filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
kelvin.txt | Trong hệ thống đo lường quốc tế, Kelvin là một đơn vị đo lường cơ bản cho nhiệt độ. Nó được ký hiệu bằng chữ K. Mỗi độ K trong nhiệt giai Kenvin (1K) bằng một độ trong nhiệt giai Celsius (1 °C) và 0 °C ứng với 273,15K. Thang nhiệt độ này được lấy theo tên của nhà vật lý, kỹ sư người Ireland William Thomson, nam tước Kelvin thứ nhất.
Nhiệt độ trong nhiệt giai Kelvin đôi khi còn được gọi là nhiệt độ tuyệt đối, do 0K ứng với nhiệt độ nhỏ nhất mà vật chất có thể đạt được. Tại 0K, trên lý thuyết, mọi chuyển động nhiệt hỗn loạn đều ngừng. Thực tế chưa quan sát được vật chất nào đạt tới chính xác 0K; chúng luôn có nhiệt độ cao hơn 0K một chút, tức là vẫn có chuyển động nhiệt hỗn loạn ở mức độ nhỏ. Ngay cả những trạng thái vật chất rất lạnh như ngưng tụ Bose-Einstein cũng có nhiệt độ lớn hơn 0K. Quan sát này phù hợp với nguyên lý bất định Heisenberg; nếu vật chất ở chính xác 0K, luôn tìm được hệ quy chiếu trong đó vận tốc chuyển động của chúng là 0 và vị trí không thay đổi, nghĩa là đo được chính xác cùng lúc vị trí và động lượng của hệ, vi phạm nguyên lý bất định. Nhiệt độ của hơi nước đang sôi là 373,15K. Hay nói cách khác định nghĩa Kelvin (K) là 1/273,16 của nhiệt độ nhiệt động lực học của điểm ba (điểm ba thể hay điểm ba pha) của nước (1967).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bureau International des Poids et Mesures (2006). “The International System of Units (SI) Brochure” (PDF). 8th Edition. International Committee for Weights and Measures. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2008. |
chữ viết.txt | Chữ viết là hệ thống các ký hiệu để ghi lại ngôn ngữ theo dạng văn bản, là sự miêu tả ngôn ngữ thông qua việc sử dụng các ký hiệu hay các biểu tượng. Nó phân biệt với sự minh họa như các phác họa trong hang động hay các tranh vẽ, đây là các dạng ghi lại ngôn ngữ theo các phương tiện truyền đạt phi văn bản, ví dụ như các băng từ tính trong các đĩa âm thanh. Chữ viết có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ nhưng không đồng nhất với ngôn ngữ. Người ta có thể không biết chữ nhưng vẫn có ngôn ngữ để giao tiếp. Nhiều dân tộc có ngôn ngữ riêng nhưng vẫn chưa có chữ viết.
== Lịch sử ==
Chữ viết cách đây hàng ngàn năm, trước khi có bút mực, bút chì hay giấy, mực. Các chữ viết đầu tiên được xuất hiện ở trên các bức vách trong hang động của người tiền sử, xuất hiện ở các bức vẽ.
== Chữ viết-phương tiện ghi lại thông tin ==
Đối với lịch sử phát triển của xã hội loài người, chữ viết có một vai trò rất to lớn. Chữ viết là phương tiện ghi lại thông tin, không có chữ viết thì không thể có sách, các phát minh, các thành tựu của tổ tiên cũng không thể truyền lại.
Âm thanh hay lời nói là cái vỏ vật chất của ngôn ngữ vẫn có những hạn chế nhất định, có giới hạn, không thể truyền đạt rộng rãi và chính xác, lưu giữ lâu dài như chữ viết. Âm thanh bị hạn chế về khoảng cách và thời gian theo kiểu "tam sao thất bản". Chữ viết khắc phục được những điểm trên là phương tiện hoàn hảo để truyền đạt thông tin, lưu giữ thông tin, kích thích sự sáng tạo, là thành quả kỳ diệu, vĩ đại của loài người.
== Tham khảo ==
History of Writing
A History of Writing: From Hieroglyph to Multimedia, edited by Anne-Marie Christin, Flammarion (in French, hardcover: 408 pages, 2002, ISBN 2-08-010887-5)
In the Beginning: A Short History of the Hebrew Language. By Joel M. Hoffman, 2004. Chapter 3 covers the invention of writing and its various stages.
Origins of writing on AncientScripts.com
Museum of Writing: UK Museum of Writing with information on writing history and implements
On ERIC Digests: Writing Instruction: Current Practices in the Classroom; Writing Development; Writing Instruction: Changing Views over the Years
Children of the Code: The Power of Writing - Online Video
Rogers, Henry. 2005. Writing Systems: A Linguistic Approach. Oxford: Blackwell. ISBN 0-631-23463-2 (hardcover); ISBN 0-631-23464-0 (paperback)
Ankerl, Guy. 2000. Coexisting Contemporary Civilizations: Arabo-Muslim, Bharati, Chinese, and Western. Geneva: INU Press, ISBN 2-88155-004-5, pp. 59–66, 235s.
== Liên kết ngoài ==
Why write? - a history of writing and the alphabet from the British Library
Lịch sử chữ viết
Lịch sử chữ Hán
Lịch sử các loại chữ viết Việt Nam
Luyện Chữ Đẹp |
natri clorua.txt | Đối với hợp chất này của natri dùng trong khẩu phần ăn uống, xem bài Muối ăn.
Clorua natri, còn gọi là natri clorua, muối ăn, muối, muối mỏ, hay halua, là hợp chất hóa học với công thức hóa học NaCl. Clorua natri là muối chủ yếu tạo ra độ mặn trong các đại dương và của chất lỏng ngoại bào của nhiều cơ thể đa bào. Là thành phần chính trong muối ăn, nó được sử dụng phổ biến như là đồ gia vị và chất bảo quản thực phẩm.
== Cấu trúc tinh thể ==
Clorua natri tạo thành các tinh thể có cấu trúc cân đối lập phương. Trong các tinh thể này, các ion clorua lớn hơn được sắp xếp trong khối khép kín lập phương, trong khi các ion natri nhỏ hơn điền vào các lỗ hổng bát diện giữa chúng. Mỗi ion được bao quanh bởi 6 ion khác loại. Cấu trúc cơ bản như thế này cũng được tìm thấy trong nhiều khoáng chất khác và được biết đến như là cấu trúc halua.
== Vai trò sinh học ==
Clorua natri là khoáng chất thiết yếu cho sự sống trên Trái Đất. Phần lớn các mô sinh học và chất lỏng trong cơ thể chứa các lượng khác nhau của clorua natri. Nồng độ các ion natri trong máu có mối liên quan trực tiếp với sự điều chỉnh các mức an toàn của hệ cơ thể-chất lỏng. Sự truyền các xung thần kinh bởi sự truyền tính trạng tín hiệu được điều chỉnh bởi các ion natri. (Các ion kali- một kim loại có các thuộc tính rất giống natri, cũng là thành phần chính trong cùng các hệ cơ thể).
Dung dịch 0,9% clorua natri trong nước được gọi là nước đẳng trương hay dung dịch sinh lý học do nó là đẳng trương với huyết tương. Nó được biết đến trong y học như là normal saline. Dung dịch nước đẳng trương là cơ sở chính của phẫu thuật thay thế chất lỏng được sử dụng rộng rãi trong y học để ngăn chặn hay xử lý sự mất nước, hay để truyền ven để ngăn sốc do mất máu.
Người là dị thường trong số các loài linh trưởng do có sự tiết ra mồ hôi chứa một lượng lớn clorua natri.
== Muối trong lịch sử ==
Khả năng bảo quản của muối là cơ sở của các nền văn minh. Nó góp phần loại bỏ sự phụ thuộc vào khả năng cung ứng thực phẩm theo mùa và cho phép con người có thể đi xa khỏi nơi cư trú mà không lo sợ thiếu thực phẩm. Vào thời Trung cổ, các đoàn lữ hành cùng với khoảng 40.000 lạc đà đã đi tới 4.000 dặm xuyên qua Sahara có chở theo muối, đôi khi để trao đổi lấy nô lệ.
Cho đến những năm đầu thế kỷ 20, muối vẫn còn là một trong các động cơ chủ yếu của các nền kinh tế và các cuộc chiến tranh. Muối đóng một vai trò nổi bật trong việc xác định quyền lực và sự phân bổ vị trí của các thành phố lớn nhất trên thế giới. Timbuktu đã từng là một trong các thị trường muối lớn nhất. Liverpool phát triển từ một cảng nhỏ của Anh để trở thành hải cảng xuất khẩu chủ yếu đối với các loại muối mỏ được khai thác từ mỏ muối lớn Cheshire và vì thế trở thành nguồn của muối thế giới trong những năm thế kỷ 19.
Muối đã tạo ra và hủy diệt các vương quốc. Các mỏ muối ở Ba Lan đã dẫn tới sự ra đời của hoàng loạt các vương quốc trong thế kỷ 16, và chỉ bị tiêu diệt khi người Đức đưa ra loại muối biển (thông thường, đối với phần lớn trên thế giới, được coi là 'hơn hẳn' muối mỏ). Người Venezia đã đánh nhau và giành thắng lợi trong cuộc chiến với người Genova về vấn đề muối. Tuy nhiên, người Genova mới là người giành thắng lợi cuối cùng. Những công dân Genova như Christopher Columbus và Giovanni Caboto đã "phá hủy" thương mại ở Địa Trung Hải bằng việc giới thiệu Tân Thế giới đối với thị trường.
Muối đã từng là một trong số các hàng hóa có giá trị nhất đối với loài người. Muối đã từng bị đánh thuế có lẽ từ thế kỷ 20 TCN ở Trung Quốc. Trong thời kỳ Đế chế La Mã, muối đôi khi được sử dụng như là đơn vị tiền tệ, và có lẽ là nguồn gốc của từ salary ("salt money"-tức tiền muối, xem dưới đây từ nguyên học). Cộng hòa La Mã và Đế chế La Mã đã kiểm soát giá muối, tăng nó để có tiền cho các cuộc chiến hay giảm nó để đảm bảo cho các công dân nghèo nhất cũng có thể dễ dàng có được phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn này. Trong tiến trình lịch sử, muối ăn đã có ảnh hưởng tới diễn biến các cuộc chiến, chính sách tài chính của các nhà nước và thậm chí là sự khởi đầu của các cuộc cách mạng.
Tại đế chế Mali, các thương nhân ở Timbuktu thế kỷ 12-cánh cửa tới sa mạc Sahara và trung tâm văn học-đánh giá muối có giá trị đến mức chỉ có thể mua nó theo trọng lượng tính đúng bằng trọng lượng của vàng; việc kinh doanh này dẫn tới truyền thuyết về sự giàu có khó tưởng tượng nổi của Timbuktu và là nguyên nhân dẫn tới lạm phát ở châu Âu, là nơi mà muối được xuất khẩu tới.
Thời gian sau này, ví dụ trong thời kỳ đô hộ của người Anh thì việc sản xuất và vận chuyển muối đã được kiểm soát ở Ấn Độ như là các biện pháp để thu được nhiều tiền thuế. Điều này cuối cùng đã dẫn tới cuộc biểu tình muối ở Dandi, do Mahatma Gandhi dẫn đầu vào năm 1930 trong đó hàng nghìn người Ấn Độ đã ra biển để sản xuất muối cho chính họ nhằm phản đối chính sách thuế của người Anh.
Việc buôn bán muối dựa trên một thực tế — nó đem lại nhiều lợi nhuận hơn khi bán các thực phẩm có chứa muối chứ không phải chính muối. Trước khi các mỏ muối ở Cheshire được phát hiện thì việc kinh doanh khổng lồ các loại cá của người Anh đối với muối của người Pháp đã từng tồn tại. Điều này không phải là sự hòa hợp tốt đẹp cho mỗi quốc gia khi họ không muốn phụ thuộc vào nhau. Cuộc tìm kiếm cá và muối đã dẫn tới cuộc chiến tranh bảy năm giữa hai nước. Với sự kiểm soát của người Anh đối với nghề muối ở Bahamas và cá tuyết Bắc Mỹ thì tầm ảnh hưởng của họ đã tăng lên nhanh chóng trên thế giới. Việc tìm kiếm các mỏ dầu vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đã sử dụng các công nghệ và phương thức mà những người khai thác muối đã dùng, thậm chí đến mức mà họ tìm kiếm dầu ở những nơi có các mỏ muối.
== Trong tôn giáo ==
Có 32 chỉ dẫn liên quan tới muối trong Kinh Thánh, quen thuộc nhất có lẽ là câu chuyện về vợ của Lot, là người đã trở thành cột muối sau khi bà đã không tuân lệnh các thiên sứ và quay lại nhìn thành phố độc ác Sodom (Chúa sáng tạo ra thế giới 19:26). Giê-su cũng được nói đến đối với các tín đồ của ông như là "muối của đất" (Matthew 5:13), một minh chứng cho giá trị lớn của muối trong thế giới cổ đại.
Trong tín ngưỡng shinto của người Nhật, muối được coi là "tinh khiết" và có thể sử dụng để làm tinh khiết (ban phúc) cho con người và các địa điểm.
== Sản xuất và sử dụng ==
Ngày nay, muối được sản xuất bằng cách cho bay hơi nước biển hay nước muối từ các nguồn khác, chẳng hạn các giếng nước muối và hồ muối, và bằng khai thác muối mỏ.
Trong khi phần lớn mọi người là quen thuộc với việc sử dụng nhiều muối trong nấu ăn, thì họ có thể lại không biết là muối được sử dụng quá nhiều trong các ứng dụng khác, từ sản xuất bột giấy và giấy tới cố định thuốc nhuộm trong công nghiệp dệt may và sản xuất vải, trong sản xuất xà phòng và bột giặt. Tại phần lớn các khu vực của Canada và miền bắc Hoa Kỳ thì một lượng lớn muối mỏ được sử dụng để giúp làm sạch băng ra khỏi các đường cao tốc trong mùa đông, mặc dù "Road Salt" mất khả năng làm chảy băng ở nhiệt độ dưới -15 °C tới -20 °C (5 °F tới -4 °F).
Muối cũng là nguyên liệu để sản xuất clo là chất cần thiết để sản xuất nhiều vật liệu ngày nay như PVC và một số thuốc trừ sâu.
=== Chất điều vị ===
Xem bài chính: Muối ăn
Muối được sử dụng chủ yếu như là chất điều vị cho thực phẩm và được xác định như là một trong số các vị cơ bản. Thật không may là nhiều khi người ta ăn quá nhiều muối vượt quá định lượng cần thiết, cụ thể là ở các vùng có khí hậu lạnh. Điều này dẫn đến sự tăng cao huyết áp ở một số người, mà trong nhiều trường hợp là nguyên nhân của chứng nhồi máu cơ tim.
=== Sử dụng trong sinh học ===
Nhiều loại vi sinh vật không thể sống trong các môi trường quá mặn: nước bị thẩm thấu ra khỏi các tế bào của chúng. Vì lý do này muối được sử dụng để bảo quản một số thực phẩm, chẳng hạn thịt/cá xông khói. Nó cũng được sử dụng để khử trùng các vết thương.
=== Khử băng ===
Trong khi muối là mặt hàng khan hiếm trong lịch sử thì sản xuất công nghiệp ngày nay đã làm cho nó trở thành mặt hàng rẻ tiền. Khoảng 51% tổng sản lượng muối toàn thế giới hiện nay được các nước có khí hậu lạnh dùng để khử băng các con đường trong mùa đông. Điều này là do muối và nước tạo ra một hỗn hợp eutecti có điểm đóng băng thấp hơn khoảng 10°C so với nước nguyên chất: các ion ngăn cản không cho các tinh thể nước đá thông thường được tạo ra (dưới −10 °C thì muối không ngăn được nước đóng băng). Các e ngại là việc sử dụng muối như thế có thể bất lợi cho môi trường. Vì thế tại Canada thì người ta đã đề ra các định mức để giảm thiểu việc sử dụng muối trong việc khử băng.
=== Các phụ gia ===
Muối ăn mà ngày nay người ta mua về dùng không phải là clorua natri nguyên chất như nhiều người vẫn tưởng. Năm 1911 cacbonat magiê đã lần đầu tiên được thêm vào muối để làm cho nó ít vón cục. Năm 1924 các lượng nhỏ iốt trong dạng natri iođua, kali iođua hay kali iođat đã được thêm vào, tạo ra muối iốt nhằm giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh bướu cổ.
== Từ nguyên học ==
Muối có ảnh hưởng tới tiếng Anh. Nhiều hiệu ứng của nó vẫn có thể thấy được cho đến tận ngày nay. Các từ và thành ngữ liên quan đến muối chủ yếu đến từ các nền văn minh cổ đại của La Mã và Hy Lạp khi muối còn là mặt hàng có giá trị lớn.
Binh lính La Mã đã được trợ cấp để mua muối (tiếng Latinh: sal), salarium argentum, mà từ đó có từ tiếng Anh ngày nay salary. Người La Mã cũng thích cho muối vào rau xanh của họ, điều này dẫn đến từ Latinh cho muối được tích hợp lại trong từ salad (trong tiếng Latinh bản xứ thì salata có nghĩa là "ướp muối").
== Các dữ liệu khác ==
Đất mặn nói chung không thích hợp cho nông nghiệp, vì thế đã có thực tế của làm mặn đất.
Niềm tin mê tín là muối bị rớt xuống đem lại sự không may mắn được cho là có nguồn gốc từ lọ muối bị lật đổ trước mặt Giu-đa tại Bữa ăn tối cuối cùng, được thể hiện trong bức họa nổi tiếng của Leonardo da Vinci là Bữa ăn tối cuối cùng.
Do nồng độ muối cao của mình nên nước của biển Chết có tỷ trọng riêng cao đến mức một số vật thể mà thông thường không nổi trong nước vẫn có khả năng nổi trong nước của biển này. Người có thể nổi dễ dàng trong nước của biển này, do có tỷ trọng riêng chỉ cao hơn một chút so với nước tinh khiết. (Chỉ có 8% muối trong nước biển Chết là clorua natri; 53% là clorua magiê, 37% là clorua kali.)
Các thành phố Cincinnati, Detroit và Hutchinson là các thành phố có nhiều mỏ muối đang khai thác nhất.
Đệ tam Quốc xã lưu trữ phần lớn tiền, các bức tranh và các công trình nghệ thuật khác trong các mỏ muối và nhiều tài liệu, vật phẩm quan trọng vẫn tiếp tục được lưu trữ trong các mỏ muối cũ cho đến nay. Chúng cũng được sử dụng để lưu trữ chất thải hạt nhân.
== Xem thêm ==
Độ mặn sinh học
Muối đen
Muối ăn
Độ mặn
Xà phòng
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website của Salt Institute
Website của Salt Archive
Video về các khoang muối mỏ (divx, 378kb) |
bêđa.txt | Bêđa (sinh 672/673 - mất 26 tháng 5 năm 735), cũng được gọi là Thánh Bêđa hay Bêđa Khả kính (tiếng Latinh: Beda Venerabilis), là một tu sĩ người Anh ở tu viện Thánh Phêrô Monkwearmouth cũng như tu viện Thánh Phaolô Jarrow, miền Đông Bắc của Anh Cát Lợi, khi đó thuộc Vương quốc Northumbria. Ông được biết đến là một tác giả và học giả, với tác phẩm nổi tiếng nhất của mình Historia ecclesiastica gentis Anglorum ("Lịch sử giáo hội của người Anh") ông được gọi là "Cha của ngành sử học Anh".
Bêđa là người Anh duy nhất được truy phong Tiến sĩ Hội thánh (Anselm thành Canterbury là người gốc Ý). Ông là một nhà ngôn ngữ học và dịch thuật uyên thâm, công trình của ông đã giúp các đồng nghiệp Anglo-Saxon dễ tiếp cận hơn với tác phẩm của các giáo phụ vốn viết bằng tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp.
== Chú thích ==
== Nguồn tham khảo ==
=== Nguồn sơ cấp ===
=== Nguồn thứ cấp ===
Ray, Roger (2001). “Bede”. Trong Lapidge, Michael và đồng nghiệp. Blackwell Encyclopedia of Anglo-Saxon England. Malden, MA: Blackwell. tr. 57–59. ISBN 978-0-631-22492-1. Bảo trì CS1: Định rõ "và đồng nghiệp" (link) |
công viên văn hoá đầm sen.txt | Công viên Văn hoá Đầm Sen là công viên giải trí nằm trên đường Hòa Bình, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Công viên có diện tích 50 hecta gồm 20% là mặt hồ và 60% cây xanh và vườn hoa.
== Lịch sử hình thành ==
Trước năm 1975, mảnh đất thuộc Công viên Văn hoá Đầm Sen hiện nay là một khu đầm lầy hoang hoá.
Trong các năm 1976-1978, theo lời kêu gọi của Thành ủy - UBND TP Hồ Chí Minh, hàng chục ngàn lao động từ khắp các quận, huyện trong thành phố được huy động đến để nạo vét, trồng cây ở khu vực này.
Năm 1983, công trình bước đầu đưa vào sử dụng khoản 30 ha vừa mặt nước, vừa thảm xanh. Thành phố giao cho Quận 11 quản lý. UBND Quận 11 giao cho 3 đơn vị: Công ty Ăn uống Q.11, Công ty Văn hóa tổng hợp và Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản khai thác.
Năm 1989, công trình được giao cho Công ty Dịch vụ Du lịch Phú Thọ - đơn vị vừa mới tách ra từ Công ty Ăn uống Q.11 - quản lý và đầu tư cho đến nay.
== Các đặc điểm chính ==
Toàn công viên trải dài trên một diện tích rộng gồm 30 khu vực: Khu trò chơi điện tử, Sân khấu cổ tích, Lâu đài cổ tích, Sân khấu quảng trường, Hồ Tây thu nhỏ, Nam tú thượng uyển, Non bộ - thủy cung, Ðảo khiêu vũ, Nhà sinh vật biển, Rối nước, Vườn chim thiên nhiên, Chùa cổ Giác Viên, Vườn bướm thiên nhiên(đã đóng cửa), Khu câu cá, Khu trưng bày kỳ long, Quán trà đạo, Khu trò chơi mạo hiểm, Hồ thiên nga, Hồ ngựa phi, Vườn hoa châu Âu, Quảng trường La Mã, Quảng trường văn hoá, Sân khấu nhạc nước, Khu bowling, Khu dịch vụ thể thao, Hồ câu tôm, Nhà hàng thủy tạ, Khu trò chơi thiếu nhi, Ðèn tạo hình, Cầu cửu khúc, Nhà ga Monorail, đường ray Monorail, câu cá sấu, băng đăng...
Một hòn non bộ cao 22m với nhiều thác ghềnh, hang động mà tầng hang động lớn nhất được bố trí thành thuỷ cung với đủ các loài cá nhiều màu. Rồi Nam tú thượng uyển với một hệ thống vườn phong lan, các loại cây cảnh bonsai phong phú và đa dạng. Với đối tượng thiếu niên ưa hiếu động trong công viên có khá nhiều sân chơi hấp dẫn: sân trượt patanh, xe ô tô điện, tàu trượt cao tốc, công viên nước...Ðặc biệt trong công viên nước Ðầm Sen có những công trình mà chưa thêm thể loại hình ảnh và tài liệu công viên nào trong nước có: Tàu du lịch trên không (Monorail). Ngồi trên tàu chạy trên cao 5m so với mặt đất và với chiều dài gần 2000m du khách có thể quan sát toàn bộ cảnh trí công viên Ðầm Sen với góc nhìn đẹp nhất. Bạn nào ưa trò mạo hiểm có thể thử sức với thuyền mạo hiểm vượt thác. Con thuyền sẽ đưa bạn qua thác ghềnh, hang động, và lao xuống theo thác nước dựng đứng. Công trình gây ấn tượng nhiều nhất có lẽ là vườn châu Âu - Quảng trường La Mã: đây là hệ thống vườn hoa kiểu châu Âu được tạo dáng bằng các bồn hoa hồng nhiều màu sắc, các cột trụ La Mã uy nghi, những tượng đá duyên dáng và sân khấu nhạc nước gồm 3.000 chỗ ngồi...
Sân khấu Laser Nhạc Nước được xây dựng năm 2005 với số vốn đầu tư 12 tỷ đồng, vị trí nằm phía sau vườn hoa châu Âu, sân khấu có mái che với sức chứa 3.000 chỗ ngồi. Sân khấu Laser Nhạc Nước là một loại hình nghệ thuật độc đáo, hiện đại, duy nhất tại Việt Nam mà các kỹ sư Đầm Sen đã học được từ mô hình nhạc nước ở đảo Sentosa (Singapore). Đây là sự kết hợp giữa chương trình ca nhạc với sân khấu thiết kế chuyên biệt có hệ thống phun nước và đèn laser, chiếu phim trên màn hình nước cao 28m. Phối hợp yếu tố nghệ thuật với kỹ thuật, những vòi phun nước chuyển động huyền ảo với ánh sáng, màu sắc và âm nhạc.
== Đặc điểm ==
Đầm Sen là một trong những khu du lịch lớn đặc sắc nhất nước Việt Nam. Kiến trúc được kết hợp một cách hoàn mĩ nền văn hóa Đông-Tây và một chút vẻ đẹp thời La Mã. Ngoài những khu vui chơi, Đầm Sen còn có những nhà hàng, khách sạn và hàng chục các loại hình khác để phục vụ khách du lịch. Đầm Sen là nơi vui chơi giải trí rất hấp dẫn cho người trong và ngoại nước.
Đặc biệt "Thuỷ cung Đầm Sen" là một công trình phục vụ tham quan giải trí mới của Công viên văn hoá Đầm Sen do Tổng công ty Dịch vụ Du lịch Phú Thọ và Công ty TNHH TM & DV Hải Thanh làm chủ đầu tư. Thuỷ cung toạ lạc tại vườn Nam Tú Thượng Uyển - khu A Công viên văn hoá Đầm Sen. Công trình mới khai trương giai đoạn 1 vào ngày 04/08/2013 và hiện tại đang tiếp tục xây dựng giai đoạn 2 với những công trình phụ mới lạ và đặc sắc nhằm phục vụ du khách.
Thủy cung Đầm Sen có diện tích trên 3000m2 với tổng thể tích nước trên 2500m3, là nơi sinh sống của hơn 6000 cá thể sinh vật thuộc hàng trăm loài sinh vật đa dạng dưới nước. Thuỷ cung Đầm Sen bao gồm các điểm tham quan chính sau:
Hệ thống hồ cá ngoài trời với hơn 1000 cá thể thuộc hai loài cá Koi và cá Ali, du khách có thể thoả thích ngắm nhìn những chú cá đẹp, lạ mắt, nhiều màu sắc bơi thành từng đàn và cho cá ăn, vui đùa với cá.
Thành phố huyền thoại Atlantic chìm sâu dưới đáy biển là nơi sinh sống của những loài cá quý hiếm như cá Khổng Tước, cá Hoàng Đế, cá Hoàng Hậu, cá Hoàng Yến, cá Hoàng Gia,...
Hồ cá mập có thể tích lớn nhất Việt Nam với nhiều chủng loại cá mập khác nhau như cá mập Mã Lai, cá mập vây đen, cá mập vây trắng, cá mập da beo,... và nhiều loài sinh vật có thể sống chung với cá mập như các loài cá mú, các loài rùa biển, các loài chình biển, các loài cá đuối,...
Hồ cá Ali với hàng trăm con mang 18 màu sắc thuộc nhiều họ khác nhau.
Lưu vực sông Mê Kông với các loài cá nước ngọt quý hiếm như cá Tra Dầu, cá Éc Mọi, cá Duồng, cá Hô, cá Thành Cát Tư Hãn,... cùng những con cá Koi lớn, mỗi con là một bức tranh nghệ thuật.
Hồ trung tâm mô phỏng lại rạn san hô Trường Sa. Đây là ngôi nhà của hơn 1000 cá thể sinh vật. Trong đó có những loài đặc biệt quý hiếm được chuyển từ Trường Sa về.
Hệ thống hồ chuyên đề với những loài sinh vật đặc sắc như cá Nemo, cá Bắp Nẻ, hải quỳ, san hô sống, trai Tai Tượng, trai Tai Nghé, cá Mặt Quỷ, cá Ngựa, ca Thiên Long, cá Nóc,...
Đa dạng sắc màu của vùng biển Việt Nam với hàng trăm loài cá cảnh biển có giá trị kinh tế cao như cá Bò Bông Bi, cá Mao Tiên, cá Sú Mì với đường chân mày sau mắt, cá Nóc Nhím, cá Mó Nanh, cá Bò Đuôi Én,...
Sự đa dạng sinh học của dòng sông Amazon là các loài cá quý hiếm khổng lồ như cá Hải Tượng, cá Hồng Vỹ Mỏ Vịt, cá Phúc Lộc Thọ, cá Piranha,...
Năm 1994, Thuỷ cung Đầm Sen là thuỷ cung đầu tiên tại Việt Nam với nhiều loài cá cảnh khác nhau thu hút hàng triệu lượt khách đến tham quan.
Năm 2013, Thuỷ cung Đầm Sen được xây mới lại hoàn toàn với nhiều cải tiến đặc sắc như vẻ ngoài mang hình con cua khổng lồ, bên trong là những hệ thống hồ được áp dụng công nghệ cao để xây dựng và vận hành các hệ thống hồ nhằm tạo môi trường phù hợp cho hàng trăm loài cá đa dạng, sặc sỡ, quý hiếm sinh sống. Thuỷ cung Đầm Sen đang tiếp tục được xây dựng giai đoạn 2 với những công trình phụ mới lạ nhằm phục vụ du khách đến tham quan, học tập, nghiên cứu và giải trí ngày một tốt hơn.
== Thành tích ==
Huân chương Lao động hạng nhất (ngày 14 tháng 1 năm 2003)
Huân chương Lao động hạng nhì (ngày 15 tháng 10 năm 1998)
5 Bằng khen của Bộ Văn hoá Thông tin
Cờ Thi đua xuất sắc năm 1999
2 Bằng khen của Tổng cục Du lịch
2 Bằng khen của UBND Thành phố Hà Nội
9 Bằng khen của UBND Thành phố Hồ Chí Minh
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức |
armenia.txt | Armenia ( /ʔˈmiːnjə/; tiếng Armenia: Հայաստան, chuyển tự: Hayastan, IPA: [hɑjɑsˈtɑn]; phiên âm Tiếng Việt: Ác-mê-ni-a), tên chính thức Cộng hoà Armenia (tiếng Armenia: Հայաստանի Հանրապետություն, chuyển tự: Hayastani Hanrapetut’yun), là một quốc gia nhiều đồi núi nằm kín trong lục địa ở phía nam Kavkaz. Nước này có biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ ở phía tây, Gruzia ở phía bắc, Azerbaijan ở phía đông và Iran cùng phần lãnh thổ tách biệt Nakhchivan của Azerbaijan ở phía nam. Là một nước cộng hoà trước kia thuộc Liên bang Xô viết, Armenia là một trong những quốc gia lâu đời nhất thế giới và được cho là nơi Noah cùng con cháu của mình đã dừng lại định cư lần đầu tiên. Dù theo hiến pháp Armenia là một quốc gia phi tôn giáo, Kitô giáo đóng một vai trò quan trọng cả trong lịch sử và bản sắc riêng của dân tộc Armenia.
Armenia hiện là một thành viên của Liên hiệp quốc, Hội đồng châu Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập, và là quan sát viên của Cộng đồng Kinh tế Á Âu. Đất nước này là một nền dân chủ đang nổi lên và bởi vì vị trí chiến lược của mình, Armenia vừa nằm trong tầm ảnh hưởng của Nga và của Hoa Kỳ.
== Nguồn gốc tên gọi ==
Tên gốc theo tiếng Armenia là Hayq, sau này Hayastan. Hayasa, gắn với hậu tố tiếng Ba Tư '-stan' (đất đai). Haik là một trong những lãnh đạo kiệt xuất người Armenia và cái tên Miền đất của Haik đã được đặt theo tên ông. Theo truyền thuyết, Haik là chút của Noah (con trai của Togarmah, người là con của Gomer, người là con của Japheth, người là con của Noah), và theo truyền thống cổ Armenia, một tổ tiên của toàn bộ người Armenia. Ông cũng được cho là đã định cư bên dưới chân núi Ararat, đã đi tham gia vào việc xây dựng tháp Babel, và, sau khi quay trở lại, đánh bại vua Babylon là Bel (được một số nhà nghiên cứu cho là Nimrod) ngày 11 tháng 8 năm 2492 TCN gần núi Lake Van, ở phía nam Armenia trong lịch sử (hiện ở Thổ Nhĩ Kỳ).
Hayq được các nước xung quanh gọi là Armenia, có lẽ nó từng là tên của bộ lạc mạnh nhất sống ở những vùng đất thuở xưa của Armenia, những người tự gọi mình là Armens và có nguồn gốc Ấn Âu. Theo truyền thống, nó bắt nguồn từ chữ Armenak hay Aram (chắt của chắt của Haik, và một lãnh đạo khác, người theo truyền thống Armenia là tổ tiên của tất cả người dân Armenia). Một số học giả Do Thái và Kitô giáo viết rằng cái tên 'Armenia' bắt nguồn từ Har-Minni, có nghĩa là 'Núi Minni' (hay Mannai). Những lý lẽ ủng hộ Kitô giáo cho rằng Nairi, có nghĩa vùng đất của những con sông, từng là một tên cổ gọi vùng núi của nước này, lần đầu được người Assyria sử dụng khoảng năm 1200 TCN; trong khi văn bản ghi chép đầu tiên được biết tới có tên Armenia, là Bản khắc Behistun tại Iran, có niên đại từ năm 521 TCN.
== Lịch sử ==
Ngay từ thời tiền sử tại Armenia đã có người sinh sống, và nơi đây thậm chí có thuyết cho rằng đây chính là vườn Địa đàng trong Kinh thánh. Cho tới tận thế kỷ thứ nhất, Armenia là một đế quốc với nền văn hóa phong phú, dưới thời vua Tigranes Đại đế, trải rộng từ bờ biển Đen tới biển Caspi và biển Địa Trung Hải.
Vị trí chiến lược của Armenia giữa hai lục địa khiến cho nó trở thành mục tiêu cho các cuộc xâm lược của rất nhiều dân tộc, bao gồm người Assyria, Ba Tư, Hy Lạp, La Mã, Byzantine, Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và Mông Cổ.
Năm 301 sau Công Nguyên, Armenia trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới nhận Kitô giáo làm quốc đạo, mười năm trước khi Đế quốc La Mã, dưới quyền Hoàng đế Galerius chính thức chấp nhận khoan dung Kitô giáo, và ba mươi sáu năm trước khi Hoàng đế Constantinus được rửa tội. Trước Kitô giáo, ở đây đã tồn tại nhiều cộng đồng tôn giáo khác nhau, nhưng một làn sóng các nhà truyền giáo đã tới đây và cải đạo cho họ.
Sau khi bị thống trị bởi nhiều triều đại khác nhau, bao gồm Parthia, La Mã, Byzantine, Ả rập, Mông Cổ và Iran, Armenia dần bị suy yếu. Tới những năm 1500, Đế quốc Ottoman và Safavid Ba tư chia nhau Armenia. Về sau, lãnh thổ Đông Armenia (bao gồm các tiểu vương quốc Erivan và Karabakh) khi đó thuộc Ba tư, bị sáp nhập vào Đế quốc Nga trong những năm 1813 và 1828.
Dưới thời cai trị Ottoman, người Armenia và người Thổ Nhĩ Kỳ đa số sống với nhau khá hòa thuận. Tuy nhiên, khi Đế chế Ottoman bắt đầu sụp đổ và Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra, một phần lớn người Armenia sống tại Anatolia đã thiệt mạng vì kết quả của cái được gọi là cuộc Diệt chủng Armenia. Những sự kiện từ năm 1915 tới năm 1918 được người Armenia và đại đa số các nhà sử học phương Tây coi là những vụ thảm sát hàng loạt được nhà nước hậu thuẫn. Tuy nhiên, chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ vẫn giữ quan điểm rằng số người chết do nguyên nhân một cuộc nội chiến cộng với dịch bệnh và nạn đói, gây thiệt hại nhân mạng cả hai bên. Đa phần những ước tính về số người Armenia thiệt mạng thay đổi trong khoảng từ 650.000 tới 1.500.000, và những sự kiện đó thường được tưởng niệm hàng năm vào ngày 24 tháng 4, ngày tử vì đạo của những người Armenia theo Kitô giáo.
Armenia và cộng đồng Do Thái Armenia đã từng vận động sự công nhận chính thức những sự kiện trên là vụ diệt chủng từ hơn 30 năm nay. Tuy có nhiều nước dưới sức ép của Thổ Nhĩ Kỳ không chính thức coi những cuộc thảm sát người Armenia là diệt chủng, nhiều nước đã thông qua luật chính thức công nhận thực tế cuộc diệt chủng: Pháp, Nga, Canada, Italia, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Hà Lan, Bỉ, Hy Lạp, Síp, Slovakia, Uruguay, Argentina, Ba Lan, Liban, Cộng đồng châu Âu, nhiều bang tại Hoa Kỳ. Hạ viện Hoa Kỳ hầu như đã thông qua một luật tương tự vào cuối thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Clinton, nhưng người phát ngôn Hastert đã rút lịch bỏ phiếu khỏi lịch trình ở phút cuối cùng. Nguồn tin năm 2006 từ các cơ quan báo chí đáng tin cậy cho thấy Hastert đã nhận được những lời phàn nàn từ phía chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đòi dừng cuộc thảo luận về vấn đề diệt chủng người Armenia.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Cộng hòa Dân chủ Armenia được thành lập, gồm vùng Tây Armenia thuộc quyền cai trị của Ottoman trước kia và vùng Đông Armenia thuộc quản lý của Nga. Đồng Minh và Liên minh các Cường quốc cùng Đế chế Ottoman đã ký Hiệp ước Sèvres tại Sevres ngày 10 tháng 8 năm 1920, hứa hẹn duy trì sự tồn tại của nhà nước dưới sự bảo hộ của Hội quốc liên. Tuy nhiên, hiệp ước này đã bị Phong trào Quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ phản đối và không bao giờ được thi hành. Phong trào này, dưới sự lãnh đạo của Kemal Atatürk, đã dùng hiệp ước làm cơ hội tự tuyên bố mình là chính phủ hợp pháp của Thổ Nhĩ Kỳ, thay thế nền quân chủ tại Istanbul bằng một nền cộng hòa tại Ankara.
Năm 1920, Armenia và Thổ Nhĩ Kỳ lao vào cuộc Chiến tranh Thổ Nhĩ Kỳ-Armenia, một cuộc xung đột bạo lực chấm dứt với Hiệp ước Alexandropol theo đó người Armenia đầu hàng và giao nộp phần lớn vũ khí cũng như đất đai của mình cho người Thổ. Năm 1922, phần lãnh thổ Armenia còn lại bị Hồng Quân xâm chiếm, và nước này được gộp vào trong Liên bang Xô viết như một phần của Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Ngoại Kavkaz (TSFR) có thời gian tồn tại ngắn ngủi cùng Gruzia và Azerbaijan. Hiệp ước Alexandropol sau đó đã được thay thế bằng Hiệp ước Kars, giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Liên bang Xô viết. Theo đó, Thổ Nhĩ Kỳ nhường tỉnh Ajaria cho Liên bang Xô viết để đổi lấy chủ quyền với các vùng lãnh thổ Kars, Ardahan, và Iğdır. Vì người Armenia không có tiếng nói trong hiệp ước này, tới ngày nay, Armenia, không công nhận hiệp ước và vẫn giữ tuyên bố chủ quyền với các tỉnh đó.
TSFR tồn tại từ năm 1922 tới năm 1936, khi nó bị chia thành ba thực thể riêng biệt (Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Armenia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Azerbaijan, và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Gruzia). Người Armenia đã có được một giai đoạn khá ổn định dưới thời Xô viết. Họ nhận được thực phẩm, thuốc men và các nhu yếu phẩm khác từ Moskva, và thời gian cầm quyền của những người cộng sản đã trở thành thời kỳ yên ổn, dễ chịu trái ngược hoàn toàn với tình trạng hỗn loạn những năm cuối thời kỳ Đế chế Ottoman. Tình hình chỉ không dễ chịu với nhà thờ, vốn phản đối quyền cai trị Xô viết. Sau cái chết của Vladimir Lenin, Joseph Stalin nắm quyền và bắt đầu một giai đoạn khủng bố và sợ hãi khác với người Armenia. Như trường hợp nhiều sắc tộc thiểu số khác sống trong Liên bang Xô viết trong thời kỳ Đại thanh trừng của Stalin, hàng triệu người Armenia vô tội đã bị hành quyết và trục xuất. Sự sợ hãi càng gia tăng khi Stalin chết năm 1953 và Nikita Khruschev nổi lên trở thành lãnh đạo mới của đất nước.
Trong thời kỳ Gorbachev ở thập niên 1980, căng thẳng gia tăng giữa Armenia và Azerbaijan về vùng Nagorno-Karabakh. Cùng trong thập kỷ này, nước Armenia Xô viết phải chịu một trận động đất kinh hoàng tại thành phố Spitak, năm 1988. Năm 1991, Liên bang Xô viết tan vỡ và Armenia tái lập quyền độc lập. Armenia và Azerbaijan tiếp tục cuộc tranh cãi, dẫn tới chiến tranh Nagorno-Karabakh. Dù có một cuộc ngừng bắn từ năm 1994, Armenia vẫn chưa giải quyết được cuộc xung đột với Azerbaijan về Nagorno-Karabakh. Nền kinh tế của cả hai quốc gia đều bị ảnh hưởng bởi chiến tranh. Dù vậy, Armenia vẫn là quốc gia có nền kinh tế tự do đứng thứ 27 trên thế giới [3]. Năm 1995, Hiến pháp mới được phê chuẩn thông qua cuộc trưng cầu ý dân, củng cố thêm quyền lực của Tổng thống.
== Chính trị ==
Chính trị Armenia theo khuôn khổ một nền cộng hoà đại diện dân chủ tổng thống, theo đó Tổng thống là Lãnh đạo chính phủ, và một hệ thống chính trị đa đảng. Quyền hành pháp thuộc chính phủ. Quyền lập pháp được cả chính phủ và nghị viện đảm nhiệm.
Các đảng phái chính:
Đảng thân chính quyền: Đảng Công nông; Đảng Armenia; Phong trào dân tộc Armenia; Đảng Tự do Armenia Ramcava; Đảng Liên minh cách mạng Armenia; Đảng dân chủ; Khối Công lý (gồm các Đảng dân chủ, Đảng dân tộc dân chủ, Liên minh dân tộc dân chủ, Đảng nhân dân và Đảng Cộng hoà); Đảng Dân tộc dân chủ (Đảng của Tổng thống); Liên minh dân tộc dân chủ; Đảng Dân tộc phục sinh; Đảng Thống nhất dân tộc; Đảng Nhân dân Armenia; Đảng Cộng hoà…
Đảng đối lập: Liên minh Yerkrapah.
=== Đối ngoại ===
Armenia thi hành chính sách cân bằng quan hệ với Nga và phương Tây. Ưu tiên chính trong chính sách đối ngoại của Armenia là hợp tác khu vực và giải quyết xung đột tại Nagorno-Karabakh với Azerbaijan.
Với Nga và SNG: Nga và Armenia đã ký Hiệp định quân sự, cho phép Nga tiếp tục sử dụng các căn cứ quân sự từ thời Liên Xô. Tích cực tham gia các hoạt động của khối SNG. Armenia hiện là quan sát viên (từ tháng 4 năm 2003) của cộng đồng kinh tế Âu-Á (EuvAzEC), thành viên của Hiệp ước an ninh tập thể (ODKB) gồm 6 nước Nga, Belarus, Armenia, Tajikistan, Kyrgyzstan, Uzbekistan.
Với các nước khác: Armenia chú trọng hợp tác với các nước đang phát triển. Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản là những đối tác lớn. Ngoài ra, Thái Lan, Indonesia, Malaysia gần đây đang tăng cường quan hệ với Armenia; có quan hệ tốt với Iran và Gruzia nhằm mục đích giải quyết khó khăn về kinh tế và giao thông. Vừa qua, Armenia và Thổ Nhĩ Kỳ đã ký Biên bản bình thường hóa quan hệ.
Là thành viên của nhiều Tổ chức quốc tế trong đó có Liên Hiệp Quốc, OSCE, UNESCO, WTO.
== Phân chia hành chính ==
Armenia được chia thành mười tỉnh và một thành phố thủ đô tương đương cấp tỉnh, gồm:
Aragatsotn
Ararat
Armavir
Gegharkunik
Kotayk
Lori
Shirak
Syunik
Tavush
Vayots Dzor
Yerevan (thủ đô)
== Địa lý ==
Armenia là một quốc gia nằm kín trong lục địa tại nam Kavkaz. Nằm giữa Biển Đen và Biển Caspia, Armenia giáp với Gruzia về phía bắc, Azerbaijan về phía đông, Iran về phía nam, và Thổ Nhĩ Kỳ về phía tây và tây nam. Dù về địa lý nằm ở Tây Á, về chính trị và văn hóa Armenia gần gũi với châu Âu. Về lịch sử, Armenia từng là ngã tư đường giữa châu Âu và tây nam Á, và vì thế được coi là một quốc gia liên lục địa.
Cộng hoà Armenia, bao phủ diện tích 30 000 km² (11.600 dặm vuông), nằm ở đông bắc cao nguyên Armenia (bao phủ diện tích 400 000 km² hay 154.000 dặm vuông).
Đất đai chủ yếu là núi non, với những dòng sông chảy nhanh và một ít rừng. Khí hậu cao nguyên lục địa: mùa hè nóng và mùa đông lạnh. Điển cao nhất đất nước là đỉnh núi Aragats, cao 4095 mét (13.435 ft) trên mực nước biển, và không có điểm nào thấp dưới 390 mét (1.280 ft) trên mực nước biển. Núi Ararat, được người Armenia coi là một biểu tượng của quốc gia họ, là núi cao nhất trong vùng và từng là một phần của Armenia cho tới tận khoảng năm 1915, khi nó rơi vào tay người Thổ Nhĩ Kỳ.
Armenia đang tìm cách giải quyết các vấn đề môi trường của họ. Nước này đã thành lập Bộ Bảo vệ Tự nhiên và đưa ra các sắc thuế về ô nhiễm không khí và nước và chất thải rắn, nguồn thu từ những loại thuế này sẽ được sử dụng cho các hoạt động bảo vệ môi trường. Armenia rất chú trọng hợp tác với các thành viên khác trong Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS, một nhóm 11 nước cộng hoà Xô viết trước kia) và với các thành viên cộng đồng thế giới về các vấn đề môi trường. Chính phủ Armenia đang đặt kế hoạch đóng cửa Nhà máy Điện Hạt nhân Medzamor gần Yerevan ngay khi tìm được nguồn năng lượng thay thế thích hợp.
== Kinh tế ==
Cho tới khi độc lập, kinh tế Armenia chủ yếu dựa trên công nghiệp với các sản phẩm hóa chất, điện tử, máy móc, thực phẩm chế biến, cao su nhân tạo, và dệt may và dựa nhiều vào các nguồn tài nguyên từ bên ngoài. Nông nghiệp chiếm khoảng 20% sản phẩm thực và 10% nhân công trước khi Liên bang Xô viết tan rã năm 1991. Các sản phẩm mỏ Armenia là đồng, kẽm, vàng, và chì. Đại đa số năng lượng có từ nguồn nhiên liệu nhập khẩu từ Nga, gồm khí đốt và nhiên liệu hạt nhân (với một nhà máy điện hạt nhân); nguồn năng lượng chủ yếu trong nước là thủy điện. Một lượng nhỏ than, khí đốt, và dầu mỏ vẫn chưa được khai thác.
Tương tự như các quốc gia mới độc lập từ Liên bang Xô viết cũ khác, kinh tế Armenia phải đương đầu với di sản của một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung và sự tan vỡ của thị trường thương mại Xô viết truyền thống. Đầu tư và hỗ trợ của Xô viết vào ngành công nghiệp Armenia bị mất, vì thế chỉ một ít doanh nghiệp lớn chủ chốt còn hoạt động. Ngoài ra, những hậu quả của trận động đất Spitak năm 1988, giết hại hơn 25.000 người và khiến 500.000 người mất nhà cửa vẫn còn đó. Cuộc xung đột với Azerbaijan về vùng Nagorno-Karabakh vẫn chưa được giải quyết. Sự đóng cửa biên giới với Azerbaijan và Thổ Nhĩ Kỳ đã khiến nền kinh tế bị suy sụp, bởi Armenia phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu thô và năng lượng từ bên ngoài. Những con đường bộ qua Gruzia và Iran không đầy đủ và không đáng tin cậy. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giảm gần 60% từ năm 1989 tới năm 1992–1993. Đồng tiền tệ quốc gia, đồng dram, bị siêu lạm phát trong những năm đầu tiên sau khi được đưa vào lưu hành năm 1993.
Tuy thế, chính phủ vẫn đưa ra được những cuộc cải cách kinh tế ở quy mô lớn, làm giảm đáng kể nạn lạm phát và ổn định tăng trưởng. Cuộc ngừng bắn năm 1994 cho cuộc xung đột Nagorno-Karabakh cũng giúp nền kinh tế. Armenia đã đạt tăng trưởng kinh tế mạnh từ năm 1995, một bước ngoặt so với giai đoạn trước đó, và lạm phát đã ở mức chấp nhận được trong những năm tiếp theo. Những lĩnh vực mới, như gia công đá quý và chế tạo đồ kim hoàn, công nghệ thông tin và công nghệ viễn thông, và thậm chí cả du lịch đang bắt đầu có đóng góp vào nền kinh tế bên cạnh các lĩnh vực truyền thống như nông nghiệp.
Sự tăng trưởng kinh tế ổn định đã giúp Armenia nhận được thêm sự giúp đỡ từ các định chế quốc tế. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (EBRD), cùng nhiều định chế tài chính quốc tế khác (IFIs) và nước ngoài đã kéo dài thời hạn trả nợ cũng như cung cấp cho nước này nhiều khoản vay lớn. Từ năm 1993 những khoản cho vay từ Hoa Kỳ đã vượt $1.1 tỷ. Những khoản cho vay đó chủ yếu nhắm mục tiêu giảm thâm hụt ngân sách, ổn định tiền tệ; phát triển doanh nghiệp tư nhân; lĩnh vực năng lượng; nông nghiệp, chế biến thực phẩm, vận tải và sức khỏe cùng giáo dục; và việc tái thiết đang diễn ra tại các vùng đã phải chịu ảnh hưởng trận động đất. Chính phủ đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới ngày 5 tháng 2 năm 2003. Nhưng một trong những nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài chính chính là cộng đồng Do Thái Armenia, với những khoản tiền lớn cho việc tái thiết cơ sở hạ tầng và các dự án công cộng. Là một quốc gia dân chủ đang phát triển, Armenia cũng hy vọng có được thêm viện trợ tài chính từ phương Tây.
Một luật tự do đầu tư nước ngoài đã được thông qua tháng 6 năm 1994, và Luật về Tư nhân hóa được thông qua năm 1997, cũng như một chương trình tư nhân hóa các tài sản nhà nước. Tương lai phát triển sẽ phụ thuộc vào khả năng của chính phủ trong việc tăng cường quản lý kinh tế vi mộ, gồm cả tăng nguồn thu, cải thiện môi trường đầu tư, và chiến đấu chống tham nhũng.
Năm 2006 Chỉ số Tự do Kinh tế của Armenia xếp hạng 27, tương đương Nhật Bản và đứng trước các nước như Na Uy, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Italia. Tuy nhiên, Armenia bị xếp hạng rất thấp về quyền sở hữu, tồi hơn các nước như Botswana và Trinidad và Tobago.
Năm 2005 Chỉ số Minh bạch Tham nhũng Quốc tế xếp hạng Armenia thứ 88, tham nhũng nghiêm trọng.
Tính đến năm 2016, GDP của Armenia đạt 10.754 USD, đứng thứ 131 thế giới và đứng thứ 40 châu Âu.
== Nhân khẩu ==
Xem: Điều tra dân số Armenia
Armenia có số dân 2.982.904 người (ước tính tháng 7 năm 2005) và là nước có mật độ dân số đứng thứ hai trong số các nước cộng hòa thuộc Liên xô trước đây. Vì mức độ di cư cao sau khi Liên bang Xô viết tan rã, dân số nước này đã sút giảm. Tuy nhiên, tỷ lệ di cư và sụt giảm dân số đã giảm bớt trong những năm gần đây, một xu hướng được cho là sẽ còn tiếp diễn. Trên thực tế Armenia được cho là sẽ lấy lại mức độ tăng trưởng dân số dương vào năm 2010.
Dân tộc Armenia chiếm 97.9% dân số, người Kurd chiếm 1.3%, và người Nga 0.5%. Cũng có các động đồng Assyria, Gruzia, Hy Lạp và Ukraina nhỏ hơn khác. Đa số người Azerbaijan, từng chiếm một phần quan trọng trong tổng số dân, đã buộc phải rời bỏ nhà cửa từ khi nước này giành lại độc lập và thời kỳ chiếm đóng.
Hầu như tất cả người Armenia tại Azerbaijan (gần 120.000 người) hiện sống tại vùng Nagorno-Karabakh. Armenia đã từng có cộng đồng Do Thái rất lớn (theo một số ước tính lên tới 8 triệu người, vượt xa con số 3 triệu người của toàn bộ dân số nước này hiện nay), với nhiều cộng đồng hiện diện trên khắp thế giới, từ Pháp, Nga, Iran, Liban, tới Bắc Mỹ.
Tôn giáo chủ yếu tại Armenia là Kitô giáo. Các gốc rễ của Giáo hội Armenia có từ thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên. Theo truyền thống, Giáo hội Armenia được hai trong số mười hai tông đồ của Chúa Giêsu là Thaddaeus và Bartholomew thành lập. Họ đã thuyết giảng tại Armenia trong những năm 40 tới 60 Công Nguyên. Nhờ được hai vị tông đồ sáng lập, tên chính thức của Giáo hội Armenia là Giáo hội Tông truyền Armenia. Armenia là nước đầu tiên coi Kitô giáo là quốc giáo vào năm 301 sau Công Nguyên, một năm sau đó giáo hội có Thượng phụ đầu tiên là thánh Grigor Lusavorich. Hơn 93% người Kitô giáo Armenia theo Giáo hội Tông truyền Armenia, một giáo hội Chính thống Cổ Phương đông (phủ nhận Công đồng Chalcedon), đây là một phái thủ cựu, nghi thức, có thể so sánh với Giáo hội Chính thống Coptic ở Ai Cập và Giáo hội Chính thống Syria. Armenia cũng có một số dân theo Công giáo Rôma gồm cả nghi lễ Latin và nghi lễ Đông phương (Armenia), những tín hữu Công giáo nghi lễ Đông phương đó thuộc về Giáo hội Công giáo Armenia có trụ sở đặt tại Bzoummar, Liban. Ngoài ra còn có Giáo hội Tin Lành Armenia, Giáo hội huynh đệ Armenia và nhiều nhóm Kháng Cách khác.
Người Kurds Yazidi sống ở vùng phía tây đất nước, theo Yazidism (Yazdânism). Cũng có một cộng đồng Do Thái ở Armenia giảm xuống chỉ còn khoảng 750 người sau khi độc lập với hầu hết dân di cư tới Israel. Hiện ở Armenia còn hai hội đường Do Thái- ở thủ đô Yerevan và ở thành phố Sevan bên hồ Sevan.
== Văn hoá ==
Người Armenia có bảng chữ cái và ngôn ngữ riêng biệt và độc đáo. Những chữ cái được Mesrob Mashdots sáng tạo và gồm 36 chữ. 96% dân số trong nước nói tiếng Armenia, tuy 75.8% dân số còn sử dụng các ngôn ngữ khác như tiếng Nga kết quả của chính sách phổ biến tiếng Nga thời Xô viết. Tỷ lệ biết chữ ở người trưởng thành tại Armenia là 99% [4]. Đa số người trưởng thành tại Yerevan có thể sử dụng tiếng Nga, tuy tiếng Anh cũng đang ngày càng phổ biến.
Lòng mến khách của người Armenia đã trở thành truyền thuyết và bắt nguồn từ truyền thống cổ. Những cuộc tụ họp xã hội đều diễn ra quanh những bàn ăn với nhiều món thực phẩm theo mùa xa hoa, chuẩn bị công phu, lần lượt được phục vụ (nhưng không cay). Các vị chủ nhà thường đặt thức ăn trên chiếc đĩa của khách bất kỳ khi nào nó rỗng hay rót đầy cốc khi chúng sắp cạn. Sau một hay hai phần mời mọc, hành động từ chối một cách lịch thiệp hay, đơn giản hơn, chỉ cần để lại một miếng nhỏ thức ăn, là có thể chấp nhận được. Các loại rượu như cognac, vodka, và rượu vvang đỏ thường được dùng tại các bữa tiệc và những dịp hội họp. Hiếm khi hay không bao giờ một người khách vào trong một ngôi nhà người Armenia mà không được mời cà phê, bánh nướng, thức ăn, hay thậm chí là nước.
Những lễ cưới thường khá cầu kỳ và vương giả. Quá trình cưới hỏi bắt đầu khi người nam và nữ "hứa hôn". Người lớn tuổi phía người nam (Bố mẹ, ông bà, và thường cả Cô và Bác) sang nhà người nữ để xin phép cha cô cho mối quan hệ được tiếp tục và hy vọng một tương lai tươi sáng. Khi cha cô gái đã cho phép, người nam trao cho nữ một "nhẫn hứa hôn" để chính thức hóa công việc. Để kỷ niệm sự đồng thuận của hai gia đình, gia đình người nữ mở một chai cognac Armenia. Sau khi đã hứa hôn, đa số các gia đình đều tổ chức một buổi tiệc hứa hôn khá lớn. Gia đình nhà gái là bên sắp đặt kế hoạch, tổ chức và chi trả chi phí. Gia đình nam rất ít tham dự vào việc này. Trong buổi tiệc, một linh mục được mời tới để cầu nguyện và chúc phúc cho họ. Khi những lời cầu nguyện kết thúc, hai người quấn những dải băng hôn lễ lên tay phải của nhau (nhẫn bị tháo khỏi tay phải khi buổi lễ kết hôn chính thức được nhà thờ Armenia tổ chức). Khoảng thời gian chờ đợi lễ cưới chính thức theo thông lệ là một năm. Không giống như trong các nền văn hóa khác, người nam và gia đình mình không phải trả chi phí buổi lễ. Quá trình sắp đặt kế hoạch và tổ chức thường do nhà gái đảm nhiệm, chú rể chỉ cần tới hiện diện.
Phòng tranh Nghệ thuật Quốc gia tại Yerevan có hơn 16.000 tác phẩm bắt đầu từ Thời Trung Cổ. Nơi đây cũng lưu giữ nhiều tác phẩm của các bậc thầy Châu Âu. Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại, Phòng tranh Trẻ em, và Bảo tàng Martiros Saryan chỉ là một trong những nơi sở hữu nhiều bộ sưu tập nghệ thuật có giá trị đang trưng bày tại Yerevan. Hơn nữa, nhiều phòng tranh tư nhân cũng đang hoạt động, nhiều phòng khác được khai trương hàng năm. Nơi đây thường tổ chức các cuộc triển lãm và bán trah.
Dàn nhạc Giao hưởng Armenia ở mức trình độ quốc tế thường biểu diễn tại Nhà hát thành phố đã được sửa chữa rất đẹp. Ngoài ra, nhiều nhóm trình diễn khác cũng được đánh giá rất cao về trình độ nhạc sĩ, như Nhà hát Giao hưởng Quốc gia Armenia và Dàn nhạc Giao hưởng Serenade. Âm nhạc cổ điển được biểu diễn tại nhiều thính phòng nhỏ hơn, gồm Trường nhạc Quốc gia và Phòng giao hưởng. Nhạc Jazz khá phổ thông, đặc biệt vào mùa hè khi các buổi trình diễn trực tiếp thường được tổ chức tại nhiều quán café ngoài trời trong thành phố.
Vernisage tại Yerevan (thị trường nghệ thuật và thủ công), gần Quảng trường Cộng hoà, luôn rộn rã với hàng trăm người bán các mặt hàng thủ công, nhiều tác phẩm thực sự khéo léo, vào những ngày cuối tuần và thứ tư. Nơi đây có bán đồ khắc gỗ, đồ cổ, đăng ten, và những tấm thảm dệt tay cùng kilim là một đặc sản vùng Kavkaz. Đá Obsidian, có tại địa phương, được khảm vào nhiều đồ trang trí và trang sức. Nghề kim hoàn Armenia có một truyền thống lâu dài và riêng biệt, một khu vực riêng trong chợ được dành cho những bộ sưu tập đồ vàng. Những kỷ vật thời Xô viết và đồ lưu niệm sản xuất gần đây tại Nga như con materiosca (búp bê gỗ) đồng hồ, hộp men và nhiều thứ khác, cũng hiện diện tại Vernisage.
Phía bên kia Nhà hát thành phố là một khu chợ nghệ thuật đông người khác, họp vào dịp cuối tuần. Lịch sử lâu dài của Armenia trên ngã tư đường của các đế chế cổ đại khiến nơi đây trở thành địa điểm tuyệt vời để khám phá những đồ khảo cổ. Các di chỉ khảo cổ Thời Trung Cổ, Thời đồ sắt, Thời đồ đồng và thậm chí Thời đồ đá chỉ cách thành phố vài giờ đi xe. Đa số chúng vẫn ở tình trạng chưa được khám phá, mang lại cho du khách cơ hội tham quan những nhờ thờ, những pháo đài hãy còn ở tình trạng nguyên bản.
Đại học Mỹ tại Armenia cung cấp nhiều khóa về Kinh doanh và Luật. Đại học này được thành lập nhờ những nỗ lực của cả Chính phủ Mỹ, Liên minh Từ thiện Armenia, USAID, và Khoa Luật Boalt tại Đại học California, Berkeley.
Các chương trình mở rộng và tủ sách tại AUA trở thành một địa chỉ mới cho giới trí thức thành phố. Nhiều doanh nhân trẻ thành đạt tại Armenia từng tốt nghiệp từ trường này.
== Xem thêm ==
Artsakh
Người Armenia
Diệt chủng Armenia
Lâu đài Armenia
Hayastani Azgayin Scautakan Sharjum Kazmakerputiun - Phong trào Hướng đạo sinh Quốc gia Armenia
Nagorno-Karabakh
Những ngày nghỉ ở Armenia
Âm nhạc Armenia
Đăng ten ren Armenia
Danh sách các chủ đề về Armenia
Khachkar - những chữ thập đá rắc rối Armenia
Danh sách các Giáo trưởng Armenia
Hamshenis
== Các chủ đề khác ==
Viễn thông ở Armenia
Quan hệ nước ngoài của Armenia
Quân đội Armenia
Giao thông Armenia
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/cn_vakv/
Armenia's location on a 3D globe (Java)
Armeniapedia.org - the Armenian Wiki with thousands of articles
Armenianhouse.org - Armenian literature and history
The Heritage Foundation - publishes the index of economic freedom
CIA - The World Factbook—Armenia
Gov.am - Government of Armenia
LoC.gov - Library of Congress Portal on Armenia
Armeniainfo.am - Armenia information
Armgate.com - Armenian News and pictures of Churches and Ararat Mountain
Armenica.org - History and Information About Armenia
Portals
Hayastan.com - Armenian portal with millions of visitors (Armenian,Russian, English)
Circle.am Armenian web ring
Armeniasearch.com - Armenian Search Engine and Directory
News sites
PanARMENIAN.Net - Armenia & Armenian News
A1plus.am - Fastest News from Armenia
Groong.org - Armenian News Network - Groong
Armenia Now, edited by John Hughes
Caucaz.com - Weekly online publishing articles and reports about Armenia and South Caucasus. Available in English and French
Bản mẫu:Tây nam Á |
1993.txt | Theo lịch Gregory, năm 1993 (số La Mã: MCMXCIII) là một năm bắt đầu từ ngày thứ sáu.
== Sự kiện ==
1 tháng 1: Adolf Ogi trở thành tổng thống liên bang Thụy Sĩ
7 tháng 1: Jerry Rawlings trở thành tổng thống của Ghana
15 tháng 1: Slovenia trở thành thành viên của IMF và Ngân hàng Thế giới
19 tháng 1: Slovakia trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc
20 tháng 1: Bill Clinton trở thành tổng thống Hoa Kỳ.
28 tháng 1: Kazakhstan có HIến pháp mới
1 tháng 2: Phần Lan, Thụy Điển và Áo bắt đầu thương lượng gia nhập Liên minh châu Âu.
9 tháng 2: Slovakia trở thành thành viên của UNESCO
22 tháng 2: Cộng hòa Séc trở thành thành viên của UNESCO
26 tháng 2: Đánh bom tòa nhà WTC tại New York City
6 tháng 4: Tajikistan trở thành thành viên của UNESCO
8 tháng 4: Macedonia trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc
27 tháng 4: Bầu cử dân chủ đầu tiên tại Yemen
3 tháng 5: Macedonia trở thành thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới
5 tháng 5: Hiến pháp mới tại Kyrgyzstan
10 tháng 5: Juan Carlos Wasmosy trở thành tổng thống tại Paraguay
24 tháng 5: Eritrea độc lập
28 tháng 5: Monaco và Eritrea trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc
1 tháng 6: Bầu cử tổng thống tại Burundi.
2 tháng 6: Bosna và Hercegovina trở thành thành viên của UNESCO
12 tháng 6: Bầu cử tổng thống tại Nigeria
16 tháng 6: Bầu cử quốc hội tại Madagascar
18 tháng 6: Seychelles có Hiến pháp mới.
28 tháng 6: Macedonia trở thành thành viên của UNESCO
29 tháng 6: Bầu cử quốc hội Burundi.
7 tháng 7: Guntis Ulmanis trở thành tổng thống Latvia.
10 tháng 7: Melchior Ndadaye trở thành tổng thống Burundi.
12 tháng 7: Động đất tại Hokkaidō, Nhật Bản. 243 người chết
28 tháng 7: Andorra trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc
6 tháng 8: Gonzalo Sánchez de Lozada trở thành tổng thống Bolivia.
17 tháng 8: Turkmenista trở thành thành viên của UNESCO
18 tháng 8: Mưu sát bộ trưởng Bộ Nội vụ Al-Alfi của Ai Cập.
2 tháng 9: Eritrea trở thành thành viên của UNESCO
7 tháng 9: Solomon Island trở thành thành viên của UNESCO
24 tháng 9: Norodom Sihanouk trở thành vua của Campuchia
29 tháng 9: Động đất tại vùng Latur/Killari, Ấn Độ, 9750 người chết
3 tháng 10: Heydär Äliyev trở thành tổng thống Azerbaijan.
20 tháng 10: Andorra trở thành thành viên của UNESCO
26 tháng 10: Uzbekistan và Niue trở thành thành viên của UNESCO
12 tháng 12: Bầu cử tự do đầu tiên tại Nga
19 tháng 12: Bầu cử tổng thống dân chủ đầu tiên của Guinée.
== Sinh ==
09 tháng 3: Min Yoon Gi - Thành viên nhóm BTS
13 tháng 8: Yoon Bo Mi, nữ ca sĩ người Hàn
18 tháng 8: Jeong Eun Ji, nữ ca sĩ người Hàn
7 tháng 6: Park Ji Yeon, nữ ca sĩ người Hàn
25 tháng 6: Barney Clark, diễn viên Anh
1 tháng 9: Ilona Mitrecey, nữ ca sĩ Pháp
29 tháng 9: Lee Hongbin (이홍빈) - Thành viên nhóm VIXX (빅스)
30 tháng 3: Song Min-ho - Thành viên nhóm WINNER
3 tháng 4: Bobbi Kristina Brown, ngôi sao truyền hình thực tế người Mỹ gốc Phi - con gái nữ ca sĩ lừng danh Whitney Houston (m. 2015)
29 tháng 8: Liam Payne,thành viên nhóm nhạc One Direction
13 tháng 9: Niall Horan, thành viên nhóm nhạc One Direction
== Mất ==
1 tháng 1: Anna Wimschneider, nhà văn nữ (s. 1919)
5 tháng 1: Juan Benet, nhà văn Tây Ban Nha (s. 1927)
6 tháng 1: Dizzy Gillespie, nhạc sĩ nhạc jazz Mỹ, nhà soạn nhạc, nam ca sĩ (s. 1917)
13 tháng 1: René Pleven, chính khách Pháp (s. 1901)
13 tháng 1: Ludwig Metzger, chính khách Đức (s. 1902)
14 tháng 1: Gregor Determann, chính khách Đức (s. 1911)
15 tháng 1: Henry Iba, huấn luyện viên bóng rổ Mỹ (s. 1904)
20 tháng 1: Audrey Hepburn, nữ diễn viên (s. 1929)
22 tháng 1: Jim Pollard, cầu thủ bóng rổ Mỹ (s. 1922)
29 tháng 1: Walter Kolbenhoff, nhà văn Đức, nhà báo (s. 1908)
2 tháng 2: Helmut Schoeck, nhà xã hội học Áo (s. 1922)
5 tháng 2: Hans Jonas, triết gia (s. 1903)
5 tháng 2: Joseph L. Mankiewicz, đạo diễn phim Mỹ (s. 1909)
6 tháng 2: Arthur Ashe, vận động viên quần vợt Mỹ (s. 1943)
7 tháng 2: Fritz Straßner, diễn viên Đức (s. 1919)
8 tháng 2: Franz Schnyder, đạo diễn phim Thụy Sĩ (s. 1910)
11 tháng 2: Robert W. Holley, nhà hóa sinh Mỹ (s. 1922)
21 tháng 2: Jean Lecanuet, chính khách Pháp (s. 1920)
24 tháng 2: Bobby Moore, cầu thủ bóng đá Anh (s. 1941)
25 tháng 2: Eddie Constantine, diễn viên Mỹ (s. 1917)
28 tháng 2: Honda Ishirō, đạo diễn phim (s. 1911)
1 tháng 3: Arnold Dannenmann, nhà thần học Tin Lành (s. 1907)
5 tháng 3: Cyril Collard, đạo diễn phim Pháp (s. 1957)
6 tháng 3: Walther Geiser, nhà soạn nhạc Thụy (s. 1897)
8 tháng 3: Don Barksdale, cầu thủ bóng rổ Mỹ (s. 1923)
8 tháng 3: Wilhelm Georg Berger, nhà soạn Romania (s. 1929)
9 tháng 3: Cyril Northcote Parkinson, nhà sử học Anh, nhà xuất bản (s. 1909)
9 tháng 3: Max August Zorn, giáo sư toán học Mỹ (s. 1906)
10 tháng 3: Guido Wieland, diễn viên, đạo diễn phim người Áo (s. 1906)
15 tháng 3: Karl Mai, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1928)
15 tháng 3: Ricardo Manuel Arias Espinoza, tổng thống thứ 29 của Panama (s. 1912)
16 tháng 3: Chishū Ryū, diễn viên Nhật Bản (s. 1904)
17 tháng 3: Helen Hayes, nữ diễn viên Mỹ (s. 1900)
19 tháng 3: Georges Garvarentz, nhà soạn nhạc Pháp (s. 1931)
20 tháng 3: Polykarp Kusch, nhà vật lý học Mỹ (s. 1911)
21 tháng 3: Sebastiano Baggio, Hồng y của Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1913)
22 tháng 3: Gret Palucca, nữ nghệ sĩ múa Đức (s. 1902)
24 tháng 3: John Hersey, nhà văn Mỹ, nhà báo (s. 1914)
26 tháng 3: Reuben Fine, kỳ thủ Mỹ (s. 1914)
3 tháng 4: Alexandre Mnouchkine, nhà sản xuất phim (s. 1908)
4 tháng 4: Fritz Trautwein, kiến trúc sư (s. 1911)
6 tháng 4: Inge von Wangenheim, nhà văn nữ Đức, nữ diễn viên (s. 1912)
8 tháng 4: Marian Anderson, nữ ca sĩ opera Mỹ (s. 1897)
10 tháng 4: Chris Hani, chính khách Nam Phi (s. 1942)
15 tháng 4: Uwe Beyer, vận động viên điền kinh Đức (s. 1945)
15 tháng 4: Eduard Rhein, nhà phát minh, nhà xuất bản, nhà văn (s. 1900)
20 tháng 4: Evelyne Hall, nữ vận động viên điền kinh Mỹ (s. 1909)
20 tháng 4: Cantinflas, diễn viên, nam ca sĩ, nhà sản xuất. (s. 1911)
23 tháng 4: Bertus Aafjes, nhà văn Hà Lan (s. 1914)
23 tháng 4: Marguerite Broquedis, nữ vận động viên quần vợt Pháp (s. 1893)
23 tháng 4: Günther Storck, linh mục Công giáo (s. 1938)
23 tháng 4: Guido Carli, nhà kinh tế học Ý, chính khách (s. 1914)
24 tháng 4: Gustl Bayrhammer, diễn viên Đức (s. 1922)
27 tháng 4: Hans Sahl, nhà văn Đức, nhà phê bình (s. 1902)
27 tháng 4: Jörgen Andersen, chính khách (s. 1905)
28 tháng 4: Jim Valvano, huấn luyện viên bóng rổ Mỹ (s. 1946)
28 tháng 4: Valentina Grizodubova, nữ phi công Xô Viết (s. 1910)
29 tháng 4: Wilhelm Hanle, nhà vật lý học (s. 1901)
1 tháng 5: Pierre Bérégovoy, chính khách Pháp (s. 1925)
1 tháng 5: Zeno Colò, vận động viên chạy ski Ý (s. 1920)
6 tháng 5: Robert Becker, đạo diễn phim Mỹ (s. 1946)
9 tháng 5: Iván Patachich, nhà soạn nhạc Hungary, nhạc trưởng (s. 1922)
12 tháng 5: Edda Seippel, nữ diễn viên Đức (s. 1919)
14 tháng 5: Hugo Wiener, nhà soạn nhạc Áo, nghệ sĩ dương cầm (s. 1904)
18 tháng 5: Heinrich Albertz, chính khách Đức (s. 1915)
24 tháng 5: Hermann Vetters, nhà khảo cổ học Áo (s. 1915)
24 tháng 5: Juan Jesús Posadas Ocampo, tổng Giám mục của Guadalajara, Hồng y (s. 1926)
26 tháng 5: Hellmut Diwald, nhà sử học Đức, nhà xuất bản (s. 1929)
27 tháng 5: Werner Stocker, diễn viên Đức (s. 1955)
5 tháng 6: Conway Twitty, nam ca sĩ Mỹ (s. 1933)
7 tháng 6: Dražen Petrović, cầu thủ bóng rổ Croatia (s. 1964)
13 tháng 6: Deke Slayton, nhà du hành vũ trụ Mỹ (s. 1924)
15 tháng 6: John Connally, chính khách Mỹ, thống đốc của Texas, bộ trưởng Bộ Tài chính (s. 1917)
18 tháng 6: Wilhelm A. Kewenig, chính khách Đức (s. 1934)
24 tháng 6: Archibald Williams, vận động viên điền kinh Mỹ, huy chương Thế Vận Hội (s. 1915)
25 tháng 6: Mona Baptiste, nữ ca sĩ (s. 1928)
27 tháng 6: Kurt Mahr, nhà văn Đức (s. 1934)
1 tháng 7: Gert Hofmann, nhà văn Đức (s. 1931)
2 tháng 7: Fred Gwynne, diễn viên Mỹ, tác giả (s. 1926)
7 tháng 7: Günther Tietjen, chính khách Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (s. 1943)
12 tháng 7: Gusti Huber, nữ diễn viên Áo (s. 1914)
15 tháng 7: Clarence Melvin Zener, nhà vật lý học Mỹ (s. 1905)
18 tháng 7: Jean Negulesco, đạo diễn phim Romania (s. 1900)
19 tháng 7: Szymon Goldberg, nhạc trưởng Mỹ (s. 1909)
19 tháng 7: Gordon Joseph Gray, tổng Giám mục của Edinburgh, Hồng y (s. 1910)
21 tháng 7: Paul Müller-Zürich, nhà soạn nhạc Thụy Sĩ (s. 1898)
25 tháng 7: Hedwig Jochmus, nữ chính khách Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (s. 1899)
25 tháng 7: Vincent Joseph Schaefer, nhà hóa học Mỹ, nhà khí tượng học (s. 1906)
26 tháng 7: Matthew Ridgway, tướng Mỹ (s. 1895)
1 tháng 8: Klaus Oswatitsch, nhà vật lý học Áo (s. 1910)
2 tháng 8: Guido del Mestri, Hồng y của Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1911)
7 tháng 8: Gerhard Neuser, cựu cầu thủ bóng đá Đức (s. 1938)
8 tháng 8: Jiří Adamíra, diễn viên Séc
9 tháng 8: Reinhard Kamitz, chính khách Áo (s. 1907)
19 tháng 8: Donald William Kerst, nhà vật lý học Mỹ (s. 1911)
20 tháng 8: Hans Lebert, nhà văn Áo, ca sĩ opera (s. 1919)
21 tháng 8: Trần Hữu Dực (1910-1993) nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
22 tháng 8: Dinmukhamed Konayev, chính khách Xô Viết (s. 1911)
26 tháng 8: Karl Bewerunge, chính khách Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (s. 1913)
28 tháng 8: Edward Palmer Thompson, nhà sử học Anh (s. 1924)
28 tháng 8: Friedrich Meyer, nhà soạn nhạc (s. 1915)
30 tháng 8: Richard Jordan, diễn viên Mỹ (s. 1938)
31 tháng 8: Siegfried Schürenberg, diễn viên Đức (s. 1900)
4 tháng 9: Hervé Villechaize, diễn viên Pháp (s. 1943)
12 tháng 9: Raymond Burr, diễn viên (s. 1917)
13 tháng 9: Christoph Delz, nhà soạn nhạc Thụy Sĩ, nghệ sĩ dương cầm (s. 1950)
15 tháng 9: Wilhelm Wöste, nhà thần học Công giáo (s. 1911)
16 tháng 9: Rok Petrović, vận động viên chạy ski Slovenia (s. 1966)
19 tháng 9: András Mihály, nhà soạn nhạc Hungary (s. 1917)
22 tháng 9: Niklaus Meienberg, nhà văn Thụy Sĩ, nhà báo (s. 1940)
22 tháng 9: Maurice Abravanel, nhạc trưởng Mỹ (s. 1903)
24 tháng 9: Ian Stuart Donaldson, nam ca sĩ, (s. 1957)
24 tháng 9: Bruno Pontecorvo, nhà vật lý học (s. 1913)
24 tháng 9: Fritz Logemann, chính khách Đức (s. 1907)
25 tháng 9: Charlotte hoàng tử, nữ họa sĩ Đức (s. 1904)
30 tháng 9: Alfred Baum, nhà soạn nhạc Thụy Sĩ, nghệ sĩ dương cầm, nghệ sĩ đàn ống (s. 1904)
30 tháng 9: Jenny Aloni, nhà văn nữ (s. 1917)
5 tháng 10: Francesco Carpino, tổng Giám mục của Palermo, Hồng y (s. 1905)
6 tháng 10: Robert Rompe, nhà vật lý học Đức, chính khách (s. 1905)
6 tháng 10: Victor Razafimahatratra, tổng Giám mục của Antananarivo, Hồng y (s. 1921)
7 tháng 10: Liebherr, doanh nhân Đức (s. 1915)
8 tháng 10: Alfred Toepfer, doanh nhân Đức (s. 1894)
17 tháng 10: Helmut Gollwitzer, nhà thần học Tin Lành, nhà văn (s. 1908)
21 tháng 10: Melchior Ndadaye, chính khách (s. 1953)
24 tháng 10: Heinz Kubsch, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1930)
30 tháng 10: Paul Grégoire, tổng Giám mục của Montréal, Hồng y (s. 1911)
31 tháng 10: Federico Fellini, đạo diễn phim Ý (s. 1920)
31 tháng 10: River Phoenix, diễn viên Mỹ, nhạc sĩ (s. 1970)
1 tháng 11: Georges Dancigers, nhà sản xuất phim (s. 1908)
1 tháng 11: Severo Ochoa, nhà hóa sinh (s. 1905)
3 tháng 11: Leon Theremin, nhà vật lý học Xô Viết, nhạc sĩ (s. 1896)
5 tháng 11: Mario Cecchi Gori, nhà sản xuất phim Ý (s. 1920)
6 tháng 11: Torsten Fenslau, nhà sản xuất nhạc (s. 1964)
11 tháng 11: Lisa De Leeuw, nữ diễn viên phim khiêu dâm Mỹ (s. 1958)
14 tháng 11: Nosaka Sanzō, chính khách Nhật Bản (s. 1892)
19 tháng 11: Kenneth Burke, nhà văn Mỹ, triết gia (s. 1897)
21 tháng 11: Bill Bixby, diễn viên Mỹ (s. 1934)
25 tháng 11: Anthony Burgess, nhà văn (s. 1917)
28 tháng 11: Rudolf Keller, kỳ thủ Đức (s. 1917)
4 tháng 12: Frank Zappa, nhà soạn nhạc Mỹ, nhạc sĩ (s. 1940)
4 tháng 12: Margaret Landon, nhà văn nữ Mỹ (s. 1903)
5 tháng 12: Robert Ochsenfeld, nhà vật lý học Đức (s. 1901)
6 tháng 12: Don Ameche, diễn viên Mỹ (s. 1908)
7 tháng 12: Félix Houphouët-Boigny, tổng thống đầu tiên của Côte d'Ivoire (s. 1905)
11 tháng 12: Klaus Nonnenmann, nhà văn Đức (s. 1922)
11 tháng 12: Paul Mebus, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1920)
12 tháng 12: József Antall, chính khách Hungary, thủ tướng từ 1990 (s. 1932)
12 tháng 12: Fritz Bock, chính khách Áo (s. 1911)
16 tháng 12: Tanaka Kakuei thủ tướng Nhật Bản (s. 1918)
20 tháng 12: William Edwards Deming, nhà vật lý học Mỹ (s. 1900)
24 tháng 12: Pierre Auger, nhà vật lý học Pháp (s. 1899)
28 tháng 12: William L. Shirer, nhà văn Mỹ, nhà báo, nhà sử học (s. 1904)
28 tháng 12: Howard Caine, diễn viên Mỹ (s. 1926)
29 tháng 12: Grete Thiele, nữ chính khách Đức (s. 1913)
29 tháng 12: Axel Corti, đạo diễn phim Áo (s. 1933)
30 tháng 12: Giuseppe Occhialini, nhà vật lý học Ý (s. 1907)
== Giải thưởng Nobel ==
Hóa học - Kary Mullis, Michael Smith
Văn học - Toni Morrison
Hòa bình - Nelson Mandela, Frederik Willem de Klerk
Vật lý - Russell Alan Hulse, Joseph Hooton Taylor Jr.
Y học - Richard J. Roberts, Philip Allen Sharp
Kinh tế - Robert W. Fogel, Douglass C. North
== Xem thêm ==
Thế giới trong năm 1993, tình trạng thế giới trong năm này
== Tham khảo == |
cambridgeshire.txt | Cambridgeshire là một hạt của Anh. Hạt có diện tích km², dân số người. Thủ phủ hạt đóng ở Cambridge. Hạt này giáp giới với Lincolnshire của phía bắc, Norfolk phía đông bắc, Suffolk về phía đông, Essex và Hertfordshire về phía nam, và Bedfordshire và Northamptonshire về phía tây. Hạt Cambridgeshire ngày nay được hình thành từ các hạt lịch sử của Cambridgeshire và Huntingdonshire, cùng với Isle of Ely và Soke của Peterborough, nó chứa hầu hết các khu vực được gọi là Silicon Fen. Cambridgeshire kết nghĩa với huyện Viersen, Đức.
== Tham khảo == |
nhà vệ sinh.txt | Nhà vệ sinh là nơi mà trong đó có hệ thống thải dành cho các chất thải cơ thể như phân và nước tiểu.
== Tên gọi ==
Ở một số vùng tại Việt Nam, người dân gọi nhà vệ sinh là cầu tõm. Danh từ này xuất phát từ thói quen của một số người dân thường ngồi trên một cầu tre bắc qua con mương để đại tiện.
Tại một số vùng, người ta lại gọi là hố xí, nhà xí, chuồng xí. "Xí" (chữ Hán phồn thể: 廁, 厠; giản thể: 厕) ở đây là từ Hán-Việt, chỉ nơi người ta đại tiểu tiện, tức nhà vệ sinh.
== Các kiểu nhà vệ sinh ==
Nhà tiêu tự hoại
Nhà tiêu hai ngăn
== Tình hình vệ sinh ==
=== Trên thế giới ===
Hiện nay (2007) có khoảng 2,6 tỷ người trên thế giới không được tiếp cận nhà vệ sinh sạch sẽ. Liên hợp quốc hy vọng sẽ giảm con số này xuống còn một nửa vào năm 2015 như một phần Các mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ đã đề ra.
Tổ chức từ thiện Anh WaterAid đã lập danh sách các nước có trên 10 triệu người không được sử dụng nhà vệ sinh đúng tiêu chuẩn là Nga, România, Thổ Nhĩ Kỳ, México, Brasil, Ai Cập, Maroc và nhiều nước khác, trong đó Ấn Độ có 700 triệu người không được tiếp cận với nhà vệ sinh có hệ thống nước thải đúng quy cách.
=== Ở Việt Nam ===
Qua một nghiên cứu điều tra trong năm 2006 do Bộ Y tế và UNICEF Việt Nam tiến hành, chỉ có khoảng 15.6% người được phỏng vấn thực hành rửa tay bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh, chỉ có 18% hộ gia đình và khoảng 12% trường học ở nông thôn Việt Nam có nhà tiêu hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn 08/2005/QĐ-BYT do Bộ Y tế ban hành. Trong khi đó, Chương Trình Mục Tiêu Quốc gia về Cấp Nước và Vệ Sinh Môi trường Nông thôn lần II cho giai đoạn 2006-2010 đề ra mục tiêu là đến năm 2010, 100% trường học và 70% các gia đình ở nông thôn Việt Nam có nhà tiêu hợp vệ sinh.
Theo điều tra của Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) về hiện trạng các công trình vệ sinh tại 966 điểm trường tại vùng nông thôn Việt Nam: trong tổng số điểm trường điều tra chỉ có 72,7% số điểm trường có nhà tiêu và chỉ có khoảng 54% nhà tiêu thuộc loại hình hợp vệ sinh (trong đó chỉ có 11,7% nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh). Tỷ lệ điểm trường có nhà tiêu đạt tỷ lệ thấp nhất là khối mầm non: 52,4%. Khối mầm non cũng là khối có tỷ lệ điểm trường có nhà tiêu thuộc loại hình hợp vệ sinh thấp nhất (39,5%) việc giải quyết nhu cầu sinh lý bình thường hàng ngày ở học đường luôn là nỗi bức xúc cố nén của học sinh, thầy cô, phụ huynh, đại biểu Quốc hội và các nhà báo.
== Xem thêm ==
Cầu tõm
Xí bệt
Xí xổm
Bồn cầu
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Nhà tiêu hợp vệ sinh và thực hành rửa tay cần thiết cho sự sống còn của người dân nông thôn Việt Nam
Khi du lịch biển thiếu nhà vệ sinh |
naira nata.txt | Naira nata là một loài ruồi trong họ Tachinidae.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Dữ liệu liên quan tới Naira nata tại Wikispecies
Phương tiện liên quan tới Naira nata tại Wikimedia Commons |
ernest hemingway.txt | Ernest Miller Hemingway (21 tháng 7 năm 1899 - 2 tháng 7 năm 1961; phát âm: Ơ-nít Mi-lơ Hê-minh-uê) là một tiểu thuyết gia người Mỹ, một nhà văn viết truyện ngắn, và là một nhà báo. Ông là một phần của cộng đồng những người xa xứ ở Paris trong thập niên 20 của thế kỷ XX, và là một trong những cựu quân nhân trong Chiến tranh thế giới I, sau đó được biết đến qua "Thế hệ bỏ đi" (Lost Generation). Ông đã nhận được Giải Pulitzer năm 1953 với tiểu thuyết Ông già và biển cả, và Giải Nobel Văn học năm 1954.
Nguyên lý Tảng băng trôi (Iceberg Theory) là đặc điểm trong văn phong của Hemingway. Nó được mô tả bằng sự kiệm lời và súc tích, và có tầm ảnh hưởng quan trọng trong sự phát triển của văn chương thế kỉ XX. Nhân vật trung tâm trong tác phẩm của ông là những người mang đặc trưng của chủ nghĩa khắc kỷ (stoicism - chủ nghĩa chấp nhận nghịch cảnh), thể hiện một lý tưởng được miêu tả là "sự vui lòng chịu sức ép" ("grace under pressure"). Nhiều tác phẩm của ông hiện nay được coi là những tác phẩm kinh điển của nền văn học Mỹ.
== Tuổi trẻ ==
Ernest Miller Hemingway sinh ngày 21 tháng 7 năm 1899 tại Oak Park, Illinois, một vùng ngoại ô của Chicago. Hemingway là người con trai đầu tiên và là người con thứ hai mà ông Clarence Edmonds "Doc Ed" Hemingway - một bác sĩ làng và bà Grace Hall đã sinh ra. Cha của Hemingway rất chú ý tới sự ra đời của Ernest và đã thổi tù và ngay tại hành lang trước nhà để thông báo cho những người hàng xóm rằng vợ ông vừa sinh ra một cậu con trai. Gia đình Hemingway sống trong một ngôi nhà sáu phòng ngủ theo lối Victoria được xây dựng bởi người ông ngoại góa vợ của Ernest, Ernest Miller Hall, một người Anh nhập cư,từng là quân nhân trong cuộc Nội chiến Mỹ (American Civil War) và đã chung sống với gia đình khi còn sống. Hemingway có tên trùng với người ông ngoại này của mình.
Mẹ của Hemingway trước kia mong muốn được trở thành nghệ sĩ opera và đã kiếm tiền để đi học thanh nhạc. Bà là người độc đoán và rất sùng đạo (domineering and narrowly religious), phản ánh cho quan niệm đạo đức mang tính nghiêm ngặt của người theo đạo Tin lành tại Oak Park, mà Hemingway sau này đã nhận định rằng có "những bãi cỏ(?) rộng và những tư tưởng hẹp hòi" ("wide lawns and narrow minds").Lấy từ Childhood Hemingway sau đó đi đến kết luận rằng mẹ ông đã chi phối bố ông tồi tệ đến mức bà đã hủy hoại ông. Những người khác cho rằng bà bị rối loạn thần kinh chức năng. Nhà thơ nổi tiếng Wallace Stevens đã đề cập đến trong một bức thư rằng Hemingway là người duy nhất mà ông từng gặp "thực sự ghét mẹ của mình" ("truly hated his own mother").Tại The Hemingway Resource Center (Trung tâm Tài nguyên Hemingway) Trong khi mẹ ông hi vọng rằng con trai của bà sẽ bộc lộ sự hứng thú đối với âm nhạc, Hemingway lại thừa hưởng từ cha mình những sở thích (outdoorsman hobbies) như đi săn, câu cá và cắm trại trong những khu rừng và hồ vùng Bắc Michigan. Gia đình ông sở hữu một ngôi nhà có tên Windemere trên Walloon Lake, gần Petoskey, Michigan và thường nghỉ hè tại đó. Những trải nghiệm đầu đời khi sống gần gũi với thiên nhiên này đã truyền cho Hemingway một niềm đam mê suốt đời đối với những cuộc phiêu lưu ngoài trời và với cuộc sống trong những khu vực xa xôi, hẻo lánh.
Hemingway học tại trường trung học Oak Park and River Forest từ tháng 9 năm 1913 cho đến khi ông tốt nghiệp vào tháng 6 năm 1917. Ông nổi trội cả về học lý thuyết lẫn chơi thể thao; ông đấm bốc, chơi bóng bầu dục, và là một tài năng hiếm thấy trong các lớp học tiếng Anh. Kinh nghiệm viết đầu tiên của ông là viết cho "Trapeze" và "Tabula" (tờ báo và cuốn niên giám của trường) trong năm học trung học cơ sở (tiếng Anh-Mỹ: junior year), sau đó giữ chức vụ biên tập trong năm học phổ thông (tiếng Anh-Mỹ: senior year). Thỉnh thoảng, ông cũng viết dưới bút danh Ring Lardner, Jr., thể hiện sự kính trọng đối với thần tượng văn chương của ông - Ring Lardner.“"Lardner Connections"”. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2007.
Sau khi học trung học, Hemingway không muốn theo học đại học. Thay vào đó, ở tuổi mười tám, ông bắt đầu sự nghiệp viết của mình với tư cách là một phóng viên cho The Kansas City Star. Mặc dù ông làm việc cho tờ báo này chỉ trong sáu tháng (17 tháng 10 năm 1917 - 30 tháng 4 năm 1918), nhưng trong suốt cuộc đời mình, ông đã sử dụng tôn chỉ viết của tờ báo này để tạo nên phong cách viết cho riêng mình: "Sử dụng những câu văn ngắn. Sử dụng những đoạn mở đầu ngắn. Sử dụng thứ tiếng Anh hùng hồn. Phải khẳng định, không phủ nhận" ("Use short sentences. Use short first paragraphs. Use vigorous English. Be positive, not negative.") Nhiều giai thoại tương tự được đăng tải tại the centennial commemoration page of the Kansas City Star. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Ernest Hemingway (1899), The Star ghi danh Hemingway là phóng viên hàng đầu của báo trong một trăm năm qua.
== Chiến tranh thế giới I ==
Hemingway ngừng làm phóng viên sau đó chỉ một vài tháng và, đi ngược lại mong muốn của cha mình, ông tình nguyện tham gia vào Quân đội Mỹ để chứng kiến những hoạt động trong Chiến tranh thế giới I. Ông không vượt qua được bài kiểm tra sức khỏe vì thị lực kém, vì thế ông chuyển sang gia nhập vào hàng ngũ quân y (Red Cross Ambulance Corps). Trên chặng đường tới mặt trận Italia, ông dừng lại ở Paris, nơi đang chịu những đợt ném bom liên tiếp từ phía không quân Đức. Thay vì ở một nơi tương đối an toàn tại khách sạn Florida, Hemingway cố gắng tiếp cận trận đánh nhất có thể.
Tiếp đó, sau khi tới Mặt trận Italia, Hemingway đã chứng kiến tận mắt sự tàn bạo của chiến tranh. Trong ngày đầu tiên ông làm nhiệm vụ, một xưởng đúc đạn dược gần Milan đã nổ tung. Hemingway phải thu nhặt thi hài của những người phụ nữ còn sót lại (human—primarily female—remains). Hemingway đã viết về trải nghiệm này trong một truyện ngắn của ông mang tên "A Natural History of the Dead"(tạm dịch: Một Câu Chuyện Có Thật về Cái Chết). Lần đầu tiên chạm trán với cái chết khiến cho ông run sợ.
Những người lính mà ông gặp sau đó cũng không làm dịu bớt nỗi kinh hoàng. Một người trong số họ, Eric Dorman-Smith, tiếp chuyện Hemingway với một câu lấy từ Hồi II, Cảnh III trong Phần 2 của vở kịch Henry IV của Shakespeare: "Bằng lòng trung thành của tôi, tôi không lo sợ gì cả; người ta có thể chết nhưng chỉ một lần duy nhất; chúng ta nợ Thượng đế một cái chết... và cứ để cho nó đến theo cách của nó, cái chết của anh chính là sự giải thoát cho kiếp sau." ("By my troth, I care not; a man can die but once; we owe God a death... and let it go which way it will, he that dies this year is quit for the next.") Burgess, 1978, p. 24. (Hemingway đã trích những dòng này cho riêng mình trong "Hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber" (tựa gốc: The Short Happy Life of Francis Macomber), một trong những truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông được viết tại châu Phi.) Với một người một người lính khác, Hemingway có lần nói, "Ông thật troppo vecchio (Tiếng Italia: quá già) để tham chiến" (gốc: "You are troppo vecchio for this war, pop."). Người lính 50 tuổi đã đáp lại, "Tôi có thể chết giống như bất kỳ người đàn ông nào." ("I can die as well as any man").
Vào ngày 8 tháng 7 năm 1918, Hemingway bị thương trong khi vận chuyển quân nhu, và nó đã khiến ông phải dừng công việc lái xe cứu thương của mình. Mặc dù sự việc ông bị thương từng có nhiều nghi vấn, nhưng hiện tại có thể khẳng định rằng ông đã bị trúng đạn súng cối của quân Áo, làm cho ông bị thương nặng ở chân, và ông cũng bị trúng cả đạn súng máy nữa. Tình trạng đầu gối của ông rất tồi tệ, và, nằm trong số những điều đặc biệt khác thường của biến cố này, ông đã tự cầm máu bằng cách đặt thuốc nhồi và giấy cuốn từ những mẩu thuốc lá vào những vết thương. Sau đó ông được trao tặng Silver Medal of Military Valor (tạm dịch: Huân chương Bạc cho Lòng dũng cảm trong Chiến đấu) (Tiếng Italia: medaglia d'argento) từ chính phủ Italia vì đã đưa người lính Ý bị thương tới vùng an toàn bất chấp những vết thương của mình. Ông được báo chí thời bấy giờ công nhận là người Mỹ đầu tiên bị thương tại Italia trong Thế chiến I nhưng có tranh cãi xung quanh tính chính xác của khẳng định này.“John F. Kennedy Presidential Library Online Resources: Ernest Hemingway: A Storyteller's Legacy”.
Hemingway được điều trị trong một bệnh viện tại Milan được tài trợ bởi Hội Chữ Thập Đỏ Hoa Kỳ. Bởi thiếu những trò tiêu khiển, ông thường xuyên uống rượu mạnh và đọc báo để giết thời gian. Ở đây ông đã gặp Agnes von Kurowsky tới từ Washington, D.C., một trong số mười tám y tá (mỗi người chăm sóc một nhóm bốn bệnh nhân), nhiều hơn ông sáu tuổi. Hemingway đã yêu cô, nhưng quan hệ của họ chẳng thể tiếp tục do ông đã trở lại Mỹ; thay vì quay trở về cùng ông như dự định ban đầu, cô này đã có cảm tình với một sĩ quan Italia. Điều này trở thành một dấu ấn không thể phai nhòa trong tâm trí ông và tạo cho ông những cảm hứng. Câu chuyện này đã được hư cấu trong một trong những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông, Giã từ vũ khí. Truyện ngắn đầu tiên của Hemingway dựa theo mối quan hệ này là "A Very Short Story," (tạm dịch: Một Truyện Cực Ngắn) ra mắt năm 1925.
== Những tiểu thuyết đầu tiên ==
Sau chiến tranh, Hemingway quay trở lại Oak Park,Putnam, Thomas. “Hemingway on War and Its Aftermath”. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2008. và trong năm 1920, ông chuyển đến một căn hộ tại 1599 Phố Bathurst, mà bây giờ được biết đến với cái tên The Hemingway, trong vùng Humewood-Cedarvale tại Toronto, Ontario.“A National Post article on Toronto's Humewood-Cedarvale neighborhood”. Trong khi sống tại đây, ông kiếm được một công việc tại tòa báo Toronto Star. Ông làm việc với tư cách phóng viên tự do, chủ bút, và thông tín viên nước ngoài. Hemingway đối xử rất tốt với người đồng chí Star - phóng viên Morley Callaghan. Callaghan đang bắt đầu viết những truyện ngắn vào thời điểm đó; ông đem chúng tới cho Hemingway xem, và Hemingway khen ngợi chúng là những tác phẩm hay. Sau này họ gặp lại nhau ở Paris.
Trong vòng một thời gian ngắn từ cuối năm 1920 tới gần hết năm 1921, Hemingway sống gần mạn bắc Chicago, trong khi vẫn sắp chữ (filing stories) cho The Toronto Star. Ông cũng là trợ lý biên tập của Co-operative Commonwealth, một tờ báo tháng. Ngày 3 tháng 9 năm 1921, Hemingway cưới người vợ đầu tiên, Hadley Richardson. Sau tuần trăng mật, họ chuyển tới một căn hộ chật hẹp ở tầng trên cùng tại lô 1300 Phố Clark.Brown, Alan, "Literary Landmarks of Chicago," 2004, Starhill Press, ISBN 0-913515-50-7. Trong tháng 9, họ chuyển đến căn hộ trên tầng 4 (tầng thứ 3 theo tiêu chuẩn công trình của Chicago) tại 1239 North Dearborn ở một khu vực trong tình trạng đổ nát gần mạn bắc Chicago. Tòa nhà này hiện vẫn còn và trước cửa có một tấm biển đề "The Hemingway Apartment" ("Căn hộ nhà Hemingway"). Hadley thấy nó có vẻ tối và tạo cảm giác buồn nên vào tháng 12 năm 1921, gia đình Hemingway rời khỏi Chicago và Oak Park, không bao giờ sống ở đó nữa, chuyển sang sống ở nước ngoài.
Theo lời khuyên của Sherwood Anderson, họ định cư tại Paris, Pháp, và chính tại nơi đây Hemingway gửi tin về Chiến tranh Hy Lạp - Thổ Nhĩ Kỳ cho tờ Toronto Star. Hemingway đã chứng kiến một trong những sự kiện nổi tiếng nhất của cuộc chiến có tầm quan trọng nhưng bị coi là vô nghĩa này, đó là cảnh Smyrna bị hỏa thiêu thảm khốc, một sự kiện mà ông đã đề cập trong nhiều mẩu truyện ngắn của mình. Anderson đã gửi cho ông một lá thư giới thiệu tới Gertrude Stein. Bà trở thành cố vấn của ông và giới thiệu ông với "Parisian Modern Movement" (tạm dịch: Phong trào Đổi mới Paris) đang tiến triển tại Khu Montparnasse; đây chính là sự khởi đầu của nhóm những người Mỹ xa xứ được biết đến với tên gọi "Thế hệ vứt đi" (Lost Generation), một thuật ngữ được truyền bá bởi Hemingway trong lời đề từ của một cuốn tiểu thuyết, Mặt trời vẫn mọc (tựa gốc: The Sun Also Rises), và cuốn tự truyện A Moveable Feast (tạm dịch: Hội hè miên man) của ông. Tính ngữ (epithet) "Thế hệ vứt đi" được cô Stein sử dụng lại từ một thợ sửa chữa ô tô người Pháp của cô khi người này vui vẻ đưa ra nhận xét về cô là "une génération perdue". (Cô Stein nói: "'Các bạn là thứ đó. Tất cả các bạn là thứ đó. Tất cả các bạn, những người trẻ phục vụ trong chiến tranh. Các bạn là một thế hệ vứt đi.'" ("That's what you are. That's what you all are,' Miss Stein said. 'All of you young people who served in the war. You are a lost generation." - lấy từ cuốn tự truyện của Hemingway được xuất bản sau khi ông qua đời, A Moveable Feast.) Một người cố vấn có ảnh hưởng tới ông là Ezra Pound,Vào ngày 10 tháng 8 năm 1943, Hemingway viết thư cho Archibald MacLeish để bàn luận về sức mạnh tinh thần của Pound và các vấn đề văn chương khác. người sáng lập ra chủ nghĩa hình tượng. Hemingway sau đó đã nói về nhóm chiết trung này, "Ezra đã đúng trong phân nửa thời gian, và khi ông ấy sai, ông ấy sai đến mức bạn không bao giờ phải nghi ngờ về điều đó. Gertrude thì luôn luôn đúng." ("Ezra was right half the time, and when he was wrong, he was so wrong you were never in any doubt about it. Gertrude was always right.")Trong một cuộc trò chuyện với John Peale Bishop, được trích từ Hemingway, Cowley, ed, 1944, p. xiii. Nhóm thường tới cửa hàng sách của Sylvia Beach, Shakespeare & Co., tại 12 Phố Odéon (Rue de l'Odéon). Sau lần xuất bản năm 1922 và lệnh cấm của Mỹ đối với cuốn tiểu thuyết Ulysses của người đồng sự James Joyce, Hemingway đã nhờ những người bạn tại Toronto mang lén những bản sao của cuốn tiểu thuyết về Mỹ (Hemingway viết về cuộc gặp mặt và trò chuyện với Joyce tại Paris trong A Movable Feast). Cuốn sách đầu tiên của ông, có tên Three Stories and Ten Poems (tạm dịch: Ba câu chuyện và mười bài thơ) (1923), được xuất bản tại Paris bởi Robert McAlmon.
Sau nhiều thành công với tư cách là thông tín viên nước ngoài, Hemingway trở lại Toronto, Canada năm 1923 và viết dưới bút danh Peter Jackson.Jackson, Peter; better known as Ernest Hemingway (ngày 31 tháng 7 năm 2008). “Hemingway feared for High Park's great trees”. Toronto Star. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2008. Trong lần thứ hai sinh sống (stint living) tại Toronto, ông có người con trai đầu tiên. Cậu bé được đặt tên là John Hadley Nicanor Hemingway, nhưng sau đó được quen gọi là Jack. Hemingway đã đề nghị Gertrude Stein làm cha đỡ đầu của cậu.
Cũng vào thời điểm đó, có những bất hòa gay gắt xảy ra giữa Hemingway và người biên tập của ông - Harry Hindmarsh, người tin rằng Hemingway đã trở nên tồi tệ trong thời gian ông sống ở nước ngoài.Dateline: Toronto, Foreword, pp xxv-xxvii, Charles Scribner Jr. Hindmarsh giao cho Hemingway những nhiệm vụ tầm thường (mundane assignments), khiến Hemingway thất vọng và ông quyết định viết đơn xin thôi việc vào tháng 12 năm 1923. Tuy nhiên, việc này không được chấp thuận, và Hemingway vẫn tiếp tục viết cho The Toronto Star nhưng không thường xuyên cho đến hết năm 1924.“Hem and The Star: Parting was inevitable”. The Toronto Star. Ngày 2 tháng 2 năm 1986. Hầu hết những bài mà Hemingway viết cho Star sau này được xuất bản trong tuyển tập Dateline: Toronto vào năm 1985.
Sự nghiệp văn chương tại Mỹ của Hemingway bắt đầu với việc tập truyện ngắn Trong thời đại của chúng ta (tựa gốc: In Our Time) của ông được xuất bản (1925). Những đoản văn tạo nên các chương của phiên bản tại Mỹ (that now constitute the interchapters of the American version) ban đầu được xuất bản ở châu Âu với tựa in our time (1924). Tác phẩm này rất quan trọng đối với Hemingway, vì nó tái khẳng định với ông rằng văn phong cực kì đơn giản của ông vẫn có thể được chấp nhận bởi giới văn học. "Big Two-Hearted River"(tạm dịch: Dòng Sông Rộng Có Hai Tâm Hồn) là truyện nổi tiếng nhất của tuyển tập này.
Vào tháng 4 năm 1925, hai tuần sau khi The Great Gatsby (tạm dịch: Gatsby Vĩ đại) được xuất bản, Hemingway đã gặp F. Scott Fitzgerald tại quán bar Dingo. Fitzgerald và Hemingway đã trở thành bạn thân ngay lần đầu gặp mặt, và từ đó họ thường xuyên uống rượu và trò chuyện cùng nhau. Thỉnh thoảng họ trao đổi cho nhau những bản thảo, cùng với đó Fitzgerald đã cố gắng rất nhiều để giúp công việc Hemingway tiến triển và đưa tuyển tập truyện đầu tiên của ông ra công chúng. Hemingway và vợ của Fitzgerald - Zelda tỏ ra không hề ưa nhau khi Zelda gọi Hemingway là một kẻ "đểu giả" (gốc: "phony"). Quan hệ vợ chồng Fitzgerald và Zelda xuất hiện những bất hòa trong thời gian này, và Zelda đã nói với Scott rằng đời sống tình dục của họ đã xuống dốc bởi vì ông là một kẻ đồng tính (gốc: "a fairy") và có quan hệ luyến ái với Hemingway. Chưa có bắng chứng rằng hai người là đồng tính, nhưng dù sao Scott đã quyết định ngủ với một người gái điếm để chứng minh mình là đàn ông thực sự.Bruccoli 2002, tr. 275
Những mối liên hệ của Hemingway ở Pháp tạo cảm hứng cho sự ra đời của cuốn tiểu thuyết dài đầu tiên, Mặt trời vẫn mọc (tựa gốc: The Sun Also Rises) (1926) (được xuất bản tại Vương Quốc Anh với tựa đề "Fiesta").Đây là một tiểu thuyết có tính chất nửa tự truyện, kể về một nhóm những người Mỹ xa xứ quanh Paris và Tây Ban Nha. Bối cảnh của truyện được đặt tại Pamplona, trong kì lễ hội. Tiểu thuyết trở nên nổi tiếng khắp châu Âu và Mỹ và nhận được nhiều lời khen trong giới phê bình.
Hemingway ly dị với Hadley Richardson năm 1927 và cưới Pauline Pfeiffer, một người sùng đạo Thiên Chúa đến từ Piggott, Arkansas. Pfeiffer là một phóng viên thời trang không thường xuyên, làm xuất bản trong các tạp chí như Vanity Fair và Vogue.“Hemingway Resource Center”. Hemingway cũng trở thành một tín đồ Thiên chúa giáo vào thời gian này. Đây là năm mà tuyển tập truyện ngắn Men Without Women] (tạm dịch: Đàn Ông Không Đàn Bà) được xuất bản, trong đó The Killers(tạm dịch: Những Kẻ Sát Nhân) là một trong những truyện ngắn nổi bật nhất và được chọn in nhiều lần nhất của ông. Năm 1928, Hemingway và Pfeiffer chuyển đến Key West, Florida, để bắt đầu một cuộc sống mới. Tuy nhiên, cuộc sống mới của họ sớm rạn nứt bởi bi kịch khác lại đến với cuộc đời ông.
Năm 1928, cha Hemingway, Clarence, gặp rắc rối với bệnh tiểu đường (gốc: Diabetes mellitus) và tình trạng mất ổn định về tài chính, nên đã tự vẫn bằng một khẩu súng lục cũ từ thời Nội Chiến. Điều này khiến Hemingway đau đớn tột cùng và có vẻ đã được ông tái hiện qua chuyện cha của Robert Jordan tự tử trong cuốn tiểu thuyết Chuông nguyện hồn ai. Ông ngay lập tức tới Oak Park để làm lễ mai táng và gây ra tranh cãi khi nói rằng theo quan điểm Thiên chúa giáo, ông nghĩ cha ông sẽ phải xuống địa ngục. Cũng trong khoảng thời gian đó, Harry Crosby, người sáng lập Black Sun Press và một người bạn của Hemingway khi ông ở Paris, cũng quyết định tự tử.
Cùng năm đó, người con trai thứ hai của Hemingway, Patrick, sinh ra ở Kansas City (người con trai thứ ba của ông, Gregory, ra đời vài năm sau đó). Cậu bé được sinh ra nhờ cách phẫu thuật (gốc: Caesarean section) do vợ ông bị khó sinh. Chi tiết của sự việc này đã xuất hiện trong phần cuối củaGiã từ vũ khí. Hemingway sống và viết phần lớn tiểu thuyết Giã từ vũ khí và vài ba truyện ngắn ở nhà của cha mẹ Pauline tại Piggott, Arkansas. Nhà của Pfeiffer và Nhà của Carriage nay đã trở thành viện bảo tàng thuộc sở hữu của Đại học bang Arkansas.
Được xuất bản năm 1929, Giã từ vũ khí (tựa gốc: A Farewell to Arms) kể lại chuyện tình lãng mạn giữa Frederic Henry,một sĩ quan Mỹ, và Catherine Barkley, một y tá Anh. Tiểu thuyết mang nặng tính tự truyện: cốt truyện lấy cảm hứng trực tiếp từ mối quan hệ của ông với Agnes von Kurowsky ở Milan; quá trình sinh con của Catherine lấy cảm hứng từ những cảm giác rất đau đớn của Pauline khi sinh ra Patrick; cuộc đời thực của Kitty Cannell là cảm hứng cho nhân vật Helen Ferguson; người linh mục dựa theo Don Giuseppe Bianchi, một linh mục trong trung đoàn thứ 69 và 70 của Brigata Ancona. Trong khi đó, cảm hứng về nhân vật Rinaldi khá mơ hồ, nhân vật này đã từng xuất hiện trong Trong thời đại của chúng ta. Giã từ vũ khí đã được xuất bản trong thời điểm mà những cuốn sách viết về Chiến tranh thế giới I khá nhiều, như Her Privates We của Frederic Manning, All Quiet on the Western Front của Erich Maria Remarque, Death of a Hero của Richard Aldington, và Goodbye to All That của Robert Graves. Sự thành công của Giã từ vũ khí giúp cho Hemingway ổn định hơn về tài chính.
== Key West ==
Theo lời khuyên của John Dos Passos, Hemingway quay về Key West, Florida năm 1931, nơi ông tạo dựng [Ernest Hemingway House|cơ ngơi đầu tiên của ông tại Mỹ], mà nay đã được chuyển đổi thành một viện bảo tàng. Đây là một ngôi nhà bằng đá vôi khá vững chãi được xây năm 1851, là một món quà cưới từ người bác của Pauline. Từ khi sống ở đây, Hemingway thường câu cá tại vùng hồ Dry Tortugas cùng người bạn lâu năm của ông Waldo Pierce, tới quán bar nổi tiếng [Sloppy Joe's (quán bar)|Sloppy Joe's], và có dịp du lịch sang Tây Ban Nha, thu thập tài liệu cho cuốn Chết vào lúc xế trưa và Winner Take Nothing(tạm dịch: Kẻ Thẳng Chẳng Được Gì). Hơn 9 năm sau đó, đến tận khi cuộc hôn nhân của ông chấm dứt năm 1940, và tiếp đó, trong suốt những năm 50 của thế kỷ XX, cũng là những năm cuối cuộc đời, Hemingway đã thực hiện ước chừng 70% việc viết văn trong đời trong một phòng viết nhỏ tại tầng trên của một ga-ra ô tô được cải tạo, phía sau ngôi nhà này.
Chết vào lúc xế trưa, một cuốn sách về đấu bò tót, được xuất bản năm 1932. Hemingway đã trở thành một "aficionado" của môn thể thao này sau khi chứng kiến lễ hội Pamplona năm 1925, đã được hư cấu trong Mặt trời vẫn mọc. Trong Chết vào lúc xế trưa, Hemingway luận bàn một cách bao quát về sự siêu hình của việc đấu bò: sự nghi thức hóa, gần như là hoạt động tôn giáo. Hemingway đã có ý định trở thành một người đấu bò và tỏ ra có thiên hướng qua nhiều novieros (?) trước khi quyết định rằng nghiệp viết là cuộc sống của ông và là nghề nghiệp duy nhất phù hợp với ông. Trong thời kì viết văn của ông tại Tây Ban Nha, ông đã bị ảnh hưởng bởi bậc thầy người Tây Ban Nha Pío Baroja. Khi Hemingway được trao Giải Nobel, ông tới thăm Baroja. Bên giường bệnh, ông bảo với Baroja rằng ông nghĩ Baroja xứng đáng đạt giải thưởng này hơn mình. Baroja đã đồng ý và dường như một mối bất hòa giữa Hemingway với nhà văn này đã nảy sinh cho dù mục đích của ông cơ bản là tốt.
Vào một cuộc đi săn trong mùa thu năm 1933, ông đã đến Mombasa, Nairobi, và Machakos ở Kenya, tiếp đó là Tanganyika. Ở đây, ông đã săn bắn trong Serengeti, quanh Hồ Manyara và vùng phía tây và đông nam của Công viên Quốc gia Tarangire ngày nay. Hemingway đã bị bệnh trong chuyến đi này (suffering a prolapsed intestine: đau sa ruột (?)). Vì thế, ông đã được chuyển tới Nairobi bằng máy bay, và trải nghiệm này đã được hư cấu trong tập truyện "The Snows of Kilimanjaro" (tạm dịch: Tuyết vùng Kilimanjaro) của ông. Năm 1935 đánh dấu sự xuất bản của Những ngọn đồi xanh châu Phi, miêu tả lại cuộc đi săn của ông. Các tác phẩm The Snows of Kilimanjaro và Hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber chính là những thành quả từ những trải nghiệm của nhà văn tại châu Phi. Trong chuyến đi này, người hướng dẫn cho Hemingway là Philip Hope Percival, người đã từng làm hướng dẫn cho Theodore Roosevelt vào chuyến đi săn năm 1909. Percival cũng hướng dẫn cho Hemingway vào cuộc đi săn tàn khốc năm 1954.http://www.ntz.info/gen/n00808.html Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2009http://www.huntingmag.com/big_game/africaph_061107/ Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2009
== Bimini ==
Hemingway sống ở Bimini, Bahamas từ 1935 tới 1937, tại Khách sạn Compleat Angler. Ông làm việc cho To Have and Have Not và viết một số bài báo, nhưng phần lớn thời gian ông sống trên con thuyền Pilar của mình, để đánh bắt cá cờ, cá thu và cá kiếm ở vùng nước ngoài khơi xanh thẳm. Bimini đã gây ấn tượng với Hemingway qua những câu chuyện kể về những cuộc đánh bắt cá phi thường vốn có tại Gulf Stream, "dòng sông" huyền thoại vùng nước ấm chảy qua mạn bắc Bahamas.“Frommers Guides: Bimini-Fire Guts Hemingway's Favorite Bar”.
== Nội chiến Tây Ban Nha ==
Năm 1936, Hemingway tới Tây Ban Nha làm phóng viên về Nội chiến Tây Ban Nha cho tờ North American Newspaper Alliance (Liên Minh Báo chí Bắc Mỹ). Trong khi ở đó, tình bạn giữa Hemingway và John Dos Passos đã đổ vỡ, bởi bất chấp những sự cảnh báo, Dos Passos tiếp tục đưa tin về những hành động tàn bạo không chỉ của những người chủ nghĩa dân tộc phát-xít mà Hemingway căm thù, mà cả của những nhà cầm quyền cánh tả Đảng Cộng Hòa mà Hemingway ủng hộ; thậm chí, Hemingway còn phổ biến một câu chuyện về Dos Passos, rằng ông này đã trốn sang Tây Ban Nha vì hèn nhát.The Breaking Point: Hemingway, Dos Passos, and the Murder of Jose Robles của Stephen Koch, xuất bản năm 2005 ISBNThe Spanish Civil War (1961) của Hugh Thomas Trong bối cảnh này, một người đồng nghiệp và cộng tác với Hemingway là Herbert Matthews, người sau này đã trở nên nổi tiếng qua những phóng sự về Fidel Castro, đã bày tỏ sự ủng hộ của mình đối với phe Cộng Hòa giống như Hemingway. Hemingway đã chuyển sang theo đạo Thiên Chúa khi chung sống với người vợ Pauline và tôn giáo trở thành một vấn đề đối với ông trong thời gian này, đến mức ông muốn rời bỏ Giáo hội (tuy nhiên những người bạn của ông nhận thấy rằng ông có những ràng buộc khá buồn cười ("funny ties") với Thiên Chúa giáo trong phần còn lại của cuộc đời). Chiến tranh cũng đã gây ra căng thẳng với cuộc sống hôn nhân của ông. Pauline Pfieffer là một tín đồ Công giáo và vì thế bà đứng về phe phát-xít, chính quyền thân Công giáo của Franco, trong khi thông qua những lời bình phẩm của Hemingway, ông lại tỏ ra ủng hộ chính phủ Cộng hòa. Suốt thời kì này, Hemingway đã viết một bài luận ít được biết đến mang tên The Denunciation (tạm dịch: Sự Tố cáo), mà tới tận năm 1969 mới được xuất bản, trong một tuyển tập là Fifth Column and Four Stories of the Spanish Civil War.Câu chuyện dường như mang tính tự truyện, chỉ ra rằng Hemingway từng là người đưa tin cho Đảng Cộng hòa cũng như một người đào tạo về vũ khí (weapons instructor) trong chiến tranh.
Cuộc sống của Hemingway thời kì này còn bị ảnh hưởng bởi một số vấn đề về sức khỏe: nhiễm bệnh thán thư (anthrax), phải đi phẫu thuật mắt, bị thương ở trán, bị cúm, đau răng, trĩ, gặp rắc rối về thận lúc đi đánh cá, rách cơ vùng bẹn, gãy ngón tay khi tập đấm bốc, cùng các vết rách trên tay, chân và mặt trong khi phi ngựa qua vùng rừng Wyoming, và bị gãy tay trong một tai nạn ô tô.
== First Forty-Nine Stories ==
Vào năm 1938—cùng với vở kịch dài duy nhất của ông, mang tựa đề The Fifth Column—49 tựa truyện đã được xuất bản trong tuyển tập The Fifth Column and the First Forty-Nine Stories. Trong lời đề tựa, Hemingway đã dự định viết nhiều hơn thế nữa. Nhiều truyện trong tuyển tập có thể tìm thấy trong các tuyển tập khác, bao gồm Trong thời đại của chúng ta, Men Without Women, Winner Take Nothing, và The Snows of Kilimanjaro.
Một số truyện đặc sắc của tuyển tập này là Old Man at the Bridge (tạm dịch: Ông Già Trên Cây Cầu), On The Quai at Smyrna, Hills Like White Elephants (tạm dịch: Những Ngọn Đồi Như Những Con Voi Trắng), One Reader Writes (tạm dịch: Một Độc Giả Viết), The Killers và A Clean, Well-Lighted Place (tạm dịch: Một Nơi Sạch Sẽ, Sáng Sủa). Bên cạnh những truyện ngắn này, cuốn sách cũng bao gồm một số truyện dài hơn, trong số đó có The Snows of Kilimanjaro và Hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber.
== Chuông nguyện hồn ai ==
Vào mùa xuân năm 1939, Francisco Franco và những người Đảng Dân tộc đánh bại những người Đảng Cộng hòa, kết thúc Nội chiến Tây Ban Nha. Hemingway mất đi mảnh đất quê hương được thừa kế vào tay bè đảng phát-xít của Franco, và tiếp đó mất đi ngôi nhà thân yêu ở Key West,'' Florida do cuộc ly hôn năm 1940.
Ít tuần sau cuộc ly hôn, ông cưới người bạn gái mà ông quen tại Tây Ban Nha từ bốn năm trước, đó là Martha Gellhorn, người vợ thứ ba của ông.
Tiểu thuyết Chuông nguyện hồn ai (For Whom the Bell Tolls) được xuất bản vào năm 1940, đoạt Giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu năm 1941. Nó được viết năm 1939 tại Cuba và Key West, hoàn thành vào tháng 7 năm 1940. Tác phẩm dài này lấy bối cảnh là Cuộc nội chiến Tây Ban Nha, được viết dựa theo những sự kiện có thật, kể về một nhân vật người Mỹ tên Robert Jordan chiến đấu với những người lính Tây Ban Nha theo phe Cộng Hòa. Phần lớn tiểu thuyết là dựa theo những trải nghiệm về cuộc sống tại Tây Ban Nha và về thời kì làm phóng viên chiến tranh. Tác phẩm được coi là một trong những thành quả văn chương nổi bật của ông.
== Chiến tranh thế giới II ==
Hoa Kỳ tham gia Chiến tranh thế giới II vào ngày 8 tháng 12 năm 1941, và lần đầu tiên trong cuộc đời mình, Hemingway tham gia chiến đấu trong hàng ngũ hải quân. Chu du trên con tàu Pilar, mà bây giờ là một Q-Ship, đội của Hemingway được giao nhiệm vụ đánh chìm những chiếc tàu ngầm Đức đang đe dọa giao thông hàng hải ngoài khơi Cuba và Hoa Kỳ. Sau khi FBI tiếp quản công tác phản gián tại Caribbean, ông tới châu Âu với công việc phóng viên chiến tranh cho tạp chíCollier's. Ở đó, Hemingway đã chứng kiến cuộc đổ bộ D-Day từ một tàu đổ bộ (LCVP, landing craft, vehicle, personel), mặc dù ông không được phép lên bờ. Tiếp đó, ông trở nên tức giận khi lúc đó vợ ông, Martha Gellhorn — một người phóng viên chiến tranh hơn là một người vợ — đã xoay xở để lên bờ rạng ngày hôm mồng 7 tháng 6 với một bộ đồng phục y tá, sau khi bà vượt qua Đại Tây Dương tới Anh trong một con tàu chất đầy thuốc nổ. Hemingway đóng vai một sĩ quan liên lạc không chính thức tại Château de Rambouillet (Lâu đài Rambouillet), và kế tiếp xây dựng một đội quân của riêng mình (gốc: formed his own partisan group), đội quân mà theo lời ông đã tham gia vào cuộc giải phóng Paris. Mặc dù tuyên bố này vẫn còn gây ra những nghi ngờ với nhiều sử gia, tuy nhiên thực tế thì không thể nghi ngờ ông được.He was once quoted saying that he actually had liberated the bar at the famous Ritz Hotel...How It Was: An Autobiography của Mary Welsh Hemingway, copyright 1976, ISBN 0-345-25432-5
Sau chiến tranh, Hemingway bắt đầu viết The Garden of Eden (Vườn Địa Đàng). Tác phẩm tuy chưa được hoàn thành nhưng một bản tóm lược về nó được xuất bản năm 1986 sau khi ông qua đời. Có một giai đoạn, ông lập kế hoạch viết một bộ ba tác phẩm chính gồm có "The Sea When Young"(tạm dịch: Biển Khi Còn Trẻ), "The Sea When Absent"(tạm dịch: Biển Khi Thẫn Thờ) và "The Sea in Being"(tạm dịch: Biển Sống) (cuốn thứ ba rốt cuộc cũng được xuất bản vào năm 1952 với tựa đề Ông già và biển cả). Ông đã dành thời gian trong một thị trấn nhỏ của Italy tên là Acciaroli (cách Napoli khoảng 136 km về phía nam). Cũng có một truyện "dính đến biển" nữa (từ gốc: Sea-Chase); ba mẩu chuyện này đã được biên tập và kết dính với nhau thành một cuốn tiểu thuyết được xuất bản sau khi ông qua đời Islands in the Stream (1970).
Mới bốn năm sau ly dị với Gellhorn, Hemingway đã cưới phóng viên chiến tranh Mary Welsh Hemingway, người ông đã gặp ở hải ngoại năm 1944. Ông đã trở lại Cuba, và vào 1945 tại Đại sứ quán Xô-viết, ông đã trở thành nhân chứng công khai (gốc: public witness) cho phe ly khai (gốc: schism) Rolando Masferrer trong nội bộ Đảng cộng sản Cuba (García Montes, và Alonso Ávila, 1970 p. 362).
Sau Chuông nguyện hồn ai, cuốn tiểu thuyết tiếp theo của Hemingway là Across the River and into the Trees(tạm dịch: Qua Dòng Sông và vào trong Cánh Rừng) (1950), với bối cảnh Venice hậu chiến tranh thế giới II. Ông lấy tựa bắt nguồn từ những lời cuối cùng của Confederate General (hàm cấp tướng (?)) trong cuộc Nội chiến Mỹ Stonewall Jackson. Phải lòng một cô gái trẻ người Italy (Adriana Ivancich) vào thời điểm đó, Hemingway đã viết Across the River and into the Trees giống như một mối tình lãng mạn giữa Colonel Cantwell, một chàng trai bị chiến tranh làm cho kiệt quệ (dựa theo nguyên mẫu một người bạn của ông, Colonel Charles Lanham) và cô gái trẻ Renata (lấy theo nguyên mẫu Adriana; "Renata" đồng âm với "rinata", có nghĩa là 'tái sinh" theo tiếng Italy). Tiểu thuyết nhận được những phê bình không tốt, nhiều trong số đó cho rằng Hemingway viết thật vô vị, văn phong lạc lõng và ủy mỵ quá mức; tuy nhiên cũng có những nhà phê bình không đồng ý với quan điểm này.
== Những năm sau đó ==
Một phần của bộ ba tác phẩm về biển được xuất bản với tựa Ông già và biển cả năm 1952. Cuốn tiểu thuyết ngắn này là một thành công lớn, về cả mặt thương mại lẫn phê bình, khiến Hemingway thật sự hài lòng và mãn nguyện. Nhờ tác phẩm này, ông được nhận Giải thưởng Pulitzer năm 1953. Một năm sau đó, ông đạt Giải Nobel Văn học. Lúc nhận giải thưởng này, ông đã bày tỏ rằng ông thực sự hạnh phúc, nhưng còn hạnh phúc hơn nữa... nếu như giải thưởng được trao cho nhà văn Isak Dinesen.Lấy từ The New York Times Book Review, 7 tháng 11 năm 1954. Những giải thưởng này đã giúp ông phục hồi danh tiếng của mình trên thế giới.
Trong một cuộc đi săn, ông đã bị thương nặng sau hai tai nạn máy bay liên tiếp; ông bị bong gân vai - tay bên phải và chân trái, bị chấn động mạnh, mắt trái ông bị mất thị lực tạm thời đồng thời mất khả năng nghe ở tai trái, bị liệt xương sống, một đốt sống bị nát, gan, lá lách và thận bị tổn thương, mặt, tay và chân ông bị bỏng cấp độ một. Một số tờ báo tại Mỹ nghĩ rằng ông đã bị sát hại nên đã mắc sai lầm khi đăng cáo phó cho Hemingway.“Ernest Hemingway Quick Facts”. encarta.
Hemingway đã bị thương nặng một tháng sau đó trong một vụ hỏa hoạn (bushfire: (?)), làm cho chân, thân trên phía trước, môi, bàn tay trái cánh tay phải của ông bị bỏng cấp độ hai. Vết thương để lại cho ông nỗi đau đớn kéo dài, và ông không thể tới Stockholm để nhận giải Nobel.
Một tia hi vọng le lói xuất hiện khi ông tìm lại một số bản thảo cũ của mình từ hồi 1928 trong những hầm chứa Ritz. Đó chính là bản thảo mà ông sử dụng để viết A Moveable Feast. Mặc dù sức khỏe của ông có được phục hồi đôi chút, nhưng chính chứng nghiện rượu đã kéo ông đi xuống. Huyết áp và lượng cholesterol ở mức nguy hiểm, ông đau đớn vì bị viêm động mạch chủ, và suy nhược ngày một trầm trọng vì nghiện rượu. Tuy nhiên, tháng 10 năm 1956, Hemingway đã kịp lấy lại sức khỏe để tới Madrid và tham dự lễ tang Pío Baroja, một trong số những nhà văn gây ảnh hưởng tới Hemingway.
Sau khi cuộc cách mạng tại Cuba diễn ra và tướng Fulgencio Batista bị trục xuất năm 1959, việc tài sản thuộc sở hữu của ngoại quốc bị tước đoạt khiến cho nhiều người Mỹ phải trở lại Tổ quốc. Hemingway quyết định ở lại thêm một thời gian nữa. Có thể nói theo cách thông thường, ông vẫn gìn giữ một mối quan hệ tốt đẹp với Fidel Castro và đã từng tuyên bố ủng hộ cuộc cách mạng này, và chúc Castro "luôn may mắn" ("all luck") khi điều hành đất nước.“Hemingway's Marriage to Mary Welsh. His last days.”. “Homing To The Stream: Ernest Hemingway In Cuba”. Tuy nhiên, the Hemingway account "The Shot" (? Hemingway, Ernest 1951 The Shot. True the men’s magazine. tháng 4 năm 1951. pp. 25–28 bị Cabrera Infante và những người khác lợi dụng “An Interview with Guillermo Cabrera Infante”. Gonzalez Echevarria, Roberto 1980 The Dictatorship of Rhetoric/the Rhetoric of Dictatorship: Carpentier, Garcia Marquez, and Roa Bastos. Latin American Research Review, Vol. 15, No. 3 (1980), pp. 205–228 "For example, the assassination of Manolo Castro is retold by alluding to Hemingway's "The Shot,...""“Castro-Hemingway-not-friends”. chính là bằng chứng cho xung đột giữa Hemingway và Fidel Castro đã tồn tại từ trước năm1948 và việc một người bạn Hemingway, "Manolo" Castro bị giết hại.Raimundo, Daniel Efrain 1994 Habla el Coronel Orlando Piedra (Coleccion Cuba y sus Jueces), Ediciones Universal ISBN-10 ISBN-13: Pages 93–94 refer to the death of Manolo Castro, and offers the insight that it was Rolando Masferrer’s men who, rather than the police who, were chasing after Fidel Castro with lethal intent. According to this account Castro is captured in the company of a woman and child as he tries to flee to Venezuela via the Cuban airport of Rancho Boyeros south of Havana by the Cuban Bureau of Investigation as witnessed by sergeant of that organization Joaquin Tasas. Castro is released the next day. This matter is a little odd since Fidel Castro was believed to have organized the death of Manolo Castro (p. 99). This version is a close fit the scenario described in "The Shot/." Hemingway đến dưới sự bảo trợ của FBI trong suốt Chiến tranh thế giới II (rất có thể sự hợp tác lâu năm giữa ông và những nhân vật marxism kì cựu thời Nội Chiến Tây Ban Nha The Breaking Point: Hemingway, Dos Passos, and the Murder of Jose Robles by Stephen Koch, xuất bản năm 2005 ISBN, những người đã hoạt động trở lại tại Cuba) và quá trình ông cư trú và hoạt động tại Cuba sau đó.“Ernest Hemingway His Life and Works”. Năm 1960, ông rời xa hòn đảo và Finca Vigía, điền trang của ông ở bên ngoài Havana mà ông đã làm chủ trong hơn hai mươi năm. Quan chức Cu-ba coi những tài sản trên của ông giờ thuộc quyền ở hữu của chính phủ Cu-ba, và sẽ được chuyển làm bảo tàng để tưởng nhớ ông (?).“Finca Vigía”. “Restauracion Museo Hemingway (Official website) - Finca Vigía” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Consejo Nacional de Patrimonio Cultural- Cuba. 2009. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2009. Năm 2001, tập đoàn du lịch nhà nước Cu-ba, El Gran-Caribe SA, bắt đầu cấp phép cho chuỗi nhà hàng quốc tế La Bodeguita del Medio hoạt động chủ yếu dựa vào nhà hàng ở Havana nơi Hemingway thường xuyên lui tới.MILLMAN, JOEL (ngày 22 tháng 2 năm 2007). “Hemingway's Ties to Bar - Still Move the Mojitos”. Wall Street Journal. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2007.
Vào tháng 2 năm 1960, Ernest Hemingway không thể chuyển câu chuyện kể về đấu bò mang tựa đề The Dangerous Summer tới nhà xuất bản. Bởi vậy ông đã nhờ Mary vợ mình mời người bạn của ông, Will Lang Jr. chủ tịch tòa soạn (bureau head) Life Magazine, rời Paris và tới Tây Ban Nha. Hemingway thuyết phục Lang cho phép in bản thảo này, cùng với một bức ảnh (along with a picture layout, before it came out in hardcover (?)). Mặc dù chẳng có từ nào liên quan đến tấm ảnh trong bài viết (Although not a word of it was on paper), lời đề nghị đã được chấp thuận. Phần đầu của câu chuyện được đăng trên Life Magazine ngày 5 tháng 9 năm 1960, và sau đó là các phần còn lại đã rất thành công và nhận được sự quan tâm của độc giả.
Những bức ảnh trong bài báo The Dangerous Summer (tạm dịch: Mùa Hè Nguy Hiểm) đã khiến ông ngã bệnh và phải chuyển tới Ketchum, Idaho để điều trị cao huyết áp và viêm gan. Trên thực tế, có thể chính điều này đã nhanh chóng đẩy ông nghĩ đến việc tự tử, kể từ khi có tin ông bị mất trí nhớ sau những phiên sốc điện. Ông cũng trở nên hốc hác hơn trước, với thân hình cao 6-foot (183 cm) nhưng cân nặng chỉ có 170 pound (77 kg, 12st 2 lb).
== Tự sát ==
Hemingway đã dự định tự sát vào mùa xuân 1961, và tiếp tục được chữa trị bằng liệu pháp sốc điện (ETC) (Electroconvulsive therapy). Vào buổi sáng ngày 2 tháng 7 năm 1961, vài ba tuần trước sinh nhật lần thứ 62 của mình,ông đã chết tại nhà riêng tại Ketchum, Idaho, sau khi tự nã đạn vào đầu mình bằng một khẩu súng săn (shotgun). Chưa được phán xét chịu trách nhiệm về mặt tinh thần đối với hành động cuối cùng này, ông được mai táng tại một nghĩa trang của đạo Thiên chúa La Mã.
Người ta tin rằng Hemingway đã mua khẩu súng săn của Boss & Co., khẩu súng ông sử dụng để tự sát, tại Abercrombie & Fitch - sau này là một nhà bán lẻ các đồ dùng phục vụ dã ngoại và nhà cung cấp các loại súng cầm tay.Grauer, Neil A. "Remembering Papa." Cigar Aficionado, Tháng 7/Tháng 8 năm 1999. Đó là một vụ tự sát thực sự khủng khiếp, ông đặt báng của khẩu súng săn hai nòng trên sàn của tiền sảnh nhà mình, tựa trán mình lên hai họng súng rồi kéo cò.“The Last Ole”. Nhân viên điều tra theo yêu cầu của gia đình đã không tiến hành khám nghiệm tử thi.“Ernest Hemingway”.
Những người gần gũi nhất trong gia đình của Hemingway cũng quyết định tự sát, gồm có cha của ông, Clarence Hemingway, chị em gái của ông Ursula và Leicester, cô cháu gái Margaux Hemingway. Một số tin rằng một vài thành viên trong dòng họ Hemingway nhiễm một bệnh di truyền mang tên haemochromatosis (một dạng bệnh tiểu đường - bronze diabetes), trong đó một sự dư thừa về tập trung sắt trong máu gây tổn thương tuyến tụy và cũng gây ra sự suy nhược hay bất ổn định trong não bộ.(Wagner-Martin, 2000) p. 43 miêu tả lại tình trạng của ông vào tháng 8 năm 1947 trong đó bao gồm huyết áp cao, tiểu đường suy nhược và có thể cả bệnh haemochromatosis. Cha của Hemingway đã phát bệnh haemochromatosis trong thời gian trước khi ông tự sát ở tuổi năm mươi chín. Suốt cuộc đời mình, Hemingway là một người nghiện rượu nặng, và không thể kháng cự chứng nghiện rượu (alcoholism) trong những năm tiếp đó.
Hemingway có thể đã rất đau đớn vì rối loạn thần kinh, và rồi được chữa trị bằng liệu pháp sốc điện (electroshock therapy) tại Mayo Clinic. Sau đó ông đổ lỗi cho những phiên ETC đã gây nên việc mất trí nhớ của mình - cũng là một lý do khiến ông không muốn sống nữa.
Hemingway yên nghỉ tại một nghĩa trang ở phía bắc thị trấn Ketchum, Idaho. Một bia tưởng niệm đã được dựng năm 1966 tại một địa điểm khác, nhìn ra Trail Creek, phía bắc Ketchum. Trên đó có khắc một bài thơ chúc tụng Hemingway viết tặng một người bạn của ông, Gene Van Guilder:
Best of all he loved the fall The leaves yellow on the cottonwoods Leaves floating on the trout streams And above the hills The high blue windless skies Now he will be a part of them forever
(tạm dịch: Anh yêu mùa thu hơn tất cả Những chiếc lá nhuộm vàng những cây bông vải Những chiếc lá trôi theo những dòng cá hồi Và ở phía trên những ngọn đồi Những khoảng trời cao xanh lặng gió Giờ đây anh sẽ mãi mãi là một phần của chúng)
Ernest Hemingway - Idaho - 1939
Để tưởng nhớ tình yêu mà Hemingway dành cho Idaho và vùng ngoại vi nơi đây, Lễ Ernest Hemingway “www.ernesthemingwayfestival.org”. được tổ chức hàng năm tại Ketchum và Sun Valley vào cuối tháng 9 với sự góp mặt của những nhà nghiên cứu, một buổi diễn thuyết dành cho người được trao Giải thưởng PEN/Hemingway và nhiều sự kiện khác, bao gồm những tour tham quan di tích lịch sử, những đêm open mic và một bữa tối từ thiện tại nhà của Hemingway tại Warm Springs mà nay Uỷ ban bảo vệ tự nhiên tại Ketchum đang bảo quản.
== Những tác phẩm được xuất bản sau khi ông qua đời ==
Hemingway viết nhiều thư, năm 1981, phần nhiều trong số chúng được Scribner cho in thành sách với nhan đề Ernest Hemingway Selected Letters(Tuyển tập thư Hemingway). Cuốn sách đã vấp phải phản ứng trái chiều vì Hemingway trước đó đã không muốn cho xuất bản những bức thư của mình. Những bức thư khác in trong một cuốn sách tập hợp các bức thư mà ông từng trao đổi với biên tập viên của mình - Max Perkins,tựa đề The Only Thing that Counts 1996.
Giờ đây một dự án nhằm xuất bản hàng ngàn bức thư mà Hemingway viết khi ông còn sống đang được tiến hành. Dự án được thực hiện với sự hợp tác của Đại học bang Pennsylvania và Quỹ Ernest Hemingway. Sandra Spanier, giáo sư Tiếng Anh - vợ ngài hiệu trưởng Đại học bang Pennsylvania Graham Spanier, đóng vai trò là tổng biên tập của tổng tập này.“hemingwayx.html”.
Hemingway vẫn tiếp tục sáng tác cho tới khi ông mất; hầu hết các tác phẩm đơn lẻ của ông được in sau khi ông qua đời; bao gồm A Moveable Feast (tạm dịch: Một Ngày Lễ Đổi Ngày), Islands in the Stream, The Nick Adams Stories (vài phần của tác phẩm này chưa được xuất bản trước đó), The Dangerous Summer, và The Garden of Eden (tạm dịch: Vườn địa đàng).Các thông tin về các tác phẩm của Hemingway sau khi ông mất được lấy từ lời đề tựa của Charles Scribner, Jr cho cuốnThe Garden of Edenin năm 1987. Trong lời tựa cho cuốn Islands in the Stream, Mary Hemingway cho biết bà đã cùng với Charles Scribner, Jr. để "chuẩn bị xuất bản các tác phẩm từ bản thảo gốc của Ernest ". Bà cũng cho biết "ngoài việc vẫn thường làm là sửa lỗi chính tả và dấu câu, chúng tôi cũng cắt một số chỗ trong bản thảo, tôi cảm thấy chắc chắn rằng nếu còn sống ông ấy cũng sẽ làm vậy. Tất cả nội dung cuốn sách vẫn là của Ernest. Chúng tôi không hề thêm thắt gì cả." Còn một số tranh cãi xung quanh việc xuất bản những tác phẩm này, cho rằng không cần thiết phải có sự quyết định của người thân Hemingway hay các nhà xuất bản đối với việc có hay không đưa những tác phẩm này ra công chúng. Ví dụ, một số học giả phản đối việc tác phẩm The Garden of Eden (Vườn địa đàng) được Charles Scribner's Sons xuất bản năm 1986, mặc dù chắc chắn là nguyên bản của Hemingway, nhưng bị cắt mất hai phần ba so với bản thảo.BookRags makes this quantitative note; it also reveals some more information about the publication of The Garden of Eden and offers some discussion of thematic content.
== Ảnh hưởng và di sản ==
Ảnh hưởng của văn phong Hermingway tới Văn học Mỹ thực sự rất lớn và vẫn còn cho đến ngày nay. James Joyce gọi "A Clean, Well Lighted Place" là "một trong số những truyện hay nhất từng được viết". (Truyện này cũng đã ảnh hưởng tới Edward Hopper's thông qua nhiều bức vẽ nổi tiếng của ông, mà nổi bật nhất là "Nighthawks."Wells, Walter, Silent Theater: The Art of Edward Hopper, London/New York: Phaidon, 2007) Pulp fiction and "hard boiled" crime fiction (which flourished from the 1920s to the 1950s) often owed a strong debt to Hemingway.
Hunter S. Thompson thường so sánh mình với Hemingway, và có thể tìm thấy những câu văn ngắn gọn kiểu Hemingway (terse Hemingway-esque sentences) trong tiểu thuyết đầu tay của ông, The Rum Diary.
== Gia đình ==
=== Cha mẹ ===
Cha: Clarence Hemingway. Sinh ngày 2 tháng 9 năm 1871, chết ngày 6 tháng 12 năm 1928
Mẹ: Grace Hall Hemingway. Sinh ngày 15 tháng 6 năm 1872, chết ngày 28 tháng 6 năm 1951
=== Anh chị em ruột ===
Marcelline Hemingway. Sinh ngày 15 tháng 1, 1898, chết ngày 9 tháng 12 năm 1963
Ursula Hemingway. Sinh ngày 29 tháng 4 năm 1902, chết ngày 30 tháng 10 năm 1966
Madelaine Hemingway. Sinh ngày 28 tháng 11 năm 1904, chết ngày 14 tháng 11 năm 1995
Carol Hemingway. Sinh ngày 19 tháng 7 năm 1911, chết ngày 27 tháng 10 năm 2002
Leicester Hemingway. Sinh ngày 1 tháng 4 năm 1915, chết ngày 13 tháng 9 năm 1982
=== Người trong gia đình ===
Elizabeth Hadley Richardson. Cưới ngày 3 tháng 9 năm 1921, ly hôn ngày 4 tháng 4 năm 1927.
Con trai, John Hadley Nicanor "Jack" Hemingway (còn gọi là Bumby). Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1923, chết ngày 1 tháng 12 năm 2000.
Cháu gái, Joan (Muffet) Hemingway
Cháu gái, Margaux Hemingway. Sinh ngày 16 tháng 2 năm 1954, chết ngày 2 tháng 7 năm 1996
Cháu gái, Mariel Hemingway. Sinh ngày 22 tháng 11 năm 1961
Pauline Pfeiffer. Cưới ngày 10 tháng 5 năm 1927, ly hôn ngày 4 tháng 11 năm 1940.
Con trai, Patrick. Sinh ngày 28 tháng 6 năm 1928.
Cháu gái, Mina Hemingway
Con trai, Gregory Hemingway (được Hemingway gọi là 'Gig'; sau đó được ông gọi là 'Gloria'). Sinh ngày 12 tháng 11 năm 1931, chết ngày 1 tháng 10 năm 2001.
Các cháu, Patrick, Edward, Sean, Brendan, Vanessa, Maria, John Hemingway và Lorian Hemingway
Martha Gellhorn. Cưới ngày 21 tháng 11 năm 1940, ly hôn ngày 21 tháng 12 năm 1945.
Mary Welsh. Cưới ngày 14 tháng 3 năm 1946.
Vào 19 tháng 8 năm 1946, bà bị sẩy thai do thụ thai ngoài dạ con (?) (ectopic pregnancy).
== Những giải thưởng, vinh danh ==
Trong suốt cuộc đời mình, Hemingway đã được nhận các giải thưởng, vinh danh:
Silver Medal of Military Valor (Huân chương Bạc cho Lòng dũng cảm trong Chiến đấu) (medaglia d'argento) trong Chiến tranh thế giới I;
Bronze Star Medal (Huân Chương Sao Đồng) (cho Phóng viên quân đội không chính quy trong Chiến tranh thế giới II), 1947;
Giải Cống hiến của Học viện Văn học - Nghệ thuật Hoa Kỳ, 1954;
Giải Pulitzer cho Ông già và biển cả, 1953;
Giải Nobel Văn học cho những cống hiến văn học trọn đời của ông, 1954;
Hai huy chương cho đấu sĩ bò tót.
Một tiểu hành tinh, được tìm ra năm 1978 tại Liên bang Soviet bởi nhà thiên văn học Nikolai Stepanovich Chernykh, được đặt theo tên của ông — 3656 Hemingway.Schmadel, Lutz D. (2003). Dictionary of Minor Planet Names (ấn bản 5). New York: Springer Verlag. tr. 307. ISBN 3540002383.
Vào 17 tháng 7 năm 1989, Sở Bưu chính Hoa Kỳ phát hành một loại tem bưu chính mệnh giá 25-cent để vinh danh Hemingway.Scott catalog # 2418.
== Các tác phẩm ==
Đây là danh sách các tác phẩm của Ernest Hemingway (1899 - 1961). Danh sách này bao gồm các tiểu thuyết, truyện ngắn và truyện có thật cũng như các chương trình truyền hình và phim ảnh có sử dụng tác phẩm của ông.
Các tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt có tựa Tiếng Việt được để trong ngoặc kép bên cạnh tên tựa gốc, trong khi các tác phẩm khác có tựa tạm dịch bởi người viết và không để trong ngoặc kép để tiện tra cứu.
=== Tác phẩm ===
=== Phóng tác ===
Chương trình truyền hình
(1958) Scouting on Two Continents, by Frederick Russell Burnham (not completed)
(1959) For Whom the Bell Tolls
(1959) The Killers (CBS Buick Electra Playhouse)
(1960) The Fifth Column
(1960) The Snows of Kilimanjaro
(1960) The Gambler, The Nun and the Radio
(1960) After the Storm (not completed)
=== Phim ảnh Mỹ/Liên hiệp Anh ===
(1932) A Farewell to Arms (starring Gary Cooper)
(1943) For Whom the Bell Tolls (Gary Cooper/Ingrid Bergman)
(1944) To Have and Have Not (Humphrey Bogart/Lauren Bacall)
(1946) The Killers (starring Burt Lancaster)
(1947) The Macomber Affair
(1950) The Breaking Point
(1952) The Snows of Kilimanjaro (starring Gregory Peck)
(1957) A Farewell to Arms (starring Rock Hudson)
(1957) The Sun Also Rises (starring Tyrone Power)
(1958) The Old Man and the Sea (starring Spencer Tracy)
(1962) Hemingway's Adventures of a Young Man
(1964) The Killers (starring Lee Marvin)
(1965) For Whom the Bell Tolls
(1977) Islands in the Stream (starring George C. Scott)
(1984) The Sun Also Rises
(1990) The Old Man and the Sea (starring Anthony Quinn)
(1996) In Love and War (starring Chris O'Donnell)
(1999) The Old Man and the Sea
== Xem thêm ==
Flash fiction
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Ernest Hemingway.org.uk
Timeless Hemingway
The Charles D. Field Collection of Ernest Hemingway(call number M0440; 1.25 linear ft) are housed in the Department of Special Collections and University Archives at Stanford University Libraries
The Hemingway Society
The Ernest Hemingway Festival
New York Times obituary, 3 tháng 7 năm 1961
Michael Palin's Hemingway Adventure Based on a PBS lecture series narrated by Michael Palin.
CNN: A Hemingway Retrospective
Ernest Hemingway Home and Museum in Key West, Florida, official website
The Hemingway-Pfeiffer Museum and Educational Center
Hemingway’s Reading 1910-1940
eHemingway.com The Hemingway Social Network
Hemingway's work on IBList
Stephen Koch, "The Breaking Point: Hemingway, dos Passos, and the Murder of Jose Robles" reviewed by George Packer |
times higher education.txt | The Times Higher Education Supplement, cũng viết tắt là The Times Higher hay The THES là một tờ báo đặt trụ sở tại thủ đô London. Đây là tờ báo chuyên đề báo cáo các vấn đề liên quan đến giáo dục bậc đại học. Chủ tờ báo này là TSL Education, một đơn vị mà cho đến tháng 10 năm 2005 là một bộ phận của News International. Xếp hạng của tờ báo này thường bị chỉ trích do sử dụng các thể loại sử dụng ưu tiên cao cho các trường đại học Anh. Tờ báo được biên tập bởi John O'Leary, tác giả của The Times Good University Guide. Báo THES có lẽ được người ta biết đến nhất đối với việc xuất bản The Times Higher - QS World University Rankings cùng với QS Quacquarelli Symonds Ltd (xem xếp hạng trường đại học và cao đẳng), xuất hiện lần đầu vào tháng 11 năm 2004 với các bảng xếp hạng được xuất bản hàng năm. The Literary Editor is Gerard Kelly.
=== Bảng xếp hạng các trường đại học năm (Top 20) ===
Tỷ lệ các tiêu chí sử dụng để xếp hạng: Peer Review Score (40%), Recruiter Review (10%), International Faculty Score (5%), International Students Score (5%), Faculty/Student Score (20%), Citations/Faculty score (20%).
== Xem thêm ==
Times Educational Supplement
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Công bố xếp hạng năm 2006 của THES
website chính thức của THES (a subscription is required to access much of the site)
QS official website (free)
2005 THES World University Rankings
Paked - THES World University Rankings 2006
Ranking Methodology |
văn minh lưu vực sông ấn.txt | Văn minh lưu vực sông Ấn Độ, Văn minh sông Ấn hay Văn hóa sông Ấn, cũng còn được gọi là Văn hóa Harappa theo địa danh của một trong những nơi khai quật chính là một nền văn minh thời Cổ đại phát triển vào khoảng thời gian từ năm 2.800 trước Công Nguyên đến năm 1.800 trước Công Nguyên dọc theo sông Ấn nằm về phía tây bắc của tiểu lục địa Ấn Độ.
Một tên gọi khác của nền văn hóa này, nền văn minh Sindhu-Sarasvati, dựa trên thuyết cho rằng nền văn minh này là nền văn minh đã được nhắc đến trong văn học Veda.
== Tổng quan ==
Chỉ đến năm 1922, khi các nhà khảo cổ học người Anh trên đường đi tìm dấu vết của Alexander Đại đế khám phá những phần còn lại của một nền văn hóa chưa được biết đến trong lãnh thổ của Pakistan ngày nay, nền văn hóa cổ phát triển cao này mới được biết đến. Nền văn minh này trải dài gần khắp lãnh thổ Pakistan ngày nay cũng như nhiều phần của Ấn Độ và Afganistan trên một diện tích là 1.250.000 km² và như thế so về diện tích lớn hơn Ai Cập cổ đại và nền văn minh Lưỡng Hà (Mesopotamia) cộng lại. Bên cạnh hai nền văn hóa này, nền văn minh sông Ấn là một trong ba nền văn minh lâu đời nhất của thế giới. Ngay từ thời đấy người ta đã biết đến quy hoạch đô thị, chữ viết và kiến trúc.
Cho đến nay có hơn 1.050 di chỉ đã được xác định, phần lớn dọc theo sông Ấn. Trên 140 thành phố và làng mạc đã được tìm thấy. Hai trung tâm đô thị lớn nhất là Harappa và Mohenjo-Daro, bên cạnh đó còn có nhiều thành phố lớn như Dholavira, Ganweriwala, Lothal và Rakhigarhi. Trong thời kỳ nở rộ, nền văn hóa sông Ấn được phỏng đoán có trên 5 triệu dân cư. Nguồn tài liệu về văn hóa Harappa, trái ngược với 2 nền văn hóa tại Ai Cập và Lưỡng Hà, rất đáng tiếc là còn rất mỏng. Chỉ khoảng 10% làng mạc của họ là đã được khai quật, chữ viết chưa được giải mã và việc nền văn hóa này biến mất đột ngột từ khoảng 1.900 TCN cũng chưa được giải thích hoàn toàn.
== Khám phá và khảo sát văn hóa sông Ấn ==
Mặc dầu thành phố Harappa đổ nát đã được biết đến từ lâu và được Charles Masson miêu tả lần đầu tiên vào năm 1844 trong quyển Narrative of Various Journeys in Balochistan, Afghanistan and The Panja của ông như là "một pháo đài xây bằng gạch nung từ đất sét đã bị phá hủy", tầm quan trọng của nó chỉ được nhận biết rất lâu sau đó. Năm 1857 trong lúc xây dựng đường tàu hỏa Đông Ấn từ Karatschi đến Lahore người Anh đã sử dụng gạch tìm thấy trên một cánh đồng đổ nát gần Harappa để củng cố con đường tàu hỏa này. Vì thế mà tình trạng các di chỉ còn lại ở Harappa xấu hơn rất nhiều so với ở Mohenjo-Daro. Mohenjo-Daro cũng được biết đến từ lâu nhưng ở đấy người ta chỉ quan tâm đến những phần còn lại của một tu viện Phật giáo từ thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên được xây dựng trên những đống đổ nát cũ. Trong năm 1912 J. Fleet tìm thấy trong vùng đất thuộc địa Anh ngày xưa nhiều con dấu với chữ viết chưa được biết đến, thu hút sự quan tâm của giới khoa học tại châu Âu. Tiếp theo đó, trong những năm 1921-1922 nhiều khai quật đã được thực hiện dưới sự lãnh đạo của Sir John Marshall tại Harappa, Mohenjo-Daro và nhiều nơi khác. Nét giống nhau của hai thành phố được khai quật đã nhanh chóng cho thấy một nền văn hóa phát triển cao chưa được biết đến vừa được khám ra. Cho đến 1931 tại Mohenjo-Daro hơn 10 ha của thành phố đã được khai quật, sau đấy chỉ còn những khai quật nhỏ, trong đó là cuộc khai quật năm 1950 của Sir Mortimer Wheeler. Sau khi thuộc địa Anh được chia cắt năm 1947, khu vực dân cư của văn hóa Harappa được chia thành một phần thuộc Pakistan và một phần thuộc Ấn Độ. Sau đó, tại Pakistan, người Mỹ, người Pháp, người Anh và người Đức đã cùng với những nhà khảo cổ học người Pakistan tiếp tục công việc nghiên cứu trong khi tại Ấn Độ là ngành khảo cổ học Ấn. Đã và đang có nhiều ảnh hưởng lớn đến công cuộc nghiên cứu nền văn hóa song Ấn, bên cạnh những nhà khảo cổ học khác, là người Anh Aurel Stein, người Ấn Nani Gopal Majumdar và người Đức Michael Jansen.
== Phát triển ==
Các dấu tích lâu đời nhất về hoạt động của con người trên lãnh thổ ngày nay của Pakistan bắt nguồn từ thời kỳ Đồ đá cũ có độ tuổi vào khoảng 500.000 năm. Vào khoảng 8.000 năm TCN việc chuyển đổi từ săn bắn và hái lượm sang trồng trọt và chăn nuôi đã hoàn tất tại đây, kèm theo đó là việc định cư. Nền văn minh sông Ấn phát triển từ nền văn hóa nông nghiệp lâu đời này, một nền văn hóa nông nghiệp cũng xuất hiện trên các đồi của vùng Belutschistan trong Pakistan ngày nay. Thành phố được khảo sát tốt nhất của thời gian này là Merhgarh, hình thành khoảng 6.500 TCN. Những người nông dân tại đấy trồng lúa mì và thuần hóa bò và cũng đã sử dụng đồ gốm từ 5.500 năm TCN. Thêm vào đó, từ khoảng 4.000 năm TCN, đậu, vừng, chà là và bông vải đã được trồng và trâu nước, cho đến nay vẫn là động vật thiết yếu cho nông nghiệp Nam Á, được thuần phục. Vào khoảng 2.600 TCN các làng mạc nhỏ đột ngột biến đổi thành đô thị với hằng ngàn dân cư không còn chủ yếu là làm việc trong nông nghiệp nữa. Một nền văn hóa hình thành, tạo nên nhiều thành phố được xây dựng giống nhau trong phạm vi 1.000 km. Dường như việc xuất hiện những thành phố này là kết quả của một nỗ lực có chủ định và có kế hoạch. Một vài thành phố được xây dựng lại hoàn toàn hay được xây dựng mới từ đầu có thể nhìn thấy thí dụ như tại Mohenjo Daro, nơi không tìm thấy dấu vết nào của một làng mạc trước đó. Việc xây dựng nhiều thành phố trong thung lũng sông Ấn giống nhau đến mức có thể nói là nền văn minh Harappa là nền văn minh đầu tiên đã phát triển quy hoạch đô thị. Những học giả trước đây chỉ có thể giải thích sự xuất hiện đột ngột này bằng yếu tố từ bên ngoài như bị xâm chiếm hay di dân. Thế nhưng nhận biết mới đây đã chứng minh rằng nền văn minh Harappa trong vùng này thật sự hình thành từ nền văn hóa nông nghiệp trước đó.
== Dân cư và đô thị ==
Cho đến nay, thành phố lớn nhất được tìm thấy trong thung lũng sông Ấn là Mohenjo Daro, đồi của người chết, nằm trong tỉnh Sindh của Pakistan ngày nay, ngay cạnh sông Ấn. Cùng với những di chỉ khảo cổ quan trọng khác như Kot Diji, Lothal và Harappa, đặc điểm của Mohenjo Daro là chất lượng cao đồng nhất trong xây dựng thành phố, đặc biệt là trong hệ thống cung cấp nước và hệ thống nước thải. Các thành phố được xây dựng tương tự như một bàn cờ, giống thành phố New York ngày nay, chứng minh cho những hiểu biết tiến bộ trong khoa vệ sinh và quy hoạch đô thị cũng như cho một chính phủ làm việc có hiệu quả.
=== Đặc trưng xây dựng lấy thí dụ tại Mohenjo Daro ===
Mohenjo-Daro là thành phố được khảo sát tốt nhất của văn hóa sông Ấn. Trong các thập niên 1920 và 1930, cơ quan khảo cổ Anh đã tổ chức khai quật rộng khắp tại đây và đào lộ thiên nhiều phần lớn của thành phố đã hoàn toàn bị chôn vùi trong bùn lầy của sông Ấn 4.500 năm trước đó. Thành phố được xây dựng trên một nền nhân tạo làm bằng gạch đất sét và bằng đất, hẳn là để bảo vệ chống lụt. Cạnh một vùng nằm cao hơn, rộng 200 m và dài 400 m, được xem là thành lũy, là một vùng được coi như là khu dân cư, nơi có nhiều nhà dân. Giữa 2 khu vực này là một khoảng trống rộng 200 m. Các con đường chính có nhiều ngang 10 m chạy xuyên qua thành phố theo hướng Bắc-Nam và đường nhỏ thẳng góc với đường lớn theo hướng Đông-Tây, từ đó hình thành các khu nhà cho người dân thành phố. Trong khu thành lũy mà mục đích vẫn chưa rõ có một bể nước được làm bằng một loại gạch đặc biệt nung từ đất sét, được khám phá trong năm 1925, có độ lớn vào khoảng 7 m x 12 m và có thể đi lên qua 2 cầu thang. Bể nước được bao bọc bởi một lối đi, có một giếng nước cung cấp riêng trong một phòng cạnh đó. Người ta vẫn chưa rõ đây là một bể nước để tắm rửa trong nghi lễ hay là một bể bơi công cộng. Cũng trên nền này là một căn nhà lớn làm từ gạch nung được xem như là kho trữ ngũ cốc mặc dầu chức năng này chưa được chứng minh.
=== Nhà cửa ===
Nhà dân trong các khu phố tại khu vực phía dưới được xây dựng rất hợp lý và được kết cấu từ gạch đất sét nung. Khoảng 50% nhà có diện tích từ 50 m² đến 100 m², cũng khoảng từng ấy nhà có diện tích giữa 100 m² và 150 m² và một số ít có diện tích lớn từ 210 m² đến 270 m². Thông thường chúng bao gồm một sân trước nối liền ra đường bằng một phòng ở phía trước, từ đấy có thể đi đến các căn phòng chính, được sắp xếp chung quanh sân. Sân này chính là nơi sinh hoạt hằng ngày. Trên các căn phòng thường có sân thượng, có cầu thang đi lên. Một căn nhà thông thường có nhà vệ sinh riêng, nằm nhìn ra đường phố và được kết nối với hệ thống thoát nước công cộng. Nhà có giếng riêng cung cấp nước. Mức độ cung cấp và thải nước rất cao, vài vùng của Pakistan và Ấn Độ ngày nay vẫn chưa đạt lại được mức độ này.
== Khoa học ==
Các thành phố được kế hoạch hóa hoàn hảo và xây dựng có tính kỹ thuật là bằng chứng cho một mức độ phát triển cao của khoa học thời bấy giờ. Con người của nền văn hóa sông Ấn đạt đến một mức độ chính xác đáng kinh ngạc trong đo lường về chiều dài, khối lượng và thời gian. Người dân nền văn hóa sông Ấn có lẽ là những người đầu tiên phát triển và sử dụng các trọng lượng và kích thước thống nhất. Đo lường của họ hết sức chính xác. Đơn vị chiều dài nhỏ nhất được tìm thấy trên một thước đo làm bằng ngà voi tại Lothal tương ứng với khoảng 1,704 mm, là đơn vị nhỏ nhất trên một thước đo thuộc thời kỳ Đồ đồng đã từng được tìm thấy. Trọng lượng dựa trên đơn vị 0,05; 0,1; 1; 2; 5; 10; 20; 50; 100; 200 và 500, trong đó mỗi đơn vị nặng vào khoảng 28 gram. Hệ thống thập phân cũng đã được biết đến và sử dụng.
Được dùng làm vật liệu xây dựng lần đầu tiên trong lịch sử của loài người là gạch được nung với tỷ lệ kích thước toàn hảo 1:2:4 vẫn còn thông dụng cho đến ngày nay. Trong luyện kim, nhiều kỹ thuật mới cũng được phát triển, thợ thủ công của nền văn hóa Harappa đã sử dụng những kỹ thuật này trong lúc gia công đồng, đồng thau (bronze), chì và thiếc.
Các khai quật được tìm thấy trong năm 2001 từ Merhgarh cho thấy ngay cả cơ bản về y học và nha khoa cũng được biết đến.
== Nghệ thuật ==
So với các nền văn hóa tại Ai Cập và Lưỡng Hà, có rất ít tượng đá được tìm thấy tại lưu vực sông Ấn. Ngoài những vật khác, đầu cũng như tượng cừu đực ngự trên đế được tìm thấy, chứng tỏ mang ý nghĩa về tế lễ.
Ngược lại, người dân của nền văn hóa sông Ấn sản xuất nhiều loại nữ trang khác nhau. Vật liệu ban đầu bao gồm không những đá quý như carnelian, mã não, ngọc thạch anh và lapis lazuli cũng như là vàng (ít hơn) và các loại đá khác. Vòng đeo tay, dây chuyền và đồ trang sức đeo trên đầu được sản xuất với kỷ năng thủ công cao độ, bao gồm mài, đánh bóng và những kỹ năng khác.
Bên cạnh đó nhiều tượng nhỏ làm từ đất sét được tìm thấy, thường là hình tượng phụ nữ mảnh khảnh, có lẽ là biểu tượng cho khả năng sinh sản và tượng thú vật được chế tạo rất chi tiết.
Vũ thuật, hội họa và âm nhạc cũng được coi trọng, như nhiều hình tượng bằng đồng thau (bronze) và đất sét biểu diễn các hoạt cảnh tương ứng chứng minh. Trên một con ấn, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy miêu tả của một dụng cụ giống như đàn thụ cầm (tiếng Anh: harp) và trên 2 vật được tìm thấy từ Lothal đã có thể xác định được là các miêu tả nhạc cụ giây.
== Kinh tế ==
Khác với những phỏng đoán trong những năm 50 của thế kỷ 20 và khác với văn hóa tại Lưỡng Hà, tại lưu vực sông Ấn không có kinh tế đền thờ thống trị. Hơn thế nữa nền kinh tế lúc bấy giờ đa dạng và đặc biệt là dựa trên cơ sở một nền thương mại được ưu đãi bởi nhiều tiến bộ trong kỹ thuật vận tải. Các tiến bộ này không những bao gồm xe do bò kéo rất giống những loại xe này ngày nay tại Nam Á mà còn cả các loại tàu lớn nhỏ. Phần lớn những con tàu này được phỏng đoán là tàu buồm có đáy bằng như vẫn còn nhìn thấy trên sông Ấn ngày nay. Các nhà khảo cổ học đã khám phá ra phần còn lại của một con kênh đào lớn và bến cảng gần Lothal tại bờ biển Ả Rập. Đường thủy chính là trụ cột của hạ tầng cơ sở vận tải thời đấy.
Đánh giá theo phân bố của đồ tạo tác (tiếng Anh: artefact) nền văn minh sông Ấn, mạng lưới thương mại bao phủ một diện tích rộng lớn, bao gồm nhiều phần đất của Afghanistan, vùng bờ biển của Iran ngày nay, Bắc và Trung Ấn Độ và vùng Lưỡng Hà. Đặc biệt là đã có trao đổi hàng hóa thường xuyên với người Sumer, không những bằng đường bộ (qua Iran ngày nay) mà còn bằng đường biển (qua Dilmun, ngày nay là Bahrain), đã được chứng minh bằng nhiều di chỉ và tài liệu tại Sumer. Thí dụ như trong ngôi mộ của nữ hoàng Puabi sống khoảng 2.500 năm trước Công Nguyên tại khu vực Lưỡng Hà đã có trang sức làm bằng carnelian từ lưu vực sông Ấn. Thêm vào đó, chữ khắc người Sumer, được phỏng đoán là nói về nền văn hóa sông Ấn, sử dụng tên Meluha, là manh mối duy nhất cho việc người tại lưu vực sông Ấn đã có thể tự gọi mình như thế nào. Dường như Mohenjo Daro là trung tâm của thương mại, nơi đã có thể nhận dạng một cấu trúc hành chánh và thương mại.
Việc phân chia lao động đã được tiến hành triệt để vào thời đấy. Khai quật dọc theo Ghaggra, một con sông ngày nay đã khô cạn nằm về phía Đông của sông Ấn, cho thấy mỗi một nơi định cư đã chuyên môn về một hay nhiều kỹ thuật sản xuất. Thí dụ như kim loại được chế biến trong một vài thành phố trong khi nhiều thành phố khác sản xuất bông vải.
== Nông nghiệp ==
Cho đến nay kỹ thuật của những nhà nông thời đấy phần nhiều vẫn là chưa được biết đến vì chỉ có rất ít thông tin được lưu truyền lại. Điều thực tế là nền nông nghiệp của văn minh Harappa phải có sản lượng rất cao để nuôi sống hằng ngàn người dân trong thành phố không trực tiếp làm việc trong nông nghiệp. Cũng rõ ràng là thời đấy không trồng lúa, loại cây trồng vẫn còn chưa được biết đến, mà phần nhiều là lúa mì. Thuộc vào trong những thành tựu công nghệ đáng kể đã đạt được trước nền văn hóa sông Ấn tại khu vực này là cái cày do trâu kéo. Cũng không còn được hoài nghi là việc những người nông dân thời đấy đã sử dụng phù sa màu mỡ của sông Ấn, tương tự như những nông dân tại Ai Cập cho đến khi xây đập Nasser, thế nhưng phương pháp đơn giản này không đủ để nuôi sống thành phố lớn.
Dấu tích về đập nước hay kênh tưới không được tìm thấy cho đến nay; nếu như chúng đã tồn tại trong thời gian đó thì có lẽ là đã bị phá hủy trong lũ lụt thường hay xảy ra tại vùng này. Từ một thành phố vừa được khám phá tại Ấn Độ người ta biết rằng thời đấy nước mưa đã được thu thập lại trong các bể nước lớn được đục từ các tảng đá, cung cấp nước cho thành phố trong mùa khô.
Lúa mì, lúa mạch, đậu lăng, đậu tròn và cây lanh được trồng trong nền văn hóa Harappa. Gujarat thuộc vào khu vực chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Harappa nhưng vì không có sông lớn nên chỉ trồng trọt theo mùa mưa và vì thế có nhiều điểm khác nhau lớn trong kinh tế. Tại các di chỉ có niên đại muộn hơn của văn hóa Harappa như tại Rojdi và Kutasi, cây kê Ấn Độ (Panicum miliaceum) chiếm đa số. Lúa mì và lúa mạch chỉ có rất ít. Vì tìm được nhiều xương còn lại nên người ta cho rằng gà đã được nuôi như gia cầm từ thời gian cuối của nền văn hóa Harappa.
== Tiếng nói và chữ viết ==
Đọc bài chính về chữ viết sông Ấn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chữ viết sông Ấn, hoàn toàn không có quan hệ với các chữ viết đã biết, cho đến nay vẫn chưa được dịch mã một cách chắc chắn. Các dòng chữ khắc đặc trưng thường không dài quá 4 hay 5 ký hiệu. Dòng chữ khắc dài nhất được tìm thấy bao gồm 26 ký hiệu.
Một vài học giả nghi ngờ rằng chữ viết sông Ấn không phải là một hệ thống chữ viết mà là một phương tiện hỗ trợ cho thương mại thời bấy giờ.
Tiếng nói của nền văn hóa sông Ấn cũng không được biết đến; một phỏng đoán cho rằng tiếng nói này là tiền thân của các thứ tiếng dravidian trong miền Nam Ấn Độ ngày nay. Thế nhưng từ đấy không thể tự động suy đoán là những người tạo nên nền văn hóa sông Ấn giống như những người nói tiếnng dravidian ngày nay vì tiếng nói, trái với một lượng dân cư lớn, có thể dịch chuyển rất nhanh.
== Suy tàn ==
Người dân của nền văn minh sông Ấn đã sống hơn 700 năm trong giàu có và thịnh vượng, những người thợ thủ công của nền văn minh này đã hoàn thành nhiều sản phẩm có tính mỹ thuật và chất lượng cao. Nhưng cũng bất thình lình như khi xuất hiện, nền văn hóa này lại biến mất mà nguyên nhân cho đến nay vẫn chưa rõ.
Dường như từ khoảng năm 2000 trước Công Nguyên xuất hiện nhiều vấn đề lớn. Người dân rời bỏ thành phố, những người còn lại bị thiếu ăn. Vào khoảng năm 1800 trước Công Nguyên phần lớn các thành phố đều đã bị bỏ hoang. Trong những thế kỷ sau đó, các tưởng nhớ và thành tựu của nền văn hóa sông Ấn – ngược với các nền văn hóa tại Ai Cập và Lưỡng Hà – biến mất hoàn toàn. Nền văn hóa Harappa không để lại những công trình xây dựng to lớn như các kim tự tháp ở Ai Cập hay như hằng loạt đền thờ ziggurat ở Lưỡng Hà, chứng minh cho sự tồn tại và để cho tưởng nhớ về họ sống mãi. Người ta có thể phỏng đoán rằng việc này là không có thể vì trong lưu vực sông Ấn có rất ít các loại đá thích hợp, mặc dù tại Lưỡng Hà tình trạng cũng tương tự. Cũng có thể là con người của nền văn hóa sông Ấn xa lạ với những dự án xây dựng công trình to lớn.
Mặc dầu vậy văn hóa sông Ấn không hoàn toàn biến mất. Sau khi nền văn hóa này sụp đổ, nhiều nền văn hóa địa phương đã xuất hiện, ít nhiều đều chịu ảnh hưởng của nền văn hóa sông Ấn. Một số người dân nền văn hóa sông Ấn dường như di dân về phía Đông, đến đồng bằng sông Hằng. Truyền thống đồ gốm cũng còn tồn tại một thời gian. Không phải là con người biến mất mà là nền văn minh: các thành phố, chữ viết và mạng lưới thương mại. Giả thuyết phổ biến đặc biệt là trong giữa thế kỷ vừa qua cho rằng sự sụp đổ của nền văn hóa sông Ấn có liên quan đến việc người du mục Arian (tiếng Anh: Aryan) xuất hiện tại thung lũng sông Ấn không còn có nhiều người ủng hộ trong thời gian hiện nay. Lý do về khí hậu dường như có khả năng hơn: đồng bằng sông Ấn có nhiều rừng và thú trong khoảng năm 2600 trước Công Nguyên, ẩm ướt và xanh hơn ngày nay. Vì thế mà người dân nền văn hóa sông Ấn đã có thể bổ sung nguồn lương thực trong thời gian hạn hán hay lũ lụt bằng cách săn bắn. Người ta biết rằng vào khoảng 1.800 năm trước Công Nguyên khí hậu trong lưu vực sông Ấn đã thay đổi, trở nên lạnh và khô hơn. Thế nhưng đơn độc mỗi yếu tố này thì có lẽ không phải là quyết định cho sự suy tàn của nền văn minh Harappa. Việc phần lớn hệ thống sông Ghaggra-Hakra đã khô cạn có thể chính là yếu tố quyết định, vì những nguyên nhân về kiến tạo mảng, nguồn nước của hệ thống sông này đã bị chuyển hướng về đồng bằng sông Hằng. Vì hệ thống sông Ghaggra-Hakra khô cạn nên một phần quan trọng của đất nông nghiệp phì nhiêu đã bị mất đi, điều mà có lẽ nền văn hóa sông Ấn đã không vượt qua được.
Các thuyết khác cho rằng sự suy tàn của nền văn minh sông Ấn có liên quan đến việc vương quốc người Sumer chấm dứt và các quan hệ buôn bán với vương quốc này đã không còn nữa hay xung đột quân sự và bệnh tật đã chấm dứt nền văn hóa này. Nguyên nhân quyết định cho sự suy vong vẫn chưa được giải thích rõ ràng.
== Tham khảo ==
=== Tổng quát ===
Allchin, Bridget und Raymond: The rise of civilization in India and Pakistan, Nachdruck Cambridge u. a. 1988.
Fuller, Dorian: An agricultural perspective on Dravidian historical linguistics: archaeological crop packages, livestock and Dravidian crop vocabulary. In: Peter Bellwood/Colin Renfrew, Examining the farming/language dispersal hypothesis (Cambridge 2002) 191-213.
Jansen, Michael: Die Indus-Zivilisation. Wiederentdeckung einer frühen Hochkultur (Nền văn minh sông Ấn Độ. Tái khám phá một nền văn hóa lâu đời), DuMont, Köln 1986. ISBN 3-7701-1435-3
Possehl, Gregory L.: Ancient cities of the Indus, Delhi 1979.
=== Văn hóa ===
Ardeleanu-Jansen, Alexandra: Die Terrakotten in Mohenjo-Daro. Eine Untersuchung zur keramischen Kleinplastik in Mohenjo-Daro, Pakistan (ca. 2300-1900 v. Chr.) (Đồ đất nung tại Mohenjo-Daro. Nghiên cứu về tượng sành nhỏ tại Mohenjo-Daro, Pakistan), Aachen 1993.
=== Tiếng nói và chữ viết ===
Parpola, Asko: Deciphering the Indus Script, Cambridge 1994.
Các bài khác của Asko Parpola, Gregory Possehl und Iravatham Mahadevan.
== Liên kết ngoài ==
=== Tiếng Anh ===
www.harappa.com
Nền văn minh Harappa
Đồ tạo tác văn hóa sông Ấn |
cá cháy hilsa.txt | Cá cháy Hilsa (tiếng Bengal: ইিলশ Ilish), danh pháp hai phần: Tenualosa ilisha, là tên gọi của một loài cá cháy, biểu tượng của Bangladesh, và cũng phổ biến ở những vùng nói tiếng tiếng Assam, tiếng Bengal, tiếng Oriya của Ấn Độ và các vùng nói tiếng Telugu-(tiếng Telugu: పులస Pulasa hay Polasa) và ở Pakistan Sindh (Sindhī: پلو مڇي Pallu Machhi). Ở Gujarat nó có tên gọi là Modenn hoặc Palva. Đây là loài cá nhiệt đới có giá trị kinh tế quan trọng. Loài cá này được đánh bắt ở châu thổ sông Narmada và Padma. Cá ở khu vực ven biển của Gujarat được gọi là Modenn nếu nó là cá cái và Palva nếu là cá đực. Cũng giống như Bengal và Sindh đây là loài cá không nổi tiếng ở Gujarat do những người ăn cá ở Gujarat chủ yếu theo đạo Hồi và Hindu.
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Ilish
More details
exotic Hilsa recipes |
elizabeth holmes.txt | Elizabeth Anne Holmes (sinh ngày 03 tháng 2 năm 1984) là một nữ doanh nhân và nhà phát minh Hoa Kỳ về kỹ thuật y khoa. Bà là người sáng lập và giám đốc điều hành của Theranos, một công ty tư nhân thử nghiệm máu có trụ sở tại Palo Alto, California. Trong năm 2015, Forbes bình chọn Holmes là tỷ phú nữ tự lập trẻ nhất thế giới (lúc 31 tuổi) vì Theranos trị giá $ 9 tỷ. Bà cũng được báo TIME chọn là một trong "100 người có ảnh hưởng nhất" của năm 2015. Năm sau Forbes xét lại giá trị tài sản của bà "từ $ 4,5 tỷ xuống thành con số không". Vào năm 2016, sau khi một loạt các điều tra báo chí và kiểm tra có đặt câu hỏi về tính xác thực về những tuyên bố của Holmes, TIME tường thuật, các công tố viên liên bang đã bắt đầu điều tra hình sự về khả năng lừa dối các nhà đầu tư và chính quyền về công nghệ thử nghiệm máu của bà. Theo sau sự tiết lộ về tiềm năng gian lận, Fortune gọi Holmes là một trong những "nhà lãnh đạo làm thất vọng nhất thế giới". Trong năm 2016, Trung tâm Dịch vụ Medicare và Medicaid cấm Holmes sở hữu, điều hành hoặc chỉ đạo một phòng thí nghiệm chẩn đoán cho một khoảng thời gian hai năm. Quyết định này được tường thuật là đang bị kháng cáo.
== Tiểu sử ==
Elizabeth Holmes sinh vào tháng 2 năm 1984 tại Washington, D.C.. Cha bà, Christian Holmes IV, đã làm việc ở Hoa Kỳ, Phi Châu và Trung Quốc cho các cơ quan chính phủ như USAID. Mẹ bà, Noel Anne (Daoust), là nhân viên của quốc hội. Bà có một người anh em, Christian Holmes V, mà là giám đốc quản lý sản phẩm tại Theranos. Một trong những tổ tiên của bà cũng là đồng sáng lập viên của công ty Fleischmann's Yeast.
== Sự nghiệp doanh nhân ==
Holmes đề xuất thành lập một công ty với giáo sư Robertson vào mùa thu 2003, khi bà chỉ mới 19 tuổi bắt đầu học tại Stanford. Bà đã dùng tiền mà cha mẹ để dành cho đi học, để mở doanh nghiệp Real-Time Cures ở Palo Alto. Sau đó, bà đổi tên công ty thành Theranos (phối hợp chữ "therapy" và "diagnosis"), bởi vì bà tin rằng nhiều người có thành kiến với chữ "cure" (chữa bệnh). Khởi đầu, bà làm việc dưới hầm một nhà đại học. Một khóa học sau đó, bà bỏ học để có thể dành hết thì giờ cho doanh nghiệp của mình. Giáo sư Robertson thì cũng làm giám đốc cho hãng.
Trong vòng 10 năm, công ty phát triển dần dần, được hùn vốn $400 triệu chỉ riêng Draper Fisher Jurvetson và Larry Ellison. Trong thời gian này, Theranos hoạt động kín đáo, giữ bí mật để tránh bị cạnh tranh và tránh bị những nhà đầu tư có thể góp tiền cho một kẻ cạnh tranh. In 2007, hãng đã đưa ba nhân viên cũ ra tòa, buộc tội họ đã không giữ bí mật doanh nghiệp.
Tới năm 2014, hãng có 500 nhân viên và trị giá hơn $9 tỷ. Holmes giữ kiểm soát hơn 50% phần của công ty.
2014, Holmes có 18 bằng sáng chế Hoa Kỳ và 66 bằng khác đứng tên bà. Holmes là nữ doanh nghiệp tỷ phú trẻ nhất tự kiếm tiền trong danh sách Forbes 400, nơi bà đứng hạng 111; với tài sản là $4.5 tỷ.
Tuy nhiên, trong tháng 10 năm 2015, một bài viết trên tờ Wall Street Journal nảy sinh những nghi ngờ đầu tiên về hiệu quả của các xét nghiệm máu. Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã vào cuộc điều tra. Theo một bài báo của The Wall Street Journal vào tháng 5/2016, Theranos buộc phải hủy hàng nghìn xét nghiệm.
Vào tháng 6 năm 2016, tạp chí Forbes ước tính giá trị của công ty Theranos chỉ khoảng 800 triệu đô la Mỹ và sửa chữa ước tính tài sản Holmes về hầu như bằng không bởi vì tuy Holmes giữ 50% cổ phiếu công ty nhưng không phải là cổ phiếu ưu đãi, do đó trong trường hợp công ty phải thanh lý hoặc phá sản, tài sản của Holmes sẽ không còn gì.
== Liên kết ngoài ==
Nữ Tỷ Phú Trẻ Tuổi Nhất Nước Mỹ Thay Đổi Ngành Y Học Thế giới
== Chú thích == |
kinh tế brasil.txt | Brasil có nền kinh tế thị trường tự do theo hướng xuất khẩu. Tổng sản phẩm quốc nội đã vượt 1000 tỉ USD, nếu tính theo sức mua tương đương là 1.800 tỉ USD, đưa nó trở thành nền kinh tế lớn thứ 8 trên thế giới và là nền kinh tế lớn nhất ở Mỹ Latin. GDP bình quân đầu người trên danh nghĩa là 6.000 USD trong năm 2007. Sản phẩm công nghiệp chiếm tới 3/5 tổng sản phẩm công nghiệp của các nền kinh tế Nam Mỹ. Sự phát triển về khoa học và công nghệ của đất nước là yếu tố hấp dẫn đối với sự đầu tư trự tiếp từ nước ngoài, với khoảng 20 tỉ USD một năm vào cuối năm ngoái, so với mức 2 tỉ USD/một năm ở thập kỷ trước, đây là mức tăng đầu tư đáng chú ý. Lĩnh vực nông nghiệp cũng có một động lực đáng kể: trong khoảng hai thập kỷ ngành này luôn giữ cho Brasil ở trong số các nước có năng xuất cao nhất trong khu vực. Ngành nông nghiệp và khai thác mỏ cũng làm tăng đáng kể thặng dư trao đổi, kết quả là một lượng tiền lớn đổ vào đất nước và giảm nợ nước ngoài.
Brasil là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế như Mercosur, SACN, G8+5, G-20 và Cairns Group, với hàng trăm đối tác thương mại. Các đối tác thương mại chính của Brasil là: EEC (26% thương mại), Hoa Kỳ (24%), Mercosur, Mỹ Latin (21%) và các nước châu Á (12%).
Sở hữu một nền công nghệ tiên tiến và hiện đại, Brasil đã phát triển được các dự án lớn từ tàu ngầm đến máy bay đồng thời cũng bao gồm cả việc nghiên cứu vũ trụ, nước này sở hữu một trung tâm phóng các phương tiện thiết bị loại nhẹ và là nước duy nhất ở Nam bán cầu tham gia dự án xây dựng Trạm vũ trụ quốc tế (ISS). Brasil là nước đi tiên phong trong một số lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực sản xuất ethanol.
Brasil cũng tiên phong về lĩnh vực nghiên cứu thăm dò dầu trong vùng nước sâu, đây là những nơi có đến 73% lượng dầu dự trữ ở đó chưa được khai thác. Theo thống kê của chính phủ, Brasil là một trong những nước đầu tiên sát nhập mười công ty lắp ráp ô tô lớn nhất với nhau trong lãnh thổ đất nước.
== Lịch sử ==
}}
== Chú thích == |
án sát sứ.txt | Án sát sứ (chữ Hán: 按察使, tiếng Anh: Surveillance Commissioner), gọi tắt Án sát, là vị trưởng quan ty Án sát, trật Chánh tứ phẩm văn giai. Là một ty thuộc bộ Hình và lãnh trọng trách tại cấp thừa xuyên và tỉnh, ty Án sát phụ trách các vấn đề an ninh, kiện tụng, tư pháp, kỷ cương, và trạm dịch.[2]
Thời Nguyễn, sau cuộc cải cách hành chính năm Minh Mạng 12 Tân Mão 1831, Án sát sứ là một trong bốn quan cấp tỉnh (Bố chính, Án sát, Đốc học, Lãnh binh) hợp thành một bộ tham mưu thân cận nhất của Tổng đốc để chỉ đạo hoạt động ở tỉnh và ở các cấp phủ, huyện, tổng, xã.
== Lịch sử ==
Năm 711 triều Đường Trung quốc đặt chức Án sát sứ. Các Án sát sứ được cử từ Kinh thành về các đạo để điều phối công việc giữa Kinh thành và địa phương nếu cần, cùng với trách nhiệm xem xét các việc làm, hành vi của các quan lại tại địa phương.
Tại Việt nam, năm Hồng Đức 2 Tân Mão 1471, toàn quốc được chia làm 12 thừa tuyên và chức Án sát sứ được đặt tại mỗi thừa tuyên. Sau lần đặt này, chức Án sát sứ không còn được biết đến hoặc nhắc đến trong sử Việt.
Chức An sát sứ sau này thời Nguyễn Minh Mạng nguyên là chức Ký lục được đặt từ thời chúa Sãi năm 1614, đổi thành chức Tham hiệp trấn thời Minh Mạng 8 Đinh Hợi 1827 và chức Án sát sứ thời Minh Mạng 12 Tân Mão 1831.
Thời Tự Đức, Án sát sứ được coi như chức tỉnh phó ở một tỉnh nhỏ với Tuần phủ kiêm nhiệm công việc của Bố chính sứ.
== Các vị quan Án sát Việt nam nổi tiếng ==
Triều Nguyễn đã để lại trong lịch sử Việt Nam những vị quan Án sát nổi tiếng như Doãn Uẩn (Án sát Vĩnh Long), Vũ Phạm Hàm (Án sát Hải Dương), Ngụy Khắn Đản (Án sứ Quảng Nam) và Hồ Bá Ôn (Án sát Nam Định).
Trong trận thất thủ thành Hà Nội năm 1882, Án sát Tôn Thất Bá được biết đến là một trong các vị quan ăn thề với quan Tổng đốc Hoàng Diệu giữ thành Hà Nội, nhưng đã bỏ thành, trốn chạy về làng Nhân Mục tỉnh Hà Đông, và sau trận đánh này, được người Pháp mời ra để giao lại tỉnh thành.
Theo Việt Nam Sử Lược, trong cuộc binh biến thành Phiên An năm 1883, Án sát Nguyễn Chương Đạt đã bỏ thành trốn chạy sau khi loạn quân chiếm thành Bát Quái và tế sống Bố chính Bạch Xuân Nguyên cùng Tổng đốc Nguyễn Văn Quế trước từ đường của Tả quân Lê Văn Duyệt.
== Lưu Ý ==
Trong tiểu thuyết Quý Phái của nhà văn Vũ Trọng Phụng, tên của vị quan Án sát là Đường, được gọi là quan Án Đường.
== Chú thích == |
bờ biển kỷ jura.txt | Jurassic Coast là các vách đá dọc theo Dorset và bờ biển Đông Devon, trải dài trên 200 km gần như là liên tục. Các vách đá này hình thành từ kỷ Trias, kỷ Jura, kỷ Phấn Trắng và kéo dài đến Đại Trung sinh (Mesozoic Era), được cho là đã tồn tại được 185 triệu năm. Các khu vực là các công viên địa chất hóa thạch góp phần nghiên cứu lịch sử Trái đất hơn 300 năm qua, đồng thời cũng là cảnh quan vô cùng ngoạn mục của dải đất Tây Nam nước Anh.
== Tham khảo == |
sony xperia.txt | Xperia là một dòng điện thoại thông minh và máy tính bảng từ Sony Mobile. Cái tên Xperia được bắt nguồn từ từ tiếng Anh "experience" (trải nghiệm), và được lần đầu sử dụng trong khẩu hiệu của Xperia X1, "I (Sony Ericsson) Xperia the best".
== Lịch sử ==
Chiếc Xperia X1 là chiếc điện thoại đầu tiên của dòng Xperia. Ra mắt năm 2008, nó giới thiệu một màn hình độ phân giải cao (mật độ điểm ảnh ~311 ppi) và được dự định lấp đầy khoảng cách đang mở rộng của các điện thoại thông minh khi các đối thủ khác cũng đang sản xuất các thiết bị điện thoại thông minh cao như HTC và Apple. Chiếc X2 được ra mắt vào năm sau đó, bao gồm máy ảnh 8.1 MP và bao gồm Wifi và GPS. Vào thời gian này đã có một sự thay đổi rõ ràng với dòng điện thoại thông minh có máy ảnh. Một ngoại lệ là chiếc Xperia Pureness, một chiếc điện thoại không có máy ảnh được bán ở một số nhà bán lẻ ở một số thành phố. Chiếc Xperia X5 Pureness được dựa trên hệ điều hành độc quyền của Sony Ericsson (OSE).
Chiếc X10 được ra mắt vào đầu năm 2010. Nó là chiếc Xperia đầu tiên chay hệ điều hành Android, khi các mẫu trước đó chạy trên hệ điều hành Windows Mobile. Chiếc điện thoại được khen vì thiết kế đẹp, nhưng sự thất bại của nó lại nằm ở phiên bản Android lỗi thời 1.6 khi mà các đối thủ của nó đã được cài phiên bản 2.1. Việc cập nhật phần mềm bị trì hoãn trong một thời gian dài, do hệ điều hành phức tạp, và cũng vì Timescape và Mediascape phải được lập trình lại mỗi khi cập nhật. Chiếc điện thoại cũng không có tính năng chụm ngón tay để phóng to/thu nhỏ, nhưng nó đã được thêm vào sau đó cũng như khả năng quay video HD. Hai chiếc X10 Mini và X10 Mini Pro, như cái tên, là các phiên bản rút gọn của X10. Hai mẫu này được chào đón với nhiều phản hồi tốt và rất phổ biến vì không chiếc điện thoại thông minh nào trên thị trường lúc đó có thể nhỏ gọn như hai chiếc điện thoại này.
== Sony Ericsson ==
=== Điện thoại thông minh (Windows Mobile) ===
=== Điện thoại thông minh (Android) ===
=== Điện thoại cơ bản ===
== Sony ==
=== Điện thoại thông minh ===
=== Máy tính bảng ===
== Xem thêm ==
Apple iPhone dòng điện thoại thông minh chạy điều hành iOS cạnh tranh với Sony Xperia
Sony Xperia Z series
Samsung Galaxy dòng điện thoại thông minh cũng chạy điều hành Android cạnh tranh với Sony Xperia
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Sony Mobile.com – Trang web chính thức của Sony Mobile
Khu vực dành cho nhà phát triển
Xperia Care - Hỗ trợ toàn thế giới/
Trung tâm Dịch vụ Sony Mobile ở Chennai, Ấn Độ
Bản mẫu:Sony Corp |
tiếng cherokee.txt | Tiếng Cherokee (tiếng Cherokee: ᏣᎳᎩ ᎦᏬᏂᎯᏍᏗ Tsalagi Gawonihisdi) là một ngôn ngữ Iroquois được người Cherokee nói. Đây là ngôn ngữ Nam Iroquois duy nhất và khác biệt đáng kể với các ngôn ngữ Iroquois còn lại. Tiếng Cherokee là ngôn ngữ hỗn nhập và sử dụng một hệ thống chữ tượng thanh âm tiết.
Hiện nay, tiếng Cherokee là một trong những ngôn ngữ thổ dân Bắc Mỹ ổn định nhất, vì một lượng lớn tài liệu về ngôn ngữ này tồn tại; và đây cũng là ngôn ngữ bản địa Hoa Kỳ với nền văn học lớn nhất. Một từ điển và sách ngữ pháp tiếng Cherokee đã được phát hành, một phần Tân Ước của Kinh thánh đã được dịch từ năm 1850–1951. Cherokee Phoenix (ᏣᎳᎩ ᏧᎴᎯᏌᏅᎯ, Tsalagi Tsulehisanvhi) là tờ báo đầu tiên của người thổ dân Hoa Kỳ và cũng là tờ đầu tiên được được ấn hành bằng một ngôn ngữ bản địa. Một lượng người nói tiếng Cherokee ở mọi lứa tuổi sống tại Qualla Boundary thuộc Cherokee, Bắc Carolina và nhiều quận của Xứ Cherokee tại Oklahoma, đáng kể là Cherokee, Sequoyah, Mayes, Adair, và Delaware. Số người Cherokee trẻ mong muốn khôi phục lại truyền thống, lịch sử, và ngôn ngữ của tổ tiên họ đang ngày một tăng.
Tiếng Cherokee được xem là một trong những ngôn ngữ khó nhất đối với người bản ngữ tiếng Anh. Điều này một phần là do bản chất hỗn nhập của nó, có nghĩa là một từ gồm nhiều phần khác nhau. Sự phức tạp của tiếng Cherokee được thể hiện rõ nhất ở động từ (loại từ chiếm tới 75% lượng từ vựng ngôn ngữ này, động từ chỉ chiếm 25% trong tiếng Anh). Mỗi động từ phải có ít nhất một tiền tố chỉ đại từ, một gốc động từ, một hậu tố chỉ thể, và một hậu tố chỉ lối.
== Chữ viết ==
Trước khi hệ chữ tượng thanh âm tiết tiếng Cherokee được phát minh, tiếng Cherokee chỉ là ngôn ngữ nói. Hệ chữ tiếng Cherokee là một hệ chữ tượng thanh âm tiết được Sequoyah tạo nên vào thập niên 1820 để viết tiếng Cherokee. Sự sáng tạo này đáng chú ý ở chỗ, ngoài hệ chữ Cherokee do chính mình phát minh, Sequoyah không biết đọc bất cứ hệ chữ nào. Ban đầu ông thử nghiệm với chữ tượng hình, nhưng nó dần phát triển thành hệ chữ tượng thanh. Trong hệ thống này, mỗi ký tự biểu thị cho một âm tiết, chứ không phải âm vị; có 85 (ban đầu là 86) ký tự trong hệ chữ này. Một số ký tự tương tự với những ký tự trong bảng chữ cái Latinh, Hy Lạp hay Kirin, nhưng cách đọc thì hoàn toàn khác (ví dụ, một ký tự tương tự D được dùng để viết âm /a/).
Ngoài ra, tiếng Cherokee còn được viết bằng một hệ chữ chuyển tự Latinh đơn giản, và một hệ Latinh khác chi tiết hơn với dấu phụ.
Ghi chú:
Trong bản này, ‘v’ thể hiện nguyên âm mũi /ə̃/
== Phân bố địa lý ==
Tiếng Cherokee là ngôn ngữ bản địa phổ biến nhất tại các bang Oklahoma, Bắc Carolina, Nam Carolina, Arkansas, Missouri, Indiana, Georgia, Alabama, Virginia, Tây Virginia, Maryland, Texas, Tennessee, và Kentucky. Ngôn ngữ này vẫn phổ biến ở một số cộng đồng thuộc Oklahoma, điển hình như người dân Big Cove và Snowbird tại Eastern Band ở Bắc Carolina vẫn chủ yếu nói tiếng Cherokee. Đây là một trong số năm ngôn ngữ thổ dân hiện vẫn còn được nói và học tập tại Oklahoma.
=== Phương ngữ ===
Thời kỳ tiền tiếp xúc với người châu Âu, tiếng Cherokee có ba phương ngữ chính: Hạ, Trung, và Vùng đồi. Phương ngữ Hạ từng hiện diện tại vùng ranh giới Nam Carolina-Georgia, nhưng đã tuyệt chủng hơn 200 năm nay. Trong hai phương ngữ còn lại, phương ngữ Trung (Kituwah) có 1.000 người nói hoặc ít hơn, được nói bởi những người thuộc Eastern band tại vùng Qualla Boundary. Phương ngữ Vùng đồi, hay phương ngữ Miền Tây, được nói tại Đông Oklahoma và tại Cộng đồng Snowbird ở Bắc Carolina với 9.000 người nói hoặc hơn. Phương ngữ Vùng đồi phổ biến nhất và là phương ngữ chính. Cả hai phương ngữ đều tiếp nhận ảnh hưởng từ tiếng Anh, và với phương ngữ Vùng đồi thì có cả ảnh hưởng của tiếng Tây Ban Nha.
== Tình trạng hiện tại ==
Số người nói tiếng Cherokee được ước tính là từ 10.400 đến 22.500 người, trong đó Xứ Cherokee có khoảng 10.000 người trên tổng số 122.000 thành viên, Eastern Band of Cherokee Indians có 1.000 người trong số 10.000 thành viên, và phần lớn thành viên của United Keetoowah Band of Cherokee Indians biết tiếng Cherokee. 17% người Cherokee, và 60% trong số 7.500 người thuộc United Keetoowah Band biết nói ngôn ngữ này. Năm 1986, ước tính 15–20% người bản ngữ tiếng Cherokee biết đọc và 5% biết viết tiếng Cherokee, theo Trung tâm Di sản Cherokee.
Một nghiên cứu năm 2005 cho thấy Eastern band có 460 người nói thông thạo. Mười năm sau đó, con số này được cho là đã giảm xuống 200.
== Âm vị học ==
Hệ ngôn ngữ Iroquois có hệ thống âm vị tương đối độc đáo. Không như đa số ngôn ngữ, tiếng Cherokee không có các âm môi p, b, f, và v. Nó có âm môi m, nhưng âm này rất hiếm gặp, chỉ hiện diện trong không quá mười từ bản địa. Trên thực tế, phương ngữ Hạ hoàn toàn không có âm m. Thay vào đó, nó dùng âm w.
Khi một từ mượn có p, nó thường được thay thế bằng qw, như trong trường hợp tên tiếng Cherokee của Wikipedia, Wiɣiqwejdiʃ.
=== Phụ âm ===
Như nhiều ngôn ngữ Iroquois, hệ thống phụ âm tương đối đơn giản.
=== Nguyên âm ===
Có sáu nguyên âm ngắn và sáu nguyên âm dài.
==== Nguyên âm đôi ====
Tiếng Cherokee chỉ có một nguyên âm đôi:
ai /ai/
== Ngữ pháp ==
Tiếng Cherokee là một ngôn ngữ hỗn nhập, nghĩa là nhiều hình vị được liên kết với nhau để tạo thành từ. Động từ, loại từ quan trọng nhất, phải có ít nhất một tiền tố chỉ đại từ, một gốc động từ, một hậu tố chỉ thể, và một hậu tố chỉ lối. Ví dụ, từ ge:ga, "tôi đang đi," có các yếu tố sau:
Tiền tố g- thể hiện ngôi thứ nhất số ít. Gốc động từ -e có nghĩa là "đi". Hậu tố chỉ thể -g- biểu thị cho thì hiện tại. Và hậu tố chỉ lối thì hiện tại cho động từ có quy tắc tiếng Cherokee là -a.
Tiếng Cherokee có 17 thì và 10 ngôi.
Bản dưới đây cho thấy các cách chia động từ "đi", thì hiện tại.
Tiếng Cherokee phân biệt thì hiện tại tiếp diễn ("tôi đang đi") và hiện tại đơn ("tôi đi") rạch ròi hơn tiếng Anh.
ᎨᎪᎢ (gegoi), ᎮᎪᎢ (hegoi), ᎡᎪᎢ (egoi) lần lượng có nghĩa là "tôi thường đi", "bạn thường đi", và "anh ta/cô ta/nó thường đi".
Động từ cũng có thể có tiền tố tiền chỉ đại từ, tiền tố phản thân, và hậu tố phát sinh. Nếu tính tất cả các sự kết hợp phụ tố, mỗi động từ có quy tắc có 21.262 dạng.
Tiếng Cherokee không phân biệt giống ngữ pháp. Ví dụ, ᎦᏬᏂᎭ (gawoniha) có cả nghĩa "cô ấy đang nói" và "anh ấy đang nói."
=== Đại từ và tiền tố chỉ đại từ ===
Tiếng Cherokee có nhiều tiền tố chỉ đại từ. Tiền tố chỉ đại từ luôn có mặt trong đại từ và cũng có thể xuất hiện trong tính từ và danh từ. Có hai từ tách biệt có nhiệm vụ làm đại từ: aya "tôi" và nihi "bạn".
=== Cấu trúc câu ===
Câu tường thuật đơn giản thường có cấu trúc chủ-tân-động. Câu phủ định có cấu trúc rất khác. Tính từ nằm trước danh từ, như trong tiếng Anh. Từ chỉ định, như ᎾᏍᎩ nasgi ("đó") và ᎯᎠ hia ("đây"), nằm trước cụm danh từ. Mệnh đề quan hệ nằm sau cụm danh từ. Trạng từ đứng trước động từ mà chúng bổ nghĩa. Ví dụ, "cô ta đang nói to" là ᎠᏍᏓᏯ ᎦᏬᏂᎭ asdaya gawoniha (nghĩa đen là "to cô-ta-đang-nói").
Một câu tiếng Cherokee có thể bỏ động từ nếu câu được tạo nên từ hai cụm danh từ. Trong trường hợp đó, cấu trúc câu tương đối mềm dẽo. Ví dụ, Ꮎ ᎠᏍᎦᏯ ᎠᎩᏙᏓ na asgaya agidoda ("người đàn ông đó là bố tôi").
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Bản mẫu:Ngôn ngữ tại Oklahoma |
kawasaki.txt | Bài này viết về Thành phố Kawasaki, về những bài khác cũng có tên Kawasaki, xem Kawasaki (định hướng).
Thành phố Kawasaki (tiếng Nhật: 川崎市 Kawasaki-shi, Xuyên Khi thị) là một đơn vị hành chính cấp hạt thuộc tỉnh Kanagawa, nằm trên đảo Honshu của Nhật Bản. Kawasaki là thành phố đông dân thứ 9 và là một trong 15 thành phố quốc gia của nước này. Thành phố cũng là một trong các thành phần chính tạo nên Greater Tokyo Area and Vùng công nghiệp Keihin.
== Địa lý ==
Kawasaka có diện tích 144,35 km². Thành phố hẹp nhưng trải dài (theo hướng Đông-Tây) tới 30 km, bên bờ sông Tama. Nó nằm giữa và tiếp giáp với Tokyo và Yokohama, và cùng các thành phố này tạo thành vùng thủ đô Tokyo.
== Lịch sử ==
Kawasaki trở thành thành phố từ năm 1924 và được Chính phủ Nhật Bản công nhận là đô thị quốc gia từ năm 1972.
== Giao thông ==
Kawasaki có hệ thống đường sá phát triển, nhưng chỉ có một tuyến đường sắt duy nhất nối phần Đông với phần Tây của thành phố. Từ Kawasaki có kết cầu giao thông cầu-đường ngầm Tokyo Bay Aqua Line đi qua vịnh Tokyo sang tỉnh Chiba.
== Dân số ==
Tính đến năm tháng 2 năm 2007, Kawasaki có khoảng 1,34 triệu dân cư.
== Kinh tế ==
Trụ sở chính của công ty Fujitsu được đặt ở Nakahara-ku.
Kawasaki có nhiều nhà máy và cơ sở của các công ty công nghiệp nặng (như JFE Group, Nippon Oil Corporation) và công nghệ cao (Fujitsu, NEC Corporation, Toshiba, Dell Japan và Sigma Corporation).
== Điểm du lịch nổi tiếng ==
Kawasaki Daishi: ngôi chùa được tham quan nhiều nhứ 2 tại Vùng Kanto.
Nihon Minka-en: một công viêng rộng 20 minka, về các nông trại truyền thống từ nhiều vùng quê Nhật Bản.
Koreatown: phía đông Kawasaki là vùng tập trung người Hàn Quốc tại Nhật Bản nhiều thứ 2, chỉ sau Osaka.. Vào năm 1997, nó đã trở thành phố đầu tiên cho phép công dân không phải người Nhật có thể có việc làm dịch vụ dân sự.
Todoroki Ryokuchi, công viên thể thao
Bảo tàng Fujiko F. Fujio, cũng được biết với tên Bảo tàng Doraemon, mở cửa lần đầu vào năm 2011, ở Tama-ku.
== Thành phố kết nghĩa ==
==== Nhật Bản ====
Nakashibetsu, Hokkaidō từ 9 tháng 7 năm 1992
Fujimi, Nagano từ 22 tháng 4 năm 1993
Naha, Okinawa từ 20 tháng 5 năm 1996
==== Quốc tế ====
Rijeka, Croatia, từ 23 tháng 6 năm 1977
Baltimore, Maryland, Hoa Kỳ, từ 14 tháng 6 năm 1979
Thẩm Dương, Trung Quốc, từ 18 tháng 8 năm 1981
Wollongong, New South Wales, Australia, từ 18 tháng 5 năm 1988
Sheffield, Anh, từ 30 tháng 7 năm 1990
Salzburg, Áo, từ 17 tháng 4 năm 1992
Lübeck, Đức, từ 12 tháng 5 năm 1992
Bucheon, Hàn Quốc, từ 21 tháng 10 năm 1996
=== Cổng hữu nghị ===
Đà Nẵng, Việt Nam, từ 24 tháng 1 năm 1994
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của Kawasaki (tiếng Nhật)
Website chính thức của Kawasaki (tiếng Anh) |
bóng bầu dục mỹ.txt | Bóng bầu dục Mỹ (American football) hay còn gọi bóng đá kiểu Mỹ, hoặc tiếng lóng bóng cà na, là một môn thể thao thi đấu đồng đội phổ biến tại Hoa Kỳ. Bóng bầu dục Mỹ có quan hệ gần gũi với bóng bầu dục Canada nhưng có một số khác biệt về luật chơi và nhiều đặc điểm khác. Tại Hoa Kỳ, một số dạng chính của bóng bầu dục là bóng bầu dục trung học, bóng bầu dục đại học và bóng bầu dục chuyên nghiệp, về cơ bản là giống nhau nhưng khác nhau ở vài điểm trong luật chơi.
== Dụng cụ thi đấu ==
=== Sân chơi ===
Sân chơi của môn banh cà-na dài 100 yards, chia làm 20 phần mỗi phần 5 yards, được đánh dấu bằng 19 vạch dài màu trắng theo chiều ngang của sân. Giữa những vạch dài là bốn hàng vạch ngắn, mỗi hàng 4 vạch cách nhau 1 yard. Phần cuối cùng ở mỗi cuối sân được gọi là end-zone (vùng cấm địa), có chiều dài 10 yards, thường thì được sọc chéo màu đỏ và được ngăn cách bởi một vạch trắng dài gọi là đường cấm địa (goal line). Cuối vùng cấm địa (end-zone) là vạch cuối (end line), sau đó là cột gôn (goal posts). Cột gôn được trồng chính giữa chiều ngang của sân, cao 10 feet, trên bắc một thanh ngang dài 18 feet 6 inches, hai đầu thanh ngang là hai thanh dọc cao 30 feet. Tổng cộng, toàn sân chơi của môn football dài 120 yards (360 feet) và ngang là 53 1/3 yards (160 feet). Kể từ đường cấm địa (goal line), cứ mỗi 10 yards, sân sẽ được đánh dấu bằng số 10, 20, 30, 40 cho tới giữa sân là 50. Sau mức này, sân được đánh dấu ngược lại 40, 30, 20 và 10 cho đến vùng cấm địa của bên kia.
=== Bóng ===
Bóng làm bằng da hình bầu dục nặng từ 400 đến 430g
=== Mũ bảo hiểm ===
Mũ bảo hiểm bao gồm đệm bơm hơi để bảo vệ đầu, mặt nạ để bảo vệ mặt, 2 ốp tai ở mỗi bên để bảo vệ đôi tai
== Đội và vị trí ==
Một đội bóng bầu dục Mỹ có thể lên đến 40-50 người sẽ chia làm 3 đội nhỏ gồm đội tấn công (offense team), đội phòng ngự (defense team) và đội hỗn hợp hay đội đặc biệt (special team)
=== Đội tấn công (offense team) ===
Center (C): Người giao bóng (1 người)
Guard (G): Người tiền vệ (2 người)
Tackle (T): Người húc (2 người)
Quarterback (QB): Người ném bóng hay trung phong (1 người)
Running back (RB): Người trung vệ (1 người)
Wide Reiceiver (WR): Người bắt bóng (2 người)
Tight end (TE): Người nút chặn (2 người)
Bảy người hàng trên gồm có người giao banh (center) đứng giữa, hai bên là hai chàng khổng lồ tiền vệ (guard), cạnh hai chàng tiền vệ là hai chàng húc (tackle) to lớn, và ngoài cùng là hai chàng bắt banh (wide receiver). Người thủ quân (quarterback) sẽ đứng sau lưng người giao banh (center). Sau lưng anh là chàng trung vệ (halfback hay running back) hoặc hậu vệ (fullback). Hai chàng nút chặn (tight-end) sẽ đứng phía sau giữa chàng bắt banh (widereceiver) và chàng húc (tackle) to lớn. Mặc dầu họ có thể dùng những đội hình khác nhau tuỳ hoàn cảnh, nhưng số cầu thủ của hàng trên tối thiểu phải là 5 người.
=== Đội phòng ngự (defense team) ===
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Super Bowl ("Siêu cúp Bóng bầu dục Mỹ")
Bóng rugby
== Sách ==
“Digest of Rules”. National Football League. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2007.
“History and the basics”. National Football League. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2005.
“Playing with the Percentages When Trailing by Two Touchdowns”. Montana State University. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2005.
== Liên kết ngoài ==
NCAA's complete college football rules; available as a PDF file
Movie of 1903 football game between the University of Chicago and the University of Michigan
National Football League Official Signals.
Annual Survey of Football Injury Research
Brief explanation of the sport by the BBC aimed at a non-american audience
American Football tại DMOZ
American Youth Football |
nhà.txt | Nhà là công trình xây dựng có mái, tường bao quanh, cửa ra vào để ở, sinh hoạt văn hoá, xã hội hoặc cất giữ vật chất, phục vụ cho các hoạt động cá nhân và tập thể của con người, và có tác dụng bảo vệ cho các hoạt động đó. Nhà cũng có thể là một nơi cư trú hay trú ẩn. Tinh thần, nhà có thể liên quan tới trạng thái khi ở nơi trú ẩn hoặc sự tiện lợi.
== Thuật ngữ ==
Từ nhà có thể sử dụng cho nhiều loại cư trú của tổ chức cộng đồng mà mọi người có thể sống, như nhà y tá,... Trong máy tính, nhà có thể là một thư mục chứa thông tin cá nhân của nhiều thành viên.
Con người bắt đầu xây dựng nhà cửa cách đây khoảng 30.000 năm TCN, nhưng đa số sống trong những chòi tạm bợ hoặc ở những hang động. Họ cũng làm ra những chiếc lều đơn giản để tạm trú trước khi di chuyển để tìm thực phẩm. Tại Dolni Vétonice thuộc Cộng hòa Séc, các nhà khảo cổ đã tìm thấy tàn tích những căn nhà được làm bằng đá, gỗ, và xương của một loại voi cổ có niên đại khoảng 25.000 năm TCN.
== Thay đổi tâm lý ==
Khi mà con người là sinh vật có thói quen, trạng thái nhà của một người được biết về tâm lý có thể ảnh hưởng đến hành vi, cảm xúc, và toàn bộ sức khoẻ tinh thần.
Một số người có thể nhớ nhà khi họ rời khỏi nhà qua khoảng thời gian.
Thực tế ngày nay, nhiều người sống trong nhà, xem nhà là của cải (bất động sản). Vì nhà là nơi sống làm việc, sinh hoạt của gia đình, nên nhà có ý nghĩa rất cao cả về tinh thần lẫn vật chất.
Ở Việt Nam, có từ mở rộng ý nghĩa của nhà đó là quê hương, từ này vừa có nghĩa ai đó sinh ra lớn lên, sống và làm việc ở đó. Từ quê hương vừa có nghĩa là nhà, đất xung quanh, không gian địa lý, địa danh hành chính.
== Bên trong nhà ==
=== Các phòng ===
Phòng khách
Phòng ngủ
Phòng vệ sinh
Phòng làm việc
Phòng ăn
Phòng học tập
== Các dạng nhà đặc biệt ==
Lều là nơi để sống tạm hoặc để nghỉ chân, có thể gấp lại được.
Lều tuyết là nhà dân ở Bắc Âu và Bắc Cực.
Người du mục Mông Cổ làm những ngôi lều tròn tên là Yurt, có thể gấp lại được ngôi lều để dựng tạm nơi khác.
Nhà gươl là loại nhà truyền thống của một số dân tộc ở Tây Nguyên và miền Trung Việt Nam, như người Cơ Tu.
Nhà gỗ là loại nhà được xây bằng các loại gỗ cây rừng.
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Vô gia cư không có nhà, không sở hữu nhà,đất bất động sản
Nhà nổi
Bất động sản
Vật liệu xây dựng
Gia đình
Nhà cao tầng
Nhà chọc trời
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
âm vị.txt | Âm vị là phân đoạn nhỏ nhất của âm thanh dùng để cấu tạo nên sự phân biệt giữa các cách phát âm. Do đó, âm vị là một nhóm các âm thanh với sự khác biệt tương đối nhỏ cùng đảm nhận một chức năng ý nghĩa tùy theo người nói và phương ngữ. Ví dụ, mặc dù hầu hết người bản ngữ không nhận ra, trong đa số các ngôn ngữ, k trong mỗi từ được phát âm thực sự khác biệt nhau. Ví dụ k trong kit được ký âm [kʰ] và k trong skill được ký âm /k/. Trong một số ngôn ngữ, một ký tự đại diện cho một âm vị, nhưng trong một số ngôn ngữ khác như tiếng Anh, sự tương ứng này ít khi chính xác. Ví dụ trong tiếng Anh ký tự sh đại diện cho /ʃ/, trong khi k và c đều đại diện cho âm /k/ (trong kit và cat).
== Chú thích == |
sông thames.txt | Sông Thames (phát âm như là sông Thêm) là con sông ở phía Nam nước Anh, nó là con sông quan trọng nhất ở Anh. Sông Thames là nguồn cung cấp nước chính cho London. Đoạn sông ngay phía dưới cầu London được gọi là Pool, và đoạn giữa cầu này và Blackwall được gọi là Port. Hai bên bờ được kè bao. Ở đầu gần cửa sông có xây dựng một hệ thống đập nước sông Thames giúp cản nước lũ vào mùa bão.
== Cấu tạo ==
Sông được tạo thành bởi bốn sông nhánh: Isis, Churn, Colne và Leach — bên sườn phía Đông Nam của các đồi Cotswold ở Gloucestershire, gần Cheltenham. Các sông nhánh hội tụ tại thành phố Oxford và nhìn chung chảy theo hướng Đông Nam đến Reading, qua một khe rãnh ở dốc núi Chiltern. Sông Thames sau đó nhìn chung chảy theo hướng Đông qua London, và một vài cây số dưới Gravesend nó mở ra một cửa sông rộng và đổ vào Biển Bắc.
Sông Thames có chiều dài 346 km; tại Woolwich, 448 m (1470 ft); tại bến tàu Gravesend 732 m (2400 ft); 5 km (3 mi) dưới Gravesend, 1180 m (3870 ft); tại Nore Light 10 km (6 mi); và tại cửa sông, giữa Whitstable và Foulness Point, cửa sông dài 29 km (18 mi).
Khu vực bến tại London có 56 km sông Thames từ Tower Bridge đến Vũng tàu Tilbury, và tàu biển được thả neo tại đây. Dù phần thượng lưu của vũng tàu (dock) có thủy triều, phần hạ lưu lại cho phép tàu biển vào đây vào bất kỳ thời điểm thủy triều nào. Các vũng tàu Tilbury, đã được đóng cửa năm 1981 và được quy hoạch lại thành khu vực công nghiệp nhẹ.
== Hệ động vật ==
Dưới lòng sông có một thế giới tràn đầy sự sống. Ở đó có một lượng lớn các loài cá, động vật không xương và động vật ăn thịt săn mồi hàng đầu sinh sống. Người ta đã ghi chép về 2.732 con vật trên sông Thames trong 10 năm gần đây.
Trong đó các loài động vật biển có vú thường xuyên xuất hiện với số lượng lớn trên sông Thames. Hải cẩu là động vật được bắt gặp nhiều nhất tại cầu tàu Canary, London với có khoảng 670 con hải cẩu tại những bến cảng. Sông Thames còn là nơi sinh sống của 49 con cá voi và 444 con cá heo.
== Tham khảo == |
tham nhũng.txt | Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI), tham nhũng là lợi dụng quyền hành để gây phiền hà, khó khăn và lấy của dân. Tham ô là hành vi lợi dụng quyền hành để lấy cắp của công. Tham nhũng và tham ô là một hệ quả tất yếu của nền kinh tế kém phát triển, quản lý kinh tế - xã hội lỏng lẻo, yếu kém tạo ra nhiều sơ hở cho các hành vi tiêu cực, hiện tượng tham nhũng và các tệ nạn có điều kiện phát triển và tại đó một phần quyền lực chính trị được biến thành quyền lực kinh tế.
Tham nhũng và tham ô làm chậm sự phát triển kinh tế-xã hội, làm giảm lòng tin của công dân vào nhà nước, đến chừng mực nào đó nó gây mất ổn định chính trị, kinh tế - xã hội.
== Nguồn gốc tham nhũng và tham ô ==
Tham nhũng xuất hiện từ rất sớm từ khi có sự phân chia quyền lực và hình thành nhà nước. Có ý kiến cho rằng tham nhũng, tham ô bắt nguồn từ nền văn hóa độc tài đề cao cá nhân, coi trọng biếu xén. Ý kiến khác cho rằng: xã hội thay đổi các chuẩn mực về đạo đức, xã hội biến đổi liên tục, nền kinh tế biến đổi mạnh sinh ra tham nhũng tham ô.
Tham nhũng và tham ô thường xuất hiện nhiều hơn từ các nước có nền kinh tế kém phát triển hoặc có mức thu nhập bình quân/đầu người thấp. Tại các nước này con người thường có ý đồ nắm các cương vị cao trong hàng ngũ lãnh đạo để tham nhũng. Đối với một số nước kinh tế phát triển, có mức thu nhập bình quân/đầu người cao, các cá nhân có sở hữu tài sản lớn mới bắt đầu tham gia chính trường để làm lãnh đạo.
== Công cụ nhận dạng ==
Các tác giả trong cuốn sách Tools to support transparency in local governance (Công cụ hỗ trợ cho tính minh bạch trong công tác cai trị ở địa phương) đã xác định ra quy luật hoạt động của tham nhũng trong thực tế công quyền dưới dạng công thức tạm dịch như sau:
Tham nhũng (Corruption) = Độc quyền (Monopoly) + Bưng bít thông tin (Discretion) - Trách nhiệm giải trình (Accountability).
Theo công thức trên, có thể dễ dàng nhận dạng tham nhũng trong các biểu hiện của nó: thừa độc quyền, thừa bưng bít thông tin, thiếu (phi) trách nhiệm giải trình.
Một công cụ nhận dạng khác dựa theo công thức của C. Stephan tạm dịch như sau:
Tham nhũng (Corruption) = Độc quyền (Monopoly) + Bưng bít thông tin (Discretion) - Tính minh bạch (Transparency) - Đạo đức luân lý (Morality)
Theo đó, tham nhũng dựa trên 4 yếu tố:
Độc quyền: Một hệ thống (thường là chính quyền) sở hữu phần lớn hoặc toàn bộ tài sản, và chi phối thị trường mà không thông qua quy luật thị trường.
Bưng bít thông tin: Nắm quyền chi phối thông tin, thậm chí định hướng và lừa dối dư luận.
Tính minh bạch: Minh bạch trong chính sách hành chính công, các chi phí công, và minh bạch trong đấu thầu dự án công.
Đạo đức luân lý: Năng lực đạo đức luân lý của người tham gia vào hệ thống, năng lực này để nhận biết điều đúng sai, và có khả năng làm điều đúng tránh điều sai.
Công cụ nhận dạng tham nhũng cho thấy được bản chất của tham nhũng, mà con người là yếu tố quan trọng tham gia vào.
== Thực trạng tham nhũng trên thế giới ==
Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, một tổ chức phi chính phủ, công bố ngày 18 tháng 10 năm 2005 [1] có tới 2/3 trong 159 nước được thăm dò có tình trạng tham nhũng nghiêm trọng—một kết quả đáng buồn.
Các nước Bắc Âu được đánh giá là tốt nhất: Iceland (1), Phần Lan và New Zealand (2), Đan Mạch (4), Thụy Điển (6) và Na Uy (8). Các nước nghèo cũng chính là những nước có tình trạng tham nhũng và tham ô nặng đội sổ: Bangladesh và Tchad (158). Tiếp đó là Haiti, Myanma và Turkmenistan, Nigeria, Guinea Xích Đạo, Côte d'Ivoire, Angola cũng là những nước có chỉ số nhận thức tham nhũng thấp (từ 1,7 đến 2 điểm).
Châu Á: Singapore (5), Hong Kong (15), Nhật (21), Đài Loan (32), Malaysia (39) và Hàn Quốc (40), Thái Lan (59), Trung Quốc (78), Ấn Độ (88), Philippines (117) và Indonesia (137). Trong đó Việt Nam (107) cùng hạng với Belarus, Eritrea, Honduras, Kazakhstan, Nicaragua, Palestine, Ukraina, Zambia và Zimbabwe.
Theo một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (World Bank), hàng năm trên thế giới có khoảng 1.000 tỷ USD bị tham nhũng dưới dạng đưa hối lộ.
Theo tổ chức TI, chỉ riêng ở châu Phi hàng năm có khoảng 148 tỷ USD đã bị mất hay thất thoát do tệ tham nhũng gây ra, tương đương với 1/2 khoản nợ nước ngoài của lục địa này. (Theo con số nợ nước ngoài của Tổ chức Tiền tệ Quốc tế (IMF), châu Phi nợ nước ngoài khoảng 248 tỷ USD).
Chủ tịch của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Peter Eigen, nhận xét: "Tham nhũng là nguyên nhân chính của đói nghèo khóa chặt người dân trong vòng nghèo khổ."
== Những chính trị gia tham nhũng, tham ô ==
Tổ chức Minh bạch Quốc tế vừa lập danh sách những chính trị gia tham nhũng nhất trong những thập kỷ 1990 (13 tháng 10 năm 2005)
Đứng hàng đầu trong danh sách là cựu Tổng thống Mobutu Sese Seko của Cộng hoà Dân chủ Congo, biển thủ 5-8 tỷ đô la; cựu Tổng thống Suharto của Indonesia, tài sản gần bằng một nửa tổng sản phẩm quốc nội của Indonesia; cựu Tổng thống Ferdinand Marcos của Philippines biển thủ 100 tỷ đô la (theo báo cáo của ủy ban trong sạch phủ tổng thống Philippines); và cựu Tổng thống Alberto Fujimori của Peru, biển thủ hàng trăm triệu đô.
== Biện pháp chống tham nhũng và tham ô ==
Nhiều quốc gia họp tại Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng đều thống nhất cho rằng sự minh bạch là một biện pháp chống tham nhũng hữu hiệu nhất.
Công cụ chiến đấu tham nhũng,tham ô = Minh bạch khiếu nại của dân chúng + Minh bạch ngân sách, tài chính + Minh bạch mua sắm
Hiến chương Liên hiệp quốc về Tham nhũng có hiệu lực từ tháng 12 năm 2005, sẽ tạo ra một khuôn khổ pháp lý quốc tế trong việc chống lại tham nhũng, thu hồi lại những khoản tiền bị tham nhũng, thúc đẩy ngân hàng và các tổ chức tài chính có những hành động chống rửa tiền, cho phép các quốc gia thanh tra các công ty nước ngoài và cá nhân mà có dính dáng tới tham nhũng tại nước của mình, cấm việc đưa hối lộ của các quan chức nước ngoài.
Loại bỏ tham nhũng, tham ô và thực hiện cải cách việc nhận tiền tài trợ là những điều quan trọng để các khoản hỗ trợ tài chính, tài trợ hiệu quả hơn và để mục tiêu phát triển kinh tế của thế giới được thành công.ông David Nussbaum, giám đốc điều hành TI nói: " Tham nhũng, tham ô không phải là một thảm hoạ tự nhiên. Đó là những khoản ăn cắp cơ hội được tính toán từ những kẻ tham lam. Các nhà lãnh đạo phải cải thiện cách làm việc, thông thoáng và tin cậy hơn thay vì chỉ hứa suông".
Ngày quốc tế phòng chống tham nhũng là ngày 09 tháng 12.
== Số liệu điều tra tham nhũng ==
Từ năm 1995, Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI) đã công bố một chỉ số nhận thức tham nhũng (Corruption Perceptions Index - CPI) hàng năm xếp thứ tự các quốc gia trên thế giới theo "mức độ tham nhũng mà được nhận thức tồn tại trong các giới công chức và chính trị gia". Tổ chức định nghĩa tham nhũng là "lạm dụng chức vụ công để hưởng tư lợi".
== Trừng phạt ==
Tham nhũng là một tội lỗi gây hại cho quốc gia và là một trong các nguyên nhân gây ra nạn đói nghèo cho người dân nhưng nó được hiểu khác nhau tuỳ theo từng thời kỳ, tuỳ theo quan điểm của giai cấp cầm quyền cũng như ý thức quyền lợi của công dân mà có các biện pháp trừng phạt khác nhau trong lịch sử và hình phạt ngày càng khoan dung hơn:
Ở thành Athena trong thời Hy Lạp cổ đại, các quan chức tham nhũng sẽ bị tước quyền công dân và quyền tham gia vào các tổ chức chính trị của thành bang vì theo luật, việc nhận hối lộ đáng phải chịu sự ô nhục và ruồng bỏ mà bị tước quyền công dân cũng như việc bị huỷ bỏ sinh mạng chính trị là hình phạt ô nhục đối với dân Hy Lạp cổ đại. Cũng có khi họ bị tử hình.
Ở Byzantium vào thế kỉ thứ 11, các quan chức tham nhũng thường bị làm cho mù mắt và bị thiến. Bên cạnh việc chịu đòn và bị làm cho mù mắt, những kẻ nhận hối lộ thường bị đày ải, còn tài sản của họ thì bị tịch thu sung công. Hình phạt thiến không phải do pháp luật quy định mà là kết quả của việc xúc phạm và sỉ nhục công chúng.
Cộng hòa La Mã áp dụng hình phạt xử tử đối với những quan tòa nhận hối lộ theo bộ luật hợp pháp đầu tiên của nước cộng hòa Twelve Tables.
Ở Hoa Kỳ thời mới thành lập người nhận hối lộ phải đi tù hoặc nộp phạt.
Ở Việt Nam người nhận hối lộ sẽ được giảm nhẹ tôi nếu nộp lại tiền hối lộ, trường hợp do người ngoài xã hội lôi kéo, chủ mưu làm tha hóa cán bộ thì người ngoài xã hội chịu hình phạt nặng hơn như tử hình còn cán bộ nói chung xử nhẹ và khoanh gọn vì sợ bị mất cán bộ. Về sau do tham nhũng ngày càng tăng cũng như dư luận xã hội một số cán bộ tham nhũng cũng đã bị trừng phạt xử tù cho dù đã có thiện chí trả lại tài sản có do phạm tội.
== Xem thêm ==
Tham nhũng tại Việt Nam
Chống tham nhũng ở Singapore
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Anh
Hiệp định Chống tham nhũng của Liên hiệp quốc tại Law-Ref.org
Transparency International
Tool to analyze anti-corruption and institutional reform
Tiếng Việt
Chuyên trang chống tham nhũng ở Vietnam Net
Đóng góp cho Luật chống tham nhũng
Chống tham nhũng bắt đầu từ đâu?
Dự thảo luật phòng chống tham nhũng
Tham nhũng: Chống thế nào cho hiệu quả?
6 nhóm giải pháp chống tham nhũng
Chống tham nhũng không có lời giải?
Tham nhũng giúp bảo vệ quyền lực
Chống Tham Nhũng Thông Qua Quản trị Quốc gia Theo Nguyên Tắc Dân Chủ
Chuyển đổi văn hóa tham nhũng
Tham nhũng đang trở thành "chuyện thường ngày" Ban Nội chính Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện.
Cổng Thông tin Phòng Chống Tham Nhũng Cổng thông tin chính thức Chống Tham Nhũng của chính phủ Việt Nam
Chống tham nhũng - cuộc chiến "liên thời đại"
Công bố xếp hạng tham nhũng:
Công bố xếp hạng tham nhũng thế giới 2007 |
vu cấm.txt | Vu Cấm (chữ Hán: 于禁; ?-221), tên tự là Văn Tắc (文则), là một võ tướng cuối thời Đông Hán, thuộc hạ của Tào Tháo. Vu Cấm gia nhập quân Tào năm 192, khi nội chiến trong nước dẫn đến sự sụp đổ của nhà Hán, và đã chinh chiến rất nhiều chiến dịch cho Tào Tháo, tạo dựng nên nền tảng nước Ngụy. Năm 219, Vu Cấm được giao nhiệm vụ dẫn quân giải vây cho tướng của Tào Tháo, là Tào Nhân tại Phàn Thành, khi đó bị tướng của Lưu Bị là Quan Vũ bao vây. Nhưng quân của ông bị tiêu diệt trong một trận lụt lớn do mưa nhiều ngày. Vu Cấm hàng Quan Vũ sau đó và trở thành tù binh chiến tranh, sau đó được chuyển qua cho Tôn Quyền sau khi Tôn quân chiếm được căn cứ của Quan Vụ vào cuối năm 219. Tôn Quyền tiếp Vu Cấm như thượng khách, và trả ông về Tào Ngụy, được thành lập cuối năm 220 bởi thế tử Tào Tháo, Tào Phi, người đã kết thúc sự trị vì của nhà Đông Hán năm 221. Tào Phi ân xá cho Vu Cấm và trả lại tước vị tướng quân cho ông. Tuy nhiên, Vu Cấm mất năm sau đó, sau khi thăm mộ Tào Tháo, nơi ông nhìn thấy bức minh họa trận Phàn Thành, vẽ ông hàng Quan Vũ.
Vu Cấm được sử gia Trần Thọ, tác giả của Tam quốc chí, xếp vào hàng Ngũ Hổ Tướng của nước Ngụy, cùng với Trương Liêu, Từ Hoảng, Nhạc Tiến, Trương Cáp.
== Thời trẻ ==
Vu Cấm sinh ở Khu Bình quận, Thái Sơn (nay là Thái An, Sơn Đông). Đầu những năm 180, khởi nghĩa Khăn Vàng nổi ra, Vu Cấm ứng theo hịch của triều đình, tự nguyện tòng quân giúp dẹp loạn. Vu Cấm trở thành thuộc hạ của Bào Tín, lúc ấy là Thái thú ở Duyện Châu.
Năm 192, sau khi Tào Tháo cầm quyền ở Duyện Châu, Vu Cấm và quân tình nguyện được phong làm Đô Bá (都伯; chức chỉ huy 100 lính) và đặt dưới sự điều động của Vương Lãng. Vương Lãng thấy Vu Cấm là người bất phàm và có tiềm năng trở thành bậc đại tướng, nên tiến cử Vu Cấm cho Tào Tháo. Tào Tháo phong Vu Cấm làm Tư Mã (司馬) sau khi nói chuyện với Cấm, sau đó điều ông đi đánh Quảng Uy, thuộc Từ Châu, khi đó được cai trị bởi Đào Khiêm. Vu Cấm thành công trong việc chiếm Quảng Uy và được phong làm Hãm Trận Đô Úy (陷陣都尉).
== Đánh Lã Bố, dư đảng Khăn Vàng và Viên Thuật ==
Năm 194-195, Vu Cấm giúp Tào trong cuộc chiến giành lại Duyện Châu từ tay Lã Bố. Vu Cấm phá được hai trại của Lã Bố ở phía nam của Bộc Dương, trong khi thuộc hạ của Cấm đánh bại được Cao Nhã (高雅) tại Hứa Xương. Vu Cấm đánh vào căn cứ của Lã Bố tại Thọ Trương, Đình Tảo,Lý Huy và chiếm được các căn cứ này. Vu Cấm còn vây đánh Trương Siêu tại Ung Khẩu và chiếm được vùng này.
Năm 196, Vu Cấm theo Tào Tháo thảo phạt dư đảng Khăn Vàng, dẫn đầu bởi Lưu Phi, Hoàng Thiệu, hiện đang đóng quân tại Bản Lương. Một đêm, Hoàng Thiệu đánh phục kích vào trại Tào, nhưng bị đánh bại bởi quân của Vu Cấm. Lưu Phi, Hoàng Thiệu và những người cầm đầu bị giết, phần còn lại đầu hàng. Vu Cấm được thăng chức thành Bình Lỗ Hiệu Úy "Colonel Who Pacifies the Caitiffs" (平虜校尉). Năm 197, Vu Cấm vây Kiều Duệ, một chỉ huy dưới quyền Viên Thuật, Cấm giết được Kiều cùng 4 tướng khác.
== Đánh Trương Tú, Lã Bố, Tùy Cố ==
Năm 197, Vu Cấm theo Tào Tháo đánh Trương Tú tại Uyển Thành. Trương Tú lúc đầu thì hàng và muốn kết đồng minh với Tào, nhưng nổi loạn sau đó và đánh bại Tào trong một trận tập kích bất ngờ. Quân Tào hoảng loạn và rút cả về Vũ Âm. Chỉ riêng mình Vu Cấm dẫn quân đánh đuổi quân truy kích mà vẫn giữ được trật tự và rút về Vũ Âm. Quân Vu Cấm tuy chịu nhiều tổn thất, nhưng vẫn giữ được kỷ luật, chiến đấu sát cánh tới cùng. Khi Trương Tú không còn cố mà truy đuổi nữa, Vu Cấm dẫn quân về đường hoàng dù quân Tào vừa thua trận.
Trước khi đến được vị trí của Tào Tháo, Vu Cấm gặp hàng tá người bị thương, kẻ bị mất hết quần áo trên đường. Khi Vu Cấm hỏi chuyện gì đã xảy ra, người dân thưa họ bị cướp bởi Thanh Châu Binh. Thanh Châu Binh là đội quân của Tào Tháo tập hợp dư đảng Khăn Vàng đã hàng Tảo ở Thanh Châu đầu năm 190. Vu Cấm tức giận đáp:" Thanh Châu Binh là quân của Tào Công. Sao chúng dám trở thành quân cướp bóc chứ!". Vu Cấm liền dẫn quân đánh phạt quân Thanh Châu. Một vài lính Thanh Châu thoát được dến Vũ Âm và đổ cho Vu Cấm những tội chúng làm. Khi Vu Cấm đến được Vũ Âm, ngay lập tức lập trại chống địch mà không báo cáo ngay cho Tào Tháo. Thuộc hạ của Cấm nói " quân Thanh Châu gièm pha về tướng quân. Tướng quân nên đến giải thích với Tào Công sớm nhất có thể." Cấm trả lời, " Giặc có thể đuổi đến đây bất kì lúc nào. Nếu chúng ta không lập trại mà phòng ngay đi, thì làm sao cự lại được chúng? Tào Công là bậc thông thái. Những lời buộc tội như vậy cũng chẳng đáng ngại". Sau khi bố trại đâu đấy, Vu Cấm mới đi gặp Tào Tháo và giải thích mọi điều. Tào Tháo hài lòng nói, " Thật là nguy cho ta khi bị bại tại Dục Thủy. Tướng quân có thể mang lại trật tự trong lúc loạn, chống cường địch, lại tỏ rõ lòng trung. Dẫu cả bậc danh tướng thời trước cũng chẳng làm tốt hơn tướng quân được!". Vu Cấm được phong làm Ích Thọ Đình Hầu "Marquis of Yishou Village" (益壽亭侯) để tưởng thưởng cho những công lao này.
Năm 198, Vu Cấm theo Tào tháo đánh Lã Bố ở Hạ Phì, dẫn đến thất bại và cái chết của Bố. Sau đó, Cấm cung Sử Hoãn, Tào Nhân đánh bại Tùy Cố ở Xạ Khuyển.
== Chiến dịch Quan Độ ==
Năm 200, khi Tào Viên phân tranh để hùng cứ phương Bắc, Viện Thiệu ban đầu có nhiều thuận lợi, Vu Cấm tình nguyện dẫn quân tiên phong đánh quân Viên. Tào Tháo ấn tượng bởi sự dũng cảm của Vu Cấm, giao cho 2000 binh mã để giữ Diêm Tân, trong khi Tào Tháo dẫn đại quân đến Quan Độ.
Trong khi đó, xứ quân Lưu Bị cướp Từ Châu, giết thứ sử Xa Trụ. Tào Tháo thân chinh đánh tan Lưu, bắt được tướng là Quan Vũ. Viên Thiệu cũng nhân lúc đấy mà đánh Diên Tân, nhưng Vu Cấm giữ được trại. Sau này, Vu Cấm cùng Nhạc Tiến dẫn 5000 binh mã đánh tan 30 trại của Viên Thiệu, bắt giết vài nghìn quân, đầu hàng nghìn quân, làm hơn 20 tướng Viên phải hàng. Tào Tháo liền để Cấm giữ Viên Vũ (原武). Cấm liền tấn công và phá được trại Viên ở bến Đỗ Chi.
Vu Cấm được thăng làm Tì Tướng Quân(裨將軍), hội quân với Tào ở Quan Độ. Trong trận Quan Độ, quân Viên đổ đất làm thành chòi canh, bắn tên vào trại Tào. Quân Tào thương vong vô số, lòng quân thì sợ hãi. Vu Cấm vẫn vững chắc bảo vệ vị trí của ông, chiến đấu anh dũng, thể hiện ý chí quật cường. Cấm được thăng làm Thiên Tướng Quân Lieutenant-General (偏將軍) khi Tào Tháo thắng Viên Thiệu tại Quan Độ.
== Đánh phản loạn ==
Tào Tháo tiếp tục đánh Viên Thiệu ở Quan Độ và người kế tục của Thiệu sau khi Thiệu chết năm 202. Năm 206, Tào chiếm được Ký Châu từ Viên, một xứ quân nhỏ tên Xương Hi (昌豨), đã đầu hàng năm 201, nay nổi loạn chống tào. Tào Tháo ra lệnh Vu Cấm đánh Xương Hi. Xương Hi hàng Vu Cấm, vì Cấm vốn là bạn cũ của Hi. Khi mà thuộc hạ của Cấm khuyên rằng nên áp giải Hi đến cho Tào Tháo mà phán quyết tính mạng Hi, Vu Cấm nói," Các người còn không biết luật của Tào Công? Kẻ nào đã bị vây rồi mới hàng không được tha. Ta nên theo luật mà làm, giữ sự nghiêm minh. Xương Hi tuy là bạn cũ của ta, nhưng ta không thể phá luật chỉ vì thế!". Cấm tự thân đến điều hành vụ xử tử Xương Hi và chảy nước mắt khi ra lệnh. Khi Tào Tháo nghe được chuyện này, mới thán rằng, "Chẳng phải ý trời sao khi mà Hi đến hàng Cấm chứ không hàng ta?". Sau đó, Tháo càng lấy làm xem trọng Cấm. Vu Cấm được thăng làm Hổ Uy Tướng Quân "General of Tiger's Might" (虎威將軍) cho nỗ lực bình Xương Hi.
Năm 209, sau trận Xích Bích, Trần Lan, Mai Thành làm phản ở Lục Huyện. Tào Tháo cử hai đạo binh đến dẹp loạn: Vu Cấm, Tang Bá đánh Mai Thành; Trương Liêu, Trương Hòa và Ngưu Cái làm tòng sự, đánh Trần Lan. Mai Thành và 3000 quân phản loạn đầu hàng khi Vu Cấm và Tang Bá đến. Nhưng khi Cấm và Bá rời đi, chúng lại làm phản lần nữa và hợp quân với Trần Lan. Trương Liêu dẫn quân đánh dẹp nhưng thiếu lương, nên Vu Cấm quay trở lại phụ trách vận lương đến tiền tuyến, hỗ trợ Liêu. Nhờ thế Trương Liêu đánh đổ được phản quân, giết cả hai bọn đầu đảng. Vu Cấm trận này được thưởng thêm 200 hộ hầu, tổng cộng thành 1200 hộ. Sau này, được tôn làm Tả Tướng Quân "General of the Left" (左將軍) và được quyền lớn. Một con trai của Cấm được hưởng chức hầu 500 hộ từ tước vị của ông.
== Trận Phàn Thành ==
Năm 219, khi Tào Tháo đang ở Trường An, hạ lệnh cho Tào Nhân chống lại tướng của Lưu Bị, Quan Vũ ở Phàn Thành. Tào Tháo cử Vu Cấm làm chủ soái, Bàng Đức làm phó đi để giúp Nhân cự lại Vũ. Khi đó là mùa thu, mưa nhiều ngày trời. Sông Hán dâng cao và gây lụt ở các đồng bằng xung quanh. Mực nước dâng vài trượng. Bảy đạo quân của Vu Cấm bị tiêu diệt bởi trận lụt, tuy Cấm và một số ít người thoát được đến vùng đất cao hơn và bị kệt lại ở đấy. Quan Vũ dẫn thủy binh đến đánh Cấm. Vu Cấm phải hàng Quan Vũ, nhưng thuộc hạ là Bàng Đức thì quyết tử chiến không hàng, cuối cùng bị Quan Vũ giết. Khi Tào Tháo nhận được tin Vu Cấm hàng, Tháo khóc thương cái chết của Bàng Đức hồi lâu và nói, " Ta và Cấm đã quen biết hơn 30 năm nay, vậy mà hành động của y khi gặp hiểm nguy cũng chẳng bằng Bàng Đức!"
== Những năm cuối đời và cái chết ==
Vu Cấm trở thành tù binh của Quan Vũ ở Kinh Châu cho đến cuối năm 219, khi tướng của Tôn Quyền, Lã Mông đánh úp lấy Kinh Châu. Quan Vũ bị bắt và bị xử tử bởi Quyền. Vu Cấm được thả và đưa đến Ngô, Cấm được đối đãi như thượng khách. Tuy nhiên, Cấm cũng bị đem ra làm trò cười bởi Vũ Phạm, một viên chức phục vụ Quyền.
Tào Tháo mất đầu năm 220, Tào Phi kế thừa. Cuối năm đó, Phi kết thúc nhà Hán, lập ra nhà Tào Ngụy, trở thành hoàng đé đầu tiên. Tôn Quyền muốn giao hảo với Phi, kết làm đồng minh. Năm 221, gửi Vu Cấm về Ngụy vào mùa thu. Khi đó, Vu Cấm trông xanh xao tiều tụy, tóc cũng bạc trắng. Ông quì xuống khấu đầu mà khóc khi gặp Tào Phi. Phi lấy lời an ủi Cấm, kể với ông về truyện Tôn Linh Phúc và Mạnh Minh Thức (các tướng bại trận nhưng sau này lập công lớn) và phong cấm làm An Viễn Tướng Quân "General Who Pacifies the Borders" (安遠將軍).
Tào Phi muốn sai Cấm làm đại sứ đến giao hảo với Ngô. Trước khi Vu Cấm rời đi, Phi hạ lệnh cho Cấm đến thăm mộ của Tào Tháo ở Cao Lăng, Nghiệp quận. Ở đó, Cấm thấy bức họa miêu tả trận Phàn Thành, vẽ ông quì lạy Quan Vũ mà cầu sống, trong khi Bàng Đức được vẽ hiên ngang, hùng dũng. Cấm từ đấy buồn bã, mắc bệnh mà chết.. Tào Phi truy tôn Cấm làm Lệ Hầu (nghĩa là người gay gắt, đòi hỏi cao).
== Gia đình ==
Con Cấm, tên Vu Khuê (于圭), kế thừa tước Ích Thọ Đình Hầu. Cấm có lẽ có ít nhất một người con khác, kế thừa 500 hộ hầu.
== Khen ngợi ==
Trần Thọ, người viết tiểu sử của Vu Cấm trong Tam Quốc Chí, xếp Cấm vào hàng Ngũ Hổ Tướng của Tào Ngụy, cùng với Trương Liêu, Nhạc Tiến, Trương Hòa và Từ Hoảng. Thọ ghi chú rằng mỗi khi Tào Tháo đánh trận, năm tướng ấy hoặc là làm tiên phong khi tấn công hay bọc hậu khi lui quân. Vu Cấm nổi tiếng là giữ kỉ luật thép trong quân của ông, và không bao giờ giữ chiến lợi phẩm cho bản thân. Bởi thế, Cấm thường được trọng thưởng mỗi khi kết thúc trận đánh. Tuy nhiện, Vu Cấm không được lòng quận sĩ bởi vì quá nghiêm khắc trong hành xử luật. Tào Tháo không thích Chu Linh, một tướng của Tháo, và muốn tước quyền của Linh. Tháo biết rằng Vu Cấm rất đáng sợ, nên lệnh cho Cấm tiếp quản quân của Chu Linh. Chu Linh và thuộc hạ thậm chí không dám cử động khi Vu Cấm đến trại tiếp quản. Chu Linh trở thành thuộc hạ của Vu Cấm và tất cả quân của Linh đều ngoan ngoãn nghe theo Cấm chỉ huy. Đó cho thấy khả năng của Cấm trong việc làm kẻ khác sợ.
Bùi Tùng Chi, người chú thích tiểu sử Vu Cấm trong Tam Quốc Chí, bình luận rằng mặc dù Vu Cấm tuân theo luật khi giết Xương Hi (ai hàng sau khi bị vây), trong khi có để giải Hi đến cho Tào Tháo phán xét, cũng không vi phạm quân pháp. Tùng Chi cho rằng Vu Cấm đáng chịu hậu quả của mình, kết thúc trở thành tù binh, chịu nhận một tước hầu tiêu cực bởi vì ông không cho bạn cũ một ngoại lệ, có khuynh hướng giết chóc, là quá nặng để triệt tiêu bất đồng quan điểm.(Liệt Hầu - thường những ai có tiếng máu lạnh, hống hách, giết người vô tội có phong hiệu này).
== Xem thêm ==
Tào Tháo
Bàng Đức
Trận Tương Dương-Phàn Thành
Quan Vũ
Tào Phi
== Tham khảo ==
Lê Đông Phương, Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, Nhà xuất bản Đà Nẵng
Lê Đông Phương (2007), Kể chuyện Tam Quốc, Nhà xuất bản Đà Nẵng
Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân (2006), Tướng soái cổ đại Trung Hoa, tập 1, Nhà xuất bản Thanh niên.
== Chú thích == |
trường đại học văn hóa hà nội.txt | Trường Đại học Văn hóa Hà Nội thành lập ngày 26 tháng 3 năm 1959, trụ sở chính của Trường được đặt tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Trường trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý về đào tạo. Trường đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cho lĩnh vực văn hóa với các bậc cao đẳng, đại học (cử nhân), sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ).
== Tổ chức ==
Phòng TCCB
Phòng Đào tạo
Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng GD
Phòng Đào tạo Sau đại học
Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác Quốc tế
Phòng Hành chính Quản trị
Phòng Công tác Sinh viên
Phòng Tài vụ
Ban Quản lý Ký túc xá
=== Các khoa ===
Khoa Di sản Văn hóa;
Khoa Xuất bản-Phát hành;
Khoa Quản lý Văn hóa Nghệ thuật;
Khoa Viết Văn - Báo chí;
Khoa Thư viện Thông tin;
Khoa Văn hóa Dân tộc;
Khoa Văn hóa Du lịch;
Khoa Văn hóa học;
Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Quốc tế;
Khoa Nghệ thuật đại chúng;
Khoa Lý luận Chính trị và Khoa học cơ bản
=== Các đơn vị trực thuộc ===
Viện Văn hóa
Trung tâm Thông tin Thư viện
=== Các vị hiệu trưởng ===
== Xem thêm ==
Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh
Danh sách trường đại học và cao đẳng tại Hà Nội
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội |
goran ivanišević.txt | Goran Ivanišević (sinh ngày 13 tháng 9 năm 1971) là vận động viên quần vợt chuyên nghiệp đã giải nghệ người Croatia và hiện đang là huấn luyện viên quần vợt. Anh là huấn luyện viên của Marin Čilić từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 7 năm 2016. Thành tích nổi bật nhất của anh là chức vô địch Wimbledon năm 2001.
== Sự nghiệp ==
Goran là con trai của Srđan và Gorana. Anh bắt đầu sự nghiệp vào năm 1988.Năm 1992 là năm đầu tiên anh lọt vào chung kết Wimbledon và anh đã để thua Andre Agassi tại chung kết năm đó. Ngoài ra vào năm 1994 và 1998 anh cũng đã thua Pete Sampras tại chung kết. Năm 2001 anh đã đánh bại Patrick Rafter tại chung kết Wimbledon và dành danh hiệu Grand Slam đầu tiên và duy nhất trong sự nghiệp. Vị trí cao nhất của anh trên bảng xếp hạng ATP là số 2 thế giới.
== Danh hiệu ==
=== Đơn (22–27) ===
=== Đôi (9–10) ===
== Tham khảo == |
phả lại, chí linh.txt | Phả Lại là một phường của thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Phường rộng 13,825 km2 và có 21.309 người (tháng 02/2010). Phả Lại giáp với 2 xã Hưng Đạo và Lê Lợi cùng thị xã ở phía bắc, xã Cổ Thành ở phía Nam, phường Văn An ở phía đông, 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang ở phía tây. Trên địa bàn phường có tuyến đường sắt Yên Viên - Phả Lại chạy qua với tổng chiều dài 4,4 km. Phường có quốc lộ 18 chạy dọc từ đông sang tây với tổng chiều dài 4 km, tuyến đường thuỷ phía tây dài 4,5 km, tuyến xe buýt BN02 Bắc Ninh - Sao Đỏ chạy qua. Công trình hạ tầng xã hội tương đối hoàn thiện.
=== Lịch sử ===
Thị trấn Phả Lại nằm bên bờ sông Lục Đầu, nơi hợp lưu của các con sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy và nhánh chính sông Thái Bình. Người Pháp gọi vùng đất này là Sept Pagodes. Cho tới nay cái tên Sept Pagodes vẫn được quốc tế dùng phổ biến hơn tên Phả Lại.
Gọi là Sông Lục Đầu vì đoạn sông này phía trên nhận nước của ba con sông, Sông Cầu, Sông Thương, và sông Lục Nam, phía dưới hợp với Sông Đuống rồi đổ ra biển Đông bằng hai dòng sông lớn là sông Thái Bình và sông Kinh Thầy. Theo phong thuỷ đó là đất linh, kiểu "lục long tranh châu" (sáu con rồng tranh nhau một hòn ngọc). Ở nơi sáu con sông giao nhau, có núi Phao Sơn nổi lên. Mùa lũ, nước dâng, cả vùng chìm trong biển nước, chỉ có ngọn núi này nổi lên giữa. Khí thiêng sông núi dồn về, khi 6 con rồng cùng quy phục dưới chân bệ rồng là núi Phao Sơn. Vì vậy, nơi đây sinh ra nhiều nhân tài đất Việt.
Một dòng sông toả đi sáu ngả, Lục Đầu Giang lúc nào cũng mênh mang sóng nước. Nó có vai trò quan trọng về giao thông thuỷ bộ, giao thương kinh tế: Người dân vùng rừng núi rộng lớn phía Bắc đưa lâm, thổ sản theo sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam về. Người dân vùng đồng bằng trù phú phía Nam đưa nông sản lên theo sông Đuống và hệ thống sông Thái Bình. Từ vùng biển Hải phòng, Quảng Ninh có thể ngược nước sông Kinh Thầy đến nơi này. Về mặt quân sự: Những thung lũng ăn sâu vào hẻm núi, được bao bọc bởi các dẫy núi là nơi lý tưởng để tập kết chiến thuyền. Từ các đỉnh núi có thể quan sát một vùng sông nước, làng mạc rộng lớn, tạo thế chủ động khi tiến công cũng như rút lui. Núi rừng trùng điệp phía Bắc là nơi để giấu quân, lập căn cứ an toàn. Làng mạc trù phú, đông dân phía Nam là nguồn cung cấp nhân tài vật lực to lớn cho chiến tranh. Vì thế, suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm, vùng đất này luôn có một vị trí chiến lược quan trọng. Chẳng phải ngẫu nhiên, sau cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ nhất (1258), Trần Hưng Đạo đã đóng đại bản bản doanh và phủ đệ tại Vạn Kiếp.
=== Đường phố ===
Phả Lại hiện nay được quy hoạch theo hướng hiện đại. Xây dựng và phát triển các đường phố:
- Đường Đặng Tính
- Đường Nguyễn Thị Duệ
- Phố Đồi Ban
- Phố Ao Hà
- Phố Thanh Niên
- Đường Bình Dương
- Phố Bồ Đề
- Đường Lý Thường Kiệt
- Đường Lục Đầu Giang
- Phố Thành Phao 3
- Phố Sùng Yên
- Đường Thành Phao
- Đường Thành Phao 2
- Phố Hoàng Hoa Thám
- Đường Trần Khánh Dư
- Đường Ngọc Sơn
=== Phương tiện giao thông công cộng ===
Phả Lại có rất nhiều tuyến đường thủy qua. Tuyến đường sắt Yên Viên - Phả Lại - Cái Lân đang dần được hoàn thiện. Ngoài ra có tuyến xe buýt BN02 BX Bắc Ninh - Sao Đỏ chạy qua, phục vụ người dân ở đây.
Thông tin về tuyến xe buýt BN02 BX Bắc Ninh - Sao Đỏ:
Tần suất: 5 - 7 - 10 - 15 - 25 phút / chuyến
Thời gian hoạt động: 5h - 21h
Thời gian 1 lượt đi: 1 tiếng 15 phút
Lộ trình chiều đi: Bến xe Bắc Ninh (điểm đầu) - Trần Hưng Đạo - Chợ Nhớn - Ngã 6 TPBN - Trần Hưng Đạo - Trường THPT Hàn Thuyên - Gần trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh - Cầu 18 (cầu Đại Phúc) - QL 18 - Trường CĐ Ngoại ngữ Công nghệ Việt Nhật - KCN Quế Võ I - TT Phố Mới - BVĐK Quế Võ - Chùa Diên Quang - Đông Du - Châu Cầu - Bình Than (gần cầu Bình Than) - Cầu Phả Lại - Lục Đầu Giang (Phả Lại) - Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại - Ngã 3 Thủy - Ga Cổ Thành - Văn An - Dốc Mật (gần KĐT KDC Hồ Mật Sơn) - Cung thiếu nhi Hồ Mật Sơn (gần Bệnh viện ĐK Chí Linh) - Ngã 3 Sao Đỏ (KS Sao Đỏ, gần ĐH Sao Đỏ) - Cây xăng Côn Sơn (gần cổng chợ Sao Đỏ) - KĐT Việt Tiên Sơn (điểm cuối)
Lộ trình chiều về: Ngược lại
=== Quy hoạch tương lai ===
Theo quy hoạch chi tiết được phê duyệt năm 2015, phường Phả Lại có gần 70% đất xây dựng đô thị. Trong đó có 134,5 ha đất ở, 528 ha đất chuyên dùng: dành cho các công trình trụ sở, cơ quan, công trình sự nghiệp 1,6 ha; đất quốc phòng, an ninh, đất phát triển công nghiệp 0,4 ha; đất dịch vụ thương mại 126 ha; đất công trình công cộng, chợ, giao thông 127 ha; viễn thông, thủy lợi 16 ha; đất cây xanh 73 ha... Phường hiện có trên 21.500 dân, dự kiến đến năm 2020 đạt trên 29 nghìn người. Việc lập quy hoạch phân khu phường Phả Lại nhằm cụ thể hoá những định hướng quy hoạch chung của thị xã. Không gian kiến trúc ở đây được chia thành các vùng cảnh quan chính, gồm khu dịch vụ thương mại tập trung, giáo dục, du lịch văn hóa, sinh thái... Không gian đô thị sẽ được xây dựng các trục không gian chính. Đường 18 đi qua trung tâm phường cũng đồng thời là trục không gian mở, quy hoạch các công trình tạo điểm nhấn kiến trúc cảnh quan.
== Tham khảo ==
Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 12/02/2010 của Chính phủ Việt Nam về việc thành lập thị xã Chí Linh thành lập phường thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. |
the polar express.txt | Để biết nội dung phim, xem The Polar Express (phim).
The Polar Express là một sách thiếu nhi phát hành năm 1985 (ISBN 0-86264-143-8) được viết và minh họa bởi Chris Van Allsburg, cựu giáo viên tại Rhode Island School of Design. Tác phẩm này đã được chuyển thể thành phim năm 2004, một bộ phim được đề cử Giải Oscar.
Sách này được nhiều người xem là một câu chuyện Nô-en kinh điển đối với trẻ em. Năm 1986, sách này dã được trao giải Caldecott Medal dành cho văn học thiếu nhi.
== Tham khảo == |
danh sách chùa tại hà nội.txt | Sau đây là danh sách các chùa tại Hà Nội. Danh sách này được xếp theo thứ tự của tên chùa; nếu muốn xếp theo thứ tự tên của quận/huyện hãy bấm chuột vào cột "Quận/Huyện".
== Danh sách ==
== Xem thêm ==
Danh sách đền Hà Nội
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Chùa Hà Nội trên quangduc.com
Chùa / Địa danh và Danh thắng khác
Chùa Hà Nội www.thuvienhoasen.org |
lê văn hưu.txt | Lê Văn Hưu (chữ Hán: 黎文休;1230-1322) là một nhà sử học đời nhà Trần, tác giả bộ Đại Việt sử ký, bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam. Bộ sách này không còn nhưng nhờ nó mà sử gia Ngô Sĩ Liên đã dựa vào để soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư.
== Tiểu sử ==
Lê Văn Hưu là người làng Thần Hậu (tục gọi Kẻ Rỵ), huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nay thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Một giai thoại về Lê Văn Hưu thuở bé:
Một hôm đi ngang qua lò rèn, thấy người ta đang làm những cái dùi sắt, Lê Văn Hưu muốn xin một cái để làm dùi đóng sách. Người thợ rèn thấy thấy vậy, bèn ra một vế đối:
- Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi vở.
Lê Văn Hưu liền đối:
- Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu khôi nguyên.
== Sự nghiệp ==
Năm Đinh Mùi (1247), niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình đời vua Trần Thái Tông; Lê Văn Hưu đi thi, đỗ Bảng nhãn khi mới 17 tuổi. Đây là khoa thi đầu tiên ở Việt Nam có đặt danh hiệu Tam khôi. Nguyễn Hiền 12 tuổi đỗ Trạng nguyên. Đặng Ma La 14 tuổi đỗ Thám hoa.
Sau khi thi đỗ, ông được giữ chức Kiểm pháp quan, rồi Binh bộ Thượng thư, sau đó được phong chức Hàn lâm học sĩ kiêm Giám tu quốc sử . Ông cũng là thầy học của Thượng tướng Trần Quang Khải.
=== Biên soạn sách Đại Việt sử ký ===
Xem thêm thông tin: Đại Việt sử ký
Trong thời gian làm việc ở Quốc sử viện, theo lệnh vua Trần Thái Tông, Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu Lê Văn Hưu đã hoàn thành việc biên soạn Đại Việt sử (大 越 史) - bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam - ghi lại những sự việc quan trọng chủ yếu trong một thời gian lịch sử dài gần 15 thế kỷ, từ Triệu Vũ đế - tức Triệu Đà - cho tới Lý Chiêu Hoàng. Đại Việt sử, tất cả gồm 30 quyển, hoàn thành năm 1272 và được Trần Thánh Tông xuống chiếu ban khen.
Theo sử gia Trần Trọng Kim trong tác phẩm Việt Nam sử lược, bộ Đại Việt sử hay Đại Việt sử ký là bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam. Sau khi xâm lược Đại Ngu, nhà Minh đã đưa sách của nước Nam về Trung Quốc, trong đó có 30 quyển Đại Việt sử ký, những sách ấy đã thất lạc.
Trần Trọng Kim viếtː Hai trăm năm mươi năm sau, sử quan Ngô Sĩ Liên, đời vua Lê Thánh Tông, soạn lại bộ Đại Việt sử ký chép từ họ Hồng Bàng đến vua Lê Thái Tổ. Nghĩa là từ ông Ngô Sĩ Liên, ở về thập ngũ thế kỷ trở đi, thì sử ta mới chép truyện về đời thượng cổ.
Đến nay bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu không còn, nhưng những lời nhận xét của ông vẫn được ghi lại trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư, gồm 29 đoạn ghi: "Lê Văn Hưu viết...". Trong bài tựa Đại Việt sử ký ngoại kỉ toàn thư, Ngô Sĩ Liên viết: "Văn Hưu là người chép sử giỏi đời Trần, Phu Tiên là bậc cổ lão của thánh triều ta, đều vâng chiếu biên soạn lịch sử nước nhà, tìm khắp các tài liệu còn sót lại, tập hợp thành sách để cho người xem đời sau không có gì phải tiếc nữa, thế là được rồi."
== Qua đời ==
Lê Văn Hưu mất ngày 23 tháng 3 năm Nhâm Tuất (tức 9 tháng 4 năm 1322), thọ 92 tuổi. Ông được an táng ở cánh đồng xứ Mả Giòm (ngôi mộ tọa Quý hướng Đinh), thuộc địa phận xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Hiện nay ở đó vẫn còn phần mộ với tấm bia dựng năm Tự Đức thứ 20 - 1867, khắc ghi tiểu sử và một bài minh ca tụng tài đức, sự nghiệp của ông. Ở xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa, có nhà thờ Lê Văn Hưu.
== Nhận định ==
== Tham khảo ==
Đại Việt sử ký toàn thư, soạn giả Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, v.v..., Dịch giả: Viện Khoa Học Xã hội Việt Nam; Nhà xuất bản: Khoa Học Xã hội - Hà Nội 1993.
An Nam chí lược, soạn giả Lê Tắc, Dịch giả Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, Nhà xuất bản Viện Đại học Huế, 1961
Việt Nam sử lược, soạn giả Trần Trọng Kim, Bộ Giáo dục, Trung tâm học liệu xuất bản.
== Chú thích == |
song ca cùng thần tượng.txt | Song ca cùng thần tượng là gameshow hát trên truyền hình do VTV3 - Đài truyền hình Việt Nam tổ chức sản xuất. Chương trình bắt đầu phát sóng từ ngày 27 tháng 8 năm 2009 trên kênh VTV3 lúc 20:00. Chương trình kết thúc mùa đầu tiên để nhường sóng cho Vietnam's Next Top Model. Mùa hai trở lại từ ngày 13 tháng 1 năm 2011 cũng trên khung giờ cũ. Ở mùa này, một lần nữa định dạng chương trình được thay thế hoàn toàn về luật chơi.
== Tên gọi ==
Chương trình được lấy tên là Song ca cùng thần tượng với ý tưởng là gameshow hát trên Truyền hình mà người chiến thắng sẽ được hát chung cùng với một ca sĩ thần tượng. Không chỉ có vậy, người chiến thắng còn nhận nhiều giải thưởng có giá trị từ nhà tài trợ.
== Mùa 1: 2009-2010 ==
Giám đốc Âm nhạc (Music Director): Nhạc sĩ Minh Châu là người chịu trách nhiệm tất cả nội dung âm nhạc cũng như biên tập,dàn dựng các vòng thi và tất cả các tiết mục trong suốt chương trình.
=== Định dạng ===
Song ca cùng thần tượng được lấy ý tưởng gameshow truyền hình tương tác dựa vào sự bầu chọn của khán giả và ca sĩ khách mời để có được hai thí sinh chiến thắng, một người do ca sĩ bình chọn và một từ phía khán giả. Có gồm bốn vòng cơ bản và được chia làm bốn số phát sóng xoay quanh một ca sĩ thần tượng. Sau vòng thi của ca sĩ Siu Black, định dạng của chương trình được thay đổi với chỉ ba số phát sóng với hai vòng đầu tiên được chỉnh lý nội dung và phát sóng cùng một tuần.
Vòng 1 - Sơ tuyển
Các thí sinh tự do nộp đơn qua email của chương trình.
Cách thức dự tuyển mới có chút khác biệt. Để được tham gia, các thí sinh tuần tự đăng ký làm thành viên của website và nhập đầy đủ thông tin cá nhân vào mẫu đơn có sẵn, ban tổ chức sẽ tiếp nhận và gọi điện phản hồi. Sau khi nhận số báo danh, thí sinh được mời thử giọng trực tiếp trước hội đồng giám khảo theo cặp đôi. Ban giám khảo gồm ba người sẽ chọn ra 40 cặp để tham gia ghi hình, rồi chọn tiếp 15 cặp (30 thí sinh) vào vòng hai.
Vòng 2 - Thử thách
30 thí sinh vượt qua vòng một tự bắt cặp lại (thay đổi người hát đôi) tiếp tục trình diễn trước giám khảo. Để rồi chỉ có 14 bốn rồi bước tiếp và 5 người sau đó vào trong. Khác biệt ở vòng này là phần hát của các thí sinh, các thí sinh phải biểu diễn thật ăn ý và khoe được chất giọng cho ban giám khảo. Mỗi thành viên của cặp đôi đều phải có một khoảng thể hiện riêng.
Vòng 3 - Tiếp cận
5 thí sinh may mắn được chọn từ hai vòng trước được tập luyện trực tiếp với ca sĩ thần tượng để chuẩn bị cho các màn trình diễn trên sân khấu lớn và màn trình diễn song ca. Mọi phần phục trang và trang điểm đều được ban tổ chức chú ý đầu tư. Sau đêm trình diễn này, khán giả có hai ngày để nhắn tin hoặc lên website chính thức bình chọn cho thí sinh mình yêu thích. Người chiến thắng sẽ có cơ hội sở hữu giải thưởng ban tổ chức và nhà tài trợ đã thông báo.
Vòng 4 - Kết quả
Vòng kết quả là cơ hội cuối để các thí sinh không chuyên nghiệp song ca cùng thần tượng của mình trong các ca khúc ngẫu nhiên mà không ảnh hưởng đến sự bình chọn đã có sẵn. Đồng thời trong đêm công bố kết quả còn có sự hiện diện của các ca sĩ khách mời đến góp vui với chương trình. Giải thưởng cao nhất trị giá 10 triệu đồng, giải thưởng cho thí sinh được ca sĩ thần tượng bình chọn là song ca hay nhất trị giá 5 triệu, và các thí sinh còn lại nhận được giải thưởng trị giá 1 triệu đồng. Ngoài ra tất cả còn có cơ hội sở hữu điện thoại từ nhà tài trợ.
=== Các số phát sóng ===
Bảng dưới đây cung cấp thông tin về tháng phát sóng của ca sĩ thần tượng, cùng ca sĩ khách mời và những người chiến thắng trong tháng đó (trong ngoặc là phần trăm số lượt bình chọn):
== Mùa 2: 2011 ==
=== Định dạng ===
Mùa thi thứ hai của loạt chương trình Song ca cùng thần tượng tái ra mắt trên màn ảnh truyền hình với một định dạng khác biệt hoàn toàn so với lần đầu tiên phát sóng. Khác biệt đầu, mùa thi thứ hai chủ yếu đi sâu khai thác ca sĩ thần tượng với những trải nghiệm trên bước đường thành công của họ và những kỉ niệm họ có với một nhân vật đặc biệt. Danh Tùng và các khán giả hâm mộ (đây là những người vượt qua vòng sơ tuyển không ghi hình và phát sóng) đóng vai trò dẫn dắt khán giả đi vào câu chuyện của người ca sĩ. Sự khác biệt đầu làm cho chương trình mang tính chất của thể loại phóng sự trong một chương trình âm nhạc, lấn át tính thực tế sinh động của thể loại truyền hình tương tác thực tế của lần thực hiện trước. Về khâu phát sóng, mỗi chương trình được phát triển thông thường gồm 1-2 kỳ phát sóng; khâu sơ tuyển không được ghi hình và phát sóng như tiền lệ; số lượng khán giả hâm mộ giảm xuống còn ba.
Tương tự phiên bản mùa thi trước, một trong số ba khán giả hâm mộ sẽ được ca sĩ thần tượng bình chọn là người hát song ca ăn ý nhất; và một nhận được giải thưởng do khán giả truyền hình bình chọn.
Ngoài ra thông qua hệ thống website, đông đảo khán giả có thể yêu cầu ca sĩ trình bày một ca khúc trong đêm trao giải.
=== Các số phát sóng ===
Bảng dưới đây cung cấp thông tin về tháng phát sóng của ca sĩ thần tượng, cùng ca sĩ khách mời và những người chiến thắng trong tháng đó (trong ngoặc là phần trăm số lượt bình chọn):
== Chú giải ==
Chú giải 1: Hội đồng giám khảo bao gồm ba thành viên, hai thành viên do ban tổ chức sắp xếp và ca sĩ thần tượng.Chú giải 2: Tên thí sinh đoạt giải nhất được in đậm, và tên thí sinh được ca sĩ thần tượng bầu chọn được in nghiêng.Chú giải 3: Minh Tuyết và mẹ cổ động cho ca sĩ chính trong vòng thi Tiếp cận.Chú giải 4: David và Phương Dung là những thí sinh đã bị loại ở vòng ngoài nhưng lần lượt được các ca sĩ Tuấn Hưng và Mỹ Linh mời song ca.Chú giải 5: Thanh Lam là ca sĩ được lên lịch tổ chức ghi hình, nhưng đến phút cuối không tham gia được. Phương Vy được chọn là thần tượng thay thế.Chú giải 6: Chương trình của Mỹ Tâm được tổ chức sản xuất trước nhưng lại lên sóng sau chương trình của Lệ Quyên.Chú giải 7: Mỹ Trâm không tham gia dẫn chương trình.Chú giải 8: Ca sĩ thần tượng tham gia chương trình lần thứ hai.
== Chú thích ==
Website chính thức của chương trình
== Tham khảo == |
10 tháng 3.txt | Ngày 10 tháng 3 là ngày thứ 69 (70 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 296 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1814 – Napoléon Bonaparte bị quân đội Liên minh thứ sáu đánh bại tại trận Laon.
1905 – Chelsea F.C. được thành lập tại Luân Đôn, nay là một trong các câu lạc bộ hàng đầu của bóng đá Anh.
1870 – Chính phủ Phổ cấp phép hoạt động cho Deutsche Bank, nay nằm trong các ngân hàng có ảnh hưởng nhất trên thế giới.
1909 – Hiệp ước Anh-Xiêm được ký kết, theo đó Xiêm từ bỏ chủ quyền đối với các quốc gia Mã Lai Kedah, Kelantan, Perlis và Terengganu, các khu vực này trở thành lãnh thổ bảo hộ của Anh.
1912 – Trung Quốc trở thành nước Cộng hoà sau khi nhà Thanh bị lật đổ.
1945 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Các máy bay B-29 của Hoa Kỳ oanh tạc thủ đô Tokyo của Nhật Bản khiến hơn 100.000 dân thường thiệt mạng.
1975 – Chiến tranh Việt Nam: Quân Giải phóng bắt đầu tiến đánh Buôn Ma Thuột trong Chiến dịch Tây Nguyên, và chiếm lĩnh thị xã vào hôm sau.
1978 – Nguyên mẫu oanh tạc cơ Mirage 2000, do hãng Dassault Aviation của Pháp thiết kế và chế tạo, thực hiện chuyến bay đầu tiên.
== Sinh ==
1503 - Ferdinand I, hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh (m. 1564)
1628 - Marcello Malpighi, thầy thuốc người Ý (m. 1694)
1709 - Georg Steller, nhà tự nhiên học người Đức (m. 1746)
1749 - Lorenzo da Ponte, Librettist người Ý (m. 1838)
1772 - Friedrich von Schlegel, nhà thẩm mĩ học người Đức (m. 1829)
1787 - William Etty, họa sĩ người Anh (m. 1849)
1788 - Joseph von Eichendorff, nhà văn người Đức (m. 1857)
1810 - Samuel Ferguson, nhà thơ người Ireland (m. 1886)
1842 - Mykola Lysenko, nhà soạn nhạc người Ukraina (m. 1912)
1844 - Pablo de Sarasate, nghệ sĩ vĩ cầm người Tây Ban Nha (m. 1908)
1850 - Spencer Gore, vận động viên quần vợt, cầu thủ cricket người Anh (m. 1906)
1880 - Broncho Billy Anderson, diễn viên người Mỹ (m. 1971)
1888 - Barry Fitzgerald, diễn viên người Ireland (m. 1961)
1892 - Arthur Honegger, Thụy Sĩ nhà soạn nhạc người Pháp (m. 1955)
1892 - Gregory La Cava, người đạo diễn người Mỹ (m. 1952)
1903 - Bix Beiderbecke, nhạc sĩ người Mỹ (m. 1931)
1905 - Richard Haydn, diễn viên người Anh (m. 1985)
1915 - Harry Bertoia, nghệ sĩ người Ý (m. 1978)
1919 - Marion Hutton, ca sĩ người Mỹ (m. 1987)
1920 - Boris Vian, nhà văn, nhạc sĩ người Pháp (m. 1959)
1925 - Manolis Anagnostakis, nhà thơ người Hy Lạp (m. 2005)
1928 - James Earl Ray, kẻ ám sát người Mỹ (m. 1998)
1928 - Sara Montiel, nữ diễn viên, ca sĩ người Tây Ban Nha
1931 - Georges Dor, tác gia, nhà soạn kịch, ca sĩ, người sáng tác bài hát Quebec (m. 2001)
1937 - Joe Viterelli, diễn viên người Mỹ (m. 2004)
1938 - Marina Vlady, nữ diễn viên người Pháp
1945 - Birgitta Sellén, chính khách người Thụy Điển
1946 - Jim Valvano, bóng rổ huấn luyện viên người Mỹ (m. 1993)
1946 - Mike Hollands, họa sĩ phim hoạt hình người Úc
1946 - Hiroshi Fushida, người đua xe người Nhật Bản
1947 - Kim Campbell, thủ tướng Canada thứ 19
1947 - Bob Greene, nhà báo người Mỹ
1952 - Morgan Tsvangirai, chính khách người Zimbabwe
1953 - Paul Haggis, đạo diễn phim người Canada
1955 - Youssra, nữ diễn viên, ca sĩ Ai Cập
1955 - Toshio Suzuki, người đua xe người Nhật Bản
1957 - Matt Knudsen, diễn viên người Mỹ
1957 - Shannon Tweed, nữ diễn viên, người mẫu, người Canada
1957 - Osama bin Laden: Trùm khủng bố thế giới
1958 - Steve Howe, vận động viên bóng chày người Mỹ (m. 2006)
1958 - Sharon Stone, nữ diễn viên người Mỹ
1960 - Anne MacKenzie, phát thanh viên truyền thanh nhà báo
1961 - Laurel Clark, nhà du hành vũ trụ thầy thuốc (m. 2003)
1961 - Mitch Gaylord, vận động viên thể dục người Mỹ
1961 - Bobby Petrino, bóng đá huấn luyện viên người Mỹ
1962 - Seiko Matsuda, nhạc pop ca sĩ người Nhật Bản
1964 - Neneh Cherry, nhạc sĩ người Thụy Điển
1964 - Jasmine Guy, nữ diễn viên người Mỹ
1965 - Rod Woodson, cầu thủ bóng đá người Mỹ
1966 - Edie Brickell, ca sĩ người Mỹ
1966 - Gráinne Mulvey, nhà soạn nhạc người Ireland
1966 - Mike Timlin, vận động viên bóng chày người Mỹ
1968 - Felice Arena, tác gia trẻ em người Úc
1968 - Shoichi Funaki, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Nhật Bản
1969 - Paget Brewster, nữ diễn viên người Mỹ
1971 - Steve Arnold, người đua xe người Anh
1971 - Jon Hamm, diễn viên người Mỹ
1971 - Timbaland, ca sĩ nhạc Rapp người Mỹ
1972 - Matt Kenseth, người lái xe đua người Mỹ
1973 - Eva Herzigova, người mẫu, người Séc
1973 - Chris Sutton, cầu thủ bóng đá người Anh
1973 - Mauricio Taricco, cầu thủ bóng đá người Argentina
1973 - John LeCompt, nghệ sĩ đàn ghita người Mỹ
1976 - Haifa Wehbe, nữ diễn viên, người mẫu, ca sĩ người Liban
1976 - Kisaki, nhạc sĩ người Nhật Bản
1977 - Peter Enckelman, cầu thủ bóng đá người Phần Lan
1977 - Bree Turner, diễn viên múa, nữ diễn viên người Mỹ
1977 - Robin Thicke, ca sĩ người Mỹ
1981 - Samuel Eto'o, cầu thủ bóng đá người Cameroon
1981 - Efthimios Kouloucheris, cầu thủ bóng đá người Hy Lạp
1981 - Steven Reid, cầu thủ bóng đá người Anh
1982 - Timo Glock, người lái xe đua người Đức
1982 - Katharine Isabelle, nữ diễn viên người Canada
1983 - Carrie Underwood, nhạc country ca sĩ người Mỹ
1983 - Rafe Spall, diễn viên người Anh
1984 - Ben May, cầu thủ bóng đá người Anh
1984 - Olivia Wilde, nữ diễn viên người Mỹ
1985 - Lassana Diarra, cầu thủ bóng đá người Pháp
1985 - Kim Leclerc, chính khách người Canada
1988 - Ivan Rakitić, cầu thủ bóng đá người Croatia
1992 - Emily Osment, nữ diễn viên, ca sĩ người Mỹ
== Mất ==
1510 - Johann Geiler von Kaisersberg, người thuyết giáo Thụy Sĩ (s. 1445)
1584 - Thomas Norton, chính khách, nhà văn người Anh (s. 1532)
1588 - Theodor Zwinger, học giả Thụy Sĩ (s. 1533)
1669 - John Denham, nhà thơ người Anh (s. 1615)
1670 - Johann Rudolf Glauber, nhà hóa học người Đức (s. 1604)
1776 - Élie Catherine Fréron, nhà phê bình người Pháp (s. 1719)
1776 - Niclas Sahlgren, lái buôn, người làm việc thiện người Thụy Điển (s. 1701)
1832 - Muzio Clementi, nhà soạn nhạc người Ý (s. 1752)
1861 - Taras Shevchenko, nhà thơ người Ukraina (s. 1814)
1872 - Giuseppe Mazzini, chính khách người Ý (s. 1805)
1895 - Charles Frederick Worth, người may y phục nữ người Anh (s. 1826)
1910 - Carl Reinecke, nghệ sĩ dương cầm, người chỉ huy dàn nhạc, nhà soạn nhạc người Đức (s. 1824)
1937 - Yevgeny Zamyatin, nhà văn người Nga (s. 1884)
1940 - Mikhaïl Boulgakov, nhà văn người Nga (s. 1891)
1942 - William Henry Bragg, nhà vật lý, giải thưởng Nobel người Anh (s. 1862)
1949 - James Rector, vận động viên người Mỹ (s. 1884)
1950 - Marguerite De La Motte, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1902)
1951 - Kijūrō Shidehara, thủ tướng người Nhật Bản (s. 1872)
1966 - Frits Zernike, nhà vật lý, giải thưởng Nobel người Đức (s. 1888)
1967 - Yiorgos Batis, nhà soạn nhạc, nhạc sĩ người Hy Lạp (s. 1885)
1970 - Vasilis Avlonitis, diễn viên người Hy Lạp (s. 1904)
1977 - E. Power Biggs, Mỹ người chơi đàn organ người Anh (s. 1906)
1984 - June Marlowe, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1903)
1985 - Konstantin Chernenko, người Liên Xô tổng thư ký đảng cộng sản (s. 1911)
1985 - Bob Nieman, vận động viên bóng chày người Mỹ (s. 1927)
1986 - Ray Milland, diễn viên người Anh (s. 1905)
1988 - Andy Gibb, ca sĩ người Anh (s. 1958)
1988 – Phạm Hùng, Thủ tướng Việt Nam (1987-1988) (s. 1912)
1992 - Giorgos Zampetas, nhà soạn nhạc, nhạc sĩ người Hy Lạp (s. 1925)
1996 - Ross Hunter, nhà sản xuất phim người Mỹ (s. 1920)
1996 – Hoàng Xuân Hãn, giáo sư, kĩ sư, nhà Việt Nam học Việt Nam (s. 1908)
1997 - La Vern Baker, ca sĩ người Mỹ (s. 1929)
1998 - Lloyd Bridges, diễn viên người Mỹ (s. 1913)
2005 - Dave Allen, diễn viên hài người Ireland (s. 1936)
2006 - Anna Moffo, ca sĩ soprano người Mỹ (s. 1932)
2007 - Richard Jeni, diễn viên hài người Mỹ (s. 1957)
2007 - Ernie Ladd, cầu thủ bóng đá, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Mỹ (s. 1938)
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
=== Dương lịch ===
=== Âm lịch ===
Giỗ tổ Hùng Vương - Một ngày lễ trong văn hóa của người Việt Nam.
== Tham khảo == |
13 tháng 10.txt | Ngày 13 tháng 10 là ngày thứ 286 (287 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 79 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
54 – Claudius bị sát hại bằng thuốc độc trong hoàn cảnh bí ẩn, con là Nero trở thành Hoàng đế La Mã ở tuổi 16.
1307 – Các đặc vụ Vua Philippe IV của Pháp bất ngờ bắt giữ các nhiều Hiệp sĩ dòng Đền, sau đó tra tấn buộc họ phải nhận tội dị giáo.
1332 – Ý Lân Chất Ban trở thành khả hãn của Mông Cổ và hoàng đế của triều Nguyên, song chỉ trị vì trong 53 ngày.
1773 – Nhà thiên văn học Charles Messier khám phá ra Thiên hà Xoáy Nước, một thiên hà xoắn ốc đang va chạm, cách nay khoảng 23 triệu năm ánh sáng trong chòm sao Lạp Khuyển.
1775 – Hải quân Hoa Kỳ bắt đầu hình thành khi Đệ nhị Quốc hội Lục địa quyết định thành lập Hải quân Lục địa trong Cách mạng Mỹ.
1792 – Tại Washington, D.C., Hoa Kỳ, viên đá đầu tiên của Dinh Hành chính Hoa Kỳ, sau gọi là Nhà Trắng, được đặt.
1917 – Vào khoảng 100.000 người chứng kiến “Phép lạ Mặt trời” gần Fatima, Bồ Đào Nha.
1923 – Ankara thay thế Constantinopolis trong vai trò thủ đô của nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ mới thành lập.
1972 – Chuyến bay số 571 của Không quân Uruguay rơi xuống khu vực dãy núi Andes gần biên giới Chile-Argentina; cuối cùng có 16 người sống sót đến ngày 23 tháng 12.
2010 – Tai nạn mỏ Copiapó tại Chile kết thúc khi toàn bộ 33 thợ mỏ được đưa lên mặt đất sau khi sống sót trong 69 ngày dưới lòng đất chờ cứu giúp.
== Sinh ==
1925 – Margaret Thatcher, Thủ tướng Anh, (m. 2013)
1988 - Đông Nhi, ca sĩ
1986 - Gabriel Agbonlahor, cầu thủ người Anh
1995 - Park Ji-min, ca sĩ người Hàn Quốc, thành viên ban nhạc Bangtan Boys
== Mất ==
54 - Claudius, Hoàng đế La Mã
1939 – Vũ Trọng Phụng
1988 - Quang Dũng (nhà thơ)
2016 - Rama IX, Quốc vương Thái Lan
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày doanh nhân Việt Nam
== Tham khảo == |
cục thống kê dân số hoa kỳ.txt | Cơ quan Thống kê Dân số Hoa Kỳ là một cơ quan Bộ Thương mại Hoa Kỳ với chức năng được định rõ trong Hiến pháp là phải thống kê dân số ít nhất là một lần mỗi thập niên. Việc thống kê dân số đó được sử dụng để xác định số ghế trong Hạ Nghị Viện của các tiểu bang. Cơ quan này cũng nguồn số liệu hàng đầu về dân chúng và nền kinh tế Hoa Kỳ.
Cơ quan Thống kê Dân số được lập điều lệ vào Chương 13 của Luật Hoa Kỳ.
== Xem thêm ==
Điều tra dân số Hoa Kỳ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phiên bản đầu tiên của bài này được sửa lại từ lịch sử của Cơ quan Thống kê Dân số Hoa Kỳ.
Website của Cơ quan Thống kê Dân số Hoa Kỳ Thống kê Dân số Hoa Kỳ
Sách Tham khảo về Khu vực Địa lý bởi Cơ quan Thống kê Dân số Hoa Kỳ Thống kê Dân số Hoa Kỳ giải thích đầy đủ các thuật ngữ địa lý mà được sử dụng trong thống kê dân số.
Cơ quan Thống kê Dân số: Có hơn 1.5 triệu người Việt tại Hoa Kỳ |
hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn.txt | Hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn là đối tượng áp dụng Chính sách hỗ trợ hộ dân tộc đặc biệt khó khăn của Nhà nước Việt Nam. Tiêu chí để xác định một hộ dân tộc thiểu số là đặc biệt khó khăn gồm:
Sống ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa;
Mức thu nhập bình quân đầu người từ 80.000 đồng/người/tháng trở xuống;
Có tập quán sản xuất còn mang nặng tính tự nhiên hái lượm, chủ yếu phát rẫy làm nương, chăn nuôi theo tập quán cũ, lạc hậu, công cụ sản xuất thô sơ, thiếu thốn, thiếu đất hoặc chưa có đất sản xuất (tính theo mức bình quân diện tích đất canh tác cho mỗi hộ của địa phương);
Tổng giá trị tài sản bình quân đầu người dưới một triệu đồng (không tính giá trị sử dụng của đất, giá trị các lán trại trên nương rẫy).
Ở Việt Nam phân định các địa phương miền núi và địa phương có dân tộc thiểu số sinh sống có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn làm 3 khu vực lần lượt là I, II, III, trong đó khu vực III là khu vực đặc biệt khó khăn thuộc phạm vi của Chương trình 135. Trong khu vực I, II cũng có thể có những thôn, bản, buôn, sóc được công nhận là đặc biệt khó khăn. Tùy theo các khu vực mà chính phủ có các chính sách ưu đãi, ưu tiên cho các cá nhân và hộ gia đình đang sinh sống, làm việc ở các khu vực đó như trợ cấp, phụ cấp, ưu đãi xét tuyển khi học sinh thi cử. Nếu như sinh ra ở vùng đặc biệt khó khăn nhưng làm việc ở vùng khác thì được hưởng các chế độ nơi vùng làm việc.
== Tham khảo ==
Thông tư liên tịch số 912/2001/TTLT/UBDTMN/BKHĐT ngày 16 tháng 11 năm 2001 của Uỷ ban Dân tộc và miền núi - Bộ Tài chính - Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn.
Quyết định số 301/2006/QĐ-UBDT ngày 27/11/2006 của Uỷ ban Dân tộc về việc công nhận 3 khu vực vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển.
== Xem thêm ==
Chính sách hỗ trợ hộ dân tộc đặc biệt khó khăn
Chương trình 135
Chương trình 134 |
excalibur.txt | Excalibur là thanh kiếm huyền thoại của Vua Arthur, đôi khi được cho là có ẩn chứa sức mạnh huyền bí bên trong và tượng trưng cho chủ quyền hợp pháp đối với Vương quốc Anh. Đôi khi Excalibur và Thanh kiếm trong đá (biểu trưng của dòng dõi Vua Arthur) được cho là một nhưng đa số các phiên bản khác khẳng định rằng chúng khác nhau. Thanh kiếm được gắn liền với huyền thoại vua Arthur từ rất sớm. Trong Tiếng Wales, thanh kiếm có tên gọi là Caledfwlch.
== Nguồn gốc tên gọi ==
Cái tên Excalibur bắt nguồn từ tiếng Pháp cổ Excalibor, bản thân tên này xuất xứ từ Caliburn, được nhắc đến trong các ghi chép của Geoffrey xứ Monmouth (kh. 1140) (Tiếng Latin Caliburnus). Và có cả một số biến thể của từ trên như là Escalibor và Excaliber (về sau được Howard Pyle sử dụng trong sách của mình). Một thuyết khác cho rằng từ Caliburn[us] xuất phát từ Caledfwlch, tên nguyên thủy trong tiếng Welsh của thanh kiếm, từ được đề cập đầu tiên trong tập truyện Mabinogion. Nó có thể có cùng nguồn gốc với Caladbolg (có nghĩa là "hard-belly", hay. "voracious", tạm dịch:Tham ăn), một thanh kiếm huyền thoại khác của Ireland. Một số học thuyết khác (đặc biệt là trong cuốn Tân từ điển bách khoa toàn thư về Vua Arthur, 1995) cho rằng "Caliburnus" thực ra được chuyển thể từ một từ Latin là chalybs (thép), và bản thân từ này có nguồn gốc từ Chalybes, tên của một bộ tộc chuyên về rèn đồ sắt xứ Anatolia. Điều này đã được sử gia Valerio Massimo Manfredi lưu ý và sử dụng trong tiểu thuyết của mình The Last Legion (Quân đoàn Lê Dương cuối cùng) (2002: bản dịch tiếng Anh sử dụng từ Calibian thay thế cho Chalybian). Theo Brewer's Dictionary of Phrase and Fable(Từ đển về Thành ngữ và Truyện ngụ ngôn) của tác giả Ebenezer Cobham Brewer, Excalibur được vay mượn từ thành ngữ Latin Ex calce liberatus,hay "liberated from the stone" (giải phóng từ phiến đá). Trong Le Morte d'Arthur (Cái chết của vua Arthur) của tác giả Thomas Malory, Excalibur được cho là có nghĩa "cắt thép", và do đó được một số tác giả về sau dịch là "thanh kiếm cắt thép".
== Excalibur và Thanh kiếm trong đá ==
Theo những tư liệu còn sót lại về vua Arthur, có hai huyền thoại tách bạch nhau về xuất xứ của thanh kiếm. Đầu tiên là về huyền thoại "Thanh kiếm trong đá", xuất hiện đầu tiên trong bài thơ Merlin của Robert de Boron, trong đó Excalibur chỉ có thể được rút ra khỏi đá bởi Arthur, vị vua hợp pháp. Truyền thuyết thứ hai xuất hiện trong sách Post-Vulgate Suite du Merlin (về sau được Thomas Malory sử dụng trong tác phẩm nổi tiếng của mình).Ở đây, Arthur nhận được Excalibur từ Tiên nữ của Hồ nước sau khi làm gãy thanh gươm đầu tiên của mình trong một cuộc đánh nhau với vua Pellinore. Vị tiên đã miêu tả thanh kiếm "Excalibur, thanh kiếm cắt thép", và Arthur nhận nó từ một cánh tay đưa lên khỏi mặt hồ.
Khi Arthur sắp chết, ông bảo Ngài Bedivere (Ngài Griflet trong một số phiên bản) trả lại thanh kiếm bằng cách ném nó xuống hồ. Bedivere nhận lời một cách miễn cưỡng, không đành lòng ném đi thanh kiếm quý giá. Hai lần liên tiếp, ông giả vờ thực hiện theo lời nhà vua. Mỗi lần, Arthur hỏi ông ta đã quăng thanh kiếm đi như thế nào. Khi Bedivere nói rằng thanh kiếm đơn giản là đã chìm xuống hồ, Arthur la mắng Bedivere một cách gay gắt. Cuối cùng, Bedivere đành phải thực sự ném Excalibur xuống hồ. Trước khi thanh kiếm chạm mặt nước, một cánh tay trồi lên tóm lấy thanh gươm và kéo nó xuống hồ. Xác Arthur được đặt trên một thuyền tang cùng với ba nữ hoàng đến đảo Avalon, nơi mà tương truyền rằng, một ngày không xa, ông sẽ trở về giải thoát nước Anh khỏi mọi đe dọa.
Malory thuật lại cả hai phiên bản của huyền thoại này trong tác phẩm Le Morte d'Arthur, và gọi cả hai thanh kiếm là Excalibur (một lỗi rất dễ khiến người đọc khó hiểu và khó phân biệt được giữa hai thanh kiếm). Phim Excalibur tìm cách sửa chữa điểm mơ hồ này bằng kịch bản trong đó chỉ có một thanh kiếm mà Arthur được thừa hưởng và sau khi thanh kiếm này bị gãy, nó đã được sửa lại bởi Tiên nữ của Hồ nước.
== Lịch sử ==
=== Caledfwlch ===
Trong Thần thoại xứ Wales, tên của thanh kiếm là Caledfwlch. Trong truyện Culhwch và Olwen, đó là một trong những đồ vật có giá trị nhất của Arthur và được sử dụng bởi Llenlleawg người Ireland, một chiến binh của Arthur, để giết vua Ireland Diwrnach, đoạt lấy cái vạc ma thuật của ông ta. Caledfwlch được cho là tên gọi sau này của thanh kiếm Caladbolg trong Thần thoại Ireland, thanh kiếm sấm sét của vua Fergus mac Roich. Caladbolg được biết đến với một sức mạnh phi thường và đã được rất nhiều anh hùng Ireland sử dụng.
Dù cho không có tên là Caledfwlch, thanh kiếm của vua Arthur cũng được miêu tả trong Giấc mơ của Rhonabwy một trong những truyện cổ tích có liên hệ với tập truyện Mabinogion:
Khi họ nghe Cadwr bá tước xứ Cornwall được triệu tập, họ nhìn thấy ông ta đứng dậy với thanh kiếm của Arthur trong tay, với một cặp rắn chạm trổ trên chuôi kiếm vàng; khi thanh kiếm được tuốt ra khỏi vỏ, cặp rắn trên chuôi kiếm dường như phun ra lửa, một cảnh tượng đáng sợ đến nỗi hầu như không một ai dám nhìn thẳng vào nó. Khi đám đông trấn tĩnh và những cơn chấn động dịu bớt, bá tước quay trở lại lều của mình. Từ The Mabinogion bản tiếng Anh, dịch bởi Jeffrey Gantz.
=== Từ Caliburn đến Excalibur ===
Sách History of the Kings of Britain (Lịch sử về những Vị Vua của nước Anh) của tác giả Geoffrey xứ Monmouth là tư liệu đầu tiên, không phải bằng tiếng Welsh, đề cập đến thanh kiếm. Geoffrey cho rằng thanh kiếm được rèn tại Avalon và Latin hóa cái tên "Caledfwlch" thành Caliburn hay Caliburnus. Khi tầm ảnh hưởng của các tác phẩm dã sử của Geoffret lan khắp Châu Âu, tên thanh kiếm dần được chuyển đổi thành Excalibur bởi các tác gia châu Âu về sau. Huyền thoại này một lần được mở rộng trong tập sách Vulgate Cycle (c. 1230–1250), còn được biết đến với cái tên Lancelot-Grail Cycle, và trong Post-Vulgate Cycle, phiên bản mở rộng của Vulgate Cycle. Cả hai tác phẩm này đều bao gồm bài thơ Prose Merlin, nhưng tác giả của Post-Vulgate bỏ qua đoạn Merlin Continuation trong bài thơ, thay vào đó bổ sung những chi tiết hoàn toàn mới về giai đoạn đầu của Vua Arthur, bao gồm cả nguồn gốc mới của thanh kiếm Excalibur.
=== Các thông tin khác ===
Câu chuyện về Thanh gươm trong đá có một phiên bản khác có nội dung tương tự là trong truyền thuyết về Sigmund trong thần thoại Bắc Âu, người đã rút thanh kiếm của Odin ra khỏi thân cây.
Thú vị hơn, trong các tác phẩm ở nước Pháp như là truyện Perceval, the Story of the Grail của Chrétien de Troyes' và trong tập Vulgate chương Lancelot Proper, Excalibur được sử dụng bởi Gawain, người cháu trai và một trong những hiệp sĩ giỏi nhất của Arthur. Nó tương phản với các phiên bản sau, nơi mà Excalibur chỉ dành cho duy nhất nhà vua. Trong sách Alliterative Morte Arthure (ca. 1400), Arthur được cho rằng có tới hai thanh kiếm, thanh thứ hai là Clarent, bị Modred trộm và sau này dùng nó trong cuộc chiến sinh tử cuối cùng giữa Arthur và Modred.
== Thuộc tính khác ==
Trong nhiều phiên bản của truyền thuyết, cả hai mặt của lưỡi kiếm Excalibur đều có khắc chữ. Trên một mặt là "take me up" (vung tôi lên), trên một mặt kia là "cast me away" (ném tôi đi) (hay tương tự vậy). Nó tiên đoán trước việc Excalibur sẽ trở về với nước. Thêm vào đó, khi Excalibur được rút ra khỏi vỏ lần đầu tiên, lưỡi kiếm phát ra ánh sáng như của ba mươi ngọn đuốc, làm lóa mắt kẻ thù. Thậm chí, ngay cả vỏ của Excalibur cũng có năng lực riêng: người cầm nó sẽ không bị nguy hiểm đến tính mạng vì bị thương hay mất máu. Theo những lời kể khác, vết thương người cầm vỏ kiếm nhận lãnh sẽ không chảy máu. Về sau, Morgan le Fay trộm mất vỏ kiếm và ném nó xuống hồ, và vỏ kiếm mất tích từ ấy.
Vào thế kỷ thứ 19 nhà thơ Alfred, Lord Tennyson, miêu tả thanh kiếm một cách lãng mạn trong tập thơ "Morte d'Arthur" của ông, về sau được viết thành "The Passing of Arthur" (Cái chết của vua Arthur), một bài trong tập thơ Idylls of the King
Nguyên tác như sau:
There drew he forth the brand Excalibur,
And o’er him, drawing it, the winter moon,
Brightening the skirts of a long cloud, ran forth
And sparkled keen with frost against the hilt:
For all the haft twinkled with diamond sparks,
Myriads of topaz-lights, and jacinth-work
Of subtlest jewellery.
== Phim tìm hiểu về thanh kiếm thật và hòn đá thật ==
By the Sword: Richard Cohen (2003)
Arthur: King of the Britons (2002): phim tài liệu BBC; Richard Harris đọc lời thoại; Francis Pryor tham gia với tư cách chuyên gia về thời đại đồ đồng.
== Đọc thêm ==
Thanh kiếm hát
Danh sách những thanh kiếm huyền thoại
Petrosomatoglyph
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Gantz, Jeffrey (translator) (1987). The Mabinogion. New York: Penguin. ISBN 0-14-044322-3.
By the Sword Richard Cohen (2003)
Arthur: King of the Britons (2002) BBC Documentary with Richard Harris (narrator and presenter) and Francis Pryor (Bronze Age expert).
== Liên kết ngoài ==
Timeless Myths website: Legend of "Excalibur"
The Camelot Project at the University of Rochester: Excalibur and The Sword In The Stone
Background on King Arthur's weapons. |
mary shelley.txt | Mary Wollstonecraft Shelley (30 tháng 8 năm 1797 – 1 tháng 2 năm 1851) là nữ nhà văn Anh, bà nổi tiếng thế giới vì là tác giả của tiểu thuyết nổi tiếng: Frankenstein, or The Modern Prometheus, lại vừa là vợ của nhà thơ lãng mạn Percy Bysshe Shelley.
== Tiểu sử ==
Mary Shelley (tên trước khi lấy chồng: Mary Wollstonecraft Godwin) sinh ở Somers Town, London, là con gái của William Godwin – là nhà triết học và nhà văn nổi tiếng ở Anh. Mẹ mất sau khi sinh Mary được 11 ngày nên bố phải gửi cho người khác nuôi, vì sau đó ông còn lấy vợ khác. Nhờ sự chỉ dẫn của bố nên Mary được học ở những trường tốt nhất thời đó. Mary gặp Percy Shelly ở cửa hàng sách của bố và sau đó Percy thường xuyên qua lại cửa hàng này. Mùa hè năm 1814 họ yêu nhau và cùng bỏ trốn sang Pháp. Đây là lần bỏ đi thứ hai của Percy Shelly. Lần thứ nhất ông cùng Harriet Westbrook bỏ nhà đi sang Edinburgh. Hai năm sau, khi người vợ thứ nhất của Percy chết, họ làm đám cưới. Mary và Percy có 4 đứa con nhưng 3 đứa chết khi còn nhỏ.
Năm 1818 Percy và Mary sang sống ở Ý. Percy cảm thấy hài lòng với người vợ thứ hai của mình, Mary có thể cảm nhận thơ ca và hiểu triết học của Percy, mặc dù Mary từ chối lời đề nghị của chồng chia sẻ tình yêu với một người bạn của ông. Mary hiểu rằng lòng chung thủy với những lý tưởng tình yêu của Percy luôn mâu thuẫn với niềm khát khao nội tại hướng tới một tình yêu chân chính như ông vẫn thường viết trong những tác phẩm thơ và triết học của mình. Năm 1822, Percy gặp nạn trên biển, con tim của ông được Mary mang theo mình cho đến hết đời.
Mary viết tiểu thuyết Frankenstein, or The Modern Prometheus khi bà mới 19 tuổi, in thành sách năm 1818. Đây là câu chuyện về chàng sinh viên Victor Frankenstein tạo ra một sinh vật từ nội tạng của người đã chết. Frankenstein làm cho sinh vật này trở nên sống động rồi đuổi đi. Sự lưu đày và lòng hận thù làm cho sinh vật này quyết định trả thù bằng cách giết chết vợ của người tạo ra mình và sau đó là giết chính Frankenstein.Mary Shelley đã lấy ý tưởng trong một lần đi nghỉ mát với Percy,nhà thơ Byron và bác sĩ John Polidori bên hồ Geneva,Thụy Sĩ.Byron đã đặt ra cuộc thi viết truyện kinh dị giữa bốn người.Trong một đêm đen đầy sấm chớp,Mary đã nằm mơ thấy một cảnh tượng mà sau này trở thành khung cảnh nổi tiếng của Frankenstein:Một chàng sinh viên đang quỳ gối trước một tạo vật mang hình dáng một người đàn ông ghép từ các bộ phận từ những cơ thể khác nhau.Và thế là Frankenstein ra đời.
Sau khi chồng mất, bà trở về Anh và viết tiếp 5 tiểu thuyết nữa, trong số này nổi tiếng nhất có The Last Man (1826) viết về sự diệt vong của loài người trong thế kỷ XXI vì một trận dịch bí ẩn. Ngoài tiểu thuyết, bà còn viết truyện, nhật ký và tiểu sử tự thuật. Mary Shelley mất ở London năm 1851.
== Tác phẩm ==
History of a Six Weeks' Tour (1817)
Frankenstein or The Modern Prometheus (1818)
Valperga or The Life and Adventures of Castrussio, Price of Lucca (1823)
The Last Man (1826)
The Fortunes of Perkin Warbeck (1830)
Rambles in Germany and Italy in 1840, 1842 and 1843 (1844)
Perkin Warbeck (1830)
Lodore (1835)
Falkner (1837)
Holland (1817)
Rambles in Germany and Italy (1844)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Works by Mary Shelley at Project Gutenberg |
george armstrong custer.txt | George Armstrong Custer (5 tháng 12 năm 1839 – 25 tháng 6 năm 1876) là sĩ quan chỉ huy kỵ binh của Quân đội Hoa Kỳ trong thời Nội chiến Hoa Kỳ và các cuộc chiến với dân da đỏ. Được thăng chức nhanh từ khi còn trẻ, Custer là một tay chỉ huy nổi tiếng can đảm, táo bạo, nhưng cũng mang tiếng là kiêu căng, quá tự tin và kiểu cách. Ông chỉ huy Lữ đoàn Michigan với biệt hiệu "Chó sói" trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Custer cùng 200 binh lính thuộc Trung đoàn 7 Kỵ binh bị bắn chết trong trận Little Bighorn với dân da đỏ do tù trưởng Sitting Bull (Bò Ngồi) cầm đầu.
Ông sinh ra và lớn lên ở Michigan và Ohio, Custer được nhận vào West Point năm 1858, nơi ông tốt nghiệp cuối cùng trong lớp. Tuy nhiên, với sự bùng nổ của cuộc nội chiến, tất cả các sĩ quan tiềm năng là cần thiết, và Custer đã được kêu gọi phục vụ trong quân đội Liên minh. Trước khi chiến tranh kết thúc, Custer được thăng cấp bậc tạm thời (brevet) lên thành Thiếu tướng (tuy nhiên, khi kết thúc cuộc chiến, cấp bậc ông được giảm về cấp bậc thường trực của ông là Đại úy). Khi kết thúc Chiến dịch Appomattox, trong đó ông và quân đội của ông đã đóng một vai trò quyết định, Custer đã tiếp nhận sự đầu hàng của tướng Robert E. Lee.
Sau khi cuộc nội chiến, Custer đã được cử sang phía Tây để chiến đấu trong các cuộc chiến tranh với dân da đỏ. Sự thất bại áp đảo trong trận chiến cuối cùng của ông đã làm lu mờ những thành tựu của ông trong cuộc nội chiến. Custer bại trận tử vong trong trận Little Bighorn vào năm 1876, khi giao chiến với liên quân các bộ lạc da đỏ - trận đánh này thường được biết đến trong lịch sử Hoa Kỳ là Cuộc tranh đấu cuối cùng của Custer (Custer's Last Stand).
== Gia đình và dòng dõi ==
Theo nghiên cứu cuối thế kỷ 20, tổ tiên của Custer, Paulus và Gertrude Küster, là những người theo sau mười ba gia đình nhập cư người Đức đầu tiên từ Krefeld và khu vực xung quanh, đã di cư đến Bắc Mỹ khoảng năm 1693 từ vùng Rheinland của Đức, có thể là trong số hàng ngàn người tị nạn Lãnh địa Sức quân Tuyển hầu tước vùng Rhine mà qua sắp xếp bởi chính phủ Anh của Nữ hoàng Anne để được định cư. Họ tên của họ ban đầu đã được viết là "Küster".
Theo một cuốn sử chép về người Đức tại Hoa Kỳ (1909), tổ tiên nhập cư của Custer là một chiến binh Hesse chiến đấu cho thực dân Anh, ông đã được ân xá vào năm 1778 sau khi tướng Anh là John Burgoyne đầu hàng.
Mẹ của Custer là bà Marie Ward, ngay từ khi 16 tuổi bà đã kết hôn với Israel Kirkpatrick. Khi ông qua đời vào năm 1835, bà kết hôn với Henry Emanuel Custer vào năm 1836. Ông bà nội của bà Marie - George P. (1724-1811) và Mary Ward (Grier) (1733-1811) - là người gốc County Durham, Anh. Con trai của họ là James Grier Ward (1765-1824) sinh ra ở Dauphin, Pennsylvania, và đã kết hôn với Catherine Rogers (1776-1829). Con gái của họ là Marie Ward, đã trở thành mẹ của Custer. Catherine Rogers là con gái của Thomas Rogers và Sarah Armstrong. Theo thư từ của gia đình, Custer được đặt tên theo Mục sư George Armstrong, do người cha sùng đạo của ông luôn có hy vọng rằng con trai của mình có thể trở thành một phần của giới tăng lữ.
== Biệt danh và anh chị em ==
Custer sinh ra ở New Rumley, Ohio, là con trai của Emanuel Henry Custer (1806-1892), một nông dân và thợ rèn, và Marie Ward Kirkpatrick (1807-1882). Trong suốt cuộc đời của ông Custer được biết đến qua một loạt các biệt danh. Ông được gọi là "Autie" và Armstrong.
Ông đã có hai em trai, Thomas Custer và Boston Custer. Hai người em còn lại của ông là hai người con út của gia đình, Margaret Custer, và em trai ốm yếu là Nevin Custer. Không những thế, Custer cũng có một số anh chị khác dòng máu.
== Thời niên thiếu ==
Custer dành phần lớn thời niên thiếu của ông sống với chị gái, người chị cùng cha và anh rể ở Monroe, Michigan, nơi ông theo học trường. Trước khi vào Học viện Quân sự Hoa Kỳ, Custer học ở trường trung học McNeely, sau này là trung học Hopedale, ở Hopedale, Ohio.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Ambrose, Stephen E. (1996 [1975]). Crazy Horse and Custer: The Parallel Lives of Two American Warriors. New York: Anchor Books. ISBN 0385479662.
Barnett, Louise 'Page notice 'Touched by Fire: The Life, Death, and Mythic Afterlife of George Armstrong Custer (1996) New York, Henry Holt and Company, Inc.
Boulard, Garry "The Swing Around the Circle--Andrew Johnson and the Train Ride that Destroyed a Presidency" (2006) isbn=978-1-4401-0239-4
Connell, Evan S. (1984). Son Of The Morning Star. San Francisco, California: North Point Press. ISBN 0-86547-160-6.
Eicher, John H. and David J. Eicher. (2001). Civil War High Commands. Stanford, California: Stanford University Press. ISBN 0-8047-3641-3.
Goodrich, Thomas. Scalp Dance: Indian Warfare on the High Plains, 1865-1879. Mechanicsburg, PA: Stackpole Books, 1997.
Gray, John S. (1993). Custer's Last Campaign: Mitch Boyer and the Little Bighorn Remembered. University of Nebraska Press. ISBN 0-8032-7040-2.
Grinnell, George Bird (1915). The Fighting Cheyennes. The University of Oklahoma Press reprint 1956. tr. 296–307. ISBN 0-7394-0373-7.
Longacre, Edward G. (2000). Lincoln's Cavalrymen: A History of the Mounted Forces of the Army of the Potomac. Stackpole Books. ISBN 0-8117-1049-1.
Mails, Thomas E. Mystic Warriors of the Plains. New York: Marlowe & Co., 1996.
Marshall, Joseph M. III. (2007). The Day the World Ended at Little Bighorn: A Lakota History. New York: Viking Press.
Merington, Marguerite, Ed. The Custer Story: The Life and Intimate Letters of General Custer and his Wife Elizabeth. (1950)
Michno, Gregory F. (1997). Lakota Noon: The Indian Narrative of Custer's Defeat. Mountain Press Publishing Company. ISBN 0-8784-2349-4.
Perrett, Bryan. Last Stand: Famous Battles Against the Odds. London: Arms & Armour, 1993.
Scott, Douglas D., Richard A. Fox, Melissa A. Connor, and Dick Harmon. (1989). Archaeological Perspectives on the Battle of the Little Bighorn. University of Oklahoma Press. ISBN 0-8061-3292-2.
Punke, Michael, "Last Stand: George Bird Grinnell, the Battle to Save the Buffalo, and the Birth of the New West", Smithsonian Books, 2007, ISBN 9780060897826
Tagg, Larry. (1988). The Generals of Gettysburg. Savas Publishing. ISBN 1-882810-30-9.
Urwin, Gregory J. W., Custer Victorious, University of Nebraska Press, 1990, ISBN 978-0803295568.
Utley, Robert M. (2001). Cavalier in Buckskin: George Armstrong Custer and the Western Military Frontier, revised edition. Norman, OK: University of Oklahoma Press. ISBN 0-8061-3387-2.
Vestal, Stanley. Warpath: The True Story of the Fighting Sioux Told in a Biography of Chief White Bull. Lincoln: University of Nebraska Press, 1934.
Warner, Ezra J. (1964). Generals in Blue: Lives of the Union Commanders. Louisiana State University Press. ISBN 0-8071-0822-7.
Welch, James, with Paul Stekler. (2007 [1994]). Killing Custer: The Battle of Little Bighorn and the Fate of the Plains Indians. New York: W.W. Norton & Company.
Wert, Jeffry D. Custer: The Controversial Life of George Armstrong Custer. New York: Simon & Schuster, 1996. ISBN 0-684-83275-5.
Wittenberg, Eric J. (2001). Glory Enough for All: Sheridan's Second Raid and the Battle of Trevilian Station. Brassey's Inc. ISBN 1-57488-353-4.
== Liên kết ngoài ==
The Friends of the Little Bighorn Battlefield
Little Big Horn Associates
General Custer website
Who Killed Custer - Top Ten List
Reno, Marcus A., The official record of a court of inquiry convened at Chicago, Illinois, 13 tháng 1 năm 1879, by the President of the United States upon the request of Major Marcus A. Reno, 7th U.S. Cavalry, to investigate his conduct at the Battle of the Little Big Horn, June 25-26, 1876.
Newson, T. M., Thrilling scenes among the Indians. With a graphic description of Custer's last fight with Sitting Bull
Victor, Frances Fuller, Eleven years in the Rocky Mountains and life on the frontier also a history of the Sioux war, and a life Gen. George A. Custer, with a full account of his last battle
Whittaker, Frederick, A complete life of Gen. George A. Custer: Major-General of Volunteers; Brevet Major-General, U.S. Army; and Lieutenant-Colonel, Seventh U.S. Cavalry
Finerty, John F., War-path and bivouac: or, The conquest of the Sioux: a narrative of stirring personal experiences and adventures in the Big Horn and Yellowstone expedition of 1876, and in the campaign on the British border, in 1879
Walter Mason Camp Collection includes Photographs of Custer and Indian Wars of North America
Interview with James S. Robbins on Custer's record at West Point and Fred Chiaventone on Little Big Horn at the Pritzker Military Library
Custer's riding boots, Kansas Museum of History |
vũng tàu - côn đảo (đặc khu).txt | Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo là một đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương ngày nay nằm ở miền Đông Nam Bộ. Đặc khu được thành lập năm 1979 nhằm phục vụ phát triển ngành công nghiệp khai thác dầu khí mới thành lập của Việt Nam. Năm 1991, đặc khu được giải tán để thành lập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay.
== Thành lập ==
Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo được thành lập ngày 30 tháng 5 năm 1979 trên cơ sở sáp nhập thị xã Vũng Tàu, xã Long Sơn thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai và huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Hậu Giang.
Việc thành lập đặc khu được cho là bức thiết trong bối cảnh mới thành lập ngành công nghiệp khai thác dầu khí tại Việt Nam. Trước đó, ngày 28 tháng 5 năm 1979, thay mặt Hội đồng Chính phủ, ông Vũ Tuân, Bộ trưởng Phủ thủ tướng đã trình bày tờ trình về việc này, trong đó nhấn mạnh tới việc xây dựng một đặc khu để “phục vụ phát triển ngành công nghiệp dầu mỏ và khí đốt”.
Vị trí địa lý: Phần đất liền phía bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía tây, đông và nam giáp Biển Đông.
== Tổ chức hành chính ==
=== Giai đoạn 1979 - 1986 ===
Khi mới thành lập, Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo chưa có phân chia địa giới hành chính rõ ràng. Ngày 10 tháng 12 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành quyết định số 438-CP, theo đó phân chia chính quyền đặc khu thành 2 cấp: cấp đặc khu và cấp quận. Tuy nhiên, ngoại trừ quận Côn Đảo, chưa có một quyết định cụ thể nào xác lập cấp quận trên khu vực thị xã Vũng Tàu cũ và xã Long Sơn nằm ở phần đất liền của đặc khu.
Phần đất thị xã Vũng Tàu cũ được chia thành 5 phường
Phường Châu Thành
Phường Thắng Nhất
Phường Thắng Nhì
Phường Thắng Tam
Phường Phước Thắng
Xã Long Sơn
=== Giai đoạn 1986 - 1991 ===
Ngày 14 tháng 5 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 58-HĐBT điều chỉnh địa giới hành chính các phường thuộc Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo. Trong đó:
Phường Châu Thành và 4 tổ Phường Thắng Tam thành lập: Phường 1 và Phường 4.
Phường Thắng Nhì, 33 tổ Phường Thắng Nhất và 5 tổ Phường Thắng Tam thành lập: Phường 5, Phường 6, Phường 7 và Phường 9.
Phường Thắng Tam thành lập: Phường 2, Phường 3 và Phường 8.
đổi tên Phường Thắng Nhất thành Phường 10.
đổi tên Phường Phước Thắng thành Phường 11.
Như vậy khi giải thể, đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo có 11 phường, 1 quận và 1 xã.
== Giải thể ==
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Theo đó, Chính phủ quyết định thành lập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo và 3 huyện Long Đất, Châu Thành và Xuyên Mộc thuộc tỉnh Đồng Nai.
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có diện tích 2.047,45 km2, dân số 587.499 người. Tỉnh lỵ hiện dời sang thành phố Bà Rịa.
== Tham khảo == |
ngũ vị hương.txt | Bài này nói về năm loại gia vị được phối hợp với nhau, sử dụng trong ẩm thực Trung Hoa hay Việt Nam, đối với năm loại gia vị của người Bengal, xem bài Panch phoron.
Ngũ vị hương (trong tiếng Trung gọi là 五香粉-ngũ hương phấn) là một loại gia vị tiện lợi dùng trong ẩm thực của người Trung Hoa hay Việt Nam, đặc biệt hay dùng trong ẩm thực của người Quảng Đông. Nó bao gồm 5 loại vị cơ bản trong ẩm thực là: mặn, ngọt, chua, cay, đắng.
Thành phần của ngũ vị hương không giống nhau trong từng loại công thức pha chế. Nó có thể bao gồm bột của các loại thực vật sau: sơn tiêu (hay hoa tiêu hoặc xuyên tiêu, thuộc chi Zanthoxylum), nhục quế (Cinnamomum aromaticum), đại hồi (Illicium verum), đinh hương (Syzygium aromaticum), tiểu hồi hương (Pimpinella anisum).
Tuy nhiên, người ta cũng có thể dùng một công thức pha chế khác bao gồm nhục quế, hồ tiêu (Piper nigrum), đinh hương, tiểu hồi hương và đại hồi. Nó được sử dụng trong các món ăn (vịt, bò) quay hay hầm hay các món cà ri.
Bột ngũ vị hương bán trên thị trường có thể có thêm bột ớt hay gừng. Ngũ vị hương đóng gói sẵn ở Việt Nam thường có: đại hồi, đinh hương, nhục quế, ngọc khấu, hồ tiêu, trần bì (tức vỏ quýt (Citrus reticulata) phơi khô tán thành bột), hạt ngò, thảo quả (Amomum hongtsaoko), hạt điều để tạo màu đỏ. Ngoài ra, còn có vài công thức ngũ vị hương khác như: hạt ngò, tiểu hồi, bạch đậu khấu (Amomum kwangsiense hay A.kravanh/compactum), hồ tiêu.
Công thức chế biến ngũ vị hương dựa trên nền tảng triết học Trung Hoa cổ về sự cân bằng âm-dương trong thực phẩm.
Mặc dầu gia vị này được sử dụng nhiều trong các món ăn chế biến tại nhà hàng, nhưng nhiều người nội trợ thông thường không dùng nó trong nấu ăn hàng ngày. Tại Hawaii, một số khách sạn có các lọ đựng ngũ vị hương ngay trên bàn ăn.
== Xem thêm ==
Húng lìu
== Tham khảo == |
dấu phụ.txt | Dấu phụ (diacritic) là ký hiệu được thêm vào chữ cái. Tác dụng chính của các dấu phụ trong văn tự Latin là để thay đổi âm thanh của ký tự mà nó thêm vào, ví dụ để phân biệt trọng âm, thanh điệu, nguyên âm... Tiếng Việt sử dụng dấu phụ để tạo ra chữ cái mới (ă, â, ô...) và ghi thanh điệu (á, à, ả, ã, ạ). Trong một số trường hợp, chữ cái được sử dụng như "dấu phụ trong dòng", với chức năng giống giống dấu phụ lệ thuộc khác, trong đó chúng thay đổi âm thanh của ký tự trước nó, ví dụ trường hợp của "h" trong phát âm tiếng Anh của "sh" và "th".
== Chú thích == |
samsung galaxy tab series.txt | Samsung Galaxy Tab là dòng thiết bị máy tính bảng Android tầm trung trở lên sản xuất bởi Samsung. Mẫu đầu tiên trong dòng thiết bị này là Samsung Galaxy Tab 7-inch, được giới thiệu lần đầu tiên vào 2 tháng 9 năm 2010 tại sự kiện IFA ở Berlin. Kể từ khi đó đã có một số mẫu được phát hành, bao gồm các thiết bị có màn hình 7.7, 8.9 và 10.1-inch. Wifi Tabs bao gồm hệ thống GPS trong khi 3G/ 4G Tabs có chức năng gọi thoại.
== Sản phẩm ==
=== Samsung Galaxy Tab ===
==== Galaxy Tab / Galaxy Tab 7.0 ====
Galaxy Tab đầu tiên (được đổi tên thành Galaxy Tab 7.0 cùng với việc phát hành các sản phẩm 7.7, 8.9, và 10.1) được giới thiệu vào 2 tháng 9 năm 2010 tại sự kiện IFA ở Berlin. Nó có bộ xử lý lõi đơn 1 GHz Exynos, và màn hình TFT LCD 7-inch với độ phân giải 1024 x 600 pixels. Sử dụng hệ điều hành mở Android 2.2 Froyo với một số giao diện tùy chỉ và ứng dụng. Hầu hết các ứng dụng trên Android 2.2 được phát triển dựa trên các nguyên tắc của Google dành cho Android để hiện thị tốt trên các thiết bị màn hình lớn như Samsung Galaxy Tab, theo Samsung. Tháng 5 2011 theo báo cáo rằng Android Gingerbread 2.3.3 có sẵn tại Ý, với các khu vực khác dự kiến sẽ ra sau. Một số cập nhật quốc tế đã được thực hiện và tháng 2 năm 2012, Android phiên bản Gingerbread 2.3.6 đã có mặt.
Trong suốt 2011 International Consumer Electronics Show (CES), Verizon Wireless và Samsung Telecommunications America (Samsung Mobile) thông báo rằng đó là 4G LTE mới - Cho phép Samsung Galaxy Tab có tính năng truy cập vào Verizon Wireless mạng đ động băng thông rộng 4G LTE và máy ảnh chính 5-megapixel sẽ có mặt
==== Galaxy Tab 7.0 Plus ====
Galaxy Tab 7.0 Plus là bản kế thừa thành công của Galaxy Tab đầu tiên. Nó là thiết bị có độ phân giải bằng với người tiền nhiệm của nó là 1024 x 600, nhưng sử dụng tấm nền PLS. Ngoài ra nó còn đi kèm với Android 3.2 Honeycomb đã được cài sẵn bao gồm các phiên bản mới hơn, tăng thêm sức mạnh phần cứng. Thiết bị mới bao gồm vi xử lý lõi kép 1.2 GHz, 16 GB hoặc 32 GB bộ nhớ trong, và 2-megapixel máy ảnh trước và 3-megapixel máy ảnh sau. Thiết bị nhỏ hơn phiên bản đời đầu, kích thước 193.5 x 122.4 x 9.9 mm và nặng chỉ 345 grams. Nó chạy Android 3.2 Honeycomb, với giao diện tùy biến TouchWiz của Samsung, nó có thể nâng cấp lên Android 4.1.2 Jelly Bean.
==== Galaxy Tab 7.7 ====
Trong suốt IFA 2011 ở Berlin, Samsung thông báo Galaxy Tab 7.7 mới, với vi xử lý lõi kép 1.4 GHz, 1 GB RAM, hỗ trợ 32 GB thẻ nhớ microSD (chỉ có thể trên một số loại), pin 5,100 mAh,với máy ảnh trước 2-megapixel và 3-megapixel máy ảnh sau với flash. Gồm bản 16 GB, 32 GB và 64 GB. Kích thước thiết bị 196.7 x 133 x 7.89 mm (7.75 x 5.24 x 0.31 inches) và nặng 335 g (11.8 oz) giúp nó thân thiện hơn khi sử dụng một tay hơn một số sản phẩm lớn hơn của Samsung và các nhà sản xuất khác. Nó chạy Android 3.2 Honeycomb, với giao diện tùy biến TouchWiz của Samsung, có thể nâng cấp lên Android 4.0 Ice Cream Sandwich. Galaxy Tab 7.7 phát hành tại Mỹ bởi Verizon vào 1 tháng 3 năm 2012.
==== Galaxy Tab 8.9 ====
Galaxy Tab 8.9 được công bố tại sự kiện CTIA Wireless Convention vào tháng 3 năm 2011. Nó được hỗ trợ bộ xử lý Nvidia Tegra 2 và trên Galaxy Tab 10.1, với máy ảnh chính 3-megapixel và pin 6100 mAh. Thiết bị có kích thước 230.9 x 157.8 x 8.6 mm và nặng 470gr. Nó chạy Android 3.2 Honeycomb, với giao diện tùy biến TouchWiz của Samsung, có thể nâng cấp lên Android 4.0 Ice Cream Sandwich. Galaxy Tab 8.9 phát hành vào 2 tháng 10 năm 2011 tại Mỹ.
==== Galaxy Tab 10.1 ====
Tại sự kiện Mobile World Congress vào năm 2011 Samsung trưng bàu sản phẩm Galaxy Tab mới với màn hình lớn hơn 10.1-inch HD và bộ xử lý nhanh hơn, chạy hệ điều hành mở Android 3.0 Honeycomb của Google. Nó được phát hành tại Mỹ vào tháng 3 năm 2011 và châu Âu vào tháng 4. Tuy nhiên, sau khi iPad 2 phát hành, một số chi tiết kĩ thuật được mô tả là "không đủ" bởi phó chủ tịch điều hành mảng di động của Samsung.
Điều này dẫn đến sự ra đời của một sản phẩm mỏng hơn 10.1-inch tại sự kiện Samsung Unpacked trong suốt CTIA Wireless Convention vào tháng 3 năm 2011, cùng với sản phẩm 8.9 inch, đẩy ngày phát hành sớm hơn vào 8 tháng 6 tại Mỹ và "sớm hơn mùa hè" cho các sản phẩm sau này. Mặc dù không thông tin nào về sự chậm trễ ngày phát hành ở châu Âu, có thông báo rằng các thiết kế trước đó, nhìn thấu tại sự kiện Mobile World Congress, sẽ được bán với nhãn hiệu là "Samsung Galaxy Tab 10.1v".
Galaxy Tab 10.1 chạy Android 3.2 Honeycomb, với giao diện tùy biến TouchWiz của Samsung. Được nâng cấp lên Android 4.0 Ice Cream Sandwich.
===== Galaxy Tab 10.1v =====
Galaxy Tab 10.1v dự kiến được phát hành tại Anh bởi Vodafone.
=== Samsung Galaxy Tab 2 ===
Dòng Galaxy Tab 2 gồm 2 phiên bản Galaxy Tab 2 7.0 và 10.1 và mục đích ngầm vào ngân sách thị trường. Máy ảnh trước chất lượng đã giảm xuống thành VGA, máy ảnh sau fixed focus, chip set là TI OMAP4430 lõi kép 1.0 GHz, và mỏng, nhẹ hơn. Ngoài ra, 5 GHz WiFi đã được giảm xuống. Bản 10.1-inch giá bản lẻ là $399 và 7.0-inch giá bán lẻ là $249. Cả hai sử dụng giao diện tùy biến TouchWiz của Samsung cho Android 4.0 Ice Cream Sandwich, và được nâng cấp lên Android 4.1 and 4.2.2 Jelly Bean.
=== Samsung Galaxy Tab 3 ===
Dòng Galaxy Tab 3 bao gồm 3 phiên bản Galaxy Tab 3 7.0, 8.0 và 10.1 và mục đích ngầm vào ngân sách thị trường trong khi dòng Galaxy Note phục vụ thị trường cao cấp. Galaxy Tab 3 7.0 được công bố vào cuối tháng 4 năm 2013. Galaxy Tab 3 8.0 và 10.1 được công bố Computex vào tháng 6 năm 2013. Tất cả 3 thiết bị lấy cảm hứng từ ngôn ngữ thiết kế Samsung Galaxy S4 và các thiết bị công bố gần đây Samsung. Bản 7.0 giá bán lẻ là $199, 8.0 là $299 và 10.1 là $399.
=== Samsung Galaxy Tab 4 ===
Dòng Galaxy Tab 4 được công bố vào 1 tháng 4 năm 2014. Tất cả máy tính bảng sẽ thay thế cho 3 máy tính bảng Galaxy Tab 3. Tất cả các máy tính bảng đều giống nhau như vi xử lý 1.2 GHz lõi-tứ và 1.5GB RAM. Samsung Galaxy Tab 4 sẽ phát hành vào Q2 2014.
=== Samsung Galaxy Tab Pro ===
Dòng Galaxy Tab Pro là dòng sản phẩm cao cấp có tên là Samsung Galaxy Tab Pro 8.4, Samsung Galaxy Tab Pro 10.1, và Samsung Galaxy Tab Pro 12.2 nhắm đến dòng sản phẩm cao cấp của máy tính bảng Samsung Galaxy cùng với Samsung Galaxy Note tablets namely the Samsung Galaxy Note 12.2 được công bố trong suốt sự kiện Consumer Electrics Show 2014 tại Las Vegas.
=== Máy tính bảng Samsung khác ===
==== Galaxy Note ====
Sau khi ra mắt bản đầu tiên và thứ hai của phablets Galaxy Note, sau đó vào 2012 Samsung phát hành máy tính bảng Note 10.1 với màn hình 10.1-inch và bút stylus và tháng 5 năm 2013, phát hành Note 8.0 máy tính bảng với màn hình 8-inch trong khi sau đó tháng 9 năm 2013, công bố sự thành công của Galaxy Note 10.1 đời đầu được thay thế bởi "Galaxy Note 10.1 2014 Edition" ra mắt cùng lúc với phablet Galaxy Note 3 và đồng hồ thông minh Galaxy Gear.
==== Nexus 10 ====
Máy tính bảng thứ hai của dòng Nexus, Nexus 10 được công bố bởi Google vào 29 tháng 10 năm 2012. Nó là máy tính bảng 10.1-inch sản xuất bởi Samsung, với màn hình PLS LCD 2560x1600 và bộ xử lý lõi kép 1.7 GHz. Nexus 10 chạy Android 4.3 Jelly Bean, và nó có bản 16 và 32 GB.
== So sánh ==
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy S series
Samsung Galaxy Note series
Android OS
Máy tính bảng
== Tham khảo ==
== Liên kết == |
ứng hòa.txt | Ứng Hòa là một huyện phía nam của Hà Nội, phía bắc giáp huyện Chương Mỹ và Thanh Oai, phía nam giáp huyện Duy Tiên (Hà Nam) và Kim Bảng (Hà Nam), phía tây giáp huyện Mỹ Đức, phía đông giáp huyện Phú Xuyên.
== Lịch sử và tên gọi ==
Huyện Ứng Hòa nguyên là phủ Ứng Thiên đời nhà Lê thuộc trấn Sơn Nam. Năm Gia Long thứ 13 (năm 1814) phủ Ứng Thiên đổi tên là phủ Ứng Hòa.
Năm Minh Mạng thứ 12 (năm 1831), khi tỉnh Hà Nội được thành lập, Ứng Hòa là một trong bốn phủ của tỉnh Hà Nội. Phủ Ứng Hòa gồm các huyện Sơn Minh sau đổi thành Sơn Lãng, Chương Đức (sau đổi thành Chương Mỹ), Thanh Oai và Hoài An.
Năm 1888, khi tỉnh Hà Đông được thành lập, phủ Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Đông.
Năm 1891, thành lập phủ Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Đông, bao gồm huyện Yên Đức, Chương Mỹ và Sơn Lãng.
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, huyện Sơn Lãng đổi tên là huyện Ứng Hòa, huyện Yên Đức đổi tên là huyện Mỹ Đức.
Ngày 21 tháng 4 năm 1965, tỉnh Hà Tây được thành lập theo Nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội, trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông.
Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Tây gồm thị trấn Vân Đình và 29 xã là Cao Thành, Đại Cường, Đại Hùng, Đội Bình, Đông Lỗ, Đồng Tiến, Đồng Tân, Hòa Lâm, Hòa Nam, Hòa Phú, Hoa Sơn, Hòa Xá, Hồng Quang, Kim Đường, Liên Bạt, Lưu Hoàng, Minh Đức, Phù Lưu, Phương Tú, Quảng Phú Cầu, Sơn Công, Tân Phương, Tảo Dương Văn, Trầm Lộng, Trung Tú, Trường Thịnh, Vạn Thái, Viên An, Viên Nội.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa 5 thông qua Nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình. Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Sơn Bình.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ chín Quốc hội khóa 8 thông qua Nghị quyết chia tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hòa Bình và Hà Tây. Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Tây.
Ngày 23 tháng 9 năm 2003, Chính phủ ra Nghị định số 107/2003/NĐ-CP điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng thị trấn Vân Đình thuộc huyện Ứng Hòa. Theo đó, sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Tân Phương và một phần diện tích và dân số các xã Liên Bạt, Phương Tú, Vạn Thái vào thị trấn Vân Đình.
Sau khi điều chỉnh, huyện Ứng Hòa gồm 29 đơn vị hành chính gồm thị trấn Vân Đình và 28 xã: Cao Thành, Đại Cường, Đại Hùng, Đội Bình, Đông Lỗ, Đồng Tiến, Đồng Tân, Hoa Sơn, Hòa Lâm, Hòa Nam, Hòa Phú, Hòa Xá, Hồng Quang, Kim Đường, Liên Bạt, Lưu Hoàng, Minh Đức, Phù Lưu, Phương Tú, Quảng Phú Cầu, Sơn Công, Tảo Dương Văn, Trầm Lộng, Trung Tú, Trường Thịnh, Vạn Thái, Viên An, Viên Nội.
Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội theo Nghị quyết của kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa 12 ngày 29 tháng 5 năm 2008. Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc Hà Nội.
== Các đơn vị hành chính ==
Ứng Hòa có 1 thị trấn Vân Đình và 28 xã: Cao Thành, Đại Cường, Đại Hùng, Đội Bình, Đông Lỗ, Đồng Tiến, Đồng Tân, Hoa Sơn, Hòa Lâm, Hòa Nam, Hòa Phú, Hòa Xá, Hồng Quang, Kim Đường, Liên Bạt, Lưu Hoàng, Minh Đức, Phù Lưu, Phương Tú, Quảng Phú Cầu, Sơn Công, Tảo Dương Văn, Trầm Lộng, Trung Tú, Trường Thịnh, Vạn Thái, Viên An, Viên Nội.
== Đặc điểm địa hình ==
Nhìn chung, địa hình của Ứng Hòa tương đối bằng phẳng. Sông Đáy là phân giới tự nhiên phía tây của huyện, đồng thời cũng là giao tuyến phân chia địa hình núi đá vôi với đồng bằng chiêm trũng. Riêng 2 xã Đội Bình và Hồng Quang thì mỗi xã có một thôn nằm trong vùng địa hình núi đá vôi.
Ứng Hòa có hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh tưới tiêu cho hầu hết diện tích sản xuất nông nghiệp của huyện. Nguồn nước được lấy từ 2 con sông chảy qua huyện là sông Đáy và sông Nhuệ. Tuy nhiên, mấy năm gần đây 2 sông này đã bị ô nhiễm nguồn nước do các công trình công nghiệp thải trực tiếp ra sông, đặc biệt là sông Nhuệ.
Giao thông - Du lịch và Tượng Đài lịch sử là tới cầu rục KTXH Bắc Nam từ Phúc Thọ nghề khảm trai Cao Xá Khu Cháy anh hùng vẫn còn lưu giữ những hiện vật của giai đoạn gian khổ đó.
== Thời tiết - Khí hậu ==
Có đủ 4 mùa: Xuân, Hạ (Hè), Thu, Đông.
Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.900 mm
Nhiệt độ trung bình: 23,3 °C, chênh lệch khá cao giữa các mùa. Mùa hè lên tới 36-37 °C, mùa đông xuống tới 9-10 °C.
Số giờ nắng trong năm: 1.400 giờ
Độ ẩm tương đối trung bình: 70-85%
== Trường trung học phổ thông ==
Ứng Hòa có 06 trường Trung học phổ thông là:
Trường Trung học phổ thông Ứng Hòa A
Trường Trung học phổ thông Ứng Hòa B
Trường Trung học phổ thông Trần Đăng Ninh
Trường Trung học phổ thông Lưu Hoàng
Trường Trung học phổ thông Đại Cường
Trường Trung học phổ thông dân lập Nguyễn Thượng Hiền
== Danh nhân Ứng Hòa ==
Bùi Bằng Đoàn
Dương Khuê
Dương Lâm
Trần Đăng Ninh
Nguyễn Thượng Hiền
Hoàng Cầm
Nghiêm Châu Tuệ
Đỗ Quang Trung
Dương Thiệu Tước
Ngô Huy Cẩn
Ngô Bảo Châu
Nguyễn Danh Thế - Đỗ Tiến sĩ năm 1595, từng giữ chức Tham Tụng, tương đương Thủ tướng Chính phủ ngày nay. Đã hai lân đi sứ sang Trung Quốc.
Nguyễn Văn Lộc sinh năm 1914 tại Ứng Hòa, Hà Tây cũ - mất năm 1979 tại Hà Nội là nhà cách mạng Việt Nam, Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, Chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra của Chính phủ.
== Tình hình kinh tế-xã hội ==
Về kinh tế: Là huyện thuần nông, điểm xuất phát thấp, thời gian gần đây, huyện Ứng Hòa đã tập trung chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp kết hợp với khôi phục ngành nghề truyền thống và phát triển nghề mới, nên năm 2009 tổng giá trị sản xuất của huyện đạt 905,6 tỷ đồng, vượt 2,7% so với kế hoạch. Tốc độ tăng trưởng đạt 11,2%. Số hộ đói nghèo đã giảm được 1.152 hộ (giảm 2,63% so với năm 2008).
Về nông nghiệp: Ứng Hòa đã tập trung chỉ đạo nhân rộng các mô hình nông nghiệp giá trị kinh tế cao nhằm phát huy tối đa hiệu quả giá trị sử dụng đất ở địa phương. Đẩy mạnh chương trình chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng, theo các mô hình chuyên canh, đa canh, nuôi thủy sản (lúa + cá + vịt). Hiện tại, tổng đàn gia súc, gia cầm của huyện duy trì khoảng gần 900.000 con.
Đặc biệt, để thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, huyện đã quy hoạch 12 điểm với 635ha diện tích trồng rau an toàn tập trung tại các xã ven sông Đáy.
Cùng với chăn nuôi gia súc, gia cầm, một mũi nhọn khác của Ứng Hòa là nuôi trồng thủy sản. Năng suất thủy sản trung bình đạt từ 6,2-6,5 tấn cá/ha/năm; cho thu nhập từ 75-85 triệu đồng/ha/năm; cao gấp 2,5 đến 3 lần so với cấy lúa. Nhiều hộ đầu tư vốn lớn cho thu nhập lên tới 100-120 triệu đồng/ha/năm.
Về công nghiệp: Năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2008.
Về thương mại-dịch vụ: Năm 2009, giá trị thương mại dịch vụ tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2008. Huyện đã huy động mọi nguồn vốn đầu tư để xây dựng và nâng cấp một số chợ xã. Phấn đấu năm 2010, đưa chợ đầu mối nông sản thuộc trung tâm thương mại thị trấn Vân Đình vào khai thác hoạt động kinh doanh đồng thời đa dạng hóa các loại hình dịch vụ.
Về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: Huyện đã triển khai 87 dự án đầu tư xây dựng cơ bản với tổng vốn trên 550 tỷ đồng. Đến nay đã có năm dự án hoàn thành. Hiện nay, 100% số thôn trong huyện đã có điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt. 837,8 km đường giao thông khu vực huyện lỵ đã được trải nhựa, tạo điều kiện cho nhân dân giao lưu kinh tế, phát triển sản xuất và phục vụ đời sống. Dự án đường trục phía nam Hà Nội đi xuyên qua huyện tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế.
Về làng nghề: Ứng Hòa có một số các làng nghề truyền thống như làng may Trạch Xá thuộc xã Hòa Lâm, làng bún Bặt thuộc xã Liên Bạt, làng đàn Đào Xá thuộc xã Đông Lỗ, làng nghề khảm trai Cao Xá thuộc xã Trung Tú.
Về giáo dục: Toàn huyện có 15/29 trường đạt chuẩn quốc gia.
Về y tế: Toàn huyện có 13/29 trạm y tế xã đạt chuẩn và có bác sĩ phục vụ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
Di tích và danh lam thắng cảnh
Huyện Ứng Hòa có nhiều danh thắng nổi tiếng như Đình chùa Tử Dương, Đình Hoàng Xá, Đình Đông Lỗ, Đền Thái Bình, Đền Đức Thánh Cả, khu Cháy với Bảo tàng và Tượng đài lịch sử lưu giữ nhiều hiện vật của thời kháng chiến chống Pháp.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Huyện Ứng Hòa trên trang web tỉnh Hà Tây cũ |
toho.txt | Toho Co., Ltd. (東宝株式会社, Tōhō Kabushiki-gaisha, TYO: 9602/JASDAQ: 9602) là Công ty phân phối phim và sản xuất sân khấu Nhật Bản. Trung tâm của nó nằm ở Yūrakuchō, Chiyoda, Tokyo, và một trong những công ty chủ chốt của Hankyu Hanshin Toho Group. Bên ngoài Nhật Bản, nó còn được biết nhiều nhất như là nhà sản xuất và nhà phát hành của nhiều phim kaiju và tokusatsu, xuất bản phim truyền hình về Siêu anh hùng tokusatsu Chouseishin, những bộ phim của Kurosawa Akira, và những phim anime của Studio Ghibli. Những đạo diễn nổi tiếng khác bao gồm Ozu Yasujirō, Mizoguchi Kenji, Kobayashi Masaki và Naruse Mikio cũng đều làm đạo diễn phim cho Toho. Nó nổi tiếng khắp thế giới khi tạo ra Godzilla, chủ đề trong 29 phim. Godzilla, Mothra, King Ghidorah, Mechagodzilla, và Rodan được đánh giá như là "Siêu năm" (Big Five) của Toho thậm chí cả số lần xuất hiện của những con quái vật trong tất cả ba giai đoạn xuất bản, cũng như lợi nhuận. Toho cũng bao gồm vô số lần sản xuất tiêu đề anime. Nó được chia thành Toho Pictures Incorporated, Toho International Company Limited, Toho E. B. Company Limited, Toho Music Corporation & Toho Costume Company Limited. Công ty này cổ phần lớn nhất (7.96%) của Fuji Media Holdings Inc..
== Lịch sử ==
Toho được thành lập ở đường sắt Hankyu bởi Kobayashi Ichizo vào năm 1932 với tên gọi là Tokyo-Takarazuka Theater Company (東京宝塚劇場株式会社, Tōkyō Takarazuka Gekijō Kabushiki-kaisha). Nó quản lý nhiều kabuki ở Tokyo và hầu như nhiều thể loại khác, Tokyo Takarazuka Theater và Imperial Garden Theater ở Tokyo; Toho và Shochiku đứng ở vị trí độc tôn các rạp ở Tokyo trong nhiều năm.
Sau nhiều phim xuất sang Hoa Kỳ thành công trong thập niên 1950 thông qua Henry G. Saperstein, Toho đã mở rạp La Brea ở Los Angeles để giới thiệu những bộ phim của họ mà không cần bán cho nhà phân phối ở đó. Nó cũng được biết như là rạp Toho từ sau thập niên 1960 cho đến thập niên 1970. Toho cũng có một rạp ở San Francisco và mở một rạp ở New York vào năm 1963.
Công ty Shintoho tồn tại mãi đến 1964 với tên là Toho Mới (New Toho) vì tách ra khỏi công ty ban đầu.
Công ty này cũng đã tiến hành sản xuất phim gồm Kế hoạch đơn giản của Sam Raimi
== Sản xuất chính và phát hành ==
=== Phim ===
==== Thập niên 1930 ====
Three Sisters with Maiden Hearts (1935)
Enoken's Ten Millions (1936)
Enoken's Ten Millions sequel (1936)
Tokyo Rhapsody (1936)
Humanity and paper balloons (1937)
Avalanche (1937)
A Husband Chastity (1937)
Tojuro's Love (1938)
Enoken's Shrewd Period (1939)
Chushingura I (1939)
Chushingura II (1939)
==== Thập niên 1940 ====
Song of Kunya (1940)
Enoken Has His Hair Cropped (1940)
Songoku: Monkey Sun (1940)
Hideko the Bus-Conductor (1941)
Uma (1941)
The War at sea from Hawaii to Malay (1942)
Sanshiro Sugata (1943)
The Most Beautiful (1944)
Sanshiro Sugata Part II (1945)
The Men Who Tread on the Tiger's Tail (1945)
No Regrets for Our Youth (1946)
Those Who Make Tomorrow (1946)
One Wonderful Sunday (1947)
Drunken Angel (1948)
Stray Dog (1949)
==== Thập niên 1950 ====
The Lady of Musashino (1951)
Repast (1951)
Ikiru (1952)
Seven Samurai (1954)
Godzilla (1954)
Tomei ningen (1954)
Sound of the Mountain (1954)
Late Chrysanthemums (1954)
Floating Clouds (1955)
Godzilla Raids Again (1955)
Half Human (1955)
I Live in Fear (1955)
Sudden Rain (1956)
A Wife's Heart (1956)
Vampire Moth (1956)
Sazae-san (1956)
Flowing (1956)
Rodan (1956)
Untamed (1957)
The Mysterians (1957)
Throne of Blood (1957)
Ikiteiru koheiji (1957)
The Lower Depths (1957)
The H-Man (1958)
The Hidden Fortress (1958)
Shirasagi (1958)
Varan (1958)
Battle in Outer Space (1959)
The Birth of Japan (1959)
==== Thập niên 1960 ====
The Secret of the Telegian
The Human Vapor
The Bad Sleep Well (1960)
When a Woman Ascends the Stairs (1960)
Hawai Middouei daikaikusen: Taiheiyo no arashi (Hawaii-Midway Battle of the Sea and Sky: Storm in the Pacific Ocean) also as Storm Over the Pacific (1960)
Autumn Has Already Started (1960)
I Bombed Pearl Harbor (1961)
Mothra (1961)
Yojimbo (1961)
The Last War (1961)
The End of Summer (1961)
Sanjuro (1962)
Gorath (1962)
King Kong vs. Godzilla (1962)
Rorentsu o· Ruisu no shōgai (1962)
A Wanderer's Notebook (1962)
Pitfall (1962)
High and Low (1963)
Matango (1963)
Atragon (1963)
Yearning (1964)
Woman in the Dunes (1964)
Mothra vs. Godzilla (1964)
Dogora (1964)
Ghidorah, the Three-Headed Monster (1964)
Kokusai himitsu keisatsu: Kayaku no taru (1964)
Kwaidan (1964)
Kokusai himitsu keisatsu: Kagi no kagi (1965) (this and the above film spliced together to form What's Up, Tiger Lily?)
Tokyo Olympiad (1965)
Red Beard (1965)
Frankenstein Conquers the World (1965)
Invasion of Astro-Monster (1965)
We Will Remember (1965–66)
The Face of Another (1966)
War of the Gargantuas (1966)
Godzilla vs. the Sea Monster (1966)
Samurai Rebellion (1967)
Son of Godzilla (1967)
King Kong Escapes (1967)
Destroy All Monsters (1968)
Latitude Zero (1969)
All Monsters Attack (1969)
==== Thập niên 1970 ====
Space Amoeba (1970)
Dodes'ka-den (1970)
The Vampire Doll (1970)
To Love Again (1971)
Godzilla vs. Hedorah (1971)
The Battle of Okinawa (1971)
Daigoro vs. Goliath (1971)
Lake of Dracula (1971)
Young Guy vs. Blue Guy (1971)
Godzilla vs. Gigan (1972)
Godzilla vs. Megalon (1973)
Kure Kure Takora (1973)
Japan Sinks (1973)
Lady Snowblood (1973)
Godzilla vs. Mechagodzilla (1974)
Prophecies of Nostradamus (1974)
Evil of Dracula (1974)
Lupin III (1974)
Terror of Mechagodzilla (1975)
Demon Spies (1975)
Zero Fighter (1976)
The Inugamis (1976)
House (1977)
The War in Space (1977)
==== Thập niên 1980 ====
Doraemon: The Motion Picture (1980)
Kagemusha (1980)
The Wizard of Oz (1982)
Techno Police 21C (1982)
The Highest Honor (1982)
The Makioka Sisters (1983)
Macross: Do You Remember Love? (1984)
Urusei Yatsura: Beautiful Dreamer (1984)
The Return of Godzilla (1984)
Ran (1985)
Prussian blue Portrait (1986)
Grave of the Fireflies (1988, đồng sản xuất với Studio Ghibli)
Kimagure Orange Road: I Want to Return to That Day (1988)
Akira (1988)
My Neighbor Totoro (1988, đồng sản xuất với Studio Ghibli)
Godzilla vs. Biollante (1989)
Sweet Home (1989)
==== Thập niên 1990 ====
Devil Hunter Yohko (1990)
Only Yesterday (1991)
Godzilla vs. King Ghidorah (1991)
Godzilla and Mothra: The Battle for Earth (1992)
Porco Rosso (1992)
Godzilla vs. Mechagodzilla II (1993)
Godzilla vs. SpaceGodzilla (1994)
Godzilla vs. Destoroyah (1995)
Gakkō no Kaidan (1995)
Gamera: Guardian of the Universe (1995)
Gakkō no Kaidan 2 (1996)
Gamera 2: Attack of Legion (1996)
New Kimagure Orange Road: And Then, The Beginning of That Summer (1996)
Rebirth of Mothra (1996)
Gakkō no Kaidan 3 (1997)
Princess Mononoke (1997)
Rebirth of Mothra II (1997)
Rebirth of Mothra III (1998)
Godzilla (1998)
Ring (1998)
Pocket Monsters: Mewtwo's Counterattack (1998)
Gakkō no Kaidan 4 (1999)
Gamera 3: The Revenge of Iris (1999)
Godzilla 2000: Millennium (1999)
Pokémon: Sự bùng nổ của Lugia huyền thoại (1999)
==== Thập niên 2000 ====
Pokémon: Hoàng đế của tháp pha lê Entei (2000)
Metropolis
Godzilla vs. Megaguirus (2000)
Merdeka 17805 (2001), đồng sản xuất với Rapi Films từ Indonesia)
Kairo (2001)
Spirited Away (2001), đồng sản xuất với Studio Ghibli)
Phim Inuyasha (2001–2004), đồng sản xuất với Sunrise
Phim Hamtaro#1: Adventures in Ham-Ham Land (2001) (nhà phát hành)
Pokémon: Celebi và Cuộc gặp gỡ vượt thời gian (2001)
Phim Hamtaro #2: Princess of Vision (2002) (nhà phát hành)
Beyblade: Bakuten Shoot Beyblade The Movie: Gekitou!! Takao vs. Daichi (2002) (nhà sản xuất)
Godzilla, Mothra and King Ghidorah: Giant Monsters All-Out Attack (2001)
Pokémon: Thần hộ mệnh của thành phố nước Latias và Latios (2002)
Phim Hamtaro #3: Ham-Ham Grand Prix (2003) (nhà phát hành)
Godzilla Against Mechagodzilla (2002)
One Missed Call (2003)
Godzilla, Mothra, Mechagodzilla: Tokyo S.O.S (2003)
Pokémon: Bảy đêm cùng ngôi sao ước nguyện Jirachi (2003)
Howl's Moving Castle (2004), đồng sản xuất với Studio Ghibli)
Naruto the Movie (2004)
Godzilla: Final Wars (2004)
Steamboy (2004)
Phim Hamtaro #4: Hamtaro and the Mysterious Ogre's Picture Book Tower (2004) (nhà phát hành)
Pokémon: Deoxys kẻ phá vỡ bầu trời (2004)
Lolerei (2005)
Always san-chome no yuhi (2005)
Naruto the Movie 2 (2005)
Densha Otoko (2005)
NANA (2005)
Arashi no Yoru ni (2005)
Pokémon: Mew Và Người hùng của ngọn sóng Lucario (2005)
Bleach: Memories of Nobody (2006)
Dōbutsu no Mori (2006), đồng sản xuất với O.L.M., Nintendo, và Shogakukan
Nada Sousou (2006)
NANA2 (2006)
Nihon Chinbotsu (Japan Sinks) (2006)
Pokémon: Ngôi đền đại dương (2006)
Rough (2006)
Phim Touch (2006)
Always zoku san-chome no yuhi (2007)
Eiga De Tojo-Tamagotchi: Dokidoki! Uchuu no Maigotchi!? (2007)
HERO (2007)
Pokémon: Cuộc đối đầu giữa Dialga với Palkia và Darkrai (2007)
Pokémon: Giratina và Bông hoa của bầu trời (2008)
Hana Yori Dango Final (2008)
Ponyo on the Cliff (2008)
I Survived a Japanese Game Show (2008)
Mystery of the Third Planet (2008)
Pokémon: Arceus chinh phục khoảng không thời gian (2009)
Boku no Hatsukoi wo Kimi ni Sasagu (2009)
Uchū Senkan Yamato: Fukkatsu hen (2009)
Professor Layton and the Eternal Diva (2009)
The Secret of Kells (2009) chỉ phát hành bằng tiếng Nhật, được sản xuất bởi Cartoon Saloon, Celluloid Dreams, France 2 Cinéma and Canal +
==== Thập niên 2010 ====
Winx Club 3D: Magical Adventure (2010)
Space Battleship Yamato (2010)
Pokémon: Zoroark: Bá chủ của ảo ảnh (2010)
Pocket Monsters Best Wishes! The Movie: Victini and the White Hero: Reshiram (2011)
Pocket Monsters Best Wishes! The Movie: Victini and the Black Hero: Zekrom (2011)
Genji Monogatari: Sennen no Nazo (2011)
Hankyū Densha (2011)
Gyakuten Saiban (2012)
Pokémon: Kyurem với thánh kiếm sĩ Keldeo (2012)
The Wolf Children Ame and Yuki (2012)
Jewelpet the Movie: Sweets Dance Princess (2012)
The Wind Rises (2013)
Godzilla (2014)
Pokémon: Diancie and the Cocoon of Destruction (2014)
=== Truyền hình ===
==== Tokusatsu ====
Ike! Godman (1972)
Warrior Of Love: Rainbowman (1972)
Meteor Man Zone (1973)
Ike! Greenman (1973)
Warrior Of Light: Diamond Eye (1973)
Flying Saucer War Bankid (1976)
Megaloman (1979)
Electronic Brain Police Cybercop (1988)
Seven Stars Fighting God Guyferd (1996)
Godzilla Island (1997)
Chouseishin Gransazer (2003)
Genseishin Justirisers (2004)
Chousei Kantai Sazer-X (2005)
Kawaii! Jenny (2007)
==== Anime TV ====
Belle and Sebastian (1981)
Igano Kabamaru (1983)
Touch (1985)
Kimagure Orange Road (1987)
Godzilla (1998) (đồng sản xuất)
Midori Days (đồng sản xuất) (2004)
Winx Club (đồng sản xuất) (2004)
Trong những năm và thập kỉ gần đây họ đã sản xuất những trò chơi điện tử. Một trong những công ty trò chơi điện tử đầu tiên của họ năm 1990 là NES với trò Circus Caper. Sau này, họ tiếp tục với hành loạt trò chơi dựa trên Godzilla và năm 1992 trò chơi có tên gọi Serizawa Nobuo no Birdy Try. Nó được phát hành như là trò chơi Super Aleste. Họ thậm chí còn làm việc với Bandai trên Dr. Jekyll and Mr. Hyde, được phát hành ở Nhật Bản năm 1988 và ở Hoa Kỳ năm 1989.
== Trụ sở ==
Trụ sở chính của Toho Toho Hibiya Building (東宝日比谷ビル, Tōhō Hibiya Biru) ở Yūrakuchō, Chiyoda, Tokyo. Công ty này đã dời trụ sở chính tại đây hiện nay vào tháng tư 2005.
== Tổng quan ==
TohoScope
Tomisaburo Wakayama
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức (tiếng Nhật)
Toho Pictures official website
Toho tại từ điển bách khoa của Anime News Network
|
sendai.txt | Sendai (tiếng Nhật: 仙台市 Sendai-shi; âm Hán Việt: Tiên Đài thị) là một đô thị quốc gia của Nhật Bản ở vùng Tohoku. Sendai cũng là trung tâm hành chính của tỉnh Miyagi.
== Lịch sử ==
Mặc dù Sendai đã có người sinh sống từ cách đây 20.000 năm, nhưng lịch sử của thành phố Sendai thì mới bắt đầu từ năm 1600.
Lãnh chúa Masamune không hài lòng về phần lãnh địa và thành trì Iwadeyama trước đó của ông ta. Iwadeyama nằm ở phía bắc vùng đất của ông và từ đó rất khó khăn để đến Edo (Tokyo hiện nay). Trong khi đó, Sendai là một địa điểm lý tưởng, tọa lạc ngay trung tâm vùng đất mà Masamune mới giành được, nằm trên con đường chính đến Edo, và còn gần biển nữa. Tokugawa Ieyasu đã cho phép Masamune xây dựng thành quách ở Aobayama, Sendai sau trận thắng Sekigahara. Vào thời điểm đó, chữ Sendai được viết là 千代 - "Thiên Đài", vì ở Aobayama có một ngôi đền với 1000 bức tượng Phật (千体 sentai – thiên thể). Masamune đã đổi cách viết chữ Kanji của thành phố thành 仙台 - "Tiên Đài". Masamune xây dựng thành Sendai vào tháng 12 năm 1600 và bắt tay xây dựng Sendai thành một thị trấn vào năm 1601. Những đồ án của ông ngày đó đã tạo cơ sở cho hệ thống đường sá ở trung tâm thành phố ngày nay.
Sendai được hợp nhất thành thành phố vào ngày 1 tháng 4 năm 1889, là kết quả của sự loại trừ chế độ lãnh địa phong kiến. Vào thời điểm hợp nhất, diện tích thành phố là 17,45 km² và dân số là 86.000 người. Tuy nhiên, thành phố lại qua tiếp bảy lần sáp nhập nữa, từ 1928 tới 1988. Thành phố như bây giờ bắt đầu từ tháng 4 năm 1989. Năm 1999, dân số thành phố đã vượt quá 1 triệu người.
Sendai bắt đầu được biết tới như một thành phố của cây cối (森の都 Mori no Miyako) từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai. Đó là vì các lãnh chúa của Sendai đã khuyến khích dân trồng cây cối trong sân nhà. Kết quả là mọi ngôi nhà, ngôi đền và điện thờ ở trung tâm thành phố đều có những khu rừng gia đình (屋敷林 yashikirin), được sử dụng như nguồn cung cấp gỗ và những nguyên liệu hàng ngày. Những cuộc oanh tạc trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã phá huỷ gần hết mọi cây cỏ, và một số lượng lớn nữa bị tiêu hao cho công cuộc phát triển phục hồi đất nước sau chiến tranh. Sendai vẫn được biết đến như "Thành phố của Cây cối", vì một cố gắng rất to lớn nhằm phục hồi lại cây xanh trong thành phố.
== Địa lý ==
Sendai nằm ở vị trí 38°16ᐟ05ᐥ Bắc, 140°52ᐟ11ᐥ Đông. Diện tích thành phố là 788,09 km², chạy dài từ Thái Bình Dương đến núi Ou, vốn là những ranh giới Đông - Tây của tỉnh Miyagi. Kết quả là làm cho địa lý của thành phố này thực sự đa dạng. Đồng bằng ở phía Đông, vùng đồi ở giữa và núi ở phía Tây thành phố. Điểm cao nhất của thành phố là Đỉnh Funagata, cao 1500 m so với mặt biển.
Sông Hirose có 45 km chảy qua Sendai. Dòng sông này được coi là biểu tượng của thành phố Sendai, đặc biệt là khi nó xuất hiện trong bài hát Aobajō Koiuta (青葉城恋唄 hay "Tình ca thành Aoba"). Thành Sendai được xây dựng sát con sông, mục đích là sử dụng sông như một đường hào tự nhiên. Con sông này thường xuyên có lũ lụt đến tận thập niên 1950, khi những con đê và đập nước được xây dựng từ năm 1960 đến 1970 đã làm lũ lụt giảm đi rất nhiều. Con sông bây giờ nổi tiếng với nước sạch và cảnh đẹp tự nhiên, đã từng được Bộ Môi trường Nhật Bản bầu chọn là một trong 100 con sông nổi tiếng nhất nước Nhật.
Những ngọn núi ở Sendai là núi lửa ngừng hoạt động, già hơn nhiều ngọn núi lửa nổi tiếng như Zao và Narugo ở thành phố bên cạnh. Tuy nhiên, nhiều suối nước nóng được tìm thấy ở đây.
== Khí hậu ==
Sendai có khí hậu ôn hoà. Nhiệt độ trung bình 12,1 °C và lượng mưa trung bình 1241,8 mm/năm. Nhiệt độ cao nhất được ghi nhận là 36,8 °C, và thấp nhất là −11,7 °C. Một năm trung bình có khoảng 16,8 ngày thành phố có nhiệt độ cao trên 30 °C và chỉ 2,2 ngày mà nhiệt độ dưới 0 °C, một sự cách biệt nhỏ so với phần lớn các thành phố khác trên đất Nhật. Thành phố hiếm khi gặp bão, và trung bình mỗi năm chỉ có 6 ngày có tuyết dày hơn 10 cm. Mùa mưa ở Sendai thường bắt đầu vào cuối tháng 6 đến đầu tháng 7, trễ hơn so với các nơi khác ở Nhật. Ngày 11/3/2011 Thành phố Sendai bị phá huỷ do trận địa chấn 9,8 độ Ricter trên vùng đứt gãy Thái Bình Dương cách đó 150 km về phía Đông Bắc. Trận động đất kinh hoàng này đã tạo ra đợ sóng thần cao đến 10m ập vào thành phố làn hàng vạn người thiệt mạng.
== Dân cư ==
Năm 2003, thành phố đã đạt dân số 1.020.676 người với mật độ 1302,65 người/km² (tổng diện tích 788,09 km²). Hầu hết mọi cư dân thành phố sống trong vùng đô thị nơi gần các ga xe lửa và xe điện ngầm. Cuộc điều tra dân số quốc gia năm 2000 đã cho thấy 88,5% dân số thành phố này (892.252 người) sống trong một diện tích 129,69 km² (bằng 16,6% tổng diện tích thành phố). Mật độ dân ở khu vực này là 6879,9 người/km², gấp 5 lần mật độ dân số thành phố (lúc đó là 1286,6 người/km²). Có khoảng 10.000 người ở Sendai không phải là công dân Nhật.
Trong năm 2004, Sendai có 440.759 hộ gia đình. Trung bình một gia đình có khoảng 2,33 thành viên. Các hộ gia đình đã trở nên nhỏ bé hơn so với trước đây, do thực tế là mỗi hộ chỉ có 1 thành viên, hoặc 1 đứa con. Tuổi trung bình của Sendai là 38,4; một trong những thành phố trẻ nhất của Nhật.
== Giao thông ==
Từ Sendai có đường bộ và đường sắt nối liền với các tỉnh khác trong đất nước. Tàu tốc hành "viên đạn" (shinkansen) từ Sendai đến Tokyo chỉ mất khoảng hai tiếng đồng hồ. Sân bay Sendai là sân bay hạng 2 của Nhật Bản, phục vụ các chuyến bay nội địa và một số chuyến bay quốc tế đi Trung Quốc (Bắc Kinh, Thượng Hải, Đại Liên, Trường Xuân), Hàn Quốc (Seoul), Đài Loan (Đài Bắc), và Guam. Từ sân bay Sendai có tuyến đường sắt đến ga trung tâm Sendai (giá vé một chiều của năm 2009 là 630 yên Nhật).
== Đặc sản ==
Sendai là nơi phát sinh của một vài loại đồ ăn, gồm cả gyutan (牛タン, lưỡi bò), hiyashi chuka (mì nguội Trung Hoa) và robatayaki (thịt heo nướng). Tuy nhiên, sau đó robatayaki đã được mang đến Kushiro, nơi đã phát triển và làm cho món ăn trở nên nổi tiếng. Do đó, nhiều người đã tin rằng Kushiro là nguồn gốc của món robatayaki này. Zundamochi (ずんだ餅) và sasakamaboko (笹かまぼこ, kamaboko hình dạng giống như lá tre) cũng được coi là đặc sản của Sendai. Sendai cũng nổi tiếng vớI những món sashimi, sushi và sake. Đó là do Sendai rất gần vài cảng cá chính (như Kesennuma, Ishinomaki và Shiogama) và cũng vì tỉnh Miyagi là một nơi trồng nhiều gạo. Mặc dù, đôi lúc Sendai được cho là nguồn gốc của món "sushi băng tải" (conveyor belt sushi), nhưng nguồn gốc thực sự của nó là ở Osaka. Tuy nhiên, cửa hàng sushi băng tải đầu tiên ở phía đông Nhật Bản đã được mở ở Sendai.
Rất nhiều đồ thủ công ở Sendai có nguồn gốc từ thời kì Edo. Ví dụ, Sendai Hira, một loại vải lụa được dệt bằng tay, đồ gốm Tsutsumiyaki và giấy viết Yanagiu Washi.
== Giáo dục ==
Đôi khi Sendai được gọi là "Thành phố Học viện" (学都) vì thành phố này có rất nhiều trường đại học so với dân số của nó. Đại học Tohoku là đại học nổi tiếng nhất ở đây. Đại học này là một trong 7 trường đại học thượng hạng ở Nhật Bản và từng được xếp hạng trong những trường đại học kỷ luật và đòi hỏi nhạy bén nhất châu Á năm 1999 bởi Asiaweek.
== Sự cố năm 2011 ==
== Hình ảnh ==
== Chú thích == |
tiền giang.txt | Tiền Giang là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam, với phần lớn diện tích của tỉnh thuộc địa bàn tỉnh Mỹ Tho trước đó. Tuy nhiên, cũng có thời kỳ toàn bộ diện tích tỉnh Tiền Giang ngày nay đều thuộc tỉnh Mỹ Tho, bao gồm cả vùng Gò Công. Tiền Giang là tỉnh vừa thuộc Vùng đồng bằng sông Cửu Long, vừa nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tỉnh lỵ của Tiền Giang hiện nay là thành phố Mỹ Tho, nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về phía Bắc và cách Thành phố Cần Thơ 100 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A.
Tiền Giang có đường bờ biển dài 32 km, với địa hình tương đối bằng phẳng, đất phù sa trung tính, ít chua dọc sông Tiền, chiếm khoảng 53% diện tích toàn tỉnh, thích hợp cho nhiều loại giống cây trồng và vật nuôi. Mạng lưới viễn thông Tiền Giang được hiện đại hóa và triển khai đồng loạt trong toàn tỉnh, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong nước và quốc tế. Ngoài ra Tiền Giang cũng là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch.
== Vị trí địa lý ==
Tiền Giang nằm trong tọa độ 105°50’–106°55’ kinh độ Đông và vĩ độ Bắc. Phía Bắc giáp tỉnh Long An, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Bến Tre và tỉnh Vĩnh Long, phía Đông Bắc giáp Thành phố Hồ Chí Minh, phía Đông Nam giáp Biển Đông. Được chính phủ quy hoạch là một trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Tiền Giang nằm trải dọc trên bờ Bắc sông Tiền (một nhánh của sông Mê Kông) với chiều dài 120 km. Nhờ vị trí hết sức thuận lợi nên Tiền Giang đã trở thành trung tâm văn hóa chính trị của cả Đồng bằng sông Cửu Long, là địa bàn trung chuyển hết sức quan trọng gắn cả miền Tây Nam Bộ. Vị trí như vậy giúp Tiền Giang sớm trở thành một tỉnh có nền kinh tế phát triển hàng đầu trong khu vực miền Tây Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
== Điều kiện tự nhiên ==
Tỉnh Tiền Giang có địa hình bằng phẳng, với độ dốc nhỏ hơn 1% và cao trình biến thiên từ 0 mét đến 1,6 mét so với mặt nước biển, phổ biến từ 0,8 mét đến 1,1 mét. Nhìn chung, toàn vùng không có hướng dốc rõ ràng, tuy nhiên có những khu vực có tiểu địa hình thấp trũng hay gò cao hơn so với địa hình chung. Trên địa bàn còn có rất nhiều giồng cát biển hình cánh cung có cao trình phổ biến từ 0,9 - 1,1 mét nổi hẳn lên trên các đồng bằng chung quanh.
Đất đai của tỉnh phần lớn là nhóm đất phù sa trung tính, ít chua dọc sông Tiền chiếm khoảng 53% diện tích toàn tỉnh, thuận lợi nguồn nước ngọt, từ lâu đã được đưa vào khai thác sử dụng, hình thành vùng lúa năng suất cao và vườn cây ăn trái chuyên canh của tỉnh; còn lại 19,4% là nhóm đất phèn và 14,6% là nhóm đất phù sa nhiễm mặn...
Tiền Giang có khu vực giáp biển Đông thuộc huyện Gò Công Đông và huyện Tân Phú Đông với bờ biển dài 32 km nằm kẹp giữa các cửa sông lớn là Xoài Rạp và cửa Tiểu, cửa Đại thuộc hệ thống sông Tiền. Vị trí này rất thuận lợi cho nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Thủy sản nước lợ gồm con giống và con non sinh sản và di chuyển vào sâu trong bờ, trữ lượng hàng năm ước tính về tôm, cua, cá, sò, nghêu... tại các vùng cửa sông là 156.000 tấn. Hải sản, tiềm năng hải sản khá dồi dào với trữ lượng hàng năm về sinh vật nổi lên đến 12.000 triệu tấn thực vật phiêu sinh, 5,96 triệu tấn động vật phiêu sinh, 4,7 triệu tấn sinh vật đáy và hơn 1 triệu tấn cá.
Khí hậu Tiền Giang mang tính chất nội chí tuyến - cận xích đạo và khí hậu nhiệt đới gió mùa nên nhiệt độ bình quân cao và nóng quanh năm. Nhiệt độ bình quân trong năm là 27oC - 27,9oC. Với 2 mùa rõ rệch là mùa mưa và mùa khô. Mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau lượng mưa trung bình 1.210 - 1.424 mm/năm và phân bố ít dần từ bắc xuống nam, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11.
Tiền Giang là tỉnh có nhiều trữ lượng về khoáng sản, các khoáng sản chủ yếu là Than bùn, sét, trữ lượng cát trên sông, và trữ lượng Nước dưới đất...Trong đó, Các mỏ than bùn bị phủ một lớp sét, mùn thực vật dày 0-0,7 mét, trung bình là 0,3 mét. Mỏ sét Tân Lập có nguồn gốc trầm tích hỗn hợp sông biển, tuổi Holocen, có lớp phủ dày 0,2 - 3 mét, phân bố trên diện tích 2 – 3 km2 với chiều dày 15 - 20m. Trữ lượng tương đương 6 triệu m3. Các mỏ cát được xác định, phân lớp tập trung tại địa bàn các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành với 9 thân cát có trữ lượng lớn với chiều dài 2 – 17 km, rộng 300 - 800m, dày 2,5-6,9 mét, có chất lượng đáp ứng nhu cầu vật liệu san lấp. Nước dưới đất trên phạm vi tỉnh có 3 tầng chứa nước có triển vọng, có độ giàu nước từ lớn đến trung bình, có chất lượng tốt, đủ điều kiện khai thác với quy mô lớn và vừa gồm các phân vị Pliocen trên, Pliocen dưới và Miocen.
Tiền Giang có mạng lưới sông, rạch chằng chịt, bờ biển dài thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hoá với các khu vực lân cận đồng thời là môi trường cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Trong đó, Sông Tiền là nguồn cung cấp nước ngọt chính, chảy 115 km qua lãnh thổ Tiền Giang. Sông Vàm Cỏ Tây là một sông không có nguồn, lượng dòng chảy trên sông chủ yếu là từ sôngTiền chuyển qua, là nơi nhận nước tiêu lũ từ Đồng Tháp Mười thoát ra và là 1 tuyến xâm nhập mặn chính từ biển vào. Hầu hết sông, rạch trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều không đều. Đặc biệt vùng cửa sông có hoạt động thủy triều rất mạnh, biên độ triều tại các cửa sông từ 3,5 - 3,6m, tốc độ truyền triều 30 km/h, tốc độ độ chảy ngược trung bình 0,8 - 0,9 m/s, lớn nhất lên đến 1,2 m/s và tốc độ chảy xuôi đến 1,5 - 1,8 m/s.
== Hành chính ==
Tiền Giang có 11 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 8 huyện. Trong đó có với 173 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 7 thị trấn, 22 phường và 144 xã:
== Lịch sử ==
=== Tỉnh Định Tường thời nhà Nguyễn độc lập ===
Trước thế kỷ XVII, đất Tiền Giang thuộc Chân Lạp.Vào đầu thế kỷ XVII, Jayajettha II lên ngôi ở Chân Lạp, để tạo ra một thế lực và liên minh mới đối trọng với nước Xiêm, ông tìm đến chúa Nguyễn qua cuộc hôn nhân với công chúa Ngọc Vạn. Mối quan hệ giữa hai nước ngày càng gắn bó. Khi Batom Reachea trở thành vua Chân Lạp (nhờ sự hỗ trợ của chúa Nguyễn), người Việt được phép đến định cư ở các vùng đất thuộc lãnh thổ nước này.
Từ thế kỷ XVII, vùng Tiền Giang được người Việt - từ miền Trung và miền Bắc, trong đó phần lớn là từ vùng Ngũ Quảng - đến khai hoang và định cư. Năm Nhâm Tý (1772), chúa Nguyễn Phước Thuần quyết định thành lập tại Mỹ Tho một đơn vị hành chánh mang tính quân quản là đạo Trường Đồn. Đứng đầu đạo Trường Đồn có một quan võ cấp Cai cơ (hoặc Cai đội), một quan văn cấp Thư ký và lực lượng tinh binh, thuộc binh. Lỵ sở đạo Trường Đồn đặt tại giồng Kiến Định (nay là khu vực thị trấn Tân Hiệp, huyện Châu Thành).
Năm Kỷ Hợi (1779), Nguyễn Phúc Ánh làm Nhiếp Quốc chính, cắt bớt địa giới các dinh Phiên Trấn, Trấn Biên và Long Hồ, kết hợp với đạo Trường Đồn để lập dinh Trường Đồn. Đặt các chức Lưu thủ, Ký lục, Cai bạ (toàn các quan văn) cai trị. Lỵ sở dinh Trường Đồn cũng đặt tại giồng Kiến Định như cũ. Dinh Trường Đồn được thành lập trên cơ sở là một "đạo" nên không có "phủ" mà chỉ có một "huyện", đó là huyện Kiến Khương, gồm các thuộc Kiến Hưng, Kiến Hòa và Kiến Đăng.
Tháng giêng năm Canh Tý (1780), Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi chúa. Năm sau, Nguyễn Phúc Ánh đổi tên dinh Trường Đồn thành dinh Trấn Định, dời lỵ sở về thôn Mỹ Chánh (Mỹ Tho). Từ đó, Mỹ Tho trở thành trung tâm chính trị, hành chính, quân sự, văn hoá và kinh tế của một vùng. Đời Gia Long (1802), đơn vị dinh được đổi thành trấn. Lúc bấy giờ ở Nam kỳ có 5 trấn: Biên Hoà, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Long và Hà Tiên; lại đặt thêm thành Gia Định thống lĩnh 5 trấn này. Đất Tiền Giang bấy giờ thuộc trấn Định Tường. Trấn Định Tường có phủ Kiến An gồm ba huyện Kiến Hưng, Kiến Hoà và Kiến Đăng.
Năm Đinh Mão (1831), Minh Mạng đổi đơn vị "trấn" thành đơn vị "tỉnh" và bắt đầu xây dựng chế độ phong kiến theo mô hình trung ương tập quyền, xóa bỏ cấp "thành", đặt ba tỉnh kiêm nhiếp, ba tỉnh phân hạt: tỉnh Gia Định kiêm nhiếp tỉnh Biên Hoà (phân hạt), tỉnh Vĩnh Long kiêm nhiếp tỉnh Định Tường (phân hạt), tỉnh An Giang kiêm nhiếp tỉnh Hà Tiên (phân hạt). Tỉnh Định Tường (chữ Hán: 定祥(省)) được thành lập năm Minh Mạng thứ 13 (1832) và là một trong 6 tỉnh của Nam Kỳ (Nam Kỳ lục tỉnh).
Năm 1859, Pháp xâm chiếm thành Gia Định. Năm 1861, Pháp đánh chiếm Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long. Thời Pháp thuộc (1862-1945), theo Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862, Định Tường cùng với Biên Hòa và Gia Định bị cắt nhượng cho Pháp đô hộ. Năm 1863, thực dân Pháp đặt viên chức cai trị, song vẫn giữ phân ranh hành chính cũ của tỉnh Định Tường.
Năm 1869, sau 2 năm chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây (gồm Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên), Pháp còn giữ 6 tỉnh nhưng chia cắt lại các phủ huyện lệ thuộc. Như tỉnh Định Tường đổi là tỉnh Mỹ Tho và coi 4 hạt (inspection): Mỹ Tho (huyện Kiến Hưng cũ), Chợ Gạo (huyện Kiến Hòa cũ), Bến Tre (phủ Hoằng Trị trực thuộc tỉnh Vĩnh Long cũ), Cai Lậy (huyện Kiến Đăng cũ). Còn hạt Cần Lố (huyện Kiến Phong cũ) thì lại chuyển sang cho tỉnh Vĩnh Long cai quản. Lúc đầu địa bàn tỉnh Định Tường được chia làm 4 hạt Thanh tra, tạm gọi tên theo tên các phủ huyện cũ, sau mới đổi tên gọi theo địa điểm đóng trụ sở. Đó là:
Hạt Thanh tra Kiến An hay Kiến Hưng, sau đổi là hạt Thanh tra Mỹ Tho.
Hạt Thanh tra Kiến Hòa sau đổi là hạt Thanh tra Chợ Gạo.
Hạt Thanh tra Kiến Đăng sau đổi là hạt Thanh tra Cai Lậy.
Hạt Thanh tra Kiến Tường sau đổi là hạt Thanh tra Cần Lố.
Ngày 5 tháng 12 năm 1868, giải thể hạt Thanh tra Cai Lậy nhập vào hạt Thanh tra Mỹ Tho, kể từ ngày 15 tháng 12 năm 1868. Tiếp theo, ngày 23 tháng 12 năm 1868, giải thể hạt Thanh tra Chợ Gạo nhập vào hạt Thanh tra Mỹ Tho. Nhưng đến ngày 20 tháng 10 năm 1869 hạt Thanh tra Cai Lậy được lập lại theo địa bàn cũ và đến ngày 8 tháng 9 năm 1870 dời trụ sở về Cái Bè, nên gọi là hạt Thanh tra Cái Bè. Ngày 20 tháng 9 năm 1870, giải thể hạt Thanh tra Cần Lố, đưa hai tổng Phong Hòa và Phong Phú vào hạt Thanh tra Cái Bè, đồng thời đưa hai tổng Phong Nẫm và Phong Thạnh qua hạt Thanh tra Sa Đéc. Ngày 5 tháng 6 năm 1871, giải thể hạt Thanh tra Cái Bè nhập vào địa bàn hạt Thanh tra Mỹ Tho. Như vậy 4 hạt Thanh tra trên lần lượt bị giải thể và hợp nhất lại thành Hạt Thanh tra Mỹ Tho.
Song song với đất Định Tường, tại Gia Định, thực dân Pháp cũng lập các hạt Thanh tra. Hạt Thanh tra Tân An bao gồm địa bàn huyện Tân Hòa (tức Gò Công). Năm 1865 phần đất Tân Hòa tách khỏi hạt Thanh tra Tân An để lập Hạt Thanh tra Tân Hòa, trụ sở đặt tại Gò Công. Ngày 16 tháng 8 năm 1867, Hạt thanh tra Tân Hòa được đổi tên thành hạt Thanh tra Gò Công.
Từ năm 1872, thực dân Pháp bỏ hẳn cả hệ thống hành chính lục tỉnh và phủ huyện cũ. Nam Kỳ được chia thành 18 hạt và 2 thành phố (Sài Gòn, Chợ Lớn). Địa bàn tỉnh Định Tường chia ra cho 5 hạt: toàn hạt Mỹ Tho (nằm trên 3 huyện Kiến Hưng, Kiến Hòa, Kiến Đăng cũ), một nửa Đồng Tháp Mười cho hạt Tân An (lấy đất tổng Hưng Long của huyện Kiến Hưng cũ), nửa còn lại (huyện Kiến Phong cũ) chia nhau cho 3 hạt Châu Đốc, Long Xuyên và Sa Đéc. Từ ngày 5 tháng 1 năm 1876, các hạt Thanh tra được thay bằng hạt Tham biện. Năm 1876, tỉnh Định Tường chính thức bị Pháp giải thể.
Theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương vào ngày 20 tháng 12 năm 1899 thì kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, đổi tất cả các hạt ở Nam Kỳ thành tỉnh. Địa bàn tỉnh Định Tường cũ chia ra thành 5 tỉnh giống như thời kỳ trước đây: tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Tân An, tỉnh Châu Đốc, tỉnh Long Xuyên và tỉnh Sa Đéc. Tình hình đó kéo dài cho đến năm 1956.
=== Tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò Công thời Pháp thuộc ===
Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, các hạt tham biện Mỹ Tho và Gò Công lần lượt trở thành tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò Công. Tỉnh Mỹ Tho ban đầu có 3 trung tâm hành chính là Châu Thành, Cai Lậy và Chợ Gạo.
Sau thời gian thực hiện chính sách trực trị không thành công, thực dân Pháp bắt buộc phải lập cấp quận làm trung gian giữa tỉnh và tổng, làng. Năm 1904, thực dân Pháp thành lập quận Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho. Ngày 22 tháng 3 năm 1912, thực dân Pháp cho thành lập mới nhiều quận trực thuộc tỉnh Mỹ Tho, bao gồm: Châu Thành, Cái Bè, Chợ Gạo và An Hóa.
Ngày 9 tháng 2 năm 1913, chính quyền thực dân Pháp thành lập quận Bến Tranh thuộc tỉnh Mỹ Tho trên cơ sở tách đất từ quận Châu Thành và quận Chợ Gạo cùng tỉnh. Ngày 1 tháng 1 năm 1928, giải thể quận Bến Tranh, địa bàn sáp nhập trở lại vào các quận Châu Thành và Chợ Gạo như cũ.
Còn ở tỉnh Gò Công, thực dân Pháp lại không thành lập các quận, mà thay vào đó các tổng trực thuộc tỉnh.
Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, tỉnh Mỹ Tho bao gồm cả tỉnh Gò Công nhập vào, thành quận Gò Công thuộc tỉnh Mỹ Tho. Từ năm 1924 đến năm 1956, Gò Công lại trở thành một tỉnh độc lập.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ chủ trương bỏ cấp tổng, bỏ đơn vị làng, thống nhất gọi là xã, đồng thời bỏ danh xưng quận, gọi thay thế bằng huyện. Năm 1948, chính quyền kháng chiến đưa quận An Hóa giao về tỉnh Bến Tre cho tiện quản lý. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã, tuy nhiên vẫn gọi là quận cho đến năm 1975.
Năm 1951 Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ ra Quyết định sáp nhập 3 tỉnh: Mỹ Tho, Tân An, Gò Công thành một tỉnh có tên là tỉnh Mỹ Tho. Sau năm 1954 lại trả về 3 tỉnh như cũ.
=== Tỉnh Định Tường (tỉnh Mỹ Tho) và tỉnh Gò Công giai đoạn 1956-1976 ===
==== Việt Nam Cộng hòa ====
Ban đầu, chính quyền Quốc gia Việt Nam và sau đó là Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì tên gọi tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Gò Công như thời Pháp thuộc.
Ngày 2 tháng 4 năm 1955 chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho lập ở tỉnh Gò Công 2 quận trực thuộc: quận Châu Thành và quận Hòa Đồng.
Ngày 17 tháng 2 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa sáp nhập phần đất vốn thuộc tỉnh Mỹ Tho ở phía tây kênh số 4 tới vàm kênh Tổng đốc Lộc và kênh Tổng đốc Lộc tới Mỹ Hiệp vào địa phận tỉnh Phong Thạnh mới được thành lập (cuối năm 1956 lại đổi tên thành tỉnh Kiến Phong, ngày nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Phần đất này bao gồm làng Mỹ An (thuộc tổng Phong Phú) và một phần làng Mỹ Trung (thuộc tổng Phong Hòa) cùng thuộc quận Cái Bè trước đó.
Ngày 28 tháng 6 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa quyết định đổi tên quận An Hóa thành quận Bình Đại, đồng thời tách quận Bình Đại ra khỏi tỉnh Mỹ Tho để nhập về tỉnh Bến Tre như phía chính quyền Việt Minh đã làm vào năm 1948. Ngày 21 tháng 7 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tái lập quận Bến Tranh thuộc tỉnh Mỹ Tho.
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh số 143-NV để "thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Định Tường được thành lập trên phần đất tỉnh Mỹ Tho (trừ vùng nằm phía nam sông Tiền Giang là quận An Hóa thì đổi tên thành quận Bình Đại và nhập vào tỉnh Kiến Hòa) và tỉnh Gò Công cũ. Tỉnh lỵ tỉnh Định Tường đặt tại Mỹ Tho và vẫn giữ nguyên tên là "Mỹ Tho", về mặt hành chánh thuộc xã Điều Hòa, quận Châu Thành.
Ngày 24 tháng 4 năm 1957, chính quyền Việt Nam Cộng hòa ấn định các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh. Tỉnh Định Tường có tỉnh lỵ đặt tại Mỹ Tho, bao gồm 7 quận ban đầu: Châu Thành, Chợ Gạo, Bến Tranh, Cái Bè, Cai Lậy, Gò Công và Hòa Đồng. Trong đó, các quận Bến Tranh, Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành và Chợ Gạo trước năm 1956 cùng thuộc tỉnh Mỹ Tho cũ. Riêng 2 quận Gò Công và Hòa Đồng lại thuộc tỉnh Gò Công cũ, đặc biệt quận Gò Công lúc bấy giờ chính là quận Châu Thành của tỉnh Gò Công trước đây.
Ngày 8 tháng 11 năm 1960, quận Châu Thành đổi tên thành quận Long Định. Ngày 9 tháng 8 năm 1961, tách đất quận Cái Bè lập quận mới Giáo Đức; quận Cái Bè đổi tên thành quận Sùng Hiếu; quận Cai Lậy đổi tên thành quận Khiêm Ích.
Ngày 20 tháng 12 năm 1963, chính quyền Việt Nam Cộng hòa quyết định tái lập tỉnh Gò Công, tách từ tỉnh Định Tường. Tỉnh lỵ có tên là "Gò Công", về mặt hành chánh thuộc xã Long Thuận, quận Châu Thành (quận Gò Công cũ). Khi mới tái lập, tỉnh Gò Công gồm 2 quận: Châu Thành (đổi tên từ quận Gò Công) và Hòa Đồng. Ngày 6 tháng 4 năm 1965, chính quyền Việt Nam Cộng hòa sắp xếp hành chính, chia lại tỉnh Gò Công thành 4 quận bao gồm: Hòa Đồng, Hòa Lạc, Hòa Tân, Hòa Bình.
Sau khi tái lập tỉnh Gò Công, phần đất còn lại tương ứng với tỉnh Mỹ Tho trước năm 1956, tuy nhiên Việt Nam Cộng hòa vẫn giữ tên gọi tỉnh Định Tường cho vùng đất này đến năm 1975. Lúc này, tỉnh Định Tường còn lại 6 quận: Bến Tranh, Long Định, Chợ Gạo, Khiếm Ích, Sùng Hiếu, Giáo Đức.
Ngày 23 tháng 5 năm 1964 chia quận Long Định thành 2 quận: Châu Thành và Long Định. Ngày 10 tháng 11 năm 1964 đổi lại tên quận Sùng Hiếu thành quận Cái Bè, quận Khiếm Ích thành quận Cai Lậy như cũ. Ngày 24 tháng 3 năm 1969, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên quận Long Định (tỉnh Định Tường) thành quận Sầm Giang.
Ngày 30 tháng 9 năm 1970, Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 114/SL-NV cải biến xã Điều Hòa thuộc quận Châu Thành thành thị xã Mỹ Tho, là thị xã tự trị trực thuộc chính quyền Trung ương Việt Nam Cộng hòa, đồng thời kiêm tỉnh lỵ tỉnh Định Tường. Từ đó cho đến năm 1975, thị xã Mỹ Tho, tỉnh Định Tường và tỉnh Gò Công là ba đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau theo sự phân chia sắp xếp hành chính của Việt Nam Cộng hòa.
Ngày 12 tháng 7 năm 1974, lập quận mới Hậu Mỹ thuộc tỉnh Định Tường. Các đơn vị hành chính của quận Hậu Mỹ chưa sắp xếp xong thì chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Như vậy năm 1975 tỉnh Định Tường có 8 quận: Châu Thành, Chợ Gạo, Bến Tranh, Sầm Giang, Cai Lậy, Cái Bè, Giáo Đức, Hậu Mỹ.
==== Chính quyền Cách mạng ====
Tuy nhiên chính quyền Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi tỉnh Định Tường và vẫn giữ tên tỉnh cũ là tỉnh Mỹ Tho.
Năm 1957, chính quyền cách mạng nhập 2 tỉnh Gò Công và Mỹ Tho làm một đơn vị và gọi là tỉnh Mỹ Tho, bao gồm thị xã Mỹ Tho và các huyện: Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công. Trong giai đoạn 1964-1968, địa bàn tỉnh Gò Công của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn do huyện Gò Công thuộc tỉnh Mỹ Tho của chính quyền cách mạng quản lý. Nhưng đến tháng 8 năm 1968, huyện Gò Công lại được chính quyền Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tách khỏi tỉnh Mỹ Tho để lập lại tỉnh Gò Công.
Ngày 24 tháng 8 năm 1967, Trung ương cục miền Nam đã chuẩn y tách thị xã Mỹ Tho ra khỏi tỉnh Mỹ Tho, đồng thời nâng thị xã lên thành thành phố Mỹ Tho trực thuộc Khu 8, là một đơn vị hành chính ngang bằng với tỉnh Mỹ Tho. Như vậy cho đến năm 1976, tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho là 3 đơn vị hành chính ngang bằng nhau.
Năm 1969, chính quyền Cách mạng chia huyện Châu Thành thành hai huyện là Châu Thành Bắc và Châu Thành Nam cùng thuộc tỉnh Mỹ Tho. Đến năm 1971, lại chia huyện Cai Lậy thành hai huyện là Cai Lậy Bắc và Cai Lậy Nam. Năm 1975, các huyện Châu Thành Bắc, Châu Thành Nam, Cai Lậy Bắc và Cai Lậy Nam đều bị giải thể, sáp nhập trở lại thành các huyện Châu Thành và huyện Cai Lậy như trước đó.
Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ vẫn duy trì ba đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau là tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho cho đến đầu năm 1976. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa). Bên cạnh đó, chính quyền Cách mạng cũng tách một phần đất đai thuộc tỉnh Kiến Tường để sáp nhập vào địa bàn tỉnh Mỹ Tho lúc bấy giờ.
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ khu, hợp tỉnh trong toàn quốc "nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an, và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước". Theo Nghị quyết này, tỉnh Long An, tỉnh Bến Tre, tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho sẽ hợp nhất lại thành một tỉnh, tên gọi tỉnh mới cùng với nơi đặt tỉnh lỵ sẽ do địa phương đề nghị lên.
Nhưng đến ngày 20 tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị lại ra Nghị quyết số 19/NQ điều chỉnh lại việc hợp nhất tỉnh ở miền Nam Việt Nam cho sát với tình hình thực tế, theo đó tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho được tiến hành hợp nhất lại thành một tỉnh.
=== Tỉnh Tiền Giang từ năm 1976 đến nay ===
Ngày 24 tháng 2 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho để thành lập tỉnh mới có tên là tỉnh Tiền Giang (trừ huyện Bình Đại nằm phía nam sông Tiền Giang đã nhập vào tỉnh Bến Tre từ trước). Tỉnh Tiền Giang gồm thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công và 5 huyện: Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công. Tỉnh lỵ là thành phố Mỹ Tho, vốn được Trung ương công nhận là đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh Tiền Giang vào năm 1976.
Ngày 26 tháng 03 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 77-CP về việc chuyển thị xã Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang thành thị trấn Gò Công thuộc huyện Gò Công cùng tỉnh.
Ngày 13 tháng 4 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 155-CP về việc chia huyện Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang thành huyện Gò Công Đông và huyện Gò Công Tây.
Ngày 16 tháng 2 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 37-HĐBT về việc thành lập thị xã Gò Công trực thuộc tỉnh Tiền Giang trên cơ sở một phần diện tích, dân số của huyện Gò Công Đông và huyện Gò Công Tây.
Trước năm 1994, tỉnh Tiền Giang có 8 đơn vị hành chánh trực thuộc là: thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công, huyện Cái Bè, huyện Cai Lậy, huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo, huyện Gò Công Đông, huyện Gò Công Tây.
Ngày 11 tháng 7 năm 1994, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 68-CP về việc thành lập huyện Tân Phước thuộc tỉnh Tiền Giang trên cơ sở tách một phần diện tích và dân số của các huyện Cai Lậy và Châu Thành. Huyện Tân Phước có diện tích 32.991,44 hécta; nhân khẩu 42.031.
Ngày 21 tháng 1 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 09/2008/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Gò Công Đông và Gò Công Tây để mở rộng thị xã Gò Công và thành lập huyện Tân Phú Đông thuộc tỉnh Tiền Giang. Theo đó, thành lập huyện Tân Phú Đông bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã: Tân Thới, Tân Phú, Phú Thạnh, Tân Thạnh của huyện Gò Công Tây và toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Phú Đông và xã Phú Tân của huyện Gò Công Đông. Huyện Tân Phú Đông có 6 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Phú Đông, Phú Tân, Tân Thới, Tân Phú, Tân Thạnh và Phú Thạnh.
Ngày 7 tháng 10 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 248/2005/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang là đô thị loại II.
Ngày 21 tháng 01 năm 2008, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 09/2008/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Gò Công Đông và Gò Công Tây để mở rộng thị xã Gò Công và thành lập huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Theo đó, thành lập huyện Tân Phú Đông thuộc tỉnh Tiền Giang trên cơ sở điều chỉnh 8.632,88 ha diện tích tự nhiên và 33.296 nhân khẩu của huyện Gò Công Tây; 11.575,43 ha diện tích tự nhiên và 9.630 nhân khẩu của huyện Gò Công Đông.
Ngày 29 tháng 06 năm 2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 28/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo để mở rộng địa giới hành chính thành phố Mỹ Tho; điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã thuộc thành phố Mỹ Tho, huyện Châu Thành, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 26 tháng 12 năm 2013, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 130/NQ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Cai Lậy để thành lập thị xã Cai Lậy và Cai Lậy còn lại; thành lập các phường thuộc thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 05 tháng 02 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 242/QĐ-TTg về việc công nhận thành phố Mỹ Tho là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Tiền Giang.
Tỉnh Tiền Giang có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công, thị xã Cai Lậy và các huyện: Cái Bè, Gò Công Đông, Gò Công Tây, Chợ Gạo, Châu Thành, Tân Phước, Cai Lậy và Tân Phú Đông.
== Dân số ==
Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Tiền Giang đạt gần 1.682.600 người, mật độ dân số đạt 671 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 265.400 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.417.200 người. Dân số nam đạt 829.500 người, trong khi đó nữ đạt 853.100 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 7,0 ‰
== Kinh tế ==
Trong 6 tháng đầu năm 2012, Tổng sản phẩm trên địa bàn ước tính đạt 8.232 tỷ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2011. Tốc độ tăng trưởng kinh tế có chậm lại so với 2 năm trước liền kề.
So với 6 tháng đầu năm 2011, Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng 5,6%, trong đó nông nghiệp tăng 6,2%. Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng trưởng 13,1%, tăng cao hơn 6 tháng đầu năm 2011 là 0,9%, trong đó công nghiệp tăng 18,1%. Khu vực dịch vụ tăng trưởng 10,4%, tăng thấp hơn 6 tháng đầu năm 2011 là 0,8%. Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch chậm, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và tỷ trọng nông nghiệp giảm. Khu vực nông lâm thủy sản chiếm 47,2%, khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 26,3%, khu vực dịch vụ chiếm 26,5%.
Trong 6 tháng đầu năm 2012, tổng thu ngân sách đạt 4.126 tỷ đồng, tăng 9,6% so cùng kỳ. Tính đến ngày 11 tháng 6 năm 2012, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 19.546 tỷ đồng, tăng 2.301 tỷ đồng so đầu năm và tăng 21,7% so cùng kỳ. Dư nợ cho vay là 16.039 tỷ đồng giảm 37 tỷ so đầu năm và tăng 6,1% so cùng kỳ, trong đó dư nợ ngắn hạn đạt 11.552 tỷ đồng, chiếm 72% trong tổng dư nợ cho vay. Nợ xấu 6 tháng qua có xu hướng tăng lên, tăng 421 tỷ đồng so đầu năm và chiếm 3,7% trong tổng dư nợ.
Uớc đạt trong 6 tháng đầu năm 2012, Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 6.208,8 tỷ đồng, đạt 34,8% kế hoạch, bằng 98,9% so cùng kỳ. Vốn khu vực Nhà nước 953,6 tỷ đồng, chiếm 15,2% trong tổng vốn đầu tư, khu vực ngoài Nhà nước 4.660,6 tỷ đồng, tăng 9,5%, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 594,6 tỷ đồng, bằng 60,1% so cùng kỳ. Vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện 742,9 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách trung ương 88,6 tỷ đồng, chiếm 11,9% tổng số, vốn ngân sách địa phương 731 tỷ đồng, chiếm 88,1%. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được 7 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 152,6 triệu USD.
Sáu tháng đầu năm 2012, Tỉnh có 165 doanh nghiệp đăng ký thành lập với tổng vốn đăng ký là 393,9 tỷ đồng, giảm 27% về số doanh nghiệp và giảm 51,8% về lượng vốn đăng ký. Ngoài ra, còn có 90 doanh nghiệp đăng ký bổ sung vốn với tổng vốn bổ sung thêm là 1.495,2 tỷ đồng và 321 doanh nghiệp đăng ký bổ sung ngành nghề kinh doanh. Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2011, trên địa bàn tỉnh có 4.112 doanh nghiệp, trong đó có 2.793 doanh nghiệp đang hoạt động, 207 doanh nghiệp đã đăng ký nhưng chưa hoạt động, 159 doanh nghiệp ngừng sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp chờ giải thể 121, doanh nghiệp không tìm thấy, không xác minh 166, doanh nghiệp thuộc đối tượng khác 666. Tổng số hợp tác xã hiện có trên địa bàn tỉnh là 104 hợp tác xã và 01 Liên hiệp hợp tác xã.
Trong sáu tháng đầu năm 2012, Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội thực hiện được 15.438 tỷ đồng, đạt 46,5% kế hoạch năm và tăng 16,7% so cùng kỳ. Xuất khẩu hàng hóa không được thuận lợi, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 360 triệu USD, đạt 41,9% kế hoạch. Hàng thủy sản xuất 60.476,8 tấn tăng 13,4%, về trị giá tương đương 159,8 triệu USD tăng 7,2% so cùng kỳ. Hàng rau quả xuất 3.345 tấn giảm 30,3%, về trị giá đạt 3,7 triệu USD chỉ bằng 64,6% so cùng kỳ. Xuất khẩu Gạo đạt được 89.592 tấn bằng 63,8% so cùng kỳ, về trị giá đạt 41,4 triệu USD giảm 35,7% so cùng kỳ (giảm 22,9 triệu USD). Hàng dệt may xuất được 5.341,8 ngàn sản phẩm giảm 8,5% so cùng kỳ, về trị giá tương đương 57 triệu USD tăng 10,7% so cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 125,3 triệu USD, đạt 36,9% kế hoạch và bằng 80,4% so cùng kỳ, gồm kinh tế nhà nước đạt 26,2 triệu USD, tăng 38%; kinh tế tư nhân đạt 40,2 triệu USD, bằng 58,8%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 59 triệu USD, bằng 86% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đạt 655,4 tỷ đồng, tăng 28,5% so cùng kỳ, trong đó vận tải hàng hóa đạt 394,3 tỷ đồng, tăng 32,2%, vận tải hành khách đạt 239,3 tỷ đồng, tăng 23,3%. Tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển đạt 5.805 nghìn tấn, tăng 17,8% so cùng kỳ, khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 552.206 nghìn tấn, tăng 24,6% so cùng kỳ. Doanh thu Bưu chính viễn thông đạt 538,2 tỷ đồng tăng 17,7% so 6 tháng đầu năm 2011. Chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,33% so với tháng 12 năm 2011, bình quân 1 tháng tăng 0,22%.
Các khu công nghiệp trong tỉnh
Khu công nghiệp Mỹ Tho (79,14 ha): TP Mỹ Tho
Khu công nghiệp Tân Hương (197 ha): H.Châu Thành
Khu công nghiệp Long Giang (600 ha): H.Tân Phứơc
Khu công nghiệp Dầu khí Xoài Rạp (600 ha): H.Gò Công Đông
Khu công nghiệp Bình Đông (1000 ha):TX Gò Công
Dự án các khu công nghiệp tập trung giai đoạn 2010-2015 có quy mô lớn như: KCN Đông Nam Tân Phước, KCN Bình Xuân, KCN tập trung ở Bắc Gò Công, cụm công nghiệp Tam Hiệp (Châu Thành), Long Định, CCN Bình Phúở TT. Bình Phú Cai Lậy, CCN Hòa Khánh (Cái Bè), CCN Bắc Mỹ Thuận(Hòa Hưng -Cái Bè)... Và hơn 10 cụm công nghiêp có quy mô lớn như: CCN An Thạnh, CCN Tân Mỹ Chánh, CCN Bình Đức, CCN Bình Xuân,... phân bố rộng khắp tất cả thị thành trong tỉnh.
== Giáo dục ==
Hệ thống giáo dục của tỉnh Tiền Giang bao gồm đầy đủ các cấp học như mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông. Đến 30 tháng 09 năm 2008, tỉnh Tiền Giang có 384 trường học ở các cấp phổ thông, đứng thứ 7 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long. Các trường Đại học, Cao đẳng tiêu biểu ở Tiền Giang gồm:
Trường Đại học Tiền Giang
Trường Cao đẳng Y tế Tiền Giang
Trường Cao đẳng Nông nghiệp Nam Bộ
Trường Cao đẳng nghề Tiền Giang
== Y tế ==
Tình hình cơ sở khám chữa bệnh và nhân lực y tế đến 30/11/2016 Tỉnh Tiền Giang như sau:
* Trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh: 08, Chi cục thuộc Sở Y tế: 02
* Tổng số Bệnh viện trong toàn tỉnh : 11, trong đó:
+ BV đa khoa tuyến tỉnh : 03
+ BV chuyên khoa : 05
+ BV huyện : 03
* Trung tâm y tế huyện : 11
* Phòng khám Trung tâm Y tế : 07
* Phòng khám Quân Dân Y : 01 (trực thuộc Sở Y tế)
* Phòng khám trực thuộc TTYT : 14
* Trạm y tế xã : 173
* Số giường bệnh : 4.558
- Giường bệnh viện (công lập) : 2.585
- Giường ngoại trú : 40
- Giường bệnh viện (tư nhân) : 30 (BV Anh Đức)
- Giường y tế tư nhân : 380
- Giường bệnh phòng khám TTYT : 432
- Giường bệnh PK trực thuộc TTYT: 246
- Giường bệnh Trạm Y tế xã : 845
* 100% trạm y tế có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh.
* 100% số ấp có nhân viên y tế hoạt động. Tổng số nhân viên y tế ấp: 1.299 người/1.025 ấp.
(Nguồn: Châu Hoàng Ân - Tiền Giang)
== Giao thông ==
Tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh còn nhiều phức tạp tập trung ở những nơi đông dân cư. Tính đến tháng 6 năm 2012, Giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh xảy ra 124 vụ tai nạn, so cùng kỳ giảm 16 vụ. Số người chết 131 người so cùng kỳ giảm 17 người. Số người bị thương 74 người, so cùng kỳ giảm 7 người. Vi phạm trật tự an toàn giao thông 76.413 vụ so cùng kỳ tăng 15.749 vụ. Đã xử lý tạm giữ phương tiện 10.340 vụ, tước giấy phép lái xe 3.737 vụ, phạt tiền 66.073 vụ với số tiền phạt 25.810 triệu đồng. Giao thông đường thủy xảy ra 3 vụ tai nạn, so cùng kỳ tăng 1 vụ. Thiệt hại tài sản 707 triệu đồng. Vi phạm giao thông đường thủy từ đầu năm đến nay 7.950 vụ so cùng kỳ giảm 1.341 vụ. Đã xử lý lập biên bản tạm giữ giấy tờ 1.427 vụ, phạt tiền 6.523 vụ với số tiền phạt 3.079 triệu đồng.
== Văn hóa & Du lịch ==
Tiền Giang là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch. Hàng năm, lượng du khách đến hàng năm đều tăng. Trong năm 2009, lượng khách tham quan Tiền Giang vẫn đạt 866.400 lượt người. Thế mạnh của du lịch chủ yếu nhờ vào các di tích văn hóa lịch sử và sinh thái như di tích văn hóa Óc Eo, Gò Thành từ thế kỷ I đến thế kỷ VI sau công nguyên), di tích lịch sử Rạch Gầm - Xoài Mút, di tích Ấp Bắc, lũy Pháo Đài, và nhiều lăng mộ, đền chùa: lăng Trương Định, lăng Hoàng gia, lăng Tứ Kiệt, chùa Vĩnh Tràng, chùa Bửu Lâm, chùa Sắc Tứ… các điểm du lịch sinh thái mới được tôn tạo như vườn cây ăn quả ở cù lao Thới Sơn, Ngũ Hiệp, Trại rắn Đồng Tâm, khu sinh thái Đồng Tháp Mười, biển Gò Công...
Trong 6 tháng đầu năm 2012, Số khách tham quan du lịch đạt 519,7 ngàn lượt khách, tăng 5,2% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế là 271,7 ngàn lượt khách, đạt 50,7% kế hoạch và giảm 1,5% so cùng kỳ. Tổng doanh thu du lịch thực hiện được 1.475,4 tỷ đồng, tăng 18,3% so cùng kỳ, trong đó doanh thu du lịch lữ hành chiếm 1,7%.
=== Những nhân vật tiêu biểu ===
Tiền Giang là vùng đất xuất thân của nhiều nhân vật nổi tiếng tại Việt Nam.
Tả quân Lê Văn Duyệt (1764-1832)
Chưởng Hậu quân Hoài Quốc Công Võ Tánh
Thượng thư Lễ bộ, Ninh Hoà Quận Công Ngô Tùng Châu
Anh Hùng Dân tộc Trương Định
Lễ Bộ thượng thư Phạm Đăng Hưng
Thái Hoàng Thái Hậu Từ Dụ
Sĩ phu Nguyễn Hữu Hào
Nam Phương Hoàng Hậu Nguyễn Hữu Thị Lan
Sĩ phu yêu nước Nguyễn Hữu Huân (1830-1875)
Sĩ phu yêu nước Âu Dương Lân (m. 1875)
Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1884–1958)
Nhà văn Đoàn Giỏi (1925-1989)
Giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê
Võ sư Hồ Hoa Huệ
Soạn giả Trần Hữu Trang
Nghệ sĩ nhân dân Phùng Há
Nghệ sĩ nhân dân Bảy Nam
Tân quán quân Đường lên đỉnh Olympia Nguyễn Trọng Nhân
Nhạc sĩ Anh Việt Thu
== Chú giải == |
giáo dục hoa kỳ.txt | Giáo dục Hoa Kỳ chủ yếu là nền giáo dục công do Chính phủ liên bang, tiểu bang, và địa phương ở Hoa Kỳ điều hành và cung cấp tài chính. Việc giáo dục trẻ em ở độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo mang tính chất bắt buộc. Một phần của giáo dục bắt buộc được thực hiện thông qua nền giáo dục công. Giáo dục công có tính chất phổ cập ở cấp tiểu học và trung học. Ở các cấp học này, hội đồng học khu gồm những thành viên được bầu chọn thông qua bầu cử ở địa phương đề ra chương trình học, mức độ hỗ trợ tài chính, và những chính sách khác. Các học khu có nhân sự và ngân sách độc lập, thường tách biệt khỏi các cơ cấu có thẩm quyền khác ở địa phương. Chính quyền các tiểu bang thường quyết định các tiêu chuẩn giáo dục và thi cử. Độ tuổi bắt buộc đi học thay đổi tùy theo tiểu bang, độ tuổi bắt đầu ở khoảng từ 5 đến 8 tuổi và độ tuổi có thể nghỉ học ở khoảng từ 14 đến 18. Càng ngày càng có nhiều tiểu bang yêu cầu thanh thiếu niên phải học cho đến khi đủ 18 tuổi.
Trẻ em có thể hoàn thành các yêu cầu giáo dục bắt buộc bằng cách theo học trong các trường công lập hay các trường tư thục do tiểu bang chứng nhận, theo học một chương trình giáo dục ở nhà được cơ quan giáo dục chấp thuận, hay theo học trong một trại trẻ mồ côi. Trong hầu hết các trường công lập và tư thục, giáo dục được chia thành ba cấp: tiểu học, trung học cơ sở, và trung học phổ thông. Trong hầu hết các trường ở các cấp học này, trẻ em được chia nhóm theo độ tuổi thành các lớp, từ mẫu giáo (kế đó là lớp 1) cho các em nhỏ tuổi nhất trong trường tiểu học cho đến lớp 12, lớp cuối cùng của bậc trung học. Độ tuổi chính xác của học sinh theo học các lớp này hơi khác nhau từ vùng này sang vùng khác. Giáo dục sau trung học thường được điều hành tách biệt với hệ thống các trường tiểu học và trung học.
Vào năm 2000, Hoa Kỳ có 76,6 triệu học sinh và sinh viên theo học từ mẫu giáo cho đến sau đại học. Trong số này, có 72% số người trong độ tuổi từ 12 đến 17 được xem là học "đúng lớp đúng tuổi" (tức là đang theo học bậc phổ thông hoặc cao hơn). Trong số những học sinh theo học bậc phổ thông, có 5,2 triệu (10,4%) theo học trong các trường tư thục. Hơn 85% dân số ở độ tuổi trưởng thành ở Hoa Kỳ hoàn thành chương trình trung học; 27% có bằng đại học hoặc bằng cấp cao hơn. Theo số liệu năm 2005 của Tổng cục Thống kê Hoa Kỳ (U.S. Census Bureau), mức lương trung bình của một người tốt nghiệp từ một trường đại học hay viện đại học là hơn 51.000 đô la/năm, cao hơn 23.000 đô la so với mức lương trung bình của những người chỉ có bằng trung học.
Có 98% dân số Hoa Kỳ trong độ tuổi từ 15 trở lên biết chữ, trong khi mức độ am hiểu về toán và khoa học bị xếp dưới mức trung bình so với các quốc gia phát triển khác. Vào năm 2008, tỉ lệ học sinh tốt nghiệp trung học ở Hoa Kỳ là 77%; tỉ lệ này thấp hơn tỉ lệ tốt nghiệp ở hầu hết các nước phát triển. Ngoài ra, tỉ lệ 33% số người có bằng đại học tham gia lực lượng lao động là hơi thấp so với mức trung bình (35%) ở các quốc gia phát triển khác, trong khi tỉ lệ người lao động theo học giáo dục thường xuyên lại cao. Trong một nghiên cứu thực hiện vào những năm 2000, Jon Miller của Viện Đại học Michigan State cho rằng "Hoa Kỳ có tỉ lệ dân số trưởng thành có hiểu biết căn bản về khoa học cao hơn một chút so với tỉ lệ ở Nhật Bản hay các nước châu Âu".
== Các cấp học ==
Hầu hết trẻ em Hoa Kỳ bắt đi học trong các cơ sở giáo dục công lập ở tuổi lên 5 hay 6. Năm học thường bắt đầu vào tháng 8 hay tháng 9, sau kỳ nghỉ mùa hè. Trẻ em được phân thành từng nhóm xếp theo năm học gọi là lớp (grade), bắt đầu với các lớp mầm non, sau đó là mẫu giáo, và tích lũy dần lên lớp 12. Ở mỗi lớp, trẻ em thường học cùng với nhau cho đến cuối năm học (vào tháng 5 hay tháng 6). Tuy vậy, trẻ em chậm phát triển có thể ở lại lớp hay học sinh tài năng có thể học lên lớp nhanh hơn so với các bạn học cùng tuổi.
Nói chung, hệ thống giáo dục phổ thông Hoa Kỳ bao gồm 12 lớp tiểu học và trung học, học sinh học trong khoảng thời gian 12 năm học trước khi được tốt nghiệp và đủ điều kiện để vào học đại học. Sau khoảng thời gian trong nhà trẻ và trường mẫu giáo là 5 năm tiểu học. Sau khi hoàn thành 5 lớp ở trường tiểu học, học sinh vào học trường trung học để lấy bằng tốt nghiệp trung học (high school diploma) nếu hoàn thành chương trình học của tất cả 12 lớp.
Độ tuổi trung bình của học sinh ở mỗi lớp trong các trường công lập và tư thục có thể hơi khác nhau tùy theo từng vùng trong nước. Số liệu này có thể tìm thấy trên trang mạng của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ.
Những học sinh nào hoàn thành trung học và muốn vào học trong một trường đại học hay viện đại học thì phải theo học chương trình bậc đại học. Những cơ sở giáo dục bậc đại học có chương trình học kéo dài 2 năm hoặc 4 năm trong một lĩnh vực cụ thể. Chương trình học như vậy gọi là chuyên ngành (major), bao gồm những môn học chính yếu hay những môn học đặc biệt.
Cấp học tiếp theo trong hệ thống giáo dục Hoa Kỳ là sau đại học. Sau khi có bằng đại học, công việc học tập tiếp theo có thể thực hiện ở hai mức. Một là học để lấy bằng thạc sĩ (master's degree) thông qua một khóa học chuyên sâu, tiếp tục chương trình đã học ở bậc đại học. Khóa học này kéo dài 2 năm. Bước tiếp theo là theo học để lấy bằng tiến sĩ. Thời gian tối thiểu để lấy bằng tiến sĩ là khoảng từ 3 năm đến 7 hay 8 năm tùy theo chuyên ngành và đề tài nghiên cứu cũng như năng lực của sinh viên.
Chính phủ Mỹ không trực tiếp công nhận hoặc chấp thuận các trường đại học như bộ GD-ĐT của Việt Nam vẫn làm. Thay vào đó, Bộ Giáo dục Mỹ chỉ là cơ quan xem xét và công nhận "các tổ chức đánh giá" là các tổ chức sẽ đảm bảo chất lượng của các cơ sở đào tạo và chương trình giáo dục. Theo TS Mark A.Ashwill - nguyên giám đốc Viện Giáo dục quốc tế Mỹ (IIE), có sự khác biệt lớn giữa phê duyệt và công nhận. Trong đó, được phê duyệt (approved) đơn giản chỉ là cho phép đơn vị đó hoạt động - việc này hoàn toàn do tiểu bang xem xét. Còn được công nhận (accredited) có nghĩa là cơ sở giáo dục được một cơ quan thuộc Bộ Giáo dục Mỹ công nhận. Đây mới là một quy trình đánh giá toàn diện, nghiêm ngặt. Các đơn vị đào tạo sẽ được kiểm tra về mọi mặt để xác nhận sự hoạt động của nó là có giá trị, cho ra những văn bằng có chất lượng. Ở Mỹ có 2 cơ quan công nhận (accrediting agencies) các tổ chức kiểm định là Bộ Giáo dục liên bang (USDE) và Hội đồng kiểm định GD đại học Mỹ (CHEA), trong đó USDE là cơ quan nhà nước và CHEA là cơ quan độc lập được các trường và các tổ chức kiểm định thừa nhận. Như vậy, hai cơ quan này không trực tiếp kiểm định các trường mà các trường kiểm định thông qua các tổ chức kiểm định. Uy tín nhất là 8 tổ chức kiểm định ở sáu vùng địa lý như vùng đông bắc, vùng phía nam, vùng phía tây; rồi đến 11 tổ chức cấp quốc gia như Hội đồng (HĐ) kiểm định giáo dục và đào tạo từ xa, HĐ kiểm định các trường cao đẳng và trung học dạy nghề; và 66 tổ chức chuyên môn nghề nghiệp như: HĐ kiểm định về điều dưỡng đại học, HĐ kiểm định về đào tạo giáo viên, Ủy ban Kiểm định nha khoa Mỹ. Các tổ chức này được hoặc USDE, CHEA hay cả 2 cơ quan này đồng công nhận. Cấp tiểu bang không ủy quyền hay cấp phép cho các tổ chức kiểm định. Tính đến thời điểm này, cả USDE và CHEA đều có cơ sở dữ liệu về các trường sau bậc trung học được kiểm định, với khoảng 7.700 trường và 18.700 chương trình đào tạo. Có những trường được cả 2 cơ quan này công nhận.
== Nhà trẻ và mẫu giáo ==
Hoa Kỳ không có các chương trình nhà trẻ và mẫu giáo công cộng có tính chất bắt buộc. Chính phủ liên bang hỗ trợ tài chính cho chương trình Head Start - chương trình nhà trẻ và mẫu giáo dành cho các gia đình có thu nhập thấp. Còn hầu hết các gia đình tự tìm trường và trả chi phí nhà trẻ và mẫu giáo.
Ở những thành phố lớn, đôi khi có những nhà trẻ và trường mẫu giáo phục vụ nhu cầu của các gia đình có thu nhập cao. Vì một số gia đình giàu có xem những trường này như bước chuẩn bị đầu tiên để con cái họ sau này vào học đại học ở các cơ sở trong nhóm Ivy League, họ có cả những người tư vấn chuyên hỗ trợ các bậc cha mẹ và con cái họ ngay từ khi bắt đầu nhập học.
== Giáo dục tiểu học và trung học ==
Trẻ em ở Hoa Kỳ bắt buộc phải đi học, nhưng khoảng độ tuổi theo yêu cầu thì thay đổi tùy theo tiểu bang. Hầu hết trẻ em bắt đầu chương trình giáo dục tiểu học sau khi xong mẫu giáo (thường là 5 hoặc 6 tuổi) và hoàn thành chương trình giáo dục trung học sau khi học xong lớp 12 (thường vào lúc 18 tuổi). Trong một số trường hợp, học sinh có thể học nhảy lớp. Một số tiểu bang cho phép học sinh nghỉ học ở tuổi 14 đến 17, trước khi hoàn thành trung học, nếu có sự đồng ý của cha mẹ học sinh; những tiểu bang khác yêu cầu học sinh phải đi học cho đến khi được 18 tuổi.
Hầu hết các bậc cha mẹ cho con cái họ đi học ở cơ sở giáo dục công lập hoặc tư thục. Theo số liệu của chính quyền, một phần mười học sinh ở Hoa Kỳ theo học trong các trường tư thục. Khoảng 85% học sinh học trong các trường công lập, phần nhiều là do học sinh đi học ở các trường này thì không phải đóng tiền. Hầu hết học sinh đi học khoảng 6 giờ/ngày, khoảng 175 đến 185 ngày/năm. Hầu hết các trường có kỳ nghỉ hè kéo trong khoảng hai tháng rưỡi, từ tháng 6 đến tháng 8. Ở một số trường, học sinh đi học suốt năm.
Các bậc cha mẹ cũng có thể cho con cái họ học tại nhà; 1,7% trẻ em được giáo dục theo kiểu này.
=== Các trường tiểu học ===
=== Giáo dục trung học ===
==== Các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông ====
===== Cấu trúc chương trình học cơ bản =====
===== Các môn tự chọn =====
Nhiều trường trung học có nhiều khóa học tự chọn để học sinh theo học, mặc dù sự sẵn có của những khóa học như vậy tùy thuộc vào nguồn tài chính và chương trình học của từng trường cụ thể.
Các khóa học tự chọn thường là về các lĩnh vực sau:
Nghệ thuật thị giác (đồ họa, tạo hình, hội họa, nhiếp cảnh, điện ảnh)
Nghệ thuật trình diễn (kịch nghệ, trình diễn âm nhạc, hợp xướng, trình diễn nhạc giao hưởng, khiêu vũ)
Giáo dục công nghệ (mộc, cơ khí, sửa xe, thiết kế rô-bốt)
Máy tính (xử lý văn bản, lập trình, thiết kế đồ họa)
Thể thao (điền kinh, bóng bầu dục, bóng chày, bóng ném, bơi lội, quần vợt, thể dục dụng cụ, bóng đá, vật, v.v...)
Xuất bản (báo, tạp chí,...)
Ngoại ngữ (thường là tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp; ít phổ biến hơn là tiếng Latin, tiếng Hy Lạp, tiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Hoa, tiếng Nhật...).
===== Các khóa học nâng cao =====
=== Học tập tại nhà ===
== Thang điểm ==
== Trường và viện đại học ==
== Những vấn đề giáo dục đương đại ==
=== Những vấn đề liên quan đến chương trình học ===
==== Giáo dục giới tính ====
=== Hỗ trợ tài chính ===
==== Hỗ trợ tài chính cho các trường mẫu giáo và phổ thông ====
==== Hỗ trợ tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học ====
=== Kiểm soát ===
=== Năng lực cạnh tranh ===
== Educational attainment ==
== Sức khỏe và an ninh học đường ==
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Liên kết ==
=== Thư mục ===
Berliner, David C., and Biddle, Bruce J., The manufactured crisis: myths, fraud, and the attack on America’s public schools, Reading, Mass.: Addison-Wesley, 1995. ISBN 0-201-40957-7
John E. Chubb and Terry M. Moe. Politics, Markets and America's Schools (1990)
Kosar, Kevin R. Failing Grades: The Federal Politics of Education Standards. Rienner, 2005. 259 pp.
E. Wayne Ross et al. eds. Defending Public Schools. (Praeger, 2004), 4 vol: Volume: 1: Education Under the Security State (2004) online version; Volume: 2: Teaching for a Democratic Society (2004) online version; Volume: 3: Curriculum Continuity and Change in the 21st Century (2004) online version; Volume: 4: The Nature and Limits of Standards-Based Reform and Assessment (2004) online version
Tyack, David. Seeking Common Ground: Public Schools in a Diverse Society. Harvard U. Pr., 2003. 237 pp.
=== History ===
for more detailed bibliography see History of Education in the United States: Bibliography
James D. Anderson, The Education of Blacks in the South, 1860-1935 (University of North Carolina Press, 1988).
Axtell, J. The school upon a hill: Education and society in colonial New England. Yale University Press. (1974).
Maurice R. Berube; American School Reform: Progressive, Equity, and Excellence Movements, 1883-1993. 1994. online version
Brint, S., & Karabel, J. The Diverted Dream: Community colleges and the promise of educational opportunity in America, 1900–1985. Oxford University Press. (1989).
Button, H. Warren and Provenzo, Eugene F., Jr. History of Education and Culture in America. Prentice-Hall, 1983. 379 pp.
Cremin, Lawrence A. The transformation of the school: Progressivism in American education, 1876–1957. (1961).
Cremin, Lawrence A. American Education: The Colonial Experience, 1607–1783. (1970); American Education: The National Experience, 1783–1876. (1980); American Education: The Metropolitan Experience, 1876-1980 (1990); standard 3 vol detailed scholarly history
Curti, M. E. The social ideas of American educators, with new chapter on the last twenty-five years. (1959).
Dorn, Sherman. Creating the Dropout: An Institutional and Social History of School Failure. Praeger, 1996. 167 pp.
Gatto, John Taylor. The Underground History of American Education: An Intimate Investigation into the Prison of Modern Schooling. Oxford Village Press, 2001, 412 pp. online version [3]
Herbst, Juergen. The once and future school: Three hundred and fifty years of American secondary education. (1996).
Herbst, Juergen. School Choice and School Governance: A Historical Study of the United States and Germany 2006. ISBN 1-4039-7302-4.
Krug, Edward A. The shaping of the American high school, 1880–1920. (1964); The American high school, 1920–1940. (1972). standard 2 vol scholarly history
Lucas, C. J. American higher education: A history. (1994).
pp.; reprinted essays from History of Education Quarterly
Parkerson, Donald H. and Parkerson, Jo Ann. Transitions in American Education: A Social History of Teaching. Routledge, 2001. 242 pp.
Parkerson, Donald H. and Parkerson, Jo Ann. The Emergence of the Common School in the U.S. Countryside. Edwin Mellen, 1998. 192 pp.
Peterson, Paul E. The politics of school reform, 1870–1940. (1985).
Ravitch, Diane. Left Back: A Century of Failed School Reforms. Simon & Schuster, 2000. 555 pp.
John L. Rury; Education and Social Change: Themes in the History of American Schooling.'; Lawrence Erlbaum Associates. 2002. online version
Sanders, James W The education of an urban minority: Catholics in Chicago, 1833–1965. (1977).
Solomon, Barbara M. In the company of educated women: A history of women and higher education in America. (1985).
Theobald, Paul. Call School: Rural Education in the Midwest to 1918. Southern Illinois U. Pr., 1995. 246 pp.
David B. Tyack. The One Best System: A History of American Urban Education (1974),
Tyack, David and Cuban, Larry. Tinkering toward Utopia: A Century of Public School Reform. Harvard U. Pr., 1995. 184 pp.
Tyack, David B., & Hansot, E. Managers of virtue: Public school leadership in America, 1820–1980. (1982).
Veysey Lawrence R. The emergence of the American university. (1965).
=== Liên kết ngoài ===
EducationUSA: Your Guide to US Higher Education
U.S. Department of Education
National Center for Education Statistics
National Assessment of Educational Progress |
mác đức.txt | Mác Đức hay Đức mã, tức Deutsche Mark là đơn vị tiền tệ chính thức của Tây Đức và kể từ năm 1990, là đơn vị tiền tệ chính thức của nước Đức thống nhất. Đồng mác Đức được phát hành lần đầu vào năm 1948 dưới thời kỳ Đồng minh chiếm đóng để thay thế đồng Reichsmark. Trong suốt thời gian từ năm 1948 đến cuối năm 2001, cho đến khi đồng Euro được lưu hành bằng tiền mặt vào đầu năm 2002, thì mác Đức là tiền tệ chính thức của Cộng hòa Liên bang Đức. Mác Đức ở hai dạng giấy bạc và tiền xu tiếp tục được lưu hành cho đến ngày 28 tháng 2 năm 2002 mới hết được lưu hành trên thị trường.
Ngân hàng Trung ương Đức (Deutsche Bundesbank) và mọi chi nhánh toàn cầu vẫn nhận đồng mác Đức vô hạn định.
Ngày 31 tháng 12 năm 1998, Ngân hàng Trung ương Âu Châu (European Central Bank, ECB) ấn định tỷ giá hối đoái vĩnh viễn giữa đồng mác Đức và đồng Euro là 1,95583 DM = 1 Euro.. Đầu năm 1999, đồng Euro trở thành đồng tiền chính thức ở Eurozone (lúc đó là 11 nước), đồng mác Đức vẫn được dùng song song để trả tiền mặt.
Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2014 theo công bố của Deutsche Bundesbank (Ngân hàng Liên bang Đức) vẫn còn 6,13 tỷ DM tiền giấy và 6,81 tỷ DM tiền xu (tổng cộng: 12,94 tỷ DM) chưa đổi, Đó là 5,29 % số tiền trên thị trường vào năm 2000, 244,8 tỷ DM.
Một mác Đức được chia thành 100 Pfennig.
== Chú thích == |
niên hiệu nhật bản.txt | Niên hiệu Nhật Bản là kết quả của một hệ thống hóa thời kỳ lịch sử do chính Thiên hoàng Kōtoku thiết lập vào năm 645. Giống như tại các nước Đông Á khác, việc sử dụng niên hiệu "gengō" (元号, "gengō") có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tuy nhiên, trong khi các nước khác đã hủy bỏ tục lệ dùng niên hiệu, Nhật Bản vẫn còn sử dụng tục lệ này. Trong các giấy tờ chính thức, chính phủ Nhật Bản đòi hỏi năm được viết theo hình thức này. Hệ thống niên hiệu của nước này vốn được coi là bất thường cho đến khi bắt đầu bước vào thế kỷ thứ 8. Chỉ từ sau năm 701 niên hiệu mới tuần tự phát triển mà không bị gián đoạn trong suốt mấy thế kỷ. Tại Nhật Bản hiện nay, năm có thể được đánh số bằng niên hiệu của Thiên hoàng tại vị. Ví dụ, năm 2017 là năm Bình Thành (Heisei) thứ 29. Niên hiệu lâu dài nhất của Nhật Bản là Chiêu Hòa (64 năm) của Thiên hoàng Hirohito.
== Thời kỳ Asuka (538–710) ==
== Thời kỳ Nara (710–794) ==
== Thời kỳ Heian (794–1192) ==
== Thời kỳ Kamakura (1192–1333) ==
== Thời kỳ Nam-Bắc triều (1336–1392) ==
=== Nam triều ===
=== Bắc triều ===
== Thời kỳ Muromachi (1392–1573) ==
== Thời kỳ Azuchi-Momoyama (1573–1603) ==
== Thời kỳ Edo (1603–1867) ==
== Kể từ thời kỳ Minh Trị (1868–nay) ==
== Thời kỳ không niên hiệu ==
Thời kỳ không niên hiệu (shinengō) trước năm 701 được gọi là itsunengō (逸年号, itsunengō). Khoảng niên đại tiền Taika bao gồm:
Triều đại Thiên hoàng Jimmu, 660–581 TCN
Triều đại Thiên hoàng Suizei, 581–548 TCN
Triều đại Thiên hoàng Annei, 548–510 TCN
Triều đại Thiên hoàng Itoku, 510–475 TCN
Triều đại Thiên hoàng Kōshō, 475–392 TCN
Triều đại Thiên hoàng Kōan, 392–290 TCN
Triều đại Thiên hoàng Kōrei, 290–214 TCN
Triều đại Thiên hoàng Kōgen, 214–157 TCN
Triều đại Thiên hoàng Kaika, 157–97 TCN
Triều đại Thiên hoàng Sujin, 97–29 TCN
Triều đại Thiên hoàng Suinin, 29 TCN–71 SCN
Triều đại Thiên hoàng Keikō, 71–131 SCN
Triều đại Thiên hoàng Seimu, 131–192
Triều đại Thiên hoàng Chūai, 192–201
Triều đại Thiên hoàng Jingū, 201–270
Triều đại Thiên hoàng Ōjin, 270–313
Triều đại Thiên hoàng Nintoku, 313–400
Triều đại Thiên hoàng Richū, 400–406
Triều đại Thiên hoàng Hanzei, 406–412
Triều đại Thiên hoàng Ingyō, 412–454
Triều đại Thiên hoàng Ankō, 454–457
Triều đại Thiên hoàng Yūryaku, 457–480
Triều đại Thiên hoàng Seinei, 480–485
Triều đại Thiên hoàng Kenzō, 485–488
Triều đại Thiên hoàng Ninken, 488–499
Triều đại Thiên hoàng Buretsu, 499–507
Triều đại Thiên hoàng Keitai, 507–534
Triều đại Thiên hoàng Ankan, 534–536
Triều đại Thiên hoàng Senka, 536–540
Triều đại Thiên hoàng Kimmei, 540–572
Triều đại Thiên hoàng Bidatsu, 572–586
Triều đại Thiên hoàng Yōmei, 586–588
Triều đại Thiên hoàng Sushun, 588–593
Triều đại Thiên hoàng Suiko, 593–629
Triều đại Thiên hoàng Jomei, 629–645
Khoảng niên đại hậu Taika không nằm trong phạm vi của hệ thống niên hiệu gồm:
Triều đại Thiên hoàng Saimei, 655–662... Saimei (thời kỳ)
Triều đại Thiên hoàng Tenji, 662–672... Tenji (thời kỳ)
Triều đại Thiên hoàng Kōbun, 672–673... Kōbun (thời kỳ) hay Sujaku (a/k/a Suzaku)
Triều đại Thiên hoàng Tenmu, 673–686... Tenmu (thời kỳ) hay thời kỳ Hakuhō
Triều đại Thiên hoàng Jitō, 687–697... Jitō (thời kỳ)
Triều đại Thiên hoàng Monmu, 697–701... Monmu (thời kỳ)
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Bramsen, William. (1880). Japanese Chronological Tables: Showing the Date, According to the Julian or Gregorian Calendar, of the First Day of Each Japanese Month, from Tai-kwa 1st year to Mei-ji 6th year (645 AD to 1873 AD): with an Introductory Essay on Japanese Chronology and Calendars. Tokyo: Seishi Bunsha. OCLC 35728014
Brown, Delmer M. and Ichirō Ishida, eds. (1979). Gukanshō: The Future and the Past. Berkeley: University of California Press. 10-ISBN 0-520-03460-0; 13-ISBN 978-0-520-03460-0; OCLC 251325323
Murray, David. (1894). The Story of Japan. New York, G.P. Putnam's Sons. OCLC 1016340
Nussbaum, Louis-Frédéric and Käthe Roth. (2005). Japan encyclopedia. Cambridge: Harvard University Press. 10-ISBN 0-674-01753-6; 13-ISBN 978-0-674-01753-5; OCLC 58053128
Ponsonby-Fane, Richard. (1959). The Imperial House of Japan. Kyoto: Ponsonby Memorial Society. OCLC 194887
Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du Japon (Nihon Odai Ichiran). Paris: Royal Asiatic Society, Oriental Translation Fund of Great Britain and Ireland. OCLC 5850691
Tsuchihashi, Paul Yashita, S.J. (1952). Japanese chronological tables from 601 to 1872 (邦曆西曆對照表: 自推古九年至明治五年, Hōreki seireki taishōhyō: Suiko kyūnen yori Meiji gonen ni itaru). Tokyo: Sophia University. OCLC 001291275
Varley, H. Paul. (1980). A Chronicle of Gods and Sovereigns: Jinnō Shōtōki of Kitabatake Chikafusa. New York: Columbia University Press. 10-ISBN 0231049404/13-ISBN 9780231049405; OCLC 6042764
Zöllner, Reinhard. (2003). Japanische Zeitrechnung: ein Handbuch Munich: Iudicium Verlag. 10-ISBN 3891297831/13-ISBN 9783891297834; OCLC 249297777
== Liên kết ngoài ==
Japan Era(Period) converter(Japanese/Korean/English) |
chu kỳ nguyên tố 3.txt | Chu kỳ nguyên tố 3 là hàng thứ 3 trong bảng tuần hoàn (tiêu chuẩn), giống như chu kỳ 2 nó có tất cả 8 nguyên tố: 2 có electron ngoài cùng thuộc lớp 3s và 6 lớp 3p.
== Tham khảo == |
ngô.txt | Ngô, bắp hay bẹ (danh pháp hai phần: Zea mays L. ssp. mays) là một loại cây lương thực được thuần canh tại khu vực Trung Mỹ và sau đó lan tỏa ra khắp châu Mỹ. Ngô lan tỏa ra phần còn lại của thế giới sau khi có tiếp xúc của người châu Âu với châu Mỹ vào cuối thế kỷ 15, đầu thế kỷ 16.
Ngô là cây lương thực được gieo trồng nhiều nhất tại châu Mỹ (Chỉ riêng tại Hoa Kỳ thì sản lượng đã là khoảng 270 triệu tấn mỗi năm). Các giống ngô lai ghép được các nông dân ưa chuộng hơn so với các giống, thứ ngô thông thường do có năng suất cao vì có ưu thế giống lai. Trong khi một vài giống, thứ ngô có thể cao tới 7 m (23 ft) tại một số nơi, thì các giống ngô thương phẩm đã được tạo ra với chiều cao chỉ khoảng 2,5 m (8 ft). Ngô ngọt (Zea mays var. rugosa hay Zea mays var. saccharata) thông thường thấp hơn so với các thứ, giống ngô khác.
== Tên gọi ==
Cây ngô được du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc. Ban đầu ngô được gọi là “lúa ngô”, về sau được gọi tắt thành “ngô”. “Ngô” trong “lúa ngô” là chỉ Trung Quốc. Trước đây người Việt từng gọi Trung Quốc là “Ngô”. Theo sách “Vân đài loại ngữ” (chữ Hán: 芸臺類語) của Lê Quý Đôn Trần Thế Vinh (陳世榮) (1634–1701) là người đã đem giống lúa ngô từ Trung Quốc về Việt Nam trong chuyến đi sứ nhà Thanh. Năm Ất Sửu, niên hiệu Chính Hòa năm thứ 6 (Tây lịch năm 1685), Trần Thế Vinh được cử làm phó sứ đoàn sứ thần Đại Việt sang nước Thanh.
Trong dân gian có truyền thuyết nói rằng Phùng Khắc Khoan mới là người đầu tiên đem giống lúa ngô từ Trung Quốc về Việt Nam khi ông đi sứ nhà Minh năm Đinh Dậu, niên hiệu Quang Hưng năm thứ 20 (Tây lịch năm 1597).
== Sinh lý học ==
Thân cây ngô trông tương tự như thân cây của các loài tre và các khớp nối (các mấu hay mắt) có thể có cách nhau khoảng 20–30 cm (8–12 inch). Ngô có hình thái phát triển rất khác biệt; các lá hình mũi mác rộng bản, dài 50–100 cm và rộng 5–10 cm (2–4 ft trên 2-4 inch); thân cây thẳng, thông thường cao 2–3 m (7–10 ft), với nhiều mấu, với các lá tỏa ra từ mỗi mấu với bẹ nhẵn. Dưới các lá này và ôm sát thân cây là các bắp. Khi còn non chúng dài ra khoảng 3 cm mỗi ngày. Từ các đốt ở phía dưới sinh ra một số rễ.
Các bắp ngô (bẹ ngô) là các cụm hoa cái hình bông, được bao bọc trong một số lớp lá, và được các lá này bao chặt vào thân đến mức chúng không lộ ra cho đến khi xuất hiện các râu ngô màu hung vàng từ vòng lá vào cuối của bắp ngô. Râu ngô là các núm nhụy thuôn dài trông giống như một búi tóc, ban đầu màu xanh lục và sau đó chuyển dần sang màu hung đỏ hay hung vàng. Khi được gieo trồng để làm cỏ ủ chua cho gia súc thì người ta gieo hạt dày dặc hơn và thu hoạch khi cây ngô bắt đầu xuất hiện các bắp non, do vậy tỷ lệ bắp là thấp. Một vài giống ngô cũng được tạo ra với tỷ lệ bắp non cao hơn với mục đích tạo nguồn cung cấp các loại "ngô bao tử" được sử dụng trong ẩm thực của một số quốc gia tại châu Á.
Ngô là loại thực vật cần thời gian ban đêm dài và ra hoa trong một lượng nhất định ngày nhiệt độ tăng trưởng > 10 °C (50 °F) trong môi trường mà nó thích nghi. Biên độ ảnh hưởng mà thời gian ban đêm dài có đối với số ngày cần phải có để ngô ra hoa được quy định theo di truyền và được điều chỉnh bởi hệ thống sắc tố thực vật. Tính chu kỳ theo ánh sáng có thể bị sai lệch ở các giống cây trồng cho khu vực nhiệt đới, nơi mà thời gian ban ngày kéo dài ở các cao độ lớn làm cho cây sẽ phát triển rất cao và chúng không đủ thời gian để ra hoa, tạo hạt trước khi bị chết vì sương giá. Tuy nhiên, đặc tính này là hữu ích khi sử dụng ngô làm nguồn cung cấp nhiên liệu sinh học.
Trên đỉnh của thân cây là cụm hoa đuôi sóc hình chùy chứa các hoa đực, được gọi là cờ ngô. Mỗi râu ngô đều có thể được thụ phấn để tạo ra một hạt ngô trên bắp. Các bắp ngô non có thể dùng làm rau ăn với toàn bộ lõi và râu, nhưng khi bắp đã già (thường là vài tháng sau khi trổ hoa) thì lõi ngô trở nên cứng và râu thì khô đi nên không ăn được. Vào cuối mỗi vụ mùa, các hạt ngô cũng khô và cứng, rất khó ăn nếu không được làm mềm bằng cách luộc. Các kỹ thuật hiện đại trong trồng trọt tại các nước phát triển thông thường dựa trên việc gieo hạt dày hơn, tạo ra trung bình khoảng 0,9 bắp.
Các hạt ngô là các dạng quả thóc với vỏ quả hợp nhất với lớp áo hạt, là kiểu quả thông thường ở họ Hòa thảo (Poaceae). Nó gần giống như một loại quả phức về cấu trúc, ngoại trừ một điều là các quả riêng biệt (hạt ngô) không bao giờ hợp nhất thành một khối duy nhất. Các hạt ngô có kích thước cỡ hạt đậu Hà Lan, và bám chặt thành các hàng tương đối đều xung quanh một lõi trắng để tạo ra bắp ngô. Mỗi bắp ngô dài khoảng 10 – 25 cm (4 - 10 inch), chứa khoảng 200 - 400 hạt. Các hạt có màu như ánh đen, xám xanh, đỏ, trắng và vàng. Khi được nghiền thành bột, ngô tạo ra nhiều bột và ít cám hơn so với lúa mì. Tuy nhiên, nó không có gluten như ở lúa mì và như thế sẽ làm cho các thức ăn dạng nướng có độ trương nở nhỏ hơn.
Giống ngô tích lũy nhiều đường hơn tinh bột trong bắp (ngô ngọt) được tiêu dùng chủ yếu dưới dạng rau.
Thân cây ngô non tích lũy một chất kháng sinh mạnh là DIMBOA (2,4-dihydroxy-7-methoxy-1,4-benzoxazin-3-on). DIMBOA là thành viên của nhóm các axít hydroxamic (còn gọi là các benzoxazinoit) có khả năng phòng chống tự nhiên đối với một loạt các loài gây hại như côn trùng, nấm và vi khuẩn gây bệnh. DIMBOA cũng được tìm thấy trong một số loài "cỏ" có họ hàng gần, cụ thể là lúa mì. Giống ngô đột biến (bx) thiếu DIMBOA rất dễ bị các loài rệp và nấm gây bệnh. DIMBOA cũng là chất có tác dụng đề kháng tương đối của ngô non đối với sâu ngô bore châu Âu (họ Crambidae). Khi ngô trở nên già hơn thì hàm lượng DIMBOA cũng như khả năng đề kháng trước sâu bore cũng giảm đi.
== Di truyền học ==
Nhiều dạng ngô được sử dụng làm lương thực - thực phẩm, đôi khi được phân loại như là các phân loài khác nhau:
Zea mays var. amylacea
Zea mays var. ceratina
Zea mays var. everta
Zea mays var. indentata
Zea mays var. indurata
Zea mays var. japonica
Zea mays var. rugosa
Zea mays var. saccharata
Zea mays var. tunicata
Hệ thống này đã bị thay thế (mặc dù không hoàn toàn) trong khoảng thời gian trên 60 năm bởi các phân loại nhiều biến đổi dựa trên nhiều dữ liệu hơn. Các dữ liệu nông học được bổ sung thêm các đặc điểm thực vật học cho phân loại thô sơ ban đầu, sau đó các chứng cứ di truyền học, tế bào học, protein và AND cũng được thêm vào. Hiện tại các phạm trù phân loại là dạng (ít dùng), chủng, phức hợp chủng và gần đây là các nhánh.
Ngô có 10 nhiễm sắc thể (n=10). Chiều dài tổng cộng của các nhiễm sắc thể là 1.500 cM. Một số nhiễm sắc thể của ngô có cái mà người ta gọi là "bướu nhiễm sắc thể": các vùng tạp sắc lặp đi lặp lại cao với vết màu sẫm. Mỗi bướu riêng biệt là đa hình trong số các giống của cả ngô lẫn cỏ ngô. Barbara McClintock đã sử dụng các bướu này để chứng minh thuyết transposon của bà về các "gen thay đổi đột ngột", và với công trình này bà đã đoạt giải Nobel năm 1983 trong lĩnh vực sinh lý học và y học. Ngô vẫn còn là sinh vật mẫu quan trọng cho di truyền học và sinh học phát triển ngày nay.
Tại Hoa Kỳ có một kho trung tâm các đột biến ở ngô, The Maize Genetics Cooperation — Stock Center, do Cục Nghiên cứu Nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) thành lập và nằm tại Khoa các khoa học cây trồng của Đại học Illinois tại Urbana-Champaign. Tổng cộng bộ sưu tập có gần 80.000 mẫu. Bộ sưu tập này bao gồm vài trăm gen đã đặt tên, cọng với các tổ hợp gen bổ sung và các biến thể có thể di truyền khác. Ở đây có khoảng 1.000 sai lệch nhiễm sắc thể (chẳng hạn các hoán vị hay nghịch đảo) và các nguồn với số nhiễm sắc thể bất thường (như các dạng tứ bội). Dữ liệu di truyền miêu tả các nguồn đột biến ở ngô cũng như vô số các dữ liệu khác về di truyền học của ngô có thể truy cập tại MaizeGDB (Maize Genetics and Genomics Database: Cơ sở dữ liệu di truyền học và bộ gen ngô).
Năm 2005, Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NSF), Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ và Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (DOE) đã thành lập một côngxoocxiom để xác định trình tự chuỗi bộ gen của ngô. Dữ liệu về chuối AND trong kết quả đã được đưa ngay vào Ngân hàng gen, kho chứa công cộng của các dữ liệu chuỗi gen. Việc thiết lập trình tự chuỗi cho bộ gen ngô là khá khó khăn do kích thước lớn và các sắp xếp phức tạp. Bộ gen ngô có 50.000–60.000 gen nằm rải rác trong 2,5 tỷ bazơ – các phân tử tạo ra ADN – mỗi gen lại có 10 nhiễm sắc thể. (Để so sánh, bộ gen người chứa khoảng 2,9 tỷ bazơ và 26.000 gen.)
== Nguồn gốc ==
Có một số thuyết về nguồn gốc của ngô tại Trung Mỹ:
Ngô là sản phẩm thuần dưỡng trực tiếp từ cỏ ngô (Zea mays ssp. parviglumis) một năm ở Trung Mỹ, có nguồn gốc từ khu vực thung lũng sông Balsas ở miền nam México, với tối đa khoảng 12% vật chất gen của nó thu được từ Zea mays ssp. mexicana thông qua xâm nhập gen.
Ngô sinh ra từ quá trình lai ghép giữa ngô đã thuần hóa nhỏ (dạng thay đổi không đáng kể của ngô dại) với cỏ ngô thuộc đoạn Luxuriantes, có thể là Z. luxurians hoặc Z. diploperennis.
Ngô trải qua 2 hay nhiều lần thuần dưỡng của ngô dại hay cỏ ngô.
Ngô tiến hóa từ quá trình lai ghép của Z. diploperennis với Tripsacum dactyloides. (Thuật ngữ cỏ ngô ở đây chỉ tất cả các loài và phân loài trong chi Zea, ngoại trừ Zea mays ssp. mays.) Vào cuối thập niên 1930, Paul Mangelsdorf cho rằng ngô thuần dưỡng là kết quả của lai ghép giữa ngô dại mà con người không biết rõ với loài trong chi Tripsacum, một chi có họ hàng gần. Tuy nhiên, vai trò được đề xuất của Tripsacum (cỏ gama) trong nguồn gốc của ngô đã bị phân tích gen hiện đại bác bỏ, qua đỏ phủ nhận mô hình của Mangelsdorf và thuyết thứ tư trên đây.
Mô hình thứ ba (thực ra là một nhóm các giả thuyết) không được hỗ trợ. Mô hình thứ hai giải thích chi li nhiều câu hỏi hóc búa nhưng nó là quá phức tạp. Mô hình thứ nhất do George Beadle (một nhà khoa học đoạt giải Nobel) năm 1939. Mặc dù nó có hỗ trợ từ thực nghiệm, nhưng nó không thể giải thích một loạt các vấn đề, trong số đó có:
Sự đa dạng lớn các loài trong nhánh Zea đã phát sinh như thế nào,
Các mẫu khảo cổ họcnhỏ xíu trong giai đoạn 3500–2700 TCN (chưa sửa chữa) có thể được chọn lựa từ cỏ ngô như thế nào, và
Quá trình thuần dưỡng có thể được diễn ra mà không để lại các dấu tích của cỏ ngô hay ngô với các đặc điểm dạng cỏ ngô cho tới tận khoảng 1100 TCN như thế nào.
Quá trình thuần dưỡng ngô là đáng chú ý đối với các nhà nghiên cứu—bao gồm các nhà khảo cổ, nhà di truyền học, nhà thực vật dân tộc học, nhà địa lý học v.v. Quá trình này được một số người cho là đã bắt đầu vào khoảng năm 5.500 tới 10.000 TCN (đã điều chỉnh theo các dao động Mặt Trời). Chứng cứ di truyền học gần đây cho rằng quá trình thuần dưỡng ngô diễn ra vào khoảng năm 7000 TCN tại miền trung Mexico, có thể trong khu vực cao nguyên nằm giữa Oaxaca và Jalisco. Cỏ ngô hoang dại gần giống nhất với ngô ngày nay vẫn còn mọc trong lưu vực sông Balsas. Các dấu tích khảo cổ của các bắp ngô có sớm nhất, được tìm thấy tại hang Guila Naquitz trong thung lũng Oaxaca, có niên đại vào khoảng năm 4.250 TCN (đã điều chỉnh; 3.450 TCN là chưa điều chỉnh); các bắp ngô cổ nhất trong các hang động gần Tehuacan, Puebla, có niên đại vào khoảng 2750 TCN. Có rất ít thay đổi diễn ra đối với hình dạng bắp ngô cho tới khoảng 1100 TCN khi các thay đổi lớn diễn ra trên các bắp ngô trong các hang động tại Mexico: sự đa dạng của ngô tăng lên nhanh chóng.
Có lẽ sớm nhất khoảng năm 1500 TCN, ngô bắt đầu phổ biến rộng và nhanh. Khi nó được du nhập vào các nền văn hóa mới, các công dụng mới cũng phát triển và các thứ mới đã được chọn lọc để phục vụ tốt hơn cho các công dụng này. Ngô là lương thực chính của phần lớn các nền văn hóa tiền Columbus tại Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ và khu vực Caribe. Các nền văn minh Trung Mỹ đã được tăng cường sức mạnh nhờ vào ngô; nhờ việc thu hoạch nó, nhờ tầm quan trọng về mặt tôn giáo và linh hồn của nó cũng như ảnh hưởng của nó đối với khẩu phần ăn uống của họ. Ngô tạo ra sự đồng nhất của người dân Trung Mỹ. Trong thiên niên kỷ 1, việc gieo trồng ngô đã lan rộng từ México vào tây nam Hoa Kỳ và khoảng một thiên niên kỷ sau vào đông bắc nước này cũng như đông nam Canada, làm biến đổi cảnh quan các vùng đất này do thổ dân châu Mỹ đã dọn sạch nhiều diện tích rừng và đồng cỏ cho loại cây trồng mới này.
Một điều vẫn chưa rõ là quá trình thuần dưỡng ngô ngưng tụ lại được gì, do phần ăn được của các thứ hoang dại là quá nhỏ và khó để có thể ăn trực tiếp, do mỗi hạt được bao bọc trong các vỏ hai mảnh rất cứng. Tuy nhiên, George Beadle đã chứng minh rằng các hạt của cỏ ngô là dễ dàng "trương nở" để con người sử dụng, tương tự như ngô để làm bỏng ngô ngày nay. Một số người lại tranh cãi rằng nó đã phải mất quá nhiều thế hệ nhân giống chọn lọc nhằm sản sinh các bắp ngô lớn để có thể gieo trồng có hiệu quả. Tuy nhiên, các nghiên cứu về các giống lai ghép dễ dàng thực hiện nhờ lai ghép chéo của cỏ ngô và ngô hiện đại cho thấy lý do phản đối này là không đủ cơ sở vững chắc.
Năm 2005, nghiên cứu của Cục Lâm nghiệp Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ chỉ ra rằng sự gia tăng trong gieo trồng ngô vào khoảng 500 tới 1.000 năm trước tại đông nam Hoa Kỳ góp phần vào sự suy giảm của các loài trai, hến nước ngọt, là các loài rất nhạy cảm đối với các thay đổi môi trường
== Gieo trồng ==
Ngô được gieo trồng rộng khắp thế giới với sản lượng hàng năm cao hơn bất kỳ cây lương thực nào. Trong khi Hoa Kỳ sản xuất gần một nửa sản lượng chung của thế giới thì các nước sản xuất hàng đầu khác còn có Trung Quốc, Brasil, México, Argentina, Ấn Độ, Pháp, Indonesia, Nam Phi và Italia. Sản lượng toàn thế giới năm 2003 là trên 600 triệu tấn — hơn cả lúa và lúa mì. Năm 2004, gần 33 triệu ha ngô đã được gieo trồng trên khắp thế giới, với giá trị khoảng trên 23 tỷ USD.
Do ngô chịu lạnh kém nên trong khu vực ôn đới người ta trồng ngô vào mùa xuân. Hệ thống rễ của nó nói chung là nông vì thế ngô phụ thuộc nhiều vào độ ẩm của đất. Là một loại thực vật C4 (thực vật sử dụng cơ chế quang hợp C4), nên ngô là loại cây lương thực tương đối có hiệu quả hơn trong sử dụng nước so với các thực vật C3 như các loại cây lương thực nhỏ, cỏ linh lăng hay đậu tương. Ngô nhạy cảm nhất với khô hạn khi trổ bắp, lúc hoa (râu) ngô đã sẵn sàng cho việc thụ phấn. Tại Hoa Kỳ, vụ thu hoạch bội thu theo truyền thống được dự đoán là khi ngô "cao ngang đầu gối vào ngày 4 tháng 7", mặc dù các giống lai ghép hiện nay nói chung đều vượt quá tỷ lệ phát triển này. Ngô sử dụng để làm cỏ ủ chua được thu hoạch khi cây còn non và bắp chưa già. Ngô ngọt được thu hoạch khi hạt ở "giai đoạn sữa", sau khi thụ phấn nhưng trước khi hình thành tinh bột, ở Mỹ là vào khoảng cuối mùa hè, đầu đến giữa mùa thu. Ngô lấy hạt được để lại trên đồng cho tới cuối thu nhằm làm khô hạt và đôi khi người ta còn để nó qua mùa đông hay đầu mùa xuân. Tầm quan trọng của lượng hơi ẩm vừa đủ trong đất được thể hiện rõ nét tại nhiều khu vực thuộc châu Phi, nơi mà sự khô hạn mang tính chu kỳ luôn gây ra nạn đói do mùa màng thất bát.
Tại Hoa Kỳ, ngô đã từng được thổ dân gieo trồng trên các mô đất, trong một hệ thống phức tạp gọi là "Ba chị em": Các loài đậu, đỗ sử dụng thân cây ngô để lấy chỗ dựa, còn các loại bí thì có tác dụng che chắn cỏ dại. Phương pháp này đã bị thay thế gieo trồng đơn loài trên các mô đất trong đó mỗi mô đất cách nhau khoảng 60–120 cm (2–4 ft) được gieo 3 hay 4 hạt giống, một phương pháp hiện nay vẫn còn được những người làm vườn tại gia sử dụng. Các kỹ thuật muộn hơn là ngô ca rô, trong đó các mô đất cách nhau khoảng 1 m (40 inch), cho phép các máy xới chạy trên đồng theo cả hai hướng ngang và dọc. Tại các khu vực đất đai khô cằn hơn thì điều này bị thay thế và hạt được gieo tại đáy các rãnh sâu khoảng 10–12 cm (4–5 inch) để có thể lấy được nhiều nước hơn. Kỹ thuật hiện đại gieo trồng ngô thành các hàng để cho phép việc chăm sóc cây non được thuận tiện hơn, mặc dù kỹ thuật gieo trồng trên các đống đất vẫn còn được sử dụng tại các cánh đồng ngô trong một số khu bảo tồn của thổ dân châu Mỹ.
Tại Bắc Mỹ, các cánh đồng được gieo trồng theo phương pháp luân canh cây trồng với các cây trồng có tác dụng cố định đạm, thường là cỏ linh lăng ở khu vực có khí hậu lạnh hơn và đậu tương ở các khu vực có mùa hè dài hơn. Đôi khi, cây trồng thứ ba, lúa mì mùa đông, cũng được thêm vào trong vòng luân canh. Các cánh đồng thông thường được cày xới mỗi năm, mặc dù kiểu canh tác không cày xới ngày càng gia tăng. Nhiều giống ngô được trồng tại Hoa Kỳ và Canada là các giống lai. Trên một nửa diện tích gieo trồng ngô tại Hoa Kỳ là các giống ngô biến đổi gen bằng cách sử dụng công nghệ sinh học để có được các đặc tính tốt như sức kháng chịu sâu bệnh hay sức kháng chịu thuốc diệt cỏ.
Trước Thế chiến II, phần lớn ngô trồng tại Bắc Mỹ được thu hoạch thủ công. Công việc này đòi hỏi nhiều nhân lực và thường gắn với các sự kiện xã hội. Một số thiết bị bẻ ngô cơ khí 1 hay 2 hàng đã được sử dụng nhưng máy gặt đập liên hợp thì không được chấp nhận cho tới tận sau chiến tranh. Với thiết bị bẻ ngô cơ khí hay thủ công, toàn bộ bắp ngô được thu hoạch rồi sau đó cần một công việc tách rời nữa để lột vỏ, tách hạt ra khỏi lõi. Ngày nay, tại các quốc gia phát triển, người ta thu hoạch ngô bằng các máy gặt đập ngô liên hợp để thu hoạch hạt ngô.
== Bệnh pellagra ==
Khi ngô lần đầu tiên được đưa ngoài khu vực châu Mỹ nói chung nó được những người nông dân tại các nơi này chào đón với sự lạc quan do sản lượng cao của nó. Tuy nhiên, vấn đề phổ biến rộng của nạn kém dinh dưỡng đã nảy sinh nhanh chóng tại các khu vực mới gieo trồng ngô này. Nó từng là điều bí ẩn do kiểu kém dinh dưỡng này không được ghi nhận ở thổ dân châu Mỹ trong các điều kiện thông thường.
Cuối cùng người ta đã phát hiện ra rằng thổ dân châu Mỹ đã biết rõ từ lâu về việc thêm các chất kiềm như tro đối với thổ dân Bắc Mỹ và đá vôi (cacbonat canxi) đối với thổ dân Trung Mỹ vào ngô để giải phóng vitamin B3 (niacin), mà sự thiếu hụt nó là nguyên nhân gây ra bệnh pellagra (bệnh nứt da).
Bên cạnh thiếu hụt niacin, pellagra còn có đặc trưng khác là thiếu hụt protein, kết quả của sự thiếu hụt cố hữu 2 axít amin quan trọng trong ngô tiền hiện đại là lysin và tryptophan. Quá trình kiềm hóa cũng làm gia tăng hàm lượng lysin và tryptophan trong ngô ở một mức độ nhất định, nhưng quan trọng hơn là thổ dân châu Mỹ đã biết cách làm cân bằng sự tiêu thụ ngô với đậu đỗ và các nguồn giàu protein khác như dền và đan sâm (Salvia spp.), cũng như thịt và cá, nhằm thu được toàn bộ các axít amin cần thiết cho tổng hợp protein một cách bình thường.
Do ngô được du nhập vào trong khẩu phần ăn uống của các dân tộc phi thổ dân châu Mỹ nhưng lại không kèm theo các kiến thức cần thiết mà thổ dân châu Mỹ phải mất hàng ngàn năm mới nắm rõ nên việc nương tựa nhiều vào ngô thông thường là bi kịch. Vào cuối thế kỷ 19 pellagra đã đạt tới ngưỡng đặc hữu tại các khu vực miền nam Hoa Kỳ, do các nhà nghiên cứu y học đã tranh cãi với nhau về 2 giả thuyết cho nguồn gốc của nó: thuyết thiếu hụt (cuối cùng là đúng) cho rằng bệnh pellagra là do thiếu hụt một số chất dinh dưỡng, còn thuyết mầm bệnh lại cho rằng bệnh pellagra là do mầm bệnh được truyền sang từ ruồi muỗi. Năm 1914, chính quyền Hoa Kỳ chính thức công nhận thuyết mầm bệnh của pellagra, nhưng đã phải hủy bỏ điều này sau vài năm do các chứng cứ chống lại nó ngày càng tăng. Vào giữa thập niên 1920 thuyết thiếu hụt của bệnh pellagra đã nhận được sự đồng thuận khoa học và được chứng minh vào năm 1932 khi thiếu hụt niacin được xác định là nguyên nhân của bệnh này.
Khi cách xử lý bằng kiềm và sự đa dạng trong chế độ ăn uống được hiểu rõ hơn và áp dụng thì bệnh pellagra đã biến mất. Sự phát triển của các giống ngô chứa nhiều lysin và khẩu phần ăn uống cân bằng hơn cũng đóng góp vào sự biến mất của căn bệnh này.
== Bệnh tật và dịch hại ==
=== Sâu bọ ===
Dưới đây là một số loài sâu bọ hại ngô
Sâu bắp ngô (Helicoverpa zea)
Sâu bore thân ngô (Papaipema nebris)
Rệp lá ngô (Rhopalosiphum maidis)
Sâu bore ngô châu Âu (Ostrinia nubilalis) (ECB)
Ruồi râu ngô (Euxesta stigmatis)
Sâu bore nhỏ thân ngô (Elasmopalpus lignosellus)
Bọ rễ ngô (Diabrotica virgifera virgifera LeConte)
Tính nhạy cảm của ngô đối với sâu bore ngô châu Âu, và hậu quả của nó là thất bát lớn về mùa màng đã dẫn tới sự phát triển của thực vật chuyển gen có chứa độc tố của vi khuẩn Bacillus thuringiensis. "Ngô Bt" được gieo trồng rộng rãi tại Hoa Kỳ và đã được chấp thuận để đưa vào châu Âu.
=== Bệnh ===
Bệng than ở ngô (Ustilago maydis): một loại bệnh do nấm gây ra, tại México gọi là huitlacoche, tạo ra các u bướu kỳ dị thay vì các hạt ngô thông thường.
Bệnh khảm ở ngô
Bệnh héo lá Stewart (Pantoea stewartii)
Bệnh gỉ sắt (Puccinia sorghi)
Bệnh héo lá Goss (Clavibacter michiganese)
Bệnh đốm lá xám
Mal de Río Cuarto Virus (MRCV)
Bệnh thối cuống và hạt
== Bảo quản ==
Các bước bảo quản ngô khỏi vi khuẩn và côn trùng
Thu hoạch
Tuốt tẽ hạt
Làm sạch và phân loại
Làm khô
Làm nguội
Phân loại theo chất lượng
Bảo quản trong các thung, chum hay kho silô
Ngô trong kho phải thông thoáng, sạch sẽ, không có lỗ hở nhỏ từ trong ra ngoài nhà kho
== Sử dụng ==
Tại Hoa Kỳ và Canada, sử dụng chủ yếu của ngô là nuôi gia cầm và gia súc, cỏ khô, cỏ ủ chua hay lấy hạt làm lương thực. Cỏ ủ chua được sản xuất bằng cách lên men các đoạn thân cây ngô non. Hạt ngô có nhiều ứng dụng trong công nghiệp, như chuyển hóa thành chất dẻo hay vải sợi. Một lượng ngô nhất định được thủy phân hay xử lý bằng enzym để sản xuất xi rô, cụ thể là xi rô chứa nhiều fructoza, gọi là xi rô ngô, một tác nhân làm ngọt và đôi khi được lên men để sau đó chưng cất trong sản xuất một vài dạng rượu. Rượu sản xuất từ ngô theo truỳen thống là nguồn của wisky bourbon. Etanol từ ngô cũng được dùng ở hàm lượng thấp (10% hoặc ít hơn) như là phụ gia của xăng làm nhiên liệu cho một số động cơ để gia tăng chỉ số octan, giảm ô nhiễm và giảm cả mức tiêu thụ xăng (ngày nay gọi chung là "các nhiên liệu sinh học" và đã từng gây ra tranh cãi mạnh liên quan tới sự cần thiết về các nguồn nhiên liệu mới đối với con người với sự cần thiết phải duy trì, trong các khu vực như châu Mỹ Latinh, các thói quen ăn uống là bản chất của các nền văn minh như các nền văn minh xuất phát từ khu cực Trung Mỹ; Sự chấp nhận các thỏa thuận thương mại về ngô của NAFTA đã làm trầm trọng thêm các tranh cãi này, liên quan tới các điều kiện lao động tồi tệ của người công nhân trên các cánh đồng, và chủ yếu là NAFTA "mở cửa cho việc nhập khẩu ngô từ Hoa Kỳ, nơi mà các nông dân trồng ngô nhận được trợ cấp nhiều tỷ đôla và các hỗ trợ khác từ chính quyền. (...) Theo OXFAM UK, sau khi NAFTA có hiệu lực, giá ngô tại Mexico đã giảm 70% trong giai đoạn từ năm 1994 tới năm 2001. Số lượng việc làm cũng giảm theo: từ 8,1 triệu vào năm 1993 xuống còn 6,8 triệu vào năm 2002. Phần nhiều trong số những người mất việc làm là những người trồng ngô ở quy mô nhỏ. Tuy nhiên, việc đưa vào các khu vực tại các vĩ độ xa hơn về phía bắc của Hoa Kỳ các loại ngô sản xuất nhiên liệu sinh học không nhằm mục tiêu tiêu thụ của con người hay động vật, có thể làm giảm xu hướng này. Sự tiêu thụ ngô từ phía con người như là một loại lương thực chính diễn ra tại nhiều khu vực trên thế giới. Trong nhiều nền văn hóa người ta sử dụng các món cháo ngô, như polenta ở Italia, angu ở Brasil, mămăligă ở România hay mush tại Hoa Kỳ hoặc các thức ăn gọi là sadza, nshima, ugali và mealie pap tại châu Phi. Ngô cũng là thành phần chính trong tortilla, atole và nhiều món ăn khác trong ẩm thực Mexico, hay chicha, một loại đồ uống lên men ở Trung và Nam Mỹ. Việc ăn ngô còn trên lõi cũng tùy thuộc vào từng nền văn hóa. Nó là khá phổ biến tại Hoa Kỳ nhưng dường như không thấy tại châu Âu.
Ngô ngọt là dạng biến đổi gen chứa nhiều đường và ít tinh bột, được dùng như một loại rau. Bỏng ngô là các hạt ngô từ một vài giống, thứ ngô sẽ nổ để xốp hơn khi bị rang nóng. Nó là một loại đồ ăn chủ yếu dành cho những người thích ăn quà vặt.
Ngô cũng có thể được chế biến thành bánh đúc ngô, với các hạt ngô được tẩy trắng bằng một số chất kiềm. Bánh đúc ngô nói chung hay được sử dụng tại khu vực đông nam Hoa Kỳ, loại thức ăn này là học tập từ cách chế biến của thổ dân Mỹ. Một loại thức ăn phổ biến khác từ ngô là bánh bông ngô. Bột ngô cũng được sử dụng làm một loại bánh mì và món tortilla của Mexico.
Một vài dạng ngô cũng được trồng làm cây cảnh. Đối với mục đích này, các dạng với lá hay bắp nhiều màu được sử dụng. Ngoài ra, các dạng ngô với kích thước lớn, ví dụ ngô cao tới 9,4 m (31 ft) hay ngô với bắp dài tới 60 cm (24 inch), là các dạng ngô cảnh trong ít nhất là một thế kỷ đã qua.
Lõi ngô cũng có thể khoan lỗ và dùng như một loại tẩu hút thuốc rẻ tiền, lần đầu tiên được sản xuất tại Mỹ vào năm 1869. Lõi ngô cũng có thể dùng như một nguồn nhiên liệu. Ngô tương đối rẻ tiền và các lò sưởi tại gia với việc sử dụng hạt ngô làm nguồn nhiên liệu cũng đã được tạo ra.
Một công dụng không thông thường khác của ngô là tạo ra các Mê cung ngô nhằm thu hút du khách. Các mê cung này được tạo ra trên các cánh đồng ngô. Ý tưởng về mê cung ngô do Adrian Fisher, một nhà thiết kế mê cung hiện đại nhiều ý tưởng đưa ra, cùng với Công ty The American Maze đã đưa ra mê cung loại này tại Pennsylvania vào năm 1993. Các mê cung truyền thống tại Mỹ nói chung dùng các hàng rào thủy tùng, nhưng chúng phải mất vài năm mới có thể đủ lớn. Sự phát triển nhanh chóng của các cánh đồng ngô cho phép việc sắp xếp các mê cung bằng sử dụng Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) vào đầu mùa và tạo ra mê cung khi ngô đủ cao để che khuất tầm nhìn của du khách vào mùa hè. Tại Canada và Hoa Kỳ, các "mê cung ngô" khá phổ biến trong nhiều cộng đồng nông dân.
Ngô ngày càng gia tăng vai trò như là một nguồn nhiên liệu sinh học, chẳng hạn etanol. Nhà máy điện khí hóa sinh khối tại Strem, gần Güssing, Burgenland, Áo đã hoạt động từ năm 2005. Nghiên cứu để sản xuất diesel từ khí sinh học theo phương pháp Fischer Tropsch cũng đã được thực hiện.
Ngô cũng được dùng như một loại mồi câu gọi là "viên bột nhão". Nó là phổ biến tại châu Âu để câu nhấp.
Các núm nhụy từ hoa cái của ngô (râu ngô), cũng được buôn bán như là một loại thảo dược có tác dụng lợi tiểu.
Hạt ngô cũng có thể dùng thay cho cát sỏi trong một số chỗ vui chơi cho trẻ em.
Theo ẩm thực Việt Nam, hạt ngô còn được sử dụng để làm bánh ngô , hay canh súp ngô rất ngon mà bổ dưỡng.
== Nghệ thuật ==
Ngô là cây lương thực thiết yếu tại khu vực Andes kể từ các thời kỳ tiền Columbus. Nền văn hóa Moche ở miền bắc Peru sản xuất gốm sứ từ đất, nước và lửa. Đôg gốm ở hình bên là một tài sản linh thiêng, được dùng để thể hiện một số chủ đề quan trọng.
== Thư viện ảnh ==
== Xem thêm ==
Ngô bao tử
Protein trên một đơn vị diện tích
Ngắt cờ ngô
Danh sách các giống ngô
== Tham khảo ==
Ferro D.N., Weber D.C. Quản lý dịch hại ngô ngọt tại Massachusetts
ITIS 42268 vào ngày 22 tháng 9 năm 2002
Danh sách các tên phân loại chi Zea
== Liên kết ngoài ==
A Zillion Uses for Corn
NCGA Corn Industry Statistics
Image of Zea mays from Flora von Deutschland Österreich und der Schweiz
Zea mays at Plants For A Future
Usage of Iowa and U.S. Corn Crop
How a Corn Plant Develops
Maize Genetics and Genomics Database project
The Maize Genome Sequence Browser
International Maize and Wheat Improvement Center
Maize of Guatemala
Maize research at the International Institute of Tropical Agriculture (IITA)
Tropical maize could become biofuel 'super' crop in the US
Jala Giant Corn (longest cob)
European corn borer An ingenious pest
Processing corn from seed to harvest to table
Corn tại DMOZ
The Great Corn Adventure - University of Illinois Extension
Corn Facts
Articles on maize written by Cristina Barros and Marco Buenrostro at their "Itacate" (the Nahuatl word for traveling provisions), in La Jornada, the Mexican journal
("Sin maíz no hay país", i.e., "There is no country without maize") This is a Mexican campaign defending the alimentary sovereignty and the reactivation of the Mexican field
== Ghi chú == |
saraswati.txt | Saraswati (tiếng Phạn: सरस्वती, Sarasvatī ?) là một vị thần trong đạo Hindu (Nữ thần Devi), thần của tri thức, âm nhạc, nghệ thuật và thiên nhiên. Bà là một trong ba vị thần bao gồm Saraswati, Lakshmi và Parvati. Ba nữ thần cùng nhau hỗ trợ các nam thần là Brahma, Vishnu và Shiva trong sự sáng tạo, duy trì sự sống và sự hủy diệt của vũ trụ.
Tên vị thần trong Tiếng Miến Điện là Thurathadi (သူရဿတီ, phát âm [θùja̰ðədì] hay [θùɹa̰ðədì]) hay Tipitaka Medaw (တိပိဋကမယ်တော်, phát âm [tḭpḭtəka̰ mɛ̀dɔ̀]), trong Tiếng Hoa là Biện Tài Thiên (pinyin: Biàncáitiān 辯才天), trong Tiếng Nhật là Benzaiten (弁才天/弁財天) và trong Tiếng Thái là Surasawadee (สุรัสวดี).
== Tên gọi ==
Dòng sông Sarasvati là một trong các sông nữ thần ở Rigveda. Tên Sanskrit nghĩa là "có nhiều hồ bơi".
Trong tiếng Telugu, Sarasvati có tên phổ biến là Chaduvula Thalli (చదువుల తల్లి), Sharada (శారద). Trong tiếng Konkan, nữ thần này được gọi là Sharada, Veenapani, Pustaka dharini, Vidyadayini. Trong tiếng Kannada, các biến thể tên gọi vị thần này gồm Sharade, Sharadamba, Vani, Veenapani trong ngôi đền nổi tiếng Sringeri. Trong tiếng Tamil, nữ thần được gọi là Kalaimagal (கலைமகள்), Kalaivaani (கலைவாணி), Vaani (வாணி).
== Tham khảo ==
== Nghiên cứu thêm ==
Sailen Debnath, The Meanings of Hindu Gods, Goddesses and Myths, ISBN 9788129114815, Rupa & Co., New Delhi
Saraswati, Swami Satyananda. Saraswati Puja for Children. ISBN 1-877795-31-3.
Ankerl, Guy (2000). Global communication without universal civilization. INU societal research. Vol.1: Coexisting contemporary civilizations: Arabo-Muslim, Bharati, Chinese, and Western. Geneva: INU Press. ISBN 2-88155-004-5.
== Liên kết ngoài ==
Vasant Panchami, a celebration of Goddess Saraswati
Saraswati Jayanti Festival
Koothanur Saraswati Temple Official Website
Documentary on making of Saraswati idols |
kiểu dáng công nghiệp.txt | Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.
== Giải thích ==
Hình dáng bên ngoài của sản phẩm là phần sản phẩm có thể nhận biết được bằng các giác quan (chủ yếu là mắt) trước khi kiểm nghiệm sản phẩm.
Tính mới của kiểu dáng được xác định đối với cơ quan nhận đăng ký sở hữu công nghiệp:
Khác biệt cơ bản với các kiểu dáng công nghiệp đã được mô tả trong các đơn nộp cho cơ quan sở hữu công nghiệp
Khác biệt cơ bản với các kiểu dáng công nghiệp tương tự đã được công bố trong các nguồn thông tin như nguồn thông tin liên quan đến bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ở nước ngoài, các nguồn thông tin khác
Chưa được bộc lộ công khai ở trong và ngoài nước tới mức căn cứ vào đó, chuyên gia có trình độ trung bình trong lĩnh vực tương ứng có thể thực hiện được kiểu dáng công nghiệp đó.
Kiểu dáng công nghiệp phải có tính khả thi trong việc làm mẫu để chế tạo hàng loạt bằng công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.
Không được công nhận là kiểu dáng công nghiệp khi:
Hình dáng bên ngoài của sản phẩm được tạo ra một cách dễ dàng đối với chuyên gia có trình độ trung bình thuộc lĩnh vực tương ứng
Hình dáng bên ngoài do đặc tính kỹ thuật bắt buộc phải có
Hình dáng bên ngoài của các công trình xây dựng
Hình dáng các sản phẩm chỉ có giá trị thẩm mỹ
== Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp ==
Đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp tại Việt nam phải bao gồm tối thiểu các tài liệu sau đây: Đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ (Theo mẫu) Tài liệu, mẫu vật, thông tin thể hiện đối tượng sở hữu công nghiệp đăng ký bảo hộ (Bản mô tả kiểu dáng công nghiệp, bộ ảnh chụp và/hoặc bản vẽ kiểu dáng) Giấy uỷ quyền, nếu đơn nộp thông qua đại diện; Tài liệu chứng minh quyền đăng ký, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền đó của người khác; Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên, nếu có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên; Chứng từ nộp phí, lệ phí.
2. Thời hạn bảo hộ. Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết năm năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn hai lần liên tiếp, mỗi lần năm năm.
== Xem thêm ==
Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam
Thương hiệu
Mỹ thuật công nghiệp
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Kiểu dáng công nghiệp trên trang Cục Sở hữu Trí tuệ Việt nam
U.S. Occupational Outlook Handbook: Commercial and Industrial Designers |
texas.txt | Texas (phát âm là Tếch-xợtx hay là Tếch-xác) là tiểu bang đông dân thứ hai và có diện tích lớn thứ hai trong số 50 tiểu bang của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, và là tiểu bang lớn nhất trong số 48 tiểu bang liền kề của Hoa Kỳ. Về mặt địa lý, Texas nằm ở vùng Trung Nam của quốc gia, có biên giới quốc tế với các bang Chihuahua, Coahuila, Nuevo León, và Tamaulipas của México; bên trong Hoa Kỳ, Texas có biên giới với tiểu bang New Mexico ở phía tây, Oklahoma ở phía bắc, Arkansas ở phía đông bắc, và Louisiana ở phía đông. Texas có diện tích 696.200 kilômét vuông (268.800 sq mi) với 26,1 triệu cư dân.
Houston là thành phố lớn nhất tại Texas và là thành phố lớn thứ tư tại Hoa Kỳ, còn San Antonio là thành phố lớn thứ hai của tiểu bang và lớn thứ bảy tại Hoa Kỳ. Dallas–Fort Worth và Đại Houston lần lượt là các vùng đô thị lớn thứ tư và thứ năm tại Hoa Kỳ. Các thành phố lớn khác tại Texas là El Paso và thủ phủ Austin. Texas có biệt danh là Lone Star State (bang ngôi sao cô độc) nhằm biểu thị Texas nguyên là một nước cộng hòa độc lập và nhắc nhở đến cuộc đấu tranh giành độc lập của Texas từ Mexico. Có thể trông thấy "Ngôi sao cô đơn" trên tiểu bang kỳ Texas và tiểu bang huy Texas hiện nay. Nguồn gốc của tên hiệu Texas bắt nguồn từ "Tejas", có nghĩa là 'bằng hữu' trong tiếng Caddo.
Do có diện tích rộng lớn cùng với các đặc trưng về địa chất như Đứt đoạn Balcones, Texas có các cảnh quan đa dạng tương tự như Nam và Tây Nam Hoa Kỳ. Mặc dù Texas có mối liên hệ phổ biến với các hoang mạc Tây Nam, song chỉ dưới 10 phần trăm diện tích đất của tiểu bang là hoang mạc. Hầu hết các trung tâm cư dân tại Texas nằm tại những nơi vốn là thảo nguyên, rừng, và bờ biển. Từ đông sang tây, có thể quan sát thấy địa hình của Texas biến đổi từ đầm lầy ven biển và rừng thông, đến các đồng bằng gợn sóng và gò đồi gồ ghề, và cuối cùng là hoang mạc và các dãy núi của vùng Big Bend.
Thuật ngữ "six flags over Texas" (sáu quốc kỳ bay trên đất Texas) bắt nguồn từ việc lãnh thổ này từng nằm dưới quyền quản lý của một vài quốc gia. Tây Ban Nha là quốc gia châu Âu đầu tiên tuyên bố chủ quyền đối với khu vực Texas. Pháp cũng từng nắm giữ một thuộc địa tồn tại ngắn ngủi ở Texas. Mexico kiểm soát lãnh thổ này cho đến khi Texas giành độc lập vào năm 1836, Texas khi đó trở thành một nước Cộng hòa. Năm 1845, nước Cộng hòa Texas gia nhập vào Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, trở thành bang thứ 28 của Liên bang. Việc Hoa Kỳ sáp nhập Texas nổi bật trong chuỗi sự kiện dẫn đến Chiến tranh Hoa Kỳ-Mexico vào năm 1846. Do là một tiểu bang duy trì chế độ nô lệ, Texas tuyên bố thoát ly khỏi Hợp chúng quốc vào đầu năm 1861, và gia nhập vào Liên minh miền Nam trong Nội chiến Hoa Kỳ. Sau khi kết thúc chiến tranh và tái gia nhập Liên bang, Texas bước vào một giai đoạn đình trệ kéo dài về mặt kinh tế.
Có một ngành kinh tế trở nên thịnh vượng sau Nội chiến tại Texas là bò. Do là trung tâm của ngành kinh tế này trong một thời gian lâu dài, người ta liên hệ Texas với hình ảnh của những chàng cao bồi. Tình hình kinh tế của tiểu bang biến đổi vào đầu thế kỷ 20, việc phát hiện ra dầu khởi đầu cho một giai đoạn bùng nổ kinh tế tại Texas. Cùng với việc đầu tư mạnh cho các trường đại học, Texas phát triển một nền kinh tế đa dạng hóa và công nghiệp công nghệ cao vào giữa thế kỷ 20. Theo số liệu năm 2010, Texas đứng đầu trong các tiểu bang có công ty lọt vào Fortune 500, đồng hạng với California. Với nền kinh tế đang lớn mạnh lên, Texas trở thành tiểu bang dẫn đầu Hoa Kỳ trong nhiều ngành kinh tế, như nông nghiệp, hóa dầu, năng lượng, máy tính và điện tử, hàng không vũ trụ, và khoa học y sinh. Texas cũng dẫn đầu quốc gia về kim ngạch xuất khẩu kể từ năm 2002 và có tổng sản phẩm tiểu bang cao thứ hai.
== Địa lý ==
Texas là tiểu bang lớn thứ hai tại Hoa Kỳ, sau Alaska, với diện tích 268.820 dặm vuông Anh (696.200 km2). Nếu xét về diện tích, Texas rộng hơn 10% so với Pháp và lớn gần gấp đôi Đức hay Nhật Bản, đứng thứ 27 trong số các đơn vị hành chính cấp một quốc gia trên thế giới. Nếu độc lập, Texas sẽ là quốc gia lớn thứ 40 trên thế giới, xếp hạng sau Chile và Zambia.
Texas nằm ở khu vực Trung-Nam của Hoa Kỳ. Ở phía nam, sông Rio Grande tạo thành biên giới quốc tế giữa Texas với các tiểu bang Chihuahua, Coahuila, Nuevo León, và Tamaulipas của Mexico. Ở phía bắc, sông Red tạo thành biên giới giữa Texas với Oklahoma và Arkansas. Ở phía đông, sông Sabine tạo thành biên giới tự nhiên giữa Texas với Louisiana. Vùng cán xoong Texas có biên giới phía đông với Oklahoma theo kinh tuyến 100°T, biên giới phía bắc với Oklahoma theo vĩ tuyến 36°30'B và biên giới phía tây với New Mexico theo kinh độ 103°T. El Paso nằm ở mũi cực tây của bang- được tạo thành từ vĩ tuyến 32°B và Rio Grande.
Texas có 10 vùng khí hậu, 14 vùng đất đai và 11 vùng sinh thái riêng biệt, do vậy việc phân loại vùng miền trở nên mơ hồ với những khác biệt về đất, địa hình, địa chất, lượng mưa, quần thể thực vật và động vật. Một hệ thống phân loại chia Texas, theo thứ tự từ đông nam sang tây, thành các vùng: Đồng bằng Ven biển vịnh Mexico, Đất thấp nội địa, Đại Bình nguyên, Bồn địa và Núi. Vùng Đồng bằng ven biển bao quanh vịnh Mexico nằm ở phần đông nam của bang. Thảm thực vật trong vùng này gồm có các rừng thông dày. Vùng đất thấp nội địa gồm các khu vực gợn sóng đến các khu đồi rừng và là một bộ phận của vùng rừng thông gỗ cứng. Đại Bình nguyên nằm ở trung bộ Texas, trải dài từ Vùng Cán xoong của tiểu bang và Llano Estacado cho đến Vùng Đồi Texas gần Austin. Vùng này chủ yếu là thảo nguyên. Vùng "Viễn Tây Texas" hay "Trans-Pecos" là vùng Bồn địa và Núi, gồm có vùng Đồi Sand, cao nguyên Stockton, các thung lũng sa mạc, dốc núi có rừng và bãi cỏ sa mạc.
Texas có 3.700 dòng chảy được đặt tên và 15 sông lớn, trong đó Rio Grande là lớn nhất. Các sông lớn khác của Texas gồm Pecos, Brazos, Colorado, và Red- tạo thành biên giới với Oklahoma. Mặc dù Texas chỉ có vài hồ tự nhiên, song người Texas xây dựng được trên 100 hồ chứa nhân tạo.
Quy mô lãnh thổ và lịch sử độc đáo của Texas khiến cho việc xác định liên kết khu vực của tiểu bang gây tranh luận; Texas có thể được xếp là một tiểu bang Nam bộ hoặc một tiểu bang Tây Nam bộ, hoặc cả hai. Sự rộng lớn và đa dạng về địa lý, kinh tế, văn hóa tại Texas cản trở việc phân loại toàn bộ tiểu bang vào một vùng được công nhận tại Hoa Kỳ. Như Đông Texas thường được xác định là phần mở rộng của Deep South, còn Viễn Tây Texas thường được thừa nhận là một phần của Tây Nam nội địa.
Một lượng lớn các loài động vật và côn trùng sinh sống tại Texas. Tiểu bang là nơi cư trú của 65 loài thú, 213 loài bò sát và lưỡng cư, và là nơi đa dạng nhất về sự sống của các loài chim tại Hoa Kỳ—tất cả có 590 loài. Có ít nhất 12 loài được di thực và nay tái sinh tự do tại Texas. Texas cũng có một số loài ong bắp cày, là một trong các khu vực sinh sống đông đúc nhất của loài Polistes exclamans.
== Khí hậu ==
Texas có diện tích rộng lớn và có vị trí nằm tại nơi giao nhau của nhiều vùng khí hậu, do vậy thời tiết trong tiểu bang có sự biến đổi ở mức độ cao. Vùng Cán xoong của tiểu bang có những mùa đông lạnh hơn vùng Bắc Texas, trong khi vùng Ven biển vịnh Mexico có những mùa đông ôn hòa. Các địa phương trong tiểu bang Texas có sự khác biệt lớn về chế độ mưa. Cực tây của tiểu bang là El Paso có lượng mưa trung bình năm là 8,7 inch (220 mm), trong khi các khu vực ở Đông Nam Texas có lượng mưa trung bình năm là 64 inch (1.600 mm).
Tuyết rơi nhiều lần vào mùa đông ở vùng Cán xoong và các khu vực núi non tại Tây Texas, một hoặc hai lần mỗi năm ở Bắc Texas, và một lần trong vài năm ở Trung và Đông Texas. Tuyết hiếm khi rơi ở khu vực phía nam San Antonio hay ở vùng ven biển. Trong cơn bão tuyết đêm Giáng sinh 2004, tuyết rơi với lượng 6 inch (150 mm) ở nơi xa về phía nam như Kingsville, vốn là nơi có nhiệt độ trung bình cao là 65 °F (18 °C) trong tháng 12.
Nhiệt độ tối cao vào các tháng mùa hè trung bình là từ 26 °C tại vùng núi non ở Tây Texas và trên đảo Galveston đến khoảng 38 °C ở Thung lũng Rio Grande, song hầu hết các khu vực của Texas có nhiệt độ cao vào mùa hè trong khoảng 32 °C.
Nhiệt độ ban đêm vào mùa hè dao động từ dưới 14 °C ở vùng núi thuộc Tây Texas đến 27 °C trên đảo Galveston.
Giông tố thường xuyên tấn công Texas, đặc biệt là phần đông bộ và bắc bộ của bang. Tornado Alley (Đường đi Bão táp) bao trùm lên bắc bộ của Texas. Texas là tiểu bang phải hứng chịu nhiều lốc xoáy nhất tại Hoa Kỳ, trung bình 139 trận mỗi năm. Những địa phương phải hứng chịu thường xuyên nhất là Bắc Texas và vùng Cán xoong. Các cơn lốc xoáy ở Texas thường xuất hiện trong các tháng 4, 5, 6.
Texas phát ra hầu hết lượng khí nhà kính tại Hoa Kỳ, với gần 1,5 nghìn tỷ pound (680 tỷ kg) khí carbon dioxide mỗi năm. Nếu là một quốc gia độc lập, Texas sẽ xếp hạng thứ 7 thế giới về lượng phát thải khí nhà kính. Trong các nguyên nhân khiến Texas phát ra nhiều khí nhà kính, có nguyên nhân là do tiểu bang có một lượng lớn nhà máy nhiệt điện than và các ngành công nghiệp tinh chế và chế tạo.
== Lịch sử ==
=== Thời kỳ tiền Âu ===
Texas nằm giữa hai phạm vi văn hóa lớn của Bắc Mỹ thời kỳ tiền Columbus: Tây Nam và Bình nguyên. Các nhà khảo cổ học phát hiện thấy ba nền văn hóa bản địa lớn tồn tại trên lãnh thổ này, và phát triển đến đỉnh cao trước khi có tiếp xúc đầu tiên với người Âu. Chúng là:
Pueblo từ vùng thượng du Rio Grande, tập trung tại Tây Texas;
Văn hóa Mississippi, cũng gọi là Mound Builder, mở rộng dọc theo thung lũng sông Mississippi ở phía đông Texas;
Các nền văn minh Trung Bộ châu Mỹ, tập trung ở nam bộ Texas. Ảnh hưởng của Teotihuacan ở bắc bộ Mexico đạt đỉnh vào khoảng năm 500 và suy yếu từ thế kỷ 8 đến 10.
Không nền văn hóa nào chi phối tại khu vực nay là Texas, và khu vực có nhiều dân tộc cư trú. Các bộ lạc người Mỹ bản địa sống trong biên giới Texas ngày nay gồm có Alabama, Apache, Atakapan, Bidai, Caddo, Coahuiltecan, Comanche, Choctaw, Coushatta, Hasinai, Jumano, Karankawa, Kickapoo, Kiowa, Tonkawa, và Wichita. Tên gọi Texas bắt nguồn từ táyshaʔ, một từ trong tiếng Caddo để chỉ Liên minh Hasinai, có nghĩa là "bằng hữu" hoặc "đồng minh".
Việc một bộ lạc thân thiện hay hiếu chiến có tính quyết định đối với số mệnh của những nhà thám hiểm và người định cư châu Âu trên vùng đất đó. Các bộ lạc thân thiện dạy những người mới đến cách trồng trọt các cây trồng bản địa, chuẩn bị thức ăn, và săn bắn. Các bộ lạc hiếu chiến tiến hành các vụ tấn công và kháng cự những người mới đến, khiến cho cuộc sống của người Âu trở nên khó khăn và nguy hiểm.
=== Thuộc địa hóa ===
Văn bản lịch sử đầu tiên có liên hệ đến Texas là một bản đồ Duyên hải Vịnh Mexico, do nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Alonso Álvarez de Pineda tạo ra vào năm 1519. Chín năm sau đó, nhà thám hiểm bị đắm tàu người Tây Ban Nha Álvar Núñez Cabeza de Vaca và đội quân của ông trở thành những người Âu đầu tiên tại nơi mà nay là Texas. Cabeza de Vaca ghi lại rằng vào năm 1528, khi người Tây Ban Nha đổ bộ lên khu vực, "một nửa số thổ dân chết vì một loại bệnh đường ruột và họ đổ lỗi cho chúng tôi."
Francisco Vasquez de Coronado miêu tả cuộc chạm trán vào năm 1541 của ông với "Hai loại người đi quanh các bình nguyên này cùng những con bò; một được gọi là Querechos và dân tộc kia là Teyas; họ rất cường tráng, hóa trang, và là những kẻ thù của nhau. Họ không có khu định cư hay khu đất chuẩn bị sẵn mà chỉ đi vòng quanh cùng những con bò. Họ sát hại tất cả những thứ mà họ muốn, và thuộc da dùng để che thân và làm lều, và họ ăn thịt, thậm chí đôi khi là ăn sống, họ thậm chí cũng uống máu khi khát..."
Các thế lực châu Âu bỏ qua khu vực này cho đến khi ngẫu nhiên định cư ở đây vào năm 1685. Các tính toán sai lầm của René Robert Cavelier de La Salle dẫn đến việc ông lập ra thuộc địa pháo đài Saint Louis ở vịnh Matagorda thay vì ở một nơi dọc theo sông Mississippi. Thuộc địa này chỉ tồn tại trong bốn năm do không chống đỡ nổi trước điều kiện khắc nghiệt và các bộ lạc bản địa thù địch.
Năm 1690, nhà cầm quyền Tây Ban Nha lo ngại rằng Pháp tạo ra mối đe dọa cạnh tranh, do vậy họ quyết định thành lập một số đoàn truyền giáo ở Đông Texas. Sau khi người da đỏ kháng cự, những nhà truyền giáo người Tây Ban Nha trở về Mexico. Khi người Pháp bắt đầu định cư tại Louisiana, chủ yếu ở phần phía nam của tiểu bang này, chính quyền Tây Ban Nha vào năm 1716 phản ứng bằng cách hình thành một loạt các đoàn truyền giáo mới ở Đông Texas. Hai năm sau đó, họ thành lập San Antonio, khu định cư dân sự đầu tiên của người Tây Ban Nha tại khu vực.
Do các bộ lạc da đỏ có thái độ thù địch và khoảng cách xa từ các thuộc địa lân cận của Tây Ban Nha nên khiến những người định cư thoái chí trong việc chuyển đến khu vực. Đây là một trong các tỉnh ít dân cư nhất của Tân Tây Ban Nha. Năm 1749, Hiệp ước hòa bình mà người Tây Ban Nha đạt được với người Lipan Apache khiến nhiều bộ lạc tức giận, bao gồm Comanche, Tonkawa, và Hasinai. Người Comanche ký một hiệp ước với Tây Ban Nha vào năm 1785 và sau đó giúp đỡ để đánh bại các bộ lạc Lipan Apache và Karankawa. Với việc có nhiều đoàn truyền giáo được thành lập, các thầy tu chủ trì việc cải đạo hòa bình hầu hết các bộ lạc. Đến cuối thế kỷ 18, chỉ còn một vài bộ lạc du mục chưa cải sang Thiên Chúa giáo.
Khi Hoa Kỳ mua Louisiana từ Pháp vào năm 1803, nhà cầm quyền Hoa Kỳ khẳng định rằng thỏa thuận cũng bao gồm cả Texas. Biên giới giữa Tân Tây Ban Nha và Hoa Kỳ cuối cùng được xác định tại sông Sabine vào năm 1819, tại nơi mà nay là biên giới giữa Texas và Louisiana. Hăm hở với vùng đất mới, nhiều người định cư Hoa Kỳ từ chối công nhận thỏa thuận. Một số nhóm kẻ cướp phát triển thành các đội quân để xâm chiếm khu vực phía tây sông Sabine. Năm 1821, Chiến tranh giành độc lập Mexico kết thúc, lãnh thổ Texas trở thành một phần của Mexico. Do có số dân thấp, Mexico xếp khu vực là một phần của tiểu bang Coahuila và Tejas.
Hy vọng với việc có thêm người định cư sẽ giúp giảm bớt các vụ tấn công gần như liên miên của người Comanche, Texas thuộc Mexico thực hiện tự do hóa các chính sách nhập cư bằng việc cấp phép cho những người nhập cư từ bên ngoài Mexico và Tây Ban Nha. Theo hệ thống nhập cư của Mexico, các dải đất đai rộng lớn được giao cho các empresario, những người này sẽ tuyển mộ những người định cư đến từ Hoa Kỳ, châu Âu, và nội địa Mexico.
Ngoài nhà Austin, có 23 empresario khác đưa những người định cư đến Texas, phần lớn trong số đó đến từ Hoa Kỳ. Dân số Texas tăng trưởng nhanh chóng. Năm 1825, Texas có khoảng 3.500 cư dân, hầu hết họ có nguồn gốc từ Mexico. Đến năm 1834, dân số Texas tăng lên khoảng 37.800 người, chỉ 7.800 người trong số đó có nguồn gốc Mexico.
Nhiều người nhập cư công khai xem thường luật pháp Mexico, đặc biệt là luật cấm chế độ nô lệ. Cùng với đó là các nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm giành được Texas, nhà cầm quyền Mexico vào năm 1830 quyết định cấm việc tiếp tục nhập cư từ Hoa Kỳ. Các luật mới cũng yêu cầu thuế quan bắt buộc, khiến các công dân Mexico bản địa (Tejano) và những người mới nhập cư tức giận.
Loạn Anahuac vào năm 1832 là cuộc nổi dậy công khai đầu tiên chống lại sự cai trị của Mexico, trùng hợp với một cuộc nổi dậy chống tổng thống ở Mexico. Người Texas đứng về phe Liên bang chủ nghĩa, chống lại chính phủ hiện thời và đuổi toàn bộ binh sĩ Mexico ra khỏi Đông Texas. Họ nắm lấy cơ hội khoảng trống quyền lực để đấu tranh nhằm đạt được tự do hơn về chính trị. Người Texas tập hợp tại Hội nghị năm 1832 để thảo luận về yêu cầu được trở thành một tiểu bang riêng, cùng các vấn đề khác. Năm sau đó, người Texas lặp lại đòi hỏi của họ trong Hội nghị năm 1833.
=== Cộng hòa ===
Bên trong Mexico, căng thẳng vẫn tiếp diễn giữa phe liên bang chủ nghĩa và phe trung ương tập quyền chủ nghĩa. Vào đầu năm 1835, những người Texas thận trọng đã thành lập nên Ủy ban Tương ứng và An toàn. Tình trạng náo động bùng phát thành xung đột vũ trang vào cuối năm 1835 tại trận Gonzales. Sự kiện này khởi đầu Cách mạng Texas, và trong vòng hai tháng sau đó, người Texas đánh bại tất cả các đội quân Mexico tại khu vực. Người Texas bầu ra các đại diện của Consultation, thể chế này lập nên một chính phủ lâm thời. Chính phủ lâm thời sụp đổ nhanh chóng do đấu tranh nội bộ, và Texas lâm vào tình trạng không có sự quản lý toàn bộ trong hai tháng đầu năm 1836.
Tổng thống Mexico Antonio Lopez de Santa Anna đích thân dẫn một đội quân đi chấm dứt cuộc nổi dậy. Đội quân viễn chinh Mexico giành được thành công vào lúc đầu, Tướng Jose de Urrea đánh bại toàn bộ các nỗ lực kháng cự của người Texas dọc theo bờ biển mà đỉnh cao là cuộc tàn sát Goliad. Các lực lượng của Santa Anna sau một cuộc bao vây kéo dài 13 ngày đã áp đảo quân phòng thủ Texas trong trận Alamo. Tin tức về các thất bại gây ra tâm trạng hoang mang trong những người định cư tại Texas.
Các đại biểu người Texas mới được bầu cho Hội nghị 1836 nhanh chóng ký kết một bản Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2 tháng 3, thành lập nên Cộng hòa Texas. Sau khi bầu các quan chức lâm thời, Hội nghị giải tán. Chính phủ mới liên hiệp với những người định cư khác tại Texas trong Runaway Scrape, chạy trốn khỏi đội quân Mexico đang tiến đến. Sau một vài tuần triệt thoái, Quân đội Texas dưới quyền chỉ huy của Sam Houston tiến công và đánh bại các lực lượng của Santa Anna trong trận San Jacinto. Santa Anna bị bắt và buộc phải ký vào các Hiệp ước Velasco, kết thúc chiến tranh.
Mặc dù giành thắng lợi trong cuộc chiến giành độc lập, song tại Texas lại nổ ra các trận chiến chính trị giữa hai phe. Phe dân tộc chủ nghĩa do Mirabeau B. Lamar lãnh đạo, chủ trương Texas tiếp tục độc lập, trục xuất người da đỏ, và mở rộng nước Cộng hòa về phía Thái Bình Dương. Các đối thủ của họ do Sam Houston lãnh đạo, chủ trương sáp nhập Texas và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và cùng tồn tại hòa bình với người da đỏ. Một tình tiết đặc trưng cho cuộc xung đột giữa hai phe được gọi là Chiến tranh Lưu trữ Texas.
Mexico tiến hành hai cuộc viễn chinh quy mô nhỏ nhằm vào Texas trong năm 1842. Đô thị San Antonio bị chiếm hai lần và người Texas bị đánh bại trong trận chiến gần Presidio San Antonio de Bexar. Mặc dù đạt được các thành công này, Mexico không duy trì một lực lượng đồn trú tại Texas, và nước cộng hòa vẫn tồn tại.
=== Trở thành tiểu bang của Hoa Kỳ ===
Ngay từ năm 1837, nước Cộng hòa đã tiến hành một số nỗ lực nhằm thượng lượng về việc sáp nhập vào Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Sự phản đối bên trong nước cộng hòa đến từ phe dân tộc chủ nghĩa, cùng với phe phản đối phế nô mạnh mẽ tại Hoa Kỳ, khiến cho quá trình thu nhận Texas vào Liên bang bị chậm lại. Texas cuối cùng được sáp nhập vào Hoa Kỳ khi nhân vật bành trướng chủ nghĩa James K. Polk giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 1844. Vào ngày 29 tháng 12 năm 1845, Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn việc Texas gia nhập vào Hợp chúng quốc Hoa Kỳ với địa vị là một tiểu bang cấu thành của Liên bang.
Sau khi Hoa Kỳ thôn tính Texas, Mexico đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ. Trong khi Hoa Kỳ tuyên bố rằng biên giới của Texas kéo dài đến Rio Grande, Mexico tuyên bố rằng đó là sông Nueces. Nước Cộng hòa Texas trước đó không thể quản lý biên giới mà mình tuyên bố, song Hoa Kỳ có sức mạnh quân sự và ý chí chính trị để thực hiện điều đó. Tổng thống Polk ra lệnh cho Tướng Zachary Taylor tiến về phía nam đến Rio Grande vào ngày 13 tháng 1 năm 1846. Một vài tháng sau, quân Mexico tiến công một đội kỵ binh tuần tra của Hoa Kỳ ở khu vực tranh chấp, khởi đầu Chiến tranh Hoa Kỳ-México. Các trận đánh đầu tiên của cuộc chiến diễn ra trên đất Texas: bao vây Fort Texas, trận Palo Alto và trận Resaca de la Palma. Sau các chiến thắng mang tính quyết định này, Hoa Kỳ xâm chiếm vào lãnh thổ Mexico, kết thúc giao tranh tại Texas.
Sau một loạt chiến thắng của Hoa Kỳ, Hiệp định Guadalupe Hidalgo kết thúc cuộc chiến kéo dài trong hai năm. Nhận được 18.250.000 Đô la Mỹ, Mexico từ bỏ quyền kiểm soát Texas cho Hoa Kỳ, cắt nhượng Nhượng địa Mexico vào năm 1848, hầu hết lãnh thổ này nay được gọi là Tây Nam Hoa Kỳ, biên giới của Texas được xác định tại Rio Grande.
Thỏa hiệp năm 1850 xác định biên giới của Texas như hiện nay. Texas nhượng lại tuyên bố chủ quyền của mình với vùng đất mà sau đó trở thành một nửa tiểu bang New Mexico, một phần ba tiểu bang Colorado, và phần nhỏ của các tiểu bang Kansas, Oklahoma, và Wyoming cho chính phủ liên bang, đổi lại Texas được hủy 10 triệu đô la nợ của nước cộng hòa cũ. Texas hậu chiến phát triển nhanh chóng khi những người di cư đổi xô đến các vùng đất trồng bông của bang.
=== Nội chiến và tái thiết (1860–1900) ===
Texas lại bước vào trong tình trạng chiến tranh sau cuộc bầu cử tổng thống năm 1860. Khi Abraham Lincoln đắc cử, Nam Carolina ly khai khỏi Liên bang. Năm tiểu bang khác ở vùng Hạ Nam cũng nhanh chóng làm theo Nam Carolina. Một hội nghị cấp tiểu bang nhằm suy xét đến việc ly khai được tổ chức tại Austin vào ngày 28 tháng 1 năm 1861. Vào ngày 1 tháng 2, với kết quả phiếu 166–8, Hội nghị thông qua một Sắc lệnh Ly khai khỏi Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Các cử tri Texas chấp thuận Sắc lệnh này vào ngày 23 tháng 2 năm 1861. Texas gia nhập vào Liên minh miền Nam Hoa Kỳ, phê chuẩn Hiến pháp thường trực của Liên minh quốc vào ngày 23 tháng 3 năm 1861.
Ban đầu, không phải toàn bộ người dân Texas ủng hộ ly khai, song nhiều người ủng hộ sự nghiệp của miền Nam. Nhân vật liên bang chủ nghĩa nổi tiếng nhất của Texas là Thống đốc Sam Houston. Không muốn làm trầm trọng thêm tình hình, Sam Houston từ chối hai lời đề nghị của Tổng thống Lincoln trong việc đưa quân đội Liên bang đến để giúp ông duy trì địa vị, Sau khi từ chối tuyên thệ trung thành với Liên minh quốc, Sam Houston bị phế truất khỏi chức vụ Thống đốc.
Mặc dù nằm cách xa các chiến trường chính trong Nội chiến Hoa Kỳ, song Texas đóng góp một lượng lớn binh lính và khí tài cho phần còn lại của Liên minh quốc. Quân đội Liên bang từng chiếm được cảng chính của tiểu bang là Galveston trong một thời gian ngắn. Biên giới của Texas với Mexico được gọi là "cửa sau của Liên minh" do hoạt động thương mại diễn ra trên biên giới, thoát khỏi sự phong toả của Liên bang. Liên minh quốc đẩy lui tất cả các nỗ lực của Liên bang nhằm đóng cửa tuyến đường này, song vai trò của Texas trong việc là một tiểu bang tiếp tế chấm dứt vào giữa năm 1863 sau khi Liên bang chiếm được sông Mississippi. Trận chiến cuối cùng của Nội chiến diễn ra tại Palmito Ranch ở gần Brownsville, Texas với chiến thắng của Liên minh.
Texas rơi vào tình trạng hỗn loạn trong vòng hai tháng từ khi Quân đội Bắc Virginia đầu hàng đến khi tướng Liên bang Gordon Granger đảm đương quyền hành. Bạo lực diễn ra ở mức độ cao trong những tháng đầu của giai đoạn Tái thiết. Tổng thống Johnson vào năm 1866 tuyên bố phục hồi chính phủ dân sự tại Texas. Quốc hội Hoa Kỳ tái thu nhận Texas vào Liên bang năm 1870. Biến động xã hội tiếp diễn tại Texas khi tiểu bang này phải đối phó với các vấn đề nông nghiệp trì trệ và lao động.
=== Từ thế kỷ 20 đến nay ===
Năm 1900, Texas phải hứng chịu thiệt hại từ cơn bão Galveston, thiên tai gây tử vong nặng nề nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Ngày 10 tháng 1 năm 1901, phát hiện ra giếng dầu lớn đầu tiên tại Texas là Spindletop ở phía nam của Beaumont. Sau đó, người ta cũng phát hiện ra các mỏ dầu khác thuộc Đông Texas và Tây Texas, và bên dưới vịnh Mexico. "Quả bom dầu" biến đổi Texas. Sản xuất dầu rốt cuộc đạt mức trung bình 3 triệu thùng mỗi ngày vào thời điểm đỉnh cao năm 1972.
Đại khủng hoảng và Dust Bowl giáng một đòn kép vào nền kinh tế của bang, vốn đã được cải thiện đáng kể từ sau Nội chiến. Những người di cư bị bỏ rơi ở những khu vực tồi tệ nhất của Texas trong những năm Dust Bowl. Đặc biệt là từ thời kỳ này trở đi, những người da đen rời khỏi Texas trong cuộc Đại di cư để đến làm việc tại miền Bắc Hoa Kỳ hay California và để thoát khỏi áp bức phân biệt chủng tộc. Năm 1940, Texas có 74% cư dân là Anglo (người da trắng không nói tiếng Tây Ban Nha), 14,4 cư dân là người da đen, và 11,5 cư dân là người nói tiếng Tây Ban Nha.
Chiến tranh thế giới thứ hai có tác động đáng kể đến Texas, liên bang đổ tiền vào việc xây dựng các căn cứ quân sự, các nhà máy vũ khí, các trại giam giữ tù binh chiến tranh và viện quân y; 750.000 thanh niên ở lại phục vụ; các thành phố bùng nổ với ngành công nghiệp mới, các cơ sở bậc đại học nắm giữ các vai trò mới; và hàng trăm nghìn nông dân nghèo rời đi để tìm kiếm các công việc phục vụ chiến tranh với mức lương cao hơn, và họ không bao giờ còn quay trở lại làm nông nghiệp. Texas chế tạo ra 3,1 phần trăm tổng số quân giới do Hoa Kỳ sản xuất trong Chiến tranh thế giới thứ hai, xếp hạng thứ 11 trong số 48 tiểu bang đương thời.
Texas tiến hành hiện đại hóa và mở rộng hệ thống giáo dục bậc đại học trong suốt thập niên 1960. Tiểu bang tạo lập nên một kế hoạch toàn diện cho giáo dục bậc đại học, kinh phí phần lớn lấy từ thu nhập từ dầu, và một bộ máy trung ương cấp tiểu bang được sắp xếp nhằm quản lý các thể chế nhà nước hiệu quả hơn. Các thay đổi này giúp các trường đại học của Texas nhận được kinh phí nghiên cứu của liên bang.
== Chính quyền và chính trị ==
Hiến pháp hiện nay của Texas được thông qua vào năm 1876. Giống như nhiều tiểu bang khác, Hiến pháp Texas phân chia rõ ràng quyền lực. Tuyên ngôn nhân quyền của tiểu bang có phạm vi rộng hơn nhiều so với tuyên ngôn của liên bang, và có những điều khoản độc nhất của Texas.
=== Chính phủ tiểu bang ===
Texas có một hệ thống gồm nhiều nhánh hành pháp, giới hạn quyền lực của Thống đốc. Ngoại trừ Thư ký Chính quyền (Secretary of State), các cử tri bầu ra các quan chức hành pháp một cách độc lập, do đó các ứng cử viên chịu trách nhiệm trực tiếp trước công chúng thay vì trước Thống đốc. Hệ thống bầu cử này dẫn đến việc một số nhánh hành pháp bị phân chia giữa các đảng. Khi Tổng thống Cộng hòa George W. Bush giữ chức thống đốc của Texas, tiểu bang có một Phó thống đốc Dân chủ là Bob Bullock. Các chức vụ trong nhánh hành pháp gồm có Thống đốc, Phó thống đốc, Bộ trưởng tài chính công (Comptroller of Public Accounts), Bộ trưởng đất đai (Land Commissioner), Bộ trưởng Tư pháp (Attorney General), Bộ trưởng Nông nghiệp (Agriculture Commissioner), Ủy ban Đường sắt với ba thành viên, Bộ trưởng Giáo dục (State Board of Education), và Thư ký Chính quyền (Secretary of State).
Lưỡng viện của cơ quan Lập pháp Texas gồm có Hạ viện với 150 thành viên, và Thượng viện với 31 thành viên. Chủ tịch Hạ viện đứng đầu Hạ viện, còn Phó thống đốc đứng đầu Thượng viện. Cơ quan lập pháp họp định kỳ, song Thống đốc có thể triệu tập các phiên họp đặc biệt. Năm tài chính của tiểu bang kéo dài từ 1 tháng 9 năm trước đến 31 tháng 8 năm sau.
Cơ quan tư pháp của Texas là một trong các cơ quan tư pháp phức tạp nhất tại Hoa Kỳ, với các quyền lực chồng lặp nhau. Texas có hai tòa án thượng thẩm: Tòa Thượng thẩm Texas với các trường hợp dân sự, và Tòa Chống án Tội phạm Texas. Ngoại trừ một số tòa án đô thị, các cuộc bầu cử trong nội bộ các đảng lựa chọn ra quan tòa ở mọi cấp tòa; Thống đốc bổ nhiệm người vài những vị trí còn trống. Texas áp dụng hình phạt tử hình; dẫn đầu tại Hoa Kỳ về số vụ hành quyết kể từ khi hình phạt này được phục hồi trong vụ án Gregg v. Georgia.
Sư đoàn biệt động Texas (Texas Ranger Division) của Cơ quan Công an Texas (Texas Department of Public Safety) là một thể chế thực thi luật pháp có thẩm quyền trên toàn bang. Trong nhiều năm qua, Biệt động Texas điều tra các vụ phạm tội khác nhau, từ giết người đến tham nhũng chính trị. Họ hành động trong vai trò của cảnh sát chống bạo động và trinh thám, bảo vệ thống đốc, truy nã đối tượng phạm tội, và hoạt động như một lực lượng bán quân sự của nước cộng hòa và bang. Biệt động Texas do Stephen F. Austin thành lập không chính thức vào năm 1823 và được thành lập chính thức vào năm 1835. Biệt động có vai trò trong một vài sự kiện quan trọng trong lịch sử Texas và một số vụ án hình sự được biết đến nhiều nhất trong lịch sử của vùng Cựu Tây Hoa Kỳ.
=== Chính trị ===
Giống như các tiểu bang "Solid South" (miền Nam vững chắc) khác, người da trắng tại Texas oán giận Đảng Cộng hòa sau Nội chiến Hoa Kỳ, và Đảng Dân chủ chiếm ưu thế trong nền chính trị Texas từ khi kết thúc thời kỳ Tái thiết cho đến cuối thế kỷ 20. Sau đó, tiểu bang trở thành một thành trì của Đảng Cộng hòa.
Không khí chính trị tại Texas thiên về bảo thủ tài chính và xã hội. Từ 1980, đa số cử tri Texas ủng hộ các ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa. Năm 2000 và 2004, ứng cử viên Cộng hòa George W. Bush giành chiến thắng tại Texas với 60,1% số phiếu, một phần là vì ông là "con yêu" khi là thống đốc cũ của bang. John McCain giành chiến thắng tại Texas trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2008, nhận được 55% số phiếu. Austin, Dallas, Houston, và San Antonio luôn nghiêng về Đảng Dân chủ trong các cuộc bầu cử địa phương và cấp bang. Các quân dọc theo Rio Grande gần biên giới với Mexico thường bỏ phiếu cho những người Dân chủ, trong khi hầu hết các khu vực nông thôn và ngoại ô ở Texas bỏ phiếu cho những người Cộng hòa.
Trong cuộc tổng tuyển cử năm 2010, một đa số lớn đại diện tại Hạ viện Hoa Kỳ của Texas là người của Đảng Cộng hòa, cả hai đại diện ở Thượng viện cũng là người của Đảng Cộng hòa. Trong Quốc hội Hoa Kỳ khóa 113, trong số 36 đơn vị bầu cử Quốc hội tại Texas, có 24 đơn vị do Đảng Cộng hòa nắm giữ và 12 đơn vị do Đảng Dân chủ nắm giữ. Từ năm 1994, không còn một người của Đảng Dân chủ nào còn được dân Texas bầu giữ chức vụ toàn bang. Sự hiện diện của Đảng Dân chủ tại Texas bắt nguồn chủ yếu từ một số nhóm thiểu số ở Đông Texas và Nam Texas cũng như cử tri thành thị, đặc biệt là Beaumont, El Paso, Austin, San Antonio, Dallas, và Houston.
== Nhân khẩu ==
Cơ quan Điều tra dân số Hoa Kỳ ước tính dân số của Texas là 26.059.203 vào ngày 1 tháng 7 năm 2012, tăng 3,6% so với số liệu từ cuộc Điều tra dân số Hoa Kỳ 2010.
Năm 2004, tiểu bang có 3,5 triệu cư dân sinh ra tại ngoại quốc (15,6% dân số toàn bang), trong đó ước khoảng 1,2 triệu người là người nhập cư bất hợp pháp. Texas trong giai đoạn 2000–2006 có tỷ lệ nhập cư bất hợp pháp tăng nhanh nhất toàn quốc. Năm 2010, người nhập cư bất hợp pháp ước tính chiếm khoảng 6,0% dân số. Đây là tỷ lệ% cao thứ năm trong số các tiểu bang tại Hoa Kỳ.
Mật độ dân số của Texas là 34,8 người/km², cao hơn một chút so với con số trung bình của toàn Hoa Kỳ (31 người/km²). Hai phần ba cư dân Texas sinh sống tại một vùng đô thị lớn, chẳng hạn như Houston. Dallas-Fort Worth là vùng đô thị lớn thứ hai tại Texas.
=== Chủng tộc và dân tộc ===
Theo Điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2010, thành phần chủng tộc của Texas như sau:
Người Mỹ da trắng 70,4%
Người Mỹ da đen hay gốc Phi: 11,8%
Người Mỹ da đỏ hay bản địa: 0,7%
Người Mỹ gốc Á: 3,8% (1,0% là người Ấn, 0,8% là người Việt, 0,6% là người Hoa, 0,4% là người Philippines, 0,3% là người Hàn, 0,1% là người Nhật, 0,6% là các sắc dân châu Á khác)
Người Mỹ gốc các đảo Thái Bình Dương: 0,1%
Khác: 10,5%
Hai hoặc đa chủng tộc: 2,7%
37,6% cư dân là người gốc Mỹ Latinh hay Iberia (thuộc mọi chủng tộc) (31,6% là người Mexico, 0,5% là người Puerto Rico, 0,2% là người Cuba)
Người Đức, người Ireland, và người Anh là ba nhóm dân tộc gốc Âu lớn nhất tại Texas. Người Mỹ gốc Đức chiếm 11,3% cư dân Texas, với 2,7 triệu người. Người Mỹ gốc Ireland chiếm 8,2% cư dân Texas, với con số trên 1,9 triệu. Có khoảng 600.000 người Mỹ gốc Pháp và 472.000 người Mỹ gốc Ý sinh sống tại Texas; hai nhóm dân tộc này tương ứng chiếm 2,5% và 2,0% cư dân. Trong cuộc Điều tra dân số Hoa Kỳ năm 1980, nhóm dân tộc lớn nhất tại Texas là người Anh với 3.083.323 người Texas nói ằng họ là người Anh hoặc hầu hết tổ tiên là người Anh, chiếm 27% cư dân của tiểu bang khi đó. Tổ tiên của họ chủ yếu đến Mỹ từ thời 13 thuộc địa và do vật nhiều người trong số họ nay chỉ tuyên bố rằng họ có tổ tiên là "người Mỹ", mặc dù họ chủ yếu có nguồn gốc là người Anh.
Người gốc Mỹ Latinh hoặc Iberia là nhóm cư dân lớn thứ hai tại Texas sau người gốc Âu không có nguồn gốc Mỹ Latinh và Iberia. Có trên 8,5 triệu người tuyên bố rằng mình thuộc nhóm dân cư này, chiếm 36% dân cư Texas. Trong đó, 7,3 triệu người có nguồn gốc Mexico, chiếm 30,7% cư dân. Có trên 104.000 người Puerto Rico và gần 38.000 người Cuba sinh sống trong bang. Có trên 1,1 triệu người (4,7% cư dân) có tổ tiên Mỹ Latinh hoặc Iberia khác nhau, như người Costa Rica, Venezuela, và Argentina.
Năm 2010, 49% số trẻ sinh ra có nguồn gốc Mỹ Latinh hoặc Iberia; 35% là các nhóm người da trắng không có nguồn gốc Mỹ Latinh hay Iberia; 11,5% là người da đen không có nguồn gốc Mỹ Latinh, và 4,3% có nguồn gốc Á hoặc các đảo Thái Bình Dương. Từ năm 2000 đến năm 2010, dân số tiểu bang tăng trưởng 20,6%, song số người gốc Mỹ Latinh hay Iberia tăng trưởng 65%, trong khi số người da trắng không có nguồn gốc Mỹ Latinh hay Iberia chỉ tăng trưởng 4,2%.
=== Đô thị ===
Texas có ba thành phố có dân số vượt trên 1 triệu: Houston, San Antonio, và Dallas. Chúng nằm trong số 10 thành phố đông dân nhất tại Hoa Kỳ. Năm 2010, sáu thành phố tại Texas có dân số lớn hơn 600.000 người. Austin, Fort Worth, và El Paso nằm trong số 20 thành phố lớn nhất Hoa Kỳ. Texas có bốn vùng đô thị với dân số lớn hơn 1 triệu: Dallas–Fort Worth–Arlington, Houston–Sugar Land–Baytown, San Antonio–New Braunfels, và Austin–Round Rock–San Marcos. Các vùng đô thị Dallas–Fort Worth và Houston lần lượt có khoảng 6,3 triệu dân và 5,7 triệu dân.
Ba xa lộ liên tiểu bang—I-35 ở phía tây (Dallas–Fort Worth đến San Antonio, ở giữa là Austin), I-45 ở phía đông (Dallas đến Houston), và I-10 ở phía nam (San Antonio đến Houston) định ra vùng "Tam giác đô thị Texas". Vùng này có diện tích 60.000 dặm vuông Anh (160.000 km2) và bao gồm hầu hết các thành phố và vùng đô thị lớn nhất của bang, với 17 triệu cư dân hay gần 75% dân số toàn bang. Houston và Dallas được công nhận là các thành phố toàn cầu hạng beta.. Texas có 254 quận, nhiều hơn bất kỳ tiểu bang nào khác trong nước, xếp sau là Georgia với 95 quận.
Tương phản với các thành phố, các khu định cư nông thôn chưa hợp nhất được gọi là "colonias" thường thiếu cơ sở hạn tầng cơ bản và có đặc điểm là nghèo nàn. Văn phòng của Tổng chưởng lý Texas vào năm 2011 ghi nhận rằng Texas có khoảng 2.294 colonias và ước tính rằng có khoảng 500.000 sinh sống trong các colonias. quận Hidalgo có số lượng colonias nhiều nhất theo số liệu năm 2011. Texas là tiểu bang có đông cư dân sống trong các colonias nhất tại Hoa Kỳ.
=== Ngôn ngữ ===
Giọng tiếng Anh Mỹ phổ biến nhất được nói tại Texas là tiếng Anh Texas, pha trộn giữa các phương ngữ tiếng Anh miền Nam Hoa Kỳ và tiếng Anh miền Tây Hoa Kỳ. Tiếng Anh Chicano cũng được nói phổ biến, cũng như tiếng Anh bản xứ người Mỹ gốc Phi và tiếng Anh Mỹ chung.
Năm 2010, 65,80% (14.740.304) cư dân Texas năm tuổi hoặc lớn hơn nói tiếng Anh tại nhà như ngôn ngữ chính, trong khi 29,21% (6.543.702) nói tiếng Tây Ban Nha, 0,75% (168.886) nói tiếng Việt, và 0,56% (122.921) nói tiếng Trung Quốc như một ngôn ngữ chính.
Các ngôn ngữ khác bao gồm tiếng Đức (bao gồm tiếng Đức Texas) với 0,33% (73.137) tiếng Tagalog với 0,29% (73.137), và tiếng Pháp (bao gồm tiếng Pháp Cajun) được 0,25% (55.773) người Texas nói.
Tính tổng, 34,20% (7.660.406) cư dân Texas 5 tuổi hoặc lớn hơn có ngôn ngữ mẹ đẻ không phải là tiếng Anh.
=== Tôn giáo ===
Giáo phái lớn nhất theo số lượng tín đồ vào năm 2000 là Giáo hội Công giáo La Mã với 4.368.969 tín đồ; Hội Baptist miền Nam có 3.519.459 tín đồ; và Giáo hội Giám lý Liên hiệp có 1.022.342 tín đồ.
Được biết đến như là cái khóa của Vành đai kinh Thánh, Đông Texas là xã hội bảo thủ. Dallas-Fort Worth là nơi có ba trường dòng Phúc Âm lớn và có một tu viện. Nhà thờ Lakewood tại Houston có số người tham gia sinh hoạt tôn giáo lớn nhất quốc gia với trung bình trên 43.000 hàng tuần.
Tín đồ của nhiều tôn giáo khác sinh sống chủ yếu tại các trung tâm đô thị của Texas. Năm 1990, số cư dân theo Hồi giáo là xấp xỉ 140.000 và các số liệu gần đây hơn đưa ra con số người Hồi giáo tại Texas là từ 350.000 đến 400.000. Số cư dân Texas theo Do Thái giáo là 128.000. Có xấp xỉ 146.000 tín đồ của các tôn giáo như Ấn Độ giáo và Tích Khắc giáo sống tại Texas.
== Văn hóa ==
Về phương diện lịch sử, văn hóa Texas bắt nguồn từ một sự pha trộn các ảnh hưởng của miền Nam, miền Tây, và miền Tây Nam, thay đổi mức độ theo khu vực. Một loại thực phẩm phổ biến là burrito ăn sáng bắt nguồn từ cả ba tác động này. Ngoài văn hóa truyền thống vốn hình thành trong các thế kỷ 18 và 19, nhập cư biến Texas thành một nồi nung chảy các văn hóa từ khắp thế giới. Texas ghi dấu mạnh trong văn hóa đại chúng quốc gia và quốc tế, bang gắn liền chặt chẽ với hình ảnh cao bồi thể hiện trong phim Viễn Tây và nhạc đồng quê miền tây. Các trùm tư bản dầu mỏ của bang cũng là một chủ đề của văn hóa đại chúng, như trong phim truyền hình Dallas.
Kích thước tự nhiên rộng lớn của bang và thái độ huênh hoang của một số cư dân dẫn đến câu nói "Mọi thứ lớn hơn tại Texas."
Houston là một trong năm thành phố tại Hoa Kỳ có các công ty thường trực chuyên nghiệp về mọi loại hình nghệ thuật biểu diễn chính: Nhà hát Lớn Houston, Dàn nhạc giao hưởng Houston, đoàn ba-lê Houston, và Sân khấu Alley. Được biết đến với sự sống động trong nghệ thuật thị giác và biểu diễn, Khu sân khấu Houston nằm giữa khu trung tâm Houston và được xếp hạng thứ nhì toàn quốc về số ghế sân khấu trong một khu vực trung tâm tập trung, í.948 ghế cho biểu diễn trực tiếp và 1.480 ghế xem phim.
Bảo tàng Nghệ thuật đương đại Fort Worth được thành lập vào năm 1892, là bảo tàng nghệ thuật lâu năm nhất tại Texas. Fort Worth còn có Bảo tàng Nghệ thuật Kimbell, Bảo tàng Amon Carter. Khu nghệ thuật của trung tâm Dallas có các địa điểm nghệ thuật như Bảo tàng Nghệ thuật Dallas, Trung tâm giao hưởng Morton H. Meyerson, Nhà hát Margot and Bill Winspear, Bộ sưu tập Trammell & Margaret Crow về ngêệ thuật châu Á, và Trung tâm điêu khắc Nasher.
Khu vực Deep Ellum tại Dallas trở nên phổ biến trong thập niên 1920 và 1930 do là nơi trình diễn nhạc jazz và blues hàng đầu tại miền nam Hoa Kỳ. Tên gọi Deep Ellum bắt nguồn từ việc cư dân địa phương phát âm "Deep Elm" như "Deep Ellum". Các nghệ sĩ như Blind Lemon Jefferson, Robert Johnson, Huddie "Lead Belly" Ledbetter, và Bessie Smith từng trình diễn trong các câu lạc bộ Deep Ellum.
Austin tự hào với danh hiệu Thủ đô nhạc sống của thế giới khi có "nhiều tụ điểm nhạc sống trên người hơn các lò âm nhạc như Nashville, Memphis, Los Angeles, Las Vegas hay thành phố New York." Âm nhạc của thành phố xoay quanh các câu lạc bộ đêm trên phố số 6; các sự kiện như phim, nhạc và lễ hội đa truyền thông South by Southwest; chương trình hòa nhạc dài kéo dài nhất trên truyền hình Mỹ là Austin City Limits; và nhạc hội giới hạn thành phố Austin dược tổ chức tại công viên Zilker.
Từ năm 1980, San Antonio tiến triển thành "Thủ đô nhạc Tejano của thế giới." Giải thưởng âm nhạc Tejano tạo ra một diễn đàn để tạo dựng nhận thức và đánh giá lớn hơn cho âm nhạc và văn hóa Tejano.
== Giáo dục ==
Tổng thống thứ nhì của Cộng hòa Texas, Mirabeau B. Lamar, là Cha của giáo dục Texas. Trong nhiệm kỳ của ông, Texas dành ra ba dặm đất mỗi quận để trang bị cho các trường học công. Thêm 50 dặm đất dành để cấp cho hai đại học mà về sau là cơ sở cho Quỹ đại học thường trực của bang. Các động thái của Lamar đặt cơ sở cho hệ thống trường học công toàn Texas.
Giữa năm 2006 và 2007, Texas chi $7.275 cho mỗi học sinh, thấp hơn trung bình toàn quốc là $9.389. Tỷ lệ học sinh/giáo viên là 14,9, thấp hơn trung bình toàn quốc là 15,3. Cơ quan Giáo dục Texas (TEA) quản lý hệ thống trường học công trong bang. Texas có trên 1.000 khu vực trường học, hầu hết chúng độc lập với chính quyền khu vực và nhiều nơi vượt qua ranh giới thành phố. Các khu vực trường học có quyền đánh thuế cư dân của họ và trưng thu các tài sản thuộc sở hữu cá nhân. Bang có một hệ thống tái phân bổ thuế gây tranh luân mang tên "Kế hoạch Robin Hood". Kế hoạch này chuyển thuế tài sản từ các khu vực trường học thịnh vượng sang các khu vực trường học nghèo hơn. The TEA has no authority over private or home school activities.
Học sinh tại Texas cần đạt đánh giá STAAR tại trường tiểu học và trung học. STAAR đánh giá kiến thức của học sinh về đọc, viết, toán học, khoa học, và xã hội học theo tiêu chuẩn giáo dục Texas và Đạo luật Không trẻ nào bị bỏ lại sau. Nó thay thế kiểm tra TAK trong niên khóa 2011–2012.
Hai trường hàng đầu được công nhận phổ biến nhất là Đại học Texas tại Austin và Đại học A&M Texas, xếp hạng thứ 52 và thứ 69 trong bảng xếp hạng đại học tốt nhất toàn quốc theo phiên bản 2014 của U.S. News & World Report. Một số nhà quan sát cũng liệt kê Đại học Houston và Đại học Kỹ thuật Texas đồng hạng với UT Austin và A&M. Ủy ban Hợp tác Giáo dục bậc cao Texas (THECB) xếp hạng các đại học công lập của bang thành ba hạng riêng biệt:
Đại học nghiên cứu quốc gia (hạng 1)Đại học Texas tại Austin
Đại học A&M Texas
Đại học Kỹ thuật Texas
Đại học Houston
Đại học nghiên cứu nổi bật (hạng 2)Đại học Texas tại Arlington
Đại học Texas tại Dallas
Đại học Texas tại El Paso
Đại học Texas tại San Antonio
Đại học North Texas
Đại học bang Texas
Đại học tổng hợp (hạng 3)Các đại học công lập khác (25 trường)
== Kinh tế ==
Năm 2010, Texas có tổng sản phẩm tiểu bang là (GSP) là 1.207 tỷ đô la Mỹ, xếp hạng thứ nhì tại Hoa Kỳ. GSP của Texas tương đương với GDP của Ấn Độ hay Canada, là các nền kinh tế lần lượt đứng thứ 11 và 12 trên thế giới. Nền kinh tế Texas lớn thứ tư trong số các đơn vị hành chính cấp một quốc gia trên toàn cầu, sau Anh (một phần của Liên hiệp Vương quốc Anh), California, và Tokyo. Thu nhập bình quân đầu người của Texas vào năm 2009 là 36.484 đô là Mỹ, xếp hạng 29 tại quốc gia. Tháng 10 năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp tại Texas là 6,2%.
Năm 2010, Site Selection Magazine xếp hạng Texas là tiểu bang kinh doanh thân thiện nhất toàn quốc, một phần là nhờ Quỹ Tổ chức kinh doanh Texas với 3 tỷ đô la Mỹ. Texas là nơi có trụ sở của nhiều công ty nhất trong số công ty nằm trong Fortune 500 tại Hoa Kỳ, cùng với California.
Năm 2010, có 346.000 triệu phú tại Texas, khiến cho nơi đây trở thành tiểu bang có nhiều triệu phú thứ hai tại Hoa Kỳ.
Texas có tiếng là "thuế thấp, dịch vụ rẻ". Theo Tax Foundation, gánh nặng thuế tiểu bang và địa phương của người Texas thấp thứ bảy tại Hoa Kỳ; bình quân mỗi người Texas phải trả 3.580 đô la Mỹ thuế tiểu bang và địa phương mỗi năm, hay 8,4% thu nhập của cư dân. Texas là một trong bảy tiểu bang tại Hoa Kỳ không có thuế thu nhập tiểu bang.
Thay vào đó, thu nhập của tiểu bang đến từ thuế tài sản và thuế bán hàng, được tính theo mức 6,25%, song các cơ quan thuế địa phương có thể cũng có thể áp thuế bán hàng và tiêu dùng lên đến 2% khiến mức thuế tổng cộng là 8,25%. Texas là một "bang tặng thuế"; năm 2005, cứ mỗi đô la người Texas nộp cho chính phủ liên bang thông qua thuế thu nhập liên bang, Texas nhận được xấp xỉ 0,94 đô la tiền phúc lợi.
Texas là tiểu bang có nhiều nông trại và có diện tích đất nông nghiệp lớn nhất tại Hoa Kỳ. Texas dẫn đầu toàn quốc về sản lượng vật nuôi. Bò nhà là sản phẩm nông nghiệp có giá trị nhất của bang, và tiểu bang dẫn đầu toàn quốc về sản lượng cừu và dê. Texas dẫn đầu toàn quốc về sản xuất bông. Tiểu bang có sự phát triển đáng kể về số lượng và sản lượng cây trồng ngũ cốc. Texas có ngành ngư nghiệp thương mại lớn. Trên lĩnh vực tài nguyên khoáng sản, Texas dẫn đầu về sản xuất xi măng, đá dăm, vôi, muối, cát và sỏi.
Kể từ khi phát hiện thấy dầu tại Spindletop, năng lượng có ảnh hưởng mang tính chi phối trong nền chính trị và kinh tế của Texas. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng, bên trong Hoa Kỳ, một người dân Texas trung bình tiêu thụ năng lượng nhiều nhất. Không giống như phần còn lại của quốc gia, hầu hết Texas nằm trên hệ thống lưới điện xoay chiều riêng, là Texas Interconnection.
Các mỏ dầu ở Texas được xác định là có 5 tỷ thùng (790.000.000 m3), chiếm xấp xỉ một phần tư trữ lượng dầu mỏ được biết đến của Hoa Kỳ. Các nhà máy lọc dầu của tiểu bang có thể chế biến 4,6 triệu thùng (730.000 m³) dầu mỗi ngày. Texas dẫn đầu về sản lượng khí thiên nhiên, sản xuất ra một phần tư nguồn cung của quốc gia. Một số công ty dầu mỏ đặt trụ sở ở Texas như: Conoco-Phillips, Exxon-Mobil, Halliburton, Valero, và Marathon Oil.
Texas cũng là một tiểu bang đứng đầu về năng lượng tái tạo thương mại hóa; có sản lượng phong điện lớn nhất tại Hoa Kỳ. Trại phong điện Roscoe ở Roscoe, Texas, là một trong các trại phong điện lớn nhất thế giới tính đến năm 2009 với công suất 781,5 megawatt (MW). Cơ quan Thông tin Năng lượng đưa ra nhận định rằng ngành nông nghiệp và lâm nghiệp lớn mạnh có thể cung cấp cho Texas một lượng sinh khối khổng lồ để sử dụng trong ngành năng lượng sinh học. Texas cũng là tiểu bang có tiềm năng phát triển điện mặt trời cao nhất tại quốc gia.
Trung tâm Không gian Lyndon B. Johnson của NASA nằm tại Đông Nam Houston, là biểu tượng của ngành công nghiệp hàng không tại Texas. Fort Worth có cơ sở lĩnh vực hàng không của Lockheed Martin và có Bell Helicopter. Lockheed kiến thiết F-16 Fighting Falcon và hậu duệ là F-35 Lightning II ở Fort Worth.
Texas có lĩnh vực thương mại vững mạnh bao gồm bán lẻ, bán buôn, ngân hàng và bảo hiểm, ngành công nghiệp xây dựng. Một số công ty nằm trong Fortune 500 không dựa trên các ngành công nghiệp truyền thống của Texas là AT&T, Kimberly-Clark, Blockbuster, J. C. Penney, Whole Foods Market, và Tenet Healthcare. Trên bình diện quốc gia, khu vực Dallas–Fort Worth có số trung tâm mua sắm trên đầu người nhiều nhất trong số các vùng đô thị của Hoa Kỳ.
Mexico là đối tác thương mại lớn nhất của Texas, nước này nhập một phần ba hàng xuất khẩu của tiểu bang nhờ có Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA). NAFTA khuyến khích việc hình thành các maquiladora gây tranh luận trên biên giới Texas/Mexico.
== Giao thông ==
Về mặt lịch sử, giao thông tại Texas được cho là khó khăn do tiểu bang có diện tích rộng và địa hình gồ ghề. Tuy nhiên, bù lại Texas xây dựng nên các hệ thống đường bộ và đường sắt lớn nhất Hoa Kỳ xét theo chiều dài. Các cơ quan điều tiến giao thông như Bộ Giao thông Texas (TxDOT) bảo vệ hệ thống xa lộ rộng lớn của bang, quy định về hàng không, và các hệ thống giao thông công cộng.
Với vị trí nằm tại trung tâm của lục địa Bắc Mỹ, Texas là một đầu mối giao thông quan trọng. Từ khu vực Dallas/Fort Worth, các xe tải có thể tiếp cận với 93% cư dân toàn quốc trong vòng 48 giờ, và 37% trong vòng 24 giờ. Texas có 33 khu ngoại thương (FTZ), nhiều nhất trong số các tiểu bang của Hoa Kỳ. Năm 2004, tổng cộng có 298 tỷ đô la hàng hóa thông qua các khu ngoại thương của Texas.
Tuyến đường cao tốc đầu tiên tại Texas là Gulf Freeway, mở cửa vào năm 1948 tại Houston. Texas có 730 sân bay, nhiều thứ nhì tại Hoa Kỳ. Sân bay lớn nhất Texas về quy mô và lượng hành khách phục vụ là Sân bay quốc tế Dallas-Forth Worth (DFW), sân bay này có diện tích lớn thứ nhì Hoa Kỳ, và đứng thứ tư thế giới với 18.076 mẫu Anh (73,15 km2). Có khoảng 1.150 hải cảng trải dài trên vùng duyên hải của Texas. Các cảng này thu nhận gần một triệu lao động và bốc dỡ trung bình 317 triệu tấn. Cảng Houston hiện là cảng bận rộn nhất tại Hoa Kỳ theo số tấn hàng hóa ngoại thương, và đứng thứ nhì về tổng thể, và đứng thứ 10 thế giới về số tấn hàng hóa.
== Thể thao ==
Mặc dù bóng bầu dục Mỹ từ lâu được xem là môn thể thao vua trong bang, song người Texas ngày nay thích nhiều môn thể thao.
Trong giải đấu chuyên nghiệp "Big Four", Texas có hai đội tuyển NFL (Dallas Cowboys và Houston Texans), hai đội tuyển MLB (Texas Rangers và Houston Astros), ba đội tuyển NBA (Houston Rockets, San Antonio Spurs, và Dallas Mavericks), và một đội tuyển NHL (Dallas Stars). Vùng đô thị phức hợp Dallas–Fort Worth là một trong 12 khu vực đô thị tại Hoa Kỳ có các đội tuyển thể thao tham gia toàn bộ giải đấu chuyên nghiệp "Big Four". Ngoài các giải đấu "Big Four", Texas cũng có một đội tuyển WNBA (San Antonio) và hai đội tuyển MLS (Houston Dynamo VÀ FC Dallas).
Thể thao trường học có ý nghĩa sâu sắc trong văn hóa Texas, đặc biệt là bóng bầu dục Mỹ. Texas có 10 trường Division I-FBS, đông nhất toàn quốc. Bốn trong số các đội tuyển đại học của bang là Baylor Bears, Texas Longhorns, TCU Horned Frogs, và Texas Tech Red Raiders tham gia Big 12 Conference. Texas A&M Aggies rời khỏi Big 12 và tham gia Southeastern Conference vào năm 2012, khiến Big 12 mời TCU tham gia; TCU trước đó tham gia Mountain West Conference. Houston Cougars và SMU Mustangs tham gia American Athletic Conference.
UIL tổ chức hầu hết các giải đấu trường học cấp tiểu học và trung học, các sự kiện bao gồm thi đấu điền kinh cũng như các môn nghệ thuật và học thuật.
Người Texas cũng hứng thú với môn thể thao bắt nguồn từ chăn bò là rodeo. Rodeo đầu tiên trên thế giới được tổ chức tại Pecos, Texas. và Houston Livestock Show and Rodeo là rodeo thường niên lớn nhất trên giới. Dallas tổ chức Hội chợ bang Texas hàng năm tại Fair Park.
Đường đua ô tô Texas tổ chức các giải đấu thường niên NASCAR Cup Series và IndyCar Series từ năm 1997. Từ năm 2012, Circuit of the Americas tại Austin là nơi tổ chức một vòng của giải vô địch thế giới Công thức 1
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của tiểu bang Texas |
james ii của anh.txt | James II và VII (14 tháng 10 năm 1633 – 16 tháng 11 năm 1701) là vua của Anh và Ireland với vương hiệu James II và cũng là vua của Scotland với vương hiệu James VII, từ ngày 6 tháng 2 tháng 1685 tới 11 tháng 12 năm 1688. Ông là vị vua theo Công giáo La Mã cuối cùng cai trị ba vương quốc Anh, Scotland và Ireland. James thừa hưởng ngôi báu từ người anh trai Charles II sau khi Charles II qua đời vào năm 1685 mà không có một người con hợp pháp nào. Từ ngày đầu ở ngôi, ngày càng nhiều thành viên của các phe phái chính trị và tôn giáo của Anh chống lại James vì ông quá thân thiện với Pháp, quá xem trọng Công giáo La Mã và việc ông quá chuyên quyền. Sự căng thẳng này bùng nổ khi nhà vua có được một Hoàng thái tử theo Công giáo La Mã là James Francis Edward Stuart, những quý tộc hàng đầu liền kêu gọi vương công William III xứ Orange (con rể và cháu của James) đem quân từ Hà Lan đổ bộ vào Anh. Điều này buộc James chạy khỏi Anh (và vì thế ông bị Quốc hội Anh xem như tự thoái vị) trong cuộc Cách mạng Vinh Quang năm 1688. Nối ngôi ông chính là William, với Vương hiệu William III, đồng cai trị với vợ (và cũng là con gái của James) là Mary II trong thời kỳ gọi là William và Mary từ năm 1689. James sau đó đã có những nỗ lực mạnh mẽ nhằm giành lại ngôi báu với việc ông đổ bộ lên Ireland năm 1689 nhưng ông buộc phải nhanh chóng quay về Pháp mùa hè năm 1690, sau sự kiện lực lượng thân ông là Jacobite bị lực lượng Williamite của William đánh bại tại trận sông Boyne. Ông trải qua phần đời còn lại như là một người tranh chấp ngai vàng Anh tại một lâu đài ở Pháp dưới sự bảo trợ của người anh họ và đồng minh là vua Louis XIV của Pháp.
Vua James II được biết đến nhiều vì niềm tin của ông vào chủ nghĩa quân chủ chuyên chế và những nỗ lực nhằm đem lại tự do tôn giáo cho thần dân của mình, những điều trái với đòi hỏi của Quốc hội Anh. Quốc hội Anh, vốn đang chống lại chủ nghĩa chuyên chế đang lên cao ra tại nhiều quốc gia Châu Âu khác cũng như phản đối việc Anh giáo mất vị thế tối cao trong luật pháp, cho rằng sự bất đồng của họ là cách để bảo vệ "những tự do vốn có của nhân dân Anh", theo như cách gọi của họ. Sự căng thẳng này làm cho bốn năm cai trị của vua James II trở thành một cuộc tranh chấp về quyền lực của Quốc hội Anh và nhà vua, điều mà rốt cuộc làm James phải mất ngôi. Việc này còn dẫn đến sự kiện Quốc hội thông qua Luật về các Quyền năm 1689 (Bill of Rights 1689) nhằm tăng quyền cho chính mình và hạn chế vương quyền, và việc Nhà Stuart bị thay thế bởi nhà Hanover qua Đạo luật về Quyền kế vị 1701 (Act of Settlement 1701).
== Thiếu thời ==
Hoàng tử James là người con thứ hai sống đến tuổi trưởng thành của vua Charles I và Công chúa Henrietta Maria của Pháp. Ông sinh tại Cung điện Thánh James ở thủ đô Luân Đôn vào ngày 14 tháng 10, 1633. Cùng năm, ông được Tổng Giám mục Canterbury thuộc Anh giáo là William Laud rửa tội. James được giáo dục cùng với anh trai của mình, vị vua tương lai Charles II của Anh, và hai con trai George và Francis Villiers của Công tước thứ nhất xứ Buckingham George Villiers. Khi lên 3, James được phong làm Đại Đô đốc Anh Quốc. Vị trí này ban đầu chỉ mang tính danh dự nhưng sau đó lại có quyền lực đáng kể sau cuộc Khôi phục vương vị Anh (the Restoration), khi mà James đã trưởng thành.
== Nội chiến Anh ==
Vào năm 1642, James được đưa vào hội Huân chương Garter và sau đó ông trở thành Công tước xứ York vào ngày 22 tháng 1 năm 1644. Khi xung đột giữa vua cha Charles I và Quốc hội biến thành cuộc nội chiến, James đang ở tại Oxford, một thành trì trung thành với Hoàng gia. Khi thành phố đầu hàng sau trận bao vây Oxford năm 1646, các lãnh đạo của Quốc hội ra lệnh giam giữ James tại Cung điện Thánh James. Vào năm 1648, ông bỏ trốn và cải trang đi đến thủ đô Den Haag của Hà Lan. Sau khi Charles I bị phe nổi dậy xử tử vào năm 1649, phe bảo hoàng đưa anh trai của James lên ngôi với vương hiệu Charles II của Anh. Charles II được Quốc hội Scotland và Quốc hội Ireland công nhận và ông lên ngôi vua Scotland tại Scone vào năm 1651. Mặc dù Charles II còn tự xưng làm vua Anh tại Jersey, ông không thể giữ chắc được ngôi vị này và hậu quả là ông phải chạy đi Pháp và sống lưu vong tại đây.
== Lưu vong ở Pháp ==
Giống như anh trai mình, James tìm kiếm sự tỵ nạn ở Pháp và sau đó ông gia nhập Quân đội Pháp, dưới quyền của Thống chế Turenne, chiến đấu chống lại phe Fronde và sau đó chống lại đồng minh Tây Ban Nha của phe này. Trong thời gian phục vụ Quân đội Pháp, James có được kinh nghiệm thực chiến đầu tiên của mình. Theo một nhân chứng, ông "luôn bạo dạn và tiến lên dũng cảm để hoàn thành mọi thứ". Năm 1656, khi mà anh trai Charles của James giao kết đồng minh với kẻ thù của Pháp là Tây Ban Nha, James bị trục xuất khỏi Pháp và bị loại ngũ khỏi quân đội của Thống chế Turenne. James sau đó tranh cãi dữ dội với anh trai của mình về việc Charles chọn giao kết với Tây Ban Nha thay vì Pháp. Với một cuộc sống lưu vong nghèo khổ, cả Charles và James hầu như không có thể làm gì để tác động vào cục diện quan hệ rộng lớn giữa các vương quốc, và cuối cùng James cùng em trai Henry của mình đi đến Brugge thuộc Bỉ và gia nhập Quân đội Tây Ban Nha dưới quyền tướng Louis, Vương công của Condé. Sau đó ông đối đầu với những đồng đội cũ trong quân đội Pháp của mình trong trận đánh tại Dunes. Trong những năm tháng phục vụ Quân đội Tây Ban Nha, James kết bạn với hai anh em Công giáo người Ireland theo hầu nhà vua, Peter và Richard Talbot, và trở nên hơi ghẻ lạnh với những quân sư Anh giáo của anh trai ông. Vào năm 1659, nước Tây Ban Nha ký kết hiệp ước hòa bình với Pháp. Do nghi ngờ về những cơ hội giành lại ngôi báu của anh mình, James nghĩ đến việc nhận lời mời của làm Đô đốc Hải quân của người Tây Ban Nha. Cuối cùng, ông khước tứ chức vị này. Năm sau đó, tình hình nước Anh hoàn toàn thay đổi và Charles II lại được đưa lên ngôi.
== Khôi phục vương vị ==
=== Hôn nhân lần thứ nhất ===
Sau cái chết của Oliver Cromwell vào năm 1658 và theo sau đó là sự sụp đổ của nền Cộng hòa Anh vào năm 1660, vua Charles II được đưa lên ngôi vua Anh. Tuy James là người thừa kế trước mắt nhưng xem ra ông sẽ khó có thể lên nối ngôi báu, vì vua Charles II hãy còn trẻ và vì thế có khả năng làm cha. Sau khi anh trai phục hồi vương vị, James được phong làm Công tước của Albany tại Scotland, đồng thời mang tước hiệu Anh Quốc là Công tước xứ York. Sau khi về nước Anh, James hứa hôn với Anne Hyde, con gái của quan đại thần đầu triều Anh là Edward Hyde, việc này ngay lập tức gây tranh cãi. Vào năm 1659, trong quá trình tìm cách quyến rũ Anne, James hứa là sẽ cưới bà. Năm 1660, Anne có thai với James nhưng sau sự kiện phục hồi vương quyền Anh và việc James có quyền lực trở lại thì hoàng gia không muốn một hoàng tử cưới một thường dân, mặc kệ bất cứ lời hứa nào James đã đưa ra trước đó. Gần như tất cả mọi người, kể cả cha của Anne khẩn thiết yêu cầu Anne và James không lấy nhau. Thế nhưng James vẫn lấy Anne qua một lễ cưới bí mật, sau đó họ cũng có được một hôn lễ chính thức vào ngày 3 tháng 9 năm 1660 tại Luân Đôn. Đứa con trai đầu tiên của họ tên là Charles chết khi đang còn sơ sinh và năm đứa sau đó, cả trai lẫn gái, đều có cùng số phận. Chỉ có hai cô công chúa sống đến tuổi trưởng thành là Mary (s. 30 tháng 4 năm 1662) và Anne (6 tháng 2 năm 1665). Nhà quý tộc người Anh Samuel Pepys ghi trong nhật ký của ông rằng James rất thương con mình và cách ông làm cha và chơi với con mình "cũng giống như một người cha bình thường", điều này trái với cách làm cha mẹ luôn giữ khoảng cách trong hoàng gia thời gian đó. Vợ của James là một người rất tôn thờ chồng và gây ra nhiều ảnh hưởng đối với các quyết định của ông. Dù vậy, James vẫn có nhiều tình nhân khác nhau, bao gồm Arabella Churchill và Catherine Sedley, và vì thế James trở nên nổi danh như là một "tay hám gái vô ý thức nhất lúc sinh thời". Với Catherine Sedley, James có một con gái tên là Catherine Darnley (tên này được đặt vì James là một hậu duệ của Huân tước Darnley Henry Stuart). Anne Hyde qua đời năm 1671.
=== Các chức vị chính trị và quân sự ===
Sau cuộc Khôi phục Vương vị, James được phê chuẩn làm Đại Đô đốc (Admiralty), nhờ đó ông có quyền bổ nhiệm quan Tổng trấn của Portsmouth và chức vụ Lord Warden of the Cinque Ports. James thống lĩnh Hải quân Hoàng gia trong các cuộc Chiến tranh Anh-Hà Lan lần thứ hai (1665–67) và lần thứ ba (1672–74). Sau khi Hải quân Hà Lan tấn công biển Medway vào năm 1667, James trông coi việc nghiên cứu và tái lập hệ thống phòng thủ bờ biển phía Nam. Chức Đại đô đốc cùng với lợi tức từ Bưu điện Anh và thuế rượu (mà Charles II trao cho James sau khi được khôi phục vương vị) đem đến cho James một mức lương đủ để duy trì một gia trang khá lớn.
Vào năm 1664, vua Charles II giao cho James cai quản vùng đất giữa sông Delaware và sông Connecticut ở châu Mỹ. Sau khi bị Quân đội Anh chiếm đóng, lãnh thổ cũ Tân Hà Lan của Hà Lan được đặt tên là Tỉnh New York để vinh danh James. Sau khi tỉnh New York được thành lập, Công tước James giao một phần của thuộc địa mới cho George Carteret và John Berkeley cai quản. Pháo đài Orange, cách sông Hudson 240 kilômet về phía Bắc, được đổi tên thành Albany, theo tước hiệu của James tại Scotland. Vào năm 1683, ông trở thành Giám đốc Công ty Cảng Hudson, nhưng không đóng vai trò tích cực trong việc cai quản Công ty này. James cũng cai quản Công ty Hoàng gia châu Phi - một Công ty buôn bán nô lệ.
Vào tháng 9 năm 1666, vua anh Charles II truyền lệnh cho ông lãnh đạo việc chữa cháy trong vụ Đại hỏa hoạn Luân Đôn, trong khi Thị trưởng khi ấy là Thomas Bloodworth không làm gì. Mặc dù chức vụ này hầu như không có quyền lực chính trị, những hoạt động và tài năng lãnh đạo của ông đều đáng chú ý. Một nhân chứng đương thời ghi nhận trong một bức thư đề ngày 8 tháng 9 (năm 1666) như sau: "Công tước xứ York đã giành được con tim của nhân dân qua việc ông liên tục dồn tâm trí một cách không mỏi mệt cả ngày lẫn đêm để giúp dập tắt trận cháy".
=== Cải sang Công giáo và tục huyền ===
Thời gian James trải qua ở Pháp đã để ông tiếp xúc với đức tin và các nghi lễ của Công giáo La Mã; sau đó ông và vợ mình, bà Anne, ngày càng có cảm tình với Công giáo. Vào khoảng năm 1668 hay 1669, James cải sang Công giáo qua việc nhận bí tích thánh thể. Tuy nhiên, việc cải đạo này của James được giữ bí mật trong một thời gian và ông vẫn tiếp tục đi lễ nhà thờ Anh giáo cho tới tận 1676. Mặc dù đã cải đạo, ông vẫn tiếp tục có một quan hệ hợp tác chủ yếu với các tín đồ Anh giáo, bao gồm John Churchill, George Legge và các tín đồ Kháng cách người Pháp như là Bá tước thứ hai xứ Feversham Louis de Duras.
Vì lo sợ những ảnh hưởng của các tín đồ Công giáo trong triều đình, Quốc hội Anh ra một đạo luật mới tên Luật Khảo sát (Test Act) năm 1673. Luật mới này đòi hỏi tất cả quan lại và tướng tá quân đội phải ra một lời tuyên thệ. Lời tuyên thệ này buộc họ phải chối bỏ phép thánh thể và lên án một số lễ nghi khác của Công giáo như là sự mê tín và mê muội và chấp nhận bí tích thánh thể của Anh giáo. James từ chối thực hiện bất cứ yêu cầu nào của Luật Khảo sát và thay vào đó ông từ bỏ chức Đại Đô đốc của Hải quân Anh. Và chính việc này đã công khai việc James đã cải đạo.
Vua Charles II chống đối việc cải đạo, và huấn lệnh rằng, các con gái của James là Mary và Anne phải được nuôi dạy với tư cách là những tín đồ Kháng Cách. Tuy nhiên, ông cho phép James cưới một tín đồ Công giáo là Mary xứ Modena - một Công nương mới 15 tuổi người Ý. Ngày 20 tháng 11 năm 1673, James tiến hành việc cưới vắng mặt Mary theo nghi lễ Công giáo. Ngày 21 tháng 9, Mary tới Anh Quốc và Giám mục Oxford là Nathaniel Crew tiến hành một vài nghi lễ Anh giáo và không làm gì hơn ngoài công nhận cuộc hôn nhân Công giáo của James và Mary. Nhiều người Anh, vốn chẳng tin vào Công giáo, xem vị Công nương mới của xứ York là một gián điệp của Giáo hoàng Clêmentê X.
=== Cuộc Khủng hoảng Loại trừ ===
Vào năm 1677, James miễn cưỡng để gả con gái là Mary cho một tín đồ Kháng Cách là William xứ Orange (cũng là cháu trai của James). James ưng thuận sau khi vua anh Charles II và William đồng tình về cuộc hôn nhân này. Bất chấp cuộc hôn nhân Kháng Cách này, những nỗi lo sợ về một tiềm năng có một ông vua Anh theo Công giáo vẫn còn đó, sự sợ hãi lại còn gia tăng do vua Charles II và Hoàng hậu Catherine xứ Braganza không thể sinh con. Cũng trong thời gian này, một linh mục Anh giáo đã bị tước phép tên là Titus Oates nói về một "mưu đồ của Giáo hoàng" nhằm giết vua Charles XII và đưa Công tước xứ York lên ngôi báu. Âm mưu tưởng tượng này đã làm cho làn sóng chống Công giáo lan tràn mãnh liệt trên khắp nước Anh.
Tại Anh Quốc, Bá tước thứ nhất của Shaftesbury, người từng giữ chức vị quan đại thần đầu triều và là nhân vật chống Công giáo chủ chốt, tìm cách loại trừ James khỏi danh sách những người kế thừa ngai vàng. Một vài thành viên của Quốc hội còn đề nghị vua Charles II truyền ngôi cho người con bất hợp pháp là James Scott, Công tước thứ nhất của Monmouth. Vào năm 1679, khi Dự luật Loại trừ (Exclusion Bill) có khả năng được thông qua, vua Charles II phải giải tán Quốc hội. Hai Quốc hội khác được bầu lên vào năm 1680 và 1681, nhưng cũng bị giải tán vì những lý do tương tự. Cuộc Khủng hoảng Loại trừ góp phần vào sự phát triển của hai đảng phái nước Anh: phe Wig thì ủng hộ Đạo luật Loại trừ, trong khi phe Tory thì phản đối. Cuối cùng, James không bị mất quyền kế vị, nhưng ông không được làm việc cùng các quan đại thần đầu triều, và phải đóng vai trò nhỏ bén hơn trong Chính phủ của vua Charles II.
Theo lệnh của nhà vua, James rời khỏi nước Anh mà đến Bruxelles thuộc Bỉ. Vào năm 1680, ông trở thành Quan Đại diện cao cấp (Lord High Commissioner) của xứ Scotland và đến sống tại Cung điện Holyrood ở Edinburgh nhằm trấn áp một cuộc nổi dậy và trông coi chính quyền thuộc hoàng gia. James sau đó quay về Anh trong thời gian ngắn khi mà Charles bệnh nặng và gần như sẽ chết. Làn sóng buộc tội chống lại James cuối cùng cũng qua đi, nhưng quan hệ giữa James với nhiều thành viên Quốc hội Anh bao gồm Bá Tước xứ Danby Thomas Osborne (vốn là đồng minh cũ của James) mãi mãi xấu đi và điều này còn trở thành một nhân tố lớn gây khó khăn cho James.
=== Được khôi phục ===
Năm 1683, một âm mưu ám sát Charles và James và kích động một cuộc nổi dậy của những người Cộng hòa nhằm tái lập nền Cộng hòa Thịnh vượng chung Anh bị khám phá. Âm mưu này được gọi là Âm mưu Rye House gây ra tác dụng ngược với những người tham gia và tạo nên một làn sóng cảm thông với Nhà vua và James. Nhiều nhân vật danh tiếng của đảng Whigs bao gồm cả Công tước thứ nhất xứ Essex Arthur Capell và người con bất hợp pháp của Charles II là James Scott bị buộc tội có liên can. Capell tự sát còn Scott và nhiều người khác được làm ngơ để chạy sang Đại lục châu Âu sống lưu vong. Charles phản ứng lại âm mưu bằng cách tăng cường đàn áp đảng viên đảng Whigs và những người bất đồng. Thấy được uy tín của James đang lên cao, Charles II liền mời James quay trở lại Hội đồng Cơ mật của Hoàng gia Anh năm 1684. Dù vẫn còn một số ít trong Quốc hội Anh vẫn không thống nhất với khả năng có một ông vua theo Công giáo, nguy cơ loại bỏ James khỏi danh sách kế vị đã chính thức qua đi.
== Trị vì ==
=== Lên ngôi báu ===
Vua Charles II qua đời vào năm 1685 sau khi cải theo Công giáo trong lúc hấp hối. Không có một người con hợp pháp nào, vua Charles II được kế thừa bởi em trai mình, vua James lên ngôi, lấy vương hiệu James II với tư cách là vua Anh, và James VII với tư cách là vua Scotland. Lúc này, không có ai phản đối sự lên ngôi của ông, và có những bản tin được lan truyền trong nhân dân đã ca ngợi việc kế ngôi đúng đắn của ông. Vị tân vương mong muốn nhanh chóng làm lễ đăng quang, và ông được gia miện tại Tu viện Westminster vào ngày 23 tháng 4 năm 1685. Nhà vua triệu tập Quốc hội mới vào tháng 5 năm 1685, Quốc hội này lấy tên là "Quốc hội Trung quân" và có thiện chí với ông trong lúc đó, nhà vua cũng huấn lệnh rằng phần lớn những người từng muốn loại trừ ông sẽ được tha tội nếu họ ưng thuận sự trị vì của ông. Phần lớn các quan lại của tiên vương Charles II đều tiếp tục giữ chức, chỉ có những ngoại lệ là các anh vợ của tân vương James II là Bá tước Clarendon và Bá tước Rochester đều được thăng chức, còn Halifax bị giáng chức. Quốc hội dành cho James một khoản trợ cấp cả đời rất hào phóng, bao gồm các khoản tiền lấy từ loại thuế tonnage and poundage đánh vào rượu nhập khẩu và các loại thuế riêng khác dành cho nhà vua. Quốc vương James II làm việc chăm chỉ hơn vua anh Charles II, nhưng ít thiện ý thỏa hiệp hơn, khi các quân sư không đồng tình với ông.
=== Hai cuộc nổi dậy ===
Ít lâu sau khi lên ngôi, tân vương James II phải đối phó với một phong trào nổi dậy ở miền Nam Anh Quốc, do cháu trai ông là Công tước của Monmouth lãnh đạo, và một cuộc nổi dậy khác tại Scotland do Archibald Campbell, Bá tước của Argyll khởi xướng. Cả Argyll và Monmouth đều tiến quân từ Holland, nơi cháu đồng thời là con rể của vua James II - William xứ Orange - quên ngăn cản họ hoặc chấm dứt việc chiêu mộ binh sĩ của họ. Argyll đi thuyền đến xứ Scotland và, khi đặt chân lên đây, tuyển thêm binh lính chủ yếu từ gia tộc Campbell của ông ta. Nhà vua nhanh chóng đàn áp cuộc nổi dậy, và bản thân Argyll bị bắt sống tại Inchinnan vào ngày 18 tháng 6 năm 1685. Argyll không bao giờ trở thành một mối đe dọa đáng kể đối với nhà vua bởi vì ông ta đến nơi với một lực lượng ít hơn 300 người và không thể kêu gọi được nhiều hơn để gia nhập và chiến đấu dưới ngọn cờ của mình. Argyll sau đó bị dẫn độ đến Edinburgh. Tại đây, Argyll không bị xét xử gì bởi trước đó ông đã bị xử và kết án tử hình. Nhà vua phê chuẩn cái án này và ra lệnh Argyll phải bị xử tử trong vòng ba ngày sau khi lệnh phê chuẩn của mình đến nơi.
Quân nổi dậy của Monmouth và Argyll có phối hợp với nhau, như Monmouth còn nguy hiểm hơn đối với nhà vua. Monmouth xưng vương tại Lyme Regis vào ngày 11 tháng 6. Ông ta tìm cách chiêu mộ binh sĩ, nhưng không thể xây dựng một đội quân đủ mạnh để đánh bại dù một đội quân thường trực bé nhỏ của nhà vua. Quân Monmouth tấn công Quân đội nhà vua vào ban đêm, nhằm đánh úp Quân đội nhà vua, nhưng bị đánh tan tác trong trận Sedgemoor. Quân đội nhà vua, do Feversham và Churchill thống lĩnh, nhanh chóng phá tan quân Monmouth non yếu. Bản thân Monmouth bị bắt sống và bị hành quyết tại Tháp Luân Đôn vào ngày 15 tháng 7. Các Thẩm phán do nhà vua chỉ định—người nổi bật nhất có lẽ là Nam tước George Jeffreys—kết án nhiều phiến quân tội đi đày để lao công khổ sai ở các thuộc địa của Anh tại Caribe trong một loạt các phiên xử án về sau được gọi là Các phiên tòa đại hình đẫm máu (Bloody Assizes). Khoảng chừng 250 phiến quân bị xử tử. Dù cả hai cuộc nổi dậy đều bị dập tắt rất dễ dàng, chúng cũng làm cho quyết tâm chống các kẻ thù của James thêm cứng rắn và đồng thời cũng làm gia tăng sự nghi ngờ của ông đối với người Hà Lan.
=== Chế độ quân chủ chuyên chế và chính sách tự do tôn giáo ===
Để bảo vệ bản thân chống những cuộc bạo loạn khác, nhà vua tìm kiếm sự an toàn bằng việc tăng cường một lực lượng Quân đội thường trực. Điều này khiến ông mất lòng dân, không chỉ vì các binh sĩ gây rối trong các thị trấn, mà còn vì nó còn ngược lại với truyền thống nước Anh là chỉ giữ một lực lượng Quân đội chuyên nghiệp trong thời bình. Quốc hội còn tỏ ra lo ngại hơn nữa khi James sử dụng đặc quyền của nhà vua (Royal Prerogative) để cho phép những người theo Công giáo chỉ huy nhiều Trung đoàn Bộ binh mà không cần phải tuyên thệ theo như yêu cầu của luật Khảo sát. Khi Quốc hội vốn từng ủng hộ James phản đối những chính sách này, nhà vua ra lệnh cho Quốc hội ngừng họp vào tháng 11 năm 1685, một hành động ông không bao giờ lặp lại trong suốt thời gian mình nắm quyền. Đầu năm 1686, hai bức thư của vua Charles II được tìm thấy trong tủ sắt và trong phòng nhỏ của ông chứa đựng những lý lẽ ủng hộ Công giáo trước Kháng Cách. Vua James II cho phát hành những bức thư này với một lời tuyên bố do ông ký tên và thách thức Tổng Giám mục Canterbury và toàn bộ các Giám mục Anh giáo trong Thượng viện Anh bác lại những lý lẽ của Charles II: "Hãy để cho Trẫm có một câu trả lời mạnh mẽ theo kiểu của một quý ông; và nó có thể có tác dụng trong việc các Ngươi quá muốn để Trẫm đứng đầu Giáo hội". Tổng Giám mục Canterbury từ chối việc này, lấy cớ là tôn kính vị tiên vương Charles II.
Nhà vua chủ trương xóa bỏ Hình Luật (Penal Law) tại cả ba Vương quốc của ông, nhưng không có phép những người bất đồng được quyền cầu xin vua cứu vãn khỏi Hình Luật. Bằng lời lẽ do chính mình nghĩ ra, James bày tỏ căm phẫn về việc nhiều người thiếu thận trọng trong chủ trương bãi bỏ Hình Luật chống lại những người theo Kháng Cách. Khi Quốc hội Scotland mở phiên họp vào năm 1685, James gửi một bức thư đến để tuyên bố nguyện vọng của mình trong việc làm ra những Hình Luật mới chống lại những tín đồ khó dạy bảo theo Giáo hội Trưởng Lão và than phiền rằng ông không thể giá lâm tới tận nơi để mà giới thiệu điều luật đó. Đáp lại, Quốc hội Scotland thông qua một bộ luật quy định rằng "bất cứ ai truyền giáo trong một cuộc tập hợp tôn giáo bất hợp pháp trong nhà, hay là người tham gia một cuộc tập hợp tôn giáo bất hợp pháp ngoài trời, bao gồm cả người tham gia và người truyền đạo, sẽ bị phạt tội chết và tịch biên gia sản". Vào tháng 3 năm 1686, James gửi một bức thư cho Hội đồng Cơ mật Scotland nhằm vận động sự khoan thứ cho Công giáo nhưng vẫn tiếp tục các chính sách ngược đãi Giáo hội Trưởng Lão, lấy lý do là việc những thành viên hội này từ chối ưng thuận những nguyện vọng của ông. Hội đồng Cơ mật giải thích rằng họ chỉ sẽ ban những giảm nhẹ cho những người theo Công giáo nếu một sự giảm nhẹ tương tự cho những người Covenanter (những người theo Giáo hội Trưởng Lão ở Scotland) và nếu James hứa sẽ không cố làm gì phương hại tới phong trào Kháng Cách. James đồng ý và ông ra một chỉ dụ giảm nhẹ sự ngược đãi cho Giáo hội Trưởng lão nhưng không phải là sự khoan thứ hoàn toàn giống như bên Công giáo, ông tuyên bố rằng Kháng Cách là một tà giáo và ông không hứa là sẽ không định kiến một tà giáo.
Nhà vua phong cho các tín đồ Công giáo La Mã những chức vụ cao nhất trong các Vương quốc của ông, và tiếp kiến vị Sứ thần của Tòa Thánh là Ferdinando d'Adda tại cung đình Anh Quốc - vị sứ giả đầu tiên từ Roma tới Luân Đôn kể từ thời kỳ trị vì của Nữ hoàng Mary I. Edward Petre, linh mục nghe xưng tội thuộc Dòng Tên của James, là một nhân vật đặc biệt gây ra sự giận dữ trong giới Kháng Cách. Khi quan Khâm Sai Thượng thư (King's Secretary of State) là Robert Spencer bắt đầu việc đưa các nhân vật Công giáo được sủng ái vào trong triều đình thì James bắt đầu mất đi sự tin tưởng của rất nhiều người ủng hộ ông theo Anh giáo. Ngoài ra, Spencer còn thanh trừng cả những người anh em rể theo Anh giáo của nhà vua và những người ủng hộ họ. Tín đồ Công giáo chiếm chưa tới một phần mười lăm dân số Anh. Vào tháng 5 năm 1686, James cần phải có được một phán quyết từ các tòa án Thông luật Anh để chứng minh quyền của nhà vua không màn đến các bộ luật của Quốc hội là một quyền hợp pháp. Ông thải hồi toàn bộ những thẩm phán không cùng quan điểm trong vấn đề này cũng như cả vị Trưởng quan Phụ trách Pháp luật (Solicitor General) của Triều đình Heneage Finch. Vụ kiện tụng này, được gọi là Godden kiện Hales xác nhận quyền tự quyết định của nhà vua với mười một trên mười hai vị Thẩm phán ở Godden đưa ra phán quyết thuận cho quyền này của nhà vua.
Vào năm 1687, ông ban hành Tuyên ngôn Đặc ân (Declaration of Indulgence), còn gọi là Tuyên ngôn Tự do Đức tin (Declaration for Liberty of Conscience), theo đó ông sử dụng đặc quyền của mình để phủ nhận hiệu lực của các bộ luật trừng trị các tín đồ Công giáo và những người bất đồng theo Kháng Cách. Để quần chúng đồng tình với chính sách tự do tôn giáo của mình, James thân hành đến miền Tây nước Anh để diễn thuyết với thần dân vào Mùa Hè năm 1687. Trong một bài phát biểu ở Chester, ông nói "giả sử... có một bộ luật quy định tất cả người da đen phải bị giam giữ, nó hẳn thật là vô căn cứ và cũng giống như thế nếu chúng ta sinh sự với người khác chỉ vì họ có những quan điểm hoặc những thái độ [về đức tin] không giống chúng ta". Trong thời gian đó, vua James II cũng ban hành chính sách tự do một phần ở xứ Scotland, dùng đặc quyền của ông để mang lại sự tự do cho các tín đồ Công giáo và tự do một phần cho các tín đồ Trưởng Lão.
Vào năm 1688, James ra lệnh cho tất cả các linh mục Anh giáo phải đọc bản Tuyên ngôn trước giáo dân nhà thờ của mình. Việc này càng làm các Giám mục Anh giáo trở nên xa cách với người đứng đầu Giáo hội. Tuy bản tuyên ngôn làm cho James có được sự biết ơn ít ỏi từ những tín đồ Công giáo và người biệt giáo, nó làm cho đồng minh truyền thống của hoàng gia là Giáo hội Anh giáo lâm vào thế khó xử khi bị bắt buộc phải tự giảm bớt quyền lợi của mình. James còn gây nên những phản ứng chống ông mạnh hơn khi ông tìm cách giảm bớt sự độc quyền của Anh giáo trong giáo dục. Ở Đại học Oxford, James làm mất lòng các tín đồ Anh giáo khi ông cho phép các tín đồ Công giáo giữ các chức vụ quan trọng trong hai trường lớn nhất của Oxford là Christ Church và University College. Ngoài ra, James còn tìm cách buộc những Ủy viên Kháng cách của Đại học Magdalen College (cũng thuộc Oxford) phải bầu Anthony Farmer, một người có nhiều tai tiếng và được xem là một tín đồ Công giáo bí mật, làm giám đốc khi mà vị giám đốc đương quyền qua đời. Việc này vi phạm quyền tự quyết của các Ủy viên trong việc tự do bầu chọn các ứng cử viên.
Vào năm 1687, nhà vua chuẩn bị đưa những người ủng hộ ông vào Quốc hội, để Quốc hội có thể xóa bỏ Luật Khảo sát và Hình Luật. Những người Anh ly khai khỏi Giáo hội Anh giáo thuyết phục vua James II bằng cách khẳng định rằng họ ủng hộ ông và ông có thể khỏi cần phải lệ thuộc vào các tín đồ Anh giáo và phái Tory. James mở một cuộc thanh trừng toàn diện nhắm vào các quan lại dưới quyền chống lại kế hoạch của ông, bổ nhiệm các khâm sai (lords-lieutenant) mới và tổ chức lại các hội đồng chính quyền các thành thị và các phường hội. Vào tháng 10, James ra lệnh cho các quan Khâm sai ở các tỉnh chất vấn các thành viên Hội đồng Hòa Bình ba câu hỏi tiêu chuẩn: liệu họ có đồng ý bãi bỏ Luật Khảo sát và Hình luật, liệu họ có trợ giúp các ứng cử viên có ý định làm thế và liệu họ có chấp nhận Tuyên ngôn Đặc ân. Trong vòng ba tháng đầu năm 1688, hàng trăm người trả lời một cách thù địch ba câu hỏi trên bị bãi chức. Bên cạnh đó, các thuộc cấp của nhà vua được trao quyền tiền trảm hậu tấu thanh trừng các Hội đồng chính quyền để cố gắng tạo ra vĩnh viễn một guồng máy bầu cử phục tùng hoàng gia. Cuối cùng, vào ngày 24 tháng 8 năm 1688, James đòi công bố các lệnh mở một cuộc tổng tuyển cử. Tuy nhiên, nhận được tin Vương công William xứ Orange sắp đổ bộ lên Anh Quốc, James rút lại các lệnh và gửi thư cho các khâm sai thẩm ra các cáo buộc về việc lạm quyền diễn ra khi xây dựng điều lệ và chuẩn bị cho bầu cử như là một phần của sự nhượng bộ của James để có được sự ủng hộ.
== Cuộc Cách mạng Vinh Quang ==
Vào tháng 4 năm 1688, nhà vua tái ban hành bản Tuyên ngôn Đặc ân, sau đó ông truyền lệnh cho giới tăng lữ Anh giáo phải đọc bản Tuyên ngôn tại các Nhà thờ của họ. Khi bảy vị Giám mục, trong số đó Tổng Giám mục của Canterbury, đệ đơn thỉnh cầu nhà vua xét lại các chính sách tôn giáo, họ bị bắt sống và bị kết tội xúi dục bạo loạn. Quần chúng lại còn bức xúc hơn khi Hoàng hậu Mary sinh hạ một cậu con trai và Thái tử theo Công giáo, James Francis Edward vào ngày 10 tháng 6 vào năm đó. Khi hai người có khả năng kế vị duy nhất của James là hai cô con gái Kháng Cách của ông, các tín đồ Anh giáo có thể xem các chính sách trọng Công giáo của ông là chuyện lạ nhất thời, nhưng khi sự ra đời của Thái tử đem lại khả năng một Vương triều Công giáo vững chắc lên trị vì Anh Quốc, các tín đồ Anh giáo phải xét lại vị thế của họ. Lo sợ một Vương triều Công giáo lên ngôi, một số người Kháng Cách "tai to mặt lớn" tuyên bố vị Thái tử bé bỏng là "kẻ mạo danh" và đã được đưa lên giường ngủ của Hoàng hậu trong một cái lò sưởi ấm. Họ vốn đã tiến hành thỏa thuận với Vương công William xứ Orange, khi mọi người đều biết Hoàng hậu có thai, và sự ra đời của con trai James đã làm cho họ có thêm lý lẽ.
Ngày 30 tháng 6 năm 1688, một nhóm bảy quý tộc Kháng Cách mời Vương công xứ Orange mang quân đến Anh Quốc. Vào tháng 9, tình hình trở nên rõ ràng là William sẽ chinh phạt Anh Quốc. Vua James II tin rằng Quân đội của ông có đủ khả năng, do đó ông từ chối sự hỗ trợ của vua Louis XIV, vì lo sợ rằng nhân dân Anh sẽ phản đối sự can thiệp của Pháp. Khi William tiến đánh vào ngày 5 tháng 11 năm 1688, nhiều viên sĩ quan theo Kháng Cách, trong số đó có John Churchill, đào ngũ và theo về William, không những thế con gái của James là Công chúa Anne cũng làm việc tương tự. Nhà vua không đủ can đảm và không dám tấn công đội quân của William xứ Orange, dù Quân đội của ông có ưng thế vượt trội về quân số. Vào ngày 11 tháng 12 năm 1688, James tìm cách chạy trốn sang Pháp, đầu tiên ông vứt bỏ ấn tín xuống dòng sông Thames. James bị bắt sống tại Kent; sau đó, ông được thả ra và được người Hà Lan bảo vệ. Vương công xứ Orange không hề muốn James trở thành Thánh tử vì đạo nên cho phép James chạy trốn vào ngày 23 tháng 12. Người anh họ và đồng minh của ông - Louis XIV đón chào James, cho ông sống trong một cung điện và ban tiền trợ cấp.
William triệu tập một Quốc hội Quy ước (Convention Parliament), để quyết định cách ứng xử đối với sự bỏ chạy của James. Trong khi Quốc hội Quy ước này từ chối hạ bệ ông, họ tuyên bố rằng James, vì đã lánh nạn sang Pháp và vứt bỏ ấn tín xuống dòng sông Thames, đã thực sự từ bỏ ngai vàng, và do đó ngai vàng Anh Quốc bị trống. Và để ngai vàng thoát khỏi tình trạng này, con gái của James là Mary được tấn phong làm Nữ hoàng; bà sẽ cùng trị vì với chồng bà là William, người sẽ được tấn phong làm Vua. Quốc hội Scotland vào ngày 11 tháng 4 năm 1689, tuyên bố rằng vua James đã mất ngôi. Quốc hội Anh cũng thông qua "Luật về các quyền" lên án James lạm dụng quyền hành. Những lời buộc tộc ông bao gồm việc ông đình chỉ các Đạo luật Khảo sát, việc ông bắt giam bảy vị Giám mục chỉ vì họ thỉnh tấu nhà vua, việc ông thiết lập một Quân đội thường trực, và việc ông gia tăng những hình phạt bạo ngược. Do đó, Bộ luật cũng tuyên bố rằng, không một tín đồ Công giáo nào được phép lên kế ngôi báu Anh Quốc, hoặc không một vị Quân vương Anh Quốc nào được quyền kết hôn với một tín đồ Công giáo.
== Những năm cuối đời ==
=== Cuộc chiến xứ Ireland ===
Được quân Pháp hỗ trợ, cựu vương James II đổ bộ lên xứ Ireland vào tháng 3 năm 1689. Phần lớn nhân dân Ireland tỏ ra trung thành với ông. Quốc hội Ireland không theo chân Quốc hội Anh; họ tuyên bố rằng James II vẫn là Quốc vương và thông qua một lệnh tước quyền công dân và tịch thu tài sản quy mô lớn, để chống lại những người nổi dậy chống lại ông. Theo sự đề nghị của ông, Quốc hội Ireland thông qua Đạo luật Tự do Đức tin, theo đó mọi quyền tự do tôn giáo của tất cả các tín đồ Công giáo và Kháng Cách được hoan nghênh tại xứ Ireland. James II cũng tiến hành xây dựng một đội quân tại xứ Ireland, nhưng cuối cùng bị đánh bại trong trận đánh tại sông Boyne vào ngày 1 tháng 7 năm 1690 khi vua William III thân chinh kéo quân đến đánh tan tác quân của James II và củng có quyền cai trị nước Anh. Một lần nữa, James II trốn sang Pháp, ông khởi hành từ Kinsale và sẽ không bao giờ quay về bất kỳ một Vương quốc cũ nào của mình. Do ông bỏ rơi những người Ireland ủng hộ ông, nhân dân Ireland gọi ông là Séamus an Chaca hay "tên James đáng bị phỉ nhổ ".
=== Lại lưu vong tại Pháp ===
Tại Pháp, James được phép sinh sống tại Cung điện Hoàng gia Saint-Germain-en-Laye. Vợ của ông và một số người ủng hộ ông cùng trốn chạy với ông, trong số đó có Bá tước của Melfort; phần lớn trong số họ đều là tín đồ Công giáo, nhưng không phải tất cả bọn họ. Vào năm 1692, đứa con cuối cùng của James là Louisa Maria Teresa ra đời. Một số người ủng hộ ở Anh Quốc âm mưu ám sát vua William III nhằm phục hồi ngôi vua cho James vào năm 1696, nhưng âm mưu này thất bại và gây ra tác dụng ngược làm cho lòng yêu mến người Anh dành cho James thêm xói mòn. Cùng năm đó, vua Louis XIV có đề nghị bầu cử James làm vua của Ba Lan, nhưng bị từ chối vì James lo sợ rằng việc ông đội chiếc Vương miện Ba Lan có thể làm cho ông không thể là vua nước Anh trong tâm trí nhân dân lúc ấy. Sau khi vua Pháp làm hòa với vua William III vào năm 1697, ông ta ít giúp đỡ James hơn hẳn.
Trong những năm tháng cuối đời, James sinh sống như một người sám hối khắc khổ. Ông viết một truyền ký cho con trai mình để chỉ bảo việc cai trị Anh Quốc, trong đó ông chỉ ra rằng tín đồ Công giáo cần phải nắm giữ một chức Thượng thư, một chức Ủy viên Tài chính, Bộ Chiến tranh và đa số các Sĩ quan trong Quân đội. James qua đời vì một cơn xuất huyết não vào ngày 16 tháng 9 năm 1701 tại Saint-Germain-en-Laye. Xác của ông được đặt trong một quan tài tại Nhà nguyện Thánh Edmund trong Nhà thờ những người Anh tu theo dòng thánh Bênêđictô ở phố Saint-Jacques, Paris. Trong tang lễ của ông, tu sĩ Henri-Emmanuel de Roquette là người đọc bài điếu văn. Vào năm 1734, Tổng Giám mục thành Paris mở án tìm chứng cớ để phục vụ cho việc phong James làm Thánh, nhưng rồi chẳng có chuyện gì xảy ra sau đó. Trong cuộc Cách mạng Pháp, lăng mộ của James bị cướp phá và hài cốt của ông bị giày xéo đến mức hầu như không còn chút gì tồn tại tới ngày nay.
== Việc kế vị ==
Con gái nhỏ của James là Anne lên làm Nữ hoàng sau khi vua William III qua đời vào năm 1702. Đạo luật Quyền kế vị (Act of Settlement) công bố rằng, nếu một loạt những người kế vị mà "Luật về các quyền" nêu ra không còn ai, thì Vương miện sẽ được trao cho một người bà con Đức, Sophia, Nữ Tuyển hầu tước xứ Hanover, và cho những người thừa kế theo Kháng Cách của bà. Sophia là cháu gái của vua James I của Anh (tức James VI của Scotland), thông qua con gái lớn của ông là Elizabeth Stuart - em gái của vua Charles I. Do đó, khi Nữ hoàng Anne mất vào năm 1714 (chưa đầy hai tháng trước khi Sophia mất), Vương miện được thừa kế bởi George I - con của Sophia, đồng thời là Tuyển hầu tước xứ Hanover và anh họ thứ hai của Nữ hoàng Anne.
Sau khi cựu vương James II qua đời, con trai của ông là James Francis Edward được tôn làm vua bởi Louis XIV của Pháp và những người bảo hộ còn lại của James (sau này được gọi là phái Jacobite), trở thành "James III và VIII". "Vua James III và VIII" này phất cờ nổi dậy tại xứ Scotland vào năm 1715 ít lâu sau khi vua George I lên nối ngôi, nhưng bị đánh tan tác. Phái Jacobite lại làm loạn vào năm 1745 dưới sự chỉ huy của Charles Edward Stuart, cháu nội của James II, và lại bị dẹp tan. Từ đó, không còn một cuộc bạo loạn lớn nào nhằm khôi phục quyền thừa kế của nhà Stuart bùng nổ nữa. Charles được "kế vị" bởi em trai của ông là Henry Benedict Stuart - Trưởng Hồng y đoàn của Giáo hội Công giáo. Henry là người thừa kế hợp pháp của cố vương James II, và sau đó không có người thân nào công khai đòi quyền kế vị Jacobite nữa.
== Nhận định ==
Những phân tích sử học về vua James II đã trải qua thay đổi đáng kể sau khi ông bị lật đổ. Ban đầu, các nhà sử học Đảng Whig, do Nam tước Macaulay dẫn dắt, phê phán ông là một ông vua chuyên quyền bạo ngược, và triều đại của ông là "sự tàn ác dẫn đến sự khùng điên". Những học giả sau đó, chẳng hạn như G. M. Trevelyan (con trai của Ngài George Trevelyan, Tòng Nam tước thứ hai - cháu trai của nhà sử học Macaulay) và David Ogg, trong khi có cái nhìn dung hòa hơn Macaulay, vẫn tiếp tục truyền thống của Macaulay trong thế kỷ 20, xem vua James II là một tên bạo chúa, những nỗ lựa tự do tôn giáo của ông là âm mưu lừa gạt, và triều đại của ông là một sai lầm trong suốt chiều dài lịch sử nước Anh. Trong Từ điển Lịch sử Tự nhiên "Dictionary of National Biography" do A. W. Ward viết năm 1892, vua James II "rõ ràng là kẻ có niềm tin chính trị và tôn giáo", dù không có "một chút đặc điểm nào của tinh thần yêu nước"; "việc ông ta theo Giáo hội La Mã trước hết đã để giải phóng cấp bách những thần dân Công giáo của ông ta, thứ hai là để đưa nước Anh trở lại thành một nước Công giáo, đó là những mục tiêu mà ông ta nhắm vào trong suốt thời gian trị vì."
Nhà văn người Anh-Pháp Hilaire Belloc phá vỡ truyền thống này vào năm 1928. Belloc xem vua James II là một nhân vật đáng kính, vị vua tốt, còn những kẻ thù của ông thuộc "một nhóm nhỏ những kẻ gặp thời... đã phá hủy nền quân chủ xưa cũ của người Anh." Luận điểm của Hilaire Belloc không thể thay đổi cách nhìn chung của sử học về vua James II trong thời gian đó, nhưng trong các thập niên 1960 và 1970, hai tác giả Maurice Ashley và Stuart Prall đã bắt đầu thừa nhận lại rằng ông có ý tưởng khoan dung mọi tôn giáo, song vẫn nhấn mạnh về sự cai trị độc đoán của ông. Những học giả hiện đại này rời xa lối suy nghĩ thường thấy - tức lối tư tưởng chủ trương rằng cuộc Cách mạng Vinh quang và con đường không hề dứt của tiến bộ và dân chủ là không thể tránh khỏi. "Lịch sử là," Ashley viết, "xét cho cùng, câu chuyện của những con người và những cá nhân riêng, cũng như của các tầng lớp và quần chúng nhân dân." Ông đánh giá hai vua James II và William III là "những người có lý tưởng đồng thời nhược điểm của loài người." John Miller, viết về năm 2000, đồng ý với những ghi nhận về chế độ quân chủ chuyên chế của James, nhưng "mục tiêu chính của ông là bảo vệ quyền tự do tôn giáo và quyền công dân bình đẳng của người Công giáo. Mọi chính sách 'độc đoán'... về bản chất đều là để thực hiện được mục đích này." Vào năm 2004, W. A. Speck viết trong Từ điển mới Oxford Dictionary of National Biography, rằng "vua James đã đúng đắn thừa nhận quyền tự do tôn giáo, nhưng cũng tìm cách tăng cường uy lực của Quốc vương." Ông cũng nói thêm, khác với chính phủ của người Hà Lan, "James thật quá độc đoán để có thể kết hợp sự tự do đức tin và một chính phủ được lòng dân. Ông chống trả lại bất kỳ một sự hạn chế nào đối với uy quyền của Quân vương. Đó là lý do mà con tim của ông không có trong những sự nhượng bộ mà ông phải tiến hành vào năm 1688. Ông sẽ muốn sống trong cảnh đày ải mà vẫn còn giữ vững những nguyên tắc của mình hơn là tiếp tục trị vì với tư cách là một vị Quân vương ít quyền uy."
Những kết luận của Tim Harris trong cuốn sách năm 2006 của ông đã tóm lược những ý kiến khác nhau của các học giả đời sau đối với vua James II:
== Tước hiệu và danh hiệu ==
14 tháng 10 năm 1633 – 6 tháng 2 năm 1685: Hoàng tử James
27 tháng 1 năm 1644 – 6 tháng 2 năm 1685: Công tước xứ York
10 tháng 5 năm 1659 – 6 tháng 2 1685: Bá tước xứ Ulster
31 tháng 12 năm 1660 – 6 tháng 2 năm 1685: Công tước xứ Albany
trước 1 tháng 1 năm 1665 – 6 tháng 2 1685: Hoàng tử
6 tháng 2 năm 1685 – 11 tháng 12 năm 1688: Kim thượng Đức Vua
Người theo phe Jacobite: Kim thượng Đức Vua
Danh hiệu chính thức của James ở Anh là "James đệ nhị, trong Ân điển của Thiên chúa, vua của nước Anh, Scotland, Pháp và Ireland, Người Bảo vệ Đức tin,...". Ở Scotland, ông là "James đệ thất, trong Ân điển của Thiên chúa, vua của nước Scotland, Anh, Pháp và Ireland, Người Bảo vệ Đức tin...".
Ngoài ra, James còn được anh họ của mình là vua Louis XIV của Pháp phong cho tước Công tước xứ Normandie vào ngày 31 tháng 12 năm 1660. Sự kiện này diễn ra một vài tháng sau khi anh trai của James là Charles II được khôi phục vương vị vua Anh và Ireland (trước đó Charles đã là vua Scotland từ 1651). Việc này có thể là một động thái chính trị để ủng hộ James - bởi lẽ trước sau gì Charles cũng sẽ tự nhận cái tước hiệu Công tước xứ Normandie này.
== Huy hiệu ==
Trước khi nối ngôi, huy hiệu của James cũng là huy hiệu của vương quốc (mà ông sẽ kế thừa), khác ở chỗ huy hiệu sẽ có thêm một dải băng màu bạc chìa ra ba hình ermine vuông trắng rũ xuống vắt ngang qua. Khi địa vị thái tử của ông không bị đe dọa nữa, cái dải băng màu bạc ấy chỉ được sử dụng một cách hạn chế. Huy hiệu của vua James là Quarterly, I and IV Grandquarterly, Azure three fleurs-de-lis Or (cho phần Pháp) and Gules three lions passant guardant in pale Or (cho nước Anh); II Or a lion rampant within a tressure flory-counter-flory Gules (cho Scotland); III Azure a harp Or stringed Argent (cho Ireland).
== Tổ phụ ==
== Con cái ==
== Tham khảo ==
=== Chú thích ===
=== Thư mục ===
== Liên kết ngoài ==
King James II trên trang Find-A-Grave |
a.c. milan.txt | Associazione Calcio Milan S.p.A. (Công ty cổ phần Câu lạc bộ bóng đá Milan), thường được biết đến với tên gọi tắt A.C. Milan, AC Milan hay đơn giản là Milan, là một câu lạc bộ bóng đá của thành phố Milano, Ý được thành lập ngày 16 tháng 12 năm 1899. Tại mùa giải 2013-2014, đội bóng đang thi đấu tại Serie A, hạng đấu cao nhất của Giải vô địch bóng đá quốc gia Ý và có hệ số UEFA, chỉ số dựa trên thành tích trong 5 mùa giải cấp châu lục gần nhất của câu lạc bộ, đứng thứ 11 ở châu Âu. Ở cấp độ quốc tế, Milan cùng Boca Juniors của Argentina hiện đang giữ kỷ lục về số danh hiệu quốc tế với 18 danh hiệu, trong đó có 4 Cúp Liên lục địa/Cúp thế giới các câu lạc bộ, 5 Siêu cúp châu Âu, 7 Cúp C1/UEFA Champions League và 2 Cúp các đội đoạt cúp.
Nếu như ở đấu trường châu Âu, Milan là câu lạc bộ Ý có nhiều danh hiệu nhất thì tại giải vô địch bóng đá quốc gia Ý, câu lạc bộ có thành tích xếp thứ hai, sau Juventus và ngang bằng với Inter Milan, với 18 danh hiệu vô địch quốc gia (Scudetto), 5 Cúp quốc gia và 5 Siêu cúp quốc gia. Trong lịch sử của mình, A.C. Milan đã từng hai lần phải xuống chơi tại Serie B trong các năm 1980 và 1982, trong đó lần đầu tiên là do án phạt của Liên đoàn bóng đá Ý vì Milan có dính líu tới vụ bê bối dàn xếp tỉ số Totonero. Vào đầu thập niên 2000 đội bóng còn dính líu tới một vụ bê bối bóng đá khác có tên Calciopoli. Đây cũng là câu lạc bộ đầu tiên từng có cầu thủ chiếm chọn cả ba vị trí đầu tiên của cuộc bình chọn Quả bóng vàng châu Âu, đó là vào hai năm 1988 khi bộ ba người Hà Lan của Milan là Marco van Basten, Ruud Gullit và Frank Rijkaard lần lượt xếp thứ nhất, nhì và ba trong cuộc bình chọn, và 1989 với các cầu thủ Marco van Basten, Franco Baresi và Frank Rijkaard (vào năm 2010, F.C. Barcelona đã đạt được thành tích tương tự). Trong một cuộc thăm dò của tạp chí World Soccer thực hiện vào năm 2007, đội hình A.C. Milan với bộ ba "Hà Lan bay" Gullit-Rijkaard-Van Basten dưới thời huấn luyện viên Arrigo Sacchi được bầu chọn là đội hình cấp câu lạc bộ mạnh nhất trong lịch sử và tính chung chỉ thua đội hình các đội tuyển quốc gia Brasil năm 1970, Hà Lan năm 1974 và Hungary giai đoạn 1953-1954.
Theo cuộc thăm dò thực hiện ngày 20 tháng 8 năm 2008 của tờ nhật báo la Repubblica thì Milan là câu lạc bộ có nhiều cổ động viên thứ 3 ở Ý với 13,6%, xếp sau Juventus (32,5%) và đối thủ cùng thành phố của Milan là Inter (14%). Trong một nghiên cứu thực hiện cùng năm của công ty Đức Sport+Markt, Milan là đội bóng có nhiều cổ động viên thứ 5 tại châu Âu và là câu lạc bộ Ý đứng cao nhất trong danh sách này.
A.C. Milan hoạt động với tư cách một công ty cổ phần của Tập đoàn Fininvest kể từ năm 1986. Vị trí chủ tịch của câu lạc bộ hiện bị bỏ trống từ ngày 8 tháng 3 năm 2008 sau khi chủ tịch Milan là ông Silvio Berlusconi từ chức để đảm nhận cương vị Thủ tướng Ý. Giữ quyền điều hành tạm thời của A.C. Milan hiện là phó chủ tịch câu lạc bộ, ông Adriano Galliani. Milan là một trong những thành viên sáng lập Hiệp hội các Câu lạc bộ châu Âu (ECA), tổ chức thay thế cho nhóm G-14, với mục đích bảo vệ quyền lợi về kinh tế và thể thao cho các câu lạc bộ trong mối quan hệ với FIFA và UEFA.
== Lịch sử ==
=== Giai đoạn trước Chiến tranh thế giới thứ hai ===
Từ ý tưởng của một nhóm cổ động viên bóng đá người Anh và Ý sống tại Milano, A.C. Milan được khai sinh vào ngày 16 tháng 12 năm 1899 với tên ban đầu Milan Foot-Ball and Cricket Club (Câu lạc bộ bóng đá và cricket Milan). Sự ra đời của câu lạc bộ này được công bố chính thức trên tờ La Gazzetta dello Sport hai ngày sau, ngày thứ hai 18 tháng 12, theo đó chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ là một người Anh có tên Alfred Edwards, đồng sáng lập với Edwards còn có Barnett, Allison, Nathan, Davies và Herbert Kilpin.
Tới tháng 1 năm 1900 thì câu lạc bộ được kết nạp vào Liên đoàn bóng đá Ý (tiếng Ý: Federazione Italiana Football) và tới tháng 4 thì đội có trận đấu chính thức đầu tiên, đó là cuộc đối đầu với câu lạc bộ FC Torinese tại vòng bán kết của Giải vô địch bóng đá Ý 1900 (Campionato 1900). Một tháng sau vào ngày 27 tháng 5, câu lạc bộ có danh hiệu đầu tiên, Medaglia del Re (Huy chương Nhà vua) sau chiến thắng 2-0 trước Juventus. Ngay trong năm thứ hai tham gia giải bóng đá quốc gia, Milan đã giành chức vô địch sau khi cắt đứt mạch vô địch liên tiếp của câu lạc bộ Genoa bằng chiến thắng 3-0 trước đội bóng này trong trận chung kết. Hai chức vô địch giải hạng nhất (Prima Categoria) tiếp theo của Milan đến vào hai năm liên tiếp 1906 và 1907 nhờ chiến thắng trước Juventus tại trận chung kết năm 1906 và vị trí thứ nhất trong bảng chung kết năm 1907, xếp trên hai đội Torino và Andrea Doria. Chỉ một năm sau, nội bộ lục đục của đội bóng đã khiến một nhóm cầu thủ tách ra và thành lập một đội bóng mới lấy tên Football Club Internazionale Milano hay Inter Milan. Trong khi ngay ở mùa giải 1909-10, câu lạc bộ mới Inter đã ngay lập tức giành danh hiệu vô địch quốc gia thì ở giai đoạn tiếp theo Milan chỉ có vị trí cao nhất là thứ hai vào các mùa 1910-11 và 1911-12. Bốn năm sau, Giải vô địch bóng đá Ý phải tạm ngừng và thay thế vào đó là Cúp liên đoàn 1915-16 (Coppa Federale), tại giải đấu này Milan cuối cùng đã giành được chức vô địch sau khi xếp trên kình địch Juventus.
Năm 1919, Milan Foot-Ball and Cricket Club được đổi tên thành Milan Football Club (Câu lạc bộ bóng đá Milan). Cái tên mới cũng đánh dấu cho một giai đoạn thi đấu sa sút của đội bóng, tuy vẫn được thi đấu tại giải hạng nhất nhưng Milan thường kết thúc mùa giải chỉ với vị trí ở giữa bảng xếp hạng, thứ hạng cao nhất của họ chỉ là vị trí thứ ba vào các mùa 1937-38 (kém ba điểm so với đội vô địch Inter) và 1940-41 (kém năm điểm so với đội đầu bảng Bologna). Những ngôi sao hiếm hoi trong giai đoạn này của Milan là Aldo Boffi và Giuseppe Meazza, cầu thủ sau này được đặt tên cho sân vận động của Milan, Sân Giuseppe Meazza, vốn cũng được xây dựng trong giai đoạn này với tên ban đầu San Siro. Sân San Siro được xây dựng vào năm 1926 nhờ những nỗ lực của chủ tịch câu lạc bộ khi đó là Piero Pirelli. Cho tới năm 1948 thì đây là sân nhà của duy nhất Milan vì câu lạc bộ cùng thành phố Inter lấy sân Arena Civica làm sân nhà của họ.
Năm 1936 câu lạc bộ một lần nữa đổi tên từ Milan Football Club thành Milan Associazione Sportiva (Câu lạc bộ thể thao Milan), cái tên này bị "Ý hóa" theo lệnh của Chế độ Mussolini vào năm 1939 thành Associazione Calcio Milano (Câu lạc bộ bóng đá Milano). Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, câu lạc bộ quay lại với tên gọi tiếng Anh của mình, Associazione Calcio Milan (Câu lạc bộ bóng đá Milan) hay viết tắt là A.C. Milan và giữ nguyên nó cho tới ngày nay.
=== Thập niên 1950 và 1960 ===
Trong mùa giải vô địch Ý đầu tiên sau chiến tranh, mùa 1946-47, Milan có được vị trí thứ tư, mùa tiếp theo đội bóng leo lên được vị trí thứ hai sau khi có được danh hiệu mang tính biểu tượng "vô địch mùa đông" (campione d'inverno). Tuy nhiên chức vô địch chỉ đến với đội bóng vào mùa giải 1950-51, chức vô địch này đã kết thúc cơn khát danh hiệu kéo dài tới 44 năm của A.C. Milan, đây cũng là năm mà câu lạc bộ có danh hiệu cấp châu lục đầu tiên, Cúp Latinh 1951. Đóng góp cho thành công này của đội bóng trước hết phải kể tới bộ ba cầu thủ người Thụy Điển Gunnar Gren, Gunnar Nordahl và Nils Liedholm hay được biết tới với tên Bộ ba Gre-No-Li, bên cạnh đó Milan còn có một huấn luyện viên xuất sắc người Hungary là ông Lajos Czeizler cùng thủ thành Lorenzo Buffon. Trong những năm tiếp theo, nhiều ngôi sao lớn bắt đầu gia nhập Milan như Schiaffino, Bagnoli, Radice và Cesare Maldini, đây là những cầu thủ đóng vai trò chính trong chiến thắng của A.C. Milan tại Cúp Latinh 1956 cùng ba danh hiệu vô địch quốc gia Ý các mùa giải 1954-55, 1956-57 và 1958-59. Năm 1958 lần đầu tiên Milan lọt vào tới trận chung kết Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu nhưng đội bóng đã để thua các nhà đương kim vô địch khi đó là câu lạc bộ Real Madrid với tỉ số 2-3 sau hai hiệp phụ, đây là chiếc cúp thứ ba trong số năm chiếc cúp liên tiếp tại giải đấu này của đội bóng thành Madrid.
Sau khi giành chức vô địch bóng đá Ý mùa giải 1961-62, đội bóng của huấn luyện viên Nereo Rocco cùng vua phá lưới Serie A José Altafini và tiền vệ triển vọng Gianni Rivera đã lọt vào trận chung kết Cúp C1 thứ hai vào năm 1963. Trong trận đấu trên sân Wembley này, Milan đã vượt qua câu lạc bộ Bồ Đào Nha Benfica của Eusébio với tỉ số 2-1, người đội trưởng nhận cúp của Milan sau trận đấu là Cesare Maldini.
Sau chiến thắng này huấn luyện viên Nereo Rocco chuyển sang dẫn dắt Torino, người thay thế ông là Giuseppe Viani đã không thể giúp Milan giành Cúp Liên lục địa 1964, đội bóng đã để thua Santos của huyền thoại Pelé với tỉ số 0-1 trong trận đấu trên sân vận động Maracanã của Brasil. Đây cũng là mùa giải cuối cùng của chủ tịch Milan, ông Andrea Rizzoli, người đã có 9 năm thành công cùng đội bóng với bốn chức vô địch Ý, một Cúp Latinh, một Cúp C1 và việc xây dựng trung tâm tập huấn Milanello.
Sau khi Rizzoli từ chức, Milan lại rơi vào một giai đoạn khát danh hiệu khi đội bóng chỉ giành được duy nhất Cúp quốc gia Ý mùa giải 1966-67. Cùng lúc đó thì đội bóng đối thủ cùng thành phố của Milan là Inter lại liên tiếp có được những danh hiệu quốc gia và châu lục nhờ sự dẫn dắt của huấn luyện viên huyền thoại Helenio Herrera. Chỉ tới khi Nereo Rocco quay trở lại băng ghế chỉ đạo, Milan mới cải thiện được thành tích của mình với chức vô địch quốc gia thứ chín tại mùa giải 1967-68, trong năm này Milan còn giành Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc gia châu Âu nhờ chiến thắng 2-0 trước Hamburger SV với một cú đúp của Kurt Hamrin. Trong năm tiếp theo Milan chỉ về đích thứ 2 tại Serie A mùa giải 1968-69, tuy nhiên họ lại có được chiếc Cúp C1 thứ hai sau chiến thắng đậm 4-1 trước câu lạc bộ Ajax của huấn luyện viên Rinus Michels. Tiếp đó với hai chiến thắng liên tiếp cả trên sân nhà và sân khách trước câu lạc bộ Estudiantes của Argentina, A.C. Milan đã giành được chiếc Cúp Liên lục địa đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ này. Bên cạnh các danh hiệu tập thể, tiền vệ Gianni Rivera của Milan còn giành Quả bóng vàng châu Âu năm 1969, đây là cầu thủ người Ý đầu tiên có được vinh dự này.
=== Thập niên 1970 và 1990 ===
Trong ba mùa giải đầu tiên của thập niên 1970, A.C. Milan đều về đích thứ hai tại giải vô địch quốc gia sau khi bị lần lượt Inter (mùa 1970-71) và Juventus (mùa 1971-72, 1972-73) vượt qua. Đặc biệt mùa 1972-73 chứng kiến thất bại cay đắng của Milan khi họ bị Juventus qua mặt ở vòng đấu cuối cùng sau khi để thua ngay trên sân nhà trước Hellas Verona với tỉ số 3-5, trận đấu này sau đó đã đi vào lịch sử câu lạc bộ với cái tên "Fatal Verona" ("Verona chết chóc"). Tuy vậy những thất bại liên tiếp tại giải vô địch quốc gia của Milan được bù đắp phần nào bằng hai Cúp quốc gia Ý mùa 1971-72 và 1972-73 cùng một Cúp C2. Đây cũng là giai đoạn mà các cổ động viên của Milan ở khán đài phía Nam (curva sud) sân San Siro bắt đầu tổ chức thành các hội cổ động chuyên nghiệp, đó là Fossa dei Leoni (thành lập năm 1968, giải thể năm 2005), Commandos Tigre (thành lập 1967) và Brigate Rossonere (thành lập 1975).
Giai đoạn 1973-1978 chứng kiến sự khủng hoảng của A.C. Milan khi chỉ trong vòng chưa đầy 10 năm câu lạc bộ đã có tới 7 vị chủ tịch khác nhau, kết quả là Milan thường chỉ kết thúc mùa giải ở nửa dưới bảng xếp hạng. Tình hình chỉ thay đổi đôi chút từ mùa 1977-78 khi ngôi sao cũ của đội bóng là Nils Liedholm trở thành huấn luyện viên của Milan và đưa Milan tới vị trí thứ 4 tại Serie A đồng thời phát hiện được một hậu vệ trẻ triển vọng cho câu lạc bộ có tên Franco Baresi. Trong mùa giải tiếp theo, Milan có được danh hiệu vô địch quốc gia thứ 10 sau khi vượt qua Perugia của Castagner, đây cũng là mùa giải cuối cùng của Gianni Rivera cho câu lạc bộ của ông.
Thập niên 1980 mở đầu với câu lạc bộ bằng vụ bê bối dàn xếp tỉ số Totonero, hậu quả của vụ bê bối này là lần đầu tiên trong lịch sử A.C. Milan, đội bóng bị đánh tụt xuống Serie B tuy giành được chức vô địch Serie B 1980-1981 để lên chơi tại Serie A mùa giải 1981-82 nhưng ngay tại mùa giải này câu lạc bộ đã phải xuống hạng lần thứ hai sau khi chỉ giành được 24 điểm sau 30 vòng đấu. Một lần nữa Milan quay trở lại với Serie A chỉ sau một mùa giải tuy nhiên đội bóng vẫn chưa thể khôi phục lại vị thế trước kia, trong thời gian này Milan có thêm một hậu vệ tài năng mới, Paolo Maldini con trai của Cesare Maldini, người có trận đấu ra mắt vào ngày 20 tháng 1 năm 1985 ở tuổi 16.
Cuối mùa giải 1985-86, một lần nữa A.C. Milan rơi vào khủng hoảng khi cuộc điều tra của Cảnh sát kinh tế Ý (Guardia di Finanza) đã phát hiện ra rằng câu lạc bộ đang ngập trong nợ nần và có nguy cơ phá sản. Ngày 20 tháng 2 năm 1986, doanh nhân người Milano Silvio Berlusconi thay thế chủ tịch câu lạc bộ Giuseppe Farina và lập tức thanh toán mọi nợ nần cho đội bóng. Với tiềm lực tài chính của mình, Berlusconi đã mang về cho Milan một loạt cầu thủ có chất lượng như Donadoni, Massaro, Galli và Galderisi.
Tuy nhiên đội bóng của huấn luyện viên Liedholm chỉ về thứ 5 trong mùa giải mới và chủ tịch câu lạc bộ quyết định thay ông bằng một huấn luyện viên đang lên người Ý có tên Arrigo Sacchi. Gia nhập đội bóng cùng Sacchi còn có bộ đôi cầu thủ người Hà Lan Marco van Basten và Ruud Gullit trong đó Gullit vừa giành Quả bóng vàng châu Âu năm 1987. Sau khởi đầu không mấy thuận lợi, Sacchi đã đưa Milan tới chức vô địch quốc gia lần thứ 11 khi đội bóng vượt qua Napoli của Diego Maradona ở những vòng đấu cuối.
Đây là chức vô địch mở ra giai đoạn hoàng kim của A.C. Milan với hai Cúp C1 liên tiếp ở mùa giải 1988-89, 1989-90, hai Siêu cúp châu Âu 1990, 1991, hai Cúp Liên lục địa 1990, 1991 và một Siêu cúp Ý 1989. Chuỗi chiến thắng liên tiếp của Milan ở châu Âu dừng lại vào ngày 20 tháng 3 năm 1991. Trong trận tứ kết lượt về Cúp C1 trên sân của Olympique de Marseille, Milan, khi đó đang bị dẫn 1-0, đã bỏ dở trận đấu theo lệnh của tổng giám đốc Adriano Galliani.
Theo ông Galliani thì do sân vận động có một dàn đèn bị hỏng nên các cầu thủ Milan không thể tiếp tục thi đấu do tầm nhìn hạn chế. Ngay cả sau khi dàn đèn chiếu sáng đã khôi phục hoạt động, đội bóng cũng không quay trở lại thi đấu tiếp và họ lập tức bị UEFA trừng phạt bằng việc xử thua trận tứ kết này đồng thời cấm Milan không được tham gia các giải đấu cấp châu lục một năm vì hành vi phi thể thao.
Cuối mùa giải 1991 Sacchi rời Milan để đảm nhiệm vai trò dẫn dắt Đội tuyển bóng đá quốc gia Ý, thế chỗ của ông ở câu lạc bộ là huấn luyện viên còn ít tên tuổi Fabio Capello. Ngay trong mùa giải đầu tiên tại Milan, Capello đã đưa đội bóng tới chức vô địch Serie A với thành tích không để thua một trận nào trong suốt mùa giải 1991-92. Trong mùa giải sau đó, Milan tiếp tục bảo vệ thành công chức vô địch quốc gia, đội bóng cũng lọt vào trận chung kết Cúp C1, lúc này đã được đổi tên thành UEFA Champions League, tuy nhiên Milan đã để kình địch Marseille vượt qua với tỉ số 0-1. Mùa giải 1993-94 của Milan là một trong những mùa giải đáng nhớ nhất của câu lạc bộ khi Milan giành được cú đúp chức vô địch Serie A và UEFA Champions League sau chiến thắng ấn tượng 4-0 trước Barcellona trong trận chung kết tại Athena. Một năm sau đó Milan lọt vào chung kết UEFA Champions League lần thứ ba liên tiếp nhưng trong cuộc đối đầu với đội bóng Ajax trẻ trung của Louis van Gaal, Milan đã thất thủ 1-0 và không thể bảo vệ chiếc cúp vô địch của mình, đội bóng còn thất bại tại trận tranh Cúp Liên lục địa khi để thua Vélez Sársfield của Argentina với tỉ số 0-2 tại Tokyo. Sau chức vô địch Serie A tại mùa giải 1995-96, chức vô địch thứ 4 trong vòng 5 mùa giải liên tiếp, Capello rời đội bóng và được thay thế bởi huấn luyện viên người Uruguay Oscar Tabárez.
Sự xuất hiện của Tabárez mở đầu cho một giai đoạn khủng hoảng ngắn của Milan khi huấn luyện viên này và kể cả hai người thay thế sau đó là Sacchi và Capello đều không thể đem lại thành công cho đội bóng. Sau 2 năm khủng hoảng, Milan của huấn luyện viên Alberto Zaccheroni giành lại chức vô địch Serie A mùa giải 1998-99 sau khi vượt qua Lazio ở giai đoạn cuối bằng bảy trận thắng liên tiếp ở bảy vòng đấu cuối cùng.
=== Giai đoạn của Ancelotti (2001-2009) ===
Hai mùa bóng tiếp theo không có danh hiệu đã khiến Zaccheroni mất chức, thay thế ông lần lượt là các huấn luyện viên tạm quyền Cesare Maldini và Mauro Tassotti trước khi huấn luyện viên người Thổ Nhĩ Kỳ Fatih Terim đảm nhiệm cương vị này vào đầu mùa bóng 2001-02. Những trận đấu không thành công liên tiếp đã khiến Terim nhanh chóng mất chức, lần này người được Berlusconi mời về làm huấn luyện viên cho A.C. Milan là Carlo Ancelotti, người từng giành Cúp C1 với đội bóng khi còn là tiền vệ trụ tại đây.
Sự xuất hiện của huấn luyện viên Carlo Ancelotti tạm thời chưa mang lại hiệu quả cho AC Milan. Mùa giải năm đó tại Serie A, câu lạc bộ chỉ về đích ở vị trí thứ 4. Còn tại Cúp quốc gia, AC Milan đã tiến vào vòng bán kết gặp Juventus. Trận lượt đi các cầu thủ của Ancelotti đã thất bại 1-2 dù được thi đấu trên sân nhà San Siro và chỉ có được trận hòa 1-1 trên sân của Juventus. Ở UEFA Cup, Milan cũng chỉ lọt vào vòng bán kết gặp Borussia Dortmund. Họ đã thảm bại 0-4 ở trận lượt đi và sau đó giành chiến thắng 3-1 tại trận lượt về, nhưng trận đấu này chỉ mang tính danh dự và không đủ giúp Milan đi đến trận đấu cuối cùng.
Ở mùa giải thứ hai dẫn dắt đội bóng, Ancelotti mới đem lại thành công cho Milan. Mặc dù ông không giúp cho câu lạc bộ AC Milan giành được Scudetto, nhưng đổi lại Ancelotti đã mang về phòng truyền thống của câu lạc bộ 1 chức vô địch Cúp quốc gia Ý và đặc biệt là chức vô địch châu Âu lần thứ 6 sau hơn 10 năm chờ đợi. Để được tham gia vào vòng bảng Champions League năm đó, AC Milan phải tham dự một trận đấu Play-off với câu lạc bộ của Séc, Slovan Liberec. Nhờ vào sự tỏa sáng của tiền đạo Filippo Inzaghi, Milan mới có thể góp mặt ở giải đấu danh giá nhất Châu Âu, tuy nhiên đó không phải là chiến thắng thuyết phục bởi họ đã hòa 2-2 và chỉ có thể đi tiếp nhờ luật bàn thắng trên sân khách khi thắng 1-0 trên sân nhà và thua 1-2 trên sân khách. Sau đó AC Milan đã vượt qua vòng bảng với vị trí nhất bảng đấu. Ở vòng bảng thứ 2, họ lại đứng vị trí nhất bảng mặc dù phải xếp chung cùng Real Madrid. Milan sau đó đã vượt qua Ajax Amsterdam với tổng tỉ số 3-2, và câu lạc bộ cùng thành phố Inter Milan nhờ luật bàn thắng trên sân khách trước khi gặp Juventus tại trận chung kết trên sân Old Trafford. Tại trận đấu ấy, 2 đội đã hòa nhau 0-0 và trong loạt sút luân lưu, AC Milan đã là đội giành chiến thắng với pha đá quyết định của tiền đạo Andriy Shevchenko, mang chức vô địch châu Âu về thành phố Milan. Còn tại Cúp quốc Gia, Milan đã gặp AS Roma tại trận chung kết. Ở chung kết lượt đi, Milan đã đánh bại đội bóng thủ đô ngay tại Roma với tỉ số đậm 4-1 vào sau đó cầm hòa 2-2 tại San Siro.
Thành công tại Champions League năm 2003 của Milan được nối tiếp bằng chiến thắng 1-0 tại Siêu Cúp châu Âu trước câu lạc bộ Porto. Tuy nhiên Milan đã mở đầu một mùa giải quốc nội 2003-04 bằng thất bại trước Juventus tại trận tranh Siêu Cúp Ý. Hai đội đã hòa nhau 1-1, và Milan đã thất bại 3-5 trong loạt sút luân lưu. Sau đó vào cuối năm 2003, Milan cũng không thể đem về thêm một danh hiệu quốc tế nào nữa trong năm khi họ để thua câu lạc bộ Boca Junior của Argentina tại trận chung kết Cúp Liên Lục Địa. Còn tại Cúp quốc Gia, AC Milan đã trở thành cựu vương khi thảm bại trước Lazio với tổng tỉ số 1-6 khi thua 1-2 trên sân nhà và 0-4 tại Roma. Một giải đấu khác khi họ tham dự với tư cách đương kim vô địch là Champions League, nhưng cũng phải rời giải. Milan đã vào vòng tứ kết gặp Deportivo của Tây Ban Nha. Tưởng rằng đội bóng của Ancelotti sẽ dễ dàng đi đến trận bán kết sau khi đã đè bẹp đối thủ này 4-1 tại San Siro, nhưng bất ngờ đã xảy ra khi đội bóng áo đỏ đen thúc thủ 0-4 trên sân Deportivo, qua đó trở thành cựu vương. Danh hiệu duy nhất mà Milan có được mùa giải này là Scudetto lần thứ 17. Mặc dù đã trở thành cựu vương tại những giải đấu họ vô địch mùa trước, nhưng với danh hiệu Scudetto, Ancelotti đã cứu Milan thoát khỏi một mùa giải tệ hại và trắng tay.
Milan mở đầu mùa giải với trận tranh siêu cúp Ý cùng Lazio. Kết quả Milan là đội giành được siêu cúp nhờ cú hattrick của tiền đạo Shevchenko trong chiến thắng 3-0 trước đối thủ đến từ thủ đô Roma. Tưởng rằng đây là danh hiệu giúp đội bóng của Ancelotti có thể quên đi mùa giải thảm hại trước, nhưng nó lại bắt đầu cho một mùa giải thất bại hơn. Milan trở thành cựu vương tại Serie A khi về sau Juventus. Tại Cúp quốc gia Ý, họ gặp Udinese tại vòng tứ kết. Ở trận lượt đi Milan giành chiến thắng 3-2 nhưng tại trận lượt về họ thảm bại 1-4 và rời giải. Niềm hi vọng cuối cùng của họ là tại Champions League. Milan lần lượt vượt qua Manchester United với tỉ số 2-0, đánh bại Inter 5-0 sau 2 lượt trận trong đó có 1 trận thắng 2-0 và trận còn lại Milan được xử thắng 3-0 sau khi các CĐV Inter bạo loạn, sau đó họ hòa PSV 3-3 và đi tiếp nhờ luật bàn thắng trên sân khách. Tại trận chung kết gặp Liverpool diễn ra tại Istabul, Thổ Nhĩ Kỳ, các cổ động viên đội bóng đỏ đen nghĩ rằng danh hiệu vô địch châu Âu lần thứ 7 sẽ về tay họ khi trong hiệp 1 các cầu thủ Milan dẫn trước Liverpool đến 3-0, nhưng rồi sang hiệp 2 tỉ số đã là 3-3. Sau đó chức vô địch châu Âu chuyển từ thành phố Milan của Ý đến cảng Liverpool của Anh trong loạt sút luân lưu khi Shevchenko đá hỏng loạt sút của mình. Đối với đội bóng nước Anh, đó là 1 đêm Istanbul huyền diệu nhưng với cầu thủ của đội bóng áo Đỏ Đen, nó đã kết thúc một mùa giải thất bại và trắng tay.
Mùa giải 2005-06, tình hình cũng không mấy khả quan khi mùa giải này Milan cũng không thể giành được bất kỳ một danh hiệu nào. Ở Cúp quốc gia Ý, Milan phải dừng cuộc chơi ngay từ vòng tứ kết gặp Palermo. Tại trận lượt đi mặc dù có chút lợi thế khi có được thắng lợi 1-0 nhưng với 3 bàn thua trắng ở trận lượt về, Milan một lần nữa phải rời khỏi giải đấu Cúp lớn nhất nước Ý. Tại Champions League, các cầu thủ của HLV Ancelotti dễ dàng vượt qua vòng bảng, đối thủ tại vòng đấu tiếp theo của họ là đội bóng giàu truyền thống nước Đức, Bayern Munich. Tại trận lượt đi Milan đã xuất xuất cầm hòa Bayern với tỉ số 1-1 và lượt về họ bất giờ giành thắng lợi đậm đà đến 4-1. Sau đó Milan tiếp tục loại một đối thủ mạnh đến từ Pháp là câu lạc bộ Lyon và chỉ dừng bước trước nhà vô địch sau đó của giải là Barcelona. Còn tại Serie A, vào cuối mùa giải năm đó, Milan bất ngờ bị tố cáo có dính líu tới vụ bê bối dàn xếp tỉ số Calciopoli cùng với Juventus, Napoli. Sau đó Tòa án thể thao đã tuyên bố Juventus bị tước Scudetto và phải cùng Napoli xuống chơi tại giải hạng nhì Serie B, còn Milan thì bị trừ 30 điểm đồng nghĩa với việc tụt xuống vị trí thứ 3 trong bảng xếp hạng.
Milan bắt đầu mùa giải 2006-07 với việc bị trừ thêm 8 điểm từ hệ lụy vụ bê bối Calciopoli mùa giải trước, phải tham gia vòng đấu loại thứ hai của UEFA Champions League đồng thời mất đi chân sút tốt nhất Andriy Shevchenko khi để anh này chuyển sang Chelsea thi đấu. Tại Serie A, AC Milan chỉ về đích với vị trí thứ 4. Còn tại Cúp quốc gia họ bị loại ở vòng bán kết trước câu lạc bộ AS Roma sau khi bị cầm hòa 2-2 trên sân nhà và thua 1-3 tại Roma. Mặc dù tinh thần thi đấu của Milan tại các giải quốc nội rất mập mờ, nhưng tại Champions League họ lại thi đấu rất hay. Milan vượt qua vòng bảng và đánh bại Celtic với tổng tỉ số 1-0 tại vòng 1/16. Tại vòng đấu tiếp theo Milan đã loại Bayern Munich với tổng tỉ số 4-2 sau khi bị đối thủ cầm hòa 2-2 trên sân nhà và đánh bại Bayern tại Allianz Arena với tỉ số 2-0, qua đó trở thành đội bóng đầu tiên đi tiếp sau khi bị cầm hòa 2-2 trên sân nhà. Sau đó Milan cũng giành vé đi tiếp khi đè bẹp Manchester United của Sir Alex Ferguson với tỉ số đậm 3-0 mặc dù đã để thua 2-3 tại nước Anh. Và kết quả cuối mùa giải thì AC Milan đã lọt được tới trận chung kết UEFA Champions League, một lần nữa đối thủ của họ là Liverpool nhưng trong trận tái đấu này hai bàn thắng của Inzaghi đã đem về cho Milan chiếc cúp vô địch châu Âu thứ bảy.
Trong mùa giải tiếp theo Milan có được chiếc Siêu cúp châu Âu thứ năm trong lịch sử sau khi đánh bại nhà vô địch Europa League, Sevilla với tỉ số 3-1, đội bóng cũng giành chức vô địch Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ khi giành chiến thắng 4-2 trước Boca Junior tại trận chung kết. Tuy nhiên đội bóng không vượt qua được vòng 2 UEFA Champions League khi gặp đối thủ Arsenal. Đội bóng mà AC Milan đã cầm hòa 0-0 ở trận lượt đi ngay trên đất Anh, nhưng lại để thua 0-2 trên sân nhà và chỉ có được vị trí thứ 5 tại Serie A, đồng nghĩa với việc nhà vô địch châu Âu năm 2007 không được thi đấu ở giải đấu cao nhất châu lục năm tiếp theo. Còn tại Cúp quốc gia, Milan còn bị đội bóng yếu thế hơn Catania đánh bại 2-1 ngay tại thành phố Milan và bị cầm hòa 1-1 tại trận lượt về.
Mùa giải 2008-09, về đích ở vị trí thứ 3 tại Serie A, bị Lazio loại ở Cúp quốc gia trong trận thua 1-2 trên sân nhà và bị loại sớm ở vòng 2 UEFA Cup bởi luật bàn thắng trên sân khách trước Werder Bremen, AC Milan đã kết thúc một mùa giải tệ hại nữa với sự xáo trộn lớn khi người đội trưởng lâu năm của họ là Paolo Maldini tuyên bố giải nghệ trong khi huấn luyện viên Ancelotti bị sa thải và sau đó ngôi sao lớn nhất của họ, Kaká rời đội bóng để chuyển tới Real Madrid với giá chuyển nhượng 67,2 triệu euro. Thay thế cho Ancelotti trong vị trí huấn luyện viên là Leonardo, một cựu cầu thủ của Milan và là người trước đó chưa từng có kinh nghiệm huấn luyện chuyên nghiệp.
=== Từ năm 2009 đến nay ===
Mùa giải 2009-10 chứng kiến Milan thi đấu mà không còn sự phục vụ của hậu vệ huyền thoại Paolo Maldini, đồng thời cho thấy một hệ thống phòng thủ tệ hại khi thiếu vắng người đội trưởng đồng thời là nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại nặng nề của Milan trước đối thủ cùng thành phố Inter Milan. Ở vòng 2 dù cả hai đều được thi đấu tại San Siro, Milan với tư cách là chủ nhà, nhưng đội bóng của huấn luyện viên Leonardo đã thảm bại 0-4, trận đấu có thể cho là đã định đoạt ngay từ hiệp 1 khi Milan đã bị thủng lưới đến 3 bàn, ngoài ra trong trận đấu đó có 1 chiếc thẻ đỏ của tiền vệ Gennaro Gattuso. Còn trận lượt về, Milan thất thủ 0-2, và sau đó đứng nhìn nửa xanh thành Milano nâng cao chức vô địch lần thứ 18, qua đó chính thức bị Inter vượt mặt về số lần đoạt Scudetto. Tại Cup quốc gia, Milan cũng bị Udinese loại ngay tại San Siro với trận thua 0-1. Còn ở đấu trường châu Âu, mặc dù vượt qua vòng bảng, nhưng Rossoneri không thể tiến vào giải sâu hơn khi đối thủ tại vòng 1/16 của họ là Manchester United. Kết quả Milan bị đội bóng đến từ nước Anh đả bại với tổng tỉ số 7-2, trong đó có thật bại nặng nề 0-4 tại Old Trafford. Vào cuối mùa giải, huấn luyện viên Leonardo từ chức thay thế ông là Massimiliano Allegri.
Năm 2010 là sự chuyển biến tích cực của câu lạc bộ AC Milan, câu lạc bộ đã đoạt được chức vô địch Serie A mùa giải 2010-11, chấm dứt sự thống trị của Inter Milan trong những năm gần đây. Rossoneri vượt qua đối thủ cùng thành phố trong cả 2 lượt trận với tỉ số lần lượt 1-0 và 3-0 rồi băng về đích với 6 điểm hơn chính Inter Milan, đội bóng xếp thứ 2. Tại Coppa Italia, nửa đỏ Milano cũng lọt vào trận bán kết, đối thủ của Milan là câu lạc bộ Palermo. Nhiều người kì vọng Milan tiến đến trận đấu cuối cùng để tạo thành 1 trận derby Milano, nhưng không như kì vọng, Palermo đã cho thấy họ là đội bóng kỵ rơ của Milan ở Cúp quốc gia khi khiến Milan thua 1-2 và bị loại. Còn ở châu Âu, Milan xuất sắc lọt qua vòng bảng, bảng đấu có sự góp mặt của Real Madrid, nhưng cũng như mùa giải trước, Milan dừng chân trước câu lạc bộ đến từ Anh và lần này là Tottenham ở vòng 1/16 với tổng tỉ số 0-1 khi thua 0-1 lượt đi diễn ra trên sân nhà và hòa 0-0 lượt về khi không thể tìm được đường vào khung thành đối phương. Dù thế, câu lạc bộ vẫn có 1 mùa giải trọn vẹn cùng Scudetto lần thứ 18, cân bằng thành tích với Inter Milan.
Mùa giải 2011-12, Milan mở đầu bằng trận tranh Siêu Cup Italia với màn lội ngược dòng trước kình địch Inter với tỉ số 2-1. Nhưng tại Serie A, Milan không thể tiếp tục bảo vệ ngôi vô địch khi bị Juventus bỏ xa về điểm số để rồi thua Inter với tỉ số 2-4 trong trận Derby Milano lượt về đã biến Milan trở thành cựu vương. Ở Cup châu Âu, Milan xuất sắc vượt qua vòng bảng, và chỉ xếp sau Barcelona. Vòng 1/16 Milan gặp lại Arsenal, đối thủ đã biến họ thành cựu vương năm 2008. Kết quả lượt đi AC Milan đã phục thù thành công khi đánh bại câu lạc bộ của Anh với tỉ số đậm 4-0, dù lượt về với hàng thủ lỏng lẻo đã để thua 0-3 nhưng Milan vẫn là đội đi tiếp. Trận tứ kết Milan tiếp tục chạm trán Barca, một đối thủ cực kỳ kị rơ với đội bóng của Ý tại các vòng đấu loại Cúp châu Âu, dù để thua 1-3 trận lượt về để chính thức bị loại, nhưng trận lượt đi chứng kiến một phong độ cực kỳ ổn định như thời đỉnh cao của Alessandro Nesta khi anh phong tỏa thành công tiền đạo chủ lực Lionel Messi bên phía Barca. Sau đó mùa giải 2011-12 là một màn chia tay của các cận vệ già của Milan, nếu đầu mùa là tiền vệ kiến tạo Andrea Pirlo thì cuối mùa là những công thần đã thi đấu lâu năm cho Milan như Gennaro Gattuso, Filippo Inzaghi, Alessandro Nesta, Gianluca Zambrotta, Clarence Seedorf hay phải bán đi những cầu thủ quan trọng như Thiago Silva, Zlatan Ibrahimović cho Paris SG. Việc chia tay các công thần đã dẫn đến sự sa sút của Milan ở những mùa giải sau đó.
Mùa giải 2012-13, khi không còn các công thần trụ cột trong đội hình, Milan đã thực sự thi đấu bết bát, với việc không thể giữ lại trung vệ chủ chốt Thiago Silva ở lại sân San Siro, hàng thủ của họ trở nên lỏng lẽo, dễ dàng cho đối thủ của mình khai thác. Tại Serie A mùa giải này, trong 13 vòng đấu đầu tiên, Milan chỉ có thể giành được 4 chiến thắng, còn lại hòa và thua. Tại Cúp quốc gia, câu lạc bộ nhanh chóng rời giải khi thất bại 1-2 trước nhà đương kim vô địch Serie A, Juventus. Tuy nhiên mọi thứ sau đó đã mang lại chiều hướng tích cực cho Milan. Kể từ vòng 13 trở đi, Rossoneri chỉ để thua có 2 trận, sau đó là những chiến thắng quan trọng để bứt tốc xếp vị trí thứ 3 chung cuộc sau mùa giải, đủ để giành vé tham dự Champions League mùa sau. Còn tại Cúp châu Âu mùa giải năm ấy, Milan cũng lọt vào vòng 1/16, và gặp lại Barcelona một lần nữa. Tưởng rằng các cầu thủ Milan có thể phá được cái dớp luôn bị Barcelona loại ở vòng đấu trực tiếp sau khi họ đánh bại gã khổng lồ xứ Catalan 2-0 tại trận lượt đi bằng lối chơi phòng ngự phản công, thậm chí các cầu thủ Milan đã chuẩn bị ăn mừng chiến thắng trong lần đầu loại được Barca thì tại trận lượt về trên đất Tây Ban Nha, AC Milan đã bất ngờ thảm bại 0-4 sau đó thua chung cuộc 2-4 và đành rời khỏi giải. Mặc dù vẫn được dự Champions League mùa sau, nhưng đây là một mùa giải đầy những vấn đề cần khắc phục khi các công thần ra quyết định ra đi.
Mùa giải 2013-14 được coi là mùa giải cuối cùng của Allegri trên cương vị huấn luyện viên trưởng của AC Milan. Milan đã có một mùa giải không thể tệ hơn khi họ xếp ở vị trí thứ 8, đồng nghĩa với việc không thể tham dự Cúp châu Âu vào mùa giải sang năm. vào ngày 12 tháng 1 năm 2014, sau trận thua 3-4 trước Sassuolo, ban lãnh đạo của Milan đã quyết định sa thải huấn luyện viên Allegri, thay thế ông là cựu cầu thủ của Milan, huấn luyện viên tạm quyền Mauro Tassotti và sau đó vài ngày bổ nhiệm Clarence Seedorf là huấn luyện viên chính thức của câu lạc bộ. Nhưng Seedorf cũng không thể giúp tình hình khá hơn. Tại Cúp châu Âu, để có thể góp mặt vào vòng đấu bảng, Milan phải tham dự trận đấu Play-off gặp các cầu thủ PSV của Hà Lan. Trận lượt đi kết thúc với tỉ số hòa 1-1 và tại San Siro, Milan đã giành thắng lợi 3-0 để tham dự vòng bảng Champions League. Sau đó họ xếp thứ 2 chung cuộc sau 6 lượt trận vòng bảng. Tại vòng Knock-out, AC Milan gặp một đối thủ đến từ Tây Ban Nha khác là Atletico Madrid ở vòng 1/16. Kết quả họ đã để thua cả hai lượt trận lần lượt với tỉ số 0-1 và 1-4, qua đó rời giải với tổng tỉ số 1-5. Không đáp ứng được yêu cầu của ban lãnh đạo, sau khi mùa giải kết thúc, Clarence Seedorf phải ra đi, và thay thế cho ông là một cựu cầu thủ khác của Milan, Filippo Inzaghi.
Mùa giải 2014-15, năm Filippo Inzaghi lên làm huấn luyện viên và tiếp quản công việc tại Milan, kết quả cũng không khác là mấy, thậm chí tệ hơn. Câu lạc bộ chỉ về đích thứ 10 ở Serie A dẫn đến năm thứ 2 liên tiếp không được tham dự Cúp châu Âu. Tại mùa giải ấy, Milan còn không thể giành chiến thắng trước những đối thủ kình địch như Inter Milan, Juventus, Napoli hay Fiorentina. Còn tại Cúp quốc gia, câu lạc bộ còn bị Lazio loại ngay trên sân nhà. Cùng chung số phận như Seedorf, cuối mùa giải Inzaghi cũng phải rời khỏi Milan do không đáp ứng nhu cầu. Thay thế ông là Sinisa Mihajlovic.
Mùa giải 2015-16, ban lãnh đạo Milan đã quyết định chi tiền mạnh tay vào thị trường chuyển nhượng nhằm đem lại chiều hướng tích cực cho đội bóng. Hơn 80 triệu euro được tung ra để mang về các tân binh, trong đó có tiền đạo Carlos Bacca, cầu thủ giúp Sevilla lên ngôi vô địch Europa League trong những mùa giải gần đây. Tuy nhiên nỗi thất vọng của đội bóng Đỏ đen thành Milan lại kéo dài đến mùa giải thứ 3. Trong khi đối thủ cùng thành phố Inter Milan liên tục giành vé dự cúp châu Âu, thì họ lại ngụp lặng ở giữa bảng xếp hạng Serie A. Vào ngày 12 tháng 4 năm 2016, Mihajlovic bị sa thải, thay thế ông là huấn luyện viên tạm quyền Brocchi. Năm ấy AC Milan về đích với vị trí thứ 7 chung cuộc và năm thứ 3 liên tiếp vắng mặt ở Cúp châu Âu. Còn tại Cúp quốc gia, Milan đã lọt vào đến trận chung kết gặp Juventus trước khi thất bại 0-1 sau 120 phút thi đấu. Đây cũng được xem là một mùa giải thất bại nữa, tuy nhiên di sản mà Mihajlovic để lại cho đội bóng chính là một phát hiện mới, thủ môn trẻ đầy tiềm năng Gianluigi Donnarumma.
Mùa giải 2016-17, AC Milan đã quyết định bổ nhiệm Vicenzo Montella lên làm huấn luyện viên trưởng của câu lạc bộ AC Milan. Cũng như những mùa giải trước đó, phong độ của AC Milan tại Serie A là rất bất thường. Mùa giải này tài năng trẻ Donnarumma đã trở thành thủ môn chính của đội mặc dù anh chỉ mới 18 tuổi. Anh đã tỏa sáng với những pha cứu thua trong chiến thắng 1-0 trước Juventus. Tại trận tranh siêu cúp Ý gặp chính Juventus, Donnarumma đã xuất sắc cản phá thành công pha đá luân lưu của Dybala bên phía Juve, qua đó góp công lớn đem về danh hiệu Siêu cúp cho Milan, đó cũng là danh hiệu đầu tiên của Montella và là danh hiệu duy nhất trong 5 năm qua Milan đạt được.
== Tóm tắt hoạt động ==
== Màu sắc và trang phục ==
=== Logo, linh vật và nhà tài trợ ===
Trong suốt lịch sử hoạt động, hai màu chủ đạo của Milan luôn là đỏ (rosso) và đen (nero). Theo Herbert Kilpin thì hai màu này được chọn vì chúng tiêu biểu cho ngọn lửa của những con quỷ Milan (đỏ) và nỗi khiếp sợ của các đối thủ (đen). Trang phục thi đấu của đội bóng là áo sọc đỏ đen, quần sóc và tất đen trắng, đây là lý do vì sao các cầu thủ Milan có biệt danh rossoneri (số nhiều của rossonero - đỏ đen). Trang phục sân khách của Milan là áo, quần và tất màu trắng, đây được coi là bộ trang phục may mắn của Milan khi đội đã chiến thắng tới 6 trong số 8 trận chung kết Cúp vô địch châu Âu (chỉ thua hai lần trước Ajax và Liverpool). Bộ trang phục thi đấu thứ ba được thay đổi màu sắc theo mùa bóng, ví dụ mùa 2008-2009 là màu đen, tuy nhiên bộ quần áo này ít khi được sử dụng.
Trong nhiều năm, biểu trưng của câu lạc bộ chỉ đơn giản là lá cờ trắng với chữ thập đỏ, biểu tượng của thành phố Milano. Từ màu sắc của câu lạc bộ mà Milan còn một biệt danh nữa là Il Diavolo (Quỷ đỏ) vì vậy đôi khi đội bóng còn lấy biểu tượng là hình ảnh con quỷ màu đỏ bên cạnh một ngôi sao vàng, dấu hiệu riêng của những đội có trên 10 chức vô địch Ý. Biểu trưng hiện tại của câu lạc bộ là huy hiệu hình bầu dục gồm sọc đỏ đen bên trái, cờ Milano bên phải, phía trên là ba chữ viết tắt ACM còn phía dưới là năm thành lập 1899.
Từ ngày 16 tháng 2 năm 2006, Milan có linh vật (mascot) chính thức được hãng Warner Bros thiết kế, đó là một con quỷ đỏ mặc bộ trang phục truyền thống của câu lạc bộ AC Milan với sọc đỏ và đen, và một quả bóng, tên của linh vật này là Milanello, nhằm thể hiện sự tri ân, kính trọng của câu lạc bộ với sự đóng góp, công đào tạo nên các cầu thủ trẻ cho đội hình 1 của Milan của trung tâm thể thao Milanello.
== Sân nhà ==
Sân vận động mà Inter thi đấu được gọi là Stadio Giuseppe Meazza, cũng được biết đến với tên San Siro (sân này ở trong quận "San Siro"). Sân được xây dựng vào tháng 12 năm 1925 theo mong muốn của Piero Pirelli, chủ tịch AC Milan. Sân được khánh thành vào ngày 19 tháng 9 sau 1 năm khởi công, và mở màn là 1 trận Derby Milano, trận đấu đã kết thúc với tỷ số 6-3 nghiêng về Milan. Hội đồng thành phố Milan mua lại SVĐ vào năm 1935, và 4 năm sau nó được nâng cấp thêm 15.000 chỗ ngồi. Đội tuyển Anh là những khách mời danh dự cho buổi ra mắt sân sau khi sửa chữa vào ngày 13/5/1939.
Trước đây nó chỉ được biết đến với cái tên San Siro, tên mới được đặt vào năm 1980 sau khi Giuseppe Meazza qua đời. Meazza là một cầu thủ nổi tiếng của Internazionale trong thập niên 1930 và cũng đã từng thi đấu cho A.C. Milan trong một thời gian ngắn. Với vai trò là một cầu thủ, ông đã giành hai chức vô địch World Cup khi khoác áo tuyển Ý (vào các năm 1934 và 1938), cùng với Giovanni Ferrari trở thành một trong hai cầu thủ Ý duy nhất đoạt chức vô địch FIFA World Cup hai lần. Ông nhận được sự tôn kính của những Interisti (người hâm mộ Inter) và rất được kính trọng bởi một trong những sân vận động nổi tiếng nhất trên thế giới mang tên ông. Vào năm 1955, sân được mở rộng lên đến 50,000 chỗ ngồi, hiện nay sân có sức chứa 80,074 chỗ và là sân nhà của cả Internazionale và A.C. Milan.
Inter trở thành đồng sở hữu sân với Milan vào năm 1947, và hai đội vẫn chung “nhà” kể từ đó cho tới nay. Một thập kỷ sau ngày Nerazzurri giành nửa quyền sở hữu San Siro, các bộ đèn pha được lắp đặt để phục vụ các trận đấu thuộc đấu trường châu Âu. Một số trận đấu, người ta thống kê có tới 100.000 đèn pha được sử dụng. Trước đó, dưới thời Ambrosiana-Inter, đội có sân nhà là sân Arena Civica, với sức chứa 30.000 chỗ. Cấu trúc của SVĐ ngày nay đã được làm mới. Để chuẩn bị cho World Cup 1990, tầng 3 khán đài đã được xây thêm, nâng tổng sức chứa của sân lên 87.500 chỗ, đồng thời tất cả khán đài được lắp ghế. 11 tòa tháp bên ngoài sân được bổ sung năm 1987, 4 trong số đó nằm ở 4 góc để nâng đỡ mái che. Tuy nhiên, do kể từ đó tới nay Giuseppe Meazza chưa nhận được sự đầu tư nào đáng kể, sân đã bắt đầu xuống cấp. Milan tính toán rằng 60% những chấn thương của mùa 2011/12 đến từ những trận đấu tại đây, buộc họ tính tới phương án thay mặt sân. Inter đồng ý, và rồi công ty Desso của Hà Lan được thuê để phủ một lớp cỏ mới lên sân, vào tháng 6 năm 2012. Công đoạn này khiến 2 đội bóng tốn 200.000 bảng.
Vào năm 2016, sân được chọn để đăng cai tổ chức trận chung kết UEFA Champions League năm 2016. Giuseppe Meazza là sân vận động được tiêu chuẩn UEFA đánh giá là một trong nhũng sân vận động ưu tú bậc nhất châu Âu. Năm 2020 với kế hoạch tự xây 1 sân mới của AC Milan, thì sân Giuseppe Meazza sẽ được nhường toàn quyền sở hữu cho Inter Milan.
== Thương hiệu ==
Với những thành công đoạt được trong mùa giải 2006-07, thương hiệu AC Milan đang ngày một phát triển. Nó được thể hiện qua những con số thống kê mà các nhà kinh tế của Milan vừa đưa ra. Kế hoạch quảng cáo hình ảnh AC Milan cho mùa bóng 2007-08 đã được giới thiệu trong cuộc họp báo được tổ chức ngày 4 tháng 6 năm 2007.
Thời gian gần ấy, thành công của Milan không chỉ đơn thuần dừng lại ở khía cạnh thể thao, Rossoneri còn đạt được những bước tiến vượt bậc trong khía cạnh quảng bá hình ảnh của mình trên toàn cầu. Nó thể hiện qua các số liệu thống kê về lượng khán giả theo dõi đội bóng này trên truyền hình. Ở Ý thống kê khoảng 1.204 giờ theo dõi trung bình, tăng 20,30% so với mùa bóng 2005-06. Trên thế giới đã có 1.804 giờ theo dõi trung bình, tăng 199,3% nếu so sánh với năm ngoái. Đặc biệt đáng chú ý là sự bùng nổ ở Châu Á, lượng người đăng ký theo dõi AC Milan cả mùa giải năm 2006-07 tăng 17,05%, và Châu Âu tăng 9,86%. Đó là những thống kê được đem đến nhờ nghiên cứu của nhóm Krc Research, và được tài trợ bởi MasterCard, bởi sau chiến thắng 2-1 trước Liverpool ở trận chung kết Champions League diễn ra ở Athens, Milan đã lọt vào danh sách 10 CLB hàng đầu thế giới của tạp chí Forbes.
Internet đã trở thành một công cụ hữu hiệu để Milan giao lưu cùng với hàng triệu NHM khắp toàn cầu. Rất nhiều người đang truy cập vào website trang chủ của câu lạc bộ: Acmilan.com, thông qua 6 thứ tiếng khác nhau và đem lại một con số cực kì ấn tượng trong thời gian gần đây nhất. Hai ngày trước và sau trận Chung kết UEFA Champions League 2007 là ngày 23 và 24 tháng 5 năm 2007, lượng truy cập lần lượt là 3.890.000 và 8.218.000 lượt người. Trong khi đó thường ngày chỉ đạt 318.000 đến 418.000 lượt. Còn trận Chung kết Champions League 2005, các con số này lần lượt chỉ là 1.165.654 ngày diễn ra trận đấu, và 2.031.469 lượt truy cập cho ngày kế sau đó. Qua các con số thống kê trên, dễ nhận thấy chỉ sau 2 năm lượng khán giả theo dõi Milan trên toàn cầu tăng đột biến.
Trong mùa giải 2006-07, Milan đã cung cấp cho những nhà quảng cáo, các công ty hợp tác, những nhà tài trợ gần 1000 giờ truyền hình, tương đương với một giá trị khoảng 125 triệu euro (168 triệu USD). Mùa giải năm sau chúng tôi sẽ cho áp dụng tiến bộ mới tại San Siro - công nghệ quảng cáo dùng Flash. Một lô-gô sẽ được xuất hiện chỉ trong vòng 1 giây, rồi sau đó cứ như thế hơn 300 lần trong suốt một trận đấu. Milan còn đi đầu trên thế giới trong tổ chức quốc tế của phong trào Trại Thể thao với hơn 10.000 em nhỏ sẽ tham gia vào chương trình của mùa hè 2007 tại 100 địa điểm khác nhau của nước Ý và 40 địa điểm trên khắp các Châu lục, từ Châu Âu, Hoa Kỳ, Châu Đại Dương, đến Châu Á. Trong khi đó, Milan cũng ngày càng rút ra được nhiều thuận lợi hơn trong mối quan hệ với nhóm Gruppo Intesa Sanpaolo (một khối liên doanh các ngân hàng tiềm năng nhất Trung và Đông Âu), bởi CLB là một đối tượng hợp tác chiến lược tại Đông Âu.
== Cổ động viên ==
Theo kết quả một cuộc thăm dò do tổ chức thống kê Demos thực hiện và đăng trên tờ La Repubblica ngày 20 tháng 8 năm 2008 thì A.C. Milan là câu lạc bộ bóng đá được yêu thích thứ ba ở Ý. Theo đó có 13,6% cổ động viên Ý ủng hộ Milan so với 32,5% của Juventus và 14% của Inter. Theo một cuộc thăm dò khác tiến hành tháng 7 năm 2007 do viện thăm dò Renato Mannheimer (Ispo) thực hiện và kết quả được đăng trên tờ La Gazzetta dello Sport thì Milan chiếm 12,4% cổ động viên Ý, xếp sau Juventus với 17,4% nhưng xếp trên Inter với 11%. Ở cấp độ châu lục, theo một thống kê năm 2008 của tờ Sport+Markt thì Milan là câu lạc bộ có đông cổ động viên thứ 5 ở châu Âu và đứng đầu trong số các câu lạc bộ Ý.
Trong nửa đầu thế kỷ 20, cổ động viên Milan thường xuất thân từ tầng lớp lao động và là người gốc miền Nam nước Ý hoặc vùng Tre Venezie. Vì vậy mà cổ động viên của đội Inter đối thủ chính thường gọi họ theo tiếng địa phương Milanese là "Casciavìt" (tương đương "cacciavite" trong tiếng Ý có nghĩa "cái tuốc-nơ-vít") với ý chê bai nguồn gốc xuất thân của cổ động viên Milan. Để đáp trả, các cổ động viên Milan (tifosi rossoneri) gọi các cổ động viên Inter là "baùscia", trong tiếng địa phương có nghĩa là "gã khoác lác" nhằm chê bai đối thủ vốn phần lớn là người Milano gốc và có xuất thân từ tầng lớp cao của xã hội. Cho tới thập niên 1960 thì sự khác biệt về xuất thân này dần bị xóa nhòa và những biệt danh các cổ động viên gọi nhau dần trở nên lỗi thời và không còn ý nghĩa.
Nhóm cổ động viên cuồng nhiệt (ultras) lâu đời nhất của bóng đá Ý là nhóm Fossa dei Leoni chuyên cổ vũ cho A.C. Milan được thành lập từ năm 1968 ở Milano. Tới năm 2005 thì nhóm này giải tán vì vậy nhóm ultras lớn nhất của Milan hiện là Brigate Rossonere vốn được thành lập từ giữa thập niên 1970. Các nhóm cổ động viên của Milan thường không bộc lộ khuynh hướng về chính trị, báo chí thường cho rằng các nhóm cổ động viên này trước kia thiên tả vì xuất thân truyền thống của họ và gần đây lại chuyển sang thiên hữu vì chủ tịch Milan nhiều năm kiêm thủ tướng Ý Silvio Berlusconi là một nhà chính trị trung hữu.
Các nhóm kết nghĩa truyền thống của cổ động viên Milan là cổ động viên Brescia và Reggina. Trong thời gian gần đây cổ động viên Milan còn một nhóm kết nghĩa mới đến từ Sevilla xuất phát từ những cử chỉ đẹp của cầu thủ và cổ động viên hai đội trong trận tranh Siêu cúp châu Âu năm 2007 vốn diễn ra ngay sau cái chết bất ngờ trên sân cỏ của Antonio Puerta, tiền vệ Sevilla. Trước kia Milan còn một số nhóm cổ động viên kết nghĩa khác đến từ Bologna và Como, tuy vậy quan hệ này hiện không còn được duy trì vì nhiều lý do, trong đó có sự tan rã của nhóm cổ động viên Como Fossa Lariana.
Cũng giống như trên sân cỏ, các nhóm cổ động viên đối thủ chính của Milan là cổ động viên đến từ Inter, Juventus hay Genoa trong đó đối thủ lớn nhất và lâu đời nhất là các nhóm cổ động viên của Inter. Các trận đối đầu của hai đội bóng được mệnh danh là Derby della Madonnina, bắt nguồn từ bức tượng Madonna có tên Madonnina đặt trên đỉnh nhà thờ Duomo di Milano, đây đều là những trận đấu hết sức căng thẳng và quyết liệt cả bên trong và bên ngoài sân cỏ. Mặc dù trong thời gian gần đây Milan và Juventus có nhiều quan hệ qua lại nhưng cổ động viên hai đội vẫn luôn ở thế đối đầu. Cổ động viên Genoa trước kia từng có quan hệ tốt với cổ động viên Milan, tuy vậy kể từ đầu thập niên 1980 sau nhiều vụ va chạm, cổ động viên Genoa cũng bắt đầu quay sang đối địch với cổ động viên Milan.
Ngoài các đổi thủ chính, cổ động viên Milan còn có va chạm với cổ động viên một số câu lạc bộ khác như Napoli, Verona, Lazio, Atalanta, Roma Fiorentina, Sampdoria và Cagliari.
Người hâm mộ câu lạc bộ AC Milan nổi tiếng nhất ở Ý trong giới bình luận là Tiziano Crudeli, ông là là bình luận viên thể thao nổi tiếng ở Italy, đồng thời cũng là một fan cuồng của AC Milan từ năm 1987. Mỗi khi các cầu thủ của AC Milan ghi bàn trong giờ phút quyết định, hay những trận đấu đầy cảm xúc, Crudeli luôn gào thét lên ăn mừng ngay tại phòng làm việc. Ngoài ra còn có nam diễn viên người Ý và là nhà biên kịch Diego Abantuono, tác giả của nhiều trích dẫn về thành phố Milan. Những người ủng hộ khác câu lạc bộ Milan từ ngành công nghiệp điện ảnh là: diễn viên hài Ý, Teo Teocoli và nữ diễn viên Tây Ban Nha, Natalia Estrada.
Trong số các chính trị gia đang cổ vũ cho Milan không thể thiếu Silvio Berlusconi, ông cũng chính là chủ tịch danh dự của câu lạc bộ, cựu Thủ tướng Ý và nhà lãnh đạo của đảng Forza Italia, cùng với Roberto Maroni của Liên đoàn Bắc, một cựu bộ trưởng phúc lợi xã hội. Milan cũng là câu lạc bộ ưa thích của một người theo bên phe đối lập, đối thủ Đảng Cộng sản của ông Berlusconi, Fausto Bertinotti. Milan cũng là câu lạc bộ ưa thích của ca sĩ Anh, Robbie Williams, tay vợt xuất sắc của thế kỷ XXI, Novak Djokovic, cũng như các ông trùm thời trang Renzo Rosso.
== Trụ sở ==
Casa Milan, trụ sở mới của CLB đã chính thức được công bố trong một buổi lễ long trọng vào ngày 3 tháng 4 năm 2014. Casa Milan có diện tích 9000 mét vuông, do kiến trúc sư Fabio Novembre thiết kế. Nó được xây trên khu đất do con gái cựu chủ tịch Milan, Silvio Berlusconi là cô Barbara Berlusconi chọn như một phần trong kế hoạch lớn nhằm thay đổi toàn diện CLB của Lady B. Trụ sở này sẽ kết hợp với sân vận động mới sắp xây dựng tạo thành một khu phức hợp giải trí thể thao hàng đầu thế giới trong tương lai.
Tòa building được kết hợp hài hòa giữa những thiết kế theo kiểu "sọc" trên nền 2 màu đỏ đen với khoảng 3000 mét vuông dành cho các văn phòng. Diện tích còn lại được chia đều cho các công trình khác.
Trong trụ sở chính mới Casa Milan bao gồm bảo tàng Milan (Milan World Museum) với diện tích rộng 1000 mét vuông, trưng bày toàn bộ thông tin về bề dày 114 năm lịch sử của CLB. Các CĐV sẽ lần lượt được đi qua: Gallery of Champions (thông tin và hình ảnh những cầu thủ từng thi đấu cho CLB), The Golden Ball (vinh danh những cầu thủ xuất sắc nhất trong màu áo CLB), Trophy Room (nơi trưng bày các cúp và danh hiệu CLB đã dành được). Toàn bộ bảo tàng được xây dựng để tương tác với người xem, nhờ những công nghệ mới nhất của Google. Ngoài ra, các hoạt động và trò chơi trong bảo tàng được thiết kế cho mọi lứa tuổi, từ trẻ em đến người lớn.
Bên cạnh đó còn có cửa hàng thể thao Milan Store rộng 450 mét vuông, mở cửa từ 10 giờ sáng đến 8h tối. Tại đây sẽ có những vật phẩm và sách đặc biệt về câu lạc bộ AC Milan sẽ không thể tìm thấy tại bất kỳ cửa hàng nào trên toàn thế giới. Phòng bán vé tọa lạc ngay cạnh và có cùng giờ mở cửa với Milan Store, nơi các cổ động viên có thể mua vé vào xem bất kỳ trận đấu nào của câu lạc bộ.
Khu ẩm thực Cucina Milanello (Milanello Cuisine) rộng 450 mét vuông, mở cửa từ 8 giờ sáng đến 12h đêm. Phục vụ đầy đủ từ bữa sáng, bữa trưa cho đến bữa tối với rất nhiều màn ảnh rộng để các CĐV có thể thưởng thức các trận đấu của CLB cũng như các sự kiện thể thao nổi tiêng khác. Đặc biệt, toàn bộ các món ăn tại đây đều được thiết kế bởi những đầu bếp nổi tiếng đang phục vụ cho đội một, đảm bảo sự ngon miệng cũng như cân bằng dinh dưỡng. Bên ngoài là quảng trường Milan rộng đến 2500 mét vuông, là nơi rộng nhất và quan trọng nhất của Casa Milan. Đây là khu vực gặp mặt của các fan, tổ chức ăn mừng và các sự kiện lớn như giới thiệu ngôi sao mới, các buổi giao lưu với fan hâm mộ...
Mặt ngoài tòa nhà văn phòng tại Casa Milan là một màn hình khổng lồ sẽ liên tuc trình chiếu các hình ảnh về CLB. Riêng trong dịp World Cup, các CĐV có thể dễ dàng thưởng thức các trận đấu tại đây. Toàn bộ khuôn viên trụ sở được trang bị Wifi miễn phí với tốc độ cao nhằm tạo điệu kiện tốt nhất cho các nhân viên cũng như CĐV.
Casa Milan được thiết kế "mở" nhằm tạo điều kiện để mở rộng cũng như thêm vào các dịch vụ mới trong tương lai.
== Trung tâm thể thao Milanello ==
Trung tâm thể thao Milanello, thường được gọi ngắn gọn là Milanello, là cơ sở đào tạo riêng của câu lạc bộ Associazione Calcio Milan. Được xây dựng vào năm 1963, trung tâm rộng khoảng 160.000 mét vuông, bao gồm một cây bạch kim và một cái hồ nhỏ. Nó nằm giữa các thị trấn Carnago, Cassano Magnago và Cairate, thuộc tỉnh Varese, cách Milan khoảng 40 km về phía tây bắc.
Milanello là một tài sản quan trọng không chỉ cho câu lạc bộ Milan, mà còn cho cả hệ thống bóng đá của nước Ý. Đây thực sự vốn là mong muốn theo đuổi của Andrea Rizzoli, người đã quyết định đề xuất xây dựng trung tâm thể thao Milanello. Các cơ sở của Milanello thường được sử dụng bởi Liên đoàn bóng đá Ý để chuẩn bị giải đấu quan trọng của đội tuyển quốc gia Ý, chẳng hạn như giải vô địch châu Âu vào năm 1988, 1996 và 2000.
Tại Milanello, có 6 sân cỏ thường, 1 sân cỏ tổng hợp, sân có độ phủ và sân ngoài cỏ trời nhỏ thường được các cầu thủ Milan gọi là sân lồng bởi vì xung quanh sân được bao quanh bởi các hàng rào cao 2,5 m. Lối đi là một con đường chạy qua khu rừng dài 1200 m ở các độ cao khác nhau được sử dụng trong suốt mùa giải để tập thể lực cho các cầu thủ (chạy và đạp xe) và phục hồi những cầu thủ bị chấn thương. Tòa nhà chính của trung tâm là tòa nhà hai tầng (cộng với tầng hầm) để lưu trữ văn phòng, phòng họp mặt của các cầu thủ, phòng truyền thông, phòng bơi, quầy bar, nhà bếp, hai phòng ăn, phòng báo chí, phòng họp, phòng giặt, phòng ủi và trung tâm y tế. Bên cạnh tòa nhà chính là khu ký túc xá, nơi được xây dựng dành cho các cầu thủ trẻ sinh hoạt.
== Kình địch ==
=== Ở Italia ===
==== Derby della Madonnina ====
Đối thủ cùng thành phố của Milan là câu lạc bộ Inter Milan, và trận đấu giữa hai đội thường được gọi là "Derby della Madonnina". Tên của trận derby đề cập đến Đức Trinh Nữ Maria, bức tượng trên đỉnh Nhà thờ Milan là một trong những điểm thu hút chính của thành phố. Các trận derby Milano luôn được xem là những cuộc đối đầu kinh điển nhất trong làng bóng đá thế giới.
Derby thành Milano được diễn ra ít nhất 2 lần trong năm, có khi được mở rộng đến Coppa Italia, hay các Cup châu Âu. Trong giữa những năm 1960, Inter là câu lạc bộ thành công hơn, khi giành được cúp châu Âu hai lần liên tiếp còn thời gian cuối những năm 1980 và 1990, Milan của Silvio Berlusconi là đội chiếm ưu thế hơn, với nhiều chiến thắng cả ở Ý và ở đấu trường châu Âu. Lần gần nhất 2 đội gặp nhau, Milan đã giành chiến thắng trước Inter với tỉ số 3-0 tại Serie A mùa giải 2015-16. Còn ở Cup châu Âu, mùa giải 2002-03 Milan và Inter đã đụng nhau tại bán kết, sau trận lượt đi hòa 0-0, lượt về 2 đội tiếp tục hòa 1-1, Milan là đội đi tiếp nhờ luật bàn thằng trên sân khách. Cũng tại Cup châu Âu mùa giải 2004-05, tại vòng tứ kết lại diễn ra 2 trận Derby Milano, lượt đi Milan đã giành chiến thắng với tỉ số 2-0, còn ở trận lượt về Milan dẫn trước 1-0 nhờ bàn thắng của tiền đạo Andriy Shevchenko, nhưng tới phút 72 trận đấu phải bị hoãn lại do các cổ động viên Inter bạo động tấn công cầu thủ Milan, trong đó có thủ môn Dida, sau đó UEFA đã xử Milan thắng 3-0 qua đó giành quyền vào vòng bán kết với tổng tỉ số 5-0.
Milan và Inter còn cho thấy sự khác biệt đối nhau ở phong cách chuyển nhượng, nếu Inter luôn đem về những cầu thủ Nam Mỹ thì Milan lại ưu tiên phát triển các tài năng trẻ của bóng đá Ý giống như Juventus. Trên sân cỏ còn có những cuộc đối đầu cá nhân như giữa Paolo Maldini-Javier Zanetti hay đáng nói nhất là anh em nhà Baresi, Franco của Milan và Giuseppe của Inter.
==== Cạnh tranh với Juventus ====
Ngoài những trận đấu Derby nội bộ thành Milan, CLB AC Milan cũng có một sự cạnh tranh mạnh mẽ với Juventus. Tuy nhiên khác hẳn với trận Derby d'Italia giữa Juve cùng với đối thủ cùng thành phố Milan là Inter, thì những trận đấu giữa Juve và Milan có phần nhẹ nhàng và ít khốc liệt hơn.
Ở Ý có câu nói "Milan sinh ra để thống trị châu Âu, Juve sinh ra để thống trị Serie A", cho nên đây cũng là trận đấu giữa 1 đội bóng giàu truyền thống ở Serie A và 1 đội bóng có bề dày lịch sử châu Âu nhất ở Ý. Đó cũng là cuộc đối đầu giữa 2 gia đình Agnelli và Berlusconi, đồng thời cũng chủ sở hữu của 2 đội trong thời gian dài.
Trong quá khứ, Milan đã đối đầu Juve 163 trận tính riêng ở Serie A, họ đã thắng 50 và hòa 53 trận, thành tích tốt nhất khi đối đầu với Juventus là chiến thắng 8-1 dành cho đội bóng đỏ đen thành Milan diễn ra vào năm 1912. Lần gần nhất Milan có 3 điểm trước Juve là tại mùa giải 2016-17 trong trận lượt đi tại sân vận động San Siro, cầu thủ trẻ Manuel Locatelli đã ghi bàn thắng duy nhất vào lưới của Buffon, qua đó giúp Milan giành chiến thắng 1-0. Ở giải cup quốc gia, lần gần nhất là trận chung kết Coppa Italia mùa 2015-16, Milan và Juve đã đối đầu nhau trên Sân vận động Olimpico, trận đấu kết thúc với chiến thắng của Juve. Tại một đấu trường khác dành cho các câu lạc bộ của Ý là Siêu Cúp Quốc gia, lần gần nhất Milan gặp Juve là vào cuối năm 2016, trận tranh Siêu Cúp diễn ra trên đất Qatar, Giorgio Chiellini là người đánh đầu mở tỉ số cho Juve trước khi Bonaventura cân bằng tỉ số 1-1 cho Milan. Sau 120 phút hòa 1-1, Milan đã đánh bại Juve 4-3 trận chấm luân lưu nhờ công của thủ môn bên phía Milan là Gianluigi Donnarumma cản phá thành công lượt sút của Paulo Dybala bên phía Juve.
Còn ở Cup châu Âu, năm 2003 Milan và Juve đã gặp nhau ở trận chung kết, trải qua 120 phút với tỷ số hòa 0-0, 2 đội đã phải phân định thắng thua trên loạt sút luân lưu. Lần lượt 3 cầu thủ David Trezeguet, Paolo Montero và Marcelo Zalayeta bên phía Juve sút hỏng, tiền đạo Andriy Shevchenko đã tận dụng thành công lượt sút của mình đánh bại thủ môn Gianluigi Buffon phía đối diện để giúp AC Milan giành chiến thắng, qua đó đoạt được danh hiệu vô địch châu Âu lần thứ 6. Đó cũng là lần duy nhất mà Milan gặp Juve tại một trận chung kết Cúp châu Âu tính đến thời điểm này.
Ngoài ra tại Seria A, AC Milan còn có những đối thủ cạnh tranh khác như Napoli, AS Roma, Fiorentina và Lazio.
=== Cup châu Âu ===
Đối thủ của AC Milan ở đấu trường quốc tế là câu lạc bộ của Tây Ban Nha, Barcelona, hai đội đã gặp nhau tổng cộng 19 lần, là cặp đấu kinh điển xếp thứ hai tại đấu trường châu Âu chỉ sau Bayern Munich - Real Madrid (22 lần). Barca và Milan đều là hai trong số những câu lạc bộ thành công nhất, Milan đã giành được bảy cúp châu Âu trong khi Barca là năm, cả hai câu lạc bộ đang nắm giữ kỷ lục: năm lần đoạt siêu cúp châu Âu.
Thành tích đối đầu Barca nhỉnh hơn với tám trận thắng và năm thất bại. Cuộc đối đầu đầu tiên giữa hai câu lạc bộ là trong mùa giải 1959-1960 tại Cup châu Âu. Họ đối mặt ở vòng 1/16 và Barça giành chiến thắng với tổng tỉ số là 7-1 (2-0 tại Milan và 5-1 tại Barcelona). Trong khi AC Milan chưa bao giờ loại được Barcelona tại các Cúp châu Âu, lần duy nhất họ đánh bại Barca tại một trận đấu không nằm trong khuôn khổ vòng bảng là trận chung kết năm 1994, khi ấy Dream Team của huyền thoại Johan Cruyff đã thất thủ 0-4. Năm 2013, Barcelona đã có một trận lội ngược dòng lịch sử. Khi ấy Barca đã thua ở lượt đi 0-2 nhưng vẫn giành quyền vào vòng đấu tiếp theo khi đả bại Milan lượt về đến 4-0.
Ngoài ra AC Milan cũng hay đụng độ với Bayern Munich, Real Madrid, Manchester United và Liverpool. Đối với Bayern, 2 đội đã gặp nhau tại vòng 1/16 Cup châu Âu mùa giải 2005-06, lượt đi 2 đội hòa nhau 1-1 tại Munich, còn ở trận lượt về chứng kiến màn vùi dập của Milan trước câu lạc bộ của Đức với tỉ số 4-1. Một năm sau, 2 đội lại chạm trán nhau ở vòng tử kết, mặc dù đã để Bayern cầm hòa 2-2 tại San Siro, nhưng Milan lại thi đấu cực kỳ hay qua đó đánh bại Bayern ngay trên sân Allianz Arena với 2 pha lập công của Clarence Seedorf và Filippo Inzaghi.
AC Milan cũng đã đối đầu với 2 câu lạc bộ nổi tiếng khác là Real Madrid với 15 lần và Manchester United với 10 lần gặp nhau. Với Real Madrid, họ đã đối đầu nhau tổng cộng 15 lần ở các giải Châu Âu, với thành tích cân bằng thắng 6 cho cả 2 và hòa 3 trận. Tỷ số cách biệt nhất là vào mùa giải 1988-89, khi ấy tại trận bán kết lượt về, AC Milan đã đè bẹp Real Madrid với tỷ số 5-0.
Với Man Utd, thành tích cân bằng với 5 trận thắng cho mỗi bên, năm 1958 Milan đã đánh bại Man Utd với tỷ số 4-0, và năm 2010, Man Utd đã đánh bại Milan với tỷ số tương tự, đó cũng là trận đấu có cách biệt lớn nhất.
Còn Liverpool, Milan và Liverpool đã gặp nhau tại chung kết Cup châu Âu năm 2005, đó là đêm huyền diệu tại Istanbul đối với The Kop nhưng là cơn ác mộng không thể quên của Milan. Milan đã sớm vượt lên dẫn trước 3-0 trong hiệp 1 nhưng sang hiệp 2 tỉ sổ đã là 3-3. Trên chấm luân lưu, tiền đạo Shevchenko đá hỏng quả quyết định qua đó dẫn đến thất bại của Milan. Hai năm sau Milan và Liverpool lại đụng nhau ở chung kết Cup châu Âu năm 2007, nhưng lần này Milan đã giành chiến thắng với tỉ số 2-1 nhờ cú đúp của Inzaghi, đó là lần gần nhất Milan vô địch châu Âu.
== Đội hình hiện tại ==
=== Đội hình chính thức ===
Số liệu thống kê chính xác tới 19 tháng 10 năm 2016.
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Cầu thủ cho mượn ===
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Cầu thủ đồng sở hữu ===
Sau đây là những cầu thủ đã được chuyển giao cho một đội khác, nhưng Milan vẫn giữ lại quyền tham gia (tức là 50% của quyền sở hữu) hợp đồng của họ. Để biết thêm thông tin chi tiết, xem: Đồng sở hữu (Bóng đá).
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Đội tuyển trẻ ==
Tuyến trẻ (settore giovanile) của Milan bao gồm nhiều đội bóng ở các lứa tuổi trẻ thi đấu cho các giải Primavera (U-20 hạng nhất), Campionato Berretti (U-20 hạng C), Allievi Nazionali và Allievi Regionali (U-16), Giovanissimi Nazionali, Giovanissimi Regionali và hạng C (U-15), Esordienti (thiếu niên) và Pulcini (thiếu nhi). Milan còn có 5 trường dạy bóng đá (Scuole Calcio) tại Milano và nhiều cơ sở hợp tác đào tạo bóng đá trẻ khác. Tất cả các đội trẻ của Milan đều tập luyện tại trung tâm thể thao Vismara thuộc khu Gratosoglio của Milano, duy nhất đội Primavera được tập luyện cùng đội hình 1 của Milan tại trung tâm thể thao Milanello.
Theo một nghiên cứu do FIGC tiến hành trên 6 cường quốc bóng đá chính ở châu Âu là Pháp, Đức, Anh, Ý, Hà Lan và Tây Ban Nha thì Milan là câu lạc bộ đứng thứ hai ở Ý (sau Atalanta) và đứng thứ 7 ở châu Âu về số lượng cầu thủ ở đội 1 tự đào tạo từ tuyến trẻ. Bất chấp thực tế này cùng việc có nhiều ngôi sao của A.C. Milan xuất thân từ chính lò đào tạo của câu lạc bộ (từ Lodetti tới Baresi rồi Maldini), Milan mới chỉ một lần duy nhất giành chức vô địch Campionato Primavera (Giải vô địch bóng đá trẻ Ý) vào mùa 1964-1965 và một Coppa Italia Primavera (Cúp vô địch bóng đá trẻ Ý) vào mùa 1984-1985. Tuy vậy ở một giải đấu quan trọng của bóng đá trẻ châu Âu là Torneo di Viareggio thì đội trẻ Milan đang cùng đội trẻ Fiorentina nắm kỷ lục về số lần vô địch với mỗi đội 8 lần.
== Thành viên nổi bật ==
=== Số áo vinh danh ===
Hiện tại A.C. Milan đã ngừng sử dụng 2 số áo đó là số 3 và số 6, để vinh danh các cầu thủ:
3 - Paolo Maldini (giai đoạn 1985-2009)*
6 - Franco Baresi (giai đoạn 1978-1997)
(*): Chiếc áo số 3 sẽ được trao cho con của Maldini trong trường hợp họ chơi cho câu lạc bộ.
=== Phòng danh dự ===
Phòng danh dự (Hall of fame) trên trang web chính thức của câu lạc bộ hiện ghi danh 54 thành viên nổi bật trong lịch sử câu lạc bộ, trong đó có 51 cầu thủ, 3 huấn luyện viên (Nereo Rocco, Arrigo Sacchi và Giuseppe Viani) cùng 3 người vừa là cầu thủ rồi sau đó là huấn luyện viên của A.C. Milan:
=== Đội trưởng ===
Đã có 38 cầu thủ đeo băng đội trưởng (capitano) của A.C. Milan trong đó có 3 người đeo băng đội trưởng ở nhiều giai đoạn khác nhau là Giuseppe Bonizzoni, Giuseppe Antonini và Gianni Rivera:
=== Cầu thủ vô địch thế giới ===
Đã có 10 cầu thủ từng vô địch thế giới trong thời gian khoác áo A.C. Milan, trừ Marcel Desailly (vô địch thế giới cùng đội tuyển Pháp) và Roque Júnior (vô địch thế giới cùng Brasil), các cầu thủ còn lại đều vô địch thế giới khi khoác áo đội tuyển Ý:
=== Cầu thủ vô địch châu lục ===
==== châu Âu ====
Đã có 7 cầu thủ từng vô địch châu Âu trong thời gian khoác áo A.C. Milan, trừ Ruud Gullit và Marco van Basten vô địch châu Âu cùng Hà Lan, các cầu thủ còn lại đều vô địch châu Âu cùng đội tuyển Ý năm 1968:
==== Nam Mỹ ====
Cầu thủ duy nhất từng vô địch Cúp bóng đá Nam Mỹ trong thời gian khoác áo A.C. Milan là Serginho, Serginho vô địch Nam Mỹ cùng Brasil tại Cúp bóng đá Nam Mỹ 1999.
=== Cúp Liên đoàn các châu lục ===
Đã có 4 cầu thủ Brasil từng vô địch Cúp Confederations FIFA trong thời gian họ khoác áo A.C. Milan, đó là Leonardo (năm 1997), Dida (năm 2005), Kaká (năm 2005 và năm 2009), và Alexandre Pato (năm 2009)
== Lãnh đạo ==
Dưới đây là danh sách các huấn luyện viên (allenatore) và chủ tịch câu lạc bộ (presidente) của A.C. Milan kể từ ngày thành lập:
Ngoài Alfred Edwards ra, các đời chủ tịch của A.C. Milan đều là những người Italy
== Thống kê và thành tích ==
=== Thống kê ===
Kể từ ngày thành lập A.C. Milan đã tham gia 103 mùa giải thể thao chính thức cấp quốc gia Ý trong đó có 98 mùa ở cấp cao nhất của giải bóng đá Ý (75 mùa Serie A, 14 mùa Hạng nhất - Prima Categoria, 5 mùa Giải hạng nhất - Prima Divisione và 4 mùa Hạng quốc gia - Divisione Nazionale) và 2 mùa ở cấp thứ hai của giải bóng đá Ý (Serie B), có 3 mùa A.C. Milan không vượt qua được vòng bảng của vùng Lombardia (1905, 1909 và 1913-1914). Tổng cộng A.C. Milan đã 18 lần vô địch mùa giải, ngoài ra câu lạc bộ đứng thứ nhì 15 lần, đứng thứ ba 21 lần tức là tỉ lệ đứng trên bục nhận giải (nhóm 3 đội dẫn đầu) của A.C. Milan trong 103 mùa là 51%. Trận thắng đậm nhất của A.C. Milan ở sân nhà là trước Audax Modena với tỉ số 13-0 vào ngày 4 tháng 10 năm 1914, kỷ lục này ở sân khách là trận thắng Ausonia 10-0 ngày 21 tháng 10 năm 1919. Trận thua đậm nhất của A.C. Milan trên sân nhà là trận thua 0-8 trước Bologna vào ngày 5 tháng 11 năm 1922, ba trận thua trên sân khách đậm nhất của câu lạc bộ là 2-8 trước Juventus vào ngày 10 tháng 7 năm 1927, 0-6 cũng trước Juventus vào ngày 25 tháng 10 năm 1925 và 0-6 trước Ajax ở Siêu cúp châu Âu vào ngày 16 tháng 1 năm 1974.
Hai đối thủ truyền thống của A.C. Milan là Juventus (201 lần đối đầu), Inter (199 lần đối đầu) và Torino (188 lần đối đầu). Tại giải vô địch quốc gia Ý, Juventus là câu lạc bộ gặp A.C. Milan nhiều lần nhất với 180 trận trong đó trận đấu chính thức đầu tiên là vào ngày 28 tháng 4 năm 1901 tại Torino. Tại giải quốc gia Milan có tỉ lệ thắng phần lớn cao hơn các đối thủ khác trừ ba ngoại lệ là Juventus (Milan thắng 61, thua 70), Alessandria (thắng 15 và thua 16) và Pro Vercelli (thắng 13 và thua 14).
Ở Serie A, A.C. Milan đang giữ một số kỉ lục như chuỗi trận không thua liên tiếp dài nhất (58 trận), đứng đầu nhiều vòng liên tiếp nhất (72 vòng đấu từ 6 tháng 10 năm 1991 tới 31 tháng 10 năm 1993), có chiến thắng lớn nhất trên sân khách (thắng Genoa 0-8 mùa 1954-1955, ngang bằng tỉ số trận Venezia-Padova 0-8 mùa 1949-1950), có nhiều cầu thủ giành danh hiệu vua phá lưới nhất (16 lần) và có thủ môn giữ kỷ lục về thời gian không để lọt lưới liên tiếp (Sebastiano Rossi với 929 phút vào mùa giải Serie A 1993-1994).
Trong lịch sử Serie A thì A.C. Milan là đội duy nhất từng vô địch mà không thua một trận đấu nào trong suốt mùa giải. Đó là vào mùa giải 1991-1992 khi đội bóng của huấn luyện viên Fabio Capello trải qua 34 vòng đấu đã thắng 22 trận, hòa 12 trận, ghi được 74 bàn và chỉ để thủng lưới 21 bàn. Trước đó từng có một câu lạc bộ khác không thua trận nào trong mùa giải Serie A, đó là Perugia vào mùa giải 1978-1979, tuy nhiên câu lạc bộ này chỉ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ hai còn đội vô địch năm đó lại chính là A.C. Milan.
Tại Cúp quốc gia Ý A.C. Milan đã tham dự 12 trận chung kết và giành chiến thắng 5 lần. Câu lạc bộ cũng chiến thắng 5 lần trong tổng số 8 lần tham gia Siêu cúp Ý. Trong số các câu lạc bộ bóng đá Ý, chỉ có Juventus có số trận chung kết cúp cấp quốc gia của Ý ngang bằng A.C. Milan, Juventus từng tham gia 13 trận chung kết Cúp quốc gia và 7 trận chung kết Siêu cúp Ý.
Ở tầm quốc tế, A.C. Milan cùng Boca Juniors là hai câu lạc bộ có nhiều danh hiệu quốc tế nhất với 18 danh hiệu, A.C. Milan đã giành được tổng cộng 7 chức Vô địch châu Âu, 2 Cúp các đội đoạt cúp, 5 Siêu cúp châu Âu, 3 Cúp Liên lục địa và 1 chức Vô địch các câu lạc bộ thế giới. Câu lạc bộ đã tham gia tổng cộng 29 trận chung kết ở các giải đấu quốc tế, một kỷ lục, với 11 trận chung kết Giải vô địch châu Âu (thắng 7), 3 trận chung kết Cúp các đội đoạt cúp các quốc gia châu Âu (thắng 2) 7 trận chung kết Siêu cúp châu Âu (thắng 5) và 8 trận chung kết Cúp Liên lục địa/Giải vô địch thế giới các câu lạc bộ (thắng 4). Trong số này, A.C. Milan vào 2 trận chung kết ở mùa giải 1993-1994 (gặp Parma ở Siêu cúp châu Âu và San Paolo ở Cúp Liên lục địa) là do được UEFA cử thay thế câu lạc bộ vô địch Giải vô địch châu Âu mùa 1992-1993 là Olympique de Marseille vừa bị kỷ luật do gian lận ở giải vô địch Pháp.
Đối thủ quốc tế truyền thống của A.C. Milan là hai câu lạc bộ Tây Ban Nha Real Madrid và Barcellona (11 lần đối đầu), tiếp đến là Ajax cùng Bayern München (10 lần đối đầu) và Porto (9 lần đối đầu).
Xét các con số thống kê cá nhân thì cầu thủ khoác áo A.C. Milan nhiều lần nhất là Paolo Maldini với 902 trận chính thức trong 25 mùa giải từ 1984 đến 2009, sau Maldini lần lượt là Franco Baresi (719 trận, 20 mùa giải), Alessandro Costacurta (663 trận, 21 mùa giải), Gianni Rivera (658 trận, 19 mùa giải) và Mauro Tassotti (583 trận, 17 mùa giải). Vua phá lưới mọi thời đại của A.C. Milan là tiền đạo người Thụy Điển Gunnar Nordahl với 221 bàn trong 8 mùa giải, tiếp đến là Andriy Shevchenko với 175 bàn trong 8 mùa giải, Gianni Rivera với 164 bàn trong 19 mùa giải, José Altafini với 161 bàn trong 7 mùa giải và Aldo Boffi với 136 bàn trong 9 mùa giải.
== Thành tích chính ==
Milan là một trong những câu lạc bộ thành công nhất tại Ý, đã giành tổng cộng 29 danh hiệu lớn, và là một trong những câu lạc bộ thành công nhất trên thế giới về danh hiệu quốc tế cho đến tháng 2 năm 2014. Milan bây giờ là câu lạc bộ thứ ba thành công nhất sau Real Madrid và Al Ahly với kỷ lục 14 danh hiệu châu Âu và bốn danh hiệu thế giới. Milan đã giành được quyền đặt một ngôi sao trên áo với biểu trưng công nhận rằng họ đã giành được hơn mười Scudetto. Ngoài ra, câu lạc bộ được vĩnh viễn được in một huy hiệu đại diện cho người chiến thắng trên áo khi đã giành được nhiều hơn năm chức vô địch cúp châu Âu.
==== Danh hiệu chính thức ====
Quốc gia
32 danh hiệu
Vô địch quốc gia Ý: 18
1900-01, 1905-06, 1906-07, 1950-51, 1954-55, 1956-57, 1958-59, 1961-62, 1967-68, 1978-79
1987-88, 1991-92, 1992-93, 1993-94, 1995-96, 1998-99, 2003-04, 2010-11
Cúp quốc gia Ý: 5
1966-67, 1971-72, 1972-73, 1976-77, 2002-03
Siêu cúp quốc gia Ý: 7
1988, 1992, 1993, 1994, 2004, 2011, 2016
Giải hạng nhì quốc gia Ý: 2
1980–81, 1982–83
Quốc tế
18 danh hiệu
UEFA Champions League/Cúp C1: 7
1962-63, 1968-69, 1988-89, 1989-90, 1993-94, 2002-03, 2006-07
UEFA Cup Winners' Cup/Cúp C2: 2
1967-68, 1972-73
UEFA Super Cup/Siêu cúp bóng đá châu Âu: 5
1989; 1990; 1994; 2003; 2007
Vô địch Cúp Liên lục địa: 3
1969; 1989; 1990
Cúp vô địch thế giới các câu lạc bộ: 1
2007
=== Chuyển nhượng ===
Không chi tiền nhiều để mang những ngôi sao hào nhoáng về đội hình như Barcelona hay Real Madrid, chiến lược của AC Milan dưới thời Silvio Berlusconi là thường đem về những cầu thủ không phải cầu thủ trẻ, đang ở phong độ đỉnh cao và đã khẳng định bản thân nhưng tuổi ở mức xế chiều với mức giá phù hợp với doanh thu. Khi họ cần một sự trở lại để lấy lại vị thế trên các đấu trường tham dự, lúc ấy Milan sẽ chi tiền để mua một ngôi sao thực sự có tài năng đã được khẳng định.
Sau khi Berlusconi mua lại Milan vào năm 1986, một năm sau đó ông quyết định công cuộc tái thiết lại Milan từ những bản hợp động mà sau này người ta nhận định đó là những bản hợp đồng sáng suốt nhất. Vào năm 1987, nhận thấy tài năng của bộ đôi cầu thủ người Hà Lan, Ruud Gullit và Marco van Basten, ông chủ của câu lạc bộ đỏ đen thành Milan đã quyết định thâu tóm bộ đôi cầu thủ này từ PSV và Ajax Amsterdam về sân San Siro. Quả thật một năm sau đó, chính bộ đôi này giúp Hà Lan vô địch châu Âu năm 1988. Ngay sau Giải vô địch châu Âu năm ấy, Berlusconi đã mang về một nhà vô địch châu Âu khác là Frank Rijkaard, từ đó cụm từ “Bộ ba Hà Lan” ra đời. Ruud Gullit, Marco van Basten và Frank Rijkaard đã đóng góp rất lớn vào lối chơi chung của Milan khi giúp câu lạc bộ có 4 lần vô địch Serie A liên tiếp, và 2 chức vô địch châu Âu vào các năm 1989 và 1990.
Vào năm 1992, Jean-Pierre Papin khi ấy đang thi đấu cho câu lạc bộ Marseille, anh đã 5 lần liên tiếp đoạt ngôi Vua phá lưới tại giải vô địch quốc gia Pháp từ năm 1987 đến 1992, thành tích này đã lọt vào tầm ngắm của ông chủ câu lạc bộ Milan. Mùa hè năm 1992, Berlusconi quyết định bỏ ra khoản tiền 12 triệu euro, mức giá kỉ lục thế giới thời ấy để đem Jean-Pierre Papin về Milan để chơi bóng. Trong năm đầu tiên Papin đã đưa Milan lọt vào trận chung kết Cúp châu Âu gặp đội bóng cũ Marseille, khi ấy Milan đã để thua 0-1. Nhưng anh đã đóng góp giúp đội bóng này vô địch Serie A trong 2 năm liên tiếp 1993 và 1994. Mùa giải cuối cùng tại Milan, Papin đã cùng đồng đội vô địch châu Âu sau khi đánh bại Barcelona khi ấy đang rất mạnh với tỉ số 4-0.
Vào mùa giải 1997-98, cả châu Âu sững sờ khi gã khổng lồ Barcelona bị Dynamo Kyiv đả bại tới 0-4 ngay tại Camp Nou, và càng bất ngờ hơn khi cầu thủ lập một hattrick trong thắng lợi của đội bóng Đông Âu mới chỉ bước sang tuổi 21. Người ta ngỡ tưởng như đó chỉ một một phút xuất thần của Shevchenko, nhưng chỉ một năm sau, cũng tại đấu trường Champions League, Shevchenko lại tạo nên một cơn địa chấn khác khi nã 3 bàn vào lưới Real Madrid. Và rồi sau đó, Milan đã quyết định chi khoản tiền 25 triệu USD để mang anh về sân San Siro. Sau này chính pha đá luân lưu thành công của Shevchenko đã đưa Milan lần thứ 6 lên đỉnh châu Âu.
Khi Fatih Terim nhận thấy sơ đồ của ông thiếu một nhạc trưởng thực sự, ban lãnh đạo Milan đã chi ra một số tiền lớn khoản 50 triệu euro để mang về cậu học trò cũ của ông, tiền vệ Rui Costa từ Fiorentina. Thương vụ này mang tính cải cách của Milan bởi Rui Costa khi ấy đã 29 tuổi nhưng Milan vẫn bỏ ra số tiền lớn để mang anh về khẳng định tham vọng của họ. Sau này khi Ancelotti lên nắm quyền, trong sơ đồ cây thông 4-3-2-1 nổi tiếng của ông, Rui Costa nắm vai trò chủ chốt trong hàng tiền vệ 3 người. Ngoài việc chi một số tiền lớn đem về những ngôi sao vực dậy đội bóng, Milan rất biết cách tận dụng những thương vụ mua về những cầu thủ không hợp với triết lý chiến thuật của đội bóng chủ quản nhưng có thể thích hợp vận hành với triết lý của mình. Điển hình cho cách mua bán thông minh này là tiền vệ Andrea Pirlo khi anh này không thể tỏa sáng tại Inter Milan. Khi ấy Berlusconi đã mang anh về Milan với giá tương đương khoảng 15 triệu euro, một cái giá quá rẻ đối với một tiền vệ vận hành lối chơi cho cả AC Milan và đội tuyển Ý. Phong cách mua cầu thủ mang thương hiệu Berlusconi còn được thể hiện qua bản hợp đồng Filippo Inzaghi. Mặc dù đã 28 tuổi, cái tuổi gần xế chiều cho một tiền đạo, nhưng với bản năng ghi bàn và phá bẫy việt vị, ban lãnh đạo Milan đã mua Inzaghi về San Siro với giá 29 triệu euro. Với cú đúp vào lưới Liverpool của Inzaghi vào năm 2007, Milan đã lần thứ 7 lên ngôi vô địch châu Âu.
Bóng đá Ý vốn nổi tiếng bởi các hậu vệ và nghệ thuật phòng ngự, nên vấn đề hàng thủ cũng được Berlusconi chăm chút. Ông đã chi ra đến hơn 30 triệu euro để lấy đi hậu vệ tốt nhất của câu lạc bộ Lazio, trung vệ Alessandro Nesta. Kết hợp cùng với cầu thủ do chính câu lạc bộ đào tạo Paolo Maldini, cả hai đều trở thành trung tâm hàng phòng ngự cho cả Milan lẫn tuyển Ý. Cùng với Maldini, Nesta đã giúp Milan vô địch châu Âu vào năm 2003, mùa giải đầu tiên mà anh khoác lên mình màu áo của Rossoneri.
Tuy nhiên kể từ sau chức vô địch châu Âu gần nhất vào năm 2007, Milan đã sa sút dần, thành tích tại Serie A cũng như tại Champions League của họ dường như bết bát, cùng với việc Ancelotti không còn dẫn dắt đội bóng nữa, điều này đã khiến cho Milan mất dần vị thế của một ông lớn, kéo theo những khoản nợ khó lấp, dẫn đến thiếu tiền trong việc đầu tư chuyển nhượng. Milan khi đó chỉ có thể mua một số cầu thủ đã gần bên kia sườn dốc sự nghiệp, nhưng có thương hiệu để vựt dậy giá trị đội bóng. Cụ thể như Ronaldinho từ Barcelona với giá 21 triệu euro khi anh này không còn chỗ đứng tại Nou Camp dưới thời Pep Guardiola. Ngoài ra còn có David Beckham dưới dạng cho mượn vào năm 2009. Mùa giải 2010-11, trải qua 3 mùa giải trắng tay không có danh hiệu trước đó, Milan đã mượn tiền đạo Zlatan Ibrahimovic của Barca, ngay lập tức cầu thủ này liền tỏa sáng trong màu áo đỏ đen. Anh góp công lớn giúp Milan có được chức vô địch Scudetto lần thứ 18. Nhận ra tài năng của cầu thủ đã 29 tuổi này, ban lãnh đạo Milan đã quyết định mua đứt anh từ Barca với giá 24 triệu euro. Sau đó Ibra còn giúp Rossoneri có thêm một danh hiệu nữa là Siêu Cúp Ý năm 2012.
Mùa giải 2015-16, lần đầu tiên sau 4 năm chi tiêu dè dặt, ban lãnh đạo Milan đã quyết định đổ vào hơn 80 triệu euro để đầu tư đội bóng. Carlos Bacca, tiền đạo chủ công giúp Sevilla vô địch Europa League đã về với sân San Siro, cùng với 2 cầu thủ tiềm năng khác của bóng đá Ý là Alessio Romagnoli và Andrea Bertolacci. Mặc dù bộ ba này không giúp được cho Milan có danh hiệu sau một khoảng thời gian dài, nhưng với sự đóng góp lối chơi chung và cải thiện thành tích đã giúp đội bóng đỏ đen có chiếc Siêu cúp Ý sau khi đánh bại Juventus, đó là danh hiệu duy nhất trong 5 năm qua của Milan.
==== 10 bản hợp đồng mua về đắt giá nhất ====
==== 10 bản hợp đồng bán đi đắt giá nhất ====
=== Số liệu ===
==== Danh sách cầu thủ khoác áo nhiều nhất ====
==== Danh sách cầu thủ ghi bàn nhiều nhất ====
== Hoạt động ==
=== Công ty Milan ===
A.C. Milan hoạt động với tư cách một công ty thông qua tên đăng ký Associazione Calcio Milan S.p.A. với giá trị 48 triệu cổ phiếu, mỗi cổ phiếu có giá 52 cent. 99,92973% số lượng cổ phiếu do Fininvest Spa nắm giữ, đây là tập đoàn do gia đình Berlusconi nắm giữ. Với tư cách công ty con của Finivest, thua lỗ của Milan sẽ được Finivest bù đắp bởi lợi nhuận do các công ty con làm ăn phát đạt khác như nhà xuất bản Arnoldo Mondadori Editore mang lại.
Vào tháng 4 năm 2017, câu lạc bộ bóng đá AC Milan dưới triều đại ngài chủ tịch Silvio Berlusconi đã chính thức chấm dứt sau 31 năm. Berlusconi đã bán 99,93% cổ phần của Milan cho một chủ đầu tư là doanh nhân người Trung Quốc, ông Li Yonghong, người đứng đầu tập đoàn Rossoneri Sport Investment Lux. Vụ nhượng quyền sở hữu AC Milan cho chủ mới được chốt vào khoảng 740 triệu euro, đồng thời phải mất gần 2 năm đàm phán thì các bên mới tìm được tiếng nói chung. Như vậy, cựu Thủ tướng Silvio Berlusconi lúc này không còn sở hữu đội bóng được ví như đứa con tinh thần suốt ba thập niên qua nữa. Tiến trình đàm phán nhượng quyền sở hữu AC Milan cho giới chủ Trung Quốc bắt đầu vào tháng 5 năm 2016, tuy nhiên hai lần bị tạm hoãn vì những rắc rối liên quan đến tài chính. Sau cùng, thông tin chính thức mới được CLB đưa ra. Bản cam kết giữa hai bên gồm nhiều điều khoản kèm theo như tăng ngân sách hoạt động của đội bóng, bơm tiền phục vụ kế hoạch mua sắm của CLB và xây dựng nền tảng tài chính vững mạnh.
Hội đồng quản trị của công ty Milan gồm:
Chủ tịch: Li Yonghong
Phó chủ tịch kiêm giám đốc điều hành: Marco Fassone
Thành viên khác:
Lu Bo
Roberto Cappelli
David Han Li
Xu Renshuo
Paolo Scaroni
==== Ban huấn luyện ====
Associazione Calcio Milan S.p.A. là công ty nắm 100% vốn của Milan Entertainment Srl, Milan Real Estate Spa và Fondazione Milan Onlus. Ngoài ra công ty còn giữ 50% vốn của Consorzio San Siro Duemila, 45% của ASanSiro và một phần giá trị của câu lạc bộ bóng rổ Olimpia Milano. Milan Real Estate Spa là công ty quản lý một số bất động sản ở Turati 3 cũng như khu huấn luyện thể thao của A.C. Milan là Milanello. Consorzio San Siro Duemila là công ty quản lý sân Giuseppe Meazza với 50% vốn thuộc về Milan, một nửa còn lại do Inter nắm giữ. ASanSiro là một trung tâm phục vụ phát triển khu vực San Siro với 45% vốn thuộc về Milan, 45% thuộc về Inter và 10% thuộc về Fondazione ChiamaMilano (10%).
Kể từ năm 2008, công ty Milan bắt đầu tham gia giải đua ô tô Superleague Formula. Đây là một trong hai đội của Ý tham dự giải này, đội còn lại là A.S. Roma. Milan cùng Galatasaray đều hỗ trợ tài chính cho đội đua Scuderia Playteam. Tay đua của Milan ở đội này là Robert Doornbos, một tay lái trước kia từng tham gia đua Công thức 1. Trong mùa đua 2008, đội đua của Milan đã giành vị trí xuất phát (pole position) tại Nürburgring và chiến thắng ở hai chặng đua Nürburgring, Jerez.
=== Số liệu tài chính ===
Theo báo cáo tài chính năm 2008 thì công ty Milan đạt doanh thu 237,9 triệu euro với thua lỗ 66,8 triệu euro. Đây là năm thua lỗ thứ 2 liên tiếp của Milan khi năm 2007 câu lạc bộ này cũng lỗ 32 triệu euro. Năm 2006 với vụ chuyển nhượng Andriy Shevchenko sang Chelsea với giá 42 triệu euro, Milan kết thúc năm tài chính bằng khoản lãi 2,5 triệu euro.
Ngân sách năm 2007 của câu lạc bộ là 95.677.000 euro, năm 2006 con số này là 70.678.162 euro và 2005 là 72.946.400 euro. Lợi nhuận năm 2007 của câu lạc bộ là 275.442.000 euro với hai nguồn chính là 56,5% đến từ tiền bản quyền truyền hình (khoảng 155 triệu euro, 73,8 triệu từ SKY Italia, 27,5 triệu từ R.T.I. và 48,3 triệu từ UEFA và FIFA) và 12,2% đến từ các nhà tài trợ (33,7 triệu, 14,2 triệu từ BETandWIN.com Interactive Entertainment AG và 14 triệu từ Adidas Italia Srl). Từ năm 2004 đến 2007 báo cáo tài chính của A.C. Milan do hãng Deloitte & Touche kiểm toán, từ năm 2008 tới năm 2016 công ty phụ trách kiểm toán cho A.C. Milan là Reconta Ernst & Young Spa.
=== Hoạt động nhân đạo ===
Bên cạnh lĩnh vực kinh doanh, Milan còn là một câu lạc bộ tham gia tích cực vào các hoạt động nhân đạo. Câu lạc bộ đã cho thành lập quỹ Fondazione Milan Onlus, quỹ này hoạt động ở cả Ý và nước ngoài với mục tiêu hỗ trợ giáo dục, thể thao và các dịch vụ xã hội cho người nghèo. Fondazione Milan Onlus cũng hợp tác với quỹ Fundação Gol de Letra, được thành lập bởi cựu cầu thủ Milan là Leonardo, để giúp đỡ trẻ em Brasil là nạn nhân của tệ nạn buôn bán ma túy.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của A.C. Milan
Số liệu thống kê về AC Milan |
tứ đại phát minh.txt | Tứ đại phát minh (四大发明) của người Trung Quốc gồm la bàn, thuốc súng, nghề làm giấy và nghề in
Kim chỉ nam xuất hiện từ thời Chiến Quốc, dùng nam châm thiên nhiên mài giũa mà thành và được đặt trên một địa bàn hình vuông. Bốn xung quanh địa bàn có 24 hướng, tức là 8 căn Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh,Tân, Nhâm, Quý và 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Thềm có 4 duy: Càn, Khôn, Tốn, Cấn. Kim chỉ nam được gọi là La bàn từ thời đó. Lúc cân bằng mũi kim sẽ chỉ về phương Nam. Về sau cải tiến bằng cách từ hóa kim loại nhân tạo và không dùng nam châm thiên nhiên nữa. Ghi chép sử dụng kim chỉ nam trong hàng hải Trung Hoa sớm hơn phương Tây tới gần 100 năm. Kim chỉ nam của Trung Quốc bắt đầu truyền bá ra nước ngoài từ thời Tống, qua Ả Rập rồi tới châu Âu.
Người phát minh ra nghề làm giấy là hoạn quan Thái Luân. Ông dùng vỏ cây, sợi gai, vải rách… dùng để chế tạo ra giấy. Thực ra trước Thái Luân đã có nghề làm giấy ở Trung Quốc, có thể là từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên, sớm hơn Thái Luân tới 100 năm. Cho nên Thái Luân chỉ được coi là người có công cải tiến kỹ thuật làm giấy ở Trung Quốc. Vào thời Triều Tống, tiền giấy Giao Tử phát hành sớm nhất ở Trung Quốc. Thuốc nổ được phát minh ở Trung Quốc từ cách đây trên 1.000 năm. Đầu tiên là từ kali nitrát, diêm tiêu và than gỗ. Các nhà luyện đan triều Đường đã phát minh ra thuốc súng. Cuối triều Đường, đầu triều Tống lần đầu tiên thuốc nổ được dùng trong quân sự. Thời Bắc Tống đã có công binh xưởng tương đối lớn. Thuốc nổ Trung Quốc về sau được truyền qua Ấn Độ rồi sang Ả Rập, qua Tây Ban Nha rồi đến nhiều nước ở châu Âu.
== Tham khảo == |
chiến tranh nam tư.txt | Chiến tranh Nam Tư là một loạt các cuộc chiến tranh và nổi dậy dựa trên sắc tộc đã kéo dài từ năm 1991 đến năm 2001 bên trong lãnh thổ Nam Tư cũ. Những cuộc chiến tranh này đi cùng và / hoặc tạo điều kiện cho sự đổ vỡ của nhà nước Nam Tư, khi các nước cộng hòa cấu thành tuyên bố độc lập, nhưng các vấn đề của các dân tộc thiểu số ở các nước mới (chủ yếu là người Serbs, Croats và người Albania) vẫn chưa được giải quyết vào thời điểm nước cộng hòa được công nhận trên bình diện quốc tế. Các cuộc chiến thường được coi là một loạt các xung đột quân sự riêng biệt nhưng liên quan đã xảy ra, và bị ảnh hưởng, hầu hết các nước cộng hòa cũ của Nam Tư.
Các cuộc chiến tranh (với một số ngoại lệ) đã kết thúc thông qua các hiệp định hòa bình, liên quan đến sự công nhận quốc tế đầy đủ các quốc gia mới, nhưng với những thiệt hại kinh tế to lớn cho khu vực. Ban đầu, Quân đội Nhân dân Nam Tư (JNA) tìm cách bảo vệ sự thống nhất của toàn thể Nam Tư bằng cách đàn áp các chính phủ ly khai, nhưng ngày càng bị ảnh hưởng bởi chính phủ Slobodan Milošević của Serbia, điều này đã gợi lên những lời hùng biện chủ nghĩa dân tộc của Serbia và sẵn sàng ủng hộ nhà nước Nam Tư. Trong chừng mực sử dụng nó để duy trì sự thống nhất của người Serbua trong một tiểu bang. Kết quả là, JNA bắt đầu đánh mất những quân nhân người Slovenia, Croatia, Kosovo Albania, Bosnia và Macedonia, và đã trở thành một quân đội của Serb Theo báo cáo của Liên hợp quốc năm 1994, phía Serbia đã không nhằm khôi phục lại Nam Tư, nhưng để tạo ra một "đại Serbia" từ các vùng của Croatia và Bosnia. Các phong trào chống kỳ thị khác cũng đã được đưa vào cuộc chiến tranh, chẳng hạn như "Đại Albania" và "Đại Croatia"..
Thường được mô tả như là trận chiến đẫm máunhất châu Âu kể từ Thế chiến thứ hai, xung đột đã trở nên nổi tiếng với các tội ác chiến tranh, bao gồm thanh trừng sắc tộc, tội ác chống lại nhân loại và hãm hiếp. Đây là những cuộc xung đột đầu tiên của châu Âu kể từ Thế chiến II được chính thức đánh giá là có tính chất diệt chủng và nhiều thành viên chủ chốt quan trọng sau đó bị buộc tội vì tội ác chiến tranh. Toà án Hình sự Quốc tế cho Nam Tư cũ (ICTY) được LHQ thiết lập để truy tố những tội ác này.
Theo Trung tâm Quốc tế về Công lý Chuyển tiếp, cuộc chiến Nam Tư dẫn đến 140.000 thiệt mạng. Trung tâm Pháp luật Nhân đạo ước tính rằng trong các cuộc xung đột ở các nước cộng hòa cũ của Nam Tư, có ít nhất 130.000 người thiệt mạng.
== Tham khảo ==
Bản mẫu:Chiến tranh Nam Tư |
méxico.txt | Mê-hi-cô (tiếng Tây Ban Nha: México), còn gọi là Mê-xi-cô (cũng còn được viết là Mexico), Mễ Tây Cơ, tên chính thức là Hợp chúng quốc Mê-hi-cô (tiếng Tây Ban Nha: Estados Unidos Mexicanos), là một nước cộng hòa liên bang thuộc khu vực Bắc Mỹ. Mê-hi-cô là một quốc gia rộng lớn với diện tích gần 2 triệu km², đứng hàng thứ 14 trên thế giới và dân số khoảng 106 triệu người, đứng hàng thứ 11 trên thế giới . Nước này giáp với Hoa Kỳ về phía bắc, giáp với Guatemala và Belize về phía đông nam, giáp với Thái Bình Dương về phía tây và tây nam, giáp với vịnh Mê-hi-cô về phía đông.
Hợp chúng quốc Mê-hi-cô là quốc gia theo thể chế cộng hòa liên bang. Nước này có tổng cộng 31 bang và 1 quận thuộc liên bang là thành phố Mê-hi-cô, một trong những khu đô thị đông dân cư nhất trên thế giới.
México là một đất nước có thiên nhiên đa dạng và nền văn hóa vô cùng đặc sắc, mang ảnh hưởng của cả nền văn hóa bản địa truyền thống và văn hóa Tây Ban Nha. Nước này có số lượng người nói tiếng Tây Ban Nha cao nhất trên thế giới và tôn giáo chủ yếu tại đây là Công giáo Rôma.
Đất nước México là nơi ra đời của hai nền văn minh lớn của châu Mỹ là Maya và Aztec. Bắt đầu từ thế kỉ 16, México bị thực dân Tây Ban Nha đô hộ và đến năm 1810 thì tuyên bố độc lập và chính thức được công nhận vào năm 1821. México hiện nay là quốc gia Mỹ Latinh duy nhất nằm trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế. Nước này hiện là nền kinh tế lớn thứ 11 trên thế giới và có thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm trung bình cao. Kinh tế México có mối liên hệ chặt chẽ với Canada và Mỹ nhờ Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ. México còn là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế khác như Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới. Tuy được đánh giá là một trong những quốc gia đang lên và đóng vai trò quan trọng trong khu vực Mỹ Latinh, song México cũng gặp phải một số vấn đề khó khăn như sự bất bình đẳng trong thu nhập, nghèo đói và tình trạng bạo lực, buôn bán ma túy tại nhiều vùng của México.
== Tên gọi ==
Trong tiếng Tây Ban Nha, Mê-hi-cô có tên gọi là “México”. Từ này được phát âm là /ˈmexiko/ (Mê-khi-cô). Chữ “x” trong “México” trong tiếng Tây Ban Nha không được phát âm là /s/ giống như chữ “x” của tiếng Việt mà phát âm là /x/. Tiếng Việt cũng có âm /x/, trong tiếng Việt âm này được ghi bằng chữ ghép đôi “kh”. Tiếng Việt có hai tên phiên âm khác nhau dùng để chỉ nước México là “Mê-hi-cô” và “Mê-xi-cô”, trong đó “Mê-hi-cô” là gần giống với cách phát âm trong tiếng Tây Ban Nha của từ “México” nhất.
Tên gọi México bắt nguồn từ kinh đô của Đế chế Aztec vĩ đại với cái tên Mexico-Tenochtitlan, mà tên kinh đô này lại được đặt theo một tên gọi khác của dân tộc Aztec, dân tộc Mexica. Theo thần thoại Aztec cổ, một vị thần đã chỉ cho người dân bộ tộc địa điểm xây dựng kinh đô mới là nơi có một con đại bàng mang trong miệng một con rắn và đậu xuống cành cây xương rồng. Đó chính là một địa điểm nằm giữa hồ Texcoco và tại đó, người Aztec đã xây dựng nên một thành phố rộng lớn. Hình ảnh này được miêu tả trong trang đầu của cuốn kinh thư Mendoza, một cuốn sách kể về lịch sử của người Aztec và ngày nay xuất hiện trên quốc kỳ và quốc huy của México.
Tên chính thức của Mê-hi-cô là Hợp chúng quốc Mê-hi-cô (tiếng Tây Ban Nha: Estados Unidos Mexicanos). Lân bang phương bắc của Mê-hi-cô có tên chính thức là Hợp chúng quốc Mỹ (tiếng Tây Ban Nha: Estados Unidos de América). Mê-hi-cô cũng có Hợp chúng quốc trong tên chính thức là vì tên gọi chính thức của Mê-hi-cô đã được cố ý đặt phỏng theo tên gọi chính thức của nước Mỹ.
Tên gọi Hợp chúng quốc Mê-hi-cô được sử dụng lần đầu tiên trong bản hiến pháp của Mê-hi-cô năm 1824. Trước khi có tên gọi chính thức là Hợp chúng quốc Mê-hi-cô, nước này đã từng có một số tên gọi khác kể từ khi thành lập như Đế quốc Thứ nhất Mê-hi-cô, Đế quốc Thứ hai Mê-hi-cô, Cộng hòa Mê-hi-cô trước khi có tên gọi cuối cùng như ngày nay.
== Lịch sử ==
=== Thời kỳ Tiền Colombo ===
Dấu vết cổ xưa nhất về con người được tìm thấy tại thung lũng México là một bãi lửa trại được xác định có niên đại khoảng 21.000 năm trước. Trong hàng ngàn năm, người da đỏ ở México đã sinh sống như những cộng đồng chuyên về săn bắn. Khoảng 9.000 năm trước, họ đã bắt đầu canh tác ngô và khởi đầu một cuộc cách mạng trong nông nghiệp, dẫn đến sự thành lập hàng loạt những quốc gia có trình độ phát triển cao và đạt được nhiều thành tựu to lớn về nhiều mặt, tiêu biểu là các quốc gia của người Maya và người Aztec. Họ đã đạt được nhiều thành tựu lớn về chữ viết, toán học, thiên văn học, nghệ thuật và kiến trúc... Những công trình tiêu biểu cho các nền văn hóa tiền Colombo này là các kim tự tháp, tiêu biểu như quần thể kim tự tháp tại Chichen Itza. Đế chế Aztec đã xây dựng nên một quốc gia hùng mạnh với thủ đô đặt tại Tenochtitlan, nay là thành phố México.
Năm 1519, người Tây Ban Nha xâm lược các quốc gia của người da đỏ tại México. Năm 1521, thành phố Tenochtitlan bị chiếm đóng và phá hủy, đánh dấu sự chấm dứt của đế chế Aztec trên bản đồ thế giới. Người dân bản địa lần lượt bị bắt làm nô lệ hoặc bị tàn sát rất dã man, đồng thời bên cạnh đó là sự phá hủy vô cùng to lớn của người Tây Ban Nha đối với gia tài văn hóa truyền thống của họ. Năm 1535, Phó vương quốc Tân Tây Ban Nha được thành lập tại México và một số vùng lân cận. Đây là thuộc địa đầu tiên và lớn nhất của người Tây Ban Nha tại Tân thế giới và đã đem lại một nguồn của cải dồi dào cho chính quốc thông qua sự cướp bóc tài nguyên và nô lệ tại đây.
=== México giành độc lập ===
Gần 300 năm sau khi trở thành thuộc địa của Đế quốc Tây Ban Nha, vào năm 1810, một mục sư người México là Miguel Hidalgo y Costilla đã tuyên bố nền độc lập cho México. Tiếp theo đó là một cuộc chiến tranh kéo dài của nhân dân México chống lại quân đội Tây Ban Nha cho đến năm 1821, México chính thức giành được độc lập. Đế quốc Thứ nhất México được hình thành trong một thời gian ngắn ngủi, bao gồm toàn bộ lãnh thổ của nước México ngày nay, toàn bộ khu vực Trung Mỹ (trừ Panama và Belize), các bang miền tây và miền nam Hoa Kỳ (California, Nevada, Utah, Arizona, New Mexico, Texas). Agustin de Iturbide tự xưng là hoàng đế của Đế quốc Thứ nhất nhưng bị các lực lượng cộng hòa lật đổ hai năm sau đó. Các tỉnh ở Trung Mỹ tách ra độc lập năm 1823 và thành lập nên nước Cộng hòa Liên bang Trung Mỹ, nhưng về sau bị vỡ vụn ra nhiều quốc gia độc lập nhỏ hơn.
Bốn thập kỉ sau khi giành được quyền độc lập, đất nước México vẫn đầy các xung đột do sự đối đầu giữa những người tự do và bảo thủ tại nước này. Tướng Antonio Lopez de Santa Anna là một nhân vật có ảnh hưởng lớn đối với nền chính trị của México thời gian này. Năm 1836, ông thông qua Siete Leyes nhằm thể chế hóa chính phủ tập trung quyền lực tại México dẫn đến việc đình chỉ Hiến pháp 1824. Có ba vùng đất thuộc México đã nổi dậy đòi độc lập là Cộng hòa Texas, Cộng hòa Rio Grande và Cộng hòa Yucatan. México đã tái thu phục được Rio Grande và Yucatan nhưng đã thất bại trong việc chiếm lại Texas. Không chỉ vậy, Texas sau đó đã được sát nhập vào Hoa Kỳ và những tranh chấp về đất đai, lãnh thổ với nước láng giềng phương Bắc đã làm bùng nổ cuộc chiến tranh Mỹ-México (1846-1848) với thất bại nặng nề thuộc về México. Năm 1848, Hiệp ước Guadalupe-Hidalgo được ký kết, theo đó México mất tới 1/3 diện tích lãnh thổ cho Hoa Kỳ.
Chán nản trước thất bại của tướng Santa Anna, một phong trào cải cách đã lan rộng tai México. Đây được gọi là thời kỳ 'La Reforma', với một hiến pháp mới được ban hành theo đó tái thành lập thể chế liên bang và lần đầu tiên giới thiệu về quyền tự do tôn giáo tại México.
Những năm 1860, México phải đối mặt với sự xâm lăng của nước Pháp. Công tước Ferdinand Maximilian của Áo (thuộc dòng họ Habsburg) được chọn để trở thành vua của Đế quốc México Thứ hai. Tuy nhiên chính thể phong kiến này cũng chỉ tồn tại được trong một thời gian ngắn ngủi. Năm 1867, Benito Juarez, một người da đỏ Zapotec đã tái khôi phục nền cộng hòa và trở thành tổng thống da đỏ đầu tiên của México. Ông được đánh giá là vị tổng thống vĩ đại nhất của México trong thế kỉ 19.
=== Thế kỉ 20 và thế kỉ 21 ===
Porfirio Díaz đã cai trị một cách độc tài đất nước México trong khoảng thời gian từ năm 1880 đến năm 1911. Giai đoạn này, được gọi là Porfiriato được biết đến với những thành tựu lớn của nền kinh tế México, khoa học, nghệ thuật phát triển song bên cạnh đó là sự bất bình đẳng trong thu nhập giữa người giàu và người nghèo và sự đàn áp về chính trị. Cuộc bầu cử giả mạo để tiếp tục nhiệm kỳ thứ năm của Diaz đã bị người dân phản ứng dữ dội, dẫn đến việc cuộc Cách mạng México bùng nổ vào năm 1910. Hệ quả của cuộc cách mạng là một hiến pháp mới đã được ban hành vào năm 1917 và tiếp sau đó là một loạt những biến động trên chính trường México. Đất nước rơi vào cuộc nội chiến giữa các phe phái và nhiều nhân vật lãnh đạo quan trọng bị ám sát. Tình hình tương đối ổn định trở lại từ khi Đảng Cách mạng Quốc gia, về sau đổi tên là Đảng Cách mạng Thể chế (PRI) lên nắm quyền vào năm 1929 và đóng vai trò quan trọng trên chính trường México suốt 71 năm sau đó.
Thời gian từ thập niên 1940 đến 1980 được đánh dấu bởi sự phát triển kinh tế vượt bậc của México và được các nhà sử học gọi là "El Milagro Mexicano", tức "Phép màu México". México đã có những cố gắng quan trọng trong việc quốc hữu hóa các tài sản của quốc gia như khoáng sản và dầu khí. vào năm 1938, tổng thống Lázaro Cárdenas đã quyết định quốc hữu hóa tất cả các công ty khai thác dầu và buộc họ phải sát nhập vào PEMEX, công ty dầu khí quốc doanh của México. Sự kiện này đã gây ra một cuộc khủng hoảng trong quan hệ ngoại giao giữa México với các nước tham gia khai thác tài nguyên tại đây. Kinh tế phát triển nhưng vẫn chưa đủ sức xóa hết những căng thẳng trong xã hội México, mà đỉnh cao là cuộc thảm sát Tlatelolco tại chính thủ đô México năm 1968.
Thời kỳ hoàng kim của kinh tế México kết thúc vào năm 1982 với một cuộc đại khủng hoảng. Giá dầu lửa, mặt hàng xuất khẩu chủ lực của México bị mất giá trầm trọng, tỉ lệ lãi suất tăng vọt và chính phủ México hoàn toàn bị vỡ nợ với những khoản nợ khổng lồ. Tiếp theo đó là một thời kỳ lạm phát kéo dài và México trở thành một quốc gia phá sản. México lại một lần nữa đối mặt với khủng hoảng kinh tế - tài chính lớn vào cuối năm 1994 với tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1995 là -6,9%. Hiện nay tình hình kinh tế México đã có nhiều cải thiện quan trọng theo hướng tự do hóa thị trường, đồng thời liên kết với các bạn hàng lớn là Hoa Kỳ và Canada để phát triển trong NAFTA (Hiệp định Tự do Thương mại Bắc Mỹ). Tăng trưởng kinh tế dần đi vào ổn định và México đã trở thành một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Về chính trị, đã có một sự thay đổi lớn trên chính trường México trong cuộc bầu cử năm 2000. Lần đầu tiên sau 71 năm, Đảng Cách mạng Thể chế (PRI) để mất chiếc ghế tổng thống vào tay Đảng Hành động Quốc gia (PAN) là ông Vicente Fox. Trong cuộc bầu cử năm 2006, PRI thậm chí còn bị tụt xuống thứ ba, sau khi bị Đảng Cách mạng Dân chủ (PRD) vượt lên. Tổng thống México hiện nay là ông Felipe Calderon (2006-2012) của đảng PAN. Calderon tuyên chuyến với các băng đảng ma túy và tổ chức chiến dịch vào các cùng do các tay buôn lậu kiểm soát.
== Chính trị ==
Theo Hiến pháp năm 1917, Hợp chúng quốc Mê-hi-cô là một nước cộng hòa dân chủ đại diện và theo chế độ tổng thống. Hiến pháp của nước này cũng quy định thành lập 3 cấp chính quyền khác nhau: liên bang, tiểu bang và thành phố. Tất cả những vị trí lãnh đạo của chính quyền đều được quyết định thông qua bầu cử hoặc được chỉ định bởi những người đã được bầu.
Chính quyền của México được chia làm 3 nhánh sau:
Lập pháp: gồm quốc hội lưỡng viện bao gồm Thượng viện và Hạ viện México. Phía lập pháp có quyền đặt ra các điều luật, tuyên bố chiến tranh, đặt thuế mới, thông qua ngân sách quốc gia và các hiệp ước quốc tế, bổ nhiệm các cán bộ ngoại giao...
Hành pháp: Tổng thống México vừa là người đứng đầu nhà nước, vừa là người đứng đầu chính phủ và đồng thời cũng được coi là Tổng tư lệnh quân đội México. Tổng thống có quyền bổ nhiệm nội các (với sự thông qua của Thượng viện), chịu trách nhiệm việc thiết lập và thực thi luật pháp và quyền đình chỉ không thông qua một bộ luật nào đó.
Tư pháp: Đứng đầu nhánh này là Tòa án Tư pháp Tối cao, gồm 11 vị thẩm phán được bổ nhiệm bởi tổng thống với sự đồng ý của Thượng viện.
Ở cấp tiểu bang, chính quyền cũng được tổ chức thành 3 nhánh: lập pháp (hội đồng lưỡng viện), hành pháp (đứng đầu là thống đốc và nội các được bổ nhiệm) và tư pháp (tòa án).
Trong thời gian từ năm 2006-2009, có 9 đảng phái có đại diện trong quốc hội México. Nhưng trong đó có 5 đảng có số phếu không vượt quá 4%. Ba đảng lớn nhất và có ảnh hưởng quan trọng đối với nền chính trị México là:
Đảng Hành động Quốc gia (Partido Acción Nacional, PAN): đảng trung hữu theo đường lối bảo thủ được thành lập năm 1939.
Đảng Cách mạng Thể chế (Partido Revolucionario Institucional, PRI): một đảng trung tả theo đường lối dân chủ xã hội, được thành lập năm 1929 nhằm thống nhất những lực lượng của cuộc Cách mạng México. Phần lớn các chính trị gia cánh tả của México thuộc đảng này.
Đảng Cách mạng Dân chủ (Partido de la Revolución Democrática, PRD): đảng trung tả được thành lập năm 1989, tạo thành bởi liên minh giữa những người theo chủ nghĩa xã hội và một số đảng phái tự do khác.
Trong suốt 71 năm kể từ khi thành lập, PRI là đảng năm giữ vai trò chủ yếu trên chính trường México. Tuy nhiên đến năm 2000, lần đầu tiên đảng đã bị mất chiếc ghế tổng thống vào tay Vicente Fox, một thành viên của đảng PAN. Đến năm 2006, Felipe Calderon của PAN lại một lần nữa giành chiến thắng trước đối thủ Andres Manuel Lopez Obrador của đảng PRD với cách biệt cực kỳ sít sao 0,58%. Ông tuyên thệ nhiệm kỳ tổng thống México 2006-2012.
== Quân đội ==
México là quốc gia có lực lượng quân đội lớn thứ hai tại khu vực Mỹ Latinh, chỉ sau có Brasil. México có 503.777 quân hiện hành, và có 192.770 quân nhân thuộc lực lượng quân đội chính quy. Ngân sách dành cho quân đội mỗi năm của México khoảng 6 tỉ USD, chiếm 0,5% GDP. Từ thập niên 1990, quân đội México chuyển hướng trọng tâm hoạt động sang cuộc chiến chống ma túy, đòi hỏi phải nâng cấp nhiều loại vũ khí và hiện đại hóa quân đội. Quân đội México bao gồm hai nhánh: Lục quân México (trong đó đã bao gồm cả không quân) và Hải quân México. Hiện quân đội México vẫn còn duy trì một số cơ sở vật chất, hạ tầng để thử nghiệm và chế tạo vũ khí như trực thăng, tàu chiến hạng nặng, các loại súng cho quân đội. Những cơ sở này đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế địa phương. Trong những năm gần đây, do yêu cầu hiện đại hóa quân đội ngày càng cao nên México đã cải tiến các chương trình huấn luyện cũng như vũ trang, đồng thời trở thành một nhà cung cấp vũ khí cho cả quân đội trong nước và các nước khác.
== Phân cấp hành chính ==
Các thực thể liên bang có thể coi là cấp hành chính địa phương thứ nhất ở México. Các thực thể này bao gồm 31 bang (tiếng Tây Ban Nha: estado) và Thành phố México là 1 quận liên bang (distrito federal). Bản mẫu:Bang của México
== Địa lý ==
=== Vị trí, giới hạn ===
México là một quốc gia thuộc khu vực Bắc Mỹ. Phần lớn lãnh thổ của đất nước này nằm trên mảng kiến tạo Bắc Mỹ trong khi một phần nhỏ thuộc bán đảo Baja California thuộc địa mảng Thái Bính Dương và địa mảng Cocos. Về địa vật lý, phần lớn lãnh thổ México thuộc về Bắc Mỹ, trong khi 12% lãnh thổ thuộc bán đảo Tehuantepec thuộc khu vực Trung Mỹ. Còn về mặt địa chính trị, México được coi như một quốc gia Bắc Mỹ, cùng với Hoa Kỳ và Canada.
Tổng diện tích của México 1.972.550 km2 và México là quốc gia có diện tích đứng hàng thứ 14 trên thế giới. Trong đó, México còn tuyên bố chủ quyền đối với 6.000 km2 đất thuộc các đảo và quần đảo tại Thái Bình Dương (đảo Guadalupe và quần đảo Revillagigedo), vịnh México, biển Caribbean và vịnh California. Về phía bắc, México chia sẻ đường biên giới dài 3.141 km với Hoa Kỳ. Dòng sông Río Bravo del Norte (ở Hoa Kỳ gọi là Rio Grande) là biên giới tự nhiên kéo dài từ Ciudad Juárez về phía đông đến vịnh México. Ngoài ra còn có một số đường phân giới tự nhiên hoặc nhân tạo khác từ Ciudad Juárez về phía tây đến bờ Thái Bình Dương. Về phía nam, México chia sẻ chung đường biên giới dài 871 km với Guatemala và 251 km với Belize.
=== Địa hình ===
Đất nước México có địa hình chủ yếu là đồi núi. Nước này có 3 dãy núi chính và đều nằm dọc theo đường bờ biển của México. Trong đó Siera Madre Occidental là dãy núi dài nhất, kéo dài tới 5000 km theo dọc bờ biển phía tây giáp Thái Bình Dương của nước này. Ở bờ biển phía đông có dãy núi Siera Madre Oriental dài 1350 km và vùng bờ biển phía nam có dãy Sierra Madre de Sur dài 1200 km. Nằm giữa những dãy núi này với đường bờ biển là các đồng bằng nhỏ và hẹp.
Cao nguyên México chiếm một phần lớn diện tích trung tâm đất nước và nằm giữa hai dãy Siera Madrea Occidental và Siera Madre Oriental. Trong khi phía bắc cao nguyên México có địa hình thấp hơn (trung bình khoảng 1100 m) với nhiều bồn địa thì phía nam cao nguyên địa hình lại cao hơn. Những thung lũng thuộc miền nam cao nguyên México tập trung rất nhiều thành phố lớn như thành phố México hay Guadalajara.
México nằm trên một khu vực không ổn định, gần nơi tiếp giáp giữa hai địa mảng Cocos và Bắc Mỹ nền thường hay xảy ra những trận động đất và núi lửa phun trào. Ngọn núi lửa Orizaba (5636 m) là ngọn núi cao nhất tại México và thứ ba tại Bắc Mỹ. Dãy núi lớn thứ ba tại México là Sierra Nevada, hay được gọi là Vành đai núi lửa México là một chuỗi các núi lửa chắn ngang đất nước México theo chiều đông-tây. Dãy núi lớn thứ tư của México là Sierra Madre del Sur nằm dọc theo bờ biển tây nam nước này.
México có khoảng 150 con sông nhưng lượng nước phân bố không đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ. Phần nhiều các con sông lớn đều chảy về phía đông vào vịnh México và biển Caribbean.
=== Khí hậu ===
Có thể nói, đường chí tuyến bắc đã phân chia lãnh thổ México thành hai vùng khí hậu riêng biệt: nửa phía bắc chí tuyến có khí hậu ôn hòa còn nửa phía nam chí tuyến thì có điều kiện khí hậu phụ thuộc nhiều vào độ cao. México là một đất nước có nhiều núi non trùng điệp và điều này đã khiến cho México trở thành một trong những quốc gia có hệ thống khí hậu đa dạng nhất trên thế giới.
Ở nửa phía nam của đường chí tuyến, tại những vùng có độ cao không vượt quá 1000 m thì có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm quanh năm, với nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 24° - 28 °C, chênh lệch nhiệt độ giữa mùa hè và mùa đông không quá lớn, chỉ khoảng 5 °C. Trong khi đó, những vùng ở phía bắc đường chí tuyến của México thì có nhiệt độ trung bình năm thấp hơn, vào khoảng 20° - 24 °C với mùa hè nóng ẩm còn mùa đông thì lạnh và khô.
Thung lũng México nằm ở phía nam đường chí tuyến là một khu vực tập trung nhiều khu vực đô thị lớn của đất nước, trong đó có thành phố México. Khu vực này nằm ở độ cao trên 2000 m nên nhìn chung có khí hậu ôn hòa tương đối dễ chịu, nhiệt độ trung bình năm dao động trong khoảng 16° - 18 °C.
Nhiều vùng đất ở México, đặc biệt là tại phía bắc đường chí tuyến thường có rất ít mưa, tạo nên một số vùng hoang mạc lớn tại đất nước này. Trong khi đó miền nam México (đặc biệt là những vùng đồng bằng duyên hải như bán đảo Yucatan) thì lượng mưa thường đạt trên 2000 mm/năm.
=== Đa dạng sinh học ===
México được xếp là một trong 18 nước có mức độ đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới. Theo thống kê, México có khoảng 200.000 loài sinh vật đã được phát hiện, chiếm từ 10-12% tổng số loài sinh vật trên Trái Đất. Đất nước này xếp thứ nhì thế giới về số lượng các loài bò sát (707 loài), sau Úc, và cũng là thứ nhì về số lượng động vật có vú (438 loài), thứ tư về số lượng lưỡng cư (290 loài) và thứ tư về số lượng các loài thực vật (khoảng 20.000 loài). México cũng xếp thứ tư thế giới về sự đa dạng của hệ sinh thái cũng như của các loài sinh vật. Có khoảng 2500 loài nằm trong danh sách bảo vệ của chính phủ México. Hiện México đã thành lập Hệ thống Thông tin quốc gia về đa dạng sinh học nhằm nâng cao hiểu biết của người dân về thế giới sinh vật đa dạng của đất nước này.
Tại México, có khoảng 170.000 km2 được coi là khu vực bảo tồn tự nhiên, trong đó bao gồm 34 khu dự trữ sinh quyển, 64 công viên quốc gia cùng nhiều khu vực bảo vệ các loài thực vật và động vật quý hiếm khác.
México là quê hương của nhiều loài thực vật có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống hàng ngày. Sau khi phát hiện ra châu Mỹ, người châu Âu đã mang các loại cây trái này của châu Mỹ đi phổ biến khắp thế giới. Đó là các loài cây cacao (sản xuất chocolate), cà chua, ngô, vani, nhiều loại đậu và ớt cay khác nhau (trong đó có ớt Habanero).
== Nhân khẩu ==
Theo ước tính vào năm 2005, dân số México khoảng 103 triệu người và đây là quốc gia có số lượng người nói tiếng Tây Ban Nha nhiều nhất thế giới. México là quốc gia đông dân thứ hai khu vực Mỹ Latinh (sau Brasil nói tiếng Bồ Đào Nha) và đồng thời cũng là quốc gia đông dân thứ hai tại Bắc Mỹ (sau Hoa Kỳ). Trong thế kỉ 20, một đặc điểm nổi bật của dân số México là mức gia tăng dân số rất nhanh. Tuy rằng hiện nay, tốc độ gia tăng dân số đã giảm xuống còn dưới 1% nhưng dân số México đã vượt quá mốc 100 triệu người và còn tiếp tục gia tăng hơn nữa. Đồng thời bên cạnh đó, México được coi là một quốc gia với dân số trẻ, với khoảng 50% dân số có độ tuổi dưới 25.
Năm 1900, dân số México là 13,6 triệu người. Từ những năm 1930 đến 1980, hay giai đoạn được gọi là "Phép màu México", chính phủ México đã có những đầu tư hiệu quả vào việc phát triển kinh tế và cải thiện đời sống người dân khiến tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh được giảm xuống rõ rệt. Dân số México gia tăng nhanh chóng trong thế kỉ 20 và bây giờ đã bắt đầu có xu hướng chậm lại. Tốc độ gia tăng dân số từ mức đỉnh 3,5% năm 1965 nay đã hạ xuống 0,99% vào năm 2005.
Tốc độ gia tăng dân số có sự khác biệt giữa các vùng của México. Khu vực thủ đô México có tốc độ tăng dân số chỉ có 0,2%, và đặc biệt bang Michoacan có mức tăng trưởng dân số là -0,1%. Trong khi đó một số vùng khác thưa dân hơn lại có mức độ tăng trưởng dân số cao (được ảnh hưởng khá nhiều từ quá trình nhập cư) là Quintana Roo (4,7%) hay Baja California Sur (3,4%).
=== Nhập cư và di cư ===
Dân châu Âu, chủ yếu là người Tây Ban Nha đã nhập cư vào México trong thời kỳ nước này còn là một thuộc địa của Tây Ban Nha. Đến cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, một dòng người nhập cư mới đến từ châu Âu cũng xuất hiện chủ yếu do sự nghèo đói tại quê hương, tuy không đông đảo như các đợt di dân đến Argentina, Brasil và Uruguay. Ngoài người Tây Ban Nha, những nhóm người châu Âu nhập cư bao gồm người Anh, người Ireland, người Ý, người Đức, người Pháp, người Hà Lan... Một bộ phận người Trung Đông cũng nhập cư vào México trong thời kỳ này, chủ yếu họ đến từ Thổ Nhĩ Kỳ và Liban. Bên cạnh đó còn có một số cộng đồng người Viễn Đông như người Trung Quốc đi qua Hoa Kỳ xuống định cư ở miền bắc México và người bán đảo Triều Tiên ở miền trung México.
Trong thập niên 1970 và 1980, México đã mở cửa cho những người tị nạn chính trị đến từ khắp các nước Mỹ Latinh như Argentina, Chile, Cuba, Peru, Brazil, Colombia và các nước Trung Mỹ. Những cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc tại các nước Mỹ Latinh láng giềng cũng góp phần làm gia tăng cộng đồng của họ tại México, như người Argentina tại México được ước tính có khoảng 110.000 đến 130.000 người. Bên cạnh đó, khoảng 1 triệu người Mỹ cũng định cư tại México, chủ yếu vì lý do nghỉ dưỡng sau khi đã về hưu.
México hiện nay là nước có tỷ lệ di cư âm (di cư nhiều hơn nhập cư), với tỉ lệ là -4,32/1000 người. Chủ yếu người dân México di cư đến Hoa Kỳ để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn. Trong thập niên 1990 và đầu những năm thập niên 2000, dòng người di cư từ México sang Hoa Kỳ đã gia tăng một cách đột biến, chiếm khoảng 37% tổng lượng dân México tại Mỹ. Việc nhập cư bất hợp pháp từ México vào Mỹ cũng là một vấn đề lớn trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Vào năm 2000, ước tính có khoảng 20 triệu người Mỹ tự nhận mình là người gốc México. Giải thích cho việc mặc dù nền kinh tế México đã phát triển rõ rệt song tỉ lệ di cư vẫn cao, nhiều người cho rằng đó là do sự bất bình đẳng về kinh tế trong nước, khoảng cách giàu nghèo gia tăng và một số người México sau khi định cư tại Mỹ đã quyết định đón gia đình của mình từ México sang.
=== Tôn giáo ===
Theo điều tra nhân khẩu năm 2000, tuyệt đại đa số người dân México theo Công giáo Rôma (87,9%), mặc dù số lượng người đi lễ nhà thờ hàng tuần nhỏ hơn rất nhiều, chỉ khoảng 46%. Khoảng 5,2% dân số México theo đạo Tin lành, số còn lại theo một số tôn giáo khác.
Những bang có tỉ lệ người theo đạo Công giáo cao nhất là các bang miền trung México như Guanajuato (96,4%), Aguascalientes (95,6%), Jalisco (95,4%), trong khi đó những bang ở phía đông nam có tỉ lệ theo đạo Công giáo thấp nhất như Chiapas (63.8%), Tabasco (70.4%) and Campeche (71.3%). Tỉ lệ người dân México theo Công giáo đã giảm xuống từ mốc 98% năm 1950 xuống còn 87,9% năm 2000. Tỉ lệ này sẽ còn tiếp tục giảm xuống song đạo Công giáo vẫn đống vai trò hàng đầu về tôn giáo tại México.
Không như một số quốc gia Mỹ Latinh khác, Hiến pháp México 1857 đã tách riêng hoạt động của nhà nước và nhà thờ. Chính phủ không cấp cho nhà thờ bất cứ nguồn lợi kinh tế nào như ở Tây Ban Nha hay Argentina và nhà thờ cũng không được tham gia vào các hoạt động giáo dục ở các trường công (mặc dù họ có thể tham gia ở các trường tư). Thậm chí, chính phủ México còn quốc hữu hóa các tài sản của nhà thờ (đến thập niên 1990 thì một số lại được trao trả). Các linh mục và thầy tu tại México không được quyền bầu cử hay tham gia ứng cử vào các vị trí trong chính quyền.
=== Ngôn ngữ ===
Mặc dù tiếng Tây Ban Nha được 97% dân số México sử dụng song nó không được công nhận là ngôn ngữ chính thức duy nhất của quốc gia. Theo Hiến pháp của México, tất cả các ngôn ngữ bản địa đều được quyền bình đẳng ngang với tiếng Tây Ban Nha, bất kể số người nói nhiều hay ít. Người dân hoàn toàn có quyền được yêu cầu cung cấp các dịch vụ công cộng và các tài liệu bằng ngôn ngữ bản địa của mình. Thậm chí chính phủ México còn công nhận cả những ngôn ngữ bản địa của người da đỏ không có nguồn gốc từ México như tiếng của người Kickapoo (nhập cư từ Hoa Kỳ) và ngôn ngữ của những người da đỏ tị nạn Guatemala. México cũng đã thành lập các trường học song ngữ ở cấp tiểu học và trung học cho các học sinh nói ngôn ngữ bản địa. Hiện nay, có khoảng 7,1% dân số México có nói ít nhất một ngôn ngữ bản địa và có khoảng 1,2% dân số hoàn toàn không sử dụng tiếng Tây Ban Nha.
México là quốc gia có số lượng người nói tiếng Tây Ban Nha nhiều nhất thế giới, hơn gấp đôi Tây Ban Nha là nơi bắt nguồn của ngôn ngữ này. Do vậy, México có vai trò quan trọng trong việc truyền bá ảnh hưởng của tiếng Tây Ban Nha ra thế giới, đặc biệt là vào Mỹ. Khoảng 1/3 số người nói tiếng Tây Ban Nha trên thế giới sống tại México. Bên cạnh đó, tiếng Nahualt là thứ tiếng được sử dụng phổ biến thứ nhì tại đất nước này với 1,5 triệu người sử dụng, sau đó là tiếng Yucatec Maya với 800.000 người. Một số ngôn ngữ thiểu số của México đang có nguy cơ biến mất, ví dụ như tiếng Lacandon được sử dụng bởi không quá 100 người.
Tiếng Anh được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng người Mỹ tại México, những thành phố giáp biên giới phía bắc và các trung tâm kinh tế, tài chính lớn. Một số ngôn ngữ gốc Âu khác cũng được sử dụng nhiều là tiếng Venetian (bắt nguồn từ Ý), tiếng Plautdietsch (miền nam Đức), tiếng Đức, tiếng Pháp và tiếng Digan.
=== Chủng tộc ===
México là một quốc gia có nhiều sắc tộc khác nhau và Hiến pháp nước này ghi rõ México là một quốc gia đa chủng tộc. Dân México có thể chia làm các nhóm chính sau:
Người Mestizo (tức người lai giữa người da trắng và người da đỏ) là nhóm sắc tộc chiếm tỉ lệ cao nhất tại México, ước tính từ 60-75%.
Người da đỏ bản địa được ước tính chiếm khoảng từ 12 - 30% dân số. Đây là những cư dân đầu tiên của México do vậy các ngôn ngữ của họ được chính phủ México công nhận là ngôn ngữ quốc gia và được bảo vệ.
Người da trắng chiếm khoảng 9 - 17% dân số là những người dân nhập cư gốc châu Âu. Họ có nhiều nguồn gốc khác nhau trong đó chủ yếu là Tây Ban Nha, rồi đến một số nhóm khác như Pháp, Italy, Bồ Đào Nha, Basque, Đức, Ireland, Ba Lan, România, Nga... Ngoài ra còn có một số người Mỹ và Canada gần đây cũng di cư đến México.
Người da đen chiếm một thiểu số không đáng kể tại México, tập trung ở vùng bờ biển Veracruz, Tabasco, Guerrero. México cũng có một cộng đồng người Á khá đông đảo đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippines, Nhật Bản, Liban, Thổ Nhĩ Kỳ...
== Kinh tế ==
México là một nền kinh tế thị trường hỗn hợp và được xếp vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình trên. Đây là nền kinh tế lớn thứ 15 thế giới dựa trên GDP và đồng thời cũng là một trong những nước có thu nhập bình quân cao nhất khu vực Mỹ Latinh, tuy nhiên vẫn còn kém xa so với các nước Bắc Mỹ. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, thu nhập bình quân đầu người của México là 9,452 USD (danh nghĩa) trong năm 2016, đứng thứ nhì khu vực Mỹ Latinh (sau Brasil) còn nếu theo sức mua tương đương thì thu nhập của México là 19,519 USD, đứng thứ nhất.
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng năm 1994, México đã phục hồi một cách ấn tượng nền kinh tế bằng cách xây dựng một nền kinh tế đa dạng và hiện đại. Cơ sở hạ tầng được cải thiện đã nâng cao chất lượng hoạt động của các bến cảng, đường sá, mạng lưới điện, viễn thông, hàng không đảm bảo cho sự phát triển kinh tế. Dầu lửa vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của México và mang lại một nguồn ngoại tế lớn cho nền kinh tế nước này. Với dân số đông và một nền kinh tế phát triển năng động và vững chắc, México được dự báo có thể sẽ trở thành một trong 5 cường quốc kinh tế thế giới vào năm 2050 theo thứ tự lần lượt là Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Brasil và México.
Theo Ngân hàng Thế giới, tỉ lệ nghèo đói tại México đã giảm từ 24,2% xuống 17,6% trong khoảng 2000-2004. Tuy nhiên sự bất bình đẳng trong thu nhập của người dân México cũng là một vấn đề lớn đối với nước này. Sự chênh lệch giàu nghèo, phản ánh qua chỉ số Gini cao của México có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng về xã hội và kinh tế. Trong Báo cáo về Chỉ số Phát triển Con người của Liên Hiệp Quốc năm 2004, một số quận tại trung tâm thành phố México như quận Benito Juarez, hay quận San Pedro Carza Garcia thuộc bang Nueva Leon có mức thu nhập cũng như điều kiện y tế, giáo dục ngang với bình quân của các nước phát triển như Đức và New Zealand. Trong khi đó, quận Metlatonoc thuộc bang Guerrero có chỉ số HDI ngang với Syria, một nước thu nhập trung bình dưới.
México đã ký Hiệp định Tự do Thương mại (FTA) với hơn 40 quốc gia trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu, các nước Trung Mỹ và Nam Mỹ. Khoảng 90% mậu dịch của México có FTA. Đối tác thương mại chủ yếu của México là hai nước bạn hàng Bắc Mỹ thuộc khối NAFTA, chiếm tới 90% mặt hàng xuất khẩu và 55% nhập khẩu của nước này. Trong nền kinh tế México, nông nghiệp chiếm 4%, công nghiệp chiếm 26,5% và dịch vụ chiếm 69,5%. Các mặt hàng xuất khẩu chú yếu của México là dầu mỏ, hàng gia công, rau quả, vải, cà phê, bạc. Còn các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông.
Du lịch cũng là một nguồn thu ngoại tệ lớn của México. Mỗi năm đất nước México đón tiếp hơn 20 triệu lượt khách du lịch nước ngoài và là quốc gia duy nhất tại khu vực Mỹ Latinh có mặt trong top 25 nước điểm đến du lịch của thế giới. Du lịch México nổi tiếng với những tàn tích từ thời các nền văn minh cổ xưa của châu Mỹ, các công trình văn hóa lịch sử cũng như các bãi biển đẹp dọc theo hai bên bờ biển của nước này. Năm 2006, México đứng thứ 8 thế giới về lượng khách du lịch đến tham quan.
== Văn hóa ==
Văn hóa México phản ánh sự phức tạp của lịch sử México với sự hòa trộn nhiều yếu tố phức tạp về chủng tộc và văn hóa trên đất nước này. Hai nhân tố chính hình thành nên nền văn hóa México là văn hóa của những thổ dân da đỏ bản địa và nền văn hóa Tây Ban Nha, được đưa vào México trong 300 năm thuộc địa. Gần đây, những ảnh hưởng văn hóa đương đại đến từ Hoa Kỳ cũng tác động vào văn hóa México. Giống như nhiều quốc gia Mỹ Latinh khác sau khi giành được độc lập, nền văn hóa México dần dần được định hình trên cơ sở sự đa dạng về chủng tộc nhưng lại chia sẻ chung một tôn giáo duy nhất là Công giáo Rôma.
Thời kỳ Porfiriato (một phần tư cuối thế kỉ 19 và thập niên đầu thế kỉ 20) được đánh dấu bởi sự phát triển mạnh mẽ của nền văn hóa México. Dưới sự cai trị của nhà độc tài Porfirio Diaz, nền kinh tế México phát triển mạnh mẽ và thịnh vượng đã đi cùng với sự phát triển của triết học và nghệ thuật México. Mặc dù đất nước phải trải qua một số biến cố lớn như cuộc Cách mạng México 1910, song nền văn hóa México đã từng bước định hình thành dạng mestizaje, một khái niệm chỉ nền văn hóa đa dạng tại México trong đó đặt những yếu tố bản địa truyền thống làm trung tâm. Năm 1925, trong tác phẩm La Raza Cósmica (tạm dịch là Chủng tộc lớn), nhà văn José Vasconcelos đã xác định México là một quốc gia đa dạng (tương tự như thuật ngữ melting pot của Hoa Kỳ) không chỉ về mặt chủng tộc mà còn về mặt văn hóa. Nhận thức mới mẻ này đã làm cho México hoàn toàn khác biệt so với nhiều nước châu Âu lúc đó vẫn giữ quan điểm lỗi thời về chủng tộc thượng đẳng.
=== Ẩm thực ===
Ẩm thực tại México nổi tiếng thế giới với hương vị cay nồng, cách trang trí món ăn sặc sỡ và sự đa dạng về các loại gia vị khác nhau. Nhiều món ăn México ngày nay dựa trên những thực phẩm truyền thống thời kỳ tiền Colombo, kết hợp với những món ăn Tây Ban Nha do người châu Âu mang đến đã làm nên một sự đa dạng nhưng vô cùng độc đáo trong ẩm thực nước này. Khi đến México, người Tây Ban Nha đã mang theo gạo, thịt bò, thịt lợn, thịt gà, rượu nho và tỏi. Trong khi đó người dân da đỏ tại México cũng có rất nhiều loại thực phẩm đặc sắc mà ngày nay được phổ biến khắp thế giới như ngô, cà chua, vanilla, đu đủ, dứa, ớt cay, khoai lang, đậu, lạc, chocolate...
Bữa ăn truyền thống đối với người México bản địa chủ yếu có ngô như lương thực chính, kết hợp với các loài thảo mộc, ớt, cà chua. Ngày nay việc sử dụng gạo cũng rất phổ biến tai México để làm lương thực, ngoài ra còn có lúa mì. Chocalate cũng bắt nguồn từ México nhưng ngày xưa, người da đỏ chủ yếu dùng để uống. México cũng là nơi ra đời của nhiều loại bánh ngô như bánh ngô có nhân (tacos, nhân bánh có thể là nhiều loại thịt hoặc rau), bánh ngô phomat (quesadillas) hay bánh ngô cay (enchiladas). Mỗi vùng miền trên đất nước México có thể có những loại thực phẩm đặc trưng riêng. Thứ đồ uống phổ biến và đặc trưng cho México là rượu tequila.
=== Âm nhạc ===
Âm nhạc của México thể hiện sự đa dạng, phong phú về thể loại: từ những thể loại nhạc truyền thống như Mariachi, Banda, Norteño, Ranchera và Corridos cho đến những trào lưu âm nhạc hiện đại như pop, rock... với các bài hát được sáng tác bằng cả tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha. Âm nhạc cổ điển được biểu diễn bởi các dàn nhạc giao hưởng được tổ chức tại hầu hết các bang của đất nước để người dân có thể thưởng thức.
México là thị trường âm nhạc lớn nhất khu vực Mỹ Latinh. Nước này đã xuất khẩu âm nhạc của mình ra nhiều nước Trung Mỹ, Nam Mỹ và châu Âu (đặc biệt là Tây Ban Nha) do có sự tương đồng ngôn ngữ. Những ca sĩ nổi tiếng nhất của México là Thalía, Luis Miguel và Paulina Rubio; các nhóm nhạc lớn Café Tacuba, Molotov, RBD và Maná.
=== Lễ hội truyền thống ===
Ngày 16 tháng 9 là ngày México giành được độc lập từ tay người Tây Ban Nha năm 1821 và được coi là một ngày lễ chính thức của đất nước. Bên cạnh những ngày lễ thông thường trên khắp thế giới như Năm mới, Giáng Sinh, mỗi thành phố, trị trấn hay các làng quê của México đều có những lễ hội thường niên của riêng mình để tưởng nhớ vị thánh bảo trợ cho địa phương họ. Trong ngày lễ thánh của địa phương, người dân México thường cầu nguyện, đốt nến và trang trí nhà thờ bằng nhiều loại hoa. Những cuộc diễu hành, bắn pháo hoa, các cuộc thi khiêu vũ, thi hoa hậu, các bữa tiệc... cũng được tổ chức nhân dịp này. Bên cạnh đó tại những thị trấn nhỏ còn có các hoạt động như bóng đá, gà chọi, đấu bò tót nghiệp dư.
Vị thánh bảo trợ cho México là Đức Mẹ Guadalupe. Ngày lễ Guadalupe được tổ chức vào ngày 12 tháng 12 được coi là một trong những ngày lễ quan trọng nhất của đất nước México.
Ngày Vong Linh (Día de los Muertos trong tiếng Tây Ban Nha) được tổ chức vào hai ngày đầu tiên của tháng 11 là một dịp lễ hội khá đặc sắc của México. Lễ hội này bắt nguồn từ những niềm tin tôn giáo có từ xa xưa của đạo Công giáo Rôma là ngày Lễ Các Thánh (1 tháng 11) và Lễ Các Đẳng (2 tháng 11), nhưng cũng được cho là có liên quan tới một lễ hội cổ của người Aztec về Nữ thần Chết. Trong ngày này, người dân México thường sum họp gia đình, đi thăm mộ để tưởng niệm người thân và bạn bè đã mất. Trong ngày lễ này, các cửa hàng ở México thường trang trí sặc sỡ những hình đầu lâu làm bằng đường và những catrina (bộ xương mặc trang phục người phụ nữ).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Visit Mexico
Thông tin du lịch México - Lonely Planet
Thông tin về México trên Infoplease
Thông tin về México trên CIA - The World Factbook
Thông tin quốc gia trên BBC |
đội tuyển bóng đá quốc gia iran.txt | Đội tuyển bóng đá quốc gia Iran là đội tuyển cấp quốc gia của Iran do Liên đoàn bóng đá Iran quản lý.
Trận thi đấu quốc t] đầu tiên của đội tuyển Iran là trận gặp đội tuyển Afghanistan vào năm 1941. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là 4 tấm huy chương vàng Asiad giành được vào các năm 1974, 1990, 1998, 2002, 4 lần vô địch Tây Á giành được vào các năm 2000, 2004, 2007, 2008, cùng với 3 chức vô địch Asian Cup giành được vào các năm 1968, 1972, 1976. Đội cũng đã từng 4 lần tham dự World Cup vào các năm 1978, 1998, 2006, 2014, tuy nhiên đều không vượt qua được vòng bảng.
== Danh hiệu ==
Vô địch châu Á: 3
Vô địch: 1958; 1972; 1976
Hạng ba: 1980; 1988; 1996; 2004
Hạng tư: 1984
Vô địch Tây Á: 4
Vô địch: 2000, 2004, 2007, 2008
Á quân: 2010
Hạng ba: 2002
Bóng đá nam tại Asiad:
1974; 1990; 1998; 2002
1951; 1966
2006
Hạng tư: 2010
== Thành tích tại các giải đấu ==
=== Giải vô địch bóng đá thế giới ===
=== Thế vận hội ===
=== Cúp bóng đá châu Á ===
Iran là một trong những đội bóng giàu thành tích tại Cúp bóng đá châu Á với 3 lần vô địch liên tiếp (1968, 1972 và 1976), 2 lần trong đó với vai trò chủ nhà. Ngoài ra, đội bóng còn 4 lần giành hạng ba. Đội liên tục tham dự các vòng chung kết kể từ năm 1968.
=== Đại hội Thể thao châu Á ===
1951 - Hạng nhì
1954 - Không tham dự
1958 - Vòng 1
1962 - Không tham dự
1966 - Hạng nhì
1970 - Vòng 1
1974 - Vô địch
1978 - Không tham dự
1982 - Tứ kết
1986 - Tứ kết
1990 - Vô địch
1994 - Vòng 1
1998 - Vô địch
=== Giải vô địch bóng đá Tây Á ===
2000 - Vô địch
2002 - Hạng ba
2004 - Vô địch
2007 - Vô địch
2008 - Vô địch
2010 - Á quân
2012 - Vòng 1
2014 - Không tham dự
=== Cúp ECO ===
1965 - Vô địch
1967 - Hạng nhì
1969 - Hạng nhì
1970 - Vô địch
1974 - Hạng nhì
1993 - Vô địch
== Kỷ lục ==
=== Cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất ===
Tính đến ngày 15 tháng 11 năm 2016, 10 cầu thủ khoác áo đội tuyển Iran nhiều nhất là:
== Kết quả thi đấu ==
=== 2017 ===
== Kỷ lục ==
=== Thi đấu nhiều nhất ===
Tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2017, 10 cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất là:
=== Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất ===
Tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2017, 10 cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển Iran là:
== Cầu thủ ==
=== Đội hình hiện tại ===
Ngày thi đấu: 23 & 28 tháng 3 năm 2017
Đối thủ: Qatar & Trung Quốc
Cập nhật đến ngày: 28 tháng 3 năm 2017
=== Triệu tập gần đây ===
Dưới đây là tên các cầu thủ được triệu tập trong vòng 12 tháng.
Chú thích
Inj Cầu thủ rút lui vì chấn thương.
Pre Đội hình sơ bộ.
RC Cầu thủ vắng mặt ở trận tiếp theo do nhận thẻ đỏ.
Ret Cầu thủ đã chia tây đội tuyển quốc gia
Sus Player suspended by federation due to conscription problems.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Đội tuyển bóng đá quốc gia Iran trên trang chủ của FIFA |
tháng giêng.txt | Trong âm lịch, hiện nay thuật ngữ tháng giêng dùng để chỉ tháng thứ nhất của năm. Tháng này còn gọi là tháng Dần. Ngày đầu tiên của tháng này có thể dao động trong khoảng giữa hai tiết Đại hàn và Vũ thủy, nhưng nói chung nó chủ yếu dao động xung quanh tiết Lập xuân trong phạm vi ±10 ngày (xem thêm tiết khí). Việc xác định ngày bắt đầu cũng như số ngày trong tháng phụ thuộc vào khoảng thời gian giữa hai trăng mới (new moon) kế tiếp nhau, tuy nhiên nói chung thì nó có 29 hoặc 30 ngày. Ngày đầu tiên của tháng này là Tết Nguyên Đán. Đa phần các lễ hội của Việt Nam hiện nay tập trung trong tháng giêng. Trong âm lịch, tháng giêng là tháng không được phép nhuận (rất thú vị là người ta không thể ăn hai Tết Nguyên Đán trong vòng chỉ có một tháng). Đôi khi người ta vẫn gọi là tháng một, tuy nhiên đa phần hiểu tháng một âm lịch là tháng thứ 11 (tháng Tý) trong những năm âm lịch thường. Các nhà lập lịch còn thêm Can vào trước tên gọi của tháng, nên trên lịch có các tên tháng như Giáp Dần, Bính Dần, Mậu Dần, Canh Dần, Nhâm Dần tùy theo từng năm. Tuy nhiên, rất khó nhớ cách gọi này nếu không nhìn vào lịch.
== Xem thêm ==
Tháng một dương lịch
== Tham khảo == |
chạn.txt | Chạn hay chạn bếp, chạn chén bát hay giàn tủ bếp là một hàng nội thất được bố trí lắp đặt trong nhà bếp dùng để cất trữ thực phẩm, các loại đồ đoàn nấu ăn. Ở Việt Nam, chạn được thiết kế là một cái giá chia từng ngăn, dát thưa hoặc bọc lưới ở các mặt, dùng để đựng bát đĩa, xoong, nồi, thức ăn. Chạn thường có 04 chân và nhô lên khỏi mặt đất. Thường ở bốn chân chạn, người Việt thường đặt bốn cái bát có chứa nước nhằm mục đích chống kiến, gián bò lên chạn.
Ở vùng miền Trung Việt Nam, người dân ở đây quen dần với việc sống chung với bão lũ nên có những vùng, mỗi gia đình người dân đều dựng một cái chạn cao từ 5 đến 6m ngay trên trần nhà. Chạn thiết kế khá chắc chắn, nhưng khi cần thiết vẫn có thể di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác. Đặc biệt, khi nước dâng cao thì chạn có thể sử dụng như một chiếc thuyền đa năng. Trước mùa mưa lũ, lương thực, thực phẩm được người dân mua sẵn và cất trữ trên chạn loại này. Thậm chí khi nước lũ lên cao, chạn là nơi ăn, ngủ của các thành viên trong gia đình.
Trong thành ngữ ca dao Việt Nam có cụm từ chó chui gầm chạn dùng để chỉ về nỗi cay đắng những người chồng ở rể trong gia đình nhà vợ mà địa vị bị thua sút rõ rệt.
== Chú thích == |
giải vô địch bóng đá nữ u-17 nam mỹ.txt | Giải vô địch bóng đá nữ U-17 Nam Mỹ (tiếng Tây Ban Nha: Campeonato Sudamericano Femenino Sub-17) là giải bóng đá nữ do Liên đoàn bóng đá Nam Mỹ (CONMEBOL) tổ chức từ năm 2008 để xác định các suất dự Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới. Đội tuyển có thành tích tốt nhất tại giải là Brasil với 2 lần lên ngôi.
== Kết quả ==
== Thành tích ==
== Xem thêm ==
Giải vô địch bóng đá nữ U-20 Nam Mỹ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Giải vô địch bóng đá nữ U-20 Nam Mỹ trên CONMEBOL |
phần cứng.txt | Phần cứng (tiếng Anh: hardware), là các cơ phận (vật lý) cụ thể của máy tính hay hệ thống máy tính như là màn hình, chuột, bàn phím, máy in, máy quét, vỏ máy tính, bộ nguồn, bộ vi xử lý CPU, bo mạch chủ, các loại dây nối, loa, ổ đĩa mềm, ổ đĩa cứng, ổ CDROM, ổ DVD,...
Dựa trên chức năng và cách thức hoạt động người ta còn phân biệt phần cứng ra thành:
Nhập hay đầu vào (input): Các bộ phận thu nhập dữ liệu hay mệnh lệnh như là bàn phím, chuột...
Xuất hay đầu ra (output): Các bộ phận trả lời, phát tín hiệu, hay thực thi lệnh ra bên ngoài như là màn hình, máy in, loa,...
Ngoài các bộ phận nêu trên liên quan tới phần cứng của máy tính còn có các khái niệm quan trọng sau đây:
Bus: chuyển dữ liệu giữa các thiết bị phần cứng.
BIOS (Basic Input Output System): còn gọi là hệ thống xuất nhập cơ bản nhằm khởi động, kiểm tra, và cài đặt các mệnh lệnh cơ bản cho phần cứng và giao quyền điều khiển cho hệ điều hành
CPU: bộ phân vi xử lý điều khiển toàn bộ máy tính (vi xử lý trung tâm)
Kho lưu trữ dữ liệu: lưu giữ, cung cấp, thu nhận dữ liệu
Các loại chíp hỗ trợ: nằm bên trong bo mạch chủ hay nằm trong các thiết bị ngoại vi của máy tính các con chip quan trọng sẽ giữ vai trò điều khiển thiết bị và liên lạc với hệ điều hành qua bộ điều vận hay qua phần sụn (Firmware)
Bộ nhớ: là thiết bị bên trong bo mạch chủ giữ nhiệm vụ trung gian cung cấp các mệnh lệnh cho CPU và các dữ liệu từ các bộ phận như là BIOS, phần mềm, kho lưu trữ, chuột đồng thời tải về cho các bộ phận vừa kể kết quả các tính toán, các phép toán hay các dữ liệu đã/đang được xử lý
các cổng vào/ra
== Xem thêm ==
Máy tính
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
núi rushmore.txt | Ban nhạc rock thập niên 1960, xem Mount Rushmore (ban nhạc)
Núi Rushmore - Khu Tưởng niệm Quốc gia là một tác phẩm điêu khắc được tạc vào khối đá granite trên núi Rushmore, gần thành phố Keystone, tiểu bang South Dakota, Hoa Kỳ. Là tác phẩm của Gutzon Borglum và sau này là con trai ông, Lincoln Borglum, Núi Rushmore thể hiện bốn gương mặt Tổng thống Hoa Kỳ với chiều cao 60 foot (18 m), từ trái sang phải lần lượt là George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt và Abraham Lincoln. Toàn thể khu tưởng niệm bao phủ trên diện tích 1.278,45 mẫu Anh (5,17 km2) và cao 5.725 foot (1.745 m) so với mực nước biển.
Người ta cho rằng nhà sử học bang South Dakota, Doane Robinson, là người đưa ra ý tưởng tạc chân dung của những người nổi tiếng tại vùng Black Hills thuộc bang South Dakota để thúc đẩy ngành du lịch trong vùng phát triển. Ban đầu Robinson muốn tạc tượng ở vùng Needles; tuy nhiên, Gutzon Borglum không đồng ý mà lại chọn vùng núi lớn hơn, núi Rushmore. Borglum cũng quyết định nên tạc tượng liên quan đến quốc gia, đồng thời chọn chân dung bốn vị tổng thống để tạc vào núi. Sau khi đảm bảo khoản ngân sách liên bang, việc xây dựng khu tưởng niệm bắt đầu vào năm 1927 và hoàn thành chân dung bốn vị tổng thống vào khoảng thời gian từ năm 1934 đến năm 1939. Khi Gutzon Borglum qua đời vào tháng 3 năm 1941, con trai của ông là Lincoln Borglum đã đảm nhiệm công việc của cha. Mặc dù ý tưởng ban đầu là tạc tượng bốn vị tổng thống từ đầu đến thắt lưng, nhưng do thiếu kinh phí nên công việc chạm khắc chấm dứt vào năm 1941.
Trung tâm Dịch vụ Công viên Quốc gia bắt đầu quản lý khu tưởng niệm vào năm 1933 khi công trình còn đang dang dở và vẫn quản lý cho đến tận hôm nay. Hàng năm tại đây thu hút khoảng 2 triệu khách đến thăm.
== Lịch sử ==
Ban đầu ngọn núi tên là Lakota Sioux, nghĩa là Sáu vị cha già, sau này được đổi tên theo Charles E. Rushmore, một vị luật sư lỗi lạc ở New York qua chuyến thám hiểm năm 1885. Ban đầu, dự án tạc tượng ở núi Rushmore nhằm kích thích ngành du lịch tại vùng Black Hills thuộc bang South Dakota. Sau những cuộc đàm phán kéo dài giữa đoàn đại biểu Quốc hội và Tổng thống Calvin Coolidge, Quốc hội đã thông qua dự án trên. Công việc chạm khắc bắt đầu vào năm 1927 và kết thúc vào năm 1941 với vài ca chấn thương nhưng không ai tử nạn.
Mang tên Sáu vị cha già, ngọn núi là một phần trong chuyến đi tôn giáo đến đỉnh Harney Peak, dẫn đầu là vị tù trưởng của bộ lạc Lakota, Black Elk. Sau một loạt chiến dịch quân sự từ năm 1876 đến năm 1877, Hoa Kỳ đã chiếm lĩnh vùng đất này mặc dù vẫn còn những tranh cãi dựa trên Hiệp ước Fort Laramie năm 1868 (xem mục "Tranh cãi" dưới đây). Với cư dân da trắng Hoa Kỳ, ngọn núi này có nhiều tên gọi như Núi Cougar, Núi Sugarloaf, Núi Slaughterhouse và Vách đá Keystone. Ngọn núi mang tên Núi Rushmore qua một chuyến thám hiểm thăm dò của Charles Rushmore, David Swanzey (chồng của Carrie Ingalls) và Bill Challis.
Năm 1923, nhà sử học Doane Robinson đưa ra ý tưởng tạc tượng trên Núi Rushmore nhằm khuyến khích phát triển du lịch ở tiểu bang South Dakota. Năm 1924, Robinson thuyết phục nhà điêu khắc Gutzon Borglum đến thăm vùng Black Hills nhằm đảm bảo hoàn thành công việc điêu khắc. Borglum đã từng tham gia điêu khắc tác phẩm Đài Tưởng niệm Hiệp hội (Confederate Memorial Carving), một đài tưởng niệm chạm nổi nông (bas-relief) khổng lồ dành cho các vị lãnh đạo Hiệp hội ở vùng núi Stone Mountain thuộc bang Georgia, nhưng các quan chức của tiểu bang lại không đồng ý. Kế hoạch ban đầu là sẽ tiến hành tạc tượng trên những cột đá granite tên là Needles. Tuy nhiên, Borglum nhận thấy rằng những cột đá Needles đang bị xói mòn và không thể tạc tượng trên đó. Ông đã chọn Núi Rushmore với diện tích lớn hơn và vì vách núi quay về hướng Đông Nam nên nhận được nhiều ánh sáng mặt trời nhất. Borglum, sau khi nhìn thấy Núi Rushmore, đã phát biểu như sau: "Nước Mỹ sẽ diễu hành theo đường chân trời ấy". Quốc hội cho phép bắt đầu Chiến dịch Khu tưởng niệm Quốc gia - Núi Rushmore vào ngày 3 tháng 3 năm 1925. Tổng thống yêu cầu ngoài bức tượng của Washington thì cũng cần phác thảo chân dung hai vị tổng thống Đảng Cộng hòa và một vị Tổng thống Đảng Dân chủ.
Từ ngày 4 tháng 10 năm 1927 đến ngày 31 tháng 10 năm 1941, Gutzon Borglum cùng 400 công nhân đã tạc những bức tượng khổng lồ, cao 60 foot (18m), thể hiện 4 vị Tổng thống Hoa Kỳ là George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt và Abraham Lincoln, biểu trưng cho lịch sử 130 năm đầu tiên của Hoa Kỳ. Borglum lựa chọn 4 vị tổng thống này dựa vào vai trò bảo vệ nền Cộng Hòa và mở mang bờ cõi của họ. Ban đầu người ta dự định tạc tượng Thomas Jefferson về phía bên phải của tượng Washington, nhưng sau khi tiến hành chạm khắc, người ta thấy khối đá ấy không phù hợp nên đã phá nổ khối đá mang hình Jefferson này và tạc một bức tượng mới bên trái tượng Washington.
Năm 1933, Trung tâm Dịch vụ Công viên Quốc gia đã tiến hành quản lý Núi Rushmore. Kỹ sư Julian Spotts giúp đỡ dự án bằng cách cải thiện phần cơ sở hạ tầng. Chẳng hạn như ông đã nâng cấp tàu điện để tàu lên được đỉnh Núi Rushmore nhằm giúp công nhân làm việc dễ dàng hơn. Đến ngày 4 tháng 7 năm 1934, bức tượng khuôn mặt tổng thống Washington đã hoàn thành và được khánh thành. Người ta khánh thành bức tượng tổng thống Thomas Jefferson vào năm 1936 và bức tượng tổng thống Abraham Lincoln vào ngày 17 tháng 9 năm 1937. Vào năm 1937, một dự luật được đệ trình lên Quốc hội nhằm tạc thêm tượng vị thủ lĩnh nhân quyền Susan B. Anthony, tuy nhiên Quốc hội đã bổ sung một phụ lục cho một dự luật đặc quyền, yêu cầu chỉ sử dụng ngân sách liên bang để hoàn thiện bốn bức tượng ban đầu. Năm 1939, bức tượng tổng thống Theodore Roosevelt được khánh thành.
Xưởng Điêu khắc của Nhà Chạm khắc (Sculptor’s Studio) - một khu trưng bày mô hình và dụng cụ bằng nhựa độc nhất liên quan đến công trình điêu khắc — được xây dựng vào năm 1939 dưới dự chỉ đạo của Borglum. Borglum qua đời do bị tắc mạch máu vào tháng 3 năm 1941. Con trai ông, Lincoln Borglum, tiếp tục đảm nhiệm dự án này. Theo kế hoạch ban đầu, người ta sẽ tạc tượng từ đầu đến thắt lưng nhưng do thiếu kinh phí nên buộc phải chấm dứt công trình. Borglum cũng dự tính dựng một tấm bảng lớn có hình dạng khu vực Louisiana Purchase với những chữ cái mạ vàng, tưởng nhớ bản Tuyên ngôn Độc lập, Hiến pháp Hoa Kỳ, khu vực Louisiana Purchase cùng những vùng đất khác, từ Alaska, Texas cho tới Khu Kênh đào Panama. Nơi đây trưng bày các mô hình bằng thạch cao và các công cụ từng được sử dụng để tạc khắc các pho tượng. Mô hình 4 pho tượng bằng thạch cao mô phỏng như tác phẩm thật được đặt ở gian đầu tiên có một cửa sổ nhìn thẳng ra 4 pho tượng trên ngọn núi.
Toàn bộ dự án tiêu tốn 989.992,32 USD. Dự án trở nên nổi tiếng khi không có bất kỳ công nhân nào tử vong đối với một công trình tầm cỡ như vậy.
Vào ngày 15 tháng 10 năm 1966, Núi Rushmore được liệt vào Danh sách Di tích Lịch sử Quốc gia. Một bài luận của sinh viên William Andrew Burkett từ bang Nebraska đã giành chiến thắng ở hạng mục đồng đội lứa tuổi đại học vào năm 1934, đồng thời được khắc trên bảng đồng tại Entablature vào năm 1973. Năm 1991, Tổng thống George H. W. Bush chính thức khánh thành công trình Núi Rushmore.
Người ta xây dựng một căn phòng tại một hẻm núi phía sau nhóm tượng này, khoan vào lớp đá chỉ 70 feet (21 m), bao gồm một mái vòm với 16 bức phù điêu bằng sứ tráng men. Trên các bức phù điêu là bản Tuyên ngôn Độc lập, Hiến pháp, tiểu sử của 4 vị Tổng thống cùng với Borglum và lịch sử Hoa Kỳ. Căn phòng được xem là lối vào của công trình nằm trong kế hoạch, tên là "Tiền sảnh các Kỷ lục"; mái vòm được lắp đặt vào năm 1998.
Mười năm tái phát triển công trình đã đạt đến thành tựu lớn lao nhất là việc hoàn tất các tiện ích và lối đi mở rộng cho du khách vào năm 1998, chẳng hạn như Trung tâm Đón khách, Bảo tàng Lincoln Borglum cùng với Con đường Tổng thống. Công việc bảo dưỡng khu tưởng niệm hàng năm đòi hỏi những nhà leo núi phải giám sát và bịt các vết nứt. Do ngân sách hạn hẹp nên thỉnh thoảng người ta mới cạo lớp địa y ở khu tưởng niệm. Tuy nhiên, vào ngày 8 tháng 7 năm 2005, Alfred Kärcher GmbH - một nhà sản xuất máy giặt áp suất và máy chùi rửa bằng hơi nước người Đức, đã tiến hành chùi rửa miễn phí trong nhiều tuần bằng cách phun nước áp suất cao với nhiệt độ trên 200 °F (93 °C).
Cùng với thời gian, quần thể tượng đài bất hủ này được những người ngưỡng mộ coi là “biểu tượng của mọi biểu tượng” ở nước Mỹ. Từ xa hơn 100 km vẫn có thể nhìn rõ hình 4 vị tổng thống lừng danh, những vĩ nhân tượng trưng cho các tính chất tiêu biểu cấu thành Hợp chúng quốc Hoa Kỳ như đấu tranh giành độc lập (George Washington), vì nền dân chủ (Thomas Jefferson), mở mang kinh tế và bảo tồn môi trường thiên nhiên (Theodore Roosevelt) và bãi bỏ chế độ nô lệ (Abraham Lincoln).
== Tranh cãi ==
Núi Rushmore là chủ đề gây tranh cãi giữa những cư dân Hoa Kỳ do Mỹ đã chiếm vùng đất này từ tay bộ lạc Lakota sau cuộc Đại chiến Sioux năm 1876. Hiệp ước Fort Laramie năm 1868 đã trao quyền quản lý vô thời hạn vùng Black Hills cho bộ lạc Lakota. Các thành viên thuộc Phong trào Người da đỏ châu Mỹ đã tiến hành chiếm giữ khu tưởng niệm vào năm 1971, gọi là chiến dịch "Ngựa núi Giận dữ". Trong số những thành viên này là những nhà hoạt động trẻ tuổi, các vị bô lão, trẻ em và con người thần Thánh Gioan Fire Lame Deer, là người đã tổ chức một nhóm cầu nguyện trên đỉnh núi. Lame Deer yêu cầu nhóm người trên phủ một tấm vải liệm tượng trưng lên khuôn mặt các vị tổng thống, cho rằng "đó vẫn sẽ là hình tượng bẩn thỉu cho đến khi hiệp ước được thực thi".
Năm 2004, người ta đã bổ nhiệm người quản lý bản địa đầu tiên cho công viên. Gerard Baker tuyên bố rằng ông sẽ mở thêm "nhiều hướng thông hiểu" và rằng bốn vị tổng thống "chỉ là một hướng với một mục tiêu mà thôi".
Khu tưởng niệm Crazy Horse Memorial sẽ được xây dựng ở một nơi khác trong vùng Black Hills để tưởng nhớ một thủ lĩnh bản địa Mỹ nổi tiếng và cũng để hưởng ứng cho Núi Rushmore. Dự kiến công trình này sẽ lớn hơn công trình Núi Rushmore và nhận được sự hỗ trợ từ các tù trưởng bộ lạc Lakota; Quỹ Crazy Horse Memorial Foundation đã từ chối lời đề nghị hỗ trợ từ quỹ liên bang. Tuy nhiên, khu tưởng niệm này cũng là một chủ đề gây tranh cãi ngay cả trong cộng đồng dân bản địa Hoa Kỳ.
Khu tưởng niệm này cũng gây tranh cãi do vài người viện cớ rằng cơ bản đây là một đề tài phân biệt chủng tộc được hợp pháp hóa theo ý tưởng của niềm tin Manifest Destiny (chiếm lĩnh lục địa Bắc Mỹ). Tác phẩm được Borglum lựa chọn để chạm khắc trên núi là bốn vị tổng thống đương quyền vào thời kỳ chiếm lĩnh đất đai của dân bản địa châu Mỹ. Chính Gutzon Borglum cũng hứng thú với cuộc tranh cãi này bởi vì ông là một thành viên tích cực của tổ chức white supremacist (ủng hộ học thuyết cho rằng người da trắng là ưu việt), tên là đảng Ku Klux Klan.
== Biểu trưng ==
Bốn vị tổng thống này tượng trưng cho những điều khác nhau:
Lincoln (tổng thống thứ 16) tượng trưng cho sự tự do.
Washington (tổng thống đầu tiên) tượng trưng cho sự đấu tranh giành độc lập.
Jefferson (tổng thống thứ 3) tượng trưng cho nền dân chủ.
Roosevelt (tổng thống thứ 26) tượng trưng cho sự bảo vệ thiên nhiên.
== Các thông số ==
Xây dựng: 1941
Cao: 60 foot (18 m)
Nằm trong khuôn viên rộng 15,7 km²
Độ cao so với mặt nước biển: 5.725 feet (1.745 m)
Tọa độ:103°27′35.37″W / 43.8789472, -103.459825
Từ xa hơn 100 km vẫn có thể nhìn rõ bốn vị tổng thống
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
1890.txt | Năm 1890 (MDCCCXC) là một năm thường bắt đầu vào Thứ tư (liên kết sẽ hiển thị đầy đủ lịch) trong Lịch Gregory (hoặc một năm thường bắt đầu vào Thứ tư trong Lịch Julius chậm hơn 12 ngày).
Theo âm dương lịch Việt Nam, năm 1890 có đa số các ngày gần trùng với năm âm lịch Canh Dần.
== Sự kiện ==
== Sinh ==
10 tháng 2 – Boris Pasternak, nhà văn Nga, tác giả Bác sĩ Zhivago, giải Nobel Văn học năm 1958 (từ chối giải) (m. 1960)
11 tháng 4 – Rachele Mussolini, người Ý, vợ của Benito Mussolini (m. 1979)
19 tháng 5 – Hồ Chí Minh, chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (m. 1969)
15 tháng 9 – Agatha Christie, nữ nhà văn Anh (m. 1976)
14 tháng 10 – Dwight David Eisenhower, tổng thống Mỹ (m. 1969)
22 tháng 11 – Charles de Gaulle, tổng thống Pháp (m. 1970)
== Mất ==
29 tháng 7 – Vincent van Gogh, hoạ sĩ Hà Lan (s. 1853)
== Tham khảo == |
manchester.txt | Manchester là thành phố đông bắc nước Anh. Thành phố này nổi tiếng trong lịch sử là thành phố công nghiệp hóa đầu tiên của thế giới và vai trò trung tâm của nó trong cuộc Cách mạng công nghiệp. Thành phố Manchester được mệnh danh là "Thủ phủ miền Bắc nước Anh", là một trung tâm nghệ thuật, truyền thông, giáo dục đại học và thương mại và được xem như "Thành phố lớn thứ hai của Anh".
Thành phố Manchester là một đô thị với cấp thành phố của Vương quốc Anh. Nội thành thành phố có 441.200 dân nhưng Vùng đô thị Đại Manchester thì có dân số 2.240.230 dân. khiến nó là thành phố lớn thứ ba của Anh, xếp sau Vùng đô thị Đại London và khu vực đô thị Tây Trung bộ Anh.
Manchester nổi tiếng với thể thao, là thành phố chủ nhà của Manchester City và Manchester United và tổ chức Thế vận hội của Khối thịnh vượng chung năm 2002.
Cần lưu ý rằng, Manchester United nằm trong Vùng đô thị Đại Manchester chứ không thuộc trong nội thành thành phố Manchester mà thuộc quận Trafford. Nhưng đây là câu lạc bộ bóng đá lớn nhất của thành phố và là câu lạc bộ thành công nhất của thành phố này trong các giải thi ênh đào và các nhà máy đã tạo điều kiện thuận lợi cho thành phố phát triển trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp của thế kỷ 19.
Manchester đã từng đôi lúc được gọi là Cottonopolis, do trong thời kỳ Cách mạng văn hóa đây là trung tâm hàng đầu quốc tế của xe chỉ bông. Gần đây, thành phố đã được gọi là 'Madchester' do là nơi có nền âm nhạc có cùng tên gọi.
Khu vực hạt Đại Manchester bao gồm thành phố Manchester và các quận ngoại thành xung quanh nó: Trafford, Tameside, Salford, Wigan, Bolton, Bury, Oldham, Rochdale và Stockport. Khu vực bưu chính Manchester chứa đựng tất cả các bộ phận của 10 khu vực đô thị này ngoại trừ Stockport and Sale tạo thành các post town trong khu vực này.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài (tiếng Anh) ==
Manchester City Council
Manchester Entertainment guide
What's On in Manchester
Time Out Manchester - What's on in Manchester plus restaurant and bar reviews.
Whathappenedlastnight Manchester - Independent reviews on lifestyle and nightlife.
AGMA — The Association of Greater Manchester Authorities
Visit Manchester — Official tourist board for Greater Manchester
Invest in Manchester - Wide range of information on doing business in Greater Manchester
BBC Manchester — The BBCs pages for Manchester
Manchester City Guide - Information on Bars, Pubs, Clubs, Hotels & Restaurants in Manchester
Urbis — Manchester's Museum of City Life
FLICKR Group — An eclectic mix of Manchester photos
MyManchester - Manchester City Guide
Textile Mills in Coimbatore - Manchester of South India
Manchester Theatre Guide
Town Photographs
Bản mẫu:Greater Manchester Bản mẫu:NW England Bản mẫu:English Cities |
ios.txt | iOS là hệ điều hành trên các thiết bị di động của Apple. Ban đầu hệ điều hành này chỉ được phát triển để chạy trên iPhone (gọi là iPhone OS), nhưng sau đó nó đã được mở rộng để chạy trên các thiết bị của Apple như iPod touch, iPad và Apple TV. Ngày 31 tháng 5 năm 2011, App Store của Apple chứa khoảng 500 000 ứng dụng iOS, và được tải về tổng cộng khoảng 15 tỷ lần. Trong quý 4 năm 2010, có khoảng 26% điện thoại thông minh chạy hệ điều hành iOS, sau hệ điều hành Android của Google và Symbian của Nokia.
Giao diện người dùng của iOS dựa trên cơ sở thao tác bằng tay. Người dùng có thể tương tác với hệ điều hành này thông qua rất nhiều động tác bằng tay trên màn hình cảm ứng của các thiết bị của Apple.
Phiên bản mới nhất của iOS là 10.0 được ra mắt chính thức vào ngày 13 tháng 9 năm 2016, dành cho các thiết bị iPhone 5, iPod 6, iPad 3, iPad Mini (thế hệ thứ hai) trở lên và iPad Pro.
== Lịch sử ==
Hệ điều hành này được tiết lộ tại Hội nghị và Triển lãm Macworld diễn ra vào 9 tháng 1 năm 2007 và được phát hành vào tháng 9 năm đó. Khi đó, hệ điều hành này chưa có một cái tên riêng nên chỉ đơn giản là "iPhone chạy OS X". Ban đầu, ứng dụng bên thứ ba không được hỗ trợ. Steve Jobs đã chỉ ra rằng những nhà phát triển có thể xây dựng các ứng dụng web mà "sẽ cư xử như những ứng dụng ban đầu trên iPhone". Vào ngày 17 tháng 10 năm 2007, Apple thông báo một bộ phát triển phần mềm đang được xây dựng và họ dự định sẽ đưa nó đến "tay của các nhà phát triển vào tháng 2". Ngày 6 tháng 3 năm 2008, Apple đã phát hành bản dùng thử đầu tiên, cùng với một cái tên mới cho hệ điều hành, đó là "iPhone OS".
Tháng 6 năm 2010, Apple đổi cái tên iPhone OS thành iOS. Nhãn hiệu "IOS" đã được Cisco dùng để đặt tên cho hệ điều hành của mình. Để tránh các vụ kiện cáo, Apple đã xin giấy phép sử dụng nhãn hiệu iOS từ Cisco.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
iOS Dev Center – trên website Apple Developer Connection |
thuốc lá.txt | Thuốc lá là tên gọi của một loại sản phẩm được làm chủ yếu từ nguyên liệu lá thuốc lá đã thái sợi, được cuốn hay nhồi định hình bằng giấy, có dạng hình trụ (thường có độ dài dưới 120 mm, đường kính khoảng 10 mm). Thuốc lá điếu thường được đốt cháy ở một đầu, để cháy âm ỉ nhằm mục đích tạo khói và khói này theo dòng khí vào miệng người hút từ đầu đối diện (thường có gắn đầu lọc). Thuật ngữ thuốc lá thường được dùng theo nghĩa chung liên quan đến thuốc lá trong khi thuốc lá điếu nhằm chỉ cụ thể loại sản phẩm thuốc lá sợi đã cuốn thành điếu. Tuy nhiên, đôi khi, thuật ngữ này cũng được sử dụng để chỉ loại thuốc hút khói nhưng được làm từ một số loại thực vật khác (cây gai dầu...)
Thuốc lá điếu khác xì gà trước hết ở kích thước: điếu nói chung bé hơn, sử dụng sợi từ lá thuốc đã qua chế biến và được cuốn bằng giấy trắng chuyên dùng. Xì gà được làm hoàn toàn bằng nguyên lá thuốc lá, ruột là mảnh lá và lá áo bọc ngoài cũng bằng lá thuốc lá. Trước cuộc chiến tranh Krym (Nga-Pháp năm 1854-1856), hầu hết các quốc gia dùng tiếng Anh chưa biết đến thuốc lá điếu. Chỉ đến khi các binh sĩ người Anh thời đó bắt chước các đồng nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ (Đế chế Ottoman) sử dụng giấy in báo để cuốn thuốc lá hút, thuốc lá mới bắt đầu kỷ nguyên bành trướng rộng rãi ra khắp thế giới từ đó.
Đôi khi người ta sử dụng tẩu để hút thuốc. Thuật ngữ "điếu thuốc", thường được dùng để chỉ một điếu thuốc lá, nhưng cũng có thể chỉ các vật khác có chứa lá thơm, ví dụ như cần sa. Do người ta tin tưởng rằng (và cũng được khoa học chứng minh trong trường hợp cụ thể có tuổi thọ ngắn đi khi nguy cơ ung thư phổi tăng lên) các sản phẩm thuốc lá gây đoản thọ, rất nhiều nước đã cho in lời cảnh báo về sức khỏe bằng phông chữ lớn ở mặt trước và mặt sau mỗi bao thuốc để báo động về tác hại của việc hút thuốc, đồng thời cấm mọi quảng cáo để bán thuốc lá...
== Sản xuất các loại thuốc lá ==
Thuốc lá thương mại và thuốc lá sợi hiếm khi có chứa sợi thuốc tinh khiết. Các nhà sản xuất thường thêm phụ gia để giữ hương vị được lâu, tăng chất lượng màu sợi, để giữ chất lượng sợi và thậm chí để thay đổi hoàn toàn chất lượng cảm nhận của khói thuốc. Trong khi nhiều công ty thuốc lá thực hành điều này, tại Canada các mác thuốc chứa 100% là thuốc Virginia tự nhiên - không có phụ gia. Một số loại thuốc lá (được gọi là kretek, thuốc lá bạc hà, hay chỉ đơn giản là bạc hà) có vị bạc hà trộn lẫn với thuốc. Nó được thêm vào để tăng cảm giác sảng khoái của người hút khi làm tê miệng và phổi cũng như tạo cảm giác dễ chịu. Các loại thuốc lá bạc hà rẻ tiền được chế tạo đơn giản bằng cách trộn tinh dầu bạc hà vào sợi thuốc.
Ngoài các phụ gia, thuốc lá sợi, đặc biệt là các loại chất lượng thấp, thường bị xử lý nhiều. Trong quá trình xử lý lá thuốc đầu tiên, lá được bỏ gân và được cắt thành lớp mỏng. Vì lá thuốc ở quá trình này khá khô nên nó tạo ra nhiều vụn thuốc. Các nhà máy sản xuất đã phát triển các phương pháp thu hồi số vụn thuốc này và lại biến chúng thành nguyên liệu sử dụng được (được gọi là "lá thuốc tái chế").
Các đường gân lá bị bỏ ra, vốn không thích hợp để sử dụng khi giữ nguyên trạng, trước kia bị loại bỏ hay ép mỏng thành các phiến lớn vì chúng chứa nhiều nitơ. Tuy nhiên, các quá trình xử lý mới đã được phát triển để ép chúng và chế biến trộn lẫn vào sợi thuốc. Tất cả các quá trình ấy cho phép nhà sản xuất thuốc lá có được số lượng thuốc lớn nhất với lượng nguyên liệu thô thấp nhất.
Ứng dụng nhiều nhất của điếu thuốc là để dẫn khói của thuốc lá. Ứng dụng nhiều thứ hai là để dẫn khói của cần sa. Ống quấn là loại phổ biến nhất của điếu cần sa. Người hút cần sa sẽ thường vặn xoắn hai đầu của điếu cần sa để tránh cho những lá cần sa bị cắt vụn khỏi rơi ra ngoài. Tuy nhiên những người hút thuốc lá mà tự quấn điếu thuốc cho mình, thường không hay vặn xoắn hai đầu của điếu thuốc; thuốc lá được làm theo sợi nên sẽ không bị rơi ra ngoài.
== Buôn bán thuốc lá ==
Trước Chiến tranh thế giới thứ hai nhiều nhà sản xuất tặng kèm theo một lá bài sưu tầm trong mỗi bao thuốc. Việc làm này đã không được tiếp tục để tiết kiệm giấy trong chiến tranh và đã không còn xuất hiện nữa. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai người ta tặng miễn phí thuốc lá cho cả binh lính và dân thường. Vào ngày 1 tháng 4 năm 1970 Tổng thống Richard Nixon đã ký đạo luật về hút thuốc lá cho sức khỏe cộng đồng, cấm các quảng cáo thuốc lá trên TV ở Hoa Kỳ từ ngày 2 tháng 1 năm 1971. Tuy nhiên một số công ty thuốc lá đã cố gắng lách luật bằng cách quảng cáo thuốc là "xì gà nhỏ" ngay sau khi luật cấm có hiệu lực, và Backwoods Smokes, nhãn hiệu thuốc lá vào thị trường mùa đông 1973-1974 quảng cáo với phương châm "How can anything that looks so wild taste so mild" (Làm sao mà một thứ có vẻ mạnh như thế có thể có vị thật nhẹ nhàng).
== Mầm bệnh ==
Khói thuốc đã bị Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu về Ung thư (International Agency for Research on Cancer - IARC) trực thuộc Tổ chức Y tế Quốc tế (WHO) xếp vào các chất gây ung thư (tiếng Anh: carcinogen) bậc 1. Trong nhóm này xếp những chất mà chỉ cần khối lượng nhỏ cũng có thể gây ung thư, không có hạn mức, nghĩa là hoàn toàn có hại cho mình và cho người khác, dù chỉ là một khối lượng nhỏ.
Khói thuốc được coi là chất độc hại nhất trong môi trường cư trú. Khi hút thuốc, người hút thường thở ra hai luồng khói chính và phụ, và 20% khói thuốc bị hít vào trong luồng chính, 80 % còn lại được gọi là luồng phụ, nảy sinh khi kéo thuốc (giữa những lần hít vào) và khi tắt thuốc. Luồng khói chính nảy sinh tại 950 °C và khói phụ 500 °C, do đó luồng khói phụ tỏa ra nhiều chất độc hại hơn.
Khói thuốc cấu tạo từ một hỗn hợp khí và bụi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong khói thuốc có khoảng 7.000 chất hóa học, trong đó có 60 được xếp vào loại gây ung thư . Gồm những chất như nicotin, mônôxít cacbon, hắc ín và benzen, fomanđêhít, amoniac, axeton, asen, xyanua hiđrô ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thần kinh, mạch máu và nội tiết gây ra những bệnh tim mạch, giảm trí nhớ và các bệnh ung thư.
Tác hại cũng xảy đến cho những người không hút thuốc chung quanh, phải hút thuốc thụ động, là hình thức hít khói thuốc từ không khí, mà không trực tiếp hút thuốc lá hoặc thuốc lào và cũng bị tác hại gián tiếp dẫn đến những nguy cơ về bệnh như ung thư phổi. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo: Không có ngưỡng an toàn cho việc hút thuốc thụ động.
Riêng tại Việt Nam, mỗi năm có 40.000 người tử vong do những nguyên nhân liên quan đến thuốc lá, gấp 3 lần số người chết do tai nạn giao thông. Một điều tra cho thấy trên 50% nam giới hút thuốc lá và 60% trẻ em Việt Nam độ tuổi 13-15 đã tiếp xúc với khói thuốc tại nhà. Tại Hà Nội, gần một nửa dân số phải hút thuốc thụ động, nhiều nhất là phụ nữ và trẻ em . Ung thư phổi là dạng ung thư cao nhất ở nam giới và thứ tư ở nữ giới.
Việc hút thuốc ở các phòng chờ nhà ga, bến xe đã bị Bộ Giao thông vận tải cấm từ năm 2005, tuy nhiên việc áp dụng chưa triệt để trên thực tế. Hiện nay, tổ chức Healthbidge Canada đang tài trợ cho một số thành phố tại Việt Nam mở rộng khu vực công cộng không khói thuốc và tăng tính hiệu quả của chính sách cấm hút thuốc nơi công cộng.
Ngày 31 tháng 5 hàng năm được xem là "Ngày Thế giới không thuốc lá".
== Tác hại môi trường ==
Tính trung bình, có khoảng 5.6 nghìn tỷ điếu thuốc lá được hút trên toàn thế giới mỗi năm và khoảng 4,5 nghìn tỷ tàn thuốc lá sau khi hút được vứt lại môi trường, trên đường đi và các khu vực công cộng hàng năm.
== Sử dụng thuốc lá ==
Khoảng 5.5 nghìn tỷ điếu thuốc lá được sản xuất hàng năm trên thế giới trong ngành công nghiệp thuốc lá, được tiêu thụ bởi trên 1,1 tỷ người.
== Thuốc lá - phát minh giết người nhiều nhất ==
Đài BBC đã liệt kê danh sách những phát minh khiến nhiều người chết nhất trong lịch sử hiện đại. Chúng bao gồm thuốc lá, súng AK-47, bom hạt nhân và thuốc nổ dynamite.
Các kết quả thống kê cho thấy, mỗi năm 1,1 triệu người chết vì ung thư phổi và 85% người trong số đó hút thuốc lá. Robert N. Proctor, một nhà nghiên cứu của Đại học Stanford tại Mỹ, khẳng định "Sản phẩm giết nhiều người nhất trong lịch sử nhân loại là thuốc lá. Nó đã cướp khoảng 100 triệu sinh mạng trong thế kỷ 20".
== Xem thêm ==
Ung thư phổi
Ung thư họng
Hút thuốc lào
Hút thuốc thụ động
Xì gà
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Việt)
Hút thuốc lá là giết con, VnExpress 31/05/2008
Thuốc lá làm giảm chất lượng sống, Người Lao động, 29/05/2008
Việt Nam siết chặt các quy định về thuốc lá
Việt Nam: Trên 50% nam giới hút thuốc lá
Chương trình Phòng chống Tác hại Thuốc lá Quốc gia
(tiếng Anh)
UK's National Health Service Website to help quit smoking
Mortality in relation to smoking: 50 years' observations on male British doctors
Action on Smoking and Health
US Center for Disease Control - Smoking and Health Database
INGCAT - International Non Governmental Coalition Against Tobacco
Society for Research on Nicotine and Tobacco
Tobacco.org - Tobacco News & Information |
liên minh châu âu.txt | Liên minh châu Âu hay Liên hiệp châu Âu (tiếng Anh: European Union), cũng được gọi là Khối Liên Âu, viết tắt là EU, là liên minh kinh tế – chính trị bao gồm 28 quốc gia thành viên thuộc châu Âu. Liên minh châu Âu được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht vào ngày 1 tháng 11 năm 1993 dựa trên Cộng đồng châu Âu (EC). Với hơn 500 triệu dân, Liên minh châu Âu chiếm khoảng 22% (16,2 nghìn tỷ đô la Mỹ năm 2015) GDP danh nghĩa và khoảng 17% (19,2 nghìn tỷ đô la Mỹ năm 2015) GDP sức mua tương đương của thế giới (PPP).
Liên minh châu Âu đã phát triển một thị trường chung thông qua hệ thống luật pháp tiêu chuẩn áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảm bảo sự lưu thông tự do của con người, hàng hóa, dịch vụ và vốn. EU duy trì các chính sách chung về thương mại, nông nghiệp, ngư nghiệp và phát triển địa phương. 17 nước thành viên đã chấp nhận đồng tiền chung, đồng Euro, tạo nên khu vực đồng Euro. Liên minh châu Âu đã phát triển vai trò nhất định trong chính sách đối ngoại, có đại diện trong Tổ chức Thương mại Thế giới, G8, G-20 nền kinh tế lớn và Liên Hiệp Quốc. Liên minh châu Âu đã thông qua việc bãi bỏ kiểm tra hộ chiếu bằng Hiệp ước Schengen giữa 22 quốc gia thành viên và 4 quốc gia không phải là thành viên Liên minh châu Âu.),
Là tổ chức quốc tế, Liên minh châu Âu hoạt động thông qua hệ thống chính trị siêu quốc gia và liên chính phủ hỗn hợp. Những thể chế chính trị quan trọng của Liên minh châu Âu bao gồm Ủy ban châu Âu, Nghị viện châu Âu Hội đồng Liên minh châu Âu, Hội đồng châu Âu, Tòa án Công lý Liên minh châu Âu và Ngân hàng Trung ương châu Âu.
Liên minh châu Âu có nguồn gốc từ Cộng đồng Than Thép châu Âu từ 6 quốc gia thành viên ban đầu vào năm 1951. Từ đó cho đến nay, Liên minh châu Âu đã lớn mạnh hơn về số lượng cũng như chất lượng thông qua việc tăng cường thẩm quyền của Liên minh châu Âu.
== Địa lý ==
Lãnh thổ của Liên minh châu Âu là tập hợp lãnh thổ của tất cả các quốc gia thành viên nhưng cũng có những ngoại lệ. Chẳng hạn như quần đảo Faroe thuộc Đan Mạch là một bộ phận lãnh thổ của châu Âu nhưng không nằm trong lãnh thổ của Liên minh châu Âu hay đảo Síp, thành viên Liên minh châu Âu thường được xem là một phần của châu Á vì gần Thổ Nhĩ Kỳ hơn châu Âu lục địa. Một vài vùng lãnh thổ khác nằm ngoài châu Âu và cũng không thuộc lãnh thổ của Liên minh châu Âu như trường hợp của Greenland hay Aruba.
Liên minh châu Âu chủ yếu nằm ở Tây và Trung Âu, với diện tích 4.422.773 kilômét vuông (1.707.642 dặm vuông) Ngược lại, mặc dù trên danh nghĩa là một bộ phận của Liên minh châu Âu tuy nhiên luật pháp của Liên minh châu Âu không được áp dụng ở Bắc Cyprus vì De Facto vùng lãnh thổ này nằm dưới quyền quản lý của Cộng hòa Bắc Cyprus thuộc Thổ Nhĩ Kỳ - một quốc gia tự tuyên bố độc lập và chỉ được Thổ Nhĩ Kỳ thừa nhận.
Liên minh châu Âu kéo dài về phía đông bắc đến Phần Lan, tây bắc về phía Ireland, đông nam về phía Cộng hòa Síp và tây nam về phía bán đảo Iberia, là lãnh thổ rộng thứ 7 thế giới và có đường bờ biển dài thứ 2 thế giới sau Canada. Điểm cao nhất trên lãnh thổ Liên minh châu Âu đó là đỉnh Mont Blanc, cao 4810,45 m trên mực nước biển và điểm thấp nhất là Zuidplaspolder ở Hà Lan, thấp hơn mực nước biển 7m.
Dân cư của Liên minh châu Âu có tỉ lệ đô thị hóa cao. 75% người dân Liên minh châu Âu sống ở các thành phố (con số này dự kiến sẽ là 90% ở 7 quốc gia thành viên vào năm 2020). Giải thích cho điều này có hai nguyên nhân chính: một là mật độ dân cư đô thị hạn chế vươn ra những khu vực tự nhiên, hai là trong một số trường hợp nguồn vốn của Liên minh châu Âu được dồn vào một khu vực nào đó, chẳng hạn như Benelux.
== Thành viên ==
Lịch sử của Liên Minh châu Âu bắt đầu từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Có thể nói rằng nguyện vọng ngăn ngừa chiến tranh tàn phá tái diễn đã đẩy mạnh sự hội nhập châu Âu. Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Robert Schuman là người đã nêu ra ý tưởng và đề xuất lần đầu tiên trong một bài phát biểu nổi tiếng ngày 9 tháng 5 năm 1950. Cũng chính ngày này là ngày mà hiện nay được coi là ngày sinh nhật của Liên minh châu Âu và được kỉ niệm hàng năm là "Ngày châu Âu".
Ban đầu, Liên minh châu Âu bao gồm 6 quốc gia thành viên: Bỉ, Đức, Ý, Luxembourg, Pháp, Hà Lan. Năm 1973, tăng lên thành gồm 9 quốc gia thành viên. Năm 1981, tăng lên thành 10. Năm 1986, tăng lên thành 12. Năm 1995, tăng lên thành 15. Năm 2004, tăng lên thành 25. Năm 2007 tăng lên thành 27. Từ 01.07.2013 EU có 28 thành viên.
Sau đây là danh sách 28 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu xếp theo năm gia nhập và theo bảng chữ cái tiếng Việt.
1957: Bỉ, Đức, Hà Lan, Luxembourg, Pháp, Ý
1973: Anh (chuẩn bị ra đi sau trưng cầu dân ý ngày 24/6/2016), Đan Mạch (chuẩn bị tổ chức trưng cầu dân ý về việc rời khỏi EU), Ireland
1981: Hy Lạp
1986: Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha
1995: Áo, Phần Lan, Thụy Điển
Ngày 1/5/2004: Ba Lan, Estonia, Hungary, Latvia, Litva, Malta, Séc, Síp, Slovakia, Slovenia
Ngày 1/1/2007: Bulgaria, Romania
1/7/2013: Croatia
Hiện nay, Liên minh châu Âu có diện tích là 4.422.773 km² với dân số là 492,9 triệu người (2006) ; với tổng GDP là 11.6 nghìn tỉ euro (xấp xỉ 15.7 nghìn tỉ USD) trong năm 2007. Hầu hết các quốc gia châu Âu đều đang là thành viên của Liên minh châu Âu.
Tính đến cuối năm 2010, có 4 quốc gia được đánh giá là ứng viên chính thức để kết nạp thành viên Liên minh châu Âu đó là: Iceland, Macedonia, Montenegro và Thổ Nhĩ Kỳ. Albania, Bosnia và Herzegovina và Serbia là những ứng viên tiềm năng. Kosovo cũng được xếp vào danh sách những ứng viên tiềm năng gia nhập vào Liên minh châu Âu vì Ủy ban châu Âu và hầu như tất cả các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu khác đã thừa nhận Kosovo như một quốc gia độc lập, tách biệt khỏi Serbia.
5 quốc gia Tây Âu không phải là thành viên Liên minh châu Âu nhưng đã có những thỏa thuận hợp tác nhất định kinh tế và pháp luật của Liên minh châu Âu đó là: Iceland (ứng viên gia nhập Liên minh châu Âu), Liechtenstein và Na Uy, thành viên thị trường duy nhất thông qua Khu vực kinh tế châu Âu, và Thụy Sĩ, tương tự như trường hợp của Na Uy nhưng thông qua hiệp định song phương giữa nước này và Liên minh châu Âu. Ngoài ra, đồng tiền chung EURO và các lĩnh vực hợp tác khác cũng được áp dụng đối với các quốc gia thành viên nhỏ như Andorra, Monaco, San Marino và Vatican.
Tháng 6 năm 2016, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland rời Liên minh châu Âu sau cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 và nước Anh có một vị thủ tướng mới.
== Ba trụ cột chính của Liên minh châu Âu ==
=== Hiệp ước Maastricht - Trụ cột thứ nhất ===
Hiệp ước Maastricht hay còn gọi là Hiệp ước Liên minh châu Âu (tiếng Anh, "Treaty of European Union"), ký ngày 7 tháng 2 năm 1992 tại Maastricht Hà Lan , nhằm mục đích:
Thành lập liên minh kinh tế và tiền tệ vào cuối thập niên 1990, với một đơn vị tiền tệ chung và một ngân hàng trung ương độc lập,
Thành lập một liên minh chính trị bao gồm việc thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung để tiến tới có chính sách phòng thủ chung, tăng cường hợp tác về cảnh sát và luật pháp.
Hiệp ước này đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình nhất thể hóa châu Âu và dẫn đến việc thành lập Cộng đồng châu Âu.
==== Liên minh chính trị ====
Tất cả các công dân của các nước thành viên được quyền tự do đi lại và cư trú trong lãnh thổ của các nước thành viên.
Được quyền bầu cử và ứng cử chính quyền địa phương và Nghị viện châu Âu tại bất kỳ nước thành viên nào mà họ đang cư trú.
Thực hiện một chính sách đối ngoại và an ninh chung trên cơ sở hợp tác liên chính phủ với nguyên tắc nhất trí để vẫn bảo đảm chủ quyền quốc gia trên lĩnh vực này.
Tăng cường quyền hạn của Nghị viện châu Âu.
Mở rộng quyền của Cộng đồng trong một số lĩnh vực như môi trường, xã hội, nghiên cứu...
Phối hợp các hoạt động tư pháp, thực hiện chính sách chung về nhập cư, quyền cư trú và thị thực.
==== Liên minh kinh tế và tiền tệ ====
Được chia làm 3 giai đoạn, từ 1 tháng 7 năm 1990 tới 1 tháng 1 năm 1999, và kết thúc bằng việc giải tán Viện tiền tệ châu Âu, thành lập Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB).
Điều kiện để tham gia vào liên minh kinh tế và tiền tệ (còn gọi là những tiêu chỉ hội nhập) là:
Lạm phát thấp, không vượt quá 1,5% so với mức trung bình của 3 nước có mức lạm phát thấp nhất;
Thâm hụt ngân sách không vượt quá 3% GDP;
Nợ công dưới 60% GDP và biên độ dao động tỷ giá giữa các đồng tiền ổn định trong hai năm theo cơ chế chuyển đổi (ERM);
Lãi suất (tính theo lãi suất công trái thời hạn từ 10 năm trở lên) không quá 2% so với mức trung bình của 3 nước có lãi suất thấp nhất.
Kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 đồng Euro đã chính thức được lưu hành trong 12 quốc gia thành viên (còn gọi là khu vực đồng Euro) gồm Pháp, Đức, Áo, Bỉ, Phần Lan, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; các nước đứng ngoài là Anh, Đan Mạch và Thuỵ Điển. Hiện nay, đồng Euro đang có tỷ giá hối đoái cao hơn đồng đô la Mỹ.
==== Hiệp ước Schengen ====
Ngày 19 tháng 6 năm 1990, Hiệp ước Schengen được thoả thuận xong. Đến ngày 27 tháng 11 năm 1990, 6 nước Pháp, Đức, Luxembourg, Bỉ, Hà Lan và Ý chính thức ký Hiệp ước Schengen. Hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ký ngày 25 tháng 6 năm 1991. Ngày 26 tháng 3 năm 1995, hiệp ước này mới có hiệu lực tại 7 nước thành viên. Hiệp ước quy định quyền tự do đi lại của công dân các nước thành viên. Đối với công dân nước ngoài chỉ cần có visa của một trong 9 nước trên là được phép đi lại trong toàn bộ khu vực Schengen. Tính đến 19/12 năm 2011, tổng số quốc gia công nhận hoàn toàn hiệp ước này là 26 nước: Ba Lan, Cộng hòa Séc, Hungary, Slovakia, Slovenia, Estonia, Latvia, Litva, Malta, Iceland, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Luxembourg, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức, Áo, Ý, Hy Lạp, Thụy Sĩ, Liechtenstein (trong đó có 22 nước thuộc khối liên minh châu Âu).
=== Hiệp ước Amsterdam - Trụ cột thứ hai ===
Hiệp ước Amsterdam còn gọi là Hiệp ước Maastricht sửa đổi, ký ngày 2 tháng 10 năm 1997 tại Amsterdam, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 5 năm 1999, đã có một số sửa đổi và bổ sung trong các vấn đề như:
Những quyền cơ bản, không phân biệt đối xử;
Tư pháp và đối nội;
Chính sách xã hội và việc làm;
Chính sách đối ngoại và an ninh chung.
=== Hiệp ước Nice - Trụ cột thứ ba ===
Hiệp ước Nice được lãnh đạo các quốc gia thành viên châu Âu ký vào ngày 26 tháng 2 năm 2001 và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 2 năm 2003. Hiệp ước Nice là sự bổ sung cho Hiệp ước Maastricht và Hiệp ước Rome. Hiệp ước Nice tập trung vào vấn đề cải cách thể chế để đón nhận các thành viên mới theo chính sách mở rộng về phía Đông châu Âu, vốn ban đầu là nhiệm vụ của Hiệp ước Amsterdam nhưng không được hoàn thành.
Trong cuộc trưng cầu dân ý diễn ra vào tháng 6 năm 2001, các cử tri Ireland đã phản đối việc thông qua Hiệp ước Nice. Tuy nhiên, sau hơn một năm, kết quả đã bị đảo ngược.
== Hiệp ước Lisbon - Tái cấu trúc Liên minh châu Âu ==
Ngày 1 tháng 12 năm 2009, Hiệp ước Lisbon chính thức có hiệu lực và đã cải tổ nhiều khía cạnh của Liên minh châu Âu. Đặc biệt, Hiệp ước Lisbon đã thay đổi cấu trúc pháp lý của Liên minh châu Âu bằng cách sáp nhập cấu trúc 3 trụ cột thành một chính thể pháp lý duy nhất. Hiệp ước là cơ sở pháp lý cho vị trí Chủ tịch thường trực Hội đồng Liên minh châu Âu, chức vụ mà ngài Herman Van Rompuy đang nắm giữ, cũng như vị trí Đại diện cấp cao của Liên minh châu Âu về ngoại giao và an ninh, chức vụ mà bà Catherine Ashton đang phụ trách.
== Cơ cấu tổ chức ==
Liên minh châu Âu có 7 thể chế chính trị chính đó là: Nghị viện châu Âu, Hội đồng bộ trưởng, Ủy ban châu Âu, Hội đồng châu Âu, Ngân hàng Trung ương châu Âu, Tòa án Công lý Liên minh châu Âu và Tòa án Kiểm toán châu Âu. Thẩm quyền xem xét và sửa đổi hệ thống luật pháp của Liên minh châu Âu - quyền lập pháp - thuộc về Nghị viện châu Âu và Hội đồng Bộ trưởng. Quyền hành pháp được giao cho Ủy ban châu Âu và một bộ phận nhỏ thuộc về Hội đồng châu Âu (trong tiếng Anh, cần tránh nhầm lẫn giữa "Council of the European Union" bản chất thuộc về các quốc gia thành viên và "European Council" bản chất thuộc về Liên minh châu Âu). Chính sách tiền tệ của khu vực đồng tiền chung châu Âu (tiếng Anh, "eurozone") được quyết định bởi Ngân hàng Trung ương châu Âu. Việc giải thích và áp dụng luật của Liên minh châu Âu và các điều ước quốc tế có liên quan - quyền tư pháp - được thực thi bởi Tòa án Công lý Liên minh châu Âu. Ngoài ra còn có một số cơ quan nhỏ khác phụ trách tư vấn cho Liên minh châu Âu hoặc hoạt động riêng biệt trong các lĩnh vực đặc thù.
=== Hội đồng châu Âu ===
Hội đồng châu Âu phụ trách điều hành Liên minh châu Âu và có nhiệm vụ nhóm họp ít nhất 4 lần trong năm. Hội đồng châu Âu bao gồm Chủ tịch Hội đồng châu Âu, Chủ tịch của Ủy ban châu Âu và một đại diện của mỗi quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, có thể là người đứng đầu nhà nước hoặc chính phủ của quốc gia thành viên đó. Hội đồng châu Âu được xem là cơ quan lãnh đạo tối cao của Liên minh châu Âu. Hội đồng châu Âu chủ động xem xét những thay đổi trong các hiệp ước điều chỉnh hoạt động Liên minh châu Âu cũng như xác định chương trình nghị sự và chiến lược cho Liên minh châu Âu.
Hội đồng châu Âu sử dụng vai trò lãnh đạo của mình để dàn xếp các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên và các thể chế chính trị của Liên minh châu Âu cũng như giải quyết các cuộc khủng hoảng chính trị và bất đồng trong những vấn đề và chính sách gây nhiều tranh cãi. Về đối ngoại, hoạt động của Hội đồng châu Âu có thể ví với một nguyên thủ của tập thể các nguyên thủ quốc gia để ký kết, phê chuẩn các thỏa thuận và điều ước quốc tế quan trọng giữa Liên minh châu Âu và các quốc gia khác trên thế giới.
Ngày 19 tháng 1 năm 2009, ngài Herman Van Rompuy đã được chỉ định làm chủ tịch thường trực của Hội đồng châu Âu. Ngày 1 tháng 12 năm 2009 khi Hiệp ước Lisbon bắt đầu có hiệu lực, ngài Herman Van Rompuy chính thức nhận công tác tại nhiệm sở. Chủ tịch Hội đồng châu Âu chịu trách nhiệm đại diện đối ngoại cho Liên minh châu Âu, giải quyết mâu thuẫn nảy sinh giữa các quốc gia thành viên để hướng tới sự đồng thuận trong các hội nghị của Hội đồng châu Âu cũng như trong các giai đoạn chuyển tiếp giữa các hội nghị đó. Cần tránh nhầm lẫn Hội đồng châu Âu của Liên minh châu Âu với một tổ chức quốc tế độc lập khác của có tên gọi là Hội đồng châu Âu (tiếng Anh, "Council of Europe").
=== Hội đồng Bộ trưởng ===
Hội đồng Liên minh châu Âu thường được gọi tắt trong tiếng Anh là Council hay còn gọi là Hội đồng Bộ trưởng (tiếng Anh, "Council of Ministers") là một trong hai bộ phận lập pháp của Liên minh châu Âu (bộ phận còn lại là sự kết hợp của Ủy ban châu Âu và Nghị viện châu Âu) chịu trách nhiệm quyết định các chính sách lớn của EU, bao gồm các Bộ trưởng đại diện cho các thành viên. Các nước luân phiên làm Chủ tịch với nhiệm kỳ 6 tháng. Giúp việc cho Hội đồng có Uỷ ban Thường vụ và Ban Thư ký. Tuy nhiên, dù cơ cấu tổ chức phức tạp nhưng Hội đồng Bộ trưởng vẫn được xem là một trong các thể chế chính trị chính thức của Liên minh châu Âu.
Từ năm 1975, người đứng đầu nhà nước, hoặc đứng đầu chính phủ, các ngoại trưởng, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban châu Âu có các cuộc họp thường kỳ để bàn quyết định những vấn đề lớn của EU. Cơ chế này gọi là Hội đồng châu Âu hay Hội nghị Thượng đỉnh Liên minh châu Âu.
=== Nghị viện châu Âu ===
Gồm 751 nghị sĩ, nhiệm kỳ 5 năm, được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu từ tất cả các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu. Trong Nghị viện châu Âu các nghị sĩ ngồi theo nhóm chính trị khác nhau, không theo quốc tịch.
Nhiệm vụ của Nghị viện châu Âu là phối hợp với Hội đồng châu Âu thông qua đề xuất lập pháp của Ủy ban châu Âu trong hầu hết các lĩnh vực. Nghị viện châu Âu còn có thẩm quyền thông qua ngân sách, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách của Liên minh châu Âu. Ủy ban châu Âu chịu trách nhiệm trước Nghị viện châu Âu, đối với mọi hoạt động phải có sự chấp thuận của Nghị viện châu Âu, báo cáo kết quả công tác trước Nghị viện châu Âu để đánh giá, phê bình và rút kinh nghiệm. Chủ tịch Nghị viện châu Âu, được bầu bởi các nghị sĩ với nhiệm kì 2 năm rưỡi, đồng thời phải phụ trách vai trò người phát ngôn trong và ngoài nghị viện.
=== Ủy ban châu Âu ===
Là cơ quan điều hành của Liên minh châu Âu chịu trách nhiệm đề xuất lập pháp và những hoạt động thường nhật của Liên minh châu Âu. Ủy ban châu Âu bao gồm 27 uỷ viên đại diện cho 27 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, nhiệm kỳ 5 năm do các chính phủ nhất trí cử và chỉ bị bãi miễn với sự nhất trí của Nghị viện châu Âu. Chủ tịch hiện nay là ngài José Manuel Barroso, cựu Thủ tướng Bồ Đào Nha (được bầu tại cuộc họp Thượng đỉnh EU bất thường ngày 23 tháng 3 năm 1999 tại Berlin). Vị trí quyền lực số 2 trong Ủy ban châu Âu là Đại diện cao cấp của Liên minh châu Âu về ngoại giao và chính sách an ninh đồng thời là ex-officio Phó chủ tịch Ủy ban châu Âu, hiện tại là bà Catherine Ashton.
=== Tòa án Công lý Liên minh châu Âu ===
Có thẩm quyền tư pháp đối với các vấn đề liên quan đến luật pháp của Liên minh châu Âu. Bao gồm hai tòa án chính, đó là: "Tòa sơ thẩm châu Âu" (tiếng Anh, "European General Court") và "Tòa án Công lý châu Âu" (tiếng Anh, "European Court of Justice").
== Hệ thống pháp luật ==
Cơ sở pháp lý hình thành Liên minh châu Âu là các hiệp ước được ký kết và phê chuẩn bởi các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu. Các hiệp ước đầu tiên đánh dâu sự thành lập Cộng đồng châu Âu và Liên minh châu Âu. Các hiệp ước kế tiếp chỉnh sửa và bổ sung các hiệp ước đầu tiền ngày một đầy đủ và hoàn thiện hơn. Đó chính là những hiệp ước tạo ra các thể chế chính trị của Liên minh châu Âu cũng như cung cấp cho các thể chế chính trị đó thẩm quyền thực hiện các mục tiêu và chính sách đã đặt ra ngay trong chính các hiệp ước. Những thẩm quyền này bao gồm thẩm quyền lập pháp ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu và công dân của các quốc gia thành viên đó. Liên minh châu Âu có đầy đủ tư cách pháp nhân để ký kết các thỏa thuận và điều ước quốc tế.
Căn cứ theo nguyên tắc "uy quyền tối cao" (tiếng Anh, "supremacy"), tòa án của các quốc gia thành viên có trách nhiệm thực hiện đầy đủ và đúng đắn tất cả quy định và nghĩa vụ đặt ra tuân theo các hiệp ước mà quốc gia thành viên đó đã phê chuẩn, kể cả khi điều đó gây ra các xung đột pháp luật trong hệ thống pháp luật nội địa, thậm chí trong vài trường hợp đặc biệt là hiến pháp của một số quốc gia thành viên.
=== Các quyền cơ bản ===
Các điều ước đã ký kết giữa các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu công nhận rằng Liên minh châu Âu được "thành lập trên cơ sở tôn trọng những giá trị nhân phẩm, tự do, dân chủ, công bằng, pháp trị và nhân quyền, bao gồm quyền của những người thuộc những sắc tộc thiểu số... trong một xã hội đa dạng, không phân biệt, khoan dung, công lý, đoàn kết và bình đẳng giới."
Hiệp ước Lisbon đã trao hiệu lực pháp lý cho Hiến chương Liên minh châu Âu về những quyền cơ bản vào năm 2009. Hiến chương là sự tập hợp có chỉnh sửa những quyền lợi cơ bản của con người mà từ đó các điều luật của Liên minh châu Âu có thể bị xem xét và đánh giá lại trước Tòa án Công lý Liên minh châu Âu. Hiến chương cũng là sự hợp nhất nhiều quyền khác nhau vốn trước đây đã được Tòa án Công lý Liên minh châu Âu thừa nhận và đồng thời là "những giá trị truyền thống được thừa nhận trong hiến pháp của nhiều quốc gia thành viên Liên minh châu Âu." Tòa án Công lý Liên minh châu Âu từ lâu đã công nhận những quyền cơ bản và đôi lúc đã hủy bỏ một số điều luật của Liên minh châu Âu vì đi ngược lại với những quyền cơ bản đó. Hiến chương được soạn thảo vào năm 2000. Mặc dù ban đầu Hiến chương không có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý nhưng các điều khoản của Hiến chương luôn được nêu ra trước các tòa án Liên minh châu Âu. Bởi vì Hiến chương, bản thân nó, đã chứa đựng những quyền lợi hợp pháp mà các tòa án Liên minh châu Âu công nhận như các nguyên tắc nền tảng của luật pháp Liên minh châu Âu.
Mặc dù việc ký kết Công ước châu Âu về quyền con người (tiếng Anh, "European Convention on Human Rights" hay "ECHR") là một trong những điều kiện để trở thành thành viên Liên minh châu Âu, nhưng bản thân Liên minh châu Âu không thể tham gia Công ước vì Liên minh châu Âu vốn không phải là một quốc gia và cũng không có quyền hạn để tham gia. Hiệp ước Lisbon và Nghị định thư 14 đối với Công ước đã thay đổi bản chất vấn đề này trong đó Nghị định thư 14 ràng buộc Liên minh châu Âu với Công ước trong khi Hiệp ước Lisbon cho phép việc thực thi việc ràng buộc đã nêu.
Trên bình diện thế giới, Liên minh châu Âu cũng thúc đẩy các vấn đề về nhân quyền. Liên minh châu Âu phản đối việc kết án tử hình và đề nghị loại bỏ khung hình phạt này trên khắp thế giới. Ngoài ra, việc loại bỏ khung hình phạt tử hình cũng là một điều kiện đối với quy chế thành viên Liên minh châu Âu.
=== Các đạo luật ===
Các đạo luật chính của Liên minh châu Âu được thông qua dưới 3 dạng có tính chất pháp lý và phạm vi ảnh hưởng khác nhau: quy chế (tiếng Anh, "regulation"), sắc lệnh (tiếng Anh, "directive") và phán quyết (tiếng Anh, "decision"). Quy chế của Liên minh châu Âu tự động bổ sung vào luật pháp hiện hành của các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu vào thời điểm các quy chế này bắt đầu có hiệu lực mà không cần bất kì một biện pháp can thiệp pháp lý hay triển khai nào từ các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, và có giá trị pháp lý cao hơn nội luật của các quốc gia thành viên đó nếu phát sinh xung đột pháp luật. Sắc lệnh đòi hỏi các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu hoàn tất một yêu cầu nhất định đưa ra bởi Liên minh châu Âu nhưng để cho các quốc gia thành viên đó quyền tự quyết về cách thức thực hiện hoặc triển khai sắc lệnh. Đến hết thời hạn triển khai sắc lệnh, nếu những sắc lệnh đó không được thực thi, thì chúng có thể, trong một số điều kiện nhất định, sẽ có "hiệu lực trực tiếp" (tiếng Anh, "direct effect") vượt trên nội luật của các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu.
Phán quyết là một lựa chọn hoàn toàn khác với hai cách thức lập pháp nêu trên. Phán quyết được hiểu là những đạo luật được áp dụng trực tiếp cho một cá nhân cụ thể, một công ty hay một quốc gia thành viên nhất định. Phán quyết thường được sử dụng trong lĩnh vực luật cạnh tranh hoặc những vấn đề liên quan đến trợ giá của chính phủ (tiếng Anh, State Aid) nhưng mục đích chủ yếu nhất vẫn là xử lý các thủ tục hành chính trong nội bộ các thể chế Liên minh châu Âu. Quy chế, sắc lệnh và phán quyết của Liên minh châu Âu tương đương với nhau về giá trị pháp lý và không phân thứ bậc.
== Tư pháp và Nội vụ ==
Kể từ khi thành lập vào năm 1993, Liên minh châu Âu bước đầu đã có những phát triển trong lĩnh vực tư pháp và nội vụ từ cấp độ liên chính phủ đến chủ nghĩa siêu quốc gia. Hàng loạt các cơ quan được thành lập để phối hợp hành động: Europol giữa lực lượng cảnh sát các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, Eurojust đối với các công tố viên, và Frontex đối với các cơ quan phụ trách biên giới và cửa khẩu. Liên minh châu Âu cũng triển khai Hệ thống thông tin Schegen (tiếng Anh, "Schengen Information System") có khả năng cung cấp cơ sở dữ liệu chung cho lực lượng cảnh sát và cơ quan nhập cảnh của các quốc gia thành viên. Công tác phối hợp hoạt động được quan tâm đặc biệt kể từ khi Hiệp ước Schengen được ký kết tạo điều kiện cho việc mở cửa biên giới cũng như sự gia tăng đáng kể của vấn đề tội phạm xuyên quốc gia.
Bên cạnh đó, Liên minh châu Âu cũng đã có những đạo luật giải quyết vấn đề gây nhiều tranh cãi như dẫn độ, hôn nhân gia đình, tị nạn, và xét xử tội phạm. Ngoài ra, các hiệp ước được ký kết giữa các quốc gia thành viên "Liên minh châu Âu" cũng đề cao việc ngăn cấm sự phân biệt đối xử liên quan đến giới tính và quốc tịch. Trong những năm gần đây, hệ thống pháp luật của Liên minh châu Âu còn được bổ sung thêm vấn đề chống phân biệt sắc tộc, tôn giáo, khuyết tật, tuổi tác và khuynh hướng tình dục, (ví dụ) ở nơi làm việc.
== Ngoại giao ==
Việc hợp tác trong các vấn đề đối ngoại giữa các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu được bắt đầu vào năm 1957 với sự hình thành Cộng đồng châu Âu. Vào thời điểm đó, các quốc gia thành viên tập hợp lại như một khối thống nhất trong việc thương lượng các vấn đề thương mại quốc tế theo Chính sách thương mại chung (tiếng Anh, "Common Commercial Policy"). Quan hệ đối ngoại của Liên minh châu Âu chuyển sang một giai đoạn mới vào năm 1970 với nhiều phát triển đáng lưu ý, trong đó có thể kể tới sự ra đời của Tổ chức hợp tác chính trị châu Âu (tiếng Anh, "European Political Cooperation") có vai trò như nơi để các quốc gia thành viên tham vấn một cách không chính thức để hướng tới một chính sách đối ngoại chung. Nhưng phải đến tận năm 1987 khi Luật châu Âu duy nhất (tiếng Anh, "Single European Act") được ban hành, Tổ chức hợp tác chính trị châu Âu mới có được một cơ sở pháp lý hoàn chỉnh. Sau đó, tổ chức này được đổi thành Chính sách an ninh và đối ngoại chung (tiếng Anh, "Common Foreign and Security Policy" hay "CFSP") khi Hiệp ước Maastricht bắt đầu có hiệu lực.
Mục tiêu của Chính sách an ninh và đối ngoại chung (CFSP) là thúc đẩy lợi ích của chính Liên minh châu Âu cũng như của cộng đồng thế giới trong việc xúc tiến hợp tác quốc tế, tôn trọng nhân quyền, dân chủ và pháp trị. CFSP đòi hỏi sự thống nhất giữa các quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu để quyết định chính sách phù hợp cho bất kì một vấn đề quan trọng nào. Mặc dù không hay xảy ra, nhưng CFSP đôi lúc cũng gây ra những bất đồng giữa các quốc gia thành viên như trong trường hợp của Chiến tranh Iraq.
=== Quân sự ===
Liên minh châu Âu không có một quân đội chung. Các tổ chức tiền thân của Liên minh châu Âu không hướng đến mục đích hình thành một liên minh quân sự hùng mạnh bởi vì NATO đã được thiết lập với vai trò này. 21 trong tổng số 27 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu đang là thành viên của NATO. trong khi các nước thành viên còn lại theo đuổi chính sách của trung lập. Tuy nhiên, đối với quy chế thành viên Liên minh châu Âu thì tình trạng trung lập của các quốc gia thành viên này đang bị đặt một dấu hỏi lớn bởi Thủ tướng Phần Lan cũng như vấn đề tương hỗ trong trường hợp thiên tai, tấn công khủng bố hay xâm lược vũ trang vốn được quy định trong điều 42 (7) TEU và điều 222 TFEU. Mặt khác, Liên minh Tây Âu (tiếng Anh, "Western European Union"), liên minh quân sự với các điều khoản quốc phòng chung, đã giải thể vào năm 2010 vì vai trò của liên minh này hiện tại đã được chuyển giao cho Liên minh châu Âu.
Năm 2009, theo thống kê của Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (tiếng Anh, "Stockholm International Peace Research Institute" hay "SIPRI"), Vương quốc Anh đã dành hơn 48 tỷ EUR (tương đương 69 tỷ USD) cho quốc phòng, đứng thứ 3 trên thế giới sau Mỹ và Trung Quốc, trong khi Pháp đứng ở vị trí thứ 4 với 47 tỷ EUR (khoảng 67,31 tỷ USD) cho quân đội. Anh và Pháp đóng góp 45% ngân sách quốc phòng, 50% khả năng quân sự và 70% tất cả các chi phí nghiên cứu và phát triển quân sự của cả Liên minh châu Âu. Trong năm 2000, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, và Đức chiếm đến 97% tổng ngân sách nghiên cứu quân sự của Liên minh châu Âu so với tất cả 15 quốc gia thành viên còn lại.
== Kinh tế ==
Ngày từ lúc mới thành lập, Liên minh châu Âu đã đặt ra mục tiêu trọng tâm là thiết lập một thị trường kinh tế duy nhất ở châu Âu bao gồm lãnh thổ của tất cả các quốc gia thành viên. Hiện tại, hệ thống tiền tệ chung đang được sử dụng ở 16 nước thuộc Liên minh châu Âu, thường biết đến với tên gọi khu vực đồng euro (tiếng Anh, "eurozone"). Vào năm 2009, sản lượng kinh tế của Liên minh châu Âu chiếm khoảng 21% tổng sản lượng kinh tế toàn cầu, ước tính vào khoảng 14,8 nghìn tỉ USD,, trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Liên minh châu Âu cũng đạt được sản lượng xuất khẩu và nhập khẩu lớn nhất thế giới, về hàng hóa và dịch vụ, đồng thời cũng là đối tác thương mại lớn nhất đối với các thị trường lớn trên thế giới như Ấn Độ và Trung Quốc.
=== Thị trường nội địa châu Âu ===
Hai trong số những mục tiêu cơ bản của Cộng đồng Kinh tế châu Âu là việc phát triển của một thị trường chung (tiếng Anh, "common market"), hay sau này thường được biết với tên gọi thị trường duy nhất (tiếng Anh, "single market"), và một liên minh hải quan giữa các quốc gia thành viên. Thị trường duy nhất của Liên minh châu Âu liên quan mật thiết đến bốn vấn đề tự do bao gồm tự do lưu thông hàng hóa, vốn, con người và dịch vụ trong phạm vi của Liên minh châu Âu. Còn liên minh hải quan là việc áp dụng một hệ thống thuế khóa chung cho tất cả các loại hàng hóa nhập khẩu vào thị trường duy nhất này. Một khi hàng hóa đã được nhập vào thị trường duy nhất, hàng hóa đó sẽ không phải chịu thuế hải quan, các loại thuế về hạn chế nhập khẩu (quota) mang tính chất phân biệt đối xử khi lưu thông trong phạm vi Liên minh châu Âu. Các quốc gia không phải là thành viên của Liên minh châu Âu như Iceland, Na Uy, Liechtenstein hay Thụy Sĩ đều đã gia nhập vào thị trường duy nhất nhưng chưa tham gia vào liên minh hải quan. Một nửa các hoạt động thương mại của Liên minh châu Âu chịu sự điều chỉnh của hệ thống cân đối pháp luật của Liên minh châu Âu (giữa các quốc gia thành viên với pháp luật của Liên minh).
Quyền tự do di chuyển vốn nhằm mục đích cho phép các hoạt động đầu tư như mua bán tài sản cũng như cổ phần doanh nghiệp giữa các quốc gia thành viên được dễ dàng hơn. Trước khi sử dụng Liên minh về kinh tế và tiền tệ (tiếng Anh, "Economic and Monetary Union"), các quy phạm pháp luật về vốn phát triển rất chậm chạp. Sau Hiệp ước Maastricht, đã có rất nhiều các phán quyết của Tòa án Công lý châu Âu thúc đẩy sự phát triển đối với các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề này. Quyền tự do di chuyển vốn cũng được các quốc gia không phải thành viên Liên minh châu Âu công nhận.
Quyền tự do di chuyển về con người được hiểu rằng những người mang quốc tịch của một quốc gia thành viên Liên minh châu Âu có thể tự do đi lại trong phạm vị Liên minh châu Âu để sinh sống, làm việc hoặc nghỉ ngơi. Quyền tự do di chuyển về con người đòi hỏi một quốc gia thành viên Liên minh châu Âu phải giảm bớt các thủ tục hành chính cũng như công nhận đánh giá về chuyên môn của một quốc gia thành viên khác.
Quyền tự do di chuyển về dịch vụ và cư trú cho phép công dân của quốc gia thành viên có khả năng cung cấp các hình thức dịch vụ được tự do đi lại để kiếm thu nhập tạm thời hoặc cố định. Mặc dù lĩnh vực dịch vụ chiếm đến 60-70% GDP nhưng hệ thống quy phạm pháp luật đối với vấn đề này chưa thật sự được phát triển đúng mức như các lĩnh vực khác. Sự thiếu sót này vừa được Liên minh châu Âu điều chỉnh với sự thông qua "Luật dịch vụ trong thị trường nội địa" (tiếng Anh, "Directive on services in the internal market"). Căn cứ theo Hiệp ước Lisbon, quy phạm pháp luật về dịch vụ là một quyền dư thừa, chỉ được áp dụng khi các quyền tự do khác không có khả năng thực hiện.
=== Liên minh tiền tệ ===
Việc tạo ra một đơn vị tiền tệ duy nhất đã trở thành mục tiêu chính thức của Cộng đồng Kinh tế châu Âu từ năm 1969. Tuy nhiên, chỉ cho đến khi Hiệp ước Maastricht có những cải tiến vào năm 1993 thì các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu mới thực sự bị ràng buộc về mặt pháp lý bởi liên minh tiền tệ kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1999. Kể từ thời điểm phát hành đồng tiền chung euro, từ 11 nước ban đầu hiện nay đã có 17 quốc gia sử dụng đồng tiền này. Mới đây nhất là Estonia vào năm 2011
Tất cả các nước thành viên của Liên minh châu Âu, trừ Đan Mạch và Vương quốc Anh, đều bị ràng buộc trên cơ sở pháp lý về việc sử dụng đồng euro như đơn vị tiền tệ chính thức. khi đã đáp ứng đủ các tiêu chuẩn kinh tế đặt ra. Tuy nhiên, chỉ có một vài quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu lên thời gian biểu cụ thể cho việc gia nhập hệ thống tiền tệ này. Ví dụ như Thụy Điển đã cố tình không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn thành viên của Liên minh châu Âu để lẩn tránh việc sử dụng đồng euro.
Đồng tiền chung euro được tạo ra nhằm mục đích xây dựng một thị trường duy nhất. Ý nghĩa của hành động này bao gồm việc thúc đẩy các quyền tự do di chuyển, xóa bỏ vấn đề trao đổi ngoại tệ, cải thiện sự minh bạch về giá cả hàng hóa và dịch vụ, thiết lập một thị trường tài chính thống nhất, ổn định giá cả và lãi suất thấp và nhất là hạn chế những tác động tiêu cực do khối lượng giao dịch thương mại nội đại khổng lồ trong phạm vi Liên minh châu Âu. Đồng tiền chung euro cũng chính là biểu tượng chính trị cho sự hòa hợp và phát triển kinh tế liên tục. Từ khi ra mắt đồng euro đến nay, đồng euro đã trở thành đồng tiền dự trữ lớn thứ hai trên thế giới với một phần tư ngoại hối dự trữ là bằng đồng euro. Ngân hàng Trung ương châu Âu, căn cứ trên các hiệp ước của Liên minh châu Âu, chịu trách quản lý chính sách tiền tệ của đồng euro nói chung và Liên minh châu Âu nói riêng.
=== Luật cạnh tranh ===
Liên minh châu Âu thực hiện chính sách cạnh tranh nhằm mục đích đảm bảo tính lành mạnh của việc cạnh tranh kinh tế trong thị trường nội địa Liên minh châu Âu. Hội đồng châu Âu với vai trò là người quản lý luật cạnh tranh chịu trách nhiệm xử lý những vấn đề liên quan đến luật này cũng như cho phép việc sáp nhập và hợp nhất các công ty/tập đoàn lớn của Liên minh châu Âu hay giải thế các cartel để phát triển tự do thương mại và giảm bớt trợ giá từ chính phủ của các quốc gia thành viên cho các công ty/tập đoàn lớn của nước mình.
Thanh tra Liên minh châu Âu về cạnh tranh, hiện tại là ngài Joaquín Almunia, là một trong những vị trí quyền uy nhất trí quyền uy nhất trong Hội đồng châu Âu vì khả năng chi phối đến các lợi ích thương mại của các tập đoàn xuyên quốc gia có liên quan đến Liên minh châu Âu. Điển hình, vào năm 2001, lần đầu tiên Hội đồng châu Âu đã ngăn cản một vụ sáp nhập giữa hai công ty có trụ sở tại Hoa Kỳ (General Electric và Honeywell), vốn đã được chính quyền quốc gia đồng ý cho tiến hành sáp nhập. Một vụ việc đáng quan tâm khác liên quan đến luật cạnh tranh của Liên minh châu Âu đó là việc Hội đồng châu Âu tuyên án phạt Microsoft 777 triệu euro sau 9 năm tranh tụng.
== Dân số ==
Ngày 1 tháng 1 năm 2011, tổng dân số của 27 quốc gia thành viên thuộc Liên minh châu Âu dự tính đạt 501.259.840 người. Tuy Liên minh châu Âu chỉ chiếm 3% diện tích đất liền, dân số liên minh này chiếm đến 7,3% dân số thế giới. Mật độ dân số lên đến 115,9 người/km ² đã khiến cho Liên minh châu Âu trở thành một trong những khu vực đông dân cư nhất trên thế giới.
=== Đô thị hóa ===
Liên minh châu Âu là nơi có nhiều thành phố toàn cầu hơn bất cứ khu vực nào khác trên thế giới, có tất cả 16 thành phố trên một triệu dân, trong đó lớn nhất là Luân Đôn.
Ngoài các thành phố lớn, Liên minh châu Âu còn có những vùng với mật độ dân cư dày đặc với không chỉ một trung tâm đơn lẻ mà mở rộng kết nối với những thành phố khác, hiện nay đều được những vùng đô thị vây quanh. Vùng đông dân nhất là Rhine-Ruhr với khoảng 11,5 triệu dân (bao gồm Köln, Dortmund, Düsseldorf,...), Randstad có xấp xỉ 7 triệu dân (gồm Amsterdam, Rotterdam, The Hague, Utrecht,...), Frankfurt/Rhine-Main có khoảng 5,8 triệu dân (gồm Frankfurt, Wiesbaden,...), Flemish diamond xấp xỉ 5,5 triệu dân (gồm vùng đô thị giữa Antwerp, Brussel, Leuven và Ghent), vùng Öresund xấp xỉ 3,7 triệu dân (gồm Copenhagen, Đan Mạch và Malmö, Thụy Điển) và vùng công nghiệp Thượng Silesia có khoảng 3,5 triệu dân (gồm Katowice, Sosnowiec,...).
=== Ngôn ngữ ===
Trong số rất nhiều ngôn ngữ và tiếng địa phương được sử dụng ở Liên minh châu Âu, có 23 ngôn ngữ chính thức và tiếng phổ thông: Bungary, Séc, Đan Mạch, Hà Lan, Anh, Estonia, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ý, Ailen, Latvia, Litva, Malta, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Rumani, Slovak, Slovenia, Tây Ban Nha và tiếng Thụy Điển. Các tài liệu quan trọng, chẳng hạn như luật pháp, được dịch sang mọi ngôn ngữ chính thức. Nghị viện châu Âu cung cấp các bản dịch tài liệu văn bản và phiên toàn thể ở tất cả các ngôn ngữ. Một số tổ chức sử dụng chỉ một số ít các ngôn ngữ phổ thông nội bộ. Chính sách ngôn ngữ do các thành viên trong liên minh quản lý, nhưng các tổ chức Liên minh châu Âu luôn thúc đẩy việc học các ngôn ngữ khác.
Tiếng Đức là tiếng mẹ đẻ thông dụng nhất (khoảng 88,7 triệu người vào năm 2006), tiếp theo là tiếng Anh, tiếng Ý và tiếng Pháp. Tiếng Anh là ngoại ngữ được nói nhiều nhất và được 51% dân số Liên minh châu Âu sử dụng (bao gồm cả người bản ngữ tiếng Anh), sau đó là tiếng Đức và tiếng Pháp. 56% công dân Liên minh châu Âu có thể tham gia vào các cuộc hội thoại bằng một ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ đẻ. Hầu hết các ngôn ngữ chính thức của Liên minh châu Âu thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, ngoại trừ tiếng Estonia, tiếng Phần Lan, và tiếng Hungary thuộc hệ ngôn ngữ Uralic, tiếng Malta thuộc hệ ngôn ngữ Á-Phi. Hầu hết các ngôn ngữ chính thức của Liên minh châu Âu được viết bằng hệ chữ Latinh trừ tiếng Bungari được viết bằng hệ chữ tiếng Nga và tiếng Hy Lạp được viết bằng chữ cái Hy Lạp.
Bên cạnh 23 ngôn ngữ chính thức, có khoảng 150 ngôn ngữ địa phương và dân tộc thiểu số, với số lượng người nói lên đến 50 triệu người. Trong số này, chỉ có những ngôn ngữ vùng Tây Ban Nha (như Catalan/Valencian, Galician và tiếng Basque hệ phi Ấn-Âu), tiếng Gaelic Scotland, và tiếng Wales là công dân có thể dùng trong giao tiếp với các cơ quan chính của Liên minh châu Âu. Mặc dù các chương trình của Liên minh châu Âu có thể hỗ trợ các ngôn ngữ địa phương và dân tộc thiểu số, việc bảo vệ quyền ngôn ngữ là một vấn đề đối với cá nhân các nước thành viên. Hiến chương châu Âu về ngôn ngữ thiểu số và địa phương (tiếng Anh: "European Charter for Regional or Minority Languages", viết tắt ECRML) được phê chuẩn bởi hầu hết cấc quốc gia thành viên, nêu ra những hướng dẫn chung mà các quốc gia có thể theo đó bảo vệ di sản ngôn ngữ của họ.
=== Tôn giáo ===
Tôn giáo phổ biến nhất trong Liên minh châu Âu là Kitô giáo, mặc dù nhiều tôn giáo khác cũng được thực hành. Liên minh châu Âu chính thức thế tục, mặc dù một số quốc gia thành viên có giáo hội được nhà nước bảo trợ: Malta (Giáo hội Công giáo Rôma), Hy Lạp (Chính thống giáo phương Đông), Đan Mạch (Giáo hội Luther), và các bộ phận của Vương quốc Anh (Anh giáo) và Scotland (Trưởng Nhiệm), tại Đức và một số quốc gia Bắc Âu khác tôn giáo chiếm phần lớn dân số là các nhóm Kháng Cách.
Những lời mở đầu của Hiệp ước Liên minh châu Âu (tiếng Anh, "Treaty on European Union") đề cập đến "di sản văn hoá, tôn giáo và nhân văn của châu Âu" thảo luận trên các văn bản dự thảo Hiến pháp châu Âu. Sau đó, các đề xuất trong lời mở đầu Hiệp ước Lisbon đã đề cập đến Kitô giáo hay Chúa hoặc cả hai nhưng ý tưởng không nhận được sự ủng hộ của phe đối lập và đã bị bác bỏ.
Kitô hữu ở Liên minh châu Âu được phân chia giữa người theo đạo Công giáo Rôma, rất nhiều giáo phái Tin Lành (đặc biệt là ở Bắc Âu), và Chính thống giáo Đông Phương và Công giáo Đông phương (ở miền đông nam châu Âu). Các tôn giáo khác, chẳng hạn như Hồi giáo và Do Thái giáo, cũng góp mặt trong Liên minh châu Âu. Đến năm 2009, ước tính số lượng người theo Hồi giáo tại Liên minh châu Âu là 13 triệu người, còn Do Thái là hơn 1 triệu.
Eurostat của Eurobarometer thăm dò dư luận cho thấy trong năm 2005 là 52% của công dân Liên minh châu Âu tin tưởng vào thần linh, 27% trong "một số loại lực lượng tinh thần, cuộc sống", và 18% không có hình thức của niềm tin. Nhiều quốc gia đã có kinh nghiệm rơi tại nhà thờ và thành viên trong những năm gần đây [. Các quốc gia nơi người dân ít nhất báo cáo một niềm tin tôn giáo đã được Estonia (16%) và Cộng hoà Séc (19%) Các quốc gia tôn giáo nhất là Malta (95%, chủ yếu là Công giáo), và Síp và România cả hai với khoảng 90% công dân tin tưởng vào Thiên Chúa (cả hai chủ yếu là Chính thống giáo Đông). Trên toàn lãnh thổ Liên minh châu Âu, tín ngưỡng tôn giáo phổ biến ở phụ nữ, tăng theo tuổi tác, những người có sự giáo dục tôn giáo, những người bỏ học ở tuổi 15 với một nền giáo dục cơ bản, và những vị cứ phải quy mô chính trị chiếm (57 %).
== Văn hóa ==
Kể từ Hiệp ước Maastricht, hợp tác văn hóa giữa các quốc gia thành viên là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Liên minh châu Âu. Những hành động thiết thực của Liên minh châu Âu trong lĩnh vực này bao gồm chương trình "Văn hóa 2000" kéo dài trong 7 năm, các sự kiện trong "Tháng văn hóa châu Âu", hay chương trình hòa nhạc "Media Plus", và đặc biệt là chương trình "Thủ đô văn hóa châu Âu" – diễn ra đều đặn hàng năm nhằm mục đích tôn vinh một thủ đô đã được lựa chọn trong số các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu.
Thể thao cũng rất được chú ý ở Liên minh châu Âu. Chính sách của Liên minh châu Âu về tự do di chuyển và lao động đã tác động không nhỏ đến nền thể thao của các quốc gia thành viên, điển hình như luật Bosman, đạo luật ngăn cấm việc áp dụng hạn ngạch đối với các cầu thủ mang quốc tịch thuộc Liên minh châu Âu thi đấu trong các giải bóng đá của các quốc gia thành viên khác. Hiệp ước Lisbon còn đòi hỏi các quy định về kinh tế nếu được áp dụng phải tính đến tính chất đặc biệt của thể thao và phải được xây dựng trên tinh thần tự nguyện. Đây là kết quả của các cuộc vận động hành lang tại Ủy ban Olympic quốc tế và FIFA trước sự ngại về việc gia tăng khoảng cách giàu-nghèo giữa các câu lạc bộ trong Liên minh châu Âu nếu các nguyên tắc về thị trường tự do được áp dụng rộng rãi.
== Hình ảnh về Liên minh châu Âu ==
6 thành phố lớn của Liên minh châu Âu
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
EUROPA — Website chính thức của Liên minh châu Âu
Các thể chế chính trị của Liên minh châu Âu
Hội đồng Liên minh châu Âu
Ủy ban châu Âu
Hội đồng bộ trưởng
Nghị viện châu Âu
Ngân hàng Trung ương châu Âu
Tòa án Công lý Liên minh châu Âu
Tòa án kiểm toán châu Âu
EUR-Lex – Luật điều chỉnh Liên minh châu Âu |
ninh bình.txt | Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cửa ngõ cực nam miền Bắc Việt Nam, thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng dù chỉ có 2 huyện duyên hải là Yên Khánh và Kim Sơn có địa hình bằng phẳng. Quy hoạch xây dựng phát triển kinh tế xếp Ninh Bình vào vùng duyên hải Bắc Bộ. Vùng đất Ninh Bình xưa là kinh đô của Việt Nam giai đoạn 968 - 1010 với 3 triều đại Đinh, Tiền Lê, Hậu Lý và cũng là địa bàn quan trọng về quân sự qua các thời kỳ lịch sử. Với vị trí đặc biệt về giao thông, địa hình, lịch sử văn hóa đồng thời sở hữu 2 khu vực là di sản thế giới và khu dự trữ sinh quyển thế giới, Ninh Bình hiện là một trung tâm du lịch có tiềm năng phong phú và đa dạng. Năm 2015, Ninh Bình là tỉnh đầu tiên của đồng bằng sông Hồng có 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Ninh Bình, Tam Điệp).
== Địa lý ==
=== Vị trí ===
Ninh Bình nằm ở vị trí ranh giới 3 khu vực địa lý: Tây Bắc, châu thổ sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Tỉnh này cũng nằm giữa 3 vùng kinh tế: vùng Hà Nội, vùng duyên hải Bắc Bộ và vùng duyên hải miền Trung. Ninh Bình nằm ở trọng tâm của nửa phía Bắc Việt Nam, khu vực các tỉnh từ Thừa Thiên Huế trở ra.
Phía bắc giáp với Hòa Bình, Hà Nam,
Phía đông giáp Nam Định qua sông Đáy,
Phía tây giáp Thanh Hóa,
Phía nam giáp biển Đông.
Điểm cực Đông tại cảng Đò Mười, xã Khánh Thành, Yên Khánh; điểm cực Tây tại rừng Cúc Phương, Nho Quan; điểm cực Nam tại bãi biển gần xã Kim Đông, Kim Sơn và điểm cực Bắc tại vùng núi xã Xích Thổ, Nho Quan. Trung tâm tỉnh là thành phố Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội 93 km về phía nam. Thành phố Tam Điệp cách Thủ đô Hà Nội 105 km.
=== Địa hình ===
Ở vị trí điểm mút của cạnh đáy tam giác châu thổ sông Hồng, Ninh Bình bao gồm cả ba loại địa hình. Vùng đồi núi và bán sơn địa ở phía tây bắc bao gồm các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp. Đỉnh Mây Bạc thuộc rừng Cúc Phương với độ cao 648 m là đỉnh núi cao nhất Ninh Bình. Vùng đồng bằng ven biển ở phía đông nam thuộc 2 huyện Kim Sơn và Yên Khánh. Xen giữa 2 vùng lớn là vùng chiêm trũng chuyển tiếp. Rừng ở Ninh Bình có đủ cả rừng sản xuất và rừng đặc dụng các loại. Có 4 khu rừng đặc dụng gồm rừng Cúc Phương, rừng môi trường Vân Long, rừng văn hóa lịch sử môi trường Hoa Lư và rừng phòng hộ ven biển Kim Sơn. Khu rừng đặc dụng Hoa Lư - Tràng An đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới thuộc quần thể danh thắng Tràng An. Ninh Bình có bờ biển dài 18 km. Bờ biển Ninh Bình hàng năm được phù sa bồi đắp lấn ra trên 100m. Vùng ven biển và biển Ninh Bình đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Hiện 2 đảo thuộc Ninh Bình là đảo Cồn Nổi và Cồn Mờ.
Ninh Bình nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9; mùa đông khô lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau; tháng 4, tháng 10 là mùa xuân và mùa thu, tuy không rõ rệt như các vùng nằm phía trên vành đai nhiệt đới. Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.700-1.800 mm; Nhiệt độ trung bình 23,5 °C; Số giờ nắng trong năm: 1.600-1.700 giờ; Độ ẩm tương đối trung bình: 80-85%.
=== Hành chính ===
Ninh Bình có 2 thành phố và 6 huyện (145 đơn vị hành chính cấp xã gồm 121 xã, 17 phường và 7 thị trấn).
Diện tích:1.400 km²
Dân số: 898.459 người (điều tra dân số 01/04/2009)
Mật độ dân số 642 người/km².
Trên địa bàn tỉnh có hai tôn giáo chính là: Phật giáo và Công giáo Rôma. 15% dân số theo đạo Công giáo. Bản mẫu:Danh sách xã, phường, thị trấn Ninh Bình
=== Khoáng sản ===
Tài nguyên đá vôi: Đá vôi là nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất của Ninh Bình. Với những dãy núi đá vôi khá lớn, chạy theo hướng tây bắc – đông nam, qua Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp, Yên Mô, tới tận biển Đông, dài hơn 40 km, diện tích trên 1.2000ha, trữ lượng hàng chục tỷ mét khối đá vôi và hàng chục triệu tấn đôlômít. Đây là nguồn nguyên liệu lớn để sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng và một số hóa chất khác.
Tài nguyên đất sét: Phân bố rải rác ở các vùng đồi núi thấp thuộc xã Yên Sơn, Yên Bình (Tam Điệp), huyện Gia Viễn, Yên Mô, dùng để sản xuất gạch ngói và nguyên liệu ngành đúc.
Tài nguyên nước khoáng: Nước khoáng Ninh Bình chất lượng tốt, tập trung chủ yếu ở Cúc Phương (Nho Quan) và Kênh Gà (Gia Viễn) có thể khai thác phục vụ sinh hoạt và du lịch với trữ lượng lớn. Đặc biệt nước khoáng Kênh Gà có độ mặn, thường xuyên ở độ nóng 53÷540C. Nước khoáng Cúc Phương có thành phần Magiêbicarbonat cao, sử dụng chế phẩm nước giải khát và chữa bệnh.
Tài nguyên than bùn: Trữ lượng khoảng trên 2 triệu tấn, phân bố ở các xã Gia Sơn, Sơn Hà (Nho Quan), Quang Sơn (Tam Điệp), có thể sử dụng để sản xuất phân vi sinh, phục vụ sản xuất nông nghiệp.
== Lịch sử - Văn hóa ==
=== Lịch sử ===
Ninh Bình xưa cùng với Thanh Hóa thuộc bộ Quân Ninh, nước Văn Lang. Thời thuộc Hán thuộc quận Giao Chỉ, thời thuộc Đông Ngô về sau thuộc Giao Châu, thuộc Lương là châu Trường Yên.
Năm 968, vua Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn 12 sứ quân lên ngôi hoàng đế đóng đô tại Hoa Lư và đổi tên gọi Trường Châu thành Trường An.
Năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) Lý Thái Tổ dời kinh đô về Thăng Long, và Ninh Bình nằm trong phủ Trường An. Nhưng đến cuối đời Lý có lúc gọi là châu Đại Hoàng Giang.
Đầu đời Trần đổi là lộ Trường Yên. Đời Trần Thuận Tông, năm Quang Thắng 10 (1397) đổi trấn Trường Yên làm trấn Thiên Quan.
Thời thuộc Minh lấy lại tên cũ là châu Trường Yên thuộc phủ Kiến Bình.
Đời Lê Thái Tổ lại gọi là trấn. Năm Quang Thuận 10 (1469) đời Lê Thánh Tông định bản đồ toàn quốc, chia trấn Trường Yên làm 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan thuộc trấn Sơn Nam với trung tâm đặt tại Vân Sàng. Đời Lê Trung hưng gọi là trấn Thanh Hoa ngoại.
Đời Tây Sơn và đầu Nguyễn vẫn gọi là Thanh Hoa ngoại trấn, gồm 2 phủ: phủ Trường Yên (sau đổi là Yên Khánh) gồm 3 huyện: Yên Khang (sau đổi là Yên Khánh), Yên Mô, Gia Viễn, và phủ Thiên Quan (sau đổi là Nho Quan) gồm 3 huyện: Yên Hoá, Phụng Hoá, Lạc Thổ (sau đổi là Lạc Yên). Năm Gia Long 5 (1806) đổi Thanh Hoa ngoại trấn làm đạo Thanh Bình. Năm Minh Mệnh 3 (1822) đổi làm đạo Ninh Bình. Năm Minh Mệnh 10 (1829) lại đổi làm trấn, lập thêm 1 huyện mới Kim Sơn (cộng 7 huyện). Năm thứ 12 (1831) đổi làm tỉnh Ninh Bình, quan đầu tỉnh là tuần phủ, đặt dưới quyền của tổng đốc Hà Ninh (quản hạt cả vùng Hà Nội đến tận Ninh Bình). Cho đến đời Đồng Khánh không thay đổi. Đầu đời Thành Thái cắt huyện Lạc Yên về tỉnh Hoà Bình mới lập.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, Ninh Bình hợp nhất với các tỉnh Nam Định và Hà Nam thành tỉnh Hà Nam Ninh rồi lại tái lập ngày 12 tháng 8 năm 1991. Khi tách ra, tỉnh Ninh Bình có diện tích 1.386,77 km², dân số 787.877 người, gồm 2 thị xã Ninh Bình (tỉnh lị), Tam Điệp và 5 huyện: Gia Viễn, Hoa Lư, Hoàng Long, Kim Sơn, Tam Điệp. Ngày 23 tháng 11 năm 1993, huyện Hoàng Long đổi lại tên cũ là huyện Nho Quan. Ngày 4 tháng 7 năm 1994, huyện Tam Điệp đổi lại tên cũ là huyện Yên Mô và tái lập huyện Yên Khánh từ 10 xã của huyện Tam Điệp cũ và 9 xã của huyện Kim Sơn. Ngày 7 tháng 2 năm 2007, chuyển thị xã Ninh Bình thành thành phố Ninh Bình. Ngày 6 tháng 4 năm 2015, chuyển thị xã Tam Điệp thành thành phố Tam Điệp.
Về mặt quân sự, Ninh Bình cũng giữ một vị trí then chốt vì đèo Ba Dội nằm trong dãy Tam Điệp là một cửa giao thông hiểm yếu giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, dùng đường bộ từ Thăng Long vào Thanh Hóa hay từ Đàng Trong ra Đàng Ngoài, đều phải vượt đèo này. Hiện tại, nơi đây là đại bản doanh của Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết Thắng, là một trong bốn binh đoàn chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam. Các đơn vị quân đội khác đóng quân trên địa bàn Ninh Bình gồm có: Lữ đoàn 279 (Phường Nam Sơn, thành phố Tam Điệp); Lữ đoàn 241 (Quỳnh Lưu, Nho Quan); Trung đoàn 202 (Phú Lộc, Nho Quan); Kho J 102 (Thạch Bình, Nho Quan); Sư đoàn 350 (Bích Đào, thành phố Ninh Bình); Viện Quân y 5 (Phúc Thành, TP Ninh Bình); Đồn Biên phòng Kim Sơn và Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Ninh Bình (Kim Đông, Kim Sơn).
=== Văn hóa ===
Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực: Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Đặc điểm đó đã tạo ra một nền văn hóa Ninh Bình tương đối năng động, phát triển trên nền tảng văn minh châu thổ sông Hồng. Đây là vùng đất phù sa cổ ven chân núi có con người cư trú từ rất sớm. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích có xương răng đười ươi và các động vật trên cạn ở núi Ba (Tam Điệp) và một số hang động khác của kỳ đồ đá cũ thuộc nền Văn hóa Tràng An; động Người Xưa (Cúc Phương) và một số hang động ở Tam Điệp, Nho Quan có di chỉ cư trú của con người thời văn hoá Hoà Bình. Sau thời kỳ văn hoá Hoà Bình, vùng đồng bằng ven biển Ninh Bình là nơi định cư của con người thời đại đồ đá mới Việt Nam. Di chỉ Đồng Vườn (Yên Mô) đã được định niên đại muộn hơn di chỉ Gò Trũng. Cư dân cổ di chỉ Đồng Vườn đã phát triển lên cư dân cổ di chỉ Mán Bạc (Yên Thành, Yên Mô) ở giai đoạn văn hoá đồ đồng từ cuối Phùng Nguyên đến đầu Đồng Đậu. Ninh Bình là địa bàn có nhiều di tích khảo cổ học thuộc các thời kỳ văn hóa Tràng An, Hòa Bình, Bắc Sơn, Đa Bút và Đông Sơn.
Vùng đất Ninh Bình là kinh đô của Việt Nam thế kỷ X, mảnh đất gắn với sự nghiệp của 6 vị vua thuộc ba triều đại Đinh - Lê – Lý với các dấu ấn lịch sử: Thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm và phát tích quá trình định đô Hà Nội. Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong các đình, chùa, đền, miếu, từng ngọn núi, con sông. Đây còn là vùng đất chiến lược để bảo vệ Thăng Long của triều đại Tây Sơn với phòng tuyến Tam Điệp, là căn cứ để nhà Trần 2 lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông với hành cung Vũ Lâm, đất dựng nghiệp của nhà Hậu Trần với đế đô ở Yên Mô, các căn cứ quân sự khác như thành nhà Mạc, thành nhà Hồ hiện vẫn còn dấu tích ở Yên Mô...
Thế kỷ XVI - XVII, đạo Công giáo được truyền vào Ninh Bình, dần dần hình thành trung tâm Công giáo Phát Diệm, nay là giáo phận Phát Diệm đặt tại Kim Sơn với 60% tổng số giáo dân toàn tỉnh. Bên cạnh văn hoá của cư dân Việt cổ, Ninh Bình còn có "văn hoá mới" của cư dân ven biển. Dấu ấn về biển tiến còn in đậm trên đất Ninh Bình. Những địa danh cửa biển như: Phúc Thành, Đại An, Con Mèo Yên Mô, cửa Càn, cửa biển Thần Phù cùng với các con đê lịch sử như đê Hồng Đức, đê Hồng Lĩnh, đê Đường Quan, đê Hồng Ân, đê Hoành Trực, đê Văn Hải, đê Bình Minh I, đê Bình Minh II... Cho đến nay vùng đất Ninh Bình vẫn tiến ra biển mỗi năm gần 100 m. Ninh Bình là một tỉnh mở rộng không gian văn hoá Việt xuống biển Đông, đón nhận các luồng dân cư, các yếu tố văn hoá từ Bắc vào Nam, từ biển vào. Kinh tế biển đóng vai trò quan trọng nổi bật như nghề đánh bắt cá biển, nuôi tôm sú, tôm rảo, nuôi cua... Nếp sống của cư dân lấn biển mang tính chất động trong vùng văn hoá môi trường đất mở.
Dãy núi đá vôi ngập nước tạo ra nhiều hang động kỳ thú như: Tam Cốc - Bích Động, động Vân Trình, động Tiên, động Thiên Hà, Tràng An, động Mã Tiên... Bích Động được mệnh danh là "Nam thiên đệ nhị động", Địch Lộng là "Nam thiên đệ tam động". Ở phía nam thành phố Ninh Bình có một quả núi giống hình một người thiếu nữ nằm ngửa nhìn trời gọi là núi Ngọc Mỹ Nhân. Một yếu tố khác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện mạo đa dạng, phong phú của văn hoá Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu ấn văn hoá của các tao nhân mặc khách khi qua vùng sơn thanh thuỷ tú này. Các đế vương, công hầu, khanh tướng, danh nhân văn hoá lớn như Trương Hán Siêu, Trần Thái Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Tản Đà, Xuân Quỳnh về đây, xếp gương, đề bút, sông núi hoá thành thi ca. Nhân cách bác học và phẩm cách văn hoá lớn của các danh nhân đó đã thấm đẫm vào tầng văn hoá địa phương, được nhân dân tiếp thụ, sáng tạo, làm giàu thêm sắc thái văn hoá Ninh Bình.
Hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa ở Ninh Bình gắn liền với tín ngưỡng của vùng đất sinh Vua, sinh Thánh, sinh Thần thông qua các đền thờ Vua (đặc biệt là các Vua Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Trần Thái Tông, Quang Trung và Triệu Quang Phục với số lượng vài chục đền thờ mỗi vị); thờ Thánh (Nguyễn Minh Không và các tổ nghề); thờ Thần (phổ biến là các vị thần Thiên Tôn, thần Cao Sơn và thần Quý Minh trong không gian văn hóa Hoa Lư tứ trấn). Ninh Bình là vùng đất phong phú các lễ hội văn hóa đặc sắc như Lễ hội cố đô Hoa Lư, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ, lễ hội đền Thái Vi... Các lễ hội khác: Lễ hội Báo bản làng Nộn Khê, lễ hội Yên Cư, hội thôn Tập Minh, lễ hội động Hoa Lư, đền Thánh Nguyễn, đền Dâu, hội vật Yên Vệ, lễ hội đền Trần Ninh Bình... các công trình kiến trúc văn hóa như đền Vua Đinh Tiên Hoàng, đền vua Lê Đại Hành, nhà thờ Phát Diệm, chùa Bái Đính, đền Thánh Nguyễn, làng chèo Phúc Trì, Nam Dân, Thượng Kiệm, những trung tâm hát chầu văn, xẩm, ca trù ở đền Dâu, phủ Đồi... Ninh Bình là đất tổ của nghệ thuật hát Chèo, là quê hương các làn điệu hát xẩm, ca trù và của nhiều làng nghề truyền thống như nghề điêu khắc đá Ninh Vân - Hệ Dưỡng, Xuân Vũ, nghề mộc Phúc Lộc, nghề thêu ren Văn Lâm, nghề chiếu cói ở Kim Sơn...
=== Danh nhân ===
Vùng đất Ninh Bình là quê hương của nhiều danh nhân đất Việt tiêu biểu như: Anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn Lê Đại Hành, Danh nhân văn hóa Trương Hán Siêu, Quốc sư Nguyễn Minh Không, Trạng Bồng Vũ Duy Thanh, Anh hùng Lương Văn Tụy, Sử gia Ninh Tốn, Tể tướng Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đinh Điền, Thượng thư Trịnh Tú, Thái sư Lưu Cơ... Ninh Bình cũng là nơi sinh ra những nhà cách mạng tiêu biểu như Thượng tướng Nguyễn Hữu An nguyên Tư lệnh Quân đoàn 2, Bí thư xứ ủy Nam Kỳ Tạ Uyên,...
Hiện nay, Ninh Bình là quê hương của nhiều nhân vật tiêu biểu đang tại chức như:
Đại tướng Trần Đại Quang: Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
Đinh Tiến Dũng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Tài chính Việt Nam, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình
Thượng tướng Nguyễn Văn Thành, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, thứ trưởng Bộ Công an.
Nguyễn Thị Thanh, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Ninh Bình
Nguyễn Thị Thu Hà Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
Lâm Thị Phương Thanh Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII, P. Ban tuyên giáo trung ương.
Trần Quốc Tỏ, Bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên
Trung tướng Bùi Văn Thành, Thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam
Đô đốc Nguyễn Văn Hiến, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, Đô đốc Hải quân Nhân dân Việt Nam
Ngô Văn Khánh, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ
Lê Bộ Lĩnh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường Quốc hội Việt Nam
Tướng Doãn Văn Sở, Tư lệnh Vùng 5 Hải quân Nhân dân Việt Nam.
Tướng Trần Hữu Phúc, Cục trưởng Cục Nhà trường - Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam.
Tướng Đỗ Đình Nghị, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục cảnh sát và quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an
Tướng Nguyễn Thanh Hà, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Bộ Công an
Tướng Nguyễn Huy Khảo, Biệt phái Văn phòng TƯ Đảng, Phó Chánh văn phòng Bộ Công an;
Tướng Bùi Bá Định, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục XDLL, Bộ Công an.
Tướng Nguyễn Quốc Tuấn, Phó Tư lệnh, Bộ Tư lệnh Cảnh sát Cơ động (Việt Nam).
Tướng Phạm Quốc Trung, Giáo sư, tiến sỹ, Hiệu trưởng Trường Đại học Chính trị
Tướng Vũ Hữu Dũng, Chính ủy Học viện Quân y.
Tướng Trần Quyết Tiến, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo binh.
Tướng Lê Ngọc San, Chủ nhiệm khoa Chiến lược, Học viện Quốc phòng.
Đại lão hoà thượng Thích Phổ Tuệ: Giáo chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Giáo sư, tiến sỹ Đinh Gia Khánh; Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc, Nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đình Quang, Nghệ sĩ Nhân dân, Nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Sân khấu Điện ảnh, nguyên Thứ trưởng Bộ văn hoá - Thông tin.
Giáo sư, Tiến sĩ, nhà giáo nhân dân Nguyễn Ngọc San, trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tử Siêm, nguyên Cục trưởng Cục Khuyến nông, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. vv...
Ninh Bình cũng là vùng đất gắn với đỉnh cao sự nghiệp của các danh nhân như Doanh điền Nguyễn Công Trứ, Bà tổ hát chèo Phạm Thị Trân,...
== Hạ tầng ==
=== Giao thông ===
Ninh Bình là một điểm nút giao thông quan trọng, có 9 quốc lộ (trong đó có 6 quốc lộ khởi đầu và 3 quốc lộ đi qua) dàn đều trên tất cả các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh:
Quốc lộ 1A xuyên Việt đi qua các huyện Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, thành phố Ninh Bình và thành phố Tam Điệp với tổng chiều dài gần 40 km; tuyến tránh thành phố dài 17 km;
Quốc lộ 10 (nối từ Quảng Ninh qua các tỉnh duyên hải Bắc bộ: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định) từ cầu Non Nước thành phố Ninh Bình đi các huyện Yên Khánh, Kim Sơn dài 36 km; tuyến tránh Yên Ninh, Phát Diệm dài 17 km.
Quốc lộ 12B nối từ vùng biển Kim Sơn, qua Yên Mô gặp Quốc lộ 1A tại thành phố Tam Điệp qua Nho Quan tới các tỉnh vùng Tây Bắc dài 78 km;
Quốc lộ 21B (nối Hà Đông - Hà Nam - Nam Định - Ninh Bình) từ đê hữu Đáy xã Quang Thiện, Kim Sơn qua Yên Mô đến Tam Điệp dài 32 km.
Quốc lộ 38B nối Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư tới Hải Dương dài 22 km;
Quốc lộ 35 là tuyến đường nối cảng Ninh Phúc tới quốc lộ 1A dài 6 km và là tuyến quốc lộ ngắn nhất Việt Nam.
Quốc lộ 45 nối Nho Quan với Thanh Hóa dài 9 km.
Đường ven biển Việt Nam đi qua thị trấn Bình Minh huyện Kim Sơn dài 8 km.
Đường Bái Đính - Ba Sao - Hà Nội là tuyến quốc lộ mới đang được nâng cấp; đoạn cầu Trường Yên - Đá Hàn dài 16 km.
Ninh Bình cũng là điểm đầu của 3 dự án đường cao tốc là: đường cao tốc Ninh Bình - Cầu Giẽ; Ninh Bình - Thanh Hóa và Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh. Bến xe Ninh Bình nằm gần nút giao thông giữa quốc lộ 1 và quốc lộ 10 ở thành phố Ninh Bình. Mạng lưới giao thông tỉnh lộ khá thuận tiện với những tuyến xe buýt nội tỉnh.
Về giao thông đường sắt Ninh Bình có trục đô thị Tam Điệp – Ninh Bình nằm trên tuyến đường sắt Bắc-Nam. Trên địa bàn tỉnh có các ga Ninh Bình, ga Cầu Yên, ga Ghềnh và ga Đồng Giao.
Về giao thông đường thủy Ninh Bình có hệ thống sông hồ dày đặc: sông Đáy là sông lớn nhất chảy vào giữa ranh giới Ninh Bình với Hà Nam, Nam Định. Hệ thống sông Hoàng Long chảy nội tỉnh cung cấp tưới tiêu cho các huyện phía Bắc. sông Vạc, Sông Càn với nhiều nhánh nhỏ ở các huyện phía Nam. Các sông nội tỉnh khác: sông Vân, sông Bôi, sông Lạng, sông Bến Đang và các hồ lớn như hồ Đồng Thái, hồ Yên Quang, hồ Yên Thắng đem lại nguồn lợi đáng kể về tưới tiêu, giao thông và khai thác thuỷ sản. Cảng Ninh Phúc là cảng sông đầu mối quốc gia. Ngoài ra có cảng Ninh Bình, cảng Cầu Yên, cảng Gián Khẩu, cảng tổng hợp Kim Sơn và cảng Phát Diệm... Hệ thống đường thuỷ gồm 22 tuyến sông trong đó Trung ương quản lý 4 tuyến (sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vạc và kênh nhà Lê) với tổng chiều dài gần 364,3 km.
Có 4 cảng chính do trung ương quản lý là cảng Ninh Bình, cảng Ninh Phúc, cảng ICD Phúc Lộc và cảng Cầu Yên. Cảng K3 (nhà máy nhiệt điện Ninh Bình) cũng đã được nâng cấp là cảng chuyên dụng. Các bến xếp dỡ hàng hoá, khu neo tránh tàu thuyền nằm trên các bờ sông và cửa sông. Cảng sông Ninh Bình có thể đạt công suất 9 triệu tấn/năm, chỉ đứng sau Hà Nội ở miền Bắc.
Một số Cầu thông suốt giao thông có quy mô lớn như: cầu Ninh Bình, cầu Non Nước, cầu Gián Khẩu, cầu Nam Bình, cầu Trường Yên, cầu Kim Chính.
=== Đô thị ===
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn 2050, tỉnh Ninh Bình sẽ có 1 đô thị trung tâm loại I là thành phố Ninh Bình mở rộng khoảng 21.124 hecta, 1 đô thị loại II là Tam Điệp, 2 đô thị loại III là Nho Quan, Phát Diệm và 15 đô thị khác là: Me, Yên Ninh, Yên Thịnh, Gián Khẩu, Rịa, Ngã ba Anh Trỗi, Gia Lâm, Khánh Thành, Khánh Thiện, Vân Long, Bút, Lồng, Bình Minh, Kim Đông, Cồn Nổi. Quy mô với tổng diện tích quy hoạch được xác định là gần 1.390 hecta. Quy hoạch cũng xác định thành phố Ninh Bình sẽ trở thành thành phố trực thuộc Trung ương đến năm 2030 với dân số 1 triệu người.
Đô thị Ninh Bình hiện là đô thị loại II. Dự kiến giai đoạn 2015-2020 sẽ điều chỉnh mở rộng phạm vi, ranh giới để trở thành đô thị loại I như sau: Lấy thành phố Ninh Bình làm trung tâm và sáp nhập toàn bộ diện tích huyện Hoa Lư, một phần đất của thành phố Tam Điệp, Yên Mô, Yên Khánh, Gia Viễn, Nho Quan. Thành phố Ninh Bình là trung tâm văn hóa, lịch sử, du lịch cấp Quốc gia, có ý nghĩa Quốc tế. Là đô thị đầu mối giao thông, cửa ngõ phía Nam vùng duyên hải Bắc Bộ;.
Đô thị Tam Điệp: là thành phố trực thuộc tỉnh, định hướng đến năm 2020 là đô thị loại II. Là trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, du lịch, công nghiệp. Là đô thị đầu mối giao thông và có vị trí quan trọng về mặt an ninh quốc phòng.
Đô thị Phát Diệm: định hướng giai đoạn 2015-2020 trở thành đô thị loại IV và là thị xã trực thuộc tỉnh. Là trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội vùng Đông Nam tỉnh Ninh Bình; có ưu thế phát triển dịch vụ du lịch, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản. Là trung tâm dịch vụ du lịch văn hóa, lịch sử, sinh thái và tôn giáo tín ngưỡng phía Bắc Việt Nam.
Đô thị Nho Quan: Hiện tại là đô thị loại V, định hướng giai đoạn 2015-2020 trở thành đô thị loại IV và là Thị xã trực thuộc tỉnh. Là trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội vùng Tây Bắc tỉnh Ninh Bình. Là đô thị du lịch, công nghiệp, dịch vụ, thương mại khu vực Tây Bắc tỉnh Ninh Bình.
Đô thị Rịa sẽ trở thành trung tâm huyện mới Nho Quan và đô thị Bình Minh sẽ trở thành trung tâm huyện mới Kim Sơn.
Đô thị Vân Long và đô thị Cồn Nổi được xác định là những đô thị du lịch.
== Kinh tế ==
Ninh Bình có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Đây là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa khu vực châu thổ sông Hồng với Bắc Trung Bộ, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng rừng núi Tây Bắc. Thế mạnh kinh tế nổi bật của Ninh Bình là các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch.
Năm 2015, Ninh Bình là địa phương đứng thứ 6 ở Việt Nam chỉ sau Tp HCM, Hà Nội, Bình Dương, Quảng Ninh, Đồng Nai về số doanh nghiệp tư nhân lớn trong tốp 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam với 11 doanh nghiệp là: Công ty cp ô tô Hyundai Thành Công, Tập đoàn The Vissai, Công ty cp Xi măng Hướng Dương, DN TNXD Xuân Trường, Công ty TNHH ĐTXD và PT Xuân Thành, Công ty cp xăng dầu dầu khí Ninh Bình, DNTN Nam Phương, Công ty TNHH Hoàng Hà, Tập đoàn ThaiGroup, Tập đoàn Công nghiệp Quang Trung, Tập đoàn Cường Thịnh Thi.
Năm 2010 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 11/63, liên tục nằm trong nhóm tỉnh đứng đầu miền Bắc. Ninh Bình là một trong những tỉnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn của Việt Nam. Cơ cấu kinh tế trong GDP năm 2014: Công nghiệp - xây dựng: 46,08%; Nông, lâm - ngư nghiệp: 13,94%; Dịch vụ: 39,98%.
=== Công nghiệp ===
Ninh Bình có tiềm năng và thế mạnh phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng với số lượng nhà máy sản xuất xi măng nhiều trong đó nổi bật là các doanh nghiệp xi măng The Vissai, xi măng Hệ Dưỡng (công suất 3,6 triệu tấn/năm), xi măng Tam Điệp, xi măng Phú Sơn, xi măng Duyên Hà, xi măng Hướng Dương... Sản phẩm chủ lực của địa phương là xi măng, đá, thép, vôi, gạch...
Ninh Bình hiện có 7 khu công nghiệp sau:
Khu công nghiệp Gián Khẩu: nằm ở huyện Gia Viễn, bên quốc lộ 1A.
Khu công nghiệp Khánh Phú: nằm ở đông nam thành phố Ninh Bình, bên sông Đáy, gần quốc lộ 10.
Khu công nghiệp Tam Điệp 1: 64 ha ở thành phố Tam Điệp, bên quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam.
Khu công nghiệp Tam Điệp 2: 400 ha, xã Quang Sơn, Tam Điệp, bên đường cao tốc Bắc Nam và gần đường sắt Bắc Nam.
Khu công nghiệp Phúc Sơn: nằm ở thành phố Ninh Bình, bên tuyến đường nối cảng Ninh Phúc (quốc lộ 35).
Khu công nghiệp Khánh Cư: nằm ở huyện Yên Khánh, bên quốc lộ 10
Khu công nghiệp Kim Sơn nằm trong khu kinh tế tổng hợp ven biển có diện tích 500 ha thuộc huyện Kim Sơn, gần đường quốc lộ ven biển Việt Nam.
Ninh Bình còn có 22 cụm công nghiệp với diện tích 880 ha. Các dự án thuộc khu công nghiệp lớn như: Nhà máy đạm Ninh Bình,Công ty Phân lân Ninh Bình (một trong 4 công ty sản xuất phân lân lớn nhất cả nước), Nhà máy xi măng The Vissai; Nhà máy sản xuất và lắp ráp ô tô Thành Công; Nhà máy may xuất khẩu Nien Hsing; Nhà máy sản xuất gia công giày, dép xuất khẩu ADORA; Nhà máy xi măng Tam Điệp... Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 đạt 3.242 tỷ đồng, chiếm 33,6% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, nộp ngân sách Nhà nước 665 tỷ đồng, chiếm 22% thu ngân sách toàn tỉnh; kim ngạch xuất khẩu đạt 39,6 triệu USD, chiếm 49% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. Năm 2011, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 12.826 tỷ đồng, tăng 4.168 tỷ đồng so với thực hiện năm 2010.
Về thu hút đầu tư, Ninh Bình đã có những dự án công nghiệp với mức đầu tư lớn được xây dựng như: Nhà máy Luyện, Cán thép chất lượng cao Kyoei Việt Nam với công suất triệu tấn/năm, công nghệ tự động hóa tiên tiến nhất khu vực Đông Nam Á giải quyết việc làm cho 1500 lao động. Nhà máy đạm Ninh Bình công suất 56 vạn tấn/năm, nhà máy sản xuất phụ tùng động cơ tàu thuỷ Vinashin, nhà máy sản xuất sôđa, nhà máy sản xuất phôi thép Ninh Bình.
Nghề thủ công truyền thống địa phương có: thêu ren Văn Lâm, đá mỹ nghệ Ninh Vân ở Hoa Lư, dệt chiếu và làm hàng cói mỹ nghệ ở Kim Sơn, Yên Khánh..., đan lát mây tre ở Gia Viễn, Nho Quan, làng nghề mộc Phúc Lộc, Ninh Phong (Tp Ninh Bình).
=== Nông nghiệp ===
Ninh Bình có lợi thế phát triển ngành nông nghiệp đa dạng nhiều thành phần. Các vùng chuyên canh nông nghiệp chính của tỉnh: vùng nông trường Đồng Giao chuyên trồng cây công nghiệp như cây dứa thơm, vùng Kim Sơn trồng cây cói làm chiếu, hàng mỹ nghệ, nuôi tôm sú, hải sản, khu vực làng hoa Ninh Phúc, Ninh Sơn trồng hoa và rau sạch. Cơ cấu Nông, lâm, thuỷ sản trong GDP của tỉnh, năm 2007 đạt 26% (mục tiêu đến năm 2010 là 17%). Lĩnh vực nuôi thuỷ sản phát triển khá ổn định, nhất là ở khu vực nuôi thả thuỷ sản nước ngọt. Diện tích nuôi thuỷ sản năm 2007 đạt 9.021 ha, tăng 27,7% so với năm 2004; trong đó diện tích nuôi thả vùng nước ngọt đạt 6.910 ha, nuôi thuỷ sản nước lợ 2.074 ha. Sản lượng thuỷ sản năm 2007 đạt 18.771 tấn. Trong đó sản lượng tôm sú đạt 1.050 tấn, cua biển đạt 1.280 tấn. Tổng giá trị thuỷ sản năm 2007 đạt 350 tỷ đồng, tăng 73,4 tỷ đồng so với năm 2004. Về hạ tầng, tỉnh đang đầu tư, nâng cấp, xây mới nhiều trạm bơm nước, kênh mương. Các tuyến đê quan trọng như: đê biển Bình Minh II; đê tả, hữu sông Hoàng Long; đê Đầm Cút, đê Năm Căn, hồ Yên Quang, âu Cầu Hội... được nâng cấp theo hướng kiên cố hoá.
=== Thương mại - Dịch vụ ===
Ninh Bình có vị trí hội tụ giao thông liên vùng rất thuận lợi cho phát triển lưu thông hàng hóa với các địa phương khác trong cả nước. Về dịch vụ hạ tầng du lịch, Ninh Bình có điều kiện phát triển đa dạng các loại hình du lịch: sinh thái - nghỉ dưỡng, văn hóa - lịch sử - tâm linh, du lịch mạo hiểm, thể thao.
Ninh Bình đang có nhiều nỗ lực kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực du lịch, dịch vụ. Tỉnh coi đây là lĩnh vực kinh tế mũi nhọn. Tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành dịch vụ đạt 16%
Từ năm 2004, Sở Công thương Ninh Bình đã xây dựng quy hoạch mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015. Năm 2008, toàn tỉnh có 107 chợ, trong đó hiện có Chợ Rồng ở thành phố Ninh Bình là chợ loại 1 và 5 chợ loại 2. Các chợ Rồng, chợ Đồng Giao, chợ Nam Dân, chợ Ngò đều được Bộ Công thương quy hoạch thành chợ đầu mối tổng hợp, 3 chợ đầu mối nông sản được đầu tư xây mới là chợ thủy sản Kim Đông, chợ rau quả Tam Điệp và chợ nông sản Nho Quan.
== Thể thao - Y tế - Giáo dục ==
Từ năm 2005 tỉnh có một đội bóng chuyền hạng mạnh là Tràng An Ninh Bình, một đội bóng mạnh trong hệ thống thi đấu bóng chuyền Việt Nam, đoạt danh hiệu vô địch quốc gia các năm 2006, 2010 và năm 2012. Các môn thể thao thế mạnh khác của Ninh Bình là vật, cầu lông và bóng bàn. Một số vận động viên thể thao Ninh Bình tiêu biểu như Nguyễn Đình Cương, Trương Thanh Hằng...
Trước năm 2014, Ninh Bình cùng với Hà Nội, Hải Phòng là 3 địa phương ở phía bắc Việt Nam có đội bóng chuyên nghiệp tham gia giải bóng đá vô địch quốc gia. Câu lạc bộ bóng đá Xi măng The Vissai Ninh Bình lấy sân vận động Tràng An làm sân nhà. sân vận động Ninh Bình là sân vận động cấp 1. Tuy nhiên, từ sau vụ bán độ năm 2014, Câu lạc bộ này đã giải thể.
Từ năm 2010, ngành Y tế Ninh Bình hiện có 2 bệnh viện quân đội là Bệnh viện Quân y 5 của Quân khu 3 và bệnh viện Quân y 145 của Quân đoàn 1; 7 bệnh viện tuyến tỉnh đó là bệnh viện đa khoa Ninh Bình, bệnh viện Y học cổ truyền Ninh Bình (100 giường), Bệnh viện điều dưỡng - PHCN (100 giường), bệnh viện Lao và bệnh phổi Ninh Bình (100 giường), Bệnh viện Tâm thần Ninh Bình (100 giường), Bệnh viện Sản - Nhi Ninh Bình (200 giường) và bệnh viện Mắt Ninh Bình (50 giường).
Về giáo dục và đào tạo tỉnh có Trường Đại học Hoa Lư và 5 trường cao đẳng: Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình; Trường Cao đẳng nghề LILAMA-1; Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình; Trường Cao đẳng Nghề số 13 và Trường Cao đẳng nghề Cơ điện Xây dựng Tam Điệp. Năm 2011, Ninh Bình cùng với Nam Định là 2 tỉnh dẫn đầu về tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT với 99,8%. Kỳ thi tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng năm 2013, tỉnh Ninh Bình xếp thứ 2 toàn quốc về điểm bình quân 3 môn thi của các thí sinh.
== Du lịch ==
Quy hoạch du lịch Việt Nam đến năm 2030 xác định Ninh Bình là một trung tâm du lịch (Ninh Bình và phụ cận) với khu du lịch quốc gia là quần thể di sản thế giới Tràng An và 2 trọng điểm du lịch vườn quốc gia Cúc Phương và khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long.
=== Tiềm năng ===
Ninh Bình có tiềm năng du lịch rất lớn, là nơi có tới 3 danh hiệu UNESCO với quần thể di sản thế giới Tràng An, ca trù và khu dự trữ sinh quyển thế giới Bãi ngang - Cồn Nổi. Nơi đây sở hữu nhiều danh lam, thắng cảnh và di tích lịch sử văn hoá nổi tiếng như:
Cố đô Hoa Lư là kinh đô của nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên ở Việt Nam, hiện còn nhiều di tích cung điện, đền, chùa, lăng mộ... liên quan đến các triều đại Đinh, Tiền Lê và Lý. Nơi đây được Chính phủ Việt Nam xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt.
Chùa Bái Đính là một quần thể gồm khu chùa cổ và khu chùa mới với quy mô là ngôi chùa lớn nhất Đông Nam Á.
Quần thể danh thắng Tràng An với hệ thống các hang động, thung nước, rừng cây và các di tích lịch sử gắn với kinh thành xưa của cố đô Hoa Lư. Nơi đây có 3 vùng lõi đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và được Unesco công nhận là di sản thế giới.
Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động đã được tặng chữ: "Nam thiên đệ nhị động" hay "vịnh Hạ Long cạn" cũng được công nhận di tích thắng cảnh hạng đặc biệt với các điểm du lịch như: Tam Cốc, đền Thái Vi, chùa Bích Động, động Tiên, hang Bụt, thung Nắng, thung Nham, vườn chim v.v.
Vườn quốc gia Cúc Phương với diện tích rừng nguyên sinh khoảng 22.000 ha, là rừng quốc gia đầu tiên của Việt Nam. Nơi đây có nhiều động thực vật quý hiếm, có cây chò ngàn năm tuổi, có động Người Xưa.
Nhà thờ Phát Diệm là công trình kiến trúc tôn giáo kết hợp hài hòa giữa kiến trúc phương đông và phương tây. Là một công trình kiến trúc đá độc đáo.
Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long là khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước lớn nhất đồng bằng Bắc Bộ. Tại đây có suối nước nóng Kênh Gà, động Vân Trình, Kẽm Trống và nhiều núi hang đẹp khác.
Công viên động vật hoang dã quốc gia Việt Nam là nơi bảo tồn và phát triển nguồn gen các loài động vật quý hiếm với khoảng 3.000 cá thể thuộc 250 loài, cung cấp dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí.
Vùng ven biển Kim Sơn - Cồn Nổi với những giá trị kiến tạo địa chất và đa dạng sinh học nổi bật toàn cầu được UNESCO đưa vào danh sách các địa danh thuộc khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng, là một khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam.
Lễ hội Trường Yên là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Là một trong những lễ hội lớn nhất ở Việt Nam, hiện đang được đề nghị tổ chức theo nghi thức Nhà nước với vai trò là ngày Quốc lễ.
Ngoài ra còn có: động Mã Tiên, hồ Đồng Chương, núi Non Nước, sông Hoàng Long, núi Kỳ Lân, chiến khu Quỳnh Lưu, Phòng tuyến Tam Điệp, hồ Đồng Thái, hồ Yên Quang, hồ Yên Thắng - sân golf Hoàng Gia 54 lỗ hiện đại và lớn nhất Việt Nam...
Hiện nay, ngoài quần thể di sản thế giới Tràng An, Ninh Bình có các khu di sản đã và đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới:
Quần thể kiến trúc nhà thờ Phát Diệm: là di sản văn hóa thế giới.
Vườn quốc gia Cúc Phương: là di sản thiên nhiên thế giới.
Ngoài ra, Vườn quốc gia Cúc Phương, hệ thống núi rừng Cố đô Hoa Lư, khu sinh thái Tràng An là những khu vực của Việt Nam có thể được UNESCO công nhận công viên địa chất toàn cầu
=== Khai thác ===
Năm 2013, ngành du lịch Ninh Bình đón được 4,5 triệu lượt du khách, trong đó khách quốc tế là 520.000 lượt; doanh thu đạt 920 tỷ đồng. Năm 2014, ngành đặt mục tiêu phấn đấu đón 4,7 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế là 600.000 lượt, khách nội địa là 4,1 triệu lượt.
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Ninh Bình cùng với Hà Nội và Quảng Ninh được xác định là các trung tâm du lịch của khu vực đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc.
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Ninh Bình đến năm 2030, thành phố Ninh Bình sẽ trở thành một thành phố du lịch; khu vực Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long sẽ trở thành thị trấn Vân Long với vai trò là một đô thị du lịch ở phía bắc Ninh Bình khu vực Cồn Nổi sẽ trở thành thị trấn Cồn Nổi với vai trò là một đô thị du lịch phía nam Ninh Bình.
Được tỉnh xác định là lĩnh vực kinh tế mũi nhọn (Định hướng thu nhập du lịch thuần tuý >10%). Trong những năm gần đây, ngành Du lịch Ninh Bình đang khai thác hiệu quả những tiềm năng, thế mạnh góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của toàn tỉnh.
Ninh Bình được xác định là một trung tâm du lịch của vùng duyên hải Bắc Bộ, sẽ trở thành thành phố du lịch trong tương lai.
=== Đặc sản ẩm thực ===
Đặc sản Ninh Bình nổi tiếng gồm có các món ăn chế biến từ thịt dê núi Ninh Bình, Rượu Kim Sơn, nem chua (Yên Mạc - Yên Mô), miến lươn, cá rô Tổng Trường, dứa Đồng Giao và cơm cháy Ninh Bình. Đặc biệt phát triển mạnh ở các khu du lịch và dọc theo tuyến quốc lộ 1A.
Trong các đặc sản Ninh Bình thì thịt dê núi Ninh Bình là nổi tiếng và độc đáo nhất. Thịt dê Ninh Bình ngon hơn các vùng khác vì: Dê ở đây nuôi trên núi đá vôi, ăn đa dạng các loại lá cây nên thịt săn chắc hơn so với dê thả đồi; Món ăn từ thịt dê được đi kèm với các loại rau thơm địa phương như lá đinh lăng, lá mơ, lá sung và thịt dê được địa phương xây dựng thành món ẩm thực đặc trưng, đậm đà hương vị sông núi quê hương, được kế thừa truyền thống với những bí quyết riêng, biến thịt dê thành món đặc sản nổi tiếng.
== Thơ ca, văn học ==
Trương Hán Siêu có thể coi là người có công đầu phát hiện và khai thác vẻ đẹp Ninh Bình qua hình ảnh núi Non Nước. Ông đặt tên núi là Dục Thúy Sơn và là người đầu tiên lưu bút tích một bài thơ cho các thi sĩ đến thưởng ngoạn, ngắm cảnh làm những bài thơ khắc vào hệ thống đá núi, hang động ở Ninh Bình. Các vua nhà Hậu Lê cũng đặt hành cung ở trên núi Dục Thúy Sơn để đến chơi thăm và vịnh thơ. Hiếm có ngọn núi nào có trên 30 bài thơ văn khắc vào núi như núi Thuý và còn đến hàng trăm bài thơ vịnh cảnh của các nhà thơ qua các triều đại: Trần Anh Tông, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm, Ninh Tốn, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Phạm Văn Nghị... Bài thơ "Dục Thúy Sơn khắc thạch" của Trương Hán Siêu nói về vẻ đẹp núi Dục Thúy ở thành phố Ninh Bình được khắc bên sườn núi, hãy còn bút tích. Các thắng cảnh nằm ở cửa ngõ Ninh Bình như Kẽm Trống và Đèo Ba Dội trên quốc lộ 1A; núi Non Nước, núi Ngọc Mỹ nhân gần quốc lộ 10 đều rất nổi tiếng từ xa xưa trong thơ ca.
Bài thơ "Dục Thuý sơn" của Nguyễn Trãi vừa lột tả vẻ đẹp của thiên nhiên Ninh Bình vừa thể hiện một tâm hồn đẹp và tinh tế về con người và đất nước của Nguyễn Trãi, đó là thái độ trân trọng tha thiết đối với những giá trị văn hóa dân tộc qua tình cảm mà ông dành cho Trương Hán Siêu và vùng đất cố đô:
Cửa biển có non tiên
Từng qua lại mấy phen
Cảnh tiên rơi cõi tục
Mặt nước nổi hoa sen...
Lê Quý Đôn đã cho khắc một bài thơ ở phía tây núi Ngọc Mỹ Nhân khi ông đến thăm nơi đây:
Ruộng phẳng nhô đá biếc
Thế núi tựa diều bay
Chùa ẩn ba đỉnh núi
Sông có cầu qua ngay...
Cao Bá Quát cũng có bài thơ Trên đường đi Ninh Bình (Ninh Bình đạo trung) khi chiêm ngưỡng cảnh đẹp non nước hữu tình:
Sông tựa dải là cô gái đẹp,
Núi như chén ốc khách làng say
Trăng non gió mát kho vô tận,
Chỉ sợ nhà thơ mãi ở đây.
Nữ sĩ Xuân Quỳnh cũng có cái nhìn rất mới về Ninh Bình:
...Nghĩ đến anh em nhớ về hướng núi
Ngọn núi Cánh Diều ngọn núi mây bay
Trời Ninh Bình chiều nay hẳn nhiều mây
Mưa to thế chắc sông tràn bờ cỏ?...
Nữ sĩ Xuân Hương có 2 bài thơ là Kẽm Trống và Đèo Ba Dội nổi tiếng khi đến và chia tay Ninh Bình. Bài thơ Kẽm Trống mở đầu bằng cái nhìn rất cá tính của bà:
Hai bên thì núi, giữa thì sông
Có phải đây là Kẽm Trống không?
Bài Đèo Ba Dội vừa mô tả cảnh đẹp vừa hàm chứa những ẩn ý:
Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân, quân tử ai là chẳng...
Mỏi gối, chồn chân vẫn muốn trèo.
== Tỉnh kết nghĩa ==
Tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam
Tỉnh Cà Mau, Việt Nam.
== Xem thêm ==
Du lịch Ninh Bình
Cố đô Hoa Lư
Quần thể di sản thế giới Tràng An
Di tích ở Ninh Bình
Những địa điểm thành phố Ninh Bình
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Cổng thông tin điện tử Ninh Bình
Cổng thông tin điện tử Sở công thương Ninh Bình
Cổng thông tin điện tử Sở Du lịch Ninh Bình
Sở GD&ĐT Ninh Bình |
sinh sản.txt | Sinh sản là một quá trình sinh học tạo ra các sinh vật riêng biệt mới. Sinh sản là một đặc điểm cơ bản của tất cả sự sống. Các kiểu sinh sản được chia thành hai nhóm chính là sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính.
Đối với sinh sản vô tính, một cá thể mới có thể được tạo ra mà không liên quan gì đến một cá thể khác của loài đó. Sự phân chia của một tế bào vi khuẩn thành 2 tế bào là một ví dụ điển hình về kiểu sinh sản này. Tuy nhiên, sinh sản vô tính không bị giới hạn đối với sinh vật đơn bào mà hầu hết thực vật đều cũng có khả năng sinh sản theo phương thức này.
Sinh sản hữu tính đòi hỏi phải có mối quan hệ giữa hai cá thể, đặc trưng bằng giới tính. Sinh sản bình thường ở người là một ví dụ phổ biến về sinh sản hữu tính.
== Sinh sản vô tính ==
Sinh sản vô tính là quá trình tạo ra một sinh vật mới với các đặc điểm giống hệt cá thể ban đầu mà không có sự đóng góp vật liệu di truyền của một cá thể khác. Vi khuẩn phân chia vô tính bằng cách nhân đôi; virus kiểm soát các tế bào chủ để tạo ra nhiều virus hơn; Thủy tức (các dạng không xương sống thuộc bộ Hydroidea) và nấm men có thể tạo ra bằng cách budding (mọc chồi). Các sinh vật này không có sự khác biệt về giới tính, và chúng có thể chia tách thành hai hay nhiều cá thể. Một số loài 'vô tính' như thủy tức và sứa, chúng có thể sinh sản ở dạng hữu tính. Ví dụ, hầu hết thực vật có khả năng sinh sản sinh dưỡng—hình thức sinh sản mà không cần hạt hoặc bào tử—nhưng cũng có thể sinh sản hữu tính. Tương tự, vi khuẩn có thể biến đổi thông tin di truyền bằng bằng cách tiếp hợp. Những cách sinh sản vô tính khác như trinh sản, phân đoạn và sự phát sinh bào tử chỉ liên quan đến sự phân bào có tơ. Trinh sản là sự lớn lên và phát triển của phôi hoặc mầm mà không cần sự thụ tinh từ con đực. Trinh sản thường gặp trong tự nhiên ở một số loài bao gồm cả thực vật bậc thấp (được gọi là sinh sản không dung hợp), động vật không xương sống (như bọ chét nước, bọ rầy xanh, ong và ong ký sinh (parasitic wasp), và Động vật có xương sống (như một số động vật bò sát, cá, và hiếm hơn là chim và cá mập). Hình thức này đôi khi cũng được dùng để miêu tả cách thức sinh sản ở những loài lưỡng tính có khả năng tự thụ tinh.
== Sinh sản hữu tính ==
Sinh sản hữu tính là một quá trình sinh học tạo ra các sinh vật mới bằng cách kết hợp vật liệu di truyền từ hai các thể khác nhau của loài. Mỗi sinh vật bố mẹ góp một nửa yếu tố di truyền tạo ra giao tử đơn bội. Hầu hết sinh vật tạo ra hai kiểu giao tử khác nhau. Trong các loài bất đẳng giao (anisogamous), hai giới tính gồm đực (sản xuất tinh trùng hay tiểu bào tử) và cái (sản xuất trứng hay đại bào tử). Trong loài đẳng giao (isogamous), các giao tử là tương tự hoặc giống hệt nhau về hình dạng, nhưng có thể chia tách thuộc tính và sau đó chúng có thể được đặt những tên gọi khác nhau. Ví dụ, trong tảo lục, Chlamydomonas reinhardtii, chúng có các giao tử dạng "cộng" và "trừ". Một vài sinh vật như ciliates, chúng có nhiều hơn hai loại giao.
== Xem thêm ==
Mùa sinh sản
Sinh con
Sơ sinh
Trẻ sơ sinh
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
S. P. Otto and D. B. Goldstein. "Recombination and the Evolution of Diploidy". Genetics. Vol 131 (1992): 745-751.
Tobler, M. & Schlupp,I. (2005) Parasites in sexual and asexual mollies (Poecilia, Poeciliidae, Teleostei): a case for the Red Queen? Biol. Lett. 1 (2): 166-168.
Zimmer, Carl. Parasite Rex: Inside the Bizarre World of Nature's Most Dangerous Creatures, New York: Touchstone, 2001.
“allogamy, cross-fertilization, cross-pollination, hybridization”. (ấn bản 2.1). 2002.
“allogamy”. (ấn bản 27). 2004.
== Liên kết ngoài ==
Asexual Reproduction
Journal of Biology of Reproduction
Journal of Andrology |
đại dương.txt | Đại dương là một vùng lớn chứa nước mặn tạo thành thành phần cơ bản của thủy quyển. Khoảng 71% diện tích bề mặt Trái Đất (khoảng 361 triệu km²) được các đại dương che phủ, một khối nước liên tục theo tập quán được chia thành một vài đại dương chủ chốt và một số các biển nhỏ. Trên một nửa diện tích khu vực này có độ sâu trên 3.000 mét (9.800 ft). Độ mặn trung bình của đại dương là khoảng 35 phần ngàn (ppt) (3,5%) và gần như mọi loại nước biển có độ mặn dao động trong khoảng từ 30 (ở vùng cận cực) tới 38 ppt (vùng nhiệt đới/cận nhiệt đới). Nhiệt độ nước bề mặt ở ngoài khơi là 29 °C (84 °F) ở vùng ven xích đạo xuống đến 0 °C (32 °F) ở các vùng địa cực.
== Tổng quan ==
Mặc dù nói chung được công nhận như là các đại dương 'tách biệt', nhưng các vùng nước mặn này tạo thành một khối nước nối liền với nhau trên toàn cầu, thường được gọi chung là Đại dương thế giới hay đại dương toàn cầu. Khái niệm về đại dương toàn cầu như là một khối nước liên tục với sự trao đổi tương đối tự do giữa các bộ phận của nó có tầm quan trọng nền tảng cho hải dương học. Các phần đại dương chính được định nghĩa một phần dựa vào các châu lục, các quần đảo khác nhau cùng các tiêu chí khác: các phần này là (theo trật tự giảm dần của diện tích) Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Nam Đại Dương (đôi khi được phân chia và tạo thành phần phía nam của Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương) và Bắc Băng Dương (đôi khi được coi là một biển của Đại Tây Dương). Thái Bình Dương và Đại Tây Dương cũng có thể phân chia tiếp bởi đường xích đạo thành các phần Bắc và Nam. Các khu vực nhỏ hơn của đại dương được gọi là các biển, vịnh hay một số các tên gọi khác. Cũng tồn tại một số khối nước mặn nhỏ hơn trong đất liền và không nối với Đại dương thế giới, như biển Aral, Great Salt Lake (Hồ Muối Lớn) – mặc dù chúng có thể coi như là các 'biển', nhưng thực ra chúng là các hồ nước mặn. Có 5 đại dương trên thế giới, trong đó Thái Bình Dương là lớn nhất và sâu nhất, thứ hai về diện tích và độ sâu là Đại Tây Dương, tiếp theo là Ấn Độ Dương, Nam Đại Dương còn nhỏ và nông nhất là Bắc Băng Dương.
Nước đại dương luôn luôn chuyển động do tác động của thuỷ triều, gây ra bởi lực hấp dẫn của Mặt Trăng và Mặt Trời đối với Trái Đất, sóng và hải lưu do tác dụng của gió. Các dòng bù trừ phát sinh do sự thiếu hụt của nước. Chẳng hạn nước của Địa Trung Hải bị bốc hơi rất mạnh, ít sông suối đổ vào, do đó nước có độ mặn cao và có tỉ trọng lớn. Nước ở dưới sâu chảy từ Địa Trung Hải ra Đại Tây Dương tạo ra sự thiếu hụt, vì thế một hải lưu bề mặt lại chảy từ Đại Tây Dương vào Địa Trung Hải để bù vào chỗ thiếu hụt đó.
Do độ che phủ bề mặt Trái Đất tới 71% nên các đại dương có ảnh hưởng lớn tới sinh quyển. Sự bốc hơi nước của các đại dương quyết định phần lớn lượng giáng thủy mà Trái Đất nhận được, nhiệt độ nước của các đại dương cũng quyết định phần lớn khí hậu và kiểu gió trên Trái Đất. Sự sống trong lòng đại dương có lịch sử tiến hóa diễn ra khoảng 3 tỷ năm trước khi có sự di chuyển của động, thực vật lên trên đất liền. Lượng sự sống và khoảng cách tính từ bờ biển (yếu tố vô sinh) ảnh hưởng tới sự phân bố chính của quần xã sinh vật biển. Các sinh vật như tảo, rong, rêu sinh sống trong khu vực giáp giới thủy triều (nơi đất liền gặp biển) sẽ cố định chúng vào đá vì thế chúng không bị rửa trôi bởi thủy triều. Đại dương cũng là nơi sinh sống của nhiều loài và có thể phân chia thành vài đới (vùng, tầng) như vùng biển khơi, vùng đáy, vùng chiếu sáng, vùng thiếu sáng v.v.
Về mặt địa chất, đại dương là nơi mà lớp vỏ đại dương được nước che phủ. Lớp vỏ đại dương dày trung bình khoảng 4,5 km, bao gồm một lớp trầm tích mỏng che phủ trên lớp bazan núi lửa mỏng đã đông cứng. Lớp bazan này che phủ lớp peridotit thuộc mặt ngoài của lớp phủ Trái Đất tại những nơi không có châu lục nào. Xét theo quan điểm này thì ngày nay có 3 "đại dương": Đại dương thế giới, biển Caspi và biển Đen, trong đó 2 "đại dương" sau được hình thành do va chạm của mảng Cimmeria với Laurasia. Địa Trung Hải có thể coi là một "đại dương" gần như riêng biệt, nối thông với Đại dương thế giới qua eo biển Gibraltar và trên thực tế đã vài lần trong vài triệu năm trước chuyển động của châu Phi đã đóng kín eo biển này hoàn toàn. Biển Đen thông với Địa Trung Hải qua Bosporus, nhưng là do tác động của một kênh tự nhiên cắt qua lớp đá lục địa vào khoảng 7.000 năm trước, chứ không phải một mảng của đáy biển như eo biển Gibraltar.
== Tính chất vật lý ==
Diện tích của Đại dương thế giới là khoảng 361 triệu km² (139 triệu dặm vuông), dung tích của nó khoảng 1,3 tỷ kilômét khối (310 triệu dặm khối), và độ sâu trung bình khoảng 3.790 mét (12.430 ft). Gần một nửa nước của đại dương thế giới nằm sâu dưới 3.000 m (9.800 ft). Sự mở rộng khổng lồ của đại dương sâu (những gì dưới độ sâu 200m) che phủ khoảng 66% bề mặt Trái Đất. Nó không bao gồm các biển không nối với Đại dương thế giới, chẳng hạn như biển Caspi.
Tổng khối lượng của thủy quyển khoảng 1,4 × 1021 kilôgam, chiếm khoảng 0,023% khối lượng Trái Đất. Dưới 2% là nước ngọt; phần còn lại là nước mặn, chủ yếu trong các đại dương.
Một sai lầm phổ biến cho rằng nước biển có màu xanh lam chủ yếu là do bầu trời có màu xanh lam. Trên thực tế, nước có màu xanh lam rất nhạt chỉ khi được nhìn thấy với một thể tích lớn. Trong khi sự phản chiếu bầu trời có đóng góp vào biểu hiện màu xanh lam của bề mặt đại dương, nhưng nó không phải là nguyên nhân chính Nguyên nhân chủ yếu là sự hấp thụ của các hạt nhân các phân tử nước đối với các photon màu đỏ từ ánh sáng chiếu tới, ví dụ đã biết duy nhất về màu sắc trong tự nhiên tạo ra từ động lực học dao động chứ không phải động lực học điện tử.
Nhiều thủy thủ và các nhà hàng hải chuyên nghiệp thông báo rằng đại dương thường bức xạ ánh sáng nhìn thấy hay phát quang, có thể trải dài hàng dặm vào ban đêm. Năm 2005, các nhà khoa học đã thông báo điều này lần đầu tiên, chứng cứ bằng hình ảnh cũng đã thu được đối với sự phát sáng này. Nó có thể là do phát quang sinh học.
== Thám hiểm ==
Đi lại trên bề mặt đại dương bằng tàu thuyền đã diễn ra từ thời tiền sử, nhưng chỉ ngày nay thì việc đi lại ngầm dưới mặt nước biển một cách rộng khắp mới có thể trở thành hiện thực.
Điểm sâu nhất trong đại dương nằm ở phía nam rãnh Mariana trong Thái Bình Dương, gần quần đảo Bắc Mariana. Nó có độ sâu tối đa là 10.923 m (35.838 ft). Nó được khảo sát chi tiết lần đầu tiên năm 1951 bởi tàu "Challenger II" của hải quân Anh và điểm sâu nhất này được đặt tên theo tên tàu này là "Challenger Deep". Năm 1960, tàu thăm dò biển sâu Trieste đã xuống thành công tới đáy của rãnh, được điều khiển bởi một thủy thủ đoàn gồm 2 người.
Phần lớn đáy các đại dương vẫn chưa được thám hiểm và lập bản đồ. Hình ảnh toàn cầu của nhiều đặc trưng ngầm lớn hơn 10 km (6 dặm) được tạo ra năm 1995 dựa trên các méo mó hấp dẫn của bề mặt biển cận kề.
== Các khu vực/tầng ==
Đại dương được chia ra thành nhiều khu vực hay tầng, phụ thuộc vào các điều kiện vật lý và sinh học của các khu vực này. Vùng biển khơi bao gồm mọi khu vực chứa nước của biển cả (không bao gồm phần đáy biển) và nó có thể phân chia tiếp thành các khu vực con theo độ sâu và độ chiếu sáng. Vùng chiếu sáng che phủ đại dương từ bề mặt tới độ sâu 200 m. Đây là khu vực trong đó sự quang hợp diễn ra phổ biến nhất và vì thế chứa sự đa dạng sinh học lớn nhất trong lòng đại dương. Do thực vật chỉ có thể sinh tồn với quá trình quang hợp nên bất kỳ sự sống nào tìm thấy dưới độ sâu này hoặc phải dựa trên các vật chất trôi nổi chìm xuống từ phía trên (xem tuyết biển) hoặc tìm các nguồn chủ lực khác; điều này thường xuất hiện dưới dạng miệng phun thủy nhiệt trong khu vực gọi là vùng thiếu sáng (tất cả các độ sâu nằm dưới mức 200 m). Phần biển khơi của vùng chiếu sáng được gọi là vùng biển khơi mặt (epipelagic). Phần biển khơi của vùng thiếu sáng có thể chia tiếp thành các vùng nối tiếp nhau theo chiều thẳng đứng. Vùng biển khơi trung (mesopelagic) là tầng trên cùng, với ranh giới thấp nhất tại lớp dị nhiệt là 12 °C, trong đó tại khu vực nhiệt đới nói chung nó nằm ở độ sâu giữa 700 với 1.000 m. Dưới tầng này là vùng biển khơi sâu (bathypelagic) nằm giữa 10 °C và 4 °C, hay độ sâu giữa khoảng 700-1.000 m với 2.000-4.000 m. Nằm dọc theo phần trên của vùng bình nguyên sâu thẳm là vùng biển khơi sâu thẳm (abyssalpelagic) với ranh giới dưới của nó nằm ở độ sâu khoảng 6.000 m. Vùng cuối cùng nằm tại các rãnh đại dương và được gọi chung là vùng biển khơi tăm tối (hadalpelagic). Nó nằm giữa độ sâu từ 6.000 m tới 10.000 m và là vùng sâu nhất của đại dương.
Cùng với các vùng biển khơi thiếu sáng còn có các vùng đáy thiếu sáng, chúng tương ứng với ba vùng biển khơi sâu nhất. Vùng đáy sâu che phủ sườn dốc lục địa và kéo dài xuống độ sâu khoảng 4.000 m. Vùng đáy sâu thẳm che phủ các bình nguyên sâu thẳm ở độ sâu 4.000 – 6.000 m. Cuối cùng là vùng đáy tăm tối tương ứng với vùng biển khơi tăm tối, tìm thấy ở các rãnh đại dương. Vùng biển khơi cũng có thể chia ra thành hai vùng con, là vùng ven bờ (neritic) và vùng đại dương. Vùng neritic bao gồm khối nước nằm ngay trên các thềm lục địa, trong khi vùng đại dương bao gồm toàn bộ vùng nước biển cả còn lại.
Ngược lại, vùng duyên hải bao phủ khu vực nằm giữa các mức thủy triều cao và thấp nhất, nó là khu vực chuyển tiếp giữa các điều kiện đại dương và đất liền. Nó cũng có thể gọi là vùng liên thủy triều do nó là khu vực trong đó mức thủy triều có ảnh hưởng mạnh tới các điều kiện của khu vực.
== Ảnh hưởng khí hậu ==
Một trong những dạng thời tiết gây ấn tượng nhất diễn ra trên các đại dương là các xoáy thuận nhiệt đới, bao gồm bão và áp thấp nhiệt đới. Các hải lưu có ảnh hưởng lớn tới khí hậu Trái Đất bằng cách chuyển dịch các luồng không khí nóng hay lạnh cũng như giáng thủy tới các vùng ven biển, nơi chúng có thể được đưa vào đất liền nhờ gió. Hải lưu vòng Nam Cực xoay quanh châu lục này, có ảnh hưởng tới khí hậu khu vực và nối liền các hải lưu trong các đại dương khác.
== Sinh thái học ==
Các dạng sự sống trong lòng đại dương bao gồm (trong số các dạng khác):
Động vật đối xứng tỏa tròn như sứa và sứa lược
Cá
Các dạng cá voi như cá voi, cá heo và cá nhà táng.
Động vật chân đầu như bạch tuộc, mực.
Động vật giáp xác như cua, tôm hùm và tôm
Giun biển
Sinh vật phù du
Nhuyễn thể
Động vật da gai (đuôi rắn, sao biển, hải sâm, nhím biển)
Thực vật như tảo, rong biển
== Kinh tế ==
Các đại dương là thiết yếu trong vận tải: phần lớn hàng hóa trên thế giới được vận chuyển bằng tàu biển giữa các hải cảng trên thế giới. Các kênh vận tải quan trọng có đường thủy Saint Lawrence, kênh đào Panama, kênh đào Suez.
Các đại dương cũng là nguồn quan trọng cung cấp các sản phẩm có giá trị trong ngư nghiệp. Trong số này có tôm, cua, cá.
== Đại dương cổ ==
Trôi dạt lục địa đã tái định hình thể cho các đại dương của Trái Đất, kết hợp và chia cắt các đại dương cổ để tạo ra các đại dương như hiện nay. Các đại dương cổ có:
Đại dương sông Bridge, đại dương nằm giữa quần đảo Insular cổ đại và Bắc Mỹ.
Đại dương Iapetus, đại dương ở Nam bán cầu nằm giữa Baltica và Avalonia.
Panthalassa, đại dương toàn cầu rộng lớn mênh mông, bao quanh siêu lục địa Pangaea.
Đại dương Rheic
Đại dương núi Slide, đại dương nằm giữa quần đảo Intermontane cổ đại và Bắc Mỹ.
Đại dương Tethys, đại dương nằm giữa các lục địa cổ Gondwana và Laurasia.
Đại dương Khanty, đại dương nằm giữa Baltica và Siberia.
Mirovia, đại dương bao quanh siêu lục địa Rodinia.
Đại dương Paleo-Tethys, đại dương nằm giữa Gondwana và địa hình Hunic.
Đại dương Proto-Tethys,
Đại dương Pan-Africa, đại dương bao quanh siêu lục địa Pannotia.
Superocean, đại dương bao quanh siêu lục địa toàn cầu.
Đại dương Ural, đại dương nằm giữa Siberi và Baltica.
== Đại dương ngoài Trái Đất ==
Xem thêm Nước lỏng ngoài Trái Đất
Trái Đất là hành tinh duy nhất đã biết có nước lỏng trên bề mặt và có lẽ cũng là duy nhất trong hệ Mặt Trời. Tuy nhiên, nước lỏng được cho là tồn tại dưới bề mặt của các vệ tinh Galileo Europa và ít chắc chắn hơn là Callisto cùng Ganymede. Các mạch nước phun cũng đã được tìm thấy trên Enceladus, mặc dù chúng có thể không đòi hỏi phải có các khối nước lỏng. Các vệ tinh bị đóng băng khác có thể đã từng có các đại dương bên trong mà hiện nay đã bị đóng băng, chẳng hạn như Triton. Các hành tinh như Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương có thể cũng chiếm hữu các đại dương lớn chứa nước lỏng phía dưới bầu khí quyển dày của chúng, mặc dù cấu trúc nội tại của chúng hiện nay vẫn chưa được hiểu rõ.
Hiện tại còn nhiều tranh cãi về việc Sao Hỏa đã từng có hay không có đại dương chứa nước tại bắc bán cầu của nó và về điều gì đã xảy ra đối với các đại dương này nếu như chúng đã từng tồn tại; các tìm kiếm gần đây của phi vụ Mars Exploration Rover chỉ ra rằng nó có một số lượng nước tồn tại trong thời gian dài ở ít nhất một vị trí nhưng phạm vi của nó lại chưa rõ.
Các nhà thiên văn học tin rằng Sao Kim từng có nước lỏng và có lẽ có cả các đại dương trong lịch sử rất sớm của nó. Nếu chúng từng tồn tại, mọi dấu vết của chúng dường như đã bị làm tan biến trong quá trình tái tạo bề mặt của Sao Kim.
Các hydrocacbon lỏng được cho là tồn tại trên bề mặt Titan, mặc dù chúng có lẽ chính xác hơn nên miêu tảnhư là các "hồ" thay vì các "đại dương". Phi vụ tàu vũ trụ Cassini-Huygens ban đầu đã phát hiện ra chỉ những cái dường như là các đáy hồ và các lòng sông khô kiệt, gợi ý rằng Titan đã đánh mất các chất lỏng bề mặt mà nó có thể đã từng có. Chuyến bay gần đây sát Titan của Cassini đã chụp lại các bức ảnh radar gợi ý mạnh mẽ rằng các hồ hydrocacbon gần vùng cực của Titan, nơi nó lạnh hơn. Titan cũng được cho là có đại dương nước dưới mặt đất do sự phối trộn của băng và các hydrocacbon tạo ra lớp vỏ ngoài cùng của nó.
Ceres thể hiện dự phân dị thành lõi đá và lớp phủ băng và có thể tồn tại một đại dương ước lỏng bên dưới đề mặt của nó.
Ngoài hệ Mặt Trời, Gliese 581 c là hành tinh nằm ở khoảng cách hợp lý từ mặt trời của nó (sao lùn đỏ Gliese 581) để nước lỏng có thể tồn tại trên bề mặt hành tinh này. Do nó không đi ngang qua mặt trời của nó nên không có cách nào để biết là trên đó có nước hay không. HD 209458b có thể có hơi nước trong khí quyển của nó—điều này hiện nay còn gây tranh cãi lớn. Gliese 436 b được tin tưởng là có "băng nóng". Không có hành tinh nào trong số hai hành tinh này đủ lạnh để nước lỏng có thể tồn tại—nhưng nếu các phân tử nước tồn tại tại đó thì chúng rất có thể cũng được tìm thấy trê các hành tinh ở nhiệt độ phù hợp.
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Tài liệu ==
Matthias Tomczak và J. Stuart Godfrey. 2003. Regional Oceanography: an Introduction. (xem website)
"Origins of the oceans and continents". Bản đồ đại dương thế giới của Liên hiệp quốc.
== Liên kết ngoài ==
Ocean Explorer – Nguồn tài liệu giáo dục và tham khảo từ NOAA
Hình ảnh hải dương học trong ngày – từ Viện hải dương học Woods Hole
Ocean Motion - Nguồn tài liệu giáo dục và tham khảo từ NASA
NOS Data Explorer – Cổng thông tin để thu thập dữ liệu từ Cục đại dương quốc gia (NOS) của NOAA
Science taps into ocean secrets
Why is the ocean salty?
Ủy ban hải dương học liên chính phủ
Oceana – Bảo vệ Đại dương của Thế giới
CORE - Côngxoocxiom về nghiên cứu và giáo dục hải dương học
NOPP - National Oceanographic Partnership Program
NOSB - National Ocean Sciences Bowl
CoML - Census of Marine Life
World Ocean Observatory
Greenpeace Defending our Oceans
The Last Days of the Ocean, a Mother Jones special report on the state of the ocean
Dự án The Ocean
Ocean Voyager, chuyến hành trình năm phần để bảo vệ biển, do tạp chí Mother Jones tạo ra
The Ocean Conservancy - Advocates for Wild, Healthy Oceans
NOAA DChart – Biểu đồ và dữ liệu đại dương từ Google Earth
Bản đồ các đại dương của Liên hiệp quốc
Hiệp hội nghề cá Hoa Kỳ
Hiệp hội Cousteau
Viện nghiên cứu môi trường biển
Cục ngư nghiệp của NOAA
Cục đại dương quốc gia của NOAA
Ocean Alliance
Hiệp hội Ocean Futures
National Office for Integrated and Sustained Ocean Observations
One Fish
Blue Ocean Institute
Changing Currents: Charting a Course of Action for the Future of Oceans
Shuttle Views the Earth: Oceans from Space
World Ocean Day - Celebrate our World's Ocean! |
bà nà.txt | 15.995667°B 107.994204°Đ / 15.995667; 107.994204
Núi Bà Nà là một trong những núi đẹp nhất Đà Nẵng cùng với núi Ngũ Hành Sơn và núi Sơn Trà.
== Vị trí ==
Núi Bà Nà toạ lạc 1 khu vực thuộc về dãy núi Trường Sơn nằm ở xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, cách Đà Nẵng 25 km về phía Tây Nam. Trung tâm du lịch của Bà Nà nằm trên đỉnh Núi Chúa có độ cao 1489 m so với mực nước biển.
== Lịch sử ==
=== Trước năm 1945 ===
Tiếp nối sự khám phá và xây dựng Đà Lạt, vào tháng 2-1900, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer cử đại úy Victor Adrien Debay thuộc Quân đội Pháp thám sát vùng núi lân cận khu vực Đà Nẵng - Huế để tìm kiếm thêm điểm nghỉ mát, dưỡng sức và chữa bệnh. Sau nhiều đợt thăm dò, đến tháng 4-1901, đoàn thám hiểm của Debay đã tìm ra núi Chúa, tức Bà Nà, trên đỉnh địa hình khá bằng phẳng, khí hậu tương tự như Đà Lạt và chỉ cách thành phố Đà Nẵng về phía tây chừng 46 km.
Nhưng mãi đến năm 1912, khi toàn quyền Đông Dương ra nghị định biến Bà Nà thành một khu bảo tồn lâm nghiệp thì việc nghiên cứu rặng núi này mới được đẩy mạnh. Và rồi tháng 5 năm 1919, luật sư Beisson trở thành người đầu tiên xây dựng nhà nghỉ ở Bà Nà.
Nguồn gốc tên gọi Bà Nà, có người cho rằng khi người Pháp đặt chân đến vùng này thấy rất nhiều cây chuối nên gọi là núi Banane, lâu dần người Việt đọc chệch thành Bà Nà. Còn nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng chữ Bà Nà là tiếng Người Katu nghĩa là "núi của tui". Một truyền thuyết khác cho rằng tên núi là tên viết tắt của Bà Ponagar hay bà Thiên Y A Na Thánh Mẫu.
Đến năm 1912, người Pháp tiến hành quy hoạch khu Bà Nà, có chính sách bảo vệ động thực vật, điều tra và nắm bắt dân cư chung quanh khu vực Bà Nà. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), người Pháp đẩy mạnh xây dựng khu nghỉ mát Bà Nà, hoàn tất con đường nối Bà Nà với đường thuộc địa số 1 (sau này là quốc lộ 1) trong năm 1919, tạo điều kiện dễ dàng cho những công sở, quan chức và kiều dân Pháp đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng, kinh doanh ở Bà Nà. Tính đến 23-7-1921, tại Bà Nà đã có 39 lô đất được cấp phép xây dựng của 36 chủ đầu tư, phân bố trải đều theo cụm.
Lúc đầu, xe hơi chạy từ Đà Nẵng đến Bà Nà phải dừng ngang tại cây số 28 ở Phú Thượng; đoạn còn lại đi bằng kiệu ghế hoặc ngựa, mất khoảng 3-4 giờ mới đến khu nghỉ mát. Năm 1928, đoạn đường cuối cùng lên đỉnh Bà Nà hoàn tất, với hơn 15 km đường đất quanh co, uốn lượn. Lượng du khách đến Bà Nà trong thời gian đầu vẫn còn khá ít ỏi.
Thống kê của Pháp năm 1925 cho biết, chỉ có chừng 120 du khách chọn Bà Nà để nghỉ ngơi. Sau khi đường lên đỉnh núi được hoàn tất, số du khách mới tăng dần, đến năm 1937 đã đạt được con số hơn 1.000 người, phần lớn là người Pháp và quan chức người Việt. Các dịch vụ như điện, nước, bệnh viện, bưu điện, ngân hàng, khách sạn... đã được đưa vào phục vụ du khách. Bà Nà dần trở thành một khu nghỉ dưỡng nổi tiếng không chỉ ở Trung Kỳ mà ở toàn khu vực Đông Dương. Năm 1938, Bà Nà đã được Phòng Du lịch Đông Dương đưa vào tour du lịch 8 ngày bằng xe hơi tuyến Sài Gòn - Đà Lạt - Nha Trang - Quy Nhơn - Đà Nẵng - Huế - Vinh - Hà Nội - Hải Phòng và ngược lại. Kiệu ghế được xem là một phương tiện di chuyển đầy lý thú và rất điển hình cho du lịch Bà Nà xưa với lượng du khách ngang với những khu nghỉ mát thời đó như Le Bockor (Campuchia), Mũi Saint Jacques (Vũng Tàu), Tam Đảo, Sapa…
=== Sau năm 1945 ===
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Bà Nà dần vắng bóng người. Khi Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ 2, nhân dân địa phương thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến nên đã triệt hạ các công trình xây dựng ở Bà Nà. Từ đấy, khu nghỉ mát hoang phế dần và bị cây rừng che phủ trong quên lãng gần nửa thế kỷ. Đầu năm 1998, UBND thành phố Đà Nẵng quyết định xây dựng lại Bà Nà thành một khu du lịch sinh thái có quy mô lớn với hệ thống nhà nghỉ, nhà hàng, khu bảo tồn... Con đường từ chân núi lên đỉnh Bà Nà dài 15 km đã được rải nhựa, thuận tiện cho giao thông. Sau năm 2000, Bà Nà đã được đánh thức và tái tạo vị thế một thị trấn du lịch và nhanh chóng trở lại ngôi vị của một trong những khu du lịch nổi tiếng nhất của thành phố Đà Nẵng.
== Đặc điểm ==
=== Khí hậu ===
Rặng núi này có chế độ khí hậu nhiệt đới với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 15-20 °C, cao nhất chỉ đến 22 - 25 °C, còn về đêm, nhiệt độ trung bình về đêm khoảng 15 - 17 °C
=== Sinh thái ===
Bà Nà có những giá trị sinh thái và du lịch to lớn,. Càng lên cao, nhiệt độ càng giảm và độ ẩm càng tăng.
Hệ thực vật đa dạng và độc đáo với khoảng 136 họ, 379 chi và hơn 543 loài (có 251 loài cây thuốc).
Hệ động vật: 256 loài động vật có xương sống (61 loài thú, 178 loài chim và 17 loài bò sát)
Năm 1986, Bà Nà đã được Chính phủ công nhận là khu dự trữ thiên nhiên, đối tượng bảo vệ và là rừng nhiệt đới gồm nhiều loại động thực vật quý hiếm cần được bảo vệ như trầm hương, gụ lậu, sến mặt, thông chàng, trĩ sao, gấu đen châu Á, vượn má hung... Bà Nà có nhiều khu rừng nguyên sinh được phân bổ theo các sườn dốc khá hiểm trở.
== Điểm tham quan ==
=== Chùa Linh Ứng ===
Được hoàn thành vào ngày 5 - 3 - 2004, chùa có rất nhiều nét giống với Chùa Tam Thai (Ngũ Hành Sơn), đặc biệt, ngôi chùa có một bức tượng Đức Bổn Sư cao 27 m màu trắng. Xung quanh đế tượng có 8 mặt thể hiện 8 giai đoạn của cuộc đời Đức Phật. Chùa còn có Vườn Lộc Uyển - nơi đức Phật thuyết giáo lần đầu tiên
=== Các khu nghỉ mát ===
Trên núi Bà Nà, các khu vực nghỉ mát của binh lính Pháp đã xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 mà hiện giờ tồn tại qua các phế tích giữa rừng, ngày nay, các ngôi biệt thự, nhà nghỉ đã được xây dựng lại và xuất hiện trong các khu resort: Bà Nà by night, Lê Nim, Biệt thự Hoàng Lan,... Và trong những năm gần đây, thành phố Đà Nẵng vẫn đang tiếp tục khôi phục và xây dựng một số biệt thự cổ, khu văn hóa Phật giáo, hầm rượu và hàng loạt khách sạn, biệt thự, quán bar, sân tennis, sân cầu lông...
=== Suối Mơ ===
Khi đi Cáp treo Bà Nà để đi lên đỉnh Vọng Nguyệt, nhiều du khách có thể nhìn xuống dưới và nhìn thấy suối Mơ đang chảy ở bên dưới. Vào mùa hè, suối Mơ trở nên rất đông khách du lịch vì nơi đây có ngọn thác Tóc Tiên 9 tầng trông giống như mái tóc của một nàng tiên
=== Cáp treo Bà Nà - Núi Chúa ===
Công trình xây dựng trên tổng thể 30 ha do Công ty Cổ phần Dịch vụ cáp treo Bà Nà tiến hành xây dựng vào năm 2007 với các hạng mục: nhà ga đi và đến nối từ An Lợi cho đến đỉnh Vọng Nguyệt, khu kỹ thuật, nhà điều hành, và các công trình phụ trợ. Tổng vốn đầu tư hơn 300 tỷ đồng .
Toàn bộ tuyến cáp treo bao gồm 22 trụ, 94 cabin, công suất 1500 khách/giờ, vận tốc trung bình 6m/s
Ngày 25 - 3 - 2009, Cáp treo Bà Nà chính thức được khánh thành, lập 2 kỷ lục Guinness:
Cáp treo 1 dây dài nhất thế giới (Longest non - stop cable car): 5.801 m
Cáp treo có độ cao chênh lệch giữa ga trên và ga dưới lớn nhất thế giới (The highest non - stop cable car): 1.368 m
Hiện nay, Công ty cổ phần dịch vụ cáp treo Bà Nà dự kiến khai trương tuyến thứ 2 dài 697,67 m, với kinh phí đầu tư 100 tỷ đồng thay thế cho hệ thống cáp treo cũ xây vào năm 2000 đi từ đồi Vọng Nguyệt đến khu trung tâm (Núi Chúa) chỉ mất 3 phút.
== Quang cảnh ==
Từ đỉnh núi Bà Nà, về phía Tây là dãy Trường Sơn, Phía Đông là đồng lúa Hòa Vang. Từ đây du khách dễ dàng nhìn thấy bán đảo Sơn Trà, sông Thu Bồn, Hội An, nội thành Đà Nẵng.
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Bà Nà - Dạo Bước Trong Mây - Báo Du lịch tháng 3 - 2008 trang 18
Trang web thành phố Đà Nẵng
== Liên kết ngoài ==
Bà Nà trên trang web thành phố Đà Nẵng |
1917.txt | 1917 (số La Mã: MCMXVII) là một năm thường bắt đầu vào thứ Hai trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1917
== Sự kiệnSửa đổi ==
=== Tháng 1Sửa đổi ===
=== Tháng 2Sửa đổi ===
1 tháng 2 - Đức bắt đầu lại cuộc chiến tranh toàn diện trên biển
13 tháng 2 - Mata Hari bị bắt
24 tháng 2 - Tình báo Anh giao cho Hoa Kỳ tập công văn của Zimmermann, bộ trưởng ngoại giao Đức gửi cho México đề nghị nước này hợp tác với Đức chống lại Hoa Kỳ
=== Tháng 3Sửa đổi ===
1 tháng 3 - Hoa Kỳ công bố tập tài liệu về công văn của Zimmermann
8 tháng 3 - Cách mạng Tháng Hai bắt đầu ở Nga
11 tháng 3 - Anh Quốc chiếm Bagdad
15 tháng 3 - Nga hoàng Nikolai II thoái vị
23 tháng 3 - Hoàng đế Áo-Hung Karl I đề nghị hòa bình
=== Tháng 4Sửa đổi ===
6 tháng 4 - Hoa Kỳ tuyên chiến với Đế quốc Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất
16 tháng 4 - V. I. Lenin trở về Nga và chiến dịch Nivelle bắt đầu ở mặt trận phía tây.
17 tháng 4 - Lenin công bố "Luận cương tháng Tư"
19 tháng 4 - Anh, Pháp, Ý ký thỏa ước chia lãnh thổ Châu Á thuộc đế quốc Ottoman cho Ý
=== Tháng 6Sửa đổi ===
16 tháng 6 - Khai mạc đại hội Xô viết toàn Nga lần thứ nhất
=== Tháng 7Sửa đổi ===
1 tháng 7 - Bắt đầu cuộc tổng tấn công của Kerensky ở mặt trận phía đông
20 tháng 7 - Hiệp ước Korf về việc thành lập vương quốc Nam Tư
=== Tháng 8Sửa đổi ===
14 tháng 8 - Trung Quốc tuyên chiến với Đế quốc Đức
30 tháng 8 - Khởi nghĩa chống thực dân Pháp của Đội Cấn
=== Tháng 10Sửa đổi ===
3 tháng 10 - Tôn Trung Sơn lập chính phủ Nam Trung Hoa
13 tháng 10 - Hiện tượng mặt trời di chuyển một cách bí ẩn xảy ra tại Fatima, Bồ Đào Nha
21 tháng 10 - Lenin từ Phần Lan trở về chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa
24 tháng 10 - Bắt đầu trận Caporetto ở mặt trận Ý
=== Tháng 11Sửa đổi ===
2 tháng 11 - Tuyên bố Balfour về vấn đề Palestine
7 tháng 11 - Cách mạng Tháng Mười thành công ở Nga
15 tháng 11 - Tuyên ngôn về quyền các dân tộc ở nước Nga
20 tháng 11 - Mở màn trận Cambrai
=== Tháng 12Sửa đổi ===
7 tháng 12 - Hoa Kỳ tuyên chiến với Đế quốc Áo-Hung
9 tháng 12 - Jerusalem thất thủ về tay Anh
15 tháng 12 - Đình chiến ở mặt trận phía đông giữa Nga và các nước Liên minh Trung tâm
19 tháng 12 - Phần Lan tuyên bố độc lập
== SinhSửa đổi ==
2 tháng 5 - Văn Tiến Dũng, Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam (mất 17 tháng 3 năm 2002)
29 tháng 5 - John F. Kennedy, Tổng thống Hoa Kỳ thứ 35 (m. 1963)
26 tháng 9 - Trần Đức Thảo, nhà triết học Việt Nam (mất 1993)
10 tháng 10 - Kim Ngọc - nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phú, Việt Nam (mất 1979)
19 tháng 11 - Indira Gandhi, Thủ tướng Ấn Độ (m. 1984)
== MấtSửa đổi ==
16 tháng 1 - George Dewey, đô đốc hải quân Mỹ
8 tháng 3 - Ferdinand von Zeppelin, người đã phát minh ra khí cầu Zeppelin
13 tháng 8 - Eduard Buchner, nhà hóa học người Đức, đoạt giải Nobel hóa học năm 1907
20 tháng 8 - Adolf von Baeyer, nhà hóa học người Đức, đoạt giải Nobel hóa học năm 1905
15 tháng 10 - Mata Hari, vũ nữ và điệp viên người Hà Lan
=== không rõ ngàySửa đổi ===
Octave Mirbeau, (s. 1848)
== Giải NobelSửa đổi ==
Vật lý - Charles Glover Barkla
Hóa học - Ben Williams
Y học - không có giải
Văn học - Karl Adolph Gjellerup, Henrik Pontoppidan
Hòa bình - International Committee of the Red Cross
== Xem thêmSửa đổi ==
== Tham khảoSửa đổi == |
bộ thông tin và truyền thông (việt nam).txt | Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và Internet; truyền dẫn phát sóng; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử; phát thanh và truyền hình và cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông quốc gia; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
== Nhiệm vụ và quyền hạn ==
=== Sự hình thành ===
Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam là một bộ mới được Quốc hội khóa XII phê chuẩn thành lập theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.
Bộ này được thành lập trên cơ sở Bộ Bưu chính Viễn thông, sáp nhập với Cục Báo chí và Cục Xuất bản thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin cũ. Bộ trưởng đầu tiên của Bộ Thông tin và Truyền thông là ông Lê Doãn Hợp.
=== Nhiệm vụ và Quyền hạn ===
== Cơ cấu tổ chức ==
=== Lãnh đạo Bộ ===
Bộ trưởng:Trương Minh Tuấn.
Thứ trưởng:
Nguyễn Minh Hồng;
Nguyễn Thành Hưng;
Phạm Hồng Hải.
Phan Tâm.
Hoàng Vĩnh Bảo
=== Khối các đơn vị tham mưu ===
Vụ Bưu chính
Vụ Công nghệ thông tin
Vụ Khoa học và Công nghệ
Vụ Kế hoạch - Tài chính
Vụ Hợp tác quốc tế
Vụ Pháp chế
Vụ Tổ chức cán bộ
Thanh tra
Văn phòng
=== Khối các đơn vị chức năng ===
Cục Tần số vô tuyến điện
Cục Viễn thông
Cục An toàn thông tin
Cục Tin học hoá
Cục Báo chí
Cục Xuất bản, In và Phát hành
Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử
Cục Thông tin đối ngoại
Cơ quan đại điện của Bộ tại thành phố Hồ Chí Minh
Cơ quan đại diện của Bộ tại thành phố Đà Nẵng
=== Khối các đơn vị sự nghiệp ===
Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông
Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông
Trung tâm Internet Việt Nam
Trung tâm Thông tin
Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền thông
Báo Bưu điện Việt Nam
Trung tâm Báo chí và Hợp tác truyền thông Quốc tế
Trường Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ quản lý Thông tin và Truyền thông
Viện Công nghiệp phần mềm và nội dung số Việt Nam
Báo điện tử Vietnamnet
Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Thông tin & Truyền thông
=== Doanh nghiệp trực thuộc ===
Tổng Công ty Truyền thông Đa phương tiện Việt Nam (VTC)
Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam (VNPOST)
Công ty TNHH MTV Thông tin Di Động MobiFone (VMS) từ ngày 01/07/2014
== Tổ chức Quốc tế tham gia ==
Liên minh Bưu chính Quốc tế (UPU): 1 tháng 10 năm 1951: Chính thức được công nhận là quốc gia hội viên do Quốc gia Việt Nam rồi Việt Nam Cộng hòa kế tiếp đại diện; từ ngày 15 tháng 3 năm 1976: Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam thừa kế quyền hội viên của Việt Nam Cộng hòa; 23 tháng 8 năm 1976 Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới chính thức gia nhập.
Liên minh Bưu chính châu Á Thái Bình Dương (APPU): Tham gia ngày 28 tháng 1 năm 1987.
Tổ chức liên minh viễn thông quốc tế (ITU): Tham gia năm 1976.
Liên minh viễn thông châu Á - Thái Bình Dương (APT): Tham gia tháng 10 năm 1979.
Tổ chức vệ tinh viễn thông quốc tế ITSO (INTELSAT cũ): Tham gia năm 1975.
Tổ chức quốc tế về Thông tin vũ trụ Intersputnik: Tham gia năm 1979.
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương và nhóm công tác chuyên ngành về Viễn thông và công nghệ thông tin của APEC và APEC Tel.
Trung tâm thông tin mạng khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APNIC).
== Lịch sử phát triển ==
== Cựu Lãnh đạo ==
Đặng Văn Thân - Ông Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện (từ 1986 đến 1997); Tiến sĩ; Anh hùng Lao động Thời kỳ Đổi mới; Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Đại biểu Quốc hội, nguyên Bí thư Ban Cán sự Đảng Tổng cục Bưu điện.
Mai Liêm Trực - Tổng cục trưởng; Phó Bí thư Ban Cán sự Đảng Tổng cục Bưu điện (từ 1997 đến 2002); Thứ trưởng Thường trực Bộ Bưu chính Viễn thông (từ 2002 đến 2005).
Đỗ Trung Tá - Bộ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông (từ 2002 đến 2007); nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đỗ Quý Doãn: Nguyên Ủy viên Ban Cán sự Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (nghỉ hưu ngày 1/10/2013)
Lê Doãn Hợp: Nguyên UVTW Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông;
Nguyễn Bắc Son: Nguyên UVTW Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông;
Lê Nam Thắng: Nguyên Ủy viên Ban Cán sự Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông;
Trần Đức Lai: Nguyên Ủy viên Ban Cán sự Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông;
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức |
ngày của mẹ.txt | Ngày Hiền Mẫu hay Ngày của Mẹ là một ngày kỷ niệm để tôn vinh các người mẹ và tình mẹ, và ảnh hưởng của các bà mẹ trong xã hội. Lễ này được tổ chức vào các ngày khác nhau ở nhiều nơi trên thế giới, phổ biến nhất là trong mùa xuân.
Phổ quát nhất là Ngày của Mẹ (Tiếng Anh: Mother's Day) đương thời được khởi xướng bởi bà Anna Marie Jarvis tại thành phố Grafton, tiểu bang Tây Virginia, Hoa Kỳ, để tôn vinh những người mẹ hiền, đặc biệt là trong khung cảnh của mái ấm gia đình. Theo truyền thống của Hoa Kỳ và đa số các quốc gia trên thế giới ngày nay, Ngày Hiền Mẫu được tổ chức hằng năm vào ngày Chủ Nhật thứ nhì của tháng 5. Một số quốc gia khác cũng có các ngày lễ tương tự được tổ chức vào các ngày khác trong năm.
== Lịch sử ==
Thời Hy Lạp cổ đại, lễ hội tôn vinh nữ thần Cybele (tiếng Hy Lạp: Κυβέλη Kybele, Κυβήβη Kybebe, Κύβελις Kybelis), mẹ của tất cả các vị thần Hy Lạp, được tổ chức vào thời điểm Xuân Phân (khi mặt trời ở gần xích đạo nhất). Trong khi đó tại La Mã cổ đại, người ta ăn mừng lễ hội Matronialia để tôn vinh nữ thần Juno, nữ hoàng của các vị thần La Mã, vợ của thần Jupiter. Theo phong tục, các người mẹ tại La Mã cũng được tặng quà trong ngày này.
Tại Châu Âu, nhiều quốc gia có tục lệ để dành riêng một ngày Chủ Nhật trong năm để tôn vinh những người mẹ hiền, điển hình là ngày Mothering Sunday tại những nước có đông giáo dân của các chi nhánh Thiên Chúa giáo như Vương Quốc Anh. Lễ Mothering Sunday được tổ chức vào Chủ Nhật thứ tư vào Mùa Chay, cũng là để tôn vinh Đức Mẹ.
Bản Tuyên Ngôn Ngày Hiền Mẫu ("The Mother's Day Proclamation") của bà Julia Ward Howe là một trong những lời kêu gọi đầu tiên để tôn vinh các người mẹ tại Hoa Kỳ. Được viết vào năm 1870, bản tuyên ngôn này là sự phản ứng ôn hòa đối với sự tàn phá của cuộc Nội chiến Hoa Kỳ cũng như là cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ. Bản tuyên ngôn này dựa trên nền tảng của chủ nghĩa nữ quyền, với ý tưởng người phụ nữ cũng có trách nhiệm uốn nắn xã hội trên con đường chính trị. Julia Ward Howe có ý định thành lập một ngày lễ mang tên "Ngày Hiền Mẫu vì Hòa Bình" (Mother's Day for Peace), nhưng phong trào này dần lụi tàn vì không đủ kinh phí và không vượt ra khỏi khu vực địa phương. Tuy nhiên, ý tưởng của bà Howe đã gây ảnh hưởng lớn đến không ít phụ nữ trong xã hội, điển hình là bà Ann Maria Reeves Jarvis, nữ giáo viên tại trường học của ngôi thánh đường mang tên Thánh Andrew tại thành phố Grafton, tiểu bang West Virginia.
Trong bối cảnh Nội chiến Hoa Kỳ, Bà Ann Maria Reeves Jarvis tập hợp các phụ nữ khác với sứ mệnh chăm sóc cho các thương binh từ cả hai miền Nam Bắc. Sau khi cuộc chiến chấm dứt, bà khởi xướng phong trào mang tên Ngày Các Hiền Mẫu Làm Việc (Mothers' Work Days) vào năm 1858 cùng với các bà mẹ của các chiến binh từ cả hai miền để nhấn mạnh các hoạt động xã hội vì hòa bình và hòa giải. Ann Maria Reeves Jarvis qua đời tại thành phố Philadelphia vào năm 1905. Tại ngôi mộ của mẹ mình, cô con gái Anna Marie Jarvis thề rằng sẽ nối gót theo chân mẹ và thành lập một ngày lễ dành riêng cho các người hiền mẫu, còn sống cũng như đã qua đời.
Hai năm sau đó, năm 1907, cô Anna Marie Jarvis tổ chức một buổi lễ nhỏ tưởng niệm mẹ cô. Năm sau, 1908, cô mang 500 đóa hoa Cẩm chướng đến tặng cho từng người mẹ tham dự thánh lễ tại Nhà thờ Thánh Andrew, nơi mà mẹ cô từng dạy học khi xưa. Nhà thờ Thánh Andrew lần đầu tiên tổ chức một thánh lễ ngày Chủ Nhật đặc biệt để vinh danh các người hiền mẫu trong cộng đoàn. Năm 1910, Thống đốc bang West Virginia, William E. Glasscock là người đầu tiên công bố ngày của mẹ. Cô Anna Marie tiếp tục tranh đấu không ngừng để quảng bá ngày lễ này khắp nơi.
Năm 1914, bản nghị quyết do Quốc hội lưỡng viện Hoa Kỳ thông qua và được Tổng thống Woodrow Wilson ký đã chính thức thành lập Ngày Hiền Mẫu vào ngày chủ nhật thứ hai trong tháng 5. Từ đó, lễ vinh danh người hiền mẫu đã lan rộng và đã được thông qua bởi các quốc gia khác và hiện nay được tổ chức trên toàn thế giới.
Tại Hoa Kỳ, Ngày của Mẹ vẫn là một trong những ngày có doanh số lớn nhất về bán hoa, thiệp chúc mừng, và cho các cuộc gọi điện thoại đường dài, và cũng là ngày có nhiều người đi nhà thờ nhất sau lễ Giáng Sinh và Phục Sinh. Một số tín hữu đi lễ vẫn kỷ niệm ngày này với hoa cẩm chướng, màu đỏ nếu người mẹ họ đang còn sống và màu trắng nếu mẹ của họ đã qua đời.
Ý tưởng của Anna Jarvis (1864-1948) là tạo một ngày để vinh danh người mẹ riêng của mỗi người, không phải là một lễ kỷ niệm tất cả các bà mẹ trên thế giới. Bà cũng chỉ trích sự thương mại hóa và sự lạm dụng ngày lễ cho những mục đích thương mại, theo bà ngày của Mẹ là một dịp để thể hiện tình yêu và lòng biết ơn, không phải là cơ hội khai thác lợi nhuận, bà cũng phản đối việc mua quà và thiệp chúc mừng được làm sẵn, mà qua đó bà nhận thấy như là một dấu hiệu của sự quá lười biếng để viết một bức thư cá nhân.
== Truyền thống và lịch sử trên thế giới ==
Đa số các quốc gia trên thế giới ngày nay kỷ niệm Ngày Hiền Mẫu với các phong tục bắt nguồn từ Bắc Mỹ và châu Âu. Khi được phổ biến tại các quốc gia khác, Ngày Hiền Mẫu đôi khi được thay đổi đôi chút để phản ảnh nền văn hóa từng nơi, một số nước để hợp nhất ngày lễ này với những sự kiện quan trọng của bản xứ (ví dụ như tôn giáo, lịch sử, và truyền thuyết).
Một số quốc gia đã có sẵn một ngày lễ hội dành riêng cho người mẹ và vay mượn thêm các tục lệ của Ngày Hiền Mẫu, như là việc con cái tặng hoa cẩm chướng cũng như là thiệp viết bằng tay cho mẹ mình. Tại những quốc gia mà Ngày Hiền Mẫu chưa được phổ biến, giới truyền thông nhắc đến ngày lễ này như là một cách giới thiệu văn hóa của nước ngoài.
Tại một số quốc gia mà Ngày Hiền Mẫu chưa được phổ biến, như tại các quốc gia theo Xã hội chủ nghĩa, người ta cũng dùng Ngày Quốc tế Phụ nữ vào ngày 8 tháng 3 để tôn vinh những người mẹ.
=== Tôn giáo ===
Đối với Kitô Giáo, ngày lễ này được nối liền với sự tôn kính Đức Mẹ, như là lễ Mothering Sunday (ngày Chủ nhật của Tình Mẹ) tại Vương quốc Liên hiệp Anh vào Chủ Nhật thứ tư trong mùa Chay, đúng ba tuần trước lễ Phục Sinh; và Chính Thống giáo tại Hy Lạp với Lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong đền thánh (ngày 2 tháng 2 theo Lịch Julius). Trong giáo hội Kitô giáo Đông phương, một lễ cầu nguyện đặc biệt được tổ chức nhằm tôn vinh Mẹ Thiên Chúa (Theotokos).
Đối với các quốc gia có đông tín đồ Ấn giáo, ngày lễ này được đánh dấu với cuộc hành hương "Mata Tirtha Aunshi" trong tháng trăng non Vaisakha (vào khoảng tháng 4 hay tháng 5 theo Lịch Gregorius).
Phật giáo và phong tục Trung Hoa có ngày lễ Vu Lan, còn được hiểu là lễ báo hiếu, xuất phát từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ.
=== Quốc gia ===
==== Anh ====
Ngày này bắt nguồn ở Anh vào thế kỷ 17, được gọi là Mothering Sunday. Lễ được tổ chức vào Chủ Nhật thứ tư trong mùa Chay. Vào ngày này, dù ở đâu đi nữa, những đứa con cũng sẽ về thăm lại gia đình.
==== Mỹ ====
Năm 1914, bản nghị quyết do Quốc hội lưỡng viện Hoa Kỳ thông qua và được Tổng thống Woodrow Wilson ký đã chính thức thành lập Ngày Hiền Mẫu.
Tại Mỹ, các chi tiêu tài chính trong Ngày của Mẹ chỉ thua ngày lễ Giáng sinh. Theo ước tính của Liên đoàn bán lẻ Hoa Kỳ, trung bình khoảng 139 USD được dành chi tiêu cho mỗi món quà tặng mẹ. Việc thương mại hóa, đề cao chi tiêu và có phần làm lu mờ ý nghĩa thật trong ngày này đã bị nhiều chỉ trích từ nhiều người hoạt động cộng đồng, kể cả từ bà Anna Marie Jarvis, là người nêu ý tưởng thành lập ngày vinh danh Mẹ.
==== Việt Nam ====
Trước đây chỉ có ở miền Nam với Lễ Vu Lan, nhưng những năm gần đây do sự lan rộng của Internet và các phương tiện thông tin đại chúng, ngày lễ đã được phổ biến cả nước và được mọi người hưởng ứng. Vào ngày này, những người con nhớ ơn mẹ sẽ dành đến cho mẹ của mình những món quà ý nghĩa, từ vật chất đến tinh thần.
Ngày dành cho các bà mẹ ở Việt Nam còn có Lễ Vu Lan, ngoài ra còn có các ngày dành cho phụ nữ như 8 tháng 3 (Quốc tế Phụ nữ), Ngày Phụ nữ Việt Nam.
== Trên thế giới ==
Tuy Ngày Hiền Mẫu được tổ chức vào rất nhiều ngày khác nhau trên thế giới, hai ngày phổ biến nhất là ngày Chủ Nhật thứ nhì của tháng 5 theo truyền thống Mother's Day của Hoa Kỳ, tiếp theo là ngày Chủ Nhật thứ tư của Mùa Chay theo truyền thống Mothering Sunday của Vương quốc Liên hiệp Anh.
Chú ý: Các quốc gia ăn mừng ngày Ngày Quốc tế Phụ nữ thay vì ăn mừng Ngày Hiền Mẫu được đánh dấu '†'.
Vì Lịch Hồi giáo dựa trên Âm lịch, vốn ngắn hơn năm Dương lịch, ngày lễ mỗi năm đều lọt vào các mùa khác nhau. Bởi thế, nó được liệt vào một danh sách riêng.
== Mạng xã hội và Ngày của Mẹ ==
Nhân dịp Ngày của Mẹ, Facebook - mạng xã hội lớn nhất thế giới, từ năm 2016, đã chính thức thêm nút BIẾT ƠN vào danh sách nút LIKE.
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
LEIGH Eric Schmidt (1997). Princeton University Press, biên tập. Consumer Rites: The Buying and Selling of American Holidays . tr. 256–275. ISBN 0691017212. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
LAROSSA, Ralph (1997). University of Chicago Press, biên tập. The Modernization of Fatherhood: A Social and Political History . tr. 90,170-192. ISBN 0226469042. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
NEWCOMER, Daniel (2004). Reconciling modernity: urban state formation in 1940s León, Mexico . University of Nebraska Press. tr. 132–139. ISBN 0803233493, 9780803233492 . Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
SHERMAN, John W. (1997). The Mexican right: the end of revolutionary reform, 1929-1940 . Greenwood Publishing Group. tr. 44. ISBN 0275957365, 9780275957360 . Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
== Xem Thêm ==
Lễ Vu Lan
Ngày Quốc tế Phụ nữ
Ngày của Cha
Ngày Thiếu nhi
== Liên kết ngoài ==
Tuần Việt Nam - Món quà Ngày hiền mẫu cho tôi
International Mother's Day Shrine
Mother's Day History |
núi bạch mã.txt | Núi Bạch Mã hay Dãy Bạch Mã là một dãy núi đẹp, là ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Thừa Thiên-Huế và thành phố Đà Nẵng. Dãy núi này nằm trong vườn quốc gia Bạch Mã.
== Vị trí ==
Núi là một phần của Dãy Trường Sơn chạy cắt ra sát biển. Nằm giữa tỉnh Thừa Thiên-Huế và thành phố Đà Nẵng, nơi đây có đèo Hải Vân nổi tiếng nằm cách Huế 60 km về phía Nam.
== Đặc điểm ==
Núi Bạch Mã có đỉnh cao 1.444 m. Trên đỉnh núi hùng vĩ bốn mùa xanh tươi với thác nước, suối, rừng,... Núi Bạch Mã còn là nơi quy tụ nhiều loại động vật và thực vật quý hiếm ở miền nhiệt đới. Bạch Mã nằm cách biển chỉ có 18 km nên hòa với không khí của rừng núi là chút hương vị của biển.
== Lịch sử ==
Cho đến đầu thế kỷ 20Bạch Mã chỉ là một khu rừng núi hoang sơ, chưa ai khai phá nhưng đến cuối năm 1925, kế hoạch thành lập và bảo tồn khu vườn quốc gia gần Huế đã làm mọi người chú ý đến vùng núi này.
Một kỹ sư người Pháp là Girard đã tổ chức khai phá vùng núi này vào năm 1932 nhằm phát triển du lịch của Bạch Mã. Sự việc này gia tăng số lượng khu nghỉ mát ở trên núi gồm các biệt thự, khách sạn và kéo theo đó là phát triển giao thông công cộng. Dù vậy các công trình này chủ yếu phục vụ giới thượng lưu có tiền thời đó cùng các quan chức của Pháp.
Sau khi chiến tranh giữa Pháp và Việt Nam kết thúc vào năm 1954, Bạch Mã bị lãng quên khiến các ngôi nhà xây trên núi bị thời gian phá dần. Phải đến năm 1960, chính phủ Việt Nam Cộng hòa quyết định thành lập lại Vườn quốc gia Bạch Mã nhưng chiến tranh tiếp tục kéo dài liên miên. Khu Bạch Mã được dùng làm căn cứ quân sự của quân đội Mỹ trong chiến tranh.
Sau năm 1975 khi hòa bình lập lại, chính phủ đã có nhiều dự án phát triển trồng trọt tại khu này nhưng vẫn thất bại do điều kiện thời tiết. Với sự thành lập chính thức Vườn quốc gia Bạch Mã của chính phủ Việt Nam, Bạch Mã đã dần dần được bảo tồn và phát triển phục vụ du lịch.
== Xem thêm ==
Đèo Hải Vân
Vườn quốc gia Bạch Mã
== Tham khảo == |
phát hành lần đầu ra công chúng.txt | Phát hành lần đầu ra công chúng, còn gọi là IPO (viết tắt theo tiếng Anh: Initial Public Offering) là việc chào bán chứng khoán lần đầu tiên ra công chúng. Khái niệm công chúng được hiểu là một số lượng nhà đầu tư đủ lớn với giá trị chứng khoán chào bán cũng đủ lớn. Sau khi phát hành lần đầu ra công chúng, một công ty cổ phần sẽ trở thành công ty đại chúng (hay công ty cổ phần đại chúng).
== Lý do dẫn đến IPO ==
Với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, các công ty có thể huy động được nhanh và nhiều vốn thông qua việc tiến hành IPO trên thị trường chứng khoán. Cổ phiếu của công ty cũng có thể đạt được tính thanh khoản rất cao và các giá trị gia tăng về giá sau khi IPO. Đó là một trong những lý do chính khiến các doanh nghiệp tiến hành IPO
== Đấu giá thực hiện IPO ==
Có 3 phương thức tổ chức đấu giá căn cứ vào giá trị cổ phần bán đấu giá và quyết định của Ban chỉ đạo cổ phần hóa.
- Tại doanh nghiệp
- Tại tổ chức tài chính trung gian (Công ty chứng khoán)
- Tại Trung tâm giao dịch chứng khoán/Sở giao dịch chứng khoán
Bước 1 - Chuẩn bị đấu giá
- Cơ quan quyết định cổ phần hóa/Ban chỉ đạo cổ phần hóa xác định giá khởi điểm của cổ phần đấu giá.
- Công bố thông tin về doanh nghiệp chuẩn bị tổ chức đấu giá tối thiểu 20 ngày trước ngày tổ chức đấu giá.
- Phối hợp với cơ quan tổ chức đấu giá thuyết trình về doanh nghiệp cho nhà đầu tư nếu cần.
Bước 2 - Thực hiện đấu giá
- Cơ quan tổ chức đấu giá tiến hành nhận đơn đăng ký mua và tiền đặt cọc của nhà đầu tư theo quy chế đấu giá.
- Nhà đầu tư bỏ phiếu tham dự đấu giá bằng các hình thức: Bỏ phiếu trực tiếp tại doanh nghiệp (nếu tổ chức đấu giá tại doanh nghiệp); Bỏ phiếu trực tiếp tại tổ chức tài chính trung gian (nếu tổ chức đấu giá tại tổ chức tài chính trung gian); Bỏ phiếu trực tiếp tại Trung tâm giao dịch chứng khoán/Sở giao dịch chứng khoán và các đại lý được chỉ định; Bỏ phiếu qua đường bưu điện do cơ quan tổ chức đấu giá quy định.
Bước 3 - Tổ chức đấu giá và xác định kết quả đấu giá
- Cơ quan tổ chức đấu giá tiến hành các thủ tục bóc phiếu tham dự đấu giá và nhập các thông tin vào phần mềm đấu giá.
- Xác định kết quả đấu giá theo nguyên tắc lựa chọn giá đặt mua từ cao xuống thấp đến khi đủ số lượng cổ phần chào bán. Tại mức giá trúng thầu thấp nhất, với trường hợp các nhà đầu tư cùng đặt mức giá bằng nhau, nhưng tổng số cổ phần còn lại ít hơn tổng số cổ phần đăng ký mua thì số cổ phần của từng nhà đầu tư được mua xác định như sau:
Số cổ phần nhà đầu tư được mua = Số cổ phần còn lại x (Số cổ phần từng nhà đầu tư đăng ký mua/Tổng số cổ phần các nhà đầu tư đăng ký mua)
- Lập các biên bản liên quan đến buổi đấu giá gửi cho cơ quan quyết định cổ phần hóa, Ban chỉ đạo cổ phần hóa, doanh nghiệp và cơ quan tổ chức đấu giá
- Công bố kết quả đấu giá cổ phần và thu tiền mua cổ phần.
Bước 4 - Xử lý các trường hợp vi phạm quy chế đấu giá
- Việc xử lý các trường hợp vi phạm được thực hiện theo quy định của quy chế đấu giá.
- Nhà đầu tư không được nhận tiền đặt cọc nếu vi phạm quy chế đấu giá.
Bước 5 - Xử lý đối với số cổ phần không bán hết trong đấu giá nếu có
- Nếu sổ cổ phần nhà đầu tư từ chối mua nhỏ hơn 30% tổng số cổ phần chào bán thì Ban chỉ đạo cổ phần hóa thực hiện bán tiếp cho các nhà đầu tư đã tham dự đấu giá theo phương thức thỏa thuận với giá không thấp hơn giá đấu thành công bình quân của cuộc đấu giá.
- Nếu số lượng cổ phần nhà đầu tư trúng thầu từ chối mua từ 30% tổng số cổ phần chào bán trở lên thì Ban chỉ đạo cổ phần hóa xem xét, quyết định tổ chức bán đấu giá tiếp số cổ phần từ chối mua (đấu giá lần 2). Giá khởi điểm trong trường hợp đấu giá lần 2 này không được thấp hơn giá đấu thành công thấp nhất.
== Các cách thức chào bán của IPO ==
Việc IPO có nhiều cách thức để tiến hành. Các dạng có thể thấy là:
Đấu giá kiểu Hà Lan.
Bảo lãnh cam kết.
Dịch vụ với trách nhiệm cao nhất.
Mua buôn để chào bán lại và
Tự phát hành.
Do các thủ tục pháp lý phức tạp và chế tài khá chặt chẽ và rắc rối, mỗi vụ IPO thường cần một số công ty khác nhau hỗ trợ, đặc biệt niêm yết ở Hoa Kỳ; trong đó có công ty luật, công ty chứng khoán, công ty kiểm toán hỗ trợ.
Cổ phiếu IPO thường được bán cho các nhà đầu tư tổ chức với quy mô lớn. Cổ phiếu này cũng có thể dành ra một tỷ lệ nhỏ cổ phần bán cho các khách hàng cá nhân quan trọng do các công ty bảo lãnh đứng ra dàn xếp. Ở các thị trường chứng khoán tại các nước đã phát triển, nhà phát hành thường thả lỏng một điều khoản cho phép các nhà bảo lãnh có thể tự ý tăng quy mô phát hành cổ phiếu IPO lên tới 15% so với dự kiến theo kế hoạch đã thống nhất để linh hoạt phản ứng trước nhu cầu thị trường, gọi là phương án greenshoe. Greenshoe là điều khoản được nhất trí thực thi khi nhu cầu mua của thị trường tăng quá cao, đẩy giá lên, thì việc phát hành thêm tối đa 15% giúp bình ổn giá. Đôi lúc nhà phát hành không đồng ý vì họ không có kế hoạch sử dụng tiền do tăng thêm lượng cổ phần bán ra.
== IPO ở Việt Nam ==
Tại các nước phát triển, hầu hết các công ty trước khi đi vào hoạt động hoặc sau một quá trình phát triển đều tiến hành IPO. Công việc này được biết đến ở Việt Nam trong thời gian gần đây và được các công ty tiến hành khá nhanh, mạnh khi cảm nhận được các thế mạnh của nó.
Với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, các công ty có thể huy động được nhanh và nhiều vốn thông qua việc tiến hành IPO trên thị trường chứng khoán. Cổ phiếu của công ty cũng có thể đạt được tính thanh khoản rất cao và các giá trị gia tăng về giá sau khi IPO.
== Liên kết ngoài ==
== Chú thích == |
chủ nghĩa cộng sản.txt | Bài này nói về chủ nghĩa cộng sản như một hình thái xã hội và như một phong trào chính trị. Xin xem bài hệ thống xã hội chủ nghĩa, đảng cộng sản và chủ nghĩa xã hội để tìm hiểu thêm.
Chủ nghĩa cộng sản (cụm từ có nguồn gốc từ tiếng Trung 共產主義 cộng sản chủ nghĩa) là một mô hình kinh tế xã hội và hệ tư tưởng chính trị ủng hộ việc thiết lập xã hội phi nhà nước, không giai cấp, tự do, bình đẳng, dựa trên sự sở hữu chung và điều khiển chung đối với các phương tiện sản xuất nói chung. Karl Marx cho rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ là giai đoạn cuối cùng của lịch sử, đạt được qua một cuộc cách mạng vô sản. Trong xã hội cộng sản, các quyết định về việc sản xuất cái gì và theo đuổi những chính sách gì được lựa chọn một cách dân chủ, cho phép mọi thành viên của xã hội tham gia vào quá trình quyết định trong cả hai lĩnh vực chính trị và kinh tế. Việc sản xuất và phân phối của cải được tiến hành công bằng giữa các công dân. Karl Marx chưa bao giờ miêu tả chi tiết về việc chủ nghĩa cộng sản sẽ vận hành như thế nào trong vai trò một hệ thống kinh tế - xã hội, nhưng người ta hiểu rằng một nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa sẽ dựa trên sở hữu toàn dân đối với các tư liệu sản xuất.
Chủ nghĩa cộng sản cố gắng đưa ra một giải pháp khác cho các vấn đề của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và di sản của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa dân tộc. Marx khẳng định rằng cách duy nhất để giải quyết các vấn đề này là tầng lớp lao động (vô sản), những người mà theo Marx là lực lượng chính tạo ra của cải vật chất trong xã hội và là những người bị tầng lớp tư bản (tư sản) bóc lột, đứng lên làm tầng lớp cầm quyền thay cho giới tư sản để thiết lập một xã hội tự do, không phân biệt giai cấp hay chủng tộc. Nhà nước đại diện cho người lao động đã được tổ chức thành giai cấp thống trị sẽ kiểm soát tư liệu sản xuất vì lợi ích của xã hội.
Trong vai trò một hệ tư tưởng chính trị, chủ nghĩa cộng sản thường được xem là một nhánh của chủ nghĩa xã hội; một nhóm học thuyết triết học chính trị và kinh tế được rút ra từ nhiều phong trào chính trị và tri thức có nguồn gốc từ các tác phẩm của các nhà lý thuyết của Cách mạng Công nghiệp và Cách mạng Pháp. Nhánh kia là lý luận của các đảng Dân chủ xã hội hiện có nhiều ảnh hưởng tại Tây Âu và Bắc Âu. Do cùng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx, các đảng cộng sản và Dân chủ xã hội thường có quan hệ đồng minh với nhau thành một lực lượng chung được gọi là cánh tả.
Những hình thức nổi bật của chủ nghĩa cộng sản, chẳng hạn như Chủ nghĩa Lenin, Chủ nghĩa Stalin, Chủ nghĩa Mao và Chủ nghĩa Trotsky, đều kế thừa từ Chủ nghĩa Marx. Tuy nhiên, chủ nghĩa cộng sản cũng có những phiên bản khác không liên quan đến Chủ nghĩa Marx, chẳng hạn Chủ nghĩa cộng sản Thiên chúa giáo và Chủ nghĩa cộng sản vô chính phủ (anarcho-communism).
== Từ nguyên ==
Thuật ngữ “chủ nghĩa cộng sản” trong tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Trung “共產主義 cộng sản chủ nghĩa”. Thuật ngữ “cộng sản chủ nghĩa” trong tiếng Trung được vay mượn từ tiếng Nhật. Trong tiếng Nhật chủ nghĩa cộng sản được gọi là “kyōsan-shugi” (âm đọc được ghi bằng Rōmaji), khi viết được ghi lại bằng bốn chữ Hán là “共產主義” (âm Hán Việt: cộng sản chủ nghĩa, xem bài Kanji để biết thêm thông tin về việc dùng chữ Hán trong tiếng Nhật). “共產主義” là từ người Nhật đặt ra để dịch từ tiếng Anh “communism”. Ý của hai chữ "共產 cộng sản" là "共有財產 cộng hữu tài sản" (tài sản thuộc về sở hữu chung). Tiếng Trung Quốc vay mượn “共產主義” của tiếng Nhật nhưng không đọc bốn chữ Hán đó theo âm đọc của chúng trong tiếng Nhật mà đọc theo âm đọc của chúng trong tiếng Trung Quốc.
Từ chủ nghĩa cộng sản trong tiếng Anh “communism” bắt nguồn từ tiếng Pháp “communisme” (trong tiếng Pháp có nghĩa là chủ nghĩa cộng sản).
== Nguyên lý cơ bản ==
Chủ nghĩa cộng sản là một khái niệm rộng cần phải được hiểu như một tổng hợp các lý luận chính trị, kinh tế, xã hội, tư tưởng gắn liền với các phong trào xã hội, phong trào chính trị rộng lớn - bắt đầu từ thế kỷ 19, nở rộ và thoái trào trong thế kỷ 20 - nhằm xóa bỏ chủ nghĩa tư bản để xây dựng một xã hội không giai cấp, không có sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất. Trong đó mọi người là bình đẳng, không có hiện tượng "người bóc lột người" và tiến tới xóa bỏ nhà nước trong một tương lai "thế giới đại đồng" không có biên giới quốc gia khi người với người là bạn, thương yêu lẫn nhau. Tại đó năng suất lao động tăng lên rất cao, của cải làm ra dồi dào tới mức phân phối của cải theo nguyên tắc: "Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu". Trong xã hội cộng sản, mỗi cá nhân được tự do phát huy mọi khả năng của mình theo triết lý "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người", tự do làm những điều không ảnh hưởng đến lợi ích và quyền tự do của người khác trên cơ sở tư liệu sản xuất chung để đảm bảo quyền tự do của tất cả mọi người.
Theo chủ nghĩa Mác thì trong lịch sử loài người đã và sẽ tuần tự xuất hiện 05 hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao (các phân tích dưới đây dựa trên lịch sử châu Âu, ở các châu lục khác thì có thể sai biệt về niên đại hoặc thiếu hẳn 1 giai đoạn nào đó):
Hình thái kinh tế-xã hội cộng sản nguyên thủy (công xã nguyên thủy): thời nguyên thủy lực lượng sản xuất rất thô sơ, lạc hậu, chủ yếu là săn bắt, hái lượm. Của cải vật chất thu được ít, bấp bênh, người kiếm được người thì không, do đó của cải đều là của chung và phải được phân chia đều giữa các thành viên bộ lạc để đảm bảo bộ lạc có thể duy trì sự tồn tại (đó chính là "cộng sản" thời nguyên thủy). Quan hệ sản xuất đặc trưng: hợp tác sản xuất, công hữu tài sản trong mỗi bộ lạc
Hình thái kinh tế-xã hội chiếm hữu nô lệ: với sự ra đời của nông nghiệp và chăn nuôi thời kỳ đầu (khoảng 6.000 năm trước), bắt đầu có của cải dôi dư. Bắt đầu xuất hiện một nhóm người muốn chiếm lấy phần dôi dư đó, từ đó hình thành tư hữu và quý tộc. Các bộ lạc cũng bắt đầu gây chiến với nhau để tranh giành của cải và nhân lực, kẻ thua bị bắt phải trồng trọt, chăn nuôi cho kẻ thắng, từ đó hình thành chiếm hữu nô lệ. Quan hệ sản xuất đặc trưng: Chủ nô - nô lệ phục vụ không công cho chủ nô
Hình thái kinh tế-xã hội phong kiến: trình độ nông nghiệp và chăn nuôi phát triển hơn, đến cách đây khoảng 1800 năm, hình thức chiếm hữu nô lệ không đảm bảo năng suất cao như hình thức địa chủ - nông nô (do nông nô được giữ lại 1 phần sản phẩm cho mình nên sẽ có động lực lao động cao hơn nô lệ), đồng thời nô lệ bị áp bức mạnh hơn nên cũng dễ nổi loạn hơn nông nô. Chế độ chiếm hữu nô lệ dần biến mất, thay vào đó là phong kiến với các lãnh chúa cai quản nông dân. Quan hệ sản xuất đặc trưng: Địa chủ, lãnh chúa - nông dân canh tác và nộp địa tô cho địa chủ, lãnh chúa
Hình thái kinh tế-xã hội chủ nghĩa tư bản: với sự ra đời của công nghiệp (từ thế kỷ 16), của cải vật chất làm ra dần vượt xa nông nghiệp và chăn nuôi. Nhờ tích lũy được của cải, thế lực của các chủ xưởng công nghiệp ngày càng cao, dần lấn át cả địa chủ và vua chúa phong kiến. Giai cấp tư bản dần dần không chịu quy phục các lãnh chúa phong kiến, họ tiến hành các cuộc cách mạng lật đổ chế độ phong kiến, thay thế vào đó là hình thái tư bản chủ nghĩa. Quan hệ sản xuất đặc trưng: Chủ tư bản - công nhân làm thuê cho chủ tư bản
Hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa: hình thái này chưa tồn tại. Theo Marx, khi lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển, tất yếu dẫn tới phân công lao động ngày càng mang tính xã hội hóa, chủ tư bản ngày càng mất uy thế, thay vào đó các công nhân hoặc các hộ gia đình có thể tự hợp tác sản xuất, không cần ông chủ của họ nữa. Mác đã viết về một trường hợp cụ thê: "Sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hoá lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa... nền sản xuất tư bản chủ nghĩa lại đẻ ra sự phủ định bản thân nó, với tính tất yếu của một quá trình tự nhiên" Quan hệ sản xuất đặc trưng: quan hệ hợp tác sản xuất bình đẳng với nhau
Ý tưởng ban đầu của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa tự do với mục tiêu giải phóng con người và xã hội. Vì lý tưởng nhân đạo của nó, học thuyết này đã thu hút được sự chú ý của các tầng lớp quần chúng của thế giới trong thế kỷ 20, tạo nên một phong trào xã hội to lớn mà cuộc đấu tranh của nó là một nhân tố chủ đạo trong lịch sử loài người trong thế kỷ 20. Tuy vậy, xã hội cộng sản chủ nghĩa không còn nhà nước, quân đội, tư hữu, giai cấp, tôn giáo, xóa bỏ các mâu thuẫn sắc tộc đến nay vẫn chỉ là lý tưởng đẹp, chưa trở thành hiện thực.
Theo Marx, một con người sống ở thời đại của một hình thái kinh tế-xã hội cũ sẽ rất khó hình dung hình thái kinh tế-xã hội mới sẽ ra sao, họ thường không tin xã hội loài người sẽ biến chuyển sâu sắc như vậy (ví dụ: một người sống ở thời phong kiến thế kỷ 16 sẽ cho rằng một xã hội không có vua chúa chỉ là chuyện hoang đường, nhưng 400 năm sau điều đó đã trở thành sự thực ở đa số các nước trên thế giới). Cũng như vậy, vào thời của Marx, người ta chưa thể mường tượng một xã hội không có các ông chủ tư bản sẽ tổ chức sản xuất ra sao, và làm thế nào mà mọi công dân đều có thể hưởng các phúc lợi xã hội (giáo dục, y tế, nhà ở, ăn mặc...) một cách miễn phí. Nhiều người nghĩ mô hình so Marx tiên đoán chỉ là viển vông. Nhưng đến đầu thế kỷ 21 thì những yếu tố ban đầu đã có thể nhận thấy: các công ty cổ phần ngày càng chiếm ưu thế so với công ty một chủ sở hữu, các công nghệ mới như robot, tin học, nano, lượng tử... bắt đầu hình thành. Khi được nghiên cứu hoàn chỉnh, các công nghệ mới sẽ đẩy khả năng sản xuất lên rất cao, vượt xa nền sản xuất công nghiệp truyền thống trong khi chi phí sản xuất sẽ rất rẻ (Ví dụ: chỉ cần 1 nhóm vài người, với sự trợ giúp của robot tự động có thể làm ra lượng sản phẩm tương đương hàng vạn công nhân hiện nay; hoặc một lít nước có thể tạo ra năng lượng bằng hàng triệu tấn than thông qua phản ứng hợp hạch nhân tạo). Do sản lượng rất lớn và chi phí ngày càng thấp, các mặt hàng cơ bản sẽ được giảm giá tới mức chúng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng thu nhập của người lao động. Khi đó một người lao động không cần bỏ nhiều sức cũng có thể nuôi sống cả gia đình ở mức sung túc. Bên cạnh đó người lao động cũng có thể sở hữu cổ phần của chính công ty mình đang làm việc. Đồng thời hoạt động quản trị công ty cổ phần cũng bị tách ra khỏi chức năng sở hữu của cổ đông. Đó chính là bằng chứng cho thấy tư bản ngày càng mang tính xã hội, do đó cần được quản trị chuyên nghiệp khiến tư hữu mất dần ý nghĩa của nó đối với lực lượng sản xuất. Đó là quá trình quan hệ sản xuất hợp tác ("cộng sản") phủ định quan hệ tư bản (ông chủ - người làm thuê) mà Marx tiên đoán.
=== Sở hữu ===
Trong xã hội cộng sản không còn sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, không còn sự phân phối thu nhập xã hội dựa trên lao động, không còn sự tha hóa của lao động là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản. Con người được giải phóng khỏi phân công lao động do nền sản xuất công nghiệp tạo ra để phát huy hết sở trường của mình. Đặc điểm khác biệt của chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa xã hội chỉ đạt mục đích tư liệu sản xuất thuộc về toàn dân thông qua Nhà nước quản lý, (hay hình thức sở hữu tập thể, hợp tác, công xã hoặc sở hữu xã hội hóa - quản lý kiểu vô chính phủ), còn không hướng đến sự xóa bỏ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất, xóa bỏ sự phân phối thu nhập xã hội theo lao động.
=== Phân phối ===
Trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa nền sản xuất chưa phát triển đến mức đủ sức thỏa mãn nhu cầu của tất cả mọi thành viên trong xã hội nên nguyên tắc phân phối của cải trong chủ nghĩa xã hội là "Làm theo năng lực, hưởng theo lao động" có nghĩa là làm đúng với khả năng, và được hưởng theo đúng đóng góp cho xã hội. Do có sự chênh lệch kỹ năng, trí tuệ, thể lực giữa các thành viên trong xã hội nên sẽ có sự bất bình đẳng trong phân phối của cải xã hội. Sự bất bình đẳng của cải sẽ được xóa bỏ khi lực lượng sản xuất phát triển cao đủ sức thỏa mãn nhu cầu của tất cả mọi người. Việc phân phối thu nhập xã hội theo lao động bị thay thế bằng phân phối theo nhu cầu. Theo Marx "Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng đang chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác.".
=== Giai cấp ===
Trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa, vẫn còn có sự phân công lao động do đó vẫn tồn tại giai cấp theo phân công lao động là công nhân và nông dân, và tầng lớp trí thức. Sự phát triển của trình độ sản xuất sẽ dẫn đến sự thay đổi của quan hệ sản xuất, đưa đến sự xóa nhòa giai cấp, và xóa nhòa ranh giới lao động trí óc - chân tay. Sau khi giành được chính quyền, quốc hữu hóa các tư liệu sản xuất, giai cấp vô sản công nông tự tổ chức xã hội mới, xây dựng con người mới có đủ trình độ, ý thức để làm chủ xã hội, có trách nhiệm với xã hội, với cộng đồng trên tình thân ái, giúp đỡ lẫn nhau, với tư liệu sản xuất chung, dần xóa nhòa ranh giới giàu - nghèo trên tinh thần cộng đồng, bác ái, bằng lao động chân chính (chứ không phải người nghèo "nhận bố thí" của người giàu trong các mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu an sinh hay thiện nguyện).
=== Nhà nước ===
Theo phương pháp luận của Marx (duy vật lịch sử) thì khi xóa bỏ giai cấp và tư hữu, thì Nhà nước tự diệt vong, vì cơ sở tồn tại của nó là tư hữu và giai cấp không còn nữa. Lúc đó chế độ cộng sản được xây dựng dựa trên nền tảng sở hữu công cộng và làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Lenin cũng cho rằng nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp. Nó bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị. Không thế có nhà nước siêu giai cấp (nhà nước của dân, do dân và vì dân) như nhiều chính trị gia tư sản, xét lại khẳng định, do đó nhà nước sẽ tự tiêu vong khi xã hội tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Lenin quan niệm chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu tiên của chủ nghĩa cộng sản, là giai đoạn chuyển tiếp đi lên chủ nghĩa cộng sản mà ở đó vẫn còn nhà nước để lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Vai trò nhà nước và pháp luật mờ dần đi khi nhân dân tự gánh vác các công việc xã hội, điều hòa lợi ích, giảm thiểu mâu thuẫn, trên cơ sở tư liệu sản xuất chung, phân phối công bằng và đầy đủ, thỏa mãn. Giai cấp vô sản giành quyền lực trên toàn thế giới, giai cấp vô sản các nước tiên tiến hơn giúp đỡ giai cấp vô sản các nước lạc hậu hơn tiến kịp. Như vậy cùng với sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và cộng sản trong mỗi nước, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới là sự nghiệp chung của vô sản toàn nhân loại. Khi các nước hoàn thành xây dựng chủ nghĩa cộng sản, toàn bộ Nhà nước và hệ thống pháp luật trên toàn thế giới không còn cần thiết nữa, các quốc gia biến mất. Chủ nghĩa đại đồng cũng là để bảo đảm công bằng chiếm hữu tài nguyên của các dân tộc khác nhau trên toàn thế giới, và triệt tiêu chủ nghĩa đế quốc.
== Lịch sử phong trào cộng sản ==
=== Phong trào cộng sản ra đời ===
Trên thực tế thế kỉ XIX có rất nhiều phong trào và hệ tư tưởng hướng đến bảo vệ lợi ích giai cấp vô sản. Ra đời trong lòng chủ nghĩa tư bản và cách mạng kĩ nghệ thế kỷ XIX, chủ nghĩa cộng sản có một sức hấp dẫn đối với các tầng lớp dưới trong xã hội và cả những người nhân đạo. Phong trào công nhân có sự phát triển mạnh mẽ buộc chủ nghĩa tư bản phải cải cách để duy trì ổn định xã hội. Sự phân hóa trong hàng ngũ những người theo chủ nghĩa Marx dẫn đến sự tan vỡ của Đệ nhất và sau đó là Đệ nhị quốc tế. Xuất phát từ hoàn cảnh của xã hội Nga, Lenin bổ sung lý luận của Marx, tuyên truyền rộng rãi chủ nghĩa cộng sản vào phương Đông. Nhiều đảng cộng sản tham gia các phong trào giải phóng dân tộc gắn với lý tưởng cộng sản, chống phong kiến, địa chủ, tư sản, đưa ra các chính sách cải cách ruộng đất, quốc hữu hóa tài nguyên thiên nhiên, nhà máy công xưởng.
Không ít người phê phán chủ nghĩa cộng sản. Họ không đánh đồng giai cấp công nhân là "vô sản" (vô sản có thể được hiểu là tất cả những người lao động, không có tư liệu sản xuất, kể cả người thất nghiệp, lẫn nông dân không đất), hay họ đánh giá cao vai trò của tư sản trong tạo lập giá trị thặng dư, họ phản đối cách thức cải tạo chủ nghĩa xã hội (từ kinh tế tư bản hay phong kiến) của những người cộng sản. Họ phản đối công hữu, hay cách thức quản lý tài sản công, phân phối theo lý thuyết cộng sản, đánh giá cao kinh tế tư bản. Một số bác bỏ nhà nước một đảng cộng sản, cơ chế "tập trung dân chủ". Một số bác bỏ cách mạng dù là lật đổ phong kiến hay tư bản, hay cách thức đấu tranh giành độc lập. Một số bác bỏ phân biệt và xóa bỏ giai cấp, hay phủ nhận một đảng đại diện giai cấp, phủ nhận giai cấp nắm quyền. Một số bác bỏ xây dựng văn hóa mới có tính cách mạng (thường được gọi là văn hóa xã hội chủ nghĩa) hay xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, đạo đức xã hội chủ nghĩa của những người cộng sản.
Những người dân chủ xã hội ủng hộ cho "dân chủ" và "cải cách" để đạt các mục tiêu "xã hội chủ nghĩa" thay vì cách mạng và hướng đến tự do tuyệt đối trong lý thuyết cộng sản. Những người vô chính phủ không tin tưởng vào bất kỳ một dạng chính phủ nào, nhưng để đạt được "tự do tuyệt đối" (cho dù là cộng hữu hay tư hữu) thì phải thông qua con đường khác. Những nhà hoạt động công đoàn không tin tưởng nhà nước mà muốn đặt doanh nghiệp dưới quyền quản lý của công đoàn. Những người dân tộc chủ nghĩa không tin vào thế giới đại đồng. Một số lý thuyết gia phê phán chủ nghĩa tư bản, nhưng chủ trương chia nhỏ tư hữu, thay vì công hữu...
Các lý thuyết này bị những người cộng sản xem là phản động, hay xét lại, phản bội lợi ích giai cấp công nhân, đầu hàng giai cấp tư sản, hay cực đoan, manh động, vô chính phủ, phản khoa học, hay ủng hộ chủ nghĩa đế quốc, thực dân, phong kiến, chủ nghĩa đế quốc kinh tế, ủng hộ chủ nghĩa tư bản bóc lột, "phát xít", "thần quyền", "dân túy"...
Những sự rạn nứt quanh tranh cãi về vai trò Nhà nước là nguyên nhân chính dẫn đến sự tan vỡ Quốc tế I, sau thất bại của Công xã Paris. Phong trào xét lại sau này không tin vào hưởng thụ theo nhu cầu đạt được trong xã hội cộng sản (mà Gracchus Babeuf hay được xem là khởi xướng, nhưng Marx là người đầu tiên trình bày một cách khoa học) trong khi sự tin tưởng phần nào vào thị trường bị các phái phi thị trường bác bỏ. Phong trào lao động bị chia tách hai lần lớn là sự tan vỡ của Quốc tế I, sau đó là Quốc tế II, dẫn đến thành lập Quốc tế III (theo chủ nghĩa Lenin), sau đó chia rẽ bởi xuất hiện Quốc tế IV. Bản thân phong trào Quốc tế III sau cũng bị giải tán. Sau đó một số theo chủ nghĩa Mao, một số có lựa chọn khác như Nam Tư... Các lý thuyết xã hội chủ nghĩa kiểu Mỹ Latin hay châu Phi, Lybia... không chịu ảnh hưởng của Marx.
=== Hệ thống các nước cộng sản ra đời ===
Sau đại chiến thế giới lần thứ hai hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (các nước phương Tây gọi là các nước cộng sản) hình thành. Phong trào cộng sản lan rộng ra cả Mỹ Latin, châu Phi... Nhiều đảng chịu ảnh hưởng của Stalin hay Mao Trạch Đông (không kể các đảng của nhóm Đệ Tứ). Trong khi đó nhiều đảng (phần lớn ở phương Tây) bị xem là theo chủ nghĩa xét lại. Tuy nhiên sự phân hóa lớn nhất giữa những người cộng sản là một số ủng hộ Liên Xô và một số ủng hộ Trung Quốc. Tình trạng này tồn tại cho đến khi Liên Xô sụp đổ.
Cuộc đấu tranh giữa hai hình thái "tư bản" và "cộng sản" là cuộc đấu tranh khốc liệt của nhân loại trong thế kỷ XX. Ban đầu vì sự mới mẻ của ý tưởng và vì những yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật đặc trưng của thời kỳ đó mà chủ nghĩa xã hội đã thắng thế ở phạm vi lớn trên toàn cầu. Cuộc đấu tranh của hai phe là nguyên nhân chính của các sự kiện trên thế giới vào giữa thế kỷ 20. Trong quá trình phát triển, chủ nghĩa tư bản đã biết tự điều chỉnh, học hỏi các chính sách từ chính đối thủ và giành được ưu thế trên thế giới vào cuối thế kỷ 20. Tuy nhiên ở một khía cạnh khác, sự xuất hiện của các phong trào cộng sản chủ nghĩa đã tạo áp lực buộc các quốc gia có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phải có các biện pháp tự điều chỉnh để giảm bớt đối kháng xã hội như tăng lương, giảm giờ làm, mở rộng an sinh xã hội, công hữu hóa một số lĩnh vực kinh tế... Nhiều biện pháp cải cách kinh tế - xã hội do Marx và Engels đề xuất trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản như "áp dụng thuế luỹ tiến cao", "tập trung tín dụng vào tay nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia với tư bản của nhà nước", "tăng thêm số công xưởng nhà nước", "giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em", "xoá bỏ việc sử dụng trẻ em làm trong các khu công xưởng"... đã được áp dụng tại hầu hết các quốc gia trên thế giới. Các nhân tố của chủ nghĩa cộng sản tồn tại khắp mọi nơi trong thế giới hiện đại. Những ý tưởng của Marx và Engels đã góp phần kiến tạo nên xã hội hiện đại, định hình nhà nước phúc lợi phương Tây hiện nay. Do vậy có thể nói chính chủ nghĩa cộng sản đã tác động lại, thay đổi tự bản thân chủ nghĩa tư bản, dung hòa một phần các yếu tố tiến bộ của chủ nghĩa cộng sản vào trong lòng nó.
Một trong những minh chứng cho thấy sự dung hòa của 2 lực lượng này là quá trình tư hữu hóa tư liệu sản xuất, phát triển các mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa đa dạng ở một loạt các quốc gia trên thế giới, trong đó có cả các quốc gia theo chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, ở các quốc gia tư bản cũng xuất hiện một số hình thức công hữu, như các công ty nhà nước hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ công cộng và các ngành sản xuất độc quyền tự nhiên. Đặc biệt là sự phát triển và thắng thế của hình thức công ty cổ phần tại các nước tư bản, mà theo Marx nhận xét: "Trong công ty cổ phần, chức năng đã tách khỏi quyền sở hữu tư bản, lao động cũng đã hoàn toàn tách khỏi quyền sở hữu tư liệu sản xuất và quyền sở hữu lao động thặng dư. Kết quả sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến cực độ là điểm quá độ phải trải qua, đề tư bản lại chuyển hoá thành sở hữu của người sản xuất, song lúc đó nó không còn là tài sản tư hữu của từng người sản xuất riêng lẻ, mà là tài sản chung của những người cùng sản xuất, là tài sản xã hội trực tiếp". . Nói ngắn gọn, công ty cổ phần ra đời là bằng chứng của sự xã hội hóa tư liệu sản xuất khiến sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện nhân tố xã hội chủ nghĩa khi sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất đã biến thành sở hữu tập thể.
=== Hệ thống các nước cộng sản sụp đổ ===
Sau khi Liên Xô sụp đổ, nhiều đảng cộng sản trên thế giới giải tán, phần lớn những người cộng sản thành lập các đảng dân chủ xã hội, một số đảng viên cũ gia nhập các đảng tự do, bảo thủ hay dân chủ Thiên chúa giáo hoặc các nhóm hệ tư tưởng khác. Một số kiên định theo chủ nghĩa cộng sản nhưng đường lối hoạt động không khác mấy với các đảng dân chủ xã hội, đấu tranh nghị trường. Do ảnh hưởng của định kiến với các chế độ của Liên Xô và Đông Âu trước đây, đa phần các đảng cộng sản ở các nước này chỉ thu được một lượng nhỏ cử tri ủng hộ trong các cuộc bầu cử. Tuy nhiên một số đảng cộng sản do khai thác bất mãn của dân chúng đối với các chính sách kinh tế tự do gây bất bình đẳng xã hội, trở lại cầm quyền dù chỉ áp dụng rất ít các lý thuyết cộng sản ban đầu. Nhiều đảng gắn với các tổ chức công đoàn, đấu tranh bảo vệ quyền lợi công nhân, đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, bình đẳng giới... Nhiều phong trào du kích cộng sản cũng tan vỡ, hoặc hòa giải chính quyền và có địa vị hợp pháp. Một số quốc gia có Đảng Cộng sản cầm quyền điều chỉnh các chính sách kinh tế xã hội, tiếp tục nắm độc quyền lãnh đạo. Nhiều Đảng Cộng sản và phong trào cánh tả khác thì lại đang manh nha phát triển tại những khu vực mới như Nam Mỹ.
Sự suy yếu của chủ nghĩa cộng sản cuối thế kỷ XX do những nguyên nhân chính:
Hệ thống chính trị và kinh tế theo mô hình Liên Xô (Stalinist) không thể điều chỉnh hiệu quả trước sự thay đổi của những yếu tố xã hội như tâm lý, trình độ đạo đức, trình độ trí tuệ, nhu cầu tiêu dùng... của dân chúng.
Tầng lớp lãnh đạo nhà nước mất uy tín chính trị, mất liên kết với nhân dân.
Sự chia rẽ trong phong trào cộng sản thành nhiều xu hướng khác nhau, thậm chí rất xung khắc nhau, có khi quá tả hoặc quá hữu.
Sự chia rẽ trong phong trào công nhân, do có rất nhiều hệ tư tưởng cánh tả nối tiếp nhau ra đời tranh thủ lực lượng, bên cạnh đó sự biến đổi của chủ nghĩa tư bản khiến mâu thuẫn giai cấp suy yếu ở nhiều nơi thậm chí có khi một số bộ phận giai cấp vô sản quay sang ủng hộ cánh hữu hay vấn đề giai cấp không phải là vấn đề trọng tâm chính trị, do đó các cuộc cách mạng vô sản đã không thể diễn ra.
Sự phản ứng quyết liệt của các lực lượng chống đối như dân tộc chủ nghĩa, ủng hộ kinh tế thị trường hay dân chủ đại nghị, hoặc các nhóm tôn giáo,... Các đảng cộng sản đã đặt ra các mục tiêu quá lớn và quyết liệt, giải quyết trong một thời gian ngắn vượt quá khả năng của họ. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở nhiều nước vẫn tỏ ra có hiệu quả giúp cho cánh hữu có được sự ủng hộ đáng kể.
Mục tiêu đoàn kết quốc tế vô sản đã không thể thực hiện một cách hiệu quả, do ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc hay tôn giáo... Giai cấp vô sản nhiều nơi gắn bó với lợi ích dân tộc hơn là đoàn kết với giai cấp vô sản bên ngoài và bị chủ nghĩa dân tộc lôi kéo.
Lợi ích cá nhân ảnh hưởng đến đoàn kết giai cấp, thậm chí ảnh hưởng đến xây dựng một xã hội kiểu mới mà những người cộng sản đặt ra mục tiêu. Người dân thích sống theo cách của họ hơn theo những chuẩn mực mà các lãnh đạo cộng sản cổ vũ.
Các nền kinh tế theo mô hình Liên Xô (Stalinist) không mang lại một năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản nên mức sống của người lao động tại các nền kinh tế này không cao hơn mức sống của người lao động trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa điển hình.
Các đảng cộng sản ở phương Tây ngày nay vẫn có lập trường tiến đến chủ nghĩa cộng sản, nhưng tham gia nền dân chủ đại nghị, giành quyền qua các cuộc tổng tuyển cử, không sử dụng các biện pháp cách mạng để xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản. Nhiều đảng Dân chủ xã hội Tây Âu tách ra từ Quốc tế II (từ công nhận phần lớn nhưng không ủng hộ biện pháp cách mạng đến chỗ rất ít hoặc không chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản) đang nắm quyền tại nhiều nước Tây Âu (tiêu biểu như Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch...). Các lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản vẫn được các nhà nước hiện đại theo đuổi bằng cách này hay cách khác và dần trở thành chuẩn mực chung cho toàn thế giới.
Tuy hệ thống các nước cộng sản chủ nghĩa sụp đổ, nhưng những bài học, chính sách mà các nước cộng sản để lại trong việc xây dựng một xã hội mới công bằng, tiến bộ hơn vẫn được các nhà nước hiện đại tiếp thu, di sản của nó vẫn tồn tại và được kế thừa ở khắp mọi nơi, ngay cả ở các nước phương Tây vốn từng là đối thủ. J. Arch Getty nhận xét:
Có những người cho rằng chủ nghĩa cộng sản chỉ là một chớp sáng của lịch sử hiện đại. Khi ảo tưởng trôi qua, nó sụp đổ hầu như không có dấu vết và không có di sản lâu dài. Nhận xét này là phi lý...
Công cuộc cải tạo quyền lao động ở phương Tây trong thế kỷ qua được thúc đẩy bởi một phong trào lao động quốc tế, được bảo vệ và hỗ trợ bởi Liên Xô. Chính sách New Deal của Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt có một phần được sao chép từ chính sách của Liên Xô. Các mục tiêu xã hội phổ biến ngày hôm nay, bao gồm các quyền của phụ nữ và bình đẳng chủng tộc, là chính sách của các Đảng Cộng sản từ rất lâu trước khi được chính phủ Mỹ thi hành một cách nghiêm túc. Những người Cộng sản đầu tiên đã đi đến Nam Mỹ và bắt đầu tổ chức những người da trắng, người Mỹ gốc Phi và người nghèo xung quanh vấn đề đòi hỏi công bằng xã hội. Trên trường quốc tế, Liên Xô cung cấp hỗ trợ cho Nelson Mandela chống lại chế độ áp bức chủng tộc và những cải cách khác. Chủ nghĩa Cộng sản tạo ra sự cạnh tranh khó khăn cho các nước phương Tây, và người ta nghi ngờ rằng những cải cách xã hội ở phương Tây đã không xảy ra nếu nước Nga Xô viết không tồn tại. Trớ trêu thay, sự tồn tại của Liên Xô đã giúp phương Tây tư bản tự cải cách và tránh khỏi những cuộc cách mạng đẫm máu của phương Đông. Chủ nghĩa cộng sản trong thế kỷ 20 không phải là ảo tưởng thoáng qua; di sản của nó đang hiện diện ở khắp mọi nơi.
== Các trường phái lý luận của chủ nghĩa cộng sản ==
Việc phân loại, gọi tên trong phong trào cộng sản và công nhân thế giới là khá phức tạp có nhiều sự lẫn lộn và có nhiều lý giải khác nhau. Một mặt đó là do các mâu thuẫn trong lòng phong trào: một đảng, tổ chức tự nhận mình theo trào lưu này nhưng trong con mắt của đảng khác và tổ chức khác thì lại không phải như vậy, và trong một phong trào, đảng cụ thể có cả những đặc điểm lý luận của nhiều phái do đó phân loại cũng có tính tương đối. Nhận thức về tên và bản chất các trường phái tư tưởng và trào lưu chính trị cũng khác nhau một phần cũng vì sự phức tạp trong việc dịch thuật giữa các ngôn ngữ. Cùng một thuật ngữ khi bình thường thì được hiểu một nghĩa nhưng khi áp dụng trong lý luận cộng sản chính thống thì nghĩa có thể thay đổi; ví dụ thuật ngữ socialism trong sự hiểu và trong sử dụng thông thường ở Việt Nam và Liên Xô thì là "chủ nghĩa xã hội" nhưng trong lý luận cộng sản chính thống ở hai nước này thì tên "chủ nghĩa xã hội" chỉ được dùng cho những đảng, trào lưu, nhà nước nào đi theo đường lối của chủ nghĩa Lenin (hay chủ nghĩa Marx-Lenin) tán thành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, ví dụ "Socialist Republic of Vietnam" là "Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Còn không thì chỉ được gọi là "xã hội" hoặc theo một tên khác; ví dụ "Socialist party of France" là đảng xã hội Pháp. Cùng một thuật ngữ nhưng sẽ được hiểu tích cực và tiêu cực khác nhau tại nhiều nước và thậm chí trong một nước ở các thời điểm khác nhau. Do vậy sự trình bày về các phái cộng sản dưới đây có tính tương đối.
=== Chủ nghĩa Marx ===
==== Nội dung chủ nghĩa Marx ====
Trong thế kỷ 19, trong khi nhận thức về các giá trị giải phóng con người, các quyền của con người, nhận thức về nhu cầu mở ra tối đa khả năng phát triển nhân tính và các khả năng của con người đã có những bước tiến bộ lớn thì hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa đương thời với quan hệ sản xuất của chủ nghĩa tư bản lại đang kìm hãm những khả năng nhân bản đó. Đại bộ phận quần chúng lao động bị tách ly khỏi phương tiện sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản- chủ sở hữu các phương tiện sản xuất. Giai cấp công nhân bị đối xử bất bình đẳng trong phân chia của cải xã hội, và thực tế cuộc sống của họ hầu như không thể tiếp cận được với những cơ hội để phát triển con người. Sự phát triển vượt bậc không ngừng với tốc độ chưa từng có trong lịch sử loài người của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đã mở ra khả năng thỏa mãn phần lớn nhu cầu cơ bản của con người, làm nền tảng để xây dựng một xã hội nhân văn hơn. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra những vấn đề không thể giải quyết triệt để của thị trường ảnh hưởng xấu đến nền sản xuất đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng thu nhập xã hội hoàn toàn tương phản với sự phát triển của nền sản xuất. Sự bất bình đẳng trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa ở thế kỷ 19 là sâu sắc và nhu cầu giải phóng xã hội là cấp thiết.
Karl Marx là nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến phong trào công nhân, có tầm nhìn xa vượt thời đại của ông với các kiến thức rất uyên thâm trên nhiều lĩnh vực rộng lớn. Các tác phẩm của Marx có rất nhiều nhưng ông viết có hệ thống nhất là các lĩnh vực:
Kinh tế chính trị: tác phẩm quan trọng nhất là Tư bản luận (Das Kapital) nghiên cứu hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa trong đó ông rút ra bản chất của việc tích lũy tư bản là nhà tư bản chiếm giữ giá trị thặng dư do người lao động (công nhân) làm ra.
Triết học: Các tác phẩm của ông tự viết hoặc cùng với người đồng chí thân thiết của mình là Friedrich Engels phát triển trường phái triết học chủ nghĩa duy vật biện chứng trong đó coi triết học của mình là kết hợp giữa trường phái duy vật của Ludwig Feuerbach và phương pháp suy luận theo trường phái biện chứng của Georg Wilhelm Friedrich Hegel.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự vận động của lịch sử bằng cách chỉ ra mối liên hệ giữa nền sản xuất và các định chế xã hội như nhà nước, gia đình, luật pháp, đạo đức... Trình độ sản xuất thay đổi khiến quan hệ sản xuất cũng thay đổi dẫn đến những mối quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó cùng với những tư tưởng nảy sinh ra từ những quan hệ xã hội đó cũng thay đổi kéo theo sự thay đổi hệ thống pháp lý và chính trị. Đó chính là sự tiến hóa của xã hội loài người cũng là sự vận động của lịch sử.
Chủ nghĩa cộng sản là ý tưởng của Marx về một mô hình xã hội tốt đẹp hơn dựa trên tiên đoán về sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản vì mâu thuẫn không thể giải quyết được giữa nền sản xuất đã đạt đến mức xã hội hóa cao độ và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn này sẽ được giải quyết bởi giai cấp công nhân thông qua một cuộc cách mạng thế giới để lật đổ trật tự thế giới cũ bằng con đường bạo lực cách mạng. Chủ nghĩa cộng sản của Marx là bộ phận lý thuyết gây ảnh hưởng lớn đến lịch sử thế giới trong thế kỷ 20.
Theo Marx, các mặt của hình thái kinh tế-xã hội tác động qua lại với nhau tạo nên các quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội. Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó mà hình thái kinh tế xã hội tuy là phạm trù xã hội nhưng lại có khuynh hướng phát triển như một quy luật tự nhiên, nó vận động phát triển từ thấp đến cao. Xã hội loài người đã phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp nhau. Trên cơ sở phát hiện ra các quy luật vận động phát triển khách quan của xã hội, C.Mác đã đi đến kết luận rằng:
Lịch sử xã hội do con người làm ra, con người tạo ra các quan hệ xã hội của mình và đó là xã hội. Nhưng sự vận động của xã hội lại tuân theo quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của con người mà nguồn gốc sâu xa của sự thay thế nhau giữa các hình thái kinh tế-xã hội nằm ở chỗ:
Sự phát triển của lực lượng sản xuất, gây nên sự thay đổi của quan hệ sản xuất.
Và rồi đến lượt mình, sự thay đổi của quan hệ sản xuất (với tư cách là cơ sở hạ tầng) sẽ làm cho kiến trúc thượng tầng (hệ thống chính trị, tư tưởng xã hội...) thay đổi.
Do vậy, từ những thay đổi ngày càng tiến bộ hơn của lực lượng sản xuất sẽ dẫn đến hình thái kinh tế-xã hội này được thay thế bằng hình thái kinh tế-xã hội khác cao hơn, tiến bộ hơn.
Khi nghiên cứu chủ nghĩa tư bản, Marx cho rằng với sự sản xuất tập trung xã hội hoá cao độ với trình độ cao, hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa sản xuất ra một lượng của cải khổng lồ, trong khi đó giai cấp tư sản chỉ là một bộ phận nhỏ của xã hội nhưng lại sở hữu phần lớn tài sản xã hội thông qua việc chiếm giữ giá trị thặng dư. Còn đại bộ phận xã hội là giai cấp công nhân (giai cấp làm thuê) chỉ sở hữu một phần nhỏ của cải vì họ không có quyền sở hữu phương tiện sản xuất đang nằm trong tay các chủ tư bản. Đây là hệ quả của việc lao động của người công nhân bị tha hóa "người công nhân quan hệ với sản phẩm của mình như đối với một vật xa lạ,... người công nhân càng tự do phát tiết ra trong lao động thì thế giới xa lạ khách quan do bản thân anh ta sáng tạo ra đối diện với anh ta lại càng mạnh; bản thân anh ta, thế giới bên trong của anh ta lại càng nghèo đi; của cải thuộc về anh ta lại càng ít đi... Người công nhân đặt đời sống của mình vào vật, nhưng như vậy, đời sống đó đã không thuộc về anh ta nữa, mà lại thuộc về vật. Vậy hoạt động ấy của công nhân càng lớn thì công nhân càng trở thành không có vật. Anh ta không phải là cái mà lao động anh ta sản xuất ra. Cho nên sản phẩm đó càng lớn thì anh ta càng ít là anh ta. Sự tha hóa của công nhân vào sản phẩm của anh ta không những chỉ có ý nghĩa là lao động của anh ta trở thành một vật, một tồn tại bên ngoài, mà còn có ý nghĩa là lao động của anh ta tồn tại ở bên ngoài anh ta, không phụ thuộc vào anh ta, xa lạ với anh ta, và lao động ấy trở thành một lực lượng độc lập với anh ta, có nghĩa là đời sống mà anh ta chuyển vào vật, chống lại anh ta như một đời sống đối địch và xa lạ." Điều này dẫn đến "người công nhân trở thành nô lệ cho vật của mình: một là anh ta nhận được một vật để lao động, nghĩa là nhận được lao động và hai là anh ta nhận được những tư liệu sinh hoạt. Do đó chỉ có vật ấy mới đem lại cho anh ta khả năng sinh tồn, một là như một người công nhân và hai là như một chủ thể thể xác. Điểm cao nhất của sự nô lệ đó là: chỉ có cái tư cách công nhân của anh ta mới cho phép anh ta còn tự duy trì được như một chủ thể thể xác và chỉ có với tư cách chủ thể thể xác thì anh ta mới là công nhân... Theo những quy luật mà kinh tế chính trị học đề ra thì sự tha hóa của công nhân vào vật của mình biểu hiện như sau: công nhân càng sản xuất nhiều thì anh ta càng có ít để tiêu dùng; anh ta càng tạo ra nhiều giá trị thì bản thân anh ta càng bị mất giá trị, càng bị mất phẩm cách; sản phẩm của anh ta càng đẹp thì anh ta càng xấu đi; vật đó do anh ta tạo ra càng văn minh thì bản thân anh ta càng giống người dã man; lao động càng mạnh mẽ thì người công nhân càng bất lực; lao động của anh ta càng có tinh thần thì bản thân anh ta càng mất hết trí óc và càng bị nô lệ vào giới tự nhiên.". Chính vì thế "lao động của anh ta không phải là tự nguyện mà là bắt buộc; đó là lao động cưỡng bức. Lao động đó không phải là sự thỏa mãn một nhu cầu mà chỉ là phương tiện để thỏa mãn những nhu cầu khác nhu cầu lao động. Tính xa lạ của lao động biểu hiện rõ rệt ở chỗ là một khi không có sự cưỡng bức thể xác hoặc sự cưỡng bức nào khác thì người ta trốn tránh lao động như trốn tránh bệnh dịch hạch vậy... Do đó ta đi đến kết luận là con người (công nhân) chỉ cảm thấy mình tự do trong khi thực hiện chức năng động vật của mình... còn trong những chức năng con người của anh ta thì anh ta cảm thấy mình chỉ là con vật. Cái có tính súc vật trở thành cái có tính người, còn cái có tính người thì biến thành cái có tính súc vật.".
Trong chủ nghĩa tư bản, lao động bị tha hóa của người công nhân sẽ biến thành sở hữu tư nhân. Marx viết "sở hữu tư nhân là sản phẩm, kết quả, hậu quả tất nhiên của lao động bị tha hóa, của quan hệ bên ngoài của công nhân với giới tự nhiên và với bản thân mình... Chỉ đến giai đoạn phát triển cuối cùng, đến trình độ cao nhất của sở hữu tư nhân thì điều bí ẩn ấy của riêng nó mới lại xuất hiện trở lại, tức là: một mặt sở hữu tư nhân là sản phẩm của lao động bị tha hóa, và mặt khác nó là phương tiện nhờ đó lao động tự tha hóa, nó là sự thực hiện sự tha hóa ấy.". Marx cũng lý giải bản chất của tiền công trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa "tiền công là đồng nhất với sở hữu tư nhân, vì tiền công trong đó sản phẩm, vật của lao động, trả công cho bản thân lao động, chỉ là hậu quả tất nhiên của sự tha hóa của lao động và vì trong tiền công, lao động biểu hiện ra không phải là mục đích tự nó mà là tôi tớ của tiền công. Việc cưỡng bức tăng tiền công... chẳng qua sẽ chỉ là sự trả công tốt hơn cho nô lệ và sẽ không đem lại cho công nhân và lao động mục đích của con người và phẩm chất con người của họ. Ngay cả bản thân sự ngang nhau về tiền công mà Proudhon đòi hỏi, cũng sẽ chỉ đem lại kết quả là biến quan hệ của người công nhân hiện nay với sản phẩm của anh ta thành quan hệ của mọi người với lao động. Trong trường hợp đó, xã hội được hình dung là một nhà tư bản trừu tượng. Tiền công là kết quả trực tiếp của lao động bị tha hóa còn lao động bị tha hóa là nguyên nhân trực tiếp của sở hữu tư nhân. Cho nên, phía này mất đi thì phía kia cũng phải tiêu tan theo.".
Từ quan điểm lao động bị tha hóa biến thành sở hữu tư nhân thông qua quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa biểu hiện dưới hình thức người công nhân bán lao động cho nhà tư bản để nhận được tiền công, Marx rút ra kết luận "sự giải phóng xã hội khỏi sở hữu tư nhân, khỏi chế độ nô dịch, biểu hiện ra dưới hình thức chính trị của sự giải phóng công nhân, không phải vì vấn đề ở đây chỉ là sự giải phóng của họ, mà vì sự giải phóng của họ bao hàm sự giải phóng toàn diện của con người; và sở dĩ như thế là vì toàn bộ cái chế độ nô dịch con người bao hàm trong quan hệ của công nhân với sản xuất và vì mọi quan hệ nô dịch chỉ là những biến thể và kết quả của quan hệ ấy."
Khi nghiên cứu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, Marx cho rằng sự tích lũy tư bản được thực hiện bằng cách nhà tư bản trả lương cho công nhân thấp hơn giá trị gia tăng mà người công nhân tạo ra trong quá trình sản xuất, phần chênh lệch này được gọi là giá trị thặng dư. Tư bản tích lũy sẽ được đầu tư tái sản xuất mở rộng. Qua nhiều lần tái sản xuất mở rộng, năng lực của toàn bộ nền sản xuất ngày càng lớn, tạo ra một giá trị được thể hiện bằng một lượng hàng hóa vượt quá sức mua của toàn xã hội. Khi nền sản xuất đạt đến trạng thái này, khủng hoảng kinh tế xảy ra. Trong thời kỳ khủng hoảng tổng cầu thấp hơn tổng cung, hàng hóa dư thừa không có nơi tiêu thụ. Do không bán được sản phẩm, các doanh nghiệp không thu hồi được chi phí để tái sản xuất nên phải thu hẹp sản xuất, cắt giảm nhân công hoặc phá sản. Các doanh nghiệp sẽ giảm giá để bán hết lượng hàng hóa tồn kho khiến tổng cung và tổng cầu dần trở lại mức cân bằng trong dài hạn. Tuy nhiên trong suốt giai đoạn khủng hoảng, hàng triệu công nhân thất nghiệp, hàng vạn doanh nghiệp phá sản để lại hậu quả to lớn cho xã hội trên phạm vi toàn cầu do các nền kinh tế trên thế giới phụ thuộc vào nhau. Để giải quyết tình trạng này cần thay thế quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng một quan hệ sản xuất mới trong đó sự tích lũy tư bản và tái sản xuất mở rộng được thực hiện tốt hơn cách mà chủ nghĩa tư bản đang thực hiện. Các nhà kinh tế khác như John Maynard Keynes đề ra giải pháp nhà nước sử dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ để nâng tổng cầu nhằm đưa nền kinh tế trở về trạng thái toàn dụng và đưa thất nghiệp trở về tỷ lệ tự nhiên chứ không để nền kinh tế tự điều chỉnh nhằm hạn chế đến mức tối đa những hậu quả của khủng hoảng kinh tế. Dù được giải quyết theo cách nào thì khủng hoảng kinh tế cũng cho thấy quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có những hạn chế của nó mà Marx xem là quan hệ sản xuất không còn tương thích với sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Hơn nữa, sự phát triển của các môn khoa học xã hội giúp người ta hiểu rõ hơn về sự tồn tại và vận động của xã hội. Marx tin rằng xã hội loài người có thể hoạt động theo lý tính dựa trên những kiến thức khoa học đã tích lũy được chứ không còn vận động một cách tự phát như trước, loài người sẽ chuyển từ tự phát sang tự giác. Theo ông "Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, vấn đề là cải tạo thế giới". Marx và Engels đề ra một giải pháp giải quyết các vấn đề của thị trường bằng cách từng bước "tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước, tức là trong tay giai cấp vô sản đã được tổ chức thành giai cấp thống trị". Hai ông cũng đề xuất nhiều biện pháp cải cách kinh tế - xã hội như "áp dụng thuế luỹ tiến cao", "tập trung tín dụng vào tay nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia với tư bản của nhà nước", "tăng thêm số công xưởng nhà nước", "giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em", "xoá bỏ việc sử dụng trẻ em làm trong các khu công xưởng"... mà ngày nay đã được áp dụng tại hầu hết các quốc gia trên thế giới. Việc các nhà nước hiện đại ban hành các quy định, thực thi những chính sách can thiệp vào mọi mặt của đời sống xã hội chứng tỏ ý tưởng của Marx không phải hoàn toàn vô căn cứ. Chủ nghĩa Marx bị đả kích khắp nơi nhưng nó thật sự là liều thuốc chữa những căn bệnh của chủ nghĩa tư bản.
Theo Marx tư bản là một lực lượng xã hội "Tư bản là một sản phẩm tập thể và nó chỉ có thể vận động được là nhờ sự hoạt động chung của nhiều thành viên trong xã hội, xét đến cùng, là nhờ sự hoạt động chung của tất cả các thành viên trong xã hội. Vậy tư bản không phải là một lực lượng cá nhân, nó là một lực lượng xã hội." nên tư bản cần được xã hội kiểm soát bằng một hình thức sở hữu tập thể. Marx lập luận "nếu tư bản biến thành sở hữu tập thể thuộc tất cả mọi thành viên trong xã hội thì đó không phải là một sở hữu cá nhân chuyển thành sở hữu xã hội. Chỉ có tính chất xã hội của sở hữu là thay đổi thôi. Sở hữu mất tính chất giai cấp của nó.". Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản dẫn đến quy mô doanh nghiệp ngày càng lớn, hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng đến toàn thể xã hội do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải được quản lý, điều tiết bởi một tổ chức hoạt động vì lợi ích xã hội chứ không phải vì lợi ích của cá nhân sở hữu doanh nghiệp. Nền kinh tế tư bản cũng khiến cả nhà tư bản và người công nhân bị tha hóa. Nhà tư bản trở thành kẻ chỉ biết chạy theo lợi nhuận còn công nhân phải hy sinh những năng khiếu, sở trường của mình cho hoạt động sản xuất công nghiệp. Do đó giai cấp công nhân phải vùng lên dùng bạo lực cách mạng để giành lấy phương tiện sản xuất nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa nền sản xuất tập trung xã hội hóa cao độ và sở hữu tư nhân đồng thời giải phóng giai cấp mình và toàn bộ nhân dân lao động lẫn giai cấp tư sản khỏi sự tha hóa do chủ nghĩa tư bản mang đến. Đó là cách mạng vô sản.
Sau khi giành được chính quyền bằng cuộc cách mạng vô sản thì sở hữu phương tiện sản xuất sẽ là sở hữu toàn dân. Nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ thay mặt nhân dân điều hành sản xuất và nắm quyền sở hữu này vì nhà nước bây giờ là nhà nước của toàn dân. Trong xã hội đó con người làm việc theo năng lực hưởng thụ theo lao động. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa thì chức năng của nhà nước ngày càng suy giảm, sự tự giác của nhân dân ngày càng cao và đến lúc đó sẽ xuất hiện xã hội phi giai cấp, không còn mâu thuẫn đối kháng dẫn đến sự tự tiêu vong của nhà nước, sẽ xuất hiện một xã hội mà ở đó nguyên tắc phân phối của cải sẽ là "Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu" đó là chủ nghĩa cộng sản.
Tuy nhiên Marx không tin tưởng rằng cách mạng vô sản và chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng lợi trong tương lai gần vì theo ông thì "Cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể chiến thắng đơn độc tại một nước" vì giai cấp tư sản thế giới ở các nước khác sẽ bao vây và bóp chết cách mạng để duy trì lợi ích ích kỷ của mình. Vậy cách mạng xã hội chủ nghĩa sẽ chỉ nổ ra khi nào mâu thuẫn đã quá khủng khiếp "trong tất cả các nước tư bản hoặc chí ít là số lớn các nước tư bản đứng đầu thế giới". Và khi đó sẽ là một cuộc cách mạng thế giới của giai cấp công nhân chôn vùi chủ nghĩa tư bản. Để giác ngộ giai cấp công nhân hiểu được vai trò lịch sử của mình và lãnh đạo cuộc đấu tranh đó Marx chỉ ra là phải có các đảng cộng sản là tổ chức của những người giác ngộ chủ nghĩa cộng sản sẽ hướng dẫn đoàn kết lực lượng của giai cấp công nhân toàn thế giới.
Tuy nhiên, không nên lầm tưởng Marx chủ trương phải tiến hành cách mạng bằng giá, tại mọi quốc gia. Ông đã dự đoán khả năng giai cấp công nhân nắm chính quyền bằng biện pháp hợp pháp, Chủ nghĩa tư bản sẽ hoàn thành quá độ hoà bình lên chủ nghĩa xã hội. Marx nhận định: Công ty cổ phần không xoá bỏ chế độ tư hữu, mà dùng chế độ sở hữu cá nhân cổ quyền phân tán thay thế chế độ sở hữu tư nhân của một số người, lấy đó làm hình thức thực hiện chế độ công hữu; con đường nghị viện về chính trị không phải là đập tan bộ máy nhà nước cũ, mà thông qua bầu cử nắm lấy bộ máy ấy. Engels cũng đã chỉ đạo cụ thể Đảng Dân chủ Xã hội Đức tiến hành cuộc đấu tranh hợp pháp, nhấn mạnh thành công của Đảng trong tuyển cử có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ phong trào công nhân quốc tế: "Có thể hình dung trong một nước mà cơ quan đại nghị tập trung mọi quyền lực vào tay mình, chỉ cần được đại đa số nhân dân ủng hộ là có thể tuỳ ý hành động theo hiến pháp, thì xã hội cũ có thể hoà bình bước sang xã hội mới, chẳng hạn trong các nước cộng hoà như Mỹ, Pháp, trong nước quân chủ như Anh"..
Ngay từ Marx những người cộng sản đã quan niệm rằng người lao động trên toàn thế giới phải vượt qua những khác biệt về sắc tộc, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ... để đoàn kết lại vì mục tiêu chung là giải phóng nhân dân lao động trên toàn thế giới khỏi chế độ làm thuê. Ông có khẩu hiệu rất nổi tiếng: "Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại". Sau này Lenin cũng có ý tưởng như vậy... Sự đối đầu giữa các quốc gia cộng sản sau này cho thấy trong một số trường hợp các lãnh đạo cộng sản đã không tôn trọng ý tưởng này. Mâu thuẫn quốc gia, dân tộc trong thực tế bao giờ cũng mạnh hơn mâu thuẫn giữa các giai cấp (ít nhất là từ thế kỷ 20 trở về trước).
Marx cho rằng chủ nghĩa cộng sản là một bước tiến hóa của xã hội loài người dựa trên những điều kiện kinh tế - xã hội do chủ nghĩa tư bản tạo ra chứ không phải là kết quả của việc áp đặt một mô hình kinh tế - chính trị lên xã hội. Một điều rất cần nói về Marx và chủ nghĩa cộng sản của Marx là Marx hoàn toàn không chủ trương "mục đích bào chữa cho phương tiện". Ngay từ thời của mình Marx đã nói: "Một mục tiêu chính đáng không thể bào chữa cho biện pháp không chính đáng để đạt mục tiêu đó". Như vậy có thể nói trong Marx là thấm nhuần tư tưởng nhân đạo, ông chủ trương cách mạng nhưng phải là cách mạng trong nhân đạo để sao cho đạt được sự công bằng cho người này nhưng không lấy mất sự công bằng của người khác. Cách mạng là đi lên là để tầng lớp dưới vươn lên ngang bằng tầng lớp trên chứ không phải là cách mạng là đi xuống để kéo tầng lớp trên xuống dưới cùng. Mục tiêu của Marx là xóa bỏ sự tha hóa và nô dịch do chủ nghĩa tư bản tạo ra, kiến tạo một xã hội tự do, phi giai cấp chứ không phải thay thế sự tha hóa này bằng sự tha hóa khác, xóa bỏ sự nô dịch này bằng sự nô dịch khác.
==== Phê phán chủ nghĩa Marx ====
Có thể nói Marx là nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nhân loại nhưng trong học thuyết của Marx có những khiếm khuyết bởi những hạn chế về khả năng thu thập tư liệu, lối tư duy chịu ảnh hưởng của chính thời đại mà ông sống. Những người cộng sản tại một số nơi khi thực hành chủ nghĩa Marx đã không thật sự hiểu đúng lý luận của Marx và những lý tưởng mà Marx muốn hướng tới, dẫn tới áp dụng máy móc vào thực tế. Hơn nữa, với những điều kiện kinh tế - xã hội và trình độ công nghệ ở thế kỷ 20 (trong đó chủ nghĩa Marx được áp dụng) thì loài người chưa thể có lực lượng sản xuất đủ tiên tiến để xây dựng một xã hội lý tưởng như Marx mong muốn. Để xây dựng xã hội cộng sản, loài người cần đạt tới một trình độ công nghệ mới mà thế kỷ 20 chưa hề biết đến, hiện nay chỉ mới bắt đầu được khai phá như công nghệ robot, công nghệ nano, Công nghệ lượng tử...
Marx (cũng như nhiều nhà lý luận khác) luôn có xu hướng tổng kết các thực tiễn phong phú trong một tổng thể hài hòa - một mô hình đáp ứng mọi lời giải của thực tế. Để xây dựng mô hình Marx đã có những phép đơn giản hóa. Có thể thấy xu hướng đơn giản hóa này của Marx trong các lý luận của ông: Trong triết học ông phân triết học ra rạch ròi hai trường phái duy vật và duy tâm và phê phán trường phái duy tâm trong khi đó đây là các khía cạnh của thực thể thế giới và nhận thức của con người về thực thể đó và chúng là những khái niệm không thể tách rời. Do đó trong triết học duy vật biện chứng của chủ nghĩa cộng sản có đặc trưng nổi bật là nghiên cứu về sự tư duy của con người chỉ nhằm vào cái "chung", ít nghiên cứu về cái "riêng", yếu về nhận thức về "cái tôi" trong tư duy con người. Lý luận của những người Marxist nhấn mạnh quan hệ giữa tồn tại và ý thức theo hướng thực thể khách quan ban đầu của thế giới là vật chất, cụ thể là các điều kiện tự nhiên, sản xuất và xã hội (không phụ thuộc vào ý thức của cá nhân) thì ý thức con người (là hệ quả của vật chất có chức năng phản ánh hiện thực khách quan) cũng sẽ phụ thuộc vào sự tồn tại của các điều kiện tự nhiên, sản xuất và xã hội. Họ ít nghiên cứu tác động ngược lại của ý thức đến tự nhiên, sản xuất và xã hội.
Trong khi nghiên cứu về xã hội loài người, vì sự tổng kết chỉ giới hạn trong lịch sử châu Âu, mô hình của Marx cũng còn nhiều điểm yếu. Lịch sử phát triển xã hội loài người, theo Marx, tổng kết dựa trên mô hình của châu Âu có bản chất là sự phát triển của "lực lượng sản xuất" dẫn đến sự biến đổi của "quan hệ sản xuất": đi từ công xã nguyên thuỷ (mông muội), đến chiếm hữu nô lệ (dã man), đến phong kiến (tự cấp tự túc), đến tư bản (nền sản xuất công nghiệp) và cuối cùng là cộng sản (kinh tế dựa trên tri thức, văn minh).
Tại thời điểm của Marx (thế kỷ 19), do ảnh hưởng của các cuộc cách mạng ở Châu Âu và Châu Mỹ, người ta thiên về các biện pháp bạo lực giành chính quyền để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội mà thường bỏ qua các cách giải quyết hoà bình bằng thoả hiệp và đối thoại. Marx đã phê phán và bác bỏ chủ nghĩa xã hội không tưởng và lấy sự thất bại của nó làm minh chứng cho sự cần thiết của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Các biện pháp cách mạng bạo lực có thể cho một kết quả tức thì rất sâu sắc khi quần chúng bị kích động đứng lên làm cách mạng nhưng nó sẽ đi kèm những tổn thất rất to lớn cho xã hội trong một thời gian dài, và khi cần kìm hãm người dân để đưa họ về trạng thái tâm lý ôn hòa thì đó lại là một việc rất khó và mất thời gian, đôi khi còn tổn thất rất lớn khác. Các biện pháp hòa bình bất bạo động tuy phải thực hiện một cách từ từ và dường như kém hiệu quả nhưng thực tế nó có thể giải quyết mâu thuẫn một khi mâu thuẫn đó là chín muồi và các lực lượng xã hội cần phải tự điều chỉnh để giải quyết các mâu thuẫn đối kháng. Ở thời kỳ của Marx thì việc các lực lượng đối kháng chịu đối thoại với nhau là rất hãn hữu, nhưng đến thế kỷ 20 thì đối thoại đã trở nên phổ biến. Các tấm gương của Mahatma Gandhi, Martin Luther King, Jr. cho thấy đấu tranh hòa bình cũng là một cách giải quyết tốt trong một số trường hợp. 100 năm sau khi Marx mất, thế giới đã đổi thay sâu sắc, đã xuất hiện các phương pháp đấu tranh hòa bình hữu hiệu thông qua các thiết chế như công đoàn, các tổ chức xã hội, dư luận xã hội, tự do báo chí, tôn giáo, nghị trường...
Karl Marx (và Engels) là nhà tư tưởng lớn của nhân loại và hiện nay vẫn được coi là một trong những nhà triết học, nhà tư tưởng nhân đạo có ảnh hưởng nhất của loài người. Chủ nghĩa Marx là sự tiếp nối các lý tưởng của Thời kỳ Khai sáng. Các nghiên cứu của Marx, Engels trong lĩnh vực kinh tế chính trị học đã dẫn đến những ý tưởng về chủ nghĩa cộng sản khoa học. Nhưng đó mới chỉ là các phác thảo lý thuyết theo suy nghĩ của Marx, Engels và còn ở dạng lý tưởng. Còn lý thuyết đó được áp dụng như thế nào trong thực tế thì đó là trách nhiệm và sự nghiệp của những người kế tục Marx.
=== Chủ nghĩa Lenin ===
Vladimir Ilyich Lenin là nhà kinh điển thứ hai của chủ nghĩa cộng sản. Lenin viết rất nhiều tác phẩm ở nhiều chủ đề bao gồm triết học, kinh tế học, lịch sử, pháp luật... và các môn khoa học nhân văn khác. Nhưng khác với Marx, các tác phẩm của Lenin hầu hết tập trung vào cuộc đấu tranh chống chế độ Sa hoàng, chống các xu hướng chính trị khác tại Nga và Tây Âu và tập trung vào những nỗ lực hiện thực hóa những ý tưởng cộng sản chủ nghĩa của Marx. Lenin có một đặc tính cá nhân đặc sắc là người có tính thực tế, vị lợi, không câu nệ vào các lý thuyết giáo điều, nhiều thủ đoạn chính trị. Phương châm của ông là "Có lợi là làm" bất chấp các quy tắc đạo đức mà ông cho là "đạo đức tiểu tư sản". Là người có trình độ học vấn và lý luận cao và có tài năng hùng biện thiên bẩm, Lenin sử dụng khả năng diễn đạt mạnh mẽ, lôi cuốn để củng cố cho quan điểm của mình. Việc Lenin sẵn sàng hiệu chỉnh cả Marx - một nhà tư tưởng có ảnh hưởng thế giới cho thấy tính chất này của Lenin. Nếu có điều gì có vẻ trái với các lý luận của Marx và Engels thì ông sẵn sàng viết luôn các tác phẩm lý luận để chỉ đạo phong trào cách mạng Nga.
Lenin là người chủ xướng, lãnh đạo Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga lập ra nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới vào năm 1917. Tên tuổi của Lenin gắn liền với giai đoạn đầu tiên hình thành lý thuyết và hiện thực phát sinh của nhà nước này. Các lý luận của Lenin có ảnh hưởng rất to lớn trong lý luận của các đảng cộng sản và các quốc gia xã hội chủ nghĩa, được coi là kinh điển và dẫn chiếu nhiều hơn cả Marx. Sau này các phát biểu và ý tưởng của Lenin được coi là khuôn vàng thước ngọc không thể phê phán cho các đảng cộng sản tại các quốc gia xã hội chủ nghĩa. Mọi nhận xét và ý kiến trái với Lenin (và Marx) được dán nhãn hoặc chụp mũ là chủ nghĩa xét lại và có thể bị khai trừ khỏi phong trào cộng sản và công nhân thế giới.
Cũng như Marx, Lenin là nhà cách mạng nhiệt thành của chủ nghĩa cộng sản. Lenin không phải là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Marx vào Nga mà đó là một nhà Marxist ôn hòa - Plekhanov người sáng lập Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga. Sau này người ta gọi những người theo Plekhanov trong đảng này là phái Menshevik (thiểu số) - là những người không tán thành làm cách mạng vô sản vì họ theo lý thuyết của Marx cho rằng những điều kiện kinh tế - xã hội của nước Nga chưa chín muồi để làm cách mạng vô sản. Họ chiếm thiểu số trong đại hội đảng năm 1903. Những người theo Lenin là phái Bolshevik (đa số) - là phái tán thành cách mạng. Sau này, phái Bolshevik của Lenin tách ra thành lập đảng riêng, trở thành Đảng Cộng sản Liên Xô.
Lenin hiệu chỉnh chủ nghĩa Marx rất nhiều và sáng tạo ra rất nhiều ý tưởng lý luận mới. Nhưng điểm nổi bật và lớn nhất phân biệt Lenin với Marx là lý luận về chủ nghĩa đế quốc và ý tưởng về khả năng thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản (chủ nghĩa xã hội) trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc: Lenin lý luận rằng chủ nghĩa Marx chỉ đúng trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh khi các quốc gia tư bản chưa trở thành đế quốc chủ nghĩa. Còn thời đại của mình (đầu thế kỷ 20) là thời đại của chủ nghĩa đế quốc - là đỉnh cao tột cùng của chủ nghĩa tư bản khi mà hình thức kinh tế chính của nó là các tập đoàn tư bản độc quyền, lũng đoạn nền kinh tế để có thể thu được siêu lợi nhuận và đặc tính đối ngoại là hiếu chiến và xâm chiếm thuộc địa. Trong các điều kiện phát triển khác nhau thì trong hệ thống đế quốc chủ nghĩa đã xuất hiện các "khâu yếu" (theo lời của Lenin là các "mắt xích yếu") và "cách mạng vô sản" có thể chiến thắng tại một trong các mắt xích yếu đó (Cách mạng vô sản là cách gọi khác của cách mạng xã hội chủ nghĩa và thuật ngữ giai cấp công nhân còn được gọi là giai cấp vô sản). Xây dựng liên minh công - nông, nhà nước Xô viết cũng là một luận điểm mới của Lenin.
Đây là điểm khác biệt lớn nhất của Lenin so với Marx và được những người theo chủ nghĩa Marx-Lenin xem là sáng tạo lý luận vĩ đại nhất trong kho tàng lý luận của chủ nghĩa cộng sản. Như vậy khi đề ra chủ nghĩa cộng sản Marx không tin rằng xã hội cộng sản có thể hình thành trong tương lai gần và cũng chỉ phác thảo ra những nguyên lý cơ bản nhất của mô hình xã hội đó. Ông cũng không chỉ ra được cách tiến hành cách mạng như thế nào, các đặc trưng của cách mạng đó ra sao, sau cách mạng xây dựng xã hội mới thế nào. Còn với Lenin thì chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, cách mạng xã hội chủ nghĩa đã là một thực tế và mọi nỗ lực của mình Lenin dành cho sự nghiệp đưa chủ nghĩa cộng sản vào cuộc sống. Có thể nói vai trò của Lenin đối với chủ nghĩa cộng sản là người cố gắng hiện thực hóa những ý tưởng của Marx.
Cũng giống như Marx, Lenin cũng cho rằng các đảng cộng sản phải là đảng của giai cấp công nhân toàn thế giới đấu tranh theo sự phối hợp chung vì sự nghiệp chung của vô sản trên toàn thế giới. Mâu thuẫn giai cấp là quan trọng, mâu thuẫn quốc gia - dân tộc là thứ yếu. Lenin thậm chí còn đi rất xa hơn nữa khi đưa ra khẩu hiệu "Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng" trong Chiến tranh thế giới thứ nhất: theo ý tưởng này thì giai cấp vô sản có thể nhân cơ hội hỗn loạn trong nước, chính quyền bị suy yếu, nền kinh tế kiệt quệ do chiến tranh để làm cách mạng vô sản. Khi quân đội Sa hoàng thất bại trên chiến trường Chiến tranh thế giới thứ nhất, các đảng viên Bolshevik nhân tình trạng rối loạn trong nước đã đi đầu làm cách mạng. Theo một số ý kiến, điều này trái với các khái niệm và tình cảm thông thường của con người như tính tự tôn dân tộc, tinh thần yêu nước và vi phạm quyền lợi lâu dài của quốc gia. Đây là nguyên nhân gây ra sự bất đồng lớn rất sâu sắc trong cộng đồng Marxist của các nước châu Âu tại Quốc tế II: những người ủng hộ chính phủ trong Thế chiến I, những người coi quyền lợi quốc gia cao hơn quyền lợi giai cấp và tư tưởng, và còn vì những bất đồng quan điểm khác tách ra thành lập phong trào Xã hội chủ nghĩa mới bao gồm các tổ chức chính trị là tiền thân của các đảng Dân chủ Xã hội ngày nay ở châu Âu. Sau này, những người có quan điểm tương tự bị quy kết là theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi trái với tinh thần của chủ nghĩa Marx-Lenin chân chính (Nguyễn Ái Quốc khi ở Quốc tế Cộng sản trong những năm 1920-1930 cũng bị Stalin kết tội này). Tuy các đảng cộng sản đều nói, viết lý luận theo Lenin đả phá chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi nhưng trong thực tế họ đều coi quyền lợi quốc gia dân tộc đứng trên quyền lợi của giai cấp, họ chỉ nhấn mạnh luận điểm này của Lenin chừng nào nó mang lại lợi ích cho đảng, quốc gia họ.
Lenin khi lý luận về khả năng thắng lợi của cách mạng tại một quốc gia đã đưa ra một ý tưởng mới rất khác lạ với Marx là hệ quả của điểm khác biệt lớn nhất của hai người - đó là khái niệm "cùng tồn tại hòa bình" (Мирное сосуществование): theo đó các đế quốc và các quốc gia xã hội chủ nghĩa cùng có thể tồn tại hòa bình với nhau (rất khác quan điểm của Marx rằng các nước tư bản nhất định sẽ tập hợp lại bóp chết cách mạng đến cùng), thậm chí có thể hợp tác trong một số lĩnh vực. Chủ nghĩa xã hội sẽ thắng lợi trên toàn thế giới thông qua "thi đua hòa bình" mà trong đó công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản sẽ là hình mẫu ưu thế của thế giới mới trước thế giới cũ và nhân dân cùng vô sản tại các nước tư bản còn lại sẽ tự đứng lên lật đổ chế độ đó.
Trong quan hệ đối với chủ nghĩa tư bản ngoài khái niệm "cùng tồn tại hòa bình" và "thi đua hòa bình" Lenin đưa vào lý luận chủ nghĩa quốc tế vô sản coi giai cấp vô sản toàn thế giới là vô biên giới và đều là anh em (như Hồ Chí Minh diễn giải: quan sơn muôn dặm là nhà, bốn phương vô sản đều là anh em): Vô sản tại các nước tư bản phải đấu tranh ủng hộ, đoàn kết với vô sản tại các nước xã hội chủ nghĩa đã thắng lợi để bảo vệ thành quả cách mạng, Vô sản tại các nước xã hội chủ nghĩa phải làm mọi cách cổ vũ giúp đỡ vô sản tại các nước tư bản vùng lên làm cách mạng vô sản. Việc giúp đỡ phát triển phong trào cộng sản ra toàn thế giới được xem là nghĩa vụ thiêng liêng và bắt buộc của các quốc gia cộng sản, để phối hợp hành động của các đảng cộng sản và lãnh đạo đấu tranh của vô sản toàn thế giới Lenin cho thành lập Quốc tế Cộng sản (Communist international) hay Quốc tế III trụ sở tại Moskva sau khi cách mạng tháng 10 Nga thành công. Từng đảng cộng sản được phân công trong từng khu vực của thế giới có trách nhiệm phát triển cách mạng trong khu vực của mình. Mọi hành động của phong trào cộng sản đều được lãnh đạo điều phối từ đây khi Quốc tế Cộng sản còn hoạt động.
Một lý luận mới của Lenin có ảnh hưởng tích cực ở thời kỳ rối ren trong Nội chiến Nga, song về lâu dài khi nó bị các thế hệ lãnh đạo sau này áp dụng máy móc thì lại gây tai hại đối với các hoạt động của các đảng cộng sản và quốc gia cộng sản sau này là lý luận về "tính đảng", "tính giai cấp" của mọi hiện tượng trong đời sống xã hội (mọi hiện tượng xã hội đều có tính đảng, tính giai cấp): Nghĩa là mọi hiện tượng đều phải được phân tích rõ ra: nó làm lợi cho ai trong cuộc đấu tranh giai cấp, và trên cơ sở đó khẳng định tính "địch - ta" của hiện tượng đó, và Lenin đưa ra một công thức xác định chân lý như sau: "Miễn là có lợi cho sự nghiệp đấu tranh của giai cấp vô sản thì đều là chính nghĩa, có hại cho cuộc đấu tranh đó thì đều là phi nghĩa." Luận điểm về "tính đảng" và "tính giai cấp" này của Lenin mang nặng tính vị lợi đem lại hậu quả rất tai hại sâu xa cho hiện thực cuộc sống các quốc gia cộng sản sau này: người ta có thể chỉ ra rất nhiều kẻ thù và sử dụng lý thuyết này vào việc quy kết bừa bãi kẻ thù của cuộc đấu tranh giai cấp. Việc áp dụng "tính đảng", "tính giai cấp" đã làm méo mó lý luận của chủ nghĩa cộng sản: không còn gì là cơ sở để đánh giá "đúng - sai", chân lý được diễn giải vô nguyên tắc miễn sao phù hợp với lợi ích trước mắt và không loại trừ bị các cá nhân cầm quyền lợi dụng vào việc triệt hạ đối thủ chính trị. Chính từ lý luận về "tính đảng", "tính giai cấp" lý luận của chủ nghĩa cộng sản đã bắt đầu mất tính tích cực và dần dần trở thành công cụ để minh họa cho các nhà lãnh đạo của đảng cầm quyền.
Nếu nói đến Lenin và chủ nghĩa cộng sản hiện thực (mô hình Liên Xô) thì ấn tượng lớn nhất là khái niệm "chuyên chính vô sản". Chuyên chính vô sản theo định nghĩa của Lenin là chức năng của nhà nước vô sản trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội để trấn áp kiên quyết mọi sự chống đối của giai cấp tư sản vừa bị đập tan, tiến hành đấu tranh giai cấp để củng cố thành quả của cách mạng. Nhưng điểm đặc trưng của chuyên chính vô sản là nó không bị phụ thuộc vào bất cứ quy tắc pháp luật hay giới hạn nào về đạo đức, tôn giáo, mà Lenin và các người kế tục mình gọi các quy chuẩn nhân đạo thông thường đó là "đạo đức tiểu tư sản" (Буржуазные морали, Bourgeoisie morals) không cần thiết phải tuân thủ. Lenin đặc biệt đề cao tính cương quyết sắt đá chống lại kẻ thù tư tưởng, ông đề cao Maximilien Robespierre và những người Jacobins của Cách mạng Pháp và coi sự hy sinh nhân mạng lớn lao và khủng bố là hệ quả tất yếu của một quá trình vĩ đại. Ông xem chuyên chính vô sản là "hòn đá thử vàng" để nhận ra người Marxist "đích thực" và người Marxist giả danh.
Với tư duy thực tế, sau nội chiến Lenin đề ra "Chính sách kinh tế mới - NEP" (НЭП - Новый экономический план) cho phép sử dụng các cơ chế kinh tế tư bản chủ nghĩa kêu gọi đầu tư của tư bản trong nước và nước ngoài trong sự kiểm soát, dẫn hướng của nhà nước xã hội chủ nghĩa (theo thuật ngữ ngày nay đây chính là "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa"). Chỉ trong thời gian ngắn, chính sách này đã nhanh chóng vực nước Nga từ bờ vực phá sản và chết đói đứng lên vững mạnh làm tiền đề để Stalin thực hiện công nghiệp hoá sau này. Mô hình các cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc và Việt Nam trong những năm 1970 - 1980 và tiếp diễn cho đến hiện nay tương tự chính sách kinh tế Lenin cho tiến hành từ hơn nửa thế kỷ trước. Sau khi Lenin chết Stalin đã chấm dứt chính sách này và chuyển nền kinh tế, xã hội sang phương thức nhà nước sở hữu toàn bộ hệ thống tư liệu sản xuất và chỉ huy toàn diện nền kinh tế. Có thể giả thiết rằng nếu giai đoạn cầm quyền của Lenin kéo dài thì hình ảnh Liên Xô có thể đã khác.
=== Chủ nghĩa Stalin ===
Thuật ngữ chủ nghĩa Stalin (Stalinism) thường để chỉ về cung cách lãnh đạo xã hội và xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, phong cách cá nhân và ảnh hưởng của phong cách đó của Stalin (Иосиф Вucсaрионович Джугашвили - Сталин Iosif Vissarionovich Stalin) tại Liên Xô bao gồm kỹ nghệ hóa nhanh chóng, lý thuyết của Xã hội chủ nghĩa trong một quốc gia (đối lập với chủ nghĩa Trotsky), một nhà nước tập trung quyền lực, hợp tác xã hóa nông nghiệp, đặt quyền lợi của các đảng Cộng sản ngoại quốc dưới lợi ích của đảng Cộng sản Liên Xô - được những người ủng hộ chủ nghĩa này coi là tiên phong nhất trong cuộc cách mạng cộng sản vào thời kỳ đó. Là người lãnh đạo Liên Xô kế tục Lenin trong một thời gian dài nên ảnh hưởng của Stalin trong các đảng và các quốc gia cộng sản là rất lớn.
Tuy Lenin là người đầu tiên phát biểu lý luận về khả năng thành công của cách mạng vô sản, và xây dựng chủ nghĩa cộng sản trong một nước, nhưng Stalin là người lý luận nhiều nhất về chủ đề này vì đây là cuộc đấu tranh lý luận gay gắt gữa hai phe của Stalin và Trotsky. Chủ nghĩa Trotsky đòi hỏi phát triển cách mạng không ngừng đưa cách mạng ra các nước khác và cuối cùng là cách mạng thế giới (quả thật sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đã có cách mạng tại Đức và Hungary nhưng đã bị dập tắt nhanh chóng), chỉ có thể xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản khi giai cấp vô sản đã nắm chính quyền ở hầu hết các nước văn minh nhất; còn phái Stalin cho rằng có thể xây dựng chủ nghĩa cộng sản tại nước Nga trong khi cách mạng vô sản chưa thành công ở các nước còn lại.
Stalin trong tác phẩm "Bàn về vấn đề dân tộc" đã lý luận rằng "Có thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản tại các dân tộc chưa phát triển chưa trải qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, trong xã hội chưa có giai cấp công nhân nếu có sự giúp đỡ của giai cấp công nhân Nga làm đầu tàu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản". Đây là luận điểm của Stalin để lý luận về khả năng thắng lợi của chủ nghĩa xã hội tại Liên Xô, nơi có nhiều dân tộc còn đang lạc hậu trong thuộc địa cũ của đế quốc Nga, và điều này là cơ sở lý luận để những người cộng sản ở một số nước thuộc địa khác như Việt Nam làm cách mạng xã hội chủ nghĩa "từ một nước thuộc địa nghèo nàn, nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa".
Đặc biệt Stalin có một luận điểm gây nhiều hậu quả cho xã hội Liên Xô là luận điểm "Tăng cường đấu tranh giai cấp" cho rằng sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản càng thắng lợi thì các mâu thuẫn trong lòng nó giữa giai cấp vô sản và tàn tích của giai cấp tư sản càng gia tăng do đó càng cần phải đẩy mạnh đấu tranh giai cấp để tiêu diệt sạch các tàn tích đó. Đây là luận điểm tạo cơ sở lý luận để Stalin tiến hành khủng bố thanh lọc trong nội bộ đảng, nhà nước và xã hội để loại bỏ bất cứ một hành vi hoặc ý định bất phục tùng nào để thiết lập một chế độ cực quyền có một không hai trong lịch sử. Stalin sử dụng lý luận này và bằng các biện pháp tìm kẻ thù bằng "tính giai cấp" để loại bỏ bất cứ ai mình muốn.
Về mặt kinh tế, trái ngược với chính sách kinh tế mới của Lenin, chủ nghĩa Stalin đặc trưng bằng sự xóa bỏ thẳng thừng nền kinh tế thị trường, đưa nền kinh tế sang một mô hình tập trung quan liêu cao độ, mọi phương tiện sản xuất đều nằm trong tay nhà nước thông qua chỉ hai hình thức "sở hữu toàn dân" và "sở hữu tập thể". Sau khi Lenin chết chính sách kinh tế mới (НЭП) bị bãi bỏ. Mọi tài sản của "các phần tử tư nhân" bị tịch thu, toàn bộ nền kinh tế được điều hành theo mệnh lệnh từ trên xuống dưới nhất nhất theo "kinh tế kế hoạch hoá" kế hoạch sản xuất là pháp lệnh rất nghiêm ngặt. Liên Xô liên tiếp tiến hành các kế hoạch 5 năm, kế hoạch 7 năm để thực hiện "công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa" trong công nghiệp và "tập thể hóa nông nghiệp" cưỡng bức. Bằng những kế hoạch kinh tế ngắn hạn 5-7 năm, Stalin đã đưa Liên Xô trở thành nước công nghiệp trong một khoảng thời gian ngắn chưa từng có trong lịch sử thế giới. Các nhà lý luận của chủ nghĩa Stalin và của các quốc gia cộng sản sau này coi kinh tế tập trung - kế hoạch hoá, công nghiệp hóa và tập thể hóa là các thắng lợi to lớn là đóng góp lý luận vĩ đại của Stalin trong lý luận cộng sản chủ nghĩa. Ưu thế của hình thức kinh tế này được dẫn ra như đó là nền tảng để đảm bảo thắng lợi trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại và bất cứ một quốc gia nào sau này theo chủ nghĩa xã hội thì cũng đều đi theo mô hình kinh tế này. Tuy nhiên, thực chất mô hình kinh tế này không giải quyết được vấn đề lao động của người công nhân bị tha hóa mà nhà nước đã thay thế vai trò của nhà tư bản do đó người công nhân lẫn toàn thể xã hội chưa được giải phóng khỏi "chế độ nô dịch con người bao hàm trong quan hệ của công nhân với sản xuất và vì mọi quan hệ nô dịch chỉ là những biến thể và kết quả của quan hệ ấy" như Marx mong muốn.
Về mặt hình thức nhà nước, chủ nghĩa Stalin đặc trưng bởi nhà nước tập quyền cao độ gắn liền với đảng, Trong đó đảng kiểm soát lập pháp, hành pháp, tư pháp, công đoàn và mọi chức năng nhà nước và xã hội khác, trong đó lãnh tụ đảng có quyền hạn tuyệt đối, dưới thời Stalin quyền hạn tuyệt đối đã biến thành sùng bái cá nhân Stalin với nhiều hậu quả sau này. Xã hội duy trì kỷ luật bằng sự tin tưởng mù quáng vào sự anh minh của lãnh tụ và sự khiếp sợ bị khủng bố.
Ngoài ra Stalin còn có các tác phẩm về đề tài quân sự và được những người cộng sản quy cho là nhà tư tưởng quân sự lớn đã tổng kết và đưa ra học thuyết quân sự của chủ nghĩa xã hội. Stalin cho rằng quy luật và nghệ thuật chiến tranh của giai cấp vô sản phải khác một trời một vực so với quy luật và nghệ thuật quân sự tư sản. Trong các tác phẩm này (thường viết trước Chiến tranh thế giới thứ hai) Stalin lý luận về xây dựng lực lượng vũ trang về sự lãnh đạo chính trị trong các lực lượng vũ trang coi quân đội là quân đội của đảng, chịu sự quản lý trực tiếp từ đảng. Stalin lý luận về mối quan hệ của tiến công và phòng ngự, cho rằng học thuyết quân sự của giai cấp vô sản phải là tiến công không ngừng, phòng ngự là tạm thời, tiến công là chủ yếu, khẳng định tính tất thắng của giai cấp vô sản một khi có chiến tranh. Bàn về mối quan hệ chiến lược - chiến thuật. Ngoài ra còn bàn về một số vấn đề nghệ thuật chiến tranh như nghệ thuật giành quyền làm chủ trên không, cách sử dụng pháo binh tập trung trên chiến trường... Thực tế thất bại to lớn trong thời gian đầu của "Chiến tranh vệ quốc vĩ đại" cho thấy những sai lầm trong luận điểm quân sự của Stalin, chiến tranh là thử nghiệm khách quan, quy luật chiến tranh không phụ thuộc vào chế độ chính trị, sự duy ý chí sẽ dẫn đến thất bại nặng nề.
Có thể nói chủ nghĩa Stalin đóng một vai trò rất quan trọng trong lý luận cộng sản và mô hình kinh tế - xã hội do Stalin xây dựng là mô hình tiêu biểu cho thực tế xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các quốc gia khác nhau. Thành công của Liên Xô đã thúc đẩy nhiều quốc gia trên thế giới chọn mô hình kinh tế xã hội Stalinist hoặc chịu ảnh hưởng của mô hình này. Việc xây dựng các kế hoạch kinh tế ngắn hạn, tập trung các nguồn lực để phát triển các ngành công nghiệp quan trọng, phát triển các hình thức kinh tế hợp tác... đã được nhiều nước theo các chế độ chính trị khác nhau học hỏi trong đó có cả những nước chống Cộng nhất như Việt Nam Cộng hòa, Hàn Quốc, Đài Loan... Các kế hoạch kinh tế giúp các nước kém phát triển định hướng cho nền kinh tế, tập trung các nguồn lực cho những mục tiêu cụ thể, hỗ trợ các ngành công nghiệp quan trọng phát triển. Liên Xô sau này tuy chống tệ sùng bái cá nhân Stalin nhưng vẫn tiếp tục phát triển theo mô hình kinh tế do Stalin đề ra cho đến khi sụp đổ và từ bỏ chủ nghĩa cộng sản.
=== Chủ nghĩa Mao ===
Chủ nghĩa Mao (Maoism) là một thuật ngữ chỉ các học thuyết về chủ nghĩa cộng sản do chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đưa ra. Tại Trung Quốc thì được gọi là "Tư tưởng Mao Trạch Đông" và trong thập niên 1960 tư tưởng Mao Trạch Đông được in thành các sổ tay bìa đỏ để trang bị về tư tưởng cho cán bộ và nhân dân Trung Hoa đại lục. Tại các nước cộng sản Đông Âu các năm 1960 - 1980 thì thuật ngữ chủ nghĩa Mao được xem như một biến thái tiêu cực "tả khuynh" xa rời chủ nghĩa Marx-Lenin, còn tại một số nước cộng sản châu Á, thuật ngữ này được đánh giá tích cực như sáng tạo của chủ nghĩa Marx-Lenin trong điều kiện châu Á.
Điều khác nhau lớn nhất của chủ nghĩa Mao so với các học thuyết của Marx, Lenin và Stalin là ở quan niệm về động lực chính của cách mạng. Marx, Lenin, Stalin đều coi động lực của cách mạng là "giai cấp công nhân" và coi nhẹ giai cấp nông dân, coi nông dân là lạc hậu không có tính cách mạng tiên phong. Lenin, Stalin chỉ coi nông dân như một đồng minh cần tranh thủ mà thôi, họ coi thành thị là đấu trường cách mạng chính. Mao Trạch Đông xuất phát từ điều kiện của Trung Quốc là nước nông nghiệp, giai cấp công nhân và tư sản còn rất nhỏ bé, mâu thuẫn xã hội lớn nhất là mâu thuẫn nông dân - địa chủ nên tuy vẫn coi giai cấp công nhân là tiền phong cách mạng nhưng đã coi lực lượng cách mạng chủ lực là giai cấp nông dân và nông thôn là căn cứ địa của cách mạng, và coi học thuyết của mình là học thuyết của chủ nghĩa cộng sản cho các nước chưa phát triển thành tư bản. Chủ nghĩa Mao được truyền bá sang nhiều nước trên thế giới. Tại Campuchia, chủ nghĩa Mao pha trộn với chủ nghĩa dân tộc được đẩy đến mức cực đoan trở thành hệ tư tưởng của Khmer Đỏ gây ra cái chết của hàng triệu người, trở thành một hiện tượng lịch sử vượt quá khả năng nhận thức thông thường của con người.
Cùng với sự khác nhau này kéo theo sự khác nhau về "phương pháp tiến hành cách mạng". Khác với Lenin và Stalin quan niệm về cuộc cách mạng vô sản có tính đồng loạt tại thành thị như một cuộc khởi nghĩa của vô sản, chủ nghĩa Mao cho rằng cách mạng phải được tiến hành theo phương thức một cuộc chiến tranh du kích kéo dài lấy nông thôn làm căn cứ địa lan dần dần và đi đến thắng lợi hoàn toàn. Hai câu nói của Mao Trạch Đông về vấn đề này rất nổi tiếng là "Súng đẻ ra chính quyền" và "Nông thôn bao vây thành thị" và Mao Trạch Đông thực sự đã có rất nhiều đóng góp trong lý luận quân sự về chiến tranh du kích và chiến tranh nhân dân nhất là trong tác phẩm "Du kích chiến". Trong đó xem xét đồng loạt các khía cạnh quân sự, chính trị, tâm lý và các biện pháp xây dựng căn cứ địa, tiến hành chiến tranh nhân dân ở nông thôn.
Trong quản lý kinh tế và quản lý xã hội, cũng giống như chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Mao cũng theo phương châm tập trung hoá cao độ theo nền kinh tế kế hoạch hoá vĩ mô. Quản lý nhà nước cũng bằng hệ thống nhà nước - đảng với sự sùng bái cá nhân cao độ.
Chủ nghĩa Mao cho rằng để xây dựng chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội thì cần có con người cộng sản, con người xã hội chủ nghĩa để làm việc đó cần loại bỏ hết tàn dư tư tưởng tư sản, phản động, biện pháp để thực hiện là tiến hành "cách mạng văn hoá".
Điều dễ nhận thấy của chủ nghĩa Mao là lý luận và thực hành của họ trong việc "phát động quần chúng". Phát động quần chúng của chủ nghĩa Mao là kết hợp của rất nhiều yếu tố chính trị, xã hội, tổ chức và đặc biệt là yếu tố mê hoặc tâm lý của quần chúng. Trong thực tế thì chủ tịch Mao rất giỏi trong việc mê hoặc và phát động quần chúng. Ông có thể phát động quần chúng thực hiện những việc tưởng như không thể tưởng tượng nổi từ phong trào tiêu diệt chim sẻ, các phong trào "Đại nhảy vọt", "ba ngọn cờ hồng" cho đến việc phát động quần chúng dùng Hồng vệ binh gây bạo loạn trong "đại cách mạng văn hóa vô sản" để tạo sự lãnh đạo tuyệt đối của mình. Chủ nghĩa Mao luôn coi chính trị là có vai trò tối thượng trong đời sống xã hội. Mao Trạch Đông nói "Chính trị là thống soái" khi có đối thủ chính trị cần phê phán thì không những phải loại bỏ quyền lực chính trị của đối phương mà còn phải tiêu diệt "tư tưởng" chính trị của đối phương bằng cách kiểm thảo, đấu tố, dùng áp lực quần chúng đập tan ý chí của địch thủ, đó là biện pháp "tẩy não" mà chủ nghĩa Mao gọi là "cải tạo tư tưởng".
Tâm lý xã hội của chủ nghĩa Mao mang nặng đặc điểm tâm lý của giai cấp tiểu nông coi chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội là gắn liền với sự trong sạch coi thường vật chất, coi đói nghèo là tốt đẹp, là cách mạng. Đề cao tính đóng kín, chủ trương "tự lực cách sinh" mọi yếu tố tiện nghi, xa hoa và nhất là từ nước ngoài đều bị đánh giá là "biểu hiện tư sản" phải đả phá. Chủ nghĩa Mao coi cách mạng chỉ đơn giản là hoán đổi vị trí của giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, của những người cai trị và quần chúng bị trị. Chủ nghĩa Mao cũng tùy tiện gán ghép những quan điểm bất đồng với Mao Trạch Đông trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong phong trào cộng sản thế giới là "tư sản", "hữu khuynh" từ đó dùng các biện pháp hành chính, tuyên truyền thậm chí là bạo lực để đả kích, loại trừ. Chủ nghĩa Mao cho rằng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sau Chiến tranh thế giới thứ hai khi mà đời sống nhân dân được cải thiện nhiều và có các tiện nghi cao cấp là biểu hiện xa rời lý tưởng cộng sản, chạy theo "lối sống" và "đạo đức tư sản". Chủ nghĩa Mao coi mô hình của mình là thực sự cách mạng chân chính và là đầu tàu cách mạng cho thế giới thứ ba. Giai đoạn những năm 1960 - 1970 là cao trào của Trung Quốc cạnh tranh với Liên Xô trong việc lãnh đạo thế giới cộng sản và tranh luận về sự trong sạch của chủ nghĩa cộng sản.
Chủ nghĩa Mao đã làm cho Trung Quốc thành một xã hội đóng kín với bên ngoài mang nặng những đặc điểm lạc hậu đồng thời tạo ra những phong trào kinh tế, văn hóa và chính trị huy động toàn bộ xã hội nhưng chỉ dẫn đến những tổn thất to lớn cho Trung Quốc nhưng chính vào những năm cuối đời chủ tịch Mao Trạch Đông đã tiến hành những hoạt động ngoại giao để bắt tay với Mỹ đưa Trung Quốc thoát dần khỏi sự đóng kín và cởi bỏ dần các đặc trưng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
=== Chủ nghĩa cộng sản châu Âu ===
Thuật ngữ Eurocommunism (chủ nghĩa cộng sản châu Âu) là tên mà một số đảng cộng sản tại các nước tư bản phát triển tại châu Âu (dẫn đầu là Đảng Cộng sản Ý, Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Cộng sản Tây Ban Nha) tự gọi trào lưu của mình. Hiện nay hầu hết các đảng cộng sản tại các nước Tây Âu, Nhật Bản và các nước kinh tế tư bản phát triển đều theo trào lưu này. Trước đây, khi còn Liên Xô, thì Eurocommunism được các đảng cộng sản tại các quốc gia cộng sản đông Âu coi là "chủ nghĩa xét lại", "hữu khuynh" và "cơ hội chủ nghĩa".
Đầu tiên các đảng cộng sản thuộc trào lưu Chủ nghĩa cộng sản châu Âu cũng theo chủ nghĩa Marxism-Leninism. Trước và đặc biệt sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã có sự chuyển đổi lý luận của các đảng này để trở thành Eurocommunism bởi hai nguyên nhân chính:
Chủ nghĩa tư bản đã có những thay đổi to lớn không còn như thời đại của Marx và Lenin nữa, đã bắt đầu xuất hiện các cơ cấu của xã hội dân sự để giải quyết các mâu thuẫn xã hội một cách chấp nhận được.
Mức sống được nâng cao đã làm mất tính hấp dẫn của chủ nghĩa cộng sản đối với đa phần dân chúng các nước tư bản phát triển.
Trên cơ sở đó đã xuất hiện lý thuyết Eurocommunism đầu tiên sơ khai từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai từ lãnh tụ Đảng Cộng sản Ý Palmiro Togliatti và sau đó lý thuyết này dần được chia sẻ bởi các đảng cộng sản Tây Âu khác cho đến năm 1977 đã khai sinh chính thức Eurocommunism trong tuyên bố chung của lãnh tụ ba đảng cộng sản Ý, Tây Ban Nha và Pháp về tiến đến mục tiêu cộng sản bằng hòa bình và tự do trong "dân chủ và đa nguyên".
Eurocommunism còn được gọi là chủ nghĩa cộng sản nhân đạo cho rằng: Tương lai của xã hội loài người vẫn là theo lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản mà Marx đã miêu tả, nhưng con đường đấu tranh đạt đến lý tưởng không còn là bạo lực cách mạng như Marx và Lenin lý luận nữa mà bằng con đường đấu tranh hợp pháp, dân chủ của xã hội công dân và cuối cùng chủ nghĩa tư bản sẽ ngày càng bớt đối kháng (antagonism) để biến chuyển dần thành một chế độ nhân đạo mất dần tính chất "người bóc lột người".
Như vậy Eurocommunism đã phủ nhận sự biến đổi xã hội bằng "đột biến" cách mạng (revolution) mà chủ trương biến đổi bằng "tiến hoá" (evolution). Mục tiêu và phương pháp đấu tranh chủ yếu bây giờ của Eurocommunism cũng tiệm cận với mục tiêu và phương pháp của các đảng Dân chủ Xã hội và phong trào công đoàn cũng như các phong trào khác (ví dụ đảng Xanh) chủ yếu đấu tranh về mặt kinh tế để đòi tăng lương và tăng mức sống cho giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác; tăng cường đấu tranh chính trị - xã hội bằng biện pháp hòa bình để đem lại công bằng xã hội cho giai cấp công nhân; đấu tranh cho quyền tham chính của giai cấp công nhân...
Eurocommunism từ bỏ biện pháp đấu tranh bạo lực và kêu gọi không giải quyết bạo lực trong các mâu thuẫn chính trị - xã hội, ủng hộ bằng tinh thần và bằng biện pháp hòa bình các cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và bị áp bức, kêu gọi lập lại trật tự thế giới công bằng cho các dân tộc. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh Eurocommunism đi đầu trong phong trào đòi giải trừ quân bị vì nền hòa bình trên thế giới và quyền cùng chung sống hòa bình giữa các chế độ chính trị đối lập.
Ngày nay tại châu Âu lập trường của các đảng cộng sản trong Eurocommunism không khác biệt gì lắm so với các đảng xã hội hoặc các phong trào dân chủ xã hội khác.
== Các đảng cộng sản tiêu biểu ==
Đảng Cộng sản Liên bang Nga
Đảng Cộng sản Liên Xô (Shenin)
Đảng Cộng sản Belarus
Đảng của những người Cộng sản Belarus
Đảng Cộng sản Moldova
Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Cuba
Đảng Cộng sản Trung Quốc
Đảng Cộng sản Ấn Độ
Đảng Cộng sản Ấn Độ Marxist
Đảng Lao động Triều Tiên
Đảng Cộng sản Pháp
Liên minh 7 Đảng Cộng sản Nepal
Đảng Nhân dân Cách mạng Lào
Đảng Cộng sản Hoa Kỳ
Đảng Cộng sản Nhật Bản
Đảng Cộng sản Đài Loan (2008)
Đảng Cộng sản Tây Ban Nha
Đảng Cộng sản Thụy Điển
Đảng Cộng sản Sri Lanka
Đảng Cộng sản Đức
Đảng Cộng sản Hy lạp
Đảng Cộng sản Nauy
Đảng Tiến bộ của nhân dân lao động Síp
Đảng Cộng sản Ukraina
Đảng Cộng sản Chile
Đảng Cộng sản Brasil
Đảng Cộng sản Peru-Tổ quốc đỏ
Đảng Cộng sản Liban
Đảng Cộng sản Venezuela
== Đánh giá ==
=== Tích cực ===
Chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội đã có một vai trò rất to lớn trong tiến trình phát triển của tri thức nhân loại: vai trò của một cuộc thí nghiệm xã hội lớn lao. Sau cuộc thí nghiệm này nhân loại đã thu được các kinh nghiệm và tri thức cực kỳ to lớn; đã từ bỏ được sự "lãng mạn cách mạng" và có thêm kinh nghiệm xử lý các vấn đề lớn của xã hội. Các giai tầng xã hội đã không còn dễ bị kích động bởi các ý tưởng có tính cực đoan, xã hội hướng đến cách giải quyết các mâu thuẫn bằng con đường phi bạo lực. Tuy các đảng cộng sản thất bại, tan rã nhưng những bài học xương máu của sự thất bại này đem lại cho nhân loại một cái nhìn sâu rộng hơn về các vấn đề kinh tế - xã hội.
Lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản là đối trọng để chủ nghĩa tư bản tự điều chỉnh, học hỏi để xây dựng một xã hội công bằng hơn, dân chủ hơn, ổn định hơn và trở nên tốt đẹp hơn để được xã hội loài người chấp nhận. Từ chủ nghĩa tư bản với sự tự do bóc lột - "Người với người là chó sói" (Lenin) - và đầy rẫy bất công tạo ra mầm mống của bạo động và cách mạng, thế giới cũ đã tìm các cách thích nghi và triển khai một xã hội dân sự mà trong đó mọi cá nhân đều có thể phát triển hoặc có cơ hội phát triển ngang nhau; có thể phát huy được những năng khiếu, sở trường của mình. Các mâu thuẫn xã hội không hoàn toàn biến mất nhưng đã có những cơ chế đối thoại, thỏa hiệp để giải quyết trên cơ sở hợp lý cho các giai tầng xã hội. Đây là một đóng góp gián tiếp rất lớn của chủ nghĩa cộng sản.
Trong lịch sử mấy chục năm tồn tại của mình các nhà nước xã hội chủ nghĩa điển hình đã triển khai một số các biện pháp kinh tế - chính trị - xã hội mà ngày nay được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới kể các các quốc gia có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa lâu đời như Mỹ và các nước Tây Âu. Các ví dụ như vậy rất nhiều như: kế hoạch hóa kinh tế ở tầm vĩ mô, nhà nước tích cực can thiệp vào nền kinh tế và đưa ra các quy định điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân, tập trung nguồn lực quốc gia cho những dự án lớn có tính quan trọng sống còn hoặc cung cấp các dịch vụ công mà tư nhân không đảm đương nổi hoặc không muốn tham gia do khó thu lợi nhuận, ban hành luật lao động để bảo vệ người lao động, thiết lập hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, an sinh xã hội, phổ cập giáo dục ở mức độ quốc gia, các kinh nghiệm về quốc hữu hóa, vai trò của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế, phát triển các hình thức kinh tế hợp tác... đó là những đóng góp của chủ nghĩa cộng sản mà các nước có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã học hỏi rút kinh nghiệm và điều chỉnh để hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước.
Một số đảng cộng sản đã lãnh đạo dân tộc giành lại độc lập khỏi chủ nghĩa thực dân theo luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lenin bằng đấu tranh vũ trang cách mạng (lý thuyết của Lenin bị một số nước phương Tây coi là ý đồ của Liên Xô hòng làm cách mạng vô sản thế giới). Thực tế là lý thuyết của Lenin đã thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, dù còn nhiều tranh cãi chủ nghĩa dân tộc là con đường để thực hiện chủ nghĩa cộng sản (chủ nghĩa đại đồng) hay chủ nghĩa cộng sản là con đường để thực hiện chủ nghĩa dân tộc... Các quốc gia xã hội chủ nghĩa cũng góp phần làm cho chủ nghĩa thực dân cổ điển sụp đổ bằng cách viện trợ quân sự và kinh tế cho các phong trào giải phóng dân tộc và các quốc gia mới giành được độc lập.
Chủ nghĩa cộng sản có nỗ lực góp phần quan trọng đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, đưa đến sự sụp đổ của các nhà nước phát xít trước đây (sự ra đời của chủ nghĩa phát xít hiện gây nhiều tranh cãi, là sản phẩm lỗi của chủ nghĩa tư bản, hay sự tất yếu của chủ nghĩa đế quốc; và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít của những người cộng sản có còn nhằm mục đích mở rộng chủ nghĩa cộng sản). Nhiều ý kiến ở phương Tây cho rằng chủ nghĩa phát xít xuất hiện là phản ứng đối phó trước sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản, chuyên chính tư sản chống lại chuyên chính vô sản, hay là chủ nghĩa dân tộc cực đoan chống lại chủ nghĩa đại đồng xóa bỏ ranh giới quốc gia, nhưng cũng có ý kiến cho rằng nó không phải là chuyên chính tư sản vì bản thân trong các lý thuyết của chủ nghĩa phát-xít không hướng đến bảo vệ lợi ích tư sản và nó có khả năng lấy lòng kể cả những tầng lớp thấp nhất trong xã hội (như lý thuyết của đảng Quốc xã Đức xây dựng "chủ nghĩa xã hội" kiểu Đức).
Phong trào cộng sản gắn liền và hỗ trợ các phong trào xã hội khác phát triển như phong trào đấu tranh vì sự bình đẳng của phụ nữ, chống phân biệt chủng tộc, chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ hòa bình thế giới, chống phổ biến vũ khí hạt nhân...
Về cơ bản hầu hết các nhà lý luận đều đánh giá chủ nghĩa Marx có mục đích mang tính nhân đạo, hướng đến việc mang lại hạnh phúc và giải phóng con người. Nhiều nhà lý luận đánh giá cao Lenin có đóng góp cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, chống phong kiến... Tác phẩm Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lenin phản đối chủ nghĩa dân tộc ích kỷ, tuy nhiên khẳng định cách mạng dân tộc ở các thuộc địa chỉ thành công khi có sự thành công ở cách mạng chính quốc, và có thể bỏ qua tư bản chủ nghĩa để tiến lên xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa khi có sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến (gần giống luận điểm của Engels khi cho các nước lạc hậu có thể cải tạo các quan hệ sản xuất lạc hậu tồn tại để rút ngắn con đường lên xã hội chủ nghĩa với điều kiện chủ nghĩa xã hội được xây dựng thành công ở các nước phát triển) có ảnh hưởng đến phong trào giải phóng dân tộc ở một số nước, và mở đường cho nhiều đảng cộng sản hình thành ở phương Đông đấu tranh chống đế quốc phong kiến, nơi quan hệ sản xuất tư bản còn yếu. Tuy nhiên nó cũng dẫn đến một số hệ lụy như trên thực tế sau này một số nước bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa để tiến lên xã hội chủ nghĩa khi không có sự giúp đỡ cần thiết từ bên ngoài như Luận cương chỉ ra hay phải áp dụng kinh tế thị trường nhưng bị lệ thuộc vào các nước mà chủ nghĩa xã hội chưa được xây dựng.
=== Phê phán ===
Nhiều quan điểm khác cho rằng xã hội cộng sản chỉ tồn tại trong giai đoạn nguyên thủy, và cho phương pháp luận của Marx là "sai lầm", rằng văn minh loài người không thể tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Họ là những người theo chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa thực chứng, thực nghiệm, chủ nghĩa duy lý..., những người áp dụng đa nguyên luận giải thích các hiện tượng xã hội. Những người bảo thủ cho rằng lý tưởng xã hội cộng sản là trên tinh thần "duy lý", không có sơ sở. Nhiều người cho lý tưởng cộng sản là sản phẩm của chủ nghĩa lãng mạn...
== Thư mục ==
Kornai, János, The Socialist System. The Political Economy of Communism. Princeton: Princeton University Press, and Oxford: Oxford University Press, 1992
Bản tiếng Việt: Kornai János, Hệ thống xã hội chủ nghĩa. Chính trị kinh tế học phê phán, Nguyễn Quang A dịch, Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, 2002.
Tóm lược: Nguyễn Quang A, Mô hình Kornai về các hệ thống kinh tế
Joseph E. Stiglitz, Whither Socialism?, Cambridge, Massachusetts, and London, England: The MIT Press
== Xem thêm ==
Các vụ thảm sát dưới chế độ Cộng sản
Chủ nghĩa xã hội
Thuyết domino
Nghị quyết 1481 của Hội đồng Nghị viện của Ủy hội châu Âu
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Lê Hải 2008, Chủ nghĩa Mác đương đại, Talawas
Lý tưởng cộng sản sẽ thắp sáng thế kỷ 21
Tư liệu: Nghị quyết 1481 của Hội đồng Châu Âu (toàn văn bằng Anh ngữ)
Bản tin BBC ngày 26 tháng 1 năm 2006 về nghị quyết 1481 |
phó thủ tướng việt nam.txt | Phó Thủ tướng Việt Nam là một chức vụ trong Chính phủ Việt Nam, được quy định ngay từ Hiến pháp 1946. Kể từ năm 1981, theo Hiến pháp 1980, chức vụ này được gọi là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Phó Thủ tướng Thường trực đổi gọi là Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng. Từ 24 tháng 9 năm 1992, chức danh Thủ tướng Chính phủ đã được sử dụng trở lại theo Hiến pháp 1992.
Trong Chính phủ Việt Nam từ năm 1955 có nhiều ghế Phó Thủ tướng. Kỷ lục nhất là vào năm 1987 có tới 15 Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lần lượt tại nhiệm (trong đó có 11 Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đồng thời hoạt động từ tháng 2/1987) và trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII (1981-1987) tổng cộng có tới 18 người đảm nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Phó Thủ tướng thường trực là một chức danh đặc biệt, có thể trở thành Quyền Thủ tướng khi Thủ tướng tạm thời không thể tiếp tục công việc và kế nhiệm Thủ tướng khi được Nhà nước và Quốc hội đồng ý nếu Thủ tướng từ chức bất ngờ hoặc là qua đời. Phó Thủ tướng thường trực thường là Ủy viên Bộ Chính trị.
== Trong Hiến pháp Việt Nam ==
Theo Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phó Thủ tướng là chức vụ có thể có, nằm trong Nội các. Nội các lại là một bộ phận trong Chính phủ. Chương IV Điều 44 có ghi: Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Phó chủ tịch và Nội các. Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó thủ tướng.
Hiến pháp 1959 thì chức vụ Phó Thủ tướng là thành phần bắt buộc trong Hội đồng Chính phủ. Chương VI Điều 72 ghi: Hội đồng Chính phủ gồm có: Thủ tướng, các Phó thủ tướng, các Bộ trưởng, các Chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước, Tổng giám đốc ngân hàng Nhà nước. Tổ chức của Hội đồng Chính phủ do luật định. Chương VI Điều 75 ghi: Thủ tướng Chính phủ chủ tọa Hội đồng Chính phủ và lãnh đạo công tác của Hội đồng Chính phủ. Các Phó Thủ tướng giúp Thủ tướng, có thể được ủy nhiệm thay Thủ tướng khi Thủ tướng vắng mặt.
Sau khi Việt Nam thống nhất, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thông qua năm 1980. Hiến pháp quy định: Hội đồng bộ trưởng là Chính phủ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan chấp hành và hành chính Nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Chương VIII Điều 105 có ghi: Hội đồng Bộ trưởng gồm có: Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, các Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, các bộ trưởng và Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước. Chương VIII Điều 111 ghi: Các Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng giúp Chủ tịch và có thể được uỷ nhiệm thay Chủ tịch khi Chủ tịch vắng mặt. Theo đó, chức vụ Phó Thủ tướng được thay thế bằng chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng có quyền hạn tương ứng.
Hiến pháp năm 1992 Chương VIII Điều 110 ghi: Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác. Ngoài Thủ tướng, các thành viên khác của Chính phủ không nhất thiết là đại biểu Quốc hội... Phó Thủ tướng giúp Thủ tướng làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng. Khi Thủ tướng vắng mặt thì một Phó Thủ tướng được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của Chính phủ. Chức vụ Phó Thủ tướng theo Hiến pháp 1992 có thể trao cho những cá nhân không phải Đại biểu Quốc hội.
Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định tương tự tại cùng chương mục. Nhưng trong Chương VIII Điều 114 về nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ có ghi Thủ tướng có quyền hạn: Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ; trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ...
Hiến pháp năm 2013 Chương VII Điều 95 Khoản 1 ghi: Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định. Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Điều 95 Khoản 3 ghi: Phó Thủ tướng Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ được phân công. Khi Thủ tướng Chính phủ vắng mặt, một Phó Thủ tướng Chính phủ được Thủ tướng Chính phủ ủy nhiệm thay mặt Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo công tác của Chính phủ. Chương VII Điều 98 ghi nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng bao gồm: ...Trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thứ trưởng, chức vụ tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; phê chuẩn việc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương...
== Lịch sử ==
Ngày 16 và 17 tháng 8 năm 1945, trong thời gian diễn ra Cách mạng tháng Tám, đại đại biểu cách mạng trên toàn lãnh thổ Việt Nam đã họp Quốc dân Đại hội tại Tân Trào, Tuyên Quang. Đại hội đã bầu ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam, được xem là tiền thân của Chính phủ lâm thời, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Trần Huy Liệu giữ chức Phó Chủ tịch. Trước đó, sau khi đảo chính Pháp, chính quyền chiếm đóng Nhật Bản lập nên Nội các Trần Trọng Kim trong chính quyền nhà Nguyễn của vua Bảo Đại với Trần Văn Chương năm chức Phó Tổng trưởng Nội các.
Ngày 30 tháng 8, trước khí thế cách mạng, Bảo Đại tuyên bố thoái vị. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, dưới sự điều hành của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Chính phủ lâm thời không có ai giữ chức danh Phó Thủ tướng.
Sau cách mạng, quân Trung Hoa Dân quốc của chính quyền Tưởng Giới Thạch lấy danh nghĩa quân Đồng minh tiến vào bắc vĩ tuyến 16. Phía nam, quân đội Pháp dưới sự hỗ trợ của quân Anh trở lại xâm lược. Một số thế lực như Việt Quốc và Việt Cách theo chân quân đội Tưởng về nước tiến hành gây rối. Trước tình hình khó khăn, Mặt trận Việt Minh đồng ý thỏa hiệp với Việt Quốc và Việt Cách, cải tổ Chính phủ lâm thời thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời vào ngày 1 tháng 1 năm 1946. Chủ tịch Chính phủ là Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Chính phủ là Nguyễn Hải Thần thuộc Việt Cách.
Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội khóa I họp kỳ họp đầu tiên, thông qua các quyết sách cơ bản, thông qua Hiến pháp và thông qua danh sách Chính phủ. Chính phủ do Quốc hội bầu ra mang tên Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến do Chủ tịch Chính phủ Hồ Chí Minh nắm quyền lãnh đạo, Nguyễn Hải Thần tiếp tục giữ chức Phó Chủ tịch Chính phủ, tuy Hiến pháp quy định chức danh đứng đầu chính phủ là Thủ tướng và Phó Thủ tướng. Có thể vì lý do kiêm nhiệm chức Chủ tịch nước.
Ngày 3 tháng 11 năm 1946, thay cho Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, Quốc hội thông qua Chính phủ Liên hiệp Quốc dân nhằm đáp ứng tình hình mới. Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, cấp phó được bỏ trống. Tháng 8 năm 1949, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng được giữ chức Phó Thủ tướng. Chính phủ Liên hiệp Quốc dân đóng vai trò lãnh đạo nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Trong thời gian chiên tranh, thực dân Pháp tiến hành thành lập chính quyền bù nhìn tay sai. Đầu tiên là Chính phủ tự trị ở Nam Kỳ vào ngày 1 tháng 6 năm 1946 hòng chia cắt Việt Nam. Đến ngày 27 tháng 5 năm 1948, Pháp cho thành lập Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam nhằm thành lập một chính quyền bù nhìn trên danh nghĩa toàn Việt Nam sẽ do Bảo Đại đứng đầu. Chính phủ đầu tiên do Trần Văn Hữu làm Phó Thủ tướng.
Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Việt Nam bị chia làm hai miền tập kết. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản miền Bắc. Ngày 20 tháng 9 năm 1955, trong kỳ họp thứ năm của Quốc hội khóa I, Chính phủ Liên hiệp Quốc dân được tiến hành cải tổ, mở rộng. Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng giữ chức Thủ tướng, Phan Kế Toại giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Đến kỳ họp thứ 8 (29 tháng 4 năm 1958), bầu hai Phó Thủ tướng mới là Trường Chinh và Phạm Hùng.
Quốc hội khóa II năm 1960 bầu ra Chính phủ có 5 Phó Thủ tướng là Võ Nguyên Giáp, Phạm Hùng, Phan Kế Toại, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị. Phó Thủ tướng trước đó là Trường Chinh chuyển sang giữ chức Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chính phủ Quốc hội khóa III năm 1964 thì 5 Phó Thủ tướng cũ giữ nguyên chức. Ngày 30 tháng 10 năm 1967, phiên họp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã bổ nhiệm bổ sung Nguyễn Côn giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm chức Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước. Ngày 11 tháng 8 năm 1969, bổ sung Chủ tịch Ủy ban Vật giá Đỗ Mười giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Kinh tế Phủ Thủ tướng. Ngày 2 tháng 2 năm 1971, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về phê chuẩn việc thành lập Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương. Đến ngày 1 tháng 4, bổ nhiệm Hoàng Anh giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Chủ tịch Ủy ban.
Quốc hội khóa IV năm 1971 bầu ra Chính phủ có 7 Phó Thủ tướng, toàn bộ các Phó Thủ tướng của Chính phủ Quốc hội khóa III trừ Phạm Hùng (vào nam giữ chức Chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam từ 1967). Tháng 6 năm 1973, Phó Thủ tướng Phan Kế Toại qua đời. Ngày 28 tháng 3 năm 1974, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IV ra quyết định bổ sung Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Trần Hữu Dực làm Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Phan Trọng Tuệ và Bộ trưởng Bộ Tài chính Đặng Việt Châu thôi giữ Bộ trưởng để làm Phó Thủ tướng. Chính phủ thời điểm đó có 9 Phó Thủ tướng. Quốc hội khóa V (tháng 4 năm 1975) bầu ra Chính phủ với 9 Phó Thủ tướng như của khóa trước.
Tháng 4 năm 1975, Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 thành công, chính quyền tay sai Sài Gòn bị lật đổ, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chính thức hoàn toàn nắm quyền trên toàn lãnh thổ miền Nam. Cuộc Tổng tuyển cử chung ở cả nước diễn ra vào ngày 25 tháng 4 năm 1976, bầu ra Quốc hội khóa VI. Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI vào ngày 24 tháng 6 đã quyết định thống nhất hai miền với tên gọi thống nhất Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định các vấn đề liên quan, bầu ra các cơ quan đầu não. Chính phủ của Việt Nam thống nhất gồm có các Phó Thủ tướng Phạm Hùng, Huỳnh Tấn Phát, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Võ Chí Công, Đỗ Mười. Ngày 7 tháng 2 năm 1980, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho Nguyễn Lam thay thế Lê Thanh Nghị làm Phó Thủ tướng (kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước), bổ sung thêm Phó Thủ tướng Tố Hữu. Ngày 22 tháng 1 năm 1981, bổ sung Trần Quỳnh giữ chức Phó Thủ tướng.
Quốc hội khóa VII họp kỳ họp thứ nhất vào ngày 25 tháng 6 năm 1981, bầu ra Chính phủ gồm có 8 Phó Thủ tướng Phạm Hùng, Huỳnh Tấn Phát, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lam, Võ Chí Công, Đỗ Mười, Tố Hữu, Trần Quỳnh. Ngày 4 tháng 7, trong kỳ họp, Hiến pháp 1980 chính thức phát huy hiệu lực, chức vụ Phó Thủ tướng được thay thế bằng chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ngày 23 tháng 4 năm 1982, Hội đồng Nhà nước ra Quyết nghị miễn nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Nguyễn Lam, bổ nhiệm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Võ Văn Kiệt giữ chức; bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải; bổ nhiệm Bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang Vũ Đình Liệu và Bộ trưởng Bộ Nội thương Trần Phương thôi nhiệm các chức vụ đang nắm để giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; miễn nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Chí Công sau khi được giữ chức Thường trực Ban Bí thư. Ngày 16 tháng 6 năm 1982, Hội đồng Nhà nước ra Nghị quyết miễn nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước Huỳnh Tấn Phát.
Ngày 30 tháng 1 năm 1986, Hội đồng Nhà nước miễn nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Trần Phương. Ngày 21 tháng 6 năm 1986, miễn nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Tố Hữu, tái bổ nhiệm Võ Chí Công giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ngày 16 tháng 2 năm 1987, Hội đồng Nhà nước ra nghị quyết miễn nhiệm các Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Trần Quỳnh, Vũ Đình Liệu; bổ nhiệm Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; bổ nhiệm Nguyễn Khánh (đương nhiệm Chánh Văn phòng Trung ương Đảng) giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng, Tổng Thư ký Hội đồng Bộ trưởng; bổ nhiệm Bộ trưởng Đoàn Duy Thành giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại thương; bổ nhiệm nguyên Bí thư Tỉnh ủy Long An Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Thanh tra Nhà nước; bổ nhiệm nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Nguyễn Ngọc Trìu và Trần Đức Lương giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Tổng cộng trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII đã có 18 cá nhân nắm giữ chức vụ Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kỷ lục nhất là thời điểm từ tháng 4 năm 1982 tới tháng 6 năm 1982 và từ tháng 2 năm 1987 đến hết nhiệm kỳ có tới 11 Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cùng tham gia công tác. Năm 1987 là năm có nhiều Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nhất với 15 người.
Quốc hội khóa VIII họp kỳ họp thứ nhất ngày 22 tháng 6 năm 1987, bầu ra Hội đồng Bộ trưởng bao gồm 9 Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng gồm Võ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch, Đồng Sĩ Nguyên, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Khánh, Nguyễn Ngọc Trìu, Nguyễn Văn Chính (Chín Cần), Đoàn Duy Thành, Trần Đức Lương. Võ Văn Kiệt giữ chức Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng. Nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Chí Công được bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt tiếp tục kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước đến ngày 24 tháng 3 năm 1988. Ngày 11 tháng 3 năm 1988, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt trở thành Quyền Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến ngày 22 tháng 6 năm 1988. Đoàn Duy Thành kiêm nhiệm Bộ trưởng Bộ Ngoại thương đến ngày 24 tháng 3 năm 1988 thì chuyển sang kiêm nhiệm Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đối ngoại mới thành lập. Ngày 10 tháng 5 năm 1988, miễn nhiệm các Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đoàn Duy Thành, Nguyễn Văn Chính và Nguyễn Ngọc Trìu.
Ngày 8 tháng 9 năm 1991, kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khóa VIII đã bầu Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ngày 10 tháng 9, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt đưa ra danh sách miễn nhiệm ba Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng là Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Cơ Thạch, Đồng Sĩ Nguyên, chuyển Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước Phan Văn Khải thôi giữ chức Chủ nhiệm để giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
== Danh sách ==
=== Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ===
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Thành viên Chính phủ qua các thời kỳ |
j. m. w. turner.txt | Joseph Mallord William Turner (sinh 23 tháng 4 1775 - mất 19 tháng 12 1851) là một họa sĩ vẽ tranh phong cảnh thuộc trường phái lãng mạn, người được biết đến với tài sử dụng màu nước cho các bức vẽ, Turner được coi là người đã đặt nền móng cho Trường phái ấn tượng. Dù ở thời đại của mình, Turner là một nhân vật gây tranh cãi nhưng ngày nay ông được coi là họa sĩ đầu tiên đưa nghệ thuật tranh phong cảnh lên một tầm cao mới trong lịch sử hội họa.
== Cuộc đời và sự nghiệp ==
Turner sinh tại Maiden Lane, Covent Garden, Luân Đôn, Anh. Cha ông, William Gay Turner, là một người làm đầu và thợ làm tóc giả. Mẹ ông, bà Mary Marshall, là người gặp chứng bất ổn tâm lý gây ra do cái chết em gái của ông là, Helen Turner, vào năm 1786. Mẹ Turner qua đời năm 1804, sau khi được gửi đến một trại tâm thần năm 1799.
Do hoàn cảnh gia đình gặp nhiều vấn đề, Turner được gửi đến ở với người chú đằng mẹ tại Brentford năm 1785, đây một thị trấn nhỏ phía Tây London bên bờ sông Thames. Tại đây ông đã bộc lộ sở thích với hội họa. Một năm sau, ông tới học ở trường Margatephía đông bắc eo biển ở Kent. Thời gian này, ông cho ra đời rất nhiều tác phẩm, cha Turner đã cho trưng bày những bức vẽ này bên cửa sổ của cửa hàng.
Turner gia nhập trường Học viện Hoàng gia Nghệ thuật năm 1789 khi ông mới 14 tuổi, một năm sau thì ông được nhận vào trường. Sir Joshua Reynolds, chủ tịch của học viện này giai đoạn đó, là người chủ tọa ban hội thẩm nhận ông vào trường. Thời gian đầu, Turner tỏ ra rất thích thú với kiến trúc nhưng được Thomas Hardwick khuyên nên phát triển hội họa. Một bức tranh màu nước của Turner được chọn trưng bày ở Triển lãm mùa hè năm 1790 sau chỉ một năm ông học tại trường. Ông cho giới thiệu bức tranh sơn dầu đầu tiên, Fishermen at Sea, năm 1796. Sau đó bức tranh này được trưng bày tại học viện trong phần lớn thời gian cuộc đời của Turner.
Dù cho được biết đến với một tác phẩm sơn màu, Turner lại được coi là một trong những thiên tài kiệt xuất nhất của nước Anh trong lĩnh vực vẽ tranh phong cảnh bằng màu nước.
Một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông là The fighting Temeraire tugged to her last berth to be broken up, vẽ năm 1838, hiện được treo tại Bảo tàng tranh quốc gia ở London (National Gallery, London). Xem thêm The Golden Bough.
Turner từng đi khắp châu Âu, bắt đầu từ Pháp và Thụy Sĩ năm 1802 và học tại Louvre ở Paris trong cùng năm đó. Ông cũng từng nhiều lần tới thăm Venice. Trong một lần tới Lyme Regis, tại Dorset, Anh, Turner đã vẽ một bức tranh cảnh bão tố (Hiện treo tại Bảo tàng nghệ thuật Cincinnati).
Một trong những nhân vật có dấu ấn quan trọng với các tác phẩm của Turner là Walter Ramsden Fawkes, chủ lâu đài Farnley, gần Otley ở Yorkshire, người đã trở thành một người bạn tâm giao của Turner. Turner tới thăm Otley lần đầu năm 1797, ở tuổi 22, khi được cử tới một vẽ những bức tranh màu nước của vùng này. Ông rất ấn tượng với Otley và các vùng xung quanh, sau đó ông thường xuyên trở lại đây. Bức tranh bão Hannibal Crossing The Alps (Hannibal vượt qua dãy Alps) được cho là lấy cảm hứng từ một cơn bão trên một ngọn đồi ở Otley khi Turner đang ở lâu đài Farnley.
Turner cũng là một vị khách thường xuyên của George O'Brien Wyndham, bá tước thứ ba của Egremont tại tòa nhà Petworth ở Tây Sussex và ông đã vẽ các bức tranh của ngôi nhà và vùng đồng quê ở Sussex. Hiện các bức ảnh về Tòa nhà Petworth vẫn còn được lưu giữ.
Khi về già, Turner trở nên lập dị. Ông có rất ít bạn trừ người cha của ông, người đã sống với ông ba chục năm, người cũng là trợ lý studio của Turner. Cái chết của người cha năm 1829 đã có ảnh hưởng sâu sắc đến Turner. Ông không cưới vợ dù có hai người con với Sarah Danby, một người sinh năm 1801, một người sinh năm 1811.
Turner qua đời ngày 19 tháng 12 năm 1851 trong ngôi nhà của người tình Sophia Caroline trên Phố đi bộ Cheney, Chelsea.Người ta đồn đại rằng trước khi chết Turner đã thốt ra rằng "The sun is God" (Mặt trời là chúa). Theo đúng ước nguyện, ông được chôn tại Nhà thờ St Paul, đặt nằm cạnh Sir Joshua Reynolds. Triển lãm cuối cùng của ông diễn ra ở Học viện hoàng gia năm 1850.
Kiến trúc sư Philip Hardwick (1792–1870), bạn của Turner đồng thời là con của thầy giáo ông là Thomas Hardwick, đã chủ trì lễ tang của Turner và nói với những người quen biết với Turner về cái chết của ông rằng "Tôi phải xác nhận với bạn, chúng ta đã mất ông ý".
== Phong cách ==
== Di sản để lại ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tác phẩm của J. M. W. Turner |
giao thông đường sắt.txt | Đường sắt, hay vận tải đường sắt, là loại hình vận chuyển/vận tải hành khách và hàng hóa bằng phương tiện có bánh được thiết kế để chạy trên loại đường đặc biệt là đường ray (đường rầy).
Đường ray bao gồm hai thanh thép chạy song song đặt cố định xuống nền là các thanh chịu lực bằng gỗ, bê tông hay sắt thép (gọi chung là thanh tà vẹt) và khoảng cách giữa hai thanh ray (gọi là khổ đường) được duy trì cố định. Các thanh ray và tà vẹt đặt trên nền đã được cải tạo có khả năng chịu lực nén lớn như nền rải đá, nền bê tông, v.v.. Chạy trên đường ray là đoàn tàu – một chuỗi các phương tiện tự vận hành – là đầu tàu, hoặc không tự vận hành – là toa tàu nối với nhau. Tiếp xúc với đường ray là bánh thép. Các toa tàu di chuyển trên đường ray với lực ma sát ít hơn rất nhiều so với các phương tiện dùng bánh cao su trên đường thông thường và do đó đầu tàu dùng kéo các toa tàu sử dụng năng lượng hiệu quả hơn.
== Ưu điểm của vận tải đường sắt ==
Vận chuyển hàng hóa đường sắt là hình thức vận chuyển cơ giới trên bộ hiệu quả nhưng cần đầu tư lớn. Đường ray tạo bề mặt rất phẳng và cứng giúp các bánh tàu lăn với lực ma sát ít nhất. Ví dụ, một toa tàu bình thường có thể mang 125 tấn hàng hóa trên bốn trục bánh. Khi xếp đầy tải, tiếp xúc của mỗi bánh với đường sắt chỉ trên bề mặt rộng bằng một đồng xu. Điều này giúp tiết kiệm năng lượng, nhiên liệu so với các loại hình vận chuyển khác ví dụ đường nhựa. Đoàn tàu có mặt trước tiếp xúc nhỏ so với trọng lượng chúng chuyên chở, nhờ đó giảm lực cản không khí và giảm năng lượng tiêu tốn. Trong điều kiện tốt, một đoàn tàu cần ít năng lượng hơn so với vận chuyển đường bộ từ 50% đến 70% với cùng một khối lượng vận chuyển (hoặc cùng số hành khách). Hơn nữa, đường ray và các thanh tà vẹt phân phối lực nén của đoàn tàu đều khắp, cho phép mang tải lớn hơn vận chuyển đường bộ mà hao mòn đường lại thấp hơn.
Vận tải đường sắt sử dụng diện tích và không gian hiệu quả: trong cùng khoảng thời gian, hai làn đường sắt đặt có thể vận chuyển nhiều hàng hóa và hành khách hơn so với một con đường bốn làn xe. Với các lý do trên, vận chuyển đường sắt là loại hình vận chuyển công cộng chủ yếu ở rất nhiều quốc gia. Ở Châu Á, hàng triệu người sử dụng đường sắt là phương tiện đi lại thường xuyên như tại Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Đường sắt cũng rất phổ biến ở Châu Âu.
Ở Hoa Kỳ, đường sắt nối liền các thành phố rất phát triển ở khu vực Đông Bắc, ở các vùng khác, tính phổ biến còn thấp hơn so với một số nước châu Âu và châu Á.
== Lịch sử ngành đường sắt ==
=== Thời gian đầu ===
Tuyến đường ray đầu tiên là con đường Diolkos xây dựng thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, dài 6,4 km dùng chuyển các thuyền qua eo đất Corinth ở Hy Lạp. Thời đó, để đi từ biển Ionian sang biển Aegea, tàu thuyền phải đi vòng bán đảo Peloponnese. Con đường hàng hải này có ba mũi đá nhô ra biển làm nó trở nên vô cùng nguy hiểm, nhiều thương thuyền đã bị đắm nơi đây. Con đường Diolkos là giải pháp hữu hiệu đưa thuyền bè qua lại an toàn. Những con tàu nằm trên các xe chở do nô lệ hoặc súc vật kéo. Nền con đường là đá vôi, có hai rãnh song song để bánh xe lăn trong đó. Khoảng cách hai rãnh là 1,5 m (có lẽ đây là căn cứ cho tiêu chuẩn khổ đường sắt sau này). Diolkos được sử dụng hơn 1.300 năm cho đến giữa Thiên niên kỷ thứ nhất. Những xe goòng kéo bằng ngựa trên các lằn đá đầu tiên xuất hiện ở Hy Lạp, Malta và các vùng thuộc Đế quốc La Mã ít nhất là 2.000 năm trước.
Vào khoảng năm 1550, đường ray xuất hiện trở lại ở Châu Âu, nhưng bấy giờ ray làm bằng gỗ. Những đường ray đầu tiên của nước Anh được xây dựng vào đầu thế kỷ 17, chủ yếu là dùng chuyển than từ mỏ đến bờ sông, kênh đào để chất lên thuyền. Thời kỳ này, bánh xe đã có gờ phía trong để chống trật ray, tuy vậy đường ray vẫn làm bằng gỗ nên chóng mòn và phải thay thế. Năm 1768, đường ray bắt đầu được phủ lớp sắt lên trên giúp cho chúng có bề mặt bền bỉ hơn nhiều.
Đến cuối thế kỷ 18, đường ray bằng sắt bắt đầu xuất hiện và năm 1802, William Jessop - kỹ sư xây dựng người Anh khai trương tuyến vận chuyển đường sắt công cộng Surrey ở nam Luân Đôn. Mặc dù vẫn sử dụng ngựa kéo, đây được coi là tuyến đường sắt công cộng đầu tiên trên thế giới.
Đầu tàu hỏa đầu tiên do Richard Trevithick chế tạo và chạy thử năm 1804 ở Merthyr Tydfil, xứ Wales. Thử nghiệm không thành công một phần bởi động cơ quá nặng làm đường ray không chịu nổi. Năm 1807, tuyến đường ray do ngựa kéo nối Swansea và Mumbles ở xứ Wales trở thành đường sắt chở hành khách đầu tiên trên thế giới.
=== Giai đoạn tiếp theo (1811 - nay) ===
Năm 1811, nhà sáng chế người Anh John Blenkinsop thiết kế thành công đầu tàu hơi nước đầu tiên. Tuyến đường sắt sử dụng đầu máy này là đoạn nối Middleton Colliery và Leeds ở Anh dùng chở than. Cái đầu máy được chế tạo bởi Matthew Muray, công ty Fenton, Murray and Wood. Và tuyến đường sắt này với tên Middleton Railway (đường sắt Middleton) là tuyến đầu tiên trên thế giới sử dụng đầu máy hơi nước cho mục đích thương mại. Đó cũng là đường sắt đầu tiên ở nước Anh được xây dựng bởi một đạo luật của Quốc hội.
Năm 1830, đường sắt Liverpool và Manchester hoàn thành, là tuyến đường nối các thành phố đầu tiên trên thế giới. Mẫu đầu tàu sử dụng trên con đường này được thiết kế bởi George Stephenson mang tên Rocket, nó trở thành đầu máy nổi tiếng. Thành công của tuyến đường chứng minh tính hiện thực của phương thức vận tải mới. Đường sắt nhanh chóng được xây dựng khắp nước Anh và toàn thế giới. Nó là phương tiện vận chuyển trên bộ thống trị gần một thế kỷ cho đến khi máy bay và ô tô ra đời.
Những thập niên sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đầu máy dùng động cơ diesel và động cơ điện dần thay thế đầu máy hơi nước. Từ thập kỷ 1960, đường sắt cao tốc bắt đầu xuất hiện ở nhiều nước mà tiên phong là Nhật và Pháp.
== An toàn trong vận tải đường sắt ==
=== Nguyên nhân gây tai nạn ===
Đoàn tàu thường vận chuyển với vận tốc rất cao, tuy vậy, bởi chúng rất nặng và có quán tính lớn và không thể đi ra ngoài đường ray nên việc dừng tàu cần khoảng cách khá lớn. Cho dù vận tải đường sắt được coi là một trong những hình thức vận chuyển an toàn nhất, vẫn có khả năng xảy ra tai nạn. Những vụ tai nạn ở nhiều hình thức, từ việc trật bánh cho đến đâm va trực tiếp của hai đoàn tàu hoặc va chạm với những phương tiện giao thông đường bộ ở những đoạn giao cắt. Đâm va với phương tiện đường bộ ở Hoa Kỳ xảy ra hàng ngàn vụ hàng năm, giết chết khoảng 500 người; ở Anh chỉ khoảng 30 vụ mỗi năm gây thương vong khoảng 12 người.
=== Biện pháp an toàn ===
Những biện pháp an toàn quan trọng nhất trong vận tải đường sắt là sử dụng hệ thống tín hiệu đường sắt và quản lý tốt các đoạn giao cắt với đường bộ. Còi tàu báo hiệu sự có mặt của tàu hỏa trong khu vực và tín hiệu đường sắt giúp duy trì khoảng cách giữa các đoàn tàu. Ở Anh, nguyên ngân của một nửa số vụ tai nạn là do phá hoại và bất cẩn. Các tuyến đường sắt được chia thành các khu vực và các vùng nhỏ để điều tiết sao cho đảm bảo chỉ có một đoàn tàu trên một đường ray tại mỗi thời điểm. Điều độ giao thông đường sắt được tiến hành giống như quản lý không lưu. So với vận tải đường bộ, đường sắt khá an toàn. Số liệu hàng năm cho thấy ở Hoa Kỳ và Anh có 40.000 và 3.000 người chết bởi tai nạn đường bộ, trong khi đó thương vong bởi tai nạn đường sắt lần lượt là 1.000 và 20.
== Thiết bị cảnh báo an toàn ==
== Những cải tiến mới về tàu hỏa ==
== Công trình đường sắt dự kiến ==
tuyến đường sắt đô thị trên cao
== Những vụ tai nạn đường sắt lớn tại Việt Nam và thế giới ==
=== Việt Nam ===
Trưa ngày 12 tháng 3 năm 2005, tàu hỏa số hiệu E1 chạy theo hướng Hà Nội - Thành phố Hố Chí Minh khi đến Lăng Cô (Thừa Thiên Huế) thì bị đứt mối nối giữa toa số 7 và 8 dẫn đến lật tàu làm 12 người chết.
Trưa ngày 22 tháng 11 năm 2009, tàu hỏa số hiệu TN1 chạy theo hướng Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh đâm vào xe ô tô khách khoảng 30 chỗ ngồi chở một đám ăn hỏi, làm 9 người chết.
Hồi 4 giờ 30 phút rạng sáng ngày 7 tháng 2 năm 2010, tại Nam Định, một vụ TNGT đường sắt hai dì cháu đã tử nạn do thiếu quan sát khi qua đường tàu. Đoạn đường ngang này không hề có rào chắn, không có biển báo và thiết bị cảnh báo. Ngành đường sắt đã điều công nhân đến phá dỡ đoạn đường ngang trải nhựa này từng tồn tại nhiều năm tại thành phố Nam Định.
Sáng ngày 21 tháng 2 năm 2010, ông Nguyễn Xuân Phong hành nghề xe ôm đã bị đoàn tàu Thống Nhất cán chết do thiếu quan sát khi đi qua đường sắt.
Sáng ngày 1 tháng 3 năm 2010, ông Nguyễn Hữu Huệ, 52 tuổi bị đoàn tàu chạy hướng Bắc - Nam cán chết khi băng qua đường tàu để đi vệ sinh lúc xuống xe buýt.
=== Thế giới ===
Ngày 22 tháng 2, vụ tai nạn tàu lửa ở Argentina làm 49 người thiệt mạng và 600 người bị thương
== Xem thêm ==
Đường sắt Bắc Nam
Tàu hỏa
Đường sắt Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
khánh hòa.txt | Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, giáp với tỉnh Phú Yên về phía Bắc, tỉnh Đắk Lắk về phía Tây Bắc, tỉnh Lâm Đồng về phía Tây Nam, tỉnh Ninh Thuận về phía Nam, và Biển Đông về phía Đông.
Khánh Hòa ngày nay là phần đất cũ của xứ Kauthara thuộc vương quốc Chăm Pa. Năm 1653, lấy cớ vua Chiêm Thành là Bà Tấm quấy nhiễu dân Việt ở Phú Yên, Chúa Nguyễn Phúc Tần sai quan cai cơ Hùng Lộc đem quân sang đánh chiếm được vùng đất Phan Rang trở ra đến Phú Yên. Năm 1831, Vua Minh Mạng thành lập tỉnh Khánh Hòa trên cơ sở trấn Bình Hòa). Sau lần hợp nhất vào năm 1975, đến năm 1989, Quốc hội lại chia tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa cho đến ngày nay.
Khánh Hòa hiện nay bao gồm 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Nha Trang và Cam Ranh), 1 thị xã (Ninh Hòa) và 6 huyện (Vạn Ninh, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Cam Lâm và huyện Trường Sa) với tổng diện tích 5217,6 km². Một phần quần đảo Trường Sa (huyện Trường Sa) nằm dưới sự quản lý của tỉnh Khánh Hòa, nhưng bị tranh chấp về chủ quyền bởi một số quốc gia khác.
Khánh Hòa có bờ biển dài hơn 200 km và gần 200 hòn đảo lớn nhỏ cùng nhiều vịnh biển đẹp như Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh..., với khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình 26⁰C, có hơn 300 ngày nắng trong năm, và nhiều di tích lịch sử văn hóa khác. Với những lợi thế đó Khánh Hòa đã trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của Việt Nam.
Tỉnh lỵ của Khánh Hòa đặt tại Nha Trang, một thành phố du lịch và sự kiện. Nha Trang là nơi từng diễn ra nhiều sự kiện lớn như Festival Biển, hay các cuộc thi sắc đẹp lớn như Hoa hậu Việt Nam 2006, Hoa hậu Thế giới người Việt 2007 và 2010, Hoa hậu Hoàn vũ 2008, Hoa hậu Trái Đất 2010, Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2015.
== Lịch sử ==
=== Thời tiền sử và Vương quốc Chăm Pa ===
Các tư liệu khảo cổ học khẳng định rằng ngay từ thời tiền sử, con người đã sinh sống ở Khánh Hòa. Ở Hòn Tre trong Vịnh Nha Trang các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra nhiều công cụ bằng đá của một nền nông nghiệp dùng cuốc. Với việc phát hiện ra bộ đàn đá Khánh Sơn vào tháng 2 năm 1979 tại huyện Khánh Sơn, cho thấy chủ nhân của bộ đàn đá này đã sinh sống ở đây khoảng giữa thiên niên kỷ 1 TCN.
Các di chỉ đã phát hiện của nền văn hóa Xóm Cồn (Ba Ngòi, Cam Ranh) cho phép khẳng định nền văn hóa thời đại đồ sắt ở Khánh Hòa có niên đại khoảng gần 4000 năm và phát triển sớm hơn văn hóa Sa Huỳnh. Nằm trong địa bàn phân bố của văn hóa Sa Huỳnh, Khánh Hòa có nhiều di chỉ khảo cổ học về nền văn hóa này như: Diên Sơn, Bình Tân, Hòn Tre, Ninh Thân.
Vào đầu Công Nguyên, một bộ phận trong bộ tộc Cau (Kranukavamsa) - một trong hai bộ tộc lớn của người Chăm Pa thời bấy giờ - đã thành lập nên một tiểu quốc và được đặt tên là Tiểu quốc Nam Chăm (bia ký ghi là Panrăn hay Panduranga). Tiểu quốc này gồm hai xứ là Panrăn (khu vực ngày nay là Phan Rang, Phan Thiết) và Kauthara (khu vực Khánh Hòa ngày nay). Đối địch với Tiểu quốc Nam Chăm là Tiểu quốc Bắc Chăm ở khu vực thuộc Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay.
Sau đó, trải qua nhiều thế kỷ nội chiến liên miên, vương quốc Chăm Pa được thành lập trên cơ sở sự thống nhất của hai xứ Nam Chăm và Bắc Chăm. Đến thế kỷ 8, Nam Chăm chiếm ưu thế dẫn đến sự ra đời của Vương triều Panduranga (Hoàn Vương Quốc), vùng Kauthara từ đó phát triển đến mức cực thịnh với những khu đền tháp to lớn và linh thiêng mà tiêu biểu là ngôi đền Po Nagar thờ vị nữ thần mẹ xứ sở Yang Pô Y Na Gar. Đến nay, vẫn còn tồn tại nhiều bia ký ghi bằng tiếng Phạn và tiếng Chăm cổ rải rác trên khắp Khánh Hòa.
=== Khánh Hòa trở thành đất Việt Nam ===
Năm 1653, lấy cớ vua Chiêm Thành là Bà Tấm (hay còn gọi là Bà Bật) quấy nhiễu dân Việt ở Phú Yên, Chúa Nguyễn Phúc Tần đã sai quan cai cơ Hùng Lộc Hầu (không rõ họ tên) đem 3000 quân sang đánh. Thất bại nặng nề, vua Chiêm Thành sai con mang thư hàng và xin dâng đất cho Chúa từ sông Phan Rang trở ra đến Phú Yên. Chúa chấp thuận và đặt dinh Thái Khang gồm hai phủ là phủ Thái Khang gồm các huyện Tân Định, Quảng Phước ở phía bắc (nay là các huyện Ninh Hòa và Vạn Ninh) và phủ Diên Ninh gồm các huyện Phước Diên, Hoa Châu, Vĩnh Xương ở phía nam (nay là các huyện Diên Khánh, Cam Lâm, Khánh Sơn, thị xã Cam Ranh, thành phố Nha Trang và một phần phía Bắc của tỉnh Ninh Thuận), giao cho Hùng Lộc làm thái thú. Từ đó, vùng đất này đã trở thành một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam và công cuộc khai khẩn lập làng của người Việt được đẩy mạnh. Dân cư sống tập trung tại các hạ lưu sông Dinh và sông Cái. Đến năm 1690, phủ Thái Khang được đổi tên thành phủ Bình Khang. Năm 1742, phủ Diên Ninh đổi thành phủ Diên Khánh.
Vào năm 1771, ba anh em nhà Tây Sơn dấy binh đánh Chúa Nguyễn. Chỉ ba năm sau, quân Tây Sơn đã kiểm soát vùng đất kéo dài từ Quy Nhơn đến Bình Thuận. Sau đó, tướng nhà Nguyễn là Tống Phúc Hạp kéo quân ra đánh lấy lại được Dinh Bình Thuận và Phủ Diên Khánh nhưng rồi lại bị Nguyễn Huệ đem quân đánh lấy lại được hai vùng trên. Tháng 7 năm 1793, Định Vương Nguyễn Phúc Ánh thân chinh thống lĩnh đại binh thủy, bộ từ Gia Định kéo ra Nha Trang. Từ Nha Trang tấn công lên Diên Khánh. Quân Tây Sơn không cầm cự nổi phải bỏ Diên Khánh và Bình Khang. Nguyễn Ánh sai người xây thành Diên Khánh, lập xưởng đóng thuyền. Sau đó, tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu còn hai lần đem quân vào đánh nữa vào các năm 1794, 1795 nhưng đều không thành.
Năm 1802, sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long. Năm 1803, Dinh Bình Khang được đổi tên thành Dinh Bình Hòa, phủ Bình Khang cũng được đổi tên thành phủ Bình Hòa nhưng sở lỵ đã được chuyển từ đây sang phủ Diên Khánh. Năm 1808, Dinh được đổi thành Trấn. Đến năm 1831 (năm Minh Mạng thứ 12), trấn Bình Hòa được đổi tên thành tỉnh Khánh Hòa, còn phủ Bình Hòa trở thành phủ Ninh Hòa. Vào thời điểm đó, tỉnh Khánh Hòa gồm 2 phủ, 4 huyện là: Phủ Diên Khánh gồm 2 huyện: Phước Ðiền, Vĩnh Xương; Phủ Ninh Hòa gồm 2 huyện: Quảng Phước và Tân Ðịnh, tỉnh lỵ là Phủ Diên Khánh.
Năm 1884, triều đình nhà Nguyễn ký kết hiệp ước Patenotre với Pháp, tạo cơ sở cho việc thiết lập chính quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam và sự suy yếu của nhà Nguyễn. Là một tỉnh ở xứ Trung Kỳ, Khánh Hòa vẫn là bộ phận của Nam triều, đồng thời tồn tại Chính quyền bảo hộ Pháp. Quan lại của Nam triều gồm có chức tuần vũ, án sát coi việc hành chính, lãnh binh coi việc canh gác và giữ gìn an ninh trong tỉnh, đóng tại Diên Khánh. Cơ quan bảo hộ Pháp gồm có chánh sứ, phó sứ và giám binh, đóng tại Nha Trang. Nha Trang dần phát triển thành thị trấn.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, giao tỉnh Khánh Hòa cho các quan Nam triều quản lý, cơ quan hành chính của tỉnh dời xuống Nha Trang. Từ đó, Nha Trang chính thức trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Khánh Hòa.
=== Thời kỳ từ 1945 đến nay ===
Ngày 19 tháng 8 năm 1945, lực lượng Việt Minh ở Khánh Hòa đứng dậy giành chính quyền, nhưng chỉ nắm chính quyền được hai tháng thì Pháp đổ bộ lên Nha Trang và đánh chiếm lại.
Năm 1955, dưới thời Việt Nam Cộng hòa, tỉnh Khánh Hòa cũng được tổ chức lại trên mọi phương diện. Các phủ huyện đổi thành quận. Các làng đổi thành xã. Tháng 5 năm 1959, hai tổng Krang Ying và Krang Hinh thuộc tỉnh Đắk Lắk được sát nhập vào tỉnh Khánh Hòa và lập thành quận Khánh Dương. Tháng 4 năm 1960, 12 thôn Thượng thuộc quận Cam Lâm được trích ra khỏi Khánh Hòa để nhập vào quận Du Long tỉnh Ninh Thuận. Tháng 10 năm 1965, một phần đất quận Cam Lâm ở phía Nam bị cắt để thiết lập thị xã Cam Ranh trực thuộc trung ương (khu đặc biệt Cam Ranh).
Ngày 1,2,3 tháng 4 năm 1975, quân giải phóng miền Nam Việt Nam lần lượt tiếp quản Ninh Hòa, Nha Trang và Cam Ranh. Việc chuyển giao chính quyền diễn ra trong hòa bình vì hầu hết quân đội Việt Nam Cộng hòa đã rút hết về phòng tuyến Phan Rang. Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ mới hợp nhất hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa và thị xã Cam Ranh vào ngày 29 tháng 10 năm 1975 thành tỉnh Phú Khánh. Vào ngày 10 tháng 3 năm 1977, thị xã Nha Trang được nâng cấp thành thành phố Nha Trang, thị xã Cam Ranh nhập lại vào huyện Khánh Sơn tỉnh Khánh Hòa trở thành huyện Cam Ranh; hợp nhất 2 huyện Khánh Xương và Khánh Vĩnh thành huyện Diên Khánh. Ngày 5 tháng 3 năm 1979, huyện Khánh Ninh được chia thành 2 huyện: Ninh Hòa và Vạn Ninh.
Ngày 28 tháng 12 năm 1982, huyện đảo Trường Sa từ tỉnh Đồng Nai chuyển sang tỉnh Phú Khánh. Vào ngày 30 tháng 6 năm 1989, Quốc hội ra Nghị quyết chia tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Khi tách ra, tỉnh Khánh Hòa có 8 đơn vị hành chính gồm thành phố Nha Trang và 7 huyện: Cam Ranh, Diên Khánh, Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Ninh Hòa, Trường Sa, Vạn Ninh. Ngày 7 tháng 7 năm 2000, huyện Cam Ranh được nâng lên thành thị xã Cam Ranh. Ngày 11 tháng 4 năm 2007, Chính phủ cắt một số xã của thị xã Cam Ranh và huyện Diên Khánh để thành lập huyện Cam Lâm, đồng thời chia huyện Trường Sa thành ba đơn vị hành chính trực thuộc gồm: thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây, xã Sinh Tồn. Ngày 25 tháng 10 năm 2010, Chính phủ ra quyết định thành lập thị xã Ninh Hòa thuộc tỉnh Khánh Hòa trên cơ sở toàn bộ 119.777 ha diện tích tự nhiên và 233.558 nhân khẩu của huyện Ninh Hòa cũ. Ngày 23 tháng 12 năm 2010, thị xã Cam Ranh được chính thức công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.
== Điều kiện tự nhiên ==
=== Vị trí địa lý ===
Khánh Hòa nằm ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam, phía Bắc giáp ba huyện Sông Hinh, Đông Hòa và Tây Hòa của tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp hai huyện M'Drăk và Krông Bông của tỉnh Đắk Lắk, phía Nam giáp huyện Bác Ái và Thuận Bắc của tỉnh Ninh Thuận, phía Tây Nam giáp huyện Lạc Dương của tỉnh Lâm Đồng, phía Đông giáp Biển Đông. Tỉnh lỵ của Khánh Hòa là thành phố Nha Trang, cách Thành phố Hồ Chí Minh 443 km về phía Bắc và cách thủ đô Hà Nội 1.280 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A.
Khánh Hòa có diện tích tự nhiên là 5.197 km². Phần đất liền của tỉnh nằm kéo dài từ tọa độ địa lý 12°52’15" đến 11°42’50" vĩ độ Bắc và từ 108°40’33" đến 109°29’55" kinh độ Đông. Điểm cực Đông trên đất liền của Khánh Hòa nằm tại Mũi Đôi trên bán đảo Hòn Gốm, huyện Vạn Ninh và cũng là điểm cực đông trên đất liền của Việt Nam. Chiều dài vào khoảng 150 km, chiều ngang chỗ rộng nhất vào khoảng 90 km.
Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử chia cắt và sáp nhập nên 9.300 ha nằm giữa xã Ea Trang (huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk) và xã Ninh Tây (thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) nên cả hai tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa đều tranh chấp để phân định địa giới hành chính.
=== Địa hình ===
Là một tỉnh nằm sát dãy núi Trường Sơn, đa số diện tích Khánh Hòa là núi non, miền đồng bằng rất hẹp, chỉ khoảng 400 km², chiếm chưa đến 1/10 diện tích toàn tỉnh. Miền đồng bằng lại bị chia thành từng ô, cách ngăn bởi những dãy núi ăn ra biển. Do đó để đi suốt dọc tỉnh phải đi qua rất nhiều đèo như đèo Cả, đèo Cổ Mã, đèo Chín Cụm, đèo Bánh Ít, đèo Rọ Tượng, đèo Rù Rì.
==== Vùng núi và bán sơn địa ====
Khánh Hòa là một tỉnh có địa hình tương đối cao ở Việt Nam, độ cao trung bình so với mực nước biển khoảng 60 m. Núi ở Khánh Hòa tuy hiếm những đỉnh cao chót vót, phần lớn chỉ trên dưới một ngàn mét nhưng gắn với dãy Trường Sơn, lại là phần cuối phía cực Nam nên địa hình núi khá đa dạng.
Phía Bắc và Tây Bắc tỉnh có vùng núi cao thuộc dãy Vọng Phu cao hơn 1000 m, trong đó có dãy Tam Phong gồm ba đỉnh núi cao là Hòn Giữ (cao 1264 m), Hòn Ngang (1128 m) và Hòn Giúp (1127 m). Dãy Vọng Phu - Tam Phong có hướng tây nam - đông bắc, kéo dài trên 60 km, tạo thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên, Đắk Lắk. Các núi thuộc đoạn giữa của tỉnh thường có độ cao kém hơn, có nhiều nhánh đâm ra sát biển tạo nên nhiều cảnh đẹp, gắn với những huyền thoại dân gian và di tích lịch sử, sự kiện của địa phương. Đến phía nam và tây nam, lại xuất hiện một vùng núi rộng, với nhiều đỉnh núi cao trên 1500 m đến trên 2000 m, trong đó có Đỉnh Hòn Giao (2062 m) thuộc địa phận huyện Khánh Vĩnh, là đỉnh núi cao nhất Khánh Hòa. Do có nhiều núi cao, mật độ chia cắt lớn bởi khe, suối, sông tạo thành nhiều hẻm, vực, Thung lũng sâu, gây khó khăn cho giao thông. Ngoài ra, khu vực này còn có Thung lũng Ô Kha, được biết đến là một vùng nguy hiểm cho hàng không.
==== Đồng bằng ====
Đồng bằng ở Khánh Hòa nhỏ hẹp, bị chia cắt bởi các dãy núi đâm ra biển. Chẳng những thế, địa hình rừng núi của tỉnh không thuận lợi cho quá trình lắng đọng phù sa, nên nhìn chung Khánh Hòa không phải là nơi thuận lợi để phát triển nông nghiệp. Các đồng bằng lớn ở Khánh Hòa gồm có đồng bằng Nha Trang - Diên Khánh nằm ở hai bên sông Cái với diện tích 135 km²; đồng bằng Ninh Hòa do sông Dinh bồi đắp, có diện tích 100 km². Cả hai đồng bằng này đều được cấu tạo từ đất phù sa cũ và mới, nhiều nơi pha lẫn sỏi cát hoặc đất cát ven biển. Ngoài ra, Khánh Hòa còn có hai vùng đồng bằng hẹp là đồng bằng Vạn Ninh và đồng bằng Cam Ranh ở ven biển, cùng với lượng diện tích canh tác nhỏ ở vùng Thung lũng của hai huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh.
==== Bờ biển và biển ven bờ ====
Khánh Hòa là một trong những tỉnh có đường bờ biển đẹp của Việt Nam. Đường bờ biển kéo dài từ xã Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh, có độ dài khoảng 385 km tính theo mép nước với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh, cùng khoảng 200 đảo lớn, nhỏ ven bờ. Khánh Hòa có sáu đầm và vịnh lớn, đó là Đại Lãnh, vịnh Vân Phong, Hòn Khói, đầm Nha Phu, vịnh Nha Trang (Cù Huân) và vịnh Cam Ranh. Trong đó có nổi bật nhất vịnh Cam Ranh với chiều dài 16 km, chiều rộng 32 km, thông với biển thông qua eo biển rộng 1,6 km, có độ sâu từ 18–20 m, và thường được xem là cảng biển có điều kiện tự nhiên tốt nhất Đông Nam Á, trước đây được sử dụng làm căn cứ quân sự của Hoa Kỳ rồi Liên Xô (sau này là Nga) nhưng về sau được chuyển thành cảng dân sự.
Thềm lục địa tỉnh Khánh Hòa rất hẹp. Địa hình vùng thềm lục địa phản ánh sự tiếp nối của cấu trúc địa hình trên đất liền. Các nhánh núi Trường Sơn đâm ra biển trong quá khứ địa chất như dãy Phước Hà Sơn, núi Hòn Khô, dãy Hoàng Ngưu không chỉ dừng lại ở bờ biển để tạo thành các mũi Hòn Thị, mũi Khe Gà (Con Rùa), mũi Đông Ba... mà còn tiếp tục phát triển rất xa về phía biển mà ngày nay đã bị nước biển phủ kín. Vì vậy, dưới đáy biển phần thềm lục địa cũng có những dãy núi ngầm mà các đỉnh cao của nó nhô lên khỏi mặt nước hình thành các hòn đảo như hòn Tre, hòn Miếu, hòn Mun... Xen giữa các đái đảo nổi, đảo ngầm là những vùng trũng tương đối bằng phẳng gọi là các đồng bằng biển, đó chính là đáy các vũng, vịnh như vịnh Vân Phong, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh.
Ngoài các đảo đá ven bờ, Khánh Hoà còn có các đảo san hô ở huyện đảo Trường Sa, với khoảng 100 đảo bãi cạn, bãi ngầm rải rác trên một diện tích từ 160 đến 180 ngàn km², trong đó có từ 23 đến 25 đảo, bãi cạn nổi thường xuyên, với tổng diện tích 10 km². Đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa là Ba Bình chỉ rộng 0,65 km². Bãi lớn nhất là bãi Thuyền Chài, dài 30 km; rộng 5 km (ngập nước khi triều lên). Địa hình trên bề mặt các đảo rất đơn giản, chỉ là những mõm đá, vách đá vôi san hô, cao vài ba mét.
=== Địa chất - tài nguyên ===
Cấu tạo địa chất của Khánh Hòa chủ yếu là đá granit và ryolit, dacit có nguồn gốc mác ma xâm nhập hoặc phún trào kiểu mới. Ngoài ra còn có các loại đá cát, đá trầm tích ở một số nơi. Về địa hình kiến tạo, phần đất của tỉnh Khánh Hòa đã được hình thành từ rất sớm, là một bộ phận thuộc rìa phía Đông-Nam của địa khối cổ Kom Tom, được nổi lên khỏi mặt nước biển từ đại Cổ sinh, cách đây khoảng 570 triệu năm. Trong đại Trung sinh có 2 chu kỳ tạo sản inđôxi và kimêri có ảnh hưởng một phần đến Khánh Hòa. Do quá trình phong hóa vật lý, hóa học diễn ra trên nền đá granit, ryolit đã tạo thành những hình dáng độc đáo, đa dạng và phong phú, góp phần làm cho thiên nhiên Khánh Hòa có nhiều cảnh đẹp nổi tiếng.
Khánh Hòa có nhiều tài nguyên khoáng sản như than bùn, cao lanh, sét, sét chịu lửa, vàng sa khoáng, cát thuỷ tinh, san hô, đá granit, quặng ilmênit, nước khoáng, phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp khai thác. Ngoài ra còn có nhiều tài nguyên biển, bao gồm các nguồn rong, tảo thực vật, trữ lượng hải sản lớn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hải sản; các điều kiện thuận lợi để khai thác sinh vật biển và nuôi trồng thuỷ sản.
=== Sông ngòi ===
Sông ngòi ở Khánh Hòa nhìn chung ngắn và dốc, cả tỉnh có khoảng 40 con sông dài từ 10 km trở lên, tạo thành một mạng lưới sông phân bố khá dày. Hầu hết, các con sông đều bắt nguồn tại vùng núi phía Tây trong tỉnh và chảy xuống biển phía Đông. Dọc bờ biển, cứ khoảng 5–7 km có một cửa sông.
Mặc dù hướng chảy cơ bản của các sông là hướng Tây - Đông, nhưng tùy theo hướng của mạch núi kiến tạo hoặc do địa hình cục bộ, dòng sông có thể uốn lượn theo các hướng khác nhau trước khi đổ ra biển Đông. Đặc biệt là sông Tô Hạp, bắt nguồn từ dãy núi phía Tây của huyện Khánh Sơn, chảy qua các xã Sơn Trung, Sơn Bình, Sơn Hiệp, Sơn Lâm, Thành Sơn rồi chảy về phía Ninh Thuận. Đây là con sông duy nhất của tỉnh chảy ngược dòng về phía Tây. Hai con sông lớn nhất tỉnh là Sông Cái (Nha Trang) và sông Dinh. Sông Cái có độ dài 79 km, bắt nguồn từ hòn Gia Lê cao 1.812 m chảy qua Khánh Vĩnh, Diên Khánh, Nha Trang rồi đổ ra biển qua Cửa Bé (Tiểu Cù Huân) và Cửa Lớn (Đại Cù Huân). Sông Dinh bắt nguồn từ vùng núi Chư H'Mư (đỉnh cao 2.051 m) thuộc dãy Vọng Phu, có tổng diện tích lưu vực 985 km2, chảy qua thị xã Ninh Hòa và đổ ra đầm Nha Phu.
=== Khí hậu ===
Khánh Hòa là một tỉnh ở vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ, nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới xavan. Song khí hậu Khánh Hòa có những nét biến dạng độc đáo với các đặc điểm riêng biệt. So với các tỉnh, thành phía Bắc từ Đèo Cả trở ra và phía Nam từ Ghềnh Đá Bạc trở vào, khí hậu ở Khánh Hòa tương đối ôn hòa hơn do mang tính chất của khí hậu đại dương. Thường chỉ có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng. Mùa mưa ngắn, từ khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 dương lịch, tập trung vào 2 tháng 10 và tháng 11, lượng mưa thường chiếm trên 50% lượng mưa trong năm. Những tháng còn lại là mùa nắng, trung bình hàng năm có tới 2.600 giờ nắng. Nhiệt độ trung bình hàng năm của Khánh Hòa cao khoảng 26,7 °C riêng trên đỉnh núi Hòn Bà (cách Nha Trang 30 km đường chim bay) có khí hậu như Đà Lạt. Độ ẩm tương đối khoảng 80,5%.
Từ tháng 1 đến tháng 8, có thể coi là mùa khô, thời tiết thay đổi dần. Những tháng đầu mùa, trời mát, nhiệt độ từ 17-25 °C, nhưng từ tháng 5 đến tháng 8 trời nóng nực, nhiệt độ có thể lên tới 34 °C (ở Nha Trang) và 37-38 °C (ở Cam Ranh). Tháng 9 đến tháng 12, được xem như mùa mưa, nhiệt độ thay đổi từ 20-27 °C (ở Nha Trang) và 20-26 °C (ở Cam Ranh). Khánh Hòa là vùng ít gió bão, tần số bão đổ bộ vào Khánh Hòa thấp chỉ có khoảng 0,82 cơn bão/năm so với 3,74 cơn bão/năm đổ bộ vào bờ biển Việt Nam. Các trận bão được dự đoán sẽ đổ bộ vào Khánh Hòa trong những năm gần đây thường lệch hướng vào Nam hoặc tan ngay khi gần vào bờ. Tuy vậy, do địa hình sông suối có độ dốc cao nên khi có bão kèm theo mưa lớn, làm nước dâng cao nhanh chóng, trong khi đó sóng bão và triều dâng lại cản đường nước rút ra biển, nên thường gây ra lũ lụt.
== Hành chính ==
Về mặt đơn vị hành chính, Khánh Hòa gồm có 2 thành phố trực thuộc tỉnh, 1 thị xã và 6 huyện; các huyện, thị xã, thành phố lại được chia thành 35 phường 6 thị trấn và 99 xã.
Hội đồng nhân dân tỉnh, với các đại biểu được bầu cử trực tiếp nhiệm kỳ 5 năm, có quyền quyết định các kế hoạch phát triển dài hạn về kinh tế, văn hóa, giáo dục... của tỉnh. Đứng đầu Hội đồng Nhân dân gồm một Chủ tịch, một Phó chủ tịch và một Uỷ viên thường trực. Hội đồng Nhân dân chịu sự giám sát và hướng dẫn hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chịu sự hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ trong việc thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Chủ tịch Hội đồng nhân dân hiện nay là ông Nguyễn Tấn Tuân.
Hội đồng Nhân dân tỉnh bầu nên Ủy ban Nhân dân, cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý về mọi hoạt động chính trị, an ninh, kinh tế và văn hóa trên địa bàn Khánh Hòa. Đứng đầu Ủy ban Nhân dân gồm một Chủ tịch và các Phó chủ tịch. Các sở, ngành của Ủy ban Nhân dân sẽ quản lý về các lĩnh vực cụ thể, như y tế, giáo dục, đầu tư, tư pháp, tài chính. Tương tự, cấp thành phố, thị xã, huyện cũng có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân chịu sự chỉ đạo chung của cấp tỉnh. Ngoài ra, Ủy ban Nhân dân còn quản lý Đài Phát thanh - Truyền hình Khánh Hòa và một số tổng công ty trên địa bàn tỉnh. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh hiện nay là ông Lê Đức Vinh.
Bên cạnh Chủ tịch Hội đồng Nhân dân và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân, Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Khánh Hòa (Tỉnh ủy Khánh Hòa) còn bầu ra Bí thư Tỉnh ủy, hiện nay là ông Lê Thanh Quang được bầu vào đại hội lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2015-2020). Quyền hạn và trách nhiệm của Bí thư Tỉnh ủy được quy định theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII, nhiệm kỳ 2015-2020 gồm 52 vị:
Hiện nay, Ủy ban nhân dân Tỉnh Khánh Hòa đang lập đề án đưa cả tỉnh thành thành phố trực thuộc trung ương trước năm 2020. Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa và Bộ Chính trị đã thông qua nghị quyết Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 với mục tiêu đề ra là xây dựng tỉnh Khánh Hòa trở thành đô thị loại I trực thuộc trung ương.
== Kinh tế ==
Khánh Hòa là một trong những tỉnh có nền kinh tế phát triển nhanh và vững của Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Uỷ ban nhân dân tỉnh, tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh là 11,55%, giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng 15,5%, giá trị nông lâm thủy sản tăng 2,81%, ngành dịch vụ du lịch tăng 14,5%. GDP bình quân đầu người năm 2011 là 1.710 USD cao hơn mức bình quân chung của Việt Nam. Dịch vụ - du lịch chiếm 45% cơ cấu kinh tế, công nghiệp - xây dựng là 42%, còn nông - lâm - thủy sản chiếm 13%.
=== Dịch vụ - Du lịch ===
Khánh Hòa là một trong những trung tâm du lịch lớn của Việt Nam. Nhờ có bờ biển dài hơn 200 km và gần 200 hòn đảo lớn nhỏ cùng nhiều vịnh biển đẹp như Vân Phong, Nha Trang (một trong 12 vịnh đẹp nhất thế giới), Cam Ranh... với khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình 26⁰°C, có hơn 300 ngày nắng trong năm, và nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, nên dịch vụ - du lịch là ngành phát triển nhất ở Khánh Hòa với số du khách hơn 1,6 triệu lượt vào năm 2009. Các hình thức du lịch ở Khánh Hòa rất phong phú với các hình thức như du lịch sinh thái biển đảo, du lịch tham quan - vãn cảnh, du lịch văn hóa... Trong các khách sạn và khu nghỉ mát lớn ở Khánh Hòa, có những khu du lịch và khách sạn tầm cỡ thế giới như khu nghỉ mát Ana Mandara, Vinpearl Land, Sheraton Nha Trang hotel & spa, Novotel, hay khu nghỉ dưỡng cao cấp Evason Hideaway (huyện Ninh Hòa) của tập đoàn Ana Mandara, được tờ Sunday Times bầu là một trong 20 resort tốt nhất thế giới vào năm 2005. Những di tích lịch sử văn hóa có Tháp Po Nagar, thành cổ Diên Khánh, các di tích của nhà bác học Alexandre Yersin...
Ngoài vị thế là một trung tâm du lịch lớn Nha Trang đã trở thành điểm đến của nhiều sư kiện lớn của Việt Nam và Thế giới như: Hoa hậu Việt Nam, Hoa hậu Thế giới người Việt 2007 và 2009, Hoa hậu Hoàn vũ 2008, Hoa hậu Trái Đất 2010... cùng với Festival Biển (Nha Trang) được tổ chức 2 năm một lần đã góp phần quảng bá du lịch Khánh Hòa với thế giới.
Tuy vậy, việc chất lượng dịch vụ sút kém và tăng giá dịch vụ thiếu kiểm soát vào những mùa cao điểm du lịch vẫn chưa được tỉnh giải quyết triệt để. Phát triển du lịch một cách bền vững, bảo vệ tài nguyên môi trường vẫn còn là vấn đề gây nhiều bàn cãi.
=== Công - nông - ngư nghiệp ===
Ngoài du lịch, Khánh Hòa cũng là địa phương phát triển công nghiệp mạnh trong khu vực Miền Trung và Tây Nguyên. Các thế mạnh công nghiệp truyền thống của Khánh Hòa là công nghiệp đóng tàu, chế biến thủy hải sản, vật liệu xây dựng, may mặc... Ngoài ra, Khánh Hòa cũng có nhiều loại khoáng sản; đến năm 2003 đã có 72 mỏ quặng được phát hiện và đăng ký trên địa bàn tỉnh. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp trong năm 2009 của Khánh Hòa đạt 14.095 tỷ đồng. Các khu công nghiệp lớn trong tỉnh như Khu công nghiệp Suối Dầu, khu công nghiệp Ninh Hòa, khu công nghiệp Bắc và Nam Nha Trang, cùng với những cảng biển lớn đang được đầu tư xây dựng, giúp cho Khánh Hòa trở thành một trong 10 tỉnh thành có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất nước.
Cũng như các tỉnh vùng duyên hải Nam Trung Bộ khác có các dải đồng bằng nhỏ hẹp, trồng trọt không phải là thế mạnh của tỉnh. Lúa vẫn chiếm diện tích lớn nhất và được trồng tập trung tại đồng bằng Ninh Hòa và Diên Khánh. Cây công nghiệp ngắn ngày được trồng nhiều nhất là cây mía, sau đó là đậu phộng, cây lương thực được trồng nhiều nhất trong tỉnh là cây khoai mì và cây bắp. Việc trồng cây bắp đã mang lại giá trị kinh tế cao cho nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Khánh Vĩnh.
Bên cạnh nông sản, tài nguyên thủy hải sản ở Khánh Hòa rất dồi dào. Khánh Hòa có tổng trữ lượng hải sản ước tính 150.000 tấn/năm và khả năng khai thác 40-50.000 tấn/năm. Có 600 loài hải sản được các nhà khoa học xác định ở vùng biển Khánh Hòa, trong đó có hơn 50 loài cá có giá trị kinh tế cao.
== Xã hội ==
=== Dân cư ===
Theo số liệu điều tra ngày 1 tháng 4 năm 2011 dân số tỉnh Khánh Hòa là 1.174.100 người với mật độ dân số toàn tỉnh là 225 người/km², trong đó nam giới có khoảng 581.299 người (49.47%) và nữ giới khoảng 593.549 người (50.53%); tỷ lệ tăng dân số của tỉnh bình quân từ năm 1999-2009 là 1,1%; tỷ số giới tính là 97,9%. Theo điều tra biến động dân số năm 2011, Khánh Hòa có 584.200 người sinh sống ở khu vực đô thị (48.8% dân số toàn tỉnh) và 589.900 người sống ở khu vực nông thôn (51,2%)..
Dân số Khánh Hòa hiện nay phân bố không đều. Dân cư tập trung đông nhất ở thành phố Nha Trang (chiếm 1/3 dân số toàn tỉnh), trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh. Huyện Diên Khánh và thành phố Cam Ranh cũng có mật độ dân số khá cao (xấp xỉ 400 người/km²) thị xã Ninh Hòa và các huyện còn lại ở đồng bằng có mật độ dân cư không chênh lệch lớn và gần bằng mức trung bình toàn tỉnh (khoảng 200 người/km²), các huyện miền núi có mật độ dân số tương đối thấp là Khánh Sơn (62 người/km²) và Khánh Vĩnh (29 người/km²). Nơi có mật độ dân số thấp nhất tỉnh là huyện đảo Trường Sa (0,39 người/km²). Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2010 thì toàn tỉnh có khoảng 519.600 người sinh sống tại khu vực thành thị và 648.100 sinh sống ở khu vực nông thôn.
Về độ tuổi năm 2009 toàn tỉnh có 526.061 người dưới 25 tuổi (45% dân số), 450.393 người từ 25 đến 50 tuổi (39% dân số) và 183.150 trên 50 tuổi (16%)
==== Dân tộc ====
Hiện nay có 32 dân tộc đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, trong đó dân tộc Kinh có 1.095.981 người sống phân bố đều khắp huyện, thị, thành phố, nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là các vùng đồng bằng, thành phố, thị xã, thị trấn. Dân tộc thiểu số lớn nhất là người Raglai với 45.915 người sống tập trung chủ yếu ở hai huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh và một vài xã miền núi các huyện Diên Khánh, Cam Lâm và thành phố Cam Ranh trong các bản làng (palây). Tại các khu vực giáp ranh với Lâm Đồng và Đăk Lăk có khoảng 4.778 người Cơ-ho và 3.396 người Ê-đê sinh sống. Dân tộc Hoa có khoảng 3.034 người tập trung chủ yếu ở thành phố Nha Trang (khoảng 2.000 người), thị xã Ninh Hòa và các xã phía Đông huyện Diên Khánh. Một nhóm thiểu số chính khác là người Tày (1.704) và người Nùng (1.058) di cư từ các tỉnh phía Bắc vào trong cuộc di cư năm 1954 và trong các năm gần đây sinh sống chủ yếu ở huyện Khánh Vĩnh. Ngoài các nhóm chính trên còn có các nhóm dân tộc chiếm 1 thiểu số rất nhỏ trong dân số như Mường, Thái, Chăm, Khmer, Thổ... Người Chăm là cư dân bản địa ở Khánh Hòa. Tuy nhiên do những điều kiện lịch sử, từ giữa thế kỷ XVII về sau này, người Chăm ở Khánh Hòa lần lượt di chuyển vào các tỉnh phía Nam. Vì vậy mà ngày nay, người Chăm ở Khánh Hòa chỉ còn khoảng 290 người.
Trên địa bàn thành phố Nha Trang cũng có một vài nhóm người nước ngoài sinh sống và làm việc thường xuyên trong những năm gần đây, một ít trong số họ hiện đã định cư lâu dài và nhập quốc tịch Việt Nam.
==== Tôn giáo ====
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê Việt Nam, toàn tỉnh Khánh Hòa vào thời điểm của cuộc tổng điều tra dân số năm 2009, Khánh Hòa có 293.586 người tự khẳng định mình có tín ngưỡng, nhiều nhất là Phật giáo 170.980 người; tiếp đến là Công giáo 101.616 người, đạo Tin Lành 13.726 người, đạo Cao Đài 6.819 người và các tôn giáo khác. Phật giáo tập trung nhiều nhất ở Nha Trang (50,4%) và Diên Khánh; Công giáo tập trung nhiều ở Cam Lâm, đạo Cao Đài tập trung ở Cam Ranh; đạo Tin Lành tập trung ở Khánh Sơn và Khánh Vĩnh.
=== Đô thị hóa ===
Khánh Hòa là tỉnh có số dân đô thị cao nhất trong các tỉnh thuộc khu vực miền Trung với 584.200 người (năm 2011) chiếm khoảng 48,8% dân số toàn tỉnh. Tính đến cuối năm 2011, toàn tỉnh có 1 đô thị loại I (thành phố Nha Trang), 1 đô thị loại III (thành phố Cam Ranh), 3 đô thị loại IV (thị xã Ninh Hòa và các thị trấn Diên Khánh, Vạn Giã) cùng với 7 đô thị loại V (các thị trấn Cam Đức, Khánh Vĩnh, Tô Hạp và các xã Đại Lãnh, Suối Hiệp, Suối Tân , Ninh Sim). Phần lớn các đô thị lớn nằm ở vùng duyên hải và dọc theo quốc lộ 1A, một vài đô thị khác nằm dọc theo các hành lang đông dân cư ven các sông chính và các tuyến đường nối vùng duyên hải lên Tây Nguyên như trục Ninh Hòa - Ninh Sim nằm dọc theo sông Dinh và quốc lộ quốc lộ 26 nối lên Buôn Ma Thuột. Trục Diên Khánh - Khánh Vĩnh nằm ven theo sông Cái và Đường 723 nối lên Đà Lạt.
Theo kết luận số 53-KL/TW ngày 24 tháng 12 năm 2012 của Bộ Chính trị, Tỉnh Khánh Hòa được phép quy hoạch thành thành phố trực thuộc trung ương trong quy hoạch đến năm 2020
=== Khoa học - Giáo dục ===
Nền khoa học ở Khánh Hòa được đặt nền móng từ thời Pháp thuộc với việc hình thành hai cơ sở khoa học thực nghiệm là Viện Pasteur Nha Trang vào năm 1891, nghiên cứu về vệ sinh dịch tễ và Sở Ngư nghiệp Đông Dương năm 1922 (tiền thân của Viện Hải dương học Nha Trang) chuyên nghiên cứu về biển và động vật biển. Lĩnh vực khoa học từ đó dần dần được mở rộng sang các ngành khoa học ứng dụng để đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế của tỉnh. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu tại Khánh Hòa gồm có việc bảo tồn và phát triển trầm hương, kỳ nam, duy trì và nuôi dưỡng chim yến, nghiên cứu các hình thức nuôi trồng thủy sản trên biển,...
Trước thời nhà Nguyễn, vì là đất mới được mở mang, lại xa kinh đô, nên nền giáo dục Khánh Hòa gần như không phát triển. Người Khánh Hòa thời đó không có đóng góp gì trong địa hạt văn chương thi phú. Mãi đến đời vua Gia Long, triều đình mới cho lập trường dạy chữ ở phủ Diên Khánh và Bình Hòa. Học sinh sau khi có bằng Tiểu học phải ra Quy Nhơn hoặc các tỉnh khác để tiếp tục học lên Trung học, cho đến năm 1936, khi trường trung học đầu tiên được mở tại Nha Trang là Trường trung học tư thục Kim Yến (Institution Kim Yến), làm nơi học tập cho học sinh từ Phan Thiết đến Quy Nhơn. Đầu năm 1947, Trường Trung học Nha Trang (tiền thân của Trường Phổ thông trung học Lý Tự Trọng) được thành lập. Sang đến năm 1952, trường đổi tên thành Trường Trung học Võ Tánh và chuyển đến địa điểm hiện nay. Năm 1957, trường Võ Tánh được Bộ Giáo dục Quốc gia nâng cấp lên bậc Đệ nhị cấp (tương đương bậc Phổ thông trung học ngày nay). Kể từ đó, học sinh tại Khánh Hòa có thể đi học đến khi tốt nghiệp Tú tài ngay tại tỉnh nhà mà không phải khăn gói đi ra ngoài. Năm 1971, Khánh Hòa có cơ sở đào tạo bậc đại học đầu tiên là Đại Học Cộng đồng Duyên Hải tại Nha Trang. Sau ngày thống nhất đất nước, Trường Đại học Thủy sản Nha Trang, được chuyển từ Hải Phòng vào. Hiện nay, Khánh Hòa có đầy đủ các bậc học, ngành học, phục vụ cho tất cả các đối tượng học sinh sinh viên tại tỉnh (được kê trong bảng phía dưới).
== Văn hóa ==
Khánh Hòa là địa danh thu hút nhiều du khách với những khu di tích chiến khu, căn cứ cách mạng. Ngoài ra, tỉnh cũng đầu tư chú trọng đến văn nghệ và nghệ thuật để phục vụ người dân và thu hút du khách; các đội chiếu bóng phục vụ ở những nơi hẻo lánh, miền núi hiểm trở. Hệ thống thư viện, các câu lạc bộ cũng phát triển mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu của quần chúng.
Khánh hòa có 11 di tích văn hóa-lịch sử cấp quốc gia. Công tác bảo tồn, trùng tu bảo tàng và quản lý các khi di tích cũng được chú trọng, có nhiều đợt trưng bày quy mô lớn thu hút hàng chục ngàn du khách tham quan. Công tác sưu tầm, nghiên cứu giới thiệu văn hóa phi vật thể đã và đang tiếp tục được phát triển. Những công trình nghiên cứu tiêu biểu như: sự nghiên cứu về chữ viết của người Ra Glai, truyện cổ, trường ca và một số loại hình văn hóa dân gian có ảnh hưởng khác, bao gồm một số công trình được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đánh giá cao.
=== Lễ hội ===
Hiện nay, tỉnh Khánh Hòa còn lưu giữ được khá nhiều lễ hội mang đậm nét văn hóa bản địa, tục thờ cúng trong tín ngưỡng dân gian. Các lễ hội đều xuất phát từ lao động, từ phong tục tập quán, là nếp sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân. Theo thống kê của chính quyền địa phương, tính đến năm 2010, Khánh Hòa có 494 di sản lễ hội lớn, nhỏ của người Kinh, bao gồm 237 lễ hội đình làng, 121 lễ hội miếu, lăng và 136 lễ hội chùa. Ngoài ra còn các lễ hội truyền thống của người dân tộc.
Các lễ hội tiêu biểu:
Lễ hội Tháp Bà: diễn ra hàng năm từ ngày 20 đến ngày 23 tháng ba âm lịch tại khu di tích Tháp Po Nagar - thành phố Nha Trang, tưởng niệm nữ thần Mẹ Xứ sở (Po Ino Nogar). Đây là lễ hội văn hóa dân gian lớn nhất của hai dân tộc Việt – Chăm ở Khánh Hòa và khu vực Nam Trung Bộ, thu hút đông đảo người Việt, người Chăm, người Hoa và du khách đến dự. Năm 2001, lễ hội Tháp Bà được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng là một trong 16 lễ hội quốc gia.
Lễ hội Am Chúa: tổ chức vào ngày 22 tháng 4 âm lịch để tưởng niệm nữ thần Thiên Y A Na, còn gọi là Bà Chúa.
Lễ hội đình làng nông nghiệp: là dịp để người dân trong làng tưởng nhớ đến tổ tiên, có khác nhau về ngày giờ ở mỗi vùng.
Lễ hội Ăn mừng lúa mới của người Raglai ở Khánh Hòa: diễn ra hằng năm sau mỗi vụ thu hoạch.
Lễ hội Cầu ngư: tổ chức vào ngày giỗ của ông Nam Hải - hiện thân của loài cá voi. Đây là một tục thờ được diễn ra tại các đình làng.
=== Ẩm thực ===
Là một tỉnh ven biển có nhiều làng chài nên phong cách ẩm thực ở Khánh Hòa chịu ảnh hưởng sâu sắc từ biển, với nguyên liệu chủ yếu được chế biến từ hải sản. Đồng thời cư dân Khánh Hòa xưa chủ yếu di cư vào từ các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam và Quảng Ngãi nên phong cách ẩm thực cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các tỉnh trên.
Các món đặc sản của Khánh hòa được nhiều người biết đến như nem Ninh Hòa, bún cá Nha Trang, bún sứa, bánh ướt Diên Khánh... Ngoài ra dưới sự ảnh hưởng của người Hoa (s. sống đông đúc gần khu vực chợ Đầm phường Xương Huân), người Pháp (từng đến Nha Trang nghỉ dưỡng rất đông thời Pháp thuộc) và những người miền Bắc di cư vào Nam sau năm 1954 tạo cho Nha Trang phong cách ẩm thực đặc biệt khác hẳn với các địa phương khác trong tỉnh và khu vực Nam Trung Bộ tiêu biểu là những món ăn như phở Nha Trang, bánh mì Nha Trang, bò nướng Lạc Cảnh...
=== Đặc sản ===
Khánh Hòa có hai loại sản vật quý hiếm:
Yến sào (tổ yến) là tên một loại thực phẩm - dược phẩm được làm hoàn toàn bằng nước bọt của chim yến. Đây là món cao lương mỹ vị tại các quốc gia Đông Á như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam và nhiều quốc gia khác. Khánh Hòa lại là nơi chim yến làm tổ nhiều nhất ở Việt Nam. Hàng năm, Khánh Hòa thu được khoảng hơn 2 tấn tổ yến so với 600 – 700 kg/năm ở Bình Định và Đà Nẵng. Yến sào Khánh Hòa có mùi vị thơm ngon đặc trưng được coi là tổ yến vua (King nest) và giá cả luôn ở mức cao nhất thế giới.
Trầm hương là một sản phẩm đặc biệt được tạo thành từ cây Dó Bầu. Qua thời gian, những tác động sinh học đã giúp cây Dó tạo trầm hương hoặc kỳ nam. Trầm kỳ là sản vật quý giá; là hương liệu, dược liệu. Trong y học dân tộc, trầm hương là một vị thuốc quý dùng chữa nhiều loại bệnh. Ngoài ra, trầm hương còn dùng làm hương liệu, mỹ phẩm; dùng để chế biến các loại giấy quý có mùi mật hương và nhang xuất khẩu; dùng trong các dịp đại lễ, cúng tế. Việc đốt trầm hương trong các đền đài, nơi thờ cúng được coi như hình thức dâng cúng linh thiêng cao quý nhất. Từ xưa Khánh Hòa đã nổi tiếng bởi trầm hương nên được mệnh danh là "Xứ Trầm Hương". Trong sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn ghi rõ "Kỳ nam hương xuất tự đầu núi các xã thuộc hai phủ Bình Khang và Diên Khánh xứ Quảng Nam là thứ tốt nhất". Trầm Khánh Hòa tập trung nhiều ở rừng núi các huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa, Khánh Vĩnh, trong đó nổi tiếng nhất là vùng Tu Bông, Vạn Giã (thuộc huyện Vạn Ninh). Xưa nay, trầm khai thác được ở Khánh Hòa phần lớn là trầm tốt và có nhiều kỳ nam. Hàng năm nhân dân địa phương tích cực khai thác bán cho Nhà nước để xuất khẩu. Giá trầm hương loại 1 xuất tại thời điểm 1989 (thời cực thịnh của nghề khai thác trầm kỳ) là 1.050 USD/kg. Qua thời gian khai thác cạn kiệt, trầm hương trên rừng núi Khánh Hòa còn tồn tại rất ít. Vài năm gần đây, nhiều tổ chức và cá nhân bắt đầu trồng lại cây dó, kích ứng cho tạo trầm và bước đầu đã có thành công nhất định.
== Giao thông ==
=== Đường bộ ===
Khánh Hòa có hệ thống cơ sở hạ tầng về tương đối phát triển, nằm trên các trục giao thông quan trọng ven biển của Việt Nam như: Quốc lộ 1A chạy dọc ven biển từ Đèo Cả đến Ghềnh Đá Bạc nối liền với các tỉnh phía Bắc và phía Nam; quốc lộ 26 nối Ninh Hòa với Đăk Lăk và các tỉnh Tây Nguyên; đường 723 (Nha Trang đi Đà Lạt) và dự án đường cao tốc Bắc Nam đi qua Khánh Hòa.
Toàn tỉnh hiện có 2.086 km đường giao thông. Trong đó, đường do trung ương quản lý dài 224,38 km, chiếm 10,75%; đường do tỉnh quản lý dài 254,95 km, chiếm 12,21%; đường do huyện quản lý dài 327,47 km, chiếm 15,69% và đường do xã quản lý dài 1.566,97 km, chiếm 75%. Chất lượng đường bộ: Ðường cấp phối, đường đá dăm dài 399,52 km chiếm 19,14%; đường nhựa dài 362,77 km, chiếm 17,38% còn lại là đường đất. Tất cả các xã đã có đường ô tô đến tận trung tâm xã. Hiện nay, Nha Trang đang có 6 tuyến xe buýt phục vụ công cộng.
=== Đường sắt ===
Do vị trí của Khánh Hòa nằm trên tuyến đường cái quan, người Pháp lại chọn Nha Trang làm nơi đặt cơ quan bảo hộ, nên Nha Trang đã sớm trở thành một điểm dừng quan trọng trên tuyến đường sắt do Pháp xây dựng. Tuyến đường sắt Sài Gòn - Nha Trang được khởi công xây dựng từ năm 1900 đến năm 1913 mới hoàn tất. Vào thời điểm đó, điểm cuối của tuyến đường sắt là Ga Phú Vinh, nằm cạnh đường 23 tháng 10 hiện nay, tại xã Vĩnh Thạnh, Nha Trang. Đến năm 1928, người Pháp khởi công đoạn Đà Nẵng đến Nha Trang dài 532 km để hoàn tất tuyến đường sắt xuyên Việt, đồng thời xây dựng Ga Nha Trang với lối kiến trúc đặc trưng cùng cảnh quan hài hòa. Ga Nha Trang được khánh thành ngày 2 tháng 9 năm 1936 và tuyến đường sắt xuyên Việt cũng hoàn thành vào tháng 10 cùng năm. Ga Nha Trang ngày nay vẫn giữ nguyên được lối kiến trúc nhà ga cùng tuyến đường sắt hình "bóng đèn" độc đáo.
Hiện nay, tất cả các tuyến tàu Thống Nhất đều dừng ở đây. Ngoài các tàu Thống Nhất, còn có các đôi tàu địa phương nối với Ga Sài Gòn mang số hiệu SN. Ngoài ga Nha Trang, tỉnh còn 12 ga khác phân bố tại tất cả các huyện, thị xã, thành phố trừ hai huyện miền núi Khánh Sơn, Khánh Vĩnh và huyện đảo Trường Sa.
=== Đường thủy ===
Khánh Hòa có nhiều vùng vịnh kín gió, nước sâu lại nằm ở cực đông của Việt Nam gần với tuyến hàng hải quốc tế nên rất thuận lợi cho xây dựng cảng biển. Hiện tại trên địa bàn tỉnh có 5 cảng biển, trong đó tiêu biểu nhất là cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong và cảng Cam Ranh (một trong ba vịnh tốt nhất thế giới cho xây dựng cảng biển).
=== Hàng không ===
Sân bay quốc tế Cam Ranh được nâng cấp ngày 16 tháng 8 năm 2007 tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu trong nước và quốc tế của tỉnh Khánh Hòa cũng như khu vực Nam Trung Bộ
Năm 2008, sân bay này đã phục vụ 683.000 lượt khách, vượt qua Sân bay quốc tế Phú Bài để thành sân bay có số lượng hành khách thông quan đông thứ 4 trong các sân bay tại Việt Nam. Tỷ lệ tăng của số lượt khách thông qua vào năm 2007 là 36,8%, của năm 2008 là 36,3% so với năm trước, là sân bay có tốc độ tăng trưởng lượng hành khách cao nhất tại Việt Nam Hiện nay sân bay phục vụ các đường bay đến Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và nhiều đường bay quốc tế khác
== Tỉnh/thành phố kết nghĩa ==
Tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam (cùng với Nha Trang, từ năm 1962)
Thành phố Ulsan, Hàn Quốc (từ năm 2002)
Tỉnh Morbihan, Pháp (từ năm 2005)
Tỉnh Kharkov, Ukraina (từ năm 2004)
Tỉnh Champasak, Lào (từ năm 2006)
Vùng Primorsky, Nga (từ 2012)
Thành phố Sankt-Peterburg, Nga (từ năm 2007)
== Chú thích ==
== Sách tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức
Khánh Hòa tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Báo Khánh Hòa
Tỉnh đoàn Khánh Hòa
Bản đồ điện tử Khánh Hòa |
thế kỷ 8.txt | Thế kỷ 8 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 701 đến hết năm 800, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory.
== Tham khảo == |
hươu đuôi trắng hilton head.txt | Hươu đuôi trắng Hilton Head hay Nai Hilton Head đuôi trắng (Danh pháp khoa học: Odocoileus virginianus hiltonensis) là một phân loài của hươu đuôi trắng bản địa ở đảo Hilton Head thuộc Nam Carolina. Những con hươu sống trong một môi trường chủ yếu là ngoại thành và đã phát triển khu vực phạm vi trên đảo.
== Tổng quan ==
Nai Hilton Head đuôi trắng được liệt kê như là một loài có mối quan tâm của Hoa Kỳ về động vật hoang dã mặc dù việc tiêu diệt những con nai này được thực hiện thường xuyên được triển khai để giảm dân số và ngăn ngừa tai nạn giao thông. Các vụ việc tiêu diệt gây ra tranh cãi giữa các khu vực dân cư và các nhóm bảo vệ động vật hoang dã. Trước khi tiêu diệt chúng người ta đã được phê duyệt để tiêu diệt nhiều hươu và chuyển qua đảo để tránh lây lan ra các đàn gia súc. Biển Pines Plantation một hỗn hợp diện tích tự nhiên đã trở nên gây tranh cãi khi người dân phàn nàn về con nai ăn cây dâu của họ và gây thiệt hại tài sản.
Người ta phải có phương án để cắt giảm một nửa phân loài dân số chúng do các quần thể động vật ở đây thiếu một động vật ăn thịt tự nhiên trên đảo. Ngày 27 tháng 8 năm 1998, một phán quyết của một thẩm phán địa phương tạm thời bị chặn bất cứ giết hại những con hươu này. Cơ quan lập pháp Nam Carolina đã xây dựng một khu bảo tồn động vật hoang dã vào năm 1971. Tòa án Tối cao Nam Carolina đồng tình với phán quyết và cho phép tiêu diệt loài này, chỉ sau ba năm số lượng của đàn hươu này đã được giảm 500 việc va chạm xe với hươu cũng được giảm từ 60 vụ đến 10 vụ mỗi năm.
== Tham khảo ==
Loewer, Peter (2002). Solving deer problems: how to keep them out of the garden, avoid them on the road, and deal with them anywhere!. Globe Pequot. p. 69. ISBN 1-58574-672-X.
"Hilton Head White-Tailed deer (Odocoileus virginianus hiltonensis)". U.S. Fish and Wildlife Service. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010.
"Endangered and Threatened Wildlife and Plants; Animal Candidate Review for Listing as Endangered or Threatened Species". Fish and Wildlife Service, Interior. 1994. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010.
"Deer Debate in Hilton Head, South Carolina". WUI Professional Development Program. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010.[dead link]
Cromwell, Jennifer; Robert Warren, David Henderson (1999). Wildlife Society Bulletin (Wildlife Society Bulletin). JSTOR 3783662.
McCormack, Francia (ngày 16 tháng 9 năm 1998). "Oh, deer: Animal-rights activists sue". Red & Black. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010.
"Injunction Protect Hilton Head Deer - For Now". Associated Press (Herald-Journal). ngày 27 tháng 8 năm 1998. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010.
"Judge Allows Resort Deer Kill". Star-News. ngày 6 tháng 5 năm 1999. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010.
"Beaufort County Communities thinning out deer population". The Beaufort Gazette. ngày 17 tháng 11 năm 2004. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2010. |
teruel.txt | Teruel là một đô thị trong tỉnh Teruel, Aragon, Tây Ban Nha. Đây là thủ phủ của tỉnh Teruel. Dân số 34.240 người năm 2006.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Teruel existe
Teruel Travelguide and Hotel bookings in English
The main page of Teruel's City Hall
English World Heritage Centre
Flickr Photos
40°21′B 1°06′T |
đá phạt trực tiếp (bóng đá).txt | Đá phạt trực tiếp là một tình huống cố định xảy ra khi một cầu thủ tấn công bị hàng phòng ngự đối phương phạm lỗi nặng phía bên ngoài vòng cấm địa. Không giống với những quả đá phạt gián tiếp, những quả đá phạt trực tiếp có thể tạo ra bàn thắng.
== Tình huống xảy ra ==
Đá phạt trực tiếp xảy ra khi một cầu thủ tấn công bị hàng phòng ngự đối phương phạm lỗi, chẳng hạn như đẩy người, kéo áo... Tuy nhiên, các cầu thủ tấn công thường cố ý tìm mọi cách để hàng phòng ngự của đối phương phạm lỗi trong vòng cấm địa và một quả đá phạt hàng rào trở thành một quả đá phạt đền.
== Luật đá ==
Điểm đặt bóng được đặt ở nơi cầu thủ bị phạm lỗi. Để chặn các quả đá phạt, họ thường lập hàng rào (số người tuỳ theo thủ môn chọn). Hàng rào phải đứng cách điểm đặt bóng ít nhất là 9,15m cho tới khi bóng sống (nhằm giữ được tính bất ngờ trong những quả đá phạt). Ngoài ra, thời gian lập hàng rào tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm của điểm đá phạt. Trọng tài có thể cho đội phạm lỗi thêm thời gian để ổn định hậu vệ (hàng rào) nếu tình huống sút đó quá gần vòng 16m50. Thủ môn có quyền kiến nghị với trọng tài khi để thời gian lập hàng rào quá ít. Các cầu thủ nào cố tình ngăn cản hoặc trì hoãn tình huống đá phạt (lập hàng rào) sẽ bị xử phạt tuỳ theo mức độ vi phạm.
Trong trường hợp điểm đá phạt quá gần vòng 16m50, hàng rào có thể không cần giữ đúng khoảng cách 9m15 mà chỉ cần một khoảng cách bằng tối thiểu 1/3 khoảng cách ước lượng từ điểm đặt bóng đến khung thành. Cầu thủ thực hiện đá phạt trực tiếp cũng có thể sút bóng ngay khi trọng tài cho phép nếu không có cầu thủ nào của đối phương đứng trong phạm vi 3m kể từ điểm đá phạt. Các cầu thủ nào cố tình ngăn cản hoặc trì hoãn tình huống đá phạt sẽ bị xử phạt tuỳ theo mức độ vi phạm.
Bóng trở thành bóng sống ngay khi nó được đá lên khu cấm địa. Trong trường hợp đá bóng chạm tay một cầu thủ đang đứng trong hàng rào ở ngoài vòng cấm, quả đá phạt sẽ được thực hiện tiếp tục ở ngay vị trí để bóng chạm tay và nếu điểm chạm tay trong vòng cấm, đó sẽ là một quả phạt đền.
Một bàn thắng có thể được ghi luôn từ một quả đá phạt, nhưng cũng có khi nó chạm hàng rào và bay đi hết đường biên ngang, khi đó thì đội tấn công sẽ có một quả đá phạt góc. Một cầu thủ cũng có thể bị dính bẫy việt vị do đối phương đặt khi đá phạt.
== Cách thực hiện ==
Các cầu thủ thường thực hiện quả đá phạt theo ba cách dưới đây:
Cách thứ nhất: Họ sút bóng bằng mu bàn chân mạnh hết mức có thể. Có thể cho một cầu thủ khác đẩy bóng ra để người đó sút hoặc người đó cũng có thể sút luôn ở vị trí đặt bóng. Đây là kiểu sút quen thuộc của Roberto Carlos, Steven Gerrard, Frank Lampard, Zlatan Ibrahimovic hay John Arne Riise...
Cách thứ hai: Cầu thủ sút bóng bằng lòng trong bàn chân và đưa bóng đi liệng để đánh lừa các thủ môn và hậu vệ đối phương. Những người thường sút quả phạt kiểu này là Xabi Alonso, Xavi Hernandez, David Beckham, Lionel Messi,...
Cách thứ ba, đây là một kiểu sút rất khó, cầu thủ sẽ sút bóng nhẹ nhưng rất xoáy, điều này sẽ gây rất nhiều khó khăn cho các thủ môn. Andrea Pirlo, Juninho... là những chuyên gia trong kiểu sút này.
== Chiến thuật ==
Mỗi đội thường có 1 hay 2 cầu thủ thực hiện quả đá phạt, phụ thuộc vào khoảng cách tới cầu môn và hướng thực hiện. Một cách thực hiện mà nhiều đội bóng thường lựa chọn là trước khi sút bóng, có hai cầu thủ đứng ở điểm đặt bóng và khi trọng tài thổi còi, một người sẽ chạy lên giả vờ đá quả phạt để đánh lừa hàng rào để người thứ hai băng lên dứt điểm. Một cách nữa mà nhiều đội bóng cũng dùng là trước khi đá phạt, họ để một cầu thủ đứng vào hàng rào đối phương. Rồi khi trọng tài thổi còi, cầu thủ đó tránh ra để tạo một khoảng chống cho đồng đội thực hiện quả đá phạt. Cách thứ ba để thực hiện đá phạt là một cách khá khó, cầu thủ đá phạt sẽ thực hiện cú đá phạt chậm một nhịp để đánh lừa cho hàng rào đối phương nhảy lên rồi khi đó sẽ sút bóng sệt đi dưới chân hàng rào. Rất ít cầu thủ sử dụng cách này, những người đã từng thực hiện những quả đá phạt như thế này là Ronaldinho, Xabi Alonso và Rivaldo.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Những pha dàn xếp đá phạt kinh điển |
cạnh tranh.txt | Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác. Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực kinh tế, thương mại, luật, chính trị, sinh thái, thể thao. Cạnh tranh có thể là giữa hai hay nhiều lực lượng, hệ thống, cá nhân, nhóm, loài, tùy theo nội dung mà thuật ngữ này được sử dụng. Cạnh tranh có thể dẫn đến các kết quả khác nhau. Một vài kết quả, ví dụ như trong cạnh tranh về tài nguyên, nguồn sống hay lãnh thổ, có thể thúc đẩy sự phát triển về mặt sinh học, tiến hoá, vì chúng có cơ hội, được cung cấp lợi thế cho sự sống sót, tồn tại.
== Quy mô và mức độ của cạnh tranh ==
Cạnh tranh cũng có thể tồn tại ở các quy mô khác nhau; một vài dạng cạnh tranh có thể xảy ra giữa hai thành viên trong loài, trong khi những sự cạnh tranh khác có thể gồm cả loài.
Mức độ cạnh tranh cũng khác nhau. Ở một số mức độ, sự cạnh tranh, ganh đua có thể có mức độ rất bình thường, nhiều khi chỉ để đạt được sự kiêu hãnh, thắng lợi nhỏ nào đó. Song, một số sự cạnh tranh khác có thể ở mức độ rất cao, cực kỳ quyết liệt, ví dụ một vài cuộc chiến tranh có thể nổ ra do sự cạnh tranh quyết liệt giữa hai đất nước, hai quốc gia hay hai dân tộc
== Xem thêm ==
Cạnh tranh (kinh doanh)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Online and Off line Competition
EU Competition Homepage
OECD Competition Homepage
First Robotics Competition |
samsung b7300.txt | Samsung B7300 (còn được gọi là Omnia Lite) là điện thoại di động sản xuất bởi Samsung và là một phần của dòng sản phẩm Samsung Omnia series. Công bố vào tháng 3 năm 2009, Omnia Lite được phát hành vào tháng 9 năm 2009. Nó dựa trên Omnia và Tocco Ultra.
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Official website
samsung omnia updates |
sân bay jessore.txt | Sân bay Jessore (IATA: JSR, ICAO: VGJR) là một sân bay ở Jessore, Bangladesh. Đây là một sân bay hỗn hợp quân sự và dân sự thuộc quản lý của Cục hàng không dân dụng Bangladesh. Sân bay Jessore có một phi đạo dài 2438 m rải nhựa đường.
== Các hãng hàng không và các tuyến điểm ==
United Airways (Bangladesh) (Dhaka)
GMG Airlines (Dhaka)
Royal Bengal
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Dữ liệu hàng không thế giới thông tin về sân bay cho VGJR
Cục hàng không dân dụng Bangladesh: các sân bay
Các điểm đến |
nợ công hoa kỳ.txt | Nợ công Hoa Kỳ là tổng số nợ của chính phủ liên bang Hoa Kỳ. Số nợ này từ thập niên 1980, ngoại trừ một thời gian ngắn, gia tăng đều đặn, đặc biệt là vào thập niên 2000, phần lớn vì chiến tranh ở Afghanistan và Iraq cũng như vì ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chánh từ năm 2007. Tính tới ngày 29 tháng 11 năm 2011 số nợ công tổng cộng là 14,46 ngàn tỷ USD tương đương với 98,6 % Tổng sản phẩm nội địa. Tính tới ngày 2 tháng 12 năm 2013 là 17,226 ngàn tỷ USD hay trên 100% GDP. 47% số tiền cho vay là từ các nhà đầu tư ngoại quốc, từ Nhật Bản và Trung Quốc mỗi nước trên 1,1 ngàn tỷ.
Theo Bộ Ngân khố Hoa Kỳ số nợ này gồm hai thành phần và một tổng số:
Nợ công chúng, đại diện cho tất cả các trái phiếu liên bang nắm giữ bởi các thể chế hoặc các cá nhân bên ngoài chính phủ liên bang, trong đó có nợ nắm giữ bởi Cục Dự trữ Liên bang và các chính quyền tiểu bang và chính quyền địa phương;
Intragovernmental Holdings, đại diện các trái phiếu Mỹ nắm giữa trái phiếu kho bạc được tổ chức trong tài khoản được quản lý bởi chính phủ liên bang, chẳng hạn như các quỹ OASI Trust quản lý của Cục Quản lý An sinh Xã hội;
Tổng Nợ công tồn động, đó là tổng hợp của các thành phần trên.
Tổng nợ công tăng hoặc giảm như là một kết quả của việc thâm hụt hoặc thặng dư ngân sách thống nhất. Thâm hụt hay thặng dư ngân sách chính phủ là giá trị chênh lệch giữa thu và chi tiền mặt của thâm hụt ngân sách liên bang hoặc thặng dư là sự khác biệt tiền mặt của chính phủ, bỏ qua các chuyển giao trong nội bộ chính phủ. Tuy nhiên, có một số chi tiêu (phân bổ bổ sung) thêm vào tổng nợ nhưng bị loại ra khỏi phần còn thiếu. Thâm hụt ngân sách được trình bày trên tiền mặt hơn là một cơ sở tích lũy, mặc dù thâm hụt phương pháp kế toán cung cấp thông tin về những tác động lâu dài của hoạt động hàng năm của chính phủ.
Tổng nợ đã tăng lên trên 500 đô la Mỹ mỗi năm kể từ năm tài chính 2003, với tăng 1000 tỷ đô la Mỹ trong năm 2008, $ 1,9 nghìn tỷ trong năm 2009, và $ 1,7 nghìn tỷ trong năm 2010. Tại thời điểm ngày 3 tháng 8 năm 2011, tổng nợ công của Hoa Kỳ đạt mức 14,34 nghìn tỷ đô la, trong đó 9,78 nghìn tỷ là nợ tổ chức của công chúng và 4560 tỷ đô la Mỹ được nắm giữ bởi intragovernmental debt holdings. Do cuối quý II năm 2011, GDP của Mỹ là 15.003 nghìn tỷ. Tổng số công cộng tồn động đạt giá trị 100% GDP và nợ của công chúng là 65,2% GDP. Cùng với thâm hụt ngân sách, nợ này là một trong những lý do được đưa ra bởi Standard & Poor's hạ cấp triển vọng tín dụng Hoa Kỳ xuống mức AA + từ mức AAA, với triển vọng tiêu cực trong 12-18 tháng tới, vào ngày 5 tháng 8 năm 2011. Ngày 06 Tháng tám 2011 Standard and Poors hạ cấp tín dụng của Hoa Kỳ đánh giá nợ có chủ quyền AA + cho lần đầu tiên trong lịch sử của quốc gia này
Thâm hụt ngân sách chính phủ không nên nhầm lẫn với thâm hụt thương mại, mà là sự khác biệt giữa nhập khẩu ròng và xuất khẩu ròng.
Cho đến hiện nay, ngày 16 tháng 12 năm 2009 đánh dấu sự bắt đầu của thời kỳ tuần dài trong lịch sử của giới hạn nợ khi trần nợ vượt quá giới hạn theo luật định được ban hành bởi Quốc hội Hoa Kỳ. Đó là trong thời gian này, Bộ Ngân khố Hoa Kỳ gọi việc sử dụng "công cụ kế toán bất thường" mà sau đó có thể sử dụng để cung cấp cho chính phủ một phạm vi của $ 150 tỷ mà sau đó được sử dụng để thanh toán các nghĩa vụ tồn đọng của họ.
Trong Quốc hội Hoa Kỳ hiện nay có một số bất đồng giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa về nợ công Hoa Kỳ. Ngày 02 tháng 8 năm 2011, Tổng thống Barack Obama ký thành luật Đạo luật kiểm soát ngân sách năm 2011, ngăn ngừa một khả năng vỡ nợ có thể xảy ra.
== Tham khảo == |
vườn quốc gia peak district.txt | Peak District là một vùng cao ở Anh ở cuối phía nam dãy Pennines. Nó chủ yếu thuộc phía bắc hạt Derbyshire, nhưng cũng bao gồm các bộ phận của các hạt Cheshire, đại Manchester, Staffordshire và Yorkshire. Một khu vực đa dạng, nó được chia thành: phần phía bắc gọi là Đỉnh Tối, mà hầu hết các vùng là đồng hoang và địa chất là đá grit, và phía nam gọi là Đỉnh Trắng, mà hầu hết người dân đang sinh sống và địa chất chủ yếu là đá vôi.
Công viên quốc gia Peak District là công viên đầu tiên trở thành công viên quốc gia tại Vương quốc Anh năm 1951. Nó gần với các thành phố Manchester và Sheffield, dễ dàng tiếp cận bởi đường bộ và đường sắt, nó thu hút hàng triệu khách mỗi năm.
== Địa lý ==
Công Viên Quốc gia này bao phủ 555 dặm vuông Anh (1.440 km2) diện tích của hạt Derbyshire, Cheshire, đại Manchester và phía Nam và phía Tây Yorkshire. Giới hạn phía bắc nằm dọc theo đường A62 giữa Marsden và Meltham, đông bắc của Oldham, trong khi điểm cực nam của nó là trên đường A52 ở vùng ngoại ô của Ashbourne ở Derbyshire.
== Địa chất ==
Peak District, được hình thành hầu như chỉ từ đá trầm tích có niên đại từ kỷ Than đá. Nó bao gồm đá vôi than, nằm trên đá Grit và cuối cùng là Than. Ngoài ra có vài mỏm của đá macma chứa dung nham, tro núi lửa và miệng núi lửa chứa agglomerat.
Cấu trúc địa chất chung của Peak District là một mái vòm rộng (xem hình dưới đây), có mép phía tây đã bị đứt gãy và uốn rõ rệt. Nâng lên và xói mòn đã làm mất phần đầu mái vòm để lộ một ra cấu trúc đồng tâm với Than đá trên lề phía đông và phía tây, Carbon đá vôi ở lõi và với đá Millstone Grit giữa hai loại. Rìa phía nam của mái vòm được phủ bởi đá cát kết kỷ Trias mặc dù chỉ hơi chạm vào Vườn Quốc gia.
== Sinh thái ==
Đá grit và đá phiến ở Đỉnh Tối hỗ trợ cây thạch nam hoang và vùng đầm lầy che phủ phát triển, vùng đất này chủ yếu được sử dụng để chăn cừu và bắn gà gô trắng. Cao nguyên đá vôi của ở khu Đỉnh Trắng được được canh tác, với việc sử dụng đồng cỏ được cải tạo để chăn bò sữa.
Rừng tạo nên 8% diện tích vườn quốc gia. Có thể thấy rừng cây tự nhiên lá rộng ở những khu thung lũng hẹp và dốc ở phía Đỉnh Trắng và những khe núi phía Đỉnh Tối, trong khu gần những hồ chứa nước thường có các rừng cây lá kim.
== Lịch sử ==
=== Lịch sử cổ xưa ===
Peak District đã có người từ thời kỳ đầu tiên của con người, bằng chứng là dấu tích của Thời đại đồ đá giữa, và bởi bằng chứng cổ địa lý học từ hang động ở Dovedale và những nơi khác. Cũng có cả bằng chứng về Thời kỳ đồ đá mới, bao gồm một số công trình và gò đất ở đồi Margery. Trong thời đại đồ Đồng khu vực này cũng có dân cư và trồng trọt, và bằng chứng của những người sống sót ở hang như Arbor Low gần Youlgreave.
Trong thời đại đồ đồng và Thời đại đồ sắt, một số lượng đáng kể hào lũ như tại Mam Tor đã được tạo ra. Các công trình La Mã thì hiếm nhưng những người La Mã chắc chắn đã khai thác những mạch khoáng chất ở nhiều khu vực. Người La Mã đã định cư ở đây, bao gồm khu ở Buxton mà họ gọi là "Aquae Arnemetiae" vì ở đó có suối nước họ dành riêng cho các vị thần địa phương.
=== Lịch sử hiện đại ===
Sự xâm phạm Kinder năm 1932 là một mốc đánh dấu cho chiến dịch yêu cầu Vương Quốc Anh cho phép tiếp cận vùng cỏ hoang. Vào thời điểm đó, những đồng hoang mở như vậy đều bị đóng cửa; chúng được xác định là bị giữ làm của riêng mà chủ chỉ sử dụng 12 ngày một năm. Công viên quốc gia Peak District trở thành công viên quốc gia đầu tiên của Vương quốc Anh vào ngày 17 tháng 4 năm 1951. Lối đi bộ đường dài đầu tiên ở Vương quốc Anh là Đường Pennine, mở cửa vào năm 1965 và bắt đầu tại Nags Head Inn, Grindsbook Booth, một phần của làng Edale.
Các đồng hoang phía bắc Saddleworth và Wessenden, trên Meltham, đã đạt được sự nổi tiếng trong những năm 1960 là bãi chôn lấp của nhiều trẻ em bị sát hại bởi Ian Brady và Myra Hindley.
== Các hoạt động ==
Peak District có rất nhiều loại hoạt động ngoài trời. Một mạng lưới rộng lớn của các lối đi bộ công cộng và nhiều con đường mòn dài tổng cộng khoảng hơn 1.800 dặm (2.900 km), cũng như các khu vực dễ tiếp cận cho đi bộ đường dài. Đường Pennine nối Đỉnh Tối từ Edale đến ranh giới phía bắc của công viên phía nam Standedge. Đường Bridle thường được sử dụng bởi người đạp xe trên núi, cũng như những tay đua ngựa. Một số trong những con đường mòn dài ở Đỉnh Trắng, như Đường mòn Tissington và đường Đỉnh Cao, tái sử từ đường sắt cũ; chúng được sử dụng bởi người đi bộ, người đi ngựa và đi xe đạp.
Một số hồ chứa lớn của khu vực, ví dụ như Carsington Water, đã trở thành trung tâm thể thao dưới nước, bao gồm đi thuyền, câu cá và chèo thuyền, trong vùng bị bao quanh bởi nhiều đất nhất Vương quốc Anh này. Các hoạt động khác bao gồm thể thao ngoài trời như treo trượt và dù lượn, xem chim, và chạy định hướng.
== Danh lam thắng cảnh ==
=== Các thị trấn và làng ===
Buxton, Matlock và Matlock Bath, Bakewell, và các thị trấn nhỏ Ashbourne và Wirksworth, trên rìa của công viên, tất cả đều cung cấp một loạt các tiện nghi du lịch. Về phía bắc có làng Hayfield nằm ở chân của Kinder Scout- đỉnh cao nhất trong khu vực.
Ngôi làng đẹp như tranh vẽ Castleton, có lâu đài Peveril, có bốn hang động: Peak, Blue John, Treak Cliff, và Speedwell, và là trung tâm sản xuất của các khoáng sản quý Blue John. Còn có các hang động và mỏ khác như Heights of Abraham, tại Matlock Bath, và Cavern Poole ở Buxton. Làng Eyam nổi tiếng về sự cách ly khỏi đại dịch Black Death năm 1665.
== Xem thêm ==
Danh sách các đồi ở Peak District
Rừng của Peak là một khu vực dự trữ săn bắn thời trung cổ
Đồng hoang Derbyshire
== Tham khảo == |
aeritalia g.222.txt | Aeritalia G.222 (trước là Fiat Aviazione, sau là Alenia Aeronautica) là một loại máy bay vận tải quân sự STOL. Nó được phát triển để đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật của NATO. Hoa Kỳ mua và đặt tên là C-27A Spartan.
== Biến thể ==
G.222TCM
G.222A
G.222RM
(Radiomisura - "radio measurements")
G.222SAA
(Sistema Aeronautico Antincendio - "hệ thống chữa cháy trên không")
G.222T
G.222VS
(Versione Speciale - "phiên bản đặc biệt")
C-27A Spartan
C-27J Spartan
== Quốc gia sử dụng ==
Afghanistan
Không quân Lục quân quốc gia Afghan
Argentina
Không quân Lục quân Argentina
Ý
Không quân Ý
Libya
Không quân Libya
Nigeria
Không quân Nigeria
Peru
Cảnh sát quốc gia Peru
Somalia
Quân đoàn không quân Somali
Thái Lan
Không quân Hoàng gia Thái Lan
Tunisia
Không quân Tunisia
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Dubai
Hoa Kỳ
Không quân Hoa Kỳ
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ
Venezuela
Không quân Venezuela
Lục quân Venezuela
== Tính năng kỹ chiến thuật (G.222) ==
Dữ liệu lấy từ Jane's All The World's Aircraft 1988-89
Đặc điểm tổng quát
Kíp lái: 4
Sức chứa: 9.000 kg (19.840 lb) hàng hóa, 53 lính hoặc 36 cáng tải thương
Chiều dài: 22,70 m (74 ft 5½ in)
Sải cánh: 28,70 m (94 ft 2 in)
Chiều cao: 9,80 m (32 ft 1¾ in)
Diện tích cánh: 82 m² (893 ft²)
Trọng lượng rỗng: 14.590 kg (32.165 lb)
Trọng lượng cất cánh tối đa: 28.000 kg (61.730 lb)
Động cơ: 2 × General Electric T64-GE-P4D turboprop, 2.535 kW (3.400 shp) mỗi chiếc
Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: 540 km/h (336 mph, 291 knots) trên độ cao 4.575 m (15.000 ft)
Vận tốc hành trình: 439 km/h (273 mph, 237 knots) trên độ cao 6.000 m (19.700 ft)
Tầm bay: 1.371 km (852 mi, 740 nmi) tải trọng tối đa
Tầm bay chuyển sân: 4.633 km (2.879 dặm, 2.500 nmi)
Trần bay: 7.620 m (25.000 ft)
Vận tốc lên cao: 8,7 m/s (1.705 ft/phút)
== Xem thêm ==
Máy bay có sự phát triển liên quan
C-27J Spartan
Máy bay có tính năng tương đương
Transall C-160
Antonov An-72
== Tham khảo ==
Chú thích
Tài liệu
== Liên kết ngoài ==
G.222/C-27A page on flugzeuginfo.net |
hồ bắc.txt | Hồ Bắc (tiếng Trung: 湖北; bính âm: Húběi , tiếng Vũ Hán: Hŭbě) là một tỉnh ở miền trung của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Giản xưng chính thức của tỉnh Hồ Bắc là "Ngạc" (鄂), lấy theo tên một nước chư hầu thời xưa, sau trở thành đất thuộc nước Sở và nhà Tần, nay nằm ở phía đông của tỉnh. Tên Hồ Bắc ám chỉ về vị trí của tỉnh này nằm ở phía bắc của hồ Động Đình. Giản xưng không chính thức của Hồ Bắc là Sở (楚), gọi theo nước Sở hùng mạnh ở đây vào thời Xuân Thu Chiến Quốc.
Hồ Bắc giáp với Hà Nam về phía bắc, An Huy về phía đông, Giang Tây về phía đông nam, Hồ Nam về phía nam, Trùng Khánh về phía tây, và Thiểm Tây về phía tây bắc. Tỉnh này có đập Tam Hiệp vào hàng lớn nhất thế giới tại Nghi Xương ở phía tây.
== Lịch sử ==
Hồ Bắc có một lịch sử lâu dài, khi khai quật khảo cổ tại Vân huyện, người ta đã phát hiện ra hóa thạch của người Vân Dương (郧阳人) và người Trường Dương (长阳人) thời viễn cổ. Tại di chỉ văn hóa Khuất Gia Lĩnh (屈家嶺文化) đã phát hiện được một số lượng lớn các công cụ bằng đá và đồ gốm thời đại đồ đá mới, phản ánh nền nông nghiệp, đánh bắt cá, săn bắn, thủ công nghiệp của khu vực đã có sự phát triển đáng kể. Từ thời nhà Hạ, văn minh Trung Nguyên đã có ảnh hưởng đến vùng đồng bằng Giang Hán. Đến thời nhà Thương, Hồ Bắc đã được sáp nhập vào cương vực Trung Hoa. Thời Tây Chu, trên địa phận Hồ Bắc là lãnh thổ của nhiều tiểu quốc chư hầu, có thể kể đến là Ngạc, Đặng, Quyền, Nhược (鄀), Tùy (隨), Tằng (曾), La (罗), Vân (郧), Lại (赖), Dong (庸), Đường (唐), Quân (麇), Đam (聃). Đến thời Xuân Thu (770 TCN - 476 TCN), nước Sở nguyên ở Hà Nam ngày nay trở nên lớn mạnh, dần dần thôn tính các nước khác ở phương nam. Đến khoảng cuối thế kỉ thứ 8-đầu thế kỷ thứ 7, nước Sở đã dời quốc đô từ Đan Dương (丹阳, nay thuộc Tích Xuyên của Hà Nam), đến Dĩnh (郢, nay thuộc Dĩnh Châu của Hồ Bắc); Dĩnh vẫn vị thế là quốc đô nước Sở cho đến năm 278 TCN. Nước Sở đã góp phần mở rộng nền văn minh Trung Hoa xuống phía nam song cũng có nhiều nét văn hóa độc đáo. Từ lưu vực Trường Giang, Sở tiếp tục mở rộng lãnh thổ lên bình nguyên Hoa Bắc. Sở Trang Vương là một trong Ngũ Bá thời Xuân Thu.
Đến thời Chiến Quốc (475 TCN - 221 TCN), Sở là một trong Chiến Quốc thất hùng. Theo thời gian, nước Sở và nước Tần trở thành hai nước có lãnh thổ rộng lớn nhất. Trong các cuộc chiến tranh giữa Sở và Tần, Sở đã để mất nhiều đất đai, đầu tiên là tầm ảnh hưởng tại bồn địa Tứ Xuyên, đến năm 278 TCN, thì để mất vùng lãnh thổ lõi là tỉnh Hồ Bắc hiện nay và phải dời quốc đô khỏi đất Dĩnh. Sở sau đó triệt thoái về phía đông song đã bị Tần tiêu diệt hoàn toàn vào năm 223 TCN.
Sau khi Tần thống nhất Trung Quốc, nếu muốn đi xuống phía nam cần qua Hồ Bắc nên vùng đất này đã trở thành yếu đạo về giao thông, nhân khẩu bắt đầu gia tăng. Các vùng đầm lầy tại Hồ Bắc đã được con người tiêu thoát nước để trở thành các vùng đất trồng trọt màu mỡ. Nhà Tần cũng thiết lập các đơn vị quận huyện tại địa phận tỉnh Hồ Bắc hiện nay. Do kị húy của Tần Trang Tương Vương (cha Tần Thủy Hoàng), triều đình nhà Tần đã đổi tên đất Sở thành "Kinh" (荆).
Sau đó, đến thời nhà Hán, tại Hồ Bắc và Hồ Nam ngày nay đã thiết lập nên Kinh châu, đôi khi được gọi hợp lại thành "Kinh Sở". Thời kỳ cuối của nhà Hán, tức đầu thế kỷ thứ 3, Kinh châu do châu mục Lưu Biểu trấn giữ. Sau khi Lưu Biểu mất, Lưu Tông lên làm Kinh châu mục. Khi Tào Tháo đánh vào Kinh châu, Lưu Tông bèn ra hàng Tào Tháo. Sau khi Tào Tháo thua trận Xích Bích, Lưu Bị lấy danh nghĩa tôn Lưu Kỳ làm thứ sử Kinh Châu để đóng quân ở Kinh châu phát triển lực lượng. Trong và sau trận Xích Bích, phía Đông Ngô tổn thất và tốn kém nhân lực hơn phía Lưu Bị nên không bằng lòng việc Lưu Bị chiếm mấy quận Kinh châu, nhưng vì Lưu Kỳ là con Lưu Biểu - người cai trị cũ của Kinh châu - nhân danh làm chủ Kinh châu nên phía Tôn Quyền đành tạm chấp nhận. Kinh châu thời Lưu Biểu nguyên có 7 quận, lúc đó chiến tranh qua lại giữa 3 phe Tào - Tôn - Lưu sau trận Xích Bích, mỗi bên còn giữ một phần: Lưu Bị có 4 quận Linh Lăng, Quế Dương, Trường Sa, Vũ Lăng và một nửa quận Giang Hạ của Lưu Kỳ (con cả Lưu Biểu); Tôn Quyền chiếm được Giang Lăng, nửa quận Giang Hạ và nửa Nam quận; Tào Tháo còn giữ lại quận Nam Dương và nửa Nam quận. Năm 209, khi Lưu Kỳ qua đời, cuộc tranh chấp Kinh châu giữa Tôn Quyền và Lưu Bị lại căng thẳng, Lưu Bị bị mang tiếng "mượn" Kinh châu lâu ngày không trả. Tháng 12 năm 211, từ Kinh châu, Lưu Bị đưa quân đi đánh Ích châu (nay là Trùng Khánh và Tứ Xuyên), Quan Vũ được giao ở lại giữ Kinh châu. Sau đó, trong khi Quan Vũ mải đánh Vu Cấm (một tướng của Tào Tháo) thì Tôn Quyền sai Lã Mông mang quân đánh úp Kinh châu. Trong vài thập kỉ sau đó, Kinh châu hoàn toàn do Đông Ngô nắm giữ.
Đến thời Tây Tấn, các bộ lạc du mục phía bắc Trung Quốc nổi nên và đến đầu thế kỷ thứ 4 đã xâm nhập vào Trung Nguyên, khởi đầu cho gần 300 năm Trung Quốc bị phân liệt. Trong thời gian đó, phía bắc Trung Quốc là những quốc gia và triều đại của các dân tộc du mục (song bị Hán hóa ở các mức độ khác nhau), còn phía nam Trung Quốc do các triều đại của người Hán cai quản. Hồ Bắc thuộc miền Nam và nằm dưới quyền cai trị của Đông Tấn và các Nam triều. Sau loạn Hầu Cảnh, vào tháng 11 năm 552, Tiêu Dịch đã xưng đế ở Giang Lăng, tức Lương Nguyên Đế. Tuy nhiên, sau đó đại quân Tây Ngụy đã chiếm được Giang Lăng, bắt sống các tướng cùng Lương Nguyên Đế, giao cho Tiêu Sát trông giữ và sau đó hành hình Lương Nguyên Đế cùng các tôn thất nước Lương tại đây. Bách tính Giang Lăng hơn 1 vạn người bị Tây Ngụy chia cho tướng sĩ làm nô lệ và bị dẫn hết về Quan Trung. Khi thành Giang Lăng bị bao vây, Lương Nguyên Đế đã ra lệnh thiêu hủy 14 vạn quyển sách rất có giá trị, gây tổn thất cho kho tàng văn hóa Trung Quốc. Tây Ngụy đem Giang Lăng giao cho Tiêu Sát coi giữ, sau đó Tiêu Sát thành lập nước Hậu Lương, tức Lương Tuyên Đế, đóng đô ở Giang Lăng, thần phục nhà Tây Ngụy, tồn tại cho đến năm 587.
Sau khi nhà Tùy thống nhất Trung Quốc, ngoại trừ khu vực phía tây bắc và góc phía đông, tuyệt đại bộ phận Hồ Bắc hiện nay thuộc Kinh châu, gồm các quận Nam, Di Lăng, Cạnh Lăng, Miện Dương, Thanh Giang, Tương Dương, Thung Lăng, Hán Giang, An Lục, Vĩnh An, Giang Hạ. Đến năm Khai Hoàng thứ 9 (589) thời Tùy Văn Đế, Giang Hạ quận trong một thời gian đã được đổi tên thành Ngạc Châu, sau đó Ngạc Châu trở thành tên trị sở của quận này. Giản xưng "Ngạc" hiện nay của Hồ Bắc bắt nguồn từ đây.
Sau khi nhà Đường thay thế nhà Tùy vào năm 617, toàn quốc được chia thành 10 đạo, tây bộ Hồ Bắc thuộc Sơn Nam Đông đạo còn đông bộ Hồ Bắc thuộc Hoài Nam đạo, đông nam bộ Hồ Bắc thuộc Giang Nam Tây đạo còn tây nam bộ của Hồ Bắc thuộc Kiềm Trung đạo. Trên địa phận Hồ Bắc khi đó có 15 châu. Về sau địa bàn Hồ Bắc hiện nay bị phân chia giữa Sơn Nam Đông đạo tiết độ sứ, Kinh Nam tiết độ sứ và Vũ Xương tiết độ sứ. Trong khoảng thời gian này, Hồ Bắc đã trở thành một trong những khu vực đứng đầu về sản xuất ngũ cốc tại Trung Quốc. Sản xuất và mậu dịch trà, cam quýt và các sản vật khác phát triển rất mạnh. Phát triển kinh tế cũng kéo theo sự phát triển về văn hóa, các thi nhân nổi tiếng đương thời như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Mạnh Hạo Nhiên, Sầm Than, Lục Vũ, Bì Nhật Hưu khi đi ngao du vùng Kinh Sở đã cho ra đời nhiều thi thiên tráng lệ.
Thời Ngũ Đại Thập Quốc (907-960), bảy châu là Tương, Quân, Phòng, Tùy, Dĩnh, Phục, An tại Hồ Bắc thuộc quyền cai quản của Ngũ Đại; còn các châu Hoàng, Kì, Ngạc thì ban đầu thuộc nước Ngô, sau thuộc nước Nam Đường; hai châu Hoàng, Kì về sau lại rơi vào tay triều Hậu Chu; nước Nam Bình nằm ở khu vực Giang Lăng, chiếm cứ ba châu Kinh, Quy, Hạp; riêng châu Thi thì thuộc Thục.
Nhà Tống đã tái thống nhất Trung Quốc vào năm 982, sau đó đặt Kinh Hồ Bắc lộ (giản xưng là Hồ Bắc lộ, tên gọi Hồ Bắc ra đời từ đây) tại đại bộ phận Hồ Bắc hiện nay, lộ này có các châu Ngạc, Phục, Hạp, Quy và Giang Lăng phủ, Đức An phủ, cùng với Kinh Môn quân, Hán Dương quân. Ở bắc bộ Hồ Bắc, triều đình thiết lập Kinh tây nam lộ, gồm các châu Tùy, Kim, Phòng, Quân, Dĩnh cùng Tương Dương phủ và Quang Hoa quân. Đông bộ Hồ Bắc lấy Trường Giang làm ranh giới, phía bắc thuộc Hoài Nam Tây lộ, gồm hai châu Kì và Hoàng; phía nam thuộc Giang tây nam lộ, gồm Hưng Quốc quân; Thi châu ở tây bộ Hồ Bắc thuộc Quỳ Châu lộ. Đến cuối thời Bắc Tống, quân Kim Nữ Chân xâm nhập phương Bắc, chiến loạn xảy ra, vì thế có rất nhiều người đã di cư xuống phương Nam. Những di dân đem theo cả nền văn hóa và kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến từ phương Bắc xuống, Hồ Bắc vì thế dần trở nên phồn vinh, trở thành vùng sản xuất lương thực trọng điểm.
Sau khi quân Mông Cổ tiêu diệt cả hai triều Kim, Tống và lập ra nhà Nguyên, đã thiết lập các hành tỉnh làm đơn vị hành chính cấp một. Hồ Bắc khi đó bị phân chia giữa Hà Nam Giang Bắc đẳng xứ hành trung thư tỉnh (河南江北等处行中书省) và Hồ Quảng đẳng xứ hành trung thư tỉnh (湖广等处行中书省). Hồ Quảng hành tỉnh bao gồm đông nam bộ Hồ Bắc và các tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây, Hải Nam và góc tây nam của Quảng Đông hiện nay. Tại phần đông nam bộ Hồ Bắc, triều đình nhà Nguyên đã thiết lập Vũ Xương lộ, Hưng Quốc lộ (Dương Tân) và Hán Dương phủ. Vũ Xương là thủ phủ của Hồ Quảng hành tỉnh, cũng là trung tâm về nông sản của lưu vực Lưỡng Hồ. Đại bộ phận Hồ Bắc thuộc Hà Nam Giang Bắc hành tỉnh, trên địa bàn có Tương Dương lộ, Hoàng Châu lộ, Kì Châu lộ, Hạp Châu lộ (Nghi Xương), Trung Hưng lộ (Kinh Châu) và các phủ Đức An, Miện Dương và An Lục (Chung Tường).
Thời Minh sơ, Hồ Bắc thuộc Hồ Quảng hành tỉnh. Về sau, triều đình chia toàn quốc thành 13 bố chính sứ ti, toàn bộ Hồ Bắc hiện nay về cơ bản thuộc Hồ Quảng thừa tuyên bố chánh sử ti (湖广承宣布政使司), trị sở tại Giang Hạ (nay là Vũ Xương thuộc Vũ Hán). Trên địa bàn Vũ Hán khi đó có các phủ Vũ Xương, Hán Dương, Hoàng Châu, Thừa Thiên, Đức An, Kinh Châu, Tương Dương và Vân Dương. Thời Minh mạt, sau khi Hán Thủy đổi dòng, tại Hồ Bắc đã hình thành nên các thành trấn thương nghiệp mới nổi Hán Khẩu tại vùng bờ lõm phía bắc của dòng chảy mới, thu hút một số lớn bang thương nhân từ Huy Châu, Sơn Tây, Giang Tây đến kinh doanh muối, trà, gỗ, thuốc chữa bệnh và các mặt hàng khác. Khu đô thị ven bờ bắc Hán Thủy trải dài 20 lý, là một trong tứ đại danh trấn đương thời.
=== Thời Thanh ===
Năm Khang Hi thứ 3 (1664) thời nhà Thanh, Hồ Quảng bố chính sứ ti được phân thành tả và hữu bố chính sứ ti, đến năm Khang Hi thứ 6 (1667), Hồ Quảng tả và hữu bố chính sử ti đổi tên thành Hồ Bắc bố chính sứ ti và Hồ Nam bố chính sứ ti. Hồ Bắc và Hồ Nam ổn định về ranh giới và tên gọi từ đó. Hồ Bắc đặt trị sở tại Vũ Xương. Thời Thanh, ban đầu tỉnh Hồ Bắc được phân thành 8 phủ là Vũ Xương, Hán Dương, Hoàng Châu, An Lục, Đức An, Kinh Châu, Tương Dương, Vân Dương, đến cuối thời Thành thì tỉnh Hồ Bắc tổng cộng có 10 phủ là Vũ Xương, Hán Dương, Kinh Châu, Tương Dương, Hoàng Châu, An Lục, Đức An, Vân Xương, Nghi Xương, Thi Nam và Kinh Môn trực lệ châu.
Năm 1860, Chiến tranh Nha phiến lần thứ hai kết thúc, tư bản ngoại quốc đổ vào các khu vực ven Trường Giang, Hán Khẩu trở thành một thương cảng hiệp ước, theo đó thiếp lập tô giới Anh tại Hán Khẩu ở hạ du thị trấn cũ. Từ năm 1895 đến 1898, lại tiếp tục thiết lập tô giới Đức tại Hán Khẩu, tô giới Nga tại Hán Khẩu, tô giới Pháp tại Hán Khẩu, tô giới Nhật tại Hán Khẩu. Ngoài ra, vào các năm 1877 và 1896, Nghi Xương và Sa Thị cũng trở thành các thương cảng hiệp ước.
Trong cùng thời kỳ đó, Dương Vụ vận động (洋务运动, nghĩa là phong trào Tây hóa) đã nổi lên, tổng đốc Hồ Quảng Trương Chi Động khi nhậm chức đến Hồ Bắc đã cho thiết lập một số lượng lớn các xí nghiệp theo kiểu Tây, như xưởng luyện thép Hán Dương, xưởng công binh Hán Dương. Ông cũng đã thành lập Xưởng dệt tứ cục Hồ Bắc bao gồm dệt vải, kéo sợi, ươm tơ, chế biến gai. Ông còn lập kế hoạch xây dựng đường sắt Lô Hán (sau đổi tên là Kinh Hán, xây dựng từ năm 1896, hoàn thành năm 1905) nối liền hai miền nam bắc. Hồ Bắc trở thành một trong những tỉnh công nghiệp chủ yếu của Trung Quốc.
=== Thời Trung Hoa Dân Quốc ===
Thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc, Hồ Bắc không có nhiều thay đổi về mặt hành chính tổng thể, các phủ, châu và thính đều được chuyển thành huyện. Đến năm 1949, Hồ Bắc có 1 thị (Vũ Xương), 8 khu đốc sát hành chính, 69 huyện. Hán Khẩu khi thì là một thành phố thuộc tỉnh, khi thì là một thành phố đặc biệt trực thuộc chính phủ trung ương. Từ năm 1927 trở đi, Cộng sản đảng bắt đầu tiến hành cách mạng vũ trang, thiết lập các chính quyền Xô viết. Đầu năm 1927, một thời gian ngắn trước khi Tưởng Giới Thạch chiếm giữ được Thượng Hải và chuyển thủ đô về Nam Kinh, phe cánh tả trong Quốc Dân đảng Uông Tinh Vệ đã tuyên bố thủ đô của chính quyền Dân quốc là Vũ Hán. Trong khi cố gắng chỉ đạo chính phủ từ Vũ Hán, Uông đã cộng tác chặt chẽ với những nhân vật cộng sản hàng đầu, bao gồm Mao Trạch Đông, Trần Độc Tú, và Mikhail Markovich Borodin. Tưởng Giới Thạch chiếm được Thượng Hải vào tháng 4 năm 1927, và bắt đầu một cuộc đàn áp đẫm máu đối với cộng sản gọi là thanh đảng. Trong vòng vài tuần lễ Tưởng đàn áp cộng sản tại Thượng Hải, chính phủ cánh tả của Uông đã bị một quân phiệt liên kết với Quốc Dân đảng tấn công và bị tan rã, điều này đã khiến Tưởng Giới Thạch trở thành lãnh đạo hợp pháp duy nhất của Trung Hoa Dân quốc. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nửa phía đông của Hồ Bắc bị quân Nhật xâm chiếm trong khi nửa phía tây vẫn nằm trong tay các lực lượng Trung Quốc.
=== Thời Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ===
Trong Cách mạng Văn hóa, Vũ Hán là một trong những trọng điểm hoạt động của Hồng vệ binh. Do lo ngại có thể xảy ra chiến tranh hạt nhân trong thời điểm các xung đột biên giới Trung-Xô vào cuối thập niên 1960, chính quyền Trung Quốc khi đó đã lựa chọn Hàm Ninh làm nơi để xây dựng công trình 131, tên gọi "131" này là do nó được quyết định xây dựng vào ngày 31 tháng 1 năm 1969. Hệ thống đường hầm được thường thuật là dài 456 mét, và có chi phí xây dựng là 130 triệu NDT với mục đích sẽ trở thành trung tâm đầu não của đất nước khi chiến tranh hạt nhân xảy ra. Hồ Bắc nói chung và Vũ Hán nói riêng đã phải hứng chịu ảnh hưởng nặng nề của các trận lụt Trường Giang vào năm 1954. Sau đó, các dự án xây đập quy mô lớn đã được triển khai, đập Cát Châu Bá (葛洲坝) trên Trường Giang đã bắt đầu được xây dựng từ năm 1970 và hoàn thành vào năm 1988; việc xây dựng đập Tam Hiệp ở xa hơn về thượng nguồn đã bắt đầu vào năm 1993 và ngoại trừ thang nâng tàu, đập này đã hoàn thành với đầy đủ chức năng vào tháng 4 năm 2012. Công trình đập Tam Hiệp đã khiến 1,3 triệu cư dân, nó trị giá 60 tỷ USD và là công trình thủy điện lớn nhất thế giới.
== Địa lý ==
Hồ Nam thuộc khu vực Hoa Trung, do nằm ở phía nam giới tuyến "Tần Lĩnh-Hoài Hà" nên Hồ Nam thuộc miền Nam Trung Quốc. Đồng bằng Giang Hán chiếm phần lớn trung bộ và đông bộ của Hồ Bắc, cùng với đồng bằng hồ Động Đình của Hồ Nam tạo thành một dải đồng bằng thống nhất. Trên vùng tây bộ và các vùng giáp ranh của Hồ Bắc thì có địa hình nhiều đồi núi hơn. phía tây Hồ Bắc, gần như theo thứ tự từ bắc xuống nam, là các dãy Vũ Đang Sơn, Kinh Sơn (荆山), Đại Ba Sơn (大巴山), Vu Hiệp (巫峡). Dãy Đại Biệt Sơn nằm ở phía đông bắc đồng bằng Giang Hán, tại vùng giáp giới giữa Hồ Bắc với hai tỉnh Hà Nam và An Huy. Dãy Đồng Bách Sơn (桐柏山) nằm ở phía bắc, trên ranh giới giữa Hồ Bắc và Hà Nam. Ở phía đông nam, dãy Mạc Phụ Sơn (幕阜山) tạo thành ranh giới giữa Hồ Bắc và Giang Tây. Đỉnh cao nhất tại Hồ Bắc là đỉnh Thần Nông (神农顶) với cao độ 3.105 m thuộc Đại Biệt Sơn và nằm trên địa phận của lâm khu Thần Nông Giá. Núi non chiếm 55,5% diện tích toàn tỉnh, vùng gò đồi và đồng ruộng chân đồi chiếm 24,5%, vùng đồng bằng và hồ chiếm 20%.
Hai sông lớn tại Hồ Bắc là Trường Giang và phụ lưu tả ngạn của nó là Hán Thủy, đồng bằng Hán Thủy lấy theo tên của hai con sông này. Trường Giang tiến vào Hồ Bắc từ phía tây qua Tam Hiệp, tổng chiều dài đoạn chảy qua Hồ Bắc là 1061 km; nửa phía đông của Tam Hiệp, tức Tây Lăng Hiệp (西陵峡) và một phần Vu Hiệp, nằm ở tây bộ của Hồ Bắc, trong khi nửa phía tây của Tam Hiệp thuộc về Trùng Khánh. Hán Thủy tiến vào Hồ Bắc từ tây bắc, đoạn chảy qua Hồ Bắc dài 878 km. Sau khi chảy qua một đoạn lớn trên địa bàn Hồ Bắc, hai sông này hợp dòng tại tỉnh lị Vũ Hán. Trường Giang chảy dọc theo chiều đông-tây của tỉnh, Hồ Bắc nằm ở cả hai bên sông ngoài một đoạn khi sông tạo thành ranh giới tự nhiên giữa Hồ Nam và Hồ Bắc. Trong số các chi lưu nổi tiếng của Trường Giang, có suối Thần Nông (神农溪), song nó đã bị ảnh hưởng từ công trình đập Tam Hiệp; sông Thanh (清江), một tuyến thủy đạo chính ở tây nam Hồ Bắc; sông Hoàng Bách (黄柏河) gần Nghĩa Xương; và Phú Thủy (富水) ở phía đông nam tỉnh.
Có hàng nghìn hồ nước nằm rải rác tại vùng đồng bằng Giang Hán của Hồ Bắc, vì thế tỉnh còn có biệt hiệu là "vùng hồ Hoa Trung" (华中屋脊). Các hồ lớn nhất trong số đó là hồ Lương Tử (梁子湖; 304,3 km²) và Hồng Hồ (洪湖, 348 km²). Nhiều đập thủy điện đã tạo nên các hồ chứa lớn, lớn nhất trong số đó là hồ chứa Đan Giang Khẩu (丹江口水库) trên Hán Thủy, ở ranh giới giữa Hồ Bắc và Hà Nam. Đông Hồ ở Vũ Hán với diện tích 33,7 km² là hồ đô thị lớn nhất Trung Quốc, diện tích gấp 6 lần Tây Hồ của Hàng Châu.
Hồ Bắc có khí hậu cận nhiệt đới ẩm (Cfa hay Cwa theo phân loại khí hậu Köppen), với bốn mùa rõ rệt. Mùa đông tại Hồ Bắc mát hoặc lạnh, với nhiệt trung bình là 1 đến 6 °C (34 đến 43 °F) vào tháng giêng, trong khi mùa hè nóng và ẩm, với nhiệt độ trung bình là 24 đến 30 °C (75 đến 86 °F) vào tháng 7; tỉnh lị Vũ Hán đôi khi có nhiệt độ lên đến 40 °C (104 °F) hoặc cao hơn. Các khu vực núi non ở phía tây Hồ Bắc, đặc biệt là Thần Nông Giá, có mùa hè mát mẻ hơn, vì thế đã thu hút nhiều du khách từ Vũ Hán và các thành phố vùng thấp khác.
== Nhân khẩu ==
Năm 2011, số nhân khẩu thường trú của tỉnh Hồ Bắc là 57,6 triệu người, trong đó nam có 19,56 triệu người (51,34%), nữ là 28,02 triệu người (48,66%). Số người trong độ tuổi 0-14 tuổi là 7,99 triệu người (13,88%), từ 15-64 tuổi là 44,33 triệu người (77%), số người trên 65 tuổi là 5,25 triệu người (9,12%). Năm 2010, tuổi thọ bình quân của cư dân Hồ Nam là 75,9 năm. Riêng công trình đập Tam Hiệp đã khiến 1,3 triệu cư dân phải tái định cư. Dân cư Hồ Bắc tập trung cư trú tại đồng bằng Giang Hán.
Tỉnh Hồ Bắc có thành phần dân tộc đa dạng. Theo tổng điều tra nhân khẩu lần thứ 6 vào năm 2010, số người thuộc các dân tộc thiểu số tại Hồ Bắc là 2.468.500 người người, chiếm 4,31% tổng dân số toàn tỉnh. Trong số các dân tộc thiểu số, những dân tộc có dân số trên 10.000 người tại Hồ Bắc là người Thổ Gia (2,1 triệu), người Miêu (177.000), người Hồi (67.000), người Động (52.000), người Mãn (13.000), người Choang (12.000) và người Mông Cổ (~10.000). Tỉnh Hồ Bắc có châu tự trị Ân Thị của người Thổ Gia và Miêu, 2 huyện tự trị là Trường Dương và Ngũ Phong của người Thổ Gia, ngoài ra còn có 12 hương trấn dân tộc của các dân tộc Hồi, Thổ Gia, Động, Bạch và 20 thôn/nhai dân tộc. Tổng diện tích các khu vực tự trị dân tộc của Hồ Bắc là 30.000 km², chiếm khoảng 1/6 diện tích của tỉnh; tổng dân số của các địa phương tự trị dân tộc là 3,87 triệu, chiếm 6,76% tổng dân số toàn tỉnh.
Cư dân Hồ Bắc chủ yếu nói Quan thoại tây nam, Quan thoại Giang Hoài và tiếng Cám.
== Các đơn vị hành chính ==
Hồ Bắc được chia ra 13 đơn vị cấp địa khu (trong đó có 12 địa cấp thị và 1 châu tự trị), cũng như 3 Trung Quốc trực thuộc và một khu rừng cấp huyện trực thuộc.
Các đơn vị trên được chia ra thành 102 đơn vị cấp huyện (38 quận nội thành, 24 thành phố cấp huyện, 37 huyện, 2 huyện tự trị, một lâm khu). Các đơn vị này lại được chia ra thành 1234 đơn vị cấp hương (737 trấn, 215 hương, 9 hương dân tộc và 273 nhai đạo).
== Kinh tế ==
Nắm 2011, tổng GDP của Hồ Bắc là 1,96 nghìn tỉ NDT, tăng trưởng 13,8% so với năm trước đó và là năm thứ 8 liên tục tăng trưởng hai con số. Trong đó, khu vực một của nền kinh tế đạt giá trị 256,9 tỉ NDT, tăng trưởng 4,4%; khu vực hai của nền kinh tế đạt giá trị 981,9 tỉ NDT, tăng trưởng 17,9%; khu vực ba của nền kinh tế đạt giá trị 853,8 tỉ NDT, tăng trưởng 19,1%. Tỉ lệ giữa ba khu vực của nền kinh tế biến đổi từ 13,6:49,1:37,3 vào năm 2009 thành 13,1:50,1:36,8 vào năm 2011.
Hồ Bắc là khu vực quá độ giữa nền nông nghiệp sản xuất lúa mì ở phía bắc và nền nông nghiệp sản xuất lúa gạo ở phía nam, vì thế có thể trồng một vụ lúa gạo, một vụ lúa mì. Đặc biệt, ở nam bộ Hồ Bắc, còn trồng thêm được vụ màu thứ ba, do vậy sản lượng nông nghiệp ở mức cao. Do Hồ Bắc có nhiều hồ, nuôi trồng thủy sản là một thế mạnh của tỉnh, và là một trong ba tỉnh nuôi trồng thủy sản nước ngọt lớn nhất Trung Quốc. Ngoài ra, nguồn lợi thủy sản tại Trường Giang cũng phong phú. Hồ Bắc thường được gọi là "ngư mễ chi hương" (鱼米之乡), nghĩa đen là vùng đất của cá và gạo, nghĩa bóng có nghĩa là vùng đất sung túc. Các loại nông sản có thế mạnh khác của Hồ Bắc là bông và trà. Năm 2011, giá trị nông lâm mục ngư nghiệp của Hồ Bắc đạt 256,9 tỉ NDT, tăng trưởng 4,4% so với năm trước. Tổng sản lượng lương thực đạt 23,89 triệu tấn, liên tục 8 năm liền được mùa, so với năm trước thì sản lượng tăng 3,14%.
Các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ tại Hồ Bắc cũng đạt được những bước phát triển nhất định, giá trị sản lượng công nghiệp chiếm hơn một nửa tổng GDP. Trong đó, các ngành công nghiệp nặng tập trung nhiều tại Vũ Hán, Nghi Xương, Hoàng Thạch, Tương Dương và Thập Yển. Các công ty, tập đoàn lớn của Trung Quốc đặt trụ sở tại Hồ Bắc có thể kể đến như Công ty Tập đoàn Gang thép Vũ Hán (Wuhan Iron and Steel), Công ty Ô tô Đông Phong (Dongfeng Motor). Năm 2011, giá trị quy mô ngành công nghiệp toàn tỉnh Hồ Bắc là 856 tỉ NDT, so với năm trước tăng tới 226 tỉ NDT, đạt tốc độ tăng trưởng 20,5%. Các mặt hàng công nghiệp chính của Hồ Bắc là ô tô, sắt thép, hóa dầu, chế biến thực phẩm, thông tin điện tử, dệt may, sản xuất thiết bị và vật liệu xây dựng. Trong năm 2011, đã có 339 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài mới được phê duyệt; với số vốn ký kết đạt 4,97 tỷ USD, số vốn giải ngân trên thực tế là 4,66 tỷ USD.
Hồ Bắc là tỉnh có tài nguyên khoáng sản phong phú, trên toàn tỉnh đã phát hiện được 136 chủng loại khoáng sản, chiếm khoảng 81% chủng loại khoáng sản đã được tìm thấy tại Trung Quốc. Trong đó đã xác minh được trữ lượng của 87 chủng loại khoáng sản, chiếm 56% của cả nước. Theo biểu trữ lượng khoáng sản tỉnh Hồ Bắc, tỉnh có 956 khu khai khoáng, 1287 điểm khoáng sản. Một số loại khoáng sản trên địa bàn Hồ Bắc là borac, wollastonite, đá thạch lựu, marl, sắt, phốtpho, đồng, thạch cao, rutile, thạch diêm, hỗn hợp vàng, mangan, vanadi và hongshiite (có chứa đồng và bạch kim), đá vôi. Trữ lượng than đá có thể khai thác của Hồ Bắc là 548 triệu tấn, khá khiêm tốn so với các tỉnh khác của Trung Quốc. Ngoài ra, Hồ Bắc cũng có các mỏ ngọc lam nguyên chất và faustite lục (một loại khoáng sản có chứa nhôm, đồng, hydro, oxy, phốt pho, và kẽm).
Khi hoàn thành, đập Tam Hiệp là công trình thủy điện hàng đầu thế giới. Tổng công suất phát điện của công trình này là 22.500 MW. Cùng với chức năng sản xuất điện, công trình còn giúp ngăn lũ lụt, tăng cường năng lực vận chuyển ở vùng hạ du của Trường Giang. Một số đập thủy điện khác tại Hồ Bắc là đập Cát Châu Bá (葛洲坝水利枢纽), đập Đan Giang Khẩu (丹江口大坝), đập Cách Hà Nham (隔河岩大坝), đập Phú Thủy (富水大坝).
== Giao thông ==
=== Đường sắt ===
Đến cuối năm 2011, tổng chiều dài đường sắt của Hồ Bắc là 3.340 km. Cũng trong năm này, mạng lưới đường sắt Hồ Bắc đã vận chuyển được 85 triệu lượt người, và vận chuyển được 100,59 triệu tấn hàng hóa. Các tuyến đường sắt trên địa bàn Hồ Bắc là:
Đường sắt Kinh-Quảng (京广铁路), từ Bắc Kinh đến Quảng Châu.
Đường sắt Vũ-Quảng (武广高铁), đường sắt cao tốc từ Vũ Hán đến Quảng Châu.
Đường sắt Kinh-Cửu (京九铁路), từ Bắc Kinh đến Hồng Kông
Đường sắt Hán-Đan (襄渝铁路), từ Vũ Hán đến Đan Giang Khẩu
Đường sắt Tương-Du (襄渝铁路), từ Tương Dương đến Trùng Khánh
Đường sắt Tiêu-Liễu (焦柳铁路), từ Tiêu Tác (Hà Nam) đến Liễu Châu (Quảng Tây)
Đường sắt Nha-Nghi (鸦宜铁路), từ trấn Nha Tước Lĩnh (鸦宜铁) của huyện Di Lăng đến Nghi Xương
Đường sắt Nghi-Vạn (宜万铁路), từ Nghi Xương đến Vạn Châu (Trùng Khánh)
Đường sắt Hán-Nghi (汉宜铁路), từ Vũ Hán đến Nghi Xương
Đường sắt Hợp-Vũ (合武铁路), từ Hợp Phì đến Vũ Hán
Đường sắt Vũ-Cửu (武九铁路), từ Vũ Hán đến Cửu Giang (Giang Tây)
Đường sắt Vũ-Ma (武麻铁路), nối giữa đường sắt Kinh-Quảng và đường sắt Kinh-Cửu tại Hồ Bắc, từ Vũ Hán đến Ma Thành
Đường sắt Trường-Kinh (武麻铁路), nối đường sắt Hán-Đan với phụ trạm Trường Giang.
=== Đường bộ ===
Trong năm 2011, mạng lưới công lộ của Hồ Bắc đã vận chuyển được 1,05 tỉ triệu lượt hành khách và vận chuyển được 827,4 triệu tấn hàng hóa. Tính đến năm này, toàn tỉnh Hồ Bắc có 4007 km đường bộ cao tốc.
Quốc lộ
Quốc lộ 316, từ Phúc Châu đến Lan Châu
Quốc lộ 318, từ Thượng Hải đến biên giới Trung Quốc-Nepal thuộc trấn Zangmu, huyện Nyalam, Tây Tạng
Quốc lộ 106, từ Bắc Kinh đến Quảng Châu
Quốc lộ 107, từ Bắc Kinh đến Thâm Quyến
Quốc lộ 207, từ Xilinhot (Nội Mông) đến Từ Văn (Quảng Đông)
Quốc lộ 209, từ Hohhot (Nội Mông) đến Bắc Hải (Quảng Tây)
Đường bộ cao tốc
Đường cao tốc Kinh-Cảng-Áo (京港澳高速公路), từ Bắc Kinh đến Hồng Kông và Macau
Đường cao tốc Đại-Quảng (大广高速公路), từ Đại Khánh (Hắc Long Giang) đến Quảng Châu
Đường cao tốc Hỗ-Dong (沪蓉高速公路), từ Thượng Hải đến Thành Đô
Đường cao tốc Phúc-Ngân (福银高速公路), từ Phúc Châu đến Ngân Xuyên
=== Đường thủy ===
Trong năm 2011, hệ thống giao thông đường thủy của tỉnh Hồ Bắc đã vận chuyển được 3,48 triệu lượt hành khách, vận chuyển được 173,58 triệu tấn hàng hóa. Trong đó, hai tuyến thủy đạo chính là Trường Giang và Hán Thủy. Tại Hồ Bắc có trên 20 cầu vượt Trường Giang.
=== Đường không ===
Năm 2011, chi nhánh Hồ Bắc của ba công ty lớn là Air China, China Eastern Airlines và China Southern Airlines đã vận chuyển được 9,1 triệu lượt hành khách, khối lượng hàng hóa vận chuyển là 94.300 tấn. Hồ Bắc có bốn sân bay dân dụng lớn và trung bình là: sân bay quốc tế Thiên Hà Vũ Hán (sân bay trung tâm của vùng Hoa Trung), sân bay Tam Hiệp Nghi Xương, sân bay Lưu Tập Tương Phàn, sân bay Hứa Gia Bình Ân Thi
== Giáo dục ==
Thủ phủ Vũ Hán của tỉnh Hồ Bắc là một trong 5 trung tâm giáo dục lớn nhất Trung Quốc.
Trực thuộc Bộ Giáo dục Trung Quốc
Đại học Vũ Hán (武汉大学)
Đại học Khoa học-Kỹ thuật Hoa Trung (华中科技大学)
Đại học Khoa học-Công nghệ Vũ Hán (武汉理工大学)
Đại học Địa chất Trung Quốc (中国地质大学), khu trường sở Vũ Hán
Đại học Sư phạm Hoa Trung (华中师范大学)
Đại học Pháp luật-Chính trị-Kinh tế-Tài chính Trung Nam (中南财经政法大学)
Đại học Nông nghiệp Hoa Trung (华中农业大学)
Đại học Dân tộc Trung Nam (中南民族大学)
Trường quân sự
Học viện Kinh tế Quân sự (军事经济学院)
Đại học Công trình Hải quân (海军工程大学)
Học viện Radar Không quân (空军雷达学院)
Học viện Chỉ huy Pháo binh số 2 (第二炮兵指挥学院)
Học viện Chỉ huy Thông tín (通信指挥学院)
Học viện Chỉ huy Cảnh sát vũ trang Vũ Hán (武警武汉指挥学院)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ (tiếng Hoa) |
tan ca mời chị em ra họp thi thợ giỏi.txt | Tan ca mời chị em ra họp thi thợ giỏi là một tác phẩm tranh sơn dầu của họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung sáng tác năm 1976. Tác phẩm lấy đề tài quen thuộc của trào lưu Hiện thực xã hội chủ nghĩa là hình ảnh người công nhân trong nhà máy. Được sáng tác chỉ một năm trước khi Nguyễn Đỗ Cung qua đời, Tan ca mời chị em ra họp thi thợ giỏi đã được trao giải Nhất tại Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 1976, bức tranh cũng được coi là một tác phẩm có giá trị cao trong bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
== Mô tả ==
Bối cảnh của Tan ca mời chị em ra họp thi thợ giỏi là một nhà máy dệt với trung tâm là một nữ công nhân có vẻ mặt tươi tắn đang giơ cao tay mời mọi người ở lại họp sau giờ tan ca. Ở hai bên của người nữ công nhân (có lẽ là tổ trưởng) còn có hai nữ công nhân khác, trong đó có một người không rõ mặt, đang làm việc. Gam màu chủ đạo của tác phẩm là màu sáng với nhiều mảng màu trắng trên nền vàng.
== Lịch sử ==
Tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa 1929-1934, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung sớm tham gia vào các phong trào yêu nước như Hội Văn hóa Cứu quốc và trở thành đại biểu của Quốc hội Việt Nam khóa I. Bên cạnh công việc nghiên cứu và quản lý ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, ông sáng tác nhiều tác phẩm lấy đề tài cổ động yêu nước. Từ thập niên 1960, tranh sơn dầu của Nguyễn Đỗ Cung tập trung chủ yếu về đề tài công nhân với các tác phẩm đáng chú ý như Học hỏi lẫn nhau (1960) hay Công nhân cơ khí (1962).
Đầu thập niên 1970 ở miền Bắc Việt Nam có phong trào của các họa sĩ sáng tác về đề tài công nghiệp. Trong chuyến đi thực tế tại Nhà máy dệt 8/3 ở Hà Nội năm 1972, Nguyễn Đỗ Cung đã lấy hình mẫu các nữ công nhân dệt để sáng tác Tan ca mời chị em ra họp thi thợ giỏi, bức tranh mãi tới năm 1976 mới được hoàn thành. Tại Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc 1976, tác phẩm đã được trao giải Nhất, đây cũng là một trong chùm tác phẩm giúp họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996. Được sáng tác chỉ một năm trước khi họa sĩ qua đời (1977), Tan ca mời chị em ra họp thi thợ giỏi là tác phẩm cuối cùng của Nguyễn Đỗ Cung trong bộ sưu tập lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Năm 2005, sau thành công của việc phục chế bức Em Thúy, Tan ca, mời chị em ra họp thi thợ giỏi và Bình văn được Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam gửi sang Trường Mỹ thuật Dresden, Đức phục chế vì cả hai đều rơi vào tình trạng hư hỏng nặng. Nếu như các chuyên gia gặp nhiều khó khăn trong việc phục chế Bình văn thì bức tranh của Nguyễn Đỗ Cung đã được phục hồi tương đối thành công trước khi được đưa về Việt Nam cuối năm 2005. Trong quá trình phục chế, các chuyên gia người Đức cũng phát hiện ra rằng rất có thể vì điều kiện khó khăn thời chiến tranh mà Nguyễn Đỗ Cung đã mua phải màu giả, khiến cho bức tranh mới có hơn 30 năm tuổi nhưng đã rơi vào tình trạng hỏng nặng.
== Nhận xét ==
Tương tự như ở nhiều tác phẩm khác lấy đề tài công nghiệp và công nhân, các nữ công nhân trong Tan ca mời chị em ra họp thi thợ giỏi được Nguyễn Đỗ Cung tạo hình bằng các đường lượn mềm, không vờn bóng giúp các nhân vật trong tranh mang dáng vẻ khỏe mạnh nguyên khối. Bố cục cân đối và gam màu sáng càng giúp tôn thêm sự khỏe khắn, khoáng đạt của ba nhân vật nữ. Bức tranh cũng thể hiện sự sáng tạo của Nguyễn Đỗ Cung trong việc lồng thủ pháp tạo hình dân gian vào chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Theo họa sĩ Lý Trực Sơn, giảng viên Đại học Mỹ thuật Hà Nội, thì đây là một trong số ít các tác phẩm của họa sĩ Việt Nam thực sự toát lên được tinh thần của tranh sơn dầu.
== Tham khảo == |
thể chế đại nghị.txt | Thể chế đại nghị hoặc Đại nghị chế với đặc điểm là nhánh hành pháp của chính quyền phụ thuộc vào sự hậu thuẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của quốc hội, thường được biểu thị qua quyền bỏ phiếu tín nhiệm. Như thế, không có sự phân biệt rạch ròi giữa nhánh hành pháp và nhánh lập pháp, dẫn đến tình trạng thiếu sự giám sát và cân bằng quyền lực là nguyên lý căn bản trong thể chế tổng thống. Tuy nhiên, đại nghị chế thường được tán dương, khi so sánh với tổng thống chế, là do tính linh hoạt và nhanh nhạy đối với phản ứng của công luận. Mặc khác, hệ thống này thường bị xem là thiếu ổn định như trong trường hợp của nền Cộng hòa Weimar của Đức và Đệ Tứ Cộng hòa của Pháp. Trong thể chế đại nghị có sự phân biệt rõ ràng giữa chức danh đứng đầu chính phủ và chức danh đứng đầu nhà nước, với thủ tướng là người đứng đầu chính phủ và người đứng đầu nhà nước thường là một nhân vật được bổ nhiệm hoặc một quân vương với chút ít quyền lực hoặc chỉ là một vị trí có tính nghi lễ. Dù vậy, một số quốc gia theo đại nghị chế đã thiết lập chức vụ tổng thống dân cử là người đứng đầu nhà nước với một số thẩm quyền nhằm duy trì thế cân bằng quyền lực cho hệ thống chính trị (gọi là thể chế cộng hòa đại nghị).
Trong số các quốc gia theo đại nghị chế có những nước được cai trị bởi một liên minh cầm quyền cấu thành bởi nhiều chính đảng, do chế độ bầu cử đại biểu theo tỷ lệ (proportional representation). Trong khi đó, những nước chấp nhận hệ thống chọn ra một đại biểu cho một đơn vị bầu cử (first past the post) thường có chính phủ được thành lập bởi một chính đảng. Anh Quốc là một thí dụ cho trường hợp này. Kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ có một kỳ tổng tuyển cử (tháng 1 năm 1974) mà không có chính đảng nào giành được thế đa số tại quốc hội. Song, các thể chế đại nghị tại châu Âu đại lục chấp nhận hệ thống đại diện theo tỷ lệ, thường dẫn đến các kết quả bầu cử mà không có chính đảng nào có thể giành được thế đa số.
Đại thể, hiện có hai hệ thống dân chủ đại nghị:
Hệ thống Westminster hoặc Mô hình Westminster được chấp nhận rộng rãi trong vòng các quốc gia thuộc Khối Thịnh vượng chung Anh. Quốc hội tại các nước này thường tranh cãi quyết liệt trong các kỳ họp, và phiên họp toàn thể thường không quan trọng bằng các ủy ban của quốc hội. Một số quốc hội được bầu theo hệ thống một đại diện cho một đơn vị bầu cử (Úc, Canada, Ấn Độ và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland), trong khi những nước khác chọn hệ thống đại diện theo tỷ lệ như Cộng hòa Ireland và New Zealand. Dù bầu phiếu theo hệ thống đại diện theo tỷ lệ, cử tri cũng bầu cho từng ứng viên cụ thể chứ không chọn một danh sách của một chính đảng. Mô hình này dành chỗ cho sự phân quyền nhiều hơn mô hình Tây Âu, nhưng vẫn là không đáng kể nếu so với hệ thống bầu cử tại Hoa Kỳ.
Mô hình Đại nghị Tây Âu (Tây Ban Nha, Đức) có khuynh hướng tạo ra một cơ chế tranh luận dẫn đến sự đồng thuận. Hệ thống bầu cử đại diện theo tỷ lệ được áp dụng tại đây. Các ủy ban quốc hội tại những nước này ngày càng có nhiều quyền lực hơn kỳ họp toàn thể. Mô hình đại nghị này đôi khi được gọi là Mô hình Tây Đức – vì nó được sử dụng tại Quốc hội Tây Đức, về sau là nước Đức thống nhất.
Cũng có một mô hình tổng hợp, phối hợp các yếu tố từ tổng thống chế và đại nghị chế, mà biểu trưng là Thể chế Tổng thống Bán phần (semi-presidential system) - còn gọi là Chế độ Cộng hòa Lưỡng tính - của nền Đệ Ngũ Cộng hòa của Pháp. Kể từ đầu thập niên 1990, nhiều quốc gia Đông Âu chấp nhận mô hình này.
== Đặc điểm ==
Hệ thống nghị viện tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình thông qua các dự luật, bởi vì nhánh hành pháp trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào sự ủng hộ của nhánh lập pháp, và thường cấu thành bởi các thành viên quốc hội. Trong thể chế tổng thống, người đứng đầu nhánh hành pháp hoàn toàn độc lập với quốc hội. Như thế, nếu hành pháp và lập pháp chịu kiểm soát bởi hai chính đảng đối lập nhau sẽ dẫn đến tình trạng bế tắc. Cựu Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton thường xuyên đối đầu với vấn nạn này từ khi Đảng Cộng hòa kiểm soát Quốc hội suốt phần lớn thời gian Clinton ngồi trong Nhà Trắng. Cũng có khi tổng thống phải đối diện với vấn nạn này dù đảng của ông chiếm đa số tại Quốc hội như trường hợp của Tổng thống Jimmy Carter.
Nhằm mục đích dễ dàng thông qua các dự luật, thể chế đại nghị có sức hấp dẫn đối với những quốc gia bị phân hóa trong các lĩnh vực như chủng tộc, màu da, hoặc ý thức hệ. Trong thể chế tổng thống, mọi quyền lực hành pháp đều tập trung trong tay của tổng thống, trong khi hệ thống đại nghị phân bổ quyền lực cho một tập thể. Năm 1989, khi Thỏa hiệp Taif được ký kết nhằm dành cho cộng đồng Hồi giáo nhiều quyền lực hơn, Liban đã từ bỏ thể chế nửa tổng thống, với quyền lực tập trung vào tổng thống, để chấp nhận một thể chế có cấu trúc tương đồng với hệ thống đại nghị. Tương tự, Iraq bác bỏ tổng thống chế vì e ngại thể chế này sẽ tập trung quyền lực vào cộng đồng Shiite.
Trong tác phẩm Hiến pháp Anh Quốc, Walter Bagehot tán dương đại nghị chế vì thể chế này kiến tạo nhiều cuộc tranh luận nghiêm túc, cho phép diễn ra sự chuyển đổi quyền lực mà không cần tổ chức bầu cử, và không giới hạn việc tổ chức bầu cử trong những thời hạn cố định. Theo Bagehot, các kỳ bầu cử được ấn định bốn năm một lần theo cách của Hoa Kỳ là không tự nhiên.
Các học giả như Juan Linz, Fred Rígg, Bruce Ackerman, và Robert Dahl cho rằng thể chế đại nghị giúp hạn chế những biến động chính trị dẫn đến sự sụp đổ các chế độ cầm quyền. Họ chỉ ra rằng kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, hai phần ba các nước thế giới thứ ba với chính quyền đại nghị đã chuyển đổi thành công sang dân chủ. Ngược lại, không một nước nào thuộc thế giới thứ ba theo tổng thống chế đã chuyển đổi thành công để trở thành một nền dân chủ mà không xảy ra đảo chính hoặc thay đổi hiến pháp. Theo Bruce Ackerman, có ba mươi quốc gia đã thử nghiệm hệ thống kiểm tra và cân bằng quyền lực kiểu Mỹ, và "Tất cả những nước này, không có ngoại lệ, đều phải trải qua những cơn ác mộng triền miên".
Một nghiên cứu mới đây của Ngân hàng Thế giới nhận ra rằng thể chế đại nghị có thể kìm giữ nạn tham nhũng ở mức độ thấp [1].
== Danh sách một số quốc gia theo thể chế đại nghị ==
=== Một viện ===
=== Lưỡng viện ===
== Xem thêm ==
Lịch sử Thể chế Đại nghị
Thể chế Tổng thống
Chính trị Anh
Đại Hiến chương Magna Carta
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Chính thể Cộng hòa Đại nghị |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.