filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
balkan.txt | Balkan (phiên âm tiếng Việt: Ban-căng) là một bán đảo thuộc phía đông-nam châu Âu rộng khoảng 550.000 km² với 55 triệu cư dân.
== Tổng quan ==
Tên cũ tiếng Hy lạp là bán đảo Haemus (Χερσόνησος του Αίμου, Chersónisos tou Aímou). Tên bán đảo lấy từ rặng núi Balkan trải từ Bulgaria qua đến miền đông Serbia. Bán đảo nằm giữa các biển biển Đen phía tây, Địa Trung Hải phía đông-nam (gồm các biển Adriatic, Ionian, Ionian và biển MarmaraIonian).
Có không ít dân tộc sinh sống trên bán đảo này. Trong lịch sử, bán đảo từng bị đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ chinh phạt vào thế kỉ XIV. Từ 1875 đến 1945, trên bán đảo xảy ra nhiều cuộc chiến tranh, trong số đó có những cuộc chiến thuộc phong trào đấu tranh của nhân dân Balkan chống ách đô hộ của Thổ Nhĩ Kỳ: chiến tranh Serbia-Thổ (1876), Nga-Thổ (1877), Hy Lạp-Thổ (1897–1921), các cuộc chiến vùng Balkan (1912–13), chiến cuộc Balkan trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914–1918) và Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1940–1945).
=== Các quốc gia ===
Các quốc gia sau đây thường được xem là thuộc bán đảo Balkan:
Albania
Bosna và Hercegovina
Bulgaria
Croatia
Montenegro
Hy Lạp
Macedonia
Serbia
Thổ Nhĩ Kỳ (phần châu Âu)
Các quốc gia sau đây có thể được xem là thuộc bán đảo Balkan:
Moldova
România
Slovenia
== Xem thêm ==
Ẩm thực Balkan
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
South-East Europe Review
BalkanBaby travel writing, analysis and photos from the Balkans
Balkan History by Steven W. Sowards
SEEurope.net – news coverage on Southeastern Europe
Southeast European Times
The Centre for South East European Studies
Balkans region: Oil and Gas Fact Sheet – United States Department of Energy Analysis Brief
Balkans urged to curb trafficking - BBC
News from Balkans |
độ celsius.txt | Độ Celsius (°C hay độ C) là đơn vị đo nhiệt độ được đặt tên theo nhà thiên văn học người Thụy Điển Anders Celsius (1701–1744). Ông là người đầu tiên đề ra hệ thống đo nhiệt độ căn cứ theo trạng thái của nước với 100 độ C (212 độ Fahrenheit) là nước sôi và 0 độ C (32 độ Fahrenheit) là nước đá đông ở khí áp tiêu biểu (standard atmosphere) vào năm 1742. Hai năm sau nhà khoa học Carolus Linnaeus đảo ngược hệ thống đó và lấy 0 độ là nước đá đông và một trăm độ là nước sôi. Hệ thống này được gọi là hệ thống centigrade tức bách phân và danh từ này được dùng phổ biến cho đến nay mặc dù kể từ năm 1948, hệ thống nhiệt độ này đã chính thức vinh danh nhà khoa học Celsius bằng cách đặt theo tên của ông. Một lý do nữa Celsius được dùng thay vì centigrade là vì thuật ngữ "bách phân" cũng được sử dụng ở lục địa châu Âu để đo một góc phẳng bằng phần vạn của góc vuông. Ở Việt Nam, độ C được sử dụng phổ biến nhất.
== Xem thêm ==
Độ (nhiệt độ)
Độ F
Độ K
== Chú thích == |
scaphism.txt | Scaphism là một trong những phương pháp tra tấn sử dụng trong xã hội Ba Tư cổ xưa. Người ta sẽ nhét tù nhân vào bên trong một thân cây. Đầu, 2 tay và 2 chân nhô ra ngoài.Sau đó, các tù nhân sẽ bị ném vào ao tù-nơi có nhiều côn trùng, vi sinh khuẩn sống.Những sinh vật đó sẽ bắt đầu chui vào trong cơ thể các nạn nhân sống. Thông thường, tù nhân sẽ phải chịu cực hình này trong 4 tuần rồi mới chết
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Traité des instruments de martyre et des divers modes de supplice employés par les paiens contre les chrétiens (French)
BREWER: Dictionary of Phrase and Fable, Scaphism
Artaxerxes by Plutarch
Lexicon Universale, Historiam Sacram Et Profanam Omnis aevi, omniumque Gentium (Late Latin/some Greek)
Tortures and Torments of the Christian Martyrs |
đền itsukushima.txt | Thần xã Itsukushima (tiếng Nhật: 厳島神社, chữ Rô-ma: Itsukushima Jinja, phiên âm Hán Việt: Nghiêm đảo thần xã) nằm ở đảo Itsukushima, thành phố Hatsukaichi, huyện Hiroshima, Nhật Bản. Thực ra ở Nhật Bản có tới 500 thần xã mang tên Itsukushima, nhưng đền nói trên là thần xã chính. Năm 1996, thần xã được UNESCO công nhận là di sản thế giới (văn hóa).
Tương truyền, thần xã được xây từ năm 593. Tài liệu cổ nhất có nhắc đến đền này là Engishiki Jinmyocho năm 811. Trong tài liệu này, thần xã Itsukashima được xếp vào hạng đền nổi tiếng. Kiến trúc hiện tại của ngôi đền có từ năm 1168. Năm 1871, đền này được xếp vào hàng đền miếu cấp quốc gia. Năm 1911 lại được thăng hạng thành đền miếu hoàng gia.
Trong đền có nhiều kiến trúc và công trình nghệ thuật được Nhật Bản xếp vào hạng quốc bảo, tài sản văn hóa quan trọng, tài sản vật thể được xếp hạng, v.v...
== Xem thêm ==
Du lịch Nhật Bản
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website của UNESCO về Đền Itsukushima |
điện ảnh việt nam.txt | Điện ảnh Việt Nam là tên gọi ngành công nghiệp sản xuất phim của Việt Nam từ 1923 đến nay.
Điện ảnh bắt đầu du nhập vào Việt Nam từ cuối thập niên 1890, nhưng mãi đến năm 1923 mới xuất hiện bộ phim đầu tiên Kim Vân Kiều do người Pháp và người Việt cùng thực hiện. Từ năm 1925 xuất hiện những hãng phim Việt Nam, có những bộ phim Việt Nam hợp tác với nước ngoài.
Đến thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, ở miền Bắc với những diễn viên như Trà Giang, Thế Anh, đạo diễn Hải Ninh, Nguyễn Hồng Sến đã thực hiện những bộ phim Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Nổi gió, Em bé Hà Nội... ghi dấu ấn cho nền điện ảnh cách mạng. Miền Nam với Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, các đạo diễn Lê Hoàng Hoa, Lê Dân, Lê Mộng Hoàng đã thực hiện Chân trời tím, Loan mắt nhung, Người tình không chân dung... đạt được doanh thu cao và giành những giải thưởng trong các liên hoan phim châu Á.
Sau năm 1975, các đạo diễn Lê Hoàng Hoa, Nguyễn Hồng Sến tiếp tục thực hiện những bộ phim như Ván bài lật ngửa, Cánh đồng hoang... thu hút được nhiều khán giả, giành được giải thưởng trong những liên hoan phim quốc tế. Vượt qua giai đoạn khủng hoảng của thập niên 1990, gần đây điện ảnh Việt Nam lấy lại được khán giả với những bộ phim ăn khách như Gái nhảy, Những cô gái chân dài... Một số bộ phim Việt Nam đã được khán giả nước ngoài biết tới, trong đó nhiều phim của các đạo diễn Việt kiều. Mùi đu đủ xanh của đạo diễn người Pháp gốc Việt Trần Anh Hùng đã được đề cử giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất năm 1994. Điện ảnh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các dự án do hãng phim nhà nước thực hiện, còn được gọi là Điện ảnh cách mạng Việt Nam, đặc biệt nếu nội dung tác phẩm có liên quan đến đề tài chính luận, chiến tranh, lịch sử.
== Giai đoạn tiên phong ==
=== Điện ảnh du nhập ===
Điện ảnh du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Ngày 28 tháng 12 năm 1895, nền điện ảnh được khai sinh với buổi chiếu của hai anh em Auguste và Louis Lumière tại tầng hầm quán Grand Café ở Paris. Đầu năm 1896, anh em nhà Lumière mở một lớp học trong 6 tháng đào tạo quay phim để truyền bá phát minh mới này. Một trong những học viên đầu tiên đó là Gabriel Veyre, sau khi qua Thượng Hải đã đến Hà Nội. Ngày 28 tháng 4 năm 1899 Gabriel Veyre đã tổ chức buổi chiếu phim đầu tiên[1] tại Hà Nội miễn phí cho công chúng vào xem. Báo L'Avenir du Tonkin số ra ngày 29 tháng 4 năm 1899 xuất bản tại Hà Nội có tường thuật đầy đủ về buổi chiếu phim này.
Sau đó, những buổi chiếu tiếp theo được thực hiện ở các khách sạn, nhà hàng lớn nhân những ngày lễ quan trọng hoặc sự kiện chính trị nào đó. Khán giả điện ảnh hầu hết là các quan chức, viên chức, chủ công ty công nghiệp và doanh nghiệp, đơn vị quân đội Pháp chiếm đóng thuộc địa. Dựa theo một số tài liệu, báo chí, hồi ký thì thỉnh thoảng có một vài buổi chiếu phim ở nơi công cộng cho dân bản xứ mua vé vào xem như các ngày hội, chợ phiên, quay sổ xố. Trên báo chí Việt Nam đã đăng quảng cáo những buổi chiếu phim bán vé tại một số địa điểm công cộng.
Rạp chiếu phim đầu tiên tại Việt Nam là rạp Pathé, do một người Pháp là Aste xây dựng tại Hà Nội, cạnh hồ Hoàn Kiếm, khánh thành ngày 10 tháng 8 năm 1920. Tiếp đó tới rạp Tonkinois bắt đầu từ 1921... Thời ấy, người ta gọi những buổi trình chiếu phim là buổi trình diễn "trò chớp bóng".
Để thiết lập độc quyền khai thác mạng lưới chiếu bóng, ngày 11 tháng 9 năm 1923 người Pháp thành lập hãng Phim và Chiếu bóng Đông Dương (Indochine Films et Cinéma, IFEC) và năm 1930 Công ty Chiếu bóng Đông Dương (Societé des cinéthéâtre d’Indochine). Một số Hoa kiều cũng bỏ vốn xây dựng những rạp nhỏ, chủ yếu chiếu phim thuê của người Pháp và một số ít phim của Hồng Kông, Trung Quốc. Đến năm 1927, tại Việt Nam có 33 rạp chiếu bóng ở các đô thị như Hà Nội 4 rạp, Hải Phòng 2 rạp, Huế 2 rạp, Chợ Lớn 4 rạp, Sài Gòn 4 rạp, Cần Thơ 2 rạp... Năm năm sau, tức năm 1932 con số tăng lên nhanh chóng. Riêng Bắc Kỳ có 27 rạp, Trung Kỳ 11 rạp và Nam Kỳ 13 rạp. Một số người Việt Nam bắt đầu quan tâm đến lĩnh vực kinh doanh mới này. Người đầu tiên là nhà tư bản Vạn Xuân. Năm 1936 ông đã bỏ tiền xây rạp chiếu bóng Olimpia - nay là nhà hát Hồng Hà trên phố Hàng Da ở Hà Nội. Đến năm 1939, số lượng rạp chiếu phim lại Việt Nam lên tới con số 60.
Những năm trước 1930, mỗi rạp chỉ lắp đặt một máy chiếu phim. Khi hết một cuộn phim thì các đèn trong rạp bật sáng và người thợ máy thay cuộn phim mới để chiếu tiếp. Màn ảnh được làm bằng những mảnh vải trắng may lại, xung quanh viền vải xanh thẫm hoặc đen. Khán giả ngồi trên những ghế tựa hoặc ghế băng có dựa lưng bằng gỗ. Sàn phòng chiếu bằng phẳng và màn hình được đặt trên phía cao khiến khán giả bị mỏi cổ khi xem phim. Một vài rạp không có ghế ngồi. Trong hồi ký của mình, Phạm Duy viết: "...rạp Family ở phố Hàng Buồm. Rạp này có hai hạng, coi mặt chính thì phải trả hai xu, coi mặt trái thì chỉ mất nửa tiền, cả hai hạng đều không có ghế, khán giả ngồi xệp xuống đất mà coi". Từ nửa cuối thập niên 1930, một số rạp mới có ban công và sàn được làm dốc, các hàng ghế được bố trí lệch nhau. Các rạp cũng được trang bị quạt máy và phân cấp thành hai loại: sang và bình dân. Những bộ phim đầu tiên được trình chiếu ở Việt Nam đều là phim câm. Đến khoảng giữa thập niên 1930, khán giả mới được xem phim nói với bộ phim đầu tiên là Phía Tây không có gì lạ được xây dựng theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Erich Maria Remarque. Nhưng khi đó, để xem được phim nói, chỉ giới trí thức, sinh viên, học sinh trung học mới nghe được tiếng Pháp và đọc được phụ đề Pháp ngữ.
Trong khoảng thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai từ 1939 đến 1945, giao thông đường biển từ Pháp tới Việt Nam bị Đức và Nhật phong tỏa, ảnh hưởng đến việc vận chuyển phim. Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp ở Việt Nam, nắm quyền cai trị Đông Dương. Khoảng thời gian này một số chủ người Pháp bán lại các rạp chiếu bóng cho những người Hoa ở Hà Nội, Sài Gòn. Các chủ người Hoa bắt đầu nhập phim từ Hồng Kông, Singapore vào chiếu ở Việt Nam.
=== Những phim đầu tiên ===
Những phim đầu tiên được sản xuất ở Việt Nam là do người Pháp thực hiện. Sớm nhất là những đoạn phim được quay để sử dụng trong những cuốn phim giới thiệu sinh hoạt ở các thuộc địa Pháp do hãng Pathé phát hành ngay từ năm 1897. Tiếp đó là những phim tài liệu khai thác phong cảnh (Phong cảnh tại Kinh đô Huế), phong tục, hội hè, đình đám (Hội Kiếp bạc, Đám ma bà Thiếu Hoàng) hoặc các nhân vật thời thượng trong xã hội đương thời (Cô gái Bắc Kỳ).
Năm 1916 Toàn quyền Ðông Dương là Albert Sarraut đã yêu cầu Bộ Chiến tranh Pháp cử một Ðoàn điện ảnh quân đội sang Việt Nam để quay phim giới thiệu về cuộc sống, phong tục, phong cảnh đất nước Việt Nam. Từ 1916 đến 1918 đoàn Điện ảnh quân đội Pháp đã quay được 20 phim phóng sự, tài liệu. Những phim này chủ yếu giới thiệu với công chúng Pháp hình ảnh về thuộc địa của mình để kêu gọi các nhà đầu tư, kinh doanh Pháp quan tâm đến việc khai thác thuộc địa. Đoàn Điện ảnh quân đội Pháp còn tổ chức các buổi chiếu phim ở các vùng nông thôn, thành thị, biên giới, tuyên truyền cho sức mạnh của người Pháp, vận động dân thuộc địa đi lính sang Pháp, mua công trái đóng góp cho nước Pháp tiến hành chiến tranh.
=== Phim truyện đầu tiên ===
Bộ phim truyện đầu tiên là Kim Vân Kiều do Công ty Chiếu bóng Đông Dương thực hiện năm 1923. Tác phẩm của Nguyễn Du được đưa lên màn bạc với diễn viên là các đào kép tuồng của ban Quảng Lạc, Hà Nội. Phim dài 1.500 m với phần ngoại cảnh được quay ở các vùng phụ cận Hà Nội và làm hậu kỳ tại Pháp. Kim Vân Kiều mắc phải nhiều sai lầm về nội dung, phần diễn xuất cũng chẳng có gì khác hơn hát trên sân khấu, đào kép thì ăn mặc và cử chỉ như hát tuồng.
Phim Kim Vân Kiều công chiếu lần đầu với một số khán giả hạn chế và bị phần lớn báo chí khi đó chỉ trích. Tờ Hữu Thanh 15 tháng 3 năm 1924, viết: "Hồi 4 giờ rưỡi hôm 14 Mars (tháng 3) này, Hội Indochine Film có đem chớp thử Kim Vân Kiều tại nhà Cinéma Palace phố Tràng Tiền. Hôm ấy là hôm chớp thử nên chỉ mới có mấy nhà văn chương và mấy nhà báo Tây, Nam đến xem mà thôi". Ngày 15 tháng 3 năm 1924, tờ Trung Văn: "Số là lần này là lần thứ nhất mới có một bản chớp bóng dùng một sự tích An Nam, dùng con hát An Nam đóng, lấy những nơi thắng cảnh tự nhiên của An Nam làm cảnh trí, là lần đầu. Cái nghề chớp bóng xưa nay người An Nam chúng ta chưa từng biết; các phương pháp, các lề lối đều là phải tin cấp ở nhà chuyên môn Tây, người ta bảo thế nào là phải thì cứ thế mà làm. Những lẽ mình bàn góp vào cho hợp với sự tích, hợp với phong tục An Nam ta, thì cũng phải để tùy nhà chuyên môn người ta lượng nghĩ mà châm chước mà thôi, chứ mình không bắt buộc được người ta phải theo ý mình." Đông Pháp Thời Báo số ra ngày 24.9.1924 chê rằng: "Trong bản chớp bóng có ba nhân vật quan trọng là Thúy Kiều, Kim Trọng và Hoạn Thư. Vai Kim Trọng thì chẳng khác gì một thằng ngốc, diện mạo chẳng ra chi, thái độ lại khả bỉ làm sao chẳng khác chi cái thái độ của mấy anh bôi nhọ mặt ở rạp Quảng Lạc. Nhất là lúc đi tìm nhà trọ... Đến lúc đối diện với Kiều coi thái độ chàng Kim đối với nàng Kiều chả khác gì cái tư cách một bác lính "chào mào" ngồi lần khân với một gái giang hồ... Tóm lại, cuộc chớp bóng vừa rồi thiệt không có giá trị gì, chả lột được đôi chút tinh thần Truyện Kiều, chớp bóng có lẽ lại làm giảm mất cái chân giá trị đối với thế giới...".
Sau thất bại của Kim Vân Kiều, năm 1925 IFEC tiếp tục thực hiện cuốn phim hài ngắn là Toufou có độ dài 600 m. Vai chính Toufou do một diễn viên người Việt lai Trung Quốc tên Léon Chang đóng. Phim nhại theo cách diễn xuất của Vua hề Charlie Chaplin và bị báo chí lẫn khán giả chỉ trích.
Không nản lòng, IFEC cố gắng làm một bộ phim dài về Việt Nam. Đó là phim Huyền thoại bà Đế[2] năm 1927 dài 1.000 m. Phim do Paul Numier viết kịch bản dựa theo một câu chuyện dân gian nói về một cô gái bị cha mẹ, họ hàng nghi ngờ là hư hỏng nên buộc phải chết, sau đó được giải oan và dân làng lập miếu thời gọi là Bà Đế. Đạo diễn bộ phim là Georges Specht[3], còn vai chính một cô gái Pháp lai đảm nhiệm, các diễn viên Việt chỉ đóng vai phụ. Bộ phim này tiếp tục thất bại, vai chính bị chê là lố lăng, nội dung nhiều sai lạc ngớ ngẩn. Dù được gửi sang trình chiếu ở Pháp, Huyền thoại bà Đế vẫn thua lỗ về doanh thu.
Sau thất bại của ba phim liên tiếp, Công ty Phim và Chiếu bóng Ðông Dương thôi không nghĩ đến chuyện làm phim nữa.
=== Bộ phim đầu tiên của người Việt ===
Năm 1924, ông Nguyễn Lan Hương, chủ tiệm ảnh Hương Ký ở Hà Nội, mời một chuyên viên người Pháp về dạy cho mình rồi thực hiện bộ phim hài Đồng tiền kẽm tậu được ngựa. Bộ phim dài 6 phút, phỏng theo tác phẩm La laitière et le pot au lait (Cô gái và bình sữa), truyện ngụ ngôn của La Fontaine. Phim thứ hai của Hương Ký cũng là phim hài với tựa phim là Cả Lố. Nhưng phim đang quay dở dang lại phải bỏ, vì có sự bất đồng giữa Hương Ký và diễn viên đóng phim. Sau đó, Hương Ký còn quay phim tài liệu Ninh Lăng dài 2.000 m về đám tang vua Khải Định. Tiếp đó là phim Tấn tôn đức Bảo Đại, dài 800 m, về lễ đăng quang Hoàng đế Bảo Đại. Tuy được hoan nghênh, nhưng vì không có thị trường nên không đủ bù đắp vào số vốn đã bỏ ra thực hiện phim. Phim chiếu ở Hà Nội được 27 ngày, doanh thu khoảng 5.000 đồng tiền Đông Dương, trong khi chi phí sản xuất gần 30.000 đồng[4].
Nhờ gây được tiếng vang, Nguyễn Lan Hương được Tỉnh trưởng tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đặt hàng làm hai phim phóng sự quay tại Trung Quốc. Một trong hai phim là Đám tang tướng Đường Kế Nghiêu, năm 1929. Nhưng sau đó không thấy ông Nguyễn Lan Hương làm phim tiếp, mà trở về với nghề nhiếp ảnh của mình. Có những ý kiến cho rằng lý do là vì tác động của người Pháp, họ không muốn một hãng phim Việt Nam thành công trong khi họ liên tục gặp thất bại. Hãng phim Hương Ký biến mất sau vài năm tồn tại. Từ đó, hoạt động sản xuất phim của người Việt Nam ngưng hoạt động suốt 7 năm liền từ 1930 đến 1936.
=== Phim nói ===
Những năm cuối thập niên 1930, Việt Nam hình thành một lớp trí thức mới, tiếp thu văn hóa Pháp. Nhiều phong trào văn học, sân khấu, âm nhạc nở rộ. Từ cuối 1936, nhiều nhóm thanh niên có ý định làm phim, bắt đầu cho những phim nói đầu tiên của Việt Nam.
An Nam Nghệ sĩ đoàn do một số thanh niên yêu điện ảnh thành lập. Họ tự học điện ảnh qua sách vở đặt mua từ bên Pháp. Đầu năm 1937, một thương gia người Hoa giàu có ở Hải Phòng tên Trịnh Lâm Ký đã tiếp xúc với An Nam Nghệ sĩ đoàn, bàn việc đưa một đoàn diễn viên Việt Nam sang Hồng Kông quay phim. Nhưng việc không thành vì xảy ra cuộc chiến Trung-Nhật. An Nam Nghệ sĩ đoàn tiếp tục vận động những người giàu có ở Hà Nội bỏ tiền ra làm phim, nhưng không có kết quả.
Cuối tháng 11 năm 1937, An Nam Nghệ sĩ đoàn ký được một hơp đồng làm phim với Công ty điện ảnh Nam Trung hoa (The South China Motion Pictures Co.) để sản xuất bộ phim truyện dài Cánh đồng ma. Kịch bản phim Cánh đồng ma do Đàm Quang Thiện viết, bút danh trên phim là Nguyễn Văn Nam. Đàm Quang Thiện vốn là một sinh viên Y khoa, muốn qua kịch bản chứng minh thuyết di truyền trong y học, nhưng Công ty điện ảnh Nam Trung Hoa cùng đạo diễn người Trung Quốc Trần Phì đã tự ý sửa nội dung kịch bản, biến nó thành một phim trinh thám với nhiều máu và đàn bà. Các nghệ sĩ Việt Nam phản đối nhưng không kết quả, phải diễn theo những nội dung không có từ trước trong kịch bản. Thực hiện trong 13 ngày, Cánh đồng ma hoàn thành giai đoạn quay vào ngày 30 tháng 1 năm 1938. Sau Cánh đồng ma, 6 diễn viên người Việt ở lại Hồng Kông để quay tiếp Trận phong ba, một phim Hồng Kông nhưng nói về một người Việt. Trận phong ba được gấp rút hoàn thành và công chiếu trước Cánh đồng ma nhưng không thành công, bị khán giả la ó. Chiếu sau Trận phong ba một tháng, tháng 7 năm 1938, Cánh đồng ma ra mắt và cũng bị dư luận và báo chí chê trách. Trong đoàn làm phim Việt Nam sang Hồng Kông khi đó có nhà văn Nguyễn Tuân, ông đóng một vai rất phụ trong Cách đồng ma và khi về viết bút ký Một chuyến đi[5].
Sau Cánh đồng ma, các nghệ sĩ trong An Nam Nghệ sĩ đoàn còn tham gia hai phim truyện nói tiếng Pháp do Hãng Franco Film thực hiện tại Việt Nam rồi không tiếp tục hoạt động nữa vì không có ai dám bỏ vốn ra làm phim tiếp. An Nam Nghệ sĩ đoàn chỉ tồn tại trong 2 năm, họ được ghi nhận như những người Việt Nam đầu tiên hợp tác làm phim với nước ngoài.
Cuối năm 1937, chủ hãng đĩa hát Asia là Nguyễn Văn Đinh đã cho ra đời Hãng phim châu Á (Asia Film) tại Sài Gòn. Ông bỏ tiền mua máy móc thiết bị từ bên Pháp về để sản xuất phim có tiếng cỡ 35 mm đầu tiên tại Việt Nam. Đầu năm 1938, hãng Asia Film khởi quay bộ phim đen trắng 35 mm Trọn với tình có độ dài 90 phút. Đạo diễn là Nguyễn Phương Danh, tức Tám Danh xuất thân từ nghệ sĩ sân khấu cải lương. Kịch bản, quay phim và dựng phim do giám đốc hãng là Nguyễn Văn Đinh thực hiện. Phim được quay và làm hậu kỳ hoàn toàn tại Việt Nam do các chuyên viên kỹ thuật Việt Nam đảm nhiệm mà lực lượng nồng cốt là các kỹ thuật viên của hãng đĩa Asia. Tuy không thành công như mong đợi, nhưng khi tung ra chiếu vào đầu năm 1939, Trọn với tình cũng thu hút được người xem vì đây là một bộ phim nói 35 mm đầu tiên tại Việt Nam, do người Việt Nam sản xuất.
Sau Trọn với tình, Nguyễn Văn Đinh còn cho ra tiếp ba phim nữa do mình tự viết kịch bản, tự đạo diễn, tự quay phim, dựng phim. Đó là Cô Nga dạo thị thành (1939), Khúc khải hoàn và Toét sợ ma (1940). Nghệ thuật và kỹ thuật của cả 3 phim đều không hơn gì Trọn với tình. Từ năm 1940, hãng phim châu Á ngừng hoạt động cho đến thập niên 1960 mới hoạt động trở lại tại Sài Gòn.
Năm 1939, một hãng phim mới ra đời nữa tại Sài Gòn là hãng Việt Nam Phim với bộ phim truyện ra mắt có tên là Một buổi chiều trên sông Cửu Long do Nguyễn Tấn Giầu viết kịch bản, đạo diễn, quay phim. Phim được quay 16 mm, có độ dài 90 phút với âm thanh ngoài phim. Nhạc, lời, tiếng động được thu vào đĩa, khi chiếu được bật lên cùng hình ảnh. Một buổi chiều trên sông Cửu Long chỉ ra mắt được vài buổi ở Sài Gòn và Mỹ Tho. Cuối năm 1939, Nguyễn Tấn Giầu lại bắt tay làm tiếp phim truyện hài Lão thầy pháp râu đỏ và phim tài liệu Đèo Ngang tức cảnh[6]. Cả hai phim này cũng chết yểu như Một buổi chiều trên sông Cửu Long.
Sang năm 1940, quân Nhật tiến vào Đông Dương, người Việt Nam không còn ai đứng ra làm phim. Các rạp chỉ còn chiếu chủ yếu phim Nhật và các nước đồng minh của Nhật.
== Giai đoạn 1945-1954 ==
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Tuy kinh tế Việt Nam khi đó kiệt quệ và vừa trải qua nạn đói năm 1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam vẫn xây dựng bộ phận Điện ảnh và Nhiếp ảnh thuộc Bộ Thông tin - Tuyên truyền. Hoạt động chủ yếu của bộ phận này là tổ chức đoàn chiếu phim lưu động chiếu ở những nơi công cộng và lập toa xe Điện ảnh đi chiếu phim dọc Quốc lộ 1 từ Bắc vào Nam với một máy chiếu Débri 16 mm và hai bộ phim tài liệu về phái đoàn Phạm Văn Đồng tại Pháp do Việt kiều gửi về. Thời gian này tại Pháp, họa sĩ, nhà quay phim Mai Trung Thứ cùng các Việt kiều khác tổ chức nhóm điện ảnh Sao Vàng, quay được nhiều phim tài liệu: Hồ Chủ tịch tại Pháp, Hội nghị Fontainebleau, Sinh hoạt của 25.000 Việt kiều tại Pháp. Trong nước các nhà làm phim cũng ghi được những phim lịch sử như Hồ Chủ tịch từ Pháp trở về (1946), Trận đánh tại Ô Cầu Dền (1946)...
Sau khi cuộc chiến Việt - Pháp bùng nổ, một số nhà làm phim Cách mạng ở cả miền Nam và miền Bắc tiếp tục thực hiện được những phim tài liệu: Trận Mộc Hóa (1948), Trận Đông Khê (1950), Chiến Thắng Tây Bắc (1952)... Trong đó, phim Trận Mộc Hóa do Khu 8 ở miền Nam thực hiện, được xem là phim đầu tiên của nền Điện ảnh Cách mạng, đã được đem chiếu tại Liên hoan Thanh niên thế giới New Delhi, Ấn Độ năm 1950[7].
Ngày 15 tháng 3 năm 1953, trên chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 147/SL thành lập Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam. Những hoạt động của các nhà làm phim điện ảnh Cách mạng thời kỳ này chỉ dừng lại ở thể loại phim tài liệu ngắn, như Giữ làng giữ nước quay năm 1953, Điện Biên Phủ năm 1954.
Tại các thành thị nơi vẫn thuộc quyền kiểm soát của Pháp, mạng lưới các rạp chiếu bóng do người Pháp và Hoa kiều làm chủ tiếp tục chiếu các phim của Pháp và các nước Đồng Minh sản xuất. Điện ảnh vẫn được khán giả yêu thích nhưng không có bộ phim Việt Nam nào được thực hiện.
Đến năm 1953, Công ty Kim Chung Điện ảnh sản xuất phim Kiếp hoa. Kịch bản phim do bầu Long, trưởng đoàn cải lương Kim Chung viết, nghệ sĩ Kim Xuân trong vai Ngọc Thủy. Đạo diễn phim là người Hồng Kông do ông Long mời về. Tiền đầu tư cũng là từ doanh thu của đoàn Kim Chung. Kiếp hoa giành được thành công, không chỉ chiếu ở Hà Nội, phim còn vào Sài Gòn rồi các tỉnh miền Tây. Sự thành công về thương mại của Kiếp hoa kéo theo những tư nhân khác bỏ vốn mời đạo diễn và quay phim Hồng Kông về làm phim. Ông Hà Quang Định, chủ gánh cải lương Ái Liên, cùng vợ là Ái Liên thực hiện phim Nghệ thuật và hạnh phúc và Phạm Công - Cúc Hoa. Những diễn viên thời kỳ này đa phần xuất phát từ các đoàn hát hoặc ca sĩ như Phùng Há, Ái Liên, Kim Chung, Kim Xuân, Bích Hợp...
== Giai đoạn 1954-1975 ==
Hiệp định Genève năm 1954 chia Việt Nam thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam. Tại miền Bắc, với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, điện ảnh được Nhà nước cấp kinh phí sản xuất những bộ phim mang tính tuyên truyền, được gọi là điện ảnh Cách mạng. Những bộ phim này được mang tới các liên hoan phim ở những nước xã hội chủ nghĩa và đã giành được nhiều thành công. Ở miền Nam, hình thành một thị trường điện ảnh với nhiều hãng phim tư nhân. Thị trường này, có thời kỳ suy thoái, có giai đoạn phát triển mạnh mẽ đã sản xuất các bộ phim thuộc nhiều thể loại, đề tài phong phú. Nếu như ở miền Bắc năm 1959 mới xuất hiện bộ phim truyện đầu tiên thì ở miền Nam, điện ảnh đạt tới thời kỳ đỉnh cao ngay từ năm 1957 với nhiều bộ phim được sản xuất, trong đó có phim màu đầu tiên của Việt Nam là phim Lục Vân Tiên[8]. Những đại diện của điện ảnh miền Nam tới tham dự các liên hoan phim ở Châu Á và trong khu vực cũng đã nhận được nhiều giải thưởng.
=== Miền Bắc ===
Sau năm 1954, các nhà làm phim của miền Bắc vẫn tiếp tục với các phim tài liệu. Một vài phim tài liệu ngắn mang tính lịch sử như Hội nghị quân sự Trung Giã, Tù hàng binh dưới chế độ ta, Tiếp quản Thủ đô và các phim thời sự về sinh hoạt của tù binh Âu - Phi, trao trả tù binh ở Tuyên Quang, Việt Trì, Sầm Sơn. Năm 1955, các phim tập trung phản ánh cuộc sống thay đổi sau chiến tranh, chống di cư, chuyển quân tập kết. Từ năm 1956, phim thời sự ra đều hàng tuần. Năm 1959, bộ phim tài liệu Nước về Bắc Hưng Hải của đạo diễn Bùi Đình Hạc đã đạt huy chương vàng ở liên hoàn phim Moskva.
Một phương thức để phổ biến điện ảnh khi đó là các buổi chiếu bóng lưu động: phim được chiếu ở một khu đất trống với một màn ảnh được dựng lên, máy chiếu được chạy nhờ máy phát điện. Nhiều đơn vị chiếu bóng được thành lập tới các vùng nông thôn và cả thành thị phục vụ khán giả. Năm 1954 khi cuộc chiến Việt-Pháp kết thúc, toàn miền Bắc có 26 rạp và 23 đội chiếu bóng lưu động. Năm 1955 tăng lên 37 rạp và 37 đội chiếu bóng. Năm 1963, 46 rạp và 11 bãi chiếu phim ngoài trời, 269 đội chiếu bóng phục vụ 112.804.000 lượt người xem. Năm 1964 số lượng tăng lên tới 48 rạp và 11 bãi chiếu phim và 277 đội chiếu bóng nhưng số lượt người xem giảm xuống còn 77.414.720. Hoa Kỳ bắt đầu mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, vì lý do an ninh các đội chiếu bóng và bãi chiếu bóng không tập trung đông người nữa.
Năm 1956, tổ chức điện ảnh được tách riêng làm hai bộ phận: Xưởng phim Việt Nam và Quốc doanh phát hành phim và chiếu bóng Việt Nam. Cũng trong thời gian này, Cục Điện ảnh được thành lập. Năm 1957 báo Điện ảnh xuất hiện. Đến năm 1959, Trường Điện ảnh Việt Nam, Nhà máy cơ khí điện ảnh, Xưởng phim Hoạt hoạ và búp bê Việt Nam, Xưởng phim Thời sự, tài liệu Trung ương lần lượt ra đời.
Một số hoạt động văn nghệ khác được coi như bước chuẩn bị cho phim truyện. Phan Nghiêm, từ Việt Bắc về Hà Nội đã cải biên, quay và thu thanh tại chỗ vở kịch Lòng dân bằng phim 16 mm, sau đó hòa âm tại Tiệp Khắc. Xưởng phim Việt Nam cũng đã làm thử một số tiểu phẩm. Đầu tiên, đạo diễn Phạm Kỳ Nam, quay phim Trần Thịnh cùng các diễn viên Tuệ Minh, Hoà Tâm, đã dựng và quay tiểu phẩm về Võ Thị Sáu. Tiểu phẩm thứ hai dựa theo truyện ngắn Thư nhà của nhà văn Hồ Phương. Tiêu phẩm này được mang tên Người chiến sĩ (còn có tên khác là Cô lái đò bến Chanh), đạo diễn Trần Công, quay phim Khương Mễ cùng các diễn viên Phi Nga, Huy Công, Cam Ly, Khang Hy. Tiểu phẩm thứ ba có tên Nhựa sống nói về hoạt động của học sinh sinh viên nội thành thời gian thuộc quyền kiểm soát của Pháp. Đạo diễn Phạm Kỳ Nam, quay phim Thẩm Võ Hoàng. Các vai chính do Bích Vân, Trần Phương và Tự Huy đóng.
Năm 1958, đạo diễn Mai Lộc làm bộ phim Biển động. Kịch bản do soạn giả cải lương Ngọc Cung viết, nội dung về cuộc khởi nghĩa thất bại ở Hòn Khoai, Cà Mau năm 1940. Phim hoàn thành nhưng khi duyệt hòa âm thì không được thông qua. Trong cuốn sách Điện ảnh Việt Nam thuở ban đầu đạo diễn Mai Lộc viết lại: "Phim không được thông qua vì nội dung phim không phù hợp với đường lối chính trị lúc bấy giờ, là đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, mà phim lại mô tả một cuộc nổi dậy thất bại tại miền Nam. Vì thế bộ phim truyện đầu tay của chúng tôi đã thất bại...". Một số kịch bản phim truyện khác cũng đã được viết, nhưng chưa kịch bản nào được dựng thành phim.
==== Giai đoạn 1959-1965 ====
Năm 1959 được coi là điểm mốc với sự ra đời của bộ phim truyện điện ảnh Cách mạng đầu tiên: Chung một dòng sông.
Từ năm 1958 một bộ phim truyện đã được triển khai. Kịch bản đầu tiên mang tên Tình không giới tuyến, của tác giả Cao Đình Báu viết từ đầu năm 1957, nói về mối tình bị chia cắt của hai nhân vật Hoài và Việt sống trên đôi bờ sông Bến Hải. Ban đầu Tình không giới tuyến chỉ là một cốt truyện sơ lược. Sau khi được góp ý kiến, Cao Đình Báu và Đào Xuân Tùng đã sửa chữa và hoàn chỉnh kịch bản đổi tên thành Chung một dòng sông.
Cốt truyện Chung một dòng sông đơn giản, nhưng đề cập đến vấn đề thời sự khi đó. Theo hiệp định Genève, sông Bến Hải trở thành giới tuyến tạm thời phân chia hai miền Nam Bắc. Hai nhân vật chính Vận và Hoài yêu nhau nhưng bị dòng sông chia cắt. Đạo diễn phim là Nguyễn Hồng Nghi và Phạm Hiếu Dân (tức Phạm Kỳ Nam), quay phim Nguyễn Đắc, họa sĩ thiết kế Đào Đức. Chung một dòng sông được công chiếu ngày 20 tháng 7 năm 1959 đã giành được nhiều thiện cảm của khán giả.
Năm 1960 cũng là năm đánh dấu của phim hoạt hình với bộ phim đầu tiên Đáng đời thằng cáo. Tiếp đó đến các phim Chiếc vòng bạc, Chú thỏ đi học... được sản xuất.
Sau Chung một dòng sông, các nhà làm phim Cách mạng tiếp tục thực hiện các bộ phim truyện khác. Đề tài lớn nhất trong giai đoạn này là cuộc Chiến tranh Việt-Pháp vừa kết thúc. Từ năm 1959 đến 1964, có 18 bộ phim thì 11 nói về đề tài trên: Vợ chồng A Phủ (1961), Lửa trung tuyến (1961), Chim vành khuyên (1962), Chị Tư Hậu (1963), Kim Đồng (1964)... Ngoài ra, đề tài xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc cũng được đề cập đến trong các phim: Khói trắng (1963), Cô gái nông trường (1960), Vườn cam (1960)... Cho tới tận 1964 thì Chung một dòng sông vẫn là phim duy nhất về đề tài Chiến tranh Việt Nam.
Trong những năm đầu, ngoài Phạm Kỳ Nam từng học đạo diễn ở Học viện Điện ảnh Pháp (Institut des hautes études cinématographiques), các nghệ sĩ còn lại chỉ tự học, làm quen với điện ảnh bằng những phim tài liệu trước đó. Đến năm 1962 mới xuất hiện lớp nghệ sĩ thuộc khóa đạo diễn đầu tiên của trường Điện ảnh Việt Nam. Một khó khăn khác là sự yếu kém của kịch bản, lý do văn học Cách mạng thời kỳ này cũng rất yếu, với phần lớn là truyện ngắn, rất ít truyện dài hay tiểu thuyết. Trong những phim thời kỳ đó, Vợ chồng A Phủ làm từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Tô Hoài, Chị Tư Hậu, Chim vành khuyên được xem là thành công.
Về diễn viên, ngoài những nghệ sĩ sân khấu chuyển sang điện ảnh như Phi Nga, Danh Tấn, Tuệ Minh, Trung Tín, Văn Phức, Mai Châu, Thu An... giai đoạn này đã xuất hiện những gương mặt mới sẽ là trụ cột của điện ảnh Cách mạng giai đoạn sau: Trà Giang, Lâm Tới, Đức Hoàn...
==== Giai đoạn 1965-1975 ====
Từ cuối năm 1964, Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, Chiến tranh Việt Nam bước vào thời kỳ khốc liệt nhất. Điện ảnh miền Bắc với nhiệm vụ tuyên truyền bắt đầu quay lại đề tài về cuộc chiến đang diễn ra. Thời kỳ này đội ngũ làm phim đã đa dạng và trưởng thành hơn. Ngoài lớp nghệ sĩ thứ nhất, xuất hiện lớp nghệ sĩ thứ hai là những người được đào tạo tại trường Điện ảnh Việt Nam khóa đầu tiên. Thế hệ nghệ sĩ thứ ba là những nhà làm phim học ở Đại học điện ảnh Moskva về nước năm 1962.
Giai đoạn này, phim tài liệu vẫn đóng vai trò quan trọng. Một số phim đã đạt giải thưởng tại các liên hoan phim quốc tế như: Lũy thép Vĩnh Linh của đạo diễn Ngọc Quỳnh đạt huy chương vàng Liên hoan phim Moskva năm 1971, Đầu sóng ngọn gió của đạo diễn Ngọc Quỳnh, Du kích Củ Chi của đạo diễn Trần Nhu, Đường ra phía trước của đạo diễn Hồng Sến cũng thành công tại các kỳ Liên hoan phim Moskva. Những người dân quê tôi của đạo diễn Trần Văn Thủy đoạt giải Bồ Câu Bạc tại Liên hoan phim Quốc tế Leipzig năm 1970...
Ngành phim hoạt hình cũng giành được hai giải thưởng quốc tế. Nổi trội là các phim Mèo con, Chuyện ông Gióng, Con sáo biết nói, Kăm Phạ - Nàng Ngà, Con khỉ lạc loài.
Nối gót Chung một dòng sông, năm 1965 Hãng phim truyện Việt Nam sản xuất phim Trên vĩ tuyến 17 với hai đạo diễn Lý Thái Bảo và Nhất Hiên. Phim bị đánh giá là đơn giản, không để lại dấu ấn gì. Năm 1966, hãng thực hiện phim Nổi gió dựa trên vở kịch cùng tên của tác giả Đào Hồng Cẩm. Đạo diễn bộ phim là Huy Thành với quay phim Nguyễn Đăng Bẩy. Đây là bộ phim đầu tiên của miền Bắc nói về cuộc chiến tranh với bối cảnh miền Nam. Nổi gió còn giới thiệu cho khán giả hai tài năng diễn xuất là Thế Anh, trong vai Trung úy Phương và Thụy Vân, vai chị Vân.
Năm 1972, đạo diễn Hải Ninh thực hiện bộ phim Vĩ tuyến 17 ngày và đêm. Đây là bộ phim truyện dài 2 tập đầu tiên của Việt Nam do Hãng phim truyện Việt Nam sản xuất. Vai chính Dịu trong phim do diễn viên Trà Giang thể hiện. Vĩ tuyến 17 ngày và đêm đã giành được giải của Hội đồng hoà bình Thế giới Liên hoan phim Quốc tế Moskva năm 1973. Cũng trong liên hoan phim này, Trà Giang đạt giải nữ diễn viên xuất sắc. Năm 1974, đạo diễn Hải Ninh tiếp tục có một phim đáng chú ý khác là Em bé Hà Nội. Ngoài hai diễn viên nổi tiếng là Trà Giang và Thế Anh, vai em bé Hà Nội do diễn viên Lan Hương diễn xuất. Bộ phim được xem là đã khắc họa thành công đời sống của Hà Nội trong những ngày chịu sự tấn công của Không quân Hoa Kỳ.
Một số bộ phim đáng chú ý khác của giai đoạn này có thể kể đến: Đến hẹn lại lên (1974) của đạo diễn Trần Vũ, Tiền tuyến gọi (1969) của Phạm Kỳ Nam. Ngoài những bộ phim dài, điện ảnh miền Bắc còn sản xuất các bộ phim ngắn với mục đích tuyền truyền như Cô giáo Hạnh (1967), Biển gọi (1967), Một chiến công (1968), Em Phước (1969), Bức tranh để lại (1970), Chị Nhung (1970)...
Từ năm 1970, Liên hoan phim Việt Nam bắt đầu được tổ chức và định kỳ 2 hoặc 3 năm một lần. Lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội, giải Bông sen vàng đã được tặng cho khoảng 60 tác phẩm điện ảnh[9], trong đó có Nổi gió, Người chiến sĩ trẻ và Nguyễn Văn Trỗi. Lần thứ hai được tổ chức năm 1973, có gần 40 tác phẩm được Bông sen vàng.
Trong giai đoạn 1965 đến 1975, tổng cộng điện ảnh miền Bắc đã sản xuất 49 phim truyện.
=== Miền Nam ===
Ở miền Nam Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa, với thị trường tự do nên các hãng phim chủ yếu sản xuất phim thương mại phục vụ khán giả với nhiều thể loại như hành động, tình cảm, tâm lý xã hội, kinh dị...
Khi người Mỹ chính thức tham chiến vào Chiến tranh Việt Nam, cùng với quân đội họ đã mang theo cả văn hóa Âu Mỹ và những công nghệ kỹ thuật mới vào Việt Nam. Điều này ảnh hưởng đến văn hóa nói chung trong đó có điện ảnh. Một yếu tố khác có ảnh hưởng tới điện ảnh của miền Nam thời kỳ này là sự phát triển mạnh của cải lương những năm cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960. Rất nhiều nghệ sĩ điện ảnh xuất thân từ cải lương. Từ năm 1954 tới 1975, có những giai đoạn hoàng kim, như năm 1957, các hãng phim tư nhân điện ảnh miền Nam sản xuất 37 phim.
Vào đầu thập niên 1960 có 177 rạp chiếu bóng, trong đó 61 rạp ở Sài Gòn, tổng cộng là 83.000 chỗ ngồi. Các rạp thường trình chiếu phim dưới hai hạng:
thường lệ: chiếu phim theo suất, có ấn định giờ. Khán giả thường phải đợi mua vé vào cùng một lượt và ra cùng một lượt;
thường trực: chiếu một cuốn phim liên tục, khi vừa hết thì sẽ chiếu lại từ đầu. Khán giả có thể đến bất cứ lúc nào để xem, tuy không nhất thiết sẽ được theo dõi phim từ đầu nhưng nếu đợi sẽ coi trọn cuốn phim.
==== Giai đoạn 1954-1960 ====
Năm 1955, Phòng Điện ảnh được thành lập. Đến năm 1959 Trung tâm Quốc gia Điện ảnh thuộc Nha Thông tin ra đời, với một đội ngũ những người làm phim gồm 19 đạo diễn, 13 quay phim, 5 chuyên viên thu thanh và 2 chuyên viên dựng phim. Đa số những người này được cố vấn Mỹ dạy tại chỗ hoặc đi tu nghiệp ở nước ngoài trong hai năm từ 1957 đến 1959. Bên cạnh đó còn mời chuyên gia của Philippines đến Sài Gòn hợp tác với một số hãng tư nhân thực hiện những phim tuyên truyền cho chế độ. Trung tâm Điện ảnh chính là nơi đào tạo những chuyên viên điện ảnh đầu tiên của miền Nam.
Điện ảnh khi đó chủ yếu dành cho giới thành thị. Rạp chiếu bóng, mỗi ngày thường chiếu theo suất, thứ bảy có suất chiều, chủ nhật thêm suất sáng. Để thu hút khán giả, các rạp thường mở nhạc các ca sĩ Paul Anka, Andy William, Elvis Presley, Patti Page... Giới trí thức thành thị khi ấy bị ảnh hưởng bởi lối sống Pháp. Các phim tình cảm Pháp thịnh hành, rồi đến những phim miền Tây của Mỹ, phim ca nhạc Ấn Độ.
Giai đoạn 1955 đến 1958, nhiều hãng phim tư nhân được thành lập, tập trung sản xuất loại phim tâm lý xã hội, cổ tích và các đề tài gia đình, truyền thuyết nặng về giải trí. Đây là giai đoạn nở rộ phong trào làm phim cải lương, thần thoại, truyền thuyết, với nhiều bộ phim khơi gợi lòng tự hào của người Việt trong việc ủng hộ phim do người Việt làm ra. Nổi bật nhất trong phong trào làm phim này là các hãng Việt Thanh thành lập năm 1955, Văn Thế năm 1956, Tân Việt điện ảnh năm 1957 do ông Bùi Diễm làm giám đốc. Ngoài ra còn có các hãng phim Trường Sơn, Đông Phương, Liên Hiệp, Viễn Đông, Alpha, Hương Bình...
Các hãng tư nhân sản xuất phim mạnh mẽ, giới thiệu với công chúng một thế hệ diễn viên mới như Kim Cương phim Lòng nhân đạo, Ngọc Bồ Đề; Trang Thiên Kim phim Mục Liên thanh đề, Trương Chi; Lê Thị Nam phim Đồng ruộng miền Nam; Kim Lan phim Người mẹ hiền; Thu Trang phim Lục Vân Tiên; Mai Trâm phim Chúng tôi muốn sống; Khánh Ngọc phim Ràng buộc, Ánh sáng miền Nam; Xuân Dung phim Kim trai thời loạn; Kim Hoàng phim Tiền thân Đức Phật Tổ; Thiên Kim phim Huyền Trân công chúa; Túy Phượng phim Thạch Sanh Lý Thông...
Cuối năm 1956, đạo diễn người Mỹ Joseph L. Mankiewicz tới miền Nam Việt Nam thực hiện phim Người Mỹ trầm lặng (The Quiet American, 1958), bộ phim đầu tiên chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của nhà văn Graham Greene. Đạo diễn Vĩnh Noãn của phim Chúng tôi muốn sống cũng được mời hợp tác cho bộ phim này. Nhưng bộ phim không thành công, bị nhận sự phản đối bởi chính Graham Greene. Diễn viên Laurence Oliver, người được chọn ban đầu, cũng ủng hộ nhà văn và từ chối tới Việt Nam tham gia bộ phim.
Năm 1957 là năm điện ảnh miền Nam hoạt động mạnh nhất. Chỉ trong năm 1957, các hãng phim tư nhân đã sản xuất hơn 37 phim. Do điều kiện trong nước yếu kém về mặt kỹ thuật nên đa số những phim trắng đen, 35 mm. Nếu muốn tạo được sự chuẩn mực về kỹ thuật đều phải thâu thanh tại nước ngoài. Thành công nhất về doanh thu giai đoạn này Quan Âm Thị Kính. Một bộ phim ăn khách khác là Kiếp hoa (1953) của hãng Kim Chung với hai diễn viên Kim Chung và Kim Xuân, được xem là phim nội địa hay nhất. Diễn viên nữ số một là Kim Cương, người tham gia nhiều phim nhất những năm 1954 đến 1960.
Dịp Giáng Sinh 1957, phim Người đẹp Bình Dương của hãng phim Mỹ Vân với chiến dịch quảng cáo rầm rộ mang đến cho công chúng ngôi sao tương lai Thẩm Thúy Hằng. Cũng năm 1957, Kiều Chinh lần đầu xuất hiện trong phim Hồi chuông Thiên Mụ của đạo diễn Lê Dân, hãng Tân Việt. Năm 1957 cũng là năm đầu tiên Việt Nam sản xuất phim màu Eastman A Color, với cuốn phim Lục Vân Tiên do Tống Ngọc Hạp và Thu Trang (hoa hậu hội chợ Thị Nghè) sản xuất và giữ vai chính, gây sôi nổi một dạo, báo chí phê bình khá nhiều.
Nhưng đến cuối năm 1957, hoạt động sản xuất phim chững lại. Giai đoạn 1958 đến 1960 là giai đoạn thấp nhất của điện ảnh miền Nam so với đỉnh cao là năm 1960. Con số 39 nhà sản xuất phim chỉ còn 9 hãng hoạt động cầm chừng, mỗi năm sản xuất một hai phim, thiếu vốn, phim lỗ, chính sách thuế... Riêng một điểm sáng là phim Đứa con của biển cả đoạt giải thưởng đặc biệt của Liên hoan phim Berlin 1959[10]. Phim này do Trung tâm Quốc gia Điện ảnh thực hiện. Những phim khác trình chiếu có tính cách phóng sự hơn là truyện gồm có Y phục phụ nữ (tiến trình cải biến y phục cổ truyền của đàn bà Việt), Non nước Hương Bình (phong cảnh đất Thần kinh), Sơn mài Việt-Nam (phim màu), Xuân về (phong tục ngày Tết), Điệu xòe sơn cước (vũ điệu người Thái Bắc Việt), Múa tứ linh, Hát bộ, Điệu hò Miền Trung... Chính phủ dùng những đội chiếu phim lưu động để phổ biến phim ở thành thị lẫn nông thôn. Trong khi đó trên thương trường, báo chí cũng không còn ủng hộ điện ảnh trong nước. Các phim nhập khẩu thao túng thị trường, chiếu trong 120 rạp chiếu bóng tại miền Nam khi ấy. Số lượng phim ngoại nhập vào Sài Gòn từ năm 1954 đến 1960 lên tới 1.850 bộ, trong đó phim Mỹ chiếm tới 85-90%. Vào năm 1962, phim Mỹ chỉ còn đạt được 15,4%, trong khi phim chưởng Hồng Kông và tâm lý xã hội loại "sướt mướt" của Đài Loan lên tới 40,8%. Phim của các nước khác cũng được yêu thích trong thời kỳ này là phim ca nhạc, thần thoại Ấn Độ, phim hiệp sĩ của Nhật Bản.
==== Giai đoạn 1960-1970 ====
Trong giai đoạn khó khăn, vẫn có những người đam mê điện ảnh. Như nhóm Bọn Trẻ của Nguyễn Long và Hoàng Anh Tuấn đã cùng bạn bè góp vốn làm phim. Nguyễn Long với bộ phim dài 100 phút Mưa lạnh hoàng hôn (1961) giới thiệu gương mặt diễn viên Mai Ly. Hoàng Anh Tuấn với phim Trời không muốn sáng. Để cạnh tranh lại với phim Ấn Độ, Hồng Kông... Thái Thúc Nha điện ảnh hóa cải lương với những phim Oan ơi ông Địa (1961), vai chính là Thẩm Thúy Hằng hay Bẽ bàng (1961) với Kim Cương. Nhưng do yếu kém về kỹ thuật và được thực hiện vội vàng, hai phim này cũng bị báo giới chê bai.
Khoảng 1962, 1963 điện ảnh miền Nam bắt đầu hồi sinh trở lại. Nhiều hãng phim mới xuất hiện cùng các dự án làm phim. Thời kỳ này các phim bắt đầu sử dụng kỹ thuât phim màu đơn. Hãng phim Alpha tiên phong với Mưa rừng (1962) có Kim Cương cùng Kiều Chinh. Sau đó là bộ phim tốn kém Đôi mắt người xưa của hãng Liêm Phim, được thực hiện trong ba năm từ 1962 đến 1964. Đây cũng là phim đầu tiên Thanh Nga tham gia, tuy nhiên khánh giả lại biết tới cô với Hai chuyến xe hoa được trình chiếu trước vào 1963.
Đạo diễn Lê Mộng Hoàng cùng kịch sĩ Năm Châu thực hiện Tơ tình do hãng Mỹ Vân sản xuất năm 1963. Tơ tình có sự tham gia của Thẩm Thúy Hằng, La Thoại Tân, Mai Ly và nữ ca sĩ Thanh Thúy. Đây là một bộ phim nặng về âm nhạc, trong phim Thẩm Thúy Hằng trong vai ca sĩ Lệ Trinh. Sau thành công lớn về mặt doanh thu của Tơ tình, hãng Mỹ Vân làm tiếp phim Bóng người đi (1964) do Năm Châu đạo diễn. Phim này Thẩm Thúy Hằng diễn xuất cùng Thành Được, Út Bạch Lan.
Năm 1969, Liên Ảnh Công ty thực hiện bộ phim màu màn ảnh rộng Từ Sài Gòn đến Điện Biên Phủ. Về mặt kỹ thuật đây là bộ phim có những tiến bộ vượt bậc. Ngoài những diễn viên điện ảnh tên tuổi Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Đoàn Châu, phim Từ Sài Gòn đến Điện Biên Phủ còn qui tụ các diện viên và soạn giả cải lương như Lê Khanh, Thanh Cao, Ngọc Điệp, Tư Hề, Văn Lượng. Cũng năm 1969, một bộ phim khác đạt kỷ lúc bán vé là Chiều kỷ niệm. Đây là bộ phim đầu tay của nhóm Thẩm Thúy Hằng với đạo diễn là Lê Mộng Hoàng, lời thoại do nghệ sĩ Năm Châu viết. Phim đen trắng, 35 mm dài 1 giờ 45 phút. Ngoài Thẩm Thúy Hằng, Hùng Cường, phim cũng có sự tham gia của các tên tuổi cải lương Năm Châu, Phùng Há, Bảy Ngọc, Thanh Tú... Chỉ trong tuần lễ công chiếu đầu tiên tại rạp Rex, Chiều kỷ niệm đã thu về 1 triệu đồng. Sau vài tuần, con số doanh thu lên tới 10 triệu.
Vào những năm này, để có nhạc cảnh và ca khúc trên phim, các hãng thường đặt các nhạc sĩ như Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Huỳnh Anh viết. Giọng ca do các ca sĩ như Thái Thanh, Hoài Trung... thể hiện để diễn viên xuất hiện trên phim nhép miệng.
Nhưng phim khác đáng chú ý trong giai đoạn này có thể kể đến: Loạn, Yêu (1964), Dang dở (1965), Giã từ bóng tối (1969), Trai thời loạn (1969)... Ngoài Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Thanh Nga, Kim Cương, điện ảnh còn ghi nhân những tên tuổi Kim Vui, Mộng Tuyền, Thảo Sương, Kim Xuân, Thanh Lan, Thiên Trang, Ngọc Minh... Đạo diễn sung sức nhất thời kỳ này là Lê Mông Hoàng. Năm 1966, tại Đại hội điện ảnh Á Châu lần thứ 13, nữ diễn viên Xuân Dung đã được trao tặng giải thưởng nữ Diễn viên Xuất sắc nhất với vai diễn trong phim Đôi mắt người xưa do hãng Liêm Phim sản xuất. Đây là giải thưởng quốc tế lớn đầu tiên của các diễn viên điện ảnh miền Nam.
==== Giai đoạn 1970-1975 ====
Cuối thập niên 1960 ở miền Nam, trong khi cải lương ngày càng sa sút thì điện ảnh lại phát triển mạnh mẽ, bước vào thời kỳ hoàng kim. Năm 1969 để kích thích ngành điện ảnh, chính phủ tổ chức "Ngày Điện ảnh Việt Nam" với chủ trương rạp chiếu bóng trên toàn quốc chỉ chiếu phim Việt Nam và không thu tiền vé vào ngày hôm đó để chiêu dụ khán giả vào xem. Tại thủ đô Sài Gòn rạp Rex cho trình chiếu lần đầu phim Xin chọn nơi này làm quê hương của đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc. Sự kiện thành công rực rỡ nên từ đó mỗi năm vào ngày 22 Tháng 9 thì lại khai mạc "Ngày điện ảnh Việt Nam". Cũng vào dịp đó Nha Điện ảnh đệ trình ba chính sách mới của chính phủ:
Giúp nhân và phương tiện cho các hãng tư nhân làm phim
Các hãng nhập cảng phim ngoại quốc sẽ được tăng quota nếu sản xuất phim Việt Nam
Nha Điện ảnh sẽ hợp tác với hãng tư nhân nếu phim có đề tài và nội dung thích hợp.
Với hơn 30 hãng phim hoạt động, kinh doanh điện ảnh thực sự có lãi. Số lượng phim tăng lên nhanh chóng: năm 1970 có 6 phim, năm 1971 có 24 phim và đỉnh cao là năm 1972 với 29 phim. Các hãng phim đã nhìn xa trông rộng, biết tìm đối tác, hợp tác cùng các nước trong khu vực để sản xuất. Nếu như trước đây, các hãng phim muốn nhập phim nước ngoài thì phải tự mình sản xuất một phim trong một năm, thì từ năm 1969, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho phép nhập phim tự do. Mặc dù vậy, việc làm phim trong nước với nhiều dự án vấn phát triển mạnh mẽ.
Ngoài các diễn viên cải lương, điện ảnh còn chứng kiến sự lấn sân của các diễn viên kịch, ca sĩ như: Bạch Tuyết với những phim Như hạt mưa sa, Như giọt sương khuya, Lan và Điệp, Con ma nhà họ Hứa; Băng Châu, Bạch Liên với Men tình mùa hạ, Hoa mới nở; Như Loan với Đời chưa trang điểm; Phương Hồng Ngọc với Nắng chiều, Nàng; Phương Hoài Tâm, Thanh Lan với Tiếng hát học trò, Trường tôi; Trang Thanh Lan với Xa lộ không đèn; Ngọc Đan Thanh với Quái nữ Việt quyền đạo; Mai Lệ Huyền với Gác chuông nhà thờ, Ly rượu mừng; Tuyết Lan, Quốc Dũng với Trường tôi; Kiều Phượng Loan, Bạch Lan Thanh...
Từ năm 1970, điện ảnh Việt Nam Cộng hòa liên tục cử nhiều đoàn đi tham dự các liên hoan phim quốc tế tại Tây Đức, Ấn Độ, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Campuchia... Được sự quan tâm của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, năm 1970, Giải thưởng Điện ảnh ra đời. Các hãng Mỹ Vân, Cosunam phim, Việt Nam Phim, Giao Chỉ phim... xin phép những dự án xây dựng phim trường. Từ cuối 1969, các phim sản xuất bắt đầu là phim màu, thường được in tráng ở nước ngoài, nhiều nhất là ở Nhật Bản. Chính phủ còn miễn thuế nhập cảng phim nhựa màu, tạo điều kiện cho các nhà làm phim. Liên tiếp trong các năm 1971, 1972, 1973, 1974 ở các kỳ liên hoan phim trong khu vực, Việt Nam Cộng hòa đều gặt hái được những giải thưởng tôn vinh các diễn viên Kiều Chinh, Thanh Nga, Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương...
Giai đoạn này, đề tài làm phim cũng đa dạng hơn, phục vụ thị hiếu đông đảo khán giả. Con mà nhà họ Hứa sản xuất trong hai năm 1972 và 1973 là bộ phim kinh dị đầu tiên của Việt Nam. Phim của Dạ Lý Hương phim, đạo diễn Lê Hoàng Hoa với các diễn viên Năm Châu, Bạch Tuyết, Thanh Tú, Dũng Thanh Lâm, Tư Rọm... đã thắng lớn về doanh thu. Những bộ phim hài như Năm vua hề về làng (1974), Tứ quái Sài Gòn (1973), Sợ vợ mới anh hùng (1974) đều là những phim ăn khách, thu hút khán giả tới rạp. Khi đó điện ảnh võ thuật Hồng Kông đang có sức hấp dẫn mạnh mẽ nên một số nhà làm phim cũng đi theo hướng này. Tiêu biểu như Long hổ sát đấu (1972), Hận thù, Quái nữ Việt quyền đạo.
Một số tác phẩm văn học cũng được các nhà làm phim đưa lên màn ảnh như Trống mái (1971), Gánh hàng hoa (1971) dựa theo tiểu thuyết của Tự Lực văn đoàn, Điệu ru nước mắt (1971), Vết thù trên lưng ngựa hoang (1971) của nhà văn Duyên Anh, Chân trời tím (1970) của Văn Quang. Một đề tài hấp dẫn nữa là khai thác thế giới giang hồ, vũ nữ với những phim Sau giờ giới nghiêm (1972), Xa lộ không đèn (1972), Vết thù trên lưng ngựa hoang (1971), Mãnh lực đồng tiền (1971)... Cùng với đó phản ánh đời sống của giới trẻ thành thị Loan mắt nhung (1970), Hoa mới nở (1974), Hè 72, Anh yêu em...
Loan mắt nhung năm 1970 của đạo diễn Lê Dân được xem là bộ phim chân thực hấp dẫn phản ánh đúng một bộ phận thanh thiếu niên Sài Gòn thời ấy. Phim dài 1 giờ 45 phút, phỏng theo truyện xã hội đen của Nguyễn Thụy Long, người đã sống một thời gian dài cùng du dãng và gái điếm. Với các diễn viên Huỳnh Thanh Trà trong vai Loan mắt nhung, Thanh Nga trong vai Xuân, người yêu của Loan mắt nhung, Ngọc Phu trong vai Thanh Italy, Kim Xuân vai Dung... phim có nhiều tình tiết éo le, những cảnh vũ trường ăn chơi của Sài Gòn.
Cuối năm 1969, đầu 1970, Liên Ảnh công ty bỏ ra một số tiền khổng lồ 14 triệu đồng cho Lê Hoàng Hoa làm phim Chân trời tím dựa theo tiểu thuyết của Văn Quang. Ban đầu Liên Ảnh công ty mời Kiều Chinh đóng vai Liên và đạo diễn được chọn là Hoàng Vĩnh Lộc, nhưng do thời gian chuẩn bị quá lâu nên hai nhân vật này bận phim khác đã từ chối. Về sau được thực hiện với các diễn viên Hùng Cường vai Phi, Thanh Lan vai Phượng, Kim Vui vai Liên, Ánh Nga vai Loan. Ca khúc chính của bộ phim là nhạc phẩm Nửa hồn thương đau[11] rất nổi tiếng của Phạm Đình Chương. Bộ phim được quay 3 tháng trời, với 100 xe tăng, 45 máy bay trực thăng, 300 xe cơ giới đủ loại, 600 diễn viên chính phụ và đã thu vào 94 triệu đồng[12].
Bên cạnh đó, một số phim ca ngợi hình ảnh người lính quân đội Cộng hòa, tuyên truyền cho chính quyền miền Nam như Người tình không chân dung (1971), Xin nhận nơi này làm quê hương (1968), Người về từ đỉnh núi... Người tình không chân dung của hàng Giao Chỉ phim thực hiện năm 1970 do Hoàng Vĩnh Lộc đạo diễn. Kiều Chinh trong vai chính Mỹ Lan, một phát thanh viên giữ mục Tâm tình chiến sĩ trên đài phát thanh dấn thân vào chiến trường tìm người yêu. Tuy được thực hiện với một kinh phí hạn hẹp, nhưng phim đã đoạt giải chủ đề phim xuất sắc nhất và nữ tài tử chính khả ái nhất tại Đại hội điện ảnh Á Châu lần thứ 17 tổ chức tại Đài Bắc vào ngày 6 tháng 6 năm 1971.
Một vài bộ phim ngoài nội dung rất hay còn có cả nhạc phim rất được ưa chuộng. Chẳng hạn như phim Bão tình(1972)-bộ phim màu đầu tiên của Việt Nam với Kiều Chinh, Hùng Cường,... có bản Bão tình của Hoàng Trọng và Tình nhớ của Trịnh Công Sơn do Khánh Ly hát. Ngoài ra còn có phim Triệu phú bất đắc dĩ với Thanh Việt có bản Mang xuống tuyền đài của Hoàng Trọng đoạt giải thưởng Văn học Nghệ thuật của Việt Nam Cộng Hòa năm 1972-1973 do Khánh Ly thể hiện cũng rất được ưa chuộng.
Cuối năm 1974, hoạt động làm phim vẫn diễn ra sôi động. Lê Hoàng Hoa làm bộ phim kinh dị Giỡn mặt tử thần với Thẩm Thúy Hằng, Phương Uyên. Thẩm Thúy Hằng cũng cùng với đạo diễn Lưu Bạch Đàn lên kế hoạch hợp tác với Nhật Bản quay bộ phim Tình khúc thứ 10, Hòn vọng phu... Ngày Điện ảnh Việt Nam 14 tháng 9 năm 1974, Thái Thúc Nha làm chủ tịch đã phát động phong trào ủng hộ điện ảnh với khẩu hiệu "Người Việt xem phim Việt". Hãng phim Mỹ Vân xây dựng hoàn chỉnh phim trường lớn ở xa lộ Biên Hòa. Dịp tết 1975, màn ảnh Sài Gòn nhộn nhịp với nhiều phim mới được công chiếu: Hải vụ 709, Từ quê ra tỉnh, Nữ quái sợ ma...
Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 chấm dứt nền điện ảnh của miền Nam Việt Nam thời kỳ này. Cho đến tận khi đó, một vài bộ phim như Giỡn mặt tử thần của Đỗ Tiến Đức... vẫn chưa kịp công chiếu.
== Giai đoạn sau 1975 ==
=== Thời kỳ bao cấp ===
Sau năm 1975, miền Bắc và miền Nam thống nhất kéo theo những thay đổi của điện ảnh Việt Nam. Tại Sài Gòn, trước khi được đổi tên, những nhà làm phim miền Bắc được tiếp nhận những trang thiết bị, máy móc kỹ thuật của miền Nam. Họ cùng với những nghệ sĩ của miền Nam như các đạo diễn Lê Mộng Hoàng, Lê Hoàng Hoa... các diễn viên Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương, Nguyễn Chánh Tín, Lý Huỳnh... hợp thành một đội ngũ làm phim đông đảo. Đề tài làm phim cũng đa dạng. Ngoài những phim về Chiến tranh Việt Nam, cũng có những phim nói về đề tài đô thị miền Nam. Trong giai đoạn này, điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong nền điện ảnh Việt Nam.
Xưởng phim Giải phóng - thành lập từ tháng 1 năm 1962 - được mở rộng quy mô, sản xuất nhiều loại hình phim, đổi tên thành Xưởng phim Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Xưởng phim Nguyễn Đình Chiểu được thành lập với tiền thân là hãng phim Alpha của Sài Gòn trước 1975. Cơ quan Phát hành phim và chiếu bóng Giải phóng chuyển thành Chi nhánh Phát hành phim Trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trung tâm tư liệu phim các tỉnh phía Nam được thành lập để quản lý, lưu trữ các phim của điện ảnh miền Nam trước 1975, đến tháng 9 năm 1979 trở thành Cơ sở II của Viện Tư liệu phim Việt Nam - nay là Viện Nghệ thuật và Lưu trữ Điện ảnh.
Bộ phim đầu tiên được ra đời Bên lề 30 - 4. Tiếp đó, Đài truyền hình thành phố thực hiện phim Cô Nhíp (1976) của đạo diễn Khương Mễ. Hãng phim truyện Việt Nam có Ngày lễ thánh do Bạch Diệp biên kịch và đạo diễn với các diễn viên Trà Giang, Như Quỳnh, Tuệ Minh, Trần Phương. Cũng năm 1976, Hãng phim truyện Việt Nam còn thực hiện một bộ phim đáng chú ý khác là Sao tháng tám, đạo diễn Trần Đắc, diễn viên Thanh Tú, Đức Hoàn, Lê Dũng Nhi.
Ngoài 350 rạp chiếu phim, điện ảnh còn được phố biến nhờ 1.400 đội chiếu bóng lưu động. Đề tài chính của điện ảnh Việt Nam giai đoạn này vẫn là cuộc chiến tranh vừa kết thúc. Những bộ phim tiếp theo Mối tình đầu (1977), Mùa gió chướng (1978), Mẹ vắng nhà (1979)... và Cánh đồng hoang (1979) của Xưởng phim Tổng hợp là bộ phim dấu ấn nhất trong thời kỳ này.
Năm 1979, phim Tội lỗi cuối cùng của đạo diễn Trần Phương đã gây được tiếng vang lớn vì thoát khỏi cái bóng của dòng phim cách mạng mà nói về những đề tài xã hội. Cốt truyện phim khá giống phim Vết thù trên lưng ngựa hoang được làm năm 1971 tại miền Nam. Phim còn có bản nhạc rất nổi tiếng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn:Đời gọi em biết bao lần.
Cánh đồng hoang do nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết kịch bản, đạo diễn phim là Nguyễn Hồng Sến. Trước đó hai người đã hợp tác trong Mùa gió chướng, bộ phim đầu tay của Nguyễn Hống Sến trên vai trò đạo diễn, cũng là kịch bản đầu tay của Nguyễn Quang Sáng. Lấy bối cảnh vùng Đồng Tháp Mười, bộ phim phản ánh đời sống của một gia đình trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Hai diễn viên chính của Cánh đồng hoang là Lâm Tới và Thúy An. Cánh đồng hoang đã giành được nhiều giải quan trọng trong Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 5 năm 1980 và Huy chương vàng tại Liên hoan phim Quốc tế Moskva, 1981.
Sang thập niên 1980, đề tài làm phim đã thực sự đa dạng. Đạo diễn Phạm Văn Khoa có hai bộ phim chuyển thể từ tác phẩm văn học, Chị Dậu (1980) từ tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố và Làng Vũ Đại ngày ấy (1983) từ Sống mòn, Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao. Đạo diễn Đặng Nhật Minh cũng đã thực hiện những bộ phim được chú ý, Thị xã trong tầm tay (1982), Bao giờ cho đến tháng Mười (1984) và Cô gái trên sông (1986).
Một tác phẩm điện ảnh dấu ấn trong giai đoạn này là bộ phim dài hơi Ván bài lật ngửa của đạo diễn Lê Hoàng Hoa do Xưởng phim Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh sản xuất. Ván bài lật ngửa được thực hiện từ năm 1982 tới năm 1987, gồm 8 tập: Đứa con nuôi vị giám mục, Quân cờ di động, Phát súng trên cao nguyên, Cơn hồng thủy và bản tango số 3, Trời xanh qua kẽ lá, Lời cảnh cáo cuối cùng, Cao áp và nước lũ, Vòng hoa trước mộ. Phim được chuyển thể từ tiểu thuyết tình báo cùng tên của nhà văn Nguyễn Trương Thiên Lý. Vai điệp viên Nguyễn Thành Luân do Nguyễn Chánh Tín và vai Thùy Dung do Thúy An và Thanh Lan thể hiện. Ván bài lật ngửa đã giành được Giải đặc biệt tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 6 năm 1983, Bông sen bạc và nam diễn viên chính xuất sắc tại lần thứ 7 năm 1985.
Từ tháng 4 năm 1975 đến năm 1985, điện ảnh Việt Nam đã thực hiện 149 bộ phim truyện ra mắt công chúng. Mỗi năm còn trung bình 12 phim hoạt hình và nhiều phim tài liệu
=== Thời kỳ mở cửa ===
Đến cuối thập niên 1980, khi Việt Nam bước sang giai đoạn Đổi mới thì điện ảnh rơi vào thời kỳ khủng hoảng. Những năm trước, trong thời kỳ bao cấp, các hãng phim được nhà nước cấp kinh phí để sản xuất phim, khâu phát hành phim do cơ quan khác quản lý. Đây là một trong những lý do làm giảm chất lượng phim. Thời kỳ này, sự cắt giảm ngân sách của Nhà nước làm cho điện ảnh không đủ kinh phí để sản xuất phim. Việc phân cấp các rạp và đội chiếu bóng về cho tỉnh, thành và quận, huyện được từ đầu thập niên 1980, tới thời gian này được thực hiện triệt để. Nhà nước bắt đầu xóa bỏ bao cấp dành cho điện ảnh, chuyển từ chế độ bao cấp sang chế độ hạch toán kinh tế, có sự tài trợ một phần của Nhà nước. Các máy móc thiết bị làm phim đã cũ kỹ, tiền của Nhà nước đầu tư cho điện ảnh cũng bị thất thoát.
Trong khi điện ảnh rơi vào bi kịch thì thể loại phim video mới xuất hiện và nhanh chóng đạt tới thời kỳ hoàng kim, thu hút một số lượng khán giả rất lớn. Số lượng máy video tăng nhanh và rạp chiếu phim không còn sức hút với khán giả. Nhiều hãng phim điện ảnh chỉ còn sản xuất một hai phim một năm, và chuyển sang làm phim video. Dòng phim này chủ yếu sản xuất ở miền Nam, rất nhiều bộ phim thương mại được sản xuất ồ ạt, nội dung đơn giản, thường gọi là dòng "phim mỳ ăn liền". Dòng phim này cũng kéo theo một thế hệ diễn viên ngôi sao mới như Lý Hùng, Diễm Hương, Việt Trinh, Lê Công Tuấn Anh, Lê Tuấn Anh, Thái San, Y Phụng, Công Hậu, Thu Hà...
Một thời gian đầu, các phim mỳ ăn liền hướng tới các đề tài dân gian, những câu chuyện cổ tích như Phạm Công Cúc Hoa, Thạch Sanh, Tấm Cám... Khi thể loại phim võ thuật của Hồng Kông du nhập vào Việt Nam mạnh mẽ, các nhà làm phim cũng sản xuất hàng loạt những phim võ hiệp dã sử Thăng Long đệ nhất kiếm, Lửa cháy thành Đại La, Tráng sĩ Bồ Đề, Chuyện tình Mỵ Châu... Không chỉ dùng phim video, một vài phim như Thăng Long đệ nhất kiếm là phim điện ảnh. Thời kỳ cuối cùng, cùng là giai đoạn mạnh mẽ nhất, là những bộ phim tình cảm sướt mướt, bi lụy, những cuộc tình tay ba ngang trái: Sau những giấc mơ hồng, Em không dối lừa, Sao em vội lấy chồng, Sau cơn mưa trời lại sáng, Tóc gió thôi bay, Đừng nói xa nhau... Cho đến giữa thập niên 1990, do nhu cầu và thị hiếu khán giả thay đổi, dòng phim này bắt đầu đi xuống.
Giai đoạn này số lượng phim điện ảnh được sản xuất giảm đáng kể. Số lượng rạp chiếu phim cũng giảm bớt. Nhiều rạp chiếu phim bị phá bỏ, hoặc chuyển sang kinh doanh lĩnh vực khác, biến thành vũ trường. Một vài tác phẩm thành công của thời kỳ này có thể kể đến Người đi tìm dĩ vãng chuyển thể từ tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng của nhà văn Chu Lai với các diễn viên Trần Lực, Thanh Mai, Lê Công Tuấn Anh, Thương Tín; Đêm hội Long Trì (1989) được chuyển thể từ tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, đạo diễn Hải Ninh, diễn viên Hoàng Cúc, Lê Vân; Tình khúc 68 (1988) của đạo diễn Lê Mộng Hoàng với Thương Tín, Phan Vũ và Vị đắng tình yêu (1991) của Lê Xuân Hoàng.
Vị đắng tình yêu được Hãng phim Giải Phóng sản xuất năm 1991, do Lê Xuân Hoàng đạo diễn với các diễn viên Thuỷ Tiên, Lê Công Tuấn Anh, Lê Cung Bắc, Y Phụng, Phước Sang... Vai Quang "Don Quixote" là vai diễn dấu ấn của Lê Công Tuấn Anh. Tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 10 năm 1993, Vị đắng tình yêu đã giành nhiều giải quan trọng: Bông sen vàng, Đạo diễn xuất sắc, Nam diễn viên chính xuất sắc. Đây được xem là một bộ phim vừa thành công về doanh thu lẫn nghệ thuật.
Năm 1992, có hai bộ phim Pháp được thực hiện ở Việt Nam. Người tình (L'Amant) của đạo diễn Jean-Jacques Annaud dựa theo tiểu thuyết cùng tên của Marguerite Duras với sự tham gia của nữ diễn viên Pháp Jane March và diễn viên Hồng Kông Lương Gia Huy. Bộ phim thứ hai là Đông Dương (Indochine), đạo diễn Régis Wargnier và hai ngôi sao Catherine Deneuve và Vincent Perez. Diễn viên người Pháp gốc Việt Phạm Linh Đan trong vai Camille, con gái nuôi của Eliane Devries - vai do Catherine Deneuve thể hiện. Đông Dương đã được trao giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất năm 1992.
Năm 1993, chương trình Chấn hưng điện ảnh cấp Nhà nước được Chính phủ phê duyệt và bước đầu triển khai.
=== Điện ảnh hải ngoại ===
==== Quay tại Việt Nam ====
Từ những năm ngay sau 1945, đã có những thước phim của các Việt kiều Pháp gửi về Việt Nam. Đó là những phim tài liệu về Hội nghị Fontainebleau, Hồ Chí Minh ở Pháp, hay về đời sống của những Việt kiều. Đầu thập niên 1950, có những thanh niên Việt Nam sang Pháp học về điện ảnh. Sau khi tốt nghiệp, một số về nước làm phim, như đạo diễn Phạm Kỳ Nam của miền Bắc, Lê Dân, Hoàng Anh Tuấn, Lê Mộng Hoàng của miền Nam. Một số khác ở lại Pháp làm phim, nhưng không có thành công đáng kể.
Đạo diễn Việt kiều đầu tiên được giới điện ảnh nước ngoài chú ý đến là đạo diễn Lê Lâm với bộ phim ngắn Long Vân Khánh Hội làm năm 1980 tại Pháp. Bộ phim nói về một người lái tàu hỏa phải thực hiện công việc trong khi người vợ ở nhà đang hấp hối. Long Vân Khánh Hội được giới thiệu trong chương trình Triển vọng của điện ảnh Pháp tại Liên hoan phim Cannes năm đó. Ba năm sau, Lê Lâm làm tiếp phim Tro tàn của đế chế. Bộ phim là một hoài niệm của tác giả về quê hương trong mối quan hệ với những người Pháp thông qua nhân vật viên sĩ quan và người nữ tu sĩ Pháp, do nữ diễn viên nổi tiếng người Pháp Dominique Sanda thủ vai.
Trong mười năm sau đó, Lê Lâm không làm phim nữa và cũng không có tên tuổi của đạo diễn người Việt nào được nhắc đến trong hoạt động điện ảnh ở nước ngoài.
Mở đầu cho làn sóng các đạo diễn Việt kiều về Việt Nam làm phim là Hồ Quang Minh. Vào năm 1985, đạo diễn Hồ Quang Minh từ Thụy Sĩ về nước thực hiện bộ phim Con thú tật nguyền của Hãng phim Giải Phóng. Tiếp đó ông làm các bộ phim Trang giấy trắng (1991), Bụi hồng (1996) và mang những phim này tham dự một số liên hoan phim quốc tế.
Năm 1993, đạo diễn trẻ người Pháp gốc Việt Trần Anh Hùng thực hiện bộ phim đầu tay Mùi đu đủ xanh (L'Odeur de la papaye verte) tại Pháp. Bộ phim nói về một cô gái, từ khi còn bé tới lúc trưởng thành, ở Sài Gòn trong thập niên 1950. Trong một khung cảnh nhỏ hẹp, cốt truyện đơn giản, tác giả đặc biệt chú ý đến hình ảnh và màu sắc. Và ngay từ tác phẩm đầu tay này, Trần Anh Hùng đã thành công. Mùi đu đủ xanh giành được giải Trẻ và giải Camera vàng trong Liên hoan phim Cannes năm đó. Sang năm 1994, phim được đề cử tranh giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất và giành được giải César cho tác phẩm đầu tay.
Năm 1995, Trần Anh Hùng trở về Việt Nam làm phim Xích lô (Cyclo). Xích lô có sự tham gia của nhiều diễn viên Việt Nam cùng ngôi sao điện ảnh Hồng Kông Lương Triều Vỹ. Khác với bộ phim trước, bối cảnh của Xích lô là Thành phố Hồ Chí Minh trong thập niên 1990 với nhiều bạo lực, tệ nạn. Phim đã giành được giải Sư tử vàng và giải FIPRESCI tại Liên hoan phim Venezia năm 1995. Năm 1999, Trần Anh Hùng thực hiện bộ phim thứ ba cũng ở Việt Nam, Mùa hè chiều thẳng đứng (À la verticale de l'été) với sự tham gia của nhiều diễn viên Việt Nam nổi tiếng: Lê Khanh, Như Quỳnh, Trần Quang Hải, Lê Tuấn Anh... Với ba phim, tuy giành được những thành công ở nước ngoài, Trần Anh Hùng không được nhiều khán giả Việt Nam biết tới. Các nhà làm phim trong nước đánh giá phim Trần Anh Hùng ít bản sắc Việt Nam[13].
Cũng năm 1999, đạo diễn Việt kiều Mỹ Tony Bùi về nước làm Ba mùa (Three Seasons), một bộ phim với ba câu chuyện nhỏ xen kẽ với nhau. Ba mùa có sự tham gia của diễn viên người Mỹ Harvey Keitel trong vai một cựu chiến binh Mỹ trở lại Việt Nam tìm con gái, và các diễn viên Việt Nam như Đơn Dương, Ngọc Hiệp... Ba mùa được công chiếu rộng rãi ở Việt Nam và đã thu hút được khán giả. Phim đoạt cả hai giải của khán giả lẫn giám khảo tại Liên hoan phim Sundance. Năm 2001, Tony Bùi đứng ra làm nhà sản xuất cho bộ phim đầu tay của anh mình là Timothy Linh Bùi mang tên Rồng xanh (Green Dragon). Bộ phim nói về những người Việt tị nạn sau biến cố tháng 4 năm 1975 với sự tham gia của ngôi sao Hollywood Patrick Swayze, diễn viên Đơn Dương, các diễn viên hải ngoại Lê Thị Hiệp, Kathleen Luong. Rồng xanh vấp phải sự phản đối của Nhà nước Việt Nam và sau bộ phim này, diễn viên Đơn Dương rời Việt Nam sang định cư tại Hoa Kỳ. Trước đó Đơn Dương cũng tham gia một bộ phim Hollywood khác nói về Chiến tranh Việt Nam là Chúng ta là những người lính (We Were Soldiers 2002) cùng Mel Gibson.
Sang thập niên 2000, làn sóng các đạo diễn Việt kiều về nước làm phim trở nên mạnh mẽ. Như Hồ Quang Minh với Thời xa vắng (2004), Việt Linh với Mê Thảo - Thời vang bóng (2003), Nguyễn Võ Nghiêm Minh với Mùa len trâu (2004), Đoàn Minh Phượng với Hạt mưa rơi bao lâu (2005), Áo lụa Hà Đông của Lưu Huỳnh (2006). Charlie Nguyễn với Dòng máu anh hùng (2007). Phim của những đạo diễn này đã giành được nhiều giải thưởng tại Liên hoan phim Việt Nam và họ cùng với các nhà làm phim trong nước tạo nên nền điện ảnh Việt Nam đương đại.
==== Quay tại hải ngoại ====
Bên cạnh những đạo diễn về Việt Nam làm phim, một số nhà làm phim Việt kiều thực hiện các bộ phim ngay tại hải ngoại.
Sau 1975, nhiều người Việt rời Việt Nam định cư ở nước ngoài. Một số diễn viên Việt kiều tham gia vào nền điện ảnh nơi họ định cư. Kiều Chinh giành được nhiều vai diễn nhỏ tại Hollywood. Năm 1993, Lê Thị Hiệp đóng vai nữ chính bên cạnh Tommy Lee Jones trong bộ phim nói về Chiến tranh Việt Nam Trời và đất (Heaven & Earth, 1993) của đạo diễn nổi tiếng Oliver Stone. Tại Pháp, Phạm Linh Đan giành giải César cho Nữ diễn viên triển vọng trong phim De battre mon cœur s'est arrêté năm 2006. Cảnh sát người Pháp gốc Việt Nguyễn Văn Lộc đóng vai chính trong một số sê-ri phim truyền hình dựa theo cuốn tự truyện của chính ông. Các diễn viên trẻ như Johnny Trí Nguyễn, Dustin Nguyễn cũng tham gia nhiều phim của Hollywood.
Một vài diễn viên mang một phần dòng máu Việt khác giành được nhiều thành công, như Chung Lệ Đề nổi tiếng ở Hồng Kông; Maggie Q tham gia diễn xuất trong những bộ phim lớn của Hollywood như Nhiệm vụ bất khả thi 3 (Mission: Impossible III, 2006), Die Hard 4 (2007).
Năm 2003, một đạo diễn trẻ Victor Vũ thực hiện bộ phim thứ hai của mình là Một buổi sáng đầu năm (First Morning). Trước đó anh đã làm một phim ngắn tên Firecracker vào năm 1997. Một buổi sáng đầu năm được thực hiện đơn giản, nhưng về nội dung tác giả lại muốn đề cập đến nhiều khía cạnh cuộc sống của người Việt tị nạn. Bộ phim, với sự tham gia của những diễn viên trẻ của điện ảnh hải ngoại là Johnny Trí Nguyễn và Kathleen Lương, đã không để lại dấu ấn gì. Năm 2004, Victor Vũ làm Oan hồn (Spirits), một phim thuộc thể loại kinh dị mang đậm chất Á đông. Oan hồn được báo chí Việt Nam nhắc đến và Victor Vũ đã mang bộ phim này tham dự một số liên hoan phim. Năm sau 2006, Victor Vũ tiếp tục sản xuất bộ phim kinh dị Thế giới huyền bí tập 1 là Tình yêu bất biệt (Mysterious World, Episode 1: Love Never Die).
Tại Pháp, một đạo diễn trẻ gốc Việt là Kim Chapiron. Anh bắt đầu là một người thiết kế web trước khi bước chân vào điện ảnh. Những bộ phim đầu tay của Kim Chapiron Tarubi, l'Arabe Strait (2000) et La Barbichette (2002) đã tham dự nhiều liên hoan phim như Locarno, Cicuito Off Venice, Les Lutins du Court-Métrage. Năm 1995, cùng Romain Gavras, Kim Chapiron thành lập hội nghệ sĩ Kourtrajmé, tập hợp nhiều tên tuổi nổi tiếng: tay guitar Nguyên Lê, diễn viên Vincent Cassel... Sheitan, phim dài đầu tay của Kim Chapiron do Vincent Cassel sản xuất có sự tham gia diễn xuất của Vincent Cassel và Monica Bellucci. Thời điểm 2007, tác phẩm mới nhất của Kim Chapiron là video clip France à fric cho ca sĩ nhạc rap Rockin' Squat.
Bắt đầu năm 2005 và chính thức ra mắt năm 2007, đạo diễn Hàm Trần với bộ phim Vượt sóng (Journey from the Fall - Hành trình từ sự sụp đổ) đã giành được sự chú ý của cộng đồng người Việt hải ngoại. Phim được trình chiếu rộng rãi tại Hoa Kỳ và đã đoạt được doanh thu cao nhất cho mỗi rạp[14]. Bộ phim nói về cảnh ngộ của những người trong trại cải tạo ở Việt Nam sau 1975 và sau đó là những thuyền nhân. Vượt sóng có sự tham gia của Kiều Chinh, Nguyễn Long và diễn viên, nữ ca sĩ Diễm Liên. Kinh phí sản xuất bộ phim này cũng do cộng đồng người Việt ở Mỹ tài trợ.
Vào năm 2003, Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế lần đầu tiên được tổ chức ở vùng Little Saigon của Quận Cam, California, Hoa Kỳ. Sau đó Đại hội được tổ chức hai năm một lần. Đây là đại hội điện ảnh duy nhất dành riêng cho các nhà làm phim gốc Việt trên toàn thế giới. Ngoài những nhà làm phim Việt kiều, một số đạo diễn trong nước như Pham Nhuệ Giang, hay Bùi Thạc Chuyên cũng đem phim tới dự. Năm 2007, đại hội được tổ chức ở trường Đại học California tại Irvine với 51 phim gồm 13 phim dài, 36 phim ngắn. Ngoài những phim thực hiện trong nước như Sống trong sợ hãi của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên, Áo lụa Hà Đông của Lưu Huỳnh. Dòng máu anh hùng của hãng phim Chánh Phương, còn có những phim điện ảnh hải ngoại Vượt sóng (Journey from the Fall) của Hàm Trần, Bụi đời (Dust of Life) của Lê Văn Kiệt.
=== Điện ảnh Việt Nam đương đại ===
Từ giữa thập niên 1990, điện ảnh Việt Nam bắt đầu bước dần ra khỏi thời kỳ khủng hoảng. Số lượng phim tăng lên. Ngoài những phim tiếp tục khai thác đề tài chiến tranh như Hà Nội, mùa đông năm 1946 (1997) của Đặng Nhật Minh, Ngã ba Đồng Lộc (1997) của Lưu Trọng Ninh, Đời cát (1999) của Nguyễn Thanh Vân, Ai xuôi Vạn Lý (1996) của Lê Hoàng... các nhà làm phim đã hướng tới những đề tài đương đại: Vương Đức với Những người thợ xẻ (1998), Nhuệ Giang với Thung lũng hoang vắng (2000), Đỗ Minh Tuấn với Vua bãi rác (2002)...
Năm 2000, Liên hoan phim châu Á-Thái Bình Dương được tổ chức ở Hà Nội. Điện ảnh Việt Nam đã giành được nhiều giải quan trọng: Phim hay nhất cho Đời cát của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, hai diễn viên Mai Hoa và Hồng Ánh trong Đời cát đạt hai giải dành cho nữ diễn viên chính và nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất. Trước đó, năm 1999, Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai của Trần Văn Thủy đạt phim ngắn hay nhất tại Liên hoan phim châu Á-Thái Bình Dương tổ chức ở Thái Lan.
Nhưng hầu hết những bộ phim này, với tư duy làm phim cũ, đã không kéo được khán giả tới rạp, các phim làm ra tiếp tục thua lỗ. Nhà nước vẫn cấp kinh phí để sản xuất những phim kỷ niệm các ngày lễ lớn. Những bộ phim đó thường được thực hiện với kinh phí lớn, nhưng ít được khán giả quan tâm, thậm chí các tên phim Ký ức Điện Biên, Giải phóng Sài Gòn còn làm khán giả tưởng nhầm là phim tài liệu. Ký ức Điện Biên (2004) kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ được đầu tư 13 tỷ đồng, khi công chiếu thu hút rất ít khán giả. Trong ba ngày chiếu tại rạp Đống Đa Thành phố Hồ Chí Minh chỉ bán được 60 vé. Tại Hà Nội, ngoài hai suất chiếu phục vụ công ích cũng chỉ chiếu được tám suất doanh thu, bình quân 25, 30 vé[15]. Sau đó Nhà nước có văn bản chỉ đạo các cơ quan, doanh nghiệp tổ chức xem phim. Tuy thế, tại lễ trao giải Cánh diều vàng 2004, với Ký ức Điện Biên Đỗ Minh Tuấn vẫn nhận giải Đạo diễn xuất sắc nhất.
Vào cuối thập niên 1990, đầu thập niên 2000, nhiều rạp chiếu phim được nâng cấp, trang bị hiện đại. Trung tâm Chiếu phim Quốc gia được xây dựng mới ở Hà Nội. Một làn sóng phim nước ngoài tràn ngập vào Việt Nam với những bộ phim ăn khách của Mỹ, Hàn Quốc, Hồng Kông. Khán giả Việt Nam bắt đầu lấy lại thói quen tới rạp chiếu phim. Năm 2001, đạo diễn người Úc Phillip Noyce tới Việt Nam quay bộ phim Người Mỹ trầm lặng (The Quiet American) chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Graham Greene. Phim có sự tham gia của hai diễn viên nổi tiếng của Hollywood là Michael Caine và Brendan Fraser. Vai nữ chính trong phim do diễn viên Việt Nam Hải Yến đóng.
Đầu thập niên 2000, các nhà làm phim Việt Nam cũng cố gắng làm những phim thu hút khán giả. Người đi đầu trong trào lưu làm phim thương mại là đạo diễn Lê Hoàng với Gái nhảy (2003) của Hãng phim Giải phóng. Năm 2001, Lê Hoàng nhận kịch bản Trường hợp của Hạnh của biên kịch Ngụy Ngữ. Ban đầu ông định làm phim theo phong cách bán tài liệu, sau đó chuyển dần sang hướng phim xã hội và lấy tên phim là Gái nhảy. Được công chiều vào dịp Tết đầu năm 2003, Gái nhảy với hai diễn viên chính Minh Thư và Mỹ Duyên đã thu hút một số lớn khán giả. Tuy gặp phải sự phê bình mạnh mẽ của báo chí và đồng nghiệp, phim vẫn đạt kỷ lục về doanh thu, khoảng 12 tỷ đồng[16]. Những năm tiếp theo, Lê Hoàng tiếp tục sản xuất những phim ăn khách khác như Lọ lem hè phố (2004), Nữ tướng cướp (2005), Trai nhảy (2007).
Điện ảnh trở thành một thị trường với nhiều hãng phim tư nhân tham gia. Trong đó có những hãng phim lớn mạnh như hãng Thiên Ngân và hãng Phước Sang. Năm 2004, Thiên Ngân tung ra Những cô gái chân dài của đạo diễn Vũ Ngọc Đãng với một chiến dịch quảng cáo rầm rộ. Bộ phim có nhiều điều mới so với điện ảnh Việt Nam: một trang web riêng cho phim, cuộc thi vẽ poster, soundtrack được làm riêng cho phim với ca sĩ nổi tiếng. Những cô gái chân dài là bộ phim nói về giới người mẫu, các vai chính cũng do những người mẫu nổi tiếng Anh Thư, Xuân Lan, Dương Yến Ngọc, Thanh Hằng, Ngọc Nga đảm nhận. Không chỉ thành công về thương mại, Những cô gái chân dài còn là bộ phim tư nhân đầu tiên tham gia Liên hoan phim Việt Nam và đã đạt giải Bông sen bạc tại liên hoan phim lần thứ 14 năm 2005[17].
Những năm 2005, 2006, thị trường phim Việt Nam trở nên sôi động với nhiều bộ phim, phần lớn của các hãng tư nhân: Khi đàn ông có bầu (2005), 1735 km (2005), Chiến dịch trái tim bên phải (2005), Đẻ mướn (2006), 2 trong 1 (2006), Hồn Trương Ba, da hàng thịt (2006)... Để thu hút khán giả, các hãng phim đã mời những ca sĩ, người mẫu nổi tiếng tham gia. Ngoài những đạo diễn Việt Kiều như Hồ Quang Minh, Việt Linh, Nguyễn Võ Nghiêm Minh... một số nhà làm phim trẻ Việt kiều cũng về Việt Nam làm phim: Nguyễn Nghiêm Đặng Tuấn có 1735 km (2005), Ringo Le có Chuyện tình Sài Gòn (2005) và gần đây là Charlie Nguyễn có Dòng máu anh hùng (2007) với sự tham gia của Johnny Trí Nguyễn, Dustin Nguyễn, Ngô Thanh Vân, Nguyễn Chánh Tín.
Một số rạp chiếu hiện đại tiếp tục được xây dựng. Trong đợt chiếu phim chiếu Tết 2007, với những bộ phim thương mại: Võ lâm truyền kỳ, Trai nhảy, Chuông reo là bắn, điện ảnh Việt Nam giành được khán giả trước những phim nước ngoài.
Ngược lại có những phim với ngân sách tốn kém như Sống cùng lịch sử với chi phí lên 21 tỷ đồng, mà chỉ trình chiếu có vài ngày vì không bán được vé.
== Xem thêm ==
Danh sách phim Việt Nam
Phim mì ăn liền
Điện ảnh hải ngoại
Hoạt hình Việt Nam
== Tham khảo ==
=== Chú giải ===
^ Theo bài Ðiện ảnh Việt Nam - Bước khởi đầu của đạo diễn Đặng Nhật Minh. Trong bài Sơ lược lịch sử điện ảnh Việt Nam của Phạm Ngọc Trương trên Điện ảnh Việt Nam thì từ năm 1898, trên báo chí Việt Nam đã đăng quảng cáo những buổi chiếu phim bán vé tại một số địa điểm công cộng.
^ Các tài liệu còn nhắc tới các tên khác như Bà Đế, Sự tích Bà Đế - Báo Hà Nội mới.
^ Theo bài Ðiện ảnh Việt Nam - Bước khởi đầu của đạo diễn Đặng Nhật Minh. Một vài tài liệu khác viết Georges Spesct là nữ diễn viên chính.
^ Bên lề... chuyện cải lương trên báo Người Việt
^ Theo của nhà văn Tô Hoài
^ Còn ghi Bà Huyện Thanh Quan trên Đèo Ngang - Sơ lược lịch sử điện ảnh Việt Nam của Phạm Ngọc Trương trên Điện ảnh Việt Nam
^ Nhiều nghệ sĩ phản ứng với cuốn Lịch sử Điện ảnh Việt Nam trên Vietnam Net
^ Về cuốn phim màu Lục Vân Tiên năm 1957 trên báo Người Việt
^ Những thành tựu của điện ảnh Việt Nam trên trang của Bộ Văn hóa - Thông tin
^ "Điện ảnh Việt Nam", Thế giới Tự do, số 4 Tập X trang 29
^ Bài Trần Thiện Thanh về với Chân trời tím của nhà văn Văn Quang.
^ Đạo diễn Lê Hoàng Hoa: "Tôi đã làm phim theo đơn đặt hàng quá nhiều" trên báo Thanh Niên Online
^ Đánh giá của đạo diễn Nguyễn Khải Hưng trong Dòng phim Việt kiều: Làm phim bằng con mắt người khác
^ Tuần đầu 24 tháng 3 2007, Vượt sóng được trình chiếu tại 4 rạp, đạt doanh thu 87.442 USD, là số doanh thu cao nhất cho mỗi rạp cho tất cả những phim
được trình chiếu tại Bắc Mỹ vào tuần đó (21.861 USD Mercury News). Khi được chiếu mở rộng vào những tuần sau đó, doanh thu được tăng cao hơn (IndieWIRE)
^ Phim Ký ức Điện Biên: Một thất bại đáng buồn trên báo Tuổi Trẻ
^ Đạo diễn Lê Hoàng ăn Tết lớn trên báo Người Viễn Xứ
^ Lần đầu tiên hãng phim tư nhân tham gia trên Người Viễn Xứ
=== Chú thích ===
== Liên kết ngoài ==
Hồ Trường An. Ảnh trường kịch giới. Arlington, VA: Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 2012.
Tạp chí Thế giới điện ảnh
Danh sách phim làm tại Việt Nam trên IMDb
Danh sách phim tiếng Việt trên IMDb
Ðiện ảnh Việt Nam - Bước khởi đầu của đạo diễn Đặng Nhật Minh
Sơ lược lịch sử điện ảnh Việt Nam phần I, phần II, phần III của Phạm Ngọc Trương trên Điện ảnh Việt Nam
Lịch sử điện ảnh Việt Nam và miền Nam của Lê Quang Hoài Tâm đăng trên báo Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh
Bước đầu của phim truyện Cách mạng của Vũ Quang Chính
Điện ảnh Việt Nam trước cách mạng tháng 8 năm 1945 trên trang của Bộ Văn hóa - Thông tin
Điện ảnh Cách mạng Việt Nam trên trang của Bộ Văn hóa - Thông tin
Lịch sử điện ảnh Việt Nam trên trang của Bộ Văn hóa - Thông tin
Diễn xuất của diễn viên màn ảnh Sài Gòn
Điện ảnh Sài Gòn một thuở: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Điện ảnh hải ngoại và đôi nét chấm phá trên trang của Đảng Cộng sản Việt Nam
Dòng phim Việt kiều: Làm phim bằng con mắt người khác trên trang của Bộ Văn hóa - Thông tin |
svend tveskæg.txt | Sweyn Forkbeard (tiếng Norse cổ: Sveinn Tjúguskegg; tiếng Đan Mạch: Sven Tveskæg; 960-3 tháng 2 năm 1014) là vị vua Đan Mạch, Anh, và một số khu vực của Na Uy. Tên của ông là Swegen trong Biên niên sử Anglo-Saxon. Ông là con trai của vua Harald Blåtand của Đan Mạch, và là cha của Knud Đại đế. Vào giữa thập niên 980, Sweyn đã nổi dậy chống lại cha mình và chiếm giữ ngai vàng. Harald bị buộc lưu vong và chết ngay sau đó trong tháng 11 năm 986 hoặc năm 987. Năm 1000, với sự trung thành của Trondejarl, Eric của Lade, Sweyn cai trị phần lớn Na Uy. Trong năm 1013, không lâu trước khi qua đời, ông trở thành vị vua Đan Mạch đầu tiên của nước Anh sau một nỗ lực lâu dài.
== Tham khảo == |
bắc giang (thành phố).txt | Thành phố Bắc Giang là một đô thị loại II - trung tâm hành chính của tỉnh Bắc Giang, nằm cách trung tâm Hà Nội 50 km về phía Đông Bắc
Địa giới hành chính:
Đông giáp huyện Lạng Giang;
Tây giáp huyện Việt Yên;
Nam-Tây Nam giáp huyện Yên Dũng;
Bắc giáp huyện Tân Yên.
== Lịch sử và đơn vị hành chính ==
Thành phố Bắc Giang là địa danh lịch sử, xưa thuộc Bộ Vũ Ninh... Trấn Kinh Bắc - là trấn thứ tư, trong bốn kinh trấn và đứng đầu phên dậu phía Bắc của quốc gia Đại Việt, có vị trí quân sự trọng yếu gắn liền với chiến thắng Xương Giang vẻ vang, muôn thuở còn truyền do nghĩa quân Lam Sơn - Nguyễn Trãi chỉ huy, tiêu diệt hoàn toàn 10 vạn quân viện binh do Liễu Thăng chỉ huy đã kết thúc 20 năm đô hộ của triều đại phong kiến nhà Minh; bên cạnh đó còn là một trong những trung tâm kinh tế - văn hoá được hình thành và phát triển từ thời kỳ đầu Công Nguyên; từng là phủ lỵ Lạng Giang (thành Châu Xuyên, xã Dĩnh Uyên - Tân Tiến), Bảo Lộc (thành Thọ Xương), huyện lỵ Phượng Nhỡn (xã Dĩnh Uyên-nay là 6 thôn của xãTân Tiến và thôn Lường của Dĩnh Kế).
Dưới thời Pháp thuộc, ngày 11 tháng 7 năm 1888 đơn vị hành chính "Phủ Lạng Thương" ra đời. Ngày 10 tháng 10 năm, tỉnh Bắc Giang được thành lập, Phủ Lạng Thương trở thành tỉnh lỵ tỉnh Bắc Giang. Từ một căn cứ quân sự, Phủ Lạng Thương đã trở thành một đô thị với nhiều phố lớn, nhà ga, bến cảng, khách sạn, bưu điện, câu lạc bộ, trường học, công viên, sân vận động... Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, Phủ Lạng Thương là một trong những địa phương sớm khởi nghĩa và giành chính quyền (ngày 17-8-1945). Từ năm 1959 thị xã Phủ Lạng Thương đổi tên là thị xã Bắc Giang; đồng thời, chuyển xã Thọ Xương thuộc huyện Lạng Giang về thị xã Bắc Giang quản lý.
Từ năm 1962, tỉnh Hà Bắc được thành lập trên cơ sở hợp nhất 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, thị xã Bắc Giang là thị xã tỉnh lỵ của tỉnh này.
Ngày 22 tháng 4 năm 1964, thành lập xã Đa Mai trên cơ sở tách một phần đất xã Song Mai thuộc huyện Việt Yên.
Sau năm 1975, thị xã Bắc Giang có 5 phường: Lê Lợi, Minh Khai, Ngô Quyền, Nhà máy phân đạm, Trần Phú và 2 xã: Đa Mai, Thọ Xương.
Ngày 3 tháng 5 năm 1985, chuyển xã Song Mai thuộc huyện Việt Yên và xã Dĩnh Kế thuộc huyện Lạng Giang về thị xã Bắc Giang.
Ngày 29 tháng 8 năm 1994, phường Nhà máy phân đạm đổi tên thành phường Trần Nguyên Hãn; phường Minh Khai đổi tên thành phường Mỹ Độ.
Từ năm 1997, sau khi chia tách tỉnh Hà Bắc thành 2 tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, thị xã Bắc Giang trở lại là tỉnh lỵ của tỉnh Bắc Giang.
Ngày 11 tháng 5 năm 1999, chia xã Thọ Xương thành phường Thọ Xương và xã Xương Giang, thành lập phường Hoàng Văn Thụ trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của phường Lê Lợi và xã Dĩnh Kế. Cùng với sự phát triển chung của tỉnh, thị xã Bắc Giang đã có những bước phát triển nhanh về mọi mặt xứng đáng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật của tỉnh và là một trong những trung tâm chuyên ngành cấp vùng. Tháng 12 năm 2003, thị xã Bắc Giang đã được công nhận là đô thị loại III.
Thị xã Bắc Giang trở thành thành phố Bắc Giang theo Nghị định Chính phủ số 75/2005/NĐ-CP ngày 7 tháng 6 năm 2005.
Khi thành lập, thành phố Bắc Giang có 32,21 km2 diện tích tự nhiên, 126.810 nhân khẩu, và có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 7 phường: Hoàng Văn Thụ, Lê Lợi, Mỹ Độ, Ngô Quyền, Thọ Xương, Trần Nguyên Hãn, Trần Phú và 4 xã: Đa Mai, Dĩnh Kế, Song Mai, Xương Giang.
Ngày 27 tháng 9 năm 2010, Chính phủ ban hành nghị quyết số 36/NQ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Lạng Giang và Yên Dũng để mở rộng địa giới hành chính thành phố Bắc Giang. Theo đó, các xã được chuyển vào thành phố Bắc Giang bao gồm: xã Dĩnh Trì (huyện Lạng Giang), 4 xã Song Khê, Tân Mỹ, Tân Tiến, Đồng Sơn (huyện Yên Dũng).
Ngày 31 tháng 12 năm 2013, Nghị quyết 140/NQ-CP của Chính phủ thành lập 3 phường Xương Giang, Dĩnh Kế, Đa Mai trên cơ sở các xã có tên tương ứng
Ngày 3 tháng 12 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 2168/QĐ-TTg công nhận thành phố Bắc Giang là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Bắc Giang
Thành phố Bắc Giang có 6.677,36 ha diện tích tự nhiên và 157.439 nhân khẩu thường trú (dân số quy đổi khoảng 220.000 nhân khẩu), có 16 đơn vị hành chính trực thuộc là 10 phường: Đa Mai, Dĩnh Kế, Hoàng Văn Thụ, Lê Lợi, Mỹ Độ, Ngô Quyền, Thọ Xương, Trần Nguyên Hãn, Trần Phú, Xương Giang và 6 xã: Dĩnh Trì, Đồng Sơn, Song Khê, Song Mai, Tân Mỹ, Tân Tiến.
Trong chiến đấu và xây dựng đất nước, Thành phố Bắc Giang đã có hàng ngàn lượt tập thể, cá nhân được Đảng, Nhà nước phong tặng nhiều danh hiệu, phần thưởng cao qúy. Trong đó Thành phố được tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ", Huân chương lao động hạng Nhì trong thời kỳ đổi mới; 05 phường, xã được phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ"; phong tặng và truy tặng 26 danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Thành phố đã 4 lần vinh dự được đón Bác Hồ về thăm, làm việc với tỉnh và Thành phố (năm 1955, 1959, 1961 và 1963).
== Khí hậu ==
Đặc trưng khí hậu chịu ảnh hưởng của gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 - 10, mùa khô từ tháng 11- 3. Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 23,20C - 23,80C. Độ ẩm trung bình từ 83 - 84%. Tổng lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.400 - 1.730mm. Nhìn chung, các điều kiện tự nhiên của thành phố Bắc Giang thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội trước mắt cũng như lâu dài.
== Cơ sở hạ tầng ==
Với vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, ở vị trí trung lộ trên tuyến giao thông huyết mạch (đường bộ, đường sắt liên vận quốc tế) nối Thủ đô Hà Nội với thành phố Lạng Sơn và cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng; ở vào vị trí đầu mối giao thông cấp liên vùng quan trọng: nằm cận kề vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có hệ thống đường bộ gồm các Quốc lộ 1A cũ và mới, 31, 37, tỉnh lộ 398; các tuyến đường sắt: Hà Nội - Lạng Sơn, Hà Nội - Kép - Hạ Long, Hà Nội - Kép - Thái Nguyên chạy qua; có tuyến đường sông nối thành phố với các trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch lớn như Phả Lại, Côn Sơn - Kiếp Bạc, Yên Tử, Hải Phòng; tiếp cận thuận lợi với cảng hàng không quốc tế Nội Bài, cảng nội địa Gia Lâm, cảng nước sâu Cái Lân, cảng Hải Phòng và các cửa khẩu quốc tế trên biên giới Lạng Sơn.
Điện: tính đến năm 2003, điện lưới của Việt Nam đã về tới 100% số xã, phường phục vụ cho 100% số hộ dùng điện lưới quốc gia với chất lượng khá.
Nước: chủ yếu lấy từ nhà máy nước của thành phố. Ngoài ra tại một số xã, người dân còn sử dụng nước sinh hoạt và sản xuất từ 6.158 giếng đào và 175 giếng khoan.
Giao thông: toàn thành phố có 104 km đường bộ, trong đó có 11 km đường quốc lộ, 10 km đường liên tỉnh, 20 km đường nội thị, 63 km đường xã. Ngoài ra còn có gần 80 km đường thôn xóm xe cơ giới đi được và đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn đi qua ở phía nam thành phố. Hàng năm cứng hoá thêm mặt đường bằng bê tông nhựa và bê tông xi măng được 25%. Đường sắt chạy qua 5 km với Ga Bắc Giang. Đường sông chảy qua 4 km tạo thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hoá.
== Du lịch ==
Tiềm năng du lịch trên địa bàn thành phố gồm: 02 điểm du lịch tự nhiên và 42 di tích (14 di tích cấp quốc gia, 4 di tích cấp tỉnh) đều đã và đang được khai thác như: Hạ tầng 2 bờ đê Sông Thương; điểm du lịch Quảng Phúc; các di tích Chùa Kế, nghè Cả (xã Dĩnh Kế); khu lăng tướng công Lều Văn Minh, chùa Vẽ, đình Vẽ, chùa Thành, đình Thành... và 34 lễ hội truyền thống (01 lễ hội cấp tỉnh) như: lễ hội kỷ niệm chiến thắng Xương Giang; hội chùa Vẽ (phường Thọ Xương), chùa Hồng Phúc(phường Trần Nguyên Hãn), chùa Dền (phường Lê Lợi)...Một số lễ hội và làng nghề truyền thống (bún Đa Mai, bánh đa Kế) được duy trì thường xuyên, có ý nghĩa dân gian và kinh tế đang từng bước hấp dẫn du khách... Thành phố hiện có khách sạn Mường Thanh Bắc Giang là khách sạn 4*
== Điều kiện kinh tế ==
Thành phố Bắc Giang trước kia và nay được biết đến với vai trò là một trong những trung tâm lớn của vùng về công nghiệp đạm - hoá chất, công nghiệp may mặc, đồng thời là trung tâm phân phối, trung chuyển hàng hóa từ Trung Quốc cho miền Bắc, cũng như là nơi tập kết các sản phẩm nội địa xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Thành phố có 02 làng nghề truyền thống, một số cụm công nghiệp vừa và nhỏ gắn với hệ thống các khu, cụm công nghiệp lớn của tỉnh liền kề thành phố như: Quang Châu, Đình Trám, Vân Trung, Song Khê - Nội Hoàng... đó những thuận lợi cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội và đô thị. Biểu trưng công nghiệp của thành phố Bắc Giang là công trình Nhà máy Phân đạm Hà Bắc, là nhà máy phân đạm đầu tiên của Việt Nam
Năm 2013, TP Bắc Giang vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững đạt 17,3%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Thương mại- dịch vụ chiếm 45,2%, Công nghiệp, TTCN - Xây dựng 51,3%, Nông nghiệp - thủy sản 3,5%. Tổng thu ngân sách năm 2013 đạt 695 tỷ đồng, bằng 117% dự toán, bằng 106% so với năm trước. thu nhập bình quân đầu người đạt 59,80 triệu đồng/người. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,55%; số hộ thu nhập 4 triệu đồng/tháng đạt 82%
Một số cụm công nghiệp đã được hình thành gắn với hệ thống các khu, cụm công nghiệp lớn của tỉnh liền kề, tạo điều kiện thu hút đầu tư trong và ngoài nước, làm cơ sở để thúc đẩy công nghiệp của TP cũng như của tỉnh phát triển nhanh và vững chắc. Trên địa bàn TP đã hình thành nhiều ngành nghề công nghiệp, TTCN đa dạng như chế biến nông lâm sản, cơ khí, hoá chất, dệt may, điện tử, sản xuất vật liệu xây dựng... Hiện trên địa bàn có 2.110 cơ sở sản xuất công nghiệp và TTCN đang hoạt động trong đó có 1.982 cơ sở sản xuất cá thể, tổ sản xuất; 11 cơ sở kinh tế tập qthể; kinh tế hỗn hợp 105 cơ sở và 6 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. TP hiện có 5 làng được công nhận là làng nghề, với các ngành nghề như sản xuất bún, sản xuất mỳ gạo, làm bánh đa, nghề mộc...
TP Bắc Giang còn là địa danh nhiều người biết đến như là một trong những trung tâm phân phối, trung chuyển hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc và ngược lại. Năm 2013 tổng giá trị xuất, nhập khẩu ước đạt 310 triệu USD, tăng 10% so với năm trước (xuất khẩu đạt 186 triệu USD, nhập khẩu đạt 124 triệu USD). Mạng lưới thương mại-dịch vụ cũng đã được phát triển, đặc biệt tại các tuyến phố chính trong thành phố. Trong thời gian gần đây nhiều dãy phố đã được chuyên môn hoá ngành hàng kinh doanh. Trên địa bàn Thành phố hiện nay có 09 siêu thị quy mô lớn là: Siêu thị Big C Bắc Giang, Đại siêu thị Điện máy Trần Anh, siêu thị Điện máy Mediamart, siêu thị Co.opmart Bắc Giang, siêu thị Bắc Giang, siêu thị Imexco, siêu thị Điện máy Văn Chiến, siêu thị Tmax, siêu thị Happro và nhiều siêu thị quy mô nhỏ khác. Thành phố hiện nay đã và đang hình thành một số khu đô thị mới như: khu đô thị Kosy (phường Xương Giang), khu đô thị phía nam thành phố Bắc Giang, khu đô thị Tây Nam thành phố Bắc Giang...
== Định hướng phát triển đến năm 2030 ==
Theo quy hoạch, thành phố Bắc Giang sẽ là trung tâm hành chính, chính trị của tỉnh Bắc Giang; có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng; đô thị cửa ngõ, trung tâm đầu mối phía Đông Bắc của vùng thủ đô Hà Nội với các ngành kinh tế chủ đạo: Dịch vụ trung chuyển, dịch vụ thương mại tổng hợp, đào tạo, dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, du lịch - nghỉ dưỡng.
Phạm vi nghiên cứu trực tiếp được xác định bao gồm: Toàn bộ diện tích tự nhiên của thành phố Bắc Giang; khu vực phụ cận gồm các xã: Tiền Phong, Tân Liễu, Nội Hoàng, Hương Gián của huyện Yên Dũng; xã Tân Dĩnh và một phần xã Xuân Hương của huyện Lạng Giang; xã Tăng Tiến của huyện Việt Yên. Phía Bắc giáp huyện Tân Yên; phía Nam giáp huyện Yên Dũng; phía Đông giáp huyện Lạng Giang; phía Tây giáp huyện Việt Yên.
Cũng theo quy hoạch, có 04 hướng phát triển không gian thành phố: Hướng 1: Phát triển theo hướng Tây về các xã Tân Mỹ, Tăng Tiến. Hình thành trục Đô thị theo hướng Đông Tây, kết nối các chức năng Trung tâm hành chính và Đô thị hiện hữu - Đô thị dịch vụ thương mại tổng hợp.
Hướng 2, phát triển theo hướng Đông Bắc về các xã Tân Dĩnh, Dĩnh Trì; phát triển khu trung chuyển dọc theo hành lang Quốc lộ 1 kết nối Quốc lộ 31 với vành đai 5 vùng Hà Nội; hình thành trung tâm đào tạo gắn với cụm trường đào tạo nghề Dĩnh Trì.
Hướng 3, phát triển theo hướng Nam - Đông Nam về các xã Tân Tiến, Đồng Sơn; phát triển khu đô thị gắn với dịch vụ trung chuyển hàng hoá, các khu sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao và dịch vụ du lịch gắn với núi Nham Biền.
Hướng 4, phát triển theo hướng Đông Bắc về các xã Đa Mai, Song Mai, Nghĩa Trung. Phát triển khu du lịch sinh thái, trung tâm nông nghiệp công nghệ cao, các khu du lịch gắn với đồi Quảng Phúc và núi Nghĩa Trung.
Dự báo đến năm 2020, dân số toàn thành phố là 200.000 người, trong đó nội thị là 124.000 người; đến năm 2030, dân số toàn thành phố là 300.000 người, trong đó nội thị là 218.900 người.
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
sông.txt | Sông là dòng nước lưu lượng lớn thường xuyên chảy, có nguồn cung chủ yếu là từ hồ nước, từ các con suối hay từ các con sông nhỏ hơn nơi có độ cao hơn. Các dòng sông hầu hết đều đổ ra biển; nơi tiếp giáp với biển được gọi là cửa sông. Trong một vài trường hợp, sông chảy ngầm xuống đất hoặc khô hoàn toàn trước khi chúng chảy đến một vực nước khác. Các con sông nhỏ cũng có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau như suối, sông nhánh hay rạch. Không có một chuẩn nào để gọi tên gọi cho các yếu tố địa lý như sông, suối, mặc dù ở một số quốc gia, cộng đồng thì người ta gọi dòng chảy là sông, rạch tùy thuộc vào kích thước của nó.
Các con sông là một thành phần quan trọng trong vòng tuần hoàn nước, nó là các bồn thu nước từ nước mưa chảy tràn, tuyết hoặc nước ngầm và vận chuyển các loại nước này ra đại dương. Sông Nine, sông Amazom, sông Trường Giang là những con sông dài hàng đầu thế giới.
== Phân loại ==
Thông thường, sông được chia làm 2 loại là sông chính và sông nhánh (hay nhánh sông). Sông chính là sông có độ dài lớn nhất hoặc có diện tích lưu vực hay lượng nước lớn nhất; sông nhánh là sông chảy vào sông chính.
=== Phân loại theo bậc sông ===
Ở mức độ chi tiết hơn người ta còn phân cấp sông: theo Horton–Strahler, các sông ở đầu nguồn được đánh số 1. Hai sông cấp 1 nhập lại tạo thành một dòng sông cấp 2. Một sông cấp 1 hợp với sông cấp 2 thì chỉ tạo thành sông cấp 2; nhưng hai sông cấp 2 nhập lại thành một sông cấp ba. Nghĩa là, hai sông phải có cùng cấp thì hợp lại được thành sông có cấp cao hơn một đơn vị. Cứ như vậy đánh số cho đến cửa sông.
=== Theo địa hình ===
Các con sông nhìn chung có thể phân thành sông chảy trên vùng có bồi tích hoặc sông chảy trên vùng có đá gốc hoặc hỗn hợp. Các con sông chảy trên vùng có bồi tích có các lòng dẫn và đồng bãi bồi là do chúng tự tạo thành trên các vật liệu trầm tích chưa gắn kết hoặc gắn kết yếu. Chúng xâm thực bờ của chúng và lắng đọng vật liệu trên các đê, cồn và trên các bãi bồi. Còn sông chảy trên đá gốc hình thành khi dòng sông xâm thực sâu cắt qua khỏi lớp trầm tích hiện đại và cắt vào lớp đá gốc nằm bên dưới. Quá trình này diễn ra ở những khu vực từng trải qua các kiểu biến động địa chất như nâng lên (làm tăng gradient của sông) hoặc ở những khu vực có thành phần đá cứng làm cho con sông dốc đến mức nó không thể tích tụ các bồi tích hiện đại. Sông chảy trên đá gốc thường rất ít có bồi tích trên đáy của chúng; các vật liệu này là đối tượng dễ xâm thực trong lòng sông.
Các sông bồi tích có thể phân chia theo hình dạng kênh dẫn như uốn khúc, bện tết, lang thang, hoặc thẳng. Hình dạng của một con sống bồi tích bị khống chế bởi các yếu tố như nguồn cung cấp trầm tích, thành phần vật chất, lưu lượng, thực vật trong lưu vực và nâng cao đáy sông.
Thế kỷ 20, William Morris Davis đưa ra một phương pháp chu kỳ xâm thực để phân loại các con sông dự trên độ "tuổi" của nó. Mặc dù hệ thống phân loại của Davis vẫn có thể tìm thấy trong một số sách hiện nay, sau thập niên 1950 và 1960 nó ngày càng bị các nhà địa mạo học chỉ trích và không chấp nhận do cách phân loại của ông không dựa trên một giả thiết có thể kiểm chứng và do đó được cho là không khoa học. Các ví dụ về phân loại sông của Davis:
Sông trẻ: là một con sông có độ dốc, có ít dòng chảy nhánh và có dòng chảy nhanh. Các lòng dẫn của nó xâm thực sâu phát triển mạnh hơn xâm thực ngang. Ví dụ như sông Brazos, Trinity và Ebro.
Sông trưởng thành: là một con sông có độ dốc nhỏ hơn sông trẻ và có dòng chảy chậm hơn. Sông trưởng thành có nhiều nhánh sông đổ vào và có lưu lượng lớn hơn sông trẻ. Lòng sông xâm thực ngang lớn hơn xâm thực sâu như sông Mississippi, Saint Lawrence, Danube, Ohio, Thames và Paraná.
Sông già: là một con sông có độ dốc thấp và có năng lượng xâm thực nhỏ. Các sông già đặc trưng bởi các bãi bồi như Hoàng Hà, sông Hằng, Tigris, Euphrates, sông Ấn và Nile.
Rejuvenated river: là sông có độ dốc tạo ra bởi sự nâng lên của kiến tạo.
== Danh sách các sông ==
=== 10 sông dài nhất thế giới ===
Việc đo chiều dài của một con sông rất khó, phần nhiều tại vì càng đo chính xác hơn thì những sông càng dài hơn. Ngoài ra, việc xác định nguồn và cửa sông cũng khó, bởi vì phần đầu của nhiều sông chỉ là dòng suối hay hồ từng mùa hoặc đầm lầy.
Đây là những con số trung bình:
Nil (6.650 km)
Amazon (6.400 km)
Dương Tử (Trường Giang; 6.300 km)
Mississippi–Missouri (6.275 km)
Obi–Irtysh (5.570 km)
Enisei–Angara (5.550 km)
Hoàng Hà (5.464 km)
Hắc Long Giang (4.410 km)
Congo (4.380 km hay 4.670 km)
Lena (4.260 km)
=== Những sông nổi tiếng ===
== Hình ảnh ==
== Đọc thêm ==
Beyond the Bridges Life on American Rivers told by Riverlorian, Jerry Hay. indianawaterways.com for more information
Jeffrey W. Jacobs. “Rivers, Major World”. Water Encyclopaedia.
Luna B. Leopold (1994). A View of the River. Harvard University Press. ISBN 0674937325. OCLC 28889034. ISBN. — a non-technical primer on the geomorphology và hydraulics of water.
== Chú thích == |
flerovi.txt | Flerovi (phát âm như "fle-rô-vi"; tên quốc tế: flerovium), trước đây tạm gọi ununquadi (phát âm như "un-un-khoa-đi"; tên quốc tế: ununquadium), nguyên tố hóa học có tính phóng xạ với ký hiệu Fl (trước đây Uuq) và số nguyên tử 114. Nguyên tố lấy tên gọi từ nhà vật lý Liên Xô Georgy Nikolayevich Flyorov (hoặc Flerov), người sáng lập ra Viện liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân ở Dubna, Nga, nơi khám phá ra nguyên tố này. Tên gọi được IUPAC phê chuẩn ngày 31 tháng 5 năm 2012.
Có khoảng 80 nguyên tử phân rã của flerovi đã được quan sát cho đến ngày nay, trong đó có 50 được quan sát trực tiếp và 30 từ phân rã của các nguyên tố nặng hơn livermori và ununocti. Tất cả phân rã được gán cho 4 đồng vị nằm cạnh với số khối 286-289. Đồng vị tồn tại lâu nhất là 289Fl có chu kỳ bán rã ~2,6 giây, mặc dù có dấu hiệu cho thấy đồng phân hạt nhân 289bFl, có chu kỳ bán rã lâu hơn là ~66 s, đó có thể là một trong các hạt nhân tồn tại lâu nhất trong vùng nguyên tố siêu nặng.
Các nghiên cứu về đặc điểm hóa học ban đầu chỉ ra rõ ràng rằng flerovi có các tính chất không giống 'eka'-chì và thể hiện ứng xử giống nguyên tố siêu nặng đầu tiên đặc trưng cho các tính chất giống khí hiếm do các hiệu ứng tương đối. Tuy nhiên, các thí nghiệm gần đây sử dụng một thiết lập khác chỉ ra rằng flerovi có thể thực sự có các tính chất của kim loại.
== Xem thêm ==
Hòn đảo ổn định
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Flerovium tại Wikimedia Commons
WebElements.com: Ununquadium
First postcard from the island of nuclear stability
Second postcard from the island of stability |
abraham.txt | Abraham (phiên âm Áp-ra-ham; Hê-brơ: אַבְרָהָם, Tiêu chuẩn Avraham Ashkenazi Avrohom hay Avruhom Tibrơ ʾAḇrāhām; Ảrập: ابراهيم, Ibrāhīm; Ge'ez: አብርሃም, ʾAbrəham), theo Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo, là tổ phụ của người Do Thái và người Ả Rập. Abraham được Thiên Chúa kêu gọi rời bỏ quê hương ở thành Ur để đến vùng đất mới Canaan. Hành động này được xem là sự chấp nhận một giao ước với Thiên Chúa: tôn thờ Yahweh là Thiên Chúa duy nhất của vũ trụ, và nhận lãnh phước hạnh dư dật của Thiên Chúa cho đến đời đời. Cuộc đời của Abraham được ký thuật trong chương 11 – 15 của sách Sáng thế ký trong Cựu Ước.
Tên ban đầu của ông là Abram (Hê-brơ: אַבְרָם, Tiêu chuẩn: Avram Tibrơ ʾAḇrām) nghĩa là "cha cao quý" hoặc "người cha được tôn kính". Về sau ông được Chúa đổi tên thành Abraham, nghĩa là "cha của nhiều dân tộc". Do vị trí đặc biệt của Abraham trong lịch sử, niềm tin và sách thánh của Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo mà ba tôn giáo này thường được gọi chung là "các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham". Trong kinh Torah và kinh Qur’an, Abraham được miêu tả là vị tổ phụ được Thiên Chúa chúc phúc. Tín hữu Do Thái giáo gọi ông là Avraham Avinu, nghĩa là "Abraham, Cha chúng ta". Thiên Chúa dành cho Abraham một lời hứa đặc biệt, ấy là bởi ông mà các dân tộc trong thế gian được hưởng phước; theo đức tin Cơ Đốc, lời hứa này được ứng nghiệm trong Chúa Cơ Đốc. Đối với người Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo, Abraham là tổ phụ của dân Israel qua Isaac, con trai ông. Riêng đối với người Hồi giáo, Abraham là một tiên tri của Hồi giáo và là tổ phụ của Muhammad qua Ishmael, một người con trai khác của Abraham.
Sách chữ Nôm tiếng Việt soạn vào thế kỷ 17 gọi Abraham là Ra Ham.
== Torah (Cựu Ước) ==
=== Lời kêu gọi ===
Theo Josephus và các học giả Do Thái như Maimonides cũng như theo truyền thống Hồi giáo, Abraham rời bỏ quê hương ở Ur xứ sở của người Khaldis (Chaldee), phía bắc vùng Mesopotamia – nay là đông nam Thổ Nhĩ Kỳ. Abraham đi đến Harran, lưu lại một thời gian ngắn, rồi cùng vợ Sarai và người cháu tên Lot, cùng các tôi tớ tiếp tục cuộc di cư đến xứ Canaan. Có hai thành phố được xem có thể là thành Ur quê hương của Abraham, cả hai đều không xa Harran: Ura và Urfa. Thiên Chúa kêu gọi Abraham đi đến "xứ mà ta sẽ chỉ cho", và hứa ban phước cho ông và làm cho dòng dõi ông trở nên một dân tộc vĩ đại (lúc ấy Abraham không có con). Tin tưởng vào lời hứa của Thiên Chúa, Abram đi xuống Shechem, tại cây dẻ bộp ông nhận lãnh lời hứa mới "Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi đất này". Sau khi "lập một bàn thờ cho Chúa, là Đấng đã hiện đến cùng người", Abram đi đến một địa điểm ở giữa Bethel và Ai, tại đây ông lập một bàn thờ cho Thiên Chúa và cầu khẩn danh Ngài.
Abram di chuyển loanh quanh trong vùng cho đến khi xảy ra tranh chấp giữa tôi tớ của ông và tôi tớ của Lot. Abram khuyên Lot nên phân rẽ khỏi ông để tránh cãi lẫy nhau, và dành cho Lot quyền ưu tiên chọn lựa đồng cỏ cho bầy chiên. Lot chọn cánh đồng màu mỡ phía đông Sông Jordan; ngay sau đó, Abram nhận lãnh thêm lời hứa từ Yahweh, ông dời trại xuống địa điểm có lùm cây dẻ bộp ở Mamre thuộc Hebron, tại đây ông lập thêm một bàn thờ cho Yahweh.
=== Sodom và Gomorrah ===
Thiên Chúa muốn diệt thành Sodom và Gomorrah vì cớ tội ác của dân trong thành. Lot, cháu của Abraham, và gia đình là cư dân của thành Sodom. Theo ký thuật trong Sáng thế ký 18, do lời nài xin của Abraham Thiên Chúa đồng ý không hủy diệt thành nếu trong thành có 50 người công chính, Abraham lại tiếp tục khẩn nài, con số 50 trở thành 45, rồi 30, 20 và cuối cùng là chỉ cần có 10 người công chính sống trong thành, vì tình thương Thiên Chúa dành cho 10 người ấy cả thành sẽ được cứu. Song vẫn không có đủ 10 người công chính, thành Sodom và Gomorrah bị diệt, nhưng Lot và gia đình được cứu (ngoại trừ vợ của Lot bị hóa thành tượng muối vì tiếc nuối của cải còn để lại trong thành).
=== Sarah và Pharaoh ===
Để tránh nạn đói đang hoành hoành trong vùng, Abraham tìm đến lánh nạn trong xứ Ai Cập. Vì e sợ nhan sắc của vợ mình sẽ khiến người Ai Cập mưu hãm hại ông, Abraham gọi Sarai là em gái. Kế sách này cũng không thể cứu Sarai khỏi tay Pharaoh, Sarai bị tiến cung trong khi Abraham được trọng thưởng với "nhiều chiên, bò, lừa đực, lừa cái, lạc đà, tôi trai và tớ gái". Nhưng khi Yahweh "hành phạt Pharaoh cùng nhà người bị tai họa lớn", nhà vua để Abram và Sarai rời khỏi Ai Cập.
=== Ishmael ===
Sarai vì vẫn không có con, lời Thiên Chúa hứa với Abram rằng dòng dõi của ông sẽ thừa hưởng làm chủ đất xem ra là không thành. Người thừa kế duy nhất của ông là Eliezer thành Damascus, người từng được gia đình ông nuôi nấng. Nhưng lời hứa của Thiên Chúa là chính người do Abraham sinh ra là người kế nghiệp ông. Chương 15 của sách Sáng thế thuật lại lời cam kết long trọng của Thiên Chúa sẽ làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài. Tuy vậy Sarai, theo tập tục thời ấy, cho người tớ gái Hagar đến hầu Abram. Nhưng khi có thai, Hagar tỏ vẻ khinh miệt chủ mình. Sarai vì đã mang tiếng là người đàn bà hiếm muộn nên ngược đãi Hagar đến nỗi Hagar phải trốn đi. Thiên Chúa nhìn thấy nỗi thống khổ của Hagar, hứa rằng dòng dõi của Hagar sẽ đông đảo đến nỗi không thể đếm được và bảo nàng trở về. Ishmael, con của Hagar, là con đầu lòng của Abram, nhưng không phải là con của lời hứa, vì Thiên Chúa chỉ lập giao ước với Abram sau khi Ismael sinh ra. Về sau, Hagar và Ishmael vĩnh viễn rời bỏ nhà của Abram.
=== Giao ước ===
Thiên Chúa đổi tên Abram thành Abraham và Sarai thành Sarah khi Ngài lập giao ước cắt bao quy đầu (circumcision), lễ cắt bao quy đầu vẫn được tuân giữ cho đến ngày nay trong vòng tín hữu Do Thái giáo và Hồi giáo. Đến thời điểm này, lời hứa Thiên Chúa dành cho Abraham được thông đạt chi tiết hơn, ấy là không chỉ dòng dõi của Abraham được "thêm nhiều quá bội" mà còn xác nhận dòng dõi này là do Sarah sinh ra. Như vậy, lời hứa của Thiên Chúa được ứng nghiệm qua Isaac, con của Sarah, mặc dù Ishmael sẽ trở nên một dân tộc lớn theo như lời Chúa hứa. Giao ước cắt bao quy đầu là cam kết song phương: nếu Abraham và hậu duệ tuân giữ giao ước thì Yahweh sẽ là Thiên Chúa của họ và sẽ ban cho họ đất hứa.
=== Hiến tế Isaac ===
Do đã cao tuổi và không còn hi vọng gì, Sarah cười thầm vì nghi ngờ lời hứa của Thiên Chúa, người con của lời hứa được đặt tên Isaac, nghĩa là cười. Khi đứa trẻ được sinh ra, Sarah đã nói, "Thiên Chúa làm cho tôi một việc vui cười; hết thảy ai hay được cũng sẽ vui cười về sự (việc) của tôi" (Sáng 21: 6).
Vâng theo mạng lịnh Thiên Chúa, Abraham dâng con trai mình Isaac làm sinh tế tại xứ Moriah, song một thiên sứ hiện ra ngăn cản người vì Chúa chỉ muốn thử thách đức tin của Abraham, ông giết một con cừu đực tìm thấy tại nơi ấy để làm sinh tế thay thế cho Isaac.
Như là phần thưởng cho lòng tuân phục, Abraham lại nhận lãnh lời hứa dòng dõi ông sẽ "nhiều như sao trên trời, đông như cát bờ biển" và hưởng lấy sự phú cường Rồi thì ông quay về Beersheba. Sự kiện dâng Isaac làm sinh tế là một trong những hành động đạo đức khó khăn và đầy thách thức nhất đã được ghi lại trong Kinh Thánh. Theo Josephus, lúc ấy Isaac 25 tuổi trong khi các hiền nhân Talmud cho rằng Isaac đã 37. Trong cả hai trường hợp, Isaac cũng là một người đã trưởng thành, đủ sức ngăn cản hành động của Abraham khi ấy đã 125 hoặc 137 tuổi.
Đến đây câu chuyện được ký thuật trong Cựu Ước tập chú vào Isaac. Abraham dành toàn bộ gia sản cho "người con trai duy nhất" Sarah chết trong tuổi già, được an táng tại Hang đá Machpelah gần Hebron mà Abraham đã mua từ Ephron người Hittite Về sau Abraham cũng an nghỉ tại đây. Sau nhiều thế kỷ, ngôi mộ của Abraham trở thành một địa điểm hành hương của người Hồi giáo với một ngôi đền Hồi giáo được xây dựng trong địa điểm này.
=== Hình tượng Abraham ===
Abraham được xem là tổ phụ của dân tộc Do Thái, con trai ông, Isaac, sinh Jacob, và từ Jacob (được đổi tên thành Israel) sản sinh Mười hai Chi phái. Thiên Chúa đã "thử thách đức tin" Abraham nhiều lần, quan trọng nhất là lần Chúa đòi hỏi ông phải dâng con trai Isaac làm sinh tế. Thiên Chúa hứa ban xứ Isreal cho dòng dõi ông, và đây là lần đầu tiên có lời hứa ban xứ sở Israel cho dân Do Thái. Do Thái giáo miêu tả những đặc điểm của mỗi tổ phụ. Tính cách nổi bật của Abraham là lòng nhân ái. Vì lẽ đó, Do Thái giáo nhìn xem lòng nhân ái là tính cách cố hữu của dân tộc Do Thái.
Kinh Thánh miêu tả Abraham là một người giàu có, quyền thế và đạo hạnh, nhưng cũng mang trên mình những khiếm khuyết của con người chẳng hạn như khi lâm vào những tình huống khó khăn ông thường lo lắng và phạm sai lầm, đôi khi thiếu ngay thẳng và cũng có lúc sống như một người chồng vô tâm. Song Abraham là nhân vật trung tâm của sách Sáng thế, ở đây chân dung của ông được phác họa như là một người yêu dấu của Thiên Chúa không ai sánh bằng. Cuộc sống của những thế hệ sản sinh từ Abraham được dùng làm chất liệu để thể hiện cung cách Thiên Chúa định hình thế giới cũng như phương cách Ngài thiết lập lãnh thổ và các mối quan hệ giữa các dân tộc.
Là cha của Isaac và Ishmael, Abraham được xem là tổ phụ của dân Israel và các dân tộc lân cận. Abraham là cha của Ishmael, mười hai con trai của Ishmael về sau trở thành những ông hoàng của sa mạc (nổi bật nhất là Nebaioth và Kedar), cùng với Midian, Sheba và các bộ tộc Ả Rập khác. Những ký thuật trong Sáng thế ký cho thấy dòng dõi của Isaac bị bao vây bởi các dân tộc anh em, thường là thù địch với nhau.
Những sách khác trong Kinh Thánh miêu tả một tình yêu đặc biệt Thiên Chúa dành cho Abraham. Ông thường được gọi là bạn của Thiên Chúa, hoặc chính Thiên Chúa gọi ông, "Abraham bạn ta".
== Tân Ước ==
Abraham có vai trò đặc biệt trong Tân Ước, ở đây ông được tôn vinh là anh hùng đức tin. Sứ đồ Phao-lô xem ông là hình mẫu cho giáo lý cứu rỗi bởi đức tin, là tổ phụ của Chúa Cơ Đốc (tức là Đấng Messiah), và khẳng định rằng mọi người có đức tin đều là hậu duệ của Abraham.
Các tác giả Tân Ước ghi lại rằng Chúa Giê-xu đã nhắc đến Abraham nhằm hậu thuẫn cho niềm tin vào sự sống lại của người chết, "Còn về những người chết được sống lại, thì trong sách Môi-se có chép lời Thiên Chúa phán cùng người trong bụi gai rằng: Ta là Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Jacob, các ngươi há chưa đọc đến sao? Ngài chẳng phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống! Thật các ngươi lầm to." (Phúc âm Mark 12: 26-27). Tân Ước cũng xem Abraham là người thuận phục Thiên Chúa, hành động dâng con trai Isaac làm sinh tế được xem là đỉnh cao của đức tin trọn vẹn vào Thiên Chúa. "Bởi đức tin, Abraham dâng Isaac trong khi bị thử thách: người là kẻ nhận lãnh lời hứa, dâng con một mình, là về con đó mà Thiên Chúa có phán rằng: Ấy bởi trong Isaac mà ngươi sẽ có một dòng dõi lấy tên ngươi mà kêu. Người tự nghĩ rằng Thiên Chúa có quyền khiến kẻ chết sống lại; cũng giống như từ trong kẻ chết mà người lại được con mình" (Hebrews 11: 17-19). Theo quan điểm truyền thống của Cơ Đốc giáo, lời hứa quan trọng nhất Thiên Chúa dành cho Abraham được ký thuật trong Sáng thế ký 12. 3, "Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước." được ứng nghiệm qua dòng dõi của Abraham, ấy là mọi dân tộc trên đất sẽ được chúc phước. Song, Giăng Báp-tít dạy rằng nếu chỉ đơn giản là hậu duệ của Abraham theo huyết thống thì không được bảo đảm cho sự cứu rỗi. Như vậy, theo đức tin của tín hữu Cơ Đốc, lời hứa trong Sáng thế ký được ứng nghiệm trong Chúa Giê-xu, hậu duệ của Abraham. Cũng từ lời hứa này mà Cơ Đốc giáo rộng mở cho mọi người thuộc mọi chủng tộc, chứ không chỉ giới hạn trong vòng dân tộc Do Thái.
== Hồi giáo ==
Abraham, hoặc Ibrahim trong tiếng Ả Rập, có vị trí rất quan trọng đối với Hồi giáo như là một nhà tiên tri và là cha của Ishamel và Isaac. Người Hồi giáo xem Ishmael, con trai đầu lòng của Abraham, là tổ phụ của người Ả Rập, và Isaac là tổ phụ của người Do Thái. Người Hồi giáo tôn kính Abraham như là một trong những tiên tri quan trọng nhất của Hồi giáo, thường gọi ông là Khalil Ullah, "Bạn của Thiên Chúa". Abraham được xem là một Hanif, nghĩa là người khám phá độc thần giáo.
Người Hồi giáo tin rằng sinh thời Abraham đã xây cất Kaaba, đền thánh tại Mecca, Kaaba được xây dựng theo sự chỉ dẫn của Thiên Chúa. Họ cũng tin rằng dấu chân của Abraham vẫn còn lưu lại trên một tảng đá trong ngôi đền. Những cuộc hành hương (hajj) được tổ chức hằng năm, một trong những trụ cột của niềm tin Hồi giáo, thu hút hàng triệu người Hồi giáo đi theo bước chân Abraham, Hagar và Ishmael trong cuộc hành trình đến thánh địa Kaaba.
== Tôn giáo khởi nguồn từ Abraham ==
Các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham được miêu tả trong Kinh Torah, Kinh Thánh và Kinh Qur'an, với đặc điểm chung là độc thần luận, bao gồm: Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo, chiếm gần một nửa số người theo tôn giáo trên thế giới. Một số tôn giáo khác có liên hệ với truyền thống Do Thái có thể được nhìn nhận có khởi nguồn từ Abraham như Bahá'í, Druze giáo, Mandae giáo, Sikh giáo và phong trào Rastafari.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Tôn giáo khởi nguồn từ Abraham
Thuyết độc thần
Do Thái giáo
Kitô giáo
Hồi giáo
Moses
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The Jewish History Resource Center Project of the Dinur Center for Research in Jewish History, The Hebrew University of Jerusalem
Early Wars of Israel Abraham's Wars & others
Abraham in all three Abrahamic faiths
Abraham's sacrifice: an Islamic perspective
GospelTruth—God's promises to Abraham according to Christian belief
Biblical Archeology—Bible-related article about Abraham
The Legacy of Abraham—Time magazine cover story
Abraham's vision in the Qur'an
Millat-e-Ibrahim: Prophet Abraham's Way by ClearVision Pakistan
Children of Abraham—episode of the weekly Minnesota Public Radio show Speaking of Faith
Abraham by Rob Bradshaw An extensive dictionary-style article.
A.R. Millard & D.J. Wiseman, eds., Essays on the Patriarchal Narratives. Leicester: IVP, 1980. Hbk. ISBN 0-85111-743-0.
The Abraham Cycle: Psychological Archetypes of Genesis
Biblaridion magazine: The Covenant of Genesis 15
Biblaridion magazine: The Wells of Salvation: The theology of water conflict in the patriarchal narratives
Biblaridion magazine: The sister-wife motif in the patriarchal narratives
"Abraham" in Christian Iconography |
danh sách các công ty internet lớn nhất.txt | Đây là một danh sách liệt kê các công ty Internet lớn nhất trên thế giới dựa trên doanh thu và giá trị vốn hóa thị trường. Danh sách này chỉ tính các công ty chấm-com, được định nghĩa là một công ty thực hiện đa số thương vụ trên Internet, với doanh thu vượt trên 1 tỷ USD, không tính các nhà cung cấp dịch vụ Internet hay các công ty công nghệ thông tin khác. Để xem danh sách tổng quát hơn về các công ty IT, xem danh sách các công ty công nghệ lớn nhất.
== Danh sách ==
== Xem thêm ==
Danh sách các công ty công nghệ lớn nhất
List of the largest software companies
Semiconductor sales leaders by year
List of largest companies by revenue
List of largest employers
== Chú thích ==
Bản mẫu:Các công ty công nghệ thông tin lớn |
tập đoàn softbank.txt | Tập đoàn SoftBank (tiếng Anh: SoftBank Group Corp., ソフトバンクグループ株式会社, Sofutobanku Gurūpu Kabushiki-gaisha) là một công ty viễn thông đa quốc gia và tập đoàn Internet của Nhật Bản, được thành lập ngày 3 tháng 9 năm 1981, có trụ sở ở Tokyo, Nhật Bản. Nó có các hoạt động băng thông rộng, viễn thông cố định, thương mại điện tử, Internet, dịch vụ công nghệ, tài chính, truyền thông đại chúng và tiếp thị, thiết kế bán dẫn, và các lĩnh vực khác. Người đứng đầu công ty cũng là người sáng lập Masayoshi Son.
== Lịch sử ==
=== Sáng lập và giai đoạn đầu ===
=== Phát triển gần đây (2015-2017) ===
== Các đơn vị kinh doanh ==
== SoftBank Corp. ==
=== J-PHONE ===
=== Vodafone ===
=== SoftBank Mobile ===
=== Công nghệ ===
=== Thời gian biểu ===
1984-10: JAPAN TELECOM was founded.
1986-08: JAPAN TELECOM launches leased circuit services.
1986-12: RAILWAY TELECOMMUNICATION established.
1989-05: RAILWAY TELECOMMUNICATION merges with JAPAN TELECOM.
1991-07: Tokyo Digital Phone established.
1994-04: J-Phone starts PDC cellular service in the 1.5 GHz band, 10 MHz bandwidth.
1997-11: J-Phone launches SkyWalker SMS service designed by Aldiscon and Ericsson for PDC
1998-11: J-Phone launches SkyMelody ringtone download service
1999-12: J-Phone launches J-Sky wireless Internet service ten months after NTT DoCoMo's i-mode, which was launched in February 1999.
2000-11: J-Phone launches Sha-Mail (写メール) picture messaging service using the world's first camera phones developed by SHARP
2001-06: J-Phone launches Java service with JSCL library
2002-12: J-Phone launches W-CDMA 3G service for the first time
2002-08: Company name was changed to JAPAN TELECOM HOLDINGS.The fixed-line telecommunications business was also separated to found a new JAPAN TELECOM.
2003-10: J-Phone company name is changed to Vodafone K.K., and J-Sky name is changed to Vodafone live!. Vodafone launches a Japan-nationwide Beckham campaign
2003-12: Company name was changed to Vodafone Holdings K.K.
2004-10: Vodafone K.K. merges with Vodafone Holdings K.K. and company name is changed to Vodafone K.K.
2004-10: Vodafone relaunches the 3G services in Japan a second time offering mobile phone handsets designed primarily for the European markets
2005 summer: Vodafone changes management and relaunches 3G services in Japan a third time
2006-03-17: Vodafone officially announced it had agreed to sell Vodafone Japan (Vodafone KK) to SoftBank for a total of 1.75 trillion Japanese yen (approx US$15.1 billion) in one of the largest M&A transactions in Japan to date
2006-04-14: SoftBank and Vodafone K. K. jointly announced, that the name of the company will be changed to a "new, easy-to-understand and familiar" company name and brand. Masayoshi Son became CEO and Representative Director of Vodafone K. K.
2006-05-01: Headquarters moved from Atago Hills to Shiodome to integrate operations with other SoftBank group companies.
2006-05-18: SoftBank announced that the name of the company will be changed to "SoftBank Mobile Corp." effective ngày 1 tháng 10 năm 2006
2006-06-16: SoftBank started rebranding "Vodafone" to "SoftBank."
2006-10-01: Vodafone Japan company name is changed to "SoftBank Mobile Corp."
2008-06-02: SoftBank Mobile releases iPhone in Japan beating NTT DoCoMo.
2008-12-09: SoftBank Mobile joins Open Handset Alliance.
2009-05-15: SoftBank Mobile joins TransferJet Consortium [1].
2010: Softbank purchased 100% of the PHS mobile operator Willcom.
2012-05-29: SoftBank Mobile unveils the Pantone 5 107SH, a mobile phone with a built-in geiger counter.
=== Thư viện ảnh ===
== Tiếp thị ==
== Tiền thưởng cho trẻ em ==
== Xem thêm ==
List of mobile network operators of the Asia Pacific region
List of telephone operating companies
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
Annual Report (PDF), JP: SoftBank, 2008, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2009 .
== Liên kết ngoài ==
SoftBank Group Corporation |
bóng quần.txt | Bóng quần hay squash là môn thể thao dùng vợt, có hai người chơi (đơn) hoặc bốn (đôi) trong một sân kín bốn bên với một quả bóng cao su nhỏ và rỗng.
Người chơi phải luân phiên nhau thực hiện cú đánh bóng bằng vợt vào các khu vực hợp lệ trên bốn vách tường của sân thi đấu.
Trò chơi trước gọi là squash rackets để nói về trái bóng mềm dễ nén ("squash" nghĩa là nén hay ép) được sử dụng trong bóng quần (so với trái bóng cứng hơn của môn rackets có quan hệ gần gũi với bóng quần).
== Lịch sử ==
Bóng quần sử dụng vợt giống quần vợt, môn thể thao có từ thế kỷ 16. Mặc dù vậy bóng quần lại có nguồn gốc trực tiếp từ môn rackets ở Anh. Trong môn "rackets", thay vì đánh bóng qua lưới, người chơi đánh quả bóng mềm vào tường.
Bóng quần được phát minh tại Trường Harrow trên cơ sở môn rackets vào khoảng năm 1830. Bóng quần sau đó được truyền bá sang các trường khác, và dần trở thành môn thể thao quốc tế. Các sân bóng quần đầu tiên được xây tại trường này khá bất trắc vì gần đó có nhiều ống nước, ống khói, trụ tường hay gờ tường. Nhà trường sau đó xây bốn sân ngoài trời. Cao su tự nhiên được chọn là chất liệu chính cho trái bóng. Các học sinh cũng sửa lại cán vợt của mình để có thể thi đấu trong không gian chật hẹp.
Vợt bóng quần theo thời gian có những sự thay đổi theo cách khá giống với vợt tennis. Vợt squash trước đây làm bằng gỗ phiến. Vào thập niên 1980, người ta chuyển sang các vật liệu nhẹ hơn (như nhôm và graphit) với một số bổ sung nhỏ về thành phần như Kevlar, bo và titan. Dây vợt bằng chất liệu tự nhiên cũng được thay bằng dây nhân tạo.
Sân bóng quần đầu tiên ở Bắc Mỹ xuất hiện tại Trường St. Paul's ở Concord, New Hampshire vào năm 1884. Vào năm 1984 tại Philadelphia, Pennsylvania, hiệp hội squash quốc gia đầu tiên trên thế giới với tên gọi Hiệp hội Squash rackets Hoa Kỳ (United States Squash rackets Association, USSRA), hay ngày nay là U.S. Squash. Vào tháng 4 năm 1907, Tennis, rackets & Fives Association (Hiệp hội Quần vợt, rackets và Fives) lập ra một ủy ban trực thuộc nhằm lập ra tiêu chuẩn cho môn squash. Từ đó môn thể thao được hình thành, kết hợp ba môn thể thao trên với nhau và chính thức được gọi tên là “Squash”. Vào năm 1912, tàu RMS Titanic có một sân bóng quần ở khoang hạng nhất. Để sử dụng sân này phải một người bỏ ra 50 cent. Hành khách có thể sử dụng sân tới một giờ đồng hồ nếu không có ai đang chờ đến lượt. Tới năm 1923 Royal Automobile Club (Câu lạc bộ Ô tô Hoàng gia) tổ chức buổi họp mặt để thảo luận thêm về quy tắc và luật lệ và 5 năm sau Hiệp hội Squash rackets Anh Quốc được thành lập để thiết lập các tiêu chuẩn dành cho môn bóng quần ở Đảo Anh.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Satterthwaite, Frank (1979). The three-wall nick and other angles: a squash autobiography. New York: Holt, Rinehart, and Winston. ISBN 0-03-016666-7.
Zug, James; Plimpton, George (2003). Squash: a history of the game. New York: Scribner. ISBN 0-7432-2990-8.
== Liên kết ngoài ==
World Squash Federation |
máy bay dân dụng.txt | Một máy bay dân dụng, máy bay chở khách là một loại máy bay vận chuyển hành khách và hàng hóa. Loại máy bay này thường được các hãng hàng không điều hành.
Máy bay dân dụng khác máy bay quân sự là nó không phục vụ cho mục đích chiến tranh mà được sử dụng vào mục đích thương mại.
== Lịch sử ==
=== Trước chiến tranh ===
Khi hai anh em nhà Wright chế tạo ra máy bay lần đầu tiên họ đã đặt nền móng cho ngành hàng không dân dụng sau này. Những máy bay này thay đổi xã hội, kinh tế, và chính trị thế giới trong một cách mà chưa bao giờ được thực hiện trước đây. Chuyến bay của họ trong năm 1903 chỉ 11 năm trước khi những gì thường được xác định là chiếc máy bay chở khách đầu tiên trên thế giới. Đó là chiếc Sikorsky Ilya Muromets của Nga, một chiếc máy bay xa xỉ có buồn riêng cho khách, lò sưởi, đèn điện, giường ngủ, nhà xí. Chiếc Ilya Muromets bay lần đầu tiên vào ngày 10 tháng 12 năm 1913. Vào ngày 25 tháng 2 năm 1914, nó cất cánh với 16 hành khách. Từ 21 – 23 tháng 6, nó bay từ Saint Petersburg tới Kiev và trở về chỉ mất 14 giờ 38 phút mà chỉ đáp xuống một lần. Tuy nhiên vì chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu, nó không bao giờ được dùng làm máy bay thương mại.
Năm 1915 máy bay đầu tiên được sử dụng với mục đích thương mại được sử dụng bởi Elliot. Máy bay đã là một Curtiss GA 4, một cánh hai tầng được sử dụng chủ yếu là trong Chiến tranh thế giới thứ I như một máy bay huấn luyện. Sau đó, nó được dùng như một chuyến bay du ngoạn và để phổ biến máy bay trong những năm 1920.
== Các loại ==
=== Máy bay thân rộng ===
Máy bay dân dụng lớn nhất là máy bay phản lực thân rộng, một trong số chúng là Boeing 747, Boeing 767, Boeing 777, Boeing 787, Airbus A300/A310, Airbus A330, Airbus A340, Airbus A350, máy bay A380,... Những chiếc máy bay này thường được sử dụng cho các chuyến bay đường dài giữa hãng hàng không trung tâm thành phố lớn với rất nhiều hành khách.
=== Máy bay thân hẹp ===
Một loại máy bay nhỏ hơn là máy bay thân hẹp, thân chúng thường ốm và thuôn dài hơn, sức chứa hành khách ít hơn so với máy bay thân rộng. Chúng thường được trang bị hai đông cơ hai bên cánh.
Ví dụ như chiếc Boeing 717, 737, 757, Chiếc DC-9 và BÉ 80/BÉ 90 loạt máy bay A320, Tu-204, Tu-214, máy bay E-máy bay Phản lực 190 và 195 và 334,...
=== Máy bay tuyến gần ===
Máy bay tuyến gần thường có chỗ ngồi ít hơn 100 hành khách và có thể được sứ dụng bở động cơ tuabin quạt hoặc động cơ tuốc bin cánh quạt. Những máy bay này bay các tuyến bay chính với khoảng cách ngắn, đối với các máy bay lớn hơn hoạt động cho Hãng hàng không quốc gia và được sử dụng để giao thông tuyến gần giữa các thành phố lân cận hay bay ra một hòn đảo ven biển. Những đường băng mà máy bay này thực sự cần để cất và hạ cánh là rất ngắn, hầu hết tất cả các sân bay dù nhỏ nhất cũng có thể cho loại máy bay này bay. Do đó nó cũng là một loại máy bay rất phổ biến khi các hành khách không cần đi máy bay lớn, sang trọng mà chỉ cần đi nhanh đến các địa điểm gần hơn mà họ muốn đi.
Máy bay này thường được sử dung trong các hãng hàng không nhỏ hoặc tư nhân. Các dịch vụ trên chuyến bay cũng bị hạn chế như hành khách thường không được ăn uống trên chuyến bay và buộc phải mang hành lý có hạn,...
Máy bay điển hình trong thể loại này bao gồm các Bombardier CRJ 700 và Embraer ERJ, ATR 42 / 72 và Saab 340 / 2000 tất cả chúng đều là máy bay phản lực cánh quạt.
== Cấu hình ==
== Nhà sản xuất hiện tại ==
Các nhà sản xuất máy bay hiện đang trong sản xuất bao gồm:
== Máy bay đáng chú ý ==
== Tham khảo ==
== Tham khảo ==
Benson, Tom (2010-09-13). Tua-Bin Khí Động Lực. NASA, Glenn trung Tâm Nghiên cứu, 13 tháng chín, năm 2010. Lấy từ http://www.grc.nasa.gov/WWW/K-12/airplane/turbine.html.
"Ngành Hàng Không." Quốc tế Bách khoa toàn thư của Khoa học Xã hội. Năm 2008. Ngày 25 Tháng ba năm 2011 Encyclopedia.com: http://www.encyclopedia.com/doc/1G2-3045300147.html
Brayton chu kỳ nhiệt http://www.grc.nasa.gov/WWW/K-12/airplane/brayton.html
Newhouse, John. Các Trò chơi thể Thao: Những Nguy cơ Cao cạnh Tranh, kinh Doanh của Làm và Bán máy Bay thương Mại. New York: Alfred A. Diễn viên Năm 1982. VÀ 978-0-394-51447-5.
== Liên kết ngoài ==
Boeing
Airbus (ĐỨC)
Quốc tế Thuê Công ty Tài chính
Máy bay
Ném bom
BÁO
Canada Không An ninh Vận chuyển Quyền (CATSA) trang web
Airliners.net
Máy bay.se |
ngưỡng nghèo.txt | Ngưỡng nghèo hay mức nghèo, là mức chi dùng tối thiểu, được xác định như tổng số tiền chi cho giỏ hàng tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng tối thiểu lương thực thực phẩm và đồ dùng cá nhân, cần thiết để bảo đảm cuộc sống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành, và các khoản chi bắt buộc khác.
Người ở ngưỡng nghèo là người có tổng thu nhập tương đương với tổng chi dùng tối thiểu đó.
Nhiều nước trên thế giới ấn định ngưỡng nghèo thành một điều luật. Ở các nước phát triển ngưỡng nghèo cao hơn đáng kể so với các nước đang phát triển. Hầu như mọi xã hội đều có các công dân đang sống nghèo khổ.
== Chuẩn nghèo tại Việt nam ==
Tại Việt nam ngưỡng nghèo được đánh giá thông qua chuẩn nghèo, dựa trên các tính toán của các cơ quan chức năng như Tổng cục Thống kê hay Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (MOLISA).
Chuẩn nghèo theo Tổng cục Thống kê được xác định dựa trên cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (WB), gồm hai mức:
nghèo lương thực thực phẩm: tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần lương thực thực phẩm, làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là 2100 kcal/ngày đêm;
nghèo chung: tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác định bằng cách ước lượng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm, 30% cho các khoản còn lại.
Theo cách xác định trên, năm 1998 chuẩn nghèo lương thực thực phẩm của Việt nam bằng 107 234 VND/tháng; chuẩn nghèo chung bằng 149 156 VND/tháng . Năm 2006 các mức chuẩn này đã được xác định lại và bằng ? Để đánh giá chính xác ngưỡng nghèo cho các thời điểm, các mức chuẩn cần hiệu chỉnh lại theo chỉ số giá tiêu dùng.
Chuẩn nghèo của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội được xác định một cách tương đối bằng cách làm tròn số và áp dụng cho từng khu vực và vùng miền khác nhau (nông thôn miền núi, hải đảo, nông thôn đồng bằng, thành thị)
== Tỷ lệ nghèo của xã hội ==
Ngưỡng nghèo là công cụ để đo tỷ lệ nghèo trong xã hội – một chỉ số quan trọng phản ánh mức sống của xã hội về mặt thu nhập cá nhân. Tỷ lệ nghèo là tỷ lệ số hộ có thu nhập dưới hoặc bằng chuẩn nghèo đối với toàn bộ số hộ trong quốc gia.
Các cải cách kinh tế-xã hội như phúc lợi xã hội và bảo hiểm thất nghiệp được tiến hành dựa trên những phản ánh của các chỉ số như ngưỡng nghèo và tỷ lệ nghèo.
== Các yếu tố của ngưỡng nghèo ==
Việc xác định ngưỡng nghèo thường được thực hiện bằng cách tìm ra tổng chi phí cho tất cả các sản phẩm thiết yếu mà một người lớn trung bình tiêu thụ trong một năm. Phương pháp tiếp cận này dựa trên cơ sở rằng cần một mức chi tiêu tối thiểu để đảm bảo duy trì cuộc sống. Đây đã là cơ sở ban đầu của ngưỡng nghèo ở Hoa Kỳ, mức chuẩn này đã được nâng lên theo lạm phát. Trong các nước đang phát triển, loại chi dùng đắt nhất trong các khoản là trả cho thuê nhà (giá thuê căn hộ). Do đó, các nhà kinh tế đã đặc biệt chú ý đến thị trường bất động sản và giá thuê nhà vì ảnh hưởng mạnh mẽ của chúng lên ngưỡng nghèo. Các yếu tố cá nhân thường được nghiên cứu như vị trí trong gia đình: người đó có phải là bố mẹ, người già, trẻ con, kết hôn hay không, v.v.
== Các vấn đề trong việc sử dụng ngưỡng nghèo ==
Sử dụng ngưỡng nghèo thường có vấn đề vì có một mức thu nhập tiệm cận trên ngưỡng này về bản chất không khác mấy so với mức thu nhập tiệm cận dưới: các hiệu ứng tiêu cực của nghèo có xu hướng liên tục hơn là rời rạc và mức thu nhập thấp tương tự tác động những người khác nhau theo những cách khác nhau. Để vượt qua được điều này, các chỉ số nghèo đói đôi khi được sử dụng thay vì ngưỡng nghèo; xem income inequality metrics.
Một ngưỡng nghèo dựa trên phương pháp tiêu chuẩn đánh giá thu nhập định lượng, hay dựa trên số lượng thuần túy. Nếu các chỉ số phát triển con người khác như y tế và giáo dục được sử dụng thì các chỉ số này phải được định lượng, chứ không chỉ là một nhiệm vụ (kể cả đạt được) đơn giản.
== Nghèo tuyệt đối ==
nghèo tuyệt đối(absolute poverty) là thước đo những người dưới 1 ngưỡng nghèo nhất định, tính chung cho toàn thể nhân loại, không kể không gian hay thời gian.Nó được xác định bằng số thu nhập cho 1 cá nhân đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu cơ bản để tồn tại, như thức ăn, nơi ở, quần áo,...Ngưỡng nghèo tuyệt đối thường dùng của WB là 1-2 USD/ngày(tính theo PPP).
== Nghèo tương đối ==
là tình trạng sống dưới 1 mức tiêu chuẩn sống có thể chấp nhận được tại 1 địa điểm và thời gian xác định.Như vậy, nghèo tương đối có sự khác biệt tùy theo đặc điểm kinh tế, văn hóa-xã hội, quan niệm của từng quốc gia, khu vực, vùng miền khác nhau.
== Nguồn tham khảo == |
thời đại đồ đá.txt | Bản mẫu:Ăơ1000 bài cơ bản
Thời kỳ đồ đá là một thời gian tiền sử dài trong đó con người sử dụng đá để chế tạo nhiều đồ vật
Các công cụ đá được chế tạo từ nhiều kiểu đá khác nhau. Ví dụ, đá lửa và đá phiến silic được mài sắc (hay được đẽo) để làm công cụ cắt gọt và vũ khí, trong khi đá basalt và đá sa thạch được dùng làm công cụ (ground stone), như đá nghiền. Gỗ, xương, vỏ sò và sừng thú cũng được sử dụng nhiều. Ở thời kỳ cuối của giai đoạn này, những trầm tích (như đất sét) được sử dụng làm đồ gốm. Nhiều cải tiến trong kỹ thuật gia công kim loại đã định rõ đặc điểm cho thời kỳ đồ đồng và thời kỳ đồ sắt.
Thời kỳ này là giai đoạn đầu tiên con người sử dụng kỹ thuật một cách rộng rãi trong tiến trình phát triển của con người và con người tiến từ phía các thảo nguyên ở Đông Phi về các phần còn lại của thế giới. Nó kết thúc với sự phát triển nông nghiệp, sự thuần hoá một số loài súc vật và sự nấu chảy quặng đồng để gia công kim loại. Nó được đặt thuật ngữ là tiền sử, bởi vì con người vẫn chưa bắt đầu biết viết - sự khởi đầu truyền thống của lịch sử (như sử được ghi chép).
Thuật ngữ "Thời đồ đá" được các nhà khảo cổ học sử dụng để chỉ giai đoạn tiền kim loại kéo dài này, trong đó các dụng cụ đá được sử dụng nhiều hơn bất kỳ một loại vật liệu (mềm hơn) nào khác. Nó là thời kỳ đầu tiên trong hệ thống ba thời kỳ và được chia nhỏ thêm ra thành ba giai đoạn là giai đoạn đồ đá cũ, giai đoạn đồ đá giữa và giai đoạn đồ đá mới bởi John Lubbock trong cuốn sách kinh điển của ông Những thời đại tiền sử năm 1865. Ba giai đoạn đó lại được chia nhỏ nữa. Trên thực tế, những giai đoạn tiếp theo khác biệt nhau rất lớn theo từng vùng (và theo văn hoá). Thực vậy, con người tiếp tục tiến đến các vùng mới thậm chí tới tận thời đồ kim loại vì thế tốt nhất là chỉ nói về một Thời đồ đá, thay vì nói chung Thời đồ đá.
== Thời kỳ đồ đá trong khảo cổ học ==
Phạm vi thời gian của giai đoạn này rất mơ hồ, bị tranh cãi, và khác nhau tùy theo vùng. Trong khi không thể đưa ra được một giai đoạn "Thời kỳ đồ đá" chung cho toàn nhân loại, một số nhóm người không bao giờ phát triển kỹ thuật nấu chảy kim loại, vì vậy họ vẫn ở trong "Thời kỳ đồ đá" cho tới khi họ gặp những nền văn hóa có kỹ thuật phát triển hơn. Tuy nhiên, nói chung, mọi người tin rằng thời kỳ này đã bắt đầu vào khoảng 3 triệu năm trước, bắt đầu cùng lúc với vượn người biết chế tạo dụng cụ ở Châu Phi. Đa số những người vượn phương Nam có lẽ đã không sử dụng dụng cụ đá (mặc dầu có lẽ chúng đã được phát minh bởi Paranthropus robustus) nhưng việc nghiên cứu những di vật của họ vẫn đang để dành cho các nhà khảo cổ học nghiên cứu về giai đoạn này.
Năm 2010, các mẫu xương động vật hóa thạch được gọt đẽo từ các công cụ đồ đá được phát hiện trong thung lũng Hạ Awash ở Ethiopia. Nhóm công tác quốc tế do Shannon McPherron dẫn đầu đã phát hiện ra rằng các công cụ đồ đá cổ nhất đã từng được sử dụng có tuổi 3,4 triệu năm. Các công cụ đồ đá cổ nhất từng được biết đến đã được khai quật ở nhiều nơi thuộc Gona, Ethiopia, trong các trầm tích cổ của sông Awash. Tất cả các công cụ trong hệ tầng Busidama, nó nằm trên một bất chỉnh hợp (thiếu lớp) có tuổi từ 2,9 đến 2,7 triệu năm. Các vị trí khảo cổ cổ nhất có chứa công cụ đồ đá định tuổi được từ 2,6–2,55 triệu năm.
Vì sự phong phú của đồ vật tạo tác bằng đá, chúng thường là những di vật duy nhất còn sót lại, việc phân tích đá là cách chính và chuyên biệt để khảo sát về giai đoạn này. Nó liên quan tới việc đo đạc các công cụ bằng đá để xác định các kiểu hình thức, chức năng và kỹ thuật có liên quan của công cụ. Thường là phân tích cách đẽo đá từ nguyên liệu thô, nghiên cứu cách thức chế tác thực tế của những vật đó. Điều này cũng có thể được xem xét dựa trên khảo cổ học thực nghiệm, bằng cách cố sức tạo ra các dụng cụ tương tự. Việc này được thực hiện bởi những người tạo tác đá lửa, họ đẽo một viên đá lửa để tạo ra một công cụ bằng đá lửa.
=== Cách sử dụng mới của thuật ngữ ===
Một vấn đề với thuật ngữ này là nó ngụ ý rằng sự tiến bộ của loài người và các giai đoạn thời đại ở tiền sử chỉ được đo đạc bằng kiểu dụng cụ được sử dụng nhiều nhất ở thời gian đó, hơn là, ví dụ, kiểu tổ chức xã hội, nguồn thức ăn được khai thác, hay sự thích nghi theo các kiểu khí hậu khắc nghiệt. Đây là một sản phẩm của mức độ hiểu biết về quá khứ đã xa ở thế kỷ 19 khi hệ thống ba thời kỳ được phát triển, thời điểm mà việc tìm ra các dụng cụ tạo tác là mục đích chính của một cuộc khai quật khảo cổ. Các kỹ thuật khảo cổ hiện đại mang lại nhiều thông tin hơn và giúp chúng ta có được hiểu biết tốt hơn về thời tiền sử và nêu ra những sự phân chia rõ ràng cho thuật ngữ "Thời đồ đá" đã ngày càng lỗi thời. Hiện nay chúng ta biết rằng những thay đổi trong xã hội quá khứ trong hàng nghìn năm là rất phức tạp và liên quan tới nhiều nhân tố như sự chấp nhận nông nghiệp, định cư hay tôn giáo và rằng việc sử dụng công cụ chỉ là một dấu hiệu không mang ý nghĩa đại diện cho thực tiễn và đức tin của một xã hội.
Một vấn đề khác liên quan tới thuật ngữ Thời kỳ đồ đá là nó được tạo ra để miêu tả văn hóa khảo cổ của Châu Âu, và rằng nó không thích hợp để sử dụng trong mối quan hệ với các vùng như một số vùng ở Châu Mỹ và Châu Đại Dương, nơi những người trồng cấy hay những người săn bắt và hái lượm sử dụng công cụ bằng đá tới tận khi công cuộc thực dân hóa của người châu Âu bắt đầu. Việc chế tác kim loại là một thứ không có tầm quan trọng lớn đối với người dân ở đó và nên dùng những thuật ngữ khác để phân chia thời tiền sử ở những vùng đó. Một sự phi lý giống như vậy khi áp đặt Thời đại đồ sắt ra khắp thế giới, bởi vì sắt (không phải đồng, bạc hay vàng) không được biết tới ở châu Mỹ cho tới tận năm 1492, ở châu Đại Dương tới tận thế kỷ 17.
Tiếp sau Thời kỳ đồ đá thường là Thời kỳ đồ đồng, trong đó kỹ thuật chế tác kim loại cho phép các công cụ bằng đồng (đồng và thiếc hay các kim loại khác) trở nên nhiều hơn. Sự chuyển giao của thời đồ đá diễn ra khoảng giữa 6000 TCN và 2500 TCN đối với đa số dân cư sống tại Bắc Phi, châu Á và châu Âu. Ở một số vùng, như Hạ Sahara châu Phi, thời đại đồ đá được nối tiếp trực tiếp bởi thời đồ sắt. Mọi người thường cho rằng các vùng ở Trung Đông và Đông Nam Á đã tiến triển vượt qua kỹ thuật thời đồ đá vào khoảng năm 6000 TCN. châu Âu và phần còn lại của châu Á đã ở thời xã hội hậu đồ đá vào khoảng năm 4000 TCN. Các nền văn hóa tiền-Inca ở Nam Mỹ tiếp tục ở trình độ thời đồ đá đến tận khoảng năm 2000 TCN, khi vàng, đồng và bạc bắt đầu xuất hiện, những nơi khác xảy ra muộn hơn. Australia vẫn ở thời đồ đá tới tận thế kỷ 17.
Chúng ta cũng biết rằng sự chuyển đổi từ Thời đồ đá sang Thời đồ đồng không phải là một thời điểm rõ ràng mà lâu dài, sự chế tác vàng và đồng dần xuất hiện ở những điểm ở Thời đồ đá mới. Giai đoạn "chuyển tiếp" này được gọi là Thời đồ đồng hay Chalcolithic. Nó là một sự phát triển ngắn và mang nhiều tính địa phương bởi vì việc tạo hợp kim thiếc với đồng đã bắt đầu khá sớm, trừ khi tại những vùng không có thiếc. Ví dụ Người băng Ötzi, một xác ướp từ khoảng năm 3300 TCN có mang bên mình một cái rìu đồng và một con dao bằng đá lửa. Việc chế tạo công cụ bằng đá vẫn tiếp diễn ngay cả ở thời đại dùng đồ kim loại, có lẽ tới tận đầu thời Trung Đại. Tại châu Âu và Bắc Mỹ, những chiếc cối xay đá vẫn được dùng tốt ở thế kỷ 20, và hiện vẫn đang được dùng ở nhiều nơi trên thế giới.
== Sự phát triển của loài người trong thời đồ đá ==
Thời đồ đá chiếm một khoảng thời gian rất dài, và trong thời gian đó các thay đổi lớn về khí hậu và các điều kiện sống khác đã diễn ra, nó làm ảnh hưởng tới tiến trình phát triển của loài người. Con người tới lượt mình lại làm tiến hóa kiểu hình thái tiến triển ở hậu kỳ thời kỳ đồ đá.
Xem thêm: Tiến trình phát triển của loài người
=== Thời đại đá cũ ===
Thời kỳ đồ đá cũ bắt đầu từ khoảng 2 triệu năm trước đây và kết thúc vào khoảng cuối thế Pleistocen, 10.000 năm trước. Ở những vùng đang ở lúc bắt đầu thời kỳ đồ đá mới, thời kỳ đồ đá cũ gồm cả Epipalaeolithic, và kết thúc vào khoảng 8.000 năm trước.
Thời đại đồ đá cũ được đặc trưng bằng việc sử dụng các công cụ bằng đá được ghè đẽo, mặc dù người nguyên thủy vào thời gian đó cũng sử dụng các công cụ bằng gỗ và xương. Các sản phẩm nguồn gốc hữu cơ cũng được sử dụng làm công cụ, bao gồm da và các sợi thực vật; tuy nhiên các loại công cụ này đã không được bảo quản ở mức độ đáng kể. Theo truyền thống, thời đại đồ đá cũ được chia ra thành ba thời kỳ, là thời kỳ đồ đá cũ hạ, thời kỳ đồ đá cũ trung và thời kỳ đồ đá thượng. Các thời kỳ này đánh dấu các tiến bộ trong công nghệ và văn hóa ở các xã hội loài người nguyên thủy khác biệt.
==== Sơ kỳ Thời đại đá cũ ====
Gần cuối thế Pliocen ở châu Phi, một tổ tiên đầu tiên của người hiện đại, được gọi là Homo habilis, đã phát triển những công cụ đá đầu tiên từng được biết. Chúng là những công cụ đơn giản như các loại dao. Homo habilis được cho là đã sử dụng thành thạo công cụ thời kỳ Olduvai như các mảnh đá và lõi hạt. Công nghệ chế tạo dụng cụ đá này được đặt tên theo địa điểm hẻm vực Olduvai ở Tanzania. Những người này được cho là sống bằng cách tìm thịt thối và những loài cây dại, hơn là săn bắn con mồi. Khoảng 1,5 triệu năm trước, một chủng người tiến hóa hơn, Homo erectus, đã xuất hiện. H. erectus học cách kiểm soát lửa và chế tạo các công cụ cắt phức tạp hơn, cũng như mở rộng phạm vi sinh sống ra ngoài khu vực châu Phi đến tận châu Á, như tại các địa điểm ở Chu Khẩu Điếm Trung Quốc. 1 triệu năm trước, bằng chứng đầu tiên về loài người ở châu Âu đã xuất hiện, và họ sử dụng rìu đá tiến bộ hơn.
==== Trung kỳ Thời đại đá cũ ====
Giai đoạn này bắt đầu khoảng 200.000 năm trước và nổi tiếng nhất vì nó là giai đoạn sinh sống của người Neanderthal (khoảng 120.000–35.000 năm trước). Các kỹ thuật chế tạo dụng cụ đá của người Neanderthal thường được gọi là Mousterian. Người Neanderthal cuối cùng biến mất khỏi ghi chép khảo cổ học, được thay thế bởi người hiện đại đầu tiên xuất hiện ở miền nam châu Phi khoảng 100.000 năm trước. Mặc dù thường được mọi người coi là nguyên thuỷ, vẫn có bằng chứng rằng người Neanderthal nuôi dưỡng những người già và tiến hành lễ nghi chôn chất minh chứng cho một xã hội đã được tổ chức. Bằng chứng đầu tiên của sự định cư là ở Australia khoảng 40.000 năm trước khi người hiện đại dường như đã vượt từ châu Á tới bằng cách đi từ đảo này tới đảo khác. Những dân cư trung kỳ thời kỳ đồ đá cho thấy những bằng chứng sớm nhất về nghệ thuật và một số khái niệm trừu tượng như vẽ mình bằng đất hoàng thổ.
==== Hậu kỳ Thời đại đá cũ ====
Từ khoảng 35.000 đến 10.000 năm trước (cuối thời kỳ băng hà cuối cùng) người hiện đại đã mở rộng thêm vùng sinh sống trên khắp Trái Đất trong giai đoạn hiện được coi là hậu kỳ Thời đại đá cũ. Sau khi người hiện đại đầu tiên tới ở châu Âu kỹ thuật chế tạo dụng cụ đá khá phức tạp đã xuất hiện trong giai đoạn này, gồm cả Châtelperronian, Aurignacian, Solutrean, Gravettian và Magdalenian.
Châu Mỹ được loài người định cư thông qua cầu lục địa Bering thời kỳ đó vẫn còn nổi trên mực nước vì nước biển lúc đó ở mức thấp. Những người này được gọi là Paleo Indians, và thời điểm sớm nhất được chấp nhận là những thời điểm của các địa điểm thuộc văn hóa Clovis, khoảng 13.500 năm trước. Trên khắp địa cẩu, các xã hội thuộc kiểu săn bắn và hái lượm nhưng bằng chứng về nét nhận dạng theo vùng bắt đầu xuất hiện với rất nhiều kiểu công cụ đá được phát triển để thích hợp cho từng môi trường sống khác nhau.
=== Epipalaeolithic/Thời đại đá giữa ===
Main articles: Epipalaeolithic, Mesolithic
Khoảng thời gian giữa điểm kết thúc của kỷ băng hà cuối cùng, từ 10.000 năm đến khoảng 6.000 năm trước có đặc trưng với sự nâng lên của mực nước biển và một nhu cầu thay đổi để thích ứng với sự thay đổi của môi trường và tìm kiếm nguồn thức ăn mới. Sự phát triển của các dụng cụ microlith đã bắt đầu để thích ứng với những thay đổi đó. Chúng xuất phát từ những công cụ thời kỳ đồ đá cũ trước đó, vì vậy xuất hiện thuật ngữ Epipalaeolithic. Tuy nhiên, ở châu Âu thuật ngữ Mesolithic (Thời đại đá giữa) lại được sử dụng, bởi vì các công cụ (và cách thức sống) được nhập cảng từ Cận Đông. Ở đó, các công cụ microlith cho phép săn bắn một cách hiệu quả hơn, trong khi những sự định cư phức tạp hơn, như Lepenski Vir đã phát triển dựa trên đánh cá. Việc thuần hóa chó thành một người bạn săn có lẽ cũng diễn ra trong giai đoạn này.
=== Thời đại đá mới ===
Thời đại đá mới (Neolithic) có đặc trưng bởi sự chấp nhận nông nghiệp (cũng được gọi là Cuộc cách mạng thời đại đá mới), sự phát triển của đồ gốm và nhiều nơi định cư phức tạp hơn như Çatal Hüyük và Jericho. Những văn hóa thời đại đá mới đầu tiên bắt đầu vào khoảng năm 8.000 TCN ở fertile crescent. Nông nghiệp và văn hóa dẫn tới đã mở rộng tới Địa Trung Hải, lưu vực sông Ấn, Trung Quốc, và Đông Nam Á.
Vì nhu cầu thu hoạch và chăm sóc cây cối, các dụng cụ đá để làm đất và các dụng cụ đá được chế tạo kỹ lưỡng khác trở nên phong phú hơn, gồm cả công cụ nghiền, cắt, thái và rìu. Những công trình to lớn lần đầu tiên được xây dựng, gồm cả các tháp để ở và những bức tường (ví dụ ở Jericho) và các địa điểm nghi lễ (ví dụ như bức tường đá Stonehenge). Những điều này cho thấy đã có những nguồn lực và sự cộng tác đầy đủ cho phép các nhóm người cùng thực hiện các dự án đó. Sự mở rộng thêm về sự phát triển của tầng lớp trên và hệ thống cấp bậc vẫn còn đang được bàn cãi. Bằng chứng sớm nhất về thương mại đã xuất hiện ở thời kỳ đồ đá mới với việc những người mới định cư nhập khẩu những hàng hóa từ bên ngoài với khoảng cách hàng trăm dặm.
== Vật liệu văn hóa thời đồ đá ==
=== Thức ăn và đồ uống ===
Các nguồn thức ăn của những người săn bắn hái lượm thời kỳ đồ đá gồm cả động vật và thực vật sống trong môi trường nơi họ sống. Những người dân cư này thích ăn thịt nội tạng thú, gồm cả gan, thận và óc. Họ ăn ít đồ có nguồn gốc từ sữa hay thức ăn thực vật có nhiều carbohydrate- như các loại rau hay ngũ cốc.
Nghiên cứu hiện nay cho thấy rằng hai phần ba năng lượng cần thiết của họ có nguồn gốc động vật. Hàm lượng chất béo trong chế độ ăn được cho là tương tự như hiện nay, nhưng tỷ lệ các kiểu chất béo tiêu thụ thì lại khác biệt: tỷ lệ Omega-6 với Omega-3 là khoảng 3: 1 so với 12:1 hiện nay.
Gần cuối thời kỳ băng hà cuối cùng, 15.000 đến 9.000 năm trước, một sự tuyệt chủng trên diện rộng các loài thú có vú diễn ra ở châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ và Australia. Đây là sự kiện tuyệt chủng Holocene đầu tiên. Thậm chí có thể điều này đã buộc loài người ở thời kỳ đó phải thay đổi thói quen ăn uống và cùng với sự xuất hiện của việc trồng cấy nông nghiệp, các loại thức ăn nguồn gốc thực vật cũng đã trở thành một phần thường thấy của chế độ ăn.
Một báo cáo ở Tạp chí National Geographic đã chỉ ra rằng "loại đồ uống có vị rượu đầu tiên có thể đã xuất hiện khi người dân thời kỳ đồ đá mới uống thứ nước quả nho dại được làm lên men bên trong các túi bằng da thú hay trong các thùng gỗ thô."[1]
=== Chỗ ở và Môi trường sống ===
Khoảng 2 triệu năm trước, Homo habilis được cho là đã xây dựng kết cấu đầu tiên do con người xây dựng lên ở Đông Phi, nó chỉ bao gồm những sự sắp đặt đơn giản các hòn đá lại với nhau để giữ các cành cây ở vị trí. Một sự sắp đặt đá thành hình tròn cũng được cho là đã xảy ra khoảng 500.000 năm trước được khám phá ở Terra Amata, gần Nice (Pháp). Nhiều địa điểm cư trú của loài người thời đồ đá cũng đã được phát hiện ở nhiều nơi trên Trái Đất, gồm:
Một kết cấu kiểu lều bên trong một cái hang gần Grotte du Lazaret, Nice, Pháp.
Một kết cấu có mái được chống đỡ bằng cây gỗ, được phát hiện ở Dolni Vestonice, Czech và Slovakia, có niên đại khoảng 23.000TCN. Các bức tường được làm bằng các khối đất sét nện và đá.
Nhiều túp lều được làm bằng xương voi mammoth được tìm thấy ở Đông Âu và Siberia. Những người đã dựng những cái lều này là những thợ săn voi mammouth chuyên nghiệp. Nhiều cái tương tự đã được tìm thấy ở dọc vùng thung lũng sông Dniepr ở Ukraina, gần Chernihiv, ở Moravia (tại Cộng hòa Czech) và ở phía nam Ba Lan.
Một cái lều bằng da thú niên đại khoảng 15.000 đến 10.000TCN (ở Magdalenian) đã được tìm thấy tại Cao nguyên Parain, Pháp.
Các lăng mộ cự thạch, nhiều phòng và các mộ đá một phòng có chôn nhiều thanh đá lớn chồng lên nhau giống như những phiến đá lớn. Chúng được tìm thấy trên khắp châu Âu, và được xây dựng vào thời đồ đá mới. Nhiều mộ có các dụng cụ bằng đồng và bằng đá cũng đã được tìm thấy, minh họa các vấn đề cố gắng xác định các giai đoạn dựa trên kỹ thuật.
=== Nghệ thuật ===
Nghệ thuật tiền sử chỉ có thể được truy nguyên dựa vào những đồ vật còn sót lại. Âm nhạc tiền sử được suy luận ra từ những nhạc cụ được tìm thấy, trong khi nghệ thuật trên vách có thể được tìm thấy trên bất kỳ loại đá nào. Chúng được gọi là hình khắc trên đá (petroglyph) và tranh vẽ trên đá. Nghệ thuật có thể có hoặc không có chức năng tôn giáo.
==== Hình khắc trên đá ====
Hình khắc trên đá đã xuất hiện trong thời đại đồ đá mới. Một Hình khắc trên đá là một hình ảnh trừu tượng hay biểu tượng được ghi lại trên đá, thường là bởi những người tiền sử, bằng cách đục, khoét hay những cách khác lên trên những bề mặt đá tự nhiên. Chúng là kiểu thông thường nhất hay là những biều tượng trước khi có chữ viết được sử dụng để thông tin. Hình khắc trên đá đã được phát hiện ở nhiều nơi trên Trái Đất, gồm cả châu Á (Bhimbetka, Ấn Độ), Bắc Mỹ (Thung lũng chết ở công viên quốc gia), Bắc Mỹ (Cumbe Mayo, Peru), và châu Âu (Finnmark, Na Uy).
==== Những bức tranh đá ====
Những bức tranh đá được "vẽ" trên đá và được miêu tả theo kiểu tự nhiên hơn là thuật khắc đá. Ở thời đồ đá cũ, sự hiện diện của con người trong những bức tranh đá rất hiếm hoi. Đa phần chúng thể hiện các con vật: không chỉ những loài vật được sử dụng làm thức ăn mà cả những con vật thể hiện sức mạnh như tê giác hay to lớn các loài mèo (như ở Hang Chauvet). Các dấu hiệu như các chấm thỉnh thoảng cũng được vẽ. Hiếm có sự hiện diện của con người như các dấu in tay và những hình nửa người nửa thú. Hang Chauvet ở département Ardèche, ở Pháp, hiện lưu giữ những hình vẽ trong hang quan trọng nhất của thời đồ đá cũ, được vẽ vào khoảng 31.000 năm TCN. Các bức tranh trong hang Altamira ở Tây Ban Nha được vẽ vào khoảng 14.000 đến 12.000 năm TCN và có những con bò rừng bison. Gian phòng của những con bò ở Lascaux, Dordogne, Pháp là một trong những hang có tranh đá từ khoảng 15.000 đến 10.000 TCN.
Ý nghĩa của những bức tranh này hiện vẫn chưa được biết. Các hang đó đều không nằm trong khu vực có người ở, vì thế có thể chúng đã từng được dùng cho những lý do lễ nghi. Các con vật được vẽ thêm các dấu hiệu có thể là ma thuật. Những biểu tượng hình mũi tên đôi khi được coi như là được sử dụng để làm lịch hay almanac. Nhưng bằng chứng của nó thì vẫn chưa được quyết định.[2] Công việc quan trọng nhất của thời đại đồ đá giữa là những chiến binh đang diễu hành, một bức tranh tường tại Cingle de la Mola, Castellón ở Tây Ban Nhan niên đại vào khoảng 7.000–4.000 TCN. Kỹ thuật được sử dụng có thể là phun hay thổi các chất màu lên đá. Các bức tranh khá theo chủ nghĩa tự nhiên, mặc dù có được cách điệu hoá. Các hình ảnh không theo kiểu không gian ba chiều, thậm chí chúng còn chồng lên nhau.[3]
== Lễ nghi và Đức tin thời đồ đá ==
Những nghiên cứu hiện đại và sự phân tích kỹ lưỡng những đồ vật tìm thấy từ thời kỳ đồ đá chỉ ra một số lễ nghi và đức tin của con người ở thời tiền sử đó. Hiện nay mọi người tin rằng các hoạt động của con người thời tiền sử vượt xa khỏi những yêu cầu trước mắt về tìm kiếm thức ăn, đồ mặc, và nơi ở. Các nghi thức đặc biệt liên quan tới cái chết và sự chôn cất đã được tiến hành, mặc dù chắc chắn là khác biệt về cách thức và sự tiến hành ở từng nền văn hoá. Một số địa điểm thời kỳ đồ đá ở những vùng khác nhau trên thế giới cho thấy những dấu vết của sự nhảy múa, nhảy múa theo hàng và những nghi thức đầu tiên.[4]
== Những dấu vết cuộc sống thời đồ đá hiện nay ==
Các nhà nhân chủng học đã sử dụng nhiều bộ lạc để nghiên cứu và làm sáng tỏ cuộc sống ở thời kỳ đồ đá từng như thế nào. Những bộ lạc đó có thể thấy ở Papua New Guinea, Các đảo Andaman và Nicobar (Ấn Độ), Châu Phi và Nam Mỹ.
== Thời đồ đá trong văn hóa đại chúng ==
Là một thuật ngữ kiểu tiếng lóng, "Thời kỳ đồ đá" có thể được sử dụng để miêu tả một nền văn minh hiện đại hay một nhóm người sống trong các điều kiện nguyên thuỷ, thậm chí sự sử dụng của nó thường là không chính xác. Câu "ném bom đưa chúng trở về thời kỳ đồ đá" ngụ ý một cuộc tấn công dữ dội phá hủy toàn bộ cơ sở hạ tầng tại mục tiêu, buộc những người sống sót phải quay về sử dụng kỹ thuật nguyên thủy để tồn tại.
Hình ảnh người ở hang thường đi chung với thời kỳ đồ đá. Ví dụ một serie phim tài liệu về tiến trình phát triển của con người ở thời kỳ đồ đá đã được đặt tên là Cùng đi với người ở hang, mặc dù chỉ chương trình cuối cùng là có hình ảnh con người sống trong hang. Trong khi ý tưởng rằng loài người và khủng long từng cùng tồn tại thỉnh thoảng cũng được sử dụng trong phim hoạt hình, phim và các trò chơi máy tính, như The Flintstones và One Million Years B.C., khái niệm về những động vật linh trưởng và khủng long từng tồn tại với nhau chỉ đơn giản là một điều tưởng tượng và chỉ được xem xét nghiêm túc bởi Trái Đất trẻ thuyết sáng tạo thế giới.
Một số miêu tả thời kỳ đồ đá gồm cả cuốn sách bán rất chạy là cuốn Những đứa trẻ của Trái Đất một serie sách viết bởi Jean M. Auel, được đặt ở thời đồ đá cũ và dựa rất ít vào những khám phá khảo cổ học và nhân chủng học. Bộ phim Tìm kiếm lửa năm 1981 của Jean-Jacques Annaud kể câu chuyện về một nhóm người tìm kiếm ngọn lửa đã mất của họ.
== Ghi chú ==
^ "Diet and Eating Habits in the Stone-Age," annecollins.com (accessed ngày 11 tháng 6 năm 2005).
^ William Cocke, "First Wine? Archaeologist Traces Drink to Stone Age," National Geographic News, ngày 21 tháng 7 năm 2004 (accessed ngày 11 tháng 6 năm 2005).
^ M. Hoover, "Art of the Paleolithic and Neolithic Eras," from Art History Survey 1, San Antonio College (July 2001; accessed ngày 11 tháng 6 năm 2005).
^ "Paleolithic, Mesolithic and Neolithic Art" (lecture 2, Rice University, Houston, TX, ngày 2 tháng 9 năm 1998; accessed ngày 11 tháng 6 năm 2005).
^ Christopher L. C. E. Witcombe, "Women in the Stone Age," in the essay "The Venus of Willendorf" (accessed ngày 11 tháng 6 năm 2005).
^ See note 4 above.
^ Burial and mysticism in prehistory (accessed ngày 11 tháng 6 năm 2005).
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Tiến trình phát triển của loài người
Cự thạch
Lithic reduction
Âm nhạc tiền sử
Chiến tranh thời tiền sử
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
The Stone Age
Stone Age Handaxes
Stone Age Habitats |
platin.txt | Platin hay còn gọi là bạch kim là một nguyên tố hóa học, ký hiệu Pt có số nguyên tử 78 trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Tên Platin bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Tây Ban Nha platina del Pinto, nghĩa đen là "sắc hơi óng ánh bạc của sông Pinto". Platin là một kim loại chuyển tiếp quý hiếm, màu xám trắng, đặc dẻo, dễ uốn. Mặc dù nó có sáu đồng vị tự nhiên, những Platin vẫn là một trong những nguyên tố hiếm nhất trong lớp vỏ Trái Đất với mật độ phân bố trung bình khoảng 0,005 mg/kg. Platin thường được tìm thấy ở một số quặng niken và đồng, chủ yếu là ở Nam Phi chiếm 80% tổng sản lượng trên toàn thế giới.
Platin thuộc nhóm 10 của bảng tuần hoàn cho nên nó có tính trơ, rất ít bị ăn mòn thậm chí ở nhiệt độ cao, vì vậy nó được xem là một kim loại quý. Platin thường xuất hiện ở trong bồi tích tự nhiên của một số con sông, nó lần đầu tiên được sử dụng để sản xuất các đồ tạo tác bởi người bản xứ Nam Mỹ thời kỳ tiền Columbus. Platin đã từng được nhắc đến trong các bản thảo ở châu Âu vào đầu thế kỷ 16, nhưng vẫn không được phổ biến cho đến năm 1748, khi Antonio de Ulloa báo cáo về một loại kim loại mới có nguồn gốc từ Colombia, sau đó Platin đã trở thành tâm điểm của các cuộc điều tra khoa học.
Platin được sử dụng trong làm chất xúc tác, trang thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị điện báo, các điện cực, nhiệt kế điện trở bạch kim, thiết bị nha khoa, và đồ trang sức. Platin là một vật liệu khan hiếm, quý và rất có giá trị bởi vì sản lượng khai thác hằng năm chỉ tầm vài trăm tấn. Vì là một kim loại nặng, nó có ảnh hưởng không tốt đối với sức khỏe khi tiếp xúc với các muối của nó, nhưng do khả năng chống ăn mòn cho nên nó ít độc hại hơn so với các kim loại khác. Một số hợp chất của Platin, đặc biệt là cisplatin, được sử dụng để dùng trong hóa trị liệu chống lại một số loại ung thư.
== Từ nguyên ==
Cách gọi "platin" là cách gọi quy ước của người Việt đối với tên các nguyên tố tiếng Latin: bỏ tiếp vĩ ngữ "-um". Tên gọi Latin "platinum" có gốc từ tiếng Tây Ban Nha "platina", nghĩa đen là "bạc nhỏ".
"Bạch kim" (白金 "vàng trắng") là tên gọi khác của cả hai kim loại Ag và Pt. Platin có tên Hán Việt là "bạc" (鉑). Chữ Hán "鉑" hợp thành từ "金" ("kim loại vàng") và "白" ("màu trắng"). Trong tiếng Việt, "bạc" lại bị hiểu thành kim loại có ký hiệu hoá học là Ag.
== Đặc điểm ==
=== Tính chất vật lý ===
Ở dạng tinh khiết, Platin có màu trắng bạc, sáng bóng, dẻo và dễ uốn. Nó không bị ôxy hóa ở bất cứ nhiệt độ nào, tuy nhiên có thể bị ăn mòn bởi các halogen, xianua, lưu huỳnh và dung dịch kiềm ăn da. Platin không hòa tan trong axít clohiđric và axít nitric, nhưng tan trong nước cường toan để tạo thành hexachloroplatinic acid, H2PtCl6. Platin ít bị mài mòn và mờ cho nên rất thích hợp để làm đồ trang sức mỹ nghệ. Kim loại này khó bị ăn mòn, chịu được nhiệt độ cao và có tính dẫn điện ổn định cho nên được sử dụng trong các ứng dụng công nghiệp.
=== Tính chất hóa học ===
Platin thường có số oxy hóa phổ biến nhất là +2 và +4, các số oxy hóa +1 và +3 ít phổ biến hơn. Tinh thể Platin(II) tam phối tử (tetracoordinate) có dạng hình vuông phẳng 16 electron. Platin hòa tan trong nước cường toan cho ra hexachloroplatinic acid tan ("H2PtCl6", (H3O)2PtCl6.nH2O):
Pt + 4 HNO3 + 6 HCl → H2PtCl6 + 4 NO2 + 4 H2O
Platin có tính axit nhẹ nên nó có ái lực lớn đối với lưu huỳnh, ví dụ lưu huỳnh trong dimethyl sulfoxid (DMSO), tạo thành một số phức chất DMSO tùy theo dung môi phản ứng.
== Đồng vị ==
Platinum có sáu đồng vị tự nhiên: 190Pt, 192Pt, 194Pt, 195Pt, 196Pt, và 198Pt. Phổ biến nhất trong số này là 195Pt, chiếm tỉ lệ 33,83%. Đây là đồng vị ổn định duy nhất có spin khác 0; spin l=1/2. Đồng vị 190Pt là hiếm nhất, chỉ chiếm 0,01%. Trong số các đồng vị tự nhiên, chỉ có 190Pt là không ổn định, mặc dù nó bị phân rã với chu kỳ bán rã 6,5 × 1011 năm.198Pt cũng phân rã alpha, nhưng với chu kỳ bán rã lớn hơn 3,2 × 1014 năm, cho nên nó được coi là ổn định. Platin cũng có 31 đồng vị tổng hợp khác nhau, có khối lượng nguyên tử từ 166 đến 202, nâng tổng số đồng vị lên 37. Trong số các đồng vị này, 166Pt là ít ổn định nhất với chu kỳ bán rã 300 μs, ổn định nhất là 193Pt với chu kỳ bán rã 50 năm. Hầu hết các đồng vị Platin phân rã hạt nhân theo kiểu kết hợp giữa phân rã beta và phân rã alpha.188Pt, 191Pt, và 193Pt thường phân rã khi bắt electron.190Pt và 198Pt phân rã beta kép.
== Phân bố ==
Platin là một kim loại cực kỳ hiếm, nó chỉ chiếm mật độ 0.005ppm trong lớp vỏ Trái Đất. Platin tự nhiên thường được tìm thấy ở dạng tinh khiết và hợp kim với Iridi như platiniridium. Phần lớn Platin tự nhiên được tìm thấy ở các lớp trầm tích đại trung sinh. Các mỏ bồi tích được khai thác bởi người Nam Mỹ thời kỳ tiền Columbus ở Chocó Department, Colombia vẫn còn là nguồn cung cấp các kim loại nhóm Platin. Một mỏ bồi tích lớn khác ở dãy núi Ural, Nga cũng đang được khai thác.
Trong các mỏ niken và đồng, các kim loại nhóm Platin thường xuất hiện ở dạng muối sulfua như (Pt,Pd)S, Te2− như PtBiTe, antimonat (PdSb), asenua như PtAs2 và các dạng hợp kim với Ni và Cu. PtAs2 là nguồn platin chính trong quặng nickel ở mỏ Sudbury Basin, Ontario Canada. Mỏ Merensky Reef ở Gauteng, Nam Phi chứa nhiều quặng sunfua của các kim loại quý hiếm Pt, Pd và Ni.
Năm 1865, crôm đã được phát hiện trong khu vực Bushveld của Nam Phi, tiếp theo sau đó là platin vào năm 1906. Đây là nơi có trữ lượng platin lớn nhất được biết đến. Ngoài ra còn 2 mỏ đồng-niken trữ lượng lớn gần Norilsk ở Nga và lưu vực Sudbury Canada. Ở lưu vực sông Sudbury, mật độ platin trong quặng niken thực tế hiện nay chỉ là 0,5 ppm. Các mỏ nhỏ hơn có thể được tìm thấy ở Hoa Kỳ, ví dụ như trong dãy Absaroka ở Montana. Trong năm 2009., Nam Phi là nước sản xuất platin hàng đầu, chiếm gần 80% tổng sản lượng toàn thế giới, tiếp theo là Nga với 11%.
Platin tồn tại với mật độ phân bố cao ở Mặt Trăng và các thiên thạch. Tương ứng, platin được tìm thấy hơi nhiều ở những nơi bị sao băng va chạm trên Trái Đất kết hợp với tác động của núi lửa, các lưu vực Sudbury là một ví dụ.
== Hợp chất ==
=== Halogen ===
Acid Hexachloroplatinic có lẽ là hợp chất bạch kim quan trọng nhất, vì nó tạo nên các hợp chất platin khác. Bản thân acid này được ứng dụng trong nhiếp ảnh, khắc kẽm, mực in không phai, mạ, làm gương, nhuộm màu sứ, và như một chất xúc tác.
Tác dụng của acid hexachloroplatinic với muối amoni, chẳng hạn như clorua amoni, tạo thành hexachloroplatinate amoni gần như không tan trong dung dịch amoniac. Đốt nóng muối amoni này với sự có mặt của hiđrô sẽ tạo ra platin nguyên chất. Kali hexachloroplatinate cũng không tan, và acid hexachloroplatinic đã được sử dụng trong việc xác định ion kali bằng phương pháp phân tích trọng lượng.
Khi acid hexachloroplatinic được đun nóng, nó phân hủy bằng Pt(IV)clorua và Pt(II)clorua rồi thành platin nguyên tố theo các bước phản ứng sau:
(H3O)2PtCl6·nH2O PtCl4 + 2 HCl + (n + 2) H2O
PtCl4 PtCl2 + Cl2
PtCl2 Pt + Cl2
Cả ba phản ứng đều là phản ứng thuận nghịch. Platin(II) và Platin(IV)bromua cũng có những phản ứng tương tự. Platin hexafluoride là một chất ôxy hóa mạnh có khả năng oxy hóa cả oxy.
O2 + PtF6 → O2[PtF6]
=== Ôxít ===
Ôxít Platin(IV), PtO2, còn được gọi là chất xúc tác của Adams, là một chất bột màu đen hòa tan trong dung dịch KOH và acid đậm đặc. PtO2 và hiếm hơn là PtO đều bị phân hủy khi đun nóng. Ôxit Platin(II,IV), Pt3O4, được hình thành từ phản ứng sau đây:
2 Pt2+ + Pt4+ + 4 O2− → Pt3O4
Platinum cũng tạo một triôxít với số ôxy hóa +4.
=== Các hợp chất khác ===
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Vàng trắng
== Dẫn chứng == |
chiến quốc.txt | Thời đại Chiến Quốc (Chữ Hán: 戰國時代/战国时代; bính âm: Zhànguó Shídài) kéo dài từ khoảng thế kỷ 5 TCN tới khi Trung Quốc thống nhất dưới thời Tần năm 221 TCN. Thông thường nó được coi là giai đoạn thứ hai của nhà Đông Chu, tiếp sau giai đoạn Xuân Thu, dù chính nhà Chu đã kết thúc vào năm 256 TCN, 34 năm trước khi kết thúc giai đoạn Chiến Quốc. Tương tự như giai đoạn Xuân Thu, vị vua nhà Chu chỉ đơn giản là một vua bù nhìn. Tên gọi Chiến Quốc xuất phát từ cuốn Chiến Quốc sách được biên soạn đầu thời nhà Hán. Điểm khởi đầu thời Chiến Quốc hiện vẫn còn tranh cãi. Trong khi thông thường mọi người sử dụng năm 475 TCN (tiếp sau thời Xuân Thu) thì năm 403 TCN – năm mà nước Tấn bị chia thành ba – cũng thỉnh thoảng được coi là năm bắt đầu của thời kỳ này.
Thời Chiến Quốc, trái với thời Xuân Thu, là một giai đoạn mà các lãnh chúa địa phương sáp nhập các tiểu quốc nhỏ hơn xung quanh để củng cố quyền lực. Quá trình này đã bắt đầu ở thời Xuân Thu, và tới thế kỷ 3 TCN, bảy nước lớn nổi lên chiếm vị trí áp đảo. Bảy nước lớn thời Chiến Quốc (戰國七雄/战国七雄 Chiến Quốc thất hùng), gồm có Tề (齊), Sở (楚), Yên (燕), Hàn (韓), Triệu (趙), Nguỵ (魏) và Tần (秦). Một dấu hiệu khác của sự tăng cường quyền lực là sự thay đổi danh hiệu: trước kia các lãnh chúa vẫn xếp mình vào bậc công (公) hay hầu (侯), chư hầu của vua nhà Chu; nhưng trong giai đoạn này họ đã lần lượt tự xưng vương (王), có nghĩa là họ ngang hàng với vua nhà Chu.
Giai đoạn Chiến Quốc là giai đoạn phát triển của đồ sắt tại Trung Quốc, thay thế đồ đồng trở thành vật liệu chính được sử dụng trong chiến tranh. Các vùng như Thục (Tứ Xuyên ngày nay) và Việt (Chiết Giang ngày nay) cũng đã bị sáp nhập vào vùng ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc trong thời gian này. Những bức tường do những quốc gia xây dựng nên để ngăn chặn các bộ lạc du mục phía bắc và ngăn chặn lẫn nhau là tiền thân của Vạn lý trường thành sau này. Các triết thuyết khác nhau đã được phát triển trong giai đoạn Bách gia chư tử, gồm Khổng giáo (được phát triển chi tiết bởi Mạnh Tử), Đạo giáo (được phát triển thêm bởi Trang Tử), Pháp gia (do Hàn Phi Tử lập ra) và Mặc học (được Mặc Tử sáng lập). Thương mại cũng trở nên quan trọng, và một số nhà buôn đã có quyền lực to lớn trong chính trị. Những chiến thuật quân sự cũng thay đổi. Không giống như giai đoạn Xuân Thu, đa số các quân đội thời Chiến Quốc gồm bộ binh và kỵ binh và việc sử dụng xe ngựa chiến đấu đã dần bị quên lãng.
Cũng ở đầu giai đoạn này, nhà chiến lược quân sự Tôn Vũ đã viết cuốn Tôn Tử binh pháp được công nhận là tác phẩm có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong 7 tác phẩm về nghệ thuật quân sự Trung Quốc cổ đại. (Bảy tác phẩm quân sự kinh điển (thất đại kỳ thư) gồm: Lục thao của Thái Công, Tôn Tử binh pháp, Tư Mã binh pháp, Ngô Khởi (吳起) binh pháp, Uất Liêu Tử binh pháp, Tam lược của Hoàng Thạch Công, Đường Thái Tông và Lý Vệ công vấn đáp). Trong suốt lịch sử phong kiến Trung Quốc, thất đại kỳ thư này được cất giấu cẩn thận và chỉ những ai theo nghề binh mới được tiếp cận chúng. Hiện nay cả bảy tác phẩm đó được trình bày lại trong cuốn "The Seven Military Classics of Ancient China" của Ralph D. Sawyer)
== Chiến Quốc thất hùng ==
Người ta thường gọi Chiến Quốc Thất Hùng (戰國七雄) để chỉ bảy cường quốc, đã được hình thành từ sự suy yếu của nhà Chu, trong suốt giai đoạn Chiến Quốc của lịch sử Trung Quốc. Tên bảy nước được liệt kê theo thứ tự chữ cái:
Hàn (韓)
Ngụy (魏)
Sở (楚)
Tần (秦)
Tề (齊)
Triệu (趙)
Yên (燕)
Kết thúc giai đoạn Chiến Quốc, chiến thắng đã thuộc về nước Tần do Tần Thủy Hoàng trị vì. Chính ông đã lập nên đế chế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. Tên gọi China mà phương Tây dùng để gọi Trung Quốc có lẽ xuất phát từ phiên âm chữ Tần (Qin).
== Sự phân chia nước Tấn ==
Xem chi tiết: Tấn (nước)
Ở giai đoạn Xuân Thu, nước Tấn (晉) là nước mạnh nhất trong số các chư hầu với thời gian làm bá chủ lâu hơn cả. Tuy nhiên, gần cuối thời Xuân Thu, quyền lực của vị vua cai trị tại đó đã giảm sút, nước Tấn dần rơi vào sự kiểm soát của sáu dòng họ lớn (lục khanh - 六卿). Tới đầu thời Chiến Quốc, sau nhiều cuộc chiến tranh giành quyền lực, có bốn dòng họ còn sót lại là họ Trí (智), họ Nguỵ (魏), họ Triệu (趙), và họ Hàn (韓), trong đó họ Trí có thế lực mạnh nhất. Trí Bá (Trí Dao 智瑶) liên minh với họ Nguỵ và họ Hàn để đánh Triệu Tương Tử (Triệu Vô Tuất). Tuy nhiên, vì tính kiêu ngạo của Trí Dao nên họ Triệu đã bí mật thông đồng với họ Ngụy và họ Hàn lật ngược tình thế, tiêu diệt họ Trí.
Năm 403 TCN, ba họ lớn nước Tấn, với sự đồng ý của vua Chu, chia nước Tấn thành ba nước (三家分晉): Hàn, Triệu, và Ngụy. Ba người đứng đầu ba họ được phong tước Hầu (侯), và bởi vì cả ba đều thuộc nước Tấn cũ, nên họ cũng được gọi là Tam Tấn (三晉). Nước Tấn tiếp tục tồn tại với một vùng đất nhỏ cho tới tận năm 376 TCN khi một lần nữa, phần còn lại đó lại bị Tam Tấn chia nhau.
== Thay đổi quyền lực ở nước Tề ==
Năm 386 TCN, họ Điền (田), một dòng họ quý tộc lưu vong của nước Trần, chiếm quyền kiểm soát nước Tề và được trao tước Công. Nước Tề cũ của họ Khương (姜) vẫn tiếp tục tồn tại với một vùng đất nhỏ bé đến năm 379 TCN, khi họ bị họ Điền sáp nhập nốt vào nước Tề.
== Những xung đột ban đầu giữa Tam Tấn, Tề và Tần ==
Năm 371 TCN, Ngụy Vũ Hầu chết mà chưa có người kế vị, khiến nước Ngụy rơi vào nội chiến tranh giành quyền lực. Sau ba năm nội chiến, nước Triệu và Hàn, lợi dụng cơ hội tấn công Ngụy. Khi sắp chiếm được nước Ngụy, các lãnh đạo nước Triệu và nước Hàn lại bất hoà với nhau về cách thức xử lý nước Ngụy và quân đội cả hai nước đã bí mật rút lui. Nhờ thế, Ngụy Huệ Vương (lúc ấy vẫn đang là tước Hầu) có thể lên ngôi làm vua nước Ngụy.
Năm 354 TCN, Ngụy Huệ Vương phát động một cuộc tấn công quy mô lớn vào nước Triệu, một số nhà sử học cho rằng để trả thù việc họ đã tàn phá nước Ngụy trước đó. Tới năm 353 TCN, Triệu thua nhiều trận lớn và một trong những thành phố lớn của họ - Hàm Đan (邯鄲), thành phố sau này trở thành kinh đô nước Triệu – bị bao vây. Vì thế, nước Tề lân cận quyết định giúp đỡ nước Triệu. Chiến thuật mà Tề sử dụng là do Tôn Tẫn (孫臏), người lúc ấy là quân sư trong quân đội nước Tề, đề ra. Tề tấn công vào nước Ngụy khi quân đội Ngụy đang bao vây Triệu, buộc Ngụy phải rút lui. Chiến thuật này đã thành công; quân Ngụy vội vàng rút về, và gặp quân Tề ở Quế Lăng (桂陵) nơi Ngụy đã bị đánh bại một trận mang ý nghĩa quyết định. Từ sự kiện này xuất hiện câu nói: "Vây Ngụy cứu Triệu" (圍魏救趙).
Năm 341 TCN, Ngụy tấn công Hàn, và Tề lại can thiệp một lần nữa. Hai vị tướng ở trận Quế Lăng lần trước lại gặp nhau, và nhờ chiến thuật khôn khéo của Tôn Tẫn, Ngụy lại bị thất bại to lớn một lần nữa tại trận Mã Lăng (馬陵). Trong trận này, Bàng Quyên, chủ tướng quân Ngụy tử trận.
Tình thế của nước Ngụy càng nguy ngập hơn nữa khi Tần lợi dụng cơ hội Ngụy thua liên tục trước Tề để tấn công Ngụy năm 340 TCN theo mưu đồ của nhà cải cách nước Tần là Thương Ưởng (商鞅). Ngụy bị đánh bại và buộc phải nhượng một phần lớn đất đai để đổi lấy hoà bình. Việc này khiến kinh đô An Ấp (安邑) của Ngụy rơi vào tình thế nguy hiểm, vì thế Ngụy phải rời đô sang Đại Lương (大梁)(sau này đổi thành Biện Lương (汴梁)). Vì vậy, từ đó trở đi nước Ngụy còn được gọi là Lương.
Sau những sự kiện này, nước Ngụy trở nên suy yếu và nước Tề cùng nước Tần trở thành hai nước thống trị ở giai đoạn này.
== Những cải cách của Thương Ưởng ở Tần ==
Tần sở dĩ mau mạnh một phần là nhờ địa thế: ở lánh về phía Tây, ít bị các nước láng giềng ở phía đông dòm ngó, được tự do phát triển, lại có cửa Hàm Cốc rất hiểm trở, "một người giữ cửa đó thì cự được vạn người", nên Tần có thể qua cửa đó để tấn công các nước phía đông, chứ các nước này không dám mạo hiểm qua cửa đó để tấn công Tần.
Khoảng năm 359 TCN, Thương Ưởng (商鞅), một vị quan nước Tần, bắt đầu đưa ra nhiều cải cách biến Tần từ một nước lạc hậu trở thành nước có vị thể vượt hẳn sáu nước kia. Nói chung, nó thường được coi là điểm quyết định để nước Tần bắt đầu trở thành nước mạnh nhất thời Chiến Quốc.
Từ 356 đến 348 TrCN, Tần lập 41 huyện trên khắp cõi. Thương Ưởng làm tướng quốc Tần, khuyên vua Tần đánh những đòn rất mạnh vào giai cấp quý tộc, tước dần quyền của họ; tạo ra một giai cấp quý tộc mới gồm những quân nhân có tài; hễ chém được nhiều đầu giặc thì được chức cao. Ông lại lập chính sách khẩn hoang, cho dân chúng làm chủ những đất họ khai phá được, do đó có thêm bọn phú nông xuất hiện, bọn này với bọn phú thương sẽ tranh quyền với bọn quý tộc cũ. Ông còn bãi bỏ tục quý tộc không bị hình phạt như thứ dân, mọi người đều bình đẳng về pháp luật mà pháp luật được công bố cho toàn dân được biết.
Từ thời Xuân Thu đã có vài nước công bố "hình thư", nghĩa là khắc hình luật trên các đỉnh đặt ở triều đình hoặc trên những bảng gỗ treo ở kinh đô, như vậy để bỏ cái lệ hễ bọn quý tộc bị tội thì triều đình xử kín theo lệ riêng của họ với nhau, còn dân chúng bị tội thì bị xử theo hình pháp một cách nghiêm khắc hơn. Hình thư dần dần được các nước khác theo, nhưng luật pháp không nước nào khốc liệt như ở Tần. Dân không được lang thang đi đâu tuỳ ý. Người nào cũng phải có một cái thẻ như chứng minh nhân dân ngày nay họ gọi là "bằng cứ", muốn vào quán trọ nào phải trình thẻ, chủ quán không dám chứa những người không mang thẻ. Bọn du thủ du thực bị bắt thì làm nô lệ hết. Các thư, kinh bị đốt hết.
Làng xóm tổ chức lại hết. Cứ năm hay mười nhà họp thành một liên gia có bổn phận phải phòng kẻ gian, tố cáo kẻ có tội, nếu không thì chịu trách nhiệm chung. Mặc Tử một thế kỷ trước đó cũng đã có ý đó nhưng chính sách của Thương Ưởng triệt để hơn: làm thay đổi cả tổ chức hương thôn, chia lại đất đai canh tác, phá bỏ hàng rào cũ, do đó mà thay đổi hẳn lối sống, phong tục, có thể gọi là một cuộc cách mạng.
Các luật thưởng phạt quân nhân rất nghiêm, thứ dân có chiến công thì được chức tước, quý tộc mà không có chiến công thì bị giáng xuống thành thứ dân. Tất cả cải cách đều nhằm mục đích duy nhất là sản xuất lúa cho nhiều để nuôi binh, là luyện binh cho mạnh để xâm chiếm nước khác. Khi Tần Hiếu công chết (338 TCN), quý tộc trả thù và Thương Ưởng bị phanh thây. Nhưng non một thế kỷ sau, vua Tần tên Doanh Chính (tức Tần Thủy Hoàng) áp dụng lại chính sách đó mà làm cho Tần mạnh nhất trong số thất hùng.
== Các nước xưng vương ==
Năm 334 TCN, vua nước Nguỵ và Tề đồng ý công nhận lẫn nhau về tước vương (王), chính thức hoá sự độc lập của các nước chư hầu và gạt bỏ vị thế của vua nhà Chu từ đầu thời Đông Chu. Vua nước Nguỵ và Vua nước Tề tiến lên ngang hàng với Vua nhà Chu, đã liên tục kế vị từ thời Xuân Thu. Từ đó về sau, tất cả các nước cuối cùng đều tự phong vương, đánh dấu sự khởi đầu cho sự kết thúc của nhà Chu.
Năm 325 TCN, vua nước Tần tự phong Vương.
Năm 323 TCN, vua nước Hàn và Yên tự xưng Vương.
Năm 318 TCN, vua nước Tống xưng Vương.
Năm 299 TCN, vua nước Triệu xưng Vương.
== Sự phát triển, bành trướng và suy yếu Sở ==
Đầu giai đoạn Chiến Quốc, Sở là một trong những nước mạnh nhất trong số chư hầu. Nước này đã đạt tới một vị thế mới khi vua Sở phong nhà cải cách nổi tiếng Ngô Khởi (吳起) làm Tể tướng năm 389 TCN.
Sở đạt đến đỉnh cao sức mạnh của mình vào năm 334 TCN khi họ chiếm được nhiều vùng đất đai của Trung Nguyên. Những sự kiện dẫn tới điều này bắt đầu khi Việt (越國) chuẩn bị tấn công Tề. Vua Tề gửi sứ thần tới thuyết phục vua Việt tấn công Sở thay vì tấn công nước mình. Việt ồ ạt tấn công Sở, nhưng bị Sở phản công, đánh bại, sau đó Sở chinh phục toàn bộ Việt.
Tuy nhiên, đến thời Sở Hoài Vương (328-299 TCN), Sở bị mắc lừa mưu kế của Trương Nghi, thừa tướng và biện sĩ nước Tần, vì vậy đã bị Tần liên tiếp đánh bại và để mất vùng Hán Trung. Đến những năm 279-276 TCN, tướng Tần là Bạch Khởi lại đánh bại Sở, lấn chiếm nhiều đất đai trong đó có kinh đô của sở là Dĩnh (郢). Sở buộc phải dời đô về Trần (278 TCN) rồi Thọ Xuân (241 TCN) và từ đó suy yếu hẳn, không còn là đối thủ của Tần nữa.
Đến thời Sở Khảo Liệt Vương (262-238 TCN), Xuân Thân Quân Hoàng Yết được phong làm Tướng quốc đã đề xuất nhiều biện pháp kinh tế, chính trị tiến bộ giúp khôi phục lại phần nào sức mạnh của Sở. Trong khi Tần liên tiếp tấn công Tam Tấn thì Sở cũng tiến sang phía đông tiêu diệt hàng loạt nước nhỏ, điển hình là nước Lỗ năm 256 TCN. Tuy nhiên việc này chỉ có thể bù đắp phần nào cho những thua thiệt trong cuộc tranh chấp với Tần mà thôi chứ không thể khôi phục lại ưu thế trước kia nữa.
== Ưu thế của Tần và các chiến lược Hợp tung, Liên hoành ==
Tới cuối thời Chiến Quốc, Tần trở thành nước rất mạnh so với cả sáu nước còn lại. Vì thế, các chính sách của nước này là nhằm chống lại mối đe doạ từ nước Tần, với hai trường phái chính: Hợp tung (合縱/合纵 bính âm: hézòng), hay liên kết với nhau để chống sự bành trướng của Tần; và Liên hoành (連橫/连横 bính âm: liánhéng), hay liên kết với Tần để dựa vào uy thế của họ. Ban đầu thuyết Hợp tung mang lại một số thành công, dù cuối cùng nó đã tan vỡ. Tần luôn lợi dụng thuyết Liên hoành để đánh bại từng nước một. Trong giai đoạn này, nhiều triết gia và chiến thuật gia đã đi chu du các nước để khuyên các vị vua cai trị đưa ý kiến của họ vào áp dụng thực tiễn. Những nhà chiến thuật gia đó rất nổi tiếng về những mưu mẹo và trí tuệ của mình, và được gọi chung là Tung Hoành gia (縱橫家), lấy theo tên của hai trường phái chiến lược chính.
== Tần chinh phục các nước khác ==
Xem chi tiết: Chiến tranh thống nhất Trung Hoa của Tần
Sang thế kỷ 2 TCN, nhờ ưu thế về kinh tế và quân sự, Tần chiếm ưu thế rõ rệt so với các quốc gia phía đông, nhất là sau sự xuống dốc của Tề và Sở. Tần dùng chiến thuật "viễn giao cận công" (giao hảo với nước xa, tấn công nước gần), lấn đất các nước tiếp giáp với mình như Hàn, Triệu, Ngụy, Sở nhưng hòa hiếu với nước Tề ở xa. Chiến thuật này tỏ ra hiệu quả. Các nước chư hầu khác có đôi lúc liên minh theo thuyết "Hợp tung" để chống Tần nhưng ràng buộc lỏng lẻo và hay bị Tần chia rẽ nên liên minh nhanh chóng tan rã. Thêm vào đó, nhiều vua chư hầu không thấy được lợi ích thiết thực của liên minh chống Tần mà bị Tần lung lạc bởi lợi ích nhỏ trước mắt nên mắc mưu Tần, dần dần trở thành nạn nhân trong quá trình thống nhất của Tần. Nhất là nước Tề tỏ ra thụ động nhất và ít tham gia đánh Tần so với các nước khác. Sau khi diệt nhà Chu năm 249 TCN, Tần tiếp tục tấn công các chư hầu khác. Đất đai của các nước tiếp giáp bị lấy nhiều và tới khoảng năm 240 TCN, phần đất còn lại của các nước giáp Tần như Hàn, Triệu, Ngụy thực chất rất nhỏ. Cuối cùng, Tần dùng vũ lực lần lượt diệt hết 6 nước phía đông, thống nhất Trung Quốc:
Năm 256 TCN, Tần chiếm Tây Chu.
Năm 249 TCN, Tần chiếm Đông Chu.
Năm 230 TCN, Tần chiếm Hàn.
Năm 225 TCN, Tần chiếm Ngụy.
Năm 223 TCN, Tần chiếm Sở.
Năm 222 TCN, Tần chiếm Yên và Triệu.
Năm 221 TCN, Tần chiếm Tề, hoàn thành thống nhất Trung Quốc.
== Những nhân vật quan trọng ==
=== Quan lại ===
Vệ Ưởng hay còn gọi là Thương Ưởng, chính trị gia, người xây dựng nền móng cường thịnh cho nước Tần.
Tô Tần, chính trị gia, người lập chiến lược "hợp tung", liên kết 6 nước chống Tần.
Trương Nghi, chính trị gia, người lập chiến lược "liên hoành", giúp nước Tần phá liên minh 6 nước.
Tứ công tử bao gồm: Mạnh Thường Quân Điền Văn nước Tề, Bình Nguyên Quân Triệu Thắng nước Triệu, Tín Lăng Quân Ngụy Vô Kỵ nước Ngụy, Xuân Thân Quân Hoàng Yết nước Sở.
Lạn Tương Như, tướng quốc nước Triệu
Lý Tư, thừa tướng nước Tần.
=== Học giả có ảnh hưởng ===
Trang Tử, người phát triển học thuyết Lão Tử
Mạnh Tử, người phát triển học thuyết Khổng Tử
Hàn Phi, người xây dựng nền tảng Pháp gia
Khuất Nguyên, học giả nước Sở
=== Nhà buôn nổi tiếng ===
Lã Bất Vi, người buôn vua nổi tiếng.
=== Tướng lĩnh, lãnh đạo quân đội và các quân sư ===
Tôn Tẫn, cháu Tôn Tử quân sư cho Điền Kỵ, tướng nước Tề
Ngô Khởi, làm tướng lĩnh cho Ngụy, Sở
Nhạc Nghị, tướng Yên, chỉ huy đánh phá nước Tề
Điền Đan, tướng Tề, phá quân Yên, khôi phục nước Tề
Liêm Pha, tướng Triệu chống Tần
Bạch Khởi, tướng Tần, đánh phá 6 nước
Vương Tiễn, tướng Tần, thống nhất 6 nước.
Lý Mục, tướng Triệu chống Tần
=== Thích khách ===
Chu Hợi, môn khách của Tín Lăng quân Ngụy Vô Kỵ, giết Tấn Bỉ, tướng nước Ngụy để đoạt binh quyền về cho Tín Lăng quân Nguỵ Vô Kỵ đi cứu Triệu.
Kinh Kha, được Thái tử Đan của nước Yên phái đi hành thích Tần vương nhưng thất bại, đây là nguyên nhân chính về sự diệt vong của nước Yên.
Cao Tiệm Ly, nhạc công, bạn của Kinh Kha, mưu sát Tần vương để trả thù cho Kinh Kha.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
kroon estonia.txt | Đồng kroon (ký hiệu: kr; code: EEK) là đơn vị tiền tệ của Estonia trong 2 thời kỳ lịch sử của đất nước; nó đã được thay thế bởi đồng euro vào ngày 1 tháng 1 năm 2011. Từ kroon (phát âm tiếng Estonia: [ˈkroːn], vương miện) có liên quan đến những tiền tệ ở các nước Bắc Âu (như krona Thụy Điển, krone Đan Mạch và Krone Na Uy) và bắt nguồn từ tiếng Latin corona ("vương miện"). Đồng kroon thay thế đồng Mark Estonia năm 1928 và được sử dụng cho đến khi nước này thuộc về Liên bang Xô Viết năm 1940, nó được thay bằng đồng Rúp Xô Viết. Sau khi Estonia giành độc lập, đồng kroon được tái sử dụng năm 1992.
== Xem thêm ==
Euro
Kinh tế Estonia
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Coins of Estonia 1991 - nay |
noo phước thịnh.txt | Noo Phước Thịnh (tên thật là Nguyễn Phước Thịnh; sinh ngày 18 tháng 12 năm 1988) là một ca sĩ nhạc trẻ của Việt Nam.
Anh là quán quân của The Remix (Hòa âm ánh sáng) mùa thứ 2 (2016) và là huấn luyện viên của chương trình Giọng hát Việt nhí (mùa 4).
== Tên gọi ==
Tên đầy đủ của Noo Phước Thịnh là Nguyễn Phước Thịnh. Anh giải thích rằng do anh sinh vào ngày 18 tháng 12, cận ngày Noel nên ba mẹ anh lấy luôn chữ Noel làm tên gọi ở nhà. Tuy nhiên, chữ Noel hơi khó đọc đối với một số người lớn tuổi trong nhà, nên mọi người chuyển sang gọi Nô. Rồi ba mẹ anh lại thấy chữ Nô mang tính "phủ định" quá, nên quyết định thêm một chữ O nữa thành Noo.
== Sự nghiệp âm nhạc ==
=== 2009-2010: Bắt đầu sự nghiệp ===
Thịnh bắt đầu sự nghiệp của mình kể từ khi là sinh viên của Trường đại học Hutech Thành phố HCM, khoa Quản trị Kinh doanh. Anh cũng được cho là có quan hệ "thân thiết" với ca sĩ Đông Nhi trong những buổi biểu diễn và trước đó là ca sĩ Thủy Tiên khi cô được cho là cặp với Noo Phước Thịnh để thực hiện nhiều kế hoạch chung.
Trước khi trở thành ca sĩ, anh được biết đến với vai trò người mẫu ảnh của các tạp chí tuổi teen những năm 2007-2008. Khả năng âm nhạc của anh vô tình được phát hiện bởi ca sĩ Thủy Tiên và sau đó, anh đã cộng tác với cô khi bước vào sự nghiệp ca hát.
Anh đã cùng Đông Nhi trở thành một cặp đôi ăn ý trong phiên bản song ca của ca khúc "Nếu" ra mắt khán giả lần đầu tiên trong chương trình Thế giới V-Pop tháng 8 năm 2009, đêm song ca với chủ đề Friend’s Night", mặc dù vậy trong chương trình này cả hai đã tạo nên một màn trình diễn ấn tượng trong đêm nhạc.
Tiếp đến trong Liveshow "Nhịp trẻ" là một đêm diễn hội tụ hầu như đầy đủ những gương mặt ca sĩ trẻ đang được khán giả "teen" rất mến mộ như Thu Thủy, Đông Nhi, Wanbi Tuấn Anh, Bảo Thy, Ngô Kiến Huy, Phạm Huy Du,Thuỷ Tiên..., Noo Phước Thịnh và Thu Thuỷ đã toả sáng trong đêm nhạc này bởi giọng ca "sống" đầy đặn và sự táo bạo trên sân khấu dù chấn thương trước đó của anh chưa lành hẳn, anh chàng "100% yêu em" và cô ca sĩ "Kẹo ngọt" đã thực sự làm khuấy động khán giả.
Bằng khả năng của mình, với chất giọng lạ theo hướng nam trầm, cách trình diễn nhiều cảm xúc trong các bài hát trẻ trung, dễ nghe, ấm anh đã gây ngạc nhiên cho khán giả và chỉ trong vòng hơn 6 tháng kể từ khi bước chân vào làng âm nhạc, cái tên Noo Phước Thịnh đã dần khẳng định được dấu ấn trong lòng các khán giả trẻ. Nhưng việc trau chuốt có phần dịu dàng vẻ bề ngoài tạo nhiều nghi vấn cho anh về giới tính, điều này khiến anh phải phân trần với báo chí về giới tính của mình.
Album đầu tay của Noo Phước Thịnh mang cái tên đơn giản Ba chấm (…), với mười bài hát trong Ba chấm tổng hợp nhiều thể loại âm nhạc, pop ("Ký ức", "Như một thói quen"…), rock, R&B ("Lặng thầm", "Giấc mơ thiên đường"…) với những giai điệu buồn, lãng mạn về tình yêu, về những trải nghiệm của lứa tuổi đang đứng trước ngưỡng cửa trưởng thành. Nữ ca sĩ Thủy Tiên cũng góp giọng trong album với "Quay về đi, ca khúc từng là nhạc phim của Ngôi nhà hạnh phúc. Ngoài phần âm nhạc, album còn tặng kèm 2 video clip, trong đó Noo Phước Thịnh cùng với bạn diễn Mina thể hiện câu chuyện tình lãng mạn và gợi cảm.
Anh cho ra đời ca khúc "Mất em" ở ca khúc này, anh trình bày xuất sắc nên lập tức nó trở thành ca khúc hit đầu tiên của Thịnh trên mạng, và cũng từ đó đánh dấu một chặng đường mới của Noo Phước Thịnh.
Theo thông tin của ông Tuấn Khanh thì album đầu tay của Noo Phước Thịnh đã hoàn thành và phát hành vào tháng 12/2009. Album này gồm có 8 ca khúc mới tinh và 1 ca khúc đã rất thành công của ca sĩ này.
Chiến lược của công ty và cả Noo Phước Thịnh là kết hợp song song giữa việc phát hành những sản phẩm chất lượng và chạy show để tiếp cận càng nhiều khán giả càng tốt. Anh đã quyết định chỉ phát hành một album và một đĩa đơn trong một năm, đổi lại chất lượng của album phải thật sự có giá trị, phải thật sự nổi tiếng.
Ngoài ca hát, Phước Thịnh cũng tham gia các phim truyền hình như Kính Vạn Hoa, Những Giấc Hơ Hồng, hay bộ phim Công Chúa Teen và Ngũ Hổ Tướng.
Cuối năm 2010, anh cho ra đĩa đơn đầu tiên với tên gọi "Đổi Thay", ca khúc được viết bởi nhạc sĩ Nguyễn Hoàng Duy.
=== 2011-2012: Lạc Bước Trong Đêm và Em (The Mini Album) ===
Ngày 28 tháng 4 năm 2011 Noo Phước Thịnh đã trải qua bước ngoặt trên con đường ca hát của mình, đó là việc tổ chức liveshow đầu tiên chủ đề My Dream tại sân khấu Cầu Vồng - 126 Cách mạng Tháng Tám, Q.10
Ngày 29 tháng 4 năm 2011 Noo Phước Thịnh cho ra mắt đĩa đơn thứ hai mang tên "Nỗi Nhớ Đầy Vơi", song ca với nữ ca sĩ Hồ Ngọc Hà. Đĩa đơn có tặng kèm thêm thêm hai ca khúc "Chỉ là giấc mơ" (Noo Phước Thịnh) và "Chỉ là" (Hồ Ngọc Hà).
Sau gần hai năm thực hiện, album phòng thu thứ hai của anh, Lạc bước trong đêm, được phát hành kỹ thuật số vào ngày 1 tháng 11 năm 2011. Một buổi họp báo giới thiệu album đã được diễn ra vào ngày 21 tháng 11 năm 2011. Lạc bước trong đêm gồm chín ca khúc. Ngoài các nhạc sĩ đã cộng tác ăn ý trước đây như Nguyễn Hoàng Duy, Nguyễn Đình Vũ… thì lần này, Noo Phước Thịnh còn bắt tay hợp tác với nhiều nhạc sĩ đình đám mà có thể kể đến là, Nguyễn Hồng Thuận, Lưu Thiên Hương, Võ Mạnh Hiền… Tất cả những ca khúc trong album là sự pha trộn khéo léo giữa pop ballad, R&B và dance. Tặng kèm theo album chín ca khúc là DVD với ba video âm nhạc được hiện công phu. Ngoài "Phôi Phai" đã được tung lên mạng và nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ khán giả, thì hai video còn lại là "Lạc bước trong đêm" và "Chỉ Mình Anh Đau", lại mang hai màu sắc hoàn toàn khác nhau. Trong đó, ca khúc "Lạc bước trong đêm" thuộc dòng nhạc ballad sở trường đã được thực hiện video vô cùng công phu với bối cảnh là một khu rừng hoành tráng. Còn "Chỉ Mình Anh Đau" thuộc thể loại nhạc dance, là lần đầu tiên Noo Phước Thịnh quay video nhảy cùng vũ đoàn.
=== 2013-hiện tại ===
Năm 2014, Noo được làm đại sứ du lịch Nhật Bản. Và liên tiếp trong 3 năm, anh phát hành 3 sản phẩm Mãi mãi bên nhau (2014) quay ở Ōsaka, Really Love You (2015) ở Kanazawa và Như phút ban đầu (2016) ở Kyushu.
Ngày 9 tháng 10 năm 2016, Noo Phước Thịnh đại diện cho Việt Nam, sau 7 năm, tham dự Asia Song Festival được tổ chức ở Hàn Quốc. Tại đây, anh trình diễn 2 bài hát là hit cũ Gạt đi nước mắt với bản phối mới và bài hát mới I don't belive in you với rapper Basik (Hàn Quốc). Ngày 12 tháng 11, Noo tổ chức live show kỉ niệm 8 năm ca hát tại Sân vận động quân khu 7. Ngày 2 tháng 12, anh lại vinh dự được nhận giải "Best Asian Artist Vietnam" (Nghệ sĩ Việt Nam xuất sắc châu Á) do Mnet Asian Music Awards là giải thưởng âm nhạc thường niên của Hàn Quốc trao tặng.
Trong năm 2016 và 2017, Noo Phước Thịnh làm huấn luyện viên cho Giọng hát Việt nhí (mùa 4) và Giọng hát Việt (mùa 4)
== Danh sách đĩa nhạc ==
=== Album phòng thu ===
Ba chấm (2009)
Lạc bước trong đêm (2011)
=== Đĩa mở rộng ===
Tình như Chocopie (với Hiền Thục)
Em (The Mini Album) (2012)
Gạt đi nước mắt (2014)
Chuyện tình Maldives (Love In Maldives) (với Thủy Tiên (ca sĩ)) (2015)
I don't belive in you (với Basik) (2016)
=== Đĩa đơn ===
"Mất Em"
"Stand By Me"
"Nếu" với Đông Nhi
Đổi thay
"Merino Icecream Land" với Đông Nhi
"Nỗi nhớ đầy vơi" với Hồ Ngọc Hà
Xin lỗi em
Tìm em trong ký ức
Chờ ngày mưa tan (hợp tác với Tonny Việt
Đừng nhìn lại
Chôn Giấu Giấc Mơ
Mãi mãi bên nhau
Chuyện Tình Maldives với Thủy Tiên
Em Đi Tìm Anh (Hồ Ngọc Hà)
Really Love You
Như Vậy Mãi Thôi
Cause I Love You
Lặng Im
Như Phút Ban Đầu
I Don't Belive In You (ft.Basik)
Xuân Hạ Thu Đông
Phía Sau Thiên Đường
Thương Mấy Cũng Là Người Dưng
== Giải thưởng ==
=== YAN Vpop 20 Awards ===
Nam ca sĩ được yêu thích nhất YAN VPOP 20 2012
Nam ca sĩ được yêu thích nhất YAN VPOP 20 2013
Nam ca sĩ được yêu thích nhất YAN VPOP 20 2014
Nam ca sĩ được yêu thích nhất YAN VPOP 20 2015
=== Zing Music Awards ===
Top 10 ca khúc yêu thích nhất Zing Music Awards 2010
Top 10 album được yêu thích nhất Zing Music Awards 2010
Top 10 ca khúc yêu thích nhất Zing Music Awards 2011
Top 10 MV được yêu thích nhất Zing Music Awards 2011
Nam ca sĩ được yêu thích nhất Zing Music Awards 2013
Ca khúc No.1 nhiều tuần nhất Zing Music Awards 2013
Nam ca sĩ được yêu thích nhất Zing Music Awards 2014
Ca khúc No.1 nhiều tuần nhất Zing Music Awards 2014
Ca khúc song ca được yêu thích nhất Zing Music Awards 2014
MV đứng đầu nhiều tuần nhất trong bảng xếp hạng Zing Music Awards 2015 - Em đi tìm anh
Song ca/Nhóm ca được yêu thích nhất Zing Music Awards 2015 cùng với Hồ Ngọc Hà
Ca khúc Dance/Electronic được yêu thích nhất Zing Music Awards 2016 - Cause I love you
Nam nghệ sĩ được yêu thích nhất Zing Music Awards 2016
=== HTV Award ===
Nghệ sĩ cống hiến (Phần ca nhạc) HTV Award 2014
Nam ca sĩ được yêu thích nhất HTV Award 2015
Nam ca sĩ được yêu thích nhất HTV Award 2016
=== Giải Mai Vàng ===
Nam ca sĩ nhạc nhẹ 2013 – Chờ ngày mưa tan
Nam ca sĩ nhạc nhẹ 2014 – Gạt đi nước mắt
Nam ca sĩ nhạc nhẹ 2015 – Giá như
Nam ca sĩ nhạc nhẹ 2016 – Tôi Là Một Ngôi Sao
Ca sĩ của năm 2017
=== Làn sóng xanh ===
Triển vọng Làn Sóng Xanh 2010
Top 10 Ca sĩ được yêu thích nhất Làn Sóng Xanh 2011
Top 10 Ca sĩ được yêu thích nhất Làn Sóng Xanh 2012
Top 10 Ca sĩ được yêu thích nhất Làn Sóng Xanh 2013
Top 5 Ca sĩ được yêu thích nhất Làn Sóng Xanh bảng Top Hits 2014
Dự án âm nhạc của năm 2015 - Chuyện tình Maldives
Top 5 Ca sĩ được yêu thích nhất Làn Sóng Xanh bảng Top Hits 2015
Top 5 Ca sĩ được yêu thích nhất Làn Sóng Xanh bảng Top Hits 2016
Single của năm 2016 - Cause I love you
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Noo Phước Thịnh trên Facebook |
đế quốc hà lan.txt | Đế quốc Hà Lan (tiếng Hà Lan: Nederlands-koloniale Rijk) bao gồm các vùng lãnh thổ ở nước ngoài thuộc tầm kiểm soát của Hà Lan từ thế kỷ 17 đến những năm 1950. Người Hà Lan đã theo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha để thiết lập một đế quốc thực dân. Đối với điều này, họ đã được hỗ trợ bởi các kỹ năng của họ trong việc vận chuyển và thương mại và tăng của chủ nghĩa dân tộc đi theo cuộc đấu tranh giành độc lập từ Tây Ban Nha. Cùng với Anh, Hà Lan bước đầu xây dựng tài sản thuộc địa trên cơ sở của nhà nước tư bản gián tiếp của công ty chủ nghĩa thực dân, thông qua công ty Đông và Tây Ấn. Những chuyến đi thăm dò của Hà Lan, chẳng hạn như những chuyến thăm dò được dẫn đầu bởi Willem Barents, Henry Hudson và Abel Tasman đã tiết lộ cho người châu Âu những vùng lãnh thổ rộng lớn mới.
Với sức mạnh hải quân Hà Lan tăng lên nhanh chóng là một lực lượng lớn từ cuối thế kỷ 16, Hà Lan thống trị thương mại toàn cầu trong nửa sau của thế kỷ 17. Họ là bá chủ của biển khơi suốt thời gian này.
Hiện nay, Hà Lan là một phần của Vương quốc Hà Lan. Tính đến ngày 10 tháng 10 năm 2010, các quốc gia bên trong Vương quốc Hà Lan là Hà Lan, Aruba, Curaçao, và Sint Maarten.
== Thành lập ==
Sau khi Vương quốc Frank bị chia cắt, Hà Lan thuộc về Vương quốc Frank Đông (Regnum Teutinicae) và sau đó thuộc về Đế quốc La Mã Thần thánh dân tộc Đức. Dưới triều của hoàng đế Karl V, người đồng thời cũng là vua Tây Ban Nha, nước được chia thành 17 tỉnh và cũng bao gồm phần lớn nước Bỉ ngày nay. Sau tuyên bố độc lập của 7 tỉnh miền Bắc (Liên minh Utrecht) vào ngày 23 tháng 1 năm 1579 và cuộc chiến 80 năm kế tiếp theo đó chống lại dòng họ Habsburg Tây Ban Nha, nền độc lập trên hình thức đối với Tây Ban Nha được ghi nhận trong Hòa ước Münster, là một phần của Hòa ước Westfalen vào ngày 15 tháng 5 năm 1648, dẫn đến việc tách ra khỏi Đế chế Đức trong thời kỳ Trung cổ, đồng thời với Thụy Sĩ. Ngày này được xem là ngày nước Hà Lan ra đời.
== Thương mại phía đông ==
Các đoàn thám hiểm của người Hà Lan đầu tiên đi vòng quanh Mũi Hảo Vọng và tiến xa về phía đông, trong năm 1595, dẫn đầu là Jan van Huyghen Linschoten, một thương gia Hà Lan chỉ có kiến thức về định hướng chủ yếu từ kinh doanh ở Lisboa. Những người sống sót của cuộc hành trình này quay trở lại Hà Lan hai năm sau đó. Họ mang theo hàng hóa có giá trị về Hà Lan. Và họ đã thành lập một hiệp ước thương mại với các sultan của Bantam, ở Java. Chẳng bao lâu sau khoảng mười tàu tư nhân được thiết lập ra mỗi năm từ Hà Lan để tìm tài sản của họ ở phía đông. Người đứng đầu của Cộng hòa Hà Lan độc lập vừa được quyết định rằng hoạt động này không có giấy phép kinh doanh, ở vùng biển xa xôi và nguy hiểm, cần cả hai điều khiển và bảo vệ. Năm 1602 ông đã thành lập Công ty Đông Ấn Hà Lan, với các đặc quyền và quyền hạn rộng rãi. Đó là có một độc quyền miễn thuế của thương mại đông cho 21 năm. Nó được phép xây dựng pháo đài, thiết lập các thuộc địa, những đồng xu bạc hà, và duy trì một lực lượng hải quân và quân đội theo yêu cầu.
Việc kiểm soát Hà Lan việc buôn bán đinh hương có hiệu quả tàn nhẫn. Trong thế kỷ 17 cây đinh hương là loại trừ tất cả các quần đảo Spice trừ hai - Amboina và Ternate - để hạn chế sản xuất và giữ giá cao. các biện pháp nghiêm ngặt được tiến hành để đảm bảo rằng các nhà máy không được xuất khẩu để tuyên truyền ở nơi khác (hạn chế thành công duy trì cho đến cuối thế kỷ 18).
Năm 1651 công ty quyết định để đáp ứng nhu cầu này bằng cách thiết lập một khu định cư nhỏ của Hà Lan về các vịnh dưới núi Table. Bởi bây giờ đó cũng là một thuộc địa của Hà Lan phát triển mạnh ở phía bên kia của Đại Tây Dương.
== Thương mại phía Tây ==
== Chinh phục ==
=== Châu Á ===
=== Châu Mỹ La Tinh ===
=== Bắc Mỹ ===
=== Nam Phi ===
== Giải thể ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Hà Lan) De VOCsite
Dutch and Portuguese Colonial History
(tiếng Hà Lan) VOC Kenniscentrum
Archives of the Dutch East and West India Companies |
chú âm phù hiệu.txt | Chú âm phù hiệu (phồn thể: 注音符號; Bính âm Quan Thoại: bōpōmōfō; Việt bính: bo1 po1 mo1 fo1; Chú âm phù hiệu: ㄓㄨˋ ㄧㄣ ㄈㄨˊ ㄏㄠˋ) hay chú âm là một loại chữ viết dùng để ký hiệu cách phát âm các chữ Hán trong tiếng Quan Thoại Trung Quốc. Bảng chữ cái chú âm gồm có 37 ký tự và 4 dấu thanh và có thể ký hiệu được toàn bộ các âm Quan Thoại của chữ Hán. Chú âm phù hiệu được phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc bởi Chính phủ Bắc Dương vào những năm 1910 và được dùng song song với hệ thống phiên âm chữ Hán Wade-Giles. Rồi hệ thống Wade-Giles được thay thế vào năm 1958 bằng hệ thống Bính âm Hán ngữ bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và tại Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế vào năm 1982. Mặc dù Đài Loan đã chính thức không sử dụng hệ thống Wade-Giles từ năm 2009, chú âm phù hiệu vẫn được sử dụng chính thức và rộng rãi tại đây trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục và đánh máy.
== Tên gọi ==
Tên gọi chính thức cũ của hệ thống chú âm phù hiệu là Quốc âm tự mẫu (國音字母) và Chú âm tự mẫu (注音字母). Đến năm 1930 thì được đổi tên thành Chú âm phù hiệu như hiện nay và sớm được Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sử dụng trong việc giáo dục tiểu học.
== Ký tự chú âm ==
=== Phụ âm ===
=== Nguyên âm ===
=== Thanh điệu ===
=== Ngoại lệ ===
== Xem thêm ==
Phiên âm Hán Việt
Phiên thiết Hán Việt
== Chú thích == |
the rolling stones.txt | The Rolling Stones là một ban nhạc Anh, ban nhạc có thể loại âm nhạc rock and roll pha trộn với nhạc blues, rhythm and blues đã trở nên phổ biến trong thời kỳ "British Invasion" đầu thập niên 1960. Ban nhạc này đã được thành lập ở London năm 1962 bởi Brian Jones, và cuối cùng đã được dẫn dắt bởi ca sĩ Mick Jagger và nghệ sĩ chơi guitar Keith Richards. Tay trống Charlie Watts và người chơi guitar bass Bill Wyman đã hoàn tất đội hình đầu tiên ban đầu. Hình ảnh tóc tai bù xù và surly youth là điều mà nhiều nhạc sĩ vẫn phải noi gương.
Người dẫn dắt ban nhạc ban đầu là Jones đã bị sa thải ra khỏi ban nhạc và cuối cùng đã qua đời năm 1969 và đã được thay bằng Mick Taylor 20 tuổi. Việc đưa Taylor vào nhập ban nhạc đã giúp dẫn dắt ban nhạc quay lại về hướng nhạc dựa trên rock nhiều hơn, một xu hướng mà ban nhạc đã tìm kiếm sau khi Jones ra đi. Chính trong đợt 1969 American tour thì ban nhạc Stones đã được giới thiệu và sau đó thường được gọi là "Ban nhạc Rock & Roll vĩ đại nhất thế giới". Taylor cũng rời Stones vào năm 1974, và được thay bằng tay chơi guitar trước đây của Faces là Ron Wood. Wyman rời ban nhạc năm 1993.
Ban nhạc đã phát hành 55 album tác phẩm gốc và biên tập và đã có 37 top 10 đĩa đơn. Họ đã bán ra hơn 200 triệu album trên khắp thế giới. Album năm 1971 Sticky Fingers đã bắt đầu một chuỗi 8 album số một ở Hoa Kỳ. Năm 1989, ban nhạc the Rolling Stones đã được bổ nhiệm vào Rock and Roll Hall of Fame, và năm 2004 họ đã xếp số 4 trong 100 Nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại của tạp chí Rolling Stone. Album gần đây nhất của họ, A Bigger Bang, đã được phát hành năm 2005 và đã được đi kèm bằng tua vòng quanh thế giới kéo dài hai năm vẫn đang tiếp diễn.
== Lịch sử ==
=== Những năm đầu ===
Keith Richards và Mick Jagger vốn là bạn từ thuở bé và học cùng lớp ở Dartford, Kent đến khi Jagger chuyển đến Wilmington. Jagger đã thành lập một ban nhạc garage cùng Dick Taylor, chủ yếu chơi cùng thể loại của Muddy Waters, Chuck Berry, Little Richard, Howlin' Wolf và Bo Diddley. Jagger cũng hẹn gặp Keith Richards năm 1960 tại nhà ga xe lửa Dartford. Hãng thu âm của Chuck Berry và Muddy Waters tin rằng Jagger sẽ là một thành viên rất hữu ích để cân nhắc hợp tác với họ vì lợi ích chung. Richard thường xuyên mời Jagger và Taylor tham gia trong một cuộc họp kín ở nhà Jagger. Cuộc họp được chuyển tới nhà của Taylor cuối năm 1961 khi nhóm có thêm hai thành viên mới Alan Etherington và Bob Beckwith. Họ tự đặt tên cho ban nhạc của mình là The Blue Boys.
Tháng 3 năm 1962, The Blue Boys vô tình đọc được địa chỉ của CLB Ealing Jazz trên báo Jazz News viết 7 tháng 4 năm 1962. Các thành viên trong ban nhạc lần đầu gặp Brian Jones khi ông đang tập ngồi trượt đàn guitar với tiếng rhythm London của Alexis Korner và ban nhạc Blues Blues Incorporated, nơi có các thành viên tương lai trong The Rolling Stones Ian Stewart và Charlie Watts. Trước khi ghé thăm CLB Blue Jazz, The Blue Boys đã gửi tệp băng thu âm tốt nhất của ban nhạc tới Alexis Korner và gây ấn tượng mạnh với ông. Sau cuộc gặp với Korner, Jagger và Richards bắt đầu trình diễn với Blues Incorporated.
Trong khi Brian Jones bận quảng cáo cho ban nhạc trên Jazz News thì Ian Stewart cuối cùng cũng tìm được không gian lý tưởng để cùng Jones bật rhythm chơi bài Chicago blues. Khoảng một thời gian ngắn sau Jagger, Taylor và Richards rời khỏi nhóm Blues Incorporated để nhận lời mời tham gia với Jones và Stewart. Thế nhưng ngay trong buổi tập đầu tiên, cả tay guitar Geoff Bradford và hát chính Brian Night đã từ chối tham gia ban nhạc với lý do phản đối việc chơi các bài của Chuck Berry và Bo Diddley mà Jagger và Richards yêu thích. Tháng 6 năm 1962 các thành viên chính của ban nhạc bao gồm: Jagger, Jones, Richards, Stewart, Taylor và tay trống Tony Chapman. Theo Richards kể lại, Jones thường rửa tội cho ban nhạc trong khi gọi điện đến Jazz News. Ngay khi được hỏi tên ban nhạc thì Jones đã nhìn thấy tấm Muddy Waters LP nằm trên sàn nhà. Một trong những track nổi tiếng của LP là "Rollin' Stone".
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách các nghệ sĩ bán được nhiều đĩa hát nhất mọi thời đại
Danh sách những nghệ sĩ được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll
Các kỷ lục của UK Singles Chart
The Rolling Stones phỏng vấn trên Pop Chronicles (1969) |
biển nội địa seto.txt | Biển nội địa Seto hay biển Seto 瀬戸内海 (Seto Naikai, âm Hán Việt: Lại Hộ nội hải) là một vùng biển hẹp thuộc Nhật Bản, chạy dài theo hướng đông-bắc tây-nam, ngăn cách ba đảo chính: Honshū phía bắc và đông-bắc, Shikoku phía nam, và Kyūshū phía tây-nam.
Biển Seto là hải lộ thiên nhiên nối Thái Bình Dương phía đông bằng hai eo biển Hoyo và Naruto và biển Nhật Bản phía tây bằng eo biển Kanmon. Đây cũng là vùng biển ăn thông với vịnh Osaka bằng eo biển Akashi vốn là hải lộ quan trọng ra vào vùng Kansai, bao gồm cả Osaka và Kobe. Trước khi có tuyến đường sắt Sanyō, biển Seto là mạch giao thông chính nối vùng Kansai và Kyūshū.
Dọc hai bên bờ biển Seto là các tỉnh thành: Yamaguchi, Okayama, Hyōgo, Kagawa, Ehime, Fukuoka, và Ōita, Hiroshima, Iwakuni, Takamatsu, và Matsuyama.
Vì gần như khép kín, biển Seto có khí hậu ôn hòa và tạnh ráo, mệnh danh là hare no kuni (晴れの国), tức "xứ trong sáng". Biển Seto ngược lại cũng có những hiện tượng ác liệt như nạn thủy triều đỏ (赤潮, akashio, âm Hán Việt: xích triều) do thực vật phù du bùng sinh sôi kết tụ, gây ra nạn cá chết.
Kể từ thập niên 1980, hai bên bờ bắc và nam đều cất những cây cầu lớn nối liền xa lộ và đường sắt thuộc dự án cầu Honshū-Shikoku, trong đó có cầu Đại Seto.
== Tham khảo == |
đạo cao đài.txt | Đạo Cao Đài là một tôn giáo được thành lập ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, năm 1926. Tên gọi Cao Đài theo nghĩa đen chỉ "một nơi cao", nghĩa bóng là nơi cao nhất ở đó Thượng đế ngự trị; cũng là danh xưng rút gọn của Thượng đế trong tôn giáo Cao Đài, vốn có danh xưng đầy đủ là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Để tỏ lòng tôn kính, một số các tín đồ Cao Đài thường gọi tôn giáo của mình là Đạo Trời.
Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng đế là Đấng sáng lập ra các tôn giáo và cả vũ trụ này. Tất cả giáo lý, hệ thống biểu tượng và tổ chức đều được "Đức Cao Đài" trực tiếp chỉ định. Và đạo Cao Đài chính là được Thượng đế trực tiếp khai sáng thông qua Cơ bút cho các tín đồ với nhiệm vụ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, có nghĩa là Nền đạo lớn phổ độ lần thứ Ba.
Cao Đài là một tôn giáo mới, có tính dung hợp các tôn giáo lớn mà chủ yếu là Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Hồi giáo và Cơ Đốc giáo. Các tín đồ thi hành những giáo điều của Đạo như không sát sinh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên, và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng đế nơi Thiên giới và mục tiêu tối thượng là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân hồi. P Tuy được khai sinh chính thức vào năm 1926, có nguồn nói rằng đạo Cao Đài vào đêm Giáng Sinh năm 1925 trong lúc tình trạng nước Việt Nam đang rất hỗn độn. Cao Đài nhanh chóng phát triển về quy mô và số lượng tín đồ. Theo thông tin của Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam, dẫn thống kê năm 2010 của các tổ chức Cao Đài thì có khoảng hơn 2,4 triệu tín đồ, còn theo Thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam cũng trong năm 2009 thì số người tự xem mình là tín đồ Cao Đài tại Việt Nam là 807.915 người, cũng có nguồn ghi hơn 5 triệu. Về mặt tổ chức đạo Cao Đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận. Trên toàn quốc có 35/38 tỉnh thành đạo Cao Đài hoạt động với 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4 nghìn tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao Đài). Ngoài ra, có khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc. Theo trang thông tin và truyền giáo Cao Đài hải ngoại, số tín đồ Cao Đài là khoảng 5 triệu
== Lược sử hình thành và phát triển ==
Lịch sử của đạo Cao Đài gắn liền với sự phổ biến Cơ bút tại Việt Nam đầu thế kỷ XX. Có thể nói, Cơ bút là nền tảng căn bản cũng như mọi yếu tố liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của tôn giáo Cao Đài từ quá khứ đến hiện tại, từ việc thu nhận tín đồ, phong chức sắc, ban hành luật đạo, các nghi thức cúng tế, phẩm phục, kinh điển, thậm chí đến các thiết kế cơ sở thờ tự cũng được thông qua bởi hình thức Cơ bút.
Hai hình thức Cơ bút ảnh hưởng đến sự ra đời của tôn giáo Cao Đài là thuật Xây (xoay) Bàn (la table tournante) theo thuyết Thông linh học (Spiritisme) của Allan Kardec đến từ Pháp, và Đại ngọc cơ (大玉機) xuất xứ từ Trung Quốc.
=== Những môn đồ đầu tiên ===
Các tài liệu về tôn giáo Cao Đài đều thừa nhận người được xem là tín đồ đầu tiên của đạo là ông Ngô Văn Chiêu. Là một viên chức trong chính quyền thực dân Pháp, vốn chịu ảnh hưởng của Minh Sư đạo, một nhánh của Tam giáo, thường sử dụng hình thức cơ bút để giao tiếp với giới thần tiên, trong những năm 1921 đến 1924, ông đã thông qua các cơ bút để hình thành những nền tảng đầu tiên của đạo Cao Đài và truyền bá cho nhóm bạn hữu công chức tại Sài Gòn, nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi một nhóm tu tập tịnh luyện, chứ chưa phát triển thành một Tôn giáo.
Cùng giai đoạn này, một nhóm công chức gốc Tây Ninh làm việc trong chính quyền thực dân Pháp khác ở Sài Gòn, chịu ảnh hưởng của phong trào Thông linh học gồm Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang và Phạm Công Tắc, thường xuyên tổ chức cầu cơ ở đường Arras. Do các thành viên ban đầu mang họ Cao và họ Phạm, nên còn được gọi là nhóm Cao - Phạm. Nhóm còn có một thành viên nữ là bà Nguyễn Thị Hiếu, tức Hương Hiếu, vợ ông Cao Quỳnh Cư. Nhóm này cũng được cho là tiếp xúc với Thượng đế qua danh hiệu AĂÂ vào khoảng tháng 7 năm 1925. Nhóm cũng độc lập xây dựng nền tảng giáo lý riêng và cũng phát triển thêm nhiều người, quan trọng nhất là việc thu nhận thêm ông Lê Văn Trung, cựu Nghị viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, người có giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển đạo Cao Đài.
=== Hợp nhất khai đạo ===
Qua các liên hệ cá nhân, giữa các nhóm hầu cơ bắt đầu có sự liên hệ hợp nhất. Ngày 21 tháng 2 năm 1926, một bài thơ được lưu truyền là cơ giáng của Thượng đế, trong đó có tên của 13 người, về sau được tín đồ Cao Đài xưng tụng là những tín đồ đầu tiên của đạo, với tên ông Ngô Văn Chiêu được tôn xưng Anh Cả. Kể từ đó, những nền tảng giáo lý của Cao Đài được bổ túc và hoàn thiện dần. Chỉ trong mấy tháng, số lượng tín đồ nhanh chóng phát triển lên mấy trăm người. Một đàn cơ quy mô được thành lập ở Cầu Kho , về sau hình thành nên Thánh thất Cầu Kho.
Việc phát triển số lượng tín đồ nhanh chóng đòi hỏi phải có người lãnh đạo với quyền vị chính thức. Vì vậy, giữa cuối tháng 4 năm 1926, thông qua việc giáng cơ, các tín đồ đầu tiên đã tôn xưng ông Chiêu là Giáo tông và may sẵn bộ đạo phục riêng cho ông. Tuy nhiên, ông Chiêu từ chối ngôi vị Giáo tông, do những bất đồng trong việc hình thành giáo hội, và từ đó không tham gia cũng như không có liên quan gì đến các hoạt động phát triển của giáo hội Cao Đài.
Để có tư cách chính thức với chính quyền thực dân, ngày 7 tháng 10 năm 1926, các tín đồ gởi đến Thống đốc Nam Kỳ Le Fol một bản tuyên cáo khai đạo bằng tiếng Pháp với chữ ký của 28 tín đồ có địa vị cao nhất trong xã hội, kèm theo tờ khai tịch đạo của 245 tín đồ. Sau đó, các tín đồ tổ chức 3 nhóm truyền đạo khắp Nam Kỳ. Và ngày Rằm tháng 10 năm Bính Dần (tức ngày 19 tháng 11 năm 1926), các tín đồ Cao Đài đã tổ chức Đại lễ Khai Đạo tại chùa Gò Kén, còn gọi là Thiền Lâm Tự, Tây Ninh và ra mắt Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (tổ chức Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài) với sự hiện diện của quan chức chính quyền của cả người Pháp lẫn người Việt và đồng bào các giới.
=== Thăng trầm nền đạo ===
Tuy vậy, giữa các tín đồ đã xuất hiện những quan điểm bất đồng về cách thức tu tập, tổ chức giáo hội, hoặc do những mục đích cá nhân, cũng dần tách ra để hình thành các nhánh Cao Đài độc lập. Một số nhánh thành lập tổ chức giáo hội (Hội Thánh), một số khác hoạt động độc lập, cũng không thành lập tổ chức giáo hội. Ngoài ra, còn một số tổ chức của các tín đồ Cao Đài mang tính chất đoàn thể cũng được thành lập.
Lý giải cho hiện tượng này, các tín đồ Cao Đài tin rằng việc hình thành các nhánh Cao Đài khác nhau đã được Thượng đế tiên tri ngay từ lúc sơ khai chưa chính thức lập thành Cao Đài giáo, sẽ hình thành 12 nhánh Cao Đài. Tuy nhiên, với các nhà nghiên cứu, trong đó có cả tín đồ, số lượng các nhánh Cao Đài khác nhau tùy theo thời điểm chứ không cố định là 12 phái. Theo thời gian, các nhánh Cao Đài diễn ra nhiều cuộc chia tách, sát nhập, thống kê trong lịch sử có hơn 30 tông phái khác nhau. Rất nhiều nỗ lực hoạt động để thống nhất giáo hội nhưng đều bất thành do những chỉ trích và trở ngại từ nhiều phía, kể cả giữa các tín đồ.
=== Trong cơn động loạn của dân tộc ===
Sự phân chia các hệ phái không làm giảm tốc độ phát triển tín đồ trái lại càng mau chóng gia tăng số lượng tín hữu, Cao Đài nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng lớn ở Nam Kỳ, thậm chí phát triển ra cả ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ và cả Cao Miên. Các lãnh đạo Cao Đài đều là những người có học thức, có địa vị xã hội và rất có ảnh hưởng đến dân chúng. Vì vậy, Cao Đài luôn là đối tượng hoặc lôi kéo, hoặc đả kích của các thế lực nắm chính quyền.
Người Pháp ra tay trước tiên. Một tôn giáo có tổ chức như hình thái nhà nước có nhiều khả năng lôi kéo quần chúng đe dọa đến sự cai trị của chính quyền thực dân. Dưới áp lực của thực dân Pháp, các chỉ dụ cấm đạo ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Campuchia và Lào đã được ban hành. Đỉnh điểm, ngày 28 tháng 6 năm 1941, lo ngại việc một tôn giáo hoạt động mạnh ở Sài Gòn và phụ cận có thể rơi vào ảnh hưởng của người Nhật, bấy giờ đã xâm nhập Đông Dương và ra sức lôi kéo các nhóm tôn giáo, chính trị người Việt ủng hộ Chính sách Đại Đông Á, chính quyền thực dân Pháp bất ngờ tấn công vào các tín đồ Cao Đài, bắt giữ Hộ pháp Phạm Công Tắc và đày đi Madagascar. Nhiều chức sắc Cao Đài khác cũng bị bắt giam hoặc quản thúc. Tòa Thánh Tây Ninh bị chiếm đóng. Nhiều thánh thất Cao Đài các cũng bị chiếm đóng hoặc phá hủy.
Cả người Nhật lẫn Việt Minh đều tranh thủ ra sức lôi kéo các nhóm Cao Đài. Do sự vận động của các cán bộ Việt Minh, một nhóm các chức sắc Cao Đài, nòng cốt ở các phái Tiên Thiên, Ban Chỉnh Đạo và Minh Chơn Đạo, đã bí mật thành lập Hội Cao Đài Cứu Quốc. Hội hoạt động chủ yếu ở các vùng xa ở Tây Nam Bộ, bí mật tập hợp lực lượng trên nền tảng Thanh niên Đạo đức đoàn dưới sự lãnh đạo của Cao Triều Phát cố vấn Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, có xu hướng chống cả Pháp lẫn Nhật. Người Nhật thì can thiệp mở lại Tòa Thánh Tây Ninh tại Sài Gòn, đổi lại việc Giáo sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh), người tạm thời thay mặt Hộ pháp Phạm Công Tắc lãnh đạo các tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, tập hợp các tín đồ hợp tác với quân đội Nhật để chống Pháp. Khá đông tín đồ Cao Đài được tuyển làm nhân công của xưởng đóng tàu Nichinan của quân đội Nhật tại Nam Bộ. Một lực lượng bán vũ trang Cao Đài được ra đời với tên gọi Nội ứng nghĩa binh, dưới danh nghĩa được Hoàng thân Cường Để chỉ thị thành lập để liên minh với Nhật Bản.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, lực lượng bán vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh mặc đồng phục trắng, đội mũ bê-rê, vũ trang bằng gậy tre vọt nhọn tham gia hỗ trợ Nhật đảo chính Pháp tại Sài Gòn. Bên cạnh đó, ngày 24 tháng 6 năm 1945, được sự hậu thuẫn của Hội Cao Đài Cứu Quốc, một đại hội các hệ phái Cao Đài (không có Tòa Thánh Tây Ninh) được tổ chức tại Sài Gòn, thành lập tổ chức Cao Ðài Hiệp Nhứt 11 Phái và bầu ông Cao Triều Phát làm Chủ tịch. Trong Cách mạng tháng Tám, nhiều nhóm bán vũ trang Cao Đài đã gia nhập Cao Đài Cứu Quốc và tham gia giành chính quyền ở khắp Nam Bộ.
Sau khi giành được chính quyền cuối tháng 8 năm 1945, nhiều chức sắc Cao Đài được chính quyền Việt Minh mời ra tham chính. Tại Tây Ninh, một tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh là ông Trương Văn Xương được mời làm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh, một chức sắc Cao Đài thuộc Tòa Thánh Tây Ninh khác là Giáo sư Thượng Chữ Thanh (Đặng Trung Chữ) được mời làm cố vấn.
Khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, các nhóm lực lượng vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh tham chiến tại các mặt trận số 1 và số 2, chiến đấu ở mặt Đông và Bắc Sài Gòn. Sau khi vào Nam, đặc phái viên Trung ương Nguyễn Bình đã tổ chức hội nghị An Phú Xã, thống nhất tổ chức các đơn vị vũ trang thành các chi đội Vệ Quốc đoàn. Lực lượng vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh được tổ chức thành 2 chi đội số 7 do Nguyễn Thanh Bạch chỉ huy và chi đội số 8 do Nguyễn Hoài Thanh chỉ huy.
Tuy nhiên, trước sức mạnh của quân Pháp, các mặt trận nhanh chóng tan vỡ. Nhiều đơn vị vũ trang tan rã, hoặc trở thành những lực lượng quân phiệt cát cứ, không chịu sự chỉ huy thống nhất. Một số chức sắc cao cấp và chỉ huy quân sự Cao Đài đã đưa lực lượng của mình tự rút về Tây Ninh và tự xây dựng các căn cứ để bảo vệ Tòa Thánh Tây Ninh.
Hành động cát cứ này là lý do để các phần tử Việt Minh quá khích lên án các tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh là phản bội. Một vài cuộc xung đột đẫm máu đã nổ ra bắt nguồn từ những tín đồ Cao Đài và các phần tử Việt Minh quá khích. Chi đội số 7 và số 8 do Cao Đài chỉ huy bị Việt Minh tước khí giới trong những cuộc thanh trừng nội bộ. Hàng chục tín đồ Cao Đài bị Việt Minh giết, nhiều nhất tại tỉnh Quảng Ngãi (miền Trung) và Trung Lập (miền Nam). Giáo sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh) cũng bị bắt tại Chợ Đệm và bị giải giam tại Cà Mau cùng với Giáo sư Hồ Văn Ngà, Chủ tịch Việt Nam Độc lập Đảng.
Nắm được sự mâu thuẫn này và để tranh thủ thêm đồng minh trong cuộc chiến chống Việt Minh, chính quyền Pháp cho phép Hộ pháp Phạm Công Tắc trở về Tòa Thánh Tây Ninh, đổi lại các tín đồ Cao Đài sẽ không tấn công người Pháp và được quân Pháp bảo trợ. Thậm chí, chính quyền Pháp còn cho phép các lãnh thổ do Tòa Thánh Tây Ninh kiểm soát có quyền tự trị. Lực lượng vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh được chính quyền Pháp bảo trợ và trang bị vũ khí, do Trung tướng Trần Quang Vinh làm Tổng tư lệnh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thành làm Tham mưu trưởng, có vai trò như một lực lượng bổ sung (Forces supplétives), hỗ trợ quân Pháp trong các chiến dịch tấn công Việt Minh.
Bất đồng với sự hợp tác này, một số chức sắc Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh tham gia kháng chiến đã gia nhập Cao Đài Cứu Quốc, mở rộng thành Cao Ðài Cứu Quốc 12 phái Hiệp Nhứt. Các lực lượng vũ trang của Cao Đài Cứu Quốc được tập hợp thành Trung đoàn 124, chiến đấu cho đến hết cuộc Kháng chiến chống Pháp dưới quyền chỉ huy của Việt Minh. Phản ứng trước việc này, lãnh đạo Tòa Thánh Tây Ninh tuyên bố trục xuất các chức sắc và tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh nào tham gia Cao Đài Cứu Quốc.
=== Hợp tan - Tan hợp ===
Sau năm 1954, tổ chức Cao Đài Cứu Quốc tuyên bố giải thể. Các phái liên hiệp trước đây trở về sinh hoạt riêng rẽ. Một số chức sắc tập kết ra Bắc, hình thành Hội Thánh Duy Nhất thuần túy sinh hoạt tôn giáo dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại miền Nam, Tòa Thánh Tây Ninh dưới sự hậu thuẫn của người Pháp đã trở thành Hội Thánh Cao Đài lớn nhất, đại diện cho cả tôn giáo Cao Đài, có quân đội riêng, có ảnh hưởng chính trị mạnh, đã trở thành cái gai lớn thời Quốc gia Việt Nam dưới Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Để dẹp các trở ngại trong việc thâu tóm quyền lực, Thủ tướng Diệm đã mua chuộc, gây chia rẽ trong nội bộ, và cuối cùng tấn công lực lượng quân đội Cao Đài, buộc Hộ pháp Phạm Công Tắc phải lưu vong sang Campuchia cho đến ngày ông liễu đạo.
Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh chỉ được công nhận trở lại tại miền Nam từ năm 1965 theo sắc lệnh Số 3 ngày 12 Tháng Bảy của Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Sang thời Đệ nhị Cộng hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, các tín đồ tốt nhất chỉ thuần túy sinh hoạt tôn giáo, không nên can thiệp vào chính trị, vì vậy các tổ chức Cao Đài không còn ảnh hưởng mạnh đến chính trị và xã hội như trước.
Các tín đồ Cao Đài một lần nữa phải chịu thử thách khi những người Cộng sản nắm quyền kiểm soát toàn bộ Việt Nam. Nhiều chức sắc Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh bị chính quyền mới buộc tội là đã cộng tác với những kẻ thù, thậm chí đã tham gia chống đối chính quyền mới. Năm 1979, một Hội đồng Chưởng quản Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ được thành lập, đại diện cho giáo hội, đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền. Các tổ chức, hệ phái Cao Đài khác cũng là đối tượng công kích, khi bị chính quyền mới buộc tội tuyên truyền cho tệ nạn mê tín. Các hoạt động tôn giáo hoàn toàn bị hạn chế, chỉ giới hạn những sinh hoạt trong nhóm nhỏ tín đồ.
=== Một tôn giáo lớn tại Việt Nam ===
Cùng với chính sách mở cửa của chính quyền Việt Nam, các tôn giáo, trong đó có cả Cao Đài giáo cũng được dễ thở hơn. Tòa Thánh Tây Ninh được mở cửa lại cho các hoạt động tôn giáo lớn của hàng triệu tín đồ, thậm chí được xem như một điểm di tích tham quan du lịch nổi tiếng của Việt Nam. Từ năm 1995 đến 2011, chính quyền bắt đầu công nhận các tổ chức tôn giáo Cao Đài như những tổ chức hợp pháp, gồm 9 Hội Thánh Cao Đài, 1 tổ chức giáo hội Cao Đài Việt Nam (Bình Đức), 1 Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi và 18 tổ chức Cao Đài hoạt động độc lập. Ước tính hiện tại, toàn đạo có khoảng gần 3 triệu tín đồ trong cả nước, sinh hoạt tại 38 tỉnh thành, tập trung chủ yếu ở Nam Bộ. Ngoài ra, có khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Hoa Kỳ, Canada, Campuchia, Châu Âu và Úc.
Các tổ chức giáo hội Cao Đài được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân xếp theo số lượng tín đồ:
Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh: là tổ chức Hội Thánh Cao Đài nguyên thủy, được thành lập năm 1926, và cũng là Hội Thánh lớn nhất, là đại diện của tôn giáo Cao Đài, với hơn 2,5 triệu tín đồ, 400 Họ đạo với 387 Thánh thất, 145 Điện thờ Phật mẫu, phân bổ trong 39 tỉnh thành trong cả nước. Khoảng 3 vạn tín đồ đang cư trú tại nước ngoài như Bắc Mỹ, Châu Âu, Úc, Campuchia. Địa bàn có đông tín đồ nhất là tỉnh Tây Ninh. Được Việt Nam công nhận pháp nhân hai lần, lần thứ nhất vào ngày 12 tháng 7 năm 1965 dưới thời Việt Nam Cộng hòa và lần thứ 2 được công nhận vào ngày 9 tháng 5 năm 1997 dưới thời Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Tây Ninh (xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh).
Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo: là tổ chức giáo hội Cao Đài lớn thứ hai, được thành lập năm 1934, quản lý hơn 80 vạn tín đồ, với hơn 299 thánh thất ở 25 tỉnh thành. Một số lượng nhỏ tín đồ cư trú tại nước ngoài. Địa bàn có đông tín đồ nhất là tỉnh Bến Tre. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân ngày 8 tháng 8 năm 1997. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Bến Tre (phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).
Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên: là tổ chức giáo hội Cao Đài lớn thứ ba, được thành lập năm 1932, quản lý hơn 8 vạn tín đồ, với hơn 127 thánh tịnh ở rải rác 15 tỉnh thành. Là Hội Thánh Cao Đài được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân sớm nhất vào ngày 29 tháng 7 năm 1995. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Châu Minh (xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre).
Hội Thánh Truyền giáo Cao Đài: là tổ chức giáo hội Cao Đài lớn thứ tư, được thành lập năm 1956, quản lý gần 1,5 vạn tín đồ, với 61 thánh thất nằm rải rác 17 tỉnh thành. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Quảng Nam, Đà Nẵng. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 24 tháng 9 năm 1996. Trung ương Hội Thánh đặt tại Trung Hưng Bửu Tòa (phường Thạch Thang, quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng).
Hội Thánh Cao Đài Minh Chơn Đạo: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ năm, được thành lập năm 1935, quản lý 47 thánh thất phân bổ trong 4 tỉnh. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Cà Mau. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 2 tháng 8 năm 1996. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Ngọc Sắc (xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau).
Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ sáu, được thành lập năm 1931, quản lý khoảng 1 vạn tín đồ trên khắp 32 tỉnh, thành phố trực thuộc hệ thống 38 tỉnh, thành có cơ sở thờ tự Cao Đài, với 30 thánh thất và các trường quy. Địa bàn có đông tín đồ nhất là tỉnh Tiền Giang, địa phương có nhiều thánh thất nhất là tỉnh Long An. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 14 tháng 3 năm 2000. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Chơn Lý (xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang)
Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ bảy, được thành lập năm 1960, quản lý 33 thánh sở. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Bình Định. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 28 tháng 4 năm 2000. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Cầu Kho Tam Quan (xã Tam Quan, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định).
Hội Thánh Cao Đài Chiếu Minh Long Châu: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ tám, được thành lập năm 1956, quản lý 16 thánh tịnh. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Hậu Giang, Cần Thơ. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 27 tháng 7 năm 1996. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Long Châu (xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang).
Hội Thánh Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ chín, được thành lập năm 1955, quản lý 14 thánh sở. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Kiên Giang. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 8 tháng 7 năm 1998. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Ngọc Kinh (xã Mông Thọ B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang).
Ngoài ra còn 2 tổ chức Cao Đài cũng được công nhận tư cách pháp nhân là:
Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi là một tổ chức pháp nhân đại diện của các tín đồ Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh, thành lập năm 1926, quản lý 8 cơ sở và khoảng 6.000 tín đồ. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Cần Thơ và Hậu Giang. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 26 tháng 4 năm 2010. Trị sở trung ương đặt tại Thánh Đức Tổ đình (phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ).
Giáo hội Cao Đài Việt Nam Bình Đức: là một tổ chức giáo hội Cao Đài, được thành lập vào năm 1961, quản lý có 9 cảnh, 6 thánh thất, 16 cảnh Trường qui với hơn 2.300 tín đồ ở các tỉnh Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp và Thành phố Hồ Chí Minh. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 17 tháng 7 năm 2011. Trung ương giáo hội đặt tại Thiên Tòa Hoàng Đạo (xã Bình Đức, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang)
== Tương quan tôn giáo Cao Đài ==
Cao Đài là một tôn giáo lớn được xem là "trẻ" nhất tại Việt Nam. Trong chưa đến 100 năm hình thành và phát triển, Cao Đài thể hiện là một tôn giáo mới, có tính dung hợp các tôn giáo lớn tại Việt Nam, mà chủ yếu là Tam giáo. Nhiều khái niệm cũng như hình thức của các tôn giáo lớn đều có thể thấy biểu hiện một phần tại Cao Đài.
Khác với hầu hết các tôn giáo có nguồn gốc lâu đời thường phủ nhận các tôn giáo khác, các tín đồ Cao Đài chấp nhận có tôn giáo khác và những tôn giáo đó hình thành nền tôn giáo Cao Đài. Họ lý giải đấy chính là ý đồ của Thượng đế đã hình thành các tôn giáo khác nhau để phù hợp với thời điểm và địa điểm cụ thể, và tôn giáo Cao Đài chính là tôn giáo duy nhất do Thượng đế lập ra ở lần thứ 3 và là lần cuối cùng để phổ độ cho chúng sinh, không còn phân biệt tôn giáo, dân tộc hay ở bất kỳ nơi nào trên thế giới nữa. Chính vì vậy, điểm đặc biệt trong tôn giáo Cao Đài là sự tôn trọng tín ngưỡng và phong tục, không ép buộc tín đồ phải từ bỏ hoặc hạn chế các hoạt động liên quan đến tín ngưỡng hay phong tục cổ truyền của mình.
Tuy nhiên, với tư cách là một tôn giáo bảo vệ truyền thống, Cao Đài là một tôn giáo có những quy định rất chặt chẽ và khá bảo thủ, cứng nhắc. Tuy được xem là một tôn giáo trẻ và phát triển rất nhanh ở giai đoạn khai đạo, Cao Đài lại có những yêu cầu khắt khe về tính truyền thống, ít có sự cải sửa thay đổi nhằm bảo vệ tối đa những nét đặc trưng của tôn giáo mình. Chính điều này đã làm cho Cao Đài trở thành một trong 2 tôn giáo đặc thù của vùng Nam Bộ.
=== Phương Đông ===
==== Phật giáo ====
Phật giáo là một tôn giáo lớn tại Việt Nam nên có ảnh hưởng lớn đến tôn giáo Cao Đài. Một số nhân vật Phật giáo cũng được tôn thờ trong đạo Cao Đài như Phật Nhiên Đăng Cổ, Phật Thích Ca, Phật Di Lặc. Pháp môn Tuyển độ của chi phái Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi chịu ảnh hưởng rất lớn từ pháp môn Thiền của Phật giáo Thiền tông.
Phái Thái, một trong 3 phái trong tổ chức Nam phái của Hội Thánh Cao Đài, được xem là tượng trưng của Phật đạo trong Đại đạo Cao Đài, với đạo phục màu vàng tượng trưng cho áo cà sa của các nhà sư.
==== Lão giáo ====
Chịu ảnh hưởng rất lớn từ Minh Sư đạo, một nhánh của Thiên Sư đạo, có thể nói vũ trụ quan của Cao Đài gần sát với vũ trụ quan của Lão giáo. Phương pháp cơ bút để các đấng vô hình truyền dạy, các con số linh thiêng như 1 (Thiên Nhãn), 2 (Âm Dương), 3 (Tam giáo), 5 (Ngũ chi), 8 (Bát Quái), 9 (Cửu Trùng), 12 (Thời Quân),...... đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ Lão giáo. Một số nhân vật trong Lão giáo cũng được tôn thờ như Lão Tử, Khương Tử Nha.
Trong tổ chức Hội Thánh, vị trí Bát Quái Đài là khu vực thiêng liêng nhất, chỉ dành cho các vị tiên trưởng vô hình, được xem như là nơi lập pháp của đạo. Hầu hết các văn bản pháp luật đạo, được các tín đồ tin là được giáng cơ từ Bát Quái Đài. Trong tổ chức Nam phái, cách đặt tên các phái cũng chịu ảnh hưởng từ Tam Thanh trong Lão giáo với biến cải đôi chút; thậm chí, phái Thượng, một trong 3 phái của Nam phái, cũng được xem là đại diện cho Lão giáo, với đạo phục màu xanh tượng trưng cho y phục các đạo sĩ. Vai trò của phái Thượng còn được đề cao khi trong tổ chức Hội Thánh Cửu Trùng Đài, chức phẩm của phái Thượng được xem là cao hơn so với 2 phái còn lại. Người giữ ngôi vị Thượng Chưởng pháp được quy định có thể thay mặt cho chức vị Giáo tông để chủ trì công việc của Cửu Trùng Đài.
==== Nho giáo ====
Cũng như Phật giáo và Lão giáo, Nho giáo cũng được xem là có ảnh hưởng rất lớn đến đạo Cao Đài. Nho giáo được trong đạo Cao Đài được đề xướng qua triết lý Nho tông chuyển thế. Nếu như Lão giáo ảnh hưởng nhiều về mặt vũ trụ quan và cách thức tu tập thì Nho giáo hảnh hưởng rất nhiều về cách thức hành lễ. Đại diện cho Nho giáo là Khổng Tử và Mạnh Tử trong Bát Quái Đài.
Trong tổ chức Hội Thánh Cao Đài, phái Ngọc, một trong 3 phái trong tổ chức Nam phái Cửu Trùng Đài, được xem là tượng trưng của Nho giáo, với đạo phục màu đỏ.
==== Tín ngưỡng dân gian ====
Có thể nói tín ngưỡng dân gian Nam Kỳ đã có ảnh hưởng rất lớn đến đạo Cao Đài. Hầu hết các hoạt động tôn giáo của đạo Cao Đài chú trọng đến các nghi lễ trong gia đình liên quan đến phong tục truyền thống của người Việt ở Nam Kỳ như cưới hỏi, tang ma, cầu siêu… Những nghi lễ ấy mặc dù được tổ chức theo nguyên tắc và triết lý của đạo Cao Đài, nhưng lại không quá xa lạ với phong tục truyền thống của người Việt. Hơn nữa, các nghi lễ này đều được tổ chức quy củ, có sự tham gia đông đảo của chức sắc, chức việc và đạo hữu, làm không khí trong các buổi lễ trở nên trang trọng, tôn nghiêm. Mặt khác, rất dễ nhận thấy nhạc lễ Cao Đài (đặc biệt là Đại đàn) mang đậm văn hóa truyền thống Việt Nam với cung cách đi trò lễ, nhạc cổ truyền trong các buổi lễ tại đình, miếu dân gian.
==== Ngũ chi Minh đạo ====
Ngũ chi Minh đạo (chữ Hán: 五支明道) là một thuật ngữ trong tôn giáo Cao Đài dùng để chỉ các nhánh tôn giáo phát triển từ Minh Sư đạo, một tôn giáo có sự tương hợp gần nhất với đạo Cao Đài, có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của đạo Cao Đài.
Cao Đài Từ điển định nghĩa như sau:
Trong lịch sử, một số nhánh của Ngũ chi Minh đạo sát nhập vào với đạo Cao Đài như tông Phổ tế của Minh Sư, hoặc Minh Tân, Minh Đường. Một số không còn tồn tại như Minh Thiện, hoặc vẫn phát triển độc lập như Minh Sư đạo, Minh Lý đạo.
=== Phương Tây ===
==== Cơ Đốc giáo ====
Cơ Đốc giáo bấy giờ đã phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam dưới sự bảo hộ của chính quyền thực dân Pháp. Tuy nhiên, với các tín đồ Cao Đài đầu tiên, vốn là những người có tinh thần dân tộc, sự dung nạp Cơ Đốc giáo thể hiện một chừng mực không va chạm với truyền thống. Chính vì vậy, hình tượng Jesus của Cơ Đốc giáo được xem là biểu trưng của Thánh đạo, một chi đạo trong Ngũ chi Đại đạo.
==== Hồi giáo ====
Giai đoạn khai đạo Cao Đài cũng chính là giai đoạn Hồi giáo phát triển mạnh mẽ trong các cộng đồng dân tộc Người Champa, Người Khmer, Người Lào, Người Xiêm, Miến, Người Java và Người Ấn Độ ở cả Trung Kỳ lẫn Nam Kỳ, dưới sự bảo trợ của chính quyền thực dân. Mặc dù vậy, Hồi giáo được nhắc đến trong đạo Cao Đài, hiện diện với tư cách là một tôn giáo có dung hợp từ Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo, cũng thuộc chi Thánh đạo trong Ngũ chi Đại đạo. Chính vì vậy, hình tượng Muhammad của Hồi giáo cũng được xem là biểu trưng của Thánh đạo, một chi đạo trong Ngũ chi Đại đạo.
Trong Chính điện của Tòa Thánh Tây Ninh phía dưới quả Càn Khôn có thờ long vị Nourn Dinh được truy thăng là Thánh Tử Đạo Cao Đài, đại diện cho Hồi giáo trong kỳ ba phổ độ. Nourn Dinh nguyên họ tên là Nour el Din Mahmoud người Hồi giáo sinh năm 1117 làm vua Thổ Nhĩ Kỳ (1146-1173). Một trong những địch thủ đáng kinh sợ của quân Thập tự chinh. Khi chiếm cứ Damas thủ đô nước Syria (1155) ông đã mở ra con đường tới Ai Cập. Nhờ đó tướng Saladin chiến cứ thủ đô Cairo (1169).
==== Thông linh học ====
Thông linh học (Spiritisme) tuy chỉ mới từ châu Mỹ thâm nhập vào châu Âu nửa cuối thế kỷ 19, tuy nhiên, với sự xuất tác phẩm "Cuốn sách của linh hồn" (tiếng Pháp: Le livre des esprits) ngày 1 tháng 4 năm 1857 bởi Allan Kardec, Thông linh học đã trở thành đối tượng tìm hiểu và nghiên cứu về tính chất triết lý của nó.
Sự ảnh hưởng của Thông linh học đã ảnh hưởng ít nhiều đến sinh hoạt tâm linh của những tín đồ đầu tiên, vốn có kiến thức Tây học. Trong đó, quan trọng nhất là nhóm môn đồ Cao - Phạm, nền tảng hình thành Hội Thánh Cao Đài sau này.
== Giáo lý cơ bản ==
=== Tam kỳ phổ độ ===
Các tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng đế là Đấng sáng lập ra vũ trụ và hình thành nên các tôn giáo. Theo thời gian, tùy theo địa phương, Thượng đế đã hình thành các tôn giáo khác nhau để phù hợp với thời điểm và địa điểm, và được phân làm 3 kỳ phổ độ với 3 nhánh khác nhau:
Nhất kỳ Phổ độ: Là thời kỳ hình thành các tôn giáo trên thế giới gồm Phật giáo, Kì Na giáo ở Ấn Độ, Lão giáo, Nho giáo ở Trung Hoa, Do Thái giáo ở Trung Đông. Thời kỳ này Thượng đế mặc khải cho các đệ tử đầu tiên thay mặt mình để truyền đạo.
Nhị kỳ Phổ độ: Là thời kỳ chấn hưng các nền tôn giáo trên thế giới. Các tín đồ Cao Đài cho rằng sau một thời gian phổ độ, các giáo lý được Thượng đế truyền dạy theo thời gian đã bị các tín đồ diễn giải sai lạc, không còn mang đúng giáo lý nguyên thủy của Ngài. Vì vậy, Thượng đế một lần nữa đã truyền dạy cho các đệ tử của mình ở các nơi trên thế giới, thực hiện hiện vụ chấn hưng nền đạo. Từ đó hình thành Phật giáo Đại thừa, Phật giáo Tiểu thừa, Jaina giáo, Tiên giáo, Khổng Mạnh giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo. Thời kỳ này các tôn giáo được chấn hưng và phát triển mạnh mẽ, vượt ra khỏi ranh giới vùng miền quốc gia, dần truyền bá ra thế giới.
Tam kỳ Phổ độ: Là thời kỳ tất cả các tôn giáo đều hợp thành một tôn giáo duy nhất dưới quyền cai quản Thượng đế, được Thượng đế điều hành, truyền giảng thông qua hình thức cơ bút. Đây cũng là lý do một số tín đồ gọi tôn giáo của họ là "Đạo Thầy" với hàm ý họ là những người thọ giáo trực tiếp từ Thượng đế.
=== Tam giáo quy nguyên ===
Khái niệm cơ bản, thể hiệp sự dung hợp các tôn giáo hình thành nên đạo Cao Đài được gọi là "Tam giáo quy nguyên" (Ba tôn giáo sẽ hợp về một mối). Theo họ, ở thời kỳ phổ độ lần thứ 3, các tôn giáo lớn sẽ hợp nhất giáo lý thành một nền Đại Đạo duy nhất và được truyền bá bằng tiếng Việt
Bên cạnh đó, khái niệm "Ngũ chi phục nhất" (Năm nhánh đạo sẽ trở thành một nền đạo lớn) được đi kèm với "Tam giáo quy nguyên", với cùng ý nghĩa. Theo đó, "Ngũ chi" hàm chỉ các tôn giáo trên toàn thế giới, kể cả Tam giáo, thực chất cũng chỉ là 5 nhánh đạo (con đường) gồm Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo. Năm nhánh này thể hiện năm nấc thang tiến hóa từ thấp lên cao trong quá trình tu tập của các tín đồ, dù theo hướng nào thì cũng quy về một mối.
=== Thiên nhãn ===
Quan điểm của các tín đồ Cao Đài thì Thiên Nhãn biểu trưng cho con mắt của Thượng đế nhìn thấy rõ tất cả những hành vi thiện ác của khắp nhân gian, để khen thưởng hay xử phạt một cách công bình. Trước Thiên nhãn, không ai có thể che giấu hay chối cãi được.
Ngoài ra, biểu tượng Thiên nhãn còn ý thức Đại đồng, vì dù bất cứ quốc gia, chủng tộc, hoặc tôn giáo nào, thì biểu tượng Thiên nhãn đều giống nhau và không phản ảnh đặc tính phân biệt nào.
== Những tính chất khác ==
Đạo Cao Đài nhấn mạnh sự bình đẳng giữa các tín đồ, giữa nam và nữ trong xã hội. Khi xưng hô với nhau, tín đồ Cao Đài sử dụng các từ "huynh', "đệ", "tỷ", "muội" (tức là anh chị em một nhà), tùy theo giáo phẩm, tuổi tác, giới tính. Khi kính cẩn, họ còn thêm "Hiền" phía trước những đại từ nhân xưng trên ("hiền huynh", "hiền tỷ"...).
Một Tộc đạo Cao Đài có 2 cơ thể thờ tự là "Thánh thất" và "Điện thờ Phật Mẫu". Mỗi Tộc đạo đều có chương trình truyền bá giáo lý.
== Một số tín đồ nổi tiếng ==
Ngô Văn Chiêu, môn đồ đầu tiên của Cao Đài, người hình thành Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh.
Lê Văn Trung, chức phẩm Thượng Đầu sư (1926), Quyền Giáo tông (1930), lãnh đạo tín đồ Cao Đài từ 1926 đến 1934.
Phạm Công Tắc, chức phẩm Hộ pháp, Chưởng quản Hiệp Thiên Đài Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (1926) và Chưởng quản Nhị hữu hình đài Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh (1934), lãnh đạo tối cao của đạo Cao Đài từ 1934 đến 1959.
Cao Hoài Sang, chức phẩm Thượng Sanh. Lãnh đạo tôn giáo Cao Đài từ năm 1959 đến năm 1971. Là người có công san định và thống nhất các bài bản nhạc lễ Cao Đài đến chỗ hoàn thiện nhất.
Nguyễn Ngọc Tương, chức phẩm Quyền Thượng Đầu sư. Năm 1934, ly khai Tòa Thánh Tây Ninh về Bến Tre thành lập hệ phái Cao Đài Ban Chỉnh Đạo, tự xưng phẩm Giáo tông.
Cao Triều Phát, nhập đạo năm 1930, sáng lập hệ phái Minh Chơn Đạo, được bầu làm Chủ tịch Cao Đài Cứu quốc Mười hai phái hiệp nhất, được bầu làm Chưởng quản Cửu Trùng đài Hội Thánh Cao Đài Duy Nhứt.
Trần Quang Vinh, chức phẩm Thượng Phối sư, quyền lãnh đạo các tín đồ Cao Đài 1941-1946, Trung tướng, Tổng tư lệnh đầu tiên của Quân đội Cao Đài (1946-1951).
Nguyễn Văn Thành (1915-1972), Trung tướng, Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài 1951-1955.
Nguyễn Thị Hiếu, Nữ Đầu Sư chánh vị đầu tiên, Chưởng quản Cửu Trùng Đài nữ phái, tác giả quyển "Đạo sử".
Lê Văn Hoạch, phẩm vị Bảo Sanh Quân Tòa Thánh Tây Ninh, Thủ tướng Cộng hòa tự trị Nam Kỳ từ tháng 11 năm 1946 đến tháng 9 năm 1947.
Nguyễn Văn Lộc, phẩm vị Bảo Học Quân Tòa Thánh Tây Ninh, Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa từ tháng 11 năm 1967 đến đầu năm 1968.
Phan Khắc Sửu, chức phẩm Thượng Đầu Sư hệ phái Cao Đài Tiên Thiên, Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1964–1965.
Nguyễn Văn Ngợi, chức phẩm Ngọc Đầu Sư hệ phái Cao Đài Tiên Thiên, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Hồ Tấn Khoa, chức phẩm Bảo đạo, Quyền chưởng quản Hiệp Thiên Đài Tòa Thánh Tây Ninh (1976-1979). Chưởng quản Hội đồng Chưởng quản Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (1979-1983).
== Xem thêm ==
Thánh thất Cao Đài
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Ngô Văn, Việt Nam 1920-1945. Montreuil: L'Insomniaque/Chuông rè, 2000.
Nguyễn Văn Hồng, "Cao Đài Từ điển" 2003.
== Liên kết ngoài ==
Tuổi Trẻ Đại Đạo
Cao Đài Đại Đạo
Đại Đạo Thanh Niên Hội
Centre for Studies in Caodaiism, Sydney
The British Cao Dai Community
Cao Đài site |
giáo dục trung học.txt | Giáo dục trung học (tiếng Anh: secondary education) là giai đoạn giáo dục diễn ra trong các trường trung học, theo sau giáo dục tiểu học. Ở hầu hết các quốc gia, giáo dục trung học thuộc giai đoạn giáo dục bắt buộc, trong khi ở một số quốc gia khác thì chỉ có giáo dục tiểu học hay giáo dục cơ bản mới mang tính chất bắt buộc.
Ở Việt Nam, giáo dục trung học và giáo dục tiểu học nằm trong giai đoạn gọi là giáo dục phổ thông. Giáo dục trung học còn được chia ra làm hai bậc: trung học cơ sở và trung học phổ thông: Giáo dục trung học cơ sở kéo dài bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín. Điều kiện để vào lớp sáu là học sinh phải tốt nghiệp tiểu học. Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có trình độ học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. Giáo dục trung học phổ thông có thời gian ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai. Để vào lớp mười học sinh phải tốt nghiệp trung học cơ sở. Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề, hoặc đi vào cuộc sống lao động.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Secondary education tại Wikimedia Commons
Giáo dục trung học. Bộ Giáo dục và Đào tạo (Việt Nam). |
bệnh viện thể thao việt nam.txt | Bệnh viện Thể thao Việt Nam là bệnh viện chuyên ngành đầu tiên và duy nhất hiện nay của nước ta dành cho vận động viên, người dân bị chấn thương trong quá trình tham gia hoạt động thể thao. Bệnh viện có diện tích 15.000 m2, nằm trong Khu liên hợp thể thao quốc gia được coi như một tiền đề, một khâu đột phá cho sự phát triển của y học thể dục thể thao tại nước ta và đặc biệt sẽ góp phần quan trọng vào chu trình đào tạo vận động viên cấp cao Việt Nam.
== Lịch sử ==
Bệnh viện Thể thao Việt Nam tiền thân là Ban Y sinh học của Viện Khoa học Thể dục Thể thao được thành lập theo Quyết định số 35/CP ngày 24/01/1979 ngày 24/01/1979 của Chủ tịch Hội đồng Chính phủ (nay là Thủ tướng Chính phủ)
Năm 1998 theo Quyết định số: 1303/1998/QĐ-UBTDTT của Uỷ ban Thể dục thể thao, Trung tâm Y học Thể thao thuộc Viện Khoa học TDTT được thành lập trên cơ sở Ban Y sinh nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao phục vụ công tác Y học Thể thao trong toàn quốc. Sau 8 năm thành lập Trung tâm Y học Thể thao đã giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn về Y học Thể thao của Việt Nam như: tuyển chọn, kiểm tra đánh giá trình độ luyện tập của vận động viên, khám và chữa trị các bệnh lý chấn thương và bệnh lý do luyện tập thể thao gây nên, tư vấn và hướng dẫn dinh dưỡng thể thao và tham gia phục vụ tốt công tác Y tế của các giải thi đấu thể thao trong nước và quốc tế.
Tuy nhiên trước nhu cầu phát triển của xã hội về công tác chăm sóc sức khỏe không những cho vận động viên chuyên nghiệp mà còn cho những người tập luyện thể dục thể thao nghiệp dư, phong trào,Bệnh viện Thể thao Việt Nam ra đời trên cơ sở của Trung tâm Y học thể thao (theo Quyết định:1171/2006/QĐ-UBTDTT ngày 30/6/2006 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục Thể thao) nhằm đáp ứng nhu cầu đó, đồng thời còn là cơ quan đầu ngành của Y học Thể thao tham mưu cho Tổng cục Thể dục Thể thao; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ Y học Thể thao trong giai đoạn mới.
=== Niên biểu ===
Giai đoạn 1979 – 1998. Ban Y sinh trực thuộc Viện Khoa học Thể dục Thể thao.
Giai đoạn 1998 – 2006. Trung tâm Y học Thể thao thuộc Viện Khoa học TDTT có chức năng và nhiệm vụ: Theo dõi đề phòng chấn thương vận động viên; Phục hồi thể lực và phục hồi chức năng cho vận động viên; Xử lý chấn thương cho vận động viên và người tập thể thao; Phục hồi sau phẫu thuật; Tiểu phẫu, chữa chấn thương, chỉnh hình cho vận động viên và người tập thể thao; Phẫu thuật nhỏ tại chỗ và liên hệ đưa đi phẫu thuật tại nước ngoài hoặc các Bệnh viện lớn trong nước (kể cả vận động viện trong nước và quốc tế).
Giai đoạn 2006 – 2008. Bệnh viện Thể thao Việt Nam là Bệnh viện Đa khoa hạng II gồm có 5 phòng 16. Cơ sở mới được xây dựng ngay cạnh Sân vận động quốc gia Mỹ Đình.
Giai đoạn 2008 – đến nay. Bệnh viện được tách ra khỏi Viện Khoa học TDTT trực thuộc Tổng cục Thể dục thể thao.
== Chức năng ==
Bệnh viện Thể thao Việt Nam là Bệnh viện đa khoa hạng II, trực thuộc Tổng cục Thể dục Thể thao có chức năng tổ chức khám bệnh, chữa trị chấn thương, phục hồi chức năng cho vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài, cán bộ, công chức, viên chức ngành Thể dục thể thao và nhân dân.
== Nhiệm vụ và Quyền hạn ==
Trình Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục thể thao quy hoạch phát triển, chương trình, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm của Bệnh viện và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt.
Cấp cứu – Khám bệnh - Chữa bệnh.
+ Tiếp nhận các trường hợp vận động viên, người bệnh từ ngoài vào hoặc các bệnh viện khác chuyển đến cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú.
+ Giải quyết toàn bộ các bệnh thông thường về nội khoa và các trường hợp cấp cứu ngoại khoa.
+ Chuyển người bệnh lên tuyến trên khi vượt quá khả năng của Bệnh viện và vượt quá thẩm quyền theo quy định tuyến kỹ thuật của Bộ Y tế.
+ Tổ chức khám sức khoẻ và chứng nhận sức khoẻ theo quy định của Nhà nước.
+ Tổ chức khám giám định sức khoẻ, giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu.
Đào tạo cán bộ Y tế:
+ Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ chuyên ngành y học thể thao và cán bộ y tế ở bậc đại học và trung học.
+ Tổ chức đào tạo liên tục cho cán bộ, viên chức trong bệnh viện và cán bộ y tế của ngành thể dục thể thao.
Nghiên cứu khoa học về y học:
+ Tổ chức nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu các đề tài y học, chú trọng nghiên cứu về y học thể thao.
+ Nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, áp dụng y học cổ truyền và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc
+ Nghiên cứu, triển khai dịch tễ học cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu.
+ Kết hợp với bệnh viện tuyến trên và các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để phát triển kỹ thuật của Bệnh viện.
Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật:
+ Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở y tế thuộc các Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia, cơ sở thể thao của các địa phương thực hiện việc phát triển kỹ thuật chuyên môn, y học thể thao.
+ Phối hợp với các cơ sở y tế thực hiện các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho vận động viên và nhân dân và trên địa bàn và trong ngành thể dục thể thao.
Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thường xuyên thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch.
Thực hiện hợp tác quốc tế về y tế và y học thể thao theo quy định của pháp luật.
Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế, tài trợ, viện trợ và đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Quản lý và sử dụng tài chính, tài sản và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.
Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, hồ sơ, tài liệu và thực hiện chế độ chính sách đối với các y sĩ, bác sĩ, cán bộ, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý theo phân cấp của Tổng cục Trưởng Tổng cục Thể dục thể thao và theo quy định của pháp luật.
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục thể thao giao.
== Chú thích == |
at&t.txt | Tập đoàn AT&T (thường được trang trí dưới dạng at&t) là một công ty viễn thông đa quốc gia có trụ sở tại Tháp Whitacre ở vùng trung tâm Dallas, Texas. AT&T là hãng cung cấp dịch vụ điện thoại di động lớn thứ hai và là hãng cung cấp dịch vụ điện thoại cố định lớn nhất ở Hoa Kỳ. Công ty cũng cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền băng thông rộng. AT&T là công ty lớn thứ ba ở Texas (công ty lớn nhất không hoạt động trong ngành dầu mỏ, chỉ sau ExxonMobil và ConocoPhillips, và là công ty lớn nhất ở Dallas). Tính đến tháng 5 năm 2013, AT&T là công ty lớn thứ 21 trên thế giới về giá trị giao dịch, và là công ty không hoạt động trong lĩnh vực dầu mỏ lớn thứ 13. Tính đến năm 2014, đây cũng là công ty viễn thông di động lớn thứ 20 trên thế giới, với trên 250 triệu người dùng di động.
== Tham khảo == |
chiến tranh tây nam (nhật bản).txt | Chiến tranh Tây Nam (西南戦争, Seinan Sensō ("Tây Nam chiến tranh")), là một cuộc nổi loạn của các cựu samurai ở phiên Satsuma chống lại triều đình Thiên hoàng Minh Trị từ 29 tháng 1 năm 1877 đến 24 tháng 9 năm 1877, niên hiệu Minh Trị thứ 10. Đây là cuộc nổi loạn có vũ trang cuối cùng và cũng là nghiêm trọng nhất chống lại triều đình Minh Trị.
== Bối cảnh ==
Mặc dù phiên Satsuma đóng vai trò quan trọng trong cuộc Minh Trị Duy Tân và chiến tranh Boshin, và rất nhiều người xuất thân từ Satsuma nắm giữ những vị trí quan trọng của triều đình Minh Trị, càng ngày càng có nhiều sự không hài lòng về con đường mà đất nước đang đi theo. Công cuộc hiện đại hóa (Tây hóa) quốc gia đồng nghĩa với việc bãi bỏ các vị trí xã hội đặc quyền của tầng lớp samurai, và làm xói mòn luôn cả vị thế về tài chính của họ nữa. Thay đổi diễn ra nhanh chóng và sâu sắc trong văn hóa Nhật Bản, trang phục và xã hội với nhiều samurai là sự phản bội là vế joi ("Nhương di") trong câu khẩu hiệu Sonnō jōi (Tôn hoàng, nhương di) dùng để lật đổ Mạc phủ Tokugawa (Đức Xuyên) thuở trước.
Saigō Takamori, một trong những lãnh đạo Satsuma hàng đầu trong triều đình Minh Trị và là người ban đầu ủng hộ cải cách, nay đặc biệt quan ngại về tình trạng tham nhũng chính trị ngày một gia tăng (khẩu hiệu cho phong trào nổi dậy của ông là "Tân chính Hậu đức", "新政厚徳"). Saigō là người mạnh mẽ đề xuất chiến tranh với vương quốc Triều Tiên trong cuộc Seikanron năm 1873. Một mặt, ông tự nguyện đến Triều Tiên với tư cách cá nhân và cố tạo ra một cái "cớ" khai mào chiến tranh bằng cách cư xử với một thái độ lăng mạ đến nỗi buộc người Triều Tiên phải cố giết ông. Một cuộc chiến không chỉ khích lệ việc củng cố quân đội Nhật Bản, mà còn phục hồi lý do tồn tại của tầng lớp samurai. Khi kế hoạch này bị từ chối, Saigō từ nhiệm khỏi mọi vị trí của mình trong chính quyền và trở về thành phố quê nhà Kagoshima, cũng như nhiều cựu samurai Satsuma khác trong lực lượng quân đội và cảnh sát.
Để giúp ủng hộ và thuê những người này, năm 1874 Saigō thành lập một học viện tư nhân ở Kagoshima. Ngay sau đó 132 chi nhánh của nó được thành lập trên toàn tỉnh. Việc "huấn luyện" không chỉ đơn thuần về học thuật: mặc dù các tác phẩm kinh điển Trung Hoa cũng được dạy, tất các sinh viên được yêu cầu tham dự các khóa huấn luyện sử dụng vũ khí và hướng dẫn về chiến thuật. Truyền thống võ sĩ đạo được nhấn mạnh. Saigō cũng mở một trường pháo binh. Các ngôi trường này giống như những tổ chức chính trị bán quân sự hơn bất cứ thứ nào khác, và họ nhận được sự ủng hộ của Thống đốc Satsuma, người bổ nhiệm các samurai bất mãn vào các vị trí chính trị, nơi họ thống trị chính quyền Kagoshima. Sự ủng hộ dành cho Saigō mạnh mẽ đến mức Satsuma thực tế đã rút ra khỏi chính quyền trung ương từ cuối năm 1876.
== Mở đầu ==
Tin tức về các học viện của Saigō Takamori được đón nhận với một sự quan ngại sâu sắc ở thủ đô Tōkyō. Triều đình vừa mới giải quyết vài vụ samurai nổi dậy nhỏ nhưng bạo lực ở Kyūshū, và viễn cảnh về việc các samurai đông đảo và đáng sợ của Satsuma, dưới sự chỉ huy của con người nổi tiếng và được nhiều người mến - Saigō Takamori, là đáng báo động.
Tháng 12 năm 1876, triều đình Minh Trị gửi một sĩ quan cảnh sát tên là Nakahara Hisao cùng 57 người đến điều tra về các hoạt động lật đổ và bất ổn. Những người này bị bắt, và sau khi bị tra tấn, họ đã thú nhận mình là các điệp viên được cử đến ám sát Saigō. Mặc dù Nakahara sau này không công nhận lời khai này, ở Satsuma người ta vẫn tin rằng đó là sự thực và nó được sử dụng làm sự biện hộ cho các samurai bất mãn về việc một cuộc nổi dậy là cần thiết để "bảo vệ Saigō".
Lo sợ về một cuộc nổi dậy, triều đình Minh Trị cử một tàu chiến đến Kagoshima để chuyển số vũ khi dự trữ tại kho súng Kagoshima vào ngày 30 tháng 1 năm 1877. Thật mỉa mai là chính điều này đã làm nổ ra chiến sự công khai, mặc dù với việc bãi bỏ việc trả lương bằng gạo cho samurai năm 1877, căng thẳng đã trở nên đặc biệt cao. Bị xúc phạm vì chiến thuật của triều đình, 50 sinh viên từ học viện của Saigō tấn công kho thuốc súng Somuta và cướp vũ khí ở đây. Trong ba ngày sau đó, hơn 1000 sinh viên tiến hành các vụ đột kích vào các cảng hải quân và các kho súng khác.
Chỉ được biết khi sự đã rồi, Saigō lúc này đã mất hết tinh thần miễn cưỡng rời khỏi cảnh bán hưu nhàn của mình và lãnh đạo cuộc nổi dậy chống lại chính quyền trung ương.
Tháng 2 năm 1877, chính quyền Minh Trị cử Hayashi Tomoyuki, một quan chức ở Nội vụ Tỉnh cùng với Đô đốc Kawamura Sumiyoshi trên tàu chiến Takao đi xác định tình hình. Thống đốc Satsuma, Oyama Tsunayoshi, giải thích rằng các cuộc nổi loạn này là để phản đối lại việc triều đình cố gắng ám sát Saigō, và yên cầu Đô đốc Kawamura (anh em họ của Saigō) lên bờ để giúp ổn định tình hình. Sau khi Oyama rời đi, một đội tàu nhỏ chở đẩy các người có vũ trang cố lên boong tàu Takao bằng vũ lực nhưng bị đánh bật ra. Ngày hôm sau, Hayashi tuyên bố với Oyama rằng ông không thể cho phép Kawamura lên bờ khi tình hình vẫn còn bất ổn, và vụ tấn công tàu Takao là đủ cấu thành tội khi quân. Khi trở về Kobe ngày 12 tháng 2, Hayashi gặp Tướng quân Yamagata Aritomo và Ito Hirobumi, và họ quyết định rằng cần phải cử Lục quân Đế quốc Nhật Bản đến Kagoshima để đề phòng cuộc nổi dậy lan rộng sang các vùng quê có cảm tính với Saigō khác. Cùng ngày hôm đó, Saigō gặp hai trung úy của mình là Kirino Toshiaki và Shinohara Kunimoto, thông báo ý định tiến quân đến thủ đô Tōkyō của ông để chấp vấn triều đình. Từ chối một số lượng lớn những người tình nguyện, ông không hề cố liên lạc với các lãnh địa khác nhờ chi viện, và không có một người lính nào được để lại Kagoshima đề phòng bị tấn công. Để đảm bảo tính hợp pháp, Saigō mặc bộ quân phục vào mình. Hành quân đến phương Bắc, đội quân của ông bị cản trở bởi trận bảo tuyết nặng nề nhất mà Satsuma từng chứng kiến trong vòng 50 năm.
== Tổ chức trong chiến tranh ==
=== Tổ chức của Quân đội triều đình ===
Vào đầu cuộc nổi dậy Satsuma, Lục quân Đế quốc Nhật Bản (bao gồm của Cấm vệ quân với số lượng khoảng 34.000 người. Bộ binh được chia thành 14 trung đoàn, mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn. Mỗi tiểu đoàn có 4 đại đội. Thời bình, mỗi đại đội có 160 binh lính và 32 sĩ quan và hạ sĩ quan. Thời chiến sức mạnh của một đại đội được tăng lên 240 lính. Mỗi tiểu đoàn có 640 lính thời bình và 960 lính thời chiến. Họ được trang bị súng trường Snider nạp ở khóa nòng có thể bắn được 6 viên mỗi phút.
Có 2 "trung đoàn" kỵ binh và một "trung đoàn" kỵ binh cận vệ triều đình. Các minh họa đương thời cho thấy kỵ binh được trang bị thương.
Pháo binh triều đình gồm 18 khẩu đội chia thành 9 tiểu đoàn, với 120 lính mỗi khẩu đội trong thời bình. Thời chiến, sơn pháo có sức mạnh danh nghĩa là 160 người mỗi khẩu đội và pháo dã chiến có 130 người mỗi khẩu đội. Pháo binh có hơn 100 khẩu, bao gồm sơn pháo 5.28, pháo dã chiến Krupp với nhiều cỡ nòng, và cối.
Quân Cấm vệ (phần lớn là các cựu samurai) luôn được duy trì sức mạnh như thời chiến. Bộ binh Cấm vệ được chia thành 2 trung đoàn, mỗi trung đoàn có 2 tiểu đoàn. Một tiểu đoàn có 672 quân và được tổ chức như mỗi tiểu đoàn chính quy. Trung đoàn kỵ binh bao gồm 150 người. Tiểu đoàn pháo binh được chia thành 2 khẩu đội với 130 lính mỗi khẩu đội.
Nhật Bản được chia thành 6 quân khu: Tōkyō, Sendai, Nagoya, Osaka, Hiroshima và Kumamoto, với 2 hay 3 trung đoàn bộ binh, thêm vào cả pháo binh và các đội quân bổ trợ nữa ở mỗi quân khu.
Ngoài lục quân, chính quyền trung ương còn sử dụng cả thủy quân lục chiến và Cảnh sát Tōkyō trong cuộc chiến chống lại các samurai vùng Satsuma. Cảnh sát, trong các đơn vị từ 300 đến 600 người, phần lớn là các cựu samurai (một điều thú vị là rất nhiều người đến từ vùng Satsuma) và chỉ được trang bị dùi cui bằng gỗ và kiếm (cảnh sát Nhật Bản không được trang bị súng cho đến Bạo động gạo năm 1918).
Trong suốt cuộc chiến, quân triều đình sử dụng bình quân 322.000 đạn súng trường, 1.000 đạn pháo mỗi ngày.
=== Tổ chức quân đội Satsuma ===
Các samurai vùng Satsuma ban đầu được chia thành 6 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn 2.000 người. Mỗi tiểu đoàn được chia thành 20 đại đội. Trên đường hành quân đến thành Kumamoto, quân đội được chia thành 3 sư đoàn; tiền quân 4.000 người, trung quân 4.000 người, và quân bảo vệ hai cánh 2.000 người. Thêm vào đó là 200 lính pháo binh và 1.200 dân phu. Tháng 4 năm 1877, Saigō tái tổ chức lại quân đội thành 9 đơn vị bộ binh, mỗi đơn vị có từ 300 đến 800 người.
Các samurai được trang bị súng trường Enfield, nạp đạn qua họng súng và có thể bắn được bình quân 1 viên mỗi phút. Pháo của họ gồm 28 sơn pháo, 2 pháo dã chiến và 30 cối hỗn hợp.
== Chiến tranh Tây Nam ==
=== Vây hãm thành Kumamoto ===
Quân tiên phong Satsuma tiến vào tỉnh Kumamoto vào ngày 14 tháng 2. Chỉ huy trưởng thành Kumamoto, Thiếu tướng Tani Tateki có 3.800 lính và 600 cảnh sát và có toàn quyền sử dụng. Tuy vậy, phần lớn binh lính là từ Kyūshū, và nhiều sĩ quan là người địa phương Kagoshima, lòng trung thành của họ vẫn còn là một câu hỏi ngỏ. Thay vì liều lĩnh bỏ chạy hay đầu hàng chuyển sang phe Satsuma, Tani quyết định phòng thủ.
Ngày 19 tháng 2, tiếng súng đầu tiên của cuộc chiến nổ vang khi những người phòng thủ thành Kumamoto khai hỏa vào các đơn vị Satsuma cố tiến vào trong thành. Thành Kumamoto, xây dựng năm 1598, là một trong các ngôi thành vững chắc nhất Nhật Bản, Saigō tự tin rằng quân đội của ông vượt trội so với những người nông dân nhập ngũ theo luật định của Tani, người vẫn bị mất tinh thần vì cuộc nổi dậy Shimpuren gần đây.
Ngày 22 tháng 2, trung quân Satsuma đến nơi và tấn công thành Kumamoto theo trận địa gọng kìm. Giao chiến tiếp diễn cho đến đêm. Lục quân Đế quốc bị đẩy lùi, và Quyền Thiếu tá Nogi Maresuke của Trung đoàn Kokura thứ 14 mất cả phù hiệu trung đoàn của mình trong một cuộc giao tranh ác liệt. Tuy vậy, bất chấp thắng lợi của mình, quân đội Satsuma không thể chiếm lấy ngôi thành, và bắt đầu nhận ra rằng quân đội nghĩa vụ không phải vô dụng như họ nghĩ. Sau hai ngày tấn công vô hiệu, quân đội Satsuma đào xuống chân tường đá cứng đóng băng của ngôi thành và cố làm chết đói quân lính trong thành bằng cách tiến hành một cuộc bao vây. Tình thế đặc biệt khó khăn cho những người phòng thủ vì kho lượng thực và đạn dược của họ đã bị kiệt quệ vì vụ cháy nhà kho ít lâu trước khi cuộc nổi dậy bắt đầu.
Trong cuộc bao vây, nhiều cựu samurai thành Kumamoto kéo đến dưới trướng của Saigō, làm quân đội của ông lên đến khoảng 20.000 người. Cùng lúc đó, vào ngày 9 tháng 3 Saigō, Kirino và Shinohara bị lột bỏ các tước hiệu và danh vị trong triều, bất chấp việc Saigō liên tục cho rằng ông không phải kẻ phản bội, mà chỉ muốn giải thoát Thiên hoàng Minh Trị khỏi những ảnh hưởng tai hại của các cố vấn tham nhũng ngu dốt.
Đêm ngày 8 tháng 4, một đội quân từ thành Kumamoto xông ra phá vây, chọc thủng một lỗ trên phòng tuyến Satsuma và cho phép hàng cứu viện tối cần thiết đến được với quân lính trong thành. Quân chủ lực Lục quân Đế quốc, dưới sự chỉ huy của Tướng Kuroda Kiyotaka và trợ giúp của Tướng Yamakawa Hiroshi đến Kumamoto vào ngày 12 tháng 4, buộc đội quân với số lượng vượt trội của vùng Satsuma phải tháo chạy.
=== Trận Tabaruzaka ===
Ngày 4 tháng 3, Tướng Lục quân Đế quốc Nhật Bản là Yamagata Aritomo ra lệnh tấn công trực diện từ Tabaruzaka, bảo vệ cho việc tiếp cận Kumamoto, sau này phát triển thành một trận đánh kéo dài 8 ngày. Tabaruzaka do 15.000 samurai từ Satsuma, Kumamoto và Hitoyoshi trấn thủ chống lại Lữ đoàn bộ binh Lục quân Đế quốc thứ 9 (khoảng 90.000 người). Tới cao trào của trận đánh, Saigō viết một bức thư riêng cho Thân vương Arisugawa Taruhito, tái khẳng định lý do của ông để đến thủ đô Tōkyō. Bức thư của ông chỉ ra rằng ông không có ý định dấy loạn và tìm kiếm một sự ổn định hòa bình. Tuy vậy, triều đình không chấp thuận đàm phán.
Với mục đích cắt đứt sự liên lạc của Saigō với căn cứ của mình, một đội quân triều đình với 3 tàu chiến, 300 cảnh sát và vài đại đội bộ binh, cập bờ Kagoshima vào ngày 8 tháng 3, chiếm kho súng và bắt giam Thống đốc Satsuma.
Yamagata cũng cho lên bờ một chi đội với hai lữ đoàn bộ binh và 1.200 cảnh sát ở đằng sau lưng quân phiến loạn, để giáng xuống đầu họ từ bên sườn tại Vịnh Yatsushiro. Quân độ Hoàng gia chiếm được bờ biển với ít tổn thất sau đó tiến lên phía Bắc chiếm thành phố Miyanohara này 19 tháng 3. Sau khi nhận được tiếp viện, quân đội triều đình, nay tổng số là 4.000 người, tấn công vào sườn quân đội Satsuma và đẩy lùi họ.
Tabaruzaka là một trong những chiến dịch căng thẳng nhất của cuộc chiến. Lục quân Đế quốc giành được thắng lợi, nhưng cả hai phía đều thiệt hại nặng nề. Mỗi bên có hơn 4.000 người chết và bị thương.
=== Rút khỏi Kumamoto ===
Sau khi thất bại trong việc chiếm Kumamoto, Saigō dẫn quân lính đi trong vòng 7 ngày đến Hitoyoshi. Sĩ khí xuống rất thấp, và thiếu chiến thuật, quân đội Satsuma chỉ còn biết đợi bị chôn vùi trong các đợt tấn công tiếp theo của Lục quân Đế quốc. Tuy vậy, Lục quân Đế quốc cũng lâm vào tình trạng kiệt sức tương tự, và giao tranh chấm dứt trong vài tuần để chờ viện binh. Khi các cuộc tấn công được khởi động lại, Saigo rút lui đến Miyazaki, để lại đằng sau rất nhiều nhóm samurai nhỏ trên các ngọn đồi để tiến hành chiến tranh du kích. Ngày 24 tháng 7, Lục quân Đế quốc buộc Saigō phải chạy khỏi Miyakonojō, tiếp theo đó là Nobeoka. Quân lính cập bờ tại Ōita và Saiki phía Bắc quân đội Saigō, và ông bị lâm vào thế gọng kìm. Tuy vậy, quân đội Satsuma vẫn mở được con đường thoát khỏi cuộc bao vây. Cho đến 17 tháng 8, quân đội Satsuma chỉ còn 3.000 samurai, và đã mất phần lớn các hỏa khí hiện đại và toàn bộ pháo.
Quân nổi loạn còn sống sót đóng trên sườn núi Enodake, và nhanh chóng bị bao vây. Quyết tâm không để quân phiến loạn chạy thoát một lần nữa, Yamagata cử một đội quân lớn gấp 7 lần quân đội Satsuma. Phần lớn số quân còn lại của Saigō đều đầu hàng hoặc mổ bụng tự sát. Tuy vậy, Saigō đốt bỏ các giấy tờ cá nhân và quân phục ngày 19 tháng 8, và chạy thoát được về Kagoshima cùng các cận vệ còn lại của mình. Bất chấp cố gắng của Yamagata trong vài ngày sau đó, Saigō và 500 người còn lại vẫn đến được Kagoshima ngày 1 tháng 9 và chiếm Shiroyama, có thể nhìn xuống thành phố từ trên cao.
=== Trận Shiroyama ===
Saigō Takamori và các samurai còn lại của ông bị đẩy lùi về Kagoshima, nơi diễn ra trận chiến cuối cùng, trận Shiroyama. Lục quân Đế quốc dưới sự chỉ huy của tướng Yamagata Aritomo và hải quân dưới sự chỉ huy của Đô đốc Kawamura Sumiyoshi gấp 60 lần quân đội của Saigō. Tuy vậy, Yamagata quyết tâm không cho Satsuma một cơ hội nào. Lục quân Hoàng gia dành vài ngày để xây dựng một hệ thống phức tạp các hào, tường và vật cản để chống lại mọi cuộc phá vây. 5 tàu chiến của triều đình ở vịnh Kagoshima cùng cất tiếng với hỏa lực từ các khẩu pháo của Yamagata, và bắt đầu nã đạn vào các vị trí của quân phiến loạn.
Sau khi Saigō từ chối bức thư của Yamagata yêu cầu ông đầu hàng, Yamagata ra lệnh tổng tấn công vào ngày 24 tháng 9 năm 1877. Cho đến 6 giờ sáng, chỉ còn 40 quân phiến loạn còn sống sót. Saigō bị thương nặng. Truyền thuyết nói rằng một trong các thuộc hạ của ông, Beppu Shinsuke làm nhiệm vụ kaishakunin và giúp Saigō mổ bụng tự sát (seppuku) trước khi ông bị bắt. Tuy vậy, những bằng chứng khác lại mâu thuẫn với điều này, khẳng định rằng Saigō thực tế đã chết vì trúng đạn và Beppu đã chặt đầu ông để bào toàn lòng tự trọng của ông.
Sau cái chết của Saigo, Beppu và các samurai cuối cùng rút kiếm và lao xuống đồi hướng tới các vị trí của Lục quân Đế quốc cho đến khi người cuối cùng ngã xuống vì đạn súng máy. Với những cái chết này, cuộc chiến tranh Tây Nam chấm dứt.
== Sau trận đánh ==
Về mặt tài chính, đàn áp cuộc nổi dậy Satsuma khiến triều đình tiêu tốn một khoản lớn, buộc Nhật Bản phải bỏ hệ thống bản vị vàng và in tiền giấy. Cuộc nổi dậy cũng thực tế chấm dứt tầng lớp samurai, và Lục quân Đế quốc Nhật Bản mới được xây dựng trên chế độ nghĩa vụ quân sự mà không cần quan tâm đến thứ bậc xã hội trong trận đánh. Saigō Takamori, với nhân dân, được cho là một người anh hùng đầy bi kịch và ngày 22 tháng 2 năm 1889, Thiên hoàng Minh Trị đã tha thứ cho ông.
== Trong truyền thông ==
Video game PS2 Way of the Samurai lấy bối cảnh cuộc nổi dậy Satsuma.
Bộ phim năm 2003 Võ sĩ đạo cuối cùng, diễn xuất Tom Cruise và Ken Watanabe, dựa một phần trên các sự kiện của cuộc Chiến tranh Tây Nam.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
=== Sách ===
Buck, James Harold (1979). Satsuma Rebellion: An Episode of Modern Japanese History. Nhà xuất bản Đại học Mỹ. ISBN 0-89093-259-X.
Craig, T. (1999). Remembering Aizu: The Testament of Shiba Goro. Nhà xuất bản Đại học Hawaii. ISBN 0-8248-2157-2.
Gordon, Andrew (2003). A Modern History of Japan: From Tokugawa Times to the Present. Nhà xuất bản Đại học Oxford. ISBN 0-19-511061-7.
Henshall, K. (2001). A History of Japan: From Stone Age to Superpower. New York City, NY: Nhà xuất bản St. Martin. ISBN 0-312-23370-1.
Keane, Donald (2005). Emperor Of Japan: Meiji And His World, 1852-1912. Nhà xuất bản Đại học Columbia. ISBN 0-231-12341-8.
Mounsley, Augustus H (1979). Satsuma Rebellion: An Episode of Modern Japanese History. Nhà xuất bản Đại học Hoa Kỳ. ISBN 0-89093-259-X.
Perrin, Noel (1979). Giving up the gun. Boston: David R. Godine. ISBN 0-87923-773-2.
Ravina, Mark (2004). The Last Samurai: The Life and Battles of Saigō Takamori. Wiley. ISBN 0-471-08970-2.
Và cuốn "Mặt trời mọc" của Christopher Nicole dựa một phần trên các sự kiện của cuộc chiến tranh Tây Nam.
=== Liên kết ngoài ===
Chiến tranh Tây Nam: Gia tộc samurai Satsuma chống lại Lục quân Đế quốc Nhật Bản
Tổ chức của Lục quân Đế quốc và phiến quân Satsuma |
bộ quốc phòng việt nam.txt | Bộ Quốc phòng Việt Nam là một cơ quan trực thuộc Chính phủ, tham mưu cho Đảng và Nhà nước về đường lối, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc; quản lý nhà nước về lĩnh vực quốc phòng trong phạm vi cả nước; tổ chức thực hiện việc xây dựng, quản lý và chỉ huy Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ; quản lý các dịch vụ công theo quy định của pháp luật. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vừa là người chỉ đạo thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng theo quy định của pháp luật, vừa chịu trách nhiệm tổ chức, xây dựng, quản lý và là người chỉ huy cao nhất của Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ.
== Lịch sử ==
=== Những năm đầu thành lập ===
Ngay sau khi nhận được tin Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh ngày 15 tháng 8 năm 1945, các lãnh đạo Việt Minh đã tổ chức Quốc dân Đại hội tại Tân Trào, Tuyên Quang ngày 16 tháng 8, cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, lãnh đạo thực hiện Tổng khởi nghĩa. Sau khi giành được chính quyền, ngày 27 tháng 8 năm 1945, Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam được cải tổ thành Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong tuyên cáo ngày 25 tháng 8, thành phần chính phủ lâm thời có ông Chu Văn Tấn giữ vai trò Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ra mắt toàn bộ thành viên chính phủ lâm thời trước quốc dân, trong đó có cả tân bộ trưởng quốc phòng Chu Văn Tấn.
Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ quan nội các vẫn chưa kịp thành lập, kể cả Bộ Quốc phòng. Các lực lượng vũ trang của người Việt đều do các đảng phái chính trị lãnh đạo riêng rẽ hoặc tổ chức tự phát. Trong đó, lực lượng vũ trang có thực lực nhất là Việt Nam Giải phóng quân, do Mặt trận Việt Minh lãnh đạo. Ngày 7 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Bộ Tham mưu nhằm chỉ huy, điều hành lực lượng vũ trang trong cả nước:
Cùng với chỉ thị này, ông Hoàng Văn Thái được chỉ định làm Tham mưu trưởng và được giao nhiệm vụ tổ chức Bộ Tham mưu. Một nhóm hạt nhân nòng cốt để xây dựng Bộ Tham mưu gồm 8 người là Hoàng Văn Thái, Hoàng Đạo Thúy, Hoàng Minh Đạo, Mai Hữu Thao, Nguyễn Văn Trang, Vũ Văn Thềm, Nghiêm Xuân Hoà, Đỗ Văn Sáng; hình thành cơ cấu tổ chức cơ quan tham mưu bước đầu bao gồm: Phòng Tác chiến - Đồ bản do Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng, trực tiếp làm Trưởng phòng; Phòng Tình báo do Hoàng Minh Đạo làm Trưởng phòng; Phòng Quân lực do Trần Văn Lư làm Trưởng phòng; Phòng Thông tin liên lạc do Hoàng Đạo Thúy làm Trưởng phòng và Văn phòng quản lý hành chính do Nguyễn Văn Trang phụ trách.
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Pháp nổ súng tái chiếm Nam Bộ. Ngày 15 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh phân chia toàn quốc thành 9 chiến khu. Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh, liên lạc khó khăn do chiến sự đã lan đến địa bàn khu 6, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ mới bổ nhiệm các nhân sự của các chiến khu 1, 2, 3, 4. Các chiến khu 5, 6 đặt dưới quyền chỉ đạo của Ủy ban kháng chiến hành chính Miền Nam Việt Nam; các chiến khu 7, 8, 9 được đặt dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của Xứ ủy Nam Bộ và Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ. Cùng ngày, thực dân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần hai.
Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập. Luật sư Phan Anh giữ cương vị Bộ trưởng Quốc phòng. Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Ủy ban Kháng chiến toàn quốc, còn gọi là Toàn quốc Kháng chiến Ủy viên Hội ra đời. Chủ tịch: Võ Nguyên Giáp, Phó Chủ tịch: Vũ Hồng Khanh.
Ngày 25 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34 về tổ chức Bộ Quốc phòng. Theo đó, Bộ Quốc phòng có Văn phòng và 10 cục chuyên môn: Chế tạo quân nhu Cục, Chế tạo quân giới Cục, Chính trị Cục, Tình báo Cục, Quân chính Cục, Quân huấn Cục, Công chính giao thông Cục, Quân pháp Cục, Quân nhu Cục, Quân y Cục.. Cũng trong ngày hôm đó, một số nhân sự lãnh đạo các cơ quan chuyên môn của Bộ Quốc phòng cũng được bổ nhiệm. Ngày 6 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 60 đổi tên Ủy ban kháng chiến toàn quốc thành Quân sự Ủy viên hội, theo đó Quân sự Uỷ viên hội một cơ quan tối cao quân sự đặt thẳng dưới quyền điều khiển của Chính phủ và nhiệm vụ điều khiển quân đội toàn quốc, đứng đầu là Chủ tịch và Phó Chủ tịch ngang hàng với Bộ trưởng và Thứ trưởng các Bộ và quy định tổ chức của Quân sự Ủy viên hội gồm: Cục Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Tổng vụ, Cục Tổng Chỉ huy, Uỷ ban Liên lạc và kiểm soát quân sự Trung ương Việt - Pháp.
Ngày 29 tháng 6 năm 1946, thành lập Đoàn Pháo binh Thủ đô (sau là Cục Pháo Binh rồi Binh chủng Pháo binh). Ngày 7 tháng 7 năm 1946, thành lập Trường Võ bị Đà Lạt sau này là Học viện Lục quân (1981).
Từ ngày 28 tháng 10 đến ngày 9 tháng 11 năm 1946, Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 2 đã quyết định sát nhập Bộ Quốc phòng hợp với Quân sự Ủy viên hội thành Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy. Ngày 30 tháng 11 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 230 Ủy quyền cho Võ Nguyên Giáp đứng đầu Bộ Tổng Chỉ huy kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Ngày 5 tháng 11 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị công việc khẩn cấp cần làm. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Công việc khẩn cấp là kháng chiến và kiến quốc. Người dự đoán cuộc kháng chiến sẽ gay go, gian khổ, nhưng chúng ta kiên quyết chống chọi với các trận khủng bố của địch, thì ta sẽ thắng.". Trong tháng 11 năm 1946, cả nước chia thành 12 khu hành chính và quân sự. Mỗi khu có Uỷ ban kháng chiến khu phụ trách hành chính, Khu trưởng phụ trách quân đội. Ngày 10 tháng 12 năm 1946, thành lập Khu 7, sau là Quân khu 7 (1975). Cùng ngày, thành lập Khu 9, sau là Quân khu 9 (1976).
Cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1946, trước tình hình căng thẳng tại Mặt trận Hà Nội, Các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận và Bộ Tổng Chỉ huy di chuyển lên An toàn khu Việt Bắc giáp giới với Trung Quốc để lãnh đạo, tổ chức kháng chiến lâu dài. Các binh công xưởng, xí nghiệp, nhà máy, gần 63 nghìn nhân dân miền xuôi và hàng vạn tấn máy móc, nguyên vật liệu được vận chuyển, sơ tán lên Việt Bắc để vừa sản xuất vừa tiếp tục chiến đấu.
Ngày 18 tháng 12 năm 1946, thực dân Pháp gửi tối hậu thư cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đòi tước khí giới của lực lượng tự vệ và giành kiểm soát Thủ đô Hà Nội. Ngay trong ngày, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng tại Hà Đông, hạ quyết tâm phát động toàn quốc kháng chiến. Bộ Quốc phòng-Tổng chỉ huy chủ trưởng mở cuộc tiến công vào các vị trí quân Pháp ở Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vinh, Huế, Đà Nẵng.... Ban Thường vụ Trung ương Đảng có dự đoán chắc chắn trong 24 giờ thực dân Pháp sẽ nổ súng và chỉ thị cho toàn quân và dân cả nước sẵn sàng chiến đấu. Đến chiều ngày 19 tháng 12 năm 1946, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp ra lệnh cho bộ đội chủ lực và các lực lượng vũ trang:"Giờ chiến đấu đã đến". Cơ quan cơ yếu mật mã Bộ Tổng tham mưu truyền đi bản mật lệnh: "Chuyến hàng sẽ đến lúc 18 giờ ngày 21-12. Hàng mang mã hiệu A cộng hai, B trừ hai. Chú ý theo dõi đón hàng đúng giờ". Theo đó, quy ước "chuyến hàng sẽ đến" có nghĩa là tổng giao chiến bắt đầu. A là giờ cộng thêm hai, B là ngày trừ đi hai. Có nghĩa là: "Cuộc tổng giao chiến bắt đầu lúc 20 giờ ngày 19 tháng 12".
Ngày 4 tháng 2 năm 1947, thành lập Cục Quân giới (nay phát triển thành Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Trung tâm Khoa học và Công nghệ Quân sự, Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng Việt Nam). Cục trưởng: Trần Đại Nghĩa
Đầu tháng 3 năm 1947, Chính phủ quyết định đổi tên Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia thành Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân tự vệ, và thành lập các ban chỉ huy tỉnh đội, huyện đội, xã đội thuộc ủy ban kháng chiến các cấp. Ngày 20 tháng 3 năm 1947, thành lập Cục Quân báo, Bộ Tổng Tham mưu, sau là Tổng cục Tình báo (1995).
Ngày 1 tháng 5 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 47 quy định tổ chức của Bộ Tổng Chỉ huy gồm các cơ quan: Bộ Tổng Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Tình báo và Văn phòng.
Tháng 7 năm 1947, Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy tách ra thành Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Chỉ huy. Ngày 30 tháng 9 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 90 quy định mối quan hệ giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Chỉ huy. Theo đó, phương châm và kế hoạch về quân nhu, quân giới huấn luyện bộ đội, công binh, vô tuyến điện, hai bên cùng quyết định chung, Bộ Quốc phòng phụ trách thực hiện, Bộ Tổng chỉ huy phụ trách điều động sử dụng, trừ những trường hợp hai bên cùng sử dụng thì Tổng chỉ huy định, Quốc phòng y hiệp. Đứng đầu Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia Việt Nam là Tổng Chỉ huy ngang hàng với Bộ trưởng về quyền hạn và danh vị và là thành viên trong Hội đồng Liên bộ.
Ngày 25 tháng 1 năm 1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 120-SL thành lập các liên khu trong cả nước để tăng cường chỉ đạo chiến tranh. Theo Sắc lệnh này, Khu 1 và khu 12 hợp nhất thành Liên khu 1; Khu 2, 3, 11 hợp nhất thành Liên khu 3; Khu 10 và khu 14 hợp nhất thành Liên khu 10; Khu 4 đổi tên thành Liên khu 4; khu 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn hợp nhất thành Liên khu Nam Bộ. Trong ngày 25 tháng 1 năm 1948, thành lập Cục Tổng Thanh tra.
Ngày 14 tháng 4 năm 1948, Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia và dân quân tự vệ đổi tên thành Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam.Tháng 10 năm 1948, hợp nhất Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam với Bộ Quốc phòng thành Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy.
Ngày 9 tháng 3 năm 1949, thành lập Ban Nghiên cứu Không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu, sau là Ban Nghiên cứu Sân bay (năm 1955), Bộ Tư lệnh Phòng không (năm 1958), Cục Không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu (năm 1959), Quân chủng Phòng không-Không quân (năm 1963).
Ngày 10 tháng 3 năm 1949, thành lập Trường Quân y sĩ Việt Nam, sau là Đại học Quân y (năm 1966), Học viện Quân y (năm 1981).
Ngày 12 tháng 3 năm 1949, Chính phủ ra Sắc lệnh số 14-SL, đổi tên Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam thành Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam (hay còn gọi là Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh); các bộ chỉ huy Liên khu quân sự thành Bộ Tư lệnh Liên khu; Tổng chỉ huy gọi là Tổng Tư lệnh; Liên khu trưởng gọi là Tư lệnh Liên khu.
Ngày 18 tháng 6 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 50/SL về tổ chức Bộ Quốc phòng thì Bộ Quốc phòng có: Văn phòng; Các Nha: Nha Quân giới, Nha Quân nhu và Nha Quân dược; Các cơ quan: Bộ Tổng Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Dân quân, Cục Quân huấn, Cục Quân chính, Cục Quân pháp, Cục Tình báo, Cục Pháo binh, Cục Công binh, Cục Quân giới, Cục Quân nhu, Cục Quân y, Cục Thông tin liên lạc, Cục Vận tải. Đứng đầu các cục là Cục trưởng.
=== Trong Kháng chiến chống Pháp ===
Ngày 11 tháng 7 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 121 thành lập Tổng cục Chính trị và Tổng cục Cung cấp; quy định Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh gồm Bộ Tổng Tham mưu (gồm các Cục: Tác chiến, Quân báo, Dân quân, Quân huấn, Thông tin Liên lạc), Tổng cục Chính trị (gồm các Cục: Tổ chức, Tuyên huấn, Địch vận, Quân pháp, Nhà Xuất bản Vệ Quốc quân), Tổng cục Cung cấp (gồm các Cục: Quân lương, Quân y, Quân vụ, Quân giới, Quân trang, Vận tải), Đoàn Thanh tra và Văn phòng.
Ngày 13 tháng 7 năm 1950, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam đã ra Thông tư số 47/TT-A giải thích về tổ chức mới của Bộ Tổng tư lệnh. Thông tư có đoạn viết: "Để sự chỉ đạo chiến tranh được tập trung hơn nữa, để việc huy động mọi khả năng, mọi lực lượng cho tiền tuyến được nhanh chóng và chu đáo hơn nữa, tổ chức lại Bộ Tổng tư lệnh, thành lập Bộ Tổng tham mưu, hai Tổng cục, đoàn Thanh tra, Văn phòng Bộ Tổng tư lệnh…’’. Từ đây, bắt đầu có cấp Tổng cục bao gồm một số cục trong cơ quan Bộ. Thứ nhất là Bộ Tổng tham mưu gồm Văn phòng, Cục Tác chiến, Cục Quân báo, Cục Thông tin liên lạc, Cục Dân quân, Cục Quân huấn. Thứ hai là Tổng cục Chính trị gồm Văn phòng, Cục Tổ chức, Cục Tuyên huấn, Cục Quân pháp, Cục Địch vận, Nhà xuất bản Vệ quốc quân.Thứ ba là Tổng cục Cung cấp gồm Văn phòng, Cục Quân lương, Cục Quân y, Cục Quân vụ, Cục Vận tải, Cục Quân giới, Cục Quân trang, Phòng Quân khí.Thứ tư là Đoàn Thanh tra. Thứ năm là Văn phòng Bộ Tổng tư lệnh. Ngoài ra còn có Cục Pháo binh, Cục Công binh và quân hiệu (các trường quân sự) được Tổng tư lệnh uỷ quyền Tổng Tham mưu trưởng chỉ đạo.
Ngày 1 tháng 4 năm 1951, thành lập Quân y viện 108, sau là Viện Quân y 108 (1980), Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (1995). Ngày 15 tháng 6 năm 1951, thành lập Trường Sĩ quan Hậu cần, sau sát nhấp vào Học viện Hậu cần (1974). Ngày 25 tháng 10 năm 1951, thành lập Trường Chính trị Trung cấp, mãi sau này là Học viện Chính trị (2008).
Đầu năm 1955, cơ quan Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh được chấn chỉnh tổ chức và được gọi là cơ quan Tổng quân uỷ-Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh. Trong văn bản "Mấy điều giải thích về chấn chỉnh tổ chức cơ quan Tổng quân uỷ" đề ngày 1 tháng 4 năm 1955, có đoạn viết: "Bộ máy chỉ đạo quân sự của Đảng gọi là Tổng quân uỷ, về chính quyền vẫn gọi là Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh. Những cơ quan chính của Tổng quân uỷ vẫn có Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp. Ngoài ra còn có một Văn phòng đồng thời là Văn phòng Tổng quân uỷ và Văn phòng Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh…’’.
Văn bản đó còn nói đến một số điểm nữa như đổi tên Tổng cục Cung cấp thành Tổng cục Hậu cần, tách và thành lập thêm một số cơ quan trực thuộc Bộ hoặc trực thuộc các Tổng cục và hình thành các cơ quan: Một là Văn phòng Tổng quân uỷ-Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh. Hai là Bộ Tổng tham mưu: Văn phòng, Cục Tác chiến, Cục Quân báo, Cục Thông tin liên lạc, Cục Quân lực, Cục Quân huấn, Cục Quản lý hành chính kinh tế, Phòng Giao thông quân sự, Phòng Cơ yếu, Phòng Đồ bản. Ba là Tổng cục Chính trị: Văn phòng, Cục Tổ chức, Cục Tuyên huấn, Cục Địch vận, Cục Bảo vệ, Cục Chính trị trực thuộc, Báo Quân đội nhân dân, Thể công, Văn công, Phòng Tài vụ. Bốn là Tổng cục Hậu cần: Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Quân nhu, Cục Quân y, Cục Quản lý xe hơi máy kéo, Cục Quân giới, Phòng Quản lý doanh trại, Phòng Xăng dầu, Phòng Sản xuất trang dụng, các đoàn xe hơi, các đoàn thuyền, canô, báo Hậu cần, trường Hậu cần, Phòng Liên lạc biên giới. Năm là Các đơn vị trực thuộc khác: Cục Pháo binh, Cục Công binh, Cục Phòng không, Cục Hàng không, Cục Phòng thủ bờ biển, Cục Dân quân, Cục Tài vụ, Cục Quân khí, cơ quan quân pháp, trường Lục quân, trường Quân chính trung cấp, Toà soạn Quân chính tập san.
Ngày 22 tháng 2 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 221 về việc sát nhập Khu Tả Ngạn với Liên khu 3 thành Liên khu 3. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, thành lập Cục Phòng thủ bờ biển, sau là Cục Hải quân (1959), Quân chủng Hải quân (1963).
Ngày 24 tháng 9 năm 1955, Tổng quân uỷ đã ra Nghị quyết số 10/VP-TQU về cải tiến cách làm việc, trong đó có đoạn xác định vị trí, nhiệm vụ của các cơ quan giúp việc: "Đứng về phía chỉ đạo của Đảng về quân sự mà nói thì cơ quan thống nhất chỉ đạo toàn quân là Tổng quân uỷ, các cơ quan giúp việc là Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần. Tổng quân uỷ thông qua các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần mà thực hiện sự lãnh đạo của mình; ngược lại sự chỉ đạo công tác của các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần đối với đơn vị đều phải tập trung thống nhất vào chủ trương và kế hoạch chung của Tổng quân uỷ mà cơ quan giúp việc hàng ngày cho Tổng quân uỷ là Văn phòng Tổng quân uỷ…’’.
=== Trong Kháng chiến chống Mỹ ===
Ngày 10 tháng 4 năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 60/SL về việc thành lập Tổng cục Quân huấn trực thuộc Bộ Quốc phòng. Tổng cục Quân huấn có nhiệm vụ giúp Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh chỉ đạo công tác huấn luyện quân sự đối với cán bộ và chiến sĩ các binh chủng trong toàn quân, chỉ đạo công tác các nhà trường của quân đội và chỉ đạo công tác huấn luyện các lực lượng hậu bị.
Ngày 10 tháng 4 năm 1958, thành lập Cục Nghiên cứu điều lệnh và Khoa học Quân sự trực thuộc Tổng cục Quân huấn, sau là Cục Khoa học Công nghệ và Môi trường, Cục Khoa học Quân sự (2014). Cục Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu giúp Quân ủy Trung ương, Bộ QQuoocsp hòng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai công tác Khoa học-Công nghệ-Môi trường trong quân đội và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực này trong toàn quân.
Từ năm 1955, Tổng Quân ủy đã giao cho Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam tổ chức tập huấn những nội dung cơ bản về hóa học, nguyên tử cho đội ngũ giáo viên của trường. Năm 1956, Bộ Quốc phòng đã thành lập Tổ nghiên cứu tác chiến dưới điều kiện vũ khí nguyên tử, hóa học ở Cục Quân huấn. Đây là tổ chức tiền thân, cơ quan chỉ đạo phòng hóa của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 17 tháng 3 năm 1958, Bộ Tổng Tham mưu ban hành Công văn số 173/BTTM, tổ chức các cơ quan trực thuộc Tổng cục Quân huấn trong đó có Phòng Hóa học - Nguyên tử nằm trong Cục Huấn luyện chiến đấu. Phòng Hóa học - Nguyên tử là cơ quan nghiệp vụ làm tham mưu cho Bộ, chỉ đạo huấn luyện Phòng Hóa học - Nguyên tử trong toàn quân; đồng thời phối hợp với các cơ quan, tổ chức, xây dựng một số cơ quan, đơn vị hóa học theo đề án đã được xác định. Ngày 19 tháng 4 năm 1958, Bộ Tổng Tham mưu ra Quyết định số 214/BTM, giao nhiệm vụ cho Trường Sĩ quan Lục quân tổ chức một tiểu đoàn hóa học trực thuộc lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn 6. Đây là tiểu đoàn hóa học đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, có nhiệm vụ đào tạo hạ sĩ quan hóa học cho toàn quân, đảm nhiệm phòng hóa học hạt nhân và chiến đấu bằng vũ khí lửa; đồng thời, cùng ngày Bộ Quốc phòng đã quyết định thành lập 2 đại đội hóa học trực thuộc Sư đoàn Bộ binh 308 và Sư đoàn Bộ binh 320. Ngày 19 tháng 4 năm 1958, đánh dấu sự phát triển đầy đủ, yếu tố cần thiết cho sự ra đời Binh chủng Hóa học Quân đội nhân dân Việt Nam và được, Bộ Tổng Tham mưu quyết định lấy làm ngày truyền thống của Bộ đội Hóa học (1973). Ngày 9 tháng 5 năm 1966, theo Quyết định số 34/QĐ-QP, Phòng Hóa học - Nguyên tử được phát triển thành Cục Hóa học thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Ngày 17 tháng 7 năm 1976, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký Quyết định số 224/QĐ-QP phát triển Cục Hóa học thành Binh chủng Hóa học (năm 1976).
Thực hiện Nghị quyết 58/NQ-TW của Bộ Chính trị, ngày 3 tháng 3 tháng 1959, Thủ tướng ra Nghị định 100/TTg thành lập lực Lượng Công an nhân dân vũ trang. Ngày 19 tháng 11 năm 1958, thành lập Lực lượng Cảnh vệ gồm Cảnh vệ Biên phòng và Cảnh vệ Nội địa. Ngày 10 tháng 10 năm 1979, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 22/NQ-TW, chuyển giao nhiệm vụ và Lực lượng Công an nhân dân vũ trang từ Bộ Nội vụ sang Bộ Quốc phòng. Ngày 31 tháng 5 năm 1988, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 41/CT-TW về việc chuyển giao Lực lượng Bộ đội Biên phòng từ Bộ Quốc phòng sang Bộ Nội vụ. Ngày 16 tháng 11 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 754/TTg chuyển Bộ đội biên phòng về trực thuộc Bộ Quốc phòng
Ngày 19 tháng 5 năm 1959, thành lập Đoàn 559, sau là Bộ Tư lệnh Đoàn 559 (1965), Bộ Tư lệnh Trường Sơn(1970), Binh đoàn 12 (1977)
Ngày 12 tháng 10 năm 1960, thành lập Cục Nghiên cứu Kỹ thuật (Viện Kỹ thuật Quân sự), nay là Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự.
Ngày 27 tháng 8 năm 1961, thành lập Trường Quân chính sơ cấp Quân Giải phóng miền Nam. Ngày 10 tháng 10 năm 1975, Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Trường Sĩ quan Lục quân 2 trên cơ sở Trường Lục quân tổng hợp H28, trực thuộc Bộ Quốc phòng, sau là Trường Đại học Nguyễn Huệ (2010).
Trong bối cảnh đế quốc Mỹ ra sức phá hoại Hiệp định Genève, trực tiếp nhảy vào miền Nam Việt Nam, thiết lập thể chế chính trị thân Mỹ, áp đặt chính sách thực dân kiểu mới, xây dựng bộ máy bạo lực phản cách mạng và sử dụng bộ máy ấy để đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng miền Nam, Đảng ta không còn con đường nào khác phải sử dụng bạo lực cách mạng để trấn áp kẻ thù, thực hiện hoài bão lớn nhất của toàn dân tộc là hòa bình, thống nhất, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Từ phong trào cách mạng của quần chúng, hình thức đấu tranh vũ trang tái xuất hiện và cùng với nó là sự ra đời của các lực lượng vũ trang nhân dân ở miền Nam. Nhu cầu cần có một bộ chỉ huy quân sự thống nhất và tại chỗ để kịp thời chỉ đạo chỉ huy toàn thể các lực lượng vũ trang cách mạng tại chiến trường miền Nam đặt ra một cách khẩn bách. Năm 1961, để chỉ huy trực tiếp các lực lượng vũ trang cách mạng tại chiến trường Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên; Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam (gọi là Bộ Chỉ huy Miền). Sự ra đời của Bộ Chỉ huy Miền là một tất yếu khách quan, đáp ứng kịp thời yêu cầu của cách mạng miền Nam trong thời điểm chuyển sang chiến tranh cách mạng lúc bấy giờ. Đó là vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang và tiến hành đấu tranh vũ trang chống xâm lược.
Bộ Chỉ huy Miền là một cấp chỉ huy lớn của quân đội, cơ quan chỉ huy cao nhất các lực lượng vũ trang nhân dân ở B2. Bộ Chỉ huy Miền đặt dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, trực tiếp là Trung ương Cục và sự chỉ đạo chỉ huy của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh”. Kể từ khi thành lập cho đến lúc kết thúc nhiệm vụ, Bộ Chỉ huy Miền do các đồng chí sau đây làm Tư lệnh: Phạm Thái Bường (1961), Trần Nam Trung (1961 - 1962), Trần Văn Quang (1962 - 1964), Trần Văn Trà (1964 - 1967, 1973 - 1976), Hoàng Văn Thái (1967 - 1973); và Chính ủy là các đồng chí: Nguyễn Văn Linh (1961 - 1964), Nguyễn Chí Thanh (1964 - 1967), Phạm Hùng (1967 - 1976).
Ngày 28 tháng 5 năm 1964, Bộ Quốc phòng đã ra Quyết định số 62/QĐ-QP thành lập Cục Liên lạc Đối ngoại (Bộ Quốc phòng) để giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quản lý, chỉ đạo các hoạt động đối ngoại, sau đến ngày 4 tháng 9 năm 1989, đổi tên thành Cục Đối ngoại
Ngày 22 tháng 6 năm 1965, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 100/QĐ-QP thành lập Trung đoàn Xe tăng 203 và ra Quyết định số 101/QĐ-QP thành lập Bộ Tư lệnh Tăng thiết giáp. Nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Tăng thiết giáp là lãnh đạo, chỉ huy, xây dựng và quản lý các đơn vị xe tăng, thiết giáp dự bị của Bộ và làm tham mưu cho Bộ về Binh chủng TTG. Sự ra đời của Binh chủng TTG đã đánh dấu bước phát triển mới của Bộ đội TTG và sự lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chủ trương đúng đắn của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh nhằm tăng cường sức mạnh của quân đội để có đủ khả năng làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, giải phóng miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế. Ngày 5 tháng 10 năm 1965 thành lập Binh chủng Tăng Thiết giáp.
Ngày 8 tháng 8 năm 1966, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 146/CP thành lập Phân hiệu II Đại học Bách Khoa. Ngày 28 tháng 10 năm 1966, công bố quyết định thành lập Phân Hiệu II Đại học Bách Khoa đồng thời khai giảng khóa đào tạo 1. Ngày 18 tháng 6 năm 1968, Thủ tướng Chính phủ quyết định đổi tên "Phân hiệu II Đại học Bách khoa" thành trường Đại học Kỹ thuật Quân sự. Ngày 15 tháng 12 năm 1981, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Học viện Kỹ thuật Quân sự trên cơ sở trường Đại học Kỹ thuật Quân sự. Ngày 6 tháng 5 năm 1991, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn trên cơ sở Học viện Kỹ thuật Quân sự với 2 nhiệm vụ đào tạo quân sự và dân sự
Ngày 17 tháng 3 năm 1967, thành lập Binh chủng Đặc công.
Ngày 3 tháng 7 năm 1971, thành lập Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng
Sau khi Hiệp định Pa-ri 1973 được ký kết, tình thế mới đặt ra vấn đề xây dựng các quân đoàn binh chủng hợp thành có sức cơ động cao, sức đột kích lớn, làm lực lượng quyết định trong các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị, Ngày 24 tháng 10 năm 1973, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký quyết định số 142/QĐ-QP về việc thành lập Quân đoàn 1. Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng được cử kiêm Tư lệnh Quân đoàn; Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị được cử kiêm Chính ủy Quân đoàn.
Ngày 17 tháng 5 năm 1974, Quân đoàn 2 được thành lập tại Ba Nang - Ba Lòng - Quảng Trị. Sự ra đời của Quân đoàn 2 thể hiện sinh động quy luật về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhiệm vụ chủ yếu của Quân đoàn là tham gia tổ chức các chiến dịch quy mô bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, thực hiện những đòn tiêu diệt lớn lực lượng địch, phối hợp với các lực lượng tại chỗ và phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân giải phóng hoàn toàn miền Nam. Để thực hiện nhiệm vụ này, yêu cầu đặt ra đối với Quân đoàn là phải xây dựng sức mạnh chiến đấu tổng hợp, sức đột kích mạnh, tính cơ động cao, thành thạo tác chiến tập trung hiệp đồng quân, binh chủng.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về tổ chức lực lượng, quân đội ta còn được trang bị một khối lượng lớn vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại. Các quân đoàn chủ lực cũng được thành lập. Công tác bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật, quản lý kỹ thuật và huấn luyện kỹ thuật để cán bộ, chiến sĩ làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật trong khai thác sử dụng đặt ra cho các cấp phải khẩn trương thực hiện. Lượng vũ khí trang bị kỹ thuật rất lớn được trang bị cho các đơn vị đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo tiến hành bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa, cất giữ an toàn phục vụ cho chiến đấu. Trên tình hình thực tế đó cần phải có cơ quan quản lý, chỉ huy, chỉ đạo cấp chiến lược trực thuộc Bộ đảm trách công tác kỹ thuật quân sự để tham mưu đề xuất với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về công tác kỹ thuật. Vì vậy, Ngày 10 tháng 9 năm 1974, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 211/CP về việc thành lập Tổng cục Kỹ thuật trực thuộc Bộ Quốc phòng.
Ngày 20 tháng 3 năm 1975, thành lập Cục Vật tư trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu, sau là Cục Kế hoạch và Đầu tư (1998)
Ngay sau khi Tây Nguyên được giải phóng, ngày 26 tháng 3 năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký quyết định số 54/QĐ-QĐ thành lập Quân đoàn 3 trực thuộc Bộ Quốc phòng. Quân đoàn 3 được thành lập có ý nghĩa rất quan trọng, đánh dấu sự ra đời của quân đoàn chủ lực cơ động thứ tư của Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo quyết định của Bộ Quốc phòng, cơ cấu tổ chức của Quân đoàn 3 bao gồm: Bộ Tư lệnh, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần và các đơn vị trực thuộc. Với thành phần là các đơn vị thuộc khối chủ lực B3 đang trong quá trình phát triển chiến dịch Tây Nguyên, Quân đoàn 3 là một binh đoàn chủ lực binh chủng hợp thành hoàn chỉnh, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, ổn định, sức cơ động cao, hoả lực mạnh, có trình độ và kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng binh chủng; có thể độc lập tiến hành một chiến dịch hoặc đảm nhiệm hướng chủ yếu trong đội hình chiến dịch lớn của cấp trên, làm lực lượng quyết định trong các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược
Chấp hành Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường quân sự tiến tới thống nhất đất nước, tháng 10 năm 1973 Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng đề nghị Bộ Chính trị thành lập các quân đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam, ở Nam bộ và Cực Nam Trung Bộ, từ đầu năm 1974 Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ tư lệnh Miền đã chỉ đạo lập phương án tổ chức biên chế, dự thảo chức năng nhiệm vụ của một quân đoàn chủ lực trên chiến trường. Sau khi thông qua kế hoạch tổ chức biên chế, ngày 20 tháng 7 năm 1974, đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục chính thức công bố quyết định thành lập Quân đoàn 4 tại chiến khu Dương Minh Châu, miền Đông Nam Bộ. Với chức năng là quả đấm chủ lực mạnh, lực lượng cơ động của Bộ ở chiến trường B2, nhiệm vụ của Quân đoàn 4 là tiêu diệt quân địch, giải phóng nhân dân, làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang 3 thứ quân, làm chỗ dựa vững chắc cho lực lượng đấu tranh chính trị của quần chúng, đảm nhận một hướng chiến lược, một khu vực chiến trường, mục tiêu cuối cùng là giải phóng Sài Gòn.
Ngày 26 tháng 5 năm 1975, thành lập Bệnh viện Trung ương Quân đội 175, trên cơ sở tiếp quản cơ sở vật chất, hạ tầng của Tổng y viện của chế độ cũ và sáp nhập 3 bệnh viện: K116, K72, K59 và một số đội điều trị.
Ngày 29 tháng 8 năm 1975, Lễ khánh thành Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức trọng thể tại Hội trường Ba Đình, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã vào Lăng viếng Bác. Hai chiến sĩ tiêu binh Nông Văn Thành dân tộc Tày và Nguyễn Văn Ri dân tộc Kinh được vinh dự làm nhiệm vụ trong phiên gác đầu tiên. Trước đây, thi hài Bác được giữ gìn và bảo vệ trong một không gian hẹp, có điều kiện bảo đảm môi trường trong sạch, tinh khiết. Nay thi hài Bác được giữ gìn trong một không gian rộng, hàng ngày có hàng ngàn lượt người đến viếng, rất khó khăn trong việc bảo đảm các thông số kỹ thuật, an ninh và công tác đón tiếp, tuyên truyền. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, ngày 28 tháng 12 năm 1975, Thường vụ Quân uỷ Trung ương ra Quyết định số 279/VP-QU thông qua việc thành lập Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy phiên hiệu là Bộ Tư lệnh 969. Ngày 14 tháng 5 năm 1976, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 109/QĐ-QP thành lập Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực thuộc Bộ Quốc phòng.
=== Thống nhất đất nước ===
Ngày 14 tháng 1 năm 1976, thành lập Trường Sĩ quan Chính trị, sau là Trường Sĩ quan Chính trị Quân sự (1981), Trường Đại học Chính trị (2010).
Ngày 21 tháng 2 năm 1976, thành lập Học viện Quân sự cao cấp, sau đổi thành Học viện Quân sự cấp cao (năm 1981), sau là Học viện Quốc phòng (năm 1994)
Ngày 5 tháng 4 năm 1976, thành lập Tổng cục Xây dựng Kinh tế. Đến ngày 7 tháng 11 năm 1985 chuyển thành Tổng cục Kinh tế (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng).
Ngày 4 tháng 7 năm 1978, thành lập Bệnh viện Đông y Quân đội, sau là Viện Y học cổ truyền Quân đội
Ngày 7 tháng 3 năm 1979, thành lập Sư đoàn 319 trực thuộc Quân khu 3, sau là Tổng Công ty 319 trực thuộc Bộ Quốc phòng (2011)
Ngày 28 tháng 5 năm 1981, thành lập Viện Lịch sử Quân sự
Ngày 11 tháng 6 năm 1982, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 903/QP thành lập Binh đoàn 11 trực thuộc Bộ Quốc phòng. Sau là Đoàn 11 (5/1988), Công ty xây dựng 11 (10/1989), Tổng công ty Xây dựng 11 (4/1991), và hiện nay là Tổng Công ty Thành An (năm 1996).
Ngày 20 tháng 2 năm 1985, thành lập Tổng Công ty 15 (hay là Binh đoàn 15)
=== Thời kỳ cải cách mở cửa ===
Ngày 17 tháng 9 năm 1987, thành lập Tổng Công ty Đầu tư Phát triển nhà và Đô thị
Ngày 7 tháng 3 năm 1988, thành lập Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga
Ngày 1 tháng 6 năm 1989, thành lập Tổng Công ty Điện tử thiết bị thông tin, sau là Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel
Ngày 1 tháng 9 năm 1989, thành lập Tổng Công ty Trực thăng Việt Nam (hay là Binh đoàn 18)
Ngày 16 tháng 11 năm 1989, thành lập Tổng Công ty Xây dựng Lũng Lô
Ngày 11 tháng 1 năm 1990, thành lập Viện Chiến lược Quốc phòng
Ngày 22 tháng 4 năm 1991, thành lập Tổng Công ty Thái Sơn
Ngày 10 tháng 8 năm 1991, thành lập Tổng Công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp Vạn Xuân (hay là VAXUCO)
Ngày 15 tháng 6 năm 1993, thành lập Phòng Quản lý Thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng, nay là Cục Thi hành án (2005).
Ngày 4 tháng 11 năm 1994, thành lập Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội.
Ngày 24 tháng 12 năm 1994, thành lập Tổng Công ty Đông Bắc
Ngày 28 tháng 8 năm 1998, thành lập Cục Cảnh sát biển. Sau là Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển (2013).
Ngày 8 tháng 12 năm 1998, thành lập Tổng Công ty 16 (hay là Binh đoàn 16)
Ngày 24 tháng 12 năm 1998, thành lập Cục Kinh tế
Ngày 29 tháng 4 năm 1999, thành lập Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn Quân sự.
=== Hiện nay (từ năm 2000) ===
Từ Thế kỷ 21 trở đi sự hợp tác hòa bình và phát triển vẫn là xu hướng chủ đạo của các Quốc gia. Các nước sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực Quốc phòng-An ninh. Các cấu trúc an ninh mới được dựa trên cơ chế hợp tác đa phương sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, tình hình thế giới, khu vực còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhất là, tranh chấp chủ quyền trên các vùng biển, đảo; sự cạnh tranh ảnh hưởng địa chiến lược, địa chính trị giữa các nước lớn diễn ra ngày càng gay gắt; các diễn đàn Quốc phòng-An ninh khu vực sẽ đan xen giữa hợp tác và đấu tranh của các bên. Ngoài Cục Đối ngoại của Bộ Quốc phòng ra, lĩnh vực quốc phòng trong nước và quốc tế trước yêu cầu trong thời đại mới cần phải có một cơ quan nghiên cứu chuyên sâu. Vì vậy, ngày 21 tháng 12 năm 2002, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định 189/2002/QĐ-BQP thành lập Viện Quan hệ Quốc tế về Quốc phòng nhằm nghiên cứu tình hình quốc phòng - an ninh của khu vực và quốc tế; tham mưu cho Bộ Quốc phòng về công tác đối ngoại quốc phòng, đồng thời trực tiếp tổ chức và tham gia các hội nghị, hội thảo, diễn đàn an ninh đa phương và đối thoại an ninh song phương trong khu vực và quốc tế.
Ngày 20 tháng 7 năm 2005, Bộ Chính trị thông qua Nghị quyết số 51-NQ/TW về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo đó, ngoài cấp trưởng đứng đầu một đơn vị thì còn có Chính ủy, Chính trị viên (trước là cấp phó về chính trị). Theo đó ngày 21 tháng 11 năm 2011, Ban Bí thư ra Quy định số 50-QĐ/TW về Tổ chức cơ quan chính trị trong Quân đội Nhân dân Việt Nam nhằm xác định đúng vai trò, chức năng và hoàn thiện cơ chế thực hiện theo Nghị quyết 51/2005/Bộ Chính trị.
Trong hòa bình, yếu tố chính sách càng trở nên quan trọng. Chính sách phải được hiểu một cách đầy đủ là chế độ chính sách và cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chính sách đó, bao gồm cả nguồn kinh phí bảo đảm thực hiện chính sách. Chính sách đúng cùng với giáo dục chính trị, tư tưởng tốt mới tạo thành động lực đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Vì vây, ngày 29 tháng 5 năm 2008 Bộ Quốc phòng đã thành lập cơ quan Bảo hiểm Xã hội Bộ Quốc phòng nhằm giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý toàn bộ việc tổ chức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong quân đội; đảm bảo các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động đang công tác trong quân đội và trước khi chuyển ra. Đây là việc làm theo đúng quan điểm của Đảng: coi mọi chính sách chính trị, kinh tế, xã hội đều lấy trung tâm là con người, vì con người và do con người phù hợp với sự phát triển mọi mặt của quân đội và đất nước trong giai đoạn mới.
Ngày 12 tháng 10 năm 2010, Bộ Quốc phòng tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng các nước ASEAN Mở rộng (ADMM+) lần thứ nhất tại Hà Nội. Tham dự Hội nghị có Bộ trưởng Quốc phòng và Đại diện Bộ trưởng Quốc phòng 10 quốc gia thành viên ASEAN và 7 nước đối tác đối thoại của ASEAN (dưới đây gọi tắt là các nước "Cộng"), bao gồm Ốt-xtrây-li-a, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Niu Di Lân, Nga, Mỹ và Tổng thư ký ASEAN.
Đây là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử ASEAN bởi ADMM+ là diễn đàn quốc phòng chính thức đầu tiên cấp bộ trưởng quốc phòng giữa ASEAN và các nước đối tác chủ chốt ngoài khu vực. Hội nghị khẳng định tầm quan trọng của việc giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong tiến trình ADMM+ và nhấn mạnh rằng hợp tác trong khuôn khổ ADMM+ cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của ASEAN là tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tham vấn, đồng thuận và với nhịp độ phù hợp với tất cả các nước thành viên. Hội nghị khẳng định ADMM+ là một bộ phận quan trọng của cấu trúc an ninh khu vực năng động, hiệu quả, mở và dung nạp. ADMM+ sẽ góp phần tăng cường hữu nghị, lòng tin và hiểu biết lẫn nhau thông qua đối thoại và hợp tác quốc phòng giữa các nước thành viên ADMM+.
Ngày 23 tháng 8 năm 2011, thành lập Tổng Công ty 36
Ngày 4 tháng 6 năm 2012, trong buổi tiếp thân mật Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Edward Panetta, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đề nghị: “Nếu được dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương, chúng tôi có nhu cầu mua một số loại vũ khí trang bị trước hết để sửa chữa, bảo quản, nâng cấp các loại vũ khí chúng tôi thu được trong chiến tranh. Sau đó, chúng tôi sẽ lựa chọn mua những loại trang bị vũ khí phù hợp yêu cầu hiện đại hóa quân đội của Việt Nam với giá cả cạnh tranh”
Ngày 19 tháng 12 năm 2013, Bộ Quốc phòng Việt Nam tổ chức lễ ra mắt Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng có 2 phiên bản tiếng Anh và tiếng Việt.
Ngày 27 tháng 5 năm 2014, thành lập Trung tâm Gìn giữ Hòa bình Việt Nam. Đây là một việc làm thực tế để Quân đội, Chính phủ và nhân dân Việt Nam chứng minh bằng hành động về những cam kết hội nhập quốc tế toàn diện mà Đảng đã đề ra.
Ngày 21 tháng 10 năm 2014, tại Hà Nội đã diễn ra Đối thoại Chính sách Quốc phòng Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2014. Hai bên trao đổi tình hình thế giới, khu vực cùng quan tâm và kiểm điểm lại kết quả đạt được trên 5 lĩnh vực được nêu trong Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng song phương và thống nhất, trong thời gian qua, một số lĩnh vực có bước phát triển mới, nhất là các hoạt động hợp tác mang tính chất nhân đạo như tìm kiếm quân nhân mất tích (MIA); rà phá bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh, tẩy rửa chất độc da cam/dioxin...
Ngày 16 tháng 1 năm 2015, tại thủ đô New Delhi (Ấn Độ) đã khai mạc Đối thoại chiến lược quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam lần thứ 9. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đoàn Việt Nam tham dự Đối thoại. Hai bên đã trao đổi về tình hình quốc tế, khu vực và tiếp tục thống nhất rằng hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chung của tất cả các quốc gia trong thời đại ngày nay, mọi tranh chấp, bất đồng cần được giải quyết thông qua đối thoại hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực.
Ngày 3 tháng 3 năm 2015, Bộ Quốc phòng Việt Nam tuyên bố, Việt Nam và Israle ký kết Bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng, nỗ lực thúc đẩy quan hệ song phương, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như hoạt động quân sự, chuyển nhượng công nghệ, hợp tác công nghiệp quân sự.
Ngày 18 tháng 3 năm 2015, Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam do Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu, đã kết thúc tốt đẹp chuyến đi dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN lần thứ 9 (ADMM-9) và dự khai mạc Triển lãm Hàng không-Hàng hải quốc tế Langkawi năm 2015 (LIMA 2015) tại Malaixia. Thông qua cơ chế ADMM, ASEAN muốn gửi đến cộng đồng quốc tế một hình ảnh ASEAN đoàn kết, đồng thuận và hợp tác có hiệu quả. Ma-lai-xi-a cam kết sẽ làm hết sức mình trong việc góp phần vào duy trì hòa bình, ổn định và an ninh trong khu vực theo các chuẩn mực quốc tế.
Ngày 27 tháng 3 năm 2015, Cổng Thông tin Điện tử Ngành Chính sách quân đội chính thức đi vào hoạt động nhằm góp phần tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với Quân đội, hậu phương Quân đội; chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động Công tác chính sách trong toàn quân; thực hiện từng bước các dịch vụ hành chính công trực tuyến nhằm công khai, minh bạch các chế độ, chính sách, quy trình, trách nhiệm tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành; thông tin kịp thời hơn về lĩnh vực Công tác chính sách. Đồng thời, đây là trang tin điện tử của Văn phòng Ban chỉ đạo Quốc gia, là một trong những địa chỉ tiếp nhận, cung cấp thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ phục vụ cho thực hiện Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo của Ban chỉ đạo Quốc gia 1237.
Ngày 31 tháng 5 năm 2015, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter thăm chính thức Bộ Quốc phòng Việt Nam, Bộ Tư lệnh Hải quân và Bộ Tư lệnh Vùng 1 Hải quân Việt Nam. Hai bên đã tiến hành hội đàm trên tinh thần hữu nghị, cởi mở, thẳng thắn và hiểu biết lẫn nhau. Hai bên đã trao đổi về quan hệ quốc phòng song phương và nhận thấy sự phát triển tích cực và ổn định trong quan hệ quốc phòng hai nước. Hoa Kỳ đã triển khai tương đối tích cực các chương trình khắc phục hậu quả chiến tranh, trao đổi đoàn; đối thoại, tham vấn; trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn, khắc phục thiên tai, tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, an ninh biển; đào tạo; quân y; tham vấn lẫn nhau trên các diễn đàn đa phương, ADMM+ và các lĩnh vực khác mà hai bên có nhu cầu và khả năng.
Ngày 2 tháng 9 năm 2015, Bộ Quốc phòng đã tổ chức và phối hợp tốt với các cơ quan đơn vị của các ban ngành đoàn thể Trung ương tổ chức thành công Lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành Kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám (19-8-1945/19-8-2015) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945/2-9-2015) tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Với hơn 30.000 người tham gia trong suốt 3 tháng luyện tập, hợp luyện và tổng duyệt. Ban Chỉ đạo Bộ Quốc phòng về tổ chức các hoạt động Kỷ niệm diễu binh, diễu hành do Thượng tướng Nguyễn Thành Cung làm Trưởng ban Chỉ đạo, Trung tướng Nguyễn Quốc Khánh làm Phó ban Chỉ đạo đã tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ bảo đảm đúng tiến độ đề ra và đảm bảo an toàn trong toàn buổi Lễ.
== Lực lượng Quốc phòng ==
Sách trắng không công bố con số lực lượng quốc phòng.
Theo globalfirepower Bảng xếp hạng thực lực quân sự của các quốc gia trên thế giời thì Tổng quân số lực lượng chính quy của Việt Nam tính đến năm 2013 là 412.000 người. Lực lượng dự bị động viên cục bộ: 5.040.000 người. Lực lượng dự bị động viên toàn quốc: 50.645.030 người. Lực lượng phục vụ: 41.503.949 người.
Theo Cổng Thông tin Điện tử Bộ Quốc phòng thì: Tổng Quân số lực lượng chính quy khoảng 450.000 người. Lực lượng dự bị khoảng 5 triệu người.
Theo Thống kê tương đối từng đơn vị cho thấy: Tổng Quân số Lực lượng theo biên chế là khoảng 1 triệu người gồm: Khối cơ quan đầu não (BTTM, các Tổng cục): 84.000; Khối Quân chủng: 185.000; Khối Quân khu: 245.000; Khối Quân đoàn: 130.000; Khối Binh chủng: 58.000; Khối Học viện Nhà trường: 46.000; Khối cơ quan chuyên môn: 15.350; Khối Viện Trung tâm Nghiên cứu: 15.500; Khối Doanh nghiệp Quân đội: 214.500
== Ngân sách Quốc phòng ==
Bộ Quốc phòng Việt Nam không công bố con số chính xác về ngân sách quốc phòng. Bất cứ một quốc gia nào có chủ quyền cũng đều quan tâm xây dựng chiến lược quốc phòng. Việc phân bổ nguồn lực của đất nước cho lĩnh vực này là một tất yếu khách quan và tỷ lệ phân bổ giữa “súng và bơ” luôn là vấn đề được cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng.
Ngân sách Quốc phòng của Việt Nam chủ yếu để bảo đảm đời sống bộ đội, bảo đảm hoạt động của công nghiệp quốc phòng, duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội nhân dân. Với khả năng kinh tế của Việt Nam còn thấp, thu nhập bình quân đầu người chưa cao, đang ưu tiên đầu tư cho thực hiện chính sách xã hội, xoá đói, giảm nghèo, nên ngân sách quốc phòng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và “cần, kiệm” vẫn là kim chỉ nam hành động.
Năm 2014, Ngân sách chi cho lĩnh vực sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính 704.400 tỷ đồng. Còn ngân sách cụ thể chi cho Quốc phòng thì vẫn là điều tuyệt mật
Báo cáo của iCD Research cho biết, theo thống kê, ngân sách quốc phòng Việt Nam trong năm 2011 là 3 tỷ USD, dự kiến sẽ đạt khoảng 7 tỷ USD vào năm 2015 (tăng 2 tỷ USD). Hiện tại là khoảng 19,13%, trong giai đoạn dự báo sẽ tăng trưởng ở tốc độ CAGR 14,32%. Sự tăng trưởng chi tiêu quốc phòng này là phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế “khá ổn định” của Việt Nam. Trong suốt giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã phân bổ 31% ngân sách quốc phòng cho đầu tư ngành công nghiệp – quốc phòng và 69% để mua các trang thiết bị vũ khí của nước ngoài. Tuy nhiên, trong thời kỳ dự báo 2011-2016, tổng ngân sách quốc phòng được đầu tư trong nước sẽ tăng trung bình lên tới con số 35%, tức là Việt Nam sẽ chú trọng nhiều hơn cho ngành quốc phòng trong nước.
== Sách trắng quốc phòng ==
Nhằm mục đích bày tỏ quan điểm của Việt Nam về những vấn đề an ninh mới của khu vực và thế giới, Bộ Quốc phòng Việt Nam công bố sách trắng về quốc phòng của Việt Nam. Sách trắng lần thứ nhất mang tên "Việt Nam củng cố quốc phòng bảo vệ Tổ quốc" vào năm 1998. Gồm 3 phần: Vì hòa bình, độc lập và phát triển, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh.
Sách trắng lần hai vào ngày 9 tháng 12 năm 2004 với tên gọi là "Quốc phòng Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XXI", được xuất bản bằng hai thứ tiếng Việt và tiếng Anh, gồm 3 phần chính: Chính sách quốc phòng Việt Nam, Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Với chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích của các quốc gia khác theo những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hiệp Quốc và luật pháp quốc tế, chủ trương không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình, không sử dụng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực đối với nước khác. Ngoài ra Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với vùng biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông.
Sách trắng lần thứ ba vào ngày 8 tháng 12 năm 2009 với tên gọi là "Sách trắng Quốc phòng năm 2009" được xuất bản bằng hai thứ tiếng Việt và tiếng Anh với chủ trương duy trì và phát triển quốc phòng đủ mạnh, kiên trì chính sách quốc phòng mang tính chất hoà bình, tự vệ mà trọng tâm là xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Việt Nam xây dựng quân đội "của dân, do dân, vì dân", có tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị hùng hậu, được huấn luyện và trang bị các loại vũ khí ngày càng hiện đại, đủ khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, các lợi ích quốc gia và chế độ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đẩy mạnh hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các tranh chấp lãnh thổ và các tranh chấp khác bằng các biện pháp hoà bình, góp phần xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định và thịnh vượng. Việc xuất bản Sách trắng năm 2009 thể hiện mong muốn và quyết tâm của Việt Nam trong việc phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
== Hiệp định về Biên giới ==
Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc
Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc
Hiệp định biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc
Hiệp định phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam và CamPuChia
Hiệp định vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và CamPuChia
Hiệp định phân định vùng biển giữa Việt Nam và Thái Lan
Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Inđônếsia
Hiệp định phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Lào
Thỏa thuận hợp tác thăm dò và khai thác chung vùng chồng lấn giữa Việt Nam và Malaysia
== Lãnh đạo hiện nay ==
== Tổ chức Đảng ==
Đảng lãnh đạo Quân đội Nhân dân Việt Nam và Bộ Quốc phòng Việt Nam tuyệt đối. Đứng đầu là Quân ủy Trung ương nghiên cứu đề xuất để Ban Chấp hành Trung ương quyết định những vấn đề về đường lối, nhiệm vụ quân sự và quốc phòng; lãnh đạo mọi mặt trong Quân đội. Tổng cục Chính trị đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị trong toàn quân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Ban Bí thư và trực tiếp, thường xuyên của Quân ủy Trung ương.
Dưới Quân ủy Trung ương là Đảng bộ các Tổng cục, Quân khu, Cục trực thuộc Bộ và các đơn vị tương đương Quân đoàn trực thuộc Bộ. Đứng đầu là Bí thư thường là Chính ủy đảm nhiệm; Phó Bí thư là cấp trưởng đơn vị đó đảm nhiệm. Tùy theo số lượng đơn vị và quân số mà phân chia thành Đảng bộ cấp 2, cấp 3 và cấp cơ sở. Và đơn vị trực thuộc cấp cơ sở (tương đương Đại đội) thường được gọi là Chi bộ, đó là cấp tổ chức Đảng nhỏ nhất trong Quân đội.
== Tổ chức chính quyền ==
=== 1945-1950 ===
Từ khi thành lập Bộ Quốc phòng, quy định trong Sắc lệnh của Chủ tịch nước, người chỉ huy cao nhất của Bộ Quốc phòng là Bộ trưởng, tiếp theo là Thứ trưởng. Trong những năm 1946, 1947, 1948, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Chỉ huy hợp nhất sau đó lại tách ra rồi lại hợp nhất thì người chỉ huy cao nhất Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy là Tổng Tư lệnh kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Giúp việc cho Bộ trưởng có các Thứ trưởng, Tổng Tham mưu trưởng.
Sau khi hợp nhất giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Chỉ huy thì tổ chức của Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy thống nhất gồm Bộ Tổng Tham mưu đứng đầu là Tổng Tham mưu trưởng, Cục Chính trị và các Cục chuyên ngành trực thuộc Bộ.
Trong thời kỳ này, mô hình tổ chức của Bộ Quốc phòng còn sơ khai, thể hiện định hướng cho sự phát triển lớn mạnh hơn về tổ chức sau này. Các cơ quan, đơn vị mới được thành lập là tiền thân cho sự phát triển của các cơ quan, đơn vị sau này. Bộ Quốc phòng được xây dựng theo mô hình tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, cơ chế ngành dọc chuyên môn, chịu sự chỉ huy trực tiếp của thủ trưởng đơn vị cấp mình và sự chỉ huy gián tiếp của thủ trưởng đơn vị cấp trên theo chuyên ngành.
=== 1950-1975 ===
Sau khi Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tư lệnh hợp nhất thành Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh, người chỉ huy cao nhất là Tổng Tư lệnh kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Hai cơ quan Bộ Tổng Tham mưu và Tổng cục Chính trị là cơ quan đầu ngành về công tác Tham mưu và Chính trị, đứng đầu hai cơ quan là Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.
=== 1975-2000 ===
Sau khi thống nhất đất nước, năm 1976, Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh chấm dứt hoạt động chỉ còn lại Bộ Quốc phòng. Khi đó người chỉ huy cao nhất của Bộ Quốc phòng là Bộ trưởng là người quân sự và là Ủy viên Bộ Chính trị.
=== Hiện nay ===
Với chủ trương tinh giản biên chế gọn nhẹ của Chính phủ. Từ những năm 2000 đến nay, tổ chức của Bộ Quốc phòng chuyển đổi theo hướng giảm số lượng nhân sự nâng cao chất lượng, tinh nhuệ, gọn nhẹ, từng bước hiện đại hóa, đáp ứng đủ nhu cầu nhiệm vụ bảo vệ Quốc gia. Tổ chức của Bộ Quốc phòng theo ngành dọc về cơ quan chuyên môn, có chỉ huy trực tiếp và gián tiếp theo ngành dọc. Người chỉ huy cao nhất Bộ Quốc phòng vẫn là Bộ trưởng đồng thời là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh quốc gia, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, giúp việc cho Bộ trưởng có các Thứ trưởng, Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.
Về tổ chức gồm Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, các Tổng cục, Cục chức năng, quân khu, quân chủng, binh chủng, quân đoàn, Học viện nhà trường và các đơn vị kinh tế trực thuộc Bộ.
Sơ đồ tổ chức từ năm 2010
== Tổ chức hiện nay ==
=== Điều hành ===
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
Thứ trưởng Thường trực Bộ Quốc phòng kiêm Tổng tham mưu trưởng
Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
=== Khối Tổng cục ===
Bộ Tổng Tham mưu
Tổng cục Chính trị
Tổng cục Hậu cần
Tổng cục Kỹ thuật
Tổng cục Tình báo
Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng
=== Khối Quân chủng ===
Quân chủng Hải quân
Quân chủng Phòng không-Không quân
Bộ đội Biên phòng
Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển
Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
=== Khối Binh chủng ===
Binh chủng Pháo binh
Binh chủng Hóa học
Binh chủng Công binh
Binh chủng Tăng-Thiết giáp
Binh chủng Thông tin liên lạc
Binh chủng Đặc công
=== Khối Quân khu ===
Bộ Tư lệnh Thủ đô
Quân khu 1
Quân khu 2
Quân khu 3
Quân khu 4
Quân khu 5
Quân khu 7
Quân khu 9
=== Khối Quân đoàn ===
Quân đoàn 1
Quân đoàn 2
Quân đoàn 3
Quân đoàn 4
=== Khối Học viện Nhà trường ===
Học viện Quốc phòng Việt Nam
Học viện Chính trị
Học viện Lục quân Đà Lạt
Học viện Kỹ thuật Quân sự
Học viện Quân Y
Học viện Hậu cần
Trường Sĩ quan Lục quân 1
Trường Sĩ quan Lục quân 2
Trường Đại học Chính trị
=== Khối Cơ quan trực thuộc Bộ ===
Văn phòng Bộ Quốc phòng
Thanh tra Bộ Quốc phòng
Ban Cơ yếu Chính phủ
Cục Quân Y
Cục Tài chính
Cục Kế hoạch và Đầu tư
Cục Kinh tế
Cục Khoa học Quân sự
Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng
Cục Đối ngoại
Cục Điều tra Hình sự
Cục Thi hành án
Vụ Pháp chế
=== Khối Viện Trung tâm nghiên cứu ===
Viện Chiến lược Quốc phòng
Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự
Viện Lịch sử Quân sự
Viện Quan hệ Quốc tế về Quốc phòng
Viện Thiết kế
Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga
Trung tâm Thông tin Khoa học Quân sự
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Bệnh viện Trung ương Quân đội 175
Viện Y học cổ truyền Quân đội
Bảo hiểm Xã hội Bộ Quốc phòng
Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam
=== Khối Doanh nghiệp thuộc Bộ ===
Tập đoàn Viễn thông Quân đội
Tổng Công ty VAXUCO
Tổng Công ty Trực thăng Việt Nam
Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn
Tổng Công ty Thành An
Tổng Công ty 15
Tổng Công ty 16
Tổng Công ty Đông Bắc
Tổng Công ty Xây dựng Lũng Lô
Tổng Công ty Thái Sơn
Tổng Công ty 319
Tổng Công ty 36
Tổng Công ty Đầu tư Phát triển nhà và Đô thị
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội
== Tổ chức quốc tế tham gia ==
Hội nghị Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng các nước ASEAN (ACDFIM)
== Khu Kinh tế Quốc phòng ==
Kết hợp kinh tế với quốc phòng - an ninh (QP-AN) vừa là chủ trương, đường lối, quan điểm, vừa là giải pháp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ). Qua mỗi thời kỳ, nhận thức và tổ chức thực hiện nội dung kết hợp đó đều được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu mới. Đây là chủ trương chiến lược hết sức quan trọng, được thể hiện nhất quán và xuyên suốt trong các văn kiện Đại hội của Đảng. Trong quá trình xây dựng, mỗi lĩnh vực kinh tế, xã hội, QP-AN đều có mục tiêu riêng. Nhưng khi kết hợp với nhau thì cần phải có sự gắn kết hài hòa các mục tiêu cụ thể để phục vụ cho mục tiêu chung.
Qua đó, có thể khái quát mục tiêu kết hợp kinh tế với QP-AN trong thời kỳ Hội nhập quốc tế là: xây dựng kinh tế phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Nắm vững mục tiêu chung đó là cơ sở để điều chỉnh đúng mức mối quan hệ giữa các lĩnh vực trong quá trình thực hiện sự kết hợp. Hơn nữa, cần nhận rõ những yếu tố tác động mới đối với quá trình thực hiện kết hợp kinh tế với QP-AN. Đó là tác động của toàn cầu hóa dẫn đến ảnh hưởng ngày càng lớn của kinh tế thế giới đối với nền kinh tế nước ta; là mối quan hệ giữa cạnh tranh với hợp tác và phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; là tốc độ gia tăng đầu tư kinh tế, xâm nhập thị trường của các nước vào nước ta; là sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế trong nước liên quan đến đối tượng kết hợp; là tính chất đa dạng, đan xen của nhiệm vụ QP-AN, đối ngoại trong mối quan hệ kết hợp. Và cần phải kết hợp toàn diện, nhưng cần tập trung vào trọng điểm.
Hiện nay, các khu kinh tế, quốc phòng này không những mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao mà còn góp phần xây dựng buôn làng có thế trận phòng thủ vững chắc.
== Tùy viên Quốc phòng ==
Tính đến tháng 3 năm 2009, có hơn 20 quốc gia mà Việt Nam cử Tùy viên Quốc phòng hoạt động tại đó cụ thể như sau:
== Bộ trưởng qua các thời kỳ ==
Bài chi tiết: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam
== Thứ trưởng qua các thời kỳ ==
Bài chi tiết: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam
== Xem thêm ==
Bộ Quốc phòng
Quân đội Nhân dân Việt Nam
Công an Nhân dân Việt Nam
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam
Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam
== Tham khảo ==
Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, HN, 2004.
60 năm Quân đội Nhân dân Việt Nam - Biên niên sự kiện, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, HN, 2004.
Lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tập 1 và Tập 2, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, HN, 1994.
Lịch sử Quân sự Việt Nam, 14 Tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, HN, 1996, 2013, 2014.
Lịch sử Tư tưởng Quân sự Việt Nam, 5 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, HN, 2014.
Lịch sử Công tác Đảng, công tác chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, HN, 2002.
Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, HN, 2014.
Lịch sử Tổng cục Chính trị (1944-2014), Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, HN, 2014.
Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, HN, 2015.
Bộ Tổng Tham mưu những năm chiến đấu trong vòng vây, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, HN, 2011.
Lịch sử Đảng bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam Tập 1, Tập 2, Tập 3, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, HN 2009, 2010, 2011.
Lịch sử Quân giới Việt Nam (1954-1975), Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, HN, 1995.
Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, HN, 2007.
Lịch sử Đoàn 559-Bộ đội Trường Sơn-đường Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, HN, 1999.
Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, HN, 1996.
Những vị tướng lừng danh trong Lịch sử dân tộc, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, HN, 2014.
Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước-Thắng lợi và bài học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, HN, 1995.
Lịch sử Công tác đảng, công tác chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 2002.
Biên niên sự kiện lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam 1954-1975, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, HN, 1992.
Việt Nam những sự kiện 1945-1986, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, HN, 1990.
== Liên kết ngoài ==
Cổng TTĐT Bộ Quốc phòng
Báo Quân đội nhân dân
Tạp chí quốc phòng toàn dân
Cục Kinh tế, Bộ Quốc phòng
Cục Chính sách, Bộ Quốc phòng
Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng
Danh sách các doanh nghiệp quân đội
Cơ cấu, tổ chức của Quân đội Nhân dân Việt Nam
== Chú thích == |
samsung i8910.txt | Samsung i8910 HD (còn được gọi là Omnia HD) là điện thoại thông minh đa phương tiện của Samsung, lần đầu tiên công bố tại MWC 2009 vào ngày 18 tháng 2 năm 2009. Điều đáng chú ý nhất đây là điện thoại đầu tiên có thể phát và quay 720p HD.
== Tính năng và hỗ trợ ==
HD gồm hai phiên bản: với 8 hoặc 16 GB bộ nhớ trong, cả hai đều có khe thẻ nhớ microSD thay thế lên đến 32 GB. i8910 HD gồm bốn băng thông GSM/GPRS/EDGE với hỗ trợ tri-band UMTS, HSDPA (lên đến 7,2 Mbit/s) và hỗ trợ HSUPA (lên đến 5,76 Mbit/s). Úc phát hành hỗ trợ băng tần UMTS 2100/900Mhz.
=== Cảm ứng điện dung 3,7-inch ===
Điện thoại có màn hình cảm ứng điện dung 3,7-inch AMOLED (thay vì cảm ứng điện trở) độ phân giải 640 x 360 pixels, có thể hiển thị lên đến 16 triệu màu.(thay vì LCD(tỉ lệ 16:9)
=== Máy ảnh 8,1 MP với LED flash ===
Điện thoại có máy ảnh 8-megapixel với công nghệ quay video 720p HD với 24 khung/giây. Ngoài chụp ảnh còn có gắn thẻ địa lý, nhận diện khuôn mặt, nhận diện nụ cười và cài dặtWDR (Wide Dynamic Range). i8910 HD chạy Symbian (trên Symbian s60 phiên bản 3), với giao diện TouchWiz của Samsung.** Máy ảnh có thể tùy chọn hình ảnh ở tỉ lệ 4:3. Nhưng khi bấm vào tỉ lệ 16:9 chất lượng sẽ giảm xuống 6-megapixel (w6m).
=== Kết nối ===
Thiết bị cung cấp Wi-Fi với DLNA, Bluetooth 2.0 với A2DP, cổng microUSB chuẩn, 3.5 mm audio jack và TV-out. Thiết bị thu GPS với S-GPS+Xtragps đã bao gồm, cùng với các tùy chọn Samsung Mobile Navigator bởi Route 66.
=== Tính năng khác ===
Hỗ trợ DivX/XviD, MPEG4, hỗ trợ phụ đề
Xuất video HD (720p) tương thích với truyền hình thông qua công nghệ DLNA
S60 phiên bản 5
Gia tốc cho tự động xoay màn hình và turn-to-mute
Cảm biến gần cho chế độ tự động tắt màn hình
Từ kế cho la bàn kỹ thuật số
Thu nhận GPS với A-GPS
FM radio với RDS
Âm thanh vòm 5.1 channel (trên tai nghe)
Trình duyệt web với hỡ trợ Flash video
Office document viewer
== Firmware ==
Hobbyists cung cấp cập nhật firmware không chính thức.
== Windows Phone ==
Mặc dù thiết bị này không chạy dựa trên Windows Mobile hay Windows Phone, vào 2010, Microsoft thông báo đã thành công trên thiết bị này có thể chạy Windows Phone trước sự ra mắt chính thức điện thoại thông minh chạy của Samsung, Omnia 7. (Hệ điều hành Windows Phone không thể chạy trên vi xử lý OMAP3 của Omnia HD)
== Xem thêm ==
Samsung
Samsung Galaxy S series
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Samsung OmniaHD - Samsung Official Website
Biggest Help and Modding Forum for Samsung i8910 |
danh sách khu vực chính quyền địa phương tại victoria.txt | Đây là danh sách 79 khu vực chính quyền địa phương (LGA) cấp cơ sở tại tiểu bang Victoria, Úc. Danh sách này xếp theo phân vùng địa lý của tiểu bang. Để tìm hiểu lịch sử hình thành và vai trò của chính quyền cơ sở tại Victoria, xem Chính quyền địa phương tại Victoria.
== Các khu vực chính quyền địa phương xếp theo vùng ==
=== Vùng đô thị Melbourne (Đại Melbourne) ===
=== Vùng Tây Nam ===
=== Vùng Central Highlands và Goldfields ===
=== Vùng Goulburn Valley ===
=== Vùng Đông Bắc ===
=== Vùng Gippsland ===
=== Vùng Western District ===
=== Vùng Wimmera ===
=== Vùng Mallee ===
== Tham khảo == |
rhode island.txt | Rhode Island ( /ˌroʊdˈaɪlənd/), là tiểu bang có diện tích nhỏ nhất Hoa Kỳ. Tên chính thức của tiểu bang này là State of Rhode Island and Providence Plantations (Tiểu bang Rhode Island và các Đồn điền Providence). Đảo Rhode thường được gọi là Đảo Aquidneck, còn Providence là thủ thủ của tiểu bang, đề cập đến sự Quan phòng của Thiên Chúa (thiên hựu). Tiểu bang này có nhiều toà nhà cổ xây theo kiểu Victoria. Rhode Island là khu thuộc địa Anh đầu tiên tuyên bố độc lập khỏi Vương quốc Anh, ký Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ ngày 4 tháng 5 năm 1776.
== Các thành phố lớn ==
Dân số năm 2000.
Warwick (85.808)
Cranston (79.269)
Pawtuckket (72.958)
== Tham khảo == |
ipad mini 3.txt | iPad Mini 3 (cách điệu và thị trường là iPad mini 3 còn được biết đến như iPad mini 3 với Touch ID) là máy tính bảng iPad Mini thế hệ thứ 3, phát triển và bán ra bởi Apple Inc. Nó được công bố cùng với iPad Air 2 vào 16 tháng 10 năm 2014 và phát hành vào 22 tháng 10. Nó sử dụng chủ yếu là các thiết kế tương tự và phần cứng như người tiền nhiệm, iPad Mini 2. Một tính năng mới được thêm vào là cảm biến Touch ID tương thích với Apple Pay, khác nhau về dung lượng và có sẵn màu vàng, cũng như các màu trước đó.
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
iPad mini – trang chủ |
chūbu.txt | Vùng Chubu của Nhật Bản (tiếng Nhật: 中部地方 | Chūbu-chihō) (âm Hán Việt: Trung Bộ Địa phương) là một trong chín vùng địa lý của Nhật Bản. Vùng này bao gồm chín tỉnh trung bộ trên đảo Honshu là: Aichi, Fukui, Gifu, Ishikawa, Nagano, Niigata, Shizuoka, Toyama, và Yamanashi. Địa hình của vùng này đặc trưng bởi núi cao hiểm trở. Đỉnh núi cao nhất toàn vùng và cũng là toàn Nhật Bản chính là núi Fuji.
Vùng Chubu lại gồm ba tiểu vùng là Hokuriku (giáp biển Nhật Bản), Chuokogen (cao nguyên ở trung tâm đất nước), và Tokai (giáp Thái Bình Dương).
== Tham khảo == |
thực vật có mạch.txt | Thực vật có mạch là các nhóm thực vật có các mô hóa gỗ để truyền dẫn nước, khoáng chất và các sản phẩm quang hợp trong cơ thể. Thực vật có mạch bao gồm ngành dương xỉ, thông đất, mộc tặc, thực vật có hoa, thực vật lá kim và các thực vật hạt trần khác. Tên gọi khoa học cho nhóm thực vật này là Tracheophyta và Tracheobionta, nhưng cả hai tên gọi đều không được sử dụng rộng rãi.
== Đặc trưng ==
Thực vật có mạch được phân biệt nhờ hai đặc trưng chính sau:
Thực vật có mạch có các mô mạch, với chức năng tuần hoàn các tài nguyên trong cây. Đặc trưng này cho phép thực vật có mạch tiến hóa để có kích thước to lớn hơn so với thực vật không mạch, là nhóm thực vật thiếu các mô truyền dẫn chuyên biệt đó và vì thế bị hạn chế ở kích thước tương đối nhỏ.
Trong thực vật có mạch, pha thế hệ chủ yếu là thể bào tử, thông thường là dạng lưỡng bội với hai bộ nhiễm sắc thể trên mỗi tế bào. Ngược lại, pha thế hệ chủ yếu ở thực vật không mạch lại thông thường là thể giao tử, nghĩa là dạng đơn bội với một bộ nhiễm sắc thể trên mỗi tế bào.
Việc vận chuyển nước diễn ra hoặc là trong xylem (chất gỗ) hoặc là phloem (libe). Xylem vận chuyển nước và các chất vô cơ hòa tan trong đó từ rễ đi lên các lá, trong khi phloem vận chuyển các chất hữu cơ hòa tan đi khắp thân cây.
== Phát sinh loài ==
Cây phát sinh loài được đề xuất cho thực vật có mạch theo Kenrick và Crane là như dưới đây, với sự sửa đổi cho nhóm Pteridophyta lấy theo Smith và ctv.
== Phân bố dinh dưỡng ==
Các chất dinh dưỡng và nước từ đất cùng các chất hữu cơ sinh ra trong lá cây được phân phối vào các khu vực cụ thể trong cây thông qua xylem và phloem. Xylem đưa nước và các chất dinh dưỡng từ rễ lên các phần phía trên của thân cây, còn phloem vận chuyển các chất khác, chẳng hạn glucoza sinh ra từ quá trình quang hợp, là chất hữu cơ tạo ra cho cây nguồn năng lượng để phát triển và kết hạt.
Xylem bao gồm các quản bào, là các tế bào chết có vách cứng được sắp xếp để tạo ra các ống nhỏ có chức năng vận chuyển nước. Vách quản bào thông thường chứa linhin. Phloem lại bao gồm các tế bào sống gọi là các thành viên ống sàng. Giữa các thành viên ống sàng là các tấm sàng, có các lỗ để cho phép các phân tử đi qua. Các thành viên ống sàng thiếu các bộ phận như nhân hay ribosom, nhưng các tế bào cạnh nó (tế bào đồng hành) thì có chức năng duy trì hoạt động của các thành viên ống sàng.
Chuyển động của nước, chất dinh dưỡng, đường và chất thải được thực hiện nhờ sự truyền dẫn, hấp thụ và thoát hơi nước.
=== Thoát hơi nước ===
Hợp chất phổ biến nhất trong phần lớn các loài thực vật là nước, đóng vai trò lớn trong nhiều hoạt động mà nó tham gia. Sự thoát hơi nước là quá trình chính mà thực vật có thể dựa vào để di chuyển các hợp chất trong các mô của nó. Các chất dinh dưỡng và các chất khoáng cơ bản cấu thành nên phần còn lại của thực vật thì nói chung vẫn còn lại trong cây. Tuy nhiên, nước lại liên tục thoát từ các quá trình trao đổi chất và quang hợp ra ngoài khí quyển.
Nước thoát ra khỏi các lá cây thông qua các khí khổng, được đưa tới đó nhờ các gân lá và các bó mạch trong lớp phát sinh gỗ. Chuyển động của nước ra khỏi các khí khổng trên lá được tạo ra khi các lá có sức hút thoát hơi nước. Sức hút thoát hơi nước được tạo ra thông qua sức căng bề mặt của nước trong các tế bào của cây. Quá trình đẩy nước lên trên được hỗ trợ bởi chuyển động của nước vào trong rễ thông qua sự thẩm thấu. Quá trình này cũng hỗ trợ thực vật hấp thụ các chất dinh dưỡng từ đất dưới dạng các muối hòa tan trong quá trình gọi là hấp thụ.
=== Hấp thụ ===
Các tế bào xylem di chuyển nước và các chất dinh dưỡng hòa tan trong nước từ rễ và các lông rễ mịn lên phía trên tới các bộ phận khác của cây. Các tế bào rễ còn sống hấp thụ nước chủ động khi thiếu sức hút thoát hơi nước thông qua thẩm thấu tạo ra áp lực rễ. Có những khoảng thời gian khi thực vật không có sức hút thoát hơi nước, thông thường là do thiếu sáng hay do các yếu tố môi trường khác gây ra. Nước trong các mô thực vật có thể di chuyển tới rễ để hỗ trợ khi hấp thụ thụ động.
=== Truyền dẫn ===
Các mô xylem và phloem tham gia vào các quá trình truyền dẫn trong thân cây. Chuyển động của thức ăn mà thực vật tổng hợp được trong các bộ phận của nó chủ yếu diễn ra trong phloem. Truyền dẫn thực vật (chuyển động của thức ăn) từ nơi có hàm lượng thức ăn cao, như nơi sản xuất (nơi diễn ra quá trình quang hợp) hay nơi lưu trữ, tới các nơi có nhu cầu sử dụng thức ăn, hay từ nơi sản xuất tới các mô lưu trữ. Các muối khoáng được di chuyển trong các mô xylem.
== Xem thêm ==
Thực vật không mạch
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Thực vật có mạch tại trang Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học quốc gia Hoa Kỳ (NCBI).
Thực vật có mạch tại Encyclopedia of Life |
ngành (sinh học).txt | Trong phép phân loại sinh học, một ngành (tiếng Hy Lạp: Φῦλον, số nhiều: Φῦλα phyla) là một đơn vị phân loại ở cấp dưới giới và trên lớp. Từ ngành trong sinh học được dịch ra từ tiếng Hy Lạp φυλαί phylai, nghĩa là một nhóm có quyền bầu cử dựa trên cơ sở thị tộc tại các nhà nước thành bang tại Hy Lạp.
== Tổng quan ==
Một ngành đại diện cho việc gộp nhóm nói chung được công nhận và ở cấp lớn nhất của giới động vật và các sinh vật khác với các đặc trưng tiến hóa nào đó, mặc dù một số ngành đôi khi cũng được gộp chung lại trong nhóm gọi là siêu ngành (superphyla), ví dụ như siêu ngành Ecdysozoa với 8 ngành, trong đó có Arthropoda và Nematoda; còn siêu ngành Deuterostomia chứa Echinoderma, Chordata, Hemichordata v.v. Một cách không chính thức thì các ngành có thể coi là việc gộp nhóm các động vật dựa trên sơ đồ cơ thể tổng quát; đây chính là việc gộp nhóm theo hình thái. Vì vậy, mặc dù dường như có các khác biệt bề ngoài của các sinh vật, nhưng chúng được phân loại vào trong các ngành dựa trên cơ cấu tổ chức bên trong của chúng. Chẳng hạn, dường như là đã rẽ nhánh và không giống nhau về bề ngoài, nhưng nhên và cua cả hai đều thuộc về ngành Arthropoda, trong khi giun đất và giun dẹp, khá tương tự về hình dáng, lại tạo thành hai ngành Annelida và Platyhelminthes.
Các ngành động vật được biết đến nhiều nhất có lẽ là Mollusca, Porifera, Cnidaria, Platyhelminthes, Nematoda, Annelida, Arthropoda, Echinodermata và Chordata (loài người thuộc về ngành này). Hiện nay người ta đã biết khoảng 35 ngành động vật, trong đó 9 ngành chiếm phần lớn các loài. Nhiều ngành chỉ tồn tại trong lòng đại dương, và chỉ duy nhất 1 ngành là hoàn toàn không có trong các đại dương của thế giới: ngành Onychophora (giun có móc). Ngành gần đây mới phát hiện ra là Cycliophora được tìm thấy năm 1993; và chỉ có 3 ngành được phát hiện ra trong thế kỷ 20.
Sự bùng nổ kỷ Cambri là sự sinh sôi nảy nở lớn các dạng sự sống đã diễn ra trong khoảng gần chính xác là 530 tới 520 triệu năm trước; trong thời gian này các sinh vật tương tự như, nhưng không là thành viên một cách chặt chẽ của, các ngành hiện nay đã tồn tại; trong khi một số dường như đã xuất hiện trong vùng sinh vật kỷ Ediacara, nó vẫn là vấn đề gây tranh cãi là có hay không việc tất cả các ngành đã tồn tại trước sự bùng nổ. Theo thời gian, vai trò của các ngành cũng thay đổi. Ví dụ, trong kỷ Cambri, quần động vật lớn thống lĩnh là động vật chân đốt (Arthropoda), trong khi hiện nay quần động vật lớn thống lĩnh lại là động vật có xương sống của ngành dây sống (Chordata). Động vật chân đốt hiện tại vẫn là ngành chiếm số lượng loài nhiều nhất.
Ở động vật chia làm 2 ngành: động vật không xương sống và động vật có xương sống.1.Ngành động vật không xương sống được chia 5 lớp gồm các lớp: chân khớp, ruột khoang, nguyên sinh, giun, thân mềm.2.Ngành động vật có xương sống chia làm 5 lớp: lớp cá, lớp bò sát, lớp thú, lớp chim, lớp lưỡng cư
== Thực vật và nấm ==
Mặc dù Quy tắc quốc tế cho danh pháp thực vật (ICBN) cho phép sử dụng thuật ngữ "phylum" khi nói tới một ngành thực vật, nhưng thuật ngữ khoa học tương đương là "divisio" gần như được tất cả các nhà thực vật học sử dụng.
Các ngành thực vật chính, theo trật tự tiến hóa (có thể nhất), là Marchantiophyta (ngành Rêu tản), Anthocerophyta (Ngành Rêu sừng), Bryophyta (ngành Rêu thật sự), Pteridophyta hay Filicophyta (ngành Dương xỉ), Sphenophyta, Cycadophyta (ngành Tuế), Ginkgophyta (Bạch quả), Pinophyta (ngành Thông), Gnetophyta (ngành Dây gắm), Magnoliophyta (ngành Thực vật hạt kín/thực vật có hoa). Thực vật hạt kín là thực vật có hoa hiện nay chiếm vị trí thống lĩnh trong giới thực vật (80% số loài thực vật có mạch là thực vật hạt kín).
=== Lưu ý ===
Tuy nhiên, cần lưu ý là trong động vật học thì thuật ngữ divisio lại được áp dụng một cách tùy chọn cho cấp dưới cận lớp và trên cohort. Hệ thống phân loại được sử dụng rộng rãi như của Carroll (1988) công nhận nhóm cá xương thật sự như là divisio Teleostei trong phạm vi lớp Actinopterygii (cá vây tia). Ít phổ biến hơn (chẳng hạn trong Milner 1988), các dạng động vật bốn chân được coi là các divisio Amphibia và Amniota trong một nhánh của động vật có xương sống với các chi nhiều thịt (Sarcopterygii).
== Xem thêm ==
Cấp bậc (thực vật học)
Cấp bậc (động vật học)
Quy tắc quốc tế cho danh pháp động vật (ICZN)
Quy tắc quốc tế cho danh pháp thực vật (ICBN)
Miêu tả theo nhánh học
Phát sinh loài học
Hệ thống hóa
Phép phân loại
Phân loại khoa học
Phân loại virus
== Liên kết ngoài ==
Các ngành động vật chính
Các ngành có "thực tế" không?
Từ nguyên:
American Heritage Dictionary: Từ mới phylum trong tiếng La tinh, từ tiếng Hy Lạp phūlon, lớp.
Online Etymological Dictionary: Từ tiếng Hy Lạp phylon "chủng tộc, dòng họ", liên quan tới "bộ lạc, thị tộc," của physikos.
== Tham khảo ==
Carroll Robert L. 1988. Vertebrate Paleontology and Evolution. New York: W.H. Freeman & Co. ISBN 0-716-7-1822-7.
Milner Andrew. 1988. "The relationships and origin of living amphibians." In M.J. Benton (ed.), The Phylogeny and Classification of the Tetrapods, Volume 1: Amphibians, Reptiles, Birds, các trang 59–102. Oxford: Clarendon Press.
== Ghi chú == |
samsung galaxy mega.txt | Samsung Galaxy Mega là điện thoại thông minh/máy tính bảng lai chạy hệ điều hành Android sản xuất bởi Samsung. Nó được công bố vào 11 tháng 4 năm 2013. Phiên bản đầu tiên màn hình 6,3 in (160 mm) và phiên bản thứ hai là 5,8 in (150 mm). Các thông số kĩ thuật trên Mega tương đương với các điện thoại tầm trung như màn hình 1,280 x 720, bộ xử lý lõi kép 1.7 GHz và máy ảnh 8-megapixel. Nó chạy Android 4.2.2 "Jelly Bean", và bộ nhớ trong là 8 hoặc 16GB. Samsung Galaxy Mega dự kiến sẽ cập nhật lên Android 4.4 "Kit Kat".
== Tính năng ==
Multi-window – Khả năng chia màn hình
Home Screen có sẵn trong chế độ nằm ngang
Group Play — Liên kết với các thiết bị Galaxy khác để chia sẻ hình ảnh hoặc tao hiệu ứng vòng sử dụng mỗi loa của từng thiết bị
Air View — Di chuột trên các ứng dụng hỗ trợ để xem trước các thông tin. (bản 6,3 model chỉ ở chế độ đứng)
S Memo — Ứng dụng Samsung Note. Tạo chữ viết tay bằng chính tay bạn, ký tự với bàn phím, và nhúng âm thanh hoặc hình ảnh.
S Voice – Trợ lý cá nhân.
S Translator — Ứng dụng dịch thuật, hỗ trợ 9 ngôn ngữ.
Smart Stay — Sử dụng camera phía trước để theo dõi ánh mắt của bạn, và sẽ tự động tắt nếu bạn không nhìn vào màn hình.
IR blaster (bản 6,3)
Smart dual sim (bản 5,8)
== Phần mềm ==
Galaxy Mega phần lớn tương tự như Galaxy S4, và hai tính năng chia sẻ tương tự. Người dùng có thể tùy chỉnh màn hình khóa và truy cập nhanh chóng vào cài đặt từ thanh thông báo thả xuống. Một tính năng khác bao gồm Air View, cho phép người dùng xem trước email và hình ảnh khi lướt ngón tay trên màn hình, và WatchON, cho phép người trung điều khiển truyền hình bằng điện thoại của mình. Nó cũng bao gồm Multi Window, cho phép người dùng có thể sử dụng nhiều ứng dụng một lúc trên cùng một màn hình, đó là tính năng được tăng cường trên điện thoại 6,3-inch LCD (720 x 1.280). S Translator cung cấp nhanh và dễ, và ChatON cho phép người dùng chia sẻ màn hình với người khác.
Máy ảnh chính 8-megapixel với nhiều chế độ chụp ảnh như Panorama và Sound & Shot. Tính năng Story Album lấy ảnh để tạo nên một cuốn nhật ký. Mega chạy Android 4.2.2 (Jelly Bean). Người dùng có thể lưu trữ nhạc, hình ảnh và video với bộ nhớ mở rộng 64 GB thông qua microSD card. Pin 3,200-mAh có thể thay thế có thể sử dụng trong ngày chỉ một lần sạc. Galaxy Mega là dụng vi xử lý lõi kép 1,7-GHz Qualcomm MSM8930 Pro với 1,5GB VRAM.
== Thiết kế ==
Galaxy Mega có kích thước 6,6 x 3,46 x 0,31 inches, như các điện thoại thông minh khác, bao gồm Samsung Note II (5,9 x 3,2 x 0,37 inches), Samsung Galaxy S4 (130g, 5,31 x 2,69 x 0,25 inches), HTC One (144g, 5,31 x 2,63 x 0,28 inches) và Motorola Moto X (136g, 5,1 x 2,6 x 0,22-0,4 inches). Nó nặng 201g, nhưng vẫn thấy nhẹ mặc dù kích thước của nó.
== Hệ điều hành ==
Samsung Galaxy Mega chạy Android Jelly Bean 4.2.2 với giao diện TouchWiz của Samsung. Chế độ Multi Window của Samsung là trước và giữa trên thiết bị. Tương tự như các điện thoại Galaxy khác, bạn có thể tùy chỉnh màn hình khóa của Mega với widgets và các phím tắt. Bảy màn hình home có sẵn cho người dùng. 16 nút cài đặt nhanh trên thanh thông báo kéo cho phép người dùng chuyển đổi tính năng bao gồm kết nối Wi-Fi và Smart Stay độc quyền. Các nút này có thể sắp xếp lại được bằng các nhấp vào nút bên phải trên thanh thông báo kéo xuống.
Samsung Galaxy Mega sẽ nhận được cập nhật Android 4.4 cùng với Samsung Galaxy S4 Mini.
== Biến thể ==
GT-I9150 – màn hình 5,8-inch, 1,4 GHz CPU, 1,5 GB RAM, 8 GB bộ nhớ trong - không hỗ trợ LTE - không hỗ trợ đa SIM
GT-I9152 - màn hình 5,8-inch, 1,4 GHz CPU, 1,5 GB RAM, 8 GB bộ nhớ trong - không hỗ trợ LTE - không hỗ trợ đa SIM
GT-I9200 - màn hình 6,3-inch, 1,7 GHz CPU, 1,5 GB RAM, 8 GB hoặc 16 GB bộ nhớ trong - không hỗ trợ LTE - không hỗ trợ đa SIM
GT-I9205 - màn hình 6,3-inch, 1,7 GHz CPU, 1,5 GB RAM, 8 GB hoặc 16 GB bộ nhớ trong - hỗ trợ LTE – không hỗ trợ đa SIM
Chỉ có GT-I9152 hỗ trợ đa SIM. Chỉ có GT-I9205 hỗ trợ LTE (i.e. 4G-LTE support) và không có FM Radio. Bản AT&T của GT-I9205 được biết như SGH-i527.
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy S4
Samsung Galaxy S series
Android
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Samsung press release
Video review by GSM Arena
Samsung Galaxy Mega Phablet Debuts Information Week |
chư hầu nhà chu.txt | Chư hầu nhà Chu là những thuộc quốc, lãnh chúa phong kiến thời kỳ nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc.
== Hình thành ==
Nhà Chu vốn là một chư hầu của nhà Thương, nhân Đế Tân nhà Thương tàn ác mất lòng người, Tây bá Cơ Phát đã tập hợp các chư hầu lật đổ nhà Thương để lập nhà Chu.
Để mở rộng và củng cố nền thống trị, quản lý hiệu quả những vùng đất rộng lớn đã chinh phục, nhà Chu thực hiện chế độ phân phong cho các anh em, công thần, con cháu các vua đời trước. Tại mỗi vùng đất nhất định, nhà Chu giao đất và dân cho họ thành lập những quốc gia có quy mô lớn nhỏ khác nhau.
Đầu thời Chu, có 2 đợt phân phong của Chu Vũ Vương và Chu Công Đán. Sau khi diệt nhà Thương, Chu Vũ vương nhớ công lao các vua đời trước, ông phong cho con cháu họ làm chư hầu:
Con cháu Thần Nông ở đất Tiêu
Con cháu Hoàng Đế ở đất Chúc
Con cháu vua Nghiêu ở đất Kế
Con cháu vua Thuấn ở đất Trần
Con cháu vua Vũ nhà Hạ ở đất Kỷ
Con cháu Ngô Thái Bá (bác của Chu Văn Vương) ở đất Ngô
Con cháu vua Thiếu Khang nhà Hạ ở đất Việt
Anh của vua Trụ là Vi Tử Khải tại đất Triều Tiên
Con của Trụ Vương là Vũ Canh tiếp tục cai trị đất Ân để giữ hương hoả cho nhà Ân
Để thưởng công cho các tướng sĩ có công phò trợ diệt Thương, ông phong chư hầu cho các công thần, trong đó các nước lớn là:
Phong cho Khương Tử Nha (Lã Vọng) ở đất Doanh Khâu, gọi là nước Tề
Phong cho em thứ 3 là Quản Thúc Tiên phía đông Triều Ca, gọi là nước Quản
Phong em trai thứ 4 là Cơ Đán ở Khúc Phụ, gọi là nước Lỗ
Phong cho người cùng họ là Triệu công Thích ở nước Yên
Phong cho em thứ 5 là Thúc Chấn Đạc làm vua nước Tào
Phong cho em thứ 6 là Sái Thúc Độ ở phía tây Triều Ca là đất Dung, gọi là nước Sái
Phong cho em thứ 7 là Hoắc Thúc Xử phía bắc Triều Ca đến đất Bội gọi là nước Hoắc
Trên danh nghĩa, ba người em Quản Thúc Tiên, Sái Thúc Độ và Hoắc Thúc Xử có trách nhiệm giúp đỡ Vũ Canh Lộc Phủ nhưng trên thực tế là để giám sát, vì vậy sử gọi là "Tam giám". Sau khi Chu Vũ Vương mất, Quản Thúc Tiên, Sái Thúc Độ và Hoắc Thúc Xử theo Vũ Canh phản lại nhà Chu; Chu Công Đán dẹp loạn rồi giết Vũ Canh và Quản Thúc Tiên, lưu đày Hoắc Thúc và Sái Thúc. Đất của Vũ Canh và Quản Thúc bị chia làm đôi, phong cho 2 người:
Cải phong cho Vi Tử Khải từ đất Triều Tiên xa xôi về đất Ân cũ, gọi là nước Tống, để giữ hương hỏa nhà Ân
Phong người em thứ 9 của Chu Vũ Vương là Cơ Phong làm vua nước Vệ, tức là Vệ Khang Thúc.
Nước Đường làm loạn, Chu Thành Vương diệt nước Đường, phong cho người em nhỏ là Cơ Ngu làm vua, sau đổi là nước Tấn. Chu Thành Vương còn phong cho Hùng Dịch là con cháu Dục Hùng (dòng dõi Hoàng Đế) làm vua nước Sở.
Theo Tuân Tử, đầu thời Chu đã phân phong cho tất cả 71 nước, trong đó họ hàng vua Chu chiếm 53 nước. Theo Tả Truyện, con cháu đời sau của Tây bá Cơ Xương (cha Chu Vũ Vương) được phong 16 nước là:
Quản (Trịnh châu, Hà Nam)
Sái (Thượng Sái, Hà Nam)
Thành (Văn Thượng, Bắc Sơn Đông)
Hoắc (Huyện Hoắc, Sơn Tây)
Lỗ
Vệ
Mao (3 nước này ở Nghi Dương, Hà Nam)
Đam (thành phố Khai Phong tỉnh Hà Nam)
Cốc (đông nam huyện Vũ Thành, Sơn Đông)
Ung (đông bắc Thẩm Dương, Hà Nam)
Tào (Định Đào, Sơn Đông)
Đằng (huyện Đằng, Sơn Đông)
Tốt
Nguyên
Phong
Hoàn (4 nước này ở tây huyện Kỳ Thị, Sơn Tây)
Bốn nước là các con của Chu Vũ Vương:
Tấn
Hãn
Ứng (3 nước này ở tây huyện Bảo Phong, Hà Nam)
Hàn (tây huyện Nhuế Thành, Sơn Tây)
Năm nước con cháu của Chu Công Đán là:
Phàm (tây nam huyện Huy, Hà Nam)
Mâu (2 nước này ở Kim Hương Cảnh, Sơn Đông)
Tác (Diên Tân, Hà Nam)
Tế (bắc Trịnh Châu)
Hình (Hình Đài, Hà Bắc)
Ngoài ra, còn một số nước khác như Từ, Triệu, Cảnh, Ba, Giang, Hoàng, Tùy, Lã… Sang thời Chu Tuyên Vương, một chư hầu quan trọng khác xuất hiện là nước Trịnh, được phong cho Cơ Hữu là em nhỏ của Chu Tuyên Vương (806 TCN). Đến thời Chu Bình Vương, có thêm một chư hầu quan trọng ở phía tây là nước Tần, người được phong là con cháu của Doanh Phi Tử, con Đại Lạc – một vị quan phục vụ nhà Tây Chu.
== Quan hệ với thiên tử nhà Chu ==
Đương thời, khi làm phụ chính nhà Chu, Chu Công Đán đã sắp đặt lại chế độ phân phong, đại khái chế độ đó như sau:
đất của thiên tử vuông vức 10000 dặm
đất của công vuông vức 1000 dặm
đất của hầu vuông vức 500 dặm
đất của bá vuông vức 100 dặm
đất của tử vuông vức 50 dặm
Khác với chư hầu thời nhà Hạ và thời nhà Thương có mối quan hệ khá lỏng lẻo và khá độc lập với các triều đại này, đại đa số các chư hầu đều là người thân thích hoặc công thần nhà Chu, chịu sự ràng buộc khá chặt chẽ, có quan hệ vua tôi với thiên tử nhà Chu.
Chư hầu khi được phong phải tổ chức nghi lễ thụ phong, tuyên bố phạm vi biên giới, số đất đai. Các chư hầu khi được phong thường được thưởng luôn quan lại, nô lệ và đồ tế và nghi trượng… Chư hầu có nghĩa vụ với thiên tử nhà Chu như: triều kiến định kỳ, cống nạp, điều quân theo sự huy động của vua Chu khi có chiến tranh hoặc làm lễ lớn để trợ tế….
Chế độ phong đất cho các chư hầu là biện pháp tốt nhất lúc đó nhằm thống trị có hiệu quả khu vực rộng lớn một cách ổn định. Việc phân phòng có tác động tới nhiều nước chư hầu cũ của nhà Ân và các bộ tộc ở xa xôi, đạ mục đích truyền bá nền văn minh Chu tới những nơi này, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành khối thống nhất dân tộc trong lịch sử Trung Quốc.
== Vai trò ==
Các chư hầu đầu thời Chu có vai trò làm bình phong cho thiên tử ở trung tâm, vì vậy việc phân phong được gọi là "phong kiến thân thích, dĩ bình phiên Chu" (phong đất cho bà con thân thích làm rào giậu cho nhà Chu).
Trong các chư hầu thời kỳ đầu, nhà Chu giao cho các nước Tề, Lỗ, Tấn, Yên, Vệ có vai trò quan trọng hơn cả.
Nước Lỗ có phạm vi biên giới phía bắc đến dưới Thái Sơn, phía đông tới Quy Mông, phía nam đến núi Phù, núi Phong. Nơi đây có các bộ lạc Yểm, Thương. Chu Công dẹp loạn và ở trong triều, giao cho con là Bá Cầm về trị quốc, chia cho 6 họ bộ lạc của nhà Ân là Điều, Từ, Thượng, Tô, Trường Thược, Vĩ Thược. Lỗ có vai trò đứng đầu các chư hầu nhỏ và bộ lạc lưu vực sông Hoài thần phục nhà Chu.
Nước Tề ở đất Doanh Khâu, vốn là đất của người Bồ Cô. Biên giới nước Tề phía đông đến biển, phía tây đến sông Hoàng Hà, phía nam đến Mục Lăng, phía bắc đến Vô Để. Nước Tề có vai trò khống chế các bộ tộc phía đông thần phục nhà Chu.
Nước Vệ nằm ở vị trí vốn là đất cũ của nhà Ân. Vệ Khang Thúc được cấp cho 7 bộ tộc của nhà Ân là Đào, Thi, Phồn, Kỳ, Phàn, Phàm, Chung. Vệ có vai trò ổn định địa giới cũ của nhà Ân, lại nằm gần đất thiên tử nhà Chu, có vai trò bảo vệ cho nhà Chu.
Nước Tấn được phong ở vùng đất cũ của nhà Hạ, nhà Chu cấp cho 9 bộ lạc họ Hoài cũ của nhà Hạ, có vai trò chế ngự sự bành trướng của các bộ tộc Nhung Địch phía bắc.
Nước Yên được xem là phên giậu cho nhà Chu ở phía đông bắc, khống chế các bộ lạc Nhung Địch ở khu vực núi Yên và Liễu Tây, có ảnh hưởng đến khu vực giữa Bạch Sơn và Hắc Thủy.
== Tước hiệu ==
Các sử gia khẳng định rằng, nhiều nước chư hầu lớn của nhà Chu được Tư Mã Thiên chép tôn xưng tước hiệu trong Sử ký mà đời sau mọi người quen gọi họ theo cấp bậc tước hiệu đó, còn tước hiệu thực của họ thấp hơn.
Theo các sử gia, Tư Mã Thiên đã dựa vào 2 tài liệu cổ trước ông là Tần kỷ và Kinh Xuân Thu; sách Tần kỷ viết theo quan điểm nước Tần, còn Kinh Xuân Thu viết theo quan điểm nước Lỗ. Các vua nước Tần, Trịnh vốn chỉ có tước bá, được Tư Mã Thiên chép thành tước công. Các vua nước Tề, Tấn, Lỗ vốn đều chỉ có tước hầu, được Tư Mã Thiên chép thành tước công (Tề Hoàn công, Tề Hiếu công, Tấn Văn công, Tấn Tương công, Lỗ Trang công...).
== Tổ chức ==
Trong mỗi nước chư hầu, vua chư hầu có quyền lực lớn nhất, có quyền cai trị vùng đất được phong theo cách của mình, có tính chất độc lập rộng rãi với thiên tử. Trong phạm vi thống trị của mình, vua chư hầu có quyền lập bộ máy chính quyền thống trị, tổ chức quân đội và lập nhà tù. Họ có quyền phong đất cho các quan lại cấp dưới như khanh, đại phu trong nước, gọi là "lập gia".
Đất phong cho các khanh đại phu gọi là "thái ấp". Thu nhập kinh tế từ các thái ấp là bổng lộc của các khanh đại phu. Dưới khanh đại phu là "sĩ", cũng được phong cho "thực địa".
Chế độ phong đất của nhà Chu được thi hành dựa vào cơ sở huyết thống, có mối liên hệ chặt chẽ với chế độ tông pháp, theo đó người con trai trưởng (phải là người con lớn nhất do vợ chính sinh ra) được kế thừa ngôi vị của cha, gọi là "đại tông", có nhiệm vụ thờ phụng thủy tổ nhà mình. Những người con thứ cũng được phân phong gọi là "Tiểu tông".
Những người em cùng mẹ với vua chư hầu hoặc anh em khác mẹ đều được phong làm "khanh đại phu". Những người anh em cùng mẹ hoặc khác mẹ của khanh đại phu đều được phong là "sĩ". Chư hầu trong quan hệ với thiên tử là "tiểu tông", nhưng trong nước là "đại tông". Khanh đại phu trong quan hệ với chư hầu là "tiểu tông", nhưng với "sĩ" bên dưới họ vẫn là "đại tông". Người con trưởng của vợ chính do "sĩ" sinh ra vẫn có danh hiệu "sĩ", còn những người con khác đều là bình dân.
Vua chư hầu nắm quyền chi phối tại những vùng đất do họ trực tiếp quản lý, như thiên tử nhà Chu đối với những vùng đất quanh kinh đô. Với những vùng đất đã phong cho các Khanh đại phu, khanh đại phu đến lượt mình lại có quyền chi phối.
== Biến đổi ==
=== Thay đổi quan hệ với thiên tử ===
Chế độ tông pháp của nhà Chu duy trì được hơn 300 năm thì sụp đổ, do không còn thích hợp với thời đại. Trải qua nhiều thế hệ kế thừa, mối quan hệ huyết thống giữa nhà Chu với các chư hầu và giữa các chư hầu càng xa; với những nước không có quan hệ huyết thống với nhà Chu (con cháu công thần, như nước Tề) thì càng xa hơn, do đó sự khống chế của chế độ tông pháp ngày càng yếu.
Trải qua nhiều thế hệ, số lượng quý tộc ngày càng đông đúc, trong khi đất đai chỉ có giới hạn. Nhiều hậu duệ của các quý tộc trở thành bình dân, không được phong đất, mất địa vị. Nhiều hậu duệ của Khanh đại phu trở thành sĩ, nhiều người hậu duệ hàng sĩ xuống trở thành bình dân. Do đó tới thời Đông Chu, hàng ngũ "sĩ" rất đông, nhiều người trong số họ tích cực yêu cầu thay đổi chế độ cũ.
Nhà Chu từ khi dời sang phía đông (Đông Chu) để tránh sự uy hiếp của tộc Khuyển, Nhung thì ngày càng suy yếu, chỉ còn danh hiệu thiên tử trên danh nghĩa. Các nước chư hầu bắt đầu phá vỡ trật tự cũ, không chịu hoặc giảm thiểu sự cống nạp, khiến vương triều Chu rơi vào khó khăn về kinh tế, có những lần phải xin nước Lỗ trợ giúp.
=== Phát triển, thôn tính và kết thúc ===
Thời Xuân Thu, các chư hầu nổi lên đánh chiếm đất đai của nhau, thôn tính lẫn nhau, giành lấy quyền lãnh đạo các chư hầu khác bằng thực lực. Trong thời Xuân Thu nổi lên các vua chư hầu Tề Hoàn công, Tấn Văn công, Sở Trang vương, sau có thêm Ngô Hạp Lư và Việt Câu Tiễn. Nước Tần muốn phát triển về phía đông để tranh bá nhưng bị nước Tấn chặn lại, Tần Mục công phát triển về phía tây, trở thành bá chủ phía tây.
Trong quá trình phát triển giành quyền bá chủ và đấu tranh để tồn tại, các chư hầu tiêu diệt lẫn nhau, nhiều nước nhỏ bị xóa sổ. Các nước liên minh và chia rẽ theo những mối quan hệ rất phức tạp. Bản thân thiên tử nhà Chu cũng giảm diện tích thống trị từ 1000 dặm xuống còn 200 dặm, chỉ tương đương một nước chư hầu. Ngược lại, các chư hầu như Tề, Tấn, Sở, Tần… khi mới phong chỉ có khoảng 100 dặm, nhưng sau này đã phát triển lên gấp nhiều lần, điển hình là nước Sở có 5000 dặm.
Trong quá trình phát triển của các chư hầu, đến lượt các Khanh đại phu phát triển thế lực và trở nên hùng mạnh trong lòng các nước chư hầu. Đến cuối thời Xuân Thu, các khanh đại phu nổi lên trở thành những quyền thần, nắm quyền chi phối chính trường tại một số nước chư hầu, điển hình là các nước lớn Tấn, Tề, Lỗ. Cuối cùng, các vua chư hầu Khương Tề và Tấn đã mất nước về tay các quyền thần. Nước Tấn bị chia ba thành Hàn, Triệu, Ngụy, còn nước Tề chuyển sang họ Điền. Một trong những dấu ấn cuối cùng mà nhà Chu còn thể hiện một chút quyền lực trên danh nghĩa là việc 3 nhà Hàn, Triệu, Ngụy nước Tấn thỉnh cầu để được phong làm chư hầu.
Sang thời Chiến Quốc, chiến tranh giữa các chư hầu ngày càng khốc liệt, ngày càng nhiều nước bị tiêu diệt hoặc thu hẹp. Còn lại 7 nước lớn là Điền Tề, Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên và Tần gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau. Đến thế kỷ 3 TCN, thế lực của nước Tần ngày càng áp đảo trước 6 chư hầu lớn còn lại. Năm 249 TCN, vua nước Tần tiêu diệt nhà Chu. Các chư hầu trải qua 28 năm không có thiên tử, dù là trên danh nghĩa.
Đến năm 221 TCN, Tần vương Chính tiêu diệt các chư hầu còn lại, thống nhất Trung Quốc, nhưng còn sót lại nước Vệ ở đất Dã Vương không bị diệt hẳn. Năm 209 TCN, Tần Nhị Thế lên ngôi mới diệt nước Vệ. Vệ là chư hầu cuối cùng do nhà Chu phân phong, thuộc tông thất nhà Chu, bị tiêu diệt bởi một chư hầu cũng vốn do nhà Chu phân phong, nhưng không thuộc tông thất nhà Chu.
== Sự kế thừa của hậu thế ==
Khác với những chư hầu thời nhà Hạ và Thương, các chư hầu nhà Chu sau khi bị tiêu diệt vẫn được lưu lại tên gọi tại vùng lãnh thổ cũ của họ. Các triều đại về sau, từ nhà Hán trở đi, khi phong chư hầu cho thân thích hoặc công thần, vẫn ban cho các danh hiệu như chư hầu nhà Chu: Tề vương/Tề công, Lương vương/Lương công, Tấn vương/Tấn công, Ngụy vương/Ngụy công, Sở vương/Sở công, Tần vương/Tần công,...
== Bảng tóm tắt niên đại các chư hầu nhà Chu ==
Các chư hầu lớn nhà Chu có niên đại như sau:
== Xem thêm ==
Nhà Chu
Chư hầu
Ngũ Bá
Xuân Thu
Chiến Quốc
Danh sách nước chư hầu thời Xuân Thu Chiến Quốc
Danh sách vua chư hầu thời Chu
== Tham khảo ==
Sử ký Tư Mã Thiên, các thiên:
Chu bản kỷ
Tần bản kỷ
Lục quốc niên biểu
Vệ Khang Thúc thế gia
Trương Tú Bình, Vương Hiểu Minh (1998), Một trăm sự kiện của Trung Quốc, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Cát Kiếm Hùng chủ biên (2006), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 1, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân (2002), Tướng soái cổ đại Trung Hoa, tập 1, Nhà xuất bản Lao động
Lê Đông Phương, Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, Nhà xuất bản Đà Nẵng
Trình Doãn Thắng, Ngô Trâu Cương, Thái Thành (1998), Cố sự Quỳnh Lâm, Nhà xuất bản Thanh Hoá
Phương Thi Danh (2001), Niên biểu lịch sử Trung Quốc, Nhà xuất bản Thế giới
== Chú thích == |
chu kỳ nguyên tố 1.txt | Chu kỳ nguyên tố, chu kỳ tuần hoàn hay chu kỳ 1 là hàng đầu tiên trong bảng tuần hoàn (tiêu chuẩn), gồm 2 nguyên tố là H và He, chúng chỉ có 1 lớp electron là 1s.
== Tham khảo == |
chủ nghĩa môi trường.txt | Chủ nghĩa môi trường là một phong trào xã hội và triết lý rộng lớn đặt trọng tâm vào bảo tồn và cải thiện môi trường. Chủ nghĩa môi trường được biểu trưng bởi màu xanh lá cây.
== Phong trào môi trường ==
Phong trào môi trường, một thuật ngữ được hiểu là bao gồm cả phong trào phong trào bảo tồn và phong trào xanh là một cuộc vận động chính trị và xã hội, mang tính khoa học ủng hộ việc quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và đôi khi cả phục hồi môi trường tự nhiên thông qua những thay đổi trong chính sách công và cả hành vi của cá nhân. Trong nhận thức của phong trào, con người là một phần của các hệ sinh thái tự nhiên và phong trào đặt trọng tâm vào các vấn đề sinh thái, sức khỏe và quyền con người.
== Chủ nghĩa tự do xanh ==
Chủ nghĩa tự do xanh là thuật ngữ chỉ những nhà tự do đặt mối quan tâm đến vấn đề môi trường vào trong hệ tư tưởng của họ. Chủ nghĩa tự do xanh đặt cao giá trị môi trường và xem cần phải gìn giữ môi trường cho các thế hệ sau nguyên trạng hay nói cách khác những thế hệ con cháu chúng ta cần được thừa hưởng một Trái đất không bị tổn thương. Chủ nghĩa tự do xanh xem thế giới tự nhiên trong khuôn khổ của lý thuyết hệ (tức xem cả tự nhiên như một hệ thống) và ở trong trạng thái thủy động học (tức trong trạng thái chuyển dịch như đối với các chất lưu). Và do vậy cần hạn chế các hoạt động của con người phá hoại môi trường tự nhiên và cần tái tạo lại những khu vực đã bị phá hủy.
Về mặt kinh tế, các nhà tự do xanh đứng giữa các nhà tự do cổ điển và các nhà tự do mới; họ ủng hộ một nhà nước nhỏ hơn là những nhà tự do mới (xem chủ nghĩa tự do mới trong Chủ nghĩa tự do) nhưng nhiều hơn các nhà tự do cổ điển. Một số nhà tự do xanh ủng hộ chủ nghĩa môi trường thị trường tự do và do vậy chia sẻ những giá trị tương đồng với các nhà tự do cổ điển và các nhà tự do cá nhân (xem Chủ nghĩa tự do cá nhân).
== Kinh tế học môi trường ==
Việc phá hoại môi trường xét theo quan điểm của bộ môn kinh tế học được quan niệm thông thường là thị trường tự bản thân không có khả năng hiệu chỉnh những ảnh hưởng của các yếu tố ngoại biên của sản xuất công nghiệp và sự sử dụng cạn kiệt tài nguyên. Tức là các công ty nhận được toàn bộ lợi nhuận mang lại từ việc sản xuất ra các chất ô nhiễm nhưng lại không phải chịu hết toàn bộ chi phí xã hội của việc gia tăng ô nhiễm. Như vậy tự bản thân thị trường có cơ chế nội tại khuyến khích việc phá hoại môi trường.
Nhà kinh tế học sinh thái Robin Hahnel đã nghiên cứu và đưa ra bốn nhược căn cơ bản của nền kinh tế thị trường đối với vấn đề môi trường:
khai thác quá mức tài nguyên chung;
ô nhiễm quá mức;
việc giải quyết vấn đề ô nhiễm của các công ty là quá ít; và
tiêu dùng quá mức.
Tuy nhiên một số khác, ủng hộ quan điểm thị trường tự do, lại xem vấn đề môi trường phát sinh là do
Luật pháp quy định quản lý quyền tài sản không hiệu quả dẫn đến nhà tư bản không có lợi ích từ việc bảo tồn tài nguyên vì không thuộc quyền sở hữu của riêng mình
Luật pháp quy định việc xử phạt các hành vi vi phạm quyền dân sự (tort law) không hiệu quả khiến kẻ gây ô nhiễm được miễn trừ khỏi các tội danh bị tố hay can thiệp để khó buộc tội về mặt pháp lý. Chính do việc các cơ quan thẩm quyền bênh vực "lợi ích công" trên lợi ích riêng dẫn đến việc các ngành công nghiệp gây ô nhiễm quá mức.
Đối với vấn đề các công ty xử lý ô nhiễm quá ít, những người này phản bác rằng việc giảm thiểu ô nhiễm (công nghệ sạch) làm tăng lợi nhuận cho nhà tư bản và do vậy là hoàn toàn phù hợp với cơ chế thị trường. Còn tiêu dùng quá mức là quan niệm sai do giả thiết là các nguồn lực, tài nguyên không có tính tái tạo. Trên thực tế theo luật cung cầu khi một tài nguyên bị tiêu dùng quá mức thì giá sẽ tăng và khiến người dùng chuyển sang loại tài nguyên khác thay thế.
== Chủ nghĩa môi trường thị trường tự do ==
Chủ nghĩa môi trường thị trường tự do là một lý thuyết tranh biện rằng thị trường tự do, quyền tư hữu tài sản, và quy định của luật để xử phạt các vi phạm quyền dân sự (tort law) là những công cụ tốt nhất để bảo vệ sức khỏe và tính bền vững của môi trường. Luận thuyết này hoàn toàn trái với cách tiếp cận phổ biến là sử dụng can thiệp bằng các biện pháp luật pháp của chính phủ để tránh phá hoại môi trường. Những người theo chủ thuyết này chủ trương tư hữu hóa những tài sản công để tránh khai thác quá mức và buộc người chủ phải phát triển bền vững. Họ cũng là những người đề xướng ra ý tưởng kẻ nào gây ô nhiễm người đó phải trả tiền để xóa bỏ cơ chế khuyến khích các nhà tư bản gây ô nhiễm quá mức. Họ cũng chủ trương giảm bớt ảnh hưởng của các công ty lớn lên việc quyết định chính sách bằng cách tư nhân hóa tư liệu sản xuất của các công ty (như nếu các công ty khai mỏ sở hữu lớn một diện tích đất đai trên đó có khoáng sản họ sẽ tiến hành khai thác và vận động để tác động lên chính phủ cho phép khai thác cho dù về mặt kinh tế việc đó không bền vững bằng phát triển du lịch. Nhưng nếu diện tích đất đó được chia nhỏ thì những công ty trên không còn lớn nữa để ảnh hưởng đến chính sách và những người chủ tư nhân của từng thửa đất sẽ nhận ra là sẽ kinh tế hơn là phát triển du lịch thay vì đầu tư một số vốn lớn và thời gian quay vòng vốn lâu vào khai mỏ).
== Bảo vệ và bảo tồn ==
Ở Mỹ bảo tồn môi trường (preservation) thường được quan niệm là không được phép khai thác hay có các hoạt động xâm phạm đến nguồn tài nguyên thiên nhiên như khai mỏ, khai thác rừng, khai thác cá mà thay vào đó là các hoạt động bền vững hơn như các hoạt động du lịch và giải trí. Còn bảo vệ môi trường (conservation) có cho phép những mức độ hoạt động phát triển công nghiệp nhất định trong những giới hạn để phát triển bền vững.. Ở những nơi khác bảo tồn và bảo vệ môi trường được sử dụng không phân biệt.
== Phong trào xanh ==
Các nhà hoạt động môi trường chia thành ba nhóm theo độ đậm của màu (Dark, Light, và Bright Greens).
Light Greens xem bảo vệ môi trường trước tiên và luôn luôn phải là trách nhiễm của mỗi cá nhân và xem đây là lựa chọn manh tính phong cách sống..
Ngược hẳn lại, Dark Greens xem các vấn đề môi trường là nội tại của văn minh công nghiệp có mặt ở cả xã hội tư bản và xã hội chủ nghĩa và đòi hỏi có sự thay đổi mang tính cấp tiến về mặt chính trị. Họ xem nền công nghiệp sẽ tha hóa và dẫn đến chủ nghĩa tiêu dùng, xâm hại thiên nhiên và gây cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên.
Nhóm còn lại Bright Greens xem những thay đổi cấp tiến trong kinh tế và chính trị là cần thiết để hướng tới phát triển bền vững nhưng bằng cách sử dụng các thiết kế và công nghệ tốt hơn cùng với các hoạt động sáng kiến của xã hội.
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Hall, Jeremiah. “History Of The Environmental Movement”. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2006.
Kovarik, William. “Environmental History Timeline”. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2006.
Martell, Luke. “Ecology and Society: An Introduction”. Polity Press, 1994.
de Steiguer, J. Edward. 2006. The Origins of Modern Environmental Thought. The University of Arizona Press. Tucson. 246 pp.
John McCormick. 1995. The Global Environmental Movement. John Wiley. London. 312 pp.
Marco Verweij and Michael Thompson (eds), 2006, Clumsy solutions for a complex world: Governance, politics and plural perceptions, Basingstoke: Palgrave Macmillan.
World Bank, 2003, "Sustainable Development in a Dynamic World: Transforming Institutions, Growth, and Quality of Life", World Development Report 2003, The World Bank for Reconstruction and Development and Oxford University Press.
== Liên kết ngoài ==
EnviroLink Network - A non-profit clearinghouse of environmental news and information
The Green Challenge - a website aimed at informing its readers of environmental issues worldwide, and motivating them to take part in campaigns. |
bimstec.txt | Bay of Bengal Initiative for MultiSectoral Technical and Economic Cooperation (BIMSTEC) tạm dịch là Sáng kiến vùng Vịnh Bengal về hợp tác Kinh tế và Kỹ thuật đa khu vực. Đây là một tổ chức quốc tế bao gồm một số nước Nam Á và Đông Nam Á như: Bangladesh, Ấn Độ, Myanma, Sri Lanka, Thái Lan, Bhutan và Nepal.
== Lịch sử ==
Vào ngày 6 tháng 6 năm 1997,một tổ chức Tiểu khu vực mới đã được hình thành tại Bangkok mang tên BIST-EC (Bangladesh, India, Sri Lanka, và Thailand Economic Cooperation). Myanmar đã tham dự buổi lễ khánh thành vào tháng 6 với tư cách là một quan sát viên. Ngày 22 tháng 12 năm 1997, Myanmar chính thức được kết nạp. Nepal là một quan sát viên của tổ chức này vào tháng 12 năm 1998. Sau đó, năm 2004, cả Nepal và Bhutan đã được kết nạp vào tổ chức này. Hội nghị thượng đỉnh lần đầu tiên vào ngày 31 tháng 7 năm 2004, các nhà lãnh đạo đã đồng ý đổi tên tổ chức thành BIMSTEC.
== Mục tiêu và Mục đích ==
Theo Bangkok, Tuyên bố thành lập của BIST-EC,casc mục tiêu và mục đích của BIST-EC/BIMST-EC nhằm:
Tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nhanh chóng của các nước thành viên và khu vực
Đẩy nhanh tiến trình phát triển xã hội trong khu vực
Tăng cường sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề quan tâm chung
Trợ giúp lẫn nhau về đào tạo và nghiên cứu, hợp tác có hiệu quả hơn trong các nỗ lực chung
Bổ sung cho kế hoạch phát triển quốc gia của các thành viên
Duy trì mối quan hệ gần gũi và mang lại lợi ích với các tổ chức quốc tế và khu vực
Hợp tác trong các lĩnh vực có thể chia sẻ với hầu hết sản xuất trong khu vực và điều này là tốt nhất trong việc hợp tác.
== Tham khảo == |
liên đoàn bóng đá myanmar.txt | Liên đoàn bóng đá Myanma (MFF) là tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động bóng đá ở Myanma. MFF quản lý đội tuyển bóng đá quốc gia Myanma, tổ chức các giải bóng đá như giải vô địch bóng đá Myanma, cúp bóng đá Myanma,.... MFF là thành viên của cả Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA), Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) và Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á (AFF).
Chủ tịch của Liên đoàn bóng đá Myanma hiện nay là ông U Zaw Zaw.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Liên đoàn bóng đá Myanma
Liên đoàn bóng đá Myanma trên trang chủ của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA)
Liên đoàn bóng đá Myanma trên trang chủ của AFC |
ba cô em gái.txt | Ba cô em gái (tiếng Tây Ban Nha: Mis tres hermanas, Ba cô em gái của tôi) là một bộ phim truyền hình thuộc thể loại telenovela của hãng truyền hình RCTV.
Bộ phim được phát sóng vào năm 2000 và đến năm 2009 lại có thêm bộ phim "Em gái cưng" (Niña Mimada) được xem là một sự kế thừa.
== Nội dung ==
Augusto Estrada (Carlos Cruz) renunció a su infancia para cuidar de sus tres hermanas; Silvia (Dad Dager), Lisa (Scarlet Ortiz), y Beatriz (Chantal Baudaux), cuando su madre murió después de una enfermedad. Augusto está casado con Margarita Alvarez (Roxana Díaz), una mujer egoísta que está cansado de vivir en la pobreza y la virtual que comparten el mismo techo que las hermanas de Augusto. Cuando Margarita vende los suministros a un edificio donde la contratación ingeniero Santiago Ortega (Ricardo Alamo) obras, que fija sus ojos en él y duermen junto con Margarita alegando que no está casada. Silvia es una estancia en la casa madre casada con Carlos Salas (Ricardo Bianchi) y la madre de los gemelos. Carlos está encontrando difícil conseguir un trabajo y se mueven en la casa de Augusto. Beatriz es la más joven que tiene problemas en la escuela académica y que se enamora de Francisco Moreno (Jonathan Montenegro). hay rumores de que Francisco es un delincuente y se determina que Augusto Francisco estancias fuera de Beatriz y sus altas expectativas de Beatriz académicamente es demasiado para Beatriz. Lisa es una enfermera y estudiando para ser un médico y una carrera en Santiago con el que se contrata para construir un centro comercial en las tierras colindantes el hospital donde trabaja Lisa. lisa sostiene con Santiago porque es seguro que su clínica será demolido para permitir la expansión del nuevo centro comercial y esto comienza en un viaje de amor llena de obstáculos, Santiago se dedica a Barbara Solís (Marlene de Andrade) hija del dueño de la empresa contratante, Ernesto Solís (Manuel Salazar). Bárbara intenta suicidarse cuando Santiago rompe su compromiso con ella y está decidida a Ernesto exacta la revancha en Santiago por la elaboración de él por la muerte de un trabajador en el sitio de construcción. Santiago será demostrar su inocencia y también poder hacer frente a Augusto y Lisa por haber destinado una mala relación con Margarita ?
== Diễn viên ==
Scarlet Ortiz... Lisa Estrada Rossi
Ricardo Álamo... Santiago Ortega Díaz
Carlos Cruz... Augusto Estrada Rossi
Roxana Díaz... Margarita Álvarez
Dad Dager... Silvia Estrada Rossi
Ricardo Bianchi... Carlos Salas
Chantal Baudaux... Beatriz Estrada "La Beba" Rossi
Jonathan Montenegro... Francisco Moreno
Luis Gerardo Núñez... Jorge Ignacio Montero
Estefania López... Esmeralda
Roberto Moll... Jacinto Estrada
Flor Elena González... Delia
Antonio Cuevas... Vicente Quintana
Joel Borges... Roberto
Manuel Salazar... Ernesto Solís
Gioia Lombardini... Eloiza Díaz de Ortega
Luis Alberto de Mozos... Álvaro Galíndez
Yul Bürkle... Anibal Solís Quintero
Marisela Buitriago... Sofía Quintero de Solís
Rodolfo Renwick... Javier
Gabriela Santeliz... Anabel
Marlene de Andrade... Bárbara Solís Quintero
Mirela Mendoza... Isabel Méndez
Jerónimo Gil... bác sĩ Gustavo Martínez
Virginia González
César Bencid
José Félix Cárdenas
Víctor Rosa Blanco
Gerardo Soto
Aura Rivas
Leona Chavez Prigorian
Darya Chavez Prigorian
Ana Gabriela Barboza
Martha Gomez
Ivonne Conte
Elena Toledo... Carolina
Mary Carmen... Pedraza
Gabriel Parisi... Tomas
Marian Valero
Gioia Arismendi
Laura Muñoz
Rhandy Piñango
Ralph Kinnard
Samuel Gonzalez
Oscar Cabrera... Frank
== Ê-kíp ==
Vice-Presidente de Dramáticos, Humor y Variedades RCTV Radio Caracas Televisión C.A.: José Simón Escalona
Đạo diễn: Tony Rodríguez
Biên kịch: Perla Farias
Giám đốc sản xuất: José Gerardo Guillen
Chỉ đạo Nghệ thuật: Erasmo Colón
Dirección de Exteriores: Nicolás Di Blasi
Producción de Exteriores: María Eugenia Núñez
Dựng phim: Ignacio González, Juan González
Biên tập: Ray Suárez
Âm nhạc: Armando Mosquera
Gerente de Libretos: Juan Pablo Zamora
Libretos: Perla Farias, Luis Colmenares, Rossana Negrin, José Vicente Quintana
Ca khúc chủ đề: A Puro Dolor (Ban nhạc Son by Four)
Coordinador: Pablo Vivas
Escenógrafo General: Elissette De Andrade
Ambientadores: Claudia Ruggeri, Guillermo García
Phục trang: María Alejandra Morillo
== Trình chiếu ==
Venezuela
Mỹ
Chile
Paraguay
Cộng hòa Dominica
Bolivia
Colombia
Costa Rica
Ecuador
Argentina
El Salvador
Algeria
Ai Cập
Ấn Độ
Liban
Việt Nam
Indonesia
Malaysia
Hungary
== Tham khảo ==
RCTV (Đài phát thanh - truyền hình Caracas)
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ RCTV
Univision - "Ba cô em gái": Phim, video, ảnh, chuyện hậu trường...
Thông tin trên SeriesNow
Thông tin trên SeriesLatinas |
từ điển.txt | Từ điển là danh sách các từ, ngữ được sắp xếp thành các từ vị chuẩn (lemma). Một từ điển thông thường cung cấp các giải nghĩa các từ ngữ đó hoặc các từ ngữ tương đương trong một hay nhiều thứ tiếng khác. Ngoài ra còn có thể có thêm thông tin về cách phát âm, các chú ý ngữ pháp, các dạng biến thể của từ, lịch sử hay từ nguyên, cách sử dụng hay các câu ví dụ, trích dẫn.
Đối với các ngôn ngữ sử dụng ký tự Latin thì các từ có thể được sắp xếp theo thứ tự chữ cái. Đối với các ngôn ngữ tại Đông Á chịu ảnh hưởng của chữ Hán, sử dụng ký tự là đơn vị ngôn ngữ có nghĩa thì phân biệt từ điển và tự điển (tự=chữ, từ điển rộng hơn tự điển và bao hàm tự điển). Thông thường từ điển được trình bày dưới dạng sách, ngày nay từ điển còn được số hóa và cung cấp dưới dạng phần mềm máy tính hay truy cập trực tuyến trên web, trên trình nhắn tin nhanh, hay có trong các thiết bị số cá nhân như PDA, điện thoại...
Từ điển là nơi giải thích thông tin về ngôn ngữ của con người một cách dễ hiểu và khách quan nhất. Từ điển có nhiệm vụ, nhất là từ điển bách khoa toàn thư, giúp người xem hiểu và vận dụng (sử dụng) chính xác một từ, ngữ, thuật ngữ, thành ngữ, khái niệm, phạm trù hay một vấn đề cụ thể trong đời sống xã hội con người. Từ nhiệm vụ này, từ điển đã được hình thành dưới nhiều dạng thức tồn tại khác nhau, góp phần giải quyết (hay đáp ứng) một hoặc nhiều nhu cầu khác nhau trong đời sống xã hội loài người. Đến nay, đã có các dạng thức từ điển như: từ điển bách khoa toàn thư, từ điển luật học, từ điển triết học, từ điển thành ngữ, từ điển song ngữ, từ điển thần học, từ điển tiếng lóng, từ điển ngôn ngữ phụ nữ...
== Một số đặc tính tiêu biểu của từ điển ==
Tính chuẩn mực
Từ điển là nơi cung cấp thông tin hoặc giải thích một sự vật hay hiện tượng một cách ngắn gọn và chính xác nhất. Trừ phương pháp định nghĩa theo lối hàn lâm, bác học (phương pháp này sử dụng phổ biến trong từ điển triết học hay những từ điển chuyên ngành khác), phương pháp kiến giải của hầu hết từ điển là luôn dùng những ngôn từ đơn giản và phổ biến nhất trong xã hội. Thông tin trong từ điển luôn được kiểm chứng và thừa nhận rộng rãi trong cộng đồng xã hội.
Tính tương đối
Từ điển chứa đựng những thông tin đã có, đã được kiểm chứng - do đó, nó luôn bị thay đổi hoặc bổ sung theo thời gian, cùng với sự thăng trầm của sự vật hoặc hiện tượng mà nó đã đề cập. Từ điển luôn đi sau những thay đổi hoặc tiến bộ của xã hội loài người.
Hiện nay đã có rất nhiều loại từ điển khác nhau. Chúng gần như hoàn toàn độc lập với nhau. Nhưng, như Ladislav Zgusta đã nhận xét ngay ở lời mở đầu công trình về từ điển học của mình (1971), một trong những đặc điểm lạ lùng nhất của từ điển học là các nhà từ điển rất ít trao đổi kinh nghiệm với nhau. Sự phân lập này có thể dẫn đến hiện tượng mâu thuẫn về nội dung của cùng một vấn đề trong các từ điển khác nhau. Như vậy, tính tương đối của tự điển có thể phát sinh khi xem xét về cùng một vấn đề ở hai từ điển khác nhau.
Từ điển mang đậm phong cách của nhóm tác giả biên soạn ra nó. Tính tương đối của từ điển còn có nguyên nhân từ sự khác biệt của mỗi nền văn hóa - văn minh, ngôn ngữ, dân tộc, quốc gia trên thế giới. Mỗi thành tố trên có thể lý giải về cùng một hiện tượng xã hội theo nhiều quan điểm, tư tưởng hay chính kiến khác nhau. Do đó, có thể cùng một khái niệm, nhưng tùy theo mỗi nền văn hóa khác nhau, có thể có cách sử dụng (vận dụng) khác nhau.
Như vậy, tính tương đối của từ điển có thể xuất phát từ sự chậm trễ khi cập nhật, sự phân lập của các nhà từ điển học hoặc sự khác biệt của các nền văn hóa trên Trái Đất.
Tính đa dạng
Thông tin trong từ điển ghi nhận tất cả sự nhìn nhận, đánh giá, sử dụng hay vận dụng một khái niệm (phạm trù) theo nhiều hướng khác nhau. Sự đa dạng này có nguồn gốc từ sự khác biệt giữa các nền văn hóa, văn minh và tiến bộ của các cộng đồng, dân tộc hoặc các quốc gia trên thế giới.
Tính trung lập
Tính đa dạng của từ điển bắt buộc nó phải thể hiện quan điểm trung lập trong tất cả các vấn đề mà nó đã đề cập. Bản thân sự đa dạng luôn hàm chứa nhiều mâu thuẫn hay đối lập nhau. Do đó, tính trung lập của từ điển còn nhằm tránh các xung đột có thể xảy ra giữa các nền văn hóa, văn minh trên Trái Đất. Trừ từ điển của các nước có mô hình một đảng chính trị lãnh đạo, hầu hết các từ điển khác đều tôn trọng nguyên tắc trung lập này.
Tính lịch sử
Trong từ điển luôn chứa đựng đầy đủ sự hình thành và phát triển của một khái niệm hay phạm trù mà nó lưu giữ. Ở đó, người xem tiếp cận được cả cách sử dụng (vận dụng) từ ngữ từ lúc sơ khai cho đến hiện tại.
== Thể loại từ điển bách khoa toàn thư ==
Hiện nay, từ điển bách khoa toàn thư có vô số bài viết về nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội loài người. Tuy nhiên, đại thể có thể phân thành hai nhóm lớn như sau:
Nhóm cung cấp kiến thức: Đó là những bài viết cung cấp kiến thức cho cộng đồng về những vật, nhân vật, sự kiện lịch sử, địa danh cụ thể hay một tổ chức kinh tế, chính trị có thực trong xã hội. Nhóm bài viết này luôn bám sát thực tế, chuẩn mực và có thể kiểm chứng được. Ví dụ như: từ điển, cầu, Tháp Eiffel, Sự kiện 30/4/1975, Huế, Nguyễn Đình Chiểu, Google là gì? Wikipedia là gì? Đảng cộng sản là gì? Chiến tranh Việt Nam... Nhóm bài viết này có phổ biến trong từ điển bách khoa hay từ điển bách khoa toàn thư.
Nhóm giải thích từ, ngữ: Đây là hướng đi đầu tiên và phổ biến nhất của từ điển. Theo nhóm này, khi tiếp cận từ điển nói chung, độc giả có thể hiểu và vận dụng chính xác một từ, chữ, khái niệm, thuật ngữ hay thành ngữ đã có trong xã hội. Nhóm bài viết này có trong mọi loại từ điển khác nhau.
Ngoài ra, trong nhóm làm nhiệm vụ giải thích này, còn có nhiều bài viết nhằm giải thích các hiện tượng xảy ra trong cơ thể con người, gia đình, trong tự nhiên hay trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội loài người... Ví dụ như: Sức ỳ trong tư duy là gì? Lạm phát là gì? Thủy triều là gì? Cách mạng là gì?... Nhóm bài viết này có phổ biến trong từ điển bách khoa toàn thư.
== Trật tự sắp xếp từ vựng trong từ điển tiếng Việt ==
1. Các mục từ (đơn vị từ vựng) được xếp theo thứ tự các chữ cái:
a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y
2. Thứ tự các dấu giọng của nguyên âm đơn: không dấu, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng. Trật tự trên có thể được liệt kê như sau:
a à ả ã á ạ ă ằ ẳ ẵ ắ ặ â ầ ẩ ẫ ấ ậ (ai, ài, ải...)
e è ẻ ẽ é ẹ ê ề ể ễ ế ệ (eo, èo, ẻo...)
i ì ỉ ĩ í ị (iêu, iều, iểu...)
o ò ỏ õ ó ọ ô ồ ổ ỗ ố ộ ơ ờ ở ỡ ớ ợ (ôi, ồi, ổi...)
u ù ủ ũ ú ụ ư ừ ử ữ ứ ự (ui, ùi, ủi...)
y ỳ ỷ ỹ ý ỵ
3. Quy luật ưu tiên trước - sau:
3.1. Ưu tiên ngắn - dài: Từng khối chữ (tổ hợp các con chữ) được sắp xếp trước - sau theo thứ tự sau: đơn tiết xếp trước đa tiết (tính từ trái sang phải). Các khối chữ viết thường xếp trước khối chữ viết hoa.
Theo đó, dạng ưu tiên này được thể hiện như sau: khối chữ nào có ít con chữ hơn (thường là âm tiết) được xếp trước khối chữ (có phần trùng với khối chữ có ít con chữ) có nhiều chữ hơn. Ví dụ: a xếp trước A; "ta" xếp trước "tay".
3.2. Ưu tiên chữ trước - dấu sau:
3.2.1. Đối với từ đơn tiết, được ưu tiên sắp xếp theo thứ tự chữ cái khác nhau đầu tiên, bất kể nó mang dấu gì. Ví dụ: "tà" xếp trước "tay"; "tai" xếp trước "tay" trong mọi trường hợp (vì i xếp trước y).
3.2.2. Đối với từ đa tiết, căn cứ vào thứ tự của từng âm tiết từ trái sang phải để sắp xếp, sau mới căn cứ vào thanh điệu. Ví dụ: "ba ba" xếp trước "ba gác"; "ba ba" xếp trước "bà cô" (vì "ba" xếp trước "bà").
3.2.3. Đối với những hình thức ghi cách phát âm phổ biến của mục từ vay mượn tiếng nước ngoài kiểu như ba-ga, a-xít..., thì dấu gạch ngang xem như khoảng trắng và xếp bình thường như một từ đa tiết. Ví dụ: "a tòng" xếp trước "a-xít".
Khi phiên âm các đơn vị từ vựng nước ngoài, về nguyên tắc, dấu gạch ngang (-) được quy ước như là khoảng trắng, nhưng theo luận lý thì nó vẫn phải xếp sau đơn vị từ vựng có cùng khối chữ nhưng cách nhau bằng khoảng trắng thực sự. Ví dụ: "a lô" xếp trước "a-lô".
3.3. Ưu tiên ký hiệu & số: Các ký hiệu (symbol) và ký số (number) thì xếp trước ký tự (character). Ví dụ:!, #, $, %, &, @..., 0, 1, 2, 3,...9 luôn luôn đứng trước a, b, c; B1 xếp trước B2 và ba, v.v.
Tóm lại, thứ tự sắp xếp ưu tiên là: khối chữ (nghĩa trọn vẹn của khối chữ) xếp trước, sau đến các ký hiệu nằm ngoài khối chữ (trước và sau khối chữ), tiếp đến nội bộ khối chữ (các dấu gạch ngang, dấu phẩy, dấu ba chấm...).
== Từ điển trực tuyến ==
Từ điển trực tuyến là một website cho phép người dùng tra cứu các từ hoặc cụm từ theo nhiều ngôn ngữ khác nhau.
Ưu điểm
Cho phép truy cập trực tuyến, mọi lúc, mọi nơi
Phát hành miễn phí, tất cả mọi người đều có thể sử dụng.
Thường xuyên được cập nhật từ mới.
Sản phẩm của cộng đồng: bạn có thể đóng góp, có thể sửa đổi.
Tra cứu đa ngôn ngữ: Anh - Pháp - Nhật - Hàn Quốc - Việt...
Nhược điểm
Không truy cập được nếu không có Internet
== Danh sách các từ điển chính ==
=== Tiếng Anh ===
Oxford English Dictionary (descriptive)
Concise Oxford Dictionary
New Oxford Dictionary of English
New Oxford American Dictionary
Canadian Oxford Dictionary
The American Heritage Dictionary of the English Language
ITP Nelson Canadian Dictionary
Webster's New Universal Unabridged Dictionary
A Dictionary of the English Language của Samuel Johnson (prescriptive)
Noah Webster's An American Dictionary of the English Language (prescriptive)
Webster's Third New International Dictionary (descriptive)
The Century Dictionary
Brewer's Dictionary of Phrase and Fable
Macquarie Dictionary, The, từ điển tiếng Anh tại Úc
Chambers Dictionary
Collins COBUILD
Collins English Dictionary
Gage Canadian Dictionary
Longman Dictionary of Contemporary English
Black's Law Dictionary, từ điển thuật ngữ luật
Law Dictionary - có các thuật ngữ ngành luật lấy từ Bouvier Law Dictionary
W3Dictionary - tích hợp từ một số từ điển phổ thông và có độ tin cậy để tra cứu trực tuyến
Dean's Law Dictionary - phát sinh bằng cách dùng các thuật toán thông minh nhân tạo với hơn 185.000 mục từ và 300.000 câu ví dụ
Hello Minasan Dictionary - Từ điển phổ thông có khả năng lưu trử trạng thái và ghi chú học tập giúp người dùng xem lại
Webster's New World Dictionary
tu dien anh viet
=== Tiếng Pháp ===
Le dictionnaire de l'Académie française (prescriptive)
Dictionnaire alphabétique et analogique de la langue française ("Le Robert") (descriptive)
Petit Robert (thể rút gọn)
Le Trésor de la Langue Française Informatisé (TLFi) http://atilf.atilf.fr/tlf.htm (từ điển trực tuyến miễn phí)
Dictionnaire de la langue française (Littré)
Lexis, Dictionnaire Larousse de la langue française
Từ điển Larousse nhỏ (Le Petit Larousse hay Le Nouveau Petit Larousse Illustré)
=== Tiếng Trung ===
Nhĩ Nhã (爾雅), tự điển tiếng Trung Quốc cổ nhất còn tồn tại
Thuyết văn giải tự (說文解字), tự điển tiếng Trung Quốc đầu tiên
Khang Hi tự điển (康熙字典), tự điển thời nhà Thanh
Vận Thư, sắp xếp các từ theo âm vận
Tân Hoa tự điển (新華字典), tự điển bán chạy nhất thế giới
=== Tiếng Việt ===
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục
Wiktionary tiếng Việt, từ điển mở trực tuyến
== Tham khảo == |
fiba.txt | Liên đoàn bóng rổ quốc tế, thuòng được gọi là FIBA, FIBA thế giới, hay FIBA quốc tế ( /ˈfiːbə/ FEE-bə), từ tên tiếng Pháp Fédération Internationale de Basket-ball, là một hiệp hội của các tổ chức quốc gia quản lý bóng rổ thế giới. Ban đầu được gọi là Fédération Internationale de Basketball Amateur (viết tắt là FIBA), năm 1989 bỏ từ Amateur của tên chính thức nhưng vẫn giữ nguyên từ viết tắt; "BA" hiện tại là hai chữ cái đầu của từ basketball.
FIBA quy định luật bóng rổ quốc tế, quy định cụ thể các thiết bị và cơ sở vật chất cần thiết, quy định việc chuyển nhượng vận động viên qua các quốc gia, và kiểm soát việc bổ nhiệm trọng tài quốc tế. Hiện có tổng cộng 215 liên đoàn quốc gia thành viên, theo việc tổ chức từ năm 1989 chia thành 5 khu vực: châu Á, châu Âu, châu Đại Dương, châu Mỹ và châu Phi.
Giải bóng rổ vô địch thế giới là giải đấu cấp thế giới dành cho các đội tuyển quốc gia nam tổ chức bốn năm một lần. Các đội tuyển sẽ tranh Naismith Trophy, được đặt tên theo nhà sáng lập bóng rổ người Canada James Naismith. Giải đấu có cấu trúc tương tự nhưng không giống như FIFA World Cup của môn bóng đá; giải đấu được diễn ra cùng năm từ 1970 tới 2014, nhưng bắt đầu từ 2019, World Cup bóng rổ sẽ được chuyển sang thi đấu sau FIFA World Cup một năm. Sự kiện song song dành cho các đội tuyển nữ, Giải bóng rổ nữ vô địch thế giới, cũng được tổ chức theo chu kỳ 4 năm; từ 1986 tới 2014, được tổ chức cùng năm với sự kiện dành cho nam nhưng ở một quốc gia khác. Giải nữ sẽ tiếp tục diễn ra cùng năm với FIFA World Cup.
Năm 2009 FIBA công bố ba giải đấu mới: hai giải vô địch U-17 thế giới với 12 đội (dành cho nam và nữ) được tổ chức vào tháng 7 năm 2010, và giải vô địch thế giới các câu lạc bộ với 8 đội được tổ chức vào tháng 10 năm 2010. Tuy nhiên, Giải vô địch thế giới các câu lạc bộ đã không diễn ra. Thay vào đó, FIBA tổ chức lại giải vô địch thế giới các câu lạc bộ ban đầu, FIBA Intercontinental Cup, vào năm 2013
Giải đấu FIBA toàn cầu mới nhất dành cho các đội tuyển quốc gia là giải đấu nửa sân ba người, 3x3. Giải bóng rổ 3x3 vô địch U-18 thế giới được ra mắt năm 2011, và Giải bóng rổ 3x3 vô địch thế giới vào năm sau đó. Tất cả đều bao gồm các giải đấu riêng biệt dành cho nam, nữ và các đội hỗn hợp. Giải U-18, được tổ chức thường niên, với 32 đội ở mỗi giải. Giải vô địch thế giới 24 đội mỗi giải được tổ chức vào các năm chẵn.
== Lịch sử ==
Hiệp hội được thành lập tại Geneva năm 1932, hai năm sau đó được chính thức công nhận bởi IOC. Tên ban đầu được gọi là Fédération Internationale de Basketball Amateur. Tám thành viên sáng lập là: Argentina, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Latvia, Romania, Thụy Sĩ, Tiệp Khắc và Ý. Tại Thế vận hội Mùa hè 1936 tổ chức tại Berlin, Liên đoàn quyết định James Naismith (1861–1939), người sáng lập ra bóng rổ, là Chủ tịch Danh dự.
FIBA tổ chức một giải vô địch thế giới, hiện được gọi là World Cup, dành cho nam từ năm 1950 và giải vô địch thế giới nữ, hiện được gọi là World Cup nữ, từ 1953. Từ năm 1986 tới 2014, cả hai đều diễn ra bốn năm một lần, xen giữa các kỳ Olympic. Như đã đề cập ở trên, World Cup nam sẽ chuyển sang chu kỳ bốn năm mới với các giải đấu diễn ra trước Thế vận hội Mùa hè một năm kể từ sau 2014.
Năm 1989, FIBA cho phép các vận động viên chuyên nghiệp tham dự Olympic như các cầu thủ từ NBA của Hoa Kỳ. Tại thời điểm đó, Fédération Internationale de Basket-ball Amateur trở thành Fédération Internationale de Basket-ball, nhưng vẫn giữ tên viết tắt FIBA.
Trụ sở liên đoàn chuyển tới Munich năm 1956, nhưng trở lại Geneva năm 2002. Patrick Baumann hiện là Tổng thư ký FIBA.
Năm 1991, FIBA Hall of Fame được thành lập; buổi lễ đầu tiên được diễn ra vào ngày 12 tháng 9 năm 2007 trong thời gian diễn ra EuroBasket 2007. Vào lễ kỷ niệm lần thứ 81 năm 2013, FIBA chuyển tới trụ sở mới, "The House of Basketball", ở Mies.
=== Chủ tịch ===
1932–1948: Leon Bouffard
1932–1939: James A. Naismith (danh dự)
1948–1960: Willard Greim
1960–1968: Antonio dos Reis Carneiro
1968–1976: Abdel Moneim Wahby
1976–1984: Gonzalo Puyat II
1984–1990: Robert Busnel
1990–1998: George E. Killian
1998–2002: Abdoulaye Seye Moreau
2002–2006: Dr. Carl Men Ky Ching
2006–2010: Bob Elphinston
2010–2014: Yvan Mainini
2014–nay: Horacio Muratore
=== Tổng thư ký ===
1932–1976: Renato William Jones
1976–2002: Borislav Stanković
2002–nay: Patrick Baumann
== Các giải đấu ==
=== Vô địch thế giới ===
Thế vận hội trẻ Mùa hè là giải đấu dành cho U-19, thi đấu theo thể thức FIBA 3x3.
=== Vô địch châu lục ===
=== Vô địch 3x3 thế giới ===
== Bảng xếp hạng FIBA thế giới ==
#1 nam: Hoa Kỳ
#1 nữ: Hoa Kỳ
#1 trẻ nam: Hoa Kỳ
#1 trẻ nữ: Hoa Kỳ
#1 tổng: Hoa Kỳ
== Tài trợ ==
Champion
Intersport
Japan Airlines
Molten
Peak
Tissot
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
History of amateur and professional basketball in Canada at Frozen Hoops
InterBasket – International Basketball News, Blog and Forum, covering FIBA, Euroleague, NBA
FIBA tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 1996)
Bản mẫu:Bóng rổ thế giới (Nữ) |
zing.txt | Zing, Zing.vn hay Cổng thông tin điện tử Zing là hệ thống dịch vụ đồng bộ trên Internet được quản lý và vận hành bởi VNG. Zing.vn bao gồm một loạt các dịch vụ tích hợp như tin nhắn Zalo, âm nhạc trực tuyến Zing mp3, mạng xã hội, tìm kiếm, nhắn tin trò chuyện phần mềm, phim ảnh, karaoke, video và hình ảnh. Số liệu thống kê lưu lượng truy cập đã tăng lên đáng kể từ các giới thiệu tới công chúng. Theo Alexa, hiện nay Zing.vn là một trong những website được truy cập nhiều nhất tại Việt Nam. Zing là hệ thống dịch vụ đồng bộ trên Internet, cung cấp cho thị trường trực tuyến Việt Nam các phương tiện giao tiếp, phong cách sống và nhận thức xã hội, đi cùng với dịch vụ giải trí số. Zing cung cấp cho khách hàng công cụ tìm kiếm và quản lý thông tin trực tuyến mới, nhiều tiện ích và nhanh với hệ thống các thư mục, từ khóa, chức năng, hướng dẫn hoàn toàn bằng tiếng Việt. Zing còn cung cấp các thông tin cập nhật, đa dạng và thư viện hình ảnh phong phú giúp cho khách hàng nhanh chóng nắm bắt các sự kiện, tình hình trong nước và thế giới. Zing là đối tác của Vega về hệ thống quản lý nội dung thông tin.
== Dịch vụ hiện tại ==
=== Zing Me ===
Zing Me là mạng xã hội hỗ trợ ngành game lớn nhất Việt Nam. Bắt đầu hoạt động từ tháng 8 năm 2009 với nhiều tính năng phong phú và nhiều game nổi bật như siêu thị bạn bè, nông trại vui vẻ, ao cá vui vẻ, cuộc chiến đỗ xe, nhà hàng vui vẻ với hơn 1 triệu người dùng/tháng.
Tháng 12/2009: Chạm mốc 4.000.000 người dùng/tháng
Cuối năm 2010: Ra mắt chiến lược Zing Open Platform giúp các ứng dụng/game tích hợp vào hệ sinh thái Zing Me.
Tháng 10/2011: Ra mắt Zing Appstore với hơn 200 ứng dụng/game hấp dẫn.
Tháng 11/2011: Chương trình gây quỹ "Triệu kết nối đến Trường Sa" lập kỷ lục Việt Nam, bản đồ gắn nhiều ảnh đại diện nhất. Với hơn 101.828 ảnh đại diện và hơn 1.000.000 lời nhắn tới các chiến sĩ.
Năm 2012-2013: Zing Me đạt các mốc:
8.000.000 thành viên hoạt động/tháng
20.000.000 lượt truy cập/tháng
2.000.000 thành viên đăng ảnh/tháng
1.200.000 thành viên viết blog/tháng
5.000.000 nội dung được tạo/ngày
Tháng 7/2014: Ra mắt hệ thống nhiệm vụ, 5.000.000 game thủ tham gia hệ thống nhiệm vụ hàng tháng.
Tháng 10/2014: Appstore cán mốc hơn 300 game đa dạng thể loại và hơn 1.000 sự kiện đến game thủ.
Tháng 12/2014: Ra mắt Zing Me Shop với nhiều quà tặng hấp dẫn như thú bông, điện thoại, code game, Zing Xu,... Hơn 1.000.000 thành viên vào shop hàng tháng.
Mạng xã hội Zing me được xem là nơi dễ các phần tử xấu lợi dụng để lừa đảo, phát tán mã độc hay đăng tải các nội dung tục tĩu, mất thuần phong mỹ tục. Đội ngũ quản trị của trang này được cho là thiếu năng lực, quản lý yếu kém với các quy định lỏng lẻo.
=== Zing MP3 ===
Website cộng đồng âm nhạc trực tuyến Zing Mp3 được ra mắt đầu tiên từ ngày 1 tháng 8 năm 2007, nó tích hợp hệ thống tìm kiếm công nghệ hiện đại, các robot sẽ tự động tìm kiếm những đường link có chứa nội dung âm nhạc trên một số website âm nhạc phổ biến tại Việt Nam, giúp người dùng chỉ cần vào mục tìm kiếm nhạc là có thể tìm kiếm nhạc từ nhiều nguồn khác nhau. Đồng thời còn cho phép người nghe, tải, nhúng vào blog hay gửi cho bạn bè những bài hát mình yêu thích. Hiện nay Zing MP3 là một trong những trang web âm nhạc được mến mộ nhiều nhất ở Việt Nam. Với kho nhạc hơn 1 triệu bài hát, trang web còn thường xuyên được cập nhật danh sách những bài hát, ca sĩ mới. Ngoài ra, với tính năng Playlist, người nghe có thể tạo cho mình album riêng với những bài hát yêu thích, tổng hợp từ nhiều nguồn, để nghe và gửi tặng, chia sẻ với bạn bè, người thân. Zing MP3 trong thời gian tới sẽ tiếp tục cho ra mắt thêm nhiều tính năng mới như bình luận Playlist, lời bài hát...
Zing Music Awards là Giải thưởng âm nhạc trực tuyến đầu tiên tại Việt Nam, được khởi động vào tháng 9/2010 bởi Zing Mp3, công ty VNG [1] (VinaGame cũ). Giải thưởng ra đời nhằm ghi nhận và vinh danh những nghệ sĩ đã có nhiều đóng góp trên thị trường âm nhạc trực tuyến. Giải thưởng được tổ chức thường niên.
==== Các bê bối vi phạm bản quyền ====
Zing MP3 cũng dính vào nhiều bê bối về vi phạm bản quyền âm nhạc. Nhạc sĩ Trần Lập cũng đã từng kiện Zing đăng tải trái phép bài hát "Đường đến vinh quang" với mức bồi thường 150 triệu. Tương tự, ca sĩ Đăng Khôi, giám đốc Công ty Việt Giải Trí cũng kiện công ty VNG (công ty cung cấp dịch vụ Zing MP3) vì đã vi phạm bản quyền gần 10.000 ca khúc nhạc Kpop của khoảng 700 nghệ sĩ Hàn Quốc do Việt Giải Trí được ủy quyền sử dụng hợp pháp tại Việt Nam. Việt Giải Trí gửi đơn kháng kiện yêu cầu tòa án yêu cầu Zing bồi thường tiền thù lao là 4 tỷ đồng và yêu cầu chấm dứt việc vi phạm bản quyền các tác phẩm mà công ty Việt Giải Trí sở hữu bản quyền.
Trung tâm sản xuất, phát hành nhạc Làng Văn cũng kiện Zing MP3 vi phạm bản quyền ở Hoa Kỳ. Làng Văn cáo buộc Zing đăng tải các tác phẩm có bản quyền và cho phép người dùng tải xuống hoàn toàn miễn phí mặc dù Zing không sở hữu bản quyền.
Ngoài ra, để đảm bảo uy tín kinh doanh, các công ty lớn như Coca-Cola, Samsung cũng rút hợp đồng quảng cáo với Zing vì dịch vụ Zing MP3 vi phạm bản quyền.
=== Zing TV ===
Zing TV là trang tổng hợp video, show, hài kịch, phim truyền hình trong nước và quốc tế. Nội dung của zing tv được cập nhật thường xuyên và có rất nhiều lựa chọn cho người dùng.
=== Zing News ===
Zing News là dịch vụ cung cấp tin tức cho độc giả với nhiều chuyên mục phong phú khác nhau. Trang Zing News bị phạt 37.5 triệu đồng vì đăng ký các nội dung thuộc 5 chuyên mục Xã hội, Tình yêu, Chuyện lạ, Chia sẻ, Hình sự không đúng với nội dung đã đăng ký trong giấy phép. Ngoài ra, báo này viết tin mà không có nguồn thông tin, đăng các bài viết, ảnh có nội dung tuyên truyền mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục.
=== Zing Play ===
Zing Game là một kho game hàng đầu của Việt Nam do VNG phát hành với nhiều thể loại đa dạng phù hợp với mọi lứa tuổi. Nhưng đã ngừng hoạt động từ cuối năm 2014.
=== Zalo ===
Zalo là ứng dụng nhắn tin và gọi điện miễn phí hoạt động trên nền tảng di động.
== Dịch vụ cũ ==
=== Zing Video ===
Zing Video đã đóng cửa vì không thể cạnh tranh với YouTube.
=== Zing Chat ===
Dịch vụ Zing Chat được ra mắt ngày 21 tháng 11 năm 2007, vốn là một phần mềm nhắn tin nhanh được "Việt hóa" và nâng cấp từ phần mềm Tencent QQ của Tencent. Với biểu trưng chim cánh cụt gốc từ Tencent QQ được thay thế bằng hai chú vịt mang tên Chat và Chit, phần mềm cung cấp hầu hết những tính năng như các mạng hội thoại trực tuyến khác, nhưng với giao diện và thông tin riêng phục vụ cho người dùng tại Việt Nam. Đồng thời, người dùng còn có thể tích hợp tài khoản MSN, Yahoo! Messenger, liên thông và truy cập bằng tài khoản của một số diễn đàn khác hoặc tài khoản của VinaGame.
Tuy nhiên, ít ngày sau khi ra mắt, Zing Chat nhận được rất nhiều phàn nàn từ người dùng và bị hàng loạt những tin nhắn bêu xấu lưu chuyển liên tục trên chương trình. Dịch vụ đã bị Tuổi trẻ Online xem là một thất bại thảm hại so với Yahoo! Messenger. Tuy nhiên vào năm 2009, Zing Chat đã đánh bại Yahoo! Messenger để trở thành phần mềm nhắn tin nhanh có nhiều người sử dụng nhất trên thị trường Việt Nam.
Dịch vụ sau đó đã chính thức ngừng hoạt động vào ngày 1 tháng 5 năm 2014.
=== Zing Star ===
Zing Star là một trang mạng xã hội dành cho những người yêu thích ca hát, là một trong những dịch vụ của cổng thông tin điện tử Zing.vn. Zing Star cung cấp công cụ hát karaoke trực tuyến. Cho phép người dụng lựa chọn ca khúc và thu âm trực tiếp qua đường truyền internet. Mỗi thành viên khi tham gia Zing star được cấp cho một trang cá nhân, được xem như một nhà ảo lưu trữ tất cả các bài hát, các ca khúc do thành viên thể hiện sẽ được thành viên khác thảo luận, đánh giá, bình chọn. Zing star còn cung cấp các công cụ hỗ trợ các thành viên giao lưu, kết bạn với nhau. Zing Star từng trở thành trang web hát karaoke trực tuyến có lượng truy cập cao nhất tại Việt Nam thời điểm năm 2008.
=== Zing Deal ===
Website thương mại điện tử Zing Deal dành doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam, đã ngưng hoạt động từ ngày 8 tháng 2 năm 2012. Theo bà Trương Tố Linh, giám đốc kinh doanh trang xxxx thì Zing Deal không có thế mạnh về vận hành, quản lý đơn hàng, giao nhận, chăm sóc khách hàng,...
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
VinaGame đoạt giải nhất "Nhà cung cấp dịch vụ Game Online ưa chuộng nhất năm 2007. (Cập nhật: 12-07-2007). Truy xuất: 11/09/2007.
VinaGame lần thứ hai đoạt giải dành cho nhà cung cấp Game Online. (Cập nhật: 16/07/2007). Truy xuất: 10/09/2007. |
đế quốc anh.txt | Đế quốc Anh (tiếng Anh: British Empire) bao gồm các quốc gia tự trị, các thuộc địa, các lãnh thổ bảo hộ, các lãnh thổ ủy thác và các lãnh thổ khác do Anh cai trị và quản lý. Đế quốc Anh khởi nguồn với các thuộc địa và trạm mậu dịch hải ngoại do Anh thiết lập từ cuối thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 18. Vào đỉnh cao của mình, đây là đế quốc lớn nhất trong lịch sử và là thế lực toàn cầu đứng đầu trong hơn một thế kỷ. Đến 1922, Đế quốc Anh cai trị khoảng 458 triệu người, chiếm 1/5 dân số thế giới lúc đó và bao phủ diện tích hơn 33.670.000 km², gần một phần tư tổng diện tích toàn cầu. Do vậy, những di sản về văn hóa, ngôn ngữ của Đế quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Tại đỉnh cao của quyền lực, Đế quốc Anh thường được ví với câu nói "đế quốc có mặt trời không bao giờ lặn" bởi vì sự mở rộng cương thổ ra toàn địa cầu đồng nghĩa với việc mặt trời luôn tỏa sáng trên ít nhất một trong những vùng lãnh thổ của nó.
Trong suốt Thời đại Khám phá vào thế kỷ 15 và 16, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đi tiên phong trong phong trào châu Âu thám hiểm thế giới và trong quá trình đó họ đã thiết lập các đế quốc hải ngoại lớn. Do chứng kiến hai đế quốc thực dân này giành được thịnh vượng rất lớn, Anh, Pháp và Hà Lan bắt đầu thiết lập các thuộc địa và các mạng lưới mậu dịch của họ tại châu Mỹ và châu Á. Một loạt cuộc chiến với Pháp và Hà Lan trong thế kỷ 17 và 18 giúp Anh trở thành một cường quốc chi phối thống trị tại Bắc Mỹ và Ấn Độ. Nhưng đồng thời, uy thế của Anh (và cả Pháp) bị hạn chế tại châu Âu sau năm 1763, trước sự phát triển lớn mạnh của các cường quốc phía Đông như Phổ, Áo và Nga.
Sự kiện Mười ba thuộc địa tại Bắc Mỹ độc lập vào năm 1783 sau Chiến tranh Cách mạng Mỹ khiến Anh mất một số thuộc địa sớm nhất và đông dân nhất của mình. Sự chú ý của Anh nhanh chóng chuyển sang châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương. Sau thất bại của Napoléon Bonaparte năm 1815, Anh tận hưởng một thế kỷ thống trị hầu như không có đối thủ, và mở rộng phạm vi trên khắp toàn cầu. Nhiều thuộc địa của dân da trắng được trao quyền tự trị, một vài trong số đó được tái phân loại là quốc gia tự trị.
Đến đầu thế kỷ 20, sự phát triển lớn mạnh của Đức và Hoa Kỳ làm xói mòi phần nào vị thế dẫn đầu về kinh tế của Anh. Chính sách đối ngoại của Anh nhấn mạnh hợp tác chặt chẽ và hữu nghị với Hoa Kỳ, nhưng căng thẳng về vấn đề ngoại giao và quân sự khiến quan hệ với Đức gày càng trở nên xấu đi. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Anh đã phải dựa nhiều vào đế quốc của mình về mặt nhân sự cũng như lương thực. Cuộc xung đột đặt ra căng thẳng lớn về tài chính và dân cư cho Anh. Mặc dù Đế quốc Anh đạt được sự mở rộng lãnh thổ lớn nhất ngay sau cuộc chiến, nhưng Anh không còn là một cường quốc vô song về quân sự và công nghiệp. Tình trạng tự quản đã được cấp các thuộc địa dân cư chính, điều mà làm cho họ độc lập thực tiễn. Tuy nhiên sự giận dữ với thuế quan cao của Hoa Kỳ đã dẫn đến một chính sách ưu đãi của đế quốc trong thời kỳ Đại suy thoái.
Trong Chiến tranh thế giới lần hai, các thuộc địa của Anh tại Đông Nam Á bị Nhật Bản chiếm đóng, điều này đã làm tổn thương uy tín của Anh và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế quốc này. Sau chiến tranh, Anh phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ. Trong những năm còn lại của thế kỷ 20, phần lớn những thuộc địa của Đế quốc Anh giành được độc lập như một phần của phong trào phi thuộc địa hóa từ các cường quốc châu Âu, kết thúc với việc chuyển giao Hồng Kông cho Trung Quốc năm 1997. Sau độc lập, nhiều cựu thuộc địa của Anh gia nhập Thịnh vượng chung các Quốc gia, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 quốc gia có chung một nguyên thủ, Nữ vương Elizabeth II, đó là Vương quốc Khối thịnh vượng chung.
== Nguồn gốc (1497-1583) ==
Nền móng của Đế quốc Anh được đặt từ khi Anh và Scotland còn là hai vương quốc riêng biệt. Sau những thành công của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong việc thám hiểm hải ngoại, đến năm 1496 Quốc vương Henry VII của Anh ủy quyền cho John Cabot dẫn đầu một hành trình để khám phá một tuyến đường tới châu Á thông qua Bắc Đại Tây Dương. Cabot khởi hành năm 1497, tức 5 năm sau khi người châu Âu phát hiện châu Mỹ, và mặc dù đổ bộ thành công lên bờ biển của Newfoundland, nhưng không nỗ lực để thành lập một thuộc địa tại đây (cũng như Cristoforo Colombo, ông nhầm tưởng rằng mình đến được châu Á). Cabot dẫn đầu một chuyến đi đến châu Mỹ vào năm sau, nhưng không nghe được tin gì về các tàu của ông nữa.
Người Anh không tiếp tục nỗ lực nhằm thiết lập các thuộc địa tại châu Mỹ cho đến khi Nữ vương Elizabeth I trị vì trong những thập niên cuối của thế kỷ 16. Cuộc Cải cách Tin Lành khiến Anh và Tây Ban Nha theo Công giáo trở thành kẻ thù của nhau. Năm 1562, Elizabeth I cấp quyền cho các chỉ huy tàu lùng là John Hawkins và Francis Drake tiến hành các cuộc tấn công bắt nô lệ chống lại tàu Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ngoài khơi bờ biển Tây Phi với mục tiêu thâm nhập vào hệ thống mậu dịch xuyên Đại Tây Dương. Nỗ lực này bị người Tây Ban Nha đẩy lui, và đến khi cuộc chiến tranh Anh-Tây Ban Nha trở nên khốc liệt, Elizabeth lại chống lưng cho các tàu lùng tiếp tục tổ chức các cuộc tấn công vào các cảng Tây Ban Nha ở châu Mỹ và những tàu vận chuyển vượt Đại Tây Dương trở về Tây Ban Nha vốn được chất đầy kho báu của Tân thế giới. Trong khi đó, những nhà văn có ảnh hưởng như Richard Hakluyt và John Dee (người đầu tiên sử dụng thuật ngữ "British Empire") bắt đầu thúc giục thành lập một đế quốc riêng của nước Anh. Đến thời điểm này, Tây Ban Nha đã trở thành thế lực chiếm ưu thế tại châu Mỹ, Bồ Đào Nha đã thiết lập các cơ sở mậu dịch và các tiền đồn từ bờ biển châu Phi và Brasil sang Trung Quốc, còn Pháp đã bắt đầu thuộc địa hóa khu vực sông Saint-Laurent và nơi này sau đó trở thành Tân Pháp.
=== Thuộc địa hóa Ireland ===
Mặc dù Anh đi sau các cường quốc châu Âu khác trong việc thiết lập các thuộc địa hải ngoại, nhưng trong thế kỷ 16, họ đã tiến hành đưa những người Tin Lành từ Anh và Scotland đến Ireland, tiếp nối tiền lệ người Norman xâm chiếm Ireland vào năm 1169. Nhiều người đóng góp vào công cuộc thuộc địa hóa Ireland cũng đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc thuộc địa hóa tại Bắc Mỹ vào ban đầu, đặc biệt là một nhóm được gọi là "những người đàn ông miền Tây".
== "Đệ nhất đế quốc" (1583-1783) ==
Năm 1578, Nữ vương Elizabeth I ban một giấy phép cho Humphrey Gilbert trong việc khám phá và thám hiểm hải ngoại. Năm đó, Gilbert khởi hành đi Tây Ấn với ý định tham gia vào việc cướp biển và thiết lập một thuộc địa tại Bắc Mỹ, nhưng chuyến đi bị hủy bỏ trước khi thuyền vượt qua Đại Tây Dương. Năm 1583, ông bắt tay vào một nỗ lực thứ hai, lần này tới được đảo Newfoundland và tuyên bố chủ quyền cảng của đảo này thuộc về Anh, mặc dù không để người định cư lại. Gilbert qua đời trong chuyến đi trở về Anh. Sự nghiệp của ông được người em trai cùng mẹ khác cha của mình là Walter Raleigh kế tục, người này được Elizabeth I cấp giấy phép vào năm 1584. Trong năm đó, Raleigh cho thiết lập một thuộc địa tại đảo Roanoke trên bờ biển Bắc Carolina ngày nay, tuy nhiên do thiếu đồ dự trữ nên thuộc địa thất bại.
Năm 1603, Quốc vương James VI của Scotland trở thành Quốc vương Anh và một năm sau đó, ông đàm phán với người Tây Ban Nha ký vào Hiệp ước London, chấm dứt tình trạng thù địch bấy lâu nay. Lúc này, Anh ở trong trạng thái hòa bình với kình địch chủ yếu, họ chú ý chuyển đổi từ cướp bóc cơ sở hạ tầng thuộc địa của các quốc gia khác sang việc thành lập các thuộc địa hải ngoại của mình. Đế quốc Anh bắt đầu thành hình vào đầu thế kỷ 17, khi Anh thuộc địa hóa Bắc Mỹ và các đảo nhỏ trong vùng Caribe và thành lập những công ty tư nhân, đáng chú ý nhất là Công ty Đông Ấn Anh, để quản lý các thuộc địa và mậu dịch hải ngoại. Thời kỳ cho đến khi Mười ba thuộc địa bị mất sau khi cuộc chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ kết thúc vào cuối thế kỷ 18 được các sử gia gọi là "Đế quốc Anh đầu tiên".
=== châu Mỹ, châu Phi và mua bán nô lệ ===
Caribe ban đầu có các thuộc địa quan trọng và sinh lợi nhất cho Anh, sau khi nhiều nỗ lực thuộc địa hóa vùng này bị thất bại. Một nỗ lực nhằm lập một thuộc địa tại Guyana kéo dài trong vòng hai năm và mục tiêu chính là tìm vàng bị thất bại. Các thuộc địa St Lucia (1605) và Grenada (1609) cũng nhanh chóng bị hủy bỏ, nhưng các khu định cư được thiết lập thành công tại St. Kitts (1624), Barbados (1627) và Nevis (1628). Các thuộc địa nhanh chóng tuân theo hệ thống các đồn điền trồng mía mà người Bồ Đào Nha áp dụng thành công tại Brasil, hệ thống này dựa trên lao động nô lệ và ban đầu dựa vào các tàu của Hà Lan bán nô lệ và mua đường. Để đảm bảo rằng lợi nhuận tăng lên của hoạt động này vẫn nằm trong tay Anh, năm 1651 Quốc hội ra sắc lệnh rằng chỉ có tàu Anh được qua lại để giao dịch trong các thuộc địa của Anh. Điều này dẫn đến tình trạng thù địch với Hà Lan và một loạt các cuộc chiến giữa Anh và Hà Lan phát sinh, cuối cùng làm củng cố vị thế của Anh tại châu Mỹ và làm mất uy thế của Hà Lan. Năm 1655, Anh sáp nhập đảo Jamaica từ Tây Ban Nha và thành công trong thuộc địa hóa Bahamas vào năm 1666.
Khu định cư vĩnh cửu đầu tiên của Anh tại châu Mỹ được thành lập tại Jamestown vào năm 1607, do John Smith lãnh đạo và Công ty Virginia quản lý. Anh tiến hành định cư và tuyên bố chủ quyền đối với Bermuda sau khi kỳ hạm của công ty đắm tại đây vào năm 1609 và đến năm 1615 quần đảo này được chuyển giao sang công ty Somers Isles. Đặc quyền của Công ty Virginia bị thu hồi vào năm 1624 và quân chủ đảm nhiệm quyền quản lý trực tiếp Virginia, do đó thành lập Thuộc địa Virginia. Công ty London và Bristol được thành lập năm 1610 với mục đích lập ra một khu định cư vĩnh cửu trên đảo Newfoundland, nhưng phần lớn là không thành công. Năm 1620, Plymouth được thành lập để làm nơi cư trú cho những người phân lập tôn giáo Thanh giáo mà sau này được biết đến là những người Pilgrim. Sau này, chạy trốn khỏi ngược đãi tôn giáo trở thành động cơ để nhiều người Anh muốn trở thành người khai hoang, họ phải mạo hiểm trong hành trình gian khổ để vượt Đại Tây Dương: Maryland được thành lập năm 1634 để làm nơi cư trú của giáo dân Công giáo La Mã, Rhode Island (1636) là một thuộc địa khoan dung với tất cả các tôn giáo, Connecticut (1639) cho tín đồ Công Lý hội (Congregational Church). Tỉnh Carolina được thành lập năm 1663. Sau khi Đồn Amsterdam đầu hàng năm 1634, Anh giành quyền kiểm soát thuộc địa Tân Hà Lan của Hà Lan và đổi tên thành New York. Điều này được chính thức hóa trong cuộc đàm phán sau Chiến tranh Anh-Hà Lan lần thứ hai, trao đổi bằng Suriname. Trong năm 1681, William Penn thành lập thuộc địa Pennsylvania. Các thuộc địa Mỹ có ít thành công về tài chính hơn so với các thuộc địa tại Caribe, nhưng có diện tích lớn đất nông nghiệp tốt và thu hút số lượng lớn các di dân người Anh vốn ưa thích khí hậu ôn đới tại đó.
Năm 1670, Quốc vương Charles II cấp đặc quyền để hợp thành tổ chức Công ty Vịnh Hudson (HBC), được độc quyền về mậu dịch da lông thú tại một khu vực được gọi là Đất Rupert, lãnh thổ này sau đó hình thành một bộ phận lớn của Quốc gia tự trị Canada. Người Pháp thường xuyên tấn công các công sự và trạm mậu dịch do Công ty thành lập, người Pháp cũng thiết lập thuộc địa mậu dịch da lông thú của mình tại Tân Pháp liền kề.
Hai năm sau, Công ty Hoàng gia châu Phi được thành lập, được Quốc vương Charles cấp độc quyền giao dịch để cung cấp nô lệ cho các thuộc địa của Anh tại Caribe. Ngay từ đầu, chế độ nô lệ là cơ sở của Đế quốc Anh tại Tây Ấn. Cho đến khi bãi bỏ việc buôn bán nô lệ vào năm 1807, Anh chịu trách nhiệm cho việc vận chuyển 3,5 triệu nô lệ người châu Phi đến châu Mỹ, chiếm 1/3 toàn bộ nô lệ vận chuyển qua Đại Tây Dương. Để tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch này, nhiều công sự được thành lập trên bờ biển Tây Phi, chẳng hạn như đảo James, Accra và đảo Bunce. Tại Caribe thuộc Anh, tỷ lệ của dân số gốc Phi tăng từ 25% năm 1650 lên khoảng 80% vào năm 1780 và tại 13 thuộc địa là từ 10% đến 40% trong cùng kỳ (phần lớn tại các thuộc địa miền Nam). Đối với các thương nhân nô lệ, giao dịch này cực kỳ sinh lợi và trở thành một trụ cột kinh tế chính cho các thành phố phía tây Anh như Bristol và Liverpool, hình thành góc thứ ba của cái gọi là mậu dịch tam giác với châu Phi và châu Mỹ. Các điều kiện khắc nghiệt và mất vệ sinh trên tàu chở nô lệ và chế độ ăn uống nghèo nàn dẫn đến tỷ lệ tử vong trong vận chuyển Phi-Mỹ trung bình là một phần bảy.
Trong năm 1695, Quốc hội Scotland cấp một đặc quyền cho Công ty Scotland, công ty thiết lập một khu định cư tại eo đất Panama vào năm 1698. Bị những người thực dân Tây Ban Nha tại Tân Grenada lân cận bao vây và bị ảnh hưởng từ bệnh sốt rét, thuộc địa bị từ bỏ hai năm sau đó. Kế hoạch Darien là một thảm họa tài chính đối với Scotland — 1/4 vốn của Scotland bị mất trong thương vụ - kết thúc hy vọng của Scotland về việc thành lập đế quốc hải ngoại riêng. Điều này cũng có hậu quả chính trị lớn, thuyết phục chính phủ của cả Anh và Scotland về giá trị của một liên minh các quốc gia, thay vì chỉ có quân chủ chung. Điều này được thực hiện năm 1707 bằng Hiệp định Liên minh, thành lập Vương quốc Anh Liên hiệp.
=== Kình địch với Hà Lan tại châu Á ===
Vào đoạn cuối của thế kỷ 16, Anh và Hà Lan bắt đầu thách thức sự độc quyền mậu dịch của Bồ Đào Nha với châu Á, hình thành các công ty cổ phần tư nhân để tài trợ cho các hành trình: Công ty Đông Ấn Anh và Công ty Đông Ấn Hà Lan, chúng được ban đặc quyền lần lượt vào năm 1600 và 1602. Mục đích chủ yếu của những công ty này là khai thác mậu dịch gia vị sinh lợi, một nỗ lực tập trung chủ yếu vào hai khu vực: quần đảo Đông Ấn và đầu mối quan trọng trong mạng lưới mậu dịch là Ấn Độ. Tại đây, họ cạnh tranh bá quyền mậu dịch với Bồ Đào Nha và với nhau. Mặc dù cuối cùng Anh sẽ làm lu mờ quyền lực thực dân của Hà Lan, nhưng trong một giai đoạn ngắn Hà Lan có tiến bộ hơn về hệ thống tài chính và ba cuộc chiến tranh với Anh trong thế kỷ 17 giúp Hà Lan có một vị thế mạnh hơn tại châu Á. Thái độ thù địch ngưng sau Cách mạng Vinh quang năm 1688 khi một người Hà Lan là William xứ Orange đăng cơ vương vị Anh, mang lại hòa bình giữa Anh và Hà Lan. Hai quốc gia thỏa thuận giao mậu dịch gia vị của quần đảo Đông Ấn cho Hà Lan và ngành công nghiệp dệt của Ấn Độ cho Anh, nhưng lợi nhuận của ngành dệt may sớm vượt qua mặt hàng gia vị và đến năm 1720, doanh số bán hàng của công ty Anh vượt qua công ty Hà Lan.
=== Chiến tranh với Pháp ===
Hòa bình giữa Anh và Hà Lan năm 1688 tạo điều kiện để hai quốc gia bước vào chiến tranh Chín năm với tư cách là đồng minh. Tuy nhiên, xung đột tại châu Âu và hải ngoại giữa liên minh Pháp, Tây Ban Nha và liên minh Anh-Hà Lan dẫn đến kết quả là Anh trở thành một thế lực thực dân mạnh hơn Hà Lan, nguyên nhân là Hà Lan buộc phải dành một phần lớn ngân sách quân sự của họ cho chiến tranh trên bộ tốn kém tại châu Âu. Thế kỷ 18 chứng kiến Anh (sau 1707 là Anh Liên hiệp) nổi lên thành cường quốc thực dân chi phối thế giới và Pháp trở thành đối thủ chính trên vũ đài đế quốc.
Carlos II của Tây Ban Nha từ trần vào năm 1700, và người thừa kế Tây Ban Nha và đế quốc thực dân của quốc gia này là Philippe [Felipe] xứ Anjou, một cháu nội của Quốc vương Pháp. Sự kiện này làm nổi lên triển vọng về sự hợp nhất Pháp và Tây Ban Nha cũng như các thuộc địa của họ, một trạng thái mà Anh và các cường quốc khác tại châu Âu không chấp nhận được. Năm 1701, Anh, Bồ Đào Nha và Hà Lan đứng về phía Đế quốc La Mã Thần thánh chống lại Tây Ban Nha và Pháp trong Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, kéo dài cho đến 1714.
Sau khi Hiệp ước Utrecht được thông qua, Felipe từ bỏ quyền của mình và hậu duệ đối với vương vị Pháp và Tây Ban Nha mất đi đế quốc của mình tại châu Âu. Đế quốc Anh mở rộng lãnh thổ: Anh chiếm được Newfoundland và Acadia từ Pháp; Gibraltar và Minorca từ Tây Ban Nha. Gibraltar trở thành một căn cứ hải quân quan trọng và cho phép Anh kiểm soát điểm ra vào Địa Trung Hải. Minorca được trả lại cho Tây Ban Nha sau Hiệp ước Amiens năm 1802 được ký kết. Tây Ban Nha cũng nhượng quyền asiento (cho phép bán nô lệ tại các thuộc địa Tây Ban Nha tại châu Mỹ) sinh lợi cho Anh.
Trong các thập niên giữa của thế kỷ 18, có vài lần phát sinh xung đột quân sự trên tiểu lục địa Ấn Độ, gọi là các cuộc Chiến tranh Carnatic, khi Công ty Đông Ấn Anh và Công ty Đông Ấn Pháp chiến đấu bên các quân chủ địa phương để lấp đầy khoảng trống để lại khi Đế quốc Mogul suy tàn. Trận Plassey diễn ra vào năm 1757, trong đó quân Anh dưới quyền Robert Clive đánh bại Nawab của Bengal và đồng minh Pháp của ông ta, dẫn đến việc Công ty Đông Ấn Anh kiểm soát Bengal và là thế lực quân sự và chính trị lớn tại Ấn Độ. Pháp còn lại quyền kiểm soát các lãnh thổ tách rời của họ, song với các hạn chế về quân sự và một nghĩa vụ hỗ trợ cho các quốc gia tòng thuộc của Anh, kết thúc hy vọng của Pháp nhằm kiểm soát Ấn Độ. Trong các thập niên sau, Công ty Đông Ấn Anh dần tăng cường kích thước lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của họ, tiến hành cai trị trực tiếp hoặc thông qua các quân chủ địa phương dưới sự răn đe vũ lực từ Quân đội Ấn Độ thuộc Anh- đại đa số trong đó là các sepoy người Ấn.
Đấu tranh giữa Anh và Pháp tại Ấn Độ chỉ là một mặt trận trong Chiến tranh Bảy năm (1756–1763) có quy mô toàn cầu, liên quan đến Pháp, Anh và các cường quốc châu Âu khác. Sự kiện ký kết Hiệp định Paris (1763) có các kết quả quan trọng cho tương lai của Đế quốc Anh. Tại Bắc Mỹ, tương lai cường quốc thực dân của Pháp tại đây kết thúc hữu hiệu bằng việc công nhận yêu sách của Anh đối với Đất Rupert, và nhượng Tân Pháp cho Anh (để lại một cộng đồng Pháp ngữ đáng kể dưới quyền kiểm soát của Anh) và nhượng Louisiana cho Tây Ban Nha. Tây Ban Nha nhượng Florida cho Anh. Cùng với chiến thắng trước Pháp tại Ấn Độ, kết quả của Chiến tranh Bảy năm là Anh trở thành cường quốc hàng hải hùng mạnh nhất thế giới.
=== Cách mạng Mỹ ===
Trong các thập niên 1760 và 1770, các quan hệ giữa Mười ba thuộc địa và Anh trở nên căng thẳng hơn, chủ yếu do của sự phẫn uất trước các nỗ lực của Quốc hội Anh nhằm quản lý và đánh thuế những người thực dân Mỹ mà không có sự đồng ý của họ. Tình trạng này đương thời được tóm tắt thông qua khẩu hiệu "Không đại biểu, không nộp thuế". Cách mạng Mỹ bắt đầu bằng việc bác bỏ uy quyền của Quốc hội và tiến tới tự quản. Nhằm đối phó, Anh phái binh sĩ đi tái lập quyền cai trị trực tiếp, dẫn đến bùng nổ chiến tranh vào năm 1775. Sang năm 1776, Hợp chúng quốc tuyên bố độc lập. Sự tham gia của Pháp trong chiến tranh vào năm 1778 làm nghiêng cân bằng quân sự theo hướng có lợi cho người Mỹ và sau một thất bại quyết định tại Yorktown vào năm 1781, Anh bắt đầu thương lượng các điều khoản hòa bình. Độc lập của Hoa Kỳ được công nhận trong Hòa ước Paris năm 1783.
Đương thời, Mỹ thuộc Anh là tài sản hải ngoại đông dân nhất của Anh, sự mất mát này được một số sử gia xác định là sự chuyển tiếp giữa đế quốc "thứ nhất" và "thứ nhì", trong đó Anh chuyển chú ý của mình từ châu Mỹ sang châu Á, Thái Bình Dương và sau đó là châu Phi. Của cải của các quốc gia của Adam Smith được xuất bản năm 1776 thì lập luận rằng các thuộc địa là dư thừa và rằng mậu dịch tự do sẽ thay thế các chính sách trọng thương cũ vốn biểu thị đặc điểm cho giai đoạn đầu của khuếch trương thuộc địa, bắt nguồn từ chủ nghĩa bảo hộ của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Tăng trưởng mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Anh sau năm 1783 dường như xác nhận quan điểm của Smith rằng kiểm soát chính trị không phải là tất yếu đối với thành công kinh tế.
Các sự kiện tại Hoa Kỳ tác động đến chính sách của Anh tại Canada, tại đây có 40.000 đến 100.000 người Trung thành chiến bại di cư từ Hoa Kỳ sau khi độc lập. 14.000 người Trung thành đến các thung lũng sông Saint John và sông Saint Croix, đương thời là bộ phận của Nova Scotia, họ cảm thấy quá xa tỉnh lị tại Halifax, do đó Luân Đôn tách New Brunswick thành một thuộc địa riêng biệt vào năm 1784. Đạo luật Hiến pháp 1791 lập ra các tỉnh Thượng Canada (chủ yếu Anh ngữ) và Hạ Canada (chủ yếu Pháp ngữ) nhằm xoa dịu căng thẳng giữa các cộng đồng người Pháp và người Anh và thi hành các hệ thống chinh phủ tương tự như tại Anh, với mục đích khẳng định quyền lực đế quốc và không cho phép kiểu kiểm soát nhân dân đối với chính phủ vốn được cho là dẫn đến Cách mạng Mỹ.
Căng thẳng giữa Anh và Hoa Kỳ lại leo thang thành chiến tranh trong Các cuộc chiến tranh của Napoléon, do Anh nỗ lực cắt đứt mậu dịch của Hoa Kỳ với Pháp và nhảy lên các tàu của Hoa Kỳ để bắt những người sinh tại Anh nhập ngũ Hải quân Hoàng gia. Hoa Kỳ tuyên chiến, dẫn đến Chiến tranh năm 1812 và xâm chiếm lãnh thổ Canada, song biên giới tiền chiến được tái xác nhận qua Hiệp định Ghent 1814, đảm bảo tương lai của Canada sẽ tách biệt với Hoa Kỳ.
== Sự nổi lên của "Đệ nhị đế quốc" ==
=== Thám hiểm Thái Bình Dương ===
Kể từ năm 1718, việc đày ải đến các thuộc địa ở châu Mỹ là một hình phạt cho nhiều tội phạm hình sự khác nhau tại Anh, với khoảng một nghìn tù nhân được vận chuyển vượt Đại Tây Dương mỗi năm. Sau khi để mất 13 thuộc địa, Ạnh buộc phải tìm một địa điểm thay thế và đến năm 1783 thì Chính phủ Anh quay sang các vùng đất mới phát hiện tại Úc. Bờ biển phía tây của Úc được người châu Âu phát hiện từ hành trình của nhà thám hiểm người Hà Lan Willem Jansz năm 1606 và sau này được Công ty Đông Ấn Hà Lan đặt tên là Tân Hà Lan, nhưng không có nỗ lực thuộc địa hóa tại Úc. Năm 1770, James Cook phát hiện bờ biển phía đông của Úc trong một chuyến hành trình khoa học đến Nam Thái Bình Dương và yêu sách lục địa cho Anh, đặt tên là New South Wales. Năm 1778, nhà thực vật học trong hành trình của Cook là Joseph Banks đệ trình các bằng chứng cho chính phủ về sự thích hợp của vịnh Botany đối với việc thiết lập khu định cư hình sự và đến năm 1787 thì loạt tù nhân đầu tiên khởi hành, đến nơi vào năm 1788. Anh tiếp tục vận chuyển tù nhân đến Úc cho đến năm 1840. Những thuộc địa Úc trở thành các nhà xuất khẩu có lợi nhuận từ lông cừu và vàng, chủ yếu là do các phong trào tìm vàng tại thuộc địa Victoria, khiến thủ đô Melbourne của thuộc địa này trở thành thành phố giàu nhất thế giới và thành phố lớn thứ hai, sau London, trong Đế quốc Anh.
Trong hành trình của mình, James Cook cũng đến New Zealand, nhà thám hiểm Hà Lan Abel Tasman phát hiện lãnh thổ này từ năm 1642. James Cook yêu sách đảo Bắc và Nam cho quân chủ Anh lần lượt vào năm 1769 và 1770. Ban đầu, tương tác giữa người bản địa Maori và người châu Âu được giới hạn trong việc giao dịch hàng hoá. Người châu Âu tăng cường định cư trong suốt những thập niên đầu của thế kỷ 19, với nhiều trạm mậu dịch được thành lập, đặc biệt là tại đảo Bắc. Năm 1839, Công ty New Zealand công bố kế hoạch mua những vùng đất rộng lớn và thiết lập các thuộc địa tại New Zealand. Ngày 6 Tháng 2 năm 1840, Thuyền trưởng William Hobson và khoảng 40 tù trưởng Maori ký Hiệp ước Waitangi. Hiệp ước này được nhiều người cho là văn kiện sáng lập New Zealand, nhưng diễn giải khác biệt của các phiên bản tiếng Maori và tiếng Anh của văn kiện có nghĩa là nó tiếp tục là một nguồn gây tranh chấp.
=== Chiến tranh với Napoléon ===
Anh lại gặp thách thức trước nước Pháp của Napoléon Bonaparte, cuộc chiến không giống như các chiến tranh từng xảy ra khi nó đại diện cho một tranh đua ý thức hệ giữa hai quốc gia. Không chỉ có vị thế của Anh trên thế giới bị đe dọa: Napoléon từng đe dọa xâm chiến bản thân Anh, cũng giống như quân đội của ông từng thực hiện với nhiều quốc gia trên lục địa châu Âu.
Các cuộc chiến tranh Napoléon khiến người Anh buộc phải đầu tư một lượng lớn vốn và tài nguyên để giành chiến thắng. Hải quân Hoàng gia Anh phong tỏa các cảng của Pháp và giành được một chiến thắng quyết định trước một hạm đội Pháp-Tây Ban Nha tại Trafalgar vào năm 1805. Các thuộc địa hải ngoại cũng bị tấn công và chiếm đóng, bao gồm cả của Hà Lan do quốc gia này bị Napoléon sáp nhập vào năm 1810. Cuối cùng Pháp bị một liên minh các quân đội châu Âu đánh bại vào năm 1815. Anh một lần nữa lại là bên hưởng lợi từ các hòa ước: Pháp nhượng quần đảo Ionia, Malta (mà họ lần lượt chiếm đóng năm 1797, 1798), Mauritius, Saint Lucia và Tobago; Tây Ban Nha nhượng Trinidad; Hà Lan nhượng Guyana và Thuộc địa Cape. Anh trả Guadeloupe, Martinique, Guiana thuộc Pháp và Réunion cho Pháp; Java và Suriname cho Hà Lan, trong khi nắm quyền kiểm soát đối với Tích Lan (1795-1815).
=== Bãi bỏ chế độ nô lệ ===
Với sự ủng hộ từ phong trào bãi nô Anh, Quốc hội Anh ban hành Đạo luật buôn bán nô lệ vào năm 1807, theo đó bãi bỏ việc buôn bán nô lệ trong đế quốc. Năm 1808, Sierra Leone được chỉ định là một thuộc địa chính thức của Anh cho các nô lệ được giải phóng. Đạo luật Bãi nô được thông qua vào năm 1833, bãi bỏ chế độ nô lệ tại Đế quốc Anh vào ngày 1 tháng 8 năm 1834 (ngoại trừ St. Helena, Tích Lan và các lãnh thổ do Công ty Đông Ấn Anh quản lý, song những ngoại lệ bị bãi bỏ sau đó). Theo Đạo luật, nô lệ được giải phóng hoàn toàn sau một khoảng thời gian từ 4 đến 6 năm "học nghề".
== "Thế kỷ đế quốc" của Anh (1815-1914) ==
Từ năm 1815 đến 1914 là khoảng thời gian mà các sử gia cho là "thế kỷ đế quốc" của Anh, họ mở rộng lãnh thổ của mình thêm 10.000.000 dặm vuông Anh (26.000.000 km2) và khoảng 400 triệu người. Chiến thắng trước Napoléon giúp Anh không còn bất kỳ đối thủ quốc tế đáng gờm nào, ngoại trừ với Nga tại Trung Á. Không gặp thách thức trên biển, Anh tiếp nhận vai trò là cảnh sát toàn cầu, về sau còn được gọi là Pax Britannica ("Thái bình Anh quốc"), và chính sách đối ngoại "cô lập quang vinh". Cùng với việc áp đặt kiểm soát chính thức lên các thuộc địa của mình, vị thế chi phối của Anh trong mậu dịch thế giới có nghĩa rằng họ kiểm soát hữu hiệu nền kinh tế của nhiều quốc gia, như Argentina và Xiêm La, là điều được một vài nhà sử học gọi là "đế quốc phi chính thức".
Sức mạnh đế quốc của Anh được củng cố bằng tàu hơi nước và điện báo, các công nghệ mới được phát minh trong nửa cuối của thế kỷ 19, cho phép họ kiểm soát và phòng thủ đế quốc. Đến năm 1902, Đế quốc Anh được liên kết với nhau bởi một mạng lưới cáp điện báo, được gọi là All Red Line.
=== Công ty Đông Ấn tại châu Á ===
Công ty Đông Ấn Anh tiến hành mở rộng lãnh thổ của Đế quốc Anh tại châu Á. Quân đội của Công ty ban đầu gia nhập lực lượng với Hải quân Hoàng gia trong Chiến tranh Bảy năm và hai bên tiếp tục hợp tác trên các chiến trường nằm ngoài Ấn Độ: trục xuất quân Napoléon khỏi Ai Cập (1799), chiếm Java từ Hà Lan (1811), thu nhận Singapore (1819) và Malacca (1824) và đánh chiếm Miến Điện (1826).
Từ căn cứ tại Ấn Độ, Công ty tiến hành mậu dịch xuất khẩu thuốc phiện ngày càng sinh lợi sang Trung Quốc kể từ thập niên 1730. Hoạt động mậu dịch này trở thành bất hợp pháp kể từ khi nó bị nhà Thanh cấm vào năm 1729, song buôn thuốc phiện giúp đảo nghịch sự mất cân bằng thương mại do Anh nhập khẩu trà vốn khiến một lượng lớn bạc đổ từ Anh sang Trung Quốc. Năm 1839, chính quyền Trung Quốc tại Quảng Châu cho tịch thu hơn 2 vạn hòm thuốc phiện, dẫn đến việc Anh tấn công Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất và dẫn đến việc người Anh chiếm đảo Hồng Kông- đương thời là một khu dân cư nhỏ.
Vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, Quân chủ Anh bắt đầu đảm nhiệm một vai trò lớn ngày càng tăng trong các sự vụ của Công ty. Một loạt đạo luật của Quốc hội được thông qua, gồm có Đạo luật Điều tiết 1773, Đạo luật Ấn Độ Pitt 1784 và Đạo luật Đặc quyền 1813 mà theo đó quy định các công việc của Công ty và thiết lập chủ quyền của Quân chủ đối với các lãnh thổ mà Công ty giành được. Khởi nghĩa Ấn Độ 1857 dẫn đến kết thúc sự tồn tại của Công ty, xung đột này bắt đầu bằng một cuộc binh biến của các sepoy. Khởi nghĩa kéo dài trong sáu tháng thì kết thúc, với thiệt hại nặng về nhân mạng cho cả hai bên. Năm sau đó, Chính phủ Anh giải thể Công ty và đảm nhiệm kiểm soát trực tiếp đối với Ấn Độ thông qua Đạo luật Chính phủ Ấn Độ 1858, thiết lập Ấn Độ thuộc Anh, một toàn quyền được bổ nhiệm để quản lý Ấn Độ và Nữ vương Victoria được tôn làm Nữ hoàng Ấn Độ. Ấn Độ trở thành tài sản có giá trị lớn nhất của Đế quốc, "Minh châu của Quân chủ" và là nguồn quan trọng nhất đối với sức mạnh của Anh.
Một loạt thất bát mùa màng nghiêm trọng xảy ra vào cuối thế kỷ 19 dẫn đến nạn đói lan rộng tại tiểu lục địa Ấn Độ, trong đó ước tính có trên 15 triệu người chết. Công ty Đông Ấn Anh không tiến hành bất kỳ chính sách phối hợp nào để đối phó với nạn đói trong thời kỳ họ cai trị. Sau đó, khi Anh cai trị trực tiếp Ấn Độ, các ủy ban được thiết lập sau mỗi nạn đói để điều tra nguyên nhân và thi hành các chính sách mới, điều này diễn ra cho đến đầu thập niên 1900.
=== Kình địch với Nga ===
Trong thế kỷ 19, Đế quốc Anh và Đế quốc Nga, vốn đang cố gắng mở rộng quyền lực đến khu vực Trung Á, ganh đua để lấp đầy các khoảng trống quyền lực bắt đầu từ việc Đế quốc Ottoman, vương triều Qajar và Đại Thanh suy sụp. Tình trạng kình địch tại Âu-Á này được gọi là "Ván cờ Lớn" (Great Game). Như Anh lo ngại, các chiến thắng của Nga trước Ba Tư và Ottoman biểu thị tham vọng đế quốc và khả năng của họ, làm dấy lên lo ngại tại Anh về một cuộc xâm chiếm bằng đường bộ vào Ấn Độ. Năm 1839, Anh chuyển sang chiếm hữu trước bằng việc xâm chiếm Afghanistan, tuy nhiên Chiến tranh Afghanistan-Anh thứ nhất là một thảm họa đối với Anh. Đây là một trong những thất bại thảm hại nhất trong thời đại Victoria, khi mà quân Anh bị bộ tộc Pashtun, vốn được trang bị bằng vũ khí do Nga cung cấp, tiêu diệt gần như toàn bộ trên đường rút khỏi Kabul. Chiến tranh Afghanistan-Anh thứ hai vào năm 1880 dẫn đến thất bại thảm hại của người Anh tại Maiwand, cũng như thành Kabul bị người Afghan bao vây và người Anh bị buộc phải rút về Ấn Độ. Thất bại trong Chiến tranh Afghanistan-Anh thứ ba vào năm 1919 buộc người Anh phải rời bỏ Afghanistan vĩnh viễn.
Khi Nga xâm chiếm khu vực Balkan của Ottoman vào năm 1853, lo ngại về ưu thế của Nga tại Địa Trung Hải và Trung Đông khiến Anh và Pháp xâm chiếm bán đảo Krym để tiêu diệt năng lực hải quân của Nga. Trong Chiến tranh Krym (1854–56) tiếp theo, các kỹ thuật mới của chiến tranh hiện đại được áp dụng, và đây là chiến tranh toàn cầu duy nhất giữa Anh và thế lực đế quốc khác trong Pax Britannica, kết quả là một thất bại lừng lẫy đối với Nga. Tình thế tại Trung Á vẫn chưa giải quyết được trong hai thập niên sau, khi Anh sáp nhập Baluchistan vào năm 1876 và Nga sáp nhập Kirghizia, Kazakhstan và Turkmenistan.
Đế quốc Ottoman chuyên giao đảo Síp cho Anh vào năm 1878 và đổi lại họ sẽ nhận được viện trợ nếu bị người Nga tấn công. Trong cùng năm, Nga và Anh đạt được một hiệp định về phạm vi ảnh hưởng của họ trong khu vực và trên toàn bộ các vấn đề còn tồn tại vào năm 1907 khi ký kết Hiệp ước thân thiện Nga-Anh. Cố gằng cuối cùng để mở rộng ảnh hưởng của mình ở Trung Á đã được người Anh thực hiện trong cuộc Viễn chinh Tây Tạng bất thành năm 1903-04. Sự kiện Hải quân Nga bị người Nhật hủy diệt trong Hải chiến cảng Lữ Thuận trong khuôn khổ Chiến tranh Nga-Nhật 1904–05 cũng hạn chế mối đe dọa của Nga đối với Anh.
=== Cape đến Cairo ===
Công ty Đông Ấn Hà Lan thành lập Thuộc địa Cape tại mũi phía nam của châu Phi vào năm 1652 để làm một trạm cho các tàu của họ đi và rời các thuộc địa tại Đông Ấn. Anh chính thức thu được thuộc địa và cư dân Afrikaner (hay Boer) có số lượng lớn của thuộc địa vào năm 1806, song chiếm được từ năm 1795 để ngăn chặn nó rơi vào tay người Pháp sau khi Pháp xâm chiếm Hà Lan. Nhập cư từ Anh bắt đầu tăng lên sau năm 1820, họ đẩy hàng nghìn người Boer vốn phẫn uất trước sự cai trị của Anh về phía bắc, người Boer thành lập các nước cộng hòa độc lập của họ song hầu hết đều đoản mệnh, tình trạng này được gọi là Đại Di cư (Great Trek) và diễn ra vào cuối thập niên 1830 và đầu thập niên 1840. Trong quá trình, những người Boer di cư đụng độ nhiều lần với người Anh, người Anh thì có chương trình riêng của mình nhằm khuếch trương thuộc địa tại Nam Phi và với vài chính thể châu Phi, bao gồm của người Sotho và Zulu. Cuối cùng, người Boer thành lập hai nước cộng hòa có tuổi thọ lâu dài là: Cộng hòa Nam Phi hay Cộng hòa Transvaal (1852–77; 1881–1902) và Quốc gia Tự do Oranje (1854–1902). Năm 1902, Anh chiếm đóng hai nước cộng hòa, dàn xếp một hiệp định với hai nước cộng hòa Boer sau Chiến tranh Boer thứ hai (1899–1902).
Năm 1869, kênh đào Suez được khánh thành dưới quyền Napoléon III, liên kết Địa Trung Hải với Ấn Độ Dương. Ban đầu, Anh phản đối Kênh đào; song khi nó khánh thành, giá trị chiến lược của nó nhanh chóng được công nhận và trở thành "tĩnh mạch cảnh của Đế quốc". Năm 1875, chính phủ Bảo thủ của Benjamin Disraeli mua từ quân chủ Ai Cập đang mắc nợ là Isma'il Pasha 44% cổ phần của Kênh đào Suez với giá £4 triệu. Mặc dù điều này không trao cho Anh quyền kiểm soát lập tức thủy đạo chiến lược, song tạo cho Anh đòn bẩy. Kiểm soát tài chính chung Anh-Pháp đối với Ai Cập kết thúc khi Anh chiếm đóng hoàn toàn Ai Cập vào năm 1882. Pháp vẫn là cổ đông đa số và nỗ lực làm suy yếu vị thế của Anh, song một thỏa hiệp đạt được theo Hiệp định Constantinopolis 1888, theo đó biến Kênh đào thành một lãnh thổ trung lập chính thức.
Với các hoạt động của Pháp, Bỉ và Bồ Đào Nha ở hạ lưu khu vực sông Congo đã phá hoại sự xâm nhập có trật tự ở vùng châu Phi nhiệt đới, Hội nghị Berlin 1884–85 được tổ chức nhằm điều chỉnh cạnh tranh giữa các thế lực châu Âu trong cái được gọi là "Tranh giành châu Phi" theo định nghĩa "chiếm đóng hữu hiệu" với tư cách là tiêu chuẩn về công nhận quốc tế cho các yêu sách lãnh thổ. Tranh giành tiếp tục trong thập niên 1890 và khiến Anh cân nhắc quyết định của mình vào năm 1885 để triệt thoái khỏi Sudan. Một lực lượng chung gồm quân Anh và Ai Cập đánh bại quân Mahdi vào năm 1896 và đẩy lui một cuộc xâm chiếm của Pháp tại Fashoda vào năm 1898. Sudan trên danh nghĩa nằm dưới chế độ quản lý chung Anh-Ai Cập, song trên thực tế là một thuộc địa của Anh.
Những thâu tóm của Anh tại miền nam và miền đông châu Phi thúc đẩy Cecil Rhodes, nhà tiên phong của quá trình bành trướng của Anh tại châu Phi, đề xuất một đường sắt "Cape đến Cairo" liên kết Kênh đào Suez quan trọng chiến lược đến miền Nam giàu khoáng sản. Trong thập niên 1880 và 1890, Rhodes cùng với Công ty Nam Phi thuộc Anh do ông sở hữu chiếm đóng và sáp nhập các lãnh thổ mà sau đó được đặt là Rhodesia theo họ của ông.
=== Cải biến tình trạng của các thuộc địa da trắng ===
Con đường dẫn đến độc lập đối với các thuộc địa da trắng của Đế quốc Anh bắt đầu với Báo cáo Durham 1839, trong đó đề xuất chính phủ thống nhất và tự quản cho Thượng và Hạ Canada, như một giải pháp cho náo động chính trị tại đây. Điều này bắt đầu bằng việc thông qua Đạo luật Liên minh năm 1840, theo đó thiết lập Tỉnh Canada. Quyền chính phủ trách nhiệm đầu tiên được cấp cho Nova Scotia vào năm 1848 và nhanh chóng được mở rộng cho các thuộc địa khác của Anh tại Bắc Mỹ. Khi Quốc hội Anh thông qua Đạo luật Bắc Mỹ thuộc Anh 1867, Canada, New Brunswick và Nova Scotia hợp nhất thành Quốc gia tự trị Canada, một bang liên được hưởng tự quản hoàn toàn với ngoại lệ là các quan hệ quốc tế. Úc và New Zealand giành được mức độ tự quản tương tự sau năm 1900, khi các thuộc địa Úc liên bang hóa vào năm 1901. Thuật ngữ "tình trạng quốc gia tự trị" chính thức được giới thiệu tại Hội nghị Thuộc địa 1907.
Các thập niên cuối của thế kỷ 19 chứng kiến các chiến dịch chính trị có phối hợp về quyền tự quản cho Ireland. Ireland được hợp nhất với Anh theo Đạo luật Liên minh 1800 sau khởi nghĩa Ireland 1798 và phải trải qua một nạn đói khắc nghiệt từ năm 1845 đến năm 1852. Quyền tự quản cho Ireland được Thủ tướng Anh William Gladstone ủng hộ, ông hy vọng rằng Ireland có thể tiếp bước Canada để trở thành một quốc gia tự trị trong đế quốc, song Dự luật Tự quản 1886 của ông bị thất bại tại Quốc hội. Mặc dù dự luật nếu được thông qua sẽ cấp cho Ireland ít quyền tự trị trong bản thân Anh so với các tỉnh của Canada trong liên bang của họ, song nhiều nghị viên lo ngại rằng một Ireland độc lập cục bộ sẽ đặt ra một đe dọa an ninh cho Anh hoặc đánh dấu bắt đầu sự tan rã của Đế quốc. Một dự luật tự quản thứ nhì cũng thất bại vì các nguyên nhân tương tự. Một dự luật thứ ba được Quốc hội thông qua vào năm 1914, song không được thi hành do Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng phát, dẫn đến khởi nghĩa Phục Sinh 1916.
== Thời kỳ 1914–1945 ==
Bước sang thế kỷ 20, lo ngại bắt đầu tăng lên tại Anh rằng họ sẽ không còn có thể phòng thủ mẫu quốc và sự toàn vẹn của Đế quốc trong khi đương thời duy trì chính sách "cô lập vinh quang". Đức nhanh chóng phát triển thành một cường quốc quân sự và công nghiệp và lúc này được nhận định là đối thủ khả dĩ nhất trong bất kỳ chiến tranh tương lai nào. Công nhận rằng họ quá tải tại Thái Bình Dương và bị đe dọa tại mẫu quốc trước Hải quân Đế quốc Đức, Anh lập một liên minh với Nhật Bản vào năm 1902 và với các cựu địch thủ Pháp và Nga lần lượt vào năm 1904 và 1907.
=== Chiến tranh thế giới thứ nhất ===
Lo ngại chiến tranh với Đức của người Anh được hiển thị vào năm 1914 khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng phát. Anh nhanh chóng xâm chiếm và chiếm đóng hầu hết thuộc địa hải ngoại của Đức tại châu Phi. Tại Thái Bình Dương, Úc và New Zealand tương ứng chiếm đóng Tân Guinea thuộc Đức và Samoa. Các kế hoạch phân chia hậu chiến Đế quốc Ottoman cùng phe với Đức được Anh và Pháp bí mật soạn thảo theo Hiệp định Sykes–Picot 1916. Hiệp định này không được tiết lộ cho Sharif của Mecca, là người mà Anh khuyến khích tiến hành một cuộc khởi nghĩa Ả Rập chống lại Ottoman, tạo ấn tượng rằng Anh ủng hộ thiết lập một quốc gia Ả Rập độc lập.
Anh tuyên chiến với Đức và các đồng minh của họ, điều này cũng liên lụy đến các thuộc địa và quốc gia tự trị của Anh vốn là những nguồn cung cấp quân sự, tài chính và tài nguyên vô giá. Trên 2,5 triệu binh sĩ phục vụ trong các quân đội của các quốc gia tự trị, cũng như có hành nghìn quân tình nguyện từ các thuộc địa vương thất. Đóng góp của các binh sĩ Úc và New Zealand trong Chiến dịch Gallipoli 1915 chống Đế quốc Ottoman tạo một tác động rất lớn đến ý thức quốc gia tại quê hương và đánh dấu một bước ngoặt trong chuyển biến Úc và New Zealand từ các thuộc địa sang các quốc gia. Người Canada nhận định trận Vimy Ridge với một quan niệm tương tự. Đóng góp quan trọng của các quốc gia tự trị vào nỗ lực chiến tranh được Thủ tướng Anh David Lloyd George công nhận vào năm 1917 khi ông mời thủ tướng của các quốc gia tự trị tham gia một Nội các Chiến tranh Đế quốc để phối hợp chính sách đế quốc.
Theo các điều khoản của Hòa ước Versailles kết thúc thế chiến vào năm 1919, đế quốc đạt đến quy mô tối đa khi có thêm 1.800.000 dặm vuông Anh (4.700.000 km2) và 13 triệu thần dân mới. Các thuộc địa của Đức và Ottoman được phân cho các cường quốc Đồng Minh với vị thế Hội Quốc Liên ủy thác. Anh giành được quyền kiểm soát Palestine, Transjordan, Iraq, các bộ phận của Cameroon và Togo và Tanganyika. Bản thân các quốc gia tự trị cũng giành được các lãnh thổ ủy thác riêng: Liên bang Nam Phi giành được Tây-Nam Phi (nay là Namibia), Úc giành được Tân Guinea thuộc Đức và New Zealand giành được Tây Samoa. Nauru là một lãnh thổ ủy thác chung của Anh và hai quốc gia tự trị Thái Bình Dương.
=== Thời kỳ giữa hai thế chiến ===
Trật tự thế giới đang thay đổi vốn bắt nguồn từ đại chiến, đặc biệt là Hoa Kỳ và Nhật Bản phát triển thành các cường quốc hải quân và sự phát triển của các phong trào độc lập tại Ấn Độ và Ireland, dẫn đến một tái xét lớn trong chính sách đế quốc của Anh. Buộc phải lựa chọn giữa liên kết với Hoa Kỳ hoặc Nhật Bản, Anh quyết định không gia hạn liên minh với Nhật mà thay vào đó ký kết Hiệp định Hải quân Washington 1922, theo đó Anh chấp thuận đồng đẳng hải quân với Hoa Kỳ. Quyết định này là nguồn gốc của nhiều tranh luận tại Anh trong thập niên 1930 khi các chính phủ quân phiệt nắm được quyền lực tại Nhật Bản và Đức một phần nhờ vào Đại khủng hoảng, do họ lo ngại rằng Đế quốc không thể tồn tại qua một cuộc tấn công đồng thời từ hai quốc gia. Vấn đề an ninh của đế quốc là một mối quan tâm nghiêm trọng tại Anh, đương thời Đế quốc mang tính sống còn với kinh tế Anh.
Năm 1919, thất vọng bắt nguồn từ việc trì hoãn Ireland tự quản khiến các thành viên của Sinn Féin- một đảng ủng hộ độc lập và chiếm đa số ghế của Ireland trong Quốc hội Anh trong tổng tuyển cử 1918- thành lập một Nghị viện Ireland tại Dublin, tại đây độc lập của Ireland được tuyên bố. Quân đội Cộng hòa Ireland đồng thời bắt đầu một chiến tranh du kích chống chính quyền Anh. Chiến tranh Anh-Ireland kết thúc vào năm 1921 trong một bế tắc và ký kết Hiệp định Anh-Ireland thiết lập Quốc gia Tự do Ireland, một quốc gia tự trị trong Đế quốc Anh, với độc lập nội bộ hữu hiệu song vẫn có liên kết về hiến pháp với Quân chủ Anh. Bắc Ireland, gồm 6/32 quận của Ireland lập tức thi hành quyền lựa chọn theo hiệp định là duy trì tình trạng hiện hành trong Vương quốc Liên hiệp.
Một cuộc đấu tranh tương tự bắt đầu tại Ấn Độ khi Đạo luật Chính phủ Ấn Độ 1919 không đáp ứng yêu cầu độc lập. Lo ngại về các âm mưu cộng sản và ngoại quốc sau Âm mưu Ghadar khiến các hạn chế thời chiến được khôi phục theo các Đạo luật Rowlatt. Điều này dẫn đến căng thẳng, đặc biệt là tại khu vực Punjab, tại đây các biện pháp đàn áp lên đến cực độ trong Thảm sát Amritsar. Dư luận tại Anh bị chia rẽ về tính đạo đức của sự kiện, giữa những người cho rằng nó cứu Ấn Độ khỏi tình trạng hỗn loạn và những người cho rằng nó ghê tởm. Phong trào bất hợp tác tiếp đó được ngưng lại vào tháng 3 năm 1922 sau sự kiện Chauri Chaura và bất mãn tiếp tục âm ỉ trong 25 năm tiếp theo.
Ai Cập được tuyên bố là một quốc gia bảo hộ của Anh khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng phát, đến năm 1922 thì được trao độc lập chính thức, song tiếp tục là một quốc gia tòng thuộc của Anh cho đến năm 1954. Các binh sĩ Anh duy trì đồn trú tại Ai Cập cho đến khi ký kết Hiệp định Anh-Ai Cập vào năm 1936, theo đó nhất trí rằng binh sĩ Anh sẽ triệt thoái song tiếp tục chiếm lĩnh và phòng thủ khu vực Kênh đào Suez. Đổi lại, Ai Cập được giúp đỡ để gia nhập Hội Quốc Liên. Iraq là một lãnh thổ ủy trị của Anh từ năm 1920 và cũng giành được tư cách thành viên của Hội Quốc Liên nhân danh bản thân sau khi giành độc lập từ Anh vào năm 1932. Tại Palestine, Anh đề xuất vấn đề hòa giải giữa các cộng đồng Ả Rập và Do Thái. Tuyên ngôn Balfour năm 1917 được hợp nhất vào các diều khoản ủy thác, cho rằng một tổ quốc cho người Do Thái sẽ được thiết lập tại Palestine và những người Do Thái nhập cư được chấp thuận đến một hạn định do thế lực ủy thác xác định. Điều này dẫn đến xung đột gia tăng với cư dân Ả Rập, họ khởi nghĩa công khai vào năm 1936. Do mối họa chiến tranh với Đức gia tăng trong thập niên 1930, Anh xét thấy sự ủng hộ của cư dân Ả Rập tại Trung Đông quan trọng hơn thiết lập một quê hương cho người Do Thái và chuyển sang một lập trường thân Ả Rập, hạn chế người Do Thái nhập cư và dẫn đến kích hoạt một cuộc nổi loạn của người Do Thái.
Thẩm quyền của các quốc gia tự trị được chế định chính sách đối ngoại riêng của mình, độc lập với Anh, được công nhận tại hội nghị Đế quốc 1923. Yêu cầu của Anh về trợ giúp quân sự từ các quốc gia tự trị khi bùng phát Khủng hoảng Chanak vào năm trước đó bị Canada và Nam Phi bác bỏ và Canada từ chối bị rằng buộc theo Hiệp ước Lausanne 1923. Sau áp lực từ Ireland và Nam Phi, Hội nghị Đế quốc 1926 ban bố Tuyên ngôn Balfour, tuyên bố các quốc gia tự trị là "các cộng đồng tự trị trong Đế quốc Anh, bình đẳng về vị thế, chẳng bằng cách nào một bên phải lệ thuộc bên khác" trong một "Thịnh vượng chung của các Quốc gia Anh". Tuyên bố này được trao bản chất pháp lý theo Quy chế Westminster 1931. Các quốc hội của Canada, Úc, New Zealand, Liên bang Nam Phi, Quốc gia Tự do Ireland và Newfoundland nay độc lập với kiểm soát tư pháp của Anh, họ có thể hủy bỏ các luật Anh và Anh không còn có thể thông qua các luật cho họ mà không được họ tán thành. Newfoundland quay lại tình trạng thuộc địa vào năm 1933 do các khó khăn tài chính trong Đại khủng hoảng. Ireland tách xa Anh hơn nữa khi đưa ra một hiến pháp mới vào năm 1937, theo đó Ireland thực tế trở thành một quốc gia cộng hòa.
=== Chiến tranh thế giới thứ hai ===
Anh tuyên chiến với Đức vào tháng 9 năm 1939, điều này bao gồm cả các thuộc địa vương thất và Ấn Độ song không tự động liên quan đến các quốc gia tự trị. Úc, Canada, New Zealand, Newfoundland và Nam Phi đều nhanh chóng tuyên chiến với Đức, song Quốc gia Tự do Ireland lựa chọn duy trì trung lập pháp lý trong suốt chiến tranh.
Sau khi Đức chiếm đóng Pháp vào năm 1940, Anh và đế quốc của mình cô độc chống lại Đức cho đến khi Liên Xô tham chiến vào năm 1941. Thủ tướng Anh Winston Churchill vận động thành công Tổng thống Franklin D. Roosevelt để Hoa Kỳ viện trợ quân sự, tuy nhiên Roosevelt vẫn chưa sẵn sàng yêu cầu Quốc hội đưa quốc gia vào chiến tranh. Trong tháng 8 năm 1941, Churchill và Roosevelt họp và ký kết Hiến chương Đại Tây Dương, trong đó gồm có tuyên bố "quyền của toàn bộ các dân tộc được lựa chọn hình thức chính phủ mà họ cư trú" cần được tôn trọng. Diễn tả này không rõ ràng về việc nó ám chỉ các quốc gia châu Âu bị Đức xâm chiếm, hay các dân tộc bị các quốc gia châu Âu thuộc địa hóa và sau này được giải thích khác nhau từ người Anh, người Mỹ và các phong trào dân tộc.
Trong tháng 12 năm 1941, Nhật Bản phát động tấn công Malaya thuộc Anh, căn cứ hải quân của Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng và Hồng Kông. Phản ứng của Churchill trước việc Hoa Kỳ tham chiến là Anh lúc này cầm chắc chiến thắng và tương lai của đế quốc là an toàn, tuy nhiên cách thức mà người Anh nhanh chóng đầu hàng Nhật Bản làm tổn hại không thể cứu vãn địa vị và uy tín thế lực đế quốc của Anh. Tổn hại nhiều nhất trong đó là thất thủ Singapore, đảo trước đó được ca ngợi là một pháo đài bất khả xâm phạm và là bản tương đương tại phương đông của Gibraltar. Nhận thức rằng Anh không thể bảo vệ toàn bộ đế quốc, Úc và New Zealand tiến vào các quan hệ mật thiết hơn với Hoa Kỳ khi xuất hiện đe dọa từ lực lượng Nhật Bản. Kết quả là Hiệp ước ANZUS 1951 giữa Úc, New Zealand và Hoa Kỳ.
== Phi thuộc địa hóa và suy tàn (1945–1997) ==
Mặc dù Anh và đế quốc là bên chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai, song tác động của xung đột là sâu sắc, cả quốc nội và hải ngoại. Phần lớn châu Âu- một lục địa chi phối thế giới trong vài thế kỷ- bị đổ nát và là nơi đóng quân của quân đội Hoa Kỳ và Liên Xô, hai quốc gia này giờ đây giữ cân bằng quyền lực toàn cầu. Sau chiến tranh, Anh phá sản về cơ bản, tình trạng không trả được nợ chỉ được ngăn chặn vào năm 1946 sau dàn xếp một khoản vay 4,33 tỷ USD từ Hoa Kỳ, phần trả cuối cùng của nó được hoàn trả vào năm 2006. Đương thời, các phong trào chống thực dân nổi lên trong các thuộc địa của các quốc gia châu Âu. Tình thế thêm phức tạp do gia tăng Chiến tranh Lạnh kình địch giữa Hoa Kỳ và Liên Xô. Trên nguyên tắc, Hoa Kỳ và Liên Xô phản đối chủ nghĩa thực dân châu Âu, song thực tế đối với Hoa Kỳ chủ nghĩa chống cộng chiếm ưu thế so với chủ nghĩa chống đế quốc và do đó Hoa Kỳ ủng hộ sự hiện diện tiếp tục của Đế quốc Anh nhằm cản trở sự khuếch trương của cộng sản. Phát biểu "gió đổi chiều" có nghĩa cuối cùng là những ngày của Đế quốc Anh đang được đếm và trên tất cả, Anh chấp thuận một chính sách giải thoát hòa bình với các thuộc địa của mình một khi hiện hữu các chính phủ ổn định, phi cộng sản để chuyển giao quyền lực. Điều này tương phản với các cường quốc châu Âu khác như Pháp và Bồ Đào Nha, là những quốc gia tiến hành các cuộc chiến tranh tốn kém và cuối cùng không thành công để giữ đế quốc của họ được nguyên vẹn. Từ năm 1945 đến năm 1965, số lượng người dưới quyền cai trị của Anh tại bên ngoài bản thân Anh giảm từ 700 triệu xuống năm triệu, ba triệu trong số đó là tại Hồng Kông.
=== Giải thoát ban đầu ===
Chính phủ Công đảng ủng hộ phi thuộc địa hóa đắc cử trong tổng tuyển cử năm 1945 và nằm dưới quyền Clement Attlee, họ hành động nhanh chóng nhằm giải quyết vấn đề cấp thiết nhất mà đế quốc đối diện: Ấn Độ độc lập. Hai chính đảng chủ yếu của Ấn Độ là Đảng Quốc Đại Ấn Độ và Liên minh người Hồi giáo tiến hành vận động về độc lập trong nhiều thập niên, song bất đồng về cách thức thực hiện. Đảng Quốc Đại tán thành một quốc gia Ấn Độ thế tục thống nhất, trong khi Liên minh người Hồi giáo thì lo ngại ưu thế từ người Ấn Độ giáo chiếm đa số, họ yêu cầu một quốc gia Hồi giáo riêng biệt cho các khu vực mà người Hồi giáo chiếm đa số. Bất ổn dân sự gia tăng và Hải quân Hoàng gia Ấn Độ có binh biến vào năm 1946 khiến Clement Attlee cam kết độc lập sẽ đến không sau năm 1948. Khi sự khẩn cấp của tình hình và nguy cơ nội chiến trở nên hiển nhiên, Phó vương mới được bổ nhiệm (và cuối cùng) là Louis Mountbatten vội vàng đẩy nhanh độc lập lên ngày 15 tháng 8 năm 1947. Biên giới do người Anh vẽ về đại thể phân chia Ấn Độ thành các khu vực của người Ấn Độ giáo và người Hồi giáo, khiến cho hàng chục triệu người trở thành nhóm thiểu số tại các quốc gia mới là Ấn Độ và Pakistan. Hàng triệu người Hồi giáo sau đó đi từ Ấn Độ sang Pakistan và người Ấn Độ giáo đi theo chiều ngược lại và xung đột giữa hai cộng đồng làm thiệt mạng hàng trăm nghìn người. Miến Điện, vốn được cai trị như là một phần của Ấn Độ thuộc Anh, và Sri Lanka giành được độc lập vào năm 1948. Ấn Độ, Pakistan và Sri Lanka trở thành các thành viên của Thịnh vượng chung, trong khi Miến Điện lựa chọn không tham gia.
Lãnh thổ ủy thác Palestine của Anh có một đa số người Ả Rập cư trú cạnh một thiểu số Do Thái, người Anh cũng phải đối diện với một vấn đề tương tự như tại Ấn Độ. Vấn đề phức tạp do một lượng lớn người tị nạn Do Thái tìm cách để được nhận đến Palestine sau Holocaust, trong khi người Ả Rập phản đối thành lập một quốc gia Do Thái. Nản lòng trước khó khăn của vấn đề, các cuộc tấn công từ các tổ chức bán quân sự Do Thái và gia tăng chi phí duy trì hiện diện quân sự, đến năm 1947 Anh tuyên bố rằng họ sẽ triệt thoái vào năm 1948 và để lại vấn đề cho Liên Hiệp Quốc giải quyết. Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc sau đó bỏ phiếu cho một kế hoạch phân chia Palestine thành một quốc gia Do Thái và một quốc gia Ả Rập.
Sau thất bại của Nhật Bản trong Chiến tranh thế khởi thứ hai, các phong trào kháng Nhật tại Malaya chuyển chú ý của họ về phía Anh, còn Anh hành động nhanh chóng để tái kiểm soát thuộc địa, đánh giá đây là một nguồn cung cao su và thiếc. Thực tế các chiến sĩ du kích chủ yếu là người cộng sản gốc Hoa, điều này khiến nỗ lực của Anh nhằm dập tắt nổi dậy được sự ủng hộ của người Mã Lai theo Hồi giáo vốn chiếm đa số, với điều kiện là một khi nổi dậy bị dập tắt thì sẽ được công nhận độc lập. Tình trạng khẩn cấp Malaya bắt đầu vào năm 1948 và kéo dài cho đến năm 1960, song đến năm 1957 thì Anh cảm thấy đủ tin tưởng để cấp độc lập cho Liên bang Malaya trong Thịnh vượng chung. Năm 1963, 11 bang của liên bang cùng với Singapore, Sarawak và Bắc Borneo hợp nhất thành Malaysia, tuy nhiên đến năm 1965 thì Singapore vốn có đa số cư dân là người Hoa bị trục xuất khỏi liên minh sau các xung đột giữa cư dân Mã Lai và Hoa. Brunei là một lãnh thổ bảo hộ của Anh từ năm 1888, từ chối gia nhập liên minh và duy trì tình trạng này cho đến khi độc lập vào năm 1984.
=== Khủng hoảng Suez và hậu quả ===
Năm 1951, Đảng Bảo thủ quay lại nắm quyền tại Anh, dưới sự lãnh đạo của Winston Churchill. Churchill và những người Bảo thủ cho rằng vị thế thế lực thế giới của Anh dựa trên sự hiện diện tiếp tục của đế quốc, với căn cứ tại Kênh đào Suez cho phép Anh duy trì vị thế ưu việt của mình tại Trung Đông bất chấp việc để mất Ấn Độ. Tuy nhiên, Churchill không thể lờ đi chính phủ cách mạng mới của Gamal Abdul Nasser tại Ai Cập vừa cướp chính quyền từ năm 1952 và năm sau Anh chấp thuận rằng binh sĩ Anh sẽ triệt thoái khỏi khu vực Kênh đào Suez và rằng Sudan sẽ được cấp quyền tự quyết vào năm 1955, với độc lập tiếp theo đó.
Trong tháng 7 năm 1956, Nasser đơn phương quốc hữu hóa Kênh đào Suez. Phản ứng của thủ tướng Anh đương thời -Anthony Eden- là thông đồng với Pháp để sắp đặt một cuộc tấn công của Israel vào Ai Cập, điều này sẽ tạo cho Anh và Pháp một cớ để can thiệp quân sự và tái chiếm kênh đào. Eden chọc giận Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower do nhân vật này không được thương nghị và Eisenhower từ chối ủng hộ cuộc xâm chiếm. Các lo ngại khác của Eisenhower là khả năng về một cuộc chiến rộng hơn với Liên Xô sau khi quốc gia này đe dọa can thiệp bên phía Ai Cập. Eisenhower áp dụng đòn bẩy tài chính bằng cách đe dọa bán dự trữ của Hoa Kỳ bằng bảng Anh và từ đó khiến đơn vị tiền tệ của Anh bị phá giá. Mặc dù quân xâm chiếm đạt được thành công về quân sự trong mục tiêu của mình, song can thiệp của Liên Hiệp Quốc và áp lực của Hoa Kỳ buộc Anh phải nhục nhã triệt thoái lực lượng của mình và Eden từ chức.
Khủng hoảng Suez thực sự bộc lộ công khai các hạn chế của Anh trên thế giới và xác nhận sự suy tàn của Anh trên vũ đài thế giới, biểu thị rằng từ đó về sau họ không còn có thể hành động mà không có ít nhất là sự đồng ý, nếu không phải ủng hộ hoàn toàn, của Hoa Kỳ. Các sự kiện tại Suez làm tổn thương đến sự kiêu hãnh quốc gia của Anh, khiến một nghị viên miêu tả nó như "Waterloo của Anh" và những người khác thì cho rằng quốc gia đã trở thành một "vệ tinh của Hoa Kỳ". Margaret Thatcher sau đó miêu tả suy nghĩ bà tin rằng "hội chứng Suez" đã xảy ra trong chính trị Anh, từ đó Anh không phục hồi cho đến khi tái chiếm thành công quần đảo Falkland từ Argentina vào năm 1982.
Khủng hoảng Suez khiến quyền lực của Anh tại Trung Đông bị suy yếu, song nó không sụp đổ. Anh lại triển khai quân đội đến khu vực, can thiệp tại Oman (1957), Jordan (1958) và Kuwait (1961), song các trường hợp này có sự tán thành của Hoa Kỳ, do chính sách đối ngoại của tân thủ tướng Harold Macmillan là duy trì liên kết vững chắc với Hoa Kỳ. Anh duy trì sự hiện diện quân sự tại Trung Đông trong nhiều thập niên sau. Trong tháng 1 năm 1968, một vài tuần sau khi phá giá đồng Bảng, Thủ tướng Anh Harold Wilson và Bộ trưởng Quốc phòng Denis Healey tuyên bố rằng binh sĩ Anh sẽ triệt thoái từ các căn cứ quân sự chủ yếu tại phía đông của Suez, vốn gồm các căn cứ tại Trung Đông và chủ yếu là từ Malaysia và Singapore. Anh triệt thoái khỏi Aden vào năm 1967, Bahrain vào năm 1971 và Maldives vào năm 1976.
=== Gió đổi chiều ===
Macmillan đưa ra một phát biểu tại Cape Town, Nam Phi vào tháng 2 năm 1960, ông nói "gió đổi chiều thổi qua lục địa này." Macmillan muốn tránh điều tương tự như chiến tranh thuộc địa mà Pháp chiến đấu tại Algeria và quá trình phi thuộc địa hóa được tiến hành nhanh chóng trong nhiệm kỳ thủ tướng của ông. Trong thập niên 1950, có ba thuộc địa là Sudan, Bờ Biển Vàng và Malaya giành được độc lập, con số trong thập niên 1960 gấp gần mười lần.
Các thuộc địa còn lại của Anh tại châu Phi, ngoại trừ Nam Rhodesia tự quản, đều được cấp độc lập cho đến năm 1968. Anh triệt thoái khỏi các bộ phận miền nam và miền đông của châu Phi không phải là một quá trình hòa bình. Độc lập của Kenya đến sau một khởi nghĩa Mau Mau kéo dài tám năm. Tại Rhodesia, Tuyên ngôn độc lập đơn phương vào năm 1965 của cộng đồng thiểu số da trắng dẫn đến một cuộc nội chiến kéo dài cho đến Hiệp định Lancaster House vào năm 1979, theo đó chế định các điều khoản để công nhận độc lập vào năm 1980, với một quốc gia mới là Zimbabwe.
Tại Địa Trung Hải, một chiến tranh du kích do những người Síp gốc Hy Lạp tiến hành kết thúc bằng một Síp độc lập vào năm 1960, Anh duy trì các căn cứ quân sự Akrotiri và Dhekelia. Các đảo Malta và Gozo tại Địa Trung Hải được trao độc lập một cách hữu nghị từ Anh vào năm 1964, bất chấp ý tưởng nổi lên vào năm 1955 về việc hợp nhất với Anh.
Hầu hết lãnh thổ của Anh tại Caribe giành được độc lập sau khi Jamaica và Trinidad rút khỏi Liên bang Tây Ấn lần lượt vào năm 1961 và 1962. Liên bang Tây Ấn được thành lập vào năm 1958 trong một nỗ lực nhằm hợp nhất các thuộc địa của Anh tại Caribe dưới một chính phủ, song điều này sụp đổ sau khi liên bang mất hai thành viên lớn nhất. Barbados giành được độc lập vào năm 1966 và các đảo Đông Caribe còn lại giành độc lập trong các thập niên 1970 và 1980, song Anguilla và Quần đảo Turks và Caicos lựa chọn trở lại quyền kiểm soát của Anh sau khi họ đã sẵn sàng bắt đầu con đường độc lập. Quần đảo Virgin thuộc Anh, Quần đảo Cayman và Montserrat lựa chọn duy trì các quan hệ với Anh, trong khi Guyana giành độc lập vào năm 1966. Thuộc địa cuối cùng của Anh trên đại lục châu Mỹ là Honduras thuộc Anh trở thành một thuộc địa tự quản vào năm 1964 và đổi tên thành Belize vào năm 1973, giành độc lập hoàn toàn vào năm 1981. Một tranh chấp với Guatemala về yêu sách với Belize được để lại mà chưa giải quyết.
Các lãnh thổ của Anh tại Thái Bình Dương giành độc lập trong thập niên 1970, bắt đầu với Fiji vào năm 1970 và kết thúc với Vanuatu vào năm 1980. Độc lập của Vanuatu bị trì hoãn do xung đột chính trị giữa các cộng đồng Anh ngữ và Pháp ngữ, do quần đảo chịu sự quản trị chung của Anh và Pháp. Fiji, Tuvalu, quần đảo Solomon và Papua New Guinea đã lựa chọn trở thành Vương quốc Khối thịnh vượng chung.
=== Đế quốc kết thúc ===
Năm 1980, Rhodesia, thuộc địa châu Phi cuối cùng của nước Anh, trở thành quốc gia độc lập Zimbabwe. The New Hebrides cũng giành được độc lập (trở thành Vanuatu) vào năm 1980, và Belize nối tiếp sau khi giành độc lập năm 1981. Đạo luật Quốc tịch Anh 1981 được thông qua, trong đó tái xác định các thuộc địa vương thất còn lại là "các lãnh thổ phụ thuộc Anh" (đổi tên thành Lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh vào năm 2002) có nghĩa là ngoài các đảo và tiền đồn nằm rải rác (và năm 1955 thu được đá không người tại Rockall tại Đại Tây Dương), quá trình phi thuộc địa hóa vốn bắt đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai phần lớn đã hoàn thành. Năm 1982, quyết tâm của Anh trong bảo vệ các lãnh thổ hải ngoại còn lại được thử thách khi Argentina xâm chiếm quần đảo Falkland, dựa trên yêu sách có từ thời Đế quốc Tây Ban Nha. Phản ứng quân sự thành công chung cuộc của Anh để tái chiếm quần đảo được nhiều người nhận định là góp phần đảo nghịch xu hướng vị thế của Anh đi xuống trong vai trò một thế lực thế giới. Trong cùng năm, chính phủ Canada đoạn tuyệt liên kết tư pháp cuối cùng của họ với Anh khi chuyển quyền với hiến pháp Canada khỏi Anh. Quốc hội Anh thông qua Đạo luật Canada 1982, kết thúc sự cần thiết Anh tham gia vào thay đổi hiến pháp Canada. Tương tự như vậy, Đạo luật Hiến pháp 1986 được thông qua nhằm cắt đứt liên kết giữa hiến pháp Anh với hiến pháp của New Zealand, Đạo luật Úc 1986 cắt đứt liên kết giữa hiến pháp Anh và hiến pháp các bang của Úc.
Trong tháng 9 năm 1982, Thủ tướng Margaret Thatcher đến Bắc Kinh để đàm phán với chính phủ Trung Quốc về Hồng Kông-lãnh thổ hải ngoại lớn và đông dân nhất cuối cùng của Anh. Theo các điều khoản của Điều ước Nam Kinh 1842, đảo Hồng Kông được nhượng vĩnh viễn cho Anh, song đại đa số thuộc địa cấu thành từ Tân Giới- lãnh thổ mà Anh thu được theo một hợp đồng thuê 99 năm vào năm 1898, sẽ hết hạn vào năm 1997. Thatcher ban đầu muốn giữ Hồng Kông và đề xuất về sự cai quản của Anh với chủ quyền của Trung Quốc, song Trung Quốc bác bỏ điều này. Một thỏa thuận đạt được vào năm 1984—theo các điều khoản của Tuyên bố chung Trung-Anh, Hồng Kông sẽ trở thành một khu hành chính đặc biệt của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, duy trì phương thức sinh hoạt trong ít nhất 50 năm. Lễ bàn giao vào năm 1997 đối với nhiều người, bao gồm cả Charles, Thân vương xứ Wales, đánh dấu "sự kết thúc của Đế quốc".
== Di sản ==
Anh duy trì chủ quyền đối với 14 lãnh thổ bên ngoài Quần đảo Anh, chúng được đổi tên thành các lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh vào năm 2002. Một số lãnh thổ không có cư dân ngoại trừ các nhân viên quân sự hoặc khoa học tạm thời; các lãnh thổ còn lại được tự quản tại mức độ khác nhau và dựa vào Anh về đối ngoại và phòng thủ. Chính phủ Anh tuyên bố sẵn sàng giúp đỡ bất kỳ lãnh thổ hải ngoại nào muốn theo đuổi độc lập. Chủ quyền của Anh đối với một vài lãnh thổ hải ngoại bị tranh chấp: Tây Ban Nha yêu sách với Gibraltar, Argentina yêu sách với quần đảo Falkland và Nam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich và Mauritius cùng Seychelles yêu sách với Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh. Lãnh thổ châu Nam Cực thuộc Anh chồng lấn với các yêu sách của Argentina và Chile, trong khi nhiều quốc gia không công nhận bất kỳ yêu sách lãnh thổ nào tại châu Nam Cực.
Hầu hết các thuộc địa và lãnh thổ bảo hộ cũ của Anh nằm trong số 53 quốc gia thành viên của Thịnh vượng chung các Quốc gia, một hiệp hội phi chính trị và tự nguyện của các thành viên bình đẳng, với tổng dân số khoảng 2,2 tỷ người. 16 vương quốc Thịnh vượng chung tiếp tục chia sẻ nguyên thủ quốc gia chung là Nữ vương Elizabeth II. Các quốc gia này là các thực thể pháp luật riêng biệt và bình đẳng – Anh, Úc, Canada, New Zealand, Papua New Guinea, Antigua và Barbuda, Bahamas, Barbados, Belize, Grenada, Jamaica, Saint Kitts và Nevis, Saint Lucia, Saint Vincent và Grenadines, Quần đảo Solomon và Tuvalu
Trong nhiều thập niên và trong một số trường hợp là nhiều thế kỷ, sự cai trị và di cư của người Anh để lại dấu ấn tại các quốc gia độc lập phát sinh từ Đế quốc Anh. Đế quốc thiết lập việc sử dụng tiếng Anh tại các khu vực khắp thế giới. Ngày nay, đây là ngôn ngữ chủ yếu của đến 400 triệu người và được khoảng một tỷ rưỡi người nói như ngôn ngữ thứ nhất, thứ nhì hoặc ngoại ngữ.
Sự truyền bá của tiếng Anh từ nửa cuối của thế kỷ 20 là nhờ một phần vào ảnh hưởng văn hóa của Hoa Kỳ, bản thân quốc gia này hình thành từ các thuộc địa của Anh. Ngoại trừ tại châu Phi nơi gần như toàn bộ các cựu thuộc địa chọn hệ thống tổng thống chế, hệ thống nghị viện Anh đóng vai trò là khuôn mẫu cho chính phủ của nhiều cựu thuộc địa và thông luật Anh đối với các hệ thống tư pháp.
Ủy ban Tư pháp Xu mật viện vẫn đóng vai trò là tòa án tối cao về phúc thẩm của một vài cựu thuộc địa tại Caribe và Thái Bình Dương. Các nhà truyền giáo Tin Lành của Anh đi khắp thế giới trước các binh sĩ và công chức để truyền bá các nhóm đạo Anh giáo đến tất cả lục địa. Kiến trúc thuộc địa Anh, như trong các nhà thờ, ga xe lửa và tòa nhà chính phủ, có thể trông thấy được tại nhiều thành phố từng là bộ phận của Đế quốc Anh.
Các môn thể thao cá nhân và đồng đội phát triển tại Anh, đặc biệt là bóng đá, cricket, bóng bầu dục, quần vợt sân cỏ và golf—cũng được xuất khẩu. Lựa chọn của Anh về hệ thống đo lường, hệ thống đế quốc, tiếp tục được sử dụng tại một số quốc gia theo các cách thức khác nhau. Quy tắc đi xe bên trái đường được duy trì tại phần lớn cựu đế quốc.
Biên giới chính trị do người Anh vẽ không phải luôn phản ánh đồng nhất dân tộc hoặc tôn giáo, góp phần vào các xung đột tại các khu vực cựu thuộc địa. Đế quốc Anh cũng chịu trách nhiệm đối với sự di cư của các dân tộc. Hàng triệu người rời khỏi Quần đảo Anh, với các dân định cư sáng lập của Hoa Kỳ, Canada, Úc và New Zealand chủ yếu đến từ Anh và Ireland. Căng thẳng giữa dân định cư da trắng trong các quốc gia này với các cộng đồng thiểu số bản địa của họ và giữa các cộng đồng thiểu số định cư da trắng và cộng đồng đa số bản địa tại Nam Phi và Zimbabwe. Những người định cư tại Ireland từ Anh để lại dấu ấn của họ bằng việc hình thành các cộng đồng dân tộc chủ nghĩa và liên minh chủ nghĩa tại Bắc Ireland. Hàng triệu người chuyển đi và từ các thuộc địa Anh, với số lượng lớn người Ấn Độ di cư đến các bộ phận khác của đế quốc, như Malaysia và Fiji và người Hoa đến Malaysia, Singapore và Caribe. Nhân khẩu tại Anh biến hóa sau Chiến tranh thế giới thứ hai do nhập cư đến Anh từ các cựu thuộc địa của mình.
== Xem thêm ==
All-Red Route
Triển lãm đế quốc Anh
Đế quốc Anh trong tiểu thuyết
Colonial Office
Cờ Đế quốc Anh
Ngoại giao của Vương quốc Liên hiệp Anh
Dinh thống đốc trong Đế quốc Anh và Khối thịnh vượng chung
Biên soạn lịch sử của Đế quốc Anh
Lịch sử chủ nghĩa tư bản
Sự thống trị gián tiếp
Danh sách các chủ đề liên quan tới Đế quốc Anh
Huân chương Đế quốc Anh
Bảo hộ
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
British Empire trên chương trình In Our Time của BBC. (Nghe tại đây)
Đế quốc Anh. Cổng thông tin Internet
Đế quốc Anh
Tập tin âm thanh về Đế quốc Anh tại TheEnglishCollection.com |
.gh.txt | .gh là tên miền Internet cấp cao nhất dành cho quốc gia (ccTLD) của Ghana.
== Các tên miền cấp 2 ==
com.gh cho công ty
edu.gh cho trường học
gov.gh cho chính quyền
org.gh cho tổ chức
mil.gh cho quân đội
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
IANA .gh whois information
.gh domain registration website |
thập niên 1950.txt | Thập niên 1950 hay thập kỷ 1950 chỉ đến những năm từ 1950 đến 1959, kể cả hai năm đó. Không chính thức, nó cũng có thể bao gồm vài năm vào cuối thập niên trước hay vào đầu thập niên sau.
== Tham khảo == |
ngôn ngữ tại hoa kỳ.txt | Hoa Kỳ không có một ngôn ngữ chính thức, nhưng tiếng Anh được khoảng 82% dân số nói như tiếng mẹ đẻ. Biến thể tiếng Anh được nói tại Hoa Kỳ được biết như là tiếng Anh Mỹ; cùng với tiếng Anh Canada nó tạo thành một nhóm tiếng địa phương được biết đến là tiếng Anh Bắc Mỹ. Có 96% dân số Hoa Kỳ nói thông thạo tiếng Anh. Ngày 18 tháng 5 năm 2006, Thượng viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu cho một tu chính án của một đạo luật cải cách di dân mà tuyên bố tiếng Anh là ngôn ngữ quốc gia của Hoa Kỳ. Đạo luật cải cách di dân chính nó, S. 2611, đã được thông qua tại Thượng viện ngày 25 tháng 5 năm 2006 và hiện tại phải được đưa trở lại Hạ viện Hoa Kỳ để bảo đảm là các tu chính án được đồng thuận.
Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ thông dụng thứ nhì tại Hoa Kỳ, được khoảng 30 triệu người nói (hay 12% dân số) năm 2005. Tại Puerto Rico, cả tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh đều là ngôn ngữ chính thức, và tại New Mexico cả hai ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi. Hoa Kỳ có dân số nói tiếng Tây Ban Nha đứng hàng thứ năm trên thế giới, chỉ sau México, Tây Ban Nha, Argentina và Colombia. Puerto Rico có dân số nói tiếng Tây Ban Nha là đa số. Mặc dù các di dân mới đến từ châu Mỹ Latinh ít thông thạo tiếng Anh nhưng thế hệ thứ hai gần như nói tiếng Anh lưu loát trong khi khoảng phân nửa vẫn còn nói tiếng Tây Ban Nha.
Người gốc Đức tạo thành nhóm sắc tộc riêng biệt lớn nhất tại Hoa Kỳ và tiếng Đức xếp hạng năm. Tiếng Ý, tiếng Ba Lan và tiếng Hy Lạp vẫn còn được sử dụng rộng rãi trong dân số có nguồn gốc di dân từ các quốc gia đó trong đầu thế kỷ 20 nhưng việc sử dụng các ngôn ngữ này đã mai một khi các thế hệ người già mất đi. Bắt đầu từ thập niên 1970 và tiếp tục cho đến giữa thập niên 1990, nhiều người từ Liên Xô và sau đó là các nước cộng hòa kế thừa của nó như Nga, Ukraina, Belarus và Uzbekistan đã di dân đến Hoa Kỳ làm cho tiếng Nga trở thành một trong những ngôn ngữ thiểu số tại Hoa Kỳ.
Tiếng Tagalog và tiếng Việt có trên 1 triệu người nói tại Hoa Kỳ, gần như là toàn bộ trong số những người di dân vừa qua.
Cũng có một dân số nhỏ người bản thổ châu Mỹ vẫn còn nói các ngôn ngữ bản xứ của họ, nhưng những dân số này đang ít dần và các ngôn ngữ này gần như chưa bao giờ được sử dụng rộng rãi bên ngoài các khu dành cho người bản thổ. Tiếng Hawaii, mặc dù có ít người bản xứ nói, vẫn còn được dùng ở cấp tiểu bang tại Hawaii cùng với tiếng Anh. Tất cả các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh thường được truyền lại từ các thế hệ tổ tiên di dân hoặc được dạy qua những hình thức giáo dục.
Có khoảng 337 ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ bằng dấu tại Hoa Kỳ mà trong đó khoảng 176 là có nguồn gốc bản địa. 52 ngôn ngữ nói trong lãnh thổ của Hoa Kỳ ngày nay đã tuyệt chủng.
== Thống kê qua điều tra dân số ==
Theo điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2000, những ngôn ngữ chính theo số người nói trên 5 tuổi là:
Tiếng Anh: 215 triệu
Tiếng Tây Ban Nha: 28 triệu
Tiếng Hoa: hơn 2,0 triệu. Đa số nói tiếng Quảng Đông cùng với một nhóm gia tăng các người nói tiếng Quan Thoại
Tiếng Pháp: 1,6 triệu
Tiếng Đức: 1,4 triệu
Tiếng Tagalog: hơn 1,2 triệu. Đa số người Philippines cũng có thể nói những ngôn ngữ khác của Philippines như Ilokano, Pangasinan, các thứ tiếng Bikol và các thứ tiếng Visayan
Tiếng Việt: 1,01 triệu
Tiếng Ý: 1,01 triệu
Tiếng Triều Tiên: 890.000
Tiếng Nga: 710.000
Tiếng Ba Lan: 670.000
Tiếng Ả Rập: 610.000
Tiếng Bồ Đào Nha: 560.000
Tiếng Nhật: 480.000
Tiếng Pháp Creole: 450.000. Đa số là tiếng Pháp Creole tại Louisiana: 334.500
Tiếng Hy Lạp: 370.000
Tiếng Hindi: 320.000
Tiếng Ba Tư: 310.000
Tiếng Urdu: 260.000
Tiếng Gujarati: 240.000
Tiếng Armenia: 200.000
== Ghi chú == |
christopher wren.txt | Sir Christopher Wren (20 tháng 10 1632 - 25 tháng 2 1723) là một kiến trúc sư, một nhà thiết kế, nhà thiên văn học và hình học người Anh thế kỷ 17. Ông được coi kiến trúc sư vĩ đại nhất nước Anh thời kỳ đó. Wren đã thiết kế 53 nhà thờ ở London, bao gồm Thánh đường St Paul cũng như rất nhiều công trình lâu đời khác. Ông cũng là người sáng lập ra Hội Hoàng gia (làm chủ tịch từ 1680-1682). Các công trình khoa học của Wren được Isaac Newton và Blaise Pascal đánh giá rất cao.
== Tham khảo == |
svetlana aleksandrovna kuznetsova.txt | Svetlana Aleksandrovna Kuznetsova (Tiếng Nga: (sinh 27 tháng 6 năm 1985), là nữ vận động viên quần vợt người Nga, từng xếp thứ 2 thế giới trên bảng xếp hạng của WTA. Trong sự nghiệp thi đấu tại các giải Grand Slam của mình, cô đã giành được 2 Grand Slam đơn ở Mỹ mở rộng năm 2004 và Pháp mở rộng năm 2009, và 2 chức á quân ở giải Pháp mở rộng năm 2006 và Mỹ mở rộng năm 2007. Cả hai lần cô đều thua đều thua Justine Henin ở trận chung kết.
== Cuộc sống cá nhân ==
Kuznetsova được sinh ra tại Leningrad, Liên Bang Xô Viết. Cha cô, Aleksandr Kuznetsov, đã huấn luyện năm nhà vô địch đua xe đạp Olympic và thế giới. Mẹ của Kuznetsova, Galina Tsareva, đã vô địch thế giới 6 lần và giữ 20 kỷ lục thế giới môn đua xe đạp, và em trai cô, Nikolay Kuznetsov, đã có 1 huy chương bạc tại thế vận hội mùa hè năm 1996 tại Atlanta và là huấn luyện viên của đội đua xe đạp Lokomotiv. Tuy nhiên Kuznetsova không có cảm hứng đối với môn đua xe đạp. Kuznetsova bắt đầu chơi quần vợt lúc 7 tuổi và chuyển đến Tây Ban Nha để được đào tạo và huấn luyện tốt hơn. Trong thời gian đó, cô đã thành thạo tiếng Tây Ban Nha.
== Phong cách thi đấu ==
Svetlana Kuznetsova chơi thuận tay phải và sử dụng cú trái hai tay. Cô là một tay vợt chơi trên toàn sân (all-court players). Kuznetsova có tốc độ di chuyển tốt cùng những thuận tay mạnh mẽ của với nhiều độ xoáy. Richard Pagliaro của ESPN nhận xét: "Kuznetsova có thể thay đổi độ xoáy, tốc độ và độ nẩy của trái bóng, chơi tốt trên sân đất nện và không có điểm yếu lớn nào
== Thành tích thi đấu tại các giải Grand Slam ==
=== Các trận chung kết Grand Slam ===
==== Nội dung đánh đơn: 4 (2–2) ====
==== Nội dung đánh đôi: 7 (2–5) ====
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Svetlana Aleksandrovna Kuznetsova trên Twitter
Svetlana Aleksandrovna Kuznetsova trên Facebook
Svetlana Aleksandrovna Kuznetsova tại Hiệp hội quần vợt nữ |
kinh tế ireland.txt | Kinh tế Ireland là nền kinh tế hiện đại, phụ thuộc vào thương mại, với mức tăng trưởng cao, trung bình là 10% từ năm 1995–2000. Nông nghiệp trước đây là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất, hiện nay đã bị thu nhỏ bởi công nghiệp chiếm tới 46% GDP, khoảng 80% lượng xuất khẩu, và tạo ra 29% việc làm cho lực lượng lao động. Mặc dù xuất khẩu vẫn là động lực chính cho sự tăng trưởng nhanh của Ireland, nền kinh tế cũng được hưởng lợi từ việc tăng sự tiêu dùng và sự phục hồi cả ở lĩnh vực xây dựng và đầu tư kinh doanh. Tỉ lệ lạm phát hàng năm là 5.1% 2007, đây là tỉ lệ lạm phát cao nhất so với những năm gầy đây, với tỉ lệ 3% đến 4%. Tính theo chỉ số lạm phát HICP của EU, tỉ lệ lạm phát của Ireland là 2,7%[1], ngược với lệ trung bình của EU là 1,8%. Lạm phát về giá nhà ở cũng tham gia vào nền kinh tế (giá nhà trung bình ở đây là 251.281 Euro năm 2005). Tỉ lệ thất nghiệp tương đối thấp nhưng đang tăng và có tới trên 30.000 việc làm có thể bị mất từ năm 2007 đến năm 2008 được cho là do sự chậm lại trong xây dựng nhà cửa. Thu nhập tăng nhanh giống như các ngành dịch vụ gồm dịch vụ công cộng, bảo hiểm, chăm sóc sức khỏe, luật..v.v. Dublin, là thủ đô của đất nước, xếp thứ 16 trên thế giới, trong một cuộc khảo sát năm 2006
Ireland có thu nhập bình quân đầu người cao thứ hai trong các nước EU, xếp sau Luxembourg, và đứng thứ 4 trên thế giới. Năm 2005, Ngân hàng thế giới tính tổng thu nhập quốc dân của Ireland trên đầu người là 41.140 USD - xếp thứ 7 trên thế giới, xếp thứ 6 ở Tây Âu, và xếp thứ 3 trong số các quốc gia EU.
== Chú thích == |
xoài.txt | Xoài là một loại trái cây vị ngọt thuộc chi Xoài, bao gồm rất nhiều quả cây nhiệt đới, được trồng chủ yếu như trái cây ăn được. Phần lớn các loài được tìm thấy trong tự nhiên là các loại xoài hoang dã. Tất cả đều thuộc họ thực vật có hoa Anacardiaceae. Xoài có nguồn gốc ở Nam Á và Đông Nam Á, từ đó nó đã được phân phối trên toàn thế giới để trở thành một trong những loại trái cây được trồng hầu hết ở vùng nhiệt đới. Mật độ cao nhất của chi Xoài(Magifera) ở phía tây của Malesia (Sumatra, Java và Borneo) và ở Myanmar và Ấn Độ. Trong khi loài Mangifera khác (ví dụ như xoài ngựa, M. Foetida) cũng được phát triển trên cơ sở địa phương hơn, Mangifera indica, -"xoài thường" hoặc "xoài Ấn Độ"-là cây xoài thường chỉ được trồng ở nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nó có nguồn gốc ở Ấn Độ và Myanmar. Nó là hoa quả quốc gia của Ấn Độ, Pakistan, Philippines, và cây quốc gia của Bangladesh. Trong một số nền văn hóa, trái cây và lá của nó được sử dụng như là nghi lễ trang trí tại các đám cưới, lễ kỷ niệm, và nghi lễ tôn giáo.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Ensminger, Audrey H. và đồng nghiệp (1995). The Concise Encyclopedia of Foods & Nutrition. CRC Press. tr. 651. ISBN 0-8493-4455-7. Bảo trì CS1: Định rõ "và đồng nghiệp" (link)
Litz, Richard E. (editor, 2009). The Mango: Botany, Production and Uses. 2nd edition. CABI. ISBN 978-1-84593-489-7
Susser, Allen (2001). The Great Mango Book: A Guide with Recipes. Ten Speed Press. ISBN 978-1-58008-204-4
== Liên kết ngoài ==
Common Mango
Mango
Mango Nutrition Information from USDA SR 22 database
Mango-related dermatitis
Sorting Mangifera species
Pine Island Nursery's Mango Variety viewer |
washington (tiểu bang).txt | Tiểu bang Washington (phát âm: Oa-sinh-tơn) là một bang ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, phía bắc giáp với Canada, phía nam giáp với Oregon. Thủ phủ của tiểu bang là Olympia còn thành phố lớn nhất là Seattle. Bang lấy tên của George Washington, tổng thống đầu tiên của nước Mỹ. Tổng diện tích: 184.827 km², dân số: 7 triệu người (năm 2013), mật độ dân số: 39,6 người/km².
== Địa lý ==
== Kinh tế ==
Năm 2004: tổng sản phẩm của tiểu bang là 262 tỷ đô la, thu nhập đầu người là 33.332 đô la, Buôn bán thương mại trong tiểu bang phải kể đến là: Boeing, Microsoft, Amazon.com, Nintendo, điện tử, công nghệ sinh học, nhôm, gỗ, than đá và du lịch. Phương tiện liên quan tới Washington (U.S. state) tại Wikimedia Commons
== Tham khảo == |
trận nauheim.txt | Trận chiến Nauheim (còn được gọi là Trận núi Johannisberg hoặc là trận Johannesberg) là một trận đánh trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm, diễn ra gần Bad Nauheim tại Lãnh địa Bá tước Hessen-Kassel vào ngày 30 tháng 8 năm 1762. Quân đội Pháp dưới sự chỉ huy của Louis Joseph, Vương công của Condé đánh thắng Quân đội Anh và Hanover dưới sự thống lĩnh của Quận công Ferdinand xứ Brunswick.
== Tham khảo ==
Biography of the Marquis of Granby
== Tham khảo ==
Bản mẫu:France-battle-stub
Bản mẫu:UK-battle-stub |
samsung galaxy dòng s.txt | Samsung Galaxy S series hướng đến dòng điện thoại thông minh cao cấp hàng đầu Android trong dòng điện thoại Samsung GALAXY và thiết bị siêu thông minh khác của dòng GALAXY, sản xuất bởi Samsung Electronics.
== Doanh thu ==
Samsung Galaxy S Series bán được hơn 160 triệu chiếc, với Samsung Galaxy S bán được 25 triệu chiếc, Samsung Galaxy S II bán được 40 triệu chiếc, Samsung Galaxy S III bán được 60 triệu chiếc, và cuối cùng Samsung Galaxy S4 bán được 40 triệu chiếc tính đến tháng 10 năm 2013.
== So sánh ==
Bảng này chủ yếu cho thấy sự khác biệt giữa các sản phẩm trong gia đình dòng Galaxy S. Danh sách chỉ bao gồm thiết bị mở khóa và bản quốc tế.
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy Note series
Samsung Galaxy Tab series
Samsung Ativ S
Android
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Samsung Việt Nam |
hội đồng hợp tác vùng vịnh.txt | Hội đồng Hợp tác các nước Ả Rập vùng Vịnh (tiếng Ả Rập: مجلس التعاون لدول الخليج العربية), còn được gọi là Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC; مجلس التعاون الخليجي), là một liên minh chính trị và kinh tế của tất cả các quốc gia Ả Rập ở Vịnh Ba Tư ngoại trừ Iraq, với nhiều mục tiêu kinh tế và xã hội. Được lập vào ngày 25 tháng năm 1981, với tổng diện tích 2.500.000 km2, Hội đồng bao gồm các quốc gia vùng Vịnh Ba Tư gồm Bahrain, Kuwait, Oman, Qatar, Ả Rập Saudi và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất. Thỏa thuận thống nhất kinh tế giữa các nước thành viên của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh đã được ký kết vào ngày 11 tháng 11 năm 1981 tại Abu Dhabi.
Tất cả các nước thành viên đều theo thể chế quân chủ, bao gồm 3 nước quân chủ lập hiến (Qatar, Kuwait, và Bahrain), 2 nước quân chủ tuyệt đối (Saudi Arabia và Oman), và một nước quân chủ liên bang (Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bao gồm 7 bang, mỗi bang có mộtemir riêng). Đã có những thảo luận về việc gia nhập hội đồng của các nước như Jordan, Maroc, và Yemen.
Không phải tất cả các nước láng giềng vùng Vịnh Ba Tư đều là thành viên của Hội đồng; Iran và Iraq hiện vẫn nằm ngoài tổ chức này, mặc dù cả hai quốc gia có bờ biển bên vùng vịnh. Iran không phải là một nước Ả Rập. Tư cách thành viên phụ của Iraq đã bị ngưng sau khi nước này tiến hành cuộc xâm lược Kuwait. Các nước thành viên đã thông báo rằng họ hỗ trợ các tài liệu của hiệp ước quốc tế với Iraq đã được thông qua tại Sharm El-Sheikh ngày 4-5 tháng 5 năm 2007. Tổ chức này kêu gọi hội nhập kinh tế khu vực với các nước láng giềng nhưng không có triển vọng gia nhập Iraq vào hội đồng.
Năm 2011 đã có đề nghị từ Ả Rập Saudi để biến đổi hội đồng thành một "Liên minh vịnh Ba Tư" với những quan hệ chặt chẽ hơn về kinh tế, chính trị và quân sự, một thế cờ để quân bình với ảnh hưởng của hồi giáo Shia trong vùng từ Iran và các nước "mùa xuân Ả Rập". Tuy nhiên có sự chống đối từ các nước khác. Năm 2014, thủ tướng Bahrain Khalifa bin Salman Al Khalifa nói rằng những biến cố hiện tại nhấn mạnh sự quan trọng của đề nghị này.
== Thành lập ==
Hội đồng được thành lập tại Abu Dhabi vào ngày 25 tháng 5 năm 1981, ban đầu bao phủ diện tích 1.032.093 dặm vuông Anh (2.673.110 km2) với các thành viên là Bahrain, Kuwait, Oman, Qatar, Ả Rập Saudi và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất. Hiệp định kinh tế thống nhất giữa các quốc gia của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh được ký kết vào ngày 11 tháng 9 năm 1981 tại Abu Dhabi.
=== Mục tiêu ===
Trong số các mục tiêu được công bố có:
Chế định quy định tương đồng trong các lĩnh vực như tôn giáo, tài chính, mậu dịch, thuế quan, du lịch, lập pháp và hành pháp
Khuyến khích tiến bộ khoa học và kỹ thuật trong công nghiệp, khai mỏ, nông nghiệp, tài nguyên nước và động vật
Thành lập các trung tâm nghiên cứu khoa học
Thiết lập các doanh nghiệp liên doanh
Quân đội thống nhất (Lực lượng lá chắn bán đảo)
Khuyến khích hợp tác trong khu vực tư nhân
Tăng cường quan hệ giữa nhân dân trong khối
Thiết lập một tiền tệ chung
Tuy nhiên, Oman tuyên bố vào tháng 12 năm 2006 rằng họ không thể đáp ứng thời hạn mục tiêu. Sau tuyên bố rằng ngân hàng trung ương của liên minh tiền tệ sẽ đặt tại Riyadh thay vì UAE, UAE tuyên bố họ rút khỏi dự án liên minh tiền tệ vào tháng 5 năm 2009. Tên gọi Khaleeji được đề xuất làm tên cho tiền tệ này. Nếu trở thành hiện thực, liên minh tiền tệ GCC sẽ là liên minh tiền tệ siêu quốc gia lớn thứ nhì trên thế giới, tính theo GDP của khu vực tiền tệ chung.
Một số quốc gia trong hội đồng có tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới, phần lớn là nhờ bùng nổ thu nhập từ dầu thô và khí đốt cùng với bùng nổ xây dựng và đầu tư được hậu thuẫn từ nhiều thập niên tích trữ thu nhập từ tài nguyên. Trong một nỗ lực nhằm xây dựng một cơ sở thuế và nền tảng kinh tế trước khi thu nhập từ tài nguyên cạn kiệt, các nhánh đầu tư của UAE, bao gồm Cơ quan Đầu tư Abu Dhabi, nắm giữ tài sản trên 900 tỷ USD.
Khu vực cũng là một điểm mới nổi về tổ chức sự kiện, như Á vận hội 2006 tại Doha, Qatar. Doha cũng từng ứng cử bất thành Thế vận hội 2016. Qatar sau đó được lựa chọn đăng cai Giải bóng đá vô địch thế giới 2022 mặc dù thành tích nhân quyền kém cỏi.
Các kế hoạch phục hồi bị chỉ trích là lấn át khu vực tư nhân, không tạo lập các ưu tiên rõ ràng cho tăng trưởng, không khôi phục niềm tin của người tiêu dùng và nhà đầu tư, và phá hoại sự ổn định lâu dài.
=== Biểu trưng ===
Biểu trưng của GCC gồm hai vòng tròn đồng tâm. Ở phần lên của vòng tròn lớn là cụm từ Basmala viết bằng tiếng Ả Rập và phần phía dưới là tên đầy đủ của hội đồng bằng tiếng Ả Rập. Vòng trong bên trong có chứa một hình lục giác nổi đại diện cho sáu thành viên của Hội đồng. Bên trong lục giác là một bản đồ bán đảo Ả Rập, lãnh thổ các thành viên được xóa biên giới và có màu nâu. Trên cạnh của lục giác là các màu tượng trưng cho quốc kỳ của sáu quốc gia thành viên.
== Kinh tế ==
Một thị trường chung khởi đầu vào ngày 1 tháng 1 năm 2008 với các kế hoạch nhằm thực hiện một thị trường đơn nhất nhất thể hoàn toàn. Nó mở cửa cho sự dịch chuyển của hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, việc thực hiện chậm trễ sau khủng hoảng tài chính năm 2009. Việc lập liên minh thuế quan bắt đầu vào năm 2003 và được hoàn thành và hoạt động đầy đủ vào ngày 1 tháng 1 năm 2015. Tháng 1 năm 2015, thị trường chung cũng được tích hợp hơn nữa, cho phép các công dân GCC bình đẳng hoàn toàn trong lao động tại khu vực chính phủ và tư nhân, bảo hiểm xã hội và hưu trí, sở hữu bất động sản, lưu động vốn, tiếp cận giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội khác trong toàn bộ các quốc gia thành viên. Tuy nhiên, một số chướng ngại được duy trì trong di chuyển tự do hàng hóa và dịch vụ. Phối hợp trong hệ thống thuế, tiêu chuẩn kế toán và lập pháp dân sự hiện đang tiến hành. Tính tương hỗ của trình độ chuyên nghiệp, giấy chứng nhận bảo hiểm và thẻ căn cước cũng đang được tiến hành.
Năm 2014, Bahrain, Kuwait, Qatar và Ả Rập Saudi tiến hành các bước đi lớn nhằm đảm bảo thiết lập một tiền tệ duy nhất. Bộ trưởng Tài chính Kuwait nói rằng bốn thành viên tiến bước mạnh mẽ với liên minh tiền tệ song nói rằng một số "điểm kỹ thuật" cần được làm rõ. "Một thị trường chung và ngân hàng trung ương chung cũng sẽ xác định vị thế GCC là một thực thể sẽ có ảnh hưởng lớn đến hệ thống tài chính quốc tế". Việc thực hiện một tiền tệ duy nhất và lập một ngân hàng trung ương được Hội đồng Tiền tệ giám sát.
Hiện tại một tiền tệ GCC danh nghĩa duy nhất đang đã tồn tại trên một mức độ nhất định. Các doanh nghiệp mậu dịch sử dụng một rổ các tiền tệ GCC, ngay trước khi đồng euro lưu thông, Đơn vị Tiền tệ châu Âu (ECU) đã được sử dụng từ trước đó trong vai trò một phương thức hối đoái danh nghĩa. Các kế hoạch nhằm lưu thông một đơn vị tiền tệ duy nhất đã bị trì hoãn do khủng hoảng tài chính và khác biệt chính trị, trong khi UAE và Oman đã rút lui.
Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh thực hiện các dự án kinh tế chung nhằm xúc tiến và tạo điều kiện tích hợp. Các quốc gia thành viên hợp tác nhằm liên kết mạng lưới điện của họ. Một dự án liên kết nước được tiến hành và theo kế hoạch có thể sử dụng cục bộ vào năm 2020. Một dự án nhằm tạo ra giao thông hàng không chung cũng được công bố.
GCC cũng tiến hành các dự án đường sắt lớn nhằm liên kết bán đảo. Các tuyến đường sắt được dự tính đẩy mạnh mậu dịch liên khu vực trong khi giúp giảm tiêu thụ nhiên liệu. Trên 200 tỷ USD sẽ được đầu tư để phát triển khoảng 40.000 km mạng lưới đường sắt trên khắp GCC, theo lời Bộ trưởng Giao thông và Truyền thông Oman. Một dự án được ước tính có giá trị 15,5 tỷ USD theo kế hoạch hoàn thành vào năm 2018, sẽ liên kết sáu quốc gia thành viên thành một hành lang giao thông khu vực, tích hợp hơn nữa với các dự án đường sắt quốc gia, làm sâu thêm tích hợp kinh tế xã hội và chính trị.
Công ty đường sắt Ả Rập Saudi Etihad Rail và chính phủ quốc gia đã chi hàng tỷ USD vào hạ tầng đường sắt nhằm tạo mạng lưới đường sắt để chuyên chở hàng hóa, liên kết các thành phố và giảm thời gian giao thông.
== Chính trị và quản trị ==
Hội đồng tối cao là cơ quan cao nhất của tổ chức, gồm nguyên thủ của các quốc gia thành viên. Đây là thực thể ra quyết định cao nhất của GCC. Hội đồng tối cao thiết lập tầm nhìn và mục tiêu của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh. Quyết định trên các vấn đề trọng yếu cần phải được phê chuẩn nhất trí, trong khi các vấn đề thủ tục yêu cầu có đa số. Mỗi quốc gia thành viên có một phiếu.
Hội đồng Bộ trưởng gồm bộ trưởng ngoại giao của toàn bộ các quốc gia thành viên, ba tháng họp một lần. Cơ cấu chủ yếu chế định các chính sách và đề xuất thúc đẩy hợp tác và thực hiện phối hợp trong các quốc gia thành viên khi thi hành các dự án đang triển khai. Các quyết định của nó được đệ trình theo hình thức khuyến nghị đến Hội đồng Tối cao để phê chuẩn. Hội đồng Bộ trưởng cũng chịu trách nhiệm chuẩn bị cho hội nghị Hội đồng Tối cao và chương trình nghị sự tại đó. Thủ tục bỏ phiếu tại Hội đồng Bộ trưởng tương tự như tại Hội đồng Tối cao.
Ban Thư ký là nhánh hành chính của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh, nó đưa ra các quyết định theo thẩm quyền và thi hành các quyết định do Hội đồng Tối cao hoặc Hội đồng Bộ trưởng phê chuẩn. Ban Thư ký cũng biên soạn các nghiên cứu liên quan đến hợp tác, phối hợp, và lập kế hoạch để hành động chung. Họ chuẩn bị các báo cáo định kỳ liên quan đến các công việc được GCC hoàn thành và về thi hành các quyết định của họ.
Ngày 15 tháng 12 năm 2009, Bahrain, Kuwait, Qatar và Ả Rập Saudi tuyên bố lập một Hội đồng Tiền tệ để lưu thông một tiền tệ duy nhất cho liên minh. Ban hội đồng lập thời gian biểu và kế hoạch hành động nhằm lập một ngân hàng trung ương và chọn một chế độ tiền tệ, họp lần đầu vào ngày 30 tháng 3 năm 2010. Bộ trưởng Ngoại giao Kuwait Mohammad Sabah Al-Sabah nói vào ngày 8 tháng 12 năm 2009 rằng một tiền tệ duy nhất sẽ mất mười năm để thiết lập. Mục tiêu ban đầu là năm 2010. Oman và UAE sau đó tuyên bố rút khỏi tiền tệ được đề xuất.
Năm 2014, các động thái lớn được tiến hành nhằm đảm bảo ban hành một tiền tệ chung. Ngoại trưởng Kuwait nói rằng một tiền tệ sẽ được thực hiện mà không trì hoãn. Các cuộc đàm phán với UAE và Oman nhằm mở rộng liên minh tiền tệ được khôi phục.
Văn phòng Sáng chế GCC được phê chuẩn vào năm 1992 và thành lập ngay sau đó tại Riyadh, Ả Rập Saudi. Các đơn thỉnh cầu được nộp và tiến hành bằng tiếng Ả Rập trước Văn phòng Sáng chế GCC tại Riyard, một văn phòng riêng biệt khỏi Văn phòng Sáng chế Ả Rập Saudi.
Trong khởi nghĩa Bahrain 2011, Ả Rập Saudi và UAE phái binh sĩ trên bộ đến Bahrain nhằm bảo vệ cơ sở hạ tầng sống còn như sân bay và đường xá. Kuwait và Oman kiềm chế không gửi quân. Thay vào đó, Kuwait phái đến một đơn vị hải quân.
Trong tháng 9 năm 2014, các thành viên GCC là Ả Rập Saudi, Bahrain, UAE, Qatar cùng quốc gia đang đệ trình làm thành viên là Jordan khởi đầu chiến dịch oanh tạc chống ISIL tại Syria. Tuy nhiên, Ả Rập Saudi và UAE nằm trong số các quốc gia phản đối Anh em Hồi giáo tại Syria, trong khi Qatar có lịch sử ủng hộ. Họ cũng cam kết các ủng hộ khác bao gồm vận hành cơ sở đào tạo cho phiến quân Syria (Ả Rập Saudi) và cho phép quốc gia khác sử dụng các căn cứ không quân của mình để chiến đấu với ISIL.
Tổ chức Tiêu chuẩn hóa GCC (GSO) bao gồm cả Yemen.
Tổ chức vùng Vịnh về Tư vấn Công nghiệp (GOIC) được thành lập vào năm 1976 bởi UAE, Ả Rập Saudi, Oman, Qatar và Kuwait, và đến năm 2009, Yemen gia nhập tổ chức có trụ sở tại Doha này. Sơ đồ tổ chức của GOIC gồm có các thành viên Ban quản trị và Tổng thư ký. Ban quản trị gồm đại biểu của các quốc gia thành viên.
== Tổng thư ký ==
== Quốc gia thành viên ==
== Thể thao ==
Liên minh đóng vai trò là mọt tổ chức hợp tác và thi đấu thể thao. Các quốc gia GCC có một Hội nghị bộ trưởng thanh niên và thể thao hàng năm để thúc đẩy các sáng kiến thanh niên và thể thao trong khu vực; năm 2015 họ tụ họp lần thứ 29. Đề xướng đăng cai các sự kiện thể thao quốc tế cũng được sử dụng như một mục đích kinh tế đối với các quốc gia trong liên minh, kéo theo đầu tư và phát triển trong khu vực.
Đại hội Thể thao GCC được tổ chức bốn năm một lần, được liên minh thành lập và tổ chức lần đầu vào năm 2011. Có một số giải vô địch GCC tồn tại từ lâu cho các môn thể thao đơn lẻ như điền kinh (lần đầu vào năm 1986) thuyền buồm, bóng rổ, bơi, quần vợt, thể dục dụng cụ, cử tạ, bóng đá trong nhà, snooker, và bóng bàn.
== Các quốc gia liên quan ==
Từ khi hội đồng hình thành vào năm 1981, số quốc gia thành viên không tăng lên, toàn bộ thành viên là các quốc gia quân chủ Ả Rập.
Một số quốc gia GCC có biên giới trên bộ với Iraq, Jordan và Yemen, và biên giới trên biển với Iran, Ai Cập, Sudan, Eritrea, Djibouti, Somalia, và Pakistan.
Iraq là quốc gia Ả Rập duy nhất giáp với vịnh Ba Tư song lại không phải là thành viên của hội đồng. Tư cách thành viên liên kết của Iraq bị đình chỉ vào năm 1990 sau khi họ xâm lược Kuwait trong chiến tranh vùng Vịnh. Năm 2009, có tường thuật rằng Iraq được bố trí gia nhập cartel của Ủy ban Thương mại GCC. Năm 2012, Bộ trưởng Quốc phòng Iraq Saadoun al-Dulaimi phát biểu rằng Iraq muốn gia nhập GCC. Kuwait ủng hộ Iraq gia nhập GCC.
Trong tháng 12 năm 2012, tại hội nghị thượng đỉnh Manama, các quốc gia GCC kêu gọi Iran kết thúc can thiệp vào nội vụ của họ.
Tháng 5 năm 2011, thỉnh cầu gia nhập GCC của Jordan được chấp thuận sau 15 năm đệ trình, và Maroc được mời gia nhập tổ chức. Trong tháng 9 năm 2011, một kế hoạch 5 năm cho hai quốc gia được đưa ra sau mọ hội nghị giữa bộ trưởng ngoại giao của hai quốc gia này và các ngoại trưởng GCC. Mặc dù một kế hoạch gia nhập đang được nghiên cứu, song không có thời gian biểu, và các thảo luận vẫn tiếp tục. Do Jordan và Maroc là các quốc gia quân chủ Ả Rập duy nhất hiện không phải thành viên của hội đồng, các thành viên hiện nay nhìn nhận họ là các đồng minh tiềm năng hùng cường. Jordan có biên giới với Ả Rập Saudi và có liên kết kinh tế với các quốc gia vịnh Ba Tư. Mặc dù Maroc không nằm gần vịnh Ba Tư, song Bộ trưởng Ngoại giao Maroc Taieb Fassi Fihri lưu ý rằng "khoảng cách địa lý không cản trở quan hệ mạnh mẽ".
Yemen đang thương lượng về tư cách thành viên GCC, và từng hy vọng gia nhập vào năm 2015. Mặc dù không giáp với vịnh Ba Tư, song Yemen nằm trên bán đảo Ả Rập và tương đồng về văn hóa và lịch sử với các thành viên của GCC. GCC đã phê chuẩn đơn gia nhập của Yemen vào Cơ quan Tiêu chuẩn hóa GCC, Tổ chức vùng Vịnh về Tư vấn Công nghiệp (GOIC), Cơ quan Kiểm toán và Kế toán GCC, Cơ quan Phát thanh và Truyền hình vùng Vịnh, Hội đồng các Bộ trưởng Y tế GCC, Cục Giáo dục và Đào tạo GCC, Hội đồng Bộ trưởng Lao động và các vấn đề xã hội GCC, và giải bóng đá vùng Vịnh. Hội đồng ban hành chỉ thị rằng toàn bộ các biện pháp pháp lý cần thiết được tiến hành để Yemen có quyền lợi và nghĩa vụ tương tự các quốc gia thành viên GCC trong các tổ chức này.
== Tham khảo == |
định công, hoàng mai.txt | Định Công là một phường thuộc quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Phường Định Công có diện tích 2,7 km², dân số năm 2003 là 14966 người, mật độ dân số đạt 5543 người/km².
Địa giới hành chính phường Định Công: Đông giáp phường Thịnh Liệt; Tây và Bắc giáp quận Thanh Xuân; Nam giáp phường Đại Kim;
Khu đô thị mới Định Công, Bệnh viện Bưu điện ở phường này.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
hội nghị cấp cao đông á lần thứ 6.txt | Hội nghị cấp cao Đông Á là hội nghị thường niên hàng năm của các nước Đông Á bao gồm 10 nước Đông Nam Á, 3 nước Đông Bắc Á, cùng với Ấn Độ, New Zealand, Úc và các khách mời. Hội nghị thường diễn ra vào các tháng cuối năm. Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ 6 sẽ diễn ra tại Indonesia với các khách mời dự kiến là Hoa Kỳ và Nga.
== Các nước dự kiến tham dự ==
Các nước thuộc ASEAN
Ấn Độ.
Nhật Bản.
Nam Hàn.
Trung Quốc.
New Zealand
Úc
Hoa Kỳ
Nga
== Chương trình nghị sự ==
== Chú thích == |
đắk lắk.txt | Đắk Lắk, Darlac, Đăk Lăk hay Đắc Lắc (theo tiếng M'Nông dak Lak [daːk laːk] (phát âm gần giống như "đác lác") nghĩa là "hồ Lắk", với dak nghĩa là "nước" hay "hồ") là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên, Việt Nam. Tỉnh lỵ của Đắk Lắk là thành phố Buôn Ma Thuột, nằm cách Hà Nội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km. Tỉnh Đắk Lắk được tái lập vào ngày 26 tháng 11 năm 2003, trên cơ sở tách tỉnh Đăk Lăk thành hai tỉnh mới là Đăk Lăk và Đăk Nông. Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật nhân loại thế giới công nhận
== Vị trí địa lý ==
Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ 107o28'57"- 108o59'37" độ kinh Đông và từ 12o9'45" - 13o25'06" độ vĩ Bắc. Độ cao trung bình 400 – 800 mét so với mặt nước biển.
Phía Đông của Đắk Lắk giáp Phú Yên và Khánh Hoà
phía Nam giáp Lâm Đồng và Đắk Nông
phía Tây giáp Campuchia với đường biên giới dài 193 km, tỉnh Gia Lai nằm ở phía Bắc.
Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử chia cắt và sáp nhập nên 9.300 ha nằm giữa xã Ea Trang (huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk) và xã Ninh Tây (thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) nên cả hai tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa đều tranh chấp để phân định địa giới hành chính.
== Điều kiện tự nhiên ==
Đắk Lắk có địa hình có hướng thấp dần từ đông nam sang tây bắc: nằm ở phía Tay và cuối dãy Trương Sơn, là một cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven các dòng sông chính. Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng. Vùng phía tây bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô, vùng phía đông và phía nam có khí hậu mát mẻ, ôn hoà. thời tiết chia làm 2 mùa khá rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 kèm theo gió tây nam thịnh hành, các tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 7,8,9, lượng mưa chiếm 80-90% lượng mưa năm. Riêng vùng phía đông do chịu ảnh hưởng của đông Trường Sơn nên mùa mưa kéo dài hơn tới tháng 11. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong mùa này độ ẩm giảm, gió đông bắc thổi mạnh, bốc hơi lớn, gây khô hạn nghiêm trọng. Lượng mưa trung bình nhiều năm toàn tỉnh đạt từ 1600–1800 mm.
Rừng Đắk Lắk có diện tích và trữ lượng lớn nhất nước với nhiều chủng loại gỗ quý hiếm, nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị khoa học, phân bố trong điều kiện thuận lợi nên tái sinh rừng có mật độ khá lớn. Khoáng sản với trữ lượng khác nhau, trong đó một số loại khoáng sản đã được xác định là sét cao lanh, sét gạch ngói, ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều loại khoáng sản khác như vàng, phốt pho, than bùn, đá quý… có trữ lượng không lớn phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh .
Hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh khá phong phú, phân bố tương đối đồng đều, tuy nhiên do địa hình dốc nên khả năng trữ nước kém, những khe suối nhỏ hầu như không có nước trong mùa khô. Bên cạnh hệ thống sông suối khá phong phú, trên địa bàn tỉnh hiện nay còn có rất nhiều hồ tự nhiên và hồ nhân tạo như hồ Lắk, Ea Kao, Buôn Triết, Ea sô…
== Nạn phá rừng ==
Nạn phá rừng tại tỉnh Ðắk Lắk rất là nghiêm trọng. Chỉ trong 5 năm (từ 2009 đến 2014), các cơ quan chức năng của địa phương này đã phát hiện và xử lý hơn 10.000 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, bình quân có năm vụ vi phạm/ngày, tịch thu hơn 19.000 m3 gỗ. Tổng diện tích rừng bị phá, lấn chiếm trái phép trên địa bàn từ năm 2009 đến nay là hơn 26.500 ha, trong khi đó các ngành chức năng của Ðắk Lắk mới chỉ thu hồi được gần 2.000 ha để trồng lại rừng... Một trong những nguyên nhân dẫn đến nạn phá rừng là do chính quyền địa phương có rừng chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao trong quản lý bảo vệ rừng. Một số cán bộ, công chức trong lực lượng bảo vệ rừng còn thiếu trách nhiệm, thậm chí bao che, tiếp tay cho lâm tặc nên còn sơ hở để các đối tượng làm ăn phi pháp lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm.
== Lịch sử ==
Đắk Lắk (còn ghi theo tiếng Pháp là Darlac) được thành lập theo nghị định ngày 22 tháng 11 năm 1904 của Toàn quyền Đông Dương và tách khỏi Lào, đặt dưới quyền cai trị của Khâm sứ Trung Kỳ. Trước đó, vào cuối thế kỷ 19, Darlac thuộc địa phận đại lý hành chính Kontum và bị Pháp nhập vào Lào.
Các công sứ Pháp từ 1900 - 1930 là:
Leon Bourgeois (1899 - 1904)
Charles J. Bardin (1904 - 1905)
Henri Besnard (1905 - 1909)
Antoine G. Groslier (1909 - 1912)
Louis Cottez (1912 - 1913)
Leopold Sabatier (1913 - 1925)
Paul E. Giran (1925 - 1931)
Desteney (1931 - 1934; về sau làm Công sứ tỉnh Thừa Thiên)
Henri Gerbinis (1935 - 1938)....
Đến ngày 9 tháng 2 năm 1913 thì tỉnh này trở thành một đại lý hành chính trực thuộc tỉnh Kon Tum được thành lập cùng ngày. Mãi đến ngày 2 tháng 7 năm 1923 tỉnh Đăk Lăk mới được thành lập lại. Lúc mới thành lập, Đắk Lắk chưa chia huyện, tổng mà chỉ có đơn vị làng (còn gọi là buôn hay bon), người Ê Đê có 151 làng, người Bih có 24 làng, người Gia Rai có 11 làng, người Krung có 28 làng, người M'dhur có 120 làng, người M'Nông có 117 làng, người Xiêm có 1 làng. Năm 1931, trong cuộc cải cách hành chính toàn Đông Dương, tỉnh Đắk Lắk được chia làm 5 quận, gồm có Ban Mê Thuột, Buôn Hồ, Đăk Song, Lăk và M'Đrăk, dưới có 440 làng.
Ngày 15 tháng 4 năm 1950, Bảo Đại ban hành Dụ số 6 đặt Cao nguyên Trung phần, trong đó có Đắk Lắk, làm Hoàng triều Cương thổ, có quy chế cai trị riêng. Nghị định số 356-BNV/HC/NĐ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ngày 2 tháng 7 năm 1958 ấn định tỉnh Đắk Lắk (được ghi là Darlac) có 5 quận, 21 tổng và 77 xã. Trong đó, Quận Ban Mê Thuột có 4 tổng, Quận Lạc Thiện (đổi tên từ quận Lăk) có 7 tổng, Quận M'Đrak có 4 tổng, Quận Đak Song có 2 tổng và Quận Buôn Hồ có 4 tổng.
Ngày 23 tháng 1 năm 1959, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa ban hành Nghị định số 24/NV, tách gần như toàn bộ quận Đak Song của tỉnh Darlac, lập ra tỉnh Quảng Đức. Như vậy tỉnh Darlac còn lại 4 quận. Sau đó quận M'Đrak lại bị xé lẻ, một phần nhập vào tỉnh Khánh Hòa. Tháng 12 năm 1960, Chính phủ cách mạng chính thức thành lập tỉnh Quảng Đức dựa trên sự phân chia ranh giới của địch, lấy mật danh là B4.
Ngày 20 tháng 12 năm 1963, lập thêm một quận mới tên là Phước An, quận lỵ đặt tại Phước Trạch, đến ngày 1 tháng 9 năm 1965 chuyển về Thuận Hiếu. Sau này lại bỏ cấp tổng, nên chỉ còn cấp quận (4 quận) và xã.
Tỉnh Đắk Lắk của nước Việt Nam thống nhất từ năm 1976 hình thành từ hai tỉnh Darlac và Quảng Đức, có diện tích lớn thứ hai Việt Nam sau tỉnh Gia Lai - Kon Tum, gồm thị xã Buôn Ma Thuột và 6 huyện: Đăk Mil, Đăk Nông, Krông Búk, Krông Nô, Krông Pắk, Lăk. Tỉnh chỉ lớn nhất nước khi tỉnh Gia Lai - Kon Tum tách làm đôi, khi đó Đắk Lắk diện tích 19.800 km². Số huyện tăng dần cho đến 18 huyện.
Ngày 30 tháng 8 năm 1977, chia huyện Krông Búk thành 2 huyện: Krông Búk và Ea Súp; chia huyện Krông Pắk thành 2 huyện: Krông Pắk và M'Đrăk.
Ngày 3 tháng 4 năm 1980, chia huyện Krông Búk thành 2 huyện: Krông Búk và Ea H'leo.
Ngày 19 tháng 9 năm 1981, thành lập huyện Krông Ana trên cơ sở tách ra từ huyện Krông Pắk và thị xã Buôn Ma Thuột; chia huyện Krông Pắk thành 2 huyện: Krông Pắk và Krông Bông.
Ngày 23 tháng 1 năm 1984, chia huyện Ea Súp thành 2 huyện: Ea Súp và Cư M'gar.
Ngày 22 tháng 2 năm 1986, chia huyện Đắk Nông thành 2 huyện: Đắk Nông và Đắk R'lấp.
Ngày 13 tháng 9 năm 1986, thành lập huyện Ea Kar trên cơ sở tách ra từ 2 huyện Krông Pắk và M'Đrăk.
Ngày 9 tháng 11 năm 1987, chia huyện Krông Búk thành 2 huyện: Krông Búk và Krông Năng.
Ngày 19 tháng 6 năm 1990, thành lập huyện Cư Jút trên cơ sở tách ra từ huyện Đắk Mil và thị xã Buôn Ma Thuột.
Ngày 21 tháng 1 năm 1995, chuyển thị xã Buôn Ma Thuột thành thành phố Buôn Ma Thuột.
Ngày 7 tháng 10 năm 1995, chia huyện Ea Súp thành 2 huyện: Ea Súp và Buôn Đôn.
Ngày 21 tháng 6 năm 2001, thành lập huyện Đắk Song trên cơ sở tách ra từ 2 huyện Đắk Nông và Đắk Mil.
Đến cuối năm 2002, tỉnh Đắk Lắk có tỉnh lị là thành phố Buôn Ma Thuột và 18 huyện: Buôn Đôn, Cư Jút, Cư M'gar, Đắk Mil, Đắk Nông, Đắk R'Lấp, Đắk Song, Ea H'leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Ana, Krông Bông, Krông Búk, Krông Năng, Krông Nô, Krông Pắk, Lắk, M'Đrắk.
Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội ra Nghị quyết số 22/2003/QH.11, tỉnh Đăk Lăk tách thành hai tỉnh mới là Đăk Lăk và Đăk Nông, huyện Đăk Song được chuyển sang tỉnh Đăk Nông quản lý, nên số huyện giảm xuống còn 13:
Tỉnh Đắk Lắk gồm thành phố Buôn Ma Thuột và 13 huyện: Buôn Đôn, Cư M'gar, Ea H'leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Ana, Krông Bông, Krông Búk, Krông Năng, Krông Pắk, Lắk, M'Đrắk.
Tỉnh Đắk Nông gồm 6 huyện: Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Nông, Đắk R'Lấp, Đắk Song, Krông Nô.
Ngày 27 tháng 8 năm 2007, chia huyện Krông Ana thành 2 huyện: Krông Ana và Cư Kuin.
Ngày 23 tháng 12 năm 2008, thành lập thị xã Buôn Hồ trên cơ sở tách ra từ huyện Krông Búk.
== Hành chính ==
Tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện. Trong đó có 184 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 152 xã, 20 phường và 12 thị trấn.
== Kinh tế ==
Kinh tế chủ đạo của Đăk Lăk chủ yếu dựa vào sản xuất và xuất khẩu nông sản, lâm sản. Tỉnh có tiềm năng về du lịch sinh thái. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Đắk Lắk xếp ở vị trí thứ 58/63 tỉnh thành. Đắk Lắk là tỉnh có diện tích và sản phẩm cà phê xuất khẩu lớn nhất cả nước, với diện tích 182.343ha và sản lượng thu hoạch hàng năm đạt trên 400.000 tấn, chiếm 40% sản lượng cả nước. Tỉnh cũng là nơi trồng bông, cacao, cao su, điều lớn của Việt Nam. Đồng thời, là nơi phát triển các loại cây ăn trái khác, như cây bơ, sầu riêng, chôm chôm, xoài...
Năm 2010 tổng GDP ước đạt 12.810 tỷ đồng, tăng gấp 1,7 lần so năm 2005. Thu nhập bình quân đầu người đạt 14,2 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế, chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và dịch vụ.
Phấn đấu năm 2013, Tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt từ 11% trở lên, thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 28 triệu đồng, huy động vốn đầu tư toàn xã hội đạt 15.000 tỷ đồng, tổng mức lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn khoảng 43.000 tỷ đồng và thu cân đối ngân sách Nhà nước đạt 4.200 tỷ đồng.
== Dân số & Giáo dục ==
=== Dân cư ===
Tính đến năm 2014, dân số toàn tỉnh Đắk Lắk đạt gần 1.834.800 người, mật độ dân số đạt 135 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 426.000 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.345.800 người. Dân số nam đạt 894.200 người, trong khi đó nữ đạt 877.600 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 12,9 ‰
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đắk Lắk có 13 Tôn giáo khác nhau chiếm 450.728 người. Trong đó, nhiều nhất là Công giáo với 171.661 người, thứ hai là Đạo Tin Lành với 149.526 người, thứ ba là Phật giáo với 125.698, thứ tư là Đạo Cao Đài có 3.572 người, cùng với các tôn giáo khác như Phật giáo Hòa Hảo có 162 người, Hồi giáo có 65 người, Bửu sơn kỳ hương có 23 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 3 người, Bahá'í có 2 người, ít nhất là Minh Sư Đạo, Minh Lý Đạo và Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa mỗi đạo có 1 người...
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đắk Lắk có 47 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc kinh chiếm đông nhất với 1.161.533 người, thứ hai là Người Ê Đê có 298.534 người, thứ ba là Người Nùng có 71.461 người, thứ tư là Người Tày có 51.285 người. Cùng các dân tộc ít người khác như M'nông có 40.344 người, Người Mông có 22.760 người, Người Thái có 17.135 người, Người Mường có 15.510 người...
=== Giáo dục ===
Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắk Lắk có 695 trường học ở cấp phổ, trong đó có Trung học phổ thông có 52 trường, Trung học cơ sở có 221 trường, Tiểu học có 417 trường và 5 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 235 trường mẫu giáo. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Đắk Lắk cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh.
== Văn hóa & Du lịch ==
=== Văn hóa ===
Đắk Lắk có bản sắc văn hoá đa dạng như các trường ca truyền miệng lâu đời Đam San, Xinh Nhã dài hàng nghìn câu, như các ngôn ngữ của người Ê Đê, người M'Nông...như các đàn đá, đàn T'rưng, đàn k'lông pút... Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.
Các lễ hội đáng chú ý gồm có Lễ mừng lúa mới, Lễ bỏ mả, Lễ hội đâm trâu, Lễ cúng Bến nước, Lễ hội đua voi, Lễ hội Cồng chiêng và Lễ hội cà phê… được tổ chức đều đặn hàng năm như một truyền thống. Các Di tích lịch sử tại Đắk Lắk như Đình Lạc Giao, Chùa Sắc tứ Khải Đoan, Nhà đày Buôn Ma Thuột, Khu Biệt điện Bảo Đại, Toà Giám mục tại Đắk Lắk, Hang đá Đắk Tur và Tháp Yang Prong...
=== Du lịch ===
Du lịch Đắk Lắk đang có lợi thế với nhiều địa danh cho phép khai thác theo hướng kết hợp cảnh quan, sinh thái, môi trường và truyền thống văn hoá của nhiều dân tộc trong tỉnh như hồ Lắk, Thác Gia Long, cụm du lịch Buôn Đôn, Thác Krông Kmar, Diệu Thanh, Tiên Nữ… bên cạnh các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên Chư Yang Sin, Easo…
Ngày nay còn chuộng thêm khu du lịch Ko Tam
== Giao thông ==
Tỉnh Đắk Lắk có Sân bay Buôn Ma Thuột tuyến từ Buôn Ma Thuột đến các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng. Ngoài ra, 14 tỉnh lộ với tổng chiều dài 460 km, có quốc lộ 14 chạy qua nối với thành phố Đà Nẵng qua các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và nối với Thành phố Hồ Chí Minh qua Bình Phước và Bình Dương...Song song với biên giới Campuchia có quốc lộ 14C. Quốc lộ 27 nối thành phố Buôn Ma Thuột với tỉnh Lâm Đồng. Quốc lộ 26 từ Đắk Lắk đi Tỉnh Khánh Hòa, nối với quốc lộ 1A tại thị trấn Ninh Hoà, huyện Ninh Hoà, Tỉnh Khánh Hòa. Quốc lộ 29 nối thị xã Buôn Hồ với tỉnh Phú Yên tại cảng Vũng Rô.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tỉnh Đăk Lăk
Viết tên tỉnh Đắc Lắc như thế nào? bài đăng trên Báo Lao động |
quyền lực.txt | Quyền lực, được miêu tả theo khía cạnh khoa học xã hội, một mặt là khả năng gây ảnh hưởng của một người hoặc một nhóm người đến hành vi và suy nghĩ của các cá nhân, các nhóm người khác với ý nghĩa là "quyền lực"; mặt khác, nó đại diện cho một vị trí của cá nhân hoặc nhóm người, là khả năng đạt được mục tiêu xác định một cách đơn phương, không chịu sự kiểm soát, áp đặt, hay phải đáp ứng các điều kiện và đòi hỏi của các cá nhân hoặc nhóm người khác (vd: quyền con người). Vế sau được hiểu theo tính pháp lý với ý nghĩa là "thẩm quyền", "quyền lợi" của các cá nhân và nhóm người tham gia vào một hệ thống xã hội được bảo trợ bởi một nền tảng pháp luật đã được xây dựng và đưa ra dựa theo các tiêu chí cụ thể, đặc biệt là dựa trên các thỏa thuận và cam kết của những chủ thể tham gia trong xã hội (khế ước xã hội).
Quyền lực xác định phạm vi, giới hạn của các "khả năng hành động, gây ảnh hưởng" cả về thể chất lẫn tinh thần của một người hoặc một nhóm người. Việc sử dụng thứ sức mạnh này để gây ảnh hưởng đến cá nhân, nhóm người khác, có thể mang theo những ý nghĩa tích cực cũng như tiêu cực, dựa trên mục đích, nguyên tắc, cách thức sử dụng chúng. Cần phân biệt việc "lạm quyền" và việc "vi phạm giới hạn quyền lực". Lạm dụng quyền lực là việc sử dụng quyền lực mà không tuân theo những mục đích quy định cho sự tồn tại của quyền lực. Việc vượt quá phạm vi giới hạn quyền lực là việc không tuân theo những nguyên tắc, cách thức được quy định sẵn trong quá trình sử dụng quyền lực.
== Nguồn gốc ==
Với cách hiểu ý nghĩa của từ quyền lực trong bối cảnh của xã hội loài người trong giai đoạn phát triển mang tính cộng đồng và có nhiều thay đổi bởi sự phân công lao động diễn ra mạnh mẽ ta có thể truy dẫn nguồn gốc của quyền lực dưới các nguồn sau:
Từ góc độ quản lý hóa, cơ khí hóa: Thuật ngữ quyền lực được đặt ra bởi khả năng chi phối, tác động của ý chí người bằng các tiếp xúc vật lý trực tiếp lên các bộ phận hay toàn thể của máy móc hoặc các thiết bị cơ khí mà theo sự phân chia của chủ nghĩa Mác gồm ba bộ phận chính. Ở trường hợp này là sự tác động đến bộ phận điều khiển.
Từ góc độ sự phối hợp lao động của tập thể người, có thể hiểu nguồn gốc của quyền lực đến từ sự phân chia các nhóm người trong xã hội bởi sự phân công lao động mà người này và người kia không thể làm việc một cách đơn lẻ nên cần có sự phối hợp giữa các các thể đơn lẻ, tuy vậy việc phân công ra một người đặc biệt có "công việc" riêng là quản lý người khác và phối hợp hành động của những người khác là hiện tượng phổ biến trong tự nhiên nhưng ở xã hội người hành vi này mang những tính chất riêng biệt. Cụ thể người được phân công làm việc quản lý người khác phải có "quyền lực" tức khả năng thao túng nhóm người hoặc cá thể người thực hiện một công việc theo ý chí của mình, từ đây quyền lực được ra đời.
Từ góc độ pháp luật, chính trị, có thể hiểu bản thân con người có những lợi ích khác nhau. Người nông dân cần đất đai để trồng trọt, người thương gia cần những mối hàng quen thuộc để bán hàng hóa của mình...cứ tiếp diễn như vậy xã hội phân chia thành những giai cấp có lợi ích khác nhau, tuy vậy có những giai đoạn những nhóm giai cấp trên có lợi ích mâu thuẫn nhau, đối lập nhau, điều này dẫn đến một tình trạng căn thẳng tột độ trong lòng xã hội mà cần có bên thứ ba đứng ra giải quyết. Và theo đó các nhóm mâu thuẫn trao quyền lực tức công cụ để giải quyết bất đồng giữa họ cho bên thứ ba. Bên thứ ba ấy chính là nhà nước mà theo khế ước xã hội họ tự nhường một số quyền của mình để nhà nước thực hiện thay.
Từ góc độ đám đông, ta có thể hiểu quyền lực phát sinh từ tâm lý người do quá trình phản ánh thế giới hiện thực dẫn đến đám người này có cùng một cảm giác đối với một cá nhân do năng lực của chính cá nhân đó hay sự lần tưởng của đám đông. Điều này có thể lý giải bởi sự thông tin không cân xứng theo đó người có quyền lực là người nắm giữ thông tin.
== Phân loại ==
Với cách hiểu nguồn gốc quyền lực từ góc độ pháp luật, chính trị có thể phân loại quyền lực thành 4 nhóm:
Quyền lực kinh tế
Quyền lực chính trị
Quyền lực tư tưởng
Quyền lực tri thức
== Tham khảo == |
kim cương.txt | Xem thêm các mục từ có tên tương tự tại Kim cương (định hướng).
Kim cương là một trong hai dạng thù hình được biết đến nhiều nhất của cacbon (dạng còn lại là than chì), có độ cứng rất cao và khả năng khúc xạ cực tốt làm cho nó có rất nhiều ứng dụng trong cả công nghiệp và ngành kim hoàn. Kim cương được cho là một loại khoáng sản với những tính chất vật lý hoàn hảo. Chúng là những vật liệu tốt để tạo ra các bề mặt nhám và chỉ có những viên kim cương khác, những tinh thể cacbon dạng lồng hay ADNR mới có thể cắt kim cương được. Điều đó có nghĩa là chúng có thể giữ bề mặt đánh bóng rất lâu và rất tốt. Khoảng 150 triệu cara (30.000 kg) kim cương được khai thác mỗi năm với tổng giá trị là 10 tỷ đô la Mỹ. Ngoài ra khoảng 100.000 kg kim cương hàng năm được điều chế nhân tạo.
Tên gọi kim cương trong nhiều ngôn ngữ châu Âu đến từ tiếng Hy Lạp adamas (αδάμας có nghĩa là "không thể phá hủy"). Chúng đã được sưu tầm như một loại đá quý và sử dụng trên những biểu tượng tôn giáo của người Ấn Độ cổ cách đây ít nhất 2.500 năm. Người ta còn tìm thấy kim cương đầu mũi khoan, cũng là dụng cụ để khắc lên đá đối với người cổ đại. Sự phổ biến của kim cương tăng lên ở thế kỷ 19, khi những kỹ thuật đánh bóng và cắt đã đạt đến một trình độ nhất định, kinh tế thế giới đã phát triển, và những nhà kim hoàn bắt đầu những chiến dịch quảng cáo rầm rộ.
Một viên kim cương được đánh giá theo một hệ thống chất lượng 4C: "carat" (khối lượng), "clarity" (độ trong suốt), "color" (màu sắc) và "cut" (cách cắt) và hiện nay có khi người ta còn đánh giá theo tiêu chuẩn 6C, thêm "cost" (giá cả) và certification (giấy chứng nhận, kiểm định). Chỉ khoảng 20% sản lượng kim cương trên thế giới được dùng làm hàng trang sức, 80% kim cương kém phẩm chất hơn được sử dụng trong công nghiệp và các ứng dụng nghiên cứu. Mặc dù kim cương nhân tạo được sản xuất với khối lượng gần gấp 4 lần so với kim cương tự nhiên nhưng phần lớn chúng được dùng vào mục đích công nghiệp vì hầu hết chúng là những viên kim cương nhỏ và không hoàn hảo, tuy hiện điều này đã cải thiện rõ rệt với những công nghệ làm kim cương nhân tạo mới.
Khoảng 49% kim cương được khai thác ở Trung Phi và Nam Phi, mặc dù một số lượng lớn kim cương cũng được tìm thấy ở Canada, Ấn Độ, Nga, Brasil, Úc. Hầu hết chúng được khai thác ở những miệng núi lửa đã tắt, sâu trong lòng Trái Đất nơi mà áp suất và nhiệt độ cao làm thay đổi cấu trúc của các tinh thể. Việc khai thác kim cương cũng là nội dung của những cuộc tranh chấp. Cũng có một số tranh cãi rằng tập đoàn De Beers đã lợi dụng độc quyền trong ngành cung cấp kim cương để điều khiển giá cả của thị trường, mặc dù thị phần công ty đã giảm xuống 50% trong những năm gần đây.
== Nguồn gốc lịch sử ==
=== Sự hình thành ===
Kim cương được tạo thành từ những khoáng vật có chứa cacbon dưới nhiệt độ và áp suất rất cao. Trên Trái Đất, mọi nơi đều có thể có kim cương bởi vì ở một độ sâu nào đó thì sẽ tồn tại nhiệt độ đủ cao và áp suất đủ lớn để tạo thành kim cương. Trong những lục địa, kim cương bắt đầu hình thành ở độ sâu khoảng 150 km (90 dặm), nơi có áp suất khoảng 5 gigapascal (4905000000 kg) và nhiệt độ khoảng 1200 độ C (2200 độ F). Trong đại dương, quá trình này xảy ra ở các vùng sâu hơn do nhiệt độ cần cao hơn nên cần áp suất cũng cao hơn. Khi những áp suất và nhiệt độ dần giảm xuống thì viên kim cương cũng theo đó mà lớn dần lên.
Qua những nghiên cứu tỉ lệ các đồng vị (giống như phương pháp xác định niên đại lịch sử bằng C-14) ngoại trừ việc sử dụng những đồng vị bền như C-12 và C-13, carbon trong kim cương có nguồn gốc từ những nguồn hữu cơ và vô cơ. Các nguồn vô cơ có sẵn ở lớp trung gian của Quả Đất còn các nguồn hữu cơ chính là các loại cây đã chết chìm xuống dưới mặt đất trước khi biến thành kim cương. Cả hai nguồn này có tỉ lệ 13C:12C khác nhau rất lớn. Kim cương được cho rằng đã hình thành trên mặt đất trước đây rất lâu, khoảng 1 tỉ năm đến 3,5 tỉ năm.
Ngoài ra kim cương còn có thể được hình thành trong những hiện tượng có áp suất và nhiệt độ cao khác. Người ta có tìm thấy trong tâm thiên thạch những tinh thể kim cương có kích thước cực kì nhỏ sau khi chúng rơi xuống đất tạo nên một vùng có áp suất và nhiệt độ cao để phản ứng tạo kim cương xảy ra. Những hạt bụi kim cương được dùng trong khoa học hiện đại để xác định những nơi đã có thiên thạch rơi xuống.
Sự hình thành của kim cương tự nhiên đòi hỏi rất cụ thể điều kiện tiếp xúc với các vật liệu carbon chịu áp lực cao, dao động khoảng từ 4.41 đến 5.88 triệu tấn (4,5 và 6 GPa), nhưng ở một phạm vi nhiệt độ tương đối thấp giữa khoảng 900 và 1.300 °C (1.650 và 2.370 °F).
Kim cương nhân tạo được tổng hợp theo 2 phương pháp chính là phương pháp cao áp cao nhiệt HPHT (High pressure High temperature) sử dụng nhiệt độ và áp suất cực kỳ cao nhằm tái tạo môi trường giống như môi trường tái tạo kim cương trong lòng đất và phương pháp bốc hơi lắng tụ hóa học CVD (Chemical Vapor Deposition) sử dụng sự bốc hơi hóa học của hợp chất khí Carbon dưới tác động của tia nhiệt plasma tạo sự phân chia phân tử khí cho đến khi chỉ còn lại nguyên tử C lắng tụ và phát triển trên mầm kim cương có sẵn, có kim loại đóng vai trò như một dung môi chất xúc tác như niken, coban, sắt và tùy theo mạng tinh thể cacbon bị thay thể bằng nguyên tố nào mà kim cương sẽ có màu đó, tạp chất thường gặp nhất trong kim cương là nitơ, một phần nhỏ nitơ trong tinh thể kim cương làm cho kim cương có màu vàng thậm chí màu nâu.
=== Kim cương ở bề mặt Trái Đất ===
Những hòn đá mang kim cương bị kéo lại gần đến nơi núi lửa phun do áp suất. Khi núi lửa phun, nham thạch phải đi qua vùng tạo ra kim cương 90 dặm (150 km). Điều đó rất hiếm khi xảy ra. Ở dưới có những mạch nham thạch ngầm vận chuyển nham thạch và lưu giữ ở đó nhưng sẽ không trào ra khi núi lửa hoạt động. Những mạch chứa kim cương thường được tìm thấy ở những lục địa cổ bởi vì chúng chứa những mạch nham thạch cổ lâu nhất.
Các nhà địa chất học sử dụng các dấu hiệu sau để tìm những vùng có kim cương: những khoáng vật ở vùng đó thường chứa nhiều crôm hay titan, cũng rất thông dụng trong những mỏ đá quý có màu sáng.
Khi kim cương được các ống nham thạch đưa gần lên mặt đất, chúng có thể bị "rò rỉ" qua một khu vực lớn xung quanh. Một ống nham thạch được đánh giá là nguồn kim cương chính. Ngoài ra còn có thể kể đến một số viên kim cương rải rác do các nhân tố bên ngoài (môi trường, nguồn nước). Tuy nhiên, số lượng này cũng không lớn.
Kim cương còn có thể bị đưa lên mặt đất khi có sự đứt gãy các lục địa mặc dù điều này vẫn chưa được hiểu rõ ràng và hiếm xảy ra.
== Đặc tính địa chất ==
Cách sử dụng kim cương như một vật trang trí rất quen thuộc đối với nhiều người. Do dưới ánh sáng Mặt Trời, nó có nhiều màu nên nó còn được gọi là lửa và được đánh giá cao trong nhiều sách lịch sử. Khoảng năm 1900, những chuyên gia địa chất học đã đề ra phương án để phân loại kim cương dựa vào 4 đặc tính, còn nổi tiếng với tên 4C - "carat" (khối lượng), "color" (màu sắc), "clarity" (độ trong) và "cut" (cách cắt).
Giá của những viên kim cương trên thị trường thường được dựa vào quy tắc 4C. Đôi khi có người còn đánh giá kim cương theo tiêu chí 5C: ngoài 4C kể trên, còn có "cost" (giá cả), hoặc 6C với certification (giấy kiểm định, giấy chứng nhận của các công ty uy tín trên thế giới như GIA).
Một số tiêu chuẩn khác không nằm trong 4C nhưng vẫn ảnh hưởng nhiều đến giá cả: ví dụ như ánh huỳnh quang mà nó có thể tạo ra hay cũng như lịch sử của viên kim cương, đơn vị khoa học nào đã lượng giá viên kim cương, và đồng thời một chữ C khác: "cleanliness" (sạch sẽ).
Có bốn tổ chức địa chất có đủ khả năng đánh giá giá trị của viên kim cương. Trong khi khối lượng và góc cắt được tính toán theo công thức thì độ trong và màu sắc được đánh giá bằng mắt thường của một người có kiến thức sâu rộng.
Viện Đá quý Hoa Kỳ (Gemological Institute of America) (GIA) nổi tiếng nhất và là nơi đưa ra các tiêu chuẩn đầu tiên về kim cương.
Hiệp hội Đá quý Hoa Kỳ (American Gemological Society) (AGS) tuy không được đánh giá cao và rộng rãi như GIA nhưng cũng có một ảnh hưởng nhất định.
Phòng thí nghiệm Đá quý Thế giới (IGL) là nơi được tôn trọng nhất trong giới khoa học nhưng cũng bị chỉ trích vì thiếu công bằng khi đánh giá kim cương của các nước nghèo, không như GIA và AGS.
Phòng thí nghiệm Đá quý châu Âu (EGL) cũng được cho là giống IGL.
=== Carat ===
Carat là đơn vị dùng để đo khối lượng của đá quý nói chung. Một carat được định nghĩa là 200 milligram. Một điểm, bằng 1% carat hay 2 mg, được dùng để đánh giá các viên kim cương có khối lượng dưới 1 carat. Giá của viên kim cương tăng nhanh khi khối lượng tăng. Tháng 9 năm 2005 khi đánh giá những viên kim cương có khối lương khác nhau cho thấy:
Giá của mỗi carat kim cương không tăng đều theo khối lượng kim cương. Tuy nhiên một viên kim cương 0,95 carat lại có giá rẻ đáng kể so với một viên 1,05 carat. Rapaport Diamond Report là một tờ báo chuyên ghi lại giá cả của kim cương được xuất bản hàng tuần.
Trong mua bán kinh doanh lớn, người ta mua kim cương theo khối lượng và kích thước trung bình của những viên kim cương trong lô hàng. Tổng khối lượng carat (t.c.w) là một từ thường được ký hiệu để chỉ tổng khối lượng kim cương chứa trên một món hàng, rất thông dụng trên vòng cổ, vòng tay và những món trang sức khác.
=== Độ trong ===
Độ trong được đánh giá dựa vào kết quả khi nhìn dưới kính lúp 10 lần số lượng các vết trầy xước, màu sắc của những vết gãy, vị trí của chúng, tất cả đều được dùng để đánh giá kim cương.
Khi độ trong nâng cao lên khi số kim cương đạt được tiêu chuẩn đó thấp hơn. Chỉ có 20% kim cương có thể đủ để làm đồ trang sức, 80% cho công nghiệp, trong đó có 20% kim cương có những vết trầy thấy rõ bằng mắt thường. Những người mua bình thường rất khó có thể nhìn thấy những vết như thế này.
Những vết xước không ảnh hưởng nhiều đến tính chất tinh thể của viên kim cương. Tuy nhiên, những vết mờ có thể làm giảm sự tán sắc ánh sáng. Vết nứt lớn có thể làm cho kim cương vỡ.
Kim cương có thể được đánh giá là không có khuyết điểm nào cho đến không hoàn hảo.
=== Màu sắc ===
Tạp chất thường gặp nhất trong kim cương là nitơ, một phần nhỏ nitơ trong tinh thể kim cương làm cho kim cương có màu vàng thậm chí màu nâu.
Một cấu trúc tinh thể nguyên chất sẽ làm cho viên kim cương không màu. Tuy nhiên, hầu hết những viên kim cương đều không hoàn hảo. Tùy theo màu sắc có thể tăng hay giảm giá trị của viên đá. Những đốm nhỏ màu vàng sẽ làm giảm giá trị kim cương đi rất nhiều trong khi màu hồng hay xanh dương (như viên kim cương Hope) sẽ làm tăng giá trị của viên kim cương.
Trong tiêu chuẩn GIA thì viên kim cương không màu là "D" và vàng là "Z". Đôi khi người ta còn sử dụng các phương pháp quang học phức tạp để xác định màu. Những viên kim cương có điểm màu thật thấp hay thật cao rất hiếm, và cũng rất đắt tiền. Từ D-F là những viên không màu, từ G-J là gần như không màu, K-M là hơi có màu, N-Y là màu vàng nhạt hay nâu. Tuy nhiên, viên kim cương có màu vàng nhạt Z rất hiếm có và có giá trị rất cao.
Trái với màu vàng và màu nâu, những màu khác khó tìm thấy hơn và có giá trị hơn. Chỉ cần viên kim cương hơi hồng hay xanh lam thì giá trị đã rất cao rồi. Tùy theo mạng tinh thể cacbon bị thay thể bằng nguyên tố nào mà kim cương sẽ có màu đó. Những màu thường gặp là vàng, hồng, xanh dương, xanh lá cây, đỏ, nâu,...
Các nhà khoa học sử dụng một thang đo khác dựa vào độ quý hiếm của những viên đá.
=== Cắt sắt ===
Kĩ thuật cắt kim cương vừa là một môn khoa học vừa là một nghệ thuật. Nó miêu tả quá trình viên kim cương được thành hình và đánh bóng từ dạng viên đá đầu tiên đến một viên ngọc sáng ngời.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu toán học được nghiên cứu nhằm làm cho lượng ánh sáng mà nó phản xạ được là nhiều nhất. Một trong số đó là công trình của nhà toán học yêu thích khoáng vật Marcel Tolkowsky. Ông là người nghĩ ra cách cắt hình tròn và đã đề ra các tỉ lệ thích hợp cho nó. Một viên kim cương được cắt theo kiểu hình tròn hiện đại trên bề mặt có tất cả 57 mặt. Trong đó, phần trên có 33 mặt và phần dưới có 24 mặt. Phần trên có nhiệm vụ tán xạ ánh sáng thành nhiều mằu sắc khác nhau trong khi phần bên có nhiệm vụ phản xạ ánh sáng.
Tolowsky đã đưa ra các tỉ lệ sau
Tỉ lệ giữa đường kính mặt trên cùng và đường kính mặt giữa: 53%
Tỉ lệ giữa độ sâu và đường kính mặt giữa: 59,3%
Góc giữa mặt dưới và phương ngang: 40,75°
Góc giữa mặt trên và phương ngang: 34,5°
Tỉ lệ giữa độ sâu phần dưới và đường kính mặt giữa: 43,1%
Tỉ lệ giữa độ sâu phần trên và đường kính mặt trên: 16,2%
Ngoài ra ở chóp dưới viên kim cương phải nhọn, nếu không thì ánh sáng sẽ đi qua dễ dàng. Thế nhưng trong thực tế thì người ta thường làm với đường kính bằng 1-2% đường kính mặt giữa.
Viên kim cương nào càng khác những tiêu chuẩn của Tolowsky thì ánh sáng sẽ bị phản xạ càng ít. Tuy nhiên trong xã hội hiện đại, người ta coi trọng đến khối lượng của viên kim cương nhiều hơn, dẫn đến việc những viên kim cương được gọt giũa rất ẩu để tăng khối lượng của chúng. Chỉ cần viên kim cương có khối lượng lúc sau cùng là 1 carat thì sẽ là một món tiền lớn hơn viên 0,95 carat. Vì vậy, người ta thường làm phần dưới có độ sâu lớn. Do đó, một viên kim cương cắt xấu nặng 1 carat sẽ có đường kính chỉ bằng một viên 0,85 carat cắt tốt. Người ta thường dựa vào tỉ lệ độ sâu phần đáy để biết nhanh viên kim cương đó có cắt đúng hay không. Lý tưởng là khi tỉ lệ 62,5%. Ngoài ra viên kim cương 1 carat sẽ có đường kính là 6,5 mm. Nhanh chóng hơn, đường kính một viên kim cương sẽ gấp 6,5 lần khối lượng tính bằng carat, hay 11,1 lần khối lượng tính bằng cm³.
==== Hình dáng ====
Kim cương không đẹp và ít chiết quang nếu như nó ở dạng thô. Nó buộc phải được cắt để làm tôn thêm vẻ đẹp riêng của nó. Có vô số cách cắt được nghĩ ra từ xưa đến nay để làm nhiệm vụ đó. Số đó có khi không có một con số cụ thể nào để làm tiêu chuẩn cụ thể như cách cắt "tròn", "bánh mì" (hạt dưa), "vuông", "trái tim", "hoa hồng". Cách cắt cũng phụ thuộc rất nhiều vào thời trang. Những cách cắt mới thường được đánh giá là làm đổi mới nhãn hiệu của mình hơn là sự sáng tạo thực sự.
==== Chất lượng ====
Chất lượng của một viên kim cương được đánh giá rộng rãi bằng tiêu chẩn 4C. Thông thường một viên kim cương đã được cắt được tin là làm tăng thêm giá trị của viên kim cương hơn dù khối lượng của nó bị giảm đi hơn 30% trong quá trình cắt do làm tăng lên độ trong và làm tôn lên màu sắc của viên kim cương.
Một viên kim cương tốt khi được cắt tốt khi được nhìn từ trên xuống phải có màu trắng. Nếu được cắt không tốt, khi nhìn từ trên cao xuống sẽ có màu đen ở chính giữa, và đôi khi có một cái bóng ở đỉnh viên kim cương.
Có một số chiếc máy được chế tạo ra để kiểm tra chất lượng kim cương như FireScope, IdealScope, Heart & Arrow Viewer, GemEx, BrillianceScope, ASET,...
== Tính chất ==
Kim cương là một tinh thể không màu gồm cacbon nguyên chất trong đó một nguyên tử cacbon đều có liên kết với 4 nguyên tử cacbon khác gần đó nhất. Chúng ta sử dụng kim cương vì những tính chất vật lý vô cùng quý giá của chúng. Một trong số đó là độ cứng rất cao, độ khúc xạ tốt, cách nhiệt cao. Những tính chất trên là những tính chất cơ bản trong những lĩnh vực có sử dụng kim cương.
=== Tính chất vật lý ===
==== Cấu trúc tinh thể ====
Tinh thể có cấu trúc lập phương nên có tính đối xứng cao và chứa những nguyên tử cacbon bậc 4. Vì có một nguyên tử cacbon liên kết với 4 nguyên tử cacbon gần nhất nên kim cương có rất nhiều tính chất riêng. Than chì, một dạng thù hình khác của cacbon, có một cấu trúc tinh thể hình bình hành khiến cho chúng có những tính chất vật lý khác hẳn so với kim cương. Than chì là một chất mềm, màu xám, đục. Một nguyên tố khác trong nhóm cacbon là silic khi kết hợp với cacbon cũng tạo thành hợp chất có cấu trúc tinh thể giống kim cương mà người ta gọi là Moissanite. Khối lượng riêng của kim cương là 3,50 g/cm³.
Lonsdaleite cũng là một dạng thù hình của kim cương nhưng được tìm thấy ở những nơi khác có cấu trúc lục giác. Chúng rất khó tìm thấy trong tự nhiên nhưng đó chính là bản chất của kim cương nhân tạo. Một dạng tinh thể kì dị khác của kim cương là carbondo, dạng kim cương không màu, hay có màu xám hoặc đen với cấu trúc tinh thể rất nhỏ gọi là spherulite.
==== Độ cứng ====
Kim cương là vật chất cứng nhất được tìm thấy trong tự nhiên, với độ cứng là 10 trong thang độ cứng Mohs cho các khoáng vật. Kim cương còn chịu được áp suất giữa 175 và 250 gigaPascal trong những đợt kiểm tra khác nhau. Điều này đã được biết đến từ rất lâu, và đó chính là nguồn gốc của tên gọi "kim cương". Tuy nhiên, cacbon dạng lồng, một dạng thù hình của kim cương được điều chế vào năm 2005 được tin là còn cứng hơn cả kim cương.
Những viên kim cương cứng nhất được tìm thấy ở vùng New England của bang New South Wales (Úc). Những viên kim cương này thường nhỏ, dùng để đánh bóng những viên kim cương khác. Độ cứng của chúng được xác định dựa vào điều kiện hình thành nên chúng. Viên kim cương cứng nhất khi chúng được hình thành chỉ trải qua một giai đoạn. Những viên kim cương khác do hình thành qua nhiều giai đoạn nên tạo thành những lớp, vết khiến độ cứng kim cương giảm (Taylor, 1990).
Ngành công nghiệp sử dụng kim cương có từ rất lâu vì tính chất cứng rắn của chúng. Nó là khoáng vật có giá trị cao nhất trong hơn 3.000 mẫu khoáng vật mà con người biết đến. Vì là vật chất cứng rắn nhất trong thiên nhiên, kim cương được dùng để đánh bóng, cắt mọi bề mặt, ngay cả một viên kim cương khác. Các ngành công nghiệp thông thường dùng kim cương như là một mũi khoan, lưỡi cưa hay bột mài. Một ứng dụng rất có triển vọng là làm chất bán dẫn: một số viên kim cương có màu xanh lam chính là chất bán dẫn thiên nhiên, trái ngược với các loại kim cương có màu khác là những chất cách điện tốt. Những viên kim cương nhân tạo dùng trong công nghiệp không phù hợp với việc làm trang sức nhưng có ưu điểm là làm giảm giá thành sản phẩm. Ngay từ thời cổ đại người ta đã biết dùng kim cương làm các mũi khoan và làm dụng cụ khắc chữ.
Độ cứng của kim cương cũng khiến cho nó phù hợp hơn với vai trò của một món trang sức. Bởi vì nó chỉ có thể bị làm trầy bởi một viên kim cương khác nên nó luôn luôn sáng bóng qua thời gian. Khác với những loại đá quý khác chỉ có thể mang vào những dịp đặc biệt, kim cương phù hợp với trang phục thường ngày vì chúng rất khó bị trầy xước. Do đó, trên những chiếc nhẫn đính hôn hay nhẫn cưới, người ta thường đính kim cương lên, và những tập đoàn nữ trang hàng đầu thế giới vẫn luôn hô hào khẩu hiệu "diamonds are forever" để quảng cáo rầm rộ cho trang sức đính kim cương.
==== Độ giòn ====
Khác với độ cứng, chỉ khả năng chống lại những vết trầy xước, độ giòn của kim cương chỉ từ trung bình khá đến tốt. Độ giòn chỉ khả năng khó bị vỡ của vật liệu. Độ giòn của kim cương một phần là do cấu trúc tinh thể của kim cương không chống chịu tốt lắm. Kim cương do đó cũng dễ bị vỡ hơn so với một số vật liệu khác, và câu chuyện lưu truyền về việc kiểm định kim cương bằng đe và búa của vua chúa xưa chỉ là truyền thuyết. Ngày nay, người ta thường dùng cối xay bằng thép nghiền nát kim cương để làm bột đánh bóng
==== Màu sắc ====
Kim cương có rất nhiều màu sắc: không màu, xanh dương, xanh lá cây, cam, đỏ, tía, hồng, vàng, nâu và cả đen. Những viên kim cương có những vệt màu sáng được gọi là những viên kim cương màu. Nếu viên kim cương có màu rất đậm, chúng sẽ được gọi là "có màu sắc rực rỡ". Kim cương có màu là loại kim cương chứa một lượng nhỏ tạp chất, do trong cấu trúc của nó, một nguyên tử cacbon bất kỳ trong mạng tinh thể bị thay thế bởi một nguyên tử của nguyên tố khác. Thông thường nguyên tố đó là nitơ khiến cho kim cương có màu vàng. Nguyên tử kim cương nguyên chất không có màu. Kim cương có độ màu cực trắng sẽ được đánh giá là loại D, còn thấp nhất là Z, chỉ viên kim cương có màu hơi vàng ngả sang nâu.
==== Độ bền nhiệt độ ====
Ở áp suất khí quyển (1 atm) kim cương không ổn định có tính chất giống như như than chì có thể bị phân hủy. (ΔG = −2.99 kJ / mol). Kim cương sẽ cháy ở khoảng 800 °C, nếu có đủ ôxy. Điều này được miêu tả vào cuối thế kỷ 18 nhưng cũng tìm thấy được trong những cuốn sách cổ thời La Mã. Nhưng, do có một hàng rào động năng lớn, kim cương gần như không tự phân hủy. Dưới tác dụng của nhiệt độ và áp suất bình thường thì một viên kim cương chỉ có thể bị biến thành than chì sau một khoảng thời gian bằng khoảng thời gian để vũ trụ hình thành cho tới nay (15 tỷ năm).
=== Phương diện điện từ ===
==== Tính chất quang học ====
Kim cương có khả năng tán sắc tốt, do có chiết suất biến đổi nhanh với bước sóng ánh sáng. Điều này giúp kim cương biến những tia sáng trắng thành những màu sắc, tạo nên sức hấp dẫn riêng của kim cương khi là một món trang sức.
Chiết suất cao của kim cương, vào khoảng 2,417, lớn hơn so với 1,5 của các thủy tinh thông thường, cũng dễ làm xuất hiện sự phản xạ toàn phần trên mặt trong của kim cương tạo độ lấp lánh. Độ lấp lánh của viên kim cương, đặc trưng cho cách ánh sáng tác động lên một viên kim cương, thường được miêu tả là "adamantine".
Một số viên kim cương có phát xạ ánh sáng (hầu hết là màu xanh dương) dưới tia cực tím, một số có màu đỏ tía. Hầu hết các viên kim cương phát xạ ánh sáng xanh trắng, vàng hay xanh lá cây dưới tác dụng của tia X và dùng trong khai mỏ để tách riêng kim cương có khả năng phát sáng và những viên đá bình thường khác không có khả năng này. Trong điều kiện thường, hầu hết các viên kim cương đều không phát ánh sáng, trừ ánh sáng xanh dương mặc dù các loại kim cương màu có thể phát quang nhiều màu hơn.
==== Tính chất điện ====
Ngoại trừ kim cương xanh dương vốn là một chất bán dẫn, mọi loại kim cương còn lại là chất cách điện tốt. Nguyên nhân là do trong phân tử kim cương xanh dương có chứa nguyên tử bo tạp chất, là một chất cho điện tử và tạo ra một chất bán dẫn loại p. Tuy nhiên, các loại kim cương màu xanh dương không chứa tạp chất bo, như loại khai thác ở mỏ kim cương Argyle tại Úc, có màu như vậy là do chứa nhiều hiđrô nên là một chất cách điện.
==== Tính chất nhiệt ====
Không giống như những chất cách điện tốt khác, kim cương là một chất truyền nhiệt tốt bởi vì các nguyên tử được liên kết chặt chẽ với nhau. Hầu hết các viên kim cương xanh có chứa bo thay thế cho cacbon trong mạng nguyên tử cũng có khả năng truyền nhiệt cao. Một viên kim cương nhân tạo nguyên chất có hệ số truyền nhiệt vào khoảng 2.000-2.500 W/(m.K), cao gấp 4 đến 5 lần so với đồng và là cao nhất trong tất cả những chất đã được biết trong nhiệt độ phòng. Do đó, người ta dùng nó trong những thiết bị bán dẫn để giúp cho silic và các vật liệu bán dẫn khác không bị quá nóng. Mức năng lượng các lỗ trống trên kim cương vào khoảng 5,4-6,4 eV.
== Khai thác và thị trường ==
Khoảng 49% kim cương được khai thác ở Trung Phi và Nam Phi, mặc dầu một số lượng lớn kim cương cũng được tìm thấy ở Canada, Ấn Độ, Nga, Brasil, Úc. Hầu hết chúng được khai thác ở những miệng núi lửa đã tắt, sâu trong lòng Trái Đất nơi mà áp suất và nhiệt độ cao làm thay đổi cấu trúc của các tinh thể. Việc khai thác kim cương cũng là nội dung của những cuộc tranh chấp. Cũng có một số tranh cãi rằng tập đoàn De Beers đã lợi dụng độc quyền trong ngành cung cấp kim cương để điều khiển giá cả của thị trường, mặc dù thị phần công ty đã giảm xuống 50% trong những năm gần đây.
Chỉ khoảng 20% sản lượng kim cương trên thế giới được dùng làm hàng trang sức, 80% kim cương kém phẩm chất hơn được sử dụng trong công nghiệp và các ứng dụng nghiên cứu.
== Xem thêm ==
Kim cương nhân tạo
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
C. Even-Zohar (2007). From Mine to Mistress: Corporate Strategies and Government Policies in the International Diamond Industry (ấn bản 2). Mining Journal Press.
G. Davies (1994). Properties and growth of diamond. INSPEC. ISBN 0852968752.
M. O'Donoghue, M (2006). Gems. Elsevier. ISBN 0750658568.
M. O'Donoghue and L. Joyner (2003). Identification of gemstones. Great Britain: Butterworth-Heinemann. ISBN 0750655127.
A. Feldman and L.H. Robins (1991). Applications of Diamond Films and Related Materials. Elsevier.
J.E. Field (1979). The Properties of Diamond. London: Academic Press. ISBN 0122553500.
J.E. Field (1992). The Properties of Natural and Synthetic Diamond. London: Academic Press. ISBN 0122553527.
W. Hershey (1940). The Book of Diamonds. Hearthside Press New York. ISBN 1417977159.
S. Koizumi, C.E. Nebel and M. Nesladek (2008). Physics and Applications of CVD Diamond. Wiley VCH. ISBN 3527408010.
L.S. Pan and D.R. Kani (1995). Diamond: Electronic Properties and Applications. Kluwer Academic Publishers. ISBN 0792395247.
Pagel-Theisen, Verena (2001). Diamond Grading ABC: the Manual. Antwerp: Rubin & Son. ISBN 3980043460.
R.L. Radovic, P.M. Walker and P.A. Thrower (1965). Chemistry and physics of carbon: a series of advances. New York: Marcel Dekker. ISBN 082470987X.
M. Tolkowsky (1919). Diamond Design: A Study of the Reflection and Refraction of Light in a Diamond. London: E. & F.N. Spon.
R.W. Wise (2003). Secrets Of The Gem Trade, The Connoisseur's Guide To Precious Gemstones. Brunswick House Press.
A.M. Zaitsev (2001). Optical Properties of Diamond: A Data Handbook. Springer. ISBN 354066582X.
== Liên kết ngoài == |
thập niên 1850.txt | Thập niên 1850 là thập niên diễn ra từ năm 1850 đến 1859.
== Chính trị và chiến tranh ==
=== Chiến tranh ===
=== Xung đột ===
=== Thuộc địa hóa ===
=== Các sự kiện chính trị nổi bật ===
== Thiên tai ==
== Hiệp hội ==
== Công nghệ ==
== Khoa học ==
== Kinh tế ==
== Văn hóa đại chúng ==
=== Văn học và nghệ thuật ===
=== Thể thao ===
=== Âm nhạc ===
=== Kiến trúc ===
=== Thời trang ===
=== Khác ===
=== Tiểu thuyết và phim ===
== Nhân vật ==
=== Lãnh tụ thế giới ===
== Tham khảo == |
cost per mille.txt | CPM là viết tắt của Cost Per Mille, cũng còn được gọi là cost‰ và cost per thousand (CPT) là một trong những nền tảng của các chương trình quảng cáo. Trong tiếng latinh mille có nghĩa là hàng nghìn, vì vậy CPM có nghĩa là cost per thousand - Thanh toán mỗi nghìn. Các chương trình quảng cáo qua Radio, TV, Báo, Tạp chí, Quảng cáo ngoài trời, và quảng cáo trực tuyến cũng có thể thanh toán theo khuôn khổ của quảng cáo này, tức là trả tiền cho mỗi một nghìn lượt xem quảng cáo. CPM cũng được dùng như một chuẩn kinh doanh để tính toán các khoản chi phí liên quan cho mỗi chiến dịch quảng cáo hoặc cho các mẩu tin quảng cáo trung gian. Thú vị hơn với thanh toán tuyệt đối, CPM có thể định lượng được chi phí thanh toán cho mỗi nghìn lượt xem của mỗi loại quảng cáo.
Ví dụ:
Tổng số tiền để đặt quảng cáo là $50
Có 500.000 lượt xem.
Quảng cáo CPM sẽ tính toán CPM = $50/(500.000/1000) = $0,1
Tuỳ từng vị trí đặt banner quảng cáo, và các chính sách đi kèm, mức giá của các gói CPM sẽ khác nhau.
== Các Ví dụ ==
Quảng cáo trực tuyến: Ví dụ về gói quảng cáo CPM4000 của AdMarket, có nghĩa là khách hàng muốn đăng banner quảng cáo trên hệ thống website của AdMarket sẽ phải trả 4000 VND/CPM tức là trả 4000VND cho 1000 lượt hiển thị banner quảng cáo đó trên website.
Trong khi hãng Super Bowl trả giá quảng cáo cao nhất theo từng điểm trên nước Mỹ, đây là nơi hàng năm các chương trình TV chú ý đến nhất. Tuy nhiên CPM có thể so sánh được với các điểm quảng cáo rẻ hơn trong các chương trình bình thường. (Trên thực tế, Super Bowl hạ một nửa giá quảng cáo cho khách hàng quảng cáo lần đầu tiên, vì khách hàng quảng cáo sẵn sàng chi trả một phần cho các sự kiện mà Super Bowl tuyên truyền)
== Tác dụng của quảng cáo CPM ==
Tác dụng của quảng cáo CPM là được dùng để đo lường tính hiệu quả của mỗi nhà xuất bản quảng cáo khi bán các quảng cáo (từ nhà xuất bản quảng cáo) thông qua các nền tảng quảng cáo CPA, CPC, hoặc CPT. Nói theo cách khác, CPM sẽ nói cho các nhà xuất bản quảng cáo rằng họ có thể nhận được gì nếu họ bán quảng cáo thông qua nền tảng quảng cáo CPM (thay cho nền tảng CPA, CPC, CPT)
== Xem thêm ==
CPA - Giá mỗi chuyển đổi
CPC - Giá mỗi nhấp chuột
CPI - Thanh toán mỗi ấn tượng
CTR - Tỷ lệ nhấp
== Tham khảo == |
sanyo.txt | Công ty cổ phần điện tử Sanyo (tiếng Nhật: 三洋電機株式会社, San'yō Denki Kabushiki-gaisha, tiếng Anh: SANYO Electric Co., Ltd.) là một công ty điện tử lớn của Nhật Bản với trụ sở chính đặt ở Moriguchi, tỉnh Osaka, Nhật Bản. Đối tượng của công ty là nhằm vào thị trường tầm trung (có thể hiểu là cho khách hàng có thu nhập trung bình) với 324 văn phòng và nhà máy khắp thế giới cùng hơn 14.000 công nhân.
Năm 2005, tập đoàn Sanyo sản xuất và phát triển thương hiệu AQUA, AQUA là tên gọi của dòng sản phẩm Sanyo có chất lượng cao hơn, tính năng hiện đại hơn và được định vị ở mức cao hơn so với dòng sản phẩm Sanyo thông thường tại thị trường Nhật. AQUA là thương hiệu có nguồn gốc từ Nhật Bản, được hình thành, phát triển và kinh doanh tại Nhật Bản
Năm 2008, công ty đã trở thành 1 công ty con của Panasonic sau khi bị Panasonic mua lại cổ phần của các nhà đầu tư của Sanyo trên thị trường chứng khoán. Sau đó, Panasonic bán lại mảng tủ lạnh, máy giặt và thiết bị điện máy của Sanyo cho nhà đầu tư Haier.
Công ty con của tập đoàn điện tử Sanyo về mảng tủ lạnh, máy giặt và thiết bị gia dụng chuyển sang sản xuất và kinh doanh thương hiệu AQUA, kể từ đó AQUA được thay thế hoàn toàn cho thương hiệu Sanyo về ngành hàng tủ lạnh, máy giặt và thiết bị gia dụng tại Nhật.
Sanyo được thành lập bởi Iue Toshio (井植 歳男, 1902 - 1969), em rể Matsushita Konosuke và cũng từng là công nhân của Matsushita, vào năm 1947 và được hợp thành năm 1950. Tên công ty trong tiếng Nhật có nghĩa là "Ba đại dương" (三洋, phát âm như xăng-i-ô, phiên âm Hán-Việt là tam dương), ám chỉ đến mục tiêu của nhà sáng lập là bán được sản phẩm khắp toàn cầu, từ Đại Tây Dương, Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương.
Ngày 28 tháng 7 năm 2011, tập đoàn Haier từ Trung Quốc đã mua lại mảng kinh doanh tủ lạnh, máy giặt và các sản phẩm điện máy tiêu dùng khác của Sanyo tại Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam .
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Sanyo toàn cầu
Sanyo Mỹ
Sanyo châu Âu
Sanyo LSI Technology India
Sanyo Canada
Sanyo châu Đại Dương (Australia / New Zealand)
Sanyo Denki
Sanyo History
Sanyo Energy Corporation
SANYO HA ASEAN: Một thành viên của Sanyo Electrical, sau khi được Panasonic bán mảng kinh doanh máy giặt, tủ lạnh, máy lạnh. Đã tiếp tục kinh doanh thương hiệu Sanyo và AQUA mà công ty thuộc mảng máy giặt tủ lạnh máy lạnh tại Nhật đang kinh doanh. "Công nghệ Nhật, Do người Việt, Cho người Việt" luôn là phương châm mà công ty tại Việt Nam luôn kế thừa và phát huy cho dù chủ đầu tư có thể thay đổi.Tham khảo: http://www.sanyo.com.vn http://aquavietnam.com.vn |
lý thái tổ, hoàn kiếm.txt | Lý Thái Tổ là một phường thuộc quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Việt Nam.
Phường Lý Thái Tổ có diện tích 0,24 km², dân số năm 1999 là 7240 người, mật độ dân số đạt 30167 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
UBND 18 phường quận Hoàn Kiếm |
đọc.txt | Đọc hay đọc hiểu là một quá trình "nhận thức" phức tạp của việc giải mã các biểu tượng để tạo ra ý nghĩa. Đọc sách là cách tiếp thu ngôn ngữ, giao tiếp và chia sẻ thông tin và ý tưởng. Giống như ngôn ngữ, nó là một sự tương tác phức tạp giữa các văn bản và người đọc được định hình bởi kiến thức của người đọc, kinh nghiệm, thái độ, và cộng đồng ngôn ngữ, vốn phụ thuộc vào văn hóa và xã hội cụ thể. Quá trình đọc đòi hỏi phải liên tục thực hành, phát triển, và tinh chỉnh. Ngoài ra, đọc đòi hỏi sự sáng tạo và phân tích bình luận. Người đọc văn chương thường chìm vào nội dung tác phẩm, nói cách khác là chuyển đổi ngôn ngữ thành các hình ảnh mô phỏng các địa điểm mà văn chương đã mô tả. Bởi vì đọc là một quá trình phức tạp như vậy, nó không thể được kiểm soát hoặc định nghĩa bằng các giải thích giản đơn. Không có luật cụ thể về đọc, nhưng đọc đã cho phép các độc giả một lối thoát để tạo ra các tác phẩm nội tâm của riêng họ. Điều này thúc đẩy việc thăm dò sâu sắc văn bản trong quá trình giải nghĩa từ vựng. Độc giả sử dụng nhiều cách đọc để hỗ trợ giải mã (dịch ký hiệu thành âm thanh hoặc tạo hình ảnh cho nội dung phát biểu) và để hiểu. Người đọc có thể sử dụng những đầu mối ngữ cảnh để xác định ý nghĩa của các từ chưa biết. Độc giả có thể tích hợp những từ họ đã đọc vào khung tư duy hiện tại của họ hoặc giản đồ tư duy (lược đồ lý thuyết).
Các kiểu đọc khác mà không phải dựa trên các hệ chữ viết, chẳng hạn như hệ thống ghi chép nốt nhạc hoặc tượng hình. Điểm chung của chúng là việc dịch ý nghĩa của các biểu tượng, ở đây là ý nghĩa của ký hiệu tượng hình hoặc các tín hiệu xúc giác (như trong trường hợp của chữ nổi Braille).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
ống nhòm.txt | Ống nhòm, còn gọi là ống ngắm hay con mắt xa, là một loại kính phóng đại để quan sát bằng mắt các vật ở xa. Cấu tạo gồm vật kính, thị kính và thường có thêm hệ thống lăng kính. Có nhiều loại: kính viễn vọng, ống nhòm... được dùng phổ biến trong thiên văn, trong săn bắn và đời sống.
== Cấu tạo ==
Gồm một hệ thống hai thấu kính hội tụ đặt đồng trục.
Vật kính L1: tiêu cự f1 rất dài (vài mét)
Thị kính L2: tiêu cự f2 ngắn (vài cm) và được sử dụng như kính lúp
Khoảng cách giữa thị kính và vật kính thay đổi được.
== Tham khảo ==
Tham khảo: Sách Giáo Khoa Vật Lý 11 - Nhà xuất bản Giáo dục (2007) |
dysprosi.txt | Dysprosi (tên La tinh: Dysprosium) là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Dy và số nguyên tử 66. Nó là một nguyên tố đất hiếm với ánh bạc kim loại. Dysprosi không được tìm thấy trong tự nhiên ở dạng tự do, mặc dù nó được tìm thấy trong một loạt các khoáng vật, như trong xenotim. Dysprosi nguồn gốc tự nhiên là hỗn hợp của 7 đồng vị, trong đó đồng vị phổ biến nhất là Dy164.
Dysprosi được Paul Émile Lecoq de Boisbaudran nhận dạng đầu tiên năm 1886, nhưng đã không được cô lập ở dạng tinh khiết cho tới khi có sự phát triển của các kỹ thuật trao đổi ion trong thập niên 1950. Dysprosi được sử dụng vì tiết diện hấp thụ nơtron nhiệt cao của nó trong chế tạo các thanh kiểm soát của các lò phản ứng hạt nhân, vì độ cảm từ cao của nó trong các thiết bị lưu trữ dữ liệu cũng như là thành phần của Terfenol-D. Các muối dysprosi hòa tan có độc tính nhẹ, trong khi các muối không hòa tan của nó được coi là không độc hại.
== Đặc trưng ==
=== Vật lý ===
Dysprosi là kim loại đất hiếm, có ánh màu bạc sáng hay xám bạc kim loại. Nó đủ mềm để cắt bằng dao và có thể được gia công cơ khí không gây đánh lửa nếu tránh không tăng nhiệt quá cao. Các đặc trưng vật lý của dysprosi có thể bị thay đổi mạnh nếu có lẫn dù chỉ một lượng nhỏ tạp chất. Dysprosi dễ dàng bị ôxi hóa và vì thế được sử dụng ở dạng nguyên tố chỉ trong các mục đích nghiên cứu. Chẳng hạn, các nguyên tử Dy riêng lẻ được cô lập bằng cách cấy chúng vào các phân tử fulleren.
Dysprosi và holmi có cường độ từ lớn nhất trong số mọi nguyên tố, đặc biệt khi ở các nhiệt độ thấp. Dysprosi có trật tự sắt từ đơn giản ở nhiệt độ dưới 85 K. Trên 85 K, nó trở thành trạng thái phản sắt từ xoắn ốc trong đó mọi mômen nguyên tử trong một lớp phẳng cơ sở cụ thể là song song và định hướng ở góc cố định với các mômen của các lớp cận kề. Hiện tượng phản sắt từ bất thường này chuyển thành trạng thái thuận từ (không trật tự) ở 179 K.
=== Hóa học ===
Dysprosi kim loại bị xỉn chậm trong không khí và cháy thành ôxít dysprosi (III):
4 Dy + 3 O2 → 2 Dy2O3
Dysprosi có độ điện âm vừa phải (1,22) và phản ứng chậm với nước lạnh nhưng rất nhanh với nước nóng để tạo thành hiđrôxít dysprosi:
2 Dy (rắn) + 6 H2O (hơi nóng) → 2 Dy(OH)3 (dung dịch) + 3 H2 (khí)
Dysprosi kim loại phản ứng mãnh liệt với mọi halogen ở nhiệt độ trên 200 °C:
2 Dy (rắn) + 3 F2 (khí) → 2 DyF3 (rắn) [xanh lục]
2 Dy (rắn) + 3 Cl2 (khí) → 2 DyCl3 (rắn) [trắng]
2 Dy (rắn) + 3 Br2 (khí) → 2 DyBr3 (rắn) [trắng]
2 Dy (rắn) + 3 I2 (khí) → 2 DyI3 (rắn) [xanh lục]
Dysprosi dễ dàng hòa tan trong axít sulfuric loãng để tạo ra các dung dịch chứa các ion Dy (III) màu vàng, tồn tại như là phức hợp [Dy(OH2)9]3+:.
2 Dy (rắn) + 3 H2SO4 (dung dịch) → 2 Dy3+ (dung dịch) + 3 SO2−4 (dung dịch) + 3 H2 (khí)
=== Hợp chất ===
Các halua dysprosi, như DyF3 và DyBr3, có xu hướng có màu vàng. Ôxít dysprosi (III), còn gọi là dysprosia, là chất bột màu trắng có từ tính cao hơn so với ôxít sắt
Dysprosi kết hợp với một loạt các phi kim ở nhiệt độ cao tạo thành các hợp chất hay hỗn hợp các hợp chất theo các tỷ lệ khác nhau của dysprosi trạng thái ôxi hóa +3 và +2, như DyN, DyP, DyH2 và DyH3; DyS, DyS2, Dy2S3 và Dy5S7; DyB2, DyB4, DyB6 và DyB12, cũng như Dy3C và Dy2C3.
Cacbonat dysprosi, Dy2(CO3)3 và sulfat dysprosi, Dy2(SO4)3, tạo ra từ các phản ứng tương tự. Phần lớn các hợp chất của dysprosi hòa tan trong nước, nhưng tetrahydrat cacbonat dysprosi (Dy2(CO3)3•4H2O) và decahydrat oxalat dysprosi (Dy2(C2O4)3•10H2O) thì không hòa tan trong nước.
=== Đồng vị ===
Dysprosi nguồn gốc tự nhiên là hỗn hợp của 7 đồng vị: Dy156, Dy158, Dy160, Dy161, Dy162, Dy163 và Dy164. Chúng được coi là ổn định, mặc dù Dy156 phân rã theo phân rã alpha với chu kỳ bán rã trên 1×1018 năm. Trong số các đồng vị nguồn gốc tự nhiên, Dy164 là phổ biến nhất, chiếm 28%, tiếp theo là Dy162 với 26%. Ít phổ biến hơn cả là Dy156 với 0,06 %.
Hai mươi chín đồng vị phóng xạ khác cũng đã được tổng hợp, nằm trong khoảng có nguyên tử lượng từ 138 tới 173. Ổn định nhất trong số này là Dy154 với chu kỳ bán rã khoảng 3×106 năm, tiếp theo là Dy159 (144,4 ngày). Ít ổn định nhất là Dy138 (200 ms). Các đồng vị nhẹ hơn các đồng vị ổn định có xu hướng bị phân rã theo phân rã β+, trong khi các đồng vị nặng hơn các đồng vị ổn định có xu hướng bị phân rã theo phân rã β-, với một vài ngoại lệ. Dy154 phân rã chủ yếu theo phân rã alpha, còn Dy152 và Dy159 chủ yếu phân rã theo bắt điện tử. Dysprosi cũng có ít nhất 11 đồng phân giả ổn định, trong khoảng có khối lượng nguyên tử từ 140 tới 165. Ổn định nhất trong số này là Dy165m, có chu kỳ bán rã 1,257 phút. Dy149 có 2 trạng thái kích thích, trạng thái thứ hai, Dy149m2, có chu kỳ bán rã 28 ns.
== Lịch sử ==
Năm 1878, quặng erbi được tìm thấy có chứa các ôxít của 2 nguyên tố đất hiếm: holmi và thuli. Nhà hóa học người Pháp Paul Émile Lecoq de Boisbaudran, khi làm việc với ôxít holmi, đã tách từ nó ra được ôxít dysprosi tại Paris vào năm 1886. Quy trình của ông để cô lập dysprosi bao gồm hòa tan ôxít dysprosi trong axít, sau đó bổ sung ammoniac để kết tủa hiđrôxít. Ông chỉ có thể cô lập được dysprosi từ ôxít của nó sau trên 30 lần thử theo quy trình này. Khi thành công, ông đặt tên cho nguyên tố là dysprosium, từ tiếng Hy Lạp dysprositos có nghĩa là "khó thu được". Tuy nhiên, nguyên tố đã không được cô lập ở dạng tương đối tinh khiết cho tới khi có sự phát triển của các kỹ thuật trao đổi ion do Frank Spedding tại Đại học bang Iowa đề xuất trong đầu thập niên 1950.
Năm 1950, Glenn T. Seaborg, Albert Ghiorso và Stanley G. Thompson thực hiện việc tấn công các nguyên tử Am241 bằng các ion hêli, tạo ra các nguyên tử có số nguyên tử bằng 97 và là tương tự với terbi trong nhóm Lantan. Do terbi được đặt tên theo làng Ytterby, nơi nó và một vài nguyên tố khác được phát hiện, nên nguyên tố mới này được đặt tên là berkeli theo thành phố (Berkeley) nơi nó được tổng hợp. Tuy nhiên, khi nhóm nghiên cứu tổng hợp nguyên tố số 98, họ không thể nghĩ ra một tên tương ứng với dysprosi, và thay vì thế đặt tên nguyên tố là californi để vinh danh bang nơi nó được tổng hợp. Nhóm nghiên cứu đi tới kết luận là "chỉ ra rằng, để thừa nhận thực tế rằng dysprosi được đặt tên trên cơ sở của từ trong tiếng Hy Lạp nghĩa là 'khó thu được', rằng các nhà nghiên cứu của nguyên tố kia một thế kỷ trước đó thấy rằng nó khó có thể nhận tên gọi theo California.".
== Phổ biến ==
Dysprosi không ở dạng tự do trong tự nhiên, nhưng có trong nhiều khoáng vật, như xenotim, fergusonit, gadolinit, euxenit, polycras, blomstrandin, monazit và bastnasit; thường với erbi và holmi hay các nguyên tố đất hiếm khác. Hiện nay, phần lớn dysprosi thu được từ các quặng đất sét hấp phụ ion tại miền nam Trung Quốc. Trong các loại quặng giàu yttri thì dysprosi là phổ biến nhất trong số các nguyên tố nhóm Lantan nặng, chiếm khoảng 7–8% (so với khoảng 65% là yttri). Hàm lượng Dy trong lớp vỏ Trái Đất là khoảng 5,2 mg/kg và trong nước biển là khoảng 0,9 ng/L.
== Sản xuất ==
Dysprosi thu được chủ yếu từ cát monazit, hỗn hợp của các dạng photphat khác nhau. Kim loại này thu được như là phụ phẩm trong chiết tách thương mại cho yttri. Để cô lập dysprosi, phần lớn các kim loại không mong muốn khác có thể được loại bỏ bằng từ tính hay bằng quy trình tách đãi. Sau đó dysprosi có thể được tách ra từ các kim loại đất hiếm khác bằng quy trình trao đổi ion. Các ion dysprosi thu được sau đó có thể cho phản ứng với flo hay clo để tạo thành florua dysprosi (DyF3) hay clorua dysprosi (DyCl3). Các hợp chất này có thể khử bằng canxi hay liti kim loại theo phản ứng sau:
3 Ca + 2 DyF3 → 2 Dy + 3 CaF2
3 Li + DyCl3 → Dy + 3 LiCl
Các thành phần được đặt trong nồi nấu bằng tantali và đốt trong môi trường chứa heli. Khi phản ứng xảy ra, các halua tạo thành và dysprosi nóng chảy bị chia tách do khác biệt về tỷ trọng. Khi hỗn hợp nguội đi, dysprosi có thể được cắt ra khỏi các tạp chất.
Trên toàn thế giới khoảng 100 tấn dysprosi được sản xuất mỗi năm.
== Ứng dụng ==
Dysprosi được sử dụng, kết hợp với vanadi và các nguyên tố khác, để chế tạo vật liệu laser. Do tiết diện hấp thụ nơtron nhiệt cao của dysprosi, các cermet của ôxít dysprosi-niken được sử dụng trong các thanh kiểm soát hấp thụ nơtron của các lò phản ứng hạt nhân. Các chalcogen dysprosi-cadmi là nguồn bức xạ hồng ngoại hữu ích trong nghiên cứu các phản ứng hóa học. Do dysprosi và các hợp chất của nó có độ cảm từ cao nên chúng được sử dụng trong nhiều loại thiết bị lưu trữ dữ liệu, như trong các đĩa CD.
Các nam châm neodymi-sắt-bo có thể chứa tới 6% neodymi được thay thế bằng dysprosi để nâng cao độ kháng từ cho các ứng dụng có nhu cầu như các động cơ dẫn lái cho các dạng xe điện lai ghép. Sự thay thế này có thể đòi hỏi tới 100 gam dysprosi trên mỗi chiếc xe điện lai ghép được sản xuất. Chỉ dựa trên mỗi dự án của Toyota với công suất 2 triệu chiếc mỗi năm, thì việc sử dụng dysprosi trong những ứng dụng như vậy đã có thể nhanh chóng làm cạn kiệt nguồn cung cấp kim loại này. Sự thay thế bằng dysprosi cũng có thể là hữu ích trong các ứng dụng khác, do nó cải thiện khả năng kháng ăn mòn của nam châm.
Dysprosi là một trong các thành phần của Terfenol-D, cùng với sắt và terbi. Ở nhiệt độ phòng, Terfenol-D có độ kháng từ cao nhất trong số các vật liệu đã biết, tính chất này được sử dụng trong các máy biến năng, các thiết bị cộng hưởng cơ học phổ rộng và các kim phun nhiên liệu lỏng độ chính xác cao.
Dysprosi được sử dụng trong các máy đo liều lượng để đo đạc lượng bức xạ ion hóa. Các tinh thể sulfat canxi hay florua canxi được kích thích bằng dysprosi. Khi các tinh thể này được đặt vào trong nguồn bức xạ, các nguyên tử dysprosi bị kích hoạt và phát sáng. Sự phát quang này có thể đo đạc được để xác định mức độ phơi nhiễm mà thiết bị đo liều lượng đang hứng chịu.
Các sợi nano chứa các hợp chất của dysprosi có diện tích bề mặt lớn và sức bền cao; vì thế, chúng có thể được sử dụng để gia cố các vật liệu khác và làm chất xúc tác. Các sợi florua ôxít dysprosi có thể tạo ra bằng cách đốt nóng dung dịch lỏng chứa DyBr và NaF tới 450 °C ở áp suất 450 barơ trong 17 giờ. Vật liệu này có độ bền đáng kể, tồn tại trên 100 giờ trong các dung dịch lỏng khác nhau ở nhiệt độ trên 400 °C mà không bị hòa tan hay bị kết tập.
== Phòng ngừa ==
Giống như nhiều chất bột khác, bột dysprosi có thể có nguy hiểm cháy nổ khi trộn lẫn với không khí và có mặt nguồn kích cháy. Các lá dysprosi mỏng cũng có thể bị kích cháy bằng tia lửa hay tĩnh điện. Lửa do dysprosi cháy không thể dập tắt bằng nước do nó có thể phản ứng với nước để tạo ra khí hiđrô dễ cháy. Tuy nhiên, các đám cháy do clorua dysprosi, lại có thể dập tắt bằng nước trong khi florua dysprosi và ôxít dysprosi là các chất không cháy. Nitrat dysprosi, Dy(NO3)3, là một tác nhân ôxi hóa mạnh và dễ dàng bắt cháy khi tiếp xúc với các chất hữu cơ.
Các muối dysprosi hòa tan, như clorua dysprosi và nitrat dysprosi, là hơi độc khi nuốt phải. Tuy nhiên, các muối không hòa tan là không độc. Dựa trên độ độc của clorua dysprosi đối với chuột, người ta ước tính rằng việc nuốt phải từ 500 gam hoặc nhiều hơn có thể dẫn tới tử vong ở người.
== Xem thêm ==
Nhóm Lantan
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com – Dysprosium
It's Elemental – Dysprosium |
bán đảo triều tiên.txt | Bán đảo Triều Tiên là dải đất nằm nhô ra biển ở Đông Á, có đường biên giới đất liền với Trung Quốc. Bán đảo này bắt đầu từ lục địa Châu Á chạy dài về phía nam 1.100 km. Nó được bao bọc bởi biển ở ba phía:
Đông – Biển Nhật Bản
Nam – Nam Hải
Tây – Hoàng Hải.
Eo biển Triều Tiên là nơi phân cách Biển Nhật Bản và Biển Hoa Đông.
Cho đến cuối Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Triều Tiên vẫn là một thực thể chính trị thống nhất nằm trên bán đảo Triều Tiên. Sau khi chiến tranh Triều Tiên ngừng bắn năm 1953, bán đảo này bị chia cắt lâu dài thành hai quốc gia là Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) và Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc).
Ranh giới phía bắc của bán đảo Triều Tiền trùng khớp với biên giới của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên với Trung Quốc (dài 1.416 km) và Nga (dài 19 km). Đây là các đường biên giới tự nhiên gồm sông Áp Lục và sông Đồ Môn. Tổng diện tích bán đảo Triều Tiên khoảng 220.000 km².
Vì cách tự xưng tên gọi quốc gia khác nhau, bán đảo này được Bắc Triều Tiên gọi là Chosun Bando (조선반도; "Triều Tiên bán đảo"), Hàn Quốc gọi là Han Bando (한반도; "Hàn bán đảo").
== Địa lý ==
Núi non chiếm 70% diện tích bán đảo Triều Tiên, những bình nguyên có thể trồng trọt đều nhỏ và bị chia cắt bởi các dãy núi. Địa hình sơn cước càng điển hình khi tiến xa hơn về phía bắc và phía đông, những đỉnh núi cao nhất của bán đảo nằm ở phía bắc, ngọn cao nhất là Bạch Đầu Sơn, 2.744 m.
Toàn bán đảo có 8.460 km bờ biển, các bờ biển phía tây và nam đặc biệt khúc khuỷu, phần lớn trong số 3.579 đảo của bán đảo phân bố ở bờ biển phía tây và nam.
== Khí hậu ==
Khí hậu trên bán đảo Triều Tiên khác biệt rất rõ giữa miền nam và miền bắc. Miền nam của bán đảo có khí hậu khá ấm và ẩm giống với Nhật Bản nhờ ảnh hưởng của các dòng nước ấm từ đại dương trong đó có Dòng nước ấm tây Triều Tiên. Miền bắc mang khí hậu lạnh và thiên về khí hậu lục địa giống như Mãn Châu. Ví dụ, lượng mưa hàng năm ở thung lũng sông Áp Lục là 600 mm, trong khi tại bờ biển phía nam bán đảo là 1.500 mm. Tương tự, nhiệt độ vào tháng Giêng ở hai miền bắc, nam bán đảo chênh lệch nhau tới 20 °C.
Tuy nhiên, toàn bộ bán đảo có mô hình khí hậu tương đồng: giữa mùa hè có gió mùa và thường có bão nhiệt đới vào mùa thu. Mưa chủ yếu xảy ra trong những tháng hè mà gần nửa lượng mưa vào thời gian gió mùa. Mùa đông lạnh giá, nhiệt độ trong tháng Giêng thường dưới không độ, ngoại trừ đảo Jeju. Lượng mưa trong mùa đông là rất ít, chỉ một chút tuyết ngoài những vùng núi.
== Quần thể sinh vật ==
Các cuộc điều tra quần thực vật ở Triều Tiên đã xác định có 3.000 loài, trong đó hơn 500 là loài đặc hữu. Các vùng thực vật được chia thành vùng ôn đới, ôn đới ấm và ôn đới lạnh.
Vùng ôn đới ấm chiếm ưu thế ở các bờ biển phía nam, các hòn đảo ngoài khơi và đảo Jeju. Vùng này đặc trưng bởi các cây lá rộng bản xanh tốt quanh năm.
Vùng ôn đới bao trùm phần lớn bán đảo, ngoại trừ bờ biến phía nam và những ngọn núi cao. Cây chủ yếu của vùng này là thông Triều Tiên và các cây lá rộng bản có thay lá trong năm.
Thực vật vùng ôn đới lạnh có ở các bìa rừng phía bắc và trên núi cao bao gồm cả đỉnh Hallasan cao nhất đảo Jeju. Những cây có lá quanh năm là thông rụng lá và bách xù. Phần lớn thực vật của vùng ôn đới lạnh tương tự Mãn Châu.
== Địa chất ==
Địa hình bán đảo Triều Tiên nhấp nhô do những dãy núi thấp, cổ. Phần lớn đá có nguồn gốc từ rất lâu, trước Liên đại Hiển Sinh. Song, cũng có những khu vực phân tán, hình thành ở đại Cổ Sinh, đại Trung Sinh và đại Tân Sinh.
Không có núi lửa đang hoạt động trên bán đảo. Nhưng ở Bạch Đầu Sơn phía bắc và Hallasan trên đảo Jeju có các hồ hình thành từ miệng núi lửa cho thấy núi lửa đã hoạt động trước đây không lâu. Thêm vào đó, đảo Ulleungo và nhóm đảo nhỏ Dokdo trên biển Nhật Bản được cho là có nguồn gốc từ núi lửa. Hơn nữa, các suối nước nóng phân bố khắp bán đảo là dấu hiệu của hoạt động núi lửa ở mức độ thấp. Nhìn chung, hàng năm bán đảo chịu hai trận động đất nhưng không gây chấn động đáng kể.
== Xem thêm ==
Triều Tiên
Chiến tranh Triều Tiên
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên
Đại Hàn Dân Quốc
Vĩ tuyến 38
== Tham khảo == |
đài loan (đảo).txt | Đài Loan (Chữ Hán chính thể: 臺灣 hoặc 台灣; Chữ Hán giản thể: 台湾; Bính âm: Táiwān; Wade-Giles: T'ai-wan; tiếng Đài Loan: Tâi-oân) là một hòn đảo ở khu vực Đông Á, ngoài khơi đông nam Đại lục Trung Quốc, phía nam Nhật Bản và phía bắc Philippines. Từ "Đài Loan" cũng thường được dùng để chỉ lãnh thổ do nhà nước Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) quản lý, bao gồm các đảo Đài Loan (gồm có đảo Lan Tự và Lục Đảo), quần đảo Bành Hồ tại eo biển Đài Loan, Kim Môn và Mã Tổ ở ngoài khơi Phúc Kiến, đồng thời THDQ cũng kiểm soát đảo Thái Bình và Quần đảo Đông Sa ở Biển Đông.
Đảo chính của Đài Loan cũng từng được gọi trong một số ngôn ngữ phương Tây là Formosa cho đến thập niên 1960 (các thủy thủ người Bồ Đào Nha gọi nó là Ilha Formosa, nghĩa là "hòn đảo xinh đẹp"), phía đông giáp với Thái Bình Dương, phía nam giáp Biển Đông, phía tây là eo biển Đài Loan và phía bắc là Biển Hoa Đông. Hòn đảo này dài 394 km và rộng 144 km, gồm nhiều dãy núi dốc và được bao phủ bởi hệ thực vật nhiệt đới và cận nhiệt đới.
== Lịch sử ==
=== Thời tiền sử và những những người định cư đầu tiên ===
Bằng chứng khảo cổ cho thấy con người đã có sự hiện diện của ở Đài Loan đã có từ 30.000 năm trước, mặc dù những cư dân đầu tiên của Đài Loan có thể đã không có chung nguồn gốc với bất kỳ nhóm dân tộc nào hiện nay trên đảo. Khoảng 4.000 năm trước, tổ tiên của thổ dân Đài Loan ngày nay đã định cư tại đảo. Những người này có đặc tính di truyền gần gũi với các dân tộc Nam Đảo và có họ hàng với người Mã Lai, người Indonesia hay người Philippines và với cả những người Polynesia ở phía đông châu Đại Dương hiện nay, và các nhà ngôn ngữ học phân loại các ngôn ngữ của họ thuộc về Ngữ hệ Nam Đảo.
Có nhiều khác biệt trong thư tịch từ thời cổ Trung Quốc cho thấy người Hán có thể đã biết đến sự tồn tại của đảo chính Đài Loan kể từ thời Tam Quốc (230 CN), và phân chia các đảo xa bờ biển Trung Hoa này thành Đại Lưu Cầu (Đài Loan) và Tiểu Lưu Cầu (có thể là Quần đảo Ryukyu của Nhật Bản ngày nay). Người Hán bắt đầu định cư tại quần đảo Bành Hồ trong những năm 1200, nhưng họ đã gặp phải sự chống đối của các bộ tộc bản địa, thêm vào đó là thổ dân trên đảo không có các mặt hàng tốt hay sản vật đặc sắc để có thể giao thương, thế nhưng "thỉnh thoảng vẫn có người mạo hiểm hay các ngư dân đến trao đổi hàng hóa" cho đến thế kỷ thứ 16..
=== Thực dân châu Âu ===
Năm 1594, một tàu Bồ Đào Nha đã trông thấy hòn đảo Đài Loan và đặt tên cho nó là Ilha Formosa, có nghĩa là "Hòn đảo xinh đẹp". Năm 1624, người Hà Lan thành lập một cơ sở giao thương tại Đài Loan và bắt đầu đưa những lao công người Hán từ Phúc Kiến và Bành Hồ đến và nhiều người trong số họ đã định cư tại đảo. Người Hà Lan đã xây dựng Đài Loan thành một thuộc địa với thủ phủ là thành Tayoan (nay là An Bình, Đài Nam). Cả Tayoan và tên đảo Taiwan đều xuất phát từ một từ trong tiếng Siraya, ngôn ngữ của một trong các bộ tộc thổ dân Đài Loan. Quân đội Hà Lan tập trung trong một pháo đài gọi là Pháo đài Zeelandia. Những người thực dân Hà Lan cũng bắt đầu việc tìm kiếm hươu sao (Cervus nippon taioanus) trên đảo và cuối cùng đã làm cho loài này bị tuyệt chủng tại Đài Loan.. Tuy vậy, việc này đã góp phần nhận diện danh tính của các bộ tộc bản địa trên đảo. Năm 1626, người Tây Ban Nha đặt chân lên đảo và chiếm đóng Bắc Đài Loan và lập một cơ sở thương mại. Thời kỳ thuộc địa của người Tây Ban Nha kéo dài 16 năm cho đến 1642.
=== Vương quốc Đông Ninh ===
Sau khi nhà Minh sụp đổ, nhà Thanh chiếm đóng Trung Nguyên, một thủ lĩnh quân sự người Hán là Trịnh Thành Công đã tập hợp lực lượng trung thành với nhà Minh ở miền nam Phúc Kiến, đã đánh bại và đuổi người Hà Lan khỏi Đài Loan vào năm 1662. Ông xây dựng nơi đây thành một lãnh địa riêng không chịu quyền kiểm soát của nhà Thanh, thường được biết dưới tên gọi Vương quốc Đông Ninh. Trịnh Thành Công đã lập thủ phủ tại Đài Nam và dùng Đài Loan như một căn cứ, những người kế vị ông là Trịnh Kinh và Trịnh Khắc Sảng vẫn tiếp tục tiến hành các cuộc thâm nhập vào vùng bờ biển đông nam Trung Quốc đại lục nhằm lật đổ nhà Thanh. Năm 1683, hạm đội quân Thanh dưới sự chỉ huy của đô đốc Thi Lang đã đánh bại quân của họ Trịnh, Đài Loan chính thức sáp nhập vào Đại Thanh.
=== Thời kỳ nhà Thanh cai trị ===
Nhật Bản đã tìm cách kiểm soát Đài Loan từ năm 1592 khi Hideyoshi Toyotomi bắt đầu mở rộng ảnh hưởng của Nhật Bản ra hải ngoại. Năm 1609, Mạc phủ Tokugawa đã cử Harunobu Arima thực hiện sứ mệnh thám hiểm. Năm 1616 Toan Murayama đã dẫn đầu một cuộc xâm lược hòn đảo, tuy nhiên điều này đã không thành công.
Năm 1871, một tàu của Okinawa bị đắm ở đỉnh phía nam của Đài Loan và toàn bộ thủy thủ với khoảng 54 người đã bị thổ dân Paiwan chém đầu. Khi Nhật Bản đòi hỏi bồi thường từ phía nhà Thanh, nó đã không được chấp nhận bởi nhà Thanh coi vụ việc xảy ra là công việc nội bộ. Nhà Thanh cho rằng Đài Loan là một châu thuộc tỉnh Phúc Kiến của mình và Vương quốc Lưu Cầu (vương quốc trên quần đảo Okinawa lúc bấy giờ) là một chư hầu của nhà Thanh. Khi bộ trưởng ngoại giao Nhật Bản Taneomi Soejima trả lời rằng nhà Thanh phải bồi thường cho 4 nạn nhân là công dân Nhật Bản đến từ tỉnh Okayama trên tàu, nhà Thanh đã chính thức bác bỏ yêu cầu này với lý do đó là hành động của các thổ dân "man di" và chưa được chinh phục và hành động đó nằm ngoài quyền hành của họ. Nhiều thổ dân Đài Loan đã bị đối xử vô cùng cay nghiệt; Lãnh sự Hoa Kỳ J.W. Davidson đã mô tả cách người Hán ở Đài Loan ăn và mua bán thịt của những người thổ dân. Việc từ bỏ chủ quyền ở Đài Loan đã dẫn tới việc Nhật Bản xâm lược hòn đảo. Năm 1874, một đội quân viễn chinh gồm ba nghìn lính đã được cử đến đảo. Cuộc chiến kết thúc với 30 người Đài Loan và 543 người Nhật thương vong (12 trong chiến trận và 531 vì dịch bệnh bên phía Nhật Bản)
=== Nhật Bản cai trị ===
Nhà Thanh đã thất bại trong Chiến tranh Thanh-Nhật (1894-1895) và phải nhượng toàn bộ chủ quyền Đài Loan cùng Bành Hồ cho Đế quốc Nhật Bản. Những người mong muốn vẫn được làm thần dân của nhà Thanh có 2 năm chuyển tiếp để bán các tài sản của mình và chuyển về đại lục. Chỉ có rất ít người Đài Loan thực hiện được điều này
Vào ngày 25 tháng 5 năm 1895, một nhóm quan chức cấp cao trung thành với nhà Thanh đã tuyên bố thành lập Đài Loan Dân chủ Quốc để chống lại sự kiểm soát sắp tới của người Nhật. Các lực lượng Nhật Bản đã tiến vào thủ phủ Đài Nam và dập tắt sự kháng cự này vào ngày 21 tháng 10 năm 1895.
Những người Nhật sau đó đã công nghiệp hóa hòn đảo; họ mở rộng đường sắt và các mạng lưới giao thông khác, xây dựng một hệ thống bảo vệ sức khỏe trải rộng và xây dựng hệ thống trường công. Trong thời kỳ này, cả sản lượng lúa gạo và mía đều tăng lên. Năm 1939, Đài Loan là nơi sản xuất đường lớn thứ bảy trên thế giới. Tuy nhiên, người Đài Loan và thổ dân chỉ được xếp là công dân hạng hai và hạng ba. Các vụ đấu tranh lớn tiếp tục diễn ra trong thập kỷ đầu, Nhật Bản đã tiến hành trên 160 trận chiến để hủy diệt các bộ tộc thổ dân Đài Loan trong suốt 51 năm cai trị hòn đảo Khoảng năm 1935, Nhật Bản bắt đầu kế hoạch đồng hóa trên phạm vi toàn đảo để quản lý vững chắc hòn đảo và người dân được dạy là phải tự coi mình là người Nhật. Trong Thế chiến II, hàng chục nghìn người Đài Loan đã phục vụ trong quân dội Nhật Bản. Chẳng hạn, anh trai của cựu Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Lý Đăng Huy đã phục vụ trong hải quân Nhật Bản và chết trong khi làm nhiệm vụ tại Philippines vào tháng 2 năm 1945.
Hải quân Đế quốc Nhật Bản hoạt động chủ yếu bên ngoài Đài Loan. "Nhóm bổn phận phương Nam" có căn cứ bên ngoài Trường Đại học Đế quốc Taihoku (Taihoku nghĩa là Đài Bắc). Nhiều lực lượng Nhật Bản tham gia vào trận Không chiến Đài Loan-Okinawa đặt căn cứ tại Đài Loan. Các căn cứ quân sự và trung tâm công nghiệp quan trọng của Nhật Bản ở khắp nơi tại Đài Loan, như Cao Hùng, đã trở thành mục tiêu của các vụ ném bom ác liệt của Hoa Kỳ.
Nhật Bản mất quyền kiểm soát Đài Loan sau khi bại trận trong Thế chiến II và Văn kiện Đầu hàng của Nhật Bản được ký vào ngày 14 tháng 8 năm 1945. Nhưng sự kiểm soát của Nhật Bản đã có tác động lâu dài đối với Đài Loan, nhất là văn hóa Đài Loan. Nhiều cơ sở hạ tầng của Đài Loan được bắt đầu xây dựng dưới thời Nhật quản lý. Dinh Tổng thống hiện nay cũng được xây trong thời kỳ này. Năm 1938, có khoảng 309.000 người Nhật định cư tại Đài Loan, hầu hết họ đã hồi hương sau chiến tranh.
=== Thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc ===
==== Thời kỳ thiết quân luật Quốc Dân Đảng ====
Hội nghị Cairo diễn ra từ 22 đến 26 tháng 11 năm 1943 tại Cairo, Ai Cập đã xác định lập trường của phe Đồng Minh chống lại Nhật Bản trong Thế chiến II, và giải quyết các vấn đề hậu chiến ở châu Á. Một trong ba điều khoản chính của Tuyên bố Cairo là "Tất cả các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm đoạt từ Trung Quốc, bao gồm Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ, sẽ được hoàn trả lại cho Trung Hoa Dân Quốc". Tuy nhiên, nhiều thay đổi đã diễn ra khiến cho văn kiện này đơn thuần chỉ là một phát biểu với mục đích soạn thảo một Hiệp ước Hòa bình sau chiến tranh.
Vào ngày 25 tháng 10 năm 1945, Hải quân Hoa Kỳ đã chở binh lính Trung Hoa Dân Quốc đến Đài Loan để tiếp nhận việc đầu hàng của lực lượng quân sự Nhật Bản tại Đài Bắc (trước đó gọi theo cách đọc tiếng Nhật là Taihoku). Toàn quyền Ando Rikichi và các chỉ huy cấp dưới của tất cả các lực lượng trên đảo đã ký vào văn kiện đầu hàng và trao cho đại diện Trung Hoa Dân Quốc. THDQ đã tuyên bố đây là ngày "Ngày Trao lại Đài Loan". Chính quyền THDQ tại Đài Loan được thiết lập một cách miễn cưỡng và không ổn định, cộng vào đó là những khó khăn về kinh tế, đặc biệt là nạn lạm phát cao. Hơn nữa, xung đột văn hóa và ngôn ngữ giữa người Đài Loan và người đại lục nhanh chóng dẫn đến việc mất đi sự ủng hộ rộng rãi cho chính quyền mới. Điều này lên đến cực điểm trong một chuỗi các xung đột ác liệt giữa quân THDQ và người Đài Loan, gồm 228 vụ việc với ước tính 20.000-30.000 dân thường đã bị Quân đội Trung Hoa Dân Quốc hành quyết trong Bạch sắc khủng bố. Cùng với đó là một trong những thiết quân luật được áp đặt lâu nhất trên thế giới với trên 38 năm, với kết quả là hàng nghìn người Đài Loan đã bị bắt giữ, tra tấn, bỏ tù và hành hình vì các hành vi chống đối Quốc Dân Đảng. Những người này chủ yếu thuộc tầng lớp trí thức và tầng lớp có địa vị xã hội. Năm 2008, một lời xin lỗi chính thức đã được đưa ra cho các hành động này, tuy nhiên vẫn chưa hề có một sự bồi thường hay đền bù nào cho các nạn nhân hay gia đình của họ
Năm 1949, trong Nội chiến Trung Quốc, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo đã triệt thoái khỏi Nam Kinh để di chuyển đến Đài Bắc, thành phố lớn nhất Đài Loan khi đó. Trung Hoa Dân Quốc tiếp tục tuyên bố chủ quyền trên toàn "Trung Quốc", theo định nghĩa của THDQ là bao gồm Trung Quốc đại lục, Đài Loan, Ngoại Mông (tức Mông Cổ) và các khu vực khác. Các lãnh thổ duy nhất không thuộc Đài Loan vẫn còn nằm dưới sự kiểm soát của THDQ là Kim Môn và Mã Tổ. Tại Trung Quốc đại lục, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập và tuyên bố mình là đại diện hợp pháp duy nhất cho cả Trung Quốc (bao gồm cả Đài Loan) và Trung Hoa Dân Quốc không còn tồn tại
Khoảng 2 triệu người, gồm chủ yếu là quân nhân, các thành viên Quốc dân đảng và các thành phần trí thức và doanh nhân quan trọng, đã di tản từ Trung Quốc đại lục và di chuyển đến Đài Loan trong thời gian đó. Cộng thêm vào đó, chính quyền Quốc dân đảng đã chuyển đến Đài Bắc nhiều tài sản quốc gia như dự trữ vàng và ngoại tệ. Từ thời kỳ này cho đến những năm 1980, Đài Loan được dưới thiết quân luật. Không có sự khác biệt nào dù là nhỏ giữa Quốc dân đảng và chính quyền, tài sản công, tài sản nhà nước, và sở hữu của đảng đều có thể chuyển đổi cho nhau. Nhân viên chính quyền và đảng viên không thể phân biệt được, với nhiều công chức, viên chức được kết nạp là đảng viên Quốc dân đảng.
Trung Hoa Dân Quốc vẫn duy trì là một nhà nước độc đảng trên thực tế theo thiết quân luật theo "Điều khoản Tạm thời có hiệu lực trong thời kỳ Phiến loạn Cộng sản" từ 1948 đến 1987. Sau đó, Tổng thống Tưởng Kinh Quốc và Lý Đăng Huy đã dần dần tiến hành một hệ thống tự do hóa và dân chủ hóa. Với việc chuyển sang chế độ dân chủ, vấn đề vị thế chính trị Đài Loan lại nổi lên là một vấn đề tranh cãi (trước đây những ý kiến không phải là thống nhất dưới quyền của THDQ đều bị cấm đoán).
Do Nội chiến Trung Quốc không hề có thỏa thuận ngừng bắn, THDQ đã củng cố các căn cứ quân sự của mình trên khắp Đài Loan. Trong nỗ lực này, quân đội Quốc Dân đảng trước đây đã xây dựng Quốc lộ Ngang Trung tâm đảo (Trung hoành công lộ) qua hẻm núi Taroko (Thái Các Lỗ) vào thập niên 1950. Hai bờ eo biển Đài Loan vẫn tiếp tục giao chiến lẻ tẻ và hiếm khi công khai chi tiết ra bên ngoài cho đến thập niên 1960 với cực điểm là Cuộc khủng hoảng Eo biển Đài Loan lần thứ hai vào tháng 9 năm 1958 khi tên lửa Nike Hercules đã từng được triển khai. Hiện các thế hệ tên lửa đạn đạo thế hệ mới nhất đã được thay thế cho hệ thống Nike Hercules trước đây trên khắp hòn đảo.
Trong thập kỷ 1960 và 1970, Đài Loan đã phát triển một cách nhanh chóng và công nghiệp hóa mạnh đất nước với một nền kinh tế bền vững và năng động, trở thành một trong bốn con hổ châu Á trong khi vẫn duy trì thiết quân luật và dưới sự cầm quyền độc đảng của Quốc Dân đảng. Vì lợi ích trong Chiến tranh lạnh, hầu hết các quốc gia phương Tây và Liên Hiệp Quốc coi Trung Hoa Dân Quốc là chính quyền hợp pháp duy nhất của Trung Quốc cho đến thập niên 1970, khi hầu hết các nước bắt đầu chuyển sang công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
==== Hậu thiết quân luật ====
Người kế nghiệp của Tưởng Giới Thạch là con trai Tưởng Kinh Quốc. Sau khi thay thế cha mình, ông đã bắt đầu tự do hóa nền chính trị Đài Loan. Năm 1984, ông đã lựa chọn Lý Đăng Huy, một nhà kỹ trị người Đài Loan làm phó tổng thống. Năm 1986, Đảng Dân Tiến (DPP) được thành lập và được coi là đảng đối lập đầu tiên ở Đài Loan. Một năm sau, Tưởng Kinh Quốc đã nới lỏng thiết quân luật.
Sau khi Tưởng Kinh Quốc qua đời, Tổng thống Lý Đăng Huy đã trở thành Tổng thống người Đài Loan đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc. Ông tiếp tục dân chủ hóa chính quyền và giảm sự tập trung của chính phủ vào vấn đề Trung Quốc đại lục. Dưới thời ông cầm quyền, Đài Loan đã trải qua một thời kỳ địa phương hóa mà trong đó văn hóa và lịch sử Đài Loan được coi trọng trong lòng văn hóa Trung Hoa tương phản với chính sách ban đầu của Quốc Dân đảng là coi trọng tính đồng nhất của Trung Hoa. Những cải cách của Lý Đăng Huy bao gồm chuyển việc in giấy bạc từ Ngân hàng tỉnh Đài Loan sang Ngân hàng Trung ương và chuyển hầu hết các công việc của chính quyền tỉnh Đài Loan cho chính quyền Trung ương. Chế độ đại diện cho các tỉnh tại Đại lục trước đây cũng bị bãi bỏ, phản ánh thực tế là Trung Hoa Dân Quốc không quản lý Trung Quốc đại lục. Hạn chế việc sử dụng tiếng Phúc Kiến Đài Loan trong truyền thông đại chúng và trường học cũng đã được nới lỏng. Trong những năm sau đó, Lý Đăng Huy vướng vào một vụ rắc rối về vấn đề tham nhũng về đất đai và mua bán vũ khí mặc dù đã không có vụ luận tội nào được diễn ra.
Thập kỷ 1990, Trung Hoa Dân Quốc tiếp tục các cải cách dân chủ, Tổng thống Lý Đăng Huy đã tái cử trong lần bầu cứ phổ thông đầu tiên được tổ chức vào năm 1996. Năm 2000, Trần Thủy Biển thuộc Đảng Dân Tiến (DPP) đã trở thành tổng thống đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc không phải là thành viên Quốc Dân đảng, ông đã tái cử trong cuộc bầu cử năm 2004. Tình trạng phân cực chính trị nổi bật tại Đài Loan với sự hình thành các đảng trong Liên Hiệp Lam (Phiếm Lam), dẫn đầu là Quốc Dân đảng, chủ trương thống nhất Trung Quốc và các đảng thuộc Liên Hiệp Lục (Phiếm Lục) do Đảng Dân Tiến lãnh đạo với chủ trương Đài Loan độc lập.
Vào ngày 30 tháng 12 năm 2007, Đảng Dân Tiến đã phê chuẩn một nghị quyết yêu cầu tách rời tính đồng nhất với Trung Quốc và kêu gọi ban hành một hiến pháp mới của một "quốc gia bình thường". Đảng này cũng kêu gọi hoàn toàn sử dụng từ 'Đài Loan' và loại bỏ tên gọi Trung Hoa Dân Quốc. Trần Thủy Biển đã tổ chức 2 cuộc trưng cầu dân ý về phòng thủ đất nước và gia nhập Liên Hiệp Quốc vào các năm 2004 và 2008 nhưng đều thất bại vì số người đi bỏ phiếu dưới 50%. Ông sau đó đã phải đối mặt với các cáo buộc tham nhũng và phải ngồi tù.
Quốc Dân đảng đã trở thành đa số trong cuộc bầu cử Nghị viện tháng 1 năm 2008 và ông Mã Anh Cửu cũng đã đắc cử tổng thống cùng năm, chính sách của ông là chấn hưng kinh tế và thiết lập mối quan hệ tốt hơn với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ông bắt đầu nhiệm kỳ vào ngày 20 tháng 5 năm 2008. Một phần của chính sách là tận dụng sức mạnh phát triển kinh tế của CHNDTH. Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng xung đột quân sự với CHNDTH vẫn sẽ không giảm nhiệt.
== Địa lý ==
Hòn đảo Đài Loan nằm cách bờ biển đông nam Trung Quốc đại lục khoảng 180 km qua eo biển Đài Loan. Diện tích của đảo là 35.801 km² (13.822,8 mi²). Biển Hoa Đông nằm ớ phía bắc, phía tây là biển Philippines, eo biển Luzon thẳng hướng về phía nam và phía tây-nam của hòn đảo là Biển Đông. Đảo có sự tương phản giữa 2/3 lãnh thổ, chủ yếu ở phía đông gồm chủ yếu là các vùng đồi núi hiểm trở, có tới 5 dãy núi chạy từ bắc xuống nam của đảo. Đồng bằng tập trung ở phía tây và cũng là nơi sinh sống của hầu hết cư dân Đài Loan. Điểm cao nhất Đài Loan là Ngọc Sơn cao tới 3.952 mét và 5 ngọn núi khác có độ cao trên 3.500 mét. Đài Loan được xếp là hòn đảo cao thứ tư trên thế giới. Công viên Quốc gia Taroko (Thái Các Lỗ) nằm ở vùng đồi núi phía đông của hòn đảo là một ví dụ điển hình cho địa chất, công viên có các hẻm núi và bị xói mòn bởi một dòng sông chảy siết.
=== Khí hậu ===
Đài Loan có khí hậu nhiệt đới đại dương. Phần phía bắc của đảo có mùa mưa từ cuối tháng một cho đến cuối tháng 3 do gió mùa đông bắc đem tới. Hòn đảo có khí hậu nóng, ẩm từ tháng 6 đến tháng 9. Vùng trung và nam đảo không có gió mùa đông bắc vào mùa đông. Các thiên tai như bão và động đất thường xuyên xảy ra tại hòn đảo
Đài Loan có một mật độ dân số cao với nhiều nhà máy, điều này đã làm cho nhiều khu vực trên đảo đã bị ô nhiễm nặng nề. Đáng chú ý là các khu ngoại ô phía nam Đài Bắc và phía tây Đài Nam và phía nam của Cao Hùng. Trong quá khứ, Đài Bắc đã phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm vì có nhiều phương tiện giao thông và nhà máy, nhưng cùng với việc bắt buộc sử dụng xăng không chì và thành lập Cơ quan Bảo vệ Môi trường, chất lượng không khí của Đài Loan đã được cải thiện rất nhiều. Xe tay ga, đặc biệt là xe có động cơ hai thì có thể bắt gặp mọi nơi tại Đài Loan, cũng góp một phần nhỏ vào nạn ô nhiễm.
== Nhân khẩu ==
=== Dân tộc ===
Dân số Đài Loan năm 2011 ước tính khoảng 23,2 triệu người, hầu hết trong số đó cư trú tại đảo Đài Loan. Khoảng 98% là người Hán. Trong số đó, 86% có nguồn gốc là những người nhập cư từ trước năm 1949, được gọi là (本省人 Běnshěng rén, bản tỉnh nhân). Nhóm này thường được gọi là "người Đài Loan bản địa" tuy nhiên thổ dân Đài Loan mới thực sự là những người định cư sớm hơn. Bản tỉnh nhân bao gồm 2 phân nhóm: người gốc Phúc Kiến (70% dân số), những người này di cư từ vùng ven biển phía nam Phúc Kiến từ thế kỷ 17; người Khách Gia (15% dân số) và có nguồn gốc từ tỉnh Quảng Đông. Một số bản tỉnh nhân không thường xuyên sử dụng tiếng Phổ thông, thay vào đó họ sử dụng tiếng Đài Loan và tiếng Khách Gia.
12% dân số là "ngoại tỉnh nhân" (外省人 Waishěng rén), nhóm này gồm có những người đã di cư từ Trung Quốc đại lục sau Nội chiến Trung Quốc cùng với Quốc Dân Đảng và hậu duệ của họ. Hầu hết ngoại tỉnh nhân chủ yếu nói tiếng Phổ thông.
Khoảng 2% dân số Đài Loan, vào khoảng 458.000 người được liệt kê là thổ dân Đài Loan, họ được chia tiếp thành 13 nhóm chính là: Ami, Atayal, Paiwan, Bunun, Rukai, Puyuma, Tsou, Saisiyat, Tao (Yami), Thao, Kavalan, Truku và Sakizaya
=== Ngôn ngữ ===
Tiếng Phổ thông chuẩn (hay còn gọi là tiếng Quan thoại) được công nhận là ngôn ngữ chính thức của Trung Hoa Dân Quốc, ngôn ngữ này được đại đa số dân chúng sử dụng. Khoảng 70% người dân Đài Loan là người gốc Phúc Kiến và họ nói cả tiếng Đài Loan (một phương ngữ của tiếng Mân Nam) và tiếng Phổ thông. Tiếng Phổ thông là ngôn ngữ chủ yếu trong giảng dạy tại trường học từ khi Nhật Bản rút quân khỏi hòn đảo vào những năm 1940. Nhóm người Khách Gia, chiếm khoảng 15% dân số, sử dụng tiếng Khách Gia. Các nhóm thổ dân hầu hết nói ngôn ngữ bản địa của họ, mặc dù hầu hết họ cũng có thể nói tiếng Phổ thông. Các ngôn ngữ thổ dân không thuộc về tiếng Hán hay Ngữ hệ Hán-Tạng mà thuộc Ngữ hệ Nam Đảo
Mặc dù tiếng Phổ thông là ngôn ngữ giảng dạy trong trường học và chiếm ưu thế trên truyền hình và phát thanh, các ngôn ngữ hay phương ngôn khác đã chứng kiến một sự hồi sinh trong đời sống công cộng tại Đài Loan, chủ yếu là từ thập niên 1990 sau khi các hạn chế về ngôn ngữ được nới lỏng. Một phần lớn trong dân chúng có thể nói tiếng Đài Loan, và nhiều người khác cũng có thể hiểu ngôn ngữ này ở những mức độ khác nhau. Những người già từng được giáo dục dưới thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng (1895-1945) đều có thể nói được tiếng Nhật.
Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến tại Đài Loan, một số trường tư có quy mô lớn đã tiến hành giảng dạy bằng tiếng Anh. Tiếng Anh là bắt buộc trong chương trình giảng dạy khi các học sinh bước vào trường tiểu học. Tiếng Anh khá được đề cao trong các trường học Đài Loan
=== Tôn giáo ===
Trên 93% dân số Đài Loan trung thành với một sự kết hợp đa thần giáo gồm tôn giáo cổ Trung Hoa, Phật giáo, Khổng giáo và Đạo giáo; 3,9% dân số theo Công giáo Rôma (2,6% Kháng Cách và 1,3% Công giáo) và dưới 2,5% theo các tôn giáo khác, như Hồi giáo. Đa số Thổ dân Đài Loan theo Công giáo với 64% số người theo tôn giáo này, các nhà thờ là một điểm nhấn khiến các ngôi làng của họ trở nên khác biệt với làng của người Phúc Kiến hay Khách Gia
== Văn hóa ==
Văn hóa Đài Loan là một sự pha trộn của nhiều dòng khác nhau, kết hợp chặt chẽ với các yếu tố của văn hóa cổ truyền Trung Hoa, vốn là nguồn gốc lịch sử và dân tộc của đa số cư dân hiện nay, văn hóa Nhật Bản, tín ngưỡng Khổng Tử và các sắc màu đến từ Phương Tây.
Sau khi dời đến Đài Loan, Quốc Dân Đảng đã áp đặt các phong tục chính thống của văn hóa truyền thống Trung Hoa cho văn hóa Đài Loan. Chính quyền tổ chức các chương trình về nghệ thuật thư pháp, thư họa, nghệ thuật cổ truyền và ca kịch Trung Hoa.
Kể từ phong trào địa phương hóa tại Đài Loan bắt đầu vào những năm 1990. Đặc điểm của văn hóa Đài Loan đã biểu hiện rõ nét hơn. Đặc tính chính trị, cùng với hơn một trăm năm tách biệt vở Trung Quốc đại lục đã khiến cho văn hóa truyền thống cũng có nhiều khác biệt trong nhiều lĩnh vực, như ẩm thực và âm nhạc.
Tình trạng của văn hóa Đài Loan đang là đề tài tranh luận. Người ta mâu thuẫn với nhau khi xếp loại văn hóa Đài Loan là một dạng văn hóa địa phương Trung Hoa hay là một nền văn hóa riêng. Nói tiếng Đài Loan đã trở thành một biểu tượng cho phong trào địa phương hóa và là tượng trưng cho đặc điểm của người Đài Loan.
Một trong các sức hút lớn nhất của Đài Loan là Bảo tàng Cung điện Quốc gia, nơi đây lưu giữ 650.000 hiện vật đồ đồng, ngọc bích, tư pháp, thư họa và gốm sứ Trung Hoa và được coi là một trong là một trong các bộ sưu tầm lớn nhất của nghệ thuật và đồ cổ Trung Hoa trên toàn thế giới. Quốc Dân Đảng đã di chuyển bộ sưu tầm này từ Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh năm 1949 khi họ chạy đến Đài Loan. Bộ sưu tầm này ước tính chiếm tới khoảng 1/10 kho tàng văn hóa Trung Hoa và chỉ 1% trong số đó được thay phiên nhau trưng bày. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho rằng bộ sưu tầm này đã bị ăn cắp và chúng thuộc về Trung Quốc về mặt luật pháp, nhưng Đài Loan trên thực tế đã bảo vệ được chúng khỏi những cuộc phá hoại nếu chúng còn nằm ở đại lục, đặc biệt là trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa.
Karaoke, một hình thức giải trí của văn hóa Nhật Bản, vô cùng phổ biến tại Đài Loan, tại đây chúng được gọi là KTV. Ngành kinh doanh KTV hoạt động giống như mô hình một khách sạn, được chia thành các phòng nhỏ và phòng khiêu vũ phù hợp với số khách trong nhóm. Nhiều KTV hợp tác với các nhà hàng, quán giải khát để tổ chức các hoạt động phục vụ đầy đủ cho các gia đình, bạn bè hoặc bạn kinh doanh.
== Kinh tế ==
Đài Loan đã công nghiệp hóa một cách nhanh chóng trong nửa cuối của thế kỷ 20, và điều này được mệnh danh là "Thần kỳ Đài Loan" (台灣奇蹟 Đài Loan cơ tích). Đài Loan cùng với Hàn Quốc, Hồng Kông và Singapore được gọi là bốn con rồng châu Á (hay 4 con hổ châu Á).
Năm 1962, Đài Loan có thu nhập quốc dân (GNP) đầu người là 170 đô là Mỹ, chỉ tương được với Zaire và Cộng hòa Congo. Năm 2008 thu nhập quốc dân đầu người đã lên tới 33.000 đô là Mỹ, Chỉ số Phát triển Con người (HDI) cũng tương đương với các nước phát triển. HDI của Đài Loan năm 2007 là 0,943 (xếp thứ 27, rất cao), và 0,868 năm 2010 (xếp thứ 18, rất cao) theo cách tính mới của Liên Hiệp Quốc.
Đài Loan ngày nay có một nền kinh tế năng động, tư bản, dựa vào xuất khẩu đi cùng với việc dần dần giảm sự can dự của nhà nước trong đầu tư và thương mại quốc tế. Một số ngân hàng và các hãng công nghiệp lớn do chính quyền điều hành đã được tư nhân hóa. Tăng trưởng GDP thực trung bình là 8% trong suốt gần 3 thập kỷ gần dây. Xuất khẩu là động lực chính cho công nghiệp hóa. Thặng dư thương mại khá lớn và dự trữ ngoại hối của Đài Loan đứng thứ 5 thế giới tỉnh đến 31 tháng 12 năm 2007
Đóng góp của nông nghiệp trong nền kinh tế Đài Loan là rất nhỏ, chỉ chiếm 2% so với 35% vào năm 1952. Từ những năm 1980, các ngành công nghiệp sử dụng nhiều nhân công đã dần di dời ra hải ngoại và được thay thế với các ngành đòi hỏi tính kỹ thuật cũng như vốn đầu tư lớn. Các khu công nghệ cao đã có mặt tại tất cả các vùng tại Đài Loan. Đài Loan trở thành một trong các nhà đầu tư nước ngoài chính tại Trung Quốc đại lục, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Malaysia và Việt Nam. Theo ước tính năm 2003, có khoảng 50.000 doanh nhân và người làm ăn cũng như gia đình của họ sống tại CHNDTH
== Xem thêm ==
Tỉnh Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc)
Tỉnh Phúc Kiến (Trung Hoa Dân Quốc)
Lịch sử Trung Hoa Dân Quốc
Vị thế chính trị của Đài Loan
Đài Loan (Trung Quốc)
Đài Loan độc lập
Trung Hoa Đài Bắc
Tỉnh Đài Loan (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa)
Trung Quốc Quốc Dân Đảng
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Taiwan tại Wikimedia Commons |
danh sách thiết bị qualcomm snapdragon.txt | Đây là danh sách các thiết bị Qualcomm Snapdragon.
Snapdragon là một họ các hệ thống trên một vi mạch (SoC) di động được sản xuất bởi Qualcomm để sử dụng trong điện thoại thông minh, máy tính bảng, và các thiết bị smartbook.
== Snapdragon S1 ==
== Snapdragon S2 ==
== Snapdragon S3 ==
== Snapdragon S4 ==
== Snapdragon 200 series ==
=== Snapdragon 200 ===
=== Snapdragon 208, 210 and 212 ===
The Snapdragon 208 and Snapdragon 210 were announced on September 9, 2014.
The Snapdragon 212 was announced on July 28, 2015.
== Snapdragon 400 series ==
=== Snapdragon 400 ===
=== Snapdragon 410 and 412 ===
The Snapdragon 410 system on a chip was announced on 9 December 2013, it is Qualcomm's first 64-bit mobile system on a chip. It also has Multimode 4G LTE, Bluetooth, Wi-Fi, NFC, GPS, GLONASS and BeiDou capabilities, and contains the Adreno 306 GPU. It is capable of supporting a 1080p screen and a 13 Megapixel camera.
The Snapdragon 412 was announced on July 28, 2015
=== Snapdragon 415 ===
The Snapdragon 415 and the old Snapdragon 425 (canceled later) were announced on February 18, 2015. Both are octa-core SoCs featuring eight ARM Cortex-A53 processor cores. They support LTE connectivity (Cat 4 and Cat 7, respectively), and feature the Adreno 405 GPU, the same GPU as used in the previously introduced Snapdragon 615 which also has eight Cortex-A53 processor cores.
=== Snapdragon 425 and 427 ===
The new Snapdragon 425 was announced on February 11, 2016.
The Snapdragon 427 was announced on October 18, 2016.
=== Snapdragon 430 and 435 ===
The Snapdragon 430 was announced on September 15, 2015.
The Snapdragon 435 was announced on February 11, 2016.
Qualcomm Quick Charge 3.0
== Snapdragon 600 series ==
=== Snapdragon 600 ===
The Snapdragon 600 was announced on January 8, 2013.
Display Controller: MDP 4. 2 RGB planes, 2 VIG planes, 1080p
CPU Instruction Set: ARMv7
=== Snapdragon 602A ===
The Snapdragon 602A, for application in the motor industry, was announced on the 6th of January 2014.
=== Snapdragon 610, 615 and 616 ===
The Snapdragon 610 and Snapdragon 615 were announced on February 24, 2014. The Snapdragon 615 is Qualcomm's first octa-core SoC. This is found in many smartphones by manufactures such as Motorola, Asus, Lenovo, LYF etc.
The Snapdragon 616 was announced on July 31, 2015.
Hardware HEVC/H.265 decode acceleration
=== Snapdragon 617, 625, and 626 ===
Snapdragon 617 was announced on September 15, 2015.
Snapdragon 625 was announced on February 11, 2016.
Snapdragon 626 was announced on October 18, 2016.
Qualcomm Quick Charge 3.0
=== Snapdragon 650 (618), 652 (620), and 653 ===
Snapdragon 618 and Snapdragon 620 were announced on 18 February 2015. They have been since renamed as Snapdragon 650 and Snapdragon 652 respectively. Snapdragon 650 is a hexa-core SoC featuring two ARM Cortex-A72 processor cores and four Cortex-A53 cores, while Snapdragon 652 has four ARM Cortex-A72 cores and four Cortex-A53 cores. The specifications of the two chips are otherwise similar. They have a dual-channel LPDDR3 memory interface, support Cat 7 LTE connectivity, and feature a next-generation Adreno 510 GPU.
Snapdragon 653 was announced on October 18, 2016.
== Snapdragon 800 series ==
A Snapdragon 802 chip, 8092, for use in Smart TVs, was previously announced by Qualcomm. Qualcomm later confirmed that they are not going to release the chip as demand for processors in the Smart TV market is "smaller than anticipated".
=== Snapdragon 800 and 801 ===
The Snapdragon 800 was announced on January 8, 2013.
The Snapdragon 801 was announced on February 24, 2014.
Notable features:
eMMC 5.0 support
4 KiB + 4 KiB L0 cache, 16 KiB + 16 KiB L1 cache and 2 MiB L2 cache
4K × 2K UHD video capture and playback
Up to 21 megapixel, stereoscopic 3D dual image signal processor
Adreno 330 GPU
USB 2.0 and 3.0
VP8 encoding/decoding
Qualcomm Quick Charge 2.0
=== Snapdragon 805 ===
The Snapdragon 805 was announced on November 20, 2013.
Notable features over its predecessor (801):
Quad-core Krait 450 CPU at up to 2.7 GHz per core
ARMv7-A
Dual camera image signal processor supporting up to 55 megapixel
stereoscopic 3D
Adreno 420 GPU
LPDDR3 25.6 GB/s memory bandwidth
Qualcomm Hexagon DSP
QDSP6V5A?
800 MHz
H.265/HEVC decoding
VP9 decoding
Bluetooth 4.1
=== Snapdragon 808 and 810 ===
The Snapdragon 808 and 810 were announced on April 7, 2014.
Snapdragon 808 notable features over its predecessor (805):
ARMv8-A
64-bit architecture
Adreno 418 GPU with support for Vulkan 1.0
DSP Hexagon V56
12-bit dual-ISP up to 21 MP
20 nm manufacturing technology
Snapdragon 810 notable features over its predecessor (808):
Quad-core ARM Cortex-A57 CPU
Adreno 430 GPU with support for Vulkan 1.0
14-bit dual-ISP up to 55 MP
H.265/HEVC encoding
VP9 encoding
4K main display support
=== Snapdragon 820 and 821 ===
Notable features over its predecessor (810):
Kryo quad-core CPU
eMMC 5.1/UFS 2.0
HDMI 2.0
Native 4K display at 60 fps
H.265/HEVC decoding 4K at 60 fps
VP9 decoding 4K at 60 fps
14 nm FinFET
Quick Charge 3.0
Adreno 530 with support for Vulkan 1.0
== SoC sắp ra ==
As of October 2016, there is one SoC from Qualcomm that has not been officially announced but is widely leaked.
== Nền tảng tương tự ==
A31 by AllWinner
Atom by Intel
Ax by Apple
Exynos by Samsung
i.MX by Freescale Semiconductor
Jaguar và Puma by AMD
K3Vx/Kirin by HiSilicon
MTxxxx by MediaTek
NovaThor by ST-Ericsson
OCTEON by Cavium
OMAP by Texas Instruments
R-Car by Renesas
RK3xxx by Rockchip
Tegra by Nvidia
VideoCore by Broadcom
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Snapdragon Chip Product Page
Bản mẫu:ARM-based chips |
trung tâm hội nghị quốc gia việt nam.txt | Trung tâm Hội nghị Quốc gia Việt Nam nằm số 57 đường Phạm Hùng, Hà Nội và được coi là tổ hợp công trình đa năng lớn nhất tại thủ đô . Sự kiện đầu tiên diễn ra ở đây là Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) vào ngày 18 và 19 tháng 12 năm 2006. Đây là nơi tổ chức các đại hội, hội nghị của Đảng Cộng sản Việt Nam, hội nghị quốc tế, các hoạt động chính trị, thương mại mang tính quốc gia và quốc tế. Công trình được khởi công xây dựng vào tháng 11 năm 2004 và hoàn thành sau 22 tháng thi công.
== Phương án kiến trúc ==
Kiến trúc của công trình được chọn từ phương án "Lượn sóng biển Đông" do chuyên gia Cộng hòa Liên bang Đức Meinhard Von Gerkar và Nikolaus Goetzethiết kế, theo ý tưởng cảnh quan di sản thế giới Vịnh Hạ Long .
== Quy mô ==
Chính phủ Việt Nam đã chỉ định 9 tổng công ty thuộc Bộ xây dựng tham gia thực hiện công trình này, đứng đầu là Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội. Công trình được coi là công trình thuộc vào loại lớn và hiện đại trong khu vực Đông Nam Á. Các đơn vị thi công phải huy động gần 5.000 cán bộ công nhân viên lao động suốt ngày đêm. Các đơn vị thi công đã phải sử dụng tới 14.000 tấn cốt thép, 12.500 tấn kết cấu thép, 34.000 m² đá ốp lát, 50.000 m² kính mặt đứng và kính lợp mái .
Vốn đầu tư trên 4.300 tỷ đồng, đây là công trình đa năng, có diện tích sàn 60.000m².
Tòa nhà chính là khối nhà 5 tầng, cao trên 50m .
Phòng họp chính tại tầng 2 tòa nhà với diện tích 4.256 m² có sức chứa 3.800 chỗ ngồi . Đây là phòng họp được thiết kế với hệ thống sân khấu đa chức năng, được trang bị tới 3 màn hình máy chiếu phù hợp với các loại hình nghệ thuật. Phòng họp này có thể chia thành hai không gian riêng biệt bằng hệ thống vách ngăn tự động đáp ứng các yêu cầu phục vụ các hoạt động khác.
Phòng khánh tiết nằm tại tầng 1 tòa nhà có diện tích 2.100 m² . Phòng khánh tiết có hệ thống sân khấu để phục vụ cho các buổi biểu diễn nghệ thuật, có thể tự động chia làm hai không gian riêng biệt.
2 phòng họp nguyên thủ được trang bị hệ thống micro, tai nghe nhiều thứ tiếng.
24 phòng họp nhỏ, mỗi phòng họp nhỏ, nếu cần có thể phân làm 3 phòng, tức là có thể có tới 72 phòng họp loại nhỏ hơn nữa.
Khu hội thảo
Trung tâm báo chí và truyền hình ở đây có 3 phòng riêng biệt dành cho truyền hình, phát thanh và báo viết.
Khu triển lãm
Phong khánh tiết có hai bức Hạ Long đỏ và Hạ Long vàng bằng sơn mài nằm ở hai bức tường đối xứng nhau của phòng khánh tiết. Đây được coi là những bức tranh sơn màu lớn nhất thế giới; kích cỡ 4,2 m, dài 33 m. Bức Hạ Long làm bằng vàng; Hạ long đỏ được làm bằng chất liệu son trai truyền thống .
Trung tâm hội nghị quốc gia còn được trang trí bởi 12 bức trang khổ lớn, hầu hết là sơn mài, trong đó có bức Thiếu nữ trong vườn của Nguyễn Gia Trí và Chùa Thầy của Hoàng Tích Chù (chép từ tranh gốc theo khổ 2,4.-2,5 m) và 60 bức tranh khác loại.
3 bãi đỗ xe nổi và hệ thống ga-ra ngầm với sức chứa gần 1.100 ôtô các loại, riêng hệ thống gara ngầm là hơn 500 xe .
Một sân đỗ trực thăng lên thẳng, hệ thống sân khấu ngoài trời. Ngoài hệ thống điện lưới quốc gia, tại đây còn có hệ thống cung cấp điện dự phòng và nguồn pin năng lượng mặt trời để sưởi ấm toàn bộ tòa nhà và dự phòng trong trường hợp khẩn cấp.
Quảng trường phía trước rộng gần 10.000 m² với cây xanh, thảm cỏ, hệ thống hồ điều hòa khí hậu, và 30 bức tượng đá của nhà điêu khắc Nguyễn Long Bửu .
Từ khi chính thức đưa vào hoạt động đến nay, Trung tâm Hội nghị Quốc gia là nơi tổ chức rất nhiều sự kiện quan trọng trong nước và quốc tế, góp phần quảng bá, đưa hình ảnh về một Việt Nam hiện đại trong mắt bạn bè quốc tế. Có thể kể đến các sự kiện như:
Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương APEC (Tháng 12/2006)
Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc VESAK lần thứ V (Tháng 5/2008).
Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 16 (Từ 8-9 tháng 4/2010)
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (Từ 12- 19 tháng 01/2011)
Đại hội đại biểu toàn quốc Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ VIII (Tháng 9/2014)
Hội nghị thường niên Tổ chức hành chính miền Đông thế giới EROPA 2014 (Tháng 10/2014)
Hội Thi tay nghề ASEAN lần thứ 10 (Tháng 10/2014)
Lễ kỉ niệm 85 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/2015)
Đại hội đồng Liên minh Nghị viện Thế giới IPU 132 (28/3- 1/4 năm 2015)
Lễ kỉ niệm 125 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/2015)
và rất nhiều sự kiện khác.....
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
du lịch việt nam.txt | Du lịch Việt Nam là một ngành kinh tế mũi nhọn. Đất nước Việt Nam có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú.
Năm 2012, số khách quốc tế đến Việt Nam là 6,8 triệu lượt, khách nội địa đạt 32,5 triệu lượt. Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm 2009 đạt từ 68.000 đến 70.000 tỷ đồng năm 2009, 160.000 tỷ đồng năm 2012. Du lịch đóng góp 5% vào GDP của Việt Nam
Năm 2013, số khách quốc tế đến Việt Nam là 7,57 triệu lượt, khách nội địa đạt 35 triệu lượt. Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm 2013 đạt khoảng 200.000 tỷ đồng.
Theo Tổng cục du lịch Việt Nam, năm 2014 ngành du lịch Việt Nam thu hút gần 8 triệu lượt khách quốc tế, 32-35 triệu khách nội địa, con số dự kiến năm 2020 là 11-12 triệu khách quốc tế; 45-48 triệu khách nội địa. Doanh thu từ du lịch dự kiến sẽ đạt 18-19 tỷ USD năm 2020.
Tuy nhiên, ngành du lịch Việt Nam từ nhiều năm nay, cũng đang bị báo động về nạn "chặt chém", bắt nạt du khách, hạ tầng cơ sở yếu kém và chất lượng dịch vụ kém, quản lý kém, tạo ấn tượng xấu với du khách. Từ hơn 20 năm phát triển du lịch, Việt Nam chỉ chú trọng khai thác thiên nhiên và thiếu định hướng chiến lược phát triển, đầu tư một cách bài bản cho du lịch, và kém xa các nước khác trong khu vực. Và vẫn chưa có được một sân khấu, nhà hát biểu diễn nghệ thuật dân tộc nào đủ tầm mức để giới thiệu đến du khách quốc tế, để đa dạng hóa sản phẩm du lịch.
== Du lịch trong nền kinh tế ==
Du lịch ngày càng có vai trò quan trọng tại Việt Nam. Đối với khách du lịch ba-lô, những người du lịch khám phá văn hóa và thiên nhiên, bãi biển và các cựu chiến binh Mỹ và Pháp, Việt Nam đang trở thành một địa điểm du lịch mới ở Đông Nam Á.
Các dự án đầu tư vào bất động sản du lịch dọc theo bờ biển hơn 3.000 km và tại và các thành phố lớn đang gia tăng nhanh chóng. Dịch vụ du lịch ngày càng đa dạng. Công ty lữ hành địa phương và quốc tế cung cấp các tour du lịch tham quan các bản làng dân tộc thiểu số, đi bộ và tour du lịch xe đạp, đi thuyền kayak và du lịch ra nước ngoài cho du khách Việt Nam, đặc biệt là gắn kết với các quốc gia láng giềng Campuchia, Lào và Thái Lan. Ngoài ra, nhờ vào việc nới lỏng các quy định về đi lại, xuất cảnh, khách du lịch nước ngoài đã có thể đi lại tự do trong nước từ năm 1997.
Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang nền kinh tế dịch vụ. Hơn một phần ba của tổng sản phẩm trong nước được tạo ra bởi các dịch vụ, trong đó bao gồm khách sạn và phục vụ công nghiệp và giao thông vận tải. Nhà sản xuất và xây dựng (28 %) nông nghiệp, và thuỷ sản (20 %) và khai thác mỏ (10 %).
Trong khi đó, du lịch đóng góp 4,5% trong tổng sản phẩm quốc nội (thời điểm 2007). Ngày càng có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào ngành du lịch. Sau các ngành công nghiệp nặng và phát triển đô thị, đầu tư nước ngoài hầu hết đã được tập trung vào du lịch, đặc biệt là trong các dự án khách sạn.
Với tiềm năng lớn, từ năm 2001, Du lịch Việt Nam đã được chính phủ quy hoạch, định hướng để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn . Mặc dù "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010" có vài chỉ tiêu không đạt được , từ năm 2011, "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 30/12/2011 để tiếp nối. Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến cho rằng, trong thực tiễn còn cần làm rất nhiều để ngành du lịch thật sự trở thành "mũi nhọn" và từ có "tiềm năng" trở thành có "khả năng".
Năm 2015, Cục Di sản văn hóa đã công bố về số lượng khách tham quan các điểm du lịch Việt Nam, theo đó dẫn đầu là Quần thể danh thắng Tràng An đón hơn 5 triệu lượt khách, tiếp theo là vịnh Hạ Long đón trên 2,5 triệu lượt khách, cố đô Huế đứng thứ ba với hơn 2 triệu lượt khách, phố cổ Hội An đón khoảng 1,1 triệu lượt khách; Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đón khoảng 740.000 lượt khách.
== Tiềm năng du lịch của Việt Nam ==
Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, tiềm năng ấy thể hiện ở các thế mạnh sau:
=== Di tích ===
Tính đến tháng 8 năm 2010, Việt Nam có hơn 40.000 di tích, thắng cảnh trong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 7.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh. Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của Việt Nam.
Qua 6 đợt xếp hạng, Việt Nam hiện có 72 di tích được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Các di tích quốc gia đặc biệt ở Việt Nam được Thủ tướng chính phủ ra quyết định xếp hạng ở 2 đợt đầu gồm: Cố đô Hoa Lư, Di tích Pác Bó, Dinh Độc Lập, Hoàng thành Thăng Long, Khu căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Khu di tích ATK Thái Nguyên, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế, Khu di tích Kim Liên, Khu di tích Phủ Chủ tịch, Khu di tích Tân Trào, Khu lưu niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng, Nhà tù Côn Đảo, Quần thể di tích Cố đô Huế, Thành nhà Hồ, Thánh địa Mỹ Sơn, Thắng cảnh Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Vịnh Hạ Long, Đô thị cổ Hội An và Đền Hùng.
Việt Nam có 117 bảo tàng trong đó các bộ, ngành quản lý 38, các địa phương quản lý 79. Hai bảo tàng lịch sử mang tính quốc gia là Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và Bảo tàng lịch sử Việt Nam hiện đang đề xuất thêm Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Tuy nhiên, hầu hết các bảo tàng đều vắng khách tham quan, đất công đôi khi bị lạm dụng và sử dụng trái mục đích.
=== Danh thắng ===
Hiện nay Việt Nam có 30 vườn quốc gia gồm Ba Bể, Bái Tử Long, Hoàng Liên, Tam Đảo, Xuân Sơn, Ba Vì, Cát Bà, Cúc Phương, Xuân Thủy, Bạch Mã, Bến En, Phong Nha-Kẻ Bàng, Pù Mát, Vũ Quang, Bidoup Núi Bà, Chư Mom Ray, Chư Yang Sin, Kon Ka Kinh, Yok Đôn, Côn Đảo, Lò Gò-Xa Mát, Mũi Cà Mau, Núi Chúa, Phú Quốc, Phước Bình, Tràm Chim, U Minh Hạ, U Minh Thượng.
Việt Nam có 400 nguồn nước nóng từ 40-120 độ. Nhiều suối có hạ tầng xây dựng khá tốt như: Suối nước nóng thiên nhiên Đam Rông, Lâm Đồng; suối nước nóng Kim Bôi Hòa Bình, suối nước nóng Bình Châu Bà Rịa-Vũng Tàu, suối nước nóng Kênh Gà, Ninh Bình, suối nước nóng Quang Hanh Quảng Ninh.
Hang động Việt Nam chủ yếu nằm ở nửa phía bắc của đất nước này do tập trung nhiều dãy núi đá vôi. Hệ thống hang động ở Việt Nam thường là các hang động nằm trong các vùng núi đá vôi có kiểu địa hình karst rất phát triển. Ba di sản thiên nhiên thế giới của Việt Nam là vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và quần thể danh thắng Tràng An đều là những danh thắng có những hang động nổi tiếng. Cho tới năm 2010 chỉ riêng ở Quảng Bình đã thống kê được 300 hang động thuộc Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Tỉnh Ninh Bình có 400 hang động trong đó hơn 100 hang động tập trung nhiều ở quần thể di sản thế giới Tràng An - Tam Cốc - Bích Động. Hiện nay tổng số hang động ở Việt Nam được phát hiện lên tới gần 1000 hang động. Các hang động ở Việt Nam tuy nhiều nhưng số được khai thác sử dụng cho mục đích du lịch còn rất ít. Tiêu biểu nhất là: động Phong Nha (Quảng Bình), động Hương Tích (Hà Nội), hang động Tràng An, Tam Cốc - Bích Động, động Địch Lộng, động Vân Trình, động Thiên Hà (Ninh Bình), hang Pác Bó (Cao Bằng), động Tam Thanh (Lạng Sơn), động Sơn Mộc Hương (Sơn La), các hang động ở vịnh Hạ Long (Quảng Ninh)...
Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới với 125 bãi tắm biển, hầu hết là các bãi tắm đẹp. Việt Nam là 1/12 quốc gia có vịnh đẹp nhất thế giới là vịnh Hạ Long và vịnh Nha Trang.
Tính đến năm 2003 Việt Nam có khoảng 3500 hồ chứa có dung tích lớn hơn 0.2 triệu m3. Chỉ có 1976 hồ có dung tích lớn hơn 1 triệu m3, chiếm 55,9% với tổng dung tích 24.8 tỷ m3. Trong số hồ trên có 10 hồ do ngành điện quản lý với tổng dung tích 19 tỷ m3. Có 44 tỉnh và thành phố trong 63 tỉnh thành Việt Nam có hồ chứa. Tỉnh có nhiều hồ nhất là Nghệ An (249 hồ), Hà Tĩnh (166 hồ), Thanh Hóa (123 hồ), Phú Thọ (118 hồ), Đắk Lăk (116 hồ) và Bình Định (108 hồ). Một số hồ nổi tiếng ở Việt Nam đã được khai thác du lịch như: Hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm, hồ Đại Lải, hồ Quan Sơn, hồ Suối Hai (Hà Nội); Hồ Ba Bể (Bắc Kạn); Hồ Cấm Sơn (Bắc Giang); Hồ Đồng Chương, hồ Đồng Thái, hồ Yên Thắng, hồ Mạc (Ninh Bình); hồ Tuyền Lâm, hồ Than Thở (Đà Lạt,...
=== Danh hiệu UNESCO ===
Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam gồm danh sách các di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản tư liệu thế giới, công viên địa chất toàn cầu, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại... đã được UNESCO công nhận tại Việt Nam. Trong hệ thống các danh hiệu của UNESCO, di sản thế giới là danh hiệu danh giá nhất và lâu đời nhất. Thủ đô Hà Nội hiện sở hữu nhiều danh hiệu UNESCO trao tặng nhất cho các đối tượng: Hoàng thành Thăng Long, Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long, ca trù và Hội Gióng. Đến năm 2014, các tỉnh Ninh Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kiên Giang, Cà Mau mỗi tỉnh sở hữu từ 2 đến 3 danh hiệu UNESCO; Các tỉnh Bắc Kạn, Bình Định, Cao Bằng, Đà Nẵng, Điện Biên, Hòa Bình, Khánh Hòa, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái chưa từng sở hữu một danh hiệu UNESCO nào.
Tới năm 2015, có 8 di sản được UNESCO công nhận là Di sản thế giới tại Việt Nam bao gồm: Quần thể danh thắng Tràng An, Thành nhà Hồ, Hoàng thành Thăng Long, Quần thể di tích Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố Cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, và Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Các di sản thế giới hiện đều là những điểm du lịch hấp dẫn.
Tính đến hết năm 2015 Việt Nam được UNESCO công nhận 8 khu dự trữ sinh quyển thế giới đó là Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây Nghệ An, Đồng Nai, Cù lao Chàm, Cần Giờ. Cà Mau và biển Kiên Giang.
Có 9 di sản văn hóa phi vật thể trên thế giới tại Việt Nam như Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, Quan họ, Ca trù, Hội Gióng, Hát xoan, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Phú Thọ).
=== Văn hóa ===
Việt Nam có 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có những nét đặc trưng về văn hoá, phong tục tập quán và lối sống riêng. Ngành du lịch và các địa phương đã nỗ lực xây dựng được một số điểm du lịch độc đáo, như du lịch cộng đồng Sa Pa, du lịch Bản Lát ở Mai Châu...
Sự ra đời và phát triển của sân khấu dân gian Việt Nam gắn liền với đời sống nông nghiệp, múa rối nước là nghệ thuật dân gian của người nông dân làm ruộng nước ở vùng châu thổ sông Hồng, thường được biểu diễn trong dịp hội hè, những lúc nông nhàn, múa rối nước là một nghệ thuật tổng hoà giữa các nghệ thuật điêu khắc, sơn mài, âm nhạc, hội hoạ và văn học. Cùng với múa rối nước là các môn nghệ thuật hát chèo, tuồng, cải lương góp phần làm phong phú nền sân khấu cổ truyền Việt Nam. Từ đầu thế kỷ 20, cùng với những ảnh hưởng của sân khấu phương Tây, nghệ thuật sân khấu hiện đại Việt Nam được bổ sung thêm các môn nghệ thuật kịch, hài kịch, xiếc, ảo thuật, múa, ballet, opera,... Hiện nay, một số đơn vị nghệ thuật đã đưa vào phục vụ khách du lịch như rối nước Hà Nội, Đờn ca tài tử Bạc Liêu, Nhà hát Chèo Việt Nam, Nhà hát Chèo Ninh Bình, Nhà hát Chèo Hà Nội.
Âm nhạc dân gian Việt Nam cũng có truyền thống lâu đời, bắt đầu với chầu văn, quan họ, ca trù, hát ví, dân ca, vọng cổ, nhạc cung đình,...của người Việt và bên cạnh đó là âm nhạc dân gian của các dân tộc khác như hát lượn của người Tày, hát Sli của người Nùng, hát Khan của người Ê Đê, hát dù kê của người Khmer...Cùng với các môn nghệ thuật hiện đại khác, nền âm nhạc hiện đại Việt Nam từ những năm 1930 được hình thành và phát triển đến ngày nay được gọi là tân nhạc Việt Nam với các dòng nhạc tiền chiến, nhạc đỏ, tình khúc 1954-1975, nhạc vàng, nhạc hải ngoại và nhạc trẻ. Tuy nhiên, từ hơn 20 năm phát triển du lịch, Việt Nam vẫn chưa có được một sân khấu, nhà hát biểu diễn nghệ thuật dân tộc nào đủ lớn để giới thiệu đến du khách quốc tế, để đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Ngoại trừ múa rối nước, hiện có 1 sân khấu nhỏ tại Hà Nội và sân khấu múa rối nước Rồng Vàng tại Thành phố Hồ Chí Minh.
=== Lễ hội Việt Nam ===
Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%). Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương và Phú Thọ.
Tính đến hết năm 2014, Việt Nam có 28 lễ hội được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia gồm: Hội Gióng đền Phù Đổng và đền Sóc (Hà Nội), Lễ hội Yên Thế (Bắc Giang), Lễ hội Đền Đô (Bắc Ninh), Lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn (Hà Giang), Lễ hội Côn Sơn (Hải Dương), Lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương), Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng), Lễ hội Cầu Ngư ở Khánh Hòa (Khánh Hòa), Lễ hội Gầu Tào (Lào Cai, Hà Giang), Lễ hội Kỳ Yên ở đình Gia Lộc (Tây Ninh), Lễ hội Tháp Bà (Ponagar) Nha Trang (Khánh Hòa), Lễ hội Lồng Tông của người Tày (Tuyên Quang).. Lễ hội Phủ Dầy, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định; Hội Lim, Tiên Du,Bắc Ninh,Lễ hội Nghinh Ông, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. Lễ hội Roóng poọc của người Giáy (Tả Van, Sa Pa, Lào Cai) và Lễ Pút tồng của người Dao đỏ (Sa Pa, Lào Cai). Lễ hội Đền Trần Nam Định, Lễ hội Trường Yên Ninh Bình, Lễ hội miếu Bà Chúa Xứ núi Sam An Giang, Lễ hội Lồng tồng Ba Bể Bắc Kạn, Lễ hội làng Lệ Mật Hà Nội, Lễ hội Khô già của người Hà Nhì đen, Đại lễ Kỳ Yên đình Tân Phước Tây - Long An, Lễ hội vía Bà Ngũ hành Long An, Lễ làm chay (Long An), Lễ hội Rước cộ Bà chợ Được (Quảng Nam), Lễ hội Làng Đồng Kị(Bắc ninh)
== Lịch sử ngành Du lịch Việt Nam ==
Ngành Du lịch tại Việt Nam chính thức có mặt khi Quốc trưởng Bảo Đại cho lập Sở Du lịch Quốc gia ngày 5 Tháng Sáu, 1951. Chuyển tiếp sang thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, Nha Quốc gia Du lịch điều hành việc phát triển các tiện nghi du lịch trong nước ở phía nam vĩ tuyến 17 cùng tăng cường hợp tác quốc tế như việc gửi phái đoàn tham dự Hội nghị Du lịch Quốc tế ở Brussel năm 1958. Năm 1961 Nha Du lịch cổ động du lịch "Thăm viếng Đông Dương" với ba chí điểm: Nha Trang, Đà Lạt và Vũng Tàu. Vì chiến cuộc và thiếu an ninh ngành du lịch bị hạn chế nhưng chính phủ vẫn cố nâng đỡ kỹ nghệ du lịch như việc phát hành bộ tem "Du lịch" ngày 12 Tháng Bảy năm 1974.
Đối với miền Bắc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam được tính là ngày 09 tháng 7 năm 1960
Ngày 16/3/1963 Bộ Ngoại thương ban hành Quyết định số 164-BNT-TCCB quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Công ty Du lịch Việt Nam.
Ngày 18/8/1969 Chính phủ ban hành Nghị định số 145 CP chuyển giao Công ty Du lịch Việt Nam sang cho Phủ Thủ tướng quản lý.
Ngày 27/6/1978 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Quyết nghị số 262 NQ/QHK6 phê chuẩn việc thành lập Tổng cục Du lịch Việt Nam trực thuộc Hội đồng Chính phủ.
Ngày 23/1/1979 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 32-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch Việt Nam.
Ngày 15/8/1987 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 120-HĐBT về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.
Ngày 9/4/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 119-HĐBT thành lập Tổng công ty Du lịch Việt Nam.
Ngày 31/12/1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 447-HĐBT về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch.
Ngày 26/10/1992 Chính phủ ban hành Nghị định số 05-CP thành lập Tổng cục Du lịch.
Ngày 27/12/1992 Chính phủ ban hành Nghị định số 20-CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Du lịch.
Ngày 7/8/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 53/CP về cơ cấu tổ chức của Tổng cục Du lịch.
Ngày 25/12/2002 Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 18/2002/QĐ-BNV về việc cho phép thành lập Hiệp hội Du lịch Việt Nam.
== Quy hoạch du lịch ==
“Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” ngày 22/1/2013 xác định rõ Việt Nam có 7 vùng du lịch với 24 trung tâm du lịch, 46 khu du lịch quốc gia, 40 điểm du lịch quốc gia, 12 đô thị du lịch như sau:
=== Vùng du lịch và trung tâm du lịch ===
Việt Nam có 7 vùng du lịch với 24 trọng điểm du lịch:
Vùng trung du và miền núi phía Bắc: Bao gồm 14 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Giang. Vùng này có 5 trọng điểm du lịch là:
Sơn La - Điện Biên: gắn với Mộc Châu, hồ Sơn La, cửa khẩu quốc tế Tây Trang, di tích lịch sử Điện Biên Phủ và Mường Phăng.
Lào Cai gắn với cửa khẩu quốc tế Lào Cai, khu nghỉ mát Sa Pa, Phan Xi Phăng và vườn quốc gia Hoàng Liên.
Phú Thọ gắn với lễ hội Đền Hùng và hệ thống di tích thời đại Hùng Vương, du lịch hồ Thác Bà.
Thái Nguyên - Lạng Sơn gắn với hồ Núi Cốc, di tích ATK Định Hóa, Tân Trào, khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng, khu nghỉ mát Mẫu Sơn.
Hà Giang gắn với công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, cảnh quan Mèo Vạc, Mã Pí Lèng, Na Hang…
Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc: Gồm Thủ đô Hà Nội và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh. gồm 3 trọng điểm du lịch là:
Thủ đô Hà Nội gắn với hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành và các cảnh quan tự nhiên vùng phụ cận.
Quảng Ninh - Hải Phòng gắn với cảnh quan biển đảo Đông Bắc đặc biệt là Hạ Long - Cát Bà, Vân Đồn, Đồ Sơn.
Ninh Bình gắn với Tam Cốc - Bích Động, Hoa Lư, Tràng An, Vân Long, Cúc Phương, Tam Chúc - Ba Sao và quần thể di tích, cảnh quan vùng phụ cận.
Vùng Bắc Trung Bộ: Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:
Thanh Hóa và phụ cận gắn với điểm du lịch quốc gia Thành Nhà Hồ, Lam Kinh, Bến En và đô thị du lịch Sầm Sơn.
Nam Nghệ An - Bắc Hà Tĩnh gắn với Cửa Lò, Kim Liên, Đồng Lộc, cửa khẩu Cầu Treo, núi Hồng - sông Lam, Xuân Thành…
Quảng Bình - Quảng Trị gắn với Phong Nha - Kẻ Bàng, biển Cửa Tùng - Cửa Việt, đảo Cồn Cỏ, cửa khẩu Lao Bảo và hệ thống di tích chiến tranh chống Mỹ.
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: gồm các tỉnh Quảng Nam, TP. Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Vùng này có 3 địa bàn trọng điểm du lịch là:
Đà Nẵng - Quảng Nam gắn với Sơn Trà, Hải Vân, Hội An, Mỹ Sơn…
Bình Định - Phú Yên - Khánh Hòa gắn với các bãi biển Phương Mai, Đầm Ô Loan, vịnh Nha Trang, Cam Ranh…
Bình Thuận gắn với biển Mũi Né, đảo Phú Quý…
Vùng Tây Nguyên: gồm các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch là:
Thành phố Đà Lạt gắn với hồ Tuyền Lâm, Đan Kia - Suối Vàng.
Đắk Lắk gắn với vườn quốc gia Yokđôn và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Gia Lai - Kon Tum gắn với cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Măng Đen, Yaly.
Vùng Đông Nam Bộ: gồm TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh. Vùng này có 3 trọng điểm du lịch:
Thành phố Hồ Chí Minh gắn với khu rừng sác Cần Giờ và hệ thống di tích lịch sử văn hóa nội thành.
Tây Ninh gắn với cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, núi bà Đen, hồ Dầu Tiếng.
Thành phố Vũng Tàu gắn với Long Hải, Phước Hải, Côn Đảo.
Vùng Tây Nam Bộ: Gồm các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang và TP. Cần Thơ. Vùng này có 4 trọng điểm du lịch:
Tiền Giang - Bến Tre gắn với du lịch miệt vườn Thới Sơn.
Cần Thơ - Kiên Giang gắn với biển đảo Phú Quốc, Hà Tiên.
Đồng Tháp - An Giang gắn với Tứ giác Long Xuyên, vườn quốc gia Tràm Chim.
Cà Mau gắn với U Minh - Năm Căn - mũi Cà Mau.
=== Khu du lịch quốc gia ===
Việt Nam hiện có 46 khu du lịch quốc gia, là những trọng điểm để đầu tư thúc đẩy phát triển du lịch. Các khu du lịch đó là: Khu du lịch Cao nguyên đá Đồng Văn, Khu du lịch thác Bản Giốc, Khu du lịch Mẫu Sơn, Khu du lịch Ba Bể, Khu du lịch Tân Trào Khu du lịch Núi Cốc, Khu du lịch Sa Pa, Khu du lịch Thác Bà, Khu du lịch Đền Hùng, Khu du lịch Mộc Châu, Khu du lịch Điện Biên Phủ-Pá Khoang, Khu du lịch hồ Hòa Bình, Khu du lịch Hạ Long-Cát Bà, Khu du lịch Vân Đồn, Khu du lịch Trà Cổ, Khu du lịch Côn Sơn-Kiếp Bạc, Khu du lịch Ba Vì-Suối Hai, Khu du lịch Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam, Khu du lịch Tam Đảo, Khu du lịch Tràng An, Khu du lịch Tam Chúc, Khu du lịch Kim Liên, Khu du lịch Thiên Cầm, Khu du lịch Phong Nha-Kẻ Bàng, Khu du lịch Lăng Cô-Cảnh Dương, Khu du lịch Bà Nà, Khu du lịch Cù Lao Chàm, Khu du lịch Mỹ Khê, Khu du lịch Phương Mai, Khu du lịch Vịnh Xuân Đài, Khu du lịch Bắc Cam Ranh, Khu du lịch Ninh Chữ, Khu du lịch Mũi Né, Khu du lịch Măng Đen, Khu du lịch Tuyền Lâm, Khu du lịch Đan Kia-Suối Vàng, Khu du lịch Yokđôn, Khu du lịch núi Bà Đen, Khu du lịch Cần Giờ, Khu du lịch Long Hải-Phước Hải, Khu du lịch Côn Đảo, Khu du lịch Thới Sơn, Khu du lịch Phú Quốc, Khu du lịch Năm Căn, Khu du lịch Xứ sở hạnh phúc.
=== Điểm du lịch quốc gia ===
Việt Nam có 40 điểm du lịch quốc gia: Điểm du lịch thành phố Lào Cai, Điểm du lịch Pắc Bó, Điểm du lịch thành phố Lạng Sơn, Điểm du lịch Mai Châu, Điểm du lịch Hoàng thành Thăng Long, Điểm du lịch Yên Tử, Điểm du lịch thành phố Bắc Ninh, Điểm du lịch Chùa Hương, Điểm du lịch Cúc Phương, Điểm du lịch Vân Long, Điểm du lịch Phố Hiến, Điểm du lịch Đền Trần-Phủ Giầy, Điểm du lịch Thành nhà Hồ, Điểm du lịch Lưu niệm Nguyễn Du, Điểm du lịch Ngã ba Đồng Lộc, Điểm du lịch thành phố Đồng Hới, Điểm du lịch thành cổ Quảng Trị, Điểm du lịch Bạch Mã, Điểm du lịch Ngũ Hành Sơn, Điểm du lịch Mỹ Sơn, Điểm du lịch Lý Sơn, Điểm du lịch Trường Lũy, Điểm du lịch Trường Sa, Điểm du lịch Phú Quý, Điểm du lịch Ngã ba Đông Dương, Điểm du lịch Hồ Ya Ly, Điểm du lịch Hồ Lắk, Điểm du lịch Thị xã Gia Nghĩa, Điểm du lịch Tà Thiết, Điểm du lịch TW Cục miền Nam, Điểm du lịch Cát Tiên, Điểm du lịch Hồ Trị An-Mã Đà, Điểm du lịch Củ Chi, Điểm du lịch Láng Sen, Điểm du lịch Tràm Chim, Điểm du lịch Núi Sam, Điểm du lịch Cù lao Ông Hổ, Điểm du lịch thành phố Cần Thơ, Điểm du lịch thị xã Hà Tiên, Điểm du lịch Lưu niệm Cao Văn Lầu.
=== Đô thị du lịch ===
Việt Nam quy hoạch 12 đô thị du lịch gồm: Đô thị du lịch Sa Pa, thuộc tỉnh Lào Cai; Đô thị du lịch Đồ Sơn, thuộc Thành phố Hải Phòng; Đô thị du lịch Hạ Long, thuộc tỉnh Quảng Ninh; Đô thị du lịch Sầm Sơn, thuộc tỉnh Thanh Hóa; Đô thị du lịch Cửa Lò, thuộc tỉnh Nghệ An; Đô thị du lịch Huế, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế; Đô thị du lịch Đà Nẵng, thuộc thành phố Đà Nẵng; Đô thị du lịch Hội An, thuộc tỉnh Quảng Nam; Đô thị du lịch Nha Trang, thuộc tỉnh Khánh Hòa; Đô thị du lịch Phan Thiết, thuộc tỉnh Bình Thuận; Đô thị du lịch Đà lạt, thuộc tỉnh Lâm Đồng; Đô thị du lịch Vũng Tàu, thuộc tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
== Khẩu hiệu ngành du lịch ==
== Năm du lịch quốc gia ==
== Quảng cáo du lịch Việt Nam ==
Cho đến năm 2012, mỗi năm chính phủ Việt Nam đầu tư xúc tiến du lịch là 50 tỷ đồng (tương đương 2,5 triệu USD).
Nguyễn Mạnh Cường, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam khẳng định, việc quảng bá của du lịch Việt Nam còn hạn chế do thiếu kinh phí. Bà Hoàng Thị Điệp, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch cũng cho biết, do kinh phí hạn hẹp nên Tổng cục mới chỉ có 2 video clip quảng bá chung thị trường du lịch Việt Nam và Trung Quốc. Nguyễn Văn Tình, Cục trưởng Hợp tác quốc tế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng "Làm clip du lịch hấp dẫn phải mất 1 triệu USD".
Tuy nhiên, đạo diễn chuyên làm clip quảng cáo Vũ Nam Dương cho rằng, nội dung clip phần lớn do yêu cầu của người thuê. Nhiều người chê quảng cáo trong nước xấu không hẳn do người làm không tốt mà là do người thuê có tư duy như vậy. Ông Ian Lyne, Trưởng nhóm Tư vấn dự án chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội cho rằng, chi phí sản xuất video quảng bá dài 2 phút có thể từ 20.000 USD tới 2 triệu USD tùy thuộc vào nhiều yếu tố, tuy nhiên vẫn có video quảng bá rất tốt, nhưng lại chi phí thấp được sản xuất ở châu Âu.
== Vấn đề nan giải của ngành du lịch Việt Nam ==
Du lịch Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn đề yếu kém như ô nhiễm môi trường tại các điểm du lịch, nhiều di tích không được bảo quản đúng mức, gây hư hỏng nghiêm trọng hay bị sửa lại khác xa mẫu cổ và luôn thu phí vào cửa, tình trạng chèo kéo, bắt chẹt khách, tăng giá phòng tùy tiện, chất lượng hạ tầng cơ sở và giao thông thấp, dịch vụ kém, trong khi đó công tác quản lý của các cơ quan chức năng chưa đạt hiệu quả... Theo đánh giá của ngành du lịch, từ năm 2006 đến nay hơn 70% du khách quốc tế sau khi đến Việt Nam đều có ý "một đi không trở lại".
Vì những yếu kém trong những mặt khác so với các nước trong khu vực, nên ngành du lịch Việt Nam thường chỉ chú trọng khai thác quá đáng các thắng cảnh thiên nhiên như một điểm mạnh, nhưng việc "xã hội hóa" các danh thắng (cho phép các công ty đầu tư khai thác và bán vé vào cửa) dẫn đến việc hầu hết các nơi danh thắng đều thu tiền vào tham quan, thường là khá đắt, và các công ty này lại không quan tâm bảo trì đúng mức, do đó cảnh quan đang bị xuống cấp hay phá hủy, điển hình là trường hợp các di tích quốc gia như Thác Voi, Thác Liên Khương.
Lãnh đạo ngành du lịch hứa hẹn, năm 2010, ngành sẽ đột phá cải thiện nhà vệ sinh, sẽ phát động chiến dịch ở đâu có du lịch ở đó có nhà vệ sinh đạt tiêu chuẩn., tuy nhiên đã không đạt được.
Năm 2012, lần nữa, những tin tức tiêu cực và kinh nghiệm xấu về du lịch Việt Nam được đăng tải trên nhiều báo chí, phản ánh 'Nạn lừa đảo du khách rất đáng báo động', chất lượng dịch vụ kém và "du khách đua nhau tố các chiêu 'chặt chém' ", chưa có đấu hiệu thay đổi . Thêm nữa, nạn ô nhiễm môi trường lại tăng lên, theo kết quả của báo cáo thường niên năm 2012 mang tên The Environmental Performance Index (EPI) của hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale và Columbia của Mỹ thực hiện, về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123 trong bảng xếp hạng 132 quốc gia khảo sát, được xem là có không khí bẩn thứ 10 thế giới.
Đầu năm 2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại hội nghị tổng kết công tác năm 2016 và triển khai nhiệm vụ 2017 của Bộ VH-TT&DL chỉ đạo: “Làm thế nào để khách du lịch quay lại VN sớm nhất có thể, chứ không để tình trạng khách một đi không trở lại”. Ông chia sẻ: “Tôi vừa lấy điện thoại thông minh thì đọc được bài 7 nỗi sợ hãi khi đến du lịch VN: chặt chém, cướp giật, mất vệ sinh…”.
== Một số dữ liệu ==
Du khách nước ngoài đến Việt Nam, theo năm :
Mười quốc gia có số du khách đến Việt Nam nhiều nhất
== Ảnh non nước Việt Nam ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website Du lịch Việt Nam
Đặng Tuyền (31 tháng 10 năm 2011). “Quảng bá du lịch Việt Nam – mãi chưa tới đích”. Báo Màn ảnh Sân khấu (trang TTĐT). Truy cập 9 tháng 4 năm 2013.
Đừng làm clip quảng bá du lịch kiểu 'tô son cho gỗ mục', VnExpress, 27/12/2012
Du lịch Việt Nam bao giờ cho đến "mũi nhọn"?, SGGP, 18/03/2013
Du lịch Việt Nam - bao giờ "tiềm năng" mới thành "khả năng"?, Tuổi Trẻ, 29/09/2007
Lòng hiếu khách ở đâu? |
nội các hoa kỳ.txt | Nội các Hoa Kỳ là cơ quan của ngành hành pháp của chính phủ Hoa Kỳ, với nhiệm bao gồm các bộ trưởng. Tuy là một trong những cơ quan có quyền hành nhất trong Chính phủ Hoa Kỳ hiện nay, nội các không được nhắc đến trong hiến pháp. Nhiệm vụ của Nội các là cố vấn Tổng thống.
=== Thành viên Nội các ===
Thông thường các bộ được liệt kê theo tiêu chuẩn những chức Bộ trưởng kết nghiệm chức Tổng thống:
=== Cơ quan ngang bộ ===
== Xem thêm ==
Chính phủ Hoa Kỳ
Quốc hội Hoa Kỳ
Tổng thống Hoa Kỳ
== Liên kết ngoài ==
Nội các Hoa Kỳ
== Tham khảo == |
bảo hiểm y tế.txt | Bảo hiểm y tế hay bảo hiểm sức khỏe là một hình thức bảo hiểm theo đó người mua bảo hiểm sẽ được cơ quan bảo hiểm trả thay một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cũng như chi phí mua thuốc men khám chữa bệnh. Bảo hiểm y tế tạo điều kiện cho bệnh nhân được khám và điều trị dù không có đủ tiền trang trải số chi phí khám chữa bệnh thực tế cho cơ quan y tế. Để có thể đạt được điều này, bản thân các cơ quan y tế cũng phải tham gia vào công tác bảo hiểm này. Thường thì các cơ quan y tế công lập bị yêu cầu phải tham gia. Còn các cơ quan y tế tư nhân được khuyến khích tham gia và họ có tham gia hay không là do tự họ quyết định.
Tùy mỗi nước mà phạm vi đối tượng bảo hiểm và mức độ bảo hiểm (một phần hay toàn bộ) ở mỗi nước một khác.
Ở mỗi quốc gia có cách phân loại Bảo hiểm y tế khác nhau. Ví dụ, tại Nhật Bản, Bảo hiểm y tế bao gồm cả các chính sách bảo hiểm ngắn hạn là: Ốm đau, Thai sản, Tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp và khám chữa bệnh. Chế độ bảo hiểm xã hội chỉ gồm có 2 loại là Bảo hiểm Y tế và Bảo hiểm hưu trí. Tại Việt Nam, Bảo hiểm xã hội bao gồm các chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất. Bên cạnh đó là Bảo hiểm Y tế, Bảo hiểm Thất nghiệp. Việt Nam cũng đang hướng tới mô hình Bảo hiểm xã hội đa tầng giống như tại Pháp. Theo đó, khi người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của pháp luật, trong trường hợp gặp phải các sự cố sẽ được cơ quan bảo hiểm chi trả theo đúng nguyên tắc bảo hiểm. Để được thanh toán 100% các chi phí phát sinh do sự kiện bảo hiểm gây ra, người tham gia sẽ đóng thêm một số tiền nhất định cho công ty bảo hiểm (do người tham gia lựa chọn) theo hợp đồng đã được hai bên đồng thuận từ trước. Mô hình bảo hiểm này kiện toàn và phát huy hiệu quả từ chính sách bảo hiểm của Nhà nước, huóng tới sự phát triển bền vững của cộng đồng, xã hội.
== Xem thêm ==
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm bắt buộc
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Luật Bảo hiểm y tế Việt Nam |
trận đấu quốc tế.txt | Một trận đấu quốc tế là cuộc đối đầu trong một môn thể thao đồng đội giữa hai đội tuyển quốc gia. Một trận đấu quốc tế có thể chỉ là một trận đấu giao hữu, một trận đấu vòng loại hay một trận đấu tại một giải đấu chính thức.
Bất cứ vận động viên nào từng tham gia một trận đấu quốc tế cũng có thể được gọi là một tuyển thủ quốc gia. Các trận đấu quốc tế của một vận động viên luôn được thống kê lại và được coi là minh chứng cho sự thành công của vận động viên đó.
Trong nhiều môn thể thao các trận đấu quốc tế còn được tổ chức cho các đội tuyển trẻ và thiếu niên. Các trận đấu ở các cấp độ trẻ (hay các cấp độ U) thường được thống kê riêng rẽ, và chỉ các trận đấu ở cấp độ trưởng thành mới được tính là các trận đấu quốc tế thực sự.
Trong bóng đá các trận đấu quốc tế là các trận đấu quan trọng, thường diễn ra tại các sân vận động có sức chứa lớn và được trực tiếp trên sóng truyền hình. Tùy thuộc vào khu vực địa lý mà các trận đấu quốc tế của khúc côn cầu, polo, rugby và cricket cũng thu hút sự theo dõi của khán giả.
== Bóng đá ==
Trận đấu quốc tế chính thức đầu tiên trong lịch sử bóng đá diễn ra vào ngày 30 tháng 11 năm 1872 tại Hamilton Crescent thuộc Glasgow giữa Scotland và Anh. Trận đấu thu hút 4.000 khán giả và kết thúc với tỉ số hòa 0-0. 30 năm sau, vào ngày 20 tháng 7 năm 1902, người ta chứng kiến trận đấu quốc tế đầu tiên ngoài lãnh thổ châu Âu khi Uruguay và Argentina trạm chán tại Montevideo. Do có rất ít quốc gia tại Nam Mỹ nên đây cũng là một trong những cặp đấu có số lần gặp nhau nhiều nhất trong lịch sử.
Trận đấu đầu tiên giữa hai đội tuyển thuộc hai châu lục khác nhau diễn ra ngày 20 tháng 8 năm 1916 tại Stockholm giữa Thụy Điển và Hoa Kỳ; tỉ số cuối cùng là 3-2 nghiêng về phía đội bóng Bắc Mỹ.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Kỷ lục và thống kê số trận đấu FIFA
Cầu thủ trên 100+ trận (nam) RSSSF
FIFA liên kê "các trận đấu có tỉ số cách biệt ở cấp độ quốc tế" |
angola.txt | Angola (phiên âm Tiếng Việt: Ăng-gô-la, tên chính thức là Cộng hòa Angola) là một quốc gia ở miền nam châu Phi, nằm bên bờ Đại Tây Dương. Nước này có chung biên giới với Namibia, Cộng hòa Dân chủ Congo, và Zambia. Tỉnh Cabinda tách bên ngoài quốc gia của Angola có chung biên giới với Cộng hòa Congo. Là một thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha do đó, còn có tên khác là miền Tây Bồ Đào Nha. Cuộc nội chiến tại vẫn còn tiếp diễn sau khi Angola độc lập cho đến thập niên 2000. Nước này trên danh nghĩa là một nền dân chủ và tên trước kia của nó là Cộng hòa Angola (tiếng Bồ Đào Nha: República de Angola, đánh vần IPA: [ʁɛ'publikɐ dɨ ɐ̃'gɔlɐ]).
Tên Angola bắt nguồn từ N'gola của nhóm ngôn ngữ Bantu, đây là tên hiệu của người cai trị vùng đất này trước khi bị cai trị bởi Bồ Đào Nha. Luanda là thủ đô và thành phố lớn nhất của Angola. Tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính thức, các tiếng trong nhóm ngôn ngữ Bantu chỉ được dùng trong các vùng hẻo lánh.
Angola là một trong những quốc gia giàu nhất châu Phi về nhiều mặt nhất là tài nguyên thiên nhiên. Quốc gia này có nguồn dầu mỏ, khí thiên nhiên, các trang trại, kim cương và nhiều loại khoáng sản khác. Mặc dù vậy, phần lớn dân số nước này vẫn đang có mức sống nghèo đói và Angola cũng là một trong những quốc gia có tuổi thọ trung bình thấp nhất và tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao nhất thế giới.
== Lịch sử ==
Những người dân đầu tiên sống ở vùng này là những người săn bắn hái lượm Khoisan. Sau này họ đã bị các bộ tộc Bantu thay thế trong những cuộc di cư của bộ tộc này. Trước thời kì thuộc địa, vùng lãnh thổ này là nơi định cư của người Bantu. Vương quốc được đặt theo tên của nhà vua N' Gola, gọi là N' Dongo. Năm 1482, nhà hàng hải Bồ Đào Nha Diogo Cão phát hiện ra vùng đất này. Từ đó, tình trạng mua bán nô lệ ngày càng gia tăng, làm suy yếu đất nước.
Người Bồ Đào Nha bắt đầu cuộc chinh phục vương quốc N' Dongo và đánh bại vương quốc N' Dongo vào năm 1622. Tuy nhiên, cuộc kháng chiến của người bản xứ vẫn tiếp tục dưới sự dẫn dắt của một phụ nữ thuộc dòng dõi hoàng gia, A-Nzinga. Bị đánh bại vào năm 1648, A-Nzinga phải rút lui sâu vào những vùng mà thực dân Bồ Đào Nha không thể thâm nhập được. Năm 1665, Angola trở thành thuộc địa của Bồ Đào Nha. Năm 1704, thực dân Bồ Đào Nha đã thiêu sống một thiếu nữ tên là Kimpa Vita vì đã huy động hàng ngàn người nổi dậy.
Sau khi mất quyền sở hữu Brasil (1822), thực dân Bồ Đào Nha tiến hành các cuộc thám hiểm và chinh phục sâu vào bên trong lãnh thổ (1852). Họ lao vào cuộc chiến tấn công vương quốc của người Ovimbundu (1890-1904), đương đầu với người Lundas (1894-1926).
Năm 1954, Agostinho Neto và Mario đe Andra thành lập Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola (MPLA). Từ năm 1955, Angola trở thành tỉnh hải ngoại của Bồ Đào Nha. Năm 1961, cuộc nổi dậy ở Luanda mở đầu cuộc chiến tranh giành độc lập nhưng phong trào chủ nghĩa dân tộc bị chia rẽ.
Năm 1975, Angola giành được độc lập nhưng đất nước lại rơi vào tình trạng nội chiến. Chính phủ của Tổng thống Agostinho Neto được sự giúp đỡ của Cuba phải đương đầu với Liên minh Dân tộc vì nền Độc lập Toàn vẹn Angola (UNITA) được Nam Phi hậu thuẫn. Năm 1979, sau khi Tổng thống Neto qua đời, Dos Santos tiếp tục lãnh đạo đất nước. Năm 1988, hiệp định được ký kết giữa Angola, Nam Phi và Cuba dẫn đến việc đình chiến trong vùng lãnh thổ Bắc Namibia và Nam Angola. Từ năm 1989, quân đội Nam Phi và Cuba rút khỏi Angola.
Năm 1990, Tổng thống Dos Santos công bố sắc lệnh thiết lập thể chế đa đảng. Năm 1992, cuộc bầu cử đa đảng được tiến hành, Tổng thống đương nhiệm José Eduardo dos Santes và MPLA thắng cử. Savimbi và UNITA thất cử gian lận và phát động một cuộc nội chiến mới.
Bốn năm tương đối yên tĩnh (1994-1998), kể từ khi Liên Hiệp quốc giám sát Hiệp định hòa bình Lusaka năm 1994.
Năm 1997, Angola đồng ý thành lập một Chính phủ liên minh với UNITA, nhưng Savimbi xâm phạm Hiệp định bằng cách từ chối hủy bỏ căn cứ, không giải tán quân đội và chiếm lại một số lãnh thổ. Do đó, Chính phủ trì hoãn việc liên minh năm 1998 và đất nước chìm sâu vào nội chiến. Các công dân Angola lại phải tiếp tục hứng chịu đau khổ. Sự thù nghịch gây ảnh hưởng đến bốn triệu người (1/3 dân số) và khoảng hai triệu người phải đi tị nạn.
Tháng 2 năm 2002, quân đội Chính phủ đã giết Jonas Savimbi.
Quân đội đã hoàn toàn kiệt sức của Savimbi sẵn sàng hạ vũ khí đầu hàng. Sáu tuần lễ sau, các lãnh đạo phe nổi dậy ký hiệp định ngừng bắn, báo hiệu kết thúc cuộc nội chiến kéo dài 30 năm. Trong vòng năm tuần lễ kế tiếp, 80% quân đội nổi dậy đã giải trừ vũ khí, trật tự được bảo đảm nhưng khoảng hơn nửa triệu dân Angola phải đối mặt trước nạn đói.
=== Thời kỳ thuộc địa ===
Năm 1648, Bồ Đào Nha tái chiếm Luanda và khởi động quá trình tái chinh phục những vùng đất đai đã mất, và đã hoàn toàn khôi phục quyền kiểm soát năm 1650. Những hiệp ước về quan hệ với Kongo năm 1649 và Vương quốc Matamba của Njinga cũng như Ndongo năm 1656. Cuộc chinh phục Pungo Andongo năm 1671 là cuộc mở rộng lớn cuối cùng của người Bồ Đào Nha, bởi những nỗ lực chinh phục Kongo năm 1670 và Matamba năm 1681 không thành công.
Bồ Đào Nha đã mở rộng lãnh thổ quả mình phía sau thuộc địa Benguela ở thế kỷ 18, và bắt đầu nỗ lực chiếm các vùng khác vào giữa thế kỷ 19. Quá trình này mang lại ít thắng lợi cho tới tận những năm 1880. Quyền kiểm soát hành chính hoàn toàn của Bồ Đào Nha ở vùng phía trong chỉ thực sự diễn ra từ đầu thế kỷ 20. Năm 1951 thuộc địa được đổi thành một tỉnh hải ngoại, cũng được gọi là Tây Phi Bồ Đào Nha.
Bồ Đào Nha đã hiện diện tại Angola trong gần 500 năm, và những phản ứng đầu tiên của người dân ở đây nhằm kêu gọi một nền độc lập rất pha tạp.
=== Độc lập ===
Sau khi lật đổ chính phủ phát xít Bồ Đào Nha bằng một cuộc đảo chính mang hơi hướng xã hội chủ nghĩa, các đảng quốc gia Angola bắt đầu đàm phán về độc lập vào tháng 1 năm 1975. Một thỏa thuận với chính phủ Bồ Đào Nha được đưa ra, theo đó độc lập cho Angola sẽ được tuyên bố vào tháng 11 năm 1975. Hầu như ngay lập tức, một cuộc nội chiến nổ ra giữa MPLA, UNITA và FNLA, và ngày càng trầm trọng thêm với sự can thiệp từ bên ngoài. Ngay khi độc lập khỏi Bồ Đào Nha năm 1975, thủ đô và chính phủ danh nghĩa của Angola rơi vào Phong trào Giải phóng Nhân dân độc đảng trị. Trước đó, UNITA và FLNA được Zaire,Hoa Kỳ,và Nam Phi hậu thuẫn đã kiểm soát được miền Bắc, miền Nam, Tây và Tây Nam. Một phần Miền trung, bờ biển phía Tây và Thủ đô Luanda do MPLA kiểm soát. Một thời gian trước khi dược trao trả độc lập, cuộc nội chiến bắt đầu.
Để bảo vệ 1.376 kilômét biên giới với Tây Nam Phi của Angola chống lại sự xâm nhập của du kích Tổ chức Nhân dân Tây Nam Phi (SWAPO) có cơ sở tại Angola, các lực lượng quân đội Nam Phi đã dọn một dải trắng rộng một kilômét tại Angola với chiều dài gần một nửa đường biên giới. Zaire, vốn từng cung cấp hỗ trợ cho các du kích FNLA, nhanh chóng cung cấp viện trợ cho cả UNITA. Tới lượt mình, Liên bang Xô viết tăng mạnh viện trợ quân sự cho MPLA với các thiết bị quân sự như xe bọc thép, máy bay, cố vấn, trong khi một số lượng lớn quân đội Cuba được máy bay Liên Xô đưa tới Angola trong một nỗ lực công khai nhằm thiết lập sự cân bằng quân sự có lợi cho MPLA. Tới tháng 10 năm 1975, MPLA và các lực lượng Cuba đã kiểm soát Luanda, và đa phần cơ sở hạ tầng đất nước, buộc các lực lượng UNITA phải chuyển sang chiến thuật du kích. MPLA đơn phương tuyên bố mình là chính phủ thực tế của đất nước khi độc lập được tuyên bố chính thức vào ngày 11 tháng 11, và Agostinho Neto trở thành tổng thống Angola đầu tiên.Nước Cộng hòa nhân dân Angola ra đời (đến năm 1991 hệ thống đa đảng được áp dụng, Nhà nước đổi tên là Cộng hòa Angola).
Năm 1976, FNLA bị quân đội Cuba đánh bại, chỉ còn lại MPLA và UNITA (khi ấy được Hoa Kỳ và Nam Phi hậu thuẫn) cạnh tranh quyền lực. Từ năm 1979, Jose Eduardo dos Santos đã nắm quyền lãnh đạo chính trị đất nước. Dù hệ thống đa đảng đã được áp dụng từ năm 1991, Đảng Lao động của Phong trào Giải phóng Nhân dân vẫn nắm quyền lực.
=== Nội chiến ===
Cuộc xung đột giữa MPLA và UNITA diễn ra ở vùng nông thôn, được tiếp thêm sức lực bởi cuộc xung đột địa chính trị thời Chiến tranh lạnh và bởi khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên Angola của cả hai bên. MPLA dựa vào nguồn tài chính từ dầu mỏ ngoài khơi, trong khi UNITA lại có được nguồn kim cương dễ dàng buôn lậu được qua vùng biên giới (LeBillon, 1999).
Năm 1991, hai bên đồng ý với Hiệp ước Bicesse với ý định chuyển đổi Angola từ một nước độc tài một đảng thành một chế độ đa đảng với các cuộc bầu cử dân chủ năm 1992. Tổng thống dos Santos dẫn đầu sau vòng một cuộc bỏ phiếu với hơn 49% số phiếu bầu, trong khi Jonas Savimbi đạt 40%. Sau những tuyên bố gian lận bầu cử, cuộc nội chiến tiếp diễn, và vòng bầu cử tiếp theo không bao giờ diễn ra.
Một hiệp ước hòa bình năm 1994 (nghị định thư Lusaka) giữa chính phủ và UNITA tạo cơ hội cho lực lượng UNITA phiến loạn cũ tham gia chính phủ. Một chính phủ hợp nhất quốc gia được thành lập năm 1997, nhưng nhiều trận đánh đẫm máu lại tái diễn cuối năm 1998, khiến hàng trăm nghìn người mất nhà cửa. Tổng thống dos Santos một lần nữa lại ngừng kế hoạch về một chính phủ thống nhất. Dù có lời hứa về một chính phủ bầu cử dân chủ và một hệ thống đa đảng, Đảng Lao động của Mặt trận Giải phóng Nhân dân (PLM) vẫn nắm quyền lực.
=== Ngừng bắn với UNITA ===
Ngày 22 tháng 2 năm 2002, Jonas Savimbi, lãnh đạo UNITA, đã bị giết trong một trận đánh với quân chính phủ, và một thỏa thuận ngừng bắn diễn ra giữa hai phe. UNITA từ bỏ nhánh vũ trang và nắm vai trò đảng đối lập chính. Dù tình thế chính trị trong nước bắt đầu ổn định, Tổng thống dos Santos vẫn từ chối tiến hành các quá trình gây dựng các định chế dân chủ. Trong số những vấn đề lớn của Angola có sự khủng hoảng nhân đạo (kết quả của cuộc chiến tranh kéo dài), số lượng mìn sát thương to lớn, và những hoạt động du kích đòi độc lập của tỉnh phía bắc Cabinda (Frente para a Libertação do Enclave de Cabinda).
Như nhiều quốc gia Hạ Sahara khác, Angola là nơi thường xuyên bùng phát các loại bệnh dịch lây nhiễm theo định kỳ. Tháng 4 năm 2005, Angola nằm ở trung tâm cuộc bùng phát virus Marburg nhanh chóng trở thành vụ dịch sốt xuất huyết tồi tệ nhất trong lịch sử, với hơn 237 người chết trong số 261 người mắc bệnh, và đã lan ra 7 trên 18 tỉnh vào ngày 19 tháng 4 năm 2005.
Tổng thống Dos Santos đã cam kết sẽ tổ chức cuộc bầu cử quốc hội vào năm 2006. Angola đang từng bước tái thiết đất nước sau 27 năm nội chiến.
Từ hơn 1 nửa thế kỉ nay, cuộc nội chiến đã làm 1,5 triệu người chết, nghĩa là hơn 160 người mỗi ngày. Tổng thống Dos Santos đã tổ chức bầu cử tổng thống vào năm 2008 sớm hơn dự kiến 1 năm. Cuộc bầu cử tiếp theo sẽ được tổ chức vào năm 2012.
== Chính trị ==
Khẩu hiệu quốc gia của Angola là "Virtus Unita Fortior", một câu tiếng La tinh nghĩa "Đoàn kết mang lại Sức mạnh".
Nhánh hành pháp của chính phủ gồm Tổng thống, Thủ tướng (hiện tại là Fernando da Piedade Dias dos Santos) và Hội đồng Bộ trưởng. Hiện nay, quyền lực chính trị tập trung trong tay Tổng thống. Hội đồng Bộ trưởng, gồm toàn bộ các bộ trưởng và thứ trưởng trong chính phủ, nhóm họp thường xuyên để bàn bạc các vấn đề chính sách. Toàn quyền 18 tỉnh được chỉ định và hành động theo chỉ đạo của Tổng thống. Luật Hiến pháp năm 1992 phác thảo cơ cấu chính phủ và mô tả các quyền cũng như nghĩa vụ công dân. Hệ thống pháp luật dựa trên mô hình Bồ Đào Nha và luật phong tục nhưng nó còn yếu kém và chưa thống nhất, tòa án chỉ có mặt tại 12 trên tổng số 140 thành phố. Tòa án Tối cao đồng thời là tòa phúc thẩm; một Tòa án Hiến pháp với quyền lực phán xét nhưng chưa bao giờ thực thi quyền của mình. Những người chỉ trích đã so sánh chính quyền một đảng trị hiện nay tại Angola với chế độc độc tài của António de Oliveira Salazar tại Bồ Đào Nha, dưới thời cầm quyền của ông này người dân Angola đã bắt đầu đứng lên đòi độc lập từ nhiều năm trước.
Sau cuộc Nội chiến Angola kéo dài 27 năm, tàn phá nền chính trị và các định chế xã hội đất nước. Liên hiệp quốc ước tính có 1.8 triệu người đã phải chuyển chỗ ở trong nước, trong khi con số người bị ảnh hưởng bởi chiến tranh được nhiều bên chấp nhận là 4 triệu người. Những điều kiện sinh hoạt hàng ngày của người dân trên khắp nước và đặc biệt tại Luanda (với số dân gần 4 triệu người) phản ánh sự sụp đổ của hạ tầng hành chính cũng như nhiều định chế xã hội. Tình hình kinh tế nguy ngập hiện nay đã ngăn cản bất kỳ nỗ lực nào của chính phủ nhằm hỗ trợ các định chế xã hội. Bệnh viện không có thuốc hay những trang thiết bị căn bản, trường học không có sách, và những công chức thường thiếu thiết bị làm việc cần thiết hàng ngày.
Chính phủ hiện nay đã thông báo ý định tổ chức bầu cử vào năm 2006. Các cuộc bầu cử đó là lần đầu tiên kể từ năm 1992 và sẽ chọn ra một tổng thống và Quốc hội mới. Về đối ngoại, Angola tích cực hội nhập với khu vực và thế giới. Hiện là thành viên của LHQ, AU, Phong trào không liên kết, SADC, COMESA, ACP, PALOP, WTO, AfDB, IMF, WB… Angola theo đường lối không liên kết, thực dụng, ưu tiên quan hệ với các nước nói tiếng Bồ Đào Nha và các nước khu vực, đặc biệt là miền Nam châu Phi, tranh thủ quan hệ với Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, duy trì quan hệ với các nước bạn bè truyền thống.
== Khu vực hành chính ==
Angola được chia thành mười tám tỉnh (províncias) và 158 khu vực đô thị (municípios). Các tỉnh gồm:
== Địa lý ==
Với diện tích 1.246.700 km² ([1]), Angola là nước lớn thứ hai ba châu Phi (sau Niger). Nó có kích cỡ tương tự Mali và gần gấp hai lần bang Texas của Hoa Kỳ.
Angola có chung biên giới với Namibia ở phía nam, Zambia ở phía đông, Cộng hòa Dân chủ Congo ở phía đông bắc, và Nam Đại Tây Dương ở phía tây. Tỉnh ngoài lãnh thổ Cabinda có chung biên giới với Cộng hòa Congo ở phía bắc. Thủ đô Angola, Luanda, nằm trên bờ Đại Tây Dương ở phía tây bắc đất nước. Nhiệt độ trung bình vùng bờ biển của Angola là 16 °C (60 độ Fahrenheit) vào mùa đông và 21 °C (70 độ Fahrenheit) vào mùa hè.
== Kinh tế ==
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Angola đã trải qua một giai đoạn chuyển đổi, từ tình trạng lộn xộn do một phần tư thế kỷ chiến tranh sang một nền kinh tế phát triển nhanh tại Châu Phi và là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới. Năm 2004, ngân hàng Eximbank của Trung Quốc đã đồng ý cho Angola vay 2 tỷ dollar. Khoản tiền này sẽ được dùng để tái xây dựng cơ sở hạ tầng trong nước, dù nó vẫn bị giới hạn do ảnh hưởng từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế trong nước. [2] Tăng trưởng hầu như chỉ dựa vào sản xuất dầu mỏ, đã vượt mức 1.4 tỷ barrel mỗi ngày vào cuối năm 2005 và dự tính sẽ đạt 2 tỷ barrel mỗi ngày năm 2007. việc kiểm soát ngành công nghiệp dầu khí vẫn được tập trung vào tay Sonangol Group, một liên doanh có phần sở hữu của chính phủ Angola. Nền kinh tế tăng trưởng 18% năm 2005; và dự kiến sẽ đạt 26% năm 2006 và tiếp tục ở mức trên 10% trong thập kỷ này. An ninh có được nhờ những cuộc đàm phán hòa bình năm 2002 đã dẫn tới việc tái định cư cho 4 triệu người phải rời bỏ nhà cửa trước kia, dẫn tới tăng trưởng mạnh trong sản xuất nông nghiệp. Với nguồn thu tăng mạnh từ xuất khẩu dầu mỏ, chính phủ đã bắt đầu đưa ra các chương trình phát triển đầy tham vọng trong xây dựng đường sá và các cơ sở hạ tầng căn bản khác của quốc gia.
Năm 2008, là năm đánh dấu bước tăng trưởng ngoạn mục của nền kinh tế Angola. Nhờ đợt giá dầu tăng kỷ lục, GDP đã đạt 95,95 tỷ USD, tăng 15,1% so với năm trước, tiếp tục đà tăng trưởng trên 15% trong giai đoạn 2004-2007. Sản xuất dầu và các ngành hỗ trợ đã đóng góp 85% tổng GDP của quốc gia này. Ngành xây dựng và nông nghiệp cũng đang từng bước tăng trưởng mạnh. Mặc dù vậy, hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn không đủ cung cấp lương thực trong nước và Angola vẫn phải nhập khoảng một nửa lượng lương thực cho người dân. Năm 2003, ngân hàng trung ương đã thực hiện chương trình ổn định tỷ giá hối đoái, sử dụng các quỹ ngoại hối để mua nội tệ, giảm lạm phát. Tỉ lệ lạm phát đã giảm đáng kể từ 325% năm 2000 xuống còn 13% năm 2008. Cuối năm 2006, Angola trở thành thành viên OPEC. Để có thể tận dụng nguồn tài nguyên giàu có hiện tại như vàng, kim cương, lâm sản, thủy sản và đặc biệt là dầu mỏ, chính phủ Angola cần tiếp tục cải cách, tăng cường minh bạch hóa và hạn chế tham nhũng. Tệ nạn tham nhũng và những tác động tiêu cực của một lượng lớn các dòng ngoại tệ chảy vào đang là những thách thức mà Angola phải đối mặt.
Công nghiệp chiếm 65,8% GDP của Angola, với nhiều ngành khác nhau, trong đó khai khoáng đóng vai trò quan trọng bậc nhất. Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của Angola là dầu mỏ, vàng, kim cương, sắt, phốt phất, bô-xít, uranium, ximăng, các kim loại cơ bản, chế biến cá và thức ăn, thuốc lá, đường, dệt may, sửa chữa tàu... Trong đó dầu lửa chiếm tới 90% giá trị xuất khẩu của Angola.
Nông nghiệp thu hút tới 85% lao động nhưng chỉ đóng góp khoảng 9,2% vào GDP của Angola, và hàng năm Angola vẫn phải nhập khẩu 1 nửa lượng lương thực phục vụ cho nhân dân. Angola sản xuất các loại nông sản chính như chuối, mía, cà phê, xi đan, ngô, bông, sắn, thuốc lá, rau, lâm sản, hải sản, cây mã đề, vật nuôi…
Lĩnh vực dịch vụ của Angola khá phát triển, chiếm 24,6% GDP.
Về ngoại thương, năm 2010 Angola xuất khẩu khoảng 51,65 tỷ USD (f.o.b) gồm các mặt hàng chính như dầu thô, kim cương, sản phẩm dầu tinh chế, khí gaz, cà phê, xi đan, cá và hải sản, sợi bông... Thị trường xuất khẩu chính của Angola gồm Trung Quốc, Mỹ, Pháp, Nam Phi.
Năm 2010, Angola nhập khẩu khoảng 18,1 tỷ USD (f.o.b) các mặt hàng như máy móc thiết bị, hoá chất, sản phẩm xăng dầu, thiết bị khoa học, hàng tiêu dùng, thực phẩm, đồ quân dụng... Thị trường nhập khẩu của Nam Phi gồm: Bồ Đào Nha, Trung Quốc, Mỹ, Nam Phi, Brasil, Nhật Bản và Pháp.
Angola có nhiều tài nguyên: dầu lửa, kim cương, vàng, bạc, đồng, cô-ban, thiếc, kẽm, sắt, gỗ, hải sản,... Dầu lửa (sản lượng trên 2 triệu thùng/ngày, chiếm khoảng 85% GDP, 78% thu ngân sách); kim cương (trên 01 tỷ USD), là nguồn thu nhập ngoại tệ chủ yếu của nước này. Cá và gỗ cũng là hai nguồn lợi quan trọng của Angola.
- Cơ cấu kinh tế theo GDP: nông nghiệp: 9,2%; công nghiệp: 65,8%; dịch vụ: 24,6%.
- Mặt hàng xuất khẩu: dầu lửa, kim cương, bông, gỗ, cà phê, hải sản. Bạn hàng xuất khẩu: Mỹ (32,1%), Trung Quốc (32%), Tây Âu, Nam Phi, Đài Loan. Mặt hàng nhập khẩu: Máy móc thiết bị, xe cộ, phụ tùng, lương thực, thuốc men, hàng tiêu dùng, hàng quân dụng. Bạn hàng nhập khẩu: Bồ Đào Nha, Trung Quốc, Brasil, Nam Phi, Tây Âu, Mỹ, Hàn Quốc...Dự trữ ngoại tệ và vàng: 24,64 tỷ USD.
GDP (thực tế): 85,8 tỷ USD (2010)
GDP đầu người (thực tế): 3.400 USD (2010)
Tốc độ tăng trưởng GDP: 5,9% (2010)
== Nhân khẩu học ==
Dân số Angola được ước tính là 18.056.072 người (năm 2012). Bao gồm các sắc tộc Ovimbundu chiếm 37%, Ambundu 25%, Bakongo 13%, và 32% là các dân tộc khác (bao gồm người Chokwe, Ovambo, Mbunda). Cũng như khoảng 2% là người mestiços (lai giữa châu Âu và châu Phi), người Trung Quốc chiếm 1,4% và 1% là người châu Âu.
Theo ước tính, Angola là nơi có khoảng 12.100 người tị nạn và 2.900 người tị nạn vào cuối năm 2007. Có 11.400 người tị nạn từ Cộng hòa Dân chủ Congo đến trong những năm 1970. Tính đến năm 2008 có khoảng 400.000 công nhân nhập cư vào Angola, trong đó có 30.000 người Bồ Đào Nha, và khoảng 259.000 người Trung Quốc.
Từ năm 2003, có hơn 400.000 người di cư từ Congo đã bị trục xuất khỏi Angola. Trước khi độc lập vào năm 1975, Angola đã có một cộng đồng khoảng 350.000 người Bồ Đào Nha; hiện nay, có khoảng 200.000 người được đăng ký với cơ quan lãnh sự, và đang tăng lên do cuộc khủng hoảng nợ tại Bồ Đào Nha. Người Trung Quốc đứng ở mức 258.920, chủ yếu gồm những người di cư tạm thời.
Tổng tỷ suất sinh của Angola là 5,54 con trên một phụ nữ (ước tính 2012), đứng thứ 11 về tỷ suất trên thế giới.
Các ngôn ngữ tại Angola gồm ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau cộng với tiếng Bồ Đào Nha do quốc gia này là một thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha. Các ngôn ngữ bản địa sử dụng nhiều nhất là tiếng Umbundu, Kimbundu, và Kikongo. Tiếng Bồ Đào Nha cũng được công nhận là ngôn ngữ chính thức của đất nước.
Angola lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 12 tháng 11 năm 1975. Tuy nhiên, Việt Nam chưa có đại sứ quán mà chỉ có lãnh sự quán ở đây. Khoảng 200.000 người Việt đang sinh sống ở Angola với nhiều nghề như bán quần áo may sẵn, làm ảnh và các chuyên gia giáo dục và y tế.
== Tôn giáo ==
Angola là một quốc gia Kitô giáo. Có khoảng 1.000 cộng đồng tôn giáo trong nước. Công giáo La Mã chiếm khoảng một nửa dân số. Giáo phái Kitô giáo khác bao gồm Baptist, Methodist, Giáo hội Luther, Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm, Nhân chứng của Jehovah chiếm khoảng một phần tư dân số. Kể từ khi độc lập, Phong trào Ngũ Tuần, Tin Lành và các cộng đồng khác đã xuất hiện.
Ngoài ra, còn có thiểu số người Hồi giáo, bao gồm những người nhập cư từ các quốc gia châu Phi và các nước khác, những người không tạo thành một cộng đồng. Vài nhóm người Angola bản xứ - chủ yếu là trong các xã hội nông thôn xa xôi tuyên xưng tôn giáo truyền thống của châu Phi, nhưng niềm tin truyền thống tồn tại trong một phần đáng kể của những người đã theo đạo Chúa.
=== Kitô giáo ===
Kitô giáo đến Angola đầu năm 1491, do các nhà truyền giáo đến từ São Salvador. Năm 1878, các nhà truyền giáo Tin Lành đầu tiên thuộc giáo phái Baptists, đến Angola. Năm 1897, Hội Truyền giáo Tin Lành Angola được thành lập tại Cabinda, và Hội Truyền giáo Sứ mệnh Bắc năm 1925, trong Uíge.
Ở Angola, người Bakongo đa số là một trong những nhóm người có rất nhiều Kitô hữu, chỉ 1,5% dân số của sắc tộc này giữ các niềm tin bản địa.
Theo CIA World Factbook, Công giáo La Mã được thực hiện bởi 50% dân số, 25% là người Tin Lành, trong khi 25% thực hành tín ngưỡng bản địa.
=== Hồi giáo ===
Hồi giáo tại Angola là một tôn giáo thiểu số với 80,000-90,000 tín đồ, thành phần chủ yếu là người di cư từ Tây Phi và các gia đình có nguồn gốc Leban Hiệp hội phát triển Hồi giáo Angola là tổ chức cải đạo chính. Hồi giáo được đại diện bởi Hội đồng tối cao của người Hồi giáo ở Luanda.
== Văn hóa ==
== Xem thêm ==
=== Các danh sách ===
Danh sách các công ty Angola
Danh sách các nhà văn Angola
Danh sách các chủ đề liên quan tới Angola
== Tham khảo ==
== Nghiên cứu thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Chính phủ
Republic of Angola (official government portal)
(tiếng Bồ Đào Nha) National Assembly of Angola
Embassy of Angola in Washington DC
Embassy of Angola in Ottawa, Canada
Tin tức
Canal Angola ONLINE News about music from Angola and events
children of Angola - a web documentary on the forgotten children of Angola.
allAfrica - Angola - News headline links
Angola Press - Government-controlled news agency (in Portuguese, French and English)
Angonoticias (in Portuguese) - A popular news source in Angola
Mangole (in Portuguese) - A full news source in Angola and web directory of Angolan sites online
Jornal de Angola (in Portuguese) - A popular newspaper in Angola
400 Years Ago - Washington Post news story on the possible fate of the first African slaves taken to US.
Chính trị
Official webpage of MPLA
Official webpage of JMPLA
Tổng quan
BBC - Country profile: Angola
Mục “Angola” trên trang của CIA World Factbook.
US State Department - Angola includes Background Notes, Country Study and major reports
OECD DEV/AfDB - Country Study: Angola
Chỉ dẫn
Columbia University Libraries - Angola directory category of the WWW-VL
Open Directory Project - Angola directory category
Stanford University - Africa South of the Sahara: Angola directory category
www.angolinks.com - webdirectory of Angolan sites online
Encyclopedia of the Nations: Angola
Khác
Angola Conflict Briefing
Angola Constitution
www.luandamap.com - streetsearch in Luanda and other maps related to Angola
www.cidadeluanda.com - Portal and Directory of Luanda
Bản mẫu:Thành viên Liên minh châu Phi |
tiến quân ca.txt | Tiến quân ca là một bài hát do nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) sáng tác vào năm 1944 và được sử dụng làm quốc ca của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam kể từ năm 1976. Trước đó, Tiến quân ca là quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1945 đến năm 1976.
Ngay từ khi ra đời, bài hát được coi là bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh. Trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám năm 1945, thay vì "Đoàn quân Việt Nam đi", những người tham gia Việt Minh thường hát là "Đoàn quân Việt Minh đi".
Khi được chọn chính thức làm quốc ca, phần lời của Quốc ca đã được sửa đổi khác đôi chỗ so với bản gốc "Tiến quân ca" của Văn Cao. Thông thường, khi cử Quốc ca trong các buổi lễ, chỉ có lời 1 của bài được sử dụng.
== Hoàn cảnh ra đời ==
Mùa đông năm 1944, Văn Cao gặp Vũ Quý, một cán bộ Việt minh, ở ga Hàng Cỏ. Vũ Quý là người từng quen biết Văn Cao và đã động viên ông viết những bài hát yêu nước như Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca... Vũ Quý đề nghị Văn Cao thoát ly hoạt động cách mạng, và nhiệm vụ đầu tiên là sáng tác một bài hành khúc cho đội quân Việt Minh.
Văn Cao viết bài hát đó trong nhiều ngày tại căn gác số 45 Nguyễn Thượng Hiền. Ông có viết lại trong một ghi chép tháng 7 năm 1976 như sau: "...Tôi chỉ đang làm một bài hát. Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biết những con đường Phố Ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ theo thói quen tôi đi. Tôi chưa gặp các chiến sĩ cách mạng của chúng ta, trong khóa quân chính đầu tiên ấy, và biết họ hát như thế nào. Ở đây đang nghĩ cách viết một bài hát thật giản dị cho họ có thể hát được...". Trong một hồi ký tựa đề "Bài Tiến quân ca", Văn Cao cho biết, khi ông sáng tác Tiến quân ca thì có Ph. D ở cùng, và "Anh rất tôn trọng những phút tôi ngồi vào bàn với tập bản thảo và chờ đợi âm thanh từng câu nhạc được nhắc đi nhắc lại. Anh là người chứng kiến sự ra đời của bài Tiến quân ca".
Về ca khúc, Văn Cao nói rằng, tên bài hát và lời ca của nó là một sự tiếp tục từ ca khúc Thăng Long hành khúc ca trước đó: "Cùng tiến bước về phương Thăng Long thành cao đứng" và bài Đống Đa: "Tiến quân hành khúc ca, thét vang rừng núi xa"... Và ông đã rút lại những ca từ trong bài hát đó thành Tiến quân ca. Phần ca từ trong bài hát ở thời điểm mới ra đời có nhiều khác biệt so với sau này, như câu đầu Đoàn quân Việt Nam đi, thì ban đầu là Đoàn quân Việt Minh đi, câu thứ sáu của bài hát ở phiên bản đầu là "Thề phanh thây uống máu quân thù" thể hiện sự căm phẫn, đau đớn của Văn Cao trước sự tàn bạo của thực dân Pháp và trước nạn đói đang xảy ra, về sau được nhiều người góp ý, tác giả đã sửa thành Đường vinh quang xây xác quân thù. Câu kết: "Tiến lên! Cùng thét lên! Chí trai là nơi đây ước nguyền!" được Văn Cao sửa thành (...) Núi sông Việt Nam ta vững bền, nhưng đến khi xuất bản thành Quốc ca, ai đó đã sửa thành (...) Nước non Việt Nam ta vững bền, việc này, theo Văn Cao, "Với một ca khúc đòi hỏi trang nghiêm, chữ nước non hát lên bị yếu. Chữ núi sông hát khỏe và hùng tráng".
Sau khi hoàn thành tác phẩm, Văn Cao gặp và hát cho Vũ Quý nghe. Vũ Quý rất hài lòng, giao cho Văn Cao tự tay viết bài hát lên đá in. Và lần đầu tiên Tiến quân ca được in trên trang văn nghệ của báo Độc Lập tháng 11 năm 1944 bằng bản in đá do chính Văn Cao viết.
Ngày 17 tháng 8 năm 1945, ca khúc được hát trước quần chúng lần đầu tiên tại một cuộc mít-tinh của công chức Hà Nội bởi Ph. D, đây cũng là người đã buông lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh thay cho cờ của chính phủ Trần Trọng Kim và cướp loa phóng thanh hát Tiến quân ca, mà theo Văn Cao: "Con người trầm lặng ấy đã có sức hát hấp dẫn hàng vạn quần chúng ngày hôm đó".
Còn nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi, sau khi nghe Văn Cao hát bài hát này, đã xúc động thật sự, và đề nghị mỗi người viết một bài hát nữa về mặt trận Việt Minh. Sau đó Nguyễn Đình Thi viết được bài Diệt phát xít, Văn Cao viết thêm bài Chiến sĩ Việt Nam, cả hai bài hát này đều phổ biến rộng rãi trong công chúng.
== Quốc ca ==
Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức duyệt Tiến quân ca làm quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 17 tháng 8 năm 1945, trong cuộc mít tinh của nhân dân Hà Nội trước Nhà hát lớn, bài Tiến quân ca đã được cất lên lần đầu tiên trước đông đảo dân chúng. Cũng tại quảng trường Nhà hát lớn, ngày 19 tháng 8 năm 1945, trong cuộc mít tinh lớn, dàn đồng ca của Đội Thiếu niên Tiền phong đã hát bài Tiến quân ca chào lá cờ đỏ sao vàng.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Tiến quân ca chính thức được cử hành trong ngày Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình bởi Ban nhạc Giải phóng quân do Đinh Ngọc Liên chỉ huy. Trước ngày biểu diễn, nhạc sĩ Đinh Ngọc Liên và nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu đã bàn với Văn Cao thống nhất sửa hai chữ trong Tiến quân ca, cụ thể là rút ngắn độ dài của nốt rê đầu tiên ở chữ "Đoàn" và nốt mi ở giữa chữ "xác" làm cho bản nhạc khỏe khoắn hơn.
Năm 1946, Quốc hội khóa I đã quyết định chọn Tiến quân ca làm quốc ca. Trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam, tại điều 3 ghi rõ: "Quốc ca là bài Tiến quân ca". Năm 1955, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá I đã quyết định mời tác giả tham gia sửa một số chỗ về phần lời của quốc ca. Văn Cao sau này đã luyến tiếc vì một số chữ sửa đã làm mất khí thế hùng tráng của ca khúc.
Sau năm 1975, chính phủ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, ngày 2 tháng 7 năm 1976, hai miền Nam Bắc thống nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và quốc ca là Tiến quân ca. Năm 1981, Việt Nam tổ chức thay đổi quốc ca. Một cuộc thi được mở ra nhưng sau hơn một năm, cuộc thi này không được nhắc tới nữa và cũng không có tuyên bố chính thức gì về kết quả. Tiến quân ca vẫn là quốc ca Việt Nam cho tới ngày nay.
== Thu tiền bản quyền ==
Ngày 21 tháng 6 năm 2010, Cục bản quyền tác giả nhận được thư ngỏ lời được hiến tặng tác phẩm "Tiến Quân Ca" của bà Nghiêm Thúy Băng, vợ cố nhạc sĩ Văn Cao gửi Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Bà Nghiêm Thúy Băng với tư cách người đại diện gia đình, đang hưởng quyền thừa kế đã trân trọng ngỏ lời hiến tặng Đảng, Quốc hội, Nhà nước và công chúng tác phẩm "Tiến Quân Ca" được sử dụng làm Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 1946 đến nay.
Tuy vậy đến tháng 8 năm 2015, Nhà nước không có phản hồi về lời tặng này, nhạc sĩ Phó Đức Phương, giám đốc Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam đề xuất thu phí bản quyền khi được sử dụng để biểu diễn trong các chương trình nghệ thuật. Ngày 15 tháng 8 trong chương trình "Hát mãi khúc quân hành" tại Nhà hát Tuổi trẻ và chương trình "Tự hào tổ quốc tôi" ngày 17 tháng 8, trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam đã thu tiền bản quyền tác phẩm Tiến quân ca. Ngày 26 tháng 8, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch gửi công văn đến trung tâm này đề nghị dừng việc thu tiền bản quyền tác phẩm "Tiến quân ca" vì ‘lời hiến tặng của vợ cố nhạc sĩ Văn Cao và cũng là tâm nguyện của ông khi còn sống’.
Ngày 7 tháng 7 năm 2016, nhạc sĩ Nguyễn Nghiêm Bằng - con trai nhạc sĩ Văn Cao xác nhận các thành viên trong gia đình ông đã thống nhất sẽ hiến tặng ca khúc Tiến quân ca cho Quốc hội. Lễ tiếp nhận ca khúc Tiến quân ca của cố nhạc sĩ Văn Cao được tổ chức tại Toà nhà Quốc hội vào ngày 15 tháng 7.
== Lời ==
Bài này gồm 2 lời, nhưng Quốc ca chỉ hát lời 1.
== Xem thêm ==
Quốc ca Việt Nam
Quốc kỳ Việt Nam
Giải phóng miền Nam, bài hát được sử dụng chính thức ở miền nam Việt Nam giai đoạn 1975-1976.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
MV bài Tiến Quân Ca trên trang của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Mỹ Linh hát Quốc Ca theo phong cách Opera
Hiến tặng tác phẩm - Quyền tác giả.[1] |
ashanti (ca sĩ).txt | Ashanti Shequoiya Douglas (sinh ngày 13 tháng 10 năm 1980) là một ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất, diễn viên, vũ công, người mẫu người Mỹ, nổi tiếng trong thập niên 2000. Ashanti thu hút được nhiều sự quan tâm khi giành được giải Grammy cho album đầu tay Ashanti ở hạng mục "Album R&B xuất sắc nhất" cùng bài hát "Foolish" tiêu thụ được 503.000 bản trong tuần đầu tiên phát hành năm 2002. Album được ghi nhận là album có lượng tiêu thụ cao nhất của một nữ nghệ sĩ trong tuần đầu tiên. Cũng trong tuần đó, cô trở thành nữ nghệ sĩ đầu tiên có 2 đĩa đơn "Foolish" và "What's Luv" đồng thời chiếm vị trí 1 và 2 tại bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Ashanti cũng là nữ nghệ sĩ đầu tiên có 3 đĩa đơn lọt vào Top 10 của Billboard trong cùng 1 tuần và nghệ sĩ thứ 2 sau The Beatles. Cô còn là người sáng tác và hát đệm cho bài "Ain't It Funny" (Murder Remix) của Jennifer Lopez cũng lọt vào Top 10 cùng thời điểm với "Foolish", "Always on Time" (với Ja Rule), và "What's Luv" (với Fat Joe). Những năm sau đó, cô được giới truyền thông ca ngợi là "Công chúa nhạc R&B" khi đoạt 8 giải của Billboard và 2 giải American Music Awards. Năm 2007, Ashanti đã tiêu thụ hết 16,3 triệu album tại Mỹ và hơn 25 triệu album trên toàn thế giới.
Ashanti chịu ảnh hưởng của Mary J. Blige, Ella Fitzgerald, Yolanda Adams, the Clark Sisters, và Blue Magic. Được đồng nghiệp và giới phê bình ca ngợi là một nhạc sĩ có tài, Ashanti đã sáng tác một số lượng lớn các ca khúc trong sự nghiệp âm nhạc. Cô cũng hoạt động tại hãng thu âm của chính mình, Written Entertainment. Cô đã phát hành album mới nhất mang tên The Declaration ngày 3 tháng 7 năm 2008.Ashanti cũng biểu diễn ca khúc "Just Stand Up!" cùng 14 nữ nghệ sĩ khác tại buổi hòa nhạc "Stand Up to Cancer" để quyên góp $100 triệu đô la cho những bệnh nhân bị ung thư.
== Tiểu sử ==
Ashanti sinh ngày 13/10/1980 với tên đầy đủ là Ashanti Shequoiya Douglas. Mẹ cô, bà Tina Douglas, là cựu vũ công, và cha cô, ông Ken-Kaide Thomas Douglas trước đây là ca sĩ. Cô có một người chị em gái tên là Kenashia. Mẹ cô đặt tên cô là Ashanti vì bà có ấn tượng với Đế Chế Ashanti ở Ghana; ở quốc gia này, phụ nữ có nhiều quyền lực và sức ảnh hưởng. Mẹ của Ashanti muốn con gái bà theo khuôn mẫu đó. James, ông nội Ashanti, là một nhà hoạt động nhân quyền cùng với Martin Luther King, Jr. trong những năm 60. Lớn lên, Ashanti được cho học khiêu vũ và cô tham gia dàn đồng ca trong nhà thờ. Ashanti học ở Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật Bernice Johnson và cô được dạy nhiều thể loại khiêu vũ như tap, jazz, balê, Africa, nhảy hiện đại và hophop. Cô từng nhảy với nhóm múa chuyên nghiệp tại Đại Sảnh Carnegie, nhà hát Apollo, Viện Âm nhạc Brooklyn, Đại Sảnh Avery Fisher, và nhà hát Black Spectrum. Tại lễ trao giải thưởng Caribbean năm 1994, Ashanti biểu diễn cùng với Judith Jaminson, thành viên của Công ty chuyên về Khiêu Vũ Alvin Ailey. Dưới sự dẫn dắt của diễn viên kiêm biên đạo múa Debbie Allen, Ashanti cũng từng biểu diễn trong bộ phim truyền hình Polly của hãng Disney cùng với các bạn diễn Keshia Knight Pulliam, Jomecia Moore và Phylicia Rasgad.
Năm lên 6, Ashanti hát trong hàng đồng ca gospel, tuy nhiên năm 12 tuổi, mẹ cô phát hiện ra khả năng ca hát tiềm tàng của con gái mình khi bà nghe con gái hát lại ca khúc "Remisnisce" của nữ danh ca Mary J. Blige. Đến tuổi dậy thì, mẹ Ashanti gửi đến một hãng thâu âm những cuốn băng demo thâu âm và quay hình Ashanti khiêu vũ. Lúc đó, gia đình cô không đủ tiền cho Ashanti đến phòng thu chuyên nghiệp để thâu băng demo, cho nên khi hãng thâu âm gọi, Ashanti đã phải hát và nhảy trước ban lãnh đạo của hãng. Trong thời gian học trung học, Ashanti bắt đầu tập viết nhạc. Cô từng biểu diễn trong các chương trình tài năng ở địa phương và ở Soul Cafe, China Club, Quảng trường Madison, câu lạc bộ hài kịch Caroline và Hội Chợ Hy Lạp năm 2000. Trong lần biểu diễn chính thức đầu tiên, Ashanti hát ca khúc "More Than A Melody" của danh ca Yolanda Adams. Cô cũng xuất hiện trong một số video ca nhạc của một vài tên tuổi ca sĩ lớn cùng với khả năng nhảy của cô.
Ashanti cho biết những ca sĩ có ảnh hưởng đến cô bao gồm Janet Jackson, Prince, Tupac Shakur, Aaliyah, Marvin Gaye, Mariah Carey, Madonna, Ella Fitzgerald, Toni Braxton, Peggy Lee, Blue Magic, Smokey Robinson, Luther Vandross, The Clark Sisters, Mary J. Blige, và Donna Summer.
== Sự nghiệp ==
Sự nghiệp ban đầu Khi Ashanti 14 tuổi, P.Diddy, ông chủ của hãng thâu âm Bad Boy phát hiện ra cô. Ban đầu, cô đến hãng và phát một ca khúc của Mary J. Blige trước mặt P. Diddy và Biggie Smalls. Ấn tượng với khả năng ca hát của cô, Diddy mời cô ký hợp đồng đào tạo với hãng. Nhưng sau đó, vì lý do hợp đồng không tốt, Ashanti đã từ chối Diddy. Chính sự từ chối này sau đó đã mang đến cho cô một hợp đồng khác với hãng Jive vào năm 1994. Tuy nhiên, lại một lần nữa Ashanti phải ra đi vì hãng thâu âm muốn hướng cô trở thành một ca sĩ hát dòng nhạc Pop. Sau đó, Ashanti tiếp tục đi học, cô tham gia đội cổ vũ và tham gia một nhóm nhạc trong trường. Cô là một học sinh xuất sắc của bộ môn tiếng Anh; cô tham gia câu lạc bộ tiếng Anh và bắt đầu sáng tác thơ. Cô cũng tham gia đội kịch nghệ của trường và từng biểu diễn trong vài vở kịch. Năm 1998, cô tạm gác chuyện học hành lại sau khi ký một hợp đồng khách với hãng thâu âm Epic. Tuy nhiên, ban quản lý của công ty tại không tập trung nhiều vào cô. Ashanti tiếp tục biểu diễn tại một số vũ trường ở New York và bắt đầu giao du với hãng thâu âm Murder Inc. với hy vọng có một bước ngoặt mới.
Irv Gotti, giám đốc của Murder Inc. nhanh chóng chú ý tới Ashanti bởi năng trình độ ca hát của cô. Ban đầu Ashanti yêu cầu Gotti sản xuất một vài ca khúc demo cho cô thâu âm, cô đưa ra các bản nhạc ưng ý của mình, nhưng ngay lúc đó Gotti lại có một ý định khác. Anh yêu cầu cô viết nhạc cho vài ca sĩ hát rap của anh và Ashanti sẽ hát cùng với họ trong một vài đoạn của ca khúc. Ashanti lần đầu được hát bè trong ca khúc "How We Roll" của rapper Big Pun. Cùng năm đó, Ashanti được biểu diễn cùng với đồng nghiệp Cadillac Tah trong đĩa đơn "Pov City Anthem" và "Just Like A Thug". Năm 2001, Ashanti góp giọng trong nhạc phim "The Fast and The Furious" cùng với ca sĩ Vita trong bản phối lại theo phong cách hip hop từ ca khúc "Justify My Love" của ca sĩ Madonna. Ashanti cũng đơn ca một ca khúc khác có tên "When A Man Does Wrong". Ashanti tham gia hát bè trong ca khúc "I'm Real (Murder Remix)", một kết hợp của đồng nghiệp Ja Rule và ca sĩ Jennifer Lopez (Ashanti cũng xuất hiện trong video ca khúc "Ain't It Funny (Murder Remix)", một bản song ca khác của Jennifer Lopez và Ja Rule, ca khúc này do Ashanti viết lời và hát bè), sau đó cô cũng góp giọng trong ca khúc "What's Luv?" và "Always On Time" của Fat Joe và Ja Ryle. Hai ca lhúc này được cùng lúc phát hành và trở thành hai trong những ca khúc đình đám của năm 2002. Ashanti trở thành nữ ca sĩ đầu tiên cùng lúc chiếm hai vị trí dẫn dầu trong bảng xếp hạng Billboard Hot 100 (100 ca khúc hay nhất của Billboard) với lần lượt "Always On Time" đứng hạng 1 và "What's Luv?" đứng thứ nhì.
Album đầu tay: Ashanti (2002) Nối tiếp thành công từ hai đĩa đơn hát cùng với Ja Rule và Fat Joe, Ashanti tung ra đĩa đơn đầu tiên của cô mang tên "Foolish", ca khúc lấy giai điệu từ ca khúc "Stay With Me" của DeBarge năm 1983 (giai điệu này cũng được sử dụng trong đĩa đơn nổi tiếng "One More Chance" của Notorious Big năm 1995, và trong ca khúc "MVP" của Big L). "Foolish" cũng chính là ca khúc thành công nhất của Ashanti tính đến nay. Đĩa đơn này giữ vị trí quán quân trong vòng 10 tuần lễ trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Ashanti trở thành nghệ sĩ thứ hai (sau The Beatles) có 3 đĩa đơn đầu tay cùng lúc đứng hạng nhất trên Hot 100. Đĩa nhạc đầu tây của Ashanti lấy chính tên cô được phát hành bởi hãng thâu âm Murder Inc. của Irv Gotti vào tháng 4 năm 2002. Album đạt hạng nhất ngay trong tuần phát hành đầu tiên trên bảng xếp hạng 100 album xuất sắc (sau này là Billboard 200). Album được chứng nhận 3 lần đĩa Bạch Kim ở Mỹ và tiêu thụ trên 6 triệu bản trên toàn thế giới. Ashanti viết nhạc cho 12 ca khúc của album, hầu hết là trong phòng thu. Năm 2002 cũng là năm cho ra đời nhiều ca sĩ đối thủ trong dòng nhạc R&B của Ashanti như Amerie, Tweet và Nivea. Nhờ vào sự thành công quá rực rỡ trong dòng nhạc R&B, mỗi ca khúc tung ra của Ashanti đều nằm trong top 10 ca khúc hay nhất trong bảng xếp hạng dòng R&B/Hip Hop liên tục mỗi tuần từ tháng 1 cho đến tháng 11 năm 2002.
Các đĩa đơn tiếp theo của Ashanti, "Happy" và "Baby", không đạt thành công nhiều như đĩa đơn "Foolish" đầu tay, nhưng cũng lần lượt đạt thứ hạng trong top 10 và 20 ca khúc hay ở Mỹ. Trong khoảng giữa năm 2002, Ashanti tham gia ca khúc "Down 4 U" của Ja Rule cùng với các đồng nghiệp Vita và Charli Baltimore. Ca khúc này có mặt trong đĩa tổng hợp của Murder Inc. mang tên "Irv Gotti Presents The Inc". Album đầu tay của Ashanti mang lại cho cô nhiều giảithưởng, bao gồm 8 giải Billboard, 2 giải AMA, và một giải Grammy danh giá vào năm 2003 cho hạng mục "Album R&B đương đại xuất sắc nhất". Ashanti cũng được đề cử cho hạng mục "Ca sĩ mới xuất sắc nhất" và đĩa đơn "Foolish" được đề cử cho giải "Nữ Ca Sĩ hát R&B hay nhất". Tạp chí FHM (For Him Magazine) gọi cô là "Nữ Ca Sĩ Quyến Rủ Nhất" năm 2002. Cô cũng nhận một giải Comet và 2 giải Soul Train cùng năm.
Ashanti trở thành đề tài bàn luận khi có thông tin rằng cô sẽ nhận giải thưởng Soul Train do nữ danh ca Aretha Franklin đề lập ở hạng mục "Ca Sĩ Của Năm", một nam học sinh trung học đã lên tiếng phản đối và bắt đầu lập kiến nghị trên mạng để chống lại điều này. Theo tờ thời báo "The Seattle" thì lý do phản đối là "Ashanti chỉ là lính mới nên không đáng được nhận giải thưởng đó". Đã có gần 30000 người đồng ý với nam học sinh này. Nhiều ý kiến khác cho rằng những ca sĩ có thâm niên hơn Ashanti như là Mary J. Blige, Missy Elliott hoặc ít nhất cũng phải như Alicia Keys hay India.Arie mới xứng đáng nhận giải thưởng mang tên huyền thoại âm nhạc Aretha Franklin. Mặc dù vậy, hội đồng giải thưởng và Don Cornelius vẫn giữ nguyên ý định của mình. Ashanti được hoan nghênh bởi các đồng sự âm nhạc khi cô bước lên bục nhận giải thưởng danh giá trong khán phòng Pasadena Civic. Trên sân khấu, cô nhận được sự ủng hộ của ca sĩ huyền thoại Patti Labelle. Bà nói "Cô bé là một tài năng và chúng ta cần ủng hộ cô bé". Năm 2002, Ashanti tiếp tục giành một trí trong top 10 ca khúc hay với "Down 4 U" và album của ca khúc này cũng đạt chứng nhận đĩa Vàng khoảng cuối năm 2003. (còn tiếp)
== Album ==
Ashanti (2002)
Chapter II (2003)
Concrete Rose (2004)
The Declaration (2008)
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Official site
Official Universal Motown Group Site
AshantiDouglas.Us
Ashanti tại Internet Movie Database
Ashanti tại Myspace |
danilo.txt | Danilo Luiz da Silva (sinh ngày 15 tháng 7 năm 1991), gọi tắt là Danilo, là một cầu thủ bóng đá người Brasil hiện đang chơi cho câu lạc bộ Real Madrid ở vị trí hậu vệ cánh phải.
== Sự nghiệp ==
=== Santos ===
Danilo sinh ra ở Bicas, Minas Gerais, Brasil. Anh tham gia đội trẻ América Futebol Clube lúc 12 tuổi. Tháng 5 năm 2010, Danilo đầu quân cho câu lạc bộ Santos. Danilo đã giành Campeonato Paulista vào năm 2011, và thi đấu 2 mùa giải với câu lạc bộ.
=== Porto ===
Vào đầu tháng 1 năm 2012, sau năm 2011 FIFA Club World Cup, Danilo ký hợp đồng với câu lạc bộ F.C. Porto ở Bồ Đào Nha với số tiền 13.000.000 € có thời hạn 4 năm. Danilo là cầu thủ dự bị cho Cristian Sapunaru trong mùa giải đầu tiên, nhưng ngay sau đó đã trở thành sự lựa chọn số 1 cho câu lạc bộ. Anh cùng Alex Sandro đồng hương người Brasil, tạo nên bộ đôi hậu vệ cánh cực kỳ lợi hại ở Porto.
=== Real Madrid ===
Vào ngày 31 tháng 3 năm 2015, Real Madrid mua Danilo từ câu lạc bộ Porto với giá 31.500.000 €, bản hợp đồng có thời hạn 6 năm.
== Sự nghiệp quốc tế ==
Danilo có trận ra mắt đội tuyển Brasil vào ngày 14 tháng 9 năm 2011 khi đó anh mới chỉ 20 tuổi.
Danilo đại diện cho U-23 Brasil thi đấu tại Thế vận hội Mùa hè 2012, thi đấu 4 trận và ghi một bàn vào lưới New Zealand ở vòng bảng (3-0). Kết thúc thế vận hội, Danilo giành huy chương bạc cùng đội tuyển Brasil.
== Thống kê ==
=== Câu lạc bộ ===
Cập nhật ngày 8 tháng 5 năm 2016.
== Danh hiệu ==
=== Câu lạc bộ ===
América
Campeonato Brasileiro Série C: 2009
Santos
Campeonato Paulista: 2011
Copa Libertadores: 2011
Porto
Primeira Liga: 2011–12, 2012–13
Supertaça Cândido de Oliveira: 2013
=== Quốc gia ===
South American Youth Championship: 2011
FIFA U-20 World Cup: 2011
Superclásico de las Américas: 2011, 2014
Thế vận hội Mùa hè: Huy chương bạc (2012)
=== Cá nhân ===
Campeonato Mineiro: Best Newcomer 2010
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
công nghệ thông tin và truyền thông.txt | Công nghệ thông tin và truyền thông, thường được gọi là ICT, là cụm từ thường dùng như từ đồng nghĩa rộng hơn cho công nghệ thông tin (IT), nhưng thường là một thuật ngữ chung để nhấn mạnh vai trò của truyền thông hợp nhất và sự kết hợp của viễn thông (đường dây điện thoại và tín hiệu không dây), hệ thống quản lý tòa nhà thông minh và hệ thống nghe-nhìn trong công nghệ thông tin hiện đại. ICT bao gồm tất cả các phương tiện kỹ thuật được sử dụng để xử lý thông tin và trợ giúp liên lạc, bao gồm phần cứng và mạng máy tính, liên lạc trung gian cũng như là các phần mềm cần thiết. Mặt khác, ICT bao gồm IT cũng như là điện thoại, phương tiện truyền thông, tất cả các loại xử lý âm thanh và video, điều khiển dựa trên truyền tải và mạng và các chức năng giám sát. Cách diễn tả này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1997 trong một báo cáo của Dennis Stevenson gửi chính phủ Anh và được lan truyền rộng rãi trong các tài liệu mới của Chương trình giảng dạy Quốc gia Anh vào năm 2000.
Tại Việt Nam, ngày 27 tháng 7 năm 2007 chính phủ Việt Nam thành lập Bộ Thông tin và Truyền thông để quản lý lĩnh vực này. Sau đó các Sở Thông tin và Truyền thông trên các tỉnh thành cả nước để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và Internet; truyền dẫn phát sóng; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử; phát thanh và truyền hình và cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông quốc gia; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. (trước đây thuộc Bộ Văn hóa).
Những năm trước tại Việt Nam dùng từ Viễn thông (dịch từ telecommunication trong tiếng Anh, télécommunication tiếng Pháp). Nhưng hiện nay đã chuyển qua dùng từ Truyền thông để thay thế.
ICT thường được sử dụng trong "lộ trình ICT" (ICT roadmap) để trình bày đường lối phát triển cho những tổ chức có các nhu cầu về công nghệ thông tin và truyền thông.
Cụm từ ICT giờ đây cũng được sử dụng để ám chỉ đến sự gắn kết của nghe-nhìn và mạng điện thoại với mạng máy tính qua một đường dây đơn hoặc hệ thống liên kết. Có những biện pháp khuyến khích kinh tế lớn (tiết kiệm được một số tiền khổng lồ qua việc loại trừ mạng điện thoại) để kết hợp nghe nhìn, quản lý tòa nhà và mạng điện thoại với hệ thống mạng máy tính sử dụng một hệ thống cáp thống nhất, phân phối và quản lý tín hiệu. Điều này dần dần đã thúc đẩy sự tăng trưởng của các tổ chức với cụm từ ICT trong tên để chỉ ra chuyên môn của họ trong việc xử lý và gắn kết các hệ thống mạng khác nhau.
"ICT" được sử dụng như là một thuật ngữ chung cho tất cả các loại công nghệ cho phép người dùng tạo, truy cập và thao tác với thông tin. ICT là một sử kết hợp của công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông. Trong một thế giới ngày càng gắn kết với nhau, sự tương tác giữa các thiết bị, hệ thống và con người đang tăng lên đáng kể. Các doanh nghiệp cần phải đáp ứng các nhu cầu của nhân viên và khách hàng của họ để cho phép tiếp cận nhiều hơn với các hệ thống và thông tin. Tất cả những nhu cầu liên lạc phải được truyền đi theo một cách thống nhất. Bằng cách cung cấp cơ sở hạ tầng có thể mở rộng, những mô hình điện toán đám mây cho phép các công ty làm việc thông minh hơn nhờ vào việc truy cập công nghệ và thông tin thông minh và hiệu quả về chi phí hơn. Nền tảng kết hợp này đã giảm thiểu chi phí và nâng cap năng suất giữa các doanh nghiệp và hơn thế nữa. Một phần của lộ trình công nghệ thông tin và truyền thông nên được củng cố về cơ sở hạ tầng, trong khi đó thêm vào những lợi ích cho người dùng trong việc hợp tác, gửi tin, sắp xếp lịch, tin nhắn tức thời (IM), âm thanh, video, và hội nghị qua Web. Điện toán đám mây làm cho việc vận chuyển và tiêu thụ năng lượng trong IT trở nên hiệu quả hơn và đưa ICT lên một tầm cao mới.
== ICT trong cộng đồng ==
Công nghệ thông tin giờ đây đã có mặt ở nhiều phương diện trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta từ thương mại đến giải trí và thậm chí cả văn hóa. Ngày nay, điện thoại di động, máy tính để bàn, thiết bị cầm tay, thư điện tử và việc sử dụng Internet đã trở thành tâm điểm trong văn hóa và cộng đồng của chúng ta. ICT đã tạo nên một xã hội toàn cầu, nơi mà mọi người có thể tương tác và liên lạc với nhau một cách nhanh chóng và hiệu quả.
ICT đã đóng góp vào sự xóa bỏ rào cản ngôn ngữ. Ví dụ những công cụ (ICT) như thư điện tử, tin nhắn tức thời (IM), chat room và các mạng xã hội như Facebook, Twitter, Skype và iPhone, điện thoại di động và những ứng dụng tương tự. Một bất lợi là những người thuộc thế hệ trước đây khó mà bắt kịp với những thay đổi của công nghệ ngày nay. Sự phản kháng với thay đổi và không có khả năng theo kịp với sự tiến hóa nhanh chóng của công nghệ cần được chú ý. Nhiều người trong xã hội không có điều kiện để tận hưởng công nghệ hiện có. Lý do có thể là sự nghèo khó, vị trí địa lý hoặc thiếu tiếp cận với công nghệ.
== ICT trong giáo dục ==
Trong các hệ thống giáo dục trên toàn cầu hiện nay, ICT không được thực thi rộng rãi như ở những lĩnh vực khác, như kinh doanh. Có nhiều lý do khác nhau cho lỗ hổng của những công nghệ này trong giáo dục. Nhiều chuyên gia cho rằng chi phí cao trong việc trang bị đã không tạo điều kiện cho các trường học tiếp cận với công nghệ này trong lớp học. Các chuyên gia khác lại cho rằng theo tính chất xã hội của những hệ thống giáo dục hiện nay, nó đòi hỏi đáng kể sự liên lạc cá nhân giữa giáo viên và học sinh của họ, điều này làm cho những công nghệ không được hỗ trợ tốt trong lớp học.
=== Sử dụng ===
Việc sử dụng ICT trong giáo dục đã mở rộng hơn với việc trang bị cho lớp học máy vi tính và kết nối Internet. Sự đa dạng của ICT hiện có trong các trường đại học có thể được thực hiện để nâng cao kinh nghiệm học tập của các sinh viên trong rất nhiều cách. Những trường đại học này hầu hết thực hiện ICT để hoàn thành những mục tiêu sau:
Tăng cơ hội kết nối mạng: ICT giúp kết nối các trường với nhau, cũng như những cá nhân trong các trường. Khả năng kết nối thực sự quan trọng cho các học sinh, sinh viên vùng xa ở các nước đang phát triển.
Cung cấp giáo dục từ xa: Với sự xuất hiện của ICT, việc học dần dần diễn tra trên Web. Kết quả là, ICT đã thay thế cho thư gửi từ trường học.
Bổ sung cho học tập truyền thống: Một trong các lợi ích phổ biến của ICT trong giáo dục là việc cho các sinh viên sử dụng những chương trình như là Microsoft Word để trình bày bài tập viết tay truyền thống.
=== Lợi thế ===
Như với các công nghệ khác được thực hiện trong giáo dục hàng năm, ICT đã tạo lợi thế cho cả học sinh và giáo viên khi kết hợp thành công trong môi trường học tập. Lấy ví dụ như:
Tăng khả năng tiếp cận tài nguyên: Không giống như lớp học truyền thống được khóa lại vào cuối ngày, ICT cho phép các sinh viên truy cập những tài nguyên học tập bất cứ lúc nào. Điều này làm tăng sự tiếp cận đến những tài nguyên đặc biệt có giá trị đối với những sinh viên có nhu cầu đặc biệt và những sinh viên sống ở vùng xa hoặc những nước đang phát triển.
Trải nghiệm học tập tương tác: Nhiều giáo viên truyền đạt thông tin cho các sinh viên qua bài giảng. ICT cho phép sinh viên truy cập thông tin qua video, podcast và nhiều phương tiện tương tác khác mà nó tạo ra một trải nghiệm học tập hấp dẫn cho các sinh viên.
Học tập lấy sinh viên làm trung tâm: Trong một lớp học truyền thống, sinh viên không thể kiểm soát được việc những bài học được xây dựng như thế nào. Qua ICT, sinh viên đã có thể kiểm soát được trải nghiệm học tập của mình. Ngoài ra sinh viên còn có thể quyết định khi nào học, và những nội dung trong bài sẽ được trình bày như thế nào.
=== Bất lợi ===
Mặc dù ICT có thể nâng cao việc học bằng nhiều cách nhưng vẫn có một số bất lợi đi kèm với việc thực hiện những công nghệ tinh vi này trong các trường và đại học trên khắp thế giới. Ví dụ như:
Chi phí cao: Thực hiện ICT trong giáo dục có thể rất tốn kém vì việc nâng cấp cơ sở hạ tầng hiện tại, huấn luyện giáo viên và phát triển nội dung khóa học. Việc tài trợ cho những dự án này thường khan hiếm, nên làm cho vấn đề càng tệ hơn.
Huấn luyện giáo viên: Nhiều giáo viên không quen với việc sử dụng ICT trong lớp học và không thể phối hợp với những công nghệ này vào kinh nghiệm sư phạm có sẵn của họ. Để thành công, việc áp dụng ICT trong giáo dục cần phải được hỗ trợ của những giáo viên có tay nghề.
Không chắc chắn về tỉ lệ thành công: Hiện tại, không có công trình nghiên cứu lớn nào được thực hiện để cho thấy việc áp dụng ICT trong giáo dục có đem lại kết quả đáng kể trong thành tích học tập của học sinh hay không, làm cho ban quản lý của trường ngại đầu tư vào những công nghệ này.
Dù đã có những nghiên cứu hiện tại và nghiên cứu dựa trên bằng chứng, tương lai của ICT trong giáo dục vẫn chưa thể chắc chắn được. Nghiên cứu bổ sung là cần thiết để hiểu rõ hơn nếu có một liên kết tồn tại giữa việc sử dụng ICT trong giáo dục và sự cải thiện việc học của học sinh.
== Nghề nghiệp ==
Có rất nhiều cơ hội nghề nghiệp cho cả những chuyên viên ICT mới bắt đầu và đã có kinh nghiệm. Những người quản lý hệ thống thông tin máy tính giám sát tất cả những khía cạnh của một tổ chức, như việc phát triển phần mềm, bảo mật mạng và các hoạt động Internet. Những người thích thiết kế chương trình phần mềm có thể chú ý đến một công việc như là một lập trình viên máy tính. Làm việc theo nhóm rất cần thiết cho các Kỹ sư phần mềm máy tính, những người làm việc với một nhóm lớn để giải quyết vấn đề và tạo ra sản phẩm mới. Thậm chí những người đi du lịch hoặc liên lạc từ xa phải báo cáo cho đội hoặc ban quản lý. Những người quản trị cơ sở dữ liệu (DBA) sử dụng phần mềm để lưu trữ và quản lý thông tin. Họ cũng thiết lập cơ sở dữ liệu và có trách nhiệm giữ cho hệ thống vận hành hiệu quả. Những chuyên viên thống kê thu thập dữ liệu và xử lý chúng, tìm ra những khuôn mẫu giải thích hành vi hoặc mô tả thế giới như nó hiện tại.
== Xem thêm ==
Công nghệ thông tin và truyền thông dành cho phát triển
== Tham khảo ==
== Xuất bản ==
== Liên kết ngoài == |
cảng dương sơn.txt | Cảng Dương Sơn (洋山港), với tên đầy đủ là Cảng biển nước sâu Dương Sơn (洋山深水港), là một cảng biển mới được xây ở vịnh Hàng Châu, phía nam Thượng Hải. Được xây dựng nên để vượt qua những giới hạn tăng trưởng cho Cảng Thượng Hải, nằm trong vùng nước nông, cho phép xây dựng những bến với chiều cao lên đến 15 mét, và có khả năng đón các tàu container lớn nhất hiện nay. Cảng biển đạt được điều này bằng cách xây dựng trên các hòn đảo ngoài khơi Greater và Lesser Yangshan (một phần của bán đảo Chu San), đã được hợp nhất bằng cách khai hoang đất và nối với đất liền thông qua cầu Đông Hải, về sau được khánh thành vào ngày 1 tháng 12 năm 2005 và là cây cầu biển lớn thứ hai thế giới với chiều dài 32.5 km.
== Các bến tàu ==
Vào năm 2000/2001, xây dựng khu đầu tiên trong bốn khu sẽ được thực hiện. Hai khu đầu tiên đang được tiến hành, với tổng cộng chín bến dọc chiều dài 3 km. Khu một, bắt đầu hoạt động vào năm 2004, có thể chứa 2.2 triệu container hàng năm và 10 cần cẩu. Khu hai hoạt động từ tháng 12 năm 2006, bao gồm 72 hécta với 15 cần cẩu.
Khu ba, hoạt động song song xây dựng, sẽ hoàn tất vào năm 2010 với 7 bến, với khu 3A dự kiến sẽ hoạt động vào cuối năm 2007. Khi được xây dựng hoàn tất vào năm 2020, cảng sẽ có bốn khu vực hoạt động với 30 bến có thể trung chuyển 15 triệu TEU container hàng năm .
== Hình ảnh ==
== Chi phí xây dựng ==
Tổng chi phí xây dựng cảng Yangshan có thể lên đến 12 tỉ USD trong vòng 20 năm [2].
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Port technology: Yangshan - broken
National Geographic: Megastructures has an episode about the port |
california.txt | California (phát âm như "Ca-li-pho-ni-a" hay "Ca-li-phoóc-ni-a", nếu nhanh: "Ca-li-phoóc-nha"), còn được người Việt gọi vắn tắt là Ca Li, là một tiểu bang ven biển phía tây của Hoa Kỳ. Với dân số là 38 triệu người và diện tích 410,000 km2 (158,402 mi2), California là tiểu bang đông dân nhất Hoa Kỳ và lớn thứ ba theo diện tích.
== Địa lý ==
California kề cận với Thái Bình Dương, Oregon, Nevada, Arizona và tiểu bang Baja California của México. Tiểu bang này có nhiều cảnh tự nhiên rất đẹp, bao gồm Central Valley rộng rãi, núi cao, sa mạc nóng nực, và hàng trăm dặm bờ biển đẹp. Với diện tích 411,000 km2 (160,000 mi2), nó là tiểu bang lớn thứ ba của Hoa Kỳ và lớn hơn cả nước Đức và cũng như Việt Nam. Hầu hết các thành phố lớn của tiểu bang nằm sát hay gần bờ biển Thái Bình Dương, đáng chú ý là Los Angeles, San Francisco, San Jose, Long Beach, Oakland, Santa Ana/Quận Cam, và San Diego. Tuy nhiên, thủ phủ của tiểu bang, Sacramento, là một thành phố lớn nằm trong thung lũng Trung tâm. Trung tâm địa lý của tiểu bang thuộc về Bắc Fork, California.
Địa lý California phong phú, phức tạp và đa dạng. Giữa tiểu bang có thung lũng Trung tâm, một thung lũng lớn, màu mỡ được bao quanh bởi những dãy núi bờ biển ở phía tây, dãy núi đá granit Sierra Nevada ở phía đông, dãy núi Cascade có đá lửa ở miền bắc, và dãy núi Tehachapi ở miền nam. Các sông, đập nước, và kênh chảy từ các núi để tưới thung lũng Trung tâm. Nguồn nước của phần lớn tiểu bang do Dự án Nước Tiểu bang cung cấp. Dự án Thung lũng Trung tâm hỗ trợ hệ thống nước của một số thành phố, nhưng chủ yếu cung cấp cho việc tưới tiêu nông nghiệp. Nhờ nạo vét, vài con sông đã đủ rộng và sâu để cho vài thành phố nội địa (nhất là Stockton) được trở thành hải cảng. Trung lũng Trung tâm nóng nực và màu mỡ là trung tâm nông nghiệp của California và trồng một phần lớn cây lương thực của Mỹ. Tuy nhiên, việc trồng trọt bị tàn phá bởi nhiệt độ thấp gần điểm đông trong mùa đông. Phía nam của thung lũng, một phần là sa mạc, được gọi là thung lũng San Joaquin, do nước chảy xuống sông San Joaquin, còn phía bắc được gọi là thung lũng Sacramento, do nước chảy xuống sông Sacramento. Châu thổ vịnh Sacramento – San Joaquin vừa là cửa sông quan trọng hỗ trợ hệ sinh thái nước mặn và vừa là nguồn nước chủ yếu của phần lớn dân cư tiểu bang.
Dãy núi Sierra Nevada (tức "dãy núi tuyết" trong tiếng Tây Ban Nha) ở phía đông và trung tâm tiểu bang, có núi Whitney là đỉnh núi cao nhất trong 48 tiểu bang (4,421 mét (14,505 feet)). Trong dãy Sierra còn có Công viên Quốc gia Yosemite và hồ Tahoe (một hồ nước ngọt sâu và là hồ lớn nhất của tiểu bang theo thể tích). Bên phía đông của dãy Sierra là thung lũng Owens và hồ Mono – nơi sinh sống chủ yếu của chim biển. Còn bên phía tây là hồ Clear, hồ nước ngọt lớn nhất của California theo diện tích. Vào mùa đông, nhiệt độ ở dãy Sierra Nevada xuống tới nhiệt độ đóng băng và ở đây có hàng chục dòng sông băng nhỏ, trong đó có sông băng cực nam của Hoa Kỳ, sông băng Palisade.
Rừng che phủ khoảng 35% tổng diện tích tiểu bang và California có nhiều loại thông hơn bất cứ tiểu bang nào khác. Về diện tích rừng, California chỉ đứng sau Alaska mặc dù tỉ lệ rừng theo diện tích nhỏ hơn một số tiểu bang khác. Phần lớn của rừng ở đây ở phía tây bắc tiểu bang và triền phía tây dãy Sierra Nevada. Những cánh rừng nhỏ hơn với chủ yếu là cây sồi dọc theo những dãy núi California gần bờ biển hơn, và cả những đồi thấp dưới chân dãy Sierra Nevada. Những rừng thông nhỏ hơn có ở các dãy núi San Gabriel và San Bernardino ở miền Nam California cũng như trên những vùng núi ở miền trung Quận San Diego.
Các sa mạc ở California chiếm 25% tổng diện tích. Ở miền nam có dãy núi Transverse và một hồ nước mặn lớn – biển Salton. Sa mạc phía trung nam được gọi là Mojave. Phía đông nam của sa mạc này là thung lũng Chết, là nơi có Badwater Flat – điểm thấp nhất và nóng nhất của Bắc Mỹ. Điểm thấp nhất của thung lũng Chết cách đỉnh của núi Whitney ít hơn 322 km (200 dặm). Con người đã vài lần cố gắng đi bộ từ điểm này tới điểm kia và người nổi tiếng nhất là Lee Bergthold. Thực sự hầu như cả miền đông nam California là sa mạc khô cằn và nóng bức, và các thung lũng Coachella và Imperial thường có nhiệt độ rất cao vào mùa hè.
Nằm theo bờ biển dài và đông đúc dân cư của California là vài khu vực đô thị lớn, bao gồm San Jose–San Francisco–Oakland, Los Angeles–Long Beach, Santa Ana–Irvine–Anaheim, và San Diego. Thời tiết gần Thái Bình Dương rất ôn hòa so với những khí hậu trong đất liền. Nhiệt độ không bao giờ xuống tới điểm đông vào mùa đông (hầu như không có tuyết) và nhiệt độ hiếm khi lên trên 30°C (gần 80°F).
California được biết đến với động đất vì có nhiều vết đứt gãy, nhất là vết đứt gãy San Andreas. Tuy ở nhiều tiểu bang khác như Alaska, Washington, Oregon, và Missouri đã xảy ra các trận động đất rất mạnh (gây ra bởi vết đứt gãy New Madrid), nhưng nhiều người biết đến những động đất ở California hơn vì chúng xảy ra thường xuyên và hay xảy ra ở những vùng đông dân cư.
California cũng có vài núi lửa, một số còn hoạt động như núi lửa Mammoth. Những núi lửa khác bao gồm đỉnh Lassen, nó phun nham thạch từ 1914 đến 1921, và núi lửa Shasta.
=== Các thành phố quan trọng ===
Tiểu bang California có 478 thành phố, trong đó phần lớn nằm trong những khu vực đô thị lớn. 68% của dân cư California sống trong hai khu vực đô thị lớn nhất gồm vùng Đại Los Angeles và vùng vịnh San Francisco.
Dân số vài thành phố lớn (2000):
Los Angeles: 3.694.820
San Jose: 894.943
San Francisco: 776.733
San Diego: 1.223.400
=== Các công viên quốc gia ===
Dịch vụ Vườn Quốc gia (NPS) quản lý nhiều công viên quốc gia ở California:
Đảo Alcatraz gần San Francisco
Đài kỷ niệm Quốc gia Cabrillo tại San Diego
Đường mòn California
Công viên Quốc gia Quần đảo Eo biển gần Ventura
Công viên Quốc gia Thung lũng Chết
Đài kỷ niệm Quốc gia Devils Postpile gần Mammoth Lakes
Khu tưởng niệm Eugene O'Neill tại Danville
Pháo đài Pointtại Presidio
Khu giải trí Quốc gia Cổng Vàng trong San Francisco
Khu tưởng niệm John Muir tại Martinez
Công viên Quốc gia Joshua Tree, trụ sở tại Twentynine Palms
Đường mòn Juan Bautista de Anza
Công viên Quốc gia Kings Canyon
Công viên Quốc gia Núi lửa Lassen gần Mineral
Đài kỷ niệm Quốc gia Lớp dung nham gần Tulelake
Trại giam Manzanar tại Independence
Khu bảo tồn Quốc gia Mojave, trụ sở tại Barstow
Đài kỷ niệm Quốc gia Muir Woods tại Thung lũng Mill
Đường mòn Tây Ban Nha Cũ
Đài kỷ niệm Quốc gia Pinnacles gần Paicines
Bờ biển Quốc gia Mũi Reyes gần Mũi Reyes
Đường mòn Pony Express
Đài kỷ niệm Quốc gia Kho đạn Hải quân Cảng Chicago tại Trạm Vũ khí Hải quân Concord
Công viên Quốc gia Redwood
Công viên lịch sử Quốc gia Hậu phương Chiến tranh thế giới thứ hai Rosie the Riveter tại Richmond
Công viên lịch sử Quốc gia Hàng hải San Francisco
Khu giải trí Quốc gia Dãy núi Santa Monica
Công viên Quốc gia Củ tùng
Khu giải trí Quốc gia Whiskeytown gần Whiskeytown
Công viên Quốc gia Yosemite
== Lịch sử ==
Trước khi người châu Âu đến California thì đây là một trong những vùng đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ nhất ở Bắc Mỹ thời thổ dân. Nhiều người ở bờ biển phía tây Hoa Kỳ săn những con thú biển, câu cá hồi và thu nhặt tôm cua, trong khi những dân tộc cơ động hơn ở bên trong California đi săn thú rừng và hái lượm những quả hạch, quả đầu, và quả mọng. Các dân tộc ở California có nhiều hình thức tổ chức khác nhau như nhóm, bộ lạc, tiểu bộ lạc, và các cộng đồng lớn hơn trên bờ biền dồi dào tài nguyên như dân tộc Chumash, Pomo, và Salinas. Việc buôn bán, hôn nhân khác dân tộc, và liên minh quân sự làm cho những dân tộc khác nhau có nhiều mối liên hệ xã hội và kinh tế.
João Rodrigues Cabrilho người Bồ Đào Nha là người châu Âu đầu tiên thám hiểm một phần bờ biển California năm 1542. Còn Francis Drake là người đầu tiên thám hiểm cả bờ biển và tuyên bố chủ quyền đối với vùng đất này năm 1579. Từ cuối thế kỷ 18, các hội truyền giáo Tây Ban Nha đã xây dựng các ngôi làng rất nhỏ trên những vùng đất trợ cấp lớn khổng lồ thuộc miền rộng rãi về phía bắc của Baja California.
Ban đầu, vùng đất có tên California bao gồm vùng tây bắc của Đế quốc Tây Ban Nha, tức là bán đảo Baja California (Hạ California), và phần lớn những vùng đất hiện nay của các tiểu bang California, Nevada, Utah, Arizona, và Wyoming, được gọi là Alta California (Thượng California). Trong thời kỳ đầu, những ranh giới của biển Cortez và bờ biển Thái Bình Dương chưa được thám hiểm đầy đủ, cho nên California được vẽ như một hòn đảo trên những bản đồ thời đó. Tên California được đặt ra cho vùng này theo hòn đảo lạc viên California trong Las sergas de Esplandián (Các truyện phiêu lưu của Splandian), một tiểu thuyết tiếng Tây Ban Nha do Garci Rodríguez de Montalvo viết vào thế kỷ 16.
Vùng đất này có người thổ dân trước khi có các cuộc thám hiểm lác đác của người châu Âu vào thế kỷ 16. Đến cuối thế kỷ 18, Tây Ban Nha chiếm vùng này thành thuộc địa của mình. Và khi Mexico giành được độc lập trong cuộc Chiến tranh Độc lập Mexico (1810–1821), California thành một phần của nước này. Hơn 200 năm sau khi Mexico giành được độc lập, California là tỉnh xa thuộc miền bắc của quốc gia. Các trại rất lớn nuôi bò, được gọi rancho, trở thành chế độ chính của California thuộc Mexico. Các thương gia và thực dân bắt đầu đến từ Hoa Kỳ, báo hiệu những thay đổi quyết liệt sẽ xảy ra khắp miền California.
Vào thời kỳ này, một số quý tộc Nga cũng thử thám hiểm và tuyên bố chủ quyền một phần California, nhưng các lần thám hiểm này không thành công do Sa hoàng không quan tâm và do chính phủ Mexico xây dựng một số pháo đài (presidio) để chặn những cuộc xâm nhập vào miền này. California không có nhiều người sinh sống cho đến khi y học hiện đại loại trừ được sự bùng nổ các bệnh sốt vàng, sốt rét, và dịch hạch gây ra bởi muỗi và bọ chét, những loài sẽ bị giết chết khi bị đông cứng, mà ở California lại thiếu điều này.
Khi Mexico giành được độc lập từ Tây Ban Nha thì các hội truyền giáo Tây Ban Nha tại California thuộc về chính phủ Mexico, và họ vội vàng giải tán và bãi bỏ những hội này. Tuy nhiên, nhiều thành phố lớn của California đã phát triển xung quanh những hội truyền giáo này, bởi vậy những thành phố đó có tên thánh, thí dụ như Los Angeles được đặt tên theo Đức Bà Maria, San Francisco theo Thánh Phanxicô thành Assisi, San Jose theo Thánh Giuse, và San Diego theo Thánh Điđacô.
Vào Chiến tranh Mỹ-Mexico (1846–1848), người dân Mỹ nổi lên chống lại chính phủ Mexico. Năm đầu tiên của cuộc chiến, 1846, Cộng hòa California được thành lập và Cờ Gấu tung bay. Trên lá cờ này có hình một con gấu vàng và một ngôi sao. Tuy nhiên, nền cộng hòa bị chấm dứt đột ngột khi Thiếu tướng John D. Sloat của Hải quân Hoa Kỳ tiến vào vịnh San Francisco và tuyên bố chủ quyền của Hoa Kỳ đối với California. Sau chiến tranh, California bị chia thành 2 phần thuộc Mexico (phía nam) và Hoa Kỳ (phía bắc). Phần phía bắc, đầu tiên được gọi Alta California, rồi trở thành tiểu bang California thuộc Hoa Kỳ; còn phần phía nam được Mexico chia thành hai tiểu bang Baja California và Baja California Sur.
Vào năm 1848, có khoảng 4.000 người Tây Ban Nha ở vùng thượng California tới vào người, nhưng vàng đã được phát hiệm gần Sacramento, làm cho nhiều người đến đây từ Mỹ, Âu Châu, và những nơi khác với hy vọng tìm vàng trong cuộc đổ xô tìm vàng ở California năm 1849. Do đó, rất nhiều người nhập cư vào miền này, và California được trở thành tiểu bang thứ 31 của Hoa Kỳ năm 1850. Khi tiểu bang này gia nhập Liên bang, nó được coi là một trong những tiểu bang tự do, tức là nó cấm chế độ nô lệ.
Đầu tiên, việc đi lại lại giữa miền Tây và các trung tâm ở miền Đông tốn thì giờ và nguy hiểm. Hành khách phải đi theo các chuyến đường biển dài hoặc đi bằng xe ngựa hay đi bộ rất khó khăn trên những con đường đất. Năm 1869, đường xe lửa xuyên lục địa đầu tiên được hoàn thành, tạo ra một lối đi thẳng hơn. Sau đó, hàng trăm ngàn người Mỹ tới California, nơi những người mới đến khám phá ra rằng nếu tưới đất vào những tháng hè khô cạn, đất đó rất hợp để trồng cây ăn quả và làm nông nghiệp nói chung. Các loại cây giống cam quýt được trồng phổ biến (nhất là cây cam), và từ đó ngành sản xuất nông nghiệp California bắt đầu rất thành công đến ngày nay.
Đầu thế kỷ 20, sự di trú đến California tăng nhanh sau khi hoàn thành những con đường xuyên lục địa lớn như Đường Lincoln và Xa lộ 66. Từ 1900 đến 1965, dân số California tăng tới gần một triệu và California trở thành tiểu bang đông dân nhất Liên bang. Từ năm 1965 đến nay, nhân khẩu của tiểu bang thay đổi hoàn toàn làm California trở thành một trong những địa điểm có nhiều loại người nhất trên thế giới. Nói chung, tiểu bang có khuynh hướng tự do, hiểu biết về kỹ thuật và văn hóa, và là trung tâm quốc tế về công ty kỹ thuật, ngành công nghiệp điện ảnh và truyền hình, công nghiệp âm nhạc, và ngành sản xuất nông nghiệp đã nói ở trên.
== Nhân khẩu ==
=== Dân số ===
Năm 2006, California có khoảng 36.132.147 người, tăng 290.109 người hay 0,8% so với năm 2005 và tăng 2.260.494 người hay 6,7% so với năm 2000. Với tỷ lệ tăng này, California đứng hàng thứ 13 trong số các tiểu bang tăng dân số nhanh nhất. Số người tăng lên gồm 1.557.112 tăng trưởng tự nhiên (2.781.539 người sinh trừ 1.224.427 người chết) và 751.419 người nhập cư. California là tiểu bang đông dân nhất với trên 12% người Mỹ sống tại đây. Nếu là một quốc gia riêng, California sẽ là nước đông dân thứ 34 trên thế giới. California nhiều hơn Canada 4 triệu dân.
=== Chủng tộc ===
Không sắc tộc nào chiếm đa số tại California. Đây là một trong ba tiểu bang (California, Hawaii và New Mexico) mà người thiểu số nhiều hơn người da trắng. Người da trắng không có gốc từ châu Mỹ Latinh vẫn là nhóm đông nhất, nhưng họ không chiếm đại đa số. Người gốc từ châu Mỹ Latinh chiếm trên một phần ba số dân; các nhóm khác, theo thứ tự là: Người Mỹ gốc Á, Người Mỹ gốc Phi và Người thổ dân da đỏ.
Vì có nhiều người nhập cư từ châu Mỹ Latinh, nhất là từ México, và tỉ lệ sinh sản của người gốc châu Mỹ Latinh cao hơn, các nhà nghiên cứu phỏng đoán rằng họ sẽ chiếm đa số vào năm 2040. California có tỉ lệ người gốc châu Á cao thứ nhì toàn quốc, chỉ sau Hawaii.
=== Ngôn ngữ ===
Tính đến năm 2000, số người California từ 5 tuổi trở lên sử dụng tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha tại nhà lần lượt là 60,5% và 25,8%. Tiếng Trung Quốc đứng thứ ba với 2,6%, sau đó là tiếng Tagalog (2,0%) và tiếng Việt (1,3%).
Có trên 100 ngôn ngữ thổ dân tại đây, nhưng hầu hết đang ở tình trạng mai một. Từ năm 1986, Hiến pháp California đã chỉ định tiếng Anh làm ngôn ngữ phổ thông và chính thức trong tiểu bang.
=== Tôn giáo ===
Người dân California theo các tôn giáo sau:
Kitô giáo – 75%
Tin Lành – 38%
Baptist – 8%
Trưởng Lão – 3%
Giám Lý – 2%
Giáo hội Luther – 2%
Các giáo hội Kháng Cách khác – 23%
Giáo hội Công giáo Rôma – 34%
Các giáo phái Kitô khác – 3%
Do Thái giáo – 2%
Hồi giáo – 2%
Các tôn giáo khác – 3%
Không tôn giáo – 20%
Như các tiểu bang miền tây khác, số người tự nhận là "không tôn giáo" cao hơn các nơi khác tại Hoa Kỳ.
== Kinh tế ==
Tuy tiểu bang có tiếng về thái độ thoải mái khi so sánh với các tiểu bang ở bờ biển đông Hoa Kỳ, nền kinh tế California lớn thứ sáu trên thế giới và đóng góp 13% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Hoa Kỳ. Các ngành công nghiệp lớn nhất của tiểu bang bao gồm nông nghiệp, hàng không vũ trụ, giải trí, công nghiệp nhẹ, và du lịch. California cũng có vài trung tâm kinh tế quan trọng như Hollywood (về điện ảnh), thung lũng Trung tâm California (về nông nghiệp), thung lũng Silicon (về máy tính và công nghệ cao), và vùng Rượu vang (về rượu vang).
== Chính phủ ==
Giống chính phủ liên bang Hoa Kỳ, California có chính phủ kiểu cộng hòa, với ba nhánh chính phủ: hành pháp gồm Thống đốc California và các quan chức được bầu riêng rẽ; lập pháp gồm Hạ viện và Thượng viện; và tư pháp có Tòa án Tối cao California và các tòa cấp dưới. Tiểu bang cũng để cử tri tham gia vào quá trình chính phủ qua kiến nghị, trưng cầu dân ý, bãi miễn, và phê chuẩn.
== Giáo dục ==
Do một tu chính án của hiến pháp tiểu bang, California phải chi phí 40% của thu nhập tiểu bang cho hệ thống trường công. California là tiểu bang duy nhất có điều khoản như vậy.
Các trường tiểu học công lập có chất lượng khác nhau tùy theo trường. Chất lượng của các trường địa phương phần lớn tùy theo tiền thuế ở vùng đấy và cỡ của ban phụ trách các trường. Ở một số vùng, chi phí quản lý tốn một phần lớn của tiền đã dùng cho giáo dục. Ở những vùng nghèo, tỷ lệ người biết đọc viết có thể ít hơn 70% dân cư.
Hệ thống trường trung học công lập dạy những lớp tùy chọn về nghề nghiệp, ngôn ngữ, và khoa học nhân văn có cấp riêng cho những học sinh giỏi, sinh viên tương lai, và học sinh công nghiệp. Họ nhận học sinh bắt đầu từ khoảng 14–18 tuổi, và chính phủ ngừng đòi hỏi người phải đi học khi đến 16 tuổi. Ở nhiều khu vực trường học, những trường trung học cơ sở có lớp tùy chọn với chương trình tập trung vào cách học, người 11–13 tuổi đi những trường học này. Những trường tiểu học chỉ dạy về cách học, lịch sử, và xã hội, và có trường mẫu giáo tùy chọn nửa ngày bắt đầu từ 5 tuổi. Chính phủ đòi hỏi trẻ em phải đến trường từ 6 tuổi.
Hệ thống các viện đại học nghiên cứu chính của tiểu bang là hệ thống Viện Đại học California (UC), có nhiều nhà nghiên cứu đã đoạt giải Nobel hơn bất cứ cơ sở nào trên thế giới và được coi như một trong những hệ thống viện đại học công lập hàng đầu của Hoa Kỳ. UC có 10 viện đại học thành viên: UC-Berkeley, UC-San Francisco, UC-Los Angeles, UC-San Diego, UC-Davis, UC-Santa Cruz, UC-Santa Barbara, UC-Irvine, UC-Riverside, và UC-Merced. UC-San Franscico chỉ dạy những sinh viên sau đại học ngành y, và Trường Đại học Luật Hastings(Hastings College of Law; một trong những cơ sở trực thuộc hệ thống UC, ngoài 10 thành viên chính, cũng ở San Francisco) là một trong bốn trường luật của UC. Hệ thống UC có mục đích nhận 12,5% của những học sinh cao điểm nhất và thực hiện nghiên cứu sau đại học. UC cũng quản lý một số phòng thí nghiệm liên bang cho Bộ Năng lượng Hoa Kỳ: Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence tại Livermore, Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence tại Berkeley, và Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos.
Hệ thống Viện Đại học California State (CSU) cũng được coi như một trong những hệ thống trường học ưu việt trên thế giới. Hệ thống CSU bao gồm 23 viện đại học:
Đại học Tiểu bang Humboldt
Đại học Tiểu bang Chico
Đại học Tiểu bang Sonoma
Đại học Tiểu bang Sacramento
Đại học Tiểu bang San Francisco
Đại học Tiểu bang California tại Vịnh Đông
Đại học Tiểu bang California tại Bakersfield
Đại học Tiểu bang California tại Quần đảo Eo biển
Đại học Tiểu bang California tại Dominguez Hills
Đại học Tiểu bang California tại Fresno
Đại học Tiểu bang California tại Fullerton
Đại học Tiểu bang California tại Long Beach
Đại học Tiểu bang California tại Los Angeles
Học viện Hàng hải California
Đại học Tiểu bang California tại Vịnh Monterey
Đại học Tiểu bang California tại Northridge
Đại học Bách khoa Tiểu bang California tại Pomona
Đại học Tiểu bang California tại San Bernardino
Đại học Tiểu bang San Diego
Đại học Tiểu bang San Jose
Đại học Bách khoa Tiểu bang California tại San Luis Obispo
Đại học Tiểu bang California tại San Marcos
Đại học Tiểu bang California tại Stanislaus
Với hơn 400.000 sinh viên, hệ thống CSU là hệ thống viện đại học lớn nhất của Hoa Kỳ. Nó có mục đích nhận phần ba học sinh trung học phổ thông cao điểm nhất. Các viện đại học thuộc hệ thống CSU phần nhiều dành cho sinh viên đại học, nhưng nhiều trường lớn trong hệ thống, như là CSU-Long Beach, CSU-Fresno, San Diego State University, và San Jose State University, đang quan tâm thêm về nghiên cứu, nhất là về những ngành khoa học ứng dụng. SCU sắp làm trái với một phần của Sơ đồ Kerr năm 1960 vào năm 2007 khi họ bắt đầu phong học vị tiến sĩ (Ph.D.) về giáo dục. Cán bộ Thư viện Tiểu bang Kevin Star và các người khác đã nói rằng thay đổi nhỏ này là bước đầu tiên để cải tổ hệ thống đại học ở California.
Hệ thống Trường Đại học Cộng đồng California (California Community Colleges) cung cấp những lớp "giáo dục tổng quát", có thể chuyển đơn vị lớp học qua những hệ thống CSU và UC, và cũng cung cấp chương trình dạy nghề, dạy lớp thấp, và học tiếp. Các trường này cấp giấy chứng nhận và bằng cao đẳng (associate's degree). Nó bao gồm 109 trường đại học được tổ chức thành 72 khu vực, dạy hơn 2,9 triệu sinh viên.
Những viện đại học tư thục có tiếng bao gồm Viện Đại học Stanford, Viện Đại học Nam California (USC), Viện Đại học Santa Clara (SCU), Viện Đại học Claremont, và Viện Công nghệ California (Caltech). Caltech cũng quản lý Phòng thí nghiệm Chuyển động Phản lực cho NASA.
California có thêm hàng trăm trường và viện đại học tư thục, bao gồm nhiều học viện tôn giáo và học viện chuyên biệt. Bởi vậy California có nhiều cơ hội đặc biệt về giải trí và giáo dục cho dân cư. Cho thí dụ, miền nam California, một trong những vùng đông đại học nhất trên thế giới, có rất nhiều người hát giỏi mà thi trong đại hội ca đoàn lớn. Gần Los Angeles có nhiều học viện nghệ thuật và điện ảnh, bao gồm Học viện Nghệ thuật California (CalArts).
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Welcome to California – Chính phủ California (tiếng Anh)
Counting California – Thư viện Đại học California (tiếng Anh) |
sveg.txt | Sveg Sveg là thị trấn, thủ phủ của đô thị Härjedalen, hạt Jämtland, Thụy Điển, với dân số 2.633 người thời điểm năm 2005. Tác gia Thụy Điển Henning Mankell lớn lên tại Sveg, và bối cảnh cho cuốn tiểu thuyết tội phạm Danslärarens återkomst (tên tiếng Anh: (The Return of the Dancing Master).
== Tham khảo ==
Bản mẫu:Localities in Härjedalen Municipality |
người khuyết tật.txt | Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày. Theo DDA (Disability Discrimination Act – Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật do Quốc hội Anh ban hành), khi xét về mặt thời gian tác động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài mà ít hơn 12 tháng bình thường không được coi là khuyết tật, trừ phi là bị tái đi tái lại, một số người có khiếm khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ được phục hồi hoàn toàn . Còn Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA - Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống. Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng) . Có sự thống nhất tương đối về định nghĩa thế nào là khuyết tật của hai đạo luật này.
Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap). Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý. Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết. Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ (WHO, 1999). Còn theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế người khuyết tật, người khuyết tật trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác (DPI, 1982). Do vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống.
Theo thống kê năm 2011, Việt Nam có khoảng 6.1 triệu người khuyết tật, tương đương 7.8% dân số.
== Khái niệm ==
=== Khuyết tật và tàn tật ===
Đối với đa số người Việt Nam, khuyết tật và tàn tật là hai từ để chỉ cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trước người ta vẫn dùng song song chúng trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy. Trong các pháp lệnh trước đây của nhà nước Việt Nam, tàn tật là cụm từ được chính thức sử dụng, song theo dự thảo năm 2009, từ khuyết tật nhiều khả năng sẽ được dùng để thay thế từ tàn tật trong các bộ luật. Năm 2010 Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ người khuyết tật thay cho tàn tật trong các bộ luật ban hành có liên quan.
Thông thường từ khuyết tật được cho là mang sắc thái tình cảm, ý nghĩa tốt hơn là từ tàn tật. Người ta cho rằng từ "tàn" trong cụm từ tàn tật gợi đến hình ảnh tiêu cực, tạo cảm giác không còn khả năng gì, không còn tương lai và điều đó ảnh hưởng không tốt đến nỗ lực phấn đấu vượt khó khăn. Từ "khuyết" mang nghĩa suy giảm chức năng nhưng vẫn có khả năng phục hồi, vẫn còn hy vọng. Ngược lại cũng có ý kiến cho rằng đây chỉ là các tên gọi, các nhãn mác cho khái niệm do vậy không cần phải quá câu nệ, cốt yếu là thái độ và hành vi thực tế. Tuy nhiên xu hướng chung được khuyến nghị là sử dụng từ khuyết tật thay cho từ tàn tật. Trong cuộc hội thảo do Văn phòng Điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (NCCD) và Tổ chức Cứu trợ và Phát triển (CRS) thực hiện thì có đến 17 trên tổng số 19 ý kiến cho rằng nên thay cụm từ tàn tật bằng khuyết tật. Ngoài ra bản thân những người có khiếm khuyết cũng muốn mình được gọi bằng cụm từ người khuyết tật hơn.
=== Từ khiếm khuyết cho đến khuyết tật ===
Theo định nghĩa khuyết tật phải đảm bảo cả hai điều kiện là có khiếm khuyết và khiếm khuyết đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống. Nói về khiếm khuyết, đó là vấn đề rất thông thường, và bất kỳ ai cũng đều có thể bị khiếm khuyết trong một giai đoạn nào đấy của cuộc sống. Vậy vấn đề chỉ còn nằm ở chỗ khiếm khuyết đó nghiêm trọng đến mức nào. Tuy nhiên khái niệm nghiêm trọng ở đây không hoàn toàn xác định được một cách đơn nhất, bởi vì nó không chỉ phụ thuộc vào bản thân khiếm khuyết mà còn phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa, khoa học. Nếu một người cận thị khá nặng trong thời đại không có kính trợ giúp thì đó là một vấn đề cực rắc rối và sẽ bị coi là khuyết tật. Một ví dụ khác, chẳng hạn một cô gái có vết sẹo dài ở mặt và trông khó coi (theo quan điểm của xã hội) sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến hạnh phúc của cô trong đó có lòng tự trọng bị tổn thương và khả năng kết hôn theo sự tự lựa chọn thấp. Nhưng rõ ràng là cô gái đó vẫn có sức khỏe thể chất, tâm thần và giác quan bình thường. Như vậy sự khuyết tật của cô do quan niệm của xã hội tạo thành, chính những quan niệm của xã hội và của chính cô đã hạn chế cô tri nhận đầy đủ giá trị cuộc sống. Nếu vết sẹo đó ở vùng bụng vấn đề lại khác hoàn toàn...Những điều trên cho thấy, sự cải tiến của khoa học công nghệ và sự điều chỉnh thái độ đúng đắn khiến nhiều người khuyết tật sẽ đơn giản chỉ là bị khiếm khuyết. Mô hình khuyết tật sẽ giúp hiểu rõ hơn về vấn đề này.
=== Mô hình khuyết tật ===
Có nhiều mô hình khuyết tật, dưới đây chỉ trình bày hai mô hình chính:
- Mô hình y học của khuyết tật: theo đó khuyết tật là tình trạng suy giảm thể chất, tinh thần của một cá nhân ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của cá nhân đó. Như vậy việc chữa trị hoặc kiểm soát khuyết tật đồng nghĩa với việc xác định, tìm hiểu, cũng như tác động lên khuyết tật. Do đó nếu chính phủ, khu vực tư nhân và toàn xã hội đầu tư cho việc chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ có liên quan để chữa trị các khuyết tật về mặt y học sẽ giúp người khuyết tật có một cuộc sống bình thường. Mô hình này nhấn mạnh đến bản chất của chính khuyết tật.
- Mô hình xã hội của khuyết tật: theo đó những rào cản và định kiến của xã hội dù là có chủ ý hay vô ý là những nguyên nhân chính xác định ai là người khuyết tật và ai không là người khuyết tật. Mô hình này cho rằng một số người có những khác biệt về mặt tâm lý, trí tuệ hoặc thể chất (những khác biệt mà đôi khi có thể coi là những khiếm khuyết) so với chuẩn mực chung, nhưng những khác biệt này sẽ không dẫn đến các khó khăn nghiêm trọng trong cuộc sống nếu xã hội có thể giúp đỡ và có suy nghĩ, ứng xử tích cực. Mô hình xã hội nhấn mạnh tới sự bình đẳng và chú trọng đến những thay đổi cần thiết của xã hội.
== Nguyên nhân và các dạng khuyết tật và tỷ lệ ==
Về cơ bản, các mối quan hệ khuyết tật có thể được tạm chia thành các lĩnh vực sau:
Khuyết tật thân thể, tứ chi, khuyết tật vận động
Suy giảm các giác quan: (mù, điếc, khiếm thính, khiếm thị, không nhận được mùi vị)
Khuyết tật về nói (câm, líu lưỡi), đọc (thiểu năng đọc)
Khiếm khuyết về khả năng học hỏi, luyện tập
Khuyết tật tâm lý (tâm thần), bại não
Thiểu năng trí tuệ, tự kỷ
Liên quan đến các nguyên nhân gây ra khuyết tật, có thể phân biệt giữa:
Khuyết tật mắc phải khi phát triển
- Kết quả từ chu kỳ sinh (trong khi sinh)
- Bệnh
- Tổn thất, thương tích, ví dụ: bị bạo hành (bạo lực), tai nạn, chấn thương chiến tranh
- Thông qua lão hóa
Khuyết tật bẩm sinh
- Do di truyền hoặc nhiễm sắc thể
- Tổn thất khi sinh (trong chu kỳ mang thai của người mẹ), bất thường bẩm sinh
=== Tỷ lệ ===
Về tỷ lệ người khuyết tật, các con số đưa ra rất khác nhau và đa dạng, nguyên nhân là vì, có khá nhiều các tổ chức đánh giá, của chính phủ cũng như phi chính phủ...quan trọng hơn các tiêu chí khác nhau đã ảnh hưởng quyết định đến kết quả. Thống kê trên thế giới có khoảng 10% người khuyết tật tương đương với 650 triệu người (khảo sát năm 2007). Ở Việt Nam thiếu sự minh bạch và đồng nhất nên các báo cáo thay đổi từ 5% đến 15%.
Tỷ lệ tương đương của các nước trên thế giới là:
==== Tại Việt Nam ====
Dựa trên Bảng phân loại Quốc tế về chức năng, khuyết tật và sức khỏe (International Classification of Functioning, Disability and Health-ICF) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), từ năm 2006 Tổng cục Thống kê Việt Nam đã tiến hành khảo sát, họ sử dụng một số câu hỏi về khuyết tật theo phương pháp đánh giá chức năng. Mỗi thành viên từ 5 tuổi trở lên của hộ gia đình được phỏng vấn 6 câu hỏi để đánh giá thực hiện các chức năng cơ bản của con người là: nghe, nhìn, vận động, nhận thức, khả năng ghi nhớ/tập trung, tự chăm sóc bản thân, và chức năng giao tiếp. Người trả lời tự đánh giá việc thực hiện các chức năng đó dựa trên 4 mức phân loại sau: (1) Không khó khăn; (2) Khó khăn; (3) Rất khó khăn; và (4) Không thể thực hiện được. Trong tài liệu này, nếu một người có phương án trả lời là (2), (3) hoặc (4) khi thực hiện bất kỳ chức năng nào trong sáu chức năng nói trên sẽ được coi là khuyết tật.
Theo cách phân loại trên, tỷ lệ người khuyết tật chung cả nước Việt Nam vào năm 2006 là 15,3%. Vùng có tỷ lệ khuyết tật cao nhất là Đông Nam Bộ, thấp nhất là Tây Bắc. Tỷ lệ người khuyết tật khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (17,8% so với 14,4%).
Tỷ lệ người khuyết tật nữ cao hơn nam (16,58% so với 13,69%) lý do được đưa ra là nhóm dân số nữ cao tuổi chiếm tỷ trọng cao hơn nhiều so với nhóm dân số cao tuổi là nam giới.
== Khó khăn và ảnh hưởng ==
Người khuyết gặp khó khăn về nhiều mặt trong đó có học tập, việc làm, hôn nhân, kỳ thị...Những khó khăn đó tác động qua lại lẫn nhau, là nguyên nhân và kết quả của nhau do vậy chúng tạo thành một vòng luẩn quẩn. Sự giúp đỡ lớn về vật chất không phải ai cũng làm được nhưng về tinh thần thì khác - chúng ta giúp được rất nhiều chỉ cần sự thành tâm mà thôi. Cản trở lớn nhất với người khuyết tật là kỳ thị, nó là rào cản vô hình nhưng tàn nhẫn đẩy nhiều người ra bên lề của cuộc sống. Và kỳ thị không phải là vấn đề thuộc vật chất, của khoa học kỹ thuật - nó là vấn đề thuộc tâm lý, và sự ý thức sâu xa giá trị sống của con người - mà không phải là lòng thương hại - nhưng là lòng cảm thông thực sự sẽ chỉ hướng cho hành động đúng đắn của chúng ta. Dưới đây trình bày cụ thể những bất lợi chung của người khuyết tật.
=== Học tập ===
Với sự giới hạn của mình, đặc biệt là ở người khuyết tật về trí tuệ hoặc cơ quan thu nhận cảm giác (khiếm thính, khiếm thị) khả năng tiếp thu tri thức là khá khó khăn, khuyết tật vận động thì bị ảnh hưởng ít hơn. Người khuyết tật cần một hình thức giáo dục đặc biệt phù hợp với đặc điểm khiếm khuyết của mình - điều này đôi khi yêu cầu đầu tư về cơ sở vật chất nhiều hơn so với giáo dục thông thường, do đó nếu sự hỗ trợ từ phía chính quyền, cơ quan giáo dục và bản thân gia đình không tốt, việc duy trì học tập tiếp lên cao hầu như là bất khả thi.
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc 90% trẻ em khuyết tật ở các nước đang phát triển không được đưa đến trường. Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc thì cho biết 30% số thanh niên đường phố là trẻ khuyết tật. Về trình độ học vấn nghiên cứu của Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) thực hiện năm 1998 tỉ lệ biết đọc, biết viết ở người trưởng thành bị khuyết tật trên toàn cầu là dưới 3%, ở phụ nữ khuyết tật chỉ 1%. Ở những nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), sinh viên khuyết tật có trình độ cao vẫn chưa nhiều mặc dù con số này đang có xu hướng tăng.
Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam, trình độ học vấn của người khuyết tật ở Việt Nam rất thấp. 41% số người khuyết tật chỉ biết đọc biết viết; 19,5% học hết cấp một; 2,75% có trình độ trung học chuyên nghiệp hay chứng chỉ học nghề, và ít hơn 0.1% có bằng đại học hoặc cao đẳng. Nhìn chung, chỉ có khoảng 3% được đào tạo nghề chuyên môn, và chỉ hơn 4% người có việc làm ổn định. Hiện có hơn 40% người khuyết tật sống dưới chuẩn nghèo (Bộ LĐTBXH, 2005).
=== Việc làm ===
Khó khăn trong học tập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xin việc, trình độ học vấn chung của người khuyết tật thấp hơn tương đối so với cộng đồng. Ngoài ra một số công việc có những yêu cầu mà người khuyết tật khó thực hiện tốt được, điều này có thể được giảm thiểu bằng cách tránh những việc liên quan đến hạn chế của mình, chẳng hạn khuyết tật ở chân thì không nên tìm những việc phải đi lại quá nhiều. Một số khác thì yêu cầu ngoại hình và sức khỏe tốt, đây cũng là những công việc mà họ khó có thể tiếp cận.
Theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO-International Labour Organization) có khoảng 386 triệu người trên thế giới trong độ tuổi lao động bị khuyết tật. Tỷ lệ thất nghiệp của người khuyết tật ở một số quốc gia lên đến hơn 80%. Thông thường người sử dụng lao động cho rằng người khuyết tật không thể làm việc.
Năm 2004, cuộc điều tra ở Hoa Kỳ cho thấy chỉ có 35% người khuyết tật trong độ tuổi lao động đang có việc làm (mặc dù con số này cũng đã khá tốt so với các nước khác), trong khi đó 78% người không khuyết tật trong độ tuổi lao động có việc làm. Hai phần ba trong số người khuyết tật thất nghiệp nói rằng họ muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc.
Nghiên cứu của Đại học Rutgers năm 2003 cho biết 1/3 số người sử dụng lao động được khảo sát cho rằng, người khuyết tật có thể không có hiệu quả thực hiện công việc theo yêu cầu nhiệm vụ. Thứ hai, lý do phổ biến nhất cho việc không thuê người khuyết tật là sự sợ hãi phải đầu tư các thiết bị tốn kém.
=== Hôn nhân ===
Người khuyết tật khó lập gia đình hơn người bình thường, điều này có nhiều nguyên nhân. Theo nguyên lý chung thì con người có xu hướng lựa chọn bạn đời có bộ gien tốt, do vậy người khuyết tật thường bị cho là lựa chọn "dưới tiêu chuẩn", bằng chứng là 17% người được hỏi ở Thái Bình, 16% ở Quảng Nam - Đà Nẵng và 25% ở Đồng Nai còn có ý nghĩ rằng người khuyết tật chỉ nên kết hôn với người khuyết tật - một quan điểm thể hiện sự phân biệt đối xử hết sức rõ ràng. Thứ nữa nếu một người lành lặn yêu người khuyết tật, gia đình - đặc biệt là bố mẹ của người không khuyết tật thường phản đối vì họ sợ rằng nếu lấy con họ sẽ khổ. Ngoài ra là những lo sợ về di truyền, khả năng chăm sóc con cái yếu kém và khó khăn sau này do bệnh nặng thêm, kinh tế khó khăn, xấu hổ với xã hội... Người khuyết tật cũng thường có mặc cảm mình làm khổ người yêu với suy nghĩ sai lầm kiểu như: Đáng ra anh (cô) ấy sẽ hạnh phúc hơn nếu yêu và lấy người lành lặn. Dư luận xã hội nói chung có cách nhìn phiến diện, dư luận cho rằng sẽ là đôi đũa lệch nếu như một cô gái khỏe mạnh lấy một chàng trai khuyết tật (hoặc ngược lại) và nghĩ rằng họ đến với nhau vì một lý do khác chứ không phải tình yêu. Sự thực thì đúng là có những khó khăn nhất định nhưng hạnh phúc gia đình không chỉ phụ thuộc duy nhất vào việc người nào đó có khuyết tật hay không.
Sự kỳ thị thậm chí được thể hiện cả trong giới tính, và như thường lệ, phụ nữ vẫn là người chịu thiệt thòi nhiều hơn - cùng bị khuyết tật nhưng nam giới có khả năng lập gia đình cao hơn nữ giới nhiều, theo một báo cáo của Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) thực hiện thì có đến 70% người khuyết tật nam 15 tuổi trở lên ở Thái Bình kết hôn, trong khi tỷ lệ này ở nữ chỉ khoảng 20%, tính ra mức chênh lệch là hơn 3 lần. Tại Quảng Nam, Đà Nẵng cũng có mức chênh lệch về tỷ lệ người khuyết tật không kết hôn khá lớn (59% là nữ, 33% là nam); Đồng Nai (nữ 66%, nam 51%). Khoảng một nửa số người khuyết tật ở Thái Bình và Đồng Nai được hỏi cho rằng, họ không thể kết hôn được là do sức khỏe. Còn lại là do cộng đồng không thông cảm với tình trạng khuyết tật của họ (32 – 50%); gia đình không ủng hộ (8,2 – 21,4%). Cuộc khảo sát những người đã kết hôn ở Thái Bình còn cho thấy có đến 38% cho rằng khó đảm bảo được điều kiện sống cho gia đình; 30% cảm thấy nuôi con rất vất vả và 10% sinh con bị dị tật bẩm sinh; 8% không hài lòng với đời sống tình dục và 5% thiếu sự thông cảm và khuyến khích từ vợ hoặc chồng. Điều tra cũng cho biết thêm rằng nhóm người khuyết tật do chất độc màu da cam và bẩm sinh khó kết hôn hơn nhiều nhóm khuyết tật vì các nguyên nhân khác.
=== Tâm lý ===
Tâm lý của khá đông người khuyết tật là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người bình thường khác. Ở những người mà khuyết tật nhìn thấy được - chẳng hạn như khuyết chi - họ có các biểu hiện tâm lý giống như mặc cảm ngoại hình (Body Dysmorphic Disorder), tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể đến nỗi gây khổ đau lớn - mặc dù vậy trong tâm lý học, mặc cảm ngoại hình không được chẩn đoán cho người có khiếm khuyết cơ thể nghiêm trọng, rối loạn tâm lý này chỉ hướng tới những người có khiếm khuyết nhỏ nhưng lại cứ cường điệu chúng lên. Tiếp đến một ảnh hưởng khác cần xét đến là ám ảnh sợ xã hội một kiểu trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng như giao lưu gặp gỡ ở chỗ đông người. Tuy nhiên điều này không phải luôn luôn đúng, người ta nhận thấy ở nhiều người khuyết tật nỗ lực tồn tại và phát triển đặc biệt cao.
=== Kỳ thị/Phân biệt đối xử ===
Kỳ thị là vấn đề thường xảy ra với nhóm thiểu số và mang một số đặc điểm bị cho là bất lợi. Người ta bắt gặp thái độ đó với nhóm người mắc HIV, những người đồng tính luyến ái, tội nhân sau khi ra tù... Người khuyết tật cũng không tránh khỏi và điều đó càng làm họ khó khăn hơn để có được cuộc sống bình thường.
Nghiên cứu của Erving Goffman (1963) đã miêu tả ba loại kỳ thị (Discrimination):(1) "sự ghê sợ về cơ thể" tức là những kỳ thị liên quan đến những biến dạng thể chất; (2) "nhược điểm về tính cách của một cá nhân" chẳng hạn như một người bị coi là thiếu ý chí nếu có những đam mê không bình thường hoặc không trung thực; (3) "kỳ thị bộ lạc", tức là kỳ thị về sắc tộc, quốc tịch hoặc tôn giáo hoặc là việc tham gia một tổ chức xã hội bị khinh miệt. Công trình sau đó của Parker và Aggleton (2003) đã coi kỳ thị là một quá trình xã hội, sản sinh và tái sản sinh ra những mối quan hệ về quyền lực và sự kiểm soát. Họ cũng nghiên cứu kỳ thị được sử dụng như thế nào để biến sự khác biệt thành sự bất bình đẳng, giúp một số nhóm người hạ thấp giá trị của những nhóm khác dựa trên những thuộc tính "khác biệt" (Ogden và Nyblade, 2005). Theo đó tình trạng khuyết tật có thể dẫn đến kỳ thị loại thứ nhất (sự ghê sợ về biến dạng cơ thể), tuy nhiên, một số dạng khuyết tật cũng có thể dẫn đến kỳ thị loại thứ hai.
Năm 2007 được sự tài trợ của Quỹ Ford, Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội (ISDS) đã tiến hành khảo sát 4 tỉnh thành ở Việt Nam và đưa ra một vài con số thống kê sau đây về quan điểm của cộng đồng về người khuyết tật - qua đó cho thấy sự phân biệt đối xử là lớn như thế nào, các con số biến thiên do sự khác biệt giữa các tỉnh:
Phân biệt đối xử bởi chính gia đình mình (dựa trên việc đặt câu hỏi với những người quen biết người khuyết tật - lý do là người trong gia đình sẽ không nói thật về hành vi phân biệt đối xử của chính họ):
Coi thường người khuyết tật (16%);
Coi là gánh nặng suốt cuộc đời (40%);
Coi là vô dụng (20,7%);
Thường xuyên lăng mạ (14,2%);
Bỏ mặc không chăm sóc (8,5%);
Bỏ rơi (7,1%);
Không cho ăn (4,3%);
Khóa/xích trong nhà (10,2%);
Bắt đi ăn xin (1,5%).
=== Bạo lực ===
Theo một nghiên cứu của nước Anh, người khuyết tật có nhiều khả năng là nạn nhân của bạo hành hoặc hãm hiếp, và ít có khả năng hơn được cảnh sát can thiệp, bảo vệ pháp lý hoặc chăm sóc phòng ngừa. Nghiên cứu khác cho thấy rằng bạo hành đối với trẻ em khuyết tật xảy ra hàng năm cao hơn ít nhất là 1,7 lần so với những trẻ có cùng vị thế nhưng không khuyết tật. Phụ nữ và các trẻ gái khuyết tật đặc biệt dễ bị tổn thương, lạm dụng. Một cuộc khảo sát nhỏ trong năm 2004 tại Orissa, Ấn Độ, cho thấy rằng hầu như tất cả phụ nữ và các trẻ gái khuyết tật từng bị đánh ở nhà, 25% phụ nữ khuyết tật trí tuệ bị hiếp dâm và 6% bị buộc làm mất khả năng sinh đẻ bằng vũ lực. Như vậy người khuyết tật nói chung dễ trở thành đối tượng của bạo lực hơn, cả về mặt thể xác lẫn tinh thần.
== Ảnh hưởng của chiến tranh ==
Các cuộc chiến đã tạo ra nhiều thương binh và nạn nhân. Tùy từng quốc gia có những chính sách đặc biệt để giúp đỡ những người này. Trong thời bình theo thời gian tỷ lệ người khuyết tật do chiến tranh sẽ giảm dần thay vào đó tỷ lệ do tai nạn giao thông, sinh hoạt và trong lúc lao động sẽ tăng lên.
=== Ảnh hưởng chiến tranh đến người khuyết tật Việt Nam ===
Việt Nam trải qua hai cuộc chiến tranh có quy mô tàn phá khủng khiếp. Những khuyết tật của cựu binh và dân thường có hậu quả trực tiếp từ bom đạn hoặc các hành vi tra tấn và tù hãm. Khuyết tật chân tay (khuyết chi) là những dạng phổ biến. Về rối loạn tâm lý thì rối loạn stress sau sang chấn – một dạng ám ảnh, sợ hãi về quá khứ đau thương, có thể xảy ra với mức độ nặng nhẹ khác nhau tùy theo độ thảm khốc của sang chấn.
Việc sử dụng khoảng 76,9 triệu lít thuốc diệt cỏ có chứa chất độc dioxin trong giai đoạn từ năm 1962-1971 mà quân đội Mỹ rải xuống miền Trung và miền Nam Việt Nam với mục đích ban đầu chỉ là làm rụng lá cây rừng để quân đội du kích Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam không còn nơi ẩn nấp đã để lại hậu quả nghiêm trọng. Các khuyết tật ở những đứa trẻ mới sinh từ cha, mẹ từng bị phơi nhiễm được nhiều người cho là có nguyên nhân trực tiếp từ nhiễm độc dioxin và theo đó có thể có từ 2,1 đến 4,8 triệu người bị phơi nhiễm trực tiếp với dioxin trong khoảng thời gian trên. Vào tháng 5/2007, Quốc hội Hoa Kỳ đã phân bổ khoản ngân sách 3 triệu USD nhằm khắc phục ảnh hưởng của chất độc da cam và môi trường tại một số điểm nóng nhất và năm 2009 tăng lên 6 triệu USD . Các nạn nhân của thứ hóa chất độc hại này đã thực hiện vụ kiện hậu quả chất độc màu da cam trong Chiến tranh Việt Nam nhằm đòi các công ty hóa chất sản xuất phải bồi thường thiệt hại, nhưng đã bị tòa án Hoa Kỳ bác đơn vì cho rằng đơn kiện không chứng minh được bằng chứng khoa học về mối liên hệ giữa các khuyết tật và thuốc diệt cỏ, và số lượng nạn nhân thật sự.
Để giảm thiểu gánh nặng, Chính phủ Việt Nam có các chính sách hỗ trợ cho thương binh và nạn nhân chiến tranh trong đó có hỗ trợ kinh tế bằng cách trợ cấp lương hàng tháng, xây nhà tình nghĩa hay giảm học phí, ưu tiên cho những người là con cái của thương binh. Tuy nhiên vẫn có những lời phàn nàn rằng các hỗ trợ này là không tương xứng và đôi khi tỏ ra quá chậm trễ.
=== Phát xít Đức và cuộc thảm sát người khuyết tật ===
Đức quốc xã không chỉ là thảm họa đối với người Do Thái, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa toàn trị và lòng ham muốn tạo ra một dân tộc thượng đẳng đã đưa đẩy họ đến những tư tưởng và hành vi được xếp vào loại khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người. Đức Quốc xã nắm lấy ý tưởng từ học thuyết chọn lọc tự nhiên của Charles Darwin, đặc biệt là ý tưởng về sự sống sót của cá thể có khả năng thích nghi nhất trong vương quốc của loài vật để đem áp dụng máy móc vào xã hội loài người. Theo đó thì họ cho rằng việc để những người khuyết tật sống và sinh con làm cản trở tốc độ của quá trình tiến bộ, tiếp tục duy trì sự yếu kém của chủng tộc, hay nói cách khác tiêu diệt người khuyết tật sẽ giúp loài người mau đạt được cuộc sống sung túc hơn.
Hành động T4 (Action T4) là tên của kế hoạch do Karl Brandt- bác sĩ riêng của Adolf Hitler cầm đầu nhằm loại bỏ người khuyết tật về thể chất cũng như tinh thần (trong đó có bệnh nhân tâm thần, người thiểu năng trí tuệ, người đồng tính luyến ái - cần lưu ý rằng ở thời điểm đó đồng tính luyến ái vẫn bị coi là bệnh và là một bất thường thuộc tâm lý...). Trong chương trình này, các nạn nhân bị giết bằng cách tiêm thuốc độc hoặc bằng phun hơi ngạt carbon monoxide. Theo ước tính có khoảng 275 ngàn người khuyết tật đã bị giết chết.
== Người khuyết tật ở các quốc gia ==
=== Việt Nam ===
Pháp lệnh về người tàn tật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam định nghĩa người tàn tật như sau: "không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật, người tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tàn tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn. Thống kê của Chính phủ Việt Nam năm 2003 cho thấy có trên 5 triệu người khuyết tật, chiếm 6,3% tổng dân số. Theo giới tính thì, 63,5% người khuyết tật là nam giới và chỉ có 36,5% là nữ, các con số thống kê khác mới hơn ở 4 tỉnh Thái Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và Đồng Nai cho kết quả tương tự trong đó nam giới vẫn chiếm nhiều hơn với con số xoay quanh khoảng 60%.
Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội (MOLISA) được giao trách nhiệm giải quyết các vấn đề về người khuyết tật, đồng thời có trách nhiệm điều phối việc thực hiện pháp luật liên quan đến vấn đề người khuyết tật. Các Bộ ngành khác có liên quan gồm:
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ Y tế
Bộ Xây dựng
UBND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã là những đơn vị thực hiện trực tiếp các chính sách liên quan đến vấn đề người khuyết tật.
Chính phủ Việt Nam đã thông qua và thực thi nhiều luật, chính sách, quy định và sáng kiến liên quan đến người khuyết tật, kể cả quyền tiếp cận việc làm bền vững và hiệu quả, trong đó phải kể đến những văn bản chủ yếu sau:
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 1992 và sửa đổi năm 2001. Việc bảo vệ người khuyết tật được nêu tại Điều 59 và 67.
Pháp lệnh Người Khuyết tật (1998). Điều 9 nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử hoặc ngược đãi người khuyết tật.
Bộ Luật Lao động (năm1994). Phần III của Bộ Luật quy định về việc làm cho người khuyết tật tại cơ quan và doanh nghiệp. Điều 123 nêu chỉ tiêu 2% đến 3% lực lượng lao động trong doanh nghiệp phải là người khuyết tật.
Luật Đào tạo Nghề (năm 2006)
Bộ Quy chuẩn và Tiêu chuẩn về tiếp cận đối với người khuyết tật (2002), đưa ra những tiêu chuẩn tiếp cận cấp quốc gia.
Ban Điều phối Quốc gia về Vấn đề Người khuyết tật (2001).
Đề án Trợ giúp Người Khuyết tật của Chính phủ giai đoạn 2006-2010. Được phê duyệt tháng 10 năm 2006. Đề án đưa ra phương pháp tiếp cận toàn diện đối với vấn đề người khuyết tật với việc mở rộng đối tượng tham gia đề án và có sự tham gia của nhiều bộ ngành liên quan.
Giáo dục hòa nhập tầm nhìn tới năm 2015. Chính phủ đặt mục tiêu thực hiện giáo dục hòa nhập cho tất cả trẻ em khuyết tật vào năm 2015.
Luật Người Khuyết tật mới đang được dự thảo (từ tháng 5 năm 2009) và dự tính được Quốc hội thông qua vào năm 2010.
Việt Nam vẫn được sự trợ giúp của quốc tế để hỗ trợ người khuyết tật, như trong năm 2008, Hoa Kỳ đã tài trợ hơn 2,6 triệu USD mở rộng hai dự án trợ giúp người khuyết tật tại Việt Nam .
== Sự giúp đỡ ==
Máy móc hỗ trợ cho người khuyết tật rất nhiều, trên tất cả các phương diện từ khuyết tật vận động cho đến trí tuệ hay cảm giác.
Vận động: Chân tay giả thường được thiết kế khi khả năng vận động vẫn tương đối tốt, ngày nay các chất liệu cũng như phần cơ khí của các bộ phận giả đó rất tiến bộ, tuy nhiên giá thành lại cao, không phù hợp với phần đông thu nhập của người Việt. Với những người bị nặng ở chân, xe lăn là phương tiện hỗ trợ hữu hiệu, thông thường sự di chuyển của xe lăn được thực hiện bằng tay, đối với những người tay rất yếu họ được thiết kế những chiếc xe lăn chuyên dụng chạy bằng điện chỉ phải điều khiển bằng nút bấm.
Cơ quan thu nhận cảm giác: người nghe kém có các máy trợ thính điện tử nhỏ gọn với khả năng phóng đại cũng như lọc âm tốt. Người suy giảm thị lực ở mức độ vừa phải nhận được sự hỗ trợ từ kính mắt, một phương tiện có giá thành bình dân. Ở những người bị nặng mà các phương tiện quang học không còn có khả năng giúp ích nữa thì chữ nổi, băng ghi âm và đặc biệt là các máy đọc tự động sẽ xuất hiện. Máy đọc tự động sản phẩm của công nghệ tổng hợp giọng nói sẽ tự động đọc các văn bản thành tiếng, tuy nhiên để giống được người nói còn là một chặng đường dài. Các ứng dụng thuộc chuyên ngành xử lý ngôn ngữ tự nhiên có khả năng to lớn giúp ích cho những người có khiếm khuyết liên quan đến ngôn ngữ - một công cụ nhận thức và giao tiếp cơ bản.
=== Dụng cụ đặc chế ===
Có nhiều dụng cụ và phương tiện được đặc chế để hỗ trợ người khuyết tật trong sinh hoạt hằng ngày, như xe lăn, sách báo với hệ thống các dấu chấm nổi Braille...
=== Một số phần mềm hỗ trợ ===
Thí dụ như phần mềm đọc tự động trên máy tính hoặc các thiết bị cầm tay để giúp người khiếm thị. Ngoài ra phải kể đến các chương trình như từ điển, sách nói, trình duyệt web...Hệ điều hành Windows XP cũng có những thiết lập để tạo thuận lợi cho người khuyết tật, để thực hiện các thiết lập đó có thể vào mục Accessibility Options có biểu tượng người ngồi xe lăn màu xanh lá cây trong Control Panel. Cụ thể làm như sau: chọn Start – Settings – Control Panel, nháy đúp vào Accessibility Options. Trong hộp thoại, sẽ thấy 5 thẻ tương ứng với 5 chức năng: Keyboard, Sound, Display, Mouse, General. Những hỗ trợ này chủ yếu tập trung vào người khiếm thị, khiếm thính và những người khó thao tác bình thường với bàn phím do dị tật nào đó ở tay.
=== Nâng cao khả năng tiếp cận và hòa nhập cộng đồng ===
Nâng cao khả năng tiếp cận là tạo những điều kiện cho người khuyết tật (thường là khuyết tật vận động) có thể sử dụng được những công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác, để giúp họ không bị cô lập và có thể hòa nhập lại với cộng đồng. Cụ thể là những thiết kế kiến trúc được xây dựng trong một cách mà chúng có thể được dùng bởi những người khuyết tật và những người lớn tuổi trong cùng một cách như những người không khuyết tật (bình thường). Ở Mỹ, theo như Đạo luật người khuyết tật Mỹ năm 1990, những công trình xây dựng mới, cả công cộng và tư nhân đều phải tiếp cận được. Ở Úc, Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật 1992 có nhiều điều khoản dành cho sự tiếp cận.
Rộng ra, qua những chiến dịch thông tin, cộng đồng người bình thường cũng nhận biết, thông cảm hơn và biết cách cư xử phù hợp với người khuyết tật, phá bỏ những rào cản và định kiến của xã hội.
Gần đây, Việt Nam cũng bắt đầu chú ý vấn đề này. Theo Bộ Luật Người khuyết tật Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 định nghĩa: "Tiếp cận là việc người khuyết tật sử dụng được công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp để có thể hòa nhập cộng đồng. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Năng lực Người khuyết tật tại Việt Nam đã có Dự án Bản đồ tiếp cận cho Người khuyết tật để tăng sự hoà nhập của Người khuyết tật với cộng đồng và nâng cao nhận thức của cộng đồng về nhu cầu hoà nhập chính đáng của Người khuyết tật trong sự tiếp cận các công trình dân dụng và công trình công cộng. Được sự tài trợ của Tổ chức Nippon Foudation, "Trung tâm sống độc lập" đã giúp một số người khuyết tật không bị cô lập mà được trở lại tham gia những sinh hoạt cộng đồng, có thể sống hoà nhập, có khả năng độc lập tự chủ, cũng như nhận được thông cảm của người bình thường.
== Khuyết tật, luật pháp và văn hóa ==
=== Ngày của người khuyết tật ===
Ngày quốc tế người khuyết tật: Ngày 3 tháng 12 (được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc lựa chọn)
Ngày người khuyết tật Việt Nam: Ngày 18 tháng 4
Sinh hoạt đặc biệt cho người khuyết tật: Có nhiều sinh hoạt đặc biệt chỉ dành riêng cho người khuyết tật để giúp họ hòa nhập vào đời sống như Thế Vận Hội Cho Người Khuyết Tật (Paralympic).
=== Công ước LHQ về quyền của người khuyết tật ===
Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật là hiệp ước quốc tế xác định các quyền của người khuyết tật và nghĩa vụ của các quốc gia tham gia. Mặc dù không thiết lập các nhân quyền mới nhưng đây là công ước quốc tế về nhân quyền đầu tiên của thế kỷ 21, đồng thời cũng là công cụ luật pháp đầu tiên bảo vệ toàn diện quyền của người khuyết tật.
Ngày 13 Tháng 12 năm 2006, Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật, đến nay (thời điểm của bài báo là năm 2008) đã có khoảng 200 quốc gia tham gia ký kết. Việt Nam là thành viên thứ 118 tham gia ký Công ước vào tháng 10/2007. Ngày 30/7/2009, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York, đại diện Chính phủ Mỹ cũng đã ký công ước này. Đây là công ước quốc tế về nhân quyền đầu tiên mà Mỹ đã ký trong gần một thập kỷ qua.
Ông John Hendra - Điều Phối viên thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam đã có nhận xét như sau về công ước:
Được xây dựng dựa trên khuôn khổ Tuyên ngôn nhân quyền, Công ước về quyền của người khuyết tật đã có hiệu lực từ ngày 3 tháng 5 năm 2008 và lần đầu tiên, Công ước này đã thiết lập quyền của 650 triệu người khuyết tật trên toàn thế giới. Đây là hiệp ước đầu tiên mang lại vị thế và quyền hợp pháp nhìn nhận tình trạng khuyết tật như là một vấn đề về quyền con người. Công ước này còn có ý nghĩa đặc biệt khi thay đổi cách nhìn đối với tình trạng khuyết tật là một vấn đề xã hội chứ không phải là vấn đề y tế, và xác lập sự dịch chuyển từ phương thức tiếp cận theo hướng nhân đạo sang hướng nhân quyền.
== Quan điểm của tôn giáo về người khuyết tật ==
=== Phật giáo ===
Phật giáo nói chung cho rằng người khuyết tật khó tiếp thu giáo lý hơn bình thường, điều này không có gì khó hiểu, nó cũng tương tự như việc khó khăn trong học tập. Về lý do đưa đến khuyết tật, thì theo Phật giáo đó là do kết quả của nghiệp báo, tức là tạo thiện nghiệp thì được quả thiện, mà ác nghiệp thì được quả ác. Nhưng điều đó không có nghĩa là có một linh hồn bất biến nhập vào các thân xác trong từng kiếp sống để chịu khổ đau hay hạnh phúc, tôn giáo này phủ nhận sự tồn tại thường hằng và có ngã tính của bất cứ hiện tượng nào thuộc cuộc sống. Phật giáo nguyên thủy không cho người khuyết tật quá nặng vào tăng đoàn, lý do không phải bởi sự kỳ thị mà là vì khi Đức Phật còn tại thế, nhiều người do khuyết tật nên khả năng tự nuôi sống rất khó khăn dẫn đến tâm lý mượn danh Tăng ni để được cúng dường, nhận lương thực thực phẩm do người khác cung cấp, trong khi đó đi tu mục đích tối thượng là để cầu giải thoát. Về khả năng tu chứng để đạt Niết bàn, Phật giáo cho rằng bất cứ người nào dù nam hay nữ, dù lành lặn hay khuyết tật đều có thể thành công bởi theo giáo lý tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Ẩn ý này còn được thể hiện qua câu nói sau đây của Thích-ca Mâu-ni: Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành.
Tùy theo trường phái Phật giáo và địa phương, nhưng câu chuyện thực tế sau đây giữa người đàn bà mù và Thiền sư người Nhật Bản Bankei (Bàn Khuê Vĩnh Trác) có thể làm sáng rõ hơn ý tưởng nói trên:
Một người đàn bà mù hỏi: Con nghe nói người nào thân thể không lành lặn không thành Phật được. Thầy cũng thấy con bị mù, cả đến hình tượng Phật con cũng chưa được lễ bái. Con nghĩ mình sinh làm người không ích lợi gì cả, có lẽ khi chết con sẽ rơi vào cõi xấu. Có cách gì cho người mù cũng tu thành Phật được, xin ngài chỉ giáo cho con. Sư đáp: Người ta có nói như thế thực, nhưng trong cái Bất sinh mà tôi nói, thì không có phân biệt giữa lành lặn và khuyết tật. Dù bà có bị mù, thì tâm Phật vẫn không có gì khác, đừng hoài nghi. Chỉ cần loại trừ tham sân si, nhận chân những gì tôi đã nói, luôn an trú trong Tâm Phật Bất sinh, thì bà sẽ thành Phật ngay đời này.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Luật về người khuyết tật do Quốc hội ban hành
Dự thảo Luật Người khuyết tật trình lên Quốc hội, Cơ quan chủ trì soạn thảo: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
www.pwd.vn Người khuyết tật Việt Nam | Viet Nam People With Disability
www.drdvietnam.org Trung tâm Khuyết tật và Phát triển (DRD)
www.handicapvietnam.org Handicap Việt Nam
www.dphanoi.org.vn Hội người khuyết tật thành phố Hà Nội, Việt nam | Hanoi Disabled People Association, Vietnam
www.ttbtntt.com.vn Trung tâm Bảo trợ -Dạy nghề và Tạo việc làm cho người khuyết tật Thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố |
hoshide akihiko.txt | Hoshide Akihiko (星出 彰彦, sinh 28 tháng 12 năm 1968) là một kỹ sư người Nhật và phi hành gia của JAXA. Ngày 30 tháng 8 năm 2012 Hoshide đã trở thành nhà du hành vũ trụ thứ ba của Nhật Bản bay vào không gian.
== Thông tin cá nhân ==
Hoshide Akihiko sinh năm 1968 tại Setagaya, Tokyo, Nhật Bản, nhưng lớn lên ở New Jersey.
== Giáo dục ==
Ông đã nhận bằng tú tài quốc tế từ trường Cao đẳng Liên hiệp Thế giới Đông Nam Á năm 1987, bằng cử nhân kỹ thuật cơ khí từ Đại học Keio năm 1992 và một bằng Thạc sĩ Khoa học ngành kỹ thuật hàng không vũ trụ của đại học Houston năm 1997.
== Kinh nghiệm ==
Ông đã gia nhập Cơ quan Phát triển Không gia Quốc gia Nhật Bản (NASDA) năm 1992 và làm tại bộ phận phát triển phương tiện phóng H-II trong 2 năm. Từ 1994 đến 1999, ông là kỹ sư phụ tá phi hành gia cho Văn phòng Phi hành gia NASDA, hỗ trợ phát triển chương trình đào tạo phi hành gia. Ông đã hỗ trợ Wakata Kōichi trong lúc Wakata được đào tạo và thực hiện nhiệm vụ trên STS-72.
== Sự nghiệp phi hành gia ==
Tháng 2 năm 1999 Hoshide đã được NASDA (giờ là JAXA) lựa chọn để trở thành một trong ba ứng viên phi hành gia Nhật Bản đến Trạm Không gian Quốc tế (ISS). Ông bắt đầu chương trình Cơ bản Đào tạo Phi hành gia của ISS tháng 4 năm 1999 và nhận chứng chỉ phi hành gia tháng 1 năm 2001. Từ tháng 1 năm 2001, ông đã được đào tạo nâng cao ISS, cũng như hỗ trợ phát triển phần cứng và điều hành mô đun thí nghiệm Nhật Bản Kibō và phương tiện vận chuyển H-II (HTV).
Tháng 5 năm 2004, ông hoàn thành khoá đào tạo kỹ sư phi đội Soyuz TMA tại Trung tâm Huấn luyện Nhà du hành vũ trụ Yuri Gagarin ở thành phố Star, Nga, và sau đó được chuyển đến Trung tâm Không gian Lyndon B. Johnson. Ông đã hoàn thành khóa huấn luyện ứng viên phi hành gia của NASA và được bổ nhiệm vào đội bay STS-124, chuyến thứ 2 trong 3 chuyến bay đưa các bộ phận hợp thành lên Trạm Không gian Quốc tế để hoàn thiện phòng thí nghiệm Kibō của Nhật Bản tháng 5 năm 2008.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo == |
chủ nghĩa tự do xã hội.txt | Chủ nghĩa tự do xã hội (tiếng Anh: Social liberalism) là một ý thức hệ chính trị mà muốn tạo sự quân bình giữa tự do cá nhân và công bằng xã hội. Cũng như chủ nghĩa tự do cổ điển, chủ nghĩa tự do xã hội ưa chuộng một nền kinh tế thị trường và sự mở rộng quyền dân sự và chính trị cũng như các quyền tự do cá nhân, nhưng khác biệt ở chỗ nó tin tưởng vào vai trò chính danh của chính phủ, mà quan tâm tới các vấn đề kinh tế và xã hội như nghèo đói, y tế, và giáo dục. Dưới chủ nghĩa tự do xã hội, một xã hội lành mạnh được xem là hòa đồng với tự do cá nhân. Các chính sách tự do xã hội thường được áp dụng rộng rãi tại phần đông thế giới tư bản, đặc biệt sau thế chiến thứ hai. Các tư tưởng và các đảng phái tự do xã hội thường là các phái đứng giữa (trung tâm) hay trung tả. Từ Tự do Xã hội được dùng để phân biệt với từ Tự do Cổ điển mà đã chi phối những tư tưởng về chính trị và kinh tế trong nhiều thế kỷ cho tới khi chủ nghĩa tự do xã hội phân nhánh ra khỏi nó khoảng thời gian Đại khủng hoảng.
Một phản ứng đối nghịch với chủ nghĩa tự do xã hội vào cuối thế kỷ 20, thường được gọi là chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism), dẫn tới những chính sách kinh tế Chủ nghĩa tiền tệ và giảm sự cung cấp các dịch vụ của chính phủ. Tuy nhiên, phản ứng này không đưa tới kết quả là sự quay trở về với chủ nghĩa tự do cổ điển, khi các chính phủ vẫn tiếp tục cung cấp các dịch vụ xã hội và duy trì kiểm soát về chính sách kinh tế.
== Nguồn gốc ==
=== Vương quốc Anh ===
Vào cuối thế kỷ 19, những nguyên tắc của chủ nghĩa tự do cổ điển bị thử thách khi những phát triển kinh tế đi xuống dốc, gia tăng sự cảm nhận về vấn đề nghèo đói và thất nghiệp trong những thành phố kỹ nghệ tân tiến, và cũng do sự khích động của giới lao động có tổ chức. Phản ứng chính trị chính chống lại những sự thay đổi mang lại bởi việc kỹ nghệ hóa và chủ nghĩa tư bản tự do (laissez-faire capitalism) tới từ phía bảo thủ lo lắng về sự quân bình xã hội, mặc dù chủ nghĩa xã hội sau này trở thành một thế lực quan trọng hơn cho những thay đổi và cải tổ. Một số nhà văn thời Victoria bao gồm cả Charles Dickens, Thomas Carlyle, và Matthew Arnold trở thành những nhà chỉ trích gây nhiều ảnh hưởng về vấn đề bất công xã hội.
John Stuart Mill đã đóng góp một phần lớn về tư tưởng tự do bằng cách phối hợp những yếu tố của chủ nghĩa tự do cổ điển với những cái mà dần dần được biết tới như là chủ nghĩa tự do mới (new liberalism). Những nhà tự do mới cố sửa đổi ngôn ngữ cũ của chủ nghĩa tự do để đối đầu với những tình trạng khó khăn, mà họ tin tưởng là chỉ có thể được giải quyết nếu nhà nước nhân thức được là phải can thiệp vào nhiều hơn và rộng rãi hơn. Một quyền ngang hàng về tự do không thể hình thành chỉ bằng cách bảo đảm các cá nhân không dùng thể lực mà đối đáp lẫn nhau, hay chỉ bằng cách có luật lệ mà đã được thảo luận một phần nào đó và ứng dụng. Nhiều biện pháp tích cực cần phải có để bảo đảm mỗi cá nhân sẽ có cơ hội tương đương để thành công.
Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, một số nhà tư tưởng Anh, được biết tới như các nhà tự do mới, đã chống lại chủ nghĩa tự do cổ điển không kiềm chế và thiên về một chính phủ can thiệp về vấn đề xã hội, kinh tế, và đời sống văn hóa. Các nhà tự do mới, gồm những nhà trí thức như T.H. Green, L.T. Hobhouse, và John A. Hobson, cho là tự do cá nhân chỉ có thể đạt được trong những tình huống xã hội và kinh tế thích hợp. Trong quan điểm của họ, sự nghèo khó, bẩn thỉu và dốt nát, mà nhiều người đang sống, không thể nào làm cho tự do và đặc tính cá nhân phát triển được. Các nhà tự do mới tin tưởng rằng những điều kiện như vậy chỉ có thể được cải thiện bằng những hành động chung được điều hành bởi một nhà nước mạnh, có khuynh hướng phúc lợi.
Chính phủ đảng Tự do của Henry Campbell-Bannerman và H.H. Asquith, đặc biệt nhờ bộ trưởng tài chính và sau này là thủ tướng, David Lloyd George, đã thiết lập một nền móng cho một nhà nước phúc lợi ở Vương quốc Anh trước thế chiến thứ nhất. Nhà nước phúc lợi toàn diện được hình thành ở Anh sau thế chiến thứ hai, mặc dù phần lớn được hoàn thành bởi đảng Lao động Anh, đã được phát họa đáng kể bởi 2 nhà tự do: John Maynard Keynes, mà đặt nền móng kinh tế, và William Beveridge, mà đã phát họa hệ thống phúc lợi.
=== Đức ===
Vào cuối thế kỷ 19 ở Đức, các nhà tự do cánh tả thành lập các công đoàn để giúp đỡ các công nhân cải thiện các điều kiện làm việc và kinh tế. Một số các nhà kinh tế tự do như Lujo Brentano hay Gerhart von Schulze-Gävernitz, thành lập Hội chính sách xã hội 1873 để cổ võ sự cải tổ xã hội. Nhưng những ý tưởng của họ được rất ít các chính trị gia tự do ủng hộ. Những đề tài chính của các đảng tự do cánh tả là tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do mậu dịch, một chính phủ đại diện nhân dân, quyền bỏ phiếu ngang hàng và kín, cũng như việc bảo vệ tư hữu. Họ chống lại việc thành lập một nhà nước phúc lợi mà họ gọi là chủ nghĩa xã hội nhà nước (State Socialism). Sau đó Friedrich Naumann, mà duy trì những liên hệ chặt chẽ với Brentano và Schulze-Gävernitz, đã thành lập Hội xã hội quốc gia, dự định phối hợp chủ nghĩa tự do tư sản với chủ nghĩa xã hội vô sản. Nhóm này kêu gọi, một trong những điều khác, gia tăng những quy định về phúc lợi xã hội, quyền được đình công, và chia sẻ lợi nhuận trong công nghiệp. Mặc dù đảng này không giành được ghế nào trong quốc hội và chẳng bao lâu phải giải tán, những lý thuyết nó phát triển vẫn giữ ảnh hưởng với chủ nghĩa tự do Đức.
Trong khi một số các nhà viết sách mô tả chủ nghĩa tự do Đức là chủ nghĩa tự do xã hội, một số người khác cho là từ này chỉ đúng với chính sách của hội xã hội quốc gia. Các đảng tự do cánh tả chính ở Đức là đảng cấp tiếng Đức (German Progress Party) trong thời kỳ đế quốc Đức và (đảng dân chủ Đức) trong giai đoạn Cộng hòa Weimar. Đảng dân chủ tự do đại diện cho chủ nghĩa tự do trong một nước Đức cấp tiến. Từ tự do cánh tả cho thấy sự khác biệt của những đảng này với những đảng tự do bảo thủ, đặc biệt cánh hữu đảng tự do quốc gia (National Liberal Party), mà liên minh với đảng bảo thủ.
== Tham khảo ==
Tổng quát
Chuyên môn
== Đọc thêm == |
tiếng filipino.txt | Tiếng Filipino là một ngôn ngữ dựa theo tiếng Tagalog và là một trong hai ngôn ngữ chính thức của Philippines, cùng với tiếng Anh. Tagalog là ngôn ngữ mẹ đẻ của một phần ba dân số Philippines. Nhất là xung quanh thủ đô Manila, nhưng hầu như toàn bộ dân Philippines cũng có thể sử dụng ngôn ngữ này.
== Lịch sử ==
Ngày 12 tháng 11 năm 1937, Philippines chấp thuận một đạo luật xây dựng một ngôn ngữ quốc gia, dựa trên việc khảo sát các ngôn ngữ bản địa hiện có, nhằm lựa chọn một trong số đó để sử dụng làm cơ sở cho ngôn ngữ quốc gia của Philippines. Ba ứng cử viên chính là tiếng Tagalog, Tiếng Visayan và Tiếng Ilocano.
Ngày 14 tháng 7 năm 1936, Surián ng Wikáng Pambansâ (Viện Ngôn ngữ Quốc gia) đã lựa chọn tiếng Tagalog là cơ sở của Wikang Pambansâ ("Quốc ngữ") dựa trên các yếu tố sau:
Tagalog được sử dụng rộng rãi và là ngôn ngữ dễ hiểu nhất trong tất cả các khu vực của Philippines;
Ngôn ngữ này không bao gồm các nhánh nhỏ hơn như tiếng Visayan hay tiếng Bikol;
Đây là ngôn ngữ được sử dụng trong sách báo và văn học nhiều hơn bất kỳ ngôn ngữ bản địa nào khác ở Philippines.
Đây là ngôn ngữ ở Manila — thủ đô chính trị và kinh tế của Philippines trong suốt thời kỳ phụ thuộc vào Tây Ban Nha và Hoa Kỳ;
Tagalog là ngôn ngữ của Cách mạng 1896 và cách mạng Katipunan - hai yếu tố rất quan trọng trong lịch sử Philippines
Năm 1959, ngôn ngữ được biết đến như là Pilipino trong một nỗ lực để tách nó ra khỏi người Tagalog.
Sau đó, Hiến pháp 1973 quy định một ngôn ngữ quốc gia riêng biệt để thay thế Pilipino, một ngôn ngữ mà nó có tên là Filipino. Tuy nhiên, Điều XV, mục 3) không đề cập đến việc tiếng Tagalog và Pilipino làm nền tảng cho tiếng Filipino
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói
== Liên kết ngoài == |
bộ tài nguyên và môi trường.txt | Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập trên cơ sở hợp nhất các đơn vị Tổng cục Địa chính, Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn, Cục Môi trường (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường), Tổng cục Địa chất và Khoáng sản và Viện Địa chất và Khoáng sản (Bộ Công nghiệp), và bộ phận quản lý tài nguyên nước thuộc Cục quản lý nước và công trình thuỷ lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn).
== Lịch sử ==
Ngày 5 tháng 8 năm 2002 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ nhất thông qua Nghị quyết số 02/2002/QH11 thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Ngày 11 tháng 11 năm 2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Tháng 12 năm 2002 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo các đơn vị trực thuộc
Ngày 04 tháng 3 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Nghị định này thay thế Nghị định số 91/2002/NĐ-CP.
Ngày 04 tháng 3 năm 2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 21/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, có hiệu lực đến hiện nay .
== Tổ chức ==
Cơ cấu tổ chức theo Nghị định số 21/2013/NĐ-CP .
=== Ban lãnh đạo ===
Bộ trưởng
Trần Hồng Hà: Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương, nhậm chức Bộ trưởng từ ngày 9/4/2016.
Các Thứ trưởng
Võ Tuấn Nhân
Chu Phạm Ngọc Hiển
Nguyễn Linh Ngọc
Nguyễn Thị Phương Hoa
=== Các Tổng cục và Cục ===
==== Tổng cục Quản lý đất đai ====
Theo Quyết định số 134/2008/QĐ-TTg, Tổng cục Quản lý đất đai thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước và thực hiện các dịch vụ công theo quy định của pháp luật.
Với 18 nhiệm vụ và quyền hạn, Tổng cục Quản lý đất đai có trách nhiệm trong việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đăng ký và thống kê đất đai; quản lý về giá đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; phát triển quỹ đất, quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản; lưu trữ và thông tin đất đai và thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai.
Về cơ cấu tổ chức, Tổng cục Quản lý đất đai có 9 đơn vị hành chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước và 5 đơn vị sự nghiệp nhà nước trực thuộc (Trung tâm Lưu trữ và Thông tin đất đai, Trung tâm Điều tra, Đánh giá tài nguyên đất, Viện nghiên cứu quản lý đất đai, Trung tâm Kiểm định sản phẩm chất lượng địa chính, Trung tâm Đào tạo và Truyền thông đất đai, Trung tâm Công nghệ, Dịch vụ và cơ sở dữ liệu đất đai).
Lãnh đạo của Tổng cục Quản lý đất đai có Tổng cục trưởng và không quá 4 Phó Tổng cục trưởng.
Tổng cục trưởng: Lê Thanh Khuyến
Các Phó Tổng cục trưởng: Đào Trung Chính, Lê Văn Lịch.
==== Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam ====
Tổng cục Địa chất và Khoáng sản có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện quản lý nhà nước về khoáng sản, địa chất; tổ chức thực hiện điều tra cơ bản địa chất, điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản, phát hiện mỏ; thăm dò khoáng sản trên phạm vi cả nước. Tổng cục được thành lập tháng 8 năm 2010 theo Nghị định 89/2010/NĐ - CP của Chính phủ trên cơ sở tổ chức bộ máy của Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam.
Tổng cục trưởng: Đỗ Cảnh Dương.
Các Phó Tổng cục trưởng:
Bùi Vĩnh Kiên.
Nguyễn Văn Nguyên
Lại Hồng Thanh
==== Tổng cục Môi trường ====
Theo Quyết định số 132/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định Tổng cục Môi trường thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý nhà nước về môi trường và thực hiện các dịch vụ công theo quy định của pháp luật. Tổng cục Môi trường được thành lập dựa trên 3 đầu mối: Vụ Môi trường, Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường, Cục Bảo vệ môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Tổng cục Môi trường được giao 18 nhiệm vụ và quyền hạn, trong đó có những nhiệm vụ chuyên môn đặc thù như: Kiểm soát ô nhiễm; quản lý chất thải và cải thiện môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học; bảo vệ môi trường lưu vực sông, vùng ven biển; thẩm định và đánh giá tác động môi trường; quan trắc và thông tin môi trường...
Về cơ cấu tổ chức, Tổng cục Môi trường có 12 đơn vị hành chính giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và có 6 đơn vị sự nghiệp trực thuộc (Trung tâm quan trắc môi trường, Viện Khoa học quản lý môi trường, Trung tâm Đào tạo và Truyền thông môi trường, Trung tâm Thông tin và Tư liệu môi trường, Trung tâm Tư vấn và Công nghệ môi trường, Tạp chí Môi trường).
Các đơn vị trực thuộc của Tổng cục Môi trường gồm:
Vụ Tổ chức cán bộ
Vụ Kế hoạch - Tài chính,
Vụ Chính sách và Pháp chế,
Vụ Hợp tác quốc tế và Khoa học, Công nghệ,
Cục thẩm định và đánh giá tác động môi trường,
Cục Kiểm soát ô nhiễm,
Cục Quản lý Chất thải và Cải thiện Môi trường,
Cục Bản tồn đa dạng sinh học,
Cục Kiểm soát hoạt động bảo vệ môi trường,
Cục Môi trường miền Nam
Cục Môi trường miền Trung và Tây nguyên
Trung tâm Quan trắc Môi trường,
Trung tâm Đào tạo và Truyền thông môi trường
Trung tâm Tư vấn và Công nghệ môi trường
Trung tâm Thông tin và Tư liệu môi trường
Tạp chí Môi trường
Viện Khoa học Quản lý Môi trường.
Văn phòng
Lãnh đạo của Tổng cục Môi trường có Tổng cục trưởng và không quá 4 Phó Tổng cục trưởng.
Tổng cục trưởng: TS Nguyễn Văn Tài.
Các Phó Tổng cục trưởng: Nguyễn Thế Đồng, Hoàng Dương Tùng, Hoàng Văn Thức.
==== Tổng cục Biển và Hải đảo ====
Được thành lập năm 2008 căn cứ Quyết định số 116/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Tổng cục trưởng ông Nguyễn Thành Minh
Các Phó Tổng cục trưởng: Phạm Ngọc Sơn, Vũ Sĩ Tuấn
Nhiệm vụ của Tổng cục:
Tham gia xây dựng chiến lược, chính sách về quốc phòng, an ninh, ngoại giao liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền và các quyền tài phán Quốc gia của Việt Nam trên biển và hải đảo;
Tham gia đàm phán về các điều ước, thỏa thuận quốc tế về biển, hải đảo, đại dương và tổ chức thực hiện theo phân công hoặc ủy quyền của Bộ trưởng Bộ TN&MT;
Tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án khảo sát, thăm dò, nghiên cứu khoa học biển, hải đảo và đại dương sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
Tham gia thẩm định các dự án khảo sát, thăm dò tài nguyên dưới đáy biển theo phân công của Bộ trưởng Bộ TN&MT...
Về cơ cấu tổ chức, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam có 6 đơn vị hành chính giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và 5 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục.
Vụ Tổ chức cán bộ
Vụ Kế hoạch tài chính
Vụ Hợp tác quốc tế và KHCN
Vụ Chính sách và Pháp chế
Cục Quản lý khai thác biển và hải đảo
Cục Kiểm soát tài nguyên và Bảo vệ môi trường biển, hải đảo
Cục Quản lý điều tra cơ bản biển và hải đảo
Viện Nghiên cứu biển và hải đảo
Trung tâm Trắc địa bản đồ biển
Trung tâm Hải Văn
Trung tâm Quy hoạch và Quản lý tổng hợp vùng duyên hải khu vực phía Bắ
Trung tâm Quy hoạch và Quản lý tổng hợp vùng duyên hải khu vực phía Nam
Trung tâm Điều tra tài nguyên - môi trường biển
Trung tâm Thông tin, dữ liệu biển và hải đảo
Trung tâm Đào tạo và Truyền thông biển, hải đảo
Tuần lễ biển và hải đảo diễn ra từ ngày 1-8 tháng 6 hàng năm
==== Cục Công nghệ Thông tin ====
Cục Công nghệ thông tin được thành lập theo Nghị định số 25/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Quá trình hình thành, xây dựng và phát triển của Cục Công nghệ thông tin đã trải qua 20 năm, tiền thân là tổ chức Trung tâm thông tin lưu trữ tư liệu địa chính trực thuộc Tổng cục Địa chính thành lập từ năm 1994, đến khi thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường được đổi thành Trung tâm Thông tin trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường từ năm 2003.
Hiện nay trên cơ sở Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04/3/2013 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 1628/QĐ-TNMT ngày 05 tháng 9 năm 2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Công nghệ thông tin, Cục có chức năng quản lý hoạt động ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin, lưu trữ và thông tin tư liệu ngành tài nguyên và môi trường; tổ chức thực hiện việc ứng dụng, phát triển CNTT, lưu trữ thông tin tư liệu và cung cấp các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
Lãnh đạo của Cục Công nghệ thông tin có Cục trưởng và không quá 3 Phó Cục trưởng.
Cục trưởng ông Lê Phú Hà
Các Phó Cục trưởng: Khuất Hoàng Kiên
Cơ cấu bộ máy tổ chức của Cục bao gồm các đơn vị quản lý nhà nước:
- Phòng Kế hoạch – Tài chính;
- Phòng Khoa học, công nghệ và Hợp tác quốc tế,
- Phòng Pháp chế và Quản lý hoạt động công nghệ thông tin,
- Phòng hệ thống thông tin,
- Văn phòng,
- Chi nhánh Cục Công nghệ thông tin tại TP. Hồ Chí Minh;
Các đơn vị sự nghiệp:
- Trung tâm Công nghệ phần mềm và GIS,
- Trung tâm cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin,
- Trung tâm Kiểm định sản phẩm CNTT,
- Trung tâm Lưu trữ và Thông tin tài nguyên môi trường,
- Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ,
- Trung tâm Ứng dụng CNTT phía Nam.
==== Cục Viễn thám quốc gia ====
==== Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam ====
Cục Đo đạc và Bản đồ có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác bản đồ, quản lý và triển khai công tác đo đạc bản đồ thuộc lãnh thổ trên đất liền, trên biển và bầu trời thuộc quyền tài phán của Việt Nam.
Trụ sở Cục hiện ở phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
==== Cục Quản lý Tài nguyên Nước ====
Chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý Tài nguyên Nước được ban hành theo Quyết định số 1686QĐ-BTNMT ngày 5 tháng 9 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.
==== Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu ====
Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi Khí hậu được thành lập theo Quyết định số 1269/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định Cục có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng ô-dôn theo quy định của pháp luật. Về cơ cấu tổ chức: Cục KTTVBĐKH có 8 đơn vị tham mưu và giúp Cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và có 2 đơn vị sự nghiệp trực thuộc. Các đơn vị trực thuộc của Cục KTTVBĐKH gồm:
Phòng Chính sách.
Pháp chế.
Phòng Giám sát phát thải khí nhà kính và Kinh tế Các-bon thấp.
Phòng Hệ thống quan trắc khí tượng thủy văn.
Phòng Thông tin khí tượng thủy văn và Phòng tránh thiên tai.
Phòng Thích ứng biến đổi khí hậu.
Phòng Khoa học - Công nghệ và Hợp tác quốc tế.
Phòng Kế hoạch - Tài chính.
Văn phòng.
Trung tâm Bảo vệ tầng ô-dôn.
Trung tâm Công nghệ ứng phó biến đổi khí hậu.
=== Các vụ ===
Vụ Pháp chế
Vụ Khoa học và Công nghệ
Vụ Hợp tác Quốc tế
Vụ Kế hoạch
Vụ Tài chính
Vụ Tổ chức cán bộ
Vụ Thi đua - Khen thưởng
=== Trung tâm ===
Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia
Trung tâm Quy hoạch tài nguyên nước
== Nhiệm vụ ==
Bộ Tài nguyên và Môi trường được Chính phủ giao nhiệm vụ thường trực Hội đồng Quốc gia về tài nguyên nước, Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản, Ban Chỉ đạo quốc gia về khắc phục hậu quả chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, Ban chỉ đạo Quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường.
== Lãnh đạo Bộ qua các thời kỳ ==
Các Bộ trưởng
Mai Ái Trực (2002–2006)
Phạm Khôi Nguyên (2006–2011)
Nguyễn Minh Quang (2011–2016)
Trần Hồng Hà (2016–nay)
Các Thứ trưởng
Đặng Hùng Võ (2002–2007)
Triệu Văn Bé (2002–2006)
Đỗ Hải Dũng (2002–2007)
Trần Thế Ngọc (2007–2009)
Nguyễn Văn Đức (2008–2013)
Nguyễn Mạnh Hiển (2011–2015)
Bùi Cách Tuyến (2011–2015)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Bộ TN&MT
Cục Công nghệ thông tin
Tổng cục Quản lý đất đai |
trái phiếu.txt | Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy định. Người phát hành có thể là doanh nghiệp (trái phiếu trong trường hợp này được gọi là trái phiếu doanh nghiệp'), một tổ chức chính quyền như Kho bạc nhà nước (trong trường hợp này gọi là trái phiếu kho bạc), chính quyền (trong trường hợp này gọi là công trái hoặc trái phiếu chính phủ). Người mua trái phiếu, hay trái chủ, có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp hoặc chính phủ. Tên của trái chủ có thể được ghi trên trái phiếu (trường hợp này gọi là trái phiếu ghi danh) hoặc không được ghi (trái phiếu vô danh). Trái chủ là người cho nhà phát hành vay và họ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả sử dụng vốn vay của người vay. Nhà phát hành có nghĩa vụ phải thanh toán theo các cam kết nợ được xác định trong hợp đồng vay.
== Đặc điểm cơ bản ==
Sau đây là các đặc điểm cơ bản của trái phiếu:
Chủ thể phát hành trái phiếu không chỉ có Công ty, mà còn có Chính phủ Trung ương và chính quyền địa phương.
Người mua trái phiếu chỉ là người cho chủ thể phát hành vay tiền và là chủ nợ của chủ thể phát hành trái phiếu. Khác với người mua cổ phiếu là người Chủ sở hữu Công ty.
Thu nhập của trái phiếu là tiền lãi, là khoản thu cố định không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty.
Trái phiếu là chứng khoán nợ, vì vậy khi Công ty bị giải thể hoặc phá sản thì trước hết Công ty phải có nghĩa vụ thanh toán cho các Chủ trái phiếu trước, sau đó mới chia cho các Cổ đông.
Với những đặc điểm trên, trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu. Vì vậy, trái phiếu là loại chứng khoán được các nhà đầu tư ưa chuộng.
== Đặc trưng ==
Mệnh giá trái phiếu hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu là giá trị ghi trên trái phiếu. Giá trị này được coi là số vốn gốc. Mệnh giá trái phiếu là căn cứ để xác định số lợi tức tiền vay mà người phát hành phải trả. Mệnh giá cũng thể hiện số tiền người phát hành phải hoàn trả khi trái phiếu đến hạn.
Lãi suất danh nghĩa: Lãi suất trái phiếu thường được ghi trên trái phiếu hoặc người phát hành công bố được gọi là lãi suất danh nghĩa. Lãi suất này được xác định theo tỷ lệ phần trăm so với mệnh giá trái phiếu và cũng là căn cứ để xác định lợi tức trái phiếu.
Thời hạn của trái phiếu là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người phát hành hoàn trả vốn lần cuối. Trái phiếu có thời hạn khác nhau, trái phiếu trung hạn có thời gian từ 1 năm đến 5 năm. Trái phiếu dài hạn, có thời gian từ 5 năm trở lên.
Kỳ trả lãi là khoảng thời gian người phát hành trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu. Lãi suất trái phiếu được xác định theo năm, nhưng việc thanh toán lãi suất trái phiếu thường được mỗi năm hai hoặc một lần.
Giá phát hành là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành. Thông thường giá phát hành được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) của mệnh giá. Tùy theo tình hình của thị trường và của người phát hành để xác định giá phát hành một cách thích hợp. Có thể phân biệt 3 trường hợp: giá phát hành bằng mệnh giá (ngang giá), giá phát hành dưới mệnh giá (giá chiết khấu)và giá phát hành trên mệnh giá (giá gia tăng).
Dù trái phiếu được bán với giá nào (ngang giá, giá chiết khấu hay giá gia tăng), thì lợi tức luôn được xác định theo mệnh giá của trái phiếu và khi đáo hạn, người có trái phiếu sẽ được thanh toán theo mệnh giá của trái phiếu.
== Phân loại Trái phiếu ==
=== Phân loại theo người phát hành ===
Trái phiếu của Chính phủ: Đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, chính phủ phát hành trái phiếu để huy động tiền nhàn rỗi trong dân và các tổ chức kinh tế, xã hội. Chính phủ luôn được coi là Nhà phát hành có uy tín nhất trên thị trường; Vì vậy, Trái phiếu Chính phủ được coi là loại chứng khoán có ít rủi ro nhất.
Trái phiếu của doanh nghiệp là những trái phiếu do doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn phát hành để tăng vốn hoạt động. Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại và rất đa dạng.
Trái phiếu của ngân hàng và các tổ chức tài chính: các tổ chức này có thể phát hành trái phiếu để tăng thêm vốn hoạt động.
=== Phân loại lợi tức trái phiếu ===
Trái phiếu có lãi suất cố định là loại trái phiếu mà lợi tức được xác định theo một tỷ lệ phần trăm (%) cố định tính theo mệnh giá.
Trái phiếu có lãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi) là loại trái phiếu mà lợi tức được trả trong các kỳ có sự khác nhau và được tính theo một lãi suất có sự biến đổi theo một lãi suất tham chiếu.
Trái phiếu có lãi suất bằng không là loại trái phiếu mà người mua không nhận được lãi, nhưng được mua với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) và được hoàn trả bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn.
=== Phân loại theo mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành ===
Trái phiếu bảo đảm là loại trái phiếu mà người phát hành dùng một tài sản có giá trị làm vật đảm bảo cho việc phát hành. Khi nhà phát hành mất khả năng thanh toán, thì trái chủ có quyền thu và bán tài sản đó để thu hồi lại số tiền người phát hành còn nợ. Trái phiếu bảo đảm thường bao gồm một số loại chủ yếu sau:
Trái phiếu có tài sản cầm cố là loại trái phiếu bảo đảm bằng việc người phát hành cầm cố một bất động sản để bảo đảm thanh toán cho trái chủ. Thường giá trị tài sản cầm cố lớn hơn tổng mệnh giá của các trái phiếu phát hành để đảm bảo quyền lợi cho trái chủ.
Trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ là loại trái phiếu được bảo đảm bằng việc người phát hành thường là đem ký quỹ số chứng khoán dễ chuyển nhượng mà mình sở hữu để làm tài sản bảo đảm.
Trái phiếu không bảo đảm là loại trái phiếu phát hành không có tài sản làm vật bảo đảm mà chỉ bảo đảm bằng uy tín của người phát hành.
=== Phân loại dựa vào hình thức trái phiếu ===
Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên của người mua và trong sổ sách của người phát hành. Trái chủ là người được hưởng quyền lợi.
Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu có ghi tên của người mua và trong sổ sách của người phát hành.
=== Phân loại dựa vào tính chất trái phiếu ===
Trái phiếu có thể chuyển đổi là loại trái phiếu của công ty cổ phần mà trái chủ được quyền chuyển sang cổ phiếu của công ty đó. Việc này được quy định cụ thể về thời gian và tỷ lệ khi mua trái phiếu.
Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu là loại trái phiếu có kèm theo phiếu cho phép trái chủ được quyền mua một số lượng nhất định cổ phiếu của công ty.
Trái phiếu có thể mua lại là loại trái phiếu cho phép nhà phát hành được quyền mua lại một phần hay toàn bộ trước khi trái phiếu đến hạn thanh toán.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trái phiếu doanh nghiệp chuyển đổi: Nhiều rủi ro tiềm ẩn, Báo điện tử VNMedia, Cập nhật lúc 10 giờ 47 phút, ngày 27 tháng 02 năm 2010. |
binh chủng nhảy dù.txt | Binh chủng nhảy dù hay lính dù là lực lượng các chiến binh đặc biệt dùng dù nhảy vào các chiến tuyến, thuộc lực lượng lục quân hoặc không quân. Lính dù có khả năng tác chiến đặc biệt vì họ có thể triển khai nhanh, hoặc tiến vào và tác chiến ở những khu vực không thể vào bằng đường bộ hay đường biển. Lính dù được sử dụng trong rất nhiều chiến trường của thế chiến thứ hai.
== Các loại nhảy dù ==
Trong thế chiến thứ hai lính dù đồng minh thường dùng loại dù hình tròn. Loại dù này có bốn dây kéo để điều khiển gắn vào dây nịt trên bụng - ngực của người nhảy. Do đó người nhảy có khả năng điều khiển để rơi vào những nơi gần như ý. Lính dù Đức thì không có thiết bị này nên khó biết mình rơi vào đâu. Vì máy bay của Đức chứa ít người, quân binh chủng dù của Đức thường chỉ nhảy từng toán nhỏ, khoảng trên dưới 20 người.
Nhiều toán lính dù không dùng dù mà dùng tàu lượn, do máy bay khác lớn kéo lên và thả trên không phận quân địch rồi từ từ âm thầm lượn xuống và đáp tại cứ điểm gần nơi tác chiến (thường là vào ban đêm).
Ngày nay, loại dù tròn vẫn còn thông dụng với khả năng điều khiển tốt hơn trước. Tuy nhiên dù thường được cải tiến để tránh việc lính dù điều khiển cho mình rơi quá xa nơi tác chiến.
== Lính dù Đức (thế chiến thứ hai) ==
là tên gọi lính dù Đức Quốc xã trong thời thế chiến thứ hai. (tiếng Đức: Fallschirm: dù; Jäger: thợ săn - từ chỉ khinh binh).
=== Lịch sử ===
Khác với quân đội Hoa Kỳ và Anh Quốc, lính dù Đức không thuộc quyền chỉ huy bộ binh mà là một phần của không quân Đức (Luftwaffe). Khởi đầu cuộc chiến, Đức chỉ có vài tiểu đoàn lính dù, nhưng sau đó phát huy lên thành sư đoàn - gọi là Sư đoàn dù 7. Sư đoàn này dần dần cải tiến để phục vụ nhiều chiến thuật khác nhau của Đức. Thuộc dạng linh động, lính dù được sử dụng như "lính chữa lửa" trên nhiều mặt trận - huy động và tác chiến độc lập (ngoài chỉ huy của các binh chủng khác cùng đang chiến đấu) trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm.
Nửa sau của 1944, vì thay đổi tình hình chiến trường, lính dù Đức không nhảy dù nữa mà xung phong vào bộ binh. Tuy thế họ vẫn giữ uy danh của lính dù. Gần cuối cuộc chiến, quân đội Đức thành lập nhiều đơn vị binh chủng dù nhưng với khả năng tác chiến thua kém các thế hệ trước. Sư đoàn dù 9 là đơn vị sau cùng, và bị đập tan trong trận đánh nội thành Berlin tháng 4 1945.
Hơn 54.449 lính dù tử trận và 8.000 mất tung tích.
=== Hành quân ===
Fallschirmjäger tham chiến nhiều nơi, điển hình là cuộc tiến chiếm pháo đài Eben-Emael, nhảy dù xuống Na Uy trong chiến dịch Weserübung năm 1940, và chống quân Đồng Minh trong vùng Normandy năm 1944. Nhưng lính dù Đức nổi bật nhất trong cuộc tấn công đảo Kríti năm 1941, khi toàn thể sư đoàn dù số 7 tham chiến cùng Sư đoàn đổ bộ 22. Cuộc chiến tại đây đã kết thúc với chiến thắng của các lực lượng không vận Đức, buộc quân đội Khối Thịnh vượng chung Anh phải rút lui khỏi hòn đảo. Tuy nhiên, lãnh tụ Đức Quốc xã (Führer) Adolf Hitler không hài lòng vì số tử trận của lính dù Đức khá cao. Bên đồng minh cũng nhận thấy khuyết điểm của lính dù là tử số khá cao trong những đợt thả dù xuống địa phận bên địch.
Trong hai năm tới, quân dù Đức chiến đấu tại Liên Xô, nơi họ được giao án ngữ những vị trí trọng yếu ở miền Bắc Trung Bộ Nga và chịu nhiều tổn thất. Các lực lượng nhảy dù khác của Đức cũng tham chiến trên mặt trận Bắc Phi. Vào năm 1943, Sư đoàn Dù số 7 được đổi tên thành Sư đoàn Dù số 1 và 9 sư đoàn nhảy dù khác được thành lập với vai trò là lực lượng đánh bộ. Giữa tháng 12 năm 1943, trong Chiến dịch Ý, Sư đoàn Dù số 1 đã chống trả dữ dội cuộc tấn công của quân Canada thuộc Tập đoàn quân số 8 (Anh) vào thị trấn Ortona, gây cho địch thiệt hại nặng nề mặc dù Ortona cuối cùng cũng thất thủ ngày 28 tháng 12 năm 1944. Ngoài ra, lính dù Đức còn được biết đến vì đã can đảm chống lại quân Đồng minh suốt mấy tháng trong trận Monte Cassino. Trong những đống gạch vụn sau khi nhà cửa bị đồng minh dội bom, quân Đức sử dụng chiến thuật du kích, cố thủ thành phố khu Monte Cassino. Các lực lượng không vận Đức liên tục bẻ gãy các cuộc tấn công của quân đội Đồng minh, gây cho đối phương những thiệt hại hết sức to lớn. Nhưng cuối cùng, ưu thế về quân số và súng đạn đã tạo điều kiện cho quân Đồng minh đánh bọc sườn quân đội Đức tại Monte Cassino. Dưới làn đạn pháo của quân Ba Lan tự do, phần lớn lính dù Đức đã triệt thoái trong trật tự..
Trong các chiến trường Tunisia và Ý, quân dù Đức được quân Đồng minh đặt biệt danh là "Quỷ Xanh", dựa trên màu của chiếc áo khoác lính dù ngụy trang dài 3/4 cơ thể của họ. Sau các cuộc đổ bộ của quân Đồng minh lên eo biển Normandie, lính dù Đức đã đánh một số trận lớn ở Pháp, mà cụ thể là cuộc tử thủ Brest. Tập đoàn quân số 3 của Mỹ cuối cùng cũng chiếm được Brest, nhưng với cái giá rất đắt.
=== Các lực lượng nhảy dù khác ===
Đức Quốc xã ngoài ra còn huấn luyện lính dù loại biệt kích cảm tử cho cho hai đội quân Waffen-SS và Brandenburg.
=== Dụng cụ và vũ khí ===
Lính trong binh chủng Fallschirmjäger sử dụng loại súng máy FG42 và phóng lựu không giật được quân đội Đức chế tạo riêng cho họ.
Mũ sắt của lính dù cũng được cải tiến cho hợp với khung cách tác chiến nhảy dù (vành che mắt và ót ngắn hơn loại thông thường, mũ sâu hơn, lót da bên trong và khuy cài dưới cằm để dễ xoay xở và có khả năng quan sát chung quanh cao hơn).
Dù của Đức được thiết kế kém xa dù của đồng minh. Loại dù này có một dây từ lưng người lính, khi rơi xuống người lính có tư thế nằm sấp, phải dùng cùi chõ và đầu gối để chạm đất - vì thể hay gây thương tích và người dùng không thể mang dụng cụ hay vũ khí trên bụng.
Dù đồng minh có hai dây trên vai, khi rơi tư thế đứng thẳng, khi chạm đất có thể dùng hai bàn chân để chạy tới được và có thể sử dụng súng và dụng cụ khi đang rơi và khi vừa chạm đất.
== Lính dù Đồng Minh (thế chiến thứ hai) ==
=== Trận Normandie ===
Đêm trước ngày đổ bộ vào bãi biển Normandy 6 tháng 6 1944, lực lượng đồng minh thả nhiều toán lính dù vào sâu trong lòng đất Pháp lúc bấy giờ đang bị quân Đức chiếm đóng với nhiều mục đích nhưng phần lớn là để phân tán sức quân của đối phương. Những toán lính dù này có nhiệm vụ do thám, yểm trợ cuộc đổ bộ, phá hủy đường rút lui của quân Đức, phá cầu và cắt dây liên lạc, đồng thời liên lạc các lực lượng kháng chiến địa phương, v.v...
Sư đoàn 6 Dù Anh Quốc nhảy vào miền đông sông Orne
Trong cuộc hành quân mang tên Tonga vào những giờ cuối ngày 5 thánh 6 1944, máy bay vận tải và máy bay không động cơ chở các đơn vị của Sư đoàn 6 Dù sang Normandy, bỏ vào phía trong bãi Sword Beach với nhiệm vụ giữ vững mạng phía Đông, chiếm cầu Pegasus và cầu Horsa và phá đồn đóng quân của Đức tại Merville. Đây là những toán lính đầu tiên của trận Normandy. Cuộc thả dù thành công tuy nhiều toán bị gió thổi rớt tứ tung khắp Normandy. Sư đoàn 6 chiếm hai cầu Pegasus và Horsa được và cố thủ chống lại nhiều đợt tấn công của quân Đức cho đến khi có quân đến tiếp viện và thay thế.
Từ tháng 6 đến tháng 8 1944, Sư đoàn 6 chiến đấu bảo vệ khu vực phía đông sông Orne. Ngày 2 tháng 8, sư đoàn này được nhập vào Quân đoàn Một Đồng Minh. Sau đó sư đoàn này tham gia cuộc tiến chiếm vùng sông Seine cho đến tháng 9 1944 khi trở về Anh. Hơn 4000 binh sĩ, sĩ quan của Sư đoàn 6 chết, bị thương hoặc mất tích.
Sư đoàn 101 Dù Hoa Kỳ thả vào làng Vierville để yểm trợ đổ bộ tại bãi Utah.
Sư đoàn 82 Dù Hoa Kỳ thả vào Sainte-Mère-Église
Cùng lúc với Sư đoàn 6 Dù Anh, Sư đoàn 82 Dù Hoa Kỳ và trung đoàn 325 tiếp ứng, cũng dùng máy bay không động cơ và dù nhảy xuống Normandy ngày 5 tháng 6 năm 1944. Đây là cuộc hành quân từ trên không lớn nhất lịch sử quân đội Hoa Kỳ. Sau 33 ngày chiến đấu, sư đoàn 82 tổn thất 5.245 binh sĩ, sĩ quan (chết, bị thương hoặc mất tích). Trong phần báo cáo quân sự có đoạn "... 33 ngày chiến đấu không ngưng nghỉ, không có tiếp trợ. Mọi sứ mệnh hoàn thành. Không để mất một phần đất nào đã chiếm được...".
=== Lính dù nộm ? ===
Trong cuộc thả dù sâu vào lòng địch chung quanh trận đổ bộ Normandy, quân Đồng Minh có thả hàng trăm các lính dù hình nộm làm bằng gỗ rơm. Trên những hình nộm có những cơ quan tự động tạo tiếng súng và kêu ầm ĩ khi chạm đất, đồng thời bắn hỏa châu tứ phía. Mục đích là đánh lạc hướng và làm hoảng loạn quân Đức đang bối rối trước cuộc đổ bộ bất ngờ của đồng minh.
== Lính dù Úc ==
Tiểu đoàn 3 là lực lượng nhảy dù duy nhất của Quân đội Úc thành lập từ năm 1945 tại Sydney và từng tham chiến tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Việt Nam, và Đông Timor. Hiện đang sắp sáp nhập vào bộ binh Úc và dời về Townsville năm 2011.
=== Chiến tranh Việt Nam ===
Tiểu đoàn 3 nhảy dù Úc tham chiến tại Việt Nam qua hai đợt. Lần đầu vào năm 1967 - 1968, và đánh trận chính tại Phước Tuy. Tiểu đoàn này còn có nhiệm vụ do thám, gỡ mìn và pháo kích bắn trả. Trong hai ngày 25 - 26 tháng 5 1968, tiểu đoàn 3 đánh bật được lực lượng cấp trung đoàn của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong trận đánh tại xã Long Tân, 18 lính Úc tử trận, 24 bị thương trong khi 80 lính QĐNDVN tử trận . Năm 1971 tiểu đoàn 3 trở lại Phước Tuy nhưng không đụng trận lớn. Sau đó trở về Úc.
=== Iraq ===
Gần đây báo chí nêu tên tiểu đoàn 3 vì vụ binh nhì Jacob Kovco bị chết trong tình huống đáng nghi tại Iraq.
== Lính dù Hoa Kỳ ngày nay ==
== Chú thích == |
đài phát thanh - truyền hình thái nguyên.txt | Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Thái Nguyên là đơn vị sự nghiệp trực thuộc ủy ban nhân dân tỉnh, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh bằng các chương trình phát thanh, truyền hình, thông tin điện tử và tạp chí. Đài chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông, Sở Thông tin và Truyền thông về hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình; thực hiện sự hướng dẫn của Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam về nghiệp vụ và kỹ thuật phát thanh, truyền hình. Tiền thân là Đài phát thanh Bắc Thái được thành lập vào năm 1977.
Đài Phát thanh - Truyền hình Thái Nguyên có trụ sở tại 226 - Đường Bến Oánh - TP. Thái Nguyên (thành phố)
== Lịch sử ==
Ngày 2/9/1977 Đài Phát thanh Bắc Thái được ra đời với các chương trình phát thanh tiếng Tày-Nùng, phát thanh tiếng Dao, thời sự tổng hợp tiếng Việt và chương trình ca nhạc. Từ thời điểm ấy, Đài Phát thanh Bắc Thái chính thức được công nhận là cơ quan Báo chí hoạt động độc lập dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ - HĐND - ủy ban nhân dân tỉnh.
Đến năm 1990 Đài đổi tên gọi Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Thái. Ngày 2/9/1992 Đài chính thức phát chương trình truyền hình đầu tiên đánh dấu sự có mặt đầy đủ hai loại hình báo nói, báo hình trên địa bàn tỉnh. Năm 1997, tỉnh Thái Nguyên được tái lập, từ đó đến nay Đài mang tên Đài Phát thanh - Truyền hình Thái Nguyên.
Đến nay, Đài PTTH Thái Nguyên đã và đang trở thành một đài truyền thông đa phương tiện với đủ 4 loại hình báo chí: Tạp chí Truyền hình Thái Nguyên, Báo mạng điện tử Thainguyentv.vn, Phát thanh và Truyền hình trên 2 kênh TN1, TN2.
== Cơ sở vật chất kỹ thuật ==
Được sự quan tâm của tỉnh, của Trung ương, của hai Đài quốc gia và một số Đài bạn, sau nhiều năm đầu tư, đến nay Đài PT-TH Thái Nguyên đã thực hiện số hoá trong sản xuất, phát sóng các chương trình phát thanh, truyền hình. Việc đưa công nghệ phi tuyến mới vào sản xuất các chương trình PT-TH, hệ thống vi ba, cáp quang để thực hiện các chương trình truyền hình trực tiếp và chuyển tiếp các chương trình truyền hình kỹ thuật số mặt đất đã mở ra trang mới cho sự nghiệp PT-TH của tỉnh.
Trung tâm sản xuất chương trình phát thanh truyền hình được đầu tư đưa vào sử dụng cùng với hệ thống trang thiết bị kỹ thuật kèm theo đã tạo được bước tiến quan trọng trong sản xuất và truyền dẫn chương trình phát thanh, truyền hình. Hiện nay Đài PT-TH Thái Nguyên đã đầu tư 03 Server để truyền, tiếp nhận dữ liệu và phát sóng tự động.
Với thiết bị cột Anten cao 125m, 04 máy phát truyền hình: 10KW, 5Kw, hai máy 1kw phát sóng trên 02 kênh TNTV1, TNTV2; máy phát sóng phát thanh FM 1Kw, AM 10Kw (từ năm 2011 ngừng phát sóng máy AM) của Đài tỉnh, cùng với hệ thống phát thanh, truyền thanh, truyền hình cấp huyện và cơ sở gồm: 07 Trạm phát lại truyền hình, 37 Trạm truyền thanh, 42 Trạm phát sóng FM, 32 điểm thu truyền hình từ vệ tinh DTH ở các cụm dân cư, đã nâng phạm vi phủ sóng 100% đối với phát thanh; trên 90% đối với truyền hình trên địa bàn tỉnh. Tháng 8-2009 kênh TN1 lên mạng truyền hình cáp Việt Nam (VCTV, tiếp đó là mạng Mytv đảm bảo phủ sóng toàn quốc. Kênh TN2 cũng có mặt trên mạng truyền hình cáp Việt nam và Mytv với phạm vi nội tỉnh.
Ngày 1/9/2011, đài PT-TH Thái Nguyên đã chính thức đưa kênh TN1 phát qua vệ tinh VINASAT-1, và hiện nay phát qua cả vệ tinh Aseansat 5, phạm vi phủ sóng TN1 của Đài sẽ được vươn xa hơn ra các nước khu vực Đông Nam Á, Mianma, ½ lãnh thổ Trung Quốc và các quốc gia Hàn Quốc, Nhật Bản. Ngoài ra kênh TN1 phát online trên trang web http://thainguyentv.vn đảm bảo phủ sóng bất cứ đâu có mạng internet trên toàn thế giới.
Trong năm 2012, kênh phát thanh FM 106.4 MHz của Đài cũng đã được đưa lên vệ tinh VINASAT-1,trong năm 2013, Đài đã đưa kênh TN2 và TN3 lên vệ tinh.
== Tổ chức bộ máy ==
Đài PT-TH Thái Nguyên tính đến thời điểm năm 2012 đã có trên 190 cán bộ, công chức, viên chức và lao động hợp đồng, trong đó có 125 biên chế.
- Ban giám đốc có 5 người:
Giám đốc hiện nay của Đài là Nhà báo Nguyễn Thị Vũ Anh (từ tháng 4/2016).
Các PGĐ: Nguyễn Nam Hải, Trịnh Ngọc Sơn, Nguyễn Văn Liêu.
Có 14 phòng chuyên môn gồm:
+ Phòng biên tập
+ Phòng Thời sự
+ Phòng Văn nghệ và giải trí
+ Phòng Tiếng dân tộc
+ Phòng Phát thanh
+ Phòng Thông tin điện tử
+ Phòng Sản xuất phim và tổ chức sự kiện
+ Phòng Thông tin đối ngoại
+ Phòng Kỹ thuật và công nghệ
+ Phòng Tổ chức - hành chính
+ Phòng Dịch vụ và Quảng cáo
+ Phòng Bạn nghe đài và xem truyền hình
+ Phòng Quản lý tư liệu
+ Phòng Kế hoạch - Tài chinh
Trong những năm qua, song song với việc nâng cao chất lượng đội ngũ, Ban biên tập Đài Phát thanh - Truyền hình Thái Nguyên đã từng bước nâng cao chất lượng các chương trình, đổi mới cách đưa tin, biên tập chương trình với mục đích các tin tức sự kiện được chuyển tải ngay trong ngày đến bạn nghe đài và xem truyền hình.
== Chương trình phát sóng ==
Phát thanh: Phát sóng liên tục từ 6h-21h45 hàng ngày trên tần số 106.4 MHz với các chương trình thời sự, ca nhạc và tiếng dân tộc
Truyền hình: + Kênh TN1: Kênh thông tin tổng hợp phát sóng 24/24h với các chương trình tin tức thời sự, phim truyện và một số chương trình giải trí khác
+ Kênh TN2: Kênh giải trí và phim truyện với thời lượng 18/24h (5h30 - 23h30) với các chương trình gameshow, ca nhạc, phim truyện trong đó thời lượng chủ yếu dành cho phim truyện và các chương trình giải trí
== Tạp chí và báo điện tử ==
Tạp chí PTTH Thái Nguyên mỗi tháng ra một số với các thông tin giới thiệu quảng bá Đất và Người Thái Nguyên cùng lịch phát sóng các chương trình truyền hình. Là Đài địa phương thứ hai ở miền Bắc (sau Đài PTTH Hà Nội) có Tạp chí Truyền hình.
Báo điện tử: http://thainguyentv.vn
== Tham khảo == |
ma túy.txt | Ma túy là tên gọi chung chỉ những chất kích thích khi dùng một lần có thể gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo. Những chất này khi đưa vào cơ thể sống sẽ làm thay đổi trạng thái nhận thức và sinh lý.
== Thuật ngữ "ma túy" ==
Theo khái niệm khoa học: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên (morphin...); bán tổng hợp (heroin được bán tổng hợp từ morphin) hay tổng hợp (amphetamine) có tác dụng lên thần kinh trung ương gây cảm giác như giảm đau, hưng phấn hay cảm thấy dễ chịu... mà khi dùng nhiều lần thì sẽ phải sử dụng lại nó nếu không sẽ rất khó chịu.
Theo cách hiểu thông thường trong xã hội Việt Nam hiện nay: trong xã hội, ma túy thường được hiểu đó là heroin, bạch phiến. Một người bị nghiện ma túy sẽ bị mọi người hiểu là nghiện heroin hay ngược lại mà không có sự phân biệt về chất người đó lệ thuộc.
Tuy nhiên ở Việt Nam không có một sự nhất quán chung trong việc sử dụng danh xưng này cho các chất thuộc loại này. "Ma túy" được sử dụng rộng rãi như một thuật ngữ mang màu sắc tiêu cực để chỉ từ những chất có khả năng gây nghiện và tàn phá cơ thể người dùng cao (Heroin, Crystal Meth...) cho đến những chất có thể dùng trong y tế với liều lượng nhỏ (như cần sa, chất được sử dụng rộng rãi ở Hà Lan, một phần Hoa Kỳ) khiến dư luận tại Việt Nam thiếu khách quan và khoa học khi nói đến vấn đề sử dụng các chất này (người dân thường chỉ quan tâm đến tác hại trong khi công dụng dược liệu ít được để ý).
== Đặc điểm ==
Làm thay đổi trạng thái, ý thức, trí tuệ và tâm trạng của người sử dụng khiến cho họ có cảm giác giảm đau, dễ chịu, lâng lâng và không tự chủ được hành vi của bản thân, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người sử dụng.
Tùy vào loại ma túy cũng như số lượng và sự điều độ trong việc sử dụng là những tác nhân có thể dẫn đến việc nghiện của người sử dụng. Thông thường, số lớn chất ma túy tổng hợp (nhân tạo) có khả năng gây nghiện cao đồng thời có sức tàn phá cơ thể của người dùng hơn chất tinh khiết tự nhiên.
== Phân loại ==
Dựa theo nguồn gốc sản sinh thì các chất ma túy gồm có:
=== Ma túy tự nhiên ===
Ví dụ thuốc phiện, cần sa... Đây là các chất ma túy có sẵn trong tự nhiên, là những ancaloit của một số loài thực vật như: thuốc phiện, cần sa, coca...
Nguồn gốc:
Từ nhựa cây thuốc phiện (cây anh túc, anh tử túc, nha phiến...), có trồng ở 12 tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
Từ lá, hoa, quả cây cần sa (còn gọi là bồ đà, cây gai dầu) được trồng ở một số tỉnh giáp ranh biên giới Việt Nam – Campuchia và ở Tây Nguyên
Từ lá cây coca, chế ra chất cathinone, có nhiều ở Nam Mỹ
=== Ma túy bán tổng hợp ===
Ví dụ như heroin
=== Ma túy tổng hợp ===
==== Nguồn gốc ====
Các loại ma túy tổng hợp từ hóa chất độc hại thuộc nhóm amphetamin, ketamin,methamphetamin...
==== Độc lực ====
Các chất ma túy tổng hợp thường độc hại hơn thuốc phiện 500 lần. Dựa theo tác động lâm sàng tới tâm sinh lý người sử dụng
==== Các dạng ====
ectasy, ma túy đá (hay là crystal meth), Morphine, Lysergic acid diethylamide (viên giấy, bùa lưỡi), bánh lười, cỏ Mỹ
== Nguồn gốc và sự phát triển ==
Ma túy, mà đại diện điển hình là thuốc phiện, đã xuất hiện từ rất lâu trước đây. Hơn 8000 năm trước đây, thuốc phiện đã được người Somai ở tây Á sử dụng, người ta đã biết được những khoái cảm và sự thoải mái hết sức mà thuốc phiện mang lại khi dùng.
Thế kỷ thứ 1, Rioskelires đã miêu tả khá kỹ về thuốc phiện trong cuốn sách "Dược điển luận" của mình. Tuy nhiên ở thời kỳ này, người ta mới chỉ chú trọng đến những khoái cảm, những tác dụng trong chữa bệnh mà thuốc phiện mang lại chứ chưa chú ý tới mặt trái của nó, đó là tác dụng gây nghiện khó cai
== Dấu hiệu nhận biết người sử dụng ma túy ==
Sau đây là một vài những dấu hiệu thường gặp ở các người nghiện ma túy:
1. Thay đổi bất thường giờ giấc sinh hoạt: thức khuya, đêm ít ngủ, dậy muộn, ngày ngủ nhiều.
2. Hay tụ tập, đi lại với những người không có công ăn việc làm, không lao động, không học hành, hay chơi thân với người nghiện ma túy.
3. Đi lại có quy luật, mỗi ngày cứ đến một giờ nhất định nào đó dù có đang bận việc gì cũng tìm cách kiếm cớ để "đi".
4. Thích ở một mình, ít hoặc ngại tiếp xúc với mọi người (kể cả người thân trong gia đình).
5. Tâm trạng thường lo lắng, bồn chồn, đôi khi nói nhiều, nói dối, hay có biểu hiện chống đối, cáu gắt.
6. Hay ngáp vặt, người lừ đừ, mệt mỏi, lười lao động, không chăm lo vệ sinh cá nhân, nếu là học sinh thì thường đi muộn, trốn học, lực học giảm sút, ngồi học trong lớp hay ngủ gà ngủ gật.
7. Nhu cầu tiêu tiền ngày một nhiều, sử dụng tiền không có lý do chính đáng, thường xuyên xin tiền người thân, hay bán đồ đạc cá nhân và của gia đình, nợ nần nhiều, ăn cắp vặt.
8. Túi quần, áo, cặp sách, phòng ở thường có nhiều thứ như: giấy bạc, thuốc lá, kẹo cao su, bật lửa ga, bơm xi lanh, kim tiêm, ống thuốc, thuốc phiện, gói nhỏ hêrôin.
9. Có dấu kim tiêm trên mạch máu ở mu bàn tay, cổ tay, mặt trên khủy tay, mặt trong mắt cá chân, bẹn, ở cổ.
10. Đối với người đã nghiện nặng, ngoài các dấu hiệu trên còn biểu hiện: sức khỏe giảm sút rõ rệt; thường xuyên ngáp vặt; mắt lờ đờ, da tái, môi thâm, cơ thể hôi hám, ít tắm giặt, ăn mặc luộm thuộm.
== Tác dụng phụ của ma túy ==
Chú ý: thông tin sau đây không nhằm tổng quát hóa toàn bộ các loại chất ma túy mà chỉ áp dụng cho một số loại nhất định.
Đối với hệ hô hấp: Các chất ma túy kích thích hô hấp làm tăng tần số thở gây ức chế hô hấp, nhất là khi dùng quá liều. Nhiều trường hợp ngưng thở nếu không cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến tử vong, đôi khi ngưng thở rất đột ngột.
Chẳng hạn một thanh niên đang cai nghiện đột ngột ngưng thở tử vong không rõ nguyên nhân, khi giải phẫu tử thi thì phát hiện nạn nhân có bao heroin bởi một màng mỏng rồi cấy dưới da để thuốc phóng thích từ từ, nhưng bao thuốc đột nhiên vỡ và phóng thích quá nhiều gây ngộ độc.
Ngoài ra, sau khi dùng ma túy (nhất là cocaine) có thể gây phù phổi cấp, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, xuất huyết phế nang, viêm tiểu phế quản tắc nghẽn, viêm phổi, lên cơn hen phế quản...
Theo thông tin trên tạp chí Medical Progress tháng 1 năm 1999, nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả Mỹ đã cho thấy có mối liên quan giữa hút ma túy (nhất là cocaine) và ung thư phổi.
Đối với hệ tim mạch: Các chất ma túy sẽ kích thích làm tăng nhịp tim, ảnh hưởng trực tiếp lên tim, gây co thắt mạch vành có thể tạo nên cơn đau thắt ngực, nặng hơn có thể gây nhồi máu cơ tim. Chúng cũng là nguyên nhân của các rối loạn nhịp đe dọa tính mạng người dùng ma túy. Ngoài ra còn gây nên tình trạng co mạch làm tăng huyết áp.
Đối với hệ thần kinh: Ngoài tác dụng kích thích thần kinh giai đoạn đầu gây hưng phấn, sảng khoái, lệ thuộc thuốc…, cũng có thể gây các tai biến như: co giật, xuất huyết dưới nhện, đột quị...
Đối với hệ sinh dục: Ở người nghiện ma túy, khả năng tình dục bị suy giảm một cách rõ rệt, và hậu quả này vẫn tồn tại sau khi ngưng dùng thuốc một thời gian khá lâu. Ở những nam giới dùng ma túy trong thời gian dài sẽ bị chứng vú to (gynecomastia) và bất lực. Còn ở phụ nữ sẽ bị rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, rong kinh, tăng tiết sữa bất thường và vô sinh.
Ngoài ra, người dùng ma túy còn phải chịu những tác hại khác như: hoại tử tế bào gan, ảo thính, ảo thị...
== Những khu vực sản xuất ma túy lớn trên thế giới ==
Colombia, Afghanistan, Trung Đông,Trung Quốc và Tam giác Vàng.
== Kiểm soát ma túy ==
Đầu thế kỷ 19, Trung Quốc bị các nước phương Tây đưa thuốc phiện vào buôn bán, khiến số người nghiện ngày càng tăng. Năm 1848, nhà Thanh ra lệnh tịch thu và thiêu hủy thuốc phiện của tàu buôn châu Âu, Anh Quốc phát động cuộc chiến tranh nha phiến khiến đất nước Trung Quốc hầu như bị tê liệt. Chiến tranh Trung - Anh mà lịch sử gọi là Chiến tranh thuốc phiện bùng nổ và kết quả là triều Thanh phải nhượng bộ, Anh quốc được tiếp tục buôn thuốc phiện vào Trung Quốc. Sau Cách mạng Tân Hợi, chính phủ mới tại Trung Hoa đã cấm chỉ mọi hình thức sử dụng và buôn bán thuốc phiện.
Vào những năm 70 của thế kỷ 20, vùng biên giới phía Bắc của Thái Lan, phía Tây của Lào và phía Nam của Myanmar (còn được gọi là Tam Giác Vàng) là nơi trồng cây anh túc và cần sa lớn nhất thế giới và cũng là nơi buôn bán ma túy lớn nhất thế giới. Tuy nhiên vào những năm 90 của thế kỷ 20 thì số lượng anh túc lẫn cần sa tại Thái Lan giảm, (trước kia, đây là nước sản xuất và buôn bán ma túy lớn nhất thế giới. Hiện nay,nó thuộc về Pakistan.) trong khi đó diện tích của hai cây ấy lại tăng vọt ở Myanmar khiến nơi đây trở thành nơi sản xuất ma túy lớn thứ hai thế giới.
== Xem thêm ==
Tam giác Vàng (Đông Nam Á)
Morphine
Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 (Việt Nam)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tình hình ma túy tại Việt Nam - do Liên Hiệp Quốc báo cáo |
du chính thanh.txt | Du Chính Thanh (tiếng Trung: 俞正声; bính âm: Yú Zhèngshēng; sinh tháng 4 năm 1945) là một chính khách cao cấp Trung Quốc. Ông hiện là Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc và là nhân vật đứng thứ 4 trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, một trong 7 người nắm quyền lãnh đạo tối cao tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Ông tốt nghiệp kỹ sư quân sự khóa 11 (1963-1968) tại Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự Cáp Nhĩ Tân (nay là Trường Đại học Tổng hợp Công nghệ Quốc phòng Quốc gia Trung Quốc), chuyên ngành: kỹ thuật điều khiển tự động tên lửa đạn đạo. Ông công tác trong ngành kỹ thuật điện tử gần 20 năm, cho tới giữa thập kỷ 1980.
Từ năm 1968 đến năm 1971, ông làm kỹ sư tại Nhà máy Vô tuyến số 6 tại thành phố Trương Gia Khẩu, tỉnh Hà Bắc.
Từ năm 1971 đến năm 1975, ông là kỹ sư chính tại nhà máy vô tuyến Tsyaosiysk, thành phố Trương Gia Khẩu, tỉnh Hà Bắc.
Từ năm 1975 đến năm, là phó kỹ sư trưởng tại Viện Nghiên cứu số 4 (chuyên ngành công nghệ điện tử) thuộc Bộ Công nghiệp nặng Trung Quốc.
Du Chính Thanh từng giữ vị trí Tổng giám đốc, Phó Chủ tịch và thành viên của Tập đoàn Quỹ Xã hội Tàn tật Trung Quốc trước khi tham gia chính trị tại Tỉnh Sơn Đông.Du Chính Thanh được Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân đỡ đầu. Con trai Đặng Tiểu Bình là Đặng Phúc Phương, Chủ tịch Quỹ Xã hội Tàn tật nơi Du công tác vào những năm 80. Du Chính Thanh còn làm việc dưới quyền Giang Trạch Dân, khi ông còn làm Bộ trưởng Công nghiệp điện tử.
Ông từng là Thị trưởng Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông rồi làm Bộ trưởng Xây dựng vào năm 1997. Năm 2007, ông làm Bí thư Thành ủy Thượng Hải, thành phố lớn nhất về tài chính và kinh doanh tại Trung Quốc. Trước đó ông là Bí thư tỉnh ủy Hồ Bắc. Ông là Ủy viên bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 2002.
Du Chính Thanh cổ vũ cho khu vực tư nhân, phát triển đô thị, phát triển pháp luật và cải cách xã hội để tạo dựng niềm tin và tin cậy trong xã hội.
Ngày 11/3/2013, ông chính thức được bầu làm Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Hội nghị Chính trị Hiệp thương Nhân dân Trung Quốc (gọi tắt là Chính hiệp), thay cho ông Giả Khánh Lâm.
== Gia đình ==
Du là con trai của Du Kỳ Vĩ, cựu Thị trưởng Thiên Tân và là chồng đầu tiên của Giang Thanh, vợ của Mao Trạch Đông. Mẹ ông là nhà báo Fan Jin. Vợ Du Chính Thanh là con gái một vị tướng trong Quân giải phóng Trung Quốc.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Công bố danh sách Bộ Chính trị, Ban Bí thư mới của Trung Quốc |
hội chứng hô hấp cấp tính nặng.txt | Hội chứng hô hấp cấp tính nặng (tiếng Anh: Severe acute respiratory syndrome; viết tắt: SARS) là một chứng bệnh hô hấp ở con người gây ra bởi một loại virus mang tên virus SARS. Giữa tháng 11 năm 2002 và tháng 7 năm 2003, dịch SARS bùng phát ở Hồng Kông lan tỏa gần như trở thành một đại dịch, với 8422 trường hợp và 916 trường hợp tử vong trên toàn thế giới (10,9% tử vong) theo Tổ chức Y tế Thế giới. Chỉ trong vòng vài tuần lễ, SARS lan từ Hồng Kông sang lây nhiễm nhiều người khác tại 37 quốc gia trên thế giới vào đầu năm 2003.
Trường hợp tử vong của SARS tùy thuộc vào giới tuổi bệnh nhân. Đối với người dưới 25 tuổi, tỷ lệ tử vong ít hơn 1%; giới 25-44 tuổi thì tỷ lệ tăng lên thành 6%; giới 45-64 là 15%; và hơn 65 tuổi là 50% hoặc hơn nữa.
Không như bệnh đậu mùa đã bị dứt hẳn, SARS vẫn tồn tại, tiềm ẩn trong khối trữ thiên nhiên (quần thể động vật) và có khả năng tái phát.
== Dấu hiệu và triệu chứng ==
Các triệu chứng ban đầu giống như bệnh cúm và có thể bao gồm: sốt, đau cơ, triệu chứng hôn mê, ho, đau họng và một số triệu chứng không đặc hiệu. Các triệu chứng chỉ chung cho tất cả các bệnh nhân xuất hiện sốt trên 38 °C (100,4 °F). [Khó thở có thể xảy ra sau đó. Bệnh nhân có các triệu chứng như với cảm lạnh trong giai đoạn đầu tiên, nhưng sau đó giống như cúm. Bệnh nhân có thể bị sốt nóng và sốt lạnh xen kẽ nhau.
== Chẩn đoán ==
Dấu hiệu:
Bất kỳ các triệu chứng, bao gồm sốt 38 °C hoặc cao hơn
Quan hệ (tình dục hoặc không thường xuyên) với một người nào đó với một chẩn đoán SARS trong vòng 10 ngày
Đi du lịch đến bất kỳ khu vực được xác định bởi WHO là khu vực có SARS (khu vực bị ảnh hưởng như của ngày 10 tháng 5 năm 2003, các khu vực của Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore và tỉnh Ontario, Canada).
Một kết quả xét nghiệm âm tính không có nghĩa là bệnh nhân không có SARS.
== Điều trị ==
Hiện nay, không có cách chữa hoặc thuốc chủng ngừa bảo vệ cho SARS. Việc xác định và phát triển các loại vắc-xin mới và thuốc để điều trị SARS là một ưu tiên cho các chính phủ và các cơ quan y tế công cộng trên toàn thế giới.
== Tiên lượng ==
Một số báo cáo kết quả từ Trung Quốc trên một số bệnh nhân SARS phục hồi cho thấy thời gian nặng nề và di chứng lâu có tồn tại. Các bệnh tiêu biểu nhất bao gồm chứng xơ hoá phổi, loãng xương, và xương đùi hoại tử, mà đã dẫn đến mất hoàn toàn khả năng lao động hoặc ngay cả khả năng tự chăm sóc các trường hợp này. Kết quả là, một số bệnh nhân sau SARS bị rối loạn trầm cảm chủ yếu.
== Dịch tễ học ==
SARS vẫn được coi là một căn bệnh tương đối hiếm, với 8.273 trường hợp năm 2003.
== Tham khảo == |
cờ tướng.txt | Cờ tướng (chữ Hán gọi là 象棋, phiên âm Hán Việt là tượng kỳ tức "cờ hình tượng"), hay còn gọi là cờ Trung Hoa (Tiếng Anh: Chinese Chess) vì nó được phổ biến ra thế giới từ Trung Quốc và cũng được coi là "quốc hồn quốc túy" của nước này (nhưng theo phương Tây thì nó có nguồn gốc từ Ấn Độ), là một trò chơi trí tuệ dành cho hai người, là loại cờ được chơi phổ biến nhất thế giới cùng với cờ vua.
== Giới thiệu ==
=== Mục đích của ván cờ ===
Ván cờ được tiến hành giữa hai người, một người cầm quân Trắng (hay Đỏ), một người cầm quân Đen (hay Xanh lục). Mục đích của mỗi người là tìm mọi cách đi quân trên bàn cờ theo đúng luật để chiếu bí hay bắt Tướng (hay Soái, hoặc Suý) của đối phương và giành thắng lợi.
=== Bàn cờ và quân cờ ===
Bàn cờ là một hình chữ nhật do 9 đường dọc và 10 đường ngang cắt nhau vuông góc tại 90 điểm hợp thành. Một khoảng trống gọi là sông (hay hà) nằm ngang giữa bàn cờ, chia bàn cờ thành hai phần đối xứng bằng nhau. Mỗi bên có một cung Tướng hình vuông (Cửu cung) do 4 ô hợp thành tại các đường dọc 4, 5, 6 kể từ đường ngang cuối của mỗi bên, trong 4 ô này có vẽ hai đường chéo xuyên qua.
Theo quy ước, khi bàn cờ được quan sát chính diện, phía dưới sẽ là quân Trắng (hoặc Đỏ), phía trên sẽ là quân Đen (hoặc Xanh lục). Các đường dọc bên Trắng (Đỏ) được đánh số từ 1 đến 9 từ phải qua trái. Các đường dọc bên Đen (Xanh lục) được đánh số từ 9 tới 1 từ phải qua trái.
Mỗi ván cờ lúc bắt đầu phải có đủ 32 quân, chia đều cho mỗi bên gồm 16 quân Trắng (Đỏ) và 16 quân Đen (Xanh lục), gồm 7 loại quân. Tuy tên quân cờ của mỗi bên có thể viết khác nhau (ký hiệu theo chữ Hán) nhưng giá trị và cách đi quân của chúng lại giống nhau hoàn toàn. Bảy loại quân có ký hiệu và số lượng cho mỗi bên như sau:
== Lịch sử ==
Đây loại cờ có từ khoảng thế kỷ 7. Cờ tướng được bắt nguồn từ Saturanga, một loại cờ cổ được phát minh ở Ấn Độ từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 6 (trước cờ tướng khoảng 200 năm). Chính Saturanga được phát minh từ Ấn Độ, sau đó đi về phía tây, trở thành cờ vua và đi về phía Đông trở thành cờ tướng. Người Trung Quốc cũng đã thừa nhận điều này.
Cờ tướng cổ đại không có quân Pháo. Các nhà nghiên cứu đều thống nhất là quân Pháo được bổ sung từ thời nhà Đường (sau năm 618), là quân cờ ra đời muộn nhất trong bàn cờ tướng, bởi cho tới thời đó, con người mới tìm ra vũ khí pháo để sử dụng trong chiến tranh.
Tuy nhiên, người Trung Hoa đã cải tiến bàn cờ Saturanga như sau:
Họ không dùng "ô", không dùng hai màu để phân biệt ô, mà họ chuyển sang dùng "đường" để đặt quân và đi quân. Chỉ với động tác này, họ đã tăng thêm số điểm đi quân từ 64 của Saturanga lên 81.
Đã là hai quốc gia đối kháng thì phải có biên giới rõ ràng, từ đó, họ đặt ra "hà", tức là sông. Khi "hà" xuất hiện trên bàn cờ, 18 điểm đặt quân nữa được tăng thêm. Như vậy, bàn cờ tướng bây giờ đã là 90 điểm so với 64, đó là một sự mở rộng đáng kể. Tuy nhiên, diện tích chung của bàn cờ hầu như không tăng mấy (chỉ tăng thêm 8 ô) so với số điểm tăng lên tới một phần 3.
Đã là quốc gia thì phải có cung cấm (宮) và không thể đi khắp bàn cờ như kiểu trò chơi Saturanga được. Thế là "Cửu cung" đã được tạo ra. Điều này thể hiện tư duy phương Đông hết sức rõ ràng.
Bàn cờ Saturanga có hình dáng quân cờ là những hình khối, nhưng cờ Tướng thì quân nào trông cũng giống quân nào, chỉ có mỗi tên là khác nhau, lại được viết bằng chữ Hán. Đây có thể là lý do khiến cờ tướng không được phổ biến bằng cờ vua, chỉ cần liếc qua là có thể nhận ra đâu là Vua, đâu là Hoàng hậu, kỵ sĩ, v.v. Tuy nhiên, đối với người Trung Hoa thì việc thuộc mặt cờ này là không có vấn đề gì khó khăn. Có lẽ việc cải tiến này cũng một phần là do điều kiện kinh tế bấy giờ chưa sản xuất được bộ cờ có hình khối phức tạp như cờ vua. Cờ tướng không phải là một trò chơi sang trọng, muốn tạo ra một bàn cờ tướng cực kỳ đơn giản, chỉ cần lấy que vạch xuống nền đất cũng xong, còn cờ vua thì mất công hơn nhiều khi phải tạo ra các ô đen/trắng xen kẽ nhau.
Gần đây ngày càng có nhiều ý kiến đề nghị cải cách hình dáng các quân cờ tướng và trên thực tế người ta đã đưa những phác thảo của những bộ quân mới bằng hình tượng thay cho chữ viết, nhất là khi cờ tướng được chơi ở những nước không sử dụng tiếng Trung Quốc.
Với sự thay đổi bố cục bàn cờ, người Trung Hoa đã phải có những điều chỉnh để lấy lại sự cân bằng cho bàn cờ. Đó chính là những ngoại lệ mà người chơi phải tự nhớ. (Xem thêm phần Mã, Tướng).
== Xuất xứ tên gọi ==
Bàn cờ tướng thật sự là một trận địa sinh động, có tầng có lớp và thật hoàn hảo: đủ các binh chủng trên chiến trường, công có, thủ có, các quân được chia thành ba lớp xen kẽ hài hoà. Lại còn có cả sông, cung cấm. Hình tượng quốc gia hoàn chỉnh, có vua tôi, có 5 binh chủng, có quan ở nhà, quân ra trận v.v..., vừa có ý nghĩa, vừa mang sắc thái phương Đông rõ nét, vì vậy người Trung Hoa đặt tên cho cờ này là Tượng kỳ (象棋) với ý nghĩa cờ hình tượng (theo chữ Hán) chứ không phải vì có quân tượng (voi) trên bàn cờ.
Cũng có một số tài liệu lý giải rằng, vì Trung Hoa không có voi, khi tiếp nhận Saturanga thấy trong các quan có quân voi lạ nên người Trung Hoa bèn gọi là "tượng kỳ" để kỷ niệm một loại cờ lạ có con voi. Như thế có người suy ra "tượng kỳ" có nghĩa là cờ voi.
Tại Việt Nam thì từ xưa tới nay vẫn gọi là cờ tướng do trong bàn cờ quân Tướng là quan trọng nhất.
== Nguyên tắc chơi ==
== Các quân cờ ==
=== Tướng (Soái) ===
Ở Trung Hoa, vua là thiên tử (con trời), do vậy, nếu nhắc tới vua thì phải tôn kính, sùng bái.Quân cờ quan trọng nhất, vốn tên là vua nhưng các nhà cải cách đã cải tên từ "vua" thành "tướng" hay "soái" cho quân này để phù hợp với việc kiêng húy của chế độ phong kiến. Tuy nhiên, đó chỉ là cách thay đổi tên, thay đổi bề ngoài, hình thức mà thôi, chứ quân cờ này thực chất vẫn là vua, vì quân này chỉ ở trong cung, có hai Tượng và Sĩ kè kè bên cạnh bảo vệ mọi lúc mọi nơi, và mất quân này đồng nghĩa với việc thua ván cờ. Vì vậy, chữ Tướng ở đây chỉ là danh nghĩa.
Tướng chỉ được đi ngang hay đi dọc từng bước một trong phạm vi cung tướng.Tính theo khả năng chiến đấu thì Tướng là quân yếu nhất do chỉ đi nước một và bị giới hạn trong cung. Tuy nhiên trong nhiều tình huống, đặc biệt khi cờ tàn đòn "lộ mặt tướng" (xem ở dưới) lại tỏ ra rất mạnh. Lúc này Tướng mạnh ngang với Xe.
Tướng được chốt chặt trong cung và có tới 2 Sĩ và Tượng canh gác hai bên. Chính điều này làm cho ván cờ trở nên khó phân thắng bại, cơ may hoà cờ là rất lớn. Từ một thực tế như vậy, luật "lộ mặt Tướng" được thiết lập: một bên Tướng đã chiếm được một lộ rồi mà Tướng bên kia có mặt ra lộ ấy mà không có ít nhất một quân khác che chắn ở giữa là bị thua ngay lập tức. Việc này làm cờ tướng có nhiều biến hóa thắng bại, với Tướng có giá trị như Xe khi chiếm hẳn một cột.
=== Sĩ ===
Trong cờ vua, quân cố vấn được đổi thành quân Hậu. Trong cờ tướng, quân Sĩ có vai trò "hộ giá" cho Tướng. Chúng đứng ngay sát cạnh Tướng, chỉ đi từng bước một và đi theo đường chéo trong Cửu cung. Như vậy, chúng chỉ di chuyển và đứng tại 5 điểm và được coi là quân cờ yếu nhất. Sĩ có chức năng trong việc bảo vệ Tướng, mất Sĩ được cho là nguy hiểm khi đối phương còn đủ 2 Xe hoặc dùng Xe Mã Tốt tấn công. Bỏ Pháo ăn Sĩ rồi dùng 2 Xe tấn công là đòn chiến thuật thường thấy. Khi còn Pháo thì phải chú ý giữ Sĩ để làm ngòi cho Pháo tấn công.
=== Tượng (Tịnh) ===
Quân Tượng đứng bên cạnh quân Sĩ và tương đương với Tượng trong cờ vua. Quân này đi theo đường chéo của hình vuông gồm 2 ô cờ. Chúng không được qua sông, chúng có nhiệm vụ ở lại bên này sông để bảo vệ vua. Chỉ có 7 điểm mà Tượng có thể di chuyển tới và đứng ở đó.
Tượng sẽ không di chuyển được đến vị trí đã nêu nếu có 1 quân đặt tại vị trí giữa của hình vuông 2 ô. Khi đó ta gọi là Tượng bị cản và vị trí cản được gọi là "mắt Tượng".
Tượng được tính là mạnh hơn Sĩ một chút. Một Tốt qua hà được đổi lấy 1 Sĩ hay Tượng. Tuy nhiên khả năng phòng thủ của Tượng được tính nhỉnh hơn nên nếu Sĩ là 2 thì Tượng là 2,5. Nói chung mất Tượng cờ dễ nguy khi đối phương có Pháo.
=== Xe (Xa) ===
Quân Xe đi và ăn theo một đường thẳng đứng hoặc ngang giống quân Xe trong cờ vua. Xe được coi là quân cờ mạnh nhất, kiêm cả công lẫn thủ (đơn xe sát vạn). Giá trị của Xe thường tính là bằng 2 pháo hoặc pháo mã.
Khai cuộc thường tranh đưa các quân Xe ra các đường dọc thông thoáng, dễ phòng thủ và tấn công.
=== Pháo ===
Quân Pháo đi giống quân Xe, theo chiều thẳng đứng hoặc ngang, nhưng nếu ăn quân thì phải có 1 quân đứng làm "ngòi" (kể cả của mình hay của đối phương).
Cờ tướng cổ đại không có quân Pháo. Các nhà nghiên cứu đều nhất trí là quân Pháo được bổ sung từ thời nhà Đường. Đây là quân cờ ra đời muộn nhất trên bàn cờ tướng vì tới thời đó, pháo được sử dụng trong chiến tranh với hình thức là một loại máy dùng để bắn những viên đá to. Bấy giờ, từ Pháo trong chữ Hán được viết với bộ "thạch", nghĩa là đá. Cho đến đời nhà Tống, khi loại pháo mới mang thuốc nổ được phát minh thì quân Pháo đã được viết lại với bộ "hỏa".
Do đặc điểm phải có ngòi, Pháo thường dùng Tốt của quân mình trong khai cuộc, hoặc dùng chính Sĩ Tượng của mình làm ngòi để chiếu hết tướng đối phương trong cờ tàn. Quân Pháo có quyền lực mạnh ở lúc khai cuộc, lúc bàn cờ còn nhiều quân, nhưng quyền lực của Pháo giảm dần về sau khi số quân làm ngòi giảm bớt.
Trên thực tế thì có tới 70% khai cuộc là dùng Pháo đưa vào giữa dọa bắt tốt đầu của đối phương, gọi là thế Pháo đầu. Đối phương có thể dùng Pháo đối lại cũng vào giữa. Kéo Pháo cùng bên gọi là trận Thuận Pháo, kéo Pháo vào ngược bên nhau gọi là trận Nghịch Pháo (hay Liệt Pháo).
=== Mã ===
Quân Mã trong cờ tướng đi theo hình chữ L 2x1, với bước đi thẳng sau đó đi một bước chéo. Nếu khi đi thẳng có 1 ô ở vị trí đó thì Mã không đi được, gọi là Mã bị cản.
Mã do không đi thẳng, lại có thể bị cản nên mức độ cơ động của quân này kém hơn Xe và Pháo. Khi khai cuộc, Mã kém hơn Pháo do bị cản nhiều. Khi tàn cuộc, Mã trở nên mạnh hơn Pháo do dễ đi hơn và Pháo thì ít ngòi hơn.
=== Tốt (Binh) ===
Quân Tốt có 5 quân giống nhau, chúng đi thẳng và ăn thẳng theo chiều dọc khi ở bên phần đất của bên mình.Khi Tốt qua được sông, chúng có thể đi và ăn theo chiều ngang. Hai tốt qua sông đứng cạnh nhau gọi là tốt huynh đệ và có sức mạnh cỡ một quân pháo hoặc mã.
Khi đi đến hết bàn cờ, lúc này, chúng được gọi là Tốt lụt.
Trong khai cuộc, việc thí tốt là chuyện tương đối phổ biến. Ngoại trừ việc phải bảo vệ tốt ở giữa (còn gọi là tốt đầu), các quân tốt khác thường xuyên bị xe pháo mã ăn mất. Việc mất mát một vài Tốt ngay từ đầu cũng được xem như việc thí quân trong cờ tướng chứ không là "thảm họa" như trong cờ vua.
Đến cờ tàn, giá trị của quân tốt tăng nhanh và số lượng tốt khi đó có thể đem lại thắng lợi hoặc chỉ hòa cờ. Khi đó việc đưa được tốt qua sông và tới gần cung tướng của đối phương trở nên rất quan trọng. Tốt khi đến hàng sát cuối, ép sát cung tướng được coi là mạnh như Xe.
== Cách ghi nước đi ==
Trong các thế cờ, để ghi lại vị trí và sự dịch chuyển quân cờ, người ta thường ghi lại các nước đi như sau:
Dấu chấm (.) là tấn
Dấu gạch ngang (–) là đi ngang (bình)
Dấu gạch chéo (/) là lùi (thoái)
Mỗi nước được ghi theo thứ tự: số thứ tự nước đi, tên quân cờ, vị trí và sự dịch chuyển quân cờ. Ví dụ, nước đầu, Đỏ đi Pháo 2 bình 5, bên Đen mã 8 tấn 7 thì ghi:
P2-5 M8.7
Nước thứ hai, Đỏ đưa Pháo ở cột 8 lùi 1 bước, Đen đưa Tốt cột 7 lên một bước.
P8/1 B7.1
Nếu Pháo (hay Mã, Xe) nằm trên một đường thì ghi Pt là Pháo trước, Ps là Pháo sau.
Nếu có 3 Tốt nằm trên cùng một cột thì ký hiệu Bt (Binh trước), Bg (Binh giữa), Bs (Binh sau).
== Các giai đoạn của một ván cờ ==
Người ta thường chia ván cờ ra làm ba giai đoạn: khai cuộc, trung cuộc và tàn cuộc.
=== Khai cuộc ===
Thường khai cuộc được tính trong khoảng 5-12 nước đầu tiên. Các nghiên cứu mới cho biết khai cuộc đóng góp rất quan trọng vào khả năng thắng của một ván cờ. Khai cuộc có thể đóng góp đến 40% trong khi trung cuộc và tàn cuộc đóng góp 30% mỗi giai đoạn.
Có rất nhiều dạng khai cuộc khác nhau, nhưng nói chung, có thể chia khai cuộc thành 2 loại chính: khai cuộc Pháo đầu và khai cuộc không Pháo đầu.
==== Khai cuộc Pháo đầu ====
Tên của các khai cuộc được đặt tuỳ theo cách đi của bên đi sau, chỉ nêu vài loại chính:
Thuận Pháo
Nghịch Pháo (Liệt Pháo)
Bán đồ Liệt Pháo
Pháo đầu đối Bình phong Mã: đây là khai cuộc phổ biến nhất.
Pháo đầu đối Phản cung Mã
Pháo đầu đối Đơn đề Mã
Pháo đầu đối Phi Tượng
Pháo đầu đối Uyên ương Pháo
Pháo đầu đối Quy bối Pháo
==== Khai cuộc không Pháo đầu ====
Tiến Tốt (Tiên nhân chỉ lộ)
Khởi Mã cuộc: bao gồm nhảy mã trong (rất phổ biến) và nhảy mã biên (ít dùng)
Phi Tượng cuộc
Quá cung Pháo
Sĩ Giác Pháo
Quá cung Liễm Pháo
=== Trung cuộc ===
Khai cuộc và tàn cuộc do có vị trí và số lượng quân cờ có thể quy chung về một số dạng chính nên người ta đã nghiên cứu và tổng kết được các dạng như trên. Còn ở trung cuộc, thế cờ lúc này theo kiểu "trăm hoa đua nở" nên chủ yếu vận dụng các chiến thuật cơ bản như:
Bắt đôi: cùng một lúc đuổi bắt hai quân.
Nội kích: đánh từ phía trong.
Kích thẳng vào Tướng.
Tả hữu giáp công: kích vào cả hai cánh cùng một lúc.
Chiếu tướng bắt quân.
Điệu hổ ly sơn: làm cho một quân hay Tướng phải rời vị trí của nó.
Dẫn dụ: đây là đòn thu hút quân đối phương đến vị trí dễ bị công kích hoặc bị vây hãm, sau đó kết hợp với chiến thuật bịt chắn lối đi, đường rút của đối phương.
Tạo ách tắc: dùng chiến thuật thí quân để gây ách tắc, hết đường cựa của đối phương.
Ngăn trở, chia cắt: đòn này thường dùng cách thí quân để làm sự liên lạc giữa các quân bị cắt đứt.
Khống chế: chiến thuật này ngằm ngăn trở tầm hoạt động và sự cơ động của đối phương.
Dịch chuyển: chiến thuật này chú ý đến sự linh hoạt của các quân.
Bao vây.
Trợ sức: các quân trợ sức cho nhau để cùng chiếu.
Vu hồi: đánh vòng từ phía sau.
Qua lại: chiến thuật này dùng để thủ thế hay công sát.
Quấy nhiễu.
Vây điểm diệt viện: vây chặt quân nào đó của đối phương rồi đánh quân tới cứu viện.
Nước đợi chờ: đi nước không có tác dụng để nhường đối phương, làm đối phương hết nước đi mà thua cờ.
Giam quân: khi một bên đang trong tình thế nguy hiểm, nhưng sử dụng một nước khéo léo giam quân mạnh của đối phương (có thể dùng cách thí quân), sau đó dùng các quân còn lại để gỡ bí.
Vừa đỡ vừa chiếu lại.
Vừa đỡ vừa trả đòn.
=== Tàn cuộc ===
Tàn cuộc là giai đoạn tổng số quân cờ, đặc biệt là quân tấn công (Xe, Pháo, Mã, Tốt) cả hai bên còn rất ít.
== Các hình thức chơi cờ tướng khác ==
=== Cờ thế ===
Chơi cờ thế là hình thức chơi cờ mà bàn cờ lúc ban đầu đã có sẵn các thế cờ, quân cờ đang ở các vị trí như trong một ván cờ dang dở, mức độ thế cờ từ dễ đến khó và người chơi phải thắng được sau một số nước đi được yêu cầu từ trước. Cờ thế hay được thấy ở các lễ hội dân gian.
=== Cờ bỏi ===
Cờ bỏi cũng là một hình thức đánh cờ, nhưng bàn cờ sẽ là một cái sân rộng có kẻ ô, các quân cờ được ghi lên các tấm biển bằng gỗ, gắn vào các cột dài chừng 1 mét, có đế, được đặt lên các vị trí trên sân. Người đánh phải tự nhấc quân cờ để đi, trước khi đi quân, phải có hiệu lệnh bằng trống bỏi. Từng đôi một vào thi đấu ở sân cờ. Thực chất đây là một bàn cờ lớn và nhiều người có thể cùng xem được.
=== Cờ người ===
Trong các lễ hội dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ, cờ người là một trong những cuộc thi đấu thu hút được rất nhiều người đến xem và cổ vũ. Thông thường, nơi diễn ra trận cờ người là sân đình của làng. Quân cờ là những nam thanh nữ tú được làng kén chọn, vừa phải đẹp người, vừa phải đẹp nết. Tướng được phục trang như sau: đội mũ tướng, soái, mặc triều phục bá quan văn võ, chân đi hài thêu, lọng che. Sĩ đội mũ cánh chuồn có tua vàng. Mỗi người trong đội cờ cầm một chiếc trượng phía trên có gắn biểu tượng quân cờ được trạm trổ tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Đội nam mặc áo đỏ, đội nữ mặc áo vàng với thắt lưng theo lối xưa.
Trước khi vào vị trí của mỗi người trên sân cờ, cả đội cờ múa theo tiếng trống, đàn, phách. Sau khi quân cờ đã vào các vị trí, một hồi trống dài nổi lên, hai đấu thủ cờ mặc áo dài, khăn xếp xuất hiện để được giới thiệu danh tính, mỗi người cầm một cây cờ đuôi nheo ngũ sắc nhỏ để chỉ huy trận đánh. Quanh sân, hàng trong thì khán giả ngồi, hàng ngoài đứng, chăm chú thưởng thức ván cờ và bàn tán râm ran. Khi cờ đến hồi gay cấn, cả sân xôn xao, một nước xuất thần, cả sân đều ồ lên khoái trá. Nếu quân cờ nào đó đi hơi chậm là có tiếng trống bỏi lanh canh vui tai nhắc nhở "cắc...tom tom". Bên lề sân có một cái trống to thỉnh thoảng được gióng lên một hồi điểm cho những nước đi. Khi Tướng bị chiếu, tiếng trống dồn dập, đám đông lại càng đông hơn, đã náo nhiệt lại càng náo nhiệt thêm. Đặc biệt hơn trong một số lễ hội, thỉnh thoảng người ta còn đọc những lời thơ ứng khẩu bình những nước đi trong sân trên chiếc loa ở sân.
Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương có bài thơ vinh cuộc cờ người, có những câu sau:
Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,
Ðốt đèn lên đánh cuộc cờ người.
Hẹn rằng đấu trí mà chơi,
Cấm ngoại thủy không ai được biết.
.....
Khi vui nước nước non non,
Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.
=== Cờ tưởng ===
Cờ tưởng là hình thức đánh cờ bằng trí tưởng tượng, không nhìn bàn cờ thật. Kiểu chơi này thường đòi hỏi người chơi phải có trình độ cao, nhớ được các nước đi, thế cờ hiện tại. Quốc tế đại sư Tưởng Xuyên của Trung Quốc hiện đang giữ kỷ lục thế giới về cờ tưởng.
=== Cờ một thế trận ===
Cờ một thế trận là trong ván cờ, chỉ được chơi một thế trận như: Thuận Pháo,... Các ván cờ thường khởi đầu với những chiêu thức cũ, nhưng sau đó là rất nhiều phương án khác đa dạng độc đáo, biến hoá kỳ ảo. Giải cờ này hay được tổ chức tại Trung Quốc.
=== Cờ chấp ===
Chấp quân: Quân bị chấp sẽ được bỏ ra ngoài bàn cờ ngay từ đầu. Thường là chấp Xe, Pháo, 2 Mã và 1 Mã.
Chấp nước đi: Người được chấp sẽ được đi một vài nước trước, rồi mới đến lượt người chấp. Quân đi trước sẽ không được ăn quân hoặc qua sông. Thường là chấp 1-2-3 nước đi trước. Từ chuyên dùng gọi là chấp 1-2-3 tiên.
Trên thực tế có thể phối hợp cả 2 loại chấp trên, như chấp Mã và đi trước 2 nước (Mã 2 tiên).
=== Cờ úp ===
Cờ úp là hình thức đánh cờ khi mà 15 quân mỗi bên được úp ngược hoặc úp một cái nắp nhựa lên và sắp xếp ngẫu nhiên trừ quân tướng. Khi sắp cờ các quân cờ của mỗi bên xáo trộn ngẫu nhiên, bị úp sau đó sắp theo thế trận cờ tướng thông thường.
Nước đi đầu tiên của quân cờ úp phải tuân theo luật đi của quân cờ tại vị trí mà nó đang chiếm giữ. VD: quân bị úp đang ở vị trí của quân tốt thì phải đi theo nước của quân tốt. Sau khi đi một quân cờ úp thì quân đó sẽ lật ngửa để xem nó là quân nào và từ đó trở đi quân đó đi theo luật của quân cờ ngửa.
Luật bổ sung:
Quân sĩ không bị giới hạn trong cấm cung mà có thể đi khắp bàn cờ theo luật đi chéo của nó.
Quân tượng không bị giới hạn bên phần "sân nhà" mà có thể đi sang lãnh thổ đối phương.
Quân tốt (chốt) có thể xuất phát từ dưới đường biên ngang bên phần sân nhà và đi thẳng lên, đến khi qua sông thì được đi ngang.
So với cờ tướng thì cờ úp có nước đi phong phú và đa dạng hơn (trong một vài tình huống nguy cấp, chỉ cần mở đúng quân cờ là có thể thay đổi cục diện ván đấu), vì cờ tướng úp có thêm sĩ và tượng chiếu bắt tướng được.
=== Cờ Tam quốc ===
Là loại cờ dành cho 3 người chơi, luật chơi và số quân của mỗi bên như nhau, không khác gì với cờ tướng bình thường. Bàn cờ thường là hình lục giác, bên nào bị mất Tướng trước thì quân bên đó sẽ được sáp nhập vào quân đã chiếm quân đó, nước bị chiếm sẽ bị người chơi của nước chiếm điều khiển tùy ý (tức là một người chơi sẽ có 2 tướng, 4xe,...). Sau khi có 1 nước chiếm được một nước rồi thì quân bên kia sẽ chơi thế trận 1 chọi 2, bên quân chiếm được hai nước nếu bị chiếm một nước thì vẫn có thể sử dụng nước mình đã chiếm mà chơi tiếp.
== Thành ngữ trong cờ tướng ==
Mã nhật, Tượng điền, Xe liền, Pháo cách.
Cờ tàn, Pháo hoàn.
Khuyết Sĩ kỵ song Xe Mã.
Khuyết Tượng kỵ Pháo.
Nhất Sĩ chòi góc, cóc sợ Mã công.
Mã nhập cung Tướng khốn cùng.
Xe mười Pháo bảy Mã ba.
Nhất Xe sát vạn.
Cờ bí dí Tốt.
Nhất chiếu, nhất cách (đi một nước khác sau mỗi lần chiếu, cầu hòa).
Được thế bỏ Xe cũng tốt, mất tiên khí tử toi công.
Nhất tốt độ hà, bán xa chi lực (một Tốt sang sông có sức mạnh bằng nửa Xe).
Pháo đầu Xuất tướng Xe đâm thọc.
Pháo đầu, Mã đội, Tốt lên hà (Pháo đầu, Mã đội, Tốt lội qua sông).
Pháo giáp Mã.
Mất Xe không bằng què Tượng.
Quan kỳ bất ngữ.
Hạ thủ bất hoàn.
Khuyết Sĩ kỵ Tốt đâm thọc.
Và còn rất nhiều nữa.
== Các câu đối và thơ về cờ tướng ==
Câu đối:
Thơ:
Quan kỳ bất ngữ chân quân tử
Hạ thủ vô hồi đích trượng phu
(Xem cờ không nói mới thật quân tử Nhấc tay không hoãn mới đúng trượng phu)
== Các nhà vô địch cờ tướng Việt Nam ==
== Kỷ lục cờ tướng ==
Chơi cờ tưởng: Ngày 27 tháng 1 năm 2013 Quốc tế Đại sư Trung Quốc Tưởng Xuyên đã thi đấu cờ tưởng với 22 kỳ thủ có đẳng cấp. Kết quả, sau gần 8 giờ đồng hồ (từ 8h30 phút đến 16h12 phút) anh đã thắng 16 và hoà 6, không thua ván nào
Chơi cờ đồng loạt: Ngày 30 tháng 5 năm 1996, Từ Thiên Hồng, danh thủ cờ tướng Trung Quốc, một mình đấu cùng lúc với 100 đối thủ. Cuộc đấu cờ dài 9 giờ 28 phút với kết quả: ông thắng 83 ván, hoà 16 ván và thua 1 ván.
== Các giai thoại về cờ tướng ==
Giai thoại "Thua cờ mất Hoa Sơn": Hoa Sơn là một quả núi cao ở Trung Quốc. Ván cờ được chơi giữa một bên là Triệu Khuông Dẫn và một bên là Hy di Đạo sĩ Trần Đoàn.
Giai thoại "Chuyện ở Bích Mai Trang": Bích Mai Trang là ngôi biệt thự ở bên bờ con sông đào phía bắc kinh thành Huế xưa. Ván cờ được chơi giữa một bên là cụ Trịnh, chủ ngôi biệt thự trên, một lão kỳ thủ trứ danh với Trà Hương, một nữ kỳ thủ trẻ.
Giai thoại "Chu Tấn Trinh đánh cờ": Chu Tấn Trinh là một kỳ thủ trứ danh người Trung Quốc, ông đã chơi một ván cờ nổi tiếng với vị sư trụ trì ngôi chùa cổ.
Giai thoại "Ván cờ giữa Cao Bá Quát và vua Tự Đức".
== Xem thêm ==
=== Các loại cờ khác ===
Cờ úp
Cờ tư lệnh
Cờ vua
Shogi
Cờ vây
Renju (cờ ca rô)
=== Các danh thủ cờ tướng ===
Kỳ thủ nam Việt Nam: Mai Thanh Minh, Trịnh A Sáng, Đặng Hùng Việt, Nguyễn Thành Bảo,...
Kỳ thủ nữ Việt Nam: Lê Thị Hương, Ngô Lan Hương,...
Kỳ thủ nam Trung Quốc: Hồ Vinh Hoa, Liễu Đại Hoa, Hứa Ngân Xuyên.
Kỳ thủ nữ Trung Quốc: Đường Đan
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Chinese chess (board game) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Cờ tướng tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Liên đoàn Cờ Việt Nam
Rules, openings, strategy, ancient manuals
An Introduction to Xiangqi for Chess Players
Presentation, rules, history and variants of xiangqi |
chuỗi taylor.txt | Trong toán học, một chuỗi Taylor của một hàm toán học khả vi thực hay phức, f định nghĩa trên miền xác định (a − r, a + r) là một chuỗi lũy thừa:
T
(
x
)
=
∑
n
=
0
∞
f
(
n
)
(
a
)
n
!
(
x
−
a
)
n
{\displaystyle T(x)=\sum _{n=0}^{\infty }{\frac {f^{(n)}(a)}{n!}}(x-a)^{n}}
T
(
x
)
=
f
(
a
)
+
f
′
(
a
)
1
!
(
x
−
a
)
+
⋯
+
f
(
n
)
(
a
)
n
!
(
x
−
a
)
n
+
⋯
{\displaystyle T(x)=f(a)+{\frac {f'(a)}{1!}}(x-a)+\cdots +{\frac {f^{(n)}(a)}{n!}}(x-a)^{n}+\cdots }
Với n! là giai thừa của n và f (n)(a) là đạo hàm bậc n của f tại điểm a. Nếu a = 0, chuỗi này cũng được gọi là chuỗi Maclaurin.
Ví dụ:
sin
(
x
)
=
∑
n
=
0
∞
(
−
1
)
n
x
2
n
+
1
(
2
n
+
1
)
!
{\displaystyle \sin(x)=\sum _{n=0}^{\infty }(-1)^{n}{\frac {x^{2n+1}}{(2n+1)!}}}
sin
(
x
)
=
x
1
!
−
x
3
3
!
+
x
5
5
!
−
…
=
x
−
x
3
6
+
x
5
120
−
…
{\displaystyle \sin(x)={\frac {x}{1!}}-{\frac {x^{3}}{3!}}+{\frac {x^{5}}{5!}}-\ldots =x-{\frac {x^{3}}{6}}+{\frac {x^{5}}{120}}-\ldots }
Chuỗi Taylor được ứng dụng trong lý thuyết xấp xỉ, và giải tích. Nó cũng được mở rộng cho hàm số đa biến, khi coi a và r là các véctơ trên không gian của miền xác định của hàm.
== Xem thêm ==
Chuỗi Laurent
Định lý Taylor
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
"Taylor Series" ở MathWorld
Madhava of Sangamagramma
"Discussion of the Parker-Sochacki Method" |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.