (khi quyết định gặp mặt cha của Conrad đã gây nên một sự sứt mẻ vĩnh viễn trong quan hệ với mẹ). Sau vụ li dị, Russell nhanh chóng cưới người vợ thứ tư, Edith Finch. Họ đã biết nhau từ năm 1925, Edith đã giảng dạy tại Bryn Mawr College gần Philadelphia, Pennsylvania, bà ở chung nhà trong 20 năm với Lucy Donnelly - người bạn cũ của Russell. Edith đã sống cùng ông cho đến khi ông qua đời, và tất cả mọi người đều nói rằng mối quan hệ của hai người gần gũi và đầy yêu thương trong suốt cuộc hôn nhân của họ. John, con trai cả của Russell bị bệnh tâm thần nặng. Đây là nguồn gốc của những cuộc cãi vã dai dẳng giữa Russell và Dora - vợ cũ của Russell và mẹ của John. Susan, vợ của John, cũng bị bệnh tâm thần. Và cuối cùng thì Russell và Edith trở thành những người bảo trợ hợp pháp của ba người con gái của vợ chồng John (hai trong ba người con gái về sau đã được chẩn đoán mắc chứng tâm thần phân liệt).
Russell dành hai thập kỷ 1950 và 1960 cho nhiều hoạt động chính trị, chủ yếu liên quan đến giải trừ vũ khí hạt nhân và phản đối Chiến tranh Việt Nam. Trong thời kỳ này, ông đã viết rất nhiều thư gửi các nhà lãnh đạo của thế giới. Trong lúc đó, Hoa Kỳ bắt đầu cuộc công kích, thả bom ở miền Bắc Việt Nam. Không lâu sau, ông gửi điện đến Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Hồ Chí Minh. Trong điện này ông nêu ra quan điểm chống lại sự can thiệp của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Đáp lại, Hồ Chí Minh lại gửi điện đến Russel vào ngày 10 tháng 8 năm 1964, trong đó có đoạn:
Ông cũng đã trở thành một người anh hùng đối với nhiều thành viên trẻ của New Left - một phong trào cánh tả cấp tiến trong những năm 1960. Đặc biệt, trong thập kỷ 1960, Russell đã trở nên ngày càng lớn tiếng phản đối các chính sách của chính quyền Mỹ. Năm 1963, ông là người đầu tiên được nhận Giải Jerusalem, một giải thưởng dành cho các tác giả viết về tự do cá nhân trong xã hội.
Bertrand Russell xuất bản bộ hồi ký dài ba tập vào cuối những năm 1960. Khi sức khỏe sa sút, ông vẫn minh mẫn cho đến khi ông qua đời vào năm 1970 tại nhà riêng tại Plas Penrhyn, Penrhyndeudraeth, Merioneth, Wales. Theo di chúc, ông đã được hỏa táng và tro được rải rắc khắp nơi.
== Nghiên cứu triết học ==
=== Triết học phân tích ===
Russell thường được xem là một trong những người đặt nền móng cho triết học phân tích và thậm chí một số nhánh của ngành này. Vào đầu thế kỷ 20, cùng với George Edward Moore, Russell đã gần như khởi xướng "cuộc nổi dậy" tại nước Anh chống lại chủ nghĩa duy tâm" - một trường phái triết học chịu ảnh hưởng lớn bởi Georg Hegel và vị thánh tông đồ người Anh của ông F. H. Bradley. 30 năm sau, cuộc nổi dậy này còn được vọng lại tại Viên với "cuộc nổi dậy" của những người theo chủ nghĩa chứng thực lôgic chống lại siêu hình học. Russell đặc biệt phê phán mạnh mẽ học thuyết duy tâm về các quan hệ nội tại - quan niệm cho rằng để hiểu về một vật cụ thể nào đó, ta phải hiểu tất cả các quan hệ của nó. Russell đã chỉ ra rằng quan niệm này sẽ làm cho không gian, thời gian, khoa học và khái niệm về số trở thành không thể hiểu được. Các công trình lôgic của Russell và Whitehead đã tiếp tục đề tài này.
Russell và Moore đã cố gắng loại bỏ những gì mà họ cho là các khẳng định vô nghĩa và không mạch lạc trong triết học, họ tìm kiếm sự trong sáng và tính chính xác trong luận cứ bằng ngôn ngữ chính xác và bằng cách phân tách các mệnh đề triết học thành các thành phần đơn giản nhất. Cụ thể, Russell coi lôgic và khoa học là các công cụ chính của các nhà triết học. Khác với đa số các nhà triết học trước ông và nhiều người cùng thời, Russell không tin rằng có một phương pháp riêng dành cho triết học. Ông tin rằng nhiệm vụ chính của nhà triết học là làm sáng tỏ các mệnh đề tổng quát nhất về thế giới và loại bỏ những mơ hồ và nhầm lẫn. Cụ thể, ông đã muốn chấm dứt cái mà ông coi là những thứ quá mức của siêu hình học.
=== Nhận thức luận ===
Nhận thức luận của Russell trải qua nhiều giai đoạn. Thời trẻ, ông đã từ bỏ chủ nghĩa Tân Hegel và giữ nguyên là một người theo thuyết duy thực triết học trong suốt phần đời còn lại. Ông tin rằng các trải nghiệm trực tiếp có tầm quan trọng bậc nhất đối với việc đạt được tri thức. Tuy một số quan niệm của ông không còn được hâm mộ, nhưng ông vẫn có ảnh hưởng mạnh mẽ trong sự phân biệt giữa hai cách mà theo đó ta có thể làm quen với các đối tượng: "tri thức từ nhận biết" và "tri thức từ mô tả". Có một thời gian, Russell đã cho rằng ta chỉ có thể nhận biết bằng dữ liệu giác quan của chính ta — các tri giác nhất thời về màu sắc, âm thanh và những thứ tương tự—và rằng tất cả những thứ khác, trong đó có các đối tượng vật lý mà ta chỉ có thể thu được các dữ liệu giác quan về chúng bằng cách suy luận hoặc lập luận— nghĩa là được biết bởi mô tả— không được biết một cách trực tiếp. Sự phân biệt này đã được ứng dụng rộng rãi, tuy sau này Russell đã loại bỏ quan niệm về dữ liệu giác quan trực tiếp.
Trong triết học của ông về cuối đời, Russell đã chia sẻ quan điểm với một dạng chủ nghĩa nhất nguyên trung dung (neutral monism), trong đó, tại phân tích cuối cùng, ông cho rằng những khác biệt giữa các thế giới vật chất và tinh thần là tùy ý, và rằng cả hai đều có thể được suy giảm về một tính chất trung gian— một quan niệm tương đồng với quan niệm của một nhà triết học Mỹ, William James, và là quan niệm đã được phát biểu đầu tiên bởi Baruch Spinoza, người mà Russell rất ngưỡng mộ. Tuy nhiên, thay vì "trải nghiệm thuần túy" của James, Russell đã mô tả đặc điểm của bản chất các trạng thái khởi đầu của tri giác là các "biến cố", một quan điểm tương đồng một cách kỳ lạ với triết học quá trình (process philosophy) của Alfred North Whitehead - người thầy cũ của Russell.
=== Luân lý học ===
Tuy Russell viết rất nhiều về các chủ đề luân lý học, ông không tin rằng chủ đề này thuộc về triết học hay rằng ông đã dùng năng lực của một nhà triết học khi viết về luân lý học. Thời trẻ, Russell chịu ảnh hưởng lớn của tác phẩm Principia Ethica của George Edward Moore. Cùng với Moore, khi đó ông đã tin rằng các sự kiện đạo đức có tính chất khách quan nhưng chỉ được biết qua trực quan, và rằng chúng là các tính chất đơn giản của các đối tượng chứ không tương đương với các đối tượng tự nhiên mà chúng thường được gán cho (xem Ngụy biện tự nhiên). Ông cho rằng các tính chất đạo đức đơn giản không định nghĩa được này không thể được phân tích dựa trên các tính chất có không thuộc về đạo đức mà chúng có quan hệ. Tuy nhiên, theo thời gian, ông đi đến đồng quan điểm với người hùng triết học của ông, David Hume, người tin rằng các thuật ngữ luân lý học nói đến các giá trị chủ quan mà không thể được chứng thực theo cách mà người ta vẫn làm đối với các vấn đề sự kiện. Cùng với các học thuyết khác của Russell, quan niệm này đã ảnh hưởng tới các nhà chứng thực lôgic, những người đã thiết lập lý thuyết emotivism với quan điểm rằng các mệnh đề luân lý (cũng như các mệnh đề siêu hình học) về bản chất là vô nghĩa và vô lý, hay cùng lắm cũng không hơn các biểu đạt về thái độ và sự ưu tiên là bao. Mặc dù vậy. chính Russell lại không hiểu các mệnh đề luân lý theo cách hẹp như các nhà triết học chứng thực, vì ông tin rằng các suy xét luân lý học không chỉ có ý nghĩa mà còn là một chủ đề sống còn đối với giao tiếp thông thường. Quả thực, tuy Russell thường được mô tả là ông thần bảo hộ của sự hợp lý, ông đã đồng ý với Hume, người nói rằng lý tính nên giữ vị trí kém quan trọng hơn các suy xét luân lý.
Russell đã viết một số cuốn sách về các vấn đề luân lý thực tiễn chẳng hạn như hôn nhân. Ông có các quan điểm tự do về lĩnh vực này. Ông cho rằng các quan hệ tình dục ngoài hôn nhân là chấp nhận được. Trong cuốn Human Society in Ethics and Politics (1954), ông ủng hộ quan niệm rằng ta nên nhìn các vấn đề đạo đức từ góc nhìn của các mong muốn cá nhân. Các cá nhân được phép làm những gì họ mong muốn, miễn là không có xung đột giữa mong muốn của những cá nhân khác nhau. Bản thân các mong muốn không xấu, chỉ có đôi khi các hậu quả tiềm năng hay thực tế của chúng là xấu. Russell còn viết rằng sự trừng phạt chỉ quan trọng với ý nghĩa một công cụ. Do đó, ta không nên trừng phạt một ai đó chỉ vì mục đích trừng phạt.
=== Thuyết nguyên tử lôgic ===
Có lẽ lối phân tích triết học hệ thống hóa nhất và thuyết logic với trọng tâm là chủ nghĩa kinh nghiệm (empiricist-centric logicism) của Russell được thể hiện rõ nhất trong cái mà ông gọi là thuyết nguyên tử lôgic (logical atomism), học thuyết này được phát triển trong một tập hợp các bài giảng. Trong các bài giảng này, Russell trình bày khái niệm của ông về một ngôn ngữ đẳng cấu lý tưởng mà nó có thể phản ánh chính xác thế giới, trong ngôn ngữ đó, tri thức của ta có thể được suy giản về các mệnh đề nguyên tử và các kết hợp của chúng với ý nghĩa như các hàm chân giá trị (truth function). Thuyết nguyên tử lôgic là một hình thức chủ nghĩa kinh nghiệm cấp tiến, vì Russell tin rằng yêu cầu quan trọng nhất đối với một ngôn ngữ lý tưởng như vậy là: mọi mệnh đề có nghĩa đều phải bao gồm các thuật ngữ chỉ trực tiếp đến các đối tượng mà ta biết. Russell loại trừ một số thuật ngữ lôgic hình thức nhất định, chẳng hạn tất cả, mọi, là, v.v.. khỏi yêu cầu của ông về tính đẳng cấu. Nhưng ông chưa bao giờ hoàn toàn hài lòng với cách hiểu của chúng ta về những từ này. Một trong những chủ đề trung tâm của thuyết nguyên tử của Russell là: thế giới bao gồm các sự kiện độc lập với nhau về lôgic, tính đa nguyên của các sự kiện, và rằng tri thức của ta phụ thuộc vào dữ liệu của trải nghiệm trực tiếp của ta về các sự kiện đó.
Về cuối đời, Russell trở nên nghi ngờ các khía cạnh của thuyết nguyên tử lôgic, đặc biệt là nguyên lý đẳng cấu của ông, tuy ông vẫn tiếp tục tin rằng một quá trình triết học cần phải phân tích sự kiện/tri thức thành những thành phần đơn giản nhất, ngay cả khi ta có thể không hoàn toàn đạt đến một sự kiện tuyệt đối nguyên tử.
=== Lôgic và triết học của toán học ===
=== Tôn giáo và thần học ===
Trong phần lớn cuộc đời, Russell nghĩ rằng rất ít khả năng tồn tại một vị Chúa trời, và ông cho rằng tôn giáo chỉ hơn mê tín dị đoan tí chút và mặc dù tôn giáo có thể có hiệu ứng tích cực, nói chung tôn giáo vẫn có hại đối với dân chúng. Ông tin rằng tôn giáo và lối suy nghĩ tôn giáo (ông coi chủ nghĩa cộng sản và các hệ tư tưởng hệ thống hóa khác cũng là các dạng tôn giáo) làm cản trở tri thức, nuôi dưỡng sự sợ hãi và phụ thuộc, và phải chịu trách nhiệm cho phần lớn các cuộc chiến tranh, đàn áp và đau khổ trên thế giới.
Quan điểm của Russell về tôn giáo thể hiện trong cuốn sách nổi tiếng của ông Why I Am Not a Christian and Other Essays on Religion and Related Subjects (Tại sao tôi không phải tín đồ Kitô giáo, và các bài luận khác về tôn giáo và các chủ đề liên quan) (ISBN 0-671-20323-1). Cuốn sách còn chứa những bài luận mà trong đó Russell xem xét một loạt các luận cứ lôgic về sự tồn tại của Chúa trời, bao gồm luận cứ nguyên nhân đầu tiên, luận cứ quy luật tự nhiên (natural-law argument - thuyết cho rằng Chúa trời đã tạo ra các quy luật tự nhiên), luận cứ thiết kế (argument from design) và các luận cứ đạo đức khác. Ông còn bàn luận cụ thể về thần học Ki-tô giáo.
Kết luận của ông:
== Câu nói ==
"Chiến tranh không quyết định ai đúng mà chỉ quyết định người còn sót lại." ([1])
"Điều bí mật của hạnh phúc là đối mặt với sự thật rằng thế giới kinh khủng, kinh khủng, kinh khủng." (Nguồn: Alan Wood, Bertrand Russell, the Passionate Sceptic, 1957)
"Toàn bộ vấn đề với thế giới là những kẻ ngu ngốc và cuồng tín luôn luôn tin tưởng ở bản thân mình, còn những người sáng suốt hơn thì lại đầy nghi hoặc." [2]
"Đa số người ta thà chết còn hơn suy nghĩ; thực tế, họ làm như vậy."
"Ba tình cảm mãnh liệt đã chi phối cuộc đời tôi: niềm khao khát tình yêu, sự tìm kiếm tri thức, và lòng thương xót không thể chịu đựng nổi đối với sự thống khổ của con người."
"Và nếu như có một vị Chúa trời, tôi cho rằng khó có khả năng Ngài lại có một sự phù phiếm phiền phức để bị xúc phạm bởi những người nghi ngờ sự tồn tại của Ngài."
"Tôi không ưa Nietzsche, vì ông thích sự suy tưởng về nỗi đau, vì ông dựng tính tự cao tự đại lên thành một nghĩa vụ, vì những người ông ngưỡng mộ nhất là những kẻ chinh phục, những người mà vinh quang của họ là sự khôn ngoan trong việc gây ra cái chết cho người khác." (Nguồn: A History of Western Philosophy, chương về Nietzsche, đoạn cuối)
== Tham khảo ==
=== Danh sách chọn lọc các tác phẩm của Russell ===
Danh sách chọn lọc các tác phẩm của Russell xếp theo năm của lần xuất bản đầu tiên.
1896, German Social Democracy, London: Longmans, Green.
1897, An Essay on the Foundations of Geometry, Cambridge: At the University Press.
1900, A Critical Exposition of the Philosophy of Leibniz, Cambridge: At the University Press.
1903, The Principles of Mathematics, Cambridge: At the University Press.
1910, Philosophical Essays, London: Longmans, Green.
1910–1913, Principia Mathematica (đồng tác giả với Alfred North Whitehead), 3 tập, Cambridge: At the University Press.
1912, The Problems of Philosophy , London: Williams and Norgate.
1914, Our Knowledge of the External World as a Field for Scientific Method in Philosophy, Chicago and London: Open Court Publishing.
1916, Principles of Social Reconstruction, London: George Allen & Unwin.
1916, Justice in War-time, Chicago: Open Court.
1917, Political Ideals, New York: The Century Co.
1918, Mysticism and Logic and Other Essays, London: Longmans, Green.
1918, Roads to Freedom: Socialism, Anarchism, and Syndicalism, London: George Allen & Unwin.
1919, Introduction to Mathematical Philosophy, London: George Allen & Unwin.
1920, The Practice and Theory of Bolshevism,London: George Allen & Unwin
1921, The Analysis of Mind, London: George Allen & Unwin.
1922, The Problem of China, London: George Allen & Unwin.
1923, The Prospects of Industrial Civilization (đồng tác giả với Dora Russell), London: George Allen & Unwin.
1923, The ABC of Atoms, London: Kegan Paul, Trench, Trubner.
1924, Icarus, or the Future of Science, London: Kegan Paul, Trench, Trubner.
1925, The ABC of Relativity, London: Kegan Paul, Trench, Trubner.
1925, What I Believe, London: Kegan Paul, Trench, Trubner.
1926, On Education, Especially in Early Childhood, London: George Allen & Unwin.
1927, The Analysis of Matter, London: Kegan Paul, Trench, Trubner.
1927, An Outline of Philosophy, London: George Allen & Unwin.
1927, Why I Am Not a Christian, London: Watts.
1927, Selected Papers of Bertrand Russell, New York: Modern Library.
1928, Sceptical Essays, London: George Allen & Unwin.
1929, Marriage and Morals, London: George Allen & Unwin.
1930, The Conquest of Happiness, London: George Allen & Unwin.
1931, The Scientific Outlook, London: George Allen & Unwin.
1932, Education and the Social Order, London: George Allen & Unwin.
1934, Freedom and Organization, 1814–1914, London: George Allen & Unwin.
1935, In Praise of Idleness, London: George Allen & Unwin.
1935, Religion and Science, London: Thornton Butterworth.
1936, Which Way to Peace?, London: Jonathan Cape.
1937, The Amberley Papers: The Letters and Diaries of Lord and Lady Amberley (với Patricia Russell), 2 tập, London: Leonard & Virginia Woolf at the Hogarth Press.
1938, Power: A New Social Analysis, London: George Allen & Unwin.
1940, An Inquiry into Meaning and Truth, New York: W. W. Norton & Company.
1945, A History of Western Philosophy and Its Connection with Political and Social Circumstances from the Earliest Times to the Present Day, New York: Simon and Schuster.
1948, Human Knowledge: Its Scope and Limits, London: George Allen & Unwin.
1949, Authority and the Individual, London: George Allen & Unwin.
1950, Unpopular Essays, London: George Allen & Unwin.
1951, New Hopes for a Changing World, London: George Allen & Unwin.
1952, The Impact of Science on Society, London: George Allen & Unwin.
1953, Satan in the Suburbs and Other Stories, London: George Allen & Unwin.
1954, Human Society in Ethics and Politics, London: George Allen & Unwin.
1954, Nightmares of Eminent Persons and Other Stories, London: George Allen & Unwin.
1956, Portraits from Memory and Other Essays, London: George Allen & Unwin.
1956, Logic and Knowledge: Essays 1901–1950 (biên tập bởi Robert C. Marsh), London: George Allen & Unwin.
1957, Why I Am Not A Christian and Other Essays on Religion and Related Subjects (biên tập bởi Paul Edwards), London: George Allen & Unwin.
1958, Understanding History and Other Essays, New York: Philosophical Library.
1959, Common Sense and Nuclear Warfare, London: George Allen & Unwin.
1959, My Philosophical Development, London: George Allen & Unwin.
1959, Wisdom of the West ("biên tập", Paul Foulkes), London: Macdonald.
1960, Bertrand Russell Speaks His Mind, Cleveland and New York: World Publishing Company.
1961, The Basic Writings of Bertrand Russell (biên tập bởi R.E. Egner and L.E. Denonn), London: George Allen & Unwin.
1961, Fact and Fiction, London: George Allen & Unwin.
1961, Has Man a Future?, London: George Allen & Unwin.
1963, Essays in Skepticism, New York: Philosophical Library.
1963, Unarmed Victory, London: George Allen & Unwin.
1965, On the Philosophy of Science (biên tập bởi Charles A. Fritz, Jr.), Indianapolis: The Bobbs-Merrill Company.
1967, Russell's Peace Appeals (biên tập bởi Tsutomu Makino and Kazuteru Hitaka), Japan: Eichosha's New Current Books.
1967, War Crimes in Vietnam, London: George Allen & Unwin.
1967–1969, The Autobiography of Bertrand Russell, 3 tập, London: George Allen & Unwin.
1969, Dear Bertrand Russell... A Selection of his Correspondence with the General Public 1950–1968 (biên tập bởi Barry Feinberg and Ronald Kasrils), London: George Allen and Unwin.
Lưu ý: Đây chỉ là một danh sách rất chọn lọc, vì Russel còn là tác giả của nhiều cuốn sách nhỏ, các lời mở đầu, các bài báo và các lá thư gửi tòa soạn. Tác phẩm của ông còn có trong nhiều hợp tuyển và tuyển tập, có lẽ nổi bật nhất là cuốn The Collected Papers of Bertrand Russell được Đại học McMaster bắt đầu xuất bản từ năm 1983. Tuyển tập này gồm các tác phẩm ngắn và chưa được xuất bản trước đó, đến nay đã lên tới 16 tập, và sắp tới còn nhiều tập nữa. Kèm theo là một bộ ca-ta-lô gồm 3 tập chỉ dành liệt kê danh sách các tác phẩm của ông. Kho tài liệu về Russell tại Đại học McMaster còn có hơn 30000 lá thư mà ông đã viết.
Các tài liệu tham khảo bổ sung:
A. Russell
1900, Sur la logique des relations avec des applications à la théorie des séries, Rivista di matematica 7: 115-148.
1901, On the Notion of Order, Mind (n.s.) 10: 35-51.
1902, (with Alfred North Whitehead), On Cardinal Numbers, American Journal of Mathematics 23: 367-384.
B. Tham khảo thứ cấp:
John Newsome Crossley. A Note on Cantor's Theorem and Russell's Paradox, Australian Journal of Philosophy 51: 70-71.
Ivor Grattan-Guinness, 2000. The Search for Mathematical Roots 1870-1940. Princeton University Press.
=== Sách về triết học của Russell ===
Bertrand Russell: Critical Assessments, biên tập bởi A. D. Irvine, 4 tập, London: Routledge, 1999. Gồm các bài luận của nhiều nhà triết học về các tác phẩm của Russell.
Bertrand Russell, của John Slater, Bristol: Thoemmes Press, 1994.
The Philosophy of Bertrand Russell, biên tập bởi P.A. Schilpp, Evanston and Chicago: Northwestern University, 1944.
Russell, của A. J. Ayer, London: Fontana, 1972. ISBN 0006329659. Một trình bày ngắn gọn dễ hiểu về tư tưởng của Russell.
=== Sách tiểu sử ===
Bertrand Russell: 1872–1920 The Spirit of Solitude của Ray Monk (1997) ISBN 0099731312
Bertrand Russell: 1921–1970 The Ghost of Madness của Ray Monk (2001) ISBN 009927275X
Bertrand Russell: Philosopher and Humanist, của John Lewis (1968)
Bertrand Russell, của A. J. Ayer (1972), in lại năm 1988: ISBN 0226033430
The Life of Bertrand Russell, của Ronald W. Clark (1975) ISBN 0394490592
Bertrand Russell and His World, của Ronald W. Clark (1981) ISBN 0500130701 |
quốc hội nhật bản.txt | Quốc hội (国会, Kokkai) là cơ quan lập pháp lưỡng viện cao nhất ở Nhật Bản.
Quốc hội bao gồm Tham Nghị viện (tức Thượng viện) và Chúng Nghị viện (tức Hạ viện). Cả hai viện được bầu cử trực tiếp theo hệ thống bầu cử song song. Ngoài việc thông qua các đạo luật, Quốc hội có quyền lựa chọn Thủ tướng điều hành chính phủ. Quốc hội thành lập đầu tiên vào năm 1889, đó là kết quả của việc thông qua Hiến pháp thời Minh Trị. Hình thái Nghị viện như hiện nay xuất hiện khi việc thông qua hiến pháp thời hậu chiến (Chiến tranh thế giới thứ hai) và được Hiến pháp quy định là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
Trụ sở Quốc hội nằm ở Nagatachō, Chiyoda, Tokyo. Chiếm vị trí quan trọng trong Nghị viện hiện nay là Đảng Dân chủ Tự do (LDP).
== Lịch sử ==
Quốc hội lập pháp hiện đại đầu tiên của Nhật Bản là Đế quốc Nghị hội (帝国議会, Teikoku-gikai) được thành lập theo Hiến pháp Minh Trị có hiệu lực từ 1889-1947. Hiến pháp Minh Trị được ban hành ngày 11/2/1889 và Đế quốc Nghị hội tổ chức phiên họp đầu tiên ngày 29/11/1890. Nghị hội gồm 2 viện là Chúng Nghị viện (Hạ viện) và Quý tộc viện (貴族院, Kizoku-in) (Thượng viện). Chúng Nghị viện được bầu trực tiếp, nhưng hạn chế trong bầu cử; tới năm 1925 cho phép phổ thông đầu phiếu là nam giới. Quý tộc viện được thiết chế tương tự Viện Quý tộc của Anh bao gồm các quý tộc cao cấp.
Từ "Diet" bắt nguồn từ latin và chỉ chung các Hội đồng của Đế chế La Mã thần thánh. Hiến pháp Minh Trị được dựa theo chủ yếu từ chế độ quân chủ lập hiến của Phổ trong thế kỷ XIX, và "Diet" được mô hình hóa thành Reichstag và 1 phần hệ thống Westminster của Anh. Không giống với Hiến pháp sau thế chiến, Hiến pháp Minh trị quy định đặc quyền cao cấp của Thiên Hoàng, mặc dù theo thức tế quyền lực Thiên Hoàng được các Genrō (nguyên lão) tham vấn.
Để trở thành luật hoặc bộ luật cần có sự chấp thuận của 2 viện và Thiên Hoàng. Thiên Hoàng có quyền phủ quyết mọi luật hoặc bộ luật nếu ông cảm thấy không vừa ý. Thiên Hoàng có quyền lựa chọn Thủ tướng (Tổng lý) và Nội các, vì vậy Thủ tướng không được lựa chọn và nhận được sự tín nhiệm của Nghị hội. Nghị hội cũng bị giới hạn trong việc kiểm soát ngân sách. Nghị hội có quyền phủ quyết ngân sách hàng năm, nếu ngân sách không được phê chuẩn ngân sách của năm trước vẫn tiếp tục có hiệu lực. Điều này được thay đổi sau thế chiến II.
Hệ thống đại diện tỷ lệ cho Tham Nghị viện được đề xuất năm 1982, được coi là cuộc cải cách bầu cử lần đầu tiên sau chiến tranh.
== Đại biểu ==
Các viện của Quốc hội được bầu theo hệ thống bầu cử song song. Mỗi ghế trong các cuộc bầu cử được chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm được bầu theo thể thức khác nhau. Các cử tri sẽ bỏ 2 phiếu, một phiếu cho ứng viên cá nhân và một phiếu cho danh sách đảng đại diện. Bất cứ cử tri nào trên 20 tuổi đều được tham gia bỏ phiếu, dự kiến sẽ giảm xuống còn 18 vào năm 2016.
Tham Nghị viện: Tổng số 242 đại biểu, 146 đại biểu được bầu từ 47 khu vực bầu cử theo hệ thống bầu cử lá phiếu duy nhất không chuyển nhượng được (SNTV). 96 đại biểu còn lại được bầu theo danh sách mở theo phương pháp đại diện tỉ lệ theo danh sách từ một danh sách bầu cử quốc gia.
Chúng Nghị viện: Tổng số 480 đại biểu, 300 đại biểu được bầu theo hệ thống bầu cử đa số. 180 đại biểu còn lại được bầu từ 11 khối bầu cử theo phương pháp hệ thống danh sách đảng đại diện tỷ lệ.
Hiến pháp Nhật Bản không quy định chi tiết về quy định bầu cử, mọi nguyên tắc bầu cử đều do Luật quyết định. Tuy nhiên, Hiến pháp vẫn tôn trọng quyền bình đẳng cho mỗi ứng viên và cử tri "không có sự phân biệt về chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, điều kiện xã hội, lý lịch gia đình, học vấn, tài sản và thu nhập.".
Điều kiện trở thành đại biểu:
Là công dân Nhật Bản;
Có độ tuổi trên 25 với Hạ viện và 30 với Thượng viện.
Chế độ đãi ngộ và đặc quyền của nghị sĩ:
Nhận lương bổng theo Ngân sách quốc gia và luật định. Hiện tại theo quy định mỗi đại biểu được 1.3 triệu ¥/tháng.
Mỗi đại biểu có quyền miễn đóng thuế, vé tàu đi lại và 4 vé máy bay khứ hồi để có thể đi lại giữa địa phương.
Không phải chịu trách nhiệm pháp lý khi ra ngoài Quốc hội vì những bài diễn thuyết, cách thảo luận hay bỏ phiếu tại quốc hội.
Trừ trường hợp được pháp luật quy định, đại biểu không bị bắt trong khoá họp của Quốc hội.
Nếu đại biểu bị giam giữ trước khi khai mạc khoá họp thì sẽ được phóng thích để dự khoá họp theo yêu cầu của Quốc hội.
Nghị sĩ sẽ bị trục xuất nếu cần một nghị quyết với sự nhất trí của từ 2/3 tổng số đại biểu có mặt trở lên được thông qua.
== Quyền hạn ==
Điều 41 Hiến pháp Nhật Bản quy định "Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước và cũng là cơ quan nhà nước duy nhất có quyền lập pháp". Quy định này trái ngược với Hiến pháp Minh Trị, trong đó quy định Thiên Hoàng là người thực hiện quyền lập pháp với sự chấp thuận của Quốc hội. Nhiệm vụ của Quốc hội không chỉ làm luật mà còn thông qua Ngân sách Quốc gia hàng năm do Chính phủ đệ trình và việc phê chuẩn các Hiệp ước quốc tế.
Quốc hội còn có quyền sửa đổi Hiến pháp, theo đó nếu được Quốc hội thông qua, để ban hành cần phải thông qua cuộc trưng cầu ý dân. Các viện có thể tiến hành "mở cuộc điều tra về hoạt động của Chính phủ, hỏi cung nhân chứng và kiểm tra các tài liệu". Thủ tướng được Quốc hội bầu ra thông qua một nghị quyết của Quốc hội. Công việc này phải được ưu tiên so với các hoạt động khác của Quốc hội. Nội các có thể bị giải tán bởi cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm do 50 nghị sĩ Chúng Nghị viện đề xuất. Thành viên Nội các và kể cả Thủ tướng có quyền tới các Viện bất cứ lúc nào để phát biểu ý kiến về dự luật, đồng thời phải có mặt để trả lời và giải thích các vấn đề khi cần thiết. Quốc hội còn có thẩm quyền thành lập Tòa án gồm nghị sĩ 2 Viện để xét xử các vị Thẩm phán.
Một dự luật để trở thành Luật ngoài cần có sự chấp thuận của Quốc hội, cần có sự ban hành của Thiên Hoàng. Vai trò Thiên Hoàng tương tự Quân chủ trong chế độ quân chủ các quốc gia khác, nhưng tại Nhật Bản Thiên Hoàng chỉ có quyền thông qua mà không được phép bác bỏ.
Trong Quốc hội, Chúng Nghị viện có quyền lực tương đối lớn. Chúng Nghị viện thường không thể bác bỏ dự luật dã được thông quan bởi Tham Nghị viện, nhưng Tham Nghị viện chỉ có quyền trì hoãn không thông qua dự luật hoặc ngân sách quốc gia hoặc hiệp ước đã được Chúng Nghị viện thông qua, đồng thời việc lựa chọn Thủ tướng bất kỳ của Chúng Nghị viện. Trong một số trường hợp Chúng Nghị viện thắng thế so với Tham Nghị viện:
Nếu Tham Nghị viện không đồng ý với một dự thảo luật mà Chúng Nghị viện đã thông qua thì văn kiện đó sẽ thành đạo luật nếu Chúng Nghị viện biểu quyết lần thứ hai với ít nhất 2/3 đại biểu có mặt thông qua.
Nếu Tham Nghị viện không biểu quyết trong 60 ngày kể từ ngày nhận dự luật do Chúng Nghị viện thông qua (trừ thời gian Tham Nghị viện ngừng họp), Hạ viện sẽ coi sự không biểu quyết này là sự phủ nhận.
Nếu Tham Nghị viện không đồng ý với một dự thảo luật mà Chúng Nghị viện đã thông qua thì văn kiện đó sẽ được thành đạo luật nếu Hạ viện biểu quyết lần thứ hai với ít nhất 2/3 đại biểu có mặt thông qua.
Vấn đề về ngân sách phải được Chúng Nghị viện biểu quyết trước. Khi thảo luận về vấn đề này, nếu Tham Nghị viện không đồng ý với Hạ viện, và nếu Ủy ban đại diện của cả hai Viện cũng không có được sự nhất trí hay Tham Nghị viện không thể đưa ra quyết định trong vòng 30 ngày sau khi Chúng Nghị viện thông qua, ngoại trừ thời gian ngừng họp, thì quyết định của Chúng Nghị viện sẽ là quyết định cuối cùng của Quốc hội.
Nếu 2 Viện không đạt được sự nhất trí và ủy ban chung của 2 viện cũng không đạt được sự nhất trí chung hoặc Tham Nghị viện không chỉ định được Thủ tướng trong vòng 10 ngày, tính cả thời gian ngừng họp, sau khi Chúng Nghị viện biểu quyết thông qua nghị quyết bầu Thủ tướng thì quyết định của Chúng Nghị viện sẽ là quyết định cuối cùng của Quốc hội.
== Hoạt động ==
Hiến pháp quy định "Quốc hội được triệu tập thường lệ mỗi năm một lần". Chúng Nghị viện được giải tán trước khi tổ chức tuyển cử, trong khi chờ tổng tuyển cử Tham Nghị viện thường nghỉ họp. Nhưng nếu trong trường hợp đất nước lâm nguy, Nội các có thể triệu tập phiên họp bất thường của Thượng viện.
Thiên Hoàng nhóm họp cả 2 viện trước khi tuyên bố giải tán Chúng Nghị viện theo yêu cầu của Nội các. Trong trường hợp đặc biệt, Nội các có thể yêu cầu triệu tập phiên họp bất thường của Quốc hội. khi có yêu cầu của từ 1/4 tổng số đại biểu của 2 Viện, Nội các phải triệu tập phiên họp bất thường của Quốc hội. Vào phiên khai mạc kỳ họp, Thiên Hoàng đọc bài phát biểu tại Chúng Nghị viện.
Số đại biểu quy định tại mỗi khóa họp là 1/3 và trong các cuộc thảo luận hay biểu quyết các vần đề thì có ít nhất 2/3 đại biểu tham dự. Mỗi Viện tự lựa chọn Chủ tịch (Nghị Viện trưởng) cũng như các viên chức cấp cao của mình.
== Chú thích == |
đế quốc trung hoa (1915-1916).txt | Đế quốc Trung Hoa (phồn thể: 中華帝國, giản thể: 中华帝国, bính âm: Zhōnghuá Dìguó) là một triều đại ngắn trong lịch sử Trung Quốc khi chính khách kiêm tướng quân nhiều quyền lực thời Dân Quốc Viên Thế Khải thành lập với mong muốn phục hồi chế độ quân chủ ở Trung Quốc từ cuối năm 1915 đến đầu năm 1916. Với nỗ lực bất thành của họ Viên đã làm cho tiến trình xoay chuyển Trung Quốc sang nền cộng hòa bị lùi lại và đẩy cả đất nước rơi vào tình trạng nội chiến âm ỉ giữa các phe cánh quân phiệt, lãnh chúa địa phương trong nhiều năm sau đó.
== Khởi đầu ==
Sau khi Viên Thế Khải lên nắm quyền với cương vị là Quyền Đại Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, ông ta bắt đầu thực hiện một loạt bước đi trong kế hoạch của mình để loại các đối thủ chính trị và củng cố quyền lực của mình. Để đảm bảo hơn, Viên đã liên kết với các thế lực phương Tây và Nhật Bản. Vào tháng 8 năm 1915, Viên chỉ đạo Dương Độ (楊度) đi vận động tìm kiếm sự ủng hộ cho kế hoạch phục hồi chế độ quân chủ. Vào ngày 11 tháng 11 năm 1915, quốc hội đã đồng ý thông qua việc lên ngôi của Viên. Viên giả vờ từ chối để rồi sau đó lên tiếng đồng ý khi quốc hội kiến nghị lần thứ hai cùng ngày. Vào ngày 12 tháng 12, con của Viên là Viên Khắc Định lên tiếng ủng hộ cha mình lên ngôi và ban bố thành lập Đế quốc Trung Hoa, Viên tự phong mình là Đại Hoàng đế Trung Hoa (中華帝國大皇帝, Hán-Việt: Trung Hoa Đế quốc Đại Hoàng đế), lấy niên hiệu là "Hồng Hiến" (洪憲). Ngay sau đó, Viên bắt đầu ban chức tước cho gia khuyến, họ hàng thân thuộc, bạn bè và cả những người mà Viên nghĩ rằng có thể mua chuộc họ bằng chức phẩm.
Riêng đối với hoàng tộc "Ái Tân Giác La" của Mãn Thanh vẫn được ở lại Tử Cấm Thành với tư cách là đại diện hoàng tộc nước ngoài chứ không phải Trung Quốc. Thuận theo thánh chỉ của Viên, Phổ Nghi sẽ lấy con gái của ông để kết mối thông gia giữa hai bên.
== Phản ứng trong nước ==
Năm 1916 được xem như là năm "Hồng Hiến thứ 1" (洪憲元年) hơn là năm "Dân Quốc thứ 5" (民國五年), nhưng Viên vấp phải sự chỉ trích và phản đối kịch liệt từ những người cách mạng và cả các lãnh đạo quân sự cấp dưới của Viên. Họ cho rằng Viên muốn lên làm hoàng đế vốn để cai trị Trung Quốc một cách danh chính ngôn thuận và giảm bớt quyền lực của các thể lực quân sự.
Từng tỉnh một đứng dậy chống lại Viên sau khi ông tuyên bố làm hoàng đế, đầu tiên là Vân Nam do Tổng đốc Thái Ngạc (hay Sái Ngạc) và Đường Kế Nghiêu, rồi đến Tổng đốc Giang Tây Lý Liệt Quân (李烈鈞). Các thế lực nổi dậy thành lập Hộ Quốc Quân (護國軍) và phát động "Hộ Quốc Tranh". Các tướng lĩnh thuộc Quân Bắc Dương vốn chưa nhận được bất kỳ một khoản tiền nào từ tân chính phủ đã không có nhiệt huyết trong việc chống lại Hộ Quốc Quân. Do đó, dù được huấn luyện và trang bị tốt hơn rất nhiều nhưng Bắc Dương quân vẫn liên tục đại bại.
Khi thấy quyền lực của Viên suy yếu đi, các thế lực ngoại bang đồng loạt hủy bỏ hỗ trợ cho Viên. Đế quốc Nhật Bản đã đe dọa sẽ tiến hành xâm lược Trung Quốc, nhưng rồi sau đó cam kết là sẽ lật đổ Viên, công nhận tất cả các bên tham gia và ban bố tình trạng nội chiến tại Trung Quốc để cho phép công dân Nhật hỗ trợ những người theo phe Cộng hòa. Mặc dù bị phản đối rộng rãi, nhưng Viên liên tục trì hoãn việc thoái vị. Cho đến khi ngân quỹ bị cắt vào ngày 1 tháng 3, Viên cùng bàn bạc với Lương Sĩ Di (梁士詒) để chấm dứt chế độ và ông chính thức giải thể vương triều của mình vào ngày 22 tháng 3, năm "Hồng Hiến" bị xóa bỏ vào ngày 23 tháng 3 và nền Cộng hòa được phục hồi. Viên tại vị được tổng cộng 83 ngày.
Sau cái chết của Viên vào ngày 5 tháng 6, Phó Tổng thống Lê Nguyên Hồng chính thức đảm nhiệm chức vụ Tổng thống, chỉ định Đoàn Kỳ Thụy vào chức vụ Thủ tướng và phục hồi Quốc hội cũng như ban bố Hiến pháp tạm thời. Tuy nhiên, chính phủ trung ương ở Bắc Kinh cực kì suy yếu và không đủ sức để tiếp quản một Trung Hoa đầy rối loạn và phân chia từ vương triều của Viên dẫn đến tình trạng quân phiệt cát cứ ở khắp nơi.
== Quốc kỳ - Quốc ca ==
Mặc dù tên nước được đổi sang là "Đế quốc Trung Hoa" nhưng Viên vẫn sử dụng tên "Trung Hoa Dân Quốc" khi dịch sang tiếng Anh.
Viên thành lập Phòng Khánh Tiết (禮制館) để phát hành bản quốc ca mới với tên gọi "Trung Hoa hùng lập vũ trụ gian" (中華雄立宇宙間) vào tháng 6 năm 1915 do Âm Xương (廕昌) biên soạn và Vương Lộ (王露) thảo nhạc. Bản quốc ca này được sử dụng trong suốt thời gian vương triều của Viên trị vì.
== Xem thêm ==
Thời kỳ quân phiệt (Trung Quốc)
Lịch sử Trung Hoa Dân Quốc
== Tham khảo == |
ca khúc asean.txt | Ca khúc ASEAN (tiếng Anh: ASEAN Hymn, tên nguyên thủy: ASEAN Song of Unity: Ca khúc Đoàn kết ASEAN) là bài hát chính thức de facto của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Năm 2008, ASEAN đã tổ chức một cuộc tuyển chọn một Ca khúc thay thế. Ca khúc được chọn là The Asean Way, và cùng với ca khúc ASEAN Song of Unity được xem là ca khúc chính thức của ASEAN.
ASEAN Song of Unity: Ca khúc Đoàn kết ASEAN có lời được viết bởi Nicanor Tiongson và nhạc được sáng tác bởi Ryan Cayabyab [1].
=== Lời ca ===
ASEAN Hymn: ASEAN Song of Unity
ASEAN, oh, ASEAN
Our voices rise as one.
From land to land, from sea to sea
Reach out to everyone.
ASEAN, oh, ASEAN,
Let's link our arms and stand.
Behold the sun has risen to
The level of our eyes.
=== Tải ca khúc ===
Download bài hát (từ trang chủ ASEAN).
Lời ca khúc
== Hành khúc ASEAN ==
Ca khúc The ASEAN Way (Hành khúc ASEAN) có lời được viết bởi Payom Valaiphatchra và soạn nhạc bởi Kittikhun Sodprasert và Sampow Triudom (Thái Lan). Đây là ca khúc thắng giải trong 99 ca khúc vào chung kết được gửi từ 10 quốc gia thành viên.
=== Tuyển chọn ===
Kết quả tuyển chọn được công bố vào ngày 28 tháng 11 năm 2008, trong một cuộc tuyển chọn để tìm kiếm ca khúc chính thức thay thế cho Ca khúc ASEAN Song of Unity, được coi là thiếu hào khí và niềm đam mê. Cuộc thi tuyển đã được mở cho tất cả các công dân các nước ASEAN, hạn chế đến 20 ca khúc cho mỗi quốc gia thành viên và với giải thưởng trị giá là 20.000 USD.
Tiêu chí tuyển chọn:
Ngôn ngữ: Tiếng Anh
Phản ánh được phẩm giá và tư cách, hợp tác, và đoàn kết của ASEAN
Phản ánh được sự đa dạng của văn hóa và sắc tộc trong Khối ASEAN
Không được dài hơn 60 giây [2]
==== Danh sách Ban giám khảo ====
Brunei - Ông Haji Manaf bin Haji Kamis
Campuchia - Tiến sĩ Sam Ang Sam
Indonesia - Ông Purwa Caraka
Lào - Ông Khamphanh Phonthongsy
Malaysia - Ông Ayob Ibrahim
Myanma - Ông Tin Oo Thaung
Philippin - Ông Apgripino V. Diestro
Singapore - Ông Phoon Yew Tiên
Thái Lan - Admiral Mom Luang Usni Pramoj
Việt Nam - Ông Phạm Hồng Hải
Và 3 giám khảo ngoài ASEAN:
Úc - Bà Sandra Milliken
Trung Quốc - Ông Bao Yuan-Kai
Nhật Bản - Bà Keiko Harada
=== Lời hành khúc ===
The ASEAN Way (Hành khúc ASEAN)
Raise our flag high, sky high
Embrace the pride in our heart
ASEAN we are bonded as one
Look-in out-ward to the world.
For peace, our goal from the very start
And prosperity to last.
We dare to dream we care to share.
Together for ASEAN
we dare to dream,
we care to share for it's the way of ASEAN.
=== Tải ca khúc ===
Tải xuống Ca khúc The Asean Way tại Trang chủ ASEAN, chất lượng thấp.
ASEAN Anthem tại YouTube
Download the song in mp3 format from sunshineofmyart.com (Trang chủ của tác giả)
Download the score (PDF) (Nốt nhạc do Tác giả đưa lên).
ASEAN Anthem Competition (Trang chủ Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 14)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The ASEAN Hymn & Songs, từ Trang chủ ASEAN
Ca khúc ASEAN: Let us move ahead
New ASEAN Anthem Sung
Ca khúc của Đỗ Hồng Quân vào top 5 "Chính ca Asean mới" |
julius caesar.txt | Gāius Jūlius Caesār (phát âm trong tiếng Latin: [ɡaː.i.ʊs ˈjuː.li.ʊs ˈkae̯.sar], nghe như "Gai-ut-x Du-li-ut-x Cai-xa-r"; cách phiên âm "Xê-da" bắt nguồn từ tiếng Pháp César) 12 tháng 7 hoặc 13 tháng 7 năm 100 TCN – 15 tháng 3 năm 44 TCN) là một lãnh tụ quân sự và chính trị, và tác gia văn xuôi Latin lớn của La Mã cổ đại. Ông đóng một vai trò then chốt trong sự chuyển đổi Cộng hòa La Mã thành Đế chế La Mã.
Sinh ra trong nhà Julia, một trong những dòng dõi quý tộc lớn ở Rôma, Caesar được tiếp xúc và bắt đầu tham gia đời sống chính trị từ rất sớm. Năm 60 TCN, ông cùng với Crassus và Pompey thành lập tam đầu chế thứ nhất, một liên minh chính trị có tính thống lãnh Rôma trong suốt nhiều năm. Phương cách xây dựng quyền lực dựa trên các phương thức dân túy đã đụng chạm và dẫn tới sự chống đối của giai cấp quý tộc lãnh đạo ở Rôma, mà đứng đầu là Cato Trẻ với sự ủng hộ thường xuyên của Cicero.
Những cuộc chinh chiến thành công tại xứ Gaule của Caesar mở cho La Mã con đường tiếp cận Đại Tây Dương. Julius Caesar được ghi nhận là vị tướng La Mã đầu tiên xây dựng thành công cầu sông Rhein năm 55 TCN, và trở thành tướng La Mã đầu tiên vượt qua eo biển Manche và tiến hành cuộc xâm lăng vào xứ Britannia.
Các thành công quân sự lớn lao của Caesar đã mang lại cho Caesar quyền lực quân sự tối thượng; đe dọa đến chỗ đứng của Pompey, người đã ngả lại về phe của Viện Nguyên lão sau khi Crassus chết trong trận Carrhae năm 53 TCN. Sau khi chiến cuộc xứ Gaule đến hồi kết, Caesar được lệnh phải từ bỏ quyền chỉ huy quân sự và trở về Rôma. Caesar bất tuân lệnh này và thay vào đó ông rời khỏi khu vực tài phán của mình, vượt sông Rubicon tiến vào Rôma với một binh đoàn La Mã vào năm 49 TCN. Kết quả là nội chiến nổ ra ở La Mã, với chiến thắng sau cùng thuộc về Caesar.
Sau khi lên nắm quyền ở Rôma, Caesar bắt đầu tiến hành một loạt chương trình cải cách xã hội lẫn chính quyền, bao gồm cả việc tạo ra và áp dụng lịch Julia. Bên cạnh đó, ông có tiến hành tập trung quyền lực cho chính quyền Cộng hòa và trở thành một Dictator perpetuo (Độc tài trọn đời) với nhiều quyền lực chưa từng có. Tuy nhiên những mâu thuẫn chính trị vẫn chưa được giải quyết, và vào ngày Idus Martiae (15 tháng 3) năm 44 TCN, một nhóm Nguyên lão nổi loạn do Marcus Junius Brutus lãnh đạo mưu sát thành công Caesar. Việc này khiến cho một loạt cuộc nội chiến nổi ra liên tiếp sau đó ở La Mã, kết thúc với việc chính quyền theo thể chế Cộng hòa không bao giờ được khôi phục và Gaius Octavius Octavianus, cháu trai và cũng là người thừa kế được chỉ định của Caesar, lên nắm quyền lực tuyệt đối với danh hiệu Augustus sau khi đánh bại tất cả các đối thủ khác. Việc Augustus củng cố quyền lực này đã đánh dấu sự bắt đầu Đế chế La Mã.
Những chiến dịch quân sự của Caesar được biết đến một cách chi tiết qua những bài viết Commentarii (bài tường thuật) của ông, và nhiều chi tiết khác về cuộc đời của ông được ghi nhận lại bởi những sử gia như Appian, Suetonius, Plutarch, Cassius Dio và Strabo. Những thông tin khác được thu thập từ những nguồn thông tin xuất hiện đương thời như là những bức thư và bài diễn văn của Cicero, những bài thơ của Catullus, và những bài viết của sử gia Sallus. Caesar được nhiều sử gia xem là một trong những nhà quân sự và chính trị gia lỗi lạc nhất trong lịch sử thế giới.
== Cuộc đời ==
=== Thời trẻ ===
Caesar sinh trong một gia đình quý tộc thuộc dòng dõi Julia, dòng dõi cho rằng mình được thừa hưởng dòng máu của Iulus, con của hoàng tử Aeneas của thành Troia và là người được con của thần tình yêu Venus. Về cái tên 'Ceasar', sử gia Pliny Già giải thích tên 'Ceasar' có lẽ bắt đầu từ một tổ tiên nào đó của Ceasar đã được sinh mổ (mổ César, từ nguyên caesus hay caedere có nghĩa là cắt hay mổ trong tiếng La Tinh) trong; nhưng trong suốt một thời gian dài tới tận thế kỷ 12 người ta vẫn hay hiểu lầm rằng Caesar được sinh mổ; nhưng không đúng Ceasar không phải người đầu tiên mang tên này và là vì vào thời ấy sự sinh mổ chỉ có thể được thực hiện trên những người phụ nữ đã chết, trong khi mẹ của Caesar sống rất lâu sau khi ông ra đời. Còn bộ sử Historia Augusta thì chép ba cách giải thích: có thể Ceasar có một vần trán cao với nhiều tóc (tiếng La Tinh: caesaries), hoặc có thể ông có mắt xám sáng (oculis caesiis), hoặc là ông giết được voi (caesai trong tiếng Moor) trong chiến trận.
Dù cho có một nguồn gốc và địa vị hoàn hảo, dòng tộc Julii-Caesares không giàu có lắm so với mức bình thường của các gia đình quý tộc La Mã khác. Không thành viên nào trong gia đình Caesar làm được điều gì nổi bật vào thời gian này, mặc dù thế hệ cha của Caesar đã phục hồi phần nào sự thịnh vượng của gia tộc. Cha của Caesar, cũng được gọi là Gaius Julius Caesar, đã làm tới chức thống đốc Asia thuộc La Mã, có lẽ bởi vì sự ảnh hưởng của Gaius Marius, anh hùng chiến tranh và một nhà chính trị nổi bật lúc bấy giờ, người đã cưới chị của cha Caesar, Julia. Mẹ của Caesar, Aurelia Cotta, là con gái của một gia đình có uy thế đã có rất nhiều người làm tới chức quan Chấp chính tối cao. Cả gia đình ông sống trong một căn nhà khiêm tốn tại vùng Subura, một khu vực nghèo lân cận La Mã, nơi mà Marcus Antonius Gnipho, một nhà hùng biện đồng thời là một nhà văn phạm đến từ xứ Gaule, được mướn làm thầy dạy học cho Caesar. Ngoài Caesar, gia đình ông còn có hai con gái đều được gọi là Julia. Vài điều ít ỏi này được ghi nhận là tuổi thơ của Caesar. Bản tiểu sử về Caesar của Suetonius và Plutarch bắt đầu vào tuổi thiếu niên của Caesar. Những điều trước đó đã không tìm thấy một sự ghi chép nào.
Caesar trưởng thành trong thời kỳ hỗn loạn của La Mã. Cuộc chiến tranh Đồng Minh giữa La Mã và các đồng minh của họ (91 TCN – 88 TCN) nổi lên vì sự tranh cãi về quyền của công dân La Mã. Khi mà vua Mithridates VI xứ Pontos đe dọa các tỉnh phương đông của La Mã; thì ở trong nội bộ, La Mã bị chia rẽ thành hai phe: Phe Quý tộc (Optimate), phe mà muốn giữ quyền hành thống trị cho các quý tộc, và phe Đại Chúng (Populare) phe muốn ngay lập tức sự chia sẻ quyền lực rộng rãi hơn thông qua quyền bầu cử trực tiếp.
Chú Marius của Caesar là một người thuộc phe Đại chúng; còn đối thủ của ông Lucius Cornelius Sulla là một người thuộc phe Quý tộc. Cả hai nổi lên trong Chiến tranh Đồng Minh, và cả hai đều muốn chỉ huy cuộc chiến tranh chống lại vua Mithridates VI, điều mà ban đầu được giao cho Sulla; nhưng khi Sulla rời La Mã để chỉ huy lực lượng của mình một Hộ Dân quan La Mã (Tribunus plebis) thông qua một bộ luật trao lại quyền lực cho Marius, nó như thông điêp cho Sulla rằng ông ta sẽ không thể rời khỏi doanh trại của mình mà còn sống. Sulla bèn tiến quân về Rôma và buộc Marius phải lưu vong. Tuy nhiên khi Sulla quay trở lại cuộc chiến của mình; một đồng minh của ông, Lucius Cornelius Cinna chiếm lấy Rôma và công khai tuyên bố Sulla là "một kẻ thù của xã hội". Lực lượng của Marius trả thù những người theo Sulla rất tàn bạo. Marius chết ở năm 84 TCN nhưng phe cánh của ông ta vẫn còn rất mạnh.
Năm 84 TCN cha của Caesar chết bất ngờ khi đang mang giày vào một buổi sáng, và ở tuổi 16 Caesar trở thành người chủ gia đình. Những năm tiếp theo, Caesar được đề bạt cho chức Flamen Dialis (Thầy trưởng tế của Jupiter), chức vụ mà Lucius Cornelius Merula, người tiền nhiệm, đã bị sát hại trong cuộc thanh trừng của Marius. Và sau khi được giữ chức này Caesar không những trở thành một quý tộc "đích thực" mà còn cưới con gái của một quý tộc. Ông bội hôn ước của mình với Cossutia, một con gái của một gia đình giàu có mà ông được hứa hôn từ thời niên thiếu, và cưới con gái của Cinna là Cornelia.
Sulla sau khi buộc vua Mithridates VI phải ký kết hòa ước, Sulla quay trở lại để kết thúc cuộc nội chiến với quân của Marian. Sau một chiến dịch khắp Italia, Sulla cuối cùng cũng tiêu diệt hoàn toàn quân Marius ở Trận Cổng Colline vào tháng 17 năm 82 TCN. Bởi vì cả hai quan chấp chính đều đã chết, Sulla bóng gió gợi ý Viện Nguyên Lão đưa ông ta lên nắm chức Người đứng đầu lâm thời, chức vụ này sẽ có quyền lực tuyệt đối như là một nhà độc tài (dictator). Viện Nguyên lão dễ dàng chấp nhận điều này thông qua một cuộc bỏ phiếu mở rộng và Sulla được cử làm một 'Nhà độc tài để xây dựng luật pháp và ổn định hiến pháp' (dictator legibus faciendis et reipublicae constituendae causa). Sau khi lên nắm quyền, Sulla bắt đầu một chuỗi những cuộc thanh trừng đẫm máu những kẻ thù chính trị của mình. Tượng của Marius bị gỡ bỏ. Cinna thì bị binh lính của mình giết trong một cuộc nổi loạn. Caesar vì là cháu trai của Marius và con rể của Cinna, bị tước bỏ quyền thừa kế, của hồi môn của vợ mình và chức giáo sĩ của mình, nhưng ông từ chối ly dị Cornelia và buộc phải bỏ trốn. Mối đe dọa đối với ông chỉ bị bãi bỏ khi khi gia đình của mẹ ông, dòng họ Cottae (người giúp đỡ Sulla) và những Trinh nữ Vestal, can thiệp. Sulla miễn cưỡng chấp nhận, và mọi người nói rằng Sulla nói ông ta thấy "quá nhiều Marius trong Caesar".
=== Tham gia quân đội và thành tựu ban đầu ===
Việc Caesar mất chức thầy tế đã giúp ông có thể đeo đuổi sự nghiệp quân sự: chức Flamen Dialis không được cho phép để cưỡi hoặc chạm vào một con ngựa, ngủ ba đêm ngoài không trên giường hoặc một đêm ngoài La Mã, hoặc đứng đầu một lực lượng quân đội. Caesar không quay trở lại Rôma, ông gia nhập quân đội phục vụ dưới quyền của Marcus Minucius Thermus ở Tiểu Á. Trong một nhiệm vụ đi sứ ở Bithynia để đảm bảo sự giúp đỡ từ hạm đội của vua Nicomedes, Caesar ở lại lâu đến nỗi làm xuất hiện tin đồn về "tình yêu" của ông với nhà vua, điều mà Caesar kiên quyết bác bỏ nhưng cứ đeo đẳng ông suốt cuộc đời. Mặt khác, ông vẫn có được thành tựu trong sự nghiệp phục vụ quân đội của mình; Caesar giành được Corona Civica – một vòng nguyệt quế vinh dự và là giải thưởng xếp hàng thứ hai của Quân đội La Mã - vì trong cuộc bao vây Mytilene, ông đã cứu mạng một người lính khác. Cùng với sự hiện diện của Viện Nguyên lão, nếu Caesar đeo vòng nguyệt quế khi ở ngoài công cộng tất cả mọi người sẽ phải đứng lại và tung hô ông. Caesar còn phục vụ trong quân đội của Servilius Isauricus ở xứ Cilicia trong một thời gian ngắn.
Về Sulla, sau hai năm quyền hành tuyệt đối, đã hành động không giống bất cứ tên độc tài nào trước đó: ông này giải tán quân đội của mình, thiết lập lại chính quyền trực thuộc Viện Nguyên lão và bãi bỏ chế độ độc tài. Và để hợp pháp hóa quyền lực của mình, Sulla đã chịu một cuộc bấu cử và ông đã được Bầu làm Chấp chính tối cao vào năm 80 TCN. Ngoài ra, Sulla còn không đem theo vệ sĩ và đi lại không cần bảo vệ. Sulla còn đề nghị công khai mọi hành động của mình với mọi công dân La Mã. Caesar sau này đã chế nhạo: "Sulla không biết gì về chính trị". Sau nhiệm kỳ thứ hai, Sulla về hưu và trở về với ngôi nhà ở duyên hải của mình để viết hồi ký cũng như tự cho phép mình tận hưởng một cuộc sống riêng tư. Ông qua đời hai năm sau đó, đám tang của ông rất to lớn và không đám tang của ai có thể so sánh được cho đến đám tang của Augustus năm 14 SCN.
Năm 78 TCN, khi nghe tin Sulla chết, Caesar cảm thấy đây là thời điểm an toàn để trở về La Mã. Ông trở về cùng lúc với một cuộc bạo loạn chống Sulla của Marcus Aemilius Lepidus, nhưng Caesar do thiếu sự tin tưởng với sự lãnh đạo của Lepidus, đã không cùng tham gia. Tại Rôma, ông biện hộ và chứng minh sự vô tội của một người tên là Cornelius Dolabella. Ông được biết đến với tài hùng biện xuất sắc, hình thành bởi một giọng nói đầy sức thuyết phục và tài diễn tả gây say mê, tố cáo những kẻ cầm quyền tồi tệ và thối nát lúc bấy giờ. Một nhà hùng biện lớn khác Cicero đã từng bình luận: "Ai có tài nói hay hơn Caesar?". Để hoàn chỉnh kỹ năng của mình, Caesar đã đến đảo Rhodes năm 75 TCN để học tập với sự chỉ bảo của nhà giáo nổi tiếng Apollonius Molon, người thầy dạy của Cicero.
Khi đi qua biển Aegean, Caesar bị bọn hải tặc vùng Cilicia bắt cóc. Trong khi bị hải tặc giam cầm, Caesar vẫn giữ một thái độ đẳng cấp trên. Theo như lời kể của Plutarch, khi bọn hải tặc nói với Caesar rằng chúng sẽ đòi tiền chuộc ông là 20 talent bạc, Caesar cười to và bảo ông đáng giá ít nhất 50 talent (12000 miếng bạc). Sự kiện này được đem làm một dẫn chứng cho sự tự tin của Caesar ngay cả khi sống trong nguy hiểm, làm giảm đi khả năng bị giết hại của ông. Ngoài ra Caesar còn tham gia và làm việc như một thủy thủ hải tặc, và nhanh chóng tỏ ra mình không mấy lo lắng khi chửi rủa một chút khi bọn hải tặc tỏ ý không hài lòng và muốn từ chối ông. Sau khi được chuộc, Caesar tập hợp một hạm đội, tiến công và bắt giữ bọn hải tặc. Khi chính quyền Tiểu Á xét xử bọn hải tặc nhưng Caesar không hài lòng, nhà sử học Plutarch có viết trong tác phẩm của mình: "Caesar tự đề ra hình phạt, ông đến Pergamum, bắt bọn hải tặc ra khỏi tù, và đóng đinh toàn bộ, như là lời cảnh báo của ông khi ông còn ở trên đảo, điều mà bọn hải tặc cứ cho là ông đùa".
=== Chức vị Pontifex Maximus và công cuộc cầm quyền ở Hispania ===
Khi trở về thành La Mã, ông được bầu làm Hộ Quân quan (Tribunus militum), là bước đầu trong sự nghiệp chính trị của ông. Vào năm 69 trước Công Nguyên, ông được cử làm Quan coi quốc khố (Quaestor), và trong năm đó ông đọc bài văn tế dì ông là Julia. Người vợ ông là Cornelia cũng qua đời vào năm đó. Sau khi mai táng cho vợ, vào Mùa Xuân hoặc là đầu Mùa Hạ năm 69 trước Công Nguyên, Julius Caesar đến Hispania để thực hiện nhiệm kỳ quan coi quốc khố của mình. Theo các nhà sử học Suetonius và Cassius Dio, trong thời gian này ông có chiêm bao thấy mình quan hệ tình dục với mẹ ruột của mình, cũng giống như vua Oedipus trong thần thoại Hy Lạp. Đây là một chuyện kỳ lạ vì xảy ra đúng lúc vợ ông mất, làm cho ông vô cùng ngỡ ngàng. Theo Suetonius, khi Caesar rất ngạc nhiên và vời một nhà giải mộng đến hỏi, ông này cho rằng thực chất người mẹ trong giấc mộng này là Mẹ Trái Đất - người mẹ chung của tất cả mọi người, và cho thấy ông sẽ làm bá chủ thế giới, cũng như Alexandros Đại Đế khi xưa. Tuy nhiên, theo Plutarch thì giấc mơ "bất hợp pháp" này lại diễn ra ít lâu trước sự kiện Caesar vượt sông Rubicon vào năm 49 trước Công Nguyên, dù Plutarch không có kể về một lời giải mộng nào cả.
Vào năm 63 TCN, Quintus Caecilius Metelleus Pius, người được Sulla chỉ định làm Đại giáo chủ (Pontifex Maximus) chết. Ngay lập tức Caesar ra tranh cử. Ông chạy đua với hai đối thủ rất mạnh, Quintus Lutatius Catulus và Publius Servilius Vatia Isauricus. Mặc dù có nhiều lời tố cáo gian lận từ mọi phía, Caesar vẫn chiến thắng. Cuộc bầu chọn Đại giáo chủ là một bước rất quan trọng trong sự nghiệp của Caesar. Chức vụ Giáo chủ chịu trách nhiệm về quốc giáo của La Mã, nó vừa có cả quyền lực về chính trị lẫn tôn giáo và việc trúng cử chức này đã đặt một nền móng vững chắc cho Caesar trong xã hội và sự nghiệp sau này của ông.
Năm 62 TCN, Caesar được bầu chọn làm Trưởng quan (praetor). Người ta kể rằng ông đã đến trước tượng đài vua Alexandros Đại Đế trong miếu thờ thần Hercules tại Cadiz. Ông rơi nước mắt và nói: "Có ai biết rằng tôi đau buồn vì ở độ tuổi của tôi, Alexandros đã làm vua của biết bao dân tộc trong khi tôi chưa lập công danh gì để đời?" Chính từ sự kiện này, các nhà sử học thường so sánh sự nghiệp của Alexandros Đại Đế và Caesar. Sau nhiệm kỳ Trưởng quan, Caesar được giao quyền (Đại Trưởng quan (propraetor) cai trị vùng Ngoại Iberia (Hispania Ulterior, vùng Đông nam Tây Ban Nha ngày nay), một vài nguồn khác chép rằng ông giữ quyền ngang với một quan Thống đốc (proconsul) . Vì lúc này Caesar đang nợ nần rất nhiều, ông phải tìm cách đối phó với các chủ nợ trước khi có thể được họ cho phép rời đi. Ông tìm tới Marcus Licinius Crassus, người đàn ông giàu nhất Rôma, và được Crassus giúp đỡ bằng cách trả một ít nợ cũng như bảo lãnh cho những khoản khác. Đổi lại Caesar ủng hộ Crassus trong xung đột giữa ông này với Pompey. Và để tránh bị truy tố vì nợ nần, Caesar nhanh chóng đi tới tỉnh mình quản lý trước khi nhiệm kỳ Trưởng quan kết thúc và ông trở thành thường dân, đồng thời mất luôn quyền miễn tố dành cho một Trưởng quan. Tại Tây Ban Nha, ông chinh phục thành công hai bộ lạc, và được binh lính của mình tôn vinh là Impedator (tướng quân vĩ đại), một danh hiệu dành cho các lãnh tụ quân sự xuất sắc của La Mã thời Cộng hòa. Sau đó, Caesar cải cách lại đạo luật liên quan tới việc nợ nần và kết thúc nhiệm kỳ Đại trưởng quan trong sự giàu có và thành công lớn.
Về danh hiệu Impedator, đây là một điều kiện cần để một người có thể yêu cầu Viện Nguyên lão tổ chức một cuộc diễu dành chiến thắng triump dành cho mình, tuy nhiên khi này Caesar lại muốn ứng cử cho chức chấp chính tối cao (consul), chức vụ có quyền lực lớn nhất trong nền Cộng hòa. Tuy nhiên, để ứng cử thì Caesar phải giải ngũ và trở lại làm thường dân trong khi đó việc diễu binh chỉ dành riêng cho người trong quân đội. Điều này có nghĩa Caesar không thể vừa ứng cử và vừa diễu hành chiến thắng vào Rôma. Ban đầy, Caesar đòi được ứng cử vắng mặt (in absentia) nhưng Cato Trẻ bác bỏ đề nghị này. Phải lựa chọn giữa cuộc diễu hành và việc ứng cử chức consul, Caesar chọn việc ứng cử chức quan.
=== Nhiệm kỳ chấp chính và Tam Đầu chế thứ nhất ===
Năm 60 TCN, Caesar bắt đầu ứng cử chức Chấp chính tối cao (consul) năm 59 TCN cùng với hai ứng cử viên khác. Cuộc bầu cử này được đánh giá là đầy gian trá, ngay cả người nổi tiếng liêm khiết là Cato Trẻ cũng dựa vào việc hối lộ để giúp đỡ một đối thủ của Caesar. Kết quả là Caesar được bầu chọn làm quan Chấp chính tối cao của Cộng hòa La Mã bởi Hội nghị Centuriate (Centuriate Assembly). Chấp chính thứ hai được bầu đồng thời là kẻ thù chính trị của Caesar, Marcus Calpurnius Bibulus, một người thuộc phe Quý tộc và là con rể của Cato Trẻ.
Caesar bắt đầu tìm đồng minh chính trị cho mình, và ông đã tìm ra. Vị tướng giỏi nhất lúc bấy giờ, Gnaeus Pompeius Magnus (hay Pompey) vừa thất bại trong việc đấu tranh với Viện Nguyên lão trong việc giành đất trồng trọt cho những cựu binh lính của ông ta. Một cựu Chấp chính Marcus Licinius Crassus, người giàu nhất La Mã lúc đó, đang gặp rắc rối với khách hàng, và viên quan thu thuế đang muốn gia tăng nguồn thu và ngoài ra Caesar cũng đang mắc nợ về mặt chính trị với ông này.. Pompey và Crassus cần có quyền lực của Caesar, còn Caesar cần uy tín của Pompey và tiền của Crassus. Và cả ba người bắt tay thành lập một nhóm Tam đầu chế (Triumvirātus). Vì Crassus và Pompey đã có xung đột với nhau từ trước, Caesar tìm cách hàn gắn hai người này lại. Và để bảo đảm cho mối quan hệ đồng minh này, Pompey cưới con gái duy nhất của Caesar, Julia. Đồng thời Caesar cũng tái hôn, lần này là với Calpurnia, con gái một Nguyên lão quyền lực.
Tam Đầu chế được công chúng biết đến khi Caesar đề ra dự luật phân phối lại đất công cho người nghèo, một dự luật sẽ có ảnh hưởng lớn, và được Crassus và Pompey công khai ủng hộ. Để bộ luật được thông qua, phe của Caesar sẵn sàng dùng đến bạo lực: Pompey tụ tập binh lính của mình đầy đường phố Rôma, một hành động nằm trấn áp các đối thủ chính trị của Tam đầu chế. Quan chấp chính đồng cấp Bibulus âm mưu gây khó dễ cho Caesar khi Bibulus tuyên bố ông thấy những điềm xấu và tìm cách vô hiệu hóa dự luật của Caesar. Tuy nhiên, những người ủng hộ có vũ trang của phe Tam đầu chế đã đuổi Bibulus khỏi khu vực của chính quyền Forum Romanum: ông này bị ném phân vào người, hai vệ sĩ lictor thì bị bẻ gãy búa hiệu, còn hai quan magistrate hộ tống thì bị thương. Quá sợ cho tính mạng của mình, Bibulus trốn về nhà và sau đó chỉ lâu lâu tuyên bố mình thấy điềm xấu. Những hành động này thì chẳng có tác dụng gì mấy trong hoạt động lập pháp của Caesar, đến nỗi những người La Mã châm biếm sau đó đã gọi năm này là "năm của Julius và Caesar", mà lẽ ra là "năm của Caesar và Bibulus" như cách người La Mã hay đặt tên cho năm theo tên của hai quan chấp chính được bầu chọn năm đó.
=== Cuộc chinh phạt xứ Gaule và Tam đầu chế thứ nhất sụp đổ ===
Vốn là ngay sau khi được bầu làm Chấp chính, nhóm Quý tộc kẻ thù của Caesar tìm cách hạn chế ảnh hưởng của ông bằng cách chỉ định cho ông quản lý những tỉnh nghèo và kém ảnh hưởng nhất của La Mã, những tỉnh "chỉ có rừng rú với đồng cỏ" để Caesar không được chỉ huy một đội quân lớn nào cả. Với sự trợ giúp của các thành viên nhóm Tam Đầu chế và nhiều đồng minh chính trị khác, Ceasar lật ngược tình thế này và ông được cử làm thống đốc Cisalpine Gaul (bắc Ý), Illyria (bờ biển của Dalmatia), và sau đó là thêm Transalpine Gaul (miền nam nước Pháp ngày nay) với nhiệm kỳ và quyền miễn tố được ấn định đến 5 năm, dài hơn so với nhiệm kỳ thông thường trước đó. Khi nhiệm kỳ chấp chính của ông kết thúc, Ceasar xém nữa là bị truy tố bởi các hành động mờ ám trong thời gian tại vị, và ông vội vã đi đến nhậm chức tại các tỉnh mình đã được giao.
Khi này thì Caesar vẫn còn mắc nợ rất nhiều, với chức Thống đốc thì tiền thì chỉ có thể kiếm bằng hai cách là tiến hành các hoạt động phi pháp hoặc tiến hành chiến tranh. Caesar có được tổng cộng bốn binh đoàn Legio dưới quyền và lãnh địa mà ông cai trị tiếp giáp với nhiều vùng chưa được chinh phạt và các khu vực đầy bất ổn của xứ Gaule. Cũng trong thời gian này các bộ lạc Gaule đồng minh của La Mã bị các bộ lạc Gaule và German kẻ thù đánh bại trong trận Magetobriga, và người La Mã lo sợ nhóm các bộ lạc hiếu chiến này sẽ lại di cư về phía nam nên Caesar lập thêm hai binh đoàn nữa và chủ động tấn công đánh bại các bộ lạc này.
Các bộ lạc khác của xứ Gaule thấy vậy bèn bắt đầu tự vũ trang cho chính mình, Caesar cho rằng đây là những hành động gây hấn nên ông bắt đầu tiến hành cuộc chiến tranh mà sau này được gọi là cuộc chinh phạt xứ Gaule (gồm nước Pháp ngày nay, phần lớn của Thụy Sĩ và Bỉ, một phần nước Đức, nối liền vùng đất cực tây Châu Âu từ Đại Tây Dương tới sông Rhein). Sau một vài trận đánh không phân thắng bại trước liên minh các bộ tộc xứ Gaule, ông lần lượt đánh bại từng bộ lạc riêng rẽ. Cùng thời gian này, một binh đoàn Legio của Caesar bắt đầu tiến hành chinh phạt miền Bắc xứ Gaule, khu vực xung quanh eo biển Manche, đối diện trực tiếp với xứ Britain (nước Anh ngày nay).
Ghen ghét trước những thành công và lợi ích mà Caesar đem về cho La Mã, những người cùng chức vị trở nên không ưa Caesar, đặc biệt là những phe bảo thủ, những người cho rằng Caesar đang muốn làm một ông vua và điều này khiến La Mã rơi vào rối loạn. Năm 56 TCN, các thành viên Tam đầu chế gặp nhau tại hội nghị Lucca và đạt được thỏa thuật kéo dài liên minh này. Thỏa thuận này được hiện thực hóa khi vào năm 55 TCN, Pompey và Crassus được bầu làm Chấp chính tối cao và họ giữ lời với Caesar bằng cách giao chức Tổng đốc cho Caesar trong 5 năm tiếp theo nữa, đó là hành động lớn cuối cùng của Tam đầu chế. Cuộc chinh phạt khu vực miền Bắc xứ Gaule trong thời gian này cũng cơ bản là hoàn tất, tuy rằng vẫn còn một vài khu vực tiếp tục kháng cự. Việc này và hành động cuối cùng của Tam đầu chế thứ nhất và cũng là cơ sở để Caesar dòm ngó xứ Britain.
Năm 55 TCN, Caesar đánh bại một cuộc tiến công của hai bộ lạc German vào xứ Gaule rồi nhân đó ông cho bắt cầu vượt sông Rhine tiến vào xứ German nhằm ra uy trước khi rút về và phá hủy cây cầu này. Ngày 26 tháng 8 năm 55 TCN, Ceasar viện cớ xứ Britain trợ giúp kẻ thù của ông là bộ lạc Veneti ở vùng Bretagne, ông vượt biển tiến đánh xứ Britian. Vì những hạn chế về thông tin tình báo, nên sau vài thành công ở gần bờ biển ông lại rút về xứ Gaule để tránh đông.. Năm 54 TCN Caesar chuẩn bị kỹ hơn và với một lực lượng lớn hơn đã tấn công xứ Britain lần 2; khi này ông tiến sâu được vào đất liền, lập được vài liên minh trước khi phải rút về Gaule do biến loạn xuất phát từ việc mất mùa năm đó. Từ sau lần rút lui này, Caesar không quay trở lại xứ Britain lần nào nữa.
Cùng năm 54 TCN, con gái của Caesar, Julia, chết khi sinh con. Crassus thì bị giết khi đang tiến hành các cuộc chinh phạt của mình ở xứ Parthia. Không có cả Crassus lẫn Julia, Pompey ngả hẳn về phe Quý tộc. Vẫn ở Gaule, Caesar tìm cách cứu vãn mối quan hệ với Pompey bằng cách đề nghị Pompey lấy một trong những cháu gái của mình, nhưng Pompey từ chối. Thay vào đó Pompey cưới Cornelia Metella, con của Metellus Scipio, một trong những kẻ thù lớn nhất của Caesar. Tam Đầu chế thứ nhất chính thức cáo chung.
Dù thực sự sức mạnh quân sự của người La Mã rất lớn, nhưng chia rẽ nội bộ trong các bộ lạc xứ Gaule cũng có vai trò quan trọng không kém trong các chiến thắng dễ dàng của Caesar. Vì điều này, một vị vua xứ Gaule tên là Vercingetorix đã tìm cách thống nhất các bộ lạc khi ông tiến hành nổi dậy chống La Mã năm 52 TCN, nhưng đã quá trễ dù ông có đánh bại Caesar được vài trận. Cùng năm, Caesar sử dụng chiến thuật bao vây rồi tiêu diệt liên minh của người Gaule ở trận đánh Alesia, buộc Vercingetorix phải đầu hàng. Dù sau đó sự kháng cự vẫn lẻ tẻ nổ ra, nhưng xứ Gaule về cơ bản là đã bị bình định.
Caesar ghi lại toàn bộ các chiến dịch của mình trong Commentarii de Bello Gallico (Bản báo cáo về cuộc chinh phạt xứ Gaule). Sát cánh cùng ông trong cuộc chiến này bao gồm người anh em họ Lucius Julius Caesar và Mark Antony, Titus Labienus, và Quintus Tullius Cicero. Theo Plutarch và các bản ghi chép lại của các học giả Brendan Woods thì kết quả của cuộc chiến này là: tổng cộng 800 thành thị bị chinh phục; 300 bộ lạc bị xóa sổ; Caesar chiến đấu chống lại 3 triệu người xứ Gaule, trong đó 1 triệu người bị bán làm nô lệ và 1 triệu người chết trận. Các sử gia cổ đại có lẽ hơi thái quá, nhưng cuộc chinh phạt xứ Gaule của Caesar chắc chắn là cuộc xâm lăng quân sự lớn nhất và thành công nhất kể tứ thời vua Alexandros Đại đế. Chiến thắng của Caesar thì bền vững hơn là của Alexandros Đại Đế: xứ Gaule không bao giờ khôi phục lại nhân dạng văn hóa Celt của nó, không bao giờ có cuộc bạo loạn dân tộc chủ nghĩa nào, và trung thành với chính quyền La Mã cho tới khi Đế quốc La Mã sụp đổ vào năm 476. Đồng thời, thắng lợi vang dội này gia tăng uy thế của Caesar.
=== Cuộc nội chiến La Mã ===
Năm 50 TCN, Viện Nguyên lão, đứng đầu là Pompey, ra lệnh cho Caesar giải tán quân đội và trở về La Mã với lý do nhiệm kỳ của ông tại Gaule đã kết thúc. Không những vậy, họ còn cấm Caesar ra ứng cử chức Chấp chính. Trước tình hình này, Caesar nghĩ ông sẽ bị vu oan và cách ly ra khỏi đời sống chính trị nếu ông quay trở lại La Mã mà không có sự bảo trợ bởi một quan chấp chính hoặc sức mạnh của đội quân trung thành với ông. Thêm vào đó, Pompey còn buộc tội Caesar là "không phục tùng" và "âm mưu tạo phản".
Vào ngày 10 tháng 1 năm 49 TCN, Caesar vượt qua sông Rubicone (khoảng biên giới Ý) với duy nhất một binh đoàn lính Lê dương La Mã (Legio XIII) của mình và phát động nội chiến. Người ta tin rằng, trong khi vượt qua Rubicone, Caesar có nói "Alea iacta est" (Con xúc xắc đã được đổ). Tháng 1 thường là thời điểm khó khăn để đưa một đội quân ra ngoài xa trường, do đó các kẻ thù của Caesar khiếp vía khi hay tin này.
Phe Quý tộc, bao gồm Mettelus Scipio và Cato Trẻ, chạy về miền Nam, không biết rằng Caesar chỉ có Binh đoàn Legio XIII theo ông. Thực chất, quân chủ lực của ông hãy còn trấn thủ ở miền Bắc dãy Anpơ. Caesar truy kích Pompey tới Brindisium, với hy vọng khôi phục lại mối quan hệ đồng minh với Pompey. Nhưng Pompey lẩn tránh Caesar. Thay vì tiếp tục truy kích Pompey, Caesar đến ở Hispania và nói: "Ta đến đây trước là để đánh với một quân đội không người lãnh đạo, sau là đánh một lãnh đạo không có quân đội". Để Marcus Aemilius Lepidus giữ La Mã, Mark Antony quản lý Ý, Caesar tiến hành một cuộc hành quân 27 ngày nổi tiếng tại Hispania nơi ông tiêu diệt đội quân chủ lực của Pompey. Sau đó, Caesar đông tiến, tấn công Pompey ở Hy Lạp nơi mà vào ngày 10 tháng 7 năm 48 TCN, Caesar đã khôn khéo tránh được thất bại và giành phần thắng về mình. Tuy lực lượng của Pompey mạnh hơn lực lượng của ông về mọi mặt (gần gấp ba lần số bộ binh và nhiều hơn đáng kể số kỵ binh), Caesar vẫn giành được chiến thắng quyết định qua một trận đánh rất ngắn ở Pharsalus năm 48 TCN. Lợi thế nghiêng về ông do rất ít Nghị sĩ phe Pompey còn sống sót sau trận chiến quyết định này.
Ở La Mã, Caesar nắm quyền lực tuyệt đối và được cử làm Dictator (có quyền lực như một nhà Độc tài), Mark Antony làm chỉ huy quân lính cho ông. Như một động thái chính trị, Caesar chấp nhận bỏ quyền hành độc tài của mình sau bảy ngày và trúng cử nhiệm kỳ Chấp chính thứ hai cùng với Publius Servilius Vatia Isauricus. Ông tiếp tục truy kích Pompey đến Alexandria, nơi Pompey bị ám sát bởi một viên quan của Pharaoh Ptolemy XIII Theos Philopator đang trị vì. Caesar sau đó dính vào cuộc nội chiến giành quyền lực của nội bộ Alexandria giữa Ptolemy và Nữ hoàng Ai Cập Cleopatra VII - em gái, vợ và nữ hoàng cùng cai trị với vua Ptolemy XIII. Có lẽ vì vai trò của Ptolemy trong vụ mưu sát Pompey, Caesar đứng về phía Cleopatra, người ta kể lại rằng Caesar đã rơi nước mắt khi viên quan thị thần của Ptolemy dâng đầu của Pompey lên cho Caesar như là một món quà. Sau đó, Caesar tiêu diệt lực lượng của Ptolemy và đưa Cleopatra lên nắm quyền. Cleopatra sau đó đã sinh cho Caesar một đứa con (không được thừa nhận nhưng các sử gia đều chắc chắn đó là con trai duy nhất của Caesar) Ptolemy XV Caesar hay Caesarion ("Caesar nhỏ" hay "con của Caesar"). Sau đó Cleopatra có một lần cùng Caesar diễu hành vào La Mã.
Caesar và Cleopatra không bao giờ cưới nhau. Họ không thể làm như vậy vì luật của La Mã ràng buộc rằng chỉ có hai công dân La Mã mới được cưới nhau; trong khi Cleopatra là Nữ hoàng Ai Cập. Người ta tin rằng Caesar đã tiếp tục mối quan hệ với Cleopatra trong suốt cuộc hôn nhân cuối cùng của ông, cuộc hôn nhân này kéo dài 14 năm nhưng không có người con nào cả.
Sau khi trải qua những tháng đầu năm 47 TCN ở Ai Cập, Caesar đến Trung Đông, nơi ông tiêu diệt quân đội của vua Pharnaces II xứ Pontos trong trận Zela, buộc Pharnaces II phải bỏ chạy; thắng lợi của ông nhanh chóng và trọn vẹn đến nỗi ông đã ghi lại nó trong chỉ ba chữ: "Veni, Vidi, Vici" (Đã đến, đã thấy, đã chinh phục). Ghi nhận này trở nên bất hủ trong nền lịch sử quân sự. Sau đó Caesar đến Bắc Phi để giải quyết tàn quân của những người theo Pompey, ông nhanh chóng giành được thắng lợi ở Thapus trước lực lượng của Metellus Scipio (chết trận) và Cato Trẻ (tự sát). Nhưng con trai của Pompey, Gnaeus Pompeius và Sextus Pompeius; cùng với pháp quan, tướng cũ của Caesar Titus Labienus trốn đến Hispania. Caesar tiếp tục truy kích tàn quân chống đối còn lại và tiêu diệt họ ở Munda tháng 3 năm 45 TCN. Cùng thời gian này, Caesar được bầu làm Quan Chấp Chính nhiệm kỳ ba (năm 46 TCN với Marcus Aemilius Lepidus) và nhiệm kỳ bốn (năm 45, không có người đồng nhiệm).
=== Chế độ Độc tài La Mã ===
Caesar trở về Ý tháng 9 năm 45 TCN. Việc đầu tiên là Caesar viết di chúc, trong đó cháu trai của ông Gaius Octavianus là người thừa kế thứ nhất, sẽ kế thừa toàn bộ sự nghiệp (kể cả danh hiệu chức vị của Caesar) sau khi ông qua đời; nếu Octavianus chết trước Caesar, Marcus Junius Brutus sẽ là người thừa kế tiếp theo. Viện Nguyên lão bắt đầu tôn vinh Caesar. Mặc dù Caesar không thanh trừng các kẻ thù của ông mà lại tha thứ cho hầu như tất cả bọn họ, sự chống đối Caesar có vẻ như rất ít ỏi.
Những hoạt động thể thao và lễ hội lớn diễn ra vào ngày 21 tháng 4 hàng năm để vinh danh những thắng lợi của Caesar. Cùng với hoạt động đang diễn ra, Caesar được quyền mặc "Trang phục chiến thắng", gồm một chiếc áo choàng tím và một vòng nguyệt quế vinh quang trong mọi hoạt động của ông. Một dinh thự lớn đã được dựng lên bằng chi phí của thành La Mã, được dành cho Caesar dùng riêng. Danh hiệu "Nhà độc tài" của ông được công nhận và được ông sử dụng cho tới lúc chết. Một bức tượng ngà voi của Caesar được khiêng đi trong mọi lễ lạc tôn giáo. Các hình ảnh của Caesar cho thấy vào lúc này ông chải mái tóc phủ ra trước để che đậy tình trạng hói.
Một bức tượng khác của Caesar được đặt ở đền thờ Quirinus với dòng đề tặng "Dâng lên vị thần không thể bị đánh bại". Từ khi đền thờ Quirinus được xem như biểu tượng của người tìm ra và vị vua đầu tiên của thành La Mã, Romulus, sự kiện này chứng tỏ Caesar không chỉ có địa vị giống như một vị thần mà còn được so sánh công lao giống như vị vua đã xây dựng La Mã. Bức tượng thứ ba được đặt tại thủ dinh của La Mã cùng một hàng với bảy bức tượng vua La Mã và cùng với Lucius Junius Brutus, người đã đánh đuổi chế độ quân chủ ra khỏi La Mã. Và trong một hành động gây xôn xao nữa của Caesar, Caesar cho đúc tiền in hình ông. Đây là lần đầu tiên La Mã có đồng tiền kiểu này.
Khi Caesar quay trở lại La Mã vào tháng 10 năm 45 TCN, ông từ chức Chấp Chính (nhiệm kỳ mà ông làm Chấp chính một mình) đưa Quintus Fabius Maximus và Gaius Trebonius lên thay ông. Hành động này làm Viện Nguyên lão tức giận vì nó hoàn toàn không đếm xỉa đến quyền bầu cử của chế độ Cộng hòa, nó được thực hiện chỉ bằng ý của riêng Caesar. Sau đó, Caesar tổ chức lễ diễu hành chiến thắng lần thứ 14, Viện Nguyên lão vẫn tiếp tục cổ vũ. Một đền thờ tên là Libertas được xây dựng cho Caesar, và ông nhận được tước vị "Người Giải phóng". Họ bầu chọn Caesar làm Chấp chính suốt đời, và cho pháp ông giữ tất cả tước vị ông muốn, kể cả tước vị dành riêng cho người bình dân. Từ đây Caesar nắm quyền lực tuyệt đối cả về chính trị lẫn quân sự.
Ngoài ra, Caesar còn được quyền chỉ định quan tòa địa phương, mà trước đây thường là phải bầu cử. Mặc khác, ông còn quy định trách nhiệm các vị quan chức, chỉ định các chức vị ở các ngành ở các địa phương; điều mà trước đây phải được bốc thăm dưới sự phê duyệt của Viện Nguyên Lão. Tháng sinh của Caesar, Quintilis, được đổi tên thành Julius; ngày sinh của ông 12 tháng 7 trở thành quốc lễ của La Mã. Một đền thờ và một nhóm thầy tế tên là Flamen Maior, được thành lập để vinh danh gia tộc của Caesar.
Tuy nhiên, Caesar đã tiến hành một tiến trình cải cách để dẹp trừ tệ nạn xã hội. Ông thông qua một bộ luật cấm công dân La Mã từ 20 đến 40 tuổi rời Ý quá ba năm, trừ khi đang ở trong quân đội. Về lý thuyết, điều luật này của ông có thể giúp phát triển nông nghiệp và thương mại và ngăn chặn sự tha hóa ở bên ngoài. Nến một người thuộc giai cấp trên làm hại hoặc giết một người thuộc giai cấp thấp hơn, anh ta sẽ bị tịch thu toàn bộ tài sản. Caesar đã chứng tỏ rằng từ trong tâm ông vẫn quan tâm đến lợi ích cao nhất của quốc gia, ngay cả khi ông tin rằng mình là người duy nhất có khả năng điều hành nhà nước. Việc xóa 1/4 các khoản nợ chưa thanh toán, đã làm cho ông càng được dân chúng quý mến. Caesar điều tiết chặt chẽ việc mua lương thực có trợ giá của chính phủ. Ông nghiêm cấm cách trường hợp đủ khả năng nhưng lại muốn tiếp cận nguồn lương thực được trợ giá này. Ông đã lập kế hoạch phân chia đất đai cho các cựu binh của mình, và kế hoạch thiết lập các thuộc địa trên khắp thế giới La Mã.
Một trong những cải cách có ảnh hưởng lâu dài và sâu rộng nhất của Caesar là cải cách về Lịch Julius: ông quy định một năm có 365 ngày và cứ 4 năm lại có một năm nhuận 366 ngày (bộ lịch này chỉ được sửa đôi chút bởi Giáo hoàng Gregory XIII rồi trở thành bộ lịch được dùng tới bây giờ). Để thực hiện cải cách này, có một năm (rất có thể tương ứng với năm 46 TCN) đã được kéo dài 445 ngày.
Ngoài ra, các công trình công cộng lớn đã được tiến hành. Caesarcho tu sửa lại La Mã – vốn đang là một đô thị ngổn ngang với các kiến trúc bằng gạch không mấy ấn tượng, thành phố đang rất cần được đổi mới. Bục diễn đàn bằng đá hoa cương đã được xây mới cùng với các tòa án và các khu chợ. Một thư viện công cộng dưới sự quản lý của Học giả vĩ đại Marcus Terentius Varro cũng đang được thi công. Tòa nhà của Viện Nguyên lão, Curia Hostilia, tuy vừa mới được sửa chữa, được bỏ để xây một tòa nhà mới tên là Curia Julia. Quảng trường Caesar cùng với đền thờ Venus được xây dựng. Thành phố Pomerium được mở rộng để cho phép sự phát triển dân số.
Tất cả những sự phô trương, hoàn cảnh, và tiền thuế bị tiêu xài quá mức đã làm một số thành viên của Viện Nguyên lão tức giận. Một trong những người này là người bạn thân thiết của Caesar, Marcus Junius Brutus.
=== Âm mưu ám sát Caesar ===
Ông đã được Viện Nguyên Lão La Mã tôn vinh là Imperus Maximus Dalte Sum Romana (vị thống soái cao nhất của La Mã). Danh hiệu này khẳng định rằng ông là Praetori et Romanus, nghĩa là "Người bảo trợ cao nhất của La Mã" (sau này danh hiệu này được truyền cho Augustus).
Sử gia Plutarch ghi nhận rằng có một thời điểm, Caesar đã nói với Viện Nguyên Lão rằng các vinh dự của ông cần được giảm bớt thay vì tăng lên, nhưng rồi đã rút lại quan điểm này để không trở nên có vẻ vô ơn. Ông được phong tặng tước vị Pater Patriae (người cha của đất nước). Ông được cử làm Thống lãnh Tối cao lần thứ ba; và được đề cử chức vị này trong liên tiếp chín nhiệm một năm, tổng cộng ông giữ chức này trong mười năm. Ông còn được giao quyền kiểm duyệt với vai trò người có đạo đức hoàn hảo (praefectus morum) trong ba năm.
Vào đầu năm 44 TCN, khi mà danh tiếng của Caesar không ngừng tăng và hố ngăn cách giữa ông và giới quý tộc ngày càng sâu, ông được nhận tước vị Dictator Perpetuus, đảm bảo vị trí độc thống lãnh tối cao cho tới khi chết. Danh hiệu này bắt đầu xuất hiện trên các đồng tiền, đặt Caesar lên trên tất cả. Vài người bắt đầu gọi Caesar là Rex (vua) nhưng Caesar từ chối tiếp nhận danh hiệu "Rem Publicam sum!" (Ta là nền cộng hòa!). Ở đền thờ mới của Venus, khi một phái đoàn Nguyên lão đến, Caesar từ chối đứng lên chào mừng họ. Mặc dù người ta tin rằng khi đó Caesar đang bị tiêu chảy (một triệu chứng của bệnh động kinh của ông), các Nguyên lão cảm thấy bị sỉ nhục ghê gớm. Thấy sai lầm của mình, Caesar tìm cách xoa dịu các Nguyên lão bằng cách chìa cổ cho những người bạn của ông và đề nghị nếu ai cần thì cứ chặt nó đi. Nhưng mọi chuyện xem rằng đã quá muộn, các âm mưu ám sát ông bắt đầu.
Brutus bắt đầu mưu tính chống đối Caesar cùng với những người bạn của ông ta, anh rể của ông là Gaius Cassius Longinus và vài người khác nữa, họ tự gọi mình là những "người giải phóng" (Liberatores). Hai ngày trước vụ mưu sát, Cassius Longinus cùng với những người đồng mưu cùng nói nếu ai để lộ âm mưu người đó sẽ tự sát.
Vào ngày 15 tháng 3 (Idus Martiae) năm 44 TCN một nhóm các Nguyên lão gọi Caesar đến để đọc đơn thỉnh cầu cầu ông giao trả quyền lực cho Viện Nguyên Lão. Lá đơn này là giả mạo; Mark Antony cảm thấy nghi ngờ một kẻ trong nhóm Liberatores tên là Servilius Casca, và cảm thấy lo lắng tột độ khi nghe tin Caesar đi lại không vệ sĩ như mọi khi, đến gặp một nhóm các nguyên lão; ông vội vàng đi chặn Caesar lại. Nhưng đã quá muộn, khi đi qua Nhà hát Pompey Caesar bị một nhóm các Nguyên lão chặn lại và dẫn ông vào một căn phòng ở cửa Đông.
Khi Caesar đang đọc lá đơn giả mạo, Servilius Casca (đã nói ở trên) tiến lại giật áo choàng của Caesar và sượt tay qua cổ ông. Caesar quay lại và nắm lấy cằm của Casca la to bằng tiếng Latin: "Tên khốn Casca, ngươi đang làm gì đó?" Casca hoảng sợ, kêu những Nguyên lão đồng mưu bằng tiếng Hy Lạp: "Anh em làm ơn giúp đỡ!" (αδελφοι βοήθει!, adelphoi boethei!). Ngay lập tức, toàn bộ nhóm nguyên lão, kể cả Brutus, xông lên tấn công Caesar. Caesar tìm cách thoát thân, nhưng mờ mắt vì máu và vì cái áo choàng quá dài Caesar vấp ngã. Rốt cục những kẻ ám sát chỉ giết được ông khi ông ngã xuống và không thể chống cự trên bậc thềm của cánh cổng. Theo Eutropous, có hơn 60 người tham gia vào âm mưu giết ông và Caesar đã bị đâm tổng cộng 23 nhát.
Điều cuối cùng Caesar nói là gì? Điều này còn đang được tranh cãi. Trong tác phẩm Julius Caesar, William Shakespeare viết rằng câu cuối cùng Caesar nói là: Et tu, Brute? ("Kể cả anh sao, Brutus?"). Nhưng đó là sáng tạo của Shakespeare. Nhà sử học La Mã Suetonius ghi lại rằng những lời cuối của Caesar bằng tiếng Hy Lạp là "καί σύ τέκνον"-"Kài sú, Teknon?" ("Cả con nữa à?"). Nhưng hầu hết người La Mã tin rằng ông đã nói câu cuối cùng bằng tiếng Latin: "Tu qouque, Brute, fili mihi?"-"Cả ngươi nữa sao, Brutus, con trai của ta?". Plutarch cho rằng ông không nói gì cả, chỉ kéo áo dài lên đầu khi nhìn thấy Brutus trong đám người ám sát.
Sau cuộc ám sát, các nguyên lão ra khỏi tòa nhà và nói chuyện với nhau một cách đầy kích động. Brutus còn la to: "Nhân dân La Mã, một lần nữa chúng ta lại tự do!". Nhưng mọi việc chưa dừng lại ở đó, cái chết của Caesar khởi đầu cho cuộc nội chiến mà trong đó Mark Antony, Octavian (sau là Caesar Augustus) và những người khác đánh nhau vì cả mục đích báo thù lẫn quyền lực.
=== La Mã sau khi Caesar bị ám sát ===
Cái chết của Caesar, mỉa mai thay, đã đánh dấu sự sụp đổ của Cộng hòa La Mã - cái mà vì muốn bảo vệ nên những người kia đã giết ông. Caesar đã luôn luôn được dân chúng La Mã thuộc các tầng lớp trung lưu và hạ lưu ngưỡng mộ. Họ đã nổi giận vì một nhóm nhỏ các quý tộc đã giết hại vị chủ soái vô địch của mình. Mark Antony đã kêu gọi đám đông báo thù. Antony đã dùng sự thương tiếc của đám đông để đe dọa tấn công trực tiếp vào phe quý tộc, và có lẽ còn muốn đoạt lấy La Mã về mình nữa. Nhưng Caesar đã chọn người thừa kế duy nhất là Octavianus, không chỉ đưa ông ta trở thành một trong những công dân giàu có nhất của La Mã, mà còn để lại cho ông ta cái tên Caesar đầy quyền lực. Không chỉ vậy, Octavianus - người con của Caesar vĩ đại - còn được thừa hưởng lòng trung thành của phần lớn nhân dân La Mã. Khi Caesar chết, Octavianus mới 19 tuổi nhưng đã tỏ ra là người khá nguy hiểm. Trong khi Antony đấu với Decimus Brutus trong vòng đâu tiên của các cuộc nội chiến mới, thì Octavianus củng cố vị trí của mình.
Để đấu với Brutus và Cassius đang tập trung quân ở Hy Lạp, Antony cần cả tiền từ các két sắt chiến tranh của Caesar lẫn tính hợp pháp mà cái tên của Caesar có thể mang lại trong các chiến dịch chống lại hai người kia; thế là Chế độ tam hùng mới được thành lập - chế độ thứ hai và cuối cùng - với các thành viên Antony, Octavianus và vị tướng kỵ binh trung thành của Caesar là Lepidus. Chế độ tam hùng thứ hai đặt Caesar lên vị trí thần thánh: Divus Iulius – và do thấy rằng lòng khoan dung của Caesar đã dẫn đến cái chết của ông, họ đã sử dụng lại hình thức Đặt ra ngoài vòng pháp luật (đã bị bãi bõ từ thời Sulla) để trừng phạt các kẻ thù trên diện rộng, nhằm mục đích tích lũy được nguồn tài chính dành cho cuộc nội chiến thứ hai chống lại Brutus và Cassius. Kết quả là phe Tam hùng đã đánh bại Brutus và Cassius tại Philipi. Sau khi thắng lợi Chế độ tam hùng thứ hai tan rã, một cuộc nội chiến khác bùng lên giữa phe Octavianus và phe Antony-Cleopatra với thắng lợi thuộc về Octavianus. Sau thắng lợi, Octavianus trở thành hoàng đế đầu tiên của La Mã dưới cái tên Caesar Augustus. Năm 42 TCN, Caesar được thánh hóa với tên Divus Iulius (Thần thiêng Julius), còn Augustus thì trở thành Divi filius (Con của một vị thần).
== Sự nghiệp văn chương ==
Caesar rất thường viết các tác phẩm văn học quân sự. Ông xem nó như là một các để tăng sự ủng hộ của dân chúng thành La Mã dành cho ông. Và dường như cách nghĩ này của ông đã đúng. Danh tiếng lẫy lừng, nhờ đó Caesar thường không viết rõ những sai lầm mà ông gây ra trong cuộc chinh phạt man rợ Gaule. Dù là một thiên tài quân sự, như Caesar, cũng như nhiều danh tướng xuất sắc khác, luôn phải do dự trước vết nhơ của chiến tranh.
Các tác phẩm quân sự sau là các tác phẩm còn lưu lại được của ông.
=== Hồi ký ===
Commentarii de Bello Gallico (Hồi ký về cuộc chinh phạt xứ Gaule và Britania)
Commentarii de Bello Civili (Hồi ký về cuộc nội chiến - kết thúc ở cái chết của Pompey)
Các tác phẩm sau đây được tin là của ông:
De Bello Alexandrino (Chiến dịch Alexandria)
De Bello Africo (Chiến dịch Bắc Phi)
De Bello Hispaniensis (Chiến dịch ở bán đảo Iberian)
== Sự nghiệp quân sự ==
Với sự nghiệp quân sự rất thành công của Julius Caesar, ông trở thành một trong những vị Đại Danh tướng (Great Captains) lịch sử, cùng với Alexandros Đại Đế, Hannibal, Gustav II Adolf, Karl XII, Friedrich II Đại Đế và Napoléon. Mặc dù ông không bách chiến bách thắng, ông cũng đã từng thất bại lớn trong nhiều trận đánh, như trận Gergovia (trong cuộc chinh phạt xứ Gaule), Trận Dyrrhachium (trong cuộc Nội chiến), thế nhưng khả năng, mưu lược tài tình của ông vẫn ngời sáng qua sự xây đắp thành lũy bao vây ở Alesia trong cuộc chiến xứ Gaule, chiến thắng đội quân đông đảo hơn rất nhiều của Pompey ở Pharsalus, và sự tận diệt đội quân của vua Pharnaces xứ Pontos trong trận đánh tại Zela. Vua Friedrich II Đại Đế đam mê đọc những Hồi ký của Caesar Hoàng đế Napoléon cũng đọc đi đọc lại những tác phẩm của vị kiệt tướng La Mã này. Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Alexander Hamilton ca ngợi ông là "nhân vật kiệt xuất nhất xưa nay". Còn nhà lý luận quân sự Đức vĩ đại Karl von Clausewitz có viết:
Một phần do ông đến với các vấn đề quân sự quá trễ trong đường đời, một phần do bản chất ông, ông không giỏi chiến lược và chiến thuật bằng hai danh tướng cổ đại Alexandros Đại Đế và Hannibal, nhưng ông cũng có đủ những tài năng khác của hai danh nhân này để trở thành một lãnh đạo quân sự vĩ đại. Không những thế, ông thậm chí còn hơn cả hai người này và có lẽ bất kỳ một vị tướng soái nào trong lịch sử trong việc truyền cảm ba quân xung phong một khi tình thế không có lợi. Và ông cũng là vị Dại Danh tướng duy nhất tự dạy binh cách cho mình. Ông có thể gặt hái chiến thắng dưới bất kỳ địa hình, thời tiết nào có thể phần lớn là nhờ vào tính kỷ luật cao của binh lính ông, khả năng điều khiển tuyệt vời, và sự trung thành của các chiến binh dành cho ông. Kỵ binh và bộ binh của ông là tinh nhuệ nhất (của Cộng hòa La Mã thời đó), và ông sử dụng rất nhiều các thiết bị chiến tranh của La Mã như máy bắn đá, máy bắn tên và nhiều mặt khác nữa, điều mà khiến cho lực lượng của ông trở nên cực kỳ thiện chiến, kỷ luật và di chuyển rất nhanh (một vài tài liệu chép rằng lực lượng của Caesar có thể di chuyển tới hơn 40 dặm trong vòng một ngày). Lực lượng của ông ước có khoảng hơn 4 vạn Bộ binh và rất nhiều Kỵ binh, cùng với một số đơn vị chuyên dụng khác như là các máy móc chiến tranh, phu phục vụ. Sự linh động của Caesar là một yếu tố quan trọng khiến cho tên tuổi của ông trở thành bất hủ, cũng giống như Alexandros Đại Đế và Friedrich II Đại Đế. Caesar kể trong bản hối ký của ông rằng một số làng của người Gaule được xây dựng trên dốc thẳng đứng và rất vững chắc, sẽ thiệt hại rất lớn nếu muốn tấn công những khu làng kiểu này, nhưng các máy móc và kỹ sư của ông có thể đào qua các lớp đá cứng và tìm ra nguồn cung cấp nước cho các làng đó, và ông ngắt nó đi. Ngôi làng thiếu nước cung cấp, đầu hàng hầu như sau đó ngay lập tức.
== Gia đình Caesar ==
Cha mẹ
Cha: Gaius Julius Caesar già
Mẹ: Aurelia Cotta
Chị em
Julia Caesaris "Maior" (chị gái lớn)
Julia Caesaris "Minor" (chị gái thứ hai) - bà ngoại của Augustus
Vợ
Caesar không cưới nhiều vợ một lúc, ông chỉ có một vợ vào một thời điểm, thứ tự này biểu thị thứ tự trước sau không phải thứ tự chánh lẽ:
Đầu tiên là Cornelia Cinna nhỏ
Thứ hai là Pompeia Sulla
Thứ ba là Calpurnia Pisonis
Con
Julia (với Cornelia Cinnilla)
Có thể là Caesarion (với Cleopatra)
Marcus Junius Brutus (có thể là con riêng của Caesar với Servilla Caepionis)
Con nuôi và người thừa kế Gaius Julius Caesar Octavianus (quan hệ chú cháu)
Cháu
Cháu ngoại, con của Julia và Gnaeus Pompeius Magnus chết sau khi sinh ít lâu, không có tên.
Julius Sabinus một người Gaule vùng Lingones, tuyên bố mình là cháu của Caesar do bà của anh ta là người tình của Caesar trong thời kỳ Chiến tranh Gallic
== Tình nhân ==
=== Khác giới ===
Cleopatra VII của Ai Cập
Servilla Caepionis; mẹ của Brutus
Eunoë, nữ hoàng của xứ Mauretania và vợ của Bogudes
=== Đồng giới (theo tin đồn) ===
Nicomedes IV xứ Bithynia
Octavian (theo lời buộc tội của Marcus Antony; nhưng lịch sử nói đây là một lời vu khống)
Xã hội La Mã không chú ý lắm đền vấn đề này. Thật vậy, họ không đếm xỉa tới vấn đề giới trong các quan hệ kiểu trên. Bên cạnh đó, từ có lời kể rằng một số người lính đã từng chế diễu Caesar bằng cách hát các câu có nội dung giống như sau:
Caesar đã chinh phục xứ Gaule; nhưng Nicomedes đã chinh phục Caesar mất rồi.
Hoặc là:
Bây giờ Caesar làm lễ diễu binh chiến thắng, vì Ngài chinh phạt xứ Gaul. Nicomedes không thắng trận, dù Ngài chinh phạt Caesar.
Có tin đồn rằng Caesar và Nicomedes từng có mối quan hệ đồng giới khi ông mới bắt đầu sự nghiệp của mình. Theo Cicero, Bibulus, Gaius Memmius từng có một số chính khách tìm cách hạ nhục Caesar bằng cách lôi chuyện này ra. Đây có thể chỉ là những đòn tung hoả mù sau khi ông bị ám sát. Caesar, theo Cassius Dio, đã phủ nhận nó bằng cách tuyên thệ. Ông vốn nhạy cảm với những chuyện như thế, và thực chất ông là người mê gái.
== Danh hiệu của Caesar ==
Divus – Thần linh (Sau khi chết)
Pater Patriae – Quốc phụ (người cha của Tổ quốc)
Pontifex Maximus – Đại giáo chủ
Corona Civica — Civic Crown
Ngay tên của Caesar cũng là một danh hiệu mà nhiều vị Hoàng đế sau này thường dùng để làm niên hiệu (tiếng Đức: Kaisar; các tiếng gốc Slav: Tsar/Czar). Mãi đến sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất mới hết các Vương triều sử dụng tên ông làm Đế hiệu. Tên của ông khi ông còn sống, cũng chỉ thông thường như mọi tên khác, nhưng nó đã trở thành một Đế hiệu khi ông chết đi.
== Những tác phẩm của Caesar ==
== Nguồn gốc bài viết ==
=== Chú thích ===
=== Nguồn cấp một ===
==== Các tác phẩm của Caesar ====
==== Cổ sử ====
=== Nguồn cấp hai ===
== Liên kết ngoài ==
C. Julius Caesar Jona Lendering's in‑depth history of Caesar (Livius. Org)
Guide to online resources
History of Julius Caesar
Julius Caesar at BBC History
Grey, D. The Assassination of Caesar, Clio History Journal, 2009.
== Xem thêm ==
Diễu binh chiến thắng (Trumph) của Caesar Tái hiện bởi đài truyền hình HBO -2005
Vụ mưu sát Caesar Tái hiện bởi đài truyền hình HBO -2005 |
macos.txt | OS X /ˌoʊ ɛs ˈtɛn/, (trước đây là Mac OS X) là một dòng hệ điều hành độc quyền, được phát triển và phân phối bởi Apple, được cài đặt sẵn trên các máy tính Macintosh. Mac OS X là thế hệ tiếp nối của Mac OS, hệ điều hành ban đầu của Apple từ năm 1984. Không như Mac OS, Mac OS X là một hệ điều hành kiểu Unix được xây dựng trên công nghệ được phát triển tại NeXT trong nửa đầu những năm 1980 và cho đến khi Apple mua công ty này vào đầu năm 1997.
Trước năm 2005, hệ điều hành Mac OS X dường như chỉ dành cho các máy tính dùng vi xử lý PowerPC(trong đó có Apple và một vài hãng khác), nhưng giờ đây, với việc chuyển đổi sang sử dụng chip Intel Duo Core, các máy tính PowerPC cũng có thể chạy được hệ điều hành Windows và ngược lại, một số máy PC chạy được Mac OS X với bản vá đặc biệt.
OS X v10.5 "Leopard" chạy trên bộ vi xử lý Intel; OS X v10.6 "Snow Leopard", OS X v10.7 "Sư tử" và OS X v10.8 "Mountain Lion " đã được chứng nhận UNIX 03. iOS, chạy trên iPhone, iPod Touch, iPad, iPad 2 & iPad 3 và Apple TV thế hệ thứ 3, chia sẻ Darwin và nhiều khuôn khổ với OS X. Một biến thể giấu tên của hệ điều hành Mac OS X 10.4 chạy trên Apple TV.
Phiên bản đầu tiên phát hành là Mac OS X Server 1.0 năm 1999, và một phiên bản máy tính để bàn, Mac OS X v10.0 "Cheetah" sau đó ngày 24 tháng 3 năm 2001. Phiên bản của OS X được đặt tên sau khi con mèo lớn: ví dụ, OS X v10.8 được gọi là "Mountain Lion".
Phiên bản máy chủ: hệ điều hành Mac OS X Server, kiến trúc giống hệt với các đối tác máy tính để bàn của nó, và bao gồm các công cụ để tạo thuận lợi cho quản lý nhóm làm việc của máy OS X, và để cung cấp dịch vụ mạng. Bắt đầu từ hệ điều hành OS X v10.7, OS X Server không còn được cung cấp như một sản phẩm điều hành hệ thống riêng biệt, thay vào đó, các công cụ quản lý máy chủ có sẵn để mua một cách riêng biệt, và được cài đặt sẵn trên máy chủ Mac Pro và Mac Mini chạy OS X.
== Lịch sử ==
OS X được dựa trên hạt nhân Mach. Các bộ phận nhất định của FreeBSD và thực hiện NetBSD của Unix đã được kết hợp trong NeXTSTEP, cốt lõi của Mac OS X. NeXTSTEP là các đồ họa, đối tượng-định hướng, và dựa trên UNIX - hệ điều hành hệ thống được phát triển bởi công ty của Steve Jobs NeXT sau khi ông rời Apple vào năm 1985. Trong khi Jobs rời khỏi Apple, Apple đã cố gắng để tạo ra một "thế hệ tiếp theo" hệ điều hành thông qua Taligent, Copland và Gershwin, với rất ít thành công.
Cuối cùng, NeXT'OS, sau đó được gọi là OPENSTEP, đã được lựa chọn là cơ sở tiếp theo của Apple OS, và của Apple mua NeXT hoàn toàn. Steve Jobs trở lại Apple như Giám đốc điều hành tạm thời, và sau đó trở thành Giám đốc điều hành, chăn dắt các chuyển đổi của các lập trình- OPENSTEP thân thiện thành một hệ thống có thể được thông qua bởi thị trường sơ cấp của người dùng gia đình và các chuyên gia sáng tạo của Apple. Dự án lần đầu tiên được biết đến như Rhapsody và sau đó được đổi tên thành Mac OS X.
Mac OS X Server 1.x, không tương thích với các phần mềm thiết kế cho hệ điều hành Mac OS và không có hỗ trợ cho Apple IEEE giao diện (FireWire) 1394. Mac OS X 10.x bao gồm khả năng tương thích ngược thông qua chức năng cổ điển và nhiều hơn nữa bằng cách giới thiệu các API Carbon cũng như hỗ trợ FireWire. Như hệ điều hành được phát triển, nó di chuyển từ hệ điều hành Mac cổ điển để nhấn mạnh một "phong cách kỹ thuật số" với các ứng dụng như bộ phần mềm iLife, iWork, FrontRow. Mỗi phiên bản cũng bao gồm sửa đổi giao diện, chẳng hạn như sự xuất hiện kim loại chải được thêm vào trong phiên bản 10,3, không sọc nhỏ trên thanh tiêu đề xuất hiện trong phiên bản 10,4, và trong 10,5 việc loại bỏ các phong cách kim loại chải trước đó ủng hộ của Thống Nhất "Gradient cửa sổ phong cách".
Trong năm 2012, với việc phát hành OS X Lion, tiền tố "Mac" đã chính thức được giảm trong tất cả các tài liệu tham khảo với tên hệ điều hành trong các tài liệu tiếp thị và với OS X Mountain Lion "Mac" đã bị bỏ trong tất cả các tài liệu tham khảo trong hệ điều hành riêng của mình. Tuy nhiên, các trang web và các tài liệu tiếp thị khác của Apple vẫn tiếp tục sử dụng cả hai "Mac OS X" và "OS X".
== Mac OS X trên các máy tính không do Apple sản xuất ==
Trong những năm 90, Apple đã từng cho phép các hãng sản xuất khác trong liên minh PowerPC sử dụng hệ điều hành Mac OS, nhưng việc này đã chấm dứt vào khoảng năm 1998 và Mac OS trở về mã nguồn kín. Việc cài đặt Mac OS X lên các máy tính không do Apple sản xuất bắt đầu được chú ý vào khoảng năm 2005, khi Apple chuyển sang dùng bộ xử lý Intel cho máy tính của họ và Mac OS X bắt đầu bộc lộ những ưu điểm so với Windows. Hiện nay, đề làm việc này có 2 cách, một là cài Mac OS X vào máy ảo trên nền Windows(sử dụng một vài phần mềm máy ảo như VMWare, VirtualBox), hai là cài song song(dual-boot) với Windows. Cả 2 cách đều không thể dùng đĩa cài đặt gốc Mac OS X do Apple sản xuất, mà phải dùng các phiên bản đã được tùy chỉnh bởi cộng đồng OSX86 để cho tương thích với các máy không thuộc Apple(có thể kể đến như Leo4all, iPC, Hazard, Kalyway, JaS,...) hoặc tự thêm các driver vào đĩa cài đặt gốc để việc cài đặt và sử dụng diễn ra suôn sẻ.
== Mac OS X ==
Public Beta Kodiak, Build 1H39
10.0 Cheetah, Build 4K78
10.0.1 Build 4L13
10.0.2 Build 4P12
10.0.3 Build 4P13
10.0.4 Build 4Q12
10.1 Puma, Build 5G64
10.1.1 Build 5M28
10.1.2 Build 5P48
10.1.3 Build 5Q45
10.1.4 Build 5Q125
10.1.5 Build 5S60
10.2 Jaguar, Build 6C115
10.2.1 Jaguar Red, Build 6D52
10.2.2 Jaguar Blue, Merlot, Build 6F21
10.2.3 Jaguar Green, Build6G30
10.2.4 Jaguar Pink, Build 6I32
10.2.5 Jaguar Plaid, Build 6L29
10.2.6 Jaguar Black, Build 6L60
10.2.7 Build 6R65
10.2.8 (G4) Build 6R73
10.2.8 (G5) Build 6S90
10.3 Panther, Build 7B85
10.3.1 Build 7C107
10.3.2 Build 7D24
10.3.3 Build 7F44
10.3.4 Build 7H63
10.3.5 Build 7M34
10.3.6 Build 7R28
10.3.7 Build 7S215
10.3.8 Build 7U16
10.3.9 Build 7W98
10.4 Tiger, Build 8A428
10.4.1 Build 8B15
10.4.2 Build 8C46
10.4.3 Build 8F46
10.4.4 Build 8G32
10.4.5 (PowerPC) Build 8H14
10.4.5 (Intel) Build 8G1454
10.4.6 (PowerPC) Build 8I1119
10.4.6 (Intel) Build 7U16
10.4.7 (PowerPC) Build 8J135
10.4.7 (Intel) Build 8J2135
10.4.8 (PowerPC) Build 8L127
10.4.8 (Intel) Build 8L2127
10.4.9 (PowerPC) Build 8P135
10.4.9 (Intel) Build 8P2137
10.4.10 (PowerPC) Build 8R218
10.4.10 (Intel) Build 8R2218
10.4.11 (PowerPC) Build 8S165
10.4.11 (Intel) Build 8S2167
10.5 Leopard, Build 9A581
10.5.1 Build 9B18
10.5.2 Build 9С31
10.5.3 Build 9D34
10.5.4 Build 9E17
10.5.5 Build 9F33
10.5.6 Build 9G55
10.5.7 Build 9J61
10.5.8 Build 9L30
10.6 Snow Leopard, Build 10A432
10.6.1 Build 10B504
10.6.2 Build 10C540
10.6.3 Build 10D573
10.6.4 Build 10F569
10.6.5 Build 10H548
10.6.6 Build 10J567
10.6.7 Build 10J869
10.6.8 Build 10K540
10.7 Lion, Build 11A511
10.7.1 Build 11B211
10.7.2 Build 11C74
10.7.3 Build 11D50
10.7.4 Build 11E53
10.7.5 Build 11G56
10.8 Mountain Lion, Build 12A269
10.8.1 Build 12B19
10.8.2 Build 12C54
10.8.2 Build 12C60
10.8.3 Build 12D78
10.9Mavericks, Build 13A603
10.9.1 Build 13B42
10.9.2 Build 13C64
10.9.3 Build 13D65
10.9.4 Build 13E28
10.9.5 Build 13F34
10.10Yosemite
10.11El Capitan
=== Mac OS X Server ===
1.0
10.0
10.1
10.2
10.3
10.4
10.5
10.6
10.7
10.8
10.9
10.10
== Tham khảo == |
stockport, ohio.txt | Stockport là một làng thuộc quận Morgan, tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ. Năm 2010, dân số của làng này là 503 người.
== Dân số ==
Dân số năm 2000: 540 người.
Dân số năm 2010: 503 người.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
American Finder |
quốc lộ (việt nam).txt | Tại Việt Nam, quốc lộ là đường nối liền thủ đô Hà Nội với trung tâm hành chính cấp tỉnh; đường nối liền trung tâm hành chính cấp tỉnh từ ba địa phương trở lên; đường nối liền từ cảng biển quốc tế, cảng hàng không quốc tế đến các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính trên đường bộ; đường có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng, khu vực.
== Bảng danh sách ==
Trên toàn lãnh thổ Việt Nam có 127 quốc lộ với tổng chiều dài 17.530 km. Trên đường có 4.028 cầu lớn nhỏ.
== Chi tiết các tuyến ==
Quốc lộ 1A dài 2395 km từ Hữu Nghị Quan tỉnh Lạng Sơn tới Năm Căn tỉnh Cà Mau. Đây cũng là tuyến đường thuộc hệ thống xa lộ xuyên Á AH1. Quốc lộ 1A là tuyến quốc lộ dài nhất Việt Nam. Quốc lộ 1A đi qua các thành phố quan trọng của Việt Nam như: Hà Nội, Đà Nẵng, Tp HCM, Cần Thơ.
Quốc lộ 1B dài 148.5 km từ Đồng Đăng qua Lạng Sơn, Gia Bảy, Thái Nguyên
Quốc lộ 1C dài 17.3 km từ Nha Trang - Khánh Hòa đến Diên Khánh - Khánh Hòa, thực chất là đoạn quốc lộ 1A cũ đi xuyên qua thành phố Nha Trang.
Quốc lộ 1D dài 54 km từ Quy Nhơn - Bình Định đến Sông Cầu - Phú Yên, thực chất là đoạn quốc lộ 1A cũ đi xuyên qua thành phố Quy Nhơn.
Quốc lộ 1K dài 20,6 km từ Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh đến Biên Hòa - Đồng Nai, thực chất là đoạn quốc lộ 1A cũ đi xuyên qua thành phố Biên Hòa.
Quốc lộ 2 dài 313,56 km, điểm đầu Phủ Lỗ - Hà Nội, điểm cuối cửa khẩu Thanh Thủy - Hà Giang.
Quốc lộ 2B: Phủ Lỗ - Kim Anh - Hương Canh - Vĩnh Yên - QL2 & QL2C
Quốc lộ 2C: QL32 (Đường Lâm) - Vĩnh Tường - Vĩnh Yên - Yên Sơn - QL37
Quốc lộ 3 Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Kạn - Cửa khẩu Tà Lùng Cao Bằng.
Quốc lộ 3B Lạng Sơn - Bắc Kạn.
Quốc lộ 3C: QL32 (Đường Lâm) - Vĩnh Tường - Vĩnh Yên - Yên Sơn - QL37
Quốc lộ 4 dự kiến sau năm 2020 sẽ hợp nhất từ các tuyến:
Quốc lộ 4A: thành phố Lạng Sơn - Cao Bằng, dài 116 km
Quốc lộ 4B: Tiên Yên, Quảng Ninh - thành phố Lạng Sơn, dài 92,3 km
Quốc lộ 4C: thành phố Hà Giang - Cao Bằng, dài 185 km
Quốc lộ 4D: Pa So (tỉnh Lai Châu)- Mường Khương (Lào Cai), dài 160 km
Quốc lộ 4E: ngã ba Xuân Quang, huyện Bảo Thắng (chỗ giao với Quốc lộ 70) - thành phố Lào Cai, dài 44 km
Quốc lộ 4G: ngã ba Chiềng An (thành phố Sơn La - chỗ giao với quốc lộ 6) - thị trấn Sông Mã, huyện Sông Mã.
Quốc lộ 4H: (Si Pa Phìn - Mường Nhé) dài 100 km.
Quốc lộ 5A: Hà Nội - Hải Dương - Hải Phòng
Quốc lộ 5B: cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, dài 105,5km.
Quốc lộ 6: dài 504 km từ trung tâm Hà Nội đến Điện Biên.
Quốc lộ 7: dài 225 km, nằm hoàn toàn tại Nghệ An
Quốc lộ 7B
Quốc lộ 8: dài 82 km, từ thị xã Hồng Lĩnh đến cửa khẩu Cầu Treo.
Quốc lộ 8B
Quốc lộ 9: Đông Hà - cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị).
Quốc lộ 9B
Quốc lộ 10: dài 230 km, điểm đầu thành phố Uông Bí, Quảng Ninh, điểm cuối Tào Xuyên - Thanh Hóa.
Quốc lộ 12: dài gần 200 km, nối Lai Châu và Điện Biên. Điểm đầu tại thị xã Lai Châu, điểm cuối giao với quốc lộ 279.
Quốc lộ 12A: nối Hà Tĩnh và Quảng Bình. Có hai tuyến là cũ và mới.
Quốc lộ 12B: dài gần 140 km qua Kim Sơn, Yên Mô, thành phố Tam Điệp, Nho Quan (Ninh Bình) và Yên Thủy, Lạc Sơn tới Tân Lạc (Hòa Bình).
Quốc lộ 12C
Quốc lộ 13: dài 140,5 km, bắt đầu từ Đài Liệt sĩ (TP.Hồ Chí Minh), đi qua Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Bến Cát (Bình Dương) và các huyện Chơn Thành, Bình Long, Lộc Ninh. Điểm cuối là cửa khẩu Hoa Lư.
Quốc lộ 14A: từ huyện Đa Krông, Quảng Trị đến ngã 4 Chơn Thành,Bình Phước, giao cắt với quốc lộ 13. Dài 1005 km. Có nhiều đoạn trùng với đường Hồ Chí Minh.
Quốc lộ 14B
Quốc lộ 14C
Quốc lộ 14D
Quốc lộ 14E
Quốc lộ 14G
Quốc lộ 15 dài 651 km, bắt đầu tại Tòng Đậu, giao với quốc lộ 6. Đi qua các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Điểm cuối giao với quốc lộ 9 tại Cam Lộ.
Quốc lộ 15B
Quốc lộ 15C
Quốc lộ 15D
Quốc lộ 16: nối TP Đồng Hới đến khu du lịch Phong Nha - Kẻ Bàng, nằm gọn trong địa giới tỉnh Quảng Bình.
Quốc lộ 17: dài 80 km, nối: Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên.
Quốc lộ 18: dài 340 km, đi qua các tỉnh thành: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Quảng Ninh.
Quốc lộ 18B
Quốc lộ 18C
Quốc lộ 19: Nối TP Quy Nhơn, Bình Định với TP Pleiku, Gia Lai.
Quốc lộ 19B
Quốc lộ 19C
Quốc lộ 20: Từ Ngã ba Dầu Giây (Đồng Nai) đến TP Đà Lạt
Quốc lộ 21: trước kia có điểm đầu giao với quốc lộ 32, hiện nay là ngã ba giao cắt với đường Hồ Chí Minh. Đi qua Hà Nội, Hà Nam và Nam Định. Có chiều dài 210 km.
Quốc lộ 21B: từ Hà Đông (Hà Nội) vòng qua Hà Nam, Nam Định tới Tam Điệp (Ninh Bình). Có chiều dài 210 km.
Quốc lộ 22: từ TP.Hồ Chí Minh đến cửa khẩu Mộc Bài (Tây Ninh), dài 58,5 km.
Quốc lộ 22B: Từ thị trấn Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh - cửa khẩu Xa Mát (Tây Ninh), qua thành phố Tây Ninh.
Quốc lộ 23
Quốc lộ 24: dài 132 km.
Quốc lộ 24B
Quốc lộ 24C
Quốc lộ 25: Nối TP Tuy Hòa, Phú Yên với thị trấn Chư Sê, tỉnh Gia lai
Quốc lộ 26: nối thị xã Ninh Hòa với TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk
Quốc lộ 26B: nối quốc lộ 1A đến cổng Nhà máy đóng tàu Vinashin Hyundai, nằm trọn trong địa phận thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
Quốc lộ 27: nối TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lăk với TP Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, qua Ngã ba Phi Nôm (Lâm Đồng)
Quốc lộ 27B
Quốc lộ 27C
Quốc lộ 28: nối TP Phan Thiết (Bình Thuận) với Thị xã Gia Nghĩa (Đắk Nông) qua Di Linh (Lâm Đồng)
Quốc lộ 28B
Quốc lộ 29: Nối TP Tuy Hòa, Phú Yên với TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk
Quốc lộ 30: dài khoảng 120 km, nối Tiền Giang và Đồng Tháp.
Quốc lộ 31: dài 143 km. Điểm đầu là ngã ba Bản Chắt (huyện Đình Lập, Lạng Sơn), điểm cuối tại thành phố Bắc Giang.
Quốc lộ 32: điểm đầu là cầu Giấy (quận Cầu Giấy). Nối Hà Nội với Phú Thọ, Yên Bái, Lai Châu. Điểm cuối gặp quốc lộ 4D. Tổng chiều dài là 415 km.
Quốc lộ 32B
Quốc lộ 32C
Quốc lộ 34: dài 260 km, điểm đầu thành phố Hà Giang, điểm cuối cửa khẩu Trà Lĩnh - Cao Bằng.
Quốc lộ 35: dài 6 km, là tuyến đường nối cảng Ninh Phúc với quốc lộ 1A, điểm đầu tại cầu Vòm, điểm cuối tại cảng Ninh Phúc.
Quốc lộ 37: dài 470 km, điểm đầu thị trấn Diêm Điền, điểm cuối ngã 3 Cò Nòi.
Quốc lộ 37B: dài 139 km, điểm đầu thị trấn Diêm Điền, qua tỉnh Nam Định, điểm cuối Duy Tiên, Hà Nam.
Quốc lộ 38: dài 85 km, điểm đầu thị xã Bắc Ninh, điểm cuối thị trấn Đồng Văn - Hà Nam.
Quốc lộ 38B: 145,06 km, kết nối từ Gia Lộc, Hải Dương, qua Hưng Yên, Hà Nam, TP Nam Định tới Nho Quan, Ninh Bình
Quốc lộ 39: dài 109 km, điểm đầu phố Nối Hưng Yên, điểm cuối cảng Diêm Điền - Thái Bình.
Quốc lộ 40: dài 20 km, điểm đầu thị trấn Ngọc Hồi Kon Tum, điểm cuối biên giới Việt - Lào.
Quốc lộ 40B: dài 209 km, điểm đầu xã Tam Thanh Tp Tam Kỳ, điểm cuối thị trấn Đắk Tô Kon Tum
Quốc lộ 43: dài 105 km, điểm đầu giao với quốc lộ 37, ngã ba Gia Phú điểm cuối đèo Ba Háng - Sơn La.
Quốc lộ 45: dài 136 km, điểm đầu phố Rịa Ninh Bình, điểm cuối ngã ba Như Xuân - Thanh Hóa.
Quốc lộ 46: dài 80 km, điểm đầu cảng Cửa Lò, Nghệ An, điểm cuối thị trấn Đô Lương - Nghệ An.
Quốc lộ 46B: nằm trọn trong địa phận huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
Quốc lộ 47: dài 61 km, điểm đầu thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa, điểm cuối xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.
Quốc lộ 48 gồm có:
Quốc lộ 48A: dài 122 km, điểm đầu Yên Lý, Nghệ An, điểm cuối thị trấn Quế Phong - Nghệ An.
Quốc lộ 48B
Quốc lộ 48C: dài 123 km. điểm đầu là ngã ba Săng Lẻ, Nghệ An, điểm cuối giao quốc lộ 7.
Quốc lộ 49: dài 97,5 km, điểm đầu cửa Thuận An, Thừa Thiên - Huế, điểm cuối giao cắt với quốc lộ 14 (đường Hồ Chí Minh).
Quốc lộ 49B
Quốc lộ 49C
Quốc lộ 50: điểm đầu cầu Nhị Thiên Đường Thành phố Hồ Chí Minh, điểm cuối TP Mỹ Tho (Tiền Giang) qua Cần Giuộc, Cần Đước, phà Mỹ Lợi, Thị xã Gò Công, Vĩnh Bình, Chợ Gạo, Mỹ Tho.
Quốc lộ 51: điểm đầu Ngã ba Vũng Tàu, điểm cuối TP Vũng Tàu qua Long Thành, Bà Rịa. Dài 86 km.
Quốc lộ 52: điểm đầu là cầu Điện Biên Phủ, điểm cuối nối Quốc lộ 1 tại Ngã 3 Trạm 2(xa lộ Đại Hàn). Tháng 10/1993 Bộ trưởng Bộ GTVT có quyết định chuyển QL52 (từ cầu Sài Gòn km 2+898 đến cầu Điện Biên Phủ) thành đường đô thị. Tháng 3/1998 Bộ tiếp tục ra quyết định chuyển phần còn lại từ ngã 3 giao với QL1 đến Nam cầu Sài Gòn thành đường đô thị. Như vậy từ km0 đến km12 toàn tuyến QL52 đã trở thành đường đô thị. Quốc lộ này và Quốc lộ 1 từ Ngã 3 Trạm 2 đến ngã 3 Quốc lộ 1k Biên Hòa khánh thành ngày 28/7/1961 được đặt tên là xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa. Năm 1984 đổi tên thành xa lộ Hà Nội.
Quốc lộ 53: dài 168 km điểm đầu TP Vĩnh Long, điểm cuối xã Long Vĩnh (Duyên Hải-Trà Vinh) qua Long Hồ, Vũng Liêm,Càn Long, TP Trà Vinh, Cầu Ngang,Duyên Hải.
Quốc lộ 54: dài 155 km điểm đầu TP Trà Vinh, điểm cuối Bến phà Vàm Cống (Lấp vò - Đồng Tháp) qua Châu Thành, Tiểu Cần, Cầu Kè(Trà Vinh), Trà Ôn, Bình Minh, Bình Tân (Vĩnh Long), Lai Vung (Đồng Tháp)
Quốc lộ 55: điểm đầu thành phố Bà Rịa, điểm cuối là thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Quốc lộ 56: điểm đầu thành phố Bà Rịa, điểm cuối thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Quốc lộ 57: nối Vĩnh Long và Bến Tre. Điểm đầu giao với quốc lộ 53 tại ngã ba Đồng Quê và kết thúc tại Thạnh Phú. Dài 105 km.
Quốc lộ 60: điểm đầu TP Mỹ Tho (Tiền Giang)qua cầu Rạch Miễu đến huyện Châu Thành, TP Bến Tre, qua cầu Hàm Luông về huyện Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam (tỉnh Bến Tre)qua phà Cổ Chiên về TP Trà Vinh, đi xuyên qua huyện Tiểu Cần vượt sông Hậu ở Cầu Quan qua Đại Ngãi kết thúc tại TP Sóc Trăng.
Quốc lộ 61: điểm đầu TT Cái Tắc (Hậu Giang) điểm cuối Rạch Sỏi(Kiên Giang) đi qua các TT Rạch Gòi(Châu Thành A), TT Kinh Cùng(Phụng Hiệp), TT Nàng Mau (Vị Thủy), TP Vị Thanh tỉnh Hậu Giang, cầu Cái Tư, huyện Giồng Riềng, Gò Quao tỉnh Kiên Giang.
Quốc lộ 61B: điểm đầu ngã 3 Vĩnh Tường (Hậu Giang) điểm cuối TT Phú Lộc (Sóc Trăng) đi qua các TT Long Mỹ (Long Mỹ), TX Ngã Năm (Sóc Trăng) và TT Phú Lộc (Sóc Trăng).
Quốc lộ 62: (đại lộ Đồng Tháp Mười) điểm đầu Tp Tân An (Long An), điểm cuối cửa khẩu Mộc Hóa...
Quốc lộ 63: Bắt đầu từ Ngã 3 Minh Lương (Châu Thành, Kiên Giang) đi qua phà Xẻo Rô qua các huyện An Biên, U Minh Thượng, Vĩnh Thuận của tỉnh Kiên Giang nối với huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Quốc lộ 70: dài 185 km. Có điểm đầu giao cắt với quốc lộ 2A tại thị trấn Đoan Hùng. Tuyến đường nối các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai. Điểm cuối là ngã ba Bản Phiệt, cắt quốc lộ 4D tại thành phố Lào Cai. Đây là một phần của AH 14.
Quốc lộ 70B
Quốc lộ 71: nối huyện Hương Sơn với huyện Vũ Quang.
Quốc lộ 80: dài khoảng 280 km, điểm đầu Cầu Mỹ Thuận, điểm cuối thị xã Hà Tiên
Quốc lộ 91: dài khoảng 142,1 km, điểm đầu thành phố Cần Thơ, điểm cuối cửa khẩu Tịnh Biên, An Giang...
Quốc lộ 91B: có chiều dài 17,793 km, là con đường nối từ cảng Cái Cui thuộc phường Tân Phú, quận Cái Răng đến quốc lộ 91 tại phường Phước Thới, quận Ô Môn trong địa phận thành phố Cần Thơ.
Quốc lộ 91C
Quốc lộ 100: dài 21 km, nối quốc lộ 4D với quốc lộ 12. Toàn tuyến nằm trọn trong tỉnh Lai Châu.
Quốc lộ 217: dài 196 km, nằm trong tỉnh Thanh Hóa. Từ quốc lộ 1A tại thành phố Thanh Hóa đến cửa khẩu Na Mèo.
Quốc lộ 279: dài khoảng trên 600 km, điểm đầu từ ngã tư Ao Cá, thành phố Hạ Long, Quảng Ninh chạy qua Bắc Giang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên và kết thúc tại cửa khẩu Tây Trang của tỉnh Điện Biên
Quốc lộ N1: Tổng chiều dài của tuyến đường N1 là 235 km, qua các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang, đi dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia.
Quốc lộ N2: Tổng chiều dài 440 km đi qua 8 tỉnh: Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau.
Quốc lộ Nam Sông Hậu: còn được gọi là quốc lộ 91C, dài 165 km đi qua các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hậu Giang và thành phố Cần Thơ.
Quốc lộ Quản Lộ - Phụng Hiệp: có chiều dài 111,74 km qua 4 tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.
== Kỷ lục ==
Quốc lộ dài nhất: quốc lộ 1A với chiều dài 2.395 km. Đường Hồ Chí Minh mặc dù có tổng chiều dài lớn hơn quốc lộ 1A nhưng thực chất chỉ là đường nối nhiều tuyến quốc lộ khác với nhau như quốc lộ 2, quốc lộ 3, quốc lộ 12B, quốc lộ 21, quốc lộ 15, quốc lộ 14, quốc lộ 63, quốc lộ 80,... và có những đoạn như tỉnh lộ 203 ở Cao Bằng chưa được nâng cấp thành quốc lộ.
Quốc lộ ngắn nhất là tuyến đường nối cảng Ninh Phúc hay còn gọi là quốc lộ 35 ở Ninh Bình chỉ với chiều dài 6 km.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
shisha.txt | Shisha (شيشة), xuất phát từ chữ shīshe (شیشه) trong tiếng Ba Tư hay ống nước là một thiết bị có một hoặc nhiều thân (thường làm bằng thủy tinh) dùng để hút thuốc lá, trong đó khói được lọc và làm lạnh bằng cách đi qua nước. Xuất phát từ Ấn Độ, shisha đã trở nên phổ biến, đặc biệt tại Trung Đông và dần dần được biết đến ngày càng nhiều ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Úc và Brasil.
== Tên gọi ==
Tùy vào từng địa phương, shisha hay hookah thường được gọi bằng nhiều tên: tiếng Ả Rập gọi là Shisha (شيشة) hoặc Nargeela (نرجيلة) hoặc Argeela (أركيلة\أرجيلة) và được sử dụng trong toàn bộ thế giới Ả Rập; Narguileh (đôi khi còn đọc là Argilah) là tên thường dùng ở Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Hy Lạp, Síp, Armenia, Azerbaijan, Liban, Iraq, Jordan, và Syria. Narghile xuất phát từ chữ Ba Tư nārghile, có nghĩa là cây dừa, từ này lại xuất phát từ chữ Phạn nārikela (नारिकेला), cho thấy khi xưa shisha được làm từ vỏ dừa.
== Lịch sử ==
Người ta vẫn chưa biết chính xác thời gian và nơi Shisha được nghĩ ra. Theo Cyril Elgood (trang 41, 110) trong đó không ghi nguồn tham khảo, người nghĩ ra thứ này là Hakim Abu’l-Fatḥ Gīlānī (mất năm 1588), một bác sĩ người Ba Tư làm việc tại cung điện của hoàng đế Mughal Akbar I (1542 - 1605). Sau khi người châu Âu đưa thuốc lá vào Ấn Độ, Hakim, hậu duệ của Abdul-Qadir Gilani người tỉnh Gilan, một tỉnh ở phía bắc Iran đến sinh sống tại Ấn Độ, rồi trở thành bác sĩ trong cung điện Mughal đã tỏ ra lo ngại khi việc hút thuốc lá ngày càng phổ biến trong giới quý tộc Ấn Độ, nên ông mường tượng ra một hệ thống làm cho khói phải đi qua nước để được 'tinh lọc'. Gilani đã nghĩ ra ḡalyān sau khi Asad Beg, đại sứ của Bijapur, khuyến khích Akbar hút thuốc. Sau khi thiết bị mới này đã phổ biến trong giới quý tộc, nó nhanh chóng trở thành biểu tượng của đẳng cấp của giới quý tộc và cận quý tộc. Ở phía bắc Ấn Độ, truyền thống này còn giữ trong cách dân tộc Jat, Bisnois, Rajput, v.v. Tuy vậy, một bài thơ của nhà thơ Ba Tư Ahlī Šīrāzī (mất năm 1535) đã nhắc đến việc sử dụng ḡalyān (Falsafī, II, tr. 277; Semsār, 1963, tr. 15), vì thế có thể nó đã được dùng từ thời kỳ Vua Ṭahmāsp I (1514-1576). Vì thế, có vẻ như Abu’l-Fatḥ Gīlānī chỉ là người có công truyền bá ḡalyān, thứ đã được dùng ở Ba Tư, đến Ấn Độ.
== Cấu trúc và hoạt động ==
=== Thành phần ===
Nếu không kể ống dây, một shisha bao gồm một số thành phần, trong đó có bốn thành phần quan trọng.
==== Chén ====
Hay còn được gọi là đầu shisha, chén đóng vai trò bình chứa, thường được làm từ đất sét hoặc cẩm thạch, có tác dụng giữ than và thuốc lá trong quá trình hút. Người ta bỏ thuốc lá vào chén rồi được phủ một miếng giấy bạc có đục lỗ hoặc một màn bằng thủy tinh hay kim loại. Than hồng sẽ được đặt lên trên cùng, để có thể đốt thuốc lá với nhiệt độ thích hợp.
Cũng có biến thể trong phần đầu của shisha, trong đó người ta dùng trái cây thay cho chén đất truyền thống. Trái cây được khoét rỗng ruột và đục lỗ để có được hình dạng và cấu trúc tương tự như chén đất, rồi bỏ thuốc vào giống như cách trên.
Gần đây người ta cũng cải tiến cái chén để giữ nước ép trong thuốc lá. Chén Tangiers Phunnel và Chén Sahara Vortex là hai mẫu chén shisha cải tiến này.
==== Màn gió (có thể có, có thể không) ====
Màn gió shisha là một tấm phủ đặt lên trên phần chén, có dạng lỗ khí. Nó ngăn gió không làm tăng tỷ lệ cháy và nhiệt độ của củi, và để tro và tàn than bay lên không khí xung quanh. Nó hạn chế cháy vì làm cho than không văng ra khi có va chạm.
==== Vòi ====
Vòi là một ống dẻo dài cho phép hút khói từ xa, làm cho nguội trước khi hít vào. Phía đầu ống thường được bịt bằng một miếng hút bằng kim loại, gỗ, hoặc nhựa với hình dáng và màu sắc khác nhau. Có thể có một hoặc nhiều ống trong một shisha.
==== Thân và miếng đệm ====
Thân shisha là một cái ống rỗng. Chén được gắn ở phía trên ống. Đôi khi người ta gắn xô đá vào giữa thân và chén để làm mát khói. Ở cuối là một ống hẹp được nhúng chìm trong nước. Nơi thân gắn với bình nước được hàn kín bằng một miếng đệm. Gần đó có ít nhất hai cái lỗ thoát khí phía trên nước. Người ta có thể gắn vòi vào một hoặc nhiều lỗ này.
==== Van làm sạch (không bắt buộc) ====
Nhiều shisha được trang bị một van làm sạch gắn với bình nước nối ra ngoài không khí để làm sạch khói cũ nằm trong bình lâu ngày. Van một chiều này thường là một hòn bi đơn giản bịt lỗ bằng sức nặng và sẽ mở ra nếu người ta thổi vào vòi.
==== Bình nước ====
Thân shisha nằm trên một bình nước. Đầu dưới của ống thân nằm dưới mặt nước. Khói được truyền qua thân và khỏi đầu dưới, tạo thành bọt trong nước. Làm như vậy sẽ làm mát và làm ẩm khói. Người ta thường dùng nước trái cây đổ thêm vào nước hoặc thay hoàn toàn nước. Một miếng trái cây, lá bạc hà, và đá viên cũng có thể bỏ thêm vào.
==== Đĩa ====
Một cái đĩa hoặc khay tàn thuốc nằm ngay phía dưới chén để hứng tàn rơi khỏi than.
==== Vành đai ====
Vành đai trong shisha thường được gắn giữa chén và thân, giữa miếng đệm thân và bình nước và giữa thân với vòi. Tác dụng của vành đây, tuy không bắt buộc, nhưng để giúp hàn chặt các đoạn nối giữa các bộ phận, giúp làm giảm lượng khí đưa vào và làm tăng lượng khói hít vô.
==== Miếng khuếch tán (có thể có hoặc không) ====
Miếng khuếch tán là một thiết bị bằng nhựa nhỏ có đục lỗ nối với cuối ống. Phần này được nhúng hoàn toàn trong nước, nên tác dụng của nó là phá vỡ bọt khí tạo ra trong quá trình lọc khói, khiến cho khói sạch hơn và bớt tiếng lọc bọc. Nó được dùng trong các shisha sang trọng để hút kiểu thượng hạng và không phải là thiết bị bắt buộc.
=== Cách hoạt động ===
Người ta đổ nước vào bình ở phía dưới shisha để ống thân đã gắn chặt ngập trong nước khoảng vài phân. Nước càng sâu thì lực hút khi dùng càng phải lớn. Thuốc lá được bỏ vào trong chén đặt ở đầu shisha và than hồng đặt trên đầu thuốc lá. Một số nền văn hóa phủ chén bằng một miếng thiếc hoặc màn kim loại để ngăn cách than với thuốc, làm tối thiểu lượng tro than lẫn trong khói. Cách này cũng giúp giảm nhiệt độ đốt thuốc, để tránh làm cháy thuốc trực tiếp.
Khi người ta hút vòi, khí được đẩy qua cục than và vào trong chén đựng thuốc. Không khí nóng do than tỏa ra sẽ làm bốc hơi (chứ không cháy) thuốc lá, tạo ra khói, rồi được truyền xuống ống thân để đi vào nước trong bình. Khí sẽ tạo ra bọt, mất nhiệt, và tràn lên phần trên của bình, nơi có gắn vòi. Khi người hút hút vòi, khói sẽ đi vào phổi, và sự thay đổi áp suất trong bình sẽ lại kéo khí vào than, tiếp tục quá trình.
Nếu shisha được đốt và tạo ra khói nhưng không ai hút trong thời gian dài, khói bên trong bình nước sẽ được coi là "cũ" và không ngon nữa. Khói cũ sẽ được đẩy ra ngoài qua van làm sạch, nếu có.
== Tác động đến sức khỏe ==
Nhiều người lầm tưởng là khói từ shisha ít nguy hiểm hơn nhiều so với khói thuốc lá. Hơi nước do shisha tạo ra làm cho khói bớt khó chịu và gây ra cảm giác an toàn giả tạo, bớt lo lắng về tác hại thực sự đối với sức khỏe. Các bác sĩ tại nhiều bệnh viện trong đó có Phòng khám Mayo đã nói rằng việc hút shisha cũng tàn phá sức khỏe y như hút thuốc lá, và một nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới cũng xác nhận kết quả này.
Mỗi lượt hút shisha thường kéo dài hơn 40 phút, và gồm từ 50 đến 200 lần hít, mỗi lần từ 0,15 đến 0,5 lít khói. Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới và Hội Ung thư Hoa Kỳ cho thấy, trong một lượt hút shisha kéo dài một giờ, một người có thể sẽ hít nhiều gấp 100 đến 200 lượng khói và nhiều hơn 70% lượng nicotine so với hút một điếu thuốc lá.
Một nghiên cứu vào năm 2005 cũng cho thấy người hút shisha có nguy cơ mắc bệnh răng miệng gấp 5 lần người không hút. Người hút shisha cũng có nguy cơ bị ung thư phổi cao gấp 5 lần người không hút.
Nước dùng để lọc khói hoàn toàn không hiệu quả trong việc loại bỏ tất cả các chất độc hại.
Một nghiên cứu về việc hút shisha và ung thư tại Pakistan đã được xuất bản năm 2008. Mục tiêu của nghiên cứu là "tìm ra mức độ huyết thanh CEA trong những người chỉ hút shisha, tức là những ai hút shisha mà không hút thứ nào khác (thuốc lá, bidi, v.v.), nhồi thuốc từ 1 đến 4 lần một ngày, mỗi lần một lượng 120 g (một chén trung bình chứa 30g) hỗn hợp thuốc lá-mật đường (tức là lượng thuốc lá tương đương với 60 điếu thuốc, mỗi điếu 1g thuốc) và hút hết trong 1 đến 8 lượt". Carcinoembryonic antigen (CEA) là chỉ dấu tìm thấy trong một vài dạng ung thư. Mức độ huyết thanh này trong những người chỉ hút shisha thấp hơn so với người hút thuốc điếu mặc dù con số này không khác biệt về mặt thống kê giữa người hút shisha và người không hút. Ngoài ra, nghiên cứu cũng kết luận rằng việc hút shisha nặng (2-4 lần chuẩn bị mỗi ngày; 3-8 lượt mỗi ngày; từ 2 đến 6 tiếng) làm tăng đáng kể lượng CEA.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
The Sacred Narghile, a site containing transdisciplinary anthropological (including on origins) and biomedical information and discussions of the above cited scientific studies
Shisha agent and how to used
WHO Report on water pipe (hookah), by WHO Study Group on Tobacco Product Regulation (TobReg).
Critique of the WHO Report on water pipe (hookah) by Chaouachi Kamal. A Critique of WHO's TobReg "Advisory Note" titled: "Waterpipe Tobacco Smoking: Health Effects, Research Needs and Recommended Actions by Regulators. Journal of Negative Results in Biomedicine 2006 (17 Nov); 5:17 (Highly Accessed)
Scientific Evidence of the Health Risks of Hookah Smoking (University of Maryland, College Park: ngày 9 tháng 6 năm 2008, vol 17, issue 23
10 FACTS you need to know about HOOKAH (yPortal, version 1) |
thực vật.txt | Thực vật là những sinh vật có khả năng tạo cho mình chất dinh dưỡng từ những hợp chất vô cơ đơn giản và xây dựng thành những phần tử phức tạp nhờ quá trình quang hợp, diễn ra trong lục lạp của thực vật. Như vậy thực vật chủ yếu là các sinh vật tự dưỡng. Quá trình quang hợp sử dụng năng lượng ánh sáng được hấp thu nhờ sắc tố màu lục - Diệp lục có ở tất cả các loài thực vật (không có ở động vật) và nấm là một ngoại lệ, dù không có chất diệp lục nhưng nó thu được các chất dinh dưỡng nhờ các chất hữu cơ lấy từ sinh vật khác hoặc mô chết. Thực vật còn có đặc trưng bởi có thành tế bào bằng xenluloza (không có ở động vật). Thực vật không có khả năng chuyển động tự do ngoại trừ một số thực vật hiển vi có khả năng chuyển động được. Thực vật còn khác ở động vật là chúng phản ứng rất chậm với sự kích thích, sự phản ứng lại thường phải đến hàng ngày và chỉ trong trường hợp có nguồn kích thích kéo dài.
Thực vật là một nhóm chính các sinh vật, bao gồm các sinh vật rất quen thuộc như cây gỗ, cây hoa, cây cỏ, dương xỉ hay rêu. Khoảng 350.000 loài thực vật, được xác định như là thực vật có hạt, rêu, dương xỉ và các dạng gần giống như dương xỉ, đã được ước tính là đang tồn tại. Vào thời điểm năm 2004, khoảng 287.655 loài đã được nhận dạng, trong đó 258.650 loài là thực vật có hoa và 15.000 loài rêu.
Aristotle phân chia sinh vật ra thành thực vật, nói chung là không di chuyển được, và động vật. Trong hệ thống của Linnaeus, chúng trở thành các giới Vegetabilia (sau này là Plantae) và Animalia. Kể từ đó trở đi, một điều trở nên rõ ràng là giới thực vật như trong định nghĩa nguyên thủy đã bao gồm vài nhóm không có quan hệ họ hàng gì, và người ta đã loại nấm và một vài nhóm tảo ra để tạo thành các giới mới. Tuy nhiên, chúng vẫn còn được coi là thực vật trong nhiều ngữ cảnh. Thực vậy, bất kỳ cố gắng nào nhằm làm cho "thực vật" trở thành một đơn vị phân loại đơn duy nhất đều chịu một số phận bi đát, do thực vật là một khái niệm được định nghĩa một cách gần đúng, không liên quan với các khái niệm được cho là đúng của phát sinh loài, mà phân loại học hiện đại đang dựa vào nó.
== Sự đa dạng ==
Hơn 5000.000 loài thực vật, gồm thực vật có hạt, rêu, dương xỉ và cận dương xỉ (fern ally) được thống kê hiện đang tồn tại. Năm 2004, 287.655 loài được xác định, trong số đó 258.650 là loài có hoa, 16.000 loài rêu, 11.000 loài dương xỉ và 8.000 loài tảo xanh.
=== Thực vật có phôi ===
Quen thuộc nhất là các loài thực vật đa bào sống trên mặt đất, được gọi là thực vật có phôi (Embryophyta). Chúng bao gồm các loài thực vật có mạch, là các loại thực vật với các hệ thống đầy đủ của lá, thân và rễ. Chúng cũng bao gồm cả một ít các loài có quan hệ họ hàng gần với thực vật có mạch, thường được gọi trong khoa học là Bryophyta, với các loài rêu là phổ biến nhất.
Tất cả các loại thực vật này đều có các tế bào nhân chuẩn với các màng tế bào được tạo thành từ xenluloza và phần lớn thực vật thu được nguồn năng lượng thông qua quang hợp, trong đó chúng sử dụng ánh sáng và điôxít cacbon để tổng hợp thức ăn. Khoảng 300 loài thực vật không quang hợp mà sống ký sinh trên các loài thực vật quang hợp khác. Thực vật là khác với tảo lục, mà chúng đã tiến hóa từ đó, ở điểm là chúng có các cơ quan sinh sản chuyên biệt được các mô không sinh sản bảo vệ.
Các loài rêu trong nhóm Bryophyta lần đầu tiên xuất hiện từ đầu đại Cổ Sinh. Chúng chỉ có thể sống sót trong các môi trường ẩm ướt, và giữ nguyên kích thước nhỏ trong suốt chu trình sống của chúng. Nó bao gồm sự luân phiên giữa hai thế hệ: giai đoạn đơn bội, được gọi là thể giao tử và giai đoạn lưỡng bội, được gọi là thể bào tử. Thể bào tử có thời gian sống ngắn và là phụ thuộc vào cha, mẹ của chúng.
Thực vật có mạch xuất hiện lần đầu tiên vào thời kỳ của kỷ Silur (409-439 Ma), và vào kỷ Devon (359-416 Ma) chúng đã đa dạng hóa và lan rộng trong nhiều môi trường đất khác nhau. Chúng có nhiều cơ chế thích nghi, cho phép chúng vượt qua các hạn chế của Bryophyta. Các cơ chế này bao gồm lớp biểu bì (chất cutin) chống bị khô và các mô có mạch để vận chuyển nước trong khắp cơ thể. Ở nhiều loài, thể bào tử đóng vai trò như một cá thể tách rời, trong khi thể giao tử vẫn là nhỏ.
Thực vật có hạt nguyên thủy đầu tiên, Pteridospermatophyta (dương xỉ có hạt) và nhóm Cordaitales, cả hai nhóm này hiện nay đã tuyệt chủng, đã xuất hiện vào cuối kỷ Devon và đa dạng hóa trong kỷ Than Đá (280-340 Ma), với sự tiến hóa kế tiếp diễn ra trong kỷ Permi (248-280 Ma) và kỷ Trias (200-251 Ma). Ở chúng, giai đoạn thể giao tử bị suy giảm hoàn toàn, và thể bào tử bắt đầu cuộc sống bên trong lớp bao bọc, gọi là hạt, chúng phát triển khi đang ở trên thực vật cha mẹ và với sự thụ phấn bằng các hạt phấn. Trong khi các loài thực vật có mạch khác, chẳng hạn như dương xỉ, sinh sản nhờ các bào tử và cần có sự ẩm ướt để phát triển thì một số thực vật có hạt có thể sinh sống và sinh sản trong các điều kiện cực kỳ khô cằn.
Các loài thực vật có hạt đầu tiên được nói đến như là thực vật hạt trần (Gymnospermae), do phôi hạt không được bao bọc trong một cấu trúc bảo vệ khi thụ phấn, với các hạt phấn trực tiếp hạ xuống phôi. Bốn nhóm còn sống sót hiện vẫn phổ biến rộng khắp, cụ thể là thực vật quả nón, là nhóm cây thân gỗ thống trị trong một vài quần xã sinh vật. Thực vật hạt kín (Angiosperm), bao gồm thực vật có hoa, là nhóm thực vật chính cuối cùng đã xuất hiện, nảy ra từ thực vật hạt trần trong kỷ Jura (146-200 Ma) và đa dạng hóa nhanh chóng trong kỷ Phấn Trắng (65-146 Ma). Chúng khác với thực vật hạt trần ở chỗ các phôi hạt được bao bọc, vì thế phấn hoa cần phải phát triển một ống để xâm nhập qua lớp vỏ bảo vệ hạt; chúng là nhóm thống trị trong giới thực vật ngày nay ở phần lớn các quần xã sinh vật.
=== Phát sinh loài ===
Phát sinh loài dưới đây của Plantae lấy theo Kenrick và Crane, với biến đổi đối với Pteridophyta lấy theo Smith và ctv.. Prasinophyceae có thể là nhóm cơ sở cận ngành đối với toàn bộ thực vật xanh.
== Tảo ==
Tảo bao gồm vài nhóm sinh vật khác biệt, sinh ra nguồn năng lượng thông qua quang hợp. Dễ thấy nhất là các loài tảo biển, là các loại tảo đa bào thông thường rất giống với thực vật trên đất liền, được tìm thấy bao gồm tảo lục, tảo đỏ và tảo nâu. Các nhóm tảo này cùng với các nhóm tảo khác cũng bao gồm các sinh vật đơn bào khác nhau.
Thực vật có phôi đã phát triển và tiến hóa từ tảo lục; cả hai được gọi tổng thể như là thực vật xanh (Viridaeplantae). Giới thực vật (Plantae) hiện nay thông thường được chọn lựa sao cho nó là một nhóm đơn ngành, như chỉ ra trên đây. Với một ít ngoại lệ trong nhóm tảo lục, tất cả các dạng này đều có màng tế bào chứa xenluloza và lạp lục chứa các chất diệp lục a và b, và lưu trữ nguồn thức ăn dưới dạng tinh bột. Chúng trải qua sự phân bào có tơ khép kín mà không có các trung thể, và thông thường có các ti thể với các nếp màng trong thể sợi hạt phẳng.
Các lạp lục của thực vật xanh cũng được 2 màng bao quanh, gợi ý rằng chúng có nguồn gốc trực tiếp từ vi khuẩn lam nội cộng sinh. Điều này cũng đúng với tảo đỏ (xem Archaeplastida), và hai nhóm này nói chung được coi là có nguồn gốc chung. Ngược lại, phần lớn các nhóm tảo khác có các lạp lục với 3 hoặc 4 màng. Về tổng thể chúng là không có quan hệ họ hàng gần gũi với thực vật xanh, có lẽ có được các lạp lục tách rời khỏi các nhóm tảo lục hay tảo đỏ cộng sinh.
Không giống như thực vật có phôi và tảo, nấm không có cơ chế quang hợp, mà là dạng sinh vật hoại sinh: chúng thu được nguồn thức ăn bằng cách phân hủy và hấp thụ các vật chất xung quanh chúng. Phần lớn các loài nấm được tạo thành bởi các ống cực nhỏ, gọi là sợi nấm, chúng có thể hoặc không thể phân chia thành các tế bào nhưng chứa nhân tế bào. Phần giống như quả, trong đó các loài nấm đất là thông thường nhất, trên thực tế chỉ là các cấu trúc sinh sản của nấm. Chúng không có quan hệ tới bất kỳ nhóm thực vật quang hợp nào, mà có quan hệ họ hàng gần gũi với động vật.
== Tầm quan trọng ==
Quang hợp và cố định điôxít cacbon của thực vật có phôi và tảo là nguồn năng lượng cũng như nguồn các chất hữu cơ cơ bản nhất trong gần như mọi môi trường sống trên Trái Đất. Quá trình này cũng làm thay đổi hoàn toàn thành phần của khí quyển Trái Đất, với kết quả là nó có thành phần ôxy cao. Động vật và phần lớn các sinh vật khác là các sinh vật hiếu khí, phụ thuộc vào ôxy; chúng không thể sinh sống được trong các môi trường hiếm khí.
Phần lớn nguồn dinh dưỡng của loài người phụ thuộc vào ngũ cốc. Các loại thực vật khác mà con người cũng dùng bao gồm các loại hoa quả, rau, gia vị và cây thuốc. Một số loài thực vật có mạch, được coi là cây thân gỗ hay cây bụi, sản sinh ra các thân gỗ và là nguồn vật liệu xây dựng quan trọng. Một số các loài cây khác được sử dụng với mục đích làm cảnh hay trang trí, bao gồm nhiều loại cây hoa.
Như vậy, có thể cho rằng thực vật là yếu tố cơ bản của sự sống trên Trái Đất. Không có thực vật thì nhiều sinh vật khác cũng không thể tồn tại, vì các dạng sinh vật cao hơn đều trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào thực vật và về cơ bản đều sử dụng thực vật như là nguồn thức ăn. Trong khi đó, hầu hết mọi thực vật đều có thể sử dụng ánh sáng Mặt Trời tự tạo thức ăn cho mình.
== Quan hệ sinh thái ==
Quang hợp do thực vật đất liền và rong, tảo thực hiện là nguồn năng lượng và vật chất hữu cơ cơ bản trong gần như mọi hệ sinh thái. Quá trình quang hợp đã làm thay đổi căn bản thành phần của khí quyển Trái Đất thời nguyên thủy, với kết quả là 21% ôxy như ngày nay. Động vật và phần lớn các sinh vật khác là các sinh vật hiếu khí, phụ thuộc vào ôxy; những sinh vật không hiếu khí là những loài có môi trường sống bị giam hãm trong các môi trường kỵ khí. Thực vật là các nhà sản xuất chính trong phần lớn các hệ sinh thái mặt đất và tạo thành nền tảng của chuỗi thức ăn trong các hệ sinh thái này. Nhiều động vật dựa vào thực vật như là nơi trú ẩn cũng như nguồn thức ăn và ôxy.
Thực vật đất liền là thành phần quan trọng trong chu trình nước và một vài chu trình hóa địa sinh khác. Một số thực vật cộng sinh cùng với các vi khuẩn cố định đạm, làm cho thực vật trở thành một phần quan trọng trong chu trình nitơ. Các rễ thực vật đóng vai trò thiết yếu trong sự hình thành và phát triển của các loại đất và ngăn cản xói mòn đất. Các quần xã sinh vật trên Trái Đất được gọi tên theo loại thực vật là do thực vật là các sinh vật thống lĩnh trong các quần xã này.
Hàng loạt các động vật đã cùng tiến hóa với thực vật. Nhiều động vật thụ phấn cho hoa để đổi lấy là nguồn thức ăn trong dạng phấn hoa hay mật hoa. Nhiều động vật cũng làm các hạt được phân tán rộng khắp do chúng ăn quả và để lại hạt trong phân của chúng. Cây ổ kiến gai (Myrmecodia armata) là những thực vật đã cùng tiến hoa với kiến. Cây cung cấp nơi cư trú, và đôi khi là thức ăn cho kiến. Để đổi lại, kiến bảo vệ cây tránh khỏi các loài động vật ăn cỏ và đôi khi là các loài cây cạnh tranh khác. Các chất thải của kiến lại cung cấp một lượng phân bón hữu cơ cho cây.
Phần lớn các loài thực vật gắn liền với nhiều loại nấm tại hệ rễ của chúng, trong dạng cộng sinh phụ thuộc, được biết đến như là nấm rễ (mycorrhiza). Nấm giúp cho cây thu được nước và các chất dinh dưỡng từ đất, trong khi cây cung cấp cho nấm các loại cacbohyđrat được sản xuất nhờ quang hợp. Một số thực vật còn là nơi ở cho các loại nấm sống trên cây, chúng bảo vệ cây khỏi các loài ăn cỏ bằng cách tiết ra các chất có độc tính. Một loại nấm như vậy là Neotyphodium coenophialum, có trên những cây cỏ đuôi trâu cao (Festuca arundinacea) đã gây ra nhiều tổn thất kinh tế cho ngành chăn nuôi bò của Hoa Kỳ.
Các dạng khác nhau của sự sống ký sinh cũng khá phổ biến giữa các loài thực vật, từ dạng bán ký sinh như cây tầm gửi (một phần bộ Santalales) chỉ đơn thuần lấy đi một số chất dinh dưỡng từ cây chủ và vẫn có các lá có khả năng quang hợp, tới các loài ký sinh hoàn toàn như các loài cỏ chổi (chi Orobanche) hay các loài cỏ thuộc chi Lathrea lấy tất cả các loại chất dinh dưỡng chúng cần thông qua sự kết nối vào rễ các loài thực vật khác, và không có diệp lục. Một số loài thực vật, được biết đến như là dị dưỡng nấm, chúng ký sinh các loài nấm rễ, và vì thế có cơ chế hoạt động ký sinh ngoài trên các loài thực vật khác.
Nhiều loài thực vật là biểu sinh, nghĩa là chúng sống trên các loài thực vật khác, thường là trên các cây thân gỗ, mà không ký sinh các cây này. Thực vật biểu sinh có thể gián tiếp gây hại cho cây chủ bằng cách ngăn chặn nguồn chất khoáng và ánh sáng mà nếu không có chúng thì cây chủ đã nhận được. Một lượng lớn thực vật biểu sinh có thể làm gãy các cành cây to. Nhiều loài lan, dứa, dương xỉ và rêu thường có kiểu sống này.
Một số ít loài thực vật lại là cây ăn thịt, chẳng hạn như bẫy ruồi Venus (Dionaea muscipula) và các loài gọng vó. Chúng bẫy các loài động vật nhỏ và phân hủy con mồi để hấp thụ các khoáng chất, đặc biệt là nitơ.
== Sự tăng trưởng ==
Những thực vật đơn giản như tảo có thể có khoảng thời gian sống ngắn khi tính theo từng cá thể, nhưng các quần thể tảo nói chung có tính chất theo mùa. Các loại thực vật khác có thể được sắp xếp theo kiểu phát triển mang tính theo mùa của chúng thành:
Cây một năm: Sống và sinh sản trong một mùa sinh trưởng.
Cây hai năm: Sống trong hai mùa sinh trưởng; thường sinh sản vào năm thứ hai.
Cây lâu năm: Sống nhiều mùa sinh trưởng; liên tục sinh sản khi đã trưởng thành.
Trong số các thực vật có mạch, cây lâu năm bao gồm cả cây thường xanh, chúng giữ lá trong cả năm, và cây lá sớm rụng, thường rụng lá trên một số phần nhất định. Ở những vùng có khí hậu ôn đới và phương bắc, nói chung chúng bị rụng lá khi mùa đông tới; nhiều loài thực vật miền nhiệt đới rụng lá vào mùa khô.
Tốc độ tăng trưởng của thực vật nói chung là rất khác nhau. Một số loại rêu lớn chậm hơn 1 μm/h, trong khi phần lớn các cây thân gỗ đạt 25-250 μm/h. Một số loài dây leo, chẳng hạn sắn dây, không cần sản sinh ra các mô hỗ trợ dày, có thể tăng trưởng tới 12.500 μm/h.
== Hóa thạch ==
Các hóa thạch thực vật, bao gồm rễ, gỗ, lá, hạt, quả, phấn hoa, bào tử và hổ phách (nhựa hóa thạch do một số loài thực vật sinh ra). Hóa thạch của thực vật sống trên đất liền được ghi nhận lại trong các trầm tích đất liền, sông, hồ và ven biển. Các phấn hoa, bào tử và tảo (Dinoflagellata và Acritarch) được sử dụng để xác định niên đại các tầng đá trầm tích. Các phần còn lại của thực vật hóa thạch là không phổ biến như của động vật, mặc dù các hóa thạch thực vật là khá phổ biến mang tính cục bộ trong nhiều khu vực trên thế giới.
Các thực vật hóa thạch sớm nhất được biết đến từ kỷ Devon, bao gồm đá phiến silic Rhynie tại Aberdeenshire, Scotland. Các mẫu được bảo quản tốt nhất, mà từ đó kết cấu tế bào của chúng đã được miêu tả, được tìm thấy trong khu vực này. Sự bảo quản hoàn hảo đến mức các phần của các thực vật cổ này chỉ rõ từng tế bào riêng biệt trong mô thực vật. Kỷ Devon cũng cho thấy sự tiến hóa của những thực vật mà nhiều người tin là của loại cây thân gỗ hiện đại đầu tiên, Archaeopteris. Cây này giống như dương xỉ và có thân gỗ và lá lược của dương xỉ, không sinh ra hạt.
Các đơn vị than đá là nguồn chính của hóa thạch thực vật thuộc đại Cổ Sinh, với nhiều nhóm thực vật đã tồn tại vào thời kỳ này. Các đống đổ nát trong các mỏ than là các khu vực tốt nhất để thu thập; than tự bản thân nó là các phần còn lại của thực vật hóa thạch, mặc dù các chi tiết cấu trúc của các hóa thạch thực vật là ít rõ ràng trong than. Trong rừng hóa thạch tại công viên Victoria ở Glasgow, Scotland, các gốc cây của nhóm thực vật Lepidodendron được tìm thấy ở các vị trí phát triển nguyên thủy của chúng.
Các phần hóa thạch của thực vật quả nón và thực vật hạt kín như rễ, thân và cành có thể khá phổ biến trong các lớp đá trầm tích trong các hồ và ven bờ từ đại Trung Sinh và đại Tân Sinh. Tùng đỏ duyên hải (chi Sequoia) và các liên minh của nó như mộc lan, sồi và các loài cọ cũng thường được tìm thấy.
Gỗ hóa đá cũng khá phổ biến ở một số nơi trên thế giới, chủ yếu tìm thấy trong các khu vực khô cằn và sa mạc, những nơi chúng hay bị lộ thiên sớm do xói mòn. Gỗ hóa đá thường chứa nhiều silic (các chất hữu cơ bị thay thế bằng điôxít silic), và các mô thụ phấn thường được bảo quản khá chi tiết. Các mẫu vật như thế có thể cắt và đánh bóng bằng các dụng cụ chạm trổ đá. Các rừng hóa thạch chứa gỗ hóa đá đã được tìm thấy ở mọi châu lục.
Các hóa thạch của dương xỉ có hạt như Glossopteris được phân bổ khá rộng rãi ở vài châu lục thuộc Nam bán cầu, một thực tế hỗ trợ ý tưởng ban đầu của Alfred Wegener về thuyết trôi dạt lục địa.
== Cơ chế của quá trình quang hợp ==
Quá trình quang hợp chia làm hai pha: Pha sáng và pha tối:
Pha sáng của quang hợp: Chỉ xảy ra khi có ánh sáng và diễn ra trên các hạt grana. Pha sáng có hai giai đoạn:
Giai đoạn quang lý: Là giai đoạn hấp thu năng lượng ánh sáng nhờ hoạt động của các phân tử sắc tố quang hợp gọi chung là diệp lục và chuyển năng lượng giữa các sắc tố.
Năng lượng ánh sáng hấp thu bởi các sắc tố khác sẽ được chuyển tới diệp lục a và bản thân phân tử diệp lục a hấp thu năng lượng ánh sáng. Sau khi hấp thu năng lượng ánh sáng, phân tử diệp lục ở trạng thái kích động (ký hiệu là DL*), dồi dào năng lượng.
Giai đoạn quang hoá: Là giai đoạn chỉ sử dụng năng lượng photon hấp thu được vào các phản ứng quang hoá để hình thành nên các hợp chất dự trữ năng lượng và các hợp chất khử. Bao gồm quá trình quang hoá khởi nguyên, quá trình quang phân li nước và quá trình photphoril hoá quang hoá. Các quá trình đó được thực hiện cùng với dòng vận chuyển điện tử vòng và không vòng
- Dòng vận chuyển điện tử vòng: Điện tử từ diệp lục qua chuỗi truyền điện tử, sau đó lại quay về diệp lục và trong quá trình truyền điện tử ATP được tổng hợp.
Dòng vận chuyển điện tử không vòng Sản phẩm của pha sáng: ATP, NADPH2, O2b.Pha tối của quá trình quang hợp
Pha tối của quang hợp diễn ra cả khi có ánh sáng và trong tối tại stroma. Pha tối sử dụng sản phẩm của pha sáng (ATP, NADPH2), các enzim trong stroma và đường ribozơ 1,5đi (P) để cố định CO2.
Như vậy, để khử ba phân tử CO2 cần 9ATP và 6NADPH2, tạo ra một phân tử C3 (glixeraldehit chứa liên kết cao năng)
== Xem thêm ==
Thực vật học
Tế bào thực vật
Quang hợp
Hoa
Quả
Rễ
Sinh quyển
Rừng
Rau
Phân loại thực vật
Gỗ
thực vật có độc
Hạt
Phát tán của quả và hạt
Lá
Hô hấp
Thân cây
== Tham khảo ==
=== Phổ thông ===
Thomas N Taylor và Edith L Taylor. The Biology and Evolution of Fossil Plants. Prentice Hall, 1993.
Evans, L. T. (1998). Feeding the Ten Billion - Plants and Population Growth. Cambridge University Press. Paperback, 247 pages. ISBN 0-521-64685-5.
Kenrick, Paul & Crane, Peter R. (1997). The Origin and Early Diversification of Land Plants: A Cladistic Study. Washington, D. C.: Smithsonian Institution Press. ISBN 1-56098-730-8.
Raven, Peter H., Evert, Ray F., & Eichhorn, Susan E. (2005). Biology of Plants (7th ed.). New York: W. H. Freeman and Company. ISBN 0-7167-1007-2.
Taylor, Thomas N. & Taylor, Edith L. (1993). The Biology and Evolution of Fossil Plants. Englewood Cliffs, NJ: Prentice Hall. ISBN 0-13-651589-4.
Trewavas, A. (2003). Aspects of Plant Intelligence, Annals of Botany 92: 1-20.
=== Thống kê số lượng loài ===
International Union for Conservation of Nature and Natural Resources (IUCN) Species Survival Commission (2004). IUCN Red List [1].
Prance, G. T. (2001). Discovering the Plant World. Taxon 50: 345-359.
=== Khác ===
Sinh học 6, Nhà xuất bản Giáo dục, Nguyễn Quang Vinh - Tổng Chủ biên kiêm Chủ biên
Sổ tay kiến thức Sinh học THCS, Nhà xuất bản Giáo dục, Nguyễn Quang Vinh - Chủ biên
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Cây phát sinh loài
Chaw, S.-M. et al. Molecular Phylogeny of Extant Gymnosperms and Seed Plant Evolution: Analysis of Nuclear 18s rRNA Sequences (pdf file) Molec. Biol. Evol. 14 (1): 56-68. 1997.
Bài giảng về Phân loại thực vật của Đặng Minh Quân tại trường Đại học Cần Thơ
Hệ miễn dịch ở thực vật trên Thư viện Khoa học VLOS
=== Cơ sở dữ liệu về thực vật ===
e-Floras (Hệ thực vật Trung Quốc, Bắc Mỹ và các khu vực khác)
USDA
Hệ thực vật châu Âu
Hệ thực vật Australia
Cơ sở dữ liệu các loài thực vật trong làm vườn của 'Dave's Garden'
Tin tức và Cơ sở dữ liệu thực vật Việt Nam |
người mường.txt | Người Mường (chữ Nôm: 𤞽 hoặc 𡙧), là một dân tộc sống ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, là thành viên của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.
Người Mường nói tiếng Mường, ngôn ngữ thuộc nhóm Việt - Mường trong ngữ chi Việt thuộc ngữ tộc Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á.
Người Mường tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa. Dân số tại Việt Nam theo kết quả Điều tra dân số năm 2009 là 1.268.963 người.
Người Mường có quan hệ rất gần với người Kinh. Các nhà dân tộc học đưa ra giả thuyết người Mường và người Kinh có nguồn gốc chung là người Việt-Mường cổ. Thời kỳ ngàn năm bắc thuộc thì bộ phận người cư trú ở miền núi ít bị Hán hóa, bảo tồn lối sống đến nay là người Mường, còn bộ phận ở trung du và đồng bằng có sự hòa trộn với người phương bắc về văn hóa và nhân chủng thì thành người Kinh. Quá trình chia tách Mường - Kinh, xác định theo ngôn ngữ học thì diễn ra từ Tk 7-8 và kết thúc vào Tk 12, thời Nhà Lý.
== Tên gọi ==
Không phải ngay từ buổi đầu lịch sử, dân tộc Mường đã có tộc danh như ngày nay. Và đương nhiên trước đây, người Mường cũng không dùng danh từ này làm tên gọi cho dân tộc mình. Theo Trần Từ (tức Nguyễn Đức Từ Chi), Mường là từ dùng để chỉ một vùng cư trú của người Mường bao gồm nhiều làng. Mỗi vùng được đặt dưới sự cai quản của một nhà Lang. Qua sự tiếp xúc giao lưu giữa người Mường và người Kinh, người Kinh đã sử dụng từ Mường để gọi dân tộc này.
Cho đến tận bây giờ, Người Mường vẫn từ gọi mình là mol, moăn như ở Hoà Bình, mon, mwanl như ở Thanh Hoá. Còn ở Phú Thọ, đặc biệt là ở Thanh Sơn, nơi người Mường tập trung đông đảo nhất, cũng như Người Mường ở huyện Yên Lập và một số xã thuộc huyện Thanh Thuỷ, người Mường tự gọi mình là Mol, Monl. Mặc dù những từ này có biến âm hơi khác ở mỗi vùng, mỗi địa phương nhưng đều quan niệm giống nhau về mặt nghĩa. Tất cả những từ mà người Mường dùng để chỉ dân tộc mình có nghĩa là người. Vì lẽ đó mà người Mường thường tự xưng mình là con Mol hoặc là con monl: con người. Còn từ Mường vốn là từ mương người Mường dùng để chỉ nơi cư trú chứ không liên quan gì đến tộc danh ngày nay của mình. Mặc dù vậy cùng sự biến động của lịch sử cũng như quá trình giao lưu kinh tế, văn hoá với các dân tộc anh em khác cho đến nay từ "Mường" đã được người Mường chấp nhận và coi đó là tộc danh của mình, và hiển nhiên, họ tự nhận mình là người Mường như ngày nay. Do đó, Mường đã trở thành tên gọi chính thức và duy nhất của tộc người này để phân biệt với các dân tộc khác. Tộc danh Mường đã được các tổ chức, thể chế, các nhà nghiên cứu và nhân dân dùng khi tìm hiểu, nghiên cứu gọi dân tộc này: Người Mường.
Từ "Mường" trong "người Mường" chữ Nôm viết là 𤞽 hoặc 𡙧. Cả hai chữ "Mường" 𤞽 và 𡙧 đều là chữ hình thanh, có chung thanh phù (bộ phận biểu thị âm đọc của chữ) là chữ "mang" 芒. Chữ "Mường" 𤞽 có ý phù (bộ phận biểu thị ý nghĩa của chữ) là chữ "khuyển" 犬 có nghĩa là "con chó". Chữ "Mường" 𡙧 có thanh phù là chữ "di" 夷 có nghĩa là "mọi rợ".
== Dân số và địa bàn cư trú ==
Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê công bố năm 1989, dân tộc Mường ở Việt Nam mới chỉ có 914.396 người nhưng 10 năm sau, tức năm 1999, vẫn theo kết quả Tổng điều tra dân số của Tổng cục Thống kê công bố, người Mường đã tăng lên 1.137.515 người.
Người Mường sống tập trung ở các thung lũng hai bờ sông Đà (Phú Thọ, Sơn La, Ba Vì, Hòa Bình) và khu vực trung lưu của sông Mã, sông Bưởi (các huyện Thạch Thành, Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc của tỉnh Thanh Hóa). Người Mường ở Thanh Hoá gồm hai bộ phận: Mường Trong (Mường gốc) và Mường Ngoài (người Mường di cư từ Hoà Bình vào). Sang đến tỉnh Nghệ An hầu như không có người Mường sinh sống (năm 1999 chỉ có 523 người Mường trong toàn tinh). Ngoài ra ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ cũng có gần 27.000 người mới di cư vào trong những năm gần đây.
Theo Tổng điều tra dân số năm 1999, người Mường sống tập trung ở các tỉnh: Hòa Bình (479.197 người, chiếm 63,3% dân số của tỉnh), Thanh Hóa (328.744 người, chiếm 9,5% dân số của tỉnh), Phú Thọ (165.748 người, chiếm 13,1% dân số của tỉnh), Sơn La (71.906 người, chiếm 8,2% dân số của tỉnh), Ninh Bình (46.539 người), Hà Nội (khu vực Ba Vì), Yên Bái, Đắk Lắk. Số người Mường ở các tỉnh nói trên chiếm khoảng 98% số người Mường ở Việt Nam năm 1999
Ở Đắk Lắk số người mường chiếm khoảng 1,5% toàn tỉnh chủ yếu tập trung ở thành phố buôn ma thuột và một số huyện lân cận người mường ở đây di cư từ năm 1954 và có nguồn gốc từ mường phú thọ và hòa bình đa số họ vẫn giữ được phong tục tập quán nguồn gốc và bản sắc văn hóa dân tộc mình.
== Nguồn gốc ==
Người Mường có cùng nguồn gốc với người Việt cư trú lâu đời ở vùng Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ,...
=== Đẻ đất đẻ nước ===
Đẻ đất đẻ nước là bộ sử thi lớn, kể về gốc tích và công cuộc đấu tranh của người Mường ở thời đại rất xa xưa, chứa đựng những quan niệm người Mường cổ về việc hình thành trời đất, tạo lập thế giới.
=== Chim Ây, Cái Ứa ===
Cũng như các dân tộc khác, để lý giải về nguồn gốc của dân tộc mình, dân gian Mường ở Hòa Bình còn lưu giữ và truyền kể những huyền thoại về sự xuất hiện dân tộc mình dưới dạng những áng Mo (những truyền thuyết đó được lưu truyền chủ yếu dưới dạng các bản mo hát với phiên bản dài ngắn khác nhau).
Thuở xưa, khi con người còn chưa xuất hiện, trời làm hạn hán,khô khan, cây cối khô mà chết, rồi trời lại mưa. Một trận mưa to chưa từng thấy. Nước chảy thành suối thành sông. Đất lở bồi thành đồng bằng. Đá lăn chất đầy thành gò thành đống, thành đồi thành núi. Từ dưới đất mọc lên một cây si. Cây si lớn như thổi trở thành một cây cổ thụ, cành lá che kín cả bầu trời. Cây si bị sâu đục ăn làm cho gãy cành rụng lá. Từ gốc cây si đẻ ra một đôi chim. Chim Ây là đực, Cái ứa là cái. Đôi chim rủ nhau bay lên cành cây si làm tổ. Cành si gãy. Chim bay lên cây đa làm tổ. Cây đa đổ. Chim Ây và Cái Ứa lại rủ nhau bay lên núi đá lấy cỏ làm thành tổ Hang Hao. Cái Ứa đẻ ra trăm ngàn quả trứng. Trứng chim nở ra thành muôn loài muôn vật. Còn lại một trăm cái trứng thì nở ra con người. Đó là người Mường và người Kinh
=== Truyền thuyết về Đức thánh Tản Viên (thần núi Ba Vì) ===
Người Mường Thanh Sơn còn cho rằng Đức Thánh Tản Viên Sơn (còn gọi là Sơn tinh) – Con rể vua Hùng thứ 18 – là người Mường Thanh Sơn. Truyền kể rằng, ở vùng mường Xuân đài, Khả Cửu ngày xưa có một cô gái con nhà Lang tên là Đinh Thị Đen (người Mường Thanh Sơn gọi là Đinh Thị Điên). Cô là người đen đủi xấu xí nhất trong gia đình dòng họ nên bị bố mẹ, anh chị em hắt hủi. Một lần vào rừng lấy củi, cô gái tủi thân ngồi khóc trên một tảng đá và ngủ thiếp đi. Từ đó cô có thai và đã bị nhà Lang hắt hủi đuổi đi. Cô đã lang thang lần đi đến vùng mường Tất Thắng. Dân ở đó thấy cô đói khát đã cho cô ăn uống. Từ Tất Thắng, cô lại đi tiếp đến động Lăng Xương (thuộc xã Trung Nghĩa huyện Thanh Thuỷ ngày nay) thì đẻ ra thần Tản Viên. Dân bản ở đây thương tình đã đóng cho cô một bè nứa và đưa hai mẹ con cô vượt sông Đà sang vùng Ba Vì (thuộc Hà Nội ngày nay). Mẹ con bà Đinh Thị Đen được bà Ma Thị là chúa các động mường cưu mang nhận làm con nuôi. Khi Tản Viên lớn lên, thần được bà Ma Thị truyền cho quyền cai trị và bảo vệ các xứ mường. Thần đã lấy con gái vua Hùng thứ 18 tên là Ngọc Hoa làm vợ.
=== Truyền thuyết Đẻ Giang ===
Người Mường ở các xã Lai Đồng, Đồng Sơn, Thạch Kiệt còn lưu truyền truyền thuyết "Đẻ giang" như sau: ở đất mường Tồng (tên gọi cũ của Lai Động) có một cái hang gọi là hang Cơng Tiếng. Ở đó có con chim ưng đẻ ra một quả trứng. Quả trứng nở ra một con vứa (con ngài tằm). Con Vứa bay hết Mường này sang Mường nọ rồi đậu vào cây đa, cây sấu rồi bay tiếp lên núi đá trắng. Cũng từ đó bản Mường trở nên đông vui sầm uất. Người Mường biết làm nhà để ở và đẻ con cái, ra bố mẹ con giang. Bố mẹ con giang ra trước rồi tiếp theo đẻ ra được Buồng Nang Ráu, là cháu nàng Thăn, con của nàng Ún Mái. Nàng ún Mái lại đẻ ra dân ra bản, đẻ ra vợ chồng. Từ đó, Người Mường có quê quán, có nhà có cửa, có cơm ăn, rượu uống và vàng bạc. Họ mang giang đi hát khắp nơi. Từ đó các bản mo giang được truyền bá rộng rãi như sang mường Pi, mường Thàng (Hòa Bình) để những vùng mường này phát triển. Nhờ đó con giang được truyền và ăn sâu vào đời sống tinh thần của người Mường.
Trên đây chỉ là một vài truyền thuyết tiêu biểu của người Mường Thanh Sơn giải thích về nguồn gốc dân tộc của mình. Mặc dù truyền thuyết mang tính hoang đường và đôi khi tản mạn nhưng lại là tư liệu quý. Người Mường quan niệm mình và người Kinh vốn cùng một cha mẹ sinh ra, cùng máu mủ dòng giống. Chính vì lẽ đó mà cho đến tận ngày nay, người Mường vẫn còn lưu truyền câu ca: "Ta với mình tuy hai mà một. Mình với ta tuy một thành hai"
== Ngôn ngữ ==
Tiếng Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường trong ngữ chi Việt của ngữ hệ Nam Á. Tiếng Mường rất gần với tiếng Việt có thể nói một cách khái quát (nhưng không tuyệt đối, khoảng 75%) như sau:
Những từ không dấu trong tiếng Việt thì giữ nguyên là thành tiếng mường như: Con, con chim, con voi, ăn, cho, tiêu pha= tiêu pha...một số từ khác phụ âm đầu: tay = thay, đi= ti,đi, con dê= con tê...
Những từ có dấu hỏi trong tiếng Việt cũng giữ nguyên: của cải= của cải, đểu= đểu, giả= giả...
Những từ có dấu ngã thì chuyển thành dấu hỏi như: đã= đả, những= nhửng
Những từ có dấu nặng thì chuyển thành dấu sắc: nặng= nắng (phát âm lại ~ nặng= nắăng, tận= tấn (tấân)...
Những từ mà có âm "ặc, ịt, ặc, ục" thì giữ nguyên không chuyển dấu: đông đặc= đông đặc.
Những từ có dấu huyền thì chuyển thành dấu sắc và ngược lại dấu sắc thì thành dấu huyền: nắng= đằng (ví dụ: trời nắng= trới đằng)
Một số từ không theo quy luật: cây tre= cân pheo, xưng hô(chú=ô, cháu= xôn), nhìn (ngắm)= hẩu, trông thấy= hẩu kỉa, ở giữa= ở khừa...(khá giống phương ngữ Thanh - Nghệ - Tĩnh)
(Bổ sung một số từ không theo quy luật: Qua một số các cụm từ ngữ âm tiết đã đăng cơ bản đều đúng, riêng theo tôi thấy có một số cần bổ sung và chỉnh như sau (vùng Ngọc Lặc, Thanh Hóa xưng hô): cháu = xôn; em = ùn; chị = ớơi(phát âm là ới sau là ơi (không dấu hơi kéo dài); anh = áai (phát âm không dấu, lại vừa như có dấu sắc kèm theo từ ai kéo dài); dì(em của mẹ)= íi; cô (em bố)= váaa; mẹ = mê ế; bố = bác; bác(chị, anh của bố, mẹ)= pảc; bà= muú u; ông = ôông....
Nước= Dak (phát âm Đảk, ví dụ: uống nước= òng đảk (đảc); nhưng Nhà nước thì lại khác (ví dụ: Nhà nước= Nhá nưởc = phát âm dấu sắc=dấu hỏi (nhà=nhá; nước=nưởc) không thể gọi (nhà nước= nhá đảc)được. - Nhìn= hẩu, thấy=kỉa hoặc bươn (nhìn thấy= hẩu bươn, hoặc nhìn thấy= hẩu kỉa) - Đi= ti; đứng= từng; dậy= dấân; ngủ= tảy (ví dụ: ngủ dậy= tảy dấân) (dấân tảy= đang ngủ mới thức giấc và dậy; ngủ được một giấc = àn chể)... tay= xay; chân= chó - từ chỉ con vật: con trâu= con tru; con bò= con pó; con lợn= con cùn; con ngỗng= con ngan; con ngan= con xiêm; con gà= con kha.... (con chó= con chò; con mèo= con méo)
== Đặc điểm kinh tế ==
Người Mường sống định canh định cư ở miền núi, nơi có nhiều đất sản xuất, gần đường giao thông, thuận tiện cho việc làm ăn. Người Mường làm ruộng từ lâu đời. Lúa nước là cây lương thực chủ yếu. Trước đây, người Mường trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ và gạo nếp là lương thực ăn hàng ngày. Nguồn kinh tế phụ đáng kể của gia đình người Mường là khai thác lâm thổ sản như nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, quế, mật ong, gỗ, tre, nứa, mây, song... Nghề thủ công tiêu biểu của người Mường là dệt vải, đan lát, ươm tơ. Nhiều phụ nữ Mường dệt thủ công với kỹ thuật khá tinh xảo.
== Tổ chức cộng đồng ==
Xưa kia, hình thái tổ chức xã hội đặc thù của người Mường là chế độ lang đạo, các dòng họ lang đạo (Đinh, Quách, Bạch, Hà) chia nhau cai quản các vùng. Đứng đầu mỗi mường có các lang cun, dưới lang cun có các lang xóm hoặc đạo xóm (Ậu đạo), cai quản một xóm. giúp việc cho nhà lang, hưởng lộc của lang.
Sau này vào thời Nhà nguyễn chính quyền Mường có thêm chức Lý trưởng. Chức này vẫn sau lang cun. Sau một số năm (thường 3 năm) thì bầu lại lý trưởng. Lý trưởng phải được sự phê chuẩn của Lang cun.
Về bản chất Lang cun Mường và chế đô Lang cun có xấu tốt. Giống như quan cũng có quan xấu quan tốt. Dân Mường vẫn thích chế độ lang đạo hơn là chịu sự quản lý của người Kinh
Nhà Nguyễn sau khi thành lập phế bỏ chế độ Lang đạo, đặt quan lại lên cại quản liền xảy ra sự chống đối, như khởi nghĩa Le Duy Lương, khởi nghĩa ở Thạch Bị, Sơn Âm.Về sau vua Minh Mạng lại khôi phục chức chế độ Lang đạo. Đặc biệt khi bắt được người cầm đầu, nhà Nguyễn chỉ phủ dụ mà không thấy giết.
== Tín ngưỡng ==
Người mường theo đạo Tin Lành, Phật, Thiên Chúa, nhưng có sự khác biệt ở người theo đạo Phật là mọi nghi lễ đều phải có chủ lễ là thầy mo chủ trì.
Người Mường thờ Vua Cha Ngọc Hoàng, Phật, Thánh, Quốc mẫu Hoàng Bà.
Đối với người Mường: "Vạn vật hữu linh".
Thầy tâm linh Mường gồm có:
Thầy đồng: là nam, người được thánh thần mượn thân để làm việc. Không vào làm việc được trong đám ma.
Thầy Mỡi: giống thầy đồng nhưng là Nữ.
Thầy Mo: Người lo tang ma là chủ yếu. thầy này mới biết mo đẻ đất đẻ tác.
Trượng (Đá Trượng): là thầy nhưng không có thánh thần ốp đồng. Thầy này là đi học mà thành.
Thầy bùa, ếm, chài....
== Văn hóa ==
=== Ăn ===
Người Mường thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ. Cơm, rau đồ chín được dỡ ra rá trải đều cho khỏi nát trước khi ăn.
Rượu Cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể.
Phụ nữ cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to. Ðặc biệt, phụ nữ còn có phong tục nhiều người cùng chuyền nhau hút chung một điếu thuốc.
=== Ở ===
Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối... ở tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ. Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít. Ðại bộ phận ở nhà sàn, kiểu nhà bốn mái. Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt chuồng gia súc, gia cầm, để cối giã gạo, các công cụ sản xuất khác.
Tại sao lại phải đặt chuồng gia súc ở dưới gầm sàn. đó là vì xưa rất nhiều thú dữ như cọp, báo.... mà con người lại thưa ít nên phải đặt chuồng gia súc dưới gầm sàn.Khi cọp báo đến thì người nhà đánh chiêng gõ mõ để làm con vật sợ mà đi
Làm nhà mới, khi dựng cột bếp, người Mường có tục làm lễ nhóm lửa. Gia chủ lấy bẹ chuối cắt hình 3 con cá to kẹp vào thanh nứa buộc lên cột bếp, ở cột cái của bếp còn đặt một quả bí xanh. Trước lúc đun nấu ở nhà mới, gia chủ làm lễ nhóm lửa xin thần bếp cho đặt 3 hòn đầu rau và hòn đá cái. Ðêm đó gia chủ mời mọi người uống rượu cần dưới ánh sáng của ngọn lửa không tắt.
Vị trí cửa Poóng của Người Mường rất quan trọng. Người già, người đức cao vọng trọng ngồi bên trên nhất khi ngồi, ăn, uống,
=== Cưới xin ===
Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia đình chuẩn bị lễ cưới. Ðể dẫn đến đám cưới phải qua các bước: ướm hỏi (kháo thếng), lễ bỏ trầu (ti nòm bánh), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất (ti cháu), lễ đón dâu (ti du). Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai khoảng ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhà gái tổ chức cưới. Chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm đồ chín (bằng khoảng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sống thiến luộc chín. Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt 2 vạt ở phía trước. Cô dâu mang về nhà chồng thường là 2 chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàng chục gối con để nhà trai biếu cô dì, chú bác.
Tục cưới xin của người Mường gần giống như người Kinh (chạm ngõ, ăn hỏi, xin cưới và đón dâu). Khi trong nhà có người sinh nở, người Mường rào cầu thang chính bằng phên nứa. Khi trẻ em lớn khoảng một tuổi mới đặt tên.
=== Quan hệ xã hội ===
Quan hệ trong làng xóm với nhau chủ yếu là quan hệ láng giềng. Gia đình hai, ba thế hệ chiếm phổ biến. Con cái sinh ra lấy họ cha. Quyền con trai trưởng được coi trọng va con trai trong gia đình được thừa kế tài sản. Người Mường theo từng nơi mà có nơi không theo quan niệm con chú con bác mà dù là con chú hay con bác ai ra đời trước đều là anh là chị, phân theo tuổi tác chứ không theo thứ hay trưởng. Nhưng người vai trên thì vẫn gọi là chú hay cô mà không phân biệt tuổi tác.
=== Sinh nở ===
Khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều củi, làm một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ. Khi vợ chuyển dạ đẻ, người chồng đi báo tin cho mẹ vợ và chị em họ hàng nội ngoại biết để đến nhà cùng nhau chờ đợi. Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng dao nứa lấy từ đầu chiếc dui trên mái nhà. Nếu là con trai thì dùng dao nứa mái nhà trước, nếu là con gái thì dùng dao nứa mái nhà sau. Cuống rốn của các con trong gia đình được đựng chung trong một ống nứa, họ tin rằng làm như thế lớn lên anh em sẽ thương yêu nhau.
Ngày sinh con, gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo cùng trừ mọi điều xấu hại đến mẹ con. Ðẻ được ba đến bảy ngày thường có nhiều anh em, bà con đến thăm hỏi tặng quà. Bà ngoại mừng cháu bao giờ cũng có vài vuông vải tự dệt, gia đình khá giả mừng thêm chiếc vòng bạc đeo cổ, anh em thân thích thì mừng gạo, mừng tiền.
Người đẻ thường ăn cơm nếp cẩm với lá tắc chiềng (loại lá thuốc chống được bệnh sài), uống nước nấu với các loại lá cây thuốc và trong thời gian cữ (bảy đến mười ngày) nhất là ba ngày đầu luôn luôn phải sưởi bên bếp lửa. Trẻ sơ sinh nếu là trai thì được âu yếm gọi là lọ mạ (thóc giống), nếu là gái thì lại trìu mến gọi là cách tắc (rau cỏ). Thường thì trẻ khoảng 1 tuổi mới được đặt tên gọi chính thức.
=== Ma chay ===
Người chết tắt thở, con trai trưởng cầm dao nín thở chặt 3 nhát vào khung cửa sổ gian thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang. Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải.
Tang lễ do thầy mo chủ trì. Hình thức chịu tang của con cái trong nhà không khác so với người Kinh, tuy nhiên con dâu, cháu dâu chịu tang ông bà, cha mẹ còn có bộ trang phục riêng gọi là bộ quạt ma.
Khi người con trai trong gia đình ấy chống gậy tre thì gia đình ấy có bố mất, nếu chống gậy gỗ thì gia đình có mẹ mất.
Tế quạt ma là một nghi lễ độc đáo trong đám ma người Mường. Khi tế quạt ma, những người là dâu trong nhà trong họ của người quá cố phải mặc bộ đồ quạt ma rất đẹp, gồm: váy đen, cạp mới, áo ngắn, áo chùng trắng, yếm đỏ, hai tay đeo vòng hạt cườm, tay phải cầm quạt cọ múa, tay trái cầm que gậy, đầu đội mũ quạt trong trí tua hạt cườm; phía trước đặt một chiếc ghế mây.
Sau khi chôn người chết. lấp đất. Lấy 4 viên đá to đẹp để dánh dấu mồ. 2 viên đặt ở đầu và cuối. 2 viên đặt 2 bên.4 viên đá này rất quan trọng để tránh mất mồ mả. Tìm được 4 viên đá coi như tìm được mả.
Người Mường Lạc SƠn Hòa bình: sau khi chôn người chết. 3 đêm đầu vẫn để hương thờ.sau 3 đêm thì làm lễ cho đồ dùng..... và đưa người chết về mồ về mả. hôm 49 ngày thì làm lễ "thay màu áo". Tức là nhuộm áo tang chấm dứt mặc áo tang.
Tết năm đầu tiên đó anh em họ hàng mang lễ đến nhà có người chết đặt lễ cho hồn người chết đó. gọi là "đặt cành kèo". gồm gồm bánh trưng chai rượu
=== Lịch ===
Lịch Cổ truyền người Mường gọi là sách đoi làm bằng 12 thẻ tre tương ứng với 12 tháng. Trên mỗi thẻ có khắc ký hiệu khác nhau để biết tính toán, xem ngày, giờ tốt xấu cho khởi sự công việc.
Người Mường ở Mường Bi có cách tính lịch khác với người Mường ở các nơi khác gọi là cách tính ngày lùi, tháng tới. Tháng giêng lịch Mường Bi ứng với tháng 10 của lịch Mường các nơi khác và tháng 10 âm lịch.
=== Lễ hội ===
Người Mường có nhiều ngày hội quanh năm: Sắc bùa, hội xuống đồng (Khung mùa), hội cầu mưa (tháng 4), lễ rửa lá lúa (tháng 7, 8 âm lịch), lễ cơm mới...
=== Văn nghệ dân gian ===
Kho tàng văn nghệ dân gian của người Mường khá phong phú, có các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ. Người Mường còn có hát ru em, đồng dao, hát đập hoa, hát đố, hát trẻ con chơi... Cồng là nhạc cụ đặc sắc của người Mường, ngoài ra còn nhị, sáo trống, khèn lù. Người Mường ở Vĩnh Phúc và Phú Thọ còn dùng ống nứa gõ vào những tấm gỗ trên sàn nhà, tạo thành những âm thanh để thưởng thức gọi là "đâm đuống". Tín ngưỡng:Người Mường thờ cúng Tổ Tiên Ông Bà.
Hát Xéc bùa (có nơi gọi Xắc bùa hay Khoá rác) được nhiều người ưa thích. Thường (có nơi gọi Ràng thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao động, và các nét đẹp phong tục dân tộc. Bọ mẹng là hình thức hát giao du tâm sự tình yêu. Ví đúm cũng là loại dân ca phổ biến.
Bên cạnh đó, người Mường còn có các thể loại hát khác như hát ru, hát đồng dao... Ðặc biệt, ở người Mường phải kể đến lễ ca. Ðó là những áng mo, bài khấn do thầy mo đọc và hát trong đám tang.
Ngoài sáo, nhị, trống, kèn... thì cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc.
=== Chơi ===
Trò chơi của người Mường gần gũi với mọi đối tượng. Có những trò chơi được tổ chức chu đáo, công phu như: thi bắn nỏ, đánh đu, ném còn, v.v... Các trò chơi của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng được tổ chức linh hoạt ở mọi nơi, mọi lúc với những điều kiện chơi đàn giản, tiện lợi như trò đánh cá cắt, trò cò le, trò đánh chó hoặc buôn chó, trò đánh mảng, trò chăm chỉ, chằm chăn.
== Phương tiện Vận chuyển ==
Phụ nữ phổ biến dùng loại gùi đan bằng giang hoặc tre, 4 góc nẹp thành thẳng đứng, có dây đeo qua trán hoặc qua vai để chuyên chở. Ðôi dậu, đòn gánh có mấu 2 đầu, đòn xóc cũng thường được sử dụng.
Nước sạch được chứa trong ống nứa to, dài hơn 1 mét vác vai từ bến nước về dựng bên vách để dùng dần.
== Nhà cửa ==
Người Mường sống trong những ngôi nhà sàn truyền thống, địa bàn cư trú tập trung chủ yếu ở những dải đồng bằng thung lũng hẹp, doi đất ven sông, ngòi, dưới chân các dãy núi hay trên các đồi gò thấp. Làng bản mường sống tập trung thành từng chòm, từng xóm, ẩn khá kín dưới màu xanh của cây cối trồng quanh nhà. Các bản mường thường có khoảng từ 20 đến 30 nóc nhà, và nếu bản to thì có thể nhiều hơn nữa. Bản làng thường dựng nơi gần nguồn nước, gần đồng ruộng, thuận lợi cho lao động sản xuất. Tuy vậy, bản làng của người Mường ít khi lộ rõ để người ngoài dễ phát hiện vì được bao bọc bởi luỹ tre và cây ăn quả. Đường vào bản thường là những con đường mòn nhỏ quanh co tạo cảm giác dễ nhầm, dễ lạc. Và đối với người Mường, họ không coi trọng việc dựng nhà lập bản sao cho thuận tiện giao thông đi lại. Vì lẽ đó mà muốn vào bản làng hay nhà của người Mường thường phải băng qua con đường nhỏ nối làng với đường chính hoặc lội qua những con suối, ngòi.
Với người Mường nói chung, nhà là nơi diễn ra và chứng kiến những sự kiện như sinh, hôn, tử của một vòng đời. Từ đó, ngôi nhà không chỉ có ý nghĩa đối với gia đình mà còn mang ý nghĩa cộng đồng xã hội, không chỉ là nhu cầu về vật chất là để trú ngụ nắng mưa, ngủ nghỉ, mà còn đáp ứng nhu cầu tâm linh.
Người Mường rất trọng hướng nhà, vì vậy, hướng nhà phải do một thầy địa lý có tiếng chọn riêng theo tuổi của gia chủ. Họ quan niệm làm nhà đúng hướng sẽ đem lại tài lộc và may mắn đến cho gia đình
Theo quan niệm của người Mường, làm nhà không được ngược hướng với đồi núi, chính vì vậy, bề ngoài, nhà của người Mường có vẻ không theo một quy luật nào. Nhà dựng ở đồi gò thì lưng dựa vào đồi gò, cửa hướng ra khoảng không thung lũng, cánh đồng trước mặt. Nhà dựng ở ven sông thì mặt có thể hướng ra dòng sông hay hướng vào trong... Tất cả những cái tưởng chừng là "lộn xộn" đó lại tạo cho bản làng của người Mường Thanh Sơn cảm giác vừa vững vàng vừa cởi mở với những nét độc đáo riêng.
Nhà sàn của người Mường là kiểu kiến trúc cổ truyền. Việc dựng nhà sàn của người Mường là kết quả của một quá trình dài đúc rút kinh nghiệm cư trú. Điều đó thể hiện ở bản mo nổi tiếng họ là "Te tấc te đác" (đẻ đất đẻ nước). Trong bản mo đồ sộ này có đoạn nói về sự ra đời của nhà sàn người Mường. Mo rằng: Khi người Mường sinh ra nhà chưa có nên phải sống trong các hang núi, hốc cây, họ phải đối mặt với nhiều thiên tai hiểm hoạ. Một hôm, ông Đá Cần (còn gọi là lang Cun Cần) bắt được một con rùa đen trong rừng đang định đem ra làm thịt. Rùa van xin Đá Cần tha chết và hứa nếu được thả thì rùa sẽ dạy cho ông cách làm nhà để ở, làm kho để lúa để thịt:
Bốn chân tôi làm nên cột cái
Nhìn sườn dài, sườn cụt mà xếp làm rui
Nhìn qua đuôi làm trái
Nhìn lại mặt mà làm cửa thang cửa sổ
Nhìn vào xương sống làm đòn nóc dài dài
Muốn làm mái thì trông vào mai
Vào rừng mà lấy tranh, lấy nứa làm vách
Lấy chạc vớt mà buộc kèo
Lần dựng thứ nhất, nhà đổ. Ông Đá Cần doạ làm thịt rùa. Rùa lại phải dặn lấy gỗ tốt mà làm cột làm kèo… Từ đó, người Mường biết làm nhà để ở.
Việc dựng nhà của người Mường đòi hỏi nhiều công đoạn, nhiều sức lực nên họ có tục giúp đỡ nhau. Người giúp gỗ, người giúp lạt, người giúp công, giúp sức. Trước kia, để nhận được sự giúp đỡ của dân làng, gia đình làm nhà phải chuẩn bị một lễ nhỏ mang đến nhà Lang để nhờ Lang báo cho mọi người trong bản làng biết. Mỗi gia đình sẽ cử một người đến giúp. Người ta phân công những công việc cụ thể cho mỗi thành viên đảm nhận như xẻ gỗ, đan nứa, pha tre, đan gianh cọ, lợp mái… Gia chủ làm nhà tuỳ vào điều kiện kinh tế mà nhận sự giúp đỡ khác nhau. Nhà khá giả thì mọi người giúp ít và ngược lại. Theo tục này, ở xã Xuân Đài có lệ khi một người làm nhà thì tuỳ vào khả năng mà giúp gỗ, lạt, nứa, lá, và mỗi nhà góp ba đến năm cân gạo nếp, hai chai rượu, một con gà… Lệ này ở mỗi xóm làng lại có những quy định khác nhau. Ở xã Tân Phú thì có lệ mỗi gia đình đưa cho gia chủ bốn trăm "phá" (tức là hai trăm cây nứa gập đôi). Nói chung, tục giúp nhau trong việc làm nhà của người Mường Thanh Sơn như đóng góp nguyên vật liệu, lương thực, thực phẩm và ngày công thể hiện sự quan tâm chung của cả bản làng, tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết cộng đồng sâu sắc.
Trong quá trình dựng nhà của người Mường, thầy mo có vai trò tương đối quan trọng. Mở đầu việc dựng nhà, ông mo làm lễ cắm cọc vào nơi làm cầu thang. Sau đó, chủ nhà cày ba luống làm lệ trên nền làm nhà. Ông mo đi sau vảy nước vào những luống cày đó và khấn vía lúa. Người làm nhà chuẩn bị vài cụm lúa đã tuốt hết hạt chỉ còn cọng rơm ném ra xa rồi cầm đòn xóc đâm vào cụm lúa nâng lên. Mỗi lần nâng đòn xóc lên rồi lại để xuống và hát giang ý nói rằng "lúa đẹp, lúa nặng, lúa bay về nhà để cho no cho đủ…". Ông mo nâng các cụm lúa lên trên tay rước đi vài vòng rồi giang mo "đẻ đất đẻ nước" đoạn nói về rùa dạy dân làm nhà. Tiếp theo ông mo vảy một thứ nước mà người Mường cho đó là nước phép vào những hố chôn cột để xin thần linh cho gia chủ làm nhà mới.
Người Mường kiêng không để mấu của đòn tay quay xuống mặt sàn. Khi bắc đòn tay thì ngọn phải quay về gian cuối, gốc ở gian đầu nơi có cầu thang lên xuống. Gian này được gọi là gian gốc. Sào nhà gác lên thượng lương. Gốc sào cũng phải quay về gian gốc. Tre nứa dùng làm nhà phải không được cụt ngọn, không bị sâu hay bị đốt cháy dở. Gỗ làm nhà phải là loại gỗ chắc đảm bảo không mối mọt và thường là gỗ lim xanh, mài lái… Người Mường đặc biệt quan tâm đến những cây gỗ mọc ở núi đá như giống gỗ heo vì giống gỗ này chặt đốn thì mềm nhưng khi chôn xuống đất hàng trăm năm cũng không mục mại. Có nơi người Mường còn kéo gỗ ra ngâm bùn tại ngòi, suối khoảng một hai năm mới vớt lên làm.
Những cây gỗ được chọn làm cột, sau khi lắp mộng, dựng khung, được chôn thẳng xuống những hố đã đào sẵn sâu khoảng 20 – 30 cm. Tục chôn cột nhà, ngoài dụng ý cho vững chắc khung nhà khi lợp mái, làm sàn, làm vách, còn có ý nghĩa tâm linh, thể hiện cho sự hoà hợp âm dương, một biến thể của tín ngưỡng phồn thực. Cho đến nay, đa số người Mường đã thay đổi tục chôn cột nhà bằng cách nâng cột lên mặt đất và kê lên những phiến đá chống mối mọt. Tuy nhiên cột nhà của người Mường Thanh Sơn không được gia công bào gọt nhiều như cột nhà của người Thái và người Mường ở Hòa Bình. Nếu cột nhà của người Thái Sơn La được xẻ, bào, đẽo cho vuông thành, thì cột nhà của người Mường Thanh Sơn chỉ bào lớp vỏ ngoài và để tròn.
Người Mường dùng con xỏ bằng tre, con then bằng gỗ, đinh kèo bằng gỗ… để đóng thay cho đinh sắt. Họ dùng lạt mây, giang hoặc tre bánh tẻ để buộc níu các ngoàm đẽo hoặc cột kèo. Khung nhà sàn của người Mường được dựng hoàn toàn bằng cách ghép mộng, đục đẽo mà thành. Đòn tay (tôn thảy) được đặt dọc mái nhà. Đòn tay cái có miếng tre kẹp chặt đòn tay vào đầu cột cái gọi là cái khoá kèo. Mái nhà lợp bằng lá cọ hoặc bằng cỏ gianh. Những cây nứa ngộ (loại nứa to và dày) vàng óng được lựa chọn kỹ để pha nan kẹp lá (như cái gắp dùng để kẹp cá nướng). Cứ như thế, những kẹp lá cọ được đưa lên mái buộc thẳng vào dui mè. Đây là cách lợp mái nhà theo tục truyền thống còn tồn tại phổ biến cho đến ngày nay. Tuy vậy ở một số nơi, người Mường đã thay cách lợp nhà. Lá cọ được đưa lên lợp vào dui mè mà không cần kẹp nữa. Mái nhà sàn khum khum hình mai rùa.
Nếu như nhà sàn của người Mường ở Hoà Bình phổ biến là bốn mái (hai mái đầu hồi và hai mái dài). Sàn nhà thấp giống sàn nhà của người Thái thì nhà sàn của người Mường ở Thanh Sơn cũng như nhà sàn Yên Lập chủ yếu là loại nhà sàn hai mái mà không có mái đầu hồi. Mái nhà dốc vảy gần sát sàn. Nhà của người Mường không có sàn thềm bên ngoài như của người Thái. Sàn nhà được làm bằng những cây bương già thẳng pha thành mảnh dát xuống lược bỏ mắt và cạnh sắc ghép liền với nhau, dùng lạt mây buộc chặt kết thành từng mảnh buộc chặt vào khung sàn. Những sàn nhà của nhà Lang trước đây thì thường dùng gỗ tốt như lim, gụ làm sàn nên qua thời gian sử dụng, những tấm ván lên nước bóng láng. Từ mặt đất lên sàn nhà thường cao khoảng 2 đến 2,5 m tuỳ từng nơi ẩm thấp hay cao ráo.
Công việc làm nhà tiến hành trong 4 – 5 ngày thì kết thúc. Ngày lợp mái, gia chủ tổ cúng tổ tiên, thổ công cai quản nơi mình ở. Lễ cúng gồm xôi nếp và thủ lợn bày ở khoảng đất trống chọn làm sàn. Nhà làm xong, gia đình lại tổ chức cúng tổ tiên, thổ công, ma rừng, ma cây, ma bến nước, ma đồi gò… thông báo rằng gia đình đã có một ngôi nhà mới, mời tổ tiên về chung vui với con cháu phù hộ gia đình may mắn.
Nhà của người Mường thường ba đến năm gian. Những gia đình đông con thì nhà lên đến bảy – mười hai gian. Những ngôi nhà như vậy ngày nay còn rất ít. Nhà dù ít hay nhiều gian đều có một sàn bên trái để bắc cầu thang và máng nước sinh hoạt. Gian đầu tiên từ cầu thang lên gọi là gian gốc. Đây là gian quy tụ mọi tính linh thiêng của ngôi nhà, là nơi xuất phát những tục lệ đối xử hành vi của con người với ngôi nhà.
Ở gian gốc có một cây cột to hơn các cây cột khác trong nhà gọi là cột gốc (còn gọi là cây cột chồ) ở đầu góc nhà gần cầu thang. Cây cột gốc được người Mường trân trọng đặt khám (bàn thờ) thờ tổ tiên. Mọi người kể cả chủ hay khách đến nhà chơi đều không được bôi nhọ, dựa lưng, gác chân, buộc đồ vật hay treo quần áo vào cột này. Phần cột dưới sàn cũng không được buộc trâu bò hay dựng, treo công cụ lao động. Người Mường quan niệm nếu phạm phải những điều cấm trên thì bị coi là xúc phạm đến gia đình, tổ tiên và thần linh.
Gian nhà gốc chỉ dành riêng cho nam giới. Phụ nữ trong nhà không được ngồi nghỉ hoặc làm việc ở đây. Trong các ngày trọng đại như hôn lễ, ma chay thì chỉ nam giới có vai vế trong dòng họ được ngồi ăn uống.
Tại gian nhà linh thiêng này có một cửa sổ làm sát đến sàn nhà gọi là cửa sổ "voóng" linh thiêng, không ai được đưa vật gì hay chui qua. Cửa sổ voóng chỉ dành để đưa quan tài ra ngoài khi gia chủ có tang ma. Đối diện với cột chỗ ở gian gốc có một cột nhà tương đối quan trọng. Ở chân cột này, người Mường để vào cum lúa đã tuốt hết hạt. Đầu cột đội một cái giỏ thủng biểu hiện cho âm tính (người Mường gọi là nường). Bên cạnh đó, người Mường treo một đoạn tre tước xơ một đầu cho bông lên biểu hiện cho dương tính (gọi là nõ). Điều này thể hiện đời sống tâm linh, nói lên sự hỗn hợp, cân bằng âm dương, sự ổn định và thuận hoà của cả gia đình.
Gian thứ hai của ngôi nhà (gian kế theo gian gốc) dành cho nam giới ngủ nghỉ. Gian giữa thường là gian để thóc và làm bếp. Lúa gặt ở ruộng nương về phơi khô khi chuyển lên nhà được để ở đây. Họ xếp lúa vào một cái quây như cái bồ thủng đáy đan bằng nứa hoặc giang để gần bếp. Bếp của người Mường là rất công phu. Khuôn bếp được làm bằng loại gỗ đặc biệt cứng, có đường viền xung quanh, đáy lót bằng bẹ chuối rồi rải bùn lên trên. Khi chuyển bếp mới, người Mường tìm một số loại cỏ thơm như cỏ mật phơi khô để vào bếp đốt lấy tro rồi mới bắc kiềng nấu nướng. Bếp thường đặt trên trục nhà nơi nóc dọi xuống. Có nhà bếp đặt gần cửa sổ để thông gió, tránh khói và hoả hoạn. Tuy vậy, việc đặt bếp ở cửa sổ ít được ưa chuộng hơn vì người Mường quan niệm nếu đặt bếp gần cửa sổ thì hơi ẩm từ bếp toả ra ngôi nhà không đều. Nhà người Mường thường có hai bếp chuyên dụng. Một bếp để nấu nướng thức ăn, và phụ nữ, trẻ em trong gia đình ngồi sưởi. Một bếp nhỏ hơn đặt ở gian gốc dùng để cho đàn ông trong gia đình ngồi sưởi vào mùa đông và đun nước uống hàng ngày hoặc tiếp khách. Bếp này người phụ nữ trong gia đình ít khi được ngồi hoặc sử dụng, trừ phụ nữ cao tuổi như bà, cụ hay con gái út được yêu quý nhất.
Gian cuối cùng là nơi dành cho phụ nữ sinh hoạt có chạn bát, để đồ dùng gia đình, nơi sửa soạn cơm nước. Gian này được ngăn với các gian khác trong nhà bởi một tấm liếp. Đây cũng là nơi người phụ nữ thay quần áo và ngủ nghỉ. Đầu hồi nhà, người Mường để một cái cối đuống và một cối tròn. Cối đuống không chỉ dùng để giã thóc gạo mà còn là phương tiện để gia đình báo nhà có việc lớn như đám cưới mà tang ma. Bên cạnh đó, cối đuống còn là một nhạc cụ sử dụng để gõ những bản nhạc vui trong ngày lễ tết, hội hè với những bản đuống rộn ràng âm vang, người Mường gọi là "đâm đuống" hay "châm đuống". Dưới sàn nhà, người Mường nuôi gà, trâu hoặc để cất các công cụ sản xuất như cày, cuốc, liềm, nong, nia… Nhà của người Mường thường chỉ có một cầu thang. Song những ngôi nhà dài từ 7 - 12 gian thì phải làm hai cầu thang ở hai đầu nhà. Những nhà có hai cầu thang như vậy khá hiếm vì người Mường quan niệm đó là sự xui xẻo, kiêng kị, của nả sẽ không giữ được trong nhà "vào đầu này ra đầu kia".
== Trang phục ==
Người Mường có đặc trưng riêng về tạo hình và phong cách thẩm mỹ trên trang phục.
Thầy mo khi hành lễ mặc y phục riêng. Ðó là chiếc áo dài 5 thân cài khuy bên nách phải, nhuộm màu xanh hoặc đen, thắt dây lưng trắng, đội mũ vải nhọn đầu. Thầy mỡi khi cúng chữa bệnh thường đội mũ chầu.
=== Trang phục nam ===
Nam mặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, cúc sừng vai, hai túi dưới hoặc thêm túi trên ngực trái. Đây là loại áo cánh ngắn phủ kín mông. Đầu cắt tóc ngắn hoặc quấn khăn trắng. Quần lá tọa ống rộng dùng khăn thắt giữa bụng còn gọi là khăn quần. Xưa có tục để tóc dài búi tóc. Trong lễ hội dùng áo lụa tím hoặc tơ vàng, khăn màu tím than, ngoài khoác đôi áo chúng đen dài tới gối, cái cúc nách và sườn phải.
=== Trang phục nữ ===
Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo. Khăn đội đầu là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa, yếm, áo cánh (phổ biến là màu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cá chân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy. Cạp váy nổi tiếng bởi các hoa văn được dệt kỳ công. Trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2 hoặc 4 giây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bịt bạc.
Áo mặc thường ngày có tên là áo pắn (áo ngắn). Đây là loại áo cánh ngắn, xẻ ngực, thân ngắn hơn so với áo cánh người Kinh, ống tay dài, áo màu nâu hoặc trắng (về sau có thêm các màu khác không phải loại vải cổ truyền). Bên trong là loại áo báng, cùng với đầu váy nổi lên giữa hai vạt áo ngắn. Đầu thường đội khăn trắng, xanh với phong cách không cầu kỳ như một số tộc người khác. Váy là loại váy kín màu đen. Toàn bộ phận được trang trí là đầu váy và cạp váy, khi mặc mảng hoa văn nổi lên giữa trung tâm cơ thể. Đây là một phong cách trang trí và thể hiện ít gặp ở các tộc khác trong nhóm ngôn ngữ và khu vực láng giềng (trừ nhóm Thái Mai Châu, Hòa Bình do ảnh hưởng văn hóa Mường mà mặc thường ngày tương tự như họ). Nhóm Mường Thanh Hóa có loại áo ngắn chui đầu, gấu lượn, khi mặc cho vào trong cạp váy và cao lên đến ngực. Phần trang trí hoa văn trên cạp váy gồm các bộ phận: rang trên, rang dưới, và cao. Trong các dịp lễ, Tết, họ mang chiếc áo dài xẻ ngực thường không cài khoác ngoài bộ trang phục thường nhật vừa mang tính trang trọng vừa phô được hoa văn cạp váy kín đáo bên trong. Nhóm mặc áo cánh ngắn xẻ ngực thường mang theo chiếc yếm bên trong. Về cơ bản giống yếm của phụ nữ Kinh nhưng ngắn hơn.
== Hoạt động kinh tế truyền thống ==
Nông nghiệp ruộng nước chiếm vị trí hàng đầu, cây lúa là cây lương thực chính. Công cụ làm đất phổ biến là chiếc cày chìa vôi và chiếc bừa đơn, nhỏ có răng bằng gỗ hoặc tre. Lúa chín dùng hái gặt bó thành cum gùi về nhà phơi khô xếp để trên gác, khi cần dùng, lấy từng cum bỏ vào máng gỗ, dùng chân chà lấy hạt rồi đem giã. Trong canh tác ruộng nước, người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thuỷ lợi nhỏ.
Ngoài ruộng nước, người Mường còn làm nương rẫy, chăn nuôi gia súc, săn bắn, đánh cá, hái lượm và sản xuất thủ công nghiệp (dệt vải, đan lát...).
Cụ thể như sau:
=== Nghề nông trồng lúa nước ===
Nghề nông trồng lúa nước được tiến hành ở những nơi có địa bàn bằng phẳng gần sông, ngòi. Đó là những mảng đồng bằng thung lũng hay những doi đất nhỏ hẹp dưới chân các dãy núi, ven các đồi gò thấp. Người Mường Thanh Sơn rất coi trọng cây lúa nếp, vì trong cuộc sống, bữa ăn truyền thống thì cơm nếp là nguồn lương thực chủ đạo. Bên cạnh đó, người Mường còn trồng cả lúa tẻ và ngày càng phổ biến giống lúa này cho năng suất cao. Ngoài những thửa ruộng nước ở đồng bằng, người Mường đa phần làm ruộng bậc thang tận dụng đất ở sườn, chân đồi gò. Loại ruộng này thường hẹp về chiều rộng nhưng lại dài như những cánh cung vòng quanh các đồi gò. Do ruộng bậc thanh làm ở trên cao, nguồn nước tưới tiêu khó khăn nên người Mường Thanh Sơn biết đào mương bắc máng, làm guồng xe nước lợi dụng dòng chảy của các con sông, suối, ngòi để đưa nước lên cao, cung cấp cho những thửa ruộng dài ngoằn nghèo. Ruộng bậc thang chủ yếu chỉ trồng được một vụ trong năm là vụ mùa. Các vụ khác người Mường dùng để trồng ngô, khoai, rau… Những loại hoa màu này thích hợp với mùa khô ít nước. Một loại ruộng mà người Mường Thanh Sơn biết tận dụng khai phá để trồng lúa gọi là ruộng chằm, ruộng rộc. Đây là những thửa ruộng ở nơi đầm lầy dưới là bùn loãng, nước còn ở mặt trên cùng cỏ dại mọc thành tầng, thành lớp. Ruộng chằm – rộc thường rất sâu, đến thắt lưng thậm chí còn đến ngực. Do đó, ruộng loại này thường rất khó khăn trong canh tác vì không thể cày bừa dễ dàng như ruộng bậc thanh hay ruộng nước ở đồng bằng. Để thuận lợi làm ruộng cũng như thu hoạch, người Mường thường phải chặt chuối, tre làm thành bè để bám hoặc gối lên làm cỏ, cấy hay gặt. Tuy vậy, do điều kiện không có nhiều diện tích thuận lợi cho canh tác nông nghiệp thì những loại ruộng chằm ruộng rộc cũng chiếm một vị trí khá quan trọng trong cuộc sống của người Mường.
=== Nương rẫy ===
Bên cạnh những thửa ruộng nước, người Mường Thanh Sơn còn đốt nương làm rẫy với hình thức lao động lạc hậu kiểu chọc lỗ tra hạt. Người Mường có kinh nghiệm quý trong việc chọn đất làm nương rẫy. Họ chọn những mảng rừng có giang, nứa mọc dày, trồng mùn màu mỡ hay những vạt đất đen ven đồi núi. Khi chọn đất, người Mường thường chặt một cây nứa hoặc cây gỗ vát nhọn đâm xuống đất. Nếu đâm được sâu thì điều đó chứng tỏ tầng mùn dày. Một kinh nghiệm nữa là xem đất màu gì, nếu đất dính vo trên tay thấy mềm dẻo, bóng như pha mỡ là đất tốt. Chọn được mảng rừng đồi ưng ý, người Mường Thanh Sơn tiến hành chặt khoanh vùng để phân giới không cho người khác lấy mất. Người Mường đốt mảng rừng này để lấy mùn và tiện lợi cho việc dọn nương. Công việc gieo trồng tiến hành vào khoảng tháng 3- tháng 4 khi bắt đầu xuất hiện những cơn mưa đầu tiên. Người Mường Thanh Sơn trồng lúa nương không bằng cày cuốc mà bằng cách lấy một đoạn cây to bằng cổ tay vót nhọn một đầu dùng để đâm hố tra hạt. Gieo giống xong, họ chặt ngọn nứa, cành cây nhỏ để quét lớp mùn bề mặt lấp các hố lại. Việc gieo trồng lúa nương tương đối đơn giản nhưng lại đòi hỏi nhiều công sức, đặc biệt là làm cỏ cũng như trông nom không để chim thú phá hoại. Trong làm nương rẫy, người Mường Thanh Sơn đặc biệt có ý thức hạn chế hoả hoạn cháy rừng tràn lan. Điều này bắt nguồn từ quan niệm truyền thống "vạn vật hữu linh". Theo người Mường, rừng núi, cây cối, dòng sông, suối… cũng có linh hồn, do thần linh hoặc ma quỷ cai quản. Cho nên, họ tránh làm nương rẫy ở những vạt rừng, cây cổ thụ coi là linh thiêng- nơi ngự trị của thần rừng, thần cây mặc cho đất đai ở đó có màu mỡ tơi xốp đến đâu. Từ quan niệm đó mà trong lao động sản xuất của người Mường nói chung, người Mường Thanh Sơn nói riêng có nhiều tục lệ lễ nghi nông nghiệp như tục rước vía lúa, lễ cầu mùa, lễ mừng cơm mới cho đến tục đóng cửa rừng và mở cửa rừng … kèm theo lệ cấm kiêng kị mang tính chất siêu nhiên linh thiêng.
=== Một số nghề phụ khác ===
Cùng với nghề nông trồng lúa (lúa nương và lúa nước) làm chính, người Mường Thanh Sơn còn tăng gia sản xuất với những hoạt động kinh tế phụ gia đình, từ chăn nuôi, làm vườn, dệt vải, đan lát.. đến săn bắn và hái lượm. Cần phải nói rằng mặc dù những hoạt động này không phải là lao động sản xuất chính nhằm đảm bảo cuộc sống của người Mường Thanh Sơn nhưng những nghề phụ này lại đóng vai trò tương đối quan trọng trong việc cung cấp nhu yếu phẩm trong đời sống hàng ngày của họ.
==== Chăn nuôi ====
Những đàn gia súc, gia cầm thường được người Mường nuôi thành bầy đàn thả dông trong rừng. Người Mường Thanh Sơn nuôi gia súc chủ yếu là trâu, bò ngoài cung cấp thực phẩm trong những ngày hội trọng đại còn dùng làm sức kéo trong lao động sản xuất. Đối với người Mường, trâu bò có vị trí đặc biệt trong đời sống thường ngày vì đối với họ chúng là cả tài sản, cơ nghiệp, phản ánh tiềm lực kinh tế từng nhà trong bản và bản này với bản khác. Trâu bò chăn thành bầy đàn trong rừng lâu ngày đôi khi đem đến những điều ngạc nhiên thú vị về số lượng tăng giảm do sự sinh nở của chúng. Bên cạnh đó, người Mường Thanh Sơn còn nuôi lợn, gà để lấy thịt trứng. Chúng cũng được người Mường nuôi thả thành bầy. Người Mường Thanh Sơn không có thói quen làm chuồng trại riêng cho gia súc, gia cầm. Họ thắt buộc những con trâu bò dùng để cày bừa dưới gầm sàn và làm chuồng trại cho gia cầm. Riêng đối với lợn, họ không mấy khi nhốt dưới sàn nhà mà được làm chuồng ở xa nhà, xa nguồn nước. Người Mường Thanh Sơn còn biết tận dụng ao hồ, sông ngòi để nuôi thả cá. Tuy vậy do địa bàn cư trú bán trung du và miền núi nên ao hồ ở nơi người Mường ở xuất hiện ít. Họ chủ yếu dựa vào đánh bắt cá, tôm tự nhiên ở sông, suối và các chi lưu của nó. công cụ dùng để đánh bắt chủ yếu là lưới, đó, đăng, chũm. Song có lẽ kiểu đánh bắt cá truyền thống của người Mường Thanh Sơn là dùng một thứ lá có độc gọi là lá cơi giã nhuyễn dải xuống một khúc suối ngòi đề làm cho cá tép say nổi lên mặt nước rồi bắt đem về.
==== Nghề vườn ====
Người Mường nói chung và người Mường Thanh Sơn nói riêng không chú ý lắm đến hiệu quả kinh tế vườn đem lại. Vườn của người Mường Thanh Sơn trồng đủ các loại cây như cau, mít, bưởi, chuối, khế, chanh, trầu, tre, bương, chuối… Có thể nói, ngoài các hình thức lao động kiếm sống phụ khác, mảnh vườn trở nên gắn bó thân thiết với người Mường như một phần của cuộc sống. Với người Mường Thanh Sơn, hầu như nhà nào cũng có mảnh vườn nhỏ đủ để trồng cây quanh nhà, mỗi thứ một ít để phục vụ cho gia đình theo kiểu mùa nào thức ấy. Phụ nữ trong gia đình rất chăm lo đến các loại cây trồng trong vườn. Đôi khi những người đàn ông cũng rất thích thú với mảnh vườn quanh nhà của mình. Họ quyết định các giống cây trồng và quan tâm đến chúng. Tuy vậy, vườn của người Mường Thanh Sơn chủ yếu vẫn là loại vườn tạp. Song ngày nay, những cây trồng trong vườn dần được người Mường lưu ý đến giá trị kinh tế. Họ trồng các giống cây cho năng xuất và hiệu quả kinh tế cao như nhãn, vải hoặc tranh, quýt để bán ra thị trường. Chính vì lẽ đó, người Mường Thanh Sơn ngày càng chú ý cải tạo mảnh vườn nhỏ bé của mình. Ngoài vườn nhà, người Mường Thanh Sơn còn tận dụng cả những vạt đất nhỏ ven bờ suối, ngòi để dễ tưới nước chăm bón. Họ trồng các loại rau, củ, quả như khoai, cà, bí, cải để cải thiện bữa cơm vốn đơn giản của mình. Người Mường Thanh Sơn đã biết trồng cây xen canh luân vụ, ngoài việc cải thiện bữa ăn hàng ngày thì người Mường Thanh Sơn còn làm vườn với mục đích phát triển kinh tế hộ gia đình, tăng thu nhập hàng năm.
==== Nghề thủ công gia đình ====
Người Mường Thanh Sơn đặc biệt khéo tay trong việc đan lát các vật dụng dùng trong gia đình từ nguyên liệu là tre, nứa và giang, mây như đan vỏ dao dùng để đi rừng, rổ, rá, thúng, nia, mâm, ớp, giỏ… Trong các nghề thủ công truyền thống của người Mường đầu tiên phải kể đến là nghề dệt vải. Trong mỗi gia đình Mường Thanh Sơn đều có các khung cửi dùng để dệt vải bông, vải lanh để phục vụ may mặc cho các thành viên. Công việc trồng bông và dệt vải chủ yếu do nữ giới đảm nhận. Tuy nhiên, nghề dệt vải ở người Mường chưa mang nhiều yếu tố hàng hoá. Họ chủ yếu sản xuất lúc nông nhàn mà chưa dành thời gian đáng kể cho nó. Trong vùng Mường Thanh Sơn, các xã nổi tiếng về dệt vải đẹp phải kể đến các xã như Minh Đài, Xuân Đài, Lai Đồng, Tất Thắng, Cự Đồng… Nguyên liệu dùng để dệt vải ngoài bông, lanh còn có tơ tằm. Nghề trồng dâu, sắn nuôi tằm tương đối phổ biến trong mỗi gia đình. Bên cạnh đó, nghề mộc cũng tương đối phát triển. Hầu như ở bản làng nào của người Mường đều có đội mộc riêng của mình để phục vụ trong xây dựng nhà cửa, đình miếu hoặc làm hậu sự cho lễ tang… Đàn ông Mường rất khéo tay trong nghề này. Họ làm ra những sản phẩm tương đối độc đáo như bao dao, làm cung, nỏ, đồ thổi xôi từ gỗ và các vật dụng khác phục vụ cho cuộc sống.
==== Khai thác nguồn lợi từ thiên nhiên ====
Săn bắn và hái lượm là hoạt động kinh tế phụ gắn bó với cuộc sống thường ngày của người Mường Thanh Sơn. Nguồn rau rừng như rau tàu bay, rau rớn, rau vi, đắng cảy, măng giang, măng nứa… được khai thác một cách hợp lý để có thể cung cấp lâu dài. Các cây củ cho bột như củ nâu, củ mài, củ vớn … chỉ được người Mường Thanh Sơn khai thác và những năm đói kém, mất mùa. Việc thu hái rau rừng thường được thực hiện cùng với các công việc khác như lấy củi, đi nương rẫy hoặc lấy rau lợn… Họ tranh thủ làm việc này sau khi đã hoàn tất các công việc khác mà theo họ là quan trọng hơn. Hoạt động săn bắn chim thú, bổ sung cho bữa ăn là công việc thường xuyên và là đặc quyền của người đàn ông Mường. Ngoài ra, săn bắn còn xuất phát từ nhu cầu của việc bảo vệ nương rẫy khỏi sự phá hoại của chim thú cũng như việc mất mát các con vật nuôi. Trong gia đình người Mường, người đàn ông thường có những chiếc nỏ súng cho riêng mình. Họ rất tự hào và chăm sóc chu đáo cho dụng cụ mà họ cho rằng thể hiện nam tính cũng như vai trò của mình trong gia đình. Con trai Mường ngay từ nhỏ đã được ông, cha cho theo trong mỗi lần đi săn, làm bẫy thú nên khi lớn lên rất thạo việc săn bắn. Người Mường biết làm nhiều loại bẫy thú với những kiểu dáng khác nhau để bẫy những con thú lớn, thú nhỏ và chim. Trong các loại bẫy của người Mường Thanh Sơn, thông dụng nhất là bẫy đâm, bẫy lao và bẫy sập. Loại bẫy này dùng để bẫy các con thú lớn như hươu, nai, gấu hoặc lợn rừng. Còn các loại bẫy nhỏ như "ngọ đánh", "ngọ cắp", "ngọ rô" dùng để bắt các con thú nhỏ như gà rừng, chim, sóc… được đặt quanh nương rẫy để bảo vệ hoa màu. Đặc biệt, những sản phẩm người Mường Thanh Sơn thu từ rừng không chỉ đủ dùng trong gia đình mà còn được dùng để trao đổi với các lái buôn từ miền xuôi như măng, mộc nhĩ, nấm, trầm hương, sa nhân, cánh kiến, các loại gỗ quý như đinh, lim, táu, lát, xửa, kháo trắng, kháo vàng, treo, chò… và các loại dược liệu quý như đẳng sâm, khúc khắc, hoài sơn… Người Mường đổi những sản phẩm từ khai thác rừng để lấy những vật dụng dùng trong gia đình như muối, dầu thắp, kim chỉ, kiềng, bát địa, xoong nồi, dao, cuốc, gương lược. Bên cạnh đó, hàng năm, người Mường còn bán cho các lái thương một số lượng lớn trâu bò. Hoạt động buôn bán ngày càng len lỏi vào tận các bản mường xa, từng bước tạo nên mối quan hệ giữa miền xuôi và miền ngược, giữa người Mường, người Kinh và các dân tộc khác, góp phần vào giao lưu văn hoá - kinh tế giữa các tộc người gần gũi nhau.
== Các dòng họ chính của người Mường ==
Họ Đinh
Họ Quách
Họ Bạch
Họ Bùi
Họ Tôn
Họ Cao
Họ Dương
Họ Hà
Họ Hoàng
Họ Lê
Họ Nguyễn
Họ Phạm
Họ Tăng
Họ Trương
Họ Phùng
Họ Xa
=== Người Mường nổi tiếng ===
Đinh Công Phủ
Đinh Công Đốc
Lê Lai
Lê Niệm
Tôn Viết Nghiệm
Quách Lê Thanh (1947-2010), nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ Việt Nam (từ 2002 đến 2006).
Hà Văn Mao
Phạm Văn Tích
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Văn hóa và tộc người |
nhóm nguyên tố 10.txt | Nhóm nguyên tố 10 là nhóm gồm 4 nguyên tố niken (Ni), palladi (Pd), platin (Pt) và darmstadti (Ds) trong bảng tuần hoàn, nhóm này còn có tên gọi khác là nhóm niken.
== Tham khảo == |
tokelau.txt | 09°10′N 171°50′T
Tokelau (IPA: [ˈtəʊkəˌlaʊ]) là một lãnh thổ thuộc chủ quyền của New Zealand. Vùng lãnh thổ này bao gồm các đảo san hô nằm ở phía nam Thái Bình Dương chỉ rộng 10 km² (khoảng 5 dặm vuông). Cũng giống như Tuvalu, cư dân sinh sống chủ yếu ở Tokelau là người Polynesia.
Trong một thời gian dài, Tokelau chịu sự thống trị của người phương Tây dưới tên gọi Quần đảo Thống nhất. Mãi đến năm 1976, đảo quốc này mới có tên chính thức như ngày nay. Tokelau hiện đang nằm trong danh sách các vùng lãnh thổ không hoàn toàn độc lập của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Theo thống kê gần đây, với 1,5 triệu đô la, nền kinh tế của Tokelau chỉ đứng cuối cùng trong bảng xếp hạng tổng sản lượng quốc nội (GDP) của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
== Xem thêm ==
Âm nhạc Tokelau
== Tham khảo ==
http://www.nzetc.org/tm/scholarly/tei-MacToke.html
== Liên kết ngoài ==
History, culture, and economy of Tokelau
Tokelau Council of Ongoing Government (executive branch of the government)
The Administrator of Tokelau (Tokelau website of the NZ Ministry of Foreign Affairs and Trade)
Tokelau-Info Project (comprehensive website of Martin Muehlbauer—German, English, French)
Fakaofo (the official website of one of the three atolls)
Nukunonu (the official website of one of the three atolls)
Official Tokelau Travel and Information Service
Tokelau Statistics Unit
Tokelauan law
CIA World Factbook entry for Tokelau
Open Directory Project— Tokelau ODP Tokelau category
Dutch entrepreneur makes money from Tokelau domain name |
giấy phép bsd.txt | Giấy phép BSD thuộc họ các giấy phép phần mềm tự do. Đầu tiên nó được dùng cho BSD và các hệ điều hành tương tự Unix.
Giấy phép này có một số ràng buộc so với các giấy phép khác ví dụ như Giấy phép Công cộng GNU.
== Tham khảo == |
màu sắc.txt | Màu sắc là cảm giác mang đến cho hệ thần kinh của người từ sự kết hợp tín hiệu của ba loại tế bào cảm thụ màu ở mắt người. Cảm giác này cũng bị ảnh hưởng "dài hạn" từ trí nhớ lưu lại quá trình học hỏi từ khi lớn lên trong xã hội, và "ngắn hạn" bởi các hiệu ứng ánh sáng của phông nền.
Màu sắc của một tia ánh sáng là cảm giác màu mà tia sáng đó gây nên ở mắt người. Màu sắc của các vật thể là màu sắc của ánh sáng xuất phát từ chúng.
== Vật lý của màu sắc ==
Các dao động của điện trường trong ánh sáng tác động mạnh đến các tế bào cảm thụ ánh sáng trong mắt người. Có 3 loại tế bào cảm thụ ánh sáng trong mắt người, cảm nhận 3 vùng quang phổ khác nhau (tức ba màu sắc khác nhau). Sự kết hợp cùng lúc 3 tín hiệu từ 3 loại tế bào này tạo nên những cảm giác màu sắc phong phú. Để tạo ra hình ảnh màu trên màn hình, người ta cũng sử dụng 3 loại đèn phát sáng ở 3 vùng quang phổ nhạy cảm của người (xem phối màu phát xạ).
Tế bào cảm giác màu đỏ và màu lục có phổ hấp thụ rất gần nhau, do vậy mắt người phân biệt được rất nhiều màu nằm giữa màu đỏ và lục (màu vàng, màu da cam, xanh nõn chuối,...). Tế bào cảm giác màu lục và màu lam có phổ hấp thụ nằm xa nhau, nên mắt người phân biệt về các màu xanh không tốt. Trong tiếng Việt, từ "xanh" đôi khi hơi mơ hồ - vừa mang nghĩa xanh lục vừa mang nghĩa xanh lam.
== Màu bổ túc ==
Những cặp màu bổ túc là những cặp màu có tính tương phản mạnh, mà khi kết hợp với nhau đúng tỷ lệ, sẽ tạo ra màu trắng (theo nguyên tắc phối màu cộng) hoặc đen (theo nguyên tắc phối màu trừ). Trong hệ phối màu trừ truyền thống, được các họa sĩ sử dụng lâu nay, những cặp màu bổ túc là:
Đỏ >< Xanh lục
Da cam >< Xanh lam
Vàng >< Tím
Những màu này không thể gây cảm giác đồng thời đối với con người, chẳng hạn không thể có một màu gọi là "đỏ - lục" hoặc "vàng - tím". Điều này tương tự cảm giác về nhiệt độ, không có cảm giác nào được gọi là cảm giác "nóng - lạnh", mà là "nóng" hoặc "lạnh".
Trong hệ phối màu cộng thì những cặp màu bổ túc là:
Vàng >< Xanh lam
Cánh sen >< Xanh lục
Cánh chả >< Đỏ
== Y học của màu sắc ==
Y học hiện nay cho rằng sắc màu làm cho cuộc sống mỗi con người đẹp hơn. Mỗi màu khác nhau và có một ý nghĩa khác nhau. Đây là một thứ do chính thiên nhiên ban tặng.
== Cảm giác màu ==
Màu sắc có 2 cảm giác: màu nóng và màu lạnh.
Các màu có cảm giác nóng là các màu như: đỏ, vàng, cam, hồng...
Màu có cảm giác lạnh như: xanh, lục lam.
Riêng màu trắng và đen hội họa không coi đấy là 2 màu.
== Tái tạo màu ==
Phương pháp tái tạo màu trên phim đen trắng được làm như sau:
Chụp tất cả các màu sắc trong dải phổ ánh sáng trắng với các nhiệt độ màu khác nhau mà mắt người có thể phân biệt bằng một camera với chế độ đen trắng.Và họ đã có được các giá trị độ tương phản của các màu đó dưới ánh sáng trắng với nhiều cường độ sáng khác nhau trong từng dải.
Tiếp theo họ lưu các giá trị và mối tương quan giữa chúng với các màu sắc tương ứng trong từng dải.
Tiếp theo họ so sánh một vật có độ tương phản "x" với độ tương phản "y" trong dải màu "A" được chụp với cường độ "b",và độ tương phản d trong dải màu "B" chụp với cường độ "m".Với giá trị x=y=d;"b" nhỏ hơn hoặc lớn hơn "m".Tuy nhiên,để biết màu thực của "x" là màu ánh xạ của "y" hay của "d",họ sẽ dùng phép thử,mỗi phép thử sẽ khiến màu sắc của cả bức tranh sai lệch hoặc hợp lý,ví dụ: bầu trời sẽ màu xanh thay vì màu đỏ,cây cỏ màu xanh lá thay vì màu hồng.Tuy vậy công nghệ này không thể tái tạo một bức ảnh ánh sáng đơn sắc mà không có bất kì các màu khác.
== Xem thêm ==
Danh sách màu
Danh sách chủ đề màu
Mù màu
Số Hex
Phối màu hấp thụ
== Tham khảo == |
tổng cục thuế.txt | Tổng cục Thuế (tên giao dịch tiếng Anh: General Department of Taxation) là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về các khoản thu nội địa trong phạm vi cả nước, bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước (gọi chung là thuế); tổ chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật.
== Lịch sử ==
Chính phủ đã ban hành sắc lệnh số 27/SL đặt ra Sở Thuế quan và thuế gián thu (trực thuộc Bộ Tài chính) dưới quyền điều khiển của một Tổng giám đốc được bổ nhiệm bằng sắc lệnh theo đề nghị của Bộ trưởng bộ Tài chính. Trong cùng ngày, Chính phủ ra sắc lệnh bổ nhiệm ông Trịnh Văn Bính, Giám đốc Sở thương chính Bắc kỳ làm Tổng giám đốc.
Để tách biệt với ngành hải quan, ngày 25/3/1946 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành nghị định số 210-TC thành lập Nha Thuế trực thu Việt Nam (trực thuộc Bộ Tài chính) có nhiệm vụ nghiên cứu, đề nghị thi hành và kiểm soát các công việc liên quan đến các loại thuế trực thu (thuế điền thổ, thuế thổ trạch, thuế môn bài, thuế lương bổng, thuế lãi doanh nghiệp, thuế lợi tức tổng hợp). Ở mỗi kỳ có Nha thuế trực thu cấp kỳ; ở mỗi tỉnh có phòng thuế trực thu.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (2/1951), Chính phủ đã ban hành hệ thống chính sách thuế mới, chủ yếu là thuế nông nghiệp và thuế công thương nghiệp. Ngày 14/7/1951, Bộ Tài chính đã ban hành nghị định số 55/NĐ thành lập Vụ Thuế Nông nghiệp (trực thuộc Bộ Tài chính) với nhiệm vụ xây dựng và tồ chức chỉ đạo, quản lý thu thuế nông nghiệp. Ở các liên khu, tỉnh, huyện, cơ quan tài chính trực tiếp phụ trách công tác chỉ đạo, quản lý thu thuế nông nghiệp trên địa bàn.
Ngày 17/7/1951, Bộ Tài chính đã ban hành nghị định số 63/NĐ thành lập hệ thống tổ chức ngành thuế công thương nghiệp bao gồm:
+ Ở trung ương: Tổng cục Thuế (Trực thuộc Bộ Tài chính).
+ Ở tỉnh: Cục thuế.
+ Ở tuyến có hoạt động xuất nhập khẩu lớn: Chi sở thuế xuất nhập khẩu.
+ Ở huyện, thị xã: Chi Cục Thuế
Sở thuế trung ương có nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện việc quản lý với mọi loại thuế (trừ thuế nông nghiệp và thuế trước bạ).
Ngày 7/8/1990, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành nghị định số 218-HĐBT về việc thành lập ngành thuế nhà nước được hợp nhất từ 3 hệ thống tổ chức: Thu quốc doanh, thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp, thực hiện sự đổi mới cơ bản về hệ thống tổ chức thống nhất,kiện toàn bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bảo đảm các mục tiêu cải cách hệ thống thuế mới với hiệu quả cao nhất. Ngành thuế nhà nước được tổ chức qua 3 cấp từ tổng cục thuế, cục thuế đến chi cục thuế; được xác định rõ quyền hạn trách nhiệm và sự phân công cụ thể hợp lý giữa cơ quan thuế ngành dọc cấp trên và chính quyền từng cấp trong tổ chức lãnh đạo chỉ đạo thực hiện nghiêm chỉnh chính sách thuế chung cả nước và trên địa bàn lãnh thổ theo nguyên tắc song hành lãnh đạo.
== Lãnh đạo Tổng cục Thuế hiện nay ==
Tổng cục trưởng: Bùi Văn Nam
Phó Tổng cục trưởng: Trần Văn Phu
Phó Tổng cục trưởng: Đặng Ngọc Minh
Phó Tổng cục trưởng: Vũ Văn Trường
Phó Tổng cục trưởng: Cao Anh Tuấn
Phó Tổng cục trưởng: Phi Vân Tuấn
Phó Tổng cục trưởng: Nguyễn Đại Trí
Phó Tổng cục trưởng: Nguyễn Thế Mạnh
== Cơ cấu tổ chức ==
Theo điều 3, Quyết định số 115/2009/QĐ-TTg ngày 28/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ thì Tổng cục Thuế được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương theo đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất:
=== Cơ quan Tổng cục Thuế ở Trung ương ===
Vụ Chính sách
Vụ Pháp chế
Vụ Dự toán thu thuế
Vụ Kê khai và Kế toán thuế
Vụ Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế
Vụ Quản lý thuế thu nhập cá nhân
Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn
Vụ Tuyên truyền – Hỗ trợ người nộp thuế
Vụ Hợp tác quốc tế
Vụ Kiểm tra nội bộ
Vụ Tổ chức cán bộ
Vụ Tài vụ - Quản trị
Văn phòng (có đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh)
Thanh tra
Cục Công nghệ thông tin
Trường Nghiệp vụ thuế
Tạp chí Thuế.
Các tổ chức quy định từ điểm a đến điểm p khoản 1 Điều này là các tổ chức hành chính giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước; các tổ chức quy định tại điểm q và điểm r là tổ chức sự nghiệp.
=== Cơ quan Thuế ở địa phương ===
Cục Thuế cấp tỉnh, Chi cục Thuế cấp huyện có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.
==== Cục Thuế ở TP.Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh ====
Cục Thuế thành phố Hà Nội và Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh có không quá 06 Phòng Kiểm tra thuế; 04 Phòng Thanh tra thuế, trong đó có 01 Phòng Thanh tra thuế đối với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có tính chất đặc thù, có phạm vi kinh doanh liên quan đến nhiều địa bàn tỉnh, thành phố. Phòng Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế;
Phòng kê khai và Kế toán thuế;
Phòng Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế;
Một số phòng Kiểm tra thuế;
Một số phòng Thanh tra thuế;
Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân;
Phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán;
Phòng Pháp chế;
Phòng Kiểm tra nội bộ;
Phòng Tổ chức cán bộ;
Phòng Hành chính - Lưu trữ;
Phòng Quản trị - Tài vụ;
Phòng Quản lý ấn chỉ;
Phòng Tin học.
==== Cục Thuế ở các tỉnh, thành phố khác ====
Cục Thuế tỉnh, thành phố có số thu hàng năm từ 3.000 tỷ đồng trở lên trừ thu từ dầu thô và tiền thu về đất, hoặc quản lý thuế trên 2.000 doanh nghiệp, được tổ chức không quá 03 Phòng Kiểm tra thuế và 02 Phòng Thanh tra thuế, trong đó có 01 Phòng Thanh tra thuế đối với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có tính chất đặc thù.
Cục Thuế tỉnh, thành phố có số thu hàng năm từ 1.000 tỷ đồng đến dưới 3.000 tỷ đồng trừ thu từ dầu thô và tiền thu về đất, hoặc quản lý thuế từ 2.000 doanh nghiệp trở xuống, được tổ chức không quá 02 Phòng Kiểm tra thuế và 01 Phòng Thanh tra thuế.
Phòng Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế;
Phòng Kê khai và Kế toán thuế;
Phòng Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế;
Một số Phòng Kiểm tra thuế;
Một số Phòng Thanh tra thuế;
Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân;
Phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán;
Phòng Kiểm tra nội bộ;
Phòng Tổ chức cán bộ;
Phòng Hành chính - Quản trị - Tài vụ - Ấn chỉ;
Phòng Tin học.
==== Chi cục Thuế ====
Chi cục Thuế ở các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Chi cục Thuế cấp huyện) trực thuộc Cục Thuế cấp tỉnh.
== Xem thêm ==
Bộ Tài chính
Tổng cục Hải quan
Kho bạc Nhà nước
Thuế Việt Nam
== Chú thích == |
tôn giáo.txt | Tôn giáo hay đạo (tiếng Anh: religion - xuất phát từ tiếng Latinh religio mang nghĩa "tôn trọng điều linh thiêng, tôn kính thần linh" hay "bổn phận, sự gắn kết giữa con người với thần linh") - xét trên một cách thức nào đó, đó là một phương cách để giúp con người sống và tồn tại với sức mạnh siêu nhiên từ đó làm lợi ích cho vạn vật và con người), đôi khi đồng nghĩa với tín ngưỡng, thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó. Những ý niệm cơ bản về tôn giáo chia thế giới thành hai phần: thiêng liêng và trần tục. Trần tục là những gì bình thường trong cuộc sống con người, còn thiêng liêng là cái siêu nhiên, thần thánh. Đứng trước sự thiêng liêng, con người sử dụng lễ nghi để bày tỏ sự tôn kính, sùng bái và đó chính là cơ sở của tôn giáo. Trong nghĩa tổng quát nhất, có quan điểm đã định nghĩa tôn giáo là kết quả của tất cả các câu trả lời để giải thích nguồn gốc, quan hệ giữa nhân loại và vũ trụ; những câu hỏi về mục đích, ý nghĩa cuối cùng của sự tồn tại. Chính vì thế những tư tưởng tôn giáo thường mang tính triết học. Số tôn giáo được hình thành từ xưa đến nay được xem là vô số, có nhiều hình thức trong những nền văn hóa và quan điểm cá nhân khác nhau. Tuy thế, ngày nay trên thế giới chỉ có một số tôn giáo lớn được nhiều người theo hơn những tôn giáo khác.
Đôi khi từ "tôn giáo" cũng có thể được dùng để chỉ đến những cái gọi đúng hơn là "tổ chức tôn giáo" – một tổ chức gồm nhiều cá nhân ủng hộ việc thờ phụng, thường có tư cách pháp nhân. "Tôn giáo" hay được nhận thức là "tôn giáo" có thể không đồng nhất với những định nghĩa trên đây trong niềm tin tối hậu nơi mỗi tôn giáo (tức là khi một tín hữu theo một tôn giáo nào đó, họ không có cái gọi là ý niệm "tôn giáo" nơi tôn giáo của họ, tôn giáo chỉ là một cách suy niệm của những người không có tôn giáo bao phủ lấy thực tại nơi những người có tôn giáo).
== Định nghĩa ==
Ngoài nghĩa rộng về tôn giáo trên, có nhiều cách sử dụng cũng như nhiều nghĩa của từ "tôn giáo." Một số lối giải thích như sau:
Một cách định nghĩa, đôi khi được gọi là "lối theo chức năng", định nghĩa tôn giáo là bất cứ hệ thống tín ngưỡng và phong tục nào có chức năng đề cập đến những câu hỏi căn bản về đặc tính loài người, đạo đức, sự chết và sự tồn tại của thần thánh (nếu có). Định nghĩa rộng ngày bao gồm mọi hệ thống tín ngưỡng, kể cả những hệ thống không tin tưởng vào thần thánh nào, những hệ thống đơn thần, những hệ thống đa thần và những hệ thống không đề cập đến vấn đề này vì không có chứng cớ.
Cách định nghĩa thứ hai, đôi khi được gọi là "lối theo hình thể", định nghĩa tôn giáo là bất cứ hệ thống tín ngưỡng nào xác nhận những điều không thể quan sát một cách khoa học được, và chỉ dựa vào chức trách hay kinh nghiệm với thần thánh. Nghĩa này hẹp hơn phân biệt "tôn giáo" với chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa nhân bản thế tục, thuyết vô thần, triết khách quan và thuyết bất khả tri, vì những hệ thống này không dựa vào chức trách hay kinh nghiệm nhưng dựa vào cách hiểu theo khoa học.
Cách định nghĩa thứ ba, đôi khi được gọi là "lối theo chứng cớ vật chất", định nghĩa tôn giáo là những tín ngưỡng về nhân quả mà Occam's Razor loại trừ vì chúng chấp nhận những nguyên nhân quá phức tạp để giải thích những chứng cớ vật chất. Theo nghĩa này, những hệ thống không phải là tôn giáo là những hệ thống không tin tưởng vào những nguyên nhân phức tạp hơn cần thiết để giải thích những chứng cớ vật chất. Những người theo quan điểm này tự xưng là "bất tôn giáo", nhưng cũng có người tôn giáo nhìn nhận rằng "tín ngưỡng" và "khoa học" là hai cách hoàn toàn khác nhau để đi đến chân lý. Quan điểm này bị bác bỏ bởi những người xem rằng những giải thích siêu hình là cần thiết để giải thích các hiện tượng tự nhiên một cách căn bản.
Cách định nghĩa thứ tư, đôi khi được gọi là "lối tổ chức", định nghĩa tôn giáo là các hội đoàn, tín ngưỡng, tổ chức, phong tục, và luật đạo đức chính thức của tất cả các tôn giáo chính có tổ chức. Nghĩa này đặt "tôn giáo" vào một vị trí trái ngược với "tinh thần", cho nên không bao gồm những luận điệu của "tinh thần" về việc tiếp xúc, phục vụ, hay tôn thờ thần thánh. Tuy nhiên, trong nghĩa này tôn giáo và tinh thần không cần phải "được (đau đầu nhức óc,học làm j, mệt người
== Lịch sử ==
Nếu không kể những chứng tích khảo cổ học cho thấy niềm tin tôn giáo về cuộc sống sau khi chết có từ rất xa xưa, khi mà người ta chôn đồ tùy táng cùng với người chết thì ít nhất cách đây 40.000 năm, tổ tiên con người đã có niềm tin tôn giáo và tham gia các nghi lễ tôn giáo. Trong các xã hội săn bắn và hái lượm, phổ biến là thuyết vật linh, cho rằng vật thể trong thế giới tự nhiên được phú cho nhận thức và tác động đến đời sống con người. Biển cả, núi cao, gió và thậm chí cả cây cối...cũng có thể được coi là những thế lực có tính chất thần thánh sinh ra và chi phối đời sống con người. Xã hội săn bắn, hái lượm có tổ chức chưa phức tạp nên đời sống tôn giáo chủ yếu tồn tại trong gia đình. Địa vị pháp sư (shaman) có thể được trao cho một người như là lãnh tụ tôn giáo nhưng hoạt động này không phải chiếm toàn bộ thời gian của người đó.
Sang đến giai đoạn xã hội trồng trọt và chăn nuôi, niềm tin thần thánh là nguyên nhân hình thành thế giới dần dần được phát triển. Một hệ thống văn hóa đạo đức được ủng hộ bằng việc công nhận thần thánh đồng thời tôn giáo vượt qua khỏi phạm vi gia đình và thường gắn chặt với chính trị, lãnh tụ xã hội thường được xem là vua và tăng lữ như các Pharaoh Ai Cập.
Trước Cách mạng Công nghiệp, tôn giáo đã rất phát triển và là thể chế xã hội vô cùng quan trọng ở khắp các lục địa. Đây cũng là lúc các tôn giáo có nhiều xung đột với nhau: Kitô giáo với Hồi giáo qua nhiều cuộc Thập tự chinh; Ấn Độ giáo xung đột với Phật giáo và về cơ bản đã loại trừ tôn giáo này ra khỏi miền đất phát tích của nó vào thế kỷ 13; người Hồi giáo chinh phục và truyền bá tôn giáo của mình đến những vùng khác...
Từ khi Cách mạng Công nghiệp nổ ra, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã khiến cho ảnh hưởng của tôn giáo không còn mạnh mẽ như trước, tôn giáo dần bị tách rời khỏi nhà nước. Trong đời sống xã hội, khoa học cũng dần thay thế cho tôn giáo, chẳng hạn một người khi gặp bệnh tật tìm đến bác sĩ nhiều hơn là tu sỹ. Tuy vậy, thậm chí ngay cả cho đến nay, nhiều phong trào tôn giáo mới vẫn tiếp tục phát triển.
== Khái niệm ==
Những tôn giáo là những hệ thống tín ngưỡng thường tìm câu trả lời cho những khái niệm sau:
Thượng đế - Siêu việt tính hay bản chất của tồn tại (hoặc cái được loài người nhận thức là tồn tại) trong mối tương quan với con người;
Con người;
Tạo hóa, những tín ngưỡng về nguồn gốc của vũ trụ, Trái Đất, sự sống, và nhân loại;
Thần thánh, những tín ngưỡng về sự tồn tại (hay không tồn tại) và bản chất của thần thánh (hay Ông Trời), những gì linh thiêng hay siêu phàm;
Những tín ngưỡng về cách liên lạc với thần thánh, vật linh thiêng, những người khác, loài vật, thế giới tự nhiên xung quanh ta và với chúng ta;
Những tín ngưỡng về bản chất đạo lý và đạo đức, như đạo đức khách quan và đạo đức tương đối;
Những cách để nhận dạng và ca tụng những kinh nghiệm giá trị;
Việc tìm ra trọn vẹn về lĩnh vực nhu cầu và thèm muốn;
Sự tìm ra mục đích của sự sống, và nhận dạng các mục tiêu trong đời;
Tìm ra một cơ cấu đạo lý, và định nghĩa những hành vi "thiện" (tốt) và "ác" (xấu);
Những tín ngưỡng về những trạng thái tồn tại khác như thiên đàng, địa ngục, hay Niết bàn và cách chuẩn bị vào những cõi này;
Những giải thích và sự hiểu biết về điều ác và đau khổ, và viết về thiện ác.
Thông thường, những tôn giáo khác nhau và những phe không tôn giáo đều có câu trả lời khác nhau về các khái niệm trên, và nhiều tôn giáo có nhiều trả lời cho mỗi khái niệm.
== Tục lệ ==
Những phong tục dựa vào tín ngưỡng tôn giáo thường gồm có:
Cầu nguyện
Thờ phụng
Họp mặt thường lệ với những người khác đồng tôn giáo
Viên chức tôn giáo để lãnh đạo hay giúp đỡ những tín đồ, như nhà tu, mục sư, tăng lữ...
Nghi lễ và phong tục đặc biệt trong tín ngưỡng
Cách giữ gìn niềm tin vào những điều răn trong kinh sách và những tục lệ của tôn giáo đó
Luật lệ ứng xử ngoài đời phù hợp với tín ngưỡng (đạo lý), như Mười điều răn trong Cựu Ước, đặt ra từ tín ngưỡng chứ không phải do tín ngưỡng định nghĩa, và đạo lý thường được tôn trọng đến địa vị giáo luật (luật pháp) và được các tín đồ thi hành
Việc duy trì và học tập những kinh sách ghi chép những tín ngưỡng cơ bản của tôn giáo.
Những tín đồ của một tôn giáo thường họp mặt để làm lễ, đọc hay tụng kinh, cầu nguyện, thờ phụng, và giúp đỡ tinh thần lẫn nhau. Tuy nhiên, cầu nguyện và ngồi thiền một mình cũng thường được xem là quan trọng, cũng như sống theo tín ngưỡng ngoài đời hay với những người không theo đạo đó. Đây thường là một chức năng của tôn giáo đó.
== Tín ngưỡng ==
Tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin và sự sùng bái thần thánh hay các quyền lực vô biên, siêu nhiên, vào cuộc sống sau khi chết..., tóm lại, là những phát biểu mà vì đó các thành viên của một tôn giáo nào đó gắn bó vào đó. Câu chuyện về Adam và Eva là một ví dụ về tín ngưỡng tôn giáo. Tín ngưỡng thường phát sinh khi một lãnh tụ tinh thần khẳng định một số hiểu biết đặc biệt về chân lý thần thánh và tổ chức tín đồ của mình. Cũng có quan điểm cho rằng, tíng ngưỡng tôn giáo là hoạt động tôn giáo ít hay không có điểm chung với các tổ chức tôn giáo khác trong một xã hội cụ thể. Theo quan điểm này thì tín ngưỡng là một cái gì đó hoàn toàn mới, nó có thể là kết quả của sự truyền bá quan điểm tôn giáo từ một xã hội này sang một xã hội khác, nơi mà nó chưa từng có tiền lệ. Do vậy khi mới hình thành, tín ngưỡng thường chưa được chính thức hóa và hay có mâu thuẫn với xã hội, nếu tiếp tục phát triển, tín ngưỡng sẽ trở nên có tổ chức, nghi lễ chặt chẽ hơn và có thể trở thành tôn giáo. Tuy nhiên tín ngưỡng tôn giáo không phải là các giáo phái, giáo phái là những nhóm ly khai với giáo hội hay tổ chức tôn giáo truyền thống của nó còn tín ngưỡng thì hoàn toàn mới.
== Các tôn giáo ==
Niềm tin và thực tiễn tôn giáo vô cùng đa dạng và có rất nhiều tôn giáo trên thế giới ngày nay, có tôn giáo chỉ hạn chế trong một vùng địa lý không lớn nhưng có những tôn giáo có thể gọi là tôn giáo thế giới với nhiều triệu tín đồ ở khắp nơi trên thế giới. Nói chung có khoảng 87 phần trăm dân số thế giới đang gắn bó với một tôn giáo nào đó; chỉ có khoảng 13 phần trăm là không tôn giáo.
(Nguồn số liệu theo Adherents.com [1], riêng số lượng tín đồ Khổng giáo theo Macionis.)
Việc thống kê số liệu tín đồ của từng tôn giáo rất phức tạp và nhiều phương pháp khác nhau do đó các nguồn số liệu có thể cho kết quả khác nhau đáng kể, tuy vậy nó cung cấp cái nhìn tương đối về quy mô của các tôn giáo đặc biệt là trong tương quan với nhau.
Kitô giáo: với ba nhánh lớn là Công giáo La Mã, Chính thống giáo Đông phương và Tin Lành, là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất trên thế giới, khoảng 2,1 tỷ tín đồ, chủ yếu ở Bắc Mỹ, Mỹ Latin, châu Âu và rải rác ở nhiều nơi khác trên thế giới. Kitô giáo bắt nguồn từ Do Thái giáo ở Trung Đông và do Chúa Jesus sáng lập. Kitô giáo theo thuyết độc thần thể hiện ở quan điểm về Chúa Ba Ngôi: Đức Chúa Cha - Đấng Tạo hóa; Đức Chúa Con (Jesus Christ) - Đấng Chuộc tội và Đức Chúa Thánh Thần - Đấng Thánh hoá. Jesus Christ bị hành hình bằng cách đóng đinh trên cây thập tự, từ đó cây thập tự trở thành biểu tượng thiêng liêng của tín đồ Kitô giáo và theo niềm tin của tín đồ Kitô giáo, Chúa phục sinh là bằng chứng về việc Người là Con Thiên Chúa, Người được phái đến để giải phóng con người khỏi ách quỷ Satan. Con người không chỉ là tôi tớ của Chúa, kẻ được cứu rỗi, mà còn là con của Chúa, do vậy con người có bổn phận noi gương Chúa trong tình yêu cuộc sống, tình yêu đồng loại, con người phải sống thánh thiện và đạt đến cuộc sống vĩnh hằng. Từ khi ra đời và trong giai đoạn đầu, Kitô giáo bị ngược đãi, đàn áp nhưng dần dần đã được truyền bá rộng rãi trên thế giới. Đây là một trong những tôn giáo lâu đời nhất trên thế giới và là tôn giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến nền văn minh phương Tây.
Hồi giáo: là tôn giáo có số lượng tín đồ đông thứ hai trên thế giới, với khoảng 1,5 tỷ tín đồ, chủ yếu tập trung ở Trung Đông, Bắc Phi, Trung Á và rải rác ở khắp nơi trên Trái Đất. Hồi giáo ra đời vào thế kỷ thứ VII, do Muhammad sáng lập. Muhammad là Đấng Tiên tri chứ không phải là thần thánh như Chúa Jesus Christ đối với người Kitô giáo, ông là Đấng tiên tri cuối cùng sau các Đấng tiên tri trước đó là Adam, Abraham, Moses và Jesus Christ. Vai trò của Muhammad là ghi lại lời của Thượng đế và kinh Koran được các tín đồ coi là lời răn của Đấng Chí Tôn. Cũng giống Kitô giáo, Hồi giáo tin rằng có địa ngục, thiên đàng và ngày phán xét, mọi người có trách nhiệm giải thích trước Thượng đế về những việc làm của mình trên trần thế. Tín đồ Hồi giáo cũng thừa nhận trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ đức tin, chống lại mọi đe dọa và trong một số trường hợp, giáo lý này của Hồi giáo được sử dụng để biện minh cho các cuộc Thánh chiến.
Ấn Độ giáo: được coi là một trong những tôn giáo lâu đời nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Ấn Độ khoảng 1500 năm trước Công nguyên. Khác với Kitô giáo và Hồi giáo, Ấn Độ giáo không liên kết với đời sống của một cá nhân nào, hay nói cách khác, không có người sáng lập. Qua hàng ngàn năm, Ấn Độ giáo và xã hội Ấn Độ với hệ thống đẳng cấp đan quyện, gắn bó chặt chẽ với nhau đến mức người ta không thể dễ dàng mô tả riêng biệt, cũng chính vì thế mà Ấn Độ giáo khó truyền bá đến các xã hội khác. Thế nhưng đến nay, Ấn Độ giáo vẫn có khoảng 900 triệu tín đồ chủ yếu ở Ấn Độ, Pakistan và ở nhiều nơi khác trên thế giới với số lượng ít. Trong Ấn Độ giáo, công lý sau cùng không phải thuộc về vị thần tối cao mà thông qua chu kỳ tái sinh theo luật nhân quả. Mọi hành động của con người đều dẫn đến kết quả tinh thần trực tiếp, đó chính là nghiệp chướng (karma), đời sống chính đáng khiến cho tinh thần được hoàn thiện, ngược lại sẽ làm cho tinh thần suy đồi. Trạng thái cực lạc (nirvana) là sự hoàn thiện tinh thần, trong đó linh hồn được sẵn sàng cho việc tái sinh một cách hoàn hảo.
Phật giáo: cũng có nguồn gốc từ Ấn Độ và khởi nguồn khoảng 500 năm trước Công nguyên. Tôn giáo này có nhiều phương diện giống với Ấn Độ giáo nhưng gắn với cuộc đời của người sáng lập - Đức Phật Thích Ca (Siddartha Gautama). Phật giáo là tôn giáo lớn trên thế giới, hiện có khoảng 365 triệu tín đồ chính thức (đã làm lễ Quy y Tam bảo), và nếu tính cả số tín đồ không chính thức (chưa làm lễ Quy y nhưng có niềm tin vào Phật pháp) thì có thể lên tới 1,2-1,6 tỷ (phần lớn người Đông Á thuộc bộ phận không chính thức này)(cần dẫn nguồn). Phật giáo chủ yếu tập trung ở Châu Á và đang lan truyền khắp thế giới. Sau nhiều năm chu du và thiền định, Siddartha Gautama đạt đến trạng thái giác ngộ (bodhi), Ngài trở thành Phật, hiểu được bản chất của đời sống và biết con đường dẫn đến hạnh phúc thực sự. Tương tự như Ấn Độ giáo, Phật giáo cho rằng có kiếp luân hồi, nhân quả, mọi hành động của con người đều dẫn đến kết quả sẽ nhận được: hoặc là thiện (dẫn đến sự hoàn thiện tinh thần, sẽ nhận được quả thiện) hoặc là ác (dẫn đến sự suy đồi tinh thần,sẽ nhận được quả ác) nhưng khác nhau về bản chất. Cốt lõi là thoát khỏi hoàn toàn sinh tử, khổ đau, không còn bị tác động bởi nghiệp. Vũ trụ có trật tự mà không có vị thần tối cao thực hiện công lý cuối cùng (hay nói cách khác toàn thể Vũ trụ đều là Chân như của Phật tính - Pháp thân của Phật khắp mọi nơi. Mọi sự tồn tại của con người đều có khổ đau và muốn đạt đến sự bình an về tinh thần, Phật giáo phủ nhận mọi hình thức vui thú vật chất - hưởng dục, làm giảm các ham muốn về vật chất hay thể xác. Phật giáo cũng là tôn giáo đầu tiên đưa ra hệ thống phẩm cấp tu hành.
Nho giáo: hình thành ở Trung Quốc và do Đức Khổng Tử (551 - 479 trước Công nguyên) sáng lập. Có ít nguồn số liệu thống kê về các tín đồ Nho giáo nhưng ước tính có hơn 150 triệu người là tín đồ của tôn giáo này và số người chịu ảnh hưởng còn nhiều hơn nữa chủ yếu tập trung ở Trung Quốc, Đông Bắc Á, Việt Nam, Singapore. Cũng như Phật giáo, Nho giáo quan tâm sâu sắc đến những đau khổ trên thế giới nhưng phương cách cứu rỗi, thay vì thủ tiêu ham muốn, là sống theo những nguyên tắc cụ thể về hạnh kiểm, đạo đức. Nho giáo đề cao nhân tính (jen), đạo đức luôn có vị trí cao hơn tư lợi, đạo đức của cá nhân tạo ra gia đình vững chắc và gia đình vững chắc trở thành nền tảng của xã hội vững mạnh. Không giống nhiều tôn giáo khác, Nho giáo không hướng con người vào tương lai mà hướng vào đời sống thực tại một cách có đạo đức trong xã hội có kỷ cương, trật tự. Trong Nho giáo, không có khái niệm rõ ràng về sự thiêng liêng, người ta có thể cho rằng Nho giáo xét cho cùng không phải là tôn giáo thuần túy mà đúng ra ra là nghiên cứu lịch sử Trung Hoa có kỷ cương...Nhưng cũng có điểm giống với tôn giáo là tập hợp niềm tin và hành lễ phấn đấu đạt cái thiện và tạo ra sự đoàn kết xã hội.
Do Thái giáo: cũng hình thành ở vùng Trung Đông như Hồi giáo và Kitô giáo vào thời kỳ Đồ Sắt (khoảng 2000 năm trước Công nguyên). Mặc dù chỉ có khoảng 14 triệu tín đồ, chủ yếu ở Israel, Mỹ và châu Âu nhưng Do Thái giáo là một tôn giáo quan trọng vì đã tạo nền tảng lịch sử cho sự hình thành của Kitô giáo và Hồi giáo. Do Thái giáo do Abraham, tổ phụ và là nhà tiên tri của người Do Thái sáng lập. Do Thái giáo cũng theo thuyết độc thần, chỉ công nhận một mình Đức Chúa toàn năng. Điểm khác biệt của Do Thái giáo là mối quan hệ đặc biệt với Chúa, qua đó người Do Thái là "dân tộc được chọn" thông qua Giao ước (covenant). Giao ước được thể hiện dưới dạng như pháp luật và tập trung vào Mười điều răn Chúa tiết lộ cho Tiên Tri Moses, nhà tiên tri đã dẫn dắt dân tộc Do Thái ra khỏi ách nô lệ Ai Cập. Do Thái giáo coi năm quyển đầu tiên của bộ kinh mà đối với người Kitô giáo chính là Kinh Thánh Cựu ước là Thánh thư - lịch sử cũng như pháp luật của mình. Do Thái giáo cũng không hướng đến thế giới bên kia mà xem quá khứ là nguồn hướng dẫn hiện tại và tương lai. Người Do Thái phục tùng ý Chúa bằng cách thực hiện đầy đủ tinh thần cũng như lời văn của Thánh thư thì một ngày kia, Chúa sẽ phái sứ giả mang thiên đàng xuống Trái Đất. Chúa Jesus được coi chính là sứ giả đó, nhưng người Do Thái không công nhận Người, vì Người đã chịu chết khốn cực chứ không vinh hiển như ý tưởng của họ theo lời Thánh thư.
== Những điểm khác nhau giữa các tôn giáo ==
Những tôn giáo khác nhau có nhiều điểm bất đồng về các khái niệm trên, cũng như về phong tục của các tín đồ. Ví dụ:
=== Số thần thánh ===
Những tôn giáo độc thần chỉ tin vào một thần thánh. Trong những tôn giáo này có Đạo Do Thái, Sikh giáo, Kitô giáo, Hồi giáo, và Đạo Bahá'í.
Đại đa số các tín đồ Kitô giáo tin vào giáo lý Ba Ngôi, nói rằng có một Chúa trời hiện hữu trong ba ngôi vị. (Hầu hết các nhánh trong Kitô giáo tin vào điều này, trừ một vài nhánh nhỏ như Nhân chứng Giêhôva hay các nhóm đã tồn tại trong quá khứ như phái Sabellius, phái Arius.)
Một số giáo phái của Ấn Độ Giáo hay thường bị gọi nhầm là theo độc thần luận, nhưng thật sự là thuộc về toàn thần luận.
Các tôn giáo đơn nhất thần tin rằng có nhiều thần thánh với nhiều tính chất khác nhau, nhưng chỉ có một thần là cao hơn hết. Trong các tôn giáo này gồm có những nhánh của Ấn Độ giáo (đặc biệt là hai nhánh Shiva và Vishnu) tin vào thiên thần, quỷ thần, deva (chư thiên), asura (atula, phi thiên), hay các thần thánh khác trong đó có một thần cao hơn hết;
Những tôn giáo đa thần như Tôn giáo Hy Lạp - La Mã, cũng như một số tín ngưỡng vật linh như ở châu Phi tin tưởng vào nhiều thần thánh;
Những tôn giáo phiếm thần tin rằng mọi vật trong thiên nhiên điều liên quan đến nhau và không thể tách rời nhau. Những tôn giáo này gồm có: những trường phái phiếm thần của nhánh Shiva và Vishnu trong Ấn Độ giáo, Thần đạo của Nhật Bản, và một vài tín ngưỡng về vạn vật hữu linh.
Những tôn giáo không thần (như Đạo Phật, Nho giáo) không nói gì về sự hiện hữu hay không hiện hữu của thần thánh;
Những tôn giáo vô thần (như Kì na giáo và Phật giáo) không tin tưởng vào thần thánh nào (Phật giáo không tin có một đấng sáng tạo tối thượng nào nhưng có sự tồn tại của thần thánh);
Những người bất khả tri thường nói rằng họ không biết được số thần thánh là không, một, hay nhiều.
=== Giới tính thần thánh ===
Một số tín đồ cho rằng thần thánh của họ không có giới tính, có cả tính chất nam lẫn nữ;
Một số tín đồ cho rằng thần thánh của họ không có giới tính, nhưng có nhiều tính chất nam.
Một số tín đồ khác cho rằng thần thánh của họ không có giới tính, nhưng có nhiều tính chất nữ.
Một số tôn giáo giáo cho rằng thần thánh của họ là nam hoặc nữ, như trong các tôn giáo thần thoại truyền thống.
=== Nguồn kinh sách ===
Các văn bản thiêng liêng cung cấp căn cứ cho các tín đồ xem các văn bản đó có thẩm quyền, được linh truyền, linh hứng và/hoặc không thể sai lầm. Ví dụ như kinh Coran, kinh Vệ Đà, kinh Aqdas (Kitáb-i-Aqdas) và Kinh thánh;
Các nhà tiên tri cung cấp căn cứ cho các tín đồ xem những người tiên tri đó có khả năng thông hiểu đặc biệt hoặc có khả năng tương giao cá nhân trực tiếp với đấng thiêng liêng. Ví dụ như Giêsu, Môsê, Bahá'u'lláh và Môhamét;
Khoa học và lý trí cung cấp căn cứ cho các tín đồ xem khoa học và lý trí có khả năng trả lời cho nhiều nghi vấn nền tảng của tôn giáo. Ví dụ như chủ nghĩa Nhân bản thế tục và thuyết Vô thần;
Truyền thống cung cấp căn cứ cho các tín đồ xem tập quán của tổ tiên là đặc biệt quan trọng và là nguồn cội của chân lý thiêng liêng. Ví dụ như Saman giáo (vu ngưỡng) và một số khía cạnh của Thần đạo;
Kinh nghiệm cá nhân cung cấp căn cứ cho các tín đồ tin rằng họ có tiếp xúc cá nhân trực tiếp với Thượng đế hay thần thánh, hoặc một sự kiện cụ thể nào đó có tầm quan trọng đối với họ về mặt tôn giáo.
=== Cấu trúc tổ chức ===
Những tôn giáo có tổ chức trung ương thành lập một tổ chức có cơ cấu nhằm để phát triển và giữ gìn sự trong sạch của niềm tin và giúp đỡ tín đồ sống theo đạo. Những tôn giáo này gồm có Giáo hội Công giáo Rôma, Hồi giáo lúc ban đầu và Đạo Do Thái theo phái Chasidut;
Những tôn giáo không có tổ chức trung ương thường phát triển độc lập với nhau, cho nên các niềm tin và phong tục rất phong phú. Những tôn giáo này gồm có Ấn Độ giáo, các thần thoại của các nước Hy Lạp và Ai Cập cổ và các đạo ngẫu tượng mới như Wicca hay Ásatrú.
=== Đạo lý ===
Những tôn giáo có căn cứ trong cách ăn ở chú trọng trong việc tham gia trong các tục lệ, lễ nghi và thái độ của các tín đồ. Những tôn giáo này có đạo Do Thái theo phái Chasidut và nhiều truyền thống hữu linh.
Những tôn giáo có triết lý tinh thần chú trọng vào các điều dạy thực hành để dẫn đến hạnh phúc trong đời và ít quan tâm về những việc siêu phàm hơn. Ví dụ: đạo Phật, đạo Lão và đạo Khổng (Nho giáo). Một số tôn giáo khác như Ấn Độ giáo chú trọng những điều này nhưng vẫn tin tưởng vào một thần thánh tối cao trong nhiều hình thể.
Những tôn giáo có căn cứ vào quan hệ chú trọng việc giữ gìn mối quan hệ đúng đắn với thần thánh, có thể bằng quan hệ cá nhân (như đạo Tin lành), bằng cách tuân theo các ý định của thần thánh (như Hồi giáo) hay bằng cách sám hối và tha thứ tội lỗi (như Kitô giáo truyền thống).
(Cũng nên nhắc rằng hầu hết các tôn giáo có đạo lý từ nhiều căn cứ, nhưng có căn cứ được chú trọng hơn những căn cứ khác)
=== Sau khi chết ===
Ấn Độ giáo tin rằng loài người sẽ mãi mãi đầu thai cho đến khi họ đến trạng thái giải thoát (Moksha), được hợp nhất với thần (Vishnu hay Shiva) và họ tin vào thuyết quả báo; vì thế, đạo này không tin vào việc bị đọa đày vĩnh viễn sau khi chết vì chúng ta có cơ hội chuộc tội trong các kiếp sau cho đến khi được giải thoát. Tuy thế, nhiều tín đồ tin rằng có một nơi trời trừng trị những kẻ ác trước khi được đầu thai.
Đạo Phật theo hệ phái Nam Tông cho rằng nghiệp của một người được tái sinh cho đến khi họ đến cõi Niết bàn, cho nên ta không nên đầu thai; hệ phái Bắc Tông thì gần với Ấn Độ giáo hơn trong các tín ngưỡng về đầu thai. Tuy thế, nhận thức về Niết bàn của đạo Phật và giải thoát của Ấn Độ giáo không hoàn toàn giống với nhau vì Niết bàn là một trạng thái không tồn tại và không chú trọng vào một thần thánh cao siêu.
Kitô giáo và Hồi giáo có khái niệm Thiên đàng và Địa ngục, và Chúa trời là người định đoạt số phận vĩnh cửu của chúng ta. Trừ điều này, các đạo này có nhiều khái niệm khác nhau.
Công giáo Rôma và đạo Tin lành truyền thống tin rằng mỗi người sẽ được cứu rỗi bằng cách đặt niềm tin vào Chúa trời và sự cứu chuộc của Chúa Giêsu. Công giáo còn tin rằng linh hồn con người cần được thanh luyện cho những tội lỗi mà họ đã phạm nhưng chưa sám hối khi còn sống, trước khi được đưa lên thiên đàng.
Một số tín đồ Kitô giáo khác tin rằng mỗi người tự chọn thiên đàng và địa ngục riêng của họ: nếu một người chọn sống trong một "địa ngục trần gian", họ sẽ tiếp tục chọn điều đó sau khi chết, Chúa trời sẽ cho họ toại nguyện: bị xa cách Chúa trời và niềm hạnh phúc. Ngược lại, những người mưu cầu thiên đàng tại trần gian sẽ tiếp tục mưu cầu thiên đàng sau khi chết, Chúa trời cũng sẽ cho họ toại nguyện: gần gũi với Chúa trời và hạnh phúc. Xem The Great Divorce của C.S. Lewis.
Dưới hầu hết các tín ngưỡng truyền thống của Hồi giáo, Chúa trời xét xử chúng ta trong việc trung thành với năm cột trụ của Hồi giáo, trong đó có việc công nhận Chúa trời, Môhamét, và sống theo các điều lệ của Chúa trời về Công lý, Tín ngưỡng, và Từ bi, và thưởng chúng ta tùy theo các việc ta làm trên thế gian.
Đạo Do Thái thì nói người chết sẽ được sống lại vào ngày phán xét.
Đạo Bahá'í tin rằng linh hồn của một người sẽ được đến cõi linh hồn của Chúa trời sau khi chết cho đến khi nó gặp Chúa trời.
Đạo Cao Đài cho rằng một linh hồn sẽ trở về với Thượng đế sau khi chết nếu lúc còn sống linh hồn ấy đã sống một cuộc đời thánh thiện và ngược lại nếu lúc sống làm những điều xấu sẽ bị đọa nơi địa ngục.
Đạo Rastafari tin vào bất tử vật chất. Một khi thần Haile Selassie gọi họ về châu Phi để phán xét, họ sẽ được sống mãi mãi với Ngài trong thân thể của họ trong thế giới này.
Nhân Chứng Giêhôva tin rằng cho đến ngày tận thế, những người chết đang trong trạng thái ngủ, không nghe được lời cầu nguyện hay can thiệp vào các chuyện trên đời. Sau khi Satan bịt kín sau ngày tận thế, 144.000 người được chọn sẽ lên thiên đàng để thống trị với chúa Giêsu. Mọi người khác sẽ được phục sinh và được trường sinh bất tử trong địa đàng trên Trái Đất, nay được phục hồi. Sau 1000 năm, Satan sẽ được thả ra và được phép cám dỗ loài người một lần nữa. Những người bị cám dỗ vào tội lỗi sẽ bị chết vĩnh viễn với Satan, và Chúa trời sẽ trở thành người thống trị mới.
=== Tư tưởng về những người khác tín ngưỡng ===
Các tín đồ của các tôn giáo phải đối mặt với nhiều tư tưởng, nghi thức, tập quán của các tôn giáo khác và họ có nhiều các giải quyết khác nhau.
Những người có tư tưởng bài ngoại cho rằng các tôn giáo khác đều sai lầm, là tà giáo hoặc bị sai lạc. Những người cực đoan như vậy đôi lúc gây ra những căng thẳng thậm chí dẫn đến xung đột với tín đồ của các tôn giáo khác.
Những người có tín ngưỡng bao hàm nhận thức rằng mọi hệ thống tín ngưỡng đều có điều đúng cả, họ coi trọng các điểm giống với tôn giáo của mình và xem nhẹ các điểm khác biệt, thế nhưng luôn coi tín ngưỡng mà họ tin theo là cao hơn hết.
Những người có tín ngưỡng đa nguyên không có thành kiến với các tôn giáo khác, xem mỗi tôn giáo đều phù hợp với những nền văn hóa mà trong đó nó tồn tại.
Những người có tín ngưỡng hỗn hợp thường pha trộn các quan điểm từ nhiều tôn giáo hay tín ngưỡng khác nhau thành một tôn giáo mới để thể hiện đức tin, kinh nghiệm của họ (ví dụ đạo Cao đài).
Một số người cho rằng các tôn giáo đều không tồn tại, mà chúng chỉ là phản ảnh của đầu óc và khái niệm của loài người. Do đó, những người như thế có thể sống với thực tại cuối cùng (thống nhất mọi niềm tin và tôn giáo của loài người làm một). Trường hợp này hoàn toàn khác với trường hợp những người vô thần là những người không tin vào tôn giáo nào, không có tín ngưỡng và đứng hoàn toàn độc lập và bên ngoài so với thế giới tâm linh nơi con người.
== Tôn giáo và khoa học ==
Quan điểm về tôn giáo và khoa học có thể đi từ thái cực cái nọ phủ nhận cái kia cho đến dung hòa hơn. Ở thái cực này, một số người cho rằng những hiểu biết tôn giáo có thể trả lời mọi câu hỏi liên quan đến vũ trụ và đời sống con người. Ở thái cực khác một số người lại cho rằng những hiểu biết tôn giáo là mê tín, phi lý, hoang đường, chỉ có khoa học mới đưa ra được câu trả lời đúng đắn. Ở giữa hai thái cực, có quan điểm coi tôn giáo và khoa học dùng các phương pháp, hay nói đúng hơn, trả lời cho các câu hỏi khác nhau để tìm đến Chân lý và kiến thức đồng thời bổ sung cho nhau. Tôn giáo dùng những phương pháp dựa theo sự hiểu biết chủ quan của trực giác cá nhân và kinh nghiệm và/hoặc căn cứ vào chức trách của các kinh sách hay người được xem là tiên tri. Khoa học, trái lại, dùng phương pháp khoa học, một quá trình khách quan để điều tra nghiên cứu dựa theo chứng cớ vật chất, dùng các hiện tượng có thể quan sát và xác minh được. Tương tự, có hai loại câu hỏi mà tôn giáo và khoa học cố gắng trả lời: những câu hỏi về các hiện tượng có thể quan sát và xác minh được (như các luật vật lý, hay cách hành xử của con người) và những câu hỏi về các hiện tượng không thể quan sát được và việc đánh giá về giá trị, ý nghĩa, mục đích (như làm sao có các luật vật lý, thế nào là "thiện" và "ác"). Quan điểm này có thể được minh họa bằng những lời Hồng y Barberini đã từng nói với Galileo: "Anh dạy cho mọi người biết bầu trời di chuyển như thế nào; còn chúng tôi dạy cho mọi người biết cách lên trời". Nói cách khác, thế giới này hoạt động ra sao là vấn đề khoa học, nhưng tại sao chúng ta và phần vũ trụ còn lại nói chung lại tồn tại là vấn đề khoa học không sao giải thích được.
Trong khi nhiều nhà khoa học mang niềm tin tôn giáo, theo quan điểm hòa hợp giữa tôn giáo và khoa học thì có lúc cả hai đã xung đột với nhau. Galileo đã bị giáo hội bắt từ bỏ Thuyết Nhật tâm hay cuộc tranh luận về sự tạo thành sau khi Charles Darwin đưa ra Thuyết Tiến hóa là những ví dụ.
Trên thực tế, cho đến ngày nay, khoa học và tôn giáo vẫn cùng tồn tại, một số niềm tin tôn giáo có thể mờ nhạt đi và được thay thế bởi khoa học nhưng những chân giá trị của các tôn giáo cũ cũng vẫn giữ nguyên ý nghĩa của nó và vẫn đang ngày một hòa quyện hài hòa với khoa học, đặc biệt là trong những xã hội hiện đại nơi mà nhiều người cho rằng chủ nghĩa tiêu thụ đang chiếm ưu thế và đạo đức suy đồi.
== Tôn giáo và chính trị ==
Trong lịch sử, tôn giáo thường đi song song với chính trị. Các hoàng đế Trung Quốc lấy căn cứ quyền của họ từ Thiên mệnh (天命). Giáo hội Công giáo Rôma đã thống trị phần lớn châu Âu cho đến cuộc Cải cách Tin lành. Đến Thời đại Ánh sáng vào thế kỷ 18 tại châu Âu, nhiều triết gia tin vào việc tách biệt giữa giáo hội và nhà nước (separation of church and state). Hiện nay tôn giáo đóng nhiều vai trò khác nhau tại nhiều nơi trên thế giới:
Tôn giáo độc lập: tại một số quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Việt Nam... hiến pháp tách biệt giáo hội và nhà nước. Các quốc gia này thường cho phép người dân tự do tín ngưỡng, nhưng không công nhận bất cứ tôn giáo nào để khỏi bị xem là thiên vị. Tuy nhiên, tại Hoa Kỳ, khi một tổng thống nhậm chức, tổng thống phải đặt tay lên cuốn kinh thánh để tuyên thệ
Quốc giáo: Một số quốc gia có một quốc giáo, một tôn giáo được nhà nước công nhận là chính thức và nhận thuế từ dân, tuy nhiên người dân vẫn được phép tự do tín ngưỡng. Trong các nước này gồm có một số nước Hồi giáo, Công giáo và những nước như Thái Lan (Phật giáo), Anh (Anh giáo). Tuy nhiên, các viên chức quốc giáo không có địa vị quan trọng trong chính quyền, trừ quốc trưởng.
Thần quyền: Tại một số quốc gia, điển hình là Iran và Tòa thánh Vatican, tôn giáo và chính quyền là một. Các viên chức quan trọng trong tôn giáo cũng là viên chức trong chính quyền.
== Xem thêm ==
Tín ngưỡng
Không tôn giáo
== Tham khảo ==
Macionis John J., Xã hội học, Nhà xuất bản Thống kê (1987)
Schaefer Richard T., Xã hội học, Nhà xuất bản Thống kê (2005)
Almanach những nền văn minh thế giới, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin (tái bản, bổ sung lần 1 năm 2007)
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tôn giáo tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Tôn giáo tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) |
samsung galaxy s5 active.txt | Samsung Galaxy S5 Active là một điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Android sản xuất bởi Samsung Electronics. Tương tự như Samsung Galaxy S5, nó có tính năng chống nước và chống bụi trên IP67 và thiết kế chống va đập được MIL 810G đánh giá.
S5 Active nó một vài khác biệt so với S5.
== Phát hành ==
Galaxy S5 Active được phát hành vào 30 tháng 5 năm 2014 trên AT&T.
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy S series
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Website chính thức |
lê tấn tài.txt | Lê Tấn Tài (sinh ngày 4 tháng 1 năm 1984 tại huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa) là tiền vệ cánh phải người Việt Nam. Anh đã nhận được danh hiệu Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất và Quả bóng đồng năm 2005, dù trước đó một năm anh đã bị nghi ngờ về khả năng của mình và bị dư luận lên án vì đã tìm mọi cách để xin quay về địa phương trong lần đầu tiên được gọi tập trung đội tuyển quốc gia năm 2004 dẫn đến bản án kỷ luật của Liên đoàn bóng đá Việt Nam. Anh hiện đang thi đấu cho Câu lạc bộ bóng đá Khánh Hòa, nơi phát hiện và đào tạo anh, và là thành viên của đội tuyển Việt Nam.
== Sự nghiệp bóng đá ==
Lê Tấn Tài sinh tại thôn Ninh Điền, xã Ninh Thọ, huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa, đến tận năm 2002, anh mới được huấn luyện viên Dương Quang Hổ, khi đó là huấn luyện viên đội tuyển U18 Khánh Hòa, chú ý và đưa anh lên "tỉnh". Sau đó một năm, anh được đôn lên đội tuyển bóng đá Khánh Hòa đang tham dự Giải hạng nhì. Trận đấu chính thức đầu tiên của anh là trận gặp Lâm Đồng vào ngày 26 tháng 7 năm 2004.
Nhờ sự tiến cử của cố vấn kỹ thuật của Câu lạc bộ, anh trở thành cầu thủ đầu tiên của một câu lạc bộ Hạng nhì (vừa được thăng hạng Nhất năm đó) được tập trung vào đội tuyển quốc gia nhằm chuẩn bị cho giải Agribank Cup 2004, khiến cho báo chí và dư luận đặt nhiều câu hỏi về anh, khi thì kỳ vọng, so sánh anh với Phan Văn Tài Em, lúc thì cho rằng anh chưa đủ tầm và nên được trả về câu lạc bộ. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian tập trung ngắn, dù có lời khen về sự thể hiện của anh trong tập luyện, anh nằng nặc xin rời khỏi đội tuyển, thậm chí còn được mô tả "đã quỳ lạy ông Tavares" (huấn luyện viên trưởng đội Việt Nam khi đó) với lý do áp lực ở tuyển quá lớn và gia đình có chuyện buồn. Được sự cho phép của Liên đoàn, anh rời khỏi đội tuyển và quay về Câu lạc bộ rồi ngay sau đó thi đấu rất thành công tại Giải U21 Báo Thanh Niên, đưa đội U21 Khánh Hòa thành Á quân của Giải, tuy nhiên điều này khiến cho ông Tavares rất tức giận vì cho rằng Tấn Tài đã lừa mình để về thi đấu cho câu lạc bộ, yêu cầu Liên đoàn phải kỷ luật Tấn Tài và tuyên bố "Khi nào còn làm ở ĐTQG thì sẽ không bao giờ triệu tập Tấn Tài." Tấn Tài đã nhận quyết định kỷ luật treo giò 5 trận đầu tiên của Giải hạng nhất 2005, do "thiếu tinh thần trách nhiệm đối với ĐTQG nên đưa ra một số lý do không trung thực để rời đội tuyển".
Năm 2005, huấn luyện viên Alfred Riedl của Đội tuyển đã cho triệu tập lại Tấn Tài vào đội tuyển để dự Honda Cup 2005, anh đã thể hiện một phong độ tốt và liên tục được gọi vào đội tuyển quốc gia từ thời gian đó.
Cũng vào cuối năm đó, trong vụ tiêu cực của đội tuyển U23 Việt Nam tại SEA Games 23, Tấn Tài, cùng Tài Em được nêu tên như những cầu thủ trong sạch, thẳng thừng từ chối khi được đề nghị bán độ trước trận đấu, đến năm 2007, cũng hai cầu thủ này đã được triệu tập làm nhân chứng trong phiên tòa xét xử vụ mua bán độ diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2006, trong cuộc bình chọn các cá nhân xuất sắc của bóng đá Việt Nam hàng năm của Báo Sài gòn Giải phóng, anh được trao tặng danh hiệu Giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất Việt Nam và Quả bóng đồng cho năm 2005.
Năm 2007, anh lại được bầu chọn Quả bóng đồng cho năm 2006.
Vào đầu năm 2008, sau nhiều thông tin về sự ra đi của anh, cuối cùng, anh đã tiếp tục ký hợp đồng với Khatoco Khánh Hòa.
Lê Tấn Tài được đánh giá là mẫu cầu thủ năng nổ, thể lực tốt, là trụ cột ở câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia, tuy nhiên anh cần phải khắc phục một số khuyết điểm như nóng tính, thường bị thẻ phạt (từng bị kỷ luật ở giải V-League vì "có hành vi khiếm nhã với trọng tài"). Đầu tháng 4 năm 2009, một số báo chí đưa tin Tài thuê người dằn mặt đồng đội thủ môn dự bị Minh Sơn sau một cuộc cãi vã nhưng anh phủ nhận chuyện này, cho rằng đó là chỉ là xích mích nhỏ, và cả hai cầu thủ chỉ bị câu lạc bộ kiểm điểm.
== Thành tích ==
Với đội tuyển Việt Nam
Vô địch giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008 (AFF Suzuki Cup 2008)
Hạng ba giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2007
Với Khatoco Khánh Hòa
Vô địch Giải vô địch bóng đá hạng nhì Việt Nam 2004
Vô địch Giải vô địch bóng đá hạng nhất Việt Nam 2005
Á quân Giải U21 Báo Thanh Niên năm 2005
Danh hiệu cá nhân
Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm 2005
Quả bóng đồng năm 2005
Quả bóng đồng năm 2006
== Chú thích == |
vùng đô thị buenos aires.txt | Vùng đô thị Đại Buenos Aires (Gran Buenos Aires, GBA, trong tiếng Tây Ban Nha) là tên gọi chung để chỉ vùng đô thị bao gồm các thành phố tự trị Buenos Aires khu vực thành thị xung quanh nó, trên địa bàn tỉnh Buenos Aires-cụ thể là trong 24 partido liền kề hoặc thành phố mà dù sao không phải là một đơn vị hành chính. Vùng thành thị này lan đến phía nam, phía tây và phía bắc của Buenos Aires, về phía đông River Plate phục vụ như là một ranh giới tự nhiên.
Đô thị, đặc biệt là giữa năm 1945 và 1980, sự mở rộng tạo ra một khu vực thành thị với dân số hơn 9.910.282 người trong 24 partido, năm 2010, và có dân số tổng cộng 12.801.365 người bao gồm cả thành phố Buenos Aires, tức chiếm 1/3 tổng dân số của Argentina.
== Tham khảo == |
bội số chung nhỏ nhất.txt | Trong số học, bội số chung nhỏ nhất (hay còn gọi tắt là bội chung nhỏ nhất, viết tắt là BCNN, tiếng Anh: least common multiple hoặc lowest common multiple (lcm) hoặc smallest common multiple) của hai số nguyên a và b là số nguyên dương nhỏ nhất chia hết cho cả a và b. Tức là nó có thể chia cho a và b mà không để lại số dư. Nếu a hoặc b là 0, thì không tồn tại số nguyên dương chia hết cho a và b, khi đó quy ước rằng LCM(a, b) là 0.
Định nghĩa trên đôi khi được tổng quát hoá cho hơn hai số nguyên dương: Bội chung nhỏ nhất của a1,..., an là số nguyên dương nhỏ nhất là bội số của a1,..., an.
== Ký hiệu ==
Bội số chung nhỏ nhất của 2 số a và b được ký hiệu là [a,b], BCNN(a,b) hoặc LCM(a,b).
Ký hiệu tương tự cho bội số chung nhỏ nhất của a1,..., an.
== Ví dụ ==
Bội của 4 là:
0, 4, 8, 12, 16, 20, 24, 28, 32, 36, 40, 44,...
(thêm 4 để được bội số tiếp theo).
Bội của 6 là:
0, 6, 12, 18, 24, 30, 36, 42, 48, 54, 60, 66,...
(thêm 6 để được bội số tiếp theo).
Bội chung của 4 và 6 là các số cùng xuất hiện trong hai dãy trên (không tính số 0):
12, 24, 36, 48,....
Vậy bội chung nhỏ nhất của 4 và 6 là 12
== Ứng dụng ==
Khi cộng, trừ hoặc so sánh các phân số, nó đặc biệt có ích khi tìm bội số chung của mẫu số, thường gọi là mẫu số chung nhỏ nhất (hay mẫu chung nhỏ nhất).
2
21
+
1
6
=
4
42
+
7
42
=
11
42
,
{\displaystyle {2 \over 21}+{1 \over 6}={4 \over 42}+{7 \over 42}={11 \over 42},}
mẫu số 42 được sử dụng bởi vì nó là bội chung nhỏ nhất của 21 và 6.
== Tính bội số chung nhỏ nhất ==
=== Tính qua ước số chung lớn nhất ===
Công thức dưới đây chuyển từ việc tính bội số chung nhỏ nhất sang tính ước số chung lớn nhất (GCD):
LCM
(
a
,
b
)
=
|
a
⋅
b
|
GCD
(
a
,
b
)
.
{\displaystyle \operatorname {LCM} (a,b)={\frac {|a\cdot b|}{\operatorname {GCD} (a,b)}}.}
Có một thuật toán nhanh để tìm GCD mà không yêu cầu phần tích ra thừa số nguyên tố, đó là thuật toán Euclid. Ví dụ:
LCM
(
21
,
6
)
=
21
⋅
6
GCD
(
21
,
6
)
=
21
⋅
6
3
=
126
3
=
42.
{\displaystyle \operatorname {LCM} (21,6)={21\cdot 6 \over \operatorname {GCD} (21,6)}={21\cdot 6 \over 3}={126 \over 3}=42.}
Bởi GCD(a, b) là ước số của cả a và b, nên sẽ thuật lợi hơn nếu tính LCM bằng cách chia trước khi nhân:
LCM
(
a
,
b
)
=
(
|
a
|
GCD
(
a
,
b
)
)
⋅
|
b
|
=
(
|
b
|
GCD
(
a
,
b
)
)
⋅
|
a
|
.
{\displaystyle \operatorname {LCM} (a,b)=\left({|a| \over \operatorname {GCD} (a,b)}\right)\cdot |b|=\left({|b| \over \operatorname {GCD} (a,b)}\right)\cdot |a|.}
Điều này làm giảm kích thước đầu vào, giảm bộ nhớ cho các giá trị trung gian
LCM
(
21
,
6
)
=
21
GCD
(
21
,
6
)
⋅
6
=
21
3
⋅
6
=
7
⋅
6
=
42.
{\displaystyle \operatorname {LCM} (21,6)={21 \over \operatorname {GCD} (21,6)}\cdot 6={21 \over 3}\cdot 6=7\cdot 6=42.}
=== Tìm bội chung nhỏ nhất bằng cách phân tích ra thừa số nguyên tố ===
Định lý cơ bản của số học nói rằng mọi số nguyên dương lớn hơn 1 có thể biểu diễn một cách duy nhất dạng tích các số nguyên tố (nếu không kể đến thứ tự của các thừa số). Như vậy các hợp số có thể coi như là các nguyên tố cấu thành hợp số.
Ví dụ:
90
=
2
1
⋅
3
2
⋅
5
1
=
2
⋅
3
⋅
3
⋅
5.
{\displaystyle 90=2^{1}\cdot 3^{2}\cdot 5^{1}=2\cdot 3\cdot 3\cdot 5.\,\!}
Ở đây chúng ta có hợp số 90 tạo thành bởi một nguyên tử 2, hai nguyên tử 3 và một nguyên tử 5.
Kiến thức này có thể giúp chúng ta tìm LCM của một tập hợp các số.
Ví dụ: Tìm giá trị của LCM(8,9,21).
Đầu tiên, ta phân tích từng số thành dạng tích lũy thừa các số nguyên tố.
8
=
2
3
⋅
3
0
⋅
5
0
⋅
7
0
{\displaystyle 8\;\,\;\,=2^{3}\cdot 3^{0}\cdot 5^{0}\cdot 7^{0}\,\!}
9
=
2
0
⋅
3
2
⋅
5
0
⋅
7
0
{\displaystyle 9\;\,\;\,=2^{0}\cdot 3^{2}\cdot 5^{0}\cdot 7^{0}\,\!}
21
=
2
0
⋅
3
1
⋅
5
0
⋅
7
1
.
{\displaystyle 21\;\,=2^{0}\cdot 3^{1}\cdot 5^{0}\cdot 7^{1}.\,\!}
Với mỗi số nguyên tố, chọn lũy thừa cao nhất, tích của chúng cho ta giá trị LCM cần tìm. bốn thừa số nguyên tố 2, 3, 5 và 7, có bậc cao nhất lần lượt là 23, 32, 50, và 71. Do đó,
LCM
(
8
,
9
,
21
)
=
2
3
⋅
3
2
⋅
5
0
⋅
7
1
=
8
⋅
9
⋅
1
⋅
7
=
504.
{\displaystyle \operatorname {LCM} (8,9,21)=2^{3}\cdot 3^{2}\cdot 5^{0}\cdot 7^{1}=8\cdot 9\cdot 1\cdot 7=504.\,\!}
Thuật toán không thực sự hiệu quả bằng cách rút từ ước chung lớn nhất, bởi chưa có thuật toán hiệu quả để phân tích số nguyên, nhưng nó hiệu quả trong việc minh họa khái niệm.
== Tính chất ==
Tính chất giao hoán:
LCM
(
a
,
b
)
=
LCM
(
b
,
a
)
.
{\displaystyle \operatorname {LCM} (a,b)=\operatorname {LCM} (b,a).}
Tính chất kết hợp:
LCM
(
a
,
LCM
(
b
,
c
)
)
=
LCM
(
LCM
(
a
,
b
)
,
c
)
.
{\displaystyle \operatorname {LCM} (a,\operatorname {LCM} (b,c))=\operatorname {LCM} (\operatorname {LCM} (a,b),c).}
Mối quan hệ với ước chung lớn nhất:
LCM
(
a
,
b
)
=
a
⋅
b
GCD
(
a
,
b
)
.
{\displaystyle \operatorname {LCM} (a,b)={\frac {a\cdot b}{\operatorname {GCD} (a,b)}}.}
Trong trường hợp
a
{\displaystyle a}
và
b
{\displaystyle b}
nguyên tố cùng nhau, thì:
LCM
(
a
,
b
)
=
a
⋅
b
.
{\displaystyle \operatorname {LCM} (a,b)=a\cdot b.}
Tính lcm của nhiều số thông qua cách tính lcm của hai số:
LCM
(
a
,
b
,
c
)
=
LCM
(
LCM
(
a
,
b
)
,
c
)
;
{\displaystyle \operatorname {LCM} (a,b,c)=\operatorname {LCM} (\operatorname {LCM} (a,b),c);}
LCM
(
a
1
,
a
2
,
…
,
a
n
)
=
LCM
(
LCM
(
a
1
,
a
2
,
…
,
a
n
−
1
)
,
a
n
)
.
{\displaystyle \operatorname {LCM} (a_{1},a_{2},\ldots ,a_{n})=\operatorname {LCM} (\operatorname {LCM} (a_{1},a_{2},\ldots ,a_{n-1}),a_{n}).}
== Xem thêm ==
Ước số chung lớn nhất
Giản ước dị thường
Hàm Chebyshev
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Online LCM calculator
Online lcm calculator
Online LCM calculator
Online LCM and GCD calculator - displays also fractions of given numbers
Algorithm for Computing the LCM
Least Common Multiple from Wolfram MathWorld |
cộng hòa liên bang trung mỹ.txt | Cộng hòa Liên bang Trung Mỹ, còn gọi là Liên hiệp tỉnh Trung Mỹ trong năm đầu tiên hình thành, là một quốc gia có chủ quyền tại Trung Mỹ, bao gồm các lãnh thổ nguyên thuộc Đô đốc lệnh Guatemala của Tân Tây Ban Nha. Quốc gia này tồn tại từ tháng 9 năm 1821 đến 1841, và là một nền cộng hòa dân chủ.
Biểu tượng trên quốc kỳ vào năm 1823–1824 ghi liên bang (trong tiếng Tây Ban Nha) là Provincias Unidas del Centro de América ("Liên hiệp tỉnh Trung Mỹ"); tuy nhiên, trong hiến pháp năm 1824 thì trên quốc huy và quốc kỳ ghi República Federal de Centroamérica / Centro América ("Cộng hòa Liên bang Trung Mỹ").
Cộng hòa bao gồm lãnh thổ các quốc gia Guatemala, El Salvador, Honduras, Nicaragua, và Costa Rica hiện nay. Trong thập niên 1830, có thêm tỉnh thứ sáu là Los Altos với thủ phủ tại Quetzaltenango – lãnh thổ của tỉnh này nay là vùng cao nguyên tây bộ Guatemala và bang Chiapas ở nam bộ México.
Liên bang tan rã do nội chiến từ năm 1838 đến năm 1840. Quá trình tan rã bắt đầu khi Nicaragua tách ra khỏi Liên bang vào ngày 5 tháng 11 năm 1838, tiếp theo sau đó là Honduras và Costa Rica (nguồn khác thì ghi Nicaragua ly khai ngày 30 tháng 4). Liên bang tan rã trên thực tế vào năm 1840, khi đó bốn trong năm tỉnh ban đầu đã tuyên bố độc lập. Tuy nhiên, Liên bang chỉ chính thức tan rã khi El Salvador tuyên bố là một cộng hòa độc lập vào tháng 2 năm 1841. Vì thời kỳ này hỗn loạn nên không có ngày tháng chính xác, song theo ghi chép thì vào ngày 31 tháng 5 năm 1838, Quốc hội đã họp để tuyên bố rằng các tỉnh có quyền tự do lập nên các cộng hòa độc lập của mình. Trên thực tế, điều này chỉ tạo ra căn cứ pháp lý cho tiến trình tan rã đã bắt đầu từ trước.
== Tham khảo == |
newfoundland và labrador.txt | Newfoundland và Labrador ( /nʲuːfənˈlænd ænd ˈlæbrədɔr/, tiếng Pháp: Terre-Neuve-et-Labrador) là tỉnh cực đông của Canada. Tỉnh này thuộc khu vực Đại Tây Dương của Canada, gồm đảo Newfoundland và phần lãnh thổ Labrador tại đại lục, tổng diện tích là 405.212 kilômét vuông (156.500 sq mi). Năm 2013, dân số tỉnh ước tính là 526.702. Xấp xỉ 92% dân số toàn tỉnh cư trú trên đảo Newfoundland (cùng các đảo nhỏ xung quanh), trong đó hơn một nửa cư trú tại bán đảo Avalon. Đây là tỉnh đồng nhất số một về ngôn ngữ tại Canada, với 97,6% cư dân tường trình tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ của họ trong điều tra nhân khẩu năm 2006.
Tỉnh lỵ và thành phố lớn nhất của Newfoundland và Labrador là St. John's, là khu vực đô thị thống kê lớn thứ 20 tại Canada, và là nơi cư trú của gần 40% cư dân trong tỉnh. Tại St. John's có trụ sở của chính phủ, nghị viện và tòa án tối cao cấp tỉnh.
Lãnh thổ Newfoundland và Labrador ngày nay từng là một thuộc địa và một quốc gia tự trị của Anh Quốc, gia nhập và trở thành một tỉnh của Canada vào ngày 31 tháng 3 năm 1949 với tên gọi Newfoundland. Ngày 6 tháng 12 năm 2001, một sửa đổi Hiến pháp Canada được tiến hành để chuyển tên chính thức của tỉnh thành Newfoundland và Labrador. Tuy nhiên, người Canada nói chung vẫn gọi tỉnh bằng tên Newfoundland.
== Từ nguyên ==
Tên Newfoundland bắt nguồn từ tiếng Anh "New Found Land" (dịch từ Terra Nova trong tiếng Bồ Đào Nha, vẫn được phản ánh trong tên tiếng Pháp của tỉnh là "Terre-Neuve"). Nguồn gốc của Labrador được cho là từ João Fernandes Lavrador, một nhà hàng hải người Bồ Đào Nha và là người đầu tiên khám phá khu vực.
== Lịch sử ==
=== Tiền thuộc địa ===
Sự cư trú của con người tại Newfoundland và Labrador có thể truy nguyên từ khoảng 9.000 năm. Các dân tộc cổ đại hàng hải là các thợ săn thú biển tại khu vực cận Bắc cực. HỌ thịnh vượng từ khoảng 7.000 TCN đến 1.500 TCN dọc theo Duyên hải Đại Tây Dương của Bắc Mỹ. Các khu dân cư của họ gồm các nhà dài và nhà thuyền tạm thời hoặc theo mùa. Họ tham gia mậu dịch đường trường, sử dụng chert trắng làm phương thức thanh toán, đó là một loại đá được khai thác từ miền bắc Labrador đến Maine. Nhánh phía nam của các dân tộc này xác lập tại bán đảo phía bắc của Newfoundland vào khoảng 5.000 năm trước. Thời kỳ cổ đại hàng hải được biết đến nhiều nhất từ một địa điểm an táng tại Port au Choix.
Các dân tộc cổ đại hàng hải dần bị thay thế bằng những người thuộc văn hóa Dorset (Eskimo cổ đại muộn), họ cũng chiếm cứ Port au Choix. Số lượng các di chỉ của họ phát hiện được tại Newfoundland biểu thị rằng họ có thể là nhóm thổ dân đông nhất sống tại đây. Họ thịnh vượng từ khoảng 2000 TCN đến 1.200 năm trước. Nhiều trong số các di chỉ của họ nằm tại các mũi đất và đảo phụ thuộc. Họ có khuynh hướng hải dương hơn so với các dân tộc trước đó, và đã phát triển các xe trượt tuyết và thuyền tương tự như kayak. Họ có thể đốt mỡ hải cẩu trong đèn làm bằng steatit. Văn hóa Dorset (800 TCN – 1500) thích nghi cao độ để cư trú trong một khí hậu rất lạnh, và phần lớn thực phẩm của họ đến từ săn bắt các thú biển thông qua các lỗ trên băng.
Người Inuit hầu hết được phát hiện tại Labrador, họ là hậu duệ của thứ mà các nhà nhân loại học gọi là văn hóa Thule, họ nổi lên từ miền tây Alaska vào khoảng năm 1000 và bành trướng về phía đông, đến Labrador vào khoảng 1300–1500. Các nhà nghiên cứu cho rằng văn hóa Dorset không có chó, các vũ khí lớn và các công nghệ khác nên xã hội Inuit đang phát triển có được một lợi thế.
Các cư dân cuối cùng tổ chức bản thân thành các nhóm nhỏ gồm một số gia đình, nhóm tiếp thành các bộ tộc với các thủ lĩnh. Người Innu là các cư dân của một khu vực mà họ gọi là Nitassinan, bao gồm phần lớn miền đông bắc Québec và Labrador ngày nay. Các hoạt động sinh kế trong lịch sử tập trung vào săn bắn và bắt tuần lộc, hươu nai và thú nhỏ. Các thị tộc duyên hải cũng tiến hành nông nghiệp, đánh cá và sử dụng si rô cây thích. Người Innu tham gia chiến tranh bộ tộc dọc theo duyên hải của Labrador với các nhóm Inuit vốn có dân số đáng kể.
Người Míkmaq ở miền nam của Newfoundland dành hầu hết thời gian của họ trên bờ biển để thu hoạch hải sản; trong mùa đông họ sẽ chuyển vào nội lục để săn bắn trong rừng. Theo thời gian, người Mi'kmaq và Innu phân lãnh thổ của họ thành các khu vực truyền thống, mỗi khu vực được quản lý độc lập và có một tù trưởng khu vực và một hội đồng. Các thành viên hội đồng là tù trưởng của các nhóm cư dân, trưởng lão, các lãnh đạo cộng đồng đáng kính khác.
=== Tiép xúc với người châu Âu ===
Ghi chép cổ nhất được xác nhận về tiếp xúc của người châu Âu có niên đại từ một nghìn năm trước, theo mô tả trong các saga Iceland của người Viking (Norse). Năm 1001, saga đề cập đến việc Leif Ericson đổ bộ tại ba nơi ở phía tây, hai nơi đầu là Helluland (có thể là đảo Baffin) và Markland (có thể là Labrador). Địa điểm đổ bộ thứ ba là Vinland (có thể là Newfoundland). Bằng chứng khảo cổ học của một khu dân cư Norse được phát hiện tại L'Anse aux Meadows, Newfoundland, nó được UNESCO liệt vào danh sách di sản thế giới vào năm 1978.
Năm 1496, John Cabot được Quốc vương Anh Henry VII ban đặc quyền đi thám hiểm và đến ngày 24 tháng 6 năm 1497 ông ta đổ bộ lên mũi Bonavista. Năm 1499 và 1500, các thủy thủ người Bồ Đào Nha João Fernandes Lavrador và Pêro de Barcelos khám phá và lập bản đồ bờ biển, họ của người trước được thể hiện bằng "Labrador" trên các bản đồ địa hình trong thời kỳ này. Dựa theo Hiệp ước Tordesillas, Quân chủ Bồ Đào Nha yêu sách về quyền lãnh thổ tại khu vực mà John Cabot đến vào năm 1497 và 1498. Sau đó, vào năm 1501 và 1502 anh em Corte-Real khám phá Newfoundland và Labrador, yêu sách chúng là bộ phận của Đế quốc Bồ Đào Nha. Năm 1506, Quốc vương Emmanuel I của Bồ Đào Nha đặt thuế đối với hoạt động đánh cá tuyết tại vùng biển Newfoundland. João Álvares Fagundes và Pêro de Barcelos thiết lập các tiền đồn đánh cá theo mùa tại Newfoundland và Nova Scotia vào khoảng năm 1521, và các khu định cư cổ hơn của Bồ Đào Nha có thể đã tồn tại. Humphrey Gilbert theo lệnh Nữ vương Anh Elizabeth I, đã đổ bộ tại St John's vào tháng 8 năm 1583, và chính thức nắm quyền sở hữu đảo.
=== Thuộc địa Newfoundland ===
Năm 1583, Newfoundland trở thành thuộc địa đầu tiên của Anh tại Bắc Mỹ và là một trong các thuộc địa thường xuyên đầu tiên của Anh tại Tân thế giới khi Humphrey Gilbert yêu sách lãnh thổ cho Nữ vương Elizabeth. Mặc dù các tàu đánh cá của Anh đã liên tục đến Newfoundland từ sau hành trình thứ hai của Cabot vào năm 1498 và các trạm đánh cá theo mùa đã tồn tại trong một thế kỷ trước. Do cũng có các tàu và trại của người Basque, người Pháp và người Bồ Đào Nha, áp lực bảo vệ đảo khỏi bị ngoại quốc kiểm soát khiến cho Anh bổ nhiệm các thống đốc để thiết lập các khu định cư thuộc địa trên đảo từ năm 1610 đến năm 1728. Thống đốc đầu tiên được trao quyền lực đối với toàn đảo Newfoundland là David Kirke vào năm 1638.
Các nhà thám hiểm sớm nhận ra rằng vùng biển quanh Newfoundland là nơi đánh cá tốt nhất tại Bắc Đại Tây Dương. Đến năm 1620, 300 tàu đánh cá hoạt động tại Grand Bank, với khoảng 10.000 thủy thủ; nhiều người tiếp tục đến từ Basque, Normandie, hoặc Bretagne. Họ phơi khô và ướp muối cá tuyết trên bờ biển và bán chúng đến Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Trong thập niên 1620, George Calvert đầu tư nhiều vào bến tàu, kho hàng, và trạm đánh bắt cá song thất bại về tài chính. Các cuộc tập kích của người Pháp làm tổn hại đến hoạt động kinh doanh, và do thời tiết khắc nghiệt, ông chuyển chú ý của mình đến thuộc địa khác tại Maryland. Sau khi Calvert rời đi, các doanh nhân nhỏ như David Kirke sử dụng hạ tầng một cách có lợi, Kirke trở thành thống đốc vào năm 1639. Mậu dịch tam giác với New England, Tây Ấn, và châu Âu biến Newfoundland thành nơi có vai trò quan trọng về kinh tế. Đến thập niên 1670, thuộc địa có 1700 cư dân thường xuyên và có thêm 4500 người khác trong các tháng mùa hè.
Các ngư dân Basque đánh bắt cá tuyết ngoài khơi Newfoundland từ khi bắt đầu thế kỷ 16, họ lập ra bến cảng Plaisance (nay là Placentia), ngư dân Pháp cũng bắt đầu sử dụng bến cảng này. Đến năm 1655, Pháp bổ nhiệm một thống đốc tại Plaisance, bắt đầu thời kỳ Pháp chính thức thuộc địa hóa Newfoundland cũng như một thời kỳ chiến tranh và bất ổn giữa Anh và Pháp. Các cuộc tấn công của người Anh vào Placentia kích thích trả thù của nhà thám hiểm người Tân Pháp Pierre Le Moyne d'Iberville, trong Chiến tranh Quốc vương William vào thập niên 1690 ông phá hủy gần như toàn bộ mọi khu định cư của Anh trên đảo. Dân chúng trong thuộc địa Anh bị giết, bị bắt đòi tiền chuộc, hoặc bị trục xuất đến Anh. Pháp để mất quyền kiểm soát chính trị đối với khu vực sau bao vây Port Royal năm 1710, sau đó người Mí'kmaq giao chiến với người Anh trong Chiến tranh Dummer (1722–1725), Chiến tranh Quốc vương George (1744–1748), Chiến tranh Cha Le Loutre (1749–1755) và Chiến tranh giữa Anh với Pháp và người Da đỏ (1754–1763). Thời kỳ Pháp thuộc địa hóa kéo dài cho đến Hiệp ước Utrecht vào năm 1713, một nội dung trong đó là Pháp nhượng yêu sách chủ quyền đối với Newfoundland cho Anh. Sau đó, cư dân Pháp tại Plaisance chuyển đến Île Royale (nay là đảo Cape Breton), là bộ phận của Acadia đương thời vẫn do Pháp quản lý.
Trong Chiến tranh Bảy năm (1756–63), quyền kiểm soát Newfoundland lại một trở thành một nguồn chính của xung đột giữa Anh, Pháp và Tây Ban Nha, ba quốc gia đều yêu cầu được chia sẻ ngành đánh cá có giá trị lớn tại đây. Chiến thắng trên toàn cầu của Anh khiến William Pitt khẳng định rằng không quốc gia nào ngoài Anh có thể tiếp cận Newfoundland. Trận Signal Hill diễn ra tại Newfoundland vào năm 1762, khi một đạo quân Pháp đổ bộ và nỗ lực chiếm đảo, song bị người Anh đẩy lui.
Theo Hiệp ước Utrecht (1713), ngư dân Pháp có quyền cập bờ và xử lý cá tuyết trên "French Shore" tại bờ biển phía tây của đảo. Họ có một căn cứ thường trực tại quần đảo St. Pierre và Miquelon lân cận; người Pháp từ bỏ quyền lợi của họ vào năm 1904. Năm 1783, Anh ký Hiệp định Paris với Hoa Kỳ và theo đó trao cho ngư dân Hoa Kỳ các quyền lợi tương tự dọc theo bờ biển của Newfoundland. Các quyền lợi này được tái xác nhận bằng các hiệp ước vào năm 1818, 1854 và 1871 và được trọng tài xác nhận vào năm 1910.
Năm 1854, Chính phủ Anh cho lập chính phủ chịu trách nhiệm của Newfoundland. Năm 1855, Philip Francis Little, một cư dân bản địa của Đảo Prince Edward, giành chiến thắng đa số trong nghị viện trước Hugh Hoyles và những người Bảo thủ, thành lập chính phủ đầu tiên, tồn tại từ năm 1855 đến năm 1858. Newfoundland bác bỏ liên bang hóa với Canada trong tổng tuyển cử năm 1869. Thủ tướng Canada John Thompson tiến rất gần đến dàn xếp Newfoundland gia nhập liên bang vào năm 1892.
=== Từ thế kỷ 20 ===
Newfoundland duy trì là một thuộc địa cho đến khi đạt được vị thế quốc gia tự trị vào năm 1907. Một quốc gia tự trị là bộ phận của Đế quốc Anh hoặc Thịnh vượng chung Anh, và Quốc gia tự trị Newfoundland tương đối tự trị khỏi quyền quản lý của Anh.
Trung đoàn Newfoundland số 1 chiến đấu trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Ngày 1 tháng 7 năm 1916, Quân đội Đức tiêu diệt gần như toàn bộ trung đoàn tại Beaumont Hamel trong ngày đầu tiên của trận Somme. Trung đoàn phục vụ một cách xuất chúng trong các trận chiến kế tiếp, giành được tiền tố "hoàng gia". Mặc dù nhân dân hãnh diện về thành tích của trung đoàn, song nợ chiến tranh của Quốc gia tự trị Newfoundland bắt nguồn từ trung đoàn và chi phí duy trì một tuyến đường sắt xuyên đảo dẫn đến gia tăng nợ chính phủ thời hậu chiến, cuối cùng dẫn đến không thể chống đỡ nổi.
Kể từ đầu thập niên 1800, Newfoundland và Québec (hay Hạ Canada) đã có tranh chấp biên giới về khu vực Labrador. Tuy nhiên, vào năm 1927, Chính phủ Anh quyết định rằng khu vực mà nay tên là Labrador được cọi như bộ phận của Quốc gia tự trị Newfoundland.
Do gánh nặng nợ cao, thu nhập giảm thiểu, giá cá sụt giảm, cơ quan lập pháp Newfoundland tự bỏ phiếu ngưng tồn tại vào năm 1933, để đổi lấy các đảm bảo cho vay từ Quân chủ và một hứa hẹn sẽ được tái lập. Ngày 16 tháng 2 năm 1934, Hội đồng Chính phủ tuyên thệ, kết thúc 79 năm chính phủ chịu trách nhiệm. Hội đồng gồm bảy cá nhân do Chính phủ Anh bổ nhiệm. Trong vòng 15 năm không có cuộc bầu cử nào diễn ra, và không triệu tập cơ quan lập pháp.
Năm 1940, Winston Churchill và Franklin D. Roosevelt chấp thuận cho các khu trục hạm của Hoa Kỳ được tiếp cận với các căn cứ hải quân của Anh tại Đại Tây Dương, bao gồm cả Newfoundland. Kết quả là lãnh thổ đột nhiên thịnh vượng khi tiền của Hoa Kỳ tràn đến đảo, một nơi mà thời gian gần đó có 25% cư dân dựa vào cứu trợ. Khoảng 20.000 người làm việc xây dựng các căn cứ quân sự. Chính phủ địa phương và Anh thuyết phục Hoa Kỳ giữ mức lương thấp để không tiêu diệt lực lượng lao động cho ngư nghiệp, lâm nghiệp và các ngành kinh tế địa phương khác, song chi phí sinh hoạt tăng 58% từ năm 1938 đến năm 1945.
Sự thịnh vượng trở lại cùng Chiến tranh thế giới thứ hai, điều này kích thích kết thúc Hội đồng, và phục hồi chính phủ chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, Chính phủ Anh thiết lập Hội nghị Quốc gia vào năm 1946, phản ánh các nỗ lực về quyền tự quyết trong các dân tộc châu Âu sau Thế chiến. Hội nghị gồm các đại biểu trên toàn lãnh thổ, chính thức được giao nhiệm vụ cố vấn về tương lai của Newfoundland. Chủ tịch của Hội nghị là Cyril J. Fox, và nó có 45 thành viên được bầu từ khắp lãnh thổ.
Joey Smallwood tiến hành một số vận động để khảo sát gia nhập Canada bằng cách cử một phái đoàn đến Ottawa. Động thái đầu tiên thất bại, song Hội nghị sau đó quyết định cử các phái đoàn đến cả London và Ottawa để tìm giải pháp thay thế. Tháng 1 năm 1948, Hội nghị Quốc gia bỏ phiếu chống lại việc đưa liên bang hóa ra trưng cầu dân ý; tuy nhiên kết quả này bị người Anh bác bỏ và trưng cầu dân ý diễn ra sau đó. Hầu hết các sử gia đồng thuận rằng Chính phủ Anh nhiệt tình mong muốn liên bang hóa bằng lá phiếu và họ chắc chắn nó sẽ như vậy.
Cuộc trưng cầu dân ý đầu tiên diễn ra vào ngày 3 tháng 6 năm 1948; 44,5% cử tri bỏ phiếu cho chính phủ chịu trách nhiệm, 41,1% bỏ phiếu cho liên bang hóa với Canada, trong khi 14,3% bỏ phiếu cho Hội đồng Chính phủ. Do không có lựa chọn nào giành được quá 50%, một cuộc trưng cầu dân ý thứ nhì được tổ chức vào ngày 22 tháng 7 năm 1948 với chỉ hai lựa chọn. Kết quả chính thức của cuộc trưng cầu dân ý này là 52,3% bỏ phiếu cho liên bang hóa với Canada và 47,7% bỏ phiếu cho chính phủ trách nhiệm (độc lập).
Sau trưng cầu, một phái đoàn gồm bảy người được thống đốc của Anh chọn đến đàm phán với Canada nhân danh Newfoundland. Sau khi sáu trong số bảy thành viên của phái đoàn ký kết, Chính phủ Anh thông qua Đạo luật Bắc Mỹ thuộc Anh 1949 qua Quốc hội. Newfoundland chính thức gia nhập Canada vào ngày 31 tháng 3 năm 1949.
Theo các văn kiện trong kho lưu trữ của Anh và Canada xuất hiện trong thập niên 1980, rõ ràng rằng cả Canada và Anh đều muốn Newfoundland gia nhập Canada. Một số người cáo buộc rằng đó là một âm mưu để đưa Newfoundland tham gia liên bang, nhằm đổi lấy miễn nợ chiến tranh của Anh và vì các lý do khác, song hầu hết sử gia nghiên cứu các văn kiện chính phủ thì kết luận rằng dù Anh bố trí lựa chọn liên bang hóa trong trưng cầu dân ý, thì nhân dân Newfoundland tự thực hiện quyết định cuối cùng mặc dù với kết quả sít sao.
Sau khi các Tên lửa liên lục địa thay thế các đe dọa về máy bay ném bom vào cuối thập niên 1950, các căn cứ không quân của Hoa Kỳ đóng cửa vào đầu thập niên 1960 và Căn cứ hải quân Argentia cũng đóng cửa vào thập niên 1980.
Trong thập niên 1960, tỉnh phát triển nhà máy thủy điện Churchill Falls nhằm bán điện sang Hoa Kỳ. Một thỏa thuận với Québec được ký kết nhằm đảm bảo truyền điện năng qua lãnh thổ Québec, thỏa thuận kéo dài 75 năm này khiến người Newfoundland hiện cho rằng không công bằng với tỉnh do chỉ thu được lợi ích thấp và không thay đổi được từ điện năng. Đến năm 1990, khu vực Québec-Labrador trở thành một nguồn cung quặng sắt quan trọng cho Hoa Kỳ.
Khi Newfoundland gia nhập Canada vào năm 1949, tỉnh từ bỏ quyền tài phán đối với ngư nghiệp cho Ottawa; Tòa án Tối cao phán quyết vào năm 1983 rằng chính phủ liên bang cũng có quyền tài phán với khoan dầu ngoài khơi. Từ sau năm 1945, kinh tế ngư nghiệp trong tỉnh chuyển đổi từ chủ yếu thâm dụng lao động ven bờ, hộ gia đình, sản xuất cá ướp muối sang một ngành công nghiệp hóa chịu sự chi phối tối cao của các công ty cá đông lạnh. Các công ty này cần ít nhân công hơn, do vậy khoảng 300 làng cá, hoặc cảng ngoài, bị các cư dân bỏ hoang từ năm 1954 đến năm 1975 trong một chương trình được chính phủ Canada tài trợ mang tên Tái định cư. Một số khu vực mất 20% dân số, và số lượng tuyển sinh vào trường học còn giảm cao hơn.
Trong thập niên 1960, khoảng 2 tỷ pound cá tuyết được khai thác mỗi năm từ Grand Bank ngoài khơi Newfoundland, là nguồn cá lớn nhất thế giới. Sau đó, thảm họa xảy ra khi cá tuyết phương bắc thực tế không còn nữa, chúng giảm còn 1% sinh khối đẻ trứng lịch sử của mình. Năm 1992, đánh bắt cá tuyết bị chính phủ Canada đóng cửa; sinh kế của 19.000 người lao động bị mất sau 500 năm giữ vai trò là một ngành kinh tế chủ đạo.
== Địa lý ==
Newfoundland và Labrador là tỉnh cực đông của Canada, nằm tại góc đông bắc của Bắc Mỹ. Eo biển Belle Isle phân tách tỉnh thành hai khu vực địa lý, Labrador là một lãnh thổ lớn liên kết với đại lục Canada, còn Newfoundland là một đảo tại Đại Tây Dương. Tỉnh cũng có hơn 7.000 đảo nhỏ. Newfoundland có hình dạng giống như một tam giác, mỗi cạnh dài khoảng 400 km (250 mi), và có diện tích là 108.860 km2 (42.030 sq mi). Newfoundland và các đảo nhỏ có liên kết với nó có tổng diện tích là 111.390 km2 (43.010 sq mi). Newfoundland có vĩ độ giữa 46°36′B và 51°38′B.
Phần phía tây của Labrador giáp với tỉnh Québec, đường biên giới cũng là đường phân thủy của bán đảo Labrador. Các khu vực thoát nước thông qua các sông chảy vào Đại Tây Dương là bộ phận của Labrador, phần còn lại thuộc về Québec. Mũi cực bắc của Labrador có vĩ độ 60°22′B, có một đoạn biên giới ngắn với Nunavut. Diện tích của Labrador (gồm các đảo nhỏ có liên kết) là 294.330 km2 (113.640 sq mi). Tổng cộng, Newfoundland và Labrador chiếm 4,06% diện tích của Canada.
Labrador là bộ phận cực đông của khiên Canada, một khu vực rộng lớn gồm đá biến chất cổ bao trùm phần lớn miền đông bắc của Bắc Mỹ. Các mảng kiến tạo va chạm hình thành phần lớn địa chất của Newfoundland. Vườn quốc gia Gros Morne có danh tiếng do là một ví dụ nổi bật về kiến tạo học, và do vậy được xếp là một di sản thế giới. Dãy Long Range trên duyên hải phía tây của Newfoundland là phần mở rộng cực đông bắc của dãy Appalachian.
Newfoundland và Labrador có nhiều vùng khí hậu khác nhau do khoảng cách bắc-nam của tỉnh (46°36′B đến 60°22′B), gió tây thịnh hành, các hải lưu lạnh và các yếu tố địa phương như núi và đường bờ biển.
Newfoundland và Labrador có nhiều kiểu khí hậu và thời tiết. Một trong các nguyên nhân chính của sự đa dạng này là địa lý của tỉnh. Phần đảo Newfoundland trải dài 5 vĩ độ, tương tự như Ngũ Đại Hồ. Tỉnh được phân thành sáu kiểu khí hậu, song theo cách phân chia rộng hơn thì Newfoundland có một á hình mùa hè mát của khí hậu lục địa ẩm, chịu tác động lớn của hải dương do không nơi nào trên đảo cách biển quá 100 km. Miền bắc Labrador được phân loại là có một khí hậu lãnh nguyên vùng cực, miền nam Labrador có một khí hậu cận Bắc cực.
Nhiệt độ bề mặt biển bên phía Đại Tây Dương đạt trung bình mùa hạ là 12 °C (54 °F) tại ven bờ và 9 °C (48 °F) tại xa bờ trong khi trung bình mùa đông là −1 °C (30 °F) tại ven bờ và 2 °C (36 °F) tại xa bờ. Hải dương khiến nhiệt độ vào mùa đông hơi cao hơn và nhiệt độ mùa hạ thấp hơn một chút so với các địa điểm tại nội lục. Khí hậu hải dương khiến thời tiết biến hóa hơn, giáng thủy phong phú dưới nhiều dạng, độ ẩm cao hơn, tầm nhìn thấp hơn, mây nhiều hơn, ít nắng hơn, và gió mạnh hơn so với một khí hậu lục địa.
== Nhân khẩu ==
Theo điều tra nhân khẩu năm 2011, Newfoundland và Labrador có dân số 514.536, hơn một nửa trong số đó cứ trú tại bán đảo Avalon của đảo Newfoundland, là nơi có thủ phủ và điểm định cư lịch sử ban đầu. Kể từ năm 2006, dân số trong tỉnh bắt đầu tăng lần đầu tiên kể từ đầu thập niên 1990. Theo điều tra nhân khẩu năm 2006, dân số tỉnh giảm 1,5% so với mức năm 2001, với 505.469. Tuy nhiên, theo điều tra nhân khẩu năm 2011, dân số tỉnh tăng 1,8% trong 5 năm.
Giáo phái tôn giáo lớn nhất xét theo số lượng tín đồ theo điều tra năm 2011 là Giáo hội Công giáo La Mã, với 35,8% dân số toàn tỉnh (181.590 thành viên). Các giáo phái Tin Lành lớn chiếm 57,3% dân số, các nhóm lớn nhất trong đó là Giáo hội Anh giáo Canada với 25,1% tổng dân số (127.255 thành viên), Giáo hội Liên hiệp Canada với 15,5% (78.380 thành viên), và các giáo hội Ngũ Tuần với 6,5% (33.195 thành viên). Những người không phải là tín đồ Ki-tô giáo chiếm 6,8% dân số, đa số trong đó trả lời rằng rằng họ không nhập đạo nào (6,2% tổng dân số).
Theo điều tra nhân khẩu Canada năm 2001, dân tộc lớn nhất tại Newfoundland và Labrador là người Anh (39,4%), tiếp theo là người Ireland (19,7%), người Scotland (6,0%), người Pháp (5,5%), và người Da đỏ (3,2%).
== Kinh tế ==
Kinh tế Newfoundland và Labrador trải qua đình trệ trong nhiều năm sau sự sụp đổ của đánh bắt cá tuyết hồi đầu thập niên 1990, tỉnh phải chịu tỷ lệ thất nghiệp cao kỷ lục và dân số giảm khoảng 60.000. Do bùng nổ trong lĩnh vực năng lượng và tài nguyên, kinh tế tỉnh có chuyển biến lớn khi bước sang thế kỷ 21. Tỷ lệ thất nghiệp giảm, dân số ổn định và tăng trưởng vừa phải. Tỉnh đạt mức thặng dư kỷ lục, giải thoát khỏi tình trạng một tỉnh "không có gì".
Các ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong GDP, đặc biệt là dịch vụ tài chính, chăm sóc y tế và hành chính công. Các ngành kinh tế quan trọng khác là khai mỏ, sản xuất dầu và chế tạo. Tổng lực lượng lao động của tỉnh vào năm 2010 là 263.800 người. GDP của tỉnh trong năm 2013 là 35,832 tỷ CAD.
Khai mỏ tại Labrador, với khai thác quặng sắt tại Wabush/Labrador City, và khai thác niken tại Voisey's Bay, đạt sản lượng tổng cộng là 3,3 tỷ CAD giá trị quặng vào năm 2010. Một mỏ tại Duck Pond bắt đầu sản xuất đồng, kẽm, bạc và vàng vào năm 2007. Khai mỏ chiếm 3,5% GDP của tỉnh trong năm 2006. Tỉnh sản xuất 55% tổng lượng quặng sắt của Canada (2008). Sản xuất dầu từ các giàn khoan ngoài khơi tại Hibernia, White Rosevà Terra Nova thuộc Grand Banks đạt 110.000.000 thùng (17.000.000 m3), đóng góp trên 15% GDP của tỉnh vào năm 2006. Tổng sản lượng từ mỏ Hibernia từ năm 1997 đến năm 2006 là 733.000.000 thùng (116.500.000 m3) với giá trị được ước tính là 36 tỷ CAD. Dự trữ còn lại được ước tính là khoảng 2 tỷ thùng (320×10^6 m3) tính đến 31 tháng 12 năm 2006. Thăm dò trữ lượng mới đang tiếp tục.
Ngư nghiệp vẫn là một bộ phận quan trọng trong kinh tế tỉnh, tạo công việc cho khoảng 20.000 người và đóng góp trên 440 triệu CAD cho GDP. Ngành này gồm có thu hoạch các loại cá như cá tuyết, cá êfin, cá bơn lưỡi ngựa, cá trích, các thu với 150.000 tấn thiếu (165.000 tấn) với giá trị 130 triệu USD vào năm 2006. Các loài giáp xác như cua, tôm và nghêu đạt sản lượng 195.000 tấn thiếu (215.000 tấn) với giá trị 316 triệu USD trong cùng năm. Giá trị sản xuất từ săn hải cẩu là 55 triệu CAD. Nuôi trồng thủy sản là một ngành kinh tế mới trong tỉnh, vào năm 2006 ngành này sản xuất trên 10.000 tonne cá hồi Đại Tây Dương, trai và cá hồi vân với giá trị trên 50 triệu CAD.
Nông nghiệp tại Newfoundland hạn chế tại các khu vực phía nam của St. John's, Cormack, Wooddale, các khu vực gần Musgravetown và tại thung lũng Codroy. Khoai tây, cải củ Thụy Điển, cải củ turnip, cà rốt và cải bắp được trồng để đáp ứng nhu cầu địa phương. Nuôi gia cầm lấy thịt và trứng cũng tồn tại. Việt quất xanh, Vaccinium vitis-idaea và Rubus chamaemorus dại được thu hoạch thương mại và sử dụng trong làm mứt và rượu vang. Sản xuất bơ sữa là một bộ phận lớn khác trong nông nghiệp tỉnh
Du lịch cũng đóng góp đáng kể cho kinh tế tỉnh, vào năm 2006 có gần 500.000 du khách từ nơi khác đến Newfoundland và Labrador, chi tiêu ước tính 366 triệu CAD. Du lịch phổ biến nhất trong các tháng từ 6-9.
== Chính phủ và chính trị ==
Newfoundland và Labrador có một chính phủ nghị viện nằm trong cấu trúc của chế độ quân chủ lập hiến; chế độ quân chủ tại Newfoundland và Labrador là cơ sở cho các nhánh hành pháp, lập pháp, và tư pháp. Quân chủ của tỉnh là Elizabeth II, bà cũng là nguyên thủ của 15 quốc gia khác, mỗi một trong 9 tỉnh khác của Canada, và của liên bang Canada. Người đại diện cho Nữ vương là Tỉnh đốc Newfoundland và Labrador, tiến hành hầu hết các trách nhiệm quân chủ tại Newfoundland và Labrador.
Quân chủ và tỉnh đốc bị hạn chế trong tham dự trực tiếp vào bất kỳ lĩnh vực quản trị nào; trong thực tế quyền lực hành pháp của họ do Hội đồng Hành pháp điều khiển, đây là một ủy ban gồm các bộ trưởng chịu trách nhiệm trước một Nghị viện đơn viện và được tuyển cử, đứng đầu là Thủ tướng Newfoundland và Labrador. Nhằm đảo bảo sự ổn định của chính phủ, tỉnh đốc thông thường bổ nhiệm thủ tướng là cá nhân đang lãnh đạo chính đảng có thể tin tưởng giành đa số ghế trong Nghị viện. Lãnh đạo đảng có số ghế đông thứ nhì thường trở thành lãnh đạo phe đối lập và nằm trong một hệ thống nghị viện đối địch nhằm duy trì kiểm tra đối với chính phủ.
Mỗi một trong số 48 đại biểu của Nghị viện được bầu theo phương thức đa số đơn giản tại một khu vực bầu cử. Tổng tuyển cử cần phải do Tỉnh đốc yêu cầu vào ngày Thứ ba thứ hai trong tháng 10 bốn năm sau bầu cử trước đó, hoặc có thể yêu cầu theo khuyến nghị của thủ tướng khi chính phủ thất bại trong bỏ phiếu tín nhiệm tại Nghị viện. Theo truyền thống, chính trị trong tỉnh chịu sự chi phối của Đảng Tự do và Đảng Bảo thủ Cấp tiến, tuy nhiên trong bầu cử cấp tỉnh vào năm 2011 Đảng Tân Dân chủ xếp thứ hai về phiếu bầu phổ thông, sau Đảng Bảo thủ Cấp tiến.
== Văn hóa ==
Di sản âm nhạc dân gian Newfoundland và Labrador dựa trên các truyền thống Ireland, Anh và Scotland vốn được đưa đến từ nhiều thế kỷ trước. Mặc dù cũng chịu ảnh hưởng từ nhạc Celtic tương tự như Nova Scotia và Đảo Hoàng tử Edward, Newfoundland và Labrador mang tính Ireland hơn là Scotland và có nhiều yếu tố dung nạp từ âm nhạc Anh và Pháp hơn các tỉnh này. Phần lớn âm nhạc khu vực tập trung vào truyền thống hàng hải sống động tại đây, và có các bài hò biển và các bài hát đi thuyền khác. Một số nhạc sĩ truyền thống hiện đại là Great Big Sea, The Ennis Sisters, Shanneyganock, Sharecroppers, Ron Hynes, và The Navigators.
Newfoundland và Labrador có một văn hóa thể thao phần nào khác biệt so với phần còn lại của Canada, một phần là do có lịch sử kéo dài tách biệt với phần còn lại của Canada và nằm dưới quyền cai trị của Anh. Tuy nhiên, khúc côn cầu trên băng vẫn phổ biến, đội tuyển St. John's IceCaps thi đấu chuyên nghiệp tại Trung tâm Mile One tại St. John's, và giải khúc côn cầu cấp cao Newfoundland có các đội tuyển từ khắp đảo. Từ khi đội tuyển St. John's Fog Devils rời đi vào năm 2008, Newfoundland và Labrador là tỉnh duy nhất tại Canada không có một đội tuyển nào tại Giải khúc côn cầu Canada.
Bóng đá và rugby liên hiệp đều phổ biến hơn tại Newfoundland và Labrador so với phần còn lại của Canada nói chung. Thi đấu bóng đá được tổ chức tại sân vận động King George V Park có 10.000 ghế, đây là sân vận động quốc gia của Newfoundland trong thời kỳ quốc gia tự trị. Sân vận động Swilers Rugby Park là nơi thi đấu của đội tuyển rugby liên hiệp Swilers RFC. Các cơ sở hạ tầng thể thao khác tại Newfoundland và Labrador còn có sân thi đấu trong nhà Pepsi Centre tại Corner Brook; sân Shamrock Field tại St. John's là nơi tổ chức sự kiện thể thao Gael quốc gia của Canada; và St. Patrick's Park tại St. John's là nơi thi đấu bóng chày.
== Giao thông ==
Trong nội tỉnh, Bộ Giao thông và Công trình Newfoundland và Labrador vận hành hoặc tài trợ cho 15 tuyến ô tô, phà chở khách và chở hàng liên kết các cộng đồng khác nhau dọc theo đường bờ biển của tỉnh.
Một dịch vụ phà hành khách và chở tàu hỏa vượt eo biển Belle Isle liên kết đảo Newfoundland với khu vực Labrador tại đại lục. Phà MV Apollo đi từ St. Barbe, Newfoundland thuộc bán đảo Great Northern đến đô thị cảng Blanc-Sablon của Québec song giáp với biên giới tỉnh và nằm bên đô thị L'Anse-au-Clair, Labrador. MV Sir Robert Bond từng cung cấp dịch vụ phà theo mùa giữa Lewisporte trên đảo Newfoundland và các đô thị Cartwright và Happy Valley-Goose Bay tại Labrador, song không còn hoạt động từ khi hoàn thành xa lộ Xuyên Labrador vào năm 2010, cho phép tiếp cận từ Blanc-Sablon thuộc Québec đến các bộ phận chủ yếu của Labrador. Một vài phà nhỏ hơn liên kết một số đô thị duyên hải và cộng đồng đảo ngoài khơi quanh đảo chính Newfoundland và đến bờ biển của Labrador xa về phía bắc đến Nain.
Dịch vụ phà liên tỉnh do Marine Atlantic cung cấp, đây là một công ty quốc doanh của liên bang hoạt động phà từ North Sydney, Nova Scotia đến các đô thị Port aux Basques và Argentia tại bờ biển phía nam của đảo Newfoundland.
Sân bay quốc tế St. John's và sân bay quốc tế Gander là hai sân bay duy nhất phục vụ tỉnh, chúng thuộc hệ thống sân bay quốc gia Canada. Sân bay quốc tế St. John's phục vụ gần 1,2 triệu hành khách trong năm 2008 và là sân bay nhộn nhịp thứ 11 tại Canada.
== Biểu trưng cấp tỉnh ==
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Government of Newfoundland and Labrador
Centre for Newfoundland Studies
Newfoundland và Labrador tại DMOZ
Songs of Newfoundland and Labrador
Fisheries Heritage website
Official Tourism Website
Newfoundland and Labrador's Web 2.0 Nature Atlas by Memorial University and Dept. of Wildlife
Newfoundland and Labrador's Provincial Register of Historic Places |
trung đông.txt | Trung Đông là một phân miền lịch sử và văn hoá của vùng Phi-Âu-Á về mặt truyền thống là thuộc các quốc gia vùng Tây Nam Á và Ai Cập. Trong những phạm vi khác, vùng này có thể gộp vào vùng Bắc Phi và/hay Trung Á. Pakistan và Kavkaz nói chung không thuộc vùng này. Ba ngôn ngữ đứng đầu về số người sử dụng là Tiếng Ả Rập, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Anh cũng được sử dụng là ngôn ngữ thứ hai của một số cơ quan chinh phủ của các nước phát triển và tầng lớp trung-thượng lưu ở các nước này. Các nền kinh tế phát triển thịnh vượng tính theo PPP như Qatar, Kuwait, UAE, Bahrain và Síp; các quốc gia xếp hạng thấp nhất về PPP là chính quyền Palestinian và Bờ Tây. Theo GDP, 3 nền kinh tế lớn nhất Trung Đông năm 2008 là Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Saudi và Iran.
== Những đặc điểm ==
Ở thế giới phương tây, Trung Đông thường được coi là một vùng cộng đồng đa số Hồi giáo Ả Rập. Tuy nhiên, vùng này gồm nhiều nền văn hóa và các nhóm dân tộc riêng biệt, như Ả Rập, Assyria, Azerbaijan, Berber, Chaldean, Druze, Hy Lạp, Do Thái, Kurd, Maronites, Ba Tư và Thổ. Các nhóm ngôn ngữ chính gồm: tiếng Ả Rập, tiếng Assyri (cũng được gọi là Aramaic và tiếng Siriac), tiếng Hebrew, tiếng Ba Tư, tiếng Kurd và tiếng Thổ Nhĩ Kỳ.
Đa số các định nghĩa của phương tây về "Trung Đông" — cả trong những cuốn sách tham khảo và trong sử dụng thông thường - định nghĩa vùng này là "các quốc gia ở Tây Nam Á, từ Iran (Ba Tư) tới Ai Cập". Ai Cập, với Bán đảo Sinai của nó ở châu Á, thường được coi là một phần của Trung Đông, mặc dù đa phần diện tích nước này về mặt địa lý nằm ở Bắc Phi. Các quốc gia Bắc Phi không có quan hệ với châu Á, như Libya, Tunisia và Maroc, ngày càng quen thuộc với cái tên người Bắc Phi - để đối lập với vùng Trung Đông (Iran tới Ai Cập-châu Á) - theo ngôn ngữ thường được dùng trên các phương tiện truyền thông.
Một cách định nghĩa được sử dụng rộng rãi khác về "Trung Đông" là của công nghiệp hàng không, được duy trì trong tổ chức tiêu chuẩn của Hiệp hội Vận chuyển Hàng không Quốc tế. Định nghĩa này - tới đầu năm 2006 - bao gồm Bahrain, Ai Cập, Iran, Iraq, Israel, Jordan, Kuwait, Liban, Các vùng lãnh thổ Palestine, Oman, Qatar, Ả Rập Saudi, Sudan, Syria, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất và Yemen [1]. Định nghĩa này được sử dụng rộng rãi trong những cách tính vé và thuế hành khách và hàng hóa trên thế giới.
== Lịch sử ==
Trung Đông là nơi khởi nguồn và là trung tâm tôn giáo của Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Vùng này từng trải qua các giai đoạn bạo lực và khoan dung. Trong thế kỷ 20, nó từng nằm trong vùng trung tâm các sự kiện quốc tế, và về mặt chiến lược, kinh tế, chính trị, văn hoá và tôn giáo nó là một vùng rất nhạy cảm. Nó có trữ lượng dầu thô rất lớn. Xem thêm Danh sách các cuộc xung đột ở Trung Đông.
== Các biên giới ==
"Trung Đông" xác định một vùng văn hoá, vì thế nó không có các biên giới chính xác. Nó thường được tính gồm: Bahrain, Kypros (Síp), Ai Cập, Iran (Ba Tư), Iraq, Israel, Jordan, Kuwait, Liban, Oman, Qatar, Ả Rập Saudi, Syria, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Yemen, Bờ Tây và Dải Gaza.
Iran thường được coi là biên giới phía đông của vùng, nhưng Afghanistan và tây Pakistan cũng thường được tính gộp vào đó vì mối quan hệ gần gũi (về mặt sắc tộc và tôn giáo) của nó với những nhóm sắc dân đa số của những dân tộc Iran cũng như những liên kết lịch sử của nó với vùng Trung Đông, nó từng là một phần của nhiều đế chế đã từng trải dài trong vùng như các đế chế Ba Tư và Ả Rập. Afghanistan, Tajikistan và tây Pakistan (Baluchistan và tỉnh Biên giới Tây Bắc) có những mối quan hệ chặt chẽ về văn hoá, ngôn ngữ và lịch sử với Iran và cũng là một phần của cao nguyên Iran, trong khi những mối quan hệ của Iran với các quốc gia Ả Rập dựa nhiều trên tôn giáo và sự gần gũi về địa lý hơn. Cũng như vậy, người Kurd, một nhóm sắc tộc bên trong các dân tộc Iran có chung nguồn gốc về ngôn ngữ, là nhóm thiểu số lớn nhất ở vùng Trung Đông không có quốc gia riêng.
Bắc Phi, hay Maghreb, mặc dù thường bị đặt bên ngoài vùng Trung Đông chính thức, nhưng có những mối liên kết về văn hoá và ngôn ngữ sâu sắc với vùng này, và trong lịch sử cũng đã từng tham dự nhiều sự kiện chính hình thành nên Địa Trung Hải và các vùng Trung Đông gồm cả những sự kiện do người Carthage lúc ấy là thuộc địa của Phoenicia và những nền văn minh Hy Lạp-La Mã cũng như quốc gia Hồi giáo của người Berber và các Đế quốc Ottoman gây nên. Maghrib thỉnh thoảng được gộp vào và thỉnh thoảng lại bị loại ra khỏi vùng Trung Đông trong cách định nghĩa vùng này của các phương tiện truyền thông đại chúng và trong sử dụng không chính thức, trong khi đa số các học giả tiếp tục coi Bắc Phi là một phần địa lý của châu Phi, nhưng có liên quan chặt chẽ với Tây Nam Á trong các thuật ngữ chính trị, văn hoá, tôn giáo, ngôn ngữ, lịch sử, và di truyền học. Điều này có thể so sánh với một số ví dụ tương tự, theo đó ví dụ như Tasmania và Newfoundland, về mặt địa lý không thuộc châu Âu nhưng có nhiều nét tương đồng với vùng tây bắc của Tây Âu trong khi Madagascar lại có nhiều đặc trưng tương tự Đông Nam Á hơn Đông Nam Phi.
Vùng Kavkaz, Kypros (Síp) và Thổ Nhĩ Kỳ, dù thường được gộp vào vùng Tây Nam Á dựa trên sự gần gũi về địa lý và tính liên tục, nói chung về mặt văn hoá và chính trị thường được coi là thuộc châu Âu vì lịch sử khác biệt của họ và những mối quan hệ chính trị gần đây với vùng đó. Ví dụ, Armenia và Síp, dù cả hai nằm gần Trung Đông về mặt địa lý, nhưng chúng có hai đặc điểm khiến chúng trở nên gần gũi với châu Âu hơn Trung Đông: tính đồng nhất quốc gia của họ gồm một căn bản hệ ngôn ngữ Ấn-Âu và đa số dân cư theo Kitô giáo, cả hai đặc điểm đó không hề tương thích với đặc điểm đặc trưng nhất của các quốc gia vùng Trung Đông, một số quốc gia ở vùng này có một nét đặc trưng (ví dụ các ngôn ngữ hệ Ấn-Âu phổ biến ở Iran và Afghanistan) này hay khác (Liban là quốc gia duy nhất có thể có cộng đồng Kitô giáo đa số nhưng vẫn chỉ mang tính suy đoán). Thổ Nhĩ Kỳ không có những đặc điểm châu Âu đó nhưng có những quan hệ lịch sử sâu sắc với châu Âu từ khi nó còn là một địa điểm thuộc Đế chế Byzantine và Đế chế Ottoman, những đế chế có lãnh thổ trải dài sang tận châu Âu. Được coi là một ứng cử viên triển vọng vào Liên minh châu Âu và từ lâu đã là một thành viên của NATO, Thổ Nhĩ Kỳ đã chấp nhẫn những đặc trưng muôn thuở phổ biến ở châu Âu và đã không còn giữ nhiều mối quan hệ của nó với vùng Trung Đông ngoại trừ tôn giáo chính của họ là Đạo Hồi. Trong suốt lịch sử của mình, Gruzia luôn giữ khoảng cách với các quốc gia Hồi giáo xung quanh (và liên kết về phong cách sống), vì thế nó đã gia nhập vào vùng thuộc "Đạo Cơ đốc" và nói chung về mặt đồng nhất quốc gia, nó là một nước kiểu châu Âu. Từ đầu thế kỷ 19, tất cả ba nước vùng Nam Caucasian (gồm Azerbaijan, Armenia và Gruzia) bị ảnh hưởng rất lớn từ quyền lực thống trị của Đế chế Nga và Liên bang Sô viết. Hiện nay các nước này mang nhiều đặc tính "châu Âu" hơn Trung Đông và thường được coi là một khối vùng trong vùng Cáp cát.
Các quốc gia Trung Á từ Khối Liên Xô cũ cũng có nhiều quan hệ thân thuộc và chính trị ở các mức độ khác nhau với Trung Đông, nhưng không hề giống nhau hoàn toàn. Trong khi các quốc gia phía nam Turkmenistan, Uzbekistan và Tajikistan có nhiều điểm tương đồng về văn hoá, lịch sử và chính trị-xã hội với Trung Đông. Kazakhstan và Kyrgyzstan là những vùng ở xa hơn với những pha trộn nhiều hơn về văn hoá. Vì thế, các quốc gia này thường được coi là Âu-Á (theo những cách tương tự với vùng Cáp cát) và quá khứ Nga/Sô viết của chúng đã khiến chúng trở nên khác biệt ở nhiều mặt so với vùng Trung Đông, ví dụ hiện nay đang có một phong trảo tái lập các mối quan hệ với Trung Đông ở Tajikistan, dựa trên những tương đồng về sắc tộc-ngôn ngữ của họ với Iran và Afghanistan. Giống như vùng Cáp cát và Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Á có nhiều đặc điểm chung với "phương Tây" và chúng đều bắt nguồn từ thời gian nằm trong nước Nga Sô viết, mặc dù điều này có thể thay đổi với một số hành động gần đây nhằm phục hồi lịch sử-văn hoá của bản sắc Hồi giáo từng bị hạn chế trong những thập kỷ cầm quyền của chính quyền Sô viết.
Israel cũng là một nước duy nhất có sự hợp nhất giữa các đặc điểm châu Âu và Trung Đông, vì sự gần gũi về địa lý của họ với miền Cận Đông và đa phần dân cư là người có nguồn gốc Trung Đông (gồm người Do Thái Sephardic, Sabra, người Ả Rập Israel, vân vân), có lẽ nó có nhiều điểm tương đồng với các nước lân cận hơn là những gì đang hiện diện trên báo chí ngày nay.
=== Thay đổi về ý nghĩa theo thời gian ===
Cho tới Chiến tranh thế giới thứ hai, việc coi bờ biển phía đông vùng Địa Trung Hải là Cận Đông là rất thường tình. Sau này Trung Đông có nghĩa là vùng từ Lưỡng Hà tới Myanma, đó là vùng giữa Cận Đông và Viễn Đông. Nghĩa được miêu tả trong bài này được lấy ra từ trong cuộc chiến, có lẽ bị ảnh hưởng bởi ý tưởng trước đó rằng Địa Trung Hải là "biển ở giữa".
== Chủ nghĩa trọng Âu ==
Một số người đã chỉ trích thuật ngữ Trung Đông vì nó hàm ý trọng Âu (Eurocentrism) [2], có lẽ bởi vì nó do người châu Âu đưa ra. Hiện nay thuật ngữ này được sử dụng bởi những người châu Âu và cả ngoài châu Âu, không giống như thuật ngữ tương đương Mashreq, chỉ được dùng duy nhất trong những bối cảnh ngôn ngữ Ả Rập. Vùng này chỉ là phía đông nếu ta đang đứng ở Tây Âu. Đối với một người Ấn Độ, nó nằm ở phía tây; đối với một người Nga, nó nằm ở phía Nam. Sự miêu tả "giữa" cũng dẫn tới một số nhầm lẫn cùng với sự thay đổi về các định nghĩa. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, "Cận Đông" được dùng trong tiếng Anh để chỉ vùng Balkans và Đế chế Ottoman, trong khi "Trung Đông" để chỉ Ba Tư, Afghanistan và Trung Á, Turkistan và vùng Cáp cát. Trái lại, "Viễn Đông" để chỉ các quốc gia Đông Á, ví dụ Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hồng Kông, Đài Loan, vân vân. Những người chỉ trích thường đòi sử dụng một thuật ngữ khác để thay thế, ví dụ như "Tây Á".
Với sự biến mất của Đế chế Ottoman năm 1918, "Cận Đông" đã hầu như bị loại bỏ ra khỏi tiếng Anh thông thường, trong khi "Trung Đông" lại thường được dùng để chỉ các quốc gia mới tái xuất hiện trong thế giới Hồi giáo. Tuy nhiên, việc sử dụng "Cận Đông" vẫn được giữ lại trong nhiều môn học hàn lâm, gồm cả khảo cổ học và lịch sử cổ đại, nó được dùng để miêu tả một vùng tương tự với thuật ngữ "Trung Đông", vốn không được sử dụng ở đó (xem Cận Đông cổ đại). Vì thế trong những từ ngắn hơn, thuật ngữ "Trung Đông" cũng được sử dụng ở những vùng sử dụng tiếng Anh/Pháp trên thế giới. Tại Đức, thuật ngữ Naher Osten (Cận Đông) vẫn được sử dụng thường xuyên và trong tiếng Nga Ближний Восток (Cận Đông) vẫn là thuật ngữ duy nhất để chỉ vùng này.
Sự chỉ trích chủ nghĩa trọng Âu tất nhiên liên quan tới sự thực rằng 'Đông' và 'Tây' được xác định theo quan hệ với các đường kinh tuyến liên quan tới Kinh tuyến chính hay Kinh tuyết Greenwich và vì thế vốn đã theo kiểu châu Âu. Đây là hậu quả từ việc các tiêu chuẩn của khoa nghiên cứu bản đồ Anh được chấp nhận rộng rãi trên thế giới từ năm 1884 tại Hội nghị kinh tuyến quốc tế.
== Những cách dịch gián tiếp ==
Có những thuật ngữ tương tự với "Cận Đông" và "Trung Đông trong các ngôn ngữ "châu Âu khác, nhưng bởi vì nó là một sự miêu tả có liên quan, nên các nghĩa của nó phụ thuộc vào từng nước và nói chung khác biệt so với các thuật ngữ trong tiếng Anh. Xem fr:Proche-Orient, fr:Moyen-Orient, và de:Naher Osten, ru:Blizhniy Vostok, ru:Ближний Восток để biết về các ví dụ.
== Các thuật ngữ tương đương ==
Ở một số mặt, sự thiếu vắng những đường biên giới chính xác của khu vực Trung Đông cũng là lợi thế, bởi vì nó có thể được dùng để chỉ nhiều tiêu chuẩn văn hoá và chính trị. Tính chất áng trong định nghĩa này dẫn tới sự phát sinh một số thuật ngữ trung tính thay thế khác, được sử dụng bởi các tổ chức quốc tế và các phong trào, như Tây Nam Á và Tây Á, chúng đã trở thành những thuật ngữ thường được sử dụng ở Ấn Độ, bởi cả chính phủ và báo chí. Thế giới Ả Rập không phải là một thuật ngữ đồng nghĩa với Trung Đông, mặc dù nó cũng bao hàm hầu như toàn bộ vùng đó. Vùng châu Á của thế giới Ả Rập (gồm những đặc trưng thích hợp Ả Rập) được gọi là Mashreq. "Trung Đông-Bắc Phi" (MENA), thỉnh thoảng được dùng để bao hàm vùng từ Maroc đến Iran, vì thế thỉnh thoảng cũng được gọi là Đại Trung Đông; thỉnh thoảng thuật ngữ này được dùng để miêu tả toàn bộ vùng châu Phi từ Sahara đến Địa Trung Hải và vùng châu Á phía tây Trung Quốc và Ấn Độ và phía nam nước Nga. Nó được một số nhà sử học, những người nghiên cứu nhiều đế chế và nền văn minh (gồm cả những đế chế và nền văn minh Địa Trung Hải, Hy Lạp-La Mã và Ba Tư cũng như các vương quốc Hồi giáo rộng lớn và những vùng nơi những người Thổ Nhĩ Kỳ Hồi giáo trước kia từng ngự trị) sử dụng. Nó có thể bao gồm cả Bắc Phi và Thổ Nhĩ Kỳ ở phía tây tới Pakistan và Afghanistan ở phía đông. Thuật ngữ "Đại Trung Đông" vẫn còn được sử dụng bởi G8, Hoa Kỳ [3], và nhiều viện hàn lâm cũng như Viện Trung Đông [4].
== Nhân chủng học ==
=== Các nhóm dân tộc ===
Trung Đông ngày nay là nơi phát sinh của nhiều nhóm dân tộc đã hình thành từ lâu như Ả Rập, người Turk, Ba Tư, Baloch, Pashtun, Lur, Mandaean, Tat, Do Thái, Kurd, Somali, Assyri, Ai Cập Copts, Armeni, Azeris, Malt, Circassi, Hy Lạp, Turcoman, Shabak, Yazidi, Gruzia, Roma, Gagauz, Mhallami và Samarita.
=== Di cư ===
Theo tổ chức di dân quốc tế, có khoảng 13 triệu người di dân thế hệ đầu tiên từ các quốc gia Arab trên thế giới, trong đó 5,8 định cư ở các nước Ả Rập khác. Người nước ngoài từ các quốc gia Ả Rập đóng góp vào sự luân chuyển vốn tài chính và con người trong khu vực và do đó thúc đẩy đáng kể sự phát triển trong khu vực. Trong năm 2009 các nước Ả Rập nhận được tổng cộng 35,1 tỷ USD chuyển vào trong dòng chảy và kiều hối gửi về Jordan, Ai Cập và Liban từ các quốc gia Ả Rập khác là 40-190% cao hơn so với doanh thu thương mại giữa các nước kể trên và các quốc gia Ả Rập khác.
=== Tôn giáo ===
Trung Đông là khu vực đa dạng về tôn giáo, nhiều trong số đó có nguồn gốc ngay tại đây. Hồi giáo là tôn giáo lớn nhất ở Trung Đông, nhưng các tôn giáo bản địa khác như Do Thái giáo và Kitô giáo cũng có lịch sử lâu đời và đóng vai trò quan trọng. Kitô hiện chiếm tỷ lệ 40,5% dân số Liban, nơi Tổng thống Li-băng, một nửa nội các và một nửa nghị viện theo các hệ phái Kitô giáo. Ngoài ra còn có các tôn giáo thiểu số quan trọng như Bahá'í giáo, Yarsanism, Yazidism, Hỏa giáo, Mandae giáo, Druze, và Shabakism, và trong thời cổ đại khu vực này là cái nôi của các tôn giáo cổ đại Lưỡng Hà, tôn giáo cổ đại Canaan, Mani giáo, tôn giáo bí truyền Mithras và nhiều phái ngộ giáo độc thần.
=== Ngôn ngữ ===
Năm ngôn ngữ đứng đầu về số người sử dụng là Tiếng Ả Rập, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Berber, và Kurd. Tiếng Ả Rập và Berber đại diện cho ngôn ngữ Á-Phi. Ba Tư và người Kurd thuộc Ấn-Âu. Và Thổ Nhĩ Kỳ thuộc về Thổ Nhĩ Kỳ. Khoảng 20 thứ tiếng dân tộc thiểu số cũng được sử dụng tại Trung Đông.
Tiếng Ả Rập (với tất cả các phương ngữ của nó) là ngôn ngữ được nói/viết rộng rãi nhất ở Trung Đông, là chính thức trong tất cả hầu hết các nước Tây Á và Bắc Phi. Nó cũng được sử dụng ở một số khu vực lân cận ở các nước không thuộc nhóm Ả Rập lân cận Trung Đông. Nó là một thành viên của nhánh Do Thái trong các ngôn ngữ Á-Phi.
Ba Tư là ngôn ngữ được nói thứ hai. Trong khi nó được giới hạn Iran và một số khu vực biên giới các nước láng giềng, một trong những quốc gia lớn nhất và đông dân nhất khu vực. Nó thuộc về nhánh Ấn Độ-Iran thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu.
Ngôn ngữ thứ ba sử dụng rộng rãi nhất là Thổ Nhĩ Kỳ, phần lớn là giới hạn ở Thổ Nhĩ Kỳ, cũng là một trong những nước lớn nhất và đông dân nhất trong khu vực, nhưng nó hiện diện trong khu vực các nước láng giềng. Nó là một thành viên của ngôn ngữ gốc Thổ Nhĩ Kỳ, có nguồn gốc ở Trung Á.
Các ngôn ngữ khác được nói trong khu vực bao gồm Do Thái và Lưỡng Hà được nói chủ yếu bởi người Assyria và Mandean. Tiếng Armenia, Azerbaijan, Somali, Berber được nói trên khắp Bắc Phi, Circassian, một ngôn ngữ nhỏ của tiếng Iran, Kurd, một nhóm nhỏ hơn của tiếng gốc Thổ Nhĩ Kỳ (như ngôn ngữ Gagauz), Shabaki, Yazidi, Roma, Gruzia, Hy Lạp, và một số tiếng Ả Rập hiện đại. Tiếng Malta cũng là một ngôn ngữ Trung Đông ngôn ngữ và địa lý.
Tiếng Anh thường được dạy và được sử dụng như một ngôn ngữ thứ hai, đặc biệt trong tầng lớp trung lưu và thượng lưu, ở các nước như Ai Cập, Jordan, Israel, Iran, Iraq, Qatar, Bahrain, UAE và Kuwait. Nó cũng là ngôn ngữ chính ở một số tiểu vương quốc thuộc UAE.
Tiếng Pháp được giảng dạy và được sử dụng ở nhiều cơ sở của chính phủ và phương tiện truyền thông ở Algeria, Morocco, Tunisia, và Lebanon. Nó được dạy ở một số trường tiểu học và trung học của Ai Cập, Israel và Syria.
Tiếng Urdu và Tiếng Hindi được sử dụng rộng rãi bởi cộng đồng di dân ở nhiều nước Trung Đông, chẳng hạn như Ả Rập Saudi (nơi 20-25% dân số là Nam Á), UAE (nơi 50-55 % dân số là Nam Á), và Qatar, trong đó có một số lượng lớn người nhập cư Pakistan và Ấn Độ.
Cộng đồng nói tiếng Romani lớn nhất ở Trung Đông ở Israel, nơi mà năm 1995, tiếng Romani được 5% dân số sử dụng. Tiếng Nga cũng nói bởi một phần lớn dân số Israel, vì di cư vào cuối năm 1990. Tiếng Amharic và các ngôn ngữ Ethiopia khác được nói bởi cộng đồng thiểu số Ethiopia.
== Các cuộc xung đột ==
Hiện nay vùng này được biết đến đặc trưng bằng những căng thẳng chính trị mãnh liệt bên trong, các tổ chức khủng bố đặc biệt là Daesh gần đây, vấn đề về quyền sở hữu các nguồn nước, cũng như một số vần đề khác có tầm quan trọng nhỏ hơn, như sự hiện diện của người Syria ở Liban (hiện nay, 4/2006, người Syria tuyên bố đã rút hết quân khỏi Liban), bất đồng về lãnh thổ giữa Syria và Thổ Nhĩ Kỳ tại tỉnh Hatay, giữa Ai Cập và Sudan về Tam giác Hala'ib, giữa Ả Rập Saudi và Yemen về địa lý của Ả Rập Saudi, các quyền cá nhân của các dân tộc thiểu số ở Iraq và Bahrain và sự an toàn của các cộng đồng người Kitô giáo tại Ai Cập và Syria.
Cũng có những căng thẳng đáng kể giữa khu vực Trung Đông và các vùng bên ngoài, đặc biệt là với phương Tây. Chúng bao gồm những vấn đề xuất hiện từ cuộc tấn công Iraq, việc phương Tây (đặc biệt là Hoa Kỳ) ủng hộ kinh tế Israel, chương trình vũ khí hạt nhân Iran và những luận điệu của chủ nghĩa khủng bố được quốc gia hậu thuẫn từ phía nhiều quốc gia Trung Đông.
== Kinh tế ==
Các nền kinh tế Trung Đông thay đổi trong phạm vi rộng từ rất nghèo (như Gaza và Yemen) đến cực kỳ thịnh vượng (như Qatar và UAE). Nhìn chung, đến năm 2007, theo CIA World Factbook, tất cả các quốc gia Trung Đông vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng dương.
Theo cơ sở dữ liệu về chỉ số phát triển thế giới của Ngân hàng Thế giới công bố ngày 01 tháng 7 năm 2009, 3 nền kinh tế lớn nhất Trung Đông năm 2008 là Thổ Nhĩ Kỳ ($ 794.228.000.000), Ả Rập Saudi ($ 467.601.000.000) và Iran ($ 385.143.000.000) theo GDP danh nghĩa. Về GDP danh nghĩa trên đầu người, các quốc gia có hạng cao nhất là Qatar ($93.204), UAE ($55.028), Kuwait ($45.920) và Síp ($32.745). Thổ Nhĩ Kỳ ($ 1.028.897.000.000), Iran ($ 839.438.000.000) và Ả Rập Saudi ($ 589.531.000.000) là các nền kinh tế lớn nhất tính theo GDP-PPP. Nếu tính theo thu nhập dựa trên (PPP), các quốc gia có hạng cao nhất là Qatar ($86.008), Kuwait ($39.915), UAE ($38.894), Bahrain ($34.662) và Sip ($29.853). Quốc gia xếp hạng thấp nhất về PPP là chính quyền Palestinian và Bờ Tây ($1.100).
Cấu trúc kinh tế của các quốc gia Trung Đông khác biệt về hoàn cảnh, trong khi một số quốc gia nhờ vào xuất khẩu dầu mỏ và các sản phẩm từ dầu (như Ả Rập Saudi, UAE và Kuwait), các quốc gia khác có cấu trúc kinh tế đa dạng hơn (như Síp, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập). Các ngành công nghiệp của Trung Đông bao gồm dầu mỏ và các sản phẩm từ dầu, nông nghiệp, vải sợi, chăn nuôi gia súc, sữa, dệt, da, trang thiết bị tự vệ, trang thiết bị phẫu thuật. Ngân hàng cũng là một lĩnh vực quan trọng trong các nền kinh tế đặc biệt là trong trường hợp của UAE và Bahrain.
Ngoại trừ Síp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Libăng và Israel, du lịch là lĩnh vực tương đối kém phát triển của nền kinh tế, một phần vì bản chất xã hội bảo thủ trong khu vực cũng như bất ổn chính trị ở một số vùng của Trung Đông. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các quốc gia như UAE, Bahrain, Jordan và đã bắt đầu thu hút số lượng lớn khách du lịch vì cải thiện cơ sở du lịch và thư giãn của chính sách hạn chế du lịch liên quan đến.
Thất nghiệp nổi tiếng cao ở Trung Đông và Bắc Phi, đặc biệt trong nhóm có độ tuổi 15–29, chiếm 30% tổng dân số khu vực. Tỉ lệ thất nghiệp của khu vực năm 2005 theo Liên đoàn Lao động thế giới là 13,2%, và trong nhóm trẻ cao đến 25%, đến 37% ở Maroc và 73% ở Syria.
== Địa lý ==
== Các vùng Trung Đông ==
Bài chính: Các vùng Trung Đông
Cao nguyên Iran
Biển Địa Trung Hải - Síp
Ả Rập, xem Các quốc gia vùng vịnh Ba Tư - Ả Rập Saudi, Kuwait, Qatar, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, Oman, Yemen, Bahrain và Iraq
Miền Cận Đông - Syria, Israel, Jordan, Liban, Bờ tây và Dải Gaza, Bán đảo Sinai của Ai Cập
== Xem thêm ==
Tây Nam Á
Cận Đông
Cái nôi loài người
Đại Trung Đông
Hội nghiên cứu Trung Đông Bắc Mỹ
Đông phương học
ODAM
Danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc Trung Đông
== Ghi chú ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Election Tracker-Monitors Democratic Conditions Around the World
Public Opinion about the Middle east
gomideast - Where in the world is the Middle east?
Middle east Forum
Ancient Near East.net - provides a comprehensive portal to the archaeology and ancient cultures of the Near / Middle east
Middle east Studies Association (MESA) of North America
University of Chicago Library - Middle east Department
Middle east Public Relations Association (MEPRA)
Middle east Resource Guide
Middle eastern Artists: Iranian Contemporary and young blood Art.
Middle east Institute
Middle east Watch
=== Các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong vùng ===
Ansar Burney Trust - Tổ chức phi chính phủ hoạt động về các vấn đề quyền con người và buôn người ở Trung Đông |
john carter (phim).txt | John Carter là một bộ phim khoa học viễn tưởng thể loại phiêu lưu năm 2012 của Hoa Kỳ do Andrew Stanton làm đạo diễn và sản xuất bởi Walt Disney Pictures. Phim dựa trên tác phẩm A Princess of Mars, cuốn sách đầu tiên trong series tiểu thuyết Barsoom của Edgar Rice Burroughs. Bộ phim kể lại cuộc hành trình giữa các hành tinh đầu tiên của John Carter, do diễn viên Taylor Kitsch thủ vai. Bộ phim đánh dấu mốc một trăm năm kể từ khi nhân vật này xuất hiện lần đầu tiên. Phim là sản phẩm phim người đóng đầu tiên của tác giả kịch bản và đạo diễn Stanton; các tác phẩm trước đây do ông đạo diễn bao gồm hai bộ phim hoạt hình Pixar rất thành công là Đi tìm Nemo (2003) và WALL-E (2008). Với cốt truyện do Stanton, Mark Andrews và Michael Chabon đồng sáng tác, bộ phim do Jim Morris, Colin Wilson, và Lindsey Collins sản xuất. Nhạc phim được biên soạn bởi Michael Giacchino và do Walt Disney Records phát hành ngày 6 tháng 3 năm 2012. Ngoài ra dàn diễn viên của phim còn có sự góp mặt của Lynn Collins, Samantha Morton, Mark Strong, Ciarán Hinds, Thomas Haden Church, Dominic West, James Purefoy, và Willem Dafoe.
Việc quay phim bắt đầu từ tháng 11 năm 2009 với các cảnh quay chủ yếu được thực hiện từ tháng 1 năm 2010, kéo dài trong bảy tháng tới tháng 7 năm 2010. John Carter đề cập đến các đề tài sự sống ngoài Trái Đất, khoa học viễn tưởng và nội chiến. Phim được phát hành dưới dạng DVD và Blu-ray tại Mỹ vào ngày 5 tháng 6 năm 2012 bởi Walt Disney Studios Home Entertainment.
Walt Disney Studios Motion Pictures phát hành John Carter tại Hoa Kỳ vào ngày 9 tháng 3 năm 2012; bộ phim được chiếu ở định dạng 2D tiêu chuẩn và ở các định dạng Disney Digital 3D cũng như IMAX 3D. Khi ra mắt, John Carter nhận được những phản hồi chuyên môn trái chiều và có doanh thu kém tại các phòng vé Hoa Kỳ, tuy rằng ở thị trường ngoài nước Mỹ bộ phim có lợi nhuận khá tốt, đặc biệt ở Nga nơi phim đã lập kỷ lục phòng vé tại đây. Disney quy số tiền 160 triệu USD thiệt hại của bộ phận Studio Entertainment trong quý hai năm 2012 "chủ yếu" do phim John Carter. Với mức kinh phí sản xuất và quảng cáo khổng lồ như vậy, bộ phim bị nhiều nhà phê bình coi như một thất bại phòng vé khổng lồ. Paul Dergarabedian, Giám đốc của Hollywood.com viết, "Kinh phí khổng lồ củaJohn Carter đòi hỏi bộ phim phải thu về trên 600 triệu USD trên toàn cầu mới đủ hoà vốn...mức doanh thu mới chỉ có 63 phim đạt được trong lịch sử điện ảnh".
== Diễn viên ==
Taylor Kitsch as John Carter
Lynn Collins as Dejah Thoris, Princess of Helium
Willem Dafoe as Tars Tarkas, a Barsoomian warrior and ally of John Carter
Thomas Haden Church as Tal Hajus, a vicious Thark warrior
Samantha Morton as Sola, daughter of Tars Tarkas
Dominic West as Sab Than, Prince of Zodanga
Polly Walker as Sarkoja, a merciless, tyrannical Thark
James Purefoy as Kantos Kan, captain of the ship Xavarian
Mark Strong as Matai Shang, leader of the Holy Therns
Ciarán Hinds as Tardos Mors, Jeddak of Helium
Bryan Cranston as a Civil War colonel who comes into conflict with Carter
Daryl Sabara as Edgar Rice Burroughs, nephew of John Carter
Jon Favreau, who was once attached to direct the film when it was still a Paramount production, has a cameo in the film
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
John Carter tại Internet Movie Database
John Carter Film News from ERB, Inc.
The 1936 Clampett/Burroughs John Carter of Mars Animation Project
Official John Carter of Mars Website from Edgar Rice Burroughs, Inc.
Animation test of Tharks for Paramount by Steve Meyer, 2005
John Carter Q&A w/ Star Taylor Kitsch Video Q&A with Taylor Kitsch and visual effects supervisor Sue Rowe about stories on the production of John Carter |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.